GÓP NHẶT TINH HOA ĐẠI ĐẠO

 

 

 

 

 

 

 

Quyển 2

 

SỐNG CHẾT

A - Sống chết hay “sanh tử” được dùng để chỉ một quảng đời của con người, cũng là một đoạn đường mà con người phải trải qua từ lúc sanh ra cho đến lúc chết, đường đó gọi là sanh tử lộ.

Theo Phật giáo, sanh tử lộ, tức là con đường mà con người được sinh ra rồi chết, chết rồi lại chuyển kiếp để được sinh ra… Cứ thế mà tạo nên con đường sanh tử, tử sanh, nên nó còn được gọi là con đường luân hồi.

Phật cho rằng sự sống chết qua nhiều kiếp của con người giống như một cái bánh xe quay tròn vòng này trở lại vòng khác, cứ thế mà xoay mãi.

Tuy nhiên sự xoay chuyển đó phải đi vòng trong sáu cõi (Phật gọi là Lục đạo luân hồi), sanh tử, tử sanh, tiếp nối nhau mãi không ngừng, cho đến khi nào đạt được giải thoát, hay chứng ngộ Niết bàn (đắc Đạo) mới thôi.

Bánh xe sanh tử nầy không có điểm khởi đầu, vì nó bị nghiệp lực cuốn hút vào vòng sống chết, nên phải lên xuống trong sáu cõi, không bao giờ dừng nghỉ.

Muốn giải thoát con người ra khỏi vòng luân chuyển, chấm dứt sanh tử, thì chúng ta phải phá được bức màn vô minh, dứt được ba căn bất thiện, và tạo nhân lành để được hưởng quả tốt.

Kinh Lăng Nghiêm có viết: “Tất cả chúng sinh vì vô minh che lấp mất chân tánh, bị dục vọng, phiền não sai khiến, tạo ra muôn ngàn nghiệp ác, vì đó phải trôi nổi trong biển khổ luân hồi”. Chính vì vậy, mục đích của tôn giáo là giải thoát con người ra khỏi vòng luân hồi, chấm dứt sanh tử.

Trong Kinh Giải Oan có câu:

Vòng xây chuyển vong hồn tấn hóa,

Nương xác thân hiệp ngả Càn khôn.

Bước đường sanh tử đã chồn,

Oan oan nghiệt nghiệt dập dồn trái căn.

B - Sống chết còn dùng để chỉ hai sự kiện lớn của con người nơi thế gian: Sự sống và sự chết.

Sinh tức sống, là một con đường mà người khách trần mượn để đi lên, để đầu thai xuống thế giới hữu hình trả những nghiệp quả đã gây ra từ trong kiếp trước.

Triết lý của đạo Cao Đài cho rằng con người sống ở thế gian có thân xác và linh hồn, nên khi chết, không phải là hết, mà chỉ là cái thể xác hoại diệt, nhưng linh hồn thì vẫn tồn tại mãi mãi. Hay nói cách khác, chết chỉ là thay đổi trạng thái sống: Sống bằng thân xác hữu hình ở thế gian và sống bằng linh hồn, không hình thể ở cõi giới vô vi.

Sự sống của thể xác thì hữu hạn, nhưng sự sống của linh hồn mới thực sống vĩnh viễn, bất diệt. Vì thế, tôn chỉ của đạo Cao Đài là khi con người sống nơi thế gian, phải mượn thân xác hữu hình lo tu hành: Làm phải làm lành, lập công bồi đức để chuẩn bị một con đường trong cõi giới vô vi, cho linh hồn có một cuộc sống an nhàn, cực lạc.

Tử là chết. Theo quan niệm thông thường của thế nhân, chết là hết. Nhưng đối với nhân sinh quan của Cao Đài hay Phật giáo, chết chỉ là một giai đoạn hoại diệt của thân xác hữu hình hay sự đoạn lìa nghiệp trái ở cõi thế, để có một sự sống miên viễn, bất tận nơi thế giới vô vi, thanh tịnh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy về sự chết như sau: Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết đạo nên tưởng lầm.

Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy, phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết, thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì. Cười . . . Nếu Thầy không đến kịp thì các con cũng vẫn bị trong vòng sự chết.

Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái.

Còn bực chơn tu, tỉ như một hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, rồi sanh trái mà biến biến sanh sanh càng tăng số. Vì vậy mà các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn thần, Chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có dạy rằng:

Chúng ta thử nghĩ luật tương đối, chúng ta lấy điều đơn sơ quan sát chúng ta thấy sống trong giấc ngủ, và chúng ta sống trong khi thức, ngủ là sống với Vạn Linh, thức là sống với vạn vật. Chúng ta quan sát được hai đối cảnh sống với khuôn luật Càn Khôn Vũ Trụ kia cũng vậy không có gì khác, có cảnh sống có cảnh chết, sống chúng ta thể nào chết chúng ta thể nấy, không có chi la. Sống chúng ta là khách của "Quán tục" này, ta chết tức nhiên ta trở về quê Tổ, tức nhiên ta nhập trong cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống chớ không có chi lạ.

Phật đã dạy: “Hữu hình hữu hoại” vì Ngài thấy được mọi chúng sanh, mọi sự hiện hữu trên cõi đời hữu hình này đều phải có sống chết, sinh diệt theo nguyên lý duyên sinh duyên diệt, vì vậy; việc sống chết theo quan niệm của Đạo là quá trình chuyển hóa miên viễn, có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc.

Vấn đề chính yếu đối với tôn giáo là vấn đề sống chết: “Sinh tử sự đại, vô thường tấn tốc 生 死 事 大, 無 常 進 速”, nghĩa là sự sống chết là việc lớn, vô thường đến rất mau chóng. Đạo Phật dạy thoát ly sanh tử

Chính đức Phật Thích Ca lúc xuất gia cũng nhằm giải quyết vấn đề sống chết, tức là Ngài muốn tìm cách thoát ly sanh tử, bằng con đường tu để đắc đạo giải thoát. Cho nên tất cả người tu hiện nay khi phát tâm tu hành để được giải thoát thì không ai coi thường vấn đề sanh tử. Đó là ý nghĩa của câu “Sanh tử sự đại vô thường tấn tốc”.

Còn tâm lý của người đời thì thường ham sống sợ chết, nhưng khi sống họ mãi chìm đắm trong vật chất, không lo nghĩ đến ngày chết. Chính vì thế, trong kinh Sám Hối có khuyên dạy:

Việc sanh tử như dường chớp nháng,

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

Nghĩa là sự sống chết của con người nhanh lẹ như lằn sầm chớp, lóe lên rồi tắt, và bóng thời gian trôi nhanh, ngày tháng như thoi đưa khiên nên cuộc đời con người ngắn ngủi, phù du. Vì vậy, khi sống phải cố gắng rèn luyện nết na và tâm tánh để giữ cho Linh hồn trong sạch, hầu tạo nên phước đức để dành cho mai sau.

Bài kinh Khi Thức Dậy cũng có câu:

Tử sanh, sanh tử là chi,

Gẫm trong giấc mộng cũng bì như nhau.

Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, trong tác phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc” cũng cho rằng:

Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê.

Đức Hộ Pháp cũng cho rằng: “Ôi! Kiếp sanh tại thế mang xác thịt, hỏi sống được mấy lát? Nội một giấc thức, giấc ngủ là thấy sự chết sống của kiếp con người, mang thi hài bóng dáng nầy là giả. Cảnh thiệt không phải ở đây, mà cảnh thiệt ở nơi chỗ khác kia, sao không tìm cảnh thiệt là cảnh tồn tại, lại chạy theo bóng?”

Lý Bạch, một thi Tiên của nhà Đường, cũng là Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã coi đời như một giấc mộng:

 

Xử thế nhược đại mộng.

 

處 世 若 大 夢

 

Hồ vi lao kỳ sinh?

 

胡 為 勞 其 生

 

Ở đời tựa giấc chiêm bao,

Làm chi mà phải lao đao nhọc mình?

Nếu chúng ta biết được cuộc sống con người là một giấc mộng, một kiếp phù sinh ngắn ngủi và sự chết không phải là hết mà chỉ là con đường dẫn đến những cảnh giới tuyệt diệu hơn thì chúng ta sẽ cảm thấy yêu đời và chuẩn bị cho con đường đến cõi chết.

Như vậy, sống chết chỉ là sự có mặt hoặc vắng mặt ở cõi thế gian hoặc ở cõi thiêng liêng mà thôi.

Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ vào năm 1931 cho Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp, giải thích về sự sống chết. Ngài nói: “Hễ chết tại thế thì sanh tại Thiêng Liêng, chết tại Thiêng Liêng thì sanh tại thế, vì hai đường khác nhau, nghĩa là ở vô vi thì phải khuất hữu hình, mà ở hữu hình phải khuất vô vi.

Bần Đạo tỉ cho dễ hiểu là như mấy người giờ này tại Tây Ninh thì không thể nào có mặt tại Sài Gòn cho đặng, mà muốn có mặt tại Sài Gòn thì chắc không thể ở tại Tây Ninh. Vậy thì cả nhơn sanh chỉ có biết sanh, không biết tử.

Tám, Em nhớ Thầy đã nói cùng Em rằng: Tri sanh bất tri tử, mãn sanh vị chi tử 知 生 不 知 死, 滿 生 謂 之 死, nghĩa là biết sự sống, không biết sự chết, mãn kiếp sống gọi là chết.

Do vậy, người sống chỉ biết được sự sống chứ không biết được sự chết mà phải chờ mãn kiếp sống, lúc đó gọi là chết mới biết được sự chết.

C.- Sống chết còn dùng để chỉ sự kiên quyết, sự hy sinh, một mất một còn để thực hiện một công việc gì, một lý tưởng nào đó mà không nệ gian nan nguy hiểm.

Người tu hành phải có thái độ kiên quyết, tức không chịu đầu hàng để những thứ tình cảm chi phối với thân tâm, và phải tránh xa những vật chất hay tinh thần làm cản trở bước đường tu.

Chúng ta thấy Đức Phật nguyên là một vị Thái tử, đã sống trong cung vàng điện ngọc, chưa từng xa gia đình, chưa từng chịu sự gian nan khổ cực. Thế mà Ngài kiên quyết đi tu, lìa xa cha mẹ, vợ con cho đến khi thành đạo mới trở về. Đó là hình ảnh một con người kiên quyết, không chịu đầu hàng một trở lực nào.

Câu chuyện sau đây cũng cho ta thấy người tu hành phải có ý chí cương quyết mới có thể thành công trên bước đường tu học.

Ngài Phú Lâu Na, đệ tử Đức Phật, vào yết kiến để từ giã, xin tìm một chỗ vắng vẻ tu.

Đức Phật hỏi: Ngài định đi đâu.

Ngài Phú Lâu Na thưa: Định sang một nước ở phương Tây để tu.

Đức Phật nói: Ta nghe dân xứ ấy hung dữ lắm, ông qua đó họ làm khó, làm sao tu được?

Ngài Phú Lâu Na bạch: Bạch Thế Tôn, nếu người ta khó dễ với con, con vẫn can đảm tinh tấn tu.

Phật hỏi: Giả sử như họ chửi mắng ông thì ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con là vẫn còn hiền vì chưa đánh đập con.

Phật lại hỏi: Giả sử họ dùng tay chân thoi đánh ông thì ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng tay chân thoi đánh con là vẫn còn hiền vì chưa dùng dao gậy đánh con.

- Giả sử họ dùng tới dao gậy đánh ông thì ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng dao gậy đánh con là vẫn còn hiền vì chưa giết con.

- Giả sử họ giết ông thì ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con thì càng tốt vì họ giải quyết sớm dùm con thân ô uế này. Con cám ơn họ nhiều hơn.

Bấy giờ Phật mới bảo: Nếu ông được như vậy thì nên qua đó tu.

Ngài Phú Lâu Na với ý chí sắt đá, cương quyết ra đi, không nệ nguy hại đến tánh mạng nên đã qua xứ ấy tu, chỉ ba tháng thôi liền chứng quả A la hán.

 

 

 

 

CÂY BỒ ĐỀ TRƯỚC ĐỀN THÁNH

Cây Bồ Đề có tên “Pipala”, phiên âm thành Tất bát la, là một loại cổ thụ, thân cây cao, tàn nhánh lớn, lá xanh hình trái tim, nơi thân nhánh có mọc rễ thòng xuống đất. Trái Bồ Đề có hột, nếu để già phơi khô thì vỏ hột có vầng như mặt trăng, điểm nhỏ như ngôi sao nên được gọi là tinh nguyệt Bồ Đề.

Người ta lấy hột Bồ Đề xỏ 108 hột thành một xâu chuỗi, dùng cho các nhà Sư hoặc những người tu hành lần chuỗi niệm Phật.

Trong Nội Ô Tòa Thánh, nơi sân Đại Đồng Xã trước Tổ Đình, có trồng một cây Bồ Đề, chung quanh gốc cây có xây một cái bồn hình bát giác bằng đá mài màu vàng.

Cây Bồ Đề trước Đền Thánh có nguồn gốc từ Ngài Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch, lúc còn làm Thủ Tướng Việt Nam đã vận động với Phật Giáo Tích Lan đem sang hiến cho Đạo Cao Đài cùng với viên ngọc Xá lợi của Đức Phật.

Khi nói về công nghiệp của Bảo Sanh Quân, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn cho biết về lai lịch của cây Bồ Đề như sau: “Ba cây Bồ Đề cho Tiểu Thừa một cây, cho Tiểu Thừa Phật Giáo Miên Quốc một cây, còn một cây của Đại Thừa đem về Toà Thánh. Hột Ngọc Xá Lợi đem về Toà Thánh hôm nay là đặc biệt của Đại Đức Narada Théra, Phó Giáo Tông của Phật Giáo Tích Lan, lấy của tư Ngài hiến cho Toà Thánh. Chúng ta thấy cả hành tàng sự khó khăn đem Ngọc Xá Lợi về Toà Thánh đều do nơi công nghiệp vĩ đại của Ngài Bảo Sanh Quân Hiệp Thiên Đài, tức nhiên Phó Thủ Tướng Việt Nam đương giờ này là Ông Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch, ông đã chịu nhọc nhằn cả thảy con cái Đức Chí Tôn đều ngó thấy. Ngài hạ mình xin cho đặng Ngọc Xá Lợi ấy thế nào? Nên hôm Ngài trở về Sài Gòn, Bần Đạo nhân danh toàn thể con cái Đức Chí Tôn và Hội Thánh nam nữ lưỡng phái để lời cám ơn ông Bảo Sanh Quân rồi, và Bần Đạo sẽ cho các cơ quan Chánh Trị Đạo làm một tờ chúc thơ cảm tạ công nghiệp của Ngài”.

Nguyên Đại Đức Narada Thera, Phó Giáo Tông Phật Giáo Tích Lan lấy hột giống từ cây Bồ Đề mà Đức Phật Thích Ca ngồi thành Đạo, ươn thành cây con rồi đem qua Việt Nam vào ngày 15 tháng 5 năm Quý Tỵ (Dl. 25/6/1953) gồm có ba cây, tặng cho Tòa Thánh Tây Ninh một cây, cùng với hột Ngọc Xá Lợi của Phật Thích Ca, do Ngài Đại Đức lấy của riêng tặng cho, một cây đem hiến cho chùa Linh Sơn Cổ Tự ở đường Cô Giang thuộc Quận I, Sài Gòn, còn lại một cây hiến cho Tiểu Thừa Phật Giáo Miên Quốc.

Khi phái đoàn Phật Giáo Tích Lan qua, Đức Hộ Pháp cùng với Hội Thánh và toàn Đạo có mặt đông đảo tại Đền Thánh để cung nghinh ngọc xá lợi và cây Bồ Đề một cách long trọng trong buổi lễ.

Hội Thánh tiếp rước phái đoàn Phật giáo vào Đền Thánh làm lễ Đức Chí Tôn xong, Ngọc xá lợi được an vị tại Bửu điện Bát Quái Đài, còn cây Bồ Đề, Đức Hộ Pháp dạy, đem trồng vào một nơi an toàn và cử Bảo Thể giữ gìn cẩn thận, tưới nước hằng ngày.

Cho đến ngày 24 tháng 6 năm Ất Mùi (Dl. 11/8/1955), nhằm ngày vía Đức Quan Thánh Đế Quân, tức là hai năm sau ngày tiếp nhận, Đức Hộ Pháp cùng với chư chức sắc Hội Thánh đem cây Bồ Đề ra trước Cột phướn, giữa sân Đại Đồng Xã trồng vào một vị trí mà trước đây người của Công viện đào sẵn một cái lỗ sâu, trong đó đổ đầy phân hữu cơ cho đất thêm mầu mở. Khi trồng xong xây bồn chung quanh để bảo vệ cây Bồ Đề.

Theo lời những bậc tiền bối kể lại, lúc trồng cây Bồ Đề Đức Hộ Pháp vẫn mặc Thiên phục, nhưng mão lại cầm tay. Khi vị Thánh vệ trưởng bưng chậu cây Bồ Đề đặt vào vị trí trồng, Đức Hộ Pháp khai mạc buổi lễ trồng cây bằng cách xúc ba vá đất bồi vào gốc cây Bồ Đề và tưới cho ướt đất.

Có người cho rằng, Bồ Đề lúc còn trong vòng ươn cây con đã bị dế cắn đứt đọt, cho nên ngày nay cây Bồ Đề không có ngọn, chỉ phát triển tàn nhánh một vùng rộng lớn. Đó cũng là một điều huyền diệu của Đức Chí Tôn ban cho nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, từ một gốc (như gốc cây Bồ Đề) mà phát triển thành nhánh nhóc rộng khắp.

Ngày nay, trải qua sáu mươi mấy năm, cây Bồ Đề là kỷ vật của Phật Giáo Tích Lan đứng sừng sựng với gốc đã to lớn, tàn lá xum xuê, nằm án trước mặt tiền của Đền Thánh.

Nhà thơ Chơn Tâm (Lê Hòa Hiệp) trong Đạo Đức Văn Đàn, đứng trước Cây Bồ Đề có cảm tác bài thi như sau:

Đứng trước Tổ Đình dợn sắc lam,

Bồ Đề khác hẳn mọi cây phàm.

Chen nền đạo hạnh, tàn cao rộng,

Gội đức Càn Khôn, rễ cứng châm.

Dấu Phật nảy mầm nơi đất Ấn,

Trường tu lưu giống ở trời Nam.

Sống bền cửa Thánh danh nêu rạng,

Che bước nhơn sanh mối Đạo tầm.

Và trong Quang Cảnh Tòa Thánh Tây Ninh, thi sĩ Huệ Phong cũng sáng tác một bài thơ ca tụng Cây Bồ Đề:

Danh rạng trường tu ngắm rất xuê,

Che sân Đồng Xã cội Bồ Đề.

Gốc sanh đất Ấn mầm lan rộng,

Duyên đội trời Nam lá phủ phê.

Một sớm Thiên Quân trồng cửa Thánh,

Ngàn xưa Phật Tổ lánh sông mê.

Tích Lan tìm Đạo Tam Kỳ tặng,

Mở lối truy nguyên khách lộn về.

Đến năm 1966, ngày 9 tháng 7 năm Bính Ngọ, Đức Thượng Sanh, Bảo Thế, Đầu Sư, chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và PT nam nữ trong một Đàn cơ tại Giáo Tông Đường lúc 21 giờ, do Hiến Pháp và Khai Đạo phò loan, Đức Hộ Pháp giáng cơ dạy:

Chào các bạn Hiệp Thiên, chư Chức sắc Cửu Trùng, Phước Thiện nam nữ.

Mừng các em và các con.

Bần đạo rất hân hạnh được gặp các bạn đông đủ. Thượng Sanh muốn hỏi chi?

Đức Thượng Sanh bạch: Hội Thánh Hiệp Thiên Đài nhận thấy tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa dựng nơi chỗ hiện tại bất tiện vì khi bửu tháp của Đức Hộ Pháp xây xong thì lại đối diện với tượng đó, thay vì đối diện với Tòa Thánh, nên cần phải dời tượng của Thái tử Sĩ Đạt Ta và tượng của Sa Nặc ra phía sau bửu tháp, đồng thời cũng xin dời cây bồ đề ra rừng Thiên Nhiên cho khỏi án mặt tiền Đền Thánh.

Xin Đức Ngài chỉ giáo.

Hộ Pháp: Cười… Hỏi tức là trả lời. Vậy Bần đạo cũng xin đồng ý cùng các bạn cho hợp tình hợp lý.

Tuy trong Đàn cơ hôm đó Đức Hộ Pháp giáng cơ chấp thuận cho Hội Thánh dời tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa và tượng Sa Nặc, cùng với CÂY BỒ ĐỀ ra khỏi sân Đại Đồng Xã để mặt tiền của Đền Thánh có khoảng trống, đối diện với Bửu tháp Hộ Pháp, nhưng đến nay Hội Thánh cũng chưa thực hiện.

 

 

 

 

LUẬT THƯƠNG YÊU

Năm Bính Dần (1926), Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế dùng huyền diệu cơ bút khai sáng ra tại miền Nam Việt Nam một nền tôn giáo mới, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hay đạo Cao Đài để cứu vớt chúng sanh trong thời Hạ ngươn mạt kiếp, trước khi có cuộc Tận thế và Hội Long Hoa. Tôn chỉ của đạo Cao Đài là Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt.

Tại sao phải Quy Nguyên Tam Giáo? Chúng ta cần biết, Tam Giáo Quy Nguyên là sự trở về nguồn gốc của ba nền tôn giáo chính ở Á Đông, đã được khai sáng từ Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ, đó là Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo. Theo đạo Cao Đài, cả ba vị Giáo Chủ đó đều vâng mạng lịnh của Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng trần trong thời Thượng Cổ để lập Đạo, nghĩa là cả ba tôn giáo đó từ một nuồn gốc mà sanh ra, đó là gốc của Thượng Đế.

Trước đó Giáo lý của ba tôn giáo có mục đích nhằm cảnh tỉnh nhân tâm, cải tạo con người, lánh dữ về lành, duy trì đạo đức, khuyên chúng sanh thương yêu nhau, biết tự giác để thoát khỏi vòng danh lợi ở thế gian, để con người trở nên trọn tốt trọn lành nằm thoát khỏi luân hồi khổ hải. Nhưng giáo lý của ba nền tôn giáo đó càng ngày càng bị người đời canh cải, thêm thắt khiến xa lìa với nguồn cội lúc ban đầu, trở nên phàm giáo.

Nay bước qua thời kỳ Hạ ngươn, khi lập đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn quyết định Quy Nguyên Tam Giáo, tức là lấy giáo lý của Tam giáo trước kia trở về nguồn cội lúc đầu để làm tôn chỉ của nền Đại Đạo.

Như vậy, tôn chỉ của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chỉ gồm có hai điểm quan trọng, đó là “Luật thương yêu” và “Quyền công chánh”. Điều nầy, khi mở Đạo, Đức Chí Tôn đã ký với nhơn loại bản Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước, giao cho Tam Thánh Bạch Vân Động nơi cõi thiêng liêng viết ra để công bố cho nhơn loại hiểu rõ.

Nội dung của bản Thiên Nhân Hòa Ước được thể hiện qua hình Tam Thánh nơi Tịnh Tâm Điện viết tám chữ Nho: “天 上 天 下, 愽 愛 公 平 Thiên Thượng Thiên Hạ, Bát Ái Công Bình” và sáu chữ Pháp là: “Dieu et Humanité, Amour et Justice” sáu chữ nầy cũng có nghĩa là Thượng Đế và Nhơn Loại, Bác Ái và Công Bình, nói một cách khác đó là Luật thương yêu và Quyền công chánh.

Tóm lại, Đức Chí Tôn cam kết với nhơn loại, nếu người nào thực thi được bốn chữ “Bác ái, Công bình” thì Đức Chí Tôn sẽ rước về cõi Thiêng liêng Hằng sống, được ban thưởng ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, thoát khỏi luân hồi. Vậy chúng ta thử tìm hiểu về chữ “bác ái”, tức là sự thương yêu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy về sự thương yêu như sau:

“Thầy thường nói với các con rằng, các con là cơ thể của sự thương yêu, mà các con không còn hiểu sự thương yêu là gì, bởi nơi nào đó? Trung… kiếm coi.

(T… bạch)

Không, con. Sự thương yêu là giềng bảo sanh của Càn khôn Thế giới. Có thương yêu, nhơn loại mới hòa bình, Càn khôn mới an tịnh. Ðặng an tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, mới giữ bền cơ sanh hóa”.

Sự thương yêu mà Đức Chí Tôn dạy trên đây, không phải là tình thương yêu thấp hèn, ích kỷ. Bởi vì tình thương vị kỷ chỉ có tính cách vụ lợi cho bản thân mình, chỉ muốn thâu vào hơn là ban ra, chỉ nghĩ đến cá nhân mình, gia đình mình hay tập thể mình mà thôi. Loại tình thương yêu nầy có tính thấp kém, dễ đưa đến thù hận và chiến tranh.

Còn tình thương yêu mà Chí Tôn dạy là “bác ái”, là tình thương yêu chúng sanh vô biên, vô điều kiện, không phân biệt thân hay lạ, giàu hay nghèo, không thấy sang hèn, không phân chia giai cấp, chủng tộc và lúc nào cũng đau xót trước khổ não của chúng sanh, lúc nào cũng tìm cách cứu giúp người đời thoát khỏi khổ cảnh, đó là biểu hiện tình thương yêu rộng lớn, không giới hạn, hoàn toàn vị tha, không bợn chút vị kỷ.

Tình thương yêu trong đạo Cao Đài là sự thuận hòa của những người đồng Đạo, những người con một cha, hay những người thọ giáo cùng một Thầy, nên phải xem nhau như con một nhà, phải giúp đỡ nhau, chỉ bảo nhau để tình đồng Đạo càng thêm khắn khít, để tránh cái tai hại là chia phe lập phái.

Tại sao con người phải có sự thương yêu? Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có cho biết như sau:

Buổi nọ, Bần Ðạo vấn nạn Ðức Chưởng Ðạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, Bần Ðạo hỏi: "Quyền năng và tâm đức của Ðức Chí Tôn như thế nào?" Ngài trả lời trong một câu Pháp văn, Bần Ðạo dịch như thế nầy: "Luật thương yêu, quyền là ngay chánh. Gần thiện lương, xa lánh phàm tâm".

Hai câu thi có đủ cả ý nghĩa rằng: Chúng ta nên suy đoán coi nguyên căn của nó là gì mà có năng lực dữ tợn, mạnh mẽ như thế? Quyền lực ấy chúng ta không tìm đâu xa, tìm nội trong châu thân chúng ta thì đủ thấy. Hỏi mảnh thân nầy, xác thịt sanh ra trong kiếp sống cả cơ quan bí mật đào tạo hình thể của chúng ta do bởi đâu mà có? Có phải do nơi tình ái của đôi đàng phụ mẫu chúng ta mà sản xuất chăng? Nếu còn nghi ngờ nữa thì ta cứ ngó vạn vật tức vạn linh kia, coi hình trạng nó là thế nào?

Chim kết cánh, cây liền cành; rất đổi là con vật mà cũng có tình ái thay, nên luật thiên nhiên lấy tình ái làm căn bản hóa sanh cả vạn loại.

Ðức Chí Tôn cũng sản xuất trong tình ái mà ra, đi từ tình ái hèn hạ dĩ chí tối cao thượng, luật ấy duy có một mà thôi. Mặt luật chúng ta thấy khuôn khổ là vậy, mà quyền năng chúng ta ngó trở lộn lại trong gia đình, coi cha mẹ chúng ta trị gia đình với quyền năng nào, hình luật nào? Cha mẹ chúng ta chỉ trị chúng ta với một luật thương yêu, còn nếu đủ quyền hơn nữa cho chúng ta cúi đầu vâng chịu phụ mạng, mẫu mạng, thì thêm công chánh, chúng ta mới cúi đầu vâng chịu. Nên hình ảnh mặt luật thiên nhiên tạo đoan đã có sẵn trong gia đình từ trước chúng ta không cần tìm kiếm đâu cho xa chỉ coi trong vạn vật như loài thú, như đối với bầy gà mẹ và con coi gà trống thương yêu con như thế nào thì đủ hiểu dễ đoán xét lắm.

Bây giờ hỏi: Trong Càn Khôn Võ Trụ nầy, nếu nói vạn linh không hữu tình thì là dối vậy. Chúng ta sanh ở giữa vạn vật ấy, nếu chúng ta công chánh thì thấy quả quyết rằng: Cả vạn vật đều hữu tình đối với chúng ta tất cả. Tới sắt đá cỏ cây cũng thế. Cả thảy đều có tình, với chúng ta hết, nếu nó không có tình với chúng ta thì chúng ta không thế sống hạnh phúc đặng. Chúng ta không thể chối cãi điều ấy. Cái tình nó đối với chúng ta chẳng phải là tình ái, mà là tình liên quan Càn Khôn Võ Trụ đè nén nó xuống, buộc phải tuân mạng lệnh, nên không phải là tình ái đặc sắc mà là tình ái của Càn Khôn Võ Trụ buộc nó phải tùng. Chúng ta đã ngó thấy như mặt trời cho chúng ta ánh sáng ban ngày, mặt trăng cho chúng ta ánh sáng ban đêm, cả vạn tượng tinh tú chớp nhoáng trên đầu ta, cả Càn Khôn Võ Trụ ấy đối với con người có cái tinh thần vững chắc. Nếu ngó lên mà không đủ học thức để thấu đáo cả vạn tướng kia, cũng vẫn thấy nó đối lại với ta mật thiết hữu tình. Mà ít nữa ta phải biết cái tình của nó đối với chúng ta mới thấu đáo được.

Bây giờ hỏi luật tình ái Ðức Chí Tôn để trong lòng mỗi kẻ hữu sanh tại thế này, chúng ta không thế chối có phải con người mà đã có tình ái, thì lẽ cố nhiên con vật nó cũng có tình ái như con người, nếu không có tình ái thì không có sản sanh nối truyền tông tổ nòi giống đặng; ấy đó là luật. Không ai mà đúng ngày giờ thời buổi của lẽ thiên nhiên thì tự buộc phải tuân theo mặt luật tình ái ấy. Bần Ðạo không cần tả, nó cường liệt phi thường làm sao đâu, chúng ta để mắt thấy một cặp uyên ương kia tự tử thà chết vì tình, chớ không chịu chia lìa yêu ái. Hỏi khuôn luật nào mà biểu nó làm như thế vậy? Ấy là khuôn luật tình ái. Bần Ðạo lập lại một lần nữa, nếu không phải khuôn luật tình ái vi chủ thì vạn vật trên mặt địa cầu nầy không còn hữu hiệu. Mặt địa cầu nầy thế nào thì cả Càn Khôn Võ Trụ cũng thế ấy, vạn vật trên địa cầu nầy thế nào thì vạn vật trên các vì tinh đẩu khác cũng thế ấy. Ấy là Luật Thương Yêu.

 

 

 

 

TƯỢNG THÁI TỬ SĨ ĐẠT TA VÀ SA NẶC

Tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta, hay Tất Đạt Đa (Siddhartha) và Sa Nặc là hai pho tượng nằm trước Đền Thánh, đối diện với Bửu tháp của Đức Hộ Pháp. Đó là hai pho tượng bằng xi măng, đúc hình Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa bạch, tay cầm cương, tay che mắt, nhìn về hướng Tây và phía sau là pho tượng Xa Nặc, người hầu của Thái Tử chạy bộ theo sau. Hai pho tượng nầy thể hiện sự tích Thái Tử Sĩ Đạt Ta, con vua Tịnh Phạn, cùng với người hầu là Sa Nặc lén vua cha trốn khỏi Hoàng Cung để đi tầm đạo.

Trong bài Kinh Khi Về có câu:

Căn Ta Ca đỡ bước đi,

Ra thành Phật Tổ gặp kỳ ly cung.

Hai câu kinh trên, từ “Căn Ta Ca” là tiếng phiên âm từ Phạn ngữ Kantaka, Hán dịch là Càn Trắc (hay Kiền Trắc), là con ngựa của Thái tử Sĩ Đạt Ta, lúc nửa đêm chở Ngài cùng với quan hầu cận là Xa Nặc, bỏ cung vàng điện ngọc để đi đến nơi thâm sơn cùng cốc mà tu hành.

Ly cung là rời khỏi hoàng cung, tức là lìa khỏi cung ngự của Thái tử Sĩ Đạt Ta để xuất gia tu hành, tìm đường giải thoát cho chúng sanh. Đại ý hai câu nầy nói đến con ngựa Kiền Trắc của Thái tử Sĩ Đạt Ta, nửa đêm đưa Ngài lìa khỏi hoàng cung, tìm đường giải thoát cho chính mình và cho cả chúng sanh. Ngài thành Phật, lập nền Phật giáo.

Nguyên Phật Thích Ca xưa kia là một vị Thái Tử sinh trưởng tại Trung Ấn Độ, tên là Sĩ Đạt Ta ở nước Ca Ty La (Kapilavastu), họ là Cồ Đàm (Gotama), sau đổi họ là Thích Ca (Sakya), phụ hoàng tên là Tịnh Phạn, mẫu hoàng tên là Ma Da.

Sau khi hạ sinh ra Hoàng tử được bảy ngày, Hoàng hậu từ trần, em ruột của bà là Maha Pajapati kết duyên với vua Tịnh Phạn, thay Bà nuôi dưỡng Hoàng Tử. Lúc nhỏ Ngài có trí sáng suốt và có tài năng phi thường. Khi được 16 tuổi, Thái Tử kết duyên với công chúa Da Du Đà La (Yasodhara).

Lớn lên Ngài thấy chúng sanh khổ não, thế gian vô thường, nên Ngài quyết chí tu hành, tìm đường giải thoát cho chính bản thân mình (tự độ), và cho hầu hết chúng sanh (tha độ) được lên bờ giác. Vua Tịnh Phạn biết được ý định Ngài, tìm mọi cách để ngăn cản.

Vào năm Thái tử được 29 tuổi, trong lúc vợ con và quan binh ở hoàng thành còn say ngủ, Ngài cùng với quan hầu cận là Sa Nặc (Chana) cỡi con ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) trốn khỏi Hoàng cung, đi vào rừng núi thanh vắng để tầm Đạo.

Ngài tu theo nhiều pháp môn, nhưng cuối cùng Ngài thành Đạo dưới gốc cây bồ đề và trải 45 năm truyền pháp độ sanh, Ngài nhập Niết bàn lúc 80 tuổi. Hai pho tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta và Sa Nặc là của Hội Thánh Cao Đài đắp trước đây đặt tại chùa Gò Kén để nêu gương sáng cho chúng sanh thấy chí cương quyết của Thái Tử, dám từ bỏ sự vinh sang, quyền quí ở cõi đời, lao vào nơi khổ cực để tìm sự giải thoát.

Thật vậy, Thái Tử là người sống trong nhung lụa xa hoa, vật chất đủ đầy, quyền hành lớn lao...Nhưng Thái Tử sớm đã nhận thức được ý nghĩa kiếp sinh con người chỉ là giả tạm, suốt đời khổ não vẫn triền miên trong ngũ trược mà phải trải qua tứ khổ là sanh, lão, bịnh, tử... Do quán chiếu được những nỗi khổ của con người nên đã thúc đẩy Thái Tử tìm phương giải thoát cho bản thân và cho chúng sanh ra khỏi vòng sinh tử luân hồi...

Nguyên vào năm 1926, Đức Chí Tôn giáng huyền cơ khai mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ tại miền Nam Việt Nam để cứu vớt chúng sanh trong thời Hạ ngươn mạt pháp. Ngài dạy các bậc Tiền khai tiếp xúc với Hòa Thượng Giác Hải để Ngài thu phục làm môn đồ.

Ngôi Chùa Gò Kén (Thiền Lâm Tự), do Hòa Thượng Giác Hải vận động tiền của bổn đạo mua đất và cất chùa. Khi vừa mới xây xong chưa sơn phết, chung quanh chùa còn cây cối um tùm, Hòa Thượng Giác Hải (sau khi trụ trì chùa Gò Kến, đổi pháp danh là Như Nhãn. Hòa Thượng Như Nhãn hứa cho Hội Thánh Cao Đài mượn để làm lễ Khai Đạo, nên Hội Thánh mới vận động người dọn dẹp cây cối chung quanh ngôi chùa rồi đặt hai pho tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta và Sa Nặc tại đó và xây dựng thêm những cơ sở cần thiết để chuẩn bị ngày lễ Khai Đạo.

Sau cuộc biến trong ngày khai Đạo, Hòa Thượng Như Nhãn đòi chùa lại và hẹn trong vòng ba tháng phải dời đi. Trước khi dời tượng Phật Thích Ca và Sa Nặc về chùa Chùa mới, Đức Lý Giáo Tông có giáng cơ dặn Ngài Thái Bính Thanh như sau: “Bính Thanh! Hình Phật Thích Ca trước Hiệp Thiên Đài đó, phải làm thế nào cho đừng hư gãy, vì Chí Tôn đã trấn Thần chính nơi tay Người nghe.

Lúc 6 giờ chiều, ngày 13 tháng 2 năm Đinh Mão (Dl. 26/3/1927), Đức Cao Thượng Phẩm thỉnh cốt Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa Kiền trắc và ông Sa Nặc từ chùa Gò Kén về chùa mới ở làng Long Thành bằng hai chiếc xe bò.

Trong cuốn Đạo Sử Xây Bàn, bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có kể lại như sau: Cốt Phật Tổ vì nặng quá, bởi con ngựa Kiền Trắc của Ðức Phật Tổ cỡi lớn và dài nên Ðức Thượng Phẩm phải kết hai chiếc xe bò lại để thỉnh cốt Phật lên.

Trong lúc sửa soạn thỉnh cốt Phật thì ông Chánh Tham Biện người Pháp cho một toán lính mặc đồ thâm núp dưới đường mương ngoài chong súng lên đặng bắn Ðức Thượng Phẩm. Tới chừng thấy rõ là thỉnh cốt Phật mới rút lui. Hội Thánh từ từ di cốt Phật về đất mới mua.

Ðức Thượng Phẩm đứng trên xe bò vịn Ðức Phật Tổ, thấy nghiêng bên nào thì hô lên để sửa lại ngay; đi từ 6 giờ chiều tới 2 giờ khuya mới đến Thánh Ðịa (ngay cửa Hoà Viện bây giờ). Trước cửa Hoà Viện có cây vên vên, đến đây di cốt Phật Tổ vào không được vì bị một cái đường mương lớn quá; Ðức Thượng Phẩm phải lập kế kiếm ván đặng lót xe vô mới được. Khi xe qua đường mương rồi thì tạm để cốt Phật Tổ nơi đây, vì Ðức Thượng Phẩm mệt đuối, nhào xuống đống lá khô trong rừng nằm nghỉ; tất cả Chức Sắc cũng nằm xuống đó nghỉ theo.

Hai pho tượng Sĩ Đạt Ta và Sa Nặc sau khi dời từ chùa Gò Kén về làng Long Thành được đặt trước ngôi Chùa Mới (ngôi Chùa Mới nầy sau xây dựng lại là Đền Thánh bây giờ), tại sân Đại Đồng Xã cho đến ngày nay.

Hai pho tượng đó vẫn còn uy nghi, đẹp đẽ nằm đối diện với ba ngôi Bửu tháp của ba vị chức sắc Đại Thiên Phong Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh.

Đến năm 1955, ngày 24 tháng 6 năm Ất Mùi, nhằm ngày vía Đức Quan Thánh Đế Quân, Đức Hộ Pháp cùng với chư chức sắc Hội Thánh đem cây Bồ Đề, có nguồn gốc từ Phật Giáo Tích Lan, do Phó Giáo Tông là vị Đại Đức Narada Thera, lấy giống từ cây Bồ Đề mà Đức Phật Thích Ca ngồi thành Đạo, ươn thành cây con rồi đem qua Việt Nam tặng cho Tòa Thánh Tây Ninh, trồng trước cột phướn phía ngoài sân Đại Đồng Xã.

Ngày nay, trải qua sáu mươi mấy năm, cây Bồ Đề phát triển tàn lá xum xuê, đứng sừng sựng và nằm án trước mặt tiền của Đền Thánh.

Vì vậy, đến năm 1966, ngày 9 tháng 7 năm Bính Ngọ, Đức Thượng Sanh, Ngài Bảo Thế, Đầu Sư, chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Phước Thiện nam nữ trong một Đàn cơ tại Giáo Tông Đường lúc 21 giờ, do Hiến Pháp và Khai Đạo phò loan, Đức Hộ Pháp giáng cơ dạy:

Bần đạo rất hân hạnh được gặp các bạn đông đủ. Thượng Sanh muốn hỏi chi?

Đức Thượng Sanh bạch: Hội Thánh Hiệp Thiên Đài nhận thấy tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa dựng nơi chỗ hiện tại bất tiện vì khi bửu tháp của Đức Hộ Pháp xây xong thì lại đối diện với tượng đó, thay vì đối diện với Tòa Thánh, nên cần phải dời tượng của Thái tử Sĩ Đạt Ta và tượng của Sa Nặc ra phía sau bửu tháp, đồng thời cũng xin dời cây bồ đề ra rừng Thiên Nhiên cho khỏi án mặt tiền Đền Thánh.

Xin Đức Ngài chỉ giáo.

Hộ Pháp: Cười… Hỏi tức là trả lời. Vậy Bần đạo cũng xin đồng ý cùng các bạn cho hợp tình hợp lý.

Tuy trong Đàn cơ hôm đó Đức Hộ Pháp giáng cơ chấp thuận cho Hội Thánh dời tượng T Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa và tượng Sa Nặc, cùng với cây Bồ Đề ra khỏi sân Đại Đồng Xã để mặt tiền của Đền Thánh có khoảng trống, đối diện với Bửu tháp Hộ Pháp, nhưng đến nay Hội Thánh cũng chưa thực hiện.

 

 

 

 

NHƠN NGHĨA TRONG ĐẠO CAO ĐÀI

Trước mặt tiền của Đền Thánh, nơi thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, trên lầu Hiệp Thiên Đài có đề hai chữ “Nhơn Nghĩa 仁 義” bằng Hán tự thật lớn để nói lên chủ nghĩa của đạo Cao Đài.

Hai bên ở dưới chữ Nhơn Nghĩa có đề đôi liễn như sau:

仁 佈 四 方 大 道 以 仁 興 社 稷

義 頒 萬 代 三 期 重 義 振 山 河

NHƠN bố tứ phương Đại Đạo dĩ Nhơn hưng xã tắc,

NGHĨA ban vạn đại Tam Kỳ trọng Nghĩa chấn sơn hà.

Nghĩa là:

Lòng Nhơn đem rải bốn phương, Đạo Cao Đài lấy Nhơn làm hưng thạnh nước nhà,

Điều Nghĩa ban cho muôn đời, Đạo Cao Đài xem trọng điều Nghĩa để làm hưng khởi quốc gia.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu về hai chữ Nhơn Nghĩa.

1. NHƠN là lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật, tức là đem ơn huệ cho mọi vật. Nghĩa là việc cư xử với mọi người công bình theo bổn phận hoặc theo đạo lý, hay nói cách khác lẽ phải là Nghĩa.

Theo thuyết Khổng Tử, Nhơn là “Trắc ẩn chi tâm, ái vật chi lý, bất sát bất hại thể háo sanh chi đại đức 惻 隱 之 心, 愛 物 之 理, 不 殺 不 害, 體 好 生 之 大 德”, nghĩa là lòng bất nhẫn, lẽ thương vật, chẳng giết hại loài sanh vật thể theo đức háo sinh của Trời đất. Như vậy, lấy lòng nhơn phóng xá cho loài vật, đặng phần sống sanh hóa như loài người, mới có lòng từ bi bác ái, ấy gọi là nhơn….

Chữ nhơn (nhân 仁) là nhân đứng 亻 bằng chữ nhị 二, nhơn là người, nhị là hai, có nghĩa là làm người phải giữ cho đặng trọn hai phần, một là đối với Trời Ðất, thì phải noi theo phép công bình thiêng liêng của Tạo hóa, thuận tùng Thiên lý. Hai là đối với người, vật, thì phải giữ lòng đạo đức, thương người mến vật, trợ hiểm phò nguy mới trọn lòng nhơn…

Sách có câu: Tu nhơn thì thành Thần; niệm nhơn thì thành Thánh; hành nhơn thì thành Tiên; đắc nhơn thành Phật.

Trong Thi Văn Dạy Đạo, Đức Chí Tôn dạy về chư Nhân như sau:

Nhơn là đầu hết các hành tàng,

Cũng bởi vì nhơn, dân hóa quan.

Dân trí có nhơn nhà nước trị,

Nước nhà nhơn thiệt một cơ quan.

Và Thánh Giáo của Ðức Diêu Trì Kim Mẫu cũng dạy:

“Ðời hay Ðạo cũng vậy, muốn lập nền tảng cho sự thái bình, phải cần lập tâm chơn chánh đỉnh đạt để gieo sự hòa nhã yêu đương rồi mới gia tề quốc trị.

Thiếu nhơn kém đức, tâm chí nông nỗi, chủ hướng mơ màng, chẳng qua tạo cảnh khổ cho nhơn sanh mà thôi. Vậy các con nên trao giồi chữ tâm cho lắm.

Mẹ để ít lời dưới đây cho các con làm chuẩn thằng trong bước Ðạo.

Gắng sức trau giồi một chữ Tâm,

Ðạo đời muôn việc khỏi sai lầm.

Tâm thành ắt đoạt đường tu vững,

Tâm chánh mới mong mối đạo cầm.

Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,

Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm.

Ðường tâm cửa Thánh dù chưa vẹn,

Có buổi hoài công bước Ðạo tầm.”

2 - NGHĨA là Nhứt thảo nhứt mộc, các hữu kỳ chủ, nghĩa là cả thảy mọi vật từ cây cỏ, đồ đạc đều có chủ, cấm chẳng đặng gian tham, ham muốn của người, mà làm cho thất nghĩa.

Chữ nghĩa là do chữ toàn 全 và chữ ngã 我 hiệp thành, chữ toàn là trọn, chữ ngã là ta, tức là làm người giữ trọn cùng ta thì nên nghĩa, còn chẳng trọn cùng ta là thất nghĩa.

Muốn thật hành chữ nghĩa, thì phải noi theo câu: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhơn 己 所 不 欲, 勿 施 於 人”, tức là những việc gì ta chẳng muốn ai làm cho ta chịu đau khổ thảm sầu thì ta không nên đem các điều ấy mà làm cho người khác, mới là trọn nghĩa.

`Chữ nghĩa bao hàm rất lớn thay. Như là nghĩa cha con, nghĩa thầy trò, nghĩa chồng vợ, nghĩa anh em cốt nhục đồng bào, nghĩa bằng hữu chi giao, ấy là ngũ luân chi đạo. Mọi việc cư xử đều phải có nghĩa, thì mới đủ tư cách làm người cao trọng. Làm tôi mà biết giữ Nghĩa với vua thì mới đáng mặt tôi trung thành, làm con phải biết giữ trọn Nghĩa với cha mẹ thì mới trọn Nghĩa làm con chí hiếu, anh em biết giữ Nghĩa cùng nhau thì mới có tình thương yêu thảo thuận, vợ chồng biết giữ trọn Nghĩa thì mới đặng hòa hảo miên trường tạo thành cơ sanh hóa, bậu bạn có Nghĩa cùng nhau thì mới có lòng cảm hoài tín nhiệm. Cho nên hạng nào cũng phải thi hành chữ Nghĩa thì mới đủ tư cách làm người.

Chữ nhơn và chữ nghĩa thường đi đôi với nhau, cho nên trong Kinh Sám Hối có hai câu dạy rằng:

Làm người nhơn nghĩa xử xong,

Rủi cho gặp lúc long đong chẳng sờn.

………………………………..

Làm người nhơn nghĩa giữ tròn,

Muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa.

Thuyết về “Vấn Đề Nho Giáo”, Đức Hộ Pháp có dạy: Nhắc lại Thầy Mạnh Tử khi qua yết kiến Vua nước Lương, ông Huệ Vương hỏi Ðức Mạnh Tử: Lão già chẳng nệ đường xa muôn dặm sang đến nước Quả nhân có chỉ giáo điều chi hữu lợi chăng? Thầy Mạnh Tử đáp rằng: Tôi chỉ biết nói đến nhơn nghĩa mà thôi, chớ không nói về lợi, nếu trong nước mà dục vọng về sở lợi, thì đình thần có trăm hộc lại muốn có thêm ngàn hộc, thượng hạ đại phu có ngàn hộc lại muốn có muôn hộc, còn vì Thiên Tử đã có dư muôn hộc, lại muốn có thêm triệu hộc.

Nếu trong nước mà cầu lợi như thế, thì bá tánh phải chịu lao lung, muôn dân đồ thán, trong nước thế nào bình trị được? Còn như trong nước biết chú trọng đạo nhơn nghĩa, thì toàn thể quốc dân đặng chung hưởng mọi điều hạnh phúc, lạc nghiệp âu ca.

Thầy Mạnh Tử thuyết minh đủ mọi điều lợi, hại rồi thì Vua Huệ Vương chịu nạp dụng. Hiện nay là buổi kim tiền, ưu thắng liệt bại, mạnh đặng yếu thua, khôn còn dại mất, con người trên mặt thế đều bôn xu theo quyền lợi chẳng kể gì nhơn nghĩa đạo đức, tinh thần, nên mới có nạn chiến tranh tương tàn, đồng chủng giết hại lẫn nhau, hằng ngày diễn ra nhiều tấn tuồng thảm thương, bi kịch, xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, khiến cho giọt lụy thương tâm của khách ưu thời mẫn thế không thể nào ngưng được.

Chức Sắc trong Ðạo đem hột giống nhơn nghĩa gieo khắp các nơi, mà nhơn sanh không ưng nạp, bởi họ không biết cái năng lực của họ mạnh mẽ thế nào, không cần để ý đến, chớ chi họ trọng dụng đạo nhơn nghĩa thử một thời gian coi có hiệu quả gì chăng? Nhắc lại lời Thánh Giáo của Ðức Chí Tôn có dạy về chữ Nhơn...

... ... ...

Ngày nào toàn thể quốc dân mà biết thực hành hai chữ nhơn nghĩa cho ra chơn tướng, thì chẳng luận là xã hội nào cũng được hưởng mọi điều hạnh phúc, đời chiến tranh sẽ trở nên thái bình an cư lạc nghiệp.

Trong Thuyết Đạo, Ngài cũng trông chờ vào những người cầm giềng mối Đạo sau nầy và nhắn nhủ họ cố gắng thực thi hai chữ Nhơn Nghĩa của Đạo cho thành tướng. Ngài nói: Tôi nói ít mà các bạn nam nữ hiểu nhiều, tôi chỉ trông cậy các bạn. Vậy tôi xin để cả sự trông cậy của tôi trong tâm của các bạn là hình thể của Ðức Chí Tôn thật hành dùm nhơn nghĩa của Chí Tôn đã để trước Ðền Thánh cho đời ngó thấy, đặng hưởng lấy hạnh phúc thiên nhiên ngàn xưa để lại là may mắn cho tương lai con Hồng cháu Lạc.

 

 

 

 

BẢY CÁI NGAI

Bảy cái ngai là bảy chiếc ghế bằng gỗ có chạm trổ hình Long, Lân, Quy, Phụng, sơn son thếp vàng, được đặt ở cấp thứ chín, tức là cấp cuối cùng của Cửu Trùng Đài trong nội Điện Đền Thánh, trước quả Càn Khôn thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế. Hai bên bảy cái ngai là hai hàng giá cặm Bát Bửu và tàn lọng.

Trong bảy cái ngai đó, thì một ngai trên hết dành riêng cho ngôi Giáo Tông, hàng kế tiếp là ba ngai dành cho ba vị Thái Chưởng Pháp, Thượng Chưởng Pháp, và Ngọc chưởng Pháp. Hàng dưới cùng là ba chiếc ngai dành cho ba vị Đầu Sư thuộc Nam phái của Cửu Trùng Đài. Bảy cái ngai nầy được Đức Chí Tôn dạy phải kiến tạo vào lúc mới Khai Đạo năm Bính Dần tại Chùa Gò Kén.

Như ta biết Hòa thượng Thích Từ Phong tên thật là Nguyễn Văn Tường, trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm Chợ Lớn. Hòa thượng trước đó cùng với một số bổn Đạo Phật giáo quyên góp một số tiền mua miếng đất, toạ lạc cạnh quốc lộ 22, cách tỉnh lỵ Tây Ninh chừng năm cây số. Trên miếng đất ấy, có một cái gò toàn là cây kén, nên sau Hòa thượng Giác Hải xây dựng lên gò đó một kiểng chùa Phật là Từ Lâm Tự, người chung quanh gọi là chùa Gò Kén. Khi về trụ trì chùa Chùa Gò Kén, Hòa thượng Giác Hải đổi pháp danh là Như Nhãn.

Hoà Thượng Như Nhãn được hai ông bà Nguyễn Ngọc Thơ, Lâm Hương Thanh là hai vị quyên góp nhiều nhất cho ngôi chùa Gò Kén giới thiệu về Đạo Cao Đài. Hòa thượng Như Nhãn đồng ý nhập môn, rồi được Thiên phong là Thái Chưởng Pháp. Sau đó, Ngài hứa cho Hội Thánh Đạo Cao Đài mượn ngôi Từ Lâm Tự (tức chùa Gò Kén) để làm Đại lễ khai Đạo Cao Đài.

Trước khi Đạo Cao Đài chuẩn bị làm lễ khai Đạo thì ngôi chùa này vừa mới xây xong phần cấu trúc, chưa sơn phết, chung quanh chùa còn cây cối um tùm. Khi Hoà Thượng Như Nhãn cho Hội Thánh làm Đại lễ khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh mới vận động người dọn dẹp, đào giếng nước, trồng hoa kiểng và xây dựng thêm những cơ sở cần thiết để chuẩn bị ngày Khai Đạo, quan trọng nhứt là làm con đường đá từ cổng chùa ra đến Quốc lộ (dài hơn hai trăm mét) để xe cộ có thể vào tận chùa.

Hình thức kiến tạo bảy chiếc Ngai nầy do Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Nguyễn Văn Kiệt như sau: – Thánh giáo Đức Cao Đài Ngọc Đế giáng cơ: Kiệt! Con phải giúp Thơ trong việc lập Thánh Thất. Thầy giao cho con phải săn sóc, mướn thợ làm bảy cái ngai: Một cái trọng hơn cho Giáo Tông, ba cái cho ba vị Chưởng Pháp, ba cái cho ba vị Ðầu Sư, nhứt là cái ngai của Giáo Tông phải làm cho kỹ lưỡng, chạm trổ Tứ Linh, nhưng chỗ hai tay dựa phải chạm hai con Rồng, còn của Chưởng Pháp chạm hai con Phụng, của Ðầu Sư chạm hai con Lân.

Ông Nguyễn Văn Kiệt, người gốc ở tỉnh Cần Thơ, nhập môn vào đạo Cao Đài hồi tháng 7 năm 1926, trong lúc ông đang làm quản lý văn phòng luật sư tại Sài Gòn. Ngày 30 tháng 10 năm Bính Dần, ông được Thiên phong Giáo Hữu phái Thượng. Sau nầy, ông được Hội Thánh bổ làm Đầu Họ Đạo tại Thánh Thất Từ Vân, Phú Nhuận. Nguyên Thánh Thất Từ Vân trước năm 1937 là một ngôi chùa của ông Trần Văn Sanh, sau ông mới chuyển sang đạo Cao Đài làm ngôi Thánh Thất.

Ông Nguyễn Văn Kiệt liễu đạo ngày 5 tháng 6 năm 1965, an táng vuông đất nhà, nay là số 108 Phan Đăng Lưu Phường 3 Phú Nhuận.

Ngày 16 tháng 8 năm Bính Dần, tại Đàn cơ Tân Định, Ngài Thái Thơ Thanh dâng họa đồ lên và được thầy dạy như sau: “Con làm hai dãy nhà vậy đặng, còn cái giếng con đào ngay chỗ con định đó. Hình Phật Tổ để vậy phải. Còn như con muốn Thầy đẹp lòng thì trồng bông cho nhiều chung quanh Thánh Thất. Bảy cái ngai con trả hẹp giá, cho nó thêm chút ít, nhưng mà họa đồ trật con nghe. Phải cho nó đủ tứ linh mỗi cái hết chớ: Rồng thì để cho Giáo Tông dựa tay, phụng thì Chưởng Pháp, lân thì Đầu Sư… Thêm tứ linh nơi chỗ dựa lưng. Như của Giáo Tông thì sau lưng phụng, phụng, lân, quy. Chừa long ra nơi tay dựa, mấy cái kia cũng vậy”.

Dùng để ngự khi cầu lễ Đức Chí Tôn. Nhưng trên thực tế, bảy chiếc ngai đó Đức Chí Tôn dạy tạo ra để các chức sắc Đại Thiên Phong biết ngôi vị của mình nơi Chánh Điện Đền Thánh, chứ không được phép ngồi, chỉ trừ khi có hội Tòa Tam giáo mới được phép ngồi. Ngài có giải thích trong một đàn cơ tại Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 15 tháng 5 năm Kỷ Tỵ (1929) khí Cao Quỳnh Diêu kính hỏi: Về bảy cái ngai nhơn đạo, Chưởng Pháp và Đầu Sư đặng ngối chăng?

Thầy đáp rằng: Bảy ngai ấy Thầy lập ra là chỉ để cho mỗi chức sắc lớn biết ngôi vị của mình nơi Bửu Điện… lúc hành lễ, nếu chúng nó ngồi đối diện với các môn đệ khác của Thầy mà khứng chịu thành kỉnh chung của nhơn sanh… Mỗi vẻ thành kỉnh của chúng nó… Chức sắc đặng ngồi ngai riêng của mỗi đứa là khi nào có hội Tòa Tam Giáo xử các đạo hữu của chúng nó mà thôi.

 

 

 

 

CHƠN PHÁP

Chơn (chân 真): Thực, không giả dối, không hư ảo, chân chính, ngay thực.

Pháp 法: Giáo lý, hay phép nhiệm mầu của một tôn giáo. Pháp còn có nghĩa là pháp luật trong tôn giáo.

Chơn Pháp có hai ý nghĩa khác nhau, được giải thích như dưới đây:

I - Chơn pháp, đồng nghĩa với chữ “Chánh pháp 正 法”, là Giáo pháp chơn chánh, ngay thực, bất di, bất dịch, trái với Tà pháp. Với nghĩa nầy, người ta thường dùng chữ “Chánh pháp” hơn là “Chơn pháp”.

Như vậy, Chơn pháp hay chánh pháp là con đường hướng dẫn người tu hành đạt đến mục đích là đắc Đạo.

Trong Kinh Thế Đạo bài kinh Xuất Hội có câu:

Vẹn toàn phàm thể Thánh thân,

Tùng theo Chơn Pháp độ lần chúng sanh.

Với nghĩa nầy, bên Phật giáo thường dùng từ Chánh pháp thay cho Chơn pháp.

Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, Ngài dạy các đệ từ rằng: Các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp với Chánh Pháp.

Người tu hành muốn đi đến đường giác ngộ giải thoát, cần phải học hỏi và tìm hiểu “Chánh pháp”.

Theo lời dạy của Ðức Phật Thích Ca, Phật Giáo đã trải qua ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.

Chánh pháp là thời kỳ đầu, kể từ lúc Phật nhập diệt cho đến 500 năm sau. Giáo pháp của Phật được các đệ tử giữ gìn còn nguyên vẹn, chưa bị cải sửa, nên số người tu đắc đạo rất nhiều.

Tượng pháp là thời kỳ tiếp theo, kéo dài 1000 năm. Giáo pháp của Phật bị các đệ tử sửa đổi chút ít nhưng vẫn còn giống giáo pháp ban đầu, người tu đắc đạo khá nhiều, nhưng ít hơn thời Chánh pháp. Tượng là giống như, mường tượng.

Mạt pháp là thời kỳ sau cùng, kéo dài khoảng 1000 năm. Giáo pháp của Phật bị các đệ tử lần lần sửa cải, sai lạc gần hết, người tu bị lầm lạc, tu nhiều mà đắc đạo rất ít. Mạt là hết, cuối.

Như vậy đến Tam Kỳ Phổ Độ là thời kỳ Mạt pháp. Chính trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Thích Ca Như Lai, kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma ha Tát có cho biết nền chơn pháp của Phật giáo đã thất kỳ truyền. Ngài dạy:

Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành. Chánh Pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.

Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi Tây Phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh.

Trong Phật Tông Nguyên Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi, tại tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu.

Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.

Ta đến chẳng phải cứu một mình chư tăng mà thôi, vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, Ta đương lo cứu vớt.

Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật.

Trong thời hạ nguơn Mạt pháp nầy, Đức Chí Tôn mở Đạo bằng huyền diệu cơ bút. Lúc đầu tiên, Ngài đến với các thiên sứ bằng văn chương thi phú, lần hồi Ngài dìu dắt vào đường đạo đức và dẫn đển khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ với tôn chỉ quy Tam giáo, hiệp Ngũ chi.

Đức Chí Tôn là cha chung của chúng sanh và chủ của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Vì vậy những giáo pháp của các Đấng, Ngài quy lại thành một mối để chính mình Ngài mở Đạo cứu đời trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, như lời Thánh giáo đã dạy: “Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con chẳng chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa và quy nguyên phục nhứt Ngũ chi Đại Đạo là Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo”.

Những Kinh Luật, Giáo lý của nền Đại Đạo đều do các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho:

- Luật Pháp: Có Tân luật và Pháp chánh truyền.

- Thánh giáo của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng được tuyển tập thành Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

- Kinh gồm Thiên Đạo và Thế Đạo Kinh.

Như vậy, Giáo pháp và Kinh luật của nền Đại Đạo này đều do Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho chúng sanh, đó thực là một nền Chơn giáo, có đầy đủ Chơn pháp và Chơn kinh.

II - Chơn Pháp còn có nghĩa là pháp luật chơn thật, nên chơn pháp đồng nghĩa với “Chơn luật 真 律”.

Trong đạo Cao Đài, Hộ Pháp là vị chức sắc Đại Thiên phong cầm quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài là cơ quan pháp luật, tức Ngài cầm Chơn pháp của nền đạo Cao Đài, nên khi Ngài quy Thiên, bài Thài Hộ Pháp mới có câu:

Rồi đây ai sẽ cầm Chơn Pháp,

Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời.

Nói về Chơn pháp, chơn luật, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp vào đêm 15 tháng 9 năm Mậu Dần có đoạn như sau:

Ðức Chí Tôn đào tạo Chơn pháp vô lượng vô biên để cho nhơn loại thi hành mà đoạt phẩm vị thiêng liêng: Thần, Thánh, Tiên, Phật. Chơn pháp cũng có một như Chơn luật vậy.

Chơn luật của Ðức Chí Tôn đã chỉ rõ là Thương yêu, còn Chơn pháp là Công bình. Luật pháp của Chí Tôn đã chỉ rõ ra sau đây thì toàn cả nhơn sanh đều nghe hiểu biết và thường có nói: Chỉ có một điều là tại sao không thực hành? Nếu con người ở dưới thế nầy đồng thi hành y theo Chơn pháp Công bình thì đời sẽ trở nên tận thiện tận mỹ, mà cơ tận diệt sẽ tiêu tan, không còn thấy tấn tuồng bi ai thảm đạm như thế.

Tóm lại, cái sở hành của Chơn pháp Công bình chỉ dùng một câu:"Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân 己 所 不 欲 勿 施 於 人", nghĩa là Những điều nào mình chẳng muốn ai làm cho mình phải buồn thảm đau đớn thì tức nhiên mình không nên làm mấy điều đó cho người khác.

Pháp Công bình của Ðức Chí Tôn là một cây Cân Song bằng: Một đầu là Tiên, Phật, một đầu là Quỉ Ma, chánh tà phân biệt đôi bên, ấy là pháp Công bình: Lành thưởng dữ răn, lành siêu dữ đọa.

Ðức Chí Tôn muốn cho con cái của Ngài đều đặng cao thăng phẩm vị thiêng liêng, chớ không bao giờ Ngài đào tạo Ðịa ngục để đày đọa hình phạt nhơn sanh, mà trái lại do nhơn sanh tạo thành cảnh khổ ấy. Ví như một ông Cha trong gia đình, có khi nào lập ngục thất để cầm tù con cái bao giờ?

Những điều khổ hạnh ấy là tự con người đào tạo nơi mặt thế nầy, cũng là một trường học để con người suy gẫm tự giác tâm hồn, hầu giải thoát bến mê mà tầm đến cảnh thiêng liêng an nhàn tự toại. Nếu con người muốn được an nhàn tự toại nơi cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống thì phải thực hành theo Chơn pháp của Chí Tôn.

Ngày nào mà nhơn sanh trên mặt địa cầu nầy biết tôn trọng và thực hành y theo luật pháp của Chí Tôn cho ra chân tướng thì mới mong giải thoát cơ tự diệt, tức là ngày của nhơn sanh chung hưởng mọi điều hạnh phúc của Chí Tôn ân tứ.

 

 

 

 

NỘI Ô TÒA THÁNH VÀ MƯỜI HAI CỬA CỔNG

Đền Thánh, tượng trưng cho Bạch Ngọc Kinh tại thế, là một công trình kiến trúc mới mẽ và to lớn dùng làm nơi thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có vị trí nằm trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh.

Ngoài ra, các cơ quan hành chánh trung ương của Hội Thánh Cao Đài cũng nằm trong Nội Ô Thánh Địa. Đặc biệt chung quanh Nội Ô Tòa Thánh có xây dựng mười hai cửa cổng ra vào.

Chúng ta thử tìm hiểu về Nội Ô Tòa Thánh và mười hai cửa cổng được xây dựng chung quanh.

I. NỘI Ô TÒA THÁNH

Nội Ô Tòa Thánh có diện tích rộng khoảng một cây số vuông (độ 100 mẫu), trong đó ngoài Đền Thánh ra, còn có Báo Ân Từ và các dinh thự khác như: Giáo Tông Đường, Hộ Pháp Đường, Đầu Sư Đường nam, nữ; nhà khách Vạn Linh… kiến thiết theo sơ đồ của Đạo, cùng các cơ sở của các cơ quan ban bộ như Đường Nhơn, Tần Nhơn, Trung Tông Đạo…. Ngoài ra, trước đây nơi Nội Ô Tòa Thánh còn có Y Viện Hành Chánh, Y Viện Phước Thiện, Trường Trung Tiểu Học Đạo Đức Học Đường.

Mặt bằng Nội Ô Tòa Thánh không phải hình vuông, mà là một hình thang. Có cạnh ngắn ở về hướng Bắc (tức cặp theo đường Cách Mạng Tháng 8), còn cạnh dài ở về ở hướng Nam tức có các cổng số 6, số 7 và số 8. Hai cạnh dài hơn nữa và chiều dài tương đương nhau nằm ở các hướng Đông và hướng Tây.

Đường sá trong Nội Ô Tòa Thánh hiện nay được tráng nhựa, hai bên đường là các ngôi Dinh thự và các hàng cây trồng thẳng tấp:

Đại lộ Phạm Hộ Pháp, chạy dọc theo hướng Bắc Nam, từ Cửa Hòa Viện (tức Cửa Số 1) đến Cửa Số 7 (Nội Ô).

Đại lộ Cao Thượng Phẩm, chạy dài theo hướng Bắc Nam, từ Cửa Số 2 đến Cửa Số 6.

Đại lộ Cao Thượng Sanh, cũng chạy theo chiều dọc hướng Bắc Nam, từ Cửa Số 12 đến Cửa Số 8.

Ba Đại lộ nầy chạy song song với nhau tạo thành quẻ “Càn ☰”, mà Đại lộ Phạm Hộ Pháp nằm giữa, hai Đại lộ còn lại nằm ở hai bên.

Ngoài ra, trong Nội Ô Tòa Thánh còn có các con đường nằm ngang theo hướng Đông, Tây như:

Đường Oai Linh Tiên chạy từ Cửa Số 4 đến Cửa Số 10.

Đường Thượng Trung Nhựt chạy từ Cửa Số 3 đến Cửa Số 11.

II . MƯỜI HAI CỬA CỔNG

Nội Ô Tòa Thánh được bao bọc bởi hàng rào xây bằng gạch trang trí hoa văn, chung quanh ngoại vi Tòa Thánh dài khoảng 4 cây số, có chừa mười hai cửa cổng. Các cửa đều xây dựng theo kiểu cổng Tam Quan có mái che hoặc không có mái che như ở các đình, chùa truyền thống Bắc và Trung bộ, nghĩa là, bao giờ cũng có 4 trụ, chia ra thành 3 lối ra vào: Cửa chánh và hai cửa phụ nằm hai bên. Hai trụ giữa lớn và cao hơn, cách khoảng hơn 6 mét làm cổng chính. Hai bên là cổng phụ rộng chỉ khoảng hai mét rưỡi mà thôi.

Mặt cổng có chạm hình Tứ linh (Long, Lân, Qui, Phụng), hoa sen hoặc hình Cổ Pháp Tam giáo trên đỉnh và trên hai trụ chính cổng có khắc hai câu liễn bằng chữ Nho.

Cửa lớn nhất được gọi là Cửa Chánh Môn, còn 11 cửa khác nhỏ hơn, đi vòng quanh bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc theo tường rào ngược chiều kim đồng hồ được đánh số từ Cửa Số 1 đến Cửa Số 12, có điều đáng lưu ý là trước đây không có Cửa Số 5.

A . Hướng Bắc dọc theo tường rào Nội Ô Tòa Thánh có ba cửa: Cửa Số 12, Cửa Hòa Viện (tức Cửa Số 1) và Cửa Số 2.

- CỬA SỐ 12:

Cửa Số 12 là cửa ra vào cuối cùng của Nội Ô Tòa Thánh, được xây dựng vào năm Giáp Dần 1974, theo kiểu cổng Tam Quan không mái che.

Cửa Số 12 nằm về hướng Bắc, không có đường đi thẳng ra ngoại ô, chỉ có đường nằm ngang nối liền đường chính Thị xã là Liên Tỉnh Lộ 13. Sau 1975, đường này đổi tên là đường Cách Mạng Tháng 8.

Trong Nội Ô Tòa Thánh, từ Cửa Số 12 nầy có đường chạy dài đến Cửa Số 8, đó là đường Cao Thượng Sanh (hay Cao Hoài Sang).

- CỬA SỐ 1:

Cửa Số 1, còn gọi là Cửa Hoà Viện, nằm ở phía chánh Bắc, là một cái cửa đi vào Đền Thánh với khoảng cách gần nhất, phía ngoài cửa có con đường đi thẳng về hướng núi Bà và con đường nằm ngang là đường Điện Biên Phủ.

Cửa Hòa Viện (Cửa số 1) được xây dựng theo kiểu cổng Tam Quan có mái che ngắn, vốn là cổng mang số đầu tiên (số 1), nhưng nó được xâydựng sau, vào năm 1961.

Tại sao Cổng Số 1 gọi là Cửa Hòa Viện? Bởi đây là cách gọi từ lâu đời của người dân địa phương đã thành quen thuộc, vì trước đây ngoài cổng này có một cơ quan có tên gọi là Hoà Viện, đó là một trong chín viện của Cửu Trùng Đài.

- CỬA SỐ 2:

Cửa Số 2, nằm kế tiếp Cửa Hòa Viện trên trục lộ nối liền đường chính Thị xã là Cách Mạng Tháng 8. Cửa nầy có cấu trúc theo kiểu cổng Tam Quan không mái che và trang trí cực kỳ đơn giản. Đây chính là chiếc cửa đầu tiên, được xây từ năm 1925 (theo con số khắc trên đỉnh cổng).

Tại sao Cửa Số 2 đề năm 1925 trong khi năm 1927 Hội Thánh mới mua đất để xây Tòa Thánh tạm.... Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh cho biết do ý của Đức Hộ Pháp, các bậc lãnh đạo sau nầy không dám thay đổi thể pháp của Đức Ngài vì cho rằng có bí pháp ẩn tàng trong đó.

B. Hướng Tây dọc theo tường rào Nội Ô Tòa Thánh có ba cửa: Cửa Chánh Môn, Cửa Số 3 và Cửa Số 4, Cửa Số 5

- CỬA CHÁNH MÔN:

Chánh Môn là một cái cửa cổng lớn nhứt, hoành tráng nhất trong mười hai cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh, nằm ngay phía trước Đền Thánh và ba ngôi tháp của ba vị chức sắc Đại thiên phong Hiệp Thiên Đại, cũng là nơi khởi đầu của một Đại lộ có bề ngang 60 thước chạy thẳng về hướng Tây, gọi là Đại lộ Chánh Môn. Con lộ nầy được khởi công mở rộng vào ngày 25 tháng 3 năm Giáp Dần (Dl. 17/4/1974).

Cửa Chánh Môn thường đóng, chỉ mở vào các dịp lễ lớn, như lễ đón tiếp nguyên thủ các quốc gia, hoặc lãnh đạo các Tôn giáo.

Cửa Chánh Môn hiện nay xây dựng không theo họa đồ của Ðức Hộ Pháp đã chỉ dẫn Ban Kiến Trúc của Ðạo vẽ. Theo họa đồ nầy cửa Chánh môn có “Bề cao 36 thước, bề ngang 60 thước, cổ kính tam quan, trên nóc đắp mái ngói có hình Cổ Pháp Tam Giáo”.

Khi Hội Thánh dự định xây dựng cổng Chánh Môn, Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước đương cầm Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, đã chấp thuận Bản đồ cổng do Ty Kiến Thiết tỉnh Tây Ninh vẽ với chiều cao có 9 thước, ngang 54 thước, trên ngói đắp hai rồng phò Cổ pháp.

Cửa Chánh Môn nầy được xây dựng theo lối cổng tam quan không có mái che, nhưng ba cổng chính và phụ đã được tách rời ra thành ba chiếc cổng riêng, nối liền nhau bởi một bức tường rào có trang trí.

Cổng Chánh Môn được làm lễ đặt viên gạch đầu tiên vào ngày 12 tháng 6 năm Ất Tỵ (Dl. 10/7/1965) có Đức Thượng Sanh chứng dự và ban huấn từ trong buổi lễ.

- CỬA SỐ 3:

Cửa Số 3 đựơc xây dựng vào năm Bính Ngọ 1966, có cấu trúc là một cổng Tam Quan không có mái che.

Cửa Số 3 nầy không có con lộ thông thẳng ra ngoài, chỉ bước ra lộ dọc theo hàng rào phía Tây Nội Ô Tòa Thánh.

Bên trong Nội Ô, con đường từ Cửa Số 3 đến Cửa Số 10 có tên Thượng Trung Nhựt và ngay góc Cửa Số 3 có nhà may Linh Đức, là một cơ sở may phướn, lọng, tàn hay Đại, Tiểu phục cho chức sắc của Đạo.

- CỬA SỐ 4:

Cửa Số 4 được xây dựng vào năm Canh Tý 1960, theo kiểu cổng Tam Quan có mái che dài, nghĩa là trên ba khoảng cổng ra vào ấy, có đắp thêm ba mái ngói, mỗi mái hai tầng.

Trên nóc, ngay chính giữa có đắp hình Cổ Pháp Tam Giáo.

Trong Nội Ô, con đường từ Cửa Số 4 đến Cửa Số 9 có tên là Oai Linh Tiên và từ trong cửa nầy có đường đi thẳng ra ngoài về hướng Tây, ngày xưa có tên là lộ Quan Âm Các, hiện nay đổi thành đường Âu Cơ.

Đường nầy chạy ra ngả ba Mít Một: Một ngả về Thị Xã Tây Ninh, một ngả hướng về Thành Phô Hồ Chí Minh,

- CỬA SỐ 5:

Cửa Số Năm từ trước giờ có tên nhưng không có xây dựng cửa như mười một cửa cổng khác. Điều nầy làm cho nhiều người thắc mắc. Một vài chức sắc ở Toà Thánh khi được hỏi cũng không biết rõ vì lý do gì, chỉ trả lời chung là do Hội Thánh quyết định thế. Tuy nhiên, theo Công Viện cho biết chung quanh Nội Ô Tòa Thánh có mười hai cửa cổng, chia ra bốn phía thì mỗi phía chỉ có 3 cửa. Mà hướng phía Tây đã đủ cả ba cửa rồi, đó là Cửa Chánh Môn, Cửa 3, Cửa Số 4, cho nên không có Cửa Số 5 là vậy!

Một số người lại cho rằng Cửa Số 5 là cửa vô vi, nên không có cửa như các cổng khác. Vì số 5, theo Dịch lý, là số Trung cung, cho nên Cửa Số 5 còn được gọi là cửa Tử.

Do Cửa Số 5 trước đây không có xây cửa, cho nên Hội Thánh mới xây Cửa Chánh Môn để thế vào cho đủ ba cửa bên bờ rào hướng Tây và đủ mười hai cửa chung quanh Nội Ô Tòa Thánh.

C. Dọc theo tường rào Nội Ô Tòa Thánh về phía Nam có ba cửa: Cửa Số 6, Cửa Số 7 và Cửa Số 8.

- CỬA SỐ 6:

Cửa Số 6 được xây dựng vào năm Mậu Thân 1968, theo kiểu cổng Tam Quan không có mái che.

Cửa Số 6 nầy ở dãy hàng rào hướng Nam, đối diện với Cửa Số 2 nằm trên đường Cao Thượng Phẩm. Phía ngoài cổng là con đường tiến thẳng đến phía Đông chợ Long Hoa.

- CỬA SỐ 7:

Cửa Số 7 không biết được xây dựng vào năm nào, theo kiểu cổng Tam Quan có mái che thu nhỏ.

Cửa Số 7 nằm đối diện với cửa Hòa Viện, cửa nầy nằm trong dãy hàng rào phía Nam Nội Ô Tòa Thánh.

Con đường từ Cửa Hòa Viện đến Cửa Số 7 là Đại lộ Phạm Hộ Pháp, một con đường lớn ngang qua Đền Thánh, Báo Ân Từ và nhiều dinh thự khác của Đạo.

- CỬA SỐ 8:

Cửa Số 8 được xây dựng vào năm Giáp Dần 1974 theo kiểu cổng Tam Quan không có mái che.

Cửa Số 8 cũng nằm trong dãy hàng rào phía Nam của Nội Ô Tòa Thánh, đối diện với Cửa Số 12.

Con đường từ Cửa Số 8 đến Cửa Số 12 là lộ Cao Thượng Sanh (Cao Hoài Sang) nằm sau hai dãy Đông, Tây Lang, và đi ngang qua Trai Đường.

D. Dọc theo tường rào Nội Ô Tòa Thánh về Hướng Đông có ba cửa: Cửa Số 9, Cửa Số 10 và Cửa Số 11.

- CỬA SỐ 9:

Cửa Số 9 được xây năm Giáp Dần 1974 theo kiểu cổng Tam Quan không có mái che.

Nằm dọc theo dãy hàng rào phía Đông, Cửa Số 9 không có đường thẳng ra ngoài, chỉ thông với con lộ nhỏ nằm ngang heo hút, ít xe cộ, mà người dân địa phương gọi là Lộ Hàng Trúc. Bên trong cửa nầy là con đường Oai Linh Tiên dẫn đến Cửa Số 4.

Cửa Số 9 ít người ra vào, chỉ có tín đồ từ các vùng lân cận ra vào Nội Ô làm công quả hay dự lễ mà thôi.

- CỬA SỐ 10:

Cửa Số 10 nằm bên dãy hàng rào phía Đông của Nội Ô Tòa Thánh không có đường đi thẳng ra ngoài, mà chỉ đi ra lộ Hàng Trúc. Bên trong Cửa Số 10 đi thẳng đến Cửa Số 3 là con đường mang tên Thượng Trung Nhựt.

Cửa Số 10 được xây dựng vào năm Mậu Thân 1968 theo kiểu cổng Tam Quan có mái che dài.

Phần dưới mái che Cửa Số 10, trên tấm tường bắc ngang hai trụ cổng có đắp 6 chữ nổi, sơn đen bằng Hán tự và cả bằng chữ Việt, là “Đại đạo Tam kỳ phổ độ”. và trên hai trụ chính, có đôi liễn như sau

Cao thượng Chí tôn, Đại đạo hoà bình dân chủ mục.

Đài tiền sùng bái, Tam kỳ cộng hưởng tự do quyền.

- CỬA SỐ 11:

Cửa Số 11 được xây dựng vào năm Mậu Thân 1968 theo kiểu cổng Tam Quan không có mái che.

Cửa Số 11 cũng nằm trong dãy hàng rào phía Đông Nội Ô Tòa Thánh, cập theo lộ Hàng Trúc, không có đường đi thẳng ra ngoài. Bên trong Cửa Số 11 nầy có con lộ nhỏ thông đến Cửa Chánh Môn, gọi là đường Thái Thơ Thanh.

Vào năm 1970, Hội Thánh lưỡng đài có tổ chức phiên họp tại Giáo Tông Đường vào ngày 17 tháng 8 năm Quý Sửu (Dl. 13/9/1973), dưới quyền chủ tọa của Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đồng quyết nghị khai thông các cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh từ đó thay đổi số thứ tự các cửa cổng chung quanh Nội Ô Tòa Thánh như sau:

Cửa Chánh Môn là Cửa Số 1

Cửa Số 3 cũ là Cửa Số 2

Cửa Số 4 cũ là Cửa Số 3

Cửa Số 6 cũ là Cửa Số 4

Cửa Số 7 cũ là Cửa Số 5

Cửa Số 8 cũ là Cửa Số 6

Cửa Số 9 cũ là Cửa Số 7

Cửa Số 10 cũ là Cửa Số 8

Cửa Số 11 cũ là Cửa Số 9

Cửa Số 12 cũ là Cửa Số 10

Cửa Số 1 cũ (Hòa Viện) là Cửa Số 11

Cửa Số 2 cũ là Cửa Số 12

Mặc dầu dự định thay đổi số thứ tự các cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh, nhưng công trình xây dựng hàng rào và các cổng chưa hoàn tất nên cho đến tháng 9 năm 1973 văn phòng Thái Đầu Sư mới ban hành Thông tri số: 67/TĐS. TT về việc khai thông các cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh.

Thông tri đó chúng tôi xin được trích lại như sau:

 

CỬU TRÙNG ĐÀI

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Tứ thập bát niên)

Thái Đầu Sư

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 67/TĐS.TT

-------------

THÁI ĐẦU SƯ

Kính gởi:

Hiền Hữu Qu. Thái Chánh Phối Sư.

Trích yếu: V/v khai thông các cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh.

Tham chiếu: Phúc trình số: 759/TCPS/PT ngày 16 tháng 7 năm Quý Sửu (Dl. 16/8/1973)

Kính Hiền Hữu,

Về việc khai thông các cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh, Hội Thánh đã có đem ra phiên nhóm Hội Thánh lưỡng đài ngày 17 tháng 8 năm Quý Sửu (Dl. 13/9/1973) tại Giáo Tông Đường, dưới quyền chủ tọa của Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Chiếu nghị quyết khoản 2 trong Vi Bằng số:18/VB, sau khi thảo luận đều do theo Vi Bằng số: 15/VB ngày 8 tháng 6 năm Canh Tuất (Dl. 10/7/1970) của Hội Thánh lưỡng đài quyết nghị.

Bốn mặt thành Tòa Thánh mỗi bên chỉ có ba cửa, bốn bên là mười hai cửa, sắp theo thứ tự như dưới đây.

 

Cửa Chánh Môn là số

 

1

 

Cửa Số 3 cũ sửa lại số

 

2

 

Cửa Số 4 cũ sửa lại số

 

3

 

Cửa Số 6 cũ sửa lại số

 

4

 

Cửa Số 7 cũ sửa lại số

 

5

 

Cửa Số 8 cũ sửa lại số

 

6

 

Cửa Số 9 cũ sửa lại số

 

7

 

Cửa Số 10 cũ sửa lại số

 

8

 

Cửa Số 11 cũ sửa lại số

 

9

 

Cửa Số 12 cũ sửa lại số

 

10

 

Cửa Số 1 cũ (Hòa Viện) sửa lại số

 

11

 

Cửa Số 2 cũ sửa lại số

 

12

Hiền Hữu tư cho Công Viện khai thông mười hai cửa đúng theo quyết nghị trong Vi Bằng và đúc mười hai tấm bảng bằng ciment khắc chữ và số lớn cho rõ ràng để cận cửa nào số nấy.

Bởi ngày trước chưa mở Chánh Môn nên để cửa Hòa Viện gần Tòa Thánh là Cửa Số 1.

Nay có Cửa Chánh Môn ngay trước Tòa Thánh thì phải để cửa nầy là số 1 mới danh chánh ngôn thuận, vì vậy mà mười một cửa kia đều phải sửa số lại hết, Cửa Số 3 sửa lại Số 2, Cửa Số 4 sửa lại Số 3…v.v… xuôi theo một chiều đến Cửa Số 1 cũ là 11, Cửa Số 2 cũ là y theo bản đồ đã ghi số đó hôm bữa nhóm tại Giáo Tông Đường.

Sau khi các cửa làm hoàn tất thì bít hai cửa nhỏ trước Tòa Nội Chánh lại liền.

Vậy Hiền Hữu cho thi hành châu đáo.

Nay kính,

V/p Thái Đầu Sư, ngày 26 tháng 8 năm Quý Sửu

(Dl. 22/9/1973)

Thái Đầu Sư

(ấn ký)

Thái Bộ Thanh.

Kính tường:

- Ngài Hiến Pháp CQ. HTĐ

- Bảo Đạo Qu. CQ. BPC

- Thượng Đầu Sư,

- Ngọc Đầu Sư

- Ngọc Chánh Phối Sư

- H/h Qu. Thượng Chánh Phối Sư

- Hiền muội Qu. Nữ Chánh Phối Sư

- H/h Hiền Nhơn Chưởng Quản PT

- Khâm Thành Thánh Địa

 

Mặc dầu Thông Tri đã được ban hành từ lâu, nhưng trong Đạo mọi người đều không thấy, không biết có sự thay đổi đó.

Cho mãi đến ngày hôm nay, sau khi hoàn tất các công trình tráng nhựa con đường dọc theo hàng rào bên trong Nội Ô Tòa Thánh và tu sửa các đoạn rào bị hư hoại, và cất mới một số trạm gát nằm kề các cửa cổng mà trên mỗi trạm đều có khắc số theo các cửa cổng, thì mọi người mới biết đó là do Thông tri Số: 67/TĐS.TT của văn phòng Thái Đầu Sư ký ban hành ngày 26 tháng 8 năm Quý Sửu (Dl. 22/9/1973).

 

 

 

 

Ý NGHĨA VỀ LỄ VÍA
CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG TRONG CAO ĐÀI

Lễ: Có nhiều nghĩa khác nhau. Ở đây, chỉ ngày kỷ niệm quy Thiên (thành Đạo) của các Đấng Thiêng Liêng.

Vía: Ngày đản sinh (hay sinh nhựt) của các Đấng Thiêng Liêng.

Lễ vía là lễ kỷ niệm ngày Thành Đạo hay ngày đản sinh của các Đấng Thiêng Liêng trong đạo Cao Đài, nhằm mục đích lấy ngày đó cúng kính để bày tỏ lòng tôn kính với các Đấng ấy.

Để hiểu rõ ngày Lễ vía, tức ngày lễ kỹ niệm và ngày sinh nhựt các Đấng, chúng ta cần tìm hiểu hai từ:

Thành Đạo: Còn gọi là “Đắc Đạo”. Đắc quả”, là ngày của vị tu hành được về cõi thiêng liêng hay cõi Phật (còn gọi là quy Thiên).

Đản sanh (Đản nhựt): Còn gọi là “ngày vía, hay ngày sinh nhựt”, ấy là ngày của vị tu hành được cha mẹ ở thế gian sinh ra (Đản 誕 là ngày sinh).

Như vậy, ngày Lễ vía của một Đấng Thiêng Liêng người ta thường chọn ngày thành Đạo (đăng Tiên hay ngày quy vị), hoặc ngày đản sinh.

Bên Phật giáo, chỉ có Đức Thích Ca Mâu Ni là có đầy đủ hai Lễ vía: Ngày Thích Ca Thành Đạo 15 tháng 4 và vía Phật Đản mùng 8 tháng 4 (tức ngày sinh của Thái Tử Sĩ Đạt Ta).

Còn các vị Phật khác không có giáng sinh (tức không có xác trần) thì không có ngày đản sinh (ngày vía) mà chỉ có ngày thành Đạo mà thôi.

Ta thấy nếu Đấng Thiêng Liêng nào có đầy đủ hai ngày thành Đạo và Đản sinh thì Đấng ấy do Giáo Hội tự chọn lựa một ngày để làm Lễ vía.

Ví dụ như trước đây bên Phật giáo, vía Thích Ca Mâu Ni lấy ngày Phật Đản (ngày sinh) làm Lễ vía. Nhưng sau nầy, Phật Giáo Thế giời đã chọn ngày Thích Ca Thành Đạo , tức ngày 15 tháng 4 làm ngày Lễ kỷ niệm cho Đức Phật.

Còn nếu Đấng Thiêng Liêng nào không có ngày giáng sinh, cũng như không biết ngày thành Đạo thì do Giáo Hội hay Hội Thánh chọn một ngày có ý nghĩa để làm Lễ vía.

Ví dụ: Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, hay Đức Diêu Trì Kim Mẫu trong đạo Cao Đài …

Xét về Lễ vía các Đấng Thiêng Liêng trong tôn giáo Cao Đài, chúng ta thấy trong Bảng Các Ngày Cúng Lễ Hằng Năm, nếu Hội Thánh chọn lấy:

Ngày thành Đạo của các Đấng thì viết: Lễ kỷ niệm hội ngày quy Thiên của Đức Hộ Pháp. Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh và quý Thời Quân Hiệp Thiên Đài.

Ngày Đản sinh thì Hội Thánh viết: Vía Đức Thái Thượng Lão Quân, vía Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ….

Đặc biệt nhứt ngày Đại Lễ Đức Chí Tôn không phải là ngày Thành Đạo hay ngày Đản sinh mà là ngày căn cứ theo các số trong Dịch học để định ngày Đại lễ. Còn Đức Phật Mẫu, Hội Thánh lấy tích Vua Hớn Võ Đế cầu Phật Mẫu và sự tích Hội Yến Diêu Trì Cung vào ngày 15 tháng 8 năm Ất Sửu (Dl. 2/10/1925) để làm ngày Đại lễ Đức Phật Mẫu.

Căn cứ vào Bảng Các Ngày Cúng Lễ Hằng Năm của Hội Thánh Cao Đài, chúng ta tìm hiểu các ngày Lễ vía của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, hay các Đấng Thiêng Liêng theo ngày thành Đạo hoặc ngày Đản sinh.

A - Ý NGHĨA NGÀY ĐẠI LỄ ĐỨC CHÍ TÔN:

Trong đạo Cao Đài, Đại lễ Đức Chí Tôn hằng năm là ngày mùng 9 tháng Giêng Âm lịch. Ngày nầy được chọn căn cứ theo ý nghĩa của Dịch học, chứ không phải là ngày giáng sinh hay ngày thành Đạo của Đức Chí Tôn.

1/. Tháng Đại lễ:

Âm lịch là loại lịch căn cứ vào vận chuyển của mặt trăng chung quanh trái đất mà lập ra. Theo lịch nầy, thì một năm có mười hai tháng, (nhưng năm nào nhuần thì có 13 tháng), một tháng có ba mươi ngày (tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày) và mỗi ngày có 12 giờ. Mỗi tháng thuộc một chi trong 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi... và ứng vào một quẻ trong kinh Dịch:

Tháng Giêng, theo lịch đời vua Hoàng Đế và đời nhà Hạ bên Trung Hoa là thuộc tháng Dần và ứng với quẻ Thái.

Vậy chúng ta thử căn cứ vào Dịch học xét về quẻ Thái ơ để xem ý nghĩa như thế nào.

Quẻ Thái ứng vào tháng giêng (tháng 1 Âm lịch). Quẻ Thái gồm ba hào Dương ở dưới và ba hào Âm ở trên hay nói cách khác, quẻ Kiền (Càn) ☰ ở dưới, quẻ Khôn ☷ ở trên. Như vậy, trong quẻ Thái các hào Dương và các hào Âm bình phân với nhau, mà Dương lại chiếm phần nội quái (quẻ ở trong), Âm chiếm phần ngoại quái (quẻ ở ngoài), nên rất thuận lợi và vạn vật đều hanh thông.

Với quẻ Thái, Kiền (Càn) là Dương ở dưới, Khôn là Âm ở trên, nên giao cảm nhau, muôn vật nhờ đó đều thông suốt, hay nói một cách khác, khí Dương ở dưới thăng lên để gặp khí Âm ở trên giáng xuống, rồi hai khí tương giao hòa hợp mà vạn vật được sinh thành.

Vì Dương thăng, Âm giáng hay Kiền ở trong, Khôn ở ngoài nên Thánh nhân đặt ra tên cho quẻ ấy là Địa Thiên Thái, nghĩa là Đất Trời đều thông suốt, hòa hợp.

Lời Thoán của quẻ Thái trong Kinh Dịch có viết như sau: “Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh, tắc thị Thiên Địa giao nhi vạn vật thông dã, thượng hạ giao nhi kỳ chí đồng dã, nội Dương nhi ngoại Âm, nội kiện nhi ngoại thuận, nội quân tử nhi ngoại tiểu nhân, quân tử đạo trường, tiểu nhân đạo tiêu dã”, nghĩa là Thái là việc nhỏ đi, việc lớn đến, tốt đẹp, thông suốt, đó là Trời Đất cảm ứng nhau nên muôn vật biến chuyển không ngừng, trên dưới cảm thông nhau nên chí hướng giống nhau; Dương ở trong, Âm ở ngoài, mạnh ở trong, thuận ở ngoài. Quân tử ở trong, tiểu nhân ở ngoài, đạo người quân tử thì lâu dài, còn đạo kẻ tiểu nhân thì tiêu mất vậy.

Do tháng Giêng ứng với quẻ Địa Thiên Thái là một quẻ có Âm Dương đều hòa, giao cảm nhau để sinh thành càn Khôn và vạn vật, nên người ta chọn lấy nó làm tháng Đại lễ Đức Chí Tôn.

2/. Ngày Đại lễ Đức Chí Tôn:

Theo Dịch học, hai khí Âm Dương tuôn luôn được tượng trưng bằng hai con số “cơ” (số lẻ) và “ngẫu” (số chẳn). Số cơ là các số 1, 3, 5, 7, 9 và số ngẫu là các số 2, 4, 6, 8 và 10. Số cơ là Dương, nên tượng là Trời và số ngẫu là Âm, nên tượng là Đất.

Trong dãy số cơ (số tượng cho Trời), số 9 là một số cơ (Dương) gồm ba số cơ khác cộng lại: 9 = 1+3+5.

Trong dãy số ngẫu (số tượng cho Đất), số 6 là một số ngẫu (Âm) gồm hai số ngẫu khác (Âm) cộng lại: 6= 2+ 4.

Như vậy, số 9 là số thành của các số Dương nên được gọi là số Thuần Dương, Lão Dương, hay Thái Dương. Còn số 6 là số thành của các số Âm, nên được gọi là số Thuần Âm, Lão Âm hay Thái Âm.

Ngày vía Đức Chí Tôn phải chọn một ngày Dương, tượng trưng cho Trời. Trong số các ngày Dương phải chọn một ngày Thuần Dương, Lão Dương, hay Thái Dương.

Vậy chọn ngày mùng 9 tháng giêng làm ngày vía Đức Chí Tôn là dựa theo Dịch học vậy.

3/. Giờ Đại lễ Đức Chí Tôn:

Theo Âm lịch, một ngày có mười hai giờ tương ứng với mười hai địa chi và mỗi giờ của  lịch bằng hai giờ của Dương lịch.

Giờ Tý bắt đầu từ 00 giờ đến 02 giờ (đúng ra giờ Tý phải từ 23 giờ đến 01 giờ, nhưng vì hiện nay đồng hồ của miền Nam Việt Nam tăng lên một giờ).

Giờ Sửu từ 02 giờ đến 04 giờ và cử thế mà tính cho đến giờ Hợi là từ 22 giờ đến 24 giờ.

Như vậy, giờ Tý (00g-02g) là giờ có khí Âm cực thịnh, khí Dương khởi sanh (nửa đêm).

Giờ Ngọ (12g-14g) là giờ có khí Dương cực thịnh, khí Âm khởi sanh (đứng bóng, mặt trời ở đỉnh đầu).

Giờ Mẹo (06g-08g) là đêm giao tiếp với ngày, bóng tối mất dần, ánh sáng trở lại (tức trời rạng đông).

Giờ Dậu (18g-20g) là ngày đêm giao tiếp nhau; ánh sáng mất đi để bóng tối bao trùm (tức trời hoàng hôn).

Như vậy, hai giờ Mẹo, Dậu thì hai khí Âm Dương giao hòa.

Theo đạo Cao Đài, mỗi ngày có bốn giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu là có ngươn khí, ngươn thần của Đức Chí Tôn vượng hơn hết. Giờ Tý là giờ ngươn khí Đức Chí Tôn phát khởi, giờ Ngọ là giờ ngươn khí Đức Chí Tôn đến lúc cực thịnh, còn giờ Mẹo, Dậu thì “Âm Dương giao hòa nhau để sinh trưởng, nuôi dưỡng muôn loài, nên đó là giờ ngươn Thần của Đức Chí Tôn giáng hạ. Do bốn giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu có điểm đặc biệt đó, cho nên Hội Thánh khuyên toàn đạo phải bày lễ cúng Đức Chí Tôn trong bốn giờ đó, gọi là cúng tứ thời.

Còn hằng năm Vào ngày Đại lễ Đức Chí Tôn, Hội Thánh sẽ tổ chức vào giờ nào trong bốn giờ trên?

Như ta biết, giờ Tý là giờ Âm thịnh nhứt, mà Âm cực thì Dương sinh, nên giờ Tý là giờ có một hào Dương bắt đầu sinh ra, là giờ thứ nhứt của một ngày mới, cũng là giờ đầu tiên của mười hai giờ. Lại nữa, trong bốn giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu thì giờ Tý là giờ yên tĩnh nhứt, được xem như giờ huyền bí, thiêng liêng mà chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thường giáng hạ.

Vì vậy, Hội Thánh mới chọn giờ Tý để tổ chức Đại lễ Đức chí Tôn.

B - Ý NGHĨA NGÀY ĐẠI LỄ ĐỨC PHẬT MẪU.

Đại lễ Đức Phật Mẫu được Hội Thánh chọn ngày rằm tháng 8 Âm lịch hằng năm, dựa theo hai sự tích sau:

- Hớn Võ Đế rước Đức Phật Mẫu: Trong ngày lễ khánh thọ, vua Vũ Đế nhà Hớn có sở nguyện muốn cầu Đức Diêu Trì Kim Mẫu đến chứng lễ. Có một vị Tiên là Đông Phương Sóc biết được ý nhà vua, nên Ông tình nguyện đến triều bái Phật Mẫu để tỏ mọi điều. Phật Mẫu hẹn đêm Trung thu (ngày rằm tháng 8) sẽ giáng lâm xuống Hoa Điện, là ngôi đền do vua Vũ Đế lập ra.

Quả thật, vào nửa đêm Trung thu, bỗng có chim thanh loan bay đậu trước sân, ông Đông Phương Sóc cho biết đó là tin của Đức Phật Mẫu sắp đến, rồi sau đó Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương cũng giáng lâm xuống Hoa Điện và ban cho vua Vũ Đế bốn quả Đào Tiên.

- Hội Yến Diêu Trì Cung: Vào thượng tuần tháng 8 năm Ất Sửu 1925, Ba Ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang theo lời dạy của Thất Nương giữ trai giới trọn ba ngày rồi cầu Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương nơi Diêu Trì Cung.

Qua đêm 14 rạng 15 tháng 8 năm Ất Sửu, ba Ngài dọn một tiệc chay đặt trên một cái bàn dài ở giữa nhà và chung quanh xếp mười cái ghế thì có Cửu Thiên Nương Nương và chín Bà Tiên Nương, mỗi vị giáng cho một bài thi. Những bài thi nầy sau Hội Thánh dùng làm Bài Thài để hiến lễ các Bà trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung hằng năm tại Báo Ân Từ.

Dựa theo hai sự tích trên, Hội Thánh mới chọn ngày rằm tháng 8 hằng năm làm ngày Đại lễ Đức Phật Mẫu.

Đại lễ Phật Mẫu được tổ chức vào thời Ngọ tại Báo Ân Từ.

C - CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG LẤY NGÀY ĐẢN SINH.

Hội Thánh đã chọn ngày đản sinh (sinh nhựt) của các Đấng Thiêng Liêng sau đây để làm ngày vía.

Trong Sớ Văn, những ngày vía các Đấng thường viết câu: Kim vì Vọng nhựt lương thần, chánh thị (Thánh danh của Đấng Thiêng Liêng) Thánh Đán.

(chữ Thánh Đán, đúng ra phải viết Thánh Đản (聖 誕), là ngày sinh của một bậc Thánh.

1/. Vía Đức Thích Ca Mâu Ni: Mặc dầu Phật Giáo Thế Giới đã lấy ngày Thích Ca thành Đạo (ngày 15 tháng 4) để làm Đại lễ hằng năm của Đức Phật. Nhưng trong tôn giáo Cao Đài Hội Thánh vẫn còn lấy ngày Phật đản (đản sinh của Đức Phật mùng 8 tháng 4) để làm ngày vía đức Phật Thích Ca.

2/. Vía Thái Thượng Lão Quân.

Theo bài kinh “Tiên Giáo”, Thái Thượng Lão Quân có giáng trần là Đức Lão Tử vào ngày 15 tháng 2, (Nhị ngoạt thập ngũ, phân tánh giáng sanh), cho nên Hội Thánh chọn ngày Đản sinh của Lão Tử làm ngày vía Thái Thượng Đạo Tổ.

3/. Vía Đức Khổng Thánh Tiên Sư.

Hội Thánh đã chọn lấy ngày sinh của Đức Khổng Tử là ngày 27 tháng 8 để làm ngày vía Khổng Thánh Tiên Sư hằng năm.

4/. Vía Quan Âm Bồ Tát:

Theo Phật Giáo, Mỗi năm có 3 ngày vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Đó là các ngày:

Ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày Đản sanh Đức Quan Âm.

Ngày 19 tháng 6 âm lịch là thành Đạo của Đức Quan Âm.

Ngày 19 tháng 9 âm lịch là ngày xuất gia của Đức Quan Âm.

Hội Thánh Cao Đài đã chọn ngày 19 tháng 2 là ngày Đản sinh của Đức Quan Âm để làm ngày vía hằng năm của Đức Ngài.

5/. Vía Đức Quan Thánh Đế Quân: Theo Lịch sử, Ngài Quan Vũ giáng sinh vào ngày 24 tháng 6 nhằm triều vua Hoài Đế, đời Đông Hán, người đất Giải Lương, quận Hà Đông (có sách chép tại Bồ Châu, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc).

Vì vậy Hội Thánh chọn ngày 24 tháng 6 hằng năm để làm ngày ngày vía Đức Quan Thánh Đế Quân.

6/. Vía Đức Jésus Christ:

Jésus Christ, trong đạo Cao Đài gọi là Gia Tô Giáo Chủ, là một vị Giáo Chủ của Thiên Chúa Giáo. Ngài được sinh ra vào đêm 24 rạng 25 tháng 12 Dương lịch trong hang đá ở thành Bethléem, thuộc xứ Judée.

Vì vậy Hội Thánh Cao Đài chọn ngày 25 tháng 12 Dương lịch (Noel) làm ngày vía hằng năm cho Đức Gia Tô Giáo Chủ.

D - CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG LẤY NGÀY THÀNH ĐẠO

Trong bảng Các Ngày Cúng Lễ Hằng Năm Âm Lịch của Hội Thánh còn có các vị có công với Đạo, là những chức sắc Đại Thiên Phong Cửu Trùng Đài như Đúc Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, hay các vị Chưởng Pháp, Đầu Sư, và Hiệp Thiên Đài như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang và Thập Nhị Thời Quân.

Trước đây, những vị nầy có bài thài riêng và được làm lễ kỷ niệm cho từng người, nhưng sau nầy Hội Thánh quy định lại:

Lấy ngày đăng Tiên của Đức Quyền Giáo Tông là ngày 13 tháng 10 làm ngày “Kỷ niệm hội ngày quy thiên của Đức Quyền Giáo Tông, quý Đầu Sư và chức sắc hàng Thánh Nam, Nữ”.

Lấy ngày đăng Tiên của Đức Hộ Pháp là ngày 10 tháng 4 để làm ngày “kỷ niệm hội ngày quy Thiên của Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh và quý Thời Quân Hiệp Thiên Đài.

 

 

 

 

CƠ BÚT

Cơ Bút là nền tảng căn bản của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Chính Đức Chí Tôn dùng huyền diệu của Cơ bút lập thành nền Đại Đạo và qua Cơ Bút, giáo lý, luật pháp của Đạo được ban hành, Tòa Thánh, Thánh thất, được thành hình; những kinh điển, nghi thức cúng kính được truyền bá, và Thánh Ngôn, những thi văn dạy Đạo cũng từ Cơ Bút mà truyền qua nhiều thế hệ.

Vì vậy, chúng ta thử tìm hiểu về Cơ bút trong đạo Cao Đài.

Cơ Bút là cây cơ và ngọn bút, tức những dụng cụ dùng để thông công với các Đấng Thiêng Liêng.

Cây Cơ là một cái giỏ đương bằng tre hay mây, có phủ một lớp giấy và bên ngoài bọc vải vàng. Xuyên qua miệng giỏ có một cây cần dài bằng gỗ, đầu cần có chạm hình đầu chim loan và có gắn một cọng tre hoặc mây để làm cây bút viết.

Trong đạo Cao Đài, cây Cơ dùng để cầu chư Thần, Thánh, Tiên, Phật được gọi là Ngọc Cơ hay Tiểu Ngọc Cơ. Còn cây Cơ để cầu Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu có hình dáng lớn hơn, gọi là Đại Ngọc Cơ.

Cơ bút còn có nghĩa là Thủ Cơ (Phò Cơ) Chấp Bút.

Thủ Cơ (Phò Cơ) là tiếng dùng để chỉ hai vị Đồng Tử ngồi hai bên Ngọc Cơ, mỗi người dùng hai tay cầm giỏ cơ nâng lên, để cho các đấng Thiêng liêng giáng điển vào tâm hay tay của người cầm Ngọc Cơ, làm cho Cơ chuyển động viết thành bài cơ, bài văn.

Nơi đầu cây Ngọc Cơ có chạm hình đầu chim loan, cho nên Phò Cơ trong đạo Cao Đài còn được gọi là Phò Loan.

Chấp Bút cũng là một hình thức thông công với các Đấng Thiêng Liêng, nhờ Thánh điển giáng vào tay vị Đồng Tử cầm bút viết ra.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy về Thủ Cơ Chấp Bút như sau: “Thủ Cơ hay là Chấp Bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất Chơn thần ra khỏi phách đặng hầu Thầy nghe dạy.

Khi Chấp, Thủ thì tay tuân theo Chơn Thần nói lại mà viết ra, mường tượng như con đặt để, con hiểu đặng vậy.

Chơn Thần là gì ?

Là nhị xác thân (périsprit), là xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu.

Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.

Như Chấp Cơ mà mê thì Chơn Thần ra trọn vẹn khỏi xác. Thầy mới dạy nó viết chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra, người đọc trật chữ, nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.

Còn Chấp Bút, khi Thầy đến thì làm cho Thần con bất định một lát, cho Thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết. Ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông vạn vật đặng”.

Muốn thông công với các Đấng thì phải qua trung gian của vị Đồng Tử. Vị Đồng Tử ấy là người Phò Cơ, cũng như cái máy tiếp điển của Thần, Thánh, Tiên, Phật. Như ta biết, các Đấng Thiêng Liêng tiếp xúc với con người bằng Thiên điển, tất nhiên người Đồng Tử phải là người đồng điển với các Đấng mới phò cơ được.

Khi xưa, Đạo Tiên dùng những đứa trẻ nhỏ làm Đồng Tử (chữ Đồng Tử là đứa trẻ con), vì người xưa quan niệm tâm tánh của chúng còn hồn nhiên, cho nên gọi tâm của chúng là “xích tử chi tâm”.

Nhưng ngày nay, trong đạo Cao Đài người Thủ Cơ Chấp Bút là vị đứng trung gian của Đức Chí Tôn để Ngài truyền Đạo trong thiên hạ, nên người đứng trung gian đó là Đồng Tử, phải là vị chức sắc Thiên phong Hiệp Thiên Đài do Đức Chí Tôn chọn lựa trong những người đạo hạnh cao, trường chay tuyệt dục.

Lập Đạo kỳ ba nầy, Đức Chí Tôn chọn người Đồng tử có khiếu đặc biệt là có thể xuất Chơn thần ra khỏi thể xác được, mà đến hầu các Đấng Thiêng Liêng để tiếp nhận tư tưởng, rồi nhờ linh điển các Đấng giáng hiệp với nhơn điển đồng tử khiến cánh tay Đồng Tử cử động mà trình bày tư tưởng bằng một bài văn, gọi là Thánh giáo.

Do Thiên tính của mỗi Đồng Tử, người ta phân biệt làm hai loại: Đồng Tử mê và Đồng Tử tỉnh.

Đồng mê là khi chấp cơ chơn thần xuất trọn vẹn ra khỏi thể xác, tiếp nhận được rõ ràng tư tưởng của các Đấng Thiêng Liêng, nên có nhiều bài văn thi tuyệt diệu hoặc nhiều bài Thánh giáo lý đạo cao thâm, nhưng khi mãn đàn cơ, Chơn thần Đồng Tử rất mệt mỏi.

Đồng tỉnh là khi chấp cơ chỉ có một phần Chơn Thần của Đồng Tử xuất ra khỏi thể xác, tư tưởng các Đấng Thiêng Liêng được Chơn Thần của Đồng Tử diễn đạt nên ý tưởng bài Thánh giáo không phải hoàn toàn của các Đấng., nhưng trong trường hợp nầy, sau khi mãn đàn cơ, chơn thần của Đồng Tử ít bị mệt.

Có hai cách mà các Đấng Thiêng Liêng truyền tư tưởng cho Đồng tỉnh: Giáng tâm hay giáng thủ.

Giáng tâm tức tư tưởng các Đấng được truyền vào tâm Đồng Tử, cho nên tuy chưa viết ra mà thần trí Đồng Tử đã biết trước những lời sắp viết ra.

Giáng thủ tức điển lực của các Đấng giáng vào tay Đồng Tử, khiến viết ra lời cơ, trong khi Đồng Tử không biết chi hết.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Đồng Tử phải chấp cơ liên tục từ đàn cơ nầy đến đàn cơ khác, từ đêm nầy sang đêm khác, nên Đức Chí Tôn phải dùng đồng tỉnh mới tiện cơ phổ độ.

Trong mỗi đàn cơ, Đức Chí Tôn dùng hai người Đồng Tử Phò Cơ cho đủ Âm Dương hiệp nhứt, là cơ sanh hóa của Đạo. Người Thủ Cơ bên hữu thuộc Đồng Tử Âm, tiếp tư tưởng các Đấng rồi truyền qua người bên tả, thuộc Đồng Tử Dương, tiếp điển viết ra.

Để tiếp xúc với các Đấng Thiêng Liêng, người Đồng Tử cần phải giữ gìn thể xác cho thật tinh khiết mới có thể Phò Cơ Chấp Bút. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: “Trước khi Thủ Cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng, tắm gội cho tinh khiết, rồi mới đặng đến trước bửu điện mà hành sự, chớ nên thiếu sót mà thất lễ. Nếu chấp Cơ thì phải để ý thanh bạch, không đặng tưởng đến việc phàm. Tay Chấp Cơ cũng phải xông hương khử trược, tịnh tâm một lát, rồi phải để tinh thần tinh tấn mà xuất ngoại xác, đến hầu dạy việc”.

Ngoài ra người Đồng Tử còn phải giữ cho tư tưởng thanh bạch, phải đại tịnh, dứt hết mọi vọng niệm trong khi chấp cơ, theo lời Thầy đã dạy “Phải có một Chơn linh tinh tấn mới mầu nhiệm, huyền diệu, phải trường trai mới đặng linh hồn tinh tấn, phải tập tành chí Thánh, Tiên, Phật, mới phò cơ dạy đạo cả chúng sanh. Kẻ phò cơ, chấp bút cũng như tướng soái của Thầy để truyền đạo cho thiên hạ. Các con đừng tưởng việc bút cơ là việc tầm thường”.

Do sứ mạng của người đồng tử rất quan trọng, nên người đồng tử phải ý thức được vai trò thiêng liêng của mình mà cố giữ tính thuần chơn vô ngã và tư tưởng “Thanh Tịnh Tinh Khiết” thì mới hiệp với Trời, mà thông công với Thần Thánh, Tiên, Phật được.

Trong quyển Thiên Đạo, Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có dẫn lời Đức Chí Tôn giải thích về Tiên Cơ, Tà Cơ và Nhơn Cơ như sau: Thầy sẽ luận giải cho rõ ràng, kẻo các con còn nghi nghi ngại ngại

Tiên Cơ: Dùng luật huyền vi chơn lý, là lấy sự chánh đáng, để dìu đắt các con bước lần theo đường sáng suốt tấn hóa mãi lên.

Tà Cơ: Dùng mê tín dị đoan, là lấy sự chẳng đặng chơn thật, kiếm thế cho các con quá mê theo những sự dị đoan mà phải sai lầm.

Nhơn Cơ: Dùng hữu hình thể cách, là sự chi có hình dạng. Đấy là do các con làm ra.

Các con khá nhớ: trong ba cách đều phải thọ điển cả, chớ chẳng phải không đâu. Các con nghe Thầy giải lý:

Tiên Cơ: - Luật tiếp điễn như vầy: “Hễ đồng tử định chơn thần rồi thì tâm tịnh. Mà hễ tâm tịnh thì minh khiếu sẽ phát lộ ra, kế tiếp với chơn thần xuất hiện lên trên, rồi nối với Tiên Thiên điễn, mới rọi ra thành Thánh giáo. Nên khi lập đàn các con cần nhứt trước hết phải cho thanh tịnh, đừng khua động. Nếu động thì tâm đồng tử động, cái minh khiếu liên tiếp với Tiên Thiên điễn, bỗng rời ra thành thử phải đứt điễn đó.

Tà Cơ là vầy: Cũng phải tiếp điễn nữa. Nhưng vì điễn Hậu Thiên quá nhiều, có một tí Tiên Thiên mà thôi.

Tiên Thiên điển là Dương điển, còn Hậu Thiên là Âm điển. Tà thuộc Âm, nên hễ Âm điễn nhiều thành Tà Cơ đó.

Nhơn Cơ, cũng có điển; lúc mới tạo nên vật kiện là vầy: khi các con muốn làm ra một cái món chi, thì cái ý muốn ấy tự trong tâm các con phát hiện ra, óc của các con nó khiến các con cử động tứ chi, mà tạo thành vật ấy. Đó cũng gọi là điển, song thật là nhơn điển, phàm điển.

Vậy Thầy đã minh giải tận tường, các con lấy đó mà suy nghiệm chớ đừng để lòng nghi ngại như từ bấy lâu nay.

Cơ Bút là việc rất quan trọng vì đó là phương tiện để các Đấng Thiêng Liêng truyền và dạy Đạo, nhưng nó cũng có thể bị quỷ vương lợi dụng để khuấy phá, làm cho nhơn sanh mất đi tín ngưỡng. Nên trong Đàn cơ ngày 1 tháng 6 năm 1927 Đức Chí Tôn ra lịnh ngưng cơ phổ độ, tức ngưng cơ bút truyền đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy giáng cơ dạy như sau: “Còn cuối kỳ tháng 6 đây, thì Thầy phải ngưng hết cơ bút truyền Ðạo.

Các con sẽ lấy hết chí thành đã un đúc bấy lâu mà lần hồi lập cho hoàn toàn mối Ðạo.

Nầy là mấy lời đinh ninh sau rốt, khá lưu tâm. Ai vạy tà nấy có phần riêng, cứ giữ nẻo thẳng đường ngay bước đến thang thiêng liêng, chờ ngày hội hiệp cùng Thầy. Ấy là điều quí báu đó”.

Mặc dầu Thầy dạy ngưng cơ phổ độ, nhưng vẫn còn một số nơi cầu cơ, khiến nhiều chức sắc tin theo theo cơ bút đó mà tách ra thành lập chi phái. Ví thế, sau nầy Hội Thánh nhiều lần ra văn bản căn dặn phải cẩn thận việc cơ bút. Chớ vội tin mà phải lầm về cơ bút, trong Châu Tri Số: 50 của Chánh Phối sư Thượng Tương Thanh (Nguyễn Ngọc Tương lúc còn ở Tòa Thánh Tây Ninh) ngày 18 tháng 3 năm Nhâm Thân (Dl. 13/4/1932) có đoạn dạy: “Tôi cũng có nghe cơ bút bây giờ nổi lên cùng các tỉnh, rất khó cho chư Đạo hữu phân biệt cho được hư thiệt trong đó.

Tôi khuyên chư Đạo hữu hãy đọc Thánh Ngôn Hiệp Tuyển lại, rồi sẽ nhớ lời Thầy đã dạy trong đó mà ngừa.

“Ngoài Thập Nhị Thời Quân của Thầy đã phong để phò loan cho Thầy dạy Đạo thì đừng có vội tin rằng Thầy có giáng vào phò loan nơi nầy nơi nọ mà phải mắc kế của tà quyền, trộm danh Thầy mà dắt ra xa đường chánh.”

Chư Đạo hữu hãy đừng vội ham thơ hay là chức trọng, ấy là mồi để nhử đó. Thương hại cho mấy bạn lậm tin, vội lãnh chức mà sợ ngày sau rõ lại rồi ăn năn không kịp.

Cũng khuyên nên cẩn thận về cơ bút, Ngài Đức Quyền Giáo Tông có ban hành văn thư ngày 30 tháng 5 năm Nhâm Thân (Dl. 3/7/1932) như sau: Thầỹ hằng nhắc tôi hồi buổi ban sơ: “Dầu một Chí Thánh hạ trần mà trong Thiên thơ không định để cầm bút cho Thầy truyền đạo thì Thầy củng không dùng”.

Thánh giáo nầy chỉ cho ta hiểu rõ rằng: Cơ truyền đạo khác hẳn với cơ bút khác. Trước khi Đạo khai thì nhiều người lập đàn cầu Tiên Phật đặng xin thuốc chữa bịnh hay là hỏi việc gia đình thế sự. Mỗi lần lập đàn thì trầm hương nghi ngút, bông hoa rực rỡ, ăn chay nằm đất mấy ngày rồi khẩn cầu Tiên Phật. Tiên Phật thấy lòng thành cầu nguyện mới từ bi giáng dạy, cho thấy huyền diệu và mầu nhiệm thiêng liêng. Ấy là Cơ thế.

Còn Khai Đạo thì có Thiên cơ tiền định, mấy vị phò loan thì có định trong Thiên thơ. Chẳng vậy sao nhiều người trường trai giới sát chơn tu mà Thầy không biểu phò loan cho Thầy truyền Đạo, còn mấy vị phò loan của Hiệp Thiên Đài, Thầy không phú việc chánh trị của Đạo?

Nếu ai cũng phò loan truyền Đạo được thì chữ Thiên cơ không giá trị, nội hoàn cầu cũng phò loan lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, như vậy mới ra sao há???

Việc thế thì cũng có các tư kỳ phận, việc Đạo lớn lao tối trọng tối quí thì cũng phải có riêng phần tiền định.

Tôi xin sao lục Thánh Ngôn về việc Cơ Bút ra đây cho chư Hiền hữu xem tường tận. Trích Bài Thánh Ngôn ngày 29 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 7/8/1926) như sau: Những sự phàm tục đều là mưu kế của Tà mị Yêu quái, cốt để ngăn trở bước đường Thánh đạo của các con. Những mưu quỉ quyệt ấy do lịnh Thầy dùng để thử các con.

Thầy đã nói: Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con, nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Thầy lại khuyên các con gìn giữ bộ thiết giáp cho đến ngày hội hiệp cùng Thầy.

Ấy vậy, Ðạo là vật rất hữu ích, như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lỗ, còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép tà thần.

Các con chớ ngại, ngày nay, Ðạo khai tức Tà khởi. Vậy thì các con phải hết lòng hết sức mà gìn giữ lấy mình, đã chẳng phải giữ mình các con mà thôi, lại còn gìn giữ cả môn đệ Thầy nữa …..

Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: Cả môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa, còn lối nửa phần, vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ.

Cười …. Ði bao nhiêu đều mất bấy nhiêu. Các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít là lẽ hằng.

Các con liệu phương thế mà nâng đỡ đức tin của môn đệ cao lên hằng ngày, ấy là công quả đầu hết.

Sau đây, Ngài Quyền Giáo Tông trích Thánh Giáo của Đức Lý Giáo Tông giáng cơ vào Thứ bảy, ngày 15 tháng 1 năm 1927 như sau:

Hỷ chư Đạo hữu, chư Đạo muội, chư chúng sanh.

Chư Đạo hữu bình thân,

Đạo của Thầy ngày nay và từ đây sắp tới, nhơn loại hoan nghinh lắm đó. Lão rất vui mừng thấy hạnh của chư Hiền hữu, công quả trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ nầy lắm nỗi nặng nề.

Mười phần nhơn sanh, chư Hiền hữu phải độ tới chín. Than ôi! Hễ Đạo càng thạnh thì nghịch lại càng nhiều. Trên Chánh phủ hằng để mắt nghi nan, dưới bọn ma hồn quỉ xác theo kích bác. Chư Hiền hữu phải chịu và sẽ phải chịu hổ nhục trăm điều. Nếu Lão có lời căn dặn là thấy sự cực nhọc của chư Hiền hữu muốn toan cất bớt, nên phải dặn lấy sự cẩn thận nhịn nhục dè dặt mà hành đạo. Chánh phủ hằng dòm hành chư Hiền hữu.

Nghĩ nỗi buồn cười, Trị nhi vô giáo, nay đặng hữu trị hữu giáo mà lại nghi nan. Ấy cũng một lũ phàm.

Lão khen nhiều người chẳng kể quyền cao tước trọng, phế trọn sự đời mà hành đạo, nhứt là người đương thời dưới quyền Chánh phủ, như hai cột Đạo là TƯƠNG và TRANG, kế nữa người đại công là HÓA. Chẳng cần phải nói đến mấy em nhỏ chịu cực nhọc cùng Đạo trăm điều. Khen thay! Dường ấy mà chẳng một lời than thở.

Lão mới để dạ lo lường, nếu Lão nói rõ ra, e cho chư Hiền hữu phải kinh khủng sợ sệt, nên dặn rằng: Đạo vốn nơi Cơ Bút mà phát thành. Vậy Lão khuyên cẩn thận cho lắm.

Đời với Đạo chẳng đồng, tuy biết có Đời mới có Đạo, có Đạo mới nên Đời, nhưng Đạo Đời hằng nghịch lẫn. Vậy Lão tỷ thí như trong bọn chư Hiền hữu muốn phản loạn, nắm cơ viết đùa ra hay là quỉ nhập, viết ra rằng: Thầy xúi chư hiền hữu làm giặc, thì Đạo phải thế nào?

Thượng Trung Nhựt trả lời:Như có Thánh Ngôn bất chánh thì chư đệ tử không tuân theo.

Cười... Nếu nói dễ dàng dường ấy còn luận đến làm gì. Như Lão chẳng vì lời Thầy dặn bảo, thì đã cấm Cơ Bút rồi. Vậy Đạo chưa thành, Lão kỳ tới cuối tháng 6 năm tới thì cấm tuyệt Cơ Bút phổ độ, sắp đặt lại: Dạy đạo thì có Cư, Tắc phò loan, Đại đàn thì có Đức, Hậu, Mỹ Ngọc và Sang phò, còn kỳ dư dùng khai Tiểu đàn mà thôi, nghe à!

Chẳng phải vậy gọi chắc, chánh trị muốn thế nào thì đặng thế ấy, nhứt là quốc gia chư Hiền hữu còn dưới quyền Chánh phủ lang sa cai trị. Lão tưởng chẳng nói thì chư Hiền hữu cũng đủ hiểu, mấy đứa nhỏ là mấy tướng soái của Thầy lập thành đạo. Vậy cứ tuân y theo lời Lão dặn, nếu muốn chắc nữa thì cứ đem chúng nó cả thảy là 15 đứa với Mỹ Ngọc mà tuyên bố cho cả quốc dân biết thì đủ, nhưng lão dặn thêm một điều nầy là còn cả thảy mấy em chẳng phải phò loan đặng huyền diệu hết, như kể ra thì có 3 cặp mà thôi, còn các cặp khác phải cẩn thận cho lắm, vì thần chúng nó không đủ trọn mà cầm tánh mạng nhơn sanh, hay là ngăn ngừa tà ma q uỉ mỵ xung nhập, nghe à!

Việc cấm Cơ Bút của Hội Thánh vẫn chưa được thực hiện nghiêm nhặt, cho nên Ngài Quyền Giáo Tông mới ban hành Châu Tri ngày 1 tháng 6 năm 1927 tại Chợ Lớn có nội dung như sau:

Lời cho đạo huynh rõ:

Tôi đã nghe rằng, nhiều Đạo hữu ham mộ Cơ Bút rồi tập ngang làm cho xảy ra nhiều chuyện lôi thôi, đến đỗi bị quỉ nhập mà điên, như một Đạo hữu ỏ Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho) và hai Đạo hữu nữa ỏ Vĩnh Lộc (Gia Định). Vậy từ đây, tôi nhứt định cấm tuyệt Cơ Bút khắp nơi, nếu ai cải lời, còn dùng Cơ Bút nữa thì tôi hội Tòa Tam Giáo xin trục xuất ngoại đạo, rồi sẽ gởi tên lên cho chánh phủ biết, chừng ấy có bề gì đừng trách.

Xin đạo huynh mời nhóm chư Chức sắc sở tại lại, buộc phải ký tên vào tờ nầy, rồi gởi trả lại cho tôi, còn một tờ, đạo huynh giữ lấy. Ai không tuân lịnh sẽ bị buộc tội, chiếu theo điều lệ 27, 28, 29 và 30, 31 trong Tân Luật, Chương thứ VII.

Ký tên: THƯỢNG TRUNG NHỰT.

 

 

 

 

PHƯỚC LỘC THỌ

A - TRONG DÂN GIAN.

Trong dân gian, Phước Lộc Thọ là ba điều cơ bản trong một cuộc sống tốt đẹp của con người: Phước là sự may mắn, tốt lành, Lộc là sự giàu có, thịnh vượng, Thọ, sự sống lâu, trường thọ.

Mỗi một điều tượng trưng cho một vị thần, ba vị này gọi là Thần Tam Đa, tức Phước, Lộc, Thọ, thường được viết chung, không tách rời ra.

Tam Đa cũng là biểu tượng tốt đẹp mà con người luôn luôn mong muốn có với hy vọng mang lại nhiều phước đức, nhiều của cải và nhiều tuổi thọ.

Ngày xưa trong những ngày xuân sang tết đến, người ta thường đến nhà thăm viếng và lấy câu “Phước Lộc Thọ” chúc tụng lẫn nhau, hoặc trao tặng tượng Thần “Tam Đa” (Phước Lộc Thọ) để làm món quà chúc những điều tốt đẹp nhứt trong cuộc sống con người.

Theo tài liệu kể lại, nguồn gốc Phước Lộc Thọ hay Thần Tam Đa xuất phát từ ba người có thật trong lịch sử Trung Hoa.

1- Ông Phước làm đến chức Thừa tướng đời nhà Đường, tên thật là Quách Tử Nghi. Ông là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng, không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.

Tuy gia cảnh ông không giàu có, nhưng đổi lại nhà ông ngũ đại đồng đường, con cháu đề huề. Lúc ông mất, năm 83 tuổi con cháu năm đời đều có đủ.

Ông Phước mang đến sự may mắn, an lành.

Tượng ông Phước trên tay thường bế một đứa bé trai.

2- Ông Lộc là vị quan Thừa tướng đời nhà Tấn, tên thật là Đậu Tử Quân. Ông là vị tham quan, nên vàng bạc, châu báu chất cao như núi, đó là của đút lót những kể cầu cạnh, nịnh bợ, những kẻ mua quan bán tước.

Ông Lộc tượng trưng cho sự giàu có, thịnh vượng.

Tượng ông Lộc thường tạc một vị quan mặc áo màu xanh lá cây, vì "lộc" phát âm gần với "lục" (màu xanh lá cây).

3- Ông Thọ cũng làm Thừa tướng đời Hán, tên là Đông Phương Sóc, tánh thanh liêm, không nhận của hối lộ, ông chỉ thích lộc của vua ban thưởng cho.

Ông sống đến 125 tuổi, cho nên người đời mới gọi là ông Thọ. Khi chết thì chỉ có đứa cháu bốn đời lo tang ma, còn hết thảy con cháu đều chết hết cả.

Ông tượng trưng cho sự trường thọ với hình ảnh là một ông già râu tóc bạc phơ, trán hói và nhô cao, tay cầm quả đào hoặc cầm gậy.

B - TRONG CAO ĐÀI

Trong tôn giáo Cao Đài, Phước Lộc Thọ là ba Đấng Thiên Quân được thờ nơi Hậu Điện Báo Ân Từ hoặc Hậu Điện các Điện Thờ Phật Mẫu ở địa phương, gọi là “Tam Thiên Quân”.

Nơi phía sau Báo Ân Từ hay Hậu Điện các Điện Thờ Phật Mẫu ở địa phương có thiết lập một Bàn thờ ở giữa, trên đó có đề ba chữ Nho lớn: PHƯỚC LỘC THỌ 福 祿 夀. Bàn thờ đó gọi là Bàn Thờ Tam Đa, dùng để thờ Tam Thiên Quân, tượng trưng cho Cửu Huyền Thất Tổ chung cho mọi người.

Hai bên Bàn thờ Tam Thiên Quân có đặt hai cây Lọng màu vàng. Phía trước Bàn thờ ở Báo Ân Từ, trên hai cây cột có đề một đôi liễn bằng chữ Nho như sau (các Điện Thờ Phật Mẫu địa phương không có liễn):

報 答 至 功 前 輩 開 機 天 道 留 傳 千 萬 代

BÁO đáp chí công tiền bối khai cơ Thiên đạo lưu truyền thiên vạn đại,

恩 祠 大 德 後 人 承 繼 尊 崇 正 教 七 億 年

ÂN từ đại đức hậu nhơn thừa kế tôn sùng Chánh giáo thất ức niên.

Nghĩa là:

Đền đáp công nghiệp lớn lao của các bậc tiền bối đã mở ra nền tảng Đạo Cao Đài truyền lại muôn đời về sau,

Đền thờ những vị có ơn đức lớn, người sau thừa kế tôn sùng nền Đạo chơn chánh đến bảy trăm ngàn năm.

Trong đạo Cao Đài. tại sao thờ Tam Thiên Quân là thờ Cửu Huyền Thất Tổ chung cho tất cả mọi người?

Phước là điều may mắn

Ông Phước có đức Trời cho, vì ông có tánh chơn thật, không tham lam. Nhà tuy nghèo lại đông con, nhưng ông tin tưởng vào vận mạng, cố gắng làm ăn không chịu nhờ vả ai, giữ lòng thanh bạch.

Lộc là điều tốt đẹp được hưởng chức phận và giàu sang.

Ông Lộc có đức của Đất cho, là vị quan tại triều đình, nhà giàu có, kẻ hầu người hạ, tánh tình hòa nhã, thanh liêm, một lòng yêu dân mến nước, hay trợ khó giúp nghèo, mến hiền trọng đạo.

Thọ là điều được hưởng sự an nhàn và sống lâu.

Ông Thọ có đức do Người tạo, độc thân, sống lâu hơn mọi người, có lòng nghĩa hiệp, hay giúp đỡ người nghèo khổ, chỉ sống bằng nghề ăn trộm, một năm chỉ ăn trộm một lần để nuôi thân suốt năm, không ham lấy thêm, gặp người quá nghèo khổ thì đi ăn trộm của nhà giàu, đem tiền đến cứu giúp.

Sự tích Tam Thiên Quân Phước, Lộc, Thọ được Đức Phạm Hộ Pháp giảng giải trong đêm giao Tòa nhà mới vừa xây cất xong vào năm 1947 dành cho Hiệp Thiên Đài làm Văn Phòng của chư vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài, có đông đảo Chức sắc Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài tham dự.

Ba Ông Phước, Lộc, Thọ cùng ở một thôn.

Ông Phước thì nghèo khổ mà đông con.

Ông Lộc thì làm quan, giàu có mà không con.

Ông Thọ thì có nghề sở trường là ăn trộm, đi làm việc một đêm đủ tiền chi dụng một năm, ngoài ra chẳng làm việc gì khác.

Một hôm, Ông Thọ khởi sự hành nghề ăn trộm, đang đêm đi ngang qua nhà Ông Phước, thấy đèn còn thắp leo lét, ghé vào đứng bên ngoài xem, nghe vợ của Phước than thở nghèo khổ, con cái quần áo tả tơi. Ông Thọ thấy vậy cảm động đem lòng thương xót thầm, nghĩ rằng : Đêm nay, mình đi ăn trộm chuyến nầy để giúp Anh Phước đỡ nghèo, có tiền mua gạo ăn và sắm quần áo cho đàn con đông đảo.

Nghĩ vậy rồi liền thực hành, đi đến nhà Ông Lộc, rình cho đến khuya, đợi tôi tớ trong nhà ngủ say, mới đánh ngạch vào nhà, mở tủ lấy trộm được một số vàng bạc khá nhiều, bọc vào một cái khăn, rút lui êm tịnh, không ai trong nhà hay biết.

Ông Thọ liền đi ngay đến nhà Anh Phước, trời vẫn còn khuya, kêu Anh Phước dậy mở cửa, đốt đèn lên. Phước hỏi Ông Thọ, nửa đêm kêu cửa có việc chi cần gấp?

Ông Thọ nói : Tôi đem giúp Anh một gói vàng bạc đây để Anh chi dụng trong nhà, mua gạo và sắm quần áo cho sắp nhỏ mặc cho lành lặn.

Ông Phước hỏi: Vàng bạc ở đâu mà Anh có nhiều như vậy?

Ông Thọ đáp: Của tôi đem đến giúp Anh thì Anh cứ nhận mà dùng, hơi nào hỏi lòng vòng lôi thôi.

Ông Phước nói : Xin Anh cho tôi biết rõ của nầy do đâu mà có thì tôi mới dám nhận sự giúp đỡ của Anh, chớ tôi thấy Anh đâu có giàu gì !

Ông Thọ túng thế phải nói thiệt : Số vàng bạc nầy do tôi lấy trộm của nhà giàu để đem lại giúp Anh cho đỡ nghèo.

Ông Phước nói : Tưởng đâu Anh làm ăn khá giả, dư tiền dư bạc mà giúp tôi, nào dè Anh đi ăn trộm, thì vàng bạc nầy là của phi nghĩa, của gian, tôi không dám nhận đâu, Anh hãy đem về đi.

Hai đàng nói qua nói lại một hồi, Ông Phước nhứt định không nhận, có vẻ giận, rồi mời Anh Thọ ra khỏi nhà, đóng cửa đi ngủ trở lại.

Ông Thọ nghĩ lấy làm lạ cho cái Anh Phước nầy, nhà nghèo rớt mồng tơi, đói nheo nhóc mà lại không chịu nhận vàng bạc bất nghĩa. Mình chẳng lẽ lấy số vàng bạc nầy về xài thì tỏ ra kém cỏi hơn Anh ta nhiều quá, nên quyết liều đem lại trả cho Ông Lộc.

Ông Thọ suy nghĩ như thế, liền trở lại nhà Ông Lộc, kêu mở cửa, rồi vào nhà nói rõ cho Ông Lộc biết :

Hồi đêm hôm, tôi có lén đào ngạch vào nhà Ông ăn trộm một số vàng bạc để đem lại giúp cho Anh Phước, vì thấy Anh Phước nhà quá nghèo mà lại đông con, nhưng Anh Phước nhứt định không chịu nhận vì cho rằng của nầy là của ăn trộm, của phi nghĩa, nên tôi chẳng biết làm sao, đành liều đem lại trả cho Ông, xin Ông đừng bắt tội.

Ông Lộc nói: Tiền bạc ở trong tủ nhà của tôi thì nó mới là của tôi, nay nó đã ở trong tay Ông thì nó là của Ông, không phải của tôi nữa. Ông hãy mang về đi, tôi không biết tới nó nữa.

Ông Thọ nài nỉ: Tôi nói thiệt với Ông là số vàng bạc nầy là của Ông, Ông không tin thì vào mở tủ ra xem lại đi, tôi mới lấy trộm ra đó. Xin Ông tha tội cho tôi và cất nó trở lại vào tủ.

Ông Lộc nhứt định không chịu nhận và mời Ông Thọ ra khỏi nhà.

Ông Thọ buộc phải ôm gói vàng bạc đi ra, trở về nhà, lòng nặng trĩu ưu tư, thầm nghĩ hai thằng cha Phước và Lộc là hai tay thật kỳ cục, phi thường khác tục. Ông suy nghĩ mãi và cảm thấy lương tâm ray rứt, kế trời hừng sáng. Ông quyết định là mình cũng không xài số vàng bạc nầy làm gì, mất giá trị lắm, chẳng lẽ mình thua Anh Phước sao, thôi mình nên đem đổ xuống sông cho rảnh.

Ông Thọ liền đem tất cả số vàng bạc ấy đến đứng giữa cầu, đổ trút xuống dòng sông nước đang chảy mạnh. Đúng lúc đó, có một đám người cờ bạc vừa tan sòng đi ra đến đầu cầu nhìn thấy, họ la hoãng lên vì động lòng tham, liền nhảy xuống sông để lặn mò lấy vàng bạc. Chẳng may nước chảy xiết quá, có một người ham lặn, hụt hơi chết đuối.

Linh hồn chàng cờ bạc bị Quỉ sứ dẫn xuống Địa ngục phạt tội, liền tố cáo với Diêm Vương là tại Ông Thọ nên anh ta mới bị chết chìm một cách oan uổng và đòi Diêm Vương bắt Ông Thọ đền mạng.

Diêm Vương liền kêu Quỉ Sứ lên bắt hồn của Ông Thọ dẫn xuống. Diêm Vương hỏi Ông Thọ : Tại sao nhà ngươi làm cho tên nầy chết đuối oan mạng như thế ?

Hồn Ông Thọ đáp : Tâu Diêm Vương, tại tên nầy quá tham lam thấy tôi đổ vàng bạc xuống sông nên lặn mò quyết lấy, chẳng may bị hụt hơi chết đuối thì đáng kiếp lắm, chớ tôi đâu có xô nó xuống sông mà bắt tội tôi.

Vàng bạc ở đâu ? Mà tại sao ngươi đổ xuống sông ?

Vàng bạc nầy là của tôi, tôi không dùng thì tôi đổ xuống sông, ấy là quyền của tôi, tên nầy quá tham lam nên chết rán chịu.

Diêm Vương lại phán : Mặc dầu là tiền bạc của nhà ngươi, nhưng lúc sắp soạn đổ xuống sông, ngươi phải lựa lúc vắng người, để không ai nhìn thấy mà khêu gợi lòng tham của kẻ xấu. Vậy ngươi chẳng chối tội đặng.

Nếu Diêm Vương xét như vậy thì tội nầy là tội của Anh Phước mới đáng, chớ không phải tội của tôi, bởi vì số vàng bạc nầy, tôi đem lại cho Anh Phước để giúp Ảnh đỡ nghèo, mà Anh Phước không chịu lấy, nên tôi tức mình mới đem đổ xuống sông như thế.

Diêm Vương lại sai Quỉ Sứ lên bắt hồn của Ông Phước xuống đây đối chất.

Diêm Vương hỏi Ông Phước : Số vàng bạc của Thọ đem đến giúp cho nghà ngươi, sao nhà ngươi không chịu lấy, để nó tức giận đem đổ xuống sông, làm cho tên cờ bạc nầy nổi lòng tham, lặn mò đến chết đuối ? Vậy nhà ngươi phải đền mạng cho tên cờ bạc nầy.

Ông Phước biện bạch thưa rằng : Bẩm Diêm Vương, nhà tôi nghèo thật, nhưng vàng bạc của Anh Thọ giúp tôi là của gian, của ăn trộm, nên tôi nhứt định không nhận. Vậy tôi có tội gì ?

Diêm Vương quay qua quở Ông Thọ, Thọ liền thưa : Nếu như Anh Phước vô tội thì tội nầy phải là của Ông Lộc, bởi vì số vàng bạc nầy là của Ông Lộc do tôi lén lấy trộm đem về giúp Anh Phước, nhưng Anh Phước cho là của gian nên không nhận, tôi đành đem trả lại Ông Lộc và xin tha tội ăn trộm của tôi. Ông Lộc rất kỳ cục, không chịu chấp thủ, đuổi tôi ra khỏi nhà, nên tôi tức giận đem đổ xuống sông. Vậy tội nầy là của Ông Lộc.

Diêm Vương lại cho Quỉ sứ đi bắt hồn của Ông Lộc xuống tra hỏi.

Ông Lộc biện bạch rằng : Số vàng bạc nầy của tôi bị mất đã đành, nhưng Ông Thọ đã lấy đem ra khỏi nhà tôi mà tôi không hay biết, thế là của đó không còn là của tôi nữa, nên dầu cho Ông Thọ có năn nỉ trả lại, tôi nhứt định không chịu nhận. Kể ra của đó cũng bất nghĩa, tôi đành chịu ngu dại chớ không nhận lại của đó. Nhận lại hay không là quyền chọn lựa của tôi, tôi đâu có phạm tội gì.

Diêm Vương thẩm án, xét thấy ba ông Phước, Lộc. Thọ đều là người có nghĩa khí. Phước và Lộc đều trong sạch. Thọ có tội ăn trộm nhưng biết giác ngộ và làm việc phải, giúp người nghèo khó. Vậy cả ba người nầy đều vô tội, chỉ có tên cờ bạc gian tham lặn mò cho đến đổi chết đuối là đáng kiếp, không thể khiếu nại gì được nữa.

Diêm Vương phán rồi, liền sai Quỉ sứ dẫn hồn tên cờ bạc chết oan đem giam vào Địa ngục hành hình và truyền đưa ba hồn Phước, Lộc, Thọ trở về dương gian nhập xác.

Khi ba hồn về tới dương gian thì ba xác của ba Ông đã được thân nhân mai táng, sình thúi hư hỏng hết rồi, vì vụ thưa kiện nầy lòng vòng mất nhiều ngày giờ. Do đó, ba Chơn hồn được đưa trở lại Địa phủ.

Diêm Vương làm tờ sớ trình bày tỉ mỉ sự việc, dâng lên Thiên Tào phán định. Thượng Đế xem xong, phán rằng : Phước nghèo, đông con, giữ được lòng thanh bạch. Thọ thì độc thân, không tham, có nghĩa, nhân từ. Lộc thì có lòng độ lượng.

Cho nên, Phước Lộc Thọ là ba tánh đức của Trời, Đất, Người. Người mà có được ba đức ấy để hưởng là một phúc hạnh lớn.

Nay phong cho ba vị làm Tam Thiên Quân, và truyền cho thế gian tôn thờ ba Đấng Thiên Quân nầy để làm gương.

Đạo Nho lấy sự tích Phước Lộc Thọ nầy làm biểu tượng thờ Cửu Huyền Thất Tổ, thể sánh Tổ Phụ Ông Bà thuở xưa cũng đã từng hưởng được ba đức ấy.

 

 

 

 

SẮC BẤT BA ĐÀO DỊ NỊCH NHÂN

Bài Thánh thi của Đức Quan Thánh Đế Quân như sau:

Mê tân nhất khối trọng như sơn,

Sắc bất ba đào dị nịch nhơn.

Chúng ta thử tìm hiểu câu: “Sắc bất ba đào dị nịch nhơn”.

SẮC 色: Sắc đẹp đàn bà. BẤT 不: Chẳng. BA ĐÀO 波 濤: Sóng gió. DỊ 易: Dễ. NỊCH NHÂN 溺 人: Nhận chìm người.

Sắc bất ba đào dị nịch nhân nghĩa là sắc đẹp không phải là sóng nước mà dễ nhận chìm con người.

Đây là một câu đối lấy ý từ một điển cố Trung Hoa như sau: Đời vua Minh Huệ Đế, có người tên là Trần Hoá Chiêu ở huyện Tế Hàng, tỉnh Sơn Đông và vợ là Lương Tiểu Nga rất xinh đẹp.

Ở cùng huyện có tên là Trát Hiếu Sắc. Hiếu Sắc thấy Tiểu Nga đẹp, tìm cách kết bạn với Hoá Chiêu là lập tâm chiếm cho được vợ Hóa Chiêu, nên Hiếu Sắc bỏ ra rất nhiều tiền để giúp đỡ bạn trong việc làm ăn hoặc những lúc nguy khốn. Qua hai năm, sau khi chiếm được cảm tình của nhà bạn, Hiếu Sắc rủ Hoá Chiêu ngồi thuyền đi buôn, mọi vốn liếng đều do mình chịu cả. Thuyền đi một tháng đến Hàng Châu, Hiếu Sắc phục rượu cho Hoá Chiêu say rồi xô xuống biển. Mấy lần Hoá Chiêu trồi lên đều bị tên phản bạn nhấn xuống cho chìm, cuối cùng chàng phải vùi thây dưới đáy biển.

Chừng ấy, Hiếu Sắc mới tri hô lên cho bè bạn hay và mượn thuyền đến vớt bạn nhưng không được. Hiếu Sắc cho thuyền trở về, khóc lóc báo tin dữ cho mẹ và vợ Hoá Chiêu hay, rồi xuất tiền làm lễ đám và cùng Tiểu Nga thọ tang. Từ đó, Hiếu Sắc càng tỏ ra hết lòng lo lắng mọi việc nhà cho vợ bạn khiến mẹ Hoá Chiêu cảm động và ép dâu là Tiểu Nga ưng Hiếu Sắc làm chồng để đền công ơn giúp đỡ. Hai người ăn ở với nhau ít lâu, nhân vô ý, Hiêú Sắc để lộ việc mình âm mưu hại bạn. Tiểu Nga biết được đến huyện đường đầu cáo và trả được thù cho chồng cũ. Nhưng nàng nhận thấy vì nhan sắc của mình mà cả hai người chồng đều bị chết, Tiểu Nga bèn thắt cổ tự tử. Người đời sau nhân đó mới cho rằng: Nhan sắc đàn bà không phải là sóng nước mà dễ nhận chìm người.

Câu “Sắc bất ba đào dị nịch nhơn” là câu đối câu đối của Nguyễn Giản Thanh được kể lại trong một giai thoại lịch sử như sau:

Nguyên Nguyễn Giản Thanh là người làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me) huyện Đông Ngàn (nay là Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh, sanh năm 1482, con của Tiến Sĩ Nguyễn Giản Liêm. Ông là người có hình dung tuấn tú, học rất thông minh, sau thi đỗ Trạng nguyên, nên thường được gọi là Trạng Me.

Lúc còn đi học, một hôm thầy của Nguyễn Giản Thanh là Đàm Thận Huy, thấy học trò sắp ra về thì trời đổ mưa to, học trò không về được, phải ở lại lớp, thầy bèn ra một câu đối và yêu cầu học trò đối lại để thử tài.

Câu đối của Thầy Đàm Thuận Huy là

Vũ vô kiềm toả năng lưu khách

雨 無 鉗 鎖 能 留 客,

Nghĩa là: Mưa không then khoá mà giữ được khách.

Trong lớp Nguyễn Giản Thanh là học trò giỏi nhứt, liền đối lại:

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

色 不 波 濤 易 溺 人,

Nghĩa là sắc đẹp không phải là làn sóng nhưng dễ nhận chìm người.

Thầy Đàm Thuận Huy có lời nhận xét câu đối của Nguyễn Giản Thanh như sau: Câu đối thật hay và thật chỉnh, văn khí nầy có thể đậu Trạng nguyên, nhưng về sau coi chừng việc sắc dục mà làm hại sự nghiệp.

Quả nhiên, Nguyễn Giản Thanh làm quan đến Lễ Bộ Thượng Thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, tước Trung Phụ bá, nhưng vì say đắm cô gái đẹp ở kinh thành mà đến ô danh bại giá.

Câu “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách” còn được một người học trò khác tên là Nguyễn Chiêu Huấn, quê ở làng Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đối lại như sau:

Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân

月 有 彎 弓 不 射 人

Nghĩa là Trăng có cánh cung nhưng không bắn người.

Qua câu đối nầy, thầy Đàm Thận Huy có nhận xét về Nguyễn Chiêu Huấn như sau: Tuy vế đối nầy không xuất sắc bằng câu của Nguyễn Giản Thanh, kém sắc sảo, nhưng tỏ ra khí chất hiền hoà, sau này sẽ làm nên, cuộc sống sẽ chu toàn! Người này làm quan thanh liêm, bản chất lương thiện rất được lòng dân".

Chính thầy Đàm Thận Huy thích vế đối của Nguyễn Chiêu Huấn có ý trung hậu, ông bèn gả đứa con gái lớn cho người học trò hiền lành này.

Sau đó đến mùa thi, Nguyễn Giản Thanh đỗ trạng nguyên, tổ chức ăn mừng hơn một tháng trời.

Thấy vợ tỏ ra hối tiếc mãi, Đàm Thận Huy bèn bảo rằng “Anh này đỗ trạng nguyên thì anh kia rồi cũng phải đỗ bảng nhãn. Tuy kém hơn, nhưng bụng nó trung hậu, con cháu chắc sẽ khá hơn nhiều.”

Sau khoa thi kế tiếp, vào năm 1514, tức năm Hồng Thuận thứ 5 đời vua Lê Tương Dực, ông Nguyễn Chiêu Huấn đỗ Bảng Nhãn. Về sau Ông là một trong những bậc danh nho nổi tiếng ở vùng đất Kinh Bắc, một người hiền lành, nhân hậu. Bảng nhãn Nguyễn Chiêu Huấn từng đi xứ Trung Quốc, làm đến chức Thượng thư bộ công và nằm trong hội Tao Đàm.

Qua chuyện kể trên, câu “Sắc bất ba đào dị nịch nhơn.” cho ta một suy gẫm theo triết lý tôn giáo:

Như ta biết, lòng dục hay lòng ham muốn của con người thật là vô biên, vô hạn, không bao giờ biết dừng nghỉ. Lòng dục đó Phật giáo cho rằng có năm thứ, gọi là ngũ dục. Đó là sắc dục (hình sắc), thanh dục (âm thanh), hương dục (mùi thơm), vị dục (mùi vị), xúc dục (đụng chạm).

Trong Ngũ dục, Sắc dục là một hiển họa cho con người nhứt, nó có thể chi phối đời sống con người rất mạnh mẽ. Nhan sắc là cái thể hiện bên ngoài nên thường đập vào mắt ta, tạo cho chúng ta sự yêu thích và ham muốn.

Sự cuốn hút của nhan sắc rất mãnh liệt làm nhiều người chạy theo một cách mù quán, khiến phải lệ thuộc vào nó và có khi phải bán rẽ lương tâm hay sự nghiệp để có được nó. Ham thích trong cái sắc đẹp sẽ luôn mang đến cho chúng ta sự phiền não trói buộc và gắn liền với cái đau khổ.

Trong thực tế, lịch sử con người đã chứng minh cho ta thấy rõ ràng rằng, bao nhiêu triều đại vua chúa sụp đổ tan tành cũng vì ham mê sắc đẹp, nên người xưa mới cho rằng câu: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” là một chân lý, đời nào cũng đúng.

Nếu chúng ta biết rằng nhan sắc là cái đẹp hình thức bên ngoài, theo Phật chỉ là phù du giả tạm, không bền chắc và có tác hại trên con đường tu của mình, thì chúng ta đừng để nó lôi kéo, nhận chìm chúng ta. Nhờ vậy, chúng ta mới thật sự sống trong chánh niệm và không còn bị đau khổ vì cái đẹp bên ngoài chi phối đời sống của chúng ta.

 

 

 

 

NGÀI TRẦM QUAN LỚN

Trên hành lang Báo Ân Từ, về phía sau Hậu Điện, Đức Hộ Pháp cho vẽ một bức tranh lấy tích “Ngài Trầm Quan lớn” để tỏ ý cho thấy tình thương có thể thay cho pháp luật.

Thi sĩ Huệ Phong trong quyển Báo Ân Từ có sáng tác một đoạn thơ song thất lục bát nói về tích “Ngài Trầm quan lớn” như sau:

Ngài Trầm lập nhà trường dạy dỗ,

Của tiền cho kẻ khổ trong làng.

Gia tài giao nửa huyện quan,

Trẻ thơ thấy mặt hô vang kính chào.

Câu chuyện nầy lấy tích từ bên xứ Ấn Độ được truyền tụng trong nước và khắp các nước nhỏ ở miền Tây Ấn. Câu chuyện được kể như sau:

Ngày xưa có một người họ Trầm giàu sang tột bực, hưởng một gia tài rất lớn, nên ông hằng mong muốn làm một việc gì đó để đạt được uy thế và được người đời trọng vọng.

Một hôm ông ngồi suy ngẫm về vai trò Quân, Sư, Phụ trong xã hội Nho giáo thời bấy giờ. Theo ông đây là ba bực có quyền thế rất lớn và có ảnh hưởng nhiều đến xã hội và gia đình.

- Quân là vua, một người có uy quyền tột bực trong tay, cũng là người giàu sang cùng tột, đứng đầu trong một nước.

- Phụ là cha, đứng đầu trong gia đình, có uy quyền nhưng việc giàu sang phú quý thì chưa ắt hẳn, còn tùy thuộc vào phận rủi may.

- Sư là thầy, tuy uy quyền và phú quý không đảm bảo, nhưng là người có địa vị, có uy thế và được người đời kính trọng.

Nghĩ vậy, ông bèn xuất tiền ra cất trường học, rồi tập họp các em trong làng đến học. chính ông đích thân đứng ra dạy học, chẳng những không thâu học phí, mà còn tặng cho tập vở viết mực và quần áo..v.v..

Việc làm từ thiện của ông Trầm được đồn vang khắp phủ, huyện, nhân dân rất mến mộ và kính trọng ông. Cứ thế, ông xuất tiền ra giúp đỡ và dạy dỗ cho học sinh, dần dần thời gian trôi qua, ông đã xử dụng hết phân nửa gia tài của mình vào việc nhơn nghĩa.

Quan phủ nghe danh, cho mời ông đến nói: Tôi làm quan đã lâu, uy quyền tôi có đủ, nhưng tôi thiếu sự thân thiết và mến mộ của nhân dân.

Ông Trầm nói: Quan phủ là quan cai trị dân chúng và gìn giữ luật nước nên phải nghiêm minh, cương trực, cho nên dân sợ mà tuân theo, vì vậy dân chỉ kính trọng mà không thân thiết. Còn tôi không phải là quan, nên không có quyền cai trị. Hằng ngày tôi gặp dân chúng, tôi chỉ có sự thân thiết. Vì thế, cái mà quan có thì tôi không có, còn cái tôi có thì quan không có.

Quan phủ nói: Hiện giờ tôi ước muốn làm cho dân thân thiết và kính trọng.

Ông Trầm nói: Muốn làm điều đó phải có tiền bạc, phương tiện để giúp dân. Nếu quan muốn làm, tôi sẵn sàng nhường nửa phần gia tài còn lại của tôi cho quan làm việc nghĩa.

Thế là quan phủ dùng nửa phần gia tài của ông Trầm giúp đỡ cho dân chúng trong phủ, nên từ đó danh tiếng của ông Trầm và quan phủ thường gắn liền nhau. Mỗi khi gặp ông Trầm hay quan phủ người ta đều thưa: “Ngài Trầm Quan lớn”.

Sau một thời gian làm việc nghĩa, ông Trầm đã hết tiền và gia tài đã cạn kiệt, do đó ông lặng lẽ đi xứ khác để làm ăn. Biệt tích trong một thời gian, ông lại trở về, vào gặp quan phủ nói: Tôi hết gia sản nên tìm xứ khác làm ăn.

Ông kể lại cho quan phủ nghe: Tôi vào làm việc cho vị phú thương, vị này hiện bị quan phủ bắt vì tội buôn vàng trái phép. Quan phủ nói: Đúng rồi, ông ấy mới khai việc buôn vàng trái phép đó. Ông Trầm nói: Nếu ông chủ tôi nhìn nhận tội thì quan theo luật pháp mà xử, tôi không dám cầu xin tha cho ông ấy.

Dân chúng trong làng hay tin việc này, bèn cử một vị bô lão đến gặp quan phủ nói: Ông phú thương nhận tội là một người thật thà, ông Trầm thấy chủ phạm tội, không dám xin tha, ấy là người đáng kính, còn quan lớn giữ phép nước là người đáng tôn. Làm việc mà được mọi người kính, mọi người tôn thì đó là việc phải. Chúng tôi thay mặt cho dân chúng trong huyện xin có ý kiến : “Luật pháp là để áp dụng cho người có tội, chớ đối với người lương thiện có tấm lòng hào hiệp, thương yêu thì không áp dụng luật pháp răn trị nữa. Chúng tôi xin lãnh tội và xin tha cho vị phú thương”.

Thế là ông phú thương được dân chúng bảo lãnh và được quan huyện tha tội. Đó là tình thương đã đem thay luật pháp.

Ông phú thương được tha, trở về xứ rất cảm động trước tình cảm của dân chúng đối với ông Trầm nên tình nguyện chia đôi tài sản cho ông Trầm để tiếp tục làm việc nhơn nghĩa.

 

 

 

 

TẾT NGUYÊN TIÊU HAY LỄ THƯỢNG NGUƠN

I - TẾT NGUYÊN TIÊU

Tiết Nguyên Tiêu là một cái lễ hội hoa đăng vào đêm rằm tháng giêng Âm lịch hằng năm. Phong tục tại Trung Quốc, nhà nhà đều treo đèn lồng màu đỏ sáng rực trước cửa vào đêm Nguyên Tiêu.

Có nhiều giai thoại được truyền lại về lễ hội Nguyên Tiêu: Đây là tích được nhiều người kể lại, cho rằng thời Tây Hán ở Trung Quốc, sau Tết Nguyên Đán, rồi nay đến Tết Nguyên tiêu, các cung nữ đều nhớ nhà và muốn được đoàn viên cùng gia đình. Tuy nhiên, lịnh cấm xuất cung của triều đình rất nghiêm nhặt, canh phòng khắt khe nên các cung nữ không thể nào ra ngoài được.

Trong số cung nữ có nàng tên là Nguyên Tiêu vì quá nhớ thương cha mẹ mà buồn rầu đã nhảy xuống giếng để kết liễu cuộc đời, nhưng Nguyên Tiêu được vị quan cận thần của Hán Vũ Đế là Đông Phương Sóc cứu sống.

Đông Phương Sóc biết được tâm sự của Nguyên Tiêu, nên bày ra một kế để giúp cô thỏa lòng thương nhớ cha mẹ.

Ông lập ra một bàn để xem bói cho mọi người, ai đến bói cũng nhận được quẻ cho rằng ngày 16 tháng Giêng trong dân gian sẽ bị lửa thiêu.

Đồng thời, ông giải thích với mọi người rằng sẽ có người của triều đình xuống giáng hỏa, mọi người hãy tâu vua để tìm cách thoát nạn.

Vua Vũ Đế nghe dân tình xôn xao thì vội vàng triệu Đông Phương Sóc đến hỏi và tìm cách đối phó.

Đông Phương Sóc bày kế cho nhà vua: Thần lửa rất thích ăn bánh, trong cung lại có Nguyên Tiêu khéo tay, có thể làm được bánh vừa đẹp vừa ngon nên hãy giao cho cô làm bánh''.

Ngoài ra ông lại ra lệnh cho người dân trong thành treo trước cửa nhà đèn lồng đỏ để trên Thiên Đình tưởng rằng thành dưới Hạ giới đang bị cháy.

Nhờ công lao làm bánh, nhà vua cho Nguyên Tiêu về đoàn tụ gia đình, đặt tên cho món bánh mà cô làm là bánh trôi và gọi ngày Rằm tháng Giêng là Tết Nguyên Tiêu.

Vì vậy, tục lệ xưa tại Trung Quốc khi đến ngày tết Nguyên Tiêu có thói quen làm bánh trôi và treo lồng đèn đỏ trước cửa.

Lại có một tích khác cho rằng vua Hán Văn Đế lên ngôi đúng vào ngày Rằm tháng Giêng, nên Ngài ra lịnh cứ đến đêm Rằm tháng Giêng hằng năm dân chúng trong thành treo đèn hoa để Ngài ra xuất cung chung vui với người dân.

Tại Việt Nam, theo quan niệm của người xưa cho rằng thời khắc đầu tiên trong năm là rất quan trọng. Vì vậy, ngày mùng Một tháng Giêng là Tết Nguyên Đán (nguyên: Đầu tiên, Đán: Buổi sáng, ngày), còn ngày Rằm tháng Giêng là Tết Nguyên Tiêu (nguyên: Đầu tiên, Tiêu: Đêm)…

Phật giáo tại Việt Nam đã gắn kết các phong tục văn hóa người Việt, lấy ngày tết Nguyên Tiêu từ một lễ có nguồn gốc từ Trung Hoa đã biến đổi thành một ngày Lễ thấm nhuần Phật pháp: Đó là Lễ Thượng Ngươn.

Do Tết Nguyên Tiêu trùng hợp với lễ Thượng nguyên, là một trong ba ngươn lớn của năm mà người có tôn giáo thường đi viếng chùa lễ Phật cầu cho gia đạo bình an, quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.

II - THƯỢNG NGUƠN

Theo Nho giáo, Rằm Thượng Nguơn là ngày lễ “Thượng Ngươn Tứ Phước Thiên Quan Đại Đế Thắng Hội 上 元 賜 福 天 官 大 帝 勝 會” hay còn gọi “Thượng Ngươn Thiên Quan Thánh Đản 上 元 天 官 聖 誕”.

Tương truyền Thiên Quan là vua Nghiêu. Như vậy ngày Rằm tháng Giêng là ngày kỷ niệm Thánh đản của vua Nghiêu.

Như ta biết, vua Nghiêu là vị Thánh vương thời Thượng cổ, lấy đức trị dân, làm cho muôn dân được an cư lạc nghiệp, ấm no hạnh phúc. Do đó, người đời sau tặng vua Nghiêu danh hiệu “Thiên Quan Tứ Phước 天 官 賜 福” và đem thờ phụng, hương khói hằng ngày. Thiên Quan ý chỉ cái đức vua Nghiêu che trùm thiên hạ, sánh như Trời đất. Tứ Phước là ban phước cho nhân dân.

Riêng trong tôn giáo Cao Đài, Thượng Ngươn là một trong ba ngươn lớn của một năm. Thượng Ngươn là một ngày cầu nguyện cho Cửu Huyền Thất Tổ được ân xá tội tình và cũng là ngày cầu nguyện cho chư chiến sĩ trận vong cùng các đẳng chơn hồn được siêu thăng thoát hóa.

Vì vậy, Hội Thánh có tổ chức cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ và Chiến sĩ trận vong nơi Trai Đường. Đồng thời Hội Thánh cũng thiềt lể truy điệu và cầu siêu hội cho quý Chức Sắc hàng Thánh Vị tại Báo Ân Từ , và quý Chức Sắc hàng Thần Vị tại Khách Đình. Nghi lể gồm có: Nghi Cáo Từ Tổ, Cúng Tế Đăng Điện, và Cầu Siêu .Tối lại thì tụng Kinh và Chèo Hầu.

Trong Sớ Văn dâng lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng trong lễ cúng Thượng Ngươn tại Đền Thánh và các Thánh Thất địa phương có nội dung như sau:

今 為 運 會 上 元 玉 虛 宮 靈 霄 殿 大 開 恩 赦 各 等 靈 魂.

諸 天 封 嚴 設 壇 場: 香, 燈, 花. 茶, 果, 清 酌 之 儀 誠 心 獻 禮.

仰 望 無 中 慈 父 發 下 洪 恩, 好 生 大 德, 隨 元 運 會 恩 赦 諸 靈, 有 功 行 道, 濟 度 人 生.及 前 往 七 祖, 後 往 九 玄 由 子 孫 立 身 行 道, 以 顯 父 母, 孝 義 為 先.

諸 戰 士 忠 誠 勇 敢 為 國 忘 身, 以 至 全 體 黎 民 痛 苦 戰 爭 同 時 死 難.

願 求 各 等 亡 魂 早 得 超 升 淨 度.

Phiên âm:

Kim vì vận hội Thượng Nguơn Ngọc Hư Cung, Linh Tiêu Điện đại khai ân xá các Đẳng linh hồn

Chư Thiên phong nghiêm thiết Đàn tràng: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng vọng VÔ TRUNG TỪ PHỤ phát hạ hồng ân, háo sanh đại đức, tùy nguơn vận hội ân xá chư linh hữu công hành Đạo, tế độ nhơn sanh. Cập Tiền vãng Thất tổ, Hậu vãng Cửu Huyền do tử tôn lập thân hành Đạo, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu nghĩa vi tiên.

Chư chiến sĩ trung thành dõng cảm, vị quốc vong thân, dĩ chí toàn thể lê dân thống khổ chiến tranh đồng thời tử nạn.

Nguyện cầu các đẳng vong hồn tảo đắc siêu thăng Tịnh độ.

Dịch nghĩa:

Hôm nay vì gặp được khí vận nhằm lúc Thượng ngươn Ngọc Hư Cung, Linh Tiêu Điện mở ra cuộc Ân xá lớn cho các đẳng linh hồn.

Chư Thiên phong trang nghiêm thiết lễ Đàn cúng tế gồm: Hương, hoa, trà, quả, rượu tinh khiết đúng theo nghi thức xin thành tâm hiến dâng lễ này.

Chúng con ngưỡng mong nhờ:

Đấng Vô Trung Từ Phụ ban phát hồng ân xuống cho chúng con vì lòng đại đức hiếu sinh, tùy theo ngươn vận mà ân xá cho chư Chơn linh có công hành Đạo, cứu giúp Nhơn sanh, cùng Tiền vãng Thất Tổ, Hậu vãng Cửu Huyền bởi con cháu lập thân hành Đạo để làm vinh hiển cha mẹ, lấy hiếu nghĩa làm đầu.

Chư chiến sĩ trung thành dõng cảm vì Nước quên mình, cho đến tất cả nhân dân khốn khổ , đau xót vì chiến tranh đồng thời bị chết vì tai nạn.

Xin nguyện cầu cho các vong hồn sớm được siêu thăng Tịnh độ.

 

 

 

 

THƯƠNG YÊU VÀ HÒA THUẬN LÀ LỄ HIẾN CHO THẦY

Đàn cơ tại Thảo Xá Hiền Cung ngày 1 tháng 3 năm Tân Mùi (Dl. 18/4/1931), Đức Thượng Phẩm có giáng cơ cho hai Ngài Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung và Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc trong đó có câu như sau: “Vậy Em và Anh nên nhớ lời Thầy dặn rằng: Các con cái Thầy ví biết Thương Yêu, Hòa Thuận cùng nhau là lễ hiến cho Thầy rất nên long trọng”.

Chúng ta thử tìm hiểu thế nào là thương yêu, hòa thuận? Và tại sao việc thương yêu hòa thuận là lễ hiến cho Thầy rất long trọng?

I - THƯƠNG YÊU

Con người, ai cũng có lòng thương yêu, nhưng vì bản ngã nên lòng thương yêu đó trở nên thấp hèn, vị kỷ. Loại thương yêu nầy chỉ tìm tòi lợi lộc cho chính mình, chỉ thâu vào nhiều hơn ban ra, chỉ nghĩ đến cá nhân mình, đến gia đình mình hay tập thể mình. Loại tình thương đó dễ đưa đến hận thù và chiến tranh.

Chúng ta cần biết cuộc sống của con người sẽ có ý nghĩa khi mọi người biết thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau để làm cho đời sống của những người xung quanh và của chính mình được ấm áp, hạnh phúc hơn.

Trong tôn giáo lòng thương yêu được nâng lên mức cao thượng hơn, gọi là lòng từ bi, bác ái, tức là lòng thương người thương vật, thương khắp chúng sanh không điều kiện, không phân biệt thân hay sơ, không thấy có sự sang hèn, và luôn luôn thương xót vì những sự đau khổ của người khác, lúc nào cũng tìm cách cứu giúp họ thoát khỏi khổ não.

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo đã giải thích về lòng thương yêu hay nói cách khác là lòng từ bi bác ái như sau: “Bần Ðạo xin được giải chữ Từ bi ai ai cũng đều có sẵn trong tâm, trẻ con nên năm bảy tuổi thì nó đã biết sự thương yêu cha mẹ, thương yêu anh em là người thân tộc gần gũi của nó, khi nó đã trưởng thành có vợ con, bậu bạn thì nó lại thương yêu rộng ra hơn nữa, một khi đã thấy sự đau khổ hoạn nạn, tai ương của quần chúng thì nó cảm hóa xúc động đến tâm thương yêu lan tràn ra, không biết đâu là giới hạn, ấy là tánh từ bi đó.

Còn Bác ái là thể theo lòng Trời Phật thương yêu toàn cả chúng sanh không biết đâu là bờ bến, thấy chúng sanh làm được việc gì có đạo đức nhơn nghĩa, thì Trời Phật vui mừng thương yêu chẳng xiết, ấy là Bác ái.

Hiện nay nhơn loại thiếu sự từ bi bác ái cho nên tạo ra trường tranh đấu, quyết chiến với nhau, sát hại đồng bào tương tàn cốt nhục, Ðức Chí Tôn giáng trần hoằng khai Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là cốt yếu đem chủ nghĩa từ bi bác ái làm tôn chỉ, để cho nhơn sanh theo đó mà làm một cơ quan bảo tồn tánh mạng và bảo an quốc thể được hòa bình.

Ngày nào toàn cả quần chúng, đồng bào biết giác ngộ, tu tỉnh hiệp nhứt tâm thực hành chủ nghĩa từ bi bác ái cho ra chơn tướng, thì nhơn sanh sẽ đặng chung hưởng mọi điều hạnh phúc, chẳng luận quốc dân nào, xã hội nào mà toàn cầu thế giới cũng được thọ hưởng cái hạnh phúc ấy”.

Khi khai sáng đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dùng Bác Ái - Công Bình, được nêu lên ở bản Thiên Nhân Hòa Ước để làm tôn chỉ cho nền Đại Đạo. Chính vì vậy, trong Thánh giáo Đức Chí Tôn luôn luôn dạy và nhắc nhở nhơn loại phải biết thương yêu nhau.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Ngài có lời dạy: “Thầy thường nói với các con rằng, các con là cơ thể của sự thương yêu, mà các con không còn hiểu sự thương yêu là gì, bởi nơi nào đó? Trung kiếm coi.

Trung bạch: Sự thương yêu là việc giúp lẫn nhau, chia vui sớt nhọc và nâng đỡ nhau, dầu cho ai đi nữa cũng tưởng như một mà thôi.

Không, con. Sự thương yêu là giềng bảo sanh của Càn khôn Thế giới. Có thương yêu, nhơn loại mới hòa bình, Càn khôn mới an tịnh. Ðặng an tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, mới giữ bền cơ sanh hóa.

Còn nghịch cơ sanh hóa là ai? Các con có biết không? Trung kiếm coi.

Trung bạch: Ấy là những kẻ vô đạo đức, đã không lo trau giồi tánh chất lại còn kiếm mà nghịch lẫn với người.

Không, con. Con nói đó là nói dối cho Tà quái, chớ thiệt là cho Quỉ vương. Quỉ vương là tay diệt hóa. Cũng như có sống của Thầy ắt có chết của Quỉ vương vậy. Vậy thì các con coi Quỉ vương lấy cơ thể nào mà toan hại các con?

Trung bạch: Quỉ vương xúi giục người không đem lòng bác ái mà gây rối lương sanh.

Sao con không dùng tiếng ghét mà tỏ lý cao sâu? Vì có ghét nhau, vạn loại mới khi nhau, khi lẫn nhau mới tàn hại nhau, mà tàn hại lẫn nhau là cơ diệt thế.

Vậy Thầy cấm các con từ đây, nếu không đủ sức thương yêu nhau thì cũng chẳng đặng ghét nhau, nghe à!”.

Trong Đàn cơ ngày 2 tháng 10 năm Ðinh Mão (Dl. 27/10/1927), Thánh giáo Đức Chí Tôn khẳng định lại một lần nữa về việc thương yêu nhau: Thầy đã dạy, Thầy chỉ một lòng mơ ước cho các con biết thương yêu nhau trong Thánh đức của Thầy. Sư thương yêu là chìa khóa mở Tam thập lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh. Kẻ nào ghét sự thương yêu thì chẳng hề qua khỏi cửa luân hồi.

Trong giai đoạn xã hội hiện thời, con người vì mê luyến vật chất tiền tài, ham mê danh lợi mà đánh mất sự thương yêu, nên thuyết đạo Đức Thượng Sanh kêu gọi người chức sắc phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau mới có thể thực hành cơ phổ độ trọn vẹn.

Ngài nói: “Tôi nhận thấy cái tình thương yêu nhau là quí trọng hơn hết.

Với sự thương yêu nhau, với sự đồng tâm hiệp trí, chúng ta có thể san bằng tất cả những khó khăn, lướt qua những cơn phong vũ bất kỳ, tang thương ảm đạm. Ðời đã lắm chua cay, nhơn tâm đã lắm điên đảo, trong cảnh tu hành chúng ta đã chịu thiệt thòi về mọi phương diện, nếu chúng ta không thương yêu nhau và đùm bọc lấy nhau thì thế nào chúng ta tự cứu lấy mình và giải khổ chung cho nhơn loại.

Vì đó, chúng ta không sợ Ðạo nghèo về tiền bạc mà chỉ sợ Ðạo nghèo về tình thương yêu, cái tình thương yêu quí báu mầu nhiệm rất cần thiết cho tâm hồn của người tu sĩ cũng như cơm gạo cần thiết cho mảnh xác thân và nếu thiếu hẵn đi thì dầu chúng ta có được con số đông đúc bao nhiêu, chúng ta cũng như bị lẻ loi côi quạnh và cơ phổ độ không còn biết dựa vào đâu mà thực hiện được”.

II - HÒA THUẬN

Hòa thuận hay “Thuận hòa” là tình trạng êm ấm, không xích mích, mâu thuẫn lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, tập thể hoặc xã hội.

Trong quyển Phương Châm Hành Đạo, Đức Quyền Giáo Tông có giải thích sự quan trọng của việc “Thuận hòa” như sau: Sách có câu: "Địa lợi bất như nhơn hòa". Nghĩa là: "Đất lợi chẳng bằng người hòa". Cho nên gia đình nào mà chẳng thuận hòa thì gia đình ấy chẳng đặng yên ổn; chồng trách vợ, vợ hờn chồng, gia đạo không thành, rồi ra lắm điều cắn đắng.

Thân tộc nào chẳng thuận hòa, tức là thân tộc ấy phải mất niềm tương hảo, rồi đối với nhau không những là không mật thiết, mà lại còn chống trả nhau, trách thiện nhau, nghịch lẫn nhau cho tương tàn cốt nhục.

Xã hội nào mà chẳng thuận hòa tức là xã hội ấy phải đảo điên rối rắm chẳng chi là trật tự, công bình, rồi mạnh đè yếu, trí hiếp ngu, lê thứ phân vân, dân tình ly loạn.

Tôn giáo cũng như một gia đình, một thân tộc, một xã hội vậy. Tôn chỉ Đạo dầu cao thượng đến đâu đi nữa, nếu người hành Đạo không được thuận hòa, nền Đạo tức phải vì đó mà nghiêng đổ. Nền Đạo tỷ như nhơn thân, mỗi người hành Đạo chẳng khác nào một phần trong thân ấy. Giác quan, tạng phủ thảy đều ăn chịu nhau, nương cậy nhau cả, thì người cùng chung một Đạo cũng phải ăn chịu nhau, nương cậy nhau mới được. Xét đến lẽ ấy rồi, người đồng Đạo phải biết thương nhau, cư xử cùng nhau cho hết dạ thuận hòa, trên dạy dưới tuân lời, dưới khuyên trên vui dạ, mỗi việc chi trong Đạo đều chung trí nhau tính bàn rồi mới nên cử sự thì bề thi thố đã không sơ sót, mà tình đồng Đạo càng thêm mật thiết; như vậy mới tránh khỏi "cái hại chia phe lập đảng" mới không lỗi câu "đồng Đạo tương phân".

Tóm lại, đã gọi là đồng Đạo, phải bỏ hết những thù hiềm ngày trước mà liên lạc nhau, ỷ y nhau, đồng tâm hiệp lực vụ một chữ Hòa mà lo điều công ích cho nhơn sanh, thì Thiên Đạo mới chóng hoằng khai, sanh chúng sau nầy mới gội nhuần ân huệ.

Do sự quan trọng của việc thuận hòa, nên Thánh giáo Đức Chí Tôn ngày 29 tháng 1 năm 1926 có dạy: “Thầy vui vì các con thuận hòa cùng nhau. Thầy muốn cho các con như vậy hoài, ấy là một lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Trung! Thầy khen con đó".

Và trong Đàn cơ khác, ngày 24 tháng 4 năm 1926 Thầy dạy: Các con coi thử đó thì đã hiểu rằng Thầy thương yêu nhơn loại là dường nào. Cái vui của Thầy là đặng thấy các con hội hiệp cùng nhau, thương yêu nhau trong đạo đức của Thầy, ai còn dám làm cho chia lìa các con là đứa thù nghịch cùng Thầy.

Sau khi Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy mọi người phải thương yêu hòa thuận, Ngài Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh có ra văn bản ban hành trong Đạo như sau: Chư Đạo hữu Đạo muội có lẽ còn nhớ lời Thầy đạy như sau đây hôm ngày mùng 1 tháng Giêng năm Bính Dần: “Thầy vui muốn cho các con thuận hòa cùng nhau hoài, ấy là lễ trân trọng của các con hiến cho Thầy.”

Hòa thuận là một hạnh đạo rất quí báu trước mắt Thầy, chúng ta phải hết sức giữ gìn hạnh ấy cho hoàn toàn, mới mong được ơn Thầy ban bố mà gấm ghé phẩm

vị Thánh Thần. Muốn hòa với người, trước phải hạ mình, lấy hết lòng khoan đung đại độ mà đối đãi với người, phải khiêm cung, phải nhẫn nhịn cho lắm. Coi mình nhẹ mà xem người trọng. Phải tha lỗi cho người, mà nghiêm răn lỗi mọn của mình. Đừng dị nghị việc người mà sanh ác cảm, chi chi cũng tưởng có Thầy hết.

Tôi ước ao mỗi Đao hữu nam nữ ráng tập theo mấy hạnh nầy. Nếu mỗi người đều sẵn lòng làm theo thì việc hòa bình của Đạo sẽ mau thành tựu, chừng ấy mới có thể cầu Thầy truyền huyền vi bí mật cho chóng ta nắm lấy mà lập thành nền Đạo.

Còn như trong hàng môn đệ của Thầy mà cứ cưu lòng nghịch lẫn nhau, chia rẽ nhau, không để dạ thương yêu, không hết lòng kính mến thì vẻ đạo cứ tiêu mòn, khó mong cho thành đặng, rồi hại cho nhơn sanh phải mắc hoài trong vòng khổ hải.

Ai là người biết thương Thầy mến Đạo, tôi cất tiếng cầu xin hãy dụng hết chơn tâm mà khuyên giải xung quanh mình cho được thuận hòa, mỗi người dầu lớn dầu nhỏ, xin để hết dạ lo lường, thì là hồng phước của nhơn sanh còn đó.

Nay kính.

Ngọc Chánh Phối Sư NGỌC TRANG THANH.

Thầy và các chức sắc Thiên phong ước muốn như vậy, nhưng than ôi! “Tà quyền cũng lấn lướt chất Thánh, bước tục dẫn chơn phàm”. Người vì mê danh hảo, kẻ do hám lợi quyền mà bứt xé tình đoàn kết, kình chống lẫn nhau, bất chấp lời khuyên dạy của Thầy, đến nổi Đức Chí Tôn phải than trong Đàn cơ ngày 29 tháng 11 năm 1927 như sau:

Trung, Thầy đã nhiều phen để lời khuyên nhủ các Môn Ðệ về việc dùng công tâm, hòa thuận mà hành Ðạo cho vuông tròn phận sự mà Thầy những buồn trông thấy các con chưa vì mà vội phân tay chia rẽ. Mỗi đứa đều lấy sự háo danh cầu tiến mà quên cả nghĩa vụ xứng đáng của Thầy đã lắm phen phú thác.

Tóm lại, việc thương yêu hòa thuận mà Thánh giáo Thầy đã khuyên dạy nhiều lần là hai điều kiện quan trọng, cần thiết để nền Đạo được đoàn kết, phát triển và bền vững.

III - THƯƠNG YÊU VÀ HÒA THUẬN LÀ LỄ HIẾN CHO THẦY

Chúng ta đã biết người xưa thường dùng vật thực để làm lễ hiến cho kẻ khuất mặt như ông bà cha mẹ, còn với các Đấng Thiêng Liêng thì họ lấy sanh mạng dùng làm tế vật.

Trong bài “Giá Trị Tam Bửu Là Gì”, ngày 30 tháng 2 năm Nhâm Thìn (Dl. 25/3/1952), Đức Hộ Pháp có đoạn cho biết như sau: Cái vật dâng cho Đức Chí Tôn buổi Thượng Cổ họ dâng sanh mạng con người cho Đấng ấy. Khi nhơn loại bị khốn khổ, bị tai nạn bất cứ trong quốc gia nào họ dùng cho đến sanh mạng, tức dùng con người làm tế vật dâng hiến cho Đức Chí Tôn. Tới chút nữa, nghĩa là tinh thần loài người tiến triển đến một mức nữa, họ dùng cái vật lựa chọn quý hoá, đồng thể với sanh mạng của con người đặng dâng cho Đức Chí Tôn, tức nhiên họ dâng Tam sinh. Khi ta đã xem tế Nam Giao, từ Thượng Cổ nhà Vua dâng cho Đức Chí Tôn ba cái vật là: Trâu, heo, và dê gọi là Tam sinh.

Như vậy, để cúng giỗ ông bà cha mẹ, và những người đã khuất người xưa dùng vật thực, còn dâng hiến lễ vật cho Đấng Thượng Đế hay các bậc thiêng liêng họ lấy sanh mạng loài trâu, heo, hoặc dê để làm con tế vật.

Nếu dùng vật thực hoặc trâu, heo, dê để dâng hiến thử hỏi ông bà cha mẹ và các Đấng Thiêng Liêng là bậc vô vi có thể hưởng dùng hay không? Điều nầy Đức Cao Thượng Phẩm khi đã quy Thiên có về giáng cơ vào năm 1931 cho Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp để giải thích về sự sống chết và cho rằng cúng tế phải lấy tâm thành để dâng hiến cho các bậc ấy.

Ngài nói: “Hễ chết tại thế thì sanh tại Thiêng Liêng, chết tại Thiêng Liêng thì sanh tại thế, vì hai đường khác nhau, nghĩa là ở vô vi thì phải khuất hữu hình, mà ở hữu hình phải khuất vô vi.

Bần Đạo tỉ cho dễ hiểu là như mấy người giờ này tại Tây Ninh thì không thể nào có mặt tại Sài Gòn cho đặng, mà muốn có mặt tại Sài Gòn thì chắc không thể ở tại Tây Ninh. Vậy thì cả nhơn sanh chỉ có biết sanh, không biết tử.

Tám, Em nhớ Thầy đã nói cùng Em rằng: Tri sanh bất tri tử, mãn sanh vị chi tử 知 生 不 知 死, 滿 生 謂 之 死, nghĩa là biết sự sống, không biết sự chết, mãn kiếp sống gọi là chết.

Như vậy, người sống chỉ biết được sự sống chứ không biết được sự chết mà phải chờ mãn kiếp sống, lúc đó gọi là chết mới biết được sự chết. Thế mà tại sao người ta thường hay lấy vật thực để cúng tế người chết hoặc các Đấng vô vi? Các bậc ấy có hưởng dùng không?

Đức Thượng Phẩm có giảng như sau: “Em phải biết rằng, ẩm thực cốt để làm phương bảo thủ thi hài, mà khi qui vào ngươn khí thì vật thực còn bổ ích vào đâu mà cúng tế, duy có điều hữu dụng của sự cúng tế là lòng thành, cảm động tình ái lẫy lừng, làm cho ngươn khí của Chơn thần trở nên thơm tho đẹp đẽ, cả những Đấng Thiêng Liêng lấy đó làm báu vật.

Vậy Em nên nhớ lời Thầy dặn rằng: Các con cái Thầy ví biết thương yêu hòa thuận cùng nhau là lễ hiến cho Thầy rất nên long trọng. Lời ấy ngày nay Bần Đạo mới hiểu rằng thật vậy.

Cái tình thương nhau hơn hết là biết làm lành vì nhau, của báu thiêng liêng thì coi hành thiện như ngọc ngà châu báu vậy”.

Qua lời giải thích của Đức Thượng Phẩm, chúng ta mới hiểu rằng hoa quả, vật thực hay sanh mạng loài trâu heo dê chỉ là phương tiện mà chúng ta mượn để thể hiện lòng thành kính đối các Đấng.

Mà lòng thành kính tức là lòng tôn sùng kính trọng, lúc nào cũng vâng lời dạy bảo để làm vui lòng các Đấng ấy.

Thánh ý Đức Chí Tôn thường mong muốn các môn đồ phải thương yêu hòa thuận cùng nhau mà mọi người đều thực hiện theo lời dạy ấy thì chính đó là lễ dâng hiến cho Ngài rất long trọng vậy.

 

 

 

 

SỰ HUYỀN DIỆU CỦA CƠ BÚT

Cơ Bút là nền tảng căn bản của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Chính Đức Chí Tôn dùng huyền diệu của Cơ bút lập thành nền Đại Đạo và qua Cơ Bút, giáo lý, luật pháp của Đạo được ban hành, Tòa Thánh, Thánh thất, được thành hình; những Đạo cũng từ Cơ Bút mà truyền qua nhiều thế hệ.

Nhờ cơ bút, Đức Chí Tôn đã thu phục được các Đấng khai sáng ra nền Đạo, trong đó Đức Ngài chọn ba vị chức sắc đại Thiên phong Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh.

Khi còn xây bàn ba vị nầy tiếp xúc được với vong linh Bà Vương Thị Lễ, sau nầy mới biết Bà là Thất Nương Diêu Trì Cung, một trong Cửu Vị Tiên Nương theo hầu Phật Mẫu. Nhờ vậy, các vị Tiên Nương khác do Bà Thất Nương giới thiệu như Bát Nương, Nhứt Nương, Lục Nương Diêu Trì Cung lần lượt giáng cho nhiều bài thi hay, sau đó các Bà mới khai mở màn bí mật nơi thiêng liêng để dìu dắt ba Ngài vào con đường Đạo.

Buổi đầu, Bà Vương Thị Lễ tá danh Đoàn Ngọc Quế giáng bàn cho nhiều bài thi trác tuyệt, khiến ba Ngài say mê thi phú mà tích cực xây bàn hằng đêm. Tiếng đồn Bà Vương Thị Lễ cho thi và họa vận hay lắm vang khắp mọi nơi, nhứt là thấu đến tai những người bà con của Bà, Một bữa kia, có hai người vốn là bà con bên nội hay ngoại với Bà Vương Thị Lễ lúc sanh tiền (có lẽ trong gia đình của Bà Tổng Đốc Phương) tìm đến nhà Ngài Cao Quỳnh Cư để xem hư thiệt.

Hai Ngài Cư và Tắc đang xây bàn, Bà Cư mới van vái Bà rằng: Có hai người khách tìm đến muốn xin gặp. Bà Vương Thị Lễ liền nhập bàn.

Ngài Cư hỏi: Tứ muội có biết hai ông khách nầy không?

Bà Lễ gõ bàn cho một câu thơ để trả lời:

Đào Nguyên lạc lối buổi vong Hưng.

Câu thi đó Bà cho biết hai ông khách đến tìm, có tên là Nguyên (Võ Văn Nguyên) và Hưng (Lâm Duy Hưng).

Đồng thời Bà nhắc đến tên hai vị khách, là muốn họ biết Bà chính là vong linh của Vương Thị Lễ đang giáng bàn.

Hai ông khách không nghi ngờ nữa, bèn bước đến thắp nén hương và cùng khấn câu thơ tiếp:

Đốt nén hương xin tỏ, Lễ mừng.

Bà liền gõ bàn cho câu tiếp:

Tri kỷ còn nhiều ngày gặp gỡ,

Ông Hưng liền tiếp đọc câu chót:

Chạnh lòng nhớ đến buổi thanh Xuân.

Qua câu chuyện trên cho thấy sự linh hiển của cơ bút, nên nó được lan truyền nhanh chóng trong giới quan lại, văn nhân, trí thức và tu sĩ, khiến cho dư luận lúc bấy giờ khá xôn xao. Nhiều người không tin tưởng vào cơ bút, họ chỉ nghĩ do sự đặt để của các vị phò loan, nên có nhiều người tìm đến xin thử thách cơ bút.

Sau đây là câu chuyện chứng tỏ những bài cơ bút của Đức Chí Tôn và các Đấng Tiên Phật giáng vào thời buổi ấy rất huyền diệu.

Ông Yết Ma Luật tu tại Hội Phước Tự, thuộc huyện Cần Giuộc, Long An nghe tin tại nhà ông Cao Quỳnh Cư có Đức Ngọc Hoàng và các Đấng Tiên Phật giáng cơ rất nên huyền diệu, Ông nghĩ rằng đây là những người trí thức bày ra chứ cơ bút nào linh hiển như vậy. Tuy nhiên, ông vẫn muốn tìm tới để thử một phen. Nên vào ngày 2 tháng 11 năm Ất Sửu, ông liền lên Sài Gòn tìm đến nhà Ông Cao Quỳnh Cư ở Bourdais để hầu đàn.

Trước khi đi ông có đặt một bài thi như sau:

Ấm ức tâm tư suốt mộng tràng,

Có đâu Tiên Phật giáng trần gian.

Văn hay chữ giỏi bày thi phú,

Hoạ đặng thơ đây mới Ngọc Hoàng.

Bài thơ nầy ông niêm kín và để trong túi áo, rồi đến trước đàn cơ quỳ vái lầm thầm với Đức Thượng Đế, xin linh hiển hoạ lại bài thơ của ông.

Đức Thượng Đế bèn giáng cơ hoạ vận:

Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng,

Đời cùng, Tiên Phật giáng phàm gian.

Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,

Chính thật Ta đây Đức Ngọc Hoàng.

Lúc đó Ông Yết Ma Luật mới hoàn toàn tin tưởng, xin nhập môn và hiến chùa Hội Phước cho Đạo Cao Đài làm Thánh Thất.

Trong việc tìm hiểu và thử thách sự huyền diệu của cơ bút do các Đấng Tiên Phật giáng cơ, một nhà chính trị ở Việt Nam là ông Phan Khắc Sửu cũng có đến hầu đàn nơi nhà ông Cao Quỳnh Cư. Ông đã làm sẵn một bài thơ tám câu năm vần, mà hai vần trên khác với ba vần dưới, điều nầy ông cố ý làm để thử các Đấng. Bài thơ ấy như sau:

Cao Đài Tiên Trưởng hỡi ông ơi!

Linh hiển sao không cứu giống nòi.

Trăm họ điêu linh thân cá chậu,

Muôn dân đồ thán phận chim lồng.

Coi mòi diệt chủng càng đau dạ,

Thấy cảnh vong bang bắt não lòng.

Nạn nước ách dân như thế ấy,

Ngồi mà tu niệm có yên không?

Rồi ông đốt bài thơ nầy trước Đàn và cầu xin Đấng Thiêng Liêng giáng đàn hoạ vận. Đức Cao Đài Thượng Đế liền hoạ lại bài thơ của ông như sau:

Cơ Trời khó tỏ lắm con ơi!

Nghiệp quả tiền khiên của giống nòi.

Bởi luyến mùi thơm cam cá chậu,

Vì ganh tiếng gáy chịu chim lồng.

Trời khai Đại Đạo nên yên dạ,

Đất dậy phong ba cứ vững lòng.

Gắng trả cho rồi căn nợ ấy,

Tu mà cứu thế dễ như không.

Ông Phan Khắc Sửu lúc đó mới hoàn toàn tin tưởng Đức Chí Tôn, sau đó ông xin nhập Đạo làm môn đệ của Đức Thầy.

Đức Thượng Đế còn ban thêm cho ông bốn câu thi tỏ ý cho ông biết phải tin tưởng Ngài, chớ nên chần chờ, và sớm giác ngộ lo tu hành để được giải thoát.

Đường Đạo tìm vào mới rõ cơ,

Cơ mầu giải khổ chớ chần chờ.

Chờ cho trễ bước thuyền xa bến,

Bến tục thoát vòng hết ước mơ.

Sự huyền diệu của cơ bút trong những câu chuyện trên, khiến nhiều người thắc mắc muốn tìm hiểu, Đức Hộ Pháp thuyết về sự Huyền diệu của Cơ bút tại Ðền Thánh đêm 30 tháng 4 năm Tân Mão (1951) có giải thích:

Ðêm nay, Bần đạo thuyết về huyền diệu cơ bút. Cả Thánh Thể Ðức Chí Tôn, cả con cái Nam Nữ của người cũng vậy, đã biết về huyền diệu cơ bút. Nó là vấn đề mà chúng ta không thế gì lấy trí khôn tưởng tượng của chúng ta định cái chơn giả của nó đặng.

Tại sao? Trong cái huyền diệu thiêng liêng ấy nó gồm cả bí mật huyền vi của cơ thể tạo đoan hữu hình và vô vi của Càn Khôn Vũ Trụ ...  ... ...

Ấy vậy, Bần đạo chỉ lấy cái đại cương của nó, nói cho Thánh Thể Ðức Chí Tôn và toàn cả con cái Nam Nữ của Ngài thấu đáo mảy may chút ít, đặng khỏi bị cơ bút làm cho đức tin tàn phá tiêu diệt mà chớ.

Bần đạo buộc mới đây lập Thánh Lịnh định khuôn luật của cơ bút, vì có nhiều lẽ, trước đây Bần đạo khoan dung để cho cơ bút tự do. Khoan dung ấy làm cho phiền lòng Ðức Lý, cho nên Ðức Lý trách Bần đạo cầm quyền Hộ Pháp trong tay mà không định luật để cho rối loạn cơ bút.

Bần đạo nói thực tại giảng đài nầy, Bần đạo thấu đáo được Thánh ý của Ðức Chí Tôn. Ổng lấy cái giả đặng lập cái thiệt, chỉ có tay Ông Trời mới làm được mà thôi, chớ không có ai làm đặng hết... ... ...

Chính Bần đạo có thí nghiệm, Bần đạo có người bạn thiết ở ngoài đời, thi giỏi văn hay. Người ấy nghĩ rằng cả cơ bút trong cửa Ðạo xuất hiện ra do đầu óc của Cao Thượng Phẩm và Bần đạo. Người ấy cho rằng, văn Cao Thượng Phẩm cũng hay, chính mình Bần đạo cũng giỏi, người ấy cho rằng cả Thánh giáo ấy do Cao Thượng Phẩm và Bần đạo mà xuất hiện.

Bần đạo thấy cái nghi ấy của bạn, bây giờ muốn độ bạn thì phải làm thế nào? Muốn thử giả thiệt đặng biết Ông Trời là ai, bạn làm ơn cầm cây viết đây, bạn là nhà văn, bạn muốn viết chi thì viết, còn Bần đạo sẽ dâng sớ cho Ðức Chí Tôn. Bần đạo viết một bài thi tứ tuyệt cầu xin Ðức Chí Tôn cho biết sự chơn giả các quyền năng của Ngài để độ bạn.

Người bạn ấy cầm cây viết, viết ra 4 câu thi, chừng viết rồi, Bần đạo đưa 4 câu thi của Bần đạo đã viết để trong bao thơ, chừng xé ra coi họa đúng với bốn câu thi của bạn.

Bần đạo chỉ cho bạn ngó thấy cái đầu óc:

- Ông chủ vô hình của Càn Khôn Vũ Trụ, trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, ấy là Ðấng Tạo đoan, là Ðấng Chí Linh, là Ðấng Ðại Từ Phụ.

- Ông chủ thứ nhì là người, tối linh trong vạn vật, cốt yếu của Ðức Chí Tôn sanh ra loài người đặng cầm quyền vạn linh hữu hình.

Bởi vậy, Tiên Nho chúng ta nhìn nhận Thiên thượng Thiên hạ. Thiên thượng là Ðức Chí Tôn, Thiên hạ là loài người. Muốn đặng thấu đáo Càn Khôn Vũ Trụ, tinh thông vạn vật, Ðức Chí Tôn dùng cơ bút.

Ngài nói rằng: Một phần của con, và một phần của Thầy hiệp nhứt mới thấu đáo Càn Khôn Vũ Trụ, tinh thông vạn vật. Hai người chủ quyền ấy, một người về hữu hình, một vô hình hiệp lại mới làm chủ cơ thể Càn Khôn Vũ Trụ có lạ chi? Lạ chăng là cây cơ của chúng ta đưa lên hợp lực hai quyền năng ấy, trong đó cây cơ đưa lên là lấy hai cái sống của hai Ông Chủ làm cái sống duy nhứt đặng phục vụ quyền hành thiêng liêng của Ðức Chí Tôn sử dụng mà thôi, thì nó là cây viết thiêng liêng của Ðức Chí Tôn đó vậy.

Khéo, chúng ta phải khéo. Cảnh Vô vi Vô Tử Thiên, lại cũng có cảnh Hữu Tử Thiên. Chừng nào đứng địa vị Vô Tử Thiên, tánh chất của họ cao siêu, không còn phàm chất. Các Ðấng thiêng liêng còn ở trong Hữu Tử Thiên thì họ cũng như ta vậy, cũng có quân tử, tiểu nhân, cũng cá nhân cá tánh như ta vậy. Các Ðấng ấy thế nào thì ta thế đó, có nhiều hàng phẩm mà ta không luận cho cùng, cũng có kẻ thân với ta, mà cũng có kẻ thù nghịch đáo để với ta, không thế gì chúng ta hòa giải với họ đặng. Chúng ta đã ngó thấy Ðạo pháp, nếu có Phật thì có Ma, có Trời thì có Quỉ; chúng ta chịu hai cửa, một là cửa thua, hai là cửa ăn.

Các chơn linh từ bậc Hữu Tử Thiên trở xuống biết bao nhiêu mà nói, họ không đáng gì là thầy ta mà họ mơ vọng dạy ta, biểu ta làm học trò họ. Ðám chơn linh đó nhứt là ở trong Ðại Hải Chúng, đệ nhứt nguy hiểm hơn hết là Kim Quang Sứ tự là Quỉ Vương. Nếu chúng ta tu, rủi như lầm nghe nó thì làm đầy tớ cho nó, làm môn sanh của nó...

 

 

 

 

TAM LẬP

Tam lập 三 立 là ba điều trong tôn giáo mà người tu hành tạo nên, đó là Lập công, lập đức và lập ngôn.

Tam lập còn gọi là “Tam bất hủ 三 不 腐”, tức là ba điều không bao giờ hư hoại, mà cứ truyền mãi về sau.

Trong trong thời kỳ Đại Ân xá kỳ ba, người tín đồ Cao Đài chỉ cần thực hiện đầy đủ Tam lập là có thể trở về quê xưa vị cũ. Như vậy Tam lập là phép tu cốt yếu của đạo Cao Đài. Chúng ta thử tìm hiểu về Tam lập, tức là Lập công, Lập đức và Lập ngôn.

I - LẬP CÔNG

Về mặt xã hội, Lập công là đem sức lực và sự hiểu biết của mình ra tạo lập công nghiệp với Đời, với Ðạo để được thọ phong vào hàng quan chức trong triều đình hoặc Chức sắc trong tôn giáo.

Về phương diện Đạo pháp, lập công có mục đích đạt thành quả vị nơi cõi thiêng liêng, nhưng công nghiệp đó phải do lòng tự nguyện lấy việc làm mang lại lợi ích cho chúng sanh, cho tôn giáo mà không nhận bất cứ thù lao nào cả. Đó là việc làm công quả, đem lại kết quả tốt cho mình và cho mọi người khác.

Như chúng ta biết, các bậc chân tu tùy công nghiệp nhiều hay ít mà đạt thành quả vị: Thần, Thánh, Tiên, Phật, tức là do nơi công viên quả mãn mà Đắc Đạo, cho nên vấn đề lập công là phương diện hàng đầu của người hành Đạo.

Việc Lập công chia ra làm ba phần: Đó là Công phu, Công quả, Công trình, gọi chung là Tam công.

1- Công phu: Những khóa lễ hay những thời cúng kiếng Đức Chí Tôn, chư Phật và các Đấng Thiêng Liêng trong ngày được gọi là công phu.

Ví dụ như Công phu sáng, Công phu trưa, Công phu chiều, Công phu khuya, đó gọi là Tứ thời Công phu.

Công phu nầy bên Phật giáo còn gọi là Công phu bái sám.

Trong Cao Đài, Công phu gồm những công việc như sau:

a/. Học tập kinh sách để thông hiểu giáo lý và Luật pháp của tôn giáo.

Khi nhập môn rồi người tín đồ Cao Đài phải học thuộc kinh và tìm hiểu giáo lý của Đạo. Ngoài ra, còn phải nghiên cứu về Luật pháp của Đạo như Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Bát Đạo Nghị Định, Đạo Luật Năm Mậu Dần… hầu thực hành trong khuôn viên theo luật pháp của Đạo.

Chính do sự thiếu hiểu biết, lơ đểnh, hay biếng nhác của tín đồ, nên Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển đã từng có lời than: Than ôi! Ðã bước chân vào đường đạo hạnh mà chẳng để công tìm kiếm, học hỏi cho rõ ngọn nguồn, thì làm phận sự môn đệ như thế có ích chi cho nền Thánh giáo đâu?

b/. Ngoài việc học tập ra, người tín đồ Cao Đài còn phải Thượng Tượng tại tư gia để có điều kiện hằng ngày lo cúng kính Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vào các thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu.

Việc Tứ thời công phu tức là cúng kiếng hằng ngày rất quan trọng và có lợi ích cho người thực hành, chính Đức Quan Âm Bồ Tát có giải thích như sau:

Các em phải lo cúng kiếng thường.

- Một là tập cho Chơn thần được gần gũi các Ðấng thiêng liêng cho đặng sáng lạn.

- Hai là cầu khẩn với Ðức Ðại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.

- Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.

- Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ.

Việc công phu hằng ngày giúp cho người tín đồ mở mang trí tuệ và đạo tâm càng ngày càng phát triển mạnh mẽ, như lời dạy của Thất Nương Diêu Trì Cung: “Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi 禮 拜 常 行 心 起”.

Vì vậy, có thể nói “Công phu” thể hiện đức “Trí 智”.

2- Công quả: Cái kết quả tốt đẹp được hưởng nơi cõi Thiêng Liêng, khi làm những việc thiện, việc lành để giúp người, giúp đời, phụng sự Đạo, phụng sự nhơn sanh.

Theo luật tự nhiên, hễ có công thì ắt phải có quả.

Người nào giúp đỡ kẻ tàn tật, người nghèo khổ hoặc đến Chùa Thất làm công việc với lòng tự nguyện, tự giác, thì đó là công việc mang lại kết quả tốt cho mình, cho người, nên được gọi là công quả. Vì vậy, công quả thể hiện đức “Bi 悲”.

Như ta biết, đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn khai sáng trong thời kỳ thứ ba nầy là mở một trường thi công quả.

Trường thi công quả là một trường thi lấy công quả để tuyển chọn sự đậu rớt, cũng như để phân định việc đậu cao thấp.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Người dưới thế này, muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo, phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc Đạo cùng chăng là tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

Vì vậy mà Thầy hằng nói cùng các con rằng: Một trường thi công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc thì phải đi tại cửa nầy mà thôi.

Như vậy, trong cửa đạo Cao Đài, người tín đồ tùy theo khả năng chuyên môn mà làm công quả, từ việc làm bằng sức lao động như phục vụ trong Ban Kiến Trúc, Ban Sản Xuất, Ban Nhà Thuyền, Ban Đạo Tỳ, Ban Lễ Nhạc… hoặc đến việc làm bằng trí óc như Đầu Phòng, Thư Ký hay phục vụ tại các cơ quan hành chánh.

Thánh giáo Chí Tôn thường dạy: “Vậy Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm linh quang của Thầy ban cho các con lắm”.

Tóm lại, trong thời kỳ Đại ân xá kỳ ba nầy Ðức Chí Tôn miễn cho chúng ta phần Luyện đạo. Chúng ta chỉ cần “Lập công” hay làm công quả cho nhiều trong việc phổ độ chúng sanh thì đủ đắc đạo như lời Thánh giáo của Ngài đã nói:

“Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong, Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao”.

Muốn làm công quả thì bản chất con người phải có lòng từ bi, vì vậy công quả thể hiện đức “Bi”.

3- Công trình: Công trình là việc lập hạnh của người tu hành, mà muốn lập hạnh thì phải giữ giới luật của tôn giáo.

Trong đạo Cao Đài việc lập hạnh bao gồm việc trì giới như ăn chay, giữ Ngũ giới cấm, Tứ đại điều quy… và còn phải giữ đúng theo khuôn viên luật pháp, như Tân luật, Pháp Chánh Truyền, Bát Đạo Nghị Định…

Việc lập hạnh yêu cầu người tu phải có hùng tâm, tức có ý chí mạnh mẽ mới chiến thắng nổi những sự ham muốn, thèm khát của thể xác, và nhứt là phải có khả năng chống lại với thất tình, lục dục xúi giục gây ra. Người xưa thường ví: Chiến thắng vạn quân nơi trận mạc không bằng chiến thắng được dục vọng nơi tâm của mình, đó là chiến thắng vẻ vang nhứt.

Vì vậy, công trình nầy thể hiện đức “Dũng 勇”.

Tóm lại, Lập công tức là thực hành đầy đủ Tam công: Đó là Công quả, Công phu, Công trình, là rèn luyện ba đức tánh Bi, Trí, Dũng cho phát triển như bậc Tiên, Phật để dắc thành quả vị Tiên Phật.

II - LẬP ĐỨC

Lập đức là trau giồi đức hạnh cho được hoàn toàn, ấy là một con đường dẫn dắt chơn linh vượt đến phẩm vị nơi cõi Thiêng liêng dễ dàng nhứt.

Người tu chẳng phải chỉ lập công thôi là đủ, lại còn phải rèn luyện đức hạnh thì nhơn cách mới hoàn toàn. Đức hạnh là điều cần yếu nhứt của những bực tu hành, và đức hạnh hoàn toàn là nấc thang tấn hóa đến tột phẩm Thiêng Liêng. Các Đấng Tiên, Phật xưa nay đều là bậc có đức hạnh hoàn toàn, như vậy muốn thành Tiên tác Phật cũng phải rèn luyện đức hạnh.

Nói tóm lại, việc bồi công lập đức phải được thực hành song song nhau, nên khi bồi công chúng ta đừng nên quên việc lập đức. Bồi công là phần hữu hình, lập đức là phần vô vi, hữu hình và vô vi phải tương ứng đối với người tu sĩ thì mới thu thập kết quả trên đường lập vị.

May duyên cho chúng ta gặp vào thời kỳ phổ độ lần thứ ba, Đức Chí Tôn vì thương sanh chúng mà khai mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để chúng ta vào Lập đức, chính Đức Hộ Pháp trong Thuyết đạo đã xác nhận điều đó. Ngài nói:

“Nếu không ở vào cửa Ðạo thì không bao giờ tạo đức được, nên ngày nay Ðức Chí Tôn đến lập Ðạo để cho các người lập đức nơi cửa Ðạo Cao Ðài nầy đó vậy. Chỉ có Ðạo Cao Ðài để tạo đức cho các triệu người đặng hưởng, mà đức ấy của Ðạo Cao Ðài làm thì không bao giờ mất. Tôi xin bảo đảm không bao giờ mất”.

III - LẬP NGÔN

Lập ngôn là phần thể hiện việc giao tiếp giữa mọi người treong xã hội. Khi tiếp xúc với người khác người tu cần phải thận trọng từng lời nói ra. Những điều từ cửa miệng mình thốt ra phải chơn thật, có đạo đức, lễ nghĩa, khiêm cung, lời phải nhã nhặn, ôn hòa, để tỏ ra mình là người có học hay có đạo đức thì người nghe mới vui lòng, cảm mến.

Muốn thực hành phép lập ngôn, chúng ta phải làm chủ lời nói, khi thốt ra cần phải suy nghĩ kỹ trước và cẩn thận từng lới nói, vì một lời đã thốt ra rồi thì khó lấy lại được. Cho nên Thánh hiền xưa có dạy: “Nhứt ngôn ký xuất tứ mã nan truy 一 言 既 出 駟 馬 難 追”, nghĩa là một lời nói ra, xe bốn ngựa khó theo.

Đối với Nho giáo, Đức Không Tử rất coi trọng về lời nói. Ngài dạy đệ tử “Bán cú phi ngôn ngộ tổn bình sanh chi đức 半 句 非 言 遇 損 平 生 之 德", tức là nửa lời nói quấy thì làm tổn đức bình sanh của mình.

Trong Thuyết đạo, Đức Thượng Sanh cũng có đoạn khuyên người đời, người đạo phải cẩn ngôn như sau: Trong việc trị nước, các vị vua chúa thời xưa thường nghe lời sàm tấu của đám nịnh thần mà quốc gia phải khuynh nguy, cơ đồ nghiêng ngửa. Vì đó mới có câu: “Nhứt ngôn nhi khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn nhi khả dĩ tán bang 一 言 而 可 以 興 邦, 一 言 而 可 以 喪 邦” nghĩa là là một lời nói có thể làm hưng vượng nước nhà, và cũng một lời nói mà làm hư hoại tất cả giang san sự nghiệp. Ngoài ra Đức Khổng Tử còn cho biết: Lời nói ra cũng có tác dụng khiến mọi người ta cảm phục, cũng từ một lời nói khiến người nghe phải xa lánh. Ngài nói trong Minh Tâm Bửu Giám: "Xuất kỳ ngôn thiện, tắc thiên lý chi ngoại ứng chi, xuất kỳ ngôn bất thiện, tắc thiên lý chi ngoại vi chi 出 其 言 善, 則 千 里 之 外 應 之, 出 其 言 不 善, 則 千 里 之 外 違 之", nghĩa là nói ra một lời lành, thì ngoài ngàn dặm thiên hạ nghe cảm động mà hưởng ứng theo, còn nói ra những lời chẳng lành, thì ngoài ngàn dặm thiên hạ nghe qua mà xa lánh đó.

Như vậy theo Nho giáo làm người có đạo đức cần phải biết cẩn ngôn, tức là dè dặt thận trọng từ lời nói. Nhứt là kẻ tu sĩ càng nên cẩn hạnh cẩn ngôn hơn nữa”.

Đối với Phật giáo, một lời nói chẳng lành, có ác ý, gây tổn hại người khác thì làm cho mình phải mang nghiệp quả. Nghiệp quả đó gọi là khẩu nghiệp, dầu là lời nói suông nhưng đồng tội như mình có làm việc quấy vậy.

Điều nầy, trong đạo Cao Đài, Thánh giáo Thầy cũng có dạy rằng: “Các con phải cẩn ngôn cẩn hạnh. Thà các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con chỉ nói mà phải mang trọng hình đồng thể”.

Tóm lại, nếu mọi người trong Đạo thực hành trọn vẹn và hoàn toàn Tam lập thì phẩm giá Đạo hạnh sẽ cao trọng.

Trong Thuyết đạo, Đức Hộ Pháp có giảng giải về Tam lập được trích ra các đoạn sau đây:

“Mình học để biết Đạo là Lập Đức, nói Đạo cho thân tộc mình biết là Lập Công, độ toàn nhơn loại là Lập Ngôn. Có làm đủ ba điểm đó mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Cửu Thiên Khai Hóa”.

“Lập Đức thì phải nhớ đạo lý. Lập Công thì phụng sự nhơn sanh. Lập Ngôn thì để hết trí óc tìm hiểu về triết học tinh thần, tìm tòi mọi lẽ cao sâu để thuyết minh Chánh giáo”.

“Phương pháp Tam Lập, nói rõ ra là chỉ đem mảnh thân nầy làm tế vật cho Đức Chí Tôn đặng phụng sự nhơn loại. Nếu giải rõ rất nhiều chi tiết, để có dịp Bần đạo sẽ thuyết minh hoặc viết sách in ra cho học hỏi".

Trong đạo Cao Đài, những chức sắc chưa làm tròn “Tam lập” thì chưa có thể vào Tịnh Thất được. Điều nầy Đức Hộ Pháp có giải thích:

"Ai không xuất thân hành đạo, nghĩa là không có công phổ độ thì không vào tịnh được, vì không đủ Tam Lập.

Trước khi xin vào Tịnh Thất, phải nạp tất cả giấy tờ hành đạo, lai lịch từ thuở nhỏ đến trưởng thành, ở ngoài đời không có án tiết, trong cửa đạo cũng vậy, trọn tùng luật pháp đạo và trường chay mới được, rồi giao cho Chi Pháp minh tra về thể pháp đủ bằng chứng. Chi Pháp phải giữ hồ sơ của mỗi người, còn điều trọng yếu về vô vi, không thể gì Chi Pháp biết đặng, chiếu văn kiện thì đầy đủ lắm. Vậy Chi Pháp chỉ biết văn bằng hiện hữu về mặt hữu hình mà thôi.

Khi minh tra đủ lẽ rồi mới giao cho Hộ Pháp cân thần. Nếu vị nào đủ Tam Lập thì cho vào Tịnh Thất, bằng thiếu thì trở lại đi Đầu Họ, Đầu Quận hành đạo nữa. Nói rõ là có Hộ Pháp trục thần khai khiếu mới biết đặng đủ thiếu, bằng không thì ngồi tịnh lớn bụng vô ích."

Tóm lại, người tu sĩ muốn đắc đạo, phải thực hiện tròn Tam Lập, tức là Lập đức, Lập công và Lập ngôn. Nếu đời người được ví như một cái cây, thì lập đức chính là thân cây, lập công là hoa quả, và lập ngôn là hạt. Do vậy Tam Lập được xem là phép tu cốt yếu của Đạo Cao Đài.

 

 

 

 

SỚ VĂN

Sớ văn, nói chung, là một văn bản dành cho các cơ quan dâng lên vua hoặc nhà vua dâng lên Đức Thượng Đế để báo cáo hay tâu trình, đề nghị một việc gì.

Còn Sớ văn trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, như chúng ta biết, là bản văn do Hội Thánh soạn thảo theo mẫu để chúng sanh nơi Đền Thánh, Báo Ân Từ, hoặc các Thánh Thất, và Điện Thờ Phật Mẫu ở các địa phương tâu trình lên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng trong nghi lễ cúng Đại đàn hay Tiểu đàn.

Trước kia, Sớ văn được viết bằng chữ Hán, sau này người học Nho ngày càng giảm, chữ Hán lần lần ít người biết đến. Từ đó, sớ văn mới được Hội Thánh phiên âm ra Việt Hán cho đến ngày hôm nay. Lúc đầu nguyên văn bản sớ do Lễ viện Tòa Thánh phân phát về các Châu, Tộc, rồi những địa phương đó tự sao chép nhiều lần thành ra tam sao thất bổn. Thậm chí, có người không am tường chữ Hán tưởng rằng bản sớ viết sai nên tự sửa lại, hóa ra thành sai hơn. (xem phần bình luận)

Chúng ta đã biết trong một đàn cúng của Đạo Cao Đài tại các Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu có lễ nhạc thì trang nghiêm và tôn kính như thế nào rồi, thế mà khi thượng sớ với một bản sớ văn trong đó sửa lời, sửa chữ khiến cho sai ý nghĩa của Hội Thánh, hoặc trong bản sớ đầy lỗi chánh tả, bôi xóa lem luốc, hoặc viết đọc sai, hoặc thiếu chữ ký tên của vị chứng đàn thì thật là thất kính với Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu biết là dường nào!

Do sự quan trọng của Sớ Văn, Hội Thánh thường chỉnh sửa lại những mẫu dựa theo nguyên bản viết ra.

Có nhiều người thắc mắc trong hầu hết các bản Sớ Văn, trước đây đều có đoạn viết: “Chư Thiên phong nghiêm thiết Đàn tràng: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ. 諸 天 封 嚴 設 壇 場 香, 燈, 花, 茶, 果, 清 酌 之 儀 誠 心 獻 禮”.

Tại sao trong câu trên có ghi: Hương (nhang), đăng (đèn), hoa (bông), trà và quả (trái cây) mà lại không có tửu (rượu), như vậy không đủ tam bửu sao.

Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa và Hội Thánh đã giải quyết câu nầy ra sao?

Chư Thiên phong là chư chức sắc Thiên phong.

Nghiêm thiết Đàn tràng 嚴 設 壇 場 tức là trang nghiêm thiết lễ đàn cúng tế.

Thanh chước 清 酌, Thanh là trong sạch. Chước là rót rượu. Theo Hán Việt Từ Nguyên của Giáo Sư Bửu Kế, Thanh chước là rượu tinh khiết (Ý nói thứ rượu trong sạch có thể rót để cúng tế được).

Hiến lễ 獻 禮: Dâng hiến lễ vật.

Như vậy cả câu có nghĩa là Chư chức sắc Thiên phong trang nghiêm thiết lễ Đàn cúng gồm: Nhang, đèn, bông, trà, trái cây, rượu tinh khiết đúng theo nghi thức xin thành tâm hiến dâng lễ này.

Do sự thắc mắc đó, vào ngày 12 tháng 10 năm 1976 Hội Thánh Cửu Trùng Đài có ban hành Thông Tri số: 09/NCPS/TT, trong đó có sửa lại câu trên thành: “Hương, hoa, trà, tửu, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ”.

Nếu sửa lại như vậy thì ta thấy câu đó ghi hai lần rượu (tửu, thanh chước) và thiếu đèn (đăng), trái cây(quả).

Chính vì vậy, vào ngày 15 tháng 10 năm 1976, ông Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại có gửi một bản văn thư cho Ngài Qu. Ngọc Chánh Phối Sư Cửu Trùng Đài có nội dung như sau:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Ngũ Thập Nhứt Niên

Tòa Thánh Tây Ninh

 

 

Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại

Kính gởi:

Hiền Huynh Qu. Ngọc Chánh Phối Sư Cửu Trùng Đài.

 

Trích yếu:

V/v thỉnh giáo một phần nội dung Thông Tri số: 09/NGPS/TT của Hội Thánh Cửu Trùng Đài Nam Nữ.

Kính Hiền Huynh,

Tôi hân hạnh vừa tiếp nhận Thông Tri số: 09/NGPS/TT đề ngày19 tháng năm Bính Thìn (Dl. 12/10/ 1976) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài Nam Nữ.

Trong Thông Tri có đoạn: … Từ nay đề trong lòng Sớ Trấn Đạo Tây Ninh, Châu Đạo Tây Ninh và ghi “Hương Hoa Trà Tửu thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ”.

Nếu đem so sánh với lòng sớ cũ thì thiếu: Đăng, Quả và lại dư Tửu.

Kính Hiền huynh,

Theo sự hiểu biết của tôi thì chữ “Thanh chước” là rượu ghi trong Sớ văn dùng trong những dịp tế lễ từ trước của Đời lẫn Đạo. Cũng như qua sự lưu tâm học Đạo của tôi thì lòng Sớ từ khi Đức Hộ Pháp, Đức Quyền Giáo Tông, Ngài Ngọc Lịch Nguyệt, Ngài Trần Đạo Quang và quý Ngài chức sắc tiền bối đã dâng Sớ trong các Đàn cúng hơn 50 năm qua lẽ nào không thấy sai hay sao? Quý vị ấy cũng là túc Nho kia mà? Như gần đây khi cố Thời Quân Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài còn sanh tiền, có lần vị Thượng Thống Lễ Viện Phước Thiện thỉnh giáo Ngài về việc lòng Sớ thiếu chữ Tửu thì Ngài Hiến Đạo cho biết “Thanh chước” là rượu.

Lại nữa, còn như bỏ đi “Đăng” và “Quả” thì thật tình mà nói, tôi không biết mỹ ý của Hội Thánh nghĩ thế nào mà bỏ đi phần ánh sáng và kết quả.

Kính Hiền huynh,

Tôi lấy làm khổ tâm là Thông Tri đã ban hành, mà bây giờ tôi mới thỉnh giáo, nhưng biết làm sao hơn. Bởi tôi tự nghĩ: Việc thay đổi lòng Sớ là một việc hệ trọng đối với Đạo, nên tôi phải dâng ý kiến nầy. Mặc dù biết rằng quý Ngài đang đa đoan Đạo sự, nhưng chẳng lẽ tôi không lên tiếng, rồi đây phần hệ trọng thiêng liêng, hoặc người thông học Đạo lại trách thiện, điều hay Hội Thánh lại bỏ, cái dở lại thêm vào.

Trân trọng kính dâng Hiền huynh lượng xét.

Nay kính

Ngày 22 tháng 8 nh. năm Bính Thìn
(Dl. 15/10/1976)
(Ký tên)
Lê Văn Thoại

Trân trọng kính tường:

- Bảo Đạo Qu. CQ/HTĐ.

- Thái Đầu Sư

- Thượng Đầu Sư

- Ngọc Đầu Sư

- Chơn Nhơn CQ/HT/PT.

Qua bản văn thư thỉnh giáo của ông Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại dâng lên cho Qu. Ngọc Chánh Phối, không biết Hội Thánh lúc ấy giải quyết như thế nào mà hiện nay chúng ta thấy tất cả các lòng Sơ đều dùng câu trong Sớ văn cũ là: “Chư Thiên phong nghiêm thiết Đàn tràng Hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ”.

 

 

 

 

KHỔNG TỬ VÀ NHO GIÁO

Trong bài kinh “Xưng Tụng Phật Tiên Thánh Thần” có đoạn viết như sau:

Đạo Nho truyền dạy nghĩa nhơn,

Văn Tuyên Khổng Thánh khuyến dân răn đời.

Ghi các sách ngàn lời để lại.

Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra.

Chúng ta thử xét ý nghĩa những câu kinh trên và tìm hiểu về Đức Khổng Tử và Nho giáo.

1 - Đạo Nho truyền dạy nghĩa nhơn,

Câu kinh trên đại ý dạy: Nho giáo là một tôn giáo đem điều nhơn nghĩa để truyền dạy cho con người.

Đạo Nho, còn gọi Nho giáo 儒 教, là một Đạo có từ trước khi Khổng Tử ra đời, nhưng phải nhờ đến Ngài, đạo Nho mới được phát huy để trở thành một học thuyết có hệ thống tư tưởng rõ ràng, biện giải các lẽ biến hóa của vũ trụ một cách khúc triết, qui định các nghi thức tế tự Trời đất quỉ Thần một cách minh bạch…Cho nên Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo.

Chữ Nho 儒 gồm một chữ nhân 人 là người, ghép với chữ nhu 需 là cần dùng hay chờ đợi. Vậy Nho có nghĩa là người cần dùng đến để giúp ích xã hội, hay người học giỏi chờ đợi người ta biết đến tài mình để đem hết sở năng mình ra giúp ích cho đời. Người đi học đạo của Thánh hiền để thông suốt lẽ Trời, đất, con người để đem thực hành ở xã hội, làm lợi ích quốc gia, xã hội, gọi là Nho gia, hay Nho sĩ.

Chúng ta biết nghĩa nhơn 義 仁 hay Nhơn nghĩa là hai điều quan trọng trong Nho giáo, có đại ý nghĩa như sau:

Theo thuyết Khổng Tử, Nhơn là “Trắc ẩn chi tâm, ái vật chi lý, bất sát bất hại thể háo sanh chi đại đức 惻 隱 之 心, 愛 物 之 理, 不 殺 不 害, 體 好 生 之 大 德”, nghĩa là lòng bất nhẫn, lẽ thương vật, chẳng giết hại loài sanh vật thể theo đức háo sinh của Trời đất. Như vậy, lấy lòng nhơn phóng xá cho loài vật, đặng phần sống sanh hóa như loài người, mới có lòng từ bi bác ái, ấy gọi là nhơn….

Chữ nhơn (nhân 仁) là nhân đứng 亻 bằng chữ nhị 二, nhơn là người, nhị là hai, có nghĩa là làm người phải giữ cho đặng trọn hai phần, một là đối với Trời Ðất, thì phải noi theo phép công bình thiêng liêng của Tạo hóa, thuận tùng Thiên lý. Hai là đối với người, vật, thì phải giữ lòng đạo đức, thương người mến vật, trợ hiểm phò nguy mới trọn lòng nhơn…

Chữ nghĩa là do chữ toàn 全 và chữ ngã 我 hiệp thành, chữ toàn là trọn, chữ ngã là ta, tức là làm người giữ trọn cùng ta thì nên nghĩa, còn chẳng trọn cùng ta là thất nghĩa.

Muốn thật hành chữ nghĩa, thì phải noi theo câu: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhơn 己 所 不 欲, 勿 施 於 人”, tức là những việc gì ta chẳng muốn ai làm cho ta chịu đau khổ thảm sầu thì ta không nên đem các điều ấy mà làm cho người khác, mới là trọn nghĩa.

Đạo Cao Đài là một tôn giáo lấy Nho tông chuyển thế, nên trước mặt tiền của ngôi Đền Thánh có đề hai chữ Nhơn Nghĩa, nhằm cho biết đạo lý của con người từ căn bản nhơn nghĩa mà phát huy ra làm cho nhân sinh được thuận hòa, an lạc, xã hội thanh bình, hạnh phúc.

Thuyết đạo Đức Hộ Pháp khi nói về “Vấn Đề Nho Giáo”, Đức Ngài có dạy: Chức Sắc trong Ðạo đem hột giống nhơn nghĩa gieo khắp các nơi, mà nhơn sanh không ưng nạp, bởi họ không biết cái năng lực của họ mạnh mẽ thế nào, không cần để ý đến, chớ chi họ trọng dụng đạo nhơn nghĩa thử một thời gian coi có hiệu quả gì chăng? Nhắc lại lời Thánh Giáo của Ðức Chí Tôn có dạy về chữ Nhơn...

Ngày nào toàn thể quốc dân mà biết thực hành hai chữ nhơn nghĩa cho ra chơn tướng, thì chẳng luận là xã hội nào cũng được hưởng mọi điều hạnh phúc, đời chiến tranh sẽ trở nên thái bình an cư lạc nghiệp.

2 - Văn Tuyên Khổng Thánh khuyến dân răn đời.

Câu nầy ý nói Đức Khổng Phu Tử có tên thụy là Văn Tuyên Vương do các vị vua Trung Hoa đời trước truy tặng vì Ngài có công chu du các nước hầu đem cái đạo Thánh của ngài truyền bá rộng cho nhân dân.Theo sử liệu để lại:

- Năm Khai Nguyên thứ 27 (739), vua Đường Huyền Tông truy phong làm “Văn Tuyên Vương 文 宣 王”.

- Năm Đại Trung Tường Phù nguyên niên (1008), vua Tống Chân Tông gia thụy là “Đại Thánh Văn Tuyên Vương 大 聖 文 宣 王”.

- Năm Đại Đức thứ 10 (1306), vua Nguyên Thành Tông gia hiệu “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương 大 成 至 聖 文 宣 王”.

- Năm Gia Tĩnh thứ 9 (1530), Minh Thế Tông phong làm “Chí Thánh Tiên Sư 至 聖 先 師”.

- Năm Thuận Trị thứ 2 (1645), Thanh Thế Tổ phong làm “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương Tiên Thánh Sư 大 成 至 聖 文 宣 王 先 聖 師”

Khổng Thánh 孔 聖, tức Đức Khổng Tử, người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nay thuộc phủ Duyện Châu, tỉnh Sơn Đông bên Tàu. Thân phụ Ngài là Thúc Lương Ngột làm quan võ, mẹ Ngài là Bà Nhan Thị. Ngài sinh vào mùa đông tháng mười năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Châu, tức là năm 551 trước Tây Lịch. Vì có cầu tự trên núi Ni Khâu, cho nên sinh ra Ngài mới đặt tên là Khâu 丘, tên tự là Trọng Ni 仲 尼.

Khi Đức Khổng Tử lên ba tuổi, thân phụ Ngài mất, nhờ mẹ nuôi nấng và dạy dỗ nên người. Lớn lên Ngài là người học Nho, nên rất trọng về lễ nghi và những phép tắc của các Đế Vương đời trước.

Ngài có ra làm quan cho nước Lỗ, nhưng thấy vua mê nữ sắc bỏ phế việc triều chính, Ngài bèn từ quan mà đi chu du liệt quốc chư hầu, mong tìm vị minh quân để phò tá, nhân đó xiển dương Thánh Đạo.

Cuối cùng, Ngài thất vọng phải trở về nước Lỗ mở trường dạy học và san định lục kinh. Lúc Ngài viết quyển kinh Xuân Thu vừa xong, có tin người thợ săn bắt được một con kỳ lân què chơn trái, Ngài thắc mắc “Kỳ lân ra làm gì thế?”. Ít hôm sau nghe tin kỳ lân bị giết chết, Ngài bưng mặt khóc mà than rằng : Đạo Ta cùng vậy (Ngô Đạo cùng hỹ 吾 道 窮 矣). Ngài mất vào đời vua Ai Công nước Lỗ, tháng tư, ngày kỹ sửu thọ được 73 tuổi.

Xét về tiểu sử của Khổng Thánh ta thấy Ngài là người theo đạo Nho cho nên những tư tưởng và sự học tập của Ngài cốt đem đạo Thánh Hiền ra thực hành trong dân chúng, hầu làm ích lợi cho nhơn quần xã hội. Do vậy, Ngài mới chu du khắp nước, mong muốn ra làm quan để đem cái đạo của mình khuyến dạy nhơn dân và cải tạo đời sống cho con người.

3 -

Ghi các sách ngàn lời để lại,
Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra.

Hai câu kinh nầy đại ý nói Ngài ghi các kinh sách để lại với ngàn lời dạy khuyên của các Thánh hiền xưa, hầu lưu truyền muôn đời về sau.

Xét về lịch sử, Đức Khổng Tử có công ghi chép và san định các kinh sách. Kinh sách của Ngài soạn ra gồm có sáu bộ, đời sau gọi Lục kinh. Sau khi Ngài mất rồi, những sách của Ngài bị mất mát theo và nhứt là bị đời nhà Tần đốt đi nên bị mất nhiều. Sau này hậu Nho góp nhặt và phụ họa vào thành ra Ngũ kinh 五 經: Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

Ngoài ra, học trò của Ngài và người đời sau còn viết để lại nhiều sách khác, trong đó có Tứ thư: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử…

Sau khi Đức Khổng Tử mất, một số môn sinh của Ngài như Tăng Sâm, Tử Hạ, Tử Trương, Trọng Cung…theo gót Ngài mở trường dạy học, do đó mà tư tưởng trong lục kinh lần lần truyền bá và đi sâu vào tâm hồn của dân chúng, trong số đệ tử đó có Tăng Sâm, là người có công đem cái lý nhứt quán của Ngài viết trong quyển Đại Học để vạch ra mục đích của Khổng giáo.

Còn một số môn sinh khác ra làm quan để thi hành đạo của thầy và chủ trương lấy đức trị dân thành một lý tưởng chính trị, gọi là nhân trị hay vương đạo.

Một số môn đệ khác ghi chép lại những lời đàm đạo, hay dạy khuyên của Khổng Tử để truyền lại cho học trò hay con cháu. Rồi sau này có người gom những lời châm ngôn đó lại thành bộ Luận ngữ.

Kể từ khi Đức Khổng Tử mất, bốn trăm năm sau Sử gia nhà Hán là Tư Mã Thiên đã xuy tụng công đức Ngài như sau: Các quân vương, hiền nhân trong thiên hạ không phải là ít, còn sống thì vinh quang, chết rồi là hết. Duy có Khổng Tử là người áo vải, tới nay đã trên mười đời, vẫn được các Nho gia tôn sùng. Ở Trung Quốc, từ bậc thiên tử vương hầu trở xuống, hễ bàn tới lục nghệ đều lấy Ngài làm tiêu chuẩn. Ngài thật là bậc Chí Thánh vậy.

 

 

 

 

ĐẾ THIÊN ĐẾ THÍCH

Trước khi nhập môn vào đạo Cao Đài, ông bà Nguyễn Ngọc Thơ và Lâm Ngọc Thanh (Đầu Sư Thái Thơ Thanh và Nữ Đầu Sư Hương Thanh) có quy y tại Chùa Giác Hải và làm đệ tử với Hòa Thượng Thích Từ Phong, sau vị Hòa Thượng nầy lấy pháp danh là Hòa Thượng Như Nhãn.

Ông Thái Thơ và bà Hương Thanh rất sùng tín Phật pháp, nên sau nầy Đức Chí Tôn thâu nhận hai ông bà làm môn đồ và phong cho Ngài Thơ làm Phối Sư phái Thái và Lâm Ngọc Thanh làm Nữ Chánh Phối Sư.

Ngài Thái Thơ Thanh và bà Hương Thanh nhờ giàu có, lại có lòng tin tưởng các Đấng Thiêng Liêng, nên ông bà đã hiến rất nhiều tiền bạc cho Đạo trong buổi sơ khai để xây dựng nền móng cho tôn giáo Cao Đài.

Ngoài ra, lúc bà Lâm Ngọc Thanh nhập môn theo đạo, bà cho rằng đạo Cao Đài là Chấn Hưng đạo Phật, trong Tiểu Sử do bà tự viết có đoạn: “Khi tôi gặp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tôi có lập một kiểng chùa Phật tại quận Vũng Liêm, sau ngày tôi hiến thân cho Đạo rồi, thì tôi hiểu rằng đạo Cao Đài thật là Chấn Hưng đạo Phật đó vậy …”; và trong phần Khai Đàn bà cũng viết: Tôi hợp với chức sắc và cô Ngọc Hồ với Nguyễn Thị Hương đi khai đàn thượng tượng, rồi tôi giảng đạo và đọc Thánh Ngôn cho chư vị mới nhập môn nghe cho hiểu Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Chấn Hưng Phật đạo, bởi vì tôi biết phần đông nhơn sanh còn tín ngưỡng đạo Phật nên tôi giải nghĩa cho thiện tín nghe rõ, rồi nhập môn (úp bộ hết tại Vũng Liêm).

Do quan niệm buổi đầu của Bà Hương Thanh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Phật Giáo Chấn Hưng nên bà cùng với Ngài Thái Thơ Thanh thường có những tín ngưỡng như một Phật tử, ví dụ ông bà thích tạc tượng để thờ.

Nhứt là Bà và Ngài Thái Thơ Thanh xuất tiền riêng để khai thác 100 mẫu rừng hoang để xây dựng khu Thái Cực Toàn Đồ với ý muốn quy tụ các tăng ni Phật giáo quy hiệp về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Ý tưởng thành lập cảnh Thái Cực Toàn Đồ được Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh và bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh ghi lại trong Sớ Văn dâng lên Hội Thánh và tâu trình với Đức Chí Tôn như sau:

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Đệ lục niên)

Chánh ngoạt, sơ nhị nhựt, Tân Vị, Khâm Thiên Tổng quản Tài Chánh, phụng sắc Chưởng quản tài liệu, Tổng lý Công viện, Lương viện, Hộ viện, Nông viện, Phổ Độ viện.

Quyền Thái Đầu Sư Chủ Tọa Hội Thánh, Quản lý tạo tác Tổ đình, Thái Thơ Thanh kỉnh bút,

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đệ lục niên, Chánh ngoạt, sơ tam nhựt, Tân Vị, Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh đề bút,

Tượng mảng Đại Đạo hoằng khai Tam Kỳ Phổ Độ lưu truyền thiên vạn cổ, bủa khắp Ngũ Châu, thì nền Chơn đạo phải to tát mới ra cảnh tượng thể thống Đạo cả.

Vì vậy mà hai tôi nong nả đêm ngày lo mở mang cuộc Thánh địa, chế ra nền Tây Vức, bởi công trường cực nhọc, trên nhờ sức thiêng liêng Đại Từ Phụ ban bố, mới xui khiến mua thêm được 100 mẫu đất rừng, của tư bổn vợ chồng tôi xuất ra mua, liên tiếp Thánh địa, nối dài ra tới Ngã ba Mít Một (Boulevard d'Anglais), bề mặt tiền trên 2000 mét, giáp ranh Bá Huê Viên, nối liền Động Đình Hồ, 1000 mét Thánh địa nữa, cộng chung là 3000 mét.

Cầu nguyện Đức Chí Tôn ban ơn ngày sau Hội Thánh mở mang 3 phía là Đông, Nam, Bắc, mỗi phía 3000 mét, vuông vức cộng là 12.000 mét vuông, đặng xây vách thành cao lớn giáp 4 phía, dựng nên miền Tây Vức, đề hiệu là THÁI CỰC TOÀN ĐỒ.

Trong chia ra 2 cuộc: Phía Chánh Bắc, xây cửa thành lớn, đắp nổi cao chữ "ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ", lộ ra 4 chữ to tát là "ĐẾ THIÊN THƯỢNG HOÀNG"; còn phía Chánh Nam, cũng tại cửa thành y kiểu 3 mặt như nhau, đề hiệu là "ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ", hiện ra 4 chữ "ĐẾ THÍCH PHẬT TỔ"; phía Chánh Đông, tạo một cuộc Ngũ Quang Môn, nghĩa là Đại Thành Môn, có 5 cửa Ngũ Chi Đại Đạo, hiện ra 4 chữ "THÁI CỰC TOÀN ĐỒ"; còn Chánh Tây Môn thì cửa thành y kiểu 3 phía đề hiệu là Tây Vức Cảnh.

Trong Thái Cực Toàn Đồ chia ra làm 2 cuộc: Bên phía Bắc là BẠCH NGỌC KINH, tạo tác Tổ Đình, có Bá Huê Viên, Động Đình Hồ, Đức Thế Tôn ngự mở cảnh thoát trần, Đức Di Lạc giáng thế khai Long Hoa Hội. Hai bên là Rừng Thiên Nhiên, phía sau lập Cửu Viện, Thiên Phong Đường, Đầu Sư Đường, Chánh Phối Sư Đường, Hộ Pháp Đường, Thái Y Viện, Dưỡng Lão Ấu, Tịnh Thất Sở, và Học Đường, Dưỡng Đường, với các xưởng Bá công kỹ nghệ.

Còn các con đường: 1) Như Lai Đồ, 2) Di Lạc Đạo, 3) Phước Đức Cù, 4) Oai Linh Tiên, 5) Bình Đặng Đồ, 6) Sử Quân Tử, 7) Thái Hòa Lộ, 8) Bình Dương Đạo.

Còn bên phía Nam thì tạo CỰC LẠC VÔ VI CẢNH GIỚI, là đắp con đường chữ Thập lớn dài từ Nam chí Bắc, từ Đông giáp Tây, gọi là TỨ TƯỢNG ĐỒ biến BÁT QUÁI, chính giữa Ngã Tư biến ra Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Giữa trung tim, un đúc một cảnh Nội Điện Đế Thích, giống in như cuộc cổ tích trên chốn Đế Thiên gần nước Xiêm La vậy.

Phía bên hữu Tây Bắc thì tạo Quan Âm Các, phía bên tả Tây Bắc thì dựng Long Nữ Điện. Phía bên hữu Đông Bắc thì cất Tòa Kinh Viện 15 căn lầu 3 từng nóc. Phía bên tả Đông Nam thì xây núi Tô Sơn,trên chót núi có đắp tượng Đức Thế Tôn nằm qui Niết Bàn, bề dài 12 thước tây, trên đảnh trung có thạch động Phổ Đà Sơn, Đức Từ Hàng Đạo Nhơn thành Phật, ấy là 5 cuộc to lớn.

Còn các cuộc nhỏ khởi tạo trước là: tạo Thất Bửu Tháp, đào Tây Vức Trì, cất Thưởng Liên Đình, tạo Từ Thiền Lâm. Trong cuộc Từ Thiền có 3 con đường cái: 1) Bát Nhã Đạo, 2) Bồ Đề Lộ, 3) Như Ý Cảnh. Lựa những bậc chơn tu trường trai khổ hạnh, từ trung thừa sắp lên mới cho vào trong cuộc Từ Thiền Lâm nầy, vuông vức 500 công.

Ấy là bên hướng Nam. Còn bên hướng Bắc thì Thái Bình Địa, cũng 500 công, cất Chợ Từ Bi, Nhà Thương, Nhà Thí, Nhà Mát, Nhà Nghỉ cho bực tín đồ nhập môn theo Hạ thừa sắp lên thì được phép ở.

Ước mong ngày sau, Hội Thánh mở mang cuộc Thánh Địa nầy cho giáp hết núi Điện Bà đặng ra vẻ nền Chơn đạo.

Trân trọng một bài kính cáo, nguyện cầu Đạo mạch hoàn toàn lưu truyền, trăm họ trước sau an nhàn.

Thái Thơ Thanh, Lâm Hương Thanh kỉnh đề.

Chuyển đạt Thiên Đình, ngưỡng vọng Đại Từ Phụ Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chứng chiếu.

Ngu đệ tử phục thủ bá bái.

 

Do Bài Sớ Văn của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh và bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh tâu trình lên Đức Chí Tôn, nên ngày 27 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 5/8/1926), Thầy giáng cơ dạy Ngài Thái Thơ Thanh không nên chuộng về hình thức thái quá trong việc tu hành. Bài Thánh giáo đó có nội dung như sau:

Thơ, nghe dạy:

Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Ðộ, các sự hữu hình phải hủy phá tiêu diệt.

Thầy đến chuyển đạo, lập lại vô vi. Các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thế nào diệt đặng.

Thơ, Thầy đã khiến con đi ĐẾ THIÊN ĐẾ THÍCH đặng xem cho tạng mặt hữu hình. Nội thế gian nầy ngày nay, ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng đạo đức con, Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến. Thầy không muốn cho con hao tài tốn của mà gìn giữ sự giả dối.

Chẳng cần chi con lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên "Bảo Sanh" là bổn nguyên Thánh chất Thầy.

Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi, phần hồn về Thầy.

Qua bài Thánh giáo trên, Đức Chí Tôn có cho biết Đế Thiên Đế Thích là Đền thờ hùng vĩ nhứt của nước Cao Miên thời cổ đại, vậy mà hiện thời đã điêu tàn. Chúng ta thử tìm hiểu về Đền thờ nầy.

Đế Thiên Đế Thích do từ tiếng Miên Angkor Wat là khu đền thờ và Angkor Thom là khu đền vua.

Theo tiếng Phạn, Angkor là kinh thành, đô thị, Wat là chùa Thom nghĩa là to lớn. Như vậy, Angkor Wat là khu Đền thờ, Angkor Thom là khu Đền vua.

Đế Thiên Đế Thích được xây dựng vào đầu và cuối thế kỷ thứ XII, dưới thời các vua Miên có nền văn minh rực rỡ, vùng đất đó rộng lớn trù phú, ruộng đất phì nhiêu, mầu mỡ, nằm về phía Bắc Siem Reap, gần với Biển Hồ.

Angkor Wat là quần thể Đền đài tại Campuchia và là di tích tôn giáo lớn nhứt thế giới, rộng 162, 6 hecta. Trong đó, ban đầu xây dựng làm Đền thờ Ấn Độ giáo rồi sau đó dần dần chuyển thành Phật giáo vào cuối thế kỷ XII.

Ankor Wat là khu đền thờ Thần Vishnou, trước chánh điện có xây một cái tháp lớn và bốn tháp nhỏ bao quanh. Trong tháp lớn có lầu chuông, lầu trống và các tượng Thần lớn nhỏ. Khu đền này được bao bọc bởi hành lang bằng đá tảng, trên đó có chạm khắc những bức phù điêu, trông rất cổ kính. Nó đã trở thành biểu tượng của đất nước Campuchia xuất hiện trên là quốc kỳ và là điểm thu hút du khách hàng đầu đất nước.

Đường vào Angkor Wat là một đại lộ lót toàn những tảng đá lớn, dài gần 2 cây số. Cuối đường có xây một cái cổng lớn, rộng độ 200 thước. Dọc theo hai bên đường có hành lang bằng đá, trong có chạm khắc hình rắn thần bảy đầu. Trước chính điện có một sân lót đá, dùng để làm nơi tổ chức các buổi lễ. Chánh Điện là một cái tháp lớn, cao khoảng 60 thước, chung quanh tháp lớn là bốn cái tháp nhỏ.

Angkor Thom là thành phố thủ đô cuối cùng và lâu dài nhất của Đế quốc Khrmer. Hoàng thành được vua Jayavarman VII xây dựng vào cuối thế kỷ XII. Thành rộng 9 km2, bên trong có nhiều đền thờ từ các thời kỳ trước cũng như các đền thời được Jayavarman và những người nối nghiệp ông xây dựng. Tại trung tâm thành là ngôi đền quốc gia của Jayavarman, đền Bayon, với các di tích khác quần tụ quanh khu quảng trường Chiến thắng nằm ngay phía Bắc đền.

Khu hoàng thành Angkor Thom là một hình vuông, dài mỗi cạnh độ 3 cây số, bao quanh bởi tường bằng đá tảng, rất kiên cố. Trong tường thành là một luỹ đất vòng quanh, có xây đài chỉ huy và các trạm gác chung quanh, còn ngoài tường thành là hào nước sâu như một con sông bao quanh để bảo vệ hoàng thành.

Hoàng thành Angkor Thom có năm cửa cổng đi vào Điện Bayon, trong đó thờ vua Jayavarman VII và hàng ngàn tượng Thần, tượng Phật.

Khu Đế Thiên Đế Thích hiện nay được liệt vào một trong những kỳ quan thế giới, tượng trưng cho một nền văn hoá cổ của nước Cao Miên.

 

 

 

 

TẢ HỮU PHAN QUÂN

Tả Hữu Phan Quân là hai vị chức sắc đặc biệt trong đạo Cao Đài, có nhiệm vụ cầm phướn hướng dẫn các chức sắc vào Đền Thánh bái lễ Đức Chí Tôn.

Tả Phan Quân là vị chức sắc cầm phướn Thượng Sanh đứng bên tay trái của Đức Thượng Sanh khi chầu lễ Đức Chí Tôn.

Còn Hữu Phan Quân là vị chức sắc cầm phướn Thượng Phẩm, đứng bên tay mặt của Đức Thượng Phẩm.

Tả Hữu Phan Quân là hai vị chức sắc không thuộc Hiệp Thiên Đài và đối phẩm với Giáo Sư bên Cửu Trùng Đài.

Đạo phục của Tả Hữu Phan Quân giống hệt với Hộ Đàn Pháp Quân, nhưng hai vị Phan Quân không có buộc dây Sắc Lịnh ở lưng, nghĩa là mặc áo tràng trắng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng không thắt dây Sắc lịnh như Hộ Đàn Pháp Quân.

Trong Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, đêm 19 tháng 6 năm Bính Ngọ (Dl. 5/8/1966). Phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo. Tái cầu lúc 21 giờ 45, Đức Hộ Pháp giáng cơ dạy Hộ Đàn Pháp Quân và Tả Hữu Phan Quân không phải là chức sắc thuộc Hiệp Thiên Đài. Đoạn Thánh giáo được chép lại như sau:

“Đức Thượng Sanh bạch: – Hội Thánh Hiệp Thiên Đài còn thắc mắc về trường hợp của ba vị: Hộ Đàn Pháp Quân, Hữu Phan Quân và Tả Phan Quân về việc sau đây, cầu xin Đức Ngài chỉ giáo.

a). Trong các phiên nhóm của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài để giải quyết về chánh trị đạo, ba vị trên đây có được mời dự nhóm và bàn cãi hay không?

– Mấy vị đó không phải là Chức sắc Hiệp Thiên Đài nên miễn mời hội.

b). Khi sắp hàng vào Nội Nghi đảnh lễ Đức Chí Tôn, ba vị nầy phải giữ trật tự như thế nào? Hiện giờ chỉ có từ phẩm Cải Trạng trở xuống Luật Sự, sau nầy có phẩm Chưởng Ấn và Tiếp Dẫn Đạo Nhơn thì thứ tự như thế nào?

– Dầu có hai phẩm ấy hay không, Hộ Đàn Pháp Quân và Tả Hữu Phan Quân cũng cứ ngoại vòng Chức sắc Hiệp Thiên Đài, nên khi đảnh lễ, xướng: Chức sắc Hiệp Thiên Đài nhập nội nghi, lễ bái rồi, phải xướng một lần nữa: Hộ Đàn Pháp Quân và Tả Hữu Phan Quân nhập nội nghi.

Như vậy đúng trật tự.

c). Khi thiết lễ bồi yến Hội Yến Diêu Trì Cung, ba vị nầy có quyền dự hay không?

– Tất cả bổn đạo đều nhớ Bần đạo không bao giờ cho việc ấy.”

Sau đây là sơ lượt về tiểu sử của Tả Phan Quân và Hữu Phan Quân.

TẢ PHAN QUÂN

Tả Phan Quân là vị chức sắc cầm cây phướn Thượng Sanh, đứng bên trái Thượng Sanh, được Đức Chí Tôn phong cho ông Trang Văn Giáo năm 1927.

Trang Văn Giáo, sanh ngày 27 tháng chạp Kỷ Hợi (1899) tại xã Long Thành, Tổng Hàm Ninh, tỉnh Tây Ninh. Thân phụ ông là Trang Văn Keo (Hương Cả) và thân mẫu là bà Bùi Thị Khuê.

Hiền nội của ông là Nguyễn Thị Thơm, hai ông bà có bảy người con gồm sáu người con trai và một người gái.

Thời niên thiếu ông theo học quốc ngữ tại các trường thuộc tỉnh Tây Ninh. Sau khi tốt nghiệp Tiểu học, ông ra đời tìm việc mưu sinh, ngoài ra, ông cũng có tham gia nhiều chức vụ trong ban Hội Tề từ 1921 đến 1927.

Theo quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, trong một Đàn cơ ngày 21 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 26/11/1926), ông Trang Văn Giáo có đến hầu đàn. Đức Chí tôn thâu nhận ông làm Môn đệ và cho một bài thi như sau:

Làm song ngăn đón lũ gian hùng,

Mạnh yếu đánh thoi cũng gọi hùng.

Quyết lập thân danh tua sửa lưỡi,

Nói hiền kẻ dữ nịnh thành trung.

Thâu

Khi Hội Thánh Cao Đài tổ chức Lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén, với tinh thần hăng hái, đầy nhiệt huyết sẵn có, ông đã giúp ích một cách đắc lực trong buổi khai đàn mở Đạo năm 1926. Ông theo lịnh Đức Quyền Giáo Tông để giúp đỡ cho Đạo những nhu cầu và các thứ vật dụng cần thiết cho lễ và nhạc…

Do đó, ông được Đức Quyền Giáo Tông tín nhiệm, giao cho việc hầu bút, hoặc chép những Thánh Giáo mà Đức Chí Tôn hay các Đấng giáng cho khi thâu nhận môn đồ trong các đàn cơ phổ độ lúc sơ khai.

Ngày 18 tháng chạp năm Đinh Mão (1927) ông thọ phẩm Tả Phan Quân tại chùa Gò Kén.

Từ đó ông lại càng tận tụy với công việc và hy sinh với Đạo hơn, ông theo Đức Thượng Phẩm, góp công vào việc khai phá rừng hoang, xây dựng Tòa Thánh để tạo thành vùng Thánh địa ngày nay. Ông thường ở bên cạnh mấy vị tiền bối của Đạo như Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và Đức Hộ Pháp để phục vụ cho Đạo. Nền Đạo đã trải qua nhiều cuộc biến thiên, thăng trầm, nhưng trong lòng ông vẫn giữ một dạ sắc son, trung thành với Đạo. Hội Thánh đã gặp phải những nghịch cảnh, khó khăn nguy hiểm, ông đều có mặt để giúp đỡ hoặc chia đau sớt thảm.

Năm 1946, Đức Hộ Pháp hồi loan, sau hơn 5 năm đồ lưu nơi Hải ngoại, ông xin vào phục vụ nơi văn phòng Tòa Đạo, tức Bộ Pháp Chánh bây giờ. Ông là người rất siêng năng cúng kính, mặc dù ban ngày phải làm việc mệt nhọc nhưng không bao giờ ông bỏ sót một thời cúng khuya nào cả. Ông là người làm việc rất tích cực, lúc nào cũng miệt mài với nhiệm vụ, cho đến lúc tuổi già sức yếu, ông mới vắng mặt ở văn phòng làm việc và trút hơi thở cuối cùng vào lúc 22 giờ đêm, mùng 2 tháng 5 năm Bính Thìn (Dl. 30/5/1976), hưởng thọ 78 tuổi.

HỮU PHAN QUÂN

Hữu Phan Quân là vị chức sắc cầm cây phướn Thượng Phẩm, đứng bên tay mặt Đức Thượng Phẩm. Chức Hữu Phan Quân được Lý Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ phong cho ông Lê Văn Thoại năm 1965.

Ông Lê Văn Thoại sinh năm Kỷ Mùi (1919) tại xã Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sađéc, nay là Thị xã Kiến Phong, tỉnh Đồng Tháp.

Xuất thân từ một gia đình có đạo Cao Đài, được sự dạy dỗ của song thân nên ông đã giác ngộ đạo pháp rất sớm, từ năm 12 tuổi, ông được may duyên về Tòa Thánh Tây Ninh làm công quả, tức vào khoảng năm 1931.

Tuy chưa đủ tuổi nhập môn, nhưng ông Thoại cầu xin Hội Thánh được nhập môn vào đạo. Vào ngày rằm tháng 7 năm Tân Mùi (Dl. 28/08/1931), Đức Hộ-Pháp cho phép ông nhập môn, nghĩa là Ngài đã ban đặc ân cho ông thêm 9 tuổi, để ông được nhập môn theo luật Đạo đã quy định.

Lớn lên Lê Văn Thoại là một Thanh niên đầy nhiệt huyết, ông mong muốn phụng sự cho Đạo và giúp ích đất nước Việt Nam, nên ông đã gia nhập vào đội “Nội Ứng Nghĩa Binh”, do Trần Quang Vinh (tức Giáo-Sư Thượng Vinh Thanh) thành lập vào đầu năm 1943, hợp tác với quân đội Nhựt đảo chánh Thực dân Pháp.

Sau ngày đảo chánh Pháp thành công, Ngài Lê Văn Thoại trở về tiếp tục đời sống tu hành, lập công tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Khi tham gia vào quân đội Cao Đài với cấp bậc sau cùng là Thiếu Tá cho đến khi quân đội Cao Đài được quốc gia hóa dưới thời đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, vào khoảng năm 1956.

Ông Lê Văn Thoại là người tình nguyện nhận lịnh của Đức Hộ Pháp, hướng dẫn ba ông nữa là Kỳ, Đại, Lợi đem lá cờ Nhan Uyên (Bạch kỳ Nhan Uyên) ra cắm giữa cầu Hiền Lương (Bến Hải), thuộc vĩ tuyến 17 để phân ranh hai miền Nam Bắc.

Vào đêm mùng 4 tháng Giêng năm Ất Mùi (Dl.15/02/1956), Đức Hộ Pháp quyết định tự lưu vong sang Miên quốc, ông Lê Văn Thoại cũng tình nguyện xin theo hầu, Đức Ngài cho phép nên ông cũng được rời khỏi Hộ Pháp Đường đi trên chuyến xe đó.

Trong Đàn cơ tái cầu vào ngày 17 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 09/11/1965), Đức Lý Giáo Tông, Nhứt Trấn Oai Nghiêm, đã phong cho Ngài Lê Văn Thoại phẩm Hữu Phan Quân.

Khi Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý được thành lập, Hội Thánh bổ Ngài Khai Đạo Hiệp Thiên Đài làm Giám Đốc Cơ quan, còn ông Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại làm Phó Giám Đốc để điều hành mọi việc như xây dựng cơ sở, quản lý máy móc, tuyển mộ chuyên viên, nhứt là kiểm tra những bài vở phát thanh hàng tuần của cơ quan.

Tuy rất bận rộn công việc hằng ngày, nhưng ông Lê Văn Thoại là người rất siêng năng cúng kính, hằng ngày ông thường xuyên đến Tòa Thánh cúng Tứ Thời, cho đến khi tuổi già sức yếu, ông không còn đi dứng được nhiều nữa mới giảm dần các thời cúng. Vào cuối tháng 3, thình lình ông phát bệnh, qua đến ngày 25 tháng 6 năm Đinh Hợi (Dl. 07/08/2007), vào lúc 11 giờ 30 thì ông quy liễu, hưởng thọ 89 tuổi (tuổi trong giấy là 98 tuổi).

Buổi sinh thời ông Lê Văn Thoại có làm rất nhiều bài thơ, ký với bút hiệu là Tử Trước và Chánh Công. Sau đây xin chép lại vài bài thơ của ông.

 

AN PHẬN

Chẳng phải Hiệp Thiên, chẳng Cửu Trùng,

Tu hành lập chí đức trung dung.

Tứ thời lễ bái tâm minh định,

Ngũ giới Tam quy tánh huệ tùng.

Khổ hạnh đường dài khiêm niệm khiết,

Lìa xa sắc tướng Nhẫn hòa Cung

May duyên nay gặp kỳ Ân tứ,

Một kiếp bồi công kết quả chung.

Tử Trước
(15/04/Nhâm Tuất, 1982)

 

 

CÁI KHÔNG

Từ thuở chào đời vẫn cái không!

Lớn lên danh lợi lại đèo bồng..

Kinh doanh sự nghiệp chưa bao thỏa,

Vợ đẹp nhà cao thẩm mỹ thông.

Bọc rắn, ôm hùm chưa tỉnh ngộ,

Diệt thân hại trí gọi là khôn.

Cho hay thế sự ba canh mộng,

Của trục phù du cứ mãi chồng.

Tử Trước

Một số bằng hữu yêu cầu ông làm bài Thi để lúc quy liễu là bài Thài cúng tế, ông bèn viết:

 

HỮU vô, vô hữu huệ tâm không,

PHAN hướng chơn linh Phật Pháp thông.

QUÂN định thần an sanh trí giác,

Thiêng liêng hằng sống đoạt huyền không.

 

Tứ đại phàm thân giải thể xong,

Phù du thế cuộc thị giai không.

Chơn thần bất diệt thông thiên hội,

Thoại khí Hạo Nhiên kiến diện nồng.

Tử Trước
(ngày 03/07/Bính Thìn - 1976)

 

 

 

 

CỬA PHẠM VÀ PHẠM MÔN

I - CỬA PHẠM

Phạm 梵 do tiếng Phạn là “Brahma”có nghĩa là Phật, nếu dùng như một tính từ thì chữ Phạm dùng để chỉ những gì trong sạch, thanh tịnh.

Ví dụ:

Cửa Phạm là cửa Phật, cũng có nghĩa là cửa chùa, chỉ nơi tu hành. Trong đạo Cao Đài từ cửa Phạm có thể hiểu là cửa Thánh Thất, cửa Điện Thờ.

Phạm hạnh 梵 行 có nghĩa là người xuất gia có đời sống thanh tịnh, đạo hạnh trong sạch, giữ đúng giới luật của tôn giáo.

Phạm chúng 梵 衆 dùng để chỉ tăng chúng gìn giữ giới luật nghiêm minh.

Từ “Cửa Phạm” trong Thi Văn Dạy Đạo dùng để chỉ cửa chùa hay nơi tu hành có bài thi như sau:

Suối lành đổ nước hóa sông thanh,

Ðức hạnh muốn trau vẹn tánh lành.

Trước muốn đưa chơn vào Cửa Phạm,

Hỏi mình có trọn tấm lòng thành?

Như vậy, cửa Phạm trong đạo Cao Đài thường dùng để chỉ Thánh Thất, Điện Thờ …

Quyển Đạo Sử Xây Bàn của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, trong Đàn cơ Đức Chí Tôn thâu môn đệ và dạy Đạo ngày 21 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 26/11/1926) có ban cho Bà Đoàn Thị Liên một bài thi như sau:

Nam Mô hai chữ dựa màu thiền,

Ðến nửa kiếp còn lắm lợi riêng.

Gia nghiệp đã an con cái đủ,

Khá tua Cửa Phạm đến cầu duyên.

Cũng trong Đạo Sử, ngày 6 tháng 1 năm Đinh Mão (Dl. 7/3/1927), Đức Lý Giáo Tông ban cho Bà Đinh Thị Đuổi bài thi như sau:

Ðuổi xô Cửa Phạm chẳng từng quen,

Chẳng nễ ai sang, chẳng bỏ hèn.

Lấp ló như người mang tội trộm,

Ta không nỡ để đến nhiều phen.

Và trong tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn Thị Điểm cũng có một đoạn thi nhắc đến từ “Cửa Phạm”:

Mảng sầu muộn ngổn ngang trăm mối,

Chùa thu không bóng tối mịt mờ.

Oanh về tổ, dế reo tơ,

Đường về vắng bước như tờ canh khuya.

Tiếng u minh tía lia gợi thảm,

Giọng kình khua Cửa Phạm dập dồn.

Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,

Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

Trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp cũng dùng Cửa Phạm để chỉ cửa Phật hay cửa Phạm Môn. Ngài nói: Hội Thánh Phước Thiện là thay thế cho Hiệp Thiên Đài lo cứu khổ để giải khổ cho toàn cả nhơn loại, mà Hiệp Thiên Đài chỉ có lãnh lịnh bốn, năm vị làm sao lập thành cơ cứu khổ được cái Bí Pháp, chi Pháp Chí Tôn đưa ra biểu phải làm mà trong Pháp Chánh Truyền không có định, Bần Đạo chỉ lấy bài Thi văn của Đức Chí Tôn dạy mà lập thành dầu cho cả chơn hồn đã siêu lạc nơi nào sau nầy cũng phải nơi Cửa Phạm về cùng Ngài.

2 - PHẠM MÔN

Như ta đã biết, cửa Phạm được dịch từ tiếng Phạm Môn, mà Phạm Môn 梵 門 trong đạo Cao Đài là một cơ quan do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lập ra dành cho những tín đồ muốn tu chơn, không thọ phẩm tước, áo mão như những chức sắc bên Cửu Trùng Đài hay Hiệp Thiên Đài, chỉ chuyên lo lập công bồi đức mà thôi. Đó là con đường thứ ba của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Việc lập ra Phạm Môn, theo Đức Hộ Pháp là do Thánh ý của Đức Chí Tôn trong bài thi sau đây:

 

Tỉnh ngộ xá thân tại PHẠM MÔN,

 

醒 悟 舍 身 在 梵 門

 

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn,

 

勸 修 後 日 度 生 魂

 

Vô lao bất phục hồi Chơn mạng,

 

無 勞 不 復 回 真 命

 

Tỉnh thế kỳ thân đắc Chánh tôn.

 

醒 世 其 身 得 正 尊

Theo nghĩa bài thi trên thì chữ “PHẠM MÔN 梵 門”, là “cửa Phật”, và căn cứ theo hai câu liễn của Phạm Môn nói lên tôn chỉ của cơ quan nầy thì ta có thể kết luận chữ “Phạm 梵” là Phật.

Đôi liễn Phạm Môn được viết như sau:

梵 教 随 元 救 世 度 人 行 正 法

PHẠM giáo tùy nguơn cứu thế độ nhân hành chánh pháp

門 權 定 會 除 邪 滅 魅 護 眞 傳

MÔN quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

Giải nghĩa hai câu liễn:

Phật dạy tùy theo nguơn mà cứu thế độ người, thực hành chánh pháp.

Quyền hành nơi cửa Phạm, định ra khoảng thời gian để trừ tà diệt mị, bảo hộ chơn truyền.

Từ khi Đức Hộ Pháp lập Phạm Môn và cất Phạm Nghiệp, bị nhiều người hiểu lầm cho là cơ nghiệp của nhà họ Phạm, tức họ của Ngài Phạm Công Tắc.

Những người đó lầm tưởng chữ “Phạm 梵” là Phật với chữ “Phạm 范” là họ của Đức Hộ Pháp (Ngài tên 范公稷)

Trong đạo Cao Đài, nếu chữ Phạm là họ Phạm thì chúng ta thấy có xây dựng phủ thờ dòng họ Phạm, gọi là Phạm Phủ Từ.

Còn Phạm Môn, Phạm Nghiệp là những cơ quan thuộc về Phạm là Phật.

Khi nói về lịch sử thành lập Hội Thánh Phước Thiện, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có nhắc đến việc bị chỉ trích như sau: Vì bài Thi văn của Đức Chí Tôn dạy đó mà Bần Đạo mới lập ra Phạm Môn, có Phạm Môn rồi mới có sản xuất Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng, nếu không thì không thế nào lập thành Hội Thánh Phước Thiện được.

Bởi chữ Phạm Môn là Phật, Phạm Môn là cửa Phật, chớ không phải Phạm là họ Phạm.

Buổi đó cũng có nhiều tiếng phân vân nói Bần Đạo lập Phạm Môn tức là lập theo họ Phạm của Bần Đạo, Bần Đạo cũng như tấm bình phong đứng giữa hứng chịu. Sao Bần Đạo không đầu kiếp các nơi họ Nguyễn, họ Trần mà đến ngay nhà họ Phạm mà để khiến cho Bần Đạo phải chịu oan ức.

Những tiếng phân vân ấy, Bần Đạo cũng chẳng màng, cứ lo cho kỳ được, bởi vì sự công chánh. Bần Đạo đứng giữa đây Bần Đạo phải nói Bần Đạo nói thiệt cả sự nghiệp của Đạo còn tồn tại đây là do nơi tay của Phạm Môn nếu không có Phạm Môn thì Bần Đạo không đứng vững, Đức Chí Tôn đã định cho Bần Đạo thâu 72 vị Môn Đệ mà chia ra hành sự 36, 37 vị, buổi đó Thầy trò chịu cực khổ tầm phương để tạo nghiệp mà bị chúng sanh đánh đổ đến đổi vận lương thực lục tỉnh đem về Tòa Thánh mà cũng bị ngăn cản quyết bỏ đói cho chết, mà tội nghiệp thay họ không thối chí ngã lòng, cứ cương quyết theo Bần Đạo cho đến ngày lập thành Hội Thánh Phước Thiện.

 

 

 

 

THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG

Theo tín điều của các tôn giáo, con người sống ở cõi thế gian tùy thuộc hành vi thiện, ác lúc sinh tiền, khi chết phải thác sinh vào một trong hai cõi: Thiên Đường là cõi giới thanh cao, trong sáng và Địa Ngục, là cõi giới thấp kém, tối tăm.

Tại sao lại có Thiên Đường Địa Ngục?

Chúng ta biết, Luật pháp thi hành cho con người ở thế gian tùy theo công tội. Nếu có công thì được thưởng, còn có tội thì bị phạt: Đó là thể hiện luật công bình ở thế gian, gọi là công thưởng tội trừng.

Còn triết lý các tôn giáo, cũng như giáo lý Cao Đài đều cho rằng trong cõi vô vi cũng vậy, chơn linh những người sanh tiền làm việc thiện thì khi chết linh hồn nhẹ nhàng được lên cõi Thiên Đường hay cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, còn vong hồn của những kẻ lúc sống làm việc ác thì khi chết phải bị đọa vào cõi Địa ngục tối tăm.

Như vậy, Thiên Đường và Địa Ngục là hai cảnh giới hoàn toàn đối nghịch nhau, thể hiện cán cân công bình thiêng liêng của Tạo Hóa và còn để giúp vào việc thúc đẩy sự tiến hóa các chơn linh trong Càn không vũ trụ, vạn vật.

Riêng trong tôn giáo Cao Đài, ngoài hai cõi giới Thiên Đường và Địa Ngục, còn có một cõi giới thứ ba là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng.

Theo Thánh giáo của các Đấng Thiêng Liêng cho biết, con người khi chết về thể xác, linh hồn và chơn thần sẽ nhập vào cõi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng chờ xét xử công tội, sau đó hoặc được đưa lên Thiên Đường, hoặc phải sa vào Địa Ngục.

Chúng ta thử căn cứ theo lời phê, lời thuyết đạo của Đức Hộ Pháp, hoặc lời giáng cơ của những chơn linh đã từng nhập vào cõi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng để tìm hiểu về cõi giới nầy.

Theo lời phê Đức Hộ Pháp, ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi lúc sinh tiền đã từ bỏ một trong Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng thì khi chết phải tái kiếp trở lại tu hành, nhưng nếu ông được nhập vào cõi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng là may phước là vì ở đó có thể tiếp tục tu hành để vào cõi thiêng liêng.

Nguyên trước đây ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi xin từ chức Giáo Thiện để vào núi Linh Sơn (núi Bà Đen) tu chơn, mặc dầu chưa được thượng quyền chấp thuận, nhưng ông vẫn bỏ chức vào chân Núi Điện Bà lập cơ sở, không tùng Hội Thánh Phước Thiện, thay áo trắng, cạo đầu, mặc áo quần màu dà để tu chơn.

Khi ông Giáo Thiện quy vị, do Tờ xin tội đề ngày 3 tháng 11 năm Canh Dần (Dl. 11/12/1950) của ông Nguyễn Văn Thế cùng với 16 vị thệ hữu của ông đồng đứng đơn xin dâng công quả để chuộc tội cho Võ Văn Đợi.

Đức Hộ Pháp trong lời phê có viết như sau:

"Đợi bị phế vị là vì nó từ chối Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, ngày nay theo Thiên điều thì nó phải tái kiếp mà hành đạo lại, nếu nó đặng ở Thanh Tịnh Đại Hải Chúng mà tu hành nơi cõi Hư linh cũng là may phước cho nó, còn quyền thiêng liêng thưởng phạt là do quyền Ngọc Hư Cung, có phải của Bần đạo đâu mà xin Bần đạo.

Còn dâng công quả cho Đợi, chỉ có vợ con của Đợi mới đặng. Còn mấy em, ai thèm đâu mà dâng."

Như vậy, các chơn linh khi nhập vào cõi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng thì không biết mình có công hay có tội, thăng hay đọa, phải chờ Tòa Tam Giáo Ngọc Hư Cung xét định. Có chơn linh được nhập vào nơi đó một thời gian học đạo hoặc tu luyện thêm, rồi sau đó, nếu có công được nhập vào cõi Thiêng liêng Hằng Sống.

Chính trong Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp ngày 26 tháng 10 năm Tân Mão (Dl. 24/11/1951), Ngài cho biết: Khi Bà Đoàn Thị Điểm vừa quy vị, thì chơn linh cũng nhập nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, nhờ cô Thất Nương xuống độ Bà về Lôi Âm Tự, rồi nhờ Bà viết ra một cuốn Nữ Trung Tùng Phận, Bà mới siêu thoát được.

Ngoài những lời dạy của Đức Hộ Pháp, chúng ta còn có thể tìm hiểu thêm cõi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng qua những chơn linh đã từng được đưa vào cõi giới đó về giáng cơ kể lại.

Đàn cơ tại Hộ Pháp Đường, ngày 2 tháng 12 năm Ất Hợi (Dl. 27/12/1935), do Hộ Pháp và Tiếp Đạo phò loan, có một chơn linh tên là HỒ QUÍ DIÊN giáng cơ cho biết như sau:

Tiểu nhân xin chào chư vị Đại Đức. Lụy…

 

THI

Hèn lâu mơ ước đến thăm nhau,

THANH TỊNH bấy lâu ở ngục lao.

Giận nặng hồng trần cân Tạo Hóa,

Hờn nhiều quả kiếp số Nam Tào.

Xe hồng đổ phước ngơ tay vịn,

Cánh hạc tuôn duyên cửa đọa nhào.

May gặp ân nhân Lê Đại Đức,

Ngọc Hư rỗi cứu khỏi Âm Tào.

– Thưa Hộ Pháp, kẻ vô phước nầy chỉ trông công con tu niệm mong mỏi cảnh Thiên, nào dè bạc phận, chúng nó vô Đạo không tu, gây thêm nghiệp chướng.

Hộ Pháp hỏi: Còn thằng Sĩ thế nào?

– Sĩ nó bị quả kiếp tiền khiên nên đã luân hồi tái thế. Tớ có gặp Lễ Sanh Thuận ở tại Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, hôm nọ cùng tớ mới thọ lịnh Ngọc Hư đắc phong Thần vị.

Hộ Pháp hỏi: Còn Lễ Sanh Nhượng?

– Tớ không thấy vào Thanh Tịnh nên không biết.

Hộ Pháp hỏi: Xin cho biết có gặp ai quen ở đó không?

– Không dám.

Sau đây là câu chuyện do một vị trong Phạm Môn giáng cơ kể lại lúc ông thoát xác nơi cõi trần bị đưa vào Thanh Tịnh Đại Hải Chúng. Vị Phạm Môn đó có tên là ông hai Chiếm, quê ở quận Bến Lức Tân Ân. Lúc sinh tiền ông làm công quả nơi nhà sở Giang Tân, chẳng bao lâu vì mang cơn bịnh ngặt, ông mất. Các anh em thệ hữu cùng sở Giang Tân chung nhau lo chu toàn đám tang cho ông.

Trong một Đàn cơ tại Hộ Pháp Đường, Phối Thánh Phạm Văn Màng giáng cơ báo cho Đức Hộ Pháp biết rằng: Ông hai Chiếm được vào phẩm Địa Thần, có Đức Quyền Giáo Tông làm chứng.

Đến ngày 4 tháng 5 năm Bính Tý (Dl. 22/6/1936), Đàn cơ tại Hộ Pháp Đường, Phối Thánh Phạm Văn Màng giáng cơ bạch với Đức Hộ Pháp:

Thưa sư phụ, anh Chiếm có về còn đứng ở ngoài cửa vì chưa có lịnh của sư phụ nên không dám vào.

Đức Hộ Pháp cho lịnh gọi vào, sau đó cơ liền viết: Dạ con là Chiếm nè.

- Sao em không dám vô?

- Vì con sợ sư phụ quá. Con viết không được, nhờ anh Ba (Phối Thánh Phạm Văn Màng) viết giùm.

Hôm con mới chết, ôi thôi! Nó khổ biết chừng nào! Một nỗi bị mẹ thằng Đường (vợ của Chiếm) nó kêu tới kêu lui, chịu đà không nổi! Thảm mới vừa hết đau thì có lịnh Ngọc Hư Cung sai Như Ý Đế Quân bắt đem qua Thanh Tịnh Đại Hải Chúng.

Thưa Sư phụ, ở chỗ đó khó ở quá! Bị bọn quỉ lồi, cô hồn gì đủ thứ, nó mắng nhiếc tối ngày, nhứt là nó chửi con là đồ làm biếng, tu gì, tu gì cái đám thầy chùa mê hoặc. Hại nỗi bị mấy tay phản đạo cũng có trong đám đó đứng làm đầu xúi giục bọn kia chửi mãi. Con chịu như vậy hoài nên muốn chết đi cho khỏi, ngặt chết không đặng, nó hành con quá chừng!

Đương cơn thảm khổ, con lại may gặp một bà thiệt là tử tế, nghe nói là Thất Nương Diêu Trì Cung đến thăm, rồi biểu con theo Bà. Con mừng quá, đi theo Bà liền, vì thấy Bà đó oai quyền lớn lắm. Nghe nói Bà đắc lịnh Ngọc Hư Cung vì có lời tình nguyện, lãnh phần cai quản Thanh Tịnh Đại Hải Chúng nầy đã từ lâu đặng giáo hóa và độ dẫn các vong linh vì tội tình bị sa đọa vào đây.

Nội Thanh Tịnh Đại Hải Chúng nầy, ai cũng đều kiêng sợ. Bà dắt con đến gởi Đức Quyền Giáo Tông. Con ở đây một thời gian chẳng đặng bao lâu, thì Đức Quyền Giáo Tông kêu con nói rằng: Có lịnh Ngọc Hư cho con đi phó nhậm nơi tỉnh Ninh Bình, làm ông Thần tại đó.

Thật cũng may quá, ấy là nhờ Bà Thất Nương thương tình thấy con ít oi thiệt thà, lại bị đám âm hồn ngạ quỉ hành hạ căn kiếp của con, nên Bà ra tay giúp đỡ.

Tóm lại, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, như tên đã gọi, là một cõi thiêng liêng mà các chơn linh nơi đó rất đông đảo, trông như một biển người (đại hải chúng là biển người).

Nơi đây các chơn hồn khi quy liễu tạm ở một thời gian, chờ Tòa Tam Giáo Ngọc Hư cung xem xét tội phước để phân định việc thăng hay đọa.

Như vậy, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng là một khu vực phụ thuộc với cõi Âm Quang, chịu dưới quyền độ rỗi và giáo hóa của Địa Tạng Vương Bồ Tát và Thất Nương Diêu Trì Cung.

Những chơn hồn khi sống có đạo đức, song chưa có công nghiệp lớn lao, khi chết chơn hồn nhập vào cõi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, nơi đây nếu chơn hồn chịu khó tu luyện thêm và nhờ sư giáo hóa của Thất Nương Diêu Trì Cung mà đắc quả vị nơi Thiêng Liêng Hằng Sống.

 

 

 

 

THẢO XÁ HIỀN CUNG

Thảo Xá Hiền Cung hiện nay là một ngôi nhà thờ Đức Cao Thượng Phẩm, nằm phía sau Thánh Thất Thành Phố Tây Ninh, tọa lạc tại số 112, đường 30/4, khu phố 4, phường 2 Thành Phố Tây Ninh.

Thảo Xá Hiền Cung là một công trình kiến trúc đặc biệt trong đạo Cao Đài bằng vật liệu nặng. Ngôi thờ được kiến tạo theo một hình vuông vức, chia làm ba gian, với bốn cây cột bằng bê tông cốt sắt, mỗi bề dài khoảng 9 mét, có hành lang bao bọc chung quanh. Nóc ngôi thờ đúc bằng ciment gồm có ba từng mái, mỗi từng mái có bốn góc nhọn uốn cong như mái các ngôi chùa Phật cổ, sơn phết rực rỡ.

Bên trong Thảo Xá Hiền Cung mặt trước gian giữa thờ ba vị thân sinh của ba chức sắc Đại thiên phong. Đó là:

1- Xuất Bộ Tinh Quân Cao Quỳnh Tuân, là thân sinh Ngài Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.

2- Ngân Hà Công Bộ Phạm Công Thiện, là thân sinh Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc.

3- Xuyên Quan Tư Bộ Cao Hoài Ân (bên phải), là thân sinh Ngài Thượng Sanh Cao Hoài Sang.

Ngay chính giữa ngôi Thảo Xá Hiền Cung có đúc tượng Đức Cao Thượng Phẩm cầm Long Tu Phiến đứng một cách uy nghi. Trước tượng có đặt cái bàn ba chân lộng trong tủ kính. Cái bàn ấy là vật kỹ niệm lần xây bàn đầu tiên tại nhà Ngài Cao Hoài Sang gần chợ Thái Bình Sài Gòn.

Sát vách, phía sau tượng Đức Cao Thượng Phẩm là Bàn thờ Đức Ngài.

Ngoài ra, nơi đây còn có bàn thờ của Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu và Bàn thờ thân mẫu của Ngài cùng lưu giữ một số kỹ vật trước ngày Khai Đạo.

Nguyên Thảo Xá Hiền Cung trước kia là một ngôi nhà tranh, do Đức Cao Thượng Phẩm cất lên bằng cây ván, tại đất nhà của Ngài thuộc xã Hiệp Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Khi cất xong, ngôi nhà nầy trở thành nơi họp mặt, cầu cơ của các chức sắc Đại Thiên Phong như Đức Quyền Giáo Tông, Đức Phạm Hộ Pháp, Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu, Đầu sư Hương Hiếu... vì Tòa Thánh đang trong thời kỳ xây dựng đầu tiên 1927-1929

Sau đó, trong Đàn cơ ngày 12 Tháng 6 năm Mậu Thìn (Dl. 28/7/1928) Bà Thất Nương Diêu Trì Cung giáng cơ đặt tên cho ngôi nhà ấy là “Thảo Xá Hiền Cung” và ban cho đôi liễn như sau:

THẢO XÁ tùy nhơn, ngu muội bần cùng nghinh nhập thất,

草 舍 隨 人, 愚 昧 貧 窮 迎 入 室

HIỀN CUNG trạch khách, thông minh phú quí cấm lai môn.

賢 宮 擇 客, 聰 明 富 貴 禁 來 門

Nghĩa là:

Thảo xá tùy theo người, người ngu muội và nghèo hèn thì đón tiếp vào nhà.

Hiền cung chọn khách, người thông minh và giàu sang thì cấm đến cửa.

Nhắc lại vào năm 1928, trong lúc Cao Thượng Phẩm cùng các công quả lo xây cất Tòa Thánh bằng cây ván tạm và các cơ sở Ðạo như Hậu Điện, Đông Lang, Tây Lang, Phòng Trù trong khu Nội Ô Tòa Thánh, Ngài bị bọn người xấu vu cáo đục tủ hành hương lấy tiền của Ðạo bỏ túi riêng, rồi nhóm côn đồ ở Chợ Lớn dưới quyền của ông Nguyễn Phát Trước, tục gọi là Tư Mắt dẫn một số đông bộ hạ từ Chợ Lớn kéo lên Tòa Thánh Tây Ninh dùng bạo lực xua đuổi Ðức Hộ Pháp và Đức Cao Thượng Phẩm ra khỏi Toà Thánh Tây Ninh.

Đức Hộ Pháp phân vân chưa biết đi đầu thì ông Đầu Sư Thái Thơ Thanh đề nghị Đức Ngài xuống tạm lánh nơi Thánh Thất Thủ Đức. Ở đó được một thời gian, Ban Cai Quản Thánh Thất đã không tôn trọng mà càng ngày càng tỏ vẻ xem thường Đức Ngài. Thấy vậy, Ngài chán ngán cho tình đời, quyết định phải ra đi. Trước khi đi Ngài có sáng tác một bài thi để lại Thánh Thất Thủ Đức như sau:

Thắng khổ người tu vẫn để lòng,

Ta thua Thủ Đức phải đành dông.

Buồn chưa giỏi đứng trên đầu Rắn,

Vui đã phân minh chí khí Rồng.

Chẳng kể vịt gà chê tiếng Phụng,

Chỉ phiền hồng hộc ghét đuôi Công.

Mở kho nuôi đói đây trề miệng,

Ta quảy hồng ân rải giáp vòng.

Sau đó Giáo Hữu Thượng Minh Thanh nghe tin Đức Hộ Pháp rời khỏi Tòa Thánh Tây Ninh, nên tìm lên Thủ Đức để rước Ngài về Thánh Thất Khổ Hiền Trang ở làng Phú Mỹ, tỉnh Mý Tho tạm trú.

Khi ở Phú Mỹ, Ngài nhận thấy mọi người đều tôn kính và đặt trọn vẹn đức tin nơi Ngài, nên Ngài ở đó một thời gian gần hai năm, cho đến khi hay tin Đức Cao Thượng Phẩm lâm trọng bịnh, Ngài mới rời Thánh Thất Khổ Hiền Trang để về Tây Ninh thăm bịnh.

Còn Đức Cao Thượng Phẩm, lúc ấy phải lui về Thảo Xá Hiền Cung là nhà riêng của Ngài để an dưỡng và tiếp tục tu hành.

Tuy nhiên vì nghĩ lại cảnh tình hiện tại, Ngài đã hy sinh danh lợi, quyết lòng theo Thầy, theo Đạo, nhưng bị một số người bạc đãi, đuổi khỏi Tòa Thánh, Ngài đành ngậm đắng nuốt cay rời khỏi vùng Thánh địa, lui về Thảo Xá Hiền Cung tịnh dưỡng vì quá đau buồn và thất chí nên Ngài lâm trọng bịnh.

Chính trong quyển Đạo Sử, Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có thuật lại giai đoạn nầy như sau:

“Bỗng đâu đất bằng sóng dậy, nước lã khuấy nên hồ đem đến gieo ác cảm cho Ðức Cao Thượng Phẩm, làm cho Ðức Ngài phải về Thảo Xá Hiền Cung. Ðức Ngài quá buồn, vì vâng lịnh Ðức Chí Tôn về Tây Ninh mở Ðạo, Ngài phải bỏ sở làm chưa hưu trí, con còn đang du học tại Paris.

Nhớ lại lúc bỏ sở làm thì anh em bạn nói rằng: Thầy Tư, sao Thầy quá tin dị đoan; con còn đang học bên Pháp mà Thầy đi như vậy thì việc học của con phải dở dang sao?

Nhưng Ngài nhứt quyết nghe lời Ðức Chí Tôn dạy mà thôi, nên Ngài thu xếp gia đình, bỏ sở làm về Tây Ninh lo Ðạo, chịu biết bao nhiêu cảnh gian nguy vì xưa đến đây đầy những bụi cây, thú dữ phải ăn vác nằm sương mới tạo thành Tòa Thánh tạm và xây cất đủ mọi nơi thành khoảnh thì lại bị thiên hạ đuổi đi!!!

Ðức Ngài về Thảo Xá, vì buồn rầu, vì xấu hổ với anh em bạn, mặt mũi nào trở về sở làm được nữa, thế nên Ngài thất chí ước nguyện của Ngài không thành.

Vì khi ra đi Ngài quyết chí đem thân này làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn sai khiến, nhưng cơ đời rất nên cay nghiệt, xảy đến nhiều nỗi tang thương cho gia đình Ngài. Ðức Ngài quá đau khổ có làm một bài thi tự thán như vầy:

Công trình gầy dựng Thất Tây Ninh,

Bằng địa sóng xao khiến rập rình.

Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,

Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.

Xưa Tòa Thánh dập dìu lai vãng,

Nay Bửu Ðình hiu quạnh lụy nhìn.

Thương Ðạo mến Thầy xin sớm liệu,

Cộng tâm chung trí chớ làm thinh”.

Trong một đàn cơ tại Thảo Xá Hiền Cung, Thất Nương Diêu Trì Cung có ban cho Đức Cao Thượng Phẩm một bài thi để an ủi Đức Ngài:

Nghĩ giận mà ra bắt nực cười,

Nhờ ai an vị lại an nơi.

Trăm năm chưa giữ bền thân sống,

Một kiếp đã gây lắm tội đời.

Phẩm Phật ngôi Tiên ai dẫn nẻo,

Ngai Thần vị Thánh kẻ toan dời.

Nhắn lời nói với phường đen bạc,

Ðến cửa Thiêng liêng ngó mặt Trời.

Đến ngày 15 tháng 10 năm Mậu Thìn (1928) lúc 7 giờ, nghe tin Đức Cao Thượng Phẩm bịnh nặng, Hội Thánh cho tạo lập một ngôi Tịnh Thất tại cụm rừng gần Báo Ân Từ hiện nay, rồi Chức sắc lưỡng đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng hiệp nhau đến Thảo Xá Hiền Cung rước Đức Ngài vào nhập tịnh.

Ngài nhập Tịnh Thất tại Tòa Thánh một thời gian, khoảng hơn hai tháng, mà bịnh tình của Ngài cũng chưa thuyên giảm. Ngài lại quyết định trở về Thảo Xá Hiền Cung.

Sau khi lìa Tòa Thánh, về Thảo Xá Hiền Cung tịnh dưỡng, cho đến ngày 1 tháng 3 năm Kỷ Tỵ, 1929, lúc 11 giờ trưa, Ðức Thượng Phẩm cho mời Ðức Hộ Pháp, ông Bảo Văn Pháp Quân, bà Giáo Sư Hương Hiếu, cùng một vài vị chức sắc khác có mặt.

Theo quyển Đạo Sử viết, Ðức Thượng Phẩm nhìn Ðức Hộ Pháp trối rằng: Nay Qua về chầu Ðức Chí Tôn, em ở lại hiệp với Chức Sắc chung lo nền Ðạo của Thầy cho được vẹn toàn mọi sự.

Anh dầu có nhắm mắt thì sự mất cũng như còn. Nói rồi tuôn hai hàng nước mắt, kế day qua nói với bạn thân của Ngài (Bà Hương Hiếu) căn dặn để trọn tâm lo tròn phận sự; nói dứt lời thì Ngài xuất linh hồn êm ái, gương mặt cũng như người đương ngủ. Có một điều phi thường là lời trối Ngài nói có hàng có chấm cũng như lúc mạnh khỏe. Cả Chức Sắc có mặt đều cảm động ngùi ngùi thương tiếc”.

Khi Ngài dứt hơi thì Ðức Hộ Pháp ra kiểu cho thợ mộc đóng Liên Ðài hình Bát giác để liệm Thánh thể Ngài, rồi quàn Liên đài tại Thảo Xá Hiền Cung ba ngày để làm lễ tế điện.

Khi chức Sắc Hiệp Thiên Ðài cầu cơ, Ðức Thượng Phẩm có giáng tỏ vẻ vui mừng, được về bái mạng Ðức Chí Tôn cùng Đức Phật Mẫu nơi Bạch Ngọc Kinh và Diêu Trì Cung. Ngài tiếp cho một bài thi tứ tuyệt:

CAO thanh miệng thế mặc chê khen,

THƯỢNG trí màng chi tiếng thấp hèn.

PHẨM cũ ngôi xưa dầu rõ giá,

Từ bi tập tánh được thường quen.

Khi Đức Cao Thượng Phẩm quy Tiên được thờ tại Thảo Xá Hiền Cung. Sau khi mãn tang Đức Ngài, Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu bèn hiến ngôi nhà thờ nầy và miếng đất chung quanh cho Hội Thánh, rồi vào năm 1930, bà tình nguyện đi hành Đạo ở địa phương.

Hội Thánh cho sửa lại ngôi Thảo Xá Hiền Cung bằng ngói âm dương và trên miếng đất mặt tiền đó, Hội Thánh cho cất thêm một ngôi Thánh Thất, gọi là Thánh Thất Thị Xã Tây Ninh.

Cuối cùng ngôi Thánh Thất Thị Xã Tây Ninh được trùng tu lại, đồng thời ngôi Thảo Xá Hiền Cung cũng được xây dựng lại như bằng vật liệu nặng như công trình ngày hôm nay.

Tóm lại ngôi Thảo Xá Hiền Cung đã được Hội Thánh nhìn nhận là một di tích Đạo sử:

* Là nguồn cội của chi Đạo Hiệp Thiên Đài.

* Là nơi thông linh giữa các Đấng Thiêng Liêng và các Cao Đồ: Đức Quyền Giáo Tông, Đức Phạm Hộ Pháp, Đức Cao Thượng Phẩm, chư vị Thời Quân, Bảo Quân, bà Đầu Sư Hương Hiếu… trong thời kỳ đầu xây dựng Tòa Thánh (1927- 1929).

* Là nhà Tịnh của Đức Cao Thượng Phẩm.

 

 

 

 

TÌM VỢ DÂNG DƯA

Trong tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn Thị Điểm có một đoạn thơ như sau:

Chẳng lẽ nói cho chàng đen bạc,

Chẳng lẽ cho cỡi hạc quên nhà.

Không đành nói thác ra ma.

Không đành nói ngụ nơi nhà lầu xanh.

 

Không lẽ nói mến anh quên én,

Không lẽ rằng trộm nén hương thừa.

Nói chi Tìm Vợ Dâng Dưa,

Lẽ nào nói rượt theo vừa Hằng Nga.

 

Không lẽ nói đi qua Đông độ,

Không lẽ rằng vô số chinh phu.

Lẽ nào nói bị tội tù,

Lẽ nào nói trấn Tây Âu làm hoàng.

 

Còn nói thiệt rằng chàng phụ thiếp,

Cũng vì mê theo kiếp làng chơi.

E con đến lớn nên người,

Gương cha để thẹn những lời bợm hoang.

 

Riêng chịu thảm không than với trẻ,

Đổ lụy rơi theo khóe miệng cười.

Vui là gắng gượng làm vui,

Cái vui cùng trẻ là hồi ai bi.

Đoạn thơ trên Bà Đoàn Thị Điểm có dẫn điển tích “Tìm vợ dâng dưa”. Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của tích nầy.

Điển tích “Tìm vợ dâng dưa” ý nói Lưu Toàn dâng dưa cho vua Diêm vương để tìm kiếm vợ là Lý Thúy Liên đã chết dưới Âm phủ.

Điển tích nầy được dẫn trong truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân như sau:

Ngày xưa, vua Đường Thái Tông có du Địa phủ. Lúc từ giã Thập Điện Diêm Vương, vua Thái Tông có hứa rằng về đến cõi Dương gian rồi sẽ sai người đem dưa tặng cho vua Thập Điện.

Khi về cõi Dương gian, Vua nhớ lời hứa bèn cho treo bảng để chọn người đi xuống Âm phủ dâng dưa. Bảng treo được ít ngày thì có người tình nguyện xin đi.

Người đó là Lưu Toàn quê ở Quảng Châu, nhà giàu có, tính người lại khẳng khái. Ông có người vợ là tên là Lý Thuý Liên, rất sùng tín đạo Phật. Một hôm có nhà sư đứng ngoài cổng khuyến giáo, nàng rút trâm vàng để cúng dường cho nhà sư, Lưu Toàn bắt được, cho vợ là mất nết, mắng chửi không tiếc lời, đến nỗi nàng tức giận treo cổ tự tử, bỏ lại hai đứa con còn khờ dại, một trai và một gái.

Lưu Toàn buồn rầu, tức bực, gửi hai đứa con ở lại, quyết xuống Âm phủ tìm vợ, nên lãnh nhiệm vụ dâng dưa cho vua Thập Điện.

Hôm dâng dưa, Lưu Toàn được đưa đến quán Kim Đình, đầu đội cặp dưa hấu to, túi đựng đầy giấy tiền vàng bạc, miệng ngậm thuốc độc. Giây lát, Lưu Toàn chết, linh hồn đội cặp dưa xuống Âm phủ.

Khi đến Âm phủ, hồn Lưu Toàn trình với quỷ xứ rằng: Vâng lệnh hoàng đế Đường Thái Tôn xuống dâng dưa cho vua Thập Điện.

Quỷ xứ bèn dắt Lưu Toàn vào Sum La điện ra mắt Diêm chúa.

Hồn Lưu Toàn quỳ trước điện tâu rằng: Hoàng Đế Thái Tôn dạy tôi dâng cặp cho Bệ Hạ mà tạ ơn.

Diêm chúa khen rằng: Vua Thái Tôn có đức nên hứa chẳng sai lời.

Khen rồi mới hỏi tên họ người tình nguyện dâng dưa. Lưu Toàn mới kể việc gia đình mình gặp cảnh khổ sở, vợ là Lý Thúy Liên thắt cổ chết, bỏ lại hai đứa con khờ kêu khóc ngày đêm, nên tức mình bỏ nhà cửa, bỏ con dại mà đi dâng dưa để cho gặp vợ.

Vua Diêm Vương truyền lịnh dẫn hồn Lý Thúy Liên đến để gặp mặt chồng. Lại truyền Phán quan đem bộ tử ra xem, thấy số vợ chồng Lưu Toàn sau thành Tiên hết thảy, mới sai quỷ xứ hườn hồn cho hai người.

Quỷ xứ tâu rằng: Lý Thúy Liên chết đã ba tháng, thây đã rã rời, hườn hồn sao đặng?

Vua Diêm Vương nói: Đường Ngự muội Lý Ngọc Anh nay đã mãn số. Vậy thì mượn xác thế vào.

Quỷ sứ đưa hồn hai vợ chồng về cõi nhân gian, hồn Lưu Toàn đến Trường An nhập vào xác của mình ở quán Kim Đình.

Riêng Thuý Liên vì đã chết quá lâu, xác bị thúi nát, quỷ sứ được lịnh Diêm Vương cho nhập vào xác của Công chúa vua Đường là Lý Ngọc Anh vừa mới té chết.

Xác Công chúa, nhưng hồn là Lý Thuý Liên, nên khi tỉnh dậy, nàng không nhận mình là Công chúa, chỉ xin nhà vua cho tái hiệp với chồng là Lưu Toàn mà thôi. Vua Đường Thái Tông ưng thuận cho hai vợ chồng Lưu Toàn tái hiệp và ban thưởng hai người rất trọng hậu.

 

 

 

 

BIỆT NGHIỆP VÀ CỘNG NGHIỆP

A - NGHIỆP

Nghiệp là một từ ngữ thường dùng trong Phật giáo, dịch từ Phạn ngữ là Karma, nghĩa là tạo tác thiện ác từ thân, khẩu, ý. Nghiệp chính là con đường đi từ nhân tới quả của một kiếp hay nhiều kiếp.

Theo giáo lý Phật giáo, nghiệp là những hành động có tác ý của thân, khẩu, ý, tức là những việc cố ý làm, có tính toán hay trong thâm tâm khởi lên những ước muốn, những dục vọng nào đó có tính cách thường xuyên và cố gắng thực hiện cho bằng được. Đó là những việc làm, những ý nghĩ thiện hay bất thiện được lập đi lập lại, tạo nên sức mạnh chi phối tự thân và hoàn cảnh.

Đức Phật khuyên con người phải có ý thức về sự quan trọng của nghiệp, tức là buộc phải chú tâm về hành động của mình hầu tránh khỏi bị mang nghiệp.

Chính con người là chủ nhân của nghiệp, một khi đã tạo ra nghiệp, cũng chính con người phải chịu hậu quả của nghiệp. Vì vậy, Đạo Phật chủ trương con người làm chủ hành động của mình và cũng chịu trách nhiệm về hậu quả hành động của mình, không ai chịu thay cho mình được.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Thì đừng trách lẫn Trời gần Trời xa.

Đức Thượng Sanh, khi luận về chữ nghiệp Ngài cũng có đoạn dạy:

“Ðức Phật Thích Ca thấy chúng sanh cứ sanh rồi chết, chết rồi lại sanh, cứ mãi bị trói buộc trong vòng sanh tử để trả NGHIỆP quả không thể thoát ra khỏi nên gọi là Luân hồi.

Giờ đây hiểu thấu cái nguyên nhân của sự vay trả ở cõi đời, tự nhiên ta nhận thức tại sao mà ta sanh ra ở cõi thế, ta từ nơi nào mà đến vậy và đến đây để đi về đâu? Tại sao con người phải khổ đau? Phải rên siết?

Kinh nhơn quả có nói: “Dục tri tiền thế nhân kim sanh thọ giã thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.” Nghĩa là muốn biết nhân đời trước xem kết quả đời này, muốn biết kết quả đời sau xem nguyên nhân đời hiện tại.

Mỗi người đều mang vào thân cái quả hay là Nghiệp hoặc nhiều hoặc ít. Nếu trong kiếp sanh chúng ta vừa trả quả tiền kiếp vừa tạo nhân lành cho kiếp sau, nghĩa là mỗi người dầu ở trong hoàn cảnh nào đều giữ lòng công bình chơn chánh, thương người mến vật, khắc kỷ tu thân thì trên đời gió bụi này đâu còn trông thấy những cảnh trạng đau thương khốc hại nữa.

Luật nhân quả vẫn mầu nhiệm sâu xa. Có khi nhân ở kiếp trước sanh ra quả đời này, có khi nhân ở kiếp nầy sanh ra quả ở kiếp sau.

Các nhân quả ấy xen lộn hoặc nhập lại thành cái thân tâm và cảnh giới của con người để sắp đặt cuộc thành bại, hư nên, họa phước của mỗi cá nhân một cách công bình mực thước”.

Chữ nghiệp trong nhà Phật không có nghĩa một chiều, hễ nói nghiệp thì chẳng phải là điều xấu, điều ác không. Kỳ thật, nghiệp cũng có xấu và cũng có tốt, gọi là Thiện nghiệp và ác nghiệp.

Thiện nghiệp là nghiệp lành, tức là những việc làm thiện từ kiếp trước, có tính cách giúp người, giúp đời thì các việc đó tạo thành thiện nghiệp. Nghiệp nầy sau sẽ nhận được những điều hiền lành, may mắn, hay hạnh phúc.

Ác nghiệp là nghiệp dữ, tức là những việc làm thiếu đạo đức, gian ác thì các việc ấy gây thành ác nghiệp, sẽ theo báo hại cho kiếp sống sau của chúng ta. Ác nghiệp đã làm rồi thì không thể nào trốn tránh được kết quả của nó.

Trong kinh Pháp Cú câu 127 Đức Phật có dạy:

Không trên trời, dưới biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn được quả ác nghiệp.

Chính do nghiệp mà con người cứ mãi ở trong vòng lẩn quẩn, tức là sanh ra, lớn lên, trả nghiệp cũ, vay nghiệp mới, cứ thế mà luân hồi để vay trả mãi mãi.

B - BIỆT NGHIỆP VÀ CỘNG NGHIỆP

Giáo lý đạo Phật có chia ra làm hai loại quả báo hay nghiệp báo: Nghiệp riêng và nghiệp chung. Nghiệp riêng thì gọi là biệt nghiệp và nghiệp chung thì gọi là cộng nghiệp.

1- Biệt nghiệp là nghiệp riêng, tức quả báo riêng từng người, ai tạo nhơn là nấy thọ quả. Theo luật nhân quả, người nào tạo nhân thì người đó phải gánh chịu quả nghiệp, không ai chịu thế cho ai.

Trong Kinh Phật có câu: “父 作 不 善, 子 不 代 受, 子 作 不 善, 父 不 代 受. 善 自 獲 福, 惡 自 受 殃. Phụ tác bất thiện, tử bất đại thọ; tử tác bất thiện, phụ bất đại thọ. Thiện tự hoạch phước, ác tự thọ ương”, nghĩa là cha làm điều chẳng lành, con không chịu thế được; con làm điều chẳng lành, cha không chịu thế được. Làm lành tự được phước, làm dữ tự mang họa.

2- Cộng nghiệp là nghiệp chung, tức quả báo chung cho nhiều người và họ sẽ chịu chung quả báo tùy theo thiện hay ác. Như nói cộng nghiệp của một gia đình, cộng nghiệp của một quốc gia. Quả báo chung của cộng nghiệp mà nhiều người thọ lãnh, gọi là cộng báo.

Chúng ta nên biết, không phải một nghiệp ác đời nầy sẽ sinh ra quả báo ở đời sau, mà nó có thể gây ra từ nhiều kiếp trước, khiến họ do nhân duyên ràng buộc phải chịu chung quả nghiệp một lượt với nhau.

Lại có khi một người làm ác mà cả nhóm đều hưởng lợi, thì những người trong nhóm cũng phải chịu chung một cộng nghiệp.

Do những nguyên nhân trên, nghiệp đã tập trung những người có quả báo giống nhau về chịu chung một tai nạn với nhau.

Ví dụ: Trận động đất kèm theo sóng thần đã xảy ra trên đảo Sulawesi, đông bắc Indonesia.

Những nạn nhân trong cuộc động đất kèm theo sóng thần nầy trong quá khứ mỗi người đã tạo ra từng nghiệp khác nhau và ở rải rác khắp nơi trên thế giới. Nhưng quả báo của họ giống nhau là phải chịu chung trận động đất kèm sóng thần chôn vùi họ. Do vậy, nhân duyên đã đưa đẩy khiến nhiều người tự tìm đến sống quay quần dọc theo bờ biển, hoặc do nhân duyên ràng buộc khiến một số người có mặt tại nơi xảy ra tai nạn do công việc, hay do du lịch dúng vào ngày giờ đó.

Chúng ta nghĩ, chưa chắc là những nạn nhân nầy đã từng tạo chung một nghiệp ác trong quá khứ. Có thể mỗi người tạo riêng cho mình mỗi nghiệp nặng nhẹ khác nhau, nhưng tất cả đều chịu một quả báo giống nhau nên nhân duyên đã đưa đẫy họ cùng một quả báo. Vì vậy người nghiệp nặng thì bị chôn vùi nơi biển cả, người nghiệp nhẹ hơn thì bị gãy tay chân, hay chỉ bị xây xát mà thôi, còn người không mang cộng nghiệp đó khiến tránh được tai nạn.

Ngoài ra, hai loại nghiệp nầy (biệt nghiệp và cộng nghiệp) có liên hệ mật thiết, tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau.

Như trên đã nói, cha mẹ làm ác thì chính họ sẽ phải gánh chịu, con cái không chịu thế, ngược lại con cái làm ác thì chính con cái gánh chịu, cha mẹ không chịu thế. Đó là biệt nghiệp.

Còn cha mẹ làm ác mà con cái phải gánh chịu là do cộng nghiệp. Nếu con cái có liên hệ cộng nghiệp với cha mẹ, thì những nghiệp thiện hay ác mà cha mẹ gây ra sẽ tác động tốt hay xấu lên con cái. Và ngược lại, những nghiệp thiện hay ác mà con cái tạo ra sẽ tác động tốt hay xấu lên cha mẹ.

Ví dụ như trong một gia đình người cha vi phạm pháp luật, ra tòa bị kêu án tù năm năm, thì người cha phải chịu tội, không ai chịu thế, cái đó gọi là biệt nghiệp. Nhưng những người con trong gia đình sẽ phải gánh chịu khổ sở vì cộng nghiệp, làm ảnh hưởng tác động trên nhiều phương diện như kinh tế gia đình sa sút, không có người dạy dỗ ảnh hưởng đến việc học hành của con cái…

Hoặc tùy thuộc vào biệt nghiệp và cộng nghiệp cái nào mạnh hơn thì kết quả sẽ có sự sai khác.

Ví dụ: Trong một gia đình kia, người vợ có tánh tốt, biết bổn phận, biết lo làm ăn, người chồng thì bê tha rượu chè, cờ bạc.

Mỗi lần ông chồng cờ bạc thua, về nhà là khảo tiền, nếu bà không cho thì ông chửi mắng thậm tệ. Có khi xua đuổi, đánh đập bà vợ. Người thân thuộc, láng giềng thấy vậy thương xót cho hoàn cảnh bà vợ và thắc mắc tại sao bà không ly dị cho rồi, cứ để ông chồng hành hạ khổ sở như thế? Nhưng chúng ta biết, sở dĩ bà vợ không thể ly dị được là vì bà còn thương chồng (đó là cộng nghiệp nặng).

Như vậy, người vợ có cái nghiệp riêng của mình, mà cũng phải chịu cái nghiệp chung với ông chồng, do cái cộng nghiệp nặng nên bị chửi mắng, đánh đập mà người vợ vẫn không thể ly dị với chồng được.

C - THOÁT NGHIỆP

Chúng ta đã biết, biệt nghiệp hay cộng nghiệp cũng đều là nghiệp do chúng ta tạo ra gây thành quả báo.

Làm thế nào mới có thể thoát khỏi nghiệp?

Như chúng ta biết nghiệp là hành động, nghiệp do hành động tạo ra, thì nghiệp cũng do hành động của con người mà thay đổi. Chúng ta có thể thay đổi quá trình chuyển nghiệp, bằng cách tác động vào nó, trước khi hình thành quả vui hay buồn, tốt hay xấu.

Sở dĩ có sự luân hồi là do nghiệp. Nếu trả hết nghiệp cũ mà chẳng vay nghiệp mới thì dứt nghiệp, dứt luân hồi.

Chúng ta không vay nghiệp mới, tức không làm những điều ác trong kiếp nầy gây đau khổ và thương tổn cho người khác.

Còn muốn trả hết nghiệp cũ thì chúng ta cần phải biết chủ nợ. Điều nầy không thể biết được, vì nghiệp nầy ở kiếp trước gây ra. Do đó chúng ta chỉ có cách duy nhứt là tu và hành. Tu để biết rõ nhân quả, nhưng nếu không hành thì không bao giờ tháo gỡ được nghiệp, mà nhiều khi còn kết nối ra thêm, tạo nhiều mối nghiệp khác.

Tu học là giải pháp để chọn cho mình một con đường sáng thoát khỏi nghiệp lẫn một định mệnh khắt khe hay là một định mệnh mà mình đổ thừa chỉ vì kết quả của sự sai lầm của chính mình.

Đạo Cao Đài mở ra trong thời Hạ ngươn mạt pháp này tức lập ra một trường thi công quả để đón nhận những vị nào muốn trả dứt các nghiệp cũ, đồng thời tạo ra công đức để chơn linh có thể gắm ghé ngôi vị Thần, Thánh, Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả.

Như vậy công quả được xem như là của cải vô vi dùng để trả hết nghiệp cũ và làm phương tiện đạt được những phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.

 

 

 

 

Ý NGHĨA CHỮ TÂM

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Mẹ để lời dưới đây cho các con dùng làm chuẩn thằng trong bước Đạo:

Gắng sức trau giồi một CHỮ TÂM,

Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.

Tâm thành ắt đoạt đường tu vững,

Tâm chánh mới mong mối Đạo cầm.

Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,

Tâm hòa Thiên hạ trị muôn năm.

Đường Tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn,

Có buổi hoài công bước Đạo tầm.

Hãy suy nghĩ và thật hành bao nhiêu đó, các con sẽ đắc đạo tại thế vậy. Mẹ ban ơn cho các con.

Và Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ trong Đàn cơ ngày 16 tháng 7 năm Giáp Tuất (Dl. 25/8/1934) đã dạy: Ngày chung qui chỉ đem về Thầy một CHỮ TÂM và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng.

Cũng vậy, trong Đại Thừa Chơn Giáo Đức Chí Tôn dạy nhơn sanh là Đạo tại Tâm, không cần tìm Đạo ở nơi khác, nghĩa là chỉ cần cố gắng trau dồi cái Tâm của mình sáng suốt là được. Ngài nói:

Ðạo đâu? Ðạo ở nơi TÂM,

Thì đâu có phải kiếm tầm đâu xa.

Nếu xét về phương diện vật chất, Chữ Tâm có nghĩa là trái tim, là bộ phận tối quan trọng, luôn đập không ngừng cho ta sự sống. Trái tim có trách nhiệm lưu thông máu đi khắp các vùng cơ thể, vận chuyển oxy và các dưỡng chất tới các mô. Trái tim còn là tạng chứa tình cảm và tình yêu thương.

Xét về phương diện tinh thần, Tâm có nghĩa là tấm lòng, lòng dạ, tâm trạng của con người. Theo ý nghĩa nầy, người tu hành rất cần thiết phải tìm hiểu tác dụng của chữ Tâm.

Do Tâm là nguồn gốc sanh điều lành việc dữ, là cái máy tạo thành Thánh phàm, hoạ phước, cho nên Ông Hy Di đã giải thích về chữ “Tâm 心” qua bài thi như sau:

三 點 如 星 象

 

Tam điểm như tinh tượng,

橫 勾 似 月 斜

 

Hoành câu tự nguyệt ta.

飛 毛 從 此 得

 

Phi mao tòng thử đắc,

做 佛 也 由 他

 

Tố Phật dã do tha

Nghĩa là: Ba chấm như hình ba ngôi sao, dưới một vòng câu như hình nguyệt xế, loài cánh loài lông bởi đó mà được, thành Phật cũng do nơi đó.

I - TÂM LÀ LƯƠNG TÂM

Chữ Tâm ở đây trước nhứt là Lương tâm, phần quý báu nhứt trong con người chúng ta. Chính Lương tâm giúp cho con người sáng suốt, biết điều nhân nghĩa, lẽ phải trái, mến đạo đức, chuộng tinh thần, thuận theo Thiên lý. Lương tâm ấy đã có sẵn trong mỗi con người chúng ta từ khi mới sanh. Nhưng rồi vì ta đắm đuối vào vật dục, nên cái Lương tâm nầy càng ngày càng mờ tối, khiến cho ta quên điều nhân nghĩa, lẽ công bình, điều phải trái. Bởi vậy Thánh Hiền xưa thường khuyên phải giữ cái Tâm ấy của mình sao cho được hồn nhiên thuần hậu như cái Tâm của trẻ con là quý nhứt, gọi là “xích tử chi Tâm”.

Chúng ta thấy chữ Tâm rất quan trọng cho người bước chân vào đường Đạo, vì vậy cho nên chúng ta thử xét về ý nghĩa của chữ “Tâm” qua Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo và giáo lý Cao Đài.

A - Chữ Tâm theo Phật giáo:

Theo Phật, Tâm là cái hiểu biết phân biệt, Tâm không có hình tướng, nên chúng ta không thể dùng mắt mà thấy được Tâm, dùng tai để nghe được tâm. Mà chỉ thấy các tác dụng thấy, nghe, phân biệt của nó, nên chúng ta biết có tâm. Cũng như điện, người ta không thấy được điện, mà chỉ do thấy cái tác dụng của nó như thấy đèn sáng, quạt xoay, nên biết có điện.

Phật giáo cho Tâm làm chủ vạn pháp. Tâm hoạt động, tạo tác ra nghiệp báo luân hồi, sanh tử nếu Tâm bị vô minh che lấp.

Đứng về phương diện sinh diệt tương đối thì Tâm của chúng sanh có muôn ngàn sai khác tùy theo chủng tánh. Khi Tâm có tham, sân, si thì nó thấp hèn, tội lỗi. Khi tâm có giải thoát, giác ngộ thì nó trở nên cao thượng, trong sạch.

Đứng về phương diện chân như tuyệt đối thì tâm của chúng sanh và tâm của Phật là một, không có sai biệt. Tâm của chúng sanh đồng với tâm Phật. Tất cả chúng sanh đếu có Phật tánh.

Tâm của chúng sanh sở dĩ bị nhiễm trược là tại vì chúng sanh dùng cái Tâm sanh diệt chạy theo trần cảnh, còn cái Tâm chân thật, không sanh không diệt, không có hình tướng thì làm gì có nhơ có nhiễm.

Cho nên Kinh sách bên Phật giáo tạm chia ra chân tâm và vọng tâm cho dễ phân biệt, dễ hiểu, chứ Tâm không có hai.

Chân tâm là cái tâm chân thực vốn thanh tịnh, an nhiên, tự tại, không bị phiền não vọng động, vọng thức chi phối che mờ, là thể tánh không sanh diệt, tức là trí huệ bát nhã.

Mỗi con người chúng ta đều có tâm thể chân thật, hằng hữu bất biến (chân tâm). Nhưng vì quên nó, chúng ta cố chấp nội tâm vọng tưởng, ảo ảnh là tâm mình, hằng ngày chúng ta chỉ sống với tâm sanh diệt, đối đãi phân biệt.

Vọng tâm là tâm hư vọng, là tâm phân biệt, luôn chạy theo ngoại cảnh, ngoại trần, bị các dục vọng chi phối, bị ngoại trần sai sử, điều khiển. Vọng tâm nầy luôn thúc đẩy con người chạy theo ngũ dục, làm cho con người sanh ra phiền não khổ đau.

Vì vậy, muốn thoát khỏi phiền não khổ đau thì chúng ta phải xóa bỏ vọng tâm, là cái Tâm thường lôi cuốn con người vào đường tội lỗi. Nếu không bỏ vọng tâm thì chân tâm diệu minh không hiện phát ra được. Xóa bỏ vọng tâm tức là để cho chơn tâm phát hiện, người tu hành mới thoát khỏi thất tình lục dục hiểu thấu chơn lý và thắng được mọi sự khổ đau.

B - Chữ Tâm theo Lão giáo.

Lão giáo chủ trương Tâm phải giữ cho thanh tĩnh vô vi. Muốn vậy, người tu theo Lão giáo phải hành từng giai đoạn từ Tâm trai, rồi đến Ngộ Đạo, sau cùng là Huyền Đồng.

Tâm trai là con đường phải cố gắng đạt đến chỗ thanh tĩnh, vô vi, Đây là giai đoạn đầu tiên người tu tập phải “thiểu tư, quả dục”, nghĩa là cần phải từ bỏ tất cả những ham muốn trở về với lối sống tự nhiên, giản dị, ít dục vọng. Mục đích của con đường là nhằm gột bỏ đi những gì mang tính vị kỷ nơi con người. Chính Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đã viết: Vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi, nghĩa là theo Đạo, càng ngày càng bớt. Bớt rồi lại bớt, đến mức vô vi (tức là vô dục, không còn ham muốn nữa).

Như vậy, con đường Tâm trai này là con đường dứt bỏ, dứt bỏ tất cả, dứt bỏ cả cái “tôi” giả dối, nhân tạo để trở về với cái “tôi” đồng nhất với Đạo.

Ngộ Đạo có nghĩa là hiểu biết và nắm bắt được nguyên lý vận hành của Đao.

Ngộ Đạo là sau khi đã Tâm trai rồi đã đứt bỏ đi tâm phàm, tánh tục, để thấy cái tâm Thánh, tâm Đạo trải rộng thênh thang trong lòng mình và ở khắp nơi. Và một khi đã ngộ Đạo thì mới có thể “Hoát nhiên đại ngộ”.

Huyền Đồng là hòa làm một với tất cả. Ở giai đoạn ngày, người tu tập đã hòa mình làm một với Đạo, với tất cả vũ trụ vạn vật, không còn thấy chút gì là riêng tư hay phân biệt nữa. Khi đã thực hiện được “huyền đồng”, thì tất cả đều là Một, như Đạo Đức Kinh đã viết: Giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần, thị vị Huyền Đồng”.

Tóm lại Lão giáo chủ trương "Thanh tĩnh Vô Vi" để tự nhiên tùy tùng Thiên lý, mà gom thần, định trí cho đến chỗ Huyền Đồng với vũ trụ và con người. Đó là con đường đi đến đắc Đạo vậy.

C - Chữ Tâm theo Nho giáo.

1- Theo Khổng Tử

Khổng Tử cho rằng Tâm chính là cái Thần minh làm chúa tể hành động cùng tư tưởng con người. Thần minh ấy là cái tinh thần sáng suốt, cái khí tinh anh của con người, nói một cách khác đó là cái minh đức, lương tri, lương năng, hay trực giác mà Trời đã ban cho mỗi con người chúng ta, nhờ đó mà chúng ta hiểu biết mọi việc và linh hơn muôn vật.

Sách Lễ Ký, thiên Tế Nghĩa chép rằng: “Chết không phải là hết. Chỉ hết cái hình hài mà thôi, còn cái khí tinh anh tức là tinh thần thì lại về chỗ sáng rõ ở trong vũ trụ”. Như vậy theo Nho giáo, sau khi chết, khí tinh anh không tiêu tan mà vẫn còn tồn tại, chỉ có xác thịt bị phân hủy theo thời gian mà thôi.

2- Theo Mạnh Tử

Mạnh Tử cho rằng tâm và tính là một.

Chữ Tính ở đây không phải chữ tính mang nghĩa tính nết như tính công bình, tính lương thiện, tính bác ái hoặc gồm những nết xấu như tính ích kỷ, tính ganh tỵ, tính tự ái… Những thứ tính nầy chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, tập quán, phong tục và tùy theo sự giáo dục mà nó có.

Trái lại chữ Tính mà Mạnh Tử quan niệm ở đây là phần thiên lý do Trời phú cho mỗi người chúng ta gồm các đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Như vậy, chữ Tính của Mạnh Tử chính là cái minh đức (minh đức là đức sáng), nên Tính nầy luôn luôn là thiện.

Nếu Tính đã là cái Thiên lý mà Trời phú cho con người thì tâm cũng chính là cái thần minh của Trời ban cho con người để hiểu tất cả mọi việc, hay nói cách khác Tâm và Tính là một. Mạnh Tử có nói: “Phát huy đến cùng cực cái Tâm của mình thì biết được cái Tính, biết được cái Tính của mình thì biết được Trời".

Và Mạnh Tử lại giải thích: “Sở dĩ biết được cái Tính của mình là biết được Trời vì Tính của mình do Trời sinh ra, chính là một phần bản thể của Trời vì Trời với người là một".

Vậy theo Mạnh Tử, Tâm (như Tính) với Trời đều là một, nên có thể gọi chữ Tâm nầy nầy là Thiên Tâm, đạo tâm, lương tâm đều được cả.

3- Theo Tuân Tử

Tuân Tử cho rằng: Tâm là chúa tể cả muôn vật, muôn sự. Ngài nói: Tâm là vua cái hình thể, là chủ cái thần minh, ra lịnh chứ không chịu lịnh ở đâu cả. Tự cấm lấy, tự khiển lấy, tự cướp lấy, tự làm lấy, tự thôi lấy. Tâm luôn luôn là chủ tể, có năng lực tự chủ nên không thể bị sai khiến bắt ép được.

Tuân Tử lại nói tiếp: Cho nên cái miệng thì có thể bắt ép phải im không được nói, cái hình thể thì có thể bắt ép co lại, duỗi ra chứ cái Tâm thì không thể bắt ép mà khiến đổi ý đi được. Cứ phải thì chịu trái thì bỏ”.

Tuy nhiên có một điều nguy hại cho Tâm là ngoại vật thường làm rối loan ngũ quan, mà ngũ quan lại tác động vào Tâm, làm cho Tâm bị mù quán, không thấy rõ điều ngay, lẽ phải được. Do đó theo Tuân Tử, mọi việc sai lầm điều bắt nguồn từ cái Tâm bị nghiêng lệch, cái Tâm không định mà ra cả.

“Cái Tâm của người ta như mâm nước để ngay mà không động, thì cái cặn cái đục lắng xuống dưới đáy, cái trong cái sáng nổi lên trên, có thể soi rõ râu mày và cả những cái ngấn mặt. Đến khi có ngọn gió thổi qua, cái cặn cái đục động ở dưới, cái trong cái sáng loạn ở trên thì cái mặt cũng không thể soi rõ được. Tâm của người ta cũng thế, lấy cái mà đạo dẫn, lấy cái khi khinh thanh mà nuôi, khiến cho ngoại vật không làm nghiêng lệch được thì đủ định được điều phải trái, quyết được việc hiềm nghi. Nếu để một việc nhỏ quyến rủ, làm cho cái ngay chính ở ngoài thay đổi đi, cái Tâm ở trong nghiêng lệch đi thì dù đến cái lý thô thiển cũng không quyết được.

II - TÂM LÀ LINH HỒN, THÁI CỰC.

Chữ Tâm, ngoài cái nghĩa là Lương Tâm, còn có nghĩa là Chơn linh, Linh hồn, Thiên tâm, Chơn tâm, Phật tánh…. Tùy theo người theo đạo Nho, đạo Phật hay đạo Thiên chúa.

Chữ Tâm còn có nghĩa là Tâm Vũ trụ, là trung tâm điểm, là Thái cực. Thật vậy, trong vũ trụ thì Thái cực là chủ tể của muôn loài vạn vật, dưỡng dục vạn linh, bảo tồn muôn loại. Thái cực ấy biến hóa vô cùng vô tận, làm cho muôn loài vạn vật cùng tiến hóa theo, do đó Thái cực chính là trung tâm điểm của Càn khôn, là Tâm vũ trụ.

Vậy Tâm chính là Thần, là Chơn linh, là Tiểu Linh quang mà Trời hay Thái cực là một khối Đại Linh quang đã chiết ra ban cho mỗi con người chúng ta. Tâm là nơi ngự trị của Trời, của Đức Chí Tôn. Chính trong Thi Văn Dạy Đạo Đức Chí Tôn đã giải rõ:

Nơi lòng Thầy ngự, động Thầy hay,

Ngặt nỗi là xưa chẳng thế bày.

Ðạo hạnh khuyên con gìn tánh đức,

Cửa Cung Bạch Ngọc đã gần khai.

Chúng ta vừa xét qua ở trên về ý nghĩa chữ tâm qua Tam giáo, đồng thời, trong đạo Cao Đài, với tôn chỉ quy nguyên Tam giáo, chữ Tâm ở đây là tổng hợp của Nho, Lão và Phật. Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy trau giồi chữ Tâm đó như sau: Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức. Làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật.

Và trong Thuyết Đạo, Đức Thượng Sanh cũng giải thích về chữ Tâm:

“Tâm là một nguồn sáng Thiêng Liêng, một điểm linh quang của Ðức Chí Tôn ban bố cho con người để khuyên lơn dìu dắt và soi sáng bước đường đời cũng như bước đường Ðạo của mỗi cá nhân trong kiếp sanh, hầu lúc rời bỏ xác phàm, mỗi nguyên nhân hay hóa nhơn được hoặc qui hồi cựu vị, hoặc thăng đẳng cấp, hoặc bị trừng trị theo Luật Thiên Ðiều.

Dầu cho Thần Thánh Tiên Phật khi xuống thế mang xác phàm thì buổi chung qui được hay phạt, thăng hay đọa đều do nơi Tâm cả, và nếu người được tánh linh hơn muôn vật là nhờ có Lương Tâm vậy.

Nên để ý là trong các đẳng nhơn sanh, người dầu sang hay hèn, Thánh nhân hay thường nhân, cái tâm của Thiêng Liêng ban cho đều có sự sáng suốt ngang nhau không khi nào chênh lệch.

Vì lẽ đó, nếu mỗi người ai cũng theo thiên lý mà tu dưỡng mà hành động thì không ai hơn ai cả. Xưa Thành Nghiễn bảo Tề Cảnh Công rằng: Thánh Hiền là Trượng phu, ta cũng là Trượng phu ta sợ gì không được như Thánh Hiền. Nhan Hồi cũng đã nói: Vua Thuấn là người nào, ta là người nào, ai theo Ðạo mà làm thì cũng thế cả.

Tâm được sáng suốt thêm hay trở nên mờ tối là do nơi con người biết nuôi nấng, nâng cao nó lên hay là đàn áp làm cho nó bị che lấp mất.

Về mặt Ðạo, đối với người đã tầm được lý tưởng cao siêu, cái tâm cần phải giữ cho trong sạch thanh cao.

Vì tôn chỉ Ðạo là khêu ngọn đuốc thiêng liêng để dìu đời cho sáng suốt, chẳng khác chi chiếc thuyền từ vớt khách giữa sông mê, đưa người qua biển khổ.

Bên trong đã sẳn cái lý toàn nhiên nơi tâm, bên ngoài nhờ giáo lý cao siêu của Ðạo, người hành đạo có đủ tài liệu phương chước sửa mình và trau giồi hầu treo gương sáng cho người đời noi bước.

 

 

 

 

NGŨ GIỚI CẤM

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn giáng huyền cơ mở Đạo là lập một trường thi công quả. Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Người tu hành, nếu chưa trường trai trì giới nổi đặng thì hãy lo lập đức, bồi công để làm nền móng vững chắc cho việc luyện Đạo tương lai, chớ dục vọng mong sớm luyện Đạo để làm Tiên, Phật mà thiếu phần công quả, âm chất. Vì Thầy lập Đạo kỳ này là mở một trường thi công quả. Các con phải đi tại cửa này mới đến đặng Cực Lạc mà thôi”.

Như vậy, chúng ta nhập môn vào nền Đại Đạo, thì phải lo bồi công lập đức, tức phải tu phước, là làm những việc lành, như bố thí, cúng dường, ủng hộ những người tu hành chân chính, in kinh, làm chùa, ngoài ra bản thân cũng phải tu huệ là trì giới, ăn chay, học hỏi giáo pháp, tụng kinh, và thiền định.

Người hành đạo phải vừa tu phước và tu huệ, gọi là phước huệ song tu. Đó là yếu tố quan trọng trong việc tu hành của một tín đồ Cao Đài.

Trong phần tu Huệ, người tín đồ phải trì giới, nghĩa là nghiêm giữ giới luật mà quan trọng nhất buộc người tín đồ phải thực hành là Ngũ Giới Cấm.

Đại Thừa Chơn Giáo, Đàn cơ ngày 22 tháng 9 năm bính Tý (Dl. 5/11/1936) Đức Chí Tôn có dạy: Mà tại sao Thầy lại buộc các con luyện Ðạo đều phải giữ tròn Ngũ Giới Cấm? Tại phép luyện đơn là không phải dễ. Nếu các con phạm qui điều, không giữ giới, thì không bao giờ các con tu đắc quả đặng.

Như vậy một tín đồ Đại Đạo dù quanh năm lo tạo lập công quả, hoặc luyện Đạo thì cũng phải trau dồi hạnh đức, gìn giữ giới luật, tức là lấy Ngũ Giới Cấm làm phương châm tu tập.

Tại sao Ngũ Giới Cấm là giới luật mà Đức Thích Ca Mâu Ni truyền dạy cho các Phật Tử trong thời Nhị kỳ Phổ Độ, mà Đức Chí Tôn giữ lại và duy trì đem vào Tân Luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ buộc tín đồ phải nghiêm giữ?

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Đàn cơ ngày 24 tháng 12 năm 1926 có giải thích như sau:

“Các con ôi! Nếu nói rằng Thầy đã nhiều cực nhọc từ ngày Khai Ðạo đến chừ, Ðạo đặng phổ thông mau chóng dường nầy, thì đáng lẽ Thầy mừng cho các con lắm mới phải… Sao Thầy lại buồn?

Các con ôi! Các con đã chịu lắm khổ não nơi biển trần nầy… Từ mười ngàn năm rồi đã ở dưới quyền Tà quái áp chế.

Vì vậy mà Thầy phải phế hết Bạch Ngọc Kinh, Huỳnh Kim Khuyết, giáng trần độ rỗi các con, chớ chi Thầy đến mà làm cho giảm sự khổ não các con chẳng đặng nữa thì thôi, lẽ nào còn lập TÂN LUẬT ràng buộc các con thêm nữa… Vì cớ mà Thầy buồn”.

Thầy tỏ thật, cái luật lệ Thầy khiến các con hiệp chung trí mà lập thành đây, nó có ảnh hưởng về đạo đức, Tiên phong Phật sắc của các con, nên Thầy buộc mình cam chịu vậy.

Chẳng luật lệ thì trái phép, mà trái phép thì thế nào vào Bạch Ngọc Kinh cho đặng! Vậy các con ráng làm phận sự cho hoàn toàn, rồi có Thái Bạch giáng cơ sửa luật”.

Qua lời dạy trên, chúng ta thấy rằng Thầy là Đấng nhân từ đầy lòng thương yêu con cái, khi buộc giữ nghiêm luật pháp sợ nhơn sanh khổ não, nhưng vì sự quan trọng của giới luật, nên Ngài đành phải chấp nhận cho Hội Thánh ban hành

Ngũ Giới Cấm là năm giới căn bản cho tín đồ tu tại gia, hoặc chức sắc phế thân hành Đạo. Ngũ Giới gồm có:

1- Nhứt bất sát sanh.

2- Nhì bất du đạo

3- Tam bất tà dâm.

4- Tứ bất tửu nhục

5- Ngũ bất vọng ngữ.

Vậy chúng ta thử diễn rộng ra từng giới cấm một.

A- NHỨT BẤT SÁT SANH

Bất: Chẳng, không. Sát: Giết, làm hại. Sanh: Sanh mạng, sự sống.

Nhứt bất sát sanh là chẳng cố ý giết hại sanh vật: Tự mình giết, bảo người khác giết hay thấy người giết mà sanh tâm tùy hỷ tán thành, không thương xót can gián. Tránh tiêu diệt sự sống của muôn loài vạn vật từ con người, động vật, cho đến loài côn trùng thảo mộc trên cõi thế gian.

Đây là giới điều đầu tiên và quan trọng nhứt dành cho người thọ giới phải hành trì một cách nghiêm nhặt. Tại sao lại cấm sát sanh như vậy?

- Không sát sanh là kính trọng sanh mạng và quyền bình đẳng giữa con người và muôn vật.

Con người sống nơi thế gian, ai cũng quý trọng sanh mạng của mình, không muốn mình chịu đau đớn, mà hễ quý sanh mạng mình, không muốn mình đau đớn thì phải quý trọng sanh mạng người khác và không làm cho người khác đau đớn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra Vạn Vật là: Vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là Chúng sanh”. Như vậy, con người và muôn vật đều do Đức Thượng Đế hóa sanh, và mọi loài đều có bản chất ham sống sợ chết, thích hạnh phúc, tránh khổ đau. Cho nên không sát sanh là kính trọng sanh mạng của con người và muôn vật.

Thượng Đế có công sinh thành, nuôi dưỡng con người và vạn vật. Mỗi Chơn linh mà Ngài sinh hóa ra, dù lớn dù nhỏ đều có điểm Linh quang của Ngài chiết ra, cho nên đối với muôn vật, từ côn trùng thảo mộc, đến loài cầm thú và con người, Ngài đều thương yêu như nhau, coi mạng sống của mỗi vật đồng đều như nhau. Trong thi văn có bài:

Trời với muôn loài một bổn nguyên

Cũng trong linh tánh, cũng tâm điền

Linh quang một khối chia nhiều ức

Nhơn vật tương đồng với Phật Tiên.

Vì thế nếu chúng ta tránh sát sanh hại vật là tôn trọng sanh mạng và quyền bình đẳng giữa các loài chúng sanh.

- Không sát sanh là thể hiện đức Háo sanh của Trời Đất, lòng từ bi của chư Tiên, Phật.

Thật vậy, không sát sanh còn nhằm nuôi dưỡng lòng thương yêu sanh chúng tức noi theo lòng từ bi của các Đấng Thiêng Liêng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy “Thầy là Cha của sự thương yêu, do bởi sự thương yêu mới tạo thành thế giới và sanh sản các con”.

Như vậy, Ngài là Cha chung của con người và muôn vật, mà muôn vật dù lớn nhỏ đều có một điểm Chơn linh của Thầy phân tánh, nên muôn vật đều được Đức Thượng Đế thương yêu đồng đều như nhau, trong Kinh Sám Hối có viết:

Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,

Đức Háo Sanh Tiên, Phật một màu.

Thượng cầm hạ thú lao xao,

Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.

Nó cũng muốn như mình đặng sống,

Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.

Do sự thương yêu muôn vật, nên Thánh chất của Đức Chí Tôn và Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là đức Háo sanh. Chính Thánh giáo Thầy đã dạy:

“Chi chi hữu sanh cũng bởi Chơn linh Thầy mà ra, hễ có sự sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống. Vì vậy lòng Háo Sanh của Thầy không cùng tận”.

- Sát sanh là chận đứng dòng tiến hóa của chúng sanh.

Con người và vạn vật sống trong vũ trụ đều mang mục đích là tiến hóa, có tiến hóa mới thay đổi được kiếp sinh của mọi loài. Nhưng nếu chúng ta phạm vào lỗi sát sanh, dù sát sanh những vật bé nhỏ, thì chúng ta đã cản trở con đường tiến hóa của chúng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy điều đó như sau: “Cái sống của cả chúng sanh, Thầy phân phát khắp Càn khôn Thế giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm. Nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hóa”.

- Sát sanh là gây ra một mối thù và phạm vào luật nhơn quả.

Lễ dĩ nhiên khi chúng ta giết hại một người thì tạo ra mối thù oán, và phạm vào luật sát sanh hại vật thì chúng ta phải thọ một quả báo, bởi vì theo luật nhơn quả thì gây nhơn thì phải thọ quả.

Chính Đức Quan Âm Bồ Tát có lời khuyên dạy như sau: “Ta phải mở lòng bác ái, thương xuống đến các vật yếu hèn, một là tránh khỏi sa vào luật quả báo, vì luật Thiên điều chẳng hề vị ai”.

Và Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng có lời cảnh báo những kể phạm vào giới sát sanh thì phải chịu quả báo:

“Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu Nguyên sanh hay Hóa sanh cũng vậy, đến thế nầy lâu mau đều định trước. Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ. Các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy”.

Tóm lại người giữ nghiêm giới sát sanh là tôn trọng mạng sống của chúng sanh, thể hiện lòng háo sanh của các Đấng Thiêng Liêng và tránh được quả báo.

Để nhắc nhở về giới cấm sát sanh, chúng ta có thể lấy hai bài thơ sau đây để làm phương châm tu sửa:

Đầu hết phải gìn giới sát sanh.

Hằng lo luyện tập giữ tâm lành.

Côn trùng giết hại còn đau đớn,

Nhân loại rên la há nỡ đành.

Muôn vật đều do Tạo Hoá sinh,

Thương yêu tất cả tợ thân mình.

Dồi trau như thể lòng Tiên Phật,

Đối xử muôn loài, đức háo sinh.

B - NHÌ BẤT DU ĐẠO

Bất: Chẳng, không. Du: Đi rong. Đạo: Trộm cướp, lén lấy của người.

Theo Tân Luật, Nhì bất du đạo là cấm trộm cướp, lấy ngang lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy, để ý hại người mà lợi cho mình, cờ gian bạc lận.

-. Bất du đạo là không trộm cắp. Trộm cắp là lén lấy những gì mà người ta không cho, chiếm đoạt tài sản của người mà không phải do mình làm ra.

Chúng ta nên biết quyền sở hữu tài sản được đạo lý và pháp luật công nhận là quyền bất khả xâm phạm. Kẻ nào có hành vi trộm cắp, lường gạt với bất cứ hình thức nào đều bị lên án xấu xa, làm nhục tổ tiên ông bà, hoặc bị tù tội.

Trộm cắp là do lòng tham mà xâm phạm tài sản của người khác, có khi dẫn đến giết người, vì vậy Điều thứ nhì của Ngũ Giới là cấm trộm cắp.

Trong Kinh Sám Hối có đoạn dạy:

Người quân tử chẳng thà chịu khổ,

Đâu làm điều nhục tổ hổ tông?

Đứa ngu thấy của thì mong,

Không gìn tội lỗi phép công nước nhà.

Đoạn Kinh trên lấy ý từ lời nói của Đức Khổng Tử: “Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỹ 君 子 固 窮, 小 人 窮 斯 濫 矣”, nghĩa là người quân tử cố giữ lúc khốn cùng, kẻ tiểu nhân gặp khốn cùng thì làm bậy.

Bởi vì người quân tử lúc nào cũng sống vì đạo nghĩa, nên dù nghèo khổ cũng không trộm cắp hay lường gạt mà làm trái với điều nghĩa; còn kẻ tiểu nhân nếu gặp lúc khốn cùng thì không nghĩ gì đến lễ nghĩa, đạo lý nữa, miễn thỏa mãn điều lợi về mình mà thôi.

-. Lấy ngang, lường gạt. Do lòng tham dục của con người, nên trong xã hội có những kẻ mưu mô lường gạt hay mượn thế lực, hoặc quan lại cậy địa vị quyền hành để bức hiếp dân lành mà chiếm đoạt tài sản. Tội nầy cũng đồng tội với trộm cắp, mà có phần nặng hơn, vì âm mưu đoạt của, hay mượn quyền thế cưỡng bức người. Chính trong Kinh Sám Hối có viết:

Làm quan tính kế đảo điên

Gạt thâu gia sản đất điền của dân.

- Mượn vay không trả: Chúng ta nên biết, tiền bạc và của cải do công sức của người làm ra, vì tình nghĩa người ta cho mình vay, mượn thì chúng ta phải trả vốn, hoặc lời cho sòng phẳng để sau nầy gặp lúc thắt ngặt, chúng ta còn có thể vay mượn nữa. Đừng tính kế đoạt luôn không hoàn trả thì phải mang nợ, rồi sau nầy cũng phải thác sanh để đền trả.

Kinh Sám Hối có dạy việc như sau:

Ơn trợ giúp khá lo đền báo

Giữ vẹn tròn nghĩa Đạo với Đời

Túng cùng vay mượn của người

Vui lòng tính trả vốn lời cho kham.

Đức Khổng Tử xưa có dạy: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, nghĩa là điều gì mình không muốn, mình đừng làm cho người khác. Điều nầy thể hiện tính công bình, hợp lý của con người sống trong xã hội.

Nếu chúng ta yêu quý tài của mình, không muốn bị mất thì phải quý trọng tài sản của người, không tham lấy của họ, nếu vay mượn thì phải vui lòng hoàn trả.

- Cấm chứa đồ gian, không lượm của rơi. Trong Nho giáo, Đức Khổng Tử có dạy: Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ, tức là người không có đạo nghĩa thì chẳng giao du, vật không phải nghĩa thì không giữ.

Như vậy, chúng ta thấy cất chứa đồ gian, là những vật phi nghĩa, Đức Khổng Tử còn khuyên chẳng nên giữ và luật hình thế gian còn khép vào tội, huống hồ là hình luật thiêng liêng. Của rơi, của hoạnh tài, tức là của không phải do sức mình kiếm được, mà lượm, đó do lòng tham con người mà tham thì thâm, như lời kinh Sám Hối dạy:

Làm người phải khá xét suy,

Của rơi chớ lượm tham thì phải thâm.

- Hại người để có lợi cho mình là do lòng tham mà không có đạo đức. Hiện nay những hạng người nầy rất nhiều trong xã hội. Có người vì mưu lợi riêng mà pha chế vào thực phẩm những chất độc có hại cho sức khỏe. Hoặc vì muốn độc quyền sản phẩm nên phải đầu cơ tích trử. Điều này Kinh Sám Hối cũng có nêu lên và cho biết Trời đất sẽ không dung thứ:

Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa

Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.

Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

- Cờ gian bạc lận:

Cũng bới lòng tham, muốn kiếm nhiều tiền, nhưng làm biếng lao động, nên có một số người tham gia vào môn cờ bạc. Môn nầy về mặt luật pháp bị cấm ngặt, vì nó có thể làm táng gia bại sản, làm mất hạnh phúc gia đình, làm cho con người sa đọa, trộm cướp, dẫn đến giết người, mang thân tù tội. Tai hại hơn nữa là cờ gian bạc lận, trong đó người chơi tìm đủ mánh khóe, mưu mẹo để lường gạt, cướp ngang tiền bạc của cải, không từ một hành vi nào.

Do cái tai hại to lớn đó của cờ bạc mà trong dân gian có những câu ca dao khuyên con người không nên đi vào con đường nầy:

Cờ bạc là bác thằng bần,

Ruộng vườn bán hết, chôn chân vào cùm.

Ông Bàng Đức Công cũng có bài thi dạy răn con không nên gần trường đổ bác (cờ bạc) như sau:

Phàm nhân bá nghệ hảo tuỳ thân,

凡 人 百 藝 好 隨 身,

Đổ bác môn trung mạc khứ thân

賭 博 門 中 莫 去 親,

Nghĩa là:

Hễ biết nghề nào cũng ấm thân,

Mấy nơi cờ bạc chẳng nên gần.

Trong Thi Văn Dạy Đạo cũng có bài thi dạy phải lánh xa cờ bạc, đó là con đường đưa đến khổ.

Vui Ðạo vui nhân ấy thiệt vui,

Vui còn sóng sắc hại mình thôi.

Vui nơi ĐỔ BÁC là vui khổ,

Vui thói tà gian lụy trọn đời

Và Kinh Sám Hối cũng có dạy:

Cũng đừng bài bạc lận nhau,

Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.

Qua sự giải thích về những hành vi thuộc “Du Đạo” ở trên, chúng ta thấy do lòng gian tham mà con người không từ một hành động nào. Chính trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có cho biết: Các con có hiểu vì sao mà cả nhơn sanh gian tham chăng?

Thì cũng muốn cho nhiều sanh mạng chịu phục dưới quyền thế lợi lộc đó. Vậy sự yếu trọng của con người là nạn cơm áo. Nắm chặt quyền phân phát cơm áo thì chưa ai đã chịu thọ sanh nơi thế nầy lánh khỏi.

Muốn cho đặng quyền hành ấy thì làm thế nào?

Dùng hết mưu chước quỉ quyệt thâu đoạt cho đặng lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh tranh đấu đấu, giựt giựt giành giành, gây nên mối loạn, nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép Tà quyền, mạnh hơn, yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng Tạo hóa. Cái trường thảm khổ của thế gian cũng do nơi đó mà ra. Vậy:

Gian tham đã thâm nhập vào lòng thì lòng hết đạo đức.

Tham gian nhập vào nhà thì nhà không chánh giáo.

Tham gian đã nhập vào nước thì nước hết chơn trị.

Tham gian đã lộng toàn thế giới thì thế giới hết Thánh, Thần.

Thầy không cần nói, sự gian tham có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy mà bị lắm điều tội lỗi.

Ấy vậy, gian tham là trọng tội.

Để nhắc nhở giới cấm thứ nhì là “không trộm cắp”, chúng ta có thể dùng hai bài thi sau để làm phương châm tu sửa.

Trộm cắp là điều chẳng thể tha,

Lừa người gạt gẫm, ấy tâm tà.

Của người vay mượn nên hoàn trả,

Tham dục trong lòng phải lánh xa.

Người thế ai mà chẳng muốn sang,

Sang mà lỗi Đạo, chẳng ai màng,

Thà nghèo trong sạch tâm thanh thảng,

Quả nghiệp không vương, trí nhẹ nhàng.

C - TAM BẤT TÀ DÂM

Theo Tân Luật, bất tà dâm là cấm lấy vợ người, thả theo đàng điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt (vợ chồng không gọi tà dâm).

Tà dâm là sự quan hệ bất chính về tình dục với người ngoài chồng, vợ chính thức, hết lòng trung thực với người chồng, hoặc người vợ của mình.

Kinh Sám cho gian dâm là một đại tội:

Còn một nỗi gian dâm đại tội,

Lấy vợ người làm lỗi tiết trinh.

Tuy là Trời Đất rộng thinh,

Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.

Tại sao tà dâm là một tội?

Luật hôn nhơn và gia đình quy định chế độ một vợ, một chồng, như vậy quan hệ với người ngoài vợ, chồng của mình là vi phạm pháp luật, đồng thời phạm vào điều thứ ba của Ngũ Giới Cấm.

Trong Kinh Sám Hối cho biết người đàn bà khi đã có chồng thì phải giữ gìn tiết hạnh cùng chồng để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nếu như ngoại tình thì khi chết phải thọ hình nơi cõi Âm phủ:

Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,

Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.

Vì chưng trinh tiết chẳng gìn,

Có chồng còn lại ngoại tình với trai.

Ngoài việc lấy vợ hay chồng người, những hành vi như thả theo đàng điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt cũng đồng tội với tà dâm. Trong “Giới Tâm Kinh “ có đoạn dạy:

Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,

Thói dâm phong rù quyến nguyệt hoa.

Có ngày hư nát cửa nhà,

Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng.

Người giữ được giới nầy thì tạo được hạnh phúc trong gia đình mình, đồng thời cũng tránh được sự gây ra đổ vỡ khổ đau cho các gia đình khác.

Ngoài ra, người tu hành, nhứt là người có luyện Đạo cần phải giữ giới để bảo tồn tinh khí của mình cho đầy đủ Tam Bửu. Không giữ giới nầy còn phạm tội sát sanh như lời Đức Chí Tôn đã dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

“Phàm xác thân con người, tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn một khối chất chứa vàn vàn muôn muôn sanh vật.

Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật, tỷ như: rau cỏ, cây trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh.

Nếu không có chất sanh thì thế nào tươi tắn đặng mà chứa sự sống. Như nó khô rủ thì là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ; còn như nhờ lửa mà nấu thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết.

Các vật thực vào tỳ vị, lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết. Chẳng cần nói, các con cũng biết cái chơn linh khí huyết là thế nào? Nó có thể huờn ra nhơn hình, mới có sanh sanh tử tử của kiếp nhơn loại.

Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh. Như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy.

Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Ðài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ gìn Giới Cấm ấy cho lắm!”.

Về giới “tà dâm”, chúng ta cũng dùng hai bài thi sau đây để làm phương châm tu sửa.

Vào đường tu niệm tránh tà dâm,

Đàng điếm hư danh phải hổ thầm.

Ái dục trói lôi gây tội báo,

Não phiền quanh quẩn suốt trăm năm

Đừng để sa vào chốn nguyệt hoa,

Có ngày nát cửa lại tan nhà.

Tù giam dương thế còn khi mãn,

Cửa ngục dâm tình khó thể tha.

D - TỨ BẤT TỬU NHỤC

1- Không uống rượu.

Bất tửu nhục là không say mê rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm náo động xóm làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị.

Tửu là rượu, một chất lên men, có tác dụng kích thích, làm cho say, mất sáng suốt, mất tự chủ, hành động ngông cuồng dẫn đến mất trật tự, mất kỷ cương, ảnh hưởng xấu đến gia đình, xã hội.

Rượu là chất kích thích, hễ cấm rượu thì cũng cấm những chất kích thích độc hại khác như nha phiến, xì ke, ma tùy, là những chất tiêu diệt thân thể, phá hỏng con người, gây khổ gia đình, làm loạn xã hội.

Trong Phương Tu Đại Đạo, Đức Hộ Pháp có dạy đừng nên là cà vào nghiệp rượu chè và lánh xa đường nghiện ngập nha phiến:

Dạy cho ghét hoa tàn liễu úa,

Quân điếm đàng, con múa cô ca.

Dạy đừng ham quán rượu tiệm trà,

Đừng hút xách làm ma Nha phiến.

Nhứt là những tín đồ theo tôn giáo cần phải kiêng cử giới nầy một cách nghiêm ngặt, vì uống rượu vào làm cho huyết vận động bất thường, tán loạn tâm thần, không làm chủ được hành động và lời nói, trở nên thú tánh thì làm sao bảo vệ được đạo tâm, sáng suốt trí tuệ mà đoạt phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật được.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có giải thích việc không uống rượu như sau: Thầy nói cái chơn thần là nhị xác thân các con, là khí chất (le sperme évaporé). Nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy. Nơi trung tim của nó là óc; nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là vi hộ, nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ chơn linh các con, khi luyện thành đạo, đặng hiệp một với Khí, rồi mới đưa thấu đến chơn thần hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh.

Vậy thì óc là nguồn cội của Khí, mà óc cũng bị huyết vận động vô chừng làm cho đến đỗi loạn tán đi, thì chơn thần thế nào đặng an tịnh điều khiển, thân thể phải ra ngây dại, trở lại chất thú hình, mất phẩm nhơn loại rồi, còn mong chi đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Lại nữa, buổi loạn thần ấy, để cửa trống cho Tà mị xung đột vào, giục các con làm việc tội tình mà phải chịu phận luân hồi muôn kiếp. Vậy, Thầy cấm các con uống rượu, nghe à!

2- Không ăn thịt

Giới răn nầy cấm uống rượu, ngoài ra cũng cấm ăn thịt. Ăn thịt là dùng thân xác các loài vật có sự sống để làm thức ăn.

Như vậy, ăn thịt là gián tiếp phạm giới sát sanh, không tôn trọng mạng sống loài vật, không có lòng thương xót đến loài vật.

Nho giáo có câu: Văn kỳ thanh bất nhẫn thực kỳ nhục, nghĩa là nghe tiếng kêu đau đớn của nói, mình không đành ăn thịt nó.

Trong bát hồn loài vật chất là thấp nhứt, đó là kim thạch, là loài vô tri vô giác, kim thạch tiến lên thảo mộc thì có một hồn là sanh hồn, có sự sống, nhưng còn thấp, thảo mộc tiến lên thú cầm thì được hai hồn là sanh hồn, giác hồn, tức có sự sống và biết cảm giác. Chính vì có giác hồn, nên khi giết loài thú cầm thì nó biết kêu la rên xiết. Vì vậy, người có lòng từ bi thì không ăn thịt loài thú cầm.

Trong kinh Lăng Già có một đoạn Đức Phật dạy chúng sanh phải dứt trừ nhục thực (ăn thịt), trích từ Phật học tinh yếu của Hòa thượng Thích Thiền Tâm như sau:

Nầy Ðại Huệ! Tất cả loài hữu tình từ vô thỉ đến nay ở trong vòng sống chết luân hồi vô tận, không có chúng sanh nào chẳng từng làm cha mẹ anh em con cái quyến thuộc, cho đến chủ tớ bạn bè thân thích lẫn nhau. Vậy đối với chúng sanh đã vì nghiệp lực phải chịu đọa làm thân thủy tộc, cầm thú, nỡ nào bắt nó mà ăn thịt? Bậc Bồ Tát ma ha tát phải quán sát xem tất cả loài hữu tình đồng với thân mình, nên nghĩ các thứ thịt kia từ những sanh mạng biết vui khổ thương đau mà có, đâu nỡ an nhiên mà ăn?

Nầy Ðại Huệ! Các bọn La sát nghe ta nói điều nầy còn nên dứt trừ sự ăn thịt, huống nữa là người ưa vui theo đạo pháp? Trong mỗi đời, Bồ Tát quán thấy chúng sanh đều là quyến thuộc, thường nghĩ xem đồng như con, nên không ăn tất cả các thứ thịt. Những người bán các thứ thịt trâu bò chó ngựa heo dê nơi chợ phố hàng quán, vì tâm tham lợi nên tạo nghiệp giết hại; thịt là sở do của tâm hạnh tạp uế như thế, làm sao Bồ Tát nên thọ dụng?

Nầy Ðại Huệ! Tất cả các thứ thịt đều là chất tinh huyết ô uế, người cầu thanh tịnh làm sao nên ăn? Kẻ ăn thịt, chúng sanh thấy đều sợ hãi, người tu từ tâm làm sao nên ăn? Khi gặp bọn thợ săn cùng kẻ hạ tiện làm nghề bắn giết, bẫy lưới tàn hại sanh linh, loài chó trông thấy kinh hãi sủa vang, tất cả cầm thú thảy đều dớn dác trốn chạy. Sở dĩ như thế, bởi các chúng sanh ấy đều nghĩ rằng: những người này lộ vẻ hung ác dường như quỉ La sát, nếu ta đến đó tất bị bắt giết, vậy phải nên xa lánh là hơn. Cũng như thế, người ăn thịt thường bị chúng sanh ghét sợ xa lánh. Vì lẽ đó, bậc Bồ Tát tu hạnh từ bi không nên ăn thịt.

Nầy Ðại Huệ! Kẻ ưa ăn thịt, thân thể hôi nhơ, tiếng dữ đồn xa, người lành bậc hiền thánh không thích gần gũi, vì thế Bồ Tát không nên ăn thịt. Huyết nhục là chất chúng Tiên từ bỏ, các Thánh chẳng ưa, bởi thế Bồ Tát không nên thọ dụng. Bồ Tát vì tâm từ mẫn, vì giữ gìn lòng tin của chúng sanh khiến cho Phật pháp không bị chê bai, nên không ăn thịt. Nếu đệ tử của ta ưa an thịt, sẽ bị người tục đem lòng khinh báng nói rằng: Tại sao hàng Sa môn tu nghiệp thanh tịnh, lại không bằng hạnh trong sạch của thiên tiên, mà như ác thú mang đầy bụng thịt cá đi dạo thế gian, làm cho chúng sanh thảy đều ghét sợ? Và như thế là kẻ ấy đã phá hạnh thanh tịnh, mất đạo Sa môn, thiếu tư cách để điều phục người. Cho nên, Bồ Tát vì lòng từ mẫn, muốn nhiếp hộ mọi người khiến cho không sanh tâm niệm ấy, chẳng thọ dụng đồ huyết nhục.

Nầy Ðại Huệ! Như khi thiêu người chết cùng thiêu thịt của loài vật, cả hai mùi khí vị không tinh sạch đồng như nhau, tại sao trong ấy thịt người không ăn, lại ăn thịt loài vật? Vì thế, người ưa hạnh thanh tịnh không nên ăn thịt. Các hàng thiện nam thiện nữ tu hành khổ nhọc chốn a lan nhã, hoặc trụ nơi từ tâm, hoặc trì chú thuật, hoặc cầu giải thoát, hoặc hướng về đại thừa, nhưng vì bởi còn ăn thịt nên bị nhiều sự chướng ngại, công hạnh không được thành tựu. Cho nên Bồ Tát nếu muốn được lợi mình và lợi ích cho chúng sanh, quyết không nên ăn thịt.

Nầy Ðại Huệ! Kẻ ưa ăn thịt khi thấy hình dáng loài vật đã sanh tâm thèm mùi vị. Bậc Bồ Tát phải thương nghĩ chúng sanh cũng như mình, tại sao vừa thấy hình đã muốn ăn thịt? Bởi thế, Bồ Tát phải dứt trừ nhục thực. Người ăn thịt thì nơi miệng thường hôi nên chư thiên lánh xa, hằng bị Dạ xoa ác quỷ đoạt mất tinh khí. Kẻ ấy giấc ngủ không yên, khi tỉnh dậy lo lắng, tâm nhiều sợ hãi; do tham ăn không biết vừa đủ, nên thêm nhiều tật bịnh, dễ sanh ghẻ độc, bị các loài tế trùng cắn đúc, mà cũng vẫn không biết chán nhàm.

Nầy Ðại Huệ! Ta thường bảo: ăn thịt chúng sanh chẳng khác chi ăn thịt con mình, vậy đâu phải thật Như Lai hứa cho đệ tử ăn thịt? - Thịt chẳng phải thơm ngon, thịt không tinh sạch, ăn thịt sanh nhiều tội ác, làm hư các công đức, bị chư Tiên Thánh rời bỏ, làm sao Như Lai lại hứa cho đệ tử ăn thịt? Bởi thế, kẻ nào nói Như Lai chấp nhận cho đệ tử ăn thịt, tức là phỉ báng ta.

Để nhắc nhở giới “tửu nhục” chúng tôi mượn hai bài thơ sau đây để làm phương châm tu sửa.

Rượu thịt hằng ngày hại tấm thân,

Say sưa vất vả, bại tâm thần.

Rượu vào loạn tánh, mang điều lỗi,

Khuyên hãy dang xa dứt bỏ lần.

Rượu nhiễm vào thân dễ bị ghiền

Mê tâm cuồng trí tợ người điên.

Giết mòn Thiên tánh, không sao thoát

Mãi mãi luân hồi chịu kiếp khiên

E - NGŨ BẤT VỌNG NGỮ

Theo Tân Luật, Bất vọng ngữ là không xảo trá, gạt gẩm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng thô tục, chưởi rủa người, phỉ báng tôn giáo, nói ra không giữ lời hứa.

- Không xảo trá, tức không xảo quyệt, gian trá, không gạt gẩm người một cách tinh vi, khôn khéo. Sự dối trá, láo xược có tác hại là làm mất nhân cách bản thân, mất lòng tin với người khác và nhứt là gây mầm tan rã, lý tán trong gia đình, quốc gia và xã hội. Trong Kinh Sám Hối có lời khuyên những loại người hay dối trá như sau:

Dối người nào khác dối Trời

Trời đâu dám dối ra đời ngỗ ngang.

Trong Thi Văn Dạy Đạo cũng viết:

Dối ai đâu dễ dối cùng Trời

Biết đạo răn mình cũng hết hơi

Từ bỏ lần hồi lầm lỗi trước

Tự nhiên bể khổ lánh xa vời.

Đối với những người quyệt ngữ, gian trá, trong Kinh cũng nhắc đến:

Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại,

Đừng gian mưu hãm hại người hiền

Hoặc:

Đừng gặp việc câu mâu biếng nhác,

Mà quên lời phú thác dặn dò.

Trước người giả bộ siêng lo,

Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.

- Khoe mình, bày lỗi người.

Trong xã hội có nhiều người thường hay bày lỗi người khác để tự khoe mình, huênh hoang về mình. Thường những hạng người nầy vì thiếu tài, thiếu đức, mà lại mong muốn người biết về mình.

Kẻ hay khoe khoan được người ta ví như “thùng rỗng kêu to”. Một bông lúa, càng nhiều hạt càng nặng oằn thì càng cúi thấp”, cũng vậy, người tài ba thường rất khiêm tốn, kẻ dốt nát lại thích khoe khoang. Bởi vì những người có tài biết năng lực sẽ nói lên tất cả. Trái lại, những người càng không có năng lực, họ càng muốn thể hiện “khả năng” của mình qua sự khoe khoang bên ngoài. Hạng người nầy thấy người khác hơn mình thì tìm cách moi móc lỗi người để phô danh mình, trong Kinh Sám Hối cho rằng:

Thấy ai làm phải làm lành,

Xiểm gièm cho đặng khoe danh của mình.

Bày lỗi người chính là bản thân phạm lỗi, tự mình sanh ra phân biệt, sanh ra chấp trước, sanh ra vọng tưởng, tâm không định. Nếu tâm định, tâm sẽ thanh tịnh thì làm sao lại có phân biệt, vọng tưởng, chấp trước?

Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng có nói: “Người thật sự tu Đạo thì không thấy lỗi thế gian”. Còn nhìn thấy lỗi của thế gian thì chứng tỏ tâm không thanh tịnh, giới cũng không thanh tịnh.

- Chuyện quấy nói phải, chuyện phải nói quấy, người ta gọi đó là lời nói hai lưỡi, lời nói đâm thọc. Lời nói của những hạng người nầy là nghe một đàng ở đầu xóm mà họ thêu dệt thành một nẻo ở cuối chợ. Do vậy mà lời nói của họ rất độc địa, có khi gây ra đau khổ cho người khác.

Đức Khổng Phu Tử có dạy những hạng người nầy như sau: "Đạo thính nhi đồ thuyết, đức chí khí dã 道 聽 而 途 說, 德 之 棄 也", nghĩa là nghe chuyện đầu đường mà nói lại ở cuối đường, là tự bỏ cái đức tốt của mình đi.

Người đạo đức chơn tu cần phải ít nói, nói ra không đâm thọc, ít thấy lỗi người, tránh nói chuyện quấy của kẻ khác.

Như ta biết lời nói đâm thọc rất đọc tai hại và độc ác. Chính Tuân Tử trong sách Minh Tâm cũng có nói:

Dữ thiện nhân ngôn noãn như bố bạch,

與 善 人 言, 暖 如 布 帛

Thương nhân chi ngôn, thống như sao thích

傷 人 之 言, 痛 如 刀 剌

Nhân bất dĩ đa ngôn vi ích, Nhân bất dĩ thiện tiếu vi lương

人 不 以 多 言 為 益, 人 不 以 善 笑 為 良

Đao sang dị hảo, ác ngữ nan tiêu

刀 瘡 易 好, 惡 語 難 消

Khẩu thị thương nhân phủ, Ngôn vi cát thiệt đao

口 是 傷 人 斧, 言 為 割 舌 刀

Bế khẩu thâm tàng thiệt, An thân xứ xứ lao

閉 口 深 藏 舌, 安 身 處 處 牢

Nghĩa là:

Cùng người thiện nói chuyện, êm ấm như mặc đồ vải lụa.

Lời nói làm tổn thương người cũng đau đớn như dao nhọn đâm.

Người ta không nên cho rằng nói nhiều là có ích và khéo cười là giỏi.

Vết thương đâm bằng dao nhọn còn dễ lành. Lời nói độc ác rất khó tiêu tan.

Miệng là cái búa hại người, lời nói là con dao cắt lưỡi.

Ngậm kín miệng để giữ gìn cái lưỡi thì đi đến đâu cũng được yên thân.

Nguyễn Trác và Lê Phục Thiện đã dịch bài trên ra văn vần như sau:

Cùng người lương thiện nói bàn,

Như mang vải lụa ngự hàn ấm thân.

Những lời hiểm độc bất nhân,

Hại người chẳng khác dao đâm đau người.

Ích gì mà nói nhiều lời,

Hay gì bày chuyện mua cười cầu vui,

Vết thương dễ khỏi hẳn hòi

Những lời nhiễm độc trọn đời khó tiêu

Miệng lưỡi dao nhọn búa rìu,

Hại người vì chúng lắm điều thị phi.

Giữ gìn miệng lưỡi khỏi nguy,

Đến đâu cũng được trọn bề yên vui.

- Nhạo báng chê bai, nói hành kẻ khác.

Lời nói nhạo báng là lời nói chế nhạo nhằm để chê bai, chỉ trích hoặc bài bác người khác. Hạng người nầy dùng sự nhạo báng để sỉ nhục người, mặc dù chính bản thân họ cũng không có giá trị hơn người.

Ông Văn Công có nói: “Dục lượng tha nhân, tiên tu tự lượng. Thượng nhân chi ngữ, hoàn thị tự thương. Hàm huyết phún nhơn, tiên ô tự khẩu 欲 量 他 人, 先 須 自 量. 傷 人 語 還 是 自 傷. 含 血 噴 人, 先 汚 自 口”, nghĩa là muốn xét lường người, trước phải tự xét mình. Những lời nói làm tổn hại người khác, lại làm tổn hại chính mình. Ngậm máu phun người trước dơ miệng mình.

Đối với hạng người nầy, họ chỉ biết ý mình là đúng, còn ý người thì sai, nên thường có lời nhạp báng, chê bai. Trong Kinh Sám Hối có đoạn nói đến hạng người nầy:

Kẻ lỗ mãng chê bai khinh dể,

Rằng thác rồi còn kể ra chi.

Nhãn tiền trả quả tức thì,

Tội dư con cháu một khi đền bồi.

Ngoài ra, nếu đem những tật xấu và những khuyết điểm của ai đó nói với người khác, thì mắc tội nói hành, nói xấu. Mặc dầu những tật xấu, hay lỗi lầm của họ có thật đi nữa cũng không được phép nói lại cho người khác biết, bởi vì làm như vậy là không tôn trọng danh dự của người khi người vắng mặt.

Đức Khổng Tử có dạy: “Nặc nhân chi thiện, sở vị tế hiền, dương nhân chi ác tư vi tiểu nhân. Ngôn nhân chi thiện như kỷ hữu chi, Ngôn nhân chi ác nhược kỷ thụ chi 匿 人 之 善, 所 謂 蔽 賢, 揚 人 之 惡, 斯 為 小 人. 言 人 之 善, 如 己 有 之, 言 人 之 惡, 若 己 受 之”, nghĩa là giấu điều lành của người, gọi là dìm người hiền, nêu điều xấu của người, ấy là kẻ tiểu nhân. Nói điều lành của người, như mình có điều lành ấy, nói điều xấu của người, như mình có điều xấu ấy.

- Xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách.

Con người sống ở đời có nhiều việc không dính líu gì với mình mà mình lại tham gia vào vì thù hay ghét, hoặc nhiều khi do lắm lời nhiều chuyện. Ví dụ như việc xúi giục người ta hờn giận, kiện thưa lẫn nhau, hoặc xúi giục người ta làm quấy, khiến cho vợ chồng phải xa cách, gia đình lý tán.

Trong Kinh Sám Hối có nói đến những người nầy:

Lại còn có tánh tình hiểm độc

Xúi phân chia thân tộc ruột rà

Làm cho chồng vợ lìa xa

Cả đời nghiệp báo oan gia chẳng rời.

Tội lỗi của hạng người chuyên xúi giục làm việc quấy cũng được kinh cho biết như sau:

Nhiều thứ rắn mặt mày dữ tợn,

Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.

Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

Do lời nói có tác dụng tai hại rất lớn nên trong (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển). có bài thi dạy phải cẩn ngôn vì một lời thất đức thì bị đọa ngàn năm.

Nho nhã con tua tập tánh tình,

Dưới đời đừng tưởng một mình lanh.

Một câu thất đức Thiên niên đọa,

Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành.

- Ăn nói lỗ mãng thô tục, chưởi rủa người.

Trong xã hội có những hạng người tánh tình lỗ mãng, ăn nói thô tục, hay chưởi rủa người khác, hoặc chưởi rủa tổ tông ông bà của mình. Về mặt luật pháp ở thế gian, những người ăn nói thô tục, chưởi rủa là làm nhục người khác, đó là hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của con người.

Trong đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài có lời dạy các tín đồ như sau: “Qua nói cho mấy em hiểu. Nếu thấy người ta làm sai, nên góp ý cho người ta sửa đổi, không nên nguyền rủa hoặc oán ghét. Vì khi mấy em giận, nguyền rủa người ta cho đã miệng, cái đó vô tình mình chia sẻ bớt tội lỗi cho người ta, còn nếu nói nhiều thêm một chút nữa, người ta sẽ trắng tội còn mình thì lãnh trọn.

Mình làm mình chịu đã đành, còn người ta làm sai không cần mình chia bớt tội mà mình tự động đưa lưng gánh vác, có phải mình dại dột không? Qua nói cho mấy em để ý người nào bị mấy em chưởi rủa nhiều chừng nào thì cuộc đời của họ càng vững đó.

Mấy em ráng mà giữ miệng”.

Về hình phạt của những hạng người: “Buông lời tục tĩu dâm loàn”, hoặc “Trù ếm người, chưởi rủa Tổ tông”, trong Kinh Sám Hối cho rằng khi chết họ phải chịu một hình phạt vô cùng nhơ nhớp để đền trả tội lỗi đó:

Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn,

Xô người vào, lội lặn nhờm thay!

Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,

Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

- Phỉ báng tôn giáo là chê bai, nói xấu tôn giáo, hay các Đấng Thiêng Liêng được sùng kính trong nền tôn giáo đó.

Chúng ta thử phân tích xem những hành vi nào gọi là phỉ báng tôn giáo:

Kẻ không tin Trời Đất, xúc phạm đến lòng tôn kính các Đấng Thiêng Liêng và Thần, Thánh, Tiên Phật.

Hoặc người đã có tôn giáo nhưng có sự phân biệt giữa hai tôn giáo, mà chê bai, nói xấu Tôn giáo khác.

Đối với hạng người nầy, Kinh Sám Hối có cho biết hình phạt của họ dưới Diêm Cung phải lãnh chịu:

Cột trói ngược quá kinh rất lạ,

Quỉ Dạ Xoa đánh vả kẹp cưa.

Vì chưng chưởi gió mắng mưa,

Kêu tên Thần Thánh chẳng chừa chẳng kiêng.

Kẻ bài xích luật Nhân quả của Phật cho là không có thực, và luân hồi nhân quả không đáng quan tâm, sợ sệt. Những kẻ ấy chối bỏ lòng tín ngưỡng cho rằng Thiên Đàng, Địa Ngục, Linh Hồn là hoang đường, mê tín. Kinh Sám Hối cho biết:

Chớ quấy tưởng Luân hồi phi lý,

Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.

Thi hài như gỗ biết gì,

Linh hồn là chủ thông tri việc đời.

Có những kẻ khinh khi, nói xấu Tam giáo và nhạo báng tôn giáo khác. Điều nầy chính trong Kinh Sám Hối cũng có dạy khi chết chơn linh phải chịu một hình phạt:

Bầy chó dữ mang xiềng chạy lại,

Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.

Hình này phạt kẻ dại ngây,

Khinh khi Tam Giáo đọa đày thế ni.

Kẻ lợi dụng lòng tin để buôn Thần bán Thánh, hoặc lấy sự tín ngưỡng của chúng sinh mà gồm thâu lợi lộc, tiền của.

Hình phạt cho những kẻ lợi dụng tôn giáo để làm lợi riêng cho mình được Kinh Sám Hồi cho biết:

Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy,

Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.

Ăn gian xớt bớt cho mình,

Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.

Hoặc:

Thêm những sãi giả nương cửa Phật,

Của thập phương châu cấp thê nhi.

Ngày sau đọa lạc Âm ty,

Thường thường khảo kẹp chẳng khi nào rời.

- Nói ra không giữ lời hứa, tức là người không giữ chữ tín. Đối với Nho giáo chữ tín rất quan trọng để làm người. Theo Luận Ngữ, “nhân vô tín bất lập”, nghĩa là người không có chữ tín thì không thể tự lập được.

Đức Lão Tử cũng có dạy về chữ tín như sau: “Quân tử nhứt ngôn khoái mã nhứt tiên. Nhứt ngôn ký xuất tứ mã nan truy 君 子 一 言, 快 馬 一 鞭. 一 言 既 出, 駟 馬 難 追”, nghĩa là một lời nói của người quân tử như ngựa bị roi chạy mau. Một lời nói ra, xe bốn ngựa cũng khó đuổi kịp.

Về Điều thứ năm của Ngũ Giới Cấm là vọng ngữ, chúng ta lấy hai bài thi sau để làm phương châm tu sửa:

Vọng ngữ tưởng rằng chuyện nói chơi,

Chẳng dè tội báo dối cùng Trời.

Buông lời thêu dệt gây oan trái,

Phiền luỵ vương mang, khổ suốt đời.

Trao đổi sao cho đẹp dạ nhau,

Đừng nên đâm thọc hại người đau.

Buông câu nặng nhẹ thêm sinh chuyện,

Miệng hãy tươi vui, nói ngọt ngào

Tóm lại những hành vi thuộc điều thứ năm của Ngũ Giới Cấm đồng nghĩa, đồng tội với “vọng ngữ”. Tại sao nói dối lại là một tội trọng? Chúng ta sẽ xem lời dạy của Thánh giáo Đức Chí Tôn sau đây:

Thầy đã nói rằng, nơi thân phàm các con, mỗi đứa Thầy đều cho một chơn linh gìn giữ cái chơn mạng sanh tồn.

Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng, đấng chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Ðấng Trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa Phán Xét. Bởi vậy nên một mảy không qua, dữ lành đều có trả. Lại nữa, các chơn linh ấy, tánh Thánh nơi mình, đã chẳng phải gìn giữ các con mà thôi, mà còn dạy dỗ các con, thường nghe đời gọi lộn Lương tâm là đó.

Bởi vậy chư Hiền, chư Thánh Nho nói rằng:

"Khi nhơn tức khi tâm."

"Hoạch tội ư Thiên vô sở đảo dã."

Như các con nói dối, trước chưa dối với người thì các con đã nói dối với Lương tâm, tức là Chơn linh.

Thầy đã nói, chơn linh ấy đem nạp vào Tòa Phán Xét từ lời nói của các con, dầu những lời ấy không thiệt hành mặc dầu, chớ tội tình cũng đồng một thể.

Nơi Tòa Phán Xét, chẳng một lời nói vô ích mà bỏ, nên Thầy dạy các con phải cẩn ngôn cẩn hạnh, thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể.

Các con khá nhớ.

 

 

 

 

ỨNG MỘNG BẢO SANH THÙY TỪ MẪN KHỔ

Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ là câu Kinh được trích từ Bài “Khổng Thánh Chí Tâm Quy Mạng Lễ” là một bài kinh xưng tụng Đức Khổng Thánh trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa về câu kinh trên.

A - ỨNG MỘNG BẢO SANH

Ứng mộng 應 夢: Cho thấy trong giấc mộng.

Bảo sanh 保 生: Bảo vệ sự sống, gìn giữ sanh mang con người, nói rộng ra là giữ gìn mạng sống của chúng sanh.

Ứng mộng bảo sanh là ứng vào điềm chiêm bao để dạy về cách bảo vệ sự sống của nhân dân.

Câu kinh trên ý muốn nói các Đấng Thiêng liêng ứng cho điềm chiêm bao Đức Khổng Thánh để chỉ dạy cách bảo vệ sự sống của nhơn loại.

Chúng ta nên biết, theo Nho giáo, Đức lớn của Trời đất là sự sinh. Người là một phần nhỏ của muôn vật, cho nên cũng phải theo lẽ Trời mà sinh hóa. Khổng giáo lấy sự sinh làm gốc cho hành vi thiện ác: Việc gì hợp với đức sinh là thiện, trái với đức sinh là ác.

Như vậy, cái tông chỉ của Đạo Khổng là theo Thiên lý mà bồi bổ cho sự sinh của vạn vật, hay nói cách khác, là phải bảo sanh vạn vật.

Ngày xưa những người làm vua được quan niệm là con Trời (Thiên Tử), nên việc trị nước phải hợp với lòng Trời, tức là phải có lòng nhơn từ, hết lòng thương yêu dân chúng thì sẽ được các Đấng ứng vào mộng để chỉ dạy cách bảo hộ sự sống (bảo sanh) cho dân chúng.

Bậc Thánh nhân cũng vậy, như Đức Khổng Tử tên Khâu 丘, tự là Trọng Ni 仲 尼 sinh năm 551 đến 479 trước Công nguyên vào thời Xuân Thu, tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Ngài là một nhà tư tưởng, nhà triết học trứ danh. Triết lý của Ngài có ảnh hưởng rộng lớn trong nền văn hóa Đông Á.

Ngài được sinh ra và lớn lên trong một thời kỳ loạn lạc, những thiết chế xã hội, lễ nghi tốt đẹp nhất của các triều đại trước đang làm nền tảng cho xã hội ổn định đã dần đi vào suy thoái: Đạo lý suy đồi, chư hầu lấn át thiên tử, quan đại phu lại giàu có và thế lực hơn vua, đất nước càng thêm loạn lạc.

Vì vậy, Đức Khổng Tử luôn muốn noi theo đạo của Chu Công, muốn thiết lập một xã hội tốt đẹp. Cho nên trong quyển Luận ngữ, cuốn sách tập hợp những lời giảng dạy của Khổng Tử, đã không ít lần nhắc đến Chu Công.

Và cũng chính trong Luận Ngữ có một đoạn viết: “Thậm hề ngô Đạo suy dã! Cửu hỹ ngô bất mộng kiến Chu Công!”, nghĩa là đáng thương thay! Đạo của ta suy rồi! Đã lâu ta không còn mơ thấy Chu Công nữa!.

Do tính thương người của bậc Thánh nhân, suốt đời Đức Khổng Tử phải bôn ba chu du khắp các chư hầu, mong đem cái Đạo của mình ra thi hành hầu đem lại cảnh thạnh trị thái bình để bảo toàn sự sống cho nhơn dân. Tấm lòng của Ngài lúc nào cũng nghĩ đến việc cứu đời, nên nhiều lần Ngài mộng thấy Chu Công đem những điều lợi ích, bảo sanh nhân dân mà dạy Ngài.

Chương Thuật Nhi, mục “Mộng kiến Chu Công” (tức nằm mộng thấy Chu Công) kể lại cho ta biết Chu Công Đán có về ứng vào giấc mộng của Ngài.

Trong lịch sử thơ văn Việt Nam, cũng có nhiều bậc tao nhân, mặc khách dùng đề tài “Khổng Tử mộng Chu Công” để viết thành thi, phú, trong đó có bài phú: Khổng Tử Mộng Chu Công” của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, là cha của Đại Thi hào Nguyễn Du.

Chúng ta thử tìm hiểu xem Chu Công là ai? Tại sao Đức Khổng Tử thường nằm mộng thấy Chu Công?

Chu Công tên thật là Cơ Đán, con thứ tư của Chu Văn Vương Cơ Xương, em cùng mẹ với Chu Vũ Vương Cơ Phát, chú của Chu Thành Vương Cơ Tụng, là vị khai quốc công thần của nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một nhà chính trị, nhà quân sự, nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn trong thời kỳ Tây Chu.

Ông có công lao to lớn trong sự phát triển của nền văn hoá, tư tưởng Trung Hoa vào thời kỳ ấy, khiến người ta tôn ông là Chu Công, không nhắc đến cái tên là Cơ Đán, do vậy, nhiều người lầm tưởng Chu Công là tên thật của ông.

Chu Công có công giúp Chu Vũ Vương lập ra triều đại nhà Chu. Sau đó, trên cương vị nhiếp chính, Chu Công giúp Chu Thành Vương dẹp loạn, lập 71 nước chư hầu, phát triển nhà Chu thành một nước mạnh mẽ và xây dựng nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ, thịnh vượng trong quá khứ.

Ngoài ra, Chu Công còn đóng góp công lao rất lớn trong việc hoàn thiện thể chế, xác lập đẳng cấp trong xã hội. Dựa theo chế độ nhà Chu, điều chỉnh lễ của nhà Ân, chế lễ tác nhạc, hoàn thiện các điển chương chế độ, được gọi là “Chu lễ” có ảnh hưởng sâu xa đến đời sau. Đặc biệt, những tư tưởng chuẩn mực của ông trở thành nền tảng chủ trương “đức trị” của Nho gia sau này.

Do đường lối cai trị của Chu Công, lấy đức ra trị dân và từ một xã hội chiến tranh, loạn lạc, dân tình khốn đốn, bất an, mà Chu Công đã xây dựng thành một xã hội thạnh trị, thái bình, nhân dân an cư lạc nghiệp. Vì vậy, Đức Khổng Tử do lòng thương sanh chúng, nên Ngài luôn mơ ước đem những điều dạy bảo của Chu Công để thực thi giúp đời.

B - THÙY TỪ MẪN KHỔ

Thùy từ 垂 慈 là rủ lòng thương.

Mẫn khổ 憫 苦 là thương xót, lo lắng những cảnh khổ.

Thùy từ mẫn khổ ý nói Đức Khổng Tử là vị Thánh nhân rủ lòng thương xót những khổ cảnh của con người.

Tại sao Đức Khổng Tử lại có lòng thương người và trong học thuyết của Ngài được thể hiện như thế nào?

Như chúng ta biết, trong thời đại của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh giành quyền lợi; mặt khác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình. Đứng trước tình hình xã hội như vậy, nên suốt cuộc đời mình, Đức Khổng Tử luôn quan tâm tới vấn đề đem cái Đạo của mình ra cải tạo xã hội, giúp cho đời được ổn định để được an cư lạc nghiệp. Đó là thể hiện “lòng nhân” rộng lớn của một bậc Thánh.

Vì thế, trong Nho giáo, Đức Khổng Tử thường dùng tư tưởng “Nhơn” làm chủ đạo trong lời dạy học trò của minh.

Đức Khổng Tử coi “lòng Nhơn” là “yêu người”, nên trong Luận ngữ, Ngài đã dành không ít lời để nói về đạo làm người.

Khi Nhan Uyên hỏi về “Nhơn”, Khổng Tử dạy: “Khắc kỷ phục lễ vi nhơn. Nhứt nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhơn yên. Vi nhơn do kỷ nhi do nhân hồ tai? 克 己 復 禮 爲 仁. 一 日 克 己 復 禮, 天 下 歸 仁 焉. 爲 仁 由 己 而 由 人 乎 哉?” nghĩa là làm nhơn là khắc kỷ, phục lễ, tức là chế thắng lòng tư dục, vọng niệm của mình và theo về lễ tiết. Ngày nào mình khắc kỷ, phục lễ ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hóa mà theo về đức nhơn. Vậy làm nhơn là do nơi mình, chớ há do nơi người sao?.

Trọng Cung, học trò Đức Khổng Tử hỏi về “Nhơn”, Khổng Tử cho rằng: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân 己 所 不 欲, 勿 施 於 人”, nghĩa là những cái gì mà mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác. Đó là đức hạnh của người nhơn.

Còn khi Phàn Trì hỏi về đức “Nhơn”, Khổng Tử trả lời: “Ái nhân 爱 人” là thương người. Hỏi về trí. Ngài đáp: “Tri nhân 知 人” là biết người. Phàn Trì chưa thấu hiểu, Đức Khổng Tử mới giải rằng: “Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực 舉 直 错 諸 枉 能 使 枉 者 直” nghĩa là cử người chánh trực, bỏ kẻ cong vạy, với phương pháp ấy, người ta có thể khiến kẻ cong vạy hóa ra chính trực”.

Phàn Trì lui ra, đến gặp ông Tử Hạ nói rằng: Hướng dã ngô kiến ư phu tử nhi vấn trí 鄉 也 吾 見 於 夫 子 而 問 知. Tử viết: “Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực. Hà vị dã? 舉 直 错 諸 枉 能 使 枉 者 直. 何 謂 也?” nghĩa là trước đây tôi có viếng thầy mà hỏi về trí, Thầy đáp: Cử người chánh trực, bỏ kẻ cong vạy, hóa ra chính trực. Thầy nói vậy có ý nghĩa gì?

Tử Hạ đáp rằng: Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ tuyển ư chúng. Cử Cao Dao. Bất nhơn giả vi hỷ. Thang hữu thiên hạ tuyển ư chúng. Cử Y Doãn bất nhơn giả viễn hỹ 富 哉 言 乎! 舜 有 天 下. 選 於 衆. 舉 皋 陶. 不 仁 也 違 矣. 湯 有 天 下. 選 於 衆. 舉 伊 尹. 不 仁 也 遠 矣, nghĩa là lời nói ấy nghĩa lý rộng thay! Kìa vua Thuấn khi có thiên hạ, tức là ở ngôi thiên tử, thì Ngài tuyển chọn trong dân chúng, cử dùng ông Cao Dao, những kẻ bất nhơn đều tránh xa. Kế vua Thành Thang, khi lên ngôi thiên tử, thì Ngài tuyển chọn trong dân chúng, cử dùng ông Y Doãn, những kẻ bất nhơn đều tránh xa.

Chúng ta thấy lời dạy của đức Khổng Tử thể hiện đức nhơn, vừa có trí sáng. Bởi có đức nhơn, thương dân cho nên mới cử dùng người hiền lương, chính trực giúp mình mà trị nước, đem sự phúc hậu lại cho dân. Bởi có trí, biết phân biệt kẻ chánh người tà, nên bỏ kẻ tà mà lựa người chánh, khiến ai nấy đều quay về nẻo chánh, đường lành.

Tóm lại, Đức Khổng Tử là một người rất nhơn hậu, nên trong học thuyết của Ngài luôn luôn lấy lòng “Nhơn” ra để dạy các đệ tử, và chính Ngài đã sử dụng lòng nhơn mà đối nhân xử thế: Hễ thấy ai đau đớn, buồn rầu, khổ sở thì Ngài động lòng thương xót.

Chương Thuật Nhi có đoạn viết như sau: “Tử thực ư hữu tang giả chi trắc, vị thường bão dã. Tử ư thị nhật, khốc tắc bất ca. 子 食 於 有 喪 者 之 側, 未 嘗 飽 也.子 於 是 日, 哭 則 不 歌”, nghĩa là Đức Phu Tử mà ngồi ăn bên cạnh người có tang thì ăn không no. Ngày nào có đi phúng điếu về thì suốt cả ngày không đàn hát.

Do tính thương người nầy mà suốt đời Ngài phải bôn ba chu du khắp các chư hầu, mong đem cái Đạo mình ra để bảo toàn sự sống cho nhơn dân. Ngài muốn giúp đời nên chủ trương chính sách “nhập thế”, khiến trước đây, có một người nước Sở tên là Tiếp Dư cho Ngài là người không thức thời, chẳng biết cái lẽ lánh đời.

Lúc Khổng Tử sang nước Sở, gặp Tiếp Dư (còn gọi là Lục Thông), theo đạo Lão, chủ trương thuyết vô vi, nghĩa là xuất thế, thấy Khổng Tử bôn ba chạy lo đời, nên làm bài hát “Phụng Hoàng” để kích bác Ngài:

Phượng hề! Phượng hề!

Hà kỳ đức chi suy?

Vãng giả bất khả gián;

Lai giả bất khả huy!

Nghĩa là: Phượng ôi! Phượng ôi! Sao đức suy đến thế? Cái gì đã qua rồi thì không thể ngăn được nữa; mà cái gì sẽ tới thì cũng chẳng đuổi được nào!

Người đời sau vì tôn sùng Đức Khổng Tử nên cho Tiếp Dư là kẻ nói bậy, và đặt cho cái tên hiệu là "Sở Cuồng Tiếp Dư" (thằng điên nước Sở).

Tấm lòng của Đức Khổng Tử lúc nào cũng rủ lòng thương xót đến dân chúng sống trong cảnh khổ sở, và các Đấng thiêng liêng thường ứng vào chiêm bao để dạy Ngài đem Đạo cứu đời. Cho nên trong bài "Khổng Thánh Chí Tâm Quy Mạng Lễ” mới có câu “Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ” để tôn xưng một vị Thánh có lòng nhơn rộng lớn vậy.

 

 

 

 

NGŨ CHI ĐẠO ĐẠO

Ngũ : Năm. Chi: Nhánh, chia ra.

Đại Đạo: Một nền tôn giáo lớn, tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ mở Đạo trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, lấy tôn chỉ là Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt.

Vậy Ngũ Chi Đại Đạo là năm nhánh của nền Đại Đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: “Vốn từ trước Thầy lập Ngũ Chi Ðại Ðạo là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo. Tùy theo phong hóa của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định qui nguyên phục nhứt”.

Ngũ Chi Đại Đạo là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo, là năm nấc thang tiến hóa từ thấp lên cao mà người tín đồ Cao Đài theo đó mà tu thăng tiến dần lên các phẩm vị thiêng liêng, rồi sau đó hiệp nhập vào khối Đại Linh Quang của Thượng Đế.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có cho biết: Với các nguyên nhân thì Ngũ Chi tỉ như một cái thang năm nấc bắc cho mình leo lên một địa vị ngang bực cùng Thầy, tức là Phật phẩm đó vậy. Chưa ai nhảy một nhảy mà lên cho tới tầng lầu năm thước bề cao, mà như ai để sẵn một cái thang năm nấc, mình có thể lần lần mà leo lên đặng.

Thầy hiệp Ngũ Chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình. Hễ ngồi đặng phẩm nào thì địa vị mình nơi ấy, chẳng ai còn tranh giành ngược ngạo không nhìn nhận cho được.

Năm bậc Nhân Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo nầy cũng biểu tượng năm phương thức hành đạo là: Tùng khổ, Thắng khổ, Thọ khổ, Thoát khổ và Giải khổ để làm thành đường lối hành đạo đi đến "Tuyệt khổ" của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Chính trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có giải thích như sau:

Phật vì thương đời mà tìm cơ giải khổ,

Tiên vì thương đời mà bày cơ thoát khổ,

Thánh vì thương đời mà dạy cơ thọ khổ,

Thần vì thương đời mà lập cơ thắng khổ,

Hiền vì thương đời mà đạt cơ tùng khổ."

Như vậy, Ngũ chi Đại Đạo là năm trình độ chuyển hóa liên hợp nhứt quán trên cứu cánh giải thoát con người khỏi sự đau khỗ phiền não một cách toàn diện.

Muốn đạt được như thế, con người phải trải qua năm cấp tiến hóa:

Cấp tiến hóa thứ nhứt là Nhơn đạo lên Thần đạo.

Cấp tiến hóa thứ nhì là Thần đạo lên Thánh đạo.

Cấp tiến hóa thứ ba là Thánh đạo lên Tiên đạo.

Cấp tiến hóa thứ tư là Tiên đạo lên Phật đạo.

Cấp tiến hóa thứ năm là Phật đạo lên Thiên đạo.

1- NHƠN ĐẠO

Nhơn đạo (Nhân đạo) là cấp đầu tiên, thấp nhứt, đó là đạo làm người, đạo ở đời, nên nó còn được gọi là Thế đạo. Đây là những nguyên tắc và bổn phận mà con người phải tuân theo trong đời sống đối với gia đình và xã hội. Nhờ Nhơn đạo mà con người mới có giá trị là loài thượng đẳng chúng sanh.

Theo giáo lý đạo Cao Đài, con người là Tiểu linh quang, được chiếc ra từ khối Đại linh quang của Thượng Đế; giáng sanh xuống trần làm người là để học hỏi và tiến hóa dần lên Thần, Thánh, Tiên, Phật Đạo, rồi cuối cùng tiến lên để hiệp nhứt với Thượng đế.

Người tu Nhơn Đạo là bậc hiền, hành theo phương thức “Tùng khổ”, tức là nương theo các cảnh khổ não của chúng sanh để an ủi, giúp đỡ nhơn sanh, và đồng cam cộng khổ với nhơn sanh để dìu dắt nhơn sanh vào đường đạo đức.

Trong năm cấp tiến hóa đó, Nhơn đạo là căn bản. Không hoàn thành Nhơn đạo thì không mong chi bước lên các cấp tiến hóa cao hơn.

Cổ nhơn có câu: Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhơn đạo, Nhơn đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỹ. Nghĩa là: Muốn tu đạo Tiên, trước tu đạo Người, đạo Người không tu, đạo Tiên xa vậy.

Trong đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn chọn ngôi Giáo Tông, ba ngôi Chưởng Pháp, ba ngôi Đầu Sư (tức là bảy cái ngai) làm đại diện Nhơn Đạo thuộc Ngũ Chi Đại Đạo trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nói về phần Nhơn Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Trong Tam giáo ba ngôi như một,

Hình thức riêng chỉ cốt bề ngoài.

Suy ra chơn lý không hai,

Độ người lánh dữ, lành rày nên lo.

Tôn giáo tợ con đò rước khách,

Ai sang qua chẳng trạch giàu nghèo.

Miễn là chí quyết noi theo,

Đặng xa bể khổ, lên đèo thung dung.

Muốn Tây Thiên trùng phùng ngôi vị,

Thì trần gian lập ý vị tha.

Từ bi theo hạnh Di-Đà,

Công bình, bác ái hải hà bao dung.

Nhơn Đạo dạy Tam tùng Tứ đức,

Ngũ thường lo đúng mực thuần phong.

Gia đình xã hội cũng đồng,

Noi gương mỹ tục, giống dòng Nghiêu vương.

2- THẦN ĐẠO

Thần đạo là nấc thang thứ hai trong Ngũ Chi Đại Đạo. Người tu hành phải đạt được hàng Thần vị rồi mới có thể tu tiến lên Thánh đạo để đạt hàng Thánh vị.

Phương thức tu hành theo bậc phẩm này là “Thắng khổ”, tức đã đạt hàng Thần rồi phải chiến thắng những khó khăn để thực hành Nhơn đạo, tiếp nối Nhơn đạo.

Theo Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp thì bên Trung Hoa Phong Thần, Hy Lạp Phong Thần, Ai Cập Phong Thần.

Thần đạo ở Trung Hoa mở ra vào thời Phong Thần, do Khương Tử Nha theo lệnh của Đức Nguơn Thỉ Chưởng Giáo cầm bảng và đọc sắc phong Thần vào đầu đời nhà Châu.

Vì vậy trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đại diện cho Thần Đạo là Khương Thượng Tử Nha, một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Thần Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Thần Đạo lập con đường phải lối,

Phận công dân sớm tối lo tròn.

Quan trường Tể Tướng, tôi con,

Vẹn tròn hiếu nghĩa lòng còn thanh liêm.

3- THÁNH ĐẠO

Thánh Đạo là nấc thang thứ ba trong Ngũ Chi Đại Đạo. Theo (Thuyết Đạo Hộ Pháp). thì Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo là Thánh Đạo.

Thánh đạo là một tôn giáo dạy cho các tín đồ tu hành đắc thành bậc Thánh. Phương thức tu theo lối nầy phải Thọ Khổ. Người tu phải trau sửa lòng Bác ái, lòng vị tha và lòng bao dung. Bác ái là lòng thương yêu bao la, thương khắp chúng sanh. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy rằng: "Bác ái là hay thương xót sanh linh hơn mình, cho nên, kẻ có lòng bác ái coi mình nhẹ hơn mảy lông mà coi thiên hạ nặng bằng Trời Ðất".

Đức Chúa Jésus vì lòng Bác ái thương xót loài người, nên Ngài thọ lãnh cái chết trên Thập tự giá để chuộc tội cho loài người. Do đó, đạo Cao Đài thờ Đức chúa Jésus cầm quyền Thánh đạo thuộc Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Thánh Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Thánh Đạo chuộng một niềm ngay thẳng,

Chí công bình, trong trắng tâm thành.

Không thiên chẳng vị em anh,

Lời ngay lẽ phải phân rành quang minh.

4- TIÊN ĐẠO

Tiên Đạo, hay nói cách khác là Tiên Giáo, là một tôn giáo dạy người tu luyện thành Tiên. Phương thức tu hành theo Tiên Đạo là “Thoát khổ”, tức tìm phương pháp để thoát khỏi sự đau khổ rồi dẫn dắt nhơn sanh thoát khổ như mình.

Theo Tiên Đạo, muốn thoát khỏi cảnh khổ thì phải thực hành “Vô vi, Vô dục, Vô tranh”.

Vô vi là không làm, không hành động theo ngoại giới mà chỉ hồi hướng về nội giới tâm linh của mình.

Đạo Đức Kinh có câu: Đạo thường vô vi nhi vô bất vi”, nghĩa là Đạo thường là không làm mà không có việc gì là không làm được.

Vô dục là không ham muốn vật chất, vì càng ham muốn vật chất thì càng phiền não, đau khổ. Cổ nhân thường nói: “Họa mạc đại ư bất tri túc, cửu mạc đại ư dục đắc”, nghĩa là không có tai họa nào lớn hơn không biết đủ, không có lỗi lầm nào lớn hơn muốn được.

Vô tranh là không tranh giành của cải vật chất.

Tiên Đạo hay Tiên Giáo là một trong Tam Giáo, do Đức Thái Thượng Lão Quân làm Giáo Chủ. Vào thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thay mặt cho Tam Giáo là Tam Trấn Oai Nghiêm, mà Nhứt Trấn Oai Nghiêm là Lý Đại Tiên Trưởng cầm quyền Tiên Đạo thuộc một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Tiên Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Tiên Đạo chỉ xử tình xử thế,

Bác ái trau tập thể hòa thương.

Yêu cùng nhơn loại bốn phương,

Thanh nhàn thỏa chí, dặm trường ngao du.

5- PHẬT ĐẠO

Đây là cấp tu cao nhất trong năm bậc tu hành theo Ngũ chi Đại Đạo. Phương thức tu hành theo Phật Đạo là “Giải khổ”, tức tìm phương pháp để cởi bỏ mọi sự đau khổ của chính mình và của chúng nhơn sanh. Phương pháp giải khổ theo Phật là Tứ diệu đế, tức là bốn chơn lý cao thượng, kể ra:

Khổ đế: Nhận thức bốn cái khổ căn bản của con người là: sanh, lão, bệnh, tử.

Tập đế: Nhận thức về nguồn gốc gây ra đau khổ.(tham, sân, si, ái, dục)

Diệt đế: Chân lý về sự chấm dứt mọi hình thức khổ.

Đạo đế: Con đường giải khổ, chứng nhập Niết bàn.

Theo Thuyết Đạo Hộ Pháp, thì Phật Đạo có Bà La Môn, Thích Ca Mâu Ni, Pythagore Giáo.

Vì thương xót chúng sanh. mà Thái Tử Sĩ Đạt Ta đã rời bỏ ngai vàng, điện ngọc để đi tu và tìm được chân lý giải thoát cho chúng sanh, rồi lập ra Phật đạo lấy danh hiệu Thích Ca Mâu Ni. Do đó người đạo Cao Đài thờ Đức Thích Ca Mâu Ni làm Giáo chủ Phật đạo, là một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Phật Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Phật Đạo dụng đường tu thanh tịnh,

Từ bi hành nhường nhịn lẫn nhau.

Không chê kẻ thấp người cao,

Chẳng vì chức tước nghèo giàu phân tranh.

Người tín đồ đạo Cao Đài, sau khi hành trì từ bậc Nhơn Đạo tu lần đắc đến hàng Phật Đạo thì vẫn phải bồi công lập đức để Tiểu Linh quang được hòa nhập với Đại Linh quang của Đức Thượng Đế.

Do đó, người tín đồ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thờ Đức Chí Tôn, Tam Giáo và gồm đủ Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Đại Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Đại Đạo gồm năm nhành tôn giáo,

Kể trên đây đào tạo lọc lừa.

Hợp thời độ thế tùy ưa,

Hạ, trung, thượng, đủ đều vừa ý chung.

Giờ Bổn sư trùng phùng đồ đệ,

Dạy đôi điều ráng để vào tâm.

Chung lo cứu thế lạc lầm,

Trở về đạo đức lo tầm non Tiên.

Chung sức nhau chèo thuyền Đại Đạo,

Dầu cam go tần tảo đừng than.

Lý chơn dặm thẳng một đàng,

Ngày thành Đại Đạo, Thiên Hoàng điểm công.

 

 

 

 

Ý NGHĨA TAM BỬU

Tam Bửu là ba món quý báu của Trời, đất và người.

Tam bửu của Trời là Nhựt, Nguyệt, Tinh, tức Mặt trời, mặt trăng và các vì sao, là ba báu phát ra ánh sáng để dưỡng dục muôn loài, hoá sanh vạn vật, luân chuyển Càn khôn, chia ra ngày đêm sáng tối.

Tam bửu của Đất là Thuỷ, Hoả, Phong, tức nước, lửa, gió là ba món báu của Đất. Nhờ ba báu ấy mà mưa hoà gió thuận, cây cối tươi nhuận và chia ra bốn mùa tám tiết. Tam bửu của người Tinh, Khí, Thần. Tinh là thân xác, Khí là chơn thần, Thần là chơn linh. Người tu hành muốn đắc Đạo phải luyện cho ba báu ấy hiệp nhứt, tức là luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hoá Thần, luyện Thần huờn hư.

Chúng ta thử tìm hiểu ba món báu là gì?

TINH là một chất nước rất tinh anh của nhục thể (xác thân) do cha mẹ sinh ra và thường được gọi là đệ nhất xác thân. Tinh do khí bẩm của cha mẹ mà biến thành, nghĩa là do vật chất hữu sanh nên nó phải chịu ảnh hưởng tốt xấu của phong thổ, vật chất hay nói cách khác chịu ảnh hưởng của ngoại vật chung quanh.

Vật thực như ngũ cốc, hoa quả nuôi sống con người bằng cách sinh tinh hoá huyết. Nếu đối với thảo mộc, tinh là sức mạnh khiến cây cỏ trổ lá đơm hoa thì đối với con người, tinh là công năng sinh sản, là một chất quý báo để bồi dưỡng sức khỏe khiến xác thân có năng lực tráng kiện và tinh thần sáng suốt. Nếu vì tư tưởng dục tình, tinh bị trót lọt ra ngoài theo dòng thuận chuyển để nảy sanh nòi giống; còn nếu tinh chưa bị dục niệm thì là phần trong sạch gọi là nguơn tinh, người tu sẽ luyện nguơn tinh theo nghịch chuyển để hoá ra khí rồi hiệp với thần mà ngưng kết thành nhị xác thân. Nói cách khác, tinh là hình hài, thể xác của con người được tượng trưng bằng hoa.

KHÍ là chất sinh để bảo tồn sự sống, gọi là sinh khí, cũng là nguồn sinh lực của con người. Hễ khí này mạnh thì thân thể cường tráng, hễ khí yếu thì thân thể suy nhược. Như ta biết, khí là trí não mà chúng ta thường gọi là phách, tức là đệ nhị xác thân. Khí (nguơn khí) là do sự biến hóa của nguơn tinh nên sự trong sạch hay ô trược của nó tùy thuộc vào nguơn tinh. Nếu ngươn tinh mà trong trắng thì nó là một hào quang sáng chói, nếu chưa được thánh chất thì nó màu hồng, còn như ô trược thì nó có hào quang màu tím. Hào quang ấy bao phủ lấy thể xác, tức đệ nhứt xác thân (hay nguơn tinh) để tiếp xúc với thần (tức nguơn thần). Bởi thế những người chưa được tinh khiết vì lệ thuộc vào vật chất, vì bị thể xác lôi cuốn vào chỗ lục dục thường tình thì càng ngày càng xa ngươn thần khiến trí não đần độn ngu si không thể thông hiểu các tư tưởng cao siêu. Vậy trí não chính là một yếu tố quan trọng quyết định con đường tu hành của ta có đắc đạo hay không. Khí là Chơn thần của con người, được tượng trưng bằng ruợu.

THẦN là yếu tố thiêng liêng, linh diệu, bất tiêu, bất diệt trong con người. (nguơn thần) chính là linh hồn hay chơn linh chúng ta và được gọi là đệ tam xác thân. Thần còn gọi là điểm linh quang, do khối Đại linh quang tức là Thái cực chia ra và ban cho mỗi con người. Sau khi được Đức Chí Tôn chiết ra, điểm linh quang ấy sẽ đầu thai xuống thế giới hữu hình, vật chất. Đến khi chết, điểm linh quang hay chơn linh ấy sẽ không tiêu, không diệt mà đi đầu thai trở lại và từ kiếp nầy chuyển sang kiếp khác cho đến khi nào tu luyện đắc đạo thì mới giải thoát và trở về hiệp cùng khối đại linh quang.

Như vậy, cuộc sống con người nơi thế gian ảnh hưởng đến điểm linh quang hay chơn linh rất nhiều nơi cõi vô hình. Chơn linh sẽ hưởng được sung sướng hay đau khổ, hưởng được lâu hay mau, được thăng hay đọa, được trở về sum hợp với khối đại linh quang hay phải đầu thai lại kiếp khác là hoàn tòan tùy thuộc xác phàm của chơn linh ấy, có tư tưởng thanh cao hay ô trược, tình cảm cao siêu hay ích kỷ, có công phu tu luyện nhiều hay ít, có công đức với đời hay không. Nếu công đức ít thì chơn linh sẽ được hưởng hạnh phúc một thời gian ngắn rồi phải đầu thai xuống thế gian. Còn nếu lúc còn sống làm điều ác đức không lo tu hành thì khi chết đi, chơn linh sẽ đau khổ, ăn năn sám hối, và có thể bị tái kiếp luân hồi ngay hoặc bị đọa xuống Diêm phù.

Khi tái kiếp, chơn linh phải mượn xác phàm (đệ nhứt xác thân) nên tùy theo xác phàm là nam hay nữ thì chơn linh sẽ phát triển theo phái ấy vì chơn linh không thuộc dương hay âm mà gồm đủ hai yếu tố Âm dương, tức hai yếu tố cương nhu. Vậy xác phàm mà chơn linh (Thần) mượn để nhập vào đó sẽ ảnh hưởng rất mạnh đối với chơn linh. Xác phàm lại thường bị thất tình, lục dục sai khiến, cám dỗ. Tùy theo sự cám dỗ sai khiến nầy mạnh hay yếu mà hai phần của chơn linh là mê hồn hay giác hồn sẽ phát triển. Nếu mạnh thì mê hồn thắng thế, làm chủ nhơn thân và con người lúc ấy sẽ hành động càn quấy, xấu xa đê tiện. Ngược lại, nếu giác hồn làm chủ nhơn thân thì con người sẽ sáng suốt, thích thanh tĩnh vô vi, chỉ hành động cao thượng, làm những việc lợi cho nhơn sanh.

 

 

 

 

NHÃN THỊ CHỦ TÂM

Khi giải thích về cách thờ Thiên Nhãn, Đức Chí Tôn có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau:

Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã dã 眼 是 主 心, 兩 光 主 宰, 光 是 神, 神 是 天, 天 者 我 也”, nghĩa là con mắt làm chủ cái tâm linh của con người, hai ánh sáng trong mắt là phần chủ tể, Ánh sáng ấy là Thần, Thần là Trời. Trời là Ta vậy.

Chúng ta thử tìm hiểu câu “Nhãn thị chủ tâm”.

Ta biết việc thờ Thiên Nhãn là để tượng trưng cho cái lương tâm của con người, tức phần quý báu nhứt trong cơ thể mỗi người chúng ta. Chính lương tâm giúp con người sáng suốt, biết điều phải quấy, nhơn nghĩa, mến đạo đức, chuộng tinh thần, thuận theo thiên lý. Lương tâm ấy đã sẵn có trong con người chúng ta từ lúc mới sinh ra. Nhưng do ta đắm đuối vào vật dục mà cái lương tâm nầy càng ngày càng mờ tối đi, khiến ta quên điều đạo đức, lẽ công bình.

Bởi vậy, Nho giáo mới dạy người quân tử phải giữ gìn cái tâm của mình sao cho được hồn nhiên, thuần hậu như cái tâm của đứa trẻ con là quý nhứt, sách có viết “Đại nhân giả, bất thất kỳ xích tử chi tâm dã 大 人 者, 不 失 其 赤 子 之 心 也”, nghĩa là bậc đại nhân không bỏ mất cái tâm hồn nhiên của đứa trẻ còn nhỏ. Điều nầy cũng dễ hiểu, vì trẻ con thường ít dục vọng, nên đời sống của chúng tự nhiên, chất phác và tâm của chúng nhờ vậy cũng giản dị, thuần hậu. Đời sống không có dục vọng thì ngoại vật không thể tác động đến tâm của mình được.

Người xưa cho rằng: Cái tâm của Thánh nhân và người thường không khác nhau mấy. Như vua Nghiêu, vua Thuấn là bậc Thánh nhân cũng có cùng một cái tâm như người thường chúng ta, chỉ khác là những bậc ấy giữ được cái tâm hồn nhiên không để vật dục chi phối mà thôi. Vậy nếu chúng ta cũng cố gắng gìn giữ cái tâm được như thế thì chúng ta có khác gì bậc Thánh nhân đâu.

Tâm chúng ta được hư tĩnh, vật dục không thể làm cho mất cái sáng suốt tự nhiên thì khi có vật gì cảm đến, tâm ta sẽ ứng được, biết rõ ngay các lẽ. Như vậy, tâm càng được trau giồi sáng suốt bao nhiêu thì trực giác càng mầu nhiệm bấy nhiêu và tự nhiên sẽ được giáo tiếp với Trời, vì Trời với người cùng một lý, một khí.

Nếu cái lương tâm được gìn giữ cho còn và trau giồi cho ngay chính, sáng suốt, thuận theo thiên lý tự nhiên và lúc nào cũng ở trong trạng thái hư vô, thanh tĩnh thì đó chính là cách thờ Trời vậy. Mạnh Tử có nói: “Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự Thiên giả 存 其 心, 養 其 性, 所 以 事 天 也”, nghĩa là giữ gìn cho còn cái tâm của mình, nuôi dưỡng cái tâm ấy của mình là để thờ Trời vậy.

Chữ tâm ngoài nghĩa là lương tâm còn có thể gọi là linh hồn, Thiên tánh, Phật tánh tùy theo cách gọi của từng tôn giáo. Tâm còn có nghĩa là tâm vũ trụ, là trung tâm điểm, là Thái cực. Thật vậy, trong vũ trụ thì Thái cực là chủ tể của muôn loài vạn vật, dưỡng dục cả sinh linh, bảo tồn vạn loại. Thái cực ấy là toàn tri toàn năng, biến hóa vô cùng tận và làm cho muôn loài vạn vật cùng tiến hóa. Do đó Thái cực chính là trung tâm điểm của Càn khôn, là tâm của vũ trụ.

Như vậy, tâm chính là Thần, là Thiên tánh, là Chơn linh, là Điểm Tiểu linh quang mà Trời hay Thái cực là một khối Đại linh quang đã chiết ra để ban cho mỗi con người. Tâm tức là hình ảnh Đức Chí Tôn tạo ra cho con người hay nói khác đi, Trời đã ngự trị trong mỗi con người chúng ta. Thế nên, thờ Trời là thờ cái tâm mà hình trạng của cái tâm là Thiên Nhãn nên ta có thể nói “Nhãn thì chủ tâm”, thờ Thiên Nhãn chính là thờ Trời vậy.

 

 

 

 

DÂY SẮC LỊNH

Dây Sắc lịnh (hay Dây Lịnh sắc) là một dây bằng vải có ba màu đạo: Vàng, xanh, đỏ theo chiều dọc kết lại, dùng để buộc ngang thắt lưng của chư chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Đài khi mặc đạo phục chầu lễ Đức Chí Tôn, hoặc khi cầm quyền hành chánh. Ba màu vàng, xanh, đỏ của dây sắc lịnh tượng trưng cho quyền chưởng quản tam giáo, nắm Thể pháp và Bí pháp trong tay.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có viết: Vì lời khuyên của Thầy mà Đức Lý Giáo Tông xin buộc cả chức sắc Hiệp Thiên Đài phải minh thệ giữa Hội Thánh rằng: Lấy dạ vô tư mà hành Đạo, lại muốn tỏ ra rằng: Chức sắc Hiệp Thiên Đài thật trọng quyền, Ngài mới ban “DÂY SẮC LỊNH”, buộc cả tín đồ và cả chức sắc Thiên phong, hễ mỗi chức sắc Hiệp Thiên Đài mang Dây Sắc lịnh vào mình mà hành chánh nơi nào, thì phải tuân mạng, dầu lỗi quấy cũng phải chiều theo, chỉ để cho Hội Thánh có quyền định tội, lại buộc cả chức sắc nào đã thọ quyền của Hiệp Thiên Đài cũng phải minh thệ, y như vậy mới đặng hành chánh.

Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh và Thập nhị Thời Quân khi mặc Đại phục thì lưng đều mang dây Sắc lịnh. Đức Hộ Pháp và quý vị Thời Quân chi Pháp thì buộc Dây Sắc lịnh mối đặt giữa bụng, Đức Thượng Phẩm và quý vị Thời Quân chi Đạo thì mối buộc đặt bên hông mặt, Đức Thượng Sanh và quý Thời Quân chi Thế thì mối buộc đặt bên hông trái.

Còn các phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài dưới Thập nhị Thời Quân hoặc chức sắc Cửu Trùng Đài khi được lịnh Hiệp Thiên Đài hay thay mặt Hội Thánh thi hành một công việc Đạo quan trọng thì được Hiệp Thiên Đài (chưởng quản là Hộ Pháp) ban cho dây sắc lịnh để được toàn quyền hành sự trong phạm vi trách nhiệm. Những vị lãnh nhiệm vụ nầy buộc phải minh thệ để giữ dạ chí công vô tư, và toàn cả chức sắc và tín đồ phải tùng mạng lịnh vị chức sắc đó. Sau khi thi hành nhiệm vụ xong, vị chức sắc phải trả dây sắc lịnh lại cho Hiệp Thiên Đài.

Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa trong quyển Chánh Trị Đạo có giải thích về Dây Lịnh sắc như sau;

- Về quyền năng thiêng liêng:

Người được Hiệp Thiên Đài ban Dây Sắc lịnh là người đại diện Đức Hộ Pháp trong khi hành sự, quyền hành y như Hộ Pháp khi thi hành mạng lịnh của Hộ Pháp. Dây Sắc lịnh là tướng diện của luật pháp, chẳng một quyền nào tương đối lại đặng. Khi hành pháp, thảng như quá quyền thì người đại diện đó mang trọng tội là lợi dụng hay là phỉ nhục Hộ Pháp.

- Quyền hành hữu hình:

Cả cơ quan hữu vi của Đạo, dầu trọng dầu khinh, điều phải cúi đầu vâng phục người thay mặt cho Thiên điều tại thế, tổng hợp cả quyền Tam giáo nơi mình đặng thi hành luật pháp.

Vì quyền hạn của chức sắc Hiệp Thiên Đài, dầu thượng cấp dầu hạ cấp, hễ Hộ Pháp ban cho tới đâu, hành quyền tới đó, nó không có giới hạn định chắc cao hay thấp.

Sau đây là những trường hợp của các chức sắc thọ dây sắc lịnh đặc biệt.

Theo quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Chí Tôn phong cho Ông Nguyễn Phát Trước, tục danh là Tư Mắt phẩm Phụ Ðạo Chưởng Nghiêm Pháp Quân và trong đàn cơ ngày 23 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 27/11/1926) Đức Chí Tôn có đọan Thánh giáo dạy ông mặc sắc phục như sau: Mắt, Thầy dặn con cứ nghe lời Thầy. Con nghe: Thầy giúp con làm công quả đặng chuộc tội cho cha con và cứu Cửu Huyền Thất Tổ con, song tùy theo con chứ Thầy cũng phải giữ lẽ công. Chừng nào con làm đủ âm chất, Thầy sẽ cho cha con nhập cơ mà hội diện với con nghe à.... Cười.

Còn sắc phục con phải mặc nịt một sợi dây lưng ba màu: vàng, xanh, đỏ; có chữ ngay giữa: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và một cây trượng, trên có lá cờ cũng đề như vậy.

Theo Thánh giáo Đức Hộ Pháp, vị Hộ Đàn Pháp Quân không phải là chức sắc Hiệp Thiên Đài, nhưng được ban cho dây sắc lịnh để thi hành nhiệm vụ.

Trong một đàn cơ tại Giáo Tông Đường, ngày 25 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 17/11/1965). Phò loan: Hiến Pháp và Khai Đạo. Lúc 21 giờ 30, Ngài Thượng Sanh có bạch: Vị tân Hộ Đàn Pháp Quân là Thượng Khanh Thanh sẽ mặc sắc phục thế nào? Đương sự phải kiêm luôn nhiệm vụ Thánh Vệ Trưởng theo lời Đức Ngài đã dạy. Vậy đương sự sẽ đặt dưới quyền trực thuộc của cơ quan nào?

Đức Hộ Pháp dạy: Hộ Đàn chịu dưới quyền trực thuộc Hiệp Thiên Đài Chi Pháp. Đại phục là mặc áo tràng rộng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng thắt DÂY SẮC LỊNH bỏ mối ngay giữa. Hộ Đàn có tiểu phục như Thời Quân nhưng không mang Sắc lịnh, đội mão Tam Quang không có thêu, nhưng có Thiên nhãn ngay giữa. Đạo phục màu trắng.

 

 

 

 

Ý NGHĨA BẢN THIÊN NHƠN HÒA ƯỚC

Khi mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn ký với nhơn loại bản Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước, giao cho ba vị Thánh đứng đầu Bạch Vân Động là Thanh Sơn Đạo Sĩ, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, Tôn Trung Sơn Chơn Nhơn nơi cõi thiêng liêng viết ra để công bố cho nhơn loại hiểu rõ, đồng thời Đức Chí Chí Tôn ra lịnh cho Tam Thánh làm Thiên sứ hướng dẫn nhơn loại khắp hoàn cầu đi vào cửa Đại Đạo.

Nội dung của bản Thiên Nhân Hòa Ước được Tam Thánh ký được công bố bằng hai thứ ngôn ngữ:

Đức Thanh Sơn Chơn Nhơn tức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cầm bút lông viết tám chữ Nho: “天 上 天 下, 愽 愛 公 平 Thiên Thượng Thiên Hạ, Bát Ái Công Bình”.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức Văn hào Victor Hugo cầm bút lông viết sáu chữ Pháp là: “DIEU et HUMANITÉ, AMOUR et JUSTICE” sáu chữ nầy có nghĩa là Thượng Đế và Nhơn Loại, Bác Ái và Công Bình.

Đức Chí Tôn cam kết với nhơn loại, nếu người nào thực thi được bốn chữ “Bác ái, Công bình” thì Đức Chí Tôn sẽ rước về cõi Thiêng liêng Hằng sống, được ban thưởng ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, thoát khỏi luân hồi.

Mở nền Đại Đạo là Đức Chí Tôn ban cho một ân huệ đặc biệt là Đại ân xá kỳ ba và có dặn: “Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại Càn khôn Thế giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng”.

Như vậy, Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức là đạo Cao Đài là mục đích lấy bốn chữ “Bác ái, Công bình” làm tiêu chuẩn cho Luật và Quyền trong việc phổ độ nhơn sanh.

Luật là Thương yêu (Bác ái)

Quyền là Công chánh (Công bình).

Chính Đức Hộ Pháp trong Thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 8 tháng giêng năm Kỷ Sửu (1949) có đoạn: Đức Chí Tôn Ngài đến do tay Ngài ký một hòa ước với một sắc dân nô lệ, sắc dân hèn mọn, đặng Ngài nài nỉ xin cho đặng hai điều trọng yếu làm cho nhơn loại đặng sống tồn tại là luật thương yêu và quyền công chánh.

Chúng ta thử tìm hiểu xem tại sao chỉ cần giữ “Luật Thương yêu và quyền Công chánh” tức là hành xử trọng vẹn được “Bác ái, Công bình” thì đủ trở về ngôi xưa vị cũ.

Bác ái vốn là thương yêu mà nền Đạo Đạo nêu ra không phải là tình yêu thương thấp hèn, vị kỷ. Loại tình thương đó chỉ mang lợi lộc cho mình, chỉ thâu vào hơn ban ra, chỉ nghĩ đến cá nhân mình, đến gia đình mình hay tập thể mình. Loại tình thương đó dễ đưa đến hận thù, chiến tranh. Thương yêu ở đây trước tiên là tình thương yêu thuận hòa của những người đồng đạo. Những người nhập một đạo tức là thọ giáo cùng một Thầy, nên phải xem nhau như con một cha, một nhà, phải giúp đỡ nhau để tình đồng đạo ngày thêm khắn khít, để tránh cái hại là chia phe lập đảng.

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,

Cùng nhau một Ðạo tức một Cha.

Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,

Dạy lẫn nhau cho đặng chữ hòa.

(Thi Văn Dạy Đạo).

Tình thương yêu ấy phải thể hiện lòng bác ái, tức phải có lòng thương người vô biên, không điều kiện, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, giai cấp chủng tộc. Tình thương cũng phải thể hiện lòng từ bi, tức luôn luôn đau xót trước sự khổ não của chúng sanh, lúc nào cũng tìm cách cứu giúp họ thoát khỏi khổ não, nhưng không bao giờ để ý đến những sự bạc bẽo vô tình của người đời. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: “Bác ái là hay thương xót sanh linh hơn thân mình. Cho nên kẻ có lòng bác ái coi mình nhẹ hơn mảy lông, mà coi thiên hạ trọng bằng Trời Ðất”.

Điều thứ hai trong bản Thiên Nhơn Hòa Ước là sự Công bình. Công bình là ngay thẳng, không thiên lệch. Vậy công bình là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc kiến tạo một xã hội công bằng thịnh vượng. Nếu công bình được thì hành một cách đứng đắn thì quyền lợi trang trải đồng đều, sự thưởng phạt sẽ phân minh, không chênh lệch.

Đó là sự công bình ở thế gian. Còn về mặt thiêng liêng thì có luật nhân quả hay luật báo ứng để làm cân thưởng phạt. Theo luật nhân quả nầy nguyên nhân thế nào thì kết quả thế ấy, tức ai tạo nhân lành sẽ được hưởng quả lành, ai tạo nhân dữ ắt sẽ rước lấy quả dữ. Những việc xảy ra cho chúng ta trong kiếp sống nầy vốn là cái quả do cái nhân của chúng ta tạo ra từ kiếp nầy hoặc kiếp trước.

Vậy tình thương yêu và sự công bình là hai điểm quan trọng nhứt của Đại Đạo. Có lòng thương yêu chơn thành thì mới thực hiện được chữ “Nhơn”, vì nhơn vốn là một đức bao gồm mọi hạnh lành. Còn giữ phép công bình, lòng chánh trực mới đáng là người có “Nghĩa”. Như vậy, nhơn và nghĩa luôn luôn đi đối với nhau, không thể thiếu sót được. Chính trong sách Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Nếu có Nhân mà không có "Nghĩa" thì Đạo đức thiếu hình thức; còn như có "Nghĩa" mà không có Nhân thì Đạo đức thiếu tinh thần.

Tóm lại, Bác ái và công bình là hai điểm mà Đức Chí Tôn muốn truyền bá khắp trong toàn thế giới và mong muốn con cái của Người phải thực hiện cho nghiêm chỉnh để nhơn loại được hưởng nền hòa bình vĩnh cửu và thế giới sẽ được đại đồng.

 

 

 

 

CỨU THẾ QUYẾT NGƯNG QUYỀN ĐỊA PHỦ

Trong Thi Văn Dạy Đạo có bài thi:

Day mặt Hồng Quân ngó địa hoàn,

Rưới chan vạn vật khối sinh quang.

Cõi Tiên mở rộng cung Ðâu Suất,

Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.

Cứu thế quyết ngưng quyền Địa phủ.

Ðộ đời cố tạo phước nhơn gian.

Thần thông trói chặt Ma vương quái,

Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa câu “Cứu Thế quyết ngưng quyền Địa phủ”.

Cứu thế: Cứu giúp người đời. Quyết: Nhứt định. Ngưng quyền: Chấm dứt quyền hành. Địa phủ: Hay Địa ngục, Diêm cung, chỉ nơi đày đoạ linh hồn người có tội ở dưới Âm phủ.

Cứu thế quyết ngưng quyền Địa phủ là ý nói đạo Cao Đài được Đức Chí Tôn mở ra để cứu giúp chúng sanh trong thời kỳ Hạ ngươn mạt Pháp, Ngài quyết định ngưng quyền hành của các Đấng Diêm vương ở cõi Địa phủ, ý muốn nói đóng cửa Địa ngục, không còn Địa ngục nữa. Điều nầy chính trong Phật Mẫu Chơn Kinh có cho biết:

Vô Địa ngục, vô Quỷ quan,

Chí Tôn Đại xá nhứt trường quy nguyên.

Vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn khai nền Đại Đạo để cứu thế, cũng là mở kỳ Đại ân xá lần ba, nên ra lịnh đóng cửa các cõi Địa ngục và mở rộng cửa Thiên đường để cho tất cả chúng sanh được giải hết oan nghiệt, tu một kiếp mà có thể quy nguyên, tức là trở về nguồn cội. Mà nguồn cội là cái gốc ban đầu của con người là khối Đại linh quang của Đức Chí Tôn. Con người xuất phát từ nguồn cội đó, luân hồi sanh tử hằng hà sa số kiếp nơi cõi thế gian, nếu mê mờ thì mãi bị chìm sâu vào khổ não, còn nếu giác ngộ chịu học hỏi, tu hành thì có thể đoạt được phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tùy theo công đức. Đến ngôi Phật vị con người còn phải tu nữa để được qui nguyên, tức là trở về cùng Khối Đại Linh Quang của Đức Thượng Đế. Còn các vong hồn có tội tình thì vào cõi Âm quang, chờ ngày thoát hoá.

Tại sao lại đóng địa ngục, mở tầng Thiên?

Chúng ta biết, Đức Chí Tôn mở nền Đại Đạo Cao Đài ở phương Đông, ban ân huệ lớn lao là Đại ân xá cho tất cả chúng sanh và các đẳng linh hồn. Vì thế, khi mới khai Đạo, Hội Thánh thường gọi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là nền đạo “Đại ân xá kỳ ba của Thượng Đế ở Phương Đông” và dịch ra pháp văn như sau: Troisième Amnistie de Dieu en Orient.

Theo các kinh sách của Đạo Cao Đài, kỳ Đại ân xá này Chí Tôn cho chúng sanh được hưởng những đặc ân như:

1- Tha thứ các tội lỗi và oan khiên kiếp trước của những người biết hồi đầu hướng thiện, nhập môn cầu đạo, lập minh thệ với Đức chí tôn để nhứt tâm tu niệm.

Kinh Giải Oan có viết:

May đặng gặp hồng ân chan rưới,

Giải trái oan sạch tội Tiền khiên.

Trong Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Đã Qui Liễu có câu:

Ơn Tạo hóa tha tiền khiên trước,

Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.

Và Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối viết:

Chí Tôn xá tội giải oan,

Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ vong.

Hay:

Ăn năn sám hối tội tình,

Xét câu minh thệ gởi mình cõi thăng.

2- Đóng Địa ngục, Phong đô và mở cửa Thiên đường để các con cái Chí Tôn được về hội hiệp cùng Ngài. Những vong hồn có tội được đưa đến cõi Âm quang để giải thân định trí, chờ ngày thoát hóa.

Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,

Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây Phương.

(Kinh Giải Oan)

3- Tu một kiếp có thể đắc Đạo mà trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại trong Càn Khôn Vũ Trụ, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng”.

Tóm lại, điều đại hạnh cho chúng sanh ngày nay là chúng sanh được hưởng ân Đại xá và khi giáng huyền cơ khai mở nền Đại Đạo, thì chính Đức Chí Tôn ra lịnh ngưng quyền Địa phủ, tức không còn Địa ngục phong đô nữa để chúng sanh, người nào quyết chí tu hành, thì trong một kiếp có thể đắc Đạo được.

 

 

 

 

HIỆP NGŨ CHI

Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong thời kỳ thứ ba với tôn chỉ là Quy nguyên Tam giáo, Phục nhứt Ngũ chi.

1- Chúng thử tìm hiểu tại sao lại phải Phục nhứt Ngũ Chi?

Phục nhứt Ngũ chi hay “Hiệp Ngũ chi” là đem năm nhánh đạo là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo gom trở lại hiệp thành một đạo gọi là Đại Đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: “Vốn từ trước Thầy lập Ngũ Chi Ðại Ðạo là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.

Tuỳ theo phong hoá của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi. Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt”.

Theo ý nghĩa của Thánh ngôn trên, do thời xưa, nhơn loại chưa được văn minh, nên Đức Chí Tôn mở ra mỗi địa phương một mối đạo để độ rỗi nhơn sanh vùng đó. Vì vậy mới có nhiều mối đạo khác nhau trên thế giới.

Chính do những mối đạo đó, trải qua nhiều đời, bị người phàm canh cải, trở nên phàm giáo, rồi các mối đạo chống đối nhau tạo thành chiến tranh tôn giáo.

Ngày nay nhơn loại đã văn minh tiến bộ, xem thế giới như nhà, nên Đức Chí Tôn chỉ cần mở một nền Đại Đạo duy nhứt, bằng cách quy hiệp các đạo lập thành từ trước thành năm nấc thang tiến hóa cho nhơn sanh đắc đạo.

Điều nầy chính Đức Hộ Pháp có giải thích như sau: “Vì năm Đạo phân chia làm nhơn tâm bất nhứt, nhơn loại nghịch lẫn nhau. Chí Tôn đến đặng hiệp lại một nhà, ước cho con cái của Người biết thương yêu hoà thuận”.

2- Ý nghĩa của việc hiệp Ngũ chi Đại Đạo.

Như ta biết con người do Đức Chí Tôn cho xuống trần để học hỏi tại trường đời, hầu mở mang Thiên tánh Ngài đã ban, nhưng vì chơn linh nhập thế, mang nặng xác phàm bị thất tình lục dục sai khiến, làm cho con người trở nên vô minh, quên hết căn nguyên bổn tánh của mình. Do vậy, con người mới phải chịu trăm cay ngàn đắng, đau đớn, khổ sở.

Trước cảnh khổ nơi trần gian, các bậc cứu thế độ đời đã tùy trình độ chúng sanh mà đề ra nhiều phương pháp xử trí với cảnh khổ khác nhau, mục đích giúp con người biết xử dụng nó để làm nấc thang thăng tiến.

Theo bài Diễn văn của Đức Hộ Pháp đọc tại Tòa Thánh, ngày 14 tháng 2 năm Mậu Thìn (Dl. 5/3/1928), Ngài cho rằng: Thầy hiệp Ngũ chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình. Hễ ngồi đặng phẩm nào thì địa vị mình nơi ấy chẳng ai còn tranh giành ngược ngạo không nhìn nhận cho đặng.

Hiệp Ngũ chi chính là hợp nhứt năm cách thức hành đạo của Ngũ chi Đại Đạo là:

 

- Tùng khổ

 

(Nhơn đạo).

 

- Thắng khổ

 

(Thần đạo).

 

- Thọ khổ

 

(Thánh đạo).

 

- Thoát khổ

 

(Tiên đạo).

 

- Giải khổ

 

(Phật đạo).

- Sống trong cõi thế gian là nơi sông mê bể khổ, người tín hữu của nền Đại Đạo phải cùng chịu sự đau khổ của nhơn sanh, và phải hòa mình trong mọi cảnh khổ của họ đó gọi là Tùng khổ.

- Sau đó người tín hữu phải giúp đỡ nhơn sanh chiến thắng sự đau khổ bằng cách lấy giáo lý của Thánh Hiền giải thích, chỉ rõ đường lối đạo đức cho nhơn sanh biết để họ khỏi sa vào cạm bẫy của quỷ vương, khỏi bị mê hoặc bởi những tà đạo, tức là Thắng khổ.

- Người tín hữu Đại Đạo lại còn sẵn sàng chịu đựng, gánh vác, hoặc hiến thân cho sự khổ não để nâng đỡ và xây dựng hạnh phúc cho nhơn sanh đây là sự Thọ khổ của người tín đồ Đại Đạo.

- Trách nhiệm của người tín hữu còn phải dìu dắt, chỉ dẫn đường đi nước bước cho nhơn sanh để họ tu hành, tham thiền nhập định mà thoát khỏi cảnh khổ ở trần gian, tức là Thoát khổ.

- Đường lối giải khổ của Phật là phá bỏ “Vô minh”.

Trong kinh Phật dạy: Cái khổ ở trong địa ngục bị thiêu đốt cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm ngạ quỷ bị đói khát cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm súc sanh kéo cày bị đánh cũng chưa phải là khổ, cái khổ “vô minh” không biết đường đi mới là khổ.

Cho nên người tín đồ Đại Đạo phải dạy cho chúng sanh phá được vô minh, cắt đứt mọi dục vọng thấp hèn khiến họ tỉnh giác biết đường tu tập để thoát đường sinh tử luân hồi, đó Giải khổ.

Người tín hữu nào đã được hoàn thành năm phương thức năm hành đạo nầy là đã đạt được sự tuyệt khổ của nền Đại Đạo vậy.

 

 

 

 

NHỰT NGUYỆT MẠO

Nhựt nguyệt mạo 日月帽 thường gọi là mão Quạ, là cái mão làm bằng hàng trắng, có hình dạng là một vòng tròn úp lên đầu, tượng trưng mặt trời và cái hình bán nguyệt của mão tượng trưng cho mặt trăng.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú giải có quy định về bộ Đại phục của Thập nhị Thời quân như sau: “Bộ Đại phục toàn bằng hàng trắng, cổ trịt viền chỉ kim tuyến bạc, đầu đội Mão Quạ cũng bằng hàng trắng, lưng nịt dây sắc lịnh theo chi của mình mà thả mối, chơn đi giày Vô ưu màu trắng”.

Trong Đàn cơ tại Tòa Thánh, ngày 25 tháng 1 năm Tân Mùi (Dl. 13/3/1931), Phò loan Hộ Pháp, Bảo Văn Pháp Quân, Bà Lục Nương Diêu Trì Cung có giáng cơ định danh cái mão của chư chức sắc Thời Quân Hiệp Thiên Đài đội như sau:

Thưa anh Cao Văn Pháp, em chẳng hiểu ý Chí Tôn định y phục của hai anh thế nào nên tốt hơn là tìm Thánh ngôn của Người mà coi lại.

Văn Pháp bạch: Lúc sửa Pháp Chánh Truyền trải qua những Thiên phục của các Chức sắc, Đức Giáo Tông đặt tên mão còn sót mão Hiệp Chưởng của Chức sắc Hiệp Thiên Đài. Qua tưởng khi để mão Hiệp Chưởng không nhằm, xin em từ bi sửa lại giùm.

– Cười… Cái vòng tròn úp lên đầu mà đội là thể Nhựt hình, còn hình bán nguyệt của mão là thể Nguyệt tượng, Vậy thì gọi là Nhựt Nguyệt Mạo.

Văn Pháp bạch: Còn sợi dây đai của Bảo Sanh Quân có hai vòng vô vi gọi là chi? Qua kiếm Thánh ngôn coi lại không đặng, em giúp luôn thể.

– Sợi dây của anh Bảo Sanh là Song Quang Thần Thông.

Văn Pháp bạch: Sợi dây đai của Qua cũng chưa biết gọi là chi mà để vào Pháp Chánh Truyền?

- Bạch Tuyết Thần Thông.

Như vậy, mão Quạ tức “Nhựt nguyệt mạo 日 月 帽”, là mão dành cho Thập Nhị Thời Quân đội khi mặc Đại phục chầu lễ Đức Chí Tôn.

Nhựt Nguyệt mạo còn dùng cho Bảo Văn Pháp Quân, Bảo Sanh Quân, Hộ Đàn Pháp Quân, Tả Hữu Phan Quân đội khi chầu lễ Đức Chí Tôn, nhưng mỗi phẩm cái mão có những đặc điểm riêng.

MÃO CỦA BẢO VĂN PHÁP QUÂN

Theo Pháp Chánh Truyền: Bộ Đại Phục của Văn Pháp toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo như các Chức Sắc nơi Hiệp Thiên Đài, song hai bên ngay chính giữa có kết một bông sen năm cánh, trên mỗi bông thì thêu Thiên Nhãn Thầy ngay đường giữa trước mão cũng kết một bông sen nhưng khỏi thêu Thiên Nhãn. Cả thảy là ba bông sen trên mão.

Lưng đai Bạch Tuyết Thần Quang bằng hàng trắng, bề dài ba thước ba tấc ba phân; bề ngang ba tấc ba phân ba ly, buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen năm cánh.

Chơn đi giầy vô ưu cũng bằng hàng trắng, trước mũi mỗi chiếc cũng có một bông sen nhỏ hơn một thí.

MÃO CỦA BẢO SANH QUÂN

Theo Pháp Chánh Truyền: Bộ Đại Phục của Bảo Sanh Quân toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt nguyệt mạo giống như các chức sắc Hiệp Thiên Đài. Ngay giữa mão. Ngay giữa mão từ bìa lên bốn phân thêu một Thiên Nhãn. Hai bên mão thêu hai Thiên Nhãn nữa, cả thảy là ba. Vòng theo dành mão cột một sợi dây Tiên Thằng (bề ngang 8 phân, bề dài 2 thước), buộc thế nào chừa Thiên Nhãn ngay giữa mão ra, cho hai mối thòng xuống hai bên vai.

Lưng đai Song Quang Thần Thông, nghĩa là một đường lụa trắng kết hai bên hai vòng vô vi.

Chơn đi giày vô ưu cũng bằng hàng trắng.

MÃO CỦA HỘ ĐÀN PHÁP QUÂN và TẢ HỮU PHAN QUÂN

Trong một Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, ngày 25 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 17/11/1965). Phò loan: Hiến Pháp, Khai Đạo. Lúc 21 giờ 30.

Đức Thượng Sanh bạch: Vị tân Hộ Đàn Pháp Quân là Thượng Khanh Thanh sẽ mặc sắc phục thế nào?

Đức Hộ Pháp dạy: Đại phục: Áo tràng rộng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng thắt dây Sắc lịnh bỏ mối ngay giữa.

Còn Đại phục của Tả, Hữu Phan Quân giống như Đại phục của Hộ đàn Pháp Quân, nhưng không có buộc dây sắc lịnh ở lưng. Như vậy, bộ Đại Đại phục của Tả, Hữu Phan Quân đều mặc áo tràng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo.

Ngoài ra, Nhựt Nguyệt Mạo còn dùng cho các phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài Tiểu cấp đội, nhưng hai bên Nhựt nguyệt Mạo có Tam sắc đạo (tức miếng vải ba màu: Vàng, xanh, đỏ), ba Cổ pháp và trên Cổ pháp có cân công bình.

 

 

 

 

PHI TƯỞNG ĐÀI

Phi Tưởng Đài 非 想 臺, còn gọi là “Thông Thiên Đài 通 天 臺”, là một cái đài ở lầu thứ hai, nằm giữa Bạch Ngọc Chung Đài và Lôi Âm Cổ Đài.

Nơi mặt tiền Tòa Thánh Tây Ninh nằm giữa hai lầu chuông và lầu trống từ dưới lên trên có xây dựng một công trình gồm ba tầng:

1- Tầng trệt là Tịnh Tâm Điện, một khoảng trống từ cửa chánh Tòa Thánh bước vào, giữa có đặt bức họa Tam Thánh ký Hòa ước. Tịnh Tâm Điện là nơi để chư chức sắc và tín đồ dừng bước để cho tâm lắng đọng, hư tĩnh, trước khi bước vào chánh điện bái lễ Đức Chí Tôn.

2- Tầng một là Hiệp Thiên Đài, bên ngoài ở giữa nóc có đắp một hình Cổ pháp, dưới có hàng chữ: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ viết bằng chữ Hán lẫn chữ Việt. và dưới nữa hai bên có đề hai chữ Nhân Nghĩa cùng với hai câu đối viết bằng chữ Hán:

協 入 高 臺 百 姓 十 方 歸 正 果

Hiệp nhập Cao Đài bá tánh thập phương quy chánh quả,

天 開 黃 道 五 支 三 教 會 龍 花

Thiên khai Huỳnh đạo ngũ chi Tam giáo hội Long Hoa

Giải nghĩa:

- Họp nhau vào đạo Cao Đài, trăm họ ở mười phương sẽ trở về ngôi chánh quả.

- Trời mở Đạo Huỳnh với Ngũ chi Đại Đạo và Tam giáo tham dự Hội Long hoa.

Dưới cùng của Hiệp Thiên Đài là một bao lơn đưa ra phía trước (tức Bao Lơn Đài) hình bán nguyệt có chạm tám khuôn hình diễn tả tám sự tích sau đây:

- Hữu Sào Toại Nhân - Vua Ngiêu tìm hiền

- Sào Phủ Hứu Do - Vua Hạ Võ trị thủy

- Khương Tử Nha Võ Kiết - Phạm Lãi Tây Thi

- Bá Nha Tử Kỳ - Châu Mãi Thần.

Bên trong Hiệp Thiên Đài có lập bàn thờ Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh và Thập nhị Thời Quân.

3- Tầng hai là Phi Tưởng Đài, bên trên nóc Phi Tưởng Đài có đắp hình Phật Di Lạc ngồi trên lưng bạch hổ. Phía trước Phi Tưởng Đài cũng có đắp hình Thiên Nhãn hướng ra mặt tiền Đền Thánh và bên trong có lập một khuôn hình Thiên Nhãn, là nơi thờ Chí Tôn để Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp lên đó thông công cùng Ngài, cho nên Đài nầy còn gọi là Thông Thiên Đài.

Theo lời kể lại của một chức sắc Hiệp Thiên Đài, trong buổi lễ trấn thần Đền Thánh, Đức Hộ Pháp trấn thần khuôn Thiên Nhãn trước Phi Tưởng Đài đầu tiên hết, Ngài đứng ngay trước Đền Thánh, ngó ngay Thiên Nhãn trước Phi Tưởng Đài, rải Cam Lộ thủy và cầm nhang hành pháp trấn thần.

Kế tiếp Đức Hộ Pháp trấn thần tượng Đức Phật Di Lạc trên nóc Phi Tưởng Đài, Ngài nói: Đức Di lạc đã ngự vào tượng, ngồi thị chứng cho nhơn loại thập phương thế giới day hướng về Đền Thánh mà cầu nguyện Ngài ban ân huệ cho toàn chúng sanh.

 

 

 

 

Ý NGHĨA VỀ TAM TÀI và NGŨ KHÍ

Trong đạo Cao Đài, nơi Chánh điện thờ Đức Chí Tôn luôn luôn đốt năm cây hương xếp thành hai hàng: Hàng trong ba cây, hàng ngoài hai cây.

Theo phần Tiểu dẫn của Hội Thánh về cách thờ phượng và cúng kiếng trong quyển Kinh Thiên Đạo, Thế Đạo như sau: “Khi cúng Thầy, phải đốt cho đủ năm cây hương, cắm hàng trong ba cây gọi là Án Tam tài, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là Tượng Ngũ khí”. Hai cây hàng ngoài vừa tượng trưng cho Ngũ khí, vừa tượng trưng cho ngũ phần pháp thân hương.

Ở đây, chúng ta thử tìm hiểu về ý nghĩa của Tam Tài và Ngũ Khí.

TAM TÀI:

Tam tài là ba ngôi. Người xưa thường nói: Thiên địa dữ nhân vị chi Tam tài 天 地 與 人, 謂 之 三 才, tức là trời đất và người, gọi là Tam tài, đó là ba yếu tố quan trọng nhứt, cao quý nhứt trong vũ trụ, Nếu trong ba yếu tố đó mà mất đi một thì cuộc đại hòa điệu trong vũ trụ không còn nữa.

Đổng Trọng Thư viết rằng: Người với trời tương đồng từng điểm cho nên vũ trụ mà không có người thì vũ trụ không còn hoàn toàn, không thành được vũ trụ nữa. Bởi vì vũ trụ là một đại hòa điệu Tam Tài Thiên, Địa Nhân, nếu mất một yếu tố thì hòa điệu cũng không còn.

Xem thế thì con người chiếm một địa vị vô cùng quan trọng trong Trời đất vậy. Nhưng tại sao con người đạt được địa vị ấy? Đó là vì con người được Trời đất sinh ra và ban cho một đức tính rất cao quý, rất thiêng liêng. Ngoài ra con người còn được hấp thụ hoàn toàn cái tinh thần linh diệu và cái khí chất tinh túy của Trời đất, nên con người linh hơn, sáng suốt hơn muôn vật. Chính nhờ cái sáng suốt nầy mà con người phân biệt được điều hay điều dở, lẽ phải lẽ trái, nếu không thì con người cũng sẽ mờ mịt như tất cả sinh vật khác. Cái sáng suốt ấy có sẵn trong mỗi con người và được gọi là trực giác, lương tri, hay minh đức. Trực giác ấy chỉ được bén nhạy khi nào ta giữ cái tâm của mình cho trong sáng, không bị vật dục cám dỗ, không bị ngoại vật chi phối, nghĩa là phải giữ cho tâm hư tĩnh.

Tóm lại, ba cây nhang tượng trưng cho Tam Tài là nhằm nhắc lại cái địa vị cao quý của Trời đất người trong vũ trụ, đồng thời cũng nhằm nhắc nhở cho người tín đồ phải luôn cố giữ cái tâm được hư tĩnh để trực giác được mẫn huệ, lương tri sáng suốt hầu cảm được, thấy được cái thiên lý lưu hành khắp vũ trụ. Nếu con người chỉ biết chạy theo vật dục, hưởng thụ cho riêng mình thì trực giác phải mờ tối đi. Vậy người tín đồ phải cố giữ lấy linh tâm, lương tri mà Trời đã phú cho con người thì mới hiệp nhứt được với Trời đất.

NGŨ KHÍ:

Ngũ khí hay Ngũ hành chi khí là năm yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nhờ năm yếu tố nầy mà vạn vật mới hình thành, sinh trưởng và tồn tại. Ngũ hành được tạo thành là do luân chuyển biến hóa của hai yếu tố Âm Dương.

Ông Chu Liêm Khê trong Thái Cực Đồ Thuyết có giảng: Thái Cực có hai thể: Động và tĩnh. Động thì sinh ra Dương, động cực rồi lại tĩnh. Tĩnh thì sinh ra Âm, tĩnh cực rồi lại động. Cứ một động một tĩnh thay đổi nhau, cái nọ lấy cái kia làm gốc chia làm Âm Dương, lập thành hai nghi vậy.

Dương động thì biến hóa ra, Âm tĩnh thì đông hợp lại. Bởi sự biến, sự hợp ấy mà sinh ra Ngũ hành là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. Năm khí ấy thi ra mà thuận là bốn mùa lưu hành vậy.

Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo tại Ðền Thánh, đêm mồng 1 tháng 8 năm Ðinh Hợi (1947) giải thích như sau: Nói về 5 cây nhang, từ thử Bần Ðạo để cho các Nho gia tự do giảng nghĩa sao thì giảng, còn Bần Ðạo hiểu rõ là Ngũ khí. Chí Tôn dùng Ngũ khí mà biến thành Ngũ hành vận chuyển cả Càn khôn Thế giới, tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi chất đều có mỗi sắc, mỗi sắc đều có mỗi khí. Mùi vị và sanh quang của nó chúng ta không thể hưởng được, nghe được.

Nên chi, khi làm lễ đốt đủ 5 cây hương là đúng theo phép tín ngưỡng là qui pháp lại, mọi vật trong Ngũ khí dâng lễ cho Chí Tôn chỉ có người vui hưởng qui pháp ấy mà thôi, cắt nghĩa rõ rệt ra là Ngũ khí đó vậy. Ðúng hơn nữa là trong Bát Hồn vận chuyển được phải nhờ đến Ngũ khí cùng một ý nghĩa với "Vạn vật đồng thinh niệm Chí Tôn".

 

 

 

 

QUẢ CÀN KHÔN

Quả Càn Khôn là một quả cầu tròn, tượng trưng cho hình ảnh Càn khôn Vũ trụ thu nhỏ, trên đó có vẽ hình Thiên Nhãn và các ngôi sao để thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế được đặt trong Bát Quái Đài thuộc Toà Thánh Tây Ninh. Còn các Thánh Thất địa phương không thờ Quả Càn Khôn, chỉ vẽ tượng Thiên Nhãn để thờ mà thôi.

Theo triết lý Đạo Cao Đài, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng cai quản Càn khôn, chủ tể Vũ trụ, nên Thiên Nhãn biểu tượng của Đức Chí Tôn được vẽ trên Quả Càn Khôn. Ngài chưởng quản ba ngàn thế giới cùng bảy mươi hai quả địa cầu, nên trên Quả Càn Khôn cũng vẽ đủ 3072 ngôi sao. Lại nữa, Đức Chí Tôn thường tuần du khắp các cõi và mỗi lần ngự xuống trần gian thì ngôi của Ngài ngự ở ngôi sao Bắc Đẩu, nên Thiên Nhãn phải vẽ ngay ngôi sao ấy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy Ngài Thái Bính Thanh tạo quả Càn Khôn như sau: Bính! Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không? Cười… Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm 3 thước 3 tấc (3m30), nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hoá trong ấy, sơn màu xanh da trời, cung Bắc Ðẩu và Tinh tú vẽ lên Càn Khôn ấy.

Thầy kể Tam thập lục Thiên, Tứ Ðại Bộ Châu ở không không trên không khí, tức là không phải Tinh tú, còn lại Thất thập nhị Ðịa và Tam thiên Thế giới thì đều là Tinh Tú. Tính lại ba ngàn bảy mươi hai (3072) ngôi sao, con phải biểu vẽ lên đó cho đủ.

Con giở sách Thiên văn tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Ðẩu, con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Ðẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Ðẩu, vẽ Con Mắt Thầy, hiểu chăng?

Ðáng lẽ Trái ấy phải bằng chai, đúc trong một ngọn đèn cho nó thường sáng, ấy là lời cầu nguyện rất quý báu cho cả nhơn loại Càn khôn Thế giới đó. Nhưng mà làm chẳng kịp thì con tuỳ tiện.

Từ ngày Khai đạo năm Bính Dần cho đến ngày nay đã trải qua nhiều lần tái lập Quả Càn Khôn, nhưng lần nào cũng đều lấy Thiên Nhãn cũ đặt lên Quả Càn Khôn mới mà thờ.

Điều nầy chính Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức nhân Lễ Khánh Thành Quả Càn Khôn mới, ngày 15 tháng 12 năm Quí Mão (Dl. 29-01-1964), trong bài Thuyết Đạo có nhắc lại sự tích Quả Càn Khôn, xin trích một đoạn như sau:

“Thể theo Thánh ý của Ðức Chí Tôn, chư Chức sắc hiệp sức kiến tạo Quả Càn Khôn đầu tiên đặt lên một trụ cốt nơi Bát Quái Đài để cho toàn Đạo sùng bái và chiêm ngưỡng.

Sau vì rủi ro, Quả Càn Khôn ấy phát hỏa cháy tiêu hết, duy có Thiên Nhãn thì còn lại y nguyên. Hội Thánh quyết định tạo một quả Càn Khôn khác và đồng ý đặt Thiên Nhãn cũ lên Quả Càn Khôn.

Vì sự linh thiêng ấy mà toàn đạo càng thêm tin tưởng và đến khi tu tạo lại Quả Càn Khôn khác, tất cả đều quyết định đặt Thiên Nhãn cũ ấy lên Quả Càn Khôn mới.

Ðến nay, Quả Càn Khôn sau cũng vì thời gian mà hư hoại. Hội Thánh quyết định kiến tạo một Quả Càn Khôn khác thay thế. Hội Thánh cũng đồng thanh biểu quyết dành lại Thiên Nhãn cũ đặt lên Quả Càn Khôn mới ngày nay. Ðó là do lòng tín ngưỡng cao cả của toàn Đạo, không ai có quyền phủ nhận.”…

Chúng ta thấy Quả Càn Khôn và Thiên Nhãn biểu tượng cho hình thể Đức Chí Tôn tại thế, được thờ tại Tòa Thánh Tây Ninh, nơi trụ khối đức tin của toàn Đạo, nên rất thiêng liêng, linh hiển. Vì vậy, mỗi lần hạ Quả Càn Khôn cũ là cả một sự biến động, gây nhiều sự bất hòa, rối loạn trong Đạo, cũng như những sự tai ương, biến chuyển, ngoài đời.

Đây là một bài thi do Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho cả chúng sanh, sau vụ cháy Quả Càn Khôn năm 1932.

Chẳng phải Tây Ninh chịu nạn nghèo,

Cuộc đời luân chuyển thế cheo leo.

Trời còn đất lỡ tang thương biến,

Ruộng rẫy phố phường lộ mốc meo.

Sắc tướng âm thinh tua giảm bớt,

Mở đường công quả chúng làm theo.

Văn chương đâu rõ thông cùng lý,

Tận thế hưng vong đã thấy vèo.

 

 

 

 

CHÁNH MÔN

Chánh Môn là một cái cửa cổng lớn nhứt trong mười hai cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh, nằm ngay phía trước Đền Thánh là một đại lộ có bề ngang 60 thước, chạy về hướng tây. Con lộ nầy được khởi công mở rộng ngày 25 tháng 3 năm Giáp Dần (Dl. 17/4/1974), Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức có nhắc lại một bài thi của Đức Hộ Pháp sáng tác năm Mậu Tý (1948) như sau:

Đại đồng thiên hạ đó đi đây,

Tiện mối lưu thông mở lộ nầy.

Trước mặt Cao Đài xuyên Đất Việt,

Sau lưng tháp ngọc tận Trời Tây.

Ngang bằng mặt rộng hai bên rảnh,

Lưng thẳng thân to một lối ngay,

Trên lộ dưới thuyền du khách ngoạn,

Đường về tầm Đạo, động Thiên Thai.

(Thơ Hộ Pháp).

Việc xây dựng công trình cổng Chánh môn được bắt đầu từ ngày 12 tháng 6 năm Ất Tỵ (Dl. 10/7/1965). Theo thông lệ từ trước, khi xây dựng một công trình nào của Hội Thánh cũng đều do bản vẽ của Đạo, tức do Ban Kiến trúc vẽ.

Bản vẻ cổng Chánh môn được Đức Hộ Pháp chỉ dẫn Ban Kiển trúc vẻ vào năm Đinh Hợi có “Bề cao 36 thước, bề ngang 60 thước, cổ kín tam quan, trên nóc đắp mái ngói có hình cổ pháp tam giáo”.

Cổng Chánh Môn hiện tại không phải là họa đồ của của Ban Kiến trúc do Đức Hộ Pháp chỉ dẫn, mà là bản vẽ sau này của Ty Kiến Thiết tỉnh Tây Ninh thiết kế, được Hội Thánh chọn để thi công.

Nguyên vào năm Ất Tỵ (1965), Thiếu Tướng Lê Văn Tất, con Ngài Đạo Nhơn Lê Văn Trung được Chánh phủ bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Tây Ninh, trong lúc đó Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước, cầm quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Đài. Ông Tỉnh trưởng xin hợp tác với Đạo để xây dựng cổng Chánh môn, Ngài Bảo Thế chấp thuận, giao cho bên Đời lo vật liệu xây cất, còn phần nhân công do công quả thợ hồ Ban Kiến trúc của Đạo. Ông Tỉnh trưởng vận động các mạnh thường quân quanh vùng chợ Long Hoa thì đủ tiền mua vật liệu,

Bản họa đồ Chánh môn của Ban Kiến trúc do Đức Hộ Pháp chĩ dẫn vẽ có nhiều ý kiến cho rằng quá cao nên đề nghị Ty Kiến Thiết Tây Ninh vẽ lại họa đồ khác. Bản đồ do Ty Kiến Thiết vẽ cổng Chánh môn chỉ cao có 9 thước, ngang 54 thước, trên ngói đắp hai rồng phò Cổ pháp. Bản thiết kế nầy được Ngài Bảo Thế chấp thuận.

Đến khi điều công thợ để xây dựng Chánh môn, Tổng Giám Ban Kiến trúc lúc bây giờ là ông Lê Văn Thế không đồng ý xây dựng theo họa đồ của Ty Kiến Thiết với lý do là không làm theo Bản đồ Đức Hộ Pháp đã dạy trước năm 1947 đến nay, nên ông không chịu bổ công thợ đến làm. Ngài Bảo Thế ra lịnh cho ông Chưởng quản Cơ Quan Phước Thiện là Chơn Nhơn Lê Văn Trung ban Huấn lịnh số 31/HL ngày 10 tháng 5 năm Ất Tỵ thâu quyền chức Tổng Giám của Lê Văn Thế và cử ông Phó Tổng Giám Trần Văn Lành lên thay quyền Cai quản Ban Kiến Trúc, bổ công thợ để xây dựng cổng Chánh môn.

Từ đó vị tân Tổng Giám Ban Kiến trúc là Trần Văn Lành đứng ra điều hành công thợ đến xây dựng cổng Chánh môn cho đến khi khánh thành.

Sau đây là Huấn từ của Đức Thượng Sanh đọc trong buổi “Lễ Đặt Viên Gạch Đầu Tiên” có đoạn như sau: Ðã bao lâu rồi Hội Thánh có ý định xây cất Chánh môn Tòa Thánh theo sự trù hoạch của Ðức Hộ Pháp từ trước. Nhưng vì tài chánh eo hẹp, lại nữa trong vùng nội ô có nhiều sự kiến trúc và tu bổ cấp bách cần phải lo trước, nên không thể thực hành ý định sớm hơn được. Mãi cho đến ngày hôm nay mới có thể khởi công xây dựng. Theo sự thỏa thuận trước đây giữa Hội Thánh và ông cựu Tỉnh Trưởng thì công cuộc vận động cho có đủ tài chánh mua vật liệu về phần ông cựu Tỉnh Trưởng đảm nhiệm, còn Hội Thánh thì lo về chi phí công thợ.

Nhưng ngày 12 tháng sáu Ất Tỵ (nhằm 10/07/1965) thì chánh phủ bổ nhiệm ông Tỉnh Trưởng mới đến thay thế cho ông Lê Văn Tất được lãnh nhiệm vụ khác.

Lẽ dĩ nhiên, ông cựu Tỉnh Trưởng không còn lo nhiệm vụ kể trên nữa, và công cuộc xây dựng Chánh môn Tòa Thánh hiện nay đã chính thức trọn vẹn phần Hội Thánh đảm nhiệm về phương diện tài chánh cũng như về phương diện kiến thiết.

Từ mấy chục năm qua, đại nghiệp của Ðức Chí Tôn tại thế vẫn được bồi đắp lần hồi do nơi lòng trung thành và chí hy sinh của toàn Ðạo, tức là của Chức sắc và Thiện tín. Ðạo trải qua bao nhiêu nỗi thăng trầm, lướt qua bao phen bão bùng, giông tố gây nên bởi lòng tham hiểm của thế tình, nhưng chánh khí trung can của con cái Ðức Chí Tôn không bao giờ sờn mẻ. Trong những giờ phút khó khăn, điên đảo; trong những hồi đen tối khuynh nguy, nếu vạn đắc dĩ, Hội Thánh phải để lời kêu gọi thì nhân sanh trong cửa Ðạo sẵn sàng hưởng ứng kẻ của người công xúm nhau đem khối nhiệt thành điểm tô cho cơ nghiệp Ðạo.

Ðó chính là một tinh thần phục vụ cao siêu mà cũng là cái năng lực hữu hiệu của Thiêng Liêng đã mầu nhiệm dành sẳn cho Thánh Thể Ðức Chí Tôn tại thế. Cái tinh thần đó bất diệt cũng như cái năng lực đó vẫn mãi trường tồn và luôn luôn chực sẵn để phụng sự cho chánh nghĩa, nâng đỡ cho lẽ phải và giúp nên cho những bậc lãnh đạo chơn chánh, thiết tha hoài bão xây dựng cho nền Chánh giáo.

 

 

 

 

CHỢ LONG HOA

Chợ Long Hoa, còn gọi là “Long Hoa Thị 龍 花 市”, là một ngôi chợ của đạo Cao Đài do Đức Hộ Pháp lập ra, cũng là một ngôi chợ lớn nhứt trong tỉnh Tây Ninh, nằm về phía Nam và cách Tòa Thánh khoảng hơn một cây số.

Trước đây, Hội Thánh có lập ngôi chợ nhỏ đầu tiên, gồm bốn cánh nhà lồng, thường được gọi là Chợ cũ Long Hoa, nằm giữa Báo Quốc Từ và khu chợ Long Hoa mới hơn hai trăm mét, khi ấy dân số theo Đạo sống quanh vùng còn ít ỏi.

Vào năm 1952, do tình hình chiến tranh, giặc giã khắp mọi nơi, số người không theo Cao Đài ở khắp nơi phải rời bỏ xứ sở, nhà cửa chạy về sinh sống trong vùng Thánh địa dưới sự che chở bảo vệ của Đạo, ngoài ra còn một số đông tín đồ Cao Đài muốn về vùng Thánh Địa sinh sống, nên từ khắp các tỉnh đổ dồn về lập nghiệp càng ngày càng đông. Vì vậy, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc mới chọn khu rừng 47 mẫu cách Chợ cũ hơn hai trăm thước để thành lập ngôi chợ Long Hoa theo bản họa đồ của Ngài vẽ, rồi giao cho Ban Kiến Trúc ở Tòa Thánh xây cất để tín đồ Cao Đài có nơi buôn bán làm ăn. Vào thời điểm đó, khu vực nầy còn là vùng rừng rú, cây cối, gò mối hoang dã, um tùm, rậm rạp và có nhiều loài thú rừng như nai, mển, thỏ, heo rừng,…

Kiểu Chợ Long Hoa theo bản vẽ Đức Hộ Pháp gồm có bốn ngôi nhà lồng hình chữ thập, giữa xây một bùng binh rộng, nằm trên lô mặt bằng vuông vức, chung quanh có tám cửa, hướng Chợ ra tám con đường, mang ý nghĩa là Thái Cực sanh Lưỡng Nghi (Âm Dương), Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng; Tứ Tượng sanh Bát Quái; Bát Quái sanh ra Càn Khôn Vũ Trụ, vạn vật. Nếu từ trên phi cơ nhìn xuống khu chợ Long Hoa thì giống như một Bát Quái Đồ.

Theo Thừa Sử Phan Hữu Phước, lễ khởi công xây Chợ Long Hoa là ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Thìn, có mặt các vị sau đây:

- Nhà bác vật Lưu văn Lang.

- Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa.

- Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng

- Chơn Nhơn Trịnh Phong Cương.

- Thừa Sử Phan Hữu Phước.

- Tổng Giám Ban Kiến Trúc Võ văn Khuê.

- Trưởng Tộc Phạm Môn Phạm văn Út.

- Và Ban nhiếp ảnh Tòa Thánh.

Đức Hộ Pháp có hỏi Bác vật Lưu Văn Lang về đia cuộc nơi định cất chợ như thế nào thì Bác vật Lang trả lời: “Ngài định chỗ thật tốt, có thể Ngài đã biết trước nên mới định chỗ đúng ngay mạch nước Bát Long Dẫn Thủy, lại có Tứ Hổ Phục Triều. Địa cuộc nầy có nhiều sanh khí, sau nầy Long Hoa Thị sung túc, trở nên kỳ quan ở Đất Thánh. Nếu giữa nhà lồng chợ được lấy nước fontaine (từ dưới đất lên) thì đủ sức xài vì mạch nước lớn và tốt”.

Các cửa chánh chợ Long Hoa gồm: Cửa Một phía Bắc chạy về hướng Tòa Thánh, cửa Ba phía Tây chạy về hướng chùa Gò Kén, sông Tây Ninh, cửa Năm phía Nam chạy về vùng Giang Tân hướng về Sài gòn, cửa Bảy phía Đông chạy về Trí Huệ Cung. Tám cửa mang ý nghĩa Bát Quái Đồ Thiên.

Khi Hộ Pháp đặt tên chợ là “Long Hoa”, ý Đức Ngài muốn chỉ thời kỳ khai mở Hội Long Hoa, do Đức Di Lạc Vương làm Chủ khảo, và là kỳ thi phán xét cuối cùng trong thời Hạ Ngươn để tuyển phong Phật vị.

Theo bản đồ lúc mới xây dựng, Đức Hộ Pháp dạy xây dựng tại góc trái Báo Quốc Từ một tiệm chụp hình hiệu là “Xuân Dung”, thuộc quyền quản trị của Hội Thánh, để dạy nghệ thuật nhiếp ảnh cho con cái nhà Đạo và lấy tiền gây quỹ cho Viện Cô Nhi. Tên hiệu “Xuân Dung” của tiệm chụp hình là do Đức Hộ Pháp đặt và Đức Ngài lúc ấy còn tặng cho hai câu thi như sau:

DUNG nghi ví muốn còn XUÂN mãi,

Đừng để rụng răng mới chụp hình.

Thời gian đầu mới cất chợ Long Hoa, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc có dạy hai ông Phạm Văn Út và Chơn Nhơn Trịnh Phong Cương lo xây cất hai mươi cái Bar dọc theo hai bên đường ở cửa Một, chạy dài về Báo Quốc Từ, mỗi cái hai tầng, vuông mỗi bề 4 mét, bốn mặt đều bằng kiếng xinh đẹp, đặt cách xa nhau chuyên để bán đồ chơi trẻ em, bông hoa, trái cây…v.v... Các bar nầy dành cho người nghèo có nơi mua bán sinh sống, hoặc gia đình Chức sắc, tín đồ đang hiến thân công quả nhà nghèo được giúp đở sinh sống qua ngày. Khi bớt khổ, giao lại cho người nghèo khác. Cứ tiếp nối như vậy. Hội Thánh cấm tuyệt không được mua bán, sang nhượng hay lưu giữ lâu dài tài sản nầy.

Trong dịp Khánh thành Chợ cũ Long Hoa ngày 5 tháng 6 năm Tân Mão (1951), Đức Hộ Pháp Ban Phép Lành và Trấn Thần ngôi chợ, Ngài có nói rằng: Ngày giờ nầy, tuy là nhìn thấy cái chợ thô sơ, nhưng rồi đây nó sẽ bành trướng rộng rãi hơn, long trọng hơn mà chắc chắn con cái Đức Chí Tôn không bao giờ ngờ như thế, nhưng Bần Đạo dám quả quyết nó phải có và nhứt định có, vì cái chợ Chuyển Thế và huyền diệu Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn đã định vậy.

Sau đó trong cuộc lễ Khánh thành Văn Phòng Ban Quản Trị Long Hoa Thị, Đức Hộ Pháp cũng có nhắc đến Chợ Long Hoa như sau: Hôm nay sau chỉ có hai năm Qua còn nhớ lại, khi Qua ra khỏi nhà Tịnh Trí Huệ Cung, về nơi đây Qua ban phép lành nơi Chợ Long Hoa là ngày mồng 2 tháng 5 năm Tân Mão khởi sự làm Chợ Long Hoa thì tháng 7 năm Tân Mão cho tới tháng 7 này thật ra chỉ có 2 năm mà thôi. Mấy em coi cái đức tin của con người, nếu mà nhơn loại trụ cả đức tin lại làm một khối thì không có gì mấy em làm không đặng, Qua vẫn biết cả cái sự nghiệp kinh dinh do tinh thần hoạt bát của mấy em, làm cho Qua được hưởng hạnh phúc trước mắt, cái đền ơn rất trọng hậu của mấy em đối với Qua đó vậy.

 

 

 

 

BÁO QUỐC TỪ

Báo Quốc Từ 報 國 祠 là Đền thờ những vị có công lớn với Quốc gia và dân tộc Việt Nam. Báo Quốc Từ được Đức Hộ Pháp cho xây dựng vào ngày 01 tháng 01 năm 1955 cách cửa Bắc Chợ Long Hoa hơn hai trăm thước, nằm giữa Đại lộ từ Toà Thánh đến chợ Long Hoa. Nếu du khách viếng Tòa Thánh muốn đến Chợ Long Hoa thì phải đi ngang Báo Quốc Từ, một ngôi Đền uy nghiêm và lộng lẫy nằm trên trục giao thông được gọi là “Lộ Báo Quốc Từ”.

Ngôi Báo Quốc Từ nầy được xây dựng theo hình lục giác đều, hai mặt trước sau có cổng, quay dọc theo chiều lộ, trước mỗi cổng đều có đắp nổi bằng chữ Nho vào hai trụ cổng đôi liễn như sau:

保 守 基 圖 英 雄 揚 氣 魄

Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách.

護 持 國 運 志 士 顯 威 靈

Hộ trì Quốc vận chí sĩ hiển uy linh.

Dịch nghĩa:

Bảo thủ cơ đồ, người anh hùng nêu cao khí phách,

Hộ trì vận nước, người chí sĩ hiển lộ oai linh.

Đôi liễn trên do Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức thuộc chức sắc Hiệp Thiên Đài chi Pháp đặt ra.

Bên trong Báo Quốc Từ, nơi chánh điện có một bài vị viết bằng chữ Nho ở giữa hàng chữ lớn: “Hùng Vương Quân Chi Thuỷ 雄 王 君 之 始” để thờ Quốc Tổ Hùng Vương.

Hàng bên phải “Cứu Quốc Công Thần 救 國 功 臣”, để tôn vinh những bậc có công với Đất nước.

Và hàng bên trái là “Chiến Sĩ Trận Vong 戰 士 陣 亡” để thờ các chiến sĩ tử trận vì quốc gia dân tộc.

Ngoài ra, nơi Bàn thờ còn có các linh vị sơn son thếp vàng đề tên của các vị vua nhà Nguyễn có tinh thần yêu nước, chống Pháp đô hộ như: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân và nhà cách mạng Cường Để. Hai bên Chánh điện có trang trí lỗ bộ và lọng tàn. Phía sau bàn thờ có đề tám chữ Nho: “救 國 功 臣 戰 士 陣 亡 Cứu Quốc Công Thần Chiến Sĩ Trận Vong”.

Hằng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch, ngày Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh cùng toàn Đạo có thiết tại Báo Quốc Từ “Lễ Kỷ Niệm Quốc Tổ Hùng Vương”.

Trong buổi Lễ Khánh Thành Báo Quốc Từ ngày 16 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl. 01/10/1955), Đức Hộ Pháp có nói: “Nơi Đền Thờ nầy, các Ngài đã thấy Linh Vị của mấy vị Cựu Hoàng và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, xin các Ngài đừng lầm tưởng rằng: Đạo đã xu hướng theo thuyết "Bảo Hoàng" mà kỳ thật các Đấng ấy, chỉ liệt vào hàng trung quân ái quốc của xã hội Việt Nam mà thôi.

Vì công nghiệp của họ tranh đấu giải ách lệ thuộc cũng đồng cùng các chiến sĩ cách mạng khác kia vậy.

Tưởng niệm tới Lễ ấy, nên Hội Thánh mới quyết định lập Báo Quốc Từ thờ trọn cả các Vong Linh của các Anh Hùng Chiến Sĩ, Cứu Quốc Công Thần cùng là Trận Vong Chiến Sĩ”…

“Hôm nay các anh linh chư vị anh hùng tiền bối và hậu bối đang ngự trị trong khối Quốc hồn của ta và đang vơ vẫn bên ta.

Giờ phút Thiêng Liêng nầy. Bần Đạo xin cả các Ngài hiệp tâm làm một cùng Bần Đạo thành một khối tưởng niệm duy nhứt đặng cầu xin các Đấng ấy giúp cho nòi giống ta khỏi cơn ly loạn, cốt nhục tương tàn đặng đem hạnh phúc hòa bình lại cho nước nhà và cho toàn thiên hạ”.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh trong Lễ Khánh Thành “Vuông Rào Báo Quốc Từ” có nói: Trên vùng Thánh Ðịa nầy, hôm nay Ðời và Ðạo đã gặp nhau và thông cảm nhau trong dịp tỏ lòng tôn kính và sùng bái những nhơn vật trong hàng vương giả, đã lấy chủ nghĩa quốc gia dân tộc làm chuẩn đích, đem thân thế điểm tô cho non sông Việt chủng được vững bền trên cõi Á Ðông, lắm khi phải trọn đời hy sinh vì giống nòi Hồng Lạc.

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một nền Quốc Ðạo được sáng lập trên đất Nam Phần Việt Nam, nơi mà tinh ba của đất nước đã nung đúc biết bao bậc anh phong chí sĩ, lẽ tất nhiên là Ðại Ðạo có phận sự bảo tồn quốc túy, giữ cho còn mãi những cái hay, cái đẹp riêng biệt của nước nhà hầu lưu truyền cho đời sau roi dấu.

Trong những cái hay, cái đẹp đó đáng treo gương nhất là tinh thần vị quốc xả thân dầu đến thác cũng không đổi dời tiết tháo. Vì muốn tôn thờ cái tinh thần vị quốc ái dân đó, Ðức Hộ Pháp mới có sáng kiến xây dựng ngôi Báo Quốc Từ để làm nơi hương hỏa phụng tự cho các Ðấng Tiên Vương và các nhà tôn thất có dày công với Tổ Quốc Việt Nam. Cái sáng kiến của Ðức Hộ Pháp do nơi lòng ái quốc chơn chính của Ðức Ngài, đã làm cho toàn Ðạo vui lòng và mãn nguyện.

Ngày nay Hội Thánh tiếp tục gìn giữ dấu tích của Ðức Ngài và tô điểm cho nó còn vẻ uy nghiêm mãi mãi. Tuy nói rằng ngôi Báo Quốc Từ để tôn thờ những bậc vương giả hữu công với đất nước, nhưng nước Việt Nam đã thoát vòng lệ thuộc và chính thể hiện tại là chính thể Cộng Hòa thì từ đây ngôi miếu nầy sẽ dành chung để chiêm bái những vị lãnh đạo Quốc gia như Quốc Trưởng, Thủ Tướng chẳng hạn, đã hy sinh vì Tổ Quốc, đã có công đổi loạn ra trị, xây dựng thái bình cho nhơn sanh được hưởng an cư lạc nghiệp. Ðó là những đấng Phụ Mẫu chi dân thật xứng đáng những ân nhân ngàn đời của dân tộc Việt Nam vậy.

Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước trong dịp trùng tu xây hàng rào ngôi Báo Quốc Từ ngày 20 tháng 10 năm Bính Ngọ (Dl. 01/12/1966) có đọc bài Diễn Văn và được trích một đoạn như sau:

Để tô điểm cho Báo Quốc Từ được thêm vẻ tôn nghiêm, nhiều phần tử ưu tú trong vùng Long Hoa đã hoan hỷ chung lo xây dựng bức rào chung quanh ngôi thờ Tiền Nhân Vị Quốc Vong Thân. Ấy là một hành tàng đáng khen ngợi vầ phần vật chất và đáng chú ý về mặt tinh thần là ngộ khi quốc biến gia vong, chẳng luận là người thuộc giới Đạo hay Đời, phải đồng tình làm tròn bổn phận công dân đặng giải nguy cho dân tộc, cho thủy thổ.Chúng ta nên lưu ý rằng không phương mầu nào hơn phương pháp áp dụng đạo đức nghĩa nhân để thức tỉnh thiên hạ quy về chánh pháp của Thiên Thượng thì dầu muốn dầu không khi “Thời lai vận khứ”, thanh bình sẽ phục hưng tạo lại một đời mới với dân mới trong an cư lạc nghiệp. Mong thay!

 

 

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

Cây có cội, nước có nguồn,

Mồng mười giỗ Tổ Đức Hùng Vương.

Hoan nghinh đại nghiệp ơn khai sáng,

Tưởng niệm công trình lập kỷ cương.

Đất Việt địa linh sanh tuất kiệt,

Trời Nam quốc vận mạnh phi thường.

Giang sơn gấm vóc bền chân vạc,

Đảnh tộ Việt thường vững bốn phương.

(Thơ Thân Dân).

 

 

HỌA

Việt chủng vì chưng rõ gốc nguồn,

Đua nhau Giỗ Tổ Đức Hùng vương.

Tiền nhân bố đức khai cơ nghiệp

Hậu đại nhớ ơn dựng thổ cương.

Văn hiến tạo nên còn chói rạng,

Lạc Hồng roi dấu há khinh thường?

Hiềm đang tranh chấp chia bờ cõi,

Cầu nguyện Bắc Nam hiệp nhứt phương.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

 

 

QUYỀN THIÊNG LIÊNG ĐỊNH PHẬN

Năm 1928, trong lúc Cao Thượng Phẩm lo xây dựng các cơ sở Ðạo trong khu Nội Ô Tòa Thánh, Ngài bị bọn người xấu vu cáo Ngài đục tủ hành hương lấy tiền của Ðạo bỏ túi riêng, rồi nhóm côn đồ ở Chợ Lớn dưới quyền của Ông Nguyễn Phát Trước, tục gọi là Tư Mắt kéo về Tòa Thánh, dùng bạo lực xua đuổi Ðức Hộ Pháp và Đức Cao Thượng Phẩm ra khỏi Toà Thánh.

Đức Cao Thượng Phẩm phải trở về đất nhà của Bà Tư Hương Hiếu, bạn đời của Ngài ở xã Hiệp Ninh, thuộc Tây Ninh cất lên một ngôi nhà tranh để an dưỡng và tiếp tục tu hành. Nơi đây các Đấng thường hay giáng cơ an ủi Ngài, vào ngày 12 tháng 6 năm Mậu Thìn (Dl. 28/7/1928), Thất Nương Diêu Trì Cung giáng cơ đặt tên cho ngôi nhà tranh là “Thảo Xá Hiền Cung” và cho đôi liễn như sau:

Thảo Xá tùy nhơn, ngu muội bần cùng nghinh nhập thất,

草 舍 隨 人, 愚 昧 貧 窮 迎 入 室

Hiền Cung trạch khách, thông minh phú quí cấm lai môn.

賢 宮 擇 客, 聰 明 富 貴 禁 來 門

Nghĩa là:

Thảo xá tùy theo người, người ngu muội và nghèo hèn thì đón tiếp vào nhà.

Hiền cung chọn khách, người thông minh và giàu sang thì cấm đến cửa.

Còn Đức Hộ Pháp đang phân vân, không biết phải đi đâu. Ông Đầu Sư Thái Thơ Thanh mới đề nghị Ngài xuống Thánh Thất Thủ Đức tạm lánh một thời gian, vì đó là ngôi Thánh Thất do ông tạo. Đức Hộ Pháp nghĩ cũng tạm được, nên cùng hai người Cao Miên là ông Inh và ông Lễ Sanh Thái Chia Thanh (sau ông Chia đắc phong Phối Sư) lo thu dọn đồ đạc, rồi ba người rời Tây Ninh đến Thánh Thất Thủ Đức.

Khi đến Thánh Thánh Thủ Đức, Ngài không có việc gì để làm cả, hằng ngày chỉ cúng tứ thời mà thôi. Ở đó được một thời gian Ban Cai Quản Thánh Thất đã không tôn trọng Ngài mà càng ngày càng tỏ vẻ xem thường Đức Ngài. Thấy vậy, Ngài chán ngán cho tình đời, quyết định phải ra đi.

Một hôm Đức Hộ Pháp đến nhà ông Thái Thơ Thanh chơi, ông Thơ biết ý Ban Cai Quản muốn đuổi xô Đức Ngài, nên mới ngỏ ý Ngài về vườn cao su của ông làm việc. Đức Hộ Pháp thấy không tiện nên từ chối, Ngài quyết định phải ra đi, vì thấy nơi nầy không xứng đáng cho Ngài ở.

Ngài có ý định đến nhà của một người bạn ở Gò Công là ông Hội Đồng Quản, cũng là người bà con cô cậu với Khai Pháp Trần Duy Nghĩa. Trước khi rời Thủ Đức, Ngài nhờ hai người Miên đến nhà ông Hội Đồng Quản hỏi trước, rồi Ngài sẽ đến sau.

Nhưng quyền Thiêng liêng đã định từ trước khiến cho Đức Hộ Pháp không đi Gò Công được.

Nguyên vào năm 1927, vâng lịnh Đức Phật mẫu, Hộ Pháp cùng với Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu đến làng Phú Mỹ thuộc tỉnh Mỹ Tho tìm mua một miếng đất lập một trang trại, trong đó cất một Thánh Thất, đặt tên là Khổ Hiền Trang, rồi giao cho Giáo Hữu Thượng Minh Thanh làm chủ (Sau nầy Thượng Minh Thanh được thăng lên phẩm Giáo Sư, nên thường được gọi là Giáo Sư Cậu).

Ông Giáo Hữu Minh nghe tin Đức Hộ Pháp bị đuổi khỏi Tòa Thánh lên Sài Gòn, nên ông từ Phú Mỹ lên Sai Gòn để đón Ngài, nhưng không gặp vì Ngài đi Thủ Đức. Ông bèn tức tốc qua Thủ Đức tìm thì gặp Đức Hộ Pháp đang định đi Gò Công. Rõ ràng Thiên cơ huyền diệu định cho Đức Hộ Pháp phải về Khổ Hiền Trang để lãnh hai nhiệm vụ nặng nề và quan trọng sau nầy: Thứ nhứt, tiếp nhận Minh Thiện Đàn là tiền thân của cơ quan Phạm Môn (Phước Thiện), sau đó Ngài hành pháp cân thần và lập Hồng thệ thọ Đào viên Pháp. Thức nhì, vào năm 1930, Ngài hiệp cùng với quý vị trong Minh Thiện Đàn đi giải ếm Long Tuyền Kiếm, do Bát Nương Diêu Trì Cung mách bảo và Lỗ Ban Tiên Sư chỉ dẫn.

Khi Ngài đến Thánh Thất Phú Mỹ, ngay từ đầu đường các tín đồ cũng như các người ngoại đạo hiếu kỳ, nghe tin Đức Hộ Pháp đến, họ chen nhau ra tiếp đón để được thấy mặt Ngài.

Đức Hộ Pháp đến Thánh Thất Khổ Hiền Trang thì nơi đây được sắp đặt trang nghiêm chỗ thờ phượng, bổn đạo đến cúng kiếng đông đảo. Có khi cúng Đức Chí Tôn xong Ngài thuyết đạo, hoặc cầu cơ, nếu có người bịnh yêu cầu, Ngài hành pháp giải bịnh, nhứt là Ngài thường xuyên dạy dỗ nhơn sanh vùng nầy.

Thánh Thất Khổ Hiền Trang trở nên nhộn nhịp cả ngày lẫn đêm, kéo dài gần hai năm, cho đến khi Ngài nghe tin Đức Cao Thượng Phẩm bệnh nặng, Ngài buộc phải về Tây Ninh.

Ở tại Thánh Thất Thủ Đức, Ngài cảm thấy bổn đạo không gần gũi và thân thiện, khi đến Phú Mỹ, Ngài nhận thấy nơi đây mọi người tôn kính và đặt trọn vẹn đức tin nơi Ngài, nên Ngài có lần nói rằng: “Thủ Đức không biết xài ngọc, nên Qua đem ngọc đi. Còn Phú Mỹ biết xài ngọc, nên Qua đem ngọc ban cho”.

Đức Ngài còn kể lại: “Lúc Qua rời khỏi Thủ Đức có làm một bài thi dán tại văn phòng Thánh Thất (1928)”.

Bài thi đó như sau:

Thắng khổ người tu vẫn để lòng,

Ta thua Thủ Đức phải đành dông.

Buồn chưa giỏi đứng trên đầu Rắn,

Vui đã phân minh chí khí Rồng.

Chẳng kể vịt gà chê tiếng Phụng,

Chỉ phiền hồng hộc ghét đuôi Công.

Mở kho nuôi đói đây trề miệng,

Ta quảy hồng ân rải giáp vòng.

 

 

 

 

PHỦ TỪ

Phủ Từ 府 祠, hay Phủ Thờ, là ngôi nhà chung dùng làm nơi thờ phụng tổ tiên của một dòng họ.

Những tín đồ đạo Cao Đài cư ngụ tại Châu Thành Thánh Địa thuộc Tòa Thánh Tây Ninh cùng một Tông tộc, bất kể nam nữ đều hợp chung nhau để mua mảnh đất cất một ngôi thờ tổ tiên dòng họ của mình, gọi là “Phủ Từ”.

Tại chung quanh Châu Thành Thánh Địa hiện nay đã xây dựng được rất nhiều Phủ Từ, như: Phạm Phủ Từ, Lê Phủ Từ, Bùi Phủ Từ, Huỳnh Phủ Từ, Hồ Phủ Từ, Phan Phủ Từ, Võ Phủ Từ, Trương Phủ Từ..v..v

Sở dĩ nhiều Họ tạo Phủ Từ là do lời phê ngày 14 tháng 9 năm Mậu Tý (Dl. 16/10/1948) của Đức Hộ Pháp như sau:

“Mấy em trong cửa Phạm Môn là tông tộc của Phật, tức là tông tộc thiêng liêng. Qua tạo làm kiểu mẫu cho mấy em tạo tông tộc phàm trần, nghĩa là gồm chung bá tánh chung hiệp mỗi họ , hầu lo bảo trọng đạo đức và sanh sống cùng nhau, ấy là quyền sở hữu của mấy em về phần đời, không liên can gì đến đạo, phòng định luật pháp

Phải lo tạo Tổ đường của mỗi họ, rồi tình nguyện bắt thăm, đặng định trật tự lớn nhỏ của các gia đình.

Tổ đình là hương hỏa của Chí Tôn, gắng sức làm cho thành tựu đặng nương nhau mà sống và duy trì kiếng họ”.

Về việc tạo dựng Phủ Từ, Đức Hộ Pháp có dạy như sau: Mỗi họ nên lập một Phủ Thờ. Đó là chơn truyền Nho Tông mà Đạo Cao Đài phô bày để làm nền tảng hình ảnh.

Ngài nói: Đức Giáo Tông mỗi năm sẽ nhóm họp với các vị Chưởng Phủ mỗi họ một lần, để nghe báo cáo các sinh hoạt chung của từng Họ, mỗi Họ sẽ tường trình và yêu sách đến Ngài. Sau đó tùy theo sở hành của từng Họ mà Ngài ban lời phủ dụ, chỉ dạy thêm hoặc có chính sách phù hạp riêng cho từng Họ, đồng thời tìm cách hỗ trợ về mặt tinh thần hay vật chất, nếu Họ đó cần thiết đặc biệt hơn các Họ khác.

Nhân tiện bên cạnh đó, Đức Ngài (Giáo Tông) có cơ hội nhận những hồ sơ bị hàm oan mà tất cả các cấp trên che dấu, áp bức khiến người của nhà Họ đó không phương bào chữa, được Ngài cứu xét, bênh vực.

Lúc đó với tư cách là một người anh cả thương yêu đàn em nhỏ, chứ không phải là tư cách của một Giáo Tông quyền hành, nên Ngài có quyền tự mình giải quyết vấn đề, trường hợp mà Ngài nhận thấy đúng, Ngài dễ quyết bởi không qua đường hành chánh. Đức Ngài trực tiếp với nhà Họ, để phát hiện những điều bất công mà người tín đồ nào đó chịu đựng, tất cả sẽ phơi bày trước mặt Ngài, không ai qua mắt được Ngài, những đứa em út nhỏ nhoi bị khổ não sẽ được Đức Ngài sắp xếp để Ngài đến tận nơi, tận chỗ mà trả lại sự công bằng.

Đây là một điều hết sức hệ trọng trong cửa đạo Cao Đài, nó hay ho vô cùng. Nó giúp cho kẻ dưới không hề sợ bị đàn anh chức sắc lớn ỷ quyền dấu che, áp bức.

Đâu phải vậy thôi, Đức Ngài có quyền kêu gọi kiến Họ giàu, đông đảo lớn mạnh lớn mạnh giúp cho kiến Họ nghèo ít oi nữa mà chớ. Người sanh ra nơi mặt thế, có hàng ngàn Họ, mà tự thấy mình không bơ vơ, khổ não vì mình có dòng họ bảo trợ, Họ của mình tức là Phủ Thờ, là nơi mình đặt niềm tin, để tìm kiếm mà cùng đoàn kết sống.

Thật là một mối an nguy mà chỉ có anh cả Giáo Tông sẽ làm gạch nối trăm Họ bình yên.

Đức Hộ Pháp còn dạy thêm: Việc tổ chức nhà Họ là một bí pháp của Nho giáo để bảo tồn luân lý cang thường, phong hóa và nhân phẩm trong công cuộc trị thế, vì dân Trung Hoa làm mất đi nên sinh ra loạn lạc. Do đó mới bị Thiên điều hành phạt buổi nọ. đó là Phong Thần bảng đó vậy. Nay Đức Chí Tôn gầy dựng lại đem giao cho dân tộc Việt Nam.

Mấy em nghĩ coi, có một đứa mang Họ mình làm nên việc lớn thì rạng rỡ Tông môn. Còn ngược lại, có đứa mang Họ mình hoặc nghèo khổ hoặc làm tội tình chi đó thì cảm thấy xấu hổ, nên dòng Họ đó không dễ gì bỏ rơi đâu, họ tìm cách đem về bảo bộc, giúp đỡ hoặc dạy dỗ cho nên người đạo đức, xứng đáng với truyền thống ông bà chớ. Không có Họ nào bỏ rơi con cháu mình đâu, họ sợ Họ khác chê cười rằng mình thiếu phận lắm, hơn nữa họ cũng sợ Đức Giáo Tông khiển trách.

 

 

 

 

BÁO ÂN TỪ

Nguyên vào năm 1928, tại làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, Đức Diêu Trì Kim Mẫu có giáng cơ ban cho một bài thi và dạy phải lập Đền thờ Phật Mẫu và cất một ngôi Thảo Đường trong vuông đất đó. Bài thi Thảo Đường như sau:

Thảo Đường phước địa ngộ tùng hoa,

Lục ức dư niên vũ trụ hoà.

Cộng hưởng phàm gian an lạc nghiệp,

Thế đăng Bồng đảo định âu ca.

Nghĩa là:

Ngôi Thảo Đường cất nơi phước địa, gặp mối Đạo trời mới mở ra.

Hơn sáu trăm ngàn năm, vũ trụ được yên ổn và hòa bình.

Nơi phàm gian nhơn loại cùng nhau hưởng cảnh an cư lạc nghiệp.

Cõi thế như cõi Tiên, con người đều được sống thanh bình thịnh vượng.

Sau đó, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho đôi liễn tại Thảo Đường:

THẢO thượng sương phi tiện thị thiên ba chi thắng cảnh.

草 上 霜 飛 便 是 天 波 之 勝 景

ĐƯỜNG tiền nguyệt chiếu thậm quang địa thới thị đăng tiên.

堂 前 月 照 甚 光 地 泰 是 登 仙

Nghĩa là:

Trên cỏ sương bay tựa như sóng trời, ấy là cảnh đẹp,

Trước nhà trăng chiếu sáng trên đất thới, nơi lên Tiên cảnh.

Vào thời ấy, ông Đinh Công Trứ là chủ trưởng Minh Thiện Đàn do Đức Lý Giáo Tông thành lập năm 1928. Đến năm 1929, Đức Lý Giáo Tông dạy bàn giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp cai quản. Theo lời dạy của Đức Phật Mẫu, tại làng Phú Mỹ phải lập một Thánh Thất, gọi là Thánh Thất Khổ Hiền Trang, một Sở Thảo Đường trong đó cất một Đền Thờ Phật Mẫu. Do đó, Đức Hộ Pháp bèn giao cho ông Đinh Công Trứ lập Bàn thờ Phật Mẫu nơi sở Thảo Đường. Do chiến tranh. giặc giã khắp nơi, trong khoảng thời gian 1943 đến năm 1945, ông Trứ cùng các bạn Đạo trong Minh Thiện Đàn, phải rời khỏi làng Phú Mỹ tản cư về Tây Ninh lập ra Trường Quy Thiện, Trí Giác Cung, rồi xây dựng Đền Thờ Phật Mẫu trong đó. Đây là nơi thờ Đức Phật Mẫu đầu tiên hết.

Như chúng ta biết, từ khi mới khai Đạo 1926 cho đến năm 1946, Nội Tòa Thánh chưa có Đền Thờ Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp mới mượn ngôi Báo Ân Từ để tạm thờ Phật Mẫu. Nguyên ngôi Báo Ân Từ trước đây là một Đền thờ do Đức Hộ Pháp cho xây dựng tại Nội Ô Tòa Thánh để thờ các bậc Tiền bối có đại công với Đạo và các bậc vĩ nhân có công với đất nước hay nhân loại.

Đền thờ nầy Đức Hộ Pháp nhờ công quả Phạm Môn dở ba căn nhà sở là Sở Dưỡng Lão, Sở Nữ Công Nghệ và Sở Trường Hòa làm bằng cây ván, đem cất thành một ngôi thờ cạnh Hộ Pháp Đường, dùng làm Báo Ân Từ. Phía trước ngôi thờ có dựng một cái cổng lớn, hai bên có đôi liễn khoán thủ hai chữ “Báo Ân”, giải thích ý nghĩa của Báo Ân Từ:

報 得 聖 名 香 火 千 秋 奉 祀

Báo đắc thánh danh hương hỏa thiên thu phụng tự

恩 遺 世 代 威 靈 萬 古 留 存

Ân di thế đại uy linh vạn cổ lưu tồn.

Nghĩa là:

Báo đáp các bậc Thánh, lửa hương ngàn năm thờ phụng

Ân sâu lưu lại đời đời, oai linh muôn thuở tồn tại.

Vào năm 1933, Hội Thánh khởi công xây dựng ngôi Đền Thánh bằng vật liệu nặng với bê tông cốt sắt, nên ngôi thờ cũ bằng cây ván được dở bỏ và quả Càn Khôi dời về tạm thờ tại Báo Ân Từ.

Đến năm 1946, Đức Hộ Pháp từ Hải đảo Madagascar trở về, Ngài mới tổ chức cuộc lễ long trọng, có sự tham dự của Chức sắc lưỡng đài cùng toàn thể chức sắc và tín đố để rước Linh vị Phật Mẫu từ Trí Giác Cung về Tòa Thánh.

Lộ trình đưa Linh vị Đức Phật Mẫu từ Trí Giác Cung Địa Linh Động theo đường Bàu Sen qua Sân Cu rồi vô Tòa Thánh. Linh vị của Đức Phật Mẫu rước về được thờ tạm tại “Khách Thiện Từ”, một ngôi nhà do Hộ Pháp cho làm bằng cây ván lợp tranh nằm trên khoảng đất trống sau cơ quan Hiệp Thiên Đài hiện nay.

Đến năm 1947, sau khi Hội Thánh xây dựng xong ngôi Đền Thánh và dời Quả Càn Khôn tại Báo Ân Từ về Đền Thánh thờ tại Bát Quái Đài, thì Linh vị của Đức Phật Mẫu một lần nữa được làm lễ long trọng, có Hội Thánh lưỡng đài và chức sắc tín đồ tham dự đông đảo để rước từ “Khách Thiện Từ” về Báo Ân Từ thờ cho đến ngày nay.

Vì thế, Đền Thờ Phật Mẫu tại Nội Ô Tòa Thánh, được Đức Hộ Pháp dùng ngôi Báo Ân Từ tạm thờ Đức Phật Mẫu, nên Đền Thờ nầy còn gọi là “BÁO ÂN TỪ”.

 

 

 

 

THẠCH SÙNG VƯƠNG KHẢI

Thạch Sùng 石 崇 người đời Tây Tấn, tên chữ là Quý Luân, hiệu là Tề Nô, ông có tư chất thông minh, nhiều mưu trí ngay từ thuở nhỏ. Cha ông là Thạch Bào, lúc gần chết, chia gia tài cho các con thì Thạch Sùng được phần ít nhất. Bà vợ thấy vậy hỏi chồng: Tại sao không chia đều cho các con?

Thạch Bào đáp: Tuy bây giờ chia cho nó ít, nhưng ngày sau nó sẽ giàu hơn mấy đứa kia gấp bội.

Năm 20 tuổi, Thạch Sùng nhờ tài năng nên được bổ làm quan lệnh Tu Vũ, rồi sau đổi ra làm Thái thú Thành Dương. Đến đời Tấn Vũ Đế, Thạch Sùng làm Thứ sử Kinh Châu, kiêm chức Hiệu úy Nam man. Nhờ tư thông với giặc cướp, cướp của những người đi buôn, nên chẳng bao lâu, Thạch Sùng trở nên đại phú.

Thạch Sùng cất một biệt thự rất tráng lệ ở Lũng Kim Cốc dành cho người thiếp yêu, xinh đẹp là Lục Châu ở và cùng với các bạn là Vương Khải, Dương Tú thường hội họp tại đây để ăn uống, chơi bời xa xỉ, nổi tiếng là nhân vật giàu có nhứt đương thời.

Trong triều thời bấy giớ có vị Tướng quốc là Tư Mã Luân tin dùng một gia thần là Tôn Tú.

Tôn Tú nghe nói Thạch Sùng có nàng ái cơ tên là Lục Châu nhan sắc xinh đẹp, lại thêm cầm kỳ thi họa, giỏi múa hát, được Thạch Sùng yêu mến, để ở riêng trên lầu Kim Cốc. Tôn Tú bèn sai sứ đến gặp Thạch Sùng nói: Quan Thị Trung xin ngài đưa Lục Châu tôi rước về dâng cho Tướng quốc.

Thạch Sùng bảo: Không được, Lục Châu là ái cơ của ta, dẫu thế nào cũng không cho bắt.

Sứ phải trở về báo lại với Tôn Tú. Tôn Tú nghe qua cả giận, bèn vào bẩm với Tư Mã Luân: Thạch Sùng, Phan Nhạc có ý phản, ỷ thế giàu có âm mưu làm loạn, nếu bây giờ không trừ, sau hối không kịp.

Tư Mã Luân nói: Nếu thế thì cứ bắt nó giết đi.

Tôn Tú được lệnh, đem 200 quân đến vây nhà Thạch Sùng vào bắt nàng Lục Châu. Lục Châu nhảy từ lầu cao xuống đất tự tử, không chịu về với Tôn Tú. Rồi quân lính bắt Thạch Sùng giải đến pháp trường xử tử. Thạch Sùng bị chém chết, gia sản bị tịch thu. Năm đó ông 52 tuổi.

Tương truyền, Thạch Sùng sau khi bị giết chết hoá ra con thằn lằn (thạch sùng), vì tiếc của, nên suốt ngày cứ chắc lưỡi.

Thời bấy giờ ở đất Đông Hải có Vương Khải 王 愷, làm quan đến chức Hậu Tướng quân, có người chị làm Hoàng Hậu, nổi tiếng là giàu có, xa xỉ cũng vào bậc nhứt, thường cùng Thạch Sùng trang sức nhà cửa rất sang trọng và ăn mặc cực kỳ xài phí.

Thạch Sùng và Vương Khải thường bày trò thi của. Thạch Sùng nghe nói Vương Khải lấy mật rửa chảo, Thạch Sùng bèn ra lịnh cho đầy tớ dùng nến đốt lửa thay củi. Việc nầy truyền đi, ai cũng nói Thạch Sùng và Vương Khải vô cùng xa xỉ.

Vương Khải muốn khoe sự giàu có của mình, trên con đường dẫn tới tư dinh, suốt bốn mươi dặm, cho người lấy trướng lụa đem ra trải suốt con đường. Thạch Sùng muốn hơn Vương Khải, cũng đem trướng lụa ra trải, dài được 50 dặm. Vương Khải dùng phấn đá đỏ quét vôi nhà thì Thạch Sùng lại dùng hồ tiêu quét lên vách.

Theo Kho Tàng Truyện Cổ Việt Nam, Vương Khải thường đem vật quý ra đấu phú, đều thua Thạch Sùng, nên mới dùng kế đem nồi bể ra thi đấu. Thạch Sùng không có, Vương Khải nhờ đó mà được thắng.

Trong đạo Cao Đài, bài phú “Giác Mê Khải Ngộ”của Đức Lý Giáo Tông có đoạn viết:

Kìa Bá Di, Thúc Tề, mượn cảnh không dứt rồi mối tệ,

Nọ Thạch Sùng, Vương Khải, cũng danh tiếng ai có kể ra gì?

Khách lánh trần sẵn đuốc Tạo Hóa kíp lần đi

Đường Chánh đạo hiệu vô vi cứu khổ.

Thương lấy cõi trần gian chịu cơn cháy mày mà nhăn nhố,

Bước lạc lầm sao chưa suy độ thẹn hổ với lương tâm,

Tỉnh giấc hồng lánh việc sai lầm,

Tâm thần định, thấy Đạo trời, dầu câm đều nói được.

 

 

 

 

HỘ PHÁP TRỤC YÊU TINH

Câu chuyện xảy ra vào một ngày Đức Hộ Pháp cùng một phái đoàn Hội Thánh gồm quý vị Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh, Nữ Phối Sư Hương Hiếu cùng đi dự Lễ Khánh Thành một Thánh Thất ở một huyện thuộc tỉnh Long An. Thánh Thất nầy nguyên là nhà của hai ông Chánh Trị Sự đều là Hương Cả hiến cho Đạo để dùng làm ngôi Đền Thờ Đức Chí Tôn.

Sau cuộc Lễ Khánh thành, đồng đạo ở đây tỏ ra quý mến Đức Hộ Pháp và có ý muốn cầm chân Ngài để nhờ giúp một việc gì đó mà không dám trình bày. Ông Chánh Trị Sự đứng ra thay mặt cho mọi người thuật lại lời yêu cầu của bổn đạo nơi đây muốn Đức Ngài cứu giúp cho một người đàn bà bị bịnh rất lạ, đã lâu rồi mà không hết.

Đức Hộ Pháp nhận lời. Ngài để phái đoàn Đạo về trước và cử ông Chánh Trị Sự theo bà Nữ Phối Sư Hương Hiếu về nhà lấy cây Baton của Ngài xuống gấp để Ngài sử dụng trong việc trị bệnh.

Khi ông Chánh Trị Sự đã trở về, Đức Ngài mới tìm hiểu căn nguyên và triệu chứng bịnh của người đàn bà thì được thuật lại câu chuyện như sau: Nguyên người đàn bà bị bịnh và ông chồng chuyên làm ruộng, nhà nghèo, nhưng tánh hai vợ chồng rất siêng năng, thiệt thà. Hai ông bà có một miếng ruộng dưới triền bưng ngập nước. Khi ông ra ruộng thì bà ở nhà lo dọn dẹp, cơm nước, cơm xong bà quảy ra để chỗ gò cao ráo, chờ chồng lên ăn, còn bà ngồi chờ dưới bóng cây râm mát. Chồng ăn xong bà mới quảy đồ về nhà.

Một hôm, như mọi ngày, bà đem cơm ra ruộng rồi kêu chồng lên ăn. Bà thấy chồng bà từ dưới ruộng đi nhanh lên, thay vì đến chỗ ăn cơm, ông lại đến chỗ bà đè bà xuống ân ái, rồi bỏ đi mất.

Chập sau, bà lại thấy chồng từ dưới ruộng đi lên, đứng xa trông thấy lần nầy chồng bà đứng rửa tay, rửa chân như mọi khi, rồi đến chỗ để cơm, lấy ra ăn. Bà nghĩ chuyện vừa rồi bắt hốt hoảng, không dám thố lộ với chồng mình vì nghĩ rằng chuyện quái gỡ, hoang đường.

Thế rồi, người đàn bà càng ngày càng xanh xao tiều tụy, bụng cứ mỗi ngày một lớn dần lên, tưởng rằng có thai song đến ngày mà không sanh. Bà đành phải thuật lại chuyện đã xảy ra trước đó cho chồng nghe, chồng bà cho rằng chuyện hoang đường, không thể tin. Nhưng ông cũng tìm đủ thầy, đủ thuốc để trị bịnh cho vợ, ai chỉ thầy bùa, thầy pháp ở đâu giỏi, ông cũng mời về để trị cho vợ song không hết, mỗi ngày một nặng thêm.

Đức Hộ Pháp nhìn người đàn bà thấy xanh xao, vàng vọt, Ngài bảo dẫn bà ấy xuống dưới ghe, cho ghe vào giữa đoạn sông, có cây cầu bắc ngang. Đoạn Đức Hộ Pháp đứng trên bờ, Ngài chỉ cho ghe đâm mũi ghim ngay bờ dưới chân cầu, còn người bịnh năm ngửa trên ghe. Xong Ngài bắt đầu hành pháp. Ngài cầm cây Baton đứng trên cầu vẽ trên bụng người bịnh, rồi Ngài dơ cao lên, quất mạnh một cái xuống đất. Người bịnh cong mình ễnh lên rồi nằm xuống thật mạnh. Mọi người nhìn thấy cả kinh, vì thấy rõ ràng từ bụng người đàn bà ấy chạy thoát ra một con vật, phóng lên bờ chạy mất dạng (có người xem thấy giống như con kỳ đà). Ngay lúc đó người đàn bà bụng hết to, trong người thấy nhẹ nhàng, khoan khoái. Đức Hộ Pháp cho biết đó là một loại yêu tinh, Ngài không muốn sát hại nên tha cho nó đi. Sau đó Ngài trở về Tòa Thánh.

Theo lời người dân trong xóm cho rằng bịnh của người đàn bà khó hết, nên mọi người thương tình cho hoàn cảnh ông đã hết tình lo cho vợ. Nhưng không ngờ, vợ chồng lại may mắn nhờ có Đức Hộ Pháp dùng huyền diệu thiêng liêng trị bịnh cho, Ngài đuổi được yêu tinh trong bào thai ấy, nên từ đó người đàn bà hết bịnh, hai vợ chồng sống hạnh phúc với nhau. Sau cả hai đều nhập môn vào Đạo hết.

 

 

 

 

ĐỨC HỘ PHÁP HÀNH PHÁP GIẢI BỆNH

Năm 1927, Đức Hộ Pháp cùng một vài vị chức sắc có việc phải đi trên đoạn đường đi từ Nam Vang ra ngoài vùng ngoại ô. Xe chạy qua một đoạn đường dài ngon trớn thì tự nhiên tắt máy, phải dừng lại trước một ngôi nhà khá sang trọng để sửa chữa chiếc xe. Chủ ngôi nhà là một người đàn bà, thấy trời trưa nắng gắt gao, nên cho người ra mời Đức Hộ Pháp và phái đoàn vào nhà nghỉ ngơi, giải khát. Đức Ngài cùng một số Chức sắc theo người vào nhà, còn lại một vài người ở ngoài sân để sửa xe.

Khi bước vào trong nhà, Đức Ngài thấy sắc diện người đàn bà xanh xao, thân hình gầy ốm, gương mặt mất thần, Đức Ngài biết ngay là một bệnh có quan hệ với người ở cõi Âm.

Sau khi hỏi thăm đôi điều, Đức Ngài bèn ngỏ lời hỏi người đàn bà: Thưa bà, dường như Bà đang bị bệnh, thuốc thang đã dùng nhiều rồi mà chưa khỏi. Người đàn bà nhìn Ngài e ngại chẳng đáp. Ngài lại tiếp: Bà đừng ngại, cứ nói thật đi, nếu giúp được bà, tôi sẽ cố gắng giúp cho.

Nghe xong, Bà chủ nhà hết sức ngạc nhiên, thầm nghĩ sao mà Ngài đoán được. Người đàn bà ngồi suy nghĩ thật lâu, rồi như có một niềm tin mãnh liệt, Bà mới nói thật rằng: Thú thật, tôi có chồng là một người Pháp đã chết, nhưng thường đêm ông lại về ăn ở với tôi, cho nên tôi càng ngày càng gầy ốm xanh xao, thuốc thang gì cũng không hết, mà cũng không thầy nào trị được.

Đức Hộ Pháp nghe xong liền nói: Được nếu thật như vậy, tôi có thể giúp cho bà. Bà hãy sắm cho tôi một bình bình bông và một tô nước lạnh, dọn sẵn lên bàn, ngoài ra không còn gì nữa. Người chủ nhà làm y như lời Ngài dặn.

Sau đó Đức Ngài đến nơi bàn hành pháp, lịnh cho vong linh ông chồng về nói chuyện cùng Ngài bằng tiếng Pháp.

Đức Ngài nói chuyện với vong linh: Bạn là người dân của một nước văn minh, sao lại làm như vậy? Việc chồng vợ ở đời ai cũng thế, sống chung nhau cho đến hết nghiệp thì thôi. Có đâu bạn đã bỏ xác rồi, sao không lo cho con đường siêu rỗi phần hồn mà lại nuối tiếc, vấn vương với người còn sống, chẳng lấy gì làm tốt đẹp chút nào, phải khiến người sống vì bạn mà phải đau bệnh khổ sở. Bạn chết đã yên phận mình, còn đeo đuổi làm chi cho lụy người sống vậy. Từ đây hãy nghe lời tôi, đừng gần gũi với vợ nữa, hãy để cho người ta được tự do mà định phận mình, còn bạn thì định phận cho bạn nơi Tam Kỳ Phổ Độ có hơn không?

Nói xong Đức Hộ Pháp lấy nhánh bông nhúng vào tô nước, rải lên đầu Bà chủ nhà. Sau khi hành pháp rồi, chưa biết được kết quả bệnh tình của Bà chủ nhà, thì xe cũng vừa sửa chữa xong, Đức Ngài cùng phái đoàn phải từ giã chủ nhà ra đi.

Một thời gian sau, trên đường về Việt Nam, Ngài có ghé lại thăm người đàn bà ấy. Bà chủ nhà gặp lại Đức Ngài mừng rỡ vô cùng, đón tiếp Ngài thật là chu đáo.

Bà vui vẻ nói với Đức Ngài: Kể từ lúc Thầy trị bịnh rồi đi chồng tôi không có về nữa. Bịnh tôi đã khỏi hẳn, sức khỏe đã được hồi phục như bình thường. Tôi xin lạy tạ Thầy để đền đáp công ơn đã cứu mạng. Và bà nói tiếp: Tôi biết Thầy là nhà tu hành nên mới có quyền năng với người đã chết. Tôi không biết lấy chi để đáp lại công ơn, nếu là tiền của chắc là thầy không nhận. Tôi xin tặng thầy một quyển sách. Đối với tôi thì không hữu ích, nhưng nói đối với chồng tôi thì quý giá vô cùng. Chồng tôi thường xem sách ấy và nói rằng chỉ có giới quý tộc mới có mà thôi. Chồng tôi cũng thuộc dòng quý tộc. Vậy chồng tôi đã chết, quyển sách nầy để đây không hữu dụng, tôi xin tặng Thầy làm vật kỷ niệm, biết đâu sẽ hữu ích cho thầy. Đức Hộ Pháp nhận sách rồi kiếu từ người đàn bà.

Về sau, Đức Hộ Pháp có cho biết: Chuyện gặp và trị bịnh cho người đàn bà có lẽ do sự sắp xếp của thiêng liêng, nên mới có được quyển sách quý. Quyển sách ấy đã giúp Ngài hiểu rõ về xã hội Pháp, hiểu rõ mọi sinh hoạt của giới quý tộc và người bình dân. Cho nên khi Đức Ngài Âu du năm 1954 đến nước Pháp, Ngài rất được người Pháp kính nể. Vì trước mắt họ, một người Việt gốc Á vô cùng lịch lãm, thông hiểu mọi việc về nước Pháp. Vì vậy Đức Hộ Pháp đã để lại một ấn tượng tốt đẹp đối với người Pháp.

(Chuyện do một người Phạm Môn Phước Thiện kể lại).

 

 

 

 

HỘ PHÁP HÀNH PHÁP TRỊ BỊNH CHO MỘT NHẠC VIÊN

Ông Đốc nhạc, cai quan Ban nhạc tại Thánh Thất Nam Vang, có kể lại một câu chuyện như sau: Trong Ban nhạc của ông có một em nhạc viên không biết có bịnh gì mà đột nhiên càng ngày càng xanh xao, gầy ốm, xem hình dáng gầy gò, tiều tụy, tinh thần mệt mỏi lắm. Anh em trong Ban nhạc giúp em ấy lo thuốc thang, nào thuốc Đông, Tây y đủ thứ mà không thuyên giảm chút nào, ngày càng kiệt sức hơn. Thầy thuốc bắt mạch không ra bịnh, Bác sĩ chẩn đoán không ra chứng, đang trong tình trạng nguy kịch.

Thấy nhân viên mình mang bịnh trầm trọng như vậy, ông Đốc nhạc đành phải trình báo lên Đức Hộ Pháp để tìm phương giải quyết. Đức Ngài nghe báo bèn kêu người dẫn xuống Ban nhạc để thăm vị nhạc viên nầy xem tình hình như thế nào. Khi được dẫn tới văn phòng, nhìn quang cảnh, Ngài liền nói: Rồi! Nữa rồi! Mọi người nghe vậy, không biết là Ngài nói gì, nhưng không dám hỏi.

Đức Hộ Pháp quay qua hỏi ông Đốc nhạc: Em đó nằm đâu?. Ông Đốc nhạc dẫn Ngài đến một cái giường nằm sát vách ngăn giữa nhà trên và nhà dưới, rồi ông nói: Thưa Thầy, em nó nằm đây.

Khi đến nơi, anh em đỡ vị nhạc viên ấy ngồi dậy, Đức Ngài nhìn thấy sắc diện liền biết nguyên nhân bịnh ngay, nên Ngài nói: Thôi mấy con dìu nó lên Báo Ân Đường làm lễ, rồi qua sẽ trị bịnh cho nó.

Sau khi hành lễ xong, vị nhạc viên ấy được Đức Ngài hành pháp giải oan tại Báo Ân Đường.

Kể từ ngày đó ba ngày sau, vị nhạc viên từ từ phục hồi lại khí sắc, thần lực và mạnh khỏe lại như thường. Vị nhạc viên và mấy người trong Ban nhạc dẫn nhau đến Báo Ân Đường lạy tạ ơn Đức Ngài.

Đức Hộ Pháp hỏi em nhạc viên: Hổm nay, con còn thấy gì nữa không?

Vị nhạc ấy trả lời: Da thưa, không còn thấy gì nữa.

Ngài cười, rồi bảo ông Đốc nhạc: Ngày mai em cho mời hết anh em trong Ban nhạc có mặt đầy đủ tại văn phòng cho Qua làm việc.

Qua ngày sau, Đức Hộ Pháp đến văn phòng Ban nhạc thì anh em trong Ban nhạc đã có mặt đầy đủ để Đức Ngài dạy việc.

Đức Ngài nhìn thấy tại Văn phòng có treo một bức tranh hình nữ minh tinh màn bạc nổi tiếng, cũng là hoa hậu thời bấy giờ tại Miên quốc, được biết cô gái ấy bị tai nạn giao thông chết trong lúc còn xuân sắc.

Đức Ngài chỉ bức tranh đó và hỏi các anh em trong Ban nhạc: Qua hỏi thiệt mấy em, chớ tại sao mấy em treo bức ảnh cô gái nầy tại văn phòng? Các em có thường nói đùa, giỡn với bức ảnh đó không?

Mọi người nhìn nhau, vị nhạc viên bị bịnh nhớ lại chuyện nói đùa lúc trước, không dám giấu Ngài, bèn đứng dậy thưa: Bạch Đức Ngài, có một hôm anh em tụ họp đông tại văn phòng, ai nấy đều khen bức tranh ấy đẹp, trầm trồ ca ngợi không ngớt. Con có nói đùa rằng: Phải chi mà nàng ấy nhận làm vợ mình thì mình ưng chịu liền.

Đức Hộ Pháp nói: Cũng bởi câu nói ấy mà mỗi đêm con ngủ với nàng ấy phải không? Tất cả anh em trong Ban nhạc nhìn anh ấy cười rộ lên.

Đức Ngài bèn dạy: Qua nói cho mấy em biết, đừng có nói giỡn chơi với những người vô hình. Nếu nói thì phải nhận chịu, không bao giờ sai chạy. Như người con gái trong bức tranh nầy là một điển hình đó. Thôi con gỡ bức tranh cô gái nầy đốt đi, Qua chứng cho. Đừng có thấy hình đẹp mà tiếc không nên đâu.

Sau đó khi đốt xong, Đức Ngài cho anh em Ban nhạc giải tán.

(Theo lời kể lại của ông Nhạc Sư Trần Thiện Niệm).

 

 

 

 

THANH TÂM TÀI NỮ

Trước ngày khai nền Đại đạo, các chơn linh cao trọng có nhiệm vụ xuống thế độ đời thường tìm cách giáng cơ dạy đạo cho chúng sanh, trong đó có Bà Thanh Tâm Tài Nữ, một vị Tiên Nương nơi Diêu Trì Cung cũng giáng dạy nhiều về giáo lý từ năm Mậu Thìn 1928 đến năm Quý Dậu (1933).

Theo Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp với đề tài “Kiếp Duyên và Kiếp Quả về Thanh Tâm Tài Nữ”, Ngài cho biết: Cô đầu kiếp tại Việt Nam, mất lúc 18 tuổi tại bãi biển Vũng Tàu. Khi được cứu rỗi về Cung Diêu Trì, Cô được lịnh Phật Mẫu dạy hiệp cùng Cửu Vị Tiên Nương giáng cơ dạy Đạo trong Trường Quy Thiện của Diêu Trì Cung lập tại Thảo Đường.

Qua lời kể lại của các vị tiền bối đạo Cao Đài, Bà Thanh Tâm Tài Nữ, tiền kiếp là một vị Nữ Tiên ở Cung Diêu Trì, có một kiếp giáng trần tại Việt Nam bị chết chìm nơi bãi biển Vũng Tàu ngày 5 tháng 4 năm Đinh Mão (Dl. 17/5/1927), được các vị chức sắc đương thời hành lễ tang và dâng sớ cầu xin Đức Phật Mẫu cứu rỗi cho chơn linh Bà.

Sau đó Đức Phật Mẫu có giáng cơ cho biết Bà Thanh Tâm đã được cứu rỗi trong một bài Thánh giáo năm Đinh Mão, có đoạn dạy như sau: Thiếp chứng lòng thành kỉnh và đạo đức của chư đạo hữu. Vả lại, Thanh Tâm có căn trước, nên thiếp vì chư đạo hữu mà cứu rỗi cho chơn linh của nó trước ngày mãn hạn. Vậy Thiếp đem chơn linhThanh Tâm về Diêu Trì Cung nghe kinh và học đạo đủ một trăm ngày cho chơn thần hườn nguyên, hườn nguyên rồi sẽ cho xuống hầu chuyện cùng chư đạo hữu.

Thế là sau đó Bà Thanh Tâm Tài Nữ có giáng cơ vào Ngày 4 tháng 3 năm Mậu Thìn (Dl. 23/4/1928). Bài Thánh giáo đó được trích trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau:

THANH TÂM

Mừng mấy anh.

Ðạo mở rộng, giống Ðạo gieo đã trót hai thu, mà người thiệt vì Ðạo chẳng có bao nhiêu. Thế nên hồi chưa mở rộng nền Ðạo, Ðức Thích Ca dòm vào thế cuộc mà than rằng:

Lộ vô nhơn hành,

Ðiền vô nhơn canh,

Ðạo vô nhơn thức,

Ta hồ tận chúng sanh!

Ba anh có hiểu chăng?

Sao gọi là: Lộ vô nhơn hành?

Ðường có người đi nhiều mà không ai là người phải, đường đi dập dìu thiên hạ mà toàn là ma hồn quỉ xác, tâm giả dối, hạnh hung bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người!

Còn Ðiền vô nhơn canh là sao?

Ruộng đây là tỷ với Tâm, Tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Ðiền, có Ðiền mà chẳng cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột thì ruộng tất phải bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít xen vào ẩn trú.

Người mà có Tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu đặng cho buổi gặt hưởng nhờ mà không chịu làm, thế thì phải diệt tận chơn linh.

Cho đến năm 1933, vì nhơn duyên của Bà còn phải nặng nợ với chúng sanh, nên Bà lại đầu kiếp qua Anh Quốc. Trước khi đi Bà có đến từ biệt Đức Hộ Pháp trong một Đàn cơ ngày 12 tháng 1 năm Quý Dậu (Dl. 8/2/1933). Bài Thánh giáo đó như sau:

THANH TÂM TÀI NỮ

Mừng mấy anh, mấy chị,

Em sẽ tái kiếp Hồng mao, nên đến từ tạ.

Ðức Phạm Hộ Pháp hỏi: Sao em đầu kiếp xa vậy?

- Vì em có nhơn duyên nơi nước Anh. Em đầu kiếp xuống đây để đứng ngả ba đường đón Ðức Chí Tôn. Nếu có quên, nhờ quí anh nhắc, thức tỉnh em nhớ.

Em đã nói trước với quí anh rồi, có lạ chi dòng luân luân chuyển chuyển mà da díu bận lòng. Em đến giúp nên cơ Ðạo đặng báo nghĩa cho Chí Tôn.

Em nghe Chí Tôn nơi nầy, chạy theo nơi nầy không gặp. Em nghe nói nơi khác, chạy nơi khác, cũng không gặp.

Hỏi ra thì em khiếm khổ hạnh nên khó phép thấy Người, nên quyết luân hồi chịu khổ hạnh hầu gặp cho đặng, kẻo ức. Thương quá đỗi thương mà chưa từng thấy mặt.

Thưa mấy chị,

Ðã may duyên gần gũi hình bóng của Người, ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm!

Cái oan nghiệt kiếp sanh đáng ghê sợ chưa bằng không gặp mặt Chí Tôn, vì lẽ ấy mà biết bao nhiêu Tiên, Phật hạ trần chịu khổ.

Xin mấy chị nghe:

 

THI

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,

Ai ai đừng tưởng dễ như chơi.

Nghe danh như chất chồng bên gối,

Cổ Phật không duyên khó gặp Người.

 

 

 

 

TÁI THỦ QUYỀN HÀNH

Tái thủ quyền hành nghĩa là trở lại với chức vụ cầm quyền một lần nữa.

Trong Đạo Cao Đài, như chúng ta biết, hồi mới khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn dự định phong phẩm Giáo Tông cho Ngài Ngô Văn Chiêu, nên trong Đàn cơ ngày 17 tháng 4 năm 1926, Đức Ngài giáng cơ dạy ba ông Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đến nhà Ngô Văn Chiêu bảo ông phải may một bộ Thiên phục Giáo Tông và dạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu lãnh nhiệm vụ may bộ Đại phục đó cho hoàn thành.

Nhưng năm ngày sau, tức là ngày 22 tháng 4 năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ bảo Bà Hương Hiếu như sau: Hiếu! Dâng mão Giáo Tông cho Thầy xem. Trúng, mà ai đội con phòng lật đật.

Ta thấy bài Thánh giáo trên của Đức Chí Tôn đã tiên đoán rằng ông Chiêu sẽ không nhận chức Giáo Tông. Quả thật vậy, sau đó, ông Ngô Văn Chiêu không đến lãnh chức vì ông theo một hướng tu khác.

Do Đạo càng ngày càng phát triển, ngày Khai Đạo cũng gần kề, Để có người điều hành mối Đạo, cho nên ngày 23 tháng 9 năm Bính Dần (Dl. 29/10/1926), Đức Chí Tôn mới giao chức Giáo Tông cho Đức Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm, theo tịch đạo là Thanh, Hương.

Như vậy, vị Giáo Tông đầu tiên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh là Đức Lý Thái Bạch, chính Ngài đã cho biết trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: “Lão hạ mình bỏ quyền Nhứt Trấn lãnh việc GIÁO TÔNG mà lập vị cho đoàn em bước tới”.

Lý Giáo Tông là Đấng vô hình nên khi cầm quyền điều khiển Cửu Trùng Đài hữu hình thì Ngài phải thông qua cơ bút nơi Hiệp Thiên Đài, và trong tình hình nghiêm trọng của nền Đạo do nhà cầm quyền Pháp gây ra, sự đối phó không được mau lẹ, cho nên trong Đàn cơ tại Tòa Thánh ngày 26 tháng 2 nhuần năm Mậu Thìn (Dl. 15/4/1928) do Hộ Pháp Thượng Phẩm phò loan, Hầu bút Phối Sư Thái Bính Thanh, Lý Giáo Tông giáng dạy như sau:

Thái Bính Thanh, Hiền Hữu nói lại với Thượng Trung Nhựt rằng: Lão nhượng trọn quyền Giáo Tông lại cho Người…

Đến ngày 24 tháng 6 năm 1928, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ giải thích thêm về quyết định nầy:

Lão tưởng không cần phải nói thì chư đạo hữu cũng đủ biết rằng: Lão cầm quyền Giáo Tông đặng cũng nhờ nương theo chư đạo hữu mới có phần xác mà hành chánh đặng …Lão dầu để hết tinh thần Thiêng Liêng vào nữa cũng chẳng làm gì. Chi bằng Lão để cho chư hiền hữu dùng hết sức phàm điều đình, chừng nào không đặng cầu đến Lão sẽ hay. Cười….

Như vậy, từ đây Đức Lý Giáo Tông đã tạm giao quyền điều hành Cửu Trùng Đài cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt. Nhờ thế, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt với thể pháp riêng của mình, cùng hợp tác với Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc, mới vững tay lèo lái thuyền Đạo, dần dần trở lại ổn định.

ĐỨC LÝ THÁI BẠCH TÁI THỦ QUYỀN HÀNH.

Cho đến ngày 03 tháng 10 năm Canh Ngọ (Dl. 22/11/1930), Đức Lý Giáo Tông cho lịnh triệu các vị Chức sắc Cửu Trùng Đài về Tòa Thánh hầu lịnh. Hộ Pháp và Bảo Văn Pháp Quân phò loan, Đức Lý giáng dạy:

“Lý Giáo Tông

Chào chư hiền hữu, chư hiền muội. Có Đức Chí Tôn ngự, chư hiền hữu, chư hiền muội khá mừng Người! Lão cảm ơn Thượng Đầu Sư làm vẹn phận sự giúp Lão”.

Thượng Đầu Sư bạch: Đệ tử cùng cả chức sắc đều hết lòng lo lắng, cúi xin Đức Lý Giáo Tông từ bi tái nhậm quyền hành hầu chỉnh đốn nền Đạo.

(….) Đã trót 5 năm để đủ cho cơ đời dạy ngoan chư hiền hữu, chư hiền muội.

Ngày nay Lão định trừ diệt quỷ quyền, không cho rối loạn nền Đạo mà thử thách Thiên phong nữa. Chư hiền hữu, chư hiền muội đã đủ tài lực, đạo đức mà hành chánh rồi, thì Lão cũng nhứt định giữ nghiêm luật pháp. Vậy thì Lão hành chánh, cứ lấy công bình vô tư làm mực thước. Lão chẳng vì thương riêng mà che chở. Lão chẳng vì ghét riêng mà hành phạt. Lão nói thiệt rằng: Đạo vón của toàn cả chúng sanh. Lão chẳng lẽ lấy tư mà làm công cho đặng. Lão phải chấp chánh quyền hành, công thưởng tội trừng cho đáng lý. Chẳng phải bởi ngửa nghiêng Cơ Đạo mà buộc Lão tùng đời, Lão lấy quyền vô vi Càn Khôn làm biểu hiện. Lão chỉ vì tình nhau mà cho chư hiền hữu, chư hiền muội biết trước rằng: Đừng ỷ công mà cả lòng khi lịnh. Lão nhứt định chẳng hề tha thứ bao giờ, nên thì để, hư thì trừ. Chư hiền hữu, chư hiền muội đừng trách Lão quá ư nghiêm khắc nghe!

Hộ Pháp! Lão dùng văn chương thường dụng của nhà Nam đặng làm mẫy Đạo Nghị Định nầy. Hiền hữu gắng để ý hết vào, xem xét coi như chánh đáng thì ký tên cùng Lão đặng ban hành. Phòng có điều chi trở ngại cho Lão hiểu đặng toan sửa cải nghe”.

Tóm lại, sau thời gian nhượng quyền Giáo Tông kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1928 cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt dụng cơ đời, tài lực, để hành chánh, nay Ngài Đầu sư đã làm vẹn phận sự, đến ngày 22 tháng 11 năm 1930 Đức Lý Giáo Tông Tái thủ quyền hành trong thời gian ngắn để cùng với Đức Hộ Pháp ban hành sáu Đạo Nghị Định quan trong. Trong sáu Đạo Nghị Định nầy, Đạo Nghị Định thứ Nhì. Đức Lý Giáo Tông ban quyền Giáo Tông về phần xác cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt.

Điều thứ Nhứt của Đạo nghị Định Nhì ghi rõ: Ban quyền hành cho Thượng Đầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Giáo Tông về phần xác, còn phần thiêng liêng có Lão.

Kể từ rằm tháng 10 năm Canh Ngọ (1930), Ngài Thượng Trung Nhựt mới chánh thức đảm nhiệm chức quyền Giáo Tông. Ngài đã giữ phẩm vị nầy đến lúc Ngài đăng Tiên.

Trong Đàn cơ ngày 04 tháng 11 năm Canh Ngọ (Dl. 24/12/1930) Đức Lý giáo Tông cho một bài thi tứ tuyệt và một bài Thánh giáo dạy như sau:

Cửu tử kiêm triêu đắc phục huờn,

久 死 今 朝 得 復 還

Hạnh phùng Thiên mạng đáo khai Nguơn.

幸 逢 天 命 到 開 元

Thế trung kỵ tử hà tri tử,

世 中 忌 死 何 知 死

Tử giả hà tồn, chủ Tịch Hương?

死 者 何 存 主 籍 香

Lão đã mang một cảm tình rất nặng cùng chư hiền hữu, hiền muội rồi đó. Lão là người đã đứng ngoài vòng thế sự hèn lâu, nên đòi phen bợ ngợ, phải tìm tàng lượng tri lý mỗi người, ôi! nghĩ nên rất khó!

Vì khi nãy, Lão thấy con cái Chí Tôn đông đảo dường ấy, may là một nước Việt Nam chưa đủ trọn mà dường nầy, ngày nào Ðạo đã truyền bá toàn trong nhơn loại, trọn khắp ngũ châu, mới sao nữa!

Ngán thay cho cái trách nhậm nặng nề, vì trót đã hứa lời cùng Từ Bi ra tế độ, hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị lấy em mặc dầu, chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa.

Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ tà tâm toan dạy dỗ; còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích.

Tâm Thánh là ngôi vị của Ðấng thiêng liêng, không lo trau giồi thì cũng còn tự nhiên vì vẻ đẹp, còn vẻ đẹp thiên nhiên đã mang nặng thi hài nơi khổ cảnh nầy mà không mất thì đoạt vị đã đặng rồi, lại cần ai nâng đỡ.

Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ.

Chư hiền hữu, chư hiền muội xem trong năm Khai Ðạo, biết bao khổ não truân chuyên. Lão, vì đã thấy rõ, nên không nỡ ngồi an xem cơ thắng bại. Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư hiền hữu, chư hiền muội, mà chia bớt khổ tâm.

Lão chẳng phải sợ, vì chưa có quyền hành hữu vi nào mà phạm đến Lão đặng, chỉ sợ giùm cho chư hiền hữu, chư hiền muội mang nặng thi phàm, mà chịu cường quyền đè nén. Chư hiền hữu, chư hiền muội có đạt được phép tiên tri như vậy đâu mà mong tránh khỏi.

Lão nghĩ như thế nên nhứt định tái thủ quyền hành, đem cặp nhãn thiêng liêng thay vì cặp nhãn của Thầy, đặng thấy giùm mọi điều cho chư hiền hữu, chư hiền muội, đặng quyết thắng chúng sanh trong kỳ Khai Ðạo nầy, thì Lão tưởng khi Lão chưa phải là người vô dụng vậy.

Khi Lý Giáo Tông đồng ý trở lại tái thủ quyền hành, Ðức Chí Tôn bèn giáng cơ dạy Hội Thánh phải làm lễ Ðăng điện cho Ðức Lý thật long trọng để Ngài trở lại làm việc.

Bài thi trên được Ðức Phạm Hộ Pháp giải nghĩa trong bài Thuyết đạo nói về công nghiệp của Ðức Lý Giáo Tông, tại Ðền Thánh trong đêm 18 tháng 8 năm Kỷ Sửu (Dl. 9/10/1949) sau khi cúng Vía Ðức Lý, trong đó có đoạn:

“Ðức Chí Tôn thường nhắc toàn Hội Thánh Hiệp Thiên và Cửu Trùng làm lễ Ðăng điện cho long trọng khi Ngài (Ðức Lý Giáo Tông) tái nhậm phận sự, rồi Ngài lên ngôi vị của Ngài, Ngài cầm cơ viết. Bần đạo tưởng không có vị vua chúa nào viết được bài diễn văn như Ngài.

CỬU TỬ KIM TRIÊU ĐẮC PHỤC HUƠN: là cảnh trần ta chết đã lâu rồi, mà hôm nay ta được phục sanh lại trong Thánh Thể của Ðức Chí Tôn.

HẠNH PHÙNG THIÊN MẠNG ĐÁO KHAI NGUƠN: là còn hạnh phúc đặng Thiên mạng đến khai nguơn. Tại sao Ngài nói đến? Bần đạo đã thuyết cuối Hạ Nguơn Tam Chuyển khởi Thượng Nguơn Tứ Chuyển, Ngài đến khai Nguơn là có duyên cớ. Bần đạo dám chắc rằng, Ðấng nào khác hơn Ngài thì không thi hành được. Ngài đến đặng mở Thượng Nguơn Tứ Chuyển.

THẾ TRUNG KỴ TỬ HÀ VÔ TỬ Thế gian sợ chết mà không biết cái chết là gì? Chính Ngài hỏi rồi nói:

TỬ GIẢ HÀ TỒN CHỦ TỊCH HƯƠNG: Hương là tịch đạo của Nữ phái. Nữ phái là nguồn sống của nhơn loại, nếu nói nó chết thì Ngài đến làm chủ của Nữ phái nghĩa gì? Cầm cái giống của thế gian nầy đặng chi?"

 

 

 

 

DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC THIÊN TÔN

DIÊU TRÌ

Diêu 瑤: Còn đọc là dao, là một thứ ngọc quý báu. Trì 池: Cái ao.

Diêu Trì là một cái ao làm ngọc dao, một loại ngọc quý và đẹp.

Ao Diêu Trì nằm nơi Cung ngự của Đức Phật Mẫu, nên Cung này được gọi là Diêu Trì Cung.

Đức Phật Mẫu ngự tại Diêu Trì Cung nên người ta gọi Ngài là “Phật Mẫu Diêu Trì”. Chính trong Bài Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

Tạo Hóa Thiên Huyền vi Thiên Hậu,

Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.

KIM MẪU

Hai chữ Kim Mẫu là hai chữ nói tắt của “Kim Bàn Phật Mẫu”, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn (hay Kim Bồn), là nơi chứa các nguyên chất để tạo ra chơn Thần cho vạn linh.

Bài Kinh Đệ Cửu Cửu có câu như sau:

Nơi Kim Bồn (Bàn) vàn vàn nguơn chất,

Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

Theo sách “Ngọc Lộ Kim Bàn”, Kim Bàn (Kim Bồn) là một cái mâm vàng Thiêng liêng nơi Diêu Trì Cung mà Đức Phật Mẫu dùng để chứa các nguyên chất.

Khi Trời đất đã được hình thành, Phật Mẫu mới đem Chơn tánh phân ra một hột. Từ một hột đó, Ngài mới thổi hơi chân khí biến thành một trăm ức Linh căn Chân tánh (tức Nguyên nhân), rồi Ngài đem chứa trong Kim Bàn (Kim Bồn), nói một cách khác, Kim Bàn là nơi tạo ra các bậc Nguyên nhân.

Như vậy, Kim Bàn Phật Mẫu, nói tắt “Kim Mẫu” là một Thánh hiệu khác của Đức Phật Mẫu, mà trong Di Lạc Chơn Kinh có chỉ rõ. Bởi vậy nơi cõi trần, Phật Mẫu là Mẹ của Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Trong Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dùng Thánh hiệu “Kim Mâu” để nói về Đức Phật Mẫu như sau:

Riêng thương KIM MẪU khóc thầm,

Biển trần thấy trẻ lạc lầm bấy lâu.

VÔ CỰC

Do Đức Phật Mẫu được xưng tụng là “Vô Cực Thiên Tôn”, nên có nhiều người tưởng lầm là Vô Cực trước Thái Cực, như vậy mâu thuẫn với Thánh giáo Đức Chí Tôn: “Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực”.

Thật ra, Vô Cực đây là một trong Tam Cực, gồm: Vô Cực, Thái Cực, Hoàng Cực. Có thể gọi chung là Đạo, là Pháp, là nguồn đầu của vũ trụ vạn vật.

Dựa theo các Kinh sách, Thánh giáo nền Đại Đạo thì Tam Cực giảng về thời kỳ tạo lập vũ trụ, chúng ta tạm hiểu rằng:

1- Vô Cực: Thời kỳ khí hồng mông đang hỗn độn, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hiệp, mà Đạo Đức Kinh gọi cái đó là: “Đạo tự hư vô sanh nhứt khí”, nghĩa là từ trong Đạo hư vô sanh ra Nhứt khí. Nhứt khí có ba phương diện hay là Ba ngôi, mà ngôi Thứ nhứt gọi là Vô cực.

2- Thái Cực: Từ trong Vô Cực là ngôi thứ nhứt lại có một điểm khí dương phát sanh. Hễ khí động phát sanh tức là khí dương, thì phần tịnh còn lại là khí âm. Cho nên Kinh Dịch nói “ Thái Cực sanh lưỡng nghi” , nghĩa là Thái Cực sanh ra khí âm và khí dương. Đạo Đức kinh gọi là Một sanh ra hai. Đây là ngôi thứ nhì của Nhứt khí, gọi là Thái cực.

Tuy có hai tên Vô Cực và Thái Cực nhưng không phải là hai ngôi riêng biệt, mà đó là hai trạng thái của một tự thể (hai mặt của một vật).

Có thể gọi Thái Cực là thời thứ hai. Trong thời kỳ này tuy đã có âm dương tương đối, nhưng chưa đủ mức để phối hợp, phải để qua đến thời kỳ thứ ba.

3- Hoàng Cực: Khí âm (Vô Cực) hiệp đúng mức với khí dương (Thái Cực) thành thể thứ ba là Hoàng Cực.

Hoàng Cực hỗn hiệp âm dương, từ đó xuất phát vạn pháp. Nếu không có Hoàng Cực thì âm dương không tương hiệp, thì làm sao sanh hóa được! Nên Đạo Đức Kinh mới nói: “Hai sanh ba”, là âm dương hiệp sanh ra Hoàng cực. Ta có thể nói Hoàng Cực là tổng hợp của hai thể âm dương.

Vậy thì Ba ngôi Vô Cực, Thái Cực và Hoàng Cực tuy phân ra ba thời kỳ nhưng đều là một khí Chơn Nguyên (Nhứt khí), mà mỗi ngôi đều có một vai tuồng riêng biệt, chẳng giống nhau mà luôn luôn bổ túc cho nhau.

Đức Diêu Trì Kim Mẫu vẫn có một vai tuồng đặc biệt, thuộc về ngôi Vô Cực, nên xưng hiệu là: Vô cực Từ Tôn (hay Vô Cực Thiên Tôn). Nghĩa là Ngài đại diện cho ngôi Thứ nhứt là ngôi Vô cực, đồng ngôi, đồng thể với Thái Cực không phân biệt trước sau mà khác nhau do động thái chuyển biến mà thôi.

Đức Phật Mẫu khi giáng cơ tại Trí Huệ Cung, đêm 7 tháng 1 năm Tân Mão ( Dl 12-2-1951) có ban cho một bài thi, trong đó có đoạn thi như sau:

Từ VÔ CỰC vào trong giới cảnh,

Mới để tâm so sánh Tiên, Phàm.

Chẳng từ ô trược dương gian,

Vì thương trẻ mới băng ngàn viếng thăm

THIÊN TÔN (TỪ TÔN)

Thiên Tôn là một bậc do chúng sanh tôn thờ cho các Đấng Thiêng liêng có công nghiệp với toàn vạn linh, trái với Thế Tôn là những bậc có các Đức tánh tốt đẹp để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Đức Phật Mẫu còn được tôn xưng là Vô Cực Từ tôn, tức là một Đấng Mẹ hiền (nhơn từ), rất cao cả tôn nghiêm ở cõi Thiêng liêng.

Trong bản Sớ Văn của đạo Cao Đài tâu trình lên Đức Đại Từ Phụ, Đại Từ Mẫu có câu:

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

 

 

 

 

Ý NGHĨA BÀI KỆ CHUÔNG U MINH

Kệ 偈: Bài thi ngắn hay dài, dùng để tóm tắt đại ý một đoạn kinh, một bài thuyết pháp, hoặc để ca ngợi công đức Phật, Bồ Tát.

Kệ cũng là những bài ca chứng đạo của các vị thiền sư bên Phật giáo.

U minh 幽 暝 , như chữ “U minh địa”, chỉ cõi u tối, tức là cõi Âm phủ, cõi Diêm cung, cõi Địa phủ, mà hiện nay đạo Cao Đài gọi là cõi Âm quang.

Thánh giáo Thầy có câu: Ai giữ trọn bực phẩm thì đặng Tòa Nghiệt Cảnh tương công chiết tội, để vào địa vị cao hơn chốn Ðịa cầu 68 nầy; ai chẳng vẹn trách nhậm nhơn sanh phải bị đoạ vào nơi U Minh Địa, để trả cho xong tội tình căn quả cho đến lúc trở về nẻo chánh đường ngay mà phục hồi ngôi cũ, bằng chẳng biết sửa mình thì luật Thiên điều chồng chập, khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác.

Chuông U minh: Một loại chuông lớn, thường gọi là Đại hồng chung, vì loại chuông này được treo trên một cái giá, miệng quay xuống đất, khi đánh lên, tiếng chuông vang dội truyền đến cõi U minh (Địa phủ) để giác ngộ các tội hồn nơi đó, nên người ta đặt tên là U minh chung (hay chuông U minh).

Kệ U minh chung là một bài kệ gồm 34 câu cầu nguyện trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để ngâm lên kèm theo tiếng Đại hồng chung thấu đến cõi U minh (Âm phủ), hầu thức tỉnh các tội hồn, biết ăn năn sám hối cầu nguyện với Đức Chí Tôn , Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng cứu độ cho.

Trong Đạo Cao Đài, vào ba tháng của ba ngươn trong một năm là tháng giêng (thượng ngươn), tháng bảy (trung ngươn) và tháng mười (hạ ngươn), tại Tòa Thánh và các Thánh Thất cũng như Điện Thờ Phật Mẫu tại địa phương đều phải phân công trực dộng chuông U minh suốt ngày đêm, liên tục suốt tháng.

Sau đây nhân ngày đầu tháng 10 Hạ ngươn, chúng tôi xin chép ra nguyên văn 34 câu kệ bằng Việt Hán, kèm theo lời giải nghĩa:

A - Đoạn I (từ câu 1 đến câu 18):

1.-

Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm

 洪 鐘 初 扣 寶 偈 高 吟,

có nghĩa là bắt đầu dộng vào hồng chung và cao giọng ngâm bài kệ quý báu.

2.-

Thượng thông Thiên đàng, hạ triệt Địa phủ

上 通 天 堂, 下 徹 地 府,

nghĩa là trên thì thông suốt đến các cõi trời, dưới thì thấu suốt đến cõi Âm Quang.

3.-

Khánh chúc Tam Kỳ hoằng khai Đại Đạo

慶 祝 三 期 弘 開 大 道,

có nghĩa là chúc mừng cho nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mở rộng cửa để truyền bá khắp nơi.

4.-

Càn khôn đại thống, phổ cập ngũ châu

乾 坤 大 統, 普 及 五 洲,

nghĩa là thống quản cả Càn khôn Thế giới để phổ biến khắp cả năm châu.

5.-

Ân đức hoá thâm cao thăng Thiên vị

恩 德 化 深 高 升 天 位,

nghĩa là ơn đức giáo hoá sâu nặng làm cho phẩm vị được tăng cao.

6.-

Tam thế tứ sanh chi nội các miễn luân hồi

三 世 四 生 之 內 各 免 輪 迴,

nghĩa là tất cả các loài vật tứ sanh trong thời gian ba đời đều khỏi phải bị luân hồi chuyển kiếp.

7.-

Cửu u thập loại chi trung tất ly khổ hải

九 幽 十 類 之 中 必 離 苦 海,

nghĩa là mười loại chơn hồn trong chín cửa Địa ngục ắt được lìa khỏi biển khổ.

8.-

Ngũ phong thập võ miễn tạo cơ cẩn chi tai

五 風 免 造 饑 饉 之 災,

nghĩa là năm gió mười mưa xin thoát khỏi tai nạn mất mùa.

9.-

Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt

南 畝 東 郊 俱 霑 堯 舜 之 日,

nghĩa là đất đai khắp trong nước đều thấm nhuần thời thái bình an lạc của Nghiêu Thuấn.

10.-

Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh

干 戈 永 息, 甲 馬 休 征,

nghĩa là giặc giã mãi ngưng, chiến tranh chấm dứt.

11.-

Trận bại thương vong Câu sanh Tịnh độ

陣 敗 傷 亡 俱 生 淨 土,

nghĩa là những người thương tích hay chết vì bại trận đều được sanh về cõi Tịnh độ (Cõi Cực Lạc Thế giới).

12.-

Phi cầm tẩu thú, la võng bất phùng

飛 禽 走 獸 羅 網 不 逢,

nghĩa là chim bay thú chạy, không gặp lưới rập đánh bắt.

13.-

Lãng tử cô nhi tảo hồi hương lý

浪 子 孤 兒 早 回 鄉 里,

nghĩa là những kẻ lang thanh hay những đứa mồ côi sớm trở lại quê hương xứ sở.

14.-

Vô biên thế giới Địa cửu Thiên trường

無 邊 世 界 地 久 天 長,

nghĩa là Càn khôn thế giới rộng lớn vô biên, Trời đất trường cửu.

15.-

Viễn cận đàn na tăng viên phước thọ

遠 近 檀 那 曾 圓 福 壽,

nghĩa là những thí chủ xa gần đều được gia tăng tuổi thọ và hạnh phúc.

16.-

Thánh Toà trấn tịnh, đạo pháp hưng thịnh

聖 座 鎮 淨, 道 法 興 盛,

nghĩa là Toà Thánh được giữ gìn yên tịnh, đạo pháp được hưng thịnh lâu dài.

17.-

Thổ địa Long thần an tăng hộ pháp

土 地 龍 神 安 僧 護 法,

nghĩa là các vị Thần cai quản đất đai và thần giữ gìn vùng biển giúp an cho kẻ tu hành và hộ trì đạo pháp.

18.-

Phụ mẫu, sư trưởng, lục thân quyến thuộc,

父 母 師 長, 六 親 眷 屬, 歷

nghĩa là cha mẹ, thầy và bậc trưởng thượng, sáu người thân yêu trong thân tộc.

19.-

Lịch đại tiên vong đồng đăng giác ngạn

歷 代 先 亡 同 登 覺 岸,

nghĩa là tổ tiên quá vãng lâu đời đều được vượt lên bờ giác, thoát khỏi luân hồi.

B - Đoạn II (từ câu 20 đến câu 31):

Sau đây từ câu 20 cho đến câu 31 gồm 11 câu cầu nguyện danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Tam vị Đạo Tổ, Tam Trấn Oai Nghiêm, các Đấng trong Ngũ Chi Đại Đạo và chư Thần Thánh Tiên Phật mà trong Sớ Văn có tâu trình.

20.-

Nam Mô Huyền Khung Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn

南 無 玄 穹 高 上 帝, 玉 皇 大 天 尊.

21.-

Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn

南 無 瑤 池 金 母 無 極 天 尊.

22.-

Nam Mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn

南 無 西 方 教 主 釋 伽 牟 尼 世 尊.

23.-

Nam Mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn

南 無 太 上 道 祖 三 清 應 化 天 尊.

24.-

Nam Mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn

南 無 孔 聖 先 師 興 儒 盛 世 天 尊.

25.-

Nam Mô Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai

南 無 常 居 南 海 觀 音 如 來.

26.-

Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

李 大 仙 長 兼 教 宗 大 道 三 期 普 度

27.-

Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân

南 無 協 天 大 帝 關 聖 帝 君

28.-

Nam Mô Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn

南 無 嘉 蘇 教 主 救 世 天 尊

29.-

Nam Mô Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn

南 無 太 公 相 父 管 法 天 尊

30.-

Nam Mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn

南 無 三 洲 八 部 護 法 天 尊

31.-

Nam Mô Thập Phương Chư Phật vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ

南 無 十 方 諸 佛, 萬 掌 諸 仙, 蓮 臺 之 下.

C. Đoạn III (từ câu 32 đến câu 35):

Cuối cùng, ba câu 32, 33 và 34 là cầu nguyện ba Đấng Chưởng Giáo mở ba thời kỳ Đại hội Long Hoa: Đó là:

32.-

Nam Mô Sơ hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn

南 無 初 會 龍 花 青 王 大 會, 燃 燈 古 佛 掌 教 天 尊,

nghĩa là Nam Mô Sơ hội Long Hoa là một Đại Hội ở Nhứt Kỳ Phổ Độ, gọi là Thanh Vương Đại Hội, do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật làm Giáo Chủ.

33.-

Nam Mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội, Di Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn

南 無 二 會 龍 花 紅 王 大 會 彌 陀 古 佛 掌 教 天 尊,

nghĩa là Nhị Hội Long Hoa là một Đại Hội ở vào Nhị Kỳ Phổ Độ, gọi là Hồng Vương Đại Hội, do Đức A Di Đà Phật làm Giáo Chủ.

34.-

Nam Mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn

南 無 三 會 龍 花, 彌 勒 古 佛 掌 教 天 尊,

nghĩa là Tam Hội Long Hoa là Đại Hội lần thứ ba vào Tam Kỳ Phổ Độ, gọi là Bạch Vương Đại Hội do Đức Di Lạc Vương Phật làm Giáo Chủ.

35.-

Nam Mô liệt Thánh đàn tràng hoà nam khể thủ

南 無 烈 聖 壇 塲 和 南 稽 首,

nghĩa là cầu nguyện với chư vi Thánh nơi đàn cúng tế chứng minh, xin cúi đầu lạy xuống.

 

 

 

 

DI LẠC VƯƠNG BỒ TÁT

Theo Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh in bằng chữ Quốc ngữ, chúng ta thấy viết là “Di Lạc Chơn Kinh 彌 勒 真 經” hoặc “Di Lạc Vương Bồ Tát 彌 勒 王 菩 薩”, nhưng phiên âm Hán Việt, theo cách phát âm của Hán Việt Tự Điển Thiều Chửu và Hán Việt Từ Điển Đào Duy Anh phải viết là “Di Lặc Chơn Kinh” hoặc “Di Lặc Vương Bồ Tát”. Ngoài ra, bên Phật Giáo cũng thường đọc Thánh danh Ngài “Di Lặc Vương Bồ Tát.

Để thống nhứt với Hội Thánh, chúng tôi cũng theo bản kinh Thiên Đạo và Thế Đạo mà viết về Thánh danh Ngài là “Di Lạc Vương Bổ Tát”.

DI LẠC TRONG PHẬT GIÁO

Di Lạc Vương Phật hay Di Lạc Vương Bồ Tát đều là Hồng danh của Đức Phật Di Lạc. Có điều gọi Di Lạc Vương Phật là để chỉ Đức Ngài đang hành quyền cai quản chư Phật, còn gọi Di Lạc Vương Bồ Tát để chỉ Đức Ngài còn đang là vị Bồ Tát thi hành nhiệm vụ giáo hóa và phổ độ chúng sanh.

Di Lạc Bồ Tát là do tiếng Phạn “Maitreya Bodhisattva” phiên dịch ra, có nghĩa là Từ Thị 慈 氏 (Đấng Từ bi có lòng thương rộng lớn), Vô Năng Thắng (có trí huệ và từ bi thù thắng, không ai hơn), dịch là A Dật Đa 阿 逸 多.

Theo Lời Phật Thích Ca nói thì Đức Di Lạc Bồ Tát còn đang ở trên tầng trời Đâu Suất thuyết pháp, đợi đến ngày giáng sinh làm người ở trần gian để tu thành Phật ở Hội Long Hoa, tức là một vị Phật tương lai, sau Đức Thích Ca Mâu Ni vậy.

Phật Di Lạc tượng trưng cho vị Phật tương lai. Người ta thường thờ Ngài chung với Phật Thích Ca Mâu Ni (hiện tại) và Nhiên Đăng Cổ Phật (quá khứ), gọi là Tam thế chư Phật (đời quá khứ,hiện tại, tương lai).

Đức Di Lạc thường thị hiện ở cõi trần để hóa độ chúng sanh nhưng không ai hay biết Ngài là ai. Đức Di Lạc được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký kế thừa Phật vị của Ngài, tức là một vị Bồ Tát sẽ thành Phật tại cõi nhân gian và sẽ kế thừa Đức Phật Thích Ca để giáo hóa chúng sanh.

Di Lạc Bồ Tát là hiện thân cho đức tính hỷ xả: Bởi vì Ngài thấy được các pháp do nhân duyên sinh khởi, không thật, chỉ có giả danh, nên Ngài không có chấp trước các pháp. Tượng thờ Đức Di Lạc Bồ Tát, người ta tạc Ngài và có sáu đứa bé đeo theo chọc phá, đó là tượng trưng cho sáu thức (Lục tặc) luôn luôn quấy rối, nhưng Ngài vẫn an vui tự tại, hoan hỷ như thường.

Đức Phật Di Lạc có nhiều lần hóa sanh xuống trần để cứu độ chúng sanh.

1- Có thuyết cho rằng Bố Đại Hòa Thượng 布 袋 和 尚 sinh vào thời Ngũ Đại chính là Đức Di Lạc giáng sinh.

Trong Phật giáo Trung Hoa, từ thế kỷ 10, hòa thượng Bố Đại được xem là hiện thân của Đức Di Lạc.Đời sống của Hòa thượng Bố Đại không hề khác nhau với Thích Ca Mâu Ni Phật, không những Ngài không có đạo tràng mà Ngài cũng không có nơi ở, trong lịch sử danh tánh cũng không có, pháp danh cũng không có. Người ta chỉ biết mỗi ngày Ngài mang một cái túi vải to (chữ Nho gọi bố đại) đi dạo khắp nơi, cho nên mọi người gọi Ngài là Bố Đại Hòa Thượng.

Tương truyền Bố Đại Hòa Thượng có thân hình mập mạp, mặt tròn, bụng to, miệng luôn luôn cười vui, vai lúc nào cũng