Đôi liễn đặt trước cổng Báo Quốc Từ

 - Bảo thủ cơ đồ Anh hùng dương khí phách

 - Hộ trì quốc vận Chí sĩ hiển oai linh.

保 守 基 圖 英 雄 揚 氣 魄

護 持 國 運 志 士 顯 威 靈

Description: Description: 2007

Ðôi liễn nầy do Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức đặt ra, được đắp chữ nổi vào hai trụ cổng của Báo Quốc Từ.

 

 

 

CHƯƠNG I

 

A-Báo Quốc Từ

B-Đức Hộ-Pháp đề xướng lập Báo Quốc Từ

C-Cảm tưởng về báo quốc từ - Ưng an, thúc Dật Thị

 

 

PHẦN GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

A-BÁO QUỐC TỪ  國 祠

A: The National Pantheon.

P: Le Panthéon national.

Báo: Ðáp lại. Quốc: Nước, quốc gia. Từ: Ðền thờ.

Báo Quốc Từ là một Đền thờ, thờ những vị có công lớn đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Ngôi Đền này để tưởng niệm “Những kẻ chí sĩ lãnh trách nhiệm nghiêng vai gánh vác cả non sông, đều làm phận sự, công nghiệp nhiều ít ấy, tính lời vốn với Toà Thiêng Liêng, hoặc ghi tên tuổi vào Thanh sử thiên niên chớ chẳng phải để kể công trình với Chúa tể ấy”.

BÁO QUỐC TỪ thành lập ngày 01-01-1955, cách cửa Chánh Chợ cũ Long Hoa về phía Bắc độ hơn trăm thước Cách Đền Thánh Toà Thánh Tây ninh khoảng hai cây số. Du Khách muốn viếng Toà Thánh nếu đi về phía Long-Hoa-Thị thì phải đi ngang qua Đền Báo-Quốc-Từ, vì ngôi Đền này nằm trên trục lộ giao thông một cách oai nghiêm, lộng lẫy nhưng gọn gàng và đủ đầy sự khiêm tốn, chính con lộ này được mang danh là “Lộ Báo Quốc Từ”. Hằng năm cứ đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch Hội Thánh Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh cùng toàn Đạo có thiết “LỄ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG” tại ngôi Đền này..

Nhìn vào sáu mặt Đền thông thoáng, nhất là hai mặt cửa: phía chính Bắc và chính Nam có đắp nổi đôi câu liễn đối viết bằng chữ Hán nói trên.  

Ðức Phạm Hộ Pháp đã cho xây dựng một ngôi Báo Quốc Từ nằm sừng sững giữa Đại lộ đi từ Tòa Thánh xuống Chợ Long Hoa, làm như một quãng trường lớn, xe

cộ phải đi vòng chung quanh Đền khiến tất cả đều cúi đầu ngưỡng vọng về việc “Cứu Quốc Công Thần”của các Ngài

BÁO QUỐC TỪ cất theo hình lục giác đều, hai mặt trước và sau có đắp đôi liễn nơi cổng chánh nói lên sự tôn kính đối với các bực anh hùng chí sĩ xả thân bảo vệ tổ quốc, xây dựng giang sơn.

Ðôi liễn như vầy:

           Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách,
           Hộ trì quốc vận chí sĩ hiển uy linh.


         

Nghĩa là: - Bảo thủ cơ đồ, người anh hùng nêu cao khí phách.  Hộ trì vận nước, người chí sĩ hiển lộ oai linh.

Trong BÁO QUỐC TỪ nơi bàn thờ chánh thì thờ Quốc Tổ Hùng Vương, các vị Cứu quốc công thần, Chiến Sĩ Trận Vong.

Linh vị thờ viết bằng Hán tự, như sau:

Chữ lớn hàng giữa:  HÙNG VƯƠNG QUÂN CHI THỈ.
        Hàng bên trái:  CHIẾN SĨ TRẬN VONG.
        Hàng bên phải: CỨU QUỐC CÔNG THẦN.

Chính giữa Đền  trần thiết một bàn thờ uy nghi:

                       
                         
                        
                          
                         
       
Các Linh vị đều sơn son thếp vàng, từ khí bằng đồng bóng loáng. Hai bên có đủ lộng tàng, đồ lỗ bộ. Ngay sau bàn thờ có tám chữ Nho viết theo lối Đại tự:

“CỨU QUỐC CÔNG THẦN CHIẾN SĨ TRẬN VONG”

救 國 功 臣 戰        

            Dưới tám chữ ấy có bốn Bài vị sơn son thếp vàng  các vì Vương: HÀM NGHI, THÀNH THÁI, DUY TÂN được thờ trong Báo Quốc Từ cũng là thờ Linh vị các vì Vua nhà NGUYỄN có tinh thần cách mạng chống Pháp đô hộ và nhà Cách mạng CƯỜNG ÐỂ, sau đó là Anh hùng TRÌNH MINH THẾ (Quốc Sĩ)

Thế nên, trong buổi Lễ Khánh Thánh Báo Quốc Từ ngày 16-8-Ất Mùi (dl 1-10-1955), Ðức Phạm Hộ Pháp nói:

Nơi Ðền thờ nầy, các Ngài đã thấyLinh vị của mấy vị Cựu hoàng và Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể, xin các Ngài đừng tưởng lầm rằng: Ðạo Cao Ðài đã xu hướng theo thuyết bảo hoàng, mà kỳ thật các Ðấng ấy chỉ liệt vào hạng trung quân ái quốc của Việt-Nam mà thôi, vì công nghiệp của họ là tranh đấu giải ách lệ thuộc cũng như các chiến sĩ cách mạng khác kia vậy.

Tưởng niệm tới lễ ấy nên Hội Thánh mới quyết định lập BÁO QUỐC TỪ thờ trọn cả các vong linh của các anh hùng chiến sĩ, cứu quốc công thần cùng là trận vong chiến sĩ

Hôm nay các anh linh chư vị anh hùng tiền bối và hậu bối đang ngự trị trong khối Quốc hồn của ta và đang vơ vẩn bên ta. Giờ phút thiêng liêng nầy, Bần đạo xin các Ngài hiệp tâm làm một cùng Bần Đạo thành một khối tưởng niệm duy nhứt đặng cầu xin các Ðấng ấy giúp cho nòi giống ta khỏi cơn ly loạn, cốt nhục tương tàn, đặng đem hạnh phúc Hòa Bình lại cho nước nhà và cho toàn thiên hạ”…

Ngày hôm ấy: Hoàng Thân Tuy Lý Vương Tôn Ưng An Thúc Dật Thị được mời dự lễ Khánh Thành Báo Quốc Từ ngày 16-8-Ất Mùi (dl 1-10-1955) Ông có viết một bài cảm tưởng, đại ý như sau, trích một đoạn:

"Trước cảnh các Tín đồ Cao Ðài nam nữ kéo đến Báo-Quốc-Từ niệm hương, lễ bái thành kỉnh, tôn sùng anh linh của các bậc tiền nhân, thật làm cho kẻ thân tộc nầy không sao tả xiết nỗi cảm kích tri ân, nó xúc động cả tâm hồn. Những sự tai nghe mắt thấy đã đưa người xem từ cái mới lạ nầy qua cái mới lạ khác. Khi tôi trở về Sài Gòn, cảm thấy tinh thần rất khoan khoái, tâm trí nhẹ nhàng:

                  THI
Muôn vàn cảm tạ các Chơn linh,
Ẩn ước Thiên cơ chỉ giáo mình.
Ðôi ngã Âm Dương tuy cách biệt,
Một niềm thành kính thấu U Minh.

 

U Minh hiển hiện giữa quang minh,
Quá khứ tương lai kể sự tình.
Báo quốc tinh trung gương vạn cổ,
Ân cần khuyên nhủ khách tài danh.

Ðức Phạm Hộ Pháp cho xây dựng Báo-Quốc-Từ  ngay giữa đường, không thiên tả, không thiên hữu, cũng không ở đầu đường hay cuối đường, có ý nghĩa là công nghiệp của mỗi vị vua vẫn còn dang dở nửa chừng, cần có sự nối tiếp của các thế hệ sau.

Các thông lộ này tạo thành chữ BÌNH   Báo Quốc Từ nằm vào chính giữa, nói lên ý nghĩa là cầu mong HOÀ BÌNH,CÔNG BÌNH…cho muôn dân. Nhất là vùng Thánh địa,Toà Thánh Tây Ninh này được nhiều diễm phúc

Description: Description: HV 1den

1-Đức Thượng Sanh đọc Diễn văn Lễ Khánh Thành
vuông rào BÁO QUỐC TỪ

Kính HỘI-THÁNH,
Chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng và  Phước Thiện Nam Nữ,
Trung Tá Tỉnh Trưởng,
Quý Quan khách,
Chư Chức việc và Ðạo hữu lưỡng phái,

Hôm nay là buổi Khánh thành vuông rào Báo Quốc Từ, nhơn danh HỘI-THÁNH tôi xin để lời cảm ơn Trung Tá Tỉnh Trưởng, quý viên chức Tỉnh Tây Ninh và quý quan khách sẵn lòng đến dự, giúp tinh thần cho buổi lễ được xán lạn và trang nghiêm trong khung cảnh huy hoàng long trọng.

Trên vùng Thánh Ðịa nầy, hôm nay Ðời và Ðạo đã gặp nhau và thông cảm nhau trong dịp tỏ lòng tôn kính và sùng bái những nhơn vật trong hàng Vương giả, đã lấy chủ nghĩa quốc gia dân tộc làm chuẩn đích, đem thân thế điểm tô cho non sông Việt chủng được vững bền trên cõi Á Ðông lắm khi phải trọn đời hy sinh vì giống nòi Hồng Lạc.

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một nền QUỐC ÐẠO được khai sáng trên đất Nam Phần Việt Nam, nơi mà tinh ba của đất nước đã nung đúc biết bao bậc anh phong chí sĩ, lẽ tất nhiên là Ðại Ðạo có phận sự bảo tồn quốc túy, giữ cho còn mãi những cái hay, cái đẹp riêng biệt của nước nhà hầu lưu truyền cho đời sau roi dấu.

Trong những cái hay, cái đẹp đó đáng treo gương nhất là tinh thần vị quốc xả thân dầu đến thác cũng không

đổi dời tiết tháo.

Vì muốn tôn thờ cái tinh thần vị quốc ái dân đó, Ðức Hộ Pháp mới có sáng kiến xây dựng ngôi BÁO QUỐC TỪ để làm nơi hương hỏa phụng tự cho các Ðấng Tiên Vương và các nhà tôn thất có dày công với Tổ Quốc Việt Nam.

Cái sáng kiến của Ðức Hộ Pháp do nơi lòng ái quốc chơn chính của Ðức Ngài, đã làm cho toàn Ðạo vui lòng và mãn nguyện.

Ngày nay HỘI-THÁNH tiếp tục gìn giữ dấu tích của

Ðức Ngài và tô điểm cho nó còn vẻ uy nghiêm mãi mãi.

Tuy nói rằng ngôi Báo Quốc Từ để tôn thờ những bậc Vương giả hữu công với đất nước, nhưng nước Việt Nam đã thoát vòng lệ thuộc và chính thể hiện tại là chính thể Cộng Hòa thì từ đây ngôi miếu nầy sẽ dành chung để chiêm bái những vị lãnh đạo Quốc gia như Quốc Trưởng, Thủ Tướng chẳng hạn, đã hy sinh vì Tổ Quốc, đã có công đổi loạn ra trị, xây dựng thái bình cho nhơn sanh được hưởng an cư lạc nghiệp.

Ðó là những đấng Phụ Mẫu Chi Dân thật xứng đáng những ân nhân ngàn đời của dân tộc Việt Nam vậy.

Ngoài ra những Đấng anh hùng tương lai của đất nước, những nhơn vật đã dám tuẫn tiết vì non sông, dám liều mình vì dân tộc đã đem thắng lợi cho quê hương và giữ danh dự chung cho nòi giống. Những Đấng ấy đều đáng đem vào Báo Quốc Từ để được thiên thu phụng tự.

Vì mục đích tôn trọng hạng anh hùng chí sĩ nên nơi mặt tiền Báo Quốc Từ, HỘI-THÁNH có cho khắc hai câu đối, do Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức biên soạn và đã được sự chấp thuận của HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài như dưới đây:

- Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách
- Hộ trì quốc vận chí sĩ hiển uy linh"

Cái ý nghĩa hai câu nầy như thế nào, tôi chắc rằng quí vị đều biết rõ.

Thưa HỘI-THÁNH và chư Quí vị,

Từ xưa biết bao nhiêu bậc anh hùng chí sĩ Việt Nam đã lắm phen cứu vãn tình thế khuynh đảo của nước nhà, đánh đuổi kẻ xâm lăng,  xây dựng nền độc lập.

Những bậc anh hùng dân tộc như: Phạm Ngũ Lão, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Ðạo …những bậc anh thư như: Hai Bà Trưng là Trưng Trắc, Trưng Nhị, mặc dù ngày nay đã khuất bóng, nhưng uy danh vẫn còn ghi tạc sử xanh được muôn đời nhắc nhở ca tụng. Những Đấng ấy há chẳng đáng cho nhơn dân sùng bái phụng thờ mãi mãi sao?

Cho hay dù trong cửa Ðạo hay nơi mặt đời, những bậc siêu phàm đều có giá trị hiển hách ngang nhau.

-Ðạo thì dụng từ bi, bác ái, cứu khổ nâng nguy;

-Ðời thì dụng tiết tháo anh hùng, trung cang nghĩa khí

Trải thân hữu dụng để phục vụ cho Ðạo và nhân sanh hay lấy chí anh phong để phụng sự quốc gia, giữ gìn biên cương lãnh thổ, khi nợ trần giũ sạch, nhục thể trả lại cho lòng đất thì dù Ðạo hay Ðời, những linh hồn bất diệt cũng đều được hưởng sự ban thưởng Thiêng Liêng, qui hồi cựu vị trong cõi Thần Thánh Tiên Phật.

Cái gương của Ðức Quan Thánh Ðế Quân ngày nay đắc phong Phật vị và Ðức Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm tức là Ðức Thanh Sơn được đứng vào hàng Tiên vị đã chứng cho chúng ta thấy sự công bình của Ðấng Chí Tôn cầm quyền thưởng phạt.

Một người thì đem tài bách chiến và khí phách anh hùng để phò vua dựng nước, một người thì dụng văn chương bác lãm để giúp cho nước trị dân an, hai Ðấng ấy chẳng phải vì tu hành mà chỉ nhờ nơi tâm chí cao siêu nên

thủ đắc Thiên vị.

Vậy tôi ước mong cho chư Ðạo hữu nam nữ nhận thức được cái ý nghĩa cao quí của buổi lễ hôm nay và trước khi dứt lời, tôi cầu xin ÐỨC CHÍ-TÔN ban ơn cho toàn thể Chức sắc, đạo hữu và quí quan khách.

                                           Nay kính,

Ngày 20 tháng 10 Bính Ngọ (dl. 01-12-1966)
Cao Thượng Sanh

Description: Description: HV 1den

2- Ngài Bảo Thế LÊ-THIỆN-PHƯỚC

đọc bài Diễn văn

Trong dịp trùng tu và làm hàng rào bao quanh Báo Quốc-Từ, kế đến làm lễ Khánh-Thành ngày 20-10-Bính Ngọ (dl 01-12-1966), Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có đọc bài Diễn văn và thuật lại như sau:

Người Việt chúng ta từ ngàn xưa đã sẵn chất chứa trong cõi lòng một nguồn tri ân nồng hậu đối với những nhân vật nào, dầu xa dầu gần, bất luận người bổn xứ hay khách ngoại bang, đã chơn thành hy sinh tấm thân trần cấu, giúp hộ cho quốc dân ta, tạo dựng một uy lực hùng cường trong quốc nội hay lập nên một ngôi thứ gì trong vạn chủng. Tình giao hảo giữa người thi ân và kẻ thọ ân bắt buộc như thế, cho nên, để lưu niệm thành tích của nhiều Đấng Tiên Vương trong hiện kim thời đại, Ðức Hộ Pháp xây cất ngôi Báo-Quốc-Từ  nầy thành hột kim cương chói rạng miền Nam Việt-Nam, lại đặt vị trí nơi trung tâm Châu Thành Thánh Ðịa, thật là một may duyên hy hữu.

Thử lật trang thanh sử mà xem đại lược, đọc giả sẽ thấy trước mắt một bức tranh cẩm tú từ dãy Hoành Sơn xuống tới Cà-Mau pha màu buồn vui lẫn lộn, mà buồn nhiều vui ít, thành ra màu sậm. Buồn vì từ đời Hồng Bàng dĩ chí Hậu Lê, dân Việt không ngớt làm thân nô lệ cho Đường Trào. Còn vui tuy ít, mà có hơn không, để giảm bớt cơn sầu của dân ta trong một thuở. Ấy là Việt Vương Câu Tiễn thắng mưu cao kế độc của Tàu, ngay trong đất nước Tàu mới hết nạn triều cống. Nối theo có nhiều anh hùng

liệt nữ như Hưng Đạo Vương, Nữ Trưng Vương…đuổi quân Minh ra khỏi biến thuỳ, tự ta lấy lại chủ quyền lãnh thổ.

Nhưng vận mạng Việt Thường còn truân chuyên thống khổ, nên sau khi vua Gia Long tức vị thì nước Việt Nam bị Pháp tóm thâu làm thuộc địa. Một lần nữa, dòng châu kia chưa ráo, lệ thảm nọ lại tuôn, quân khí ta lẫy lừng định kế chống ngoại xâm. Ngặt nỗi sức yếu cô đơn, chư liệt Vương: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, lần lượt bị biếm và đồ lưu hải ngoại, rồi gởi xác nơi xứ lạ quê người. Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể cũng bôn ba ra khỏi nước, rồi khuất bóng ngàn thu nơi đất khách, song nắm tro được đem về đất nhà.

Chính Ðức Hộ Pháp buổi nọ thân hành vượt đại hải trùng dương qua xứ Phù Tang, thỉnh tro về cho còn di tích công thần nhà Nguyễn và nơi Chánh điện nầy là bài vị của Tứ vị Tiên Ðế đó.

Thương thay! Chí cả của chư Tiền Vương tuy bị chôn lấp trong thất bại, nhưng hồn nước Việt-Nam nhờ chí cao cả ấy mà tăng phần hiển hách, giữ mãi còn dân khí bất khuất trước sự bất công và sức mạnh.

Ngộ nghĩnh một điều và cũng là may mắn một dịp bất trùng lai là Tôi cùng ông bạn Thời Quân Tiếp Pháp, trong thời kỳ học hỏi riêng với các Ðấng thiêng liêng hồi năm Ất Mùi (1955), Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy chúng tôi thủ lễ, có ba vị Cựu Hoàng đến:

       1* Ðầu tiên là:

          Việt Nam Ðại Quốc HÀM NGHI:

“Cô nhân thiệt cảm đội ơn sâu của Ngự Mã Thiên

Quân, quí Thiên Sứ và Hội Thánh.

Nhân nhìn lại xã tắc mà đau lòng, tuy trước đã

chẳng nên trò, nay vẫn vậy. Thật là tang thương quá đỗi!

                  THI
Nhìn ra xe ngựa cõi phồn ba,
Gióng trống trời Nam hiệp nước nhà.
Ðem mối cựu thù tô xã tắc,
Ðịnh giềng tân thế cứu san hà.
Vì do quyền lợi nên đành vậy,
Ấy bởi hư danh mới thế à!
Cứu khổ từ đây nhờ Ðạo pháp,
An dân lập quốc tại Kỳ ba.

    Cô nhân xin cảm ơn và xin được phép lui gót.”

* Kế tiếp là: THÀNH THÁI chi quân:

Xin chào chư Ðại Thiên Phong và Tiểu Thiên mạng.

                  THI
Tách bước đồ lưu nhớ hận nhà,
Buồn cho thân thế đã về già.
Mong nhờ liệt sĩ toan trau sửa,
Ðắp điếm non sông gấm vóc ta.

* Ðoạn tới:Vua DUY TÂN:

Tiểu vị kính chào quí Ðại Ðức, quí Thiên ân.

                  THI
Mở lối nghĩa nhân quét hận thù,

Qua dòng tân khổ quốc gia thu.

Cái gia khô cổ, nay nhờ Ðạo,
Về cõi Hư linh cũng vận trù.
            (Cái gia là con đa đa)

* Sau hết là: NGUYỄN CƯỜNG ÐỂ:

Kính mừng chư Chơn Quân và Thiên phong. Cười. .

Xin để lời cám ơn và mừng Bảo Thế Chơn Quân chi đức.

Vị quốc bôn ba ở nước ngoài,
Chí mong chưa đoạt đoạn trần ai.
Tủi mừng đâu biết giờ tiền định,
May đặng duyên xưa ngự quốc đài.

                   Xin được kiếu.

Chuyện đã trải qua hơn mười một năm rồi, nay nhắc lại tưởng cũng là cơ hội cho chư anh linh trên đây tỏ bày hy vọng đặt vào Đạo pháp của ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘvà có thể nhờ đó chư vị sẽ ngậm cười nơi Huỳnh tuyền

Kính Hội-Thánh,

Kính Trung Tá Tình Trưởng,

Kính Chư Quí vị.

Để tô điểm cho BÁO-QUỐC-TỪ được thêm vẻ tôn nghiêm, nhiều phần tử ưu tú trong vùng Long-Hoa đã hoan hỉ chung lo xây dựng bức rào chung quanh ngôi thờ Tiền Nhân Vị quốc Vong Thân. Ấy là một hành tàng đáng khen ngợi về phần vật chất và đáng chú ý  về mặt tinh thần là ngộ khi quốc biến gia vong, chẳng luận là người thuộc giới Đạo hay Đời, phải đồng tình làm tròn bổn phận công dân đặng giải nguy cho dân tộc, cho thuỷ thổ. Chúng ta nên lưu ý rằng không phương mầu nào hơn phương pháp áp dụng đạo đức NGHĨA NHÂN để thức tỉnh thiên hạ qui về chánh pháp của THIÊN THƯỢNG thì dầu muốn dầu không khi “Thời lai vận khứ”, thanh bình sẽ phục hưng

tạo lại một đời mới với dân mới trong an cư lạc nghiệp

Mong thay! 

Nay kính

BẢO THẾ 

  THIỆN PHƯỚC

Thừa quyền Thượng Sanh

(Ký tên đóng dấu)

Bốn bài thi giáng cơ của 4 vị Tiên Vương nói trên được dùng làm 4 bài thài hiến lễ cho 4 vị khi cúng tế nơi Báo Quốc-Từ Mỗi năm tại Báo Quốc Từ, Hội Thánh có thiết lễ cúng tế thường lệ vào năm ngày, kể ra như sau:

- Ngày 16 tháng Giêng âl: Thượng Nguơn.

- Ngày 10 tháng 3 âl: Giỗ Tổ Hùng Vương.

- Ngày 16 tháng 7 âl: Trung Nguơn.

- Ngày 16 tháng 8 âl: Trung Thu.

- Ngày 16 tháng 10 âl: Hạ Nguơn.

*Bài tế Quốc sĩ Trình Minh Thế:

Lỡ bước qua sông chẳng kịp đò,

Chí cao khéo định khỏi phiền lo

Anh hùng định thế chưa an thế,

Chỉ biết mai sau chẳng vẹn trò

BÀI KINH CÚNG NƠI BÁO QUỐC TỪ
                     Năm Giáp Thìn 1964

Hương đăng hoa quả kính dâng,

Tửu trà cung hiến Linh Thần chứng minh

Giúp cho thiên hạ thái bình,

An cư lạc nghiệp Giáp Thìn đương niên.

Cầu xin các Ðấng Thánh Hiền,

Hộ trì Ðại Ðạo đủ quyền chuyển xây.

Bắc Nam hòa hiệp Ðông Tây,

Bốn biển huynh đệ sum vầy một nơi.

Nhứt tâm tín ngưỡng Ðạo Trời,

Thực hành Nhơn Nghĩa, lập đời Thượng ngươn.

        Description: Description: HV 1den         

3-BÀI TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

                        Nợ cung kiếm chiến chinh là nghiệp,

                        Giúp quốc dân sánh kịp tha bang,

                                    Xông pha ra chốn chiến tràng,

     Đắng cay cam chịu gian nan không sờn.

            Nguyện lấy sức đền ơn cương thổ,

            Dốc lòng lo báo bổ ơn nhà,

                        Trần hoàn gió bụi xông pha,

                 Dựng nên Tổ quốc một Toà thiên nhiên.

                        Gầy đại nghiệp truân chuyên lắm nỗi,

                        Lướt trận tiền mở lối chông gai,

                                    Ngăn quân là bậc thiên tài,

                 Đỡ nâng quốc thể đến ngày hiển vinh.

                        Đạp gió tuyết phận mình cam chịu,

                        Trọn kiếp sanh bận bịu giang sơn,

                                    Nhân dân thất quốc căm hờn,

                 Định an nước cũ chi sờn lòng trai.

                        Ách nô lệ ngày nay đã dứt,

                        Nước quật cường nhờ sức toàn dân,

                                    Hồn thiêng nay đã tỉnh lần,

                 Muôn dân chung hưởng hồng ân của Trời.

                        Cơ tiến hoá đời đời chói rạng,

                        Giữ Nghĩa Nhân soi sáng đạo mầu,

                                    Đức ân bũa khắp Năm Châu,

                 Toàn cầu chung hưởng phép mầu Chí linh.

                        Mưu định quốc anh linh trị nước,

                        Giúp giống nòi giữ được Tự do,

                                    Tâm linh là phước Trời cho,

                 Đỡ nâng vận nước chung lo mối giềng.

                        Nay nhơn quả tiền khiên vừa mãn,

                        Cõi Hư linh cách dáng trần ai,

                                    Trụ tâm nương bóng Cao-Đài,

                 Theo vầng Nhựt Nguyệt ra ngoài Càn khôn.

                        Trọng nghĩa Bạn linh hồn xin nhớ,

                        Trợ cho nhau nâng đỡ Đạo nhà,

                                    Rượu nồng đôi chén thiết tha,

                 Tình thâm hưởng cạn đó là tri âm.

                        Danh Đại-Đạo vang lừng  tỏ rạng,

                        Đuốc Từ bi soi sáng tâm hồn,

                                    Lọc lừa khắp cả Càn Khôn,

                 Lần theo nguồn Thánh bảo tồn chúng sanh.

                        Công viên mãn đường lành nhẹ tách,

                        Lánh bến mê phủi sạch nợ trần,

                                    Sống làm TƯỚNG thác làm THẦN,

                 Hiển linh xin chứng tấm lòng tiết trung!

Description: Description: HV 1den

Giỗ Tổ Hùng Vương

                   Cây có cội, nước có nguồn,

                        Mồng mười giỗ Tổ Đức Hùng Vương.

Hoan nghinh đại nghiệp ơn khai sáng,

Tưởng niệm công trình lập kỷ cương.

Đất Việt địa linh sanh tuấn kiệt,

Trời Nam quốc vận mạnh phi thường.

Giang san gấm vóc bền chân vạc,

Đảnh tộ Việt-Thường vững bốn phương

                         Thân Dân

 

Huệ Giác hoạ:

Việt chủng vì chưng rõ gốc nguồn,

Đua nhau giỗ Tổ Đức Hùng Vương.

Tiền nhân bố đức khai cơ nghiệp,

Hậu đại nhớ ơn dựng thổ cương

Văn hiến tạo nên còn chói rạng

Lạc Hồng roi giống há khinh thường?

Hiềm đang tranh chấp chia bờ cõi,

Cầu nguyện Bắc Nam hiệp nhứt phương

             Đức Thượng-Sanh (Huệ Giác)

Description: Description: HV 1den

B- Đức Hộ-Pháp đã đề xướng lập

BÁO QUỐC TỪ

 

Description: Description: 1

Đức Hộ-Pháp Giáo Chủ Đạo Cao-Đài

 

Đức Hộ-Pháp đã đề xướng lập BÁO QUỐC TỪ với nhiều nguyên do:

Bởi:“Hoàn cảnh đất nước Việt Nam lúc bấy giờ hết sức sôi động. Nơi Triều đình Huế:

- Vua Thành Thái (1889-1907) bị phế (3-9-1907).

- Vua Duy Tân (1907-1916) lên kế vị (8-9-1907) nhưng từ bỏ ngôi, hợp với Trần Cao Vân chống Pháp và bị bắt (6-5-1916).

Ngài giữ thái độ oai nghi lãnh đạm, cho đến khi bị đàyqua đảo Réunion cùng với vua Thành Thái(13-5-1916).

           Cái chí khí kiêu hùng và bất khuất của vị vua 17 tuổi, nung thêm chí căm hờn ngoại chủng của Đức Giáo Chủ Phạm Công Tắc lúc bấy giờ. Với khí thế tuổi trẻ, Ngài muốn vươn lên phá tan xiềng xích nô lệ, để đòi lấy quyền sống và giải thoát gông cùm ngự trị trên giống nòi. Nhưng tuổi nhỏ, Ngài đành chấp nhận hoàn cảnh, gia nhập phong trào Đông Du năm 1907, khi vua Duy Tân nối ngôi, để mong học hỏi thêm kinh nghiệm tranh đấu, tinh thần Cách mạng giữ nước của Người.

Phong trào Đông Du (1904-1907) do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Minh chủ và hai nhà Cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng để nâng cao dân trí, bằng cách gởi các thanh niên du học ngoại quốc nhất là Nhật Bản.

Tại Sài Gòn phong trào Đông Du do hai ông Gilbert Chiếu (tức Trần Chánh Chiếu) và Dương Khắc Ninh lãnh đạo. Các ông thành lập các kinh thương hội như “Minh Tân công nghệ” và khách sạn “Nam Trung” làm nơi lưu trú hội họp cho đảng viên. Ngài Phạm Công Tắc dù đang theo học năm thứ hai trường Chasseloup-Laubat cũng lén bỏ học đến họp với anh em.

Hai ông Gilbert Chiếu và Dương Khắc Ninh tập  hợp các đảng viên chia nhiều nhóm được ghi tên vào nhóm thứ tư. Lòng Ngài như mở hội nhưng phong trào bị khám phá. Mật thám đến tra xét cơ sở Minh Tân công nghệ. Ông Dương Khắc Ninh đã lẹ tay hành động, tiêu hủy tất cả hồ sơ và tài liệu nên không ai bị lôi thôi gì cả.

Khi ông Chiếu bị bắt, Ngài lại về quê.”

Vì ảnh hưởng cách mạng và các Tiên Vương, về sau, Ngài lập Báo Quốc Từ, bôn ba sang Nhật rước tro Cường Để, về Sài Gòn rước linh vị Thành Thái và Duy Tân đem thờ nơi Báo Quốc Từ (gần chợ Long Hoa). Ngoài ra cơ quan thông tin Cao Đài sưu tầm và phổ biến các hình ảnh Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học … Tất cả sự việc đó để nuôi dưỡng ý chí các liệt sĩ bất khuất và di dưỡng vang bóng một thời của tuổi trẻ hào hùng… để xuất dương. Ba nhóm đã sang tới Nhật.

Báo Quốc Từ cất theo hình lục giác đều, hai mặt trước và sau có đắp đôi liễn nơi cổng chánh nói lên sự tôn kính đối với các bực anh hùng chí sĩ xả thân bảo vệ tổ quốc, xây dựng giang sơn. Sau đây là lời Phủ dụ của ĐỨC HỘ-PHÁP trong ngày lễ Khánh Thành Đền Báo Quốc Từ:

Description: Description: HV 1den

1- Lễ Khánh Thành Đền Báo Quốc Từ

Đức Hộ-Pháp để lời Phủ dụ

Ngày 16 tháng 8 Ất Mùi (Dl 01-10-1955)

“Bần-Đạo xin trân trọng để lời cám ơn Quan Khách quyền Đời và Chức Sắc Thiên Phong của Hội Thánh Cao Đài cùng Quân-Đội Quốc-Gia đã có hiện diện nơi đây, đặng giúp cho Lễ Khánh Thành Đền Báo Quốc Từ  thêm phần long trọng.

Các Ngài cũng như Bần-Đạo đã chung chịu một tình trạng đau thảm, sau 80 năm nước nhà bị lệ thuộc, 80 năm dài đăng-đẳng, nỗi thương đau khổ của toàn quốc, mong mỏi đặng ngày quật cường cứu quốc, thì công cuộc tranh đấu thời gian dài đăng-đẳng ấy biết bao nhiêu bực tiền bối ái quốc chơn thành, đã chịu lắm nỗi hy-sinh cho vận mạng Tổ quốc giống nòi.

Tiếp tục công trình vì dân vì nước ấy, chủng tộc đồng bào ta cùng con đường đấu tranh chánh nghĩa duy có một, nhưng phương pháp tranh đấu bất đồng mới khiến gây nạn nồi da xáo thịt.

Những danh nhân chí sĩ, vị quốc vong thân ta chỉ được quí danh quí tánh thờ phụng tôn sùng đã đành, còn những vị anh hùng vô danh vị quốc, có lẽ ta phải mang một tội tình cùng họ vì ta không nghĩ đến việc hy sinh công danh và xương máu cao cả của họ. Còn những chiến sĩ đương xông pha nơi chiến địa buổi hôm nay cũng thế, ta

chỉ biết danh tánh của họ một phần ít còn quên lại là phần

nhiều, bởi cớ họ phải bị thân danh mai một.

Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ tức là Đạo Cao Đài chỉ cho phép những Tín-đồ của mình phụng sự quốc gia và chủng tộc Việt-Nam, chớ không phân biệt màu sắc Đảng Phái.

Nơi Đền Thờ nầy, các Ngài đã thấy Linh Vị của mấy vị Cựu Hoàng và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, xin các Ngài đừng lầm tưởng rằng: Đạo đã xu hướng theo thuyết “Bảo Hoàng” mà kỳ thật các Đấng ấy chỉ liệt vào hàng trung quân ái quốc của xã hội Việt-Nam mà thôi.

           Vì công nghiệp của họ tranh đấu giải ách lệ thuộc cũng đồng cùng các chiến sĩ cách mạng khác kia vậy.

Tưởng niệm tới Lễ ấy, nên Hội-Thánh mới quyết định lập Báo Quốc Từ thờ trọn cả các Vong Linh của các Anh Hùng Chiến Sĩ, Cứu Quốc Công Thần cùng là Trận Vong Chiến Sĩ.

Tưởng khi các Ngài cũng đã rõ cả hành tàng của Đạo. Từ ngày xuất hiện Đạo nhà của ta trước đã rồi sau mới biến thành nên nền Tôn Giáo quốc tế, vì tư tưởng Đạo giáo khoan hồng của Tổ Phụ chúng ta, mới đem phương pháp tín ngưỡng duy nhứt mối Đạo thờ Trời và thờ Người của Tổ Phụ ta noi truyền từ trước. Ấy vậy đã nói rành Đạo nhà ta trước đã thì ta cũng phải vì nhà của ta là Tổ quốc và nòi giống Việt-Nam đặng phụng sự trước, hầu định tỉnh quốc hồn, thống nhứt tinh thần và năng lực trong cuộc Đại Đoàn Kết của khối Quốc Gia mới đủ phương cứu nguy cho Tổ Quốc.

Biết đâu gương mẫu ấy, nếu ta thực hiện ra được, nó sẽ không thành một phương pháp duy nhất cho các Quốc gia nhược tiểu một phương châm duy nhứt đặng tranh thủ tự do độc lập cho họ, quan niệm tưởng đến công trình tranh đấu của đàn anh may ra nó sẽ an ủi và giúp tâm cho các Bạn, đồng thời phục vụ cho Quốc gia xã hội.

Trái lại, nếu ta vô tình lãnh đạm để cho họ phải chịu mai một thân thể lẫn tâm hồn, thì cái tội của ta vong ân bội nghĩa không cải chối. Hôm nay các anh linh chư vị anh hùng tiền bối và hậu bối đang ngự trị trong khối Quốc hồn của ta và đang vơ-vẩn bên ta.

Giờ phút Thiêng Liêng nầy. Bần-Đạo xin cả các Ngài hiệp tâm làm một cùng Bần-Đạo thành một khối tưởng niệm duy nhứt đặng cầu xin các Đấng ấy giúp cho nòi giống ta khỏi cơn ly loạn, cốt nhục tương tàn đặng đem hạnh phúc Hòa bình lại cho nước nhà và cho toàn thiên hạ”.

Description: Description: HV 1den

 

2- Lễ Hưng Quốc Khánh Niệm.

Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo tại Tổng Hành Dinh ngày 2-5 Quí Tỵ (1953) Lễ Hưng Quốc Khánh

 “Hôm nay ngày Lễ Quốc Khánh, tức nhiên ngày Lễ Trùng Hưng của nước Việt Nam thống nhứt Hoàng Triều của Đức Cao Hoàng Gia Long.

Theo lịch sử, thời kỳ Lễ Trùng Hưng từ 1502 tới 1789 đã biến sanh ra nạn nước: Nam, Bắc phân tranh, Hoàng Đồ chia rẽ Đế vị nhà Vua Lê cầm vận mạng nước nhà, còn Hoàng Đồ chia phân ra từ Miền Trung, tức nhiên  Miền Nam nầy từ Núi Hoành Sơn đổ vô thuộc Chúa Nguyễn, từ Hoành Sơn đổ ra thuộc về Chúa Trịnh. Nước đã ly loạn, trong Nam có đảng tranh vì Chúa Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đã dấy loạn, theo lịch sử thì cả toàn quốc không có một người nào là không hiểu, Bần Đạo chẳng cần nhắc lại đây mà làm gì.

Đến năm 1778, Nguyễn Nhạc đã xưng Vương tức vị và định chiếm đoạt luôn Bắc Việt, tức nhiên tạo loạn cả toàn quốc. Trong thời kỳ ấy đất Tây Sơn có người đã làm cho nước nhà nổi danh đối với Trung Hoa, tức nhiên đối với nước Tàu, là Nguyễn Huệ, khi đặng lịnh của Nguyễn Nhạc ra trận, Ngài phân binh đuổi quân Tàu ra khỏi Bắc tức nhiên ra khỏi Thăng Long Thành của mình, Nguyễn Nhạc tạm phong cho Nguyễn Huệ Bắc Bình Vương. Tuy vậy Tây Sơn lấy thuyết hồi Lê diệt Trịnh, gọi là phò Lê diệt Trịnh, song kỳ trung, Tây Sơn đã mong chiếm đoạt Hoàng Đồ, thì trong khi ấy từ Nam chí Bắc đều thuộc về Tây Sơn.

Vận nhà Nguyễn đã đến, nên sản xuất ra một vị anh hùng là Nguyễn Ánh, đã phiêu lưu vô ngằn, khi ở Nam, khi ở Xiêm, khi về nước, Ngài không biết bao gian khổ, may thay, cái nạn Đế Vương hay là cái nạn nước, nó đã qua, thành thử Ngài xuất hiện nơi Nam Kỳ, tức nhiên trong Nam chúng ta đây, nhờ vị anh hùng cứu quốc, trải biết bao nhiêu đau khổ, đã đem lại một giai đoạn lịch sử vinh diệu, không biết sao mà nói đặng, không thể tỏa. Ngài đã làm cho nước Việt Nam thống nhứt từ Nam chí Bắc.

Còn trong công cuộc định quốc, Bần Đạo nói có hai vị trung thần mà Hoàng Triều đã đặt họ là “Trung quân” tức là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Tây Sơn đem cả lực lượng mình đặng lấy thành Bình Định, Võ Tánh với Cao Hoàng Gia Long chẳng cần gì phải giải vây cho thành Bình Định tức nhiên là Qui Nhơn, nên thừa cơ hội binh lực của Tây Sơn không có đề phòng mà đánh lấy luôn thành Phú Xuân, nhờ thế Gia Long tức nhiên Đức Cao Hoàng đã lấy Phú Xuân đặng, hai người Ngô Tùng Châu và Võ Tánh tử tiết, thật sự ra Hoàng Đồ nước Việt Nam ta đặng thống nhứt từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan ngày nay là nhờ lực lượng Cao Hoàng đã cầm vận mạng và nhờ hai vị “Tinh trung” Ngô Tùng Châu và Võ Tánh mà ta có thể hãnh diện nói rằng: Hai người ấy là người đồng bào trong Nam ta đó vậy.

Ngoài ra cái công nghiệp, Ngài chẳng phải khôi phục Hoàng Đồ mà thôi, Đức Cao Hoàng Gia Long tức nhiên là Nguyễn Ánh, đã đem lại hai Tỉnh của Lào thêm vào bản đồ Việt Nam, một là Sơn La hai là Lai Châu, nếu chúng ta coi lịch sử thì người trước nhứt nước Pháp đã nói: Le Grand Législateur du Việt Nam, tặng một người đã cầm vận mạng nước Việt Nam về luật vĩ đại hơn hết. Cao trọng hơn hết là ngày (1802) Ngài đã chỉnh đốn từ nội bộ tới ngoại thuộc, Ngài lấy cả các Cựu Luật của Ngài, số của Ngài vĩ đại không thể tả đặng, chỉnh đốn duy tân, Ngài đã đem lại cho chúng ta một địa dư mới, Quan chức mới, Luật binh mới, Quân dụng mới, hình thức Chính trị mới, Bình dân mới, cả thảy đều được Ngài chỉnh đốn, nếu chúng ta không có bị bảo hộ từ thử thì Bần Đạo dám chắc rằng: Cái công nghiệp vĩ đại của Đức Gia Long Cao Hoàng đã trở thành đại công cùng Tổ Quốc, chúng ta hôm nay đến đây là cốt yếu để cả tâm đức của mình, trong tinh thần của Ngài.

Bần Đạo mong ước con cái của Đức Chí Tôn cả thảy quân sĩ anh dũng Cao Đài, ngó cái chí hùng của Ngài làm mục đích đặng thi thố thực hiện, cho nước Việt Nam được độc lập”.

Kính cùng chư đọc giả (Lời Soạn giả)

Sau khi quyển “BÁO QUỐC TỪ” được in ra gởi tặng một số độc giả thì tôi được tập “Báo Quốc Từ” của Ngài Trần Quang Vinh viết năm 1966. Thấy có nhiều tài liệu hay hay mà chính nơi đây cần được bổ túc. Vì thế tôi xin ghi thêm vào tài liệu này cho được dồi dào hơn. Bởi   bài tường thuật của Hoàng-Thân ƯngAn mà Ngài Trần ghi

Nhơn dịp Hoàng Thân Ưng An (Chánh hiệu là Tuy Lý VươngTôn Ưng An, Thúc Dật Thị) đến viếng Toà Thánh Tây Ninh  ngày 16-8-Bính Ngọ (dl 30-9-1966) và có sự hiện diện nhiều thân tộc trong Hoàng gia tại buổi Lễ trùng tu Báo Quốc Từ ngày 20-10-Bính Ngọ (dl 01-12-1966) tác giả (Trần Quang Vinh) có thương lượng với Hoàng Thân Ưng An viết cho một bài Cảm tưởng tường thuật cuộc viếng thăm Đền Báo Quốc Từ và gom góp những tài liệu thuộc về bốn vị Vương kể trên….”

Soạn giả xin được trích ra để bổ túc cho được dồi dào hầu cống hiến Bạn đọc cùng tài liệu trong Sử ký của Phạm văn Sơn và nhiều bài thuyết Đạo của Đức Hộ-Pháp.

 

C- CẢM TƯỞNG VỀ BÁO QUỐC TỪ

    (Bài của Tuy Lý Vương Tôn Ưng An, Thúc Dật Thị)

          Du khách từ Sài gòn lên, do con đường mới vào Toà Thánh Tây ninh, sẽ đi qua Chợ Long Hoa, một khu phố xá rộng, nằm trong phạm vi Thánh Địa; rồi từ chợ Long Hoa sẽ trông thấy xa xa một ngôi Đền xuyên qua lộ Bát Quái, đến gần thấy biển đề “BÁO QUỐC TỪ”.

            Trong hai cột trụ cửa có hai câu đối:

- Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách
- Hộ trì quốc vận chí sĩ hiển uy linh.

Cất trên khoảnh đất lớn, có hàng rào sắt chung quanh và mới được trùng tu. Ngôi Đền xem lộng lẫy, trang nghiêm, với những màu sắc tươi thắm, hoà với những công trình chạm trổ Long- Lân- Qui -Phụng. Hai vị tu sĩ lão thành đạo mạo thấy khách thập phương dừng chân viếng kỉnh, hớn hở đón chào.

Bước chân vào Đền thấy chính giữa một bàn thờ sơn son thếp vàng cao lớn, những đồ Từ khí bày biện ở trên đều bằng đồng cũng cao lớn cân xứng, hai bên có lộng vàng tàng đỏ, lỗ bộ, kim cang. Giữa bức tường ngay sau bàn thờ có đề 8 chữ Hán: CỨU QUỐC CÔNG THẦN CHIẾN SĨ TRẬN VONG.

Ở trên bàn thờ, dưới tám chữ ấy có bốn Bài vị sơn son thếp vàng và một tấm chơn dung lộng kiếng. Nhìn hình và đọc chữ trên bốn Bài vị, người viết bài này vô cùng cảm động thấy rằng bốn vị được tôn sùng trong BÁO QUỐC TỪ của ĐẠI ĐẠO CAO ĐÀI đều một giòng họ với mình, đều vào hàng Anh và hàng Cháu.

Hai Linh vị chính giữa:

HÀM NGHI:     Vị quốc đồ lưu nơi Hải ngoại

THÀNH THÁI: Vị quốc đồ lưu nơi Hải ngoại

Hai Linh vị hai bên:

DUY TÂN  :    Vị quốc đồ lưu nơi Hải ngoại

CƯỜNG ĐỂ: Vị quốc đồ lưu Cách mạng. Đó là bức chân dung  CƯỜNG ĐỂ ĐIỆN HẠ.

Trong bốn ngày tôi ở tại Thánh Địa Tây Ninh, trọ tại biệt thự của một ông bạn: Cụ Trần Quang Vinh. Thiên ân Phối-sư Thượng Vinh Thanh. Cảnh tượng trong nhà người tới kẻ lui, mỗi lúc mỗi tưng bừng rộn rịp. Cả ngày khách đến đông đảo, tôi đinh ninh rằng họ đến thăm hỏi vị Phối Sư từ Sài gòn mới trở về, nhưng Ông bạn lại nói với tôi: Họ đến để chào mừng tôi. Vì họ nghe nói Tôi là bà con của bốn vị Vua, Chúa triều Nguyễn mà họ phụng thờ.

Tuy thăm viếng xã giao, nhưng câu chuyện từ sáng đến khuya lại đượm một tình cảm nồng nàn, niềm hoài vọng của Đạo hữu  Cao Đài. Họ nhớ ơn đức tiền nhân, dày công khai sáng, điền địa phì nhiêu: Đồng Nai, Rạch giá. Họ mong cương thường chấn chỉnh, nước trị dân yên. Hoàng đồ toàn bảo: Núi Ngự, sông Hương. Thỉnh thoảng khi có Chơn linh ứng vào thể xác họ. Câu chuyện lại ẩn ước những Bí pháp, Thiên cơ, những tiên tri, sấm ngữ.

Họ nhắc lại những chuyện quá khứ đã ứng nghiệm:

THI

Thượng, hạ nhị thiên xử địa hoàn

Việt-Nam nhứt quốc nhứt giang san

Hoàng-đồ toàn bảo Thiên-thơ định

Đảnh-tộ trường-lưu tổ-nghiệp tồn  

QUỐC-ĐẠO kim triêu thành ĐẠI-ĐẠO

NAM-PHONG thử nhựt biến NHƠN-PHONG

An dân liệt Thánh tùng Nghiêu Thuấn

Văn-hóa tương-lai lập Đại-Đồng.

Đó là bài thi của Đức Chí-Tôn giáng Cơ đêm 21-12- Đinh Hợi (1948) dạy đem qua Hồng Kông giao cho

công dân Vĩnh Thuỵ, trước khi Ngài hồi loan chấp chánh. Nói đến vị lai họ bày giải đến những câu Sấm của cụ  Trạng Trình, những: “Mã đề Dương cước…” “Thân Dậu niên lai”…theo tinh thần đạo pháp và tin tưởng của họ, có thể tóm tắt bằng những câu thi này:

TAM KỲ vận chuyển bồi Tôn Miếu,

ĐẠI ĐẠO qui nguyên pháp điểm tô.

Tôi cũng nghe qua một Sấm ngữ trước giờ chưa từng nghe:

TÂY khởi phục hồi dương chánh lực,

CAO đề hoàn trách dũ nguyên ly.

Hỏi hai câu này ý nghĩa như thế nào? Xuất xứ từ đâu? Bao giờ?  Thì họ cười mà chỉ khuyên lấy hai chữ đầu của hai vế: chữ TÂY và chữ CAO mà suy nghiệm thì có thể hiểu.

Lại có một bài thi Tứ tuyệt chữ Hán, do một Đạo hữu phái Nữ ngâm:

Bửu       Ngọc      Viên   Minh   Thiên  Việt     Nguyễn

Sơn       Trung     Sứ       Mạng  Địa      Nam    Tiền

Kỳ         Niên      Trạng  Tái      Tân      Phục    Quốc

      Hương   Xuất      Trình   Sanh   Tạo     Nghiệp Yên (1)

Rồi đến lượt những lời thơ Bí truyền, từ năm Mão vừa qua (1963) dưới đây là một:

Bính-Ngọ  này mã phi nghiệp chướng

Anh-hùng hào kiệt tiến  biên cương

Bão-bùng dậy  bủa vây tứ  hướng

Long hoàng nhả  Ngọc thống Quốc Vương.

Họ thấy tôi ngẩn ngơ nghĩ suy, họ nói đó là Bí truyền, một ngày gần đây sẽ được chứng nghiệm.

Bốn nữ Giáo Hữu liên ngâm với một giọng thanh tao, bổng trầm rất đúng điệu những bài tiên tri, văn chương hùng hồn mà ý nghĩa không bí ẩn. Hai bài sao lục

dưới đây là của Cụ Phan Thanh Giản giáng Cơ đề Bút hôm 01- 8 vừa qua (dl 15-9-1966):

                        Thanh bình Nam Bắc mỏi lòng đau,

                        Ngoại cảnh chia phân ruột nát xào.

                        Chỉ tại nhơn sanh chưa ý thức,

Chung tâm nào ngại việc binh đao,

Con đường Cứu quốc lo NHÂN NGHĨA

Chí cả trượng phu giúp ĐẠO CAO,

                        Phù thế Lam Sơn chưa trổ mặt,

                        Chỉnh tu thân phận nắm phong trào.

                        ………………..

                        Biết Cơ độc lập toàn Nam Bắc,

                        Xây dựng nền Nhân tránh lẽ Tà.

                        Gắng chí Thư Hùng lo Xã tắc,

Chỉ cho đôi chút việc gần xa.

Sáu, bảy người khác cũng thuộc phái Nữ luân phiên hát những bài Dân ca trường hận, lời văn nhẹ nhàng nghĩa lý sâu sắc, khuyên lành răn dữ, hài những tội ác bất hiếu, bất trung, tham lam, tàn bạo; kể những thiện căn trung trinh, hiếu đạo, tín nghĩa, nhân từ.

Giọng hát khi thì não nuột bi ai, thương cho kiếp phù sinh tội lỗi, khi thì vui tươi thanh thoát, mừng cho Đạo pháp lưu hành.

…Các vị Chức sắc trịnh trọng nói cho tôi biết ý tứ của Đức Chí-Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, nhứt là Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, khi các vị giáng Cơ chỉ giáo cho Đức Phạm Hộ-Pháp lập ngôi BÁO QUỐC TỪ cách đây 15 năm, để phụng thờ các vị TINH TRUNG BÁO QUỐC, lịch sử giống nòi và vì sao các vị trong số đó: Ba vị Hoàng Đế và một vị Hoàng Thân triều NGUYỄN được sùng bái hơn hết.

Các bậc danh nhân, liệt nữ như: Hai bà Trưng, Bà

Triệu, Ngô Vương Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Bình Định Vương, Bắc Bình Vương…đều là những vĩ nhân siêu đẳng của dân tộc, công nghiệp lớn lao, danh tiếng lưu muôn thuở đều được toàn dân ghi ơn, tưởng niệm đời đời. Nhưng xét về tâm lý, nói đến tình đời, các bậc ấy đều đã tráng niên anh tuấn, dõng lược hơn người, khi dấy binh, lúc lâm trận đều đã có đầy đủ lý trí để tự mình hoạch định cơ mưu. Công hãm tự mình lựa chọn địa điểm, tiến thoái tự mình xem xét thời cơ. Chí như Vua Hàm Nghi, Vua Thành Thái, Vua Duy Tân và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để đều đương tuổi ấu thơ, sống trong nhung lụa, nhứt hô bá ứng, sung sướng vô song. Thế mà hồi 13, 14 tuổi đã có khí phách anh hùng, đã có tinh thần hy sinh, đã nghe theo tiếng gọi Thiêng liêng của đất nước, từ bỏ ngôi báu mà đặt tấm thân non nớt vào con đường gian lao nguy hiểm để mưu đồ khôi phục cứu nước, cứu nòi. Rồi sau khi thất bại cam chịu gian truân suốt đời, không mảy may thay đổi chí khí, thì thật là vô cùng hy hữu. Lịch sử Đông Tây chưa chắc có một nhân vật phi thường nào khác. Vì vậy, tuy sự nghiệp không thành, mà bốn vị Vua Chúa ấy được thần dân vô cùng thán phục, luôn luôn tưởng nhớ. Nên chi Đức Chí-Tôn giáng Cơ dạy bảo tôn thờ các Ngài để tiêu biểu cho khí phách anh hùng, tinh thần bất khuất của dân tộc.

Nơi BÁO QUỐC TỪ mỗi năm có năm ngày Cúng thường lệ:

- Ngày 16 tháng Giêng âl: Thượng Nguơn.

- Ngày 10 tháng 3 âl: Giỗ Tổ Hùng Vương.

- Ngày 16 tháng 7 âl: Trung Nguơn.

- Ngày 16 tháng 8 âl: Trung Thu.

- Ngày 16 tháng 10 âl: Hạ Nguơn.

            Tôi được cái may dự Lễ cúng ngày 16 tháng này,

thấy Tín đồ Cao Đài Nam Nữ lũ lượt kéo đến Đền niệm hương lễ bái, thành cẩn tôn sùng anh linh của các bậc tiền nhân, thật không tả xiết nỗi cảm kích tri ân, nó xúc động cả tâm khảm của kẻ thân tộc này.

Sau bốn ngày đắm chìm trong bầu không khí mát mẻ của sự giao hảo. Trong đó, Đạo Đời xen lẫn, khi thì vui cười kể chuyện xưa nay, lúc lại nghiêm trang nghe câu thi, sấm, ý nghĩa phân minh, khuyên lơn tu tỉnh: nửa từ chương ẩn ước ám chỉ tương lai. Trong đó những sự tai nghe, mắt thấy đã đem tôi từ cái mới lạ này qua cái mới lạ khác, mà trong  thế hệ lo âu, nghi hoặc này của dân tộc.

Tôi trở về Sai gòn:

                  THI
Muôn vàn cảm tạ các Chơn linh,
Ẩn ước Thiên cơ chỉ giáo mình.
Ðôi ngã Âm Dương tuy cách biệt,
Một niềm thành kính thấu U Minh.

 

U Minh hiển hiện giữa quang minh,
Quá khứ tương lai kể sự tình.
Báo quốc tinh trung gương vạn cổ,
Ân cần khuyên nhủ khách tài danh.

Sai gòn, 18 tháng 8 năm Bính Ngọ (dl 2-10-1966)

                Tuy Lý Vương Tôn Ưng An, Thúc Dật Thị

 (đoạn cuối này là  phần trích ra nơi trang 6)

Ghi chú:

(1) Bài thơ này đọc theo chiều dọc sẽ có như sau:

Bửu Sơn Kỳ Hương.         Ngọc Trung Niên Xuất

Viên Sứ Trạng Trình         Minh Mạng Tái Sanh

Thiên Địa Tân Tạo            Việt Nam  Phục Nghiệp.   

Nguyễn Tiền Quốc Yên

Bài thơ này trước đây tôi được biết là:

Bửu     Ngọc   Quân  Minh   Đại   Việt     Nguyễn

Sơn      Trung        Mạng  Đạo  Nam    Tiền

Kỳ        Niên   Trạng Tái      Tân   Phục    Quốc

Hương Xuất   Trình  Sanh   Tạo   Nghiệp Yên

Nếu đọc theo chiều xuống thì sẽ là:

Bửu Sơn Kỳ Hương.      

Ngọc Trung  Niên Xuất.

Quân Sư Trạng Trình.    

Minh Mạng  Tái Sinh.

Đại Đạo Tân Tạo.          

Việt Nam Phục Nghiệp.

Nguyễn Tiền Quốc Yên

 

Description: Description: Dam_cuoi_vua_HamNghi2

Đám cưới Vua Hàm Nghi.

 

 


Tiếp theo >

Top of Page

      HOME