Nữ Trung Tùng Phận chú thích: từ câu 357 dến câu 724.
      ***************************************************************************

      Nữ Trung Tùng Phận
      Chú thích

       

      357.

      Định hương hỏa, hằng bày quí tế,
      Lập pháp gia, tự kế phụng thờ.
      Con chàng thiếp trả khi thơ,
      Dòng chàng thiếp dạy phụng thờ tổ tông.

      Chú thích:

      Bắt đầu từ câu 357 đến câu 592 là phần: Mẹ dạy con trai.

      Định: Sắp đặt. Hằng: Thường thường. Hương hỏa: Nhang đèn, chỉ sự thờ cúng tổ tiên. Quí tế: Quí là thời gian 3 tháng, tương ứng với một mùa. Tế là cúng và dâng lễ phẩm theo nghi thức long trọng. Quí tế là cúng tế vào mỗi quí hay mỗi mùa (3 tháng). Pháp gia: Gia pháp, phép tắc cư xử trong nhà. Tự kế: Tự là nối dõi, con cháu nối dõi; kế là nối theo. Tự kế là nối dòng. Phụng thờ: Phụng sự việc thờ cúng. Tổ tông: Tổ tiên của dòng họ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 357 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      361.

      Lựa cho học các công các nghệ,
      Tính cho hay mọi vẻ văn tài.
      Sĩ, Nông, Công, Cổ sanh nhai,
      Ngư, Tiều, Canh, Mục làm bài bảo thân.

      Chú thích:

      Công nghệ: Các nghề làm thợ chế tạo vật dụng. Văn tài: Có tài về văn chương. Sĩ: Nghề học văn chương, thi đậu ra làm quan. Nông: Nghề làm ruông. Công: Nghề làm thợ. Cổ: Buôn bán. Ngư: Nghề đánh cá. Tiều: Nghề đốn củi. Canh: Nghề cày ruộng. Mục: Nghề chăn nuôi súc vật. Sanh nhai: Làm ăn sinh sống. Bảo thân: Bảo vệ thân thể. Ý nói: Nuôi dưỡng và gìn giữ thân thể cho khỏe mạnh.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 361 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      365.

      Hễ phải mặt văn nhân tài tử,
      Dạy con nên vẹn giữ nhơn luân.
      Văn là thượng sĩ danh thần,
      Võ thì bạt tụy siêu quần quân trung.

      Chú thích:

      Văn nhân: Người học thức có tài làm văn làm thơ. Tài tử: Người tài giỏi. Tử là người. Nhơn luân: Nhơn là người, luân là phép tắc ở đời đúng theo đạo lý. Nhơn luân là phép tắc đối xử mà con người phải tuân theo để giữ phẩm giá của mình cho được cao trọng. Thượng sĩ: Người trí thức bực trên, tức là đại trí thức. Danh thần: Vị quan lớn có tiếng tăm tốt. Bạt tụy: Tài giỏi hơn người. Bạt là vượt lên trên, tụy là gom nhóm lại. Siêu quần: Đồng nghĩa với Bạt tụy. Siêu là vượt lên trên, quần là nhiều người. Quân trung: Trong quân đội. Trung là ở trong.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 365 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      369.

      Quan thì phải tận trung vì chúa,
      Dân thì hay tập búa Lỗ Ban.
      Sang thì giữ vững ngai vàng,
      Hèn thì trừ đảng bạo tàn hại dân.

      Chú thích:

      Tận trung: Hết lòng trung thành. Tận là hết. Lỗ Ban: Người thợ mộc nổi tiếng tài giỏi của nước Lỗ thời Xuân Thu. Lỗ Ban sử dụng cái búa đẽo gỗ thật tài tình, không ai sánh kịp. Tập búa Lỗ Ban: Tập tành nghề thợ mộc. Ngai vàng: Cái ngai bằng vàng để vua ngồi khi họp triều đình. Đây là cái ngôi vua tượng trưng cho nước.

      Câu 371: Nếu tài giỏi thì đem tài ra giữ vững đất nước.

      Câu 372: Nếu không tài giỏi thì cũng phải ra sức trừ diệt các đảng cướp giựt tàn bạo hại dân.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 369 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      373.

      Trọng thì lấy đai cân làm lịnh,
      Khinh thì lo trừ nghịch làm duyên.
      Nước non để tuổi cùng tên,
      Quốc gia khinh trọng bở bền nơi dân.

      Chú thích:

      Trọng: Coi nặng, quan trọng. Khinh: Xem nhẹ. Đai cân: Áo mão, phẩm phục của các quan nơi triều đình. Trừ nghịch: Diệt trừ kẻ phản nghịch, hại dân hại nước. Làm duyên: Làm điều tốt đẹp gây sự chú ý của cấp trên. Bở bền: Bở là dễ hư hỏng tan vỡ; bền là vững bền.

      Câu 373: Việc quan trọng thì do nơi lịnh của các quan.

      Câu 374: Việc không quan trọng thì lo diệt trừ kẻ phản nghịch để gây sự chú ý của cấp trên.

      Câu 376: Việc nước, quan trọng hay không quan trọng, bền vững hay không bền vững, đều do nơi dân. Thuận lòng dân thì bền vững, nghịch lòng dân thì không bền vững.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 373 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      377.

      Con thương mẹ dầu vâng lịnh dạy,
      Thương quê hương trọng ngãi quân thần.
      Ngọn rau tấc đất là ân,
      Một dòng một giống lo cần ích chung.

      Chú thích:

      Trọng ngãi: Trọng nghĩa, xem nặng việc đối xử đúng theo lẽ phải và đạo lý. Nghĩa quân thần: Cách đối xử đúng theo đạo lý giữa vua và bề tôi.

      Câu 379: Chế độ quân chủ thời xưa quan niệm rằng, đất nước nầy là của vua, ngọn rau cũng là của vua, nên người dân ở trên đất của vua, ăn ngọn rau của vua thì phải biết ơn vua.

      Câu 380: Dân tộc Việt Nam là dòng giống Rồng Tiên, nên phải xem nhau như anh em một nhà, giúp đỡ và lo lắng các công việc cần ích chung.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 377 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      381.

      Nếu đề đặng tinh trung hai chữ,
      Vạch lưng con viết thử để dành.
      Rủi cơn loạn quốc khuynh thành,
      Tấm gan liệt sĩ cũng đành độ dân. 

      Chú thích:

      Tinh trung: Tinh là tốt đẹp nhất, trung là hết lòng với vua. Tinh trung là lòng ngay thẳng tốt đẹp trung thành với vua.  Loạn quốc: Nước loạn, có giặc giã nổi lên. Khuynh thành: Thành trì nghiêng đổ vì giặc giã. Tấm gan: Chỉ cái ý chí mạnh mẽ của con người. Liệt sĩ: Người hy sinh tánh mạng của mình để phụng sự quốc gia. Độ dân: Cứu giúp dân chúng.

      Bốn câu thơ trên  lấy theo sự tích Nhạc Phi một danh tướng trung liệt thời nhà Tống bên Tàu.

               Nhạc Phi: Hiệu là Bàng Cử, sanh ở huyện Thang Âm. Nhạc Phi sớm mồ côi cha lúc 3 tuổi, mẹ ở vậy thủ tiết nuôi con. Năm Nhạc Phi lên 8 tuổi, gặp nạn giặc Kim từ phương Bắc đánh xuống Trung nguyên, mẹ con Nhạc Phi phải chạy lánh nạn xuống phương Nam. Mẹ Nhạc Phi biết con trai mình sẽ là người phi thường, nên Bà lấy kim xâm vào lưng con 4 chữ: "Tận trung báo quốc", mà mãi đến khi Nhạc Phi lớn lên cho đến khi chết, bốn chữ nầy vẫn in sâu vào da thịt không phai.

               Khi Nhạc Phi lớn lên, ông rất ham học, thích nhất là bộ sách Xuân Thu của Đức Khổng Tử. Ông đau lòng trước nạn giặc Kim xâm lăng, nên không học khoa cử, mà chuyên luyện tập võ nghệ và học binh thơ.

               Đời Tống Cao Tông, Nhạc Phi đi thi đậu Võ Trạng, được bổ cầm binh đi đánh giặc Kim. Nhạc Phi có tài chinh chiến, đánh thắng quân Kim nhiều trận, lập được công to, một lòng trung trực vì vua vì nước, được vua ban thưởng một lá cờ thêu 4 chữ "Tinh trung Nhạc Phi".

               Vua nước Kim đánh không lại Nhạc Phi nên dùng kế ly gián vua tôi trong triều đình nhà Tống, cho người liên kết và mua chuộc Tể Tướng Tần Cối, cho rằng sau nầy Nhạc Phi lập được nhiều công lớn, sẽ chiếm địa vị của Tần Cối. Tần Cối tâu vua Tống giảng hòa với nước Kim, triệu Nguyên soái Nhạc Phi trở về triều để tìm cách hãm hại.

               Lúc đó Nhạc Phi đang chỉ huy mặt trận, liên tiếp thắng lớn quân Kim, nên Nhạc Phi không chịu lui quân giảng hoà với quân Kim. Vua Tống Cao Tông hôn ám, để cho gian thần Tần Cối lộng quyền, giả lịnh của vua, phát ra liên tiếp 12 đạo kim bài buộc Nhạc Phi rút binh trở về triều. Nhạc Phi buộc phải án binh và đơn thân độc mã trở về triều để tâu bày cùng vua Tống. Khi Nhạc Phi vừa về tới cửa ngõ kinh thành, liền bị Tần Cối cho phục binh đón bắt giam vào ngục mà vua Cao Tông không hay biết.

               Vua nước Kim lại thúc giục Tần Cối giết chết Nhạc Phi, cho rằng Nhạc Phi còn sống thì không thể giảng hòa với nhà Tống. Tần Cối vu cáo Nhạc Phi mưu phản, sai bọn ngục lại giết chết Nhạc Phi vào đêm 30 Tết tại Phong Ba Đình, cùng với người con cả là Nhạc Vân và đứa con nuôi là Trương Hiến. Năm đó Nhạc Phi được 39 tuổi.

               Mọi người đều thương tiếc Nhạc Phi, và vô cùng oán giận gian thần Tần Cối.

               Vua Tống Cao Tông truyền ngôi cho vua Hiếu Tông. Gian thần Tần Cối bị lột mặt nạ và bị giết chết ba họ.

               Câu chuyện đối đáp giữa vua Cao Tông và Nhạc Phi:

               Vua Cao Tông hỏi: Lúc nào thiên hạ thái bình?

               Nhạc Phi đáp: Văn thần bất ái tiền, võ thần bất tích tử, thiên hạ thái bình hỹ. (Quan văn không ham tiền, quan võ chẳng tiếc chết, lúc đó thiên hạ thái bình).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 381 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      385.

      Dầu rủi phận nợ thân chẳng vẹn,
      Đạo Cần Vương nêu tiếng thanh cao.
      Trung thành giữ cõi Nam trào,
      Hùng anh trước đặng Ngụy Tào khiếp oai.

      Chú thích:

      Nợ thân: Món nợ đối với song thân, tức là món nợ về công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Đạo: Đường lối phép tắc phải giữ gìn và tuân theo.

      Cần Vương: Cần là lo lắng giúp đỡ. Cần Vương là hết lòng lo lắng cứu giúp vua khi vua gặp nguy hiểm.

               Trong lịch sử cận đại của nước ta, vào tháng 4 năm ƒt Dậu (1885), vua Hàm Nghi đang ở tại triều đình Huế, không chịu nổi sự áp bức của Khâm Sứ Pháp là Thống Tướng De Courcy, vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết nổ súng chống quân Pháp, nhưng đánh không lại, phải rút lui đi lánh nạn ở Quảng Trị, sau đó lên Tân Sở thuộc Quảng Bình để lo việc khôi phục. Tôn Thất Thuyết ra hịch Cần Vương gởi đi các nơi, các sĩ phu và dân chúng hưởng ứng nổi lên chống quân Pháp.

      Nam Trào: Triều đình của vua nước Việt Nam. Cõi Nam trào: là nước Việt Nam. Hùng anh: Anh hùng. Ngụy Tào: Ngụy là nhà Ngụy, Tào là họ Tào gồm Tào Tháo, Tào Phỉ, Tào Sản,... Đầu tiên là Tào Tháo, dưới thời vua Hán Hiến Đế, làm Thừa Tướng chuyên quyền, xưng là Ngụy Vương. Sau đó, con của Tào Tháo là Tào Phỉ, phế vua Hán, tự mình lên ngôi vua, xưng là Ngụy Văn Đế, lập ra nhà Ngụy, truyền ngôi được 2 đời thì bị Tư Mã Viêm, con của Tư Mã Chiêu, cháu nội của Tư Mã Ý diệt, lập ra nhà Tấn. Ngụy Tào là chỉ nước Tàu. Từ ngữ Ngụy Tào dùng có ngầm ý khinh miệt, theo cách hiểu đồng âm: Ngụy Tàu, tức là giặc Tàu.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 385 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      389.

      Trước quốc chánh chia hai tộc chủng,
      Núi Hoành sơn định phỏng biên cương.
      Bắc Nam hiệp Tổ Hùng Vương,
      Xúm nhau nâng nổi miếu đường Việt Nam.

      Chú thích:

      Quốc chánh: Chánh trị của quốc gia. Tộc chủng: Chủng tộc, nòi giống. Định phỏng: Định chừng gần đúng. Hoành Sơn: Núi Hoành Sơn là núi ở đèo Ngang thuộc Trung phần VN. Biên cương: Bờ cõi, ranh giới giữa 2 nước. Miếu đường: Nhà thờ tổ tiên của nhà vua. Miếu đường được cất trong Hoàng thành, kế bên triều đình, nên Miếu đường chỉ triều đình. Nghĩa bóng : Miếu đường là Hồn nước.

      Hai câu 389-390: Thời trước, nền chánh trị của nước ta chia chủng tộc làm hai, lấy núi Hoành sơn làm biên giới. Hai câu nầy nhắc lại thời Trịnh Nguyễn phân tranh: Chúa Trịnh ở miền Bắc, Chúa Nguyễn ở phương Nam, đôi bên lấy Hoành Sơn làm ranh giới.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 389 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      393.

      Giang san bốn ngàn năm tổ nghiệp,
      Văn hóa so cũng kịp tha bang.
      Xa thơ nay gãy giữa đàng,
      Con tua giữ dạ cứu nàn giúp nguy.

      Chú thích:

      Tha bang: Nước khác. Tha là khác, bang là nước. Xa thơ: Nền văn hóa của một nước. Xa là xe, thơ là sách. Tua: Phải, nên. Giữ dạ: Giữ lòng. Cứu nàn giúp nguy: Cứu giúp tai nạn nguy hiểm.

      Câu 395: Ý nói nền văn hóa của dân tộc Việt Nam bị sụp đỗ giữa đường. Tác giả viết câu nầy vì lúc bấy giờ, nước Việt Nam đang bị nước Pháp đô hộ. Người Pháp đem nền văn minh cơ khí và Thiên Chúa giáo truyền sang nước ta, làm cho nền văn hóa vốn theo Tam giáo của nước ta bị sụp đổ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 393 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      397.

      Nào quốc thể, người khi kẻ thị,
      Nào dân đen, phép quỉ hớp hồn.
      Nấu sôi cái máu anh phong,
      An bang tế thế một lòng lo âu.

      Chú thích:

      Quốc thể: Thể diện của một nước. Khi: Coi rẻ. Khi thị: Xem rẻ, coi thường. Dân đen: Dân nghèo. Phép quỉ hớp hồn: Phép thuật của bọn quỉ bắt hồn người để sai khiến. Người Pháp đem vào Việt Nam những kỹ thuật khoa học tân tiến, khiến người Việt Nam rất kinh ngạc, xem đó như những phép thuật lạ lùng của ma quỉ. Vì vậy, người Việt Nam lúc đó gọi người Pháp là bọn bạch quỉ (quỉ trắng). Anh phong: Tánh cách cao quí tốt đẹp đã có từ lâu đời. Anh là phần đẹp và quí nhứt, phong là thói quen lâu đời. An bang: Làm cho nước yên ổn. Tế thế: Giúp đời.

      Câu 399: Thúc đẩy cái truyền thống anh hùng tốt đẹp đã có từ lâu đời.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 397 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      401.

      Đấng nam tử đâu đâu cũng nợ,
      Khắp năm châu khai mở qui mô.
      Châu lưu tứ hải ngũ hồ,
      Thơ hương đắc vận cậy nhờ dân sanh.

      Chú thích:

      Nam tử: Con trai. Khắp năm châu: Khắp thế giới. Qui mô: Độ rộng lớn về mặt tổ chức thực hiện. Qui là cây thước tròn của thợ mộc, mô là cái khuôn. Châu lưu: Đi vòng quanh khắp nơi. Tứ hải ngũ hồ: Bốn biển năm hồ, khắp thế giới. Thơ hương: Mùi thơm của sách, chỉ người học thức cao, rất tài giỏi. Đắc vận: Được thời vận tốt.

      Câu 404: Người có học thức tài giỏi khi đắc thời thì dân chúng nhờ cậy được.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 401 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      405.

      Vùng Nam Hải uy linh nhứt quốc,
      Cỏ rẽ hai chia đất rấp ranh.
      Trời còn roi nước hùng anh,
      Giang sơn là đấy, còn mình ở đâu?

      Chú thích:

      Nam Hải: Biển chạy dọc theo nước Việt Nam, chỉ nước Việt Nam. Vùng Nam Hải: Vùng đất mà khi xưa, Lạc Long Quân đem 50 đứa con xuống lập nghiệp, ngày nay là nước Việt Nam. Uy linh: Cái oai quyền thiêng liêng đáng nể sợ. Roi: Lưu lại. Hùng anh: Anh hùng.

      Hai câu 405-406: Vùng Nam Hải có một nước uy linh, tại đường ranh giới phân chia hai nước, cỏ mọc rẽ ra hai bên. Ý nói vùng Nam Hải do Trời định dành cho nước Việt Nam.

        "Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
      Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
      Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
      Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

                       (Lý Thường Kiệt)

      Nghĩa là:

      Núi sông nước Nam vua Nam ở,
      Rõ ràng như thế, sách Trời đã định như vậy.
      Làm sao quân giặc lại kéo tới xâm phạm,
      Bọn bây rồi coi sẽ nắm lấy phần thất bại.

      Câu 408: Non sông Việt Nam uy linh anh hùng là thế đấy, còn mình bây giờ đang ở đâu, làm gì?

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 405 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      409.

      Con cũng đứng mày râu dưới thế,
      Nếu kém phương thiếu thế vận trù.
      Dầu khôn, mẹ cũng cho ngu,
      Tài chi trong kiếp tội tù dã man.

      Chú thích:

      Mày râu: do chữ Tu mi, chỉ đàn ông con trai. Kém phương thiếu thế: Thiếu kém phương thế. Vận trù: Tính toán trù liệu để hành động đạt kết quả.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 409 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      413.

      Con phải nhớ da vàng máu đỏ,
      Cõi Nam Châu rỡ rỡ quốc triều.
      Con Hồng cháu Lạc bao nhiêu,
      Thiếu tài khiếm đức, định triều an bang.

      Chú thích:

      Nam Châu: Chỉ nước Việt Nam. Khi nước Tàu đô hộ nước ta, họ sáp nhập Việt Nam thành một Quận hay một Châu của nước Tàu, gọi là Giao Chỉ Quận, Giao Chỉ Bộ hay Giao Châu, sau đổi lại là An Nam Đô Hộ Phủ. Đến đời nhà Nguyễn, vua Gia Long mới đặt tên nước là Việt Nam. Rỡ rỡ: Rực rỡ. Quốc triều: Triều đình của một nước. Con Hồng cháu Lạc: Con cháu của họ Hồng Bàng và Lạc Long Quân. (Xem Chú thích câu 4). Khiếm đức: Thiếu đức. Định triều an bang: Sắp đặt triều đình làm cho nước nhà được yên ổn.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 413 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      417.

      Mẹ dầu phải suối vàng nhắm mắt,
      Vui thấy con đáng mặt làm trai.
      Nhục con, con chịu chớ nài,
      Nhục cho quốc thể ra tài hy sinh.

      Chú thích:

      Suối vàng: do chữ Huỳnh tuyền, chỉ cõi Âm phủ. Thời Xuân Thu, Trịnh Trang Công có chuyện ác cảm với mẹ nên thề rằng: "Bất cập hoàng tuyền vô tương kiến giả" (Chưa đến suối vàng thì không cùng gặp mặt). Sau nhờ Dĩnh Khảo Thúc là người bề tôi hiền, bày mưu để giải lời thề bằng cách khuyên Trịnh Trang Công đào một đường hầm vô sâu trong lòng đất, bày cảnh như cõi Âm phủ, đưa bà mẹ vào đó rồi Trang Công xuống gặp mẹ. Tình mẹ con khắn khít trở lại.

      Câu 417: Mẹ dầu cho chết, linh hồn đi xuống Âm phủ.

      Câu 420: Khi quốc thể bị ô nhục, con phải đem tài sức ra tranh đấu, dù phải hy sinh tánh mạng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 417 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      421.

      Thất xã tắc, dân mình nghịch chủng,
      Quen nghề tham, lại nhũng quan gian.
      Sâu dân mọt nước bạo tàn,
      Mua quan bán chức nhộn nhàng cân đai.

      Chú thích:

      Xã tắc: Một nước. Xã là nơi tế Thần Đất, Tắc là nơi tế Thần Nông. Thất xã tắc: Mất nước. Nghịch chủng: Phản nghịch lại chủng tộc. Lại nhũng quan gian: Quan lại tham nhũng, gian dối. Sâu dân mọt nước: Chỉ những quan lại tham ô, chuyên đục khoét của dân để làm lợi riêng. Con sâu và con mọt là 2 loại côn trùng chuyên đục khoét phá hại cây cối. Nhộn nhàng: Rộn rịp đông đảo. Cân đai: Cái mão và cái đai áo rộng, chỉ phẩm phục của các quan nơi triều đình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 421 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      425.

      Đem chơn chánh phô bày trừ mị,
      Nâng niu cho dân khí lẫy lừng.
      Dân thì biết phận làm dân,
      Chúa cho đáng chúa, đình thần đáng quan.

      Chú thích:

      Phô bày: Phô trương và bày ra. Trừ mị: Diệt trừ tà mị. Mị là phỉnh nịnh để lừa gạt. Nâng niu: Chăm chút với tình yêu mến trân trọng. Dân khí: Cái tinh thần của một dân tộc. Lẫy lừng: Bốc lên cao một cách mạnh mẽ. Đình thần: Các quan trong triều đình.

      Hai câu 427-428: Đây là áp dụng theo thuyết Chính danh Định phận của Đức Khổng Tử. Luận Ngữ viết: Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử. Nghĩa là: Vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, cha ra cha, con ra con. Giữ cái trật tự cho rõ ràng, danh phận cho chính đáng, tức là giữ căn bản cho việc chánh trị trong nước.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 425 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      429.

      Trừ đảng dữ tham gian bạo ngược,
      Diệt những phường mưu chước cầu vinh.
      Xem dường cuồng khấu biên đình,
      Cung dâu tên cỏ, nước mình chấn hưng.

      Chú thích:

      Đảng dữ: Bè đảng hung dữ. Tham gian: Tham lam gian trá. Bạo ngược: Hung bạo ngang ngược. Phường: Đám, bọn. Cầu vinh: Mưu cầu vinh hiển. Cuồng khấu: Giặc cướp tàn ác dữ dội. Biên đình: Miền biên thùy xa xôi. Cung dâu tên cỏ: Do thành ngữ chữ Hán: "Tang bồng hồ thỉ." nghĩa là: Cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng. Theo Kinh Lễ, khi Hoàng Hậu sanh đặng Hoàng nam, quan coi việc lấy cây cung bằng gỗ dâu và cây tên bằng cỏ bồng bắn ra bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc, rồi bắn một phát lên trời, một phát xuống đất. Ngụ ý nói rằng: Người làm trai chí ở bốn phương, tung hoành giữa Trời Đất, ôm hoài bão giúp dân giúp nước. Chấn hưng: Làm cho trở nên hưng thịnh.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 429 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      433.

      Xem lịch sử vĩ nhân mấy mặt,
      Đại trượng phu trước giặc vong thân.
      Nên danh khai quốc công thần,
      Nêu tên hậu thế xa gần tặng phong.

      Chú thích:

      Vĩ nhân: Người có tài đức và sự nghiệp to lớn. Đại trượng phu: Người đàn ông tài giỏi xuất chúng, đáng được mọi người kính trọng. Vong thân: Quên mình. Nên danh: Tạo nên được cái tiếng tăm tốt. Khai quốc công thần: Người bề tôi có công lớn trong việc mở ra một triều đại mới cho đất nước. Hậu thế: Đời sau. Tặng phong: Khen tặng phong tước.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 433 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      437.

      Muốn hiển tổ vinh tông báo hiếu,
      Học cho hay trọng yếu miếu đường.
      Tầng quen cỡi ngựa cầm cương,
      Trận trung quyết thắng chiến trường đoạt binh.

      Chú thích:

      Hiển tổ vinh tông: Vinh hiển tổ tiên của dòng họ. Trọng yếu: Rất quan trọng. Miếu đường: Hồn nước. Trận trung: Giữa trận chiến. Trung là giữa. Đoạt binh: Thắng trận bắt được quân địch.

      Câu 439: Đã từng xông pha nơi chiến trận.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 437 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      441.

      Lựa những mặt tài tình thọ giáo,
      Học cho thông mối đạo quân thần.
      Trương Lương dâng dép ba lần,
      Chút công ấy định Hớn Tần nên hư.

      Chú thích:

      Tài tình: Tài giỏi khéo léo đáng kính phục. Thọ giáo: Nhận chịu sự dạy dỗ, theo học. Đạo quân thần: Bổn phận phép tắc cư xử đúng theo đạo lý giữa vua và bề tôi. Vua thì phải sáng suốt và chăm lo cho dân, bề tôi thì phải hết lòng giúp vua lo việc nước.

      Hai câu 443-444: Nói về sự tích Trương Lương.

               Trương Lương: Người nước Hàn. Nước Hàn bị vua Tần Thủy Hoàng tiêu diệt. Trương Lương muốn báo thù cho nước Hàn nên tìm cách giết Tần Thủy Hoàng. Trương Lương tìm được một dũng sĩ, bày kế cho dũng sĩ cầm cái chùy nặng núp ở bãi cát Bác Lãng, đợi xe của vua Tần đi ngang thì nhào ra đánh, nhưng lại đánh lầm xe tùy tùng nên dũng sĩ bị giết chết ngay. Trương Lương bị vua Tần truy nã nên phải thay tên đổi họ trốn lánh ở Hạ Bì.

               Có lần Trương Lương dạo chơi trên cầu Hạ Bì, thấy một cụ già đi đến cầu gần chỗ mình, chăm chăm nhìn Trương Lương rất lâu, rồi cụ làm rơi một chiếc dép xuống dưới cầu, bảo Trương Lương xuống lượm lên cho cụ.

               Lương để ý thấy việc nầy hơi lạ, nhưng vẫn nghe lời cụ già, trèo xuống lượm dép cho cụ. Cụ mang dép vào, rồi bật bật thế nào để dép rơi lần nữa. Cụ lại bảo Trương Lương xuống nhặt dép cho cụ. Lương lại chiều ý cụ già, lội xuống cầu lượm dép đem lên cho cụ, cẩn thận xỏ vào chân cụ.

               Ông cụ đi tới đi lui loay quay thế nào làm rơi chiếc dép lần nữa, rồi cụ cũng không ngại ngùng gì cả, thản nhiên bảo Trương Lương xuống cầu lượm dép cho cụ. Đây là lần thứ 3, Trương Lương rất bực mình, nhưng đã trót giúp cụ thì rán giúp luôn để xem cụ già nầy thế nào. Cụ già xỏ dép vào chân, cười rồi bỏ đi, chẳng một tiếng cám ơn. Đi được một đổi, cụ quay lại bảo Lương: Thằng bé nầy dạy được, 5 ngày sau, vào lúc tinh mơ, mày đến đây gặp ta.

               Y hẹn, Trương Lương đến thì đã thấy ông cụ ở đây rồi. Cụ trách Lương sao đến muộn để cụ phải chờ. Cụ lại hẹn 5 ngày sau nữa, Lương hãy đến nơi đây gặp cụ lúc sáng tinh mơ. Kỳ nầy, đúng ngày, Lương thức dậy thật sớm, đi đến chỗ hẹn với cụ già, nhưng khi đến thì đã thấy cụ ở đó ngồi chờ. Cụ giận trách Lương sao đến trễ. Cụ lại hẹn 5 ngày sau nữa, hãy ra đây cho sớm.

               Năm ngày sau, Lương đến chỗ hẹn vào lúc nửa đêm để chờ cụ. Lát sau, cụ già đến, thấy Lương đã có mặt thì rất hài lòng, liền trao cho Lương quyển sách "Thái Công Binh Pháp" rồi nói: Con học hết quyển sách nầy thì làm thầy bậc vương giả. Mười năm nữa sẽ ứng nghiệm. Mười ba năm sau, con đến gặp ta, hòn đá màu vàng dưới chân núi Cốc Thành phía Bắc sông Tế là ta đó.

               Sau đó, Trương Lương theo phò Hớn Lưu Bang, được cử làm Quân Sư , bày mưu cho Hớn đánh lấy nhà Tần, tiêu diệt Sở Bá Vương Hạng Võ, thống nhứt nước Tàu, lập ra nhà Hán, Lưu Bang lên làm vua, xưng hiệu là Hớn Cao Tổ. Trương Lương không ham phú quí vinh hoa, xin vua cho lui về núi tìm Tiên Ông Huỳnh Thạch Công (Huỳnh Thạch là hòn đá vàng) học đạo tu Tiên.

               Do 3 lần dâng dép mà Trương Lương được Tiên Ông trao bộ sách quí, nhờ đó giúp Lưu Bang diệt nhà Tần, trừ Hạng Võ, mở ra nhà Hán.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 441 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      445.

      Trọng Ni nhận vi sư Hạng Thác,
      Học tinh thần khai phát Nho tông.
      Gẫm coi tổn bấy nhiêu công,
      Làm cho thiên hạ đại đồng trí tri.

      Chú thích:

      Trọng Ni: Tên tự của Đức Khổng Tử. Vi sư: Là thầy. Khai phát: Mở ra và phát triển. Gẫm coi: Suy nghĩ xem. Thiên hạ: Dưới Trời, chỉ nhơn loại. Đại đồng: Cùng chung một qui mô lớn lao, cùng làm việc và cùng vui hưởng. Trí tri: Đạt được cái hiểu biết đến tận cùng. Trí là tới cùng, tri là sự hiểu biết.

      Câu 445: Đức Khổng Tử nhận Hạng Thác là bực thầy.

               Đức Khổng Tử cùng một số môn đệ đi qua nước Trần, trên đường gặp cậu bé Hạng Thác đang cặm cụi đắp chơi một cái thành bằng cát giữa đường. Xe của Đức Khổng Tử đến gần, bảo: Sao cậu không tránh cho xe của tôi đi?

               Cậu bé thản nhiên đáp: Xưa nay, xe tránh thành chớ thành nào có tránh xe.

               Ngài thấy cậu bé rất lạ, liền xuống xe nói chuyện, thấy cậu rất thông minh, hỏi cậu nhiều điều rất khó khăn mà cậu giải đáp rất lưu loát làm Ngài kính phục. Sau, cậu bé hỏi lại Ngài vài điều làm Ngài rất khó trả lời, đành chịu thua, nhận Hạng Thác là thầy.

               "Đức Khổng Tử khi còn nhập thế, chưa xuất thế, ở Nhơn đạo, chưa học Thiên Đạo. Ngài học văn chương, dạy cang thường luân lý, sau Ngài học Lễ với Lão Tử, cũng giáo huấn môn đồ về Nhơn đạo. Ngài có vợ có con, thịt ăn rượu uống. Vậy nên có câu rằng: Khổng Tử Thiên sanh chơn kỳ trí, Tánh mạng công phu thỉ bất minh. Nghĩa là: Khổng Tử, Trời sanh người trí lạ, Tánh mạng phép công phu chưa rõ đặng. Sau Ngài qua nước Trần, gặp Hạng Thác, chừng đó mới học qua Thiên đạo, mới cấm răn rượu thịt, dâm dục, y theo qui giới mà tu Thiên đạo, nên có câu: Trai minh thạnh phục, yết dục dưỡng tinh." (Trích Hội Lý Xiển Chơn Luận Nguyễn Văn Kinh).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 445 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      449.

      Tôn kỉnh thầy cũng bì cha trẻ,
      Mới đắc truyền mọi lẽ cao sâu.
      Học hay kế nhiệm mưu mầu,
      Học nên tài đặng giải sầu quốc gia.

      Chú thích:

      Tôn kỉnh: Kính trọng. Cũng bì: Cũng so sánh bằng. Đắc truyền: Được truyền lại cho. Kế nhiệm mưu mầu: Mưu kế mầu nhiệm.

      Câu 449: Con phải kính trọng thầy cũng bằng kính trọng cha của con vậy, bởi vì cái công giáo hóa sánh bằng công sanh thành dưỡng dục.

      Câu 452: Học cho thật giỏi đặng cổi ách nô lệ cho nước ta, dân chúng hết sầu khổ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 449 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      453.

      Học đặng định chánh tà giả thiệt,
      Học cho thông đặc biệt hư nên.
      Học gan sắt đá cứng bền,
      Học cho đủ chước xây nền Nam phong.

      Chú thích:

      Chánh tà: Chánh là ngay thẳng, tà là cong quẹo xảo trá. Nhờ có tà mà cái chánh mới trổi lên cao. Chánh tà là 2 điều cần thiết để con người trau giồi đức tánh mà tiến hóa. Giả thiệt: Cái giả thuộc về tà, thiệt thuộc về chánh. Đủ chước: Đầy đủ mưu chước kế hoạch. Nam phong: Nền phong hóa của dân tộc Việt Nam. Phong hóa là phong tục, tạp quán và nếp sống của một dân tộc. Đức Chí Tôn nói rằng: "Nam phong thử nhựt biến nhơn phong." nghĩa là: Nền phong hóa của dân tộc Việt Nam ngày sau sẽ trở thành nền phong hoá của nhơn loại.

      Câu 455: Học để cho cái chí khí cứng như đá, bền như sắt. (Gan là biểu tượng của tinh thần và ý chí).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 453 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      457.

      Học cho rộng giao thông tứ xứ,
      Học cho cùng xử sự ngoại lân.
      Học cho đúng bậc tài thần,
      Ưu quân ái quốc vua cần dân nghinh.

      Chú thích:

      Tứ xứ: Bốn nước ở chung quanh, ý nói toàn cả các nước trên thế giới. Xử sự: Giải quyết thỏa đáng công việc. Ngoại lân: Các ngoại quốc láng giềng với nước mình. Tài thần: Tài là tài năng làm nên việc, thần là kẻ bề tôi của vua. Tài thần là người bề tôi tài giỏi. Ưu quân: Lo lắng cho vua, ý nói lo lắng cho nước. Ái quốc: Lòng yêu nước thương nòi. Dân nghinh: Dân chúng hoan nghinh.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 457 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      461.

      Học cho thấu máy linh cơ tạo,
      Học cho toàn trí xảo văn minh.
      Thâu tài hay nhập nước mình,
      Làm cho dân hưởng thái bình giàu sang.

      Chú thích:

      Học cho thấu: Học cho biết rõ. Thấu là biết rõ. Máy linh cơ tạo: Linh là thiêng liêng, cơ là bộ máy, tạo là làm ra, cơ tạo là bộ máy của Đấng Tạo hóa. Máy linh cơ tạo là bộ máy thiêng liêng của Đấng Tạo hóa, tức là bộ máy thiêng liêng của Ông Trời. Trí xảo: Sự hiểu biết khéo léo. Trí là sự hiểu biết, xảo là khéo léo. Văn minh: Văn là vẻ đẹp, minh là vẻ sáng. Văn minh là cái mức sinh hoạt sáng đẹp của một xã hội tiến bộ.

      Câu 463: Thâu tài hay nhập nước mình, ý nói phải đi du học ở các nước tiến bộ, có nền văn minh cao hơn mình, để đem những cái hay của họ về áp dụng cho đất nước mình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 461 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      465.

      Công dạy dỗ muôn ngàn khó nhọc,
      Ơn của thầy con học nên người.
      Tài hay tom góp một đời,
      Cho con chẳng kể vốn lời hơn thua.

      Chú thích:

      Hai câu 467-468: Thầy dạy chữ có một tinh thần khác hơn ông thầy dạy võ hay dạy nghề, vì ông thầy dạy chữ thâu thập được bao nhiêu hiểu biết đều đem dạy hết cho trò, chớ không giấu nghề giữ miếng như thầy dạy võ hay dạy nghề.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 465 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      469.

      Thầy lao lực tùy vừa trí trẻ,
      Dạy cho thông mọi lẽ gần xa.
      Tuổi xanh con đặng trí già,
      Còn thơ con học hóa ra lão thành.

      Chú thích:

      Lao lực: Mệt nhọc vì đem sức lực ra làm việc. Thông: Hiểu rõ. Tuổi xanh: Tuổi trẻ.

      Câu 471: Con còn trẻ mà có được sự hiểu biết của người già, bởi vì ông thầy già đã đem hết các kiến thức thâu thập được của cả đời ông truyền lại cho con.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 469 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      473.

      Con nhờ thầy công danh mới toại,
      Như nhờ cha mới giỏi hình dung.
      Hai ơn ấy gẫm so đồng,
      Nghĩa kia như hiếu, mặn nồng cả hai.

      Chú thích:

      Công danh: Ý nói việc ra làm quan để có danh tiếng và sự nghiệp vẻ vang với đời. Toại: Thỏa lòng. Giỏi hình dung: Hình dáng tốt đẹp. Gẫm: Ngẫm nghĩ. Mặn nồng: Đậm đà thắm thiết.

      Hai câu 475-476: Ơn thầy và ơn cha suy nghĩ kỹ thì đồng đều như nhau. Đối với thầy là nghĩa, đối với cha là hiếu, phải giữ cho đậm đà thắm thiết cả hai.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 473 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      477.

      Xưa ruộng Thuấn voi cày chim cấy,
      Vì hiếu thân nổi dậy tuổi tên.
      Đế Nghiêu tìm hiếu truyền hiền,
      Nương nơi gương ấy vẫn bền đạo con.

      Chú thích:

      Hiếu thân: Có hiếu với cha mẹ. Thân là chỉ cha mẹ. Truyền hiền: Tìm người có đức hạnh và tài giỏi để truyền ngôi vua. Trước thời vua Hạ Võ nước Tàu, ngôi vua được truyền hiền, sau thời đó thì bắt đầu truyền tử. (Tử là con).

      Bốn câu thơ trên nhắc lại sự tích vua Thuấn, gương hiếu thảo thứ nhứt trong Nhị Thập Tứ Hiếu.

               Ông Thuấn họ Ngu, cha là Cổ Tẩu, mẹ mất sớm, ở với mẹ ghẻ và em khác mẹ là Tượng. Cổ Tẩu thường nghe lời vợ kế, bỏ bê và đày đọa Thuấn. Còn mẹ ghẻ thì muốn trừ khử Thuấn, xúi Cổ Tẩu sai Thuấn đi cày ở đất Lịch Sơn, là nơi có nhiều cọp dữ để cọp ra bắt Thuấn ăn thịt. Thuấn vẫn nghe lời cha mẹ, không chút than van, đến cày ruộng ở Lịch Sơn. Lòng hiếu thảo cảm động Trời cao, khiến cọp dữ không dám đến gần, voi ra cày đất, chim bay đến nhặt cỏ.

               Thấy không hại được Thuấn cách nầy, bà mẹ ghẻ lại xúi Cổ Tẩu sai Thuấn đi đánh cá ở đầm Lôi Trạch, là nơi thường có giông to gió lớn nhận chìm ghe thuyền. Thuấn vẫn nghe lời cha mẹ, đến đó đánh cá. Khi Thuấn đến thì gió lặng sóng êm, như ngầm giúp người con hiếu thảo.

               Dù bị hãm hại nhiều lần, nhưng Thuấn vẫn một lòng hiếu thảo cha mẹ, vui thuận cùng em Tượng, sau cùng làm mẹ ghẻ cảm động, đổi tánh trở lại hiền lương thương yêu Thuấn. Vua Nghiêu nghe tiếng, biết Thuấn là kẻ hiền tài, đủ tánh đức trị dân. Ngài gả 2 con gái Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn, và truyền ngôi cho Thuấn nối tiếp trị vì thiên hạ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 477 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      481.

      Mẫn Tử Khiên tích còn roi dấu,
      Dẩy xe cha áo xấu mặt dơ.
      Sợ đàn em dại u ơ,
      Khổ thà cam khổ cũng thờ dưỡng nghi.

      Chú thích:

      Roi dấu: Lưu lại dấu tích. Roi là lưu lại. Dẩy xe cha: Đẩy cho xe của cha cất lên đi tới. Em dại u ơ: Em còn nhỏ dại, mới biết nói u ơ. Dưỡng nghi: Mẹ nuôi. Dưỡng là nuôi, nghi là khuôn mẫu, chỉ người mẹ. Dưỡng nghi đồng nghĩa Dưỡng mẫu.

      Bốn câu thơ trên nhắc lại sự tích Mẫn Tử Khiên, gương hiếu thảo thứ tư trong Nhị Thập Tứ Hiếu.

               Mẫn Tử Khiên: Tên thật là Tổn, người nước Lỗ, sanh vào thời Xuân Thu, học trò của Đức Khổng Tử. Mẹ mất sớm, cha cưới vợ kế sanh được 2 con. Cảnh mẹ ghẻ con chồng thật là khắc nghiệt, nhưng Mẫn Tử Khiên giữ một lòng hiếu thảo với cha và mẹ ghẻ, hòa nhã thương yêu 2 em.

               Mùa đông giá rét, hai con của mẹ ghẻ được mặc áo bông ấm áp, còn Tử Khiên thì phải mặc áo lót bông lau không đủ ấm, lại còn phải đẩy xe cho cha đi dạo chơi. Vì quá rét, tay của Tử Khiên bị cóng, phải rời xe ra. Người cha thấy vậy mới nghĩ lại biết là kế mẫu quá hà khắc với Mẫn Tử Khiên, liền trở về nhà định đuổi bà đi. Mẫn Tử Khiên khóc lóc xin cha nghĩ lại, vì nếu kế mẫu còn thì chỉ có một mình con chịu rét, còn nếu kế mẫu bị đuổi đi thì thêm 2 em con cũng bị rét mướt khổ sở nữa.

               Người cha nghe theo, về nhà thuật lại cho bà vợ kế nghe lời nói của Mẫn Tử Khiên. Bà cảm động hồi tâm, thay đổi cách sống và từ đó trở đi, bà trở thành một hiền mẫu.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 481 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      485.

      Con ví biết trọng nghì phụ tử,
      Hiển tông môn khá giữ nơi lòng.
      Đừng làm nhục tổ hổ tông,
      Lập thân trả hiếu nối dòng truyền hương.

      Chú thích:

      Trọng nghì: Tôn trọng cái nghĩa. Phụ tử: Cha con. Hiển tông môn: Làm cho vẻ vang dòng họ. Nhục tổ hổ tông: Làm nhục nhã tổ tiên của dòng họ. Lập thân: Tạo dựng sự nghiệp cho bản thân mình. Nối dòng: Nối tiếp dòng họ truyền kế lâu dài. Truyền hương: Ý nói:Truyền kế lửa hương, nghĩa là nối tiếp sự thờ cùng tổ tiên.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 485 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      489.

      Nhìn thung đường đền ơn cúc dục,
      Nhớ công sanh giữ chút hình hài.
      Dưỡng nuôi lao khổ đắng cay,
      Lửa hương chỉn ước có ngày nối xa.

      Chú thích:

      Thung đường: Nhà thung, chỉ người cha. Thung là cây thung, cũng gọi là cây xuân. Theo sách Trang Tử, thời xưa có cây xuân, sống rất lâu, mùa xuân của nó kéo dài đến 8000 năm. Do đó người ta dùng chữ Xuân hay Thung để chỉ người cha vì con muốn cha sống lâu. Cúc dục: Cúc là nuôi dưỡng, dục là nuôi nấng. Cúc dục là chỉ công ơn nuôi dưỡng con cái của cha mẹ. Công sanh: Công lao sanh thành. Hình hài: Thân thể của con người. Lao khổ: Mệt nhọc cực khổ. Đắng cay: Đau khổ xót xa. Lửa hương: Chỉ sự thờ cúng tổ tiên. Chỉn ước: Chỉ mong. Chỉn là chỉ, vốn, vẫn. Nối xa: Nối tiếp mãi mãi về sau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 489 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      493.

      Còn em út trong nhà thơ bé,
      Trai dạy khuyên, gái để khép khuôn.
      Con đừng quen tánh luông tuồng,
      Các em hư nết, gieo buồn song thân.

      Chú thích:

      Khép khuôn: Đặt vào khuôn phép của gia đình. Luông tuồng: Tự do bừa bãi, không giữ được mực thước trong cách sống. Hư nết: Hư hỏng tánh nết. Gieo buồn: Đem lại sự buồn rầu. Song thân: Cha mẹ.

      Hai câu 495-496: Con là anh cả trong nhà, cần phải làm gương cho các em, đừng có quen tánh luông tuồng, làm các em bắt chước mà hư hỏng tánh nết, gây ra buồn phiền cho cha mẹ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 493 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      497.

      Một cục máu chia phân mấy mảnh,
      Hình hài em tượng ảnh thân con.
      Chữ rằng huyết mạch đồng môn,
      Riêng chưng thân thể, tâm hồn cũng con.

      Chú thích:

      Chữ rằng: Sách có câu rằng. Huyết mạch: Dòng máu. Đồng môn: Cùng một cửa. Huyết mạch đồng môn: Ý nói anh em ruột với nhau vì cùng một dòng máu, cùng một cửa sanh ra. Chưng: Tại, ở tại. Riêng chưng thân thể: Riêng nhau là ở nơi thân thể. Tâm hồn: Ý nghĩ và tình cảm làm thành đời sống bên trong của con người.

      Câu 497: Ý nói một mẹ mà sanh ra mấy đứa con.

      Câu 498: Hình hài của em con chính là hình ảnh của con, vì các anh em con đều là ruột thịt với nhau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 497 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      501.

      Ngoài gia tộc, nước non vầy bạn,
      Lựa tài danh giao cạn tâm tình.
      Đời như trận giặc đua tranh,
      Dầu tài một ngựa một mình khó nên.

      Chú thích:

      Ngoài gia tộc: Những người ở ngoài dòng họ của mình, tức là những người không bà con với mình. Vầy bạn: Hiệp bạn, kết bạn với nhau. Tài danh: Người tài giỏi nổi tiếng. Giao cạn tâm tình: Ý nói bạn tâm giao, hiểu biết lòng dạ của nhau, đối đãi hết lòng hết dạ với nhau. Một ngựa một mình: do thành ngữ chữ Hán: Đơn thân độc mã, ý nói chiến đấu lẻ loi, không ai giúp sức.

      Câu 501: Ngoài những người trong gia tộc, con nên kết bạn rộng rãi khắp nơi.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 501 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      505.

      Coi gương trước Thánh Hiền ghi lại,
      Kết bạn nhau đạo ngãi làm sao.
      Tuy là khác thửa đồng bào,
      Mà trong sanh tử một màu sắt son.

      Chú thích:

      Đạo ngãi: Đạo nghĩa. Đường lối mà con người phải tuân theo trong việc đối xử được công bằng và hợp lẽ phải. Thửa: Dịch chữ "kỳ" của Hán văn, là tiếng đại từ thế cho người hay vật, nghĩa là: Người ấy, cái ấy. Đồng bào: Cùng một bào thai, chỉ dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam thường hay gọi nhau là đồng bào. (Xem lại Chú thích câu 4). Sắt son: Bền vững như sắt, không phai màu như son.

      Hai câu 507-508: Bạn bè, tuy là người khác nhau nhưng là đồng bào với nhau, nên có thể sống chết cùng nhau, một lòng một dạ với nhau, bền vững không thay đổi.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 505 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      509.

      Lưu Quan Trương giữ còn nghiệp Hớn,
      Gìn trọn thề chết sống có nhau.
      Dầu cơn độc mã đơn đao,
      Tâm trung nghĩa khí, Ngô, Tào cũng kiêng.

      Chú thích:

      Lưu Quan Trương: Lưu Bị, Quan Võ, Trương Phi là 3 anh em kết nghĩa với nhau. Giữ còn nghiệp Hớn: Giữ cho sự nghiệp của nhà Hán được tồn tại. Độc mã đơn đao: Một ngựa một đao. Một ngựa là chỉ một con ngựa Xích thố, một đao là một cây Thanh long đao. Tâm trung: Tấm lòng trung thành. Nghĩa khí: Có tinh thần thần cao cả, quên mình vì việc nghĩa. Kiêng: Nể sợ. Ngô: Ngô Tôn Quyền, làm vua nước Ngô ở phía Đông. Tào: Tào Tháo, được xem là Chúa nước Ngụy ở phía Bắc. Còn Lưu Bị là vua nước Thục ở phía Tây. Nước Tàu chia làm 3 nước, gọi là thời Tam Quốc.

      Hai câu 509-510: Vào cuối đời nhà Hán, 3 người: Lưu Bị, Quan Võ, Trương Phi, có chí hướng hạp nhau, nên sắm lễ vật đặt tại Vườn Đào (Đào viên) đốt nhang khấn vái Trời Đất thề nguyền kết nghĩa anh em với nhau, thề sống thác cùng nhau.  Ba vị Lưu, Quan, Trương giữ đúng lời nguyền, thương nhau như anh em ruột thịt, sang cùng hưởng, khổ đồng chịu, không một mảy may xích mích nhau, để lại cho đời sau một tấm gương sáng chói về anh em kết nghĩa.

      Hai câu 511-512: Nói về Quan Võ, một mình một ngựa một đao, phò Nhị tẩu (2 bà vợ của Lưu Bị) từ dinh của Tào Tháo, vượt qua 5 ải, chém chết 6 tướng trấn ải ngăn đường, qua sông Hoàng Hà, đến Cổ Thành để tìm gặp Lưu Bị. Với tài võ dõng trác tuyệt, với tâm trung nghĩa khí sáng ngời làm cho Ngô Tôn Quyền và Tào Tháo phải nể sợ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 509 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      513.

      Sài Triệu Trịnh cũng nguyền như thế,
      Mà nên mưu đủ kế đồ vương.
      Tống thâu thiên hạ Đại Đường,
      Cũng do bởi học nơi trường hữu giao.

      Chú thích:

      Sài Triệu Trịnh: Sài Vinh, Triệu Khuôn Dẫn, Trịnh Ân, 3 người đồng thề nguyền kết nghĩa anh em với nhau tại Huỳnh Thổ Ba. Sài Vinh lớn tuổi nhất làm đại ca, kế là họ Triệu làm Nhị ca, tam đệ là Trịnh Ân. Vào cuối nhà Đường, 3 anh em đồng phò tá Quách Ngạn Oai lên làm vua, ấy là vua Thái Tổ nhà Hậu Chu. Quách Ngạn Oai không con, truyền ngôi lại cho cháu là Sài Vinh. Triệu Khuôn Dẫn và Trịnh Ân phò tá Sài Vinh. Sau, Sài Vinh chết, quân Khiết Đan rất mạnh, đem quân vào đánh Trung nguyên, Triệu Khuôn Dẫn đại phá quân địch, được các tướng đồng tôn Triệu Khuôn Dẫn lên làm vua, mở ra nhà Tống, lấy hiệu là Tống Thái Tổ. Đồ vương: Mưu tính sắp đặt kế hoạch để làm vua. Tống: Nhà Tống. Thâu: Gom góp lại. Thiên hạ: Ý nói dân chúng. Đại Đường: là nhà Đường, nói tôn lên, cũng như nhà Tống thì gọi là Đại Tống. Hữu giao: Hữu là bạn, giao là qua lại với nhau. Hữu giao là bè bạn giao tiếp với nhau.

      Câu 515: Nhà Tống tóm thâu dân chúng của nhà Đường. Theo Trung Quốc sử, vào cuối nhà Đường, triều đình suy nhược, các chư hầu không phục, tách ra tự lập làm vua một cõi riêng, tạo thành 5 nước: Đường, Lương, Tấn, Hán, Chu, gọi là đời Ngũ Đại (907-960). Sau Triệu Khuôn Dẫn đem quân đánh các nước, thâu về một mối, thống nhứt nước Tàu, lập ra nhà Tống.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 513 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      517.

      Trong vũ trụ hiệp hào là mạnh,
      Phận đồ thơ phải gánh non sông.
      Anh em bạn tác vầy đông,
      Xô thành cũng ngã, lấp sông cũng bằng.

      Chú thích:

      Vũ trụ: Vũ là khoảng không gian gồn 4 phương và trên dưới, trụ là thời gian xưa nay qua lại. Vũ trụ là khắp không gian và thời gian suốt xưa nay. Nghĩa hẹp, vũ trụ là thế giới loài người. Hiệp hào: Hợp lại thì tạo được sức mạnh hơn người. Hiệp là hợp lại, hào là tài sức hơn người. Đồ thơ: Bản đồ và sách, chỉ người có học thức và có tài an bang tế thế. Bạn tác: Bạn cùng tuổi với nhau. Vầy đông: Hợp lại nhiều người. Vầy là hợp lại.

      Hai câu 519-520: Anh em bè bạn kết hợp đông đảo tạo nên sức mạnh vĩ đại, có thể làm những việc phi thường như xô thành cũng ngã, lấp sông cũng đầy.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 517 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      521.

      Trai nam tử gió trăng là phận,
      Đạp nước non đặng tấn khí hùng.
      Đi con đường thế gai chông,
      Lớn gan hiu quạnh thì lòng cũng nao.

      Chú thích:

      Gió trăng: Những nỗi xông pha vất vả, lấy gió làm quạt, lấy trăng làm đèn. Đạp nước non: Ý nói lội suối trèo non. Tấn: Tiến lên. Khí hùng: Cái chí khí anh hùng. Gai chông: Những khó khăn trở ngại nguy hiểm. Lớn gan: Ý nói lòng can đảm to lớn. Hiu quạnh: Cô đơn, chỉ có một mình. Nao: Nao núng.

      Câu 524: Dù có can đảm hơn người nhưng trong việc đấu tranh mà chỉ có một mình cô đơn thì lòng cũng cảm thấy lung lay, lo ngại.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 521 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      525.

      Tình phu phụ biết bao nghĩa trọng,
      Đạo nhơn luân gầy sống của đời.
      Dầu cho non nước đổi dời,
      Còn niềm chồng vợ, còn người còn ta.

      Chú thích:

      Tình phu phụ: Tình nghĩa vợ chồng. Đạo nhơn luân: Đường lối cư xử theo đạo lý giữa con người với nhau trong xã hội. Ở đây, Đạo nhơn luân là chỉ đạo vợ chồng. (Xem Chú thích câu 366). Gầy sống của đời: Tạo ra cuộc sống cho xã hội. Niềm: Tâm trạng hay tình cảm.

      Câu 526: Đạo vợ chồng sản xuất ra những con người mới, tạo dựng cuộc sống cho xã hội được nối tiếp trường tồn.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 525 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      529.

      Bạn trăm tuổi thân hòa làm một,
      Dầu sanh hèn xấu tốt cũng duyên.
      Cùng nhau giữ vẹn hương nguyền,
      Cái duyên kinh bố là duyên Châu Trần.

      Chú thích:

      Bạn trăm tuổi: Chỉ người vợ hoặc người chồng. Hương nguyền: Cây nhang đốt lên để khấn vái Trời Đất thề nguyền chung sống với nhau nhau đến trọn đời. Kinh bố: Chỉ người vợ cần kiệm biết lo cho gia đình. (Xem Chú thích câu 101).

      Châu Trần: Thơ của Bạch Cư Dị:

        Từ Châu cổ Phong huyện, hữu thôn viết Châu Trần.
      Nhất thôn duy lưỡng tính, thế thế vi hôn nhân.

      Nghĩa là:

      Đất Từ Châu xưa có huyện Phong, có một thôn gọi là Châu Trần.
      Một thôn chỉ có 2 họ, đời đời gả cưới con cái cho nhau.

      Duyên Châu Trần: Việc kết hôn với nhau xứng đôi đẹp lứa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 529 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      533.

      Con đừng thấy phụ nhân nan hóa,
      Cầm hồn hoa vầy vã thân hoa.
      Vợ con thay phận mẹ già,
      Nuôi con mẹ cậy bóng ngà nữ dung.

      Chú thích:

      Phụ nhân: Người đàn bà. Nan hóa: Khó làm cho thay đổi, tức là khó dạy dỗ.

      Cầm hồn hoa: Hoa chỉ người con gái. Người con gái có chồng thì giao trọn đời mình cho chồng định đoạt, cũng giống như người chồng cầm giữ hồn phách của vợ. Cho nên trong Bài Kinh Tụng khi chồng qui vị, Tiên Nương Đoàn Thị Điểm viết:

      Gởi hồn phách cho chàng định số,
      Gởi kiếp căn chàng mở dây oan.

      Vầy vã thân hoa: Đối xử thô bạo với vợ. Vầy vả: Ý nói chà đạp, đối xử thô bạo. Bóng ngà: Đồng nghĩa Bóng ngọc, chỉ người con gái. Nữ dung: Vẻ mặt của người con gái. Bóng ngà nữ dung: Chỉ người vợ vì nàng vốn là người con gái đẹp.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 533 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      537.

      Khi tối sớm lạnh nồng có kẻ,
      Thân mật con đặng dễ giữ con.
      Mẹ lo trong lúc còn non,
      Vợ con lo lúc thân mòn gối run.

      Chú thích:

      Lạnh nồng: do chữ Hàn ôn, hàn là lạnh, ôn là ấm. Lạnh nồng ý nói: Hỏi thăm nhau, săn sóc nhau về sức khỏe. Còn non: Còn trẻ. Thân mòn gối run: Chỉ lúc tuổi già sức yếu, tay run gối mỏi.

      Hai câu 539-540: Mẹ lo cho con trong lúc con còn trẻ tuổi, vợ của con sẽ lo cho con lúc con trở về già.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 537 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      541.

      Nếu khổ cực chung cùng chia sớt,
      Dầu sang vinh đừng bớt tình nồng.
      Hễ là vào đạo vợ chồng,
      Hư nên đều có của ông công bà.

      Chú thích:

      Sang vinh: Sang giàu và vinh hiển. Tình nồng: Tình yêu nồng nàn giữa vợ chồng. Của ông công bà: Của chồng công vợ, chồng làm ra của cải, vợ có công gìn giữ, hai công ấy bằng nhau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 541 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      545.

      Con chớ ỷ mình là nam tử,
      Chiếm chủ gia hẹp xử thê nhi.
      Đừng xem ra phận tiện tỳ,
      Quyền trong nội trợ cũng bì đồng nhau.

      Chú thích:

      Nam tử: Đàn ông con trai. Chủ gia: Chủ nhà. Hẹp xử thê nhi: Cư xử hẹp hòi với vợ con. Tiện tỳ: Đày tớ gái hèn mọn. Tiện là hèn , tỳ là tớ gái.

      Câu 548: Quyền của người vợ là lo nội trợ gia đình, quyền của người chồng là lo công việc bên ngoài, hai quyền ấy có giá trị đồng đều như nhau. (Vợ chồng phải bình đẳng).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 545 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      549.

      Ai nâng đỡ khi đau lúc ốm,
      Ai dù tròn nắng sớm mưa mơi.
      Tình chung bền giữ một đời,
      Chia cơm cắn muối không dời lòng thương.

      Chú thích:

      Dù tròn: Cây dù giương lên có hình tròn, dùng che mưa nắng. Ai dù tròn: Ai che mưa nắng cho. Tình chung: Tình yêu chung thủy. Chia cơm cắn muối: Ý nói lúc vợ chồng còn trong cảnh nghèo nàn.

      Câu 552: Lúc vợ chồng nghèo nàn thì không bao giờ thay đổi tình thương. (Dời là thay đổi.)

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 549 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      553.

      Áo trâu đắp đông sương lạnh lẽo,
      Cửa hấp gà mở nẻo tiễn phu.
      Lập thân đừng để danh lưu,
      Cũng như Bá Lý Hề âu bạc tình.

      Chú thích:

      Áo trâu: Cái áo làm bằng da trâu để mặc cho ấm. Đông sương: Sương tuyết mùa đông lạnh lẽo. Cửa hấp gà: Lấy cánh cửa bằng gỗ chẻ ra làm củi để hấp chín con gà làm bữa tiệc tiễn chồng đi lập công danh. Tiễn phu: Đưa tiễn chồng lên đường. Lập thân: Tạo dựng sự nghiệp cho bản thân mình. Danh lưu: Tiếng tăm lưu lại về sau. Âu: Có lẽ nào. Bạc tình: ˆn ở bạc bẽo không tình nghĩa thủy chung.

      Bốn câu thơ trên nói về sự tích Bá Lý Hề.

               Bá Lý Hề: Người nước Ngu, tự là Tỉnh Bá, ba mươi ngoài tuổi mới lấy Đỗ thị làm vợ, sanh đặng một trai đặt tên Mạnh Minh. Bá Lý Hề có tài an bang tế thế nhưng chưa gặp thời, nhà lại nghèo, lại không người tiến cử, ý muốn đi châu lưu thiên hạ để lập công danh, ngặt nỗi vợ con không nơi nương tựa, nên còn dùng dằng.

               Đỗ thị là người hiền đức, khuyên chồng cứ đi lo lập thân danh, chớ nên bận bịu vợ con. Nói rồi, Đỗ thị liền bắt con gà duy nhất còn lại trong nhà, lại không củi nên lấy cánh cửa chẻ làm củi, nấu một bữa cơm gà, tiễn chồng lên đường.

               Bá Lý Hề đi qua nước Tề, muốn vào ra mắt Tề Tương Công, mà không ai tiến dẫn, trong túi lại không tiền, nên phải tạm ăn xin tại đất Chất. Lúc đó, Bá Lý Hề được 40 tuổi.

               Ở đất Chất có người hiền tên Kiển Thúc, thấy Bá Lý Hề có tướng mạo rất tốt, nhưng lỡ vận phải ra ăn mày, liền mời về nhà đãi cơm nước, kết làm anh em. Bá Lý Hề làm em.

               Bá Lý Hề, đêm thì ngủ tại nhà Kiển Thúc, ban ngày thì đi chăn trâu mướn để lấy tiền độ nhựt, chớ Kiển Thúc cũng nghèo, nuôi nhau hoài không đủ.

               Khi nghe tin Công Tử Vô Tri giết Tề Tương Công, lên làm vua, đăng bảng cầu hiền, Bá Lý Hề muốn đến đầu Vô Tri. Kiển Thúc không cho, nói rằng Vô Tri tiếm ngôi thì có bền lâu gì. Sau nghe bên Châu có Vương Tử Đồi, tánh ưa trâu, kẻ ở nuôi trâu mau lớn cho Đồi đều được trọng thưởng. Bá Lý Hề từ giã Kiển Thúc, qua xin chăn trâu cho Đồi. Khi tiễn nhau, Kiển Thúc dặn rằng: "Hễ là đại trượng phu thì không nên xem nhẹ mình mà đầu người. Đầu lỡ mà sau bỏ đi thì bất nghĩa, còn cứ theo hoài mà bị nạn thì bất trí. Em phải thận trọng. Anh liệu việc nhà xong thì sẽ qua Châu tìm em."

               Kiển Thúc sau đó qua Châu, đàm đạo với Vương Tử Đồi. Kiển Thúc kêu Bá Lý Hề ra ngoài khẻ nói:"Đồi có chí lớn mà tài sơ, kẻ tay chân đều là quân sàm nịnh, chi bằng anh em ta đi trước thì hơn."

               Bá Lý Hề xa nhà đã lâu, ý muốn trở về nước Ngu để thăm vợ và con. Kiển Thúc nói: "Ở nước Ngu, anh có bạn thân là Cung Chi Kỳ. Em về Ngu thì anh đi theo cho có bạn và sẵn dịp ghé thăm Cung Chi Kỳ."

               Bá Lý Hề về đến Ngu, ghé nhà thăm vợ con thì mới hay Đỗ Thị đã ẵm con ra đi tìm phương sanh sống, giờ không biết ở đâu. Kiển Thúc vào thăm Cung Chi Kỳ, và nhờ tiến cử Bá Lý Hề với Ngu Công. Ngu Công nạp dụng, phong Bá Lý Hề làm chức Trung Đại Phu.

               Kiển Thúc nói: "Ngu Công thấy biết rất hẹp, không phải là Chúa đáng phò, nhưng em đã quá cùng khốn, tạm nương thân nơi đây. Sau nầy, em muốn tìm anh thì qua nước Tống, làng Minh Lộc."

               Ngu Công không nghe lời can gián của Cung Chi Kỳ, cho Tấn Hiến Công mượn đường đánh nước Quắc. Thắng Quắc rồi, Tấn chiếm luôn Ngu, thế là Ngu Công mất nước.

               Bá Lý Hề tự nói: "Ta chẳng trí, lẽ nào chẳng trung."

               Bởi vậy, khi Tấn Hiến Công bắt Ngu Công đem về Tấn thì Bá Lý Hề theo sát bên Ngu Công mà hầu hạ.

               Chu Chi Kiều, trước làm quan Đại Phu ở nước Quắc, sau Quắc bị Tấn chiếm thì đầu Tấn, được Tấn cho làm Đại Phu. Chu Chi Kiều dụ Bá Lý Hề đầu Tấn nhưng Bá Lý Hề khẳng khái đáp: "Mình đã để nước nghịch thắng mình thì chân mình còn không muốn để bước đến xứ đó, huống chi nói chuyện đầu với theo."  Kiều hổ thẹn, rồi có ý oán Bá Lý Hề.

               Khi Tấn Hiến Công gả công chúa về Tần, muốn có người theo đưa dâu, Chu Chi Kiều liền tâu: "Bá Lý Hề không muốn đầu Tấn, chi bằng thừa dịp nầy sai va đi đưa dâu."  Tấn Công bằng lòng. Bá Lý Hề than: "Ta ôm tài an bang tế thế mà không gặp Minh Chúa, nay già rồi lại còn làm kẻ đưa dâu thì hổ thẹn quá."  Do đó, khi đưa dâu được nửa đường, Bá Lý Hề lén trốn sang nước Sở. Trốn đến Uyển Thành thì bị bọn thợ săn bắt đem về cho nuôi trâu. Bá Lý Hề có tài nuôi trâu, nuôi chẳng bao lâu trâu mập ra, lại sanh sản thêm nhiều. Sở Vương biết được nên đòi Bá Lý Hề về nuôi ngựa cho Sở Vương.

               Tần Mục Công xem danh sách, không thấy Bá Lý Hề đưa dâu, thì hỏi Công tử Chấp. Chấp đáp: "Bá Lý Hề là người hiền, biết Ngu Công chẳng chịu nghe lời can nên không can, ấy là trí; theo Ngu Công qua Tấn mà không đầu Tấn, ấy là trung. Bá Lý Hề hiện nay nghe như ở Sở, xin Chúa Công cho người qua Sở dọ coi."

               Tần Mục Công sai người qua Sở dò la thì biết Bá Lý Hề đang nuôi ngựa cho vua Sở. Tần Mục Công khiến Công Tôn Chi đem lễ vật qua Sở rước Bá Lý Hề. Tôn Chi can: "Sở bắt Hề nuôi ngựa vì không biết Hề là người hiền. Nay ta đem lễ trọng mà rước thì không khác nào ta nói Hề là người hiền, thì đời nào vua Sở cho Hề đi. Chi bằng, Chúa Công lấy cớ bắt tội Hề trốn đưa dâu, dùng vật mọn là 5 tấm da dê mà chuộc thì mới đem Bá Lý Hề về Tần được."  Quả nhiên nhờ kế đó mà rước được Bá Lý Hề về Tần.

               Tần Mục Công thấy Bá Lý Hề đầu đã bạc trắng thì than rằng: "Già rồi còn chi, Quả nhân rất tiếc!"

               Bá Lý Hề đáp: "Như Chúa Công khiến hạ thần đi bắt chim hay giết thú thì hạ thần già thiệt, còn như khiến hạ thần ngồi lo việc nước thì hạ thần biết sức còn trẻ lắm vậy."

               Khi Bá Lý Hề bàn việc nước thì rất hạp ý Tần Mục Công, nên Mục Công dùng Bá Lý Hề vào chức Thừa Tướng. Kể từ đó, Bá Lý Hề lo sửa sang việc nước làm cho nước Tần càng ngày càng hưng thịnh.

               Nói về vợ của Bá Lý Hề là Đỗ Thị, khi chồng đi rồi thì ở nhà may vá không đủ tiền nuôi con, nên phải bỏ xứ trôi nổi đến nước Tần, làm nghề may mướn. Khi Đỗ thị dò la biết rõ Bá Lý Hề lúc nầy được vua Tần trọng dụng, làm quan đến chức Thừa Tướng đầu triều. Thừa dịp trong phủ Thừa Tướng cần người may áo, Đỗ thị liền xin vào làm. Tới ngày kia, nhân trong phủ có việc đờn ca, Đỗ Thị liền xin ra ca một bài.

               Đỗ Thị cất tiếng hát: "Bá Lý Hề 5 bộ da dê, nhớ ngày nào, ly biệt cùng nhau, mổ con gà mái, chẻ cánh cửa củi, thổi cơm gạo vàng. Chớ thương thì thương! Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao? Bá Lý Hề 5 bộ da dê, cha ăn thịt cá, con đói khóc dài, chồng mặc áo gấm, vợ giặt thuê hoài. Chớ thương thì thương! Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?"

               Bá Lý Hề nghe ca thì sửng sốt, lật đật kêu lại mà hỏi, quả là vợ của mình, liền ôm nhau khóc rống, rồi rước vợ và con về phủ. Vợ chồng con cái sum họp vô cùng vui vẻ.

               Tần Mục Công hay tin vợ chồng Bá Lý Hề đoàn tụ gia đình, nên cho đem bạc vàng gấm lụa đến ban thưởng.

               Hôm sau, Bá Lý Hề dẫn con vào triều bái tạ. Kể từ đó, 2 cha con Bá Lý Hề đồng phò Tần Mục Công lo việc nước.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 553 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      557.

      Chém vợ để cầu vinh thuở trước,
      Ngô Khởi còn gian ngược chi danh.
      Con đừng mượn nét khuynh thành,
      Lợi thân mà hại đến mình hồng nhan.

      Chú thích:

      Cầu vinh: Cầu mong có được sự vinh hiển. Gian ngược chi danh: Cái tiếng tăm gian xảo ngang ngược. Lợi thân: Có lợi cho bản thân mình. Hồng nhan: Má hồng, chỉ người phụ nữ đẹp, ở đây chỉ người vợ. Nhan là dáng mặt, gương mặt.

      Khuynh thành: Khuynh là nghiêng đổ, thành là thành trì. Khuynh thành là làm cho thành trì nghiêng đổ, mất thành.  Thường nói: Khuynh quốc khuynh thành, dịch là: Thành nghiêng nước đổ, để chỉ sắc đẹp tuyệt vời của người đàn bà, có thể khiến cho tướng giữ thành đắm say, không lo giữ gìn thành trì; có thể khiến cho ông vua một nước mê mệt bỏ cả việc nước làm cho mất nước. Đó là sắc đẹp của: Tây Thi, Bao Tự, Đắc Kỷ, Dương Quí Phi,... Kinh Thi có câu: Triết phu thành thành, triết phụ khuynh thành. Nghĩa là: Đàn ông giỏi dựng nên thành trì, đàn bà đẹp làm nghiêng đổ thành trì.

               Lý Diên Niên đời nhà Hán có làm bài thơ:

      Bắc phương hữu giai nhân,
      Tuyệt thế nhi độc lập.
      Nhất cố khuynh nhân thành,
      Tái cố khuynh nhân quốc.
      Ninh bất tri,
      Khuynh thành dữ khuynh quốc,
      Giai nhân nan tái đắc.
      Phương Bắc có người đẹp,
      Đẹp hơn hết mà đứng một mình.
      Một lần nhìn làm thành người nghiêng,
      Nhìn một lần nữa làm nước người đổ.
      Há không biết,
      Thành nghiêng với nước đổ,
      Người đẹp khó trở lại được.

      Hai câu 557-558: Nói về sự tích Ngô Khởi (Ngô Khỉ) giết vợ để lập công danh.

               Ngô Khởi: Người nước Vệ, lúc nhỏ từ giã mẹ đi tìm thầy học, thề rằng chừng nào lập được công danh mới trở về thăm mẹ. Nhưng sau đó, khi mẹ mất, Khởi không chịu về để tang mẹ. Tăng Sâm là thầy học của Khởi, thấy Khởi bất hiếu như thế, liền đuổi học ngay.

               Ngô Khởi dùng 3 tấc lưỡi thuyết vua Tề, vua Tề nghe theo, dùng Khởi và gả công chúa cho.

               Về sau, Khởi không ở nước Tề nữa, dời qua ở nước Lỗ. Khi Lỗ Hầu muốn đánh Tề, Tể Tướng Công Nghi Hựu tiến cử Ngô Khởi cầm quân đánh Tề. Lỗ Hầu không dám dùng Khởi vì vợ của Khởi là công chúa nước Tề. Ngô Khởi biết vậy, liền giết vợ, đem đầu vợ dâng lên Lỗ Hầu, để chứng tỏ mình đã dứt khoát với Tề.

               Lỗ Hầu phong Khởi làm Đại Tướng, đem quân đánh tan quân Tề. Khởi biết Lỗ Hầu dùng mình nhưng không ưa mình, nên qua đầu Ngụy vì nghe Ngụy Hầu đang cầu người hiền. Ngụy Hầu cử Khởi cầm binh, đánh thắng được quân Tần nhiều trận lớn. Ngụy Hầu chết, Ngô Khởi bị Công Thúc gièm. Ngô Khởi thấy nguy, liền bỏ Ngụy qua đầu Sở.

               Vua Sở trọng dụng, cho Khởi cầm binh, Ngô Khởi có tài chinh chiến, đánh Đông dẹp Bắc đều đại thắng.

               Sau, nước Sở có loạn, Ngô Khởi cùng chịu chết một chỗ với vua Sở.

               Ngô Khởi là vị tướng rất có tài cầm quân thời Đông Châu Liệt Quốc, nhưng Ngô Khởi là người vô đạo đức, trong nhà thì bất hiếu với mẹ, bất nghĩa với vợ, không trung thành với một vị vua nào hết, chỉ biết chạy theo công danh phú quí, để lại tiếng xấu muôn đời trong lịch sử.

      Hai câu 559-560: Mẹ khuyên dạy con trai: Đừng lợi dụng sắc đẹp của vợ mình mà làm lợi cho mình, để hại cho tấm thân của vợ mình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 557 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      561.

      Đừng sang trọng phụ phàng nghèo khó,
      Gặp hầu xinh vội bỏ thê hèn.
      Cá kia chung chậu hơi quen,
      Ái ân đầm thấm bởi bền nghĩa nhân.

      Chú thích:

      Hầu xinh: Vợ nhỏ xinh đẹp. Thê hèn: Người vợ hèn mọn. Hơi quen: Quen mùi. Hơi là mùi.

      Câu 563: Lấy ý theo câu ca dao: Chim quyên ăn trái nhãn lồng, Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 561 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      565.

      Gương đẹp đẽ Mãi Thần thuở trước,
      Trọng nhơn luân sau phước nên quan.
      Hiền danh ghi tạc giang san,
      Nghĩa trung đi cặp con đàng trượng phu.

      Chú thích:

      Sau phước nên quan: Về sau nhờ có phước đức nên được làm quan. Hiền danh: Tiếng tăm tài giỏi và có đạo đức.

      Châu Mãi Thần: Người đời Hớn Võ Đế, nhà rất nghèo nhưng quyết chí học tập, thường đi đốn củi đem bán lấy tiền độ nhựt. Khi gánh củi thì treo sách trên đầu gánh, vừa đi vừa học. Vợ của Mãi Thần không chịu nổi cảnh nghèo túng đòi bỏ ông. Mãi Thần khuyên vợ cố gắng chịu đựng nghèo khổ chừng một năm nữa, sang năm ông 50 tuổi, nhứt định sẽ hiển đạt. Người vợ không tin nói: Như cung cách của ông thì chỉ có chết đói thôi, sao dám mong giàu sang được.

               Người vợ bỏ ông, đi lấy một người làm ruộng khá giả cùng làng. Qua năm sau, Châu Mãi Thần được Nghiêm Trợ tiến cử lên Hớn Võ Đế, được vua thâu dụng, ban chức Trung Đại Phu. Lần lần Mãi Thần lập được công nên vua thăng lên làm Thái Thú Cối Kê. Cối Kê là quê hương của Mãi Thần.

               Khi Mãi Thần đến Cối Kê nhậm chức, người vợ cũ ra đón trước đầu ngựa, xin chàng bỏ qua lỗi xưa, cho nàng được trở lại làm vợ chàng. MãiThần đổ một bát nước đầy trước đầu ngựa, bảo nàng hốt nước cho đầy bát lại như trước thì chàng cho nàng trở lại làm vợ như xưa. Người vợ cũ xấu hổ bỏ đi, về nhà treo cổ tự tử.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 565 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      569.

      Tống Hoằng chí trượng phu không đổi,
      Giữ nhơn luân sợ lỗi đạo hằng.
      Từ duyên công chúa giao thân,
      Đút cơm vợ quáng ân cần dưỡng nuôi.

      Chú thích:

      Chí trượng phu: Chí khí của bậc trượng phu. Trượng phu là người đàn ông tài giỏi, có nhân cách hơn người. Đạo hằng: Đạo thường, gồm Ngũ Thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Từ duyên: Từ chối kết duyên. Giao thân: Giao tiếp thân mật với nhau. Vợ quáng: Người vợ mù lòa.

      Bốn câu thơ trên là nói về sự tích Tống Hoằng.

               Tống Hoằng: Làm quan Đại Phu dưới thời vua Quang Võ nhà Hậu Hán, tính rất chánh trực, lại có tình nghĩa.

               Vua Quang Võ có người chị là Hồ Dương Công chúa, sớm góa chồng. Công chúa rất ái mộ Tống Hoằng, muốn được Tống Hoằng cưới làm vợ. Hán Quang Võ biết vậy nên gọi riêng Tống Hoằng đến để thử ướm lời, hỏi rằng: "Ngạn vân: Quí dịch giao, phú dịch thê, hữu chư?" (Ngạn ngữ nói rằng : Sang đổi bạn, giàu đổi vợ, có chăng?)

               Tống Hoằng tâu rằng: "Thần văn: Bần tiện chi giao mạc khả vong, tao khang chi thê bất khả hạ đường." (Thần nghe: Bạn bè lúc nghèo hèn chớ nên quên, người vợ tấm cám chớ để ở nhà sau.)

               Hán Quang Võ và Hồ Dương Công chúa nghe Tống Hoằng nói thế thì biết Tống Hoằng là người trung nghĩa, càng kính phục Tống Hoằng.

               Tống Hoằng có vợ bị bịnh trở nên mù lòa. Hằng ngày, ngoài giờ lo việc quan, Tống Hoằng săn sóc vợ, đút cơm cho vợ ăn. Dù vợ bị mù lòa, Tống Hoằng vẫn một lòng thương yêu chung thủy. Trên đời ít có được người như thế.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 569 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      573.

      Biết tình nghĩa biết mùi ân ái,
      Chia đau thương cột dải đồng tâm.
      Kìa ai đã gọi ân thâm,
      Hơn niềm chồng vợ âm thầm giúp nhau.

      Chú thích:

      Chia đau thương: Chia sớt sự đau đớn. Dải đồng tâm: Chỉ sự thương yêu khắn khít giữa vợ chồng. (Xem Chú thích Câu 194).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 573 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      577.

      Đừng đến lúc ốm đau chẳng ngó,
      Hương sắc xinh lại bỏ hoa tàn.
      Những là anh én nhộn nhàng,
      Buôn duyên bán nợ như hàng chợ đông.

      Chú thích:

      Hương sắc: Người con gái đang lúc xuân thì được ví như đóa hoa mới nở đầy đủ hương sắc; khi trở về già thì ví như đóa hoa tàn. Anh én: Chỉ đám thanh niên nam nữ tới lui tấp nập.

      Câu 580: Đem cái duyên của người con gái ra buôn bán giữa buổi chợ đông người.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 577 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      581.

      Có chi trọng đàn ong xóm bướm,
      Nơi phồn ba đậm nhuộm màu gian.
      Đừng quen kết lũ vầy đoàn,
      Cửa thanh lâu những rộn ràng gió trăng.

      Chú thích:

      Đàn ong xóm bướm: Chỉ đám đàn ông con trai ăn chơi trụy lạc. Phồn ba: Nơi dân cư đông đúc, tranh đua danh lợi. Đậm nhuộm màu gian: Đầy tánh chất gian dối xảo trá. Kết lũ vầy đoàn: Tụ tập thành một đám nhiều đứa kéo đi ăn chơi hay phá phách xóm làng. Thanh lâu: Lầu xanh, nhà chứa gái điếm. Gió trăng: Chữ Hán là Phong nguyệt, có nhiều nghĩa, ở đây chỉ sự lã lơi chung chạ không đứng đắn giữa trai gái.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 581 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      585.

      Giấc phong nguyệt xem bằng túy mộng,
      Vợ cùng hầu so sóng đồng thương.
      Nhỏ thì trọng, lớn thì nhường,
      Nơi cân quân tử ra trường đánh ghen.

      Chú thích:

      Phong nguyệt: Gió trăng, có nhiều nghĩa, ở đây chỉ sự lã lơi chung chạ không đứng đắn giữa trai gái. Giấc phong nguyệt: Giấc ngủ có sự chung chạ giữa trai gái. Túy mộng: Túy là uống rượu say, mộng là giấc chiêm bao. Túy mộng là uống rượu say nằm ngủ chiêm bao. Hầu: Vợ nhỏ. So sóng: Đặt sóng đôi để so sánh. Quân tử: Tiếng vợ gọi chồng.

      Câu 586: Thuở xưa, còn ở thời quân chủ, đàn ông được quyền có nhiều vợ: Vợ chánh và nhiều vợ thứ. Câu nầy khuyên người chồng phải thương yêu vợ chánh và vợ thứ đồng đều như nhau.

      Câu 587: Vợ nhỏ thì tôn trọng vợ lớn, vợ lớn thì nhường nhịn vợ nhỏ (thì mới êm đẹp trong nhà).

      Câu 588: Do nơi sự đo lường nặng nhẹ của chồng, ý nói do nơi sự thương nhiều hay thương ít của chồng, mà có thể gây ra sự đánh ghen giữa vợ lớn và vợ nhỏ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 585 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      589.

      Coi thân vợ như em nhỏ dại,
      Đem lòng yêu phận gái đơn cô.
      Đặng chồng dường thể đặng mồ,
      Chôn thây cửa lạ, cậy nhờ ở ai?

      Chú thích:

      Đơn cô: Cô đơn, chỉ có một mình. Cửa lạ: Chỉ nhà chồng, vì chồng là người dưng khác họ. Cậy nhờ ở ai?: Ý nói chỉ cậy nhờ nơi chồng.

      Hai câu 591-592: Có chồng thì chỉ biết cậy nhờ nơi chồng, khi chết được chôn cất bên đất của họ nhà chồng, được gia đình nhà chồng làm cho mồ mả.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 589 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      593.

      Phải tôn kính cành mai đương nở,
      Đừng xa hoa làm mớ hàng chơi.
      Sánh mình mỏng mảnh thương người,
      Rủi sanh phận gái khó cười với thân.

      Chú thích:

      Bắt đầu từ câu 593 đến câu 712 là phần: Mẹ dạy con gái.

      Cành mai đương nở: Ý nói người con gái mới lớn lên đang độ xuân thì. Xa hoa: Phung phí chưng diện lòe loẹt. Mớ hàng chơi: Món đồ chơi không có giá trị gì cả.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 593 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      597.

      Gái mẹ dạy ân cần cho lắm,
      Đừng để mình lụy đến sông Tương.
      Bông dầu đẹp, khá gìn hương,
      Quí chi liễu ngõ hoa tường trao duyên.

      Chú thích:

      Sông Tương: Chỉ sự thương nhớ giữa trai và gái hay sự ly biệt của đôi lứa. Điển tích: Theo Tình sử, đời nhà Châu, nàng Lương Ý yêu chàng Lý Sinh, sau phải xa nhau, nên có làm bài thơ Tương giang (Sông Tương):

      Nhân đạo Tương giang thâm,
      Vị để tương tư bạn.
      Giang thâm chung hữu để,
      Tương tư vô biên ngạn.
      Quân tại Tương giang đầu,
      Thiếp tại Tương giang vĩ.
      Tương tư bất tương kiến,
      Đồng ẩm Tương giang thủy.
      Người bảo sông Tương sâu,
      Chưa bằng lòng tương tư.
      Sông sâu còn có đáy,
      Tương tư không bến bờ.
      Chàng ở đầu sông Tương,
      Thiếp ở cuối sông Tương.
      Nhớ nhau mà chẳng thấy,
      Cùng uống nước sông Tương.

      Lụy: Là làm cho khốn đốn khổ sở. Liễu ngõ hoa tường: Cây liễu ngoài ngõ, hay cái hoa bên tường, ai muốn bẻ muốn hái cũng được, ý nói những người con gái không có giá trị, hoặc là gái lầu xanh.

      Câu 598: Mẹ dạy con gái đừng yêu ai trước để khỏi phải khổ thân vì thương nhớ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 597 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      601.

      Đóng chặt cửa giữ nguyên trinh tiết,
      Trọng thân danh bền nét đào yêu.
      Phụng lầu gác quyển chờ tiêu,
      Gieo cầu cho đáng, nhiễu điều gói gương.

      Chú thích:

      Trinh tiết: Sự trong trắng của người con gái. Thân danh: Cái danh giá của con người mình. Đào yêu: Đào là cây đào, yêu là non. Kinh Thi: "Đào chi yêu yêu, kỳ diệp trăn trăn, chi tử vu quy, nghi kỳ gia nhân." nghĩa là cây đào đương non, cành lá rườm rà, gái về nhà chồng, hòa thuận trong nhà. Cho nên, Đào yêu là chỉ người con gái mới lớn, đến tuổi lấy chồng. Gieo cầu: Ném xuống quả tú cầu để chọn chồng. Quả tú cầu được làm bằng vải kết lại nhiều màu rất đẹp. Điển tích: Vua Hán Võ Đế mỗi khi kén chọn Phò mã (rể của vua) thì cất một cái đài cao, cho công chúa lên ngồi trên đó, cầm sẵn trái tú cầu trong tay, các vương tôn công tử hay khách anh hùng muốn làm chồng Công chúa thì tụ tập dưới đài. Công chúa thấy người trai nào vừa ý thì ném trái tú cầu cho người ấy để người ấy bắt được, đem vào trình vua thì được vua nhận làm chồng Công chúa. Cho nên, Gieo cầu là ý nói kén chồng, chọn lựa người chồng cho xứng đáng. Nhiễu điều gói gương: Nhiễu là loại tơ lụa quí giá thời xưa, điều là màu đỏ, gương là tấm kính soi mặt chỉ người con gái. Nhiễu điều gói gương là ý nói: Người con gái đẹp sẽ kén được người chồng quyền quí.

      Câu 603: Nói về sự tích chàng Tiêu Sử và nàng Lộng Ngọc.

               Nàng Lộng Ngọc là con gái của vua Tần Mục Công, được vua cha cho ở trên gác phụng (Phụng lầu), nàng có tài thổi ống áo (-ng quyển). Nàng nằm mơ thấy ở phía Tây Nam núi Thiên sơn có một chàng trai, diện mạo đẹp đẽ, cỡi chim phụng ngũ sắc bay đến phụng lầu, nơi nàng đang ở, nói rằng: Tôi là người coi giữ Thái Hoa sơn, Ngọc Hoàng cho tôi được kết duyên với nàng, đến tiết Trung Thu nầy gặp gỡ.

               Nói xong, chàng rút ra một ống tiêu bằng hồng ngọc, đưa lên miệng thổi, âm điệu phát ra réo rắt thanh tao, càng nghe càng say mê.

               Hôm sau, Lộng Ngọc đem chuyện chiêm bao kể lại cho vua cha nghe. Tần Mục Công bèn cho người đến Thái Hoa sơn dò xét thử. Quan quân tìm được một chàng trai tuấn tú, có tài thổi ông tiêu, tên là Tiêu Sử, đang ở trên núi. Quan quân rước chàng về triều. Vua bảo Tiêu Sử thổi một khúc tiêu nghe thử. Nàng Lộng Ngọc đứng núp trong màn nhìn ra, thấy Tiêu Sử đúng là người mà nàng thấy trong mộng, và tiếng tiêu phát ra réo rắt y như vậy, thì biết chàng trai nầy đúng là lương duyên của nàng. Hôm đó cũng đúng là ngày Trung Thu trăng tròn, vua Tần Mục Công làm lễ cho Tiêu Sử thành hôn cùng Lộng Ngọc. Tiêu Sử dạy Lộng Ngọc thổi tiêu. Khi ở trên Phụng lầu, hai người thổi lên thì chim phụng hoàng bay đến trước sân nhảy múa.

               Ở Phụng lầu được ít lâu, bỗng một hôm có một con rồng đỏ và một con chim phụng từ trên Trời đáp xuống trước thềm. Tiêu Sử nói với Lộng Ngọc: Ta là Thần Tiên ở Thượng giới, có duyên nợ với nàng nên phải xuống trần để kết duyên, nay đến kỳ chúng ta phải trở về Tiên. Chàng liền bước tới cỡi rồng, nàng LộngNgọc thì cỡi phụng, cùng bay lên Trời đi mất.

               Trong các đám hỏi hay đám cưới, người ta làm đôi đèn Long Phụng để chỉ duyên vợ chồng là do điển tích nầy.

      Câu 603: Ý nói con gái nên ở trong nhà giữ gìn hạnh nết, chờ con trai tài giỏi đến hỏi cưới.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 601 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      605.

      Đừng đứng dựa sông Tương nhắn khách,
      Đừng trông trăng hỏi ngạch Cung Thiềm.
      Đừng đề thi lá thơ chim,
      Cầu hôn để phụng đến tìm cung loan.

      Chú thích:

      Sông Tương: (Xem Chú thích câu 598). Nhắn khách: Nhắn gởi người yêu. Cung Thiềm: Cung trăng, vì nơi cung trăng có con thiềm thừ, họng có chữ son, sống rất lâu năm.

      Đề thi lá: Viết thơ trên chiếc lá cây. Điển tích: Nàng Hàn Thúy Tần, một cung nữ đời Đường, ở trong thâm cung buồn bực, bèn đề thơ trên chiếc lá đỏ, thả xuống dòng nước từ trong cung chảy ra ngoài. Thơ của Hàn Thị đề rằng:

      Nước chảy sao mà vội,
      Cung sâu cả buổi nhàn.
      Ân cần nhờ lá thắm,
      Mau đến chốn nhơn gian.

               Vu Hựu là môn khách của Hàn Vinh, nhân đi chơi, bắt được chiếc lá có bài thơ đó, rồi cũng bắt chước cách ấy, lấy một chiếc lá khác đề thơ, rồi chờ cho dòng nước chảy trở vào cung thì thả lá xuống. Bài thơ của Vu Hựu:

      Nghe oanh thấy liễu chạnh lòng thương,
      Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.
      Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,
      Gởi cho ai đó nói không tường.

               Cách ít lâu sau, vua Đường hạ chiếu thải cung nữ hơn 3000 người cho trở về nhà lấy chồng làm ăn, trong đó có Hàn Thị. Nàng đến ngụ nơi nhà của người bà con là Hàn Vinh. Hàn Vinh làm mai gả Hàn Thị cho Vu Hựu. Vu Hựu thấy trong rương của vợ có chiếc lá đề thi của chàng, rồi Vu Hựu cũng lấy chiếc lá đề thơ của Hàn Thị ra khoe. Cả hai vợ chồng đều rất mừng rỡ cho là có duyên tiền định. Hàn Vinh mở tiệc chúc mừng. Hàn Thị làm một bài thơ tạ ơn Lá Thắm làm mai:

      Câu thơ tuyệt diệu theo dòng nước,
      Ôm hận mười năm ngỏ với ai?
      Nay được vui vầy loan phượng sánh,
      Khen thay Lá Thắm khéo làm mai!

      Thơ chim: Viết thơ rồi buộc vào chân chim cho nó mang đi. Điển tích: Nàng Túy Tiêu là vợ của Dương nhuận Chi, bị quan Trụ Quốc thấy đẹp, sai quân bắt về làm thiếp. Nhuận Chi sợ thế lực của quan Trụ Quốc nên không dám thưa kiện, chỉ biết ôm hận trong lòng. Nàng Túy Tiêu và Nhuận Chi chỉ còn biết viết thơ qua lại và nhờ chim yến mang đi. Phụng đến tìm cung loan: Đôi chim loan phụng được ví với một cặp vợ chồng: Phụng là con chim trống ví người chồng, loan là con chim mái ví người vợ. Phụng đến tìm loan là ý nói để cho con trai tìm đến cầu hôn con gái.

      Câu 605: Đừng yêu ai trước, rồi thương nhớ, nhắn gởi.

      Câu 606: Đừng mơ mộng lãng mạn như xem trăng rồi hỏi con thiềm thừ ở chỗ nào.

      Câu 607: Đừng đề thi lá thơ chim, ý nói con gái đừng có tánh lãng mạn, đề thơ trên lá gởi theo dòng nước, hay viết thơ buộc vào chân chim gởi đi mông lung.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 605 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      609.

      Con khá nhớ hồng nhan phận mỏng,
      Đừng làm cho thẹn bóng trăng xuân.
      Hồng quần tài sắc đa truân,
      Vào vòng bạc phận, chi mong trọn nguyền.

      Chú thích:

      Hồng nhan: Má hồng, chỉ con gái. Phận mỏng: Bạc phận. Bóng trăng xuân: Ánh trăng mùa xuân rất đẹp, chỉ sự trong sáng tốt đẹp. Đa truân: Nhiều nỗi truân chuyên.

      Câu 610: Đừng làm điều gì nhơ nhớp mà phải hổ thẹn với sự trong sáng của ánh trăng xuân.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 609 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      613.

      Hoa phong nhụy cung Tiên cũng mến,
      Gấm lót đường trọng tiếng cũng nhơ.
      Nhà vàng phận quí khi thơ,
      Gót sen dầu lịch cũng nhờ vẻ xuân.

      Chú thích:

      Hoa phong nhụy: Cái hoa còn đóng kín nhụy hoa, chưa có con ong con bướm nào đến hút mật (Phong là gói kín), ý nói: Con gái mới lớn, còn trinh nguyên. Gấm lót đường: Ý nói nhà giàu nhiều của cải. Trọng tiếng: Tiếng tăm nặng nề (Trọng là nặng), ý nói: tiếng tăm không tốt. Nhơ: Dơ, nhơ nhuốc. Nhà vàng: Chữ Hán là Kim ốc: Nhà làm bằng vàng, ý nói quí báu lắm. Điển tích: Hán Võ Đế, lúc còn là Thái Tử, Trưởng Công chúa muốn đem con gái là A Kiều gả cho Thái Tử, nên kêu Thái Tử đến hỏi. Thái Tử rất bằng lòng nên đáp: "Nếu cưới được A Kiều thì con sẽ cất một cái nhà bằng vàng cho A Kiều ở."  Do đó, dùng chữ Nhà vàng để chỉ người con gái quí phái, có phẩm giá cao. Gót sen: Chỉ người con gái đẹp quí phái. Điển tích: Vào thời Nam Bắc Triều, vua Nam Tề là Đông Hôn Hầu có người vợ yêu là nàng Phan Phi. Vua cho lót hoa sen bằng vàng trên nền gạch trong cung của Phan Phi, để khi Phan phi đi, mỗi bước chân như có nở bông sen dưới đất. Dầu lịch: Dầu có lịch sự, đẹp đẽ. Vẻ xuân: Vẻ đẹp trẻ trung.

      Câu 613: Con gái còn trinh nguyên, các vị Tiên đều thương mến. (Tức nhiên con gái phải giữ gìn tiết trinh của mình).

      Câu 614: Nhà giàu có mà con gái trong nhà có tiếng tăm không tốt thì cũng nhơ danh.

      Câu 616: Người con gái quí phái, dầu có sắc đẹp, nhưng cũng phải nhờ đến vẻ tươi đẹp trẻ trung.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 613 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      617.

      Đừng cho nhiễm lấm thân thục nữ,
      Chốn phòng the cứ xủ rèm là.
      Vườn thu giấu dạng Hằng Nga,
      Hải đường nở muộn mặn mà ái phong.

      Chú thích:

      Nhiễm lấm: Nhiễm là nhuốm vào, lấm là dính chất dơ. Thục nữ: Người con gái hiền hậu nết na. Phòng the: Phòng dành riêng cho phụ nữ. Xủ: Buông xuống. Rèm là: Tấm rèm bằng lụa. Là: Lụa, thường nói lụa là. Vườn thu: Chỉ người phụ nữ đã luống tuổi. Giấu dạng: Giấu kín hình bóng của mình. Hằng Nga: Nàng Tiên ở Cung trăng, ở đây ý nói người con gái có sắc đẹp. Hải đường: Tên một loài hoa đẹp, chỉ con gái đẹp. Ái phong: Cái dáng điệu dễ thương. Ái là thương yêu, phong là dáng dấp, phong cách.

      Câu 619: Dù người con gái đẹp đã lớn tuổi rồi, nhưng cũng phải giấu kín hình bóng của mình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 617 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      621.

      Phàm phận gái đứng hàng khuê các,
      Phải trau tria tướng hạc hình mai.
      Chín tầng cửa đóng then gài,
      Ra ngoài nghiêm nghị, trong bày đoan trang.

      Chú thích:

      Bốn câu 621-624: Mẹ dạy con gái về Dung.

      Phàm: Hễ là (ý nhấn mạnh). Khuê các: Buồng và gác, chỉ nơi ở của con gái quí phái. Trau tria: Sửa sang tô điểm cho tốt đẹp hơn. Tướng hạc hình mai: Đồng nghĩa: Mình hạc xương mai, ý nói hình dáng mảnh khảnh thanh nhã của con gái đẹp.

      Câu 623: Phải giữ gìn con gái thật cẩn thận chắc chắn.

      Câu 624: Đi ra bên ngoài thì phải nghiêm nghị, không được cười giỡn, bên trong nhà thì giữ tánh nết đoan trang.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 621 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      625.

      Đối với khách đồng bàn đồng tuổi,
      Nhớ cho hay lời nói giọng cười.
      Ngôn từ ngọt dịu thanh tươi,
      Tiếng tiêu khải phụng phục người mới ngoan.

      Chú thích:

      Bốn câu 625-628: Mẹ dạy con gái về Ngôn.

      Ngôn từ: Lời nói. Thanh tươi: Thanh nhã vui tươi. Tiếng tiêu khải phụng: Tiếng tiêu thổi lên rất hay, có mãnh lực khiến cho chim phụng bay đến nhảy múa và hót theo (giống như tiếng tiêu của Tiêu Sử và Lộng Ngọc). Ý nói: Lời nói phải có sức thuyết phục để người nghe vâng theo lời mình. Phục người: Làm cho người ta phục và nghe theo mình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 625 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      629.

      Gặp cơn rảnh nhà lan vắng khách,
      Công chỉ kim, đèn sách học hay.
      Trăm nghề dầu chẳng đủ tài,
      Dệt văn Tô Huệ gỡ đày chinh phu.

      Chú thích:

      Bốn câu 629-632: Mẹ dạy con gái về Công.

      Nhà lan: chữ Hán là Lan thất, nghĩa là nhà có mùi thơm của hoa lan. Ý nói nhà có đạo đức. Dệt văn Tô Huệ: Tức là Tô Huệ chức cẩm hồi văn: Tô Huệ dệt bài thơ lộn quanh trên gấm. Tô Huệ: có tài về nghề dệt, có chồng là Đậu Thao. Đậu Thao phải đi lính chinh chiến phương xa. Nàng Tô Huệ quá nhớ chồng, đặt ra bài thơ tả nỗi lòng mình, rồi xin vua tha cho chồng trở về sum họp với nàng. Nàng dệt bài thơ lộn quanh trên bức gấm (gọi là Chức cẩm hồi văn), dâng lên vua. Vua đọc bài thơ , lòng cảm động, lại thương tài dệt của nàng, nên tha cho Đậu Thao trở về sum họp cùng nàng. Gỡ đày: Gỡ ra khỏi nạn lưu đày. Chinh phu: Người lính đánh giặc ở phương xa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 629 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      633.

      Sửa từ nết ngày thâu tập tánh,
      Trăm hạnh hay bởi tránh điều thô.
      Xấu xa rách rưới lõa lồ,
      Đoan nghiêm tánh đức cũng cho gái lành.

      Chú thích:

      Bốn câu 633-636: Mẹ dạy con gái về Hạnh.

      Ngày thâu: Suốt ngày. Điều thô: Điều vụng về, không lịch sự. Rách rưới lõa lồ: Nghèo nàn mặc quần áo rách rưới để hở cả da thịt. Đoan nghiêm: Đoan trang nghiêm nghị. Gái lành: Con gái nhà lương thiện đạo đức.

      Hai câu 635-636: Dầu cho không đẹp, lại nghèo nàn, nhưng giữ đức hạnh cho đoan trang nghiêm nghị thì cũng được khen là con gái nhà lương thiện đạo đức.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 633 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      637.

      Còn đương thuở tuổi xanh thơ bé,
      Rán theo cha học lễ học văn.
      Phép xưa tùng phụ đã rằng,
      Dựa thân cội tử đợi hàng trượng phu.

      Chú thích:

      Bốn câu 637-640: Mẹ dạy con gái Tùng phu.

      Học lễ học văn: Do câu: Tiên học lễ, hậu học văn. Trước hết là học về lễ nghĩa phép tắc xử thế, sau đó mới học văn chương thơ phú. Tùng phụ: Theo cha. Con gái lúc còn nhỏ, chưa chồng, ở nhà thì tùng cha, nghĩa là phải nghe lời cha mẹ. Cội tử: Cội cây thị. Kinh Thi: Duy tang dữ tử, tất cung kính chi. Nghĩa là: Nơi có cây dâu và cây tử, tất phải cung kính. Bởi vì cây dâu và cây thị nầy do cha mẹ trồng, nay cha mẹ mất rồi, thấy nó thì tưởng nhớ đến cha mẹ. Dựa thân cội tử: Sống dựa vào cha mẹ. Trượng phu: Người đàn ông tài giỏi đáng kính trọng. Trượng phu cũng là tiếng vợ gọi chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 637 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      641.

      Thánh xưa dạy từ câu nói hiếu,
      Đạo thờ thân chầm khíu nên kinh.
      Tích xưa nhắc đến Đề Oanh,
      Thương cha nên phải bán mình kêu oan.

      Chú thích:

      Bốn câu 641-644: Mẹ dạy con gái về chữ Hiếu.

      Đạo thờ thân: Bổn phận của con đối với cha mẹ: Phải nghe lời dạy của cha mẹ, phải phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, phải thờ kính cha mẹ lúc cha mẹ mất. Chầm khíu: Vá víu lại cho lành.

      Hai câu 641-642: Thánh Hiền xưa dạy về chữ Hiếu, tức là dạy về bổn phận làm con đối với cha mẹ, tạo thành sách gọi là Hiếu Kinh.

      Hai câu 643-644: Nhắc sự tích nàng Đề Oanh rất có hiếu với cha.

               Đề Oanh: Theo Liệt Nữ truyện, Đề Oanh là con gái út của Thuần Vu Ý đời nhà Hán. Thuần Vu Ý không con trai, chỉ có 5 con gái. Vu Ý phạm tội, bị vua xử chết chém. Vu Ý than rằng: Vì không có con trai, nên trong lúc nguy cấp không biết trông cậy vào đâu được.

               Nàng Đề Oanh nghe cha than thở thì theo cha vào kinh đô, rồi dâng sớ lên vua, trong đó có câu: "Kẻ thác rồi không sống lại được, vậy xin Bệ hạ cho tiện nữ vào hậu cung, nguyện làm tôi mọi trọn đời để chuộc tội cho cha."

               Vua Hán Văn Đế cảm động trước sự hiếu thảo của nàng Đề Oanh, nên xuống chiếu tha tội chết cho Thuần Vu Ý.

               Sự tích nàng Đề Oanh là để tượng trưng con gái có hiếu thảo với cha mẹ. Con gái hay con trai, con nào hiếu thảo với cha mẹ thì giúp được cha mẹ nhiều việc quan trọng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 641 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      645.

      Bến nước gái mơ màng trong đục,
      Đếm mười hai họa phúc khó lừa.
      Xem cha cư xử mà ngừa,
      Phòng sau cho khỏi đổ thừa lỡ duyên.

      Chú thích:

      Mười hai bến nước: Tục ngữ có câu: 12 bến nước, trong nhờ đục chịu. Trong Truyện Lục Vân Tiên có câu:

      Lênh đênh một chiếc thuyền tình,
      Mười hai bến nước biết mình về đâu?

               Thời xưa, các cụ ví thân con gái như chiếc thuyền, xã hội như biển mênh mông, các hạng người trong xã hội như 12 bến nước. Thuyền sẽ chọn một bến nước để ghé vào đậu thuyền. Nếu gặp bến nước trong thì hưởng sự tốt đẹp, nếu gặp bến nước đục thì phải chịu lắm khổ cực nhọc nhằn.

               Thường người ta cho rằng, 12 bến nước là chỉ 12 hạng người trong xã hội, có thể kể ra: Sĩ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục, Nho, Y, Lý, Bốc (hoặc là Công, Hầu, Khanh, Tướng). Nho là người có học thức Nho văn. Y là thầy thuốc, Lý là thầy địa lý, Bốc là coi bói. Thật ra thì Nho, Y, Lý, Bốc cũng nằm trong chữ Sĩ. Cũng có người cho rằng 12 bến nước là 12 tuổi: Tý, Sửu, Dần, ..., Tuất, Hợi.

               Kể 12 hạng người như trên thì không ổn lắm vì còn nhiều hạng người nữa. Chúng ta nên nghĩ rằng, người xưa dùng số 12 là để chỉ một số nhiều và cho đẹp lời. Hơn nữa, trong dân gian thường có sự giải thích theo kiểu liên tưởng từ ngữ "Thập nhị nhân duyên" của nhà Phật là 12 cái nhân duyên của người con gái, từ đó nảy sanh từ ngữ 12 bến nước.

      Khó lừa: Khó lừa lọc, khó lựa chọn. Lừa là lựa chọn. Đổ thừa: Đổ lỗi cho người khác để tránh trách nhiệm. Lỡ duyên: Lỡ làng duyên phận.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 645 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      649.

      Cao niên biết tuyển hiền đáng mặt,
      Khỏi lầm mưu kẻ giặc phong tình.
      Sự đời thấu rõ dạng hình,
      Trá ngôn lánh chước gia đình pháp nghiêm.

      Chú thích:

      Cao niên: Người lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm sống. Tuyển hiền: Tuyển lựa người tài giỏi có đạo đức. Đáng mặt: Người xứng đáng. Phong tình: Lẳng lơ tình tứ, không đứng đắn trong giao tiếp giữa nam và nữ. Kẻ giặc phong tình: Kẻ phong tình được xem như là giặc phá hoại luân lý đạo đức. Trá ngôn: Lời nói giả dối. Lánh chước: Xa lánh phương cách đó. Trá ngôn lánh chước: Xa lánh phương cách dùng lời nói giả dối. Gia đình pháp nghiêm: Phép tắc nghiêm khắc trong gia đình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 649 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      653.

      Đợi nơi cửa khách tìm thức ngọc,
      Đừng đỗ đường rời bốc đóa hoa.
      Trông người so sánh với ta,
      Lường tài cân sắc hiệp hòa mới nên.

      Chú thích:

      Thức ngọc: Thức là thứ, món. Ngọc là loại đá quí. Thức ngọc là chỉ người con gái đẹp. Đỗ đường: Dừng lại giữa đường. Lường tài cân sắc: Đo lường cái tài năng của người trai có cân xứng với cái sắc đẹp của mình không.

      Câu 654: Đừng đi ra ngoài đường mà đem cái duyên của mình trao cho người trai.

      Hai câu 655-656: Xem xét chàng trai để so sánh với mình, cái tài của chàng trai và cái sắc đẹp của mình phải cân xứng nhau thì mới hoà hiệp nên việc vợ chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 653 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      657.

      Ai nam tử giữ bền tơ tóc,
      Nhiều người hay lừa lọc câu thề.
      Trước khen sau ắt có chê,
      Ghi tâm tánh đức, kiếm bề phụ nhau.

      Chú thích:

      Nam tử: Đàn ông con trai. Giữ bền tơ tóc: Giữ gìn cho lâu bền cái duyên vợ chồng. Lừa lọc: Không có nghĩa là chọn lọc cẩn thận, mà ở đây, trong trường hợp nầy, lừa lọc có nghĩa là lừa gạt người bằng mánh khóe xảo trá. Lừa lọc câu thề: Con trai thề thốt dối trá để lường gạt con gái nhẹ dạ dễ tin. Ghi tâm: Ghi khắc vào lòng. Tánh đức: Đức tánh, tánh tốt. Kiếm bề: Tìm cách. Phụ nhau: Đối xử tệ bạc với nhau.

      Hai câu 659-660: Người con trai giả dối, trước mặt con gái thì khen nào là đẹp, nào là có duyên, nhưng khi người con gái đi khuất rồi thì lại chê; bên ngoài thì giả bộ ghi tâm tánh đức, nhưng trong lòng thì kiếm cách bỏ nhau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 657 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      661.

      Rủi để khách tóm thâu tiết hạnh,
      Tránh không qua nhẹ tánh nghi ngờ.
      So mình nắm dễ tóc tơ,
      Ngoài ra còn lắm hẫng hờ lứa đôi.

      Chú thích:

      Tiết hạnh: Ý nói cái trinh tiết của người con gái. Nhẹ tánh: Có tánh dễ tin người nên thường bị lừa gạt. Hẫng hờ: Hờ hững, lạnh nhạt trong quan hệ tình cảm, không chút chăm nom hay lưu ý đến. Lứa đôi: Vợ chồng.

      Câu 662: Tránh không khỏi cái tánh nhẹ dạ dễ tin người mà đâm ra nghi ngờ chuyện nọ chuyện kia.

      Hai câu 663-664: Con gái mà để con trai tóm thâu tiết hạnh dễ dàng rồi thì nó sẽ hững hờ trong việc tiến tới hôn nhân.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 661 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      665.

      Nét xuân sắc mấy hồi là trọng,
      Xuân lỡ rồi khó mộng xuân nguyên.
      Thà cho đáng mặt thuyền quyên,
      Đừng làm cầm sắt ra duyên bĩ bàng.

      Chú thích:

      Xuân sắc: Vẻ đẹp trẻ trung của con gái. Chữ Xuân thường được dùng để chỉ tuổi trẻ. Thuyền quyên: Người con gái xinh đẹp dịu dàng. Cầm sắt: Cây đàn cầm và cây đàn sắt, hai thứ đàn nầy hòa âm thì nghe rất hay, nên cầm sắt được ví đôi vợ chồng hòa hợp. Bĩ bàng: Bĩ là bế tắc, bàng là tiếng đệm. Duyên bĩ bàng: Cảnh 2 người yêu nhau đến hồi tan rã.

      Câu 666: Tuổi xuân đã lỡ qua rồi thì khó mà mơ ước tuổi xuân nguyên vẹn trở lại. (Tuổi trẻ qua rồi thì không trở lại).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 665 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      669.

      Khi gặp đặng phải trang tài mạo,
      Hoặc trao trâm đắp áo làm tin.
      Thì toan giữ vẹn chung tình,
      Đưa thoi đừng để lỗi mình nữ trung.

      Chú thích:

      Trang: Tiếng gọi với ý kính trọng người có tài đức. Trang tài mạo: Người tài giỏi và có hình dáng đẹp đẽ. Đưa thoi: Do câu: Nhựt nguyệt như thoa, nghĩa là ngày tháng qua mau như cái thoi dệt vải, đưa qua đưa lại rất mau. Nữ trung: Trong giới phụ nữ.

      Câu 670: Người con gái yêu người con trai, nàng có thể lấy cây trâm cài tóc hoặc chiếc áo trao cho chàng để làm vật đính ước hôn nhân.

      Hai câu 671-672: Đã đính ước cùng nhau thì phải lo gìn giữ chữ thủy chung, dầu ngày tháng qua mau nhưng phận gái đừng để cho lỗi ước.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 669 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      673.

      Đến lúc đã chung phòng hòa hiệp,
      Phải tùng phu là phép xưa nay.
      Mạnh Quang tích trước ghi tài,
      Tề mi vẹn đạo chẳng nài khổ thân.

      Chú thích:

      Bốn câu 673-676: Mẹ dạy con gái xuất giá Tòng phu.

      Tùng phu: Khi có chồng phải tùng theo chồng. Đây là một trong Tam Tùng của người phụ nữ. Điều nầy rất tự nhiên, vì người chồng làm chủ gia đình, lo làm lụng nuôi sống vợ con, nên người vợ giữ vai trò phụ tá chồng, tùng theo chồng. Tề mi: Do câu: Cử án tề mi, nghĩa là nâng mâm cơm lên ngang mày, dâng cho chồng ăn, tỏ ý kính phục chồng. Vẹn đạo: Trọn vẹn đạo làm vợ. Chẳng nài: Không nề hà.

      Mạnh Quang: Thời Đông Hán, ở huyện Bình Lăng có một thư sinh tên là Lương Hồng, học trong nhà Thái Học, có học lực uyên bác, nhưng nhà nghèo, phải đi chăn heo mướn kiếm sống qua ngày, đặng lo học tập, bụng vẫn nuôi chí lớn.

               Ở cùng huyện có người con gái họ Mạnh tên Quang, tuy không có sắc đẹp như nhưng có đủ tứ đức. Nhiều người trọng đức khinh sắc hỏi cưới nàng, nhưng nàng không chịu. Đến năm 30 tuổi, cha mẹ nàng buồn rầu thấy con gái chưa chịu lấy chồng, thì nàng nói: Con có lấy chồng thì chồng phải có đức hạnh và khí tiết như Lương Hồng mới chịu.

               Lương Hồng nghe được chuyện đó, biết nàng Mạnh Quang là tri kỷ của mình, nên đến hỏi cưới nàng làm vợ.

               Khi làm lễ thành hôn, nàng Mạnh Quang mặc quần áo lộng lẫy, trang sức vàng ngọc quí giá, cốt làm tăng vẻ đẹp để vừa ý chồng. Lương Hồng thấy vợ như thế thì không bằng lòng, nhưng không nói gì.

               Đám cưới đã qua 7 ngày đêm mà chàng chưa chịu giao bôi hợp cẩn. Mạnh Thị dò xét mới biết được ý chồng, liền bỏ hết lụa gấm, trang sức quí giá, mặc quần áo vải bô, dùng cây gai làm thoa giắt tóc (Kinh thoa bố quần). Lương Hồng thấy vậy vui mừng nói: Như vậy mới đúng là vợ của Lương Hồng. Hồng nầy không màng danh lợi, không ham tiền của bạc vàng, chỉ muốn sống thanh bần giữ tròn khí tiết và đức hạnh, cùng với vợ tương kính thương yêu.

               Lúc bấy giờ triều chính thối nát, quan lại nhũng nhiễu, vợ chồng Lương Hồng vào ở ẩn tại Bá Lăng, tỉnh Thiểm Tây, là nơi thâm sơn cùng cốc, chồng cày cấy, vợ dệt vải, lúc rảnh rang thì cùng đọc sách, đánh đàn, ngâm thơ, vợ chồng kính ái lẫn nhau, đời sống thật vui vẻ hạnh phúc.

               Sau đó, vợ chồng Lương Hồng lại đến cư ngụ ở Lạc Dương. Lương Hồng thấy triều đình quá hủ bại, mới làm bài ca nhan đề "Ngũ Y." Có người xấu bụng đem bài ca nầy tâu với vua, vua truyền lịnh bắt Lương Hồng. Chàng phải trốn đi, thay tên đổi họ, chạy sang đất Ngô, tạm làm nghề giã gạo thuê cho một nhà giàu để tạm sống qua ngày.

               Mỗi lần chàng giã gạo thuê xong, trở về nhà, thì nàng Mạnh Quang sửa soạn cơm nước xong xuôi, dọn lên một cái mâm, nâng mâm lên ngang mày, dâng lên cho chồng ăn cơm.

               Người nhà giàu tình cờ trông thấy được, nghĩ rằng: Người giã gạo thuê nầy được vợ kính trọng như thế ắt không phải là kẻ tầm thường. Do đó, người nhà giàu mời vợ chồng Lương Hồng đến ở luôn trong nhà và trọng đãi.

               Nàng Mạnh Quang để lại cho đời một tấm gương sáng về đạo tùng phu. Nhưng nàng Mạnh Quang sống vào thời quân chủ, trọng nam khinh nữ, nên cách thức "Cử án tề mi" của nàng đối với thời dân chủ ngày nay, nam nữ bình quyền thì không còn phù hợp nữa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 673 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      677.

      Vợ Châu Công đình thần mạng phụ,
      Ở thôn quê lam lụ làm ăn.
      Chồng thì triều nội cao sang,
      Vợ lo canh cửi cơ hàn tấm thân.

      Chú thích:

      Tám câu thơ 677-684: Nói về sự tích của Vợ Ông Châu Công Đán, đời nhà Châu.

      Đình thần: Bề tôi của vua nơi triều đình, tức là quan lớn trong triều. Mạng phụ: Vợ của quan được vua phong tước. Lam lụ làm ăn: Làm ăn vất vả cực nhọc. Triều nội cao sang: Quan lớn cao sang trong triều đình.  Canh cửi: Nghề dệt vải thủ công. Cơ hàn: Đói lạnh.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 677 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      681.

      Giúp chồng trọn ân cần nhiếp chánh,
      Mới nên trang chúa thánh tôi hiền.
      Vợ không tham nhũng kim tiền,
      Chồng lo trọn đạo nắm quyền chăn dân.

      Chú thích:

      Ân cần: Quan tâm săn sóc chu đáo. Nhiếp chánh: Nhiếp là kiêm nhiệm, thay thế; chánh là việc chánh trị sắp đặt trị an trong nước. Nhiếp chánh là thay thế vua (vì vua còn nhỏ tuổi chưa đủ sức nắm quyền trị nước) giữ việc chánh trị trong nước. Chúa thánh tôi hiền: Vua thì có đức độ và sáng suốt như bực Thánh, bề tôi thì tài giỏi và có đạo đức. Tham nhũng: Lợi dụng quyền hành của một vị quan để hoạnh hẹ dân đòi tiền hối lộ. Kim tiền: Vàng và tiền bạc. Trọn đạo: Làn tròn bổn phận của mình. Chăn dân: do chữ Hán là Mục dân, vì người xưa cho rằng, vua quan cai trị dân chúng giống như mục đồng chăn gia súc. Chăn dân là từ ngữ xưa, chỉ việc cai trị dân chúng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 681 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      685.

      Phạm trọng Yêm mấy lần xa vợ,
      Nợ quân vương nhiều thuở truân chuyên.
      May duyên gặp đặng vợ hiền,
      Thanh liêm chánh trực giữ bền lòng son.

      Chú thích:

      Nợ quân vương: Món nợ đối với vua vì hưởng lộc vua. Quân là vua, vương cũng là vua, quân vương là chỉ ông vua. Truân chuyên: Nhiều nỗi gian nan vất vả. Thanh liêm: Trong sạch và không tham lam. Chánh trực: Ngay thẳng. Lòng son: Chữ Hán là Đan tâm, nghĩa là lòng ngay thẳng trung thành trước sau như một.

      Bốn câu thơ 685-688: Nói về sự tích của Phạm Trọng Yêm.

               Phạm Trọng Yêm: Tự là Hy Văn, người xứ Tô Châu, tánh tình cương trực nhưng ôn hòa. Ngay từ lúc thi đậu Tú Tài, họ Phạm đã nghĩ rằng chuyện chánh trị quốc gia là trách nhiệm của ông. Ông thường nói: "Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ." Câu nói nầy được truyền rộng rãi từ đời Tống đến nay. Sau đó ông thi đậu Tiến Sĩ, làm quan dưới triều Tống Nhân Tông đến chức Lại Bộ Viên Ngoại Lang, từng giữ chức Tri Châu ở Hàng Châu. Ông có tánh trọng nghĩa khinh tài, đối xử với bà con rất có hậu. Ông mua vài trăm mẫu ruộng dùng làm nghĩa địa cho dòng họ và lấy huê lợi châu cấp cho bà con khi đau ốm hay ma chay.

               Ông có người con tên Nhân Đức, tánh cũng háo nghĩa như ông. Lúc ông làm quan ở Khai Phong, để dành được 500 thùng lúa, sai con chở về quê. Nhân Đức đến Đan Dương, gặp bạn cũ của cha là Thạch Man Kha, đang lúc cùng quẩn, lại chẳng may bị 3 cái tang cùng lúc. Nhân Đức liền lấy 500 thùng lúa cho Man Kha lo việc ma chay và lại cho luôn chiếc ghe bán lấy tiền gả 2 đứa con gái.

               Chừng Nhân Đức trở về nhà thuật lại việc làm của mình cho cha nghe thì ông không rầy la mà lại khen con: Vậy mới phải là con của ta.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 685 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      689.

      Phải căn nợ cách non cũng gặp,
      Lỡ trái duyên vội gấp ra hư.
      Con xem từ trước đến chừ,
      Đấng anh hùng gặp anh thư mấy người?

      Chú thích:

      Căn nợ: Món nợ có gốc rễ từ kiếp trước, tức là món nợ đã thiếu từ kiếp trước, nay kiếp nầy phải trả. Cách non: Cách xa một cái núi, ý nói xa xôi cách trở núi sông. Trái duyên: Tình duyên ngang trái, đổ vỡ gây đau khổ. Lỡ trái duyên: Khi lỡ gặp cảnh tình duyên ngang trái. Vội gấp: Vội vã gấp rút. Đến chừ: Đến bây giờ. Anh hùng: Người tài giỏi có chí lớn, lập được nhiều công trạng phi thường đối với quốc gia. Anh thư: Người phụ nữ tài giỏi nổi bậc hơn người.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 689 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      693.

      Dầu đẹp xấu để đời luận biện,
      Vui duyên con, thân miễn an vui.
      Đừng chê chồng phận thiệt thòi,
      Đáng danh quân tử phải người lang quân.

      Chú thích:

      Luận biện: Đưa ra nhiều lý lẽ để bàn cãi đúng sai. Quân tử: Người có tài đức hơn người, sẵn sàng đem tài sức ra giúp đời. Người quân tử là mẫu người lý tưởng mà Nho giáo nêu lên để giáo dục thanh niên. Lang quân: Tiếng vợ gọi chồng.

      Câu 694: Mẹ khuyên con gái nên an phận, vui vẻ với cuộc sống gia đình mà mình đang có.

      Hai câu 695-696: Đừng nên chê chồng là kẻ bất tài, chịu phận thiệt thòi, cũng đừng nên nghĩ rằng, đáng mặt là người quân tử thì mới phải là chồng của mình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 693 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      697.

      Chữ hằng dạy thanh xuân bất tái,
      Vợ người rồi danh gái hết kêu.
      Noi gương đức tánh Nhị Kiều,
      Dở dang Du Sách, giữ điều tiết trinh.

      Chú thích:

      Chữ hằng dạy: Sách thường dạy. Thanh xuân bất tái: Tuổi trẻ không trở lại. Thanh xuân là tuổi trẻ, tái là lập lại. Nhị Kiều: Hai nàng Kiều đẹp nhứt của đất Giang Đông nước Đông Ngô. Chị là Đại kiều, gả cho Tôn Sách, vua nước Đông Ngô; em là Tiểu Kiều, gả cho Châu Du, Đại Đô Đốc Thủy Quân của Đông Ngô. Tôn Sách và Châu Du đều chết sớm, hai nàng Kiều ở vậy thờ chồng, thủ tiết nuôi con. Dở dang: Tình duyên dang dở vì chồng chết sớm. Du Sách: Châu Du và Tôn Sách.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 697 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      701.

      Hễ thất nghĩa rẻ khinh kim cải,
      Khó tưới hoa trở lại thanh tươi.
      Hư nên cũng có một đời,
      Hay chi thay đổi nhành mai sái mùa.

      Chú thích:

      Thất nghĩa: Mất cái tình nghĩa. Rẻ khinh: Coi thường. Kim cải: Chỉ tình nghĩa vợ chồng. (Xem Chú thích câu 111) Thanh tươi: Xanh tươi. Thanh là xanh. Nhành mai sái mùa: Cành mai chỉ có giá trị trong mấy ngày Tết, ai cũng quí trọng, đem đặt nơi thật trang trọng để cầu sự may mắn đến với gia đình trong năm mới. Nếu cành mai nở sái mùa, không đúng vào dịp Tết, thì giá trị của nó chẳng đáng bao nhiêu. Cành mai sái mùa là ý nói người con gái lỡ thời, đã qua thời xuân sắc tươi trẻ.

      Hai câu 701-702: Khi tình nghĩa vợ chồng đã mất rồi thì khó mà hàn gắn lại được như lúc đầu.

       

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 701 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      705.

      Tri âm ví đáng dây cầm nguyệt,
      Đừng đem tình chí thiết giao hoan.
      Căn duyên dầu có phụ phàng,
      Cũng do tiết giá mở đàng ngại lo.

      Chú thích:

      Tri âm: Hiểu biết tiếng đàn, chỉ đôi bạn hiểu thấu lòng nhau, theo điển tích Bá Nha-Tử Kỳ. Cầm nguyệt: Cầm là cây đàn, nguyệt là mặt trăng. Cầm nguyệt là cây đàn mà thùng đàn hình tròn như mặt trăng. Tình chí thiết: Tình yêu rất tha thiết. Giao hoan: Chỉ sự ân ái giữa nam nữ hay vợ chồng. Căn duyên: Duyên vợ chồng có gốc rễ từ kiếp trước. Phụ phàng: Đối xử tệ bạc, không nghĩ đến tình nghĩa thuở trước. Tiết giá: Lòng trong sạch ngay thẳng đối với chồng.

      Câu 705: Đôi bạn hiểu biết nhau sâu sắc xứng đáng là bạn tri âm.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 705 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      709.

      Trai bảy thiếp cũng cho chẳng hại,
      Gái lộn chồng đã hoại tánh danh.
      Con coi phận mẹ mỏng mành,
      Chánh thê nay lại sánh mình thứ thê.

      Chú thích:

      Gái lộn chồng: Gái bỏ chồng nầy đi lấy chồng khác, chỉ hạng gái hư thân mất nết. Hoại tánh danh: Hư hỏng họ tên. Mỏng mành: Yếu ớt không đủ sức chịu đựng. Chánh thê: Vợ chánh. Thứ thê: Vợ thứ, tức là vợ bé.

      Hai câu 709-710: Lấy ý theo câu ca dao: Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng. (Chính chuyên là đứng đắn trung thành). Thời xưa cho phép đàn ông có nhiều vợ (chế độ đa thê), nhưng đàn bà chỉ được có một chồng. Gái nhiều chồng thì bị người ta chê cười là gái lộn chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 709 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      713.

      Muốn còn phước dựa kề quân tử,
      Phải hạ mình đặng xử vuông tròn.
      Chia chồng vì dạ sắt son,
      Nhịn chồng bởi chút sắp con cái nhà.

      Chú thích:

      Dựa kề quân tử: Gần gũi kế bên chồng. Hạ mình: Tự đặt mình xuống địa vị thấp để mưu cầu việc gì. Xử vuông tròn: Sắp đặt công việc ổn thỏa mọi mặt. Chia chồng: Ý nói để cho chồng có vợ bé.

      Câu 716: Nhường nhịn chồng vì còn lo nuôi mấy đứa con trong nhà.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 713 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      717.

      May tiểu thiếp biết hòa biết thuận,
      An thân chồng đẹp xứng nợ duyên.
      Rủi ro gặp gái bán thuyền,
      Loạn gia phải chịu thảm phiền lắm cơn.

      Chú thích:

      Tiểu thiếp: Vợ nhỏ của chồng. Nợ duyên: Duyên nợ. Gái bán thuyền: Con gái đem bán cái duyên của mình, chớ không có tình nghĩa chi hết. Đó là hạng gái chỉ biết có tiền, còn tiền thì còn tình, hết tiền thì hết tình. Loạn gia: Gây ra lộn xộn, rối loạn phép tắc gia đình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 717 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      721.

      Thà thấy dạng còn hơn hiu quạnh,
      Nên cắn răng nhịn nhín tình thương.
      Ai đời thắt dạ mà lường,
      Bưởi bòng bụng gái vẫn thường giống nhau.

      Chú thích:

      Cắn răng: Cố gắng chịu đựng âm thầm. Nhịn nhín: Nhịn bớt để chia sớt cho người khác. Thắt dạ: Ép lòng. Bưởi bòng: Trái bòng nhỏ hơn bưởi nhưng chua hơn. Bưởi bòng bụng gái: Ý nói đàn bà con gái có tánh ghen tuông.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 721 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      ___________________________________________________________________________
      Đức Nguyên: Giới thiệu & Chú thích.

Top of Page

      HOME