GÓP NHẶT TINH HOA ĐẠI ĐẠO

 

 

 

 

 

 

 

Quyển 3

 

SỰ PHÂN QUYỀN HÀNH CHÁNH NAM NỮ TRONG ĐẠO CAO ĐÀI

Như chúng ta biết, tổ chức hành chánh đạo trong đạo Cao Đài, Nam, Nữ được phân làm hai quyền rõ rệt: Nam phái làm việc theo Nam phái và Nữ phái làm việc theo Nữ phái.

Cầm quyền hành chánh đạo bên Nữ phái cao nhứt là vị Nữ Đầu Sư, nhưng Nữ Đầu Sư phải tùng quyền Giáo Tông và Chưởng Pháp.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có giải thích như sau: Hội Thánh Nữ Phái phải tùng quyền Ðầu Sư Nữ Phái, song cả thảy đều phải tùng quyền Giáo Tông và Chưởng Pháp.

Xem rõ lại thì Pháp Chánh Truyền truất quyền Nữ Phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông.

Hộ Pháp để lời phân phiền cùng Thầy như vầy: Thưa Thầy, Thầy đã nói con cũng đồng con, Nam Nữ vốn như nhau mà Thầy truất quyền của Nữ Phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông, thì con e mất lẽ công bình chăng?

Thầy dạy: Thiên Ðịa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn Khôn Thế Giái nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy lừng, ấy là ngày Càn Khôn Thế Giái phải chịu trong hắc ám, mà bị tiêu diệt. Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ Phái cầm quyền Giáo Tông làm chủ nền Ðạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Ðạo ắt bị tiêu tàn ám muội.

Hộ Pháp lại kêu nài nữa rằng: Thầy truất quyền Giáo Tông Nữ Phái thì đã đành, song quyền Chưởng Pháp thì tưởng dầu ban cho cũng chẳng hại.

Thầy dạy: “Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Ðài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa vị Giáo Tông, thì lẽ nào cho ngồi địa vị Hộ Pháp con. Bởi chịu phận rủi sanh, nên cam phận thiệt thòi, lẽ Thiên Cơ đã định, Thầy chỉ cậy con để dạ thương yêu binh vực thay Thầy kẻo tội nghiệp!

Xét về đoạn Pháp Chánh Truyền Chú Giải trên, ta thấy Đầu Sư Nữ phái chỉ có quyền hành bên Nữ phái mà thôi, chứ không được xen lộn qua Nam, cũng như Nam chẳng xen lộn qua Nữ.

Hiện nay, việc hành chánh Nam, Nữ phái từ trung ương cho đến địa phương được phân quyền rành rẽ. Nhưng vào đầu thập niên ngày Khai Đạo, việc phân quyền giữa Nam, Nữ phái như thế nào? Chúng ta thử tìm hiểu giai đoạn hành chánh đạo của Hội Thánh trước đây.

Nguyên ngày 17 tháng 3 năm Tân Mùi (Dl. 4/5/1931) Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh ban Châu Tri Số: 17 bổ nhiệm 20 vị Chức sắc Nữ phái làm Đầu Họ Đạo trong hai mươi tỉnh có nội dung sau:

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Đệ lục niên)

Tòa Thánh ngày 4 tháng 5 năm 1931 (Âl 17/3/Tân Mùi).

CHÂU TRI

 

Cho chư Chức sắc Thiên phong, chư vị Chủ Thánh Thất, Chánh, Phó Tri Sự, Thông Sự, chư Đạo hữu lưỡng phái, Chư Hiền huynh, Hiền tỷ, Hiền hữu, Hiền muội.

Chiếu theo Đạo Nghị Định thứ ba, điều thứ nhứt: Chánh Phối Sư nam phái hành chánh riêng nam, Chánh Phối Sư nữ phái hành chánh về nữ, nam nữ phân quyền.

Chiếu y Pháp Chánh Truyền ban quyền hành cho Nữ Chánh Phối Sư,

Nghĩ vì đương buổi lập Tam Giáo Tòa riêng phần cho nam phái nên ngưng việc hành chánh của cả Chức sắc nam đặng tiện lo việc xử đoán,

Tuân theo Thánh chỉ của Đức Lý Giáo Tông ngày 21 tháng 9 và ngày 16 tháng 10 năm Canh Ngọ định cho Chức sắc nữ phái tạm lãnh quyền hành đạo các nơi thay thế cho Chức sắc Thiên phong nam phái đương lãnh trách nhậm khác, nên chư Chức sắc kể tên dưới đây đều có lãnh tờ thuyên bổ làm Đầu Họ Đạo trong mỗi tỉnh, hầu lập công bồi đức và sắp đặt nữ phái lại cho hoàn toàn.

(xin miễn chép lại danh sách hai mươi vị chức sắc Nữ phái được bổ nhiệm)

Vì vậy tôi gởi tờ Châu Tri nầy cho chư Hiền huynh, Hiền tỷ, Hiền muội hay, xin tuân y cần kíp và chư Thiên phong nam phái phải hết lòng giúp Chức sắc nữ phái trong việc hành đạo.

Nay kính.

Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh

Chứng kiến:

Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt

 

Đến năm Nhâm Thân, 1932, vì cần có ngân khoản để xây dựng Đền Thánh nên Thượng Hội lại giao quyền Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh chấp chưởng Lương Viện và Hộ Viện của Nam phái (lúc bấy giờ Nữ phái chưa có Cửu Viện).

Khi được giao quyền nắm giữ hai viện, Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh có ban hành một văn thư như sau:

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Đệ thất niên)

Tòa Thánh Tây Ninh

Ngày 13 tháng 1 năm Nhâm Thân (Dl. 18/2/1932).

Kính cùng chư vị Thiên phong Chức sắc nam nữ,

Chư vị Chủ Thánh Thất và chư vị Hội viên Bàn Cai Quản các Thánh Thất.

Chư Hiền hữu,

Hôm mùng 9, sau lễ Đấng Chí Tôn, tôi có hiệp cùng Đức Hộ Pháp và Quyền Giáo Tông đặng thượng sớ cầu nguyện Đấng Chí Tôn và Diêu Trì Kim Mẩu cùng Đức Lý Giáo Tông, xin đình tới Rằm tháng 7 mới lập Tòa Tam Giáo Nữ phái cho Chức sắc Thiên phong Nữ phái có thì giờ lập công chuộc tội.

Đấng Chí Tôn cũng y phê theo lời chị em tôi khẩn cầu...

Vậy từ đây, tôi ráng dìu dắt mấy vị Thiên phong Nữ phái phải tùng phục lịnh Tòa Thánh đặng hành đạo lo lập công quả.

Ngày 11 tháng Giêng, Thượng Hội nhóm tại Bửu điện Tòa Thánh, có định giao Hộ Viện và Lương Viện cho tôi chấp chưởng. Vậy tôi sẽ tới các Thánh Thất mà viếng thăm chư Đạo hữu lưỡng phái đặng sở cầu nội trong nền Đại Đạo nhứt tâm giúp tôi lo tròn phận sự khó khăn trên đây.

Thượng Hội cũng có định sắc phái thì giao để các Thánh Thất lục tỉnh đặng phát cho Đạo hữu có Bộ và giữ Đạo thờ phượng tử tế. Ấy là một phương tiện cho Đạo hữu khỏi tốn hao sở phí đặng về Tòa Thánh lãnh phái.

Ngày nay có Thánh Thất đều lục tỉnh các nơi, vậy Đạo hữu lưỡng phái đến tại Thánh Thất nơi tỉnh mình mà nghe Chức sắc Thiên phong nơi ấy lo dạy dỗ việc đạo, lo làm lành lánh dữ, khỏi về Tòa Thánh xa xuôi tốn kém.

Nơi Thánh Thất lục tỉnh đều có để một cái thùng ở trên có lỗ, để cho ai tự do tín ngưỡng, không ai ép buộc, muốn cúng tiền cất Tòa Thánh bao nhiêu thì bỏ trong thùng ấy. Mỗi tháng, tôi sẽ định ngày tới tại Thánh Thất đặng hiệp cùng Chủ Thánh Thất và Bàn Cai Quản đặng khui thùng ấy ra, đếm tiền rồi làm tờ Vi bằng giao cho Chủ Thánh Thất giữ.

Tôi hết lòng khẩn cầu chư Hiền hữu lưỡng phái hết dạ nhiệt thành, lấy đạo tâm lo lập thành Tòa Thánh cho Đấng Chí Tôn y như lời của chúng ta đã hội định hôm Rằm tháng 10 năm Canh Ngọ.

Nay kỉnh đốn.

Nữ Chánh Phối Sư HƯƠNG THANH.

Dưới tờ Châu Tri của Bà Nữ Chánh Phối Sư có lời phê của Đức Hộ Pháp và Đầu Sư Thượng Trung Nhựt như sau:

Hai anh em tôi và cả Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cũng đồng ý kiến với Bà Nữ Chánh Phôi Sư đặng lo cho thành tựu các việc định trong Tờ Chậu Tri nầy.

Cầu xin cả nền Đại Đạo Tam Kỳ lưỡng phái từ lớn chí nhỏ giữ một dạ nhiệt thành, đức tính như một, hiệp cùng nhau đặng lo Đền Thờ Đấng Chí Tôn.

Nay kỉnh.

Hộ Pháp

Thượng Đầu Sư Quyền Giáo Tông

PHẠM CÔNG TẮC

THƯỢNG TRƯNG NHỰT

Cho đến ngày 17 tháng 1 năm Nhâm Thân (Dl. 22/2/1932), Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh lại ban Châu Tri Số 49 có nội dung như sau:

Việc Chức sắc nữ phái lãnh quyền hành chánh thế cho nam phái, do theo Thánh chỉ của Đức Lý Giáo Tông ngày 21 tháng 9 và ngày 16 tháng 10 năm Canh Ngọ, thì nay đã mãn hạn. Vì vậy nên ngày mùng 9 tháng 1 năm Nhâm Thân (Dl. 14/2/1932), Đức Lý Giáo Tông có Sắc lịnh cho Chức sắc nữ phái giao quyền hành chánh bên nam lại cho phái nam kể từ ngày rằm tháng giêng năm Nhâm Thân.

Nay tôi gởi Tờ Châu Tri nầy cho chư Hiền huynh, Hiền tỷ, Hiền hữu và Hiền muội được hay và xin tuân y theo Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định thứ ba, điều thứ nhứt mà thi hành, nghĩa là Chánh Phối Sư nam phái hành chánh riêng nam, Chánh Phối Sư nữ phái hành chánh về nữ, nam nữ phân quyền.

Như vậy, trước đây Châu Tri Số: 17, ban hành ngày 17 tháng 3 năm Tân Mùi (Dl. 4/5/1931), Hội Thánh đã ban quyền cho Nữ phái bình đẳng với nam phái. Dưới quyền Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh, các Chức sắc Nữ phái có thể làm các phận sự như nam phái, nghĩa là có thể làm Đầu Tỉnh Đạo hay Đầu Họ Đạo, cai quản tất cả tín đồ nam nữ trong địa phận.

Do đó, Thượng Hội nhóm tại Bửu điện Tòa Thánh giao cho Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh chưởng quản Hộ Viện và Lương Viện, Bà đi khắp Ịục tỉnh vận động tiền bạc và đóng góp công quả để xây cất Tòa Thánh rất đắc lực.

Đến ngày 18 tháng 1 năm Nhâm Thân (Dl. 23/2/1932) thay mặt cho Nữ phái, Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh giao quyền hành trở lại cho Nam phái, Nữ phái chỉ lo bên nữ phái mà thôi.

Trong ngày lễ Thượng nguơn, rằm tháng giêng năm Nhâm Thân, khi cúng đại lễ xong, Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh đến trước Bửu điện, trình với Đức Quyền Giáo Tông, xin giao quyền hành lại cho nam phái y theo Pháp Chánh Truyền và Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy.

Đức Quyền Giáo Tông nhận lãnh giao lại cho ba Chánh Phối Sư Nam phái. Đức Quyền Giáo Tông nói: Kể từ đây, nữ phái duy có quyền điều hành bên Nữ phái mà thôi, các quyền hành khác trong Đạo thì thuộc phần Nam phái như trước, nhưng cũng phải do theo đẳng cấp đã định trong Pháp Chánh Truyền và sáu Đạo Nghị Định mà hành sự.

 

 

 

 

BAN ĐẠO SỬ

Ban Đạo Sử là một tổ chức chuyên môn, có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu lịch sử của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ từ khi khai Đạo cho đến hiện thời để hoàn thành quyển Lịch Sử Cao Đài.

Đôi liễn Ban Đạo Sử đã được Ngài Phối Sư Thượng Cảnh Thanh soạn và dâng lên cho Hội Thánh phê duyệt:

道 脈 開 成 教 理 搜 尋 今 驗 古

Đạo mạch khai thành giáo lý sưu tầm kim nghiệm cổ

史 綱 編 撰 真 經 藏 貯 本 追 源

Sử cương biên soạn chơn kinh tàng trữ bổn truy nguyên

Nghĩa là:

Đạo mạch đã khai mở, sưu tầm giáo lý, xem việc nay nghiệm lại việc xưa,

Sử cương được biên soạn, tàng trữ chơn kinh, tìm hiểu tận nguồn gốc.

Ban Đạo Sử được thành lập do Thánh ý của Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp trước kia. Mãi đến năm 1962 (Nhâm Dần) Đức Thượng Sanh Chưởng quản Hiệp Thiên Đài mới chỉ định Ngài Thời Quân Hiến Pháp lãnh nhiệm vụ làm Trưởng Ban, triệu tập đại hội tuyển chọn nhân viên và các cộng sự viên vào làm việc trong Ban Đạo Sử.

Bài phát biểu của Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi khi thay thế Ngài Hiến Pháp làm Trưởng Ban Đạo Sử có nhắc lại một đoạn lịch sử như sau: “Buổi Đức Thượng-Sanh Chưởng quản HiệpThiên Đài, vào ngày 14 tháng 8 năm Nhâm Dần (Dl. 12/9/1962), Đại Hội Lưỡng Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng, do thư của Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức gởi cho Đức Thượng Sanh, xin vào làm Đạo, cộng tác với quí vị Thời Quân về việc Đạo.

Căn cứ theo Thánh thơ của Ngài Hiến Pháp, Bần Sĩ Khai Đạo Hiệp Thiên Đài nhận xét, nền Đại Đạo đã trải qua gần 40 năm mà không ai để ý chọn lựa người cố cựu am hiểu rành rẽ để đảm đương soạn biên bổn Đạo Sử, sưu tầm ghi chép các việc đã qua và hành vi của quí vị Chức-Sắc tiền bối hoặc tốt hoặc xấu để nêu gương lựu niệm sau nầy cho đoàn hậu tấn biết. Nên Bần sĩ đề nghị với Hội Thánh Hiệp Thiên Đài giao vụ biên Đạo Sử nầy cho Thời Quân Hiến Pháp lãnh trách nhiệm lo sưu tầm sử liệu để bổn Đạo Sử ra đời sớm sớm.

Hội Thánh biểu quyết chấp thuận giao cho vị Thời Quân Hiến Pháp lãnh làm Trưởng Ban Đạo Sử”.

Ngàì Hiến Pháp lúc ấy làm Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh, Bộ nầy có văn phòng đặt tại Nhà Hội Vạn Linh, khi Ngài nhận làm Trưởng Ban Đạo Sử mà Văn Phòng Ban Đạo Sử lại đặt tạm tại Tòa Hiệp Thiên Đài. Vì vậy đến năm 1964 Ban Đạo Sử được lịnh dời qua Nhà Hội Vạn Linh, cho gần với Bộ Pháp Chánh để Ngài Hiến Pháp tiện bề điều hành cả hai Ban Bộ.

Đến năm 1968, nhân viên Ban Đạo Sử được tăng lên, nhờ chức sắc các cơ quan bổ đến, đồng thời cũng được một số tín đồ có tinh thần, giàu thiện tâm tình nguyện vào đóng góp công quả.

Trong ngày Đại Hội Ban Đạo Sử tại Nhà Hội Vạn Linh ở Tòa Thánh Tây Ninh ngày 26 Tháng 10 năm Mậu Thân (Dl. 15/12/1968), Đức Thượng Sanh có ban Huấn từ nêu lý do thành lập Ban Đạo Sử:

Hôm nay, tôi lấy làm hân hạnh đến dự buổi Đại Hội Ban Đạo Sử đặt dưới quyền Chủ tọa của Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh.

Lý do là từ mấy chục năm qua, sau khi Đức Hộ-Pháp bị lưu đày hải ngoại, được trở về Tòa-Thánh thì đất nước Việt Nam bị khép vào vòng chiến tranh khói lửa, Đạo đã trải qua bao lúc thăng trầm ghe phen bị quyền đời áp bức, nội bộ chia rẽ vì kế lý gián của bên ngoài, một phần Chức-Sắc vì quyền lợi cá nhơn làm cho tình huynh đệ thiêng liêng phải tan vỡ, gây cảnh nồi da xáo thịt.

Nếu chẳng có sức huyền linh của Đức Chí-Tôn hộ trợ, Hội-Thánh Tây-Ninh chưa chắc lướt qua khỏi những giai đoạn đen tối có thể làm cho nền Đạo phải chịu ngửa nghiêng không ít.

Vì lẽ đó, lần lựa đến ngày nay, Hội Thánh mới bắt đầu giao cho Ngài Hiến Pháp lập thành ủy ban đặt dưới quyền điều khiển của Ngài để khởi công biên chép Đạo Sử.

Mấy lúc sau nầy, Hội Thánh cũng được xem qua vài quyển Đạo Sử do người của các Chi phái Cao Đài biên soạn nhưng không có quyển nào ghi sát sự thật. Soạn giả chỉ viết sách để đề cao người trên trước của họ với tánh cách quảng cáo cho chi nầy phái kia, chớ sự thật do đâu Đạo Cao Đài được phô trương ra mặt đời, được gieo rải khắp nước Việt Nam và vì sao có Lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén Tây Ninh ngày rằm tháng 10 năm Bính Dần (1926) thì họ là người đến sau làm thế nào biết được.

Sự thật hiển nhiên chỉ những Chức-Sắc Thiên phong Hiệp Thiên và Cửu Trùng, môn đệ đầu tiên của Đạo Cao Đài mới biết rõ, mà những vị đó hiện giờ còn lại không bao nhiêu người.

Khởi công viết Đạo Sử lúc nầy thật cũng đã trễ nhưng cũng còn thì giờ gom góp tài liệu chính yếu. Nếu để trễ nữa, những Chức Sắc môn đệ đầu tiên sẽ qui vị hết thì người lớp sau dầu muốn viết Đạo Sử cho đúng, tôi thiết tưởng cũng không thể thực hành được.

Cho hay, dù viết Quốc Sử hay Đạo Sử, sự cần yếu nhứt là tôn trọng sự thật. Người viết sử phải giữ triệt để sự công bằng, không nên thiên vị, không nên vì tôn trọng một nhơn vật nào mà đề cao quá sự thật, không nên vì mình ít mến mộ cá nhân nào mà bỏ qua những công trạng đáng ghi của cá nhân đó.

Trong thời gian làm việc dưới sự điều hành của Ngài Hiến Pháp, Ban Đạo Sử đã sưu tầm tài liệu và hoàn thành một giai đoạn lịch sử Đạo, đó là “Đạo Sử Cơ Bút” được đăng trong tạp chí Đại Đạo Nguyệt San số 3 trang 5 ngày mùng 1 tháng 2 năm Giáp Thìn (Dl. 14/3/1964).

Qua năm Tân Hợi (1971), công việc của Ban Đạo Sử đang trên đà tiến triển, chẳng may Đức Thượng Sanh sau một cơn bệnh đăng Tiên, ba tháng sau, Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức được Hội-Thánh Hiệp Thiên Đài bầu lên lãnh trách nhiệm Chưởng Quản Hội Thánh Hiệp Thiên Đài thay thế Đức Thượng Sanh.

Sau đó Ngài Hiến Pháp mới ra Thánh lịnh số 03/TL ngày 26 tháng 5 năm Tân Hợi (Dl. 18/6/1971) cử Ngài Thời Quân Khai Đạo lãnh nhiệm vụ Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh và Trưởng Ban Đạo Sử.

Trước đây Ban Đạo Sử mượn các cơ quan làm Văn phòng tạm, chưa có tài chánh, đất đai để xây dựng trụ sở.

Lúc Hội Thánh cho Viện Đại Học Cao Đài mượn Nhà Hội Vạn Linh làm trường sở, thì Ban Đạo Sử một lần nữa phải dời văn phòng đến gần Dưỡng Đường Phước Thiện.

Đến khi Hội Thánh cấp cho một phần đất nằm trên lộ Cao Thượng Phẩm, đối diện với cánh rừng Thiên Nhiên phía nam, Ban Đạo Sử lúc bấy giờ mới vận động tiền bạc và vật liệu để xây dựng trụ sở tạm thời. Sau đó vào ngày 17 tháng 8 Nhâm Tý (Dl. 24/9/1972), văn phòng Ban Đạo Sử làm lễ khánh thành, dưới quyền chủ tọa của Ngài Hiến Pháp, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và với sự chứng kiến của Hội Thánh lưỡng đài.

Trong buổi lễ, Ngài Hiến Pháp ban huấn từ, trong đó có lời nhận định giống như ý của Đức Thượng Sanh, Ngài nói: "Đạo đã thành lập được Ban Đạo Sử gồm nhiều nhân vật có đủ khả năng và tinh thần phục vụ. Trong một thời gian ngắn cuốn Đạo Sử đầu tiên sẽ chào đời để đính chánh những trang sách gọi là Đạo Sử do người ngoại đạo xuất bản, có nhiều đoạn đã không đúng sự thật, lại còn mỉa mai và có thành kiến cá nhân.

Cuốn sử Đạo chánh thức do Hội Thánh Toà Thánh Tây Ninh xuất bản sau nầy sẽ tự đính chính những điều xuyên tạc và sai sự thật của các tác phẩm do nguời ngoại đạo soạn. Chúng ta không cần đính chính ngay những sai lầm của họ, mà độc giả sẽ tự nhiên nhận thấy sự sai lầm đó khi xem qua Đạo Sử chánh thức của Đạo vì cuốn Đạo Sử của Hội Thánh sẽ ghi toàn sự thật".

Ngoài nhiệm vụ xây dựng quyển lịch sử Đạo, Ban Đạo Sử dưới sự chỉ đạo của Ngài Hiến Pháp còn thành lập được Bạch Vân Ấn Quán, một nhà in riêng của nền Đại Đạo, tiếp nối với Chơn Truyền Ấn Quán xưa kia để in toàn bộ Kinh sách, giấy tờ Đạo hầu cung ứng cho các Châu, Tộc Đạo ở địa phương, tiết kiệm một khoảng tiền lớn và giúp ích nhiều công lao cho Hội Thánh.

Mặc dầu Hội Thánh và các vị chức sắc tiền bối rất quan tâm về lịch sử Đạo, đã hai lần đề cử hai vị Thời Quân, từng theo lịnh Đức Chí Tôn cầm cơ phổ độ trước ngày Khai Đạo, lên làm Trưởng Ban Đạo Sử để mong hoàn thành quyển Đạo Sử, nhưng vì cơ Đạo biến chuyển như ngày hôm nay, quyển Đạo Sử đành phải chờ những lớp sau tiếp nối.

 

 

 

 

THÁNH VỆ VÀ BẢO THỂ

Trong đạo Cao Đài, Thánh Vệ là những người gìn giữ, che chở cho Tòa Thánh, tức những người giữ an ninh, trật tự cho Nội Ô Tòa Thánh.

Thánh vệ còn có nhiệm vụ bảo vệ các vị Thánh, tức là bảo vệ cho các Chức sắc của Hội Thánh.

Cơ Thánh Vệ, là cơ quan do Hội Thánh lập ra, có nhiệm vụ tuyển chọn, huấn luyện và điều động Thánh Vệ để gìn giữ an ninh trật tự trong Nội Ô và bảo vệ các chức sắc Hội Thánh. Cơ Thánh Vệ đặt dưới quyền của Thánh Vệ Trưởng, nhân viên trong Cơ Thánh Vệ được gọi là Thánh Vệ viên.

Bảo Thể, còn gọi là Bảo Thể Quân, là bảo vệ, che chở Thánh thể Đức Chí Tôn tại thế, tức che chở cho toàn thể Hội Thánh.

Cơ Bảo Thể là cơ quan tập hợp và điều động các Bảo Thể, có phận sự giữ trật tự trong các đền đài, dinh thự trong Nội Ô.

Trong Cơ Bảo Thể còn có Tuần Quân, là những người mới gia nhập Bảo Thể Quân, còn trong thời gian tập sự. Tuần Quân đầy đủ 2 năm công nghiệp, nếu có hạnh kiểm tốt thì được đưa lên làm Bảo Thể Quân.

Trong Nội Ô Thánh Địa, nếu Thánh Vệ giữ gìn trật tự an ninh ngoài đường phố trong Nội Ô thì Bảo Thể gìn giữ trật tự trong các đền đài, dinh thự, các cơ quan hành chánh, cùng các buổi cúng kính, tế lễ trong Đền Thánh.

Khi cúng Đức Chí Tôn, Bảo Thể Quân mặc áo trường y sáu nút, lưng buộc dây thắt lưng trắng, bề ngang 3 phân, tay đeo Tam Sắc Đạo, đầu đội mão giống như cái calot màu trắng, tay cầm cây Tam Thanh (cây Tam Thanh là một thanh gỗ tròn đầu lớn đầu nhỏ, sơn ba màu vàng, xanh, đỏ). Nếu là Chánh Bảo Thể thì trên mão có cổ pháp của Hộ Pháp.

Nghị quyết Đại Hội Nhơn Sanh năm Giáp Dần 1974 quy định:

Chánh Bảo Thể có đủ năm năm công nghiệp và có đủ hạnh đức thì được cầu phong lên Lễ Sanh.

Còn Bảo Thể Quân (nhân viên Bảo Thể) và Thánh Vệ viên đủ 10 năm công nghiệp và đủ hạnh đức cũng được cầu phong lên phẩm Lễ Sanh.

Đến năm 1951, Đức Hộ Pháp mới ban hành Thánh Lịnh số 29/TL quy định về tổ chức và quyền lợi của Cơ quan Bảo Thể:

 

Bộ Pháp Chánh

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Nhị thập lục  niên)

------

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 29

-------------

 

THÁNH LỊNH

HỘ PHÁP
Chưởng quản Nhị Hữu Hình Ðài Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu y Ðạo luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (15/2/1938) ban quyền Thống Nhứt Chánh Trị Ðạo cho Hộ Pháp nắm giữ cho đến ngày có Ðầu Sư chánh vị;

Nghĩ vì Cơ Quan Bảo Thể là một cơ quan để giữ gìn trật tự trong Nội Ô Thánh Ðịa và Ðền Thánh, kiêm luôn phận sự cận vệ Chức sắc Ðại Thiên phong bên Cửu Trùng Đài từ Ðầu Sư trở lên, và bên Hiệp Thiên Ðài từ Thập nhị Thời Quân sắp lên, thì công quả của Bảo Thể cũng tương đương với các nhân viên khác trong nền Chánh Trị Ðạo.

Nghĩ vì con đường lập vị của mỗi người đều được Hội Thánh chăm nom nâng đỡ nếu đầy đủ công nghiệp.

THÁNH LỊNH

Ðiều thứ nhứt: Trong Cơ quan Bảo Thể có nhiều nhân viên thì chia nhiều Tiểu bộ cho dễ sắp đặt phiên thứ hành sự.

Mỗi Tiểu bộ có 12 nhơn viên, 12 vị nầy xúm nhau công cử một vị Chánh Bảo Thể lãnh trách nhiệm cai quản Tiểu bộ của mình.

Mỗi Tiểu bộ sẽ có thứ tự riêng, nhưng về cách làm việc thì Hòa Viện tổng hợp các Tiểu bộ đặng phân công và toàn cả nhơn viên trong các Tiểu bộ, ngoại trừ những vị Chánh, đều đồng thể và đồng nhiệm vụ.

Ðiều thứ hai: Mỗi vị Bảo Thể phải vào hàng Chánh Bảo Thể và đầy đủ 5 năm công nghiệp trong địa vị Chánh nầy mới được cầu phong lên hàng Lễ Sanh.

Ðiều thứ ba: Những vị Tuần quân đầy đủ 2 năm công nghiệp liền được bổ sung vào Cơ quan Bảo Thể, nhưng phải là người có đủ đạo hạnh và siêng năng cần mẫn trong phận sự và đúng 21 tuổi mới đặng. Hễ đủ hạng công quả trên đây thì Hòa Viện đệ tờ phúc xin cho sáp nhập liền.

Ðiều thứ tư: Chư vị Bảo Thể, Tổng Thơ Ký Chánh Trị Ðạo, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Thượng Thống Lại Viện, Quyền Thượng Thống Hoà Viện, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

Tòa Thánh, ngày 26 tháng 3 năm Tân Mão
(Dl. 1/5/1951)

HỘ PHÁP
(ấn ký)

Trước đây, Cơ Thánh Vệ và Cơ Bảo Thể (Cơ Quan Thánh Vệ, Cơ Quan Bảo Thể) được đặt dưới quyền Thống Quản của Hộ Đàn Pháp Quân.

Điều nầy do Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, ngày 25 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 17/11/1965). Phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo. Tái cầu lúc 21 giờ 30. Hầu đàn: Bảo Thế, Hiến Thế, Đầu Sư, chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Phước Thiện nam nữ. Đức Hộ Pháp giáng cơ hỏi:

Thượng Sanh hỏi chi?

Đức Thượng Sanh bạch: Vị tân Hộ Đàn Pháp Quân là Thượng Khanh Thanh sẽ mặc sắc phục thế nào? Đương sự phải kiêm luôn nhiệm vụ Thánh Vệ Trưởng theo lời Đức Ngài đã dạy. Vậy đương sự sẽ đặt dưới quyền trực thuộc của cơ quan nào?

– Hộ Đàn chịu dưới quyền trực thuộc Hiệp Thiên Đài Chi Pháp.

Đại phục: Áo tràng rộng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng thắt dây Sắc lịnh bỏ mối ngay giữa.

Hộ Đàn có tiểu phục như Thời Quân nhưng không mang Sắc lịnh, đội mão Tam Quang không có thêu, nhưng có Thiên nhãn ngay giữa. Đạo phục màu trắng.

Hộ Đàn kiêm luôn Thánh Vệ và Bảo Thể vì hai cơ quan nầy chịu dưới quyền thống quản của Hộ Đàn.

Từ đây, quyền hành của Hộ Đàn được nới rộng thêm để có đủ thẩm quyền tổ chức các cơ cấu gìn giữ an ninh trật tự trong vùng Nội ô và Ngoại ô Thánh địa.

Cho đến năm 1968, Cơ Thánh Vệ và Bảo Thể được đặt dưới quyền tổng chỉ huy của vị Nguyễn Văn Thành, Tổng Thanh Tra Đặc Nhiệm Chánh Trị Đạo kiêm thống quản Cơ Thánh Vệ Bảo Thể. Trong Đàn cơ đêm 21 tháng 10 năm Mậu Thân (Dl. 10/12/1968), lúc 21 giờ, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông khi ban chức cho vị Trung Tướng Nguyễn Văn Thành có đoạn như sau:

“Vậy Lão tuyên bố ban chức:

Tổng Thanh Tra Đặc Nhiệm Chánh Trị Đạo kiêm Thống Quản Thánh Vệ và Bảo Thể.

Từ đây, Hộ Đàn Pháp Quân chỉ lo việc chỉnh nghiêm đàn mà thôi.

Tổng Thanh Tra có nhiệm vụ trông nom các việc Hành Chánh Đạo, nhưng mỗi việc đều chịu dưới quyền của Hội Thánh Lưỡng Đài.

Hội Thánh phải giúp đỡ Thành làm nên cho Đạo. Lão mong vậy thay”.

Những năm đầu mới Khai Đạo (1929), tình hình nội bộ trong Đạo có sự rạn nứt, một số chức sắc đứng lên chống Đức Quyền Giáo Tông bằng cách tổ chức Hội Vạn Linh để hạ uy tín hoặc tung tin nói xấu. Vì vậy Đức Hộ Pháp mới có ý định thành lập Cơ Bảo Thể để bảo vệ các chức sắc và các cơ quan Đạo. Toán Bảo Thể đầu tiên được Đức Hộ Pháp giao cho ông Châu, đạo hiệu Hiệp Phố là người trong Phạm Môn, tìm chọn 11 người, cùng với ông nữa là 12, để thành một toán Bảo Thể.

Khi đủ số 12 người ông Châu dẫn trình diện với Đức Hộ Pháp thì được Ngài dạy phải huấn luyện võ nghệ cho 12 người đó trong vòng một tháng. Đức Hộ Pháp mới đặt tên là Bảo Thể Quân có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh trong Nội Ô Tòa Thánh. Sau đó Đức Ngài mới dẫn toán Bảo Thể sang trình diện với Đức Quyền Giáo Tông và được Quyền Giáo Tông chấp thuận và công nhận. Như vậy, toán Bảo Thể Quân nầy là lực lượng đầu tiên bảo vệ trong Nội Ô Thánh Địa và các chức sắc của Hội Thánh.

Từ đó, cơ quan Thánh Vệ và Bảo Thể càng ngày càng tăng số để có đủ lực lượng để canh gác các dinh thự, giữ an ninh trật tự trong Đàn cúng, nhứt là giữ an ninh trật tự trong những cuộc Đại lễ như Đại lễ Đức Chí Tôn hoặc Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung. Nói về công lao của Bảo Thể Quân, Huấn từ của Ngài Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Nhượn Thánh trong buổi lễ Khánh Thành Văn Phòng Cơ Bảo Thể ngày 28 tháng 4 năm Quý Sửu (Dl. 30/5/1972) có lời phát biểu như sau:

"Cơ quan Bảo Thể quân được Ðức Hộ Pháp và Hội Thánh thành lập từ buổi Khai Ðạo, nhằm bảo trọng Thánh Thể Ðức Chí Tôn, giữ gìn an ninh trật tự tại Ðền Thánh và dinh thự các cơ quan công quyền của Ðạo. Dù là một cơ quan không có tầm quan trọng về phương diện hành chánh đạo, nhưng đã hữu công, đồng chung chịu khổ hạnh trong tất cả mọi biến thiên của nền Ðại Ðạo từ 48 năm nay.

Trải qua những cơn thử thách, những bước thăng trầm của đạo, các em Bảo Thể Quân biểu dương lòng trung kiên, ý chí hy sinh, thể hiện bằng hành động cang trực để bảovệ Thánh Thể Ðức Chí Tôn, gìn giữ Tổ đình và sản nghiệp Ðạo mà các bậc tiền bối đã dày công xây dựng. Sở hành của các em quả xứng đáng với danh nghĩa của nó, phản ánh tấm lòng hiếu hạnh, trung thành đối với Ðức Chí Tôn và Hội Thánh."

Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức đã cho rằng Bảo Thể Quân là nhân viên công lực của Đạo và khuyên phải làm xứng đáng với vai trò của mình. Ngài phát biểu trong tiệc ủy lạo các nhân viên Thánh Vệ và Bảo Thể vào buổi tất niên năm Canh Tuất như sau:

"Công lao của chư hiền đệ, nhân viên công lực của Ðạo, đáng khen tặng và khích lệ. Tôi ước mong chư hiền đệ cứ tiếp tục hành sự tốt đẹp như vậy mãi để xứng đáng với vai trò của mình.

Ðã gọi là nhơn viên công lực thì phải áp dụng công lực cho phải chỗ, nghĩa là không khuất phục dưới một áp lực nào và bảo vệ người đồng đạo khỏi bị áp lực bất luận từ đâu đến, cũng không nên lợi dụng quyền công lực sẵn có mà áp đảo kẻ yếu kém hơn mình, nhứt là đối với tín hữu là con cái của Ðức Chí Tôn thì không nên hiếp đáp đá động đến, nếu họ có làm điều gì sái quấy thì dùng cách êm thấm mà khuyên lơn dạy bảo, chớ không nên hành hung họ.

Ðó là ý nghĩa của hai chữ công lực của Ðạo và tác phong đạo đức mà người nhơn viên công lực Ðạo cần phải có.

Công lực Ðạo còn được áp dụng để đem lại chủ quyền cho Hội Thánh bằng cách bắt buộc bổn đạo phải tôn trọng luật pháp đạo, tức là tôn trọng công lý và lẽ phải.

Ngày nào công lực Ðạo được áp dụng cho đúng chỗ như vậy thì ngày ấy Ðạo thành và người Ðạo mới đi đến chỗ vinh quang rực rỡ."

 

 

 

 

BỘ NHẠC

I - SỰ QUAN TRỌNG CỦA NHẠC

Theo quan niệm cổ nhân thì nhạc có một nguồn gốc rất thần bí. Đối với Nho giáo, thì Âm nhạc do các vị Thánh vương như vua Phục Hy, khi nghe tiếng chim phụng, chim loan trỗi lên mà chế tạo ra ống tiêu bằng trúc, đến đời Hoàng Đế chế ra một loại ống thổi, gọi là kèn dốc. Khi thổi lên cả hai loại âm thanh phát ra giống như tiếng chim loan, chim phụng hót lên.

Đức Khổng Tử thì cho rằng: “Nhạc giả, âm chi do sở sinh dã”, nghĩa là nhạc do âm sinh ra, mà âm có năm bậc Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ và nhạc có một nghĩa rất rộng bao gồm cả đàn, chuông trống, tiếng hát, văn thơ…

Chính vì nhạc có nguồn gốc thần bí, nên nhạc có thể làm cho trời đất điều hòa và hòa chung với trời đất. Âm nhạc còn là bộ môn có thể cảm hóa lòng người, bởi vì tình dục con người thì do ngoại cảnh sinh ra, trong khi tính tình thì do Trời phú cho. Do nhạc có thể cảm hóa con người, nên nó có thể biến cải tâm tính con người, khiến con người trở nên hiền lương, nhân hậu hay tàn bạo, độc ác, dâm đảng.

Chính vì cái tác dụng của âm nhạc mà cổ nhân đã giáo dục con người bằng cách chế ra nhạc. Ngoài ra, Nhạc còn là sự hoà hợp các thứ âm thanh mà tạo thành. Lẽ ra, nhiều loại nhạc cụ cùng dấy lên một lượt thì nghe hỗn loạn, nhưng đằng nầy tiếng lớn tiếng nhỏ, giọng phù giọng trầm nhường nhịn lẫn nhau để cho mỗi nhạc khí thung dung phô diễn sở năng của nó. Thế nên có thể nói: Tinh thần của nhạc là “Hoà”.

Chính trong quyển Nho Giáo, Trần Trọng Kim đã viết: Nhạc là cái vui của Thánh Nhân mà khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và di phong dịch tục được cho nên tiên vương mới đặt ra dạy nhạc.

Chủ đích của Đạo Cao Đài là Nho Tông chuyển thế, nên Đức Chí Tôn và các chức sắc Đại Thiên phong rất chú trọng về bộ môn nhạc.

Điều nầy thuở mới Khai Đạo Thánh giáo Thầy đã dạy ông Giáo Sư Nhơn (Thượng Nhơn Thanh) lo tập nhạc và dạy cách đờn khi Lễ Sĩ hiến lễ nơi Đàn cúng Đức Chí Tôn. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy:

Nhơn, con phải khởi sự kể từ ngày nay cho tới bữa Ngọc Ðàn Vĩnh Nguyên Tự, tập nhạc đủ lại hết. Như nhập lễ thì đừng đánh trống Bát Nhã, mà đánh Ngọc Hoàng Sấm, nghĩa là mỗi hồi 12 tiếng, đổ xuống đủ 12 hồi, 3 lần như vậy.

Bạch Ngọc Chung cũng dộng ấy.

Khi nhập lễ, xướng "Khởi Nhạc" thì phải đánh trống và đờn bảy bài cho đủ.

Chừng hiến lễ, phải đờn Nam Xuân ba bài, vì lễ sanh phải hiến lễ bảy lái, đi chữ Tâm. Tới khi thài, thì đờn Ðảo Ngũ Cung, rồi con lại bắt đầu đờn lại, cho môn đệ tụng kinh.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh nhân lễ khánh thành Học Đường Bộ Nhạc Trung Ương cũng nói đến sự quan trọng của Nhạc Lễ như sau: Khi mới khai sáng nền Ðạo, Ðức Chí Tôn rất chú trọng đến Nhạc và Lễ, vì cái hay của Lễ là giữ trật tự bên ngoài cái hay của Nhạc là tạo sự điều hòa để kềm chế tâm tình bên trong cho khỏi vọng niệm. Lễ và Nhạc cùng họp nhau và nếu giữ đúng nề nếp thì đàn cúng mới nghiêm chỉnh, được bao trùm một bầu không khí huyền diệu, Thiêng liêng khiến cho chúng ta cảm tưởng là có Ðức Chí Tôn và Chư Tiên Phật giáng ngự để ban ơn cho toàn Ðạo.

Trái lại nếu Lễ không nghiêm, Nhạc không hòa thì đàn cúng có cái trạng thái hỗn loạn khiến cho người đến Lễ bái có một tâm trạng xao xuyến, tinh thần bất định. Ðó là một sự thất Lễ đối với các Ðấng Thiêng liêng và như vậy Ðức Chí Tôn không khi nào giáng Ðàn, tà quái có thể thừa dịp xung nhập gây nên điều rắc rối.

Trong nhiều Ðàn cúng lúc ban sơ, Chức sắc thường bị Ðức Chí Tôn giáng cơ quở trách vì Ðàn không nghiêm, Lễ Nhạc còn khuyết điểm.

Chính vì sự quan trọng của Nhạc trong Đàn cúng Đức Chí Tôn, nên Đức Hộ Pháp ra một Thánh lịnh thành lập Bộ Nhạc.

Vậy Bộ nhạc là một cơ quan chuyên môn, có nhiệm vụ tổ chức các ban nhạc cúng tế và đào tạo các nhạc sĩ của Đạo.

II - CÁC PHẨM CHỨC SẮC BỘ NHẠC

Bộ nhạc được thành lập theo Thánh Lịnh số 25 của Đức Hộ Pháp ký ngày 29/3/Tân Mão (Dl. 4-5-1951), có 9 phẩm chức sắc. Nguyên văn Thánh Lịnh như sau:

 

HỘ PHÁP ĐƯỜNG

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Nhị thập lục niên)

-----

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 25

-------------

 

THÁNH LỊNH

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (15/2/1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ đến ngày có Đầu Sư chánh vị;

Chiếu y Sắc Lịnh số 51 ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý (22/12/1936) định phần phong thưởng cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi đầy đủ 5 năm công nghiệp;

Nghĩ vì Ban Lễ đã định phận thì Bộ Nhạc cũng được hưởng đặc ân của Hội Thánh đặng tiến bước lập vị.

THÁNH LỊNH

Điều thứ 1: Trong Bộ Nhạc của Tòa Thánh có 9 phẩm ân phong như sau nầy: 1. Nhạc Sĩ. 2. Bếp Nhạc. 3. Cai Nhạc. 4. Đội Nhạc. 5. Quản Nhạc. 6. Lãnh Nhạc. 7. Đề Nhạc. 8. Đốc Nhạc. 9. Nhạc Sư.

Điều thứ 2: Bộ Nhạc chuyên chú về tài năng nghệ thuật thì từ hạ phẩm đến thượng phẩm, mỗi cấp đều có khoa mục đặng tuyển chọn danh nhơn điều khiển nội ban.

Trong mỗi kỳ khoa mục, vị nào đủ tài ứng thí thì được phép xin thi và mỗi khi thi đậu là mỗi lần được thăng phẩm, nhưng không được xin ứng thí vượt bậc.

Điều thứ 3: Nếu thi rớt vì không đủ tài thì ở lại phẩm cũ, chờ đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu ân phong.

Phẩm Nhạc Sư đủ 5 năm công nghiệp thì thăng lên Phối Sư hay là Tiếp Lễ Nhạc Quân nếu có khuyết.

Điều thứ 4: Chín phẩm trong Bộ Nhạc đối với 9 phẩm của Hiệp Thiên Đài hay các phẩm khác của Cửu Trùng Đài và Phước Thiện như sau nầy:

 

BỘ NHẠC

 

PHÁP CHÁNH

 

CỬU TRÙNG

 

PHƯỚC THIỆN

Nhạc Sĩ

 

Luật Sự

 

Chánh Trị Sự

 

Hành Thiện

Bếp Nhạc

Cai Nhạc

 

Sĩ Tải

 

Lễ Sanh

 

Giáo Thiện

Đội Nhạc

Quản Nhạc

Lãnh Nhạc

 

Truyền Trạng

Thừa Sử

 

Giáo Hữu

 

Chí Thiện

Đề Nhạc

Đốc Nhạc

Nhạc Sư

 

Giám Đạo

Cải Trạng

 

Giáo Sư

 

Đạo Nhơn

Chơn Nhơn

   

Chưởng Ấn

 

Phối Sư

 

Hiền Nhơn

   

Tiếp Dẫn Đạo Nhơn

 

Chánh Phối Sư

 

Thánh Nhơn

   

Thập Nhị Thời Quân

 

Đầu Sư

 

Tiên Tử

Điều thứ 5: Chư vị Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Thượng Thống Lại Viện, Đạo Nhơn Chưởng Quản Phước Thiện, Phụ Thống Lễ Viện Hành Chánh, Phụ Thống Lễ Viện Phước Thiện, Nhạc Sư Bộ Nhạc, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

Tòa Thánh, ngày 29 tháng 3 năm Tân Mão
(Dl. 4/5/1951)

HỘ PHÁP

Chú ý: Điều thứ 4 của Thánh Lịnh trên, về phần đối phẩm đã chỉnh sửa theo lời giáng cơ chỉ dạy của Đức Hộ Pháp trong Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 23 tháng 6 năm Nhâm Tý (Dl. 4/8/1972)

Ban đầu, Điều 4 trong Thánh Lịnh ghi là Nhạc Sư đối phẩm với Tiếp Dẫn Đạo Nhơn (Hiệp Thiên Đài), Phối Sư (Cửu Trùng Đài), Hiền Nhơn, Thánh Nhơn (Cơ Quan Phước Thiện). Như vậy sẽ trái với Điều 3 Thánh Lịnh trên ghi: Nhạc Sư có đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu thăng lên Phối Sư hay Tiếp Lễ Nhạc Quân nếu có khuyết.

Do sự mâu thuẫn giữa hai Điều 3 và 4 trong cùng một Thánh Lịnh, nên Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa bạch cùng Đức Hộ Pháp trong Đàn cơ do Hiến Pháp và Khai Đạo phò loan tại Cung Đạo Đền Thánh, đêm 25 tháng 6 năm Nhâm Tý (Dl. 4/8/1972), lúc 20 giờ 15 phút như sau:

“Theo Thánh Lịnh số 25/TL, Điều thứ 3 định phẩm Nhạc Sư sau 5 năm công nghiệp được cầu phong vào phẩm Phối Sư, nhưng qua Điều 4, Nhạc Sư cho đối phẩm với Phối Sư và Hiền Nhơn, Thánh Nhơn bên Phước Thiện. Hai điều nầy không phù hợp nhau. Xin Đức Ngài chỉ dạy.

Đức Hộ Pháp giáng cơ đáp: Cho đối phẩm Giáo Sư, sau 5 năm được đối phẩm Phối Sư”.

Chúng ta biết nhiệm vụ của Bộ nhạc là tổ chức các Ban nhạc cúng tế Đức Chí Tôn tại Đền Thánh.

Vì vậy, Bộ nhạc thành lập nhiều Ban nhạc để phụ trách các Đàn lễ. Trong đàn cúng tại Đền Thánh, Ban nhạc đứng ở lầu Hiệp Thiên Đài hay Nghinh Phong Đài tùy theo Tiểu đàn hay Đại đàn và được một vị chức sắc trong Bộ Nhạc đứng ở Giảng đài phía nữ phái điều khiển.

Ban nhạc được chia làm hai nhóm: Nhóm văn ban và Nhóm võ ban. Nhóm văn ban gồm các loại đàn như đàn cò (chánh), đàn kìm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn gáo, đàn sến, đàn độc huyền ống tiêu, ống sáo….

Nhóm võ ban gồm các loại trống như trống cái, trống cơm, trống chiến…, các loại kèn như kèn mộc, kèn chàng, kèn thau…, các loại bạc như bạc xà, bạc nhỏ…, các loại mõ như mõ gỗ, mõ sừng trâu…, đầu đường, và bồng…

Ngoài ra, Bộ nhạc còn có nhiệm vụ đào tạo các Nhạc Sĩ của Đạo, cho nên năm 1952, Đức Hộ Pháp có ký Thánh Lịnh số 13/TL, ngày 9 tháng 12 năm Tân Mão (Dl. 5/1/1952) mở khóa thi tuyển Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc để bổ khuyết cho Bộ nhạc đủ số chức sắc ứng dụng trong cửa Ðạo.

Khoa thi Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc được tổ chức tại Tòa Thánh vào ngày rằm tháng chạp năm Tân Mão tại Báo Ân Từ đúng 3 giờ chiều. Đơn dự thi phải nộp tại văn phòng Hiệp Thiên Đài, cho đến ngày 14 tháng chạp năm Tân Mão là hạn chót.

Thể thức thi Nhạc Sĩ: Biết cầm một cây đờn và trọn hiểu nhạc khi có Tiểu đàn và Đại đàn, Nhạc trống tiếp giá.

Thể thức thi Bếp Nhạc: Biết trọn nghi lễ và nhạc nghệ về từ thử.

Ngoài ra Thánh Lịnh trên còn quy định thành phần Ban Giám Khảo cuộc thi như sau:

 

Bảo Thế Tổng Thư Ký Chánh Trị Đạo

 

Chủ tọa

 

Nhạc Sư Võ Văn Chở

 

Giám khảo

 

Giáo Hữu Thái Hưỡn Thanh

 

Giám khảo

 

Chí Thiện Lê Văn Phuông

 

Giám khảo

III - ĐẠO PHỤC CHỨC SẮC BỘ NHẠC

Thánh Lịnh số 25/TL của Đức Hộ Pháp thành lập chín phẩm chức sắc Bộ Nhạc, nhưng trong đó không có quy định về đạo phục của chức sắc Bộ Nhạc, cho nên Nhạc Sư Võ Văn Chở có văn bản thỉnh giáo Đức Hộ Pháp về đạo phục của chức sắc Bộ Nhạc, nguyên văn Ngài bút phê như sau:

"Bần đạo đã dạy trước rằng, mặc sắc phục hồng (màu đỏ), áo đỏ, quần trắng, như các vị võ sĩ cựu, có viền kim tuyến bạc nơi cổ nơi tay, ngay ngực có mang ba màu đạo, chính giữa thêu hình cây đờn tỳ bà. Dưới cây đờn thì để chức tước của vị Chức sắc ấy, áo cụt khỏi trôn mà thôi. Từ Nhạc Sĩ trở lên tới Quản Nhạc viền kim tuyến bạc, từ Ðề Nhạc đổ lên viền kim tuyến vàng."

Trong lời phê trên, Ðức Hộ Pháp không có dạy về mão Đại phục và cũng không có dạy về tiểu phục của Chức sắc Bộ Nhạc, nhưng hiện này Chức sắc trong Bộ Nhạc gồm có hai bộ đạo phục như sau:

- Đại phục của chức sắc Bộ Nhạc là áo cụt khỏi trôn, màu đỏ (hồng), quần trắng có viền kim tuyến nơi cổ và tay: Từ Nhạc Sĩ trở lên tới Quản Nhạc viền kim tuyến bạc, từ Đề Nhạc đổ lên Nhạc Sư viền kim tuyến vàng. Ngay ngực có mang ba màu đạo (Tam Sắc Đạo), chính giữa thêu hình cây đờn tỳ bà. Dưới cây đờn thì để chức tước của vị chức sắc ấy. Đầu đội Hỗn Nguơn Mạo, giống hình Ngưỡng Thiên Mạo của Giáo Hữu Phái Ngọc, nhưng thấp hơn một chút, cao khoảng 12 cm, giữa mão ngay trước trán có tam Sắc Đạo, gác xéo một cây đờn tỳ bà.

- Tiểu phục, từ Nhạc Sư trở xuống Nhạc Sĩ đều mặc áo tràng trắng, có thắt ngang lưng một sợi dây nịt trắng, đầu đội Bán Nguyệt Mạo như cái Ca lô trắng (giống Mão Đầu Phòng Văn), ngay giữa trán có huy hiệu hình chữ nhựt bằng kim khí, trên có Tam Sắc Đạo và cây đờn tỳ bà gác xéo.

IV - KẾT LUẬN

Trong ngày Khánh thành Học Đường Bộ nhạc Trung ương, Đức Thượng Sanh chưởng quản Hiệp Thiên Đài có lời khuyên các chức sắc Bộ nhạc như sau:

"Trong cửa Đại Đạo, chúng ta phải nâng đỡ ngành Âm nhạc, phải bảo tồn nhạc điệu cổ truyền để lưu lại cho đất nước tinh hoa của một nghệ thuật thuần túy, mặc dù cái tinh hoa ấy nay chỉ còn phưởng phất chút dư hương do sự phế cựu hoán tân của giới nhạc sĩ trong nước. Đi ngược với trào lưu thoái bộ đó, chúng ta không nên coi thường môn Âm nhạc và phải cố tâm gìn giữ cái chơn giá trị của nó. Dù Nhạc Lễ hay Nhạc điệu tài tử cổ truyền, mỗi môn đều có cái hay riêng đặc biệt. Nếu học Nhạc dù là môn nào, phải cố gắng học đến chỗ cùng cực uyên thâm, năng luyện tập trau giồi để ngày càng thêm tiến triển mới đáng gọi là biết yêu nghệ thuật.

Từ đây, Bộ Nhạc Trung Ương đã có một ngôi Học Đường làm nơi đào tạo nhơn tài, Chức sắc đàn anh trong Bộ Nhạc phải ra công dìu dắt Nhạc Sĩ thế nào cho khỏi mang tiếng hữu danh vô thực.

Với sự mong ước nói trên, Tôi xin cầu chúc vị Chưởng quản và Chức sắc Bộ Nhạc thành công mỹ mãn để phục vụ cho nghệ thuật và cho nền Đại Đạo”

 

 

 

 

HỘI THÁNH PHƯỚC THIỆN

Hội Thánh Phước Thiện là một tổ chức của đạo Cao Đài, gồm các chức sắc Phước Thiện thuộc hàng Thánh trở lên, có nhiệm vụ điều hành những công việc làm phước và làm thiện để giúp ích những người đang khó khăn, đau khổ trong cuộc sống.

Tiền thân của Hội Thánh Phước Thiện là Phạm Môn, rồi từ Phạm Môn biến tướng ra Cơ Quan Phước Thiện. Khi Cơ Quan Phước Thiện lớn mạnh, có đầy đủ chức sắc, gồm đủ chín viện ở trung ương thì được nâng lên thành Hội Thánh Phước Thiện trực thuộc Chi Đạo Hiệp Thiên Đài.

I - PHẠM MÔN

Phạm môn là một cơ quan đặc biệt trong đạo Cao Đài, do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lập ra dành cho những tín đồ muốn tu chơn, không thọ phẩm tước, áo mão như những chức sắc bên Cửu Trùng Đài hay Hiệp Thiên Đài, chỉ chuyên lo lập công bồi đức mà thôi.

Đây là con đường thứ ba của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Việc lập ra Phạm Môn, theo Đức Hộ Pháp là do Thánh ý của Đức Chí Tôn trong bài thi sau đây:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm Môn,

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn,

Vô lao bất phục hồi chơn mạng,

Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn.

Khởi thủy việc thành lập Phạm Môn là do Đức Hộ Pháp sang phần đất tại xóm Trường Đua thuộc xã Hiệp Ninh, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để cất Phạm Nghiệp.

Trong lúc kiến tạo ngôi Phạm Nghiệp có một số người đạo tâm đến xin làm giúp cho Đức Hộ Pháp và cứ thế số người đến xin làm càng ngày càng đông thêm. Đến năm Canh Ngọ, Đức Hộ Pháp buộc ai muốn hiến thân trọn đời vào Phạm Môn phải làm tờ và được cha mẹ vợ con bằng lòng ký tên mới đặng. Khi nhập vào Phạm Môn rồi phải thuộc và hành theo “Thập Điều Giới Răn”.

Do số người đến quá đông, thiếu lương thực nên có người xin Đức Hộ Pháp mướn sở ruộng của bà Nư Đầu Sư Hương Thanh để làm ruộng. Từ đó các cơ sở Lương điền được thành lập, rồi sau đó các cơ sở Công nghệ, Thương mại, Bệnh viện, Dưỡng lão, Cô nhi .v..v..được khai mở dần và các cơ sở nầy đều do Phạm Môn coi giữ.

Vào đầu năm 1934, các cơ sở Phạm Môn bị chánh quyền đóng cửa với lý do “lập Hội không xin phép nhà nước” và họ nghi ngờ Phạm Môn hoạt động chánh trị (chống Pháp).

Vì vậy, Đức Hộ Pháp mới chuyển Phạm Môn thành những cơ sở Phước Thiện, được quyền Vạn Linh công nhận theo Đạo Luật năm Mậu Dần và Đạo Nghị Định số: 48/PT của Đức Lý Giáo Tông. Rồi sau đó chuyển đi khai mở khắp nơi trong các tỉnh miền Nam Việt Nam, hình thành Cơ Quan Phước Thiện.

II - CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN

Cơ Quan Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát, ít oi, hoặc giúp tay cho bên hành chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng, trọn vẹn.

Đầu năm Quý Dậu (1933), nhà cầm quyền Pháp ra lịnh đóng cửa tất cả các cơ sở của Phạm Môn, Đức Hộ Pháp mới đổi Phạm Môn thành Cơ Quan Phước Thiện tức hoạt động song song với Hành Chánh Đạo, có phẩm trật chức sắc rõ ràng nên nhà cầm quyền không nghi ngờ nữa.

Đến năm Ất Hợi (1935), Đức Hộ Pháp được sự ưng thuận của Quyền Giáo Tông, cho Anh Em Phạm Môn ra cầu phong. Trong Đàn Cơ tại Cung Đạo Đền Thánh đêm Rằm tháng 2 năm Ất Hợi (Dl. 19/3/1935), Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ giáng Cơ phong cho Ông Trịnh Phong Cương là Giáo Hữu, còn những vị khác đều là Lễ Sanh Giáo Thiện thuộc phái Thượng, gồm 26 vị Nam và 14 vị Nữ.

Sau đó, Đức Ngài chọn 20 vị nam, 9 vị nữ bổ đi làm Đầu Họ Phước Thiện cho mỗi tỉnh ở Nam Phần Việt Nam. Mỗi tỉnh thời đó có Đầu Họ Đạo về Hành Chánh nay lại thêm Đầu Họ Phước Thiện.

Đầu Họ Đạo Hành Chánh lo phổ độ Nhơn sanh.

Đầu Họ Phước Thiện lo cho người Hiến Thân vào Phước Thiện khai mở Cơ Sở Lưông Điền, Công Nghệ và Thương Mãi.

Như vậy Cơ Quan Phước Thiện được thành lập từ năm 1935, Đức Hộ Pháp cử Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa lảnh trách nhiệm Chưởng Quản Cơ Quan Phước Thiện.

Tuy Cơ Quan Phước Thiện bắt đầu hoạt động, nhưng lúc đó chức sắc Phước Thiện chỉ có một phẩm gọi là Lễ Sanh Giáo Thiện mà thôi, mãi đến ngày 8 tháng Giêng năm Mậu Dần (Dl. 7/2/1938), Hội Thánh ban hành bộ Đạo Luật năm Mậu Dần qui định 12 phẩm trật của Phước Thiện gọi là Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng như sau:

1- Minh Đức

2- Tân Dân

3- Thính Thiện

4- Hành Thiện

5- Giáo Thiện

6- Chí Thiện

7- Đạo Nhơn

8- Chơn Nhơn

9- Hiền Nhơn

10- Thánh Nhơn

11- Tiên Tử

12- Phật Tử

Và đến ngày 19 tháng 10 năm Mậu Dần (Dl. 10/12/1938), Đức Hộ Pháp và Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch đồng ký tên ban hành Đạo Nghị Định số 48 qui định phẩm phục, luật công cử, cầu phong cho chư chức sắc Phước Thiện. Kể từ đó Cơ Quan Phước Thiện chính thức ra đời và ngang hàng với các Cơ quan khác trong Đạo.

Về sau Cơ Quan Phước Thiện càng ngày càng lớn mạnh lên, có chức sắc, đầy đủ pháp lý, có đủ chín viện, rồi Đức Hộ Pháp lại nâng lên thành Hội Thánh Phước Thiện vào ngày 15 tháng 10 năm Bính Tuất.

III - HỘI THÁNH PHƯỚC THIỆN

A - Tổ chức Hội Thánh Phước Thiện

Đến cuối năm Bính Tuất, 1946, khi Đại Hội Phước Thiện bế mạc, Đức Hộ Pháp mới thành lập Hội Thánh Phước Thiện.

Chức sắc của Hội Thánh Phước Thiện là Thập Nhị Đẳng Cẩp Thiêng Liêng được chia làm hai bực:

- Bực từ Minh Đức tới Chơn Nhơn thì hoạt động cho Hội Thánh Phước Thiện, lo về việc phước và thiện, cứu khổ ban vui.

- Bực từ Hiền Nhơn trở lên thì qua Hiệp Thiên Đài để bảo tồn chơn pháp.

Hội Thánh Phước Thiện trực thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài, do một vị Thời Quân Chi Đạo làm Thống Quản cả nam và nữ phái.

Hội Thánh Phước Thiện chia ra làm nam phái và nữ phái riêng biệt, mỗi phái có một vị Chưởng Quản là phẩm Chơn Nhơn đứng đầu, và hai vị Đệ I và Đệ II Phó Chưởng Quản.

Dưới Chưởng Quản và Phó Chưởng Quản có Cửu Viện Phước Thiện, nam nữ khác nhau, quyền hành riêng biệt. Mỗi viện phụ trách một nhiệm vụ, dưới quyền một vị Thượng Thống và Phụ Thống.

Hòa Viện có nhiệm vụ hòa giải các vụ thưa kiện hay tranh chấp nhỏ trong Cơ Quan Phước Thiện.

Lại Viện lo công văn giấy tờ, quản lý hồ sơ Chức sắc Phước Thiện, thuyên bổ Chức sắc Phước Thiện đi hành đạo.

Lễ Viện phụ trách về nghi lễ, cúng kiếng, tế tự.

Học Viện lo về giáo dục, huấn luyện, đào tạo.

Y Viện có phần hành y tế, trị bịnh, thuốc men, đông y và tây y.

Nông Viện có trách nhiệm làm ruộng rẫy, lập đồn điền.

Hộ Viện phụ trách thâu xuất tiền bạc, quản lý tài sản của Phước Thiện.

Lương Viện nhằm lo lương thực nuôi công quả và cứu tế.

Công Viện có nhiệm vụ tạo tác các Điện Thờ Phật Mẫu, dinh thự.

Đó là tổ chức Hội Thánh Phước Thiện tại trung ương.

Ngoài ra, tại các địa phương, cũng như bên Hành Chánh, có Trấn Đạo, Châu Đạo, và Tộc Đạo Phước Thiện.

Hành Chánh Đạo Cửu Trùng Đài có nhiệm vụ cai quản các Thánh Thất, còn bên Phước Thiện thì cai quản các Điện Thờ Phật Mẫu.

Mỗi Tộc Đạo Phước Thiện có một Nhà Sở Phước Thiện chánh và một Bàn Cai Quản gồm mười hai thành viên, đứng đầu là Chủ Trưởng. Bàn Cai Quản Phước Thiện dưới quyền của vị Giáo Thiện Quản Tộc Đạo Phước Thiện. Vị Quản Tộc Đạo Phước Thiện do Hội Thánh Phước Thiện bổ nhiệm đến hành đạo nơi Tộc Đạo Phước Thiện.

Dưới Bàn Cai Quản Phước Thiện thì có các Sở Phước Thiện về lương điền, công nghệ, thương mại… trong các Hương Đạo.

Mỗi Sở Phước Thiện có một vị Chủ Sở, phẩm Hành Thiện đứng đầu, có nhiều nhân viên công quả, gọi là Đạo Sở.

B - Thành phần Hội Thánh Phước Thiện đầu tiên:

Hội Thánh Phước Thiện đầu tiện, Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi được cử làm Chưởng Quản Phước Thiện.

Lúc đầu Hội Thánh Phước Thiện bên Nam phái lập trước bốn viện là Lễ Viện, Lương Viện, Công Viện, Hộ Viện. Nữa tháng sau mới tổ chức công cử thêm cho đủ số Cửu Viện.

Những vị chức sắc lãnh trách nhiệm trong Hội Thánh Phước Thiện đầu tiên như sau:

 

1.-

 

Thượng Thống Hòa Viện Phước Thiện: Chí Thiện Võ Văn Lẽo.
Phụ Thống Hòa Viện Phước Thiện: Giáo Thiện Phạm Văn Hường.

 

2.-

 

Thượng Thống Lại Viện Phước Thiện: Chí Thiện Lê Văn Tri.
Phụ Thống Lại Viện Phước Thiện: Không có.

 

3.-

 

Thượng Thống Lễ Viện Phước Thiện: Đạo Nhơn Trịnh Phong Cương.
- Quan sự: Chí Thiện Huỳnh Văn Phuông.
- Hôn sự: Chí Thiện Trần Văn Lợi.
- Tang sự: Chí Thiện Phạm Công Đằng.
- Tế sự: Chí Thiện Phạm Văn Lễ.

 

4.-

 

Thượng Thống Học Viện Phước Thiện: Chí Thiện Nguyễn Văn Gia.
Phụ Thống: chưa có.

 

5.-

 

Qu.Thượng Thống Y Viện Phước Thiện: Giáo Thiện Lê Văn Thiệt.
Phụ Thống Y Viện Phước Thiện: Giáo Thiện Nguyễn Văn Sáng.

 

6.-

 

Thượng Thống Nông Viện Phước Thiện: Chí Thiện Lê Văn Gấm.
Phụ Thống Nông Viện Phước Thiện: Chí Thiện Phạm Duy Hoai.

 

7.-

 

Thượng Thống Lương Viện Phước Thiện: Chí Thiện Trịnh Văn Phận.

 

8.-

 

Thượng Thống Công Viện Phước Thiện: Chí Thiện Nguyễn Văn Lư.
Phụ Thống Công Viện Phước Thiện: Chí Thiện Phạm Văn Út.

 

9.-

 

Thượng Thống Hộ Viện Phước Thiện: Chí Thiện Đỗ Văn Viện.
Phụ Thống Hộ Viện Phước Thiện: Chí Thiện Lê Văn Giờ.

Đầu năm Đinh Hợi, 1947, Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi về quê ở Cần Giuộc bị kẹt không trở lên Tòa Thánh hành đạo, nên Đức Hộ Pháp chỉ định ông Đạo Nhơn Nguyễn Tự Thế làm Chưởng Quản Phước Thiện.

Cho đến ngày 9 tháng 11 năm Đinh Hợi (Dl. 20/12/1947) Đạo Nhơn Nguyễn Tự Thế quy vị, Đức Thầy mới chỉ định ông Đạo Nhơn Trịnh Phong Cương lên thay. Từ đó, chức Chưởng Quản Phước Thiện cứ noi theo luật lệ đó mà tiếp nối.

C - Kết luận:

Từ Phạm Môn sau đó trở thành Cơ Quan Phước Thiện rồi nâng lên thành Hội Thánh Phước Thiện, theo Đức Hộ Pháp, đó là sở định của Đức Chí Tôn đến cứu khổ cho nhơn sanh.

Chúng ta biết Phạm Môn là cơ quan tu chơn, không thọ phẩm tước, mà tại sao những vị kỳ lão nơi Phạm môn đều là chức sắc cầm quyền nơi Hội Thánh Phước Thiện.

Trong bài Thuyết đạo khi khai mạc Đại Hội Phước Thiện năm Tân Mão, 1951 Đức Hộ Pháp có giải thích như sau:

Đức Chí Tôn đến, có điều thiết yếu hơn hết, Ngài đến là vì con cái của Ngài quá khổ, Ngài đến với cái sở định của Ngài là đến cứu khổ cho toàn thể con cái của Ngài. Cơ cứu khổ ấy trong lúc ban sơ, Đức Chí Tôn đã đưa trong tay Hiệp Thiên Đài. Bần đạo không biết làm sao thực hành ra được. Hồi đó, Hội Thánh Phước Thiện chưa thành lập, giao cơ cứu khổ, Bần đạo không biết phải làm thế nào, nhưng chẳng bao lâu Ngài lập thành Hội Thánh Phước Thiện, chừng đó, Bần đạo mới biết cơ cứu khổ là đây.

Ấy vậy, Hội Thánh Cửu Trùng Đài là Hội Thánh của Giáo Tông, còn Hội Thánh Phước Thiện là của Hộ Pháp.

Hội Thánh bên kia bảo vệ văn hiến tôn giáo; Hội Thánh bên nây cứu khổ. Còn có chỗ nào hay ho hơn nữa!

Ấy vậy, phận sự của Hội Thánh Phước Thiện là phận sự tượng trưng hình ảnh Đức Chí Tôn đặng cứu khổ cho con cái của Ngài. Thử nghĩ coi trách vụ đơn sơ mà nặng nề làm sao! Hiểu nghĩa lý sâu xa của nó, chúng ta sợ không bao giờ thực hiện trách vụ nặng nề đó được.

Những yếu nhân đương quyền về Phước Thiện, Bần đạo thấy giờ phút nầy, tin là mấy em kỳ lão Phạm Môn, nhưng họ lại có đặc quyền khác, họ còn ở Phước Thiện là bởi Phước Thiện thiếu người cầm quyền, không phải là phận sự của họ. Đức Chí Tôn định mở Phạm Môn là mở cửa tu chơn, thi hành Bí pháp chớ không phải Thể pháp.

Giờ phút nầy, những phần tử Phạm Môn còn cầm quyền Phước Thiện là do Hội Thánh Phước Thiện thiếu người. Chủ quyền của họ là ở nơi Tịnh Thất trong cửa tu chơn, là đặc điểm của họ. Đã hai mươi mấy năm họ chịu khổ nhọc đã nhiều, hy sinh từ tóc xanh đến bạc đầu, lao tâm lao lực. Bần đạo tưởng đến càng làm thêm ra nữa, là càng thêm khổ cho họ. Hai mươi mấy năm lập Phước Thiện, đoàn tiền bối qui liễu lần hồi, chỉ đám thanh niên lúc nọ còn đặng năm bảy người, họ cũng đã da mồi tóc bạc.

 

 

 

 

TÒA NỘI CHÁNH

Tòa Nội Chánh còn gọi là Văn Phòng Cửu Viện là cơ quan hành chánh trung ương của Cửu Trùng Đài Nam phái. Trong đó là nơi làm việc của chín cơ quan hành chánh đạo Cao Đài, có phần hành chuyên môn ở Trung Ương, điều hành tất cả công việc của Đạo.

Tòa nầy đặt dưới quyền điều khiển của ba vị Chánh Phối Sư là Thái Chánh Phối Sư, Thượng Chánh Phối Sư và Ngọc Chánh Phối Sư.

Tòa nhà Nội chánh nầy, còn gọi là Ngôi Cửu Trùng Đài nằm song song với Đền Thánh, hình thức kiến trúc: nóc bằng, có hình khối chữ nhựt, thật đồ sộ và nguy nga, gồm có hai từng: dưới và trên lầu chia ra cho các cơ quan làm việc.

Trong Tòa Nội Chánh gồm có các cơ quan: Văn Phòng ba Chánh Phối Sư và Văn Phòng Cửu Viện.

A - Tổ Chức Văn Phòng Chánh Phối Sư:

Mỗi Văn Phòng Chánh Phối sư thường được tổ chức theo nhân sự như sau:

Trên hết là vị Chánh Phối Sư, Kế tiếp là vị Tổng Quản Văn Phòng, rồi Quản Văn Phòng. Để phụ tá cho vị nầy có một vị Bí Thư và nhiều nhân viên phụ trách.

B - Nhiệm vụ chin viện:

Trong ba phái Thái, Thượng, Ngọc thì mỗi phái thì mỗi phái điều hành ba viện theo đúng Thánh giáo của Đức Lý Giáo Tông dưới đây:

Thái, Hộ Lương Công, nội chủ trương,

Thượng, Nông Y Học, chấp phương cương.

Ngọc, Hoà Lại Lễ, quyền cai quản,

Cửu Viện phân qua khả khán tường.

Nghĩa là:

Phái Thái, ba viện: Hộ, Lương, Công, chủ trương bên trong,

Phái Thượng, ba Viện: Học, Y, Nông, nắm giữ giềng mối.

Phái Ngọc, ba Viện: Hòa, Lại, Lễ, nắm quyền cai quản,

Chín Viện giải qua khá thấy rõ ràng.

Như vậy, Cửu Viện của Cửu Trùng Đài Nam phái đặt dưới quyền của ba vị Chánh Phối Sư ba phái:

Thái Chánh Phối Sư chưởng quản ba Viện: Hộ viện, Lương viện, Công viện.

Thượng Chánh Phối Sư chưởng quản ba Viện: Học, Y, Nông viện.

Ngọc Chánh Phối Sư chưởng quản ba Viện: Hòa viện, Lại viện, Lễ viện.

Ðứng đầu mỗi Viện là một vị Thượng Thống, có một hoặc hai vị Phụ Thống giúp việc, dưới có một vị Quản Văn phòng, các Thư ký và các vị phụ trách.

Các vị Thượng Thống tùng lịnh trực tiếp Chánh Phối Sư.

Chúng ta thử tìm hiểu về nhiệm vụ của mỗi viện

1- Hộ viện:

 

Phụ trách về tài chánh và sản nghiệp, tức gìn giữ tiền bạc của Đạo và quản lý sản nghiệp, chấp chưởng thâu xuất tiền bạc do các nơi cúng hiến cho Đạo, phỏng định số thâu xuất mỗi năm đặng trình Hội Thánh.

2- Lương viện:

 

Đảm trách vấn đề thực phẩm, tức chăm lo về lương thực, tiếp thu, phân phối, nấu nướng (Phòng trù), lo nuôi nấng tất cả Chức sắc và tín đồ hiến thân làm công quả nơi các cơ quan trung ương của Hội Thánh.

3- Công viện:

 

Đảm trách việc xây dựng và sửa chữa các cơ quan, tức tạo tác, tu bổ Thánh Thất, dinh thự, đền đài, đường sá, hệ thống điện nước trong Nội Ô Tòa Thánh. Ngoài ra còn lo phát triển các ngành công nghiệp đem lợi tức về Hội Thánh.

4- Học viện:

 

Phụ trách việc giáo dục và đào tạo, tức giáo dục con cái chức sắc trong Đạo theo đúng giáo lý truyền thống, giáo dục thanh thiếu niên trong cửa Ðạo. Viện nầy còn lo thành lập và quản lý trường học Phổ Thông ở trung ương và địa phương. Học viện còn có nhiệm vụ tổ chức những khóa Hạnh Đường, tức những lớp huấn luyện Chức việc về giáo lý, hành chánh, nghi lễ, luật đạo… để có đủ khả năng về đạo đức và trí thức để đi hành đạo.

5- Y viện:

 

Y viện là viện lo về sức khỏe, như cung cấp thuốc, khám và trị bệnh cho các chức sắc, chức việc và nhân viên làm việc ở Nội, Ngoại Ô Tòa Thánh. Y viện còn có nhiệm vụ săn sóc các trẻ em mồ côi và và đồng bào nghèo khổ, quản lý các nhà Dưỡng Lão, Cô Nhi viện, mở các cuộc cứu tế đồng bào ở vùng bị Thiên tai.

6- Nông viện:

 

Nông viện là viện sản xuất thực phẩm bằng cách thành lập các đồn điền, ruộng rẩy để trồng trọt cây trái lấy thực phẩm cung cấp cho Hội Thánh. Thực phẩm nầy sẽ dùng để nuôi dưỡng những người hiến thân trọn đời cho Đạo. Ngoài ra Nông viện còn phụ trách trồng cây công nghiệp, lập các nhà máy chế biến thực phẩm.

7- Hòa viện:

 

Hòa Viện là viện hòa giải các vụ xích mích, kiện thưa giữa các chức sắc nhỏ và tín đồ, chỉ có quyền hòa giải sự tranh tụng cá nhân, cảnh cáo hay răn phạt các tội nhẹ (tội trạng thường, không quan trọng lắm). Trường hợp tội nặng, Hòa Viện phải chuyển lên Hội Công Ðồng hay Tòa Tam giáo.

8- Lại viện:

 

Lại Viện lo lập hồ sơ cá nhân mỗi Chức sắc, lo việc cầu phong, bổ nhiệm, thuyên chuyển và thăng thưởng các chức sắc. Tất cả mọi văn thư, hồ sơ về hành chánh đạo từ trung ương gởi đi địa phương đều do Lại viện chuyển đi cũng như từ địa phương gởi về Tòa Thánh đều do Lại Viện tiếp nhận và chuyển đến các cơ nquan liên hệ.

9- Lễ Viện:

 

Lễ Viện có nhiệm vụ tổ chức tất cả các cuộc lễ ở Đền Thánh hay các Thánh Thất địa phương. Lễ Viện còn có nhiệm vụ sắp đặt việc thờ phượng, các nghi thức cúng kiếng, tế lễ trong Ðạo, lo việc Tang, Hôn.

Ngoài ra, Lễ Viện còn đứng ra tổ chức các cuộc lễ lớn trong Ðạo, lo việc sắp đặt kho sách, in ấn kinh sách của Ðạo.

Mặc dầu nhiệm vụ của chín Viện đã được qui định như trên, nhưng có thể được Hội Thánh thêm hay bớt tùy theo nhu cầu phát triển của nền Ðạo.

Vào năm 1931, Ngài Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh có ban hành Châu Tri số 9 ngày 16 tháng 3 năm 1931, trong ấy có mục trình bày như sau:

* Thượng Chánh Phối Sư đặng quyền xem xét các nơi, chăm nom Ðạo hữu, giáo dục nhơn sanh, thay mặt toàn Ðạo giao thông cùng Chánh phủ và cả tín đồ, Chủ tọa Hội Nhơn sanh, cai quản:

- Nội giao, Ngoại giao Viện.

- Học Viện.

- Y Viện.

* Thái Chánh Phối Sư đặng quyền điều hành sự phổ độ, cầu xin và điều độ Chức sắc hành đạo tha phương, làm Chủ tọa Hội Thánh và chủ tài liệu của Ðạo, lo về tài chánh và định lương hướng cho Chức sắc Thiên phong, cai quản:

- Hộ Viện.

- Công Nông Viện.

- Lương Viện.

* Ngọc Chánh Phối Sư đặng quyền sửa trị cả Chức sắc và tín đồ về phần Ðạo và phần Ðời, coi Chơn truyền Hội Thánh, buộc Chức sắc làm y phận sự và cầm quyền tạp tụng, cai quản:

- Lại Viện.

- Lễ Viện.

- Hòa Viện.

Theo Châu Tri số 9 nầy chúng ta nhận thấy trước đây có Nội giao, Ngoại giao Viện, là một viện mới do Thượng Chánh Phối Sư cai quản, còn Công Nông Viện gồm Công Viện và Nông Viện nhập chung lại giao cho Thái Chánh Phối Sư cai quản.

Cho đến ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Sửu (Dl. 31/1/1950), Ðức Hộ Pháp có ra Thánh Lịnh số 137 phân định phận sự chi tiết cho Cửu Viện như sau:

 

Hộ Pháp Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Nhị thập ngũ niên)

-----

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 137

-------------

 

THÁNH LỊNH

HỘ PHÁP
Chưởng quản Nhị Hữu Hình Ðài Hiệp Thiên và Cửu Trùng

- Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền,

- Chiếu y Ðạo luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (1938) giao quyền Thống nhứt Chánh Trị Ðạo cho Ðức Hộ Pháp nắm giữ cho tới ngày có Ðầu Sư chánh vị,

- Chiếu y Vi bằng hội nhóm ngày 29 tháng10 năm Kỷ Sửu (18-12-1949) phân định phận sự cho Cửu Viện Nội Chánh dưới quyền của ba Chánh Phối Sư được thi hành có ích lợi chung cho nền Ðạo đương hồi biến chuyển, nên:

THÁNH LỊNH

Ðiều thứ nhứt: Ba Chánh Phối Sư và Cửu Viện Nội Chánh phải thi hành các khoản quyết định sau đây:

Khoản A: Phần Thái Chánh Phối Sư:

1/. Hộ Viện: Những số tiền công quả tạo tác truất ra 5% để bổ dụng cho các Viện, nhứt là phần lương thực của Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu làm công quả tại Tòa Thánh.

Hiện thời xuất cho Chức sắc và Thư ký hành sự nơi Nội Chánh mỗi vị ba cắc (0$30) tiền chợ mỗi ngày.

Số tiền hai ngàn tám trăm đồng (2 800$) Cơ Thánh Vệ định cho lính Biệt thự và liên tiếp mãi từ đây để gởi cho caisse Học Viện phân phát cho chư Giáo viên chi dụng, còn lính Biệt thự chỉ hưởng số tiền năm chục ngàn đồng (50 000$) của Chánh phủ ban cho.

2/. Lương Viện: Cần phải lo cho Chức sắc và Ðạo hữu sự ăn uống được tăng thêm đồ thực phẩm. Cần nhứt nơi phòng trù Trai đường phải năng giữ vệ sinh cho lắm.

3/. Công Viện: Từ đây phải lập sổ sách cho rành về sự chi phí hằng ngày, sổ làm được món gì, đáng giá bao nhiêu, sổ ghi công, v.v... Phải lo công thợ tạo dinh thự của Hành Chánh, còn những công thợ thuộc về Phước Thiện thì trở về tạo dinh thự cho Hội Thánh Phước Thiện.

Cần lập Thông qui những công quả đã làm từ lâu đặng ghi vào công nghiệp của họ. Nhơn công khi xin phép nghỉ, phải có Tá Lý và Tổng Giám chứng trước rồi mới đệ lên Hội Thánh phân định.

Sở sạn, từ đây Hội Thánh phải xuất tiền mua, lợi hơn là cho công quả đi đào.

Khoản B: Phần Thượng Chánh Phối Sư:

1/. Học Viện: Phải lo cho có ngân quĩ phụ cấp chư Giáo viên hằng tháng cho họ có đủ sức khỏe để tâm giáo hóa đoàn thơ sinh thông minh đạo đức hầu hữu dụng cho Ðạo và Ðời buổi tương lai.

Trường học cần mở rộng thêm nơi Châu Thành Thánh Ðịa có đủ lớp cho học sinh học tập. Sau nầy, từ cấp bằng Sơ học mới được nhận vào trường Nội Ô Tòa Thánh.

2/. Y Viện: Phải sưu tầm các diệu dược đặng bảo vệ Chức sắc và Ðạo hữu Nam Nữ công quả mới đủ sức khỏe mà làm việc, chớ hiện thời phần nhiều Chức sắc bị bịnh lao tổn.

Cần phải lập Dưỡng đường cho có vệ sinh, sau nầy sẽ cậy Docteur mua giúp thêm mới có đủ thuốc chuyên trị bịnh cho Chức sắc và Ðạo hữu.

3/. Nông Viện: Gắng để tâm lo tạo thêm 30 cái sở nữa, trồng tỉa cho có hoa quả tiêu thụ hằng ngày nơi LươngViện cho đỡ tốn tiền chợ, lại có đồ thực phẩm gia tăng cho chư Ðạo dùng mới đủ sức mạnh mà làm công quả.

Rồi đây, Ông Bảo Sanh Quân Lê văn Hoạch mướn sở đất của ông Grassier ở tại Sa-no-tông-đông (Cần Thơ) trên một ngàn mẫu, mỗi công giá mướn 2 giạ lúa, nhưng khai mở làm đặng bao nhiêu là tính giá mướn bấy nhiêu, và còn một số lúa nếu cần dùng được thì mua với giá rẻ, số bạc được trả kỳ lần cho đến tất số.

Theo ý kiến của ông Bảo Sanh Quân thì tiến dẫn vị Giáo Hữu Thượng Tửng Thanh đứng coi qui dân cho mướn cả sở đất trọn quyền của Ðạo kiểm soát. Ðịnh cho Giáo Hữu Thái Chính Thanh hiệp cùng Giáo Hữu Tửng thừa hành phận sự.

Quyền Ngọc Chánh Phối Sư ban lịnh cho thi hành vụ ruộng nầy.

Khoản C: Phần Ngọc Chánh Phối Sư:

1/. Hòa Viện: Cần phải áp dụng phương cách nào để khuyên răn mỗi Ðạo hữu ở Châu Thành Thánh địa biết giữ lễ nghĩa khiêm cung, tùng theo luật pháp đặng sau nầy khách ngoại quốc đến tìm Ðạo, họ thấy đầy vẻ đạo hạnh, họ mới để tâm kính phục.

Phần Bảo Thể, chọn 25 người gác Ðền Thánh và các dinh thự là đủ. Tuyển chọn 40 người Tuần quân, phần phiên gác các poste nơi cửa ra vào để trọn quyền cho Cảnh vệ. Vị Tuần quân gác chỉ ghi những việc xảy ra giữa Cảnh vệ và Ðạo hữu, hoặc các việc thưa kiện, thì phải ghi vào sổ tức cấp cho Hòa Viện hay biết liền. Phải lập sổ nhựt ký cho rành rẽ đặng mỗi vị Tuần quân đến có sổ nhận ký.

2/. Lại Viện: Làm việc như thường, không có điều chi sửa đổi, nhưng từ đây, Hội Thánh CTÐ lập riêng ra một cuốn sổ "Lạc quyên" để dự định trợ cấp những Chức sắc bị bịnh hoạn, tai nạn, và những vị hữu công được dưỡng lão hồi hưu. Ấy là phương hay để giúp cho người lâm cơn thống khổ.

3/. Lễ Viện: Hằng ngày phải chăm nom nơi Thiên bàn cho được tinh khiết, những đồ thờ sắp đặt cho có thứ tự trang hoàng. Ðền Thánh trong ngoài cho sạch sẽ uy nghi hầu tượng trưng tinh thần tín ngưỡng đặc sắc của toàn đạo.

Ðiều thứ nhì: Khi tiếp đặng lịnh nầy, Hội Thánh Cửu Trùng Ðài phải thi hành liền cho hợp với trào lưu hiện tại.

Ðiều thứ ba: Chư vị Bảo Thế, Chưởng quản Bộ Pháp chánh, Thái Chánh Phối Sư, Q. Thượng Chánh Phối Sư, Q. Ngọc Chánh Phối Sư, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh lịnh nầy.

Lập tại Tòa Thánh ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Sửu.
(le 31 Janvier 1950)

HỘ PHÁP
(ấn ký)

Chưởng quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Sau Thánh Lịnh 137 của Đức Hộ Pháp, Cửu Viện Nam phái Cửu Trùng Đài được đổi theo Thánh Lịnh cho đến ngày nay:

Thái Chánh Phối Sư cai quản ba viện: Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện (Công Nông Viện tách Nông Viện ra giao cho Thượng Chánh Sư cai quản)

Thượng Chánh Phối Sư cai quản ba viện: Học Viện, Y Viện, Nông Viện.

Ngọc Chánh Phối Sư cai quản ba viện: Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện (bỏ Nội Ngoại Viện).

 

 

 

 

BAN THẾ ĐẠO

Ban Thế Đạo là một cơ quan trong đạo Cao Đài do Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp lập ra nhằm tạo điều kiện cho những bậc nhơn tài còn tham gia quyền đời có điều kiện phụng sự đạo pháp.

Thành lập Ban Thế Đạo là cốt yếu mở rộng trường công quả, tiếp đón những bực tài giỏi về văn võ. có khả năng phụng sự cho Ðạo mà không phế đời hành đạo, giúp họ nhập vào cửa Đạo, lần hồi thấm nhuần mùi đạo, hầu sau nầy có thể trở nên chức sắc Thiên phong ưu tú phục vụ cho nền Đại Đạo.

Ngoài ra, lập Ban Thế Ðạo: "Có nhiều bậc ưu thời mẫn thế, sẵn có đạo tâm, giàu lòng nhân ái, muốn phụng sự Ðại Ðạo, nhưng còn ràng buộc trách nhiệm đối với quốc gia xã hội, chưa phế đời hành Ðạo được. Ban Thế Ðạo là nơi dụng hiền, tạo cơ hội cho những bậc có đạo tâm thực hành thiện nguyện ấy.

Ban Thế Đạo tức là cơ quan thuộc về phần đời bắt nguồn từ cửa đạo, phát xuất làm dây nối liền cho Ðạo Ðời tương đắc tương liên, ngỏ hầu tạo lập một đời sống thanh bình cho nhơn loại trong thời chuyển thế.

Theo Quy Điều và Nội Luật, Ban Thế Đạo ở Trung Ương được đặt dưới sự lãnh đạo tối cao của Đức Thượng Sanh, Chưởng quản Chi thế Hiệp Thiên Đài và dưới sự điều khiển trực tiếp của vị Thời Quân, Chưởng Quản Ban Thế Đạo.

Dưới Chưởng Quản Ban thế Đạo có một Ban Quản Nhiệm Trung Ương do một vị Tổng Quản Nhiệm đứng đầu và hai vị Phó Tổng Quản Nhiệm Phụ Tá.

Dưới quyền Tổng Quản Nhiệm và Phụ Tá có tám Nhiệm chuyên môn mà mỗi Nhiệm do một vị Trưởng Nhiệm đứng đầu. Tám Nhiệm đó là: Nhiệm Giáo Lý, Nhiệm Văn Hóa, Nhiệm Xã Hội, Nhiệm Quốc Chính, Nhiệm Kế Hoạch Tổ Chức, Nhiệm Kinh Tài, Nhiệm Ngoại Vụ, Nhiệm Thanh Sát.

Kể từ ngày Ðức Thượng Sanh ban hành Quy Ðiều Ban Thế Ðạo, Hội Thánh HiệpThiên Ðài đã có năm khóa tấn phong Hiền Tài như sau:

Khóa I gồm 58 vị Hiền Tài được tấn phong ngày 21 tháng 9 năm 1966

Khóa II gồm 123 vị Hiền Tài được tấn phong ngày 30 tháng 12 năm 1967

Khóa III gồm 78 vị Hiền Tài được tấn phong ngày 15 tháng 2 năm 1970

Khóa IV gồm 162 vị Hiền Tài được tấn phong ngày 19 tháng 4 năm 1972

Khóa V gồm 286 vị được tấn phong ngày 15 tháng 8 năm 1973

Tổng cộng năm khóa có 718 vị Hiền Tài được tấn phong.

Việc thành lập Ban Thế Đạo do trước đây Đức Hộ Pháp có đặt ra phẩm Hiền Tài ban cho một số nhân tài trí thức còn đang làm việc ở ngoài xã hội để họ có cơ hội nhập vào cửa Đạo mà lập công quả.

Sau đó, trong Đàn cơ tại Giáo Tông Đường đêm mùng 3 tháng 12 năm Quý Tỵ (Dl. 7/1/1954), Phò loan: Phạm Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo, Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy như sau:

Hộ Pháp đã hiểu tổ chức của Hội Thánh Thiên Chúa Giáo, có Chức sắc Thế Ðạo, pháp văn gọi rằng Dignitaires laïques.

Hiền hữu đã có phong phẩm HIỀN TÀI, sao không thêm 3 phẩm trên nữa cho đủ 4 như của họ.

Hộ Pháp bạch: - Xin Ngài chỉ rõ.

Thêm vào 3 phẩm Thế Ðạo nầy: Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử.

Như vậy, Ban Thế Đạo gồm có bốn phẩm chức sắc:

Phẩm Hiền Tài, do Đức Hộ Pháp lập ra.

Ba phẩm Quốc Sĩ, Đại Phu, Phu Tử do Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông lập ra.

Từ năm 1954 Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đã định thành lập Ban Thế Đạo, nhưng mãi đến năm 1965, tức 11 năm sau Hội Thánh Hiệp Thiên Đài mới soạn ra bản Quy Điều được Đức Hộ Pháp chấp thuận theo Thánh giáo ngày 9 tháng 2 năm Ất Tỵ (Dl. 11/3/1965), rồi sau đó Đức Thượng Sanh, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài mới ban hành bản Quy Điều nầy cho Ban Thế Đạo vào ngày 28 tháng 2 năm Ất Tỵ (Dl. 30/3/1965).

Quy Điều Ban Thế Đạo có nguyên văn như sau:

Thể theo tinh thần Thánh giáo của Ðức Lý Giáo Tông đêm mùng 3 tháng 12 năm Quý Tỵ (Dl. 7-1-1954) và theo tôn chỉ của ÐÐTKPÐ, Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh thành lập Ban Thế Ðạo, cốt yếu mở rộng trường công quả, tiếp đón những bực nhơn tài văn võ có khả năng phụng sự cho Ðạo mà không phế đời hành đạo.

Ban Thế Ðạo tức là cơ quan thuộc về phần Ðời, bắt nguồn từ cửa Ðạo, phát xuất làm dây nối liền cho Ðạo Ðời tương đắc tương liên, ngỏ hầu tạo lập một đời sống thanh bình cho nhơn loại trong thời chuyển thế.

Chương I: NHIỆM VỤ và PHẨM TRẬT

Chức sắc trong Ban Thế Ðạo có nhiệm vụ độ đời nâng đạo, hành sự trực tiếp với Cửu Trùng Ðài về mặt chuyên môn trong xã hội, trực thuộc Hiệp Thiên Ðài chi Thế về mặt chơn truyền và luật pháp.

Ban Thế Ðạo gồm bốn phẩm: Hiền Tài, Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử.

Những vị nào muốn được tuyển trạch vào Ban Thế Ðạo, phải có hai vị Chức sắc trong Ðạo tiến cử và phải nhập môn cầu đạo, khi được Hội Thánh chấp nhận vào hàng phẩm kể trên tùy địa vị ngoài đời của đương sự:

1- HIỀN TÀI: là bậc trí thức chọn trong hàng Ðạo hữu có văn bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp hoặc văn bằng Sơ Học (Certificat d'Études Primaires) hồi xưa, hoặc trong hàng công tư chức bậc trung cấp nam nữ đương quyền từ 40 tuổi sắp lên, hay đã hồi hưu, hay trong hàng sĩ phu có Tú Tài Toàn phần từ 21 tuổi sắp lên và hàng sĩ quan từ Ðại úy sắp lên.

Ngoài ra, những vị có học lực khá, và có khả năng mở mang kinh tế, làm nên sự nghiệp như: Nghiệp chủ, Ðiền chủ, nhà Thầu khoán, đã có giúp ích cho Ðạo, có đủ bằng chứng, cũng được xin vào phẩm Hiền Tài.

Những vị 40 tuổi sắp lên được chọn vào phẩm Hiền Tài phải có thành tích lập công với Ðạo và đầy đủ hạnh đức.

Con nhà Ðạo dòng, khi xin gia nhập Ban Thế Ðạo, được miễn xuất trình Sớ Cầu Ðạo (con những vị Chức sắc tiền bối có công khai Ðạo lúc ban sơ).

Hai vị Chức sắc tiến cử phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với Hội Thánh về phương diện hạnh đức của người mình tiến cử vào Ban Thế Ðạo.

2- QUỐC SĨ: Những danh nhân được trạch cử vào hàng Quốc Sĩ phải có điều kiện sau đây:

a. Bậc Hiền Tài đầy đủ hạnh đức, đã dày công giúp Ðạo trợ Ðời, được công chúng hoan nghinh có văn bằng minh chứng.

b. Bậc nhân sĩ có công nghiệp vĩ đại đối với quốc gia dân tộc, có bằng chứng cụ thể đắc nhơn tâm.

c. Các Tổng Trưởng, Bộ Trưởng, Sứ Thần, Tướng Lãnh, và các vị Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, có thiện tâm giúp Ðạo, kỳ công trợ đời.

3- ÐẠI PHU: Những danh nhơn được sắp vào hạng Ðại Phu là:

a. Bậc Quốc Sĩ đầy đủ hạnh đức, dày công giúp Ðạo về việc phổ thông giáo lý và giúp đời về mặt thâu phục nhơn tâm.

b. Những bậc có địa vị cao trọng trong nước như: Quốc Trưởng, Tổng Thống hay Thủ Tướng và các ân nhân của nhơn loại có thiện tâm giúp Ðạo và kỳ công trợ đời.

4- PHU TỬ: Những danh nhơn được sắp vào hàng Phu Tử là:

a. Bậc Ðại Phu đầy đủ hạnh đức, lại có công tế thế an bang.

b. Bậc vĩ nhân khổ hạnh phổ truyền Chơn giáo dìu độ toàn dân một nước hay nhiều nước.

PHƯƠNG THỨC CHỌN LỌC VÀ PHONG VỊ:

1- Hàng phẩm Hiền Tài do Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài chọn lựa và tấn phong.

2- Các hàng phẩm Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử do Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài tuyển chọn và dâng lên quyền thiêng liêng phán định.

Chương II: HỆ THỐNG

Ban Thế Ðạo đặt Văn phòng Trung Ương tại Tòa Thánh Tây Ninh, và những Văn phòng địa phương tại các Châu và Tộc Ðạo.

Tại Trung Ương thì hành sự trực thuộc dưới quyền Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài chi Thế.

Tại địa phương, Ban Quản Nhiệm địa phương hoặc Ðại diện Ban Quản Nhiệm địa phương hành sự trực tiếp với Ban Quản Nhiệm Trung Ương và tiếp xúc với Chức sắc Cửu Trùng Ðài tại địa phương ấy về mặt Ðạo.

Chương III: LỄ PHỤC

- Lễ phục Hiền Tài: Áo tràng trắng, đầu bịt khăn đóng đen, mang dấu hiệu Cổ pháp Giáo Tông nơi ngực, thêm hai chữ HIỀN TÀI bằng quốc ngữ, trong giờ chầu lễ giữ địa vị trên phẩm Lễ Sanh dưới Giáo Hữu.

- Lễ phục Quốc Sĩ: Y như của Hiền Tài, Cổ pháp thêm hai chữ QUỐC SĨ, khi chầu lễ giữ địa vị trên phẩm Giáo Hữu dưới Giáo Sư.

- Lễ phục Ðại Phu: Y như của Quốc Sĩ, nhưng đầu bịt khăn đóng đen 9 lớp chữ Nhứt, Cổ pháp có thêm hai chữ ÐẠI PHU, khi chầu lễ giữ địa vị trên Giáo Sư, dưới Phối Sư.

- Lễ phục Phu Tử: Y như Ðại Phu, Cổ pháp thêm hai chữ PHU TỬ , khi chầu lễ giữ địa vị trên phẩm Phối Sư dưới Ðầu Sư.

Lễ phục của nữ phái y như nam phái, nhưng để đầu trần.

Về thế phục thì tùy ý, nhưng được mang phù hiệu theo đẳng cấp, nơi ngực bên trái.

Chức sắc Ban Thế Ðạo khi lãnh nhiệm vụ đặc biệt của Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài và với sự chấp thuận của Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, được mang trường y sáu nút như Tiểu phục Chức sắc Hiệp Thiên Ðài, trong thời gian thi hành nhiệm vụ được giao phó.

Chương IV: CẦU PHONG VÀO HÀNG THÁNH

Chức sắc Ban Thế Ðạo muốn cầu phong vào hàng Chức sắc Hiệp Thiên Ðài hay Cửu Trùng Ðài, phải nộp hồ sơ gồm có:

1. Chứng chỉ cấp bậc hiện tại do chi Thế cấp phát.

2. Tờ hiến thân trọn đời cho Ðạo.

3. Tờ khai lý lịch.

4. Tờ ước nguyện gìn giữ trai giới theo Luật pháp Ðại Ðạo.

Quyền phong vị vào hàng Chức sắc Thánh thể Ðức Chí Tôn tại thế do Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài đề cử và dâng lên quyền thiêng liêng định đoạt.

Thể theo tinh thần Thánh lịnh của Ðức Hộ Pháp số 49 ngày mùng 1 tháng 6 năm Tân Mão (Dl. 4-7-1951) thành lập ngôi vị Hiền Tài trong cửa Ðạo, sau 5 năm công nghiệp có Bộ Pháp Chánh minh tra đủ lẽ, bậc Hiền Tài sẽ cầu phong vào hàng Chức sắc Hiệp Thiên Ðài hay Cửu Trùng Ðài do thiêng liêng chỉ định.

Cũng như trên, bậc Quốc Sĩ, Ðại Phu và Phu Tử sẽ được cầu phong do quyền thiêng liêng định đoạt.

Khi đắc phong vào hàng Thánh rồi thì không còn phận sự trong Ban Thế Ðạo nữa và phải tuân y trọn vẹn Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

Ngày sau, bổn Quy Ðiều nầy có thể bổ sung hay điều chỉnh tùy nhu cầu tiến hóa của nhơn sanh.

Quy Ðiều nầy đã được tu chỉnh do Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài theo Vi Bằng số 10/VB ngày mùng 6 tháng 6 năm Kỷ Dậu (Dl. 19/7/1969) và được Ðức Hộ Pháp phê chuẩn do Thánh giáo đêm mùng 4 tháng 7 năm Kỷ Dậu (Dl. 16/8/1969).

Huấn Từ Đức Thượng Sanh, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đọc trong buổi lễ tấn phong Hiền Tài Khóa III tại Đền Thánh ngày 8 tháng 3 năm Canh Tuất (Dl. 15/3/1970) giải thích về phẩm Hiền Tài như sau:

Quý vị may duyên sanh nhằm thời đất nước được có nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đấng Chí Tôn Thượng Đế khai sáng với tôn chỉ tận độ chúng sanh, cứu vớt 92 ức nguyên nhân đọa trần thoát vòng khổ hải.

Mở rộng Trường thi công quả để tiếp đón nhơn tài, Hội Thánh chỉ mong ước Quý vị thấm nhuần đạo đức, lập chí tu thân, trước lo tròn bổn phận làm người, sau nữa có thể thi thố tài năng giúp Đời trợ Đạo tùy theo địa vị hoàn cảnh của mỗi người. Một đấng Hiền Tài là một nhơn vật có phẩm giá đặc biệt, đầy đủ đức độ và chân tài. Cái Tài là do sự học mà có, cái Đức thì do lập chí tu thân, theo đạo Thánh Hiền mà được. Nếu có Tài mà không Đức thì cũng như đóa hoa có sắc mà không hương; cái Tài đó cũng không phải là cái Tài hữu dụng.

Thời xưa, Nho học sắp những bậc Hiền nhân vào hạng người Quân Tử, tức là hạng người có đức bhajnh tôn quý, trọng nghĩa ái nhân. Những ông Hiền được Đời kính nể, mến phục vì những đấng ấy có tư tưởng cao siêu, hành vi xuất chúng, lúc nào cũng cứ ngay thẳng mà làm điều lành, điều phải, không vì tư tâm tư lợi mà hại đạo lý. Giàu sang không thể blafm cho đổi được cái lòng của mình, nghèo hèn không theerlafm cho đổi được cái chí của mình, uy quyền võ lực không thể làm cho khuất cái khí của mình (Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất).

Lúc nào bậc Hiền nhân cũng không tự dối với mình và dối với thiên hạ, cho nên ngưỡng đầu lên không xấu với Trời, cúi xuống không thẹn với người, cùng khổ không mất nghĩa, hiển đạt không lìa Đạo (Ngưỡng bất quý ư thiên, phủ bất tạc ư nhân, cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly Đạo). Khi gặp vận được một đấng minh quân thỉnh cầu ra giúp nước thì đem cái ân rãi khắp muôn dân, làm cho nhà an nước trị. Nếu không gặp thời thì chịu mai một, sống đời ẩn dật, vui thú lâm tuyền bạn với gió trăng, thi gan cùng tuế nguyệt, chớ không màng đến danh lợi đen tối.

 

 

 

 

CƠ QUAN PHÁT THANH PHỔ THÔNG GIÁO LÝ

Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý một cơ quan có nhiệm vụ phổ biến giáo lý của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đến các tầng lớp nhân dân trong nước hay trên thế giới bằng các phương tiện truyền thanh, in ấn hoặc phát thanh trên làn sóng điện.

Việc thành lập Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý là ý định của Đức Hộ Pháp lúc sanh tiền để phổ thông, truyền bá mối Đạo. Điều nầy chính Ngài Khai Đạo Hiệp Thiên Đài, Giám Đốc Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý trong Bức Thư Xuân đã cho biết việc “ngôn luận và phát thanh vốn là ý đồ của Đức Hộ Pháp khi còn tại thế”.

Thực vậy, trong bài Diễn Văn kỷ niệm đệ ngũ chu niên thành lập Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý, ông Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại, Phó Giám Đốc Cơ quan cũng cho biết việc thành lập Cơ Quan là hoài bão của Đức Hộ Pháp. Ông nói: Chúng tôi xin mạn phép nêu ra đây một vài khía cạnh thuộc về hoài bão của Đức Hộ Pháp đối với việc phát thanh.

Thứ nhứt: Khi tạo Đền Thánh, lúc làm đến Nghinh Phong Đài, Đức Hộ Pháp cho lịnh chừa mấy cái lỗ để sau nầy đặt loa hay máy phát thanh vào đó để có thể phát đi khắp bốn phương trời tiếng nói của Hội Thánh. Điều nầy Đức Hộ Pháp đã ngỏ ý với Ngài Khai Đạo.

Thứ hai: Lúc Đức Hộ Pháp hạ bút ghi vào họa đồ của Nội ô Thánh địa để quy định nơi nào phải cất cơ sở gì, Đức Hộ Pháp có ghi rành hai mẫu đất tọa lạc gần cửa số 8 là để cất Đài Phát Thanh, tức nhiên là Cơ Quan Phát Thanh ngày nay, trước mặt quý Ngài và quý vị đây.

Như vậy, thành lập Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý là Hội Thánh thực hiện theo hoài bão của Đức Hộ Pháp, nguyện vọng của Đức Thượng Sanh.

Vì thế, Hội Thánh mới giao cho Ngài Phạm Tấn Đãi, Khai Đạo Hiệp Thiên Đài làm Giám Đốc Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý, trong một phiên đại hội giữa Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện vào ngày 23 tháng 11 năm Ất Tỵ (Dl. 15/12/1965).

Ngài Khai Đạo đã thuật lại quá trình thành lập và nhiệm vụ của cơ quan. Ngài cho biết trong vòng ba tháng thì thành lập xong Ban Giám Đốc.

Và bốn tháng kế, Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý chánh thức thành hình với đầy đủ chuyên viên và dụng cụ máy móc.

Sau đó có buổi phát thanh đầu tiên tại Hiệp Thiên Đài để cho Hội Thánh và Đức Thượng Sanh nghe trước, đã được Thượng Sanh và Hội Thánh ban cho nhiều khích lệ.

Những tháng kế tiếp, sau nhiều lần tiếp xúc và được Bộ Thông Tin chấp thuận chương trình, tiếng nói của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được truyền thanh hằng tuần vào chiều thứ tư, lúc 18 giờ 30 đến 19 giờ trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, gởi đến bốn phương vào ngày 5 tháng 5 năm Đinh Mùi (Dl. 12/6/1967) và liên tục sau nầy.

Nhờ vậy, nhiều thính giả gồm đủ mọi thành phần đón nghe mà hiểu biết về giáo lý đạo Cao Đài và cũng nhờ đó mà du khách đến viếng Đền Thánh mỗi lúc mỗi đông, để tìm hiểu về đạo.

Lúc ban đầu cơ quan phải mượn tạm vài căn phòng Hiệp Thiên Đài làm nơi thu thanh và tập dượt văn nghệ. Đến ngày 17 tháng 11 năm Đinh Mùi (Dl. 18/12/1967), Hội Thánh theo bức hoạ đồ của Đức Hộ Pháp cho Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý xây dựng cơ sở tại khoảng đất toạ lạc gần cửa số 8, dùng làm nơi Phát thanh.

Đôi liễn của Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý được đặt trước cổng của Cơ Quan, như sau:

機 關 傳 信 總 合 五 湖 天 下 事

Cơ quan truyền tín tổng hợp ngũ hồ thiên hạ sự,

發 聲 教 理 共 和 四 海 世 間 情

Phát Thanh giáo lý cộng hoà tứ hải thế gian tình.

Giải nghĩa:

Cơ quan truyền bá các tin tức tổng hợp, sự việc của con người khắp nơi trong thiên hạ.

Phát thanh những giáo lý làm cho tình cảm con người trên thế gian được hiệp hoà cùng nhau.

Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được phát thanh lần đầu tiên qua Đài Phát Thanh Sai Gòn và những lần kế tiếp theo một chương trình đã được quy định, gồm ba tiết mục:

- Phần giáo lý: Phần nầy cơ quan phát thuần túy về mặt tôn giáo, đạo đức, hướng dẫn con người trở về bổn thiện, tuyệt đối không đề cập đến chính trị đời.

- Phần tin tức: Cơ quan sẽ loan tin xác thực về sự sinh hoạt, diễn tiến hằng ngày nơi vùng Thánh Địa Tòa Thánh Tây Ninh.

- Phần văn nghệ cổ nhạc: Phần nầy cốt yếu là vãn hồi và làm sống lại quốc nhạc cổ truyền trước sức lấn áp ồ ạt lôi cuốn của loại nhạc ngoại lai.

Mỗi tuần một lần Cơ Quan Phát Thanh truyền qua hệ thống Đài Sài Gòn và hằng ngày còn phải phát thanh nơi các vùng trong Thánh địa. Ngoài ra, hằng tháng hai kỳ Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý còn ra bản Thông Tin, góp nhặt những lời Thánh huấn của các vị tiền bối, cũng như tin tức để làm sử liệu cho thế hệ mai sau nghiên cứu và sưu tầm.

Trong Bức Thư Xuân, Ngài Khai Đạo có đoạn viết: Người xưa thường nói: Làm ruộng tính việc một năm, lập vườn tính việc mười năm, cải hóa con người tính việc trăm năm.

Thật vậy, giữa thời buổi văn minh vật chất, mạnh được yếu thua, trí hiếp ngu, giàu hiếp nghèo, kẻ có thế lực áp đảo người cô thế, con người đã mất hết bổn thiện, nhà đạo giáo có bổn phận vãn hồi nền phong hóa, mối cang thường luân lý, hướng dẫn con người đến chỗ chân thiện mỹ.

Cảm hóa một thế giới giết chóc thành an bình không phải là việc làm một ngày một bữa, cho nên Hội Thánh đôi khi bị xem là mục phiêu để cho kẻ tà tâm tham vọng lợi quyền phản kháng. Nếu mọi người trong Đại Đạo để ý xa hơn điều khôn ngoan đạo đức, xem vật chất là của phù du, sớm nổi danh chiều đã mất dạng, thì đâu còn ai làm nha trảo tôi tớ cho danh lợi quyền.

Việc hoạt động của Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý được Đức Thượng Sanh, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đã khen tặng trong buổi lễ Khánh thành Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý, ngày 16 tháng 1 năm Kỷ Dậu (Dl. 4/3/1969). Trong bài Huấn từ của Ngài kêu gọi toàn thể Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Phước Thiện chung góp có đoạn như sau:

Nhơn dịp lễ Khánh Thành hôm nay, tôi xin nhắc lại, là Chức sắc Hội Thánh đã đi đến một giai đoạn mới, là giai đoạn thực hành giáo lý Ðại Ðạo.

Thật vậy, Giáo Lý đã được Cơ Quan Phát Thanh phổ truyền sâu rộng từ quốc nội đến hải ngoại mà tiếng nói đó là tiếng nói của Hội Thánh. Lẽ dĩ nhiên là Chức Sắc Hội Thánh phải tích cực thi hành theo giáo lý trước khi phổ biến nó đi khắp nơi để giáo hóa tín hữu và truyền bá Ðạo Trời. Nếu tất cả Chức Sắc trọn tùng giáo lý mà tu tâm luyện tánh và xử kỷ tiếp vật, nhơn sanh trong cửa Ðạo được hưởng hoàn toàn hạnh phúc và vùng Thánh Ðịa nầy là một cõi thiên đàng tại thế vậy.

Mặt khác, tôi nhận thấy nhiệm vụ phát thanh giáo lý là một nhiệm vụ rất quan trọng mà riêng Ban Giám Ðốc Cơ Quan Phát Thanh không thể thực hành cho đến mức tận thiện, tận mỹ. Phải cần có sự cộng tác của Chức Sắc Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện mới chắc có thành quả tốt đẹp hơn, Giáo lý là căn bản của một Tôn Giáo, nền tảng của một mối Chánh truyền, phải cùng nhau chung tâm hiệp trí chúng ta mới tránh được điều sơ suất và công việc truyền bá Ðạo trong đại-chúng mới được thuận lợi.

Hôm nay dự buổi lễ Khánh thành văn phòng Cơ Quan Phát Thanh, tôi có lời khen ngợi Ban Giám Ðốc và toàn thể nhân viên cũng như những vị Nhạc sĩ, Ca sĩ của Cơ quan đã tận tâm làm việc hơn mười tám tháng nay để phụng sự cho nền Ðại Ðạo. Tôi ước mong cái tinh thần phục vụ đó được tồn tại mãi để cho cơ quan ngày càng thêm tiến triển hầu nâng cao thinh danh Ðạo Cao Ðài trên khắp mặt địa-cầu.

 

 

 

 

CƠ QUAN PHỔ TẾ

Từ khi khai Đạo, Chí Tôn truyền mở các đàn cơ và thành lập Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để phổ độ chúng sanh, song việc phổ độ này không được rộng khắp và gặp nhiều nỗi khó khăn như sau:

- Phải làm sao chọn được những vị Chức sắc thực sự phế thân hành Đạo, lãnh nhiệm vụ châu lưu cùng khắp vào chốn thôn quê sằn dã để đem chơn lý Đạo mầu thức tỉnh người đời hồi tâm hướng thiện.

- Phải thuyết phục một số người là con cái Đức Chí Tôn nhưng vì còn yếu ớt đức tin nên còn đứng ngoài vòng cửa Đạo.

- Phải tìm cách giác ngộ một phần đông số người còn đang mê mẩn trong vòng vật chất, mà xem rẻ rúng mối Đạo Trời, thành thử vẫn mịt mờ trong tăm tối.

Chính do những nỗi khó khăn đó, Đạo luật năm Mậu Dần 1938 mới thành lập Cơ Quan Phổ Tế và quy định cho cơ quan này là dẫn dắt người Đời vào trường học Đạo của Trời cho mau chóng, đặng sớm tầm con đường siêu rỗi cho nhơn loại.

Thật vậy, Đạo Luật Mậu Dần (1938) quy định nền chánh trị đạo của Đức Chí Tôn gồm có bốn cơ quan, tương ứng với bốn chương của Đạo luật gồm có:

1- Hành Chánh là cơ quan để thi hành các luật lịnh của Hội Thánh hoặc của chúng sanh dâng lên mà đã có Quyền Chí Tôn phê chuẩn, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y luật pháp mà đi trên con đường đạo đức cho đặng thong dong, hòa bình, trật tự, hạnh phúc, an nhàn, tức là thực hành cả khuôn viên luật pháp cho ra thiệt tướng.

2- Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát, ít oi, hoặc giúp tay cho bên hành chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng, trọn vẹn.

3- Tòa Đạo là cơ quan bảo thủ chơn truyền, gìn giữ luật pháp, chăm nom chư chức sắc, chức việc và đạo hữu thi hành phận sự, chở che những kẻ yếu tha, binh vực nhưng người cô thế, hoặc tiếp cả sự uất ức, bất công của toàn sanh chúng, tức giữ nét công bình trên mặt đạo, lại cũng là một cơ quan giúp cho Hành Chánh, Phước Thiện, Phổ Tế thêm oai quyền, mạnh mẽ, tôn nghiêm đặc sắc. Tóm lại, là phương bảo toàn sanh chúng khỏi điều thống thiết đau khổ với nét oai nghiêm của chức sắc đương quyền hành chánh.

4- Phổ Tế là cơ quan để cứu vớt hoặc độ rỗi những người lạc bước thối tâm, cùng an ủi khuyên lơn những kẻ đã bị luật pháp buộc ràng mà phế vong phận sự, hay độ rỗi những kẻ hữu tâm tầm đạo.

Tổng hợp bốn cơ quan nầy lại gọi là toàn thể nền chánh trị đạo của đạo Cao Đài, trong đó:

Hành Chánh và Phổ Tế thuộc Cửu Trùng Đài.

Tòa Đạo và Phước Thiện thuộc Hiệp Thiên Đài.

Nhiệm vụ của Cơ Quan Phổ Tế được định rõ trong Đạo Luật Năm Mậu Dần (1938), gồm các hoạt động như sau:

- Phần đông con cái của Đức Chí Tôn, có một hạng biết rõ mối đạo là một cơ bí mật của Trời sáng tạo, đặng cứu vớt sanh linh khỏi trầm luân khổ hải, song vì còn yếu ớt đức tin nên hãy còn đứng ngoài vòng để mắt xem chừng vào cửa đạo; còn một hạng nữa thì lại đang mê mẩn trong vòng vật chất, lầm tưởng cho nền đạo là một cơ quan xảo kế của phàm nhơn sáng tạo để mê hoặc tâm lý người đời mà xem rẻ rúng; thành thử con cái của Đức Chí Tôn vẫn còn mịt mờ trong màn hắc ám.

Vậy phương diện phổ tế nhơn sanh là một hành vi cần cấp để dẫn dắt người đời vào trường học đạo của Trời cho mau chóng, đặng sớm tầm con đường siêu rỗi cho nhơn loại.

- Hội Thánh phải tuyển chọn những Chức sắc Thiên phong đủ tài đủ đức đặng thuyên bổ qua Cơ quan Phổ Tế.

- Chư vị Chức sắc lãnh phần Phổ Tế phải kể mình như các vị quan Phương Bá nhà Châu buổi nọ, nghĩa là mảnh thân gánh nặng nghĩa vụ nơi vai, phải châu lưu cùng khắp trong chốn thôn quê sằn dã, vào tận nơi nào có lấp loáng bóng người, đặng đem chơn lý đạo mầu thức tỉnh thế gian hồi tâm giác ngộ, kẻo một ngày trễ là một ngày hại cho nhơn sanh chưa biết Đạo.

- Ngoài ra, các vị Phổ Tế, nếu có chức việc hoặc Đạo hữu nào độ đặng 500 tới 1000 người ngoại đạo nhập môn thì vị ấy sẽ đặng Hội Thánh đem ra Quyền Vạn Linh cầu xin phong thưởng vào phẩm Lễ Sanh; độ đặng từ 1000 tới 3000 người thì được vào phẩm Giáo Hữu; độ đặng từ 3000 người tới 10000 người thì đặng vào phẩm Giáo Sư.

- Chức sắc Phổ Tế, khi gặp những điều bất hợp pháp cùng việc bất hòa xảy ra giữa các cơ quan, có đủ bằng cớ, hoặc bên Hành Chánh, bên Phước Thiện, Tòa Đạo, thì đặng quyền dâng sớ kêu ca ngay cho mỗi vị Chưởng quản ba cơ quan ấy.

Nhiệm vụ của Cơ Quan Phổ Tế được tóm tắt trong đôi liễn đặt trước cổng của Cơ quan nầy:

普 化 眾 生 改 惡 從 良 歸 大 道

Phổ hóa chúng sanh cải ác tùng lương qui Đại Đạo,

濟 危 萬 類 去 邪 尊 正 合 三 期

Tế nguy vạn loại khử tà tôn chánh hiệp Tam Kỳ.

Nghĩa là:

Giáo hóa chúng sanh khắp mọi nơi, sửa điều dữ theo điều lành, trở về nền Đại Đạo,

Giúp đỡ sự nguy khốn của muôn loài, trừ điều tà, kính điều chánh, hiệp vào Đạo Cao Đài.

Tóm lại, Cơ quan Phổ Tế là cơ quan thuộc Hội Thánh Cửu Trùng Đài, có nhiệm vụ truyền bá Đạo Cao Đài để phổ độ chúng sanh một cách rộng rãi và nhanh chóng, thể theo lời dạy của Đức Chí Tôn: "Đạo phát trễ một ngày là hại nhơn sanh một ngày."

Tổ chức về nhân sự của Cơ quan Phổ Tế Trung ương trước đây gồm có:

- Một vị Chủ Trưởng là phẩm Phối Sư làm đầu.

- Một vị Phó Chủ Trưởng là phẩm Giáo Sư.

- Một vị Trưởng Văn Phòng là Giáo Hữu

- Ba Nhân viên văn phòng là Lễ Sanh điều hành để truyền bá Giáo lý Đạo Cao Đài cho rộng khắp.

Vào năm 1946, Cơ Quan Phổ Tế được Đức Hộ Pháp giao cho Ngài Phối Sư Thượng Trí Thanh, Đạo hiệu là Nguyệt Quang lãnh trách nhiệm Chủ Trưởng và điều hành cơ quan nầy.

Trong thời gian làm Chủ Trưởng Cơ Quan Phổ Tế từ năm 1946 đến 1961 tức 15 năm, Phối Sư Thượng Trí Thanh sắp đặt, tổ chức cơ quan làm việc cho có quy củ, nhứt là chọn lựa nhân sự để cử làm Khâm Châu Phổ Tế ở các Tỉnh, hoặc Đầu Tộc Phổ Tế tại các Quận. Nhờ vậy, Cơ Quan Phổ Tế lúc ấy rất thạnh hành, thâu nhận nhiều người có tài ba. đạo đức, dẫn độ lắm nhơn sanh nhập vào cửa Đại Đạo.

Trong biên bản Đại Hội Nhơn Sanh năm Giáp Dần, 1974 có công bố số lượng Khâm Châu Đạo Phổ Tế và Đầu Tộc Đạo Phổ Tế bên Nam phái được Hội Thánh bổ nhiệm, như sau:

Khâm Châu Đạo Phổ Tế, Hội Thánh đã bổ nhiệm:

Tại Nam Tông Đạo là 25 vị Khâm Châu Phổ Tế.

Tại Trung Tông Đạo là 9 Khâm Châu Phổ Tế.

Đầu Tộc Phổ Tế, Hội Thánh đã bổ nhiệm 13 Đầu Tộc Đạo Phổ Tế.

Riêng bên Nữ phái, vì số Chức sắc Cửu Trùng Đài Nữ phái quá thiếu thốn, nên Hội Thánh chưa tổ chức được Cơ quan Phổ Tế Nữ phái.

 

 

 

 

PHẠM MÔN

Phạm Môn là một cơ quan đặc biệt trong đạo Cao Đài, do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lập ra dành cho những tín đồ muốn tu chơn, không thọ phẩm tước, áo mão như những chức sắc bên Cửu Trùng Đài hay Hiệp Thiên Đài, chỉ chuyên lo lập công bồi đức mà thôi. Đây là con đường thứ ba của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Việc lập ra Phạm Môn, theo Đức Hộ Pháp là do Thánh ý của Đức Chí Tôn trong bài thi sau đây:

 

Tỉnh ngộ xá thân tại PHẠM MÔN,

 

醒 悟 舍 身 在 梵 門

 

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn,

 

勸 修 後 日 度 生 魂

 

Vô lao bất phục hồi Chơn mạng,

 

無 勞 不 復 回 真 命

 

Tỉnh thế kỳ thân đắc Chánh tôn.

 

醒 世 其 身 得 正 尊

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có giải nghĩa bài thi Phạm Môn trên như sau:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm Môn, nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chí Tôn kêu phải thức giấc cho mau, hiến thân vào cửa Phật.

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn, là khuyên chúng sanh phái ráng lo tu hành, tùng khuôn viên kỷ luật thì ngày kia linh hồn đặng siêu thăng thoát hóa.

Vô lao bất phục hồi Chơn mạng, nghĩa là không có công lao khổ hạnh trong cửa đạo thì không thể nào trở về ngôi xưa cảnh cũ cho đặng.

Tỉnh thế kỳ thân đắc Chánh tôn. Nhằm thế kỷ 20 nầy, thời kỳ Đức Chí Tôn rộng mở cửa Đạo độ toàn con cái của Ngài, chỉ khuyên chúng ta ráng tu tỉnh ngộ, hủy cả hành vi của thế sự, đem thân vào cửa Phật, chịu nâu sồng khổ hạnh cho đặng thì tự nhiên đắc Đạo tại thế vậy.

Theo nghĩa bài thi trên thì chữ “PHẠM MÔN 梵 門”, là “cửa Phật”, và căn cứ theo hai câu liễn của Phạm Môn nói lên tôn chỉ của cơ quan nầy thì ta có thể kết luận chữ “Phạm 梵” là Phật.

Đôi liễn Phạm Môn được viết như sau:

梵 教 随 元 救 世 度 人 行 正 法

PHẠM giáo tùy nguơn cứu thế độ nhân hành chánh pháp

門 權 定 會 除 邪 滅 魅 護 眞 傳

MÔN quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

Giải nghĩa:

Phật dạy tùy theo nguơn mà cứu thế độ người, thực hành chánh pháp.

Quyền hành nơi cửa Phạm, định ra khoảng thời gian để trừ tà diệt mị, bảo hộ chơn truyền.

Về nhân sự, theo Lược sử Phạm Môn Hồi Ký của Đạo Nhơn Nguyễn Đức Hòa thì Phạm Môn được phôi thai từ năm Kỷ Tỵ (1929), khởi thủy do Đức Hộ Pháp sang phần đất tại xóm Trường Đua thuộc xã Hiệp Ninh, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tạo ngôi Phạm Nghiệp.

Phạm Nghiệp 梵 業 là cơ nghiệp của nhà Phật. Như vậy mục đích của Phạm Nghiệp là một cơ sở của Phạm Môn, dùng để lập ra công kỷ nghệ hầu giúp và dạy cho nhơn sanh.

Trước cổng Phạm Nghiệp có đề hai câu liễn như sau:

梵 業 承 閒 利 祿 功 名 無 所 用

Phạm nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng.

門 關 積 道 精 神 法 寳 有 箕 裘

Môn quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.

Giải nghĩa:

Phạm nghiệp lúc nhàn, lợi lộc công danh không có chỗ dùng,

Cơ quan chứa Đạo, tinh thần và pháp bửu có người sau tiếp nối.

Trong lúc kiến tạo ngôi Phạm Nghiệp có một số người đạo tâm đến xin làm giúp cho Đức Hộ Pháp và cứ thế số người đến xin làm càng ngày càng đông thêm. Đến năm Canh Ngọ, Đức Hộ Pháp buộc ai muốn hiến thân trọn đời vào Phạm Môn phải làm tờ và được cha mẹ vợ con bằng lòng ký tên mới đặng. Khi nhập vào Phạm Môn rồi phải thuộc và hành theo “Thập Điều Giới Răn”.

Do số người đến quá đông, thiếu lương thực nên có người xin Đức Hộ Pháp mướn sở ruộng của bà Nư Đầu Sư Hương Thanh để làm ruộng. Từ đó các cơ sở Phạm Môn mới được khai mở dần.

Ngoài ra, tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy hai ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung lập Minh Thiện Đàn, là một tổ chức tu chơn. Rồi sau đó, Đức Ngài lại giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp chưởng quản, và nhập vào cửa tu chơn Phạm Môn.

Chúng ta cũng cần nên biết các bí tích như: Phép Giải oan, phép Tắm Thánh, phép Đoạn căn (Phép xác), phép Hôn phối đều do Đức Hộ Pháp truyền dạy cách hành pháp cho các vị Đầu Họ Phước Thiện (tiền thân là Phạm Môn).

Từ khi Đức Hộ Pháp lập Phạm Môn và cất Phạm Nghiệp, bị nhiều người hiểu lầm cho là cơ nghiệp của nhà họ Phạm, vì họ lầm tưởng chữ “Phạm 梵” là Phật với chữ “Phạm 范” là họ của Đức Hộ Pháp.

Khi nói về lịch sử thành lập Hội Thánh Phước Thiện, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có nhắc đến việc bị chỉ trích như sau: Vì bài Thi văn của Đức Chí Tôn dạy đó mà Bần Đạo mới lập ra Phạm Môn, có Phạm Môn rồi mới có sản xuất Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng, nếu không thì không thế nào lập thành Hội Thánh Phước Thiện được.

Bởi chữ Phạm Môn là Phật, Phạm Môn là cửa Phật, chớ không phải Phạm là họ Phạm. Buổi đó cũng có nhiều tiếng phân vân nói Bần Đạo lập Phạm Môn tức là lập theo họ Phạm của Bần Đạo, Bần Đạo cũng như tấm bình phong đứng giữa hứng chịu. Sao Bần Đạo không đầu kiếp các nơi họ Nguyễn, họ Trần mà đến ngay nhà họ Phạm mà để khiến cho Bần Đạo phải chịu oan ức. Những tiếng phân vân ấy, Bần Đạo cũng chẳng màng, cứ lo cho kỳ được, bởi vì sự công chánh. Bần Đạo đứng giữa đây Bần Đạo phải nói Bần Đạo nói thiệt cả sự nghiệp của Đạo còn tồn tại đây là do nơi tay của Phạm Môn nếu không có Phạm Môn thì Bần Đạo không đứng vững, Đức Chí Tôn đã định cho Bần Đạo thâu 72 vị Môn Đệ mà chia ra hành sự 36, 37 vị, buổi đó Thầy trò chịu cực khổ tầm phương để tạo nghiệp mà bị chúng sanh đánh đổ đến đổi vận lương thực lục tỉnh đem về Tòa Thánh mà cũng bị ngăn cản quyết bỏ đói cho chết, mà tội nghiệp thay họ không thối chí ngã lòng, cứ cương quyết theo Bần Đạo cho đến ngày lập thành Hội Thánh Phước Thiện.

Nói về công lao của Phạm Môn, Lược Sử Phạm Môn Hồi Ký có kể lại vào ngày 20 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1934) có một nhóm Chi phái kéo về Tòa Thánh đăng điện, tức lên ngôi Giáo Tông và sẽ đuổi Đức Quyền Giáo Tông ra khỏi Tòa Thánh Tây Ninh.

Được tin Ngài Quyền Giáo Tông cậy Đức Hộ Pháp tìm cách bảo vệ. Chính Đức Thầy nhờ anh em Phạm Môn đứng ra giữ yên cuộc biến động đó. Trong bữa tiệc đãi anh em Phạm Môn, Đức Quyền Giáo Tông có nói: Lúc trước Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn có một phần chức sắc lớn trong Hội Thánh đánh đổ, chớ ít ai nhìn nhận là đúng. Hễ ai nói sao Qua nghe vậy, chớ thật ra Qua cũng không biết Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn có ích lợi gì. Đến nay Qua mới biết, nhờ có mấy em dám hy sinh để bảo tồn nghiệp Đạo.

Và chính Đức Hộ Pháp xác nhận công lao của Phạm Môn như sau: Trong số 72 Môn Đệ của Bần Đạo, thật sự hành Đạo chỉ có 26 đứa mà nghiệp Đạo hôm nay được thành tướng dường này. Nếu không có Phạm Môn thì Đền Thánh không thành tựu, nếu không có Phạm Môn thì nền Đạo Cao Đài đã chết rồi.

 

 

 

 

BAN THUYỀN BÁT NHÃ

Theo Thể pháp, Thuyền Bát Nhã trong đạo Cao Đài do lịnh của Đức Hộ Pháp cho tạo ra, được làm bằng gỗ, có hình dáng là một con rồng vàng, có bánh xe di chuyển được để chuyên chở quan tài của người ngộ Đạo trong buổi lâm chung, vào Nghĩa địa chôn cất.

Ban Thuyền Bát Nhã là một Ban gồm các nhơn viên công quả, được Hội Thánh Cao Đài thành lập vào năm Ất Hợi (1935), có nhiệm vụ tẩn liệm, di chuyển quan tài và cất táng thể xác cho nhơn sanh quy liễu về mặt thế đạo.

Trước đây, Ban Nhà Thuyền, Ban Mỹ Thuật và Ban Kiến Trúc, là ba bộ phận trực thuộc Cơ Quan Công Thợ, do Đức Hộ Pháp ban hành Thánh Lịnh Số: 231/TL ngày 9 tháng 7 năm Canh Dần (Dl. 22/18/1950) lập thành gồm có các chức danh và quy định nhiệm vụ như sau:

1- Tá Lý coi về một Sở, đối hàm với Chánh Trị Sự hay Hành Thiện.

2- Phó Tổng Giám làm đầu một hay nhiều Sở, dưới quyền của Tổng Giám, đối hàm Lễ Sanh.

3- Tổng Giám kiểm soát toàn thể các cơ sở, đối hàm Giáo Hữu.

Các chức vụ trên cũng phải hành sự trong Đạo đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu thăng và tới bậc Tổng Giám thì được Hội Thánh đem ra quyền Vạn Linh công nhận vào hàng Giáo Sư, sau khi đầy đủ công nghiệp.

Theo Thánh Lịnh trên:

Các phẩm trong Cơ Quan Công Thợ như Tá Lý, Phó Tổng Giám, Tổng Giám không có đạo phục riêng khi chầu lễ Đức Chí Tôn. Mỗi khi các vị nầy vào cúng Đàn thì mặc áo dài trắng như Đạo Hữu và đứng vào vị trí Đạo Hữu. Nhưng khi quy liễu thì được hành lễ tang theo nghi thức tương đương, nghĩa là:

Tá Lý hành lễ tang theo Chánh Trị Sự.

Phó Tổng Giám hành lễ tang theo Lễ Sanh.

Tổng Giám hành lễ tang theo Giáo Hữu.

Đến ngày 26 tháng 11 năm Giáp Dần (Dl. 8/1/1975) Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi và Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa ký ban hành Bản Nội Quy riêng cho Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ có sự phê kiến của Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Bản Nội Quy Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ có nội dung như sau:

I - Danh hiệu, địa điểm:

Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ được Hội Thánh thành lập vào năm Ất Hợi (1935) vì sự nhu cầu cần thiết cất táng thể xác của nhơn sanh về mặt Thế đạo nhơn luân cũng như phần Đời do cơ Đạo gầy nên.

Địa điểm Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ Trung Ương đặt tại Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh.

Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ thành lập do Thánh ý của Đức Hộ Pháp, Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài với mục đích:

- Tẩn liệm thi hài người quy liễu.

- Giúp tang gia người hữu công cùng Đạo và người may duyên mới gặp Đạo.

- Đưa linh cữu bằng Thuyền Bát Nhã đến nghĩa địa để an táng theo phép Đạo.

II - Thành phần Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ:

1- Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ Trung Ương, văn phòng đặt tại Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh gồm có:

- Một Chưởng Quản (hai phó)

- Một Tổng Thơ Ký (hai Thơ Ký).

- Một Trưởng Ban Kiểm Soát và Trật Tự (một phó).

- Một Trưởng Ban Tổ Chức và Liên Lạc (một phó).

- Một Trưởng Ba Huấn Luyện (hai phó).

- Một Trưởng Ban Tẩn Liệm (một phó).

- Một Trưởng Ban Khai Huyệt (một phó).

- Một Trưởng Ban Đạo Tỳ (hai phó).

- Một Trưởng Ban Tài Sản và Tu Bổ (một phó).

- Một Trưởng Ban Vận Tải và Ẩm Thực (một phó).

Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ Trung Ương có thể hợp bất thường do vị Chưởng Quản triệu tập, hoặc số nhơn viên quá bán phần trong Ban yêu cầu.

2- Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ địa phương gồm có:

- Một Trưởng Ban (một phó)

- Một Thơ Ký

- Một Tiểu Ban Kiểm Soát (một phó)

- Một Tiểu Ban Tẩn Liệm (một phó)

- Một Tiểu Ban Khai Huyệt (một phó)

- Một Tiểu Ban Hướng Dẫn Quan (một phó).

Ban Nhà Thuyền địa phương cần họp ít nhứt mỗi tháng 1 lần có sự hiện diện của chức sắc Hành Chánh, Phước Thiện nơi địa phương để bàn định công việc.

Tổng kê mọi hoạt động trong tháng đã qua và hoạch định chương trình cho tháng tới cùng phúc trình về cho Ban Trung Ương.

III - Đồng phục cho nhơn viên Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ

may bằng vải dày hay là kaki màu đen có viền trắng theo kiểu Á Đông (võ phục).

1- Đồng phục cấp điều hành:

- Áo đen cổ viền trắng 3 phân rưởi xếp.

- Tay viền trắng 6 phân.

- Áo đơm 6 nút trắng, đường kính 2 phân rưởi.

`- Viền hai miệng túi trên 4 phân.

- Viền hai miệng túi dưới 5 phân.

- Viền trôn áo 1 phân rưởi gắn tụi bằng kim tuyến trắng 3 phân.

- Dây nịch lưng trắng 6 phân

- Đầu đội mủ Đồng Tử Quân (trước cao sau thấp).

- Quần đen ống hai mươi viền hai sọc trắng, mỗi sọc 2 phân rưởi cách nhau 1 phân.

- Chân đi giày bố trắng.

- Các cấp Trưởng Ban nơi địa phương cũng đồng phục như cấp điều hành Trung Ương.

2- Đồng phục của Đạo Tỳ:

- Đầu đội mủ Đồng Tử Quân màu trắng.

- Áo cổ viền trắng 3 phân rưởi xếp.

- Tay viền trắng 6 phân.

- Hai túi trên viền trắng 4 phân.

- Trôn áo viền trắng 2 phân.

- Năm nút trắng đường kính 1 phân rưởi.

- Quần đen ống 20 viền một sọc trắng 1 phân, hai bên ống viền trắng 2 phân có dây rút.

- Giày bố đen cổ cao.

Đồng phục của các cấp điều hành địa phương cũng như đồng phục của các các cấp điều hành Trung Ương, nhưng chỉ có vị Trưởng Ban Nhà Thuyền và Trưởng Ban Đạo Tỳ mà thôi.

Đồng phục của Đạo Tỳ địa phương cũng như đồng phục của Đạo Tỳ Trung Ương.

Y phục của các Trưởng Ban điều hành cũng như nhơn viên Đạo Tỳ từ Trung Ương đến địa phương chỉ mặc trong khi thừa hành phận sự và tuyệt đối không được mặc đi rong ngoài đường hoặc vào nhà người hay quán, lều. Ngoài ra khi nghỉ việc được mặc Đạo phục thường.

VI - Thưởng Phạt.

Nhơn viên Ban Nhà Thuyền Bát Nhã và Đạo Tỳ tại Trung Ương, có hạnh đức tốt, có tinh thần phục vụ, hành sự liên tục từ 5 năm trở lên tròn nhiệm vụ, do đề nghị Chưởng quản Nhà Thuyền sẽ được Hội Thánh cứu xét cho vào hàng Tá Lý.

Tá lý hành sự liên tục từ 5 năm trở lên, không bị án tiết, sau khi minh tra đủ lẽ, sẽ được Hội Thánh phong vào hàng Phó Tổng giám.

Phó Tổng Giám hành sự liên tục từ 5 năm trở lên, hạnh đức tốt được tín nhiệm trong Ban, sau khi minh tra đủ lẽ, sẽ được Hội Thánh phong vào hàng Tổng Giám.

Nhơn viên thuộc Ban Nhà Thuyền Bát Nhã và Đạo Tỳ, nếu vị nào không tùng luật pháp Đạo, phạm vào các điều răn cấm của Hội Thánh đã quy định sẽ bị vị Chưởng Quản Nhà Thuyền phạt quỳ hương về các tội nhẹ, nếu tái phạm hoặc trọng tội sẽ bị đưa ra Ban Kỷ Luật của Hội Thánh xét xử.

Từ ngày thành lập Ban Thuyền Bát Nhã năm 1935 cho đến năm 1953, Đức Hộ Pháp đã thấy được cái công lao khó nhọc của nhơn viên Ban Nhà Thuyền, nhứt là sự hy sinh to lớn của nhơn viên tẩn liệm, không nệ sự thối tha, sự truyền nhiễm của dịch bịnh từ thân xác người mất, nên Đức Ngài cho tổ chức một bữa tiệc tại Báo Ân Từ ngày 12 tháng 6 năm Quý Tỵ (1953) để thết đãi nhơn viên Ban Thuyền Bát Nhã.

Câu chuyện được Thừa Sử Phan Hữu Phước thuật lại như sau:

Đức Hộ Pháp mời Bà Phối Sư Hương Nhiều, Chưởng Quản Phước Thiện Nữ phái và Ban Nấu Chay giao cho 5000 đ để sắm một tiệc đặng đãi thượng khách chừng một trăm người, định hai giờ chiều ngày 12 tới đây tại Hậu Điện Báo Ân Từ. Bà Phối Sư Hương Nhiều xin giúp thêm 3000 đ.

Đúng hẹn, tiệc làm xong chờ đợi 3 giờ rưởi chưa thấy thượng khách đến, Đức Ngài mặc tiểu phục đến Báo Ân Từ. Kế 4 giờ thấy Giáo Hữu Thái Hồ Thanh, Chưởng Quản Ban Nhà Thuyền cùng đi với nhơn viên mặc đồ Đạo Tỳ. Bà Tám bạch Ngài: Sao không thấy thượng khách? Đức Hộ Pháp nói: Đây là thượng khách. Cả thảy đồng cười lên. Đức Ngài mời ngồi theo mỗi ghế có ghi tên vào mỗi ly rượu. Đức Ngài dạy người khui rượu rót vào ly cho đều đủ.

Ngài nói: Bữa nay Qua mời mấy em đến cùng với Qua một tiệc, đây có Hội Thánh chứng kiến, mấy em nâng lý cùng Qua, chứng tỏ rằng: Ly rượu nầy chính tay Qua đãi mấy em và cùng chung với mấy em trong nhiệm vụ Ban Nhà Thuyền để cấp táng thi hài người quy liễu, khi về thiêng liêng mấy em làm chứng rằng việc nầy làm có Qua cùng chung sức với mấy em, theo lẽ Qua muốn cởi áo Hộ Pháp đặng hiệp với mấy em mới phải, nhưng vì không ai cho.

Bởi cớ mà ngày nay thiết tiệc để chứng tỏ việc làm nầy có Hộ Pháp nhúng tay làm trong đó.

Qua chẳng cần luận thuyết, trước mắt mấy em đã thấy thiên hạ ở thế nầy mãi tranh với sự sống nhàn rỗi, tức là danh lợi để toại hưởng mảnh thân phàm, nếu có muốn tạo âm chất hay giúp ích xã hội thì họ cũng tìm cái nhẹ nhàng vừa theo sự dục tấn của xác phàm, chớ ít ai ra gánh vác mọi nỗi thống khổ đau thảm của người.

Cũng như việc mấy em đã đang làm, Qua thấy cái hy sinh vô bờ bến của mấy em, nhứt là sự tẩn liệm thi hài của xác chết, có nhiều khi gặp phải cái mùi trược khí có thể gây ra bịnh truyền nhiễm, nhứt là bịnh dịch hạch, trái giống..v.v.. Điều mà thiên hạ tránh xa chẳng ai dám lại gần. ai cũng muốn bảo trọng sự sống mà mấy em ra lãnh với mọi khó khăn chẳng sợ cái bịnh truyền nhiễm có hại mạng sanh của kiếp con người, có khi phải lưu truyền lại cho con cháu (nhứt là bịnh lao).

Đừng nói chi trong thân tộc người nhà của gia quyến đó, rủi gặp trường hợp bệnh chứng dầu tốn hao bao nhiêu tiền bạc cũng mướn, nếu có quyền là bắt buộc dân làng hèn hạ ra làm, còn những việc mướn người đứng ra làm việc đó chỉ là một số tiền làm mướn chẳng kể xác thân phàm, làm đại làm đùa để lấy số bạc mà thôi. Còn mấy em nếu gặp các bệnh chướng độc nhiễm ấy cũng cố làm. Với phận sự, chẳng kể cái truyền nhiễm, mấy em xét lại coi trong cả thảy mấy em làm từ thuở đến giờ, nhứt là Giáo Hữu Hồ đã chịu nhiều hơn hết, mà có em nào vướng lấy bệnh truyền nhiễm ấy chăng? Nếu không có quyền năng thiêng liêng giúp mấy em làm sao tránh khỏi độc nhiễm.

Còn việc âm chất phi thường nữa, nhứt là các bậc chân tu, các nhà từ thiện hay tìm điều lành điều phải mà tạo âm chất, họ đang tìm thế nào đặng gặp một vị Phật sống ở thế nầy, đặng họ cho bát cơm, hoặc mảnh áo đặng tạo hạnh phúc trong việc âm chất.

Với sức phàm làm sao tìm đặng, nên các nguyên linh thánh chất ấy xuất hiện ra việc bố thí, tu cầu, bồi lộ làm chay, thí tế, cất chùa miễu, am tự..v.v..vì sự mơ vọng cầu may coi có gặp Phật không. Còn phần mấy em đã trọn hiến thân trong cửa Đạo làm gì có của cải mà thi hành việc nghĩa ấy được. Nếu có được chăng, chỉ có Cơ Quan Phước Thiện của nền Đại Đạo do Đức Chí Tôn lập ra mà thôi.

Điều nầy mấy em Phước Thiện nên chú ý cố gắng với nhiệm vụ dầu sớm với muộn cũng có thể gặp được.

 

 

 

 

HỘI THÁNH EM

HỘI THÁNH: Một chánh thể của Đạo Cao Đài, gồm các chức sắc đối phẩm hàng Thánh, tức là từ Giáo Hữu hoặc tương đương trở lên, nắm quyền hành chánh.

Trong bài thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp ngày 5 tháng 3 năm 1928 có định nghĩa Hội Thánh như sau: “Hội Thánh tức là đám Lương sanh của Thầy tom góp lại làm một. Cả Lương sanh ấy, Thầy đã dùng quyền thiêng liêng dạy dỗ, trước un đúc nơi lòng một khiếu từ bi cho tâm địa có mảy mún tình ái vật ưu sanh theo Thánh đức háo sanh của Thầy, dùng làm lợi khí phàm tục để độ rỗi người phàm tục”.

EM: Thuộc hàng dưới thấp, ở đây chỉ cơ quan cấp nhỏ.

HỘI THÁNH EM là cơ quan cấp cơ sở của Hội Thánh, tức chỉ Bàn Trị Sự của một Hương Đạo, là một đơn vị nhỏ nhứt làm nền tảng hành chánh Đạo ở các địa phương của đạo Cao Đài.

Đứng đầu Hương Đạo là vị Chánh Trị Sự, nắm hai quyền hành chánh và luật lệ ở Hương Đạo. Chánh Trị sự do Lý Giáo Tông lập thành, làm chủ trong một địa phận nhỏ và thay mặt cho Đạo, làm anh cả trong địa phận ấy.

Trong Pháp Chánh Truyền có lời Chú Giải như sau: Lời Đức Lý Giáo Tông nói: Chánh Trị sự là người thay mặt cho Lão, làm anh cả của chư tín đồ trong phần địa phận của nó. Lão muốn thế nào cho Lão có mặt khắp nơi, tận ven Trời cùng góc bể. Lão tưởng Hiền Hữu cũng muốn vậy chớ. Trong nhơn sanh, hạng trí thức thì ít, hạng ngu muội thì nhiều, nếu chúng ta không có đủ sức điều đình, thì khó mà rải chơn lý Ðạo khắp nơi cho đặng. Càng thân cận với nhơn sanh lại càng chịu nhiều sự khó khăn rắc rối; chúng ta phải liệu phương nào mà trừ diệt những sự khó khăn ấy, khi mới nảy sanh ra. thì nền Ðạo mới khỏi loạn lạc. Vậy Lão xin Hiền Hữu ban quyền cho Chánh Trị Sự đặng phép xử trị, hầu có thể dạy dỗ sửa răn, thay quyền cho chúng ta trong chốn thôn quê sằn dã"

Trước khi lãnh trách nhiệm, buộc Chánh Trị Sự phải đến Thánh Thất sở tại mà lập Minh thệ, phải thề rằng: Giữ dạ vô tư mà hành đạo, dầu cha mẹ, anh em, vợ con, cũng chẳng đặng phép tư vị, gìn dạ chơn thành, thể Thiên hành Đạo.

Chánh Trị sự là Đầu Sư Em đó vậy”.

Phó Trị Sự, nắm quyền hành chánh của một Ấp Đạo, nên trong Pháp Chánh Truyền có chú giải như sau: Phó Trị Sự cũng là Chức Sắc của Lý Giáo Tông lập thành. Người đặng đồng quyền cùng Chánh Trị Sự, trong một địa phận của Chánh Trị Sự nầy cho cai quản. Người có quyền về chánh trị chớ không có quyền về luật lệ. Ðặng phép sửa đương, giúp đỡ dìu dắt, dạy dỗ chư Tín Ðồ trong địa phận trấn nhậm, mà không đặng phép xử đoán. “Cấm nhặt không cho Phó Trị sự lấn quyền về luật lệ”. Phó Trị sự là Giáo Tông Em”.

Thông Sự là người đồng thể cùng Phó Trị sự trong địa phận của Phó Trị sự cai quản (Ấp Đạo), song người có quyền về luật lệ chớ không có quyền về Chánh trị. nên trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải gọi vị Thông sự là Hộ Pháp Em. Các vị Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự là Đầu Sư Em, Giáo Tông Em, Hộ Pháp Em họp lại được gọi là Hội Thánh Em.

Điều nầy trong Thuyết Đạo Hộ Pháp có giải thích như sau: Ðức Lý Giáo Tông lập Bàn Trị Sự, Ngài lập chức Chánh Trị Sự và Phó Trị Sự, rồi Ngài lại biểu Bần Ðạo lập chức Thông Sự. Ngài nói Phó Trị Sự là Giáo Tông em, mà nơi làng có Giáo Tông em thì tức nhiên phải có Hộ Pháp em là Thông Sự nữa chớ. Như vậy, trong đạo Cao Đài có vô số Hội Thánh Em ở khắp các địa phương để thi hành chánh trị và luật pháp trong địa phận mình.

Nói về nhiệm vụ quan trọng của Hội Thánh Em, Huấn từ của Ðức Thượng Sanh nhân dịp Lễ Khai Giảng khóa Huấn Luyện Chức Việc Bàn Trị Sự Châu Thành Thánh Ðịa nơi Hạnh Ðường, ngày 4 tháng 6 năm Canh Tuất (dl. 8/7/1970) có dạy: Cũng như ngoài mặt Ðời, nền tảng chính trị của quốc gia ở nơi Ấp, Xã, trong Ðạo Cao Ðài nền tảng Hành chánh Ðạo ở nơi Ấp và Hương Ðạo, rồi kế đến là Tộc Ðạo hay là Phận Ðạo. Mặc dù ở vào hạ tầng cơ sở, nhưng nếu trong Ấp hoặc Hương Ðạo có điều xáo trộn trên dưới thiếu sự điều hòa, tín hữu có điều bất mãn, nhơn tâm ly tán, mất hẳn tình đoàn kết tương thân thì ở nơi cấp trên Hội Thánh cũng chịu ảnh hưởng không ít hay khó giữ uy tín đối với mặt Ðời và Bổn Ðạo. Bởi thế đem thắng lợi vẻ vang về cho Ðạo hay làm cho Ðạo thất bại, mang tai tiếng cũng đều do nơi hành vi của quý vị.

Ðã mang danh là HỘI THÁNH EM, quý vị nên thận trọng giữ gìn tư cách đứng đắn, làm cho người đời kính nể, người Ðạo tin cậy, đối đãi với toàn thể Tín hữu nơi địa phận mình như tình huynh đệ trong gia đình, đem tình thương chan rưới khắp cả Bổn đạo, giúp đỡ, nương nhờ lẫn nhau, thực hành câu: Nhứt gia hữu sự bá gia ưu.

Ðược như vậy dù cuộc đời chua cay bi đát đến mức nào, quý vị cũng không đến nỗi lâm vào cảnh khó khăn nan giải.

 

 

 

 

LÊ VĂN BẢY VÀ HỘI THÁNH NGOẠI GIÁO

I - TIỂU SỬ ÔNG LÊ VĂN BẢY

Ông Lê Văn Bảy sinh năm 1884, người quê ở Sa Đéc, lớn lên theo học tại Mỹ Tho, đậu bằng Thành Chung. Lúc còn học, ông là một học sinh giỏi tiếng Pháp, khi ra trường làm việc tại dinh Thống Đốc Nam Kỳ một thời gian rồi xin nghỉ ra làm việc tư, lúc còn ở Nam Vang, ông làm kế toán viên cho cửa hảng “Au petit Paris”, sau đổi qua làm việc hảng “DENIS FRERES”. Đến ngày 29 tháng 6 năm Đinh Mão (Dl. 27/7/1927), Ngày 27, ông Lê Văn Bảy cùng với nhiều vị khác tại Kim Biên thọ phong Giáo Hữu, cũng vào hôm ấy, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn chấm ông vào phái Thượng (Thượng Bảy Thanh) và ban cho Đạo hiệu là Phong Chí. Sau đó, Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng phong cho Nữ phái, vợ ông Bảy là Bà Đặng Thị Huê được đắc phong Giáo Hữu (Hương Huê).

Ông Giáo Sư Lê Văn Bảy, sau nầy được Hội -Thánh Bổ Nhiệm làm Chủ-Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo từ năm 1927 tới Năm 1937. Ngày 1 tháng 9 năm 1935 Đức Hộ Pháp ký Đạo Nghị Định số 54 bổ nhiệm Giáo Sư Thượng Bảy Thanh trách nhiệm truyền Đạo khắp Đông Dương. Điều thứ nhứt Đạo Nghị Định 54 viết: “Ông Giáo Sư Thượng Bảy Thanh lãnh trách nhiệm đi truyền bá Đại Đạo toàn cả Đông Pháp. Chư Đầu Địa Phận mỗi xứ phải giúp ích chức sắc về phần phổ thông, mỗi khi người cần dùng việc chi”.

Như vậy, với đầy đủ tư cách, vừa ở Hội Thánh Ngoại Giáo vừa được Hội Thánh giao trách nhiệm, ông Giáo Sư Thượng Bảy Thanh ra Bắc với chức vụ Thanh Tra Hội Thánh Truyền giáo Cao Đài Bắc Việt. Giáo Sư Thượng Vinh Thanh được bổ nhiệm thay thế Giáo Sư Bảy, làm Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo.

Trong thời gian nầy, ngày 16 tháng 5 năm 1937 ông Giáo sư Bảy tổ chức một buổi diễn thuyết về đạo Cao Đài trước giới trí thức và nhà cầm quyền Pháp ở Hà Nội tại rạp hát Majestic. Buổi nói chuyện nầy được thành công tốt đẹp. Sau đó Hội Thánh phái ông đi truyền giáo bên Trung Hoa, Ông đến Vân Nam (Yunnam) tạm lập một Văn Phòng Truyền Giáo tại Vân Nam Phủ (Yunnam fou). Vì Ông không biết tiếng Trung-Hoa nên phải cần một Thông-Dịch-Viên, Ông hành sự nơi đây được một năm, nên chỉ có kết quà thường thôi, qua năm sau (1938) Ông được lịnh hồi hương và được Bổ Nhiệm luôn về Tòa-Thánh, có chân trong 24 vị Nội Chánh Cửu Trùng Đài tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Khi ông Thượng Bảy Thanh Trở về Nam Vang năm 1940, đến năm 1942, ông nhận lại nhiệm vụ Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại giáo cho đến ngày Thánh Thất bị Chánh-Phủ Bảo-Hộ xung công và phá dở vào năm 1943.

Năm năm sau, vào ngày 10 tháng Giêng năm Mậu Tý (Dl. 1948), ông Lê Văn Bảy liễu Đạo tại Kim Biên và được an táng tại Nam Vang.

II - HỘI THÁNH NGOẠI GIÁO

Hội Thánh Ngoại Giáo là một Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại trong đạo Cao Đài, gồm các chức sắc vào hàng Thánh, có nhiệm vụ truyền bá giáo lý Đạo ra ngoại quốc, phổ độ nhơn sanh là người nước ngoài.

Khi mới thành lập, cơ quan nầy thường hay tiếp xúc với người nước ngoài, nên có nhiều người trong Đạo gọi lầm là Hội Thánh Ngoại Giao. Quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, trong Chương Trình Hành Đạo có giải bốn chữ Hội Thánh Ngoại Giáo như sau:

Phải đọc HỘI THÁNH NGOẠI GIÁO, chớ không phải là Ngoại Giao. Hội Thánh Ngoại Giáo là một cái Hội của chư Thánh để giáo Ðạo ở ngoại quốc. Bậc phẩm và trách nhậm tuy phải tuân theo Luật Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, hành chánh tuy hiện thời phải tùng quyền của Thái Ðầu Sư nhưng cũng có phần đặc biệt là phải tùy theo tánh cách của người bổn xứ, tài liệu và vật liệu...v...v...

Hội Thánh Ngoại Giáo do Đức Chí Tôn ra lịnh Đức Hộ Pháp qua mở Đạo tại Nam Vang (thường gọi là Kim Biên) để Ngài phong chức sắc và thâu môn đệ rồi sau đó lập thành cơ quan nầy.

Nguyên vào ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 19/11/1926), Đấng Chí Tôn ra lịnh các môn đồ đầu tiên tổ chức lễ Khai Đạo Cao Đài tại Chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự) Tây Ninh, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lúc ấy là công chức ở Sở Thương Chánh Sài Gòn, nên Thầy bảo Ngài xin phép nghỉ sáu tháng để cùng với các Chức sắc Thiên phong khác lo việc Đại Lễ Khai Đạo. Sau khi lễ Khai Đạo xong, cho đến tháng 3 năm Đinh Mão (1927) là hết thời hạn nghỉ phép của Ngài.

Đức Hộ Pháp mới hỏi Thầy nên nghỉ luôn ngành công chức để lo cho Đạo hay trở lại làm việc nơi Sở Thương Chánh.

Thầy giáng cơ trả lời: Con chưa cần phải xin nghỉ ngay lúc nầy, con cứ trở lại làm việc rồi sẽ có chuyện hay.

Đức Hộ Pháp vâng lịnh Thầy, trở lại làm việc nơi Sở Thương Chánh Sài Gòn. Chánh quyền Pháp lúc ấy không muốn để Ngài làm việc tại Sài Gòn, vì sợ Ngài hoạt động mạnh mẽ cho đạo Cao Đài, nên họ thuyên chuyển Ngài lên Nam Vang để làm việc.

Đức Ngài lên Nam Vang, tạm trú tại nhà ông Cao Đức Trọng, anh ruột của Ngài Cao Hoài Sang, ở dãy phố 8 căn gọi là Phố Lang Cô, thuộc đường hẽm, phía trước là đường Ohier, nhà ông Cao Đức Trọng ở căn bìa phía đường cái đi vào, căn kế là nhà của ông Đặng Trung Chữ (hiệu Ngạn Sơn), căn thứ ba là nhà của ông Trần Quang Vinh (hiệu Hiển Trung).

Ban ngày thì Đức Hộ Pháp đến Sở Thương Chánh làm việc như các công chức khác, ban đêm thì Ngài thường họp mặt tại sân nhà ông Cao Đức Trọng với những công tư chức người Việt Nam ngụ trong dãy phố để chuyện vãn.

Trong những dịp như vậy, Đức Hộ Pháp thường đem những việc cầu cơ thỉnh Tiên, những sự huyền diệu của các Đấng thiêng liêng, hay những điều tiên tri về vận nước mà thuật lại cho mọi người nghe, làm cho các vị ấy rất thích thú và muốn chứng kiến việc cầu cơ nầy.

Thế là Đức Hộ Pháp cùng với Cao Đức Trọng thường xuyên tổ chức cầu cơ tại nhà ông Trọng. Trong những Đàn cơ nầy các Đấng thiêng liêng giáng trả lời hoặc giải quyết nhiều việc huyền diệu, khiến mọi người nơi đây rất tin tưởng.

Trong một đàn cơ đặc biệt lúc 21 giờ vào thượng tuần tháng 6 năm Đinh Mão, ông Trần Quang Vinh bạch hỏi về phần mình, về tương lai đối với nước non xứ sở, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn tức Victor Hugo giáng đàn ban cho ông Trần Quang Vinh một bài thi như sau:

VINH hiển tuy chưa toại thửa nguyền,

Phép nhà vẹn giữ cũng nên duyên.

Thảo ngay lòng nhớ lâu truyền hiếu,

Chánh trực xa nghe giỏi tấc thiềng.

Dặm gió chờ ngày đài các đến,

Trường danh có lúc để nêu tên.

Coi mình khá giữ mình cho vẹn,

Cái đạo trượng phu thế mới bền.

Trong đàn cơ nầy, ông Trần Quang Vinh xin đạo hiệu, Đức Nguyệt Tâm liền giáng cơ ban cho hai câu đối:

HIỂN tổ vinh tông khả dĩ trượng phu chi đạo,

顯祖荣宗可以丈夫之道

TRUNG quân ái quốc thị tri thần tử chi tâm.

忠君愛國是知臣子之心

Một lần khác, cũng tại Kim Biên, Đức Hộ Pháp thả bộ đi chợ chơi cho khuây khỏa. Đang trên đường đi mà bụng cồn cào muốn quay trở về nhà. Khi Đức Ngài trở lại, thấy ông Cao Đức Trọng đang phò loan, một tay cầm cơ, một tay viết.

Đức Hộ Pháp vừa vào tới, ông Trọng mừng quá nói với Đức Ngài rằng: “Có Nhàn Âm Đạo Trưởng đến”.

Đức Hộ Pháp không tin, nói: “Làm gì có!”. Ông Cao Đức Trọng nói: Đây nầy. Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng bèn cho một bài thi:

Cởi ngọn gươm linh xuống cõi trần,

Không cần bạch hạc với thanh vân.

Nghe Tây Sơn Đạo nương Tần Quốc,

Mới đến thăm nhau, có một lần.

Lúc ấy Đức Hộ Pháp mới nghĩ thầm rằng Đức Nhàm Âm Đạo Trưởng vì muốn gặp, nên khiến Ngài đi chơi mà bụng cồn cào phải về ngay để gặp Đức Nhàn Âm.

Từ đó, Đức Hộ Pháp và ông Cao Đức Trọng thường phò cơ để Đức Chí Tôn thâu các môn đệ, cho đến ngày 29 tháng 6 năm Đinh Mão (Dl. 27/7/1927), Đức Chí Tôn giáng cơ ân phong cho các vị sau đây: Bảy, Lắm, Sự, Thầy phong cho ba con chức Giáo Hữu. Chữ, Vinh, Của, Thầy phong cho ba con chức Lễ Sanh.”

Đức Hộ Pháp không thấy Thầy phong chức cho ông Cao Đức Trọng, bèn hỏi: Bạch Thầy, còn em con, Trọng, sao Thầy không phong chức? Thầy đáp: Trọng thuộc chi Đạo bên Hiệp Thiên Đài. Nay Thầy phong Cao Đức Trọng làm Tiếp Đạo là đủ Thập nhị Thời Quân.

Sau khi Thầy phong sắc rồi, tái cầu, Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng đàn chấm phái cho quý vị đó:

Ô. Lê Văn Bảy, Giáo Hữu phái Thượng:Thượng Bảy Thanh.

Ô. Nguyễn Văn Lắm, Giáo Hữu phái Thượng; Thượng Lắm Thanh.

Ô. Võ Văn Sự, Giáo Hữu phái Ngọc:Ngọc Sự Thanh.

Ô. Đặng Trung Chữ, Lễ Sanh phái Thượng:Thượng Chữ Thanh

Ô. Trần Quang Vinh, Lễ Sanh phái Thượng:Thượng Vinh Thanh

Ô. Phạm Kim Của, Lễ Sanh phái Thái:Thái Của Thanh.

Về Nữ phái, Đức Chưởng Đạo lần lượt cũng phong:

Bà Trần Kim Phụng:Gỉáo Hữu Hương Phụng.

Bà Đặng Thị Huê:(vợ ông Bảy): Giáo Hữu Hương Huê.

Bà Nguyễn Thị Hạt:(thân mẫu ông Chữ): Giáo Hữu Hương Hạt

Bà Huỳnh Thị Trọng:(vợ ông Chữ): Lễ Sanh Hương Trọng.

Các vị Chức sắc nam nữ được Đức Chí Tôn phong trên đây là những Chức sắc đầu tiên của Đạo Cao Đài tại Nam Vang để sau nầy Đức Hộ Pháp lập thành Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại, thường gọi là Hội Thánh Ngoại Giáo, có nhiệm vụ truyền bá Đạo Cao Đài khắp ngoại quốc.

Hội Thánh Ngoại Giáo đặt dưới quyền Chưởng Đạo (vô vi) của Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, và dưới sự điều khiển hữu hình của Hộ Pháp. Ngoài ra, Giáo Hữu Thượng Bảy Thanh được bổ làm Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo tại Kim Biên, có trụ sở ở Nam Vang.

Sau khi mở Đạo tại Kim Biên và lập thành Hội Thánh Ngoại Giáo, Đức Hộ Pháp lưu lại Nam Vang chừng một năm, đến tháng 4 năm Mậu Thìn (1928), Đức Hộ Ngài trở về Việt Nam, hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Những vị chức sắc trong Hội Thánh Ngoại Giáo được Đức Chí Tôn phong tại Kim Biên, sau nầy có hai vị là Thượng Vinh Thanh và Thượng Bảy Thanh được dịp đi truyền giáo ở nước ngoài.

Năm Tân Mùi 1931, Trần Quang Vinh (lúc ấy được thăng Giáo Hữu, Thượng Vinh Thanh), đang là công chức Pháp, được chánh phủ Cao Miên phái ông đi sang Pháp công tác. Trong dịp công cán nầy, ông vận động với chánh phủ Pháp cho đạo Cao Đài được quyền tự do tín ngưỡng và ông cũng thuyết phục được một số trí thức người Pháp có thiện cảm với đạo Cao Đài, sau những vị nầy trở thành chức sắc của Đạo Cao Đài. Đó là:

- Ông Gabriel Gobron, sau đắc phong Tiếp Dẫn Đạo Nhơn.

- Bà Félicien Challaye, sau đắc phong Nữ Giáo Sư.

- Ông Charles Bellan, cựu Tham Biện ở Việt Nam, sau đắc phong Giáo Hữu.

- Ông Abadie de Lestrac, Lục Sự Tòa Án Paris, sau đắc phong Giáo Hữu.

- Bà Marguerite Gobron, bạn đời của ông Gabriel Gobron, sau Bà đắc phong Lễ Sanh.

Ngoài ra, vào năm 1937, khi được thăng lên Giáo Hữu, ông Thượng Bảy Thanh được Hội Thánh bổ đi truyền Đạo ở Hà Nội. Năm sau, ông lại được qua truyền Đạo ở Trung Quốc. Đến năm 1938, Giáo Sư Thượng Bảy Thanh mới trở về hành Đạo tại Tòa Thánh.

Kể từ ngày thành lập Hội Thánh Ngoại Giáo đến năm 1951 tức 15 năm mở Đạo nơi Tần Quốc, thì số tín đồ tại nơi đây được hơn bảy mươi mấy ngàn tín đồ gồm hết nam phụ lão ấu.

Khi ông Thượng Bảy Thanh được Hội Thánh bổ đi truyền Đạo tại Hà Nội thì Ngài Cao Tiếp Đạo được Hội Thánh bổ nhiệm làm Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo tại Kim Biên cho đến lúc Ngài quy vị.

Sau đó, Hội Thánh lần lượt bổ nhiệm những chức sắc sau làm Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo tại Kim Biên, nghĩa là từ năm 1937 đến năm 1941:

Bà Giáo Sư Hương Phụng (Trần Kim Phụng)

Giáo Sư Thượng Chữ Thanh (tức Đặng Trung Chữ).

Giáo Sư Thượng Vinh Thanh (tức Trần Quang Vinh).

Giáo Sư Thái Gấm Thanh (tức Thái Văn Gấm)

Giáo Sư Thái Phấn Thanh (tức Trần Văn Phấn).

Từ khi thành lập Hội Thánh Ngoại Giáo tại Kim Biên, có một số chức sắc nắm quyền bất lực và bất tuân Hội Thánh, nên Đàn cơ ngày 14 tháng 2 năm Nhâm Thân (Dl. 20/3/1932), Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, Chưởng Đạo Hội Thánh Ngoại Giáo, giáng cơ tại Kim Biên nhằm để chỉnh đốn nhân sự trong Hội Thánh Ngoại Giáo (bài Thánh giáo nầy có trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển):

Bần đạo chào Quyền Giáo Tông, Hộ Pháp, Tiếp Ðạo và Hội Thánh Ngoại Giáo. Nam Nữ Thiên phong, xin nghe:

Nước Thiên đường thì ít kẻ, cửa Ðịa ngục vẫn nhiều người, chưa từng thấy hạng nhơn sanh nào mà tự trọng thân hình, chẳng hữu ích chi cho cả cơ Tạo, mà đoạt vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Ngôi vị thiêng liêng chẳng phải do nơi sự cầu may mà đoạt đặng.

Bần đạo khi đắc lịnh làm Chưởng Ðạo lập Hội Thánh giáo đạo tha phương thì tùng lòng bác ái của Chí Tôn, mở rộng thế cho nhơn sanh dâng công đổi vị.

Bần đạo chẳng kể là Nguyên nhân, Hóa nhân hay là Quỉ nhân, ví biết lập công thì thành Ðạo. Bần đạo để cho mỗi người tự do định phận, lại tùy thế khó khăn mà gầy thành công quả. Ấy vậy, nếu lấy phép công bình thì tự nhiên nên thì thâu, hư thì bỏ.

Bần đạo đã chán thấy kẻ bất lực rất nhiều. Vậy Bần đạo để lịnh cho mỗi vị Thiên phong xét mình, khai tội cùng Giáo Tông và Hộ Pháp, rồi sau mới định rõ điều thưởng phạt.

Đến năm 1956, khi Đức Hộ Pháp lưu vong sang Miên Quốc, trong một đàn cơ ngày 13 tháng 8 năm Bính Thân do Hộ Pháp và Hồ Bảo Đạo phò loan tại Báo Ân Đường Nam Vang, Đức Quyền Giáo Tông giáng cơ có đoạn như sau:

Mấy em nam nữ đã thấy rõ vì lẽ nào mà Chưởng Đạo Nguyệt Tâm đã từ bỏ chức vụ mà mấy em từ thử hay chăng? Mấy em nhớ lại coi, từ khi Phong Chí (Đạo hiệu của Giáo Sư Thượng Bảy Thanh) nắm quyền đến nay, sự nghiệp Đạo đã hư hoại thế nào? Thì cũng do nơi bội phản Hộ Pháp và anh em giành quyền mà sanh ra rối loạn.

Qua nói thiệt cùng mấy em rằng: Vì hổ thẹn ấy mà Chưởng Đạo từ chức và hủy bỏ Hội Thánh Ngoại Giáo. Các em đã hiểu rõ điều ấy. Qua chỉ thương Thanh Sơn mang tiếng phụ phàng, lỗi tình cùng Hộ Pháp.

Qua đã nhiều phen cầu xin Nguyệt Tâm Chơn Nhơn tha thứ, nhưng Ngài quyết hẳn, vì cớ là chúng đã mạo danh Bạch Vân Động, đặng chia phe phân phái, lập quyền Đời của họ.

Qua bài Thánh giáo trên, chúng ta thấy Ngài Nguyệt Tâm Chơn Nhơn đã từ chức Chưởng Đạo và hủy bỏ Hội Thánh Ngoại Giáo, như vậy Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại đến đây đã chấm dứt.

Mãi cho đến năm 1973, Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài ban Thánh Lịnh số: 65/TL ngày 3 tháng 7 năm Quý Sửu (Dl. 1/8/1973) tái lập Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại và cử Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa làm Chủ Trưởng cơ quan nầy.

 

 

 

 

ĐINH CÔNG TRỨ VÀ MINH THIỆN ĐÀN

I - TIỂU SỬ ĐINH CÔNG TRỨ

Ông Đinh Công Trứ sinh năm Quý Mão (1903) tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Phú Mỹ huyện Tân Phước tỉnh Tiền giang), con của cụ ông Đinh Văn An và cụ bà Huỳnh Thị Sau.

Ông nhập môn ngày 17 tháng 7 năm Đinh Mão (1927) tại Thánh Thất Khổ Hiền Trang, Phú Mỹ, Mỹ Tho. Đến ngày Rằm tháng 10 năm ấy, ông được Ơn Trên chuyển cho chấp cơ tại nhà, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải lập Minh Thiện Đàn do ông làm Chủ Trường. Sau đó ông cùng ông Lê Văn Trung (người cùng làng) được Đức Lý Giáo Tông sử dụng làm cặp phò loan để tiếp nhận các Thánh giáo của các Đấng thiêng liêng giáng cơ dạy Đạo nơi Minh Thiện Đàn, như Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Đức Thái Thượng Đạo Tổ, Đức Quan Thánh Đế Quân… Mỗi khi có người cầu Đạo, ở đây thường hướng dẫn qua Thánh Thất Khổ Hiền Trang của ông Giáo Hữu Thượng Minh Thanh nhập môn, vì vậy sau nầy Đức Hộ Pháp mặc dầu không trực tiếp tham gia các Đàn cơ ở đây nhưng sau nầy qua sự nhận xét riêng, Ngài đã gián tiếp chấp nhận các Thánh giáo của Minh Thiện Đàn. Chính vậy mà quý ông trong Đàn Minh Thiện mới có kết tập các bài Thánh giáo đó cho xuất bản, gọi là “Minh Đạo”, hiện nay gọi là “Thánh Giáo Minh Thiện Đàn.

Đến năm 1929, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải giao Minh Thiện Đàn lại cho Đức Hộ Pháp. Đồng thời ông Lê Văn Trung tìm đến Thủ Đức mời Đức Hộ Pháp xuống Thánh Thất Phú Mỹ nhằm ngày 25 tháng 2 năm 1929. Đức Hộ Pháp cho mời những người nhập môn vào Minh Thiện Đàn đến để Ngài hành pháp cân thần và cho thọ Đào Viên pháp trong đó có ông Đinh Công Trứ.

Ngày 15 tháng 11 năm Tân Mùi (Dl. 23/12/1931), ông Trứ, ông Trung được Đức Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông chứng giấy thông hành đi hành đạo các tỉnh Mỹ Tho, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên và Sóc Trăng. Năm 1936, ông Trứ đắc phong Lễ Sanh Giáo Thiện, được Đức Hộ Pháp bổ đi làm Đầu Họ Phước Thiện tỉnh Long Xuyên. Đến năm Mậu Dần (1938), Ông được đổi về làm Đầu Họ Phước Thiện Tây Ninh. Năm Kỷ Mão (1939), Ông lãnh lịnh tạm quyền Thủ bổn Phạm Môn. Cho đến năm 1940, Ông lãnh phận sự coi Khách Thiện Đường tại Tòa Thánh.

Năm Quí Mùi (1943), Ông bị nhà cầm quyền Nhựt Bổn bắt giam ở Sàigòn, thời gian 5 tháng 10 ngày thả. Sau khi được thả, vào ngày 26 tháng 9 năm Quý Mùi, ông quy tụ một số thệ hữu trong Minh Thiện Đàn về Tây Ninh mua một sở đất Bàu sen, tại xã Trường Hòa để lập Trường Quy Thiện, một cơ sở tạo phước thiện và tu hành.

Ngày 19 tháng 2 năm Bính Tuất (Dl. 22/3/1946), giữa phong trào Pháp và Việt Minh tương tranh, Ông Trứ qui tụ anh em về Trường QuiThiện dưới ngọn Bạch kỳ Nhan Uyên, Ông bị quân đội Pháp bắt vì nghi ngờ Ông theo Việt Minh, định đem ra xử bắn, may nhờ hồng phước của Đức Chí Tôn, có người cứu kịp, nên Ông thoát chết. Ông trở về Trường Qui Thiện, kiến tạo Điện Thờ Phật Mẫu (một ngôi thờ Phật Mẫu đầu tiên của Đạo Cao Đài) tại Trường Qui Thiện.

Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Sửu (Dl. 21/6/1949), lúc 10 giờ đêm tại Trường Quy Thiện, Ông Đinh Công Trứ bị kẻ nghịch sát hại, ông quy vị lúc 47 tuổi. Khi còn ở Minh Thiện Đàn, Đức Lý Giáo Tông ban cho Ông Đạo hiệu là: Hoằng Nhựt Tăng Đạo sĩ. Sau khi Ông quy liễu, Đức Hộ Pháp ban tặng Ông là: Hoằng Thông Tăng Đạo sĩ.

II - MINH THIỆN ĐÀN.

Minh Thiện Đàn là một tổ chức tu chơn được hình thành năm 1927 tại làng Phú Mỹ, tỉnh Tiền Giang, do Đức Lý Giáo Tông lập ra và giao cho ông Đinh Công Trứ làm Chủ trưởng.

Nguyên vào ngày 14 tháng 10 năm Đinh Mão (Dl. 8/11/1927), tại nhà Đinh Công Trứ thuộc làng Phú Mỹ, tỉnh Tiền Giang, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải lập Minh Thiện Đàn. Đến ngày 15 tháng 7 năm Mậu Thìn (Dl. 29/8/1928), ông Lê Văn Trung nhà ở gần ông Trứ cũng xin gia nhập và cả hai ông được Lý Giáo Tông chọn làm cặp phò loan chánh thức của Minh Thiện Đàn. Mặc dầu hai ông được Đức Lý Giáo Tông chọn làm cặp phò loan chánh thức, nhưng Thần của hai người quá yếu ớt, khiến cho các Đấng đang giáng đàn phải tạm nghỉ. Trong Đàn cơ ngày 15 tháng 8 năm Tân Mùi (Dl. 26-9-1931), Đức Lý Đại Tiên có lời giáng như sau: “Mừng cả chư nhu. Đạo mong tấn hóa, chư sĩ chẳng hòa, nẻo chánh đành xa, đường Tà càng thêm sa đắm.

Trung, chơn thần yếu ớt, chẳng tiếp đặng lời châu ngọc của Lão. Vậy Lão cho ra nghỉ”.

Một lần khác, Đức Chí Tôn trong Đàn cơ ngày 13 tháng 7 năm Tân Mùi tại Đàn Minh Thiện đã cho biết các Đấng giáng cơ mà cặp đồng tử Thần bị yếu, không tịnh có thể Quỷ vương xâm nhập dẫn dắt theo đường tà. Ngài giáng dạy: “Thầy mừng các con. May cho các con đó. Thiếu chút nữa đã lầm tay Quỷ Vương rồi đó, cũng vì phò loan chơn thần yếu ớt, chẳng tiếp trọn điển quang, nên Tà Thần thừa dịp lẫn lộn vào. Vì Thầy ngự nơi Ngọc Hư Cung, có Phổ Tịnh cùng Đại Càn Phù Sứ về tâu rằng Quỷ Vương mong tiếm soán Minh Thiện Đàn, nên Thầy cần kíp giáng xuống cho các con rõ, cơ chuyển khi nảy là Quỷ Vương nhập. Vậy các con từ đây ráng chăm nom về phần cơ bút đa nghe”.

Vì vậy, khi Minh Thiện Đàn quy về Phạm Môn rồi sau đó lập thành Cơ Quan Phước Thiện, cặp phò loan nơi Minh Thiện Đàn là hai ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung sau nầy không còn nhiệm vụ phò loan nữa. Theo lịch sử Minh Thiện Đàn, lúc mới phôi thai mọi người trong nhóm rất say mê cầu cơ học Đạo, ngoài Đức Lý Giáo Tông về giảng dạy giáo lý, còn có các Đấng thiêng liêng, như Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Thái Thượng Đạo Tổ, Quan Thánh Đế Quân…

Có một lần, mọi người tập họp tại nhà ông Đinh Công Trứ hơi đông, lúc ấy nhà ông còn thiếu thốn phương tiện, không có cái bàn nào khang trang, chỉ có một cái ghế ngồi dùng để bày hoa quả, rượu trà và nhang đèn cho các Đấng giáng cơ. Trong khi mọi người đang quỳ lạy cầu khẩn, Đức Chí Tôn bèn giáng cơ cho bài thi như sau:

Thương con chẳng lựa chỗ cao ngôi

Giáng thế ngự trên cái ghế ngồi.

Khuyên cả chúng sanh đừng phi lễ,

Đêm nay hầu mãn khó trông rồi.

Quả thật, vào thời kỳ đó, Đức Chí Tôn mong muốn khai nền Đạo tại Tây Ninh cho nhanh chóng, nên Ngài lập nhiều Đàn cơ phổ độ khắp mọi nơi. Tại Phú Mỹ, Ngài rất thương yêu những con cái có đức tin trong Minh Thiện Đàn, nên không nệ là nơi thiếu tôn nghiêm, Ngài vẫn giáng cơ dạy đạo, để không phụ lòng những con cái chí thành.

Những Đàn cơ ở Phú Mỹ do ông Đinh Công Trứ và một số người trong Minh Thiện Đàn cầu các Đấng Thiêng liêng giáng cơ dạy Đạo, quý ông có kết tập các bài Thánh giáo cho xuất bản, gọi là “Minh Đạo”, hiện nay gọi là “Thánh Giáo Minh Thiện Đàn”, lúc ấy còn viết bằng tay, rồi cũng lập ban Kiểm duyệt gồm mười hai người để duyệt.

Năm 1929, Đức Hộ Pháp lánh nạn tại Thủ Đức được Ông Giáo Hữu Thượng Minh Thanh mời về Thánh Thất Phú Mỹ ở, ông Minh mới đem hết các bài Thánh ngôn, Thánh giáo trình cho Đức Hộ Pháp và đọc cho Đức Ngài nghe. Nghe xong Ngài bèn chọn lựa cho biết bài nào nên để lại, bài nào nên bỏ.

Cho đến ngày 3 tháng giêng năm Kỷ Tỵ (Dl. 12/2/1929), Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cơ lập Đồng Nghĩa Đường tại nhà ông Lê Văn Trung. Theo Lý Đại Tiên dạy, Đồng Nghĩa Đường là để cầu xin cho cả Đạo đặng tương thân tương ái mà chấn hưng Minh Thiện Đàn, nên gọi là Đồng Nghĩa. Sau đó Đức Lý Đại Tiên giáng cơ dạy Minh Thiện Đàn phải giao cho Đức Hộ Pháp chưởng quản. Đức Hộ Pháp mời tất cả những người gia nhập Minh Thiện Đàn đến Thánh Thất Khổ Hiền Trang để Đức Ngài hành pháp cân thần. Có tất cả 93 vị công quả trong Minh Thiện Đàn, Ngài cân thần lựa được 24 vi để lập Hồng thệ thọ Đào viên pháp.

Đến ngày 10 tháng 6 năm Kỷ Tỵ (Dl. 16/7/1929), Đức Hộ Pháp cùng vài người nữa đến Thánh Thất Khổ Hiền Trang lần thứ nhì. Đức Ngài hành pháp cân thần liên tiếp ba đêm cho 674 vị trong Minh Thiện Đàn, chọn được 48 vị, số còn lại chưa đạt điểm, Ngài dạy lo làm công quả thêm sau mới cân thần. Như vậy, tổng cộng hai lần cân thần tại Thánh Thất Khổ Hiền Trang Đức Ngài lựa được 72 trong Minh Thiện Đàn.

Theo ông Phạm Duy Hoai lần cân Thần thứ hai nầy có ông dự, Đức Hộ Pháp bảo mỗi người vào trước Thiên Bàn quỳ xuống, Ngài đến trước mặt, hai tay Ngài úp trên đầu của người đang quỳ. Ngài bảo nhắm mắt lại, Ngài hành Pháp, rồi đọc số điểm cho ông Lê Văn Trung ghi theo tám yếu tố của người được cân Thần là:

1. Hạnh: ….. điểm.

2. Đức: ….. điểm.

3. Trí: …….. điểm.

4. Lực: ….. điểm.

5. Tính: …… điểm.

6. Thần: …. điểm.

7. Tâm: ….. điểm.

8. Tình: ….. điểm.

Xong rồi Đức Ngài cộng các điểm của mỗi người lại, lấy số trung bình là 5 điểm chọn chính thức người đó đưa qua Phạm Môn. Những ai còn thiếu, chưa đạt trung bình hoặc yếu kém hạnh đức, Đức Ngài dạy phải cố gắng tu tập tiếp tục lập công đức. Khi đã được chọn vào Phạm Môn và được Đức Ngài bổ đi hành Đạo, Đức Ngài còn biểu đến trình diện để xét thêm “mạng căn số kiếp” cho thích hợp rồi mới có giấy bổ đi. Theo Đức Ngài, Hồi mới xuống thế, Đức Phật Mẫu cho tám thứ bửu nang, mỗi thứ là 10 điểm, khi nhập thế thì bị nhiễm trần rồi bỏ tiêu hết. Nay Đức Ngài đi tìm lại, ai còn được 5 điểm là Đức Ngài đem trả cho Phật Mẫu. Nếu phần nào thiếu phải tu tập thêm về phần đó cho đạt trung bình mới được.

Đến ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Tỵ, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp chứng giấy thông hành cho 72 vị Đạo hữu Minh Thiện Đàn đi hành thiện, tức đi xem công quả hành đạo ở các tỉnh: Mỹ Tho, Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng… Riêng ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung phải đi lưu hành khắp nơi. Kết quả nhờ quý vị Minh Thiện Đàn đi hành Thiện, nên số Đạo hữu ở các tỉnh Miền Tây theo về với Tòa Thánh Tây Ninh (không theo chi phái) rất đông. Sau đó, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp ban Huấn lịnh vào ngày 15 tháng giêng năm Canh Ngọ (Dl. 13/2/1930) cho Minh Thiện Đàn bốn chữ “Trung – Nghĩa – Trí – Dõng” và dạy 72 vị đã được Đức Hộ Pháp chọn về Tòa Thánh hiệp cùng các vị trong Phạm Môn để tạo lập cơ sở, còn những vị còn lại trong Minh Thiện Đàn thì được khuyến khích ở tại địa phương mình tiếp tục làm công quả. Đến năm Quý Dậu (1933), nhà cầm quyền Pháp ra lịnh đóng cửa tất cả các cơ sở của Phạm Môn. Nhơ vậy, Đức Hộ Pháp mới chuyển Phạm Môn thành những cơ sở Phước Thiện và chuyển đi khai mở khắp nơi trong các tỉnh miền Nam Việt Nam, hình thành Cơ Quan Phước Thiện.

Tóm lại, Minh Thiện Đàn ở Phú Mỹ và Phạm Môn ở Tây Ninh, vào đầu năm Mậu Dần (1938) coi như bị giải thể để Đức Hộ Pháp nhập lại làm Cơ Quan Phước Thiện, được quyền Vạn Linh công nhận theo Đạo Luật năm Mậu Dần và Đạo Nghị Định số: 48/PT của Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đồng ký tên thành lập Cơ Quan Phước Thiện với Thập nhị đẳng cấp thiêng liên

 

 

 

 

CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN

Cơ Quan Phước Thiện là một tổ chức của đạo Cao Đài, có nhiệm vụ làm những việc phước, những việc thiện để giúp cho những người đang bị nghèo đói hay khổ sở trong cuộc sống.

Trước đây, vào ngày 14 tháng 10 năm Đinh Mão (Dl. 8/11/1927), Đức Lý Giáo Tông giáng cơ tại nhà ông Đinh Công Trứ dạy phải lập Minh Thiện Đàn, một nhóm tu chơn tại làng Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho. Sau đó, Đức Lý giáng cơ giao lại cho Đức Hộ Pháp làm Chưởng quản.

Đức Hộ Pháp cho mời tất cả những người gia nhập Minh Thiện Đàn đến Thánh Thất Khổ Hiền Trang, Ngài cân thần trong hai lượt chọn lựa được 72 vị rồi cho gia nhập vào Phạm Môn.

Tại Tòa Thánh Tây Ninh, trong thời gian nầy Đức Hộ Pháp khởi lập Phạm Môn vào năm Canh Ngọ (1930) mà cơ sở Phạm Môn đầu tiên là Phạm Nghiệp. Từ đó, các cơ sở Phạm Môn lần lượt được mở ra nhiều nơi.

Hồi mới lập Phạm Môn, các Sở Lương điền, Công nghệ, Thương mại, Bệnh viện, Dưỡng lão, Cô nhi,.v..v.. đều do Phạm Môn coi giữ.

Đến năm 1933, nhà cầm quyền Pháp ra lịnh đóng cửa tất cả các cơ sở Phạm Môn. Đến ngày 4 tháng 8 năm Bính Tuất (Dl. 30/8/1946), Đức Ngài từ mã đảo trở về Tòa Thánh, liền tái thủ đạo quyền, chấn chỉnh lại các cơ sở hành chánh đạo. Sau đó, Đức Ngài sai hai ông Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh và ông Lê Văn Trung xuống Sài Gòn để tìm hiểu về vấn đề Từ thiện, xã hội bên Thiên Chúa giáo, đồng thời gần gũi với với các Cha Xứ, Linh Mục, Con Chiên để hỏi han về cách tổ chức, sinh hoạt về Từ thiện.

Hai ông Tiếp Thế và ông Trung đem những điều mắt thấy tai nghe, thực tế và những điều cốt lõi của việc tổ chức Từ thiện của giáo hội Thiên chúa giáo trình bày cho Đức Ngài biết.

Đức Hộ Pháp cho rằng: Phạm Môn họ lầm tưởng nên họ đánh đổ, bây giờ Qua đặt tên cho việc làm thiện có tổ chức, nội quy, chức năng hành tàng, hệ thống, luật lệ rõ ràng là “CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN”, khác hơn người ta từ thiện là trúng; không ai đánh đổ vì nó là cơ quan cần phải có. Hơn nữa việc Phước, việc Thiện là nằm trong Phạm Môn. Vậy phước thiện nằm trong Phạm Môn, do Phạm Môn mà có.

Vì vậy, Ngài mới thành lập Cơ Quan Phước Thiện. Về sau cơ quan nầy càng ngày càng lớn lên, có chức sắc, đầy đủ pháp lý, có đủ chín viện, rồi Ngài lại nâng lên thành Hội Thánh Phước Thiện vào ngày 15 tháng 10 năm Bính Tuất.

Cơ Quan Phước Thiện được chính thức khai sanh trong cuộc Đại Hội Nhơn Sanh vào năm 1938, do Đạo Nghị Định số 48/PT ngày 19 tháng 10 năm Mậu Dần (Dl. 10/12/1938), được quyền Vạn linh công nhận. Đạo Nghị Định nầy do Đức Lý Giáo và Đức Hộ Pháp đồng ký tên.

Theo Đạo Nghị Định trên, Cơ Quan Phước Thiện gồm Thập nhị Đẳng cấp thiêng liêng chia ra làm hai bực:

1- Từ phẩm: Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện, Đạo Nhơn và Chơn Nhơn thì thuộc Cơ Quan Phước Thiện, lo việc cứu khổ ban vui.

2- Từ phẩm: Hiền Nhơn, Thánh Nhơn, Tiên Tử và Phật Tử thuộc Hiệp Thiên Đài để bảo tồn chơn pháp.

Hội Thánh Phước Thiện trực thuộc Chi Đạo Hiệp Thiên Đài, do một vị Thời Quân chi Đạo làm Thống Quản cả nam phái và nữ phái, Nam phái và nữ phái Phước Thiện được biệt lập, mỗi phái có một vị Chưởng quản đứng đầu là phẩm Chơn Nhơn. Dưới Chưởng quản có hai vị Phó Chưởng quản, gọi là Đệ nhứt và Đệ nhị Phó Chưởng quản.

Cơ Quan Phước Thiện nam và nữ phái đều có tổ chức cửu viện riêng biệt, quyền hành cũng riêng biệt. Giống như cửu viện bên Cửu Trùng Đài, mỗi viện có một vị Thượng Thống đứng đầu.

Dưới Cửu viện Phước Thiện còn có Trấn Đạo Phước Thiện, Châu Đạo Phước Thiện, Tộc Đạo Phước Thiện. Mỗi Tộc Đạo Phước Thiện có lập một nhà Sở Phước Thiện chánh với một Bàn Cai Quan Phước Thiện gồm 12 thành viên, đứng đầu là Chủ trưởng Bàn Cai Quản Phước Thiện dưới quyền của vị Giáo Thiện Quản Tộc Đạo Phước Thiện. Dưới Bàn Cai Quản Phước Thiện là các Sở Lương Điền, Công Nghệ, Thương Mãi trong các Hương Đạo. Mỗi Sở Phước Thiện có một vị Chủ Sở, phẩm Hành Thiện đứng đầu, có nhiều nhân viên công quả gọi là Đạo Sở.

Hai câu Liễn của Cơ Quan Phước Thiện:

福 德 天 頒 萬 物 眾 生 離 苦 刧

Phước đức Thiên ban vạn vật chúng sanh ly khổ kiếp

善 緣 地 貯 十 方 諸 佛 合 元 人

Thiện duyên địa trữ thập phương chư Phật hiệp nguyên nhân.

Nghĩa là:

Trời ban phước đức cho vạn vật và chúng sanh lìa khỏi kếp sống khổ.

Đất chứa duyên lành, chư Phật mười phương hiệp các nguyên nhân trở về.

Dạy về mục đích của Cơ Quan Phước Thiện, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp khi Khai mạc Đại Hội Phước Thiện ngày 30 tháng 8 năm Tân mùi (Dl. 30/9/1951) có đoạn viết: Bây giờ cơ quan cứu khổ, dầu không nói mấy người cũng đã biết, ấy là trách vụ của người Phước Thiện đó vậy.

Đức Chí Tôn đến, có điều thiết yếu hơn hết, Ngài đến là vì con cái của Ngài quá khổ, Ngài đến với cái sở định của Ngài, là đến cứu khổ cho toàn thể con cái của Ngài. Cơ cứu khổ ấy trong lúc ban sơ, Đức Chí Tôn đã đưa trong tay Hiệp Thiên Đài. Bần Đạo không biết làm sao thiệt hành ra được. Hồi đó Hội Thánh Phước Thiện chưa thành lập, giao cơ cứu khổ, Bần Đạo không biết phải làm thế nào, nhưng chẳng bao lâu Ngài lập thành Hội Thánh Phước Thiện, chừng đó Bần Đạo mới biết cơ cứu khổ là đây.

Ấy vậy, Hội Thánh Cửu Trùng Đài là Hội Thánh của Giáo Tông, còn Hội Thánh Phước Thiện là của Hộ Pháp. Hội Thánh bên kia bảo vệ văn hiến Tôn Giáo. Hội Thánh bên này cứu khổ, còn có chỗ nào hay ho hơn nữa.

 

 

 

 

KHÁCH ĐÌNH

Khách 客: Người khách, người ở nơi khác đến. Đình 亭: Nhà trạm dùng làm nơi nghỉ chân của khách.

Khách đình, nghĩa đen là cái nhà trạm dùng làm chỗ tạm dừng chân của khách lữ hành.

Trong tôn giáo Cao Đài, Khách đình là cái nhà tang lễ dành cho chức sắc và toàn tín đồ, là nơi để quan tài người liễu đạo đặng tế lễ và cầu siêu.

Tại sao lại gọi con người sống ở cõi Trần là “Khách”?

Người xưa quan niệm rằng cõi tục là cõi sống tạm, cõi Thiêng Liêng mới là cõi vĩnh hằng, vì vậy mới có câu “Sanh ký tử quy 生 寄 死 歸” nghĩa là “sống gửi thác về”, tức là sống thì gửi tạm làm khách nơi cõi tục, thác thì về chốn thiêng liêng, quê hương.

Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng có dạy: Các con, Cõi trần là chi? Khách trần là sao? Sao gọi là khách? Trần là cõi khổ để đọa bậc Thánh Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả phải mất cả chơn linh là luân hồi. Nên kẻ bị đọa trần là Khách trần.

Do đó triết lý của đạo Cao Đài cho rằng con người sống ở cõi Trần là “Khách trần” (hay khách tục, khách phàm). Dùng chữ “Khách” để chỉ con người ở thế gian là có ý nói cõi trần là không phải nơi ở vĩnh viễn, mà chỉ là cõi ở tạm một thời gian rồi sẽ về với quê hương thực sự là cõi Thiêng liêng hằng sống.

Khi có người vừa mới chết, thân nhân có thể đưa vào “Khách Đình” như một trạm để dừng chân lại để nghỉ ngơi, trước khi trở về sống nơi cõi Hư vô.

Nơi Nội ô Toà Thánh Tây Ninh, Khách Đình là một Tòa nhà nằm đối diện với Ban nhà thuyền, mặt tiền có đề hai chữ “Khách Đình 客 停” ở giữa và hai bên cột có câu liễn như sau:

Khách quán từ bi trừ trái chủ,

客 館 慈 悲 除 債 主

Đình thuyền Bát Nhã độ mê tân,

亭 船 般 若 渡 迷 津,

Nghĩa là:

Nơi quán trọ của khách trần, từ bi trừ hết nợ oan trái,

Trạm thuyền Bát nhã giúp qua khỏi bến mê.

Và mặt tiền của Khách Đình lại có hai câu:

生 也 造 得 善 緣

Sanh dã tạo đắc thiện duyên

死 也 脫 離 苦 劫

Tử dã thoát lý khổ kiếp

Nghĩa là:

Sống thì tạo được duyên lành,

Chết thì thoát khỏi cái nghiệp quả của kiếp sống.

Bên trong Khách Đình là một gian nhà rộng, có ngăn một bức vách, phía trước là một khoảng trống dành để đặt quan tài của người chết khi hành lễ tang. Phía sau Đức Hộ Pháp có lập một bàn thờ để thờ Thiên Nhãn, tức là thờ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế quay mặt ra cửa sau.

Theo lời “Tiểu Dẫn” về cách thờ phượng và cúng kiếng trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có viết: Lập vị Thượng Đế thì phải lựa nơi nào cho tinh khiết, tốt hơn hết là ở giữa nhà, lập trang thờ cho cao, treo màn cho khuất chỗ thờ phượng.

Thế mà tại sao Khách Đình là nơi để quàn các xác người chết, chỗ nhiều âm khí nặng nề, ô trược mà tại sao lập Bàn thờ Thầy?

Và nếu thờ Thiên Nhãn thì thường có thờ Tam vị Giáo Chủ và Tam Trấn Oai Nghiêm mà tại sao nơi Khách Đình chỉ thờ duy nhất là Thiên Nhãn?

Điều nầy, trong bài Thuyết đạo của Đức Hộ Pháp vào ngày rằm tháng 7 năm Nhâm Thân (1932) có giải thích như sau:

Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ, vì quá thương yêu con cái của Ngài, nên Ngài lén Thiên đình (Tam Giáo Chủ và Tam Trấn không hay biết) đi xuống Khách Đình để cứu độ con cái của Ngài trở về.

Bấy lâu nay, con cái của Ngài say đắm thế trần, lao vào các dục vọng thể xác, không còn nhớ đến ông Cha thiêng liêng đang ngày đêm trông đợi, cũng có khi con cái có nhớ tới, nhưng vì thân mang nhiều tội lỗi nên không dám đến gần ông Cha thiêng liêng, cứ chạy trốn hoài. Ngày giờ nầy, xác thân đã được đưa đến Khách Đình thì hết còn trốn tránh, và Đại Từ Phụ lén xuống đây để cứu độ con cái của Ngài trở về, thể hiện một tấm lòng thương yêu vô bờ bến của một ông Cha quá khổ cực vì các con.

Lo cho nó nên Phật, nó cứ muốn làm ma

Lo cho nó thành Trời, nó cứ ham làm quỉ.

Nỗi buồn tình ấy tả sao cho nổi

Gần hung ác tập rèn quen tánh,

Chỉnh lấy thân yếu mạnh so đời,

Không lương tâm, nào biết ngó Trời.

Theo thân thể trọn đời làm quỉ.

Thấy như thế, già tuôn giọt lệ,

Lại hiểu con chẳng nghĩ đến mình

Gạt lệ rơi về tạm Khách Đình,

Chẳng cho trẻ biết hình biết dạng…”.

Như vậy, thờ Thiên Nhãn nơi Khách Đình: Về mặt hình thức thể là để tiện việc cho chức sắc hành pháp, thỉnh nước âm dương, luyện thành Cam lộ thủy để làm phép xác. Về mặt vô vi Đức Chí Tôn vì quá thương yêu con cái nên một mình Ngài rời Thiên Đình xuống trần gian, không nệ chỗ uế trược đến độ rỗi con cái của Ngài lúc quá cố hồn lìa khỏi xác, để trở về cùng Ngài mà Tam vị Giáo Chủ và Tam Trấn Oai Nghiêm không hay biết.

 

 

 

 

KHÁCH ĐÌNH KHÔNG CÓ THỜ CỬU HUYỀN THẤT TỔ

Khách Đình là cái nhà tang lễ trong tôn giáo Cao Đài, dành cho chức sắc đối phẩm hàng Thần (như: Lễ Sanh, Giáo Thiện, Hiền Tài…) và toàn tín đồ của Đạo, ai muốn đem quan tài người liễu đạo vào nơi đó đặng tế lễ và cầu siêu cũng được, song phải làm đơn xin phép Hội Thánh trước. Ngoài ra Khách Đình còn là nơi dùng để Cầu siêu hội hằng năm.

Như chúng ta biết, nơi Khách Đình nầy có những nghi thức thờ phụng rất đặc biệt, như đối diện với cửa sau của Khách Đình, Đức Hộ Pháp cho lập một Bàn thờ để thờ Thiên Nhãn, tức thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, nhưng trên Bàn thờ không có Long vị ba Đấng Giáo chủ và Tam Trấn Oai Nghiêm như các Thánh Thất ở địa phương. Đặc biệt nhứt là hành lễ tang tại đây, khi tẩn liệm, quan tài người chết đặt trước Bàn thờ Đức Chí Tôn, đầu người quy liễu quay vào Bàn thờ. Lúc quàn để hành lễ tang, đầu quay ra đường và lập bàn nghi bên phía đầu người chết.

Thờ Thầy tại đây thì rất thuận tiện cho việc cúng Đức Chí Tôn và cho chư Chức sắc thỉnh nước âm dương để hành pháp cho người quy liễu tại Khách Đình. Nhưng có một điều là tại Khách Đình nầy không có thờ Cửu Huyền Thất Tổ. Cho nên có lệ là mỗi lần đám xác hay đám Tiểu, Đại tường tại Khách Đình thì những người phụ trách phải dọn một cái Bàn nghi bên Nam và một cái Bàn nghi bên Nữ để làm lễ Cáo Từ Tổ rồi mới Đăng điện hành lễ. Đám xong thì dẹp hai Bàn nghi ấy đi.

Vào những năm 1961 đến năm 1963, ông Thượng Thống Lễ Viện Phạm Duy Hoai kể lại rằng: Nhiều người có thân nhân là Chức sắc Lễ Sanh hành đám tại Khách Đình dị nghị mà ông đã nghe được, họ cho rằng: Báo Ân Từ có Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ, còn Khách Đình thì không có. Như vậy là Chức sắc hàng Thánh thì có Cửu Huyền Thất Tổ, còn Chức sắc hàng Thần thì không có Cửu huyền sao?

Lúc đó ông Phạm Duy Hoai mới làm tờ phúc và dâng lên Ngài Bảo Thế đương quyền Thống Quản Hội Thánh Phước Thiện để Ngài giải thích cho mọi người hiểu. Nhưng Ngài Bảo Thế không trả lời bằng văn bản.

Một hôm Ngài Bảo Thế mời ông Phạm Duy Hoai lên văn phòng Ngài để bàn bạc ý kiến và hỏi tại sao từ nào giờ tại Khách Đình lại không có Bàn thờ Cửu Huyền. Ông Hoai nói: Từ khi cất Khách Đình, thì Đức Hộ Pháp cho vẽ ba chữ Nho thật lớn màu xanh dương trong ba căn của Khách Đình.

Trong nhìn ra, gian giữa tức ngay chỗ đầu quan tài người chết là chữ “祿 Lộc”, gian bên phái Nữ là chữ “福 Phước”, gian bên phái Nam là chữ “壽 Thọ”. Ba chữ lớn bằng nhau theo một hàng ngang là “Phước Lộc Thọ”. Lúc ấy không có lập Bàn thờ Cửu Huyền, mỗi khi có đám tại Khách Đình thì đem một cái bàn cây có bốn chân cao kiểu như Bàn thờ Cửu Huyền ở tư gia để cầu Tổ phụ, gọi là Cáo Từ tổ. Xong đám rồi thì dọn dẹp.

Ngài Bảo Thế hỏi: Vậy sao hồi còn Đức Hộ Pháp không ai dị nghị, không ai hỏi, không ai nói, mà bây giờ lại nói.

Tuy nói thế, nhưng Ngài Bảo Thế vẫn dạy ông Phạm Duy Hoai như sau: Lấy hai cái Bàn thường dùng để Cáo Từ tổ khi có đám đem đặt cố định ở hai bên, trên đó trang trí lư hương, đèn, bông trái, rượu trà y như lúc có đám và hằng ngày cũng đốt nhang mỗi khi cúng thời, giống như lập một Bàn thờ, nhưng không có lập Bài vị như bên Báo Ân Từ, vì nơi đó chỉ cầu khi có đám mà thôi, bình thường thì không thờ Cửu Huyền ở đó, bởi đó chỉ là Khách Đình chớ không phải nơi phụng tự. Ông Phạm Duy Hoai về thực hiện y như lời Ngài Bảo Thế dạy tại Khách Đình cho đến ngày hôm nay.

Điều Ngài Bảo Thế dạy, chúng ta thấy ngày nay tại Hậu điện các Thánh Thất địa phương lập hai Bàn nghi ở hai bền Bàn thờ Chư Tiên Linh để cúng tế vong khi bổn đạo đến xin làm tuần Cửu, Tiểu Đại tường.

Hai Bàn nghi nầy không có Long vị, tức là không có thờ ai, chỉ vẽ tranh sơn thủy hoặc mai, lan, cúc, trước cho có vẻ trang trọng. Không để hình ảnh nào ở đây.

Trên đó cũng sắp sẵn lư hương, cặp đèn nghi, đĩa chưng trái cây, bình bông, một ly rượu, một chung trà.

Khi làm tuần cửu đến phần thế đạo thì để Lịnh vị của người quá cố nơi đây, nam bên nam, nữ bên nữ. Khi cúng tế xong thì tang quyến thỉnh Linh vị về thờ ở tư gia hoặc nơi khác chớ không thể Linh vị thường xuyên nơi Bàn nghi nầy, vì nơi đó không phải là Bàn thờ vong.

 

 

 

 

BỘ PHÁP CHÁNH

Khi chưa thành lập Bộ Pháp Chánh, Đạo Luật năm Mậu Dần (1938) có lập ra Tòa Đạo.

Tòa Đạo là tòa án của Đạo do Hiệp Thiên Đài lập ra để xét xử những chức sắc và tín đồ phạm pháp luật của Đạo, tức là một cơ quan bảo thủ chơn truyền, gìn giữ luật pháp, chăm nom chư chức sắc, chức việc và đạo hữu thi hành phận sự, chở che những kẻ yếu tha, binh vực những người cô thế, hoặc tiếp cả sự uất ức bất công của toàn sanh chúng, tức giữ nét công bình trên mặt đạo, lại cũng là một cơ quan giúp cho Hành chánh, Phước thiện và Phổ Tế thêm oai quyền mạnh mẽ, tôn nghiêm đặc sắc.

Ngày 27 tháng 11 năm 1947, Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa đảm nhận chức chưởng quản Tòa Đạo. Ngài đứng ra tổ chức và lập nội luật của một cơ quan trung ương thuộc Hiệp Thiên Tài coi về quyền Tư pháp của Đạo, gọi là Bộ Pháp Chánh.

Từ đó, danh từ Bộ Pháp Chánh mới được dùng để chỉ một “cơ quan trung ương bảo thủ chơn truyền, giữ gìn luật pháp, dìu dẫn và lập vị cho con cái Đức Chí Tôn trong khuôn viên luật pháp của Đạo đã thành lập, giữ cân công bình thể Thiên hành hóa, có trách vụ nặng nề để binh vực kẻ cô thế, yếu hèn bị áp chế, để sửa răn những kẻ phạm pháp luật, hầu tránh khỏi Thiên Điều trừng trị, nếu bị thế trị thì mới mong giảm tội thiêng liêng, bằng không bị thế trị thì Thiên Điều không mong gì cầu rỗi.

Như vậy, Bộ Pháp Chánh là một cơ quan do Hiệp Thiên Đài lập ra để thi hành quyền Tư pháp, tức có nhiệm vụ giữ gìn luật pháp của Đạo cho thật ngay chánh, nghiêm minh để bảo thủ được chơn truyền theo đúng hai câu liễn ngoài cổng của Bộ Pháp Chánh như sau:

Pháp luật vô tư đạo giáo từ uy tùng lý,

法 律 無 私 道 教 慈 威 從 理,

Chánh tông bất dịch chơn truyền thiện ác tuỳ hình.

正 宗 不 易 真 傳 善 惡 隨 刑.

Nghĩa là:

Pháp luật không thiên vị ai nhưng hình phạt của tôn giáo thì hiền lành, thường theo lẽ phải.

Đạo chánh không có thay đổi chơn truyền nhưng việc thiện ác tuỳ theo hình phạt mà áp dụng.

Bộ Pháp Chánh được đặt dưới quyền chưởng quản của một vị Thời Quân Chi Pháp Hiệp Thiên Đài, dưới có một vị Trưởng Phòng trông coi ba phòng sau đây:

Phòng Minh Tra (minh tra công nghiệp đạo của chức sắc).

Phòng Thẩm Vấn.

Phòng Nhân Viên.

Ngoài ra, dưới vị Trưởng Phòng, Bộ Pháp Chánh còn có một vị Quản Văn Phòng để phụ giúp công việc cho vị Chưởng Quản có Bí Thư và nhiều Phụ Trách.

Nhiệm vụ của Bộ Pháp Chánh được tóm tắt như sau:

1/. Bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đạo.

Bộ Pháp Chánh sẽ kiểm soát hành vi hạnh kiểm của các chức sắc đi hành đạo để thu phục nhân tâm và để cho công việc phổ độ được tốt đẹp.

2/. Lập các Tòa Đạo để xử trị những người từ đạo hữu đến chức sắc Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện vi phạm pháp luật Đạo. Riêng chức sắc Hiệp Thiên Đài vi phạm luật pháp thì có Ban Kỷ Luật Hiệp Thiên Đài sửa trị.

Thẩm quyền của cơ quan nầy rất rộng lớn vì có thể nghị án, cảnh cáo hoặc trục xuất một chức sắc tùy theo phạm tội nặng hay nhẹ.

3/. Minh tra công nghiệp của chức sắc Cửu Trùng Đài và Phước Thiện.

Một chức sắc được thăng cấp hay không, chậm hay mau là tùy theo kết quả minh tra công nghiệp của cơ quan nầy.

4/. Phòng Kiểm duyệt Kinh luật.

Những kinh luật nào có tính cách làm tổn thương tinh thần đạo đức, Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài cũng được phép đề nghị hủy bỏ.

Bộ Pháp Chánh là cơ quan ở Trung ương, ngoài ra còn có các ty Pháp Chánh ở mỗi Địa phương tại Trấn Đạo, Châu Đạo và Tộc Đạo.

Bộ Pháp Chánh sẽ bổ nhiệm các Chức sắc Hiệp Thiên Đài tiểu cấp để đảm nhiệm Pháp Chánh tại địa phương, như sau:

Pháp Chánh tại Trấn Đạo do một vị Truyền Trạng Hiệp Thiên Đài (đối phẩm Giáo Hữu) đảm nhiệm

Pháp Chánh tại Châu Đạo do một vị Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài (đối phẩm với Lễ Sanh) đảm nhiệm.

Pháp Chánh tại Tộc Đạo do một vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài (đối phẩm với Chánh Trị Sự) đảm nhiệm.

 

 

 

 

BAN KIẾN TRÚC

Ban Kiến Trúc là một Ban công thợ có nhiệm vụ lo việc thiết kế, xây dựng, trang trí các Thánh Thất, hay các Điện Thờ Mẫu, cùng các cơ quan khác ở trung ương Tòa Thánh hay các địa phương của Đạo Cao Đài.

Đứng đầu Ban Kiến Trúc là một vị Tổng Giám, nhiều vị Phó Tổng Giám và Tá Lý giúp việc.

Như ta biết, từ ngày mới Khai Đạo nhứt là trong giai đoạn Hội Thánh trả chùa Gò Kén cho Hòa Thượng Như Nhãn để về làng Long Thành Tây Ninh khai phá rừng cất ngôi thờ Đức Chí Tôn đều nhờ sự hy sinh của nhân viên công quả, không nệ hiểm nguy của thú dữ, lam sơn chướng khí của núi rừng để theo tiếng gọi thiêng liêng của Hội Thánh mà làm tròn một chức sắc, một nhân viên công quả. Chính Đức Thượng Sanh, trong một bài Thuyết đạo trước đông đủ chức sắc, chức việc Phước Thiện đã nhắc lại công lao vĩ đại đó như sau:

Hồi tưởng lại cách đây bốn mươi mốt năm, vùng nội ô và ngoại ô Thánh địa toàn là những khu rừng rậm chứa đầy thú dữ. Biết bao điều nguy hiểm trong sự phá rừng và sự khai thác: nào lam sơn chướng khí, nào nước độc muỗi mòng, nào thú dữ chực hờ...lại thêm thiếu người công quả. Nếu chức sắc lúc ban sơ không có chí hy sinh và sụt sè vì những trở ngại, nếu Ðức Thượng Phẩm không có chí cương quyết điều khiển công quả, phần nhiều là người Tần Nhơn thì ngày nay đâu có vùng Nội ô Thánh Ðịa, đâu có một đô thị tôn giáo trang hoàng và xinh đẹp nhứt trong nước Việt Nam.

Đó chỉ giải đoạn đầu phá rừng cất ngôi chúa lá bằng cây ván, còn những công trình sau nầy như ngôi Đền Thánh hiện nay, Báo Ân Từ, các cơ quan Đạo, vòng rào chung quanh và cổng trong Nội Ô Tòa Thánh đều nhờ công sức của mọi thành phần trong Đạo đóng góp, nhứt là công lao khổ nhọc của các nhân viên công quả trong Ban Kiến Trúc trực tiếp xây dựng nên. Điều nầy Đức Thượng Sanh, trong cuộc lễ Khánh Thánh Nhà Hội Vạn Linh cũng đã cho biết như sau:

Thưa toàn thể chư Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu, hoàn thành được công trình xây dựng nầy, Hội Thánh nhờ nơi tấm nhiệt thành của toàn Ðạo Chức sắc, Chức việc, cùng Ðạo hữu nam nữ nơi trung ương cũng như ở các địa phương vui lòng chung đậu kẻ ít người nhiều, nhứt là nhờ nơi công quả của BAN KIẾN TRÚC và thợ chuyên môn toàn là người hiến thân cho Ðạo.

Vậy Ban Kiến Trúc được thành lập trên cơ sở pháp lý nào?

Trước đây, Ban Kiến Trúc, Ban Nhà Thuyền và Ban Mỹ Thuật là ba bộ phận trực thuộc Cơ Quan Công Thợ, do Đức Hộ Pháp ban hành Thánh Lịnh Số: 231/TL ngày 9 tháng 7 năm Canh Dần (Dl. 22/18/1950) lập thành gồm có các chức danh và quy định nhiệm vụ như sau:

A - Tá Lý coi về một Sở, đối hàm với Chánh Trị Sự hay Hành Thiện.

B - Phó Tổng Giám làm đầu một hay nhiều Sở, dưới quyền của Tổng Giám, đối hàm Lễ Sanh.

C - Tổng Giám kiểm soát toàn thể các cơ sở, đối hàm Giáo Hữu.

Các chức vụ trên cũng phải hành sự trong Đạo đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu thăng và tới bậc Tổng Giám thì được Hội Thánh đem ra quyền Vạn Linh công nhận vào hàng Giáo Sư, sau khi đầy đủ công nghiệp.

Theo Thánh Lịnh trên:

Các phẩm trong Cơ Quan Công Thợ như Tá Lý, Phó Tổng Giám, Tổng Giám không có đạo phục riêng khi chầu lễ Đức Chí Tôn. Mỗi khi các vị nầy vào cúng Đàn thì mặc áo dài trắng như Đạo Hữu và đứng vào vị trí Đạo Hữu. Nhưng khi quy liễu thì được hành lễ tang theo nghi thức tương đương, nghĩa là:

Tá Lý hành lễ tang theo Chánh Trị Sự.

Phó Tổng Giám hành lễ tang theo Lễ Sanh.

Tổng Giám hành lễ tang theo Giáo Hữu.

Cơ Quan Công Thợ, theo Thánh Lịnh số: 231/TL chịu dưới quyền của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức là không trực thuộc riêng của Hội Thánh Cửu Trùng Đài hay Hội Thánh Phước Thiện.

Chính sự kiện pháp lý nầy đã xảy ra trước đây giữa Ban Kiến Trúc và Hội Thánh Phước Thiện khi xây dựng cổng Chánh Môn vào năm 1965.

Theo thông lệ từ trước, khi xây dựng một công trình nào của Hội Thánh cũng đều do bản vẽ của Đạo, tức do Ban Kiến trúc vẽ.

Bản vẻ cổng Chánh môn được Đức Hộ Pháp chỉ dẫn Ban Kiển trúc vẻ vào năm Đinh Hợi có “Bề cao 36 thước, bề ngang 60 thước, cổ kín tam quan, trên nóc đắp mái ngói có hình cổ pháp tam giáo”.

Ngoài ra sau nầy Thiếu Tướng Lê Văn Tất, con Ngài Đạo Nhơn Lê Văn Trung được Chánh phủ bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Tây Ninh, có nhờ Ty Kiến Thiết tỉnh Tây Ninh vẽ một họa đồ khác về cổng Chánh môn, chỉ cao có 9 thước, ngang 54 thước, trên ngói đắp hai rồng phò Cổ pháp.

Bản thiết kế nầy được Ngài Bảo Thế, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài chập thuận lấy để xây cổng Chánh Môn.

Trong lúc đó, Tổng Giám Ban Kiến Trúc là ông Lê Văn Thế phản đối, không bổ công thợ đến xây dựng, viện lý do rằng không dùng họa đồ của Ban Kiến Trúc vẽ theo sự chỉ dạy của Đức Hộ Pháp.

Ngài Bảo Thế bèn ra lịnh cho ông Chưởng Quản Cơ Quan Phước Thiện là Chơn Nhơn Lê Văn Trung ban Huấn lịnh số 31/HL ngày 10 tháng 5 năm Ất Tỵ thâu quyền chức Tổng Giám của Lê Văn Thế và cử ông Phó Tổng Giám Trần Văn Lành lên thay quyền Cai quản Ban Kiến Trúc, bổ công thợ để xây dựng cổng Chánh môn.

Sau đó, Tổng Giám Lê Văn Thế đem tất cả nội vụ trình lên Đức Thượng Sanh. Thượng Sanh yêu cầu Bộ Pháp Chánh minh tra rồi dựa theo phúc trình của Bộ Pháp Chánh, Ngài ra văn bản giải quyết như sau:

 

Hiệp Thiên Đài

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Tứ thập niên)

Thượng Sanh

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 072/TS

-------------

 

 

Kính gởi:

- Hiền huynh Bảo Thế.
- Hiền huynh Đầu Sư.

 

Tham chiếu: V/v Chưởng Quản Phước Thiện ra Huấn Lịnh thâu hồi nhiệm vụ của vị Tổng Giám Ban Kiến Trúc Lê Văn Thế.

Kính Quý Hiền huynh,

Theo Phúc Trình minh tra số: 157/PC của Hiền huynh Hiến Pháp, Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh thì vị Chưởng Quản Phước Thiện không có thẩm quyền thâu hồi nhiệm vụ của vị Tổng Giám Ban Kiến Trúc Lê Văn Thế, vì chức vụ Tổng Giám ngang hàng với Giáo Hữu Cửu Trùng Đài.

Ngoài ra chiếu theo Thánh Lịnh Số: 231/TL ngày 20 tháng 8 năm 1950 của Đức Hộ Pháp, Ban Kiến Trúc là một Cơ Quan Công Thợ biệt lập, chịu dưới quyền điều khiển của vị Tổng Giám và đặt dưới hệ thống của Cửu Trùng Đài và Phước Thiện đặng tạo tác hoặc tu bổ các cơ sở trong châu vi Tòa Thánh.

Nếu Tổng Giám cơ quan nầy không làm tròn phận sự hoặc không tuân lịnh thượng cấp, thì tùy trường hợp, bên Hành Chánh hay bên Phước Thiện phúc báo lên Hội Thánh Hiệp Thiên Đài để nội vụ được giao qua Bộ Pháp Chánh minh tra đủ lẽ rồi Hội Hiệp Thiên Đài mới quyết định sau.

Vậy quý Hiền huynh ra lịnh cho các cơ quan dưới quyền trực thuộc của mình thi hành theo đề nghị của Bộ Pháp Chánh gồm hai khoản sau đây:

1/. Quyền chức của vị Tổng Giám Lê Văn Thế vẫn giữ như cũ.

2/. Ngưng công cuộc tạo tác những Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu trong các Phận Đạo chiếu theo lời phê của Đức Hộ Pháp và quyết nghị của Hội Nhơn Sanh năm Giáp Thìn. Những Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu cất lỡ rồi, Hội Thánh sẽ tùy nghi sửa đổi cho hợp thời và hợp lệ.

Nay kính,

Tòa Thánh, ngày 25 tháng 8 năm Ất Tỵ
(Dl. 20/9/1965)

(Ấn ký)

THƯỢNG SANH

Số: 221/SL: Sao y bổn chánh.

Tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, lịnh cho
Khâm Thành thi hành khoản 2 trong chỉ thị nầy.

Tòa Thánh, ngày 28 tháng 8 năm Ất Tỵ
Đầu Sư
Thượng Sáng Thanh.

Tóm lại, Ban Kiến Trúc không trực thuộc riêng của Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện, mà đặt dưới quyền của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Trước đây, có nhiều người tưởng lầm Ban Kiến Trúc đặt dưới quyền Công Viện Phước Thiện, nên qua sự việc trên, vị Chưởng Quản Phước Thiện là Chơn Nhơn Lê Văn Trung mới lập Huấn lịnh thu hồi chức Tổng Giám của Lê Văn Thế và cử Phó Tổng Giám Trần Văn Lành lên thay. Nhưng theo theo Đức Thượng Sanh, qua văn bản số: 072/ TS, cho rằng Ban Kiến Trúc do Thánh Lịnh số: 231/TL của Đức Hộ Pháp thành lập ngày 10 tháng 5 năm Ất Tỵ, là bộ phận của Cơ Quan Công Thợ, một cơ quan biệt lập, đặt dưới hệ thống của Cửu Trùng Đài và Phước Thiện đặng tạo tác hoặc tu bổ các cơ sở trong châu vi Tòa Thánh.

 

 

 

 

ĐỒNG NHI VÀ LỄ NHẠC

Đồng Nhi và Lễ Nhạc là những ban ngành chuyên môn trong Đạo Cao Đài, có nhiệm vụ giúp cho việc cúng kính các Đấng Thiêng liêng hoặc hành lễ tang cho được trang nghiêm hòa nhã. Những bộ phận nầy không phải do Hội Thánh đặt để ra, mà chính do Đức Chí Tôn sắp đặt từ buổi sơ khai.

ĐỒNG NHI

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đàn cơ ngày 5 tháng 8 năm Bính Dần, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy hai bà Trần Thị Lựu, bạn đời của Ngài Cao Quỳnh Diêu và Nguyễn Thị Hiếu, hiền nội của Ngài Cao Quỳnh Cư như sau: Lựu và Hiếu tập một lũ Ðồng nhi chừng 36 đứa, đặng mỗi khi Ðại Lễ nó tụng kinh cho Thầy; bên Nam cũng vậy, Cư, Tắc, Sang, Phú, mấy con cũng dạy 36 đứa Ðồng nhi Nam nữa.

Như vậy, Đồng nhi là các em thiếu nhi nam hoặc nữ, được tuyển chọn dạy cho biết kinh kệ, để phụ trách việc tụng kinh hay thài các bài Kệ. Các em nầy tập hợp lại thành nhóm, gọi là Ban đồng nhi. Đồng nhi Nam thì ở trong Ban đồng nhi Nam, đồng nhi Nữ thì ở trong Ban đồng nhi Nữ.

Mỗi Ban đồng nhi phải có ít nhứt là 12 em, tối đa là 36 em, tuổi từ 8 đến 15 tuổi, tất cả đều mặc áo dài trắng, quần trắng, riêng Đồng nhi nữ thì để đầu trần, còn đồng nhi nam thì đội khăn đóng đen.

Trong những buổi đại lễ tại Đền Thánh, đồng nhi Nam đứng trên lầu Bát Quái Đài, tụng các bài: Ngọc Hoàng Kinh, và ba bài Phật Giáo, Tiên Giáo, Thánh Giáo theo giọng Nam xuân; còn các đồng nhi Nữ thì đứng tại Nghinh Phong Đài, tụng các bài: Niệm Hương chú, Khai Kinh chú theo giọng Nam ai, rồi thài ba bài Dâng Tam bửu, cuối cùng tụng bài Ngũ nguyện theo giọng Nam xuân.

Ở các Thánh Thất hoặc Điện Thờ Phật Mẫu địa phương, cũng có thành lập Ban đồng nhi, thường chỉ có Ban đồng nhi Nữ, ít khi có Ban đồng nhi Nam. Ngoài việc tụng kinh cúng Đàn hay cúng Tứ thời tại Thánh Thất, Điện Thờ, đồng nhi còn có nhiệm vụ tụng kinh trong các đám An vị, Thượng tượng hoặc các đám tang trong Đạo, Tiểu tường hay Đại tường.

Mỗi Ban đồng nhi chọn cử lên một em làm Trưởng ban để điều hành Ban đồng nhi của mình, gọi Biện Nhi.

Các em đồng nhi lâu năm, có khả năng có thể dự thi lên Giáo Nhi trong các kỳ thi tuyển của Hội Thánh. Khi thi đậu, sẽ được cấp bằng Giáo Nhi, và được Hội Thánh bổ đi dạy các Ban đồng nhi mới.

Giáo Nhi đối phẩm Chánh Trị Sự, có thể cầu phong Lễ Sanh, sau năm năm công nghiệp. Giáo Nhi phải con gái độc thân, không có chồng, khi có chồng thì phải nghỉ Giáo Nhi.

Đạo phục của Giáo Nhi mặc giống như đạo phục của Nữ Lễ Sanh, nhưng trên đầu không có giắt bông sen.

Nhiệm vụ và quyền lợi của Giáo Nhi được Sắc Lịnh số: 51/SL của Đức Hộ Pháp ngày 22 tháng 12 năm 1936 quy định chung với Lễ Sĩ. Xin xem nguyên văn Sắc Lịnh trong phần Lễ Sĩ.

LỄ SĨ

Thời kỳ đầu mới Khai Đạo, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn gọi những người hiến lễ trong Đàn cúng là Lễ Sanh, từ nầy ngày xưa bên Nho giáo cũng thường gọi.

Trong Đàn cơ ngày 18 tháng 5 năm Bính Dần, Đức Chí Tôn phân công các chức sắc dâng hiến lễ nơi Đàn cúng như sau:

“Kỳ, Kim, hầu xướng nội, là bàn thờ trong, biểu chúng nó đứng như vầy: Kỳ bên mặt, Kim bên trái.

Còn Bản, Giỏi, một cặp LỄ SANH đầu, đi giữa với một cặp nữa là Tỷ với Tiếp. Tả thì Nhơn với Tương, hữu thì Giảng với Kinh.

Lập ngoài cho đủ ba bàn vọng, đều để chư lễ sanh hầu.

Chừng nào nội xướng thì để cho lễ sanh điện lễ, cúng vật thì để sẵn ngoài ba bàn, chừng lễ sanh xướng thì đem vô cho mấy vị Chức sắc hiến lễ”.

Nhưng từ khi Lễ Sanh là tên một phẩm chức sắc bên Cửu Trùng Đài thì Đức Lý Giáo Tông mới giáng cơ sửa lại là “Lễ Sĩ” để chỉ người hiến lễ.

Ngài cho biết: “Nhiều khi chư Hiền hữu lạm dụng danh từ Lễ Sanh mà cho kẻ hiến lễ, làm mất thể diện của vị Thiên phong. Vậy Lão đặt tên cho kẻ hiến lễ là Lễ sĩ.

Như vậy, Lễ Sĩ có nghĩa là người học trò Lễ, hay nói một cách rõ ràng hơn thì Lễ Sĩ là những người có nhiệm vụ dâng hiến các cúng phẩm lên người chủ lễ, để vị nầy cầu nguyện rồi đem dâng lên Bàn thờ. Khi điện lễ, các Lễ Sĩ phải bước nhịp nhàng, ăn rập theo tiếng nhạc, giọng kinh, giọng thài trong buổi lễ.

Đạo phục của Lễ Sĩ tương tự như Đạo phục của Lễ Sanh, chỉ khác một vài điểm là mão Lễ Sanh có Thiên Nhãn với một vòng Minh khí, còn mão Lễ Sĩ chỉ gắn một hoa mai năm cánh. Áo Lễ Sĩ không có ba dải sau lưng, còn quần thì mặc cái củn, tức một loại váy rộng, dài phủ xuống đến mắc cá, chân mang giày bố trắng.

Đặc biệt, trong ngày vía Đại đàn tại Đền Thánh, có tất cả sáu cặp Lễ Sĩ: Ba cặp hiến lễ và ba cặp cầm đèn Tam Giáo. Trong ba cặp hiến lễ thì một cặp tiếp lễ, mặc áo màu vàng, giữ nhiệm vụ phụ tiếp trong khi dâng hiến cúng phẩm, một cặp đăng và một cặp đài đều mặc áo màu xanh. Hai cặp nầy có nhiệm vụ điện lễ, nghĩa là phải đi đứng nhịp nhàng theo tiếng nhạc, giọng Thài, và chân bước từng bước theo chữ “Tâm” (心). Còn ba cặp Lễ Sĩ cầm đèn Tam Giáo mặc áo vàng, xanh, đỏ tay cầm ba cây đèn Thái, Thượng, Ngọc.

Sau đây là Sắc Lịnh Số: 51/SL của Đức Hộ Pháp ngày 22 tháng 12 năm 1936 quy định về bổn phận, quyền lợi và đạo phục của Giáo Nhi và Lễ Sĩ có nguyên văn như sau:

 

 

 

Văn Phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

PHẠM HỘ PHÁP

(Thập nhị niên)

-----

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 51/SL

-------------

 

SẮC LỊNH

Nghĩ vì Tân Kinh là Kinh Tận độ đã ra, nên cần nhứt phải có Lễ Sĩ và Giáo Nhi dạy mấy em Đồng Nhi cho thành thuộc, phòng độ rỗi phần hồn của toàn con cái Chí Tôn khắp cả các nơi mà phướn đạo đã đủ huyền linh che chở,

Nghĩ vì Hội Thánh mong mỏi mở rộng con đường Thánh đức cho đoàn hậu tấn bước vào Thánh Thể của Chí Tôn đặng lập vị,

Nghĩ vì trẻ em Đồng Nhi từ 11 năm mở Đạo đến nay đã trưởng thành nên buộc Hội Thánh định phần phong thưởng công nghiệp, nên:

SẮC LỊNH

Từ đây mở khoa mục mỗi năm cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi thi cử.

Lễ Sĩ thì thi theo mặt kinh luật của Đạo về Quan, Hôn, Tang, Tế, nhứt là về Lễ Nhạc. Buộc Lễ sĩ phải cần cho hay một món đờn trong mấy thứ âm nhạc: Tam, Tiêu, Tranh, Đản, Kìm, Tỳ, Cò, Độc.

Giáo Nhi thì phải thuộc lòng Tân Kinh và cũng phải thuộc một môn âm nhạc như Lễ Sĩ.

Những Đồng nhi Nam Nữ có đủ giấy chứng Tòa Thánh, lớn trên 20 tuổi mới đặng thi Lễ Sĩ và Giáo Nhi, và phải biết viết với đọc chữ quốc ngữ.

Mỗi năm mở khoa mục ngày rằm tháng 10 tại Tòa Thánh. Hội Thánh chia ra hai thứ Lễ Sĩ và Giáo Nhi:

- Thứ nhứt thì những hạng Lễ Sĩ và Giáo Nhi trọn hiến thân cho Hội Thánh, nhứt là Giáo Nhi đã tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì sẽ đặng thuyên bổ hành đạo trong các Thánh Thất bất cứ nơi nào. Hễ đủ 5 năm công nghiệp thì thăng Lễ Sanh, khỏi phải cầu phong lại nữa. Hạng Lễ Sĩ và Giáo Nhi nầy trên quyền Chánh Trị Sự và dưới quyền Lễ Sanh, nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào chánh trị hay là luật pháp Tòa Đạo.

- Thứ nhì là hạng Lễ Sĩ và Giáo Nhi ở lại gia đình, nhứt là Giáo Nhi có chồng con theo thế thì không đặng vào nơi Thánh Thất nào mà hành đạo hết, duy hành đạo nơi xóm làng của mình mà thôi, lại buộc mỗi năm phải dạy ít nữa là trên 36 đứa Đồng Nhi; Lễ Sĩ thì dạy Nam, Giáo Nhi thì dạy Nữ, chớ không đặng dạy lộn xộn Nam Nữ chung nhau. Cấm nhặt Lễ Sĩ không đặng dạy Đồng Nhi Nữ. Nếu mỗi năm có một phái Chức sắc, Chức Việc sở tại nói rằng dạy thiếu và không đi hành đạo thì bị ngưng chức liền. Hội Thánh không cần minh tra lại nữa.

Hạng nầy tùng quyền Chánh Trị Sự và ngang quyền Phó Trị Sự và Thông Sự nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào chánh trị hay là luật pháp Tòa Đạo. Đủ 8 năm công nghiệp đổ lên mới đặng cầu phong vào hàng Lễ Sanh, nhưng do nơi tờ yêu cầu của Chức sắc và Chức việc sở tại mới đặng.

Lễ Sĩ mặc như Lễ Sanh Nam phái, nhưng trên mão ngay trán có Tam Sắc Đạo và Cổ pháp của Giáo Tông là Thư Hùng Kiếm, Long Tu Phiến và cây Phất Chủ thêu trên.

Giáo Nhi mặc Đại phục như Lễ Sanh Nữ phái nhưng không đặng giắt Bông sen trên đầu tóc, còn Tiểu phục cũng vậy nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.

Kiểu y phục nầy phải do nơi tiệm Linh Đức.

Kỳ dư mấy vị Lễ Sĩ và Giáo Nhi đương thời hành đạo trong Hội Thánh và có tờ Hội Thánh công nhận chánh thể rồi; Hội Thánh nhứt định cấm nhặt không ai đặng xưng danh hiệu Lễ Sĩ hay Giáo Nhi mà không có khoa mục và cấp bằng của Tòa Thánh ban cho đủ lẽ.

Khai Pháp, Tiếp Thế, Tiếp Đạo Hiệp Thiên Đài, Quyền Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối Sư, Nữ Chánh Phối Sư và Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo, mỗi vị tùy phận sự thi hành Sắc Lịnh nầy.

Lập tại Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 9 tháng 11 năm Bính Tý
(Dl. 22/12/1936)

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
HIỆP THIÊN và CỬU TRÙNG

(Ấn ký)

Phạm Công Tắc

NHẠC VIÊN

Nhạc là âm nhạc, tức là âm thanh có tiết tấu hòa nhau nghe êm tai, để nói lên ý nghĩa trong dòng nhạc.

Nhạc công hay Nhạc viên là những người diễn tấu âm nhạc. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có dạy như sau: Nhạc còn chưa đủ thể cách, đờn để rước chư Tiên, Thánh, không phải vậy là đủ. Người nhạc công phải ăn mặc tinh khiết, sắp đặt vào khởi Nhạc phải có thứ lớp phân minh, chớ chẳng phải muốn đờn bài chi cũng đặng. Ấy là trái Thánh ý đó.

Ban nhạc là một tập hợp gồm các nhạc viên và chức sắc Ban nhạc, có nhiệm vụ diễn tấu âm nhạc trong buổi cúng Đàn tại Đền Thánh, Điện Thờ Phật Mẫu hoặc buổi tang tế sự của đạo. Ban nhạc được chia thành hai nhóm: Nhóm văn ban và nhóm võ ban.

Nhóm văn ban: Nhạc khí căn bản của nhóm văn ban là cây đờn cò mà bất cứ một buổi cúng nào cũng phải có. Còn các nhạc cụ sau, nếu thiếu cũng được. Như: Đàn tranh, đàn lìm, đàn tỳ bà, đàn gáo, đàn sến, đàn tam, đàn độc huyền, ống sáo, ống tiêu…

Nhóm võ ban: Gồm các loại trống như trống cái, trống cơm, trống chiến, các loại kèn như kèn mộc, kèn chàng, kèn thau, các loại bạc như bạc xà, bạc nhỏ, mõ như mõ gỗ, mõ sừng, đầu đường (trong Đạo gọi là đồ đường) và bồng.

Người xưa chế ra nhạc để giáo dục con người, chính vì vậy mà trong sách Nho Giáo, Trần Trọng Kim đã viết: Nhạc là cái vui của Thánh Nhân mà khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và di phong dịch tục được, cho nên tiên vương mới đặt ra dạy nhạc.

Do nhạc là một bộ môn rất quan trọng cho nên Đức Hộ Pháp mới ban Thánh Lịnh Số: 25/TL ngày 29 tháng 3 năm Tân Mão (Dl. 4/5/1951) để quy định về các chức sắc trong Bộ Nhạc. Nội dung của Thánh Lịnh như sau:

THÁNH LỊNH

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (15/2/1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ đến ngày có Đầu Sư chánh vị;

Chiếu y Sắc Lịnh số 51 ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý (22/12/1936) định phần phong thưởng cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi đầy đủ 5 năm công nghiệp;

Nghĩ vì Ban Lễ đã định phận thì Bộ Nhạc cũng được hưởng đặc ân của Hội Thánh đặng tiến bước lập vị.

THÁNH LỊNH

Điều thứ 1: Trong Bộ Nhạc của Tòa Thánh có 9 phẩm ân phong như sau nầy: 1. Nhạc Sĩ. 2. Bếp Nhạc. 3. Cai Nhạc. 4. Đội Nhạc. 5. Quản Nhạc. 6. Lãnh Nhạc. 7. Đề Nhạc. 8. Đốc Nhạc. 9. Nhạc Sư.

Điều thứ 2: Bộ Nhạc chuyên chú về tài năng nghệ thuật thì từ hạ phẩm đến thượng phẩm, mỗi cấp đều có khoa mục đặng tuyển chọn danh nhơn điều khiển nội ban.

Trong mỗi kỳ khoa mục, vị nào đủ tài ứng thí thì được phép xin thi và mỗi khi thi đậu là mỗi lần được thăng phẩm, nhưng không được xin ứng thí vượt bậc.

Điều thứ 3: Nếu thi rớt vì không đủ tài thì ở lại phẩm cũ, chờ đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu ân phong.

Phẩm Nhạc Sư đủ 5 năm công nghiệp thì thăng lên Phối Sư hay là Tiếp Lễ Nhạc Quân nếu có khuyết.

Điều thứ 4: Chín phẩm trong Bộ Nhạc đối với 9 phẩm của Hiệp Thiên Đài hay các phẩm khác của Cửu Trùng Đài và Phước Thiện như sau nầy:

 

BỘ NHẠC

 

PHÁP CHÁNH

 

CỬU TRÙNG

 

PHƯỚC THIỆN

Nhạc Sĩ

 

Luật Sự

 

Chánh Trị Sự

 

Hành Thiện

Bếp Nhạc

Cai Nhạc

 

Sĩ Tải

 

Lễ Sanh

 

Giáo Thiện

Đội Nhạc

Quản Nhạc

Lãnh Nhạc

 

Truyền Trạng

Thừa Sử

 

Giáo Hữu

 

Chí Thiện

Đề Nhạc

Đốc Nhạc

Nhạc Sư

 

Giám Đạo

Cải Trạng

 

Giáo Sư

 

Đạo Nhơn

Chơn Nhơn

   

Chưởng Ấn

 

Phối Sư

 

Hiền Nhơn

   

Tiếp Dẫn Đạo Nhơn

 

Chánh Phối Sư

 

Thánh Nhơn

   

Thập Nhị Thời Quân

 

Đầu Sư

 

Tiên Tử

Điều thứ 5: Chư vị Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Thượng Thống Lại Viện, Đạo Nhơn Chưởng Quản Phước Thiện, Phụ Thống Lễ Viện Hành Chánh, Phụ Thống Lễ Viện Phước Thiện, Nhạc Sư Bộ Nhạc, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

 

Huấn từ của Đức Thượng Sanh nhân lễ Khánh thành Học Đường Bộ Nhạc Trung Ương ngày Ngày 25 tháng 10 năm Mậu Thân (Dl. 14/12/1968) có đoạn như sau: Khi mới khai sáng nền Ðạo, Ðức Chí Tôn rất chú trọng đến Nhạc và Lễ, vì cái hay của Lễ là giữ trật tự bên ngoài cái hay của Nhạc là tạo sự điều hòa để kềm chế tâm tình bên trong cho khỏi vọng niệm. Lễ và Nhạc cùng họp nhau và nếu giữ đúng nề nếp thì đàn cúng mới nghiêm chỉnh, được bao trùm một bầu không khí huyền diệu, Thiêng liêng khiến cho chúng ta cảm tưởng là có Ðức Chí Tôn và Chư Tiên Phật giáng ngự để ban ơn cho toàn Ðạo.

Trái lại nếu Lễ không nghiêm, Nhạc không hòa thì đàn cúng có cái trạng thái hỗn loạn khiến cho người đến Lễ bái có một tâm trạng xao xuyến, tinh thần bất định. Ðó là một sự thất Lễ đối với các Ðấng Thiêng liêng và như vậy Ðức Chí Tôn không khi nào giáng Ðàn, tà quái có thể thừa dịp xung nhập gây nên điều rắc rối. Trong nhiều Ðàn cúng lúc ban sơ, Chức sắc thường bị Ðức Chí Tôn giáng cơ quở trách vì Ðàn không nghiêm.

 

 

 

 

TÒA TAM GIÁO

Toà Tam giáo, như chữ “Tam Giáo Toà 三 教 座”, là một Toà án đặc biệt trong Đạo Cao Đài để xét xử các chức sắc, chức việc, đạo hữu vi phạm luật pháp Đạo một cách nặng nề và nghiêm trọng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có một đoạn dạy như sau:

Vậy gắng khổ tâm giữ lòng đạo đức mà vẽ bước cho đời sau, lập công quả đặng chờ ngày chung cuộc, phủi nợ trần ai, đem tấm lòng thiện niệm đến TAM GIÁO ĐÀI mà phục hồi cảnh cũ, rừng vắng non nhàn, suối chảy tòng đưa, lánh chốn đọa đày đã bấy lâu ràng buộc.

Qua ý nghĩa câu Thánh giáo trên thì Tam Giáo Đài cũng đồng nghĩa với Tam Giáo Tòa.

Toà Tam Giáo có ba cấp từ thấp lên cao: Toà Tam Giáo Cửu Trùng Đài, Toà Tam Giáo Hiệp Thiên Đài và Toà Tam Giáo Bát Quái Đài.

Riêng Tòa Tam Giáo Bát Quái Đài (Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng) còn có nhiệm vụ phong thưởng những chức sắc có công lớn trong Đạo.

Thành phần xử án trong Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài được chọn những chức sắc cấp cao trong ba phái Thái, Thượng, Ngọc, đại diện cho Tam giáo.

I - Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài:

Tòa Tam giáo Cửu Trùng Đài chỉ xét xử những chức sắc Cửu Trùng Đài vi phạm luật pháp Đạo một cách nghiêm trọng.

Nếu bị can tội nhẹ thì không đưa qua Tòa Tam Giáo, chỉ ra Tòa Hòa Giải ở địa phương, hay đưa ra Hội Công Đồng hoặc Ban Kỷ Luật xét xử.

Thành phần Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài:

 

Chủ tọa:

 

Giáo Tông.

 

Nghị án:

 

Ba vị Thái, Thượng và Ngọc Chưởng Pháp.

 

Buộc tội:

 

Vị Đầu Sư cùng phái với bị can.

 

Trạng Sư:

 

Một vị Chức sắc Hiệp Thiên Đài.

Tùy theo tội trạng, Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài có quyền xử các vị chức sắc Cửu Trùng Đài phạm tội, giáng một hay nhiều cấp hoặc trục xuất ra khỏi Đạo.

II - Tòa Tam Giáo Hiệp Thiên Đài:

Thành phần Tòa Tam Giáo Hiệp Thiên Đài gồm có:

 

Chủ tọa:

 

Hộ Pháp hay một Thời Quân Chi Pháp.

 

Nghị án:

 

Hai chức sắc Cửu Trùng Đài phẩm Giáo Sư hay Phối Sư.

 

Buộc tội:

 

Một vị Thời Quân Chi Thế.

 

Biện hộ:

 

Một Chức sắc Cửu Trùng Đài đồng phẩm với bị cáo, do bị cáo lựa chọn.

 

Cải trạng:

 

Một vị Thời Quân Chi Đạo.

 

Chép án:

 

Một Chức sắc tiểu cấp Hiệp Thiên Đài.

Danh sách các vị chức sắc ngồi Tòa Tam Giáo Hiệp Thiên Đài do vị Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh đề cử lên Đức Hộ Pháp và Đức Hộ Pháp ra một sắc lịnh ban hành chánh thức.

Theo quyển Chánh Trị Đạo của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa thì Tòa Tam Giáo Hiệp Thiên Đài phải được nhóm tại Tòa Thánh Tây Ninh để xét đoán, phân xử những đơn kêu nài của phạm nhơn còn uất ức, không vừa lòng án tiết của Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài.

Án của Tòa Tam Giáo Hiệp Thiên Đài là chung thẩm, bị cáo không được phép kêu nài nữa.

Tòa Tam Giao Hiệp Thiên Đài có quyền xét xử những vụ việc xảy ra trong các trường hợp sau đây:

- Giữa chức sắc và chức việc với tín đồ.

- Giữa chức sắc với chức sắc trong các cơ quan của Đạo.

- Giữa chức sắc Cửu Trùng Đài hay chức sắc Phước Thiện với chức sắc Hiệp Thiên Đài.

- Giữa nhơn viên cao cấp của các bộ ngoại pháp Chánh Trị Đạo.

Quyền Phá Án do Tòa Tam Giáo Hiệp Thiên Đài xét xử thì thuộc phần Tòa Tam Giáo Bát Quái Đài, tức Tòa Tam Giáo thiêng liêng và quyền của Đức Chí Tôn (Bát Quái Đài) nhứt định, ấy là về cơ Thiên trị.

Quyền Ân Xá là quyền của Đức Hộ Pháp về hình luật hữu vi mà buộc người phải dâng sớ vào Tòa Đạo Bát Quái Đài cầu xin tha thứ về hình luật Thiên Điều.

III - Tòa Tam Giáo Bát Quái Đài:

Tòa Tam Giáo Bát Quái Đài còn gọi là Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng hay Tòa Tam Giáo Ngọc Hư Cung, do Đức Chí Tôn chủ tọa, Tam Trấn Oai Nghiêm cầm quyền Tam Giáo trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nghị án.

* Tòa Tam Giáo Bát Quái Đài là Tòa án tối cao nơi cõi thiêng liêng có nhiệm vụ phong thưởng những chức sắc có công lớn, và những chức sắc phạm trọng tội với Đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đức Chí Tôn có lời dạy như sau:

Thầy vì lẽ công mà phong chức sắc cho mỗi đứa cũng là do Tòa Tam Giáo xin, chớ xem lại trong hàng môn đệ đã thọ tước cũng chưa đặng thấy mấy đứa cho xứng đáng.

Vậy các con đứa nào đã được thưởng phong cũng chẳng nên vội mừng mà quên phận sự, còn mấy đứa chưa đặng phong thưởng cũng không nên vội buồn mà thất đạo tâm. Các con hiểu à!

Khi Đức Lý Đại Tiên trở lại tái thủ quyền hành Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là Ngài lập ra Tam Giáo Tòa để xử trị những chức sắc làm loạn Đạo, khiến cho mối đạo phải chinh nghiêng, Ngài dạy:

Lão vì Chí Tôn nài nỉ cầm mối Thiên thơ sửa nền Chánh giáo, mà tái nhậm quyền hành Giáo Tông. Lão lại đặng sớ cầu lập Tam Giáo Tòa, Lão cũng muốn để cho cơ Đạo tận lẽ chinh nghiêng rồi ra sửa trị, cho đời thấy phàm Thánh bất đồng, nhưng Chí Tôn sợ Lão tận diệt tội nhơn, đày vào ngục điện, mà nài nỉ xin giùm, Lão thấy lòng từ bi của Chí Tôn nên chẳng nỡ nào, song trước khi cầm quyền, Lão định phạt răn trước đã.

Vậy Lão hỏi Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có đồng tình cùng Lão chăng?

Thượng Trung Nhựt bạch: Vì xác phàm của đệ tử nên phải vương vấn Thiên điều. Vậy đệ tử cúi xin Ngài từ bi phân định lẽ nào cho siêu tội thiêng liêng, miễn cho tránh khỏi đọa đày vào A Tỳ, hầu mong ngày sau độ lại.

Cười … Ấy là phương cứu độ. Vậy Lão nhứt định lập Tam Giáo Tòa kể từ đầu tháng chạp năm nay, nhưng Lão phải ngừa một điều là những tội nhơn đã có Hộ Pháp bảo hộ nơi Cửu Trùng Đài, chẳng đặng phép cầu nài về Hiệp Thiên Đài nữa đặng nghe. Xin Hộ Pháp miễn nghị nghe.

Lão nhứt định trục xuất những Chức sắc vô công hành đạo từ thử đến chừ. Hiền hữu đồng tình với Lão chăng?

* Tòa Tam Giáo Bát Quái Đài là một Tòa án cấp cao nơi cõi thiêng liêng lập ra để xét công tội của một chơn linh.

Khi Ngài Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương vừa đăng Tiên, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy một đoạn như sau:

Sự thác cũng có khi vui mà cũng có lúc buồn. Người thế nếu biết sống, nghĩa là biết dụng mình cho có ích vào xã hội, biết dưỡng tánh tu thân, thì sự thác chẳng qua là sự mong mỏi của kẻ hành trình đã xong trách nhậm, trở về phục sự đặng lãnh phần thưởng xứng đáng mà thôi.

Tương (Nguyễn Văn Tương) tuy chưa đặng như mấy kẻ ấy, song lòng đạo đức đã ra vun đắp mối Ðạo Trời, thì địa vị cũng có khi khác thế thường đặng. Ðiểm Chơn thần của nó còn phải đến hầu trước Tòa Tam Giáo mà đợi lịnh phát lạc tùy theo công quả, tội tình của nó bấy nay. Ấy là Thánh ý của Thầy đã lập luật riêng cho mỗi đứa trong các con đó. Chư môn đệ cũng nên hiểu biết.

Hoặc trong một lời khác của Đức Chí Tôn: Vậy trong hịch văn sớ tấu, các con phải thượng nơi Tòa Tam Giáo mà cầu rỗi cho nó (Ngài Nguyễn Văn Tương) thiệt hết lòng, rồi Thầy sẽ rỗi cho nó. Các con hiểu.

* Ngoài ra, Tòa Tam Giáo Bát Quái Đài còn là một Tòa án thiêng liêng dùng để xử trị các chơn hồn phạm Thiên điều.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy cũng đã từng khuyên dạy:

Than ôi! Các con xa Thầy chưa mấy ngày, thì mối Ðạo lớn lao đã thành một bàn hội vô giá trị ở cõi trần thế nầy. Mấy đứa mong chác sự phá hoại ấy lại là mấy ngọn đèn của Tòa Tam Giáo khêu lên để dìu đường cho cả chúng sanh, thì con phải nghĩ đến hành trình của Ðạo phải đến thế nào?

Trong Đàn cơ ngày 25 tháng 1 năm Ất Hợi (Dl. 28/2/1935), Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo, Thất Nương Diêu Trì Cung có giáng cho một bài thi, chúng tôi trích ra một đoạn:

Có lắm kẻ hằng ngày trông ngóng,

Như trời thu đợi bóng mưa qua.

Kìa nhơn sanh với sơn hà,

Phân ra khinh trọng mới là trí cao.

Đừng sợ nhục đừng nao khó nhọc,

Gần thành công đặng lọc lừa danh.

Thiên thơ trước đã định rành,

Nên hư nền Đạo đã đành nơi tay.

Tòa Tam Giáo có ngày định lập,

Quyền phân minh đẳng cấp chánh truyền.

Cửu Trùng lại với Hiệp Thiên,

Từ đây đáng hiệp cho nên một quyền.

Đừng cố giữ nỗi phiền buổi nọ,

Phải tận tâm hiệp ngõ chọn hiền.

Dầu chi cũng kẻ một thuyền,

Thấy nhau có thẹn chớ nên để lòng.

Làm cho rõ mặt anh phong,

 

 

 

 

NHẠC TẤU HUÂN THIÊN

Nghi thức cúng Đàn trong tôn giáo Cao Đài có tấu nhạc để tiếp giá Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, gọi là “Nhạc Tấu Huân Thiên” (Huân chữ H). Chúng ta thử tìm hiểu nghĩa của từ nầy.

Nhạc tấu có nghĩa là tấu nhạc, đánh nhạc, khởi nhạc lên. Huân Thiên là xông lên đầy trời, rền trời. Nhạc Tấu Huân Thiên 樂 奏 熏 天 là dùng các nhạc cụ đánh lên, âm thanh rền vang hòa quyện với nhang khói, xông khắp không trung để làm lễ hiến dâng Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật giáng hạ.

Trong quyển “Tứ Thời Nhựt Tụng”, hai Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, và Ngọc Lịch Nguyệt lại viết “Nhạc Tấu Quân Thiên 樂 奏 鈞 天” (Quân chữ Q). Vậy ta thử tìm hiểu từ Nhạc tấu Quân Thiên.

Quân 鈞 là cái bàn xoay (như cái compas) của người thợ nặn những vật tròn, dùng cái vòng quây cho tròn gọi là quân, là cái đồ chế tạo rất khéo của đời xưa, cho nên người ta gọi Trời là “Đại quân 大 鈞” hoặc “Hồng quân 洪 鈞” là cái khuôn tạo lớn, ý muốn nói Trời đúc nên muôn vật, cũng như người thợ nặn dùng cái quân làm nên các vật. Như vậy, Quân Thiên, đồng nghĩa với chữ “Đại Quân”, “Hồng Quân”, để chỉ Đức Thượng Đế.

Ngoài ra, chữ “Quân Thiên” còn dùng để chỉ “Quân Thiên Nhạc 鈞 天 樂”, hay “Quân Thiên Quảng Nhạc 鈞 天 廣 樂”, là nhạc khúc tấu lên dâng cho Đức Thượng Đế hay ở nơi cung điện của nhà vua. Điển tích về Quân Thiên Nhạc được Sử Ký nhắc đến như sau:

Triệu Giản Tư bị bệnh nặng, năm ngày liền không nhận ra người thân, gia đình mời thần y Biển Thước đến thăm bệnh. Thăm xong, Đổng An Vu hỏi, ông nói: Không có gì lạ cả, xưa kia Tần Mục Công cũng bị bệnh như thế, bảy ngày sau mới tỉnh. Trong lúc bệnh, Triệu Giản Tư thấy mình cùng các vị Thần Tiên lên Thiên đình, nghe tấu một điệu nhạc có tên là “Quân Thiên Nhạc”. Hai ngày sau, Triệu Giản Tư tỉnh lại, nói với quan Đại phu rằng: Dữ bách Thần du ư Quân Thiên Quảng Nhạc, cửu tấu vạn vũ, bất loại tam đại chi nhạc, kỳ thanh động nhân tâm 與 百 神 遊 於 鈞 天 廣 樂, 九 奏 萬 舞, 不 類 三 代 之 樂, 其 聲 動 人 心 nghĩa là cùng với chư Thần ruỗi chơi nơi Quân Thiên Quảng Nhạc tấu chín khúc, muôn điệu múa, không khúc nào giống khúc nào thời tam đại, tiếng nhạc làm xúc động lòng người.

Trong một tác phẩm văn học, tựa là “Hoa Điểu Tranh Năng” có nói về từ “Quân Thiên Nhạc” như sau:

Nhớ xưa ở chốn Đào viên,

Bà Vương Mẫu mở thọ diên vui mừng.

Quân Thiên Nhạc tấu vang lừng,

Tiệc la ỷ mở tưng bừng xôn xao.

Như vậy, Quân Thiên Nhạc là tên bài nhạc đã được dùng từ lâu để chỉ khúc nhạc tấu ở trên Thiên đình, sau người ta dùng để chỉ nhạc tấu nơi cung vua, chính vì vậy, hai Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt mới viết "Nhạc Tấu Quân Thiên" (chữ Quân viết vần Q). Tóm lại, từ nầy hiện nay trong những tác phẩm hoặc Văn bản của đạo Cao Đài gồm có hai cách viết “Nhạc Tấu Huân Thiên 樂 奏 熏 天” hoặc “Nhạc tấu Quân Thiên 樂 奏 鈞 天”.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển hay Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, Hội Thánh và các tốc ký viên thường viết là “Nhạc Tấu Huân Thiên” (Huân viết chữ H), còn trong quyển “Tứ Thời Nhựt Tụng” của hai Ngài Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, và Ngọc Lịch Nguyệt và Cao Đài Từ Điển của Đức Nguyên viết “Nhạc tấu Quân Thiên” (Quân viết chữ vần Q).

Điều nầy chúng ta chỉ đưa ra khảo cứu để tìm hiểu nghĩa, còn việc thống nhất thành một từ, chờ Hội Thánh sau nầy sẽ xét chọn. Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nên chi từ đây khi Nhạc Tấu Huân Thiên, chúng ta xem quý hơn dâng Tam Bửu, dầu phải lỡ đi nửa chừng trong Ðền Thờ, nghe đến đó phải dừng lại, cấm không được đi lộn xộn, thì lễ ấy giảm điều kính trọng dâng cho Chí Tôn mà không nên.

Nhạc Tấu Huân Thiên được các tác phẩm hoặc các thi gia trong Đạo nói đến:

Trong quyển Cội Đạo Bốn Mùa của nhà thơ Huệ Phong có viết:

Tưởng Thiên Nhãn Đẩu tinh chiếu thấu,

Tai bừng nghe Nhạc tấu huân Thiên.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

Huệ Phong cũng có câu:

Đàn nghinh Hội Thánh quy Tam Giáo,

Nhạc tấu huân Thiên tỉnh bát hồn.

(Thơ Huệ Phong).

Hoặc:

Nhạc Tấu Huân Thiên dội Tổ Đình,

Thành tâm tụng niệm Ngọc Hoàng Kinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

 

 

NGHI THỨC VÀ Ý NGHĨA HOÁN ĐÀN

Khi cúng Đại đàn tại Tòa Thánh Tây Ninh có nghi thức “Hoán đàn 換 壇”. Vậy Hoán đàn như thế nào và tại sao phải Hoán đàn.

Hoán 換 là đổi, thay đổi. Đàn 壇 là đàn cúng tế.

Hoán đàn có nghĩa là sự thay đổi trong đàn cúng Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thiêng Liêng. Nghi Hoán đàn chỉ thực hiện tại Tòa Thánh trong thời cúng Đại đàn để kỷ niệm lễ vía Đức Chí Tôn cùng các Đấng thiêng liêng.

1 - Nghi thức Hoán đàn:

Khi tiếng chuông nơi Bạch Ngọc Chung Đài vừa dứt 4 câu kệ, vị Hộ Đàn Pháp Quân cầm cây Cờ lịnh (cờ đạo 3 màu vàng xanh đỏ, trên đó có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đi ra, có vị Hữu Phan Quân cầm Phướn Thượng Phẩm nối tiếp theo sau, rồi cả hai vị hướng dẫn các Chức sắc đi vào Tòa Thánh.

Hai vị nầy đi trước, nối tiếp theo sau là các Chức sắc Hiệp Thiên Đài, phẩm lớn đi trước, phẩm nhỏ đi sau. Hết Chức sắc Hiệp Thiên Đài rồi thì Chức sắc Cửu Trùng Đài nối bước theo sau, có xen với Chức sắc Phước Thiện, Chức sắc Ban Thế Đạo. Chức sắc Cửu Trùng Đài đồng phẩm vị thì phái Thái đi trước, kế là phái Thượng và sau là phái Ngọc.

Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ sắp hàng đi thẳng vào của giữa Đền Thánh, nam đi bên tả, nữ đi bên hữu, rồi tiến vào Cung Đạo, phái nam sẽ đi qua bên phái nữ, còn phái nữ sẽ đi qua bên phái nam rồi trở ra nơi năm cấp Hiệp Thiên Đài. Nếu sắp đàn đi vào của hai bên phía trước thì không có Hoán đàn.

Trở lại năm cấp Hiệp Thiên Đài thì Chức sắc Hiệp Thiên Đài sẽ đứng ở vị trí của mình, còn Chức sắc Cửu Trùng Đài, Phước Thiện, chức sắc Ban Thế Đạo, Chức việc và Đạo hữu nam phái đi qua phía tả, nữ phái trở qua phía hữu, sau cùng tất cả đều tiến lên đứng vào vị trí hành lễ theo phẩm cấp của mình.

2 - Ý nghĩa:

Như ta biết, Nam là tượng trưng cho nguyên lý Dương, Nữ là tượng trưng cho nguyên lý Âm. Nam qua Nữ, Nữ qua Nam là tượng trưng cho hai nguyên lý Âm Dương giao hòa với nhau, mà Âm Dương giao hòa là Đạo.

Theo Lão Tử, Đạo sinh ra trước Trời đất và là nguồn gốc sinh ra muôn vật (Đạo giả vạn vật chi áo). Chính vì thế, Đạo lúc nào cũng phải biến hóa và biến hóa mãi mãi.

Trong quyển “Thái Cực Đồ Thuyết”, Chu Liêm Khê cho rằng sự vật trong thế giới lúc nào cũng biến đổi, vũ trụ chẳng khác gì một dòng sông lớn, những lượn sóng cứ xê dịch trôi mãi mãi. Đạo Trời theo sự vật cũng phải biến hóa vô cùng vô tận.

Sở dĩ Đạo có biến hóa, ông cho rằng: “Nhị khí giao cảm, hóa sinh vạn vật, vạn vật sinh sinh nhi biến hóa vô cùng yên. 二 氣 交 感, 化 生 萬 物, 萬 物 生 生 而 變 化 無 窮 焉, nghĩa là do hai khí âm dương giao cảm nhau mà hóa sinh muôn vật, muôn vật sinh rồi lại tiếp tục sinh nữa, cho nên cuộc biến hóa trở nên vô cùng.

Ngoài ra, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp giải thích Hoán đàn như sau: “Không có một điều chi Chí Tôn để trong Pháp giới của Ngài trong cửa Ðạo nầy mà không có nghĩa lý. Ít nữa mình không biết thì phải tìm cho biết, coi tại sao như thầy chùa chạy kim đàn vậy, tìm cho ra duyên cớ đặng hiểu biết bên trong pháp giới của Ðức Chí Tôn là thế nào mà hình thể bên ngoài lại dị kỳ làm vậy. Không biết phải hỏi, cả thảy nên biết rằng, không một điều gì trong nền Tôn Giáo nầy mà vô nghĩa lý đa nghe.

Tại sao phải hoán đàn, nam, nữ chen nhau? Ðó là bùa pháp luân thường chuyển. Tại sao Chí Tôn để bùa pháp luân thường chuyển tại thế này, đặng chi vậy? Hiện đã mãn Hạ Nguơn tam chuyển, bắt đầu Thượng Nguơn tứ chuyển ta gọi là khai nguơn nên phải để cho pháp luân chuyển.

Ta đã biết thời Tiên Thiên Khí và Hậu Thiên Khí chuyển làm một mối đạt Ðạo đặng. Cả thảy đều biết qua Cửu Trùng Ðài nầy là Cửu Thiên Khai Hoá, còn cung trên kia là Cung Ðạo, từ trước đến nay, mỗi người mãi miết tìm Ðạo mà Chí Tôn để giữa đó, trước mắt mà không biết. Ði chín từng Trời để cho phần hồn đi cho cùng tột cửu phẩm Thần, Thánh, Tiên, đến Phật, tức là Phật xuống phàm, rồi phàm trở lại Phật, chuyển luân như vậy, bí pháp gọi là đạt Ðạo. Tại sao cả thảy không tìm hiểu, rồi không chịu vô hoán đàn, sợ mỏi chân, chờ trong nầy thiên hạ đi giáp rồi mới vô cúng mà thôi.

Cũng vì bởi không Hoán đàn là không đạt được Thể pháp đó, không đủ theo pháp giới của Chí Tôn, nên người cầm pháp có phận sự không cho vô, tức là không cho làm loạn Đạo."

 

 

 

 

Ý NGHĨA VIỆC LẠY

Có nhiều người trong xã hội, vì không có đức tin với tôn giáo thấy ai tin Trời tưởng Phật, thường đi cúng lạy thì cho là mê tín. Tại sao phải quỳ lạy làm mất đi cái nhân cách của mình.

Chúng ta nên biết, cử chỉ bên ngoài của chúng ta có ảnh hưởng đến tâm hồn chúng ta sâu xa vì cái cử chỉ hành động bên ngoài gắn liền, kết hợp với cái ý nghĩa chứa đựng bên trong tâm hồn. Do đó, nếu cử chỉ bên ngoài chúng ta trang nghiêm thì tâm hồn chúng ta cũng trang nghiêm và nếu bên ngoài ngưỡng mộ, tôn kính thì tâm hồn chúng ta cũng ngưỡng mộ, tôn kính. Ngược lại, tâm hồn bên trong cũng ảnh hưởng đến cử chỉ hành động bên ngoài chúng ta. Hai điều ấy luôn đi đôi mật thiết nhau. Thế nên, nếu chỉ có lòng kính trọng bên trong tâm hồn mà không có thể hiện cử chỉ bên ngoài thì rồi sự kính trọng ấy cũng mất đi.

Do vậy, để tỏ lòng ngưỡng mộ tôn kính, cảm tạ cái ân đức bao la của Đức Chí Tôn hay các bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, chúng ta có thể giữ sự cung kính chí thành nơi tâm hay dùng lời nói để thể hiện không? Chắc hẳn là không, vì nếu chỉ dùng lời nói suông thôi thì e rằng chưa đủ, còn nếu chúng ta chỉ ngưỡng mộ cung kính nơi tâm chúng ta thôi thì người ta không thấy rõ cái tâm ấy ra sao. Theo ý người xưa thì chỉ có dùng lễ bái mới thấy rõ được sự tôn kính bên trong tâm đó.

Chính sách Phật có câu: Lễ Phật giả kính Phật chi đức, nghĩa là lạy Phật là kỉnh cái đức của Phật.

Và trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng có dạy: Lạy là tỏ ra bên ngoài, lễ kỉnh trong lòng.

Vậy lạy Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là nhằm biểu lộ đức tính khiêm tốn và để tỏ bày lòng tôn kính tri ân, tưởng niệm ân đức cao dày và phát nguyện hướng về các Đấng để tiến tu đạo nghiệp, kính trọng hạnh nguyện, tâm lượng từ bi hỷ xả, trí huệ rộng lớn của các Đấng ấy.

Mục đích của lễ bái các Đấng thiêng liêng không vì van xin tha tội, không vì cầu mong ban ơn được giàu sang phú quý… Chỉ ví kính công đức tròn lành, giác ngộ trí huệ từ bi viên mãn. Lễ bái các Đấng chính vì chúng ta muốn học tập noi theo gương của các Đấng ấy để được giác ngộ, giải thoát và đồng thời cũng là cơ hội để chúng ta dẹp bỏ tâm ngạo mạn và những ngã chấp của thế gian nhằm diệt phiền não, loại bỏ tánh kiêu mạn, tăng trưởng đạo lực trong nội tâm của người tu tập.

Khi cúi mình xuống lạy cũng là để mình nhìn sâu vào nội tâm, quán chiếu vô thường, vô ngã hầu cải hối những lỗi lầm đã phạm phải như lời Đức Chí Tôn đã dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau:

“Phải thường hỏi lấy mình, khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng?

Nếu phận còn nét chưa rồi, lương tâm chưa đặng yên tịnh thì phải biết cải quá, ráng sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh”.

Như vậy việc lễ bái hằng ngày cũng là một phương pháp để chúng ta xét nét những hành vi xấu xa của mình để cải quá mà trở nên cao thượng. Nhờ lễ bái hằng ngày mà chúng ta tự thánh hóa con người mình và làm cho đạo tâm của mình được phát triển, như câu: “Lễ bái thường hành tâm đạo khởi 禮 拜 常 行 心 道 起”.

Tóm lại, lạy Đức Chí Tôn hay các Đấng Thần Thánh Tiên Phật là vì cung kính các đức hạnh của các Đấng ấy và cũng nhằm để biểu lộ lòng thành kính, tri ân Người đã chỉ dạy và soi sáng cho mình con đường dẫn đến hạnh phúc thật sự là giải thoát.

 

 

 

 

QUAN HÔN TANG LỄ

SỰ HÌNH THÀNH

Quan Hôn Tang Lễ là một quyển sách dạy về nghi lễ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh, do Hội Thánh thành lập một Ủy Ban Hỗn Hợp Tu Chỉnh Quan Hôn Tang Lễ soạn thảo và ban hành vào tháng 12 năm 1975.

Nguyên trong phiên nhóm ngày 9 tháng 2 năm Canh Tuất (Dl. 16/3/1970), Hội Thánh Lưỡng Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện thành lập một Ủy Ban Hỗn Hợp Tu Chỉnh Quan Hôn Tang Lễ gồm có:

Hiệp Thiên Đài:

- Thời Quân Hiến Đạo : Trưởng Ban.

- Giám Đạo Huỳnh Hữu Lợi Hội Viện

- Giám Đạo Nguyễn Văn Kiết Hội Viên

Cửu Trùng Đài:

- Giáo Sư Ngọc Đính Thanh Hội Viên.

- Giáo Hữu Thái Sơn Thanh Hội Viên

- Lễ Sanh Thái Vũ Thanh Hội Viên

Phước Thiện:

- Chơn Nhơn Phạm Duy Hoai Hội Viên

- Chơn Nhơn Thân Văn Lợi Hội Viện

- Chí Thiện Lê Văn Ninh Hội Viện

Bộ Nhạc:

- Nhạc Sư Lê Ngọc Hội Hội Viện

Từ Hàn:

Hành Thiện Lê Phước Đức.

Sau nhiều năm nghiên cứu và soạn thảo, quyển Quan Hôn Tang Lễ còn được Hội Thánh Lưỡng Đài họp quyết nghị theo các vi bằng sau đây:

1 - Vi Bằng số: 3/VB ngày 29 tháng Giêng, mồng 4 và mồng 6 tháng 2 năm Nhâm Tý (Dl. 14, 18 và 20/3/1972).

2 - Vi Bằng số 3/VB ngày mùng 7 tháng 11 Nhâm Tý (Dl. 12/12/1972).

3 - Vi Bằng số 11/VB ngày mùng 8 và mùng 9 tháng 5 Ất Mão (Dl. 17 và 18/6/1975).

4 - Vi Bằng số 17/VB ngày mùng 4 tháng 9 Ất Mão (Dl. 8/10/1975).

5 - Vi Bằng số 1/VB ngày mùng 7 tháng 11 Ất Mão (Dl. 9/12/1975).

Và quyển Quan Hôn Tang Lễ nầy được sự chung quyết của Hội Thánh Lưỡng Đài HiệpThiên, Cửu Trùng và Phước Thiện gồm có quý vị:

Hiệp Thiên Đài:

- Thời Quân Hiến Pháp

- Thời Quân Bảo Đạo

- Thời Quân Hiến Đạo

- Thời Quân Khai Đạo

- Chưởng Ấn Nguyễn Văn Hợi

- Cải Trạng Huỳnh Hữu Lợi

- Cải Trạng Nguyễn Văn Kiết.

Cửu Trùng Đài:

- Thái Đầu Sư.

- Thượng Đầu Sư.

- Ngọc Đầu Sư.

- Quyền Thái Chánh Phối Sư.

- Quyền Thượng Chánh Phối Sư.

- Quyền Ngọc Chánh Phối Sư.

- Quyền Nữ Chánh Phối Sư.

Phước Thiện:

- Chưởng Quản Phước Thiện Nam phái.

- Chưởng Quản Phước Thiện Nữ Phái.

Từ Hàn:

Giáo Sư Thượng Tám Thanh

Thừa Sử Lê Minh Khuyên.

Giáo Sư Hương Trụ.

Thay mặt Hội Thánh Lưỡng Đài, Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài có dâng tờ lên Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Ký Phổ Độ tại Cung Đạo Đền Thánh nhờ Ngài phê chuẩn và ban hành quyển Quan Hôn Tang Lễ.

Trong Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh ngày Rằm tháng 11 năm Ất Mão (Dl. 17/12/1975), tái cầu hồi 20 giờ 45, Đức Lý Giáo Tông, Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng như sau:

Chào chư Thánh và toàn Đạo nam nữ.

Lão rất hân hạnh được tái ngộ cùng các bạn, quý vị hôm nay, có việc chi hỏi?

Bảo Đạo bạch: Hội Thánh Lưỡng Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện nam nữ, trong các phiên họp đã cứu xét và chấp thuận bổn QUAN HÔN TANG LỄ, do Ủy Ban gồm có nhiều chức sắc chuyên môn soạn thảo.

Trân trọng kính cẩn dâng lên cầu xin Đức Ngài từ bi phê chuẩn để ban hành cho toàn Đạo thi hành.

Kính dâng.

Đức Lý Giáo Tông bèn giáng phê như sau:

Phê chuẩn và Ban hành, nhưng sau nầy có khuyết điểm thì được chỉnh lại do Hội Thánh Lưỡng Đài quyết định.

Lão Ban ơn cho toàn Đạo.

-Thăng-

Như vậy, quyển Quan Hôn Tang Lễ được Hội Thánh Lưỡng Đài xét duyệt và Đức Lý Giáo Tông phê chuẩn và ban hành kể từ ngày 17/12/1975.

Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài gởi văn bản số 10/ CQ-HTĐ cho Ngài Ngọc Đầu Sư, Ngọc Nhượn Thanh vào ngày 24 tháng 11 năm Ất Mão (Dl. 26/12/1975) có nội dung như sau:

Kính Hiền huynh,

Bổn Quan Hôn Tang Lễ do Uy Ban Hỗn Hợp Đại diện các cơ quan Đạo tu chỉnh, có sự duyệt xét của Hội Thánh Lưỡng Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện đồng quyết nghị dâng lên cầu xin Đức Lý Đại Tiên Nhứt Trấn Oai Nghiêm phê chuẩn.

Chiếu Thánh giáo tại Cung Đạo Đền Thánh đêm rằm tháng 11 năm Ất Mão (Dl. 17/12/1975), Đức Lý Giáo Tông Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng dạy như sau: “Phê chuẩn và Ban hành, nhưng sau nầy có khuyết điểm thì được chỉnh lại, do Hội Thánh Lưỡng Đài quyết định”.

Vậy xin hiền huynh tùy nghi ra lịnh ban hành bổn Lễ nầy cho toàn Đạo thi hành. Đính hậu hai bổn Quan Hôn Tang Lễ.

Hội Thánh Cửu Trùng Đài ra văn bản số 10/ĐS/ TT/NCPS, ngày 3 tháng 12 năm Ất Mão (Dl. 3/1/1975) do ba vị Đầu Sư Thái Bộ Thanh, Thượng Sáng Thanh, Ngọc Nhượn Thanh ký tên đóng ấn gởi cho Ngài Quyền Ngọc Chánh Phối Sư yêu cầu chuyển giao cho Bạch Vân Ấn Quán in ra thành sách để ban hành cho toàn Đạo.

Cuối cùng, Hội Thánh Cửu Trùng Đài nam nữ ra Thông Tri số: 08/NCPS/TT gởi cho toàn thể chức sắc, Thượng Thống Cửu Viện, các cơ quan Đạo Trung Ương Tòa Thánh, Khâm Thành, Khâm Trấn, Khâm Châu, Đầu Phận, Đầu Tộc, Chức Việc và toàn Đạo nam nữ biết: Kể từ nay (Dl. 27/6/1976) Hội Thánh chánh thức ban hành quyển Quan Hôn Tang Lễ để toàn thể Chức sắc Chức việc và Đạo hữu đồng thi hành nhứt luật.

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ

Chúng ta nhận thấy rằng kể từ tháng 3 năm 1970 Hội Thánh Lưỡng Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện giao cho Ủy Ban Hỗn Hợp Tu Chỉnh soạn thảo quyển Quan Hôn Tang Lễ, rồi thông qua các cấp của Hội Thánh xét duyệt, sau cùng trình lên Đức Lý Giáo Tông phê chuẩn và ban hành vào ngày 27 tháng 6 năm 1976, kéo dài hơn sáu năm trời.

Khi quyển Quan Hôn Tang Lễ được ban hành ra toàn Đạo, một số địa phương đem ra thi hành gặp phải sự sai biệt, phản khắc với nghi tiết cũ, nên đề nghị Hội Thánh chỉnh sửa lại và chính trong Bộ Nhạc Trung Ương cũng có văn bản yêu cầu Hội Thánh tu chỉnh lại quyển Quan Hôn Tang Lễ.

Ngày 14 tháng 11 năm Đinh Tỵ (Dl. 24/12/1977) Văn phòng Ngọc Chánh Phối Sư ra văn bản số: 11- NCPS/PT/NĐS dâng lên cho Ngài Ngọc Đầu Sư có nội dung như sau: Tuân hành Thánh phê số: 157-LP/NĐS ngày 15 tháng 10 năm Đinh Tỵ của Đại Huynh dạy họp ba Chánh Phối Sư cứu xét và cho biết ý kiến trong quyển Quan Hôn Tang Lễ có một vài ý kiến sai biệt.

Chiếu vi bằng số: 01/VB phiên nhóm bất thường vào lúc 15 giờ ngày 30 tháng 10 năm Đinh Tỵ (Dl. 10/12/1977) tại phòng Nội Chánh dưới quyền Chủ tọa của ba Chánh Phối Sư và Quyền Nữ Chánh Phối Sư cùng sự có mặt của chư vị Thượng Thống, Phụ Thống Cửu Viện Nam, Nữ và Tổng Quản các Văn phòng có ý kiến như sau:

“Sau khi thảo luận toàn hội nhận thấy quyển Quan Hôn Tang Lễ do Hội Thánh phát hành có phần khuyết điểm về nghi tiết, làm cho bổn đạo phân vân, thắc mắc, Hội Thánh cũng nên thu thập những ý kiến hay để bổ khuyết cho quyển Quan Hôn Tang Lễ hoàn bị hơn, nhưng bổ khuyết lại còn phải trình lên Đức Lý Giáo Tông duyệt phê mới thi hành được.

Trân trọng kính trình lên Đại Huynh xét định.

Do quyển Quan Hôn Tang Lễ được ban hành có khuyết điểm mà Hội Thánh chưa tu chỉnh lại được, và nhứt là mới ban hành sau tháng 4 năm 1975 trong tình trạng khó khăn của nền Đạo, nên có nhiều vị chức sắc, tín đồ không am hiểu tình hình, coi quyển nghi lễ nầy không có giá trị về pháp lý, họ cho rằng không phải của Hội Thánh. Vì vậy, trong đó có nhiều nghi thức không được toàn đạo thi hành thống nhứt.

Chúng ta nên biết, kể từ ngày 4 tháng 2 năm Kỷ Mùi (Dl. 01/03/1979) Hội Thánh lúc bấy giờ mới ký Đạo Lịnh 01 giải thể Hành chánh Đạo và tất cả chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng Nam, Nữ từ phẩm Giáo Hữu và các phẩm tương đương trở lên, hợp thành một Hội Thánh duy nhứt gọi là: Hội Thánh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ gồm:

- Hiệp Thiên Đài, nhiệm vụ bảo vệ Giáo pháp Chơn truyền của đạo.

- Cửu Trùng Đài nhiệm vụ Giáo hóa và Phổ độ nhơn sanh trên đường đạo và đường đời.

Mãi đến năm 1991, Hội Thánh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ mới lập thành một Cơ quan hành đạo duy nhứt tại Tòa Thánh là: Hội Đồng Chưởng Quản.

Như vậy, quyển Quan Hôn Tang Lễ là hoàn toàn của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ giao cho Ủy Ban Hỗn Hợp Tu Chỉnh soạn thảo, rồi sau đó chính Hội Thánh xét duyệt, dâng lên Đức Lý Giáo Tông phê chuẩn và ban hành cho toàn Đạo áp dụng. Nếu nói rằng quyển Quan Hôn Tang Lễ có khuyết điểm thì theo lời phê của Đức Lý Giáo Tông, Hội Thánh Lưỡng Đài sau nầy sẽ họp lại tu chỉnh cho hoàn thiện hơn.

Tóm lại, quyển Quan Hôn Tang Lễ là một công trình do những bậc Tiền Bối trong nền Đại Đạo đã dầy công nghiên cứu, châm chước và biên soạn ra các nghi lễ dùng vào việc Quan, Hôn, Tang, Lễ. Những nghi lễ nầy chẳng phải do một ai tự ý bày vẻ ra mà là một công trình chung, trong một lề lối tổ chức đồng nhứt thi hành cho tất cả các địa phương trên toàn quốc.

Nếu như các địa phương không áp dụng thống nhứt quyển Quan Hôn Tang Lễ hoặc có những sự sửa đổi do ý riêng của mình sẽ rất tai hại, vì nó làm cho tổ chức một Tôn giáo tại mỗi địa phương có hình thức khác nhau, dần dần theo thời gian những sự khác biệt ban đầu nhỏ bé sau sẽ lớn dần ăn sâu vào tâm trí của nhơn sanh, thì sự thất kỳ truyền cũng do nơi đó mà sinh ra.

 

 

 

 

TẠI SAO PHẢI THỐNG NHỨT NGHI THỨC TANG LỄ

Chúng ta trót sinh ra trên cõi đời này, nhất là trong thời Hạ ngươn mạt kiếp, vừa gánh chịu những nỗi khổ lụy sẵn có của con người, vừa đối mặt với thảm cảnh chiến tranh tàn khốc do con người gây ra, vừa nhận sự lây nhiễm dịch bệnh của thế kỷ lan khắp trên toàn cầu, vừa phải cam chịu sự tàn phá của thiên tai như sóng thần, bão lũ mang đến…

Lại nữa, hiện nay, nhơn loại phát triển vượt bực về khoa học kỷ thuật, khiến cho con người bị lôi cuốn tâm lực vào cuộc sống của nền văn minh vật chất. Thêm vào đó, các nền Tôn giáo trong thời nhị kỳ phổ độ đã qua hơn hai nghìn năm truyền thừa, đến nay đã có một số giáo pháp, giới luật không còn phù hợp với cuộc sống phức tạp hiện tại, hoặc sinh ra những giáo điều càng ngày càng xa rời chánh pháp. Chính Đức Hộ Pháp đã giải thích như sau: “Nho, Thích, Đạo hiện nay đã trở nên phàm giáo, chư Đệ tử trong ba nhà đạo không giữ giới luật qui điều, canh cải chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc làm cho Tam giáo biến thành dị đoan.

- Đệ tử nhà đạo, chẳng tùng pháp giáo của Đức Thái Thượng Lão Quân. Tuy ở trong nhà đạo mà tức thị mê tín dị đoan.

- Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca, thì Đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.

- Đệ tử nhà Nho chẳng thực hành điều mục của Đức Văn Tuyên Khổng Thánh, thì Đệ tử nhà Nho dị đoan bất chánh.

Tóm lại, hai chữ “Dị đoan” nghĩa là đồ không trúng kiểu cái qui giới thể lệ chơn truyền của Tam Giáo”.

Chính vì vậy, Đức Thượng Đế mới dùng huyền diệu linh bút giáng cơ khai mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài vào cơ Phổ độ lần thứ ba tại miền Nam Nước Việt, với tôn chỉ “Quy nguyên Tam Giáo”, “Hiệp nhứt Ngũ Chi”. Lời tựa Thánh Ngôn Hiệp Tuyển đã ghi như sau: “Than ôi! Lượn sóng văn minh tràn dập tới đâu thì nền luân lý ngửa nghiêng tới đó.

Nếu Đạo Trời không sớm mở lần ba, nền phong hóa mối cang thường, sau vì đó mà hư hoại.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế vì đức háo sanh không nỡ ngồi xem nhơn sanh sa vào nơi tội lỗi nên dụng huyền diệu Tiên Thiên giáng cơ giáo Đạo”.

Nay nền Đại Đạo này được khai mở thì có những nghi thức đặc biệt để chấn chỉnh tinh thần nhân loại, trong đó sửa sang những nghi lễ của tang sự cho phù hợp với Nho Tông chuyển thế.

Trước khi có đạo Cao Đài xuất hiện, đa số người dân Nam Bộ đều theo Đạo Phật và Đạo Khổng, nên nghi thức tang lễ xưa ở vùng đất này đều mang sắc thái pha trộn của hai tôn giáo này, lần lần những nghi thức trên càng ngày càng xa rời Chánh pháp của Phật và Khổng, thường chuộng âm thinh sắc tướng rồi sinh ra nhiều điều mê tín dị đoan. Khi đạo Cao Đài khai mở, Đức Chí Tôn có giáng cơ dạy như sau: “Thầy chẳng dùng sự chi mà thế gian gọi là tà quái dị đoan, mà nếu xảy ra có một ít dị đoan trong đạo đã dùng lỡ thì ấy tại nơi tâm của vài môn đệ đó. Nếu chẳng giữ theo lẽ chánh mà hành Đạo và bày biện nhiều sự vô lối thì trong ít năm sau đây, sẽ trở nên một mối Tả Đạo, mà các con đã từng thấy”.

Chính vì vậy, những nghi thức tang lễ của nền Đại Đạo được Hội Thánh chấn chỉnh lại cho phù hợp với triết lý tôn giáo, ngoài ra, Đức Chí Tôn cũng ban cho một số bí tích như Giải Oan, Làm Phép Xác, Cắt Dây Oan Nghiệt… và nhất là được hưởng những đặc ân siêu rỗi của thời kỳ Đại Ân xá kỳ ba. Những nghi lễ đó Hội Thánh nói trong “Lời nói đầu”của tài liệu Hạnh Đường như sau: “Nghi lễ là cái hình thức phô diễn bên ngoài, tính cách qui củ chuẩn thằng của tổ chức Tôn giáo. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn giáo có tôn chỉ qui Tam Giáo hiệp Ngũ Chi, tức là một sự phối hợp của tất cả các triết lý Đạo Giáo, tất cả các hình thức tổ chức Tôn giáo từ xưa đến nay.

Vì vậy, nghi lễ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ rất phù hợp với phong hóa nhà Nam và vừa trình độ tấn hóa của quần chúng, không quá xưa mà cũng không quá tân thời. Vậy Thánh ý của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, những bậc Tiền Bối trong nền đạo đã dầy công nghiên cứu, châm chước và biên soạn ra các nghi lễ dùng việc Quan, Hôn, Tang, Tế. Ấy vậy, nghi lễ trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chẳng phải do ai tự ý bày vẻ ra mà là một công trình chung, trong một lề lối tổ chức đồng nhứt áp dụng cho tất cả các Châu, Tộc trên toàn quốc. Những sự sửa đổi về nghi lễ do ý riêng của mình rất tai hại vì nó làm cho tổ chức một tôn giáo tại mỗi địa phương có hình thức một nhóm riêng, chẳng khác nào mỗi nơi đạo hữu tự ý bày ra thêm những kiểu vở, màu sắc đạo phục khác để mặc vậy, dần dần theo thời gian những sự khác biệt ban đầu nhỏ bé sau sẽ lớn dần ăn sâu vào tâm trí của nhơn sanh, thì sự thất kỳ truyền cũng do nơi đó mà ra”.

 

 

 

 

NGHI THỨC CẦU GIẢI BỊNH TRONG CAO ĐÀI

Khi một vị Tín đồ Cao Đài bị bịnh, thuốc men trị liệu không hết, gia đình yêu cầu Ban Trị Sự và toàn Đạo đến thiết đàn cầu giải bịnh thì chúng ta thực hành trong ba đêm theo nghi thức quyển Hạnh Đường dạy như sau:

A - Đêm thứ nhứt: Thiết lễ cúng Chí Tôn vào thời Dậu có thượng sớ và dâng tam bửu: Bông, rượu, trà, do vị Chánh Trị Sự chứng đàn dâng sớ. Khi bắt đầu hành lễ nên lên nhang đèn bàn thờ Ông Bà cho gia quyến bịnh nhơn cầu nguyện rồi sẽ nhập đàn.

Buộc trong gia quyến phải cúng Thầy cầu nguyện. Cúng xong bãi đàn thì tiếp tụng Di Lặc Chơn Kinh và tụng ba biến kinh Cứu Khổ.

Trường hợp tụng kinh Di Lặc, có thể tụng một hay ba hiệp cũng được.

B - Đêm thứ hai: Cũng thiết lễ cúng Thầy vào thời Dậu, nhưng không có thượng sớ và chỉ dâng một bửu trà mà thôi, nhưng trên Thiên Bàn vẫn bày đủ Tam bửu: Bông, rượu, trà.

Việc thỉnh rượu và nước Âm Dương cho bịnh nhân uống vẫn hành y như đêm thứ nhứt.

C - Đêm thứ ba: Hành lễ như đêm thứ hai là xong nhiệm vụ Ban Trị Sự, nhưng nếu gia quyến có yêu cầu tụng kinh Sám Hối đêm chót thì Ban Trị sự buộc người trong gia quyến cũng như bịnh nhơn phải giữ chay trọn ngày và đêm để tụng Sám Hối. Ban Trị Sự khỏi quì đọc kinh Sám Hối, mà để trọn cho gia quyến quì cúng.

Bàn Trị Sự chưa thọ pháp giải bịnh thì làm theo nghi thức sau:

Khi cúng Thầy xong, chưa bãi đàn, trong gia quyến đỡ người bịnh đến trước Thiên Bàn cho bịnh nhơn lạy cầu nguyện Chí Tôn, rồi vị chứng đàn vào quì cầu nguyện Chí Tôn thỉnh ly rượu giữa rửa mặt cho bịnh nhơn, kế thỉnh hai ly nước trắng và trà cầu nguyện Chí Tôn, rồi ký tế lại, nghĩa là kê hai miệng ly lại đổ thống nhứt xuống ly riêng rồi cho người bịnh cầu nguyện rồi niệm câu chú Thầy mà uống.

Khi một người có đạo bị bịnh, lâm vào tình trạng nguy kịch, nếu điều trị ở bệnh viện, bác sĩ sẽ cho gia đình biết không thể cứu chữa bằng thuốc được nữa, thì thân nhân người bịnh nên rước bịnh nhân về mời Bàn Trị Sự đến thiết lễ cúng Chí Tôn để cầu giải bịnh.

Chúng ta nên biết việc cầu giải bịnh theo nghi thức Đạo nhằm mục địch cho bịnh nhân lắng lòng tụng kinh, niệm Phật khiến tâm không nghĩ tưởng thì tương ứng với sự thanh tịnh của Chân tâm, duyên theo Chân tâm này giúp hóa giải sự bất thường nơi thể xác, vì thân thể này cũng do tâm sinh ra; điều hòa thân tâm, dung hòa vạn pháp nên thân thể theo đó mà quân bình từ đó khỏi bệnh hoặc nhẹ đi.

Do vậy, niệm Phật, tụng kinh tạo ra hiệu quả to lớn trong điều trị và dưỡng bệnh. Có nhiều trường hợp cho thấy niệm Phật, tụng kinh với tấm lòng chân thành có thể chuyển hóa được nhiều loại bịnh ngặt nghèo.

Các Thánh xưa cũng từng nói: “Diệu dược nan y oan trái bịnh 妙 葯 難 醫 冤 債 病”, nghĩa là thuốc hay không thể trị được bịnh oan trái.

Bịnh oan trái còn gọi là bịnh căn quả, loại bịnh này chỉ có Hồng ân của Chí Tôn mới tha thứ, giảm trừ được những oan nghiệt và Thần, Thánh, Tiên, Phật mới cứu được khổ nạn, độ được căn quả mà thôi. Chính bài kinh “Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Đã Qui Liễu” cho biết:

Chí Tôn xá tội giải oan,

Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.

Và bài Kinh Giải Oan cũng có câu:

May đặng gặp Hồng ân chan rưới,

Giải trái oan sạch tội tiền khiên.

Chúng ta đã biết, vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn giáng huyền cơ khai mở nền Đại Đạo, với mục đích đại ân xá cho toàn thể vạn linh có tội lỗi và giải trừ mọi oan khiên nghiệp chướng, nhằm cho chúng sanh được nhẹ nhàng, dễ bề tu hành hầu có thể phản bổn hườn nguyên, qui hồi cựu vị. Do vậy, người am tường lý Đạo, khi mang bịnh nặng, thuốc men không thuyên giảm được thì chúng ta phải nghĩ đến do căn nghiệp mà sinh ra đau bịnh, thì nên thiết lễ cúng Đức Chí Tôn, nhờ hồng ân thiêng liêng hộ trì cho tiêu căn giảm nghiệp, vạn bịnh hồi xuân, gia tăng phước thọ.

Người bị bịnh do căn nghiệp, một khi thọ mạng chưa dứt mà được các Đấng Thiêng Liêng giải trừ oan khiên nghiệt chướng thì dù không thuốc men, bịnh tình cũng sẽ tự khỏi. Những bịnh căn quả trong thời Hạ ngươn mạt pháp này rất nhiều, bởi vì con người gia tăng dân số và những tội lỗi của chúng sanh đã tạo ra từ nhiều kiếp trước, gây ra vô số oan gia nghiệp báo lẫn nhau khiến hiện kiếp phải thọ lãnh hằng hà những bịnh về căn quả, bịnh về oan nghiệp.

Khi thiết lễ cầu giải bịnh, có tụng Di Lạc Chơn Kinh mà trong bài kinh đó chư Phật có lời hứa: Nhược hữu nhơn thọ trì khủng kinh ma chướng, nhứt tâm thiện niệm: Nam Mô Di Lạc Vương Bồ Tát, năng cứu khổ ách, năng cứu tam tai, năng cứu tật bịnh, năng độ dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt chướng tất đắc giải thoát 若 有 人 受 持 恐 驚 魔 障, 一 心 善 念: 南 無 彌 勒 王 菩 薩, 能 救 苦 厄, 能 救 三 災, 能 救 疾 病, 能 度 引 眾 生 脫 諸 孽 障, 必 得 解 脫”, nghĩa là nếu như có người thọ trì Phật pháp mà kinh sợ những chướng ngại của Ma vương, một lòng tưởng niệm, Di Lạc Vương Bồ Tát có thể cứu giúp được tam tai, có thể cứu giúp được tật bịnh, có thể cứu độ và dẫn dắt chúng sanh thoát hết các nghiệp chướng, ắt được giải thoát.

Và trong Kinh Cứu Khổ, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có dạy: Thử kinh Đại Thánh, năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ 此 經 大 聖, 能 救 獄 囚, 能 救 重 病, 能 救 三 災 百 難 苦, nghĩa là bài kinh Cứu Khổ này là của vị Đại Thánh, có thể cứu được tù ngục, có thể cứu được bịnh nặng, có thể cứu tam tai và trăm nạn khổ.

Chính có lời hứa của Chư Phật, nên sau khi thiết lễ cầu giải bịnh xong, vị chứng đàn trở vào quì cầu nguyện Đức Chí Tôn và hội hai ly nước Thánh lại (Gọi âm dương ký tế) rồi cho bịnh nhân cầu nguyện uống. Đây là một ân điển thiêng liêng mà Thầy ban cho cả chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, tức là nhờ sự thành tâm cầu nguyện mà Chí Tôn Phật Mẫu ban cho hai nguồn ân điễn Âm Dương hòa hiệp trong ly Thánh thủy để người bịnh uống vào được điều hòa về vật chất và tinh thần, dứt trừ vạn bịnh, thể xác khương cường, tinh thần tráng kiện.

Trên đây là trường hợp người chứng đàn cầu giải bịnh là vị Chức Việc không thọ bí pháp giải bịnh, chỉ dùng nguyện lực để cảm ứng với các Đấng Thiêng Liêng ban cho nước Âm Dương trở nên Thánh thủy làm Thần dược để trị các loại bịnh về oan trái.

Nếu người chứng đàn là vị Chức Sắc được truyền thần giải bịnh thì sau khi cúng Chí Tôn xong vị Chức Sắc đó sẽ hành pháp giải oan hay giải bịnh.

Sau đây là một tài liệu của Đức Hộ Pháp dạy về cách truyền thần giải bịnh: Người hành pháp, tay bắt ấn Tý, tay cầm 9 cây nhang vẽ lên chỗ bị bịnh chữ (.) xong để hai bàn tay lên chỗ ấy truyền điểm, nhắm mắt lại lưỡi cong đọc câu: “Thể chất hườn ngươn khí, cốt nhục dẫn châu thân, cấp cấp như luật lệnh”. Đoạn hít hơi thật sâu, rồi thở ra từ từ. Dùng tư tưởng đưa luồng điển sang người bịnh cho chạy toàn thân, mỗi một hơi là một câu niệm chú, làm như vậy ba lần, xong lấy tay ra. Dứt, đến bái lễ Đức Chí Tôn.

Còn hành pháp cho uống nước là luyện Ma Ha thủy, khi hành pháp xong cho người bịnh uống lần một niệm Nam Mô Phật, lần hai niệm Nam Mô Pháp, lần ba niệm Nam Mô Tăng, lần bốn niệm Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, rồi cho uống hết.

Chúng ta thử hồi tưởng lại những ngày đầu mới khai Đạo, trong các đàn cơ, Chí Tôn ban ân điển thiêng liêng trong nước Âm Dương để làm nên Thần dược trị được bá bịnh cho chúng sanh. Điển hình là vụ một người Pháp, tên De Lagarde, Chủ sự sở Bưu điện ở Vientiane thủ Đô nước Lào. Ông bị vấp ngã vào bụi gai, bị thương nặng hai con mắt trong một lần đi săn bắn. Bác sĩ ở Vientiane chữa không khỏi, ông bị mù luôn. Người vợ Nam Kỳ của ông đưa đi trị tại các nhà thương lớn ở Hà Nội và Sài Gòn, được các bác sĩ danh tiếng nhứt săn sóc, nhưng bịnh cũng không lành, khiến ông phải nghỉ việc.

Trong lúc tuyệt vọng về y khoa Tây phương, người vợ Nam kỳ của ông De Lagarde nghe được sự mầu nhiệm của Chí Tôn ban cho nước Thánh để trị nhiều loại bịnh, bà mới đưa ông về Tây Ninh để xin cầu cơ trị bịnh. Nhờ vào sự tin tưởng tuyệt đối mà ông được Đức Chí Tôn trị hết mù lòa để tiếp tục làm việc lại tại sở Bưu điện Hà Nội. Rồi từ đó ông xin nhập môn vào Đạo Cao Đài và trong một đàn cơ được Chí Tôn phong cho phẩm Lễ Sanh phái Thượng. Chính ông đã lên diễn đàn tại rạp hát Majestic ở Hà Nội trong một buổi thuyết trình về Đạo Cao Đài có hơn ngàn thính giả của giới chính quyền Pháp, Việt. Ông đã xác nhận như sau: “Trong số cử tọa hiện diện hôm nay còn có nhiều người bạn thân của tôi nhứt là ngành Bưu điện Đông Dương đã biết rõ về tai nạn xảy ra cho tôi trước đây ba năm và đã làm cho tôi phải nghỉ việc vì đôi mắt bị mù lòa hoàn toàn. Hôm nay tôi được trở lại làm việc tại sở Bưu điện Hà Nội vì đôi mắt tôi đã hết mù, nhờ đặc ân của Chí Tôn Cao Đài Thượng Đế đã cứu chữa cho tôi bằng một ít tro nhang hòa với nước Thánh”.

 

 

 

 

Ý NGHĨA CẦU HỒN KHI HẤP HỐI

Theo triết lý đạo Cao Đài, con người có tam thể xác thân: Đó là Thể xác, Chơn thần và Chơn linh. Khi một người chết, Thể xác là vật chất hữu hình do đất sinh ra sẽ theo đất mà hư hoại, nhưng Chơn linh là một Tiểu Linh quang của Thượng Đế ban cho, là thể bất tiêu bất diệt và tồn tại mãi, nghiệp lực sẽ dẫn dắt luân hồi trở lại, hoặc ở cõi Âm quang, hoặc lên một cõi giới khác nhẹ nhàng hơn, hay trở về Thiên cảnh như kinh Tẩn Liệm đã viết:

Hồn Trời hóa trở về Thiên cảnh,

Xác đất sanh đến lịnh phục hồi.

Bởi quan niệm như vậy nên khi một người còn đang hấp hối nếu biết khởi nghĩ điều lành liền có chư Thần đến rước vào chỗ an vui, nếu khởi niệm việc ác thì thấy ma vương đến dẫn vào đường ác, biết nhứt tâm bất loạn hướng niệm Chí Tôn và ăn năn, sám hối thì có thể trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống được. Nên theo đạo Cao Đài, giai đoạn hấp hối là thời khắc cực kỳ quan trọng, là việc trọng đại nhứt của một đời người.

Do vậy, trong thời gian người bịnh đang hấp hối cần phải thỉnh toàn Đạo và thân bằng quyến thuộc đến thiết lễ cúng Đức Chí Tôn để cầu nguyện, hộ niệm và tụng kinh cho người hấp hối nghe trong lúc họ còn tỉnh táo để giúp họ biết khởi niệm điều thiện và nhờ Chí Tôn độ rỗi cho Linh hồn được thanh tịnh, nhẹ nhàng. Trường hợp này, theo thiển ý, chúng ta chỉ nên cầu cho người hấp hối thoát khỏi các oan nghiệt để mau được siêu thăng. Vì cầu cho hết bịnh trong lúc thọ mạng đã hết thì những oan nghiệt vẫn hoành hành cơ thể người hấp hối, làm cho họ đau đớn, không tịnh tâm hướng niệm Chí Tôn, như vậy sẽ làm mất cơ hội siêu sanh. Trái lại, chỉ lo cầu vãng sanh, nếu thọ mạng còn thì bịnh sẽ nhanh chóng tự khỏi.

Thói thường người bình dân ta thường quan niệm “Còn nước còn tát”, nghĩa là bịnh nhân trong phút nguy nan, thuốc men không còn tác dụng cho bịnh nữa, nhưng thân nhân người bịnh vẫn cố xin để lại bệnh viện cho đến phút cuối cùng, mặc dù lúc này chỉ còn sử dụng thuốc trợ tim để kéo dài sự sống cho bịnh nhân mà thôi. Làm như vậy họ cho là thực hiện lòng hiếu thảo, mặc dầu chẳng có lợi ích chi, trái lại còn gây thêm sự đau đớn, bực dọc cho người bịnh mà thôi. Một khi xác thân người bịnh bị đau đớn thì dễ khiến cho thần thức sanh tâm sân hận, và tâm bị sân hận thì khó siêu sanh về cảnh giới Cực Lạc được.

Chúng ta cần nên biết, lúc hấp hối con người mất hẳn phần cảm giác thuộc về trí tuệ, nghĩa là lúc đó, sự thông minh sáng láng bị đoạn tuyệt: Mà hết thảy căn bản trong các cơ quan thuộc về thân thể đều ở trong trạng thái điên đảo, vẩn vơ và mệt ngất, lúc ấy người ta thường gọi là mất thần. Chính vì vậy, quyết định của gia đình là sáng suốt nhứt. Cách tốt nhứt là gia đình nên đem bịnh nhân về nhà để cho Đạo đến thực hiện nghi cầu hồn khi hấp hối, như vậy mới mong giúp người bịnh trong phút giây thần thức từ từ tách lìa khỏi thân xác mà biết định tâm hướng niệm Chí Tôn và sám hối tội tình trước khi trút hơi thở cuối cùng để được chư Thần dẫn dắt về quê xưa cảnh cũ.

Biết được tầm quan trọng của việc cầu hồn khi hấp hối, nên phần đông tín đồ Cao Đài ở Châu Thành Thánh Địa hay các địa phương gần nơi Tòa Thánh, đều có thực hiện nghi này cho người thân trước phút lâm chung. Còn phần đông ở các địa phương, nhứt là những địa phương ít Đạo Cao Đài, mặc dù nhiều gia đình là Đạo gốc, họ vẫn ngại ngùng không muốn mời Ban Nghi Lễ đến cầu hồn cho người thân đang hấp hối. Có lẽ họ sợ tụng hấp hối rồi người bịnh sẽ chết chăng? (tâm lý họ muốn cầu người thân sống thêm) hoặc nếu mời Đạo đến để cầu hồn khi hấp hối, theo họ, ngại sự chú ý của mọi người xóm giềng chung quanh. Nên họ thường đợi người hấp hối chết rồi mới nhờ Đạo đến thực hành hai nghi cùng một lúc: Cầu hồn khi hấp hối và cầu hồn khi đã chết rồi.

Muốn cuộc cầu hồn khi hấp hối được hiệu quả, điều cần nhứt thân nhân của người bịnh phải làm sao tạo được một môi trường yên tĩnh, đừng nên khóc lóc, kéo níu thân thể người bịnh, và khéo léo đừng để bạn bè, họ hàng đến thăm hỏi vì lúc ấy cơ thể người đang hấp hối vô cùng đau đớn, trí não mịt mờ, tinh thần bấn loạn. Có như vậy, người bịnh mới giữ được sự tỉnh táo để nhiếp tâm hướng về Chí Tôn mà ăn năn, sám hối và cầu nguyện ban cho Linh hồn được nhẹ nhàng, dễ siêu thoát.

Trong thời khắc đang hấp hối nếu người bịnh vì quá mỏi mệt, hôn trầm thì thân nhân nên nhắc nhở vào bên tai người bịnh bằng cách niệm câu chú Thầy giúp họ tỉnh lại để cùng nhứt tâm niệm chú Chí Tôn. Nếu như người bịnh vì tình cảm luyến ái gia đình hay nuối tiếc tài sản thế gian thì thân nhân nên khéo léo khuyên người đang hấp hối phải buông bỏ tất cả mới có thể liễu sanh thoát tử được. Còn như lưu luyến cảnh thế gian thì sẽ mãi mãi đi vào đường khổ não, không bao giờ thoát ra được.

Đây là phút giây quan trọng và khẩn cấp nhứt của cuộc đời. Có được siêu thoát hay không? Chính là do người đang hấp hối biết chí thành tin tưởng Đức Chí Tôn mà hướng niệm để được tiếp dẫn về cõi Thiêng Liêng hay không?

 

 

 

 

Ý NGHĨA TẨN LIỆM

Tẩn liệm, như chữ “Nhập mạch”, “Nhập quan” hay “Nhập liệm”, là liệm xác của người chết bằng những lớp vải bó kín lại rồi đặt vào quan tài, đậy nắp, đóng đinh, trám khằng kỹ lưỡng.

Trong đạo Cao Đài, quyển Quan Hôn Tang Lễ đã quy định: Đối với chức sắc Đại Thiên phong từ phẩm Đầu Sư và tương đương trở lên Hộ Pháp, Giáo Tông, khi nhập mạch là sau 24 giờ quy Thiên (thi thể ngồi kiết già) được đại liệm vào Liên Đài, tụng bài “Kinh Tẩn Liệm”.

Còn đối với những chức sắc từ Chánh Phối Sư, Phối Sư và phẩm tương đương trở xuống đạo hữu khi nhập mạch tụng Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt…).

Như vậy, nhập mạch, nhập quan, nhập liệm đều có nghĩa là tẩn liệm thi hài người đã mất.

Sự Tẩn liệm mang ý nghĩa là trân trọng quý báu thi hài của người mất. Người xưa, nhà giàu thì dùng vóc nhiễu, tơ lụa, nhà nghèo thường dùng vải trắng để khâm liệm người chết. Ngày nay, tín đồ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ theo nghi tiết giản tiện, tùy theo gia cảnh, chỉ dùng vải trắng để tiểu liệm hoặc đại liệm cho thi hài người chết mà thôi. Người Đạo nếu nhà dư ăn dư để chẳng nói làm chi. Đến như những nhà bần hàn cơ cực, kẻ hành sự nên sáng suốt, biết biến chế, bỏ cái này, thay cái kia; giấy vải dùng thứ nhẹ tiền, dùng một lớp vải tiểu liệm đủ rồi, không cần phải thêm lớp vải đại liệm làm chi. Điều cần nhứt là việc làm phải kỹ càng, thi hài được bao bọc an toàn, kín đáo. Cây trường và kèn dùng rơm làm nòng, ngoài bao giấy để bớt tốn kém.

Tục người xưa thường muốn giữ gìn thể hài người chết cho được lâu bền, nên mới có lệ chôn người một thời gian rồi cải táng (tục miền Bắc), bởi vì có nhà lúc chết không tiền lo liệu, chôn tạm một cỗ quan xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván hư nát thì hại đến di hài.

Theo tam thể xác thân, chúng ta biết Chơn thần là tạng chứa dục vọng, nên khi người mất nếu không duyên phần, không người nhắc nhở thì thường hay luyến tiếc xác thân, không nỡ xa lìa nó. Chính vì vậy, Phật giáo thường khuyên nên hỏa táng, còn nếu thổ táng thì phải dùng tạm cỗ áo quan bằng gỗ thường vừa nhẹ nhàng vừa đỡ phí tổn, lại vừa mau hư mục để thi hài dễ tiêu hoại hầu Chơn thần sớm xa lìa khỏi hài cốt. Chính vì vậy, nhiều người có Tôn giáo thường ngại dùng quan tài bằng xi măng hay nhựa, nhứt là liệm xác trong bọc ni lông, bởi họ cho rằng hài cốt lâu rã mục.

Theo Thọ Mai Gia Lễ, khi liệm có người thường lót trong quan tài một tấm ván dầy ba phân vừa với lòng khuôn hàng, trong tấm đó có đục 7 lỗ, tượng hình ngôi sao Thất tinh Bắc Đẩu để thi hài người mất nằm. Chúng ta biết sao Bắc Đẩu là nơi ngự của Thượng Đế, nên việc lót tấm Thất tinh, người xưa quan niệm rằng thi hài người chết được trở về ngôi vị cũ, kề cận với Đức Thượng Đế.

Điều này là nghi thức của người đời, do ảnh hưởng của dị đoan mê tín, bởi triết lý Cao Đài cho rằng Chơn linh người chết mới có thể qui hồi cựu vị được, nên pháp Đạo đã tụng niệm để siêu rỗi, chứ hình hài là khối vật chất sẽ hư hoại mà trở về với đất. Như vậy, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ không chấp nhận thi hài người mất là một xác thúi nằm trên ngôi Thất tinh Bắc Đẩu, vì nơi đó rất thiêng liêng, là chỗ ngự của Thiên Nhãn Thầy.

Việc tẩn liệm theo Cao Đài nên bỏ tục lệ coi giờ kiên tuổi, không nên để quan tài ở nhà lâu ngày, thời gian thực hiện tang lễ theo luật Đạo là ba hôm. Nếu quàn tại nhà quá lâu chẳng những thêm tổn phí cho tang sự, mà quan tài có thể bị xì hơi gây truyền nhiễm về tử khí và làm mất vệ sinh cho mọi người chung quanh.

Nho Giáo ngày xưa rất trọng những nghi thức tang lễ, nhưng không vì thế mà trở nên cứng ngắt chẳng thay đổi được. Như chúng ta biết, hình thức tang lễ phải có một số quy cách và nghi thức chung, nhưng các quy cách và nghi thức không có nghĩa là không thay đổi được, mà phải tùy tiền bạc, sức lực của mỗi người. Và không thể căn cứ trên phương diện đủ và thiếu của quy cách tang chế mà xét định về chữ hiếu của con người. Câu chuyện Đức Khổng Tử luận bàn về tang lễ và chữ hiếu sau đây cho ta thấy điều đó.

Tử Lộ nói: “Thương bần dã! Sanh vô dĩ vi dưỡng, tử vô vi lễ dã”, nghĩa là những người nghèo không có tiền thật đáng thương! Khi cha mẹ còn sống chẳng có cách nào phụng dưỡng tốt, đến khi cha mẹ mất cũng không làm được đám tang hợp với lễ nghi đã quy định.

Khổng Tử cho rằng: “Hấp thụ ẩm thủy, tận kỳ hoan. Tư chi vị hiếu, liễm tục tác hình, hoàn táng nhi vô hanh, xưng kỳ tài, tư chi vị lễ” (Đàn Cung Hạ), nghĩa là khi cha mẹ còn sống chỉ ăn chút cháo đỡ đói, chỉ uống nước lã đỡ khát, song nếu con cái làm cho tinh thần cha mẹ thỏa ý, cuộc sống vui vẻ thì cũng gọi là tận hiếu rồi. Khi cha mẹ mất đi, chỉ cần có đủ áo quần mặc cho thân từ đầu đến chân rồi chôn cất bất kể lúc nào, hoặc giả thậm chí chưa chuẩn bị kỹ thì cũng chẳng sao vì với tiền của hiện có đã gắng hết sức mình làm lễ tang thì như vậy đã hợp tình rồi.

Tử Lộ viết: Lại có người nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ, song không có lòng tôn kính thì sao có thể coi là tận hiếu được? Đến khi cha mẹ chết thì làm lễ khoa trương tốn kém, thậm chí vượt quá tiêu chuẩn xem như vậy có phù hợp lễ nghi hay không? Vì thế, phải xem là có hợp lễ nghi hay không là do hoàn toàn từ tấm lòng coi có thành ý hay không, chứ không phải giàu hay nghèo.

Nói như vậy làm lễ táng không có tiêu chuẩn cố định hay sao? Khổng Tử mới trả lời: Làm lễ táng phải xem trong nhà của cải thế nào mà định đoạt. Gia đình giàu có thì làm linh đình một chút, gia đình nghèo khó thì làm đơn giản một chút.

Lễ táng tất nhiên là có tiêu chuẩn quy cách, song những nhà giàu có đòi hỏi thích hợp mà không phải vượt quá tiêu chuẩn là được. Nếu là nhà nghèo khó chỉ cần một cỗ áo quan đơn giản, khâm liệm người chết từ đầu đến chân, và chôn cất lúc nào cũng được. Bởi lẽ bất luận là nhà giàu có hay nghèo túng cũng đều làm hết sức mình thì còn ai trách móc là không đúng tiêu chuẩn.

 

 

 

 

Ý NGHĨA TANG PHỤC

Chúng ta nên biết, ân nghĩa và tình cảm đối với người đã khuất được Nho giáo thể hiện những nỗi niềm bi thống bằng cách chế định các hạng tang phục. Song chế độ tang phục chỉ định cho những người vốn có quan hệ thân thuộc như ông bà, cha mẹ, anh em, vợ chồng…Tùy theo thân sơ mà Nho giáo định năm loại tang phục, chia ra thời gian để tang lâu mau khác nhau, có năm bậc, gọi là Ngũ phục: (五 服).

- Trảm thôi 斬衰: Áo chế cho hạng đại tang, thường dùng vải trắng thô, bên dưới gấu áo bỏ xủ xuống, không viền, mặc quần xổ lai. Thời gian để tang là 3 năm. Thọ Mai Gia Lễ chế lại còn 27 tháng.

- Tư thôi 齊衰: Áo tang có lên trôn, khâu bằng phẳng, mặc quần không xổ lai. thời gian để tang 3 năm hay 1 năm (Cơ niên).

- Đại công 大功: Tang phục bớt thô hơn dành cho để tang 9 tháng.

- Tiểu công 小功: Tang phục dùng vải được chế tinh vi hơn vải Đại công dành cho tang 5 tháng.

- Tư ma 緦麻: Áo tang dùng vải tơ tinh vi hơn áo Tiểu công dành cho tang 3 tháng.

Ý nghĩa để tang do theo sách Lễ Ký nói rằng: “Phàm lễ chi đại thể, thể Thiên địa, pháp tứ thời tắc âm dương, thuận nhân tình cố vị chi lễ 凡 禮 之 大 體, 體 天 地, 法 四 時 則 陰 陽, 順 人 情, 故 之 謂 禮”, Nghĩa là người xưa chế định lễ dựa theo lý nhứt định của Trời đất mà phân biệt cấp bậc theo tôn ty thượng hạ; nhân theo sự biến thiên của thời tiết bốn mùa mà đo lường ân tình, đối đãi, lý âm dương để phân đoán kiết hung; thuận theo nhơn tình hậu bạc mà chế ra trọng hay khinh.

Chẳng những lễ nghi mà thôi, tang phục cũng phải căn cứ theo phẩm trật tôn ty thượng hạ và ân tình trọng khinh, hậu bạc mà chế định ra. Như ta biết quần áo tang lễ là loại trang phục để mặc khi có người thân chết, thời hạn để tang chính là thời hạn mặc quần áo tang. Quần áo tang và thời hạn để tang phải phối hợp với nhau, để khi mặc loại quần áo gì thì để tang bao lâu, song cũng có trường hợp vì điều kiện ân nghĩa khác nhau thì quần áo vẫn vậy, mà thời hạn lại thay đổi. Ví dụ như thọ tang Tư thôi, cùng mặc tang phục giống nhau nhưng thời hạn chịu tang là 3 năm hay 1 năm. Chúng ta biết, tùy theo hình thức và loại vải thô dày thưa mà người xưa chế định năm loại tang phục, gọi Ngũ phục để biểu thị sự cách biệt về quan hệ họ hàng thân thiết xa gần và tình cảm nông sâu.

Như vậy, có thể nói người sống dùng tang phục để biểu lộ tình cảm với người quá cố. Tình cảm có thân, có sơ, cho nên mới có người thân và người không thân, lễ sẽ định sự khác biệt ít nhiều. Đương nhiên người thân thiết thì tình cảm sẽ sâu nặng hơn, thì thọ tang phục sẽ tương đối phức tạp hơn; trái lại người thân xa, tình cảm cũng xa, tang phục do đó cũng đơn giản hơn. Tóm lại, Thánh hiền nghị chế ra tang phục là để đo lường cái nhơn tình trọng khinh, hậu bạc mà định phân thể thức bề ngoài để thể hiện tấm lòng con người đối xử lẫn nhau. Chính vì thế mà người ta cho rằng chế độ tang phục của người xưa chế định là thước đo tình cảm sâu nặng, hay thân sơ, nó cũng biểu thị sự thân thiết xa gần của họ hàng gia tộc.

Một đại gia tộc, gồm bà con họ hàng là một tổ hợp có sự quan hệ vô cùng phức tạp, thế mà chế độ tang phục của người xưa có thể phân hoạch một cách rõ ràng, tỉ mỉ, từ đó hình thành một đạo lý để duy trì được sinh hoạt quần thể với nhau mà vẫn giữ được sự chung sống hòa bình, đoàn kết nhất trí trong dòng họ. Đó là thể hiện nền luân lý đạo đức trong gia tộc của người xưa.

Việc thọ tang lâu mau cũng được người dựa theo nguyên do mà đặt để. Ví dụ như tại sao người xưa nghị chế thọ tang cho cha mẹ phải là ba năm? Ấy là do lời nói của Đức Khổng Tử: “Tử sinh tam niên, nhiên hậu miễn vu phụ mẫu chi hoài, phù tam niên chi táng, thiên hạ chi đạt táng dã 子 生 三 年, 然 後 免 于 父 母 之 懷, 夫 三 年 之 喪, 天 下 之 達 喪 也”, tức là trẻ con sau ba năm mới được rời khỏi vòng tay bế ẵm của cha mẹ, cho nên khi cha mẹ mất đi, con cái phải báo đáp cái ân huệ vất vã nhứt của cha mẹ trong ba năm, để tang cha mẹ ba năm là lễ tang thông thường của mọi người trong thiên hạ. Vì vậy, Thánh hiền chỉ căn cứ vào chỗ trọng yếu đó mà chế ra tang phục ba năm dành cho người con hiếu để tang cha mẹ.

Hễ nói rằng công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ ví tợ biển rộng trời cao, cha là ân trọng, thì mẹ cũng phải là ân trọng, lại nữa con phần nhiều nghiêng về tình cảm với mẹ hơn. Thế mà tại sao lễ xưa chế thọ tang cho bà mẹ có chỗ kém hơn ông cha? Chúng ta biết theo Nho giáo, ngày xưa mỗi gia đình đều phải có thứ bậc tôn ty thượng hạ, ông cha nắm quyền duy nhứt để sửa trị trong gia đình, nếu chẳng may bà mẹ chết trước ông cha thì con vì hiếu mà để tang cho mẹ chỉ thọ Tư thôi, chớ không đặng thọ Trảm thôi. Đó là thể hiện trong gia đình chẳng có hai người làm chủ vậy.

 

 

 

 

TANG THÂN BẰNG CỐ HỮU

Bà con thân bằng cố hữu là những người ngoài thân tộc ruột thịt, tức lân gia, bè bạn tế lễ cho nhau.

Theo quan niệm về đạo lý, người người xưa cho rằng: “Nhứt gia hữu sự, bá gia ưu 一 家 有 事, 百 家 憂, nghĩa là một nhà có việc tang thì trăm nhà lo giúp. hoặc lấy câu “thố tử hồ bi 兔 死 狐 悲” để tỏ lòng đau xót cho nhau. Trong thiên Khúc Lễ, sách Lễ Ký có nói rằng: “Lân hữu tang, thung bất xướng, lý hữu tẩn bất hạng ca 鄰 有 喪, 舂 不 唱; 里 有 殯, 不 巷 歌”, nghĩa là trong làng có tang sự thì người giã gạo chẳng đặng hò, có tẩn liệm thì ngoài đường không ca hát. Đây là phép cư xử của người biết đạo lý, nhằm bày tỏ chia buồn cùng tang gia hiếu quyến của thân bằng cố hữu trong cơn hữu sự.

Đức Khổng Tử là người rất nhân hậu, hễ thấy ai đau đớn, buồn rầu, khổ sở thì Ngài động lòng thương xót. Chương Thuật Nhi có kể lại rằng: Tử thực ư hữu tang giả chi trắc, vị thường bão dã. Tử ư thị nhật, khốc tắc bất ca. 子 食 於 有 喪 者 之 側, 未 嘗 飽 也. 子 於 是 日, 哭 則 不 歌 nghĩa là Phu Tử ngồi ăn bên cạnh người có tang thì ăn không no. Ngày nào có đi phúng điếu về thì suốt cả ngày không đàn hát.

Châu Trình ngày xưa lấy gương Đức Khổng Phu Tử điếu tang người đời mà dạy rằng: Phàm điếu ư hữu tang giả chi trắc, bất ẩm tửu thực nhục, bất khả cử đàm đại tiếu 凡 弔 於 有 喪 者 之 惻, 不 飲 酒 食 肉, 不 可 舉 談 大 笑 tức là khi đến điếu nhà có tang, chẳng nên uống rượu ăn thịt, chẳng đặng phép đàm luận lớn hoặc cười cợt to tiếng, mà phải tỏ vẻ thương xót như thế mới là lẽ phải vậy. Việc tang sự là cái cảnh buồn đau, bối rối của người ta, mà sự trợ táng là một nghĩa vụ của mọi người chúng ta. Đã là nghĩa vụ, thì khi người gặp cảnh tang biến, mình có thể giúp được việc gì thì nên giúp, còn nghĩ gì đến sự ăn uống được, trong lúc tang quyến gặp cảnh đau đớn, còn vui đâu mà thù tiếp. Vậy mà bày cổ bàn thịnh soạn để tiệc tùng, say sỉn thì than ôi! đâu còn là ý nghĩa của sự điếu tang để trợ táng nữa!

Tang lễ ngày xưa có tục đua nhau làm đám to tát, linh đình, nhà giàu tổ chức cỗ bàn thịnh soạn để đãi nhiều người tới phúng điếu. Quan niệm làm đám tốn tiền nhiều chừng nào, có nhiều khách ăn uống chừng nào thì được tiếng khen chừng nấy. Câu tục ngữ “Nhất nhân tử, vạn nhân túy 一 人 死 萬 人 醉” tức một người chết, muôn người say là có ý mỉa mai cái hủ tục nhơn gian khi có người chết mà tổ chức ăn uống linh đình. Vì tục tranh nhau làm đám ma lớn mà có người mang công mắc nợ, cố đất cầm vườn để trả nợ miệng thế gian và lấy thể diện với người đời, thực là một việc làm phi lý hết sức.

Riêng tang lễ trong Đạo Cao Đài, về thể pháp, là thể hiện tấm ân tình với người quá cố bằng cách đến chia buồn và tương trợ. Có hai cách tương trợ:

- Một là trợ táng bằng cách đến điếu tang.

- Hai là tỏ lòng trọng kính với người quá vãng nên sắm lễ vật để cúng tế. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh đình Mỹ Lộc giáng cơ dạy rằng: “Tế tự là tại sao? Phàm có lòng tin mới cúng. Cúng là lấy lễ đó, gọi là kỉnh trọng, chớ Thần Thánh nào ăn của ai. Bởi thế nên ai dùng vật thực mà cúng, tốt hơn nên dùng trái cây”. Như vậy, khi sắm lễ vật để cúng tế, chúng ta là người có Đạo thì nên sắm hoa quả, rượu hay trà bánh, thiết nghĩ phẩm vật như bột ngọt, đường cát, dầu ăn…không phải lễ phẩm để cúng tế.

Về bí pháp, thì người tín đồ đến để hộ niệm cho người quá cố. Vì thế, người đến hộ niệm không nên nhậu nhẹt, say sưa mà buộc phải hết sức tinh tấn để thành tâm cầu rỗi cho vong linh. Sự thành tâm đó mới có năng lực cảm ứng với các Đấng Thiêng Liêng mà hộ trì cho Chơn linh được dễ dàng siêu thoát. Đám tang ở các tỉnh đạo địa phương thường trong tang quyến có người không theo Đạo mà theo phong tục ngoài đời, có người lại theo Tôn giáo khác, nên việc thực hiện theo nghi lễ đạo Cao Đài khó được thuần nhứt. Ví như nghi phụ tế, tại Châu Thành Thánh Địa, tất cả người đến tế lễ đều chờ đợi vào giờ phụ tế. Trong khi tại các địa phương, người có mâm tế thường cúng tế riêng, thậm chí có nhiều đội tế là thông gia của tang quyến còn giành nhau để được tế trước. Và khi họ cúng tế đều có khởi đánh trống chầu, một nghi thức mà đạo Cao Đài không có, bởi trống chầu đối với Đạo là Ngọc Hoàng Sấm hay Lôi Âm Cổ. Lại nữa, có đám, sui gia không có Đạo, mang đến một con heo quay con để cúng tế, trong khi nội qui của Tôn giáo buộc tang gia phải thực hành đám toàn chay.

Cũng có đám, người con là một hương chức của làng, mà người cha hoặc người mẹ có Đạo chết, ban hội hương của Đình mang cặp lọng đến đặt hai bên Bàn vong người mất, điều này phạm nặng vào nghi thức của Đạo. Vì thế, Các vị Chức sắc Cai Quản Họ Đạo và các Ban nghi lễ ở địa phương đó thường phải hết sức khéo léo lắm mới không mếch lòng với bà con tang quyến hay ban hội hương trong làng xóm.

 

 

 

 

Ý NGHĨA CÚNG VONG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI

Khác với Phật giáo, đạo Cao Đài chủ trương “Nho Tông Chuyển Thế” nên khi gia đình có người thân chết thì thiết lễ “cúng vong”. Nghi cúng vong là lễ dành cho con cái tế cha mẹ, vợ tế chồng, chồng tế vợ, hoặc em tế anh chị.

Chúng ta cần nên biết rằng theo Nho giáo, những mối quan hệ ruột thịt về thân tộc đều có mối ân nghĩa ràng buộc lẫn nhau, tạo nên một giềng mối nhơn luân. Do vậy, khi có người thân trong mối quan hệ đó mất, chúng ta phải sắm lễ phẩm để phúng tế.

Ngoài ra, người sống phải cúng tế người đã chết là bởi quan niệm của người xưa: “Sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn 事 死 如 事 生, 事 亡 如 事 存”, nghĩa là thờ phụng người chết như người còn sống, thờ phụng người đã mất như người còn đó.

Như vậy, con cái cúng tế cha mẹ bởi chữ hiếu, khi cha mẹ còn sống thì hết sức phụng dưỡng cha mẹ, đến khi cha mẹ qua đời thì thành tâm mà tế lễ.

Theo Tăng Tử, có ba loại hiếu mà con người phải thực hiện: Hiếu to tát nhứt là người có đại công, đại đức đem lại hạnh phúc cho mọi người, được mọi người tôn kính và cũng làm rạng rỡ tên tuổi cha mẹ cho hậu thế. Một loại hiếu khác là khi lập thân trong xã hội lấy phẩm đức làm đầu, suốt đời không bị ai chỉ trích, phê bình điểm xấu nào và cũng không mang lại tiếng xấu cho cha mẹ. Sau cùng là loại hiếu thấp nhứt, đó chỉ là hết sức mình để phụng dưỡng cha mẹ mà thôi.

Như vậy, theo lời Tăng Tử, ngoài việc phụng dưỡng và thờ kính song thân ra, còn có nhiều việc quan trọng mà người con hiếu cần phải làm như: Tu thân, lập công, lập đức, tức là có thành tích mưu phúc lợi cho mọi người thì đó là sự mở rộng và vươn lên của lòng hiếu thảo đối với cha mẹ còn sống hay cha mẹ đã chết rồi. Nếu cha mẹ còn sống, con cái lập công, lập đức cho nhơn quần xã hội thì đó làm rạng danh cho ông bà cha mẹ, nếu cha mẹ đã qua đời thì việc lập công bồi đức của con cái có thể hồi hướng những công đức đó để cầu siêu cho Chơn linh cha hay mẹ.

Muốn báo hiếu công sanh thành dưỡng dục cho cha mẹ, dù cha mẹ còn sống hay cha mẹ đã qua đời, người con hiếu thảo cũng phải thực hiện theo giáo lý Cao Đài, đó là anh em hòa thuận, tu thân và lập công bồi đức. Nhứt là phải hết lòng thành kính để cúng tế Chơn linh cha hoặc mẹ.

Đức Cao Thượng Phẩm có giáng cơ vào năm 1931 cho Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp giải thích về sự sống chết và cho rằng cúng tế phải có lòng thành và phải tạo lập công đức để hồi hướng cho Chơn linh người quá cố, Ngài nói: “Hễ chết tại thế thì sanh tại Thiêng Liêng, chết tại Thiêng Liêng thì sanh tại thế, vì hai đường khác nhau, nghĩa là ở vô vi thì phải khuất hữu hình, mà ở hữu hình phải khuất vô vi.

Bần Đạo tỉ cho dễ hiểu là như mấy người giờ này tại Tây Ninh thì không thể nào có mặt tại Sài Gòn cho đặng, mà muốn có mặt tại Sài Gòn thì chắc không thể ở tại Tây Ninh. Vậy thì cả nhơn sanh chỉ có biết sanh, không biết tử.

Tám, Em nhớ Thầy đã nói cùng Em rằng: Tri sanh bất tri tử, mãn sanh vị chi tử 知 生 不 知 死, 滿 生 謂 之 死, nghĩa là biết sự sống, không biết sự chết, mãn kiếp sống gọi là chết.

Như vậy, người sống chỉ biết được sự sống chứ không biết được sự chết mà phải chờ mãn kiếp sống, lúc đó gọi là chết mới biết được sự chết. Thế mà tại sao người ta thường hay lấy vật thực để cúng tế người chết? Người chết có hưởng dùng không? Điều nầy Đức Thượng Phẩm có giảng như sau: “Em phải biết rằng, ẩm thực cốt để làm phương bảo thủ thi hài, mà khi qui vào ngươn khí thì vật thực còn bổ ích vào đâu mà cúng tế, duy có điều hữu dụng của sự cúng tế là lòng thành, cảm động tình ái lẫy lừng, làm cho ngươn khí của Chơn thần trở nên thơm tho đẹp đẽ, cả những Đấng Thiêng Liêng lấy đó làm báu vật.

Vậy Em nên nhớ lời Thầy dặn rằng: Các con cái Thầy ví biết thương yêu hòa thuận cùng nhau là lễ hiến cho Thầy rất nên long trọng. Lời ấy ngày nay Bần Đạo mới hiểu rằng thật vậy.

Cái tình thương nhau hơn hết là biết làm lành vì nhau, của báu thiêng liêng thì coi hành thiện như ngọc ngà châu báu vậy”.

Qua lời giải thích trên của Đức Cao Thượng Phẩm, chúng ta mới hiểu rằng, hoa quả, vật thực chỉ là phương tiện mà chúng ta mượn để thể hiện lòng thành kính mà thôi.

Chính lòng thành kính (vô vi) mới là một cúng phẩm thiêng liêng cho các Chơn linh hưởng dùng.

Như vậy, không riêng gì lòng thành kính mà tất cả những tấm lòng cao thượng khác như lòng từ bi, lòng nhân ái, lòng từ thiện… đều có thể làm món quà thiêng liêng dâng lên cho các Chơn linh Ông Bà Cha Mẹ thụ hưởng.

 

 

 

 

Ý NGHĨA LINH VỊ

Tang lễ người đời chuộng về hình thể, nên ngày xưa người ta thường thiết hồn bạch, tức là một tấm vải lụa dùng đắp cho người sắp mất, sau đó làm thành hình người để trên Bàn vong cúng tế. Còn chánh pháp của Đạo Cao Đài chuộng về vô vi, nên mượn cái hữu hình là Linh vị để thể hiện cho vong hồn người chết là thể vô vi.

Linh vị hay Bài vị, ngày xưa còn gọi là Thần chủ hay Mộc chủ, người ta thường làm bằng miếng gỗ, trong ấy có khăc chữ Nho tên họ, ngày sanh, ngày mất của người chết, để sau khi mãn tang rồi mới đặt trên Bàn thờ hầu linh hồn người mất nương tựa vào nơi đó để con cháu cúng giỗ.

Riêng Đạo Cao Đài chỉ thờ Linh vị trong tang lễ và các tuần cửu mà thôi, nên Linh vị được làm bằng mảnh giấy nhỏ (có mẫu), trong đó đề tên họ, phẩm vị, tuổi, ngày tháng sanh, nơi sanh, ngày tháng chết, nơi chết, và ngày nhập môn của người quá cố. Tấm Linh vị này được cắm vào một cái lon, rồi đặt vào trong một cái khay vuông, gọi là khay Linh vị.

Mẫu Linh vị được chia làm ba cột: Cột giữa dành để ghi tên họ, tuổi người chết, cột bên phải ghi ngày tháng năm và nơi chết, cột bên trái ghi ngày tháng năm và nơi sinh của người chết. Phía dưới ghi ngày tháng năm và nơi nhập môn.

Hội Thánh không có quy định về cách thiết lập khay Linh vị này, nên tùy theo ý mỗi Ban nghi lễ có cách sắp xếp khác nhau.

Như ta biết, khay Linh vị là tượng cho vong linh, chớ không phải dùng để thờ cúng người chết, nên trong khay không cần để những cúng phẩm như trà rượu, mà chỉ cần Linh vị, một cây đèn dầu, một bình hoa nhỏ, một dĩa quả, một lư hương là đủ rồi, không cần trà rượu, vì đó là cúng phẩm cho vong linh đã có thiết trí trên Bàn vong rồi.

Khi có tụng Kinh Di Lạc trước Thiên Bàn, tang quyến phải thỉnh Linh vị trên Bàn vong đặt vào khay và cắm ba cây nhang để Chơn linh người mất nương vào đó cùng với toàn Đạo cầu xin Chí Tôn, các Đấng Thiêng Liêng, Địa Tạng Vương Bồ Tát cứu hộ cho linh hồn được siêu thăng Tịnh độ. Do lý sống sao thác vậy, nên Khay Linh vị được đặt trước Điện tiền hay Thiên bàn theo nghi nam tả nữ hữu, và trước khay, người ta phải để một cái gối thể hiện như Chơn linh người chết đang quì cúng lạy vậy.

Sau khi an táng Linh vị vẫn được thờ tại bàn vong để làm tuần cửu, cho đến ngày mãn tang, Linh vị mới được đốt trước Điện tiền hay Thiên bàn.

Căn cứ quyển Quan Hôn Tang Tế của Hội Thánh (Giáo Hữu Thái Sơn Thanh, nhà in Hoàng Hải, xb 1956), tang lễ ngày xưa có nghi thiết hồn bạch, tức là lấy một miếng vải lụa trắng (đã được đắp trên người lúc gần mất) kết lại thành hình người có đầu và hai tay, hai chơn, đặt trước linh sàng để cúng lạy.

Nho giáo cho rằng con cháu hiếu thảo phải thờ người chết như lúc sống (Sự tử như sự sanh 事 死 如 事 生), nên việc tạo hồn bạch theo cổ lễ là dựa theo ý nghĩa đó. Thậm chí những nhà giàu có còn thiết linh sàng (Giường nằm cho người mất) ở phía đông nhà, có đủ mùng màn chăn gối, để hằng ngày làm lễ triêu tịch điện, tức buổi sáng bưng chậu nước, khăn mặt vào chỗ giường nằm khóc ba tiếng, rồi rước hồn bạch ra linh tọa (Bàn đặt trước linh cữu), mới dâng cúng, buổi tối dâng cúng xong, lại rước hồn bạch trở lại linh sàng, buông màn đắp chăn rồi mới nghỉ. Đây là việc làm hiếu theo tục xưa của người đời, nặng về hình thức, còn đối với Cao Đài Giáo, việc làm hiếu cho người chết là việc vô vi, tức là độ rỗi phần Chơn linh cho người đã chết.

Để mượn làm hình ảnh người quá cố thì Đạo cho lập khuôn hình chân dung treo trước Linh cữu và thiết một tấm Linh vị để trên Bàn vong, tượng Chơn hồn người mất. Khi cúng thời hay tụng Di Lạc Chơn Kinh tại Thiên bàn, thỉnh Chơn linh qua đó cùng với toàn Đạo cầu Chí Tôn độ rỗi cho để được siêu thăng thoát hóa.

Người xưa quan niệm rằng, người chết thì vong hồn thoát khỏi thi thể, cho nên phải làm Hồn bạch 魂 帛 để linh hồn người chết dựa vào đó. Khi làm lễ đề chủ tức là lễ viết vào Thần chủ, hay bài vị xong, vong hồn người chết ở Hồn bạch sẽ qua nương tựa ở Thần chủ, Hồn bạch được đốt đi và từ đó người ta thờ cúng Thần chủ trên Bàn thờ.

Trong tang lễ Cao Đài không dùng Hồn bạch, chỉ viết Linh vị để thờ. Khi hạ huyệt, Linh vị được đem về thờ tại Bàn vong để sau này hành lễ các tuần cửu, Tiểu, Đại tường cho đến lúc mãn tang, Linh vị mới được vị chứng lễ đốt trước Thiên Bàn để cầu nguyện cho Chơn linh người quá cố được vãng sanh Cực Lạc. Sau đó, người nhà sẽ dẹp Bàn thờ tang để thỉnh vong linh người mất đem thờ nơi Bàn thờ trong nhà để cúng giỗ hằng năm. Trên Bàn thờ người chết, ngày xưa người ta thờ bằng Thần chủ hay Mộc chủ, nhưng hiện nay, để tiện lợi người ta thường họa chân dung người mất để trên Bàn thờ cúng lạy.

 

 

 

 

Ý NGHĨA SỰ TẾ LỄ GIỮA VỢ CHỒNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI

VỢ TẾ CHỒNG:

Theo triết lý Nho giáo, Trời đất có âm dương, con người có vợ chồng. Sách Lễ Ký viết: Cô âm tắc bất sinh, độc dương tắc bất trưởng, cố thiên địa phối dĩ âm dương, nam dĩ nữ vi thất, nữ dĩ nam vi gia, cố nhân sinh ngẫu dĩ phu phụ 孤 陰 則 不 生, 獨 陽 則 不 長, 故 天 地 配 以 陰 陽; 男 以 女 為 室, 女 以 男 為 家, 故 人 生 偶 以 夫 婦, nghĩa là một âm thì không sinh, một dương thì không lớn, cho nên Trời đất phối hợp âm dương; nam dùng nữ lập gia thất, nữ dùng nam tạo gia đình, cho nên nhân sinh sánh đôi bởi vợ chồng.

Đạo Cao Đài lấy Nho Tông chuyển thế, nên con người cũng phải theo Đạo Trời mà sinh hóa, tức trai lớn thì phải lấy vợ, gái lớn thì phải lấy chồng. Vợ chồng ăn ở nhau phải yêu thương, hòa hợp nhau, dù là hai người nhưng coi như là một.

Chính bài Kinh Tụng Khi Chồng Quy Vị có câu:

Niềm ân ái thân hòa làm một,

Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.

Bộ Dịch Trình truyện viết: Sự tương cảm của muôn vật ở thế gian, không gì bằng nam nữ. Nam nữ tuy là hai cá thể nhưng khi kết hợp nhau, vì tình yêu vì bổn phận trở nên một thân vậy. Sách Ấu Học nói: Nam Nữ hữu tương cảm chi nghĩa; phu phụ vi nhất thể chi thân 男 女 有 相 感 之 義, 夫 婦 為 一 體 之 親, tức là nam nữ có cái nghĩa cảm kích nhau, vợ chồng là tình thân một cá thể.

Ngoài ra việc cư xử giữa vợ chồng với nhau đều được qui định theo một phép tắc hợp với luân thường đạo đức, đó là đạo vợ chồng, nằm trong ngũ luân.

Trong Kinh Thư viết: Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho Thuấn, bèn gả hai nàng công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh cho, để xem cách tề gia và việc ứng xử của Thuấn. Ông Thuấn lấy ngũ điển ra đối đãi với vợ và mọi người, nên sau được vua Nghiêu chọn và nhường ngôi cho.

Đối với đạo Cao Đài, theo ngũ luân của Nho giáo, coi đạo vợ chồng là nền tảng của gia đình, bổn phận người vợ hoàn toàn gởi thân cho chồng, cho nên đạo vợ chồng phải lấy ơn nghĩa mà sống đời với nhau. Khi chồng chết, người nữ tín đồ phải giữ lòng trinh tiết mà thờ phượng và cúng tế chồng theo đạo nghĩa của người đàn bà.

Kinh “Tụng Khi Chồng Qui Vị” dành cho người vợ cúng tế cho chồng nhằm nói lên cái ơn che chở, đùm bọc của đấng lang quân, mà nàng đã bao năm đem thân “sắn bìm nương bóng”. Người góa phụ Cao Đài, trong cảnh đau buồn mất đi một nguời yêu thương đã cùng chia vui sớt thảm, gắn bó với cuộc đời nàng, khiến cho nàng có lời tâm nguyện thờ chồng:

Thiếp cam bao tóc thờ chàng,

Rót chung ly biệt đôi hàng lệ sa.

CHỒNG TẾ VỢ:

Bà Đoàn Thị Điểm, một nữ sĩ Việt Nam, năm 1933 có giáng cơ ban cho Đạo Cao Đài một tác phẩm rất có giá trị, đó là Nữ Trung Tùng Phận, một cuốn sách nhằm mục đích giáo hóa các nữ tín đồ Cao Đài trở nên người hiền đức, giữ vẹn đạo nhơn luân, theo đúng tôn chỉ Nho tông chuyển thế mà Đức Chí Tôn đã đề ra trong thời Hạ ngươn mạt Pháp.

Theo Bà, đạo vợ chồng là đầu mối của nhơn luân nên phải biết thương yêu nhau, ăn ở nhau có nghĩa thủy chung:

Tình phu phụ biết bao nghĩa trọng,

Đạo nhơn luân gầy sống của đời.

Dầu cho non nước đổi dời,

Còn niềm chồng vợ, còn người còn ta.

Ơn nghĩa của người phụ nữ với chồng con rất sâu nặng, là một giềng mối để kế thừa hương lửa Tổ tông, là khởi đoan của nền nhơn luân đạo đức, nên trong bài Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu bà Đoàn cũng có viết:

Nối Tông tổ biết bao nghĩa trọng

Cơ nghiệp còn lưu mộng tang du.

Trong bài thuyết đạo về Bảo thủ thuần phong mỹ tục, Đức Hộ Pháp cũng cho rằng: Đạo nhơn luân khởi đoan do chồng vợ, có chồng vợ mới có cha con, có cha con mới có dân tộc lập thành quốc gia xã hội. Nhiều gương xưa tích cũ được nêu lên để chỉnh đốn đạo nhơn luân, cốt yếu làm con người biết đạo vợ chồng là trọng, đặng sửa đương cho nhau để lập mình lên bực chí Thánh. Như thời xưa vợ chồng ông Châu Công, Ngài là Tể tướng đầu triều mà bà vợ vẫn lo canh cửi làm ăn nuôi mẹ chồng, một vị mạng phụ phu nhơn mà cư xử được như vậy thật đáng quí.

Chính vì ơn “tùng phu sửa trấp nâng khăn” và ơn “nối Tông tổ” của người vợ quá cố, Bà Đoàn Thị Điểm mới giáng cơ ban cho bài Kinh Tụng khi Vợ Qui Liễu, nhằm để tỏ lòng biết ơn, tiếc thương của người chồng đã mất đi một vị hiền phụ.

 

 

 

 

LỄ DI QUAN VÀ HẠ HUYỆT

LỄ DI QUAN.

Theo Việt Nam Phong Tục xưa, ngày phát dẫn, tức là ngày di chuyển quan tài đi an táng tất cả tang quyến đều mặc tang phục đưa tang. Khi cha mất, các người con trai đi đưa chống gậy tre, mẹ mất thì chống gậy vông đi thụt lùi trước linh cữu. Con gái, con dâu thì phải lăn đường, nghĩa là nằm lăn ra giữa đường mà than khóc để cho người khiêng quan tài bước qua mình, cứ đi một đoạn đường thì lại nằm lăn xuống cho đến huyệt mộ mới thôi. Hiện nay cũng có nhiều gia đình ở vùng sâu của các địa phương còn theo tục lệ này.

Chúng ta biết lễ tang là cốt để tỏ lòng thương xót đối với người chết, song lễ phải làm theo những nghi tiết trang nghiêm và chân tình, không vì câu nệ thái quá mà thành như diễn trò, chứ chẳng thấy chút gì biểu lộ tình cảm tự nhiên.

Riêng với người Đạo Cao Đài, chúng ta vẫn cư tang bằng cách mặc tang phục, tay cầm gậy tre hay gậy vông, nhưng không nên kêu gào, nằm lăn hay khóc lóc. Bởi chúng ta biết giáo lý Đức Phật đã dạy: Ái biệt ly khổ 愛 別 離 苦, tức là vì thương yêu quá nên khi xa lìa nhau là khổ. Vì vậy, chúng ta phải giải trừ cái khổ đó bằng cách siêu độ Chơn linh để không còn luân hồi nữa. Vì vậy, dù yêu thương người thân mà đau đớn cách mấy thì cũng phải nén lòng mà cư tang. Không nên bày trò thảm thiết hay khóc lóc, đau buồn làm cho Chơn linh người mất vì tình cảm mà quyến luyến cõi dương trần, không chịu dứt rời để về quê xưa cảnh cũ. Điều này Kinh Tẩn Liệm cũng từng nhắc nhở Chơn linh người quá cố:

Đừng gìn thân ái nghĩa nhân,

Xôn xao thoát khổ xa lần bến mê.

Cần nhứt tang gia hiếu quyến nên thành tâm cúng lạy các Đấng Thiêng Liêng để siêu độ Chơn linh và trang nghiêm tế lễ để thể hiện lòng kính trọng ân đức người chết.

Ngoài ra, trên đường di quan đến huyệt mộ, theo phong tục, thường dùng giấy tiền vàng bạc, đô la địa phủ rải tung tóe khắp đường lộ, bởi tục lệ cho rằng có quỷ phụ vào quan tài, nên phải rắc vàng mả để tống quỷ, kẻo quan tài nặng nề khó khiêng đi. Lại có người nói rằng rắc giấy tiền vàng bạc là để vong hồn người chết có của để chi dụng.

Việc này xét ra quá mê tín, không phù hợp với giáo lý đạo Cao Đài. Chúng ta thấy, nặng nhẹ là do quan tài dùng bằng gỗ tốt hay gỗ thường. Nếu chúng ta sợ nặng nề cho Đạo tỳ khiêng thì nên tạo cỗ quan tài bằng gỗ thường, để nhẹ nhàng, đỡ về phí tổn, lại nữa khi chôn xuống mau hư mục, Chơn thần mau dứt lìa khỏi hài cốt dễ dàng.

Còn nói rải giấy tiền vàng bạc là dành để người chết hưởng dùng thì lại càng mâu thuẫn, bởi trong tang lễ người con nào cũng mong vong linh cha hoặc mẹ được siêu thoát, nên mới nhờ Đạo thành tâm cầu nguyện hay nhờ thầy cúng siêu độ cho linh hồn. Nếu vong linh cha hoặc mẹ được thoát hóa thì giấy tiền vàng bạc là vật chất hữu hình nơi thế gian liệu có cần thiết cho vong linh trong cõi Thiêng Liêng hay không?

Nghi thức theo quyển Quan Hôn Tang Lễ, khi làm lễ Khiển điện xong, thì Ban Đạo tỳ vào động quan khiêng Linh cữu ra Thuyền Bát Nhã hay xe tang đi an táng, gọi là Lễ Di quan hay Phát dẫn.

Lễ Di quan là nghi đưa tiễn Linh cữu đến huyệt mộ. Theo Cao Đài giáo, một đám tang khi đưa đi hạ huyệt thì phải theo một trật tự. Trật tự đưa đám tang cho vị Chức Việc Bàn Trị Sự và Đạo hữu được Hội Thánh hướng dẫn như sau:

1 - Bảng Đại Đạo.

2 - Phướn Thượng Sanh.

3 - Khay Linh vị

4 - Đồng nhi (Tụng bài Đưa Linh, có đờn)

5 - Vãng lụy (nếu có).

6 - Thuyền Bát Nhãn chở Linh cữu

7 - Tang quyến

8 - Chức Sắc, Chức Việc, Đạo hữu nam nữ.

Hễ đám tang phát hành thì đồng nhi tụng bài Kinh Đưa Linh Cữu từ nơi phát hành ra tới huyệt mộ.

Trên đường di quan, nơi Châu Thành Thánh Địa, thuyền Bát Nhã và người đưa đám tang đi vào nội ô Tòa Thánh, dừng lại trước Báo Ân Từ, ban nghi lễ nơi đây dộng một hồi chuông, tang quyến bưng khay vong vào lạy Phật Mẫu.

Khi tới trước Đền Thánh, ban nghi lễ cũng dộng một hồi chuông, tang quyến bưng khay Linh vị vào lạy Chí Tôn để cầu nguyện cho vong linh.

Tại các địa phương nếu trên đường di quan có đi ngang qua Thánh Thất thì ban nghi lễ nơi đó cũng dộng một hồi chuông, tang quyến cũng thỉnh Linh vị vào bái lễ Đức Chí Tôn.

Theo nghi lễ năm 91, việc rước vong vào cầu nguyện tại Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu địa phương thì nam rước nam, nữ rước nữ. Nghĩa là:

Chức Sắc hoặc Chức Việc nam phái rước vong người nam phái qui vị.

Chức Sắc hoặc Chức Việc nữ phái rước vong người nữ phái qui vị.

Nếu không có Chức Sắc hoặc Chức Việc nữ thì Chức Sắc, Chức Việc nam mới rước vong cho người nữ qui vị.

Người cầm phướn dẫn vong phải là một vị Chức Việc hoặc một vị Chức Sắc tùy theo phẩm cấp người qui vị.

LỄ HẠ HUYỆT

Theo phong tục về tang lễ ở Nam Bộ, trước khi hạ huyệt phải trải lên nắp quan tài một lá triệu, sau đó mới lấp đất lại. Lá triệu đó, ghi lý lịch và tánh hạnh của người chết dùng như một tờ giấy chứng nhận cho vong hồn người mất.

Tấm triệu được treo trên một cây tre cầm dẫn đi đường, hoặc gắn vào một cái giá, là một cái khung bằng cây tre đặt trên một cái giá bốn chơn có chỗ cho cháu đích tôn người chết ngồi lên đó và được người ta khiêng đi phía trước xe tang trong ngày di quan ra phần mộ.

Sau khi Linh cữu đặt an trên miệng huyệt, người ta mới trải dài tấm triệu trên nắp quan tài, đến khi hạ huyệt xong mới lấp đất lại. Cũng có nơi khi hạ huyệt người ta đốt lá triệu.

Theo chánh pháp Cao Đài, người tín đồ chết không có viết triệu, tức không lấy tấm triệu làm lý lịch thông hành, bởi vì một khi đã hồng thệ nhập môn, về vô vi người tín đồ được Chí Tôn nhìn nhận là đệ tử Đấng Cao Đài và về hữu hình được Hội Thánh chứng nhận bằng giấy Sớ Cầu Đạo.

Như vậy, khi di quan ra huyệt mộ người Đạo Cao Đài về thể pháp, đã có lá phướn Thượng Sanh (Thế cho tấm triệu) dìu dẫn Chơn linh người quá cố, nghĩa là Phướn Thượng Sanh đi trước dẫn khay Linh vị. Về bí pháp nơi cõi thiêng liêng mỗi Chơn linh đều được dẫn dắt bằng phướn Tiếp Dẫn của Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, hay phướn Tiêu Diêu (phướn Truy Hồn) của Lục Nương Diêu Trì Cung.

Còn Sớ Cầu Đạo là tờ giấy mà Hội Thánh cấp cho người Đạo Cao Đài, chứng nhận cho người đã lập minh thệ để nhập môn vào Đạo, được Chí Tôn nhìn là Môn đệ, nên có giá trị về mặt vô vi, nghĩa là Chơn linh có thể lấy đó như một sắc lệnh thông hành về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Vì vậy cho nên Sớ Cầu Đạo của người quá vãng được vị Chánh Trị Sự cầu nguyện và đốt trước khi hạ huyệt để linh hồn người mất tiện sử dụng.

Theo nghi lễ đạo, khi tới nơi chôn cất, linh cữu được đặt yên trên huyệt, vị Chánh Trị Sự cùng với tang gia hiếu quyến mới đến trước Linh cữu bày hoa quả để thiết lễ cầu nguyện Hoàng Thiên Hậu Thổ để gởi thi hài của người quy liễu nơi phần mộ, rồi tang gia lạy ba lạy.

Nếu trong thân bằng quyến thuộc có điếu văn thì đọc trước phần mộ, và đại diện tang gia đáp từ để cảm tạ Hội Thánh, Chức Sắc, Chức Việc, các ban bộ và chư vị Đạo hữu nam nữ.

Lễ cảm tạ xong, tang quyến quỳ trước đầu huyệt, đồng nhi tụng bài Kinh Hạ Huyệt (ba lần), mỗi lần dứt một hiệp thì cúi đầu, mãn hiệp thứ ba tiếp tụng Vãng Sanh Thần Chú, ba lần, khi dứt niệm câu chú Thầy, ba lần.

Tiếp theo đó vị chứng lễ đứng ngang quan tài xá Thiên Nhãn trên tấm Phủ quan ba xá, rồi mới thu hồi đem cất.

Sau cùng, Linh cữu từ từ được hạ xuống, an táng vĩnh viễn nơi mộ phần.

Chúng ta biết, tục người xưa thường có quan niệm tìm ngôi đất tốt để an táng ông bà hoặc cha mẹ để con cháu sau nầy sẽ hiển vinh, phát đạt. Vì vậy, nhiều gia đình có lệ tạm chôn người chết một thời gian rồi sau đó sẽ cải táng (tục miền Bắc), bởi vì có nhà lúc chết chưa tìm được ngôi đất tốt, chôn tạm một cỗ quan xấu, đợi sau nầy nhờ thầy địa lý tìm nơi khác có long huyệt để cải táng.

Chúng ta may duyên được vào cửa đạo Cao Đài, nhứt là được sinh sống nơi vùng đất Thánh, theo Đức Hộ Pháp, Thánh Địa không phải chỉ dành làm nơi sinh sống tốt đẹp cho con người trong tôn giáo hay người ngoại Đạo, nó còn là nơi quý báu để gửi nắm xương tàn khi về với Đức Chí Tôn.

Trong bài thuyết Đạo tại Đền Thánh ngày 19 tháng 7 năm Canh Dần (1950), Đức Ngài có căn dặn như sau: Có một điều nên để ý là làm sao ngày quy liễu, gởi thánh cốt tại đất Thánh Địa vì trái địa cầu 68 nầy không có chổ đất nào quý hóa cho bằng đất Thánh Địa, nếu để được cốt hài nơi đây rồi thì rất hạnh phúc cho tương lai con cháu.

Cái quý trọng của đất Thánh Địa, là có Lục Long phò ấn nên Đền Thánh nằm ngay trung tim của 6 con rồng đoanh lại.

Dầu nơi Cực Lạc cũ, hay đất mới cùng là Nghĩa Địa; đất 50 mẫu ở Long Thành cũng vậy, Bần Đạo đã biết bên nước Tàu; hễ ông, bà, cha, mẹ họ có quy, họ quàn lại để chọn ngày hoặc chỗ đất tốt có hàm rồng, dầu phải 5, 3, năm họ cũng đợi kiếm được mới làm lễ an táng, vì bên nước Tàu có nhiều nhà biết thiên văn, hay khoa coi bói họ giỏi.

Phần nhiều là các nhà giàu có hay chọn lựa. Ngày nay dân tộc Việt Nam có phước Chí Tôn đã tiền định cho dòng giống Lạc Hồng sẽ hưởng điều phúc hậu tương lai, ai có duyên mà về đây gởi cốt hài là có phước lắm vậy.

 

 

 

 

TUẦN CỬU

Triết lý của đạo Cao Đài cho rằng con người sống ở thế gian có thân xác, chơn thần và chơn linh, nên khi chết, không phải là hết, mà chỉ là cái thể xác hoại diệt, nhưng chơn thần và chơn linh thì vẫn tồn tại mãi mãi trong cõi vô vi. Hay nói cách khác, chết chỉ là thay đổi trạng thái sống: Sống bằng thân xác hữu hình ở thế gian và sống bằng linh hồn, không hình thể ở cõi giới hư không.

Sự sống của thể xác thì tạm bợ, hữu hạn, nhưng sự sống của linh hồn mới thực sống vĩnh viễn, bất diệt. Vì thế, tôn chỉ của đạo Cao Đài là khi con người sống nơi thế gian, phải mượn thân xác hữu hình lo tu hành: Làm phải làm lành, lập công bồi đức để chuẩn bị một con đường trong cõi giới vô vi, cho linh hồn có một cuộc sống an nhàn, cực lạc.

Như ta biết, thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đạo Cao Đài được khai mở mục đích tận độ các nguyên nhân và chúng sanh còn mê muội trong kỳ Hạ nguơn mạt pháp nầy, nên “Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Vị Tiên Nương trông nom về cơ giáo hoá cho vạn linh” (Trích Luật Tam Thể).

Căn cứ theo những bài Kinh tụng Cửu, mỗi vị Tiên Nương còn có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn linh giác ngộ, khi quy vị ở thế gian được đưa lên từng cõi của Cửu Trùng Thiên. Như vậy, Cửu Vị Tiên Nương thay Phật Mẫu nơi Diêu Trì Cung chưởng quản các âm linh.

Ngoài ra, để thực hiện đại ân xá kỳ ba, Đức Chí Tôn, các Đấng thiêng liêng ban cho kinh Tận Độ và những bí tích làm phép xác, cắt dây oan nghiệt, phép độ thăng, nhứt là toàn Đạo và tang quyến thành tâm cầu rỗi cho linh hồn được nhẹ nhàng thanh cao mà vào từng cõi giới mới.

Muốn vậy, người tín đồ khi sống ở thế gian phải giữ giới luật Đạo, lập công bồi đức, và phải được vị chức sắc thọ truyền bửu pháp làm phép độ thăng cho và những người thân phải thành tâm cầu siêu cho linh hồn khi chết.

Vì vậy, phương thức độ hồn cho vong linh trong đạo Cao Đài sau khi chết được tiếp tục diễn ra trong vòng 581 ngày. Đó là các tuần cửu và tiểu, đại tường.

Người đã quá vãng, sau khi an táng xong, kể từ ngày chết, đếm tới 9 ngày thì tang gia hiếu quyến đem linh vị đến Thánh Thất sở tại để tụng kinh làm tuần Nhứt Cửu, tiếp tục cầu nguyện cho vong linh được nhẹ nhàng siêu thoát. Kế đếm tới 18 ngày (tức 9 ngày sau) thì làm tuần Nhị Cửu...cho đến 81 ngày thì làm tuần Cửu Cửu, hay chung cửu. Kế đó, sau một ngày Cửu Cửu hay Chung cửu, đếm tới 200 ngày thì làm tuần Tiểu Tường. Rồi kể từ sau một ngày làm tuần Tiểu Tường đếm tới 300 ngày thì làm tuần Đại Tường, hay là tuần mãn tang.

Những bài Kinh tụng Cửu, Tiểu và Đại tường trong quyển Kinh Thiên Thế Đạo do Đức Quan Âm Bồ Tát, Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Theo nội dung các bài kinh đọc trong chín tuần cửu, và Tiểu, Đại tường thì vào mỗi tuần Cửu có một trong Cửu Vị Tiên Nương dẫn dắt chơn linh vào từng cõi giới để chơn hồn người chết đươc hưởng những huyền pháp thiêng liêng trong cõi giới đó.

Việc đọc kinh trong tuần cửu cũng nhằm nhắc nhở vong linh xa lánh tục trần, lìa khỏi Phong đô, hướng về nguồn cội của Chơn linh là Thượng Đế, để được đi qua từng cõi giới càng ngày càng nhẹ nhàng và thanh cao hơn.

Cúng tế vong linh người chết trong tuần cửu và Tiểu, Đại tường, cũng như trong tang lễ, đòi hỏi con cháu phải thành tâm và tinh tấn cầu rỗi các Đấng Thiêng liêng, nhờ đó các Đấng mới dùng nguồn năng lực nầy độ hồn cho người chết còn nặng nề ô trược để được nhẹ nhàng hầu đưa các chơn linh về ngôi xưa vị cũ.

Do vậy, theo luật công bình thiêng liêng Tạo Hóa, buộc con cháu người chết phải biết tu hành, lập công bồi đức, tạo dựng thành nguồn công quả thiêng liêng để chơn linh nhờ đó làm hành trang trở về cựu vị. Hay nói cách khác dễ hiểu hơn, buổi sanh tiền cha mẹ thiếu phước đức nên khi trở về cõi hư vô, vong linh bị ô trược, nặng nề, phải chờ đợi cho con cháu tu hành, tạo lập công đức để dâng hiến bù vào chỗ thiếu đó, cho vong linh được nhẹ nhàng, như lời bài Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu có câu:

Thong dong cõi thọ nương hồn,

Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

 

 

 

 

Ý NGHĨA TUẦN CỬU VÀ TIỂU ĐẠI TƯỜNG

Triết lý của đạo Cao Đài cho rằng con người sống ở thế gian gồm có ba thể:

Phàm thân 凡 身, hay nhục thể là Đệ nhứt xác thân, do cha mẹ đào tạo bằng xác thịt, Phật giáo cho là thân tứ đại, bởi đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành. Thể này hữu hình, trọng trược, không thường tồn, dễ bị hoại.

Linh hồn 靈 魂, hay chơn linh là một điểm Linh quang từ khối Đại Linh quang của Thượng Đế chiết ra ban cho. Thể này Thiêng liêng linh diệu trong con người, nó vốn vô vi, bất tiêu bất diệt, nên khi chết, nếu linh hồn nhẹ nhàng sẽ trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Chơn thần 真 神, hay Đệ nhị xác thân. Theo Thánh giáo đây là một xác thân Thiêng liêng do Phật Mẫu dùng nguơn khí tạo thành. Thể này thuộc khí chất, bán hữu hình, vì nó có thể thấy đặng, mà cũng không có thể thấy đặng. Khi ra khỏi xác phàm, thì chơn thần lấy hình xác phàm như khuôn in rập.

Khi còn sống, chơn thần không thể xuất ra đặng vì bị xác phàm níu kéo, chỉ bậc chân tu mới có thể xuất chơn thần đặng.

Do quan niệm có linh hồn, nên một con người khi chết, không phải là hết, mà chỉ là cái thể xác hoại diệt, nhưng linh hồn thì vẫn tồn tại mãi mãi. Hay nói cách khác, chết chỉ là thay đổi trạng thái sống: Sống bằng thân xác hữu hình ở thế gian và sống bằng linh hồn, không hình thể ở cõi giới vô vi.

Sự sống của thể xác thì hữu hạn, nhưng sự sống của linh hồn mới thực sống vĩnh viễn, bất diệt. Vì thế, tôn chỉ của đạo Cao Đài là khi con người sống nơi thế gian, phải mượn thân xác hữu hình lo tu hành: Làm phải làm lành, lập công bồi đức để chuẩn bị một con đường trong cõi giới vô vi, cho linh hồn có một cuộc sống an nhàn, cực lạc.

Ngoài ra, để thực hiện đại ân xá kỳ ba, đạo Cao Đài còn có ban cho bí pháp Độ thăng và cầu rỗi cho linh hồn được nhẹ nhàng thanh cao mà vào từng cõi giới mới. Muốn vậy, người tín đồ khi sống ở thế gian phải giữ giới luật Đạo, lập công bồi đức, và phải được vị chức sắc thọ truyền bửu pháp làm phép độ thăng cho và những người thân phải thành tâm cầu siêu cho linh hồn người chết.

Phương thức độ hồn cho vong linh sau khi chết được tiếp tục diễn ra trong vòng 581 ngày. Đó là các cuộc lễ Cầu siêu khi chưa mai táng và sau đó được tiếp tục tuần cửu, tiểu, đại tường.

Những người đã quá vãng, sau khi an táng xong, kể từ ngày chết, đếm tới chín ngày thì tang gia hiếu quyến đem linh vị đến Thánh Thất sở tại làm tuần Nhứt Cửu, đếm tới mười tám ngày (tức 9 ngày sau) thì làm tuần Nhị Cửu...cho đến tám mươi mốt ngày thì làm tuần Cửu Cửu.

Kể từ sau một ngày chung cửu (hay Cửu Cửu), đếm tới 200 ngày thì làm tuần Tiểu Tường. Rồi kể từ sau một ngày làm tuần Tiểu Tường đếm tới 300 ngày thì làm tuần Đại Tường, hay là tuần mãn tang.

Như vậy, theo nghi lễ của đạo Cao Đài, một tín đồ giữ thập trai, kể từ ngày chết cho đến ngày làm tuần Đại Tường tất cả là 581 ngày, phải dâng chín lá sớ khi cúng chín tuần cửu, một lá sớ cúng tuần Tiểu Tường và một lá sớ cúng tuần Đại Tường. Tổng cộng là mười một lá sớ cùng với lá sớ Tân Cố thượng khi vừa mới chết nữa là mười hai lá sớ.

Theo cổ tục người chết sau khi chôn cất xong thì tang gia hiếu quyến làm tuần thất (bảy ngày), trong bảy kỳ gọi là thất thất, kế đó làm tuần 100 ngày, đến giáp năm và mãn khó, cộng chung là 10 tuần cúng, để cầu nguyện cho linh hồn được qua 10 cửa ngục cửa Thập Điện Diêm Cung một cách nhẹ nhàng.

Nhưng trong đạo Cao Đài, do cuộc Đại Ân xá của Đức Chí Tôn cho đóng cửa địa ngục, mở tầng Thiên, đưa các chơn hồn đi lên Cửu Trùng Thiên (chín tầng Trời), nên sau khi chết làm chín tuần cửu để nhờ Cửu Vị Tiên Nương siêu rỗi lên từng cõi giới.

Tại sao tang quyến phải đem linh vị về Tòa Thánh hay Thánh Thất địa phương để cúng Cửu hay Tiểu Đại Tường?

Đức Hộ Pháp có cho biết: "Mỗi chơn hồn nơi thế gian này, đều phải quy tựu tại Đền Thánh này và đi từ trong Đền Thánh này đến các cảnh giới khác. Tại sao phải vào Đền Thánh này, mà không vào các Đền Thánh khác? Tại vì Đền Thánh này tỷ như một trường thi: Mỗi năm Chánh Phủ mở một kỳ thi như thi Tú Tài chẳng hạn, địa điểm đã ấn định rồi, chỉ có thi nơi đó mới có giá trị: Tòa Thánh này cũng vậy Đức Chí Tôn lập ra để con cái của Ngài Lập công, Lập đức, Lập ngôn mà về với Ngài”.

Vào Đền Thánh tức là đi từ Hiệp Thiên Đài đến Cung Đạo, nhưng muốn vào Cung Đạo phải qua Cửu Trùng Đài. Vượt qua mỗi bậc của Cửu Trùng Đài thì chơn linh được mỗi lần thử thách của các Đấng Thiêng liêng, được mỗi lần cầu xin của con cháu và toàn thể con cái Đức Chí Tôn, và được mỗi lần cứu rỗi của Cữu Vị Nữ Phật.

Ngoài ra, như ta biết những bài Kinh tụng Cửu, Tiểu và Đại tường trong quyển Kinh Thiên Thế Đạo do Đức Quan Âm Bồ Tát, Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Nội dung các bài Kinh đó thường nhắc nhở vong linh xa lánh tục trần, lìa khỏi Phong đô, hướng về nguồn cội của Chơn linh là Thượng Đế, để được đi qua từng cõi giới càng ngày càng nhẹ nhàng và thanh cao hơn.

 

 

 

 

HÀNH PHÁP ĐỘ HỒN

Tại sao phải Hành pháp độ hồn?

Trong Kinh Giải Oan có câu:

Dòng khổ hải dễ thường chìm đắm,

Mùi đau thương đã thấm Chơn linh.

Dây oan xe chặt buộc mình,

Nhớp nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

cho chúng ta thấy rằng làm con người mang lấy mảnh hình hài xác thịt, lại phải lặn hụp trong biển khổ của thế gian này, nên khổ sở lo ăn, vất vã kiếm mặc, lại còn bị sự đòi hỏi của thân xác, càng ngày càng gây nhiều oan nghiệt, rồi chìm sâu trong luân hồi sanh tử, tử sanh, khiến những nỗi đau thương thấm sâu vào Chơn linh, làm ô trược nặng nề. Do vậy, con người muốn thoát khỏi oan nghiệt để lo tu hành cũng phải nhờ phép Tắm Thánh, Giải Oan Cắt Dây Oan Nghiệt…hầu gột rửa những oan nghiệp chất chồng đã nhiều kiếp.

May duyên cho chúng sanh, gặp thời Tam kỳ Phổ Độ, Chí Tôn giáng huyền cơ, khai mở nền Đại Đạo đại ân xá cho các Chơn linh tội lỗi, giải trừ oan khiên nghiệp quả nhằm mục đích cho chúng sanh dễ bề tu hành, hầu có thể phản bổn huờn nguyên, qui hồi cựu vị. Hơn nữa, đạo Cao Đài là một tôn giáo ra đời nhằm để cứu vớt người có tội lỗi như lời Thánh giáo đã dạy: “Buổi lập Thánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không có tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy.

Ấy vậy, các con rán độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui hơn hết”.

Chính vì thế trong nền đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp vâng lịnh Chí Tôn truyền cho các Chức sắc hàng Thánh thể của Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện những Chơn pháp bí truyền để hỗ trợ cho các Chức Sắc ấy khi đi hành Đạo tại các địa phương dùng để cứu giúp cho nhơn sanh và độ hồn cho các Chơn linh quá cố.

Muốn hành bí pháp độ hồn cho Chơn linh thì người quá cố lúc sinh tiền buộc phải ăn chay mười ngày trong một tháng đổ lên, trẻ em từ 10 tuổi trở lên nếu trường trai hoặc thập trai cũng được thi hành theo nghi lễ này. Còn dưới 10 tuổi thì chỉ thượng sớ và Cầu siêu mà thôi.

Chức sắc Hành pháp Độ hồn sẽ hành phép xác, phép đoạn căn và phép độ thăng cho Chơn hồn trong nghi lễ Cầu siêu.

Hành Phép xác:

Khi đồng nhi tụng bài Kinh Cầu siêu và bài Kinh Khi Đã Chết Rồi ở hiệp một thì vị Chức sắc hành pháp tay trái bắt Ấn Hộ Pháp, để chén nước Cam lồ trên Ấn, tay mặt lấy nhành dương đi giáp vòng quan tài người chết để dùng nhành dương nhúng vào nước Cam Lồ mà rải lên khắp mình người chết. Làm phép xác nhằm ý nghĩa là tẩy rửa Chơn Thần người chết cho hết ô trược để được nhẹ nhàng siêu thăng thoát hóa.

Hành Phép đoạn căn:

Khi tụng Kinh Cầu siêu hiệp thứ nhì thì vị Chức sắc hành pháp tay cầm cây kéo đi giáp vòng quan tài tìm 7 sợi dây oan nghiệt nơi xác người chết để cắt. Đó là hành phép đoạn căn với ý nghĩa là cắt cho đứt hết 7 sợi dây oan nghiệt để không còn ràng buộc Chơn Thần người chết nữa.

Hành Phép độ thăng:

Khi tụng Kinh Cầu siêu hiệp thứ ba thì vị hành pháp tay trái bắt Ấn, tay mặt cầm 9 cây nhang vẻ bùa rồi triệu Chơn Thần người chết lên ngồi trên ngọn nhang để người hành pháp đưa vào cõi Hư linh. Đây là bí pháp độ thăng tức phép độ hồn người chết được siêu thăng lên chín từng Trời (Cửu Trùng Thiên).

Tóm lại, làm phép độ hồn cho một người chết là lấy quyền năng điễn lực vô hình luyện Ma Ha thủy để tẩy trừ những mối oan khiên, ô trược, kế tiếp dùng kéo thiêng liêng đoạn lìa bảy mối oan nghiệt cho Chơn Thần được nhẹ nhàng, rồi nhờ Thần lực của chức sắc Hành pháp để đưa lên cõi Hư Linh.

Trong Bí Truyền Chơn Pháp, Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh có viết: Ấy vậy, làm phép xác cốt yếu là tắm gội xác tục và hồn với giọt nước Cam Lồ, cắt đứt bảy dây oan nghiệt cho Chơn thần lìa khỏi xác rồi đưa Chơn thần vào cõi Hư linh, nghĩa là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, Tứ Đại Bộ Châu và Tam Thập Lục Thiên.

Việc hành pháp độ hồn đòi hỏi vị Chức sắc được thọ truyền bí pháp phải có một đời sống tu hành nghiêm mật, một năng lực tinh thần mạnh mẽ mới có đủ quyền năng linh hiển để truyền vào Chơn thần người chết cho được thanh thoát, nhẹ nhàng.

Việc hành pháp độ hồn chỉ giúp phần nào cho Chơn thần người quá cố, bởi vì Chơn thần của họ tùy thuộc vào nghiệp quả mà lúc sanh tiền đã làm thiện hoặc ác. Nếu sinh thời gây nhiều ác nghiệp, thì việc hành pháp độ thăng và năng lực cảm ứng của những người đến cầu siêu chỉ giúp đỡ phần nào cho Chơn linh người chết được nhẹ nhàng mà thôi, nếu sinh thời lập nhiều công đức thì việc hành pháp độ thăng và năng lực cảm ứng của những người đến cầu siêu sẽ dễ dàng đưa Chơn linh người chết vào cõi Tịnh Độ.

 

 

 

 

MINH SANH

Minh sanh, còn đọc là “Minh tinh 銘 旌”, tục gọi là tấm phan hay lá triệu, là một tấm lụa hay vải đỏ, hoặc tờ giấy hồng đơn, người ta dùng phấn trắng viết họ tên, tuổi tác và quan chức của người chết trong nghi thức tang lễ.

Theo Nghi Thức và Văn Cúng Đám Tang Ở Nam Bộ thì tấm Minh sanh (hay lá triệu) được quan niệm như một giấy thông hành của người chết để trên đường di quan từ nhà đến huyệt, đạo lộ âm binh nhìn thấy lý lịch người chết ghi rõ trên lá triệu mà không ngăn chặn xét hỏi cho đi qua và sau khi hạ huyệt 7 ngày linh hồn người chết cầm tấm triệu này trình cho quỷ tốt giữ cầu Nại Hà để chúng tiếp nhận, dẫn vào trình diện Diêm Vương.

Trên Minh sanh (hay lá triệu) thường có thêu hình Bát Tiên, trong đó người ta viết theo thứ tự một hàng chữ Nho, từ trên xuống dưới, lý lịch vắn tắt của người chết gồm tên Nước, tỉnh, huyện, xã, tên họ, chức vụ, đứng hàng thứ mấy trong gia đình, hưởng thọ hay hưởng dương và cuối cùng ban tặng cho người mất. Nếu người Nam thì tặng trung trực, thuần lương…nếu người Nữ thì tặng trinh thục…

Có hai cách viết triệu:

TRIỆU LÀNG

Một tấm triệu do vị Hương chức hay nhân sĩ trong làng viết. Xin chép một mẫu làm ví dụ:

“共 和 社 會 主 義 越 南, 前 江 省, 州 城 縣, 龍 定 社, 姓 阮 諱 成 仁, 第 二 行, 享 下 壽 六 十 四 歲, 贈 曰 淳 良 之 靈 柩”

“Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Tiền Giang tỉnh, Châu Thành huyện, Long Định xã, tánh Nguyễn húy Thành Nhân, đệ nhị hàng, hưởng hạ thọ lục thập tứ tuế, tặng viết: Thuần lương chi linh cữu”.

TRIỆU PHẬT

Một tấm triệu hay thiết minh sanh do Thầy tụng, hay một nhà sư bên Phật giáo viết. Đây là một mẫu triệu Phật là ví dụ:

“幽 暝 教 主 接 召, 伏 位 亡 姓 黎, 諱 月 原 生 越 南 國, 前 江 省, 法 名 妙 真, 享 壽 七 十 歲, 第 三 行 之 靈 柩”

“U Minh Giáo Chủ tiếp triệu, phục vị vong tính Lê húy Nguyệt, nguyên sanh Việt Nam quốc, Tiền Giang tỉnh, pháp danh Diệu Chơn, hưởng thọ thất thập nhứt tuế, đệ tam hàng chi linh cữu”.

Khi viết triệu, người xưa thường đếm số chữ của lá triệu theo bốn chữ “Quỷ khốc linh thính”, sao cho chữ cuối cùng của người nam đúng vào “linh”, chữ cuối cùng của người nữ đúng vào chữ “thính” (gọi là nam linh nữ thính). Tránh đừng để chữ cuối rơi vào chữ “quỷ” và chữ “khốc”. Nếu gặp trường hợp này thì ta thêm chữ vào hoặc bớt đi để cho nam dứt ở “linh”, nữ dứt ở “thính”.

Triệu làng là lá triệu của người đời, được vị Hương chức hay thân hào nhân sĩ có uy tín trong làng viết và ban tặng, còn triệu Phật do vị Sư hay các Thầy tụng viết cho một vị Phật tử theo nghi thức của Phật giáo.

Đề phan hay “Thiết minh tinh”, tức là một lễ do vị Thầy tụng miệng đọc tay viết tên tuổi quê quán, ngày sanh, ngày chết, đức hạnh của người mất lên lá phan hay tấm minh sanh. Ngoài ra, còn kể lể công đức lúc sanh tiền của người quá cố, đồng thời Thầy tuyên dương Phật pháp trích từ kinh điển nhấn mạnh về lẽ vô thường, sinh diệt để thức tỉnh cho vong linh. Đề phan hay thiết minh tinh thì do các Thầy viết và ngâm có ca kệ, còn đề triệu theo tục lệ thì chỉ viết chữ vào lá triệu mà thôi.

Khi di quan, tấm Minh sanh (hay lá triệu) được treo trên một cây tre cầm dẫn đi đường, hoặc gắn vào một cái giá, là một cái khung bằng tre đặt trên một cái giá bốn chơn có chỗ cho cháu đích tôn người chết ngồi lên đó và được người ta khiêng đi phía trước xe tang trong ngày di quan ra phần mộ.

Sau khi Linh cữu đặt an trên miệng huyệt, người ta mới trải dài tấm Minh sanh (triệu) trên nắp quan tài, đến khi hạ huyệt xong mới lấp đất lại. Cũng có nơi khi hạ huyệt người ta mới đốt lá triệu.

Lục Nương Diêu Trì Cung, trong một Đàn cơ có dạy về tấm MINH SANH như sau:

Khá hiểu nghĩa Thiền Lâm cho rõ,

Các thinh âm chẳng có cửa Không.

Bớt điều sắc tướng hoàn vong,

Bớt điều hồ mị nhọc lòng phạn hương.

Bớt những lẽ người đương mê tín,

Nhập Tịnh gia cậy lịnh Thích Ca.

Bớt điều làm sãi bó ma,

Đưa linh lại mượn có nhà MINH SANH.

Theo chánh pháp Cao Đài, người tín đồ chết không có thiết MINH SANH (viết triệu), tức không lấy tấm triệu làm lý lịch thông hành, bởi vì một khi đã Minh thệ nhập môn, về vô vi người tín đồ được Đức Chí Tôn nhìn nhận là đệ tử Đấng Cao Đài và về hữu hình được Hội Thánh chứng nhận bằng giấy Sớ Cầu Đạo.

Trong đàn cơ ngày mùng 1 tháng 7 năm Bính Dần, Đức Chí Tôn có cho biết việc nhập môn rất hệ trọng, quỷ vương không thể quấy phá người minh thệ được. Ngài nói: “Quỷ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác. Chúng nó hiệp Tam thập lục Ðộng toan hại các con, nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh Thệ, nên chư Thần,Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận”.

Như vậy, lập Minh thệ rồi được Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật nhìn nhận, nên khi di quan ra huyệt mộ người đạo Cao Đài về thể pháp, đã có lá phướn Thượng Sanh (thế cho tấm triệu) dìu dẫn Chơn linh người quá cố, nghĩa là Phướn Thượng Sanh đi trước dẫn khay Linh vị. Về bí pháp nơi cõi thiêng liêng mỗi Chơn linh đều được dẫn dắt bằng phướn Tiếp Dẫn của Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, hay phướn Tiêu Diêu (phướn Truy Hồn) của Lục Nương Diêu Trì Cung.

Còn Sớ Cầu Đạo là tờ giấy mà Hội Thánh cấp cho người đạo Cao Đài, chứng nhận cho người đã lập minh thệ để nhập môn vào Đạo, được Chí Tôn nhìn là Môn đệ, nên có giá trị về mặt vô vi, nghĩa là Chơn linh có thể lấy đó như một sắc lệnh thông hành về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Vì vậy cho nên Sớ Cầu Đạo của người quá vãng được vị Chánh Trị Sự cầu nguyện và đốt trước khi hạ huyệt để linh hồn người mất tiện sử dụng.

 

 

 

 

KHIỂN ĐIỆN

Trước khi làm lễ Động quan để di chuyển quan tài đi an táng thì phải làm lễ Khiển điện 遣 奠, nghĩa là lễ dọn dẹp bàn điện cúng tế (Bàn vong) để Ban Đạo tỳ vào động quan khiêng Linh cữu ra Thuyền Bát Nhã hay xe tang đi an táng.

Theo nghi thức đạo Cao Đài, Khiển điện có nhạc và hai lễ sĩ chấp sự theo nghi tiết sau:

- Đạo giả tựu vị:

 

Đạo tỳ sắp hàng đi vòng qua lại trước Bàn linh.

- Nhơn quan giả bái quan:

 

Các Đạo tỳ đứng trật tự rồi lạy trước Bàn vong.

- Đạo giả nhập cữu:

 

Các Đạo tỳ đứng hai bên linh cữu.

- Chấp sự giả triệt linh tọa:

 

Các vị chấp sự khiêng bàn vong qua một bên, một người trong tang bưng khay Linh vị.

- Đạo giả cử cữu thăng xa phát hành:

 

Các Đạo tỳ khiêng linh cữu lên thuyền Bát Nhã hay xe tang và khởi hành.

Vị Chức Sắc hoặc Chức Việc cầm phướn Thượng Sanh và tang chủ bưng khai Linh vị đến trước Thiên Bàn xá ba xá, rồi ra phía trước quan tài sắp đặt theo thứ tự di quan.

Theo Việt Nam Phong Tục, ngày xưa trước khi làm lễ Khiển điện phải lễ cáo Từ Đường, tức là lễ diễn ra trong phút quàn cuối cùng tại nhà. Nếu nhà nào giàu sang có phủ thờ riêng và có điều kiện thì di quan tài đến nhà thờ để người chết cúng lạy Ông Bà lần cuối. Nếu không có điều kiện vì chật hẹp thì chỉ xoay chuyển quan tài tượng trưng một vòng mà thôi, gọi là Chuyển cữu. Tuy nhiên, phổ biến nhứt là người ta rước hồn bạch qua nhà Từ Đường thay cho quan tài để người chết cáo Từ Đường.

Riêng chánh pháp Cao Đài mượn Linh vị tượng Chơn linh người chết, nên lễ cáo Từ Đường chỉ cần con cháu đem khay Linh vị sang làm lễ Cáo Từ Tổ tại Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ mà thôi.

Ngày xưa, người chết thường được quàn tại nhà lâu, nên trước khi khiển điện có làm lễ “phá quàn”, tức là lễ do một vị Sư múa võ, đi quyền trước Bàn vong rồi sau đó dùng gậy pháp đập vỡ cái nồi đất đặt dưới quan tài.

Ngày nay, sau khi khiển điện, tục lệ lại lấy cái siêu đất (đã được để dưới quan tài từ lúc an vị Linh cữu) ra đập bể, làm như vậy có ý nghĩa là cầu cho vong linh người qui liễu được siêu thoát.

Nghi “Phá quàn” ngày nay không phải do nhà sư múa nữa, mà do người chuyên đánh “Phá quàn” học về cách đi quyền, đánh võ và lấy tích một vị tướng cướp trên núi xuống trộm quan tài về an táng nơi sơn trại, có người nói do tích Tiết Cương thám Thiết Khưu Phần.

Qui định của Tôn giáo Cao Đài không cho quàn Linh cữu tại nhà lâu (chỉ để trong vòng ba ngày) nên việc múa phá quàn chẳng cần thiết cho lễ tang người tín đồ Đạo. Lại nữa, ta nhận thấy việc múa phá quàn theo nghi lễ đời không lợi ích cho việc siêu độ Chơn linh, trái lại còn gây sự thất kính với người quá cố, và không tốt đẹp cho danh thể người Đạo, bởi người đánh phá quàn cầm đuốc múa võ quanh quan tài, được tượng trưng cho một tướng cướp trên sơn trại, nửa đêm đem lâu la đốt đuốc, xuống núi cướp quan tài người chết đưa lên sơn trại an táng. Thử hỏi nếu là cha hoặc mẹ của vị Đạo hữu được một tướng cướp gọi bằng cha hoặc mẹ và điều động đám lâu la đem quan tài lên sơn động mà an táng thì có đáng thẹn và đau buồn lắm không!

Còn việc thăng hay đọa, là kết quả cả kiếp sanh của người chết đã làm điều thiện hoặc làm điều ác. Chẳng những nghi lễ của Đạo Cao Đài như cầu hồn, cầu siêu, làm phép xác, cắt dây oan nghiệt, làm phép độ thăng…cũng chỉ nhằm nhắc nhở, trợ giúp một phần nào cho Chơn linh được nhẹ nhàng để dễ dàng thoát hóa mà thôi, huống chi việc đập bể siêu đất thì làm sao có thể can thiệp vào sự thăng hay đọa của vong linh người mất được.

Theo luật công bằng thiêng liêng “Nhất nhân hành Đạo Cửu Huyền thăng 一 人 行 道 九 玄 升”, như vậy, chỉ có con cháu người quá cố mới có thể giúp thẳng cho Chơn linh ông bà, cha mẹ siêu thoát được mà thôi. Muốn vậy, con cháu phải biết lo tu hành, phải lập công bồi đức để lấy công đức đó mà dâng hiến cho vong linh ông bà, cha mẹ thăng tiến.

Nghi lễ động quan là giờ phút cuối cùng của quan tài người thân còn ở trong nhà để sau đó được di chuyển ra huyệt an táng vĩnh viễn nơi mộ phần. Vì vậy, trong thời khắc này tang quyến rất đau buồn. Tục ngày xưa, con cái thường khóc la một cách thảm thiết, có người kêu trời kêu đất, có kẻ lại gào thét đến hết hơi khan tiếng. Ta biết, sự thương cốt ở trong lòng, chỉ đau đớn rơi hai dòng lệ cũng là đủ rồi, cần chi phải khóc than kể lể. Chính vì người xưa quan niệm cho rằng khóc lóc là thể hiện lòng thương yêu, nên trong nghi tiết cúng lễ có mục “cử ai” (Tang quyến phải khóc lên), “chỉ ai” (Tang quyến ngưng khóc).

Thậm chí, con của Tăng Tử là Tăng Thân nghĩ rằng khi có tang cha mẹ, con cái phải khóc theo một thanh điệu nhất định, nên mới hỏi cha. Tăng Tử trả lời: Con cái đi giữa đường đột nhiên lạc cha hoặc mẹ thì con nghĩ xem tiếng khóc của đứa con có cần thanh điệu không?

Chúng ta thấy khi gặp nỗi đau lớn lao như mất cha hoặc mẹ, hầu như bị điếng hồn, khóc không ra hơi nữa, đó là biểu lộ hoàn toàn sự chân tình, chứ làm sao còn nói đến chuyện sử dụng thanh điệu gì để mà khóc?

Chúng ta biết, khóc là do sự kích động của lòng thương xót, thế mà khi làm lễ, thầy cúng xướng “cử ai 舉 哀” thì con cái làm sao khơi dậy lòng ai bi mà khóc lóc được, nếu mà khóc được thì tỷ như diễn xuất thôi, chứ trong lòng làm sao có mối cảm xúc. Khi đang khóc thầy lại xướng “chỉ ai 止 哀” thì con cái làm sao chận được cái tình cảm đau thương trong lòng mà ngưng khóc!

Lễ là biểu hiện của lễ nghi tiết độ, bởi vì nói chung những sự việc mà con người phải tiếp xúc chỉ là hình thức bên ngoài của lễ. Nếu như quá sức xem trọng hình thức thì rất dễ dàng khiến cho lễ rơi vào tình trạng thừa thãi, ngụy tạo, trở nên vô nghĩa, vì vậy chúng ta không nên bày hình thức la gào, khóc lóc trong tang lễ Cao Đài, bởi sự thương yêu ở trong lòng, chỉ thể hiện bằng cử chỉ đau khổ, gương mặt buồn rầu cũng đủ, chứ không nên khóc la thành tiếng mà mất thanh tịnh trong tang lễ và chỉ làm quyến luyến, đau thương cho vong linh người chết mà thôi.Việc tang lễ trong tôn giáo Cao Đài đòi hỏi con cháu người quy vị phải thành tâm và siêng năng tụng kinh để cầu các Đấng Thiêng liêng, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thất Nương Diêu Trì Cung cứu độ cho chơn linh người quy liễu được siêu thăng Tịnh độ.

 

 

 

 

LỄ ĐỘNG QUAN VÀ ĐÁNH PHÁ QUÀN

Tục lệ ngày xưa trước khi làm lễ khiển điện động quan phải lễ cáo Từ Đường, tức là lễ diễn ra trong phút quàn cuối cùng tại nhà. Nếu nhà nào giàu sang có phủ thờ riêng và có điều kiện thì di quan tài đến nhà thờ để người chết cúng lạy Ông Bà lần cuối. Nếu không có điều kiện vì chật hẹp thì chỉ xoay chuyển quan tài tượng trưng một vòng mà thôi, gọi là Chuyển cữu. Tuy nhiên, phổ biến nhứt là người ta rước hồn bạch qua nhà Từ Đường thay cho quan tài để người chết cáo Từ Đường.

Riêng chánh pháp Cao Đài mượn Linh vị tượng Chơn linh người chết, nên lễ cáo Từ Đường chỉ cần con cháu đem khay Linh vị sang làm lễ Cáo Từ Tổ tại Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ mà thôi.

Ngày xưa, đám tang tại Nam bộ, người chết thường được quàn tại nhà lâu, nên trước khi khiển điện có làm lễ “Đánh phá quàn”. Sở dĩ có tục đánh phá quàn là vì quan niệm cho rằng: quan tài của người mất quàn lại lâu ngày nên yêu ma bám vào rất nặng, khi di quan khiêng không nổi nên phải dùng lối đánh phá quàn xua đuổi cho hết âm khí mới đem đi được, tức là lễ do một vị tướng cướp trên núi xuống múa võ, đi quyền trước Bàn vong rồi sau đó trộm quan tài về an táng nơi sơn trại. Nghi đánh phá quàn này có người cho rằng do tích “Tiết Cương thám Thiết Khưu Phần”.

Lại có người nói do tích Điền Hoành, một tướng cướp giỏi võ nghệ, lại là người có hiếu nghĩa, nhưng đã bỏ nhà từ lâu đi làm thảo khấu, khi nghe lâu la báo tin rằng mẹ mình đã chết, Hoành quyết bằng mọi giá phải đánh cắp quan tài mẹ, ngay trong đêm, đem nhanh về núi, để có thể săn sóc phần mộ.

Theo dân gian thì việc đánh phá quàn này nhắc lại sự tích một người ở Quy Nhơn (Bình Định) có tên là Văn Doan, mà bà con láng giềng và gia tộc thường gọi thân mật là “chàng Lía”. Chàng Lía ở Quy Nhơn vào thời chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725) thế kỉ XVIII, là lãnh tụ nông dân khởi nghĩa đóng trên núi chống chúa Nguyễn. Mẹ mất, là người con hiếu thảo, chàng kéo thuộc hạ về làng, vượt qua quân triều đình đang mai phục để đánh cướp quan tài đưa mẹ về sơn trại an táng.

Dù do tích nào thì cũng thể hiện vị tướng cướp đem lâu la xuống núi đoạt quan tài về sơn trại. Theo Quan Hôn Tang Lễ, Hội Thánh Cao Đài quy định không cho quàn Linh cữu tại nhà lâu (chỉ để trong vòng ba ngày) nên việc múa phá quàn chẳng cần thiết cho lễ tang người tín đồ Đạo. Lại nữa, ta nhận thấy việc múa phá quàn theo nghi lễ không lợi ích cho việc siêu độ Chơn linh, trái lại còn gây sự thất kính với người quá cố, và không tốt đẹp cho danh thể người Đạo, bởi người đánh phá quàn cầm đuốc múa võ quanh quan tài, được tượng trưng cho một tướng cướp trên sơn trại, nửa đêm đem lâu la đốt đuốc, xuống núi cướp quan tài người chết đưa về sơn trại an táng. Thử hỏi nếu là cha hoặc mẹ của vị Đạo hữu được một tướng cướp gọi bằng cha hoặc mẹ và điều động đám lâu la đem quan tài lên sơn động mà an táng thì có đáng thẹn và đau buồn lắm không!

Ngày nay, sau khi khiển điện, tục lệ lại lấy cái siêu đất (đã được để dưới quan tài từ lúc an vị Linh cữu) ra đập bể, làm như vậy có ý nghĩa là cầu cho vong linh người qui liễu được siêu thoát.

Còn việc thăng hay đọa, là kết quả cả kiếp sanh của người chết đã làm điều thiện hoặc làm điều ác. Chẳng những nghi lễ của Đạo Cao Đài như cầu hồn, cầu siêu, làm phép xác, cắt dây oan nghiệt, làm phép độ thăng…cũng chỉ nhằm nhắc nhở, trợ giúp một phần nào cho Chơn linh được nhẹ nhàng để dễ dàng thoát hóa mà thôi, huống chi việc đập bể siêu đất thì làm sao có thể can thiệp vào sự thăng hay đọa của vong linh người mất được.

Theo luật công bằng thiêng liêng “Nhất nhân hành Đạo Cửu Huyền thăng 一 人 行 道 九 玄 升”, như vậy, chỉ có con cháu người quá cố mới có thể giúp thẳng cho Chơn linh ông bà, cha mẹ siêu thoát được mà thôi. Muốn vậy, con cháu phải biết lo tu hành, phải lập công bồi đức để lấy công đức đó mà dâng hiến cho vong linh ông bà, cha mẹ thăng tiến.

Nghi lễ động quan là giờ phút cuối cùng của quan tài người thân còn ở trong nhà để sau đó được di chuyển ra huyệt an táng vĩnh viễn nơi mộ phần. Vì vậy, trong thời khắc này tang quyến rất đau buồn. Tục ngày xưa, con cái thường khóc la một cách thảm thiết, có người kêu trời kêu đất, có kẻ lại gào thét đến hết hơi khan tiếng. Ta biết, sự thương cốt ở trong lòng, chỉ đau đớn rơi hai dòng lệ cũng là đủ rồi, cần chi phải khóc than kể lể. Chính vì người xưa quan niệm cho rằng khóc lóc là thể hiện lòng thương yêu, nên trong nghi tiết cúng lễ có mục “cử ai” (Tang quyến phải khóc lên), “chỉ ai” (Tang quyến ngưng khóc).

Thậm chí, con của Tăng Tử là Tăng Thân nghĩ rằng khi có tang cha mẹ, con cái phải khóc theo một thanh điệu nhất định, nên mới hỏi cha. Tăng Tử trả lời: Con cái đi giữa đường đột nhiên lạc cha hoặc mẹ thì con nghĩ xem tiếng khóc của đứa con có cần thanh điệu không?

Chúng ta thấy khi gặp nỗi đau lớn lao như mất cha hoặc mẹ, hầu như bị điếng hồn, khóc không ra hơi nữa, đó là biểu lộ hoàn toàn sự chân tình, chứ làm sao còn nói đến chuyện sử dụng thanh điệu gì để mà khóc?

Chúng ta biết, khóc là do sự kích động của lòng thương xót, thế mà khi làm lễ, thầy cúng xướng “cử ai 舉 哀” thì con cái làm sao khơi dậy lòng ai bi mà khóc lóc được, nếu mà khóc được thì tỷ như diễn xuất thôi, chứ trong lòng làm sao có mối cảm xúc. Khi đang khóc thầy lại xướng “chỉ ai 止 哀” thì con cái làm sao chận được cái tình cảm đau thương trong lòng mà ngưng khóc!

Lễ là biểu hiện của lễ nghi tiết độ, bởi vì nói chung những sự việc mà con người phải tiếp xúc chỉ là hình thức bên ngoài của lễ. Nếu như quá sức xem trọng hình thức thì rất dễ dàng khiến cho lễ rơi vào tình trạng thừa thãi, ngụy tạo, trở nên vô nghĩa, vì vậy chúng ta không nên bày hình thức la gào, khóc lóc trong tang lễ Cao Đài, bởi sự thương yêu ở trong lòng, chỉ thể hiện bằng cử chỉ đau khổ, gương mặt buồn rầu cũng đủ, chứ không nên khóc la thành tiếng mà mất thanh tịnh trong tang lễ và chỉ làm quyến luyến, đau thương cho vong linh người chết mà thôi.

 

 

 

 

NGU TẾ VIẾNG MỘ KHAI MỘ

Theo Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính, khi an táng rồi trở về nhà đơm quả phẩm tế lại tại Bàn linh gọi là Ngu tế 虞 祭. Ngày hôm truớc tế gọi là Sơ ngu 初 虞, ngày thứ hai gọi là Tái ngu 再 虞, ngày thứ ba gọi là Tam ngu 三 虞.

Ngu có nghĩa là yên. Vì người chết, xương thịt mới chôn dưới đất, hồn phách chưa được yên, cho nên cần tế lễ ba lần để yên hồn phách cho người chết.

Lễ Sơ ngu còn được gọi là Lễ an sàng 安 床, hay quải chân dung 挂 真 容, tức treo ảnh người chết lên bàn thờ.

Chữ an sàng cũng có ý chỉ an bày người chết lên Bàn thờ, do chứ sàng (là giường), nên người xưa thường gọi Bàn thờ là giường thờ. Trong lễ an bày này theo nghi lễ xưa phải treo hai tấm màn vải trắng thưa trước Bàn thờ, phủ xuống tận dưới đất.

Trong ba ngày sau khi đã chôn cất, mỗi buổi chiều con cái đem cơi trầu đến mả khóc lóc gọi là viếng mộ.

Hiện nay, trong đám tang vẫn còn duy trì theo tục lệ Khai mộ (mở cửa mả). Theo nghi lễ nầy, người chết chôn xong, ba ngày sau, tang gia hiếu quyến phải mặc tang phục đem khay vong ra mộ phần bày lễ cúng khai mộ hay mở cửa mả.

Tục Khai mộ, hay mở cửa mả không biết có từ lúc nào, do sự hiểu sai lạc (mê tín), cho rằng người chết sau khi chôn xuống huyệt thì vong hồn cũng bị chôn theo, nên sau ba ngày phải thỉnh thầy ra mộ tụng kinh cầu cho hồn leo lên khỏi huyệt theo về nhà. Trong lễ nầy phải có con gà dắt theo để nó kêu lên khiến hồn người chết nghe tiếng gà thức dậy, đồng thời phải có cái thang cho hồn leo lên, vì bị chôn dưới huyệt phải leo lên thang mới lên được. Nên khi cúng lễ nầy Thầy cúng bắt phải sắm sửa các đồ vật như sau:

1 - Một cái thang bằng bẹ chuối hay bằng cây sậy. Nếu người Nam chết thì làm cây thang làm 7 bậc, Nữ 9 bậc.

2 - Một Cây Mía Lau chín gồm chín lóng để cả ngọn, một ít tiền Vàng Mã

3 - Ba ống Trúc dài khoảng bốn tấc vót nhọn một đầu, một ống dùng đựng Muối, một ống đựng Gạo, một ống đựng Nước, rồi bịt lại bằng giấy Nilon trên đầu

4 - Năm thứ Đậu (có nơi dùng mè).

5 - Năm Thẻ Tre dài 4 tấc vót nhọn 1 đầu để cắm dưới đất, một đầu dán bài vị Ngũ Phương Ngũ Thổ Tôn Thần.

6 - Một con gà con cùng với nhang đèn, bình bông, giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo, nhà kho….

Ý nghĩa làm lễ mở cửa mả theo người đời là để vong hồn người chết được siêu thăng lên cõi Tịnh độ. Cây thang nam 7 nấc, nữ 9 nấc là để người chết leo lên khỏi huyệt mộ. Năm thứ đậu, gạo muối và nước để hồn người chết ăn uống cho no dạ. Cây mía lau chín đốt là tượng trưng cho chín chữ cù lao. Còn con gà con để tượng trưng các con nay côi cút như gà con lìa mẹ. Có thuyết cũng cho rằng người chết linh hồn vất vưởng chưa biết sống chết, nhờ có tiếng gà gáy mà thần hồn thức tỉnh biết mình đã chết, cho nên phải dùng gà gáy cho linh hồn tỉnh thức.

Nghi thức các Thầy cúng cho biết như sau:

Thắp nhang khấn xin Chư Vị Tôn Thần dẫn dắt Linh Hồn người chết về nghe Kinh, chứng minh Lễ Khai Mộ.

Thầy tụng Kinh thỉnh Chư Vị Tôn Thần và triệu Linh, làm phép Sái Tịnh

Gia đình chia nhau mỗi người một ít Đậu, một người đại diện cầm Cây Mía, dẫn gà theo Thầy đi quanh mộ vừa niệm Phật, vừa rải Đậu.

Sau khi đi đủ ba vòng trở lại vị trí cũ, phóng sanh gà, đốt Giấy Tiền Vàng Mã, lạy tạ Tôn Thần và dẫn Vong trở về nhà cúng An Linh.

Theo chánh pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thì không có lễ khai mộ, hay mở cửa mả. Bởi vì triết lý Cao Đài cho rằng:

Khối vật chất vô hồn viết tử,

Đất biến hình tự thử qui căn.

Sở dĩ con người có sự sống là nhờ sự hiện diện của Linh hồn. Linh hồn là một Tiểu Linh Quang của Thượng Đế chiết từ khối Đại Linh Quang để ban cho con người. Còn thi thể phàm tục vốn dĩ do một khối vật chất cấu thành, nghĩa là xác thể con người từ tế bào xương thịt do tinh cha huyết mẹ tạo ra, được lớn lên nhờ sự nuôi sống của vật thực, là nguồn cung cấp từ đất. Vậy Đất sinh ra vật chất tạo ra hình thể, còn Trời ban cho Linh hồn là một thể bất tiêu bất diệt. Trời đất trong con người hợp lại thì có sự sống, nghĩa là có linh hồn và thể xác. Nếu chết đi thì Linh hồn lìa khỏi thân xác, lúc ấy xác thân chỉ là một khối vật chất vô tri vô giác, rồi sẽ trở về đất.

Như thế, chỉ Chơn linh người chết mới có thể về sống nơi cõi thiêng liêng được, còn thi hài là khối vật chất nên phải trở về với nguồn cội là đất, chứ không thể siêu thăng được:

Hồn trời hóa trở về Thiên cảnh,

Xác đất sanh đến lịnh phục hồi.

Xác được an táng nơi mộ phần, còn hồn thì chờ đợi về cõi vô vi.

Và trên Thuyền Bát nhã có đề hai câu liễn như sau:

Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ

萬 事 曰 無 肉 體 土 生 還 在 土

Thiên niên tự hữu, linh hồn thiên tứ phản hồi thiên

千 年 自 有 靈 魂 天 賜 反 囬 天

Nghĩa là:

Muôn việc đều không, xác thể đất sanh hườn lại đất,

Ngàn năm tự có, linh hồn trời ban trở về trời.

Vì vậy, đạo Cao Đài trọng Chơn linh người chết, nên thể hiện bằng tấm Linh vị, an ngôi nơi Bàn Linh để hằng ngày cúng cơm cho vong linh về phần Thế đạo, gọi là thờ người chết như người còn sống “Sự tử như sự sinh 事 死 如 事 生” và đến ngày Tuần cửu thỉnh vong qua Thiên Bàn cầu siêu cho Chơn linh người quá cố, đó là phần Thiên đạo. Còn thi hài người mất được vùi sâu dưới lòng đất, tức là trở về với đất. Sở dĩ phải an táng kín đáo, xây mộ phần, sau này hằng năm phải tảo mộ là bởi vì ơn nghĩa mà người sống phải trọng kính thi hài người mất, đó là phần Thế đạo.

Việc mở cửa mả là tục của người đời, bởi người ta quan niệm rằng hồn người chết vẫn quanh quẩn nơi thi hài, nên mới có tục mở cửa mả để cầu siêu nơi huyệt mộ và có tục thỉnh vong từ mộ trở lại nhà. Các Thầy tụng bên Phật Giáo cũng có nghi rước vong như vậy. Thử hỏi, đã tạo Linh vị tượng trưng cho vong hồn người chết và thờ nơi Bàn vong rồi thì ngoài mộ còn hồn đâu mà thỉnh?

Tóm lại, trong nghi lễ Cao Đài không có khai mộ cúng mở cửa mả, không sử dụng giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo, nhà kho… để cúng cho vong linh.

Nếu người Tín đồ muốn thể hiện lòng hiếu thảo, sau ba ngày an táng, có thể sắm hoa quả hay nấu chè xôi đem ra phần mộ cúng Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh (tức Hậu Thổ) và cúng xác tại mộ phần (tức là nghi Thế đạo để thể hiện lòng hiếu kỉnh), chứ không phải cúng vong, bởi vong linh được thờ tại nhà, hằng ngày đã có cúng. Lễ này theo Đạo, coi như là lễ viếng mộ mà người xưa thường làm mà thôi.

 

 

 

 

CHÈO THUYỀN

Trong Phật giáo, Bát Nhã phiên âm từ tiếng Phạn Prajna, dịch ra Hán văn là trí huệ, nghĩa là sự hiểu biết rốt ráo, không phải do trí tuệ suy luận mà có, mà là thứ trực giác trực tiếp thấy được tánh Không, chân tánh của mọi sự vật. Đạt được trí tuệ Bát Nhã được xem là đồng nghĩa với giác ngộ.

Trí Bát Nhã được ví như con thuyền chở chúng sinh vượt qua biển luân hồi sanh tử sang đến bờ Niết Bàn giải thoát.

Trong đạo Cao Đài, thời Tam Kỳ Phổ Độ thuyền Bát Nhã do Đức Di lạc Vương Bồ Tát làm chủ thuyền, rước các chơn hồn có đầy đủ công đức vượt qua bể khổ, thoát khỏi luân hồi, đến cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống.

A - Chèo thuyền tức là chèo chiếc thuyền Bát Nhã. Thuyền Bát Nhã tượng trưng cho con thuyền Đạo rước chúng sanh đưa qua khỏi bến sông mê bể khổ. Trong Thi Văn Dạy Đạo, Đức Chỉ Tôn có lời khuyên những người lèo lái con thuyền Bát Nhã là những bậc nguyên nhân, hay nhìn lại cõi trần mà nên thương xót chúng sanh đang trầm luân trong bể khổ mà mở lòng cứu giúp:

Bát Nhã xin con trở mái chèo,

Thìn lòng thương lấy chúng sanh eo.

Trăm năm chưa hẳn nên hiền đức,

Tấn nẻo chông gai khá lựa dèo.

Chính vì thế, trong Điếu văn của Ngài Hiến Đạo Đại diện Hội Thánh Hiệp Thiên Đài đọc trước Liên Đài Đức Thượng Sanh có câu:

"Ðạo gặp phải cơn khảo đảo trầm trọng, khuynh nguy như con thuyền chơi vơi mặt biển, giữa sóng ba đào. Ðức Hộ Pháp lưu vong nước ngoài. Tín hữu Cao Ðài trong vùng Thánh địa không người lãnh đạo, chiu chít như gà.

Ðức Thượng Sanh về hưu chưa được bao lâu, chưa mảy may hưởng thú thanh nhàn, nghe tiếng gọi Thiêng Liêng, nguyện hy sinh, xả thân hành Ðạo, quyết ra tay lái con thuyền qua cơn sóng gió".

Nhà thơ Huệ Phong có cảm tác:

Chèo thuyền tế độ sang bờ giác,

Đưa khách phồn hoa với tấc thành.

B - Chèo thuyền còn là một nghi lễ trong đám tang chức sắc đạo Cao Đài.

Về hữu vi, thuyền Bát Nhã được đóng bằng gỗ, hình con rồng vàng, nơi giữa có một nhà vàng, đặt quan tài người chết trên đó để đưa đến nghĩa địa chôn cất.

Về nhiệm mầu vô vi là cơ Tận độ cứu rỗi cửu nhị ức nguyên nhân quy hồi cựu vị.

Lễ chèo thuyền được Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa giải thích vào ngày 13 tháng 10 năm Ất Hợi (Dl. 08-11- 1935) trong buổi lễ Khai Thuyền Bát Nhã như sau: Nhân viên thuyền Bát Nhã gồm có:

- Tổng Lái là Chơn linh Hắc Sát Tinh ở thượng giới theo thể pháp, còn bí pháp là chơn khí của Đức Hộ Pháp. Tổng Lái tượng trưng Bát Quái Đài.

- Tổng Thương là chơn linh Huỳnh Long Tinh ở Thượng giới theo thể pháp, còn bí pháp là chơn khí của Thượng Sanh. Tổng Thương tượng trưng cho Cửu Trùng Đài.

- Tổng Mũi là chơn linh của Bạch Hổ Tinh ở Thượng giới theo thể pháp, còn bí pháp là chơn khí của Thượng phẩm. Tổng Mũi tượng trưng cho Hiệp Thiên Đài.

- Tổng Khậu tượng trưng cho nhơn sanh, tức là chơn hồn của chúng ta, thấy tánh tình của Tổng Khậu vô chừng, vui buồn chẳng định, vả chăng trong thời biến chuyển loạn lạc, phải chịu dưới phép sai khiến của lục dục thất tình, vì danh lợi tự đem mình đến chỗ truỵ lạc, vì vật chất xa hoa quyến rũ.

- Mười hai Bả Trạo tức là mười hai người cầm chèo. Con số 12 là bí pháp, số riêng của Đức Chí Tôn. Ngài nắm Thập nhị Khai Thiên nơi tay, tức là Thập nhị Thời Thần nơi Bạch Ngọc kinh. Còn thể pháp là Thập nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài mà chúng ta đã biết trong cửa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Vậy 12 Bả trạo tượng trưng cho Thập nhị Địa chi.

Theo Ngài Khai Pháp, Đức Chí Tôn là chúa tể Càn khôn Vũ trụ, hoá sanh vạn vật, cầm quyền thiêng liêng cũng như hữu hình, với lòng đại từ đại bi, chẳng nở ngồi nhìn con cái của Ngài phải chịu trầm luân khổ hải, nên Ngài dùng bí pháp định cho Tam vị Thần xuống thế tượng trưng Thể pháp là Tổng Lái, Tổng Mũi, Tổng Thương, lái vững khuôn thuyền Bát Nhã để độ dẫn các chơn linh nguyên nhân, hoá nhân, quỷ nhân và các chơn hồn tức là trong chúng sanh, dầu xiêu lạc nơi nào cũng tìm rước về hội ngộ cùng Thầy.

Ngài Khai Pháp cũng cho biết: Đức Hộ vâng lịnh Đức Diêu Trì Kim mẫu. thọ mạng cùng Đức Chí Tôn tạo thuyền Bát Nhã nơi mặt thế nầy là tượng trưng thể pháp, độ dẫn Bát hồn: Từ Vật chất hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn, do Kim Bàn Phật Mẫu vận chuyển hóa ra Bát đẳng cấp chơn hồn, đúng như Kinh Phật Mẫu dạy:

Trung khổ hải độ thuyền Bát Nhã,

Phước từ bi giải quả trừ căn.

Hườn hồn chuyển đọa vi thăng,

Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn chưởng Âm.

 

 

 

 

KINH HÔN PHỐI

Trong bài Kinh Hôn Phối của đạo Cao Đài mở đầu bằng bốn câu:

Cơ sanh hóa Càn Khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

Con người nắm vững chủ quyền,

Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn luân.

Chúng ta thử tìm hiểu nguồn gốc bài Kinh Hôn Phối và ý nghĩa đoạn kinh trên.

Kinh Hôn Phối là một Bài Kinh do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. Bài Kinh Hôn Phối này được các đồng nhi tụng đọc trong khi vị chức sắc hành pháp hôn phối cho đôi tân lang, tân giai nhân trong chánh Điện tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Hôn phối là phối hợp hôn nhân giữa người con trai và người con gái với nhau nên duyên vợ chồng.

Theo triết lý Nho giáo, Trời đất có âm dương, con người có vợ chồng.

Kinh Dịch cho rằng khí Dương thuộc khinh thanh bay lên làm Trời, khí Âm thuộc trọng trược giáng xuống làm Đất. Âm Dương chính là cơ động tịnh mầu nhiệm của Trời đất. Nếu không có Âm Dương, muôn vật sẽ không thể hóa sanh. Nhờ có Âm Dương tác động lẫn nhau nên mới tạo ra mọi cuộc biến hóa lớn nhỏ trên đời, thiên địa vạn vật cũng nhờ đó mà sinh thành.

Nếu chỉ có Âm mà không có Dương hay có Dương mà không có Âm thì cuộc biến hóa cũng không thành hình mà một Âm ấy rồi cũng tiêu, một Dương ấy rồi cũng diệt. Sách Lễ Ký viết: Cô âm tắc bất sinh, độc dương tắc bất trưởng, cố thiên địa phối dĩ âm dương, nam dĩ nữ vi thất, nữ dĩ nam vi gia, cố nhân sinh ngẫu dĩ phu phụ 孤 陰 則 不 生, 獨 陽 則 不 長, 故 天 地 配 以 陰 陽; 男 以 女 為 室, 女 以 男 為 家, 故 人 生 偶 以 夫 婦, nghĩa là một âm thì không sinh, một dương thì không lớn, cho nên Trời đất phối hợp âm dương; nam dùng nữ lập gia thất, nữ dùng nam tạo gia đình, cho nên nhân sinh sánh đôi bởi vợ chồng.

Phàm âm hoặc dương cái gì lẻ một là không sinh được. Phải có cái chẳng đôi để tương đối, tương điều hòa với nhau thì mới có sự sinh hóa. Cơ 奇 là lẻ, ngẫu 偶 là chẳn: Một cái cơ phối hợp với một cái cơ khác để thành ngẫu thì mới sinh được. Vì thế Trời đất lấy âm dương phối hợp cơ ngẫu để sinh hóa ra vạn vật. Cho nên Hệ Từ Hạ nói rằng: Thiên địa chi đại đức viết sinh 天 地 之 大 德 曰 生, tức là đức lớn của Trời đất là sự sinh.

Đạo của Đức Khổng Tử, theo đạo Trời đất, cốt lấy sự sinh làm trọng hơn cả. Ngài cho rằng sự sinh của vạn vật là theo lẽ tự nhiên. Con người cũng là một phần của vạn vật, cũng theo lẽ Trời đất mà biến hóa, nên phải phối ngẫu nam nữ: Trai phải có vợ, gái phải có chồng, phối hợp âm dương mới có sinh trưởng được.

Đạo Cao Đài có tôn chỉ Nho tông chuyển thế, cho nên thế luật có qui định về đạo nghĩa vợ chồng và được Chí Tôn ban cho bí tích làm phép Hôn phối kết hợp hai cá thể nam và nữ để phối hợp nên chồng, vợ mà ăn ở với nhau yêu thương, hòa thuận trên hai phương diện thể xác và tinh thần, theo đạo nhân luân của Nho giáo.

Con người là một phần trong vạn vật, cho nên cũng phải theo lẽ Trời mà biến hóa, nhưng chỉ có cái phần vật chất biến hóa mà thôi, còn cái phần tinh thần là của Trời ban cho con người, thì bao giờ cũng có cái tư cách độc lập, và năng lực tự do để cố gắng trau luyện tiến lên cho đến chí thiện, chí mỹ. Nếu con người biết dụng công phu mà tạo ra một tinh thần tốt đẹp, mạnh mẽ, và khí lực linh hoạt là đã theo đạo Trời đất mà sinh hóa rồi vậy.

Con người hợp với đức sinh của Trời đất là thiện, trái với đức sinh là ác. Do vậy cái quan niệm về sự thiện ác của Khổng giáo là gốc ở sự sinh.

Đạo Trời có bốn đức: Nguyên 元, hanh 亨, lợi 利, trinh 貞 để bồi dưỡng sự sinh, thì đạo người cũng phải theo đạo Trời nuôi dưỡng bốn đức: Nhân 仁, nghĩa 義, lễ 禮, trí 智.

Như vậy, Con người được Trời ban cho một Thiên tánh, và Đất tạo ra hình hài, thay Trời đất thực hiện sự sinh hóa ở cõi thế gian để tạo lập một xã hội loài người, nhưng phần Thiên tánh của Trời ban cũng cần cố gắng trau giồi và gìn giữ mối nhơn luân,. tức là nhân, nghĩa, lễ, trí để hợp với sự sinh của Trời đất.

 

 

 

 

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA BÀI KINH CẦU SIÊU

Nguồn gốc bài Kinh Cầu Siêu của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nguyên là bài “Sám Cầu Siêu” được Hội Thánh Cao Đài thỉnh từ Chi Minh Lý, tức chùa Tam Tông Miếu bây giờ.

Bài Kinh này, Chi Minh Lý cầu Đức Chuẩn Đề Bồ Tát giáng cơ ban cho và Ngài dạy phải truyền kinh để phổ độ. Khi Đạo Cao Đài được khai sáng, Hội Thánh Cao Đài cử một phái đoàn gồm bốn Ngài: Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, Giáo Sư Vương Quang Kỳ và Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đến Minh Lý Đạo thỉnh sáu bài Kinh, trong đó có bài Kinh Cầu Siêu.

Kinh Cầu Siêu là bài Kinh dùng để tụng cho các Chơn linh mới chết hay các tuần Cầu Siêu bạt tiến trong đạo Cao Đài để cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng liêng Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thất Nương Diêu Trì Cung ân xá cho vong hồn người chết thoát khỏi Âm quang, được siêu thăng Tịnh độ.

Trong thời gian hành tang lễ tại nhà, tang gia hiếu quyến phải giữ chay lạt và nhứt là trước khi thực hiện lễ Cầu siêu, những người thân trong tang quyến (con cháu) và thân bằng quyến thuộc phải tập trung để thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người chết được nhẹ nhàng siêu thoát.

Trong quyển “Thiên Đạo”, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có nói đến sự tác dụng của Kinh Cầu Siêu như sau: “Kinh Cầu Siêu rất linh nghiệm vì mỗi tiếng tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng. Sức rung động ấy, hiệp với sức tư tưởng mạnh mẽ và thành kỉnh của người tụng kinh gây thành một mảnh lực phi thường đánh tan Chơn thần của âm nhơn, giúp cho họ mau giải thoát đau khổ và hình phạt Thiêng Liêng đặng đi đầu thai sớm được”.

Thực hiện lễ Cầu siêu là nhằm cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát cứu giúp phần nào cho vong linh người chết được nhẹ nhàng, chứ không hẳn nhiên cầu là được siêu thoát, vì nó còn tùy thuộc vào nghiệp quả nặng nhẹ mà kiếp sanh người chết đã gây tạo.

Nhưng sự siêu thoát của cha mẹ ông bà có thể trợ giúp được phần nào bằng việc làm của con cháu, vì con cháu có liên hệ huyết thống và chịu chung những oan trái với người mất. Nếu con cháu biết lo tu hành, lập công bồi đức để có thừa âm chất mà đem hiến dâng cho cha mẹ, ông bà thì những Chơn linh này có thể được nhẹ nhàng trở về ngôi xưa vị cũ, như lời bài Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu có câu:

Thong dong cõi thọ nương hồn,

Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

 

 

 

 

KHI TỤNG DỨT BÀI KINH CỨU KHỔ
PHẢI NIỆM CÂU CHÚ THẦY

Trong nghi thức cúng tế và tang lễ của đạo Cao Đài, Bài “Kinh Cứu Khổ” được dùng để tụng niệm trong nhiều trường hợp như: Sau lễ Thượng Tượng, lễ an Vị, Cầu Giải Bịnh, Cáo Từ Tổ, Cúng Cửu, Tiểu Đại Tường..v..v...

Chúng ta nên biết, mặc dầu Bài Kinh Cứu Khổ là do Đức Quan Âm Bồ Tát thuyết giảng, nhưng khi chúng ta đem tụng niệm trước Thiên Bàn Đức Chí Tôn khi tụng dứt ba lần kinh Cứu Khổ, chúng ta cầu nguyện phải niệm câu Chú Thầy.

Chính vì thế, Hội Thánh trước đây trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, dưới bài Kinh Cứu Khổ có in câu; “Tụng xong 3 lần, rồi niệm câu chú “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại bồ Tát Ma Ha Tát”.

Nhưng sau nầy Hội Thánh bỏ câu chú thích đó, cho nên có nhiều người khi tụng dứt bài kinh Cứu Khổ thường niệm danh Đức Quan thế Âm Bồ Tát.

Để khắc phục sự sai lầm của mọi người Hội Thánh có ban hành Thông Tri như sau:

 

CỬU TRÙNG ĐÀI

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

VĂN PHÒNG

(Tứ Thập Thất Niên)

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 15/NCPS/TT

-------------

THÔNG TRI
HỘI THÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI NAM NỮ

 

 

Kính gởi:

Thượng Thống Cửu Viện, các Ban Bộ Trung Ương Tòa Thánh, Khâm Trấn, Khâm Thành, Khâm Châu, Đầu Phận, Đầu Tộc, Bàn Tri Sự và toàn Đạo nam nữ.
NAM và TRUNG TÔNG ĐẠO

Kính chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ, Hiền Hữu, Hiền Muội.

Thi hành vi bằng số:6/VB phiên nhóm của Hội Thánh lưỡng Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện tại Giáo Tông Đường ngày 29 tháng Giêng, ngày Mùng 4 và 6 tháng 2 năm Nhâm Tý (Dl. 18 và 20/3/1972) dưới quyền Chủ Tọa của Ngài Hiến Pháp Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Khảo xét bài Kinh Cứu Khổ, khi dứt không có in câu chú của Thầy. Nên có chỗ tín hữu niệm câu chú của Thầy, có nơi thì niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, không y nhau một cách thức.

Nên Hội Thánh Lưỡng Đài quyết định nơi mục số 8.

I - Hội Thánh Cửu Trùng ra Huấn Lịnh ban hành cho toàn Đạo rõ biết, khi tụng dứt bài Kinh Cứu Khổ thì niệm câu chú của Thầy (Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát)

II -Khi tái bản quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, nhớ in kế tiếp bài Kinh Cứu Khổ câu chú nói trên.

Kể từ ngày ra Thông Tri này, Chức Sắc, Chức Việc và toàn Đạo, khi tụng bài Kinh Cứu Khổ dứt thì niệm câu chú của Thầy ba lần “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”

Qu. Thượng Thống Lại Viện ban hành Thông Tri nầy cho toàn Đạo tuân hành.

Nay kính,

Nội Chánh, ngày 29 tháng 3 năm Nhâm Tý
(Dl. 12/5/1972)

 

Chú Thích:

Dưới Tờ Thông Tri là Ấn ký của Nữ Chánh Phối Sư, ba vị Thái Thượng Ngọc Chánh Phối Sư và Phê Kiến của Đầu Sư.

 

 

 

 

Ý NGHĨA BÀI KINH ĐẠI TƯỜNG

Ý NGHĨA CÚNG ĐẠI TƯỜNG

Đại Tường 大 祥 là điều tốt lành lớn.

Theo quyển Quan Hôn Tang Lễ giải thích, “chữ Tường 祥 nghĩa là lành, là kiết. Trong nhà có tang, cả nhà mang sự thương xót, đau buồn, tưởng nhớ đến người quá cố. Thời gian qua, xoa dịu nỗi đau thương, cái buồn bớt lần lần, đem lại cái vui, như điềm lành, điềm tốt trở lại. Vì vậy mà Tiểu Tường cũng có nghĩa là Tiểu kiết tường, Đại Tường cũng có nghĩa là Đại kiết tường”.

Theo giáo lý Cao Đài, con người sau khi chết sẽ được thọ sanh theo nghiệp thiện hay nghiệp ác. Người có tu hành, làm nhiều việc thiện thì được siêu sanh vào cõi Thiêng Liêng, là cảnh giới thanh tịnh, nhẹ nhàng; người gây nhiều việc ác thì phải chịu ở cõi Âm quang, là cảnh giới trọng trược, nặng nề chờ ngày học đạo để được siêu thăng thoát hoá.

Những người không phân định rõ nghiệp lành hay nghiệp ác thì Chơn linh sẽ chờ đợi các Tuần cửu và Tiểu, Đại Tường nhờ thân bằng quyến thuộc ở thế gian thành tâm siêu độ hoặc con cháu làm những điều phước thiện để hồi hướng công đức cho họ được nhẹ nhàng về Thiên cảnh.

Vì thế, việc làm Tuần Cửu, Tiểu, Đại Tường rất cần thiết cho Chơn linh mà bổn phận con cháu trong thời gian này, phải chay lạt, có lòng thành cầu cúng, tạo lập công đức bằng các việc từ thiện như bố thí người nghèo khổ, bịnh tật, ủng hộ những người tu hành chân chính, thí pháp…để giúp cho Chơn linh người chết dễ dàng siêu thoát.

Khác với Phật Giáo, đạo Cao Đài không cúng Thất mà cúng Cửu, bởi vì theo triết lý Đại Đạo, một Chơn linh phải do theo đường Cửu Thiên Khai Hóa mà siêu thăng, tức là lúc sống lo lập công đức, lúc mất được Cửu Vị Tiên Nương nơi Diêu Trì Cung dẫn dắt đi qua chín từng trời, gọi là Cửu Trùng Thiên, rồi sau đó muốn về với Đức Chí Tôn, Chơn linh còn phải lên ba tầng trời nữa, đó là Hư Vô Thiên (tầng trời thứ 10), Hội Ngươn Thiên (tầng trời thứ 11) và cuối cùng là Hỗn Ngươn Thiên (tầng trời thứ 12), cộng lại 12 tầng trời, tức Thập Nhị Khai Thiên.

NỘI DUNG BÀI KINH ĐẠI TƯỜNG

Theo Di Lạc Chơn Kinh, bài kinh do Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết giảng cho biết rằng: Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Di Lạc Vương Phật cai quản hai từng trời:

Từng Hỗn Nguơn Thiên là từng ở trên hết có: Brahma Phật, Civa Phật, Christna Phật, Thanh Tịnh Trí Phật, Diệu Minh Lý Phật, Phục Tưởng Thị Phật, Diệt Thể Thắng Phật, Phục Linh Tánh Phật…Tất cả các vị Phật, có giác ngộ, có thương cảm, có sống, có chết, biết rõ sự khổ não do nghiệp chướng gây nên, luân hồi chuyển kiếp mà hóa sanh ra, các vị Phật có thể đi khắp cõi Ta Bà Thế giới độ hết các Chơn linh để được trở về với ngôi vị Phật.

Từng Hội Nguơn Thiên có các vị Trụ Thiện Phật, Đa Ái Sanh Phật, Giải Thoát Khổ Phật, Diệu Chơn Hành Phật, Thắng Giái Ác Phật… Tất cả các vị Phật, tùng theo lệnh của Đức Di Lạc Vương Phật, có thể chiếu ánh sáng huyền diệu để tiêu trừ các nghiệt chướng.

Nếu có chúng sanh nào nghe biết lời của Phật, thì nên tìm cách thoát khỏi nghiệp chướng, bằng cách niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tùng theo những điều khoản luật pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thì ắt được giải thoát khỏi luân hồi, mà đạt được Đạo Chánh Đẳng chánh Giác, đó là chứng quả vị nơi cõi Cực Lạc Niết Bàn.

Nếu có người nhận và gìn giữ Phật pháp mà kinh sợ những chướng ngại của Ma vương, một lòng tưởng niệm đến Di Lạc Vương Bồ Tát có thể cứu giúp những tai ách khổ sở, có thể cứu giúp được tam tai, có thể cứu giúp được bịnh tật, có thể cứu độ và dẫn dắt chúng sanh thoát hết các nghiệp chướng, ắt được giải thoát.

Như vậy, Đức Di Lạc Vương Bồ Tát là vị Giáo Chủ của tầng trời Hỗn Ngươn Thiên, có nhiệm vụ siêu độ những chơn linh nào có căn duyên với Phật trong khắp mọi nơi để nhập vào cõi Phật như lời Kinh Đại Tường đã viết:

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo chủ,

Di Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

Theo kinh dạy Ngài đã giáng sanh xuống trần vào thời Tam Kỳ Phổ Độ một lần nữa để sửa lại cho đúng Chơn truyền của các tôn giáo trong thời Nhị kỳ phổ độ do bị người đời canh cải. Ngài vì lòng đại từ bi đại ân xá cho toàn cả chúng sanh, và đóng cửa Địa ngục, A Tỳ để mở cơ tận độ cho các Chơn linh, giải phóng các tội hồn cho đi đầu thai trả quả, lo tu hành để được cứu vớt trong sự ân xá của Đức Chí Tôn:

Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,

Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

Theo các kinh sách trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, không phải chỉ có kinh Đại Tường nói đến việc đóng cửa Địa ngục, mà chính trong bài Kinh Giải Oan cũng có khẳng định là cửa phong đô sẽ bế lại để các chơn hồn nương theo đường Tây Phương Cực Lạc mà về với ngôi vị cũ:

Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,

Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây Phương.

Chính Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp cũng có dạy: “Đối với nhơn loại kể từ ngày hôm nay, tức nhiên từ ngày mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cho mãi mãi tới tận thế cái địa ngục dưới kia đã bị tiêu diệt rồi, Thập Điện Diêm Cung đến rước mấy em nó đã vong phế rồi, mấy em không còn sa xuống cửa Địa ngục, mấy em không còn chịu dưới quyền của Thập Điện Diêm Cung, cái đó là hệ trọng hơn hết”.

Tóm lại, điều đại hạnh cho chúng sanh ngày hôm nay là được hưởng Đại ân xá, nên khi giáng huyền cơ khai mở nền Đại Đạo, thì chính Đức Chí Tôn ra lịnh ngưng quyền Địa phủ, tức không còn Địa ngục phong đô nữa để chúng sanh, người nào quyết chí tu hành, thì trong một kiếp có thể đắc Đạo được.

Cứu thế quyết Ngưng quyền Địa phủ,

Ðộ đời cố tạo phước nhơn gian.

(Thi Văn Dạy Đạo).

Do thời Hạ ngươn mạt pháp, con người vì chạy đua theo con đường văn minh vật chất, nên mất đi tinh thần đạo đức. Để lập lại một thế giới mới, Di Lạc Vương Phật phải khai mở một Hội Thi, gọi là “Đại Hội Long Hoa”, nhằm loại bỏ những kẻ hung bạo gian tà, tuyển chọn các bậc hiền lương đạo đức, không phân biệt chủng tộc, nòi giống, hiệp nhau làm một trong cuối thời kỳ Hạ nguơn tam chuyển để tạo dựng lại đời Thượng nguơn Tứ chuyển, tức là Thượng nguơn Thánh đức.

Đại Hội Long Hoa lần nầy là thời kỳ Phán xét cuối cùng do Đức Ngài làm chánh Chủ khảo, vì vậy trong bài Kệ Chuông U Minh có câu xưng tụng Ngài là “Nam Mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn”.

Qua cuộc đại hội, những người hiền lương đạo đức sẽ được trúng tuyển, được ban thưởng bằng những phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, tùy theo công đức nhiều hay ít. Những chơn linh có công lớn được tuyển phong vào hàng Phật vị. Còn những kẻ hung ác gian tà sẽ bị phán xét tội lỗi và loại bỏ, chờ ngày học tập tiến hóa trong một cuộc thi mới sau nầy.

Đức Ngài còn có nhiệm vụ đuổi quỷ, trừ ma không cho xâm nhập vào cõi Tây Phương Cực Lạc, điều nầy chính trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp cũng có nói “Nơi Tây phương Cực Lạc cũng vậy, tảo thanh không còn ma hồn quỷ xác đến đây nữa” và chính Đức Ngài phải giáng linh xuống làm Hộ Pháp Di Đà hầu dùng Cây Giáng Ma Xử để cùng Ngài đuổi tà trục tinh theo lời Kinh Đại Tường đã dạy:

Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị,

Cõi Tây Phang đuổi quỉ trừ ma.

Giáng linh Hộ Pháp Di Đà,

Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

Đức Di Lạc Vương Phật vào thời kỳ mạt pháp nầy vì nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng chống báng nhau, Ngài phải thâu tóm các Đạo hữu hình nơi thế gian để thống nhứt lại thành một mối Đại Đạo, và mở trường thi công đức do Ngài làm chánh chủ khảo, tuyển lựa các Chơn linh tu hành tinh tấn, Ngài sẽ tùy công đức mà phong thưởng trong trường thi Tiên, Phật:

Thâu các Đạo hữu hình làm một,

Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.

Do nhơn loại càng ngày càng trở nên hung bạo, xã hội đồi phong bại tục, con người thiếu đạo đức, nên Đức Di Lạc Vương Bồ Tát có nhiệm vụ dạy dỗ để tạo lập đời Thượng Nguơn Thánh đức, để dân chúng trở nên hiền lương, một xã hội Đại đồng trong giềng bảo sanh của Đức Chí Tôn.

Tạo đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

 

 

 

 

NGÔ VĂN CHIÊU
CHI PHÁI CHIẾU MINH TAM THANH VÔ VI

I - TIỂU SỬ NGÔ VĂN CHIÊU

Ngô Văn Chiêu sinh ngày 7 tháng Giêng năm Mậu Dần (Dl. 28/02/1878) trong một căn nhà lá nằm ở phía sau một ngôi chùa thờ Quan Đế tại quận Bình Tây, Chợ Lớn. Thân phụ là ông Ngô Văn Xuân và thân mẫu là bà Lâm Thị Quý.21/6/2020

Khi sinh ra Ngài Chiêu được sáu tuổi, ông bà thân của Ngài phải làm việc tại Hà Nội, nên gởi Ngài cho người em ruột là bà Ngô Thị Đây ở Mỹ Tho đem về nuôi dưỡng.

Ngài sống với người cô nầy đến 12 tuổi thì được vào ở nội trú trong trường Collège Mỹ Tho, rồi sau đó được học bổng nhà nước cho lên học ở trường Chasseloup Laubat Sài Gòn. Đến năm 21 tuổi, Ngài đậu bằng Thành chung và ra làm quan.

Ngày 23 tháng 3 năm 1899, Ngài được nhận vào làm thơ ký tại ở sở Tân Đáo Sài Gòn. Ngài theo sự hướng dẫn của người cô ruột kết hôn với bà Bùi Thị Thân, người làng Thạnh Trị, chợ Mỹ Tho. Ông bà sinh được vừa trai, vừa gái, cả thảy là chín người con.

Đến năm 1902, vì mẹ bị bịnh nên Ngài đến một đàn cầu Tiên của chi Minh Thiện ở Thủ Dầu Một, Bình Dương để xin thuốc. Ngài bắt đầu làm quen với việc hầu đàn thỉnh Tiên từ đó.

Đến năm 1909, Ngài đổi về làm việc ở Tòa Hành Chánh tỉnh Tân An và đến năm 1917 Ngài thi đậu Tri huyện, nhưng vẫn tiếp tục làm việc ở Tân An cho đến cuối năm 1919, sau khi thân mẫu từ trần, Ngài mới được lịnh đổi đi Hà Tiên.

Hà Tiên có rất nhiều đàn cầu Tiên: Nào đàn ở lăng Mạc Cửu, nào đàn ở Thạch Động. Đàn ở lăng Mạc Cửu thì do các ông Lâm Tấn Đức, Phán Ngàn, Cao Văn Sự làm đồng tử. Trước đây, đàn cầu Tiên thỉnh thoảng bị quỷ ma khuấy phá, nên ít khi có Tiên giáng, đến khi Ngài Ngô về tham dự hầu đàn thì không còn xảy ra nữa mà có Tiên giáng liền. Do đó các người hầu đàn hết mực kính trọng Ngài.

Một trong những đàn cầu cơ nơi đây có vị Tiên nữ xưng là Ngô Kim Liên giáng cho Ngài hai bài thi tứ tuyệt có ý khuyên Ngài tu hành.

 

Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.
Non Tây ngảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu;

 

***

 

Ngần trăng tỏ rỏ giữa trời thu,
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.

Ngài Chiêu trấn nhậm ở Hà Tiên được tám tháng thì Ngài được lịnh đổi đi làm Chủ Quận Phú Quốc ngày 26 tháng 10 năm 1920 và làm việc tại đây được bốn năm.

Tại Phú Quốc Ngài Ngô văn Chiêu thường lên núi Dương Đông cầu cơ thỉnh Tiên nhiều lần, nhưng có một vị Tiên giáng cơ chẳng chịu xưng tên, bảo Ngài làm đệ tử thì Tiên Ông sẽ dạy đạo cho, và bảo đừng tụng kinh Minh Thánh nữa.

Sau đó vị Tiên Ông khuyên Ngài lo tu và rán ăn chay mười ngày trong một tháng. Chưa kịp ăn chay mười ngày thì trong đàn cơ ngày 8 tháng 2 năm 1921, tại chùa Quan Âm Phú Quốc, vị Tiên Ông giáng cơ bảo Ngài: Chiêu! Tam niên trường trai. Kể từ ngày mùng 1 tết năm Tân Dậu (1921), Ngài Chiêu bắt đầu ăn trường chay và học đạo.

Một chiều kia, vào khoảng cuối tháng giêng âm lịch năm Giáp Tý (1924), trong lúc đang ngồi hóng mát nơi ven biển, bỗng nhiên Ngài thấy một cảnh thật đẹp hiện ra trên biển cả nơi chỗ trời nước giáp nhau. Cảnh đó vừa khuất lại hiện ra một cảnh khác.

Ngài ngồi ngắm một cách mê say, hơn mười lăm phút sau, cảnh thần Tiên mới biến mất. Sau nầy trong đàn cơ, vị Tiên Ông cho Ngài biết đó là cảnh Bồng Lai. Từ đó Ngài hết lòng tin tưởng Tiên Ông và quyết chí lập bàn thờ để thờ phụng Người, nhưng chưa tìm được hình ảnh gì để thờ phụng.

Một buổi sáng, trong khi Ngài đang ngồi trên một chiếc võng sau dinh quận Dương Đông, bỗng nhiên Ngài thấy xuất hiện trước mặt con mắt thật lớn, hào quang chói ngời như mặt trời. Ngài sợ hãi vô cùng vội nhắm mắt lại, không dám nhìn lâu. Một lúc sau, khi Ngài mở mắt ra thì con mắt vẫn chưa biến mất, mà lại có phần chói ngời hơn nữa. Ngài chợt hiểu rằng Tiên Ông cho Ngài hình tượng để thờ phụng. Ngài vội vàng quỳ xuống chắp tay khẩn nguyện, con mắt liền tự nhiên lu dần rồi biến mất.

Ít lâu sau, chưa kịp vẽ hình tượng con mắt để thờ thì Ngài thấy con mắt xuất hiện lần thứ hai. Do đó Ngài vội vẽ “con mắt” (Thiên Nhãn) để thờ phụng, không dám chậm trễ nữa.

Sau khi Ngài Chiêu thờ Thiên Nhãn rồi thì Tiên Ông mới xưng danh là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” và chỉ dạy Ngài phải kêu Tiên Ông bằng Thầy, chứ không cho phép dùng danh xưng khác.

Ngày 1 tháng 1 năm 1924, Ngài được nhà nước thăng lên ngạch Tri Phủ. Khi Ngài Chiêu sắp đổi về Sài Gòn, Đức Cao Đài Tiên Ông giáng cơ ban cho Ngài một bài thi sau đây:

Kín ngoài rồi lại kín trong,

Đường xa phong cẩn thưởng lòng để vui.

Công đầu chịu cực đừng lui,

Thiên tào thăng thưởng đạo mùi ngọt ngon.

Ba năm lòng sáng như son,

Trèo non xuống biển vuông tròn công phu.

Chớ phiền mỏi mệt lòng tu,

Trăng kia mây vẹt, Đường Ngu gặp hiền.

Mựa toan vụ thấy Thanh Thiên,

Các đào rõ biết mối truyền chánh tông.

Giờ nầy Thầy điểm thâm công,

Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.

Ngoài trong sạch tợ bạch liên,

Khá lòng gìn giữ mối giềng chớ xao.

Chiêu chiêu nguyệt thấu thanh thao,

Trên đầu cũng có Thiên Tào xét xem.

Thấm mùi con biết lân nem,

Đề hồ con uống Thầy xem ân cần.

Đạo luyện khắc kỷ phục thân,

Chiêu con khá giữ, Thầy phân cạn lời.

Đến ngày 29 tháng 7 năm 1924 Ngài được lịnh rời Phú Quốc để đổi về làm việc tại Phòng Thương Mại trong Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Trong thời gian ở Sài Gòn, ngày hai buổi Ngài làm việc tại dinh Thống Đốc, ngoài ra Ngài cũng thường lui tới chùa Ngọc Hoàng ở Dakao, ít giao thiệp với người khác, dành thì giờ để lo cho việc công phu.

Trên bước đường làm quan, Ngài Ngô Văn Chiêu có tiếng là vị quan thanh liêm, chánh trực, công bình. Đối với bạn đồng sự, Ngài rất khiêm tốn, ôn hòa. Đối với dân chúng, Ngài tận tụy, hết lòng giúp đỡ, nhưng không bao giờ nhận tiền bạc, vật phẩm đền ơn đáp nghĩa của người khác.

Vào cuối năm Ất Sửu (1925), Đức Cao Đài dạy Ngài Chiêu phải đem mối đạo truyền ra. Ngài độ được các ông quan Phủ Vương Quan Kỳ, ông Phán Nguyễn Văn Hoài, ông Phán Võ văn Sang, và Đốc Học Đoàn Văn Bản.

Trong lúc đó, có một nhóm phò cơ ở Sai Gòn đã được thành lập vào ngày 22 tháng 1 năm 1926. Nhóm nầy được lịnh dạy của Đức Chí Tôn, bảo quý Ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Diêu, Lê Văn Trung, Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Đức phải đến chung hiệp với quan phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở đạo. Ngài còn dạy thêm: Mỗi việc chi phải do nơi Chiêu là anh Cả.

Đêm giao thừa năm Ất Sửu, Đức Chí Tôn dạy quý Ngài trong hai nhóm đến thăm từng nhà của nhau. Tới khuya, gần đúng giao thừa thì đến nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, thì Đức Chí Tôn giáng dạy:

"Chư môn đệ nghe.

Chiêu, buổi trước hứa lời truyền đạo cứu chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ mối đạo, dìu dắt môn đệ Ta vào đường đạo đức đến buổi chúng nó lập thành, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó".

Sang năm Bính Dần (1926), nhằm đêm vía Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, tại nhà ông Phủ Vương Quang Kỳ, Đức Chí Tôn ban cho một bài thi nêu tên 13 vị đệ tử để kỷ niệm buổi họp mặt:

CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,

BẢN đạo khai SANG QUÝ GIẢNG thành.

HẬU ĐỨC TẮC CƯ thiên địa cảnh,

Hườn Minh Mân đáo thủ đài danh.

Mười ba vị đệ tử đầu tiên của Đức Chí Tôn là Ngô Văn Chiêu, Vương Quang Kỳ, Lê Văn Trung, Nguyễn Văn Hoài, Đoàn Văn Bản, Võ Văn Sang, Cao Hoài Sang, Lý Trọng Quý, Lê Văn Giảng, Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức, Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư. Do chữ Sang trong bài thi là tên của hai vị Võ Văn Sang và Cao Hoài Sang.

Sau đêm vía, Đạo càng ngày càng mở rộng, Đức Chí Tôn thâu phục thêm rất nhiều đệ tử và việc truyền đạo tiến hành rất tốt đẹp.

Riêng Ngài Chiêu vì theo tôn chỉ “Ngô thân bất độ hà thân độ”, nên Ngài ở nhà lo tự giác, tu luyện theo phép tu đơn và bắt đầu từ đêm 14 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 24/4/1926), Ngài tách riêng ra, cùng với quý ông Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Lý Trọng Quý.

Từ đây, tuy tôn chỉ khác nhau, một đàng lo phổ thông mối đạo, một đàng lại chuyên bề tự giác, nhưng tựu trung về phương diện tín ngưỡng vẫn thờ kỉnh Đức Cao Đài Thượng Đế.

Sau khi tách rời khỏi nhóm Phổ Độ, Ngài Chiêu lập Cơ Tuyển Độ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, gọi tắt là Chiếu Minh Vô Vi. Do vậy Ngài đổi chữ lót trong tên Ngài thành chữ Minh và từ đó người ta gọi tên Ngài là Ngô Minh Chiêu.

Tháng 4 năm Mậu Thìn (1928) Ngài xin nghỉ phép sáu tháng để tổ chức đi du lịch núi Tà Lơn và Đế Thiên Đế Thích. Sau đó Ngài trở lại làm việc tại dinh Thống Đốc Nam Kỳ như trước.

Cuối năm 1931, Ngài bị mệt nhiều nên xin phép Chánh phủ cho nghỉ ở nhà dưỡng bịnh.

Ngày 30 tháng 3 năm 1932, Ngài lại đi núi Tà Lơn với ý định bỏ xác nơi đây, nên không muốn trở về. Các đệ tử đi theo nài nỉ lắm, Ngài mới chịu về ở trong một cái Thảo lư cách châu thành Cần Thơ khoảng ba cây số.

Ngài Ngô Văn Chiêu thường nói rằng, Đức Chí Tôn định cho Ngài sẽ liễu đạo trên sông Cửu Long, nên mới ban cho câu:

Giờ nầy Thầy điểm thâm công,

Ngày sau con sẽ cỡi rồng hồi nguyên.

Thật vậy, đến sáng ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thân (Dl. 18/4/1932), Ngài quyết định về Tân An.

Trên đường đi, lúc xe chở Ngài xuống bến phà Mỹ Thuận, phà chạy gần nửa sông thì Ngài Ngô Văn Chiêu xuất thần thoát xác một cách êm ái vào lúc 3 giờ chiều ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thân, hưởng dương 55 tuổi.

II - PHÁI CHIẾU MINH TAM THANH VÔ VI

Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là một Chi Phái đầu tiên của đạo Cao Đài, thành lập sớm nhứt, từ cuối năm Bính Dần (1926) khi Ngài Ngô Văn Chiêu không nhận chức Giáo Tông, cùng với quý ông Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Lý Trọng Quý lo bề tự giác, tu luyện theo phép tu đơn và bắt đầu từ đêm 14 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 24/4/1926), Ngài tách riêng ra lập Cơ Tuyển Độ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, gọi tắt là Chiếu Minh Vô Vi, Trụ sở Thánh Đức Tổ Đình tại phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Khi thành lập Chi phái nầy, Ngài đổi chữ lót trong tên của Ngài thành chữ Minh và từ đó người ta gọi tên Ngài là Ngô Minh Chiêu. Khi Ngài Ngô qui Tiên năm 1932 rồi thì ông Tư Huỳnh đứng ra lãnh đạo Chi Phái nầy.

Nguyên hồi mới khai nền đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dự định phong phẩm Giáo Tông cho Ngài Ngô Văn Chiêu, nên trong Đàn cơ ngày 17 tháng 4 năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy ba ông Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đến nhà Ngô Văn Chiêu bảo ông phải may một bộ Thiên phục Giáo Tông và dạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu lãnh nhiệm vụ may bộ Đại phục đó cho hoàn thành.

Bài Thánh giáo ấy được chép lại như sau: “Trung, Cư, Tắc ba con lập tức lên Chiêu biểu nó phải sắm sửa liền một bộ Thiên phục màu trắng. Trên đầu chẳng phải bịt khăn mà đội mão trắng có chữ Càn thêu bằng chữ vàng. Dặn nó mua thứ hàng thiệt tốt, mão cũng vậy, áo cũng vậy.

Hiếu lại phải nhọc công nữa, Thầy giao phần may sắm cho con. Con liệu cho kịp, Rằm phải có nghe con”.

Rồi Ngài lại bảo bà Hiếu: Hiếu lấy chén nước lạnh, Thầy vẽ kiểu mão cho con coi.

Mme Cư bạch Thầy.... Mão nầy là mão Giáo Tông.

Trước ngực ngay trán phải để chữ cung Càn - chữ vàng, chữ Bát Quái - Còn cái áo con phải tái cầu Thầy trong lúc may đặng Thầy chỉ sắp mấy cung kia trên áo. Nghe và tuân theo nghe con.

Trung, đêm nay đừng cầu Thầy nghe con.

Cũng trong ngày ấy, Đức Chí Tôn lại giáng cơ dạy: Mừng sắp con,

Hiếu quì bạch Thầy chỉ dạy may mão Ðức Giáo Tông bề cao bao nhiêu và mang giày thứ nào? Thầy sẽ nhứt định mọi việc.

Thầy dạy: Mão bề cao ba tấc, ba phân, ba ly thước Lang Sa; may giáp mối lại thì thế nào cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh hiệp lại có một đường xếp ấy là Âm Dương tương hiệp, Hiếu biết mà.

Sợi dây xếp hai lại còn bên trái có hai dải thòng xuống một mí dài một mí vắn, mí dài ba tấc.

Giáo Tông - Thảo hài.

Chỉ dạy bà Hiếu may xong, nhưng năm ngày sau, tức là ngày 22 tháng 4 năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ bảo Bà Hương Hiếu: Hiếu! Dâng mão Giáo Tông cho Thầy xem. Trúng, mà ai đội con phòng lật đật.

Bài Thánh giáo trên của Đức Chí Tôn cho biết rằng ông Chiêu sẽ không nhận chức Giáo Tông. Quả thật Ngài Ngô Văn Chiêu không đến lãnh chức, vì Ngài theo một hướng tu khác, nên đến gần ngày Khai Đạo, Đức Chí Tôn mới giao chức Giáo Tông cho Đức Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm, theo tịch đạo là Thanh, Hương.

Điều nầy trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp cũng thắc mắc việc Ngài Ngô không thọ lãnh ngôi Giáo Tông, Ngài nói: “Về quyền hành của Đạo, không biết vì cớ gì Đức Chí Tôn đã định cho Ngô Văn Chiêu làm Giáo Tông của Đạo, Đức Chí Tôn biểu may Thiên Phục Giáo Tông và may rồi trong 10 ngày lại thôi, Ngô Văn Chiêu bị biếm vậy”.

Việc Ngài Ngô Văn Chiêu không nhận lãnh chức Giáo Tông, hiện nay có hai quan niệm nói về việc đó:

Quan niệm thứ nhứt căn cứ theo bản Thánh Ngôn chép tay của Ngài Thái Thơ Thanh cho rằng Ngài Chiêu trước khi nhận lên ngôi Giáo Tông thì bị Quỷ vương thử thách, Ngài không thắng nổi cơ thử thách của Quỷ vương, nên đành chịu mất ngôi.

Quan niệm thứ hai cho rằng Ngài Chiêu sở dĩ không nhận chức Giáo Tông là vì ông muốn theo phép tu đơn. Chính cụ Huệ Lương, trong quyển Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Sơ Giải có viết: “Vì mỗi ngày phải tứ thời công phu tịnh luyện lại theo phép tu đơn không nên xen lộn vào chỗ đông người để khỏi nhiễm trược, cho nên Quan Phủ Ngô Văn Chiêu phải nhường phận sự độ dẫn đại chúng cho chư vị nói trên. Tuy vậy, ông vẫn khuyến khích anh em làm việc ấy bằng cách giúp cho một số anh em có đủ phương tiện vật chất để hành đạo”.

Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, trong quyển Đại Đạo Căn Nguyên cũng có nêu ý kiến như sau: "Ông Trung vẫn vâng theo Thánh ý lo thiết đàn giảng Đạo. Ông Chiêu lại ở nhà lo bề tự giác, ý ông không muốn truyền bá mối Đạo ra cho nhiều người. Ông vẫn lấy câu “Ngô thân bất độ hà thân độ” làm tôn chỉ. Vì vậy mà ông tách riêng ra kể từ ngày 14 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 24/4/1926). Đồng một ý kiến ấy thì có mấy ông: Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Lý Trọng Quí.

Từ đây, tuy đôi bên chủ nghĩa khác nhau, vì một đàng (Lê Văn Trung) thì lo phổ thông mối Đạo, một đàng (Ngô Văn Chiêu) lại chuyên bề tự giác, nhưng về phương diện tín ngưỡng thì cũng đồng thờ kỉnh Đức Cao Đài Thượng Đế".

Ngoài ra, khi phát biểu về Đạo Sử, Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi, Trưởng Ban Đạo Sử có thuật lại rằng: Khi đó quan Phủ Ngô Văn Chiêu lại muốn êm tịnh đặng có thì giờ tham thiền nhập định, không khứng đi phổ độ vì dân chúng ồn ào như thế. Ông thường nói: “Ngô thân bất độ hà thân độ” nghĩa là thân ta chưa độ được ,huống gì đi độ ai! Nếu ai muốn tu Tiên thì phải từ từ đến nhà tư của ông, ông sẽ chỉ cho cách thờ phượng để tâm tu niệm.

Hơn nữa, ông cho biết, nếu lập đàn cầu Tiên mà người tụ họp đông quá thì mất vẻ tôn nghiêm tất là khiếm lễ. Nếu khiếm lễ vì đông người thì các Đấng Thiêng-Liêng và Tiên Ông không giáng. Chí hướng của ông Ngô Văn Chiêu thì không muốn hội họp đông người khi lập đàn, vì sợ mất sự an ninh trong Đô Thành. Quan Phủ Chiêu muốn giữ an ninh vì sợ đám chính trị gia trà trộn vào quấy phá và vì ông là một công chức của chánh phủ nên muốn như vậy là lẽ phải của ông đó, nên ông từ chối, không chịu hợp tác với quí vị Chức-Sắc Đại Thiên Phong đầu tiên cùng nhau đi phổ độ chúng sanh theo lời Đức Chí-Tôn đã dạy. Vì vậy Ngài mới tách riêng ra để lập Chi phái Chiếu minh Tam Thanh Vô Vi để chuyên lo về Nội giáo Vô Vi, Tâm pháp bí truyền luyện đạo, nên phái nầy lựa chọn và thâu nhận rất ít tín đồ, hoạt động hạn hẹp ở ba nơi: Cần Thơ (Tổ đình), Phú Quốc và Sài Gòn. Hiện nay Phái Chiếu Minh lại phân ra: Chiếu Minh Long Châu và Chiếu Minh Ðàn.

 

 

 

 

BẢO VĂN PHÁP QUÂN CAO QUỲNH DIÊU
RỜI BỎ TÒA THÁNH TÂY NINH ĐƯỢC THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ GIÁNG CƠ KHUYÊN TRỞ VỀ

Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu hiệu là Mỹ Ngọc, Đạo hiệu là Cao Liên Tử, sinh năm Giáp Thân 1884 tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, tỉnh Tây Ninh. Thân phụ là Cao Quỳnh Tuân, làm Cai tổng Hàm Ninh Thượng, mất lúc Ngài được 14 tuổi, thân mẫu là Bà Trịnh Thị Huệ, sau đắc phong Nữ Giáo Sư trong Đàn cơ phong Thánh Nữ phái lần I vào ngày 14 tháng 1 năm Đinh Mão (Dl. 15/2/1927).

Người em ruột thứ tư của Ngài Cao Quỳnh Diêu là Cao Quỳnh Cư, sau đắc phong Thượng Phẩm Hiệp Thiên Đài, cầm quyền chi Đạo.

Hiền thê Ngài Cao Quỳnh Diêu là Bà Trần Thị Lựu, đắc phong Nữ Giáo Hữu trong kỳ phong Thánh Nữ phái lần I, và được Đức Chí Tôn trong Đàn cơ ngày 5 tháng 8 năm Bính Dần (Dl. 11/9/1926) giao cho nhiệm vụ cùng với Bà Nữ Giáo Sư Hương Hiếu (Hiền nội Ngài Cao Quỳnh Cư) tập một tốp đồng nhi gồm 36 đứa đặng tụng kinh khi cúng lễ.

Như chúng ta biết, Ngài Cao Quỳnh Diêu là một trong bốn vị tiền khai nền Đại Đạo. Chính Ngài cùng với quý vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang khởi sự xây bàn đầu tiên tại nhà Ngài Sang cạnh chợ Thái Bình dãy phố hàng Dừa Sài Gòn.

Từ đó, Ngài Cao Quỳnh Diêu hợp với Ngài Cao Hoài Sang thành một cặp phò loan để Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo. Đến tháng 5 năm 1926 Đức Chí Tôn lập thành sáu đàn cơ phổ độ, trong đó có Đàn cơ ở Chợ Lớn là nhà của Ngài Lê Văn Trung, do hai Ngài Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu phò loan, còn Ngài Trung và Ngài Lê Bá Trang thay phiên nhau chứng đàn.

Năm Đinh Mão, 1927, Ngài Cao Quỳnh Diêu đắc phong Tiếp Lễ Nhạc Quân, có phận sự sắp đặt Lễ nghi và âm nhạc trong việc cúng tế của đạo Cao Đài. Chính Ngài vâng lịnh Hội Thánh vào đầu năm 1929 đặt ra ba bài Dâng Tam Bửu (hoa, rượu, trà) hiện nay, được Bát Nương giáng cơ chỉnh văn lại

Ngoài ra, Ngài Cao Quỳnh Diêu có soạn quyển “Nghi Tiết Đại Đàn Tiểu Đàn” dâng lên Đức Chí Tôn duyệt, Đức Hộ Pháp và Hội Thánh xem xét, rồi Đức Quyền Giáo Tông ban hành vào ngày 17 tháng 6 năm Canh Ngọ (1930) nhằm mục đích chỉnh đốn lễ nhạc trong các đàn cúng Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng cho được thống nhứt và trang nghiêm.

Đầu năm Canh Ngọ 1930, Ngài Cao Quỳnh Diêu được thăng lên phẩm Bảo Văn Pháp Quân. Đến năm 1932, Ngài viết bài Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu, được Bát Nương giáng cơ chỉnh văn lại để dùng làm kinh cúng Tứ Thời nơi Điện Thờ Phật Mẫu.

Vào năm 1934, Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu nghe theo lời hai Ngài Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh rời bỏ Tòa Thánh Tây Ninh để chống lại Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp. Đức Cao Thượng Phẩm lúc nầy đã đăng Tiên, sợ Ngài Diêu bị tội cùng Ngọc Hư Cung, nên ngày 15 tháng 7 năm Giáp Tuất (Dl. 24/8/1934) có giáng cơ khuyên nhủ Ngài Diêu như sau:

Hồi Em còn ở thế, sức giận của Em đến đỗi, nếu Em được thiêng liêng vị tức cấp, thì có lẽ cây quạt của Em đã đưa họ trụm vào Phong đô không sót một ai.

Nhưng chừng bỏ xác phàm, được nhãn huệ quang rồi, Em lại thương đau thương đớn, dường như sợ cho họ sái đường lạc nẻo, thì phải mất một bạn thiêng liêng rất quí trọng vậy. Thành thử, phải dìu dắt chiều theo tâm phàm họ cao thấp mà sửa từ bước, độ từ chặng, mà nếu rủi dìu họ không được thì phải tận tụy với trách nhiệm, làm thế nào cho họ đừng sa đọa Phong đô, để cầu với Tam Giáo Tòa cho tái kiếp mà chuộc căn quả.

Thế, anh có vì việc nhỏ nhen vô vị mà nỡ ngó Ðạo chinh nghiêng à?

Trách nhậm là trách nhậm, cá nhơn là thứ chi, phải biết nguồn cội là gốc, thì mới tránh khỏi thường tình đặng.

Các Ðấng thiêng liêng đã thường nói: Lợi danh thường tình là nhỏ, danh giá Ðạo là trọng. Ðãi người một bực, bất kể tên gì, chịu thiệt thòi mà làm phận sự.

Trễ nãi của bước Ðạo thế nầy thì Thầy có khổ tâm khai Ðạo cho chúng ta độ rỗi sanh linh đâu. Sự trễ nãi là sự phàm tâm của ta, anh cũng cần nên đoạn khổ cho người, chớ nên tạo khổ cho ai.

Ðường đời là bến sông mê, thoát mê thoát khổ được, ai lại còn mang đeo thằng phược vào mình mà để cho loạn tâm mệt trí về nơi đó, chẳng uổng kiếp sanh lắm ru?

Ngày hôm sau, 16 tháng 7 năm Giáp Tuất (Dl. 25/8/1934), Đức Thái Thượng Đạo Tổ cũng giáng cơ giải thích Tòa Thánh Tây Ninh là nguồn cội của Đạo Cao Đài và khuyên Ngài Cao Quỳnh Diêu trở về phục vụ Đạo.

Bài Thánh giáo có nội dung như sau:

“Hỉ chư đạo hữu. Cười…. Có lẽ chư đạo hữu vẫn ngạc nhiên vì Bần đạo đến thình lình, mà chư đạo hữu không để tâm trước đó chăng?

(M Ng. . bạch: Quả nhiên như lời của Ngài, vì Thượng Phẩm có để lời trước rằng Chí Tôn sẽ giáng dạy.)

Chí Tôn sở cậy Bần đạo thố lộ chút ít điều mật yếu để dìu bước chư đạo hữu trong buổi loạn lạc trong nền Ðạo buổi nầy.

M Ng. . hiền hữu có nhớ những lời Bần đạo đã giãi bày lúc trước bằng nhiều cách và lấy danh từ khác nhau mà dìu dẫn chăng?

Cơ Trời mầu nhiệm đối với đời, mà máy Thiên cơ đối với Ðạo, lại càng huyền vi thâm trọng hơn nữa, có lẽ tâm phàm dầu cao kiến đến đâu cũng chưa đạt thấu được. Những vai tuồng của Chí Tôn sắp đặt trên sân khấu đạo, nếu so sánh lại chẳng khác chi những bậc Nguyên nhân lãnh phận sự dìu đời từ xưa đến nay mà thôi.

Muốn an tâm tỉnh trí và đè nén lửa lòng, cần phải có một nghị lực vô biên, một tâm trung quảng đại, thì mới khỏi bực tức với những trò đã vì mạng lịnh thiêng liêng phô diễn ở nơi thâm hiểm nặng nề nầy.

Nên biết rằng, mỗi việc chi đều có hạn định, có căn nguyên, dầu các bậc tiền bối cũng vậy. Phải lấy nét đạo đức mà đoán xét thì mới hiểu thấu sự mầu nhiệm vĩ đại của Chí Tôn sắp đặt.

Xưa Hớn Bái Công chưa phải là chánh đáng một vị minh quân, mà cơ Trời vẫn để cho nghiệp Hớn 300 năm quyền bỉnh. Nào tật đố hiền tài, hữu thỉ vô chung, nghe lời sàm tấu, giết người lao công hạn mã, nếu chẳng phải chí của Trương Lương thì không thế nào khỏi xung tâm oán trách.

Võ Tắc Thiên hoang dâm thái thậm, Tùy Dương Ðế lỗi đạo muôn phần, khi Sở Hạng bạo ngược vô biên, Tần Thủy Hoàng hôn quân cực điểm, nhưng than ôi! máy Thiên cơ buổi nọ, nếu phải chiều chuộng một ít vị công thần bị khép vào vòng những kẻ đã chịu sở bức, thì phải thay đổi, bôi xóa sự nghiệp non sông của những chúa tể ngu muội ấy chăng?

Cười…. Ðời là đời, đạo cũng vậy, chi chi cũng có định phân mực thước. Những kẻ chí sĩ lãnh trách nhậm nghiêng vai gánh vác cả non sông đều làm phận sự. Công nghiệp nhiều ít ấy, tính lời vốn với Tòa thiêng liêng, hoặc ghi tên tuổi vào thanh sử thiên niên, chớ chẳng phải để kể công trình với chúa tể ấy.

Than ôi! Cái nư giận thường làm đổ nát những công sáng tạo đã qua, không biết bao nhiêu vĩ đại.

Hiền hữu chỉ biết hành động của người mà chưa biết đến Thiên thơ của Ðức Chí Tôn. Có biết thạnh suy mà chưa chịu biết để công linh đào tạo thời thế, đặng dìu dắt chúng sanh cho kịp buổi.

Bần đạo hỏi bốn hiền hữu có ai đã mang sao đội nguyệt, ăn mật nằm gai, chịu muôn sự khổ hạnh cõi đời để tạo hạnh phúc cho nhơn sanh chưa?

(T. Ð. bạch: ….)

Cười…. Ðối với bực hiền xưa, chưa đặng muôn một.

Nếu Chí Tôn không sớm lập Ðại Ðạo, chờ đôi ba chục năm nữa, e khi các bậc Nguyên nhân đang vị hiện thời đều phải chịu luân hồi không biết mấy kiếp.

Ngày giờ nhặt thúc, sanh chúng đương bơ vơ, chẳng biết đuốc huệ soi về phương nào, mảng nói nói cười cười. M. Ng. …hiền hữu có rõ ngày chung cuộc xây trở về đâu chăng?

- Chắc hẳn không, nhưng thiêng liêng vị, xin hiền hữu cũng nhớ để công tâm, trí não vào chúng sanh với, hiền hữu chịu chăng? (M. Ng . . bạch: . . . . . )

Cười… Trách nhậm là trách nhậm, muốn làm thì dầu bao nhiêu cũng gọi là thiếu, dầu ngày nào cũng gọi chẳng sớm, sớm là sớm nơi cái tâm bất định mà thôi. Chí Tôn đã vì nỗi con cái của Ngài mà sửa chỉnh bước đường, thì hiền hữu lại há không vì sự yêu đương quí hóa ấy mà sửa đổi tâm trí cho quảng đại sao?

Tà Chánh, cười …. Bần đạo nói thiệt cũng chưa dám định đoạt. Trong cái rủi thường có sự may; trong cái may vẫn khép cầm sự rủi, khó lường được. Ðiều cần là nên làm mà thôi.

Nếu luận Tà Chánh thì chưa một ai dám còn mang mắt phàm xưng tụng mình là Chánh. Cái Tà vì Thiên thơ xử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Tòa, Tà vì những quỉ xác ma hồn lẫn lộn của Quỉ vương để làm cho công phu lỡ dở. Mỗi cái Tà có duyên cớ ấy, ngày sau đều có sự biến đổi thiêng liêng hoặc có một kết quả.

Ngày chung qui chỉ đem về Thầy một chữ Tâm và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng.

Nền Ðại Ðạo đã chia ba, theo lời Bần đạo đã nói, M . Ng . . hiền hữu muốn lập công nơi nào? Tòa Thánh, Trung Ương, Hậu Giang?

(M. Ng . . bạch: Nơi Tòa Thánh).

Tòa Thánh là gốc cội của Ðạo. Nếu muốn lập công nơi đó, vì Thầy đã dạy, thì nên làm đi. Cách xây đổi phương lược tùy cơ ứng biến. Ấy là cơ nghiệp riêng của mỗi đạo hữu, Bần đạo không dám dạy. Nếu chờ thì phải trễ chăng?

Hiền hữu nên xét, Ðời khác, Ðạo khác, những sự lỗi lầm của mình tạo khổ cho mình, mà nguyên nhơn vẫn cứ huyền bí, mắt thịt tâm phàm chưa dễ độ đặng, nên xét cho ra.

Sau bài Thánh giáo của Đức Thái Thượng Đạo Tổ, Ngài Cao Quỳnh Diêu thức tỉnh, nhờ vậy Ngài mới trở về lập công vói Tòa Thánh Tây Ninh. Nhưng từ ấy đến sau, vì tuổi cao sức yếu, Ngài không thể đảm đương nhiệm vụ chung lo với Hội Thánh, hơn nữa Ngài đã phế cả sự nghiệp vì chủ nghĩa của Ðạo và bởi đó, Ngài chịu lắm vất vả về vật chất, xác thân càng tiều tụy hao mòn.

Vừa rồi Ngài ngọa bịnh không mấy ngày, bỗng phút vĩnh biệt cố thân, xa miền dương thế. Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu đăng Tiên vào ngày 4 tháng 9 năm Mậu Tuất (Dl. 16/10/1958), tại Văn Phòng Trung Tông Đạo, trong Nội Ô Toà Thánh, hưởng thọ 75 tuổi

 

 

 

 

ĐOÀN VĂN BẢN VÀ THÁNH THẤT CẦU KHO

I - TIỂU SỬ ĐOÀN VĂN BẢN

Đoàn Văn Bản tự là Văn Long, sinh vào khoảng năm 1876, người làng Tân Uyên, Tổng Chánh Mỹ Trung , tỉnh Biên Hòa. Xuất thân từ một gia đình Trung Lưu, cha mẹ mất sớm, ông sống với người chú họ. Trước năm 1914, ông được cấp học bổng vào Ecole Normale Primaire d’Instituteurs (Sư phạm Gia Định). Sau khi tốt nghiệp, ông được phái làm giáo viên nhiều nơi. Năm 1925, Đoàn Văn Bản làm Đốc Học trường Cầu kho. Nhà ông ở trước trường, số 42 Général Leman (nay là Cao Bá Nhạ, góc đường Trần Đình Xu). Với người vợ trước, ông không có con, với người vợ sau, ông Đoàn Văn Bản có một người con gái tên Đoàn Thị Quới (sinh khoảng năm 1914).

Vào tháng 8 năm 1924, khi Ngài Ngô Văn Chiêu được đổi về Sài Gòn cho đến cuối năm 1925, Ngài Chiêu có hướng dẫn 4 vị là Vương Quan Kỳ, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, thờ Thiên-Nhãn và tụng các bài kinh như Ngài, nhưng Ngài chưa truyền pháp môn tu luyện vì chưa có lịnh của Đức Thượng Đế.

Như vậy, tại nhà ông Đoàn Văn Bản vào đầu năm 1925 đã có thờ Thiên Nhãn rồi. Cho nên ông cũng như Ngài Ngô Văn Chiêu, Vương Quan Kỳ được Đấng Thượng Đế nhận làm một trong mười hai môn đệ và được điểm tên trong bài thiTứ tuyệt, mà tên ông nằm vào câu thứ hai: “BẢN đạo khai SANG QUÝ GIẢNG thành”

Đến đêm giao thừa năm Ất Sửu, Ngài Ngô Văn Chiêu làm Pháp Đàn, Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc phò loan, Nguyễn Trung Hậu làm độc giả và Tuyết Tân Thành làm điển ký. Phái đoàn lần lượt đến từng nhà của quý vị:Võ Văn Sang, Cao Quỳnh Cư, Vương Quan Kỳ, Lê Văn Giảng, Nguyễn Trung Hậu, Nguyễn Văn Hoài, Phạm Công Tắc, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Hữu Đắc, Lê Văn Trung và Lý Trọng Quý.

Khi đoàn đến nhà ông Đoàn Văn Bản, Đức Cao Đài đã ân ban cho ông bài thi như sau đây:

Thương thay trung tín một lòng thành,

Chẳng kể quan mà chẳng kể danh.

Thiệt thòi bấy phận không con nối,

Thấy rứa lòng Ta cũng chẳng đành.

Ngài Ngô Văn Chiêu vâng lịnh Đức Cao Đài hợp tác với quí vị Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang để lo mở Đạo, thì vào đêm 8 tháng 12 năm Ất Sửu (Dl. 21/1/1926), hai ông Đoàn Văn Bản và Vương Quan Kỳ có đến hầu đàn tại nhà Cao Quỳnh Cư, Ngài Lê Văn Trung cũng có mặt tại đó, Đấng Thượng Đế gọi tên quí vị:

“ Kỳ, Trung, Bản, Cư, Tắc nghe dạy”:

Mặt nhựt hồi mô thấy xẻ hai,

Có thương mới biết Đấng Cao-Đài.

Cũng con cũng cái đồng môn đệ,

Bụng muốn phân chia, hỏi bởi ai?

Có một lần, đêm 21 tháng 12 năm Ất Sửu (Dl. 3/2/1926), ông Đốc học Đoàn Văn Bản hướng dẫn các giáo viên dạy học nơi trường ĐaKao đến hầu đàn tại nhà ông Cao Quỳnh Cư.

Đức Chí Tôn giáng cơ giảng dạy cho các giáo viên về nghĩa vụ khi muốn dạy trẻ con như sau:

Mừng thay chớ!

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,

Cái công cái giáo cũng đồng sinh.

Đạo đời tua biết rằng đời trọng,

Một điểm quang minh một điểm linh.

Nghĩa là sắp nhỏ của con dạy, sau cũng nên người ở đời, ấy là đời, nếu biết trọng đời thì gắng dạy cho nó nên hiền.

Một điểm quang minh là một hồn người, là vật tối linh của Thầy trân trọng. Nếu con muốn làm lành thì gắng dạy mấy hồn ấy đặng hiền

Ông Đoàn Văn Bản thọ Thiên sắc Tiên Đạo Công Thần Thuyết Đạo Sư, Giáo Hữu phái Thượng vào ngày 15 tháng 3 năm Bính Dần, đến ngày 1 tháng 1 năm Đinh Mão được thăng Giáo Sư. Nhưng rồi sau nầy ông lại hợp tác với ông Vương Quan Kỳ lập thành Chi Phái Cầu Kho vào năm 1930, đến ngày 24 tháng 7 năm 1932 ông thọ phong Phối Sư của Chi Minh Chơn Lý , song vài năm sau, do không đồng tình với cách hành Đạo của chi Minh Chơn Lý, ông cùng hầu hết bổn Đạo Cầu Kho lui về.

Năm 1936 ông Đoàn Văn Bản tham gia Liên Hòa Tổng Hội với trách vụ Phó Hội Trưởng, Nguyễn Phan Long làm Hội Trưởng. Cũng năm nầy, ông về hưu. Năm sau ông giao Thánh Thất Cầu Kho lại cho bổn Đạo để lui về Tân Uyên lập một Thánh Thất nhỏ bằng gỗ trên một gò đất tại ấp Bưng Tre, xã Tân Nhuận (nay là khu 5 xã Uyên Hưng, Tân Uyên) để an dưỡng.

Đến giữa năm 1941, ông Đoàn Văn Bản quy vị, được an táng cạnh ngôi Thánh Thất nầy. Ngôi Thánh Thất lúc ấy cũng chỉ còn nền gạch giữa um tùm cây dại và những ngôi mộ không người chăm sóc.

II - THÁNH THẤT CẦU KHO

Thánh Thất Cầu Kho là một trong những Thánh Thất đầu tiên khi mới khai Đạo, là một ngôi nhà ba gian, cột gỗ vách ván của ông Đoàn Văn Bản ở số 42 đường Général Leman, Sài Gòn (nay là số 102 Trần Đình Xu, góc đường Cao Bá Nhạ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh), tại vùng Cầu Kho; về sau được tái lập lại tại địa chỉ số 122-124-126-128 đường Général Marchand, Sài Gòn (nay là số 124-126 Nguyễn Cư Trinh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo Nguyễn Trung Hậu, Đại Đạo Căn Nguyên, Thánh Thất Cầu Kho ban đầu rất chật hẹp, đồ đạt thiếu trước hụt sau, vì chủ nhà lúc bấy giờ đương ở trong vòng bẩn chật, không đủ sức mua sắm để thờ cho xứng đáng. Bàn thờ thì chỉ là một cái ghế nhỏ bằng cây giá tị. Thiên Nhãn chì vẽ trong một mảnh giấy cao chừng 3 tấc, ngang độ 2 tấc. Chiếu và đệm cũng không đủ trải ra lạy. Tình cảnh tuy nghèo mà mấy chục bổn đạo mới không hổ, cứ mỗi đêm thứ bảy là đến hầu đàn.

Thánh Thất nầy dần dần nhờ nhiều vị đạo hữu có tâm chung tay đóng góp để sửa sang lại ngôi Thánh Thất. Đến năm 1929, nơi đây trở nên một Thánh Thất tương đối hoàn chỉnh: Chính giữa thờ Đức Thượng Đế, bên trái thờ Đức Quan Thánh, bên phải thờ Đức Quan Âm. Phía trước có đủ chuông trống.

Theo “ Lịch Sử Đạo Cao Đài” Quyển I, việc hành Đạo tại đây được tổ chức thành các ban:

- Ban Thuyết Đạo gồm quý vị: Vương quan Kỳ, Lê Văn Giảng, Huỳnh Văn Mới, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Văn Đối…

- Ban Nghi lễ gồm quý ông: Nguyễn Văn Phùng, Lương Văn bồi, Hà Văn Lương, Nguyễn Văn Hòa…

- Ban Nhạc gồm quý ông: Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Thân và Trần Văn Lô…

- Ban Bảo Trợ gồm quý ông: Huỳnh Trung Tuất, Hồ Vinh Quy, quý Bà Phạm Thị Thôi, Nguyễn Thị Sâm, Tôn Nữ Thị Kiều, Hứa Thị Nhiều…

- Ban Phổ Tế Học Đường do ông Huỳnh Đích và các cô Nguyễn Thị Hồng, cô Nhờ, cô Tiếng mở lớp dạy học miễn phí.

Thánh Thất có một chiếc Thuyền Bát Nhã dùng khi hữu sự, do ông Lương Phát Lợi đảm nhiệm. Phần tập đồng nhi có bà Ba Diêu và Bà Mười Nhuần phụ trách.

Năm 1936, ông Đoàn Văn Bản hưu trí, ông và bà về quê ở Tân Uyên (Sông Bé), giao Thánh Thất lại cho Đạo. Năm 1938, bổn Đạo dỡ Thánh Thất cũ cất hai căn lầu bằng gỗ, khang trang. Cũng năm nầy, ông Nguyễn Văn Phùng (1893 – 1961) được bầu làm Chánh Hội trưởng. Đồng thời, Liên Hòa Tổng Hội, ông Nguyễn Phan Long làm Hội Trưởng, nhị vị Đoàn Văn Bản và Trần Quang Nghiêm làm Hội Phó hợp cùng quý ông: Nguyễn Hữu Đắc, Nguyễn Hữu Lợi, Trần Văn Quế, Trương Kế An, Nguyễn Văn Đước, Phan Trường Mạnh, dùng nơi đây làm trụ sở.

Năm 1941, chánh quyền thuộc địa lấy đất lại để xây Cư Xá Công Chức (vì đây là đất công) Thánh Thất Cầu Kho bị dỡ. Khung nhà, hệ thống bàn thờ…ngay cả ly chén, đồ dùng bình thường được chuyển về dựng lại trên nền Thánh Thất Tân Hương ở Long An (mà trước đó đã bị lính Pháp tiêu hủy), lúc ấy do ông Nguyễn Văn Trò cai quản. Nhờ vậy hiện nay nhiều vật kỷ niệm có giá trị lịch sử của Thánh thất Cầu Kho còn được lưu giữ như Đại ngọc cơ, Bàn thờ, khung và bao lam quanh Thánh Tượng…

Đến năm 1948, ông Nguyễn Văn Phùng hiệp cùng ông Phan Thanh mời đạo hữu cũ họp tại nhà số 7 đường Cao Bá Nhạ (nhà ông Phùng) quyết tâm xây dựng lại Thánh Thất Cầu Kho. Thánh Thất mới được xây trên cuộc đất của Hui Bon Hoa (không lấy tiền cho mướn đất) trên đường Nguyễn Cư Trinh. Việc xây dựng đến cuối năm 1948 tạm xong. Ngày 30 tháng 10 1948, Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cơ đặt tên là Nam Thành Thánh Thất (Địa chỉ: 124-126 Nguyễn cư Trinh, Quận 1, TP HCM)

 

 

 

 

VƯƠNG QUAN KỲ VÀ CHI PHÁI CẦU KHO

I - TIỂU SỬ VƯƠNG QUAN KỲ

Vương Quan Kỳ Tự là Mỹ Lương, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1880 (Khai Sanh ngày 4 tháng 7 năm 1880), tại Chợ Lớn, con ông Vương Quan Để (1842 – 1887) và bà Huỳnh Thị Bảy (1851 -1935). Ồng nội là Thống Chế Vương Quan Hạc, còn ông ngoại là nhà Nho yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt (1807 – 1883), đậu cử nhân, làm quan hai triều Minh Mạng, Tự Đức, rồi từ quan khi nhà Nguyễn ký Hòa Ước 1862 với Pháp.

Năm 1894, ông học tại trường collège de Mỹ Tho, hai năm sau, ông lên Sài Gòn học tại trường Chasseloup Laubat, đậu bằng thành chung (Diplôme). Năm 1898, ông thi đậu vào ngạch thơ ký Sở Hành Chánh Nam Kỳ và bắt đầu làm việc từ ngày 18 tháng 5 năm 1898.

Ngày 1 tháng 2 năm 1906, ông thành hôn với bà Huỳnh Ngọc Phan (1878 – 1949) là người tỉnh Sa Đec, con của ông huỳnh Long Huấn và bà Trần Thị Kim. Ông Kỳ và bà Phan có hai người con gái là Vương Thanh Chi (Sophia) (1908 – 1880) và Vương Xuân Hà (Anna) (1911 – 1983). Năm 1913, ông lấy người thiếp là Lê Thị Được có thêm được một người con trai là Vương Quan Sen (1915 - 1985).

Ông Kỳ xin nhập quốc tịch Pháp và lấy tên là Guillume vào ngày 16 tháng 3 năm 1912.

Ông Vương Quan Kỳ là em (cùng cha khác mẹ) của Vương Quan Trân (còn gọi Vương Thế Trân), là thân sinh cô Vương Thị Lễ (kêu ông bằng chú). Vương Thị Lễ tá danh là Đoàn Ngọc Quế, tức Thất Nương Diêu Trì Cung, một chơn linh cao trọng, hướng dẫn các ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang học đạo buổi đầu khai đạo.

Năm 1924, ông Kỳ cùng làm việc chung phòng Thương Mại với Ngài Ngô Văn Chiêu ở dinh Thống Đốc Nam Kỳ, với ngạch Tri phủ, nhờ vậy ông Chiêu mới độ được bốn ông: Vương Quan Kỳ, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Văn Hoài,Võ Văn Sang, thờ Thiên-Nhãn và tụng các bài kinh như Ngài, nhưng chưa truyền pháp môn tu luyện vì chưa có lịnh của Đức Thượng Đế.

Năm 1925, được chơn linh của cô Vương Thị Lễ giới thiệu, ông Vương Quan Kỳ có đến gặp các vị trong Đàn cơ ở Sài gòn là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang nên ông cũng gia nhập theo đạo Cao Đài.

Ngày 15 tháng 3 năm Bính Dần (1926), ông thọ Thiên ân là Tiên Sắc Lang Quân Thuyết Đạo Giáo Sư

Ngày 7 tháng 10 năm 1926, ông là một trong 28 người ký tên vào tờ Khai Tịch đạo Cao Đài với tư cách Tri phủ, Sở thuế thân, Sài Gòn.

Ông Phủ Vương Quan Kỳ là 1 trong 12 môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn được điểm danh trong bài thi tứ tuyệt, ông đứng thứ nhì, sau tên của ông Ngô Văn Chiêu (CHIÊU KỲ TRUNG dẫn độ HOÀI sanh). Ông thọ phong phẩm Giáo Sư ngày 14 tháng 5 năm Bính Dần (1926), Thánh danh là Thượng Kỳ Thanh.

Vào đêm 9 tháng 1 năm Bính Dần (Dl. 21/2/1926) nhằm ngày vía Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng thượng Đế, Quan Phủ Vương Quan Kỳ thiết đại lễ cúng Đức Chí-Tôn tại tư gia, có mời chư nhu và chư Đạo-Hữu đến dự lễ và hầu đàn. Đấng Thượng-Đế giáng cơ dạy như vầy:

Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,

Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

Chung hiệp ráng vun nền đạo đức,

Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

Cái nhánh các con là nhánh chính mình Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu. Thầy vui muốn cho các con thuận hòa nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy. Phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh gỗ nghe. Các con phải giữ phận làm tùy ý Thầy muốn. Ngày kia sẽ rõ ý muốn của Thầy.

Nhà ông Phủ Vương Quan Kỳ ở số 80 đường Lagrandière, sau đổi lại là đường Gia Long, Quận Nhứt, Sài Gòn. Vì vậy ông thường xuyên hành đạo tại Thánh Thất Cầu Kho. Nơi đây nếu có thiết Đàn cầu cơ thì ông Vương Quan Kỳ chứng đàn, sau đó có thêm mấy ông nữa là Ngô Tường Vân, Nguyễn Văn Muồi, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Văn Kinh cùng với ông Kỳ luân phiên nhau lo cúng kiếng. Phò loan có ông Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Đức. Lo sắp đặt việc lễ thì có quí ông: Đoàn Văn Bản, Huỳnh Văn Giỏi, Lê Văn Giảng, Nguyễn Văn Tường…

Ông Phủ Vương Quan Kỳ hành Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho Sài Gòn, không đúng phép, không theo Tòa Thánh Tây Ninh nên bị Đức Lý Giáo Tông cho sụt chức: từ Giáo Sư xuống Giáo Hữu, rồi sau đó trong một Đàn cơ vào ngày 18 tháng 11 năm Bính Dần (Dl. 22/12/1926) Đức Lý Giáo Tông giáng cơ trục xuất ông Kỳ. Bài Thánh giáo như sau:

THÁI BẠCH

Hỷ chư Đạo hữu, chư Đạo muội, chư chúng sanh.

Thượng Trung Nhựt, Hiền hữu viết thơ cho mấy Thánh Thất lục tỉnh nói: “Thượng Kỳ Thanh bị trục xuất ra khỏi hàng môn đệ, chẳng còn quyền hành truyền Đạo nữa. Như nó chẳng tin, nghe lời, bị phạt: Tả Đạo Bàng Môn thì chịu, nghe à!”

Đã lập pháp mà nó muốn làm chi thì làm như buổi trước vậy hoài thì bị phạm Thiên điều, tránh sao cho khỏi tội. Hộ Pháp, Hiền hữu khá an lòng.

Năm 1930, ông Vương Quan Kỳ cùng một số Chức sắc nơi Thánh Thất Cầu Kho, không tuân hành theo nghi thức cúng Đại Đàn, Tiểu Đàn và áp dụng cho các Thánh Thất địa phương của Tòa Thánh Tây Ninh, rồi sau đó tách ra lập thành Chi phái Cầu Kho, hành đạo riêng, không theo hệ thống hành chánh của Tòa Thánh Tây Ninh.

Ngày 24 tháng 7 năm Nhâm Thân (1932), ông gia nhập vào Chi phái Chơn Minh Lý ở Mỹ Tho và thọ phẩm Thượng Phối Sư của Hội Thánh nầy. Ông là người có công truyền mối đạo Trời ra Trung Kỳ, là một chức sắc tiền bối sáng lập ra Cao Đài Cầu Kho Tam Quan.

Ông Vương Quan Kỳ hành Đạo cho đến ngày 18 tháng 10 năm Kỷ Mão (1939), thì qui Thiên, hưởng thọ 60 tuổi, được an táng tại Tân Sơn Nhì Sài Gòn.

II - CHI PHÁI CẦU KHO

Theo Nguyễn Trung Hậu, Đại Đạo Căn Nguyên, Thánh Thất Cầu Kho ban đầu là ngôi nhà ngói ba gian, cột gỗ, vách ván của ông Đoàn Văn Bản, Đốc Học trường Tiểu học Cầu Kho, số 42 đường Général Leman (cuộc đất số 102 Trần đình Xu hiện nay, góc đường Cao Bá Nhạ). Thất Cầu Kho trước đây Ông Bản theo lịnh Đức Chí Tôn lập tại nhà mình một Đàn cơ để mọi người cầu Thầy giáng cơ dạy Đạo. Hễ mỗi lần có chư nhu đến nhập môn, Đức Chí Tổn dạy phải đến đại đàn tại Cầu Kho. Vì vậy mà nhà ông Đoàn Văn Bản trở thành Tiểu Thánh Thất.

Theo các bậc tiền bối, Thánh Thất Cầu Kho lúc ban đầu rất chật hẹp, đồ đạc thiếu trước hụt sau, vì chủ nhà lúc bấy giờ đương ở trong vòng bẩn chật, không đủ sức mua sắm để thờ cho xứng đáng. Bàn thờ thì chỉ là một cái ghế nhỏ bằng cây giá tị, Thiên Nhãn thì vẽ trên một mảnh giây cao chừng 3 tấc, ngang độ 2 tấc. Chiếu và đệm cũng không đủ trải ra lạy. Tình cảnh tuy nghèo mà mấy chục bổn đạo mới không thẹn, cứ mỗi đêm thứ bảy là đến hầu đàn. Không bao lâu, có nhiều vị đạo tâm chung lo sửa sang lại ngôi Thánh Thất trang hoàng.

Tại đây, ông Đốc Phủ Vương Quan Kỳ chưởng quản việc cúng tế trong đàn và thuyết đạo. Các ông: Đoàn Văn Bản, Nguyễn Trung Hậu, Tuyết Tân Thành, Lê Thế Vĩnh lo sửa soạn dọn dẹp Thánh Thất cho trang nghi. Ông Lê Văn Giảng, giáo Hiền, cùng một ít Đạo hữu lo sắm đồ đạc lặt vặt trong Thánh Thất.

Năm 1930, Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu được lịnh của Đức Chí Tôn, soạn ra quyển “ NGHI TIẾT ĐẠI ĐÀN – TIỂU ĐÀN tại Tòa Thánh và các Thánh Thất”, để thống nhứt về Nghi Lễ của Đạo, được Đức Chí Tôn duyệt chấp thuận, Đức Hộ Pháp mới làm văn thư gởi qua Cửu Trùng Đài để xem xét và ban hành. Nhưng xem tình hình trong Đạo thấy có một số người chống đối không muốn theo, nên Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt phải chờ đợi, đến ngày 17 tháng 6 năm Canh Ngọ (12/7/1930) mới ra Châu Tri ban hành, áp dụng thống nhứt nơi Tòa Thánh và các Thánh Thất ở địa phương, trong ấy có ba bài Dâng Tam Bửu mới để thay thế ba bài Dâng Tam Bửu cũ, thỉnh từ Ngài Ngô Văn Chiêu.

Tờ Châu Tri (Ban hành quyển NGHI TIẾT ĐẠI ĐÀN – TIỂU ĐÀN tại Tòa Thánh và các Thánh Thất) được Ngài Thượng Đầu Sư ký ban hành như sau:

Tòa Thánh, ngày 17 tháng 6 năm năm Canh Ngũ (Dl. 12/7/1930).

CHÂU TRI

Gởi cho chư Hiền hữu Chủ Thánh Thất, Đầu Họ và Chức sắc Cửu Trùng Đài.

Hiền hữu yêu dấu,

Đức Hộ Pháp có gởi cho tôi một bổn lễ cúng Đấng Chí Tôn và Tam giáo của Hiệp Thiên Đài soạn lạỉ y như sau đây.

Hôm 9 tháng 2 năm 1930 sau ngày vía của Đấng Chí Tôn, tôi có đặt một Bàn Hội xem xét và hết thảy đều thuận ưng ban hành y theo cuốn Lễ Bổn ấy.

Từ đây chư Hiền hữu phải y theo đó mà hành lễ và dạy cách hành lễ cho chư Đạo hữu lưỡng phái.

Đạo là chánh lý mà chánh lý thì có một, nên cách hành lễ của Đạo phải y nhau như một mà thôi. Ai canh cải bàỵ biện: coi cho huê mỹ thì tội trọng.

Từ đây, nếu còn Đạo hữu nào không biết hành lễ thì lỗi về Giáo Hữu, Lễ Sanh, Chánh Phó Trị Sự và Thông Sự, Họ nào theo Họ nấy.

Nay kính.

THƯỢNG ĐẦU SƯ
Thượng Trung Nhựt.

Khi Châu Tri ban hành quyển nghi lễ nầy đến Thánh Thất Cầu Kho, Ông PhủVương Quan Kỳ vận động các Chức sắc Ban Cai Quản nơi đây không áp dụng Nghi lễ theo Châu Tri nầy, vì trong đó có 3 bài thài Dâng Tam Bửu mới, thay thế 3 bài Dâng Tam Bửu cũ mà trước đây Ngài Ngô Văn Chiêu đã chuyển qua. (Ông Kỳ là người do Ngài Chiêu phổ độ), Vì vậy Thánh Thất Cầu Kho không chịu tuân hành theo các Nghi Lễ trong cuốn sách của Tòa Thánh Tây Ninh.

Sau đó, ngày 27 tháng 9 năm Canh Ngọ (Dl. 17/11/1930) Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt gời văn thư cho Giáo Hữu Ngọc Minh Thanh và Ban Cải Quản Thánh Thất Cầu Kho có đoạn như sau:

“Tôi xin nhắc: Đạo thì một gốc, hành lễ phải y nhau một thể lệ. Vì việc Lễ Nhạc đọc kinh các nơi không rập nhau một thể lệ nên năm ngoái, tôi có lập một Ban Hội để ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh làm Hội trưởng và mỗi Thánh Thất đều có người thay mặt, Bàn Hội ấy xem xét cuốn NGHI TIẾT ĐẠI ĐÀN TIỂU ĐÀN. Ngày đại lễ Đức Chí Tôn, Hội Thánh cũng cử một ban hội để xem xét cuốn Nghi Tiết ấy. Lại nữa trong ban hội nầy có Chức sắc thay mặt cửu Trùng Đài, có Chức sắc thay mặt Hiệp Thiên Đài, hiệp nhau xem xét hết lẽ rồi phần đông mới định ban hành cuốn Nghi Tiết ngày nay đã in ra đó.

“Tôi có được thơ của Hiền hữu Ngọc Minh Thanh ngày 14/11/1930 nói về cuốn sách Nghi Tiết Đại Đàn – Tiểu Đàn. Trong thơ Hiền hữu Ngọc Minh Thanh nói Họ Đạo cầu Kho không thể hành lễ theo nghi tiết trong cuốn sách trên của Tòa Thánh gởi xuống.... Nếu chư Hiền hữu Đầu Họ Đạo và chư Hiền hữu Chủ Thánh Thất không thi hành các việc Tòa Thánh ban hành thì trước hết phải mang tội không vâng lịnh bề trên.

“Tôi cầu khẩn ai thông minh trí thức về Tòa Thánh giúp việc đặng đem tài trí ra giúp Đạo giúp đời. Ai còn thế sự ràng buộc thì đặng dâng ý kiến (émettre les voeux), mỗi đầu năm có Hội Thánh, mới đem ý kiến ấy ra bàn nghị.”

“Còn các việc Tòa Thánh ban ra thì phải ban hành lập tức một thể lệ. Đã lâu rồi, Đấng Chí Tôn kêu tôi mà nói: “Trung, bởi- con sợ mích bạn hơn sợ Thầy buồn, nên mới có xưng bá xưng hầu để độc quyền lừng thế.

Hành chánh phải y một thể lệ, chỗ nào có Thánh Thất chẳng vậy thì chẳng nhìn là nảy sanh ra nơi Đạo Tam Kỳ, thì con hiểu lấy.”

Như vậy, khi ban hành quyển NGHI TIẾT ĐẠI ĐÀN – TIẾU ĐÀN để thống nhứt nghi lễ từ trung ương đến địa phương, thì các Chức sắc trong Ban Cai Quản Thánh Thất Cầu Kho Sài Gòn không chịu tuân hành, nên họ tự ý tách ra khỏi Tòa Thánh Tây Ninh, lập thành Chi Phái Cầu Kho gồm quí ông: Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh (Vương Quan Kỳ), Giáo Sư Thượng Bản Thanh (Đoàn Văn Bản), Giáo Hữu Ngọc Minh Thanh..vv...

Chi phái Cầu Kho là Chi phái thứ nhì, lập sau Chi phái Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh cũa Ngài Ngô Văn Chiêu lập ở Cần Thơ vào đầu năm 1927.

Năm 1936, Ngài Đoàn Văn Bản hưu trí, ông và bà về quê ở Tân Uyên (Sông Bé), giao Thánh thất lại cho Đạo.

Năm 1941, chính quyền thuộc địa lấy đất lại để xây cư xá công chức (vì đây là đất công), Thánh thất Cầu Kho bị dỡ. tất cả bàn thờ, ly chén, đồ dùng được chuyển về Thánh thất Tân Hương ở Long An (mà trước đó đã bị lính Pháp tiêu hủy), lúc ấy do ông Nguyễn Văn Trò cai quản.

Đến năm 1948, ông Nguyễn Văn Phùng hiệp cùng ông Phan Thanh mời đạo hữu cũ họp tại nhà số 7 đường Cao Bá Nhạ (nhà ông Phùng), quyết tâm xây dựng lại Thánh thất Cầu Kho. Thánh thất mới được xây trên một miếng đất khác nằm trên đường Nguyễn Cư Trinh. Việc xây dựng đến cuối năm 1948 tạm xong. Ngày 30 tháng 10 năm 1948, Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cơ đặt tên là Nam Thành Thánh thất (Địa chỉ: 124-126 Nguyễn cư Trinh, Quận 1, TP HCM).

 

 

 

 

LÊ ĐẠO LONG VÀ VĨNH NGUYÊN TỰ

I - LÊ ĐẠO LONG

Lê Đạo Long là đạo hiệu của Ngài Lê Văn Tiểng, sinh ngày 23 tháng 10 năm Quý Mão (1843) tại làng Long An, tỉnh Chợ Lớn, con cụ ông Lê Phước Nghệ và cụ bà Nguyễn Thị Nguyện. Lớn lên Ngài chán cảnh phù sinh nơi cõi thế, ham thích tu hành, nên tìm đến thọ giáo với Đức Di Minh Tử Ngô Đạo Chánh và được truyền thừa mối Đạo Minh Đường từ năm 1876, lúc ấy Ngài mới 34 tuổi. Từ đó về sau, Ngài lo trau luyện tâm tánh, chuyên tâm tu hành đạt đến bậc phẩm Thái Lão Sư.

Đến năm 1908 vì mong muốn có phương tiện để phổ độ cho nhơn sanh khắp vùng, nên Ngài lấy tài sản riêng của mình để xây cất lên ngôi Phật Đường, đặt tên là Vĩnh Nguyên Tự do Ngài Trụ Trì. Tại đây, Ngài có dạy nhiều môn đệ, tu đến phẩm Thái Lão Sư trong đó có các vị: Trần Đạo Minh, Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn Đạo Chí…

Hành đạo nơi đây một thời gian, đến ngày 3 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), Ngài Lê Đạo Long cho người gọi tất cả con cháu tề tựu đầy đủ và các đệ tử cũng có mặt tại Vĩnh Nguyên Tự, đặc biết nhứt là có mặt chủ quận Cần Giuộc là Tri phủ Huỳnh Khắc Thuận. Sau khi dạy những lời di chúc và ký thác mọi việc, Ngài tắm gội tinh khiết, làm lễ Thiêng liêng. Đến 7 giờ Ngài trút hơi thở cuối cùng nơi Phật đường di hài của Ngài được an táng phần đất phía sau Vĩnh Nguyên Tự.

Sau ngày Thái Lão Sư Lê Đạo Long quy Thiên, người con là ông Lê Văn Lịch tu đến bậc Dẫn Ân (nhị thừa), nối tiếp Đạo nghiệp của cha, đứng ra trụ trì ngôi Vĩnh Nguyên Tự.

Lúc sanh tiền, Ngài Lê Đạo Long có tiên tri rằng: " Vĩnh Nguyên Tự là nơi "Thập Nhị Khai Thiên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hoằng khai chánh pháp chơn truyền sau này”.

Ngày 20 tháng 1 năm Bính Dần (Dl. 4/3/1926) Đức Chí Tôn muốn độ ông Lịch nên sai ba vị tiền khai Đại Đạo là Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đến Vĩnh Nguyên Tự lập đàn cơ, có sự hiện diện của ông Phủ Nguyễn Ngọc Tương. Hôm ấy, Thái Lão Sư Lê Đạo Long được Đức Chí Tôn cho phép nhập cơ báo cho quí vị đang tu tại Vĩnh Nguyên Tự biết rằng Ngài đã đắc quả Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn tại Tây Phương Cực Lạc và khuyên chư môn đồ nơi đây nên chuyển qua tu theo đạo Cao Đài của Đấng Thượng Đế.

Đức Cao Đài giáng dạy như sau: Hảo Thánh tâm! Hảo Thánh tâm!

Lịch, Ta thâu nạp ngươi làm môn đệ. Ta cho Tiểng là cha của ngươi nhập cơ.

Trung, Tương đứng.

Sau khi Đức Chí Tôn thăng, kế tiếp, Đức Như Ý Đạo Thoàn nhập cơ dạy như sau:

“Lịch, thính ngã. Ngã thị nễ phụ, thọ mạng Cao-Đài Tiên Ông viết Ngọc Hoàng Thượng Đế Giáo Đạo Nam Phương. Tiền nhựt ngã thọ giáo Minh Đường. Đại Đạo thị chi nhứt dã. Nội Ngũ Chi Đại Đạo, thọ phong Trung quốc vi Đại Lão. Dục thọ Thiên ân nhơn bất đắc kỳ truyền, ngã luyện thế thường tình chi giáo. Đạo thị vô vi tức hữu vô hinh chi sự giáo hóa. Ngã bất ngộ dã, bất đắc kỳ truyền.

Ngọc Đế cảm xúc công quả thậm đa, bất lưu luân hồi tại thế, phú Thái Ất Chơn Quân độ dẫn, thọ sắc Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn tại Tây Phương Cực Lạc. Nhữ ngộ minh sư tu luyện, đương cầu giáo hóa dã.

Thị nhứt sư Ngọc Hoàng Thượng Đế. Khâm thử, Khả cầu. Đại hỷ! Đại hỷ!”

Bài Dịch ra Nôm như sau: (Lịch hãy nghe ta. Ta là cha của ngươi, nhận mạng lịnh của Đấng Cao-Đài Tiên-Ông gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế dạy đạo ở nước Việt Nam. Ngày trước, ta thọ giáo nơi Minh Đường. Đại Đạo và Minh Đường là một vậy. Trong Ngũ Chi Đại Đạo, ta được thọ phong từ Trung Quốc làm chức Đại Lão Sư. Muốn thọ ơn Trời, vì không được chơn truyền, ta luyện đạo theo giáo pháp thường tình của thế gian.

Đạo là vô vi, tức là có các Đấng vô hình chỉ dạy các việc. Ta không gặp vậy, nên không được chơn truyền. Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế cảm xúc công quả của ta rất nhiều, không để ta luân hồi trở lại thế gian, giao cho Thái Ất Chơn Quân độ dẫn ta, nên được sắc phong Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn tại cõi Tây Phương Cực Lac. Ngươi gặp minh sư dạy tu luyện, hãy thỉnh cầu Ngài giáo hóa vậy. Chỉ có một Thầy là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Hãy kính dâng theo. Khá cầu dạy Đạo. Rất mừng! Rất mừng!).

II - TIỂU SỬ LÊ VĂN LỊCH

Lê Văn Lịch, đạo hiệu là Thạch Ẩn Tử, sinh ngày mùng 1 tháng 9 năm Canh Dần (Dl. 14/10/1890) tại làng Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Thân sinh của ông là Cụ Lê Văn Tiểng (đạo hiệu Lê Đạo Long), tu đến bực Thái Lão Sư của Chi Đạo Minh Sư, là người đã lập ngôi Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc, và thân mẫu là Cụ Bà Trần Thị Đắc. Hiền nội ông Lê Văn Lịch là Bà Trần Thị Khá, con gái của Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ (cũng là vị đại đệ tử của Ngài Lê Đạo Long). Lê Văn Lịch có một người con gái là Cô Lê Ngọc Trang, Đạo hiệu là Bạch Tuyết.

Đầu năm Bính Dần 1926, quý Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc được lịnh Đức Chí Tôn dạy phải xuống Vĩnh Nguyên Tự lập đàn cầu cơ, để Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn giáng cơ dạy ông Lịch, lúc bấy giờ đã tu tới bực Dẫn Ân (Minh Đường), phải hiệp với quý Ngài Cư, Tắc để khai mở Đạo Cao Đài.

Sau đó ngày 26 tháng 2 năm Bính Dần (Dl. 8/4/1926), tại Vĩnh Nguyên Tự, Đức Thích Ca Mâu Ni giáng cơ bằng Hán văn dạy rằng:

Chuyển Phật Ðạo, Chuyển Phật Pháp, Chuyển Phật Tăng, Qui nguyên Ðại Ðạo, Tri hồ chư chúng sanh?

Khánh hỷ! Khánh hỷ! Hội đắc Tam Kỳ Phổ Ðộ, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đại hỷ phát đại tiếu!

Ngã vô lự Tam đồ chi khổ. Khả tùng giáo Ngọc Ðế viết Cao Ðài Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Bài Thánh giáo trên dịch ra Nôm như sau: Chuyển Phật Ðạo, Chuyển Phật Pháp, Chuyển Phật Tăng, chuyể Phật giáo trở về gốc của nền là Ðại Ðạo. Chúng sanh biết chăng?

Vui mừng thay! Vui mừng thay! Gặp được Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật rất vui mừng, Phát cười lớn!

Ta không lo cái khổ của ba đường luân hồi. Khá theo lời dạy của Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, là Cao Đài Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Sau đó, tiếp theo là Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài Lê Văn Lịch, trong câu Thánh giáo chót thì Ðức Chí Tôn định phong Ngài Lê Văn Lịch vào phẩm Ðầu Sư cùng với Ngài Lê Văn Trung, nhưng thuộc phái Ngọc, mặc áo màu đỏ.

Ngài dạy: “Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa? Tam Kỳ Phổ Ðộ là gì? Là Phổ Ðộ lần thứ ba.

Sao gọi là Phổ Ðộ? Phổ Ðộ nghĩa là gì? Phổ là bày ra. Ðộ là gì? Là cứu chúng sanh.

Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào? Chúng sanh là gì?

Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm tục các con tính rỗi.

Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào? Thầy hỏi? Phải bày Bửu pháp chớ không đặng giấu nữa. Con phải luyện lại cho thành, nội trong tháng 5 nầy về theo Trung đặng đi truyền đạo.

Nghe và tuân theo”.

Qua đêm 12 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 23/4/1926), ông Lê Văn Lịch được Đức Chí Tôn giáng cơ ân phong làm Ngọc Đầu Sư, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt, cùng một lượt với Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, trong cuộc Lễ Thiên phong đầu tiên tổ chức tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn.

Ông Lê Văn Lịch lúc mới thọ phong chỉ là một tu sĩ nhỏ tuổi, nên có nhiều người không vừa lòng ông ngồi ở địa vị ấy. Trong quyển Tiểu Sử Ðức Quyền Giáo Tông, do Hội Thánh ấn hành năm Quý Sửu (1973), có một đoạn Thánh giáo của Đức Chí Tôn nói về Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt như sau: Nếu Thầy không chuyển pháp lại thì chưa ai tu đặng trọn đạo, nên Thầy lựa Ngọc Ðầu Sư trong hạng thiếu niên mới có đủ công phổ độ.

Trong phần nhiều các con chưa vừa lòng cho Lịch ngồi địa vị ấy, cho nên có điều cản trở trong sự truyền đạo. Thầy cũng nhìn như vậy, song vì tiền kiếp Lịch và nhơn đức Tiểng, nên Thầy mới phú thác cái trách nhiệm tối đại ấy cho nó.

Thời gian đầu khi mới khai Đạo, ông Ngọc Lịch Nguyệt được lịnh Đức Chí Tôn dạy tìm chọn ba bài kinh Tam giáo để làm kinh tụng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. ông cùng với Đầu Sư Thượng Trung Nhựt phụng soạn quyển “Tứ Thời Nhựt Tụng”, trong đó các bài kinh được in bằng chữ Nho, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và được ban hành vào năm Mậu Thìn, 1928. Vào năm 1934, hai ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang tách khỏi Toà Thánh Tây Ninh thì Ngọc Lịch Nguyệt cũng rời Toà Thánh, để trở về Vĩnh Nguyên Tự tu hành.

Năm 1943, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt đày đi Côn Đảo, đến năm 1945, ông mới được trả tự do trở về. Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt bị sát hại trong cuộc chiến chống Pháp xâm lược của phong trào Việt Minh, ông liễu Đạo tại Chợ Lớn ngày 2 tháng 9 năm Đinh Hợi (Dl. 15/10/1947) thọ 58 tuổi. Mộ của ông Lê Văn Lịch hiện đặt tại phần đất phía sau chùa Vĩnh Nguyên Tự, gần mộ của thân phụ ông là Cụ Lê Văn Tiểng.

III - VĨNH NGUYÊN TỰ

Vĩnh Nguyên Tự trước đây là một ngôi chùa Phật thuộc phái Minh Đường do Ngài Thái Lão Sư Lê Đạo Long tự dùng phương tiện riêng của mình tạo dựng vào năm Mậu Thân (1908) tại xã Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An).

Tại đây, lúc sinh tiền Ngài Lê Đạo Long có thâu nhận và dạy một số môn đồ, người đệ tử lớn nhứt của Ngài là Trần Văn Thụ, pháp danh Trần Đạo Minh (cũng là nhạc thân của ông Lê Văn Lịch), tu đến phẩm bậc Thái Lão Sư. Ðến năm Bính Dần (1926), tức là sau khi Thái Lão Sư Lê Ðạo Long liễu đạo, Ngài có giáng cơ khuyên các đệ tử hãy tùng giáo theo Ðức Cao Ðài Ngọc Ðế. Trần Văn Thụ vâng theo lời dạy của Đức Như Ý Đạo Thoàn, nhập môn vào đạo Cao Đài. Từ đó, ngôi Vĩnh Nguyên Tự trở thành cơ quan của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ thuở đầu tiên và sau nầy trở thành Thánh Thất của Ðạo Cao Ðài gọi là Thánh Thất Vĩnh Nguyên Tự. Chính tại Thánh Thất nầy vào đêm mùng 10 tháng 9 năm Bính Dần (Dl. 16/10/1926) ông Trần Văn Thụ (pháp danh Trần Ðạo Minh) được Ðức Chí Tôn giáng cơ ân phong là: Nho Tông Chưởng Giáo Tuyên Ðạo Thiền Sư Ðại Ðức Ðại Hòa Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Ngọc.

Kể từ khi Trần Văn Thụ thọ phong Ngọc Chưởng Pháp, ông vâng lịnh Ðức Chí Tôn, cùng với các vị Chức sắc Thiên phong khác lo đi hành đạo, phổ độ nhơn sanh. Khi làm lễ Khai Ðạo tại Thánh Thất tạm ở Chùa Từ Lâm Tự (chùa Gò Kén, Tây Ninh), ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (1926) thì Ngọc Chưởng Pháp thường xuyên hành đạo tại đó, để cùng quí Chức sắc cao cấp khác soạn thảo Tân Luật theo lịnh dạy của Ðức Chí Tôn.

Qua năm sau, tức là năm Ðinh Mão (1927), Trần Văn Thụ lâm bịnh nặng, ông trở về nhà an dưỡng tại làng Trường Bình, quận Cần Giuộc, sau đó ông đăng Tiên vào ngày 14 tháng 5 năm Ðinh Mão (Dl. 13/6/1927), hưởng thọ 71 tuổi.

Đám tang của Ngọc Chưởng Pháp có mặt đầy đủ các bậc tiền khai của Đạo như Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh, Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh, Phối Sư Thái Ca Thanh, cùng nhiều Chức sắc khác đến thọ tang và phúng điếu. Bởi cơ Ðạo còn sơ khai, đang tạm ở Từ Lâm Tự, nên gia đình Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ phải đưa linh cữu của ông an táng nơi quê nhà ở làng Thới Hiệp, cạnh ngôi chùa cũ của ông, nay là Ấp 1 Xã Hiệp Phước, quận Nhà Bè.

Năm 1996 (Bính Tý), Ban Cai Quản Thánh Thất Vĩnh Nguyên Tự đã lấy cốt của Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đem cải táng về đất phía sau Vĩnh Nguyên Tự, nằm cạnh ngôi mộ của Ngài Thái Lão Sư Lê Ðạo Long. Hiện nay di ảnh của Ngọc Chưởng Pháp được thờ nơi Hậu Ðiện Vĩnh Nguyên Tự, cùng với di ảnh của Ðức Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn và của Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.

Mặc dầu ngôi Vĩnh Nguyên Tự đã quy hiệp về Cao Đài và trở thành Thánh Thất từ năm 1926, nhưng hình dáng vẫn là ngôi chùa Phật y như cũ, tuy nhiên trải qua gần sáu mươi năm dãi dầu mưa nắng, ngôi chùa xưa xuống cấp, hư hỏng quá nhiều. Cuối năm Canh Tuất (tháng 4/1970), Đức Chí Tôn ban ơn cho họ đạo Vĩnh Nguyên Tự hiệp sức chung lòng cùng Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý xúc tiến công cuộc tái thiết Vĩnh Nguyên Tự. Mọi việc lớn nhỏ từ lúc khởi công cho đến khi hoàn tất, làm lễ khánh thành, thảy thảy đều thuận theo lẽ Thiên nhân hiệp nhất. Ngôi Thánh Thất Vĩnh Nguyên Tự được tái thiết và khánh thành vào ngày 13 tháng 3 năm Quý Sửu (Dl. 06/4/1973) cho đến ngày hôm nay.

 

 

 

 

NGUYỄN VĂN CA VÀ CHI PHÁI MINH CHƠN LÝ

I - TIỂU SỬ NGUYỄN VĂN CA

Ông Nguyễn Văn Ca sinh năm Ất Hợi (1875) tại xã Đái Nhựt, huyện Tân Trụ, tỉnh Tân An (nay là xã Nhựt Ninh, Tân Trụ, Long An).

Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Đối, thân mẫu là cụ bà Đặng Thị Lợi, ông là người con thứ năm trong số 15 anh em trong gia đình. Đến năm 1938 còn lại được 7 người con, trong số đó hai người anh của ông là Nguyễn Văn Ngàn, Nguyễn Văn Vịnh và hai người em tên Nguyễn Văn Liễu, Nguyễn Văn Phấn về sau đều trở nên Chức sắc Hội Thánh Minh Chơn Lý. Buổi thiếu thời, ông được người anh thứ hai là Nguyễn Văn Ngàn lo cho ăn học. Sau khi đỗ bằng Thành Chung, ông Ca thi đỗ Chủ Quận và được Chánh phủ Nam Kỳ lúc bấy giờ bổ đi làm Chủ Quận nhiều nơi: Thời gian lâu nhứt là làm Chủ Quận tại Tịnh Biên (Châu Đốc). Sau ông được thăng lên chức Đốc Phủ Sứ và được tặng huy chương Ngũ Đẳng Bội Tinh của Chánh phủ Pháp.

Ông lập gia đình với bà Vương Thị Giàu (1880 – 1937), ông bà có bốn người con: Hai con trai là Nguyễn Văn Khuyên (1907 – 1918), Nguyễn Văn Trà (1911 – 1914), mất sớm. Còn lại là hai người con gái tên Nguyễn Thị Anh và Nguyễn Thị Đại (về sau đều tu theo cha).

Ông Nguyễn Văn Ca nhập môn vào đạo Cao Đài vào năm 1926, đến ngày 12 tháng 5 năm 1927, Đức Chí Tôn ân phong cho ông Nguyễn Văn Ca phẩm Phối Sư phái Thái trong một Đàn cơ được chép lại như sau:

“…. Thầy phong cho Ca chức Phối Sư Phái Thái. Cứ lo độ nhơn sanh, sau Thầy sẽ dạy thêm việc Đạo. Ca, con coi kiểu áo mão của Thơ mà mặc nghe”.

Nguyên trong những năm đầu mới khai đạo, các vị Chức sắc Thiên phong được Đức Chí Tôn phong phẩm, lúc ấy Hội Thánh chưa có qui định về cách hành Đạo, mà để tùy hoàn cảnh từng cá nhân, cho nên có nhiều vị Chức sắc khi được thọ phong rồi xin vào làm công quả cho Đạo ngay, lại có nhiều vị vẫn ở tại tư gia, hay nhiều khi vẫn còn đang làm việc tại các cơ quan của nhà nước, chỉ lui tới Tòa Thánh khi có hội họp hay có những việc Đạo cần thiết. Trong số những chức sắc đó có ông Phối Sư Thái Ca Thanh (Nguyễn Văn Ca), từ lâu nay vẫn ở quê nhà hành đạo, tại đây ông cùng với một số bổn đạo lập một cái Thánh Thất đã khánh thành và bầu Ban Cai Quản, gọi là Thánh Thất Định Tường tại làng Mỹ Hưng, xã Mỹ Phong, tỉnh Mỹ Tho để tín đồ nơi đây có chỗ lui tới cúng kính.

Nơi Thánh Thất nầy ông kết hợp với bộ phận cơ bút Minh Thiên Đàn (Bạc Liêu) của Trương Kế An, thường tổ chức Cầu cơ, mặc dầu Hội Thánh Tây Ninh đã nhiều lần nhắc nhở. Do vậy trong lòng ông cảm thấy không phục với việc điều hành của Hội Thánh Tây Ninh.

Ngày 17 tháng 12 năm 1930, ông Thái Ca Thanh lập tờ kiến nghị “Biện phân tà chánh” gởi lên Hội Thánh, đến ngày 1 tháng 12 năm Canh Ngọ (Dl. 19/1/1931) Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài đã họp phiên đầu tiên, do Ngài Thượng Trung Nhựt làm Chánh Tòa xử một số vị chức sắc phạm luật, trong đó có ông Thái Ca Thanh… Án phạt nhẹ nhàng, chủ yếu để người phạm lỗi ăn năn cải hối. Nhưng điều nầy đối với ông là một sự xúc phạm lớn.

Sau đó ông lại kết hợp với bộ phận cầu cơ Cao Thiên Đàn (Rạch Giá).

Trong Đàn cúng Đức Chí Tôn ngày mồng một tết năm Tân Mùi (1931) tại Mỹ Tho, ông dâng lên Ơn Trên một là sớ để tâu trình việc của ông với Tòa Thánh Tây Ninh, mà ông cho rằng bị oan ức.

Trong Đàn cơ đêm 7 rạng 8 tháng 1 năm Tân Mùi (1931), do đồng tử Chơn Tâm (Cao Thiên Đàn – Rạch Giá), Đức Lý Thái Bạch giáng tại Thánh Thất Định Tường cho bài giảng phân “Chánh Tà Yếu Lý” theo thể thơ song thất lục bát. Ông Thái Ca Thanh liền cho xuất bản quyển “Thánh Ngôn Chánh Tà Yếu Lý”.

Trước đây Tòa Thánh Tây Ninh đã nhận được quyển “Tu Chơn Thiệp Quyết” do Thánh Thất Rạch Giá xuất bản, nay vừa mới đầu năm lại nhận thêm quyển “Thánh Ngôn Chánh Tà Yếu Lý” của Thánh Thất Định Tường xuất bản, nên ngày 18 tháng 4 năm 1931, Tòa Thánh bèn ban hành Châu Tri số 15 do Ngài Thượng Trung Nhựt ký, phần cuối Châu Tri có đoạn như sau:

“Ngày nay có nhiều chức sắc Thiên Phong tự tôn tự đại, chấp bút cầu cơ rồi in Thánh Ngôn, Kinh sách, không màng, không do Hội Thánh như quyển Tu Chơn Thiệp Quyết, Thánh Giáo Chơn Truyền, Thánh Ngôn về Chánh Tà Yếu Lý (Thánh Thất Bạc Liêu, Rạch Giá Mỹ Tho) cũng lấy danh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để ngoài bìa, cho Đạo hữu lưỡng phái và nhơn sanh tin tưởng lầm của Đại Đạo Tam Kỳ nảy ra…

Tòa Thánh không nhìn nhận mấy quyển “Tu chơn Thiệp Quyết”, “Thánh Giáo Chơn Truyền” , “Thánh Ngôn” của Thánh Thất Bạc Liêu, Rạch Giá, Mỹ Tho. Ai không tuân sẽ bị tội”.

Kế tiếp Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài Tòa Thánh Tây Ninh họp kỳ nhì vào ngày15 tháng 7 năm Tân Mùi (Dl. 28/8/1931) do Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt là Chánh Tòa. Sau khi xét xử 37 vị chức sắc phạm lỗi, trong đó có ông Phối Sư Thái Ca thanh bị kêu án: Chiếu theo hình phạt thứ 5: Ngưng chức 1 năm, nếu biết ăn năn sám hối thì cho phục chức như cũ.

Sang đến năm 1932, ngày 16 tháng 8 Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài lại nhóm kỳ họp thứ tư để xét xử và kết án những chức sắc phạm lỗi trong đó có ông:

 

- Trần Đạo Quang, Chưởng Pháp: Ngưng quyền 1 năm (hình phạt thứ 5).

- Thái Ca Thanh, Phối Sư: Ngưng quyền 3 năm (hình phạt thứ 4)

Chánh Tòa

Quyền Giáo Tông

THƯỢNG TRUNG NHỰT

Ông Thái Ca Thanh bèn tách rời khỏi Tòa Thánh Tây Ninh, hợp tác với bộ phận Hiệp Thiên Đài ở Cao Thiên Đàn (Rạch Giá) lập cơ bút riêng. Cơ bút nầy phong ông làm Đầu Sư Thái Ca Nhựt, thọ Thiên vị Bửu An Thiên, Chưởng Quản Cửu Trùng Đài, Thiên Sư Nguyễn Hữu Phùng, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Cuối năm 1937, Thiên Sư Phùng cùng với một số vị chức sắc như ông Kiên, ông Phấn tách ra lập “Chơn Lý Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản” và ông Giáo Sư Phái Ngọc Lê Văn Được chấp bút, tiếp điển vô vi. Chính cơ bút nầy mà phái Minh Chơn Lý không còn thờ Thánh Tượng “Thiên Nhãn” nữa, thay vào đó Thánh Tượng “Thiên Nhãn trong Trái Tim” (Tâm hòa Nhãn).

Ông Đầu Sư Thái Ca Nhựt điều hành nền đạo Minh Chơn Lý cho đến ngày 21 tháng 7 năm Bính Thân (Dl. 26/8/1956) thì liễu đạo vào lúc 21 giờ 30 , được an táng nơi đất nhà gần Tòa Thánh Định Tường, Mỹ Tho.

II - CHI PHÁI MINH CHƠN LÝ

Minh Chơn Lý là một Chi phái thứ tư được thành lập do ông Phối Sư Thái Ca Thanh tách rời khỏi Tòa Thánh Tây Ninh về quê nhà hợp tác với Ban Cai Quản Thánh Thất Định Tường tại làng Mỹ Hưng, xã Mỹ Phong, tỉnh Mỹ Tho và liên kết với nhóm Cao Thiên Đàn (Rạch Giá) của Pháp Sư Phan Văn Nhơn, Thiên Sư Nguyễn Hữu Phùng vào đầu năm 1931…hỗ trợ về cơ bút.

Năm 1932, khi Thiên Sư Nguyễn Hữu Phùng chấp nhận tham gia làm Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài thị Hội Thánh Minh Chơn Lý chính thức được hình thành chỉ còn chờ địa điểm để đặt Tòa Thánh. Trước tình thế nầy, Ban Cai quản Thánh Thất Định tường hầu hết là người ủng hộ Thái Ca Thanh mới quyết định hiến Thánh Thất cho Hội Thánh Trung Ương lãnh làm Tòa Thánh.

Như vậy Thánh Thất Định Tường kể từ đây trở thành Tòa Thánh Trung Ương của Hội Thánh Minh Chơn Lý.

Cấu trúc xây dựng Tòa Thánh Trung Ương, (và Tòa Thánh Định Tường sau nầy), theo quyển “Lịch Sử Đạo Cao Đài Quyển II” cho biết như sau:

“Từ cổng chánh vào, trước hết có cột phướn cao 12m (lá phướn 9m treo vào các ngày đại lễ, sóc vọng), tiếp đến là Bát Quái Đài xây tám cạnh vẽ tám quẻ Bát Quái Hậu Thiên, mái tròn, chính giữa trống, theo Hội Thánh Chơn Lý biểu thị “vận khí âm dương của vũ trụ”

Tiếp theo Bát Quái Đài là Hiệp Thiên Đài với hai tháp Lôi Âm Cổ và Bạch Ngọc Chung. Giữa hai tháp là chỗ Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài tiếp điển vô vi. Nối tiếp Hiệp Thiên Đài là Cửu Trùng Đài, nơi hành lễ của 9 phẩm từ dưới lên, gồm: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Chánh Phối Sư, Ngũ Hành Thiên Sư, Tứ Bửu, Đầu Sư và trên hết là Chưởng Quản Cửu Trùng Đài phân hai bên nam nữ, chính giữa là Huỳnh Đạo, con đường thông suốt từ Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài lên đến Châu Thiên Đài. Châu Thiên Đài biểu thị Bạch Ngọc Cung, trên cao thờ biểu tượng “Tâm – Nhãn” (sau đổi là Tâm – Thần).dưới có bốn bài vị thờ các Đấng gồm: Phật Tổ Như Lai, Đạo Tổ Lão Quân, Văn Tuyên Khổng Thánh và Gia Tô Giáo Chủ. Dưới nữa có 15 ngọn đèn gọi là Thập Ngũ Linh Đăng.

Ngoài ra, tại Tòa Thánh còn một số đền thờ khác như: Phổ Đàn Cảnh (thờ Đức Mẹ Diêu Trì), đền Tứ Thánh, đền thờ Cửu cung…

Đến tháng 2 năm 1947, ngôi Tòa Thánh Trung Ương nầy bị chiến tranh hủy hoại hết, mãi cho đến năm 1954, lúc bấy giờ Ông Phối Sư Ca được cơ bút riêng phong làm Đầu Sư Thái Ca Nhựt. Sau đó ông mới về xây dựng trên đất nhà, cách nền cũ khoảng 800m, một ngôi thờ Đức Chí Tôn gọi là Tòa Thánh ĐịnhTường (Địa chỉ hiện nay số 193 Nguyễn Trung Trực, ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang)

 

 

 

 

GIÁO HỮU THÁI ABADIE THANH CUỘC DIỄN THUYẾT VỀ ĐẠO CAO ĐÀI TẠI HÀ NỘI

I - GIÁO HỮU THÁI ABADIE THANH

Ông Abadie gọi đầy đủ là Gabriel Abadie de Lestrac, là một công dân Pháp làm Lục sự tại tòa án Paris. Giữa năm 1931. Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) được nhà cầm quyền Pháp tại Nam Vang cử sang Pháp công tác, nhân dịp nầy, Tòa Thánh giao thêm cho ông Vinh nhiệm vụ truyền Đạo. Chuyến công tác ấy của ông Vinh tại Paris kéo dài 9 tháng, từ 7 tháng 3 đến 5 tháng 12 năm 1931, đạt được thành công lớn. Ông đã tiếp xúc với các quan chức tại Thủ Đô Pháp Quốc như các ông: Albert Sarraut (Tổng Trưởng), Edouard Daladier (Tổng Trưởng, Cựu Thủ Tướng), Henri Guermut (Nghị Sĩ, Tổng Thơ Ký Hội Nhân Quyền), Ernest Outrey (Nghị Sĩ Quốc Hội) cùng nhiều trí thức có uy tín khác. Sau khi trình bày về đạo Cao Đài và tình trạng bị áp bức hiện nay, Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh đã đạt được ít nhiều sự ủng hộ của các viên chức ấy.

Đặc biệt trong chuyến đi Pháp nầy, ông độ dẫn được năm người Pháp nhập môn vào đạo Cao Đài, thọ phong chức sắc vào năm sau, 1932, đó là ông Gabriel Abadie de Lestrac, Lục sự tòa án Paris (sau thọ phong Giáo Hữu), cùng với bốn người khác là:

- Gabriel Gobron, Giáo Sư Trung Học (được ân phong phẩm Tiếp Dẫn Đạo Nhơn).

- Bà Marguerite Gobron (Lễ Sanh).

- Bà Félicien Challage (Giáo Sư).

- Charles Bellan, Cựu Tham Biện Đông Dương (Giáo Hữu).

Ông Gabeiel Abadie de Lestrac thọ phong Giáo Hữu phái Thái (Thánh danh là Thái Abadie Thanh), vài năm sau ông được chuyển công vụ làm Chánh Lục Sự Tòa Án Hà Nội, lúc nầy ông mới tham gia tích cực việc hành Đạo tại Thánh Thất Hà Nội.

Để truyền bá rộng rãi về đạo Cao Đài, vào ngày 16 tháng 5 năm 1937, tại rạp hát Majestic Hà Nội, ông Giáo Hữu Thái Abadie Thanh tổ chức một cuộc diễn thuyết về đạo Cao Đài trước giới trí thức và nhà cầm quyền Pháp tại Hà Nội.

Cuộc diễn thuyết nầy trước đây nhà văn Nguyễn Vỹ, một người không có chân trong đạo Cao Đài, có tham dự và đã ghi chép lại trong một tác phẩm thuộc loại “chứng tích thời đại từ 1900 đến 1979”, có tựa đề là “TUẤN CHÀNG TRAI NƯỚC VIỆT”.

Sau đây chúng tôi xin chép lại nguyên văn một đoạn nói về cuộc diễn thuyết đó như sau:

II - CUỘC DIỄN THUYẾT VỀ CAO ĐÀI CỦA GIÁO HỮU THÁI ABADIE THANH TẠI HÀ NỘI.

Đây là đoạn văn được chép trong quyển “Tuấn Chàng Trai Nước Việt”

“Tuấn có quen với ông Abadie, làm Lục Sự (greffier) tại Tòa Án Hà Nội, một người Pháp theo đạo Cao Đài. Sự quen biết nầy có một một nguyên do không ngờ. Năm 1936, Tuấn có làm chủ nhiệm kiêm chủ bút một tờ Tuần báo Pháp ngữ chuyên về chính trị, xã hội và văn hóa. Trong hai số liên tiếp, Tuấn có viết một bài xã thuyết dài tám cột trang nhứt, công kích chế độ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, và kêu gọi dẹp bỏ Triều đình Huế. Theo thể lệ báo chí Pháp hồi đó được “tự do ngôn luận”, tờ báo không bị kiểm duyệt, không bị đóng cửa, mọi công dân đều được quyền tự do phát biểu ý kiến của mình. Nhưng Tuấn bị Triều đình Huế và phủ Thống sứ Bắc Kỳ truy tố ra Tòa án Pháp tại Hà Nội về tội “xúc phạm đến an ninh quốc gia và chủ quyền người Pháp ở Đông Dương”, chiếu theo đạo luật báo chí Pháp tháng Juillet 1889.

Tuấn không có tiền thuê luật sư, ông Abadie phụ trách về hồ sơ của Tuấn, và có cảm tình riêng với Tuấn, một chàng trai hăng hái vì tuổi trẻ nhưng không có hành động nguy hiểm nên có giới thiệu Tuấn đến Luật sư Lambert, một người bạn của ông ở trước cổng Hội Chợ đường Gambetta, nhưng xem qua bài báo bị truy tố, Luật sư bảo Tuấn: Tôi rất tiếc không thể bênh vực cho anh trước Tòa án. Mặc dầu có sự gởi gắm tử tế của ông Abadie, bới vì… tốt hơn là tôi sửa soạn va li để lên đường về Marseille!

Ý của Luật sư Lambert bảo rằng ông không thể bênh vực một tờ báo có tính cách chống Pháp và có khuynh hướng đòi đuổi Pháp ra khỏi đất Đông Dương. Bênh vực Tuấn thi tốt hơn là ông xách va li về Pháp cho rồi.

Tuấn đem câu chuyện của Luật sư Lambert nói lại cho ông Abadie rõ. Ông nầy có ý muốn cứu Tuấn khỏi tù tội, khẽ bảo Tuấn: Tôi khuyên anh tốt hơn là nên đi vắng Hà Nội trong thời gian có phiên tòa xử anh, Tòa sẽ xử khiếm diện. Nhưng anh sẽ trở về kịp ngày chống án sang Pháp. Tôi sẽ tìm cách tạo ra một vice de forme, để tòa án hủy bỏ bản án của tòa Hà Nội và bắt xử lại. Từ đây đến đó anh sẽ có thì giờ vận động, vì thủ tục Tòa Phá Án còn kéo dài lâu lắm.

Nghe theo lời ông Abadie, Tuấn chuẩn bị đi Sài Gòn một tuần lễ trước ngày có phiên tòa. Nhân tiện ông Abadie viết thư giới thiệu Tuấn với ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Quyền Giáo Tông đạo Cao Đài ở Thánh Thất Tây Ninh. Tuấn không hiểu do trường hợp nào một người Pháp chính cống như ông Lục sự Abadie lại theo đạo Cao Đài? Tuấn không hỏi ông, vì lễ độ. Nhưng cứ thắc mắc về vấn đề đó.

Đạo Cao Đài có gì lạ? Có gì hấp dẫn đến đỗi một người trí thức Pháp đã bỏ đạo Thiên chúa để theo đạo Cao Đài?

(đoạn văn Tuấn lên Tây Ninh vào Tòa Thánh yết kiến Đức Hộ Pháp và tìm hiểu về đạo Cao Đài rồi trở về Hà Nội chúng không chép lại ở đây)

Tuấn về Hà Nội, vội vàng tìm đến ông Lục sư Abadie tại văn phòng của ông ở Tòa án, để biết Tòa xử tội viết báo của Tuấn như thế nào.

Trông thấy Tuấn, ông Abadie vui cười. khẽ bảo: Tòa xử vắng mặt anh: 6 tháng tù và 3000 quan tiền phạt. Bây giờ anh ký giấy chống án qua tòa Phá Án Paris. Tuấn không hiểu gì cả, hỏi ông Lục sự: Tại sao vậy? Tôi có quyền chống sang Paris sao? Đây là một phương pháp để kéo dài vụ nầy chứ sớm muộn gì rồi anh cũng sẽ bị án. Nhưng tòa Phá Án Paris sẽ bác hẳn án của tòa Hà Nội vì khuyết điểm hình thức. Còn lâu lắm tòa Phá Án Paris mới gởi trả hồ sơ về đây. Từ nay tới đó, anh còn rộng thì giờ bay nhảy…

Nói xong ông Abadie đưa cả sổ sách và giấy tờ gì đó, bảo Tuấn ký tên. Tin cậy hoàn toàn nơi ông Abadie, (chỉ vì cảm tình riêng của ông đối với Tuấn), không cần tìm hiểu thêm, Tuấn cầm bút ký đại, và cảm ơn ông Lục sự.

Tuấn trao cho ông bức thư của ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc nhờ Tuấn chuyển lại. Ông tín đồ Cao Đài Pháp vui sướng xem thư của ông “Pape” (đức Giáo Hoàng) danh từ nầy của người Pháp thời bấy giờ tặng cho vị lãnh tụ Cao Đài giáo (Le Pape Caodaiste).

Rồi ông cho Tuấn biết tuần tới ông sẽ diễn thuyết về đạo Cao Đài tại rạp chớp bóng Majestic, đại lộ Đồng Khánh. Ông trao cho Tuấn một thiệp mời, 5 giờ chiều thứ Bảy.

Tuấn có đi dự buổi diễn thuyết, Majestic là một rạp chớp bóng mới mở. lớn nhất và sang nhất ở Hà Nội lúc bấy giờ. Phòng thật rộng có thể chứa được một nghìn khán giả.

Một số dự thính khá đông Tây và Đầm ngồi chật hết các dãy ghế đầu. Chỉ có vài người “Annam” nào đó, thuộc về hạng quan lại, ngồi với họ. còn tất cả “Annamit” trí thức lẫn học sinh, sinh viên, đều ngồi các dãy ghế sau.

Lúc bấy giờ chưa có máy vi âm (microphone), ông Abadie phải nói lớn, ông cố nói thật to nhưng vẫn khó nghe cho những người “Annam” ngồi xa.

Bắt đầu ông Cao Đài Abadie thuyết trình về lịch sử và giáo lý đạo Cao Đài hết nửa tiếng đồng hồ. Xong ông giới thiệu với thính giả một người Pháp, bạn đồng Đạo của ông, tên là De Lagarde, chủ sự nha Bưu Điện Vientiane, Lào, hôm ấy có mặt ở Hà Nội.

Ông Abadie kể chuyện về ông De Lagarde, như sau đây: “Ông De Lagarde trước kia không theo đạo nào hết. Ông là một người “tin tưởng tự do” (un libre penseur) Ông làm chủ sự sở Bưu Điện ở Thủ đô xứ Lào đã mấy năm, và có vợ người Nam kỳ quê ở Cần Thơ. Một hôm chủ nhật, ông đi săn bắn trong rừng sâu bị một bầy voi rừng đuổi, ông liệu bề không bắn được và không dám chống cự, bèn ù té chạy.

Vì kinh hoàng và sớn sác sao đó, ông bị vấp đá, ngã vào một bụi gai cào chảy máu cả mặt mày. Do tai nạn bất thần đó, ông De Lagarde bị thương nặng nơi hai con mắt.

Về Vientiane, mấy vị bác sĩ chữa không khỏi. Ông bị đui luôn. Người vợ Nam kỳ của ông, đưa ông đi các nhà thương lớn ở Hà Nội và Sài Gòn, được các bác sĩ danh tiếng nhất săn sóc, nhưng bịnh không lành.

Ông tốn hết không biết bao nhiêu là tiền bạc, nhưng đành chịu tật mù. Ông lại phải nghỉ việc, chức vị của ông bị người khác thay thế.

Bỗng dưng một hôm nghe lời mấy người bạn đàn bà khuyên bảo, bà vợ Nam kỳ của ông De Lagarde đưa ông đi Tây Ninh đến Tòa Thánh Cao Đài. Người ta đồn rằng nơi đây , nếu bịnh nhân thành tâm cầu cơ , sẽ có Tiên giáng bút về cho thuốc chữa bịnh gì cũng lành.

Trong lúc tuyệt vọng về y khoa Tây phương, ông Tây De Lagarde đành nghe lời người vợ Annam và thành tâm nguyện rằng nếu có vị Tiên hay vị Thánh nào giáng cơ bút chữa khỏi bịnh của ông, ông sẽ theo đạo Cao Đài liền và sẽ hy sinh suốt đời ông cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Buổi cầu cơ được tổ chức tại Tòa Thánh Tây Ninh một đêm rằm, vợ chồng ông De Lagarde đều thành tâm cầu nguyện và chính ông cũng theo đúng các nghi lễ cúng dường các Phật Thánh Tiên của Cao Đài giáo. Ông phải ăn chay, giữ gìn thân thể và tâm hồn trong sạch suốt ba ngày đêm trước buổi cầu cơ.

Thế rồi trong không khí trang nghiêm tịch mịch của đêm khuya trước điện Huyền Linh, ông De Lagarde ngồi vào đàn cơ, chờ vị Tiên giáng bút. Quả nhiên một vị Tiên ông nào đó, không nói tên tuổi, nhưng giáng bút cho ông bài thơ bằng tiếng Việt trong đó chỉ bảo ông lấy một ít tro nhang hòa vào ly nước lạnh đang cúng trên Điện thờ mà xoa vào đôi mắt mù. Xoa như thế thường xuyên ba ngày đêm, sẽ thấy ánh sáng.

Ông Tây De Lagarde làm đúng như lời Tiên dặn. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba. Sáng ngày thứ ba bà vợ Nam kỳ xoa cho ông giọt nước mầu nhiệm cuối cùng còn ở đáy ly…Bỗng tự nhiên cặp mắt của ông Tây dần dần hé mở…lim dim như người mới ngủ dậy…rồi mở hẳn.

Ông De Lagarde mừng quýnh, đang nằm trên giường liền ngồi vùng dậy reo cười lớn lên: Tôi đã tìm được nhãn quan của tôi rồi! Tôi đã thấy lại được rồi!

Và thật thế, ông De Lagarde đã hết đui. Và ông đã trở thành một tín đồ Cao Đài nhiệt thành nhất trong đám một triệu tín đồ của tôn giáo mới.

Ông Abadie nói xong đến đây rồi nói tiếp: Thưa quý bà, quý ông, tôi xin mời ông De Lagarde lên đây để xác nhận câu chuyện tôi vừa kể.

Ông mỉm cười đưa bàn tay ngoắc một người trong đám cử tọa Pháp. Người nầy vui vẻ và hãnh diện, từ giã ghế ngồi tiến lên diễn đàn. Cả phòng đều im lặng, đăm đăm nhìn ông De Lagarde, không cao lắm, mảnh khảnh, đôi mắt sáng, nhã nhặn chào khán giả với một nụ cười:

Thưa quý bà, quý ông, tôi là De Lagarde, chủ sự nha Bưu Điện Vientiane, tôi xin xác nhận câu chuyện của bạn tôi, ông Abadie, vừa nói là hoàn toàn đúng sự thật…

Cả phòng vỗ tay hoan hô ông, Ông nói tiếp: Vã lại trong cử tọa sang trọng nầy, có nhiều bạn thân của tôi, nhất là trong ngành Bưu điện Đông Dương, đã biết tai nạn xảy ra cho tôi trước đây 3 năm, và đã làm cho tôi phải nghỉ việc vì đôi mắt bị mù hoàn toàn. Bây giờ tôi được trở lại làm việc trong ngành Bưu điện vì cặp mắt tôi hết mù nhờ ơn của vị Tiên Cao Đài đã cứu chữa bằng một ít tro nhang hòa với nước Thánh.

Tiếng vỗ tay lại nổi dậy vang cả phòng Majestic và cuộc diễn thuyết chấm dứt. Tây Đầm bu lại hỏi han ông De Lagarde, nhất là các mụ Đầm có vẻ tin tưởng hơn ai hết thảy.

Sau đó, Tuấn thường gặp ông De Lagarde tại Thánh Thất Cao Đài Hà Nội, một căn nhà ngói ở đường phố khu Chợ Hôm (gần Route de Huế). Ông Abadie cũng thường đến đây hành lễ. Chỉ hai ông đó là tín đồ Pháp của đạo Cao Đài mới bành trướng ở thủ đô Bắc Kỳ không lâu.

Về trường hợp De Lagarde, Tuấn cho rằng nó là một hiện tượng đặc biết, hy hữu. Cũng như chính Tuấn đã chứng kiến những cuộc cầu cơ nghiêm trang trong đó một vị Tiên Ông tự xưng danh là Hư Không, hay Huyền Mặc Đạo Nhân giáng cơ bút làm những bài thơ Đường luật rất hay và ý nghĩa thâm trầm thanh thoát. Những chuyện Tiên, Thánh, Phật, thỉnh thoảng xuất hiện trong cơ bút, báo trước một biến cố thời sự quan trọng, hoặc cho thuốc chữa bịnh, đều không phải là hoàn toàn bịa đặt. Nhưng trí óc phàm tục của chúng ta không thể nào giảng giải được.

 

 

 

 

TRẦN QUANG VINH
CUỘC TRUYỀN BÁ ĐẠO Ở PHÁP QUỐC

I - TIỂU SỬ TRẦN QUANG VINH

Trần Quang Vinh, Đạo hiệu Hiển Trung, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1897 tại Long Xuyên. Sau khi tốt nghiệp trường Collège Chasseloup-Laubat, Sài Gòn, ông ra làm Thông phán ngạch Chính phủ Pháp bảo hộ tại Nam Vang (Campuchia). Ông nhập môn vào đạo Cao Đài qua đàn cơ tại Nam Vang (Cao Miên) do Hộ pháp Phạm Công Tắc và Tiếp đạo Cao Đức Trọng phò loan vào tháng 6 năm 1927.

Chỉ một tháng sau, ngày 27 tháng 7 năm 1927, ông được ân phong phẩm Lễ sanh, và sau đó Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm chấm ông vào phái Thượng (Thánh danh Thượng Vinh Thanh) và ban cho Đạo hiệu là Hiển Trung. Ngày 2 tháng 4 năm 1930 ông được thăng phẩm Giáo hữu, giữ trách nhiệm Quản lý Nội viện, một trong Cửu viện (tức 9 cơ quan hành đạo Trung ương của đạo Cao Đài).

Năm 1931, ông được phái sang công cán tại Pháp quốc nhân dịp Đấu xảo quốc tế tại Vincennes (Paris). Thừa dịp này, ông truyền bá đạo Cao Đài và phổ độ được tất cả 15 người Pháp, trong đó có năm người được phong vào hàng chức sắc Cao Đài năm 1932.

Ngoài ra ông còn vận động các thân hào nhân sĩ người Pháp để chính quốc chính quốc Pháp công nhân đạo Cao Đài. Nhờ thành tích này, sau khi từ Pháp trở về, ông được Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh thăng phẩm Giáo sư ngày 21 năm 3 tháng 1932, trách nhiệm Phó chủ trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo. Năm 1937, ông được thăng lãnh trách nhiệm Chủ trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo tại Kim Biên, một cơ quan nhằm mục đích truyền bá đạo Cao Đài cho người Campuchia và người ngoại quốc khác.

Ông Trần Quang Vinh còn là người sáng lập và là Đệ nhứt Tổng Tư lệnh quân đội Cao Đài năm 1943, ông tham gia cùng với quân đội Nhật thực hiện cuộc đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945.

Ngày 15 tháng 2 năm 1948, ông được thăng phẩm Phối sư, đặc trách việc giao thiệp đối ngoại. Ông lần lượt được Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ban một trong nhiều chức vụ cao cấp như:

- Ngày 12 tháng 2 năm 1952, Phối sư Cố vấn Hành Chánh Đạo kiêm Thượng Thống Hộ Viện.

- Ngày 12 tháng 3 năm 1952, Cố vấn cho Chỉ huy Cơ Thánh Vệ.

- Ngày 25 tháng 4 năm 1952, Trưởng ban Kinh tế.

- Ngày 28 tháng 6 năm 1952, Nghị trưởng Hội đồng Tối cao.

- Ngày 25 tháng 1 năm 1953, Tổng giám đốc Ban Kinh tế Trung ương Tòa Thánh Tây Ngài

Đến năm 1975, Phối Sư Thượng Vinh Thanh bị bắt vào ngày 05 tháng 12 và mất ngày 25/01/1977 (nhầm ngày mùng 7 tháng Chạp năm Bính thìn) tại bệnh viện Công an nhân dân trong thời gian ở tù sau ngày 30/4 lịch sử (theo giấy báo tử của Chính quyền CM thông báo).

II - CUỘC TRUYỀN BÁ ĐẠO TẠI PHÁP QUỐC,

Nhơn dịp có cuộc Đấu xảo Quốc tế Thuộc địa tại Vincennes – Paris vào năm 1931, Chánh phủ Bảo hộ Miên quốc phái ông Trần Quang Vinh, lúc ấy là một công chức (Thông Phán hạng nhì) đi dự cuộc lễ.

Tháng chạp năm 1930, Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung và Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc có đến viếng Thánh Thất Kim Biên và tìm gặp Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh. Hai vị Đại Thiên phong biết ông Trần Quang Vinh sắp đi công cán bên Pháp nên dạy phải nương cơ hội nầy mà truyền giáo và tìm phương xã giao với các chánh khách Pháp triều, sở cậy họ binh vực quyền tự do tín ngưỡng của Đạo Cao Đài ở Đông Dương, đương bị chánh quyền thuộc địa và bảo hộ áp chế.

Ít hôm sau, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp mời Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh đến Thánh Thất một lần nữa mà lần nầy hai vị Đại Thiên Phong dạy đủ mọi việc khi đến Pháp phải lo, về mặt truyền giáo cũng như việc kêu cầu với chánh phủ Pháp ra lịnh chấm dứt sự áp chế Đạo Cao Đài ở Đông Dương.

Ông Trần Quang Vinh sang Pháp trên chuyến tàu Chenonceau, tách bến Sài Gòn ngày 10 tháng 2 năm 1931, tới Marseille ngày 5 tháng 3 năm 1931, tới Paris, ngày 7 Tháng 3 năm 1931.

Theo tập Hồi Ký của Phối Sư Trần Quang Vinh, Thời gian ở Paris từ 7 tháng 3 năm 1931 tới 5 tháng 12 năm 1931, trọn 9 tháng. Ngoài phận sự lo cho cuộc Đấu xảo Vincenne – Paris, ông Vinh có thừa ngày giờ lo Đạo, hằng tiếp xúc với nhiều nhân vật, nào là Nghị sĩ, Luật sư, Giáo sư, Sĩ quan, Ký giả, đại khái là Hội Nhân Quyền (Ligue đes Droits de l’ Homme) mà Tổng Thơ Ký là ông Emille KAHN, kế tiếp là ông Henri GUERNUT, ông nầy là Nghị sĩ danh tiếng ở Quốc Hội Pháp. Mọi việc hoạt động trọn 9 tháng ở Pháp không thể kể xiết, những tài liệu sanh hoạt lần lượt gởi về Tòa Thánh cho Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt.

Công việc truyền giáo và vận động cho Đạo Cao Đài được tự do tín ngưỡng ở Đông Dương, ông Vinh thuyết phục và gầy dựng được một số nhơn vật và chánh khách Pháp có thiện chí đối với Đạo Cao Đài, trong số ấy có 5 vị kể tên sau đây được thọ phong Chức sắc vào năm 1932:

1 - Tiếp Dẫn Đạo Nhơn: Gabriel Gobron, Giáo sư Trung học.

2 - Nữ Giáo Sư: Bà Félicien Challaye, bạn của ông Giáo sư Đại học Sorbonne.

3 - Giáo Hữu: Charles Bellan, cựu Tham biện ở Đông Dương.

4 - Giáo Hữu: Gabriel Abadie de Lestrac, Lục sự Tòa án Paris

5 - Nữ Lễ Sanh: Bà Marguerite Gobron, sau thăng Giáo Hữu (bạn ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron)

Ngoài ra còn có các vị ân nhân can thiệp cho sự tự do tín ngưỡng tại Đông Dương, đáng kể nhứt là:

1. Ông Albert Sarraut, Tổng Trưởng

2. Ông Alexis Métois, Trung Tá Quân đội Pháp.

3. Ông Edouard Daladier, Tổng Trưởng và Cựu Thủ Tướng.

4. Ông Henri Guemut, Nghị sĩ Quốc Hội, Cựu Tổng Trưởng. Tổng Thơ Ký Hội Nhân Quyền.

5. Ông Emile Kahn, Tổng Thơ Ký Hội Nhân Quyền.

6. Ông Emest Outrey, Nghị sĩ Quốc Hội Pháp tại Nam Kỳ

7. Ông Eugène Tozza, Luật sư Tòa Thượng Thẩm Paris

8. Ông Félicien Challaye, Giáo Sư Đại học Sorbonne.

9. Ông Marius Moutet, Nghị sĩ Quốc Hộĩ Pháp và Tổng Trưởng

10. Cô Marthe Williams, Nghị viên Hội Nhơn Quyền.

11. Ông Paul Ramađier, Nghị sĩ Quốc Hội Pháp.

12. Ông Marc Rucard, Nghị sĩ Quốc Hội Pháp.

13. Ông Jean Piot, Nghị sĩ Quốc Hội Pháp.

14. Ông Jean-Michel Renaitour, Nghị sĩ Quốc Hội Pháp.

15. Ông Voirin, Nhân sĩ.

16. Ông André Philip, Nhân sĩ.

17. Ông Jean Laffray, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút báo La Griffe Ngoài ra tại Đông Dương còn bao nhiêu nhân vật binh vực Đạo Cao Đài như hai vị Trạng sư :

Lortat Jacob, Trạng sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn, đặt văn phòng tại Nam Vang.

Roger Lascaux, Trạng sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn, đặt văn phòng tại Nam Vang.

Và 3 quan Khâm Sứ tại Miên Quốc là : ông Richomme, ông Sylvestre và ông Thibaudeau, mặc dầu là quan bảo hộ của Pháp triều, nhưng 3 ông nầy để yên cho Đạo Cao Đài mà lắm lúc còn binh vực là khác.

Theo quyển Hồi ký của ông Trần Quang Vinh, là người trong cuộc, xin nhấn mạnh rằng: 2 ông Lascaux và Lortat-Jacoi), mặc dầu nghề nghiệp là Trạng sư, song với một tâm hồn cao thượng, hai ông hằng nói rằng lấy lương tâm và tình thương nhơn loại mà bào chữa cho sự bất công, nên không bao giờ nhận một thù lao nào của Đạo. Tác giả xin lấy hết danh dự và lương tâm mà chứng nhận sự nầy.

Còn về phần báo chí thì có các báo sau đây liên tiếp bào chữa và tường thuật tất cả mọi sự áp chế Đạo Cao Đài.

La Libre Opinion – Paris.

Cahier de la Ligue des Droits de r Homme – Paris.

La Griffe – Paris.

Le Progrès Civique – Paris.

Le Fratemiste – Lille (Nord)

Le Ré veil Ouvrier – Nancy.

Le Semeur – Falaise (Calvados)

L’ Aurore Malgache – Tanamarive.

Germinal – Croix (Nord)

La Tribune Indochinoise – Saigon.

Với sự ủng hộ và binh vực nhiệt thành của bao nhiêu nhơn vật, chánh khách và báo chí, Đạo Cao Đài hưởng được chế độ khoan hồng của chánh phủ Pháp do cuộc đồng thanh quyết nghị của Quốc Hội Pháp vào khoảng tháng 2 năm 1932 và tiếp theo là sự tự do tín ngưỡng ban bố cho Đạo Cao Đài trên toàn cõi Đông Dương. Đó là kết quả của thời gian tranh đấu, kiên nhẫn và chịu khổ của toàn Đạo, ít ra cũng nhiều năm liên tục.

Cuối mùa Đông năm Tân Mùi (1931), ông Trần Quang Vinh đã mãn hạn công tác tại Pháp quốc và trở về Việt Nam. Bận về cũng trùng với chiếc tàu Chenonceau nữa. Tàu tách bến Marseille ngày 5–12–1931, cặp bến Nhà Rồng Sài Gòn ngày thứ tư 30–12–1931, lúc 7 giờ sáng.

Tại bến tàu, đã có sẵn gia đình và bà con thân quyến ở Long Xuyên là quê nhà lên rước đông đảo. Ngoải ra còn có phái đoàn trong Đạo gồm quý Ngài Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Ông Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh, Ông Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu, Giáo Sư Thượng Tuy Thanh (Từ Huệ), Giáo Hữu Thái Gấm Thanh (Tử Hóa), Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển, (Bí thơ của Đức Hộ Pháp).

 

 

 

 

NGUYỄN NGỌC THƠ VÀ ĐÀN CƠ TÂN ĐỊNH

I - TIỂU SỬ ÔNG NGUYỄN NGỌC THƠ

Ông Nguyễn Ngọc Thơ tên thật là Nguyễn Văn Tơ, sinh năm 1873 tại quận Bãi Xàu, tỉnh Sóc Trăng, thân sinh là cụ ông Nguyễn Hưng Học, gốc ở Huế, cháu kêu Trung Quân Nguyễn Văn Thiền bằng chú, là gốc trung hưng công thần, dòng trâm anh thế phiệt, thân mẫu là cụ Bà Trần Thị Thảo.

Thưở thiếu thời, ông Thơ học Nho, sau theo Tây học, ông là người con rất có hiếu hạnh, sùng tín Phật giáo. Sau khi thôi học ông có làm thơ ký tại phòng phiên dịch được một thời gian, sau nghỉ việc ở nhà, noi theo nghiệp cha, làm thầy hốt thuốc Bắc, đồng thời thỉnh thoảng ông cũng có phiên dịch cho nhựt báo tỉnh.

Sau đó, ông lên Sài Gòn sống ở vùng Cầu Kiệu (Tân Định), trước mua bán nhỏ lẽ, sau mở mang rộng lớn, trở nên giàu có lớn. Ông tạo được một sở Đại thương Cuộc ở Tân Định, Sài Gòn.

Nhà cầm quyền Pháp đương thời thấy ông có uy tín với nhân dân, nên cử làm Hội Đồng Thẩm Án tại Tam Tòa Sài Gòn. Nhờ vậy ông được nhà nước thưởng tất cả bảy huân chương với hai tấm Kim khánh, Kim tiền.

Về sau ông được ban cho phẩm Tri Huyện hàm, nên người đương thời thường gọi là Huyện Thơ.

Chánh thất của ông Nguyễn Ngọc Thơ là bà Mai Thị Thình (có sách cho là Bùi Thị Đông), một người phụ nữ hiền thục đảm đang, giúp ông gầy dựng sự nghiệp lớn lao ở Tân Định. Hai ông bà có người con gái tên là Nguyễn Thị Hương cũng nhập môn vào đạo Cao Đài, đắc phong phẩm Giáo Hữu trong Đàn cơ phong Thánh Nữ phái kỳ I.

Sau nầy, ông Nguyễn Ngọc Thơ có chấp nối với Bà Lâm Ngọc Thanh, sinh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Trung Tín, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Cha mất sớm, Bà sống với mẹ là bà Trần Thị Sanh.

Bà Lâm Ngọc Thanh trước là vợ của ông Huyện Huỳnh Ngọc Xây, nên bà thường được người đời gọi là Bà Huyện Xây, là một nghiệp chủ giàu có lớn tại Vũng Liêm. Bà ở với Huyện Xây chỉ có một người con gái tên là Huỳnh Thị Hồ, sinh năm 1898, tên thường gọi là Nguyệt.

Sau vào khoảng năm 1919, bà gá nghĩa với ông Nguyễn Ngọc Thơ, hai ông bà quy y theo đạo Phật, thọ giáo với Hoà Thượng Như Nhãn, lúc đó còn trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn.

Thời gian sau, vì trong người có bịnh, Bà Lâm Ngọc Thanh thường về Vũng Liêm an dưỡng và đăng Tiên vào ngày 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (Dl. 16/5/1937) tại quê nhà, đến ngày 24 tháng 4 năm Đinh Sửu (tức 17 ngày sau), Bà được Đức Chí Tôn ân tứ lên phẩm Đầu Sư và được tạc tượng trên Lôi Âm Cổ Đài nơi Đền Thánh.

Còn những năm cuối của ông Nguyễn Ngọc Thơ cũng hay đau bịnh, nên ông trở về Bạch Vân Am do ông lập tại Phú Lâm để dưỡng bịnh cho đến năm 1950 ông trở về nhà riêng ở Tân Định Sài Gòn để dưỡng bịnh, ông bị một bọn cướp giả trang làm người thân đến thăm, lọt được vào nhà, chúng ám hại ông để cướp tiền và vàng bạc. ông đăng Tiên vào ngày 21 tháng 7 năm Canh Dần (Dl. 3/9/1950) hưởng thọ 77 tuổi.

Hai ông bà Đầu Sư Thái Thơ Thanh và Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh lúc Sơ khai đã đóng góp rất nhiều của và công cán để xây dựng cho nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nhờ vậy mà chúng ta hôm nay mới có một ngôi Đền Thánh hùng vĩ và khu Thánh Địa rộng lớn, trù phú nhứt ở miền Nam Việt Nam.

Điều nầy chính trong Huấn từ Đức Thượng Sanh trong Đại Hội Ban Đạo Sử tại Nhà Hội Vạn Linh Tòa-Thánh Tây-Ninh ngày 26 tháng 10 năm năm Mậu Thân (Dl. 15/12/1968) có đoạn ca tụng công nghiệp của hai ông bà như sau: “Thành lập nền Đại-Đạo, Đức Chí-Tôn sở cậy những môn đệ đầu tiên gồm có Chức-Sắc thượng cấp Hiệp-Thiên Đài và Cửu-Trùng-Đài. Bên Hiệp-Thiên-Đài thì có Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và chư vị Thời Quân. Những vị nầy cam kết với Ngọc Hư Cung tình nguyện hạ trần làm tướng soái cho Đức Chí Tôn lập Đạo, nhưng hầu hết là công chức nên chỉ có đồng lương vừa đủ sống.

Nếu không có hai vị Mạnh Thường Quân của Đạo là Ngài Thái Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh (Nguyễn Ngọc Thơ) và Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh (Lâm Ngọc Thanh) xuất tiền chịu tốn kém trong mọi việc, ngoài ra còn cung cấp xe hơi làm phương tiện cho Chức-Sắc Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài đi khắp mấy chục tỉnh trong Nam Phần Việt Nam để lập đàn cơ thâu phục nhơn sanh lập Đạo thì việc Xây Bàn của Chức Sắc Hiệp Thiên Đài lúc ban sơ chỉ để làm thú vui tiêu khiển, chớ không thể nào nền Đại Đạo xuất đầu lộ diện được”.

II - ĐÀN CƠ TÂN ĐỊNH.

Đàn cơ Tân Định được lập tại nhà của ông Nguyễn Ngọc Thơ tức sau nầy là Đầu Sư Thái Thơ Thanh ở số 439 Paul Blanchy, góc Paul Blanchy và Champagne (nay là Hai Bà Trưng và Lý Chính Thắng). Nhị vị Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc thường xuyên Phò loan tại đây.

Đàn cơ nầy được lập ra kể từ khi Đức Chí Tôn dạy Ngài Phạm Tấn Đãi hiệp cùng Ngài Lê Văn Trung đến đây độ hai ông bà Nguyễn Ngọc Thơ và Lâm Ngọc Thanh. Nguyên vào đầu năm Bính Dần, ông Phạm Tấn Đãi chấp bút để học Đạo, thì được lịnh Đức Chí Tôn dạy: “Con hiệp cùng Trung để đi độ Thơ”.

Ông Đãi vâng lịnh Đức Chí-Tôn, từ Cần Giuộc đi lên Sài-Gòn, tìm đến nhà ông Cao Quỳnh Cư để hỏi thăm ông Lê Văn Trung thì Bà Cư đáp: “Ông Trung có ra đây, vừa mới đi lên nhà ông Nguyễn Ngọc Thơ”. Ông Đãi hỏi thăm địa chỉ, liền đi lên Tân Định tìm được nhà ông Thơ thì gặp ông Lê Văn Trung tại đó.

Ông Đãi trình bày về Thánh Giáo của Đức Chí-Tôn, thì ông Thơ nói: “Tôi muốn làm sao hai ông cầu nguyện thế nào cho tôi chấp bút được thì tôi mới tin.”

Ông Trung nhận lời và bảo ông Thơ phải ăn chay 3 ngày, đồng thời ông Trung và Đãi cũng ở đó hiệp nhau cầu nguyện.

Ông Thơ chấp bút thông công được với các Đấng, nên ông bằng lòng theo Đạo. Ông Thơ nói; Xin làm thế nào để độ luôn vợ của ông là Bà Lâm Ngọc Thanh đang ở Vũng Liêm theo Đạo luôn cho thuận một đường. Ông Trung cầu nguyện, Ơn Trên cho biết hiện giờ Bà Thanh đang làm việc gì ở Vũng Liêm, từng chi tiết, ông Thơ ghi chép rồi đánh điện kêu Bà lên Sài-Gòn.

Khi Bà lên tới thì ông Thơ hỏi Bà các việc Bà làm trong ngày hôm qua, thì Bà nói đúng như Ơn Trên đã cho biết. Thế là hai ông bà Thơ và Thanh đều tin tưởng và cả hau đều theo Đạo. Ngày ông Nguyễn Ngọc Thơ và bà Lâm Ngọc Thanh nhập môn theo Đạo Cao-Đài là ngày Thứ Năm, 6 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 15/7/1926).

Đặc biệt nơi Đàn cơ Tân Định nầy vào ngày 14 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 23/7/1926), Đức Chí Tôn giáng cơ làm phép Hôn Phối cho hai ông bà và cho 4 câu thi trong Phép Hôn Phối. Ngài dạy như sau: “Con với vợ con quì ngay giữa, nắm tay nhau:

Thiên ân thử nhựt tứ thành hôn,

Mãn thế bất ly thể dữ hồn.

Đạo đức nhứt tâm tu đáo cáo,

Chủ trung thị Ngã Chí Thiên Tôn.”

Nơi Đàn cơ nầy vào ngày 26 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 4/8/1926), hồi 12 giờ 30 trưa, hai Ngài Lê Văn Trung và Nguyễn Ngọc Thơ cầu nguyện, Ngài Phạm Tấn Đãi chấp bút được Thầy ban cho bài Thánh-Ngôn, trong đó Thầy dạy Ngài Nguyễn Ngọc Thơ chấp bút như sau:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

Hỷ hai con, Trung và Thơ.

Con Trung, lần nầy là mấy lần rồi con, Thiên phục chẳng xấu mà con, Thầy thứ cho đó.

Con Thơ, sau nầy Thầy sẽ trọng dụng con. con là ngọn đèn thứ nhì của Thầy để đốt cho thiên hạ chúng sanh thấy đường mà đi. Ngày giờ gần hết, con phải ráng trai giới cho khá đặng luyện đạo cho dễ. Con phải nghe Thánh-Ngôn dạy cách trai giới.

Phải đó Thơ, con cũng ráng theo Trung mà truyền mối Đạo. Từ đây, Thầy đặng gặp hai ngọn đèn sáng láng vô cùng.

Thơ, con tụng Kinh Ngọc Hoàng thường ngày động đến tòa sen của Thầy à con!

Con lâu lâu tụng đặng cho nhớ và hiểu nghĩa, chớ chẳng phải tụng kinh mà thành Tiên Phật đặng đó.

Con phải luyện Đạo mới thành đặng chớ.… …

Thơ, con ráng tập chấp bút. Thầy chỉ vẽ cho. Thơ nghe: Khi con ngồi tập thì Thần con cho tỉnh, chẳng nhớ chi hết. Khi Thầy giáng thì làm cho con khó chịu một chút, rồi Thầy dạy con viết, mường tượng như con đặt ra vậy, mà không phải con đặt đâu. Thầy đưa Thần con theo Thầy lên không, đặng Thầy dạy nó viết chữ chi thì nó cứ viết theo, chớ nó không biết gì hết. Khi ấy con có hơi khó chịu, như điển dính tay con vậy. Ấy là Thầy giáng, song con đừng có lòng sợ thì Thầy mới dễ giáng.

Đãi! Con lấy 9 cây nhang đặng Thầy làm phép trấn Thần cho nó.

Ngày 6 tháng 7 năm Bính Dần, tại Đàn cơ Tân Định nầy Đức Chí Tôn kêu Ngài Thái Thơ Thanh may Thiên phục, và giao cho bà Hương Thanh lo năm bộ áo mão cho Lịch, Trung, Tương, Trang, Thơ. Đồng thời Thầy vẽ hình dáng của mão và cách may Thiên phục. Bài Thánh giáo như sau:

“Thơ, vô quỳ nghe Thầy dạy may Thiên phục: Khăn áo màu vàng, mà cho thiệt tốt. Khăn 9 lớp, áo gài 3 dải. Con Lâm Thị Ái Nữ lo cho Thầy 5 cái áo mão cho: Lịch, Trung, Tương, Trang, Thơ, Mão ấy Thầy sẽ vẽ. Còn áo Thơ thì Ái Nữ thêu Con Mắt ở giữa, chung quanh có 6 chữ, chữ cổ tự, để Đại Đạo Tam kỳ Phổ Độ ngay trước ngực và sau lưng. Chạy 2 vòng vô vi bao chung quanh”.

Chẳng bao lâu, vào cuối tháng Âm lịch năm Bính Dần, Đàn cơ Tân Định có tiếng là linh hiển khắp vùng Sai Gòn, Chợ lớn, lời đồn nầy thấu đến tai Ông Lê Thiện Phước, chủ nhà máy xay gạo lớn ở Đa kao. Ông Phước mới tìm đến xem thử cho biết.

Ông Lê Thiện Phước biên tên họ mình để lên bàn thờ rồi chờ Ơn Trên giáng cơ định phận. Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho ông một bài thi như sau:

Cang nhu tình thế lắm đua tranh,

Danh lợi là bia kẻ giựt giành.

Mượn thú điền viên vui tuế nguyệt,

Phồn hoa âu cũng bỏ cho đành.

Đức Chí Tôn dạy ông Lê Thiện Phước ăn chay 10 ngày mỗi tháng và thượng Thánh tượng thờ Thầy lo tu hành.

Tuân lịnh dạy, ông Phước mời Ngài Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc đến nhà chứng thị cho ông nhập môn vào Đạo. Lập đàn xong, Đức Chí Tôn giáng dạy:

Vạn thế vô tri tiếp sắc Thiên,

Khả quang chi hậu kiến nhi tiền.

Hậu lai hữu phúc Tam Kỳ hội,

Chỉ tín tâm thành đắc vị Tiên.

Thâu làm môn đệ chót như Cư, Tắc, Sang.

Tuy Nguyễn Ngọc thơ không phải là Chức Sác phò loan, Nhưng ông được Đức Chí Tôn khuyến khích cho cầu cơ trong Đàn cơ Tân Định nầy. Thầy dạy: Thơ, như con không chê việc phò cơ thì Thầy cho chấp cơ với Hậu tại Đàn cơ nhà con. Còn bạn phò loan với Hậu còn lâu gặp. Thầy đã cho phép nó kiếm tập rồi.

Ngài Thái Thơ Thanh sau đó vì có nhiều Đạo sự nên không thường xuyên phò loan.

Khi Hòa Thượng Như Nhãn hiến Chùa Gò Kén cho Hội Thánh làm lễ Khai Đạo, tại đàn cơ Tân Định nầy vào một buổi tối, ông Thái Thơ Thanh dâng họa đồ chỉnh trang chùa Gò Kén làm Thánh Thất, Thầy giáng cơ dạy:

“Con làm hai dãy nhà vậy đặng, còn cái giếng con đào ngay chỗ con định đó. Hình Phật Tổ để vậy phải. Còn như con muốn Thầy đẹp lòng thì trồng bông cho nhiều chung quanh Thánh Thất.

Bảy cái ngai con trả hẹp giá, cho nó thêm chút ít, nhưng mà họa đồ trật con nghe. Phải có đủ Tứ Linh mỗi cái hết chớ, rồng thì để cho Giáo Tông dựa tay, phụng thì Chưởng Pháp, lân thì Đầu Sư. Thêm Tứ Linh nơi chỗ dựa lưng, như của Giáo Tông thì sau lưng: phụng, lân, qui, chừa long ra vì đã có nơi tay dựa, mấy cái kia cũng vậy.

Lâm Thị Ái Nữ, ráng lo chung với chồng con.”

Sau đó Thầy dặn thêm: “Thầy dặn con phải tiết kiệm nghe, sang năm sẽ liệu. Để tư bổn lo làm điều hữu ích khác. Chừng nào cả nước Nam hiểu Đạo thì Thánh Thất có phải vậy thôi đâu con.”

Ngôi nhà của ông Thái Thơ Thanh dùng để lập Đàn cơ Tân Định trước đây rất rộng rãi, với nhiều phòng ốc, giữa sân có hòn non bộ lớn để án hướng đường Paul Bert (nay là Trần Quang Khải). Bà Nguyễn Thị Hương, người con gái lớn của ông Thơ cho biết trước đây vào khoảng năm 1930, ông đã thế chấp lấy 8000 đồng, thêm vào 3000 đồng nữa để mua 100 mẫu đất của ông Franchini (người đảo Corse, chủ nhà hàng Continental ở Saigon), vùng Mít Một (Mimot), Tây Ninh, dự định khai thác 100 mẫu rừng hoang để xây dựng khu Thái Cực Toàn Đồ. Khu đất nầy Ông Đầu sư Thái Thơ Thanh và bà Nữ chánh Phối sư Hương Thanh có trình bày trong Sớ Văn dâng lên Hội Thánh và tâu trình với Đức Chí Tôn. Ông lập Thái Cực toàn đồ với ý tưởng là quy tụ các tăng ni Phật giáo quy hiệp về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Hiện nay ngôi nhà dùng làm Đàn cơ Tân Định không còn như cấu trúc cũ nữa, mà đã phân chia thành nhiều hộ riêng, nằm trên đường Hai Bà Trưng Quận I Sài Gòn.

 

 

 

 

YẾT MA NGUYỄN VĂN LUẬT VÀ ĐÀN CƠ HỘI PHƯỚC TỰ

I - TIỂU SỬ YẾT MA NGUYỄN VĂN LUẬT

Nguyễn Văn Luật sinh năm 1869, người gốc Phước Hậu, Cần Giuộc Long An, trụ trì ngôi chùa Hội Phước Tự tại Long Trạch, Cần Đước. Trước đây ông đã thọ giới với vị Hòa Thượng Kim ở chùa Long Huê, Gò Vấp, được ban cho đạo hiệu là Thích Chơn Truyền thuộc tông Lâm Tế đời thứ 39 và thọ phẩm Yết Ma.

Trong những năm đầu trước khi Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Thượng Đế dùng cơ bút làm trung gian để thâu nhận các đệ tử và truyền bá giáo lý, giáo luật và đạo pháp xuống thế gian. Qua cơ bút Thượng Đế đã thu phục được các Đấng khai sáng ra nền Đạo, trong đó Đức Ngài chọn các vị chức sắc đại Thiên phong Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và chư vị Thời Quân để làm đồng tử truyền giáo.

Cơ bút được loan truyền nhanh chóng trong giới quan lại, trí thức và tu sĩ khiến cho dư luận lúc bấy giờ khá xôn xao. Nhiều người không tin tưởng đã tìm đến xin thử thách cơ bút, sau khi tìm hiểu và chứng kiến được sự huyền diệu của cơ bút, khiến cho họ phải tin phục hoàn toàn.

Ngày kia tiếng đồn cơ bút tại nhà của ông Cao Quỳnh Cư có các vị Tiên Phật và Đức Thượng Đế giáng rất huyền diệu đã thấu đến tai ông Yết Ma Nguyễn Văn Luật. Khi nghe được tin nầy, Ông nghĩ rằng đây là những người trí thức bày ra chứ cơ bút nào linh hiển như vậy. Tuy nhiên, ông vẫn muốn tìm tới để thử một phen. Nên vào ngày 2 tháng 11 năm Ất Sửu, ông liền lên Sài Gòn tìm đến nhà Ông Cao Quỳnh Cư ở đường Bourdais để xin hầu đàn. Trước khi đi ông có đặt một bài thi bỏ vào phong bi niêm kín để trong túi áo. Bài thi đó như sau:

Ấm ức tâm tư suốt mộng tràng,

Có đâu Tiên Phật giáng trần gian.

Văn hay chữ giỏi bày thi phú,

Hoạ đặng thơ đây mới Ngọc Hoàng.

Đến nơi, trước khi nhập Đàn, ông lâm râm cầu nguyện: Nếu sự thật là Đức Thượng Đế thì xin hiển linh họa lại bài thơ của ông có mang theo. Một lát sau cơ liền giáng họa nguyên vận bài thi của ông như sau:

Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng,

Đời cùng, Tiên Phật giáng phàm gian.

Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,

Chính thật Ta đây, Đấng Ngọc Hoàng.

Khi tiếp nhận được bài họa, lúc đó ông Yết Ma Luật mới hoàn toàn tin tưởng vào cơ bút là do các Đấng thiêng liêng giáng điển. Một thời gian sau đó ông mới xin nhập môn và hiến chùa Hội Phước cho Đạo Cao Đài. Từ đó Hội Phước Tự được Hội Thánh tiếp nhận làm Thánh Thất thờ Đức Chí Tôn và tổ chức những đàn cơ để phổ truyền giáo lý kể từ ngày 22 tháng 7 năm Bính Dần, trong Đàn cơ tại Hội Phước Tự có mặt quý Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, Ngọc Lịch Nguyệt và Thái Thơ Thanh… Đức Chí Tôn chấp nhận Yết Ma Luật cầu đạo và thâu Hội Phước Tự làm Thánh Thất, đồng thời phong Yết Ma Nguyễn Văn Luật phẩm Giáo Sư phái Thái. Điều nầy tương tự như trường hợp ông Yết Ma Lê Văn Nhung trước đây một tuần (ngày 15 tháng 7 Bính Dần (Dl. 22/8/1926) tại Đàn cơ Vạn Phước Tự thuộc Ấp Chánh, Tân Xuân Hóc Môn, Đức Chí Tôn cũng phong ông Yết Ma Nhung làm Giáo Sư phái Thái. Trong Đàn cơ nầy Đức Chí Tôn có dạy ông Nhung như sau: "Nhung, môn đệ rất yêu dấu ôi! Nếu cả môn đệ Thầy biết kính mến Thầy như con, biết sợ luật lệ như con, chẳng kể chức phận như con, thì Đạo Thầy mới truyền bá kịp mà cứu vớt nhơn sanh.

Thầy khen con đó, từ đây con phải lấy Thiên ân là Thái Nhung Thanh, phái Thái. Con sẽ ở trong một phái Thái rất lớn, con phải mặc đạo phục như Thơ, song đội mão Hiệp Chưởng Hòa Thượng".

Từ đó Hội Phước Tự, cũng như các Đàn cơ khác được hoạt động để phổ độ nhơn sanh trong nội thành Sài Gòn hoặc những vùng phụ cận khác. Ở Đàn cơ nầy ông Giáo Sư Thái Luật Thanh làm chủ Đàn. Đồng thời đích thân ông cũng lo nhang khói tại Thánh Thất Hội Phước Tự một thời gian dài cho đến ngày 19 tháng 3 năm Mậu Tý (1948) thì quy vị. Linh cữu được an táng cạnh bên Thánh Thất.

Sau nầy người con út của ông tên là Nguyễn Văn Ta và người cháu kế thừa thờ Đức Chí Tôn tại chùa Hội Phước Tự, nhưng các tượng Phật nơi đó vẫn để nguyên. Qua một thời gian dài, Thánh Tượng Thiên Nhãn bị hư mục mà chùa lại không liên lạc với Hội Thánh, nên Hội Phước Tự không còn thờ Thiên Nhãn mà trở lại thờ Phật như xưa.

II - ĐẦN CƠ HỘI PHƯỚC TỰ

Đàn cơ Hội Phước Tự được thiết lập tại Chùa Hội Phước, trước đây là một ngôi chùa cổ của gia tộc nhà họ Đặng, ở Cần Đước tiếp giáp với làng Phước Hậu, tổng Phước Điền quận Cần Giuộc. Do không có người kế tục quản lý, chùa bị bỏ hoang một thời gian, nên ông Yết Ma Luật xin vào chùa trùng tu lại và trụ trì tại đó. Sau khi Yết Ma Luật nhập môn vào đạo Cao Đài và được Thiên phong Giáo sư phái Thái thì Đàn cơ Hội Phước Tự do Giáo sư Thái Luật Thanh làm chủ Đàn.

Ngày 26 thánh 4 năm Bính Dần tại Đàn cơ Hội Phước Tự, Đức Thích Ca Như Lai kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bổ Tát, Ma Ha Tát giáng cơ dạy chư tăng ni như sau: Chư sơn nghe dạy: “Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành. Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật, buộc mối Đạo Thiền.

Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra, cho nên cam để vậy, làm cho Phật tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay.

Vì Tam Kỳ Phổ Độ Thiên Địa hoằng khai, nơi Tây phương Cực Lạc và