CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần X

 

XA

Xa

Xa Chừng

Xa Dòng Bể Khổ

Xa Hoa

Xa Nặc

Xa Thơ

Xa Xỉ

 

Xá Ân

Xá Cô

Xá Chữ Khí

Xá Linh Quang

Xá Lợi

Xá Lợi Tử

Xá Thân

Xá Tội

 

XẢ

Xả Kỷ Ái Nhân

Xả Thân Cầu Đạo

 

Xã Hội

Xã Tắc

 

XÁC

Xác Đáng

Xác Đất Sanh

Xác Nhận

Xác Phàm

Xác Phàm Mắt Thịt

Xác Thánh

Xác Thân

Xác Thịt

Xác Thực

Xác Tục

Xác Trần

Xác Tro Của Cụ Cường Để

 

XANG

Xang Thiên

 

XANH

Xanh Xanh

 

XAO

Xao Xuyến

 

XẢO

Xảo Mị

Xảo Quyệt

 

XẠO

Xạo Xự

 

XÂY

Xây Bàn

Xây Chuyển

Xây Chuyển Cơ Đời

Xây Cơ Chuyển Thế

Xây Đắp

Xây Vần

 

XE

Xe Như Ý

Xe Tiên

Xe Thơ

Xe Trâu

Xẻ Thây

 

XÉT

Xét Câu Minh Thệ

Xét Mình

 

XỈ

Xỉ Cương Tắc Chiết

 

XÍCH

Xích Mích

Xích Tâm

Xích Thằng

Xích Thiên

Xích Tinh Tử

Xích Tử

 

XIỂM

Xiểm Gièm

 

XIỂN

Xiển Dương

Xiển Giáo

 

XÓT

Xót Thương

 

XÔN

Xôn Xao

 

XÔNG

Xông Hương Khử Trược

 

XU

Xu Hướng

Xu Hướng Ác Hành

Xu Phụ

Xu Thời

Xu Trần

 

XUA

Xua Trục

 

XUÂN

Xuân

Xuân Đường

Xuân Huyên

Xuân Lan Thu Cúc

Xuân Mộng

Xuân Tàm

Xuân Thu

Xuân Thu - Phất Chủ - Bát Vu

 

XUẤT

Xuất Bản

Xuất Dương

Xuất Gia Hành Đạo

Xuất Hội

Xuất Hiện

Xuất Lực

Xuất Ngoại

Xuất Nhập

Xuất Thần Nhập Hóa

Xuất Thế

Xuất Lực Xuất Tiền

Xuất Trần

 

XÚC

Xúc Cảm

Xúc Động

 

XÚI

Xúi Giục

 

XÚM

Xúm Xích

 

XUNG

Xung Đột

Xung Nhập

Xung Thiên

 

XỬ

Xử Đoán

Xử Lý

Xử Thế

Xử Trị

Xử Ước - Xử Lạc

 

XƯNG

Xưng Hô

Xưng Tụng Công Đức

 

XỨNG

Xứng Đáng

Xứng Nợ Duyên

 

XƯỚNG

Xướng Danh

Xướng Họa Thi Văn

Xướng Kỵ

Xướng Lập

Xướng Xuất

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 16-12-2017

 

 

 

XA

• XA Chiếc xe, bánh xe. Td: Xa thơ.

• XA Hoang phí quá độ. Td: Xa hoa, Xa xí, Xa xí phẩm.

• XA (tiếng nôm) trái với Gần. Td: Xa chừng xa-xăm, xa xôi.

 

 

XA CHỪNG

E: It seems that is very far.
F: Il semble que c'est très loin.

Xa : Tiếng nôm, trái với gần. Chừng: phỏng độ. Xa chừng là độ chừng, ước độ, chừng như là đã xa lắm rồi.

Kinh Đệ Nhị Cửu có câu:

"Xa chừng thế giới địa hoàn,
"Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ nhàng cao thăng."

 

 

XA DÒNG BỂ KHỔ

Xa dòng bể khổ là lánh xa nơi bể khổ, tức lánh xa nơi cõi trần mà con người đang chìm sâu trong khổ cảnh, tức nhiên người tu là phải hiểu biết rõ con người từ đâu đến? Đến đây để làm gì? Và chết sẽ đi về đâu? Có nhận định được rõ các câu hỏi ấy tức là mình có định hướng cho cuộc đời.

Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Ðã Qui Liễu có câu:

"Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,
"Diệt trần tình Cam Lộ tẩy nhơ."

 

 

XA HOA


E: Luxurious.
F: Luxueux.

Xa hoa là hoang phí vô độ. Xài quá mực thường.

 

 

XA NẶC (Tên)

 

 

 

Xa-Nặc, tiếng Phạn là Tchanna, là tên của quan hầu cận và giữ ngựa cho Thái tử Sĩ Đạt Ta con vua Tịnh Phạn.

Hiện nay, phía trước Đền-Thánh, nơi Đại đồng xã của Tòa Thánh Tây Ninh, có Tượng Đức Phật Tổ cỡi ngựa Kiền trắc (Kantaka) và người chạy bộ theo sau là vị tớ trung thành tên Xa Nặc. Hai pho tượng nầy kỷ niệm ngày Thái tử Sĩ Đạt Ta vượt Hoàng cung đi tầm đạo.

Thái Tử là con vua Tịnh Phạn Vương, Mẹ là Hoàng Hậu Ma-Da ở nước Ca-Tì-La-Vệ. Ngài tên Thích Ca. Khi trưởng thành, Ngài rất thông minh, tánh tình thuần hậu nên được vua cha yêu mến. Đến năm mười sáu tuổi, Ngài lập gia thất. Vợ Ngài là Công chúa Gia-Du Đà-La, sau sanh một người con trai tên là La-Hầu-La. Ngài đang sống trong cảnh cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh. Bỗng một hôm ra khỏi hoàng cung đi dạo ngoài bốn cửa thành: Ngài liền trở về hoàng cung nằm suy nghĩ: thật con người sanh trên thế gian nầy muôn việc gì cũng khổ. Đến đêm mồng 08 tháng 02 Ngài nhìn lại vợ con lần cuối, khi vợ con đang an giấc. Ngài cùng người tớ Xa-Nặc trốn ra khỏi hoàng thành lên ngựa chạy thẳng vào rừng Khổ Hạnh là nơi ẩn tu của nhiều ông đạo sĩ. Ngài lo tu hành mong thành chánh quả hầu có phổ độ chúng sanh, giải thoát cuộc đời đau khổ mà Ngài đã chứng kiến ngoài bốn cửa Ngọ Môn.

 

 

 

Theo Lý Dịch thì Phật và ngựa Kiền-trắc là đủ Âm Dương, Xa-Nặc nữa là ba, tượng Tam-Tài thống hiệp. Người tu cũng với mục đích hiệp đủ Tam bửu: TINH-KHÍ-THẦN là cơ huờn nguyên, đắc đạo vậy.

 

 

XA THƠ

車書
E: The civilisation of a country.
F: La civilisation d’un pays.

Xa: chỉ toàn bộ phận chiếc xe dùng để di chuyển; Thơ hay Thư là sách vở, nói rộng là chỉ văn chương, người học thức. Xa thơ là xe chứa sách.vở. Phần hành của người học thức.

Nghĩa của Xa thơ, lấy theo sách Trung Dung chương 28:

"Kim thiên hạ, xa đồng quỹ, thư đồng văn, hạnh đồng luân;
"Tuy hữu kỳ vị, cẩu vô kỳ đức, bất cảm tác Nhạc Lễ yên;
"Tuy hữu kỳ đức, cẩu vô kỳ vị, diệc bất cảm tác Lễ Nhạc yên".

Nghĩa là:

Ngày nay trong thiên hạ, xe cộ cùng đi một lối, sách vở đều cùng một thứ chữ, thói nết đâu cũng như đấy; Thế nên, tuy có vị (được ở ngôi vua) mà không có đức cũng không dám làm ra Lễ Nhạc. Dẫu có đức, nhưng không có vị (không được ở ngôi vua) cũng không dám làm ra Lễ Nhạc. Do đó, từ ngữ Xa Thơ là chỉ nền văn hóa thống nhứt của một nước.

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt giáng:

Xa Thơ biến gảy rời vương thất,
Nam đảnh hầu thay sáng quốc-gia.
Ách nước nạn dân gần muốn mãn,
Hết hồi áp chế tới khi hòa.

 

 

XA XỈ


E: Luxurious.
F: Luxueux.

Xa-Xỉ còn gọi là xa-xí, là chỉ sự tiêu dùng quá độ, hoang phí vô lối, những việc không cần thiết mà cứ phải tiêu xài.

Đức Lý dạy tại Giồng Luông: 29-01-Mậu Thìn (dl: 20-02-1928): "Thơ Thanh, Hiền Hữu nhớ rằng Chí Tôn không chịu xa xí lắm. Lão đây cũng muốn cho Tòa Thánh thiệt cực kỳ xinh đẹp, nhưng mà Chí Tôn chẳng bằng lòng đây mới liệu sao?"

Tân-Luật: Thế luật, điều 16:

Trong việc tống chung, không nên xa xí, không nên để lâu ngày....

 

 

• XÁ Tha tội. Td: Xá ân, Xá cô, Xá tội.

• XÁ Nhà ở, đến ở. Td: Xá thân.

 

 

XÁ ÂN


E: To amnesty.
F: Amnistier.

(: Tha tội. Ân: Ơn) Ân xá là ban ơn cho bằng cách tha tội. Sở dĩ Chí-Tôn kỳ này mở Cơ Đại ân xá, tức là một cuộc Ân xá lớn là vì Tiền khiên 前愆 nghiệt báo của chúng sanh tức là tội lỗi đã tạo ra trong kiếp trước. Trong cuộc ân xá này có phép Tắm Thánh và Giải Oan cho người mới Nhập môn cũng như Giải oan cho các tội hồn phải chịu ngàn năm đền tội.

Đây là câu chuyện Giải Oan do Đức Hộ Pháp hành pháp: "Thuở Đức Hộ Pháp lên Nam Vang, một hôm ông Thừa Sử Huỳnh Hữu Lợi và Bà Chí-Thiện Hương Nhâm đến thỉnh Đức Hộ Pháp đi viếng Đế Thiên Đế Thích, vì nhận thấy Thầy không vui. Ông Bà đưa xe du lịch đến rước Thầy, có tài xế lái. Gần đến nơi thì bỗng xe bị hư máy. Tài xế sửa mãi không được, Thầy mới ra tay sửa cũng không xong.

Thoạt trông thấy một lùm cây cổ thụ phía trong, Thầy bảo cả thảy đẩy xe vô đó có bóng mát nghỉ rồi sẽ tính sau. Xe vô đó rồi thì Thầy thấy một cái miễu xem vẻ xơ-xác, hầu như bỏ hoang, không ai tu bổ. Ông Bà Huỳnh Hữu Lợi quét dọn một chỗ trước miễu, lót lá cây mời Thầy ngồi, đoạn bày thức ăn và thức uống cạnh đó. Thình lình Bà Chí-Thiện ợ ngáp, giống y như lên đồng. Thầy rầy, hỏi duyên cớ, bà thưa rằng: Có chơn linh nhập xác, xin Thầy cho phép trình bày. Thầy chấp thuận. Chơn linh bạch cùng Đức Hộ Pháp rằng: Thuở xưa là một Công Chúa phạm tội nên bị phạt ở tại miễu xơ xác, chờ khi nào có Đức Phật đến Giải Oan mới được siêu thăng, vì thế chơn linh mới phá máy xe cho ngừng tại đây.

Thầy dạy tài xế ra xe rồ máy xem thử, thì xe nổ máy như thường. Thầy mới biểu Ông Bà Thừa Sử cùng Tài xế đọc Kinh Giải Oan, rồi Thầy làm phép Giải Oan cho vong hồn.

Vong hồn bái tạ Thầy và xin cho thêm một chút thời giờ để trò chuyện cùng Bà Hương Nhâm: vì Bà Nhâm trước kia là Chị của Công Chúa.

Chuyện kế tiếp là Giải Oan cho gia đình Ông Lợi:

Bữa nọ, Đức Hộ Pháp đến nhà Ông Bà Thừa Sử Lợi, hai ông bà có nuôi một con chó rất khôn, ông cưng nó đến nỗi cho chó ngủ chung với ông ban đêm.

Thầy ngõ ý xin con chó, ông bà giả vờ nói khoả lấp.

Lần thứ nhì, Thầy đến nhà xin nữa, cũng y như lần trước. Lần thứ ba, Thầy lại đến hỏi con chó, Thầy mới cho biết: Thầy không cần dùng con chó làm gì. Sở dĩ xin nó là để giải oan nghiệt tiền khiên cho ông Thừa sử. Thầy bảo: con chó là đứa bạn giúp việc nhà cho ông Lợi. Trong một kiếp trước, ông làm Thông ngôn Toà án Pháp, hôm ấy ông cần đi làm việc, nên đứa bạn lo sẵn ghe hầu cho ông. Giữa đường, tên bạn cải cọ với ông, ông giận quá, đánh nó, nó né tránh nên lọt xuống sông chết chìm. Trở về nhà, ông nói với cha mẹ nó rằng: nó lơ đễnh nên té sông chết. Do phạm tội này nên khiến con chó nói trên lọt vào gia đình ông mới có dịp trả oán. Chó chờ có một vị nào đó trong Hoàng gia Cao-Miên đi ngang nhà chủ nó, nó sẽ nhảy ra cắn chết, cho ông Lợi sẽ bị táng gia bại sản, lại thêm tù tội.

Ông giựt mình, tự nhủ rằng: Thầy biết ông làm thông ngôn ngoài đời trước kia thì vụ con chó có thật.

Khi Đức Hộ Pháp về, ông bà biểu con chó theo Thầy, nó riu ríu đi theo, một tuần sau nó chết.

Xem thế, bí tích Giải Oan, Tắm Thánh... trong thời Đại Ân xá kỳ ba này là một điều đại hạnh cho chúng sanh được may duyên thọ hưởng.

Kinh Giải Oan có câu:

"May đặng gặp hồng ân chan rưới,
Giải trái oan sạch tội tiền khiên."

 

 

XÁ CÔ


E: To pardon a sin.
F: Pardonner un péché.

: Tha tội. : tội lỗi. Xá cô là tha tội.

Kệ chuông:

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

 

 

XÁ CHỮ KHÍ

Chữ Khí đúng nghĩa là "Bùa chữ Khí" đặt phía sau Tượng của Đức Hộ Pháp nơi Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Tất cả các Thánh Thất có Bàn thờ Hộ Pháp đặt đối diện với Thánh Tượng Thiên Nhãn Thầy, ngó vào Bát Quái Đài, nhưng nơi Bàn thờ này không thờ Hộ Pháp bằng ảnh tượng mà chỉ thờ duy nhất một chữ KHÍ (viết theo chữ bùa) như đây:

Tờ thỉnh-giáo của Hộ-Đàn Pháp-Quân, ngày 01-04-Quí Tỵ (1953) v/v bái lễ Chí-Tôn tại Bát-Quái-Đài, cả Chức-Sắc, Chức việc, Đạo-Hữu xoay lưng lại xá bàn HỘ PHÁP, khi mãn Đàn rồi cả Chức-Sắc Hiệp Thiên Đài xá đáp lễ lại.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Cái xá ấy chẳng phải làm lễ trọng Chức-Sắc Hiệp Thiên-Đài từ lớn đến nhỏ mà là xá chữ Khí. Chữ Khí là nguồn cội của Pháp đã biến sanh ra vạn vật, Phật là trước tới Pháp là thứ, kế Tăng là tiếp. Cái xá ấy là kính đệ tam qui, trong Pháp ấy xuất-hiện Phật-Mẫu, kế tới Vạn linh, vì cớ cho nên Diêu-Trì Cung cùng Hiệp Thiên Đài có tình mật-thiết cùng nhau về một căn-cội Pháp để vận hành Nguơn Khí tạo Vạn-linh thì vị HỘ PHÁP do Vi-Đà xuất-hiện rồi kế vị Hộ Pháp và kế tiếp Long Thần Hộ Pháp cùng toàn bộ Pháp giới đương điều-khiển Càn Khôn Vũ-Trụ cũng đều do nơi chữ KHÍ mà sanh sanh hóa hóa. Chào chữ Khí tức là chào cả Tam Qui Thường Bộ Pháp Giới tức là chào mạng sanh của chúng ta, chớ chẳng phải chỉ chào HỘ-PHÁP Thập-Nhị Thời-Quân, Thập-Nhị Địa-Chi đã xuất-hiện mà đang thi-hành sứ-mạng nơi Hiệp Thiên Đài, mà chào toàn-thể Vạn-Linh đã sanh-hóa từ tạo Thiên lập Địa. Xin nhớ và truyền-bá lời Giáo-Huấn nầy, chính mình lầm hiểu là thất-đức chớ chẳng phải người đảnh-lễ là thất đức. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

XÁ LINH QUANG


E: Pardon the souls.
F: Pardonner les âmes.

(: Tha tội. Linh quang: tức là điểm linh quang, điểm sáng của Thượng Đế ban cho mỗi một hồn người). Xá linh quang là tha tội cho các đẳng linh hồn. Đức Chí Tôn chiết một điểm linh quang từ khối Đại Linh Quang của Ngài ban cho mỗi người làm linh hồn, để tạo sự sống cho con người và gìn giữ sự sống ấy. Khi thể xác con người chết đi thì điểm linh quang ấy trở về cõi thiêng liêng.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết,
"Giảm hình phạt bớt đường ly tiết.
"Xá linh quang tiêu diệt tiền khiên."

 

 

XÁ LỢI


E: The relics.
F: Les reliques.

Xá-lợi là từ ngữ phiên âm từ tiếng Phạn: Sarira, nghĩa là tro tàn của sự hỏa thiêu hài cốt của một vị Thánh, vị Bồ Tát hay vị Phật. Theo truyền thuyết, sau khi hỏa táng thi hài của Đức Phật Thích Ca, trong tro tàn người ta thấy có những hạt nhỏ sáng như ngọc, được gọi là Ngọc Xá lợi. Xá lợi của Đức Phật Thích Ca được đựng trong 8 hộc 4 đấu. Giáo hội đem phân phát cho các vua lúc bấy giờ và các chùa trong toàn nước Ấn Độ để xây tháp thờ cúng.

Ngày 16-05-Quí Tỵ (dl: 26-06-1953), tại Tòa Thánh Tây Ninh được Đại Đức Narada Thera, Phó Tăng Thống Phật giáo Tích Lan, tặng cho một hạt Ngọc Xá lợi của Đức Phật và Hội Thánh tổ chức lễ cung nghinh Xá lợi rất long trọng.

Ngày 18-05-Quí Tỵ, Hội Thánh tổ chức lễ an vị Ngọc Xá Lợi. Nhân dịp nầy, Đức Hộ Pháp thuyết Đạo nói về gốc tích của Ngọc Xá Lợi và do đâu mà Tòa Thánh được tặng:

"Hôm nay, chúng ta thiết lễ Tiểu đàn an vị Xá lợi Phật của Đức Phật Thích Ca. Bần Đạo đã để Xá Lợi Phật tại Nghinh Phong Đài ba ngày ba đêm để cho con cái của Đức Chí Tôn chiêm ngưỡng Đức Phật Thích Ca. Hôm nay đã đủ ba ngày, Bần Đạo hành lễ an vị cho Ngài. Chúng ta hân hạnh được Đức Chí Tôn ban cho đặc ân nơi Tòa Thánh, tức nhiên Đức Chí Tôn đem Đức Phật Thích-Ca về ở cùng chúng ta. Cái hạnh phúc ấy giá trị thế nào, Bần Đạo không cần phải minh tả.

Ngộ nghĩnh là những điều mà Đức Chí Tôn làm bao giờ cũng dành để cho chúng ta một sự ngạc nhiên. Và Xá Lợi Đức Phật Thích-Ca là gì? Bần Đạo giải nghĩa cho toàn thể con cái Đức Chí Tôn hiểu: Khi Đức Phật Thích-Ca qui vị, Ngài để di chúc cho cả Môn đệ của Ngài hỏa táng, tức nhiên thiêu cái thi hài đó. Thi hài của Ngài đã đốt nhưng chẳng hề khi nào tiêu hết, vẫn còn lại mấy miếng xương của Ngài không cháy, gọi là Xá Lợi. Buổi sau nầy, nước Anh hiệp lại với nước Ấn Độ, mới đào lên gặp một cái hộp bọc pha-ly, trên nắp có đề hàng chữ: XÁ LỢI ĐỨC PHẬT THÍCH CA. Lúc đó, nước Anh mới lấy cả hộp Xá Lợi. Sau nầy, nước Ấn Độ độc lập mới đòi nước Anh trả Xá Lợi Phật cho Ấn Độ. Vì lẽ loạn lạc trong nước Ấn Độ, chánh phủ Ấn Độ nghĩ rằng: để trong nước, e Xá Lợi có thể bị mất, nên chỉ dành lại một mớ, chia cho Tích Lan một mớ. Đức Narada Thera, Phó Giáo Tông của Phật giáo Tích Lan đem qua hiến cho Tòa Thánh một hột Ngọc Xá lợi.

May thay, ông Bửu Chơn là người Việt Nam, nhưng Ngài là môn đệ của Đức Narada Thera. Ngài Bửu Chơn muốn xin Ngọc Xá-Lợi cho nước Việt-Nam, nên Đại Đức Narada đem cho nước Việt-Nam ba hột Ngọc Xá Lợi Phật: một cho Đại thừa, một cho Tiểu thừa, lại còn một hột để cho Tiểu thừa Phật giáo Kim Biên, tức nhiên Miên quốc.

Trong tình trạng của các môn đệ Đức Phật Thích Ca nơi nước Việt-Nam, phái Tiểu thừa có hạnh phúc thống nhứt, còn Đại thừa thì còn phân vân. Thành thử hột Ngọc Xá lợi giao cho Tiểu thừa, họ đã nhận lãnh, còn Đại thừa họ đương rắc rối, không có định đoạt, họ tính để Ngọc Xá Lợi ấy lại đó, rồi họ chung họp nhau cất một cái tháp đặc biệt để thờ. Thành thử Ngọc Xá Lợi dành để cho Đại thừa, giờ phút nầy Đại Đức Narada giao cho Hoàng-Thái-Hậu Từ-Cung, do ý Ngài muốn cho nơi nào tùy ý, để quyền cho Hoàng Thái Hậu Từ-Cung định liệu.

Trong đó, có Ba cây Bồ đề, cho Tiểu thừa (Phật giáo Việt-Nam) một cây, cho Tiểu thừa Phật giáo Miên quốc một cây, còn một cây của Đại thừa đem về Tòa Thánh Tây Ninh.

Hột Ngọc Xá Lợi đem về Tòa Thánh hôm nay là đặc biệt của Đại Đức Narada Thera, Phó Giáo Tông của Phật giáo Tích Lan, lấy của tư của Ngài hiến cho Tòa Thánh. Chúng ta thấy cả hành tàng của sự khó khăn đem Ngọc Xá Lợi về Tòa Thánh đều do nơi công nghiệp vĩ đại của Ngài Bảo Sanh Quân Hiệp Thiên Đài, tức nhiên Phó Thủ Tướng Việt-Nam đương giờ nầy là ông Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch, ông đã chịu nhọc nhằn; cả thảy con cái Đức Chí Tôn đều ngó thấy. Ngài hạ mình xin cho đặng Ngọc Xá Lợi ấy thế nào! Nên hôm nay Ngài trở về Sài Gòn, Bần Đạo nhân danh toàn thể con cái Đức Chí Tôn và Hội Thánh nam nữ lưỡng phái để lời cám ơn ông Bảo Sanh Quân, rồi Bần Đạo sẽ cho các cơ quan Chánh Trị Đạo làm một tờ Cảm Tạ công nghiệp của Ngài.

Đức Phật Tổ, tức nhiên Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cả thảy con cái Đức Chí Tôn đã nghe Đức Narada Thera thuyết Đạo rồi. Ngài nói Đức Phật Thích Ca là người cũng như chúng ta, có xác thân như ta, sống chết như ta, chớ không phải là người ở trong Thần thoại. Nhưng cái cao siêu về tâm hồn của Ngài, về tiền căn Thiêng liêng của Ngài lên tới Phật vị. Ngài tái kiếp làm người với mảnh thân phàm của Ngài cũng như ai kia vậy....."

Sau đây là bài của Thượng Tọa Thích Như Điển, Viện chủ chùa Viên Giác Đức quốc, nói về những đặc tính của Ngọc Xá lợi của Đức Phật Thích Ca.

"Hiện nay tại một Cung điện cũ của Tích Lan ở Kandy có thờ một chiếc Răng Xá lợi của Phật. Cả một cung điện của vua Tích Lan được dành để thờ một chiếc Răng Phật. Sau nầy nhà vua tặng cung điện ấy cho Phật giáo Tích Lan, biến thành một ngôi chùa. Cung điện có 10 từng và chiếc Răng Xá lợi được thờ ở từng thứ 10. Tất cả du khách đều có thể viếng thăm các từng dưới, còn muốn vào từng thứ 10 thì phải đợi các dịp lễ đặc biệt, vì muốn vào từng thứ 10, phải có đủ bốn chiếc chìa khóa do: Thủ Tướng Tích Lan, Tăng Thống Tích Lan, Chủ Tịch Quốc Hội và vị Sư trụ trì, mỗi người giữ một chiếc, bên Tăng có hai vị, bên tục có hai vị.

Tương truyền, Răng Xá Lợi của Phật hiện còn ba chiếc: một chiếc ở Tích Lan, một chiếc đang ở Trung quốc và chiếc thứ ba từ Thái Lan vừa đem qua Đài Loan. Theo Thượng Tọa Như Điển, khi chiếc Răng Xá lợi được đưa đến Đài Loan, thì hằng triệu người đều quì xuống để đón tiếp. Cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các Tổng Trưởng đều ra phi trường đón tiếp chiếc Răng nầy, chứng tỏ người Trung hoa tin tưởng Phật pháp rất nhiều.

Đức Hộ Pháp dâng Sớ chung niên năm Ất Mùi về Thiêng liêng có đoạn rằng: "Thừa dịp Lễ Khánh Thành này: Đệ-Tử có thiết lễ thiêu phàm thân của Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung); Đức Cao Thượng Phẩm (Cao Quỳnh Cư), Đức Nữ Đầu Sư (Lâm Ngọc Thanh) và Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh (Lê Bá Trang). Xá-lợi đang thờ nơi Bát Quái Đài, tro tàn đã rải trên dòng sông Giang Tân tại Tỉnh Tây-Ninh. Nhờ hồng ân Đại-Từ-Phụ và Đức Phật Mẫu, Đệ-Tử khẩn nguyện nước sông Giang Tân sẽ là Cam-Lồ-Thủy tẩy trược cho kẻ hữu căn, người hữu phước như dòng sông Gange bên Ấn-Độ-quốc thì may mắn cho chúng sanh sẽ có nơi gội rửa bụi trần giải bớt oan khiên nghiệp chướng hầu khử ám hồi minh cải tà qui chánh".

 

 

XÁ LỢI TỬ

Xá lợi tử hay nói tắt là Xá lợi, là từ ngữ đặc biệt của Phật giáo, chỉ cái chơn thần hay xác thân thiêng liêng của người đắc đạo. Trong phép luyện đạo, luyện cho Tinh-Khí-Thần hiệp nhứt thì tạo được Chơn thần huyền diệu, xuất nhập thể xác tùy ý muốn mà vân du Thiên ngoại. Cái chơn thần ấy được các nhà luyện đạo gọi bằng nhiều danh từ khác nhau, như sau đây:

- Phật giáo gọi là: Xá lợi tử, Mâu ni châu, Bổn lai diện mục.
- Tiên giáo gọi: Kim đơn, Thánh thai.
- Thánh giáo gọi là: Chơn nhứt khí.

Đạo Cao Đài gọi là: Chơn thần, Nhị xác thân, Xác thân thiêng liêng, Chơn thân.

Theo sách luyện đơn dạy rằng: "Các con hiểu chỗ Đạo thì các con trước hết phải phanh luyện Tinh-Khí-Thần và phải tạo một cái xác thân thiêng liêng, kêu rằng Mâu ni hay Xá lợi. Cái xác thân thiêng liêng ấy bất tiêu bất diệt, bất tử, mà các con cần phải có xác thân ấy. Xác thân ấy là chi? Là cái bổn tánh thuần dương vậy. Khi các con bỏ xác phàm nầy thì điểm linh quang của các con nương theo đó mà về thẳng đến Thầy. Nếu các con không có xác thân ấy, các con phải chuyển kiếp khác hoài hoài, luân hồi khó dứt. Thoảng như các con không chuyển kiếp đầu thai, thì các con phải luân vơi nơi Âm Dương Khí, mà hóa tan rã thành mây mưa gió bụi. Vậy điểm linh hồn của các con phải tiêu diệt còn chi. Các con phải biết rằng: muốn tạo xác thân thiêng liêng ấy, chẳng phải dễ mà cũng không khó chi.

"Bởi: Trời có Ngũ khí, Đất có Ngũ phương, người có Ngũ tạng. Người ngộ đạo phải lấy Ngũ hành ấy chế tạo mà luyện Kim đơn cho thành Xá lợi. Muốn thành Xá lợi, cần vận chuyển pháp luân cho Ngũ khí triều nguơn, Tam huê tụ đảnh. Làm sao cho Ngũ khí triều nguơn, Tam huê tụ đảnh được?

Muốn Tam huê tụ đảnh, phải bảo Tinh, dưỡng Khí, tồn Thần. Luyện chơn chưởng Thánh đô cho Tinh hoá Khí, Khí hóa Thần, Thần huờn Hư. Ba báu ấy qui về tại Kim đảnh là thành đạo. Còn muốn cho Ngũ khí triều nguơn, phải dụng công phu: định cái Tâm, gìn cái Ý, bế Ngũ quan thì Ngũ tạng hiệp về, tâm hồn thanh tịnh vô vi."

Tóm lại, Xá lợi tử là chơn thần, tức là xác thân thiêng liêng của con người. Nhờ có xác thân nầy con người mới đi được đến các cõi thiêng liêng.

Di-Lạc Chơn Kinh có câu:

"Huờn hư thi hình đắc A Nậu-Đa-La Tam-Diệu-Tam-Bồ-Đề Xá lợi tử qui nguyên Phật vị, tất đắc giải thoát".

 

 

XÁ THÂN

( có nghĩa là xả bỏ, không thiết đến; Thân là thân thể của mỗi người đây). Xả thân là xả bỏ xác thân này, đừng xem nó là quan trọng, mà hãy đem thân mình làm việc nghĩa.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế có giáng cho bài thi về Phạm Môn, sau Đức Hộ Pháp giải trong bài thuyết Đạo:

Phạm-Môn là gì? Do nơi đâu mà nảy sanh ra Phạm Môn? - "Phạm Môn là cửa Phật; Phạm là Phật, môn là cửa, tức là cửa Phật, thật-hành là nhà Phật. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển trang thứ 119 về khỏan thi văn dạy Đạo, có một bài thi tứ tuyệt, chính mình Đức Chí-Tôn giáng cho như vầy:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm môn,
Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.
Vô lao bất phục hồi chơn mạng,
Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn.




Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm-môn là nghĩa gì? Nghĩa là Chí-Tôn kêu cả con cái của Đức Chí-Tôn thức giấc cho mau hiến thân vào cửa Phạm.

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn nghĩa là khuyên chúng sanh nên ráng tu-hành tùng khuôn viên kỷ-luật nhà Phật, thì ngày kia linh hồn được siêu thăng thoát hóa.

Vô lao bất phục hồi chơn mạng là Đức Chí-Tôn dạy con cái của Ngài nếu không có công lao khổ hạnh trong cửa Đạo thì không thể nào trở về ngôi xưa vị cũ được.

Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn là nhằm lúc thế kỷ hai mươi này, thời kỳ Đức Chí-Tôn rộng mở cửa Phật độ tòan con cái của Ngài, chỉ khuyên chúng ta ráng tu tỉnh ngộ, huỷ cả hành-vi của thế sự, đem thân vào cửa Phạm chịu nâu sồng, khổ hạnh cho đặng thì tự-nhiên đắc Đạo tại thế đó vậy...Bài thi này chính Đức Chí-Tôn giáng dạy trong Thánh-ngôn hiệp tuyển hai mươi mấy năm trường; song le, ít ai để ý tìm hiểu nghĩa lý sâu xa có ẩn nhiều huyền-vi mầu-nhiệm của Đạo. Do bởi tấm màn bí-mật nên khó nỗi truy tầm, song cũng có lắm người vén được màn bí-mật ấy, nên ngày nay nhơn-sanh mới hưởng được giọt nước Cam-lồ của Đức Chí-Tôn cho tòan nhơn-loại. Đời quá bạo tàn cho nên Đức Chí-Tôn mới giáng trần mở Đạo cho con cái của Ngài biết; các ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật đều tình nguyện hạ thế cứu đời, xuống bao nhiêu lại càng mất bấy nhiêu.

 

 

XÁ TỘI


E: To forgive sin.
F: Pardonner un crime.

Xá tội 赦罪 Tha thứ tội tình. Nay là cuối Hạ nguơn nhân loại đang mất đi định hướng của cuộc đời nên sinh ra chiến tranh tàn khốc, vì vậy mà muốn cứu vớt nhân loại Đức Thượng Đế mở ra nền Đại Đạo nhằm mục đích tận độ chúng sanh, mở Cơ Đại Ân xá tội tình cho các đẳng vong hồn:

"CHÍ TÔN xá tội giải oan,
"Thánh, Thần Tiên, Phật cứu nàn độ căn."

 

 

XẢ KỶ ÁI NHÂN

爱 人

Xả Vứt bỏ, buông ra, bố thí. kỷ là mình đối lại với người. Td: Xả diệt, Xả thân cầu đạo.

Gia-Tô Giáo thì: "Xả kỷ ái nhân". Xem như thế thì các nhà Tôn-giáo cũng vì chủ-nghĩa thương đời, nên mới phát-minh ra các vấn-đề đạo-đức để giải khổ cho đời. Ngày nào nhơn-sanh hồi tâm hướng thiện, thật-hành chủ nghĩa thương-yêu, biết giữ phép công-bình, thì nhơn-loại mới đặng chung hưởng mọi điều hạnh-phúc."

 

 

XẢ THÂN CẦU ĐẠO

Là "Triết-lý thì cấm xa-hoa phung-phí, tránh bã lợi mồi danh, trọng duy tâm hơn duy vật và xả phú cầu bần, xả thân cầu Đạo đặng giữ cho tâm thần được thơ-thới nhẹ nhàng."

Đức Hộ Pháp nói: "Đời hiện nay đã gây cho nhơn loại một tai nạn lớn lao là xúi giục cho nhơn sanh đi đến hố tử thần, thì Đạo mới sớm trương cây cờ cứu khổ của Đức Chí Tôn cho nhơn loại hưởng nhờ, bởi lẽ ấy mà phận sự của chúng ta phải nặng nề. Mỗi Thiên mạng từ đây nên dâng trọn tâm linh cho Đức Chí Tôn sử dụng để giúp Đời và giúp Đạo, cần nhứt phải có một tâm hồn cao thượng trọn tâm lo tròn sứ mạng của bề trên giao phó và phải thực hành cho đúng nghĩa câu "Xá thân cầu Đạo".

 

 

XÃ HỘI

社 會
F: Société.

Xã-hôi: Những đoàn thể loài người có mối sinh hoạt chung nhau.

Đây là điều chót trong 10 điều Khuyến tu của Chí-Tôn:

Ðiều chót hết: Mười ghi trăm nhớ,
Phật - Pháp - Tăng con chớ quên ơn.
Gia đình nghĩa trọng nhiều hơn,
Tình thương xã hội trong cơn thiết cần.
Ơn Tổ Tiên dành phần con cháu,
Do những lời dạy bảo Thầy mong.
Con ơi! Hãy khá ghi lòng,
Bấy nhiêu tâm huyết mấy dòng thi văn.

 

 

XÃ TẮC


E: Kingdom.
F: Royaume.

( : Nơi vua lập ra để tế Thần Hậu thổ hay Thần đất. Tắc là nơi vua lập ra để tế Thần Nông). Xã tắc: Đồng nghĩa với Quốc gia, dùng để chỉ nhà nước, chánh phủ.

Trong chế độ Quân chủ xưa, nhà vua phải lo đời sống cho nhân dân, cấp cho nhân dân đất làm ruộng và đất ở, nên nhà vua lập nền Xã thờ Thần Hậu thổ để nhân dân sống được yên ổn. Dân phải có lúa ăn, nên nhà vua lập ra nền Tắc để tế Thần Nông, cầu cho dân được trúng mùa. Đàn Xã Tắc hình vuông ở phía hữu cung thành là nơi đầu mùa Xuân vua ngự đế tế Thần đất và Thần lúa.

Khi đất nước mất thì mất nền Xã tắc, do vậy Xã tắc cũng có nghĩa như chữ Quốc gia.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Giúp xã tắc tôi trung ra mặt,
"Dẫy xe thơ trổi nhặt văn minh."

 

 

XÁC ĐÁNG


E: Exact.
E: Exact.

(Xác là đích thực, đáng là nên, phải). Xác đáng là đúng thực, nên giữ, nên theo. Đúng theo điều phải nghĩ, phải làm.

 

 

XÁC ĐẤT SANH

Thể xác con người do Đất sanh ra, tức nhiên người sống nhờ dùng bông, cây, trái, lúa gạo…mọi thứ trồng từ trong đất. Đến sau cùng người chết đi thì thân xác này chôn sâu trong lòng đất lạnh ấy là lúc về với đất (Thổ). Như câu Kinh đã nói "Xác Đất sanh đến lịnh phục hồi".

Chỉ Linh hồn con người do Trời ban cho là một thể vô vi, mà vô vi thì thường hằng, bất hoại. Nên khi con người chết, linh hồn ấy sẽ trở về với cõi vô vi, nếu có tu thì sẽ về Thiên cảnh. Còn xác thân do cha mẹ sinh ra xương thịt, tạo thành khối vật chất là một thể hữu hình, mà hữu hình thì hữu hoại, Nên khi con người chết, xác thân sẽ rã tan mà trở về Đất.

-

Vạn sự viết vô: Nhục thể Thổ sinh hoàn tại Thổ,

-

Thiên niên tự hữu: Linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên.

:

:

Là:

- Muôn vật đều không, thân xác Đẩt sanh huờn lại Đất,
- Ngàn năm tự có, linh hồn Trời ban trở về Trời.

Kinh Tẩn Liệm cũng có câu tương tự:

"Hồn Trời hóa trở về Thiên cảnh,
"Xác Đất sanh đến lịnh phục hồi."

 

 

XÁC NHẬN


E: To affirm, to confirm.
F: Affirmer, confirmer.

(Xác là chắc chắn, nhận là lãnh, ưng ý). Xác nhận là nhận chắc chắn có đích thực.

 

 

XÁC PHÀM

Xác phàm là xác thịt hình hài do cha mẹ phàm tục sanh ra, mà hễ làm người đều phải mang thây phàm xác tục như vầy. Nhưng nghĩa chính muốn nói là còn ảnh hưởng nhiều việc buồn vui họa phúc trong đời, nên chưa phải là Thánh được.

Ngày 15-5-Ất Sửu (dl: 06-06-1927) tại Chợ Gạo (Chợ Lớn) có thiết đàn thỉnh Tiên, ông Nguyễn Hữu Đắc cố đưa ông Lê Văn Trung đến hầu đàn nhiều lần. Khi ông Trung ngộ Đạo thì đàn Chợ gạo bế và dù ai có cầu các Đấng vẫn không giáng. Từ lúc chấm dứt việc Xây bàn thay vào Phò cơ thì hai Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc làm đồng tử, nên tất cả những bài từ trước của các Đấng giáng cho đều do cặp đồng tử nguyên thủy này viết ra. Vì vậy, Ngài Cao Hoài Sang thấy mình hơi thừa, rồi lần lần ít chịu đi hầu đàn. Các Ngài mới xin với Đấng Cao Đài để lời dạy bảo. Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng rằng: "Nó thật thà, vả lại nó còn mang xác phàm. Ai dưới thế này đặng trọn vẹn, các con chỉ cho Thầy coi?"

 

 

XÁC PHÀM MẮT THỊT

Đức Quan Thánh Đế Quân dạy: "Nền Ðạo chưa lập thành mà bên trong thì người biếng trau Thánh chất, nơi ngoài người lại muốn kêu nài so đo với các Ðấng Thiêng liêng, đặng làm cho rõ mình là thấy xa hiểu rộng. Thời thế đã đổi dời, họa Thiên điều hầu kế cận. Từ Nam chí Bắc, khắp Ðông qua Tây, thỉnh thoảng trường náo nhiệt khởi động, diệt tàn kẻ vô đạo. Xác phàm mắt thịt, nếu đã sẵn ánh thiêng liêng mà không sớm tỉnh hồn thì mảnh tro bụi kia chẳng khỏi chịu hình đòi lúc."

 

 

XÁC THÁNH

(Xác là thân thể bằng xương thịt của người, cũng gọi một thân thể bất động là xác nữa, như xác chết. Thánh là một tâm hồn cao thượng, đạo đức, vượt bực hơn người thường). Xác Thánh là thân xác của một vị Thánh.

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Ðền Thánh đêm 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947) về Đức Chúa rằng: "Cái chết của Jésus Christ là gì? Là Ngài đem xác Thánh trọng quí dâng cho Chí Tôn làm tế vật, xác Thánh chết trên Thánh Giá là Lễ Tế đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cùng Ðức Chí Tôn ngày nay đó. Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng. Thật ra Ðấng Cứu Thế ấy là Tam Thế Chí Tôn giáng linh tức Christna tái thế."

 

 

XÁC THÂN

Con người nói theo Tôn giáo là có ba thể: 1- Xác thân phàm bằng xương thịt đây, do cha mẹ phàm sanh ra, nó sống bằng trái tim. 2-Xác thân thứ hai thuộc bán hữu hình vì có thể thấy được mà cũng có thể không thấy được, do Đức Phật Mẫu ban cho, gọi là Chơn Thần. 3- là Linh hồn do Chí-Tôn ban cho.

Thánh Ngôn: "Thầy cắt nghĩa mỗi kẻ phàm dưới thế này đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng. Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí- Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần không có Tinh Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng.

Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn Thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí mới ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn Thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn chứng thì làm sao giải tán cho đặng?

Nếu rủi bị huờn thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d’ électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn biết khôn thì ẩn nấp tại thế mà làm một bậc Nhơn Tiên thì kiếp đoạ trần vẫn còn chưa mãn. Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo."

 

 

XÁC THỊT

Đây là đệ nhứt xác thân: Là xác thân của con người được cha mẹ phàm tạo ra, nó bằng xương do tinh Cha cấu thành, còn thịt thì do khí huyết của Mẹ mà nắn đúc nên hình. Thế nên con người có thể hài xác thịt là do tinh cha huyết mẹ mà nên hình đó vậy. Nhưng nó là hữu hình thì phải chịu sự hữu hoại trong định luật hóa sanh của Trời đất mà thôi.

Thầy dạy: "Các con đã mang mạng lịnh Thầy, thì làm thế nào Thầy không hổ thẹn; Thầy dặn các con một điều phải hằng nhớ rằng các con thay mặt cho Thầy tức là Thầy. Ngày nào Thầy lấy phận sự lại thì là mới hết Thầy nữa. Cái xác thịt các con cũng nên kể rằng: Chẳng phải của các con nữa. Thầy đã nói trước rằng: Cái xe Thầy đẩy đi đến đâu thì hồng ân của Thầy rưới khắp đến đó. Thầy chỉ cậy các con kêu rước những kẻ hữu duyên đến chung hưởng cùng các con thôi. Khốn cho những đứa ngu muội không lo mà tiếp rước các con; mà cũng khốn cho các con, nếu các con tham lam giành phần hơn của kẻ khác, con gắng hiểu Trung nghe!".

Xác thịt của chúng ta từ trước các Đạo-Giáo đã tỉ con người chẳng khác như một vị Thiên-Thần cỡi một con vật. Các nhà triết-lý từ thượng-cổ đến giờ họ để ra không biết bao nhiêu thí-dụ về Đạo-Giáo, cơ bí-mật Thiêng-Liêng như Đạo-Giáo bên Pháp: "La Belle et la Peine" là Nàng Tiên và con Thú. Các Đạo-giáo nơi nào cũng vậy, đều phân biệt ra hai lý hiển nhiên:

- Tỷ như bên Á-Đông, Phật-giáo của chúng ta đã ngó thấy Đức Văn-Thù Bồ-Tát cỡi con Bạch-Tượng.

- Đức Từ-Hàng Bồ-Tát tức nhiên Đức Quan-Âm Bồ-Tát cỡi con Kim-Mao-Hẩu.

- Đức Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát cỡi con Đề-Thính.

- Như Bát-Tiên kỵ thú v.v.

Tỷ dụ về phần hồn, phần xác của loài người đó vậy. Nói rõ hơn nữa chẳng khác nào như cơ-quan Tạo-đoan nơi mặt thế này, chúng ta ngó thấy hiển nhiên là cơ-quan vợ chồng. Chúng ta ngó thấy chẳng hề khi nào một người mà lập đặng hay làm đặng, phải đồng-tâm đồng-trí với nhau mới đặng, nhứt là hai cái tâm-hồn nó có đặc-biệt với nhau. Tuy vẫn liên-quan mật thiết với nhau mặc dầu, hai tâm hồn chẳng buổi nào đồng thinh, đồng âm-chất với nhau."

 

 

XÁC THỰC


F: Certitude.

(Xác là chắc chắn và đúng đắn; thực là đúng). Xác thực: Rõ ràng, đúng đắn và đích thực.

 

 

XÁC TỤC


E: Carnal body.
F: Le corps charnel.

Xác tục: Thân xác phàm tục, là Thân xác phàm tục. Đây là hình hài được cha mẹ sinh ra nơi cõi phàm tục, do đó gọi là xác tục.

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

"Dầu mang xác tục hay hồn,
"Nhớ cầu Từ-Phụ Chí-Tôn cứu-nàn."

 

 

XÁC TRẦN

Xác trần là Thân xác con người ở cõi phàm trần.

Phải gìn giữ cho Chơn linh người đã chết xa lánh khỏi xác thân ở trần gian. Con người không tu hành thì chỉ chú trọng vật chất, danh lợi, vợ con...Nên khi vừa mới thoát xác, thì Chơn thần thường hay buồn đau khổ sở, tham tiếc cuộc sống, quyến luyến danh lợi...bởi vì Chơn thần là tạng chứa tình cảm. Cho nên người chết cần được tụng Kinh để nhắc nhở và cầu xin xa lánh xác phàm mà tìm về Thiên cảnh.

Kinh Đưa Linh Cữu có câu:

"Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh,
"Giữ Chơn hồn xa lánh xác trần."

 

 

XÁC TRO CỦA CỤ CƯỜNG ĐỂ

Đối với vị Phật thì hài cốt khi hỏa thiêu rồi, còn sót lại những mảnh vụn không cháy hết gọi là Xá Lợi, nhưng với một người chưa đắc Đạo thì gọi là xác tro sau khi thi hài hỏa táng.

Trong quyển "LỜI PHÊ" của Đức Hộ Pháp trang 61 bày tỏ ý kiến của Đức Ngài đối với Cụ Cường Để qua chuyến công du sang Đài Loan và Nhựt Bổn lúc 10g ngày 29-3-1954.

Ngài nói: "Tôi có ý muốn đặt những cơ sở của Đạo Cao Đài tại Đài Loan, cũng như Tôi đã làm việc đó tại Pháp trong cuộc hành trình vừa qua của Tôi sang Âu Châu. Thăm Đài Loan xong, Tôi sẽ qua Nhật Bản và sẽ lưu lại đó chừng ba, bốn ngày để rước hài cốt của Hoàng Thân Cường Để về nước. Riêng Tôi, Tôi chưa được quen biết Hoàng Thân. Những nhà ái quốc Việt Nam đối với Tôi, khi Tôi còn là nhà chiến sĩ Cách mạng, đã là biểu hiệu của cuộc tranh đấu giành độc lập cho Tổ quốc. Hơn nữa dầu rằng không phải là một Giáo đồ của Đạo Cao-Đài, Hoàng Thân Cường Để đó là người thứ nhất và cũng là người có nhiều ảnh hưởng nhất đã bảo vệ cho Đạo của chúng tôi. Trước khi mất, người đã ban cho Đạo Cao Đài hài cốt và tài sản của Người. Nay Tôi qua Nhật chính là để thi hành lời trối trăn của Người là rước hài cốt của Người về nước".

Đức Ngài nói tiếp: "Cũng như việc rước xác tro của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về Thánh Địa Toà Thánh là nhiệm vụ Thiêng liêng của một nền Tôn giáo, hơn nữa là một công dân đất nước của Tổ Phụ lưu lại cùng là hài cốt của Cụ Duy Tân ở cù lao TIDI và những hài cốt của các nhà ái quốc lưu vong bỏ mình nơi Hải ngoại. Sau nữa lập một Ban Đạo tỳ cải táng, đi cùng khắp miền Nam Việt Nam tìm những mồ hoang, những hài cốt của giòng dõi Lạc Hồng bị ngọn lửa chiến tranh gây hấn từ năm 1945 đến nay đã dấy trên đất nước. Biết bao nhiêu người đã bỏ mình vì nạn tương tàn cốt nhục, làm thế nào đặng rước về di táng nơi Nghĩa trang Thánh Địa Toà Thánh đồng bào Việt Nam thấy rõ lòng NHƠN NGHĨA của nền Tôn giáo là tấm gương lịch sử soi chung hậu thế". (Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết Trí Huệ Cung 4-10-Giáp Ngọ (dl 20-10-1954)

Tráng Liệt và Tráng Cử đòi xác tro của Cụ CƯỜNG ĐỂ.

Hai Ông Tráng Liệt và Tráng Cử là hai con của Cụ Cường Để, ở Huế vào Sài gòn, với sự hướng dẫn của Ông Nguyễn Văn Vàng, Đại biểu Chánh phủ Miền Tây, nguyên Tỉnh Trưởng tỉnh Tây Ninh và với áp lực của Chánh Phủ Ngô Đình Diệm, lên Tòa Thánh Tây Ninh, đòi Hội Thánh trả xác tro của Cụ Cường Để, vào năm 1956.

Diễn tiến của sự việc được Ông Cải Trạng Nguyễn Minh Nhựt tự Trân thuật lại chi tiết như sau đây:

"Không nhớ rõ ngày tháng nào trong năm 1956 (Bính Thân) Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Vàng, nhờ có công với Chánh phủ trong việc khắc khe đàn áp Đạo ở Tây Ninh, thêm sự nâng đỡ của Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, được thăng cấp Đại Biểu Chánh Phủ Miền Tây đặc trách Hoa Kiều Sự Vụ, dẫn hai Ông Tráng Liệt và Tráng Cử lên Tòa-Thánh Tây-Ninh, đòi nhận lại xác tro của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để.

Lúc bấy giờ Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức cầm giềng mối Đạo, do Ủy Nhiệm Thư của Đức Hộ Pháp. Cả Hội Thánh Lưỡng Đài chẳng biết tính lẽ nào, yêu cầu hoãn lại để thỉnh giáo Đức Hộ Pháp.

Trước kia, do Di Chúc Di Ngôn của Đức Cường Để, Đức Hộ Pháp dẫn phái đoàn Đạo Cao Đài sang Nhựt Bổn thỉnh xác tro của Người về thờ tại Tòa Thánh. Hội Thánh không dám tự chuyên quyết định giao.

Ông Vàng hỏi Hội Thánh thỉnh giáo Đức Hộ Pháp cách nào và chờ trong bao lâu?

Hội Thánh trả lời: Bằng điện tín và chờ trong một tuần.

Ông Vàng cười và đồng ý.

Sau nầy rõ lại là Ty Bưu Điện nhận tiền và nội dung bức điện tín của Hội Thánh nhưng không chuyển đi. Có lẽ Ông Vàng đắc ý vì sách lược dự tính sẽ được áp dụng mà Hội Thánh không thể biết được. Có lẽ Ông nghĩ rằng trước sau gì Hội Thánh cũng phải giao xác tro mà không làm sao có lịnh của Đức Hộ Pháp. Ông Vàng cười là vậy. Thâm ý của Chánh quyền muốn cách ly Hội Thánh với Đức Hộ Pháp. Đúng kỳ hẹn, Ông Vàng cùng hai Ông Tráng Liệt và Tráng Cử đến tại Giáo Tông Đường. Ông Vàng với vẻ đắc ý, hỏi Hội Thánh:

- Thế nào? Đức Hộ Pháp trả lời thế nào?

Hội Thánh cho đọc bản văn do bút tự của Đức Hộ Pháp dạy giao xác tro và buộc phải ký biên nhận.

Ông Đại Biểu Vàng ngạc nhiên hỏi:

- Hội Thánh liên lạc bằng cách nào?

Hội Thánh trả lời: Liên lạc bằng điện tín.

Đức Hộ Pháp sai người mang giấy về cho kịp ngày giờ.

Ông Vàng hỏi: - Đi đường nào?

Hội Thánh đáp: - Không biết.

Ông Vàng nghi nghi ngờ ngờ không đoán ra. Kỳ thật, Hội Thánh tiên đoán và tiên liệu cho liên lạc đi để nhận hồi âm về liền, việc gấp rút sợ trễ sẽ gây bối rối.

Sĩ Tải Nguyễn Minh Nhựt tự Trân được lịnh thảo Biên nhận trình lên Hội Thánh, chuyển qua tay ông Vàng. Ông kêu Sĩ Tải Trân chỉnh lại, đại ý rằng, đã đi với Đại Biểu Chánh phủ mà còn ghi số căn cước, địa chỉ làm gì.

Sĩ Tải Trân nhỏ nhẹ đáp: - Xin Ông nói với Hội Thánh. Tôi viết xong là hết phận sự.

Hội Thánh cho đánh máy Biên nhận, chỉnh theo yêu cầu của ông Đại Biểu Vàng. Trong lúc chờ đợi, Sĩ Tải Trân hỏi hai người con của Cụ Cường Để: hai ông nghĩ thế nào mà đến đây xin đòi lại xác tro của Đức Kỳ Ngoại Hầu.

Một trong hai người đáp: - Vì hiếu đạo rước về thờ.

Sĩ Tải Trân hỏi tiếp: Hai ông quan niệm thế nào về chữ Hiếu? - Lúc còn sống thì thương kính, vâng lời, phụng dưỡng; chết thì phải thờ cúng...

Sĩ Tải Trân nói lên ý kiến: Ông nói về hiếu đạo, lúc cha mẹ còn sống thì phải vâng lời. Tôi nghĩ lời trối trăn của người sắp chết đáng lẽ phải được tôn trọng hơn mới phải. Trước giờ nhắm mắt, Đức Kỳ Ngoại Hầu để Di chúc lại và Di ngôn có ghi âm, xin gởi xác tro cho Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Đức Hộ Pháp là người dưng, tôn trọng Di chúc của bậc chí sĩ anh hùng vị quốc vong thân ở nước ngoài, không nệ mệt nhọc tốn kém, dẫn phái đoàn Đạo đến Nhựt rước về thờ tại Tòa Thánh theo ý đã để. Hai ông là con, đáng lẽ có bổn phận bảo trọng Di chúc Di ngôn, làm đúng như ý mới phải. Nay hai ông đòi xác tro lại đem đi nơi khác, làm trái Di chúc tức là thất hiếu, sao lại gọi là vì hiếu?

Biên nhận được đánh máy sạch, ký tên xong. Hội Thánh mời qua Báo Ân Từ để giao tại Hậu Điện. Hai Ông Tráng Liệt và Tráng Cử trịnh trọng đưa ra 10.000 đồng nói là đền ơn Hội Thánh và Đức Hộ Pháp.

Ngài Thái Chánh Phối Sư Thái Bộ Thanh và Ngài Giáo Sư Thái Đến Thanh khuyên hai ông nên giữ lại để xài. Đức Hộ Pháp hành động, mục đích không phải để hai ông cám ơn và nếu có đền ơn Đức Hộ Pháp thì 10.000 đồng không thấm vào đâu so với tổn phí cho cả một phái đoàn Đạo cùng đi với Đức Hộ Pháp, phí tổn phải trội hơn rất nhiều. Vả lại, trước kia, mỗi lần hai ông đến viếng Tòa Thánh, Đức Hộ Pháp thường cho ông nào cũng vậy, khi thì 5.000, khi thì 10.000, Đức Hộ Pháp có tính toán gì đâu. Nay có đáng gì để luận với số tiền 10.000 đồng mà gọi là đền ơn Đức Hộ Pháp.

Ông Đại Biểu xen vào: - Trước khác, nay khác.

Hai ông Tráng Liệt và Tráng Cử nài nỉ xin để cúng chùa. Ngài Thái Chánh Phối Sư chỉ tủ hành hương và nói:

- Việc cúng chùa là tùy hỷ. Hội Thánh không trực tiếp nhận tiền cúng chùa, nếu muốn, xin bỏ vào tủ hành hương. Điều đáng ghi nhận là mấy hôm trước, biết có vụ đòi xác tro, Sĩ Tải Lê Quang Tấn và Sĩ Tải Trân đã hội ý với ông Đạo Nhơn Phạm Văn Út, Trưởng Tộc Phạm môn, chia lấy một ít xác tro Đức Cường Để, dành lại cho Hội Thánh, gọi là kỉnh trọng Di chúc của người anh hùng chí sĩ, còn phần nhiều thì giao cho Đại Biểu Chánh phủ và hai ông con của Đức Cường Để. Ông Út sau được thăng phẩm Chơn Nhơn và đã qui vị. Không rõ phần xác tro chia lại, hiện giờ ai cất giữ.

Ngày giao xác tro cũng có điều rắc rối nho nhỏ:

Ngài Hiến Pháp lánh mặt, Biên nhận thiếu chữ ký của Ngài. Ông Đại Biểu giành giữ Biên nhận, nói sẽ đem cho Ngài Hiến Pháp ký. Hội Thánh im lặng, mặc nhiên bằng lòng. Một số Chức sắc không đồng ý, đề nghị Ngài Thượng Chánh Phối Sư Thượng Sáng Thanh đòi lại. Việc nội bộ để Hội Thánh lo. Ông Vàng không giao.

Trên đường đi từ Báo Ân Từ đến Đền Thánh để hai ông Tráng Liệt và Tráng Cử đảnh lễ, Ngài Thượng Chánh Phối Sư sợ mất lòng không dám đòi quyết, còn khuyên rằng: Người ta là người lớn, không lẽ sai lời. Rồi người ta cũng giao lại cho mình, chớ họ giữ làm gì. Chờ cho Ngài Hiến Pháp ký tên xong, họ sẽ giao lại cho mình chớ gì. Không tán thành ý kiến đó, Sĩ Tải Trân nói:

- Đạo có phần khác, còn Chánh trị xảo trá muôn mặt. Mình không tin lời họ được. Việc nội bộ của Đạo, Ngài Hiến Pháp ở gần đây, mình đem lại cho Ngài ký, phải tiện hơn không. Tại sao họ ở xa mà lại giành giữ? Như vậy thấy rõ ý họ không tốt rồi. Ngày kia họ không trả lại, Hội Thánh sẽ ăn làm sao nói làm sao với Đức Hộ Pháp.

Mấy ông lên xe sắp rời Tòa Thánh. Trường hợp bất đắc dĩ, dầu biết mình quá nhỏ nhoi nhưng xét thấy có bổn phận phải trực tiếp đòi nên buộc lòng Sĩ Tải Trân nói lớn:

- Ông Đại Biểu chưa đưa Biên nhận lại cho Hội Thánh. Ông Vàng ngồi ở băng sau bất bình, vừa chìa Biên nhận ra, vừa nói to:

- Đây nè! Ngài Thái Chánh Phối Sư vội cầm lấy và xe chạy. Tạm kết thúc màn đòi xác tro của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, do Chánh quyền Ngô Đình Diệm làm đạo diễn... là động cơ thúc đẩy.

Được nghe kể lại, xác tro đòi lại được đưa về Huế, có tổ chức buổi lễ tiếp rước long trọng nói là Chánh phủ đã rước về từ Nhựt Bổn. Phải chăng Chánh quyền Ngô Đình Diệm lo ngại tinh thần ái quốc của đồng bào trong nước sẽ tập trung hướng về Thánh Địa Tây Ninh, có Báo Quốc Từ thờ các anh hùng chí sĩ vị quốc vong thân, gây ảnh hưởng không hay cho Chánh quyền hiện hữu".

Cải Trạng Nguyễn Minh Nhựt tự Trân (ký tên)

(Trích trong Hồi Ký của Cải Trạng Nguyễn Minh Nhựt tự Trân, nhan đề là Văn Tịch Pháp Nhơn Luân Chi Đạo).

 

 

XANG THIÊN

撐 天
E: To support the heaven.
F: Supporter le ciel.

Xang: xưa đọc là Xang, nay đọc là Xanh: chống đỡ. Xang Thiên là chống đỡ bầu trời.

Phật Giáo (Kinh Phật Giáo):

"Thổ khí thành hồng nhi nhứt trụ xang Thiên."

 

 

XANH XANH

E: The God.
F: Le Dieu.

Xanh: màu xanh. Xanh xanh: chỉ Ông Trời, Đức Chí Tôn Thượng Đế.

Các từ ngữ khác đồng nghĩa Xanh xanh là: Trời xanh, Cao xanh, Ông xanh, v.v....

Thi văn dạy Đạo:

Xanh xanh nào có phụ người hiền,
Ðã thấy trọn quyền Đấng Chí Thiên.
Lo lập nghĩa nhân đồng loại giúp,
Ðừng ham quyền thế một mình riêng.

 

 

XAO XUYẾN

E: Agitated.
F: Troublé.

Xao xuyến là bị xúc động mạnh nên không an lòng.

Tân Luật: Tịnh Thất, điều 7:

Phải giữ chơn thần an tịnh, đừng xao xuyến lương tâm.

 

 

XẢO MỊ

巧 媚
E: To flatter cleverly.
F: Flatter habilement.

Xảo: Khéo léo, giỏi, dối trá. Mị: nịnh hót. Xảo mị là nịnh hót một cách khéo léo để lừa gạt người.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Huyền diệu mũi kim qua chẳng lọt,
Ðừng đừng xảo mị gọi tài tình.

 

 

XẢO QUYỆT

Xảo quyệt 巧譎: Tinh xảo và quỷ quyệt khó lường.

Đức Hộ-Pháp nói: "Loài người quá xảo quyệt khôn khéo tiềm tàng sự sung sướng xác thịt nầy, tại do đó mà gây nên biết bao nhiêu thần sầu quỉ khóc, chiến tranh không ngớt, là do nơi lòng tham lam tiến triển văn minh, cơ khí tối tân như là bom nguyên tử để giết người".

 

 

XẠO XỰ

E: Tumultuous.
F: Tumultueux.

Xạo xự là lăng xăng chạy tới chạy lui để mưu cầu danh lợi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Xạo xự tuồng đời lừng bợn tục.

 

 

XÂY BÀN

E: The tipping table or the turning table.
F: La table frappant ou la table tournante.

 

 

 

(Xây: quay, xoay. Bàn: cái bàn). Phương pháp Xây bàn là dùng cái bàn bằng gỗ có thể lắc qua lắc lại (tức là xây qua xây lại theo chiều thẳng đứng), làm cho chưn bàn gõ nhẹ lên nền gạch phát ra tiếng "cộp". Đây là một cách giao tiếp giữa người sống và các vong linh nơi cõi vô hình. Cái bàn nầy bằng gỗ, không có gì đặc biệt, mặt bàn hình tròn, hoặc vuông, thường có 3 chân (hoặc 4 chân) hai chưn bàn được chêm lên cao chừng 1 phân để bàn lắc qua lắc lại dễ dàng, gõ nhẹ xuống nền gạch phát ra tiếng. Có ít nhứt là hai người ngồi vào bàn, đối diện nhau, mỗi người đặt hai bàn tay xòe ra úp lên mặt bàn, nối nhau thành một vòng tròn, tịnh tâm chừng một lát thì bàn bắt đầu dao động, tức là có một vong linh nhập vào bàn. Giữa người sống và vong linh có qui ước để hỏi đáp với nhau nhờ tiếng gõ của chưn bàn, gọi là khẩu ước:

- Bàn gõ 1 tiếng là ừ, chịu; bàn gõ 2 tiếng là không.

- Cách ráp chữ: một người đọc vần: a ă â b c d đ e ê...... bàn gõ theo, mỗi vần mỗi gõ, khi bàn ngưng gõ là lấy chữ vần đó, thí dụ đọc tới chữ L bàn ngưng gõ, vậy lấy chữ L. Xong được một vần thì bắt đầu đọc vần trở lại, chừng nào bàn ngưng gõ thì lấy chữ đó. Sau cùng ráp lại thành từng tiếng, từng câu, từng bài. Vì cái bàn lắc qua lắc lại, tức là xây qua xây lại theo chiều thẳng đứng, nên gọi là Xây bàn (Table tournante), khi xây, chưn bàn gõ nhẹ xuống nền gạch phát ra tiếng nên gọi là cái Bàn gõ (Table frappante) hay cái Bàn nói (Table parlante).

 

 

 

Việc Xây bàn nầy rất lâu mới được một bài văn, nhưng không có cách nào khác cho mau hơn lúc bấy giờ. Đây là cách giao tiếp giữa người sống và các vong linh theo khoa Thần Linh Học ở nước Mỹ, truyền qua Âu Châu, nước Pháp và đến Việt Nam. Văn Hào Victor Hugo lúc tị nạn chánh trị tại đảo Jersey, nhờ Bà Girardin biết cách Xây bàn nầy, cùng với ông, tiếp xúc với các Đấng vô hình, nhận được nhiều bài Thánh giáo, mà sau nầy cho in ra phổ biến với tựa đề: "Chez Victor Hugo, Les Tables tournantes de Jersey" làm chấn động dư luận của các nước Âu Châu, vì từ lâu nay, họ phủ nhận linh hồn, chết là hết, không còn gì cả. Nhờ Đức Victor-Hugo và các phong trào Thần Linh Học, họ biết có thế giới vô hình, con người có linh hồn và khi chết thì linh hồn xuất ra khỏi thể xác, sống và hoạt động trong thế giới vô hình. Tại Sài Gòn, Việt Nam, vào giữa năm 1925, có bốn vị: Cao Quỳnh Cư, Cao Quỳnh Diêu, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang, thử nghiệm việc Xây bàn theo cách thức của Thần Linh Học Tây phương, với một cái bàn tròn ba chân tại nhà Ngài Cao Hoài Sang và đạt được kết quả tốt đẹp.

Ông Vương Hồng Sễn lúc đó là một thanh niên, nghe đồn nơi nhà Ngài Cao Hoài Sang ở phố Hàng Dừa, gần chợ Thái Bình, mỗi đêm đều có Xây bàn nói chuyện với Tiên, nên ông Sễn đến xem và thử nghiệm, rồi ông viết một bài tường thuật, sau nầy cho đăng trong Tập báo Xuân Tự Do, năm Kỷ Hợi (1959). Chúng tôi xin chép nguyên văn bài nầy để cống hiến bạn đạo và làm tài liệu cho Ban Đạo Sử. Trong bài nầy, ông Vương Hồng Sễn có dùng chữ "Xây ghế" không thích hợp lắm, nhưng chúng tôi tôn trọng tác giả nên vẫn để y, hơn nữa vào thời điểm đó, việc Xây bàn rất mới: Năm Ất-Sửu (1925) là năm Xây bàn rất thạnh-hành gọi là Table tournante, nhất là tại Thủ đô Saì-gòn. Vì sự hiếu-kỳ ấy mà ba ông CƯ, TẮC, SANG cùng là bạn chí-thân, lại nữa cùng làm chung một sở và mang một tấm lòng yêu nước thiết tha muốn giải ách nô-lệ, cho nên có hoài vọng là muốn tìm hiểu, tiếp-xúc với cõi vô-hình để biết được những việc ngoài cái thế-giới hữu-hình này.

Hôm ấy vào ngày 5-6 Ất-Sửu (dl 25-7-1925) hai ông Cao Quỳnh-Cư và Phạm Công-Tắc cùng đến nhà ông Cao Hoài Sang bên cạnh chợ Thái bình (Saì-gòn) để thăm viếng và hàn huyên tình đời. Ba ông bàn với nhau việc Xây bàn để cầu hỏi chuyện với các vong-linh quá vãng. Ba ông đem chiếc bàn 4 chân ra (bên đây là chiếc bàn kỹ-niệm lúc mới Xây bàn) kê một chân cho nó hổng lên để nó nhịp được linh động dễ-dàng. Ba ông để tay lên bàn tạo thành một dòng điện nối tiếp. Đêm đầu không thành, dù ngồi suốt từ 21 giờ đến 2 giờ đêm, có nhiều vong linh nhập bàn làm cho bàn di động, viết tiếng Anh, Pháp và cả tiếng Hoa nữa; có một vong-linh là học-sinh Hà-nội viết Việt-ngữ. Cái bàn nhịp có khi thì chửng-chạc, có lúc lựng khựng chứng-tỏ có nhiều vong-linh tranh nhau để nói chuyện. đêm ấy. Công việc chưa quen, các ông phải vất-vả van-vái, cầu nguyện và ra điều-kiện bằng khẩu ước: hễ bàn nhịp một cái là A, hai cái là Ă, ba cái là Â, bên ngoài có người ghi chép rồi ráp vần lại, đọc thành câu, chấm, phết cho phân-minh. Đêm sau ba ông tiếp-tục, đúng 21 giờ một vong-linh nhập bàn, nhịp thành chữ và ráp lại được một bài thơ thất ngôn Đường-luật (loại thơ 7 chữ, 8 câu) sau cùng ký tên Cao-Quỳnh-Tuân, tức là thân sinh của ông Cao-Quỳnh-Cư. Lời lẽ thân thương và chân-tình ứng nghiệm được việc Xây bàn, ba ông xúc-động rồi khóc. Rồi hai người rao đờn, một người ngâm thơ tỏ vẻ hân-hoan. Đó là bài "Ly trần". Những đêm kế tiếp, cứ ban ngày đi làm việc, tối đến lại đem bàn ra tiếp-tục cuộc Xây bàn. Có Tiên-cô giả danh Đoàn-Ngọc-Quế giáng cho thi, tức là Thất-Nương Diêu-Trì Cung. Đấng Nữ Tiên này còn giới-thiệu Bát Nương rồi đến Lục Nương, cũng như cả Diêu-Trì-Cung đều có mặt. Nhưng thường xuyên hơn là chỉ có ba vị: Lục Nương, Thất-Nương, Bát Nương và Đức Phật Mẫu. Các vị giáng và làm thơ xướng hoạ với nhau:

Đây là lời của một nhà văn Vương Hồng Sễn ghi lại những gì mắt thấy vào thuở Xây bàn mà ông gọi là "Xây ghế":

Năm 1925 tại Sài Gòn có phong trào Xây Bàn, sau đổi qua Cầu Cơ thỉnh Tiên và cầu người khuất mặt xuống bút dạy việc vị lai. Ban đầu có một nhóm thi hữu họp nhau mỗi tối để mời chiếc ghế, chiếc bàn lên, cùng nhau đàm luận thế sự. Bài thơ sau đây nhơn xây ghế đêm 25 tháng 7 năm 1925 mà được. Ghế gõ tên xưng là CAO QUỲNH TUÂN, sanh tiền làm Cai Tổng, là thân sinh của ông Cao Quỳnh Cư (Chức sắc lớn Đạo Cao Đài quá vãng từ lâu, nay còn tạo hình thờ trên Tòa Thánh Tây-Ninh). Ông Cao Quỳnh Tuân vốn là một thi nhân thuở cựu trào. Khi ghế lên, gõ được câu nào là ông Cư động lòng khóc sùi sụt, khách bàng quan cũng ngậm ngùi theo. Tôi nay hậu sanh, nhơn có công chịu khó chép để dành từ năm 1925, gặp buổi đầu niên, xin kính gởi vào Tập Xuân Kỷ Hợi Tự Do, để đánh dấu một thời gian và một nhơn tâm đã qua.

Bài thơ ấy như vầy:

Ly trần tuổi đã quá năm mươi,
Mi mới vừa nên ước đặng mười.
Tổng mến lời khuyên bền mộ chép,
Tình thương câu dặn gắng tâm dời.
Bên màn đôi lúc trêu hồn phách,
Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi.
Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,
Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời.

Tiếp qua đêm 30 tháng 7, cũng nhóm thi hữu ấy xây ghế được bài THI như sau:

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài.
Dưỡng sanh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn dập tương tư oằn một gánh,
Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai.

Được bài thơ, các thi hữu hỏi tác giả là ai? Thì bàn gõ tên: "Đoàn Ngọc Quế", sanh trưởng tại Chợ Lớn, con một, chết vì tình, thôi học từ năm 15 tuổi, thác hồi 18 tuổi. Nhiều người theo dõi cuộc Xây ghế (Bàn) hầu chuyện với Tiên và hồn ma năm 1925. Về sau nhiều vị trong nhóm Thi xã trở nên Chức sắc lớn trong Đạo Cao Đài. Nhờ một bạn hữu, tôi thấy hai bài thơ trên đây và thường nghe chung quanh trầm trồ mãi đó là thơ ma do Xây ghế mà có. Tôi ao ước đặng thấy tận mắt mới hả lòng. Đến thứ sáu 31 tháng 7, vừa lãnh lương, anh em rủ nhau ăn cơm nhà hàng Yong-Yeng là một quán cơm Tây sang trọng thời ấy. Mãn tiệc, rượu còn ngà ngà say, có bạn đề xướng đi coi xây ghế. Còn dịp nào hơn! Cùng đi với tôi là hai ông: Nguyễn Văn Xuân và Đoàn Ngọc Quế. - Xuân, cùng với tôi làm Thơ ký tập sự chung một sở tại Trường máy, đường Đỗ Hữu Vị, nay là trường dạy Bách Khoa Kỹ Nghệ đường Huỳnh Thúc Kháng, hai đứa vẫn chưa vợ. Chỗ nào vui là có đến góp mặt, phá đám nhiều hơn là giúp ích. - Đoàn Ngọc Quế, chúng tôi quen tặng là Đoàn Thúc thì làm Thông Phán trên Phòng Nhì, dinh Thượng Thơ, nay đã quá vãng. Tới nơi, xuống xe kéo, vào trước, hiện có một căn phố trệt lối chợ Thái Bình, xóm nầy nay đã thay đổi rất nhiều, không còn nhìn ra chỗ cũ. Trước dãy phố là một bãi cỏ rậm, lơ thơ vài cây dừa lão, gió đưa lá phất phơ trên nền trời thâm như tóc ma đà đuột. Vì vậy, nếu tôi không lầm, phố nầy có tục danh là "dãy phố hàng dừa". Vừa đến nơi thì "ghế" xây đà lâu hoắc, chúng tôi vội tiếp tay cho ghế mau lên. Nói là ghế, nhưng đó là một cái bàn gỗ một trụ ba chân, mặt tròn lối 6 tấc tây bề trực kính, bề cao cũng cỡ ấy. Khách ngồi chung quanh đã có 4 hay 5 người, tôi không nhớ rõ, với 3 chúng tôi nữa là rậm đám lắm, những bàn tay để khít gần giáp chu vi bàn, cả thảy ngồi chùm nhum đâu mặt nhau. Chưa đầy 10 phút, xảy bàn chuyển động, ba cây nhang cắm giữa rung rung như báo tin sắp có chuyện bất thường. Trong nhà, đồng hồ khoan thai đưa ra chín tiếng (9 giờ tối). Ngoài hiên, đèn thì tắt cho cảnh thêm u tịch. Trời chuyển mưa, trăng lu mờ, khi hiện khi khuất trong những đám mây tối đen, rất phải buổi tiếp chuyện cùng âm hồn. Một trận gió lạnh tốc mấy ngọn dừa nghe như tiếng quét trên lược gãy răng!.... Chúng tôi mản còn suy nghĩ đâu đâu thì bàn chuyển động. Mấy tiếng gõ ra là để xưng tên. Theo lệ đã sẵn, các thi hữu quen tay quen việc, nên không mất thì giờ là bao, bàn hoặc gõ từng tiếng một, hoặc gõ một hơi một mạch, cứ đếm một tiếng là A, hai tiếng là B, mười tiếng là K,.. Bàng quan mỗi lần nghe bàn gõ thì đếm, đếm số rồi khi bàn dừng lại thì ngoài nầy có một người ngồi riêng, thủ vai thư ký, gia công biên số tiếng gõ, dịch ra từng chữ một. Khi đủ 7 chữ, một câu thơ, thì hô lớn đọc rõ câu ấy lại, xin bàn cho biết có quả như vậy chăng. Xong rồi tiếp tục như cũ.

Bàn xưng "Đoàn Ngọc Quế Tiểu thơ". Đến đây, người Anh cả chúng tôi là Đoàn Thúc vấn nạn. Đoàn Thúc hỏi chẳng hay trong nhóm hôm nay có người nào trùng danh tánh, trùng tự với Tiểu thơ chăng? thì lập tức cái bàn nghiêng nghiêng qua phía Đoàn Thúc ngồi, gõ một tiếng mạnh: "cộp"!. Tôi cũng chưa lấy làm lạ cho lắm, thoạt anh bạn Nguyễn Văn Xuân công kích cách khác và xin hỏi cái bàn rằng: nội trong bọn có người nào mới lạ chăng? Thì liền đó bàn trả lời có và đánh vần gõ thật nhanh tên người là chẳng ai khác hơn là "S Ễ N".

Thật quái! Thật lạ! Vả chăng trong nhóm đêm ấy, tôi chưa được giới thiệu, mà tên tôi đã là một quái gở, ngoài hai bạn thân là ông Quế và ông Xuân thì dễ gì biết được! Tôi xin chịu thua, từ chỗ bán tín bán nghi, qua chỗ xiêu xiêu tin tưởng ma quỉ rất gần. Bàn gõ khoan thai yểu điệu quả là một tánh nết Tiểu thơ khuê các. Khi nào không muốn trả lời một câu quá tọc mạch thì bàn nghiêng nghiêng qua một bên nhưng không gõ, ba cây nhang rung rung như bất bình, thật là một dáng điệu một cô gái sanh tiền ắt chuyện chi trái ý không để vào tai. Lần hồi trong đêm đó, chúng tôi hỏi về gia đạo của cô và hỏi cô đau bịnh chi mà thác. Cô cho bài thơ như sau:

Trời già đành đoạn nợ ba sinh,
Bèo nước xẻ hai một gánh tình.
Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỉ,
Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình.

Thú thiệt tôi bình sanh có tánh sợ ma, nhưng ma nầy tôi lại muốn gặp. Vì trời đã khuya, thêm nhà tôi ở đậu có lệ không mở cửa cho kẻ về quá giờ, nên buộc lòng tôi phải cáo lui. Khỏi nói, đêm ấy tôi về ngủ không được. Sau nghe lại, khi chúng tôi ra về, bàn còn làm bài thơ sau cũng do cô Đoàn Ngọc Quế lên và đây là lời cô trách người bạn năm xưa, nay đã có đôi bạn khác:

Người thì Ngọc mã với Kim đàng,
Quên kẻ dạ đài nỗi thảm mang.
Mình dặn lấy mình, mình lại biết,
Mặc ai chung hưởng phận cao sang!
                        ĐOÀN NGỌC QUẾ

Cũng trong tháng 8 năm 1925, ông Phạm Công Tắc khi đó còn làm việc Sở Thương Chánh Sài Gòn, có họa vận bài thơ tự tình của cô Đoàn Ngọc Quế:

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
Trời xanh vội lấp nữ anh tài.
Tình thâm một gánh còn dương thế,
Oan nặng ngàn thu xuống dạ đài.
Để thảm xuân đường như ác xế,
Gieo thương lữ khách ngóng tin mai.
Hềm gì chưa rõ đầu đuôi thế,
Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
                        PHẠM CÔNG TẮC

Câu ba và câu bảy trùng một chữ "thế", vì lâu quá tôi không nhớ rõ có phải nguyên văn như vậy hay chăng. Nay xin giữ y để chờ hậu cứu. Đồng thời, ông Cao Hoài Sang (nay làm đầu trên Tòa Thánh Tây Ninh) khi ấy còn là một thanh niên xuất thân trường Sư Phạm "Sở Cọp" cũng làm việc Sở Thương Chánh Sài Gòn, nức tiếng là một thi sĩ tài ba, ít ai bì kịp, đàn giỏi thi hay, ông Cao Hoài Sang ra cho bàn một bài thơ như vầy, mời họa vận: Tự thuật (xem thêm chữ Đoàn Ngọc Quế)

Qua đêm 22 tháng 8, nhằm tối thứ bảy, Cô Đoàn lên rồi nhường chỗ cho một nữ sĩ tên Hớn Liên Bạch tiếp lời, hạ một bài thơ gọi là "TIỄN BIỆT TÌNH LANG" như sau:

Chia gương căn dặn buổi Trường đình,
Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.
Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,
Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.
Ngày chờ mây án ngàn dâu khuất,
Đêm bặt đèn khuya một bóng (nhìn) chinh.
Mờ mệt non vu ngơ ngẩn luống,
Dặm dâu cách bức nghĩa dâu khinh.

Qua đêm 25 tháng 8, Cô Hớn Liên Bạch nhập bàn lên, xin đổi hai câu thất bát lại như vầy:

Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn,
Xa xôi ai thấu nỗi đinh ninh.

Cũng trong đêm 25 tháng 8, bàn lên một hồn nhập vô xưng hiệu "Thanh Sơn 48 tuổi, người tỉnh Long Hồ", nhơn hỏi có điều chi dạy bảo, ông cho bài thi nầy:

THANH SƠN TỰ THUẬT THẾ SỰ:

Âm Dương tuy cách cũng trời chung,
Thấy trái nên đây mới tỏ cùng.
Thắt dạ thuyền xưa không đậu bến,
Đau lòng hạc cũ chẳng về tùng.
Cúi đầu đành chịu thân trăm tuổi,
Ngước mặt trơ trông bặt chín trùng.
Mạnh yếu há ngồi cam phải vậy,
Hay chi cá chậu với chim lồng.

Rồi ông tiếp một bài thi nữa:

Chim lồng bao thuở lại non xanh,
Ngóng mắt trông vơi chốn thoát mình.
Dựng nước không ai tài tướng lược,
Liều mình thiếu kẻ đáng hùng anh.
Vầy thuyền chi sợ cơn giông tố,
Hiệp chủng còn hơn cuộc chiến tranh.
Thìn dạ chờ Châu về Hiệp Phố,
Nỗi mình sự nghiệp mối tan tành.
                        THANH SƠN

Hai bài nầy, nên nhớ làm vào năm 1925 nhưng đã xoay qua quốc sự, tôi chép hồi đó làm sao, nay sao lục làm vậy, cũng không dám thêm bớt, mặc tình chư quân tử nghiệm xét. Sau rốt là ba bài tứ tuyệt, hai bài đầu tôi không nhớ rõ của người sống làm ra và họa vận nhau chơi, hay là thơ xây ghế mà được. Bài thứ ba của ông Cao Quỳnh Cư làm đêm mùng 1 tháng 9 năm 1925. Bài thứ nhứt của Nhàn Âm Đạo Trưởng:

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,
Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.
Rượu cúc một bầu trăng gió hứng,
Non sông dạo khắp lối đêm xuân.

Thơ đề ngày 31 tháng 8 xưng Nhàn Âm Đạo Trưởng, có một giọng thoát tục, câu chót rõ là của người khuất mặt, muốn nói Tiên hay ma cũng được. Bài thứ nhì họa nguyên vận bài trên:

Sống thác từ xưa đã có chừng,
Nơi trần mảng tính trọn nhơn luân.
Đò đưa phút chịu vùi ba tấc,
Tay trắng phủi rồi một tuổi xuân.
                        (31-9-1925) CAO XUÂN LỘC

Bài thư ba họa y nguyên vận:

Cõi thọ là đâu khó độ chừng,
Ẩn tàng lội lạc bậc kinh luân.
Buổi già ước đặng đem thân gởi,
Biển Thánh ráng dò lúc tuổi xuân.
                        (1-9-1925) CAO QUỲNH CƯ

Câu chuyện xây ghế được thơ cách nay đã ba mươi bốn năm, coi vậy mà mau quá, nhiều người còn nhớ, thêm giấy mực làm chứng rành rành. Trải qua cuộc loạn ly "Nhựt chạy, Tây lui", tài liệu văn chương mất mát quá nhiều. Tôi may giữ lại được năm ba mớ, buổi xuân đầm ấm, xin mượn đó làm chút lễ thành gọi quà Tân niên, kính dâng quí độc giả báo Tự Do cộng thưởng. (VƯƠNG HỒNG SỄN)

Lục-Nương chính là Thánh-nữ Jeane D’Arc của nước Pháp. Bà cùng với ba ông làm thành bài thơ liên ngâm, tức là mỗi người làm hai câu, kết thành một bài thất ngôn bát cú như:

Lục-Nương:

 

Trót đã đa mang cái gánh đời,
Gánh đời nặng lắm khách đời ơi!

Cao Quỳnh Cư:

 

Oằn vai Thần-đạo non sông vác,
Chịu kiếp trần-ai gió bụi vùi.

Phạm Công Tắc:

 

Thương-hải tang-điền xem lắm lúc,
Công-danh phú quí nhắm trò chơi.

Cao Hoài Sang:

 

Ở đời mới hẳn rằng đời khó,
Khó một đôi năm dễ khó đời.

Sau đó thì Đấng AĂÂ giáng, tức là Đấng Ngọc Hoàng Thượng-Đế xưa nay vẫn ẩn danh, thường đến để dẫn-giải và trả lời những gì mà các ông thắc-mắc. Nhớ lại trước đây, khi Thất Nương Diêu Trì-Cung đến với ba ông thường lấy thi văn làm giao duyên, xướng họa rất là tương-đắc, khởi điểm lấy chữ HÒA làm quí (họa thi cũng là hòa thi); tức nhiên Chí-Tôn nhờ Phật-Mẫu và Cửu-vị Tiên-Nương ra công giáo-hóa cho ba ông. Giờ đây sau bảy tháng xem như mãn khóa trường thì Phật-Mẫu trả lại cho Chí-Tôn. Thế nên Lục Nương đến làm bài thơ liên ngâm, nghĩa là bốn vị cùng làm chung một bài thơ duy nhứt để tỏ sự tương-hiệp với nhau. Vậy thì trước Hoà sau Hiệp. Một bài học Thương yêu làm yếu-lý của người tu mà Thượng-Đế muốn dạy trước tiên. Qua ngày 31 Décembre 1925, Đấng AĂÂ giáng với lời lẽ thân thương: -"Ba con thương Thầy lắm há? Con thấy đặng sự hạ mình của AĂÂ như thế nào chưa? Con có thấy thấu-đáo cái quyền-năng của Thầy chưa. Người quyền thế nhứt như vậy có thể hạ mình bằng AĂÂ chăng? AĂÂ là Thầy! Thầy đến con thế ấy con thương Thầy không?

Cao-Quỳnh-Cư bạch: Thấy nhơn-sanh chưa rõ sự huyền diệu của Thầy, họ nói phạm thượng, ba con binh vực Thầy, ba con cải-vả với họ. Thầy biết…Cười!

- Sự nhỏ-nhẹ của Thất Nương đó, con có bằng mảy-mún gì chưa? Học-hỏi sự nhỏ-nhẹ ấy.

- Sự cao-kỳ của Lục Nương con có đặng mảy-mún gì chưa? Học sự cao-kỳ ấy.

- Sự nhân-đức của Nhứt Nương con có chút đỉnh gì chưa? Phải học nhân-đức của Nhứt Nương.

- Tình-nghĩa yêu mến của Bát Nương con có bằng lòng không? Phải học.

- Phải học tình nhân-ái, trung-tín, cứu giúp của ba con có đặng như Cửu Thiên Nương Nương chăng? Phải học gương.

-Sự kính nhường của ba con có bằng Cửu Nương chăng? Phải học"

Ở Pháp: Năm 1853, tại Jersey, văn-hào Victor Hugo và bạn hữu có tổ chức Xây bàn chơi để tiêu khiển.

Đêm 11-9-1853 việc Xây bàn được tổ chức, có mặt ông bà Victor-Hugo, cậu Charle-Hugo, cậu Francois Hugo, Cô Madelène-Hugo, Đại tá Le Flo, bà De Girardin, ông De Trévenue, ông Auguste Vaquerie. Đêm ấy vong linh Bà Charle-Vaquerie (con gái của văn hào Victor-Hugo) giáng bàn thăm hỏi cha mẹ và tiết lộ nhiều điều huyền bí ở cõi vô hình.

Đêm 13-9-1853, tiếp tục việc Xây bàn có vong linh xưng là "Bóng Hư-linh" giáng trần bảo Văn-hào Victor Hugo hãy đặt trọn đức tin vào Đức Thượng-Đế. Tiếp tục Xây bàn, nhóm của văn hào Victor-Hugo đã thông-công được với các vì Giáo-chủ: Socrate, Luther, Mahomet, Jésus-Christ, Moise, Chateaubriand, Dante, Racine, Lion d’Androclès. Các vong linh ẩn danh: Sứ giả Thượng-Đế, người trong cõi mộng, Bóng Hư linh, bóng dưới mồ, Thần chết...

Đêm 11-10-1853, nhận thấy những điều tiết lộ, những điều khuyên bảo, những giáo lý, những triết lý nhận được từ cõi vô hình nhờ việc Xây bàn rất ích lợi cho loài người nên Văn hào Victor-Hugo hỏi vong linh đang giáng bàn: - Những lời vàng tiếng ngọc mà tôi hân hạnh được đón nhận từ bấy lâu nay, thật đáng xem là một bản chơn truyền vô giá, chúng tôi có nên in thành sách để phổ biến cho mọi người cùng học hay chăng?

- Vong linh đáp: - Không! Vì chưa đến ngày giờ.

Văn hào Victor-Hugo hỏi tiếp:

Đến bao giờ? Chúng tôi còn sống đến giờ đó không?

Vong linh đáp: Nếu không thấy nơi này thì sẽ được thấy ở nơi khác. Chừng đến ngày giờ sẽ có lịnh. Hiện tại có thể phổ biến hạn chế cho những người có đức tin. Nhóm của văn-hào Victor-Hugo càng ngày càng đông, âm thầm tiếp tục thông công với cõi vô hình. Những "Thánh giáo" nhận được trong những cuộc Xây bàn này về sau được ông Gustave-Simon in thành sách với tựa "Les Tables Tournantes de Jersey chez Victor-Hugo".Quyển"Thánh-ngôn" này được tái bản mấy mươi lần làm chấn động dư luận nước Pháp và cả thế giới.

Giáo sư Charles Richets (Đại học Sorbonne Ba-lê) sau nhiều năm nghiên cứu việc Xây bàn, phò Cơ, chấp Bút đã xuất bản quyển "Traité de Métaphysique" trình bày những kết quả về cuộc nghiên cứu của ông: khẳng định có cõi vô hình và loài người thông công được cõi vô hình ấy.

Sau năm 1914, Thánh Nữ Jeanne-d’Arc (Lục Nương Diêu-Trì-Cung) giáng bút tại Algerie dạy rằng gần tới ngày thế gian có Đại chiến (tức trận Đại chiến 1914-1918) sẽ có ngôi ba của Đức Chúa Trời truyền Thần cho con người mà Cứu thế (chỉ Thần điển - Cơ Bút) Thánh giáo này được đăng liên tục trong các số báo tháng 3, 5, 7 năm 1914 của hai tạp chí La Vie Nouvelle và La Revue Sprite ở Ba lê.

"Vào năm 1925, một số người trí thức ở Sàigòn thường tụ họp để "Xây bàn", một phương tiện tiếp xúc với thế giới vô hình phát xuất từ bên Âu Châu vào cuối thế kỷ thứ 19. Chẳng những Âu Châu biết thông công với cõi vô hình bằng phương pháp này, mà Trung Hoa đã biết sử dụng từ thuở xa xưa và hiện đại nhất là Phái Minh Đường, Minh Lý …"

Bí pháp về việc Xây bàn: có hai loại bàn:

- Bàn tròn có một trụ ở giữa và ba chân, ban đầu dùng Xây bàn tại nhà ông Cao Hoài Sang (hiện là Thượng Sanh - Chi Thế) ở phố Hàng Dừa. Bàn này mặt tròn có đường kính 51 phân, bàn cao 79 phân. Hiện chiếc bàn tròn được lưu giữ nơi Thảo Xá Hiền Cung - Tây Ninh.

- Bàn mặt vuông bốn chân dùng Xây bàn tại nhà ông Cao Quỳnh Cư (hiện là Thượng Phẩm - Chi Đạo) ở số 134 đường Bourdais (Sài-Gòn). Chiếc bàn vuông mỗi cạnh là 44 phân, cao 75 phân, hiện được lưu giữ nơi Nữ Đầu Sư Đường - Tòa Thánh - Tây Ninh.

Như vậy khi Xây bàn tại nhà ông Cao Hoài Sang thì sử dụng bàn tròn; khi xây bàn tại nhà ông Cao Quỳnh Cư thì sử dụng bàn vuông. Tuy việc làm này về phía người thì hoàn toàn không có sự chuẩn bị, nhưng hầu như thiêng liêng đã chuẩn bị một cách chu đáo, đủ thấy rằng Đạo Trời không một điều gì thừa, cũng không một điều gì thiếu hết:

Ông Cao Hoài Sang là Chi Thế - là Đời (Âm) sử dụng bàn tròn (Dương). Ông Cao Quỳnh Cư - Chi Đạo (Dương) mà sử dụng bàn vuông (âm) đủ thấy rõ luôn có sự Âm-Dương hòa hợp. Từ đó mới phát khởi Càn Khôn.

 

 

XÂY CHUYỂN

Đức Hộ-Pháp nói một cách quả quyết rằng:

"Nếu chúng ta có đủ tinh thần tìm hiểu Thánh-ý của Chí Tôn trong 22 năm, để cho chủng tộc Việt-Nam chịu đau khổ, chịu trong cảnh tương tàn, tương sát, thống khổ, cảnh tượng nguy ngập có nghĩa gì? Ý vị gì? Ấy là Ðức Chí Tôn xây chuyển cho con cái của Ngài thấy rằng: Hung bạo ở thế gian, không phải năng lực độc đoán mà thắng được và trị thế được".

Kinh Giải Oan có câu:

"Vòng xây chuyển vong hồn tấn hóa,
"Nương xác thân hiệp ngã Càn Khôn.
"Bước đường sanh tử đã chồn,
"Oan oan nghiệt nghiệt dập dồn trái căn."

 

 

XÂY CHUYỂN CƠ ĐỜI

Kinh Khi Ăn Cơm Rồi có câu:

"Con cầu xin mảnh hình tráng kiện,
"Giúp nên công xây chuyển cơ Đời."

 

 

XÂY CƠ CHUYỂN THẾ

(Xây cơ: Xây dựng một cơ quan, hay một cơ chế. Chuyển thế 轉世 là làm thay đổi đời). Từ cuộc đời khổ sở, nghèo hèn làm trở nên cuộc đời sung sướng, tốt đẹp hơn.

Kinh Tắm Thánh có câu:

"Đại-Từ-Phụ Từ bi Tạo hoá,
"Tượng mảnh thân giống cả Càn khôn.
"Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
"Xây Cơ chuyển thế bảo tồn Vạn linh."

 

 

XÂY ĐẮP (XÂY DỰNG)

F: Baatir, construire.

Xây-đắp (Xây dựng): Gầy dựng và vun bồi thêm lên.

THẦY dạy tại Từ Lâm Tự, Gò Kén, Tây Ninh. Thứ Ba: 23-11-1926 (âl 19-10-Bính Dần).

"Các con chớ phiền hà chuyện Thánh Thất xảy ra, ấy cũng một bước trắc trở trong đường Ðạo của Thầy. Thầy còn phải đau lòng thay, nhưng cũng là nơi Thiên cơ vậy. Thầy hằng biết công của các con, nhưng Thầy phải cực lòng chìu ý của mỗi đứa mà xây đắp nền Ðạo. Vì vậy mà nhiều sự xảy ra đều do nơi tâm chí của nhiều đứa. Thầy hằng dùng tâm chí của các con mà bố mọi điều thiết yếu trong việc đạo đức."

 

 

XÂY VẦN

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Đức Hộ Pháp hỏi:

Bạch Ngài dạy cho rành đặng nhớ,
Địa Cầu này bao thuở cho thăng?

- Đáp rằng trần khổ khó khăn,
Xây vần theo luật Công bằng Thiêng liêng.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Nay đương lúc phong trần khói dậy,
Việc phải không chưa thấy cho tàng.
Nín hơi trong một thời gian,
Để coi thế cuộc xây vần dường nao!

 

 

XE NHƯ Ý

E: The carriage of immortals.
F: La voiture des immortels.

Xe Như Ý hay Như Ý xa 如意車 là chiếc Xe Như ý của Đức Thái Thượng Lão Quân. Xe này có thể đến bất kỳ nơi đâu theo ý muốn. Nương vào xe Như Ý, Chơn hồn được đưa tiễn lên đến cõi Kim Thiên, với oai nghi thần diệu.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Kỵ kim quang kiến Lão Quân,
"Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng."

 

 

XE TIÊN

Xe Tiên đồng nghĩa với: Xe Như ý, Pháp xa.

Bài Kinh Niệm Hương có câu:

"Xin Thần, Thánh ruổi-dong cỡi hạc,
"Xuống phàm-trần vội gác xe Tiên."

 

 

XE THƠ

Xa thơ hay thư xa là Xe chở sách. (Xem xa thơ)

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Giúp xã tắc tôi trung ra mặt,
"Dẫy xe thơ trổi nhặt văn minh."

 

 

XE TRÂU

E: The buffalo-draw-carriage.
F: La charette à buffle.

Xe trâu là chiếc xe kéo bằng con trâu. Trâu ấy gọi là độc giác thanh ngưu (con trâu xanh một sừng) của Đức Lão Tử. Xưa Đức Lão Tử dùng xe trâu làm phương tiện.

Đến đời vua Châu Khương Vương, nối tiếp vua Thành Vương, Lão Tử trở về, đặng ba năm thì Ngài lại đi giáo Đạo miền Tây vức. Ngài ngồi xe trâu, do con trâu trắng xanh kéo, gọi là Thanh Ngưu, mà Từ Giáp là người đánh xe. Khi đến ải Hàm Cốc, quan Doãn Hỉ giữ ải, coi thiên-văn biết có một vị Đại Thánh sắp đi qua ải, nên chuẩn bị mặc triều phục nghinh tiếp. Khi thấy Đức Lão-Tử tới, biết Ngài là Thánh nhân, tôn Lão Tử làm Thầy, xin theo học Đạo. Ngài viết để lại cho Quyển Đạo-Đức Kinh để phổ độ người đời. Theo bài Kinh Tiên Giáo, Ngài đem Đạo Vô-vi để tế độ cho chúng sanh nơi ấy. Trong Kinh Tiên Giáo có viết: "Tử khí đông lai, quảng truyền Đạo Đức" 紫氣東來,廣傳道德 Hoặc: "Lưu sa Tây độ" 流沙西度 (xem thêm chữ Thanh ngưu. Vần TH.)

Bài Kinh Khi về có câu:

"Dẫy xe trâu Côn-Lôn trổi bánh,
"Lý Lão Quân mong lánh phong trần."

 

 

XẺ THÂY

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Heo trâu thân thể mạt hèn thay,
"Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.
"Lộng lộng lưới Trời tuy sếu-sáo,
"Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày."

 

 

XÉT CÂU MINH THỆ

Minh thệ 盟誓 là Lời thề nguyền trước Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng phải thực hiện. Xét là một sự kiểm điểm lại về lời Minh Thệ đã có lời thề ước; thề nguyền trước, hứa chắc phải thực hiện đúng điều đã nguyện, tức nhiên là lời thề, lời hứa của người Tín hữu khi Nhập môn vào Đạo Cao-Đài có người tiến dẫn và quì hứa trước Thiên bàn thờ Ðức Chí Tôn, có vị Chánh Trị Sự hay của Chức sắc sở tại chứng kiến. Đến lúc lâm chung lời Thề trước giờ được kiểm chứng lại.

Lời Minh Thệ do Ðức Chí Tôn đặt ra, có in trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 17, gồm 36 chữ, ghi lại như sau:

Tôi tên gì? Họ gì? Tuổi?

"Thề

rằng:

Từ

đây

biết

một

Ðạo

Cao

Ðài

Ngọc

Ðế,

chẳng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

đổi

dạ

đổi

lòng,

hiệp

đồng

chư

môn

đệ,

gìn

luật

lệ

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

Cao

Ðài,

như

sau

lòng

hai

thì

Thiên

tru

Ðịa

lục."

25

26

27

28

29

30

31

32

33

34

35

36

Khi một người mãn phần thì phải Xét lại câu Minh Thệ là hồi tưởng, xem xét lại trong suốt kiếp sanh nơi cõi trần, có giữ đúng Lời Minh Thệ không? Tức là:

- Có đổi dạ đổi lòng không?
- Có hiệp đồng cùng chư môn đệ không?
- Có gìn luật lệ Cao Ðài không?

Nếu có điều nào làm không đúng Lời Minh Thệ thì phải tự biết ăn năn sám hối và cầu khẩn Ðức Chí Tôn tha thứ.

Tóm lại: Hãy nhớ rõ Lời Minh Thệ khi nhập môn vào Ðạo để tự xét mình mà ăn năn sám hối tội tình, cầu khẩn Ðức Chí Tôn tha thứ và cứu rỗi để được siêu thăng lên cõi Thiêng Liêng hằng sống.

Bất cứ người nào xin nhập môn vào đạo Cao Đài đều phải lập Minh thệ trước Thiên bàn hay Điện tiền Chí Tôn, có sự chứng kiến của vị Chánh Trị Sự hay Chức Sắc sở tại để buộc người Nhập môn phải thủ tín, tức là một lòng một dạ giữ gìn và thờ phượng nền Chánh đạo, chẳng dám làm điều gì sái lời thệ nguyện hầu kềm thúc tâm phàm tánh tục của mình cho đến phút lâm chung.

Việc Minh thệ rất quan trọng. Về mặt hữu hình, nó thúc đẩy người cầu Đạo phải nhất tâm mà gìn giữ luật lệ của Đạo và quyết chí tu hành; Về mặt thiêng liêng, các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật mới nhìn nhận người Minh thệ là Môn đệ của Đức Chí Tôn, nên mới hộ trì trên bước đường tu niệm. Thánh giáo Thầy có cho biết như sau: "Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh thệ, nên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận".

Do có lời Minh thệ, nên suốt kiếp sanh của người Nhập môn Cầu Đạo lúc nào cũng phải giữ tròn Tân luật, Pháp Chánh Truyền, Ngũ giới cấm, Tứ đại điều qui… của Đạo và trọn lòng với Chí Tôn, Phật Mẫu.

Vì vậy, vào phút đang hấp hối, người Môn đệ của Đức Cao Đài phải định tỉnh tâm thần mà suy xét những hành vi lúc đương sanh xem có phạm vào lời Minh thệ không. Nếu có thì phải sám hối, ăn năn sửa lỗi, nếu vẹn bề một Môn đệ của Đức Chí Tôn thì phải thành khẩn cầu xin để được siêu thăng thoát hóa.

Kinh Cầu Hồn khi hấp hối có câu:

"Ăn năn sám hối tội tình,
"Xét câu Minh Thệ, gởi mình cõi thăng."

 

 

XÉT MÌNH

F: S’examiner, examen de soi.

Xét mình là chính mình phải nghiêm túc sửa lỗi cho mình. Sự tu-hành có giá-trị ở sự xét mình vậy.

Thầy dạy: "Phải thường hỏi lấy mình khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phân-sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương-tâm có điều chi cắn rứt chăng? Nếu phận còn nét chưa rồi, lương-tâm chưa đặng yên-tịnh, thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh. Thầy mong rằng mỗi đứa đều lưu-ý đến sự sửa mình ấy, thì lấy làm may-mắn cho nền Đạo; rồi các con sẽ đặng thong dong mà treo gương cho kẻ khác. Các con thương mến nhau, dìu-dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó". (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I/97)

Đức Thượng Sanh thuyết 24-12 Bính-Tuất (1971)

"Tích Thầy Tăng Tử là một bậc hiền-triết mà còn "nhứt nhựt tam tỉnh ngô thân" là hằng ngày Xét mình trong ba điều:

- Một là lo việc cho người không hết lòng bằng việc mình, có thế chăng?

- Hai là giao-du với bè bạn mà đem lòng giả dối, có vậy chăng?

- Ba là nghe lời Thầy dạy mà xao-lãng, có vậy chăng?

Đức Thượng-Sanh thì dạy về việc Xét mình như vầy: "Ước mong mỗi Chức-sắc hằng ngày chỉ Xét mình trong một điều duy-nhất thì nền Đại-Đaọ lấy làm may mắn mà nhơn-sanh cũng lấy làm hữu phước. Điều xét mình ấy là:

- Làm công-quả lo việc cho Hội-Thánh không hết lòng bằng việc mình có thế không?

Xét mình như vậy không phải là việc khó mà nếu mỗi người đều thành-thật đối với mình thì việc Đạo không có điều gì sơ xuất, cơ nghiệp Đạo sẽ được bồi đắp đồ sộ mau chóng".

Muốn áp dụng hữu hiệu thì Đức Hộ Pháp nói: "Mọi nhà thờ Thiên-Nhãn sùng bái hằng ngày đặng xét mình, coi các điều tội lỗi. Thoảng như trong tâm giục khởi làm việc chi bất bình thì sợ có quyền-năng của Trời răn phạt, nên thờ Thiên Nhãn là một phương mầu nhiệm cho mọi người biết tùng thiên lý".

Thi văn dạy Đạo dạy rằng:

Huỳnh lương một giấc cuộc đời in,
Có trí có mưu phải xét mình.
Phú quí lớn là giành với giựt,
Lợi danh cao bởi mượn và xin.
Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa,
Một kiếp đeo đai mối nợ tình.
Biết số, biết căn tua biết phận,
Đường xưa để bước lại Thiên đình.

 

 

XỈ CƯƠNG TẮC CHIẾT

Xỉ là cái răng, nằm trong miệng, nhờ sự cứng chắc của nó mà người mới có thể cắn, còn vật thì xé thức ăn dễ dàng để ăn. Tuy nhiên sự cứng như vậy dễ gãy. Nếu so sánh thì cái lưỡi nằm giữa hai hàm răng, rất là mềm mại, không bao giờ gãy. Nên có câu "Xỉ cương tắc chiết". Nghĩa bóng nói rằng sự sống là mềm mại, cứng chắc là sự chết, nên phải biết hài hòa.

Đức Hộ Pháp nói: "Các con nhớ rằng: dữ tận hiền thăng, mạnh thua yếu được, nhu nhược trường tồn, Xỉ cương tắc chiết. Nhơn loại trả quả với nhau các con chịu cái nạn chung, trả từ đời Hồng Bàng tới giờ. Tổ phụ của chúng ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn quả ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong."

 

 

XÍCH MÍCH

F: Mésentente, mésintelligence.

Xích mích: Không hòa thuận nhau,

Kinh Sám Hối có câu:

"Cợt người ra dạ dễ-duôi,
"Sanh điều xích-mích đâu nguôi dạ hờn."

 

 

XÍCH TÂM

赤 心
E: The fidelity.
E: The fidelity.

Xích: Màu đỏ, hết sạch, trống không. Tâm: lòng. Xích tâm là lòng son, ý nói lòng trung nghĩa.

Xích tâm đồng nghĩa: Đan tâm. (Đan là màu đỏ).

 

 

XÍCH THẰNG

赤 繩
E: The red thread.
F: Le fil rouge.

Xích: Màu đỏ, hết sạch, trống không. Thằng: sợi chỉ. Xích thằng là sợi chỉ đỏ, ràng buộc đôi nam nữ thành vợ chồng. (Xem: Tơ duyên, vần T)

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Xích thằng đã buộc nợ xưa gầy,
Con lũ rồi sau đến cháu bầy.
Chưa thuận ý nhau sao lập nghiệp?
Chàng đen, thiếp trắng cứ sanh ngầy.
                        (Thâu. Con từ đây bớt hổn nghe!)

 

 

XÍCH THIÊN


E: The red Heaven.
F: Le Ciel rouge.

Xích Thiên 赤天 là từng Trời có màu hồng. Từng Trời này tất cả ánh sáng đều màu hồng. Chơn hồn đi trên mây có ánh sáng màu hồng chiếu rực rỡ. Khi chơn hồn đến từng Xích Thiên thì cửa ải vội vàng mở ra để tiếp rước Chơn hồn.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
"Cõi Xích Thiên vội mở ải quan."

 

 

XÍCH TINH TỬ

Tiền kiếp của Ngài Bảo-Pháp Chơn Quân: Nguyễn Trung Hậu là Xích Tinh Tử.

Ngày 12-01-Đinh Mão (dl:13-2-1927) ông Nguyễn Trung Hậu tự Thuần Ðức, thọ Thiên phong BẢO PHÁP. Đức Chí Tôn có cho biết tiền kiếp của Ngài Bảo Pháp là Xích-Tinh Tử.

Vào ngày 03-7-Đinh-Mão (dl: 31-7-1927) may được Quỉ Cốc Đại Tiên giáng đàn, hai Ngài Hậu và Đức mới xin cho mỗi người một bài thi kỹ niệm.

Bài thi của Ngài Bảo Pháp như sau:

Đỏ đỏ một vừng ấy Hỏa tinh,
Nhà Châu tên tuổi đã rành rành.
Tam Kỳ tái thế an thiên hạ,
Hậu nhựt thành công hậu hứng tình.
                        (Quỉ Cốc Đại Tiên)

 

 

XÍCH TỬ

赤 子
E: The new born child.
F: Le nouveau-né.

Xích: Màu đỏ, hết sạch, trống không. Tử: con. Xích tử là con đỏ, đứa con mới sanh, chỉ dân chúng.

 

 

XIỂM GIÈM

Kinh Sám Hối có câu:

"Thấy ai làm phải làm lành,
"Xiểm-gièm cho đặng khoe danh của mình."

 

 

XIỂN DƯƠNG

闡 揚
E: To make clear and to expand.
F: Eclaircir et étendre.

Xiển: Mở rộng và làm sáng tỏ ra. Dương: đưa lên cao. Xiển dương là làm sáng tỏ và phát triển rộng ra.

Xiển dương giáo lý: Làm sáng tỏ giáo lý của một nền tôn giáo và truyền bá ra.

 

 

XIỂN GIÁO

闡 敎
E: To make clear and expand the doctrine of a religion.
F: Éclaircir et étendre la doctrine d’une religion.

Xiển: Mở rộng và làm sáng tỏ ra. Giáo: giáo lý của một nền tôn giáo. Xiển giáo là xiển dương giáo lý của một nền tôn giáo.

Phật Giáo (Kinh Phật Giáo):

"Nhiên Đăng Cổ Phật, Vô vi Xiển giáo Thiên Tôn."

Chúng ta lưu ý, trong truyện Phong Thần, danh từ Xiển giáo có ý nghĩa khác hơn.

Đạo Tiên phân ra hai phái: Xiển giáo và Triệt giáo. Hai phái nầy luôn luôn mâu thuẫn và chống đối nhau.

- Xiển giáo do Đức Nguơn Thỉ làm Chưởng giáo, dạy đệ tử thành bực Thiên Tiên, nên chọn lựa đệ tử rất kỹ, và phải trải qua nhiều cuộc thử thách. Đệ tử phải có tâm hồn cao thượng, đức hạnh xứng đáng, vong kỷ vị tha, xả thân cầu đạo.

- Triệt giáo do Đức Thông Thiên làm Giáo chủ, dạy đệ tử thành bực Địa Tiên. Triệt giáo có khuynh hướng ngược với Xiển giáo, phá bỏ những qui luật khắt khe của Xiển giáo, (chữ Triệt là phá bỏ), mở ra hướng mới rất rộng rãi, thâu nhận đệ tử bất kỳ là ai, nếu muốn học đạo tu luyện, người lương thiện hay không lương thiện, không phân biệt người hay cầm thú, chuyên luyện pháp thuật cao cường, để tranh hơn thua với Xiển giáo, không chú trọng rèn luyện tâm tánh cho thành người cao thượng, nên dần dần Triệt giáo biến thành Tả đạo Bàng môn.

Thông Thiên Giáo chủ, Đức Nguơn Thỉ, Đức Lão Tử, ba vị đều là học trò của Hồng Quân Lão Tổ. Đức Lão Tử là học trò lớn nhứt, kế đó là Đức Nguơn Thỉ, và Đức Thông Thiên là thứ ba.

Trong truyện Phong Thần, khi Xiển giáo và Triệt giáo đấu tranh nhau đến chỗ quyết liệt thì Đức Hồng Quân Lão Tổ hiện ra dàn xếp đôi bên, buộc hai bên phải dung hòa nhau.

 

 

XÓT THƯƠNG

F: Avoir pitié de, regretter.

Kinh Sám Hối có câu:

"Xót thương đến kẻ tật nguyền,
"Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi."

 

 

XÔN XAO

F: Animé et bruyant.

Xôn xao: Ồn ào náo nhiệt.

Ông Phối Thánh Phạm Văn Màng giáng Cơ nói:

Trường công thấy bạn những xôn xao,
Nhớ đến tình xưa bắt nghẹn ngào.
Dặm thảm thương ai đương để bước,
Cõi Thiên ôm dạ chịu riêng đau.

 

 

XÔNG HƯƠNG KHỬ TRƯỢC

E: To fumigate with incense.
F: Fumiger de l’encens pour éliminer l’impureté.

Xông: đốt vật gì cho hơi bốc lên thấm vào da thịt. Hương: mùi thơm. Khử: trừ bỏ. Trược: dơ dáy hôi hám. Xông hương khử trược: đốt trầm hay nhang thơm cho khói bốc lên, rồi đưa hai tay vào khói thơm để khử hết mùi hôi hám trên hai tay.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tay chấp cơ cũng phải xông hương khử trược.

 

 

XU HƯỚNG


F: Tendre vers; tendance.

Xu hướng: Hướng về, chạy theo.

"Cuối Hạ Nguơn nầy, nhơn loại phần nhiều dụng hết trí não xu hướng vào lối văn-minh vật-chất; món ăn đủ sơn trân hải vị; chỗ ở lại nguy nga đài các: y phục tiện dùng gấm nhiễu che thân, ra một tấc đường thì có ngựa xe đỡ gót."

Đức Hộ Pháp nói: "Bần Đạo đã thuyết kỳ rồi cái pháp luật của thiên hạ là họ đã xu hướng theo "Tứ Diệu Đề" của Đức Phật Thích Ca, họ giong ruổi theo Tứ Diệu Đề để giải khổ cho chúng sanh là: Sanh, Lão, Bịnh, Tử. Họ thi hành trong khuôn khổ quyền pháp của họ mà thôi:

1- Sanh, họ lập nhà Bảo Sanh đặng giải khổ cho sự sống.

2- Lão, họ lập ra cơ quan Dưỡng Lão để nuôi kẻ già, kẻ yếu.

3- Bịnh, họ lập ra nhà thương khắp nơi cả thảy trên mặt địa cầu này biết bao nhiêu nhà thương để chữa bịnh cho đời.

4- Tử, họ cũng làm âm công, cũng bố thí, cũng làm phước vậy, nhưng có một điều là họ bố thí chớ không phải phụng sự. Họ lấy của người này đem cho người kia chớ không phải phụng sự cho nhơn loại."

 

 

XU HƯỚNG ÁC HÀNH

Pháp Chánh Truyền: "Quỉ nhân là hai chơn linh kia xu hướng ác hành mà bị đọa đày vào Quỉ vị. Quỉ sanh là hai phẩm kia phạm Thiên Ðiều bị sa đọa. Trong các kiếp hữu sanh, duy có phẩm người là cao hơn hết, nên gọi là Thượng Sanh. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ này, Thầy đem các chơn linh dầu nguyên sanh, quỉ sanh hay là hóa sanh lên phẩm vị nhơn loại mới trọn câu Phổ Độ".

 

 

XU PHỤ

趨 附
E: To side for profit.
F: S’attacher au profit.

Xu: Hướng về, đi nhanh tới, hùa vào. Phụ: dựa vào. Xu phụ là hùa theo để cầu lợi.

Xu phụ là tội thứ 9 trong Thập Hình của Đức Lý Giáo Tông. Người nào phạm tội nầy, phải ăn năn sám hối, thọ tội cùng chúng sanh.

 

 

XU THỜI

趨 時
E: Opportunist.
F: Opportuniste.

Xu: Hướng về, đi nhanh tới, hùa vào. Thời: thời thế. Xu thời là a dua theo thời thế, thấy ai mạnh thì theo nhằm mục đích cầu lợi.

 

 

XU TRẦN

趨 塵
E: To tend toward the world.
F: Tendre vers le monde.

Xu: Hướng về, đi nhanh tới, hùa vào. Trần: cõi trần. Xu trần là khuynh hướng vào cõi trần.

Thầy khuyên các con:

Bước Ðạo lần chơn một dạ thành,
Xu trần chớ luyến lợi cùng danh.
Nâu sồng nhuộm áo pha màu khổ,
Tránh mối oan khiên chớ buộc mình.

 

 

XUA TRỤC

E: To drive out
F: Expulser.

Xua: đuổi đi chỗ khác. Trục: bắt buộc phải xuất ra. Xua trục là bắt buộc phải xuất ra và đuổi đi chỗ khác.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Các con gắng chung tâm xua trục hết lũ vạy tà thì hiến công lớn cho Thầy đó.

 

 

XUÂN

Xuân là mùa đầu tiên trong bốn mùa của một năm là: Xuân, Hạ, Thu, đông. Mùa Xuân thường có bông hoa đua nở, cảnh vật vui tươi, nhất là thời của ngày Tết, chỉ tuổi trẻ yêu đời.

Ðức CHÍ TÔN tả Xuân, năm Kỷ Tỵ (dl: 10-02-1929).

…"Ôi! Xuân tàn rồi Xuân đến, cái Xuân của người đã rấp lụn hao mà rồi cái Xuân của trời đất nước non cũng chưa chắc là vô cùng tận. Các con nếu biết chịu khổ tâm, biết dày vò tình thế, biết chịu kém sút trong nẻo lợi đường danh, biết chịu thiệt mình mà đặng cho kẻ khác, biết đổ lụy để cho kẻ vui cười, biết nhọc nhằn trong kế sinh nhai, biết giữ tâm trí cho thanh bạch, đừng nhơ bợn của chẳng nên dùng, biết động mối từ tâm, thương người hơn kể mình thì là các con được tắm gội hồn trong mà về cùng Thầy đó. Nét nào chưa vẹn, khá biết sửa lần chớ nên trì huỡn."

Một mùa Xuân không phải chỉ gồm có mây lành, trăng sáng, hoa đẹp, gió trong mà gồm cả những đám hoa gay gốc, những ánh nắng gay-gắt lẫn dịu-dàng, những dòng sông uốn khúc, những tấm lòng hớn-hở cũng như những nỗi-niềm đau thương. Xuân là tất cả những hương sắc của đất trời hoà-hợp lại. Xuân là tất cả những nét đẹp và xấu hoà lẫn nhau trong đó thể hiện sâu xa nhất cái đẹp vĩnh-cữu và ngự trị trên ấy một ánh dương quang. Tóm lại Xuân là khoảng thời-gian thịnh sáng của một chu-kỳ thời gian lẫn không gian. Đó lý Đạo nhiệm-mầu là thế. Trong tốt có xấu, trong xấu có tốt, nhiều cái xấu tạo nên cái tốt, nhiều cái tốt tạo nên cái xấu mới lại do những cái gọi là xấu ấy hoà-hiệp nhau thành điểm tốt hoàn-toàn.

Còn phân tán là còn luân lạc ra đi, khi hoà-hợp là lúc đầm-ấm trở về. Đi, về mãi mãi cho cùng tận càn-khôn để chơn linh mãi cao-trọng đó là lý chơn-chánh nhất của Đạo-mầu.

XUÂN

Xuân sắc thiên nhiên vẻ lịch xinh,
Xuân phong đưa đón khách tòan linh.
Xuân hoa rực rỡ muôn màu đẹp,
Xuân cảnh thanh tao một tiếng kình.
Xuân nhựt nhựt tân tình tạo hóa,
Xuân niên niên tải nghĩa quần linh.
Xuân xuân con hỡi mùa xuân Đạo,
Xuân Đạo về mới dứt chiến chinh.
            (20-01-1966 - Ngọc Hoàng Thượng Đế)

-o0o-

Chỉ có xuân thì biết thưởng xuân,
Xuân còn nhớ lại cảnh năm Dần.
Lưng trời bạch hạc bay vi vút,
Mặt đất Thần Tiên luận nghĩa ân.
Mở khóa người đời tìm Thánh đức,
Trao gươm kẻ sĩ học hiền nhân.
Thiên đàng lòng vẫn bâng khuâng nhớ,
Trần thế còn chăng khách thưởng xuân.
            (20-01-1966 - Đức Cao Thượng Phẩm)

-o0o-

Xuân đến chúc nhau hưởng phước trời,
Xuân đi thăm viếng khắp nơi nơi.
Xuân không phân biệt sang hèn đó,
Xuân chúc mọi người được thảnh thơi.
            (21-01-1966 - Đức Cao Thượng Phẩm)

-o0o-

Mừng nhau cầu chúc tạm đôi vần,
Hành Đạo giúp đời mới gọi xuân.
Xuân đến với đời đời hạnh phúc,
Xuân lai cõi tục tục vui mừng.
Xuân nầy gánh Đạo hai chân bước,
Xuân tới cứu Đời đôi mắt rưng.
Xuân nữa xuân đi xuân hạnh phúc,
Là ngày thành đạo mới trùng hưng.
            (21-01-1966 -ĐQGT Thượng Trung Nhựt)

-o0o-

Xuân đến muôn nhà hưởng phước duyên,
Xuân đem hạnh phúc đến muôn miền.
Xuân không phân biệt vàng đen trắng,
Xuân Đạo huy hoàng vĩnh vĩnh niên.
            (21-01-1966 - Đức Hộ Pháp)

-o0o-

Đổi dời lắm lúc mấu sơn hà,
Xuân vẫn riêng tình với cỏ hoa.
Sắc lẫn hương Xuân phơi rỡ rỡ,
Mây hồng ánh nguyệt chiếu lòa lòa.
Ra vẻ thù tròn ơn thượng quốc,
Độc dược cho nên nghĩa kiến hòa.
Hết hạ thu đông xuân cũng đến,
Trời xuân xuân khắp cả bao la.
            (21-01-1966 - Phan Thanh Giản)

-o0o-

Xuân sang được hưởng trọn ân hồng,
Phước đức do mình lập quả công.
Học bạn học thầy cùng Phật Thánh,
Cho ra hướng đạo hội Hoa-Long.
            (01-02-1966 Đông Phương Chưởng Quản)

Vịnh Xuân

Ngàn liễu khoe Xuân cảnh rỡ màu,
Xuân nồng vườn Ngự vẻ thanh tao.
Chào Xuân ác lố trăm lằn rạng,
Ghẹo liễu trăng soi một sắc làu.
Thơ-thới cành hôm hoa đọng ngọc
Im-đìm dậu tối cỏ đeo châu.
Đượm bầu nhân sự Xuân qua lại,
Khuất bóng Xuân sang khách luống sầu.'
            Bát Nương Diêu-Trì-Cung
                        (04- Juillet 1927)

Vịnh Xuân

Thu về Đông mãn kế Xuân sang,
Kìa khách tìm Xuân bước nhộn-ngàng.
Vườn đượm vẻ hồng hoa hớn hở,
Non phơi màu tía cảnh xuê xang.
Bầu Tiên nghiêng ngửa đong rồi rót,
Đờn Thánh vui vầy nhặc lại khoan
Chín chục thiều quang qua mấy độ?
Gặp Xuân chẳng hưởng để xuân tàn.
                        (Đỗ Mục Tiên)

 

 

XUÂN ĐƯỜNG

椿 堂
E: The father.
F: Le père.

Xuân: Cây xuân (tục đọc lầm là Thung), một loại cây lớn và sống lâu, chỉ người cha. Đường: cái nhà. Xuân đường là cái nhà có trồng cây xuân. Xuân đình, đồng nghĩa Xuân đường, chỉ người cha.

Ông Phạm Công Tắc hết lời khen lời châu ngọc về điệu thơ Tiên của Thất Nương xong hoạ lại ngay:

Để thảm Xuân-đường như ác xế,
Gieo thương lữ-khách ngóng tin mai.
Hềm gì chưa rõ đầu đuôi thế,
Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!

 

 

XUÂN HUYÊN

椿 萱
E: The father and mother.
F: Le père et la mère.

Có sách gọi là "Thung Huyên". Tích do Cây xuân và cây Huyên, để nói về cha mẹ. Nguyên đời Tống bên Trung Quốc có ông Đậu Vũ Quân sinh được năm người con trai đều thành đạt cả. Thời Nhân trong bài thơ khen có câu "Linh Xuân nhất châu lão, đan quế ngũ chi phương" nghĩa là một cây Xuân già có năm cành quế thơm. Nhân thế người đời mong muốn được như Ông Đậu Vũ Quân mới gọi cha là Xuân, còn cây Huyên là một thứ cỏ, tương truyền khi trông vào cây này là hết buồn phiền.

Truyện Kiều có câu:

Xuân Huyên chợt tỉnh giấc nồng,
Một nhà tấp nập kẻ trong người ngoài.

 

 

XUÂN LAN THU CÚC

Đây là nói đến các loài hoa nở theo bốn mùa: hoa lan nở vào mùa Xuân, hoa Cúc nở vào mùa Thu, mỗi loại hoa đều luôn khoe sắc thắm. Trong Tình Sử có câu "Xuân lan Thu cúc giai nhất thời chi tú dã" nghĩa là Lan nở mùa Xuân, cúc nở mùa Thu, mỗi thứ nở mỗi mùa đẹp mỗi vẻ.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:

Xuân lan Thu cúc mặn mà cả hai.

Xuân lan Thu cúc là hoa lan mùa Xuân, hoa cúc mùa Thu. Ý nói: Hai cô gái đều đẹp và tài giỏi như nhau.

 

 

XUÂN MỘNG


E: The spring dream.
F: Le rêve de printemps.

Xuân: Mùa xuân, chỉ tuổi trẻ, xinh đẹp. Mộng: giấc chiêm bao. Xuân mộng là chỉ giấc mộng đẹp. Vì mùa Xuân là mùa khởi đầu trong một năm, nên tất cả những gì đẹp đẽ đều chỉ vào mùa Xuân, như xuân xanh, xuân huy, xuân thái…

Đêm xuân nằm mộng, do câu "Xuân tiêu nhứt khắc trị thiên kim" nghĩa là đêm Xuân một khắc đáng giá ngàn vàng. Lại có câu "Nhân sự Xuân hồng lai hữu tín, sự như xuân mộng liễu vô ngân" nghĩa là người như chim Hồng mùa Xuân, khi nào đến thì có tin; Việc như giấc mộng mùa Xuân, khi nào an thì không có ngấn tích gì nữa.

 

 

XUÂN TÀM

Xuân tàm đáo tử ty phương tận.
Lạp cự thành khôi lệ thủy can.


Có nghĩa là Con tằm xuân đã ăn lá dâu xanh để rồi cứ tiếp tục nhả sợi tơ vàng cho đến chết cũng chưa xong. Cây nến kia khi thắp lên rồi thì giọt nến cứ chảy thâu đêm chưa ráo lệ.

Tạm dịch:

Tằm Xuân trả sạch óng tơ vàng,
Nến rỏ tàn đêm dạ chửa an.

 

 

XUÂN THU (Sách)

Tên một quyển Kinh do Đức Khổng Tử sáng tác vào lúc cuối cuộc đời của Ngài, sau khi Ngài đã san định Ngũ Kinh.

Xuân Thu nguyên là bộ Sử ký của nước Lỗ do Đức Khổng Tử (551-479 trước Tây lịch) san định lại, tức là ghi chép những việc quan trọng xảy ra hằng năm, từ năm đầu Vua Lỗ Ẩn Công nguyên niên, tức là năm 49 đời vua Chu Bình Vương nước Lỗ đến năm thứ 14 đời vua Ai-Công nước Lỗ, tức là năm thứ 39 đời vua Chu Kinh Vương, gồm 12 đời Vua, cộng tất cả 242 năm. Đây là một loại Sử biên niên: là đánh dấu giai đoạn lịch sử Trung Hoa, thời kỳ mạt điệp nhà Chu (Châu), ngôi Thiên tử suy nhược, bị bọn Ngũ-Bá: Tề Hoàn Công, Tấn văn Công, Tần Mục Công, Tấn Tương Công, Sở Trang Công, nổi tiếng lấn át quyền Thiên tử, các nước chư hầu tranh chiếm lẫn nhau, các sử gia gọi là thời đại hỗn loạn nên người đời sau đã mượn tên Kinh Xuân Thu để gọi thời đại ấy là thời đại Xuân Thu (722-480 trước Tây lịch).

Mặc dù Kinh Xuân Thu là một cuốn Sử ký, nhưng khi ghi chép, Đức Khổng Tử đã vận dụng văn tự và bút pháp để khen chê, hầu phân biệt kẻ thiện người ác hết sức minh bạch và đanh thép. Thế nên người đời sau đã phải công nhận đó là búa rìu trong Kinh Xuận Thu "Xuân Thu phủ việt", cũng như đã nói: Khổng Tử làm Kinh Xuân Thu mà bọn loạn thần tặc tử sợ "Khổng Tử tác Xuân Thu nhi loạn thần tặc tử cụ".

Vì thế Kinh Xuân Thu đã có tác dụng về đạo lý, đã giữ một địa vị quan trọng trong nền văn hóa phương Đông nói chung, Nho giáo nói riêng, trong sự biểu dương học thuyết "Chính danh, Nhất quán, Trung dung, Đại đồng" của vị "Vạn Thế sư biểu" mà dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng hơn 2.000 năm nay.

Kinh Xuân Thu còn có tính cách điển hình gương mẫu cho người đời sau phải tôn trọng danh dự và nhiệm vụ trong khi viết sử. Kinh này được liệt vào năm bộ Kinh căn bản của Nho giáo: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu. Về văn chép sử của Kinh Xuân Thu rất tóm tắt, hàm súc nên ít người hiểu thấu; thế nên về sau có ba nhà học giả làm thêm Tam Truyện để giải ý nghĩa của Kinh Xuân Thu.

Ba nhà học giả ấy là:

1-Tả Khưu Minh, làm Thái tử nước Lỗ đồng thời với Đức Khổng Tử. Khi Đức Khổng Tử trứ tác xong Kinh Xuân Thu, ông làm Tả truyện để chú giải và khai triển: người ta gọi là Tả Thị Xuân Thu hay cũng gọi là Tả Truyện.

2-Công Dương Cao là một vị văn thần cuối đời nhà Chu, khâm phục tác giả và tác phẩm Xuân Thu nên có soạn thảo một bộ sách bổ túc và phát huy thêm, gọi là Công Dương truyện.

3-Cốc Lương Xích là người nước Tần trong thời Chiến Quốc (178-221- trước Tây lịch) biên khảo thêm một bộ Truyện để bình giải Kinh Xuân Thu gọi là Cốc Lương Truyện (Theo Lê phục Thiện- chuyên viên Hán học TTHL)

Như thế Kinh Xuân Thu là một bô Sử ký rất quan trọng tiêu biểu cho Đức Khổng Tử mà cũng là tiêu biểu cho Nho giáo nữa. Đức Quan Thánh thuở còn sanh tiền đã lấy Kinh Xuân Thu làm quyển sách học ở đời. Do đó Đạo Cao Đài ngày nay lấy Kinh Xuân Thu làm Cổ Pháp Tam Giáo.

Tả Thị, Kinh và Truyện hợp nhau mà lời văn lại khác nhau. Việc chép trong Truyện cũng có chỗ khác nhau, cho nên người đời sau phải nương theo Truyện mà bàn Kinh và Kinh không rời được Truyện. Từ khi Tôn Phục đời Tống soạn bản Xuân Thu Tôn Vương thì trong các nhà bàn về Kinh Xuân Thu, có nhà bỏ cả ba Truyện. Hồ An Quốc soạn Xuân Thu Truyện, gồm 30 quyển khiến cho người đời Nguyên, đời Thanh sùng thượng hơn gọi là Hồ Truyện.

Nhân vì Lỗ Sử đặt tên là XUÂN THU, cho nên người đời sau chép sử hay đề tên Xuân Thu. Thí dụ như Ngô Việt Xuân Thu của Triệu Dục đời Hán, Thập Lục Quốc Xuân Thu của Thôi Hộ đời Ngụy…

Người đời sau ca tụng Đức Quan Thánh Đế Quân mài miệt bô Xuân Thu của Đức Khổng Phu Tử có câu đối rằng:

"Chí tại Xuân-Thu, tâm tại Hớn,
"Trung đồng Nhựt Nguyệt, nghĩa đồng Thiên."

 

 

XUÂN THU - PHẤT CHỦ - BÁT VU

- -

 

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Xuân-Thu, Phất-Chủ, Bát-Vu,
"Hiệp qui Tam-Giáo hữu cầu Chí-Chơn."

Lấy triết lý của Tam Giáo: Xuân Thu tiêu biểu cho Ðạo Thánh, Phất Chủ cho Ðạo Tiên, Bát Du Ðạo Phật, gom góp cả ba lại làm một Chơn pháp của Người.

 

 

 

 

 

XUẤT BẢN


E: To edit.
F: Éditer.

Xuất: Đi ra, phát ra. Bản: sách in, không phải viết tay. Xuất bản là in thành sách và phát hành rộng rãi cho nhiều người mua để xem.

Pháp Chánh Truyền:

Như thảng có kinh luật làm cho hại phong hóa thì chúng nó phải trừ bỏ, chẳng cho xuất bản.

(Chúng nó: Đức Chí Tôn gọi 3 vị Chưởng Pháp).

 

 

XUẤT DƯƠNG

出 洋
E: To go aboard.
F: Aller à étranger.

Xuất: Đi ra, phát ra. Dương: biển lớn. Xuất dương là đi ra biển lớn, ý nói đi ra nước ngoài.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Như ngày kia, Đạo xuất dương ra ngoại quốc thì sẽ có nhiều dân tộc chẳng có thể thờ phượng như người Nam.

 

 

XUẤT GIA HÀNH ĐẠO

出 家 行 道
E: To leave one’s familly and and become a religions.
F: Quitter sa famille et sefaire un religieux.

Xuất: Đi ra, phát ra. Gia: nhà. Hành: làm việc. Đạo: tôn giáo. Xuất gia: rời bỏ gia đình để đi tu. Xuất gia hành đạo là rời khỏi gia đình để đi làm việc Đạo, tức là từ bỏ gia đình, hiến thân vào cửa Đạo và phụng sự Đạo pháp.

Đó là trường hợp người tín đồ sớm giác ngộ, cố gắng thu xếp việc gia đình cho ổn định cuộc sống, rồi xin hiến thân trọn đời cho Hội Thánh, lập công quả, phụng sự nhơn sanh.

 

 

XUẤT HỘI

出 會
E: To go out the assembly.
F: Sortir d’une assemblée.

Xuất: Đi ra, phát ra. Hội: hội nghị, một cuộc hội nhóm. Xuất hội là đi ra khỏi hội nghị khi hội nghị kết thúc.

Kinh Xuất Hội là một bài Kinh của Đức Hộ Pháp đặt ra được Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ chỉnh văn lại. Kinh Xuất Hội dùng để đồng nhi và toàn thể những người tham dự hội tụng đọc trước khi hội nghị đã kết thúc thành công tốt đẹp và bế mạc. Kinh này có nội dung nhắc nhở những thành viên trong hội nghị từ đây phải giữ vẹn Thánh thân để đem nền Chơn pháp dạy dỗ toàn thể chúng sanh và độ dẫn cả nguyên nhân về hội hiệp cùng Thầy, phải đem lòng thương mến dạy dỗ tăng đồ cho biết lẽ mầu nhiệm của nền Chánh giáo, hầu giúp cho Đạo được hoằng khai, càng lan rộng khắp mọi nơi.

KINH XUẤT HỘI
(Giọng Nam-Xuân)

Nhờ Chí Tôn dạy khôn lẽ Đạo,
Phật, Thánh, Tiên nhỏ máu nhiệt thành.
Vạn linh đã hiệp Chí Linh,
Hội xong cậy sức công bình Thiêng Liêng.

Đã gầy dựng nên quyền Tạo Hóa,
Phòng hiệp vầy trọn cả nguyên nhân.
Vẹn toàn phàm thể Thánh thân,
Tùng theo Chơn pháp độ lần chúng sanh.

Các con cúi đầu trình sư phụ (cúi đầu)
Gìn từ tâm khuyến nhủ tăng đồ.
Đạo hư vô, Sư hư vô,
Reo chuông thoát tục, phất cờ tuyệt sinh.

Cứ nương dưới máy linh cơ Tạo,
Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà.
Cửa Địa ngục, chóng lánh xa,
Mượn hình Thánh thể cất nhà cõi Thiên. 

 

 

XUẤT HIỆN


F: Apparaitre.

Xuất hiện: Vừa lú ra, bày rõ ra.

Thầy nói: "Còn Đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu. Chẳng khác nào khi trước, Nhơn đạo chưa mở thì đã có Châu Công truyền trước.

Thánh đạo Jésus chưa ra đời thì đã có Moise, Élie, Gérimie, Saint Jean Baptiste.

Ðạo Tiên Nguơn Thỉ chưa ra đời thì có Hồng Quân Lão Tổ, Lão Tử, Thông Thiên Giáo chủ truyền đạo.

Phật Thích Ca chưa ra đời thì đã có Nhiên Ðăng Cổ Phật và Brahma truyền đạo.

Thầy chưa giáng cơ lập Đạo tại nước Nam, chớ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, dùng huyền diệu nầy mà truyền đạo cùng vạn quốc".

 

 

XUẤT LỰC

Xuất lực: Đem sức lực của mình ra, ra sức mình

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Lòng xót Đạo luỵ rơi không ráo,
Đậu tiền tay mới tạo Chùa riêng.
Người thời nhiều ít bạc tiền,
Kẻ thời xuất lực tạm quyền cùng nhau.

 

 

XUẤT NGOẠI

出 外
E:To go out.
F: Sortir.

Xuất: Đi ra, phát ra. Ngoại: ngoài.

• Xuất ngoại là đi ra nước ngoài, đi ngoại quốc.

• Xuất ngoại là đi ra khỏi phòng hay khỏi nhà.

Đức Lý dạy: Thứ hai, 27-12-1926 (âl 23-11-Bính Dần).

"Hỷ chư Đạo hữu, chư Đạo muội, chư chúng sanh. Thượng Trung Nhựt, Đạo hữu khá khuyên những kẻ đến đây chẳng lòng thật tình kỉnh lạy Chí Tôn, nên xuất ngoại nghe.!"

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy mời chư nhu xuất ngoại, một giây phút Thầy sẽ kêu vào.

 

 

XUẤT NHẬP


E: Exit or entry.
F: Sortir ou entrée.

Xuất: Đi ra, phát ra. Nhập: vào, đi vào. Xuất nhập là đi ra hay đi vào.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nơi trung tim của nó là óc, nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác. (: chơn thần của mỗi người)

Thi văn dạy Đạo có câu:

Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ,
Cửa Tiên xuất nhập cũng như nhà.

 

 

XUẤT THẦN NHẬP HÓA

E: Ecstasy.
F: Extase.

(Xuất là ra; thần là thiêng liêng, mầu nhiệm, linh thiêng về tinh thần; nhập: vào, hóa: thay đổi). Không còn định tỉnh tinh thần để chủ được mình và chính nơi mình dường như có gì ở ngoài vào làm thay đổi con người mình, chứ không phải do chính mình thay đổi.

 

 

XUẤT THẾ

(Xuất là ra, thế là đời). Xuất thế là ra ngoài đời, không can dự đến việc đời; Đi tu, Sinh ra giữa đời (nói về các bậc Thánh nhân); Vượt lên trên tầm thường.

"Giáo-lý của Đại-Đạo là chuyên về tín-ngưỡng và tu-trì, dìu-dẫn quần-sanh trên con đường xuất thế."

 

 

XUẤT LỰC XUẤT TIỀN

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Dùng một chút công dày với Đạo,
Đặng đền bù nợ cũ tiền khiên.
Tu-hành giữ một lòng riêng,
Dầu cho xuất lực xuất tiền cũng vui.

 

 

XUẤT TRẦN (XUẤT THẾ)


E: To renounce the world.
F: Renocer au monde.

Xuất: Đi ra, phát ra. Trần: cõi trần. Thế: cõi thế gian. Xuất trần, đồng nghĩa Xuất thế, là đi ra khỏi cuộc đời.

Ý nói: Muốn lánh đời, xa vòng danh lợi, vào ẩn thân nơi non cao rừng vắng để tu tâm dưỡng tánh, học đạo tầm Tiên.

 

 

XÚC CẢM


E: To move.
F: Emouvoir.

Xúc: tiếp xúc. Cảm: cảm động. Xúc cảm hay Cảm xúc là sự rung động trong lòng do tiếp xúc với một sự việc gì.

 

 

XÚC ĐỘNG


F: Émouvoir.

"Đức Hộ Pháp nói: "Qua đã giao cho mấy Em một sứ mạng đặc biệt là hai chữ "Phước Thiện" Qua cầu mong cho có một điều chúng ta ngó thấy trước mắt một khổ não của Đời, mấy Em giăng tay ra nâng đỡ an ủi, binh vực được, ấy là sở vọng của Qua để nơi mấy Em. Mỗi phen Qua tưởng đến công nghiệp và phận sự Thiêng Liêng của mấy Em, nó khó khăn nặng nề chừng nào thì Qua xúc động chừng nấy. Vì cớ cho nên Qua ở chung cùng mấy Em hai mươi mấy năm trường, thầy trò chung sống, chung khổ cùng nhau là cũng vì lẽ ấy. Qua để lời cám ơn mấy Em."

 

 

XÚI GIỤC (XUI GIỤC)

F: Pousser, exciter.

Xúi giục (Xui giục): Xô đẩy, kích thích.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Vì tổn bấy công lao khuyên nhủ,
Mới qui nguyên đạo hữu một nhà.
Mà nay không-khí bất hoà,
Thình-lình xúi giục người ra cửa ngoài.

 

 

XÚM XÍCH (XÚM XÍT)

F: Se ré unir, se grouper.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Nhớ những lúc sơ khai mối Đạo,
Xúm-xích nhau nương-náu cành non.
Cảnh chùa Gò-kén thon-von,
Tạm nơi cửa Phật chìu lòn người ta.

 

 

XUNG ĐỘT

衝 突
F: Fondre, foncer sur l’ennemy.

Xung đột: Hai bên chống cự nhau.

Đức Hộ Pháp viết thơ trả lời cho ông Thượng Tương Thanh có câu: "Ngày Đạo Huynh và Ngọc Trang Thanh đã phản loạn Chơn truyền, toan phương đánh đổ quyền-hành của Đức Quyền Giáo Tông thì Bần Đạo cũng nhiều phen can gián. Chỉnh sợ có một điều là Đạo bị phân phe chia phái, mà hễ phân phe chia phái thì tức phải có điều xung đột cùng nhau."

"Nhìn ra thế giới thì nhân loại vẫn cứ bị qua phân và còn phải đau khổ nhiều vì cuộc xung đột cứ kéo dài không có lối thoát. Chúng ta đều lo lắng tự hỏi rằng: Thế giới sẽ đi tới đâu nếu không phải đi đến chỗ diệt vong?"

 

 

XUNG NHẬP

衝 入
E: To rush upon.
F: Fronder sur..

Xung: Xông vào, đụng chạm. Nhập: vào, đi vào. Xung nhập là xông thẳng vào trong.

THẦY dạy tại Từ Lâm Tự, Gò Kén, Tây Ninh. Thứ Ba: 23-11-1926 (âl 19-10-Bính Dần)

"Sự xảy ra nơi Thánh Thất, tuy là nơi mối Ðạo chậm trễ, nhưng cũng do nơi lòng tà vạy của nhiều đứa mà ra, vì tâm trung chánh đáng thì làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của Tà quái xung nhập. Chi chi cứ tưởng có Thầy giúp mà lập xong nền Ðạo cho các con là đủ. Thầy cũng có phép răn trị kẻ vạy tà, các con duy có trông cậy nơi Thầy, bước đường cứ thủng thẳng đi lần tới, đừng gấp quá, mà cũng chớ thối lui, thì một ngày kia sẽ đặng toại kỳ sở nguyện. Thầy ban ơn cho các con".

 

 

XUNG THIÊN

沖 天
E: To rise up the sky.
F: S’élever jusqu’au ciel.

Xung: Bay thẳng lên. Thiên: trời. Xung thiên là bay thẳng lên trời. Nộ khí xung thiên: cái khí giận dữ xông thẳng lên trời.

 

 

XỬ ĐOÁN


E: To juge.
F: Juger.

Xử: Đối đãi, đối phó, ăn ở, phán đoán. Đoán: quyết định, phán đoán. Xử đoán là xem xét để quyết định phải trái.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

(Chánh Trị Sự) có quyền xử đoán, nhứt là việc bất bình nhỏ mọn xảy ra trong phần địa phận của mình.

 

 

XỬ LÝ (XỬ TRÍ)

-
E: To arrange, to punish.
F: Arranger, punir.

Xử: Đối đãi, đối phó, ăn ở, phán đoán. : sắp đặt, sửa trị. Trí: sắp đặt, đặt để.

Xử lý đồng nghĩa Xử trí. Có hai trường hợp:

• Xử lý hay Xử trí là giải quyết ổn thỏa các công việc.

Xử lý thường vụ: Thay mặt vị trưởng cơ quan để giải quyết ổn thỏa các công việc thông thường, khi vị trưởng cơ quan tạm vắng mặt.

• Xử lý hay Xử trí là có biện pháp trừng phạt đối với một hành động vi phạm pháp luật.

 

 

XỬ THẾ

處 世
E: To be have towards the world.
F: Se conduire envers le monde.

Xử: Đối đãi, đối phó, ăn ở, phán đoán.Thế: đời, người đời. Xử thế là cách ăn ở đối đãi với những người xung quanh hay những người có liên quan trong cuộc sống.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Xử thế phải cho vẹn thế tình.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Bề xử thế trước sau trọn phận,
Cuộc gia đình cẩn thận hành vi.
Đường quanh ngõ tắt khó đi,
Chông gai chớ lội, gian phi chớ làm.

 

 

XỬ TRỊ

處 治
E:To punish.
F: Punir.

Xử: Đối đãi, đối phó, ăn ở, phán đoán.  Trị: trừng phạt. Xử trị là áp dụng các hình pháp để trừng phạt kẻ có tội.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành quỉ vị, cũng đủ các ngôi các phẩm, đặng đày đọa các con, hành hài các con, xử trị các con.

 

 

XỬ ƯỚC - XỬ LẠC

Xử ước là ở vào lúc giữ gìn, tức là lúc nghèo khổ. Xử lạc là ở vào lúc vui vẻ, lúc phong lưu. Sách Luận Ngữ có câu "Bất nhân giả, bất khả dĩ cửu xử ước, bất khả dĩ trường xử lạc" nghĩa là kẻ bất nhân ấy không thể ở lâu trong cảnh nghèo khổ, thì không thể ở lâu được trong cảnh vui vẻ sang giàu.

Trong Thơ có câu:

Lúc muộn màng từng dạo gót phong trần,
Khi vinh hiển cũng chen vai đài các.
xử ước mới toan đường xử lạc,
Sách dạy rằng "Tùy ngộ nhi an"
Đã sinh vào cõi trần gian…

 

 

XƯNG HÔ

 
E :To address.
F: S'adresser.

Xưng: tiếng tự gọi mình. : tiếng gọi người khác trong trật tự giao tiếp.

Trong Đạo Cao Đài, cách xưng hô giữa Tín đồ và Chức sắc được Hội Thánh nêu rõ trong Huấn Lịnh sau đây:

Khi xưng hô với nhau, Tín đồ Cao Đài sử dụng các từ "Huynh", "Đệ", Tỷ", "Muội". Thể hiện tình đồng đạo thân thiết nhau xem như anh chị em một nhà. Đúng như lời Thầy dạy "Cùng chung một Đạo tức một cha" là vậy.

Tuỳ theo Thiên chức (Giáo phẩm), tuổi tác, giới tính. Khi kính cẩn, họ còn thêm "Hiền" phía trước những đại từ nhân xưng trên (Hiền huynh, Hiền Tỷ, Hiền Đệ, Hiền Muội...)

Đối với Chức sắc Đại Thiên Phong thì Chức sắc phẩm dưới tôn là Đại huynh, Trưởng Huynh,.Đại Tỷ.

 

 

XƯNG TỤNG CÔNG ĐỨC

稱 頌 功 德
E:To exalt the virtues of.
F: Exalter les vertus de.

Xưng: khen. Tụng: bài văn khen ngợi. Công đức: tất cả việc làm giúp đời giúp người không cầu danh lợi. Xưng tụng công đức: bài văn khen tặng ca ngợi công đức của một vị nào.

Bài Xưng Tụng Công Đức Phật Tiên Thánh Thần: đây là một bài kinh trong Kinh Thiên Đạo, dùng để tụng mỗi khi khen ngợi công đức của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

 

 

XỨNG ĐÁNG


F: Digne, méritoire.

Thầy dạy: "Thầy nói cho các con hiểu rằng, muốn xứng đáng làm Môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm môn đệ Thầy thì là Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước; còn ngã thì cửa Ðịa Ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét, ai thấu đáo vậy ôi!’

 

 

XỨNG NỢ DUYÊN

Kinh Hôn phối có câu:

"Ở trước mắt Hồng-Quân định phận,
"Đạo vợ chồng đã xứng nợ duyên."

 

 

XƯỚNG DANH


E: To call out the name.
F: Proclamer le nom.

Xướng: Ca hát, cất tiếng hô, nêu lên trước. Danh: tên. Xướng danh là hô to lên tên của người thi đậu.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Siêu thăng phụng liễn qui khai,
"Tiên-Cung Phật xứ Cao-Đài xướng danh."

 

 

XƯỚNG HỌA THI VĂN

(Xướng là khởi ra. Họa là đáp lại. Thi văn là một thú chơi tao nhã, lịch sự của những nhà trí thức dùng thi hoặc văn trao đổi với nhau, ứng đối với nhau, cũng là để truyền đạt cho nhau những tư tưởng cao sâu mà mỗi người đều có sẵn một tài năng riêng. Đây là một trong bốn thú tiêu khiển (Cầm là đờn, Kỳ là cờ tướng, Thi là thơ văn, Họa là Vẽ) của người xưa trong giới trí thức. Nay là thời kỳ Cao-Đài xuất thế nên dân tộc Việt Nam hân hạnh được đón nhận một nền Tân Tôn giáo, Đức Thượng Đế dùng Thần Cơ diệu Bút để mở Đạo, do vậy mà các bậc tiền khai Đại-Đạo mới được thông công cùng các Đấng Thần Tiên Thánh Phật, đồng thời cũng dùng Thi văn xướng họa với nhau làm nhịp cầu nối liền Tiên tục. Ấy là một nhân duyên để mở đường xuất Thánh.

Giữa thiêng liêng và người trần thế: Đức Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông.

Đức Hộ Pháp xướng: Nhắn Bạn Quyền Giáo Tông

Hồ lô ai để ở nơi đâu?
Ái quốc Việt Nam nhét bể bầu.
Cứu thế hồng ân chưa rải khắp,
Nâng thuyền lòng nước vốn còn sâu.
Nhơn tài nẩy nở tuy trăm bụng,
Dân trí biến sanh bởi một đầu.
Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận,
Cuộc cờ thắng bại tận phao câu.
                        (11-9-Bính Tuất 1946)

1. Đức Quyền Giáo Tông giáng họa, ngày 19-9-Bính Tuất (1946) như sau:

Tách trần tính lại đã là đâu!
Thế giới vân du chỉn một bầu.
Nguồn Đạo bấy chừ bao sức lớn,
Tinh thần từ trước đã gần sâu.
Nhơn tâm gầy khối đều nên mặt,
Tình thế trau nên kiểu vở đầu.
Lừa lọc nên hư do phép Tạo,
Hưng suy chỉ định bởi đôi câu.

2. Đức Quyền Giáo Tông giáng cơ họa tiếp, ngày 28-4-Mậu Tý (1948):

Đường trần hạnh phúc đã là đâu?
Chi bẵng Càn khôn quảy một bầu.
Đủ hiểu tâm phàm lòng lạt lẽo,
Dư xem bước tục chí cao sâu.
Thiên Quân ví chẳng ra tiền đạo,
Tướng soái khó toan chiếm địa đầu.
Vạn pháp đem khoe tài Hộ Pháp,
Cũng như đực rựa sánh kim câu.

3- Đêm mùng 10 tháng 10 Canh Dần (dl: 19-11-1950). Đức Quyền Giáo Tông giáng Họa Thi:

Họa lại bài thi của Hộ Pháp, đảo vận (tức nhiên lấy vận dưới đặt lên trên đầu bài: Câu, Đầu, sâu, bầu, đâu)

Lưỡi liềm chi dễ sánh Kim câu!
Gây sự bởi ai tạo buổi đầu?
Đông Hải mênh mông còn phải cạn,
Tây Hồ chật hẹp độ bao sâu?
Tài ba Động Bích bao nhiêu sức?
Quyền phép Côn Lôn sẵn mấy bầu.
Quyết đoán cuộc cờ, ai thắng bại?
Chỉn xem Tiên Phật hướng về đâu?

Anh mừng các em, xin nhắn lời cám ơn Hộ Pháp.!"

 

 

XƯỚNG KỴ


E: The songtress.
F: La chanteuse.

Xướng: Con hát, kỹ nữ. Kỵ: Kỹ: người con gái bán dâm. Xướng kỵ là con gái làm nghề ca hát và mãi dâm.

Kinh Sám Hối có câu:

"Gái xướng-kỵ, trai thì du-đãng,
"Phá tan hoang gia sản suy-vi."

 

 

XƯỚNG LẬP


E: To establish.
F: Établir.

Xướng: Ca hát, cất tiếng hô, nêu lên trước. Lập: dựng lên. Xướng lập là đứng ra hô hào xây dựng.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Trước khi xướng lập cơ sở lương điền, công nghệ, thì chỉ nhờ nơi lòng từ thiện của toàn đạo hữu trợ giúp.

 

 

XƯỚNG XUẤT

Ngài Bảo Thế nói: "Từ xưa đến nay, đã có nhiều Tôn giáo xướng xuất nhiều phương hướng dìu dẫn nhơn sanh trong trường xử sự tiếp vật theo Đạo hóa sanh của Trời. Song le, văn minh vật chất càng ngày càng tiến triển như hiện giờ, khoa học gần như muốn chiếm đoạt cơ mầu nhiệm của Tạo đoan, thì trái lại, tinh thần Đạo Đức của nhơn sanh ngày càng lu mờ. Mặc dầu, các Tôn giáo kia đã tận lực giáo nhơn qui thiện."

 

 

HẾT VẦN X

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


XA | | XẢ | | XÁC | XANG | XANH | XAO | XẢO | XẠO | XÂY |

XE | XÉT |

XỈ | XÍCH | XIỂM | XIỂN |

XÓT | XÔN | XÔNG |

XU | XUA | XUÂN | XUẤT | XÚC | XÚI | XÚM | XUNG |

XỬ | XƯNG | XỨNG | XƯỚNG |


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XA | | XE | XI | XO | | XU |

 

 

 

Danh mục vần X

 

XA

Xa

Xa Chừng

Xa Dòng Bể Khổ

Xa Hoa

Xa Nặc

Xa Thơ

Xa Xỉ

 

Xá Ân

Xá Cô

Xá Chữ Khí

Xá Linh Quang

Xá Lợi

Xá Lợi Tử

Xá Thân

Xá Tội

 

XẢ

Xả Kỷ Ái Nhân

Xả Thân Cầu Đạo

 

Xã Hội

Xã Tắc

 

XÁC

Xác Đáng

Xác Đất Sanh

Xác Nhận

Xác Phàm

Xác Phàm Mắt Thịt

Xác Thánh

Xác Thân

Xác Thịt

Xác Thực

Xác Tục

Xác Trần

Xác Tro Của Cụ Cường Để

 

XANG

Xang Thiên

 

XANH

Xanh Xanh

 

XAO

Xao Xuyến

 

XẢO

Xảo Mị

Xảo Quyệt

 

XẠO

Xạo Xự

 

XÂY

Xây Bàn

Xây Chuyển

Xây Chuyển Cơ Đời

Xây Cơ Chuyển Thế

Xây Đắp

Xây Vần

 

XE

Xe Như Ý

Xe Tiên

Xe Thơ

Xe Trâu

Xẻ Thây

 

XÉT

Xét Câu Minh Thệ

Xét Mình

 

XỈ

Xỉ Cương Tắc Chiết

 

XÍCH

Xích Mích

Xích Tâm

Xích Thằng

Xích Thiên

Xích Tinh Tử

Xích Tử

 

XIỂM

Xiểm Gièm

 

XIỂN

Xiển Dương

Xiển Giáo

 

XÓT

Xót Thương

 

XÔN

Xôn Xao

 

XÔNG

Xông Hương Khử Trược

 

XU

Xu Hướng

Xu Hướng Ác Hành

Xu Phụ

Xu Thời

Xu Trần

 

XUA

Xua Trục

 

XUÂN

Xuân

Xuân Đường

Xuân Huyên

Xuân Lan Thu Cúc

Xuân Mộng

Xuân Tàm

Xuân Thu

Xuân Thu - Phất Chủ - Bát Vu

 

XUẤT

Xuất Bản

Xuất Dương

Xuất Gia Hành Đạo

Xuất Hội

Xuất Hiện

Xuất Lực

Xuất Ngoại

Xuất Nhập

Xuất Thần Nhập Hóa

Xuất Thế

Xuất Lực Xuất Tiền

Xuất Trần

 

XÚC

Xúc Cảm

Xúc Động

 

XÚI

Xúi Giục

 

XÚM

Xúm Xích

 

XUNG

Xung Đột

Xung Nhập

Xung Thiên

 

XỬ

Xử Đoán

Xử Lý

Xử Thế

Xử Trị

Xử Ước - Xử Lạc

 

XƯNG

Xưng Hô

Xưng Tụng Công Đức

 

XỨNG

Xứng Đáng

Xứng Nợ Duyên

 

XƯỚNG

Xướng Danh

Xướng Họa Thi Văn

Xướng Kỵ

Xướng Lập

Xướng Xuất

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 16-12-2017

XA | | XE | XI | XO | | XU |


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF