CHÚ GIẢI KINH THẾ ĐẠO
            注 解 世 道 經
THIÊN VÂN - Hiền Tài QUÁCH VĂN HÒA
 

KINH THẾ ĐẠO

             Trải qua hai thời kỳ Phổ độ, Tam Giáo đã truyền lại biết bao nhiêu là Kinh sách quí báu để giác ngộ người đời. Như ta đã biết, Kinh là nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo, nên từ ngàn xưa, các vị Giáo chủ của Tam giáo đã đắc lệnh của Đức Chí Tôn, giáng cơ mở Đạo để tùy thời, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà truyền những kinh sách quí báu, hầu khai hóa đạo tâm cho con người, đưa con người đến sự giác ngộ.

            Về Nho giáo, Đức Không Thánh đã để lại một kho kinh sách quí giá như Tứ Thư, Ngũ Kinh, sau này các hàng Đệ tử và hậu Nho tiếp tục xiển dương hệ thống triết lý đó làm nền tảng về nhân sinh, đạo đức và phong tục cho xã hội con người Á Đông, mà hơn hai nghìn năm nay con người vẫn còn sùng thượng.

            Về Lão giáo, từ hai quyển “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử và “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử làm cơ sở cho triết lý “Vô vi”, đến thời nhà Tống các nhà Nho đem lý thuyết Vô vi của Lão Trang phối hợp với Dịch Lý của Nho mà tạo thành một phong trào “Huyền học” hay “Lý học”. Phong trào nầy có công lớn trong việc phát triển học thuyết Lão Trang đến chỗ phồn thịnh nhứt vào đời Ngụy, Tấn, Lục Triều...Lão giáo được thành hình sau đó để hướng con người về với Đạo là thuận lẽ thiên nhiên vô vi tự tại. Vì vậy, thuyết Vô vi của phái Đạo Gia đã ảnh hưởng không nhỏ về Vũ trụ quan và Nhân sinh quan qua con người Việt Nam ta từ ngày xưa cho đến bây giờ.

            Về Phật giáo, sau khi Đức Phật thành Đạo, Ngài đã đem điều chứng đắc để giác ngộ chúng sinh tìm về bản thể chơn như, hầu đưa chúng sanh theo con đường giải thoát. Đến khi Phật nhập diệt, các vị đệ tử mới đem những lời dạy của Ngài kết tập lại thành Tam Tạng Kinh. Từ đó, Kinh sách của Phật được phổ truyền theo muôn đường vạn nẻo để đem cái Giáo Pháp cao siêu của Đức Phật mà giác ngộ chúng sinh trong tam đồ, lục đạo.

            Đến thời Tam Kỳ Phổ Độ, nhơn loại càng ngày càng đánh mất điểm thiên lương, nên tập nhiễm lợi danh, vật chất, tranh đấu giành giựt lẫn nhau, tương tàn tương sát vì chén cơm manh áo, vì quyền tước lợi danh, khiến phải chịu nhiều nỗi điêu linh, thống khổ.

            Đã hai lần phổ độ mà sanh chúng vẫn bị mê mờ, mãi chìm sâu trong luân hồi biển khổ, nên lần này, Đức Chí Tôn không giáng Chơn linh, mà dùng huyền diệu cơ bút khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, lập nên Chánh pháp Cao Đài, có tôn chỉ qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi, tức là nhìn nhận các Tôn giáo từ một nguồn gốc mà sinh ra: Đó là Thượng Đế. Vì vậy, sau ngày khai Đại Đạo, Hội thánh được lịnh Ơn Trên dạy thỉnh Kinh nơi Phật Giáo hay các chi Minh Sư, Minh Lý...về tụng niệm.

            Mãi đến năm 1935, tức là gần mười năm khai Đạo, các Đấng Thiêng Liêng mới giáng cơ ban cho Tân Kinh. Ấy là một giọt nước Cam Lộ của Đức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng Linh hồn của toàn thế giới. (1)

            Quyển Tân Kinh do Hội Thánh ban hành được chia làm hai phần: Kinh Thiên Đạo Kinh Thế Đạo.

            Những bài kinh Thiên Đạo được tụng trong các thời cúng tại Thánh thất hay tư gia nhằm xưng tụng công đức của các Đấng Thiêng Liêng và các bài kinh siêu độ các Chơn linh của những người quá cố.

            Còn các bài kinh Thế Đạo là những bài Kinh như Thuyết pháp, Nhập hội, Hôn phối...ngoài ra còn các bài Kinh dạy về nhơn luân và đạo đức cho con người, tức là những bài Kinh có nội dung tỏ cái ơn nghĩa và tình cảm của chúng ta đối với người quá cố: Vua, thầy, tổ phụ, cha mẹ...

            Tất cả Kinh Thế Đạo gồm 19 bài (trừ bài Kinh Cứu Khổ), trong đó có:

            *Mười bài Kinh do Đức Hộ Pháp đặt ra, có cầu Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn chỉnh văn lại. Mười bài Kinh đó là:

            1.- Kinh Thuyết Pháp.

            2.- Kinh Nhập Hội.

            3.- Kinh xuất Hội

            4.- Kinh Đi Ra Đường.

            5.- Kinh Khi Về.

            6.- Kinh Khi Đi Ngủ.

            7.- Kinh Khi Thức Dậy.

            8.- Kinh Vào Học.

            9.- Kinh Vào Ăn Cơm.

            10.- Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.

            *Một bài do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho, đó là:

            11.- Kinh Hôn Phối.

            Và tám bài Kinh cúng tế trong tang lễ, do Bà Đoàn Thị Điểm giáng cơ ban cho và bài Kinh Cứu Khổ:

            12.- Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà.

            13.- Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị.

            14.- Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu.

            15.- Kinh Cứu Khổ. (1)

            16.- Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu.

            17.- Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Đã Qui Liễu.

            18.- Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần.

            19.- Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị.

            20.- Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu.


(1) Trích lời tựa của Hội Thánh trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

(1) Bài Tựa của Hội Thánh trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

Tiếp theo >

Top of Page

      HOME