Nữ Trung Tùng Phận.
***************************************************************************

Trở lại Nữ Trung Tùng Phận mục lục.


 

Những giới hạn thời gian
trong Nữ Trung Tùng Phận.

 

         Tiên Nương Đoàn Thị Điểm giáng cơ viết tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận vào 1933, trong một hoàn cảnh lịch sử của đất nước Việt Nam vô cùng rối ren và đen tối.
         Người Pháp đã đặt ách đô hộ hoàn toàn lên Nam Kỳ và Bắc Kỳ (Miền Nam và miền Bắc Việt Nam), còn Trung Kỳ thì người Pháp bảo hộ, họ duy trì chế độ vua quan nhà Nguyễn làm bù nhìn cho chúng, để chúng thẳng tay đàn áp các phong trào Cách mạng hay Cần Vương của các sĩ phu yêu nước.
         Người Pháp đã đem nền văn minh cơ khí tiến bộ của họ và nền văn hóa Thiên Chúa giáo sang khai hóa dân tộc ta, khiến người dân Nam cảm thấy rất xa lạ, thấy nó như các phép thuật của ma quỉ, nên người Việt Nam yêu nước gọi người Pháp là đám Bạch quỉ (quỉ da trắng).

398.

Nào dân đen phép quỉ hớp hồn.
         Người Việt Nam phải chịu trong cảnh nô lệ, tù đày:

412.

Tài chi trong kiếp tội tù dã man.
         Một số người Việt Nam bị Pháp dụ dỗ bằng miếng mồi danh lợi nên chạy theo ủng hộ Pháp, được Pháp cho làm quan, trở lại đàn áp các phong trào yêu nước chống Pháp, được Pháp dung túng cho bọn họ tham nhũng, bốc lột dân chúng:

421.

Thất xã tắc dân mình nghịch chủng,
Quen nghề tham, lại nhũng, quan gian.
Sâu dân mọt nước bạo tàn,
Mua quan bán chức nhộn nhàng cân đai.
         Do đó, Bà Đoàn Thị Điểm đã viết trong phần Mẹ dạy con trai phải tận trung với vua và tham gia phong trào Cần Vương:

369.

Quan thì phải tận trung vì chúa.
371. Sang thì giữ vững ngai vàng.
378.
379.
Thương quê hương trọng ngãi quân thần.
Ngọn rau tấc đất là ân.
380. Ưu quân ái quốc, vua cần dân nghinh.

386.

Đạo Cần Vương nêu tiếng thanh cao.
         Đây là điều giới hạn về thời gian của tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận, vì thời xưa, dưới chế độ quân chủ, vua cai trị dân một cách độc đoán, còn nay thì đã tiến đến thời tự do dân chủ, dù có vua đi nữa thì vua chỉ để tượng trưng cho nước, giữ phần nghi lễ, chớ không tham dự vào việc cai trị dân, mà quyền cai trị dân nằm trong tay của Chánh Phủ do dân trực tiếp hay gián tiếp bầu ra, dưới sự giám sát của Quốc Hội, một cơ quan hoàn toàn dân cử.
         Vào năm 1933, xã hội Việt Nam vẫn còn ảnh hưởng nặng nề tính chất của thời quân chủ, nên quan niệm các vấn đề như:
  - Trung với vua một cách cứng ngắt, hẹp hòi.
- Trọng Nam khinh Nữ, không cho phụ nữ đi học và làm quan.
- Duy trì chế độ đa thê, chồng chúa vợ tôi.
         Đó là 3 vấn đề mà tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận còn bị giới hạn đối với xã hội Việt Nam tiến bộ ngày nay. Chúng ta đi chi tiết từng điểm một:
         a) Vấn đề trung với vua:
         Bà Đoàn đã viết như đã trình bày ở phần trên.
         b) Vấn đề trọng Nam khinh Nữ:
         Thuở đó, phụ nữ không được đi học và ra làm quan.

05.
06.

Bởi rẻ rúng thuyền quyên thiếu học.
Dầu chí thân tơ tóc cũng khi.

17.
18.

Cửa Thánh miếu hãy còn thiếu gái.
Chốn quyền môn Nữ lại vẫn không.

35.
36.

Rừng Nho biển Thánh thinh thinh,
Nữ lưu nào thấu muôn nghìn thi thơ.
         Ngày nay, Nam Nữ đã hoàn toàn bình đẳng với nhau, con gái được học hành y như con trai, lại còn có phần giỏi hơn con trai, số học trò Nữ thường đông hơn Nam. Có nhiều phụ nữ đậu các bằng cấp rất cao như: Thạc Sĩ, Bác Sĩ, Tiến Sĩ.
         Phụ nữ được làm tất cả các công việc, các ngành nghề y như Nam phái, kể cả các ngành Chánh Trị, Kinh Tế, Văn Hóa. Nhiều phụ nữ đã làm Dân Biểu, Nghị Sĩ, Bộ Trưởng, Thủ Tướng, Quản trị kinh doanh, Luật Sư, Bác Sĩ, Dược Sĩ, v.v...
         c) Vấn đề đa thê, chồng chúa vợ tôi:
         Trong Nữ Trung Tùng Phận Bà Đoàn Thị Điểm đã viết:
         - Người đàn bà bị xem như món đồ chơi:

19.

Vật chơi ở chốn khuê phòng.
         - Chồng chúa vợ tôi, người vợ không có quyền quyết định các việc trong gia đình:

113.

Thân lòn cúi vợ tôi chồng chúa.

119.

Dầu cho lúc đứng khi ngồi,
Chàng là chúa cả, thiếp thời gia nô.
         - Người đàn ông được xã hội cho phép lấy nhiều vợ:

139.

Thung dung quân tử hảo cừu,
Năm thê, bảy thiếp mặc dầu trăng hoa.

709.

Trai bảy thiếp cũng cho chẳng hại.
         Ngày nay, luật pháp nước Việt Nam cấm hẳn đa thê, chỉ cho phép một vợ một chồng. Tân Luật của Đạo Cao Đài cũng không cho phép đa thê.
         Phụ nữ ngày nay được hoàn toàn bình đẳng với Nam phái trong mọi lãnh vực, về quyền lợi cũng như về trách nhiệm, đối với Đời cũng như về mặt Đạo, không còn cảnh chồng chúa vợ tôi, cử án tề mi.
         Trong quan niệm chồng chúa vợ tôi của thời đó, Bà Đoàn Thị Điểm đã xây dựng một mẫu người vợ với đạo Tùng Phu (trong Tam tùng) một cách quá mức đến độ người vợ mất hẳn cá tính, giống như một nữ kịch sĩ chỉ lo diễn xuất cho trọn vẹn vai tuồng làm vợ, chớ không hề có chút gì sống thực với chính bản thân mình:

61.
62.

Dầu khôn mấy giả ngu cho thuận,
Phải bao nhiêu cũng nhận lỗi lầm.

67.
78.

Chiều vui dưới trướng ngoài màn.
Ép nhớ thương làm điếc làm đui.

81.
82.

Hiểu thương ghét giả cam phận dại,
Biết nên hư chẳng cãi cho cùng.

91.
92.
93.
94.
95.
96.

Dầu chàng đổi dạ én anh,
Tề mi vẹn đạo, giữ gìn phép khuôn.
Nâng khăn trấp giải buồn quân tử,
Hầu tửu trà giấc ngủ không an.
Chàng vui thiếp cũng vui càn,
Chàng buồn thiếp tựa bên màn khóc theo.

111.
112.

Trăm năm kim cải cũng chồng,
Trái duyên vẫn vẹn đạo tòng mà thôi.
         Người phụ nữ thời nay, khi đọc những đoạn thơ có nội dung chồng chúa vợ tôi, chắc chắn rất lấy làm bất mãn trước bao nỗi bất công mà người phụ nữ thời xưa phải gánh chịu, và cảm thấy lòng vừa đau đớn vừa thương xót.
         Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy Bà Đoàn đã thấy rõ những nỗi bất công đó, nên có lúc Bà muốn đứng lên tranh đấu mạnh mẽ cho quyền lợi của phụ nữ:

1325.

Thấy nhi nữ kiếp căn mỏng mảnh,
Muốn binh lời làm mạnh đỡ nâng.
         Nhưng bà lại sợ, vì luân lý xã hội với truyền thống lâu đời lúc bấy giờ chưa cho phép:

1327.

Lại e lỗi đạo nhơn luân,
Dở dang gia pháp, vương thần loạn ngôi.
         Bà nhận thấy rằng, nguyên nhân chủ yếu của các bất công đó là do phụ nữ ít học, dốt nát, thiếu tài năng, nên Bà khuyến khích phụ nữ, việc đầu tiên là phải lo học tập, trau giồi kiến thức:

01.

Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.
         Bà cũng muốn đòi hỏi bình quyền giữa vợ và chồng:

85.

Ngoài mặt phép, chàng sao thiếp vậy,
Giữa cửa công, phải quấy đồng thân.

113.

Đạo phu thê như đủa nên đôi.
         Nhưng đứng trước một xã hội còn nặng nề đầu óc quan liêu phong kiến, tiếng nói đòi hỏi của Bà trở thành tiếng than uất ức:

160.

Phải chi vợ dám phụ phàng mới sao?
         Và khi Bà viết đoạn Mẹ dạy con trai cách đối xử với vợ, phải thương yêu vợ, đối xử bình đẳng với vợ và giữ lòng chung thủy với vợ, thì chúng ta thấy rõ Bà vốn chủ trương vợ chồng bình đẳng với nhau:

533.

Con đừng thấy phụ nhân nan hóa,
Cầm hồn hoa vày vã thân hoa.
Vợ con thay phận mẹ già,
Nuôi con mẹ cậy bóng ngà nữ dung.

537.

Khi sớm tối lạnh nồng có kẻ,
Thân mật con đặng để giữ con.
Mẹ lo trong lúc còn non,
Vợ con lo lúc thân mòn gối rung.

541.

Nếu khổ cực cùng chung chia sớt,
Dầu sang hèn đừng bớt tình nồng.
Hễ là vào đạo vợ chồng,
Hư nên đều có của ông công bà.

545.

Con chớ ỷ mình là nam tử,
Chiếm chủ gia, hẹp xử thê nhi.
Đừng xem ra phận tiện tỳ,
Quyền trong nội trợ cũng bì đồng nhau.
         Tóm lại, đứng trên mặt tổng thể của tác phẩm, 3 điểm giới hạn vừa nêu trên chỉ là một phần nhỏ mà thôi. Ngoài những điểm hạn chế nhỏ nầy ra, toàn bộ phần lớn còn lại của tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận đều có tánh cách phi thời gian và không gian, tức là có giá trị bất hủ trong mọi trường hợp.
         Do đó, tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận vẫn có giá trị giáo dục rất cao. Đương nhiên khi áp dụng vào việc giáo dục phụ nữ thời nay, hay thời sau nầy nữa, dù là sự giáo dục trong cửa Đạo Cao Đài hay là sự giáo dục ngoài xã hội, cần phải bớt đi những phần hạn chế không thích hợp, giữ lại và phát huy tất cả những phần thích hợp. Điều đó là cần thiết vì sự tiến hóa tất nhiên của nhơn sanh.
 

[ Mục lục  ] Top of Page
   
___________________________________________________________________________
Đức Nguyên: Giới thiệu & Chú thích.

Top of Page

      HOME