GÓP NHẶT TINH HOA ĐẠI ĐẠO

 

 

 

 

 

 

 

Quyển 1

 

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
TRONG GIÁO LÝ CAO ĐÀI

Quan niệm của người Đông phương nói chung và người Việt Nam nói riêng cho rằng, Trời là vị chúa tể của vạn vật, là nguồn gốc của sự sinh dưỡng, là Đấng hóa sanh muôn vật, cho nên con người không thể không kính Trời sợ Đất, thuận theo ý Trời mà thuận đạo. Thờ Trời tức là thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, là Đấng được coi là vị vua tối cao nhất, ngự tại Linh Tiêu Điện, Ngọc Hư Cung, gọi là Thiên Đế, cha chung của nhơn loại, cho nên các vị Hoàng Đế nơi thế gian, phụng mệnh Trời, nhân danh “Con Trời” (Thiên tử) để cai trị dân chúng thì nhất nhất không thể không sùng bái Trời, cho nên mỗi năm phải có lễ “Tế Trời”, gọi là “lễ Giao”, đích thân nhà vua của các triều đại đứng ra làm lễ tế Đức Thượng Đế.

Riêng trong tôn giáo Cao Đài, nhờ hiện tượng thông linh bằng cơ bút, chúng ta biết chắc chắn rằng Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, là Đấng hằng hữu tuyệt đối, Đấng tối cao tối đại, chí tôn chí linh, Đấng sáng tạo ra Càn khôn vũ trụ và sinh hóa ra vạn linh, nên Ngài có nhiệm vụ điều hành trời đất, cai trị vạn vật. Trong cõi âm dương của vạn vật, từ bầu trời, mặt đất, biển cả cho đến cõi âm phủ linh thiêng đều đặt dưới quyền của Đức Ngài cai trị.

Đấng ấy ngày nay giáng cơ mở đạo xưng là Đức Chí Tôn, hay “Ngọc Hoàng Thượng Đế kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, giáo Đạo Nam Phương”. Chúng ta thử dựa theo kinh sách và Thánh giáo do Ngài giáng cơ dạy đạo để tìm hiểu về Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

A. Tôn hiệu và nhiệm vụ Ngọc Hoàng Thượng Đế

Ngọc Hoàng Thượng Đế còn được biết đến với các tôn hiệu khác như Thượng Đế, Thiên Đế, Ngọc Đế, hay Huyền Khung Cao Thượng Đế….

Căn cứ theo bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế của đạo Cao Đài thì Đức Thượng Đế còn được gọi là Đại La Thiên Đế hay Thái Cực Thánh Hoàng:

“Đại La Thiên Đế, Thái Cực Thánh Hoàng”

Ngài đã ngự tại ngôi Thái Cực, phân Lưỡng nghi, biến Bát quái mà tạo ra Càn khôn Vũ trụ và Ngài đã hóa sanh, nuôi dưỡng muôn loài và cai quản, điều hành sự tiến hóa của vạn vật:

“Hóa dục quần sanh, thống ngự vạn vật”

Trên thì Ngài chưởng quản ba mươi sáu từng trời và ba ngàn thế giới. Dưới điều hành bảy mươi hai địa cầu và bốn Đại Bộ Châu:

“Thượng chưởng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Hạ ốc Thất thập nhị Địa, Tứ Đại Bộ Châu”

Ngài là vua của Nhựt, Nguyệt, Tinh, và Thần (thời gian), là chủ của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật:

“Nãi Nhựt Nguyệt Tinh Thần chi quân, Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ”

Chính Ngài là Huyền Khung Cao Thượng Đế, là Đấng Ngọc Hoàng ban phước, xá tội, một vị Đại Thiên Tôn:

“Huyền Khung Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng tích phước hựu tội, Đại Thiên Tôn”

B. Nguyên căn của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế

Theo đạo Cao Đài, trước khi trời đất được phân định thì khắp cả vũ trụ chỉ có một khối khí hồng mông, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hợp. Khí ấy gọi là Tiên thiên hư vô chi khí, gọi tắt là Khí hư vô và không gian đó gọi là Vô cực.

Khoảng không gian Vô cực ấy trải qua muôn đời ngàn kiếp mới nổ lên một tiếng, bắn ra một điểm linh quang, ấy là ngôi Thái Cực. Thái cực là khối Đại linh quang, là Đại hồn của Đức Thượng Đế, nên còn được gọi là ngôi của Thượng Đế.

Như vậy, khí Hư vô đã sinh ra Thái cực, nghĩa là sinh ra Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, mà khí Hư vô là Đạo vậy.

Chính trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn đã xác nhận: “Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực”.

Và trong Đàn cơ ngày 13 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 22/7/1926), Thánh giáo Thầy cũng có dạy như sau: “Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó ai sanh? Ấy là Ðạo. Các con nên biết.

Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy”.

Xét qua hai đoạn Thánh giáo trên, chúng ta thấy rằng Khí Hư Vô sanh ra Thái Cực. Thái Cực là khối chơn linh của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, được gọi là Đại Linh quang, hay Đại hồn.

Vậy Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế có nguyên căn từ Hư vô chi khí.

Theo Đại Thừa Chơn Giáo, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đồng thể với Đạo, bởi vì “Đạo là Hư vô chi khí. Đạo rất mầu nhiệm, sâu kín, cao siêu. Trước khi chưa có Trời Đất, đã có Đạo. Vậy Đạo đã tạo dựng nên Càn khôn vũ trụ, hoá sanh vạn vật muôn loài. Muôn loài vạn vật phải thọ bẩm khí Hư vô mà sanh hóa ra mãi mãi:

Đạo mầu sáng tạo Càn Khôn,

Hư vô chi khí, Chí Tôn chưởng quyền.

Hóa sanh Phật, Thánh, Thần, Tiên,

Muôn loài vạn vật lưu truyền thỉ chung.

Đạo vô tận, Đạo vô cùng,

Đạo là mẹ đẻ khắp chung muôn loài.

Đạo phân ngôi thứ Tam tài,

Đạo châu vi độ trần ai vững vàng.

Đạo còn người vật bền an,

Đạo lìa một khắc tiêu tan xác hồn.

Đạo truyền dại trở nên khôn,

Đạo ra cốt yếu bảo tồn chúng sanh.

C. Thượng Đế sáng tạo ra Càn khôn Vũ trụ và Vạn vật

Trong Nho giáo, Tuân Tử tin rằng có Trời, tức là một Đấng sinh ra vũ trụ và muôn vật. Đạo Trời vô hình, thâm viễn và công hiệu, nhờ đó mà muôn vật trưởng thành được. Ông giải thích như sau: Vạn vật các đắc kỳ hòa dĩ sinh, các đắc kỳ dưỡng dĩ thành, bất kiến kỳ sự nhi kiến kỳ công, phù thị chi vị Thần. Giai tri kỳ sở dĩ thành, mạc tri kỳ vô hình, phù thị chi vị Thiên 萬 物 各 得 其 和 以 生, 各 得 其 養 以 成, 不 見 其 事 而 見 其 功, 夫 是 之 謂 神. 皆 知 其 所 以 成, 莫 知 其 無 形, 夫 是 之 謂 天, nghĩa là: muôn vật đều được cái động lực huyền diệu của Trời, nó nuôi nấng mà trưởng thành. Việc làm của cái động lực huyền diệu ấy không thấy được, nhưng công hiệu của cái động lực huyền diệu ấy thì rõ ràng. Cái động lực huyền diệu ấy gọi là Thần. Thành hình rồi thì ai cũng biết, còn vô hình thì không ai biết được, thế gọi là Trời.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn khôn Thế giới.

Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật chất, Thảo mộc, Côn trùng, Thú cầm, gọi là Chúng sanh”.

Qua lời dạy cúa Thánh giáo trên, chúng ta thấy rằng chính Đức Thượng Đế đã sanh hóa Càn khôn thế giới và vạn vật. Ngoài ra, chính Ngài cũng là Đấng sanh ra chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Điều nầy Ngài đã dạy như sau: “Bởi vậy, một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con”.

Hoặc:

“Khai Thiên Ðịa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy. Thầy đã nói một Chơn thần mà biến Càn khôn Thế giới và cả nhơn loại.

Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy. Các con là chư Phật, chư Phật là các con.

Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật”.

Tóm lại, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng sáng tạo ra Càn khôn vũ trụ, Ngài cũng là Đấng sanh ra vạn vật và chư Thần, Thánh, Tiên Phật.

Trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp cũng có giải thích quyền năng tạo lập vũ trụ và vạn vật của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu. Ngài dạy như sau:

Chí Tôn có hai phần năng lực như ta đương nhiên bây giờ, phần vô đối, vô cực, vô thượng của Ngài là phần “Dương năng” “huyền vi phạm quảng đại” của Ngài vô cùng vô tận, nơi đó tạo Càn Khôn Vũ Trụ, bát phẩm chơn hồn định số của Vạn linh. Còn về phần “Âm năng” của Ngài, tức nhiên Ngài cũng có như ta một luật “thất tình lục dục” rồi Ngài phân tánh ấy ra. Ngài chuyển Âm năng ra Phật Mẫu, chúng ta đang thờ buổi nầy.

Cái Dương năng của Ngài và Âm năng của Phật Mẫu, chính mình Phật Mẫu Ngài biến thân ra cái Âm năng của Ngài chúng ta nói rằng: Phật Mẫu với Đức Chí Tôn, Đức Chí Tôn với Phật Mẫu là hai quyền năng tạo dựng Càn Khôn Vũ Trụ, Ngài cầm quyền tinh thần, Đức Phật Mẫu cầm quyền hình thể.

Khi Kim Bàn sản xuất, bát phẩm chơn hồn đi ra chính mình Đức Phật Mẫu tạo dựng hình ảnh vạn linh, vì cớ cho nên Đức Chí Tôn quyền năng vô đối, Ngài muốn thế nào cho toàn thể bát phẩm chơn hồn tức nhiên toàn thể vạn linh được hưởng một gia tài dành để là: Toàn thiện toàn năng toàn tri của Ngài về tinh thần, về hình thể, Ngài muốn quyền năng con cái của Ngài, tức nhiên vạn linh có đủ quyền năng vô cực vô thượng của Ngài, đặng điều đình Tam thập lục thiên, Tam thiên thế giái, và Tứ đại bộ châu.

D. Bản chất Thượng Đế

1. Thượng Đế là chơn lý tuyệt đối, hằng hữu, bất biến

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Khí Hư vô sanh có một Thầy”, nghĩa là khí Hư vô chỉ sanh ra có một Đấng Thượng Đế duy nhứt, chỉ một ngôi Thái cực, cho nên Ngài là một chơn lý tuyệt đối.

Chơn lý ấy hằng có đời đời, từ vô thỉ đến vô chung, mãi mãi như thế, không bao giờ thay đổi, cho nên được gọi là chơn lý hằng hữu, bất biến.

2. Thượng Đế toàn tri toàn năng, toàn thiện toàn mỹ

Thượng Đế là Đấng toàn tri, toàn năng tức là Ngài không có gì mà không hiểu biết, không có gì mà không làm được. Chẳng những chỉ hiểu biết, làm được mà thôi, Ngài lại hiểu biết đến cùng tận, và làm được tất cả, làm được hết mọi phương diện.

Trong bài Ngọc Hoàng kinh có câu: “Vạn loại thiện ác tất kiến 萬 類 善 惡 悉 見” nghĩa là muôn vật lành dữ ở dưới thế gian, Đức Thượng Đế đều biết rõ hết, chứng tỏ rằng Thượng Đế là Đấng toàn tri.

Thật vậy, trong kinh Thư có câu: Thiên vô sở bất văn, vô sở bất kiến 天 無 所 不 聞, 無 所 不 見, nghĩa là không có gì mà Trời không nghe, không thấy được.

Còn quyền năng của Thượng Đế chúng ta thấy rõ trong sự sáng tạo ra Càn khôn vũ trụ, và trong việc bảo tồn sự sống của muôn vật.

Nếu muôn vật không được Ngài gìn giữ, nuôi dưỡng thì sự hiện hữu sẽ bị tiêu diệt mất. Chính trong Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy: "Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận".

Tóm lại, Thượng Đế là Đấng toàn tri toàn năng.

Chúng ta cũng cần nên biết toàn tri là cái hiểu biết tất cả từ việc thiện đến việc ác. Nếu chỉ biết thiện mà không biết ác thì có chỗ chưa biết hết. Nếu chỉ làm thiện mà không biết làm ác thì có chỗ chưa làm được, tức chưa toàn năng.

Đức Thượng Đế là Đấng toàn tri toàn năng tức là biết và làm từ việc thiện đến việc ác, từ thanh cho tới trược, từ Tiên Phật cho đến quỷ ma mà lại biết làm đến chỗ cùng tột, từ cực thiện cho đến đại ác, từ tối thanh cho đến tối trược. Chính Ngài dùng cái tối trược, cái đại ác ấy trở thành đại từ bi để làm cho muôn vật càng thêm tiến hóa, bởi vì Tiến hóa là sống còn, không tiến hóa là tiêu diệt.

Nhờ toàn tri toàn năng đó mà Đức Thượng Đế thúc đẩy cơ tiến hóa của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật. Muốn thúc đẩy sự tiến hóa phải có hai lực Dương và Âm đối kháng nhau tạo thành sự vận chuyển: Lực Dương kéo lên là Tiên Phật, lực Âm trì xuống là quỷ ma.

Thượng Đế còn là Đấng toàn thiện toàn mỹ, nghĩa là hết sức lành và hoàn toàn tốt đẹp. Tuy nhiên nếu hết sức lành mà không dữ thì chưa phải toàn thiện, nếu trọn tốt mà không trọn xấu thì cũng chưa toàn mỹ.

Như vậy, Thượng Đế bao hàm mọi trạng thái thiện ác, thanh trược, tốt xấu, Phật Ma, hai thái cực nầy được Ngài sử dụng trong sự minh triết để thúc đẩy sự tiến hóa của Càn khôn vạn vật, cho nên Thượng Đế mới được gọi là Đấng toàn thiện toàn mỹ.

3. Thượng Đế là Đại Từ Phụ của vạn linh

Chúng ta biết, mỗi chơn linh trong Càn khôn vũ trụ nầy đều là một Tiểu linh quang (Tiểu hồn) chiết ra từ khối Đại linh quang (Đại hồn) của Thượng Đế. Cho nên Thượng Đế là cha chung của tất cả chơn linh, tức Đại Từ Phụ của vạn linh.

Vạn linh đầu kiếp xuống trần theo luật tiến hóa của Bát hồn: Từ Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn tiến lên Phật hồn.

Vì thế, chẳng những nhơn loại là con cái Thượng Đế, mà cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cả đến thảo mộc, côn trùng, thú cầm cũng đều là con của Thượng Đế. Tuy các chơn linh đều là con cái của Thượng Đế, nhưng trình độ tiến hóa của mỗi loài khác nhau.

Thật vậy, theo đạo Cao Đài, Đại Từ Phụ là từ dùng để gọi Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, một Đấng có công sanh hoá ra muôn loài, muôn vật, có lòng thương yêu vô bờ bến, nuôi nấng và dìu dẫn một cách đồng đều tất cả chúng sinh, tựa như một vị cha lành có lòng tha thiết, chắt chiu lo cho các con còn bé nhỏ, như lời Thánh giáo của Ngài đã dạy: “Các con ôi! Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con, chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé trông cho mau trưởng thành, hầu lưu danh truyền nghiệp cho có tên tuổi với đời”.

 

 

 

 

DANH HIỆU ĐẤNG CAO ĐÀI

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đến lập Đạo tại miền Nam Việt Nam lấy danh hiệu là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”. Danh hiệu nầy, lần đầu tiên Ngài giáng cơ vào đêm Noel 1925 và ban cho bài thi như sau:

Ngọc Hoàng Thượng Đế
Viết: Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
Giáo Đạo Nam Phương

Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,

Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.

Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,

Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

Nhưng khi niệm danh hiệu Ngài, chúng ta phải thêm hai chữ Nam Mô trước Thánh danh của Ngài mới trọn đủ.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu câu Thánh danh của Đức Chí Tôn như sau: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát 南 無 高 臺 仙 翁 大 菩 薩 摩 訶 薩.

NAM MÔ 南 無:

Nam Mô phiên âm từ tiếng Phạn Namah, nghĩa là Kính lễ, đảnh lễ: cúi đầu làm lễ. Tiếng Nam Mô thường được dùng đặt trước hồng danh chư Phật, Bồ Tát, hay đặt trước câu của lời nguyện.

CAO ĐÀI 高 臺:

Hai chữ Cao Đài chúng ta chưa được thấy Đức Chí Tôn giảng nghĩa mà chỉ được Hội Thánh, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, dịch sang tiếng Pháp là “Le tres Haut” (tối cao, cao nhất).

Trong Nho giáo, quyển Ấu Học Quỳnh Lâm có câu: "Đầu thượng viết Cao Đài” nghĩa là trên hết là Cao Đài.

Và trong lời tiên tri trăm năm trước đây của chi Minh Sư có câu:

CAO như Bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng,

 

高 如 北 闕 人 瞻 仰

ĐÀI tại Nam phương Đạo thống truyền.

 

臺 在 南 方 道 統 傳

Đàn cơ tại Cần Thơ vào năm 1927, Đức Chí Tôn có ban cho một bài thi, trong đó có hai chữ Cao Đài:

Linh Tiêu nhứt tháp thị Cao Đài,

 

靈 霄 一 塔 是 高 臺

Đại hội quần Tiên thử ngọc giai.

 

大 會 群 仙 此 玉 階

Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,

 

萬 丈 毫 光 從 此 出

Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.

 

古 名 寶 境 樂 天 台

Bài thi trên có nghĩa như sau:

- Nơi Linh Tiêu Điện, một điện ở Thiên đình, nơi mà Đức Chí Tôn thường ngự, có một ngọn tháp gọi là Cao Đài.

- Chư Tiên thường mở Đại hội trước bệ ngọc ấy.

- Từ nơi đó, hào quang muôn trượng chiếu tỏa ra xa.

- Tên khi xưa của cảnh báu nầy gọi là Lạc Thiên Thai.

Vậy hai chữ Cao Đài có thể hiểu là “Đấng tối cao”, hay "Đấng Cao cả”, ở trên hết các Đấng Thiêng Liêng. Hai chữ đó chính là tá danh (tên mượn tạm, chứ không phải là xưng danh) của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

TIÊN ÔNG 仙 翁:

Tiên Ông là một phẩm chót của đạo Tiên.

ĐẠI BỒ TÁT 大 菩 薩:

Đại Bồ Tát là một vị Bồ Tát lớn.

Bồ Tát do từ tiếng Phạn Bodhisattva tức là Bồ Đề Tát Đóa.

Bồ Đề (Bodhi) có nghĩa là chánh giác, còn Tát Đóa (Sattva) có nghĩa là chúng sinh.

Bồ Đề Tát Đóa gọi tắt là Bồ Tát để chỉ bậc đã giác ngộ, đã đắc quả Bồ Đề, nhưng không an hưởng Niết Bàn, mà cứ lặn lội trong ba cõi sáu đường để cứu độ chúng sinh.

Chính Đức Phật Thích Ca cũng đã từng làm Bồ Tát ở kiếp trước, đến kiếp cuối cùng mới ngồi nơi cội Bồ Đề sáu năm rồi thành Phật.

MA HA TÁT 摩 訶 薩:

Ma Ha Tát là tiếng Phạn Mahasattva dịch là Ma Ha Tát Đóa. Ma Ha Tát có nghĩa là bậc chúng sinh (sattva) lớn, có lòng dạ quảng đại luôn thương xót và tế độ (Maha) tất cả nhân loại.

Vậy Đại Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc Bồ Tát trên hết các bậc Bồ Tát, đáng lẽ đã thành Phật nhưng vì lòng thương chúng sinh nên nguyện ở lại tế độ mọi người và khi nào không còn ai khổ sở nữa mới thành Phật.

Danh hiệu nầy có hai từ Tiên Ông và Bồ Tát là hai phẩm thấp trong Tiên và Phật giáo, nên Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đức Chí Tôn có dạy: “Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát là hai phẩm chót của Tiên, Phật. Ðáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao tối trọng, còn Thầy thì khiêm nhường là thế nào! Vì vậy mà nhiều kẻ môn đệ cho Thầy là nhỏ”.

Tóm lại danh hiệu Đấng Cao Đài, hay câu chú Thầy, ta thấy rõ sự tổng hợp của ba nền tôn giáo là Nho, Lão và Phật, vì:

Cao Đài thuộc Nho giáo.

Tiên Ông thuộc Lão giáo.

Đại Bồ Tát Ma Ha Tát thuộc Phật giáo.

Ngoài ra khi chúng ta niệm: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát 南 無 高 臺 仙 翁 大 菩 薩 摩 訶 薩” thì tổng số các chữ trong câu chú ấy là mười hai chữ mà số mười hai là số riêng của Đức Thượng Đế, nên câu chú ấy cũng tượng trưng cho Đức Chí Tôn

 

 

 

 

NAM MÔ HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ
NGỌC HOÀNG ĐẠI THIÊN TÔN

NAM MÔ

Nam mô là tiếng phiên âm từ chữ Phạn “Namah”, dịch nghĩa là: Quy mạng, kính lễ, cứu ngã, độ ngã…

Như vậy “Nam mô” là câu nói của người theo đạo Phật hay đạo Cao Đài khi hướng về Đức Phật, Bồ Tát quy y tín thuận, quyết chí vâng theo lời dạy và xin gửi trọn đời mình cho chư Phật và Bồ Tát.

Thường người ta dùng tiếng “Nam mô” làm chữ khởi đầu cho câu niệm danh hiệu chư Phật và Bồ Tát.

HUYỀN KHUNG

Huyền 玄: Sắc đen. Khung 穹: Cao rộng như vòm trời.

Trong sách Ấu Học Quỳnh Lâm có câu: “Huyền Khung bỉ thương tắc xưng Thượng Đế 玄 穹 彼 蒼 則 稱 上 帝”, nghĩa là Huyền Khung, là màu trời xanh kia được xưng là Đức Thượng Đế.

Như vậy, từ “Huyền Khung” là một đại danh từ được người xưa dùng để chỉ Đấng Tạo Hóa, hay Đức Thượng Đế.

Đức Nhàn Âm Đạo giáng cơ cho một bài thi trong đó có hai câu như sau:

Một kiếp dồi dào trường khổ hạnh,

Ngàn năm nương náu cửa Huyền Khung.

CAO THƯỢNG ĐẾ

Cao 高: Trên cao

Thượng Đế 上帝: Dịch nghĩa "vị vua ở trên cao", dùng để chỉ một vị vua cầm quyền cao nhất nơi cõi thiêng liêng (cõi Trời).

Tùy theo tôn giáo, tín ngưỡng, mà Đức Thượng Đế có tên khác nhau, như:

Thượng Đế trong Đạo Giáo là Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

Thượng Đế trong Do Thái Thái Giáo có danh hiệu là Đấng Tự Hữu (phát âm tiếng Việt là “Giê-hô-va”, cũng còn gọi là Thiên Chúa, hoặc Đức Chúa Trời, tức là Chủ tể của Trời và Đất, vì Ngài là Đấng Tạo hóa ra muôn loài.

Thượng đế trong Hồi Giáo là Đấng Allah, có nghĩa là Đấng Thần Linh đã Sáng Thế. Người Hồi giáo tin rằng Allah cũng chính là vị Thiên Chúa của Do Thái giáo và Kitô giáo.

Tuy các tôn giáo gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau, nhưng tựu trung lại cũng chỉ về Đấng Sáng Thế, là Đấng tự hữu hằng hữu, toàn tri toàn năng, toàn thiện toàn mỹ.

Thượng Đế trong đạo Cao Đài còn gọi là Đại La Thiên Đế hay Thái Cực Thánh Hoàng. Ngài còn được gọi là Đức Chí Tôn, Đức Chí Linh, Đức Chí Công. Ngài là Đấng duy nhứt tuyệt đối, tối cao tối đại, là Đấng tạo hóa điều hành cả Càn khôn Vũ trụ và vạn vật, nên còn gọi là “Cao Thượng Đế”, hoặc là “Huyền Khung Cao Thượng Đế”.

Bài Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: Huyền Khung Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng tích phước hựu tội, Đại Thiên Tôn 玄 穹 高 上 帝, 玉 皇 錫 福 宥 罪 大 天 尊, nghĩa là Huyền Khung Cao Thượng Đế là Đức Ngọc Hoàng, một vị Đại Thiên Tôn đã ban phước, xá tội cho chúng sanh.

Bà Lục Nương Diêu Trì có giáng cơ ngày 15 tháng 2 năm Tân Mùi (Dl. 2/4/1931) cho một đoạn thi trong đó Bà gọi Đức Chí Tôn là Huyền Khung Thượng Đế như sau:

Đại Đạo mở Trời đông cứu thế,

Nắm tay nhau đoàn thể dắt dìu.

Tây đoài ác xế chín chiều,

Rừng hoang lạc bước ắt nhiều thú hung.

Nhìn Thiên Nhãn Huyền Khung Thượng Đế,

Mặc Đạo y dụng kế độ đời.

Tam Kỳ tự chủ là Trời,

Diệu huyền giáng bút để lời dạy khuyên.

NGỌC HOÀNG

Ngọc: Đá quý, thường dùng làm vật trang sức. Hoàng: Vua.

Từ thượng cổ, người Trung Quốc và người Việt Nam đã tôn thờ một vị vua trên trời, ngự tại Kinh Bạch Ngọc, một kinh thành làm bằng ngọc trắng, gọi là Ngọc Hoàng, hay Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Trong đạo Cao Đài, Thánh giáo Đức Chí Tôn giáng cơ dạy đạo thường dùng Ngọc Hoàng Thượng Đế để xưng danh, như câu “Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát giáo Đạo Nam phương”.

Chính Đức Chí Tôn cũng đã xác nhận Ngài là Đấng Ngọc Hoàng trong một đàn cơ năm Ất Sửu (1925) do Yết Ma Luật, trụ trì Hội Phước Tự nghi ngờ những vị đồng tử dối gạt quần chúng, nên xin hầu đàn để thử thách.

Ngài giáng cơ họa lại Bài thi của Yết Ma Luật như sau:

Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng,

Đời cùng, Tiên Phật giáng phàm gian.

Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,

Chính thật Ta đây Đức Ngọc Hoàng.

ĐẠI THIÊN TÔN

Thiên Tôn, theo nghĩa đen là Đấng được tôn kính nơi cõi Thiên, tức các cõi Thiêng Liêng.

Theo giáo lý Cao Đài, Thiên Tôn là một phẩm thiêng liêng được Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế phong thưởng để điều hành trong Càn khôn Vũ trụ.

Thiên Tôn trái với Thế Tôn, như Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Riêng Đức Thượng Đế là Đấng duy nhứt được sinh ra từ Thái Cực và tạo ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật, nên Ngài được xưng tụng là “Đại Thiên Tôn”.

Tóm lại Thánh danh “Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn” trong đạo Cao Đài dùng để chỉ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong Sớ Văn dâng lên Đức Ngài và Đức Phật Mẫu có câu:

Huỳnh Kim Khuyết Nội

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn

Ngoài ra, mọi người chúng ta ai cũng đều biết, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: “Thập nhị Khai Thiên là Thầy, chúa cả Càn khôn Thế giới, nắm trọn Thập nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy".

Như vậy khi viết Thánh danh hay câu chú của Ngài đều viết đầy đủ gồm 12 chữ, như sau:

- “Nam Mô Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn”.

- “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 19 có câu: Nam Mô Huyền Khung Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn 南 無 玄 穹 高 上 帝, 玉 皇 大 天 尊.

 

 

 

 

Ý NGHĨA NIỆM DANH HIỆU
CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG

Trong tôn giáo, niệm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng là đọc một cách thành tâm và trang nghiêm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng ấy.

Vậy niệm là gì? Niệm 念 có nghĩa là tưởng nhớ đến. Theo Phật giáo có năm cách niệm Phật:

- Tụng niệm: Tụng lớn tiếng danh hiệu Phật, có chuông mõ trước bàn thờ.

- Mật niệm: Niệm lầm thầm nhỏ tiếng ở bất cứ nơi nào.

- Khẩu niệm: Niệm Phật một cách chí thành, khẩn thiết khi gặp tai nạn hoặc trường hợp có sự đau khổ.

- Quán niệm: Tưởng niệm các tướng tốt của Đức Phật, hoặc tưởng như có hình ảnh Đức Phật tại tiền.

- Chuyên niệm: Lúc nào cũng niệm Phật, quán tưởng đến Phật trong mọi lúc, đi đứng, nằm, ngồi.

Mục đích của niệm Phật là để chuyển tà niệm thành chánh niệm, dứt trừ vọng niệm, cột cái tâm lại, bắt tâm nghĩ điều thiện thay điều xấu, trừ được các phiền não khổ đau.

Trong đạo Cao Đài khi lạy, người tín đồ phải niệm danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu cùng các Đấng Thiêng Liêng khác.

Niệm danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu cùng các Đấng Thiêng Liêng là luôn tưởng nhớ đức hạnh tròn lành, quyền năng vô thượng, và nguyện cố gắng noi theo những thánh đức của các Đấng ấy.

Lý do nào chúng ta phải niệm? Đó là vì tâm chúng ta bị vô minh, vọng tưởng làm điên đảo, bất tịnh, khiến che mờ Thiên tánh (Thiên lương) mà Đức Chí Tôn ban cho. Niệm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng có công năng phá trừ vọng niệm, làm cho tâm mê lầm trở nên sáng suốt.

Việc niệm ấy có hiệu lực gì? Nguyên trong Kinh Phật có câu: “Tâm viên ý mã 心 猿 意 馬”, tức là chỉ tâm ý cũng như con vượn và ngựa, lúc nào cũng chạy nhảy lăng xăng, không an định.

Lại nữa, con người thường bị hoàn cảnh và vọng niệm sai sử, tâm ý không yên ổn, lúc nào cũng bị phân tán, cho nên thường sống trong lãng quên, thất niệm. Bởi thế, nếu ta không biết kềm giữ, chế ngự thì tâm ý ta cũng sẽ như con vượn con ngựa. Vậy muốn định tâm gìn ý thì chúng ta phải niệm danh hiệu các Đấng để nhắc nhở tâm ý luôn nghĩ đến điều thiện, điều tốt, tưởng đến những đức hạnh thuần lương, những hành động trong sáng và nhờ thế những tư tưởng xấu xa đen tối sẽ lần lần bị tiêu diệt.

Hằng ngày nếu chúng ta niệm danh hiệu các Đấng, tức nhiên thường nhắc nhở ta những điều lành, thì những điều ác, điều xấu đâu còn nằm trong tư tưởng của ta nữa. Ông Trang Tử nói: Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi 一 日 不 念 善, 諸 惡 皆 自 起, nghĩa là một ngày mà chẳng tưởng đến việc lành thì mọi sự dữ sẽ dấy lên.

Tâm là cái bổn nguyên Trời phú cho con người để hiểu biết điều phải quấy, nhơn nghĩa. Khi tâm bị vật dục che mờ thì mất lương tri lương năng, từ ấy ta thường hay làm những điều lỗi lầm, vì thế người tu phải thường niệm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng để tâm được an tịnh, sáng suốt. Sách Nho có câu: Nhân dục tận tịnh, thiên lý lưu hành 人 欲 盡 淨, 天 理 流 行, nghĩa là dứt sạch được lòng dục thì thiên lý sẽ đạt được lý của Trời đất.

Ngoài ra, những câu niệm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng còn bao gồm hết những giáo lý, kinh điển, các quyền năng bao la vô thượng, vô biên cùng các đức hạnh tròn lành của các Đấng, nên những câu niệm ấy có đầy đủ năng lực đưa chúng thoát khỏi hoạn nạn, tai ương, giúp chúng ta vượt qua tình trạng hôn ám, sa đọa. Do đó, việc niệm danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật cùng các Đấng Thiêng Liêng chính là một trong những phép tu thân, luyện đức vậy.

 

 

 

 

TÂY PHƯƠNG GIÁO CHỦ
THÍCH CA MÂU NI THẾ TÔN

TÂY PHƯƠNG GIÁO CHỦ

Tây phương là hướng Tây, hay vùng đất ở phía Tây, cõi ở hướng Tây.

Giáo Chủ là vị sáng lập ra một tôn giáo và cầm quyền tôn giáo đó.

Trong Kinh sách đạo Cao Đài có nhiều Đấng “Tây phương Giáo chủ” khác nhau, tùy theo Thánh danh của Đấng Giáo chủ đó.

1- Nếu Tây Phương chỉ hướng Tây đối với Ngọc Hư Cung, nơi cõi vô vi, tức là Cực Lạc Thế Giới, thuộc từng trời thứ 10 là Hư Vô Thiên. Đây là cõi của chư Phật, nên còn gọi là Tây Phương Cực Lạc, hay Cực Lạc Niết Bàn.

Như vậy, Tây Phương Giáo Chủ trong trường hợp nầy dùng để chỉ Đức A Di Đà, vì Ngài làm Giáo Chủ cõi Tây Phương Cực Lạc.

Bên Phật Giáo từ “Tây Phương Giáo Chủ” thường dùng để chỉ Đức Phật A Di Đà.

2 - Nếu Tây phương là chỉ các nước ở về phía Tây, như Ấn Độ, Tây Tạng đối với Phật giáo Việt Nam, hay Trung Quốc… thì “Tây Phương Giáo Chủ” dùng để chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, vì Ngài khai sáng và làm Giáo Chủ Phật Giáo ở Ấn Độ.

Trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo bài “Kệ Chuông U Minh”, lời nguyện thứ 21 có câu như sau: “Nam Mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn 南 無 西 方 教 主 釋 伽 牟 尼 世 尊”.

3 - Nếu Tây Phương là chỉ những nước nằm về phía Tây Châu Á, thì Tây Phương Giáo Chủ còn dùng để chỉ Đức Jésus Christ.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp, Ngài dùng từ “Tây Phương Giáo Chủ” để chỉ Đức Jésus Christ như sau: Trước buổi Ðức Thích Ca gần quy liễu, Ananda và A Nan Ca Diếp đến bên Ngài khóc lóc hỏi Ngài rằng: Thầy quy vị rồi ai dạy chúng con, Ðức Thích Ca nói: Có một Ðấng đến sau ta, oai quyền hơn ta nữa. Ðức Phật Thích Ca đã nói một vị Tây Phương Giáo Chủ Jésus Christ đó vậy.

Riêng bài viết nầy, Đức Thích Ca Mâu Ni sau khi tu thành Phật, sáng lập và làm Giáo Chủ Phật giáo ở Phương tây thuộc nước Ấn Độ, nên chúng ta gọi Ngài là Tây Phương Giáo Chủ.

THÍCH CA MÂU NI

Thích Ca (Sãkya) là tên một dòng họ quý tộc cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Độ thời bấy giờ.

Mâu Ni (Muni) dịch là Ẩn sĩ. Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là bậc trí giả trầm lặng của dòng Thích Ca. Người Trung Hoa dịch là Năng nhân (người hay phát khởi lòng nhân), Tịch mặc (tâm luôn luôn an tịnh, không bị phiền não làm xao động, dứt bặt mọi đau khổ).

Thích Ca Mâu Ni là một vị thái tử ở Ấn Độ, phụ hoàng tên là Tịnh Phạn, mẫu hoàng tên là Ma Da. Ngài tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha), giòng họ Cồ Đàm (Gautama), được sinh ra vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, năm 623 trước Tây lịch, tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), ở Thủ đô Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) của một nước nhỏ ở miền bắc Ấn Độ, gần biên giới Népal ngày nay.

Sau khi hạ sanh được 7 ngày, Hoàng Hậu Ma Da từ trần, em bà Maha Pạjapati cũng kết duyên với vua Tịnh Phạn, thay thế người chị ruột, nuôi dưỡng Thái Tử Tất Đạt Đa cho đến khôn lớn.

Ngài vốn là người thông minh, sáng suốt và có tài năng phi thường. Đến 16 tuổi, theo phong tục thời bấy giờ, Thái Tử kết duyên cùng công chúa Da Du Đà La (Yasodhara), một người em cô cậu cùng tuổi với Ngài.

Thái Tử được sinh ra và lớn lên trong đời sống vương giả, nên không hay biết đến những nỗi thống khổ của dân chúng bên ngoài cung điện. Có một lần Ngài xuất cung cùng với quan hầu cận đi du ngoạn bên ngoài Hoàng thành, chứng kiến được những nỗi vất vả khổ cực của kiếp sống con người, những sự tranh giành giết hại lẫn nhau vì sự sống của chúng sanh, hoặc chứng kiến được các cảnh khổ não của sanh, già, bệnh, chết.

Ngài quyết chí tu hành, tìm đường giải thoát cho chính bản thân mình (tự độ), và cho hầu hết chúng sanh (tha độ) được lên bờ giác ngộ.

Ngài thành đạo dưới gốc cây bồ đề trải qua 49 ngày đêm thiền định, Ngài đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lúc đó Ngài được 35 tuổi, lấy hiệu là “Thích Ca Mâu Ni”.

Trong đạo Cao Đài, Đàn cơ ngày 26 tháng 2 năm Bính Dần (Dl. 8/4/1926), Đức Thích Ca Mâu Ni giáng cơ ban cho bài Thánh giáo bằng chữ Nho được trích từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau:

"Chuyển Phật Ðạo,

Chuyển Phật Pháp,

Chuyển Phật Tăng,

Quy nguyên Ðại Ðạo,

Tri hồ chư chúng sanh?

Khánh hỷ! Khánh hỷ! Hội đắc Tam Kỳ Phổ Ðộ, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đại hỷ phát đại tiếu!

Ngã vô lự Tam đồ chi khổ. Khả tùng giáo Ngọc Ðế viết Cao Ðài Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát".

Nghĩa là:

Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn chuyển Phật Ðạo, chuyển Phật Pháp, chuyển Phật Tăng, quy nguyên nền Ðại Ðạo.

Chư chúng sanh biết chăng?

Vui mừng thay! Vui mừng thay! Gặp được Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật quá vui mừng, nên phát ra tiếng cười lớn.

Ta không còn lo lắng về ba đường luân hồi khổ sở của chư chúng sanh. Khá tùng theo lời dạy bảo của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, gọi là Đấng Cao Đài Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

THẾ TÔN

Thế Tôn là tiếng dùng để xưng tụng những bậc có các Đức tánh tốt đẹp được vạn linh tôn thờ và kính ngưỡng.

Theo Phật giáo, Đức Thích Ca Mẫu Ni là vị Phật Thế Tôn, vì Ngài đầy đủ các đức tính tròn lành để được vạn linh tôn sùng và kính bái.

Trong Sớ Văn khi tâu trình Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu cùng các Đấng Thiêng Liêng trong đó có câu: Tam Tông Chơn Giáo, Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn có nghĩa là ba Đấng Giáo chủ Tam giáo trong đó Đức Thích Ca Mâu Ni là vị Thế Tôn, làm Giáo Chủ Phật đạo ở cõi Tây Phương.

 

 

 

 

THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ TAM THANH
ỨNG HÓA THIÊN TÔN

THÁI THƯỢNG

Thái Thượng 太 上 hay Thái Thượng Lão Quân là tôn hiệu của một vị giáo chủ trong Tiên giáo (hay Đạo giáo).

Theo bài Kinh Tiên giáo (Thái Thượng chí tâm qui mạng lễ) của đạo Cao Đài, thì Thái Thượng Lão Quân có trước cả Trời đất, do khí tiên thiên hóa sinh ra:

Tiên Thiên khí hóa.

Thái Thượng Đạo Quân,

Như ta biết, Tiên Thiên khí còn gọi là nguyên khí, Hư vô chi khí, Hỗn nguơn khí. Khí nầy có trước khi Càn khôn Vũ trụ được thành hình.

Khi Trời đất chưa phân định thì khắp cả vòm trời chỉ có một khối khí duy nhất, gọi là tiên thiên hư vô khí. Khí hư vô này là một khối nguyên khí mới luân chuyển hóa sanh thành Đức Thái Thượng Đạo Quân.

Thông thường Đức Thái Thượng Lão Quân được đồng nhứt với Lão Tử, nhưng theo đạo Cao Đài, Lão Tử chỉ là một hóa thân giáng trần của Thái Thượng vào rằm tháng 2 đời nhà Châu bên Trung Hoa, như lời kinh Tiên giáo đã dạy:

Nhị ngoạt thập ngũ,

Phân tánh giáng sanh.

Như vậy Thái Thượng do khí Tiên thiên sinh ra, và sau đó Ngài có một kiếp giáng trần nhằm ngày rằm tháng hai vào năm 604 trước Công nguyên. (Đời nhà Châu bên Trung Hoa), được gọi là Lão Tử.

ĐẠO TỔ

Đạo Tổ là vị Tổ sư của Đạo giáo (hay Tiên giáo).

Nguyên Đức Lão Tử là chơn linh của Thái Thượng Lão Quân phân tánh giáng trần vào đời nhà Châu. Khi Lão Tử cỡi độc giác thanh ngưu về phía Tây để độ chúng sanh, đến ải Hàm Cốc Ngài ở lại dạy đạo cho Doãn Hỷ và soạn ra bộ sách nói về Đạo Đức, sách phân làm hai thiên, gồm có trên 5000 chữ. Sau này quyển sách đó được gọi là “Đạo Đức Kinh” lưu truyền cho hậu thế, nên Ngài được Đạo giáo tôn xưng là “Giáo Chủ” hay “Đạo Tổ 道 祖” của tôn giáo nầy.

TAM THANH ỨNG HÓA

Tam Thanh.

Tam Thanh là ba ngôi của ba vị Tiên tối cao trong Đạo giáo tại Trung Hoa, gồm có: Ngọc Thanh là Nguyên Thủy Thiên Tôn, ngự tại cõi Thánh Cảnh.

Thượng Thanh là Linh Bảo Thiên Tôn, ngự tại cõi Chân Cảnh.

Thái Thanh là Đạo Đức Thiên Tôn, cũng chính là Thái Thượng Lão Quân, là Giáo Chủ Đạo giáo, ngự tại cõi Thanh Cảnh.

Trong các bức tranh vẻ hay tượng thờ Tam Thanh, cả ba được tạo hình thành ba ông già: Nguyên Thủy Thiên Tôn ngồi giữa, cầm viên ngọc, Đạo Đức Thiên Tôn ngồi bên trái, cầm cây quạt, Linh Bảo Thiên Tôn ngồi bên phải, cầm cây như ý.

Trong Đàn cơ ngày 1 tháng 4 năm Tân Mùi (Dl. 18/5/1931) tại Minh Thiện Đàn, Phú Mỹ, Đức Thái Thái Thượng Lão Quân có giáng cho một bài thi như sau:

Tam Thanh chưởng quản cả Ba Ngôi,

Độ thế kỳ ba cựu vị hồi.

Hỡi hỡi trần gian tua nhớ cảnh,

Căn xưa trở lại chớ buông trôi.

Theo đạo Cao Đài, Tam Thanh là ba ngôi phẩm, gồm Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh. Thái Thanh màu vàng, thuộc Phật, Thượng Thanh màu xanh, thuộc Tiên, Ngọc Thanh màu đỏ thuộc Thánh.

Tam Thanh thường dùng để đối với Tam Giáo và tam sắc. Nên lá cờ của đạo Cao Đài gọi là cờ Tam Thanh, gồm ba màu đỏ, xanh, vàng.

Chức sắc Cửu Trùng Đài của Hội Thánh Cao Đài được chia là ba phái: Phái Ngọc, mặc Đạo phục màu đỏ, thuộc Nho giáo, nguơn tinh; phái Thượng, mặc Đạo phục màu xanh, thuộc Tiên giáo, nguơn khí; phái Thái, mặc Đạo phục màu vàng, thuộc Phật giáo, nguơn thần.

Tam Thanh ứng Hóa:

Theo Đạo giáo, Nguyên Thỉ Thiên Tôn là Đức Thượng đế, Đấng thứ nhất trong Tam Thanh với ngôi vị Ngọc Thanh. Hai vị kia là Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn và Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn (tức Thái Thượng Lão Quân).

Chính vì vậy, Đạo giáo mới cho rằng Tam Thanh ứng hóa thành các đấng Thần, Thánh, Tiên, và sau đó các Thần, Thánh, Tiên đều quay về cõi Tam Thanh. Như vậy, Thái Thượng Lão Quân từ Tam Thanh mà ứng hóa ra.

Bài Kinh Tiên Giao của đạo Cao Đài cũng có dạy: “Đạo cao nhất khí, Diệu hoá Tam Thanh”, nghĩa là Đạo Vô vi của Đức Thái Thượng Đạo Quân có trước Trời đất, rất cao siêu, huyền diệu là do Hỗn nguơn nhứt khí, hay nguyên khí mà sinh ra Tam Thanh tức Ngọc Thanh. Thượng Thanh và Thái Thanh.

Theo truyện Phong Thần, khi phá trận Tru Tiên, Lão Tử dùng huyền diệu nguơn khí biến hóa ra Tam Thanh, tức ba người là Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh để xông vào ba cửa trận, cùng giúp Lão Tử phá trận Tru Tiên, đánh Thông Thiên Giáo Chủ. Tam Thanh đây cũng là ba sắc hào quang hay nguơn tinh, nguơn khí, và nguơn thần của Thái Thượng Lão Quân: Ngọc Thanh màu hồng, Thượng Thanh màu xanh, Thái Thanh màu vàng.

Trong truyện có bài thơ xưng tụng Đức Thái Thượng như sau:

Hồng Quân truyền phép Đạo đã thành

Làm chủ Thần Tiên độ chúng sanh

Biến thử ba hình ai dễ biết

Cho hay Ngươn khí hóa Tam Thanh.

THIÊN TÔN

Thiên Tôn là một phẩm do Đức Thượng Đế phong thưởng cho các Đấng Thiêng Liêng, trái với Thế Tôn là những bậc có các đức tánh tốt đẹp để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Trong đạo Cao Đài, Ngài Thái Thượng Đạo Tổ cũng được phong là một vì Thiên Tôn, là một vị Giáo Chủ trong Tam Giáo, cầm quyền về Tiên Giáo.

Như vậy “Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn 太 上 道 祖 三 清 應 化 天 尊” là Thánh danh của Đức “Thái Thượng Lão Quân”, có nghĩa Đức Thái Thượng Lão Quân là Đạo Tổ của Tiên Giáo, một vị Thiên Tôn trong cõi Tam Thanh Ứng Hóa ra.

Trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 22 có câu: “Nam Mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn”.

 

 

 

 

KHỔNG THÁNH TIÊN SƯ
HƯNG NHO THẠNH THẾ THIÊN TÔN

Đây là Thánh danh của Đức Khổng Thánh, một Đấng trong Tam vị Giáo chủ, cầm quyền Thánh giáo trong đạo Cao Đài.

Khổng Thánh tức Khổng Tử, người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nay thuộc phủ Duyện Châu, tỉnh Sơn Đông bên Tàu. Thân phụ Ngài là Thúc Lương Ngột làm quan võ, mẹ Ngài là Bà Nhan Thị. Ngài sinh vào mùa đông tháng mười năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Châu, tức là năm 551 trước Tây Lịch. Vì có cầu tự trên núi Ni Khâu, cho nên sinh ra Ngài mới đặt tên là Khâu 丘, tên tự là Trọng Ni 仲 尼.

Khi Đức Khổng Tử lên ba tuổi, thân phụ Ngài mất, nhờ mẹ nuôi nấng và dạy dỗ nên người. Lớn lên Ngài là người học Nho, nên rất trọng về lễ nghi và những phép tắc của các Đế Vương đời trước.

Ngài có ra làm quan cho nước Lỗ, nhưng thấy vua mê nữ sắc bỏ phế việc triều chính, Ngài bèn từ quan mà đi chu du các nước chư hầu, mong tìm vị minh quân để phò tá, nhân đó xiển dương Đạo Nho.

Sau đây, chúng ta tìm hiểu Thánh danh: “Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn”.

KHỔNG THÁNH

Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học. Bất cứ việc gì, Ngài cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng để biết cho cùng tận mới thôi. Tánh Ngài ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận, đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào Thiên mệnh. Ngài tin rằng bản thân Ngài được Trời giao cho sứ mệnh góp sức xây dựng nên một xã hội tốt đẹp, quý trọng đạo đức, và Ngài đã giành cả cuộc đời nỗ lực cho sứ mệnh đó.

Đức Khổng Tử còn là một người rất nhân hậu, hễ thấy ai đau đớn, buồn rầu, khổ sở thì Ngài động lòng thương xót. Chương Thuật Nhi có kể lại rằng: Đức Phu Tử mà ngồi ăn bên cạnh người có tang thì ăn không no. Ngày nào có đi phúng điếu về thì suốt cả ngày không đàn hát: Tử thực ư hữu tang giả chi trắc, vị thường bão dã. Tử ư thị nhật, khốc tắc bất ca. 子 食 於 有 喪 者 之 側, 未 嘗 飽 也.子 於 是 日, 哭 則 不 歌).

Do tính thương người mà suốt đời Ngài phải bôn ba chu du liệt quốc, mong đem cái Đạo mình ra để làm cho đời được thạnh trị. Ngài muốn giúp đời nên chủ trương chính sách “nhập thế”. Chính vì vậy, Ngài được người đời tôn là bậc Thánh (hay bậc chí Thánh).

Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên đã đánh giá Khổng Tử như sau: "Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết. Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử tới vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn. Có thể gọi là bậc CHÍ THÁNH vậy".

Nhưng Khổng Tử là người rất khiêm tốn, không dám nhận mình là Thánh. Ngài nói rằng: Nhược Thánh dữ nhân, tắc ngô khởi cảm, ức vi chi bất yếm, hối nhân bất quyện, tắc khả vị vân nhĩ dĩ hỹ 若 聖 與 仁, 則 吾 豈 敢, 抑 為 之 不 厭, 誨 人 不 倦, 則 可 謂 云 爾 已 矣, nghĩa là nếu bảo Ta là Thánh, là nhân thì sao Ta dám nhận, nhưng Ta làm việc Thánh việc nhân không chán ngán, dạy người không mỏi mệt, có thể bảo Ta được như thế mà thôi.

Trong đạo Cao Đài, nơi Chánh điện thờ Đức Chí Tôn, Ngài là Giáo Chủ Thánh giáo, là một trong Tam vị Giáo chủ: Phật, Tiên, Thánh.

TIÊN SƯ

Tiên: Trước, đầu tiên. Sư: Thầy.

Tiên Sư là vị Thầy đầu tiên, tức là vị Thầy trước hơn hết trong các thầy của muôn đời về sau.

Năm 22 tuổi, Đức Khổng Tử đứng ra lập trường dạy học, thu nhận đệ tử và thường được các môn đồ gọi bằng phu tử. Sử chép rằng Ngài có đến ba ngàn người học trò, tức tam thiên đồ đệ, trong đó có bảy mươi hai người tài giỏi hơn hết, được đời xưng tụng là thất thập nhị hiền.

Sự giáo hóa của Đức Khổng Tử chủ yếu là làm sao cho sáng tỏ cái đức sáng của con người, chớ không đặt trọng tâm vào sự truyền thụ kiến thức. Đây là một phương pháp giáo dục rất hay để khai mở cái Tâm của con người.

Để đào tạo ra những con người lý tưởng, Khổng Tử đã đề xuất một hệ thống phương pháp giáo dục khá chặt chẽ, với những kiến giải sâu sắc. Có thể nói, với hệ thống phương pháp giáo dục này Khổng Tử xứng đáng là một nhà giáo dục lớn.

Ngài đối xử với các học trò bằng tình thương như cha đối với con còn các học trò kính trọng Ngài như người cha thứ hai của họ. Trong quan hệ thầy trò, Ngài gần gũi với họ và hết sức chân thành.

Chính vì vậy, Đức Khổng Tử được đời xưng tụng là “Vạn thế sư biểu 萬 世 師 表”, tức là người thầy dạy học của muôn đời về sau, hay nói một cách khác, Ngài là vị “Tiên sư” của muôn đời.

HƯNG NHO

Hưng Nho là làm nổi lên phong trào Nho học, hoặc chấn hưng nền giáo lý của Nho giáo.

Đạo Nho là Đạo thi hành nhơn nghĩa, lấy sự yêu thương người làm trọng. Trong Khổng Tử Gia Ngữ có chép lại câu chuyện như sau : Vua Cung Vương nước Sở bị đánh rơi mất một cây cung, các quan tâu xin vua cho người đi tìm. Vua nói rằng: Vua nước Sở mất cung, dân nước Sở nhặt được, mất đi đâu mà phải tìm. Có người mang câu chuyện đó nói với Khổng Tử, Ngài nói rằng: Tiếc thay lòng vua Sở còn hẹp! Sao chẳng nói: Có người làm mất cây cung, lại có người lượm được, cần gì phải nói là người nước Sở. Câu chuyện nầy cho ta thấy lòng nhơn của Khổng Tử không giới hạn trong một nước, mà lan tỏa khắp trong thiên hạ.

Khổng Tử từ nhỏ có tính rất thông minh và nhơn hậu, hết lòng lo việc cứu đời trong thời kỳ đạo đức suy đồi, nên Ngài mới đem cái đạo Thánh Hiền của đời trước, phát huy thêm để viết lại thành những kinh sách dạy đời mà lưu truyền mãi về sau cho các dân tộc Á đông. Vì thế, trong Luận Ngữ mới có viết như sau : Thiên hạ không Đạo đã lâu rồi, Trời cho Khổng Tử ra làm cái mõ khuya để cảnh tỉnh nhơn tâm (Thiên hạ chi vô đạo giả cửu hỹ, Thiên tương dĩ Khổng Tử vi mộc đạc 天 下 之 無 道 者 久 矣, 天 將 以 孔 子 為 木 鐸).

Mỗi chữ viết, mỗi lời nói của Ngài, đời đời người ta lấy làm khuôn vàng thước ngọc để mà noi theo. Thí dụ như quyển Kinh “Xuân Thu” của Ngài, chỉ là quyển sử ghi chép lại chuyện nước Lỗ, từ Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công, thế mà trong ấy, Ngài cũng lấy luân lý ra để dạy đời, nên trong kinh Xuân Thu một chữ chê của Ngài có thể mang tiếng xấu muôn đời, một lời khen mà thành danh thơm muôn thủa. Người đời sau nói về kinh Xuân Thu như sau: “Một chữ khen, thì vinh hơn cái áo cổn hoa của vua ban cho, một chữ chê thì nhục hơn phải tội rìu búa” (Nhất tự chi bao, vinh ư hoa cổn, nhất tự chi biếm, nhục ư phủ việt 一 字 之 褒, 榮 如 華 袞, 一 字 之 貶, 辱 於 斧 鉞).

Những lời dạy và Kinh sách của Ngài và các đệ tử làm cho nền Nho học hưng thịnh lên, chính trong kinh “Xưng Tụng Phật Tiên Thánh Thần” có câu:

Đạo Nho truyền dạy nghĩa nhân,

Văn Tuyên Khổng Thánh khuyến dân răn đời.

Ghi các sách ngàn lời để lại,

Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra.

THẠNH THẾ

Thạnh (Thịnh 盛): Phát đạt, hưng vượng. Thế 世: Đời.

Thạnh thế là làm cho đời được thái bình và hưng vượng lên.

Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó. Ngài chu du qua các nước mong thuyết phục các vua chư Hầu chịu lấy Đạo của Ngài ra ứng dụng để đem lại thái bình cho dân chúng

Vào năm thứ chín đời vua Lỗ Định Công, Đức Khổng Tử được 51 tuổi, vua Lỗ mời Ngài ra làm quan, phong cho chức Trung Đô Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh thành. Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của ông làm khuôn mẫu. Năm sau, ông phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp Cốc. Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất mà Tề đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước.

Qua năm sau, Đức Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng lên Đại Tư Khấu coi việc hình án. Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật tự, trai gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không còn nữa, xã hội được an bình thịnh trị. Sau 4 năm, Lỗ Định Công phong ông lên làm Nhiếp Tướng Sự, coi việc Chính trị trong nước. Ông cầm quyền được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết tên gian thần Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính. Ông chỉnh đốn kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nên dân không còn nhiễu loạn mà chính trị mỗi ngày một tốt lên. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thạnh trị.

Như vậy, cái đạo của Đức Khổng nếu được thi hành thì đời sẽ trở nên hưng thịnh (tức Thạnh thế).

THIÊN TÔN

Thiên tôn là một phẩm do Đức Thượng Đế phong thưởng cho các Đấng Thiêng liêng, trái với Thế Tôn là những bậc có các Đức tánh để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Như vậy, “Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn 孔 聖 先 師 興 儒 盛 世 天 尊” là một Thánh danh của Đức Khổng Tử trong đạo Cao Đài, có nghĩa Đức Khổng Thánh là một vị Thiên Tôn, một người Thầy đầu tiên và của muôn đời về sau, là vị Thiên Tôn Giáo chủ của Đạo Nho, làm cho đời được thái bình thịnh trị.

 

 

 

 

QUAN ÂM BỒ TÁT

Quan Âm Bồ Tát còn gọi là Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát thường lắng nghe âm thanh của thế gian, có nghĩa là Ngài quán xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hoá độ. Ngài còn có hiệu là Quán Tự Tại Bồ Tát, có nghĩa là quán chiếu thâm sâu, giác ngộ tự tại mà cứu độ chúng sinh.

Ngài là hiện thân của đức Từ bi, nên chúng sanh thường niệm danh hiệu Ngài là Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát. Nơi nào có chúng sanh khổ đau là có Ngài đến cứu độ.

Trong kinh Pháp Hoa có câu: Khổ não chúng sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát. Dĩ thị danh Quan Thế Âm 苦 惱 眾 生 一 心 稱 名, 菩 薩 即 時 觀 其 音 聲, 皆 得 解 脫, 以 是 名 觀 世 音, nghĩa là chúng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài xem âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát. Vì thế, nên gọi Ngài là Quan Thế Âm.

Hình tượng và công đức của Phật Quan Thế Âm đã ăn sâu vào tâm khảm mọi chúng sanh, dù có tôn giáo hay không tôn giáo. Ta thường thấy, trên các xe khách hay tàu thuyền đều có vọng bàn thờ Ngài để cầu: “Thượng lộ bình an”. Như vậy, do căn cơ của chúng sanh chẳng đồng, nên Quan Thế Âm phải thị hiện trong khắp cả pháp giới, Kinh có câu:

Xứ xứ trì trung hữu minh nguyệt,

 

處 處 池 中 有 明 月

Gia gia môn hội hữu Quán Âm.

 

家 家 門 內 有 觀 音

Nghĩa là:

Ao nào cũng có ánh trăng,

Nhà nào cũng có Quan Âm hiện hình.

Đức Quán Thế Âm có phép thần thông quảng đại, thường hay biến hiện nhiều sắc tướng để cứu giúp chúng sanh, nên người đời thường thờ Ngài bằng nhiều hình tượng khác nhau.

- Thiên thủ thiên nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát 千 手 千 眼 觀 世 音 菩 薩 tượng có nghìn tay nghìn mắt.

- Chuẩn Đề Quan Âm 準 提 觀 音 : Tượng có ba mắt và mười tám tay.

- Nam Hải Viên Thông Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi, Tầm Thinh Cứu Khổ, Linh Cảm Quan Âm Bồ Tát 南 海 圓 通 教 主 大 慈 大 悲 尋 聲 救 苦 靈 感 觀 世 音 菩 薩: danh hiệu nầy có nghĩa là Đức Quan Thế Âm làm Giáo Chủ Đạo Viên Thông ở miền Nam Hải, thường tìm tiếng kêu mà cứu khổ, rất cảm ứng và rất thiêng liêng.

- Quan Âm Nữ Phật 觀 音 女 佛: Tượng là một người phụ nữ, tượng trưng cho tình thương của một bà mẹ hiền. Ngài đứng trên tòa sen tay cầm nhành dương liễu và bình Tịnh thủy để tiếp dẫn chúng sanh và rưới tắt mọi thứ phiền não.

Trong đạo Cao Đài, Quan Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật, cho nên còn gọi là Phật Bà Quan Âm, do hai sự tích: Quan Âm Diệu Thiện và Quan Âm Thị Kính. Trụ Xứ của Ngài là Nam Hải, nên còn được gọi Nam Hải Quan Âm hay Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai. Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Nhị Trấn Oai Nghiêm Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai để đại diện cho Phật trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Bát Nương Diêu Trì Cung có giáng cơ cho biết về Đức Quan Âm như sau: “Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ Phổ Độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên”.

Theo Đức Hộ Pháp, Quan Thế Âm Bồ Tát có 52 kiếp giáng linh trên địa cầu 68 nầy và Ngài cho biết: “Bạch Vân Hòa Thượng kiếp trước là Đức Quan Âm Bồ Tát đầu kiếp ở bên nước Tàu trước, rồi mới đầu kiếp ở bên xứ Việt Nam, ta kêu là Thanh Sơn Đạo Sĩ tức nhiên là Trạng Trình đó vậy, Thanh Sơn Đao sĩ dầu kiếp bên Pháp là Ralagode Bourgall, 52 kiếp có một kiếp trọng hệ có thâm tình với nòi giống Việt Nam ta hơn hết, chúng ta có hạnh phúc lắm, mới được Ngài đầu kiếp ở trong nước hai lần, lần thứ nhứt đầu kiếp làm người đàn bà tức nhiên Thị Kính, chúng ta đã biết Quan Âm là ai rồi. Bởi vậy cho nên buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy Đức Chí Tôn đã chọn lựa một Đấng cao trọng cho đến mặt địa cầu 68 nầy, có lẽ chúng ta đều biết danh Ngài hết, nhứt là Ngài lựa chọn một Đấng có thâm tình với nòi giống chúng ta hơn hết, cái tánh đức từ hòa yêu ái của Ngài, chúng ta đừng kiếm Đức Quan Âm đâu xa hơn là Thị Kính”.

Và trong bài thuyết đạo ngày 28 tháng 6 năm Mậu Dần (1938), Đức Hộ Pháp có giảng Tại sao thờ Tam Trấn? rồi Ngài nói về đức tánh của Quan Âm Bồ Tát như sau: “Đức Quan Âm Bồ Tát, buổi còn sanh tiền giữ trọn câu trung trinh tiết liệt, mộ đạo đức, chẳng mến cuộc phú quý vinh huê, đủ nghị lực, trọn tâm trải qua nhiều hoàn cảnh khổ sở truân chuyên mà chỉ tu hành chẳng đổi, Bà mới đoạt thành phẩm vị Nữ Phật Tông Quan Âm Bồ Tát.

Kỳ Phổ Độ thứ ba nầy, thừa lịnh Đức Chí Tôn cùng Diêu Trì Kim Mẫu, cầm quyền Nhị Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Thích giáo, rọi gương bác ái từ bi, tế độ đoàn nữ phái”.

Sau đây là bài Thánh thi của Đức Quan Âm Như Lai giáng cơ đêm mùng 2 tháng 11 năm Tân Mùi (1931):

Khán đắc phù sinh nhứt thế không,

 

看 得 浮 生 一 世 空

Điền viên sản nghiệp diệc giai không.

 

田 園 產 業 亦 皆 空

Thê nhi phụ tử chung ly biệt,

 

妻 兒 父 子 終 離 別

Phú quý công danh tổng thị không.

 

富 貴 功 名 總 是 空

Cổ ngữ vạn ban đô thị giả,

 

古 語 萬 般 都 是 假

Kim ngôn bá kế nhứt tràng không

 

今 言 百 計 一 場 空

Tiền tài thâu thập đa tân khổ,

 

錢 財 收 拾 多 辛 苦

Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ không.

 

路 上 黃 泉 兩 手 空

(Quan Âm Như Lai)

 

 

Dịch vần:

Thấy được phù sinh vốn cõi không,

Ruộng vườn sự nghiệp cũng đều không.

Vợ con cha mẹ rồi ly biệt,

Danh lợi sang giàu rốt cũng không.

Lời cổ: Muôn điều toàn giả tạm,

Câu nay: Trăm kế một trường không.

Tiền tài gom góp nhiều lao khổ,

Nẻo đến Suối Vàng, tay sạch không.

(Thiên Vân dịch)

 

 

 

 

LÝ ĐẠI TIÊN TRƯỞNG
KIÊM GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

LÝ ĐẠI TIÊN TRƯỞNG

Lý Đại Tiên Trưởng tức Lý Thái Bạch, một vì Đại Tiên Trưởng thọ lịnh Đức Chí Tôn làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Tiên giáo trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, kiêm Giáo Tông của đạo Cao Đài.

Thánh danh viết đầy đủ của Ngài là “Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”.

Lý Đại Tiên Trưởng có một kiếp giáng linh nơi nước Trung Hoa là Đại thi hào Lý Thái Bạch, thường gọi là Lý Bạch vào năm 702 đời vua Trần Huyền Tông nhà Đường. Mẹ Ngài nằm mộng thấy sao Kim, tức sao Trường Canh hay sao Thái Bạch Kim Tinh sa xuống mình của Bà, nên đặt tên là Lý Thái Bạch, gọi tắt là Lý Bạch.

Lý Thái Bạch 李 太 白, quê ở đất Thục, làng Thanh Liên, huyện Xương Minh, tỉnh Tứ Xuyên, hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ, là một thi hào bậc nhứt đời Đường, tính tình hào hiệp, thích uống rượu ngâm thơ.

Hồi được bảy tuổi, Lý Bạch chưa biết nói, nhưng khi bà mẹ bồng lên lầu, bổng nhiên Ngài ngâm được bốn câu thơ mà ý thực quái dị: Nguy lâu cao bách xích, Thủ khả trích tinh thần. Bất cảm cao thanh ngữ, Khủng kinh thiên thượng nhân 不 敢 高 聲 語 手 可 摘 星 晨. 危 樓 高 百 尺, 恐 驚 天 上 人, nghĩa là: Vòi vọi lầu trăm thước, Vói tay hái được sao. Chỉ e nói lớn tiếng, Kinh động Tiên trên cao.

Lớn lên, Lý Bạch tướng mạo khôi ngô, cốt cách thanh kỳ, thông minh dĩnh ngộ. Lúc thiếu thời Ngài có tài văn chương, nổi tiếng là một thi gia đời thịnh Đường, giỏi rượu hay thơ, càng uống rượu vào chừng nào, thơ lại càng hay chừng nấy, được người đương thời tặng danh hiệu là “Ông Tiên bị đày” (Thiên thượng trích Tiên nhân 天 上 謫 仙 人).

Lý Bạch có tên hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ 青 蓮 居 士. Bản tính của Ngài không ham danh lợi, thích đi chơi khắp các danh thắng ở bờ sông Trường giang, giao du với những ẩn sĩ mà đời gọi là Trúc Khê lục dật.

Năm 30 tuổi danh tiếng của Lý Bạch chói lọi khắp mọi nơi, không ai mà chẳng biết đến Ngài. Một hôm, Ngài vào một quán rượu ở đất Hồ Châu, ngồi trên lầu uống rượu ngâm thơ.

Lúc đó vị quan Tư Mã đất Hồ Châu là Giả Diệp đi ngang qua, nghe tiếng Lý Bạch ngâm thơ, bèn sai người hỏi xem ai?

Lý Bạch liền đáp bằng bốn câu thơ:

Thanh Liên Cư sĩ, Tiên trần giới,

Quán rượu ba mươi tuổi chẳng cầu.

Tư Mã Hồ Châu sao khéo hỏi,

Như Lai kim túc ấy thân sau.

Giả Diệp nghe qua giật mình hỏi: Ông có phải là Lý Trích Tiên ở đất Thục đó chăng?

Rồi Giả Diệp ân cần mời Lý Bạch về tư dinh đàm đạo, thơ rượu suốt mười ngày và thành thật khuyên Ngài đi Trường An ứng thí.

Trong Thánh Thi Văn Dạy Đạo, và Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Ngài có giáng cơ ban cho hai bài thi như sau:

Ðường trào hạ thế hưởng Tam quan,

Chẳng vị công danh chỉ hưởng nhàn.

Ly rượu trăm thi lời vẫn nhắc,

Tánh Tiên muôn kiếp vốn chưa tàn.

Một bầu phong nguyệt say ngơ ngáo,

Ðầy túi thơ văn đổ chứa chan.

Bồng đảo còn mơ khi bút múa,

Tả lòng thế sự vẽ giang san.

 

Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch,

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu.

Quyền năng dâng thửa Thiên Triều,

Càn Khôn Thế Giái dắt dìu Tinh Quân.

Tinh Quân thọ sắc thuở Phong Thần,

Cho đến Ðường Triều mới biến thân.

Thái Bạch Kim Tinh đương trị thế,

Trường Canh Trích Tử đến thăm trần.

 

Ðộng Ðình thi rượu đong muôn đấu,

Bồng Ðảo câu Tiên nắm một cần.

Vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế,

Tam Kỳ độ rỗi các Nguyên Nhân.

Câu “Ly rượu trăm thi lời vẫn nhắc”, và “Ðộng Ðình thi rượu đong muôn đấu”, ý Ngài muốn nói đến nhà thơ Đỗ Phủ, một thi gia cùng thời đã tặng cho Ngài một bài thi về tài rượu và thơ của Ngài như sau:

Lý Bạch đẩu tửu thi bách thiên,

 

李 白 斗 酒 詩 百 篇,

Trường An thị thượng tửu gia miên.

 

長 安 市 上 酒 家 眠.

Thiên tử hô lai bất thượng thuyền,

 

天 子 呼 來 不 上 船,

Tự xưng thần thị tửu trung tiên.

 

自 稱 臣 是 酒 中 仙.

Nghĩa là:

Lý Bạch đấu rượu thi trăm bài,

Chợ Trường An ngủ nơi quán rượu,

Thiên Tử kêu lại không lên thuyền,

Tự xưng thần là vị Tiên rượu.

Ngài được phong đến chức Hàn lâm học sĩ, nhưng vì không ham danh lợi, quyền tước, nên Ngài không chăm lo việc nước, mà chỉ uống ruợu ngâm thi mà thôi. Vua Đường Huyền Tôn rất trọng Ngài, nhưng Ngài không như bọn phàm phu khác, chịu đem cái tài hoa của mình nịnh nọt bọn vương hầu, trái lại, Ngài xin trở về hưởng nhàn.

Vào một đêm trăng sáng, Ngài ngồi thuyền đến ven sông Thái Trạch thì thoát xác đăng Tiên, thọ 61 tuổi. Vua Đường Túc Tông ra lịnh lập Đền thờ cho Đức Ngài, đề là “Lý Trích Tiên Từ” tại bờ sông để hằng năm cúng tế.

Từ đó chúng sanh đã tôn Ngài là “Lý Đại Tiên Trưởng”.

KIÊM GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Kiêm: Kiêm nhiệm.

Giáo Tông: Một chức sắc cao cấp nhứt của đạo Cao Đài, làm Chưởng quản Cửu Trùng Đài, là anh cả của chư chức sắc và toàn tín đồ.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Có nghĩa là một nền đạo lớn khai sáng vào thời kỳ thứ ba để cứu giúp toàn chúng sanh nơi cõi Trần thoát khỏi luân hồi mà trở về cõi Thiêng liêng Hằng sống. Do Thánh danh Đức Chí Tôn là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, nên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ còn gọi là đạo Cao Đài.

Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là nói Lý Đại Tiên Trưởng, cầm quyền Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm thêm chức Giáo Tông đạo Cao Đài.

Theo quyển Đạo Sử, khi đạo Cao Đài vừa được khai sáng, Đức Chí Tôn định phong cho Ngài Ngô Văn Chiêu đảm nhiệm chức Giáo Tông và dạy Bà Hiếu may mão và bộ Đại phục Giáo Tông.

Đến ngày 11 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 22/4/1926) Đức Chí Tôn giáng cơ nói với Bà Hiếu: Hiểu! Dâng mão Giáo Tông cho Thầy xem. Trúng, mà ai đội mà con phòng lật đật.

Qua lời Thánh giáo nầy, Đức Chí Tôn cho biết ông Ngô Văn Chiêu không lãnh chức Giáo Tông. Vì vậy đến ngày khai Đạo, Đức Chí Tôn mới giao chức Giáo Tông cho Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm.

Như vậy, trong đạo Cao Đài, vị Giáo Tông đầu tiên là Đức Lý Thái Bạch cầm quyền, cho đến ngày 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (22/11/1930), Ngài mới ban quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Đầu Sư Thượng Trung Nhựt để điều khiển cơ Đạo cho phù hợp với tình hình.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Lý Đại Tiên Trưởng có đoạn dạy: Lão hạ mình bỏ quyền Nhứt Trấn lãnh việc Giáo Tông mà lập vị cho đoàn em bước tới. Lão đã lắm phen thấy điều khó khăn mắc mỏ của phần ấy, nên ra tay giục loạn đặng phân rõ Chánh Tà, hầu giúp phương cho Hội Thánh trừ khử.

Lão để mắt coi cái công bình phàm của chư hiền hữu giữa Tòa Tam Giáo là dường nào. Lão lại còn lấy công bình thiêng liêng mà để phương cho mỗi vị tội nhơn cải lỗi lấy mình. Ấy là thể lòng từ bi của Ðức Chí Tôn, bằng chẳng thì Lão đã hạ cơ trục xuất cả thảy. Chư hiền hữu đừng tưởng lầm rằng vì Ðạo chinh nghiêng mà buộc Lão tùng đời. Ấy là lời tuyên ngôn của Lão đã hứa quyết. Hiền hữu làm thế nào cho vừa trách nhiệm thì làm cho Lão xem thử.

 

 

 

 

QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN

Đức Quan Thánh Đế Quân, thế danh là Quan Võ, sau đổi là Vân Trường, tục danh là Quan Công. Ngài sanh nhằm triều vua Hoài Đế, đời Đông Hán, người đất Giải Lương, quận Hà Đông (có sách chép tại Bồ Châu, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc).

Sanh ra trong thời kỳ Hán thất suy vi, bên trong bọn hoạn quan chuyên quyền, bên ngoài giặc Huỳnh cân dấy lên tứ phía, Ngài tuy ham học, thích đọc kinh Xuân Thu, nhưng trước cảnh loạn lạc của đất nước, Ngài đành châu du để tìm hào kiệt mưu cầu đại nghiệp.

Ngài kết nghĩa đào viên, thề đồng sống thác với hai người bạn là Lưu Bị, tự Huyền Đức, anh cả, thuộc dòng dõi nhà Hán, và một người nữa là Trương Phi, tự Dục Đức, em út. Ngài là người trung, can, nghĩa, khí, là một tướng anh hùng xuất chúng trong thời Tam Quốc, Ngài quyết tâm khuôn phò Hán thất.

Năm 40 tuổi được phong chức “Hán Thọ Đình Hầu”. năm 49 tuổi được phong làm Thái Thú ở Tương Dương, chức là “Đãng Khấu Tướng Quân”. Năm 50 tuổi phong làm “Tổng Đốc Kinh Châu Sứ”.

Căn cứ vào Trung Quốc Sử Lược, Ngài lầm mưu của Lữ Mông mà bị bắt, rồi Ngô Quyền đem xử trảm năm 219 sau Tây Lịch, lúc đó Ngài được 58 tuổi.

Theo Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh, “Ðức Ngài không phải là người tu hành, không xuất thế, không trường chay giái sát mà khi bỏ xác trần Ðức Ngài đắc Thánh vị và sau thăng đến Phật Vị.

Chỉ vì khi còn tại thế Ðức ngài gồm cả bốn đức: Trung, Can, Nghĩa, Khí. Một lời giao kết dù cho nát thân cũng không dời đổi. Trung thì bền lòng như sắt đá. Cang dũng thì coi sự chết như mảnh lông hồng, trọng nghĩa như Thái sơn, khí tiết thì chói lòa Nhựt Nguyệt. Ngài là một nhơn vật phi thường một vị Thánh nhơn tại thế vậy. Ðời người làm tướng của Ðức ngài uy danh lừng lẫy dù cho kẻ thù nghịch của Ðức ngài cũng phải kiêng nể kính phục”.

Còn Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp cũng cho rằng: “Hớn Thọ Ðình Hầu Quan Vân Trường buổi nọ là một vị tướng của Thục tức của Lưu Bị. Ta thấy đại nghĩa của Ngài trung can nghĩa khí của Ngài nhứt là về bằng hữu chi giao, tình nghĩa đối với bạn hữu của Ngài, dám chắc dầu chúng ta dân tộc Việt Nam hằng chịu ảnh hưởng văn hóa của Nho Tông, chưa có được người nào đã giống như Ngài vậy. Tâm trung nghĩa chẳng vì sang mà theo Tào, chỉ chuộng Hớn; nghĩa chẳng vì bạn buổi khổ não truân chuyên mà phụ rãy tình nhau; trung và nghĩa ấy hi hữu. Nói đến chí khí của Ngài, Bần Ðạo tưởng luận không hết: Ngài bất sát hạ mã chi nhơn. Truyện sách lưu lại rằng Ngài suýt bị Hạ Hầu Ðôn giết vì nó biết cái sở yếu của Ngài mà lợi dụng, nếu không Trương Liêu đến cứu. Mỗi phen Ngài trở cây Yểm Nguyệt Thanh Long Ðao định vớt nhà nớ, thì nhà nớ nhảy xuống ngựa, chí khí đó thế gian hi hữu. Hỏi Ngài lập chí với bộ sách Xuân Thu mà thôi. Người sau có tặng cho Ngài đôi liễn:

Chí tại Xuân Thu, công tại Hán;

Trung đồng nhựt nguyệt nghĩa đồng thiên.

Trọn đời Ngài không lúc nào rời bộ sách ấy, lúc nào cũng đọc lấy tinh thần của sách suy luận làm tinh thần của mình”.

Người xưa cũng có bài thơ ca tụng Đức Ngài:

精 忠 沖 日 月

 

Tinh trung xung nhật nguyệt

義 氣 貫 乾 坤

 

Nghĩa khí quán càn khôn

面 赤 心 尤 赤

 

Diện xích tâm vưu xích

鬚 長 義 更 長

 

Tu trường nghĩa cánh trường.

Dịch vần:

Lòng trung chói lọi trời trăng,

Đất trời nghĩa khí sánh bằng, không ngoa.

Đỏ tâm đỏ mặt sáng lòa,

Râu dài, đại nghĩa ai qua được Ngài.

Theo Đức Hộ Pháp, nguơn linh của Đức Quan Thánh Đế Quân là Xích Long Tinh. Trong quyển Thuyết Đạo chép: “Buổi nọ dân Bắc Hớn phạm Thiên điều bị Ngọc Hư Cung phạt hạn không cho mưa, đặng cho dân ấy phải đói. Dân làng biết mà cầu nguyện nơi Ngài cứu nạn. Ngài cũng thừa biết dân ấy bị Thiên điều hành pháp, nhưng vì lòng ái tuất thương sanh không nỡ để dân chết đói, nên Ngài làm mưa. Ngọc Hư Cung bắt tội sai Ngũ Lôi tru diệt. Ngài chạy trốn vào một cái chùa, nhờ ông thầy chùa lấy chuông úp lại. Vị Ðạo Nhơn có căn dặn Bổn Ðạo trong chùa đừng ai dở chuông cho đến ngày nào Ngài hết hạn. Chư Ðạo trong chùa tọc mạch dở ra xem coi vật gì, thành thử Ngài phải chịu đầu kiếp, kiếp ấy là Hạng Võ”.

Như vậy, Hạng Võ cũng là nguơn linh của Xích Long Tinh, nên là một tướng anh hùng, sau nổi dậy diệt nhà Tần, nhưng thua kế Hàn Tín, bị quân binh của Hán Bái Công rượt chạy đến Ô Giang mà tự tận, linh hồn lại đầu thai thành Quan Võ.

Quan Võ phò Lưu Bị dựng nên nhà Thục Đời Tam Quốc, sau lầm mưu Lữ Mông mà bị bắt chém đầu.

Khi Chơn linh của Ngài xuất ngoại, Châu Xương và Quan Bình cũng tự tử chết theo, ba người ấy bay giữa không trung, đi ngang ngôi chùa kêu ông thầy chùa là Phổ Tịnh đòi ông nọ trả cái đầu, ông bèn lấy cái quạt gõ trên cửa tụng ba phiến vãng sanh, Ngài hạ giáng xuống tiếp đòi đầu nữa. Ông nọ cười nói rằng: “Nhan Lương, Văn Xủ kia mới đòi đầu với ai? Ấy là tiền căn báo hậu kiếp thôi chớ”. Ðức Quan Thánh Ðế Quân tỉnh ngộ, xin ông Phổ Tịnh cho Ngài ở đó đặng tu, Chơn linh của Ngài nhờ ở nơi chùa đó mà hiển Thánh. Khi hiển Thánh rồi Ngài trừ tà diệt quỷ, cứu độ sanh linh, và từ đó đến bây giờ không tái kiếp lần nào nữa, duy dụng cái quyền hành thiêng liêng mà hành Ðạo thôi”.

Theo sự tín ngưỡng dân gian, Ngài Quan Thánh Đế Quân không riêng gì Nho, Thích, Đạo sùng thượng mà cả ba nền tôn giáo đó đều tôn kính Ngài.

Nho giáo thì tôn xưng Ngài là “Quan Thánh Đế Quân”, lại còn tôn là “Văn Hành Đế Quân”, hoặc “Sơn Tây Phu Tử”.

Đạo giáo thì qua nhiều đời tôn xưng, bằng các danh hiệu như : “Hiệp Thiên Đại Đế”, “Vũ Thánh Đế Quân”, “Phục Ma Đại Đế”, “Vũ An Tôn Vương”…

Phật giáo, vì Ngài đã từng hiển thánh ở Ngọc Tuyền Sơn và quy y theo Phổ Tịnh Thiền Sư. Nhân đó mà bên Phật giáo tôn xưng Ngài là Hộ Pháp Già Lam, hoặc “Cái Thiên Cổ Phật”.

Riêng trong đạo Cao Đài, Quan Thánh Đế Quân là một trong Tam Trấn Oai Nghiêm, đại diện Đức Khổng Thánh cầm quyền Nho giáo trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Hội Thánh lấy ngày 24 tháng 6 Âm lịch hằng năm làm ngày Đại lễ Vía Đức Quan Thánh.

Chính trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 26 có câu: “Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân 南 無 協 天 大 帝 關 聖 帝 君”.

Tại Đền Thánh, trên tấm diềm trước Bát Quái Đài có đắp ba bức tượng Tam Trấn Oai Nghiêm: Lý Đại Tiên Trưởng ở giữa, Quan Âm Bồ Tát bên hữu, Quan Thánh Đế Quân bên tả.

Trong Thánh Tượng Ngũ Chi thờ tại tư gia, hình Đức Ngài mặt đỏ, râu năm chòm, tay phải vuốt râu, tay trái cầm quyển Kinh Xuân Thu, ở về phía trái của Thiên Nhãn, dưới hình Đức Khổng Thánh Tiên Sư.

Đức Quan Thánh Đế Quân ít giáng cơ dạy Đạo. Sau đây là hai bài thi của Ngài được trích trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Tiết nghĩa trung can Hớn đảnh xây,

Phò Lưu dựng Thục một lòng ngay.

Kinh Châu thất thủ nơi Thiên định,

Khiến Hớn vận suy mới đổi thay.

 

Quan thành tái hiệp Hớn triều phong,

Thánh đức mạc vong hám thế trần.

Ðế thất nhứt tâm trung khí dõng,

Thanh y xích diện hảo vinh phong.

 

 

 

 

DA TÔ GIÁO CHỦ CỨU THẾ THIÊN TÔN

DA TÔ

Da Tô là tiếng phiên âm của Tàu tên một người Do Thái được tín đồ Thiên Chúa giáo tôn làm Giáo Chủ, hay Đức Chúa Trời.

Ngài có tên là Jésus Christ, sanh vào đêm 25 tháng 12 tại thành Bethléem. Mẹ của Ngài là Maria, một nữ tu tại đền thờ Jérusalem. Cha Ngài là Joseph. Hai ông bà rất mộ đạo, tuy bà đang có thai, gần ngày sanh, nhưng hai người vẫn cố gắng tới Đền thờ để chầu lễ. Vì vậy, đúng 12 giờ đêm Noel bà chuyển bụng sanh ra Chúa Jésus nơi máng cỏ trong chuồng chiên.

Năm 30 tuổi, Ngài được Thánh Jean Baptiste làm lễ giải oan tại bờ sông Jourdain. Từ đó, Ngài khởi sự giảng Thánh Kinh ngay trong xứ Galilée và Jérusalem, lập nên đạo Thánh ở Do Thái, rồi truyền bá mạnh mẽ sang Châu Âu. Uy quyền bọn vua quan phong kiến bị lung lay, nên chúng tìm cách giết Ngài.

Bọn chúng mua chuộc một tông đồ của Ngài là Yuda, phản lại Ngài vu cáo cho Ngài mưu việc phản loạn, rồi bắt Ngài lên án tử hình và đóng đinh trên thập tự giá.

Cái chết của Đức Chúa Jésus thật là cao cả, Ngài chuộc tội cho loài người bên xứ Châu Âu, trở thành một vị Chúa Cứu Thế cho toàn nhơn loại.

Ðức Chúa Jésus là Chơn linh của Ðức Phật Christna, một vị Phật trong Tam Thế Phật, giáng sanh để mở đạo Thánh nơi nước Do Thái, cứu độ các sắc dân ở Âu Châu trong thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.

Theo Thuyết đạo của Đức Hộ Pháp trong ngày Vía Ðức Chúa Jésus 25/12/1948 và 25/12/1949, xin trích ra như sau: “Có một Ðấng Chơn linh Tam Thế Chí Tôn, nhơn loại đều biết danh đó: Brahma Phật, tức nhiên là Tạo hóa; Nhị thế Civa Phật, tức Tấn hóa; Tam thế Christna Phật, tức nhiên Bảo tồn; Ðấng trọn quyền bảo tồn ấy là lòng ái tuất thương sanh vậy. Vì cớ cho nên, Ðức Chúa Jésus Christ thương nhơn loại một cách nồng nàn thâm thúy. Ngài đã ngó thấy Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, nhơn loại ký Hoà ước với Chí Tôn mà đã bội ước, nên phạm Thiên điều, nhơn quả nhơn loại gớm ghiết. Do nhơn quả ấy mà tội tình nhơn loại lưu trữ đến ngày nay. Thánh giáo gọi “Tội Tổ Tông”. Chính mình Ngài đến, đến với một xác thịt phàm phu, Ngài đến giơ tay để ký Ðệ nhị Hòa ước với Ðức Chí Tôn, chịu tội cho nhơn loại, ký Ðệ nhị Hòa ước đặng dìu dắt chúng sanh trở về cùng Ðấng Cha Lành của họ tức nhiên là Ðức Chí Tôn của chúng ta ngày nay đó vậy. Ðấng ấy vô tận vô biên, thấy nạn của nhơn loại đã dẫy đầy, Ngài chỉ xuống mặt thế nầy làm con tế vật đặng chuộc tội tình cho nhơn loại, mà lại còn đem quyền của Chí Tôn để nơi tay của nhơn loại, bàn tay đó đã ký Ðệ nhị Hòa ước cho nhơn loại, nó làm cho Ngài thế nào? Do tay Ngài ký tờ Hòa ước với Chí Tôn, nên 2 tay của Ngài bị đóng đinh trên cây Thập tự giá”.

Nguyên Đức Ngài có tên là “Jésus”, người Tàu đọc âm rồi viết thành hai chữ “耶 蘇”, chúng ta mới phiên âm hai chữ nầy thành “Da Tô” (Da viết phụ âm D theo Tự Điển của Thiều Chửu và Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh).

Trong bài Kinh Khi Về có đoạn viết:

Dẫy xe trâu Côn Lôn trỗi bánh,

Lý Lão Quân mong lánh phong trần.

Núi Ô Li Vê để dấu chân,

Gia Tô Giáo Chủ giải phần hữu sanh.

Chúng ta thấy câu kinh trên viết Thánh danh của Đức Ngài là “Gia Tô” (Gia viết phụ âm Gi) và nhứt là các bản Sớ văn của Hội Thánh được lưu hành bằng chữ Quốc ngữ đều phiên âm: “Gia Tô Giáo Chủ 嘉 蘇 教 主”. Ngoài ra trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển hay Thuyết Đạo Hộ Pháp cũng đều viết là “Gia Tô Giáo Chủ” (Chữ Gia viết: “Gi”).

Nhưng trong Long vị thờ Đức Ngài tại Đền Thánh lại viết: “Da Tô Giáo Chủ 耶 蘇 教 主” (Chữ Da .viết: D).

Chính Ngài đã giáng cơ dạy Đạo vào năm 1925 khoán thủ trong bài Thánh thi 8 chữ “Da Tô Giáo Chủ Giáng Chứng Kỷ Niệm”, mà câu thi đầu tiên Ngài lấy ý da thịt để khoán thủ chữ Da của Thánh hiệu “Da Tô”. Như vậy tức là xác định cho ta thấy Thánh danh “Da Tô Giáo Chủ” của Ngài phải viết chữ Da bằng chữ “D”.

Bài Thánh thi của Ngài như sau:

DA nồi thịt xáo hại lòng đau,

TÔ cả Năm Châu cũng máu đào.

GIÁO lý Chân như đồng bản tính,

CHỦ trung Thần trí hiệp chung màu.

GIÁNG đàn nhắc nhở lời kinh Thánh,

CHỨNG tỏ tiên tri chẳng khác nào.

KỶ thế hai mươi Ta phục đáo,

NIỆM danh Thiên Chúa tại đài cao.

Chúng tôi trình bày hai lối viết Thánh danh của Đức Jésus là có ý mong muốn sau nầy Hội Thánh nghiên cứu và thống nhứt Thánh hiệu của Ngài theo Long Vị thờ tại Đền Thánh.

GIÁO CHỦ

Giáo chủ là người sáng lập và đứng đầu một tôn giáo.

Ðức Chúa Jésus Christ là Giáo chủ của Thiên Chúa giáo. Thiên Chúa giáo còn được gọi là Công giáo, Ðạo Gia Tô, là Thánh đạo trong Ngũ Chi Ðại Ðạo, nên Ðức Ngài được gọi là Da Tô Giáo chủ.

Nói về ngôi Giáo chủ của Ngài, Đức Hộ Pháp có thuyết: “Ngài chết như thế ấy, nếu không phải con mắt thiêng liêng oai quyền của Ðức Chí Tôn thì cái chết của Jésus Christ mai một mờ ám mà thôi, không có cái gì gọi là Chí Thánh cả. Không phải vậy, Ðức Chí Tôn đã hứa, đã nhìn nhơn loại là con và chính mình Ngài đã ở trọn hiếu cùng hy sinh tánh mạng của mình làm cho danh của Ðức Chí Tôn cao trọng và làm cho nhơn loại đặng hưởng đặc ân của Ðức Chí Tôn chan rưới, làm cho con cái của Ðức Chí Tôn biết cái hiếu của Ngài đối với Ðức Chí Tôn. Từ thử tới giờ, chưa có một Giáo Chủ nào đã làm. Cái hiếu của Ngài đến giờ chót đối với Ðức Chí Tôn đã trọn. Còn Ðức Chí Tôn, nếu không phải giữ “Nghĩa” với đứa con yêu dấu, con hiếu hạnh của Ngài, thì cái chết của Jésus Christ bất quá như kẻ tù nhân chết mà thôi, có đâu lên phẩm vị Giáo chủ, ngồi trên ngai thiêng liêng vô cùng quí báu trên mặt địa cầu nầy gần 2000 năm. Trong lúc Ðức Chúa Jésus Christ làm con hiếu hạnh có ba năm thôi, mà Ðức Chí Tôn trả lại cái danh dự sang trọng cho Ngài đến 1949 năm là năm nay”.

CỨU THẾ

Cứu thế có nghĩa là cứu đời, tức cứu cả toàn nhơn loại.

Chúa Cứu Thế chỉ Đức Chúa Trời, tức Jésus Christ, Giáo Chủ Thiên Chúa Giáo, Người đã có công hy sinh thân xác mình chịu đóng đinh trên Thập Tự giá để chuộc tội cho toàn nhơn loại.

Đức Hộ Pháp giải thích về cái chết của Đấng Jésus Christ như sau: “Cái chết của Ðức Chúa Jésus Christ là gì? Là Ngài đem xác Thánh quí trọng dâng cho Ðức Chí Tôn làm tế vật. Xác Thánh chết trên Thánh giá là tế lễ đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cúng Ðức Chí Tôn ngày nay đó vậy. Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng”.

THIÊN TÔN

Thiên tôn là một phẩm do Đức Thượng Đế phong thưởng hoặc được vạn linh tôn thờ cho các Đấng có công nghiệp với nhơn loại, trái với Thế Tôn là những bậc có các Đức tánh tốt đẹp để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Trong đạo Cao Đài, Đức Chúa cũng được tôn xưng là một vì Thiên Tôn, là vị Giáo Chủ cầm quyền Thánh giáo trong Ngũ Chi Đại Đạo. Thánh danh của Ngài ghi trong Sớ Văn như sau “Da Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn”.

Ngoài ra trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, lời nguyện thứ 27 bài Kệ Chuông U Minh có câu “Nam Mô Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn 南 無 耶 蘇 教 主 救 世 天 尊”.

 

 

 

 

THÁI CÔNG TƯỚNG PHỤ QUẢN PHÁP THIÊN TÔN

Tại Tòa Thánh Tây Ninh, nơi chánh điện, ngoài quả Càn Khôn để biểu tượng cho Đức Chí Tôn, phía dưới còn có các Long vị thờ Tam vị Giáo Chủ, Tam Trấn Oai Nghiêm và Ngũ Chi Đại Đạo. Trong Ngũ Chi Đại Đạo, có một Long vị viết “Khương Thượng Tử Nha” là Đấng chủ về Thần đạo.

Khi dâng Sớ lên để tâu trình với Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng liêng, trong đó, vị chủ về Thần đạo là Khương Thái Công, với Thánh danh Ngài “Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn 南 無 太 公 相 父 管 法 天 尊”.

Ngoài ra trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 28 cũng có câu: Nam Mô Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn.

Chúng ta thử tìm hiểu Thánh danh nầy.

THÁI CÔNG

Tại sao gọi Ngài Khương Thượng là Thái Công?

Thái Công tức “Thái Công Vọng”, tự Tử Nha, tên chữ là Lữ Vọng. Tử Nha là một vị hiền thần của vua Văn Vương, họ Khương tên Thượng, câu ở bờ sông Vị. Khi Tây Bá Hầu Cơ Xương (sau là vua Châu Văn Vương) đi săn, gặp Khương Thượng đang câu cá ở phía bắc sông Vị. Cơ Xương bèn đến đàm luận rất tâm đầu ý hợp, nên ngưỡng mộ tài năng của Ngài.

Cơ Xương nhớ lời trước đây tổ tiên nhà Châu là “Thái Công 太 公” dặn rằng sẽ có vị Thánh đến giúp cho đất nước nhà Châu được hưng thịnh. Do đó, Cơ Xương quả quyết rằng Khương Thượng chính là người mà Thái Công mong đợi trước đây, nên ông mới tôn Tử Nha là “THAI CÔNG VỌNG 太 公 望” (có nghĩa là người mà ông Thái Công mong đợi), rồi đón Ngài lên xe chở về cung và tôn Ngài làm thầy.

Như vậy Thái Công do chữ “Thái Công Vọng” viết tắt, để gọi Tử Nha, như “Khương Thái Công”.

TƯỚNG PHỤ

Lúc thiếu thời Khương Thượng rất mộ đạo Tiên, nên tầm sư học đạo và thọ giáo Đức Nguơn Thỉ Thiên Tôn tại núi Côn Lôn. Ngài quyết chí tu hành, không màng đến việc thế tục nữa, theo thầy lo tu hơn 40 năm trên núi.

Vào thời ấy, Trụ Vương vì đắm say nữ sắc của Đắc Kỷ, không lo việc triều chính, công thần nhiều vị khuyên can đều bị giết hại, nhân dân đồ thán, giặc cướp nổi lên bốn phía, vận nước suy vi.

Nguơn Thỉ Thiên Tôn khuyên Khương Tử Nha hạ trần để phò Châu, phạt Trụ. Đức Ngài phải nghe lời Thầy xuống núi, ngồi câu ở sông Vị mới gặp được Tây Bá Hầu Cơ Xương.

Khí số nhà Thương sắp mãn, vận nước Tây Châu hưng thịnh, nên Cơ Phát lên nối nghiệp cha, xưng hiệu Võ Vương, rồi tôn Khương Thượng là “Tướng Phụ 相 父” hay “Thượng Phụ”.

Sau đó vua Châu Võ Vương lập đàn bái tướng, phong Tử Nha làm Đại Nguyên Soái, cử binh phạt Trụ. Trên mười năm mới bình định xong tứ phương, vua lên ngôi thiên tử, phong Khương Tử Nha đứng đầu các bậc khai quốc công thần, và cho làm vua nước Tề, đời đời con cháu được phụ truyền tử kế mà hưởng lộc triều đình.

Như vậy, “Tướng Phụ” cũng như chữ “Thượng Phụ” là lời tôn của vua Võ Vương để gọi Ngài Khương Thượng.

QUẢN PHÁP

Quản: Nắm, cai quản. Pháp: Pháp thuật, huyền phép.

Quản pháp là nắm giữ về pháp thuật huyền diệu.

Sau khi diệt được nhà Ân, vua Võ Vương lên ngôi, mở ra đời thạnh trị, thiên hạ thái bình, Khương Tử Nha còn nhận được sắc chỉ của Đức Ngươn Thủy Thiên Tôn để lãnh nhiệm vụ phong Thần và Ngài cầm quyền về Thần đạo, tức nắm về những huyền pháp thiêng liêng.

THIÊN TÔN

Thiên Tôn là một phẩm do Đức Thượng Đế phong thưởng cho các Đấng Thiêng Liêng, trái với Thế Tôn là những bậc có các đức tánh để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Trong đạo Cao Đài, Ngài Khương Thái Công cũng phong là một vì Thiên Tôn, chủ về Thần Đạo, là một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Như vậy “Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn” là Thánh danh Đức “Khương Thượng Tử Nha” có nghĩa là vị Thiên Tôn chưởng quản về hàng Thần, có nhiều pháp thuật huyền diệu và thiêng liêng.

 

 

 

 

TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ PHÁP THIÊN TÔN

Khi Cúng Đàn, chúng ta thường có thượng Sớ, trong đó có câu: “Tam châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn”. Đây cũng là câu chú dùng để niệm danh hiệu của Đức Hộ Pháp.

Tam Châu là ba Châu lớn nằm trong “Tứ Đại Bộ Châu”.

Trước hết chúng ta thử tìm hiểu về “Tứ Đại Bộ Châu”.

Xét về giáo lý Cao Đài, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy như sau: “Tam thập lục thiên, Tứ Đại Bộ Châu ở không không trên không khí, tức là không phải tinh tú, còn lại Thất thập nhị địa và Tam thiên thế giới thì đều là tinh tú, Tính lại ba ngàn bảy mươi hai ngôi sao”.

Và đoạn khác, Ngài dạy: “Đứng bực Đế vương nơi trái địa cầu này chưa đặng vào bực chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quý trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới đệ nhứt cầu, Tam thiên thế giới, qua khỏi Tam thiên thế giới thì mới đến Tứ Đại Bộ Châu, qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam thập lục thiên, vào Tam thập lục thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa mới đặng lên đến Bạch Ngọc Kinh”.

Như vậy, Tứ Đại Bộ Châu trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn dạy không phải tinh tú, nằm ở không không trên không khí, dưới Tam thập lục thiên và trên Tam thiên thế giới, tức là Tứ Đại Bộ Châu trong cõi thiêng liêng.

Khi nói về cái chết của Ngài Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh, Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy hai Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt vào ngày 7 tháng 11 năm Bính Dần (Dl. 11-12-1926) như sau: "Trung, Lịch, hai con phải dụng Ðại lễ mà an táng cho Tương, nghe! Thầy ngặt một lẽ chẳng thế nào đem Tương vào Tam thập lục Thiên, phải để nó đợi nơi Ðông Ðại Bộ Châu mà chờ Tòa Tam Giáo phát lạc”.

Qua đoạn Thánh ngôn nầy, chúng ta suy ra được rằng: Đông Đại Bộ Châu là một cõi dưới Tam thập lục Thiên, nhưng trên Tam Thiên thế giới về phía Đông của Tứ Đại Bộ Châu nơi cõi Thiêng liêng nầy.

Còn theo Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế thì hai câu: “Thượng chưởng Tam thập lục thiên, Tam thiên thế giới; Hạ ốc Thất thập nhị đia, Tứ Đại Bộ Châu”, có nghĩa là Thượng Đế, trên thì chưởng quản ba mươi sáu tầng Trời, ba ngàn Thế giới; dưới thì chưởng quản bảy mươi hai Địa cầu và bốn Đại Bộ Châu.

Như vậy theo ý nghĩa của Kinh, Tứ Đại Bộ Châu này, khác với Tứ Đại Bộ Châu trên, nằm bên Thất thập nhị địa, chia ra theo bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc của Thất thập nhị địa:

Phía đông là Đông Thắng Thần Châu

 

東 勝 神 洲.

Phía tây là Tây Ngưu Hóa Châu

 

西 牛 貨 洲.

Phía nam là Nam Thiệm Bộ Châu

 

南 贍 部 洲.

Phía bắc là Bắc Câu Lư Châu

 

北 俱 閭 洲.

Trong Tứ Đại Bộ Châu nầy, Địa cầu 68 của nhơn loại chúng ta thuộc Nam Thiệm Bộ Châu, cho nên trong “Bài Xưng Tụng Công Đức Phật Tiên Thánh Thần” có câu:

Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm,

Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

Trong Tứ Đại Bộ Châu nầy, Đức Hộ Pháp vâng lệnh Đức Chí Tôn cầm quyền giáo hóa ba châu và tám Bộ, nên người ta xưng tụng Ngài là “Tam Châu Bát Bộ Hô Pháp Thiên Tôn”.

TAM CHÂU:

Hộ Pháp cai quản ba châu là: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Nam Thiệm Bộ Châu. Còn Bắc Câu Lư Châu không thuộc quyền giáo hóa của Ngài mà dành chỗ ở của hàng quỷ vị.

BÁT BỘ:

Bát bộ là Tám bộ, mỗi bộ cai quản một phẩm chơn hồn, nên Bát bộ cai quản bát phẩm chơn hồn. Bát phẩm chơn hồn gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Đức Hộ Pháp thay Đức Chí Tôn mở cơ tận độ chúng sanh nơi cõi trần, nên Ngài có nhiệm vụ cai quản Bát bộ nầy.

Thuyết về “Bí Pháp”, Đức Hộ Pháp có giải thích về Tam Châu Bát Bộ như sau: “Tam Châu là: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Nam Thiệm Bộ Châu đều thuộc quyền hạn của Hộ Pháp, còn Bắc Cu Lư Châu để cho các phẩm chơn hồn quỷ vị nó định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó. Nó có một quyền năng vô định, chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một châu cho quỷ vị, ăn năn tu học đặng đoạt vị.

Ba Bộ Châu kia thuộc về quyền hạn của Hộ Pháp giáo hóa. Duy có Bắc Châu, Ngài không thường ngó tới lắm, để cho nó tự do làm gì thì làm, khôn nhờ dại chịu.

Bát Bộ là gì? Là nơi Bát phẩm chơn hồn chớ có chi đâu. Tám hồn là gì? Là vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, dĩ chí cho đến Thần, Thánh, Tiên, Phật hồn.

Tám Bộ ấy thuộc quyền hạn của Hộ Pháp Thiên vị, nơi Đức Chí Tôn gọi đến tạo cơ quan tận độ chúng sanh, không còn ai khác hơn Hộ Pháp, chính Hộ Pháp trách nhiệm ấy.

Đức Hộ pháp đến cốt yếu đem Bát phẩm chơn hồn thăng vị, nhiều hoặc ít, có thể một đẳng cấp, từ vật chất Hộ Pháp đem lên thảo mộc, thảo mộc đem lên thú cầm, thú cầm đem lên Nhơn loại, dĩ chí Phật vị. Hộ Pháp có thể định cho học đặng”.

Tóm lại “Tam châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn” có nghĩa là Hộ Pháp là vị Thiên Tôn nắm quyền Tam Châu, Bát Bộ.

Theo Đức Hộ Pháp, đáng lý câu Chú của Ngài phải đọc là ‘Tam Thiên Thế Giái Hộ Pháp Giáng Lâm”, nhưng vì người xưa thường dùng câu “Tam châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn” nên cho đến nay phải giữ như vậy.

Điều nầy, khi thuyết về “Hộ Pháp Hành Pháp Mỗi Khi Vô Cúng Đàn”, Ngài có dạy như sau: “Mỗi phen nhập đàn, hễ trống chuông rồi, thì tất cả đi vô, cả thảy đi vô thong thả, chỉ có Bần Ðạo thật bối rối, bước lên ngai rồi, trụ pháp lại, vẽ bùa niệm chú. Câu chú mà khi thượng sớ, chúng ta thường nghe đọc "Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên tôn". Thật sự thì như vầy "Tam Thiên Thế Giái Hộ Pháp Giáng Lâm". Từ trước đến giờ, các bậc tiền bối của chúng ta đã để như nói trên nên không thể sửa cải được, phải để y như vậy”.

 

 

 

 

Ý NGHĨA CHỮ KHÍ

Trong Đền Thánh sau ngai Đức Hộ Pháp bên trong vách có đắp một chữ “Khí” màu vàng thật to và khi tín đồ cúng Đức Chí Tôn xong phải quay ra sau xá “chữ Khí” ấy một xá.

Chữ Khí được viết bằng chữ bùa, dùng để chỉ khí Sanh Quang, khí Hư Vô (Hư Vô chi khí), hay khí Tiên Thiên, một thứ khí xuất hiện trước khi Trời đất được hình thành.

Vì sao chúng ta phải xá chữ “Khí”? Hộ Đàn Pháp Quân đã thỉnh giáo Đức Hộ Pháp ngày 1/4/ Quí Tỵ và được Ngài giải thích như sau:

Cái xá ấy chẳng phải làm lễ trọng Chức-Sắc Hiệp Thiên Đài từ lớn đến nhỏ mà là xá chữ Khí. Chữ Khí là nguồn cội của Pháp đã biến sanh ra vạn-vật, Phật là trước, tới Pháp là thứ, kế Tăng là tiếp, cái xá ấy là kính đệ tam qui. Trong Pháp ấy xuất-hiện Phật Mẫu kế tới Vạn linh, vì cớ cho nên Diêu Trì Cung cùng Hiệp Thiên Đài có tình mật thiết cùng nhau về một căn cội Pháp.

Để vận hành Ngươn Khí tạo Vạn linh thì vị Hộ Pháp do Di Đà xuất hiện rồi kế vị Hộ Pháp và kế tiếp Long Thần Hộ Pháp cùng toàn bộ Pháp Giới đương điều khiển Càn Khôn Vũ Trụ cũng đều do nơi chữ Khí mà sanh sanh hóa hóa. Chào chữ Khí tức là chào cả Tam Qui Thường Bộ Pháp Giới tức là chào mạng sanh của chúng ta, chớ chẳng phải chỉ chào Hộ Pháp, Thập Nhị Thời Quân. Thập Nhị Địa Chi đã xuất hiện mà đang thi hành sứ mạng nơi Hiệp Thiên Đài, mà chào toàn thể Vạn Linh đã sanh hóa từ tạo Thiên lập Địa.

Xin nhớ và truyền bá lời giáo huấn nầy, chính mình lầm hiểu là thất đức chớ chẳng phải người đảnh lễ là thất đức.

1- KHÍ SANH QUANG

Khí Sanh Quang là nguồn năng lượng phát ra từ Thái Cực dùng để nuôi dưỡng sự sống, cho nên chữ Khí là sự sống của vạn vật, do Khí là Pháp biến tướng ra vạn vật.

Như ta biết, khí Sanh quang là sự sống của vạn loại nơi quả địa cầu nầy. Nếu ngày nào tuyệt Khí Sanh quang thì nhân loại và thú cầm đều chết hết, nên Thánh giáo Thầy mới có câu “Có sống ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự sống”.

Khí Sanh Quang còn được gọi là Khí Thái Cực, khí Tiên Thiên, Hỗn Ngươn Khí, hay Thoại Khí…

Các chơn linh nơi cõi thiêng liêng sở dĩ được hằng sống là nhờ hấp thu khí Sanh Quang ấy.

Khi giải thích câu “Chưởng Đào tiên thủ giải trường tồn” trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh, Đức Hộ Pháp có nói: “Nơi Diêu Trì Cung, Phật Mẫu trụ Sanh Quang lại thành một khối gọi là quả Đào Tiên, đủ phép sống vĩnh viễn trường tồn nơi cõi Hư linh. Phật Mẫu cầm quyền phép huờn Chơn thần cho ta đạt kiếp nơi cửa Hư linh”.

Và trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp cũng cho biết chưởng quản khí Sanh Quang là Đức Phật Mẫu và Ngài dùng khí Sanh Quang để bảo tồn, nuôi dưỡng vạn loại. Đoạn Thuyết đạo ấy viết:

Cái khối linh ấy (Thái Cực) phân tánh của mình ban bố ra cả vạn vật, khối linh ấy trước khi phân tánh thì gọi là Brama là Phật, đến khi phân tánh rồi thì Ðấng thứ nhì Civa chủ về Pháp, Ðức Chí Linh cầm quyền năng biến chuyển chớ không cầm quyền năng tạo đoan. Pháp vận hành mà sanh khí nên ta thấy mênh mông trước mắt ta ấy là Khí, vậy Khí là gì? Khí là khối Sanh Quang vạn vật nhờ thở khí ấy mà sống, cho nên chữ Khí là sự sống của vạn vật, do Khí là Pháp biến tướng ra vạn vật. Nên Ðấng thứ nhì chưởng quản cái sanh khí thường gọi là "2è Logos" thuộc Âm ấy là Phật Mẫu chưởng quản cả cơ quan tạo đoan nầy vậy.

Như vậy thờ chữ “Khí” sau lưng ba vị chức sắc Đại Thiên Phong Hiệp Thiên Đài là thờ khí Sanh Quang.

Còn bên Điện Thờ Phật Mẫu, hiện nay nơi Nội Ô Toà Thánh chưa có Đền Thờ, còn tạm mượn Báo Ân Từ để thờ Đức Mẹ, vì vậy nơi đó còn để trống. Chờ ngày nào tạo được Đền thờ Phật Mẫu trung ương, thì nơi khuôn bao hình chữ nhựt ở tấm vách ngoài, ngó ngay vào Chánh Điện Thờ Đức Phật Mẫu sẽ đắp tượng Nam Bình Phật Tổ Phật, cũng như nơi Đền Thánh có Hộ Pháp ngự trên ngai thất đầu xà trông vào Bát Quái Đài vậy.

Mặc dầu không có thờ Nam Bình Phật Tổ, nhưng sau khi cúng Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ xong, Đức Hộ Pháp có dạy Lễ Viện Phước Thiện, Giáo Nhi và Đồng Nhi là: Khi cúng rồi phải day ra xá một xá, cũng như ở Đền Thánh vậy. Nên hiểu, không phải xá Hộ Pháp, mà là xá để kỉnh chào Khí Sanh Quang, tức là nguồn cội của Pháp biến sanh vạn vật…

Tuy vậy, sau nầy Hội Thánh có ra Thánh Lịnh Số: 59/TL ngày 11 tháng 7 năm Nhâm Tý (Dl. 19/8/1972) của Ngài Hiến Pháp có điều: “Cúng Đàn tại Báo Ân Từ Tòa Thánh, cũng như tất cả các Điện Thờ Phật Mẫu, khi mãn đàn không có xây ra xá phía ngoài (nhứt luật)”.

Rồi đến năm 1978, Hội Thánh mới ban hành Thánh Lịnh Số: 007/TL, do Thượng, Ngọc Đầu Sư cùng với Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đồng ký tên ngày 13 tháng 2 năm Mậu Ngũ (Dl. 21/3/1978) để thâu hồi khoản 10 nơi điều thứ nhứt của Thánh Lịnh số: 59/TL và sau khi mãn Đàn cúng tại Báo Ân Từ hoặc Điện Thờ Phật Mẫu, tất cả bổn đạo đều xá vô Đức Phật Mẫu ba xá, xây ra ngoài xá một xá (xây bên trái) theo lời giải thích trước đây của Đức Hộ Pháp.

2- KHÍ HƯ VÔ (HƯ VÔ CHI KHÍ)

Khí Hư Vô hay Hư Vô chi khí là chất khí có từ thời nguyên thủy trước khi sanh ra Thái Cực, đó là Đại hồn của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Khi đã có Thái Cực rồi thì Ngài dùng khí Hư Vô ấy biến ra Lưỡng Nghi, sanh ra Tứ Tượng, biến thành Bát Quái để tạo hóa ra Càn Khôn Vũ trụ, vạn vật và chính Ngài cũng sanh hóa ra Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có cho biết: Bởi vậy, một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới.

Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con.

Nói rằng Đức Chí Tôn hóa sanh ra chư Thần Thánh Tiên Phật, tức là Ngài dùng khí Hư Vô, khí Tiên Thiên, hay khí Hỗn Ngươn có từ thời nguyên thủy để vận chuyển hóa thành các Đấng ấy.

Trong bài Kinh Tiên Giáo Tâm Kinh có câu:

“Tiên Thiên khí hóa Thái Thượng Đạo Quân” có nghĩa là Thái Thượng Đạo Tổ là vị Tổ Sư của Tiên giáo do khí Tiên Thiên mà hóa sanh ra.

Như ta biết, vào thời Tiên Thiên, là thời kỳ mà Trời đất chưa phân định, tức là còn trong thời kỳ hỗn mang, trong ấy khí Tiên Thiên (còn gọi Hư Vô chi khí)) là khí vô cùng nhẹ nhàng, tinh khiết bàng bạc khắp Càn khôn Vũ trụ, kết tụ muôn đời nhiều kiếp, rồi hóa sinh ngôi Thái Cực, đó là Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thái Cực mới phân hóa Âm Dương, Âm quang thì do Đức Phật Mẫu chưởng quản, Dương quang thì do Chí Tôn làm chủ. Hai khí Âm Dương phối hợp nhau, mới hóa sinh ra Đức Thái Thượng Đạo Quân.

Và trong bài Phật giáo Tâm Kinh cũng có câu:

“Hỗn Độn Tôn Sư, Càn khôn chủ tể”, có nghĩa là Nhiên Đăng Cổ Phật là vị Tôn Sư được hóa sanh trong thời kỳ Hỗn Độn, do Hỗn Ngươn khí hóa thành, làm chủ tể của Càn khôn Vũ trụ.

Chữ Khí là Hư Vô chi khí, nguồn cội hóa sanh Tiên, Phật.

3 - ĐẠO

Đức Lão Tử gọi khí Hư Vô là Đạo. Đồng với quan điểm nầy, Đại Thừa Chơn Giáo cũng cho Đạo là Hư Vô Chí Khí.

Đại Thừa Chơn Giáo đã luận về cái Đạo ấy như sau: Đạo là gì? Đạo là Hư Vô chi khí. Đạo rất mầu nhiệm, sâu kín, cao siêu. Trước khi chưa có Trời đất, đã có Đạo. Vậy Đạo đã tạo dựng nên Càn Khôn Vũ Trụ, hóa sanh vạn vật muôn loài. Muôn loài vạn vật phải thọ bẫm khí Hư Vô mà sanh hóa mãi.

Đạo mầu sản tạo Càn Khôn,

Hư vô chi khí Chí Tôn chưởng quyền.

Hóa sanh Phật, Thánh, Thần, Tiên,

Muôn loài vạn vật lưu truyền thỉ chung.

Đạo vô tận, Đạo vô cùng,

Đạo là mẹ đẻ khắp chung muôn loài.

Đạo phân ngôi thứ Tam Tài,

Đạo châu vi độ trần ai vững vàng.

Đạo còn, người, vật bền an,

Đạo lìa, một khắc tiêu tan xác hồn.

Đạo truyền dại trở nên khôn,

Đạo ra cốt yếu bảo tồn chúng sanh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng cho biết: Bởi vậy, một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con.

- Như kẻ bên Phật giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế.

- Người gọi Quan Âm là Nữ Phật tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương.

- Người gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu.

- Người gọi Lão Tử là Tiên Tổ giáo, thì Lão Tử cũng sanh ra đời nhà Châu.

- Người gọi Jésus là Thánh đạo Chưởng giáo, thì Jésus lại sanh nhằm đời nhà Hớn.

Thầy hỏi: Vậy chớ ai sanh ra các Ðấng ấy?

Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó ai sanh? Ấy là Đạo. Các con nên biết.

Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy.

Tóm lại thờ chữ “Khí” cũng là thờ “Hư Vô chi khí”, tức là thờ Đạo vậy.

 

 

 

 

NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT

Nhiên: Đốt cháy. Đăng: Cây đèn. Nhiên đăng có nghĩa là đốt cháy.

Nhiên Đăng hay Nhiên Đăng Cổ Phật, gọi theo tiếng Phạn là Dipankara hay Dipanikara là vị Phật thứ tư trong 28 vị Phật.

Trong Đại Trí Độ Luận, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật khi đản sinh, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Đăng Thái tử. Khi thành Phật cũng gọi Ngài là Nhiên Đăng Phật.

Đức Nhiên Đăng là một vị Phật của đời quá khứ, còn được gọi là Định Quang Phật 錠 光 佛, vị Phật đã sống vô lượng kiếp trước thời đại chúng ta. Đó là vị Phật đầu tiên và quan trọng nhất trong các vị Phật có trước đời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nhiên Đăng là vị Phật tượng trưng cho các vị Phật trong đời quá khứ. Bên Phật Giáo ở Trung Hoa, người ta thường thờ Đức Nhiên Đăng Cổ Phật chung với Thích Ca Mâu Ni Phật và Di Lạc Vương Phật để gọi là thờ Tam Thế Chư Phật (trong đó Phật Nhiên Đăng đại diện cho chư Phật trong quá khứ, Phật Thích Ca là vị Phật thời hiện tại và Phật Di Lặc tượng trưng cho chư Phật thời vị lai).

Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm Tự có nói sự tích này: Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh khi còn ở Hoàng Cung, có sanh ra tám vị Vương tử: Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bảo Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hưởng Ý, Pháp Ý. Khi Ngài xuất gia tu hành thành Phật thì 8 vị Vương tử ấy đều theo cha mà tu trì Phạm hạnh. Tám vị ấy đều lần lượt thành Phật, và vị sau rốt thành Phật hiệu là Nhiên Đăng.

Ngoài ra trong Tự Điển Phật Học Việt Nam có cho biết: Đức Phật Thích Ca có một tiền kiếp là tu sĩ Thiện Tuệ. Thiện Tuệ từng gặp Đức Phật Nhiên Đăng và mua hoa từ một cô gái bán hoa với giá rất đắt để đem cúng cho Đức Phật. Cô gái ngạc nhiên mới hỏi vì sao Thiện Tuệ lại chịu mua với giá đắt như vậy? Thiện Tuệ trả lời là mua hoa để cúng Phật Nhiên Đăng. Cô gái liền tặng không bó hoa với lời nguyện là cô với Thiện Tuệ sẽ kết duyên vợ chồng trong các kiếp sau, còn Thiện Tuệ nguyện rằng sẽ tu thành Phật trong tương lai. Phật Nhiên Đăng thọ ký cho cả hai người.

Sa môn Thiện Tuệ tức là tiền thân của Phật Thích Ca, còn cô gái bán hoa là tiền thân của Công chúa Gia Du Đà La.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Như kẻ bên Phật giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế. Như vậy, Đức Nhiên Đăng đã giáng trần mở Phật Đạo ở Ấn Độ ứng với thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Trung Hoa, Ngài làm Chưởng Giáo Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội.

Trong bài Kinh Tiểu Tường có đoạn:

Tịnh niệm phép Nhiên Đăng tưởng tín,

Hư Vô Thiên đến thính Phật điều.

Ngọc Hư đại hội ngự triều,

Thiều quang nhị bá Thiên Kiều để chơn.

Cho ta biết Đức Nhiên Đăng hiện nay chưởng quản từng Hư Vô Thiên, là từng Trời thứ 10, trên đó có Ngọc Hư Cung, là nơi họp Thiên triều của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế để các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật. tạo định Thiên Thư, tận độ chúng sanh trở về với ngôi vị Phật.

Theo Di Lạc Chơn Kinh, từng Hư Vô Thiên có các vị Phật như Tiếp Dẫn Phật, Phổ Tế Phật, Tây Qui Phật, Tuyển Kinh Phật, Tế Pháp Phật, Chiếu Duyên Phật, Phong Vị Phật, Hội Chơn Phật, và hăng hà sa số Phật đều tùng lịnh Nhiên Đăng Cổ Phật.

ĐẠI BỔ TÁT

Đại Bồ Tát là một vị Bồ Tát lớn.

Bồ Tát do từ tiếng Phạn Bodhisattva tức là Bồ Đề Tát Đóa. Bồ Đề (Bodhi) có nghĩa là chánh giác,còn Tát Đóa (Sattva) có nghĩa là chúng sinh.

Bồ Đề Tát Đóa gọi tắt là Bồ Tát để chỉ bậc đã giác ngộ, đã đắc quả Bồ Đề, nhưng không an hưởng Niết Bàn, mà cứ lặn lội trong ba cõi sáu đường để cứu độ chúng sinh.

Chính Đức Phật Thích Ca cũng đã từng làm Bồ Tát ở kiếp trước, đến kiếp cuối cùng mới ngồi nơi cội Bồ Đề sáu năm rồi thành Phật.

MA HA TÁT

Ma Ha Tát là tiếng Phạn Mahasattva dịch là Ma Ha Tát Đóa. Ma Ha Tát có nghĩa là bậc chúng sinh (sattva) lớn, có lòng dạ quảng đại luôn thương xót và tế độ (Maha) tất cả nhân loại.

Vậy Đại Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc Bồ Tát trên hết các bậc Bồ Tát, đáng lẽ đã thành Phật nhưng vì lòng thương chúng sinh nên nguyện ở lại tế độ mọi người và khi nào không còn ai khổ sở nữa mới thành Phật.

Tóm lại, Thánh danh đầy đủ của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật khi cầu nguyện về Đức Ngài là “Nam Mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, nghĩa là nguyện noi theo Thánh đức đại từ đại bi, chí thiện, chí mỹ, toàn tri toàn năng của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, là vị Đại Bồ Tát có lòng thương yêu và mong tế độ cho toàn thể chúng sanh.

 

 

 

 

KỈNH TÂM THỌ HÀM OAN

Nơi hành lang Báo Ân Từ có đắp một khuôn hình lấy sự tích “Kỉnh Tâm thọ hàm oan”.

Kỉnh Tâm là pháp danh của Thị Kính khi nàng giả trai vào chùa quy y theo Phật pháp, sau đắc thành Quan Thế Âm Bồ Tát.

Như ta biết ở Trung Hoa và Việt Nam, người ta thường thờ Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật do hai sự tích: Quan Âm Diệu Thiện và Quan Âm Thị Kính.

Quan Âm Thị Kính do tích như sau:

Thị Kính là con của hai ông bà nhà họ Mãng ở nước Cao Ly, có chồng là Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng. Hai vợ chồng sống với nhau thuận hoà, êm ấm.

Một ngày kia, Thị Kính đang ngồi may vá, còn chồng nàng vì đọc sách mỏi mệt, nằm ngủ quên bên cạnh nàng đang ngồi may. Nàng thấy nơi càm chồng có một sợi râu dài bay lất phất, sẵn cầm kéo định đưa tay cắt đứt. Bỗng Thiện Sĩ giựt mình, thấy vợ đang cầm kéo đưa ngay vào cổ, bèn la hoảng lên.

Cha mẹ chồng chạy đến cũng cho rằng Thị Kính mưu giết chồng, buộc Thiện Sĩ thôi vợ và mời hai ông bà nhà họ Mãng lãnh con gái về.

Thị Kính vô tình phải chịu hàm oan, nên quyết tâm xuất gia tìm nơi tu hành. Nàng cải nam trang trốn khỏi nhà, vào một ngôi chùa xin sư cụ cho thọ pháp quy y và nhận pháp danh là Kỉnh Tâm.

Thị Kính là gái giả trai nên dung mạo rất đẹp đẽ, khiến cho nàng Thị Mầu, con một vị trưởng giả vùng ấy phải lòng, nhiều lần trêu ghẹo, nhưng Kỉnh Tâm đều từ khước. Sau đó, Thị Mầu tư thông với đứa đầy tớ có thai, bị làng tra hỏi, nàng khai tư tình với sãi Kỉnh Tâm.

Làng bắt Kỉnh Tâm tra tấn, máu đổ thịt rơi, mấy lần bất tỉnh, nhưng nàng vẫn một mực kêu oan. Sư cụ thương tình xin bảo lãnh nàng. Thời gian trôi qua, Thị Mầu sinh một đứa bé trai, bèn đem đến giao cho Kỉnh Tâm bắt nuôi dưỡng.

Một ngày kia, Kỉnh Tâm thọ bịnh ngặt, ráng viết một bức thư gởi sư cụ, cho biết mình là gái và tỏ nỗi oan tình bấy lâu nay. Lúc Kỉnh Tâm tắt thở, làng biết hết mọi sự việc, bèn bắt tội Thị Mầu, khiến nàng xấu hổ phải quyên sinh.

Khi an táng sãi Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, dân làng đều thấy Đức Phật ngự toà sen hiện ra ở trên mây, rước hồn Thị Kính về cõi Tây Phương.

 

 

 

 

NGŨ CHI ĐẠO ĐẠO

Ngũ: Năm. Chi: Nhánh, chia ra.

Đại Đạo: Một nền tôn giáo lớn, tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ mở Đạo trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, lấy tôn chỉ là Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt.

Vậy Ngũ Chi Đại Đạo là năm nhánh của nền Đại Đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: “Vốn từ trước Thầy lập Ngũ Chi Ðại Ðạo là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo. Tùy theo phong hóa của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định qui nguyên phục nhứt”.

Ngũ Chi Đại Đạo là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo, là năm nấc thang tiến hóa từ thấp lên cao mà người tín đồ Cao Đài theo đó mà tu thăng tiến dần lên các phẩm vị thiêng liêng, rồi sau đó hiệp nhập vào khối Đại Linh Quang của Thượng Đế.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có cho biết: Với các nguyên nhân thì Ngũ Chi tỉ như một cái thang năm nấc bắc cho mình leo lên một địa vị ngang bực cùng Thầy, tức là Phật phẩm đó vậy. Chưa ai nhảy một nhảy mà lên cho tới tầng lầu năm thước bề cao, mà như ai để sẵn một cái thang năm nấc, mình có thể lần lần mà leo lên đặng.

Thầy hiệp Ngũ Chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình. Hễ ngồi đặng phẩm nào thì địa vị mình nơi ấy, chẳng ai còn tranh giành ngược ngạo không nhìn nhận cho được.

Năm bậc Nhân Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo nầy cũng biểu tượng năm phương thức hành đạo là: Tùng khổ, Thắng khổ, Thọ khổ, Thoát khổ và Giải khổ để làm thành đường lối hành đạo đi đến "Tuyệt khổ" của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Chính trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có giải thích như sau:

"Phật vì thương đời mà tìm cơ giải khổ,

Tiên vì thương đời mà bày cơ thoát khổ,

Thánh vì thương đời mà dạy cơ thọ khổ,

Thần vì thương đời mà lập cơ thắng khổ,

Hiền vì thương đời mà đạt cơ tùng khổ."

Như vậy, Ngũ chi Đại Đạo là năm trình độ chuyển hóa liên hợp nhứt quán trên cứu cánh giải thoát con người khỏi sự đau khỗ phiền não một cách toàn diện.

Muốn đạt được như thế, con người phải trải qua năm cấp tiến hóa:

Cấp tiến hóa thứ nhứt là Nhơn đạo lên Thần đạo.

Cấp tiến hóa thứ nhì là Thần đạo lên Thánh đạo.

Cấp tiến hóa thứ ba là Thánh đạo lên Tiên đạo.

Cấp tiến hóa thứ tư là Tiên đạo lên Phật đạo.

Cấp tiến hóa thứ năm là Phật đạo lên Thiên đạo.

NHƠN ĐẠO

Nhơn đạo (Nhân đạo) là cấp đầu tiên, thấp nhứt, đó là đạo làm người, đạo ở đời, nên nó còn được gọi là Thế đạo. Đây là những nguyên tắc và bổn phận mà con người phải tuân theo trong đời sống đối với gia đình và xã hội. Nhờ Nhơn đạo mà con người mới có giá trị là loài thượng đẳng chúng sanh.

Theo giáo lý đạo Cao Đài, con người là Tiểu linh quang, được chiếc ra từ khối Đại linh quang của Thượng Đế; giáng sanh xuống trần làm người là để học hỏi và tiến hóa dần lên Thần, Thánh, Tiên, Phật Đạo, rồi cuối cùng tiến lên để hiệp nhứt với Thượng đế.

Người tu Nhơn Đạo là bậc hiền, hành theo phương thức “Tùng khổ”, tức là nương theo các cảnh khổ não của chúng sanh để an ủi, giúp đỡ nhơn sanh, và đồng cam cộng khổ với nhơn sanh để dìu dắt nhơn sanh vào đường đạo đức.

Trong năm cấp tiến hóa đó, Nhơn đạo là căn bản. Không hoàn thành Nhơn đạo thì không mong chi bước lên các cấp tiến hóa cao hơn.

Cổ nhơn có câu: Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhơn đạo, Nhơn đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỹ. Nghĩa là: Muốn tu đạo Tiên, trước tu đạo Người, đạo Người không tu, đạo Tiên xa vậy.

Trong đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn chọn ngôi Giáo Tông, ba ngôi Chưởng Pháp, ba ngôi Đầu Sư (tức là bảy cái ngai) làm đại diện Nhơn Đạo thuộc Ngũ Chi Đại Đạo trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nói về phần Nhơn Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Trong Tam giáo ba ngôi như một,

Hình thức riêng chỉ cốt bề ngoài.

Suy ra chơn lý không hai,

Độ người lánh dữ, lành rày nên lo.

Tôn giáo tợ con đò rước khách,

Ai sang qua chẳng trạch giàu nghèo.

Miễn là chí quyết noi theo,

Đặng xa bể khổ, lên đèo thung dung.

Muốn Tây Thiên trùng phùng ngôi vị,

Thì trần gian lập ý vị tha.

Từ bi theo hạnh Di-Đà,

Công bình, bác ái hải hà bao dung.

Nhơn Đạo dạy Tam tùng Tứ đức,

Ngũ thường lo đúng mực thuần phong.

Gia đình xã hội cũng đồng,

Noi gương mỹ tục, giống dòng Nghiêu vương.

THẦN ĐẠO

Thần đạo là nấc thang thứ hai trong Ngũ Chi Đại Đạo. Người tu hành phải đạt được hàng Thần vị rồi mới có thể tu tiến lên Thánh đạo để đạt hàng Thánh vị.

Phương thức tu hành theo bậc phẩm này là “Thắng khổ”, tức đã đạt hàng Thần rồi phải chiến thắng những khó khăn để thực hành Nhơn đạo, tiếp nối Nhơn đạo.

Theo Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp thì bên Trung Hoa Phong Thần, Hy Lạp Phong Thần, Ai Cập Phong Thần.

Thần đạo ở Trung Hoa mở ra vào thời Phong Thần, do Khương Tử Nha theo lệnh của Đức Nguơn Thỉ Chưởng Giáo cầm bảng và đọc sắc phong Thần vào đầu đời nhà Châu.

Vì vậy trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đại diện cho Thần Đạo là Khương Thượng Tử Nha, một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Thần Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Thần Đạo lập con đường phải lối,

Phận công dân sớm tối lo tròn.

Quan trường Tể Tướng, tôi con,

Vẹn tròn hiếu nghĩa lòng còn thanh liêm.

THÁNH ĐẠO

Thánh Đạo là nấc thang thứ ba trong Ngũ Chi Đại Đạo. Theo (Thuyết Đạo Hộ Pháp). thì Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo là Thánh Đạo.

Thánh đạo là một tôn giáo dạy cho các tín đồ tu hành đắc thành bậc Thánh. Phương thức tu theo lối nầy phải Thọ Khổ. Người tu phải trau sửa lòng Bác ái, lòng vị tha và lòng bao dung. Bác ái là lòng thương yêu bao la, thương khắp chúng sanh. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy rằng: "Bác ái là hay thương xót sanh linh hơn mình, cho nên, kẻ có lòng bác ái coi mình nhẹ hơn mảy lông mà coi thiên hạ nặng bằng Trời Ðất".

Đức Chúa Jésus vì lòng Bác ái thương xót loài người, nên Ngài thọ lãnh cái chết trên Thập tự giá để chuộc tội cho loài người. Do đó, đạo Cao Đài thờ Đức chúa Jésus cầm quyền Thánh đạo thuộc Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Thánh Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Thánh Đạo chuộng một niềm ngay thẳng,

Chí công bình, trong trắng tâm thành.

Không thiên chẳng vị em anh,

Lời ngay lẽ phải phân rành quang minh.

TIÊN ĐẠO

Tiên Đạo, hay nói cách khác là Tiên Giáo, là một tôn giáo dạy người tu luyện thành Tiên. Phương thức tu hành theo Tiên Đạo là “Thoát khổ”, tức tìm phương pháp để thoát khỏi sự đau khổ rồi dẫn dắt nhơn sanh thoát khổ như mình.

Theo Tiên Đạo, muốn thoát khỏi cảnh khổ thì phải thực hành “Vô vi, Vô dục, Vô tranh”.

Vô vi là không làm, không hành động theo ngoại giới mà chỉ hồi hướng về nội giới tâm linh của mình.

Đạo Đức Kinh có câu: “Đạo thường vô vi nhi vô bất vi”, nghĩa là Đạo thường là không làm mà không có việc gì là không làm được.

Vô dục là không ham muốn vật chất, vì càng ham muốn vật chất thì càng phiền não, đau khổ. Cổ nhân thường nói: “Họa mạc đại ư bất tri túc, cửu mạc đại ư dục đắc”, nghĩa là không có tai họa nào lớn hơn không biết đủ, không có lỗi lầm nào lớn hơn muốn được.

Vô tranh là không tranh giành của cải vật chất.

Tiên Đạo hay Tiên Giáo là một trong Tam Giáo, do Đức Thái Thượng Lão Quân làm Giáo Chủ. Vào thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thay mặt cho Tam Giáo là Tam Trấn Oai Nghiêm, mà Nhứt Trấn Oai Nghiêm là Lý Đại Tiên Trưởng cầm quyền Tiên Đạo thuộc một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Tiên Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Tiên Đạo chỉ xử tình xử thế,

Bác ái trau tập thể hòa thương.

Yêu cùng nhơn loại bốn phương,

Thanh nhàn thỏa chí, dặm trường ngao du.

PHẬT ĐẠO

Đây là cấp tu cao nhất trong năm bậc tu hành theo Ngũ chi Đại Đạo. Phương thức tu hành theo Phật Đạo là “Giải khổ”, tức tìm phương pháp để cởi bỏ mọi sự đau khổ của chính mình và của chúng nhơn sanh. Phương pháp giải khổ theo Phật là Tứ diệu đế, tức là bốn chơn lý cao thượng, kể ra:

Khổ đế: Nhận thức bốn cái khổ căn bản của con người là: sanh, lão, bệnh, tử.

Tập đế: Nhận thức về nguồn gốc gây ra đau khổ.(tham, sân, si, ái, dục)

Diệt đế: Chân lý về sự chấm dứt mọi hình thức khổ.

Đạo đế: Con đường giải khổ, chứng nhập Niết bàn.

Theo Thuyết Đạo Hộ Pháp, thì Phật Đạo có Bà La Môn, Thích Ca Mâu Ni, Pythagore Giáo.

Vì thương xót chúng sanh. mà Thái Tử Sĩ Đạt Ta đã rời bỏ ngai vàng, điện ngọc để đi tu và tìm được chân lý giải thoát cho chúng sanh, rồi lập ra Phật đạo lấy danh hiệu Thích Ca Mâu Ni. Do đó người đạo Cao Đài thờ Đức Thích Ca Mâu Ni làm Giáo chủ Phật đạo, là một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Phật Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Phật Đạo dụng đường tu thanh tịnh,

Từ bi hành nhường nhịn lẫn nhau.

Không chê kẻ thấp người cao,

Chẳng vì chức tước nghèo giàu phân tranh.

Người tín đồ đạo Cao Đài, sau khi hành trì từ bậc Nhơn Đạo tu lần đắc đến hàng Phật Đạo thì vẫn phải bồi công lập đức để Tiểu Linh quang được hòa nhập với Đại Linh quang của Đức Thượng Đế.

Do đó, người tín đồ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thờ Đức Chí Tôn, Tam Giáo và gồm đủ Ngũ Chi Đại Đạo.

Nói về phần Đại Đạo, Thánh thi có đoạn viết:

Đại Đạo gồm năm nhành tôn giáo,

Kể trên đây đào tạo lọc lừa.

Hợp thời độ thế tùy ưa,

Hạ, trung, thượng, đủ đều vừa ý chung.

Giờ Bổn sư trùng phùng đồ đệ,

Dạy đôi điều ráng để vào tâm.

Chung lo cứu thế lạc lầm,

Trở về đạo đức lo tầm non Tiên.

Chung sức nhau chèo thuyền Đại Đạo,

Dầu cam go tần tảo đừng than.

Lý chơn dặm thẳng một đàng,

Ngày thành Đại Đạo, Thiên Hoàng điểm công.

 

 

 

 

ĐẠI THÁNH ĐẠI NGUYỆN

Câu “Đại Thánh Đại Nguyện” là một câu Kinh được trích trong bài “Ngọc Hoàng Kinh” để xưng tụng Thánh đức, lời nguyền thật to lớn của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đại Thánh 大 聖 là bậc Thánh lớn.

Đức Thượng Đế là Bậc toàn tri, toàn năng, là Đấng có đức hóa sanh rộng lớn, cho nên gọi rằng Đại Thánh.

Thật vậy, từ khi gầy dựng nên Vũ trụ vạn vật, Đức Thượng Đế đã nhiều phen hóa thân Phật, Tiên, Thánh để đem đạo cứu đời. Nhưng vì chúng sanh mê mờ tội lỗi, lấy giả thành chơn, lấy hư làm thiệt, mãi chạy theo ảo ảnh sắc trần, nên phải lăn quay trong vòng luân hồi sanh tử.

Giáo pháp Tam giáo tùy theo phong tục, tùy căn cơ chúng sanh mà tìm phương cứu độ. Chính vì điểm khác nhau của các tôn giáo nên khiến cho chúng sanh chấp ngã, chấp pháp mà có sự chống đối, chia rẽ, làm cho các tôn giáo càng ngày càng xa rời chánh pháp.

Hiện nay, nhằm thời kỳ Hạ ngươn mạt Pháp, lại nữa nền văn minh vật chất đã kéo lôi con người càng ngày càng xa “tự tánh”, nên Đức Chí Tôn, một lần nữa vì lòng Đại Từ Đại Bi, dùng cái oai quyền lớn lao của một vị Đại Thánh, tức vì Thiên Đế mà chính mình Ngài giáng cơ khai đạo.

Thánh giáo Thầy có dạy: “Thầy vì đức háo sanh, nên chẳng kể bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới, đến lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong lúc Hạ ngươn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải”.

Trong Thi văn Dạy Đạo, Ngài đã từng than:

Thiên Cơ đã lộ lúc khai Trời,

Kêu khách phàm trần đã hụt hơi.

Cứ mến vinh hoa cùng lợi lộc,

Chẳng lo kiếp thác đến gần nơi.

Đại nguyện 大 願 là lời nguyền lớn.

Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng thấy chúng sanh vì vô minh, sống nơi cõi trần lao giả tạm nầy, lại còn gây nhiều nhân ác nghiệt, nên bị nhiều nghiệp chướng chất chồng mà phải chịu biết bao luân hồi sinh tử, không thể nào giải thoát được. Những lời dạy của Tam Giáo Tổ Sư, từ xưa đến nay không đưa hết con người trở về Thánh Thiện.

Đến thời Hạ Ngươn mạt Pháp nầy, con người càng xu hướng theo văn minh vật chất, càng chìm sâu vào tội lỗi. Vì thương xót chúng sanh nên Đức Chí Tôn cùng chư Phật và Bồ Tát đều có lập những điều nguyện lớn lao hầu cứu vớt tất cả chúng sanh.

1- A Di Đà là một vị Phật làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Ngài biểu hiện cho từ bi và trí tuệ. Ngài có phát 48 lời nguyện rộng lớn là cứu độ tất cả chúng sanh, trong đó có lời nguyện sẽ tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tịnh độ chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài.

2- Phổ Hiền Bồ Tát có 10 điều nguyện, gọi là Phổ Hiền thập nguyện.

3- Thích Ca Mâu Ni Văn Phật cũng có Tứ hoằng thệ nguyện 四 弘 誓 願, tức là bốn lời nguyện lớn lao:

a/-Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ.

b/-Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn.

c/-Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học.

d/-Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành.

4- Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát có lời phát nguyện: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Chúng sanh tận độ, phương chứng Bồ Đề 地 獄 未 空, 誓 不 成 佛, 眾 生 盡 度, 方 證 菩 提” có nghĩa là Địa ngục chưa sạch không, thề không thành Phật. Chúng sanh độ hết, mới chứng Đạo Bồ Đề.

5- Quan Âm Bồ Tát có mười hai lời nguyện, gọi là thập nhị Đại nguyện. Ngài là vị Bồ Tát có lòng đại từ đại bi, thường hay cứu khổ cứu nạn, lúc nào Ngài cũng lắng nghe âm thanh ở thế gian, nơi nào, lúc nào có tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hoá độ. Trong kinh Pháp Hoa có câu: Khổ não chúng sinh nhứt tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát 苦 惱 眾 生 一 心 稱 名, 菩 薩 即 時 觀 其 音 聲, 皆 得 解 脫, nghĩa là chúng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài nghe âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát.

Đến với thời Tam Kỳ Phổ Độ này, Đức Chí Tôn khai mở nên Đại Đạo cũng lập những lời đại nguyện như sau: “Thầy buộc mình hứa cùng Ngọc Hư cung rằng nếu đạo còn, thì Thầy cũng theo gìn các con”.

Và nhất là Đức Chí Tôn còn nguyện lãnh hết những tội lỗi, oan nghiệt của chúng sanh như sau: “Mỗi phen Thầy đến lập đạo thì là phải cam đoan và lãnh các con chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết”.

 

 

 

 

Ý NGHĨA NHỮNG BÀI KINH THẾ ĐẠO

Theo Nho giáo, Trời phú tính cho con người có một cái đức sáng để hiểu biết nhơn nghĩa, đạo lý, ta cố gắng rèn luyện sao cho sáng cái đức sáng ấy để đạt đến chí thiện. Sách Trung Dung có nói rằng: Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo 天 命 之 謂 性, 率 性 之 謂 道, 修 道 之 謂 教, nghĩa là Trời phú cho gọi là tính, theo tính gọi là đạo, sửa đạo gọi là giáo.

Như vậy, đạo là theo Thiên lý, mà Thiên lý với cái bản tính của người ta vốn là một, vậy thì đạo là cốt sửa cái tính của người cho hợp Thiên lý, cho nên trong Trung Dung, Khổng Tử nói rằng: Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo 道 不 遠 人, 人 之 為 道 而 遠 人, 不 可 以 為 道, nghĩa là đạo không xa cái bản tính của người ta, nếu theo đạo để cho xa cái bản tính của người ta thì không phải là đạo Như thế đạo không phút giây nào xa lìa con người được, nếu xa lìa ra được không phải là đạo: Đạo giả dã, bất khả tu du ly dã, khả ly phi đạo dã 道 者 也, 不 可 須 臾 離 也, 可 離 非 道 也.

Đức Chí Tôn cũng mong muốn các môn đồ dầu là Chức sắc hay tín đồ đều phải giữ cho đạo không xa rời bản tính của con người, cho nên mới ban cho những bài kinh Thế đạo, hầu nhắc nhở mọi người trong sự sinh hoạt hằng ngày, những bài Kinh đó là:

- Kinh Đi Ra Đường.

- Kinh Khi Về.

- Kinh Khi Đi Ngủ.

- Kinh Khi Thức Dậy.

- Kinh Vào Học.

- Kinh Vào Ăn Cơm.

- Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.

Những bài Kinh này đều là do Đức Hộ Pháp viết ra có nhờ Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ chỉnh văn lại.

Những bài kinh Thế đạo này thường bị lãng quên hay nếu có, gần như chỉ áp dụng cho các em đồng nhi hoặc các trẻ nhỏ mà thôi (ví dụ như đồng nhi phải đọc kinh khi ăn cơm, khi ăn cơm rồi, học sinh phải đọc bài kinh Khi Vào Học...). Điều nầy thực là lầm lẫn, vì Đức Hộ Pháp có dạy rằng: “Không có một điều gì mà Chí Tôn định trong chơn giáo của Ngài, dầu Bí pháp, dầu Thể pháp mà vô ích đâu. Đấng ấy là Đấng tưng tiu, yêu ái con cái của Ngài lắm, thảng có điều gì không cần ích mà con của Ngài nói rằng không muốn, Ngài cũng bỏ nữa đa. Từ ngày khai đạo, Kinh kệ, lễ bái, sự chi sắp đặt về đạo đức cũng chính Chí Tôn tạo thành, không phải do các Đấng khác. Ngài buộc mình làm, tức có cần yếu, hữu ích chi chi đó, Ngài mới bó buộc”.

Như vậy, những bài Kinh này dành cho mọi người dầu Chức sắc hay tín đồ, dầu người lớn hay trẻ nhỏ đều phải tụng, niệm trong những trường hợp như: Ra đường, trở về nhà, đi ngủ, thức dậy, vào học, ăn cơm, ăn cơm rồi.

Những sinh hoạt thường nhựt này buộc mọi tín đồ tụng, niệm nhằm mục đích như nhắc nhở bên tai người tín đồ hằng lúc, hằng ngày vậy. Nếu từng khoảnh khắc chúng ta tâm niệm những bài Kinh này, tức là thường nhắc nhở ta những điều lành, thì những điều ác, điều xấu đâu còn nằm trong tư tưởng của ta nữa. Nếu nhiều khoảnh khắc như vậy thì kể như suốt ngày ta đều có những tư tưởng thiện lành, ấy là kim chỉ nam hướng dẫn lần lần thân phàm xác tục luôn luôn hướng về những việc thiện lành. Ông Trang Tử có nói: Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi 一 日 不 念 善, 諸 惡 皆 自 起, nghĩa là nếu một ngày mà chẳng tưởng đến việc lành thì mọi sự dữ sẽ dấy lên.

Ngoài ra, khi tụng, niệm những bài Kinh Thế Đạo thuộc loại sinh hoạt hằng ngày này cũng nhằm mục đích buộc tâm thần của người tín đồ luôn luôn hướng về Đức Chí Tôn, dù đang làm bất cứ công việc gì. Lòng chí thành và tư tưởng lành của người tín đồ là những điển lực gởi đến các Đấng Thiêng Liêng những lời cầu nguyện chân thành. Những điển lực này từ những thực thể hữu hình sẽ được cảm ứng với các Đấng vô vi làm cho mối tương giao hằng ngày giữa hai thực thể hữu và vô được nối kết, khiến Chơn thần của người tín đồ càng trong sạch, nhẹ nhàng và Thiêng liêng hơn.

Chính vì thế, trong bài Kinh Đi Ra Đường có nhắc nhở người tín đồ Cao Đài lúc nào cũng phải:

Con xin nương bóng Cao Đài,

Bước đi một bước cảm hoài căn tu.

 

 

 

 

ĐẠO KHAI TÀ KHỞI

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn ngày 29 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 7/8/1926) có cho biết: “Các con chớ ngại, ngày nay, đạo khai tức tà khởi. Vậy thì các con phải hết lòng hết sức mà gìn giữ lấy mình, đã chẳng phải giữ mình các con mà thôi, lại còn gìn giữ cả môn đệ Thầy nữa.”

Qua lời Thánh giáo trên, Đức Chí Tôn có cho biết trước kể từ ngày thành lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ sẽ có bọn tà mỵ, quỷ vương xuất hiện để phá khuấy người tu hành.

Thật vậy, trong buổi đầu chưa Khai Đạo tại Vĩnh Nguyên Tự, đàn cơ ngày 01 tháng 7 năm Bính Dần (Dl. 8/8/1926), Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn cho biết như sau:

“Thơ, con dắt mấy em con đi Cần Giuộc vì tà mị muốn nhiễu hại môn đệ Thầy ở dưới. Quan Thánh và Quan Âm đợi các con xuống. Đi lập tức.”

“Tương, con không hiểu ngày nay là thế nào? Chư Thần Thánh Tiên Phật cả thảy đều náo động cũng vì các con.

Quỉ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác. Chúng nó hiệp Tam thập lục động toan hại các con nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lâp Minh Thệ nên chư Thần Thánh Tiên Phật không muốn nhìn nhận.

Vì vậy mà Thầy sai mấy đứa nhỏ xuống đặng chung hiệp cùng con mà tức cấp lập thành và luôn dịp phong Thiên ân cho Tương, Kim và Thơ. Vậy con phải kêu chúng nó hội cho đủ mặt nội đêm nay.”

Bài Thánh giáo trên đây đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng hễ “Đạo khai là tà khởi”.

Chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên nhân tại sao đạo vừa sắp mở thì quỉ vương hay những chướng ngại nổi dậy cản trở bước đường tu?

1- Có chánh thì phải có tà.

Chúng ta cần phải hiểu chữ Tà trong bài Thánh giáo trên. Tà đây là tiếng gọi chung các loài ma quỷ và tất cả những gì ngăn cản các thiện căn, cản trở chánh pháp, cũng như những thứ bệnh tật, phiền não, nghi hoặc làm nhiễu loạn thân tâm, gây chướng ngại cho việc tu hành.

Trong khi tu hành, chúng ta gặp nhiều nghịch cảnh làm cho chúng ta thối bước ngã lòng, như thiếu thốn tiền bạc, tật bịnh triền miên, hoặc những nỗi bất bình, những điều thống khổ là những thứ Tà (còn gọi là ma khảo) đến với ta, gây chướng ngại cho việc tu hành. Hoặc cũng có khi trong việc lập công bồi đức, chúng ta bị sa ngã vì sắc đẹp, vì danh vọng, vì lợi quyền; đó cũng là những thứ Tà để quyến rủ con người vào đường tội lỗi mà thất đạo.

Chúng ta biết, đạo thì chơn chánh có nhiệm vụ giáo hóa, còn Tà thì quỷ quyệt có bổn phận làm giám khảo thử thách. Chánh Tà là hai thế lực cần thiết không thể thiếu được trong sự công bình thiêng liêng của Tạo hóa, hai thế lực ấy tạo thành ngẫu lực thúc đẩy sự tiến hóa của Càn khôn.

Bởi vì Chánh Tà là hai thế lực đối kháng nhau như nước với lửa, đêm với ngày, như Âm với Dương, như Địa ngục với Thiên đường, như ma với Phật, luôn luôn có mặt trong Càn khôn Vũ trụ, tạo thành hai thế lực lôi kéo theo hai chiều ngược nhau để thúc đẩy sự hình thành hay sự tiến hóa của vũ trụ và vạn vật.

Tà Chánh cũng như hai yếu tố Âm Dương, là cơ động tịnh mầu nhiệm của trời đất. Nếu không có Âm Dương thì muôn vật sẽ không thể sinh hóa. Nhờ có Âm Dương tác động lẫn nhau nên mới tạo ra mọi cuộc biến hóa, thiên địa, vạn vật mới được sinh thành. Tà Chánh cũng vậy, có Chánh thì phải có Tà để phân biệt và làm hiển lộ cho lẽ Chánh. Nhứt là lẽ Tà tạo điều kiện thử thách để nâng lẽ Chánh tăng lên phần cao trọng.

Vì vậy, trong Thi Văn Dạy Đạo, Đức Chí Tôn có cho bài thi dạy về hai lẽ Chánh Tà như sau:

Có Chánh tự nhiên có lẽ Tà,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra.

Sao ra Tiên, Phật người trần tục,

Trần tục muốn thành phải đến Ta.

2- Tà bất cảm Chánh.

Lúc nào Tà cũng không thích hợp với Chánh, vì Tà Chánh là hai thế lực đối nghịch nhau: Tà thuộc Âm, ác, dục vọng, nặng nề, ô trược, còn Chánh thuộc Dương, thiện, lương tâm, nhẹ nhàng, thanh khiết, cho nên người xưa thường nói “Chánh Tà tương khắc”, nghĩa là Chánh và Tà là hai thế lực lúc nào cũng khắc nhau như nước với lửa, hay nói một cách khác Tà bất cảm Chánh, tức là Tà không ưa Chánh, hễ nơi nào có đạo ra đời, thì nơi đó sẽ xuất hiện Tà để tạo cơ thử thách.

Thánh giáo Đức Chí Tôn cho biết nơi Thiên cung có nhiều phẩm vị cao trọng dành cho người tu hành chơn chánh, nhưng phẩm trật của quỷ vị cũng không thiếu chi. Ngài cho biết: Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỉ vị, cũng đủ các ngôi, các phẩm, đặng đày đọa các con, hành hài các con, xử trị các con. Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó.

Thầy đã thường nói: Hai đầu cân không song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý. Luật công bình thiêng liêng buộc phải vậy. Thầy lắm phen bị mất, bị giựt con cái của Thầy vì chúng nó.

Ngay như trong thân chúng ta cũng có Tà Chánh: Tà là dục vọng, do xác thịt đòi hỏi, Chánh là lương tâm, ấy là một điểm linh quang của Trời ban bố cho con người để khuyên lơn dìu dắt và soi sáng bước đường đời cũng như đường đạo của mỗi cá nhân trong kiếp sanh. Như vậy, con người sống ở thế gian dục vọng (Tà) với Lương tâm (chánh) lúc nào cũng xung khắc nhau.

Theo Đức Thượng Sanh, “Nếu cứu cánh của sự xung đột giữa lương tâm và dục vọng có khi Lương Tâm đắc thắng, đó là Thánh đức thắng tà thần, có khi ta quá nhu nhược, thiếu đạo đức để cho dục vọng đàn áp lương tâm, tức nhiên ta phải sa ngã vào đường tội lỗi. Ðó là tinh thần chịu khuất phục bởi vật chất”.

Tuy nói “Tà bất cảm Chánh”, nhưng Tà Chánh lúc nào cũng có mặt, đi đôi với nhau nên rất khó phân biệt. Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có dạy: Nếu luận Tà Chánh thì chưa một ai dám còn mang mắt phàm xưng tụng mình là Chánh. Cái Tà vì Thiên thơ xử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Tòa, Tà vì những quỉ xác ma hồn lẫn lộn của Quỉ vương để làm cho công phu lỡ dở. Mỗi cái Tà có duyên cớ ấy, ngày sau đều có sự biến đổi thiêng liêng hoặc có một kết quả.

Theo Đức Hộ Pháp, trong Thuyết đạo có luận về Chánh Tà trong tôn giáo. Ngài dạy: Cái bảo vệ cho tạo đoan không có quyền diệt hóa phải bảo hóa mà thôi. Cơ quan bảo hóa tức nhiên chánh, cơ quan nào diệt hóa tức là tà. Nếu chúng ta lấy cái lý xét đoán dầu cho bên vật chất hay bên tinh thần cốt yếu cho loài người làm môi giới, điều độ các chơn linh tấn triển mãi cho đến Phật vị. Về mặt hình thể, cơ quan nào không có ích cho cơ thể tạo đoan tức là không có ích cho nhơn loại.

Việc bảo vệ sanh mạng của nhơn loại trong khuôn khổ tạo đoan, tức nhiên là cơ quan nào nâng đỡ bảo trọng thêm cái sống này giúp cơ thể tạo đoan và bảo vệ sanh mạng của vạn linh nơi mặt địa cầu này, nó là chánh, triết lý nào giúp cho nhơn loại tức nhiên bảo trọng cơ quan tạo đoan bền bỉ vững chắc nó là chánh. Triết lý nào xúi giục làm cho vạn vật tàn sát với nhau diệt hóa tức nhiên triết lý ấy là tà.

Qua sự phân biệt Tà Chánh của Đức Hộ Pháp, chúng ta thấy đạo có nhiệm vụ bảo hóa vạn linh thì đạo là chơn chánh. Còn ma vương, quỷ quái là bọn diệt hóa, đó chính là Tà. Vì vậy, Thánh giáo Thầy có dạy: “Những kẻ nào đã làm môn đệ của Tà Thần Tinh Quái thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng”.

3- Tà là cơ thử thách cho người tu hành.

Chúng ta cũng cần nên biết chữ “thử thách”. Thử thách còn gọi là cơ khảo thí là một trường thi tuyển chọn người có đầy đủ hạnh đức và công quả xứng đáng để đăng tên vào Tiên tịch.

Có Trường thi công quả tất có cơ khảo thí theo phép công bình Thiên đạo. Phàm muốn đoạt thủ địa vị nơi trường thi ấy, người hành đạo phải có công lao xứng đáng và phẩm hạnh hoàn toàn. Chịu thử thách mà không sa ngã mới xứng đáng với ngôi vị thiêng liêng ấy.

Người tu hành muốn đắc đạo phải vượt qua cơ thử thách, bậc thượng căn đại trí thì có thể vượt qua khỏi, bằng kẻ nào thiểu căn, độn trí ắt là bị té ngã trở lại.

Vậy người tu hành cần phải suy cạn ở điểm này: Tu hành mà không bị khảo đảo; là quả đạo còn rất xa, còn tu mà nghiệp lực dồn dập, là đạo quả rất gần".

Vì vậy, trong kinh Phật mới có câu: "Vô ma khảo bất thành Phật đạo, Thập ma, Thập nạn thành Tiên Tử, bất ma bất nạn bất thành nhân". Nghĩa là: "Không ma khảo chẳng thành Phật đạo. Mười ma khảo đảo, mười nghiệp dập dồn, mà người tu cố gắng vượt qua cho được, thì mới thành Tiên. Bằng chẳng ma khảo đảo, chẳng tai nạn chi, thì cũng chẳng trở nên người hiền đức". Như vậy, đạo không Ma khảo, đạo khó thành. Ma không đạo khai, Ma không được dịp mở cơ thịnh vượng.

Chúng ta phải hiểu biết rằng: Chư Phật, Chư Tiên, và các Hiền nhân, Thánh triết xưa nay đều có sự thử thách và khảo đảo trải qua. Các Ngài đạo quả càng cao bấy nhiêu là sự khảo đảo càng nhiều bấy nhiêu...

Nhưng chúng ta đừng nên ỷ lại nơi sức mình, trong kinh cũng có nói: "Đạo cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng, đạo cao nhứt trượng, ma thượng đầu nhân”, nghĩa là: "Đạo cao một thước, ma cao một trượng, đạo cao một trượng, ma thượng lên đầu”, ý nói người tu hành tạo lập công hạnh nhiều bao nhiêu thì sức quỷ cũng vượt lên bấy nhiêu.

Trong đạo Cao Đài, Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng cho biết trước:

"Chung quanh các con, dầu xa dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con một bộ thiết giáp mà chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Ấy vậy, ráng gìn giữ bộ thiết giáp đó hoài cho đến ngày các con hội hiệp cùng Thầy.

Ấy vậy, đạo là vật rất hữu ích, như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lỗ, còn bỏ đạo thì các con ở dưới phép tà thần”.

Trong một đoạn Thánh giáo khác Thầy lại giải thích: “Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: Cả môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa, còn lối nửa phần, vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ.

Cười. Ði bao nhiêu đều mất bấy nhiêu. Các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít là lẽ hằng.

Các con liệu phương thế mà nâng đỡ đức tin của môn đệ cao lên hằng ngày, ấy là công quả đầu hết”.

Tóm lại, vào thời Tam Kỳ Phổ Độ ứng vào thời cuối Hạ nguơn Tam chuyển sắp bước qua Thượng nguơn Tứ chuyển, trí thức và tinh thần của nhơn loại đã tiến hóa đến một trình độ cao nhứt, giáo pháp của các nền tôn giáo trong Nhứt và Nhị Kỳ Phổ Độ không phù hợp với thời kỳ nầy, không thể kềm chế, sửa cải tâm lý nhơn sanh, khiến cõi thế gian trở thành trường tranh đấu quyết liệt, nhơn loại sống trong dầu sôi lửa bỏng, chiến tranh khốc liệt, thiên tai tàn phá, bệnh chướng hoành hành...làm cho con nguời phải chịu nhiều điêu linh, khổ sở.

Vì thương sanh chúng, không thể ngồi yên để đám con cái của mình là toàn cả nhơn sanh chém giết nhau đưa đến cơ tận diệt, một lần nữa Đức Chí Tôn đích thân giáng cơ khai mở ra nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để cứu vớt toàn thể chúng sanh. Nhưng người tu cần phải hiểu rằng: đạo khai là Tà khởi. Cho nên kẻ hành đạo cần phải trau rèn tâm đức làm sao cho bên Thánh đức nặng hơn Tà mưu thì mới mong vượt qua những cơn thử thách của ma vương mà hội hiệp cùng Thầy như lời Thánh giáo đã dạy:

“Cư, Tắc, Sang con ôi! Lập đạo thành chăng tại nơi ba con. Con đã nghe quyền hành của Yêu Quỉ, Thầy cho lớn đến bực nào. Chẳng phải cơ thử Thánh Tiên Phật mà thôi, lại là công bình Thiêng Liêng của Tạo hóa. Nếu hai đầu cân chẳng song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý. Tự nơi các con làm thế nào cho bên Thánh đức nặng hơn Tà mưu thì làm mới ra công quả”.

Người tu vượt qua được một lần khảo đảo là trình độ tâm linh tiến hóa lên một bực. Cho nên, nhờ Ma khảo mà chư Phật, Tiên, Thánh mới chứng được quả vị cao thâm.

Mặt khác, cửa đạo rộng mở, người vào tu hằng hà nên chân giả khó phân. Có người chơn tu, mà cũng có người tu giả dối, mượn danh đạo để tạo danh đời, cho nên nhờ Ma khảo để lựa chọn người chơn tu, loại ra những kẻ tu giả dối.

 

 

 

 

HIỆP THIÊN ĐỨNG TRỊ VÌ

Trong Thi Văn Dạy Đạo có bài Thánh thi như sau:

Bắt ấn trừ yêu đã tới kỳ,

Ngọc Hư định sửa mối Thiên thi.

Cửu Trùng không kế an thiên hạ,

Phải để Hiệp Thiên Đứng Trị Vì.

Thành pháp dìu đời qua nẻo khổ,

Nên công giúp thế lánh cơn nguy.

Quyền hành từ đấy về tay nắm,

Phải sửa cho nên đáng thế thì.

Chúng ta thử căn cứ vào Đạo sử để tìm hiểu giai đoạn Hiệp Thiên Đài dứng ra cầm quyền nền Đạo.

Hiệp Thiên, tức Hiệp Thiên Đài, là một trong ba đài của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, đó là Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài.

Đứng trị vì: Ở ngôi vua để cai trị dân trong nước. Nghĩa trong tôn giáo, nắm quyền điều hành nền Đạo.

Hiệp Thiên đứng trị vì là vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đứng ra cầm quyền nền Đạo.

Theo Thánh giáo của Bát Nương Diêu Trì Cung ngày 29 tháng 12 năm Quý Dậu (Dl. 12/2/1934) trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có cho biết: “Em nhớ lại, khi Ngọc Hư định cho Hiệp Thiên Ðài cầm số mạng nhơn sanh, lập thành Chánh giáo thì Ðại Từ Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu Trùng Ðài.

Cả Ngọc Hư chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều ngạc nhiên sự lạ. Ðại Từ Phụ phổ giáo rằng: Hay! Hay! Không lẽ để phận hèn, ngày sau sẽ rõ Thánh ý Người quyết liệu”.

Như vậy, khi đạo Cao Đài mới khai sáng năm Bính Dần, Ngọc Hư Cung dự định giao đạo quyền cho Hiệp Thiên Đài, nhưng sau đó Đức Chí Tôn lại trở pháp, không giao cho Hiệp Thiên Đài mà lại giao cho Cửu Trùng Đài nắm quyền Đạo.

Vì vậy, từ năm mới khai Đạo 1926 cho đến năm Đức Quyền Giáo Tông quy Thiên 1934, chúng ta thấy các vị chức sắc Đại Thiên Phong bên Cửu Trùng Đài nắm Đạo quyền, như Ngài Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Ngài Ngọc Lịch Nguyệt, và sau ba vị Quyền Đầu Sư Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh.

Trong giai đoạn nầy nội bộ chức sắc Cửu Trùng Đài bị chia rẽ trầm trọng, nhiều vị chức sắc không tuân lịnh cấp trên, đã tách ra khỏi Tòa Thánh Tây Ninh để lập thành chi phái. Như Ngài Phối Sư Thái Ca Thanh lập thành phái Minh Chơn Lý ở Cầu Vỹ. Sau đó, hai Ngài Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh lập Ban Chỉnh Đạo, rồi tách ra lập chi phái Bến Tre.

Qua tình trạng chia rẽ trong nội bộ và chức sắc Cửu Trùng Đài cai trị nền Đạo không hiệu quả, các Đấng thiêng liêng mới chuyển pháp, giao Đạo quyền lại cho Hiệp Thiên Đài như bài Thi Văn dưới đây đã dạy:

Bắt ấn trừ yêu đã tới kỳ,

Ngọc Hư định sửa mối Thiên thi.

Cửu Trùng không kế an thiên hạ,

Phải để Hiệp Thiên Đứng Trị Vì.

Thành pháp dìu đời qua nẻo khổ,

Nên công giúp thế lánh cơn nguy.

Quyền hành từ đấy về tay nắm,

Phải sửa cho nên đáng thế thì.

Do vậy, khi Đức Quyền Giáo Tông quy Thiên vào ngày 13 tháng 10 năm Giáp Tuất (Dl. 19/11/1934), Đức Lý Đại Tiên giáng cơ giao quyền Giáo Tông tại thế cho Đức Hộ Pháp kiêm nhiệm.

Điều nầy Lý Giáo Tông có giáng cơ giải thích: “Nay vì Lễ Ðạo Triều, nên đến chúc mừng chư hiền hữu. Lão để lời cám ơn Hộ Pháp đã chịu lắm phen nhọc nhằn khổ não làm cho Ðạo ngày nay đặng ra thiệt tướng. Lão chỉn thẹn có một điều là Lão chưa giúp hay vào đó. Lão đa tạ, đa tạ!

(Hộ Pháp bạch: …)

Cười …Lão chẳng nói rõ, hiền hữu cũng thấy hiển nhiên rằng từ thử, thảng Lão có muốn nên cho Ðạo đi nữa thì cũng không thi thố chi đặng với một Hội Thánh hữu hư vô thiệt, như vậy có phải?

May thay! Thiên thơ do một mặt chẳng chi dời đổi trở ngăn, nên may ra nữa, từ đây Lão có phương cầm quyền trị thế.

(Hộ Pháp bạch: Thiên thơ đã đổi, đệ tử xin giao quyền hành của Quyền Giáo Tông lại cho Ngài đặng Ngài đủ oai cầm Thiên thơ vững chặt).

Cười …Lão e cho, một là Lão đã cho, không lẽ lấy lại, hai là hành pháp thì dễ, hành hình thì khó, không có nửa quyền trị thế của Lão nơi tay Hộ Pháp, có thế nào điều hành Hội Thánh cho đặng. Ấy vậy, cứ để y”.

Như vậy, quyền Đạo do Đức Hộ Pháp, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài nắm, cho đến khi Đức Ngài quy Thiên ngày 10 tháng 4 năm Kỷ Hợi (Dl. 17/5/1959), Đức Thượng Sanh được Hội Thánh Cửu Trùng Đài mời về Tòa Thánh và cử lên làm Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, nối tiếp cầm quyền nền Đạo.

Đức Thượng Sanh, trong Lời Thuyết Minh đọc tại Tòa Thánh đêm 14 tháng 4 năm Đinh Dậu (Dl. 13/5/1957) có nói: "Ngày nay tôi và chư vị thời quân Hiệp Thiên Ðài về Tòa Thánh đảm đương trách nhiệm cầm giềng mối Ðạo, một là vì có sự thỏa thuận của các cơ quan trong Hội Thánh, hai là vì thấy tình thế của Ðạo đã đến lúc cực kỳ nghiêm trọng nên chẳng đành tỏa quan thành bại".

Đến ngày 26 tháng 3 năm Tân Hợi (Dl. 22/4/1971), Đức Thượng Sanh đăng Tiên, các vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài còn lại mới cử Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức lên làm Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài , thay thế Đức Thượng Sanh cầm giềng mối Đạo cho đến khi Ngài Hiến Pháp đăng Tiên ngài 15 tháng 12 năm Ất Mão (Dl. 15/01/1976).

 

 

 

 

TỰ LẬP

Ở đời muốn thành công bất cứ một công việc gì đều phải có những yếu tố như tài năng, chăm chỉ, cố gắng, nhưng quan trọng nhất là phải có tính tự lập. Tính tự lập là một trong những yếu tố quan trọng của chìa khoá mở cánh cửa thành công. Thiếu nó, không một ai có thể bước đến ngưỡng cửa vinh quang được.

Tự lập là gì? Tự lập là đức tính cần thiết và quan trọng. Tự lập chính là một cách sống tự quyết định, tự hành động, tự lựa chọn cho mình một con đường trong tương lai để đi. Tự lập là hành động mà không dựa dẫm vào người khác.

Đó là sự thành công của những việc ngoài xã hội, còn đối với tôn giáo vấn đề tự lập cũng là việc thiết yếu nhất để người tu sĩ cần có để đạt đến mục đích. Tự lập của người theo Đạo, là phải tự mình trau dồi, rèn luyện tâm tánh, tự mình khép khuôn vào giới luật, và tự mình lập công bồi đức, mới có thể vượt thoát luân hồi mà về cõi thiêng liêng hằng sống. Tự lập còn là tự mình tránh xa những thói hư tật xấu, tự mình rời xa những cạm bẫy của sắc dục, tiền tài, của địa vị, danh lợi. Vì vậy chúng ta thấy Tự lập là điều kiện cần và đủ để người hành đạo tìm về cõi thiêng liêng hằng sống.

A - TỰ LẬP TRONG GIÁO LÝ PHẬT GIÁO

Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, Ngài thường dạy các đệ từ rằng: “Các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp với Chánh Pháp”. Qua câu trên, ý Ngài muốn dạy hãy tự mình dùng cái trí huệ để dò tìm đường chánh pháp mà đi.

Một lần khác, khi Ðức Phật nhuốm bệnh ở Beluvà, trước sự lo âu buồn khổ của tôn giả Ananda, Ðức Phật đã tuyên bố lời dạy này:

“Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác...”.

Qua hai lời dạy trên của Đức Phật, Chúng ta thấy Ðức Ngài nhấn mạnh hai điểm. Hãy tự mình là ngọn đuốc (ngọn đèn) cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.

Nếu chúng ta dựa theo lịch sử tìm đạo, hành đạo, và chứng đạo của Đức Phật thì hai quan điểm trên chính là kinh nghiệm bản thân trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sanh của Ngài để truyền lại cho hàng đệ tử.

Thật vậy, chúng ta thấy rõ, trong hơn sáu năm tầm đạo, hành đạo và chứng đạo, Đức Phật đã dùng sức mạnh của chính mính, nương vào năng lực của chính mình và nhứt là nỗ lực hành trì khổ hạnh, tự lực hành thiền, và cũng tự mình phát triển trí tuệ và cuối cùng đạt được bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác mà thành đạo dưới gốc cây Bồ Ðề. Ngài không nhờ một thần lực nào, không phải nhờ một đấng thiêng liêng nào dẫn dắt.

Khi đã giác ngộ rồi, trong thuyết pháp độ sanh Ngài thường khuyên hàng đệ tử phải noi theo gương Ngài, phải tự lập, thay vì cậy sức thiêng liêng của các Đấng trợ lực, tự Ngài trì chí, nhẫn nại quán xét nội tâm như Ngài đã giác ngộ, khai mở trí huệ sau một thời gian thiền định. Nhờ Ngài kiên quyết thệ nguyện sẽ không rời khỏi cội cây bồ đề, nếu chưa đạt được giác ngộ giải thoát. Và Ngài đã ngồi im suốt 49 ngày, cuối cùng Ngài đã phá tan được màn vô minh, chứng được quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Sau đây là một bài thuyết pháp dạy về tự lực của Đức Thích Ca Mâu Ni.

Trong thời gian Đức Phật thuyết pháp tại Kỳ Viên Tịnh Xá của trưởng lão Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ cho đại chúng vào buổi chiều mỗi ngày. Có một chàng thanh niên thắc mắc, muốn hỏi Đức Phật, nên đến Kỳ Viên Tịnh Xá trước giờ thuyết pháp để có thể gặp riêng Đức Phật để nêu thắc mắc của mình.

Người thanh niên làm lễ Đức Phật và nói: “Bạch Đức Thế Tôn, con có điều thắc mắc, mong Đức Thế Tôn mở lòng từ bi giảng giải cho con được rõ.”

“Bạch Đức Thế Tôn, từ khi Ngài đến thành Savathi này để thuyết pháp độ sanh, trong số những người đến nghe pháp, có một số người đã chứng đắc đạo quả giải thoát, một số người khác tuy chưa chứng đắc được đạo quả giải thoát, nhưng gia đình họ hàng ngày đã được sự an vui, một số người còn lại chưa chứng đắc, vẫn còn ở trong phiền não, khổ đau và trong số những người đó có con!

Bạch Đức Thế Tôn, do nhân chi, xin Ngài mở lòng từ bi giảng giải cho chúng con được rõ.”

Đức Phật hỏi, “Này người thanh niên, ngươi chớ nên hoài nghi chánh pháp của Như Lai. Ngươi từ đâu đến?”

“Dạ, con là người của Savathi này.”

Đức Phật lại hỏi, “Như Lai trông ngươi không phải là người của Savathi này, vậy ngươi từ đâu đến?”

“Bạch Đức Thế Tôn, con là người của Vương Xá Thành, con đến Savathi này để lập nghiệp, con sống bằng nghề buôn bán.”

Đức Phật hỏi tiếp, “Này người thanh niên, tổ phụ của ngươi có còn ở Vương Xá thành không?”

“Dạ còn.”

“Người có thường tới lui thăm tổ phụ hay không?”

“Dạ có.”

Đức Phật hỏi, “Vậy người có biết con đường đi từ đây đến nhà tổ phụ ngươi ở Vương Xá thành không?”

“Bạch Đức Thế Tôn, con biết.”

“Nếu như có một người ở Savathi này muốn đến nhà tổ phụ ngươi, liệu ngươi có thể chỉ đường cho họ hay hướng dẩn cho họ đi hay không?”

“Dạ được. Ở đây mà muốn về Vương Xá thành thì phải đi qua thành Ba La Nại, khi đến đó thì rẽ trái đi về hướng cây da, từ đây bắt đầu đi về hướng Vương Xá thành, nhà tổ phụ con ở cách Vương Xá thành vài dặm, muốn đi thì con chỉ cho mà đi.”

Đức Phật hỏi tiếp, “Này người thanh niên, nếu ngươi biết đường chỉ cho họ mà họ không đi thì họ có tới được nhà tổ phụ ngươi hay không?”

Người thanh niên nhìn Đức Phật, tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi lại, “Bạch Đức Thế Tôn, sao lạ vậy, con biết đường chỉ cho họ nhưng mà họ phải tự đi thì mới tới được, chứ không đi thì làm sao tới, con đâu có cầm tay ai mà dắt đi được đâu?”

Đức Phật trả lời, “Này người thanh niên, giáo pháp của Như Lai cũng như vậy. Con đường đi đến Niết Bàn, Như Lai đã từng đi qua, Như Lai biết và chỉ cho chúng sinh, nhưng muốn đến thì chúng sinh phải tự đi, Như Lai là bậc toàn tri, toàn giác chứ không toàn năng nên Như Lai không thể đưa một người đến nơi mà họ muốn tới nhưng họ lại không muốn tự đi.

Cũng tương tự như vậy, nếu ngươi muốn gia đình của mình được an vui thì hãy áp dụng lời dạy của Như Lai vào trong cuộc sống hàng ngày chứ Như Lai không thể ban hạnh phúc, an vui cho bất kỳ một ai được.”

Theo Phật, chúng sinh nào cũng có Phật tánh và có khả năng thành Phật, do đó phải tìm cách phát huy năng lực sẵn có của mình, tức dựa vào Tự lực, một năng lực của chính mình để đạt đến Phật tánh. Chủ trương của Thiền tông là “trực chỉ nhân tâm Kiến tánh thành Phật”, nghĩa là tự mình gắng sức để được giác ngộ, đó là Tự lực. Đối nghĩa với Tự lực là Tha lực của phái Tịnh Độ tông chú trọng ở việc giải thoát nhờ ở lòng tin và niệm Phật A Di Đà.

Tuy nhiên sự phân biệt Tự lực và Tha lực cũng chỉ là phương tiện tu tập mà thôi. Con đường Tha lực cũng phải cũng phải cần đến Tự lực, tức là hành giả phải cố gắng tinh tấn, tích cực tạo lập công đức để đạt đến sự giác ngộ và nhứt là phải vượt qua cơn thử thách để đạt đến phẩm hạnh hoàn toàn, hầu xứng đáng với ngôi vị Phật.

B - TỰ LẬP TRONG GIÁO LÝ CAO ĐÀI

Trong Tôn giáo Cao Đài, như chúng ta biết Đức Chí Tôn giáng huyền cơ khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là mở ra một trường thi công quả cho chúng sanh tu học. Chính Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: “Thầy đến để độ rỗi cho các con là lập thành một trường công quả cho các con nên Ðạo. Vậy đắc Ðạo cùng chăng tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi đường nào khác mà đắc Ðạo bao giờ.”

Do Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng toàn tri toàn năng, Đấng Chủ Tể Càn Khôn Thế Giới, là Giáo chủ Đạo Cao Đài, cũng là Cha và Thầy của vạn linh, giáng cơ mở đạo để chỉ đường dẫn nẻo cho toàn thể chúng sanh được trở về hội nhập cùng Ngài. Cho nên người tín đồ hầu hết là tin tưởng và trông cậy vào quyền năng thiêng liêng của Đức Ngài. Vì vậy, trong Thánh giáo Đức Chí Tôn hằng nhắc nhở các đệ tử rằng: “Thầy đã nói cho các con hay trước rằng, nếu các con không TỰ LẬP ở cõi thế nầy, là cái đời tạm của các con, thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng.”

Ấy vậy, cái vấn đề TỰ LẬP là vấn đề các con phải lo đó. Thầy vì công lý mà khai đạo cho các con, cũng là một phúc hạnh lớn cho các con. Nếu Thầy còn đưa tay bồng ẵm thì các con chẳng còn để ý chịu nhọc vì Ðạo”.

Qua lời Thánh giáo trên, Ngài mặc nhiên xác nhận người tín đồ Cao Đài phải nhờ ơn cứu rỗi của Ngài và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, nhưng bản thân mình cũng phải Tự lực hầu khắc phục mọi xấu xa, lập nhiều công quả và nhứt là không bị sa ngã trong cơ thử thách thì Ngài sẽ dẫn dắt về thiêng liêng vị.

Ấy vậy theo lời Thánh giáo, nếu người hành đạo chẳng lo tự lập tức tự cứu lấy mình thì Đức Chí Tôn cũng không làm sao trợ giúp cho họ được.

Muốn thi đậu trong trường thi công quả ấy, người hành đạo phải phải qua một cuộc khảo thí, vì vậy phải vượt qua biết bao gian lao, thử thách, biết bao trở ngại hiểm nguy đã ngăn chặn bước đường tu hành; và chính họ phải vượt qua những cơn khảo đảo về tham dục, nữ sắc, cao lương mỹ vị, phú quý lợi quyền, đó toàn là cạm bẫy mà người hành đạo phải kiên quyết tránh xa.

Đức Chí Tôn đã dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy nói cho các con hiểu rằng, muốn xứng đáng làm môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm môn đệ Thầy thì là Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước; còn ngã thì cửa Ðịa Ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét, ai thấu đáo vậy ôi!

Bởi vậy cho nên, Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành.

Thầy nói trước cho các con biết mà giữ mình. Chung quanh các con, dầu xa dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con.

Qua lời dạy trên, chúng ta hiểu rằng Đức Chí Tôn vì muốn con cái của Ngài có phẩm hạnh hoàn toàn để tiến lên hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật nên mới mở ra trường thi để tuyển chọn người bằng cách xúi giục quỷ ma cám dỗ với mọi hình thức như khiến ham mê danh lợi, quyền tước, giục đắm say tiền tài, nữ sắc. Nhờ trải qua trường thi ấy và chịu cơ thử thách, người hành đạo mới đạt quả vị thanh cao được. Người xưa có dạy: Đạo cao nhứt xích ma cao nhứt trượng, Đạo cao nhứt trượng, ma thượng đầu nhân. Đó là sự công bình của Thiêng Liêng, là luật tiến hóa của Thiên đạo. Hiểu được ý nghĩa cơ thử thách, người tu phải đủ đạo đức, nhứt là phải có chí khí, đại hùng đại lực, kiên trì chống chỏi mới mong chiến thắng sự cám dỗ, sự lôi kéo của lũ ma vương, để vượt lên ngôi vị cao trọng.

Đàn cơ ngày 4 tháng 9 năm Bính Tý (Dl. 18/10/1936) trong Đại Thừa Chơn Giáo, Đức Chí Tôn có dạy:

Biết đạo đức chịu lỳ với đạo,

Để quỷ ma nó khảo mới cao.

Phơi gan trải mật anh hào,

Đại hùng, đại lực mới vào cảnh Tiên.

Và Đức Thượng Sanh trong Huấn từ, nhân bữa tiệc Hội Thánh Cửu Trùng Ðài Ủy lạo hức Sắc và Nhân Viên công quả lúc đầu năm Canh Tuất (Dl. 23/2/1970) cũng có dạy là hành Đạo cũng phải tự lập. Ngài nói:

“Thánh giáo có dạy chúng ta phải TỰ LẬP, tự cứu lấy mình, phải lấy đạo đức chiến thắng bầy hổ lang đang cắn xé chúng ta, chúng ta mới về hội hiệp với Ðức Chí Tôn được.

Trong một bài Thánh giáo, Ðại Từ Phụ có than: “Nếu biết ngộ, một đời tu các con đủ trở về cùng Thầy. Mà hại thay! Mắt Thầy chưa đặng hữu hạnh, hoan lạc thấy được kẻ ấy!!!”

Ðại Từ Phụ băn khoăn lo sợ cho bầy con cái thất bại trên đường lập vị mà phải sa ngã vào cạm bẫy quỉ vương, người mang phẩm vị Thiên phong phải có hạnh đức, dưỡng tánh tu tâm để có thể đối phó với cơ khảo đảo, tỏ ra bậc giác ngộ, xứng đáng làm gương mẫu cho đàn em trông vào cửa Ðạo.

Sự giải thoát cho ta, ta phải tự lo lấy, không có quyền lực Thiêng liêng nào giúp sức cho ta. Cũng như một chiến sĩ xông pha ngoài tiền tuyến, ta phải tự lực tự cường mới có thể chống ngăn kẻ địch. Ta còn hay mất đều do nơi sức ta, không ai chen vào phụ giúp ta được.

Ðức Phật Thích Ca nói với các đệ tử rằng: “Ngươi hãy tự cứu lấy ngươi, ngươi hãy đứng dậy một mình”.

Ðức Chí Tôn thì dạy rằng: “Nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy là cái đời tạm của các con thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đở lên cho đặng”.

Ý thức đời sống của kẻ tu hành là đời sống tinh thần, chúng ta nên xem thường mùi phú quí, bả vinh hoa, lấy kinh sách làm món ăn cho tâm hồn, lấy tình thương làm chủ nghĩa, lấy công quả làm nấc thang, nâng tư tưởng vượt lên trên hết những khát vọng thấp hèn của phàm tục. Như vậy chúng ta sẽ thấy an vui, thanh thoát theo lẽ sống của Thánh Hiền thời xưa. Giá trị của người tu sĩ được nâng cao và vì đó danh thể của Ðạo lại vượt cao hơn nữa.

 

 

 

 

TRUNG DUNG

Bài “Khai Kinh” trong quyển Thiên Đạo và Thế Đạo Kinh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có đoạn:

Trong Tam Giáo có lời khuyến dạy

Gốc bởi lòng làm phải làm lành

Trung Dung Khổng Thánh chỉ rành,

Từ bi Phật dặn: Lòng thành lòng nhơn.

Phép Tiên Đạo: Tu chơn dưỡng tánh,

Một cội sanh ba nhánh in nhau

Đoạn kinh trên đại ý nói rằng giáo lý của Tam giáo có nhiều điều khuyên răn, dạy dỗ, vì cả ba nền tôn giáo đó lấy tâm làm gốc, dạy làm điều phải điều lành.

Thánh đạo thì Đức Khổng Tử lấy thuyết Trung Dung mà khuyên dạy, Phật đạo thì Đức Thích Ca căn dặn phải có lòng Từ bi, lòng thành thật và lòng nhơn từ, biết thương yêu vạn vật.

Còn Tiên giáo, thì phải tu chơn dưỡng tánh. Một gốc mà sanh ba nhánh, tức Đức Chí Tôn làm chủ hay nói cách khác, Ngài là gốc của Tam giáo.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa chữ “Trung Dung” và tại sao Đức Khổng Tử lấy “trung dung” làm chủ đích trong học thuyết của Ngài?

KHỔNG THÁNH

Khổng Thánh tức Đức Khổng Tử, Ngài được người đương thời xưng tụng là bậc Thánh (hay chí Thánh), nhưng Ngài là người rất khiêm tốn, không dám nhận mình là Thánh. Ngài nói rằng: “Nhược Thánh dữ nhân, tắc ngô khởi cảm, ức vi chi bất yếm, hối nhân bất quyện, tắc khả vị vân nhĩ dĩ hỹ 若 聖 與 仁, 則 吾 豈 敢, 抑 為 之 不 厭, 誨 人 不 倦, 則 可 謂 云 爾 已 矣”, nghĩa là nếu bảo Ta là Thánh, là nhân thì sao Ta dám nhận, nhưng Ta làm việc Thánh việc nhân không chán ngán, dạy người không mỏi mệt, có thể bảo Ta được như thế mà thôi.

TRUNG DUNG

Hai chữ Trung Dung bao gồm hết cái uyên áo của Triết lý Nho giáo, phát dương được cái đạo lý biến hóa của vũ trụ và nhân sinh một cách có hệ thống.

Trung Dung là cái Đạo tâm đắc của Đức Khổng Tử, được truyền thụ bằng Tâm, nghĩa là dùng Tâm mà lãnh hội, chớ không phải dùng lời nói mà giảng giải cho đủ lẽ được, vì ý tứ siêu việt và nghĩa lý rất u ẩn.

Mục đích của sách Trung Dung là nói cái đạo của Thánh nhân căn bản ở Trời, rồi diễn giải ra hết mọi lẽ khiến người ta phải giữ mình cho kính cẩn trong khi hành động và cả khi im lặng một mình. Suy cái lý ấy ra cho đến sự Nhân Nghĩa, để khiến cho thiên hạ được bình trị, và lại tán dương cái công hiệu linh diệu của Đạo ấy cho đến chỗ tinh thần vô thanh vô sắc mới thôi.

Thiên “Thiên Mệnh” sách Trung Dung viết "Mệnh mà trời ban riêng cho từng người thì gọi là tính. Thuận theo tính mà đối nhân xử thế, làm mọi việc thì gọi là đạo. Tu dưỡng theo nguyên tắc của đạo để đối nhân xử thế, làm mọi việc thì gọi là giáo. Đạo là điều mà con người không được xa rời dù chỉ trong giây phút; nếu có thể xa rời được thì không phải là đạo. Vì vậy người quân tử phải hết sức răn mình cẩn thận về những điều không ai nhìn thấy. Không có cái gì dễ hiện ra bằng điều giấu giếm, không có cái gì dễ lộ ra bằng điều nhỏ nhặt. Cho nên người quân tử khi xử thế một mình, từ lời ăn tiếng nói đến việc làm cụ thể càng phải cẩn thận, chu đáo hơn bao giờ hết.

Theo Luận Ngữ, thì hai chữ “chấp trung 執 中” (giữ đạo trung) xuất hiện từ đời vua Nghiêu. Vua Nghiêu truyền cho vua Thuấn như sau: Tư nhĩ Thuấn, thiên chi lịch số tại nhĩ cung, doãn chấp kỳ trung; tứ hải khốn cùng, thiên lộc vĩnh chung. Thuấn diệc dĩ mệnh Vũ 咨 爾 舜, 天 之 曆 數 在 爾 躬, 允 執 其 中, 四 海 困 窮, 天 禄 永 終, 舜 亦 以 命 禹”, nghĩa là nầy Thuấn, số trời đã ở tại thân anh (nghĩa là trời đã cho anh trị dân) thì anh nên tin chắc mà giữ lấy đạo trung (để cho dân trong bốn biển được thái bình); nếu dân trong bốn biển mà khốn cùng thì cái lộc trời cho anh sẽ mất luôn đấy.

Người đầu tiên đề cao đạo trung dung là Đức Khổng Tử, sau đó Ngài truyền lại cho Tăng Tử, rồi Tăng Tử lại truyền cho Khổng Cấp (cháu nội Khổng Tử). Sau cùng Mạnh Tử bàn ra cho rộng thêm.

Trung Dung 中 庸 là một quyển sách của Thầy Tử Tư (tức Khổng Cấp), cháu nội của Đức Khổng Tử, học trò của Tăng Tử, gom góp những phần uyên áo của Khổng Giáo viết thành một học thuyết.

Sách Hán Thư cho biết, thiên Trung Dung trước chép ở trong sách Lễ Ký, mãi đến đời Tống mới in riêng ra thành một quyển sách.

Tử Tư dẫn lời Đức Khổng Tử giảng về Đạo Trung Dung như sau: Trung Hòa là cái tính tình tự nhiên của trời đất, Trung Dung là cái đức hạnh của con người. Trung là giữa, không lệch bên nào, Dung là thường, nghĩa là dùng đạo trung làm đạo thường. Vậy Trung Dung là phải có một thái độ ngay chính, lúc nào cũng giữ cho ý nghĩ và lời nói, việc làm đều ở mức trung hòa, không nghiêng không lệch, mà lại có cái sáng suốt biết rõ sự thật và thi hành ra thì làm không thái quá không bất cập, và phải cố gắng ở đời theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, cho thành người quân tử, theo bực Thánh nhân.

Sách Trung Dung gồm có hai phần:

- Phần 1: Từ chương thứ 1 cho đến chương thứ 20, là phần chánh, trong đó dẫn những lời của Đức Khổng Tử dạy các học trò về đạo lý Trung dung, phải làm sao cho Tâm được: Tồn, Dưỡng, Tĩnh, Sát; mức ở gồm đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, cho hòa với vạn vật, hợp với lòng Trời, để trở thành người quân tử.

- Phần 2: Từ chương 21 đến chương 33, tức chương cuối là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ ràng ý nghĩa và giá trị của hai chữ Trung Dung.

Trong sách Luận Ngữ, Đức Khổng Tử có ít đoạn nói về đạo trung, và sau đó Ngài nói về quyền biến, nói về chữ thời, cũng liên quan đến đức trung. Chúng ta thấy tuy Khổng Tử chẳng nói rõ ra, nhưng chủ trương rằng, muốn giữ đạo trung thì phải biết quyền biến và tùy thời. Xét về lời dạy học trò của Ngài trong Luận Ngữ, ta thấy Ngài đã theo đúng thuyết Trung dung, như Ngài dạy “khi nên nói thì nói, khi nên im thì im, lúc nên đi thì đi, lúc nên dừng thì dừng, nên đi nhanh thì đi nhanh, nên đi chậm thì đi chậm, lúc nên làm quan thì làm, không nên thì thôi”. Cho nên môn đệ phục Ngài là bậc Thánh về đạo tùy thời (Khổng Tử giả, Thánh chi thời giả dã 孔 子 者, 聖 之 時 者 也).

Đến thời Mạnh Tử, Ngài ít nói về đạo trung, nhưng bàn về chữ quyền về chữ thời và đưa ra nhiều thí dụ giúp ta hiểu rõ được quan niệm của nhà Nho về đạo Trung dung. Mạnh Tử nói: “Chấp trung vô quyền do chấp nhất dã. Sở ố chấp nhất giả, vị kỳ tặc đạo dã, cử nhất nhi phế nhi phế bách dã 執 中 無 權 猶 執 一 也. 所 惡 執 一 者, 爲 其 賊 道 也. 舉 一 而 廢 百 也, nghĩa là chấp trung mà không biết quyền biến thì là chấp nhất. Ghét cái chấp nhất là vì nó làm hại đạo lý, chỉ làm nổi một việc mà bỏ hết trăm việc khác.

Mạnh Tử có đưa ra một ví dụ về cái đạo quyền biến, Ngài nói nam nữ thụ thụ bất thân là tục mà người Trung Hoa cho tới đầu thế kỷ nầy còn trọng, ai làm trái tục đó thì mang tiếng là vô lễ. Thuần Vu Khôn viện tục đó ra hỏi Mạnh Tử: Nếu thấy chị dâu sắp chết đuối thì có lấy tay mà vớt lên không?. Mạnh Tử đáp: Chị dâu sắp chết đuối mà không vớt lên thì là giống sài lang. Nam nữ thụ thụ bất thân là lễ; còn chị dâu sắp chết đuối lấy tay mà vớt là quyền biến. (Thuần Vu Khôn viết: Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dư? Mạnh Tử viết: Lễ dã. Viết: Tẩu nịch tắc viên chi dĩ thủ hồ? Viết: Tẩu nịch bất viên chi, thị sài lang dã. Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã; tẩu nịch viên chi dĩ thủ giả, quyền dã 淳 于 髠 曰: 男 女 授 受 不 親, 禮 舆? 孟 子 曰: 禮 也. 曰: 嫂 溺 則 援 之 以 手 乎? 曰: 嫂 溺 不 援, 是 豺 狼 也. 男 女 授 受 不 親, 禮 也; 嫂 溺 援 之 以 手 者, 權 也).

Thuần Vu Khôn không phải là không hiểu lẽ quyền biến trong tường hợp ấy, mà ông hỏi như vậy là muốn biết ý Mạnh Tử sao không ra làm quan, nên hỏi tiếp: Kim thiên hạ nịch hỹ, phu tử chi bất viên, hà dã? Viết: Thiên hạ nịch, viên chi dĩ Đạo, tẩu nịch viên chi dĩ thủ. Tử dục thủ viên chi thiên hạ hồ? 今 天 下 溺 矣, 夫 子 之 不 援, 何 也? 曰: 天 下 溺 援 之 以 道, 嫂 溺 援 之 以 手, 子 欲 手 援 天 下 乎? nghĩa là nay thiên hạ chìm đắm cả rồi, mà Thầy không cứu vớt thiên hạ là tại sao? Đáp: Thiên hạ chìm đắm thì phải dùng Đạo mà cứu vớt, còn chị dâu mà sắp chết đuối thì phải lấy tay mà vớt. Anh muốn tôi vớt thiên hạ bằng tay hay sao?.

Như vậy, biết quyền biến là biết cân nhắc nặng nhẹ, như việc nắm tay cứu chị dâu là cần, mà lễ cũng là cần. Nhưng trường hợp cứu chi dâu nặng hơn lễ, nên phải bỏ lễ mà giữ tánh mạng của chị dâu.

Hễ quyền biến thì phải tùy thời. Tùy thời trong việc cư xử ở đời. Mạnh Tử nói: Không phải vì đỡ đói mà làm quan, nhưng có lúc vì nghèo mà phải làm quan, cưới vợ để sinh con chứ không để có người nuôi nấng, săn sóc mình, nhưng cũng có lúc cưới vợ để được nuôi nấng săn sóc. (Sĩ phi vi bần dã nhi hữu thời hồ vi baafn thus thê phi vi dưỡng dã nhi hữu thời hồ vi dưỡng 仕 非 爲 貧 也, 而 有 時 乎 爲 貧; 娶 妻 非 爲 養 也, 而 有 時 乎 爲 養).

Lễ dĩ nhiên tùy thời không có nghĩa là hùa theo đời, gió chiều nào che chiều nấy. Ngài nói: Gặp lúc thiên hạ có đạo thì cho đạo theo thân mình (nghĩa là mình hiển đạt, thì hành được đạo, đạo cũng phát triển); gặp lúc thiên hạ vô đạo thì cho thân mình theo đạo (nghĩa là giữ chắc lấy đạo, đạo không thi hành được, mình cũng ẩn), chưa nghe ai lấy đạo mà hùa theo với người (Thiên hạ hữu đạo, dĩ đạo tuận thân; thiên hạ vô đạo, dĩ thân tuận đạo: vị văn dĩ đạotuận hồ nhân giả dã 天 下 有 道, 以 道 殉 身; 天 下 無 道, 以 身 殉 道; 未 聞 以 道 殉 乎 人 者 也).

Mạnh Tử cho Đức Khổng Tử là bậc Thánh về đạo tùy thời. Ngài nói: Khổng Tử chi khứ Tề, tiếp tích nhi hành, khứ tha quốc chi đạo dã. Khứ Lỗ, viết: Trì trì ngô hành dã; khứ phụ mẫu quốc chi đạo dã, khả dĩ tốc nhi tốc, khả dĩ cửu nhi cửu, khả dĩ xử nhi xử, khả dĩ sĩ nhi sĩ. Khổng Tử giả, Khổng Thánh chi thời dã 孔 子 之 去 齊, 接 浙 而 行, 去 他 國 之 道 也. 去 魯, 曰: 遲 遲 吾 行 也, 去 父 母 國 之 道 也. 可以 速 而 速, 可 以 久 而 久, 可 以 處 而 處, 可 以 仕 而 仕, 孔 子 也, 孔 子 聖 之 時 者, nghĩa là khi Khổng Tử bỏ nước Tề ra đi, vì đi gấp, chẳng chờ nấu xong cơm, gạo vừa vo rồi chắt nước hốt lấy gạo mà đi. Ngài gâp như thế là theo cái đạo bỏ nước khác mà đi. Lúc Ngài bỏ nước Lỗ ra đi, lại nói: Chầm chậm khi ra đi; Ngài chậm như vậy là theo cái đạo bỏ nước cha mẹ ra đi. Nên chóng thì chóng, nên chậm thì chậm, nên ở nhà thì ở nhà, nên ra làm quan thì ra làm quan, Đức Khổng Tử như thế đấy, Ngài là bậc Thánh về đạo tùy thời.

Chúng ta thấy Mạnh Tử đã xưng tụng Khổng Tử là bậc Thánh của đạo Trung Dung là vì sao?

Bởi vì đạo Trung Dung do Đức Khổng Tử quan sát những bí ẩn của Trời Đất, thấy rõ lẽ vận hành biến hóa tự nhiên của vũ trụ, tức Ngài hiểu được Thiên đạo, rồi Ngài dựa theo chơn lý ấy mà phát minh những phép tắc dùng cho con người và cho xã hội (nhơn đạo).

Trong Thiên đạo, chữ Trung là yếu điểm, vì sự vận hành của vũ trụ bao giờ cũng điều hòa, bình hành, nên Trời Đất mới định vị, vạn vật mới sanh sanh hóa hóa vô cùng.

Nhơn đạo phải theo cái Trung thì hành động mới trúng tiết và hợp lẽ phải.

Vậy Trung Dung, theo Khổng Tử và Mạnh Tử, là đạo lý làm người, là chơn lý của nhơn sinh, đó là một qui tắc hành động của bậc hiền minh, hợp với lẽ đương nhiên, không thái quá, không bất cập, song phải biết quyền biến, biết tùy thời, “biết vô khả, vô bất khả”, tùy cảnh ngộ, tùy địa vị mà xử sự, lúc nên làm thì làm, lúc không nên làm thì không làm. Nghĩa là phải cho hợp tình hợp lý chứ không chấp nhứt. Vì vậy theo đạo Trung Dung rất khó, phải giữ cái Tâm cho công chánh, cố gắng bỏ hết tư tâm, khắc phục tư dục, phát triển cái Thiên lý bản nhiên của Trời phú cho, tìm đạo ở trong Tâm mình mà tự hiểu lấy, rồi tin theo thì tư tưởng và hành vi mới thuần nhiên như Thiên lý."Giữ được như vậy là rất khó. Sách Trung dung dẫn lời dưới đây của Đức Khổng Tử: Trung dung kỳ chi hỹ hồ! Dân tiển năng cửu hỹ 中 庸 其 至 矣 乎! 民 鲜 能 久 矣, nghĩa là Đạo Trung Dung thật cao xa, đã từ lâu ít ai theo được.

Ngài cho biết: Quân tử Trung dung, tiểu nhân phản trung dung, quân tử chi trung dung dã, quân tử nhi thời trung; tiểu nhân chi phản trung dung dã, tiểu nhân nhi vô kỵ đạn dã 君 子 中 庸, 小 人 反 中 庸, 君 子 之 中 庸 也, 君 子 而 時 中; 小 人 之 反 中 庸 也, 小 人 而 無 忌 憚 也, nghĩa là chỉ những bậc quân tử, tức những bậc hiền minh, mới theo được đạo trung dung, còn kẻ tiểu nhân thì làm trái đạo đó, cái trung dung của người quân tử là đã có cái đức của người quân tử mà còn biết tùy thời cư xử cho hợp lẽ trung; còn kẻ tiểu nhân trái lẽ trung dung là đã tiểu nhân mà không kiêng sợ gì cả,

Đây là thái độ của người Quân tử theo đạo Trung dung: Quân tử tố kỳ vị nhi hành, bất nguyện hồ kỳ ngoại; tố phú quý hành hồ phú quý; tố bần tiện hành hồ bần tiện; tố di địch hành hồ di địch; tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn, quân tử vô nhập nhi bất đắc yên. Tại thượng vi bất lăng hạ, tại hạ vị bất viên thượng. Chánh kỷ nhi bất cầu ư nhân, tắc vô oán: Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân. Cố quân tử cư dị dĩ sĩ mệnh, tiểu nhân hành hiểm dĩ kiêu hãnh 君 子 素 其 位 而 行, 不 願 乎 其 外, 素 富 貴 行 乎 富 貴, 素 貧 賤 行 乎 貧 賤, 素 夷 狄 行 乎 夷 狄, 素 患 難 行 乎 患 難, 君 子 無 入 而 不 自 得 焉. 在 上 位 不 陵 下, 在 下 位 不 援 陵 上, 正 己 而 不 求 於 人, 則 無 怨; 上 不 怨 天, 下 不 尤 人; 故 君 子 居 易 以 俟 命, 小 人 行 險 以 儌 悻, nghĩa là người quân tử cứ theo địa vị mình mà ăn ở, không cần ở ngoài; địa vị giàu sang thì ăn ở theo cách giàu sang; địa vị nghèo hèn thì ăn ở cách nghèo hèn; ở nơi mọi rợ thì ăn ở theo cách mọi rợ; ở vào lúc hoạn nạn thì ăn ở theo cảnh hoạn nạn. Người quân tử ở vào cảnh nào cũng tự đắc (tức là vui vẻ, thản nhiên). Ở địa vị cao không khinh lấn kẻ dưới, ở địa vị thấp không cầu cạnh người trên. Chỉ giữ cho mình được chính mà thôi không cầu gì ở người thì không oán hận, trên không oán trời, dưới không trách người. Cho nên người quân tử cứ êm thuận nghe theo chân lý; kẻ tiểu nhân thì làm sự nguy hiểm để cầu may.

Tóm lại, chúng ta áp dụng thuyết Trung dung để vui sống trong mọi hoàn cảnh mình gặp trên bước đường đời. Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ nhắc nhở người quân tử nên an lạc tinh thần với thuyết Trung dung:

Người quân tử sống theo địa vị,

Không ước mơ suy nghĩ viễn vông.

Sang giàu sống lối giàu sang,

Nghèo nàn sống lối nghèo nàn ngại chi.

Tới man di sống y man mọi,

Gặp gian lao vui nỗi gian lao,

Bất kỳ sống ở cảnh nào,

Lòng người quân tử ra vào thỏa thuê.

 

 

 

 

SỪNG ĐỘI LÔNG MANG

Trong bài “Kinh Sám Hối” có đoạn viết:

Lương tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,

Mới biệt phân sừng đội lông mang

Việc lành, việc dữ đồn vang

Tuy là bóng khuất xương tan tiếng còn.

Đại ý bốn câu Kinh Sám Hối nói: Con người có lương tâm nên khi gây điều sái quấy thì phải biết hổ thẹn mà ăn năn chừa lỗi. Như vậy mới có sự phân biệt giữa con người với loài thú vật đội mang lông sừng (vì con người có trí khôn ngoan hơn loài vật).

Thực vậy, Mạnh Tử có nói: Nhân chi sỡ dĩ dị ư cầm thú giả cơ hi, thứ dân khứ chi, quân tử tồn chi 人 之 所 以 異 於 禽 獸 者 幾 希, 庶 民 去 之, 君 子 存 之, nghĩa là Người ta khác với giống cầm thú không mấy tí, chỉ có người ta bẩm thụ được cái bản tính tốt thôi, thế mà kẻ thường dân thì bỏ mất đi, người quân tử thì giữ lấy.

Nhờ có lương tâm, con người mới nhận thức được điều thiện lẽ ác, việc phải sự quấy. Nếu làm một việc lành thì lòng an nhiên tự tại, nếu phạm một điều ác, thì dạ xốn xang, xấu hổ. Chính Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức. Làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cải nơi Thiên luật”.

Chính lương tâm này mới biệt phân giữa con người và loài thú vật sừng đội lông mang.

Đức Phổ Am Tổ Sư có bài kệ như sau:

Súc sanh bổn thị nhân lai tác,

 

畜 生 本 是 人 來 作,

Nhân xuất luân hồi cổ đáo câm (kim).

 

人 出 輪 迴 古 到 今.

Bất yếu phi mao tính đái giác,

 

不 要 披 毛 併 帶 角,

Khuyến quân hữu sử súc sanh tâm.

 

勸 君 有 使 畜 生 心.

Nghĩa là:

Người lộn súc sanh cũng tại tâm,

Xưa nay người vật chuyển luân thầm.

Muốn không đội gạc mang lông xấu,

Khuyên chớ làm theo dạ thú cầm.

 

 

 

 

QUYỀN ĐỜI VÀ QUYỀN ĐẠO

Quyền là những điều do địa vị hay chức vụ mà được phép làm, nhưng hầu như mọi người lại thích làm quá quyền hạn để tạo cho mình một thế lực khiến cho mọi người phải kính sợ, phục tùng theo.

Trong quyển Đạo Sử Xây Bàn của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, có bài thi của Đức Lý Giáo Tông như sau:

Hơn người chẳng phải dụng mưu hay,

Đức Phục Nhơn Tâm mới thiệt tài.

Thuận dưới hòa trên nhà sắp đặt,

Ðạo mầu đừng vội trễ nay mai.

Ngài dạy phải lấy cái đức ra để chinh phục lòng người.

Chính Mạnh Tử cũng đã từng nói: Dĩ lực phục nhân giả, phi tâm phục dã, lực bất thiệm dã, dĩ đức phục nhân giả, trung tâm duyệt nhi thành phục dã 以 力 復 人 者, 非 心 復 也, 力 不 贍 也. 以 德 復 人 者, 中 心 悅 而 誠 復 也, nghĩa là lấy sức mạnh phục người, không phải là tâm phục, vì người ta sức yếu hơn; lấy đức phục người, trong lòng người ta vui vẻ mà thành thật phục vậy.

Điều Đức Mạnh Tử nói, ta có thể chứng minh bằng sự tích như sau: Khổng Minh, Gia Cát Lượng đem binh đánh Mạnh Hoạch, là tù trưởng Nam man, không chịu phục nhà Thục Hán. Ông muốn lấy “Đức phục nhơn tâm” nên bảy lần bắt được Mạnh Hoạch, bảy lần đều tha. Cuối cùng, Mạnh Hoạch không phải phục vì sức mạnh của nhà Hán (bắt bảy lần), mà phục cái đức của Khổng Minh (tha bảy lần). Chính Mạnh Hoạch đã nói: Oai đức của Thừa tướng, người Nam man chúng tôi không dám làm phản nữa.

Như vậy, sức mạnh của võ lực tạo lập nên quyền hành không bền vững, vì một khi sức mạnh yếu đi thì quyền hành cũng mất theo. Quyền hành chỉ bền vững khi nó được sự tâm phục của mọi người, tức xây dựng trên tình thương, đạo đức.

QUYỀN ĐỜI:

Ngày xưa, các vị vua chúa gây dựng sự nghiệp cho mình thường theo hai cách Vương và Bá, gọi là “Định Bá đồ Vương”.

Trong bài Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

Sống thì định bá đồ vương,

Quy Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa.

Định Bá là sắp đặt, lo tính gây dựng nghiệp bá, tức là đánh dẹp và thần phục các nước chư hầu để làm bá chủ.

Nghiệp bá thì dùng bá đạo để trị nước. Bá đạo trọng về hình pháp, binh quyền, tín thuật. Trong thời Xuân Thu đã có năm vị vua dùng bá đạo mà hùng cường một thời, làm minh chủ các nước chư hầu khác, gọi là ngũ bá: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công,và Sở Trang Vương. Những vị vua này không phải là bậc tài đức cao, mà chỉ nhờ biết tin dùng người hiền, có chính sách khéo léo làm cho dân giàu, binh mạnh và làm chủ được những chư hầu khác.

Còn đồ vương là mưu tính tạo dựng nghiệp vương, tức dùng vương đạo để trị nước. Vương đạo áp dụng chính sách nhân trị, nghĩa là dùng đức nhân mà trị dân, dùng lễ nghĩa để giáo hoá dân, đó là sự nghiệp của bậc vương giả. Bậc vương giả là người có đạo đức hoàn toàn, lấy điều công chính nhân nghĩa mà trị thiên hạ.

Chính Mạnh Tử đã định nghĩa nghiệp vương bá như sau: Dĩ lực giả nhân giả bá; bá tất hữu đại quốc. Dĩ đức hành nhân giả vương; vương bất đãi đại 以 力 假 仁 者 霸, 霸 必 有 大 國. 以 德 行 仁 者 王, 王 不 待 大 nghĩa là người dùng sức mạnh mà mượn tiếng làm điều nhân, là bá; người làm bá tất phải có nước lớn. Người lấy đức làm điều nhân là vương; người làm vương không đợi có nước lớn.

Tóm lại nghiệp Vương, Bá của thời xưa cũng thể hiện hai loại quyền: Quyền hành được xây dựng trên nhơn nghĩa, đạo đức và quyền hành được tạo lập bởi sức mạnh binh quyền.

QUYỀN ĐẠO:

Quyền Đạo là quyền thi hành luật hay nền hành chánh trong tôn giáo.

Như ta biết, tôn giáo là đoàn thể gồm những người có một tín ngưỡng về vô vi, tức tin rằng nếu bỏ những cái giả ở cõi thế gian là danh, lợi, quyền để trau giồi tâm đức thì sau sẽ có cuộc sống vĩnh viễn nơi cõi Thiêng Liêng.

Như vậy, trong tôn giáo phải “Dụng đức hơn dụng quyền”, tức là dùng cái nhơn nghĩa, đạo đức ra dạy và dẫn dắt chư tín đồ. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ðạo một ngày một nên, bước đường của các con một ngày một thêm trở gay khó nhọc, nhưng nếu các con chẳng dụng quyền hơn dụng đức, biết thương sanh chúng hơn thân mình, vì Ðạo hơn vì danh vọng theo thói đời, thì các con thế nào cũng được vững con đường mà đi cho cùng bước Ðạo.

Nếu người ta dùng quyền hơn dùng đức thì cái quyền hành xua hết cái đức của mình đi như lời Đức Chí Tôn đã dạy: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bã, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn QUYỀN XUA ĐỨC, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo.

Kết luận, người cai trị Đời hay Đạo phải lấy “Đức lập quyền”, tức là dùng cái đạo đức cao thượng để lập nên quyền hành.

Trong Thi Văn Dạy Đạo có những câu dạy về “Đức lập quyền” như sau:

Ðau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,

Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.

Non sông Việt chủng ngày êm lặng,

Chung sức cùng nhau Đức Lập Quyền.

Hoặc:

Hồn về nước cũ đời nương thế,

Hạc lại tùng xưa Đức Lập Quyền.

Đảnh Việt chờ qua cơn bão tố,

Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.

Và Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng cũng có dạy:

Đức Lập Quyền, dân được châu toàn,

Quyền lập Đức, nhơn gian thống khổ.

 

 

 

 

CHỮ NHẪN CỦA VUA THUẤN

Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng mong ước có được một sự an bình về thân thể và lạc quan về tinh thần. Nhưng trên thực tế có rất nhiều sự việc ngoài ý mình muốn, do mình tạo, hay người khác tạo ra, gây cho mình chịu lắm điều bực bội khó chịu, nóng giận trong lòng. Nếu không biết cách hoá giải, chúng ta sẽ có những lời nói hay hành động xấu xa, dẫn đến hiệu quả không tốt, rồi gây nghiệp chẳng lành cho kiếp sống hiện tại và chịu quả báo xấu về sau.

Gặp trường hợp đó, chúng ta phải biết nhẫn để tránh hậu quả. Nhẫn 忍 là nhẫn nhục, là nhịn, tức dằn lòng xuống, chịu phần thiệt về mình, nếu không nhẫn thì sinh chuyện to.

Trăm kinh ngàn sách đều ca tụng nhẫn. Muốn nên danh phận đầu tiên phải học lấy chữ “Nhẫn”, người theo đường tu tập thì cần học nhẫn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy về nhẫn như sau:

“Phải giồi lòng trong sạch, lấy sự Nhẫn nhịn làm gương soi mình hằng bữa, phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau dường như con một nhà, rồi cái thương yêu, sự giúp lẫn ấy sẽ dìu chung các con vào tận chốn Cực Lạc thiêng liêng, để tránh khỏi nơi khổ cùng tiều tụy”.

Theo Nho giáo, Thầy Tử Trương, học trò Đức Khổng Tử, muốn đi xa, bèn đến từ tạ Ngài, xin dạy một lời cần yếu để tu thân.

Phu Tử dạy: “Bá hạnh nhẫn chi vi thượng 百 行 忍 之 為 上”, nghĩa là trăm hạnh nhẫn là trên hết

Tử Trương hỏi: “Hà ư nhẫn chi? 何 於 忍 之?”, nghĩa là thế nào là nhẫn?

Phu Tử nói rằng: “Thiên tử nhẫn chi, quốc vô hại; Chư hầu nhẫn chi, thành kỳ đại; Quan lại nhẫn chi, tấn kỳ vị; Phu thê nhẫn chi, tình chung thuỷ; Huynh đệ nhẫn chi, gia phú quý; Bằng hữu nhẫn chi, danh bất thế, tự thân nhẫn chi, vô hoạn hoạ 天 子 忍 之, 國 無 害; 諸 侯 忍 之, 成 其 大; 官 吏 忍 之, 進 其 位; 夫 妻 忍 之, 情 終 始; 兄 弟 忍 之, 家 富 貴; 朋 友 忍 之, 名 不 替, 自 身 忍 之, 無 患 禍”,

Nghĩa là: nhà vua mà nhẫn, nước không hại; Chư hầu mà nhẫn, nên việc lớn; Quan lai mà nhẫn, lên chức vị; Vợ chồng mà nhẫn, tình chung thuỷ; Anh em mà nhẫn, nhà giàu sang; Bằng hữu mà nhẫn, danh không hư; Tự thân mà nhẫn, không hoạ hoạn.

Tử Trưởng lại hỏi: “Bất nhẫn hà như? 不 忍 何 如?”, nghĩa là không nhẫn thế nào?

Phu Tử nói rằng: Thiên tử bất nhẫn, quốc không hư; Chư hầu bất nhẫn, táng kỳ xu; Quan lại bất nhẫn, hình phạt tru; Phu thê bất nhẫn, tình ý sơ; Huynh đệ bất nhẫn, các phân cư; Tự thân bất nhẫn, hoạn bất trừ 天 子 不 忍, 國 空 虛; 諸 侯 不 忍, 喪 其 軀; 官 吏 不 忍, 刑 罰 誅; 夫 妻 不 忍, 情 意 疏; 兄 弟 不 忍, 各 分 居; 自 身 不 忍, 患 不 除”,

Nghĩa là: Thiên tử không nhẫn, nước tiêu hư; Chư hầu không nhẫn, đành mất mạng; Quan lại không nhẫn, chịu hình phạt; Vợ chồng không nhẫn, tình ý xa; Anh em không nhẫn, chia lìa nhau; Tự thân không nhẫn, hoạ khó trừ.

Xem lời của Đức Khổng Tử về chữ “Nhẫn” trong đoạn văn trên ta thấy lời dạy rất thâm thuý, chỉ có mỗi một chữ mà thực hiện được việc tu thân, đến tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.

Xét trong lịch sử, ta thấy vua Thuấn nhờ thực hành chữ “Nhẫn” mà trở thành một vị Thánh vương và được ca tụng là một bậc đại hiếu.

Thuấn là cháu tám đời vua Huỳnh Đế, họ Diêu, tên Trùng Hoa, con ông Cổ Tẩu, là một người cha hung bạo. Mẹ mất sớm, cha cưới vợ khác sanh ra Tượng. Thuấn bị mẹ ghẻ, em khác cha ganh hại, cho đến cha ruột cũng nghe lời vợ nhỏ oán ghét. Tuy ở trong nghịch cảnh, nhưng ông cố nhẫn nhục, cam chịu mọi sự khổ sở, nhờ vậy trong nhà mới được êm ấm và làm tròn đạo hiếu.

Có lần Cổ Tẩu sai Thuấn đi chài cá ở Đầm Lôi Trạch, nơi đó thường xảy ra sóng to giông lớn làm chìm ghe thuyền, cốt ý là hại Thuấn. Nhưng khi Thuấn đến thì ba năm liền sóng lặng gió êm. Cổ Tẩu sai Thuấn đào giếng, chờ đào xuống sâu rồi lấp đất lại, để chôn Thuấn, nhưng Thuấn biết trước đào ngách núp rồi lên được.

Cổ Tẩu và bà mẹ ghẻ lại bắt Thuấn đi cày cấy một mình ở núi Lịch Sơn, nơi có nhiều thú dữ để hại ông. Nhưng nhờ lòng hiếu thảo cảm đến Trời, khiến voi đến cày, chim đến nhặt cỏ để ông về phục linh với cha.

Cha và mẹ ghẻ nhiều phen mưu giết, nhưng ông thoát khỏi chết, mà vẫn cam chịu nhẫn nhục, không một tiếng oán hờn. Lòng hiếu nghĩa của ông sau động lòng cha, mẹ ghẻ và em, khiến họ sau này thương mến ông. Vua Nghiêu nghe tiếng Thuấn là người hiền, nên tìm đến gả hai người con gái là Nga Hoàng, Nữ Anh và sau lại nhường ngôi cho.

Người xưa cho vua Thuấn là một bậc đại hiếu, nhưng người ta quên cái hạnh nhẫn nhục của ông. Sức năng nhẫn của ông đã trở thành một bậc đại hiếu và hoàn thành các hạnh tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.

 

 

 

 

NHỮNG SỰ HUYỀN DIỆU CỦA CƠ BÚT

Đạo Cao Đài được khai nguyên do Thượng Đế dùng cơ bút làm trung gian để thâu nhận đệ tử và truyền bá giáo lý, giáo luật và đạo pháp xuống thế gian. Đến nay nền Đạo đã phát triển hai phần ba thế kỷ, có hơn năm triệu tín đồ trên toàn thế giới.

Qua cơ bút Thượng Đế đã thu phục được các Đấng khai sáng ra nền Đạo, trong đó Đức Ngài chọn các vị chức sắc đại Thiên phong Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và chư vị Thời Quân để làm đồng tử truyền giáo.

Cơ bút được loan truyền nhanh chóng trong giới quan lại, trí thức và tu sĩ khiến cho dư luận lúc bấy giờ khá xôn xao. Nhiều người không tin tưởng đã tìm đến xin thử thách cơ bút. Sau đây là câu chuyện chứng tỏ sự huyền diệu của các Đấng Tiên Phật giáng cơ vào buổi ấy.

Ông Nguyễn Văn Luật, thọ phẩm Yết Ma, chủ chùa Hội Phước Tự ở làng Phước Hậu tổng Phước Điền quận Cần Giuộc, nghe tin có Tiên Phật giáng đàn cho thi, liền lên Sài Gòn tìm đến nhà Ông Cao Quỳnh Cư để thử.

Trước khi đi ông có đặt một bài thi như sau:

Ấm ức tâm tư suốt mộng tràng,

Có đâu Tiên Phật giáng trần gian.

Văn hay chữ giỏi bày thi phú,

Hoạ đặng thơ đây mới Ngọc Hoàng.

Bài thơ nầy ông để trong túi áo, rồi đến trước đàn cơ quỳ vái lầm thầm với Đức Thượng Đế, xin linh hiển hoạ lại bài thơ của ông.

Đức Thượng Đế giáng cơ hoạ vận:

Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng,

Đời cùng, Tiên Phật giáng phàm gian.

Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,

Chính thật Ta đây Đấng Ngọc Hoàng.

Lúc đó Ông Yết Ma Luật mới trọn tin, sau Ông hiến chùa Hội Phước Tự và nhập môn cầu Đạo và được Đức Chí Tôn phong phẩm Giáo Sư phái Thái. Kể từ ngày 22 tháng 7 năm Bính Dần, Đức Chí Tôn lập ra Đàn tại Hội Phước Tự.

Cũng trong việc tìm hiểu và thử thách sự huyền diệu của các Đấng Tiên Phật giáng cơ, một nhà chính trị là ông Phan Khắc Sửu có đến hầu đàn nơi nhà ông Cao Quỳnh Cư. Ông đã làm sẵn một bài thơ tám câu năm vần, mà hai vần trên khác với ba vần dưới. Bài thơ ấy như sau:

Cao Đài Tiên Trưởng hỡi ông ơi!

Linh hiển sao không cứu giống nòi.

Trăm họ điêu linh thân cá chậu,

Muôn dân đồ thán phận chim lồng.

Coi mòi diệt chủng càng đau dạ,

Thấy cảnh vong bang bắt não lòng.

Nạn nước ách dân như thế ấy,

Ngồi mà tu niệm có yên không?

Rồi ông đốt bài thơ nầy trước Đàn và cầu xin Đấng Thiêng Liêng giáng đàn hoạ vận. Đức Cao Đài Thượng Đế liền hoạ lại bài thơ của Phan Khắc Sửu như sau:

Cơ Trời khó tỏ lắm con ơi!

Nghiệp quả tiền khiên của giống nòi.

Bởi luyến mùi thơm cam cá chậu,

Vì ganh tiếng gáy chịu chim lồng.

Trời khai Đại Đạo nên yên dạ,

Đất dậy phong ba cứ vững lòng.

Gắng trả cho rồi căn nợ ấy,

Tu mà cứu thế dễ như không.

Ông Phan Khắc Sửu lúc đó mới hoàn toàn tin tưởng Đức Chí Tôn, sau đó ông xin nhập Đạo làm môn đệ của Đức Thầy.

Đức Thượng Đế ban thêm cho ông Phan Khắc Sửu bốn câu thi tỏ ý cho ông biết chớ nên chần chờ, phải sớm giác ngộ lo tu hành.

Đường Đạo tìm vào mới rõ cơ,

Cơ mầu giải khổ chớ chần chờ.

Chờ cho trễ bước thuyền xa bến,

Bến tục thoát vòng hết ước mơ.

 

 

 

 

SỰ MẦU NHIỆM CỦA NƯỚC THÁNH

Nước Thánh hay Thánh thuỷ 聖 水 là tiếng tôn xưng nước thiêng liêng của chư Tiên, Phật dùng để giải bệnh, trừ diệt oan khiên, nghiệt chướng. Như vậy, nước Thánh là nước Cam Lồ, còn gọi là nước Dương trong bình Tịnh thuỷ của Đức Quan Âm Bồ Tát. Nước Thánh cũng dùng để chỉ nước Ma Ha, do tích Đức Phật Thích Ca xuống tắm dưới sông Gange (Hằng Hà) và dùng nước con sông nầy để tẩy trần mà đắc thành Phật vị.

Trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nước Thánh cũng là nước thiêng liêng do người hành pháp dùng nước tinh khiết để luyện thành Ma ha thuỷ làm phép tắm Thánh, giải oan cho toàn Đạo.

Ngoài ra, nước Thánh còn có thể chỉ nước Âm Dương ký tế sau thời cúng Đức Chí Tôn, dùng để giải oan trừ bịnh.

Sau đây là một câu chuyện dùng nước Thánh để giải bịnh rất thần hiệu vào thời mới khai Đạo.

Ngày 16/05/1937 Ông Giáo Sư Thượng Bảy Thanh, với chức vụ Thanh Tra Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài Bắc Việt, tổ chức tại rạp chiếu bóng Majestic, đại lộ Đồng Khánh Hà Nội, lúc 5 giờ chiều ngày thứ bảy có một cuộc diễn thuyết về Đạo Cao Đài. Diễn giả là một người Pháp theo đạo Cao Đài, làm Lục Sự (Greffier) tại Toà án Hà Nội, tên là Abadie, thọ Thiên ân Giáo Hữu Thái Abadie Thanh.

Majestic là một rạp chớp bóng lớn nhất và sang nhất ở Hà Nội vào thời bấy giờ. Phòng thật rộng rãi, có thể chứa được hàng nghìn khán giả.Đêm ấy thính giả đến nghe diễn thuyết rất đông, gồm cả ông Tây bà Đầm ngồi chật hết các dãy ghế hàng đầu. Chỉ có một số ít là người Việt Nam, thuộc về hạng quan lại ngồi với họ. Còn tất cả người Việt trí thức lẫn học sinh, sinh viên thời bấy giờ đều ngồi ở các dãy ghế sau.

Ông Abadie thuyết trình về lịch sử và giáo lý đạo Cao Đài dài hơn nửa tiếng đồng hồ. Rồi sau đó, Ông giới thiệu với thính giả một người Pháp, bạn đồng Đạo của Ông, tên là De Lagarde, làm chủ sự nha Bưu điện Vientiane Lào, hôm ấy có mặt ở Hà Nội.

Ông Abadie kể lại nguyên nhân tại sao Ông De Lagarde gặp được mối Đạo Cao Đài và lý do nào ông theo Đạo ấy.

Câu chuyện được kể lại như sau:

Ông De Lagarde trước kia là người không theo Đạo nào hết. Lúc đó Ông làm Chủ sở Bưu diện ở Thủ đô xứ Lào đã mấy năm và có người vợ Nam Kỳ quê ở Cần Thơ. Vào một hôm, ngày chúa nhật, Ông đi săn bắn trong rừng sâu, bị một bầy voi rừng đuổi, Ông liệu bề không bắn được và không dám chống cự, bèn cố hết sức để chạy. Quá kinh hoàng, nên Ông bị vấp ngã vào bụi gai cào chảy máu cả mặt mày. Do tai nạn bất thần đó, Ông De Lagarde bị thương nặng nơi hai con mắt.

Bác sĩ ở Vientiane chữa không khỏi, Ông bị mù luôn. Người vợ Nam Kỳ của Ông, đưa Ông đi trị tại các nhà thương lớn ở Hà Nội và Sài Gòn, được các Bác sĩ danh tiếng nhất săn sóc, nhưng bệnh không lành. Ông tốn hết không biết bao nhiêu tiền bạc nhưng đành chịu tật mù, lại phải chịu nghỉ việc.

Nghe được sự huyền diệu của Đấng Thiêng Liêng giáng cơ cho thuốc trị bệnh, bà vợ Nam Kỳ của Ông De Lagarde đưa Ông đi Tây Ninh, đến Toà Thánh Cao Đài. Người ta cho hay rằng nơi đây, nếu bệnh nhân thành tâm cầu cơ, sẽ có Tiên giáng bút về cho thuốc chữa bệnh.

Trong lúc tuyệt vọng về y khoa Tây phương, Ông De Lagarde đành nghe lời người vợ và thành tâm nguyện rằng: Nếu có vị Tiên hay Thánh nào giáng cơ dạy chữa khỏi bệnh của Ông, Ông sẽ xin nhập môn theo đạo Cao Đài liền, và sẽ hy sinh suốt đời cho đạo pháp.

Buổi cầu cơ được tổ chức tại Toà Thánh Tây Ninh vào đêm rằm. Vợ chồng Ông phải thành tâm cầu nguyện ăn chay, giữ gìn thân thể và tâm hồn trong sạch suốt ba ngày đêm trước buổi cầu cơ. Thế rồi, trong một Đàn cơ đêm hôm ấy, một vị Tiên giáng bút cho Ông một bài thơ bằng tiếng Việt, khuyên Ông tu hành và bảo Ông phải thành tâm thỉnh nước Thánh trên Thiên Bàn rửa vào mắt mù của Ông. Sau ba đêm thành tâm cúng, cầu nguyện và rửa mắt bằng giọt nước mầu nhiệm, Ông De Lagarde bỗng tự nhiên cặp mắt sáng lại như xưa. Rồi từ đó, Ông xin nhập môn vào đạo Cao Đài và trong một Đàn cơ được Đức Chí Tôn phong cho phẩm Lễ Sanh phái Thượng.

Ông Abadie trình bày đến đây xong bèn mời bạn Ông là De Lagarde lên diễn đàn xác nhận câu chuyện mà Ông vừa kể với thính giả.

Ông De Lagarde đứng dậy tiến lên diễn đàn vui vẻ xác nhận như lời Abadie là hoàn toàn đúng sự thật. Và Ông cho biết thêm trong số cử toạ đang hiện diện còn có nhiều người bạn thân, nhất là trong ngành Bưu điện Đông Dương đã biết tai nạn xảy ra cho ông trước đây ba năm, đã làm Ông phải nghỉ việc vì đôi mắt bị mù hoàn toàn. Hiện giờ Ông đã bình phục lại đôi mắt và đã trở lại làm việc ở Sở Bưu điện.

Sau nầy, Ông Lế Sanh Thượng De Lagarde Thanh cùng với Giáo Hữu Thái Abadie Thanh thường xuyên đến Thánh Thất tại Bắc Hà chung lo việc truyền bá Đạo.

 

 

 

 

NHÂN QUẢ VÀ LUÂN HỒI

Sống ở thế gian, có nhiều người không suy xét lẽ thiệt hơn, cho rằng luân hồi và nhân quả là phi lý, bởi vì họ chỉ biết sống có thân xác và vật chất mà thôi, chứ không tin con người có linh hồn. Đối với họ, con người khi chết là hết, không có nghiệp báo, nhơn quả gì cả. Vì vậy, họ chỉ sống cho hiện tại, không lo sợ về việc báo ứng, cứ lòng hung hăng mà làm điều dữ. Đến chừng quả báo xảy đến trước mắt thì than ôi! Tội lỗi đã dẫy đầy, khiến cho con cháu cũng phải chịu vương mang. Trong Kinh Sám Hối cho hạng người nầy là kẻ lỗ mãng nên mới có câu:

Kẻ lỗ mãng chê bai khinh dể,

Rằng thác rồi còn kể ra chi.

Nhãn tiền trả quả tức thì,

Tội dư con cháu một khi đền bồi.

Với những người nầy lúc nào họ cũng tưởng quấy rằng chết là hết tất cả, chẳng có linh hồn, không luân hồi nhơn quả, cho nên họ chẳng ngại ngùng, sợ sệt việc quả báo, cứ lòng hung hăng làm điều ác đức. Vì vậy Kinh Sám Hối mới có lời khuyên:

Chớ quấy tưởng luân hồi phi lý,

Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.

Họ nghĩ hiện tại thân này hành động tạo nghiệp thiện hay ác, mai kia thân hoại rồi nghiệp cũng mất đi. Họ không hiểu rằng Phật đã thường nói nghiệp theo con người như bóng với hình vậy. Chúng sanh sở dĩ luân hồi sinh tử là do nghiệp. Nghiệp là động cơ lôi kéo chúng sanh cứ quanh lên lộn xuống trong sáu cảnh giới, gọi là luân hồi lục đạo.

Lời chứng minh của Đức Phật trong câu chuyện sau đây cho ta thấy rằng có luân hồi và chính nghiệp lực đã dẫn dắt con người trong vòng sinh tử.

Chuyện kể như sau:

Xưa có Ma Ha Nam, là em chú bác của Đức Phật. Ma Ha Nam theo Phật tu hành mà không hiểu sau này mình sẽ ra sao, nên hỏi Đức Phật rằng: Bạch Thế Tôn, bình thường con tu hành, giả sử con vì một tai nạn nào đó đưa đến con phải chết, thì sau khi chết con sẽ đi về đâu?

Đức Thế Tôn không trả lời thẳng, mà đưa ra câu hỏi ví dụ rằng: Có một cây to, mọc từ dưới đất lên cao, thân cây nghiêng về một phía. Vậy lúc đốn cây đó, thân sẽ ngã về bên nào?

Ma Ha Nam trả lời: Cây sẽ ngã về phía thân cây đã nghiêng.

Phật dạy: Như vậy, bình thường ông làm điều lành, khi chết tuy tâm thần bị hỗn loạn, nhưng nghiệp thiên đã tích lũy sẽ ông đến chỗ lành, đó là chơn lý vậy.

 

 

 

 

TẠI SAO NGƯỜI LÀM PHƯỚC CÓ KHI MẮC NẠN

Trong bài Kinh Sám Hối có câu viết:

Người làm phước có khi mắc nạn,

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.

Ấy là nợ trước còn mang,

Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.

Con người sống ở thế gian, ai cũng bị chi phối của luật nhơn quả. Hễ có nguyên nhân tất nhiên phải có kết quả tương thích với nguyên nhân ấy, đó là luật nhân nào quả nấy.

Luật nhân quả không bị hạn chế bởi thời gian, có khi nhanh cũng có khi chậm. Có nhiều loại nhân quả:

Nhân quả hiện tại gọi là Hiện báo 現 報: Nghiệp nhân trong đời này đưa đến quả báo ở hiện kiếp.

Nhân quả trong hai đời gọi là Sanh báo 生 報: Đời trước tạo nhân đời nay mới thọ quả. Đời này gây nhân đời sau nhận quả.

Nhân quả trong nhiều đời gọi là Hậu báo 後 報: Từ rất nhiều đời trước gây nhân, đời nay mới gặt quả, hoặc đời này tạo nhân nhưng mãi nhiều đời sau mới thọ quả.

Hiện báo thì dễ thấy, dễ hiểu, nhưng hậu báo là quả báo do nghiệp nhân tạo ra từ những kiếp sống trước, đến nay mới có kết quả thì khó tin, khó hiểu. Ví dụ người lương thiện mà vẫn gặp chuyện không may.

Theo hai câu kinh trên, người làm phước có khi mắc nạn cho ta thấy việc tai nạn, khổ sở là bởi nghiệp quả, tức do kiếp trước hay nhiều đời trước gây nhân, kiếp này phải đền trả. Việc làm phước làm lành trong hiện kiếp chưa đủ trả những oan nghiệt đã tạo ra ở tiền kiếp.

Như vậy, không phải người làm phước mà mắc nạn, nếu không làm phước thì người ấy vẫn phải mắc nạn, có thể tai nạn còn nhiều và nặng hơn nữa, bởi việc làm phước có thể làm giảm bớt một số tai nạn.

Còn những kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang là vì kiếp nầy tuy có những hành vi không tốt, nhưng nhờ còn hưởng phước đức từ nơi kiếp trước, khi nào phước đức của người ấy hết thì họ sẽ lãnh những quả báo ngay.

Chúng ta đừng tưởng rằng làm những hành vi hung ác mà vẫn được giàu sang đâu, vì bởi quả báo chưa đến. Luật nhân quả như lưới Trời lồng lộng, quả báo như mũi kim không bao giờ lọt đặng.

Trong sách Minh Tâm Bảo Giám, Từ Thần Ông 徐 神 翁 có nói rằng: Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo; nhược hoàn bất báo, thời thần vị đáo 善 有 善 報, 惡 有 惡 報; 若 還 不 報, 時 辰 未 到, nghĩa là Làm lành có lành báo, làm ác có ác báo, hiện thời chưa thấy báo là chưa đến lúc vậy.

Thực vậy, Thánh xưa có câu: Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì 善 惡 到 頭 終 有 報, 只 爭 來 早 與 來 遲, nghĩa là việc lành việc dữ chung cuộc rồi cũng có báo, có điều là trả kíp hay chầy mà thôi.

Câu chuyện sau đây cho ta thấy một nhà từ thiện suốt đời làm việc lành mà vẫn không siêu thoát là do bởi tội lỗi kiếp trước nặng hơn việc làm phước của ông nên còn trả quả.

Ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gariel Gobron là một người Pháp, vào một hôm ngồi chấp bút có một chơn linh giáng cơ xưng tên họ và nhờ ông tiến dẫn về Hội Thánh Cao Đài để cầu rỗi cho ông, vì ông chưa được siêu thoát.

Ông Gobron nghe qua tên tuổi của vị này thì biết ngay, vì sanh tiền vị này là một nhà từ thiện nổi tiếng trong nước mà ai cũng biết. Cả một đời người chuyên đi bán đồ chơi trẻ em và đem số tiền lời được về giúp các trại cô nhi. Ông lại thường xin những đứa bé bị bỏ rơi đem về viện cô nhi để nuôi dưỡng. Những đứa bé do ông đem về thì ông lãnh phần trợ cấp cho trại cô nhi. Chính việc làm cao cả ấy, công nghiệp dường ấy mà lại không được siêu thoát làm cho ông Gobron thêm thắc mắc, mới hỏi: Xin mạn phép hỏi ông: Cả một đời làm việc thiện như ông, thế sao không được siêu rỗi vậy?

Chơn linh ấy bùi ngùi trả lời rằng: Nhiều kiếp trước, tôi vốn là một quan đại thần, có quyền lực lớn, luôn luôn kề cận bên vua. Vì tôi có một thành kiến đối với phụ nữ là kẻ ngoại tình, người làm điếm hoặc không chồng mà có con, gái lang chạ. Tôi không muốn những đứa trẻ vốn sanh ra do những bà mẹ như vậy, nên quyết định diệt cho tuyệt; tôi cũng nghĩ những đứa trẻ ấy có sống cũng không làm lợi ích gì.

Tôi tâu cùng đức vua và dâng bản luật ban hành khắp nơi bài trừ cho sạch cái nạn tồi bại nói trên để giữ nền đạo đức cho đất nước. Sau khi vua ký và đóng ấn ban hành; vì bản luật quá khắc nghiệt nên có nhiều phụ nữ có thai sợ quá mà phá bỏ thai nhi. Chính vì thế mà cả một kiếp sanh của tôi phải đi lượm và tìm trẻ mồ côi để nuôi. Tất cả việc làm của kiếp ấy, không có ngày nào nghỉ, vậy mà cũng chưa đủ đền trả tội lỗi của tiền kiếp đã gây ra, vì còn thiếu nên chưa siêu rỗi được; lại không còn dịp để tái sanh làm người nữa. Nay tôi nhờ Ngài cầu xin với Hội Thánh mà siêu độ giúp cho tôi.

Khi hiểu rõ việc như thế, ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn biên thư kể rõ nội dung và cầu xin Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông từ bi độ dẫn cho chơn linh ấy được sớm siêu rỗi.

Câu chuyện trên cho ta thấy rằng “Người làm phước có khi mắc nạn”, vì bởi công đức làm từ thiện suốt đời của Chơn linh trên không đủ tiêu trừ những tội lỗi mà chơn linh ấy đã gây ra ở nhiều kiếp trước.

 

 

 

 

PHƯỚC BÁO CỦA LÒNG HÁO SANH

Con người khi bước vào đường tu đều phải chấp hành những giới luật của tôn giáo mình đưa ra. Cũng như Phật giáo, Đạo Cao Đài lấy ngũ giới cấm làm phương châm tu tập. Trong ngũ giới cấm, điều giới sát đứng đầu tiên dành cho người thọ giới phải hành trì một cách nghiêm nhặt, song thường người ta chỉ tránh sát mạng con người hay các loài cầm thú, còn những loại như côn trùng, ong, kiến, người ta ít quan tâm tới, vì coi nó là một sinh vật nhỏ bé. Nhưng theo triết lý Cao Đài, mọi vật dù lớn nhỏ đều có một điểm Chơn linh của Đức Chí Tôn phân tánh, nên đều có tánh linh như nhau. Vì vậy, muôn Chơn linh đều được Thượng Đế thương đều nhau, trong Kinh Sám Hối có viết:

Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,

Đức Háo Sanh Tiên, Phật một màu.

Thượng cầm hạ thú lao xao,

Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.

Nó cũng muốn như mình đặng sống,

Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.

Đức háo sanh là Thánh chất của Đức Chí Tôn và Chư Tiên, Phật. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Ngài có dạy: “Chi chi hữu sanh cũng bởi Chơn linh Thầy mà ra, hễ có sự sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống. Vì vậy lòng Háo Sanh của Thầy không cùng tận”.

Thật vậy:

Tạo hóa có công sinh thành, nuôi dưỡng con người và vạn vật. Mỗi Chơn linh mà Ngài sinh hóa ra, dù lớn dù nhỏ đều có điểm Linh quang của Ngài chiết ra, cho nên đối với muôn vật, từ côn trùng thảo mộc, đến loài cầm thú và con người, ngài đều thương yêu như nhau, che chở như nhau.

Chư Tiên Phật cũng thế, là các Đấng từ bi cũng lấy lòng Trời làm lòng mình, chính vì vậy, Tiên Phật cũng như Thượng Đế đều có lòng hiếu sinh. Thánh giáo Thầy có dạy: “Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa sanh cũng vậy, đến thế này lâu mau đều định trước. Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ. Các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy”.

Theo Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Trời đất sở dĩ trường cửu là vì Trời đất không sống cho mình; bậc Thánh nhân nên theo gương ấy. Ngài nói: Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sanh, cố năng trường sanh. Thị dĩ Thánh nhân, hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn 天 地 所 以 能 長 且 久 者, 以 其 不 自 生, 故 能 長 生. 是 以 聖 人 後 其 身 而 身 先, 外 其 身 而 身 存, nghĩa là Trời đất sở dĩ được dài và lâu, là vì không sống cho mình, nên mới đặng trường sanh. Vì vậy Thánh nhân để thân ra sau mà thân ở trước, để thân ra ngoài mà thân đặng còn.

Mỗi sinh vật dù lớn nhỏ đều thọ một điểm Chơn linh của Đức Thượng Đế, đều được Ngài thương yêu đồng đều như nhau, đều được quyền sống ở cõi thế gian như nhau. Lại nữa, do bản năng sinh tồn mà mọi loài đều ham sống sợ chết. Vì thế, ai sát hại sinh mạng của một loài vật thì sẽ bị ác báo, người nào cứu mạng một sinh vật sẽ được thiện báo.

Câu chuyện sau đây cho thấy phước báo của sự bảo vệ sanh linh, dù là vật bé nhỏ.

Thuở xưa, có một vị La Hán ở trên núi Tuyết đã chứng lục thông, thấy rõ việc trong ba đời như xem việc trước mắt. Ngài có nuôi một vị thiếu niên Sa di làm đệ tử.

Một hôm, vị thiếu niên đứng hầu bên cạnh thầy, vị La Hán xem qua sắc tướng rồi cho biết vị đệ tử đã hết phước báo, sau bảy ngày nữa sẽ chết. Thiếu niên Sa di nghe được sự việc chỉ biết đau đớn đảnh lễ thầy rồi từ tạ trở về nhà.

Trên đường về, gặp phải trận mưa lớn, người thiếu niên rẽ qua con đường hẻm thấy một bầy kiến nhỏ đang chơi vơi trên một dòng nước nhỏ chảy ngang qua đường. Bầy kiến hết sức chống đỡ, nhưng vô hiệu, vì thân nhỏ sức yếu mà dòng nước quá mạnh, nên đành để dòng nước đưa về cõi chết.

Thiếu niên Sa di thấy vậy, động lòng từ bi, liền cởi chiếc áo đang mặc trong mình ngăn ngang dòng nước, để đàn kiến có chỗ leo vào, những con kiệt sức không leo được, thiếu niên nhẹ tay bắt từng con bỏ vào áo, rồi đem vào nơi khô ráo. Sau khi xem xét thấy cứu hết bầy kiến, thiếu niên mới yên lòng trở về nhà

Trong thời gian bảy ngày, chàng thiếu niên lo sợ chờ ngày mạng chung. Nhưng đến ngày thứ tám, thiếu niên thấy không có gì xảy đến, mình vẫn còn sống. Chàng thiếu niên mừng vui, tìm đến gặp thầy.

Vị La hán hết sức ngạc nhiên, Ngài liền nhập định dùng diệu trí quán xét mới biết đệ tử mình do công đức cứu bầy kiến nên cải được tử mệnh, lại còn được sống lâu nữa. Sau khi xuất định, vị La hán cho đệ tử mình biết và cho rằng có lòng từ bi mà cứu vớt sinh linh thì công đức ấy vô lượng.

 

 

 

 

NHỒI QUẢ

Nhồi quả là những kết quả xấu từ nhiều kiếp trước dồn lại để báo đáp trong vòng một kiếp sống hiện tại. Nhồi quả là một quả nghiệp nặng nề, khiến người thọ quả phải chịu liên tục, dồn dập trong vòng một kiếp.

Nhưng nhồi quả là một đặc ân của Đức Chí Tôn trong thời kỳ Đại ân xá này, nếu ai chịu đựng được sự nhồi quả thì sẽ mau hết nghiệp để có thể trở về với ngôi xưa vị cũ.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh nói về luật nhồi quả như sau: “Nhồi quả” là một cách trả quả rất nặng nề nhưng cũng là một phương giải thoát. Cho nên người biết đạo luôn luôn vui chịu những hoạn nạn, tai ương dồn dập đến cho mình. Và nếu thấy người nào đạo đức chơn tu mà bị hoạn nạn cùng tai biến bất ngờ, tưởng chẳng nên lấy làm lạ, vì người ấy đương chịu “nhồi quả” đó vậy.

Trong Thi Văn Dạy Đạo có dạy:

Ơn Trời cho mở Ðạo Kỳ Ba,

Dìu dẫn nhơn sanh lánh vạy tà.

Ví muốn tu thân Nhồi quả trước,

Gắng công sau sẽ đến cùng Ta.

Người không hiểu về luật nhồi quả thì cho rằng trời đất bất công, nhưng đó là hồng ân của thiêng liêng ban cho người thọ quả.

Câu chuyện sau đây của người chịu nhồi quả kiếp: Ngày xưa có vị Hoà thượng muốn tu sửa lại ngôi chùa cổ, nên ra chợ làng để hoá duyên. Ông đi từ sáng đến chiều, chẳng có người nào chịu bố thí cả. Sau cùng, có một em bé bán bánh nghèo nàn, ăn mặc rách rưới chạy đến, đem hết số tiền bán được cúng dâng cho vi Hoà thượng. Tấm lòng hỷ xả và nghĩa cử cao quý của đứa bé, làm động lòng trắc ẩn của những người trong chợ, nên kẻ ít người nhiều, ai nấy đều đua nhau bố thí cho vị cho vị Hoà thượng để có tiền bạc cất chùa. Ngôi chùa đó vì thế mà được đổi mới khang trang.

Chùa cất xong chưa được bao lâu, thì dân làng được tin đứa bé bán bánh mắc bệnh nặng và bị mù cả hai mắt. Dân trong vùng đều oán trách rằng Trời Phật bất công đã hại người hiền lương, đạo đức. Không bao lâu, vì mù loà, đứa bé đi lọt vào hầm phân mà chết.

Dân làng lại xôn xao bàn tán về số phận của đứa bé xấu số đó, ai nấy đều cho rằng bố thí hành thiện là một việc không nên làm, vì sợ sẽ rơi vào trường hợp của đứa bé.

Một hôm, vị Hoà thượng đang ngồi thiền, bỗng nhiên thấy hình ảnh của đứa bé chập chờn xuất hiện và quỳ lạy trước Hoà thượng.

Hoà thượng hỏi: Con có oán trách Trời Phật bất công chăng?

Đứa bé đáp: Không, Diêm Vương đã cho con biết tam thế nhân quả của con. Kiếp trước con tạo nghiệp quả xấu quá nhiều, nên kiếp nầy phải đầu thai trong một gia đình nghèo khổ, cha mẹ mất sớm, suốt đời bần cùng lang thang; kiếp sau nữa đầu thai sẽ bị bệnh mù; kiếp thứ ba cũng phải chịu khổ sẽ chết trong hầm phân.

Khi thầy hoá duyên ở chợ, con thấy không người nào chịu bố thí cả, nên con động lòng, đem hết số tiền con có được dâng hiến cho thầy. Diêm Vương phán rằng con có công trong việc tu sửa ngôi chùa, vì sự bố thí của con cổ động lòng hỷ xả của nhiều người, nên đem tam thế nhân quả của con rút ngắn lại, tức là con phải chịu luật nhồi quả trong kiếp nầy. Mong thầy từ bi, đem chuyện của con kể lại cho dân làng hay, như thế con mới yên tâm.

Hoà thượng bèn đem chuyện tam thế nhân quả của đứa bé kể lại cho dân trong làng hay. Từ đó, dân làng mới biết luật nhồi quả là một đặc ân của Trời Phật dành cho người biết tu hành.

 

 

 

 

CƠ THỬ THÁCH

Đức Chí Tôn Giáng huyền cơ khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là mở ra một trường thi công quả cho chúng sanh tu học thời kỳ thứ ba nầy. Có trường thi công quả, thì lẽ dĩ nhiên có cơ “khảo thí” theo phép công bình Thiên đạo. Cơ khảo thí trong đạo giáo còn gọi là cơ “Thử thách”.

Phàm muốn đoạt thủ ngôi vị nơi trường thi ấy, người hành đạo trước hết phải có công lao xứng đáng và phải chịu đựng được cơ thử thách, không bị sa ngã thì mới đạt được phẩm hạnh hoàn toàn, mới xứng đáng đoạt thủ địa vị nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Muốn thi đậu, người tu hành phải vượt qua biết bao trở lực, như những điều gian lao, nguy hiểm xảy đến để ngăn chặn bước đường tu; hoặc những cơn thử thách về tham dục như nữ sắc, cao lương mỹ vị, phú quý lợi quyền, toàn là cạm bẫy mà người hành đạo phải tránh xa.

Vì lẽ công bình của Tạo hóa, Đức Chí Tôn buộc phải để cho Quỷ vương rù quến, cám dỗ, người nào kém đạo hạnh, thiếu nhẫn nhục thì phải sa vào cạm bẫy.

Thử thách là tạo ra một hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm hoặc có nhiều cám dỗ để xem xét khả năng giải quyết và tinh thần đạo đức của người tu có vượt qua nổi không.

Thánh giáo Đức Chí Tôn cho biết trước: “Chung quanh các con, dầu xa dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước, Thầy đã cho các con một bộ thiết giáp chúng nó chẳng hề thấy đặng, là đạo đức của các con.

Ấy vậy, rán gìn giữ bộ thiết giáp đó hoài cho đến ngày các con hội hiệp cùng Thầy. Nghe và rán tuân theo”.

Và Đức Chí Tôn lại cho biết thêm: “Thầy cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng, là đạo đức các con”.

Như vậy, người tu hành khi công quả được viên mãn rồi ơn Trên còn phải thử thách về hạnh đức xem người ấy có xứng đáng đăng tên vào Tiên tịch chăng? Câu chuyện sau đây cho thấy Đức Thái Thượng Lão thử thách người học trò về Đạo hạnh, mặc dù đã theo Ngài hơn hai trăm năm.

Từ Giáp là người đánh xe và chăn con thanh ngưu (tức con trâu xanh) cho Đức Lão Tử.

Theo lời thuyết đạo của Đức Hộ Pháp, khi Từ Giáp đánh xe cho Lão Tử đi về hướng tây, đến ải Hàm Cốc, Lão Tử bảo Từ Giáp: Ngươi theo ta đã lâu, đánh xe cho ta đi mà ta chưa thưởng tiền. Nay đến ải Hàm Cốc, ta sẽ thưởng cho ngươi 30 muôn tiền điếu. Từ Giáp lấy làm thích chí lắm.

Vừa đến ải, Từ Giáp hỏi Lão Tử lấy tiền như đã hứa. Lão Tử đáp rằng: Nay mới tới ải Hàm Cốc ta chưa có tiền, đợi ta đi đến các nước, ta sẽ thưởng tiền thêm cho ngươi. Từ Giáp nghe lời, dẫn thanh ngưu ra đồng cho ăn cỏ.

Đức Lão Tử bẻ một nhánh hoa, biến thành một cô gái xinh đẹp để thử Từ Giáp. Cô gái đẹp la cà đến Từ Giáp trêu ghẹo, Từ Giáp vui vẻ mới cùng nàng hứa hẹn kết duyên. Do vậy, Từ Giáp không muốn theo Lão Tử nữa, định bụng ở lại cưới người con gái làm vợ.

Đến chiều Từ Giáp dẫn thanh ngưu về, đòi tiền Lão Tử cho bằng được. Lão Tử hẹn sau sẽ trả, nhưng Từ Giáp không chịu đòi đi quan sở tại kiện Lão Tử để đòi tiền. Lão Tử giận nói: Ngươi theo ta hơn hai trăm năm nay, đáng lẽ phải đầu thai ba kiếp, may nhờ ta cho uống lá bùa Thái huyền mà ngươi được sống đến ngày nay, sao không biết mang ơn mà lại kiện ta?

Lão Tử nói dứt thì lá bùa Thái huyền từ trong miệng Từ Giáp bay ra. Từ Giáp ngã xuống, rủ thành một đống xương.

Doãn Hỷ thấy vậy thất kinh, bèn xin Lão Tử tha tội cho Từ Giáp. Đức Lão Tử liền quăng lá bùa trở lại đống xương thì Từ Giáp huờn hình sống lại. Doãn Hỷ thay Lão Tử lấy số tiền trả cho Từ Giáp. Từ Giáp được tiền liền ra đồng đi tìm cô gái nọ, tìm mãi không thấy, vào làng hỏi thăm cũng không ai biết cô gái ấy. Loanh quanh tìm kiếm cả ngày, quá ư mệt mỏi, Từ Giáp bèn ngồi xuống nghỉ, bỗng chợt tỉnh ra, biết Lão Tử hoá phép thử mình. Chàng ăn năn hối ngộ, cầu xin Lão Tử tha tội, nguyện quyết chí theo hầu Đức Lão Tử.

Từ đó, Lão Tử truyền đạo cho Từ Giáp tu thành tiên, giữ nhiệm vụ chăn con thanh ngưu và đánh xe cho Đức Lão Tử.

Sự tích nầy được vẽ trong một khuôn hình bên trong hành lang thuộc Nam phái Báo Ân Từ lấy tích “Từ Giáp chăn thanh ngưu”.

 

 

 

 

LÃO TỬ và ĐẠO ĐỨC KINH

Trong Kinh Tiên Giáo có hai câu:

Tử khí đông lai, quảng truyền Đạo Đức.

紫 氣 東 來, 廣 傳 道 德.

Lưu sa tây độ, Pháp hóa tướng tông.

流 沙 西 度, 法 化 相 宗.

Tử khí đông lai, quảng truyền Đạo Đức có nghĩa là một vầng mây màu tía từ hướng đông bay đến và Đức Lão Tử truyền bá quyển Đạo Đức Kinh rộng khắp.

Theo “Lão Quân nội truyện” của Doãn Hỷ thì Lão Tử trước khi đến ải Hàm Cốc, quan lệnh Doãn, tên Hỷ xem Thiên văn thấy vầng mây màu tía (mây lành) từ hướng đông bay đến, ông biết sẽ có vị Thánh Nhân đến ải, bèn sửa áo mão ra thành nghinh tiếp. Đức Lão Tử cỡi con thanh ngưu bay đến, Doãn Hỷ tiếp rước vào ải, xin thọ giáo học Đạo. Trước khi tiếp tục đi độ miền Tây vực, Ngài có để lại cho Doãn Hỷ một bộ sách, gọi là “Đạo Đức Kinh”.

Trong Đạo Đức kinh, Lão Tử đem cái thuyết vô vi (không làm) ra dạy đời, nhưng “không làm” không có nghĩa là chẳng làm gì hết. Câu: “Vi chi ư vị hữu, trị nhi ư vị loạn 為 之 於 未 有, 治 而 於 未 亂”, nghĩa là “làm lúc việc chưa xảy ra, trị lúc nước nước chưa có loạn” của Lão Tử đã chứng thực điều đó. Như vậy, Ngài chủ trương vô vi thanh tĩnh. Ngài cho tính nước là cái nên theo, nó gần như Đạo: “Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo 水 善 利 萬 物 而 不 爭, 處 眾 人 之 所 惡, 故 幾 於 道” (Nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh. Ở chỗ mà người người đều ghét, nên gần với Đạo).

Lưu sa tây độ, Pháp hóa tướng tông ý nói Lão Tử sang miền sa mạc phía tây độ người đời, vừa đến ải Hàm Cốc truyền quyển Đạo Đức Kinh để làm thể tướng cho nền Đạo Giáo (Tiên giáo).

Thực vậy, khi Đức Lão Tử đến ải Hàm Cốc ban cho Doãn Hỷ quyển Đạo Đức Kinh, rồi Ngài từ giả, tiếp tục ra đi để độ những người ở phía tây vùng sa mạc Trung Quốc. Doãn Hỷ ở lại tu học theo quyển Đạo Đức Kinh và sau được đắc Đạo. Còn quyển Đạo Đức Kinh được truyền bá sâu rộng, lúc đầu chỉ được coi như một triết lý, về sau Trang Tử tập đại thành những tư tưởng trong Đạo Đức Kinh mà dựng nên một học thuyết trong Nam Hoa Kinh.

Như vậy, Đạo giáo trước tiên chỉ là một nền triết lý (hay Giáo pháp) vô vi, nói cách khác, là một triết lý ưa thích cái tự nhiên của Trời đất do Đức Lão Tử chủ xướng trong Đạo Đức Kinh.

Về sau, thuyết vô vi của Ngài ảnh hưởng rất lớn ở Trung Hoa, các triết gia kế thừa có ông Liệt Tử đã dựa theo triết lý cao siêu của Ngài mà viết nên quyển Xung Hư Chơn Kinh. Và nhất là Trang Tử, là một nhà hùng biện, đem giáo thuyết vô vi của Ngài ra xiển dương trong quyển Nam Hoa Kinh.

Trong giai đoạn này Đạo giáo vẫn còn là triết lý, đến đời Hán, nhờ ông Trương Thiên Sư, Đạo giáo mới bắt đầu truyền bá rộng rãi trong nhơn gian. Đến đời Tấn, triết lý của các Đạo gia mới được ông Nguyễn Bá Đương chỉnh đốn lại hẳn hoi thành hệ thống một tôn giáo. Đạo giáo mới thực sự là một tôn giáo kể từ đó.

Đến đời Đường, nhà vua nhìn Lão Tử là vị thủy tổ và truy phong cho là Huyền Nguơn Huỳnh Đế, về sau có lập đền thờ Ngài trong cung.

Từ đó, mối Đạo của Ngài được gọi là Đạo Giáo (Gọi theo chữ Đạo trong Đạo Đức Kinh) hay Tiên giáo, và bắt đầu truyền bá khắp trong nước.

 

 

 

 

SỐNG CHẾT LÀ VIỆC TRỌNG ĐẠI

Mọi chúng sanh, mọi sự hiện hữu trên cõi đời hữu hình này đều phải có sống chết, hay sinh diệt theo nguyên lý duyên sinh, duyên diệt, vì Phật có lời dạy: “Hữu hình hữu hoại 有 形 有 壞”.

Việc sống chết theo quan niệm của Đạo là quá trình chuyển hóa miên viễn, có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc. Và sự sống chết đối với Tôn giáo là việc trọng đại: “Sinh tử sự đại, vô thường tấn tốc 生 死 事 大, 無 常 進 速”, nghĩa là Sự sống chết là việc lớn, vô thường đến rất mau chóng.

Trong Kính Sám Hối có hai câu:

Việc sanh tử như dường chớp nháng,

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

cho ta thấy ngày tháng như thoi đưa, việc sanh tử thường xảy ra liên tục, nên cuộc đời của chúng sanh nơi cõi trần rất ngắn ngủi, phù du dễ tan biến như làn sấm chớp, như giấc chiêm bao.

Bài kinh Khi Thức Dậy cũng có câu:

Tử sanh, sanh tử là chi,

Gẫm trong giấc mộng cũng bì như nhau.

Trong thuyết đạo, Đức Hộ Pháp có nói: “Ôi! Kiếp sanh tại thế mang xác thịt, hỏi sống được mấy lát? Nội một giấc thức, giấc ngủ là thấy sự chết sống của kiếp con người, mang thi hài bóng dáng nầy là giả. Cảnh thiệt không phải ở đây, mà cảnh thiệt ở nơi chỗ khác kia, sao không tìm cảnh thiệt là cảnh tồn tại, lại chạy theo bóng?”

Và Lý Bạch, một thi Tiên của nhà Đường, cũng là Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã coi đời như một giấc mộng:

Xử thế nhược đại mộng.

 

處 世 若 大 夢

Hồ vi lao kỳ sinh?

 

胡 為 勞 其 生?

Nghĩa là:

Ở đời tựa giấc chiêm bao,

Làm chi mà phải lao đao nhọc mình?

Do cuộc đời được các nhà tôn giáo coi là ngắn ngủi, như một giấc mộng, nên việc sống chết đối với họ là việc trọng đại. Câu chuyện Lương Võ Đế và Thiền sư Chí Công sau đây cho thấy “Sống chết là việc quan trọng của đời người”.

Lương Võ Đế là một vị vua đời Nam Bắc triều, rất mộ Phật pháp. Thiền sư Chí Công là một vị cao tăng đương thời, được Lương Võ Đế dùng trọng lễ phong làm Quốc sư, và mời vào cung giảng Đạo thuyết pháp.

Một hôm, Lương Võ Đế cho người mời ca nữ đến múa hát và đồng thời mời Thiền sư Chí Công cùng thưởng thức.

Khi tuồng hát vừa diễn xong, Võ Đế bèn hỏi Thiền sư Chí Công: Quốc sư xem tuồng hát vừa rồi có hay không?

Thiền sư đáp: Tâu bệ hạ, bần tăng không biết.

Lương Võ Đế tỏ vẻ không vui và nói: Kết quả của tuồng hát chỉ có hay và không mà thôi, sao Quốc sư lại nói là không biết. Trẩm không hiểu.

Thiền sư đáp: Tâu bệ hạ, bần tăng quả thật là không biết, vì trong lòng của bần tăng luôn luôn nghĩ đến hai chữ “sống và chết” mà thôi. Con người chúng ta một khi nghĩ đến cái chết luôn ở bên cạnh mình, thì ngoài thân mình ra, mọi việc đều không quan trọng cả. Nếu bệ hạ không tin, xin bệ hạ cho phép bần tăng đến nhà lao bắt vài tên tù phạm sắp bị hành hình ra đây, bệ hạ sai người đến múa hát cho họ xem, xong rồi bệ hạ thử hỏi họ xem tuồng hát có hay không thì sẽ biết.

Lương Võ Đế không mấy tin cho lời nói của Thiền sư Chí Công, nhưng vẫn chuẩn y cho người làm theo lời của Thiền sư.

Thiền sư sai người đến nhà lao dắt vài tên tù phạm ra và nói với họ rằng: Mấy người sắp bị hành hình, nay ta tâu với chúa thượng giảm tội cho mấy ngươi, với điều kiện là mấy ngươi đều phải đội một chậu nước trên đầu và đi xem hát. Một khi tuồng hát tan rồi, người nào giữ cho chậu nước không bị đổ hay tràn ra ngoài thì sẽ được ân xá, trái lại vẫn bị tử hình.

Bọn tù phạm nghe xong lời của Thiền sư, đều như kẻ đắm thuyền vớ được phao, còn có hy vọng thoát chết, nên tất cả đều quỳ lạy đáp ơn.

Lương Võ Đế sai người đến múa hát cho mấy tên tù phạm xem. Khi tuồng hát vừa diễn xong, Lương Võ Đế hỏi: Tuồng hát diễn ra có hay không?

Bọn tù phạm đều lên tiếng đáp: Muôn tâu bệ hạ thảo dân không biết.

Lương Võ Đế hỏi: Tại sao?

Tên tù phạm thứ nhứt đáp: Thảo dân mang tội chết chém, nay có dịp được ơn trên khoan hồng, thảo dân chỉ chú ý đến chậu nước trên đầu mà thôi, chứ không để ý đến tuồng hát, vì nếu một giọt nước trên chậu rơi xuống đất thì đầu của thảo dân cũng rớt theo.

Lương Võ Đế hỏi tên tù phạm thứ hai, rồi lần lượt đến tên tù phạm chót. Kết quả của những câu trả lời đều tương tự như nhau.

Lương Võ Đế nghe xong , mới tin lời của Thiền sư Chí Công có lý và giác ngộ được sanh tử là chuyện quan trọng nhất của đời người. Từ đó mới theo Thiền sư Chí Công học Đạo.

 

 

 

 

TRƯỜNG SANH BẤT TỬ

Theo quy luật tự nhiên của Trời đất, hễ có sanh tất phải có diệt, có sống thì phải có chết, vì đó là luật tiến hoá của Càn khôn Vũ trụ. Vì vậy, mọi vật trong cõi thế gian nầy đều không thể tồn tại hay bền vững được, theo Phật: “Hữu hình hữu hoại 有 形 有 壞”, huống chi cái thân tứ đại của ta, làm sao mà có thể sống vĩnh viễn. Còn nói trường sanh bất tử là với những Chơn linh nơi các cõi giới khác, không có hình hài xác thịt như cõi thế gian của con người, hễ có thân xác hữu hình tất phải chết.

Đạo giáo nói trường sanh bất tử là chỉ về bản tính bất sinh bất diệt của ta, chứ không phải là rượu hay một loại Tiên đan nào có thể có thể giúp thân xác ta kéo dài cuộc sống trong cõi phàm tục nầy đặng.

Thế mà ngày xưa có nhiều vị vua, chúa muốn cầu trường sinh bất tử để trị vì thiên hạ, nên thường sai người đi tìm thuốc Tiên, trong số có vua Hán Võ Đế.

Lịch sử có ghi rằng: Hán Võ Đế vào buổi vãn niên rất say mê chuyện Thần Tiên và muốn cầu được trường sanh bất tử. Ông nghe đồn rằng ở núi Quan Sơn, hồ Động Đình có rượu Thần Tiên, một khi uống được rượu nầy có thể sống đời đời, không bao giờ chết. Võ Đế giữ trai giới bảy ngày vài sai một tôi thần dẫn vài chục đồng nam đồng nữ lên núi tìm thuốc.

Lặn lối hơn mấy tháng, những người đi tìm thuốc đã trở về và dâng bình rượu trường sanh cho nhà vua.

Võ Đế rất mừng, tay cầm bình rượu định uống thì có vị đại thần là Đông Phương Sóc muốn cho vua biết là không có thuốc Tiên nào có thể làm cho xác phàm sống mãi, nên tâu rằng: Tâu Bệ hạ, để hạ thần xem thử rượu nầy có phải là rượu Thần Tiên thật không, sau đó bệ hạ hãy uống.

Hán Võ Đế đưa bình rượu cho Đông Phương Sóc. Đông Phương Sóc hai tay tiếp lấy bình rượu và nốc hết cả bình rượu vào bụng. Hán Võ Đế giận điên cả người, bèn sai kẻ tả hữu bắt Đông Phương Sóc ra pháp trường xử trảm.

Trong lúc nầy, Đông Phương Sóc chẳng những không sợ chết, mà còn cất tiếng lên cười và nói: Bệ hạ giết thần không chết được đâu, vì thần đã uống xong thuốc trường sanh bất tử rồi. Nếu như thần bị chết thì rượu Thần Tiên không phải là rượu thật. Nếu đã không phải là rượu thật thì sau nầy bệ hạ cũng không nên phí công tốn sức để đi tìm thuốc trường sanh làm gì nữa.

Hán Võ Đế nghe xong, ngẫm nghĩ rằng lời của Đông Phương Sóc nói cũng chí lý, và không biết làm gì hơn, bèn tha tội cho Đông Phương Sóc.

 

 

 

 

NAM BÌNH PHẬT TỔ

Theo lời Đức Hộ Pháp dạy anh em thợ hồ khi xây dựng Báo Ân Từ vào năm Nhâm Thìn 1952, thì Nam Bình Phật Tổ 南 屏 佛 祖, còn gọi là Nam Bình Vương Phật là một vị Phật được thờ nơi khuôn bao hình chữ nhựt ở tấm vách ngoài, ngó ngay vào Chánh Điện Thờ Đức Phật Mẫu.

Hiện nay nơi Toà Thánh Tây Ninh chưa có Điện Thờ Phật Mẫu, còn tạm mượn Báo Ân Từ để thờ Đức Mẹ, vì vậy nơi đó còn để trống. Chờ ngày nào tạo được Đền thờ Phật Mẫu trung ương, thì nơi khuôn bao hình chữ nhựt ở tấm vách ngoài, ngó ngay vào Chánh Điện Thờ Đức Phật Mẫu sẽ đắp tượng Nam Bình Phật Tổ Phật, cũng như nơi Đền Thánh có Hộ Pháp ngự trên ngai thất đầu xà trông vào Bát Quái Đài vậy.

Mặc dầu không có thờ Nam Bình Phật Tổ, nhưng sau khi cúng Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ xong, Đức Ngài có dạy Lễ Viện Phước Thiện, Giáo Nhi và Đồng Nhi là: Khi cúng rồi phải day ra xá một xá, cũng như ở Đền Thánh vậy. Nên hiểu, không phải xá Hộ Pháp, mà là xá để kỉnh chào Khí Sanh Quang, tức là nguồn cội của Pháp biến sanh vạn vật…

Riêng tại Trí Giác Cung, Đức Hộ Pháp dạy phải đắp Nam Bình Phật Tổ trên khuôn bao đối diện với Chánh Điện Phật Mẫu .

Tượng Nam Bình Phật Tổ nơi Trí Giác Cung là hình một tu sĩ, mình mặc áo tràng tay rộng, màu nâu vàng lợt, tay mặt cầm quạt, tay trái cầm bình bát vu, chân đeo thảo hài, có vành tai dài thòng xuống như tai Phật, đầu đội mão như mão quan nơi triều đình ngày xưa.

Trên tượng thờ có đề bốn chữ Nho nằm ngang là “南 屏 佛 祖 Nam Bình Phật Tổ”. Bên cạnh bức tượng có hai hàng chữ Nho viết theo chiều thẳng đứng, hàng trong có 8 chữ, hàng ngoài có 16 chữ như sau:

有 濟 於 人 有 濟 於 物 誰 謂 其 顛 錯 有 我 佛

佛 其 有 靈 馨 香 拜 乞.

Phiên âm:

Hữu tế ư nhân hữu tế ư vật thuỳ vị kỳ điên, Thác hữu ngã phật phật kỳ hữu linh hinh hương bái khất.

Nghĩa là:

Có cứu giúp người, có cứu giúp vật, ai bảo ấy là điên? Lầm có ta là Phật,

Phật ấy có linh, đốt hương thơm vái lạy cầu xin.

Ý nghĩa thờ Nam Bình Phật Tổ:

Trong Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh, đêm 25-6-Nhâm Tý (Dl. 4-8-1972), hồi 20 giờ 15. Phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo. Hầu đàn: Bảo Đạo, Hiến Đạo, Đầu Sư, chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Phước Thiện và Chức việc, Đạo hữu nam nữ. Hầu bút: Thừa Sử Lê Minh Khuyên, Giáo Hữu Thượng Tám Thanh.

Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa bạch hỏi Đức Hộ Pháp: Nơi Báo Ân Từ thờ Đức Phật Mẫu, phía ngoài đối diện với bửu điện thì không có tượng thờ chi hết, chỉ có ở Địa Linh Động có tượng thờ vị Nam Bình Phật Tổ. Xin Đức Ngài chỉ giáo?

Đức Hộ Pháp giáng: Nên đặt một nghi tiết riêng biệt vì Đấng ấy có công mở đạo tại Việt Nam.

Bảo Đạo bạch tiếp: Nơi các Điện Thờ Phật Mẫu sau nầy cũng phải thờ hay không?

Đức Hộ Pháp giáng đáp: Dùng riêng một chỗ cho Người mà thôi.

Như vậy, sau nầy Hội Thánh có xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu trung ương, Hội Thánh sẽ thờ Nam Bình Phật Tổ phía đối diện với Chánh Điện thờ Phật Mậu để thể hiện thờ vị Phật có công mở đạo tại Việt Nam và chỉ thờ duy nhứt tại một nơi mà thôi, các Điện Thờ Phật Mẫu khác không có.

 

 

 

 

LẤY ÂN BÁO OÁN

Những oan nghiệt và mầm ác mà con người sống ở thế gian đã gây ra, tạo thành những sợi dây vô hình ràng buộc lẫn nhau, trở thành oan gia trái chủ. Vì thế, người ta thường ví trái oan trong nhiều kiếp như cuộn dây tơ chằn chịt, nên gỡ mối chớ không nên kết, vì càng kết lại càng thêm rối, càng sinh oan trái, càng tạo ra khổ đau, phiền não. Rồi cứ oan oan tương báo, không bao giờ dứt được. Sách có nói “oan gia nghi giải bất nghi kết 冤 家 宜 解, 不 宜 結”.

Ông Thái Công cũng dạy rằng: Khuyến quân mạc kết oan, oan thâm nan giải kết. Nhứt nhựt kết thành oan, thiên nhựt giải bất triệt 勸 君 莫 結 冤, 冤 深 難 解 結. 一 日 結 成 冤, 千 日 解 不 徹, nghĩa là Khuyên người chớ nên gieo thù kết oán, thù thâm thì khó giải cho ra lắm. Thù kết một ngày mà thành, thì dù ngàn năm mở cũng không dứt .

Lời Lục trong sách Cảnh Hành cũng viết: Ân nghĩa quảng thi, nhân sinh hà xứ bất tương phùng? Thù oan mạc kết, lộ phùng hiểm xứ nan hồi tỵ 恩 義 廣 施, 人 生 何 處 不 相 逢? 讎 冤 莫 結, 路 逢 險 處 難 迴 避, nghĩa là Sống ở nơi thế gian này, nếu mình đem nhơn nghĩa ra mà cư xử rộng khắp với mọi người thì có lúc mình bị cảnh long đong thì còn có chỗ gặp nhau lại, có thể vì ân nghĩa mà người ta đền đáp lại chăng. Còn thù oán thì không nên kết, dọc đường đi có khi gặp lúc nguy hiểm cũng khó có đường tránh khỏi.

Muốn giải oan nghiệt, các tôn giáo đều dạy chúng ta dùng cái nhơn nghĩa ra cư xử với kẻ thù của mình, tức là chúng ta “Lấy ơn báo oán”.

Trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có dạy rằng: “Lấy nhơn nghĩa đối với bạo tàn, lấy tâm ưu ái trả thù hận, ấy là tâm Phật, phải tâm chí Thánh mới làm đặng. Bần Ðạo làm đặng, đặng chi? Ðặng nêu cao tinh thần Ðạo Cao Ðài nầy lên như Chí Tôn muốn.

Lẽ thì đem hung bạo trừ hung bạo, theo thường tình thì mới vui lòng, thỏa mãn tâm phàm của Phạm Công Tắc thì ắt vui mầng lắm chớ. Nhưng Hộ Pháp vì biết hại cho tương lai nước nhà, nên cầm cây huệ kiếm đưa ra, lấy tâm lý yêu ái đối lại với oán ghét, cốt yếu làm cho nhơn loại, làm chứng rằng chơn truyền của Ðạo Cao Ðài là huờn thuốc "Phục sinh hòa bình" cho nhơn loại”.

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nữ phái có khuôn hình mang ý nghĩa “Lấy ân báo oán”.

Lấy ân trả oán là một câu chuyện trong truyện cổ tích Phật giáo như sau:

Truyện kể rằng: Hoàng đế nước Cô Sa La là Diệc Cô Ty bị vua nước Ca Si là Ba Ra Ma Đạt Ta chiếm ngôi, vua Diêc Cô Ty phải giả dạng làm một thầy tu, trốn tránh ra ở thành Bê Na Rết.

Ít lâu sau vua và hoàng hậu mới sanh được một trai là Diệc Ga Du. Diệc Cô Ty sợ lộ tông tích khiến con bị hại, bèn bảo Diệc Ga Du lẩn tránh đi nước khác. Vợ chồng vua Diệc Cô Ty ở lại ít lâu sau bị vua Ba Ra Ma Đạt Ta phát hiện, bắt về triều. Trong lúc đó Thái Tử Diệc Ga Du ở nước ngoài, lén về thăm cha mẹ, nghe tin chẳng lành, bèn ra cửa ngọ môn thấy cha mẹ bị xiềng chờ xử trảm, vua Diệc Cô Ty cũng nhìn thấy con bèn giả vờ quay hướng khác la lớn: Lấy oán trả oán, oán kia không dứt, lấy ơn trả oán oán nọ mới tiêu. Thái tử Diệc Ga Du biết cha dạy mình, khi vua cha và hoàng hậu bị hành quyết rồi, chàng mới trốn vào rừng nương náo.

Sau đó, Diệc Ga Du thay hình đổi dạng thời may được làm hầu cận bên vua Ba Ra Ma Đạt Ta. Một hôm vua và Diệc Ga Du đi săn bắn, quá mệt mỏi, nhà vua nằm trên bắp đùi Diệc Ga Du ngủ. Gặp cơ hội tốt, Thái tử Diệc Ga Du định chém đầu vua để báo thù cho cha mẹ. Nhưng vì lời dặn của cha trước khi chết, nên chàng đành thôi, mấy lần như vậy.

Đến chừng vua Ba Ra Ma Đạt Ta giựt mình tỉnh dậy, Diệc Ga Du liền đứng phắt dạy rút gươm ra nói rằng: Ta là Thái tử Diệc Ga Du con của vua Diệc Cô Ty nước Cô Sa La nầy. Ngươi chiếm đoạt đất nước của cha ta, lại còn giết cha mẹ ta. Ngày nay ta phải chém đầu ngươi để báo oán.

Vua Ba Ra Ma Đạt Ta van xin: Nhờ lượng Thái tử dung tha mạng vì mọi việc đã lở rồi. Diệc Ga Du nhớ lời cha dạy, từ từ tra kiếm vào vỏ. Vua Ba Ra Ma Đạt Ta hỏi tại sao lúc ta ngủ mê, Thái tử không giết?

Diệc Ga Du nói: Lúc thác cha tôi bảo lấy ơn báo oán thì oán mới tiêu, ngày nay tôi không giết bệ hạ, Bệ hạ lại tha chết cho tôi, thế thì oán thù ngày xưa đã chấm dứt.

Vua Ba Ra Ma Đạt Ma ngẫm nghĩ rồi gật đầu. Sau đó truyền đem Thái tử về triều, gả công chúa cho và tuyên bố sẽ truyền ngôi lại cho Phò Mã , tức là đem nước Cô Sa La trả cho Diệc Ga Du.

Nhà thơ Huệ Phong trong quyển Báo Ân Từ có viết:

Diệc Cô Ty thần hồn đã phán,

Ga Du con trả oán bằng ân.

Ba Ra cảm xúc bội phần,

Mối thù đổi lại tình thân ngai vàng.

 

 

 

 

NHẤT NIỆM SÂN TÂM KHỞI
BÁCH VẠN CHƯỚNG MÔN KHAI

Con người sống ở thế gian, khi gặp cảnh thuận thì an vui, trái lại, khi gặp nghịch cảnh thì phiền não. Trong các loại phiền não thì sân hận là thứ phiền não có tướng trạng rất thô bạo, và nó có thể phá hoại sự nghiệp hành trì của người tu một cách nặng nề nhất. Một khi sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục được, thì biết bao chuyện đau khổ, chướng ngại xảy đến cho ta. Do vậy mới có câu: “Nhất niệm Sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai 一 念 嗔 心 起, 百 萬 障 門 開.”, có nghĩa là khi khởi một niệm giận hờn tức là đã mở ra muôn ngàn cửa chướng ngại.

Một khi tức giận đã nhiễm vào tâm thì si mê sẽ nổi lên, lúc đó chúng ta sẽ sống trong cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẻo, và rất dễ dàng gây nên tội ác, mà không lường được hậu quả đau khổ. Những giây phút tức giận trở thành ngu si, lầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự hối tiếc, đau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên suốt cả cuộc đời. Bởi vậy phải diệt tận gốc cài sân hận thì cuộc sống mới an lạc và hạnh phúc.

Nguyên nhân của sân hận là tự cao, kiêu mạn, tham lam và tật đố. Hàn Sơn Đại Sư đã dạy về việc sân hận trong một bài thơ được dịch ra như sau:

Sân như lửa trong tâm,

Đốt tiêu rừng công đức.

Muốn hành Bồ Tát đạo,

Nhẫn nhục giữ chân tâm.

Muốn đối trị lòng sân hận, phải khởi tâm Từ bi, mà tha thứ cho những người gây tội lỗi, chịu hình phạt, như lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn đã dạy: Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Sau đây là một câu chuyện kể lại người tu hành mà không dằn được lòng sân hận để phải tiêu tan công đức và chịu thọ nghiệp trong vòng quả báo, luân hồi.

Đời nhà Đường có vị Thiền Sư Hoa Nghiêm là đệ tử của Đại Sư Thần Tú, trụ trì chùa Thiên Quan tại thành Lạc Dương. Trong chùa có hơn ba trăm đệ tử, mỗi ngày đến giờ dùng cơm, Thiền Sư bắt đệ tử phải có bình bát đầy đủ và sạch sẽ mới cho đi vào trai đường.

Có một vị đệ tử pháp danh Hạ Lạp, hành đạo tinh tiến, nhưng lại có tính dễ sân nộ và thiếu tính nhẫn nại. Một hôm, vì mắc bệnh không thể đến trai đường dùng cơm, lúc đó có một tiểu sa di thiếu bát, biết Hạ Lạp đang ốm không đi dùng cơm, mới đến hỏi Hạ Lạp cho mượn tạm chiếc bát.

Hạ Lạp từ chối rằng: Chiếc bát ta dùng đã hơn ba mươi năm, không thể cho ai mượn cả.

Chú sa di năn nỉ nhiều lần, sau cùng Hạ Lạp cũng bằng lòng cho mượn, nhưng luôn căn dặn: Bát nầy ta dùng đã lâu, nó là một kỷ vật quý của ta, chớ nên làm vỡ. Nếu đánh bể chiếc bát nầy thì coi như là giết ta đấy.

Chú sa di gật đầu vâng dạ, rồi đem chiếc bát đến trai đường dùng cơm. Khi mới dùng một nửa, Hạ Lạp sai người đến đòi. Chú sa di vội vàng dùng xong bữa cơm và lật đật mang chiếc bát đi rửa. Không may, vì quá hấp tấp, chân vấp phải cục đá mà té, chiếc bát cũng vỡ theo. Chú sa di hoảng hốt, cầm chiếc bát vỡ đến gặp Hạ Lạp và nói: Con sơ ý, đã đánh vỡ chiếc bát của thầy rồi, xin thầy thứ lỗi.

Hạ Lạp nghe xong, giận điên cả người, lớn tiếng trách nạt chú sa di: Ta đã bảo ngươi nên giữ cẩn thận, nay ngươi đã đánh vỡ chiếc bát của ta thì cũng như giết chết ta rồi còn gì.

Chú sa di thưa rằng: Bạch thầy không phải là con cố ý đánh bể, mong thầy xá tội. Chú sa di quỳ xuống và cúi đầu lia lịa, nhưng cơn giận của Hạ Lạp vẫn chưa nguôi, bệnh tình của Hạ Lạp vì thế trở nên trầm trọng, qua vài hôm sau thì mất.

Vài năm sau, Thiền Sư Hoa Nghiêm trong một buổi giảng kinh ở thính đường, bỗng có tiếng xào xạt từ ngoài truyền vào, chúng đệ tử nhìn ra ngoài thì thấy một con mãng xà lớn, dài đến bảy tám trượng bò vào, đôi mắt lăm le ngắm nhìn khắp nơi như đang tìm một người nào vậy. Khi ấy mọi người đều sợ sệt và tìm đường chạy trốn, con rắn tiến gần đến chỗ Thiền Sư Hoa Nghiêm. Thiền Sư cầm tích trượng chỉ con mãng xà, nạt rằng: Hãy dừng lại! Hãy dừng lại!

Mãng xa như hiểu được tiếng người, nghe xong bèn dừng lại. Thiền Sư lấy tích trượng gõ vào đầu con rắn và nói: Đó là nghiệp do ngươi tự tạo, người có biết chăng? Nay đã đoạ kiếp mãng xà rồi, hãy buông xuôi tất cả, hồi tâm sám hối quy y, chớ nên oan oan tương báo mà sa vào địa ngục.

Mãng xà nghe xong liền bỏ đi. Khi mọi người đều trở về giảng đường, Thiền Sư Hoa Nghiêm bèn nói với chúng đệ tử rằng: Con mãng xà vừa rồi là Hạ Lạp, sư huynh của mấy con đầu thai đấy. Nó oán hận tiểu sa di đánh vỡ chiếc bát của nó, nên khi chết thì đoạ vào kiếp rắn, hôm nay nó trở về chùa để đòi mạng chú sa di. Nay nó nghe lời ta mà xả thân, các con hãy đến khu rừng bên cạnh để chôn cất nó.

Mấy vi sư nghe lời thầy, theo dấu mãng xà đến một hang động thấy con mãng xà đập đầu vào vách đá, máu chảy lai láng. Mọi người đều niệm Phật và chôn cất con mãng xà xong về chùa báo cáo cho Thiền Sư hay.

Thiền Sư dạy rằng: Các con tu hành, phải kềm chế lòng sân hận, trong Kinh có nói: “Một niệm lửa sân đốt tan cả rừng công đức”, tức là nói khi sân hận nổi lên thì không có tội ác nào mà họ không dám làm. Ý nghĩa của câu nói này là Đức Phật khuyên chúng ta phải làm chủ cơn sân hận, phải chuyển hóa tâm sân hận thành tâm từ bi hỷ xả. Chính Hạ Lạp không dằn được lửa hận, chẳng những bị xoá bỏ công đức tu tập bao nhiêu lâu nay mà còn nhận những nghiệp chướng nặng nề khác.

 

 

 

 

HUYỀN SỬ ÔNG THẦY KHÔNG TÊN

Ân sinh dưỡng và công giáo hoá ở cõi thế gian là thiên chức của cha mẹ và ông thầy dạy học. Đó là công lao hữu hình tạo ra hình hài xác thịt, và khai hoá nhơn tâm.

Đối với đạo Cao Đài, công đức lớn lao hơn nữa là hồng ân của Đức Chí Tôn. Ngài đã tạo hoá ra Càn khôn Vũ Trụ và vạn linh.

Ngài chính là cha (Đại Từ Phụ) của toàn chúng sanh, có công đào tạo, nắn đúc nên tấm thân phàm ở cõi thế gian và đào tạo cả khối tâm linh để được tiến hoá. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Ngài đã dạy: “Người sống trên thế gian nầy, dầu thuộc giống dân nào, cũng chỉ có một Cha chung mà thôi., ấy là Trời đang chế ngự số mạng của các con”.

Ngài cũng là thầy của vạn linh. Chính trong thời kỳ thứ ba, Ngài đến mở Đạo bằng huyền diệu cơ bút để dẫn dắt và giác ngộ người đời, Ngài thường xưng là Thầy, coi chúng sanh là trò để đem giáo lý mà dạy dỗ, hầu sau này các trò có thể trở về hội hiệp cùng Thầy, như lời Ngài đã dạy: “Các con ôi! Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé, trông nom cho nó mau trưởng thành, hầu lưu danh truyền nghiệp, cho có tên tuổi với đời”..

Vì vậy, nơi hành lang Báo Ân Từ Đức Hộ Pháp cho vẽ một khuôn hình lấy tích là “Huyền Sử Ông Thầy Không Tên” để nói về Đức Thượng Đế.

Bức tranh “Huyền sử Ông Thầy không tên” vẽ hình một người đàn ông (Tượng trưng Thượng Đế) bị bắn một mũi tên vào bả vai rơi máu, để chỉ rằng: Ngài đã bị những kẻ phản bội gây đổ máu, mặc dù toàn cả nhân loại đều là con cái hay đồ đệ của Ngài. Nhưng Ngài vẫn thương yêu hết thảy, kể cả nhưng đứa dại khờ, hung dữ, Ngài chỉ ước mong sao một ngày nào đó, bọn chúng ăn năn, hối hận mà trở về cùng Ngài.

Thánh giáo Ngài đã dạy: “Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết!”

Ân sanh dưỡng công vừa giáo hoá,

Từ thân phàm đến cả tâm linh.

Nên danh bội phản đức tin,

Mũi tên oan nghiệt tượng hình trên vai.

(Báo Ân Từ).

 

 

 

 

PHƯỚC ĐỨC VÀ CÔNG ĐỨC

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn đến mở Đạo lần nầy là lập một trường thi công quả. Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Người tu hành, nếu chưa trường trai trì giới nổi đặng thì hãy lo lập đức, bồi công để làm nền móng vững chắc cho việc luyện Đạo tương lai, chớ dục vọng mong sớm luyện Đạo để làm Tiên, Phật mà thiếu phần công quả, âm chất. Vì Thầy lập Đạo kỳ này là mở một trường thi công quả. Các con phải đi tại cửa này mới đến đặng Cực Lạc mà thôi”.

Như vậy, chúng ta nhập môn vào nền Đại Đạo, thì phải lo bồi công lập đức, tức phải tu phước, là làm những việc lành, như bố thí, cúng dường, ủng hộ những người tu hành chân chính, in kinh, làm chùa, ngoài ra bản thân cũng phải tu huệ là ăn chay, học hỏi giáo pháp, tụng kinh, trì giới, và thiền định. Hành giả phải vừa tu phước và tu huệ, gọi là phước huệ song tu. Đó là yếu tố quan trọng trong việc tu hành của một tín đồ Cao Đài.

Phước đức có hai thứ:

1 - Phước hữu lậu: Được an vui tương đối vì còn ở trong vòng sinh tử luân hồi.

Rõ phước đức, biết tội tình,

Nắm tâm đắp vững mặt thành Càn Khôn.

(Kinh Thế Đạo).

Phước đức trời ban để cứu đời,

Thiện duyên chan rải khắp nơi nơi.

(Thơ Tiếp Đạo).

2 - Phước vô lậu hay công đức: An vui tuyệt đối, thoát ly sinh tử. Tất cả những an vui sinh tử đều là tạm bợ, chỉ có tiêu diệt hết mầm sinh tử thì mới có an trụ vô sanh và an vui viên mãn.

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có dạy: “Công đức phải là nơi tự tánh thấy, không phải do bố thí, cúng dường mà cầu có được. Ấy là phước đức cùng với công đức khác nhau”. Các công đức của Phật hoàn toàn vô lậu, không phải như các công đức tạo tác ở thế gian vô thường thuộc hữu lậu và khổ đau.

Trong đạo Cao Đài, việc làm công quả hiện nay tại các địa phương, hầu như mọi nơi chỉ nghĩ đến xây dựng Thánh Thất cho khang trang, đẹp đẽ, thậm chí có nhiều chỗ đã tạo lập nơi thờ tự kiên cố rồi, thế mà vẫn đập phá để xây dựng lại mẫu mới. Điều nầy Đức Chí Tôn xưa đã từng dạy:

Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,

Chẳng cần hạ giới vọng cao ngôi.

Bần sang trối mặc, tâm là quý,

Tâm ấy toà sen của Lão ngồi.

Lại nữa, vào thời kỳ Hạ ngươn mạt pháp nầy, chúng sanh đang mang lấy nhiều oan khiên nghiệp chướng, chịu nhiều đau khổ, nên Thầy mới giáng cơ khai Đạo để cứu giúp và đưa chúng sanh đến bờ giác ngộ. Đó là Đạo cứu đời, thực thi bổn nguyên Bảo Sanh của Đức Chí Tôn.

Khi Đầu Sư Thái Thơ Thanh còn tại thế, Ngài mua được 100 mẫu đất rừng, Ngài cùng Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh làm một tờ sớ dâng lên cho Hội Thánh và Đức Chí Tôn, xin tạo tác Cực Lạc Cảnh và Thái Cực Đồ.

Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài như sau:

“Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Độ, Các sự hữu hình phải phá tiêu diệt.

Thầy đến chuyển Đạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thể nào diệt đặng.

Thơ, Thầy đã khiến con đi “Đế Thiên Đế Thích” đặng xem cho tạng mặt hữu hình, nội thế gian nầy, ngày nay ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng Đạo đức con Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến, Thầy không muốn cho con hao tài, tốn của, mà gìn giữ sự giả dối.

Chẳng cần con lo lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên Bảo Sanh là bổn nguyên Thánh Chất của Thầy.

Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi...”.

Như vậy, việc huy động tiền của chúng sanh để tạo lập Thánh Thất có phải là công quả phi thường hay không?

Chúng ta thấy Lương Võ Đế là vì vua thâm tín Phật giáo vào bậc nhất trong lịch đại hoàng đế Trung Quốc. Ông tên là Tiêu Diễn, tự Thúc Đạt, làm Thứ sử đất Ung Châu, thời Nam Bắc Triều. Vua Tề là Bảo Quyển hung bạo, giết anh của Tiêu Diễn là Ý, Tiêu Diễn khởi binh công hãm thành Kiến Khang, rồi đón Bảo Dung đưa lên ngôi làm vua là Hoà Đế.

Hoà Đế bèn cho Diễn làm Đại Tư Mã và phong làm Lương Vương. Sau Hoà Đế mất nhường ngôi lại cho Tiêu Diễn, lập nên nhà Lương, tức Lương Võ Đế.

Lương Võ Đế một vị vua sùng bái đạo Phật, cho vời các bậc cao tăng ở Ấn Đô sang truyền đạo ở Trung Quốc. Vua còn ra lịnh dựng chùa Đồng Thái, Đại Ái Kính và nhiều chùa lớn nhỏ ở khắp nơi trong nước

Đến năm 520, vua được tin tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ theo thuyền buôn đến Quảng Châu, liền sai sứ thỉnh Ngài về kinh đô Kim Lăng để vua hội kiến.

Khi hội kiến, Lương Võ Đế hỏi tổ Bồ Đề Đạt Ma rằng: Trẫm từ lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ tăng ni không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?

Tổ đáp: Không có công đức gì cả.

Lương Võ Đế hỏi: Tại sao không có công đức?

Tổ Đạt Ma đáp: Xây chùa, chép kinh, độ tăng là tạo nhân hữu lậu, chỉ được hưởng thiện quả nơi cõi Trời, cõi người, quả theo nhân như bóng theo hình, là phước đức, không phải công đức. Công đức là do tu hành, trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh, không do bố thí hành thiện mà cầu được.

Lương Võ Đế lại hỏi: Thế nào là công đức chân thật?

Tổ Đạt Ma đáp: Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.

Tổ sư Đạt Ma biết căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại thêm ít hôm, đến ngày 19 tháng 10 năm ấy, không chào mà từ giã vua, giữa đêm Tổ sang sông qua Giang Bắc, vào nước Nguỵ, đến Lạc Dương.

Thương nhau tìm kiếm chừng nào gặp,

Công đức vẹn toàn sẽ hiệp ngôi.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

 

 

LŨ TRUYỀN BỬU KINH DĨ GIÁC THẾ

Lũ truyền bửu kinh dĩ giác thế 屢 傳 寶 經 以 覺 世, nghĩa là biết bao nhiêu lần (hay thời kỳ) đã truyền kinh sách quí báu để giác ngộ người đời.

Câu trên là một câu kinh được trích trong bài “Ngọc Hoàng Kinh”, để nói lên lòng thương yêu vô bờ bến đối với chúng sanh của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mà Ngài phải bao phen giáng chơn linh xuống thế truyền kinh sách giác ngộ người đời.

Thật vậy, Kinh là nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo, nên từ ngàn xưa, các vị Giáo chủ của Tam giáo đã đắc lệnh của Đức Chí Tôn, giáng cơ mở Đạo để tùy thời, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà truyền những kinh sách quí báu, hầu khai hóa đạo tâm cho con người, đưa con người đến sự giác ngộ.

Về Nho giáo, Đức Khổng Thánh đã để lại một kho kinh sách quí giá như Tứ Thư, Ngũ Kinh, sau này các hàng Đệ tử và hậu Nho tiếp tục xiển dương hệ thống triết lý đó làm nền tảng về nhân sinh, đạo đức và phong tục cho xã hội con người, mà hơn hai nghìn năm nay con người vẫn còn sùng thượng.

Về Lão giáo, từ hai quyển “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử và “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử làm cơ sở cho triết lý “Vô vi”, đến thời nhà Tống các nhà Nho đem lý thuyết Vô vi của Lão Trang phối hợp với Dịch Lý của Nho mà tạo thành một phong trào “Huyền học” hay “Lý học”. Phong trào nầy có công lớn trong việc phát triển học thuyết Lão Trang đến chỗ phồn thịnh nhứt vào đời Ngụy, Tấn, Lục Triều...Lão giáo hướng con người về với Đạo là thuận lẽ thiên nhiên vô vi tự tại. Vì vậy, thuyết Vô vi của phái Đạo Gia đã ảnh hưởng không nhỏ về Vũ trụ quan và Nhân sinh quan qua con người từ ngàn xưa cho đến bây giờ.

Về Phật giáo, sau khi Đức Phật thành Đạo, Ngài đã đem điều chứng đắc để giác ngộ chúng sinh tìm về bản thể chơn như, hầu đưa chúng sanh theo con đường giải thoát. Đến khi Phật nhập diệt, các vị Đệ Tử mới đem những lời dạy của Ngài kết tập lại thành Tam Tạng Kinh. Từ đó, kinh sách của Phật được phổ truyền theo muôn đường vạn nẽo để đem cái Giáo Pháp cao siêu của Đức Phật mà giác ngộ chúng sinh trong tam đồ, lục đạo.

Sang đến thời ký thứ ba nầy, Đức Chí Tôn không chiết chơn linh hạ phàm như hai thời kỳ trước: Nhứt kỳ và Nhị kỳ phổ độ. Kỳ này, Ngài giáng huyền cơ khai mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cùng với Phật Mẫu, Cửu Vị Tiên Nương, và các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật giáng cơ ban cho giáo pháp để dìu dắt chúng sanh, hướng dẫn mở nền tôn giáo mới, trong đó Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Diêu Trì Kim Mẫu là hai Đấng cha mẹ linh hồn chung của nhơn loại, được gọi là Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu của vạn linh.

Về kinh sách, sau ngày khai Đạo, Hội Thánh được lịnh Ơn Trên dạy thỉnh Kinh nơi Phật giáo hay các chi Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý về tụng niệm. Điều này, chính Hội Thánh đã nói rõ trong lời tựa Kinh Thiên, Thế Đạo như sau:

“Từ khi mở Đạo, Chí Tôn duy giáng cơ truyền cho Phật giáo, Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý dạy dâng Kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, song Kinh Tận Độ vong linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả.

Đức Quyền Giáo Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ Pháp, trót mười năm trường nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ Phụ và các Đấng Thiêng Liêng đặng xin Kinh Tận Độ, nhưng mà Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.

Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 Ất Hợi (Dl. 21 đến 31/8/1935) mới giáng cho Tân Kinh. Ấy là một giọt nước Cam Lộ của Đức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh hồn của toàn Thế giới.

Về luật pháp, Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho “Pháp chánh Truyền” ngay sau khi làm lễ Khai Đạo tại Thánh Thất tạm “Từ Lâm Tự”, tức chùa Gò Kén, Tây Ninh. Pháp Chánh Truyền là một bản pháp luật chơn chánh mà Đức chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế truyền dạy để làm căn bản lập giáo, tổ chức và điều hành nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Bản Pháp Chánh Truyền có thể gọi là bản Hiến Pháp của Đạo, do Chí Tôn quy định nên có tính cách cố định, bất di bất dịch trong thất ức niên.

Ngoài ra, Ngài cùng Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng dùng huyền diệu cơ bút viết ra những bài văn, bài thi để dạy đạo đức cho toàn nhơn sanh. Những bài văn thi ấy được Hội Thánh sưu tập, chọn lọc và cho in thành sách phổ biến cho nhơn sanh, gọi là Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có thể gọi là quyển Thánh Kinh của Đạo Cao Đài, là một quyển sách căn bản và quan trọng cho người tu học, vì đó là những bài giáo lý, những lời vàng tiếng ngọc của Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thiêng Liêng ban cho.

Để chứng minh điều nầy chúng ta có thể dẫn lời dạy của Đức chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: “Thầy nói một lần từ đây nhớ lấy: Dầu cho sắt đá cỏ cây, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy do con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người. Con nhớ và an lòng”.

Hoặc: “Nếu kẻ nào biết hiểu THÁNH NGÔN của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ thì số hằng sống nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để cho chúng nó theo tà quái”.

 

 

 

 

TỐNG HOẰNG CHÍ TRƯỢNG PHU

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nữ phái, có vẽ một khuôn hình lấy tích “Tống Hoằng Chí Trượng Phu Không Đổi”.

Trong quyển Nữ Trung Tùng Phận, Bà Đoàn Thị Điểm đã ca tụng Tống Hoằng như sau:

Tống Hoằng chí trượng phu không đổi,

Giữ nhơn luân sợ lỗi đạo hằng.

Từ duyên công chúa giao thân,

Đút cơm vợ quáng ân cần dưỡng nuôi.

Sử nhà Hán chép rằng: Tống Hoằng làm quan Đại phu dưới triều vua Hán Quang Võ nhà Hậu Hán, tính người rất chánh trực và trung hậu.

Vua Quang Võ cần người bên cạnh để bàn việc nước, Tống Hoằng tiến cử Hoàn Đàm. Vua bèn phong cho Hoàn Đàm chức Cấp Sự Trung, thường ngày ở bên cạnh vua. Mỗi lần có yến tiệc, vua thường bảo Hoàn Đàm đờn, Đàm toàn lấy những bài dâm ô của nước Trịnh đờn cho vua nghe.

Tống Hoằng biết được, trách Hoàn Đàm và tâu với vua rằng: Thần giới thiệu Hoàn Đàm là muốn đem lòng trung giúp nước, nhưng nay quan trong triều thích nhạc dâm ô của Trịnh là tội của Hạ thần. Vua nghe qua, liền tỉnh ngộ, bãi chức Hoàn Đàm. Từ đó, nhà vua lại càng kính nể Tống Hoằng hơn.

Tống Hoằng có người vợ bị bệnh chẳng may phải chịu mù loà, nên hằng ngày ngoài việc quan, ông thường ở nhà săn sóc, đút cơm cho vợ ăn. Mặc dù vợ bị mù, nhưng Tống Hoằng một lòng thương yêu, chung thuỷ, chẳng vì thế mà cưới vợ khác.

Hồ Dương Công chúa là chị của vua Hán Quang Võ, goá chồng, muốn Tống Hoằng bỏ vợ để lấy mình, nhờ vua Hán Quang Võ ướm lời.

Vua hỏi Tống Hoằng: Quý dịch giao, phú dịch thê, hữu chư? 貴 易 交, 富 易 妻, 有 諸?, nghĩa là sang đổi bạn, giàu đổi vợ có chăng?

Tống Hoằng tâu rằng: Bần tiện chi giao mạc khả vong, tao khang chi thê bất khả hạ đường 貧 賤 之 交 莫 可 忘. 糟 糠 之 妻 不 可 下 堂, nghĩa là bạn bè lúc nghèo hèn chớ nên quên, vợ chồng hồi tấm mẳn, chẳng khá bỏ nhau.

Vua Hán Quang Võ và Hồ Dương Công chúa nghe Tống Hoằng nói thế thì biết Tống Hoằng là người trung hậu, không chịu bỏ vợ. Thật là một người đàn ông rất chung thuỷ, trên đời ít có vậy, nên có thể làm gương tốt cho ngàn đời sau.

Trong quyển Báo Ân Từ, nhà thờ Huệ Phong có viết:

Tống Hoằng vẫn đạo tào khang giữ,

Quyết từ duyên phụng sự vợ mù.

Sang không đổi CHÍ TRƯỢNG PHU,

Nhơn luân trọn nghĩa, ngàn thu danh truyền.

 

 

 

 

CÔNG DÃ TRÀNG

Nơi hành lang Báo Ân Từ về phía ngoài bên nữ phái, có vẽ một khuôn hình lấy tích “Công dã tràng”.

Công dã tràng có nghĩa là công khó nhọc mà vô ích, ví như loài dã tràng ở biển xe cát bị sóng khoả tiêu mất, ca dao có câu:

Dã tràng xe cát biển Đông,

Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

Trong Đạo Cao Đài, thi sĩ Bồng Dinh được Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu chép lại bài thi vịnh con dã tràng như sau:

Dã Tràng ai dễ xét công đâu?

Bãi biển thường xe cát lấp đầu.

Xúc cát trải bao cơn sóng lượn,

Nhăn mày cười bởn khúc sông sâu.

Biết không nên việc nơi Trời nước,

Nào có nao lòng cuộc bể dâu?

Nhiều ít có danh trên võ trụ,

Kẻo mà thẹn với mấy bầy trâu.

Bài thi nầy được Bà Lục Nương Diêu Trì Cung hoạ lại:

Công Dã Tràng, công cán để đâu,

Muốn ngăn sóng cả khỏa ngang đầu.

Ðất vò nên lọn xây thành lở,

Nước dập tuông bờ lở giậu dâu.

Ðấp biển vì lo bờ biển lở,

Moi sông bởi muốn ngọn sông sâu.

Nên hư trối mặc đời phi thị,

Lam lụ buồn cười bấy lũ trâu.

“Công dã tràng” do điển tích sau:

Dã Tràng là người nước Lỗ đời Xuân Thu, học trò của Đức Khổng Tử. Ông là người có tài nghe được tiếng loài vật.

Một hôm ông theo dõi đôi vợ chồng rắn ở dưới hang, biết được con rắn đực đang lột xác, con rắn cái đi tư tình với một con rắn đực khác. Dã Tràng tức giận, giương cung bắn chết con rắn cái lang chạ. Khi con rắn đực mạnh, đi tìm vợ thì thấy vợ mình bị chết vì mũi tên có chữ Dã Tràng.

Rắn đực bèn đi tìm Dã Tràng để báo thù, nằm ẩn trên trần nhà, tình cờ nghe Dã Tràng kể cho vợ việc rắn cái phản chồng, nên khiến ông tức giận, bắn một mũi tên chết tốt. Rắn đực mới vở lẽ, biết Dã Tràng là người chánh trực, sau đó, nó trở lại tìm Dã Tràng và nhả cho một viên ngọc quý, ngọc có thể nghe hết tiếng nói của các loài sinh vật.

Dã Tràng được ngọc, ngậm vào bèn nghe được tiếng một con quạ cho biết có con nai tơ bị thương nặng. Dã Tràng tìm đến quả nhiên con nai vừa chết, chàng liền xẻ lấy thịt. Con quạ bay đến kể công đòi chia bộ đồ lòng. Dã Tràng bèn lấy bộ đồ lòng của nai treo lên cây cho quạ ăn. Từ đó cả hai trở thành thân nhau.

Một ngày kia, Dã Tràng lại được quạ chỉ đi lấy thịt và đòi bộ đồ lòng như trước, chàng đi lấy và cũng treo trên cây, nhưng lần này thì bộ đồ lòng bị con chó sói rình ăn hết. Quạ đến không thấy mồi, giận bèn chửi Dã Tràng thậm tệ, chàng tức lấy cung bắn con quạ, quạ lẹ làng né được, rồi dùng mỏ gắp mũi tên bay đi.

Một thời gian sau, có trát của quan Huyện bắt Dã Tràng giam vào ngục vì tội giết người. Quan Huyện trưng bằng cớ là một tử thi trôi sông, có mũi tên của Dã Tràng ghim vào bụng. Dã Tràng biết quạ trả thù, nhưng chứng cớ rõ ràng, đành phải chịu tù một cách oan uổng.

Ngồi trong ngục buồn, Dã Tràng bèn lấy ngọc ngậm vào, nghe bầy chim nói với nhau là nhiều kho lúa của triều đình bị chim ăn sạch. Chàng liền nhờ viên cai ngục báo cho quan Huyện biết, quan không tin, nhưng mấy hôm sau có giấy vua ban ra cho biết kho thóc nơi hoàng cung bị chim ăn hết.

Lần khác, Dã Tràng thấy bầy kiến chạy lăng xăng, bảo nhau sắp có bão lụt to lắm. Dã Tràng liền đem việc đó cho quan Huyện hay, nhờ phi báo về triều đình mà phòng bị. Quả thật mấy hôm sau mưa giông dữ dội, ngập lụt nhiều nơi, nhưng nhờ biết trước để phòng bị nên thiệt hại nhẹ.

Vua đòi quan Huyện đưa Dã Tràng về chầu, chàng kể hết mọi việc và trình viên ngọc lên cho vua. Vua bèn tha Dã Tràng và phong tước cho chàng để hầu cận bên nhà vua.

Một hôm, Dã Tràng cùng vua đi trên du thuyền, vua mượn viên ngọc ngậm vào để nghe loài thuỷ tộc nói chuyện, nhưng chẳng may bị rơi xuống biển. Vua huy động hết thợ lặn để tìm kiếm ngọc nhưng không tìm được.

Riêng Dã Tràng buồn rầu tiếc viên ngọc quý, định lấp biển để tìm ngọc, nên hằng ngày chàng xe cát đổ xuống biển. Lâu ngày, ngọc vẫn chưa tìm thấy, mà sức lực của Dã Tràng đã kiệt dần, đến nỗi chàng chết trong uất ức.

Tương truyền hồn của Dã Tràng biến thành một loài vật nhỏ ở biển, ngày đêm đào và xe cát thành viên, bị sóng tràn vào lấp hết. Thế mà nó vẫn tiếp tục đào và xe cát… để cho sóng biển chôn vùi. Loài vật đó được đặt tên là “Dã tràng” và công trình làm việc của nó được gọi là “Công dã tràng”.

 

 

 

 

CHỚ LẦM TƯỞNG TRONG HANG VẮNG TIẾNG

Trong bài Kinh Sám Hối có câu:

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,

Mà dể duôi sanh biến lăng loàn.

Trong hang vắng tiếng tức là trong hang vắng vẻ không có âm thanh. Ý muốn nói đừng nghĩ rằng hang vắng là nơi kín đáo không ai hay biết mà làm những điều mờ ám, không tốt.

Thật vậy, có nhiều người khi làm việc gì sái quấy thường hay lén lút, hay làm nơi vắng vẻ, kín đáo, vì họ nghĩ như vậy sẽ không ai thấy, biết. Nhưng họ quên rằng giấu được người, chứ không sao giấu được lương tâm của mình, hoặc các bậc Thần Thánh Tiên Phật.

Chính vì vậy mà sách Cảnh Hành dạy làm bất cứ việc gì cũng cần giữ quang minh, chính đại vì “Tọa mật thất như thông cù 坐 密 室 如 通 衢”, nghĩa là ngồi trong nhà kín tưởng không ai hay nhưng thật như ngoài đường cái, ai cũng rõ biết.

Những việc làm mờ ám, nghĩ rằng không ai hay biết, nhưng “chẳng có gì tỏ hơn những chỗ mờ tối, chẳng có gì rõ hơn những điều nhỏ bé, cho nên người quân tử giữ gìn cẩn thận trong khi chỉ có một mình mình” (Mạc kiến hồ ẩn, mạc hiển hồ vi, cố quân tử thận kỳ độc dã 莫 見 乎 隱, 莫 顯 乎 微, 故 君 子 慎 其 獨 也).

Chuyện thầm lén tưởng rằng không người biết, không người rõ, song có sự soi xét của các Đấng Thần minh như Tử Hư Nguyên Quân nói: Minh hữu vương pháp tương kế, ám hữu quỉ thần tương tùy 明 有 王 法 相 繼, 暗 有 鬼 神 相 隨, tức là việc rõ ràng thì đâu cũng có phép vua luật nước, việc mờ ám, kín đáo thì có các đấng Thần minh soi xét cho.

Chẳng những đợi phát ra những hành động càng quấy các Đấng mới biết, mà ngay lúc vừa mới tưởng nghĩ thì Trời đất đã biết rồi. Chính vì vậy, trong Minh Tâm Bửu Giám có câu: Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa tất giai tri 人 心 一 念, 天 地 必 皆 知” nghĩa là trong lòng con người chỉ sinh ra một ý nghĩ thì trời đất đều biết rõ.

Tại sao chỉ mới có ý nghĩa thì các Đấng đã biết rồi. Theo triết lý Cao Đài, Ðức Chí Tôn ban cho mỗi con người nhứt điểm lương tâm, nên khi con người có một ý nghĩ nơi lương tâm thì nó có thể cảm ứng với đứng Chí Linh, điều nầy chính trong Thi Văn Dạy Đạo Thầy đã giải rõ:

Nơi lòng Thầy ngự, động Thầy hay,

Ngặt nỗi là xưa chẳng thế bày.

Ðạo hạnh khuyên con gìn tánh đức,

Cửa Cung Bạch Ngọc đã gần khai.

Câu chuyện sau đây cho ta thấy không nên thầm lén:

Dương Chấn người đất Quan Tây, đời nhà Hán, làm quan thái úy, tánh thanh liêm.

Hồi làm thứ sử có tiến dẫn Vương Mật làm lệnh doãn huyện Xương Ấp. Nên khi ông đi ngang qua Xương Ấp, vì trời tối, có nghỉ tạm ở đó một đêm. Vương Mật mới lén đem mười lượng vàng đền ơn. Ông Dương Chấn mới trách: Ta biết tài ngươi mà ngươi không biết lòng ta.

Dương Mật nói: Đêm hôm khuya khoắc có ai hay mà ngài sợ.

Dương Chấn đáp: Sáng thì có trời biết, tối thì có thần soi biết; trong có ta biết, ngoài có ông biết. Chỗ biết có nhiều sao gọi rằng không ai biết.

 

 

 

 

THAM THÌ PHẢI THÂM

Phàm làm người cần nên suy xét, hễ muốn có ăn thì phải tự thân lao động để kiếm tiền hay tạo ra của cải vật chất, đó là ta hưởng những thành quả do sức làm việc của bản thân mình. Còn tiền bạc, hay của phi nghĩa, của hoạnh tài, tức là của không phải do sức mình kiếm được mà do lường gạt, chiếm đoạt của người, hay của rơi hoặc tự dưng có được thì không nên tham lam, như lời dạy trong Kinh Sám Hối:

Làm người phải khá xét suy,

Của rơi chớ lượm, tham thì phải thâm.

Câu chuyện sau đây cho thấy điều đó.

Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài cùng vị đại đệ tử A Nan Đà từ non Thứu Lãnh đi xuống Kinh thành khất thực. Đi giữa đường, ngang qua một bờ đất, Ngài thấy một ghè vàng.

Đức Phật bảo A Nan Đà rằng: “Nầy A Nan! Ngươi có thấy đây là một loài rắn độc không?”.

Ngài A Nan cung kính bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Thật là một loài rắn độc, rất đáng sợ hãi!”.

Rồi hai người ra đi. Đương lúc ấy, có một tiều phu đứng gần nghe được, vội đến xem, thấy một ghè đậy kín. Anh mở ra, thấy toàn là vàng. Anh cười thầm Đức Phật và đệ tử Ngài không biết dùng thứ ấy, còn cho là rắn độc.

Trước khi đem về, anh sung sướng la lên rằng: “Tôi xin nguyện rắn độc này luôn luôn cắn tôi, cha mẹ tôi, vợ con tôi, và quyến thuộc tôi. Tôi không cảm thấy đau đớn gì hết!”.

Sau khi được ghè vàng, anh tiều phu kia trở thành người trưởng giả giàu có kiêu sa. Làng xóm nghi kỵ, không biết vì sao anh giàu sang đột ngột như vậy. Tiếng đồn vang đến tai vua A Xà Thế, nên vua đòi đến hỏi. Anh ấp úng, không muốn nói lượm được ghè vàng. Vua cho là người gian, ra lệnh tịch thu gia tài và bắt anh ta cùng tất cả bà con quyến thuộc đem đi hành hình.

Đi giữa đường anh ta khóc lóc: “Ngài A Nan ơi! Thật là một thứ rắn độc! Rắn độc nó cắn tôi và cắn hết bà con của tôi đây!”.

Bọn lính nghe anh ta luôn gọi Ngài A Nan Đà, bèn trở lại tâu cho vua hay.

Vua ra lệnh đem anh ta về, hỏi lại. Lần này anh ta mới chịu thưa thiệt nguyên do được ghè vàng.

Nghe xong, vua bảo anh tiều phu rằng: “Tội ngươi đáng chết, nhưng may duyên gặp Đức Thế Tôn, nên ta tha tội cho ngươi và bà con ngươi. Ngươi được đem vàng bạc về và từ nay phải sửa đổi tự tâm, tu hành theo thiện nghiệp”.

 

 

 

 

ÔM BÌNH BAO TÓC

Trong bài Kinh Hôn Phối có hai câu:

Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,

Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam.

Hai câu kinh trên có dẫn hai điển tích là “Ôm bình” và “Bao tóc”.

ÔM BÌNH:

Ôm bình là ôm bức tranh vẻ hình con chim sẻ trên bức bình phong.

Do điển tích như sau: Xạ tước bình nhi trúng mục, Đường Cao đắc thê 射 雀 屏 而 中 目, 唐 高 得 妻, tức là bắn mắt chim sẻ nơi bức hình trúng, Đường Cao Tổ được vợ.

Bộ Đường thư chép: Ông Đậu Nghị có người con gái rất đẹp nết và đẹp người. Ông thường nói với vợ rằng: Con nhỏ nầy có tướng tốt, lại đẹp song toàn, phải lựa người có tài cung kiếm và có đạo đức mà gả nó mới được.

Ông bèn cho vẽ một con chim sẻ trên một bức bình (tranh), bảo những người gắm ghé đến cầu hôn bắn một mũi tên, người nào bắn trúng vào mắt con chim sẻ thì được gả con gái cho.

Trong số những người đến dự bắn có ông Lý Uyên bắn trúng ngay mắt con chim sẻ. Đâụ Nghị bèn nhận làm rể. Hai vợ chồng bèn lưu bức hình làm kỷ vật cho duyên đôi lứa.

Về sau, Lý Uyên dựng nên cơ nghiệp nhà Đường, xưng là Cao Tổ và phong cho vợ là con gái Đậu Nghị làm Hoàng hậu, gọi là Đậu Hoàng hậu.

BAO TÓC:

Bao tóc là lấy vải lụa bao tóc lại, thề để bảo vệ lòng trinh tiết.

Đường Thư chép: Ông Giả Trực Ngôn là một vị quan, vì có công việc mà phạm tội bị đày đi Lĩnh Nam, bèn từ biệt cùng vợ là bà Đổng Thị rằng: Sự sống chết không thể hẹn kỳ, nay tôi bị tội đày 20 năm, ra đi không biết sống chết thế nào, nàng ở lại nên tái giá để nương tựa tấm thân!

Vợ khóc mà không đáp lại, chỉ lấy dây buộc tóc, bao ngoài bằng vải lụa, nhờ Trực Ngôn viết lên rằng: Phi quân thủ bất giải 非 君 手 不 解, có nghĩa là chẳng phải tay chàng, không mở.

Sau đó, Trực Ngôn bị đi đày, Hai mươi năm sau mới được trở về, chữ và lụa trên đầu vợ còn rành rạnh, đến khi đem nước nóng gội tóc, tóc rụng tất cả.

Người đời sau khen rằng: Đổng Thị đối phu phong phát, trinh tiết kham khoa 董 氏 對 夫 封 髮, 貞 節 堪 誇, nghĩa là bà Đổng Thị đối chồng bao tóc, trinh tiết thật đáng khen.

Trong bài kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị cũng có câu:

Thiếp cam BAO TÓC thờ chàng,

Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa!

 

 

 

 

CHỜ CON LẬP ĐỨC

Lập đức là làm những việc lành, việc thiện nhằm đem lại phước đức cho mình và cho người khác. Những việc như bố thí, in kinh, làm chùa, ăn chay, lễ cúng hay ủng hộ những người tu hành chân chính là những việc làm tạo nên công đức. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc tu hành vào thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Thực vậy, vào thời hạ nguơn mạt Pháp, chúng sanh sống trong cảnh khổ đau của chiến tranh, thiên tai và bệnh tật, nên rất cần thiết có những tấm lòng, những bàn tay để xoa dịu những nỗi đau của sanh chúng. Lại nữa, Đức Chí Tôn mở Đạo lần này là lập một trường thi công quả. Thánh giáo dạy: “Người tu hành, nếu chưa trường trai trì giới nổi đặng thì hãy lo lập đức, bồi công để làm nền móng vững chắc cho việc luyện Đạo tương lai, chớ dục vọng mong sớm luyện Đạo để làm Tiên, Phật mà thiếu phần công quả, âm chất.Vì Thầy lập Đạo kỳ này là mở một trường thi công quả. Các con phải đi tại cửa này mới đến đặng Cực Lạc mà thôi”.

Phần nhiều, người tu hành thường thiếu công quả, mà công quả cũng là một phần của việc lập đức, vậy cần phải chuyên tâm lo về phần này, nên Đức Chí Tôn thường nhắc nhở: “Người dưới thế này muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo, phải có công quả”.

Việc lập đức rất cần thiết cho người muồn làm tròn chữ hiếu. Theo Tăng Tử, ngoài việc phụng dưỡng và thờ kính song thân ra, còn có nhiều việc quan trọng mà người con hiếu cần phải làm như: Tu thân, lập công, lập đức, tức là có thành tích mưu phúc lợi cho mọi người thì đó là sự mở rộng và vươn lên của lòng hiếu thảo đối với cha mẹ còn sống hay cha mẹ đã chết rồi. Nếu cha mẹ còn sống, con cái lập công, lập đức cho nhơn quần xã hội thì đó làm rạng danh cho ông bà cha mẹ, nếu cha mẹ đã qua đời thì việc lập công bồi đức của con cái có thể hồi hướng những công đức đó để cầu siêu cho Chơn linh cha hay mẹ.

Trong nghi thức tang lễ của đạo Cao Đài, khi những người con quì cúng tế cho cha hay mẹ đã qui liễu, đồng nhi tụng đến hai câu Kinh:

Thong dong cõi thọ nương hồn,

Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

chúng ta nghĩ đó là lời nguyện vái, hứa hẹn của những người con hiếu thảo với vong hồn của cha hay mẹ trước bàn linh.

Thế mà từ trước đến nay, có biết bao người con đầu chít khăn tang, đã từng khóc lóc, quì cúng lạy cha, mẹ, nguyện thực hiện như lời Kinh đã dặn dò, song khi nắm xương cha, hay mẹ vừa vùi sâu vào lòng đất lạnh. Than ôi! Sau đó, người con bẳng đi lời kinh tiếng kệ để chạy theo tiền tài, danh lợi, mê đắm vinh hoa, ham mồi phú quí, quên rằng nơi cõi thọ cha hay mẹ đang “chờ con lập đức” một cách mòn mỏi, tuyệt vọng.

Nếu như người con hiếu đạo quyết thực hiện lời Kinh đã dạy thì phải biết tu thân, lập đức, nhất là phải thực hành công quả, để lấy đó mà dâng hiến lên cha, mẹ. Cha, mẹ nơi cõi thọ nhờ công đức do con cháu tạo ra, để làm hành trang trở về ngôi xưa vị cũ.

 

 

 

 

LỬA LÒNG CHƯA TẮT

Lửa lòng là một trạng thái tinh thần, hay tình cảm đang sôi sục, mạnh mẽ trong lòng, đó là dục vọng hay uất hận.

Vì vậy, người ta thường ví dục vọng hay uất hận như một ngọn lửa nung nấu, thiêu đốt trong lòng người, khiến trở nên nóng nảy, hay điên cuồng, nên gọi nó là “Lửa lòng”.

Người tu hành trước hết phải dập tắt lửa lòng. Nếu lửa lòng chưa tắt thì khó bước vào đường tu được.

Xưa có một vị võ tướng chán ngán con đường sát phạt nơi sa trường, đến gặp Thiền sư Đại Tuệ Tôn Cao xin thế độ xuất gia.

Viên võ tướng nói: Hoà thượng từ bi, con đã chán ngán cảnh hồng trần, xin hoà thượng thế độ cho con, nhận con làm đệ tử.

Thiền sư biết được tính tình hỷ nộ bất thường của vị tướng nầy, bèn trả lời rằng: Tướng quân hãy còn gia đình, lại vướng cảnh đời lâu năm, tướng quân hãy dần dần trừ bỏ tập tính cũ trước đã, sau nầy bần tăng sẽ thế độ cho.

Vị võ tướng nói: Sống chết là chuyện lớn, vợ con là chuyện nhỏ, con có thể bỏ hết gia sản, vợ con để theo thầy học đạo. Xin thầy từ bi thế độ cho con.

Thiền sư đáp: Hãy từ từ đã, đợi cơ duyên sau nầy.

Khoảng một thời gian sau, trời chưa tảng sáng, vị võ tướng đã thức dậy đến chùa làm lễ, sau đến gặp Thiền sư Tôn Cao xin thế độ xuất gia.

Thiền sư hỏi: Tướng quân hôm nay sao dậy sớm thế?

Võ tướng đáp: Trừ đi ngọn lửa lòng rồi, đến đây để lễ thầy.

Thiền sử liền nói: Tướng quân đến chùa sớm, không sợ phu nhân ở nhà ngủ với người khác sao?

Võ tướng nghe lời nói sỗ sàng, vô lễ của Thiền sư, giận điên cả người mà quên hết lễ nghi, lên tiếng chửi rủa Thiền sư Tôn Cao.: Lão trọc nầy sao dám vô lễ với ta.

Thiền sư mỉm cười và từ từ nói: Lửa lòng của tướng quân chưa tắt, bần tăng chỉ quạt nhè nhẹ thôi, lửa trong lòng của tướng quân đã cháy rồi. Tính nóng nảy thô lỗ của tướng quân chưa trừ được, chưa có thể xuất gia, phải đợi thêm vài ba năm nữa.

Viên võ tướng về nhà nghĩ lại, hổ thẹn muôn phần.

 

 

 

 

TÁO QUÂN

Theo phong tục dân gian, hằng năm cứ ngày 23 tháng chạp Âm lịch mọi nhà có lệ cúng đưa Ông Táo về Trời để tấu trình với Thượng Đế tình hình một năm qua ở cõi thế gian.

Như ta biết, Táo Quân tức là vua bếp, vua Táo. Theo sách xưa có nhiều thuyết nói về Táo Quân:

Sách Châu Lễ cho Táo Quân là Thần Chúc Dung, thường tế vào mùa hạ.

Sách Hoài Nam Tử thì cho rằng vua Hoàng Đế đặt ra việc nấu nướng, nên khi chết hoá thành Táo Quân.

Nhưng ở Việt Nam, truyền thuyết trong dân gian nói rằng thần Táo quân có ba người: Hai ông một bà, nên ca dao mới có câu:

Thế gian một vợ một chồng,

Nào như vua bếp hai ông một bà.

Tích viết rằng: Ngày xưa có hai vợ chồng nọ, chồng tên là Trọng Cao, vợ là Thị Nhi bị thất lạc nhau khá lâu, mỗi người ở một nơi.

Sau nàng Thị Nhi mới có một ông chồng khác tên là Phạm Lang, hai vợ chồng thương yêu nhau, sống rất hạnh phúc.

Một hôm, có người hành khất đến nhà vợ chồng Thị Nhi xin ăn, nàng mới nhận ra người ăn xin là chồng cũ của mình, liền đem cơm ra cho ăn. Sợ chồng sau biết được, Thị Nhi bèn cho chồng cũ tạm ẩn vào một cây rơm ngoài vườn.

Không ngờ người chồng sau về, vô tình làm cháy cây rơm, thiêu chết Trọng Cao. Nàng Thị Nhi nghĩ đến tình nghĩa xưa, đau đớn mà nhảy vào đống lửa để chết theo chồng cũ. Và người chồng sau thấy cảnh thương tâm, cũng nhảy vào lửa để chết theo. Thế là ba người đều bị chết cháy nơi đống rơm.

Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho linh hồn ba người làm Thần Táo quân, có nhiệm vụ cai quản bếp núc và cứ hằng năm vào ngày 23 tháng chạp về chầu Thượng Đế.

Riêng trong tôn giáo Cao Đài, ngày mà dân gian đưa Ông Táo về Trời, đó chính là ngày toàn Đạo thiết lễ Đưa Chư Thánh triều Thiên, tức là đưa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật có nhiệm vụ điều độ nhơn sanh nơi thế gian, sau một năm trở về Ngọc Hư Cung để trình tấu với Đức Chí Tôn tất cả mọi việc.

Trong quyển Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có giải thích việc nầy như sau: “Luôn dịp Bần Ðạo giải nghĩa tại sao phong tục nhà Nam gọi theo Ðạo Phật là đưa Ông Táo về Trời, chớ thật sự là đưa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật về triều thiên, tinh thần từ trước vẫn vậy.

Chơn truyền buổi Ðức Chí Tôn tạo Càn Khôn Thế Giái, Ngài nắm Thập Thiên Can, Thập Nhị Ðịa Chi trong tay, để định Pháp Chánh Càn khôn Vũ trụ. Trong thời buổi định Pháp Chánh ấn định vào khoảng từ ngày 23 đến 30 sáng mồng 1, họp tại Ngọc Hư Cung đặng định luật giới hạn vi diệu cho trái địa cầu, chạy theo khuôn khổ hữu định trong năm cho chí Tân niên là 12 giờ đêm 30, khởi điểm 1 giờ sáng ngày 1 tháng Giêng năm sau.

Luật Thiên Ðiều trị thế, trị nơi địa cầu nầy là hình luật thiêng liêng là ngày giờ nầy nơi Ngọc Hư Cung kiểm soát định tội phước đó vậy”.

Lễ Đưa Chư Thánh Triều Thiên có dâng sớ lên Đức Chí Tôn, với lòng sớ như sau: Ngưỡng Nguyện Các Đấng Thiêng Liêng từ bi minh tấu Đức Chí Tôn bố hóa hồng ân, chuyển họa vi phước, tập kiết nghinh tường, xây cuộc thế giới chiến tranh tảo đắc hòa bình, độ tận Chúng sanh, giải thoát tai nạn đao binh thống khổ, phục hưng Quốc Đạo tiến hóa thạnh hành phổ độ Nhơn sanh, nhập vi môn đệ, vĩnh sùng Chánh Giáo, vạn loại hòa bình, an cư lạc nghiệp, thống nhứt Tam Kỳ, lập thành Minh Đức, Tân Dân, cộng hưởng Nghiêu thiên Thuấn nhựt.

Và được dịch ra như sau: Chúng con ngưỡng nguyện: Các Đấng Thiêng Liêng từ bi tâu trình rõ với Đức Chí Tôn ban bố hồng ân, đổi những điều tai họa thành điều phước đức, đón nhận những điều tốt lành, xây đổi cảnh thế giới chiến tranh sớm được hòa bình, cứu giúp chúng sanh, giải thoát tai nạn đao binh khốn khổ, phục hưng nền Quốc Đạo được tiến triển thạnh hành, phổ độ Nhơn sanh vào làm môn đệ để sùng bái mãi mãi nền Chánh giáo, muôn loại được hòa bình, yên nơi vui nghiệp, Đại Đạo được thống nhứt để lập thành Minh đức Tân dân, cùng hưởng ngày Nghiêu tháng Thuấn.

 

 

 

 

TỒN ĐIỆT PHẾ NHI

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía sau có một khuôn hình lấy tích “Tồn điệt phế nhi 存 姪 廢 兒”, nghĩa là bỏ con để giữ cháu.

Sách Tấn Thư chép: Đặng Nho tự là Bá Đạo, người đời Tấn, tính tình chánh trực, hoà hiếu. Người anh và chị dâu của Đặng Nho chết đi để lại một đứa con trai, cùng trang lứa với con mình, Đặng Nho đem về nuôi dưỡng cả con lẫn cháu.

Khi Đặng Nho giữ chức Thái thú đất Hà Đông, gặp năm có giặc Triệu Thạch Lặc nổi lên làm loạn, Đặng Nho phải cùng vợ, con và đứa cháu chạy lánh nạn.

Giữa đường gặp giặc rượt đuổi phải chạy sang sông, ông liệu không thể nào bảo toàn cả con lẫn cháu, mới bàn với vợ: Anh của ta chỉ có một đứa con trai duy nhứt để lại ta nuôi dưỡng bấy lâu nay, không thể để tuyệt giống được, còn đứa con chúng ta có mất đi, ta có thể sinh đứa con khác được, vậy ta phải bỏ con lại và đem cháu theo.

Hai vợ chồng bàn tính như thế, nên bỏ đứa con lại, mang đứa cháu qua sông thoát nạn.

Về sau ông được cử làm Thái thú Ngô Quận, nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, rất được lòng dân, nhưng vợ ông đã tuyệt đường sinh sản, vì vậy hai vợ chồng không con nối dõi.

Người xưa than rằng: “Thiên Đạo vô tri, sử Bá Đạo vô nhi 天 道 無 知, 使 伯 道 無 兒” nghĩa là Đạo Trời không biết người trọng nghĩa, khiến cho ông Bá Đạo không con.

Nhưng Trời cao có mắt, không phụ lòng người hiếu nghĩa, khi hai vợ chồng Đặng Nho già yếu, có phước gặp đứa cháu rất hiếu thảo, phụng dưỡng ông bà lúc sống như cha mẹ ruột, khi chết để tang ba năm, nên sách Nho có câu khen tặng rằng: “Đặng thị điệt tam tải trì tang, Bá Đạo vô hám 鄧 氏 姪 三 載 持 喪, 伯 道 無 憾”, nghĩa là cháu của họ Đặng ba năm cư tang, ông Bá Đạo chẳng hề hối hận.

 

 

 

 

SÁM HỐI

Theo Phật, cõi thế gian nằm trong Sa Bà Thế giới, hay cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế giới, thuộc phạm vi hóa độ của Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật.

Sa Bà quốc độ được dịch là Kham Nhẫn, hàm ý: Chúng sanh trong cõi ấy cam lòng chịu đựng những nỗi khổ sở do ngũ trược gây ra, chẳng biết sợ sệt và nhàm chán. Mặc dù có hiểu chư pháp vẫn ít có kẻ chịu tu hành để thoát ly khổ cảnh, cam lòng đắm chìm mãi trong vòng trói buộc, nên gọi là Kham Nhẫn. Sa Bà còn được Phật cho là ngũ trược ác thế, do vì có năm thứ trược trong cõi ấy, đó là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược.

Ngoài ra, thế giới ấy còn là một nơi chứa nhiều tội lỗi, vì bởi con người bị vô minh che mờ chân tánh, bị thất tình lục dục sai khiến làm những hành vi hung ác mà gây ra nhiều tội lỗi.

Chính vì vậy, con người được sinh ra ở cõi thế gian này có mấy ai không bị nhiễm trần và tránh khỏi tội lỗi, song khi đã biết lỗi lầm thì phải biết sám hối ăn năn, như lời dạy trong bài kinh Sám Hối:

Giữa bụi thế giữ sao khỏi vấy,

Biết ăn năn xét lấy sửa lòng.

Hoặc:

Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng có dạy: “Nơi trần khổ này, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quí báu vô giá. Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng, thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên chánh quả”.

Do vậy, khi mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Đức Chí Tôn dạy phải độ những người có tội lỗi, là hạng người nhiều nhứt trong thế gian, và nhứt là thời kỳ hạ ngươn mạt pháp này. Ngài dạy: “Thầy lại nói, buổi lập Thánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy. Ấy vậy, các con rán độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui hơn hết”.

Độ người có tội không có nghĩa là ơn Trên tha thứ hết các lỗi lầm đã gây thành nghiệp báo trong hiện kiếp, mà chính do tự tâm phải biết hối cải và làm lành.

Thực ra, Đức Chí Tôn và chư Phật không bao giờ thay đổi nghiệp lực của chúng sanh, mà chỉ có thể giáo hóa chúng sanh tự mình nỗ lực sám hối ăn năn để thay đổi nghiệp lực hay vận mệnh của chính mình. Trời Phật chỉ dùng giáo pháp để dìu dắt chúng sanh tu thiện, tu phước để được trừ tai, miễn họa. Vì vậy, nói rằng do mình sám hối nên Trời Phật rộng tình tha thứ cho, điều đó là ý muốn nói trước nhứt tự bản thân chúng sanh phải biết ăn năn sám hối, tức là tự mình độ rỗi cho mình, nếu không thì làm trái với quy luật nhân quả tự nhiên. Như chính lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn đã than: “Than ôi! Thầy đã là Đấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo Hóa, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó, thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẻ bỏ Phép Công vì sanh chúng”.

Những người có tội sở dĩ được sự quan tâm của Đức Chí Tôn cũng vì Ngài quá thương yêu chúng sanh còn khờ dại, nên đến dạy dỗ, dìu dắt trở về nẻo chánh đường chơn, hầu sau này có thể qui hồi cựu vị. Trước những sự ưu ái của Ngài, chúng ta, những người mới cải tà qui chánh phải biết các tội tình đã sai phạm và xin nguyện ăn năn sửa đổi, chừa bỏ việc quấy, từ nay về sau không bao giờ tái phạm nữa. Như thế mới thực sự là sám hối để tu hành.

Muốn thực hiện lễ sám hối, chúng ta phải thiết đàn cúng Đức Chí Tôn và tụng kinh Sám Hối. Nhưng chúng ta cần nên hiểu rằng tâm là nguồn gốc tác động nên tội lỗi, do đó muốn dứt tội thì tất yếu phải sám hối ở tự tâm, chứ không có nghĩa là cầu xin Đức Chí Tôn tha tội, mà phải nhờ Ngài chứng giám để ta phát tâm ăn năn chừa cải. Có như thế, chúng ta mới quyết tâm sửa chữa những lỗi lầm để trở thành con người mới, có nội tâm trong sạch, thanh tịnh.

 

 

 

 

THÁNH CỐC

Bên ngoài hành lang về phía sau Báo Ân Từ có bức tranh lấy tích “Phật gieo mạ”, với ý nghĩa hạt lúa làm giống cho đức tin, cho đạo đức.

Trong Kinh Phật có chép câu chuyện “Phật gieo mạ” như sau:

Ðức Phật ôm bình bát khoan thai đi vào xóm để khất thực, lúc Ngài đi ngang qua nhà của ông Bà La Môn là Ba Ra Va Da (Bharavadja), Ngài bèn dừng chân lại trong lúc lão Bà La Môn cùng một số người chuẩn bị gieo mạ.

Lão Bà La Môn thấy Phật ôm bình bát bèn nói: Nầy Sa Môn kia, tại sao còn khỏe mạnh không chịu làm lụng như bao nhiêu người khác. Ta phải chịu cực khổ cày cấy mới có cơm ăn.

Ðức Phật bèn từ tốn trả lời rằng: Ta đây cũng cầy cấy gieo mạ, ta cũng có lúa ăn như ngươi vậy.

Ba Ra Va Da cất tiếng cười ngạo nghễ hỏi tiếp: Vậy chớ trâu, bò, cầy, bừa và lúa giống của Sa môn ở đâu?

Ðức Phật bình thản giảng giải: Hột giống của ta gieo là Ðức tin, Trí tuệ là cái ách và cây cày, những việc lành là mưa thuận gió hoà thấm nhuần cho lúa càng ngày càng tốt tươi, sự tinh tấn là con bò. Ta cày cấy đặng trừ tuyệt cỏ xấu đang đâm chồi nẩy lộc trong tâm của chúng sanh.

Nghe xong, Ba Ra Va Da vội lấy dĩa bằng vàng, đựng cơm đề hồ (cơm nấu bằng sữa) đến thành kính sớt vào bát của Ðức Phật và nói rằng: Kính bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ nhận lấy lễ vật mọn này để con được gieo duyên lành cho kiếp vị lai.

Từ câu truyện trên, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, hay các kinh sách Cao Đài thường dùng từ “Thánh Cốc 聖 穀” để ví như hạt lúa giống.

Thánh cốc là hạt lúa giống thiêng liêng, ý chỉ hạt đức tin, hay hạt giống đạo đức được đem gieo truyền trong thiên hạ.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Lão đến mà gieo hột Thánh Cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ.

Và Ngài Phối Sư Thái Đến Thanh có câu:

Gieo truyền Thánh Cốc mau đơm trái,

Vun quén tâm điền sớm trổ hoa.

 

 

 

 

ÂN XÃ HỘI

Khi sinh làm người, bất cứ ai cũng đều thọ lãnh ân nghĩa của xã hội. Ăn một hột cơm thì thọ ơn của kẻ làm ruộng, mặc một chiếc áo thì phải chịu ơn của người thợ dệt. Do vậy vua Thần Tông trong bài Ngự Chế có nói rằng: Thân phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao; nhật thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ 身 披 一 縷, 常 思 織 女 之 勞; 日 食 三 餐, 每 念 農 夫 之 苦, nghĩa là thân mình mặc áo phải nhớ đến khó nhọc của người đàn bà dệt lụa, Cơm ngày ba bữa phải nghĩ đến khổ cực của người cày cấy.

Thật vậy, ngay như ăn uống là việc hằng ngày của con người buộc ai cũng phải có. Ăn để cung cấp chất dinh dưỡng cơ thể, bổ sung năng lượng cho con người hoạt động.

Từ ngàn xưa, vật thực nuôi dưỡng con người cũng tiến theo từng thời kỳ: Thời kỳ hái lượm thì con người ăn rau quả có sẵn trong thiên nhiên; đến thời kỳ ngư lạp thì con người đánh bắt cá hay săn thú rừng mà ăn thịt; sang đến thời nông nghiệp, con người không có thể tìm kiếm những tài nguyên sẵn có trong thiên nhiên nữa, mà phải tự trồng lấy khoai củ, ngũ cốc.

Do vậy, có được lúa gạo cho con người ăn phải qua nhiều công sức cực nhọc như lời Kinh Sám Hối đã dạy:

Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,

Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong.

Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

Người bình dân Việt Nam cũng đã thấy được cái công lao của người nông dân sản xuất ra hạt gạo rất nên nhọc nhằn, nên thường nhắc nhở trong ca dao:

Ai ơi! Bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn vàng.

Còn đối với người tín đồ Cao Đài, ăn một hột cơm thì phải có lời nguyện nhớ ơn người làm ra hạt lúa, và nguyện ra tài lợi sanh như lời kinh Khi Ăn Cơm Rồi đã dạy:

Nguyện nhớ ơn nông canh nhằn nhọc,

Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.

Ngậm cơm ơn ngậm hằng ngày,

Nên người con nguyện ra tài lợi sanh.

Và nhất là phải tìm cái lý sâu xa hơn nữa, đó là nguồn gốc của ân đức ấy. Những bậc Thánh nhân xưa, không phải vì mình ở mà kết cây làm tổ để bảo vệ thân mình, không phải vì mình ăn mà tìm ra ngũ cốc để nuôi sống cơ thể mình, không phải vì mình bệnh mà tìm thuốc để chửa trị cho mình. Các bậc Thánh nhân ấy, vì theo lòng thương yêu của Thượng Đế mà chỉ dạy cho con người biết làm nhà để ở, biết trồng lúa để ăn, biết tìm thuốc để trị bịnh.

Biết được công đức của Thánh nhân xưa chỉ dạy cho con người làm ra lương thực để sống, biết được công ơn của nhiều người chung góp sức lực nhọc nhằn để tạo ra hạt cơm để con người có độ nhựt, thì người tu học phải có tâm nguyện vay mượn công ơn đó mà đem cái tài sức sẵn có của mình mạnh dạn phục vụ lợi ích cho nhơn sanh (ra tài lợi sanh), như lời Thánh giáo của Chí Tôn đã dạy: “Vậy Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm Linh quang của Thầy ban cho các con lắm”. Như vậy, ta cũng trả được một phần nào công đức mà ta đã vay mượn của xã hội.

 

 

 

 

NGÓ CỰC LẠC THEO HUỜN XÁ LỢI

Trong bài Kinh Hạ Huyệt có hai câu:

Ngó Cực Lạc theo huờn Xá Lợi,

Cửu Trùng Thiên mở lối quy nguyên,

CỰC LẠC:

Theo Kinh Di Đà của Phật, Cực Lạc Thế Giới hay Cực Lạc Quốc là một nước của A Di Đà Phật, ở về phương tây, nên còn gọi là Tây Phương Cực Lạc, nơi đó không có những điều khổ, chỉ toàn những điều vui sướng mà thôi.

Trong A Di Đà Kinh, Phật có thuyết: “Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc 彼 度 何 故 名 為 極 樂? 其 國 眾 生 無 有 眾 苦, 但 受 諸 樂, 故 名 極 樂”, nghĩa là cõi ấy vì sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh trong cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên gọi là Cực Lạc.

HUỜN XÁ LỢI:

Xá lợi (Sarira) là hình hài, thân xác của các bậc Thánh Đắc Đạo hay Đức Phật Thích Ca, sau khi hỏa táng, xương cốt còn lại là những tinh thể rắn chắc và tròn hạt như những viên bi sáng, lóng lánh như ngọc, nên người ta gọi những tinh thể đó là Xá Lợi. Xá Lợi được thờ nơi Bửu Tháp.

Hạt Xá Lợi được gọi là Xá Lợi Tử hay huờn xá lợi.

Xá lợi tử còn là một từ ngữ đặc biệt dùng để chỉ cái chơn thần huyền diệu của những người luyện Đạo khi Tinh Khí Thần đã hiệp nhất đắc đạo thành Tiên, Phật. Chơn thần nầy bên tu Tiên gọi là Thánh thai hay Kim đơn, bên Phật thì gọi là Mu ni Bửu châu, Xá lợi tử.

Vậy đại ý hai câu trên là hướng về cõi Cực Lạc Thế giới để nương theo một xác thân Thiêng liêng, gọi là “Xá lợi tử”.

Và Đức Chí Tôn mở ra con đường Cửu Trùng Thiên để các Chơn hồn trở về với Ngài.

Tại sao hướng về cõi Cực Lạc Thế giới phải nương theo một xác thân Thiêng liêng, gọi là “Xá lợi tử”.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có viết: “Các con muốn hiểu chỗ Đạo thì các con trước phải phanh luyện Tinh Khí Thần và phải tạo một xác thân thiêng liêng kêu rằng “Mâu ni” hay là “Xá lợi”.

Cái xác thân thiêng liêng ấy bất tiêu, bất diệt, bất tử, bất tồn mà các con cần phải có xác thân ấy.

Xác thân ấy là chi?

Là cái bổn tánh thuần dương vậy. Khi các con bỏ xác phàm nầy thì điểm Linh quang của các con nương theo đó mà về thẳng đến nơi Thầy. Nếu các con không có xác thân ấy, các con phải chuyển kiếp khác hoài, luân hồi khó dứt.

 

 

 

 

LUY TIẾT

Trong quyển kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, bài Kinh Cầu Siêu có hai câu:

Giảm hình phạt bớt đường ly tiết,

Xá linh quang tiêu diệt tiền khiên.

Từ “LY TIẾT” (do lỗi chánh tả) của hai câu kinh trên không được rõ nghĩa.

Chúng tôi có đọc được một quyển giải nghĩa kinh Tận độ của một tác giả (tạm giấu tên), trong đó, chú thích từ “Ly tiết” là chi tiết ly ti. Như vậy, câu trên có nghĩa là ở chốn Dạ đài, Đức Thập Điện Từ Vương giảm cho những tội hình và bớt những chi tiết ly ti.

Do từ “Ly tiết” mà câu kinh sinh ra tối nghĩa.

Theo chúng tôi, từ “Ly tiết” có thể do tiếng Việt Hán là "Luy tiết" (縲 絏), là trường hợp đọc âm rồi viết ra Quốc ngữ sai.

Theo hai quyển Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu và Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh có từ “LUY TIẾT 縲 絏”.

LUY 縲: Dây trói tội phạm.TIẾT 絏: Dây buộc người có tội.

Như vậy, “Luy tiết” là sợi dây trói buộc tù phạm, hoặc có nghĩa là trăng trói, hay giam cầm.

Với nghĩa nầy, trong Minh Tâm Bửu Giám, Ông Hoàn Phạm 桓 範 có dùng từ “LUY TIẾT” như câu sau đây: Hiên miện dĩ trọng quân tử, LUY TIẾT dĩ phạt tiểu nhân 軒 冕 以 重 君 子, 縲 洩 以 罰 小 人, nghĩa là xe hiên, mão miện thì để kính trọng người quân tử, còn như trăng trói thì để hành phạt kẻ tiểu nhân.

Và nhà thơ Thuần Đức tức Ngài Bảo Pháp Chơn Quân Nguyễn Trung Hậu có bài thơ họa “Mừng Ông Thoát Nạn”, trong đó có sử dụng chữ Luy tiết như sau:

Lều tranh những tưởng dưỡng thân an,

Oan nghiệt xui nên phải mắc nàn.

Luy Tiết khôn ngăn lòng chí đạo.

Phong trần chưa giảm nét thanh nhan.

Tình ngay nhuần thấm ơn Trời Phật,

Vàng thiệt chi sờn ngọn lửa than.

Đợi buổi bèo mây vầy một hội,

Tương phùng vui cạn chén liên hoan.

Chúng tôi nêu lên từ “Luy Tiết” và trình bày quan điểm trên là mong muốn rằng Hội Thánh hay Ban Khảo Cứu Vụ sau nầy nghiên cứu kỹ và khảo đính lại câu kinh cho chính xác hơn.

 

 

 

 

BÁ LÝ HỀ

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nam phái có vẽ khuôn hình lấy tích “Bá Lý Hề”.

Do tích: Bá Lý Hề là người đời Xuân Thu, tự là Tỉnh Bá, lúc nhỏ nghèo khó sống trôi nổi, ba mươi ngoài tuổi mới cưới Đỗ Thị làm vợ, sinh được một người con trai.

Sinh trưởng và lớn lên tại nước Ngu, không có người tiến cử, lại chưa gặp được thời, ông định châu lưu thiên hạ đặng kiếm chỗ làm quan, nhưng thấy nhà nghèo, vợ con không nơi nương tựa, nên còn chần chờ, chưa dám quyết định.

Đỗ Thị là một người đàn bà thông minh, hiền đức, biết được ý của chồng, mới khuyên ông nên ra đi, chớ vì bận bịu vợ con mà bỏ việc công danh, rồi bắt gà làm bữa tiệc đãi chồng trước khi lên đường.

Trước nhứt, Bá Lý Hề qua Tề, định ra mắt Tương công, nhưng không người tiến dẫn, túi lại không tiền nên đành đi xin ăn nơi đất Chất.

Lúc ấy Bá Lý Hề đã được bốn mươi tuổi, kết nghĩa anh em với một người hiền ở Chất là Kiển Thúc và tạm ngụ tại nhà người ấy, hằng ngày phải đi giữ trâu cho Thúc để kiếm tiền độ nhựt.

Sau nghe bên nhà Châu có vị công tử tên là Vương Tử Đồi, tánh thích trâu và hậu đãi cho những kẻ nuôi trâu, Bá Lý Hề mới xin Kiển Thúc và từ giã để qua tìm Vương Tử Đồi. Kiển Thúc thấy Hề gặp cảnh khó, sợ gặp người không đáng thờ mà theo, nên dặn rằng: Phàm người trượng phu không nên vì vật chất mà đầu người, nhưng lỡ theo mà sau bỏ đi là người bất trung, còn cứ theo hoài để bị nạn là người bất trí. Vì vậy, em nên thận trọng lấy mình, sau anh em sẽ gặp lại.

Kiển Thúc sau nầy có qua Châu để gặp Vương Tử Đồi và thăm Bá Lý Hề, ông thấy Đồi là một người có chí lớn nhưng tài kém, dưới trướng là một bọn sàm nịnh, nên cho Đồi không làm được chuyện lớn, bèn khuyên Bá Lỳ Hề bỏ ra đi.

Bá Lý Hề nhân xa nhà lâu, muốn về đất Ngu để thăm lại vợ con. Kiển Thúc đồng ý cũng theo Hề đi cho có bạn. Khi đến nhà mới hay Đỗ Thị vì làm không đủ ăn nên đã lưu lạc xứ nào không ai biết. Còn Kiển Thúc nhờ người bạn là Cung Chi Kỳ giới thiệu Bá Lý Hề với Ngu Công, Hề được phong làm chức Trung Đại Phu. Kiển Thúc muốn về Tống, nên đến từ giã Hề và dặn rằng: Ngu Công là người hẹp kiến thức, không đáng phò, nhưng thấy em cùng khốn đã lâu, muốn tìm chỗ nương thân tạm. Sau nầy, em muốn tìm anh thì đến làng Minh Lộc nước Tống sẽ gặp lại.

Ngu Công vì không nghe lời can của Cung Chi Kỳ để cho nước Tấn mượn đất qua đánh Quắc, thắng Quắc rồi Tấn lại đánh Ngu, Ngu đành mất nước. Bá Lý Hề tự cho mình là người không trí há lại để mất trung nữa sao, nên ông vẫn theo hầu Ngu Công bị bắt về với nước Tấn.

Ở Tấn, Bá Lý Hề có lần mắng vị Đại Phu là Chu Chi Kiều, khiến hắn sinh tâm hãm hại. Nhân Tấn Công gã con cho Tần, Chu Chi Kiều mới tiến dẫn Bá Lý Hề làm người đưa dâu về Tần. Giữa đường, thừa lúc vắng người Bá Lý Hề mới trốn, lén qua đầu Sở.

Mới tới Uyển Thành ông bị bọn thợ săn bắt về để chăn trâu. Ở đây, Hề nuôi trâu mập lại sinh sãn nhiều, chẳng bao lâu chuyện thấu tai đến Sở Vương. Sở Vương cho đòi Bá Lý Hề về chăn ngựa cho nhà vua ở Nam Hải.

Trong thư Tấn Hầu báo có Bá Lý Hề đưa dâu sang Tần, nhưng Tần Mục Công không thấy đến bèn hỏi Công Tử Chấp. Chấp nói: Bá Lý Hề là người kinh bang tế thế, chắc Hề trốn qua Sở vì nghe đâu vợ Hề cũng đang ở Sở.

Tần Mục Công sai người qua Sở dò la mới hay Bá Lý Hề chăn ngựa cho Sở Hầu ở Nam Hải, bèn sai Công Tôn Chi dùng hậu lễ rước về. Công Tôn Chi can rằng: Sở Vương để Bá Lý Hề chăn ngựa là không biết người, nếu sai đem hậu lễ rước thì hoá ra ta cho Sở biết Bá Lý Hề là người hiền, chắc gì Sở cho Bá Lý Hề đi. Chi bằng mượn cớ trốn đưa dâu để bắt tội Bá Lý Hề mà chuộc về mới được. Quả nhiên rước được Bá Lý Hề về Tần để phong làm Thừa Tướng.

Vợ Bá Lý Hề may vá không đủ sống phải ra đi trôi nổi bềnh bồng nhiều năm mới sang nước Tần thì hay được Bá Lý Hề làm Thừa Tướng. Đỗ Thị thừa dịp trong phủ cần người may vá, mới xin vào làm. Ngày kia, trong phủ có đờn ca, Đỗ Thị xin nhạc công theo lên nhà khách để đàn ca giúp.

Bài của Đỗ Thị ca trong phủ như sau:

“Bá Lý Hề, ngũ dương bì, ức biệt thì, phanh phục thư, xuân huỳnh phỉ, xuy diễm di. Kim nhựt phú quý, vong ngã vi?

Bá Lý Hề, ngũ dương bì, phụ lương nhục, tử đề ky, phu văn tú, thê hoãn y, ta hồ phú quý, vong ngã vi?

Bá Lý Hề, ngũ dương bì, tích chi nhựt quân hành nhi ngã đề, kim chi nhựt, quân toạ nhi ngã ly, ta hồ phú quý, vong ngã vi?”.

Nghĩa là:

"Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày nào cùng nhau ly biệt: Mổ gà mái ấp, chẻ cánh cửa làm củi, thổi nồi cơm gạo vàng... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?

Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài, chồng mặc áo gấm, vợ giặt thuê... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?

Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày xưa, tiễn chàng ra đi, thiếp nước mắt chứa chan, tới bây giờ thấy chàng ngồi đó, thiếp đứt ruột"

Bá Lý Hề nghe ca thốt nhiên sửng sốt, cho kêu người đàn bà lại gần mà hỏi, thì quả nhiên là vợ mình, bèn ôm nhau khóc rống lên. Từ đó Bá Lý Hề mới sum hợp được vợ con và cùng hưởng phú quý.

Trong Nữ Trung Tùng Phận có câu:

Lập thân đừng để danh lưu,

Cũng như Bá Lý Hề âu bạc tình.

Và quyển Báo Ân Từ, nhà thơ Huệ Phong có viết:

Chưa gặp thời Lý Hề dày dạn,

Bắt đưa dâu bất mãn trốn đi.

Thoát nạn nhờ ngũ dương bì,

Sau làm Thừa tướng phát huy nước Tần.

 

 

 

 

BAO CÔNG CHẨN BẦN

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nữ phái có bức tranh vẽ hình “Bao Công chẩn bần 包 公 賑 貧”.

Bao Công chẩn bần tức là Bao Chửng thay mặt vua đi phát tiền, gạo để cứu giúp dân xứ Thần Châu bị hạn hán, đói khổ.

Bao Công còn có tên là Bao Chửng, tên tự là Văn Chính, người đất Hiệp Phì, phủ Lư Châu, tỉnh Giang Nam Trung Quốc, con của ông viên ngoại Bao Hoài, và bà Châu Viện Quân.

Lúc nhỏ Bao Công là đứa trẻ thông minh tột bực, học đâu biết đó, nổi tiếng là thần đồng. Ông đậu Tiếng sĩ được vua Tống Nhân Tông bổ làm Tri Huyện Định Viễn, thuộc phủ Phụng Dương, sau vua triệu về kinh phong chức Lệnh Doãn Khai Phong phủ, rồi thăng lên chức Long Đồ Các Đại Học Sĩ.

Bao Công là người thanh liêm chính trực, giữ gìn luật pháp rất nghiêm minh, nên được vua ban cho Ngự Trát Tam đao là: Long đao, Hổ đao, Cẩu đao, để trị tội những hoàng thân quốc thích hay các đại thần, các nhà quyền quý phạm tội và sai Ông đi tra xét vụ tham những việc phát chẩn ở xứ Thần Châu.

Nguyên đất Thần Châu bị hạn ba năm, vua bèn sai An Lạc Hầu Bàng Dực là con Thái Sư Bàng Hồng, đến xứ ấy chẩn bần. Bàng Dực đến nơi không phát chẩn mà lại còn húng hiếp dân chúng và cưỡng bức gái lành, làm cho dân tình điên đảo.

Xứ Thần Châu đã bị hạn hán nhiều năm, dân tình điêu đứng, sứ thần của triều đình đến chẳng những không cứu giúp, trái lại còn tham nhũng, hạch sách, cưỡng bức gái lành, làm cho dân tình nơi đó càng thêm khốn đốn. Bao Công đến nơi thấy tội của Bàng Dực rõ ràng, bèn bắt hắn, lấy Long đao xử trảm. Rồi ông thay mặt cho nhà vua chẩn bần và an dân, nên dân chúng nơi đó cảm cái ơn đức của Bao Công vô hạn.

Nhà thơ Thái Huệ có viết:

Thần Châu hạn hán khổ dân,

Bao Công được phái chẩn bần cứu nguy.

 

 

 

 

BẢN NGÃ

Bản là gốc, vốn. Ngã là Ta, cái ta.

Bản ngã 本 我 là cái làm nên tính cách riêng của mỗi con người, tức cái ta hay cái tôi.

Đạo Phật chủ trương thuyết vô ngã, vì con người chỉ là tập hợp của ngũ uẩn, năm uẩn nầy đều thay đổi từng giây từng phút, ở trong năm uẩn đó không có cái gì gọi là Ta, hay của Ta thường còn bất biến cả. Chính vì chúng sanh chấp cái thân ngũ uẩn nầy là bản ngã, tức Ta hay của Ta mà phải chịu cảnh luân hồi sinh tử.

Diệt được cái Ta (diệt ngã) là đoạn được cái tư tâm ngã kiến, trừ được vị kỷ mà quay về vị tha., quên mình để làm lợi cho người.

Người tu hành nếu không lo diệt bản ngã thì chẳng thể nào bỏ vọng về chơn, đoạn mê theo giác, mà thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử được.

Trong Thuyết Đạo, Đức Thượng Sanh có đoạn dạy: “Nơi cửa Ðạo, người hành đạo phải làm gương mẫu cho nhơn sanh và muốn lập chữ tâm phải quên được cái “Bản ngã” thường tình. Trừ bỏ được bịnh chỉ biết có mình, hành vi nào cũng được trong sạch, khỏi bận tâm lo mất còn thiếu đủ. Trong cảnh hèn sang, vui khổ, phải chia sớt với tất cả bạn đồng hành, sự tương thân, tương ái mới được trọn vẹn.

Lưu Hướng Liệt Nữ truyện Trung Hoa có chép một truyện như sau đây: “Lúc Xuân Thu, nước Tề cử binh phạt nước Lỗ. Khi đến chỗ giáp giới, viên tướng chỉ huy binh Tề trông thấy một người đàn bà một tay bồng đứa bé, tay kia dắt một đứa bé nữa. Quân tràn tới, người đàn bà vội bỏ đứa bé đang bồng trên tay xuống, xốc đứa bé đang dắt, rồi hơ hải chạy trốn vào rừng. Ðứa bé bị bỏ, chạy theo la khóc, người đàn bà cứ lo chạy không ngó lại.

Viên tướng Tề sai quân bắt lại và hỏi: “Ðứa bé nàng bồng chạy là con ai, đứa bé bỏ lại là con ai?”

- Thưa, đứa tôi bế chạy là con của anh cả tôi, đứa tôi bỏ lại là con tôi. Vì không thể bảo toàn cả hai đứa, nên tôi phải bỏ con tôi.

- Tướng Tề nói: “Tình mẹ con không đau xót sao?- Ai nở bỏ con mình để cứu lấy con của anh là thế nào?”

- Con của tôi là tình riêng, con của anh tôi là “nghĩa công”, bỏ con đẻ tuy đau xót, nhưng muốn làm tròn nghĩa công, tôi phải lìa nó mà cứu con anh tôi. Tôi không thể nào mang tiếng “vô nghĩa” mà sống ở nước tôi được.

Viên tướng Tề dừng binh lại, đợi vua Tề đi tới quỳ tâu: “Nước Lỗ chưa thể đánh được. Quân ta mới tới biên giới, đã thấy một kẻ phụ nhơn ở xó rừng góc núi còn biết chẳng vì tình riêng mà hại nghĩa công huống chi là những bậc quan lại sĩ phu trong nước. Vậy xin kéo binh về là hay hơn.”

Vua Tề cho là phải.

Nhờ vậy người đàn bà bảo toàn cả hai đứa bé và sau được Vua nước Lỗ thưởng một trăm tấm lụa và tặng hai chữ “nghĩa cô”.

Ðó là tâm lý xử nghĩa của một người đàn bà ở tận góc núi ven rừng nơi trường đời.

Khi người ta bỏ được thuyết “BẢN NGÔ ra ngoài hành động trông ra chánh đáng và cao thượng làm sao!

Nơi cửa Ðạo, chủ nghĩa giác thế độ đời lại cao cả hơn nữa. Nếu tâm vẫn còn chịu khổ để lo cái “của mình” còn hay mất, được hay thua, thêm hay bớt thì phận sự Ðạo làm sao cho trọn?”.

Và trong Đại Thừa Chơn Giáo có viết:

Diệt Bản Ngã bỏ quyền dụng lý,

Khử tư tâm hiệp ý Ðại Ðồng,

Làm cho thế giới lưu thông,

Dân quyền xướng dậy đời hồng âu ca.

 

 

 

 

CƠ TẬN ĐỘ

Từ ngày tạo lập nên Càn khôn Vũ trụ, Đức Thượng Đế đã sanh hóa ra vạn linh, trong đó con người đứng đầu muôn vật và ban một Thiên tánh, là để con người nương theo đó mà trau dồi cho trong sáng thêm lên, hầu tấn hóa lần lần đến bực Thánh triết.

Tự nguyên sơ, con người còn trong vòng Thánh đức, có cuộc sống hiền lương, chất phác, thuận tùng theo Thiên lý, nên nhân tánh huyền đồng cùng Thượng Đế, tiểu thể hòa đồng cùng đại thể.

Đến thời trung nguơn, nhơn tâm bất nhứt, tập nhiễm theo thói đời, ham mê danh lợi, vật chất, mới đánh mất điểm thiên lương, rồi tranh đấu, giựt giành lẫn nhau, tương tàn tương sát vì chén cơm manh áo, vì quyền tước lợi danh, không kể tình máu thịt, nghĩa đồng bào, không nương đồng loại, đồng chủng mà xâu xé, tàn hại lẫn nhau

Sang tới thời Hạ nguơn này, nhơn loại sống trong dầu sôi lửa bỏng, chiến tranh khốc liệt, thiên tai tàn phá, bệnh chướng hoành hành...làm cho con nguời phải chịu nhiều điêu linh, khổ sở.

Vì thương sanh chúng bị mê mờ, mãi chìm trong luân hồi biển khổ, nên Đức Thượng Đế đã nhiều phen đem Đạo dạy Đời để cứu nhơn loại. Ngài tùy thời kỳ nguơn hội, tùy phong tục tập quán, tùy trình độ hiểu biết của con người, tá danh khai Tam giáo: Phật, Thánh, Tiên mà cứu vớt chúng sanh qua hai thời kỳ phổ độ.

Đến thời mạt Pháp, một lần nữa, Đức Chí Tôn dùng huyền diệu cơ bút khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, lập nền chánh pháp Cao Đài, có tôn chỉ qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi, tức là nhìn nhận các Tôn giáo từ một nguồn gốc mà sinh ra: Đó là Đấng Thượng Đế.

Vì vậy, sau ngày khai Đạo, Hội Thánh được lịnh Ơn Trên dạy thỉnh Kinh nơi Phật giáo hay các chi Minh Sư, Minh Lý về tụng niệm, nhưng trong đó không có Kinh Tận Độ. Mười năm sau, Hội Thánh mới ban hành quyển Tân Kinh (Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo), mở ra Cơ Tận Độ.

Điều này, chính Hội Thánh đã nói rõ trong lời tựa Kinh Thiên, Thế Đạo như sau: “Từ khi mở Đạo, Chí Tôn duy giáng cơ truyền cho Phật giáo, Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý dạy dâng Kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, song Kinh Tận Độ vong linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả.

Đức Quyền Giáo Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ Pháp, trót mười năm trường nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ Phụ và các Đấng Thiêng Liêng đặng xin Kinh Tận Độ, nhưng mà Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.

Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 Ất Hợi (Dl. 21 đến 31-8-1935) mới giáng cho Tân Kinh. Ấy là một giọt nước Cam Lộ của Đức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh hồn của toàn Thế giới.

Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Đã trải qua mười năm Chí Tôn mới mở cơ tận độ. CƠ TẬN ĐỘ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân Kinh này mà thôi”.

 

 

 

 

RĂNG CẮN LƯỠI

Người tín đồ Cao Đài khi nhập môn vào Đạo tu hành, trước nhất phải trọn giữ đạo nhân luân, trong đó nghĩa anh em rất sâu nặng. Người xưa thường nói: Thế gian tối nan đắc giả huynh đệ 世 間 最 難 得 者 兄 弟, nghĩa là cái khó kiếm được nhứt ở thế gian là anh em. Câu này cho chúng ta thấy rằng tình nghĩa anh em thực là nồng nàn, thắm thiết, rất cao quý và thiêng liêng.

Anh em ruột thịt cùng cha mẹ sinh ra, tức là cùng núm ruột, đã từng sống bên nhau, thân thiết nhau từ lúc thơ bé cho đến lớn khôn, cùng vui đùa, cùng chia sẻ, san sớt ngọt bùi cho nhau, từng miếng cơm, miếng cá mà mẹ đút cho ăn cũng giống như răng và lưỡi cùng chung hưởng mùi thức ăn, thế mà nỡ lòng nào dứt tình anh em với nhau cũng như “Răng cắn lưỡi”.

Câu chuyện “răng cắn lưỡi” sau đây ví như tình anh em bất hòa với nhau.

Chuyện kể rằng: Hồi xảy ra chuyện bất hoà giữa anh em Tây Sơn, là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Bình Định Vương Nguyễn Huệ bèn kéo quân vào vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc (anh Huệ) đứng vào thế nguy ngặt đến nỗi phải thân lên đứng trên thành kêu khóc, nhưng Nguyễn Huệ vẫn không chịu rút quân.

Bữa đó, trong trại đang lúc ăn cơm, Nguyễn Huệ vô ý để răng cắn nhằm lưỡi, bèn bảo Trần Văn Kỷ là người nổi tiếng hay chữ, đỗ giải nguyên, đang giữ chức tham mưu, làm một bài thơ và lấy tựa là “Răng cắn lưỡi”.

Trần Văn Kỷ liền đọc luôn bốn câu sau đây:

Ngã ký sanh tiền, nhữ vị sanh,

 

我 既 生 前, 汝 未 生,

Nhữ sanh chi hậu, ngã vi huynh.

 

汝 生 之 後, 我 為 兄.

Lý ưng cộng hưởng trân cam vị,

 

理 應 共 享 珍 甘 味,

Hà nhẫn tương tranh cốt nhục tình.

 

何 忍 相 爭 骨 肉 情

Nghĩa là:

Ta đã ra đời, chú mới sanh,

Từ sanh ra chú, ta làm anh.

Lẽ nên cùng hưởng mùi ngon ngọt,

Cốt nhục tranh nhau nỡ đoạn đành?

Nguyễn Huệ nghe xong bài thơ, xúc động, ăn cơm xong, liền ra lệnh tha cho Nguyễn Nhạc và rút quân về Phú Xuân.

 

 

 

 

DANH VỌNG TIỀN TÀI

Chúng ta thử suy gẫm về đoạn kinh trong bài Sám Hối như sau:

Lo danh vọng hao mòn thân thể,

Ham làm giàu của để bằng non.

Một mai nhắm mắt đâu còn,

Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng?

Danh vọng, phẩm tước, và tiền tài là những thứ khiến cho con ngươi phải lao đao lận đận, hao mòn thân thể, bởi phải tính toán bằng trăm phương ngàn kế, phải mất ăn mất ngủ để làm việc một cách bán chết bán sống mới tạo ra được nó, cũng có khi phải dùng cả những thủ đoạn xấu xa, tội lỗi để giành giựt lấy nó. Chính Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá.

Ôi! Khi có được nó rồi thì thân xác hao mòn, sức khỏe suy kiệt, rồi mai kia vô thường lại đến thì thử hỏi công danh phú quý đó có thể đem thế mạng cho mình được không? Hay tội tình muôn kiếp mình phải thọ lấy.

Chính Thánh giáo Thầy có dạy điều nầy như sau: Cái xuân kia chẳng đợi người mà bước đời càng gay trở, lần qua thỏ lặn ác tà, bóng thiều quang nhặt thúc, con đường hy vọng chẳng biết đâu là tột cùng mà bước đời xem đà mòn mỏi, sự thác vô tình sẽ đến mà vẽ cuộc sanh ly pha màu tử biệt, làm cho sự vui vẻ giàu sang danh vọng đều thành ra một giấc huỳnh lương, rồi đây vĩnh biệt ngàn năm, tội tình muôn kiếp.

Theo triết lý tôn giáo, ta thấy cái thực và vĩnh cửu mà ta không tìm lấy, lại chạy theo vô minh để tìm cái danh lợi quyền giả tạm, khiến phải lao tâm tiêu tứ và vương mang tội tình. Vậy cái thực và vĩnh cửu ở đâu?

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy rằng: Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả.

Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt và danh quyền ấy mới chịu đựng nổi bao sự thử thách (La gloire de Dieu est la seule qui résiste à toutes épreuves).

Ngài Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung hỏi Đức Chí Tôn: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng phẩm tước, của cải và danh vọng của Trời?

Thầy trả lời: TU.

 

 

 

 

CAO QUÂN DỜI PHẬT

Trong quyển “Cội Đạo Bốn Mùa” của nhà thơ Huệ Phong có bài thơ như sau:

Giác Hải đòi chùa kỳ mãn hạn,

Cao Quân Dời Phật bước truân chuyên.

Chúng ta thử tìm hiểu nhà thơ Huệ Phong dùng điển tích “Cao Quân Dời Phật” như thế nào.

Nguyên Giác Hải là Hòa thượng Thích Từ Phong tên thật là Nguyễn Văn Tường, trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm Chợ Lớn. Sau Hòa thượng cùng với một số bổn Đạo Phật giáo quyên góp số tiền mua miếng đất, toạ lạc cạnh quốc lộ 22, cách tỉnh lỵ Tây Ninh chừng năm cây số. Trên miếng đất ấy, có một cái gò toàn là cây kén, nên sau Hòa thượng Giác Hải xây dựng lên gò đó một kiểng chùa Phật là Từ Lâm Tự, người chung quanh gọi là chùa Gò Kén. Khi về trụ trì chùa Chùa Gò Kén, Hòa thượng Giác Hải đổi pháp danh là Như Nhãn.

Cao Quân dời Phật tức là Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư di dời tượng Phật Thích Ca từ chùa Gò Kén về Chùa mới ở làng Long Thành, Tây Ninh.

Nguyên Hoà Thượng Như Nhãn được ông Nguyễn Ngọc Thơ, và bà Lâm Hương Thanh là hai vị quyên góp nhiều nhất cho ngôi chùa Gò Kén giới thiệu về Đạo Cao Đài. Hòa thượng Như Nhãn đồng ý nhập môn, rồi được Thiên phong là Thái Chưởng Pháp. Sau đó, ông hứa cho Hội Thánh Đạo Cao Đài mượn ngôi Từ Lâm Tự (tức chùa Gò Kén) để làm Đại lễ khai Đạo Cao Đài.

Trước khi Đạo Cao Đài chuẩn bị làm lễ khai Đạo thì ngôi chùa này vừa mới xây xong, chưa sơn phết, chung quanh chùa còn cây cối um tùm. Khi Hoà Thượng Như Nhãn cho Hội Thánh làm Đại lễ khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh mới vận động người dọn dẹp và xây dựng thêm những cơ sở cần thiết để chuẩn bị ngày Khai Đạo.

Sau cuộc biến trong ngày lễ khai Đạo, Như Nhãn đòi chùa lại và hẹn trong vòng ba tháng phải dời đi.

Lúc 6 giờ chiều, ngày 13 tháng 2 năm Đinh Mão (Dl. 26/3/1927), Đức Cao Thượng Phẩm thỉnh cốt Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa Kiền trắc và ông Sa Nặc từ chùa Gò Kén về chùa mới ở làng Long Thành bằng hai chiếc xe bò.

Trong cuốn Đạo Sử Xây Bàn, bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có kể lại như sau: Cốt Phật Tổ vì nặng quá, bởi con ngựa Kiền Trắc của Ðức Phật Tổ cỡi lớn và dài nên Ðức Thượng Phẩm phải kết hai chiếc xe bò lại để thỉnh cốt Phật lên.

Trong lúc sửa soạn thỉnh cốt Phật thì ông Chánh Tham Biện người Pháp cho một toán lính mặc đồ thâm núp dưới đường mương ngoài chong súng lên đặng bắn Ðức Thượng Phẩm. Tới chừng thấy rõ là thỉnh cốt Phật mới rút lui. Hội Thánh từ từ di cốt Phật về đất mới mua.

Ðức Thượng Phẩm đứng trên xe bò vịn Ðức Phật Tổ, thấy nghiêng bên nào thì hô lên để sửa lại ngay; đi từ 6 giờ chiều tới 2 giờ khuya mới đến Thánh Ðịa (ngay cửa Hòa Viện bây giờ). Trước cửa Hòa Viện có cây vên vên, đến đây di cốt Phật Tổ vào không được vì bị một cái đường mương lớn quá; Ðức Thượng Phẩm phải lập kế kiếm ván đặng lót xe vô mới được. Khi xe qua đường mương rồi thì tạm để cốt Phật Tổ nơi đây, vì Ðức Thượng Phẩm mệt đuối, nhào xuống đống lá khô trong rừng nằm nghỉ; tất cả Chức Sắc cũng nằm xuống đó nghỉ theo.

Thật là:

Xưa Cao Thượng Phẩm rất dày công,

Chịu khổ gầy nên mối đại đồng.

Đặng đất Long Thành nền dọn sẵn,

Trả chùa Gò Kén Phật dời xong.

Nhơn sanh lớn nhỏ đường tâm vẹn,

Thánh địa hôm nay bóng phước lồng.

Kỷ niệm cảm hoài trang chí cả,

Mảnh gương còn để rạng non sông.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

 

 

CƠ THÁNH LÂM PHÀM

Thế thường, một tôn giáo được khai mở là có mục đích đem phàm nhập vào cõi Thánh, tức là Đạo có nhiệm vụ phổ truyền giáo lý để dạy dỗ chúng sanh nhằm đưa chúng sanh đắc quả mà trở vào cõi Thánh.

Nhưng có những trường hợp do sự tiền định của các Đấng thiêng liêng mà kết quả ngược lại. Câu chuyện sau là “Cơ Thánh lâm phàm 機 聖 臨 凡”, tức là Thiên cơ ứng điềm chim hạc chở Thánh xuống phàm.

Cơ Thánh lâm phàm do câu chuyện ngày xưa được kể lại khi xây dựng Đoạn Trần Kiều, tại Trí Huệ Cung như sau:

Đức Hộ Pháp dạy Tá Lý Trần Văn Lành và một nhóm công thợ đắp một con chim hạc thật lớn bằng xi măng cốt sắt, trên lưng chở hai thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Chim hạc nầy, Đức Ngài dạy đắp ở nóc nhà mát nằm trên Đoạn Trần Kiều, đầu chim hạc phải ngó ngay về Thiên Hỷ Động tức Trí Huệ Cung, những Ngài không giải thích lý do.

Tá Lý Lành quên lời dặn của Đức Ngài, nên đắp chim hạc quay đầu ngược lại. Đến khi Đức Hộ Pháp đi Nhựt trở về, Ngài đến xem công trình nhà mát trên Đoạn Trần Kiều, thấy vậy Ngài mới than rằng: Đây là thể pháp, Thầy dặn đầu chim hạc quay về Trí Huệ Cung là tuợng trưng rước khách phàm nhập cõi Thánh. Còn mấy con đắp chim hạc trở đầu ra, như vậy là chở Thánh lâm phàm.

Tá lý Lành đề nghị Đức Ngài sửa lại, Đức Ngài nói rằng: Mấy em làm lỡ rồi, việc nầy cũng do thiêng liêng khiến vậy, cũng là phương pháp tượng trưng bậc tu chơn, dầu có lâm phàm mà thắng nổi cái phàm thì mới là Thánh, bằng chẳng thắng được phàm thì vẫn là phàm. Lẽ ra nhà mát và cây cầu Đoạn Trần Kiều phải đúc cho thật chắc, vì thiếu khả năng nên tạm làm bằng cây, sợ e ngày sau có kẻ cố tâm phá hoại hư sập, tức nhiên kẻ ấy cắt đứt con đường phàm Thánh thì tai hại cho kẻ phá hoại ấy.

Vậy cái nhà mát và cây cầu nầy giao cho Ban Kỳ Lão Phạm Môn và Hội Thánh Phước Thiện bảo thủ thế nào cho tồn tại để nối liền cho khách phàm nhập Thánh.

Rồi Đức Hộ Pháp giải thích hai vị ngồi trên lưng hạc như sau:

Tân Dân Tử dạy Tôn Võ Tử học Đạo Thần Tiên. Ngày nọ, hai Thầy trò cỡi hạc vân du, Tân Dân Tử dặn Tôn Võ Tử rằng: Thầy dặn con một điều, nếu lòng con còn mến tiếc việc phàm, nhứt là khi hạc bay qua chợ Thiên Vương là quê hương của con, nếu lòng con tưởng trần thì chim bay không nổi, sẽ đáp xuống, con phải ở lại cõi trần, không về cùng Thầy được.

Tôn Võ Tử tu chỉ đạt phẩm Nhơn Tiên, mà tránh không khỏi nét phàm, nên khi hạc bay ngang chợ Thiên Vương, thấy quê cũ lòng bắt ngậm ngùi, mến tiếc, chim hạc liền đáp xuống.

Tôn Võ Tử không theo Thầy đặng, phải ở lại chợ Thiên Vương, lòng buồn bã, tìm lại người vợ xưa thì đã quá 70 tuổi rồi. Ông nghĩ muốn trở lại đường tu thì đã muộn, muốn tái lập đạo nhơn luân thì vợ đã già.

Ông ngồi ngẫm nghĩ mà than rằng: Ta đã theo Thầy học đạo Tiên trên 30 năm, nếu bây giờ ở luôn tại đây thì uổng công tu luyện, muốn theo Thầy thì chim hạc không cất cánh nổi. Ôi !Lỡ Đạo lỡ Đời, ấy cũng vì ta không nghe lời Thầy, mà không nên Đạo.

Nhà thơ Huệ Phong đã cảm xúc câu chuyện nên có bài thi rằng:

Thầy trò kỵ hạc quá Dương Châu,

Cơ Thánh Lâm Phàm thể hiện lâu.

Nóc Đoạn Trường Kiều nơi tạc tượng,

Bước An Nhàn lộ bước quay đầu.,

Nhìn ao Thất Bửu ngươn thần nhẹ,

Về Đạo Tam Kỳ lý nhiệm sâu.

Trí Huệ Cung Ân sư nhập định,

Xin cho nhơn loại thoát mê sầu.

(Huệ Phong).

 

 

 

 

CỔ PHÁP

Cổ pháp là vật hữu hình tượng trưng cho một tôn giáo cổ xưa, thể hiện quyền năng linh diệu của Tam giáo: Phật, Tiên và Thánh.

- Bình Bát vu là bình dùng để khất thực của các Tăng Ni phái Khất sĩ, tượng trưng Phật giáo.

- Phất chủ là cây chổi quét sạch tất cả những chất ô trược, tượng trưng cho Tiên giáo (Đạo Lão).

- Bộ Xuân Thu là bộ kinh của Đức Khổng tử soạn ra, nên tượng trưng cho Đạo Khổng hay Thánh giáo.

Đức Chí Tôn dùng Cổ pháp Tam giáo hiệp với Long Tu phiến và Thư Hùng kiếm làm thành Cổ pháp đạo Cao Đài.

Đạo Cao Đài có bốn loại Cổ pháp:

1 - Cổ pháp Hộ Pháp: Gồm bình Bát vu, cây Phất chủ và bộ Xuân Thu.

2 - Cổ pháp Thượng phẩm: Gồm cây Phất chủ và cây Long Tu Phiến đặt chồng lên nhau.

3 - Cổ pháp Thượng Sanh: Gồm cây Phất chủ và cây Thư Hùng Kiếm gác tréo lên nhau.

4 - Cổ pháp Giáo Tông: Gồm cây Long Tu Phiến nằm ở giữa, cây Thư Hùng kiếm và cây Phất chủ gác tréo hai bên, tức là gồm hai Cổ pháp của Thượng Phẩm và Thượng Sanh.

Trong Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu

春 秋 拂 麈 缽 盂

Hiệp quy Tam Giáo hữu cầu chí chơn

協 歸 三 教 有 求 至 真

Đại ý hai câu kinh trên có nghĩa là Kinh Xuân Thu, Cây Phất Chủ, Bình Bát Vu, Qui hiệp Tam giáo lại thành một nền Chơn Đạo của Đức Chí Tôn.

Kinh Xuân Thu tượng trưng cho Nho giáo, Phất chủ tượng trưng cho Tiên giáo, Bát vu tượng trưng cho Phật giáo, ba bửu pháp nầy hiệp lại tạo thành tạo thành cổ pháp của Tam giáo gồm: Bình Bát vu ở giữa, quyển Kinh Xuân thu bên phải bình Bát vu (trong nhìn ra), và Phất chủ nằm bên trái bình Bát vu (trong nhìn ra).

Chúng ta xét ý nghĩa của mỗi pháp bửu:

Xuân Thu 春 秋: Kinh Xuân Thu, là một bộ sử của Đức Khổng Tử chép truyện của nước Lỗ, các việc nhà Chu và việc các nước chư hầu từ thời Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công.

Hình thức là bộ sử biên niên, vắn tắt, nhưng nếu xét về tinh thần thì bộ kinh Xuân Thu là sách để tâm truyền cái đại nghĩa danh và phận, đường luân lý đạo đức và chánh trị của Đức Khổng Tử.

Mạnh Tử có nói: “Kỳ sự tắc Tề Hoàn, Tấn Văn, kỳ văn tắc sử. Khổng Tử viết: Kỳ nghĩa tắc Khưu thiết thủ chi hỹ 其 事 則 齊 桓, 晉 文, 其 文 則 史. 孔 子 曰: 其 義 則 丘 竊 取 之 矣 nghĩa là Kinh Xuân Thu, việc thì chép những việc như của vua Hoàn Công nước Tề, vua Văn Công nước Tấn, văn thì là lời của quan chép sử. Khổng tử có bảo rằng: Về nghĩa lý thì Khưu này trộm lấy để khen việc thiện, chê việc ác”.

Do vậy, Kinh Xuân Thu có chủ đích như sau:

- Chính danh tự: Cách dùng chữ của Ngài trong kinh Xuân Thu đều có mang ý nghĩa chính danh, tức là định rõ người chánh kẻ tà, người hiền kẻ ác...

Ví như chữ “Chết” được chép trong kinh, Ngài dùng cho Thiên tử là băng 崩, vua các chư hầu là hoăng 薨, ông vua soán ngôi là tồ 殂, người làm quan ngay chính là tốt 卒, quan gian nịnh là tử 死.

- Định danh phận: Những người có danh phận chính đáng thì Ngài chép phẩm tước và tên tự rõ ràng; kẻ nào danh phận không chính đáng, dù có chức phẩm gì, Ngài chỉ chép có tên tục mà thôi.

- Ngụ bao biếm: Một tiếng chê của Ngài trong kinh có thể làm cho người ta mang tiếng xấu muôn đời, một lời khen của Ngài có thể thành tiếng thơm muôn thuở.

Người đời sau nói về kinh Xuân Thu như sau: Một chữ khen, thì vinh hơn cái áo hoa cổn của vua ban cho, một chữ chê thì nhục hơn là tội bị rìu búa (Nhất tự chi bao, vinh ư hoa cổn; nhất tự chi biếm, nhục ư phủ việt 一 字 之 褒, 榮 於 華 袞, 一 字 之 貶, 辱 於 斧 鉞).

Xem thế, quyển kinh Xuân Thu nói lên chí của Đức Khổng Tử là định rõ việc ngay thẳng, việc gian tà, để làm khuôn phép lớn lao cho các vua đời sau. Vì đó, Đạo Cao mới mượn quyển kinh Xuân Thu để làm biểu tượng cổ pháp của Nho giáo.

Phật Chủ 拂 麈: Còn gọi phất trần là một thứ vật dụng gồm có cây cán ở đầu có chùm đuôi lông dùng để phủi bụi hoặc đuổi ruồi muỗi. Cũng là một vật của các Tiên gia.

Theo Tự điển Thiều Chửu, chủ 麈 là một giống thú thuộc loài nai, như con hươu mà to, lúc đi đàn hươu theo sau, đuôi nó phẩy sạch bụi, ngày xưa thường dùng làm cái phất trần; vì thế nên có khi gọi cái phất trần là chủ vĩ 麈 尾.

Cây phất trần là bửu vật, có phép thuật rất huyền diệu của Thái Thượng Lão Quân, nên các Tiên gia thường có cầm cây phất chủ. Chính vì vậy, đạo Cao Đài mượn cây Phất chủ làm cổ pháp để chỉ Tiên giáo.

Bát vu 缽 盂: Cái bình đựng đồ ăn và nước uống của các vị tăng ni phái khất sĩ bên Phật giáo. Bình bát và chiếc áo Ca sa tượng trưng cho Phật pháp, cho nên các tông đồ bên Phật giáo vị nào được thầy truyền lại hai món báu nầy (Y và bát) tức là coi như làm tổ của tông phái đó: Bên Phật, gọi là truyền y bát.

Đạo Cao Đài mượn bình bát vu làm cổ pháp để chỉ Phật Giáo.

Như vậy, Cổ pháp Tam giáo và Cổ pháp Hộ Pháp giống nhau, thường Cổ pháp Tam giáo, nơi bình Bát vu vẽ chữ “卍”, còn Cổ pháp Hộ Pháp vẽ chữ “法”.

Lấy Cổ pháp Tam giáo đặt trước Thiên Bàn (thường các Bàn Tam cấp có vẽ Cổ pháp Tam giáo phía trên), ta thấy quyển Kinh Xuân Thu nằm phía vị trí Đức Thái Thượng và cây Phất Chủ nằm phía vị trí Đức Khổng Thánh, tức Cổ pháp Thánh giáo và Tiên giáo nằm nghịch với vị trí của hai vị Giáo Chủ. Có lẽ vì vậy mà nơi Địa Linh Động tạo Cổ pháp nghịch với Cổ pháp Tòa Thánh.

Nên trong đàn cơ cầu tại cung Đạo Đền Thánh, hồi 20 giờ 15 phút, đêm 25 tháng 6 năm Nhâm Tý (Dl. 04-08-1972), Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa có hỏi Đức Hộ Pháp như sau: “Cổ pháp ở Tòa Thánh và các nơi để bình Bát vu ở giữa, Phất chủ bên mặt và Xuân thu bên trái; còn ở Địa Linh Động thì để phất chủ bên trái, Xuân thu bên mặt. Xin Đức Ngài dạy lẽ nào?”.

Đức Hộ Pháp giáng cơ dạy: Tùng nhất luật. Có nghĩa là phải tùng theo Cổ pháp của Tòa Thánh, vì nếu chẳng vậy thì loạn Đạo (Lời dạy của Đức Hộ Pháp).

Hiện thời, chúng tôi để ý thấy Thiên Bàn thờ tại tư gia do khu vực Tòa Thánh đóng (như Cửa Số 7 ngoại ô…) đều sử dụng Cổ pháp Tam giáo của Tòa Thánh, còn vùng Quy Thiện đóng thường là Cổ pháp của Địa Linh Động. Việc nầy, chúng ta phải hiểu biết để thống nhất làm một Cổ pháp, không khéo trở thành hai Cổ pháp trái nghịch nhau, như trường hợp chữ “Vạn” bên Phật giáo, tức là chữ “卍” nghịch chiều kim đồng hồ (vạn tịnh) hay chữ “卐” thuận chiều kim đồng hồ (vạn động) đều được cả.

 

 

 

 

KỈNH THỜ THẦN THÁNH

Trong bài Kinh Sám Hối có câu:

Làm người phải kỉnh thờ Thần Thánh,

Giữ lời nguyền tâm tánh tưởng tin.

Hễ là niệm Phật tụng kinh,

Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

Chúng ta thử tìm hiểu tại làm sao phải Kỉnh thờ Thần Thánh.

Đối với Nho giáo, Thần Thánh là cái khí thiêng liêng trong Trời đất, tuy mắt người không trông thấy, tai người không nghe thấy, nhưng thể được muôn loài vạn vật, không sót một vật nào: Đâu đâu cũng hình như trên đầu ta, ở bên tả, ở bên hữu ta (Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu 洋 洋 乎 如 在 其 上, 如 在 其 左 右).

Chính trong tôn giáo Cao Đài, bài Kinh Sám Hối cũng có câu:

Trên đầu có bủa giăng Thần, Thánh,

Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.

Cho ta thấy chung quanh ta có vô vàn Thần Thánh giữ nhiệm vụ tra xét, chép biên những điều thiện lành hay tội lỗi của con người dưới thế gian. Điều nầy Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy lại cũng đã nói: "Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng đàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ. Các con nếu mắt phàm thấy đặng phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng, nhưng thấy chẳng đặng, nên tội cũng giảm nhẹ đó chút.

Thất lễ là đại tội trước mắt các Ðấng Chơn linh ấy. Thầy phải thăng cho các con khỏi bị hành phạt".

Thật vậy, Thần Thánh là những bậc công minh chánh trực, thường chứng giám những hành vi thiện ác của con người trong thế gian này. Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy cho ta thấy rõ điều đó: “Phải quấy Thần Thánh chỉnh chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc. Khá biết lấy!”.

Và Thi Văn Dạy Đạo cũng có câu:

Một nét vạy tà Thần Thánh chép,

Rèn lòng trong sạch thoát mê tân.

Còn nếu chúng ta có lòng thành thì Thần Thánh chứng chiếu cho:

Cõi thế tìm nơi đạo đức vào,

Lòng thành Thần Thánh chứng công lao.

(Thi Văn Dạy Đạo).

Như vậy, kỉnh thờ Thần Thánh là kỉnh thờ các Đấng do Đức Chí Tôn hóa sinh ra, để thay mặt cho Ngài lo cho chúng sanh. Thần Thánh là các bậc có lòng từ bi, có oai nghi, đức độ và công lao đối với con người. Thờ phụng và kỉnh lạy Thần Thánh nhằm thể hiện lòng quy ngưỡng, tri ân công đức, và noi theo những gương lành của các bậc thiêng liêng ấy.

Thần Thánh không phải là những Đấng mà con người có thể cầu khẩn, van xin đút lót để được tha tội, cũng chẳng phải vì cầu mong ban ơn được giàu sang, mạnh giỏi…Sự thờ kỉnh Thần Thánh không phải là một lễ lo lót, vì các Đấng ấy rất công minh, vô tư, chẳng bao giờ thiên vị.

Đông Nhạc Thánh Đế có lời dạy: Thiên địa vô tư, Thần minh ám sát, bất vị tế hưởng nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng họa 天 地 無 私, 神 明 暗 察, 不 為 祭 享 而 降 福, 不 為 失 禮 而 降 禍, nghĩa là Trời đất không tư riêng, có Thần minh soi xét, chẳng vì cúng tế mà cho phước, chẳng vì thất lễ mà giáng họa.

Kỉnh Thờ Thần Thánh chỉ là những hình tướng biểu lộ bên ngoài của một nội tâm kính trọng, và muốn quy ngưỡng cùng các Đấng ấy.

Hình tướng bên ngoài việc kỉnh thờ Thần Thánh cũng có mục đích dẫn dắt tâm linh của con người đến gần với các Đấng ấy, không phải vì lời cầu nguyện van xin mà các Đấng thương tình chứng chiếu, nhưng chính do tâm hồn của con người trong giờ phút qui ngưỡng ấy đặt trọn đức tin và mở rộng cửa để đón nhận các Đấng thiêng liêng, nên thường là được sự cảm ứng.

Kỉnh thờ Thần Thánh còn phải có sự tĩnh tâm mà tưởng niệm danh hiệu các Đấng. Mục đích niệm danh hiệu các Đấng là để trói buộc cái tâm mình vào danh hiệu các Đấng, lúc đó các vọng tưởng hết, chân tâm thanh tịnh hiện bày. Nhưng điều cần nhứt là niệm đến chỗ nhứt tâm bất loạn 一 心 不 亂, tức là tâm không bị loạn động, chí thành, không để các tạp niệm xen vào, miệng niệm mà trong lòng không có vọng tưởng.

Tâm con người bị vô minh, vọng tưởng làm điên đảo, bất tịnh, kỉnh thờ Thần Thánh và niệm danh hiệu các Đấng thiêng ấy có công năng phá trừ vọng niệm, làm cho tâm mê lầm trở nên sáng tỏ, tinh tấn.

 

 

 

 

HAI QUAN NIỆM VỀ CỬU TRÙNG THIÊN

Đối với đạo Cao Đài, chúng ta là người phàm tục không thể hiểu rõ những việc thuộc về huyền bí, vô vi, phải được Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ dạy hoặc Đức Hộ Pháp cho biết thì chúng ta mới tin thật, còn những việc giải thích trong các sách hiện đang lưu hành, chúng ta chưa thể tin, cần phải chờ ngày sau Hội Thánh cầu các Đấng về giải thích rõ.

Cửu Trùng Thiên có hai nghĩa:

- Cửu Trùng Thiên là cái đài hình bát giác có chín từng, xây tại Đại Đồng Xã trước Đền Thánh, dùng để đặt Liên đài của các chức sắc Đại Thiên phong Cửu Trùng Đài từ phẩm Đầu Sư trở lên, hoặc Hiệp Thiên Đài từ phẩm Thập nhị Thời Quân trở lên. Đài Cửu Trùng Thiên còn dùng để làm nơi thiêu hài cốt của chư vị chức sắc Đại Thiên phong.

- Cửu Trùng Thiên còn dùng để chỉ chín từng Trời nơi cõi thiêng liêng. Chín từng Trời nầy theo tài liệu các sách vở hiện hành, chúng ta thấy có hai quan niệm giải thích :

1 - Quan niệm thứ nhứt, cho rằng chín bài kinh Cửu là chín từng Trời, tức là mỗi vị Tiên Nương trong Cửu Vị Tiên Nương cai quản một tầng Trời, kể ra từ thấp lên cao như sau:

Tầng Trời thứ 1:

 

Tầng Trời có vườn Ngạn Uyển, do Nhứt Nương Diêu Trì Cung cai quản.

Tầng Trời thứ 2:

 

Tầng Trời có Vườn Đào của Phật Mẫu do Nhị Nương cai quản.

Tầng Trời thứ 3:

 

Tầng Trời Thanh Thiên, do Tam Nương cai quản.

Tầng Trời thứ 4:

 

Tầng Trời Huỳnh Thiên, do Tứ Nương cai quản.

Tầng Trời thứ 5:

 

Tầng Trời Xích Thiên, do Ngũ Nương cai quản.

Tầng Trời thứ 6:

 

Tầng Trời Kim Thiên, do Lục Nương cai quản.

Tầng Trời thứ 7:

 

Tầng Trời Hạo Nhiên Thiên, do Thất cai quản.

Tầng Trời thứ 8:

 

Tầng Trời Phi Tưởng Thiên, do Bát Nương cai quản.

Tầng Trời thứ 9:

 

Tầng Trời Tạo Hóa Thiên, do Cửu Nương cai quản.

2 - Quan niệm thứ nhì, có lẽ quan niệm nầy căn cứ vào chữ “Thiên” (Trời) trong mấy bài kinh Cửu, Tiểu, Đại tường và Di Lạc Chơn Kinh mà giải thích Cửu Trùng Thiên (chín tầng Trời) là :Thanh Thiên, Huỳnh Thiên, Xích Thiên….. cho đến Hỗn Ngươn Thiên. Như vậy, theo quan niệm nầy Tầng Thanh Thiên trong bài kinh Tam Cửu được kể là từng Trời thứ nhứt, cho đến từng Tạo Hóa Thiên thuộc bài kinh Cửu Cửu mới là từng Trời thứ bảy, rồi tiếp tục dựa vào Di Lạc Chơn Kinh mà xếp vào hai từng Trời nữa là Hư Vô Thiên và Hỗn Ngươn Thiên mới đủ là Cửu Trùng Thiên. Chúng tôi xin tóm lược lại Chín từng Trời theo quan niệm thứ nhì như sau:

Tầng Trời thứ 1:

 

Tầng Trời Thanh Thiên.

Tầng Trời thứ 2:

 

Tầng Trời Huỳnh Thiên.

Tầng Trời thứ 3:

 

Tầng Trời Xích Thiên.

Tầng Trời thứ 4:

 

Tầng Trời Kim Thiên.

Tầng Trời thứ 5:

 

Tầng Trời Hạo Nhiên Thiên.

Tầng Trời thứ 6:

 

Tầng Trời Phi Tưởng Thiên.

Tầng Trời thứ 7:

 

Tầng Trời Tạo Hóa Thiên.

Tầng Trời thứ 8:

 

Tầng Trời Hƣ Vô Thiên.

Tầng Trời thứ 9:

 

Tầng Trời Hỗn Ngươn Thiên.

Chúng ta thấy sự giải thích về Cửu Trùng Thiên theo quan niệm nầy có vấn đề trái với hai điều sau đây:

- Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, ngày rằm tháng 8 năm Đinh Hợi (1947), khi Ngài giải thích bài “Phật Mẫu Chơn Kinh”, Ngài có nói: “Từng Trời thứ chín gọi là Tạo Hóa Thiên, có vị cầm quyền năng tạo đoan gọi là Thiên Hậu, nắm cả Kim Bàn tức là nắm đẳng cấp thiêng liêng điều khiển chơn linh gọi là Phật Mẫu Diêu Trì...”.

- Ta thấy. nếu tầng Tạo Hóa Thiên là tầng Trời thứ Chín (Đệ Cửu Cửu), thì theo quan niệm thứ nhất là đúng, tức là bài kinh Nhứt Cửu, hay tầng có vườn Ngạn Uyển là tầng Trời thứ nhứt của Cửu Trùng Thiên.

- Căn cứ theo Quan Hôn Tang Lễ năm 1976, chức sắc Đại Thiên Phong bên Cửu Trùng Đài từ phẩm Đầu Sư trở lên, hay bên Hiệp Thiên Đài từ phẩm Thập Nhị Thời Quân trở lên, khi đăng Tiên, thể xác liệm vào Liên đài, và được quàn tại biệt điện của mỗi vị một đêm, Báo Ân Từ một đêm, Đền Thánh một đêm và cửu Trùng Thiên một đêm. Sau đó Hội Thánh sẽ cử hành lễ Tiểu tường, Đại tường, kỷ niệm hằng năm và xây tháp. Không làm tuần Cửu và hành pháp độ thăng.

Ta thấy, nếu Liên đài được đặt tại Cửu Trùng Thiên, không làm tuần cửu, không hành pháp độ thăng, chỉ làm Tiểu tường, Đại tường chứng tỏ rằng chức sắc hàng Tiên vị, đã đầy đủ công đức để vượt lên khỏi Cửu Trùng Thiên, nên Liên đài mới được an vị trên đài Cửu Trùng Thiên tại Đại Đồng Xã và không cần phải làm tuần cửu hay hành pháp độ thăng.

Làm lễ Tiểu tường cho vị chức sắc Đại Thiên phong tức là đưa chơn linh lên từng Hư Vô Thiên, và từng Trời nầy phải là từng Trời thứ mười, ở trên Cửu Trùng Thiên, chứ không thể ở trong Cửu Trùng Thiên được.

Đây là hai quan niệm về Cửu Trùng Thiên hiện nay trong đạo Cao Đài. Sở dĩ chúng tôi nêu lên và đưa ra những ý nhận định là để mọi người cùng biết rõ, chờ ngày sau Hội Thánh có điều kiện cầu các Đấng về giải thích Cửu Trùng Thiên cho hợp với chân lý hơn.

 

 

 

 

TỰ LÔI TRỮ BÍNH LINH Ư PHỤNG LÃNH

Đây là câu Kinh được trích trong bài Nho Giáo Tâm Kinh (tức Khổng Thánh chí tâm quy mạng lễ), chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của câu kinh nầy.

TỰ LỐI TRỮ BÍNH

Trước hết ta xét về nghĩa chữ: Tự 字: Chữ viết. Lôi 雷: Sấm sét. Trữ 貯: chứa. Bính 炳: Sáng rực rỡ.

Tự lôi trữ bính 字 雷 貯 炳 có nghĩa là ngày xưa chữ viết vừa được sáng chế ra thì trời sấm sét nổ vang.

Người xưa cho rằng sáng chế ra chữ viết là một việc làm phi thường, đánh dấu một giai đoạn quan trọng của loài người vì từ đó con người được mở mang, trí tuệ được khai hóa, khiến cho con người học hiểu được luân thường đạo lý, chẳng khác nào Trời gây ra mưa giông, nổi cơn sấm sét làm tỉnh thức con người đang trong cơn mê.

Hứa Thận đời Hậu Hán có cho biết lai lịch văn tự Trung Hoa như sau: Đời xưa họ Bao Hy cai trị thiên hạ, ngửng xem hình tượng trên Trời, cúi xem phép tắc dưới đất, trông dáng vẻ loài cầm thú cùng trạng thái đất đai, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở muôn vật, bắt đầu sáng tác ra Dịch Bát quái để truyền lại các hiện tượng về sau. Đến Thần Nông thắt nút dây cai trị thiên hạ, thống hợp mọi sự. Sử quan Hoàng Đế là Ông Thương Hiệt nhìn vết chân chim muông chạy nhảy mà biết rằng văn lý có thể phân biệt nhau, mới sáng tạo ra chữ viết. Thương Hiệt chế ra chữ viết căn cứ vào loại, mô tả ra hình, nên gọi là Văn. Về sau, hình thanh bổ túc cho nhau, nên gọi là Tự.

Tương truyền rằng khi văn tự được hình thành rồi thì Trời gây mưa giông và nổi cơn sấm sét. Bởi vì nhờ Thánh Hiền chế ra chữ viết mới có Kinh sách ra đời để truyền đạt những giáo lý của Thánh nhân từ đời nầy qua đời khác.

LINH Ư PHỤNG LÃNH

Linh 靈: Linh thiêng. Ư 於: Hơn. Phụng 鳳: Một loài chim trong Tứ linh: Long 龍 , Lân 麟, Qui 龜, Phụng 鳳 , Lãnh 嶺: Đỉnh núi.

Linh ư phụng lãnh là linh thiêng hơn chim phụng hoàng đậu gáy trên đỉnh núi.

Như ta biết, chim phụng hoàng là một loại chim linh, ưa thích âm nhạc, có lông ngũ sắc. Trong kinh Thư, thiên Ích Tắc 益 稷 có viết: Tiêu thiều cửu thành, phụng hoàng lai nghi 簫 韶 九 成, 鳳 凰 來 儀 nghĩa là khi nhạc tiêu thiều tấu đến khúc thứ chín, thì chim phượng hoàng đến múa, có vẻ uy nghi.

Sách xưa cho rằng loại chim này tượng trưng cho hòa bình, cho điềm lành nên khi giống chim này xuất hiện thường báo hiệu một minh quân, thánh chúa hoặc là vĩ nhân xuất thế như câu “Phụng gáy non Kỳ” là có ý nói chim phụng gáy ở núi Kỳ Sơn tại xứ Tây Kỳ, là điềm báo cho biết cuối đời Ân Trụ có Thánh chúa là Văn Vương, Võ Vương ra đời diệt Trụ và dựng nghiệp nhà Châu, đem lại thái bình cho thiên hạ.

Như vậy, câu kinh “Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh” có nghĩa là khi văn tự được chế ra thì Trời có điềm sấm sét chớp giăng, chữ viết tự như ánh lửa soi sáng cho tâm linh con người. Nhờ thế, Đức Khổng Phu Tử mới có thể lấy văn tự để ghi những lời dạy của bậc Thánh nhân xưa mà truyền lại cho con người. Kinh sách mới ra đời, đạo lý mới có phương tiện truyền đạt rộng khắp. Như vậy, sự xuất hiện của văn tự thì linh thiêng hơn chim phụng gáy ở núi Kỳ Sơn, nghĩa là chữ viết ra đời thì thiêng liêng hơn có các vị chúa Thánh ra đời để dạy và trị dân.

Điều này dễ hiểu, bởi vì dù có chúa Thánh ra đời để trị nước, an dân, nhưng chưa có chữ viết thì dân cũng chưa khai hóa. Đến khi có Thánh nhơn chế ra văn tự rồi mới có thể truyền bá kinh sách để dạy đời được. Bởi vậy câu kinh cho rằng sự ra đời của văn tự thì linh thiêng hơn đời có chúa Thánh.

 

 

 

 

ĐỘNG ĐÀO

Khi nghiên cứu về kinh sách Cao Đài, chúng ta thấy chữ “Động đào 洞 桃” có mặt trong nhiều bài kinh hoặc trong các tác phẩm của đạo Cao Đài.

Bài kinh Khai Cửu, Tiểu Tường và Đại Tường có câu:

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,

Quên trần ai mong mỏi Động Đào.

Trong kinh Thế đạo, bài Kinh Khi Về lại có câu:

Nhẫng nhớ bước Động Đào buổi trước,

Nhẫng nhớ khi Hớn rước Diêu Trì.

Hoặc trong bài Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Quy Liễu:

Thà cam vui chốn Động Đào,

Đừng vì nhớ trẻ trở vào phàm gian.

Quyển Đạo Sử Xây Bàn của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Chí Tôn có ban cho vị đạo tên Hạnh một bài thơ như sau:

Hạnh đức làm gương dắt lũ sau,

Một nhà đạo đức khá thương nhau.

Ðã nên người trước đời trông cậy,

Gắng sửa nhà tranh hóa Động Đào.

Tác phẩm Nữ Trung Tùng phận, Bà Đoàn Thị Điểm cũng có đoạn viết:

Lỡ lối cũ Động Đào lạc bước,

Khó cầm duyên đợi ngọc cầu Lam.

Thân Tiên dầu lỡ gót phàm,

Gương xưa lỗi ráp, ai cầm làm chi ?

Chúng ta thử tìm hiểu về ý nghĩa hai chữ Động đào.

Động đào tức Đào Nguyên động 桃 源 洞, hay Đào hoa nguyên 桃 花 源, nghĩa là Suối hoa đào.

Động đào do bài “Đào hoa nguyên ký 桃 花 源 記” của Đào Uyên Minh tức Đào Tiềm đời nhà Tấn, Trung Quốc.

Bài Ký đó được kể lại như sau: Vào triều vua Vũ Đế nhà Tấn, có một người quê ở huyện Vũ Lăng, tỉnh Hồ Nam làm nghề đánh cá, theo dòng khe mà chèo thuyền đi, quên mất đường về, nên chèo lạc vào một rừng hoa đào mọc sát bờ khe, màu sắc rực rỡ, mùi thơm nực nồng. Người đánh cá lấy làm lạ, bèn theo dòng nước tiến vô đến cuối khu rừng, thấy hiện ra một cái núi, trong núi có một cái động, mờ mờ ánh sáng. Người đánh cá bèn buộc thuyền rồi lên bờ, đi vào cửa động. Mới bước vào đường hang rất hẹp, chi vừa lọt một người đi, nhưng đi được một đỗi thì đường vào động mở rộng ra, đến một vùng đất trống trải, bằng phẳng, thấy có nhà cửa, ruộng vườn, người đi lại, sinh hoạt như người bên ngoài.

Người đánh cá ngạc nhiên hỏi những người ở trong động thì được biết, trong động ấy, có một nhóm người đang sinh sống, mà trước đây tổ tiên của họ trốn loạn đời nhà Tần, đến đó ở biệt lập hẳn với người đời bên ngoài động đã từ lâu rồi.

Sau khi tìm cách ra khỏi động Đào nguyên, người đánh cá trở về quê có kể lại sự tình cho viên Thái thú. Viên Thái thú sai người đánh cá trở lại, tìm những chỗ trước đã đánh dấu, nhưng không tìm được lối vào nữa.

Do vậy, trong văn chương, hoặc kinh sách, người ta thường dùng các từ “Động đào”, Nguồn đào, Đào nguyên, hay Suối hoa đào để chỉ cảnh Tiên, hay động Tiên.

 

 

 

 

HÀN DŨ BỊ ĐÀY

Bên trong hành làng Nữ phái tại Báo Ân Từ có vẽ khuôn hình lấy tích “Hàn Dũ bị đày”.

Hàn Dũ, tên tự là Thoái Chi, sinh năm 768 tại Nam Dương, cha là Trọng Khanh làm quan Huyện lệnh có tiếng về văn chương.

Ông mồ côi cha hồi ba tuổi, ở với anh là Hàn Hội, cũng mất sớm. Sau ông ở với chị dâu, tự học. Năm 19 tuổi lên Kinh thi, bị rớt, mặc dầu ông đã nổi danh về cổ văn. Năm 24 tuổi mới đậu tiến sĩ, rồi 29 tuổi mới ra làm quan.

Hàn Dũ là một người theo Nho học, tánh tình thanh liêm, cương trực, không tin thần quyền. Một lần can vua Đức Tôn về việc xa hoa trong cung mà bị biếm làm Lệnh doãn Dương Sơn. Lần khác, can vua Hiến Tôn đừng rước cốt Phật (Gián nghinh Phật Cốt) vào cung, suýt bị tử tội, nhờ đình thần xin cho mới được giáng làm Thứ sử Triều Châu.

Vua Đường, lúc bấy giờ đương mê Đạo Phật, Hàn Dũ dâng biểu can vua, bài biểu văn như sau: “Từ Huỳnh Đế xuống vua Thang, vua Văn, vua Võ, đâu có đạo Phật mà nói Phật giúp, mà cũng hưởng được lâu dài. Qua Hán Minh Đế sai sứ đi cầu Phật về mà thờ. Tưởng kế lâu dài nào hay bị loạn vong. Rồi tới Lương Võ Đế ở ngôi mười tám năm, mà trước sau phải ba lần xả thân làm sãi vô ở trong chùa. Mà rồi cũng chẳng khỏi Hầu Cảnh làm bức phải chết đói nơi Đài Thành, sao không thấy Phật tới cứu?”. Vua giận bèn đày Hàn Dũ ra xứ Triều Dương.

Nguyên Hàn Dũ có người cháu kêu bằng chú, rất mộ đạo, tên là Hàn Tương Tử, sau tu thành Tiên, là một trong Bát Tiên ở núi Bồng Lai.

Hàn Tương Tử muốn trở về độ chú mình, nên ngày kia giả một vị đạo sĩ vào trong làng Hàn Dũ để đảo võ. Đang khi khô hạn, không bao lâu, mưa đổ tuyết sa xuống đầy đồng, từ đó Hàn Dũ mới tin Thần Tiên có phép mầu.

Để thúc đẩy lòng tin, nhân lễ chúc thọ cho Hàn Dũ, Hàn Tương Tử dùng thần thông đặt rượu ngon đầy ché và trồng mẫu đơn hoa nở tức thì, đặc biệt trong đoá hoa có hai hàng chữ:

Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại,

 

雲 橫 秦 嶺 家 何 在,

Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền.

 

雪 擁 藍 關 馬 不 前

Nghĩa là:

Mây giăng Tần Lĩnh, nhà nơi đâu?

Tuyết ngập Lam Quan, ngựa không đi được.

Hàn Dũ không hiểu nghĩa hai câu thơ, định hỏi thì Hàn Tương Tử nói: Ngày sau chú sẽ biết.

Hàn Dũ bị đày đến chốn nào không biết, nơi ấy chẳng những không thấy nhà cửa mà mây giăng đỉnh núi mịt mù, tuyết rơi lác đác, ngựa không đi đặng. Trong cảnh ấy Hàn Tương Tử lại xuất hiện cầm chổi quét tuyết dọn đường và cho biết hai câu thi ngày xưa ứng vào lúc này, đây là ải Lam Quan, núi nầy tên là Tần Lĩnh.

Từ đó, Hàn Dũ mới tin tưởng vào số Trời và bắt đầu trọng Đạo.

Trong quyển Báo Ân Từ, nhà thơ Huệ Phong có bài nói về Hàn Dũ như sau:

Hàn Tương Tử hết lòng khuyên chú,

Gián nghinh Phật cốt, Dũ bị đày.

Lam Quan ngựa khó bước thay,

Cầm chổi quét tuyết nhắc ngày trồng hoa.

 

 

 

 

GẦN ĐIỀU NÊN LÁNH LẼ HƯ

Trong bài Kinh Vào Học có câu:

Gần điều nên, lánh lẽ hư,

Nương gươm thần huệ đặng trừ nghiệt căn.

Chúng ta thử tìm hiểu: Tại sao phải “gần điều nên, lánh lẽ hư”?

Trong Nho giáo, Mạnh Tử cho rằng: Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập tương viễn 人 之 初, 性 本 善. 性 相 近, 習 相 遠, nghĩa là con người sinh ra tính vốn lành, vì tập nhiễm xã hội nên tính của con người trở nên bất thiện.

Do vậy lời kinh mới dạy “Gần điều nên, lánh lẽ hư”, tức là ta phải thân cận với người lành, việc lành, đặng học hỏi những sở hành hay tánh tình của người lành; phải tránh xa những người hung dữ, các thói xấu, trừ bỏ những việc hư tệ.

Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, để khuyên ta cẩn thận trong vấn đề giao tiếp, nên thân cận với người tốt, xa lánh với kẻ xấu. Ta thử trộn hai màu đen trắng lẫn nhau, màu trắng sẽ bị màu đen lấn át, Cũng vậy, hai mùi thơm thúi giao nhau, hương thơm sẽ mất mùi. Vì thế, ông Thái Công mới dạy rằng: Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc, cận hiền giả minh, cận tài giả trí, cận si giả ngu, cận lương giả đức, cận nịnh giả siểm, cận thâu giả tặc 近 朱 者 赤, 近 墨 者 黑, 近 賢 者 明, 近 才 者 智, 近 癡 者 愚, 近 良 者 德, 近 佞 者 諂, 近 偷 者 賊, nghĩa là gần son thì đỏ, gần mực thì đen, gần người hiền thì sáng, gần người tài thì trí, gần kẻ ngây thì dại, gần người lành thì có đức, gần người trí thì thông minh, gần kẻ ngu thì ám muội, gần kẻ nịnh thì bợ đỡ, gần kẻ trộm thì sinh giặc.

Thánh nhân xưa cho bạn bè là một trong đạo ngũ luân, cho nên người không thể thiếu bạn. Nhưng nếu không kỹ lưỡng kết giao với bạn không có đức hạnh chỉ có hại mà không có ích. Như làm bạn với người không trung thực còn nguy hơn là người thù trước mặt. Người thù ta biết được mà tránh, bạn không trung thực như một quả bơm ở cạnh ta, nổ lúc nào đều không hay.

Thánh nhân cũng thường nói: Dữ hảo nhân xử như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời tư nhuận; dữ vô thức giả xử như bào ngư tứ trung tọa, tuy bất ô y, thời thời văn xú 與 好 人 處 如 霧 露 中 行, 雖 不 濕 衣, 時 時 滋 潤, 與 無 識 者 處 如 鮑 魚 肆 中 坐, 雖 不 污 衣, 時 時 聞 臭, nghĩa là ở gần với người tốt, như đi giữa đám mù sương, tuy chẳng ướt át mà dầm thấm mát mẻ. Còn ở chung với người không biết lẽ phải, thì cũng như ngồi giữa hàng cá ươn, dầu chẳng dơ áo, mà nghe mùi hôi thúi. Khổng Tử Gia Ngữ cũng có câu: Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất, cửu bất văn kỳ hương, tức dữ chi lan hoá 與 善 人 居, 如 入 芝 蘭 之 室, 久 不 聞 其 香, 即 與 之 俱 化, nghĩa là cùng ở với người hiền, như vào nhà trồng chi lan, lâu ngày không thấy mùi thơm, đã cùng hoá theo mà không biết.

Người xưa cũng thường nói: Thân cận với người hiền như lấy giấy gói xạ hương. Vì mùi thơm của xạ hương mà giấy được thơm lây. Gần người xấu như dùng giấy gói tôm cá, giấy tuy trong sạch, nhưng cũng đượm mùi hôi tanh.

Tóm lại, trên đời nầy chỉ có hai con đường để đi: Tốt xấu, lành dữ, để cho con người tuỳ ý chọn lựa, song muốn thành công trong sự nghiệp và làm người có tư cách, có phẩm hạnh tốt thì phải “Gần điều nên lánh lẽ hư”.

 

 

 

 

QUAN HỆ GIỮA ĐẠO VÀ NGƯỜI

Đạo nghĩa đen là đường đi, còn theo nghĩa bóng thì Đạo là đường lối, phép tắc đối nhơn xử thế của con người. Chữ Đạo ở đây được hiểu theo Đạo làm người hay nhân đạo trong hình nhi hạ của Nho giáo. Đến thời Lão Tử, một Đạo gia đầu tiên của Trung Quốc đưa ra thuyết bản căn của Vũ trụ và đề xướng Đạo luận. Từ đó Đạo được hiểu với nghĩa hình nhi thượng, tức là Thiên Đạo.

Theo Đạo Đức Kinh, Đạo là bản căn của Càn Khôn Thế giới, là nguyên lý từ đó mà vạn vật được sinh ra, muôn loài noi theo, là cái qui luật chi phối sự sinh thành biến hóa của Trời đất và muôn vật.

Theo Cao Đài, Đạo là con đường của Đức Chí Tôn dẫn đến bờ giải thoát gọi là Đại Đạo. Đạo của Đức Chí Tôn dạy trong thời Tam Kỳ, là phổ độ chúng sanh để lập công hầu đoạt được cơ giải thoát, là con đường chuyển hoá khỏi mọi khổ đau.

Thánh giáo Đức Chí Tôn nói về chữ Đạo như sau: “Đạo là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Đạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Đạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm”.

Như vậy, Đạo rất cần ích cho cá nhân và xã hội. Người có Đạo sợ luật Trời, kiêng phép nước, biết trọng luân thường đạo đức, biết thương yêu đồng loại.

Một nước có Đạo, xã hội sẽ trật tự, an ninh, dân chúng sẽ được hòa bình và hạnh phúc.

Do đó, sách Trung Dung có dạy: Đạo giả dã, bất khả tu du ly dã, khả ly, phi đạo dã 道 者 也, 不 可 須 臾 離 也. 可 離, 非 道 也 nghĩa là “Đạo phải có luôn luôn trong lòng, chẳng khá lìa ra trong giây phút nào, nếu lìa ra được thì không phải là Đạo”. Thật vậy, mỗi con người sống ở thế gian, nếu muốn giữ cái bản tánh trong sáng, thuần khiết như ban đầu thì tâm tánh mình phải hiệp một với Đạo, nếu tách ra thì các mối mê dục xen vào, còn chi là Đạo? Đạo là cái lý, là lẽ phải, là con đường mà mọi người phải đi theo.

Người theo Đạo ví như xe lửa chạy theo đường rầy, như thuyền bè lướt trên sông nước, như máy bay nương vào không khí. Nếu xe lửa trượt đường rầy, thuyền rời nước, máy bay thiếu không khí đều rất nguy hiểm, vì đã rời đạo (con đường). Người xa rời Đạo, ở xã hội thì bị pháp luật trừng phạt, xuống Âm quang thì bị khổ hình, phải sa vào luân hồi, chạy vào con đường tứ sanh lục đạo, không được siêu thoát.

Đức Khổng Tử có dạy: Người quân tử giữ lấy cái chết để trọn Đạo và vui với lẽ Đạo, chỉ lo Đạo mà không lo nghèo. Thầy Nhan Hồi ngộ Đạo mà ôm ấp trong lòng không bao giờ rời. Thầy Tăng Tử theo Đạo, một ngày phải xét mình ba lần, lo âu vì sợ Đạo sẽ rời xa mình. Đạo mật thiết với con người, chỉ vì vật dục che lấp mà con người không thấy rõ, Do vậy, Đức Không Tử mới than rằng: Ai đi ra ngoài mà không do cửa chính. Đạo vốn là cửa chính, sao không chọn Đạo mà đi!

Người theo Đạo chớ sợ nghèo khổ, đã vào cửa Phật thì giàu nghèo, thọ yểu đều giao cho Trời. Đức Khổng Tử khen Thầy Nhàn Hồi có câu: Hiền tai! Hồi dã, nhất đan tự, nhất biều ẩm, tại lậu hạng, nhân bất kham kỳ ưu, Hồi dã bất cải kỳ lạc. Hiền tai! Hồi dã 賢 哉! 回 也. 一 簞 食, 一 瓢 飲, 在 漏 巷, 人 不 堪 其 憂, 回 也 不 改 其 樂. 賢 哉! 回 也, nghĩa là hiền thay Nhan Hồi! Một giỏ cơm, một bầu nước, ở nơi ngõ hẹp, người ta không chịu nổi cảnh nghèo hèn mà lo buồn, còn Nhan Hồi không thay đổi điều vui của mình. Hiền thay, Nhan Hồi! Đó là chỉ biết có Đạo mà không biết đến ngoại vật, nên không bị ngoại vật làm lụy.

 

 

 

 

HỮU PHƯỚC LỆ DUNG

Bên trên hành lang về phía nam phái của Báo Ân Từ có khuôn hình lấy tích “Hữu Phước Lệ Dung”.

Hữu Phước là một đứa bé mồ côi cha mẹ, nghèo khổ, không nhà cửa, không bà con thân thuộc, sống lang thang khắp thôn xóm. Tuy xuất thân nghèo khổ nhưng Hữu Phước là một đứa bé thông minh, ham học.

Vào một năm nọ, trong làng có loạn, Hữu Phước cùng dân chúng chạy lánh nạn qua xứ khác. Không tiền và chẳng có nơi nương tựa, Hữu Phước đành vào trú ngụ ở một miếu thổ địa, ngày đi kiếm củi để độ nhựt.

Ngày kia, Hữu Phước đi kiếm củi về, thấy một nàng con gái đẹp, sang trọng đang ở trong miếu. Hỏi ra, anh mới biết nàng tên là Lệ Dung, con quan tuần phủ. Vì nàng chiêm bao mấy đêm liền thấy Thần thổ địa bảo phải đến giúp đỡ cho chàng và cho biết hai người có duyên nợ với nhau. Hữu Phước thấy mình không xứng đáng, nên từ chối.

Lệ Dung phải ngầm giúp đỡ, bằng cách nhờ người tới mua số củi của Hữu Phước với giá cao, một mặt sai kẻ thân tín lân la đến làm quen rồi giúp áo quần, sách vở và nhứt là động viên Hữu Phước học tập. Sau một thời gian yên ổn về việc ăn mặc, Hữu Phước mới đủ tinh thần ra công học tập. Đến kỳ thi Hương, Hữu Phước thi đậu, sang kỳ thi Hội, Lệ Dung đến miếu thổ địa giúp cho chàng một số tiền để lên kinh ứng thí.

Trong khi đó gia đình Lệ Dung bỗng có biến, cha bị bắt vì hàm oan, mẹ buồn thảm sinh bịnh rồi mất. Còn nàng gặp cảnh tang biến đau buồn nên khóc lóc thái quá, mà sinh ra mù loà, phải vào miếu thổ địa tạm sống để đợi chờ tin của Hữu Phước.

Trời cao chẳng phụ người hiền đức, ngày kia Hữu Phước được vua ban áo mão, trở về làng với một nghi lễ rình rang của vị quan Trạng. Khi chàng vào miếu định bái thổ thần thì mới gặp Lệ Dung, hai người gặp gỡ nhau, mừng mừng tủi tủi.

Rồi sau đó, Hữu Phước được vua ân tứ cho kết duyên với Lệ Dung, và cho xét lại cái án của quan tuần phủ, thấy hàm oan nên vua tha bổng. Trước khi rước Lệ Dung về kinh nhậm chức, Hữu Phước mới cho trùng tu lại miếu thổ địa, một ngôi miếu linh thiêng trong làng, một nơi đã giúp cho chàng được vinh hiển.

Nhà thơ Huệ Phong trong quyển Báo Ân Từ đề sự tích nầy như sau:

Hữu Phước nghèo thương thân côi cút,

Miếu địa nhờ tạm lúc ở yên.

Lệ Dung lén giúp sách tiền,

Kinh kỳ mở hội Trạng nguyên đỗ đầu.

 

 

 

 

KỆ CHUÔNG

Kệ 偈 là những bài thi ngắn hay dài, dùng để tóm tắt đại ý một đoạn kinh, một bài thuyết pháp, hoặc để ca ngợi công đức Phật, Bồ Tát. Kệ cũng là những bài ca chứng đạo của các vị thiền sư bên Phật giáo.

Chuông là một loại từ khí trong các chùa được dùng trong lễ nhạc hoặc dùng trong đàn cúng.

Trong Đạo Cao Đài có hai loại chuông:

1 - Gia trì chung là loại chuông nhỏ, sử dụng trong đàn cúng, làm hiệu lệnh trong đàn cúng để mọi người cúi đầu hoặc bái lạy.

2 - Đại Hồng chung, còn gọi là chuông U minh, là một loại chuông lớn, được treo trên giá, đặt bên trái, phía ngoài của Chánh điện hay trên lầu chuông.

Tiếng Đại Hồng chung có mục đích cảnh tỉnh người nghe mà tỉnh thức quay về với thực tại hiện tiền, chúng ta ở cõi trần nầy thường bị màn vô minh che lấp, nhờ tiếng chuông đánh thức để trở về với thực tại. Tiếng chuông còn là một thông điệp đến với chúng ta để nhắc nhở chúng ta hãy nhiếp tâm quay về với chánh niệm. Riêng trong đạo Cao Đài, âm thanh của tiếng chuông U minh cũng có công năng vang thấu để độ các tội hồn dưới cõi Phong đô.

Trong các chùa bên Phật giáo, thường có câu: “Mộ cổ thần chung 暮 皷 晨 鐘” có nghĩa là ở các chùa buổi chiều đánh trống, buổi sáng đánh chuông.

Chuông trống trong các ngôi chùa khi công phu có mục đích là hàng ngày buổi sáng và buổi chiều cảnh tỉnh cho chúng sanh được giác ngộ.

Liễn các ngôi Phật tự thường có viết:

Mộ cổ thần chung, cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách,

暮 皷 晨 鐘. 警 省 爱 河 名 利 客

Triêu kinh vãng kệ, hoán hồi khổ hải mộng mê nhân.

朝 經 往 偈. 換 回 苦 海 夢 迷 人

Nghĩa là:

- Tối trống sáng chuông, để cảnh tỉnh các khách còn ham danh lợi nơi cõi ái hà,

- Sớm kinh chiều kệ, nhằm kéo về những người đang mê mộng ở chốn bể khổ.

Sau đây chúng ta thử tìm hiểu về các bài kệ chuông.

Trong nghi thức cúng Đàn của đạo Cao Đài, Kệ chuông là những bài kệ dùng để ngâm trước khi dọng chuông U minh. Tùy theo đàn cúng, có nhiều bài kệ chuông, như Kệ chuông Đại, Tiểu đàn hay Kệ chuông Cúng Tứ Thời.

A - KỆ CHUÔNG ĐẠI TIỂU ĐÀN:

Thần chung thinh hướng phóng phong đô,

 

神 鐘 聲 向 放 酆 都

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

 

地 藏 開 門 放 赦 辜

Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,

 

三 期 運 轉 金 光 現

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

 

懺 悔 陰 魂 出 幽 途

Giải nghĩa:

 

Câu 1:

 

Tiếng chuông thiêng liêng hướng đến cõi Phong đô.

 

Câu 2:

 

Đức Địa Tạng Vương mở cửa phóng thích các tội hồn.

 

Câu 3:

 

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vận chuyển làm hiện ra lằn Kim quang.

 

Câu 4:

 

Những âm hồn ở Phong đô sám hối được ra khỏi cõi tối tăm bằng con đường của lằn kim quang đó.

B - KỆ CHUÔNG CÚNG TỨ THỜI:

a. Kệ chuông nhứt:

Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn,

 

聞 鐘 叩 向 惠 長 乾 坤

Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

 

法 界 眾 生 同 登 彼 岸

Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

 

按 伽 囉 帝 夜 娑 婆 訶

Giải nghĩa:

 

Câu 1:

 

Nghe tiếng chuông vang lên, cúi mình hướng về ân huệ lớn của Trời đất. (Chú thích: Chữ Huệ có hai nghĩa: 惠 Huệ là ân, 慧 Huệ là trí huệ). Theo thiển ý, chữ 惠 Huệ đúng nghĩa hơn.

 

Câu 2:

 

Chúng sanh trong pháp giới (Cõi trần) cùng lên bờ bỉ ngạn (Giải thoát).

 

Câu 3:

 

Câu mật chú có nghĩa là cầu nguyện cho chúng sanh được tiêu tai, tăng phước, thành tựu Phật đạo, cầu cho chư Phật chứng minh.

b. Kệ chuông nhì:

Nhứt vi u ám tất giai văn,

 

一 圍 幽 暗 必 皆 聞

Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác.

 

一 切 眾 生 成 正 覺

Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

 

按 伽 囉 帝 夜 娑 婆 訶

Giải Nghĩa:

 

Câu 1:

 

Tất cả âm hồn trong cõi Phong đô tất đều nghe biết,

 

Câu 2:

 

Tất cả chúng sanh đều thành Phật.

 

Câu 3:

 

Câu mật chú, cầu nguyện cho chúng sanh được tiêu tai. Tăng phước, thành tựu Phật đạo, cầu cho chư Phật chứng minh.

c. Kệ chuông bãi đàn:

Đàn tràng viên mãn, Chức sắc quy nguyên.

 

壇 場 圓 滿, 職 色 歸 元

Vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận,

 

永 沐 慈 恩, 風 調 雨 順

Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an,

 

天 封 海 眾, 國 泰 民 安

Hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới,

 

回 向 壇 場, 盡 收 法 界

Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

 

按 伽 囉 帝 夜 娑 婆 訶

Giải nghĩa:

 

Câu 1:

 

Đàn cúng đã trọn vẹn, chức sắc trở lại chỗ cũ, luôn được gội nhuần ân Chí Tôn, Phật Mẫu, được mưa hoà gió thuận.

 

Câu 2:

 

Trời ban cho dân chúng nước thịnh dân an, hồi hướng công đức nơi đàn cúng, thâu hết các pháp giới (tức các cõi giới).

 

Câu 3:

 

Câu mật chú, cầu nguyện cho chúng sanh được tiêu tai. Tăng phước, thành tựu Phật đạo, cầu cho chư Phật chứng minh.

Chú thích:

Vĩnh mục hay Vĩnh mộc.

Chữ 目 Mục là mắt, chữ 沐 Mộc là tắm gội. Theo thiển ý, chữ 沐 Mộc đúng nghĩa hơn.

 

 

 

 

ĐẠI HỒNG CHUNG

Đại Hồng chung là một loại chuông lớn, có lòng rỗng, thành cao, miệng loa tròn, thường có quai để treo trên giá, tiếng chuông phát ra trong và ngân dài.

Trong đạo Cao Đài nơi Tòa Thánh Tây Ninh hay các Thánh Thất địa phương đã hoàn chỉnh, Đại Hồng Chung được treo trên giá chuông, miệng úp xuống và đặt tại lầu chuông, gọi là Bạch Ngọc Chung Đài 白 玉 鐘 臺, nên người trong Đạo còn gọi Đại Hồng Chung là “Bạch Ngọc Chung 白 玉 鐘” (hay chuông Bạch Ngọc).

Đại Hồng Chung là một pháp bảo thiêng liêng, khi dọng âm thanh vang xa, có sức lan tỏa rất lớn đến đời sống tâm linh của con người chung quanh và mọi cảnh giới. Tiếng chuông, theo kinh điển, có thể thấu đến cõi Phong đô, chúng sanh nào bị đọa nơi địa ngục nhờ nghe tiếng chuông này mà sám hối, liền được giải thoát. Vì thế Đại Hồng Chung còn được gọi là “U Minh chung 幽 暝 鐘” (hay chuông U Minh).

Chính vì vậy, trong đạo Cao Đài bài Kệ Chuông Đại, Tiểu Đàn có câu:

Thần chung thinh hướng phóng phong đô,

 

神 鐘 聲 向 放 酆 都

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

 

地 藏 開 門 放 赦 辜

Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,

 

三 期 運 轉 金 光 現

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

 

懺 悔 陰 魂 出 幽 途

Giải nghĩa:

Tiếng chuông thiêng liêng hướng đến cõi Phong đô.

Đức Địa Tạng Vương mở cửa phóng thích các tội hồn.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vận chuyển làm hiện ra lằn Kim quang.

Lằn Kim quang đó làm con đường để những âm hồn ở Phong đô sám hối được ra khỏi cõi tối tăm (U đồ).

Chúng ta cần để ý trên quai và thành bất kỳ một quả Đại Hồng Chung nào cũng đều được đúc những hình ảnh hoặc trang trí hoa văn tượng trưng cho nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Người đúc chuông ngày xưa có quan niệm rằng muốn đúc Đại Hồng chung kêu to, thì phải đúc hình con bồ lao trên chóp chuông để làm cái quai.

Bồ lao 蒲 牢 theo một số tài liệu, còn gọi là “Đồ lao 徒 劳”, là một giống rồng và là một trong số chín con rồng (Long sinh cửu tử). Theo truyền thuyết, bồ lao thích âm thanh lớn và thích "gầm rống", và vì thế theo truyền thống được đúc trên quai chuông đặt ở nhiều nơi, như tại Trung Quốc, Việt Nam, và nó được sử dụng như là một cái quai treo chuông.

Lời chú trong bài phú của Ban Cố có chép rằng: Giữa biển có một loại cá, gọi là cá kình rất lớn, trong bờ gần biển có một loại thú gọi là bồ lao. Con bồ lao rất sợ cá kình. Mỗi lần cá kình lội vào bờ để đánh bồ lao thì bồ lao kêu rống to lên. Vì thế, muốn làm chuông kêu to thì người ta đúc con bồ lao ở trên đỉnh chuông và chày đánh chuông được chạm hình cá kình, gọi là chày kình.

Trong Thi Văn Dạy Đạo có nói đến chày kình:

Khuôn đời chưa dễ tạo nên hình,

Tóc bạc còn mờ lối nhục vinh.

Hòn ngọc khó đem trau Thánh chất,

Cân vàng khôn lấy nện CHÀY KÌNH.

Phước Trời gieo sẵn còn giao kết,

Lợi thế chưa nên xúm giựt giành.

Thời cuộc tuần hoàn tai ách khởi,

Liệu mà xông lướt, liệu đua tranh

 

 

 

 

KINH VÔ TỰ

Khi nghiên cứu về Kinh sách của Đạo Cao Đài, chúng ta thấy có hai bài kinh nói đến “Kinh Vô Tự” có ý nghĩa khác nhau. Vậy chúng ta thử tìm hiểu danh từ nầy.

Kinh là lời của các bậc Thánh hiền, hoặc chư Tiên Phật để lại. Vô tự là không có chữ viết.

Nghĩa đen Kinh Vô Tự, hay “Vô Tự Kinh 無 字 經”, là một quyển Kinh, trong ấy không có chữ viết.

1 - Trong quyển kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, bài Đệ Ngũ Cửu có đoạn viết:

Đài Chiếu Giám cảnh minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

Lần vào cung Ngọc Diệt Hình,

Khai Kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên.

Trường hợp nầy Kinh Vô Tự là một quyển kinh rất huyền diệu nơi cõi thiêng liêng, trong đó không có chữ viết để bất cứ một chơn hồn nào khi đứng trước quyển kinh nầy, thì chữ mới bắt đầu hiện ra, để chơn hồn xem cái quả duyên của mình.

Theo bài Đệ Ngũ Cửu, Chơn hồn đến cõi Xích Thiên, đi vào Cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển “Kinh Vô Tự” ra xem thì chữ viết mới hiện ra, trong đó ghi rõ lý lịch của chơn hồn và ghi những hành tàng thiện ác của chơn hồn trong kiếp đương sanh ở nơi cõi thế gian.

Quyển Kinh Vô Tự nầy được Đức Hộ Pháp nói đến trong Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, đêm 26 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (Dl. 23/2/1949) như sau: “Nếu khi về được rồi thân nhân của chúng ta dắt chúng ta đến một Cung có một quyển sách Thiên thơ để trước mặt ta, dở ra xem thấy tên mình và kiếp sanh của mình đã làm gì thì trong quyển Thiên thơ ấy nó hiện tượng ra hết. Chúng ta tự xử chúng ta, mình làm tòa để xử cho mình, hoặc mình phải đầu kiếp hay là đoạt đến địa vị nào, mình đứng đến mức nào, thì cũng do mình định đoạt lấy”.

2 - Trong phần kinh Thế Đạo, bài Kinh Nhập Hội có đoạn viết:

Cơ chuyển thế khó khăn lắm nỗi,

Mượn Thánh ân xây đổi cơ đời.

Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời,

Câu Kinh Vô Tự độ người thiện duyên.

Trong trường hợp nầy, Kinh Vô Tự, hay “Vô Tự Kinh 無 字 經”, là quyển kinh không có chữ viết, nhưng hiểu theo nghĩa bóng tức là những lời thuyết đạo, thuyết giáo lý, thuyết pháp…

Trong bài “Làm người đứng giữa xã hội phải tìm phương lập vị mình”, Đức Hộ Pháp có thuyết: Chúng ta mang danh ra trước thời kỳ ngộ Đạo, đứng giữa con đường Đức Chí Tôn đi ngang qua đầu chớ không thấy hình ảnh của Ngài, nhưng chúng ta cũng hưởng được mùi vị sống, mùi vị thiêng liêng của Ngài chỉ biết được điều mượn mảnh hình hài xác thịt này làm con thuyền Bát Nhã độ thế cứu đời, lấy cả khối trí óc tinh thần này làm câu Kinh Vô Tự đặng chuyển cả tinh thần loài người tiến triển trên mặt nhơn đạo của họ, đặng bảo thủ cái sống còn trên mặt thế gian nầy, đem mảnh thân nầy đưa trong tay Đức Chí Tôn cho Ngài lập phương cứu khổ, chẳng phải sống của đời mà thôi, chúng ta còn đảm nhiệm cái sứ mạng thiêng liêng quí hóa hơn trước, chúng ta còn lấy linh hồn chúng ta làm mực thước đặng cứu vớt các linh hồn sa đọa làm cho họ có danh giá cao trọng.

Và trong bài "Dạy Phương Pháp Giảng Đạo", Đức Hộ Pháp cũng có nói như sau: Tôi buộc mấy anh em, chị em, tập cho quen dạn, Ðạo sau nầy muốn truyền ra thiên hạ cần phải thuyết. Ðó là VÔ TỰ KINH, viết sách truyền bá không bằng thuyết giảng, cần phải có niêm luật.

Trong thời kỳ Hạ nguơn, nhơn loại mãi đua theo văn minh vật chất, nên có xu hướng trọng thực tiển, ít để tâm đến đạo đức tinh thần trong kinh sách. Vì vậy, khi đạo Cao Đài khai mở, Chí Tôn thường dạy các bậc tiền khai hãy đem lời Thánh giáo Chí Tôn truyền đạt cho sanh chúng bằng những đàn thuyết đạo. Ngài nói: “Dầu cho sắt đá cỏ cây mà nghe Thánh ngôn của Thầy nơi con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người”.

Đây chính là Vô Tự kinh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, một phương cách rất thuận lợi cho việc phổ độ trong thời bấy giờ.

 

 

 

 

PHÒNG XƯA LÁNH HỚN

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đàn cơ ngày 5 tháng Giêng năm Đinh Mão (Dl. 06/02/1927), Đức Lý Thái Bạch ban cho một vị Đạo tên Phòng một bài thi như sau:

Phòng xưa lánh Hớn biết hưng suy,

Người có trí ngoan biết thế thì.

Ðất khách tuy rằng nương náu phận,

Ðồng môn khá nghĩ nghĩa đồng chi.

Câu đầu của bài thi trên, chữ “Phòng” là tên của người dự Đàn cơ. Ngoài ra Đức Lý Giáo Tông cũng dùng để chỉ điển tích “Phòng xưa lánh Hớn”, tức là Trương Tử Phòng ngày xưa lánh nhà Hớn.

Theo Sử Ký, Trương Tử Phòng tức Trương Lương theo giúp Hớn Bái Công đánh Tần rồi diệt Sở, mà tại sao Đức Lý Thái Bạch lại viết “Phòng xưa lánh Hớn”?

Phòng xưa lánh Hớn, ở đây ý Ngài muốn nói đến Trương Tử Phòng ngày xưa lánh khỏi hoạ giết công thần của vua Hớn Cao Tổ.

Xét lại lịch sử ta thấy Tử Phòng, tức là tên tự của Trương Lương, người nước Hàn. Khi Tần Thủy Hoàng đánh tan nước Hàn, sáp nhập vào nước Tần, Trương Lương bèn tìm cách phục thù, dùng tiền thuê một võ sĩ lén giết vua Tần. Việc thích khách Tần Thủy Hoàng tại Bác Lãng bị thất bại, Trương Lương phải cải trang, đổi tên họ trốn tránh ở Hạ Bì.

Tại cầu Hạ Bì, nhờ ý chí nhẫn nại, Trương Lương dâng dép ba lần cho Hoàng Thạch Công, nên được ông trao cho quyển Thái Công Binh pháp. Nhờ quyển Binh pháp nầy mà Trương Tử Phòng sau giúp cho Hán Bái Công đánh Tần Thủy Hoàng rồi diệt Sở Bá Vương Hạng Võ, dựng nên nghiệp nhà Hớn.

Sau khi diệt được Sở, Lưu Bang lên ngôi, xưng hiệu là Hớn Cao Tổ, rồi phong cho Trương Lương là Lưu Hầu. Trương Lương là người theo Đạo giáo, hiểu rõ triết lý “Công thành thân thối 功 成 身 退”, có nghĩa là việc đã thành công rồi, phải dừng lại ngay, nên dù vua nhà Hớn ban cho chức trọng quyền cao, nhưng vẫn xin trả chức để trở về sống ẩn dật. Đó cũng là mưu kế khôn ngoan của Trương Tử Phòng lánh khỏi cái hoạ nhà Hớn giết hại công thần.

Việc Trương Tử Phòng từ bỏ danh lợi trong lúc đang được hưởng, tìm chốn an nhàn để ẩn dật, chính là cái chước lánh khỏi họa giết công thần của vưa Hớn Cao Tổ được kinh sách, các tác phẩm trong đạo Cao Đài nói đến rất nhiều.

Trong Thi Văn Dạy Đạo có lời khen Trương Lương như sau:

Lộc Hớn từ vinh Trương học chước,

Cầm đường tiếng hạc phủi muôn chung.

Thực vậy, trước những thứ như tước lộc của vua ban cho mà chính ông đã theo phò vua lập nhiều công trận, đáng lý phải ở lại hưởng thụ, nhưng Trương Lương học theo chước của các Đạo gia là “Công thành thân thối” nên từ bỏ tất cả những sự vinh hiển.

Đức Hộ Pháp cũng cho rằng: Lánh Hớn Cao Tổ trong khi nhà vua ban cho chức tước, bổng lộc, Trương Tử Phòng không nhận chưa phải là người dại dột:

Lánh Hớn, Tử Phòng chưa phải dại,

Về Tào, Từ Thứ cũng là khôn.

Nói về những bậc “công thành thân thối”, tức là lo cho quốc dân xong mà không ở lại thụ hưởng, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn viết: "Nếu gặp chúa xứng đáng, biết dụng nhơn, xem phải đạo minh quân lương tể, thì cái chí hướng của người quân tử đã đạt. Nhưng Công thành thì Thân thối; cái thích của họ là sự gầy dựng của mình đã được hoàn thành lấy sự vui của muôn dân làm phần thưởng cho mình, chớ không cần phú quý vinh hoa của người đền đáp.

Bởi vậy, khi làm cho nên nước Ngô rồi thì Tôn Võ Tử ẩn sĩ từ quan, giúp Việt Vương được nghiệp cả trùng hưng thì Phạm Lãi dạo chơi Ngũ Hồ, gầy dựng xong cho Lưu-Bang thì Trương Tử Phòng ẩn chốn núi non, vui cùng tứ hạo. Những bậc vĩ-nhân ấy là cái tinh hoa của trời đất để làm gương mẫu cho đời. Cái chí lập quốc cứu dân của họ sánh với bực Thần Tiên, mồi danh bả lợi không lay chuyển được. Có khi lại dám liều cả tánh mạng để cho đời biết chí cao thượng của mình như Giới Tử Thôi đời chiến quốc! Chúng ta xem qua cái tiết tháo của người xưa đáng kính phục là dường nào!".

 

 

 

 

THÀNH BÌNH ĐỊNH VÕ TÁNH THIÊU MÌNH

Bên phía trong hành lang Nam phái nơi Báo Ân Từ có vẽ khuôn hình lấy tích “Thành Bình Định Võ Tánh thiêu mình”

Võ Tánh vốn là người làng Phước An, Biên Hoà, sau dời về ở tại Bình Dương, Gia Định. Vì không chịu khuất phục Tây Sơn, ông chiêu tập nghĩa binh cùng với anh là Võ Nhàn phất cờ khởi nghĩa tại thôn Vườn Trầu (Gia Định), rồi kéo binh chiếm cả vùng Gò Công.

Võ Tánh về theo Nguyễn Vương từ năm Mậu Thân (1788), lãnh chức Tiên Phong Dinh Khâm Sai Chưởng Cơ và được Nguyễn Vương gả em gái là Ngọc Du Công chúa cho.

Nguyễn Vương lần lần đánh thắng quân Tây Sơn, thâu phục miền Nam, rồi kéo binh ra miền Trung, hạ thành Bình Định. Khi Nguyễn Vương rút quân về Gia Định, giao thành Bình Định lại cho Hậu quân Võ Tánh và Lễ Bộ Tham Tri Ngô Tùng Châu ở lại lo việc phòng giữ.

Chẳng bao lâu đại binh Tây Sơn dưới quyền Thái Phó Trần Quang Diệu và Đại Tư Đồ Võ Văn Dũng kéo đến vây thành. Võ Tánh một mặt cố thủ, mặt khác sai tướng Lê Chất về Gia Định để cấp báo cho Nguyễn Vương. Nguyễn Vương đưa binh ra cũng không thể giải cứu nổi thành và cuộc bao vây kéo dài đến 14 tháng.

Trong khi cầm cự để giữ chủ lực Tây Sơn ở Bình Định, Võ Tánh đã giúp Nguyễn Vương cơ hội đánh lấy thành Phú Xuân rất dễ dàng.

Về sau, bị vây hãm một cách gắt gao hơn, quân sĩ trong thành thiếu lương thực càng lâm vào một tình thế hết sức nguy ngập, có người khuyên Võ Tánh nên vượt vòng vây trốn ra, nhưng ông không chịu, thà chết với thành trì.

Võ Tánh viết một bức thư cho hai tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng, yêu cầu xin tha mạng cho các quân sĩ và nhân dân vô tội.

Tiếp đó, Võ Tánh mặc triều phục, hướng về Nam lạy Nguyễn Vương rồi giã từ các tướng sĩ, đi lên lầu Bát Giác, phóng hoả tự thiêu. Quan Hiệp Trấn là Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự tử. Hôm ấy là ngày 27 tháng 5 năm Tân Dậu (Dl. 07-07-1801).

Trần Quang Diệu đem quân vào thành, khâm phục trước tấm gương tiết liệt của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, sai người khâm liệm hai người tử tế và y theo lời cầu xin của Võ Tánh, tha chết cho các binh lính và dân chúng trong thành.

Nhà thơ Huệ Phong trong quyển Báo Ân Từ có cảm tác:

Lửa tinh trung thiêu mình Võ Tánh,

Khuyên Nguyễn Vương đừng đánh giải vây.

Lấy Phú Xuân, cơ hội này,

Dọn đường phục quốc quân Tây kinh hồn.

 

 

 

 

THIÊN LƯƠNG

Trong Kinh Giải Oan có đoạn viết:

Luật nhơn quả để răn Thánh đức.

Cửa luân hồi nhắc bực cao siêu

Dầu chăng phải mực Thiên điều,

Cũng quyền tự chủ dắt dìu Thiên Lương.

Câu “Cũng quyền tự chủ dắt dìu thiên lương” có nghĩa là con người sống ở cõi thế gian, được quyền tự mình làm chủ lấy mình, theo sự dẫn dắt của Thiên lương, hay nói một cách khác, tùng theo Thiên lương mà tự mình định đoạt lấy số phận của mình.

Như vậy, Thiên lương nơi con người là một vị vua cầm vận mạng của con người, là tiếng nói của lẽ phải, tiếng nói của chơn lý, tức là tiếng nói của Trời. Nếu Thiên lương sáng suốt thì vận mệnh con người tốt đẹp, còn nếu Thiên lương mờ tối, bị thất tình, lục dục cám dỗ đưa vào con đường sa đọa thì vận mệnh con người sẽ khuynh nguy.

Thiên lương được sáng suốt mãi hay là trở nên mờ tối là do nơi con người biết nuôi nấng, nâng cao nó lên hay là đàn áp làm cho nó bị che lấp mất.

Nên để ý rằng trong mọi người chúng ta, người dầu sang hay hèn, Thánh nhân hay Phàm nhân thì Thiên Lương của Thượng Đế ban cho đều có sự sáng suốt ngang nhau không khi nào chênh lệch. Vì lẽ đó, nếu mỗi người ai cũng theo Thiên lý mà tu dưỡng và hành động thì cả thảy đặng được trọn lành.

Vậy Thiên lương là gì?

Thiên lương 天 良 là cái phần tốt đẹp và thiện lành mà Trời ban cho con người. Nhờ sự hướng dẫn của Thiên lương, con người hành động mới hợp theo thiên lý. Thiên lương chính là lương tâm của con người vậy.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Lương tâm của các con là một khiếu Thiêng Liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức. Làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật”.

Và trong bài thuyết đạo của Đức Hộ Pháp cũng có viết: “Lương tâm là thiên lương trời mới nảy tánh, cái khôn ngoan đặc sắc của loài người đối cùng vạn vật của cơ tấn hóa. Nhờ khôn ngoan ấy mới có tư tưởng biến sanh hầu thay thế cho Trời, tô điểm vẽ vời cho đời thêm tốt đẹp. Thiên lương ấy mới thiệt là ta. Nó đã do nơi khối Chí linh của Trời mà sản xuất, thì nó là con của Trời, tức nhiên nó là Trời. Nếu do nó mà tín ngưỡng thì mình do Trời mà tín ngưỡng. Mình thờ nó tức thờ Trời. Ngoài nó ra, chẳng ai biết Trời; ngoài trời ra không ai biết nó”.

Thiên lương hay Lương tâm vốn tịnh, là tánh Trời phú cho để làm chủ tể của con người. Nhưng khi sống ở thế gian, thân nhiễm vật chất rồi khiến cho Tâm phải động, khi Tâm bị động thì được gọi là ý. Ý có khuynh hướng vật chất, nên sinh dục vọng, là mối loạn cho Tâm, khiến Lương Tâm trở nên mê mờ, không làm chủ thân được.

Vả lại tâm là của hình thể, chỉ ra lịnh khiến chớ không chịu lịnh sai. Bên trong tuy có năng lực thiêng liêng nhưng bên ngoài có thất tình lục dục, nếu tâm không có phương gì làm chuẩn đích thì thường hay bị cám dỗ, ngã theo điều tà vạy, tạo ra việc bất đức vô nhân.

Như vậy, muốn Thiên lương sáng suốt để dẫn dắt con người, Nho Giáo dạy con người phải Thành ý và Chánh tâm.

Thành ý là phải sửa ý trở nên chơn thật, tức là trừ tuyệt sự ham muốn vọng động của ý, lúc đó ý trở về với Tâm thanh tịnh.

Chánh tâm là phép sửa đổi cho Tâm được ngay lành. Muốn vậy, bên ngoài thì phải ngăn giữ ngũ giác quan cho ngay chính, bên trong thì phải trừ tuyệt những mê chấp thâm nhập nội giới của tâm.

Nếu Thiên lương trở về với bản thể tự nhiên thì lúc ấy nó sẽ sáng suốt dẫn dắt nhơn thân theo con đường Thiên lý. Như vậy con người mới tự làm chủ lấy cuộc đời của mình theo sự dìu dẫn tốt đẹp của Thiên lương.

 

 

 

 

THẤT NƯƠNG KHÊU ĐUỐC ĐẠO ĐẦU

Trong bài “Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu” có những câu:

Đắc truyền khai mối Tam Kỳ,

Dưới tay cậy có Diêu Trì Cửu Nương.

Hoặc:

Thất Nương khêu đuốc Đạo đầu,

Nhờ Người gợi ánh nhiệm mầu huyền vi.

Căn cứ những câu kinh trên, ta thấy Bà Thất Nương Diêu Trì Cung là Đấng Tiên Nương có công khơi sáng lên ngọn đuốc đầu tiên để khai mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Ngọn đuốc được ví như nguồn Đại Đạo. Ánh sáng ngọn đuốc xem như ánh sáng của nền Đại Đạo dùng để soi sáng tâm linh của chúng sanh còn đang mê mờ, tăm tối trong thời kỳ hạ nguơn mạt pháp nầy.

Thật vậy, trong thời hạ nguơn mạt pháp, cõi thế gian bị chìm trong cảnh tăm tối của thiên tai, của bệnh tật, của khổ não, Thất Nương Diêu Trì Cung đắc lịnh của Đức Phật Mẫu khơi lên ngọn đuốc Đại Đạo cho cháy bùng để ánh sáng xóa tan màn tăm tối, hầu dẫn dắt chúng sanh thoát cảnh mịt mờ, đi theo nẻo chánh đường chơn mà trở về với ngôi xưa vị cũ.

Theo lịch sử xây bàn, Thất Nương là vị Tiên Nương, có một kiếp giáng trần tại Việt Nam là cô Vương Thị Lễ.

Vương Thị Lễ là con gái ông Vương Quang Trân và Bà Đỗ Thị Sang, cháu gọi ông Vương Quang Kỳ bằng chú và là cháu ngoại của ông Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương.

Cô Vương Thị Lễ sinh ngày 08 tháng 01 năm Canh Tý, 1900 tại Chợ Lớn, mất năm 1918 sau cơn bệnh nặng, lúc ấy cô mới mười tám tuổi. Cô học tại trường Sainte Enfance, trình độ Brevet Élémentaire. Cô được chôn trong ngôi mộ ở vườn Bà Lớn cạnh đường Phan Thanh Giản, thuộc Ngã bảy Sai gòn. Năm Mậu Thân 1968, mộ được lấy cốt thiêu để thờ. Hiện nay đất ấy thuộc khu Chung cư Nguyễn Thiện Thuật ở Quận Ba.

Trong đêm xây bàn ngày mùng 10 tháng 06 năm Ất Sửu (30-07-1925) tại nhà Ngài Cao Hoài Sang gần chợ Thái Bình Sài Gòn, Cô Vương Thị Lễ mượn tên Đoàn Ngọc Quế giáng cho ba ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang một bài thi Tự Thuật, ba ông đều có họa lại. Rồi sau đó cô có kết làm anh em với ba ông.

Từ đó cô Vương Thị Lễ thường xuyên dùng văn chương, thi phú để dẫn dắt ba ông theo con đường Đạo đức, hầu sau nầy các vị ấy trở thành những vị Tiền khai của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức Đạo Cao Đài ngày nay.

Như vậy, Bà Thất Nương Diêu Trì Cung đắc lệnh của Đức Phật Mẫu giáng huyền cơ thâu phục ba vị phò loan là Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư và Cao Hoài Sang để Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu dìu dẫn ba vị này khai mở nền Đại Đạo.

Thật vậy, trong quyển Đạo Sử của bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Cửu Thiên Huyền Nữ, tức là Đức Phật Mẫu có giáng cơ vào ngày 27/10 năm Ất sửu như sau: “Mùng một này, tam vị đạo hữu Vọng Thiên cầu Đạo”.

Đến ngày mùng 1 tháng 11, Đức Chí Tôn mới dạy ba vị phò loan “phải Vọng Thiên Cầu Đạo. Tắm gội cho tinh khiết, ra quì giữa Trời, cầm 9 cây nhang mà vái rằng: Ba tôi là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, vọng bái Cao Đài Thượng Đế, ban ơn đủ phước lành cho ba tôi cải tà qui chánh”.

Như vậy nhờ sự dìu dắt của Thất Nương, lời dạy của Cửu Thiên Huyền Nữ và nhứt là lệnh của Đức Chí Tôn, kể từ ngày ấy, ba vị phò loan trở thành Thiên sứ khai nền Đại Đạo.

 

 

 

 

NGƯỜI TÁNH LINH HƠN VẬT

Trong Kinh Sám Hối có đoạn viết:

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,

Mà dể duôi sanh biếng lăng loàn.

Con người có trí khôn ngoan,

Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi,

Con người là một sinh vật trong vũ trụ, cũng như sinh vật khác, nó có sự sinh ra, có sự trưởng thành và có sự hủy diệt. Nhưng con người có ý thức, có trực giác, biết suy tư và nhứt là biết đường nhơn nghĩa, đạo lý. Như vậy, con người là một sinh vật cao hơn với những sinh vật khác về phần hiểu biết.

Vì vậy, Tuân Tử có nói: Thủy hỏa hữu khí nhi vô sinh, thảo mộc hữu sinh nhi vô tri, cầm thú hữu tri nhi vô nghĩa, duy nhơn giả hữu khí, hữu sinh, hữu tri diệc hữu nghĩa, cố vi thiên hạ quý 水 火 有 氣 而 無 生, 草 木 有 生 而 無 知, 禽 獸 有 知 而 無 義, 惟 人 者 有 氣, 有 生, 有 知 亦 有 義, 故 為 天 下 貴 nghĩa là nước lửa có khí mà không sinh, cây cỏ có sinh mà không hiểu biết, cầm thú có hiểu biết mà vô nghĩa, duy chỉ có con người có khí, có sinh, có hiểu biết và cũng có nghĩa, cho nên người là quý nhứt trong thiên hạ.

Sự cao quý của con người là nhờ cái linh năng sáng suốt, linh năng nầy Phật giáo gọi là Phật tánh, Nho giáo gọi là Thiên tánh và Lão giáo gọi là Linh quang. Cái Linh năng nầy, theo triết lý Cao Đài, là một Tiểu Linh quang tách ra từ khối Đại Linh quang của Đấng Tạo Hóa hay Đức Chí Tôn.

Con người là một Tiểu Thiên địa hay Tiểu Vũ trụ, nên thân người cũng gồm đủ âm dương, tam bửu, ngũ hành. Sở dĩ con người là một Vũ trụ nhỏ, là vì thân người cũng gồm đủ Thái cực, Âm dương, Tam bửu, Ngũ hành và các lẽ mầu nhiệm của Trời Đất, vì vậy mà sách Lễ Ký nói rằng: Nhơn giả kỳ vi Thiên địa chi đức, Âm dương chi giao, Quỷ thần chi hội, Ngũ hành chi tú khí dã 人 者 其 為 天 地 之 德, 陰 陽 之 交, 鬼 神 之 會, 五 行 之 秀 氣 也, nghĩa là người ta là đức Trời Đất, chỗ giao cảm khí Âm dương, chỗ hội tụ Quỷ thần, và những tú khí Ngũ hành.

Trời đất (Càn khôn) do Âm Dương sinh hoá thì con người cũng do Âm Dương phối hợp mà thành.

Hễ Trời có tam bửu là Nhựt Nguyệt Tinh, đất có tam bửu là Thủy hoả Phong, thì con người cũng có tam bửu là Tinh Khí Thần.

Hễ Trời có Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, hoả, Thổ, Đất có Ngũ phương là Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương, thì người cũng có Ngũ tạng là Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Nếu không có ngũ hành và ngũ phương thì không có Càn khôn Thế giới, còn nếu không có ngũ tạng thì cũng không có con người.

Tóm lại, con người cũng giống như trời đất, cho nên mới được gọi là một “Tiểu Thiên Địa”.

Con người còn là một yếu tố trong Tam tài là thiên, địa, nhơn (Trời, đất, người). Sở dĩ con người đạt được địa vị ấy là vì con người được Trời đất sinh ra và ban cho một đức tính rất cao quí, rất thiêng liêng, hay nói khác đi người chịu cái đức của Trời đất. Ngoài ra, con người còn được hấp thụ hoàn toàn cái tinh thần linh diệu và cái khí chất tinh túy của Trời đất, nên con người linh hơn, sáng suốt hơn vạn vật. Chính nhờ cái sáng suốt này mà con người phân biệt được điều hay dở, lẽ phải trái. Cái sáng suốt ấy có sẵn trong mỗi người được gọi là trực giác, lương tri, hay lương tâm.

Nói theo triết lý đạo Cao Đài, con người có tánh linh hơn vật, có trí khôn ngoan, biết điều nhơn nghĩa là vì:

Thứ nhứt là bởi vì con người phải qua muôn nghìn kiếp tiến hóa, từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, rồi mới chuyển hóa đến nhơn loại.

Đức Chí Tôn giảng về sự tiến hóa của muôn vật như sau: “Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn năm lần mới đến địa vị nhơn phẩm”.

Thứ nhì là vì con người có ba phần hồn: Sanh hồn, giác hồn, linh hồn, mà loài vật chất thấp nhứt là kim thạch, loài vô tri vô giác, không phân biệt được đầu và ngọn; kim thạch tiến lên thảo mộc thì có một hồn là sanh hồn, có sự sống, nhưng còn thấp, gốc (đầu) quay xuống đất, ngọn hướng lên trời; thảo mộc tiến lên thú cầm thì được hai hồn là sanh hồn, giác hồn, tức có sự sống và biết cảm giác, đầu và đuôi ngang nhau; thú cầm tiến lên con người thì có ba hồn: Sanh hồn, giác hồn, linh hồn, tức có sự sống, có cảm giác, có tánh linh, đầu hướng lên trời, chân quay xuống đất.

Con người nhờ Sanh hồn mới có được sự sống, Giác hồn mới có cảm giác, biết sung sướng, đau đớn khổ sở và Linh hồn mới khôn ngoan, biết đạo lý, suy xét đủ điều, tức là nhờ Lương tâm cho nên con người có tánh linh hơn muôn vật.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn dạy như sau: Tâm là một nguồn sáng Thiêng Liêng, một điểm linh quang của Ðức Chí Tôn ban bố cho con người để khuyên lơn dìu dắt và soi sáng bước đường đời cũng như bước đường Ðạo của mỗi cá nhân trong kiếp sanh, hầu lúc rời bỏ xác phàm, mỗi nguyên nhân hay hóa nhơn được hoặc qui hồi cựu vị, hoặc thăng đẳng cấp, hoặc bị trừng trị theo Luật Thiên Ðiều.

Dầu cho Thần Thánh Tiên Phật khi xuống thế mang xác phàm thì buổi chung qui được hay phạt, thăng hay đọa đều do nơi Tâm cả, và nếu người được Tánh linh hơn muôn vật là nhờ có Lương Tâm vậy.

 

 

 

 

LONG NỮ

Đàn cơ Ngày 15 tháng 11 năm Tân Mùi (Dl. 23/12/1931) do Hộ Pháp và Bảo Văn Pháp Quân phò loan tại Thảo Xá Hiền Cung, Đức Diêu Trì Kim Mẫu ban cho bài thi, trong đó có đoạn:

Kể từ trước đạo còn bị bế,

Mẹ thương con chẳng thế dắt dìu,

Nay cõi trần nghiệt chướng giảm tiêu,

Ngọc Hư định đã nhiều phép cứu.

Thiếp từ đặng Phái Vàng chí bửu,

Lịnh Chí Tôn khai mối Tam Kỳ,

Hằng ngày lo cho đám nữ nhi,

Chẳng đủ trí sánh bì nam tử.

Ơn nhờ có con là Long Nữ,

Đến thay thân Thiên sứ Từ Hàng,

Đùm bọc em, con ráng bước một đàng,

Đặng cho Mẹ dễ dàng cứu rỗi.

Trong đoạn thi trên Đức Mẹ cho biết có cậy Long Nữ thay Từ Hàng Bồ Tát, (hóa thân của Từ Hàng là Quan Âm Như Lai) để dìu dắt, đùm bọc nữ phái trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Vậy Long Nữ là ai và vị chức sắc nào là chơn linh Long nữ?

Long Nữ là vị đồng tử nữ theo hầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở Phổ Đà Sơn, Nam Hải và Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh chính là chơn linh của Long Nữ.

Nữ Đầu Sư Hương Thanh, thế danh là Lâm Ngọc Thanh, sinh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Trung Tín, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Thân mẫu là bà Trần Thị Sanh.

Bà Lâm Ngọc Thanh là vợ của ông Huyện Huỳnh Ngọc Xây, nên bà thường được người đời gọi là Bà Huyện Xây, là một nghiệp chủ giàu có lớn tại Vũng Liêm. Ông và bà có một người con gái tên là Huỳnh Thị Hồ.

Sau ông Huyện Xây mất, bà gá nghĩa với ông Huyện Hàm Nguyễn Ngọc Thơ, một nghiệp chủ ở Tân Định, Sài Gòn. Hai Ông bà quy y theo Phật, thọ giáo với Hòa Thượng Như Nhãn, trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm Chợ Lớn.

Bà Lâm Ngọc Thanh được Đức Chí Tôn độ, nhập môn vào đạo Cao Đài ngày 06 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 16/7/1926).

Bà hiến dâng một phần sản nghiệp cho Đạo trong buổi sơ khai có phương tiện hoằng hóa mối đạo Trời. Bà cũng hiến ngôi chùa do bà xây dựng ở bên cạnh nhà tại Vũng Liêm cho Hội Thánh làm ngôi Thánh Thất thờ Đức Chí Tôn để những người trong vùng có nơi chiêm bái.

Chính nhờ công của ông bà mà Hòa Thượng Như Nhãn bằng lòng hiến ngôi chùa Từ Lâm Tự (tức Chùa Gò Kén) ở Tây Ninh cho đạo Cao Đài dùng làm Thánh Thất tạm, tổ chức lễ Khai Đạo. Bà thọ Thiên ân Giáo Sư, Thánh danh là Hương Thanh.

Từ đó bà lo phổ độ nhơn sanh khắp nơi. Trong kỳ phong thánh lần thứ nhứt ngày 14 tháng 01 năm Đinh Mão (Dl. 15/02/1927), bà được Đức Chí Tôn thăng lên phẩm Nữ Phối Sư, cầm đầu nữ phái.

Khi Hòa Thượng Như Nhãn đòi chùa, Ông Bà xuất 25.000 đồng cho Hội Thánh mượn để mua đất tại làng Long Thành, tỉnh Tây Ninh để khai phá rừng cất Tòa Thánh tạm bằng cây ván. Bà cũng có công trong việc giao thiệp với chánh quyền Pháp xin mở cửa những Thánh Thất nào bị chánh quyền áp chế đóng cửa trước đây. Đến ngày mùng 9 tháng 3 năm Kỷ Tỵ (Dl. 16/4/1929), Bà được thăng lên Nữ Chánh Phối Sư, Chưởng Quản nữ phái.

Đến năm 1936, Đức Hộ Pháp quyết định xây dựng Tòa Thánh, nhưng tiền quỹ của Hội Thánh quá ít, Ngài nhờ bà Lâm Hương Thanh cho mượn một số nữ trang như vàng, hột xoàn, cẩm thạch để đi cầm thế, vì lúc đó giá lúa quá thấp, Bà không có sẵn tiền mặt. Nhờ vậy, Hội Thánh mới có một số vốn khoản 100.000 đồng Đông Dương để xây dựng Tòa Thánh.

Bà quy vị vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (Dl. 17/5/1937), đúng vào ngày lễ Phật Đản, tại Vũng Liêm, hưởng thọ 64 tuổi.

Sau khi quy vị được 17 ngày, Bà được Đức Chí Tôn ân tứ lên phẩm Nữ Đầu Sư trong Đàn cơ ngày 25 tháng 4 năm Đinh Sửu (Dl. 03/6-/937).

Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có công lớn trong việc khai nền Đại Đạo, tạo dựng Toà Thánh và nhất là dìu dẫn con cái của Chí Tôn về phía Nữ phái, nên được Hội Thánh tạc tượng tay xách “giỏ hoa lam” trước Đền Thánh, bên phía Lôi Âm Cổ Đài.

Trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp giảng như sau: Bà Nữ Đầu Sư, Chơn Linh Long Nữ, Long Nữ là ai? Thật ra là người đòi của Phật Quan Âm Bồ Tát đó vậy. Bần Đạo hiểu về cái thuyết bí mật của Đức Quan Âm Bồ Tát lãnh trách nhiệm trọng yếu vâng lịnh của Đức Di Lặc Vương Phật Chưởng Quản điều khiển Bát Nhã Thuyền, vì cớ cho nên Đức Quan Âm Bồ Tát không có thể giáng trần được, chính mình Long Nữ là người hầu của Bà, tình nguyện giáng trần đặng hiệp với các Chơn Linh, các cung các điện và Hộ Pháp đặng mở nền Chánh Giáo của Đức Chí Tôn, hầu tận độ Vạn Linh tạo cơ giải thoát.

 

 

 

 

PHỐI SƯ THÁI KHÝ THANH
BỨC CẨM NANG CỦA ĐỨC HỘ PHÁP

1 - TIỂU SỬ PHỐI SƯ THÁI KHÝ THANH

Phối Sư Thái Khý Thanh (1894 – 1967), thế danh là Lâm Tài Khý sinh năm Giáp Ngọ (1894) tại tỉnh Xoài Riêng (Svay Rieng), Cao Miên. Ông phối ngẫu cùng bà Dương Thị Chu, hai ông bà có hai người con, người con gái lớn tên là Lâm Thị Cụt, người con trai thứ là Lâm Phước Long. Ông xuất thân từ một gia đình người Đường Nhơn có đạo đức, nên ông và người chị ruột là bà Lâm Thị Thố (1888 – 1961), sớm giác ngộ theo Đạo Cao Đài, Người chị thọ phong Giáo Hữu, Thánh danh Hương Thố, còn ông thọ phẩm Giáo Sư phái Thái vào năm 1941 trong tình hình cơ Đạo bị chinh nghiêng, không người đứng ra lèo lái, Đức Hộ Pháp mới ủy nhiệm cho ông (một người Đường Nhơn là nước đồng minh với Pháp) bằng một bức cẩm nang đứng làm chủ Tòa Thánh và các dinh thự của Đạo để đối phó với tình hình trong giai đoạn nguy nan đó.

Năm 1945 ông được thăng lên Quyền Thái Chánh Phối Sư, hành Đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đến năm 1956 khi Đức Hộ Pháp lưu vong sang Thủ Đô Nam Vang, vài năm sau ông cũng vượt biên sang Cao Miên hành đạo tại Thánh Thất Kim Biên. Cho đến ngày 20 tháng 10 năm Đinh Mùi , (Dl. 6/12/1967) , sau một cơn bịnh nhẹ, ông Quy vị tại Nam Vang, hưởng thọ 73 tuổi. Thể hài được an táng tại Kim Biên, về sau con cháu cải táng hài cốt của ông về táng tại Cực Lạc Thái Bình, Tòa Thánh Tây Ninh.

2 - BỨC CẨM NANG VÀ SỰ TRẤN ÁP CỦA QUÂN ĐỘI PHÁP

Theo Đạo Sử, năm 1940 nhà cầm quyền Pháp muốn tiêu diệt Đạo Cao Đài, nên từ tháng 5 năm 1941, họ gây ra nhiều hình thức khủng bố Chức sắc và tín đồ Cao Đài. Họ ra lịnh đóng cửa toàn bộ các Thánh Thất và các cơ Sở Phước Thiện. Đến ngày mùng 4 tháng 6 năm Tân Tỵ (Dl. 28/6/1941), lính mật thám Pháp vào Tòa Thánh bắt Đức Hộ Pháp, sau đó họ bắt thêm ba vị Chức sắc nữa là: Phối Sư Ngọc Trọng Thanh, Giáo Sư Thái Gấm Thanh, Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển.

Đồng thời tại Sài Gòn, chúng đến bắt Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa tại tư gia, và ở Nam Vang, chúng đến Thánh Thất Kim Biên bắt Giáo Sư Thái Phấn Thanh.

Ngày 4 tháng 6 Nhuần năm Tân Tỵ (Dl. 27/1941), nhà cầm quyền Pháp đưa Đức Phạm Hộ Pháp và 5 vị Chức sắc xuống chiếc tàu COMPIÈGE đày sang hải đảo Madagascar ở Phi Châu.

Trước khi bị bắt đày đi mã đảo, Đức Hộ Pháp biết rõ Thiên cơ là Ngài sẽ phải lãnh cái khổ nạn nầy, nên Đức Ngài cho gọi ông Giáo Thiện Đinh Công Trứ đến và giao cho ông lo gìn giữ luật pháp chơn truyền của Đạo, khi Ngài vắng mặt.

Ngoài ra Đức Ngài còn giao riêng cho Giáo Sư Thái Khý Thanh, một vị Chức sắc người Đường Nhơn một bức cẩm nang và dặn rằng lúc nào Tòa Thánh gặp cảnh nguy nan thì mở ra xem và làm theo lời dạy thì Tòa Thánh sẽ được bình yên.

Cuối năm 1945, nước Nhựt bị hai quả bom nguyên tử phải đầu hàng quân Đồng Minh, Pháp mới trở lại đánh chiếm Việt Nam.

Để tiêu diệt và trả thù các đoàn thể trước đây theo Nhựt đánh Pháp, trong đó có quân đội Cao Đài.

Theo lời thuật lại của Giáo Sư Thái Khý Thanh hôm xảy ra sự việc có vị quan ba người Pháp đem binh đội đến trấn áp vào cửa Hoà Viện, dùng súng bắn xả vào Tòa Thánh.

Theo lời dạy của Đức Thầy, ông liền cầu nguyện với Hộ Pháp, rồi mở bức cẩm nang ra xem, trong ấy Đức Ngài dặn: khi Tòa Thánh có chuyện hỗn loạn, khói lửa, thì ông Giáo Sư phải treo cờ “Trung Hoa Dân Quốc” trước ban công Đền Thánh.

Hôm việc xảy ra có mặt Bà Tư (Hương Hiếu) và Bà Tám (Hương Nhiều), hai bà ngăn cản không cho Giáo Sư Khý treo cờ Tàu. Còn đang dây dưa,quân đội Pháp bắn xả vô Nội Ô dữ dội, bổn đạo bị thương đổ máu, có hai Bảo thể bị tử thương. Hai bà thấy vậy sợ hãi, bỏ chạy về Báo Ân Từ.

Lúc bấy giờ ông Giáo Sư Thái Khý Thanh mới leo lên ban-công Tòa Thánh, treo lá cờ Trung Hoa Dân Quốc. Vị Quan ba Pháp thấy lá cờ Tàu, liền ra lịnh ngưng bắn, kéo binh đi vào cửa Hòa viện.

Lúc đó, ông Giáo Sư Thái Khý Thanh đang mặc Thiên phục Giáo Sư, và ông lấy nang thơ của Đức Hộ đưa cho vị quan ba người Pháp xem, ông ta xem xong thì trả thơ rồi ra lịnh kéo binh ra khỏi Tòa Thánh.

Bắt đầu ngày hôm sau, nhà binh Pháp ruồng bố dân chúng ở bên ngoài Tòa Thánh khổ sở vô cùng, còn Nội ô vẫn yên tịnh vô sự.

 

 

 

 

KIM NGƯỠNG CỔ NGƯỠNG

Kim ngưỡng cổ ngưỡng là một câu kinh trong bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, ý nói Đấng Thượng Đế từ ngày xưa cho đến ngày nay đều được nhơn loại tôn thờ và ngưỡng vọng.

Thật vậy, từ xưa con người đã thừa nhận có một Đấng với quyền năng sáng tạo ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật. Đấng Tạo Hoá ấy là Trời, được tôn vinh là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà con người đã từ lâu tôn sùng và kính ngưỡng.

Nhưng thời xưa, còn chế độ Quân chủ, vua là Thiên Tử, tức con Trời, nên mới có quyền thay cho toàn dân để lập đàn tế Trời đất, cáo quỷ thần, gọi là tế giao.

Trong Lễ Ký, thiên Khúc Lễ có chép: Thiên tử tế Thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngũ tự; chư hầu phương tự, tế ngũ tự; đại phu tế ngũ tự; sĩ tế kỳ tiên 天 子 祭 天 地, 祭 四 方, 祭 山 川, 祭 五 祀; 諸 侯 祭 方 祀, 祭 五 祀; 大 夫 祭 五 祀; 士 祭 其 先, nghĩa là nhà vua tế Trời đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế ngũ tự, chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự; quan đại phu tế ngũ tự; kẻ sĩ tế tổ tiên.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp cũng có giải thích điều nầy: Ông cha trong nhà thì thờ Tiên Tằng Tổ Khảo của Tông Môn, ông là giáo sư, là thầy cả trong gia đình. Ông Hương Chủ thì thờ Chư Thần tức là cả Công Thần vì nước mà hy sanh tánh mạng, được nhà Vua ân tứ làm chủ hương lân, nên trong làng ta chỉ thấy có đình thờ Thần thiên thu phụng tự mà thôi, nên ông Hương Chủ là thầy Cả của làng. Nhà Vua thì thờ Ðức Chí Tôn tức là Ngọc Hoàng Thượng Ðế, ta thấy sự tế tự Ðấng Chí Tôn ấy lưu truyền từ đời thượng cổ, nên hằng niên mới có tế Nam Giao, đó là tế Ðức Chí Tôn vậy.

Ở Việt Nam, lễ tế Trời, hay gọi là tế giao được các vua nhà Nguyễn tổ chức vào mùa xuân hàng năm, thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đàn Nam Giao, gồm có một nền tròn xây trên một nền vuông, biểu hiện cho Trời, Đất đạo lý Âm, Dương ngũ hành sinh hóa.

Lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao, tức là tế Trời Đất, nhằm khẳng định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng Đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng.

Đến thời kỳ Công giáo được truyền bá từ Châu Âu sang Việt Nam, dân chúng mới có dịp đến Thánh Đường để kính lễ Đức Chúa Trời (Thượng Đế), còn những người không theo Công giáo, với sự tự do tôn giáo, ai có tín ngưỡng Trời đều được lập bàn thờ tại tư gia để thờ cúng.

Trước năm 1975, ở các vùng quê Nam Bộ, hầu như nhà nào cũng có đặt một bàn Thiên trước nhà (nhiều khi gọi là bàn thờ Ông Thiên). Đó là tín ngưỡng thờ Trời phổ biến ở dân gian miền Nam nước ta. Theo tín ngưỡng dân gian, Trời được xếp trước Phật trong các đối tượng được thờ, theo thứ tự "Trời, Phật. Thánh, Thần", nên việc thờ Trời là việc đầu tiên của mỗi người, mỗi nhà.

Bàn thờ thường được làm bằng gỗ đơn sơ, gồm một cây cột cao khoảng 1,5 m, phía trên đặt một tấm ván hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 0,4 m, khá giả thì đổ cột bê tông và dán gạch men. Trên bàn thờ lúc nào cũng có một lư hương và mấy ly nước.

Kể từ năm 1926, Đức Chí Tôn giáng huyền cơ khai sáng đạo Cao Đài tại miền Nam nước Việt, thì hầu hết những tín đồ đều may duyên được vào Đền Thánh và các Thất Thất địa phương để sùng bái Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.

Mỗi tín hữu khi đã nhập môn qui tùng chánh pháp Cao Đài, đều được Hội Thánh buộc phải lập ngôi thờ Thầy (Thượng Đế) tại tư gia, để chơn linh có nơi qui hướng. Mỗi năm vào những đàn vía hay sóc vọng, người tín đồ phải trọn tâm thành kính qui tụ về chầu lễ Đức Chí Tôn tại Đền Thánh hay Thánh Thất, Đức Mẹ Diêu Trì tại Báo Ân Từ hay Điện Thờ Phật Mẫu địa phương.

 

 

 

 

ĐỐT HƯƠNG
và NGUỒN GỐC BÀI KINH NIỆM HƯƠNG

Đốt hương:

Hương, còn gọi là nhang, một loại cúng phẩm được làm bằng tre, chuốt ra cọng nhỏ và xe vào một đoạn bột nhang trộn với hương thơm rồi phơi khô, dùng để đốt khi cúng kính Trời Phật hay Ông Bà.

Trong dân gian, người Việt Nam tin tưởng Ông Bà hay Trời Phật thường đốt hương khi tưởng niệm hay cúng kính các Đấng Thiêng. Họ quan niệm rằng lòng cầu nguyện hay nói cách khác là nguyện lực sẽ hòa quyện cùng khói nhang bốc lên để được cảm ứng cùng Ông Bà và các Đấng.

Nhưng đối với người tu hành, sự đốt hương mang một ý nghĩa sâu sắc hơn, đốt hương hàm ý đốt lên mùi thơm của pháp vô vi, có tác dụng đánh bạt các mùi ô uế, trược khí của tội chướng và ác nghiệp, vô minh đen dầy trong tâm thức ta. Trong đạo Cao Đài, nơi lư hương thờ Đức Chí Tôn luôn luôn thắp năm cây nhang, xếp thành hai hàng: Hàng trong có ba cây, hàng ngoài hai cây. Ba cây hàng trong được cắm vào lư hương trước để tượng trưng cho Tam Tài. Hai cây hàng ngoài được cắm tiếp sau cho đủ năm cây để vừa tượng trưng cho Ngũ Khí, vừa tượng trưng cho Ngũ Giới Hương.

Ba cây nhang ở hàng trong tượng trưng cho Tam Tài là để nhắc cái địa vị quan trọng của Thiên, Địa, Nhơn (Trời , Đất, Người) trong vũ trụ và đồng thời cũng nhắc nhở cho người tín đồ phải luôn cố giữ cho linh tâm được hư tỉnh, sáng suốt mà Trời đã phú cho con người thì mới hiệp nhất được cùng Trời Đất.

Đốt năm cây nhang còn tượng trưng cho Ngũ Khí, tức sự vận chuyển của Ngũ Hành để cho vũ trụ được điều hoà, vạn vật sinh trưởng, trường tồn.

Năm cây nhang còn tượng trưng cho Ngũ Giới Hương:

Giới hương: mùi thơm bát ngát của giới luật tiêu trừ được mùi ô uế của tội ác. Mùi tội ác hôi tanh không thể xâm nhập nội tâm kẻ tu hành được.

Định hương: Mùi thơm của thiền định khiến ta tin tưởng mạnh mẽ vào Giáo Pháp để tiến lên cõi bờ giác ngộ, không nản lòng chùn bước.

Tuệ hương: Mùi thơm của trí tuệ, là một năng lực bén sáng, có khả năng diệt trừ mọi chướng ma, phiền não.

Tri kiến hương: Mùi thơm của giải thoát tri kiến, là trí tuệ quang minh thường thanh lọc, chiếu soi qua tất cả nhận thức, để được thông suốt, không để tà kiến, cố chấp trói buộc.

Giải thoát tri kiến hương: Mùi hương của giải thoát, có năng lực cổi bỏ được bao nhiêu trói buộc của mê mờ tà kiến.

Chính vì thế Đạo Cao Đài mới dùng năm thứ hương nầy bằng năm cây nhang thắp lên để dâng cúng Đức Chí Tôn.

Niệm hương:

Niệm hương là niệm tưởng Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng bằng cách đốt nhang dâng lên và tụng bài Kinh Niệm Hương sau đây:

Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp.

Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra.

Mùi hương lư ngọc bay xa.

Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng.

Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc,

Xuống phàm trần vội gác xe tiên.

Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền,

Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.

Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo,

Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

Bài Kinh Niệm Hương này, Đức Nam Cực Chưởng Giáo dịch ra nôm từ bài “Phần Hương Chú 焚 香 咒” bằng chữ Hán, được trích trong kinh Cảm Ứng của Đạo giáo như sau:

 

道 由 心 合

 

Đạo do tâm hiệp

 

心 假 香 傳

 

Tâm giả hương truyền

 

香 焚 玉 爐

 

Hương phần ngọc lư

 

心 注 仙 願

 

Tâm chú Tiên nguyện

 

真 靈 下 降

 

Chơn linh hạ giáng

 

仙 珮 臨 軒

 

Tiên bội lâm hiên

 

今 臣 關 告

 

Kim thần quan cáo

 

逕 達 九 天

 

Kính đạt Cửu thiên

 

所 啟 所 願

 

Sở khải sở nguyện

 

咸 賜 如 言

 

Hàm tứ như nghiên (ngôn)

GIẢI NGHĨA

Bài Chú Đốt Nhang

Đạo là do tâm hiệp lại

Lòng thành mượn khói nhang truyền đi.

Nhang thơm tỏa ngát trong lư ngọc.

Lòng thành hướng đến Chư Tiên cầu nguyện.

Cầu Chơn Linh của các Đấng giáng xuống.

Chư Tiên ngồi xe giáng đến.

Ngày nay bề tôi xin tấu trình.

Vội vã thẳng đến chín tầng Trời.

Xin tỏ bày mong muốn và nguyện ước.

Và cầu ban cho ân huệ như lời khấn nguyện.

Sau đó bài Kinh Niệm Hương được Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ vào năm Ất Sửu 1925 ban cho chi Minh Lý, tức chùa Tam Tông Miếu bây giờ.

Khi nhận được bài kinh, chi Minh Lý được lịnh Ơn Trên dạy phải truyền kinh này để phổ độ.

Đến khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được khai sáng, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Hội Thánh cử một phái đoàn gồm bốn Ngài Thượng Đầu Sư Lê Văn Trung, Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư và ông Giáo sư phái Thượng Vương Quang Kỳ đến Minh Lý Đạo thỉnh kinh, trong đó có bài Kinh Niệm Hương.

 

 

 

 

LỜI ĐẠI NGUYỆN

Đại Nguyện lời nguyện lớn lao.

Đức Chí Tôn, chư Phật, chư Bồ Tát và các Đấng Thiêng Liêng vì lòng Đại từ Đại bi thương xót chúng sanh bị trầm luân nơi khổ hải, nên vị Phật nào cũng đều có lập những điều nguyện lớn lao.

Kinh sách bên Phật giáo cho biết:

Đức A Di Đà Phật có phát ra 48 lời nguyện. Nếu có lời nguyện không đặng thành tựu, thì Ngài chẳng chịu thành Phật.

Đức Phổ Hiền Bồ Tát có 10 điều nguyện, gọi là “Phổ Hiền thập nguyện普 賢十願”. Mười điều hành nguyện ấy rộng như biển cả nên còn được gọi là Phổ Hiền nguyện hải 普 賢 願 海.

Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật cũng có Tứ hoằng thệ nguyện 四 弘 誓 願, tức là bốn lời nguyện lớn lao như sau đây:

a/. Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ.

b/. Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn.

c/. Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học.

d/. Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành.

Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát chỉ có một lời nguyện lớn lao là độ cho hết các vong linh nơi cõi Diêm cung thì mới thành Phật: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật 地 獄 未 空, 誓 不 成 佛”.

Đức Quan Âm Bồ Tát có mười hai lời nguyện, gọi là thập nhị Đại nguyện. Ngài là vị Bồ Tát có lòng đại từ đại bi, thường hay cứu khổ cứu nạn, lúc nào Ngài cũng lắng nghe âm thanh ở thế gian, nơi nào, lúc nào có tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hoá độ. Trong kinh Pháp Hoa có câu: Khổ não chúng sinh nhứt tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát 苦 惱 眾 生 一 心 稱 名, 菩 薩 即 時 觀 其 音 聲, 皆 得 解 脫, nghĩa là húng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài nghe âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát.

Đến với thời Tam Kỳ Phổ Độ này, Đức Chí Tôn, Chúa tể Càn khôn Vũ trụ hạ mình xuống cõi thế gian lập đạo vào thời kỳ hạ nguơn mạt pháp nầy để cứu rỗi, độ tận toàn sanh linh thoát vòng luân hồi đọa lạc nơi khổ hải.

Kỳ nầy đích thân Thượng Đế trực tiếp dạy dỗ con người như một người Cha, một người Thầy, nên Ngài mới xưng hô là “Đại Từ Phụ”, hoặc “Thầy” và gọi chúng sanh bằng “Các con” rất dịu dàng, thân thiết.

Đức Chí Tôn mặc dù là Chúa tể Càn khôn vạn vật, nhưng Ngài không xưng danh lớn lao mà chỉ tá danh, tức là tạm mượn một vị Tiên ông hay một vị Bồ Tát qua danh xưng: “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” để lập một nền tôn giáo có tên là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, gọi tắt là đạo Cao Đài.

Khi giáng huyền cơ lập đạo, Đức Chí Tôn cũng đã lập những lời đại nguyện, theo Đại Thừa Chơn Giáo Ngài nguyện:

Muôn kiếp các con chịu lạc đường,

Thấy vầy, Thầy luống động lòng thương.

Nên đoan thệ với hàng Tiên Phật,

Lập Đạo không thành chịu tội ương.

Và Ngài đứng ra đoan thệ:

“Nên Hội Tam Giáo Công Đồng, Thầy lập tờ đoan thệ, đem đạo mầu phổ hóa, độ tất cả đám quần sanh. Nếu các con chẳng chịu tu hành, Đạo không thành, Thầy nguyện không trở về ngôi vị cũ”.(ĐTCG.25/9/Bính Tý).

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn khi lập đạo cũng phải hứa cùng với các Đấng Thần Thánh Tiên Phật nơi Ngọc Hư Cung là bảo vệ con cái của Ngài cho đến cùng. Ngài nói: “Thầy buộc mình hứa cùng Ngọc Hư cung rằng nếu Đạo còn, thì Thầy cũng theo gìn các con”.

Lớn lao hơn, Thầy đứng ra lập nguyện lãnh tội lỗi, oan nghiệt của chúng sanh: “Mỗi phen Thầy đến lập Ðạo thì là phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết. Các con đã đặng thong dong rồi, rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật, gây thêm tội lỗi nữa, thiệt là đáng giận!”

Qua những lời Đại nguyện của Đức Chí Tôn, chúng ta là môn sinh, là con cái yêu mến của Đại Từ Phụ, chúng ta phải nhất tâm kính vâng những lời Thánh giáo của Ngài và triệt để thực hành những lới Ngài đã dạy.

 

 

 

 

NHÂN MÙA VU LAN
NÓI VỀ LÒNG HIẾU HẠNH CỦA THẤT NƯƠNG

Chữ hiếu là nền tảng để làm một con người ở thế gian. Do đó, làm người phải biết đạo hiếu.

Mỗi năm, khi mùa Vu lan về, biết bao người con trên thế giới như ấm lại bởi tấm lòng hiếu thảo của những người con biết đạo lý hướng về hai đấng sinh thành, dưỡng dục.

Chúng ta hãy noi gương Thất Nương, một Đấng Thiêng Liêng nơi Diêu Trì Cung.

Như ta biết, Cô Thất Nương Diêu Trì Cung có tái kiếp xuống trần vào một gia đình họ Vương ở Chợ Lớn. Cô sanh năm Canh Tý (1900), có tên là Vương Thị Lễ, thân phụ là Vương Quan Trân làm Đốc Phủ, thân mẫu là Đỗ Thị Sang, con gái của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương.

Cô Vương Thị Lễ, sau một cơn bịnh nặng, trút hơi thở cuối cùng vào 25 tháng 10 năm Mậu Ngọ (Dl. 28-11-1918), hưởng dương được 19 tuổi.

Cô Vương Thị Lễ chết đi, cảm thấy mình chưa làm tròn chữ hiếu của người con, nên trong một đàn cơ vào năm Ất Sửu (1925), có mặt ông Vương Quan Trân, cô giáng cho cha bài thi như sau:

Cúi lạy thân sinh thứ lỗi con,

Âm dương tuy cách, hiếu tâm còn.

Hồn quê níu nắm tình non nước,

Phách quế náu nương dạ sắt son.

Ác lặn hiên Đoài già nhắc nhỏm,

Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.

Thấy nhau thêm tủi đường ly biệt,

Đá nát xương tan nghĩa vẫn còn.

Theo lời Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, thuyết đạo tại Đền Thánh vào ngày 22 tháng 11 năm Đinh Hợi (1947) nói Ngọc Hư Cung có cho biết:

Vào năm 1929, cô Thất Nương (Vương Thị Lễ) hay tin thân phụ là Vương Quang Trân quy liễu, bị tội đọa nơi Diêm Cung. Cô Thất Nương lén bỏ Diêu Trì Cung đặng đi xuống Diêm đình để thức tỉnh cha của cô.

Vì phế phận nên Ngọc Hư Cung bắt tội Thất Nương, làm cho Diêu Trì Cung náo nhiệt, nhứt là Bát Nương, sợ cho Thất Nương bị tội ấy mà thất vị. Bát Nương mới giáng cơ báo tin cho Đức Phạm Hộ Pháp hay và yêu cầu Đức Hộ Pháp xin với Ngọc Hư Cung ân xá cho Thất Nương.

Đức Hộ Pháp liền lập đàn cơ, Thất Nương giáng tỏ bày nỗi niềm hiếu đạo:

Hỏi ai có biết hiếu ra sao?

Chín chữ cù lao giá thế nào?

Hình vóc cảnh Tiên còn dính máu,

Chơn Thần nước Phật giữ thai bào.

Nỗi riêng chưa vẹn thân từ phụ

Nghĩa nặng đeo đai phận má đào.

Thà xuống Âm Cung chia khổ tội,

Cha vầy, ai nỡ ngự đài cao!

Đức Hộ Pháp đọc bài thi rồi thì xúc động từ tâm, nghĩ vì luật pháp quá nghiêm khắc, e rằng mặt thế nầy không ai tránh khỏi tội. Cô Thất Nương vì chữ hiếu mà phải bị phạt, thế thì luật công bình có lẽ còn chỗ khuyết điểm chăng?

Đức Hộ Pháp quyết định dâng sớ lên Đức Chí Tôn xin tội cho Thất Nương.

Đức Chí Tôn nhận được tờ sớ, liền giao cho Đức Lý Thái Bạch và nói rằng: Con coi, Tắc nó trách Thầy, ắt nó chưa hiểu rõ Luật công bình Thiên Điều thế nào, con cũng nên đến giải cho nó đặng hiểu.

Vâng lịnh Đức Chí Tôn, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ nói cho Đức Hộ Pháp hiểu rõ và cho một bài thi về Luật Công Bình Thiêng Liêng:

Phải giữ chơn linh đặng trọn lành,

Ngọc Hư toàn ngự đấng tinh anh.

Luật điều Cổ Phật không chừa tội,

Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình.

Chánh trực kinh oai loài giả dối,

Công bình vùa sức kẻ chơn thành.

Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,

Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

Sau đó, Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng có thuyết đạo vào thời tý tại Đền Thánh ngày 15 tháng 12 năm Đinh Hợi (1947) nói về chữ hiếu của Thất Nương Diêu Trì cung như sau:

Thất Nương vì hiếu, khi hay tin cha mẹ mắc tội nơi Phong đô, liền bỏ cung Diêu Trì, xuống đó độ rỗi nên bị Thiên Đình bắt tội.

Đã hai kiếp sanh khổ vì tình, vì hiếu, nên sau khi Thất Nương được đặc ân của Ngọc Hư Cung xá tội, liền tình nguyện đến cõi Âm Quang độ rỗi các chơn hồn thất thệ, đặng trả nghĩa cho Thầy.

Trước khi đi trong một kỳ đàn, Thất Nương có đến từ giã, cho một bài thi và để lời than với Đức Hộ Pháp cùng một vài chức sắc Hiệp Thiên Đài.

Bài thơ ấy như sau:

Hai kiếp đeo đai lắm nợ trần,

Cái thân vì khổ bận cho thân.

Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt,

Nỗi hiếu rơi châu tưới mộ phần.

Giữ đạo mong chờ ngày độc tịch,

Bán mình quyết cứu độ song thân.

Nước non càng ngắm càng thêm chạnh,

Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần.

 

 

 

 

ĐẠO THẦY TRÒ TRONG CAO ĐÀI

Được sinh ra làm con người nơi cõi thế gian này, ai cũng phải học, dù đó là học nghề nghiệp, học chữ nghĩa hay học đạo lý. Mạnh Tử nói rằng: Nhân chi hữu đạo dã, bão thực noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú 人 之 有 道 也, 飽 食 煖 衣, 逸 居 而 無 教, 則 近 於 禽 獸, nghĩa là người ta tuy có đạo lý, nhưng cứ ăn no mặc ấm, ngồi rồi mà không dạy dỗ, thì gần như giống cầm thú. Thánh nhân đời trước lấy làm lo điều đó, nên xem việc giáo hóa là hàng đầu cho con người. Do vậy, Thầy dạy học được coi là người có ơn nghĩa rất lớn đối với học trò. Ơn nghĩa của thầy được Nho giáo xếp đứng vào hàng thứ nhì sau ơn của vua và trước ơn của cha mẹ (Quân, sư, phụ).

Tại sao ơn của thầy được coi trọng như vậy? Bới vì, việc học của cổ nhân không phải như sự học của bao nhiêu người ngày nay vẫn hiểu. Cổ nhân học là cốt học đạo của Thánh hiền để hiểu nghĩa lý, biết phải trái mà sửa mình cho thành người có đức hạnh. Chính thầy Tử Lộ đã xác định điều đó: Quân tử học dĩ trí kỳ đạo 君 子 學 以 致 其 道, tức là người quân tử học để hiểu rõ cái đạo, để biết cách cư xử cho phải phép, để có cái phẩm hạnh đạo đức hơn người thường.

Trái lại, trong xã hội hiện thời, thầy được xem như là một nghề để truyền thụ kiến thức lại cho con em, do vậy tình thầy trò không thấy gì thấm thiết. Ơn thầy xem như ơn hướng dẫn kiến thức, chứ không như ông thầy học ngày xưa có trách nhiệm khai tâm, khai hóa nên một con người.

Theo quan niệm xưa, công ơn của cha mẹ đào tạo ra hình hài thể xác thì to lớn như trời biển, song đã có tấm thân mà không có thầy khai hóa thì con người chỉ như một khối thịt tùng theo vật dục mà hành động, không có tri giác, không hiểu lễ giáo như người xưa đã gọi “Thây đi thịt chạy”, tức là một khối thịt, không trọn bổn phận là một con người sống trong gia đình và xã hội. Đức Hộ Pháp trong Phương Tu Đại Đạo có dạy phận làm trai như sau:

Đêm thanh khá xét suy mọi việc,

Hỏi coi mình có biết phận làm trai.

Đừng cố lo hai chữ sắc tài,

Không biết đạo dầu trai cũng hóa gái.

Đừng chịu phận “thây đi thịt chạy”,

Uổng hột cơm tấm vải của đời.

Vì vậy người xưa cho rằng công lao thầy đào tạo nên người bằng công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, nên lập thành cái đạo: Đạo thầy trò, và xếp trước đạo cha con, sau đạo vua tôi, ấy là đạo: “Quân, sư, phụ 君, 師, 父”.

Đạo “Quân Sư Phụ” là ơn cha mẹ tạo ra hình hài xác thịt, ơn của thầy giáo hóa cho nên người và ơn ngọn rau tấc đất là ba cái công ơn rất sâu dày: Một đàng tạo cái hình chất, một đàng khai hóa tinh thần và một đàng có vật thực để nuôi dưỡng cho con người. Chính vì thế, Loan Cung Tử mới nói rằng: Người ta ở đời có ba người phải thờ kính như một là cha sinh, thầy dạy, vua nuôi; không có cha thì không có ai sinh, không có nuôi thì không có lớn được, không có dạy thì không thể nên được người vậy (Dân sinh ư tam sự chi như nhứt, phụ sanh chi, sư giáo chi, quân tự chi; phi phụ bất sanh, phi tự bất trưởng, phi giáo bất tri, sanh chi tộc dã 民 生 於 三 事 之 如 一, 父 生 之, 師 教 之, 君 食 之, 非 父 不 生, 非 食 不 長, 非 教 不 知, 生 之 族 也).

Đời Tống một triết gia Trung Quốc là Chu Đôn Di mới lập Sư đạo (Đạo của thầy trò), ông cho rằng: Cái đạo của Thánh nhân rất quí, nhưng phải có thầy dạy mới biết được. Ông đặt vấn đề: Làm sao khiến cho thiên hạ đều thiện cả? Rằng phải có thầy dạy, tức là kẻ tiên giác dạy kẻ hậu giác, kẻ mờ tối học kẻ sáng suốt, như thế thì đạo thầy được thành lập vậy.

Chính vì người xưa xem đạo thầy trò cao trọng như vậy, nên khi Khổng Tử mất, các môn đồ của Ngài phải để tâm tang ba năm (Bằng tang cha mẹ), mãn tang họ họp nhau lần cuối cùng ở trước mộ để khóc Ngài, rồi mới chia tay nhau mỗi người đi mỗi nơi. Riêng Tử Cống còn ở lại trong một căn nhà lá để giữ mộ cho thầy thêm ba năm nữa.

Trong đạo Cao Đài, Đấng Tiên Nương Đoàn Thị Điểm xét thấy ơn của Thầy cũng như ơn vua và ơn sinh thành của cha mẹ rất cao trọng như vậy, nên đã giáng cơ ban cho chúng sanh đạo Cao Đài bài Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị để dành những người học trò tế những vị thầy kính yêu hầu trả được phần nào ân sâu nghĩa nặng của sự giáo huấn cho nên người. Bà viết:

Dầu hoạn lộ chưa vừa sở nguyện,

Dầu cửa quyền trọng tiếng chăn dân.

Ơn cha sanh hóa ra thân,

Ơn thầy huấn giáo cũng gần như nhau.

Và trong tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận Bà cũng cho rằng ơn nghĩa của thầy dạy học sánh bằng với công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ:

Con nhờ thầy công danh mới toại,

Như nhờ cha mới giỏi hình dung.

Hai ơn ấy gẫm so đồng,

Nghĩa kia như hiếu, mặn nồng cả hai.

 

 

 

 

TRƯỜNG QUY THIỆN – TRÍ GIÁC CUNG

Trường Quy Thiện” là một cơ sở do ông Giáo Thiện Đinh Công Trứ, người gốc Phú Mỹ, tỉnh Mỹ tho, về nơi Châu Thành Thánh Địa quy tụ một số tín đồ lập ra để dạy nhau những điều lành và làm lành.

Nguyên Đinh Công Trứ sanh năm Quý Mão, 1903 tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành tỉnh Mỹ Tho, nhập môn vào đạo Cao Đài năm 1927.

Vào ngày 14 tháng 10 năm năm Đinh Mão, ông Đinh Công Trứ chấp cơ tại tư gia của ông ở làng Phú Mỹ, được Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải lập Minh Thiện Đàn do ông làm Chủ Trường. Sau đó ông Đinh Công Trứ và ông Lê Văn Trung (người cùng làng) được Đức Lý Giáo Tông sử dụng làm cặp phò loan để tiếp nhận các Thánh giáo của các Đấng thiêng liêng giáng tại Minh Thiện Đàn.

Đến năm 1929, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải giao Minh Thiện Đàn lại cho Đức Hộ Pháp. Ông Lê Văn Trung tìm đến Thủ Đức mời Đức Hộ Pháp xuống Thánh Thất Phú Mỹ nhằm ngày 25 tháng 2 năm 1929. Đức Hộ Pháp cho mời những người nhập môn vào Minh Thiện Đàn đến để Ngài hành pháp cân thần và cho thọ Đào Viên pháp.

Sau ông Đinh Công Trứ được Đức Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông chứng giấy thông hành đi hành đạo các tỉnh Mỹ Tho, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên và Sóc Trăng. Đến năm 1936, ông Trứ đắc phong Lễ Sanh Giáo Thiện, được Đức Hộ Pháp bổ đi làm Đầu Họ Phước Thiện tỉnh Long Xuyên.

Đến năm 1943, ông Đinh Công Trứ bị quân đội Nhựt bắt giam hết 5 tháng 10 ngày mới thả. Sau khi được thả, ông Trứ quy tụ một số thệ hữu trong Minh Thiện Đàn về Trường Hòa, Tây Ninh mua đất lập Trường Quy Thiện để làm cơ sở phước thiện và tu hành.

Đến ngày 26 tháng 9 năm Quý Dậu (Dl. 24/10/1943) là ngày khởi lập Trường Quy Thiện và cũng là ngày khởi công xây cất Quy Thiện Đường.

Sau đó, ông Đinh Công Trứ còn cất thêm một số cơ sở làm phước thiện trong Trường Quy Thiện như sau:

1 - Nhà Minh Thiện.

2 - Khách Thiện đường,

3 - Học đường,

4 - Y tế,

5 - Bảo sanh,

6 - Dưỡng đường,

7 - Trai đường,

8 - cơ sở Nông tang,

9 - Công nghệ,

10 - Thương mại,

11 - Khai mở Thuật nghiệp của Tứ dân.

Trường Quy Thiện do Đinh Công Trứ làm Đốc Trường, dưới có lập Bàn Cai Quản nam, nữ, mỗi bên có Chủ Trường và 4 vị Nghị Viên Sĩ, Nông, Công, Thương, Từ hàn, Thủ bổn, và Kiểm soát.

Trong cuộc lễ Khánh thành Đền thờ Phật Mẫu tại Tường Quy Thiện, Đức Hộ Pháp có dạy: Trường Quy Thiện nầy phải đặt dưới quyền Hội Thánh Phước Thiện, ông Đinh Công Trứ chỉ lãnh chức Đốc Trường.

Nhiệm vụ của Trường Quy Thiện duy để lo làm ra của cải mà thôi, chẳng đặng thâu của cải một ai, làm ra đặng bao nhiêu thì dùng bấy nhiêu, kỳ dư có ai thật hảo tâm hỷ cúng mới thâu vào sổ của Trường, rồi phải phúc sự cho Hội Thánh Phước Thiện biết liền. Từ đây về sau, sở phí huê lợi gì của Trường Quy Thiện cũng phải chạy tờ phúc cho Hội Thánh Phước Thiện biết rõ. Sổ bộ của Trường tuy riêng biệt nhưng phải do Hội Thánh cầm.

Và đứng trước lưỡng Đài Cửu Trùng và Hiệp Thiên, Đức Ngài nói: Ngày nay, Bần Đạo trình nó (Trường quy Thiện) ra mặt công khai của đạo, thuộc quyền Phước Thiện, tức là thuộc Hiệp Thiên Đài chưởng quản. Thoảng ngày kia nó phạm pháp luật, hoặc chẳng noi theo chơn truyền của Đại Đạo, tự lập tôn chỉ khác, chúng ta có quyền giải tán.

Trong Trường Quy Thiện ông Đinh Công Trứ còn được lịnh Đức Hộ Pháp cho cất Đền thờ Phật Mẫu để thờ Đức Phật Mẫu, Cửu Vị Tiên Nương và Bạch Vân Động Chư Thánh và đặc biệt nhứt, nơi đây được Đức Hộ Pháp cho thờ Nam Bình Phật Tổ. Đây là ngôi thờ Phật Mẫu đầu tiên của đạo Cao Đài. Ngôi Đền thờ Phật Mẫu nầy được Đức Hộ Pháp cho phép khánh thành ngày 16 tháng 7 năm Mậu Tý (1948) và sau đó Ngài lại cho phép Đền thờ nầy tổ chức cúng lễ Hội Yến Diêu Trì Cung vào đêm 14 tháng 8 năm Mậu Tý.

Đức Hộ Pháp cho sửa sang Báo Ân Từ trong Nội ô Tòa Thánh để thờ Đức Phật Mẫu. Đức Ngài ra lịnh cho Hội Thánh Phước Thiện trình qua cho chức sắc lưỡng đài biết, và lập nghi lễ tiếp rước long trọng Long vị Đức Phật Mẫu nơi Trường Quy Thiện về thờ tại Báo Ân Từ.

Ông Đốc Trường Quy Thiện Đinh Công Trứ bị ám sát chết vào lúc 10 giờ 35 tối ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Sửu (Dl. 21/6/1949), hưởng 47 tuổi.

Ngày 14 tháng 10 năm Nhâm Thìn (Dl. 30/11/1952), Đức Hộ Pháp ra khẩu lịnh cho ông Đạo Nhơn Dương Văn Khuê xuống cai quản Trường Quy Thiện và sau đó triệu tập Đại hội toàn thể tín đồ Trường Quy Thiện tại Hậu điện Báo Ân Đường ngày 11 tháng 11 năm Giáp Ngọ (Dl. 5/12/1954). Bảng Phúc trình, vi bằng Hội nhóm dâng lên Đức Hộ Pháp và được Đức Ngài điều chỉnh danh từ và thành phần Ban Trị Sự và các cơ sở.

Đến ngày 5 tháng 12 năm Giáp Ngọ (Dl. 29/12/1954) Đức Hộ Pháp ban Huấn Lịnh số 285/VP-HP vào ngày 5 tháng 12 năm Giáp Ngọ (Dl. 29/12/1954) chuyển đổi Trường Quy Thiện thành Địa Linh Động, Trí Giác Cung là một cơ sở Tịnh Thất của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Vị Tổng Quản đầu tiên của Địa Linh Động - Trí Giác Cung là Đạo Nhơn Dương Văn Khuê.

Nơi cổng Địa Linh Động – Trí Giác Cung có đôi liễn như sau:

智 靈 貫 世 天 機 達

TRÍ linh quán thế Thiên cơ đạt

覺 慧 超 凡 道 法 通

GIÁC huệ siêu phàm Đạo pháp thông.

Nghĩa là:

Cái hiểu biết thiêng liêng thông suốt việc đời, đạt thấu máy trời

Trí huệ giác ngộ siêu phàm rõ thông đạo pháp.

 

 

 

 

BÁ ĐÀO, GIÁC AI.

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nữ phái, bên trên có một khuôn hình lấy tích “Bá Đào Giác Ai”, để nêu gương bậc anh hùng nghĩa khí của đôi bạn bè.

Nhà thơ Huệ Phong nói về sự tích nầy có đề bốn câu:

Bước ứng thí, bạn vong niên kết,

Giác Ai già lạnh chết táng an.

Kinh Kha đuổi, hồn anh than,

Bá Đào nguyện thác đánh tan quỷ quyền.

Và trong bài phú “Giác Mê Khải Ngộ”, Lý Giáo Tông cũng có đoạn viết:

Kìa gương Bá Đào còn bia nào dối giả,

Bạn Giác Ai lời hẹn đã chẳng phai mòn,

Giấc chiêm bao còn tưởng mến nghĩa đồng tôn.

Cơn tỉnh lại mượn ngọn đao, mà dứt trần thế cho hai hồn là bạn xưa đặng liên hiệp.

Do điển tích như sau:

Bá Đào và Giác Ai là hai hiền sĩ đời chiến quốc, cùng kết nghĩa anh em với nhau. Bá Đào họ Tả, ở núi Tích Thạch, xứ Tây Khương. Cha mẹ đều mất sớm, ông rất siêng năng, có chí học hành, nhưng gặp thời hung bạo, loạn lạc, ông không muốn ra làm quan. Còn Giác Ai họ Dương là người xứ Ung Châu, tính ham đọc sách, cha mẹ đều mất sớm.

Nghe tin vua nước Sở cầu hiền, Bá Đào và Giác Ai bèn rủ nhau đi đầu vua nước Sở. Dọc đường Bá Đào vì chịu không nổi đói lạnh mà chết, Giác Ai bày lễ cúng lạy bạn, tạm chôn cất bên đường, rồi tìm đến ra mắt vua Sở, và được trọng dụng. Giác Ai xin phép vua về chôn cất Bá Đào lại cho tử tế.

Một hôm, Giác Ai nằm mộng, thấy Bá Đào về cảm ơn, và xin dời mả mình đi nơi khác, vì nơi ấy gần mả của Kinh Kha, bị Kinh Kha về hành hung. Sáng ngày Giác Ai đến miễu Kinh Kha mắng chửi và hâm rằng nếu còn quậy phá Bá Đào nữa thì sẽ đào mồ phá miễu Kinh Kha. Đêm ấy Bá Đào cũng hiện về đòi xin dời mả, vì vẫn còn bị Kinh Kha và bọn thuộc hạ hiếp đáp.

Giác Ai bèn viết biểu tâu cho vua hay, rồi phân chứng cùng làng xóm rằng: Kinh Kha hiếp đáp bạn ta, nên ta quyết xuống âm phủ để đánh nó, nói rồi rút gươm tự vận. Đêm ấy, mưa gió sấm sét tưng bừng, đến sáng người ta thấy mồ mả Kinh Kha bể nát, cây cối gần mộ tróc gốc như bị đào xới.

Sở Vương thấy tình nghĩa kim bằng của hai người quá thắm thiết, đáng nêu gương cho hậu thế, bèn sai quan quân lập miếu thờ hai người.

 

 

 

 

CẦU ĐẢO CHÍ TÔN

Trong bài kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có đoạn viết như sau:

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,

Đừng hãi kinh cầu đảo Chí Tôn.

Cửa địa ngục khá lánh chơn.

Ngọc Hư Cực lạc đon đường ruỗi dong.

Hai câu thất cho ta biết: Dầu cho số phận bị căn nghiệp gây thành quả báo đến mình đi nữa, thì cũng đừng kinh sợ mà phải thành tâm cầu khẩn Đức Chí Tôn.

Sống trên đời nầy, khi phạm tội người ta thường hay bày lễ để cầu đảo. Tương truyền, Đức Khổng Tử bị đau nặng, học trò là Tử Lộ xin Thầy bày lễ cầu nguyện để mau được khỏi bệnh. Ngài nói rằng: Khâu chi đảo cửu hỹ 丘 之 禱 久 矣, nghĩa là Khâu này cầu nguyện đã lâu rồi. Ý Ngài muốn nói chung thân Ngài làm điều nhơn nghĩa, như vậy lúc nào Ngài cũng cầu xin rồi vậy. Theo Ngài, nếu ai bất nhân bất nghĩa, làm điều trái đạo, mắc tội với Trời, dù có cầu xin cũng không ích gì: Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã 獲 罪 於 天, 無 所 禱 也: Phải tội với Trời còn cầu xin vào đâu được.

Nhưng theo ở đây, một người đã làm lỗi đến phút cuối cùng (lúc hấp hối) mới ăn năn, sám hối và cầu đảo thì Đức Chí Tôn có tha thứ tội tình mà cứu độ cho hay không?

Theo ý nghĩa những câu kinh, thì thật là may duyên cho chúng sanh gặp được Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn khai nền Đại Đạo, mở ra một thời kỳ Đại khai Ân Xá cho vạn linh và đóng Địa ngục mở từng Thiên, là để các Chơn linh có tội lỗi, nếu biết tu sửa, ăn năn sám hối thì được Chí Tôn tha thứ tội tình mà trở về ngôi cũ, còn các tội hồn không chịu cải quá thì phải ở lại cõi Âm Quang chờ ngày học đạo để được siêu thăng thoát hóa. Chính Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có dạy như sau: “Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi thì cũng lánh xa cửa Âm quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của Chơn hồn cầu rỗi”.

Và trong lời phê của Đức Hộ Pháp khi vị Đạo Núi Trần Ngọc Dương bịnh nặng làm tờ yêu cầu Đức Ngài xá tội cho hết căn bịnh chướng vào ngày 16 tháng 6 năm Ất Mùi. (Dl. 03/08/1955), Ngài viết như sau: Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ, khi đến độ Bần Đạo, Bần Đạo có hỏi về phương tận độ các vong linh thì có nói quả quyết như vầy: Dầu cho có kẻ nào phạm tội dẫy đầy mặt đất mà khi hấp hối rồi chỉ kêu lấy danh Ta thì cũng đặng siêu thoát.

Cho dù bị vào Phong Đô (Thanh Tịnh Đại Hải Chúng) vẫn có người đến phổ tế (Bà Thất Nương).

Nói như vậy, chỉ cần phút lâm chung cầu nguyện Đức Chí Tôn là xong. Cần gì lúc sanh tiền lo bồi công lập đức, hay tưởng Trời niệm Phật!

Chúng ta cần phải nghĩ một điều: Có được một lời cầu nguyện lúc lâm chung toàn là nhờ lúc bình thường chí tâm tưởng niệm Chí Tôn để tạo duyên phần cho phút cuối. Nếu không, bệnh tật hôn mê, đau đớn bức bách làm cho tâm thần mê loạn. Lại thêm vợ gào con khóc, anh em thương tiếc, chẳng thể dứt được nghĩa tình, hoặc bị nghiệp lực lôi kéo, nhiễu loạn khiến cho thần trí hôn mê. Lúc bấy giờ muốn ăn năn tự hối, hướng niệm Chí Tôn cũng không xong.

Vì vậy, lúc bình thời chúng ta tu trì, tạo phước chính là dự bị cho lúc lâm chung để mang theo làm hành trang thiện quả trong phút trở về quê xưa vị cũ.

 

 

 

 

LÃO TỬ và ĐẠO ĐỨC KINH

Trong bài Kinh Tiên Giáo có hai câu:

Tử khí đông lai, quảng truyền Đạo Đức.

 

紫 氣 東 來, 廣 傳 道 德.

Lưu sa tây độ, Pháp hóa tướng tông.

 

流 沙 西 度, 法 化 相 宗.

Tử khí đông lai, quảng truyền Đạo Đức có nghĩa là một vầng mây màu tía từ hướng đông bay đến và Đức Lão Tử truyền bá quyển Đạo Đức Kinh rộng khắp.

Theo “Lão Quân nội truyện” của Doãn Hỷ thì Lão Tử trước khi đến ải Hàm Cốc, quan lệnh Doãn, tên Hỷ xem Thiên văn thấy vầng mây màu tía (mây lành) từ hướng đông bay đến, ông biết sẽ có vị Thánh Nhân đến ải, bèn sửa áo mão ra thành nghinh tiếp. Đức Lão Tử cỡi con thanh ngưu bay đến, Doãn Hỷ tiếp rước vào ải, xin thọ giáo học Đạo. Trước khi tiếp tục đi độ miền Tây vực, Ngài có để lại cho Doãn Hỷ một bộ sách, gọi là “Đạo Đức Kinh”.

Trong Đạo Đức kinh, Lão Tử đem cái thuyết vô vi (không làm) ra dạy đời, nhưng “không làm” không có nghĩa là chẳng làm gì hết. Câu: “Vi chi ư vị hữu, trị nhi ư vị loạn 為 之 於 未 有, 治 而 於 未 亂”, nghĩa là “làm lúc việc chưa xảy ra, trị lúc nước nước chưa có loạn” của Lão Tử đã chứng thực điều đó. Như vậy, Ngài chủ trương vô vi thanh tĩnh. Ngài cho tính nước là cái nên theo, nó gần như Đạo: “Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo 水 善 利 萬 物 而 不 爭, 處 眾 人 之 所 惡, 故 幾 於 道” (Nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh. Ở chỗ mà người người đều ghét, nên gần với Đạo).

Lưu sa tây độ, Pháp hóa tướng tông ý nói Lão Tử sang miền sa mạc phía tây độ người đời, vừa đến ải Hàm Cốc truyền quyển Đạo Đức Kinh để làm thể tướng cho nền Đạo Giáo (Tiên giáo).

Thực vậy, khi Đức Lão Tử đến ải Hàm Cốc ban cho Doãn Hỷ quyển Đạo Đức Kinh, rồi Ngài từ giả, tiếp tục ra đi để độ những người ở phía tây vùng sa mạc Trung Quốc. Doãn Hỷ ở lại tu học theo quyển Đạo Đức Kinh và sau được đắc Đạo. Còn quyển Đạo Đức Kinh được truyền bá sâu rộng, lúc đầu chỉ được coi như một triết lý, về sau Trang Tử tập đại thành những tư tưởng trong Đạo Đức Kinh mà dựng nên một học thuyết trong Nam Hoa Kinh.

Như vậy, Đạo giáo trước tiên chỉ là một nền triết lý (hay Giáo pháp) vô vi, nói cách khác, là một triết lý ưa thích cái tự nhiên của Trời đất do Đức Lão Tử chủ xướng trong Đạo Đức Kinh.

Về sau, thuyết vô vi của Ngài ảnh hưởng rất lớn ở Trung Hoa, các triết gia kế thừa có ông Liệt Tử đã dựa theo triết lý cao siêu của Ngài mà viết nên quyển Xung Hư Chơn Kinh. Và nhất là Trang Tử, là một nhà hùng biện, đem giáo thuyết vô vi của Ngài ra xiển dương trong quyển Nam Hoa Kinh.

Trong giai đoạn này Đạo giáo vẫn còn là triết lý, đến đời Hán, nhờ ông Trương Thiên Sư, Đạo giáo mới bắt đầu truyền bá rộng rãi trong nhơn gian. Đến đời Tấn, triết lý của các Đạo gia mới được ông Nguyễn Bá Đương chỉnh đốn lại hẳn hoi thành hệ thống một tôn giáo. Đạo giáo mới thực sự là một tôn giáo kể từ đó.

Đến đời Đường, nhà vua nhìn Lão Tử là vị thủy tổ và truy phong cho là Huyền Nguơn Huỳnh Đế, về sau có lập đền thờ Ngài trong cung.

Từ đó, mối Đạo của Ngài được gọi là Đạo Giáo (Gọi theo chữ Đạo trong Đạo Đức Kinh) hay Tiên giáo, và bắt đầu truyền bá khắp trong nước.

 

 

 

 

MÃO VÀ ĐẠO PHỤC
CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI

 

I -

Kim Khôi Mạo

  

II -

Hỗn Nguơn Mạo

  

III -

Nhựt Nguyệt Mạo

  

IV -

Tam Quang Mạo

  

V -

Khôi Nguyên Mạo

  

    

    

    

    

    

    

 

I - KIM KHÔI MẠO 金 盔 帽

Mão Kim Khôi là một loại mão đặc biệt của Hộ Pháp làm bằng vàng, trên chóp mão có hình dáng giống như cây chỉa có ba ngạnh, được gọi là Tam Sơn, tượng trưng việc chưởng quản Tam Thiên bên Tây Phương Cực Lạc.

Trong các kỳ đại lễ, Hộ Pháp ở trong mặc Giáp, ở ngoài choàng một Mãng bào, tay phải cầm Giáng Ma Xử, tay trái nắm xâu Chuổi Từ Bi, đầu đội Kim Khôi, chân mang đôi hia có thêu chữ “Pháp”. Lưng buộc dây Sắc Lịnh ba màu vàng xanh đỏ, thả mối ở ngay giữa bụng.

Trích nguyên văn Pháp Chánh Truyền Chú Giải về bộ Đại phục của Hộ Pháp: Người phải mặc giáp, đầu đội Kim Khôi toàn bằng Vàng, trên Kim Khôi có thể Tam Sơn, giống như cái chỉa ba ngạnh, chủ nghĩa là Chưởng Quản Tam Thiên bên Tây Phương Cực Lạc. Chơn đi hia, trên chót mủi hia có chữ "Pháp" 法 ngoài giáp thì choàng mãng bào, thế nào bên tả phải giáp, bên hữu thì mãng. Tay hữu (bên Ðạo, nghĩa là bên Thượng Phẩm) cầm Giáng Ma Xử (thể, lấy Ðời chế Ðạo) còn tay tả (bên Thế, nghĩa là bên Thượng Sanh) nắm xâu chuỗi "Từ Bi" (thể, lấy Ðạo chế Ðời) thành ra nửa Ðời nửa Ðạo.

Ngang lưng cột dây lịnh sắc có ba màu Ðạo (thể Chưởng Quản Tam Giáo nơi mình, nắm trọn Thể Pháp và Bí Pháp đặng qui nhứt), cái mối dây lịnh sắc phải ngay chính giữa bụng.

II - HỖN NGUƠN MẠO 混 元 帽

Hỗn Nguơn Mạo là một loại mão tròn, bề cao một tấc, ngay giữa trán có thêu Cổ Pháp tùy theo Chi: Pháp, Đạo hay Thế.

Hỗn nguơn mạo là mão Tiểu phục của Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân, Tiếp Dẫn Đạo Nhơn và Chưởng Ấn.

a/. HỘ PHÁP.

Mão Tiểu phục của Hộ Pháp màu vàng, bề cao một tấc, ngay giữa trán có thêu Cổ Pháp Hộ Pháp gồm ba Cổ Pháp của Tam Giáo là Bát Vu ở giữa, Xuân Thu bên phải, Phất Chủ bên trái (trong nhìn ra).

Trích nguyên văn Pháp Chánh Truyền Chú Giải về bộ Tiểu phục của Hộ Pháp: Bộ Tiểu Phục thì toàn bằng hàng vàng (màu Ðạo), đầu đội HỖN NGUƠN MẠO màu vàng, bề cao một tấc ngay trước trán chính giữa có thêu ba Cổ Pháp của Tam Giáo là Bình Bát Vu, cây Phất Chủ, và bộ Xuân Thu, ngay trên ba Cổ Pháp ấy có chữ “Pháp”, chơn đi giày vô ưu màu trắng. Nơi chót mũi có chữ Pháp “法”, lưng nịt dây lịnh sắc y như Ðại Phục.

Khi ngồi Tòa Tam Giáo, thì phải mặc bộ Tiểu Phục, còn Ðại Phục thì chỉ để khi ngự trên ngai mình.

Ngoài ra sau nầy Đức Hộ Pháp còn ban thêm cho Thập Nhị Thời Quân khi mặc Tiểu phục đầu đội Tam Quang Mạo (xem Tam Quang Mạo).

b/. THƯỢNG PHẨM

Thượng Phẩm mặc một bộ Đại phục gồm một áo tràng trắng, ngoài khoác một áo lá xanh, đầu để trần, chân mang giày Vô Ưu trắng có thêu chữ “Đạo”. Tay phải Thượng Phẩm cầm Long Tu Phiến có gắn Phất Chủ, tay trái nắm xâu Chuỗi Từ Bi, quanh lưng cũng buộc dây sắc lịnh ba màu như Hộ Pháp, nhưng mối dây được thả bên hữu

Trích nguyên văn Pháp Chánh Truyền Chú Giải về bộ Đại phục của Thượng Phẩm: Bộ Ðại Phục thì toàn bằng hàng trắng, ngoài mặc áo lá màu xanh có viền chỉ kim tuyến bạc. Ðầu để trần, chơn đi giầy vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ “Ðạo”. Lưng buộc dây lịnh sắc y như của Hộ Pháp song mối phải thả ngay bên hữu. Tay hữu cầm Long Tu Phiến (nghĩa là cây quạt kết đủ 36 lông cò trắng) trên đầu quạt ngay giữa có Phất Chủ, (thể, quạt đưa các chơn hồn vào Tam Thập Lục Thiên, nghĩa là vào Thiên vị) tay tả cầm xâu chuỗi Từ Bi, (thể, dâng Ðạo vào cho Hộ Pháp).

Mão Tiểu phục của Thượng Phẩm là Hỗn Nguơn Mạo màu trắng, ngay giữa trán có thêu Cổ Pháp Thượng Phẩm gồm một Long Tu Phiến và Phất Chủ, nhưng Phất Chủ nằm trên đầu và ngay giữa Long Tu Phiến, trên Cổ Pháp có chữ Đạo “”

Trích nguyên văn Pháp Chánh Truyền Chú Giải về bộ Tiểu phục của Thượng Phẩm: Bộ Tiểu Phục cũng bằng hàng trắng, lưng cột dây lịnh sắc y như Ðại Phục, đầu đội Hỗn Ngươn Mạo màu trắng, y như của Hộ Pháp, ngay giữa trán có thêu “Long Tu Phiến” ngay trên hình Long Tu Phiến có chữ Ðạo “道”.

Khi đến Tòa Tam Giáo, thì phải mặc bộ Tiểu Phục, còn Ðại Phục thì chỉ dùng khi đến ngự trên ngai mình.

c/. THƯỢNG SANH

Thượng Sanh cũng mặc áo giống như Thượng Phẩm và cũng buộc dây Sắc Lịnh ba màu nhưng thả mối bên tả. Ngoài ra Thượng Sanh lại còn buộc thêm một dây Thần Thông bằng lụa đỏ, trên lưng có giắt Thư Hùng Kiếm, tay phải cầm cây Phất Chủ, tay trái nắm xâu Chuỗi Từ Bi. Đầu bịt Thanh Cân,, chân đi giày Vô Ưu trắng thêu chữ Thế “世”.

Trích nguyên văn Pháp Chánh Truyền Chú Giải về bộ Đại phục của Thượng Sanh: Bộ Ðại Phụccũng y như của Thượng Phẩm, đầu bịt “Thanh Cân” nghĩa là: (một bao đảnh xanh), lưng mang dây Thần Thông (nghĩa là một đường lụa đỏ) và nịt dây lịnh sắc y như của Hộ Pháp và Thượng Phẩm, song mối phải thả ngay về bên tả. Nơi lưng giắt Thư Hùng Kiếm (thể, tạo thế và chuyển thế) tay hữu cầm cây Phất Chủ (thể, đưa thế vào cho Hộ Pháp) tay tả nắm sâu chuỗi “Từ Bi” (thể, dâng Ðạo cho Nhơn Sanh), chơn đi giầy vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ “Thế”.

Mão Tiểu phục của Thượng Sanh là Hỗn Nguơn Mạo màu trắng, ngay giữa trán có thêu Cổ Pháp Thượng Sanh gồm Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ ngay trên Cổ Pháp thêu chữ Thế “世”.

Trích nguyên văn Pháp Chánh Truyền Chú Giải về bộ Tiểu phục của Thượng Sanh: Bộ Tiểu Phục cũng y như của Thượng Phẩm, song ngay trước mão chính giữa có thêu Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ, ngay trên hình Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ có chữ “Thế”, lưng cột dây lịnh sắc như Ðại Phục.

Khi đến Tòa Tam Giáo, thì phải mặc bộ Tiểu Phục, còn Ðại Phục thì chỉ khi đến ngự trên ngai mình.

d/. THẬP NHỊ THỜI QUÂN.

Mão Tiểu phục của Thập Nhị Thời Quân cũng đội Hỗn Nguơn Mạo màu trắng, y như Hỗn Nguơn Mạo của Thượng Phẩm, Thượng Sanh tùy theo Chi của mình mà để Cổ Pháp.

Trích nguyên văn Pháp Chánh Truyền Chú Giải về bộ Tiểu phục của Thập Nhị Thời Quân: Bộ Tiểu Phục cũng toàn hàng trắng. Lưng nịt dây lịnh sắc y như Ðại Phục. Ðầu đội mão cũng như Tiểu Phục của Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh, tùy theo chi mình mà để Cổ Pháp, chơn đi giầy vô ưu màu trắng.

Khi Hành Chánh thì mặc bộ Tiểu Phục, còn Ðại Phục thì khi Ðại Lễ.

e/. TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN và CHƯỞNG ẤN

Mão Tiểu phục của các Chức sắc Hiệp Thiên Đài Tiểu cấp từ phẩm Luật Sự lên đến Cải Trạng, tất cả đều đội Khôi Nguyên Mạo, riêng hai phẩm Tiếp Dẫn Đạo Nhơn và Chưởng Ấn thì đội Hỗn Ngươn Mạo.

Trích nguyên văn Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài về bộ Tiểu phục của Tiếp Dẫn Đạo Nhơn: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có 2 tụi trắng, đầu đội HỖN NGUƠN MẠO, trước mão có thêu Cổ Pháp và chữ Tiếp Dẫn Đạo Nhơn bằng quốc tự, chơn mang giày trắng.

Trích nguyên văn Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài về bộ Tiểu phục của Chưởng Ấn: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có 2 tui trắng, đầu đội HỖN NGUƠN MẠO, trước mão có thêu Cổ Pháp và hai chữ Chưởng Ấn bằng quốc tự, chơn mang giày trắng.

III - NHỰT NGUYỆT MẠO 日 月 帽

Nhựt Nguyệt Mạo là cái mão có vòng tròn úp lên đầu tượng trưng cho mặt trời và cái hình bán nguyệt của mão tượng trưng cho mặt trăng.

Nhựt Nguyệt Mạo là mão Đại phục cho Thập Nhị Thời Quân và Thập Nhị Bảo Quân.

Nhựt Nguyệt Mạo trước đây gọi là Mão Quạ, do Ngài Bảo Văn Pháp Quân trong Đàn cơ tại Tòa Thánh, ngày 25 tháng 1 năm Tân Mùi (Dl. 13/3/1931) cầu hỏi Bà Lục Nương Diêu Trì Cung, Bà giáng cơ đặt tên lại cho mão nầy như sau: Thưa anh Cao Văn Pháp, em chẳng hiểu ý Chí Tôn định y phục của hai anh thế nào nên tốt hơn là tìm Thánh ngôn của Người mà coi lại.

Văn Pháp bạch: Lúc sửa Pháp Chánh Truyền trải qua những Thiên phục của các Chức sắc, Đức Giáo Tông đặt tên mão còn sót mão Hiệp Chưởng của Chức sắc Hiệp Thiên Đài. Qua tưởng khi để mão Hiệp Chưởng không nhằm, xin em từ bi sửa lại dùm.

Cười… Cái vòng tròn úp lên đầu mà đội là thể Nhựt hình, còn hình bán nguyệt của mão là thể Nguyệt tượng, Vậy thì gọi là Nhựt Nguyệt Mạo.

Nhựt Nguyệt Mạo là mão Đại phục cho Thập Nhị Thời Quân, Thập Nhị Bảo Quân, Chức sắc Hiệp Thiên Đài Tiểu Cấp.

A- THẬP NHỊ