Nữ Trung Tùng Phận chú thích từ câu 001 đến câu 356.
      ***************************************************************************

      Nữ Trung Tùng Phận
      Chú thích

       

      01.

      Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
      Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.
      Gươm thư giúp sức gươm hùng,
      Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

      Chú thích:

      Văn hóa: Văn là vẻ đẹp, hóa là biến đổi. Nghĩa đen, văn hóa là biến đổi trở nên tốt đẹp. Nghĩa tổng quát, văn hóa là tất cả những công trình vật chất và tinh thần của con người đã sáng tạo ra để làm cho cuộc sống được tốt đẹp hơn. Nghĩa hẹp, văn hóa là văn chương để giáo hóa con người. Trau tria: Giồi mài cho trở nên tốt đẹp và tài giỏi hơn. Nữ phách: Phách là tinh thần, khí phách. Nữ phách là khí phách của người phụ nữ, tinh thần của người phụ nữ. Kinh luân: Trong công việc của người thợ dệt, chia các sợi tơ ra gọi là Kinh, so các sợi tơ lại cho bằng đầu thì gọi là Luân. Kinh luân, dùng theo nghĩa bóng là sắp đặt, sửa sang các việc chánh trị trong nước một cách khéo léo tài giỏi như việc kéo tơ dệt lụa. Thúc thách: Thúc giục và thách đố. Quần hồng: Cái quần màu đỏ, chỉ đàn bà con gái. Thời xưa ở bên Tàu, các nhà giàu thường cho con gái mặc quần màu đỏ. Gươm thư gươm hùng: Thường nói là Gươm thư hùng hay Thư hùng kiếm. Gươm thư là cây gươm mái, chỉ người vợ; gươm hùng là cây gươm trống, chỉ người chồng. Cặp gươm thư hùng có đủ âm dương, nếu dùng một cây thì tác dụng của nó bình thường, nhưng nếu dùng 2 cây thư và hùng phối hợp thì tác dụng của nó tăng lên gấp bội, vì có đủ âm dương. Gươm thư hùng là chỉ một cặp vợ chồng đồng tâm nhứt trí, vợ tài giỏi giúp chồng làm nên sự nghiệp vẻ vang. Điểm tô: Tô điểm, bồi đắp cho tốt đẹp thêm. Nghiệp cả: Sự nghiệp lớn. Cả là lớn. Con Rồng cháu Tiên: Đồng nghĩa với con Hồng cháu Lạc, chỉ dân tộc Việt Nam. (Hồng: Hồng Bàng; Lạc: Lạc Long Quân).

               Theo truyền thuyết trong cổ sử nước ta, vua Đế Minh, cháu 3 đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh tỉnh Hồ Nam, gặp một nàng Tiên, rồi lấy làm vợ, sanh ra Lộc Tục. Vua Đế Minh có 2 người con: Con lớn là Đế Nghi được cho làm vua ở phương Bắc, còn Lộc Tục được cho làm vua ở phương Nam, lấy hiệu là Kinh Dương Vương. Vua Kinh Dương Vương lấy nàng Long Nữ, con gái của Động Đình Quân, sanh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm lên nối ngôi Kinh Dương Vương, lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ, con của vua Đế Lai, sanh ra một cái bọc 100 trứng, nở ra 100 người con trai. Lạc Long Quân bảo Bà Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long Quân (vua Rồng), nàng là dòng dõi Thần Tiên, ăn ở với nhau lâu không đặng, nay được 100 đứa con, nàng đem lên núi 50 đứa, còn 50 đứa ta đem xuống miền Nam Hải." Lạc Long Quân phong con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng hiệu là Hùng Vương, lập ra họ Hồng bàng, truyền được 18 đời, đều xưng là Hùng Vương, tính cả thảy được 2622 năm. (Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim)

      Dân tộc Việt Nam là con cháu của Lạc Long Quân (Vua Rồng) và Bà Âu Cơ (Tiên Nữ), nên thường tự hào là "con Rồng cháu Tiên."

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 01 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      05.

      Bởi rẻ rúng thuyền quyên thiếu học,
      Dầu chí thân tơ tóc cũng khi.
      Tinh thần cao thấp nhờ thi,
      Dục tài nữ sĩ sánh bì cùng nam.

      Chú thích:

      Rẻ rúng: Coi thường, coi không có giá trị gì hết. Thuyền quyên: Xinh đẹp dịu dàng, chỉ con gái hay đàn bà đẹp. Thiếu học: Không được học hành. Chí thân: Rất gần gũi thân thiết. Chí là rất, thân là gần gũi thương yêu. Tơ tóc: Xe tơ kết tóc, ý nói kết thành vợ chồng. Cũng khi: Cũng khinh rẻ, cũng coi thường. Tinh thần: Phần vô hình sáng suốt tốt đẹp nhất trong con người. Chính cái tinh thần nầy làm chủ thể xác và điều khiển các hoạt động của thể xác. Thi: Thơ, ý nói văn chương thơ phú. Dục tài: Chữ Hán, Dục là nuôi nấng; tài là khả năng làm được việc. Dục tài là nuôi nấng tài năng cho phát triển. Nữ sĩ: Người phụ nữ có học thức, có tài viết văn và làm thơ. Sánh bì: So sánh để có thể cân bằng được. Nam: Đàn ông con trai.

      Hai câu 5-6: Theo tục lệ thời xưa, con gái không được phép đi học nên phải chịu phận dốt nát, khiến cho con trai khinh rẻ. Do đó, dầu là vợ chồng với nhau rất gần gũi thương yêu mà người chồng cũng không tránh khỏi khinh khi vợ.

      Hai câu 7-8: Nhờ học văn chương thơ phú mà tinh thần của con người được trổi cao. Cần phải nuôi dưỡng tài năng của các Nữ sĩ để Nữ phái vương lên đứng ngang hàng cùng Nam phái.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 05 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      09.

      Chinh phụ trước treo nên giá quí,
      Áng văn làm nhuệ khí cầu vinh.
      Thêm duyên chước quí giao tình,
      Mỹ ngôn nương ý gia đình an vui.

      Chú thích:

      Chinh phụ: Vợ của người lính đi đánh giặc phương xa. Chinh là đánh giặc, phụ là vợ. Trong Câu 9, Chinh phụ là chỉ tác phẩm "Chinh Phụ Ngâm" do Bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm viết ra hồi Bà sanh tiền. Giá quí: Giá trị cao quí. Áng văn: Một bài văn, một khúc thi văn. Nhuệ khí: Cái vẻ mạnh mẽ toát ra ngoài. Cầu vinh: Cầu mong sự vẻ vang. Vinh là vẻ vang. Duyên: Cái vẻ hài hòa tế nhị đáng yêu tạo cho người con gái một sức hấp dẫn tự nhiên. Chước quí: Cách sắp đặt khôn khéo rất hay. Giao tình: Tình cảm bạn bè giao tiếp với nhau. Mỹ ngôn: Lời nói đẹp. Mỹ ngôn không phải là lời nói văn chương bóng bẩy, mà là lời nói thanh nhã dịu dàng, gây được sự hòa hảo giữa mọi người trong gia đình. Nương ý: Dựa theo các ý kiến để dung hòa cho được tốt đẹp giữa mọi người.

      Hai câu 9-10: Bà Đoàn Thị Điểm, trong kiếp sanh, đã diễn nôm, viết nên tác phẩm "Chinh Phụ Ngâm". Đó là một áng văn chương có giá trị cao quí để lấy đó làm thế mạnh cầu mong đạt đến sự vinh hiển.

               Hai câu thơ nầy, một lần nữa xác nhận chính Bà là người diễn nôm tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Hán văn của Đặng Trần Côn, bởi vì học giả Hoàng Xuân Hãn đưa ra thuyết nói rằng: "Bản diễn nôm nầy là của Ông Phan Huy Ích, nhưng còn có chỗ hồ nghi."

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 09 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      13.

      Nấu kinh sử ra mùi son phấn,
      Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.
      Quần xoa đỡ ngọn binh đao,
      Xây hình thục nữ giặm màu nước non.

      Chú thích:

      Kinh sử: Kinh là sách do các bậc Thánh Hiền viết ra, thí dụ như Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu,...; sử là sách chép lại các việc xảy ra trong nước theo thời gian. Nấu Kinh sử: Do thành ngữ "Nấu sử xôi kinh", ý nghĩa là học tập kinh sử một cách nhuần nhuyễn để đi thi. Bút nghiên: Cây viết và bình mực. Bút nghiên là chỉ việc văn chương. Thắm: Có màu sắc đậm và tươi. Má đào: Gò má ửng hồng như màu hoa đào, chỉ con gái đẹp. Thắm má đào: là làm cho con gái thêm xinh đẹp. Quần xoa: Cái quần và cái trâm cài tóc, chỉ giới phụ nữ. Xoa tức là Thoa: Cái trâm cài tóc. Đỡ: Chống đỡ. Ngọn binh đao: Cái mũi nhọn của khí giới và của cây đao. Đỡ ngọn binh đao là ý nói chống ngăn quân giặc. Thục nữ: Người con gái hiền lành, nết na. Thục là đức tánh hiền lành. Kinh Thi: Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cừu. (Người con gái nết na xinh đẹp, xứng đôi cùng người quân tử.) Giặm: Kết thêm vô chổ thiếu sót. Giặm màu nước non: Ý nói thêm cái công chống giặc bảo vệ tổ quốc.

      Hai câu 13-14: Người con gái sẵn có sắc đẹp, lại được trang bị thêm kiến thức văn chương thì vẻ đẹp càng cao quí hơn nữa.

      Hai câu 15-16: Phụ nữ cũng phải biết chống giặc để bảo vệ tổ quốc. Phải xây dựng người phụ nữ hiền lành xinh đẹp có thêm cái công bảo vệ tổ quốc. "Xây hình thục nữ giặm màu nước non" gợi lên một bức tranh sơn thủy, nếu chỉ có non và nước thì bức tranh có vẻ thiếu sót, nếu giặm thêm vào đó bóng dáng người thục nữ thì bức tranh mới toàn bích.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 13 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      17.

      Cửa Thánh miếu hỡi còn thiếu gái,
      Chốn quyền môn nữ lại vẫn không.
      Vật chơi ở chốn khuê phòng,
      Đã cam phận vợ để chồng cầm duyên.

      Chú thích:

      Thánh miếu: Miếu thờ Đức Thánh Khổng Tử và các vị Thánh Hiền của Nho giáo. Cửa Thánh miếu: Chỉ giới Nho sĩ thời xưa, tức là giới trí thức khoa bảng. Hỡi: Từ ngữ biểu thị ý muốn kêu lên để than thở. Quyền môn: Cửa quyền, nơi làm việc của quan lại. Chốn quyền môn: Ý nói giới quan lại cầm quyền cai trị dân chúng. Vật chơi: Món đồ chơi. Khuê phòng: Nơi đàn bà con gái ở. Khuê là cái cửa buồng nhà trong. Cam: Đành chịu vậy. Duyên: Mối dây ràng buộc thành vợ chồng.

      Hai câu 17-18: Trong giới trí thức khoa bảng, cũng như trong giới quan lại (thời xưa) vẫn không có phụ nữ góp mặt vào. (Đây là một thiệt thòi rất lớn cho phụ nữ).

      Hai câu 19-20: Thời xưa quan niệm trọng Nam khinh Nữ, cho rằng "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" (một đứa con trai gọi là có, 10 đứa con gái gọi là không), vì con trai mới được nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên; lại cho phép đàn ông cưới nhiều vợ, chồng chúa vợ tôi. Do đó: Người phụ nữ chỉ được xem là món đồ chơi nơi khuê phòng, cam đành chấp nhận số phận làm vợ tùy thuộc hoàn toàn vào chồng, và người chồng cầm quyền định đoạt tất cả các công việc trong gia đình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 17 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      21.

      Phần nội trợ trăm phiền đeo đẳng,
      Đạo phụ cơ đã nặng cho mình.
      Duyên may chồng đã nghĩ tình,
      Còn cha còn mẹ có đành phận đâu?

      Chú thích:

      Nội trợ: Lo liệu sắp đặt các việc sinh hoạt hằng ngày trong gia đình để giúp đỡ người chồng. Nội là bên trong. Trợ là giúp đỡ. Trăm phiền: Trăm thứ phiền phức, bực bội. Đeo đẳng: Theo đuổi mãi, không dứt bỏ được. Đạo: Nguyên tắc, đường lối phải theo trong cuộc sống chung đụng trong xã hội. Phụ: Vợ. Cơ: Người đàn bà đẹp, vợ nhỏ. Đạo phụ cơ: Đường lối mà người vợ trong gia đình phải theo để cư xử cho đúng phép. Duyên may: Số phận may mắn dành cho mình. Nghĩ tình: Nghĩ đến tình thương yêu mà dành cho sự tốt đẹp. Đành: Cam chịu. Phận: Bổn phận.

      Câu 22: Cái bổn phận làm một người vợ trong gia đình đã là nặng nhọc lắm rồi.

      Câu 23-24: Có được cái số phận may mắn là chồng nặng tình thương yêu, nhưng còn có cha mẹ chồng thì làm con dâu đâu có đành lòng mà không lo tròn bổn phận.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 21 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      25.

      Nỗi em chị bởi đâu chẳng thuận,
      Nỗi nhi tôn lẩn bẩn bên lưng.
      Nỗi nhà, nỗi bếp, nỗi lân,
      Nỗi trong thân tộc, nỗi gần, nỗi xa.

      Chú thích:

      Nỗi: Sự tình, tình cảnh không hay xảy ra ảnh hưởng đến tình cảm con người. Nỗi em chị: Tình cảnh giữa chị em. Nhi tôn: Con cháu. Nhi là con, tôn là cháu. Lẩn bẩn bên lưng: Quanh quẩn bên mình, không rời ra được. Nỗi lân: Tình cảnh cư xử với xóm giềng. Thân tộc: Những người bà con trong dòng họ. Nỗi gần nỗi xa: Những tình cảnh xảy ra ở gần bên mình và những tình cảnh xảy ra ở cách xa mình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 25 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      29.

      Trên lo thảo, giữa hòa, dưới thuận,
      Ngoài nên danh, trong vững mối giềng.
      Nỗi trông hương hỏa giữ bền,
      Giúp nên chồng có phẩm quyền cao sang.

      Chú thích:

      Thảo: Hiếu thảo, quan tâm săn sóc cha mẹ, ông bà. Ngoài nên danh: Bên ngoài tạo được tiếng tăm tốt. Trong vững mối giềng: Trong nhà thì giữ vững khuôn phép gia đình. Mối giềng là chỉ khuôn phép gia đình. Hương hỏa: Nhang đèn, chỉ sự thờ cúng tổ tiên. Hương là cây nhang đốt cháy tỏa mùi thơm. Hỏa là lửa, chỉ cây đèn. Phẩm quyền: Chức tước và quyền hành. Cao sang: Ở bực cao quí và sang trọng.

      Câu 31: Tâm trạng của người vợ là trông mong sanh đặng con trai để nối dõi dòng họ nhà chồng, giữ bền việc thờ cúng tổ tiên.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 29 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      33.

      Mảng lo lắng chữ nhàn nào rõ,
      Huống để công đến ngõ Khổng Trình.
      Rừng Nho biển Thánh thinh thinh,
      Nữ lưu nào thấu muôn nghìn thi thơ.

      Chú thích:

      Mảng: Mải miết. Mảng lo lắng: Mãi lo lắng. Huống: Phương chi, không có cách gì. Ngõ: Cái cổng. Khổng Trình: Đức Khổng Tử và Ông Trình Di. Đức Khổng Tử là Giáo chủ Nho giáo. Trình Di, hiệu là Y Xuyên, một bực đại nho vào thời nhà Tống bên Tàu. Ngõ Khổng Trình: Ý nghĩa giống như "cửa Khổng sân Trình", chỉ trường dạy chữ Nho, nơi đào tạo nhân tài trí thức thời xưa. Rừng Nho biển Thánh: Chữ của Thánh Hiền nhiều như cây trên rừng, sâu rộng như biển. Ý nói việc học không biết đến bao giờ mới biết hết được. Thinh thinh: Thênh thang. Nữ lưu: Nữ phái. Lưu là một ngành, một phái. Thấu: Biết rõ. Thi thơ: Ý nói kinh sách. Thơ là sách.

      Câu 34: Không có cách gì để làm cái công việc là đến trường học văn chương chữ nghĩa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 33 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      37.

      Kỉnh tổ hiển nỗi thờ nỗi phụng,
      Tế tông đường lo cúng lo đơm.
      Kiến thân viếng sớm thăm hôm,
      Chua cay rõ miếng cơm ngon cá bùi.

      Chú thích:

      Tổ hiển: Tiếng con cháu kính xưng Tổ tiên đã chết. Thờ: Tôn kính bằng sự lễ bái. Phụng: Phục vụ. Tế tông đường: Cúng tế tổ tiên nơi nhà thờ của dòng họ với nghi thức long trọng. Đơm: Sắp đặt thức ăn vào dĩa. Kiến thân: Thăm viếng cha mẹ. Kiến là gặp gỡ thăm viếng, thân là chỉ cha mẹ. Chua cay: Ý nói khổ cực vất vả.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 37 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      41.

      Lưỡi lừa miếng nhai cơm lũ trẻ,
      Kiêng vật ăn đặng để nuôi con.
      Còn con nòi giống chồng còn,
      Mảnh thân đành chịu hao mòn với ai?

      Chú thích:

      Lừa miếng: Chọn lựa miếng ăn. Kiêng vật ăn: Tránh không ăn vì sợ có hại sức khỏe. Xanh mày: Mày xanh, chỉ thời thanh xuân tuổi trẻ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 41 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      45.

      Còn gặp thuở xanh mày lịch sắc,
      Dâng hình hoa treo mắt bướm ong.
      Nào là hương đượm lửa nồng,
      Nết khuôn giữ vẹn chữ đồng lương nhân.

      Chú thích:

      Lịch sắc: Nhan sắc xinh đẹp. Lịch là xinh đẹp. Hình hoa: Hình dáng đẹp đẽ của người con gái. Hoa là chỉ người con gái. Dâng: Đưa lên. Treo mắt: Treo trước mắt để ngắm, ý nói khêu gợi sự ham muốn. Bướm ong: Hai loại sinh vật thích hút mật nhụy hoa. Bướm ong gặp hoa thì liền đáp vào để hút mật. Hoa tượng trưng con gái, bướm ong tượng trưng các chàng trai. Trai gặp gái thường hay đến gần chọc ghẹo tỏ tình. Hương đượm lửa nồng: Tình yêu thắm thiết sâu đậm giữa vợ chồng. Đượm là thấm sâu. Nồng là đậm đà. Hương lửa là tình yêu thắm thiết giữa vợ chồng. Nết khuôn: Nết na và khuôn phép cư xử trong nhà. Chữ đồng: Đồng là cùng chung. Hễ là vợ chồng thì nghèo chung chịu, giàu chung hưởng, khổ chung lo. Chữ đồng là ý nói sự liên kết mật thiết giữa vợ chồng. Lương nhân: Người tốt, người lành. Khi xưa, vợ gọi chồng là Lương nhân. Lương là tốt, nhân là người.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 45 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      49.

      Muốn trau chuốt mặt ngần thân dịu,
      Vẽ cho hay mày liễu má đào.
      Thương gìn lúc ốm khi đau,
      Sợ chê xấu phận, cậy màu phấn son.

      Chú thích:

      Trau chuốt: Sửa sang tô điểm cho đẹp hơn. Mặt ngần thân dịu: Gương mặt sáng đẹp, mình mẩy mềm mại dịu dàng. Ngần là sáng bóng, dịu là mềm mại dịu dàng. Mày liễu: Cặp chân mày cong và nhỏ như lá liễu. Do câu thơ của Bạch Cư Dị đời Đường: Phù dung như diện, liễu như mi (Mặt như hoa phù dung, mày như lá liễu).

      Hai câu 51-52: Thương chồng nên lo gìn giữ nhan sắc, lúc ốm đau, nước da xanh tái, sợ chồng chê xấu xí, nên phải nhờ phấn son trang điểm.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 49 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      53.

      Mình mỏng mảnh sức non nớt yếu,
      Đỡ nâng chồng vốn thiếu tay co.
      Không toan sớm đói chiều no,
      Lựa là tứ hải ngũ hồ giúp nhau.

      Chú thích:

      Tay co: Cánh tay đắc lực. Khi nói người nầy là cánh tay mặt hay cánh tay đắc lực của Giám Đốc, có nghĩa người nầy là một cộng sự viên thân tín và đắc lực, giúp Giám Đốc giải quyết thành công nhiều việc khó khăn rất hợp ý. Toan: Tính toán, lo liệu. Lựa là: Lọ là, huống chi. Tứ hải Ngũ hồ: Bốn biển năm hồ, ý nói khắp thế giới. Như thường nói: Năm châu bốn biển.

      Câu 54: Giúp đỡ chồng vì chàng vốn thiếu người cộng sự thân tín và đắc lực.

      Hai câu 55-56: Lo liệu không hết việc cơm nước sáng chiều, huống chi là việc anh em giúp nhau trong khắp năm châu bốn biển.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 53 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      57.

      Cứ tựa cửa phòng đào giấu dạng,
      Ngoài nước non nào hẳn vơi chênh.
      Mảng trong thấm nghĩa nặng tình,
      Để công bẻ liễu, bắn bình trượng phu.

      Chú thích:

      Phòng đào: Phòng của người vợ ở. Giấu dạng: Giấu kín hình bóng của mình.Vơi chênh: Không đầy, nghiêng lệch, chỉ sự đổi thay, lúc thế nầy lúc thế khác. Mảng: Mải miết. Thấm nghĩa nặng tình: Tình nghĩa thương yêu sâu nặng. Bẻ liễu: Ý nói lấy người con gái làm vợ. Liễu là loại cây mềm yếu tha thướt nên được ví với người con gái. Bắn bình: Điển tích: Lý Uyên bắn trúng mắt con chim sẻ vẽ trên tấm bình phong, nên được Ông Đậu Nghi gả con gái là Đậu thị cho. Bắn bình là ý nói cưới được vợ đẹp. Trượng phu: Vợ gọi chồng là Trượng phu.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 57 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      61.

      Dầu khôn mấy giả ngu cho thuận,
      Phải bao nhiêu cũng nhận lỗi lầm.
      Phòng đào giữ rủi rơi trâm,
      Sợ lơi hơi sắt, tiếng cầm lạc cung.

      Chú thích:

      Dầu khôn mấy: Dù có khôn ngoan cách nào đi nữa. Giả ngu: Giả vờ mình ngu dại. Phải bao nhiêu: Dù mình có được lẽ phải bao nhiêu đi nữa. Trâm: Cái trâm cài tóc của phụ nữ. Nó thường được dùng làm vật đính hôn giữa trai và gái. Nếu cái trâm rủi bị gãy thì nó báo hiệu cuộc tình duyên gặp trở ngại, có khi đổ vỡ. Giữ rủi rơi trâm: Giữ gìn không cho cái trâm rơi gãy, ý nói: Giữ cho tình thương yêu giữa vợ chồng được toàn vẹn mãi. Hơi sắt tiếng cầm: Tiếng đàn sắt đàn cầm. Sắt cầm là ví đôi vợ chồng, nên thường nói: Sắc cầm hảo hiệp, loan phụng hòa minh. Lơi: Không giữ được chặt chẽ. Lạc cung: Cung đàn lạc điệu, ý nói vợ chồng không hòa hợp với nhau.

      Hai câu 63-64: Trong nhà, người vợ cố gắng giữ gìn không để xảy ra sơ sót vì sợ ảnh hưởng xấu đến sự hòa hợp giữa vợ chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 61 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      65.

      Thử từ nết khi chung lúc chạ,
      Gióng từ hơi hòa nhã tơ loan.
      Chiều vui dưới trướng ngoài màn,
      Nhẫng lo ngại nỗi phụ phàng ái ân.

      Chú thích:

      Thử từ nết: Người vợ làm một việc nào đó để xem phản ứng của chồng như thế nào, qua đó biết được tính nết của chồng. Chung chạ: Sống chung đụng với nhau đến mức không còn phân biệt cái nào là của riêng mình. Gióng từ hơi: Nghe ngóng từ cái hơi trong giọng nói của chồng để đoán biết ý chồng. Hòa nhã: Hòa hợp tốt đẹp. Tơ loan: Loan là chất keo làm bằng máu chim loan, để nối dây đàn bằng tơ khi dây đàn đứt. Tơ loan là chỉ dây đàn. Chiều vui: Chiều theo ý chồng để chồng vui vẻ. Trướng: Bức màn che có thêu hình trang trí cho đẹp. Nhẫng: Những, chỉ. Phụ phàng: Đối xử bạc bẽo.

      Câu 66: Nghe ngóng từ giọng nói của chồng để đoán biết ý chồng mà chiều theo cho tình vợ chồng hoà hợp tốt đẹp.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 65 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      69

      Nghe từ lịnh, cúi vâng từ mạng,
      Nhọc lòng chi nào dám dỉ hơi.
      Sợ cơn giông gió tơi bời,
      Trà mi sơ sẩy hoa rời rã bông.

      Chú thích:

      Từ lịnh , Từ mạng: Mạng lịnh của mẹ. Từ là tiếng để chỉ người mẹ. Dỉ hơi: Xì hơi, kêu than cho hả hơi. Trà mi: Loại hoa đẹp như hoa hồng, chỉ con gái đẹp. Sơ sẩy: Không cẩn thận để xảy ra điều đáng tiếc.

      Hai câu 71-72: Lo sợ những tai biến xảy đến (giông gió tơi bời) không khéo thì làm cho thân gái phải chịu cảnh tan nát đau khổ (hoa rời rã bông).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 69 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      73

      Che đậy kín tường đông ong bướm,
      Giấu nhặt nghiêm nhụy tướng hương hình.
      E khi vách có âm thinh,
      Để gương lỗi đạo, lỗi tình phu thê.

      Chú thích:

      Tường đông: Bức tường phía đông, chỉ nhà láng giềng phía đông. Thơ của Lý Bạch: Tự cổ hữu tư sắc, Tây Thi tự đông lân. (Từ xưa có sắc đẹp, Tây Thi ở nhà láng giềng phía đông). Tường đông chỉ nhà có con gái đẹp. Ong bướm: Đám con trai hay chọc ghẹo con gái. Giấu nhặt nghiêm: Giấu kín một cách nghiêm nhặt. Nhụy tướng hương hình: Hình dạng và mùi thơm của nhụy hoa, ý nói sắc đẹp và đức hạnh của người con gái. Gương: Tấm gương soi, thấy ảnh của mình trong gương, chỉ người phụ nữ vì thường phụ nữ soi gương để trang điểm. Lỗi đạo: Sái với đạo lý. Phu thê: Chồng vợ.

      Câu 73: Che đậy kín đáo chỗ con gái đẹp ở, sợ đám con trai biết mà tới lui chọc ghẹo.

      Câu 75: E sợ như vách có lỗ tai nghe được tiếng nói thì lộ chuyện ra hết, không giấu kín được nữa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 73 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      77.

      Giao thân cứ gần kề kẻ thiết,
      Ép nhớ thương làm điếc làm đui.
      Mặc người cha mẹ dễ duôi,
      Ngoại tông nương phận nếm mùi trân cam.

      Chú thích:

      Giao thân: Giao tiếp thân mật. Kẻ thiết: Người thân. Làm điếc làm đui: Làm bộ như đui điếc để không thấy không nghe. Cha dễ mẹ duôi: Cha mẹ dễ tánh, rộng lượng. Ngoại tông: Dòng họ nhà chồng, do câu: Nữ sanh ngoại tộc, vì con gái khi lớn lên có chồng thì về ở nhà chồng. Trân cam: Ngon và ngọt, chỉ đồ ăn ngon. Làm con hiếu thảo thì phải dành những thức ăn ngon ngọt cho cha mẹ. Trân cam là chỉ sự phụng dưỡng cha mẹ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 77 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      81.

      Hiểu thương ghét giả cam phận dại,
      Biết nên hư chẳng cãi cho cùng.
      Nên thì an phận kiếm cung,
      Hư thì khổ vợ tội chồng chung nhau.

      Chú thích:

      Kiếm cung: Chỉ người đàn ông, người chồng, vì kiếm cung là 2 thứ binh khí mà đàn ông con trai thường luyện tập. An phận kiếm cung: An phận sống bên chồng. Ngoài mặt phép: Bên ngoài, về mặt pháp luật quốcgia.

      Câu 81: Hiểu rõ lẽ thương lẽ ghét và những hậu quả của nó, nên đành giả vờ ngu dại để được người ta thương.

      Câu 82: Biết rõ lẽ nên lẽ hư, nên chẳng dám tranh cãi cho tận cùng lý lẽ, vì sợ chạm tự ái, mích lòng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 81 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      85.

      Ngoài mặt phép, chàng sao thiếp vậy,
      Giữa cửa công, phải quấy đồng thân.
      Vinh thì chàng mão thiếp cân,
      Hèn thì chàng váy thiếp quần đổi thay.

      Chú thích:

      Giữa cửa công: Giữa nơi cơ quan nhà nước. Phải quấy: Việc đúng lẽ phải, việc sai trái sái quấy. Đồng thân: Cùng đem thân gánh chịu. Váy: Cái quần mà không có chia ra 2 ống.

      Hai câu 85-86: Đối với luật pháp quốc gia hay trước cơ quan nhà nước, người vợ và người chồng đều bình đẳng, chịu trách nhiệm như nhau.

      Câu 87: Khi vinh hiển, chàng làm quan thì mặc áo mão của triều đình, thiếp cũng được đội khăn. Ý nói khi vẻ vang thì vợ chồng cùng hưởng. Cân là cái khăn bịt đầu.

      Câu 88: Lúc nghèo nàn không đủ tiền mua quần áo mặc thì vợ chồng mặc quần áo chung, đổi thay với nhau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 85 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      89.

      Lấy khổ cực làm bài thuốc mến,
      Dụng đau thương rù quến thâm tình.
      Dầu chàng đổi dạ én anh,
      Tề mi vẹn đạo, giữ gìn phép khuôn.

      Chú thích:

      Mến: Thương yêu. Bài thuốc mến: Bài thuốc thương yêu. Rù quến: Rủ rê dụ dỗ. Thâm tình: Tình cảm sâu đậm. Én anh: Chim én và chim anh, chỉ việc chơi bời trăng hoa. Đổi dạ én anh: Thay lòng đổi dạ, sanh ra chơi bời phóng túng. Tề mi: Ngang mày. Tề là ngang bằng, mi là lông mày. Do thành ngữ: Cử án tề mi (nâng mâm cơm lên ngang mày), chỉ sự cung kính của vợ đối với chồng, theo điển tích nàng Mạnh Quang. (Xem câu 675). Vẹn đạo: Trọn vẹn bổn phận của vợ đối với chồng. Phép khuôn: Phép tắc trong gia đình.

      Câu 89-90: Dùng những nỗi khổ cực đã qua làm bài thuốc thương yêu trị bịnh chia rẽ ghen ghét. Dùng những nỗi đau thương vừa qua để dẫn dụ tình thương yêu thêm sâu đậm.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 89 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      93.

      Nâng khăn trấp giải buồn quân tử,
      Hầu tửu trà giấc ngủ không an.
      Chàng vui thiếp cũng vui càn,
      Chàng buồn thiếp tựa bên màn khóc theo.

      Chú thích:

      Nâng khăn trấp: Thành ngữ: Nâng khăn sửa trấp, ý nói vợ chăm sóc chồng. Quân tử: Tiếng vợ gọi chồng. Vui càn: Vui theo mà không cần biết trong lòng ra sao.

      Câu 94: Vợ phải thức khuya dậy sớm để lo phục vụ chồng, rót rượu châm trà cho chồng.

      Hai câu 95-96: Người vợ sống hoàn toàn tùy thuộc vào nhịp sống của chồng, khi chồng vui thì vui theo, khi chồng buồn thì buồn theo.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 93 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      97.

      Dòng Tương chảy thân bèo trôi nổi,
      Chẳng ai thương chữa lỗi binh lời.
      Chàng thì biển cả vơi vơi,
      Thiếp như bóng bọt giữa vời linh đinh.

      Chú thích:

      Dòng Tương: Dòng nước mắt. Điển tích: Vua Thuấn đi tuần thú phương Nam và chết. Hai bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm, đến bờ sông Tương ngồi khóc thảm thiết. Chữa lỗi: Bào chữa những lỗi lầm. Binh lời: Dùng lời nói binh vực. Vơi vơi: Mênh mông, không thấy bến bờ. Bóng bọt: Cái bọt bong bóng nước rất mau tan vỡ. Giữa vời: Giữa mặt nước mênh mông. Linh đinh: Lênh đênh.

      Câu 97: Người vợ than khóc cho tấm thân của mình như cánh bèo trôi nổi trên mặt nước, không biết đi về đâu.

      Câu 99: Chàng thì biền biệt như đi vào biển cả mênh mông, không biết chừng nào trở về.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 97 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      101.

      Nếu gặp phước bố kinh đáng khách,
      Biết yêu hoa dưới ngạch phòng thu.
      Rủi duyên gặp phải thường phu,
      Nhành xuân thì trọng, gương thu dở cầm.

      Chú thích:

      Bố kinh: do câu chữ Hán: Kinh thoa bố quần, nghĩa là trâm cài tóc bằng cây kinh, quần mặc bằng vải bô, chỉ người vợ hiền đức, theo điển tích nàng Mạnh Quang (Xem câu 675). Hoa: Cái hoa, chỉ người con gái. Phòng thu: Chỉ người con gái luống tuổi. Phòng xuân: là chỉ người con gái trẻ tuổi. Nhành xuân: Người con gái trẻ tuổi. Gương thu: Người con gái đã luống tuổi. Gương là chỉ người con gái vì con gái hay soi gương. Thường phu: Người đàn ông tầm thường. Dở cầm: Nửa muốn cầm, nửa muốn bỏ.

      Câu 101: Nếu có phước thì người con gái hiền đức gặp được người chồng xứng đáng.

      Câu 102: Vẫn biết yêu vợ lúc vợ đã luống tuổi.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 101 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      105.

      Khi lịch sắc trao trâm đáng giá,
      Cơn tàn hoa, keo rã sơn rời.
      Vẻ hồng mắc mỏ bao mươi,
      Đưa cho quân tử trọn đời chủ trương.

      Chú thích:

      Lịch sắc: Nhan sắc xinh đẹp. Trao trâm: Người con gái lấy cây trâm cài tóc trao cho bạn trai làm vật đính hôn. Cơn tàn hoa: Lúc người vợ về già, sắc đẹp phai tàn. Keo rã sơn rời: Vợ chồng không còn gắn bó thương yêu nhau nữa. Keo sơn là chỉ sự gắn bó giữa vợ chồng. Vẻ hồng: Sắc đẹp tươi thắm của người con gái. Mắc mỏ bao mươi: Dù có đắt giá bao nhiêu đi nữa. Chủ trương: Quyết định phương hướng hành động.

      Hai câu 107-108: Cái sắc đẹp của người con gái dù có đắt giá bao nhiêu đi nữa, mà đã có chồng thì trao tất cả cho chồng quyết định đến trọn đời.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 105 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      109.

      Nhụy đương nở mùi thơm ngào ngạt,
      Dâng hình hoa lo lót con ong.
      Trăm năm kim cải cũng chồng,
      Trái duyên cũng vẹn đạo tòng mà thôi.

      Chú thích:

      Kim cải: Cây kim và hột cải, ý nói tình vợ chồng khắn khít nhau như nam châm hút cây kim, hổ phách hút hột cải. Trái duyên: Tình duyên ngang trái, bị chồng phụ bạc. Đạo tòng: Bổn phận Tam tùng của người phụ nữ.

      Câu 109: Ý nói: Thời thanh xuân của người con gái.

      Câu 109-110: Dâng cho chồng tất cả sắc đẹp và cái quí giá nhứt của đời con gái để mong được chồng thương yêu.

      Hai câu 111-112: Dầu thương yêu khắn khít cũng là chồng, dù phụ bạc cũng là chồng, người vợ suốt đời cũng vẫn gìn giữ trọn vẹn cái đạo Tam Tùng mà thôi.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 109 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      113.

      Thân lòn cúi, vợ tôi chồng chúa,
      Đạo phu thê như đũa nên đôi.
      Dầu cho lúc đứng khi ngồi,
      Chàng là chúa cả, thiếp thời gia nô.

      Chú thích:

      Thân lòn cúi: Hạ mình chiều lụy.Vợ tôi: Vợ là bề tôi. Chúa cả: Ông chủ lớn. Gia nô: Đày tớ trong nhà.

      Câu 113: Dưới thời quân chủ phong kiến xưa, người chồng có toàn quyền đối với vợ, chồng là chúa, vợ là bề tôi.

      Câu 114: Đạo vợ chồng như đũa nên đôi. Hai chiếc đũa thì phải giống nhau và bằng nhau. Nếu thiếu 1 chiếc đũa thì không thể gắp đồ ăn được. Như vậy vợ chồng phải bình đẳng nhau. Câu nầy có ý đối chọi với 2 câu: 113 và 116.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 113 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      117.

      May quan cả, rủi cho lê thứ,
      Trong tộc gia cũng cứ phép nhà.
      Hèn người sang ấy của ta,
      Chê người ta lại cho là đáng khen.

      Chú thích:

      Quan cả: Quan lớn. Lê thứ: Dân đen, dân nghèo. Lê là màu đen, thứ là đông đảo. Lê thứ đồng nghĩa với Lê dân. Tộc gia: Gia tộc, họ hàng trong dòng họ. Phép nhà: Gia pháp, phép tắc cư xử trong nhà.

      Câu 117: May mắn thì lấy được chồng làm quan lớn, rủi phận thì lấy chồng là dân nghèo.

      Câu 119-120: Cái mà người ta cho là hèn (xấu), nhưng trong hoàn cảnh của mình, cái ấy là sang (tốt) đối với mình. Cái mà người ta chê, thì cái ấy lại là đáng khen đối với mình.

               Tai sao vậy? Bởi vì người phụ nữ ấy muốn an phận, cho những cái của mình hiện đang có được là tốt rồi, không cần phải đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn nữa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 117 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      121.

      Chồng sang đặng, ta hèn chẳng quản,
      Chồng đẹp hình, ta mảng lo âu.
      E ra nhiều thiếp nhiều hầu,
      Rồi tham bẻ lựu, bỏ đào bơ vơ.

      Chú thích:

      Chẳng quản: Chẳng ngại. Mảng: Mải miết. Đẹp hình: Hình dáng đẹp đẽ, đẹp trai. E ra: Sợ rằng. Thiếp: Vợ nhỏ. Hầu: Người con gái có bổn phận hầu hạ, mà cũng là vợ nhỏ. Thuở xưa, nhà giàu có thì người đàn ông, ngoài vợ chánh ra, còn được lấy thêm vợ nhỏ gọi là Thiếp, và bỏ tiền ra mua nàng Hầu để hầu hạ và sai vặt. Lựu và đào: Hai thứ trái cây mà trong văn chương dùng để tượng trưng người con gái. Thành ngữ: Tham lựu bỏ đào, ý nói có mới nới cũ, ham chuộng cái mới, bỏ bê cái cũ, chỉ người có lòng dạ đổi thay, không chung thủy.

      Câu 124: Chồng ham mê vợ bé, bỏ bê vợ lớn bơ vơ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 121 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      125.

      Hễ xấu dạng thì nhơ mặt thiếp,
      Còn đẹp hình, nhát kiếp phù dung.
      Mình thương người cũng thương cùng,
      Còn như chê bỏ, lại dùng vào đâu?

      Chú thích:

      Xấu dạng: Hình dạng xấu xí, xấu trai. Nhơ: Nhục nhã. Phù dung: Tên một thứ hoa đẹp, dùng để ví sắc đẹp của người con gái. Hoa phù dung nở to vào sáng sớm có màu vàng rất đẹp, buổi trưa biến thành màu hồng, buổi chiều thì đổi sang màu đỏ thẩm rồi tàn. Kiếp phù dung: Kiếp sống của người con gái đẹp. Nhát: Hay sợ sệt.

      Câu 125: Hễ chồng xấu trai thì nhục cho phận thiếp.

      Câu 126: Còn chồng có hình dáng đẹp đẽ thì người vợ lo sợ có người con gái khác quyến rũ chồng mình.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 125 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      129.

      Kiếm xứng mặt mày râu dưới thế,
      E không mưu đủ kế gìn duyên.
      Còn theo thăm ván bán thuyền,
      Trông chi giữ mảnh hương nguyền cùng nhau.

      Chú thích:

      Xứng mặt: Người xứng đáng, có đủ tài đức và hình dung tốt đẹp. Mày râu: Do chữ Hán là Tu mi: Tu là râu, mi là mày, Tu mi là Râu mày, hay Mày râu, chỉ đàn ông con trai. Dưới thế: Trong đời. Thế là đời. Không mưu đủ kế: Không đủ mưu kế. Duyên: Sự gắn bó vợ chồng. Thăm ván bán thuyền: Mới đi thăm ván định mua để đóng thuyền mới mà đã lo bán thuyền cũ đi. Thành ngữ nầy có ý chê kẻ chưa có cái mới mà đã coi rẻ cái cũ. Mảnh: Một miếng. Mảnh hương: Một bó hương nhỏ. Hương nguyền: Hương là cây nhang đốt lên tỏa mùi thơm, nguyền tức là nguyện, ước muốn, thường nói thề nguyền, nghĩa là ước muốn mà phát ra lời thề. Những đôi trai gái yêu nhau thường đốt nhang khấn vái Trời Đất thề nguyền chung thủy với nhau.

      Hai câu 131-132: Còn người chồng nếu theo cái tánh có mới nới cũ, mê theo vợ bé bỏ bê vợ lớn, thì có mong chi giữ được lời thề nguyền chung thủy cùng nhau khi trước.

      Chú ý: Bản in Nữ Trung Tùng Phận của Hội Thánh, in là: "Tham ván bán thuyền". Chúng tôi nghĩ rằng đây là thành ngữ: Thăm ván bán thuyền, ý nghĩa hợp với câu thơ trong đoạn nầy hơn. Mong được sự góp ý của chư Đồng đạo.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 129 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      133.

      Lỡ lối cũ động đào lạc bước,
      Khó cầm duyên đợi ngọc cầu Lam,
      Thân Tiên dầu lỡ gót phàm,
      Gương xưa lỗi ráp, ai cầm làm chi?

      Chú thích:

      Động đào: Động là cái hang núi. Đào là cây đào có hoa đào. Động đào là cái hang núi có cây đào mọc hai bên, và có hoa đào rớt xuống, cảnh rất đẹp mắt. Động đào là chỉ cảnh Tiên theo điển tích sau đây:

               Trong bài Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Tiềm có kể lại rằng: Một người đánh cá ở huyện Vũ Lăng, bơi thuyền ngược theo dòng suối, hai bên bờ suối có mọc cây đào. Đi mãi, người ấy đến một hang núi, rời thuyền lên bộ, lách mình vào hang thì thấy phía sau hang núi nở rộng và hiện ra một khung cảnh tuyệt đẹp như cảnh Tiên, dân cư sống rất hạnh phúc. Người đánh cá trở về thuật chuyện cho mọi người biết. Sau người đánh cá muốn trở lại nơi đó, lần theo lối cũ là suối hoa đào (Đào nguyên), nhưng không tìm được lối vào cửa động.

               Văn học thường dùng các từ ngữ: Động đào, Đào nguyên để chỉ cảnh Tiên, căn cứ theo điển tích nầy.

      Ngọc cầu Lam: Cái chày bằng ngọc để giã thuốc mà Bùi Hàng dùng làm sính lễ cưới nàng Vân Anh ở tại cầu Lam (Lam kiều) theo điển tích sau đây:

               Bùi Hàng, người đời Đường, đi thi hỏng, trở về nhà. Trên đường đi, Bùi Hàng gặp nàng Vân Kiều tặng bài thơ:

      Một chén quỳnh tương dễ cảm tình,
      Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh.
      Lam kiều là chốn Thần Tiên đấy,
      Len lỏi làm chi đất ngọc kinh.

               Ý của Vân Kiều là khuyên Bùi Hàng không nên len lỏi vào chốn quan trường ở kinh đô, mà nên đến Lam kiều (cầu Lam) là chốn Thần Tiên, dùng chày ngọc giã thuốc thì gặp được nàng Tiên Vân Anh.

               Bùi Hàng đọc thơ xong thì lòng nghi hoặc, nhưng cũng thuê ngựa đi đến Lam kiều thử coi thế nào. Khi đến đấy thì Bùi Hàng cảm thấy khát nước lắm, phải dừng ngựa lại, rồi vào nhà của một Bà Lão ở bên đường để xin nước uống. Bà Lão biểu cháu gái là Vân Anh bưng nước ra. Bùi Hàng nhìn thấy Vân Anh tuyệt đẹp thì nhớ lại bài thơ của Vân Kiều, liền ngỏ ý cầu hôn. Bà Lão nói: Trước đây, Tiên có cho Lão một thứ thuốc, bảo rằng phải có cái chày bằng ngọc, giã thuốc đủ 100 ngày thì uống được trường thọ. Lão định hễ ai hỏi cưới Vân Anh thì phải có cái chày ngọc làm sính lễ thì Lão mới gả, còn vàng bạc thì Lão đây không cần.

               Bùi Hàng xin Bà Lão chờ để chàng lên đường đi tìm chày ngọc. Chàng may mắn tìm mua được chày ngọc, liền đem về Lam kiều dâng lên Bà Lão.

               Bà Lão nói: Có được chày ngoc rồi thì ở đây giã thuốc cho Lão đủ 100 ngày mới được thành thân cùng Vân Anh.

               Bùi Hàng làm y lời. Thuốc giã xong, Bà Lão uống ngay, rồi tổ chức đám cưới cho Bùi Hàng và Vân Anh.

      Gương vỡ lại lành: Điển tích: Lạc Xương Công Chúa là em của Trần Hậu Chủ, vợ của Từ Đức Ngôn. Gặp lúc Trần Hậu Chủ bị Tùy Dượng Đế đánh sắp thua tới nơi, Từ Đức Ngôn lúc đó nghĩ rằng chắc vợ chồng chàng khó được trọn vẹn cùng nhau, nên bảo vợ là Lạc Xương Công Chúa rằng: Công Chúa sắc tài gồm đủ, hễ nước mất ắt bị nhà Tùy chiếm lấy, còn mong gì sum họp nhau lâu dài. Nếu nàng chưa dứt hẳn mối tình với tôi thì đây là tấm gương đã bể làm 2 mảnh, nàng giữ một mảnh, tôi giữ một mảnh, hẹn rằng về sau, cứ đến rằm tháng giêng mỗi năm thì nàng đem mảnh gương ra bán ở chợ Kinh đô, tôi sẽ tìm đến mà gặp nhau.

               Đến khi nhà Trần mất, Lạc Xương Công Chúa lọt vào tay danh tướng nhà Tùy là Dương Tố; còn Từ Đức Ngôn lưu lạc gian nan. Khi yên giặc, chàng lần về kinh đô. Chàng y hẹn, ra chợ kinh đô vào ngày rằm tháng giêng, tìm thấy một người ăn mặc theo dáng đầy tớ, đem ra chợ bán một mảnh gương, nói giá thật cao, ai cũng cho là điên khùng. Từ Đức Ngôn đến mời người ấy ra chỗ vắng, đem mảnh gương của mình ra ghép với mảnh gương kia thì khớp nhau. Chàng hỏi thì biết được Lạc Xương Công Chúa đang ở trong dinh của Dương Tố. Chàng viết bức thơ bảo người bán gương đem về cho Công Chúa. Công Chúa nhận thơ biết chồng mình còn sống, nên khóc lóc thảm thiết, tỏ hết sự tình cho Dương Tố rõ. Dương Tố là người anh hùng quảng đại, mời Từ Đức Ngôn đến, đem Công Chúa trả lại, còn tặng cho nhiều tiền bạc.

               Thành ngữ: Gương vỡ lại lành, ý nói vợ chồng sau thời gian lạc xa nhau vì hoàn cảnh, nay được đoàn viên hạnh phúc.

      Gương xưa lỗi ráp: Hai mảnh gương ráp lại không đúng khớp, ý nói tình duyên đổ vỡ không nối lại được.

      Bốn câu thơ: 133, 134, 135, 136 đều nói về sự lỡ làng, tan vỡ của cuộc tình duyên vợ chồng.

      Câu 133: Lỡ hết rồi, theo lối cũ đến động đào nhưng bị lạc bước. Ý nói không thể tìm lại được cảnh cũ người xưa.

      Câu 134: Khó cầm giữ được cái duyên để chờ người đem chày ngọc tới cầu Lam. Ý nói duyên phận lỡ làng.

      Câu 135: Tấm thân là một Tiên Nữ cõi Thượng giới là đã lỡ bước xuống cõi phàm trần đầy gió bụi.

      Câu 136: Hai mảnh gương ráp không khớp nhau, đành chịu tình duyên tan vỡ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 133 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      137.

      Nhẹ là bức, nặng chì tình nghĩa,
      Để dùng riêng cho phía nữ lưu.
      Thung dung quân tử hảo cừu,
      Năm thê bảy thiếp mặc dầu trăng hoa.

      Chú thích:

      Bức: tức là bấc, ruột của cây điên điển, màu trắng, rất nhẹ, thường nói nhẹ như bấc. Nặng chì: Nặng như chì. Nữ lưu: Phái Nữ. Lưu là phái, ngành. Thung dung: Thong dong nhàn hạ. Quân tử: Tiếng vợ gọi chồng. Hảo cừu: tức Hảo cầu, nghĩa là đẹp đôi. Trăng hoa: Ngắm trăng xem hoa, chỉ sự lả lơi chơi giỡn không đứng đắn giữa nam và nữ. Mặc dầu: Mặc sức làm, không ai ngăn cản.

      Câu 139: Người chồng thong dong đi kiếm người con gái khác kết đôi. Ý nói người chồng có vợ bé.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 137 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      141.

      Nào có tưởng vợ nhà đau đớn,
      Ôm tình si muôn lượng sầu than.
      Máu ghen chăn gối dẫy tràn,
      Hình mai ủ dột sắc càng héo don.

      Chú thích:

      Tình si: Tình yêu đắm đuối đến độ như ngây dại. Muôn lượng: Ý nói nhiều lắm. Máu ghen: Tánh hay ghen. Ghen là tức giận khi biết người hôn phối của mình ngoại tình. Chăn gối: Cái mền và cái gối, chỉ sự ân ái của vợ chồng. Dẫy tràn: Tràn ra đầy dẫy. Hình mai: Hình dáng mỏng mảnh của người vợ. Ủ dột: Buồn rầu ảm đạm. Héo don: Héo úa như sắp mất hết sự sống.

      Hai câu 143-144: Người vợ ghen tuông vì chồng ngoại tình nên hình dáng gầy mòn, mặt mày ủ dột buồn rầu, nhan sắc càng héo úa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 141 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      145.

      Hễ càng ngắm hao mòn đóa ngọc,
      Càng riêng lo tơ tóc không bền.
      Chàng vui cung nguyệt trao duyên,
      Thiếp sầu sợ nén hương nguyền bớt thơm.

      Chú thích:

      Đóa ngọc: Chỉ người đàn bà đẹp quí phái. Đóa là cái hoa, chỉ đàn bà hay con gái; ngọc là đá quí, chỉ sự quí phái. Tơ tóc: Xe tơ kết tóc, chỉ sự kết duyên vợ chồng. Cung nguyệt: Cung trăng, nơi ở của Hằng Nga. Ở đây, cung nguyệt là chỉ nơi ở của người con gái đẹp. Trao duyên: Đưa cái duyên của mình cho người mình yêu, ý nói kết duyên thành vợ chồng. Nén hương nguyền: Đồng nghĩa Mảnh hương nguyền, nơi câu 132. Nén hương là một bó nhang nhỏ gồm vài ba cây.

      Hai câu 147-148: Chàng vui vẻ cùng người con gái khác trao đổi duyên tình với nhau. Còn thiếp thì ở nhà rầu buồn lo sợ cho lời thề nguyền phai lạt dần, tình nghĩa vợ chồng không còn khắn khít nữa.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 145 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      149.

      Lo ngại rồi ra cơn mất nết,
      Vì ghen tương hết biết thân mình.
      Dám toan tử tiết với tình,
      Còn chi kể đến gia đình hư nên.

      Chú thích:

      Mất nết: Mất đi cái tánh hạnh tốt đẹp lúc trước. Ghen tương: Biểu lộ sự tức giận khi biết chồng mình ngoại tình, tức là chồng mình đem tình yêu chia xẻ với một cô gái khác. Ghen tương là đặc tính của tình yêu ích kỷ của vợ đối với chồng, mà tình yêu nào lại không ích kỷ? Tử tiết: Tự giết chết mình để giữ tròn tiết nghĩa. Tiết nghĩa là lòng cứng cỏi quyết giữ đúng lẽ phải.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 149 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      153.

      Nếu ôm ấp một bên thương nhớ,
      Bịnh tương tư khó gỡ cho kham.
      Nên toan đập nát cung cầm,
      Vô duyên đành phận, sống làm chi đây?

      Chú thích:

      Tương tư: Trai gái thương nhớ nhau một cách tha thiết, quên ăn bỏ ngủ đến độ sanh bịnh, gọi là bịnh tương tư. Gỡ: Tháo ra cho hết rối. Kham: Nổi, chịu đựng nổi. Cung cầm: Cầm là cây đàn, cung là thứ bực âm thanh phân ra trên cần đàn. Cung cầm là chỉ về âm nhạc, mà âm nhạc thì phải hòa. Đây là cái kỷ niệm lúc vợ chồng sống hòa hợp hạnh phúc bên nhau, lúc rảnh đem đàn ra ca hát với nhau. Đập nát cung cầm: Ý nói phá vỡ tình yêu.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 153 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      157.

      Thương ra giận khó khuây nỗi nhớ,
      Mối tơ duyên ai gỡ cho đang?
      Hỡi người cỡi phụng ngừa loan,
      Phải chi vợ dám phụ phàng mới sao?

      Chú thích:

      Ai gỡ cho đang: Ai tháo ra cho được. Cỡi phụng ngừa loan: Phụng loan là chỉ vợ chồng, phụng là con chim trống chỉ người chồng, loan là con chim mái chỉ người vợ, ngừa là bỏ (từ ngữ xưa). Cỡi phụng ngừa loan là cỡi con phụng bay đi, bỏ con chim loan ở lại, ý nói, chồng phụ bạc vợ, bỏ nhà ra đi. Phụ phàng: Đối xử tệ bạc không kể gì đến tình nghĩa thương yêu thuở trước.

      Câu 160: Đây là tiếng nói uất hận của người vợ bị chồng phụ bạc. Luân lý của xã hội dành cho người chồng nhiều đặc quyền, gây bất bình đẳng giữa vợ chồng, làm người vợ uất ức, muốn nổi dậy tranh đấu cho quyền lợi của phụ nữ, nhưng không thể được, đành ôm hận thở than cho số kiếp.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 157 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      161.

      Tả nỗi thảm thêm đau mấy đoạn,
      Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.
      Tiếng tiêu dầu lọt phụng lầu,
      Hoặc may gỡ đặng dây sầu nữ nhi.

      Chú thích:

      Đau mấy đoạn: Đau đớn như ruột bị cắt ra nhiều đoạn. Bút hoa: Cây viết nở hoa. Nhà thơ Lý Bạch đời Đường nằm mộng thấy cán bút của mình nở hoa. Từ đó, thơ văn của Lý Bạch viết ra mỗi ngày một xuất sắc, tiếng tăm lùng lẫy. Bút hoa là cây bút viết ra văn chương đẹp như hoa. Thành sầu: Mối sầu muộn lớn lao, chứa cả một thành. Đắp cạn thành sầu: Làm cho sự sầu thảm bớt dần. Tiếng tiêu: Tiếng sáo thổi, chỉ tiếng nói nhỏ nhẹ của vợ khuyên can chồng. Phụng lầu: Cái lầu có con chim phụng đến đậu, ý nói nơi người chồng đến chơi bời. Dây sầu: Mối dây sầu muộn.

      Hai câu 161-162: Mượn cây viết đề ra mấy vần thi để tả nỗi sầu thảm của mình, lòng đau đớn như cắt ruột ra mấy đoạn, nhưng nhờ vậy mà nỗi sầu thảm vơi đi dần dần.

      Hai câu 163-164: Tiếng nói nhỏ nhẹ của người vợ khuyên can chồng, nếu lọt tai chồng làm cho chàng thức tỉnh thì may ra mới tháo gỡ được mối dây sầu muộn của người vợ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 161 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      165.

      Cầm bút ngọc đề thi tự thuật,
      Một kiếp sanh của bậc văn tài.
      Nêu gương tuyết giá hậu lai,
      Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

      Chú thích:

      Bút ngọc: Cây viết quí như ngọc. Đề thi: Viết ra các câu thơ. Bậc văn tài: Người tài giỏi về văn chương. Tuyết giá: Chỉ lòng trong sạch sáng đẹp của vợ đối với chồng, sạch như tuyết, trong như giá (nước đá). Hậu lai: Thời gian sắp tới. Sanh ly: Sống mà xa cách nhau, chỉ cảnh người vợ bị chồng phụ bạc, chồng bỏ nhà đi đến ở với vợ bé.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 165 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      169.

      Khi đầu ấp cùng khi tay gối,
      Thân thiết nhau sớm tối quen hơi.
      Chừ sao chong ngọn đèn ngồi,
      Cô đăng giỡn bóng, ghẹo người thương tâm.

      Chú thích:

      Đầu ấp tay gối: Cảnh vợ chồng thương yêu quấn quít nhau không rời. Quen hơi: Vợ chồng chung sống lâu ngày quen mùi nhau, khi vắng thì cảm thấy nhớ nhung da diết. Chừ sao: Sao bây giờ lại... Chừ là bây giờ. Chong ngọn đèn: Đốt ngọn đèn lên, vặn cho cháy vừa đủ sáng và để vậy suốt đêm. Cô đăng: Ngọn đèn cô đơn, chỉ có một ngọn đèn trong phòng. Người cô đơn thấy ngọn đèn cũng cô đơn như mình. Giỡn bóng: Ngọn đèn leo lét làm cho bóng người ngồi lung linh chập chờn trên vách. Thương tâm: Đau lòng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 169 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      173.

      Nào là thuở âm thầm dan díu,
      Vịn bóng trăng đặng níu hoa đào.
      Chừ sao bỏ cảnh úa xào,
      Nhụy phai hương lợt, khuôn rào tả tơi.

      Chú thích:

      Âm thầm dan díu: Yêu nhau một cách thầm lén. Vịn: Đặt bàn tay tựa vào. Níu: Nắm kéo xuống. Úa xào: Cây lá héo úa rủ xuống, sắp chết. Nhụy phai hương lợt: Tình trạng hoa tàn, nhụy hoa phai màu, mùi hương bay hết. Khuôn rào tả tơi: Hàng rào chung quanh nhà tả tơi hư nát, vì không người chăm sóc.

      Câu 174: Tả cảnh thơ mộng lúc 2 người mới yêu nhau, hẹn hò nhau đi ngắm trăng xem hoa.

      Hai câu 175-176: Người vợ trách chồng bạc tình, bỏ vợ ở nhà một mình trong cảnh héo úa, nhan sắc phai tàn, cảnh nhà tơi tả.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 173 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      177.

      Nào khi đứng lúc ngồi đủ mặt,
      Qua tường đông lóng bậc tơ đồng.
      Chừ sao chăn chiếu lạnh lùng.
      Phím loan nín bặt, tranh tòng đứt dây.

      Chú thích:

      Tường đông: (Đã giải nơi câu 73), chỉ nơi ở của người con gái đẹp. Lóng: Lắng nghe. Tơ đồng: Dây đàn làm bằng đồng, nhỏ như sợi tơ. Bậc tơ đồng: Cung bậc âm thanh do dây đàn phát ra. Phím loan: Phím đàn, vì phím đàn được dán dính vào cần đàn bằng keo loan (làm bằng máu chim loan). Nín bặt: Lặng im một cách đột ngột. Tranh tòng đứt dây: Tranh đua nối theo nhau mà đứt dây. Tòng là theo, nối theo.

      Câu 178: Người vợ nhớ lại lúc 2 người mới yêu nhau, chàng qua nhà nàng lắng nghe thưởng thức tiếng đàn của nàng.

      Câu 180: Tiếng đàn nín bặt vì các dây đàn tranh nhau mà đứt dây. Ý nói: Khi ngồi đàn mà bỗng nhiên đứt dây đàn thì nó báo hiệu cho biết có cảnh biệt ly.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 177 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      181.

      Nào khi lén vẽ mày thục nữ,
      Nào khi lo gìn giữ hương thề.
      Chừ sao bướm cũ lìa huê,
      Vườn thu vắng khách, ủ ê canh tàn.

      Chú thích:

      Thục nữ: Người con gái nết na hiền lành. Hương thề: Cây nhang đốt lên van vái Trời Đất thề nguyền với nhau. Huê: Hoa. Bướm cũ lìa huê: Ý nói người chồng lìa xa người vợ. Vườn thu vắng khách: Ý nói: Nhà ở của người vợ vắng mặt chồng. Vườn thu, Phòng thu, chỉ nơi ở của người vợ hay của người đàn bà luống tuổi. Ủ ê: Buồn rầu âm thầm kéo dài. Canh tàn: Đêm tàn. (1 đêm có 5 canh).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 181 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      185.

      Nào khi tựa bên màn canh lụn,
      Nào khi ngồi ngó bóng Hằng Nga.
      Chừ sao để lụn canh gà,
      Vắng hoe gối phụng, nguyệt tà hoa thưa.

      Chú thích:

      Canh lụn: Canh tàn, tức là đêm tàn, gần sáng. Lụn: là tàn dần. Một đêm chia làm 5 canh. Canh năm là lúc gà gáy, sắp sáng, nên được gọi là canh gà. Lụn canh gà: Canh năm tàn dần sắp hết, trời rựng sáng. Bóng Hằng Nga: Ánh sáng mặt trăng. Vắng hoe: Vắng vẻ im lặng. Gối phụng: Gối có thêu chim phụng dành cho chồng nằm, chỉ người chồng. Nguyệt tà: Trăng đã chếch qua đầu, trời gần sáng. Hoa thưa: Vườn hoa thưa thớt, chỉ cảnh buồn bã vắng vẻ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 185 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      189.

      Nào khi đổ mây mưa đảnh giáp,
      Nào khi lo ấm áp cung thiềm.
      Chừ sao vắng dạng tàn đêm,
      Gia cư rách cửa, ven thềm cỏ chen.

      Chú thích:

      Đổ mây mưa đảnh giáp: Chỉ việc ái ân giữa vợ chồng. Cung thiềm: Tương truyền nơi cung trăng có con thiềm thừ (con cóc) to lớn, dưới họng có chữ son. Cung thiềm là cung trăng, nơi ở của Hằng Nga. Ở đây, cung thiềm là chỉ nơi ở của người vợ, cũng chỉ người vợ. Gia cư: Nhà ở.

      Câu 192: Nhà cửa rách nát, thềm nhà cỏ mọc chen vào. Ý nói: Nhà cửa thiếu tay người chồng chăm sóc.

      Các đoạn 4 câu thơ trong phần nầy, thường thì 2 câu đầu nhắc lại những kỷ niệm êm đẹp lúc 2 người mới yêu nhau, rồi cưới nhau và sống hạnh phúc bên nhau. Hai câu lục bát tiếp theo là nói người vợ trách chồng phụ bạc, bỏ nhà đi theo vợ nhỏ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 189 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      193.

      Nào khi ước giữ niềm son sắt,
      Nào thề non nắm chặt dải đồng.
      Chừ sao đổi dạ thay lòng,
      Hẹn xưa bỏ chảy theo dòng Tương giang.

      Chú thích:

      Ước: Cầu mong điều mà mình biết là khó thực hiện được. Niềm: Lòng tưởng nghĩ tới. Son sắt: Đỏ như son, cứng như sắt. Ý nói bền vững như sắt, không phai lợt như màu đỏ của son. Niềm son sắt: Lòng trung thành không dời đổi, trước sau như một. Thề non: Do thành ngữ "Minh sơn thệ hải": Thề non hẹn biển. Thề non là chỉ núi mà thề, dầu cho biển cạn non mòn, lòng dạ quyết không thay đổi. Dải đồng: Dải đồng tâm. Theo Tùy thư, vua Tùy Dượng Đế sai lấy lụa ngũ sắc kết thành nút gọi là đồng tâm kết (dải đồng tâm) để ban cho quí phi, tỏ lòng yêu đương khắn khít. Do đó, dải đồng là chỉ sự thương yêu khắn khít giữa vợ chồng. Nắm chặt dải đồng: Ý nói giữ chặt lòng thương yêu khắn khít giữa vợ chồng. Chừ sao: Bây giờ sao lại... Chừ là bây giờ. Tương giang: Dòng sông Tương. Đây là dòng sông tượng trưng sự đau khổ, vì khi vua Thuấn đi tuần thú phương Nam và chết ở đó, 2 bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm vua Thuấn, bị dòng sông Tương ngăn lại, 2 bà buồn rầu, ngồi bên bờ sông Tương khóc than thảm thiết, nước mắt của 2 bà vẩy vào các khóm trúc nơi bờ sông, làm cho cây trúc có dấu lốm đốm như đồi mồi.

      Câu 196: Lời thề hẹn ngày xưa, chàng đã bỏ trôi hết theo dòng nước.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 193 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      197.

      Nào khi đứng giữa đàng trông ngọc,
      Nào khi ngồi dưới bộc trong dâu.
      Chừ sao phụ nghĩa sơ giao,
      Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

      Chú thích:

      Giữa đàng: Giữa đường. Trông ngọc: Ý nói trông ngóng người yêu. Thơ cổ có câu: Nguyệt di hoa ảnh ngọc nhân lai, có nghĩa là: Bóng trăng đã xế, người ngọc đến. Người ngọc là người con gái đẹp như ngọc, chỉ người yêu. Dưới bộc trong dâu: Chỉ sự hẹn hò tình tự lén lút bất chánh giữa trai và gái. Điển tích: Theo Hán thư, con trai và con gái của nước Trịnh và nước Vệ thường hẹn hò nhau ra bãi sông Bộc, núp trong các ruộng dâu để tình tự và làm chuyện dâm ô. (Sông Bộc là con sông chảy qua 2 nước Trịnh và Vệ). Sơ giao: Bạn bè lúc mới quen biết nhau. Phụ nghĩa sơ giao: Phụ bạc cái tình nghĩa lúc mới quen biết nhau. Phòng toan: Dự bị toan tính. Phòng là dự bị, phòng hờ. Gánh: Mang vật gì ở 2 đầu một cái đòn đặt lên vai. Nghĩa bóng là cái trách nhiệm mang vào thân. Ném gánh: Vứt bỏ cái trách nhiệm mà mình đã mang lấy trước đây. Tâm đầu: Tâm là lòng dạ, đầu là hợp nhau. Thường nói: Tâm đầu ý hợp. Tâm đầu là lòng dạ hòa hợp nhau. Sông Ngân: Ngân Hà. Theo truyền thuyết, vợ chồng Ngưu Lang và Chức Nữ mắc tội với Trời, nên bị Trời phạt, mỗi người phải ở một bên sông Ngân Hà, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần vào đêm Thất tịch (mùng 7 tháng 7 âm lịch). Sông Ngân là chỉ sự chia cách giữa vợ chồng.

      Câu 200: Dự phòng toan tính ném bỏ cái tâm đầu ý hợp của vợ chồng để gây ra cảnh chia ly đôi ngã.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 197 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      201.

      Nào khi đến cầu Lam chưởng ngọc,
      Nào khi lo giã thuốc trường sanh.
      Chừ sao bỏ nghĩa én anh,
      Tham lê bỏ lựu, phụ tình trước mai.

      Chú thích:

      Cầu Lam: Chữ Hán là Lam kiều. Chưởng ngọc: Cầm cái chày bằng ngọc để giã thuốc. Giã thuốc trường sanh: Dùng chày đâm nhuyễn các thứ thuốc để bào chế thuốc trường sanh, uống vào được sống hoài không chết. Én anh: Từ ngữ nầy đều có trong 2 câu thơ: 203 và 206, nhưng nghĩa lý khác hẳn nhau. - Trong câu 203: Én anh là chỉ vợ chồng. Nghĩa én anh là tình nghĩa vợ chồng. - Trong câu 206: Én anh là chỉ người đi chơi lũ lượt, tấp nập, như chim én và chim anh bay từng đàn. Tham lê bỏ lựu: Ý nói có mới nới cũ. Trước mai: Cây trúc và cây mai, ở đây chỉ tình nghĩa vợ chồng khắn khít.

      Hai câu 201-202: Lấy theo điển tích Chày ngọc - Cầu Lam (đã có giải nơi Chú Thích câu 134). Hai câu nầy nhắc lại lúc 2 người mới đính hôn nhau, thật là thơ mộng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 201 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      205.

      Nào khi cửa then gài mấy lớp,
      Cấm vườn xuân nườm nượp én anh.
      Chừ hoang cây cỏ xủ mành,
      Gần cây chim lánh, đến cành gió day.

      Chú thích:

      Vườn xuân: Giống chữ Phòng xuân, chỉ người con gái lúc trẻ. Cấm vườn xuân: Chưa cho ai vào vườn xuân, ý nói con gái mới lớn chưa chồng. Cây cỏ xủ mành: Lá cây và cỏ rủ xuống như bức mành. Én anh: là chỉ người đi chơi lũ lượt, tấp nập, như chim én và chim anh bay từng đàn. Nườm nượp én anh: Người ta đi lại đông đảo lớp nầy tiếp đến lớp khác.

      Câu 208: Chim bay đến gần cây mà không đáp vào, lại bay lánh đi; gió thổi đến gần cành cây, gió cũng day qua hướng khác. (Dùng cảnh để nói lên tâm trạng của vợ bị chồng phụ bạc).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 205 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      209.

      Nào khi sắc so tài đẹp dạ,
      Nào khi nhen hương hỏa ba sinh.
      Chừ toan bứt mảnh tơ tình,
      Trà ngâu chê nhớ, rượu quỳnh chối thương.

      Chú thích:

      Sắc so tài: Người con gái thì cần nhan sắc, người con trai thì cần tài hay, sắc so tài cân xứng, đẹp đôi vừa lứa. Đẹp dạ: Đẹp lòng, rất bằng lòng. Nhen: Nhúm, thường nói là nhen nhúm. Ở đây nhen là nhúm lửa để đốt đèn, đốt nhang. Hương hỏa ba sinh: Ba sinh là 3 kiếp sống. Hương hỏa là thắp đèn đốt nhang. Hương hỏa ba sinh là thắp đèn và đốt nhang để khấn nguyện Trời Đất chứng minh lòng chung thủy của đôi trai gái yêu nhau, thề hẹn với nhau nội trong 3 kiếp phải kết làm vợ chồng với nhau. Bứt mảnh tơ tình: Bứt cho đứt sợi dây tơ tình yêu mà bấy lâu đã cột chặt 2 người. Trà ngâu: Trà ướp hoa ngâu. Hoa ngâu là loại hoa rất thơm, giống như hoa lài, dùng để ướp trà. Rượu quỳnh: Chữ Hán gọi là Quỳnh tương. Quỳnh là loại ngọc màu đỏ, được vua chúa hay các nhà quyền quí mướn thợ gọt đẽo, tạo thành cái chung uống rượu, cái chất ngọc quỳnh làm tăng thêm mùi vị thơm ngon của rượu.

      Câu 212: Hồi vợ chồng thương yêu sống chung với nhau, thường ngồi uống trà ngâu hay uống rượu quỳnh với nhau, nhưng giờ đây, chàng đã chê trà ngâu, không còn muốn nhớ tới nữa, chê rượu quỳnh, chối bỏ tình thương yêu vợ chồng thuở trước.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 209 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      213.

      Nào khi hỏi thăm hang Từ Thức,
      Nào khi dò mấy bực cầu ô.
      Chừ sao kẻ Hớn người Hồ,
      Để cho phòng hạnh ra mồ quạt duyên.

      Chú thích:

      Từ Thức: Từ Thức là người ở Hóa Châu nước ta, làm Tri huyện Tiên Du, đời nhà Trần. Gần huyện có một ngôi chùa nổi tiếng đẹp, trồng nhiều hoa mẫu đơn. Hằng năm du khách đến xem đông như ngày hội. Năm Quang Thái thứ 9 (1396), trong số du khách có một thiếu nữ vô ý làm gãy một cành mẫu đơn. Nhà chùa bắt đền. Nàng không có sẵn tiền, lại không có người quen nên không biết tính sao. May lúc ấy có quan huyện Từ Thức đi đến, thấy vậy động lòng, liền cỡi áo thế cho nhà chùa, cô gái mới được buông tha ra về.

               Từ Thức có tâm hồn phóng dật, không thích gò bó trong chốn quan trường, nên xin treo ấn từ quan, đi ngao du sơn thủy, với bầu rượu túi thơ. Một hôm Từ Thức bơi thuyền dạo chơi cửa biển, chợt thấy một hòn núi nổi lên giữa biển có phong cảnh rất kỳ vĩ, liền bơi đến nơi, trèo lên xem, gặp một hang núi nhỏ liền đi vào, đường dốc lần lần lên tới đỉnh núi, gặp một khung cảnh hoàn toàn khác lạ, đẹp đẽ vô cùng.

               Từ Thức gặp một người con gái, nhìn kỹ thì đúng là nàng đã làm gãy cành mẫu đơn ngày nọ. Cô gái liền chào hỏi và xưng tên là Giáng Hương. Nàng cho biết nàng là Tiên Nữ và đây là cảnh Tiên. Nàng lại nói việc Từ Thức giúp nàng hôm nọ, khiến cho Từ Thức có duyên phận với nàng, nên xui khiến chàng lên đây gặp nàng. Từ Thức ở lại đó và kết hôn với Giáng Hương.

               Thời gian thấm thoát được một năm, Từ Thức quá nhớ nhà, nên đòi về thăm. Giáng Hương hết sức ngăn cản, nhưng không được, đành viết một phong thư niêm kín, dặn chàng chừng nào về tới quê nhà mới mở ra xem, rồi đưa chàng xuống núi từ biệt. Đây là bức thư vĩnh biệt, vì Giáng Hương biết rằng Từ Thức không có căn Tiên, nên mới xảy ra việc nhớ nhà đòi về, khiến chàng trở lại trần gian, không thể lên cõi Tiên được nữa.

               Từ Thức về tới làng cũ thấy cảnh vật đổi khác rất nhiều, vì đã qua 60 năm nơi cõi trần. Các người cùng thời với chàng đã chết hết, nhà Trần đã mất, đổi sang nhà Lê. Từ Thức bùi ngùi thương cảm. Con cháu đều không nhìn ra nữa.

               Từ Thức trở lại đường cũ, đi tìm Giáng Hương, nhưng không thấy hòn núi. Chàng quá thất vọng, đi vào núi Hoành Sơn và mất tích luôn trong đó.

      Cầu ô: Ô là con quạ, cũng gọi là chim ô thước. Điển tích: Theo sách Kinh Sở Tuế Thời Ký, Chức Nữ là cô gái dệt vải, là cháu của Ông Trời, rất siêng năng dệt vải. Trời đem gả cho Ngưu Lang là chàng chăn trâu nơi Thượng giới. Hai vợ chồng quá âu yếm nhau mà bê trễ bổn phận. Trời phạt đày mỗi người ở một bên sông Ngân Hà, chỉ cho gặp nhau một lần vào đêm Thất tịch (mùng 7 tháng 7 âm lịch). Đêm đó, các con chim ô thước đội đá bắc cầu qua sông Ngân Hà, để cho Ngưu Lang đi qua sông gặp vợ. Khi gặp nhau, vợ chồng than khóc kể lể cảnh ly biệt, nước mắt rơi xuống trần gian tạo thành các đám mưa, gọi là mưa ngâu.

      Kẻ Hớn người Hồ: Kẻ Hớn là người Trung Hoa ở Trung nguyên, người Hồ là rợ Hồ hay rợ Hung Nô ở phía Bắc Trung nguyên. Vào thời nhà Tống, vua Hung Nô đem quân đánh vào Trung nguyên, buộc vua Tống phải đem nàng Chiêu Quân là ái phi của vua Tống, nạp cho vua Hung Nô. Vua Tống nhu nhược, đánh thua quân Hồ nên phải ép lòng đưa Chiêu Quân đi cống Hồ. Từ ấy, vua và nàng Chiêu Quân xa cách nhau, kẻ Bắc người Nam, đau khổ vô cùng.

      Phòng hạnh: Hạnh là trái mơ, cùng loại với trái đào. Phòng hạnh đồng nghĩa với Phòng đào, chỉ nơi ở của người đàn bà. Ở đây, phòng hạnh là chỉ người vợ.

      Ra mồ quạt duyên: Quạt cái mả còn ướt của chồng cho mau khô đặng đi tìm duyên mới. Điển tích: Trang Tử là vị Tiên đắc đạo tại thế. Một hôm ông đi chơi ở mé chân núi, gặp một thiếu phụ còn trẻ đang mặc đồ tang, tay cầm cái quạt lớn, đứng quạt vào một nấm mồ mới đắp đất. Trang Tử thấy lạ đến gần hỏi thử cho biết nguyên do. Thiếu phụ đáp : Chồng tôi chết vừa mới chôn cất xong. Lúc hấp hối, chàng có trối lại dặn rằng, chừng nào nấm mộ của chàng mồ khô cỏ ráo thì nàng mới được đi lấy chồng khác. Nay tôi thấy nấm mồ còn ướt mãi nên tôi lấy quạt ra đây quạt cho mau khô.

               Trang Tử ngẫm nghĩ một lát rồi nói với chị ta là để ông giúp cho chị ta quạt mồ mau khô. Nói rồi, Trang Tử làm phép trên cái quạt, trao trả cho chị ta, và chị ta quạt mấy cái thì mồ khô cỏ ráo liền.

               Chị ta vui mừng không xiết, cảm tạ Trang Tử, và tặng Trang Tử cái quạt làm kỷ niệm.

      Câu 213: Người vợ nhắc lại lúc vợ chồng còn trẻ, dẫn nhau đi du sơn, hỏi thăm nơi nào là cái hang mà Từ Thức đi vào gặp Tiên.

      Câu 214: Nào những khi 2 vợ chồng ngắm xem trăng sao giữa Trời, tìm đâu là sao Chức Nữ, sao Ngưu Lang, đâu là mấy bực cầu ô thước.

      Câu 215: Ý nói: Sao bây giờ, vợ chồng chia ly kẻ Bắc người Nam?

      Câu 216: Ý nói: Để cho người vợ chịu cảnh chồng chết mà đi tìm duyên mới.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 213 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      217.

      Nào là lúc ngửa nghiêng đêm quạnh,
      Nào là khi thức tỉnh đêm khuya.
      Chừ sao loan phụng chia lìa,
      Con trông vợ nhớ, mắt kề ngó song.

      Chú thích:

      Ngửa nghiêng: Lúc nằm ngửa, lúc nằm nghiêng, ý nói trăn trở thao thức không ngủ được. Đêm quạnh: Đêm vắng vẻ im lặng, gây cảm giác trống trải buồn bã. Loan phụng: Loài chim phượng luôn luôn sống từng cặp, con mái gọi là loan, con trống gọi là phụng. Loan phụng là chỉ đôi vợ chồng khắn khít. Trong đám cưới thường chúc: Loan phụng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp (2 con chim loan phụng hòa tiếng hót, 2 cây đàn cầm sắt hòa hợp tốt đẹp). Mắt kề ngó song: Mắt kề sát vào cửa sổ ngó mong ra ngoài, trông đợi người chồng đi chưa về. Song là cái cửa sổ.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 217 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      221.

      Càng thấy con khờ không đủ trí,
      Càng thêm lo huyết khí bên chồng.
      Nâng niu lúc ẵm khi bồng,
      Phụ thân thế phận cho chồng dạy khuyên.

      Chú thích:

      Khờ không đủ trí: Khờ khạo không đủ trí khôn. Huyết khí: Huyết là máu, khí là chất tinh túy do máu tạo thành để lưu truyền nòi giống. Huyết khí là chỉ dòng giống nhà chồng. Phụ thân: Cha ruột. Thế phận: Thay thế bổn phận.

      Câu 224: Chồng ra đi không về, người vợ ở nhà thay thế chồng làm bổn phận người cha dạy khuyên con trẻ. Câu nầy có ý nghĩa rất giống câu thơ bên Chinh Phụ Ngâm Câu 160: Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 221 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      225.

      Càng sợ hở thung huyên phiền muộn,
      Thảm bao nhiêu gắng gượng làm vui.
      Tảo tần sớm dưỡng chiều nuôi,
      Thế chàng thiếp lãnh vai người hiếu nam.

      Chú thích:

      Càng sợ hở: Càng sợ không kín chuyện, tin tức lọt ra ngoài. Hở là không kín. Phiền muộn: Buồn rầu. Thung huyên: Cây thung, cũng gọi là cây xuân, chỉ cha; cỏ huyên chỉ mẹ. Thung hay xuân là loại cây, sống rất lâu năm, cứ 8000 năm mới tới mùa xuân của nó, 8000 năm nữa mới tới mùa thu của nó. Dùng cây xuân để chỉ người cha vì con muốn cha sống lâu như cây xuân. Huyên là loại cỏ sống lâu năm, ăn cỏ huyên thì hết buồn phiền, nên cỏ huyên còn được gọi là Vong ưu thảo. Dùng cỏ huyên chỉ người mẹ, vì con muốn mẹ không buồn phiền, vui vẻ mãi. Tảo tần: Trong Kinh Thi, bài Thái tần có câu: Vu dĩ thái tần, nam giản vu chi tân, vu dĩ thái tảo, vu bỉ hàng lạo. Nghĩa là: Đi hái rau tần, bên bờ khe phía nam, đi hái rau tảo bên lạch nước kia. Cho nên dùng chữ Tảo tần để chỉ người vợ hiền hiếu thảo cần kiệm, đi hái rau tần rau tảo về làm cỗ cúng tổ tiên. Hiếu nam: Con trai có hiếu với cha mẹ.

      Câu 228: có ý nghĩa giống câu 159 của Chinh Phụ Ngâm: Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 225 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      229.

      Thấy em dại không ham đèn sách,
      Càng để lòng hỏi hạch kinh luân.
      Thay chàng thiếp trả nghĩa thâm,
      Dạy em văn hóa, thiếp làm trưởng huynh.

      Chú thích:

      Kinh luân: Tổ chức, xếp đặt việc chánh trị trong nước. (Xem lại Chú thích 2 câu: 1 và 2). Nghĩa thâm: Nghĩa sâu. Trưởng huynh: Anh cả.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 229 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      233.

      Càng nghĩ đến linh đinh phận thiếp,
      Càng ngại lo tội nghiệp thân con.
      Những ngờ nước thấm đầu non,
      Nào hay trăng khuyết hao mòn nhơn duyên.

      Chú thích:

      Linh đinh: Lênh đênh, trôi nổi nay đây mai đó, như cánh bèo, không nơi nhứt định. Tội nghiệp: Đáng thương vì gặp cảnh ngộ không may. Nước thấm đầu non: Mưa rơi đỉnh núi, nước chảy tuột xuống hết, chỉ thấm được một ít trên đầu núi mà thôi. Nhưng nếu mưa nhiều lần nhiều ngày, mỗi ngày thấm một ít thì lần lần cũng thấm ướt đầu núi. Ý nói: Lời khuyên nhủ, mỗi ngày mỗi khuyên thì lâu ngày cũng lọt lỗ tai mà nghe theo. Những ngờ: Cứ tưởng rằng mà không chắc lắm. Nhơn duyên: Mối ràng buộc giữa người nầy với người khác, ở đây chỉ sự ràng buộc vợ chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 233 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      237.

      Càng đeo đẳng nỗi phiền nỗi thảm,
      Càng thương thân chích bạn lìa đôi.
      Phận sao phận bạc như vôi,
      Nước lưng đáy gáo, hương trôi dòng là.

      Chú thích:

      Thương thân: Thương hại cho tấm thân của mình. Chích bạn lìa đôi: Ý nói: Lẻ loi một mình. Chích là lẻ loi, chích bạn là lẻ bạn. Lìa đôi là 2 người chia lìa nhau. Nước lưng đáy gáo: Nước trong gáo 10 phần, lưng tới đáy hết 7 phần, còn 3 phần, ý nói: người phụ nữ đã luống tuổi. Dòng là: Dòng sông ban đêm trăng sáng, trông giống như dải lụa trắng uốn khúc. Là: Lụa là. Dòng là: Dòng sông. Hương trôi dòng là: Hương sắc bỏ trôi theo dòng nước, ý nói nhan sắc của người vợ phai tàn dần.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 237 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      241.

      Càng ngắm đến cỏ hoa vật loại,
      Càng thẹn vì vắn vỏi tơ tình.
      Chim kết cánh, cây liền cành,
      Còn thân thiếp chịu một mình đơn cô.

      Chú thích:

      Vắn vỏi: Ngắn ngủi, thời gian quá ít. Tơ tình: Tình yêu vương vấn như tơ. Vắn vỏi tơ tình: Tình yêu vợ chồng chỉ được một thời gian ngắn. Đơn cô: Cô đơn.

      Chim kết cánh, cây liền cành: Ý nói vợ chồng gắn bó không rời nhau.  Điển tích: Theo sách Sơn Hải Kinh của Đông Phương Sóc, có loài chim, chỉ có 1 bên cánh và 1 con mắt, nên lúc nào con trống và con mái phải kết cánh lại thì mới bay được, gọi là Tỵ dực điểu. (Tỵ dực là kết cánh lại).

               Hàn Bằng làm quan Đại phu nước Tống đời Chiến quốc, có vợ là Hà thị rất đẹp. Vua Khang Vương thấy vậy liền cướp Hà thị về làm vợ và cầm tù Hàn Bằng. Bằng tự sát chết. Hà thị cự tuyệt Khang Vương và tự tử theo, để lại bức thơ xin được chôn cùng mộ với chồng là Hàn Bằng. Khang Vương căm giận, đem chôn riêng. Qua một đêm, bỗng nhiên người ta thấy có 2 cây tử mọc lên ở nách 2 ngôi mộ, thân cây và cành cây quấn vào nhau.

               Trong bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị, đoạn nói vua Đường Minh Hoàng thề thốt với Dương Quí Phi, có 2 câu: Tại thiên nguyện tác tỵ dực điểu, Tại địa nguyện vi liên lý chi. (Trên trời xin làm chim kết cánh, dưới đất xin làm cây liền cành.)

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 241 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      245.

      Kìa cá giỡn vẩn vơ đáy nước,
      Nọ kết đôi cưu thước ven trời.
      Còn thân thiếp chịu cút côi,
      Đèn khuya nhắc thảm, gió mơi ghẹo sầu.

      Chú thích:

      Vẩn vơ: Nhởn nhơ qua lại một cách thong thả tự nhiên. Cưu thước: Cũng gọi là chim thư cưu, luôn luôn sống từng đôi. Cút côi: Lẻ loi không nơi nương tựa.

      Câu 248: Lòng buồn nên thấy ngọn đèn khuya hay gió ban mai, như khêu gợi hay trêu ghẹo nỗi buồn.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 245 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      249.

      Kìa oan ương ấp nhau chẳng hở,
      Nọ én anh rỉ rả kêu thương.
      Còn ta luống những đoạn trường,
      Gối chăn tê tái, chiếu giường lạnh tanh.

      Chú thích:

      Oan ương: Chim uyên ương, con trống là uyên, con mái là ương, sống từng đôi, nếu một con chết thì con kia nhịn đói chết theo. Uyên ương được ví đôi vợ chồng chung thủy. Én anh: Chỉ vợ chồng. (Xem lại Chú thích câu 203). Rỉ rả kêu thương: Nói chuyện yêu thương rỉ rả với nhau. Đoạn trường: Đứt ruột, chỉ sự đau khổ dữ dội. Đoạn trường có nghĩa bóng là sự đau đớn phủ phàng của người phụ nữ bạc mệnh trong tình trường. Tê tái: Đau khổ đến mức không còn cảm giác. Lạnh tanh: Rất lạnh lẽo, không một chút hơi ấm.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 249 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      253.

      Kìa cầm điểu bẻ cành kết ổ,
      Nọ thú trùng moi lỗ làm hang.
      Nầy thân thiếp chịu gian nan,
      Linh đinh đất chiếu, trời màn không nơi.

      Chú thích:

      Cầm điểu: Chỉ chung loài chim. Cầm là loài chim. Thú trùng: Thú vật và côn trùng. Gian nan: Khó khăn vất vả. Linh đinh: Lênh đênh, trôi nổi trên mặt nước không biết đi về đâu, hay nương tựa vào đâu. Đất chiếu trời màn: Chỉ kẻ sống nghèo khổ, lang thang không nhà cửa, không tiền mua mùng, chiếu, dùng mặt đất làm chiếu (tức là nằm dưới đất), dùng bầu trời làm mùng (tức là không giăng mùng).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 253 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      257.

      Kìa ong kiến tha mồi dành để,
      Cơn khốn cùng có thể nuôi thân.
      Còn thân thiếp chịu khốn nàn,
      Tả tơi nỗi mẹ, truồng trần nỗi con.

      Chú thích:

      Khốn cùng: Nghèo túng khổ cực tột độ. Khốn nàn: Khốn khổ nghèo nàn. Tả tơi nỗi mẹ: Tình cảnh của mẹ thì rách rưới tả tơi. Truồng trần nỗi con: Tình cảnh của con thì ở trần ở truồng, không quần áo mặc.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 257 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      261.

      Thôi đành kiếp nớt non gượng sống,
      Sống vì con, chẳng sống vì thân.
      Đòi phen đổi thảm ra mầng,
      Nâng niu trẻ dại cho gần đặng cha.

      Chú thích:

      Kiếp nớt non: Kiếp sống non nớt yếu đuối của người phụ nữ. Gượng sống: Sống một cách miễn cưỡng. Đòi phen: Nhiều lần. Mầng: Mừng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 261 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      265.

      Đưa giọt sữa ra hòa giọt lụy,
      Trong tình chung huyết khí đúc hình.
      Còn con may đặng giữ tình,
      Khối chung tình ở nơi mình ấu nhi.

      Chú thích:

      Giọt lụy: Giọt nước mắt. Huyết khí đúc hình: Huyết là máu của mẹ, Khí là tinh khí của cha. Tinh cha huyết mẹ hiệp lại tạo nên hình hài đứa con trong bụng mẹ. Đúc hình là nắn đúc nên hình thể đứa bé. Khối chung tình: Khối tình thương yêu giữa vợ chồng. ƒu nhi: Đứa con bé bỏng non nớt. ƒu là bé nhỏ non nớt, nhi là đứa con.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 265 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      269.

      Nghe trẻ khóc như chì dần dạ,
      Thấy con đau như đá đập đầu.
      Còn con ô thước bắc cầu,
      Mất con là cửa vô lầu lãnh cung.

      Chú thích:

      Chì dần dạ: Đau đớn như có cục chì đập tan nát cõi lòng. Dần là đập liên tiếp nhiều lần cho mềm ra. Đá đập đầu: Đau đớn như có cục đá đập lên đầu. Ô thước bắc cầu: Chim ô thước đội đá bắc cầu nối liền 2 bờ sông Ngân Hà cho Ngưu Lang qua gặp Chức Nữ. (Xem Điển tích nơi câu 214). Lãnh cung: Cung lạnh, nơi giam giữ các bà vợ có tội của vua.

      Hai câu 271-272: Còn đứa con thì như còn cây cầu ô thước để vợ chồng tái hợp với nhau; mất đứa con thì duyên vợ chồng chấm dứt, như vợ vua bị đày vào lãnh cung.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 269 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      273.

      Thấy xuân đến vẻ hồng khắp chốn,
      Nương con thơ sống rốn cùng xuân.
      Ru con giọng hát ngập ngừng,
      Xuân ôi! Xuân biết mấy lần đau thương?

      Chú thích:

      Sống rốn cùng xuân: Rán sống cho hết những ngày xuân. Rốn: Cố kéo dài thêm một ít thời gian nữa.

      Câu 275: Vừa ru con vừa khóc nên giọng ru đứt đoạn.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 273 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      277.

      Ve kêu hạ như dường trêu thảm,
      Mưa sầu tuôn mấy dặm biệt ly.
      Dỗ con lệ ngọc li bì,
      Hạ ôi! Hạ có biết nghì phu thê?

      Chú thích:

      Lệ ngọc: Giọt nước mắt long lanh như hạt ngọc. Li bì: Liên tục không dứt. Nghì phu thê: Tình nghĩa vợ chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 277 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      281.

      Chiều thu nhắc ủ ê cảnh hạn,
      Nhấp nhô xem cánh nhạn về non.
      Trông thu rầu nhớ thân con,
      Thu ôi! Thu biết hao mòn tấm duyên?

      Chú thích:

      Ủ ê: Buồn rầu âm thầm và kéo dài. Cảnh hạn: Cảnh là hoàn cảnh, hạn là điều không may lớn hay tai nạn gặp phải do số phận đã định sẵn. Cảnh hạn là hoàn cảnh không may. Nhấp nhô: Khi lên cao khi xuống thấp. Tấm duyên: Cái tình thương yêu ràng buộc vợ chồng.

      Câu 282: Xem cảnh trời chiều gần tối, đàn chim nhạn bay nhấp nhô trở về núi (tức bay về tổ), gợi nhớ cảnh sum họp buổi tối trong gia đình gồm đủ mặt vợ chồng con cái.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 281 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      285.

      Đông lạnh ngắt mảnh mền úm trẻ,
      Ngồi đêm trường quạnh quẽ phòng không.
      Nhớ chồng thấy trẻ não nồng,
      Đông ôi! Đông biết tấm lòng kiên trinh?

      Chú thích:

      Lạnh ngắt: Lạnh lẽo như không còn chút hơi ấm. Mảnh mền: Cái mền rách chỉ còn có một mảnh. Đêm trường: Đêm dài. Quạnh quẽ: Vắng vẻ im lặng đến mức gây cảm giác cô đơn buồn bã. Phòng không: Cái phòng không có người nào ở khác hơn là mình, thường nói Phòng không chiếc bóng. Não nồng: Não nùng, buồn rầu sâu đậm. Kiên trinh: Kiên là lòng cứng rắn vững chắc, trinh là lòng trong sạch của vợ đối với chồng. Kiên trinh là lòng trong sạch bền vững của vợ đối với chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 285 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      289.

      Vắng mặt chồng, cân hình của trẻ,
      Ngó thấy con đặng vẽ tượng chồng.
      Cân thương trẻ ấy mà đong,
      Thì trong thương ấy, của chồng tám phân.

      Chú thích:

      Cân hình của trẻ: Đem đứa trẻ đặt lên bàn cân mà cân. Tượng chồng: Hình ảnh của chồng. Tám phân: Ý nói phân nửa. 1 cân có 16 lượng, 8 phân tức là 8 lượng, bằng nửa cân.

      Câu 290: Đứa con sanh ra giống chồng như đúc, nên ngó thấy con thì vẽ được hình ảnh của chồng.

      Hai câu 291-292: Vợ chồng thương yêu nhau, kết quả là sanh được đứa con. Người vợ thương chồng mà cũng thương con. Tình thương ấy thể hiện bằng sức nặng của đứa con. Nếu đem cân so sánh, thương chồng 8 phân thì thương con cũng 8 phân, 2 tình thương ấy đồng đều như nhau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 289 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      293.

      Kìa máu huyết, cành xuân nhụy nở,
      Khối ái ân đành ở nơi con.
      Dầu cho biển cạn non mòn,
      Tơ duyên khắn khít chỉ còn bấy nhiêu.

      Chú thích:

      Máu huyết: Chỉ đứa con, vì máu thịt của con là do máu huyết của mẹ tạo nên. Cành xuân nhụy nở: Cành xuân là chỉ người con gái trẻ tuổi, nhụy nở là ý nói sanh ra được đứa con. Cành xuân nhụy nở là người con gái trẻ tuổi sanh ra được đứa con. Biển cạn non mòn: Ý nói thời gian lâu dài, sự đời nhiều thay đổi.

      Câu 296: Tình thương yêu khắn khít của vợ chồng ngày nay chỉ còn có đứa con mà thôi.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 293 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      297.

      Trẻ nhỏ dại lắm điều học hỏi,
      Thường kiếm cha mong mỏi thấy nhau.
      Dỗ con chỉ bóng giải sầu,
      Rằng khuya đèn thắp cha hầu về thăm.

      Chú thích:

      Chỉ bóng: Người mẹ chỉ cái bóng của mình hiện lên vách khi thắp đèn lên. Giải sầu: Cởi bỏ sự buồn rầu. Cha hầu về thăm: Cha sắp về thăm. Hầu là sắp sửa.

      Hai câu 299-300: Nói theo sự tích Thiếu phụ Nam Xương.

               Thiếu phụ Nam Xương là nàng Vũ Thị Thiết, ở quận Nam Xương, tỉnh Hà Nam nước ta. Nàng Vũ Thị Thiết có tánh tình thùy mị đoan trang, dung nhan xinh đẹp. Chàng Trương Sinh mến mộ, xin mẹ đem trầu cau và lễ vật cưới nàng Thiết về. Trương Sinh có tánh hay ghen, đối với vợ phòng ngừa nhiều điều thái quá. Cuộc sống chung chẳng đặng bao lâu thì nước ta có chiến tranh với nước Chiêm Thành, chàng Trương Sinh phải sung vào quân ngũ. Chàng lạy mẹ từ giã và dặn dò nàng Thiết rồi lên đường, lúc đó nàng Thiết đã có thai gần ngày sanh nở.

               Sau khi chồng ra đi chừng mươi ngày thì nàng Thiết sanh đặng một đứa con trai, đặt tên là Đản. Bà mẹ vì thương nhớ con trai mà đau ốm luôn. Nàng dâu hết sức thuốc thang nuôi mẹ, hằng đêm cầu khẩn Trời Phật cho mẹ qua cơn bịnh. Nhưng số Trời đã định, bà mẹ mất. Nàng Thiết thương xót vô cùng, lo liệu đầy đủ tang lễ cho mẹ.

               Hơn một năm sau, quân Chiêm Thành bị đánh bại, quân ta kéo quân trở về ca khúc khải hoàn. Trương Sinh sau đó được rời quân ngũ, trở về quê nhà, mới hay mẹ đã mất, và con mới vừa biết nói.

               Chàng hỏi vợ mồ của mẹ ở đâu rồi ẵm đứa con đi ra thăm mộ của mẹ. Ra đến đồng, thằng bé quấy khóc.

               Trương Sinh dỗ dành con: Con nín đi đừng khóc. Cha về thì bà nội mất, lòng cha buồn khổ lắm!

               Thằng Đản ngây thơ nói: Ô! Ông là cha sao lại biết nói? Chớ không như cha Đản trước kia cứ nín thin thít.

               Chàng Trương Sinh ngạc nhiên, gạn hỏi đứa con thì đứa con nói: Khi đêm thì cha Đản hiện đến, đi theo mẹ Đản, mẹ đi thì cha đi, mẹ ngồi thì cha ngồi, nhưng chẳng bao giờ nói hay bồng Đản cả.

               Vốn tính hay ghen, Trương Sinh nghe con nói vậy thì vội tin chắc là vợ hư, ngoại tình với kẻ khác, máu ghen nổi lên, lật đật về nhà la mắng vợ dữ dội, không ai can ngăn được.

               Nàng Thiết khóc lóc nói rằng: Thiếp vốn nhà nghèo, được vào làm vợ chàng, sum họp chưa thỏa tình chồng vợ, lại bị chia phôi vì việc đao binh. Cách biệt đã gần 3 năm, thiếp giữ gìn một tiết, ở nhà thờ mẹ nuôi con, chờ chàng trở về, nào biết việc gì khác bên ngoài, đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Xin chàng đừng nghi oan cho thiếp.

               Trương Sinh vẫn không tin lời vợ. Nàng hỏi chuyện đó do ai nói với chàng thì Trương Sinh giấu biệt, không kể lại lời nói của thằng Đản, mà chỉ nhiếc mắng nàng nặng lời và đánh đuổi nàng đi. Họ hàng lối xóm đều bênh vực và biện bạch cho nàng Thiết nhưng chẳng làm Trương Sinh thôi mắng vợ.

               Nàng Thiết quá tuyệt vọng, chỉ còn biết lấy cái chết mà bày tỏ lòng trinh liệt của mình. Nàng liền tắm gội sạch sẽ, chạy ra bên bờ sông Hoàng giang của huyện Nam Xương, ngửa mặt lên Trời vái rằng: Kẻ bạc mệnh nầy, duyên phận hẩm hiu, bị chồng ruồng bỏ, tai bay họa gởi, chịu tiếng nhuốc nhơ, Thần sông có linh, xin Ngài chứng giám. Nếu thiếp đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ, nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa dối phản bội chồng, dưới nước xin làm mồi cho tôm cá, trên bờ xin làm mồi cho diều quạ, và chịu cho mọi người phỉ nhổ.

      (- Mỵ Nương là vợ của Trọng Thủy, con gái của Thục An Dương Vương, vì chồng mà thác oan, hóa thành ngọc trai dưới biển.
      - Ngu Mỹ là Ngu Mỹ nhơn, tức là nàng Ngu Cơ, vợ của Sở Vương Hạng Võ. Khi Hàn Tín đánh đuổi Hạng Võ chạy vào thành Cai Hạ, Ngu Cơ rút gươm tự tử để Hạng Võ rảnh tay đối phó với Hàn Tín, nhưng sau đó Hạng Võ thất thủ thành Cai Hạ, chạy đến bến sông Ô Giang, tự cắt đầu tự tử chết. Tục truyền hồn Ngu Cơ không tan, hóa thành 2 khóm cỏ quấn quít nhau trên mộ nàng, gọi là cỏ Ngu Mỹ).

               Vái xong, nàng Thiết nhảy xuống sông Hoàng giang mà chết. Trương Sinh thấy vợ tự tử cũng động lòng thương, tìm kiếm vớt xác nàng, nhưng chẳng thấy đâu cả.

               Đêm đến, phòng không vắng vẻ, Trương Sinh ngồi buồn, đốt ngọn đèn lên. Chợt đứa con là thằng Đản nói: Ô! Cha Đản đã về.

               Trương Sinh liền hỏi: Đâu?

               Thằng Đản chỉ cái bóng của chàng trên vách và nói: Đây nầy.

               Thì ra, khi chàng đi tòng quân, nàng ở nhà thường đùa với con, chỉ cái bóng của nàng trên vách mà bảo rằng đó là cha của Đản. Bây giờ, Trương Sinh tỉnh ngộ, biết mình ghen bậy, gây ra cái chết oan uổng của vợ, hối hận vô cùng.

               Ở dưới sông Hoàng giang huyện Nam Xương, có một tòa cung điện gọi là Qui động của Bà Linh Phi, vợ của Nam Hải Long Vương. Bà Linh Phi biết nàng Vũ thị Thiết có lòng trinh liệt nên rất thương tình, nên khi nàng gieo mình xuống sông thì Bà Linh Phi rẽ nước rước nàng về Qui động.

               Tại bến sông Hoàng giang có một Đầu mục tên là Phan Lang, khi trước có ơn cứu sống Linh Phi, nay bị chìm tàu chết đuối, Bà Linh Phi biết được nên cứu sống đem về Qui động. Phan Lang gặp nàng Thiết thì biết là người cùng làng, liền hỏi: Nương tử, từ khi lạc đến thủy cung thấm thoát đã một năm, há không nhớ tưởng quê hương ư?

               Nàng Thiết liền đáp: Tôi bị chồng ruồng rẫy, thà chết ở thủy cung chớ không còn mặt mũi nào về gặp chồng.

               Hôm sau, Bà Linh Phi lấy một túi lụa, bỏ vào 10 hạt minh châu, trao tặng Phan Lang, rồi sai sứ giả đưa Phan Lang lên khỏi mặt nước. Nàng Thiết bèn gởi một chiếc hoa vàng trao lại cho chàng Trương và nhờ nói hộ với chàng Trương: "Nếu còn nhớ chút tình xưa thì lập đàn nơi bờ sông giải oan cho nàng, đốt một cây đèn lớn cho ánh sáng chiếu xuống mặt nước thì sẽ thấy nàng hiện về."

               Phan Lang được đưa lên khỏi mặt nước liền trở về nhà.

               Phan Lang kể chuyện gặp nàng Thiết nơi thủy cung cho Trương Sinh nghe. Ban đầu Trương Sinh không tin, nhưng khi nhận được chiếc hoa vàng của nàng Thiết thì kinh sợ nói: Đây quả thật là vật dùng của vợ tôi.

               Trương Sinh liền lập đàn tràng nơi bến sông Hoàng giang, cúng tế nàng Thiết trong 3 ngày đêm, đốt một cây đèn sáng đúng theo lời nàng Thiết dặn, quả nhiên trong đêm tối, thấy nàng Thiết ngồi trên chiếc kiệu hoa hiện ra giữa dòng sông, theo sau có hơn 50 chiếc nữa, cờ tán rực rỡ, lúc ẩn lúc hiện. Trương Sinh cất tiếng gọi thì nàng Thiết đáp vọng vào: Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi nên không trở lại nhơn gian nữa. Đa tạ chàng đã giải oan cho thiếp.

               Rồi trong chốc lát, nàng Thiết và cả xe cộ biến mất.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 297 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      301.

      Hơi mảnh áo còn cầm đặng ngữi,
      Gối loan gìn từ buổi kết duyên.
      Ba sanh dầu toại thửa nguyền,
      Họa trong giấc mộng giải phiền giao hoan.

      Chú thích:

      Hơi mảnh áo: Cái mùi trong cái áo. Hơi là mùi. Gối loan: Cái gối có thêu hình chim loan, dành cho người vợ nằm; cái gối dành cho chồng thì thêu hình chim phụng. Đây là cặp gối cưới. Ba sanh: Ba kiếp sống, ý nói cái duyên vợ chồng đã tiền định do sự thề nguyền với nhau từ kiếp trước. Thửa nguyền: Cái ước muốn ấy. Họa: May ra. Giải phiền: Cởi bỏ sự buồn rầu. Giao hoan: Vợ chồng ân ái với nhau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 301 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      305.

      Càng bạc phước càng than con dại,
      Lo tảo tần mảy mạy dưởng nuôi.
      Còn cha con tỷ như côi,
      Chít chiu trẻ khó, bồi hồi mẹ đơn.

      Chú thích:

      Bạc phước: Phước mỏng, ít phước. Tảo tần: (Đã giải ở câu 227), chỉ sự cần kiệm và chịu cực khổ của người vợ. Mảy mạy: Một chút nhỏ. Tỷ: Ví như. Chít chiu: Chiu chít, tiếng chim con kêu đòi chim mẹ đút mồi cho ăn. Chít chiu trẻ khó: Ý nói con đòi ăn. Bồi hồi: Bồn chồn xao xuyến. Mẹ đơn: Người mẹ cô đơn.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 305 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      309.

      Nhịn ăn mặc ngừa cơn thiếu thốn,
      Làm lụng nhiều nuôi dưỡng sắp con.
      Nại chi xác yếu thịt mòn,
      Gia tư miễn đặng vuông tròn giữ duyên.

      Chú thích:

      Sắp con: Đàn con. Nại chi: Có nề hà chi. Gia tư: Của cải trong nhà. Tư là của cải. Miễn đặng: Chỉ cần được. Giữ duyên: Gìn giữ cái duyên vợ chồng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 309 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      313.

      Lớn một tuổi, mẹ thêm một khổ,
      Hiểu một điều, mẹ hổ cho thân.
      Trí con lần mở nẻo gần,
      Hỏi cha sao phụ, tố trần làm răng?

      Chú thích:

      Hổ: Hổ thẹn, xấu hổ. Trí non: Sự hiểu biết non kém. Cha phụ: Cha phụ bạc mẹ, đối xử bạc bẽo với mẹ. Tố trần: Tố là nói cho biết rõ, trần là bày tỏ. Tố trần là bày tỏ cho mọi người biết rõ. Làm răng: Làm thế nào?

      Câu 314: Tại sao đứa con hiểu một điều mà làm cho mẹ xấu hổ? Bởi vì nó muốn hiểu cha nó làm gì? Ở đâu? Tại sao cha phụ bạc mẹ? Những điều đó làm mẹ nó khó trả lời và cảm thấy xấu hổ vì những việc làm không tốt của cha nó.

      Câu 315: Sự hiểu biết non nớt của đứa con từ từ mở ra, từ việc gần rồi đến việc xa, từ việc dễ đến việc khó.

      Câu 316: Đứa con hỏi tại sao cha phụ bạc mẹ, thì phải tỏ bày với nó thế nào đây?

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 313 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      317.

      Chẳng lẽ nói cho chàng đen bạc,
      Chẳng lẽ cho cỡi hạc quên nhà.
      Không đành nói thác ra ma.
      Không đành nói ngụ nơi nhà lầu xanh.

      Chú thích:

      Đen bạc: Phụ bạc, không thủy chung. Cỡi hạc quên nhà: Ý nói đi chơi xa, quên nhà quên cửa. Hạc là loại chim chân cao cổ dài, lông trắng, bay cao và xa, sống đến ngàn năm. Cỡi hạc còn có ý nói là cỡi hạc du Tiên, nghĩa là chết, linh hồn cỡi chim hạc lên chơi cõi Tiên. Thác ra ma: Chết thành ma. Thác là chết. Lầu xanh: Chữ Hán là Thanh lâu, chỉ nhà chứa gái điếm, gái làng chơi.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 317 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      321.

      Không lẽ nói mến anh quên én,
      Không lẽ rằng trộm nén hương thừa.
      Nói chi tìm vợ dâng dưa,
      Lẽ nào nói rượt theo vừa Hằng Nga.

      Chú thích:

      Mến anh quên én: Đồng nghĩa với các thành ngữ: Tham lựu bỏ đào, Tham lê bỏ lựu, Có mới nới cũ,... Trộm nén hương thừa: Ý nói yêu đương vụng trộm với một người con gái thuộc loại không ra gì. (Thừa là vô ích). Trộm nén hương: Ý nói việc trai gái yêu nhau vụng trộm. Điển tích: Theo Thế Thuyết Tân Ngữ, Hàn Thọ đang làm thư lại cho quan đại thần Giả Sung, dưới triều nhà Tần. Hàn Thọ đẹp trai, nên con gái của Giả Sung phải lòng và tư thông nhau. Giả Sung có thứ hương liệu quí do vua Tần ban thưởng, bị con gái đánh cắp đem cho Hàn Thọ. Khi lộ chuyện ra, Giả Sung buộc lòng phải gả con gái cho Hàn Thọ.

      Tìm vợ dâng dưa: Đội dưa xuống dâng cho Diêm Vương để tìm vợ. Điển tích: Vua Đường Thái Tôn du Địa phủ, khi từ giã Thập Điện Diêm Vương, vua Thái Tôn nói: Tôi trở về dương thế, chẳng có gì biếu Thập Điện, chỉ xin dâng mấy quả dưa kính tạ.

               Hồn vua Thái Tôn được sứ giả đưa về thế gian nhập xác sống lại, uống thuốc bổ an dưỡng vài ngày thì khỏe mạnh như trước, liền ra Bảng chiêu hiền, để chọn người đi dâng dưa cho Thập Điện.

               Lúc đó có một hiền giả đến gỡ bảng tình nguyện đi dâng dưa. Người nầy tên là Lưu Toàn, quê ở Quận Châu, nhà giàu có. Vợ là Lý Thúy Liên rút kim thoa đem cúng nhà sư ngoài cổng. Lưu Toàn trông thấy liền mắng vợ là không biết giữ nết. Lý thị tức giận chồng bèn treo cổ tự tử, bỏ lại 2 đứa con thơ kêu khóc. Lưu Toàn buồn rầu, gởi gấm con cái ở lại, quyết xuống Âm phủ tìm vợ nên liều chết lãnh nhiệm vụ đi dâng dưa cho Thập Điện.

               Vua Đường hạ chỉ cho Lưu Toàn đến Kim Đình quán, đầu đội một quả dưa to, túi đựng tiền vàng, miệng ngậm thuốc độc. Giây lát, Lưu Toàn chết, linh hồn đội dưa xuống Âm phủ, được Quỉ sứ dẫn vào điện Sum La, tâu lên Thập Điện: Tôi vâng chỉ vua Đường, từ cõi dương gian, đội dưa dâng hiến Thập Điện Diêm Vương để báo đáp ân nghĩa của Thập Điện đã tha thứ vua Đường.

               Diêm Vương cả mừng nói: Tốt lắm, Đường Thái Tôn thật có tín nghĩa.

               Diêm Vương thâu dưa, rồi hỏi tên họ và quê quán của Lưu Toàn, Lưu Toàn đáp: Tiểu nhân họ Lưu tên Toàn, quê ở Quận Châu, vì vợ là Lý thúy Liên tự tử, bỏ lại 2 đứa con không người trông nom, tiểu nhân tình nguyện bỏ nhà lìa con, trước là liều chết để báo ơn vua, đi dâng dưa lên 10 Vua, sau là tìm vợ.

               Thập Điện nghe nói vậy thì sai Quỉ sứ dắt hồn Thúy Liên đến cho gặp mặt chồng. Hai vợ chồng gặp nhau, giải bày chuyện cũ và tạ ơn 10 Vua. Diêm Vương cho tra xét Sổ Sinh Tử, thấy 2 vợ chồng Lưu Toàn có số thọ và được lên Tiên, vội sai Quỉ sứ dẫn 2 hồn trở về dương thế nhập xác. Quỉ sứ tâu: Lý Thúy Liên về cõi Âm khá lâu nên thi thể đã thúi nát thì hồn nhập xác sao được?

               Diêm Vương nói: Em gái vua Đường là Công Chúa Lý ngọc Anh nay bị chết tươi, nhà ngươi mượn xác ấy cho Thúy Liên nhập đỡ.

               Quỉ sứ vâng lịnh dẫn 2 hồn Lưu Toàn và Thúy Liên ra khỏi Âm phủ, trở về dương thế. Hồn Lưu Toàn được dẫn đến Kim Đình quán và cho nhập vào xác sống lại, còn hồn Lý Thúy Liên được dẫn vào Hoàng cung, thấy Công Chúa Lý Ngọc Anh đi dạo, Quỉ sứ đẩy mạnh làm Ngọc Anh té xuống, Quỉ sứ bắt hồn Ngọc Anh dẫn đi và xô hồn Thúy Liên vào nhập xác Công Chúa.

               Xác Công Chúa sống lại nhưng là hồn của Lý Thúy Liên, nên không nhận mình là Công Chúa làm cho Hoàng gia bối rối. Vua Đường Thái Tôn đã được Thập Điện báo trước em gái vua sẽ bị bất đắc kỳ tử, nên vua không ngạc nhiên, xác nhận việc đó và cho vợ chồng Lưu Toàn tái hợp mà vợ là Thúy Liên trong xác Công Chúa, và ban thưởng rất hậu.

      Hằng Nga: Theo Thần Tiên Truyện, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ. Hậu Nghệ có tài bắn cung. Tương truyền, thời xưa bỗng nhiên có 10 Mặt Trời mọc lên một lượt làm cho nắng nóng cháy cây chết vật. Hậu Nghệ giương cung, lần lượt bắn rớt 9 Mặt Trời, làm khí hậu trở lại mát mẻ. Dân chúng vui lòng tôn lên làm vua. Hậu Nghệ được Đức Bà Tây Vương Mẫu ban cho thuốc trường sanh. Về sau, Hậu Nghệ làm nhiều điều tàn ác, Hằng Nga khuyên can không được nên lén lấy thuốc trường sanh của Hậu Nghệ uống vào, thì nhẹ mình bay lên ở trên Cung Trăng. Hậu Nghệ mất thuốc Tiên, nên không thể bay lên Mặt Trăng để bắt Hằng Nga trị tội.

      Câu 321: Chẳng lẽ nói cha con là người đen bạc, mê theo vợ bé, bỏ bê vợ lớn ở nhà.

      Câu 322: Chẳng lẽ nói cha con lén lút vụng trộm với những người đàn bà mất nết, không ra gì.

      Câu 323: Nói chi đến chuyện chung tình như chàng Lưu Toàn liều chết đi dâng dưa cho Thập Điện Diêm Vương để tìm vợ nơi cõi Âm phủ.

      Câu 324: Chẳng lẽ nói cha con như chàng Hậu Nghệ rượt theo đuổi bắt Hằng Nga.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 321 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      325.

      Không lẽ nói đi qua Đông Độ,
      Không lẽ rằng vô số chinh phu.
      Lẽ nào nói bị tội tù,
      Lẽ nào nói trấn Tây Âu làm hoàng.

      Chú thích:

      Đông Độ: Danh từ của Phật giáo, chỉ nước Tàu. Đông độ tức là Đông thổ, là đất ở phía Đông của nước ƒn Độ. Xưa, Đạt Ma Tổ Sư, từ ƒn Độ đi thuyền qua nước Tàu để truyền bá Phật giáo tại đó, nên gọi nước Tàu là Đông độ.

      Câu 325: Không lẽ nói chàng đi qua nước Tàu.

      Câu 326: Không lẽ nói chàng đi chinh chiến phương xa.

      Câu 327: Không lẽ nói chàng bị tội ở tù.

      Câu 328: Không lẽ nói chàng được bổ trấn nhậm Tây Âu và làm vua nơi đó.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 325 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      329.

      Còn nói thiệt rằng chàng phụ thiếp,
      Cũng vì mê theo kiếp làng chơi.
      E con đến lớn nên người,
      Gương cha để thẹn những lời bợm hoang.

      Chú thích:

      Kiếp làng chơi: Đời sống của những người chỉ biết chơi bời, tìm hưởng thú vui xác thịt. Bợm hoang: Bợm là tay ăn chơi sành sỏi, có nhiều mánh khóe xảo quyệt lừa gạt người. Hoang là rong chơi đàng điếm, không có độ lượng.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 329 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      333.

      Riêng chịu thảm không than với trẻ,
      Đổ lụy rơi theo khóe miệng cười.
      Vui là gắng gượng làm vui,
      Cái vui cùng trẻ là hồi ai bi.

      Chú thích:

      Đổ lụy: Rớt nước mắt. Gắng gượng: Cố gắng làm một cách gượng gạo. Trẻ: Chỉ đứa con còn nhỏ dại. Ai bi: Bi ai, buồn rầu thương xót.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 333 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      337.

      Ngàn dâu ngó ngày chầy thăm thẳm,
      Bận lòng con lại vấn nô y.
      Xem chừng coi mảnh anh nhi,
      Co tay đếm tuổi bấy chầy không cha.

      Chú thích:

      Ngàn dâu: Rừng cây dâu. Ngàn là rừng. Chữ Hán có thành ngữ: Tang điền biến vi thương hải, nghĩa là: Ruộng dâu biến thành biển xanh. Ngàn dâu là ý nói cuộc đời nhiều biến đổi. Ngày chầy: Ngày dài. Thăm thẳm: Xa lắm. Vấn: Quấn chung quanh. Nô y: Nghĩa đen là cái áo của đày tớ. Nô là đày tớ, y là cái áo. Ở đây, Nô y có nghĩa là cái áo choàng vào bên ngoài để làm các công việc trong bếp. Anh nhi: Đứa con bé nhỏ. Anh là bé con, nhi là con. Co tay đếm tuổi: Xòe bàn tay trái ra, co ngón tay cái để làm dấu đếm trên các lóng tay, tính tuổi con theo năm âm lịch: Tý, Sửu, Dần, Mẹo,... Bấy chầy: Bấy lâu.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 337 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      341.

      Hột cơm tẻ nhai ra như cát,
      Gan còn nguyên như nát bao chừ.
      Nuôi con từ lúc đào thư,
      Bao nhiêu máu thịt công chờ bấy nhiêu.

      Chú thích:

      Cơm tẻ: Cơm nấu từ gạo thường. Tẻ có nghĩa là ít nhựa. Nói cơm tẻ để phân biệt với cơm nếp, mềm có nhựa. Đào thư: Đào là cây đào chỉ người con gái, thư tức là thơ, trẻ tuổi. Đào thư hay Đào thơ là người con gái trẻ tuổi. Đào thơ cũng là Đào non, chữ Hán là Đào yêu. Trong Kinh Thi có nói: Con gái về nhà chồng gặp lúc đào non lá xanh mướt. Do đó, chữ Đào yêu là chỉ con gái mới về nhà chồng.

      Câu 344: Bao nhiêu máu thịt của đứa con thì cái công chờ đợi chồng trở về cũng bằng bấy nhiêu (vì người chồng đã bỏ nhà ra đi theo vợ nhỏ từ lúc vợ lớn mới sanh đứa con).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 341 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      345.

      Chàng đâu rõ khúc khiu cực nhọc,
      Lớn khôn ngoan biết học biết hành.
      Biết ơn nuôi dưỡng sanh thành,
      Tìm cha lại bỏ một mình thiếp côi.

      Chú thích:

      Khúc khiu: Những nỗi khó khăn vất vả. Sanh thành: Sanh ra, nuôi nấng và dạy dỗ thành người.

      Câu 348: Người vợ sợ đứa con khi lớn đi tìm cha, bỏ mẹ ở lại một mình cô đơn.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 345 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      349.

      Càng thấy lớn, mầng rồi lại sợ,
      Mầng nên hình, còn sợ theo cha.
      Dường như con vịt mẹ gà,
      Trẻ thơ vội phản, mụ già kinh tâm.

      Chú thích:

      Mầng: Mừng. Con vịt mẹ gà: Ý nói con nuôi, không phải con ruột. Kinh tâm: Lòng rất sợ sệt.

      Câu 351: Dường như là con nuôi, chớ không phải con ruột (nên người mẹ lo sợ khi con lớn nó đi theo cha, bỏ mẹ).

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 349 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      353.

      Làm lụng té bao lăm của cải,
      Để cho con làm ngãi cùng con.
      Nỗi lo đôi lứa vuông tròn,
      Còn lo gia thất vĩnh tồn hậu lai.

      Chú thích:

      Té: Sanh lợi ra, dư ra. Bao lăm: Có đáng bao nhiêu. Làm ngãi: Làm nghĩa. Ngãi là ơn nghĩa. Gia thất: Gia là chỉ người chồng, thất là chỉ người vợ. Gia thất là vợ chồng. Có câu: Nữ tử sinh nhi nguyện vi chi hữu gia và Tam thập viết tráng hữu thất. Nghĩa là: Con gái sanh ra mong cho nó có chồng. Ba mươi tuổi gọi là tráng niên có vợ. Vĩnh tồn: Tồn tại lâu dài. Hậu lai: Thời gian về sau.

      Trở lại Nữ Trung Tùng Phận câu 353 / Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.

       

      ___________________________________________________________________________
      Đức Nguyên: Giới thiệu & Chú thích.

Top of Page

      HOME