BÍ PHÁP
TRONG
BÀI KINH NIỆM HƯƠNG

 

 

CHÁNH KIẾN CƯ SĨ

2022

MỤC LỤC

CHƯƠNG MỘT
KINH CÚNG TỨ THỜI
TIẾT 1. GIỚI THIỆU KINH
TIẾT 2. GIẢI NGHĨA BÀI NIỆM HƯƠNG

CHƯƠNG HAI
BÍ PHÁP TRONG BÀI NIỆM HƯƠNG
TIẾT 1: NHỮNG TỪ VỰNG CẦN NẮM BẮT
TIẾT 2. CAO ĐÀI LÀ G̀? CAO ĐÀI LÀ TRUNG TÂM ĐIỂM TRONG NĂO NGƯỜI
TIẾT 3. NGŨ PHẦN HƯƠNG
TIẾT 4. TỌA TỊNH & PHÉP THỞ BỤNG

TỔNG KẾT PHẦN BÍ PHÁP




[PDF/download]

CHƯƠNG MỘT

KINH CÚNG TỨ THỜI

TIẾT 1. GIỚI THIỆU KINH

Tứ Thời là bốn điểm thời gian trong một ngày, đó là vào các giờ:

·         0 giờ (tức 12 giờ khuya) thuộc giờ Tư,

·         6 giờ sáng thuộc giờ Mẹo,

·         12 giờ trưa thuộc giờ Ngọ,

·         18 giờ (tức 6 giờ chiều) thuộc giờ Dậu.

Nghi lễ của Đạo Cao Đài dạy các tín đồ cúng Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng liêng vào Tứ thời kể trên, bởi v́ vào bốn thời điểm nầy, khí Dương và khí Âm trong Càn Khôn Vũ Trụ có sự biến đổi tương đối đặc biệt:

·         Lúc 0 giờ, thời Tư: Khí Âm cực thạnh, khí Dương khởi sanh.

·         Lúc 6 giờ và 18 giờ, thời Mẹo và thời Dậu: Hai khí Dương và Âm giao ḥa cân bằng nhau.

·         Lúc 12 giờ trưa, thời Ngọ: Khí Dương cực thạnh, khí Âm khởi sanh.

-Thời Tư và thời Ngọ: Cúng Rượu (Rượu trắng).

-Thời Mẹo và thời Dậu: Cúng nước Âm Dương, tức là cúng nước trà và nước trắng thiên nhiên.

Kinh Cúng Tứ Thời: là các bài kinh để tụng cúng ĐỨC CHÍ TÔN và ba GIÁO CHỦ TAM GIÁO vào bốn thời điểm kể trên trong một ngày. Kinh cúng Đức Chí Tôn vào Tứ thời tại Ṭa Thánh hay tại Thánh Thất gồm 8 bài kinh sau đây:

1.    Niệm Hương.

2.    Khai Kinh.

3.    Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.

4.    Kinh Phật giáo.

5.    Kinh Tiên giáo.

6.    Kinh Nho giáo (Thánh giáo).

7.    Bài Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà.

8.    Ngũ Nguyện.

Kinh cúng ĐỨC PHẬT MẪU vào Tứ thời tại Báo Ân Từ hay tại Điện Thờ Phật Mẫu gồm 6 Bài Kinh:

1.    Niệm Hương.

2.    Khai Kinh.

3.    Phật Mẫu Chơn Kinh.

4.    Tán Tụng Công Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu.

5.    Bài Dâng Rượu hoặc Dâng Trà.

6.    Ngũ Nguyện.

Bài kinh đọc trước tiên là bài Niệm Hương, tuy ngắn nhưng chứa bí pháp luyện Đạo trong đó. Nếu suy gẫm kỹ, người tín đồ mới nhận biết được.

TIẾT 2. GIẢI NGHĨA BÀI NIỆM HƯƠNG

A. NỘI DUNG BÀI NIỆM HƯƠNG    (Giọng Nam ai)

1.   Đạo gốc bởi ḷng thành tín hiệp.

2.   Ḷng nương nhang khói tiếp truyền ra.

3.   Mùi hương lư ngọc bay xa.

4.   Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng ḷng.

5.   Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc,

6.   Xuống phàm trần vội gác xe Tiên.

7.   Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền,

8.   Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.

9.   Ḷng sở vọng gắng ghi đảo cáo,

10. Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

         (Lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy:
                        Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát)

B. GIẢI NGHĨA BÀI KINH

Niệm Hương là đốt nhang và tưởng niệm các Đấng thiêng liêng. Kinh Niệm Hương có nguồn gốc là bài Kinh chữ Hán "Phần Hương Chú" trích trong Kinh Cảm Ứng của Tiên giáo. Vào năm Ất Sửu (1925), Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ tại Minh Lư (Tam Tông Miếu) dịch bài Phần Hương Chú ra chữ Nôm cho dễ hiểu.

Khi mới khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ, Đức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Đạo (Minh Sư, Minh Lư, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Đường) dâng Kinh cho ĐĐTKPĐ. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm bốn vị: Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Thượng Giáo Sư Vương quan Kỳ, Đức Phạm Hộ Pháp, Đức Cao Thượng Phẩm cùng đến Chi Minh Lư thỉnh sáu Bài Kinh: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối, Kinh Cầu Siêu, Bài Xưng Tụng Công Đức Phật Tiên Thánh Thần, về làm Kinh ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.

Câu 1. Đạo gốc bởi ḷng thành tín hiệp.

ĐẠO LÀ G̀? Đức Chí Tôn dạy về chữ Đạo như sau: 

"Đạo là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Đạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Đạo th́ các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Đạo, nghĩa lư rất sâu xa, nhưng phải hiểu trước bao nhiêu đó rồi mới học các nghĩa huyền bí khác cho đích xác đặng." (TNHT.II.3).

Nghĩa thông thường của Đạo là tôn giáo.

Thành: Thành thật. Tín: Tin, tin có Thượng Đế, tin có Thần, Thánh, Tiên, Phật, tin mỗi người đều có linh hồn bất tiêu bất diệt, tin linh hồn là điểm Linh quang do Thượng Đế ban cho mỗi người để tạo nên sự sống và ǵn giữ sự sống.

Câu 2. Ḷng nương nhang khói tiếp truyền ra

Tấm ḷng thành thật và đức tin mạnh mẽ sẽ theo nhang khói truyền đến cơi vô vi xa xôi, có chư Thần Thánh Tiên Phật ngự.

Câu 3. Mùi hương lư ngọc bay xa.

Mùi hương: Mùi thơm của khói nhang tỏa ra, ư nói những tư tưởng hay ư nghĩ trong sạch tốt đẹp của cái Tâm phát ra. 

Lư: Dụng cụ đặt trên bàn thờ dùng để đốt trầm hay để đốt nhang cắm vào; đốt trầm th́ gọi là Lư trầm, đốt nhang th́ gọi là Lư hương. Ngọc: Loài đá quí, chỉ sự quí báu. 

Lư ngọc: Cái lư bằng ngọc, chỉ cái Tâm quí báu của con người. Khi cúng, những tư tưởng, ư nghĩ trong sạch, cao thượng nơi TÂM nương theo khói nhang truyền lên Trời cao.

Câu 4. Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng ḷng.

Tiên Gia là Ông Cha Tiên, đó là Đại Từ Phụ, Đấng Cha chung thiêng liêng của toàn cả vạn linh sanh chúng trong Càn Khôn Vũ Trụ, mà ta thường gọi là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Khi cầu nguyện, tâm ta động th́ Đức Chí Tôn sẽ hay biết và chứng nhận.

Câu 5,6. Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc, Xuống phàm trần vội gác xe Tiên.

Hạc: Giống chim lớn, chân cao, cổ dài, lông trắng, bay nhanh, dáng thanh nhă, sống đến ngàn năm, thường được các vị Tiên dùng để cỡi bay đi. Phàm trần là chỉ cơi thế gian, cơi của nhơn loại đang sống.  Xe Tiên: Chiếc xe mầu nhiệm nơi cơi thiêng liêng, cũng gọi là Xe Như Ư, dùng để chở các vị Tiên đi lại. Người ngồi trên xe muốn đi đến đâu th́ chiếc xe Tiên hay xe Như Ư chở ngay đến đó tức khắc. Gác xe Tiên: dừng xe Tiên.

 Xin các Đấng Thần Thánh cỡi hạc hoặc đi trên chiếc xe Tiên dong ruổi cơi thế gian.

Câu 7. Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền,

Đức Chí Tôn tự xưng là Thầy, và gọi các con đang học đạo là môn đệ hay đệ tử. Chúng con tha thiết cầu nguyện cùng Ngài.

Câu 8. Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.

Chín từng Trời: Chữ Hán gọi là Cửu Trùng Thiên. Chín từng Trời nầy có tên theo đúng 9 bài Kinh Tuần Cửu, kể từ thấp dần lên cao là:

1.    Từng Trời thứ nhứt có Vườn Ngạn Uyển.

2.    Từng Trời thứ nh́ có Vườn Đào Tiên của Phật Mẫu.

3.    Từng thứ ba gọi là Thanh Thiên.

4.    Từng thứ tư gọi là Huỳnh Thiên.

5.    Từng thứ năm gọi là Xích Thiên.

6.    Từng thứ sáu gọi là Kim Thiên.

7.    Từng thứ bảy gọi là Hạo Nhiên Thiên.

8.    Từng thứ tám gọi là Phi Tưởng Thiên.

9.    Từng thứ chín gọi là Tạo Hóa Thiên.

“Từng Trời thứ 9 gọi là Cung TẠO HÓA THIÊN, có vị cầm quyền tạo đoan gọi là Thiên Hậu”                           (TĐ.ĐPHP.Q1)

Từng Trời thứ 10 nằm bên trên Cửu Trùng Thiên, đó là HƯ VÔ THIÊN do Đức Nhiên Đăng chưởng quản. C̣n HỘI NGUƠN THIÊN là từng Trời thứ 11, và HỖN NGUƠN THIÊN là từng Trời thứ 12. Cả hai từng 11, 12 hiện do chư vị Cổ Phật và Đức DI LẶC VƯƠNG PHẬT chưởng quản.

Lời khẩn nguyền của đệ tử sẽ được truyền đi suốt đến 9 từng Trời và nhiều quả Địa cầu để các Đấng thiêng liêng chứng thực biết rơ.

Câu 9. Ḷng sở vọng gắng ghi đảo cáo,

Điều quan trọng mà ḷng ḿnh hằng mong ước, sẽ cầu nguyện và tấu tŕnh lên các Đấng Thiêng liêng.

Câu 10. Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

Cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng phù hộ và ban cho phước lành.

Lạy và niệm Câu Chú của Thầy tức là của Đức Chí Tôn. Câu chú này có 12 chữ:

Nam-

Cao-

Đài

Tiên-

Ông

Đại

Bồ-

Tát

Ma-

Ha-

Tát

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Nam-mô: do phiên âm từ tiếng Pali "Namô" hoặc từ tiếng Phạn "Namah", dịch nghĩa là: Qui mệnh, kỉnh lễ, cúi đầu làm lễ.

Cao Đài: Cái đài cao, dùng làm nơi ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế khi có Đại hội triều đ́nh của Đức Chí Tôn tại Linh Tiêu Điện Ngọc Hư Cung.

Tiên Ông: Ông Tiên, vị Tiên. Đại: lớn. 

Bồ- Tát: tiếng Phạn là Bodhisattva, nghĩa là người đă tự giác được bản tánh và muốn trợ giúp chúng sanh giác ngộ. Bồ-tát muốn tu tập trên con đường Bồ-tát đạo để trở thành Phật, cần phải có đại nguyện rộng lớn v́ lợi ích của chúng sinh (được một vị Phật thụ kư) và có kiến thức Phật pháp thiện xảo. Để được một vị Phật thụ kư th́ vị đó cần có các điều kiện sau:

-hoàn thiện các điều kiện cần thiết để có thể chứng quả A-la-hán trong kiếp hiện tại,

-hành động công đức (có thể xả thân để bảo vệ Phật Pháp), có thập độ như: bố thí, tŕ giới, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nhục, chân thật, quyết định, bác ái, từ bi, hỷ xả.

-có ư nguyện hoàn thành mục tiêu dù có rơi vào nghịch cảnh và phát tâm Vô thượng v́ lợi ích của chúng sinh.

Ma-Ha-Tát: Nói đầy đủ là Ma-Ha-Tát-Đóa, tiếng Phạn là Mahasattva, nghĩa là Đại chúng sanh, là người có đủ BI, TRÍ, DŨNG.

Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát là vị Bồ Tát lớn, ở phẩm bực cao trọng, vào hàng Phật vị, nhưng v́ c̣n nhiệm vụ cứu độ chúng sanh nên mang danh Bồ Tát Ma Ha Tát, có ḷng quăng đại cứu độ chúng sanh.

           Câu Chú của Thầy có 12 chữ là v́ con "số 12 đặc biệt là số riêng của Thầy ".

Trong danh xưng “CAO ĐÀI (Nho giáo) TIÊN ÔNG (Đạo giáo) ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT (Phật giáo), Đức Chí Tôn ngụ ư Tam giáo vốn cùng một gốc mà ra, gốc đó là Thượng Đế. Tam giáo đồng tông ngày nay qui nguyên thành Đại Đạo. Đó chính là ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ, tức là Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn sáng lập và làm Giáo Chủ.

                                                                Khi nh́n thấy Hạc Trắng ở Nhật bạn sẽ là người may mắn nhất trong ngày

 

 

CHƯƠNG HAI

BÍ PHÁP TRONG BÀI NIỆM HƯƠNG

TIẾT 1: NHỮNG TỪ VỰNG CẦN NẮM BẮT

 ĐẠO  có nghĩa đen là đường đi. Theo nghĩa bóng, ĐẠO là đường lối, phép tắc đối nhơn xử thế của con người. Chữ ĐẠO ở đây được  hiểu theo Đạo làm người hay Nhân đạo trong h́nh nhi hạ của Nho giáo. Đến thời Lăo Tử, một Đạo gia đầu tiên của Trung Quốc đưa ra thuyết bản căn của Vũ trụ và đề xướng Đạo luận. Từ đó ĐẠO được hiểu với nghĩa h́nh nhi thượng, tức là Thiên Đạo.  Theo Đạo Đức Kinh, Đạo là bản căn của Càn Khôn Thế giới, là nguyên lư từ đó mà vạn vật được sinh ra, muôn loài noi theo, là cái qui luật chi phối sự sinh thành biến hóa của Trời đất và muôn vật.Theo tôn giáo Cao Đài, Đại Đạo là con đường của Đức Chí Tôn dẫn đến bờ giải thoát. Phương pháp của Đức Chí Tôn dạy trong thời kỳ Đại Ân Xá là phụng sự nhân loại và phổ độ chúng sanh để lập Công, lập Đức, lập Ngôn. Nhờ vào đó, nghiệp chướng tiền khiên được xóa bỏ giúp sớm được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Thánh giáo Đức Chí Tôn nói về chữ Đạo như sau:

“Đạo là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Đạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Đạo th́ các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm”.

Đạo rất cần ích cho cá nhân và xă hội. Người có Đạo sợ luật Trời, kiêng phép nước, biết trọng luân thường đạo đức, biết thương yêu đồng loại. Một nước có Đạo, xă hội sẽ trật tự, an ninh, dân chúng được ḥa b́nh hạnh phúc. Do đó, mỗi con người sống ở thế gian, phải luôn có Đạo trong ḷng, chẳng nên ĺa xa giây phút nào.

ĐẠO TẠI TÂM. Bộ Tâm tiếng Trung   Chúng ta cần phân biệt hai loại tâm: Đó là Tâm thật (Chơn tâm), Thành tâm 誠 心 và Tâm giả (Giả tâm).

Tâm Thật: CHƠN TÂM của chúng ta, gọi là PHẬT TÁNH, THIÊN TÁNH.

Tâm giả: Tâm mà con người dùng để sống hằng ngày ở cơi thế gọi là VỌNG TÂM

Tuân Tử cho rằng : “Quân tử dưỡng tâm th́ không ǵ tốt bằng luyện đức thành. Hễ chí thành rồi th́ không c̣n việc ǵ làm hại được tâm nữa. Thành tâm giữ lấy điều nhân, thành tâm làm theo điều nghĩa. Hễ thành tâm giữ điều nhân th́ niềm thành tâm tất hiện ra ngoài tất có hiệu lực thần diệu, thần diệu th́ cảm hóa được người; hễ thành tâm làm điều nghĩa th́ tất thấu lư, thấu lư th́ tất sáng, sáng th́ tất biến đổi ḷng người…

 TÍN : Hay tín tâm, tức là ḷng tin tưởng, đức tin.  Bất cứ một Tôn giáo nào cũng lấy ḷng tin tưởng làm gốc. Ḷng tin rất cần thiết cho người theo Đạo và giữ Đạo. Có được ḷng tin con người mới vững vàng tu học. Song ḷng tin phải có trí phán xét, chỉ nên hướng về nẽo chánh, điều thiện, cao thượng. Chớ không nên bạ đâu tin đó, không phân biệt chánh tà th́ dễ sa vào bàng môn tả đạo, mê tín dị đoan.  Có ḷng tin vào Trời, Phật và các Đấng Thiêng Liêng, tin tưởng có linh hồn bất tiêu bất diệt th́ chúng ta mới sùng bái, học theo đức háo sinh của các Đấng, không dám tạo ác nghiệp.

 Câu 1: Đạo gốc bởi ḷng thành tín hiệp

Câu 2: Ḷng nương nhang khói tiếp truyền ra

Câu 3: Mùi hương Lư Ngọc bay xa

Mùi hương tức là thanh-khí trong con người

LƯ NGỌC:  Lư hương bằng ngọc. Nhưng chữ ngọc ở đây dùng với nghĩa là quư báu, tôn kính, tượng trưng, chứ không phải làm bằng ngọc thật. Đối với các nhà Đạo học, Lư ngọc được xem như viết tắt của hai huyệt Vĩ Lư và Ngọc Chẩm.

Lư là ám-chỉ huyệt VĨ-LƯ ở đuôi cột sống.

Ngọc là ám-chỉ huyệt NGỌC-CHẨM ở sau ót.

Dùng khí thanh-dương mà nung-nấu các huyệt Vĩ-Lư và Ngọc-Chẩm.Khi Khí theo hai huyệt VĨ-LƯ và NGỌC-CHẨM giao nhau th́ con người sẽ mở được HUỆ QUANG KHIẾU.

HUYỀN QUAN KHIẾU 玄 關 竅 A: The mysterious hole under sternum.

Huyền: Màu đen, sâu kín, mầu nhiệm. Quan: cái cửa ải. Khiếu: cái lỗ hổng trong cơ thể con người. Huyền Quan khiếu, c̣n được gọi bằng nhiều tên khác là: Huyền khiếu, Tổ khiếu,  Thiên môn, Côn lôn đảnh. Nó ở trong bộ năo, phía dưới NÊ HOÀN CUNG (mỏ ác= Vi hộ), ngang cặp lông mày, là cửa xuất nhập của Chơn thần.

“Người tu hành, chừng nào luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô, th́ Huyền Quan nhứt khiếu ấy mở hoát ra”.

Huyền Quan khiếu thuộc Tiên Thiên khiếu, phân biệt với Thất khiếu (2 tai, 2 mắt, 2 mũi, 1 miệng) là Hậu Thiên khiếu. Người tu luyện công phu thâm hậu, đạt tới giai đoạn cực tĩnh th́ Huyền Quan khiếu xuất hiện, mở ra. Lúc nầy, Tiên Thiên khí ra vào qua khiếu Huyền Quan. Nó là then chốt của tất cả các khiếu trong cơ thể. Khiếu Huyền Quan mở ra là phép luyện đạo đă đắc thành rồi vậy. Người tu thực hành các phép luyện đạo có mục đích khai thông khiếu Huyền Quan, bằng cách thúc đẩy luồng chơn khí trong cơ thể đánh phá dần dần, làm cho Huyền khiếu (bị vô minh đậy bít) được khai thông, trí năo phát sáng, thông huệ lạ thường, thấu suốt chơn lư. Chơn thần nhờ đó mà có thể xuất nhập thể xác đi đến các cơi thiêng liêng.

Thánh và phàm chỉ khác nhau ở chỗ: Khiếu Huyền Quan mở hoát ra hay đóng bít lại.

Huyền Quan Khiếu là diệu khiếu “ ĺa tướng,” nên nhờ vào Huyền quan khiếu để thâu nhiếp vọng tâm, hàng phục vọng niệm.

Câu 4: Kỉnh thành cầu nguyện Tiên gia chứng ḷng.

TIÊN GIA 仙 爺: Tiên gia: Đấng Tiên Ông. Đây chỉ Đức Đại Từ Phụ là một đấng Tạo Hóa ra Càn Khôn Vũ Trụ, là Đấng cha chung của vạn linh sanh chúng.

Câu 5: Xin Thần, Thánh rủi dong cỡi hạc.

Câu 6: Xuống phàm trần vội gác xe Tiên.

 Gác xe Tiên: dừng chiếc xe Tiên lại.  Xe Tiên là phương tiện để chư vị Thần Tiên du hành. Như Đức Thái Thượng Lăo Quân thường đi xe Như ư.

Xe tiên: nghĩa bóng chỉ Ngươn-thần, Ngươn-khí trong thân người. Phải đưa Ngươn-thần, Ngươn-khí xuống dừng ở HẠ-ĐƠN-ĐIỀN. HẠ-ĐƠN-ĐIỀN ở ngay Rún.

Phàm trần: nơi hỗn-tạp nhất trong thân người, ám chỉ HẠ-ĐƠN-ĐIỀN.

Câu 7: Ngày nay đệ tử khẩn nguyền.

ĐỆ TỬ 弟 子: Là học tṛ. Đệ tử là tiếng tự xưng của người học tṛ, tức là môn đệ của Đức Chí Tôn. Đức Chí Tôn giáng cơ khai nền Đại Đạo, tự xưng là Thầy và gọi các tín đồ theo Đạo là môn đệ hay đệ tử. Đệ tử ở đây là lời tự xưng của chư môn đồ của Đức Chí Tôn.

Câu 8: Chín tầng Trời Đất thông truyền chứng tri.

CỬU TRÙNG THIÊN 九 重 天 :Chín từng Trời

ĐẤT  T́m hiểu chữ Địa trong tiếng Hán là ǵ? - Tientrunghsk.vn: các Địa cầu ở thế gian, ư chỉ 72 Địa cầu mà Đức Chí Tôn đă dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

“Con người chúng ta đang ở trên địa cầu 68 và chúng ta phải tiến hóa lên đệ nhứt cầu, v́ có tất cả 72 địa cầu trên thế giới; c̣n tiến vào Tam Thiên (ba ngàn) Thế giới nữa; qua khỏi Tam Thiên Thế giới th́ mới đến Tứ Đại Bộ Châu;

-qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam thập lục Thiên” (36 tầng Trời)”.

Chín tầng trời-đất: ám-chỉ cửu-khiếu (chín huyệt-đạo) nằm dài từ trên đầu xuống tới xương-cùng. Đă thông được CỬU-KHIẾU từ xương-cùn lên tới trên đầu th́ phát-huệ.

CỬU KHIẾU  九 竅  là ǵ?

Khiếu: Cái lỗ. Thất khiếu là bảy cái lỗ trên mặt: 2 mắt, 2 tai, 2 lỗ mũi, và 1 miệng.

C̣n Cửu khiếu là thất khiếu cộng thêm hai khiếu là lỗ sinh dục và hậu môn, tức hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, sinh thực khí và hậu môn. Cửu khiếu ấy là 9 con ma giữ 9 lỗ khiếu, không cho khí Tiên Thiên tiếp ứng với khí Hậu Thiên, thành thử con người phải chịu trầm luân măi măi.

Luyện sao cửu khiếu phát khai,

Thiên môn rộng mở Linh đài quy nguyên. (Đại Thừa Chơn Giáo).

9 khiếu c̣n được xem tương ưng với 9 luân xa (chakras) của cơ thể người.

LUÂN XA (chakras) hay trung tâm lực là những điểm giao tiếp mà tại đó năng lượng chảy từ một khí thể nầy đến một khí thể khác. Bất kỳ ai có chút ít nhăn thông đều có thể dễ dàng thấy chúng trong thể dĩ thái, trông chúng giống như những ḍng xoáy năng lượng, bề mặt lơm vào giống như một cái đĩa. Ở một người b́nh thường chúng trông giống như những ṿng tṛn nhỏ có đường kính khoảng 5cm, và toả sáng. Năng lực thiêng liêng từ cơi cao đổ vào các luân xa tạo ra các làn sóng thứ cấp chuyển động theo ṿng tṛn. Theo Đức Giám mục C.W. Leadbeater, trong thể dĩ thái (phách, vía- etheric body) của con người có 7 luân xa chính, theo thứ tự từ trên đỉnh đầu xuống như sau:

1. Luân xa đỉnh đầu (Crown chakra – Head center): gồm 2 ṿng, ṿng bên trong có 12 cánh và ṿng bên ngoài 960 cánh.

2. Luân xa trán (brow chakra hay AJNA center): gồm 96 cánh, chia thành hai nửa, mỗi một nửa 48 cánh.

3. Luân xa cuống họng (throat chakra hay throat center): 16 cánh

4. Luân xa tim: nằm gần quả tim, có 12 cánh

5. Luân xa rốn (navel chakra): 10 cánh

6. Luân xa lá lách (Spleen chakra): 6 cánh

7. Luân xa gốc (Root chakra): 4 cánh

Số cánh của mỗi luân xa đều có một ư nghĩa huyền linh

Câu 9: Ḷng sở vong gắng ghi đảo cáo.

 ĐẢO CÁO 禱 告: Đảo là cầu được an lành. Cáo là nói cho biết. Đảo cáo: Cầu xin với các Đấng Thiêng Liêng về việc ǵ.

Câu 10: Nhờ Ơn trên bổ báo phước lành.

CÂU CHÚ THẦY:         Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

                          南 無 高 臺 仙 翁 大 菩 薩 摩 訶 薩

NAM MÔ 南 無: Từ tiếng Phạn Namah, nghĩa là Kính lễ, đảnh lễ: cúi đầu làm lễ. Tiếng Nam Mô thường được dùng đặt trước hồng danh chư Phật, Bồ Tát, hay đặt trước câu của lời nguyện.

  CAO ĐÀI 高 臺: Một Đài rất cao ở Linh Tiêu Điện, Ngọc Hư Cung, là nơi ngự của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và là nơi chư Tiên, Phật họp hội.

 ĐẠI BỒ TÁT 大 菩 薩: Một vị Bồ Tát lớn.  Bồ Tát do từ Bodhisattva. Bồ Tát là bậc đă giác ngộ, nhưng không an hưởng Niết Bàn, mà lo giúp người khác tỉnh thức. Bậc A La Hán (bậc Thánh) là người mới đạt được tự giác, nhưng chưa giác tha, c̣n bậc Bồ Tát th́ vừa tự giác vừa giác tha, nhưng sự giác ngộ ấy chưa hoàn toàn. Chỉ có bậc Phật là người vừa tự giác vừa giác tha viên măn, nên Đức Phật được gọi là bậc Đại giác.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ ḿnh đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát là hai phẩm chót của Tiên, Phật.

 MA HA TÁT 摩 訶 薩 do từ Mahasattva. Ma Ha là Đại, Tát tức là Bồ Tát. Nói cách khác Ma Ha Tát là vị Đại Bồ Tát là bậc phát Đại tâm Bồ Đề cứu độ cả chúng sanh.

TIẾT 2. CAO ĐÀI LÀ G̀? CAO ĐÀI LÀ TRUNG TÂM ĐIỂM TRONG NĂO NGƯỜI

Theo bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, trong đầu năo con người có trung tâm điểm, y học gọi là Năo Thất Ba (3rd ventricle), kinh sách gọi là Cao Đài,Thiên Tâm, Nê Huờn Cung, Cốc Thần, Huyền Quan Khiếu.

Lấy một điểm giữa trán và một điểm giữa đỉnh đầu; từ hai điểm ấy, kéo hai đường ngang dọc A và B, th́ giao điểm T ở ngay trung tâm năo bộ, cũng là trung tâm điểm của mỗi con người.

                                      Fig 1.0 - Sagittal section of the brain, showing the midline position of the pineal gland

                                   H̀NH NĂO THẤT BA & TUYẾN TÙNG (h́nh internet)

TUYẾN TÙNG (PINEAL GLAND) được gọi là CON MẮT THỨ BA, HUỆ NHĂN

                                            http://daibaothapmandalataythien.org/sites/default/files/styles/width-700/public/images/tuyen_tung.jpg?itok=BpZpSCj3

                               TUYẾN TÙNG hay CON MẮT THỨ BA (h́nh internet)

“Con mắt thứ ba” (third eye), đôi khi c̣n được nhắc đến với những tên gọi khác như “giác quan thứ sáu”, “thể tùng quả” (pineal gland) hoặc “tuyến tùng”.  Tuyến tùng nằm sau năo thất thứ ba ở đường giữa năo (giữa hai bán cầu đại năo). Thể tùng quả của cơ thể con người nằm ở trung tâm của bộ năo, có kích thước chỉ bằng một hạt gạo và có h́nh dáng giống như quả của cây thông (pinea). Ở người trưởng thành, kích thước của tuyến tùng khoảng 0,8 cm (0,3 inch) và nặng khoảng 0,1 gam (0,004 ounce).Tuyến tùng là giác quan thứ sáu, ngoài 5 giác quan mà chúng ta đă biết (thính giác, thị giác, khướu giác, vị giác & xúc giác).Thể tùng chứa mô vơng mạc được cấu tạo bởi các tế bào cảm quang h́nh que và h́nh nón, giống hệt như mắt người, nên người ta gọi nó là “con mắt thứ ba”. Đạo gia xem Thể tùng quả là NÊ HOÀN CUNG, Hoàng Đ́nh, Côn Lôn, là nguyên thần, linh hồn của con người.

 Mỗi người đều có một thể tùng quả và mọi người đều có thể thông qua tu luyện mà khai mở con mắt thứ ba của bản thân. Tuy nhiên, Đạo Pháp là tự nhiên, khi tu luyện tới một tŕnh độ nhất định th́ HUỆ NHĂN sẽ được khai mở. Con mắt thứ ba, tổng quát, thường được cho là nằm ở giữa trán của chúng ta. Con mắt này có những năng lực siêu nhiên, có thể biết trước được sự việc tương lai hay nh́n xuyên thấu qua các chiều không gian khác nhau. Con mắt thứ ba thực chất tồn tại trong không gian siêu h́nh (metaphysical) – tức không gian cao hơn không gian 3 chiều quen thuộc với chúng ta. Đây cũng chính là lư do tại sao chúng ta không thể nh́n thấy cũng như thực sự xác định được vị trí chính xác của nó.Về phương diện tâm linh, con mắt bí ẩn này thường được chạm khắc trên các bức tượng thần linh, tượng Phật. Nó đă được biết đến trong nhiều nền văn hóa qua hàng ngàn năm rằng tuyến tùng là một điểm cốt lơi cho sự thức tỉnh tâm linh.Trong truyền thống cổ đại, con người đều biết về tuyến này và họ đă sử dụng nó như một sự mở ra cho các chiều kích tâm linh cao hơn- ở cấp độ đó, khoảng cách về không gian và thời gian trở nên vô nghĩa. Chủ thể có thể nh́n thấy tương lai, quá khứ và sẽ chuyển từ việc hoạt động dựa vào năo ư thức (conscious mind) sang siêu thức (superconscious). Đây là bước tiến sang các dạng tồn tại cao hơn (Thần, Thánh, các sinh linh trong không gian nhiều chiều…).

René Descartes, một trong những triết gia lớn của thế giới, gọi tuyến tùng là “the principal seat of the soul” (tạm dịch: ṭa ngự trung tâm của linh hồn).

 H́nh ảnh tượng trưng cho tuyến tùng đă xuất hiện trong nhiều nền văn minh cổ đại như La Mă, Mê-hi-cô, Ai Cập, Babylon, Hy Lạp. Ngay ở quảng trường Vatican của Công giáo cũng trưng bày h́nh ảnh tuyến tùng, với bức tượng h́nh nón thông lớn.

                3rd Eye GIF - 3rd Eye - Discover & Share GIFs          Con mắt thứ ba/ tuyến tùng/luân xa thứ 6/ thiên nhăn là ǵ?  https://lh3.googleusercontent.com/blogger_img_proxy/ABLy4Ew1Sm_PZlOe3pvjV-0IlVsTKN1s5QsiT0TGEF7QsESpOKNMtSbMYBsxdKNEhxystZujrPJdC0QV42kOh8qi9S83UA=s0-d  Tuyến tùng trong bộ năo và con mắt thứ ba là cánh cửa trung gian kết nối

          TUYẾN TÙNG trong  PHẬT GIÁO,  ẤN GIÁO,   THIÊN CHÚA GIÁO

                                                           (h́nh internet)

                                  http://tamgiaodongnguyen.com/VanUyen/HuynhDinh-01.jpg (h́nh internet)

                                       BA ĐAN ĐIỀN (Dantians): THƯỢNG, TRUNG, HẠ

                                      BA QUAN ( Gate): VĨ LƯ, NGỌC CHẨM, HUYỀN QUAN

                   

LUÂN XA 6 (AJNA CHAKRA)=HUYỀN QUANG KHIẾU

Lưu ư: sau khi đọc xong mỗi bài Kinh, người tín đồ sẽ lạy ba lạy, mỗi lạy cúi sát, trán đụng dất 3-4 lần. Đây có phải là cách thức kích thích các luân xa từ LX 1 ĐẾN LX 7 khởi động mà các Đấng không nói ra, chỉ khuyên chúng ta siêng năng cúng kiếng?

Đối với người học đạo, phương pháp lập hạnh và phụng sự là phương pháp an toàn và tốt nhất để khai mở luân xa.

 TIẾT 3. NGŨ PHẦN HƯƠNG

Con đường đi đến với Đạo th́ quan trọng nhất là ở nơi ḷng thành-tín không do-dự. Mượn nhang khói làm trung-gian chuyên-chở ḷng thành-tín ấy, tức cái cảm ở nơi ḿnh, hầu có được cái ứng mau lẹ của các Đấng Thiêng-Liêng đáp lại những lời cầu-nguyện của ḿnh. Đối với người tu, sự đốt hương mang một ư nghĩa sâu sắc. Đốt hương hàm ư đốt lên mùi  thơm của pháp vô vi, có tác dụng đánh bạt các mùi ô uế, trược khí của tội chướng và ác nghiệp trong tâm thức ta. Mỗi lần cúng đốt 5 cây nhang tượng trưng cho Ngũ Phần Hương:

1.    GIỚI hương: Đó là khi con người biết giữ giới cấm, làm lành, lánh dữ. Tâm biết từ bi, bác ái, không tham lam, chẳng ganh tị, sân si. Nguyện cầu giữ ǵn giới luật, biết kính người trên, nghĩ kẻ dưới, thương xót những hạng cơ-bần

2.    ĐỊNH hương: giữ tâm trí an định, trông thấy các cảnh-tượng lành dữ mà tâm ḿnh chẳng loạn động, không nghỉ ngợi lung tung. Tâm trí có tĩnh lặng mới phát triển trí tuệ.

3.    TUỆ & HUỆ hương: hằng lấy trí-tuệ xét soi tự-tánh, tuy tu các nghiệp lành mà tâm chẳng chấp trước, ; năng đọc kinh sách để hiểu biết chân lư. Phước, Huệ song tu.  Mùi thơm của trí tuệ, là một năng lực bén sáng, có khả năng diệt trừ mọi chướng ma, phiền năo.

4.    GIẢI THOÁT hương: tâm an nhiên tự tại, chẳng nghĩ quá khứ, chẳng lo tương lai, chẳng lo c̣n mất nơi cơi tạm này. Giữ đức tin kiên cố nơi Đức Chí Tôn là mùi hương của giải thoát.

5.    TRI KIẾN hương: biết linh hồn bất tiêu, bất diệt; biết “Vạn vật đồng nhất thể”. Mùi thơm của giải thoát tri kiến  là trí tuệ quang minh, thông suốt lư Đạo, biết phân biệt chánh tà; không cố chấp hay cuồng tín.

Trong đại vũ-trụ th́ NGƯƠN-THẦN và NGUƠN-KHÍ nương nhau.Trong tiểu vũ-trụ, THẦN và KHÍ (CHƠN LINH và CHƠN THẦN) phải nương theo nhau mà luyện đạo.

 THẦN & KHÍ là hai trong tam bửu của con người: Tinh, Khí, Thần.

KHÍ  (life-energy) là vật chất cực nhỏ, hoạt động rất mạnh và liên tục trong cơ thể. Phổi (Lung) là cơ quan chủ khí, Thận (Kidney) là cơ quan chứa khí.

Trong cơ thể con người, Khí (life-energy) xuất phát từ Phổi (Lung) và thu nạp về Thận (Kidney). Khí (life-energy) có vai tṛ duy tŕ và điều tiết sự chuyển hóa, trao đổi chất trong cơ thể. Dương khí giống như không trung có được ánh sáng từ mặt trời. Sinh khí là chất để bảo tồn sự sống,  là nguồn sinh lực của con người. Nguyên khí này nếu ở ngoài là thanh khí, thuộc khí Tiên Thiên từ khí hư vô của Trời đất. Qua sự hô hấp, KHÍ đi vào phổi để lưu thông huyết mạch. Hễ khí mạnh th́ thân thể cường tráng, khí yếu th́ thân thể suy nhược. Khí là CHƠN THẦN của con người. THẦN  Thần là Thái cực, chủ đạo việc phối hợp khí hóa âm dương. Thần biểu hiện sức sống. Thần c̣n th́ sống, Thần hết th́ chết. Thần sung măn th́ ngướ khỏe mạnh, thần suy th́ người yếu đuối. THẦN c̣n là phần chủ tể của con người, là điểm linh của Trời phú cho mà Đạo Cao Đài gọi là Tiểu Linh Quang, c̣n Phật giáo gọi là Chơn như, Phật tánh.

Ngày ăn hai bữa nuôi tinh huyết,

Đêm ngủ ba canh dưỡng Khí, Thần. (Thơ Hộ Pháp).

Quan hệ giữa Tinh, Khí, Thần trong mỗi cơ thể là mấu chốt chủ yếu để duy tŕ sự sống. Cái mạng con người bắt đầu từ TINH (thể xác), sống được là nhờ KHÍ, mà chủ sinh mạng lại là THẦN. Để cho pháp luân thường chuyển th́ Khí sinh Tinh, Tinh dưỡng Khí, Khí dưỡng Thần, rồi Thần lại hoá Khí. Sự thăng trầm của Tinh, Khí, Thần quan hệ đến sự mất c̣n của sự sống. V́ thế, cổ nhân mới gọi Tinh, Khí, Thần là tam bửu (ba món báu ).

NGUƠN KHÍ= NGUYÊN KHÍ 元 氣 = HỖN NGUƠN KHÍ = TIÊN THIÊN KHÍ.

- Nguyên: đầu tiên. Khí: Chất khí. Nguyên khí là khí ban đầu để tạo hoá ra Càn khôn vạn vật. Trong Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp giảng như sau:

Nhờ sanh sanh tử tử thâu đoạt Nguơn Khí tạo đặng Pháp Thân của ḿnh với cả muôn muôn triệu triệu kiếp sanh của chúng ta, đặng đoạt cả huyền vi bí mật quyền phép tạo đoan, cho nên lúc đoạt được Pháp Thân rồi, tức nhiên đoạt được Phật Vị vậy.

-Điều hữu dụng của sự cúng tế là ḷng thành, cảm động t́nh ái lẫy lừng, làm cho Nguơn khí của Chơn thần trở nên thơm tho đẹp đẽ...(Thượng Phẩm dạy).

 THẤT PHÁCH LÀ G̀?

Thuyết Đạo của Đức Phạm Hộ Pháp: “Các bạn có biết Phật Mẫu là ai chăng? Ngài dùng bảy nguơn khí tạo chơn thần ta, tức nhiên tạo Phách ta. Nhà Phật gọi là Thất phách, kỳ thật khí phách ấy làm Chơn thần ta, tức là Nhị xác thân chúng ta. Khi chúng ta bỏ xác trần, xác thân thiêng liêng ấy vẫn tồn tại”.

Thất phách c̣n chỉ 7 luân xa của cơ thể con người.

Đức Cao Thượng Phẩm nói: "Chơn khí tiết ra bởi 7 oan nghiệt mà người ta gọi là Thất phách.

Phách cực âm là nơi xương cụt (VĨ LƯ) =LX1

Phách cực dương là nơi NÊ HOÀN CUNG= LX 7

Phách trung ương là MỆNH MÔN (thận)=LX3

Nếu để cho 1 trong 7 phách bị kích động, th́ Hỏa Tam muội sẽ đốt cháy nơi đó, tức nhiên có điều nguy hiểm ngay, có khi hại đến tánh mạng nữa." Do đó, nếu không có Chân sư chỉ dạy, tuyệt đối không tự ư học khai mở Luân xa. Tẩu hỏa nhập ma là do đó.

                7 PHÁCH= 7 LUÂN XA TẠO CHƠN THẦN = NHỊ XÁC THÂN

                                                         http://nhandien.com.vn/wp-content/uploads/2014/10/7-Luan-Xa.jpg (h́nh internet)

NGŨ KHÍ TRIỀU NGUƠN 五 氣 朝 原.

Con người muốn quy nguyên phản bản, th́ tất cả phải quy hướng về Trời, về cái Một. Nên muốn đắc đạo phải luyện sao cho ngũ khí triều nguyên triều nguyên tức là quy nguyên, hay hiệp nhứt. Luyện ngũ khí tức là luyện nguyên khí của ngũ hành làm cho nó trụ lại ổn định, không bị thất thoát hư hao. Sách Tính Mệnh Khuê Chỉ viết:

1.    -Thân bất động th́ Tinh ổn định, và Thuỷ triều nguyên;

2.    -Tâm bất động th́ Khí ổn định, và Hoả triều nguyên;

3.    -Chân tính tĩnh lặng th́ tâm hồn ổn định và Mộc triều nguyên.

4.    -Dục vọng không c̣n th́ phách ổn định, và Kim triều nguyên;

5.    -Bốn đại b́nh yên hài hoà th́ ư niệm sẽ ổn định, và Thổ triều nguyên.

Đó là ngũ khí triều nguyên, đều quy tụ tại đỉnh đầu.

Tóm lại ngũ khí triều nguyên tức là làm cho Tinh, Thần, Hồn, Phách và Ư, tất cả phải hợp lại thành một.

Ngũ khí triều nguơn linh giác hiện,

Tam huê tụ đỉnh huệ năng khai. (Thơ Danh Nhân).

TAM HUÊ TỤ ĐỈNH 三 花 聚 頂

Muốn Tam huê tụ đỉnh (Tam hoa tụ đỉnh ), phải luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hoá Thần, luyện Thần hườn Hư. Khi luyện được Thần huờn hư, th́ lúc ấy Tam hoa là Tinh, Khí, Thần hội tụ nơi Thượng điền, cũng như cây cỏ nở hoa sắp kết trái mà tinh hoa tụ nơi đỉnh.

Nhâm mạch (trước ngực) và Đốc mạch (phía sau lưng) cả hai cùng mang lên trên đốc giọng, chỗ cong lưỡi lên lưỡi gà, ḥa nhau chảy ra thành CAM LỒ (nước miếng); nếu nuốt xuống vào ruột trong 10 tháng thành thai nhi ( Thập ngoạt hoài thai). Nuôi thánh thai đủ 3.000 công phu th́ thai nhi thành KIM THÂN, tự do bay nhảy trong vũ trụ. Đức Chí Tôn dạy:

Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn Thần tinh khiết. Nếu như các con c̣n ăn mặn luyện đạo rủi có ấn chứng th́ làm sao mà giải tán cho đặng ?
Như rủi bị hườn, th́ đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn c̣n, mà trược khí th́ lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d’électricité) chưa ra khỏi lằn không khí đă bị sét đánh tiêu diệt. C̣n như biết khôn th́ ẩn núp tại thế mà làm một bậc “Nhân Tiên” th́ kiếp đọa trần cũng c̣n chưa măn.

V́ vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo."

Với Thánh giáo này, ngay từ buổi mới Khai Đạo, Thầy cũng đă dạy truyền pháp cho kẻ nào trai giới đặng 10 ngày trở lên và muốn luyện đạo phải trường trai mới đặng .

Luyện đạo là luyện tam bửu Tinh Khí Thần để tạo một Nhị xác thân. Xác thân thứ hai thiêng liêng vô h́nh (périsprit) ngoài xác thân nhục thể hữu h́nh của chúng ta
Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, trang 173, Thầy dạy về Giới tửu (18.1.1927) Bính Dần, Thầy nhắc lại về Nhị Xác Thân như sau :
" Thầy nói cái Chơn Thần là Nhị xác thân các con, là khí chất (le sperme). Nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy, nơi trung tim của nó là óc, nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là VI HỘ; nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà ǵn giữ chơn linh các con. Khi luyện thành đạo, đặng hiệp một với KHÍ, rồi mới đưa thấu đến Chơn Thần, hiệp một mà siêu phàm nhập thánh".

Thầy cắt nghĩa hai chữ Tu Luyện như sau :
"Chữ TU là ǵ? Tu là bồi bổ tinh khí thần cho đầy đủ, đức tánh cho hoàn toàn, bỏ nhơn dục tầm đường Thiên Lư thuận mạng, giữ thanh tịnh ôn ḥa, chỗ nào sứt mẻ hư hao th́ tô bồi cho đầy đủ.

Chữ LUYỆN là ǵ? Luyện là trau giồi cho sáng suốt hoàn toàn, giũa mài, rèn đúc cho trơn tru khéo léo. Tu mà không luyện chẳng khác chi một cục sắt không rèn làm sao thành một món khí giới? Luyện là RÈN, th́ chẳng khác nào một cục sắt đó c̣n đương vô dụng; luyện nó phải nướng cho nó cháy, rồi đập giũa, cạo, gọt, rèn, đúc mới thành cái khí cụ. Người tu cũng thế. Thầy hằng nói: Thầy là các con, các con tức là Thầy. Có Thầy mới có các con, mà có các con rồi mới có chư Tiên, Phật, Thánh, Thần..

Muốn tiến lên phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật chúng ta phải thực hành lời Đức Phạm Hộ Pháp dạy về Tam Lập: lập Công, lập đức, lập Ngôn. Ngoài ra, Ngài c̣n dạy PHƯƠNG LUYỆN KỶ, để ch́a khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh trong đó.

Các sách luyện đơn Ấn Độ gọi Luân Xa thứ 7 trên đỉnh đầu là Sahasrara, là hoa sen ngh́n cánh. Đó chính là Thiên môn là nơi mà Thần người với Thần Trời hợp nhất. Sahasrara chính là NÊ HOÀN CUNG (VI HỘ, vị trí ở mỏ ác người).

 

Sahasrara  (h́nh internet)

 

TIẾT 4. TỌA TỊNH & PHÉP THỞ BỤNG

Ngay từ buổi đầu khai Đạo, Đức Chí Tôn đă dạy các môn đệ cần phải tịnh luyện:

Thành tâm niệm Phật 
Tịnh, tinh, tịnh, tỉnh, tỉnh.
Tịnh là vô nhứt vật,
Thành tâm hành đạo (Pháp) 
(Đàn đêm 14-1-1926)

Tại tư gia, muốn cho ḷng thêm thanh-tịnh phải công-phu ngồi tham-thiền. Mà tham-thiền th́ nên ngồi dưới đất để âm-dương tương-hội. Nhập định là làm cho tâm thần yên ổn, không nghĩ suy điều chi, chỉ nuôi dưỡng duy nhất tư tưởng thánh thiện trọn lành. Người tín đồ ngồi xếp bằng như ngồi cúng ở Đền Thánh, lấy dấu xong bắt đầu niệm các bài kinh, nghĩa là đọc thầm bằng tư tưởng mà không phát ra thành tiếng .

Sau thời cúng tại tư gia, chúng ta có thể tọa tịnh và thở bụng, niệm danh hiệu Đức Tôn Sư Phạm Hộ Pháp v́ Ngài là người giữ nhiệm vụ truyền PHÁP trong tôn giáo Cao Đài. Tùy theo công đức và duyên nghiệp của mỗi người mà sự tu luyện sẽ tiến nhanh hay chậm.

                                               “Đạo hư vô, Sư hư vô...”

CÁCH THỞ BỤNG

Kiếm hiệp hay nói “đưa hơi xuống huyệt  ĐAN ĐIỀN” là sao?

 - Đó chính là cách thở bụng. Khi hít vào, đẩy cơ hoành xuống càng sâu càng tốt, xuống tận huyệt “đan điền”. Huyệt ĐAN ĐIỀN nằm dưới rún ba lóng tay, khoảng 3cm. Đan là thuốc, điền là ruộng. Đan điền là ruộng thuốc. Người xưa coi thở bụng là phương pháp luyện công tốt nhất, được sử dụng trong vơ thuật và phép tu tiên để trường sinh bất lăo. Thực ra cơ hoành chỉ di chuyển được khoảng 7 cm thôi, chưa quá rún, cũng đă đưa vào hơn 1,5 lít không khí rồi (theo BS Đỗ Hồng Ngọc).

 

                                                 (h́nh internet)

 

KẾT LUẬN PHẦN BÍ PHÁP BÀI NIỆM HƯƠNG:

Bài kinh NIỆM HƯƠNG là phương-thức khởi đầu chỉ cho cách tu-thân luyện-đạo.                                                        Đọc bài Niệm Hương là dùng âm thinh đưa làn tư tưởng theo khói hương lan tỏa mười phương để mong cầu sự cảm ứng của Trời Phật. Trong khi thực hành nghi lễ cúng kiếng như thế, người tín đồ cũng biểu lộ được ít nhiều lòng thành kính tin tưởng của mình theo lý “Thiên Nhơn hiệp nhứt.” Tuy nhiên, muốn cho việc Niệm Hương, dâng hương đạt kết quả tốt, người tu cũng phải có ý thức giác ngộ, phải biết lời lẽ trong kinh dạy việc gì, để rồi vừa hành Thế Đạo vừa công phu tu luyện sửa đổi tánh tình, thức tỉnh tâm linh. Nếu cứ đốt hương, Niệm Hương, với ý tưởng cầu cạnh sự phù hộ của Trời Phật, mơ tưởng thành vị này vị nọ mà không chịu sửa đổi tánh hư tật xấu, chẳng biết khai tâm mở trí học hỏi chân lư, thì chỉ là ảo vọng; việc cúng kiếng tôn sùng Trời Phật cũng chỉ là việc làm vô nghĩa. Người tu hành ở trong hang động núi rừng thâm sâu, không có bàn thờ, lư hương, không thể áp dụng nghi thức hữu hình, thì phải dùng cái “Tâm Hương” để mà thông công với điển giới vô vi. Theo cách này, người tu hành chỉ tập trung tư tưởng mật niệm đưa tinh thần lên mà cầu nguyện.

Tại sao tựa đề bài kinh này là Niệm-Hương?
Niệm là nghĩ tới, nhớ tới. Hương là hơi thở thanh sạch.

Vậy, Niệm Hương là chăm-chú tập-trung mọi ư-nghĩ vào hơi-thở, theo dơi con đường nó vận-chuyển. Đó là phương-pháp kết-hợp Thần và Khí. THẦN là ư-nghĩ. KHÍ là hơi-thở.

Trong Phương luyện kỷ, Đức Phạm Hộ Pháp đă dạy:

- Ẩm thực tinh khiết.

-Tư tưởng tinh khiết.

- Hiếu hạnh với Chí Tôn và Phật mẫu.

Đó là ch́a khóa mở cửa BẠCH NGỌC KINH.

ẨM THỰC TINH KHIẾT: ăn chay để tránh trược khí của thú vật.

TƯ TƯỞNG TINH KHIẾT: tâm thức được nâng cao, tránh vẩn đục quay cuồng theo thất t́nh lục dục. Giữ tư tưởng không nghĩ điều càn quấy là việc rất khó khăn, có thể nói là khó khăn nhất trong sự tu luyện. Làm thế nào để định trí là điều mỗi người phải suy gẫm để t́m ra phương cách.

 Trong Ṭa Thánh Tây Ninh, nơi Hiệp Thiên Đài có tượng Ngài Cao Thượng Phẩm, tượng Đức Hộ Pháp, tượng Đức Thượng Sanh đứng trên ngai. Chữ KHÍ sau lưng Đức Hộ Pháp và  Thất Đầu Xà (ngai h́nh rắn 7 đầu), là hướng dẫn cho pháp môn tịnh luyện xuất Chơn thần của Cao Đài.

Thất đầu xà là con rắn thần có 7 cái đầu. Rắn thần này được đắp nổi, đỡ ba cái Cẩm đôn của ba vị: Hộ Pháp (giữa) Thượng Sanh (bên trái của Hộ Pháp), Thượng phẩm (bên phải). Bảy cái đầu này tượng trưng Thất t́nh của con người: Hỷ, Ái, Lạc, Dục, Ai, Ố, Nộ. Thất t́nh được ví như 7 cái đầu rắn độc, đưa con người sa vào những ham muốn thấp hèn tội lỗi.

Ba đầu rắn ngẩng lên sau lưng Hộ Pháp tượng là: HỈ, ÁI, LẠC là ba mối lành. Bốn đầu quay xuống Ố, NỘ, AI, DỤC  là bốn mối hại, xấu. Người tu cần phải lập chí cao thượng, chế ngự cho được Thất t́nh, cương quyết làm chủ chúng nó,  phải biết giữ cho tâm thanh tịnh th́ mới mong thoát khỏi luân hồi, sinh tử.

Đức Chí Tôn dạy người tu phải chế ngự thất t́nh mới mong đắc đạo.

Phần giữa con rắn quấn vào đôn của Đức Thượng Phẩm, phần đuôi quấn vào đôn của Đức Thượng Sanh. Phía sau Đức Hộ Pháp có tạc h́nh chữ “KHÍ” thật to, tượng trưng cho Khí Sanh Quang, nguồn cội của CƠ PHÁP (Cơ của Đức Phật Mẫu) sanh hoá ra Càn Khôn Vũ Trụ. Hai bên chữ KHÍ có hai câu liễn:

 PHẠM GIÁO TUỲ NGUƠN, CỨU THẾ ĐỘ NHƠN HÀNH CHÁNH PHÁP.

MÔN QUYỀN ĐỊNH HỘI, TRỪ TÀ DIỆT MỊ HỘ CHƠN TRUYỀN.

 Ư nghĩa: Phật dạy tuỳ thời kỳ mà cứu độ người đời, thi hành Chơn pháp.

Quyền lực của Phật đă định thời kỳ trừ diệt tà mị bảo hộ chơn truyền.

             (Phạm là Phật, ở đây Phật chỉ Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu)

Nói tóm lại, trong kinh sách có nhiều bí ẩn, tùy trình độ tiến hóa tâm linh mà người tu lãnh hội cao hay thấp đó thôi.

 HIẾU HẠNH VỚI CHÍ TÔN VÀ PHẬT MẪU như thế nào?.

 Làm thế nào để tỏ ḷng hiếu hạnh với Đức ĐẠI TỪ PHỤ và ĐẠI TỪ MẪU? Có nhiều cách biểu hiện ḷng hiếu thảo, nhưng quan trọng nhất có hai điều:

-nghe và làm theo lời giáo huấn của Cha Mẹ.

-tưởng nghĩ đến Cha Mẹ thường xuyên, phổ độ chúng sanh, làm cho ĐẠI ĐẠO được phổ truyền khắp nơi để anh em chúng ta bớt sa vào cơi Âm quang tối tăm.

Nếu làm được vậy, ngày về bái mạng NGỌC HƯ CUNG sẽ rất vui, không sợ hăi v́ Đức Phạm Hộ Pháp đă dạy rơ: “Đó là ch́a khóa mở cửa BẠCH NGỌC KINH”.

                                                Mùa Vu Lan Nhâm Dần, mừng ngày xá tội vong nhân.

                                                                    CHÁNH KIẾN CƯ SĨ

                                                                                                               THAM KHẢO

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển                                               Hội Thánh

Trường dưỡng Tinh Khí Thần                                       Vân Đằng

Chú giải Kinh Thiên Đạo                                               Thiên Vân

Kinh Tam Giáo Nhựt Tụng Diễn Giải                            Thiện Trung

Tính Mệnh khuê chỉ                                                        Nhân Tử

                    CHÂN THÀNH BIẾT ƠN QUƯ TÁC GIẢ TRÊN

 

 

Top of Page

      HOME