CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần V

 

VÁI

Vái Trời

Vái Van

 

VÃI

Vãi Chùa

 

VÀN

Vàn Vàn

 

VÃN

Vãn

Vãn Cảnh

Vãn Hồi

 

VÃNG

Vãng Sanh Thần Chú

 

VẠN

Vạn

Vạn Cổ

Vạn Đại

Vạn Hạnh Thiền Sư

Vạn Kiếp

Vạn Linh

Vạn Linh Hiệp Chí Linh

Vạn Linh Sanh Chúng

Vạn Loại

Vạn Pháp

Vạn Pháp Cung

Vạn Pháp Tam Tông

Vạn Pháp Qui Tông

Vạn Quốc

Vạn Quốc Liên Minh

Vạn Quyển Thiên Kinh

Vạn Sự Khởi Đầu Nan

Vạn Sự Như Ý

Vạn Sự Viết Vô

Vạn Tượng

Vạn Trượng

Vạn Vật

 

VAY

Vay Trả

 

VẠY

Vạy Vò

Vạy Tà

 

VĂN

Văn Ban Võ Bá

Văn Đàn

Văn Hào

Văn Hiến

Văn Hóa

Văn Hóa Nho Phong

Văn Học

Văn Miếu

Văn Minh

Văn Minh Duy Vật

Văn Minh Điện

Văn Phòng Hiệp Thiên Đài

Văn Sĩ Nho Phong

Văn Tế

Văn Thi

Văn Thỉ Thượng Cung

Văn Thù Bồ Tát

Văn Tuyên

Văn Từ

Văn Tự

Văn Vương

Văn Xương

 

VÂN

Vân (Giáo Sư Ngọc Vân Thanh)

Vân Du

Vân Đài

Vân Động

Vân Hán

Vân Trình

Vân Xa

 

VẤN

Vấn Nạn

Vấn Tâm

 

VẬN

Vận Bĩ

Vận Động

Vận Chuyển

Vận Hội

Vận Mạng

Vận Nước

Vận Thới

Vận Từ Thứ

Vận Tử Hồi Môn

Vận Trù

 

VẬT

Vật Chất - Tinh Thần

Vật Chất Tiếp Điển

Vật Chất Văn Minh

Vật Dục

Vật Hữu Bổn Mạt

Vật Hữu Linh

Vật Loại

Vật Thực

 

VẤY

Vấy

 

VẸN

Vẹn Toàn

Vẹn Tròn

Vẹn Vẻ

 

VỀ

Về Với Đức Chí Tôn

Về Với Đức Chí Tôn Bằng Chơn Thần

 

VI

Vi Bằng

Vi Chủ

Victor Hugo

Vi Diệu

Vi Đà Hộ Pháp

Vi Hộ

Vi Lịnh

Vi Mang

Vi Phạm

Vi Phạm Thiên Điều

 

Vĩ Đại

Vĩ Nhân

 

VỊ

Vị Kỷ

Vị Nễ

Vị Quốc Ái Dân

Vị Quốc Vong Thân

Vị Sanh

Vị Tất

Vị Tình

Vị Thuốc Khử Tội

Vị Trà Hương

Vị Vong Nhân

 

VÍA

Vía

Vía - Đại Lễ Đức Chí Tôn

Vía - Phách

 

VIÊN

Viên Giác

Viên Mãn

Viên Tịch

 

VIỄN

Viễn (Giáo Sư Thượng Viễn Thanh)

Viễn Du Tiên Cảnh

 

VIẾT

Viết Của Chàng Hồ

 

VIỆT

Việt Đảnh

Việt Gian

Việt Nam

Việt Nam Thánh Điạ

Việt Nam Là Tàu - Tàu Là Việt Nam

Việt Nam Muôn Năm

Việt Thường

Việt Vương Câu Tiễn

 

VINH

Vinh (Giáo Sư Thượng Vinh Thanh)

Vinh Diệu

Vinh Hiển

Vinh Hoa (Vinh Huê)

Vinh Hoa Phú Quí

Vinh Hư

Vinh Nhục

Vinh Thân Phì Gia

Vinh Qui Bái Tổ

 

VĨNH

Vĩnh Bất Tự Dụng

Vĩnh Biệt

Vĩnh Cửu - Vĩnh Trường

Vĩnh Hằng

Vĩnh Kiếp Quần Sanh Ngưỡng Kỳ Huệ Ðức

Vĩnh Nguyên Tự

Vĩnh Sanh

Vĩnh Tồn

Vĩnh Tồn Hậu Lai

Vĩnh Trường

 

Vó Ngựa

 

Võ Lực

Võ Môn

Võ Phu

Võ Phủ Từ

Võ Phục

Võ Tánh - Ngô Tùng Châu

Võ Trụ

Võ Văn Đợi

Võ Văn Kỉnh

 

VONG

Vong Ân Bội Nghĩa

Vong Bản

Vong Hồn (Linh Hồn)

Vong Niên

Vong Phàm

Vong Xu

 

VÒNG

Vòng Minh Khí

Vòng Trần

Vòng Xây Chuyển

 

VỌNG

Vọng

Vọng Bái

Vọng Cầu

Vọng Động

Vọng Ngữ

Vọng Ngưỡng

Vọng Niệm - Vọng Tưởng

Vọng Thiên

Vọng Thiên Cầu Ðạo

Vọng Thiên Bàn

Vọng Thượng Đế

 

Vô Biên

Vô Can

Vô Căn - Vô Kiếp

Vô Công Trác

Vô Cùng Tận

Vô Cực Đăng

Vô Cực - Thái Cực - Thái Hư Là Gì?

Vô Cực Vô Thượng

Vô Danh Đồng Tử

Vô Danh Thiên Địa Chi Thủy

Vô Dục

Vô Duyên

Vô Dụng

Vô Đạo

Vô Đối

Vô Giá

Vô Giá Định

Vô Hình

Vô Hồn Viết Tử

Vô - Hữu

Vô Ích

Vô Khổ Hình

Vô Lao

Vô Lễ

Vô Lương

Vô Lương Thất Đức

Vô Lượng

Vô Minh

Vô Ngã

Vô Ngại

Vô Nghĩa Lý

Vô Nhân Đạo

Vô Phần

Vô Phước

Vô Phương

Vô Quả

Vô Siêu Đọa

Vô Tâm

Vô Thần

Vô Thủy Vô Chung

Vô Thức

Vô Thường

Vô Thượng Thậm Thâm

Vô Tình

Vô Toán

Vô Trung Từ Phụ

Vô Tư

Vô Tự Kinh

Vô Tranh

Vô Ưu

Vô Vi

Vô Vi - Hữu Hình

Vô Vi Bất Kiến

Vô Vi Cư Thái Cực Chi Tiền

Vô Vi Học Thuyết

Vô Vi Phẩm Vị

Vô Vị

Vô Vọng

Vô Vọng Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng

 

VỢ

Vợ Chồng

 

VU

Vu Oan

Vu Oan Giá Họa

 

Vũ Trụ

Vũ Trụ Quan

 

VUA

Vua Bảo Đại

Vua Thăng Hà

 

VUI

Vui

Vui Sướng

Vui Thú

 

VUN

Vun Trồng Cội Phước

 

VŨNG

Vũng Tàu

 

VỮNG

Vững Bền

 

VƯỜN

Vườn Đào Ướm Chín

Vườn Ngạn Uyển

Vườn Thiên Nhiên

Vườn Trước Tử

 

VƯƠNG

Vương An Thạch

Vương Bật

Vương Đạo

Vương Hầu

Vương Mang

Vương Quan Kỳ

Vương Quan Trân

Vương Tân

Vương Thần Tế Quốc

Vương Thất

Vương Thị Lễ

Vương Vị - Đế Quyền

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 16-12-2017

 

 

 

VÁI TRỜI

E: To invoke the Sky.
F: Invoquer le Ciel.

(Vái: Chấp hai tay đưa lên trán cầu nguyện. Trời: Ông Trời, là Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, là các Đấng Thiêng Liêng trên trời). Vái Trời là cầu nguyện với Trời Phật. Đây là tâm trạng của một người đang tuyệt vọng hay là lâm vào một cảnh khó xử, chỉ còn biết cầu nguyện với Trời Phật ban cho phép lạ để vượt qua cảnh nguy hiểm khốn cùng.

 

 

VÁI VAN

E: To supplicate.
F: Supplier.

(Vái: Chấp hai tay đưa lên trán cầu nguyện. Van: kêu xin, nài cầu). Vái van hay Van vái là cầu khẩn van xin một cách chân thành và khẩn thiết một điều gì mà khả năng của con người không tự giải quyết được.

Ðạo Sử của Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu quyển I:

Ðộ tháng 9 năm Ất Sửu, ông A.Ă. giáng hỏi với ba ông như vầy:

- Tôi nói lộ Thiên Cơ, trên Ngọc Hư bắt tội, xin Tam vị Ðạo Hữu cầu trên Ngọc Hư Cung tha tội tôi, nếu không lo cầu giùm thì tôi sẽ bị phạt.

Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh rất lo lắng. Ba ông vọng bàn Hương Án cầu Diêu Trì Cung. Ðức Cao Thượng Phẩm có đặt một bài thi rồi đọc trước bàn Hương Án như vầy:

Vái van xin quí Cửu Thiên Nương,
Tâu với Ngọc Hư rõ ngọn nguồn.
Vì nghĩa Ă. A mang trọng tội,
Nghĩ tình đồng Đạo để tình thương.
                        20-10-1925
            (Mồng 3 tháng 9 Ất Sửu)

 

 

VÃI CHÙA

E: Buddhist nun.
F: La bonzesse.

(Vãi: người phái nữ xuất gia tu theo Phật giáo). Vãi chùa là cô vãi (hay bà vãi) tu trong chùa Phật. Chữ Hán gọi Cô vãi là: Ni cô, Ni sư, Sư nữ.

Chú Giải (Pháp Chánh Truyền) có nói: "Cái Ni Kim Cô bằng hàng trắng y như của các vãi chùa, có thêu bông sen."

 

 

VÀN VÀN

E: Innumerable.
F: Innombrable.

Còn gọi là Vạn vạn. (Vàn: do chữ VẠN nói trại ra). Vạn là muôn, là 10 ngàn. Vàn vàn là muôn muôn, chỉ một số lượng nhiều lắm, không đếm nổi.

Kinh Ðệ Cửu Cửu có câu:

"Nơi Kim Bồn vàn vàn nguơn chất,
"Tạo hình hài các bậc nguyên nhân
"Cung Trí giác, trụ tinh thần,
"Huờn hư mầu nhiệm thoát trần đăng Tiên."

 

 

VÃN

• VÃN Kéo lại. Td: Vãn hồi.

• VÃN Buổi chiều, muộn, kẻ đi sau. Td: Vãn cảnh, Vãn niên, Vãn sinh.

• VÃN Kéo xe, viếng người chết. Td: Vãn đối.

 

 

VÃN CẢNH


E: Old age.
F: La vieillesse.

Vãn: Buổi chiều, muộn, kẻ đi sau. Cảnh: cảnh vật. Vãn cảnh là cảnh chiều, ý nói cảnh của người già.

 

 

VÃN HỒI

挽 回
E: To draw back.
F: Ramener.

Vãn: Kéo lại. Hồi: trở về. Vãn hồi là kéo trở lại một điều gì đã mất hay một việc gì đã sa sút. Vãn hồi Chánh đạo: Đạo chánh đã suy đồi, bây giờ phục hồi trở lại.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Vãn hồi hòa bình trật tự, tháng Thuấn ngày Nghiêu, trở nên thượng cổ.

 

 

VÃNG SANH THẦN CHÚ

(Vãng : Đi, đã qua, đi lên, đến, chỉ sự qua đời, chết. Sanh : Sống). Vãng sanh 往生: cầu mong hồn người chết được đi lên, chuyển sanh vào một thế giới khác. Thần chú 神咒 hay Chân ngôn 真言 còn gọi là mật chú 密咒, linh ngữ 靈語. Tiếng Phạn là Mantra, hay Dharani (Thường thì Dharani dài hơn Mantra), có nghĩa là tổng trì, tức là sự nắm giữ các pháp.

Vãng sanh Thần chú là câu niệm bằng tiếng Phạn đặc biệt của Phật giáo để cầu nguyện với Đức Phật A-Di-Đà cứu độ linh hồn người chết được sanh về cõi Cực Lạc Thế Giới.

Theo Phật giáo phái Tịnh-độ-tông, người ta tu hành khi chết được chuyển sanh qua một thế giới khác gọi là Cực Lạc Quốc của Đức A-Di-Đà-Phật, nơi ấy rất sung sướng, hạnh phúc.

Chân ngôn hay Thần chú là những lời bí mật của chư Phật không nói rõ ra bằng lời. Những câu Thần chú là một chuổi âm vận chứa đựng năng lực huyền bí, nên khi trì tụng có thể diệt trừ khổ ách, tiêu tai giải nạn, hộ trì tâm linh một cách kỳ diệu, không thể nào nghĩ bàn được.

Đây bài "Vãng sanh Thần chú" bằng tiếng Phạn, để cầu nguyện cho hồn người quá vãng sớm được siêu thoát:

"Nam-mô A-Di-Đa Bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ, Đa Điệt Dạ Tha, A-Di Rị-Đô Bà-Tì, A-Di Rị-Đa Tất Đam Bà-Tì, A-Di Rị-Đa, Tì-Ca Lan-Đế, A-Di Rị-Đa Tì-Ca-Lan-Đa, Dà Di-Nị-Dà Dà-Na Chỉ-Đa Ca-Lệ Ta-Bà-Ha" (đọc 3 lần).

Viết thành chữ Hán:


, , , , , , , , , , , , .

Trong tang lễ của Đạo Cao Đài, lúc Linh cữu đã đưa đến nghĩa địa rồi, trước khi hạ huyệt, đồng nhi tụng bài Kinh Hạ Huyệt, tụng đủ 3 lần, xong rồi tiếp tụng Vãng Sanh Thần Chú, tụng 3 lần, xong thì niệm Câu Chú của Thầy 3 lần, là: "Nam-Mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" (3 lần).

Bài "Vãng sanh Thần chú" bằng tiếng Phạn gồm 59 chữ, được giải nghĩa theo Phật Học Tự Điển của Đoàn Trung Còn như sau:

- Nam-mô A-Di-Đà Bà-Dạ: Tiếng Phạn là Namah Amitabhavyuha, nghĩa là: qui kính Đức A-Di-Đà Phật.

- Đa-Tha-Già-Đa-Dạ: Tiếng Phạn là Tathagata, nghĩa là: Như Lai. (Như Lai là một trong 10 hiệu của Phật).

- Đa-Điệt-Dạ-Tha: dịch là tức thuyết chú viết, nghĩa là: liền đọc bài chú dưới đây:

- A-Di Rị-Đô Bà-Tì, A-Di Rị-Đa Tất Đam Bà-Tì, A-Di Rị-Đa, Tì-Ca Lan-Đế, A-Di Rị-Đa Tì-Ca-Lan-Đa, Dà Di-Nị-Dà Dà-Na Chỉ-Đa Ca-Lệ Ta-Bà-Ha" (10 câu trên đều là mật ngữ, đại ý có nghĩa là: nhổ bỏ tận gốc các nghiệp chướng). Ta-Bà-Ha: tiếng Phạn là Swâha. Thường các bài Thần chú đều có ba chữ chót là Ta-Bà-Ha, có nghĩa là: Thành tựu, kiết tường, tiêu tai tăng phước, viên tịch, vô trụ, kính Phật chứng minh.

Vãng Sanh Thần Chú còn được gọi là: Chú Vãng Sanh, Vãng Sanh Chơn ngôn, Vãng Sanh Quyết định Chơn ngôn.

Vậy: -Thần chú là những âm thanh do chư Phật, Bồ Tát nói ra trong tâm giác ngộ, nên khi trì tụng, chúng ta cũng có thể tương ưng với tâm ấy của các Đấng.

- Thần chú là những âm thanh bí mật được phát sinh trong lúc ngồi Thiền, những mật ngữ này có hiệu lực rất linh nghiệm.

- Thần chú tuy là một chuổi âm thanh nhưng trong đó hàm chứa những rung động tâm linh, nhằm phô diễn cái thực tánh nằm ngoài các đối đãi nhị nguyên, nên khi trì niệm một cách thành tâm sẽ có một uy lực khơi dậy những sức mạnh tiềm ẩn trong nội tâm.

- Thần chú đóng vai trò đặc biệt và quan trọng trong Kim Cương thừa của Phật giáo Tây Tạng, là một phương tiện để hộ trì, bảo vệ tâm hầu tiến đến giải thoát.

Theo Phật giáo Việt Nam, các Đạo-sư thấy không cần thiết phải giải thích ý nghĩa của những câu Thần chú hay mật chú, vì nghĩ rằng Thần chú không phải là cái để tìm hiểu, mà là để trụ tâm trì tụng, hầu có sự cảm ứng với chư Phật và Bồ Tát.

Tóm lại, Vãng sanh Thần chú là một bài chú gồm những mật ngữ để cầu nguyện A Di Đà Phật cứu độ cho Chơn linh người chết được vãng sanh về Cõi Cực Lạc.

 

 

VẠN

()
E: Svaskia.
F: Evolution.

Tám vòng cung là tượng-trưng cho Bát-phẩm chơn hồn do Phật-Mẫu sản-xuất nơi Kim-Bàn, vì cơ-quan sản xuất vạn-linh thuộc PHÁP.

Tám đường thẳng xuyên tâm âý tượng-trưng cơ đoạt Đạo. Các con tu-luyện phải do nơi Pháp mới thành.

Vòng tròn bên ngoài chỉ vũ-trụ Càn-khôn. Bát phẩm chơn-hồn ấy là: vật chất, thảo-mộc, thú-cầm, nhơn-hồn, Thần-hồn, Thánh-hồn, Tiên hồn và Phật-hồn. Mỗi hồn đều có tánh chất riêng.

 

 

 

Từ vật-chất đến nhơn hồn là cơ tấn-hóa, nên có hình chữ Vạn số (1), là chỉ cơ đi xuống trần để tạo nghiệp trần-duyên.

Tạo cho đầy-đủ quả-nghiệp thành khối gia-sản rồi bắt đầu đi lên để học điều mầu nhiệm, nên Cơ phục-nguyên ở chữ Vạn số (2).

Chữ VẠN ấy là chỉ cơ biến-hóa vô cùng đó vậy, nên vạn-vật bất kỳ là vật chi có TU cũng ắt có thành.

 

 

VẠN CỔ


E: Eternal.
F: Eternel.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Cổ: xưa. Vạn cổ là muôn xưa, tức là rất lâu đời. Vạn cổ lưu phương: Tiếng thơm lưu truyền muôn đời.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.

 

 

VẠN ĐẠI


E: Ten thousand generations.
F: Dix mille générations.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Đại: đời, thời đại. Vạn đại là muôn đời, trải qua nhiều thế hệ lâu xa lắm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đạo thành vạn đại chiếu sơn hà.

Thi văn dạy đạo có câu:

Thi ân, tế chúng thiên tai tận,
Nhược thiệt, nhược hư vạn đại an.

 

 

VẠN HẠNH THIỀN SƯ (Tên)

Tên một vị cao Tăng đời Lý gọi là Sư Vạn Hạnh. Người quê ở Cổ Pháp, thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Bắc phần). Ông vốn họ Nguyễn, nhưng tên thật là gì và sinh năm nào không ai biết rõ. Ngài đi tu từ năm 21 tuổi.

Thuở nhỏ, Sư Vạn Hạnh rất thông minh, có sách chép là ông đã học khắp Tam giáo, nhất là chuyên tâm khảo cứu rất nhiều Kinh Luận nhà Phật. Ông thông cả Nho, Phật, Lão. Ngoài ra còn nghiên cứu Bạch môn luận, chuyên tập khoa Tông trì Tam-Ma-địa, thường nói ra câu nào thành Sấm câu đó. Thế nên Thiền sư còn giỏi về Sấm ngữ và khoa độn số là vậy. Năm 20 tuổi, ông xuất gia tu theo Phật và thụ giáo với Thiền Ông đạo giả ở chùa Lục Tổ, tức là đời pháp thứ hai của phái Tỳ-Ni-Đa-lưu-chi. Đinh Huệ Thiền Sư là đồng môn với Ông.

Năm 1010, nhờ khoa độn số, Ông đã đoán biết vận nhà Lê đã mạt. Thiền sư hội ý với Đào Cam Mộc rồi tôn Lý Công Uẩn lên làm vua. Vua Lê Đại Hành và vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn) lúc còn nhỏ được thụ giáo với Sư Vạn Hạnh. Đến khi lên ngôi Hoàng Đế thường vời Sư Vạn Hạnh đến để vấn kế về việc trị nước. Vì vậy mà các vua triều Lý, từ Lý Thái Tổ đến Lý Cao Tôn vị nào cũng kỉnh Phật, trọng dụng Đạo Lão và chịu ảnh hưởng của Đạo Khổng. Nhưng đặc biệt nhất là Lý Cao Tôn, vị vua đầu tiên đã tổ chức kỳ thi Tam Giáo.

Sang triều Trần, đời vua Trần Thái Tôn, húy là Trần Cảnh, niên hiệu là Kiên Trung, nhà vua ngồi từ 1225-1258 là vị vua đầu tiên của nhà Trần. Song đến cuối đời Trần, Đạo Phật suy tàn, tinh thần Tam giáo không còn tồn tại trong giới Sĩ phu nữa mà lại truyền bá sâu rộng vào quần chúng, đi vào làng mạc, chi phối đời sống của nông dân Việt Nam. Ở bất cứ làng nào cũng thấy có Đền, Chùa, Miếu, Điện. Dần dần người thôn quê không còn phân biệt tôn giáo này, nọ nữa, mà còn là một sự hòa hợp tín ngưỡng. Khi nhân dân ta bắt đầu về phương Nam và hoàn thành cuộc Nam tiến vào thế kỷ 17 thì dân tộc ta lại tiếp thu thêm tín ngưỡng Chiêm-thành mà việc thờ Cá voi của các ngư dân miền duyên hải từ Đèo Ngang về Nam phần.

Năm 1018 (tức năm Mậu Ngọ) Thiền Sư Vạn Hạnh tịch. Sau vua Lý Nhân Tôn có làm thơ khen tặng Sư Vạn Hạnh như sau:

Vạn Hạnh dong tam thế,
Chân phù cổ Sấm kỵ,
Hương quan danh Cổ pháp,
Trụ tích trấn vương kỳ.

Nguyễn Lang dịch (Việt Nam Phật giáo Sử luận).

Hành tung thấu triệt ba đời,
Ngữ ngôn phù hợp muôn đời Sấm cơ.
Quê hương Cổ pháp bây giờ,
Dày công tích trượng Kinh đô vững bền.

 

 

VẠN KIẾP

萬 劫
E: Eternally.
F: Éternellement.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Kiếp: một đời sống. Vạn kiếp là muôn kiếp, đồng nghĩa: Vạn đại, chỉ một khoảng thời gian rất dài, hằng triệu năm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thoát xác xưa tầng tu vạn kiếp.

 

 

VẠN LINH


E: All the souls.
F: Toutes les âmes.

Vạn là 10.000, chỉ một con số lớn, nhiều khi không đếm được, Linh là có hồn sống, ví như: vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, gọi chung là vạn linh sanh chúng.

 

 

 

Đức Hộ Pháp nói: "Đức Chí Tôn cho Hộ Pháp và Thập Nhị Thời Quân đến cốt yếu để mở cửa Bí Pháp ấy đặng cho Vạn linh đoạt vị. Cả thảy đều hiểu rằng Đức Chí Tôn buổi mới sơ khai chưa tạo Thiên lập Địa, Ngài muốn cho Vạn linh đặng hiệp cùng Nhứt Linh của Ngài do quyền năng sở hữu của quyền hạn Thần Linh. Ngài vừa khởi trong mình quyết định thi hành điều ấy thì Ngài nắm cái Pháp. Trước Ngài chỉ là Pháp, vì cớ cho nên ta để Phật tức nhiên là Ngài, kế thứ nhì là Pháp hễ nắm Pháp rồi Ngài phán đoán vạn vật thành hình; Ngài muốn vạn vật thành hình tức nhiên Tăng, cả Vạn Linh đều đứng trong Tăng. Ấy vậy, Pháp là chủ của Vạn Linh. Bởi do nơi Pháp, Vạn Linh mới chủ tướng biến hình do nơi Pháp mới sản xuất Vạn Linh. Cả huyền vi hữu hình Đức Chí Tôn tạo Đạo do nơi Pháp. Chúng ta biết Pháp thuộc về hình thể của Vạn Linh, vì cớ cho nên Đạo Giáo minh tả rõ rệt Tam Châu Bát Bộ thuộc về quyền Hộ Pháp: "Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn".

Giờ đây: Đạo Cao-Đài thờ đủ hai ngôi Âm Dương tức là có đủ cha mẹ Thiêng liêng đó.

Còn về phần hữu hình hữu thể này, thì Đức Quyền Giáo Tông là Anh Cả của nhơn sanh làm chủ Bát Quái Đồ Thiên về mặt hữu hình, Đức Hộ Pháp làm chủ Bát Quái Đồ Thiên về mặt vô hình. Vì lẽ đó nên:

-Đức Quyền Giáo Tông có ngai vàng (một trong bảy ngai của Chức Sắc Cửu Trùng Đài) có ngôi vị trong Ngũ Chi Đại Đạo, tức nhiên "Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ" thuộc về Nhơn đạo.

- Đức Hộ Pháp thì chỉ có Cẩm đôn ngự trên Thất đầu xà, nhưng lại có danh niệm trong lòng sớ Tam Kỳ Phổ Độ là "Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn". Hình bên đây cho thấy rõ: Chí Linh là Trời (Chí Tôn và Phật Mẫu), Vạn linh là người (Giáo Tông và Hộ Pháp) cùng sanh chúng.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Thiên-Cung xuất Vạn-linh tùng pháp,
"Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh."

 

 

VẠN LINH HIỆP CHÍ LINH

(Vạn linh: muôn ngàn Chơn linh, tức là tất cả chúng sanh bao gồm Bát phẩm chơn hồn: Kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn. Chí Linh: Rất linh hiển. Chỉ Đức Chí Tôn). Vạn linh đã hiệp Chí Linh: Tức là quyền chúng sanh đã hiệp cùng quyền của Đức Chí Tôn- Đại Từ Phụ.

Quyền vạn linh: Là tất cả những điều luật mà chúng sanh đã quyết nghị và chấp nhận. Quyền này được Chí Tôn thuận cho ngang bằng quyền Chí Tôn. Trong Đạo Cao Đài, quyền Vạn linh được thể hiện qua ba hội: Hội Nhơn sanh, Hội Thánh và Thượng Hội.

Những điều luật do ba Hội đã quyết nghị, đó là Quyền vạn linh, được ngang bằng với quyền Chí Tôn.

Công bình thiêng liêng: Sự công bình nơi cõi Thiêng Liêng, tức là sự công bình của Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Sự công bình này có tính cách tuyệt đối. Thế gian là nơi chứa đầy những sự bất công, chính vì vậy mà nền Đại Đạo mới được khai sinh, đem đạo Nho ra để giáo hóa tất cả chúng sanh, hầu mang lại một xã hội công bằng, Thánh đức. Đức Chí Tôn có nói rằng: "Ngày nào các con còn trông thấy một điều bất bình ở đời này thì Đạo chưa thành vậy".

Kinh Xuất Hội có câu:

"Vạn linh đã hiệp Chí Linh,
"Hội xong cậy sức công bình Thiêng Liêng."

 

 

VẠN LINH SANH CHÚNG


E: All the souls.
F: Toutes les âmes.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Linh: linh hồn, chơn linh. Vạn linh là tất cả các chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ gồm đủ Bát hồn (vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn).

Chỉ chung tất cả những sự hiện hữu trên quả địa cầu này, nếu có sự sống của Thượng Đế thì gọi là Vạn linh sanh chúng. Vì Thượng Đế ban sự sống đến cho muôn loài vạn vật.

Diễn văn của Đức Hộ Pháp đọc tại Đền Thánh, ngày 15-8-Quí Dậu (1933): "Ta thử so ta cùng điểu thú thì thấy điều ấy rõ ràng. Vạn vật cũng có tánh linh nhưng mà ít hơn vì điểm linh quang rất nhỏ hơn mình, cơ tạo lại dụng phép Linh nầy đặng định phân hạng phẩm của chúng sanh. Cả những chất linh ấy tổng hiệp lại gọi là Vạn linh sanh chúng. Nhờ tánh linh ấy mà chơn linh mới soi đặng tận nơi tối tăm, thấy đặng sự mắt phàm không thể thấy. Hễ có kiến thì có thức, kiến thức là căn bổn của trí thức tinh thần. Muốn kiến thì nhờ Nhãn, muốn thức thì nhờ trí. Ấy vậy, trong tâm (gọi là linh tâm hay chơn linh) là Thiên Nhãn của trí thức loài người. Vì cớ mà Đại Từ Phụ dạy thờ Thiên Nhãn. Thiên Nhãn là hình trạng của lương tâm toàn thể, làm nền móng cho Cao Đài, nghĩa là Đền thờ cao trọng hay là Đức tin lớn của Chí Tôn tại thế nầy, y như hai câu thi của Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm (Victor Hugo): Thờ Thiên Nhãn là thờ tánh mạng mình và Chí Tôn, nghĩa là thờ lương tâm của toàn thiên hạ (Le culte de la Conscience)....

 

 

VẠN LOẠI

萬 類
E: All the kinds of creatures.
F: sortes de créatures.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Loại: loài, giống. Vạn loại là muôn loài, chỉ tất cả các vật trong Càn Khôn Vũ Trụ.

Thi văn dạy đạo có câu:

Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại,
Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.

 

 

VẠN PHÁP


E: All the principles (doctrines).
F: Tous les principes (doctrines).

I: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. I: sự lý, giáo lý, nguyên tắc. Vạn pháp là muôn pháp, ý nói tất cả các pháp.

Nghĩa rộng: Vạn pháp là tất cả mọi sự, mọi lý, mọi vật, dù thấy được hay không thấy được.

Nghĩa hẹp: Vạn pháp là tất cả giáo lý đã có từ trước tới nay.

Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có cho treo đôi liễn VẠN PHÁP trong những ngày Đại Lễ.

-

Vạn pháp viên dung hóa độ chúng sanh vô lượng vô biên vô số kiếp.

-

Tam tông phổ hiện tùy cơ thuyết giáo đại hùng đại lực đại từ bi.

Nghĩa là:

- Tất cả giáo lý của các Tôn giáo đều dung hợp hài hòa, giáo hóa và cứu độ vô số chúng sanh trong rất nhiều kiếp.

- Ba Tôn giáo lớn bày hiện ra khắp nơi, tùy cơ hội mà thuyết giảng giáo lý với hùng tâm đại lực và đại từ bi.

Đức Quyền Giáo Tông giáng họa thi của Hộ Pháp:

Vạn pháp đem khoe tài Hộ Pháp,
Cũng như đực rựa sánh kim câu.

 

 

VẠN PHÁP CUNG (Nhơn Hòa Động)

( )

1- Xuất xứ: Vạn Pháp Cung lập trong Nhơn Hòa Động tại chân núi Bà Đen ở về phía Nam, do chiến cuộc nên phải dời về đặt tại Xã Ninh Thạnh, phía Bắc, cách Tòa Thánh độ 3 km. Đức Hộ Pháp đi quan sát nhiều lần cảnh vật nơi chơn núi Điện Bà, nhận thấy chỉ có một chỗ là chơn núi Ông Văn có cảnh vật rất tốt, nhiều thanh khí, triền núi tạo thành ba bực Tam cấp, nên Đức Ngài quyết định lập Vạn Pháp Cung - Linh Sơn Động tại nơi đây. Phía dưới chỗ nầy có một nổng cát trơ trọi, Đức Ngài bảo: Vẹt nổng cát nầy thì có mạch nước rất tốt đủ dùng cho nhiều người. Mấy em phải làm đơn xin khai khẩn hoặc mua mấy thửa ruộng chung quanh đây thì ngày sau rất nên hữu dụng cho Đạo. Việc chuẩn bị xây cất Vạn Pháp Cung được Hội Thánh Phước Thiện tiến hành theo lịnh của Đức Hộ Pháp, từ ngày 16-2-Ất Mùi (dl: 9-3-1955), nhưng thời thế chuyển biến nhiều khó khăn, nội bộ của Đạo bị chia rẽ trầm trọng, chiến tranh lan tràn lên vùng Tây Ninh, Đức Hộ Pháp phải lưu vong sang Cao Miên, còn nơi Vạn Pháp Cung, các cơ sở của nhóm Đạo Núi bị mấy lần bom đạn, hư sập, nhóm Đạo Núi phải tản cư về xóm lò than ở xã Ninh Thạnh, lập cơ sở tạm cho tới nay.

2- Công cuộc tiến hành: Ngày 12-6-Mậu Dần (dl: 9-7-1938) Đức Hộ Pháp cùng vài vị môn đệ trong Phạm Môn đi vào chơn núi Điện Bà để tìm mua hay khẩn đất tạo dựng Sở Sơn Đình, làm ruộng và lập vườn đem huê lợi về cho Đạo.

Ngày 28-10-Giáp Ngọ (dl: 23-11-1954) Đức Hộ Pháp đi vào Sở Sơn Đình để định chỗ xây dựng một cơ sở Tịnh Thất lấy tên là Vạn Pháp Cung - Linh Sơn Động.

"Đồ án xây dựng Vạn Pháp Cung, Tịnh-Thất nam phái đã được Đức Hộ Pháp phê chuẩn và dạy rằng: Bần Đạo lập Trí Huệ Cung trước cho Nữ phái, sau Nam phái phân bì mà lo cất Vạn Pháp Cung trên núi. (Bản đồ Đức Hộ Pháp phê chuẩn giao cho ông "Kiệu" giữ, hiện nay bị thất lạc sau khi ông chết). Còn sơ đồ do phòng họa đồ (Lễ Sanh Ngọc Ba Thanh) vẽ theo sự phỏng định của Công Viện Phước Thiện (Đạo Nhơn Phạm Văn Út) không có sự phê chuẩn của Đức Hộ Pháp, coi như hình thức, vì Tịnh Thất phải được cất theo họa đồ đặc biệt phê duyệt (bản vẽ ngày 18-8-Ất Mùi 1955 là Đức Ngài còn ở Tòa Thánh).

3- Phương hướng tạo tác: Vâng lịnh Đức Hộ Pháp, Hội Thánh Phước Thiện ra thông tri tuyển mộ công quả tình nguyện tạo tác Vạn Pháp Cung theo số định ba ngàn... rồi vâng thỉnh giáo được Đức Thầy phê dạy: "Trừ ra số mấy đứa Đạo núi, còn lại bao nhiêu là số tuyển mộ, phải lựa cho kỹ người đủ khỏe mạnh đặng tạo tác Tịnh Thất. Sau sẽ còn 1000 nữa sẽ tới các vị lão thành." [Ngày 16-2-Ất Mùi (dl 9-3-1955)].

4- Phần điều hành: Sắp khởi công xây dựng trong tháng 2 năm Ất Mùi, Hội Thánh giao cho Thượng Thống Công Viện Phước-Thiện Đạo-Nhơn Phạm Văn Út, đương quyền Trưởng Tộc Phạm Môn, công cử Ban chưởng quản Vạn Pháp Cung, ông Đạo Nhơn Nguyễn-Văn-Gia đảm nhiệm Chưởng quản ban tạo tác. Về nhân số và công thợ đã tuyển mộ xong, sắp khởi công động thổ, kế gặp ngày Đạo hận 20-8-Ất Mùi (1955), Đức Hộ Pháp xuất ngoại sang Tần quốc thuộc Kim Biên Tông Đạo vào đêm 4 rạng 5-giêng-Bính Thân (1956) làm cho mọi việc Đạo bị gián đoạn, từ đó công cuộc tạo dựng Vạn Pháp Cung phải đình hoãn lại mãi cho đến ngày nay.

5- Cực Lạc Thế Giới trên núi Bà: Bài tường thuật chuyến đi núi Bà của Đức Hộ Pháp lần thứ nhứt ngày 12-6-Mậu Dần (dl 9-7-1938) xác định vị trí lập Cực lạc Thế giới: "Đêm 12-6-Mậu Dần, Đức Hộ Pháp thức dậy sớm khoảng 4 giờ sáng, mặc đồ bà ba trắng, dẫn xe đạp ra cổng Hộ Pháp Đường mà Bảo Thể giữ cổng không hay biết. Đức Thầy lên xe đạp chạy ra cửa Hòa Viện, dẫn xe qua cổng, bên ngoài có quí ông: Nguyễn Văn Gia, Nguyễn Văn Lư và Võ Văn Đợi (Đại) đứng chờ sẵn, ông Võ Văn Đợi ở họ đạo Mỹ-Tho về Tòa Thánh thăm Đức Thầy, nghe Đức Thầy định đi núi nên ông xin theo hầu Thầy. Lúc lên đường, trời sắp sáng. Thầy trò cỡi xe đạp đi ra mé Tây Ninh, rồi tẻ qua ngã Năm Dồ, đi thẳng lên núi. Đến sáng ra, trong Tòa Thánh mới phát giác không biết Đức Thầy đi đâu....Khi Thầy trò đến chân núi, tới láng rừng có đóng bảng cấm, Đức Thầy bảo đem xe đạp bỏ trong đó, rồi Đức Thầy dẫn anh em băng qua vườn chuối, đến chân núi, Đức Thầy leo theo triền núi, anh em cũng đi theo. Khi lên được một đỗi, gặp một tảng đá lớn, dưới tảng đá có một cái hang kêu là hang Gạo. Đức Thầy chun qua hang đá, rồi leo lên một tảng đá khác, nơi đây mát mẻ, Đức Thầy ngồi nghỉ mát. Lúc đó, ông Võ Văn Đợi (đạo hiệu Linh Đoán) đem võng ra giăng cho Đức Thầy nằm nghỉ, rồi ông chạy xuống cầu đá, chỗ bến xe gần Chùa Trung mua nước dừa đem lên cho Đức Thầy uống. Đức Thầy nói: Nơi đây sau nầy anh em bây về ở trên ba ngàn người, mà cũng có thể hơn nữa và chỉ xuống mé dưới chân núi: nơi đây chắc có mạch nước, đâu mấy em xuống coi thử, thì anh em leo xuống dưới, vạch cát lên quả nhiên có mạch nước (mạch nước đó hiện giờ là Sở số 1). Lúc đó Đức Thầy kể chuyện, ông Đầu Sư Thái Thơ Thanh tạo Cực Lạc ở dưới đó là sái Thiên thơ, cho nên ảnh làm không thành, mà Cực Lạc Cảnh ở trên núi nầy.

Cực Lạc Thế Giới có Lôi Âm Tự là nơi tu hành của các bậc chơn tu, là con đường giải thoát. Giữa đỉnh cất Kim Tự Tháp tượng trưng cho Lôi Âm Tự tại thế, còn dưới chân núi là dinh thự Vạn Pháp Cung. Sau nầy mấy em có xin việc gì thì cầu nguyện Đức Diệu Võ Tiên Ông, Ngài đắc lịnh trấn nhậm núi nầy, cai quản các vị Sơn Thần, thay cho Bà Lê Sơn Thánh Mẫu đến trấn nhậm vùng thổ địa. Đến 16 giờ, Đức Thầy ra lịnh trở về Tòa Thánh. Thật là dịp may hay có định duyên hạnh ngộ đối với ông Võ Linh Đoán, trước kia được nghe Đức Thầy nói: "Không biết có đứa Phạm Môn quèn nào lên núi lập cho Bần Đạo một vườn nho." Khi nghe câu nói nầy trong dịp lễ Khánh thành Nhà Bảo Cô, ông đảm nhận Đầu Họ Đạo từ Rạch Giá về Tòa Thánh tham dự. Nay lại được nghe nói: Cực Lạc Thế Giới ở trên núi, có đủ Am Vân, Tịnh Cốc, tất cả những điều đó được khắc sâu vào tâm não và chính đó là điểm hành trình lên núi sau nầy của ông.

6-Tìm hiểu Giáo Thiện Võ văn Đợi: Sau ba năm đi Đầu Họ Đạo rồi làm gì? Trong số 72 môn đệ Phạm Môn được thọ giáo với ân sư Hộ Pháp, có ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi đáng quan tâm về gương đạo hạnh của ông. (Xem Võ văn Đợi)

 

 

VẠN PHÁP TAM TÔNG

Ðôi liễn nầy của Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung viết treo lên trong ngày Ðại lễ Khai Ðạo tại Thánh Thất tạm tại Chùa Gò Kén Tây Ninh ngày l5-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926).

Câu đối về Di-Lạc ở trước là của Đức Chí-Tôn ban cho là một sự quyết định của quyền Thiên thượng, dưới là câu này của Đức Quyền Giáo Tông viết là quyền của Thiên hạ. Đấy là một cặp Âm Dương: chứng tỏ Trời người đồng trị: Người trị xác, Trời trị hồn.

-

VẠN PHÁP viên dung hóa độ chúng sanh vô lượng vô biên vô số kiếp.

-

TAM TÔNG phổ hiện tùy cơ thuyết giáo đại hùng đại lực đại từ bi.

Giải thích:

Câu 1: Tất cả giáo lý của các Tôn giáo đều tròn đầy và dung hòa, giáo hóa và cứu độ vô số chúng sanh trong rất nhiều kiếp.

(Vạn pháp: tất cả giáo lý của các Tôn giáo. Viên dung: tròn đầy viên mãn. Hóa độ: giáo hóa và cứu giúp. Chúng sanh: ở đây chỉ nhơn sanh. Vô lượng: nhiều lắm, không lường hết được. Vô biên: không giới hạn. Vô số: số lượng nhiều lắm, không đếm hết. Kiếp: một đời sống).

Câu 2: Ba Tôn giáo lớn hiển hiện ra khắp nơi, tùy cơ hội mà thuyết giảng giáo lý. Cả một sự oai hùng, sức mạnh cũng như đức từ bi đều lớn rộng.

(Tam tông: ba Tôn-giáo lớn là Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo. Phổ hiện: bày và hiện ra rõ ràng. Tùy cơ: tùy theo cơ hội. Thuyết giáo: thuyết giảng giáo lý. Đại hùng: oai hùng lớn. Đại lực: sức mạnh lớn. Đại từ bi: đức từ bi lớn).

Đại ý: Hai câu liễn nầy ý nói: Ngày nay, Đạo Cao Đài mở ra với Tôn chỉ Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi, tức là gồm cả Vạn pháp tu, sẽ giáo hóa và cứu độ hằng hà sa số chúng sanh trong rất nhiều kiếp sống.

Đức Hộ Pháp nói: "Các vị Giáo-Chủ lập giáo đều nương nơi một tinh thần của họ, tinh-thần hữu-định ấy có căn nguyên trong tinh thần của toàn nhơn-loại. Họ chỉ lấy một thuyết trọng yếu đặng làm triết-lý Đạo-Giáo của họ, tỷ như:

- Thánh-Giáo Gia-Tô lấy TÂM làm căn bản,
- Lão-Giáo lấy THÂN làm căn bản,
- Hồi-Giáo lấy TÍN-NGƯỠNG làm căn bản,

Mỗi Giáo-lý đều có sở-năng làm trung-tâm-điểm đặng vi-chủ tinh-thần của con người trong chỗ khuyết điểm của họ. Có một điều Bần-Đạo xét đoán lấy làm sợ sệt hơn hết là nền Tôn-Giáo của Đức Chí-Tôn lấy Tinh Thần làm căn bản. Hỏi vậy, tinh-thần của nhơn-loại hiện ở dưới quyền áp bức của văn minh vật-chất, tinh-thần ấy có đủ quyền-năng tự vệ lấy họ chăng? Đó là con đường trở về với Thượng Đế mà Đạo Cao Đài hân hạnh được gọi Ngài là Đức Chí-Tôn, Đại-Từ Phụ trong nguơn hội này mà thôi."

Kinh rằng:

"Tiên Thiên, Hậu Thiên. Tịnh dục Đại-Từ-Phụ.
"Kim ngưỡng cổ ngưỡng. Phổ tế tổng phápTông."

 

 

VẠN PHÁP QUI TÔNG

Vạn pháp: muôn pháp. Pháp là giáo lý của một nền tôn giáo. Vạn pháp là tất cả giáo lý của các Tôn giáo trên thế giới, tức là của Ngũ Chi Đại Đạo. Vạn pháp qui tông tức là Ngũ Chi phục nhứt, là thời kỳ Đức Chí Tôn qui tụ tất cả mối đạo, thống hiệp làm một tạo thành một nền Đại Đạo, gồm 5 bực tiến hóa của chơn linh: Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật.

 

 

VẠN QUỐC

萬 國
E: All nations.
F: Toutes les nations.

Thầy dạy: "Đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu. Chẳng khác nào khi trước, Nhơn đạo chưa mở thì đã có Châu Công truyền trước.

Thánh đạo Jésus chưa ra đời thì đã có Moise, Élie, Gérimie, Saint Jean Baptiste.

Ðạo Tiên Nguơn Thỉ chưa ra đời thì có Hồng Quân Lão Tổ, Lão Tử, Thông Thiên Giáo chủ truyền đạo.

Phật Thích Ca chưa ra đời thì đã có Nhiên Ðăng Cổ Phật và Brahma truyền đạo.

Thầy chưa giáng cơ lập đạo tại nước Nam, chớ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, dùng huyền diệu nầy mà truyền đạo cùng vạn quốc.

Đức Thượng Phẩm nói:"Về việc lập quốc cho nòi giống Việt-Nam, mặc dầu địa-thế của nó nhỏ, nhưng sẽ được các liệt cường trợ giúp cho nó thành một nước độc-lập hoàn-toàn mà lại còn là trụ cốt thái-bình cho vạn-quốc nữa."

Đức Hộ Pháp nói: "Lễ Nhạc do nơi âm thinh, bởi thế nên chúng ta thấy Vạn Quốc giờ phút nầy, dầu văn minh thế nào mà hiểu đặng nền tăng tiến của Trung-Hoa thì đều khen ngợi. Từ thử đến giờ, trên mặt địa cầu này, có nước Tàu là do Đức Khổng-Phu-Tử chỉnh đốn hoàn bị nên Lễ Nhạc có phương thế làm môi giới, làm khí cụ cho toàn vạn quốc đương buổi nầy. Lấy tư cách lễ độ làm ngoại giao, tưởng chắc không nghịch nhau, chúng ta thấy tấn tuồng của vạn quốc họ đều thất lễ ấy, mà thế giới khởi chiến tranh."

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện để rước ngoại bang,
Phước Thiện sản nghiệp bảo toàn thế gian.
Phước Thiện gầy dựng giang san,
Cả chư vạn quốc đồng sang phục tùng.

 

 

VẠN QUỐC LIÊN MINH

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Quốc: quốc gia, nước. Vạn quốc là tất cả các quốc gia trên thế giới.

Hội Vạn Quốc: một tổ chức gồm đại diện tất cả quốc gia trên thế giới, để giải quyết các bất đồng xảy ra giữa các nước bằng sự thương thuyết hòa bình.

Hội Vạn Quốc về sau đổi tên thành Hội Quốc Liên (Vạn quốc liên minh), và ngày nay được gọi là Liện Hiệp Quốc. Trụ sở đặt tại thành Phố New York (Nữu Ước) của nước Mỹ.

Tôn Sơn giáng cơ ngày 31-12-1933 dạy rằng:

"Vạn quốc liên minh nói rằng: "Dân nước nào đã đủ trình độ tự do tự lập thì chánh quốc phải phóng xá, chẳng đặng cầm trong vòng nô lệ nữa. Đức chỉ mong cho dân các thuộc địa kêu nài thì trương cờ nghĩa vụ lên mà chiêu dụ? Vậy thì Đạo Cao Đài sẽ thuận hay nghịch cùng Pháp Triều? Thuận thì làm chứng cho Pháp Triều vĩnh thủ còn nghịch thì làm nội ứng cho Đức Quốc".

Đơn tương dị năng tước phược,
Đoàn phong mặc cảm bao la.
Tượng côi để bắt đem cột trói,
Chòm ong lưới nọ khó bao trùm.

 

 

VẠN QUYỂN THIÊN KINH

Đây là điều 5 trong 10 điều Khuyến tu của Đức Chí-Tôn:

Ðiều thứ năm: Quyết không hờn giận,
Ghét ganh chi cho bận lòng mình;
Con xem vạn quyển Thiên Kinh,
Hiền nhân quân tử rộng tình ví câu.
Muôn việc xảy bắt đầu phẫn nộ,
Là nguyên nhân thống khổ ly tan;
Chơn truyền Pháp chánh Ðạo Vàng,
Tập xong chữ Nhẫn Niết Bàn không xa.

 

 

VẠN SỰ KHỞI ĐẦU NAN


E: The beginnings is difficult in any work.
F: Le début est difficile dans tout travail.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Sự: việc. Khởi đầu: lúc bắt đầu. Nan: khó. Vạn sự khởi đầu nan: muôn việc khởi đầu đều khó khăn.

Bất cứ việc gì, cái khó khăn là ở buổi đầu, công việc còn mới lạ, chưa quen, chưa có kinh nghiệm giải quyết. Làm lâu ngày thì quen dần, nhờ rút tỉa kinh nghiệm mà trở nên tài giỏi, lúc đó thấy công việc như là dễ dàng.

 

 

VẠN SỰ NHƯ Ý


E: Everything to your liking.
F: Tout comforme aux désirs.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Sự: việc. Như ý: được như ý muốn. Vạn sự như ý là muôn việc đều được như ý muốn.

Đây là câu chúc tụng thường dùng trong những ngày Tết, hay chúc mừng Tân gia. Những câu chúc khác tương tự:

Vạn sự đại cát: 萬事大吉 Mọi việc rất tốt.

Vạn sự hanh thông: 萬事亨通 Mọi việc hanh thông.

 

 

VẠN SỰ VIẾT VÔ

Vạn sự là muôn việc (chỉ số vệc rất nhiều không thể đếm được). Viết là nói rằng. là không. Muôn việc trong đời sau cùng rồi cũng trở về không. Có nghĩa rằng không một điều gì còn tồn tại trong đời theo thời gian cả.

Đây là phần đầu của câu liễn đối do Ngài Bảo Pháp viết ra đặt trên Thuyền Bát-Nhã. Lúc sanh tiền, thú vui của Ngài Nguyễn Trung Hậu (Sau đắc phong Bảo Pháp) thích làm thơ và đánh cờ tướng là những thú vui thanh cao của người trí thức, thượng lưu lúc bấy giờ. Chính Ngài Nguyễn Bảo-Pháp có biệt tài về làm liễn đối được Đức Lý Đại Tiên khen tặng là: Ai muốn xin liễn hãy tìm Hậu. Chính hai câu liễn trên Thuyền Bát Nhã do Ngài viết ra và vẫn sử dụng đến ngày giờ này.

Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức có thuật lại "Tôi còn nhớ lúc nọ, Đức Lý Đại Tiên giáng cơ khen tặng và nói rằng: Ai muốn xin liễn thì xin nơi Hậu".

Ban đầu Ngài Bảo Pháp viết đôi liễn như vầy:

- Vạn sự viết vô nhục thể ký qui tam xích thổ.
- Thiên niên tự hữu linh hồn trực đáo Cửu Trùng Thiên.

Nghĩa là: Muôn việc đều không, xác thịt trả về ba tấc đất. Ngàn năm tự có, linh hồn thẳng đến chín từng không. Hai câu liễn nầy rất hay, đối rất chỉnh, nhưng khi dâng lên Đức Lý Giáo Tông thì Đức Lý chỉnh lại đoạn sau, ý tứ lại càng cao-kỳ, tuyệt diệu hơn nữa:

- Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ.
- Thiên niên tự hữu, linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên.

Nghĩa là:

Muôn việc đều không, xác thịt đất sanh hoàn lại đất.
Ngàn năm tự có, linh hồn Trời hoá trở về Trời.

 

 

VẠN TƯỢNG

萬 象
E: All aspects.
F: Tout les aspects.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Tượng: hình trạng. Vạn tượng: muôn hình trạng của vạn vật.

Vạn tượng đồng nghĩa: Thiên hình vạn trạng: ngàn hình muôn vẻ.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Thập Thiên-Can bao hàm vạn tượng,
"Tùng Địa-Chi hóa trưởng càn-khôn."

 

 

VẠN TRƯỢNG

萬 丈
E: Very long.
F: Très longue.

Vạn: Muôn, mười ngàn, chỉ một số nhiều lắm. Trượng: đơn vị đo bề dài. Một trượng ta bằng 4 thước mộc, bằng 1,70 mét. Vạn trượng là chỉ một khoảng cách rất lớn, rất dài.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Vạn trượng then gài ngăn Bắc Ðẩu,
Muôn trùng nhịp khảm hiệp Nam Tào.

 

 

VẠN VẬT


E: Nature.
F: Nature.

(Vạn: còn nói là muôn, tức là mười ngàn, vật là vật loại, chỉ rộng bất kỳ thứ gì, trước là hiểu về hữu hình, sau là hiểu về vô hình). Vạn vật là chỉ mọi thứ trong trời đất, muôn vật và người đều được bẩm thụ một điểm Chơn linh của Chí Tôn phân tánh, song mỗi vật đều có một thể hữu hình khác nhau, tùy theo trình độ tiến hóa của từng Chơn linh đó.

- Con người, so với muôn vật thì có tánh linh hơn hết, vì có đủ Tam hồn: Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn.

- Thảo mộc thì chỉ có một Sanh hồn mà thôi.

- Thú cầm được hai hồn: Sanh hồn và Giác hồn.

Hơn nữa một tế bào tinh trùng thì có con số giống nhau, nghĩa là gồm một nguyên tử Dương và 9 nguyên tử Âm đối với người cũng như con vật. Do vậy mà sự đói ăn khát uống, nhu cầu truyền giống như nhau. Duy ở con người hơn về phần đạo đức, nghĩa nhân, phẩm cách mà thôi.

"Vạn vật cũng có ảnh hưởng trong Hội Nhơn Sanh vì người là Chúa của Vạn vật. Xét kỹ thì Thầy công bình không xiết kể và lo việc hóa sanh không ngằn không tận".

Kinh Vào Ăn Cơm có câu:

"Giữa vạn vật con người một giống,
"Phải uống ăn nuôi sống thây phàm."

 

 

VAY TRẢ

Kinh Giải Oan có câu:

"Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,
"Mới gây nên nhân quả nợ đời.
"Rảnh mình đâu đặng thảnh-thơi,
"Thiên cung lỡ lối chơi-vơi cõi trần."

 

 

VẠY VÒ

E: Treacherous.
F: Traître.

Vạy: Cong, không thẳng, đồng nghĩa: Tà. : làm cho nhầu nát. Vạy vò, đồng nghĩa Vạy tà, là gian dối và xảo trá.

Kinh Sám Hối:

"Việc chi cũng có chánh tà,
"Làm điều phải nghĩa, lành xa vạy vò."

 

 

VẠY TÀ

E: Perverse.
F: Pervers.

Vạy: Cong, không thẳng, đồng nghĩa: . Tà: đồng nghĩa Vạy: không chánh. Vạy tà hay Tà vạy là không ngay thẳng, không chơn chánh, tức là gian dối và xảo trá.

Từ Lâm Tự: 19-10-Bính Dần (dl: 23-11-1926).

Thầy dạy: "Sự xảy ra nơi Thánh Thất, tuy là nơi mối Ðạo chậm trễ, nhưng cũng do nơi lòng tà vạy của nhiều đứa mà ra, vì tâm trung chánh đáng thì làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của Tà quái xung nhập. Chi chi cứ tưởng có Thầy giúp mà lập xong nền Ðạo cho các con là đủ. Thầy cũng có phép răn trị kẻ vạy tà, các con duy có trông cậy nơi Thầy, bước đường cứ thủng thẳng đi lần tới, đừng gấp quá, mà cũng chớ thối lui, thì một ngày kia sẽ đặng toại kỳ sở nguyện. Thầy ban ơn cho các con."

 

 

VĂN BAN VÕ BÁ


E: The civilian and military mandarins.
F: Les mandarins civils et militaires.

Văn ban là hàng thứ bực của quan Văn, tức là những vị quan lớn nhỏ coi về chính trị, văn hóa, giáo dục...

Võ bá là trăm quan võ, tức là các quan lo về võ bị, quốc phòng, an ninh trật tự.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Giúp dân hưởng chữ thái bình,
"Văn ban võ bá triều đình đặc an."

 

 

VĂN ĐÀN

文 壇
E: Literary club.
F: Le cénacle littéraire.

Văn: Vẻ đẹp, lời văn, có học vấn, lễ phép. Đàn: nơi tụ họp đông người. Văn đàn là nơi các nhà văn tụ họp để bàn luận văn học.

 

 

VĂN HÀO

文 豪
E: Great writers.
F: Le grand écrivain.

Văn: Vẻ đẹp, lời văn, có học vấn, lễ phép. Hào: tài trí hơn người. Văn hào là người có danh tiếng lừng lẫy trong làng văn.

Thí dụ: Văn hào Nguyễn Du, Văn hào Victor Hugo.

 

 

VĂN HIẾN (VĂN MINH)

文 獻
E: Civilisation.
F: Civilisation.

Văn: Vẻ đẹp, lời văn, có học vấn, lễ phép. Hiến: người tài đức. Văn hiến, nghĩa đen là sách và người tài đức, nghĩa thường dùng là: truyền thống văn hóa tốt đẹp lâu đời.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Hội Thánh Cửu Trùng Ðài bảo vệ văn hiến tôn giáo, Hội Thánh Phước Thiện cứu khổ, còn có chỗ nào hay hơn nữa!

 

 

VĂN HÓA


E: The culture.
F: La culture..

Văn hóa: Văn là vẻ đẹp, là văn minh; hóa là biến đổi, Ý là giáo hóa. Nghĩa đen, văn hóa là biến đổi trở nên tốt đẹp. nghĩa tổng quát, văn hóa là tất cả những công trình vật chất và tinh thần của con người đã sáng tạo ra để làm cho cuộc sống được tốt đẹp hơn. Ở đây, văn hóa là văn chương để giáo hóa con người.

Sự giáo hóa theo điều văn-minh của một nước, một chế độ hay trào-lưu tư-tưởng trong một thời-kỳ nào đó, nghĩa là những lề-lối trong sự phát-triển về tinh-thần, đạo lý, nghệ thuật, phong-tục… phản ảnh ra trong đời sống của loài người, của một dân tộc đã biết tổ-chức trong một thời-kỳ nhất-định do những điều kiện trong thời-kỳ đó gây ra. Mỗi nước ở về mỗi thời-kỳ tùy theo điều kiện chế-độ xã hội của nước ấy vào thời kỳ mà văn-hóa được tốt đẹp hay không. Nước Việt Nam trước kia một phần đã theo văn hóa Tàu hay Trung Hoa, ngày nay một phần ảnh-hưởng theo văn-hóa Tây-Phương. Xã-hội phong kiến có nền văn hóa riêng của phong-kiến, cũng như xã-hội phú-hào ngày nay có một văn-hóa mà ta có thể gọi là văn-hóa phú-hào (culture bourgeoise); hay văn-hóa phát-xít (culture maxiste). Văn-hóa cũng tùy sự phát-triển hay bị suy đồi theo.

Mở đầu Nữ Trung Tùng Phận, Bà Đoàn viết:

Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.
Gươm thư giúp sức gươm hùng,
Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

 

 

VĂN HÓA NHO PHONG

(Xem vần N)

 

 

VĂN HỌC


F: Littérature.

Văn học Là môn-học về văn-chương, nghiên cứu về thơ văn, thi phú.

 

 

VĂN MIẾU

Văn miếu hay Văn-Thánh-Miếu là tòa nhà dựng lên để làm Đền thờ Đức Khổng Tử và các Môn đệ của Ngài cùng với các tiên Hiền, Tiên Nho qua các thời đại.

Có 4 vị Thánh cùng được phối hưởng cúng tế với Đức Khổng Tử gọi là Tứ Phối.

- Phục Thánh Nhan Tử (Nhan Hồi).
- Tông Thánh Tăng Tử (Tăng Sâm).
- Thuật Thánh Tử Tư (Khổng Cấp).
- Á Thánh Mạnh Tử (Mạnh Kha).

Trong số 3.000 Môn đệ của Đức Khổng Tử, có 72 vị tài giỏi vượt trội gọi là Thất Thập Nhị Hiền. Trong số 72 ông Hiền có 10 người cao tuổi gọi là Thập Triết.

 

 

VĂN MINH

文 明
E: Civilisation.
F: Civilisation.

Văn: Vẻ đẹp, lời văn, có học vấn, lễ phép. Minh: sáng. Văn minh là trình độ phát triển cao, sáng đẹp của một nền văn hóa về vật chất và tinh thần của một dân tộc.

Thuở Đức Hộ Pháp còn sanh tiền Ngài cũng lo ngại cho loài người vì sự văn-minh tuyệt đỉnh bị "giục thúc bởi phương sống vật chất, họ tìm hạnh phúc trong cái sống vật hình, vì cớ Đạo-giáo mất quyền". Ngài vấn nạn Đức Lý Giáo Tông:

"Đương thế kỷ hai mươi này văn-minh cực điểm đã đi quá cao rồi, đem đạo-đức tinh thần làm thuyết cứu thế sợ chẳng có kết quả. Tôi công nhận rằng trước hai ngàn năm có lẽ nhơn loại còn bảo thủ được khối thiên lương, biết xu hướng đạo-đức; tinh thần đạo đức buổi ấy dường như gặp một mảnh ruộng có nhiều phân nên hột giống mới mọc đặng, còn thế kỷ hai mươi này là thời-kỳ văn-minh vật chất, nếu đem đạo-đức ra làm môi giới cứu vãng tình thế cho đời e vô hiệu quả. Đức Lý Ngài than, nói quyết đoán rằng: Theo lẽ Hiền Hữu nói nhơn loại ngày giờ này không cần đạo-đức có phải?

Bần-Đạo trả lời: Thật vậy! Nhơn-loại buổi này không cần đạo-đức, chỉ tìm hạnh phúc nơi văn-minh khoa học cũng có thể được chứ?

Ngài cười: Văn minh khoa học chỉ nuôi phần xác thịt mà thôi, còn phần linh hồn chắc-chắn họ sẽ đói! Bần-Đạo vấn nạn tiếp: Tại sao Ngài nói linh hồn đói? Linh-hồn có ăn sao mà đói? - Phải! Phải có vật-thực đặng bảo dưỡng nó như thi hài vậy, nếu không vật thực nó sẽ tiều tụy rồi chết mà chớ.

Bần Đạo lại hỏi: Đạo-đức tìm nơi đâu mà có đặng? -Tức nhiên tìm nơi cửa Thiêng-liêng hằng sống mới có, mà tìm nơi cửa Thiêng-liêng hằng sống tức là cửa Đạo. Buổi ăn của linh hồn là buổi ta vô Đền thờ cúng đấy! Ta không thấy mùi của nó tức chưa hưởng được, tưởng vô Đền thờ là bị luật buộc, không dè mỗi phen đi Cúng tức là cho linh-hồn ăn vậy! Bần Đạo tưởng thấy trong trí cần phải bắt buộc cả thảy đi cúng. Vì trong thâm tâm Bần Đạo định mấy người chưa biết mùi của nó, cũng như kẻ nhà quê đưa cho gói bánh ăn chẳng được, rồi khi đã biết mùi rồi bán cả áo quần mà mua ăn." (Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp II/152)

 

 

VĂN MINH DUY VẬT

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Ôi! Hạng trí thức nhơn sanh ấy, khi xem đặng con đường nguy hiểm của văn minh duy-vật dong ruổi thẳng tới chừng nào thì lại càng âu lo khủng khiếp cho tương lai nhơn loại buổi sau kia chừng nấy. Ðời chẳng khác nào như chiếc thuyền chịu sóng gió ba đào lênh đênh khổ hải. Những khách giang hồ của tạo công ai lại chẳng phập-phồng rơi châu đổ ngọc. Trong cơn khổ não tâm hồn ngẫu nhiên lại gặp cứu tinh giải nạn là Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ Ðộ của Thượng-Ðế chấn hưng Tôn giáo".

 

 

VĂN MINH ĐIỆN

Đêm 16-8-Ất Sửu (1949) Nhứt Nương giáng tại Hiệp Thiên Đài Đền-Thánh cho 4 câu đố thai.

Hoa Hải Đường như dường trổ muộn,
Ai chờ mong đặng hưởng thiên lương.
Hoa thơm tô đẹp nghiệp đường,
Ai toan đổ lụy đoạn trường vì đâu?

Xuất cổ danh nhân. Đáp: Đường Minh Phi

Đêm 16-8 Canh Dần (1950) Nhứt Nương giáng tại Hiệp Thiên Đài Đền Thánh cho 2 câu đố thai:

"Bông chi quí báu vô ngần,
"Chí Tôn phải giáng cõi trần đặng xem".

Xuất danh hoa. Đáp: Bông Quỳnh Hoa

Đêm 15-8-Bính Thân (1956) Nhứt Nương giáng tại Hiệp Thiên Đài Đền-Thánh cho 2 câu đố thai:

"Gìn tâm giá trọng nên khuôn,
"Giữa Trời muốn đến cứ tuông mà vào".

Xuất vật dụng. Đáp: Cái cầu khỉ

Bà còn cho hai câu đố như sau:

"Đêm trường ngắm bóng trăng thanh,
"Giá gương giữ kín để dành tri âm".

Xuất nhứt hoa. Đáp: Bông Quỳnh Hoa

"Nhằm vào giờ Tý phô trương,
"Chẳng cho mắt tục chán chường ngắm xem".

Xuất nhứt hoa. Đáp: Bông Quỳnh Hoa

ĐOÀN THỊ ĐIỂM

Em chào chư Đại huynh.

Em để lời cám ơn Lê Chơn-Quân vì em lo đất Bắc. Cười... Em nói thố lộ, xin Lê Chơn-Quân miễn phiền. Thiếp hèn lâu quên thi phú văn từ rất nhiều, nhưng nay vì có lịnh Tôn Sư của thiếp là Thất Nương giao Văn-Minh-Điện, nên gắng tận tâm lo cho ra vẻ đẹp, xin chư đại huynh giúp sức.

Cười… Thiếp có điều ngại ngùng muốn xin lịnh chư đại huynh, nhưng chẳng biết có vui lòng nạp lời chăng?

Hộ Pháp: -....

- Em muốn những thai đề chi chỉn để danh chư đại huynh đứng mà thôi. Cười... Cười... Tiếp Đạo giỏi về phương ấy lắm nên thiếp cậy làm Giám thai, Khai Pháp làm Giám trường, Tiếp Thế làm Giám khảo. Cười…

* Ra đối để Tiếp Đạo đứng tên:

Sơn hà hữu ảnh tri sanh giác,
Xã tắc vô ngôn thức tuyệt hưng.
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.

Xuất vật dụng. Đáp: Cái khổ vải.

* Thai cho Tiếp Thế đứng:

Tỏ soi kia cũng là đèn,
Dầu chẳng vẹn tuyền cũng tiếng là trăng.

Xuất vật dụng. Đáp: Đôi đồng xứng.

* Thai cho Bà Nữ Chánh Phối Sư đứng:

Ai kêu ai hú bên sông,
Em đương vá áo cho chồng em đây.

Xuất vật dụng. Đáp: Cặp mắt kiếng.

* Thai cho ông Quyền Thái Đầu Sư đứng:

Đèn ai leo lét bên sông,
Hay đèn mẹ chồng đi rước nàng dâu.

Xuất vật dụng. Đáp: Cái cầu khỉ.

Giáo Tông Đường, 15-8-Ất Hợi (dl 12-9-1935)

ĐOÀN THỊ ĐIỂM

Chào lịnh Hộ Pháp và Lê Chơn-Quân.

Em lấy làm tiếc cho cuộc vui nầy, vì sanh hoạt chi lịnh mà bất minh quang nguyệt điện. Em cũng y phận sự cho thai, tùy ý chư huynh định người thu văn.

-

Công chàng đạp tuyết vày sương,
Ngày nay thiếp hưởng một đường vinh huê.

Xuất quả. Đáp: Trái mầng quân.

-

Ba phen lên ngựa mà về,
Cầm cương kéo lại xin đề câu thơ.
Câu thơ ba bốn câu thơ,
Câu đợi câu chờ câu nhớ câu thương.

Xuất quả. Đáp: Trái mãng cầu.

-

Dưới đời ai tốt bằng sen,
Quan yêu dân chuộng, rã bèn cũng hư.

Xuất nhứt tự. Đáp: Chữ CÙN.

-

Đã hay lộng lộng phép Trời,
Mà chưa ghê sợ, buông lời lộng ngôn.

Xuất vật dụng. Đáp: Cái khung cửi.

-

Linh đinh một chiếc thuyền tình,
Mười hai bến nước gởi mình vào đâu.

Xuất vật dụng. Đáp: Cái vựa lúa.

-

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Xuất nhứt tự. Đáp: Chữ DỊU.

-

Khát nước cầm gáo mà trông,
Chàng như chim nọ sổ lồng bay xa.

Xuất quả. Đáp: Trái đào.

 

*Đối :

- Trượng phu tri đạo nghĩa,
- Tục tử hám tài tình.

*Đối :

- Thanh tâm tri diệu lý,
- Trược tánh thức trường sầu.

Cửu Nương Diêu Trì Cung giáng cơ cho Thài Văn Minh Điện:

-

Muốn đặng làm vật hy sinh,
Giữ tâm trong sạch, giữ tình nồng thương.

Xuất nhứt tự. Đáp: chữ Khiết.

-

Giữa trời treo rọi tấm gương trong,
Soi khắp thế gian sáng tỏ lòng.
Cỗi bỏ tối-tăm tầm mắt diệu,
Trung tuần tháng tám thế vui thông.

Xuất nhứt vật. Đáp: Mảnh trăng thu.

-

Khiết trinh trau sửa lòng phàm,
Quét tan trược chất hưởng đàng căn tu.

Xuất vật dụng. Đáp: Cây Phất Trần.

Đức Thượng Phẩm khi còn sanh tiền, Ngài cũng góp vào niềm vui tinh thần trong thú Văn-Minh-điện, nhân dịp Lễ Hội-Yến Diêu-Trì-Cung, bằng cách ra Thai cho thính giả tùy sức đoạt giải thưởng:

-

Bụi hồng đã lấm Chơn linh,
Lấy chi phủi sạch tâm tình mà tu?

Xuất vật dụng. Đáp: Cây Phất Trần.

-

Cái chi đựng cả Càn Khôn?
Lại đưa Bát phẩm Chơn hồn siêu thăng?

Xuất vật dụng. Đáp: Bình Bát-Vu.

-

Bốn mùa chỉ lấy có hai,
Viết thành Triết lý làm bài Trị dân?

Xuất vật dụng. Đáp: Bộ Xuân Thu.

*Với Đức Hộ Pháp thì cơ khảo Đạo lại đến với Đức Ngài nữa. Nhưng Đức Ngài đã biết trước tất cả và sẵn sàng chờ đợi, cũng như chờ đợi sự đi đày ở lần trước vậy. Trước đó, Đức Hộ Pháp đã chuẩn bị cho cuộc lễ Hội-Yến Diêu-Trì-Cung vào ngày 15 tháng 8-Ất Mùi thật chu đáo. Buổi tối ngày 16 tại sân Đại-Đồng-xã có tổ chức Văn Minh Điện để các bậc Chức sắc cho thay đố, nhưng sự thực Đức Ngài chỉ mượn 4 câu ca dao để làm câu thay, ngụ ý muốn nhắn nhủ những lời tâm huyết nhất cho các Môn-đệ của Đức Chí Tôn biết thời buổi nguy vong sắp đến mà không thể tỏ thật bằng lời, nên mượn thay đố:

Câu 1:

"Ví dầu cầu ván đóng đinh.
"Cầu tre lắt lẻo gập-ghình khó đi".

(xuất nhứt vật) Đáp: "Cái thang"

Câu 2:

"Bậu nghe ai dỗ ai dành,
"Chanh chua Bậu chuộng, cam sành Bậu chê".

(xuất nhứt vật) Đáp: "Cái trách"

Câu 3:

"Một mai thiếp có xa chàng,
"Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin".

(xuất nhứt vật) Đáp: "Cái ly"

Câu 4:

"Tưởng rằng nghĩa mặn tình nồng,
"Nào hay tay ẵm tay bồng vai mang".

(Xuất nhứt vật) Đáp: "Cái khai".

Không một ai đáp trúng lời thay đố trên cả!

Những lời than trách trên đây đều là hình ảnh của người Nữ phái đó là thời Âm, khi Âm thịnh tất dương suy.

Với cuộc thi đố này ngụ ý 4 chữ "Than Trách Ly Khai". Đó là một chơn ngôn ẩn ý của Đức Ngài nói lên cho nhân sanh biết cái dã tâm của Ngô Triều với ý đồ Công-giáo hóa Cao Đài, dù trước đó đã có nhiều thủ đoạn. Ba hôm sau có cuộc thanh trừng vào ngày 20-8-Ất Mùi do quân đội Cao-Đài đứng lên kéo về bao vây Hộ Pháp Đường và làm khó dễ Đức Hộ Pháp. Chính cái ngày 20-8 này xem như là "Ngày Đạo hận" để mở ra một thời Án nạn pháp mà người phải đứng ra gánh nạn cho nhơn sanh chính là Đức Ngài đã dâng Sớ chung niên năm Ất Mùi về cuộc thanh trừng ấy.

 

 

VĂN PHÒNG HIỆP THIÊN ĐÀI

Văn phòng là nơi làm việc về giấy tờ. Hiệp Thiên-Đài, là một trong ba cơ-quan trọng yếu của nền Đại Đạo Tam-kỳ Phổ Độ: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài.

 

 

 

"Hiệp Thiên Đài là nơi chuyên về Đạo pháp, bảo hộ luật Đời và luật Đạo, như Ngọc Hư Cung nắm Thiên Điều tức là Ngọc Hư Cung tại thế mà Hộ Pháp Chưởng quản.

"Hiệp Thiên Đài là cửa Trời đó vậy. Hiệp là chung với, Thiên là trời; hiệp cùng Trời tức là cửa vào đường trời, cái thang bắc cho phàm đến cùng Trời. Trong Hiệp Thiên Đài có Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng-Sanh".

Ngày khai Đại Đạo tại Từ-Lâm-Tự khởi ngày 15 tháng 10 năm Bính-Dần (dl. 19-11-1926) Thầy ban Pháp Chánh Truyền cho Cửu Trùng-Đài trước.

Qua ngày 12-1 Đinh-Mão Đức Chí-Tôn mới lập Pháp Chánh Truyền phong cho danh-sách 12 vị Hiệp Thiên Đài vào phẩm Thập Nhị Thời Quân.

Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài qui định:

"Trong Pháp Chánh Truyền Chí-Tôn lập Hội Thánh Cửu-Trùng-Đài, Hội-Thánh Hiệp Thiên Đài, mà trước khi Chí-Tôn đến gieo truyền mối Đạo là Thiên-điều đã định mở cửa Thập nhị khai thiên đặng đem cơ cứu khổ để tại mặt thế-gian này mà cứu vớt toàn cả Cửu nhị ức nguyên-nhân, con cái của Ngài, Chí-Tôn giao phó cho Hiệp Thiên Đài, mà trong Chức-sắc Hiệp Thiên Đài có 15 người kể luôn Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh. Vị trí ở tam giác trong cùng.

Trọng yếu là thâu mấy vị Tông đồ:

Đức Hộ Pháp ban Huấn dụ trong dịp Lễ Khánh Thành Văn phòng Hiệp Thiên Ðài, ngày mồng 8 tháng chạp năm Ðinh Hợi (dl. 18-01-1948):

"Các bạn Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện Nam, Nữ. Tưởng từ khi tôi đã phế đời, hiến mảnh thân phàm nầy cho Ðức Chí Tôn làm khí cụ tạo cho nước nhà Việt Nam một nền Tôn Giáo nầy, không ngày nào được phần thưởng vô giá như ngày hôm nay, mà chỉ có một ly rượu. Theo sự hưởng ứng của các Bạn biết, nếu con người ta lấy cái sức lực phàm làm môi giới cho cái sở hành riêng thì hẳn không ai can đảm chịu. Cái người đã thả mình vô cảnh khổ với một sự vui tươi thì hồi xưa đến giờ chưa có. Tại sao vậy? Tôi đã hiểu bí mật ấy, tôi hiểu cả, nên cho các Bạn hiểu.

Các Ðấng tự hữu, hằng hữu, thiên hạ tưởng không có, họ lầm từ trước, người ta tưởng Ðấng ấy không có, Ðấng ấy đã có từ tạo thiên lập địa, tôi biết tôi hiểu, tôi đã chịu khổ não để thay thế hạnh phúc cho đời là do nơi đâu? Không phải tại nhà tôi hay tại tôi, chưa chắc, do nước Việt Nam chăng? Ấy là do toàn nhơn loại. Ðấng Cha lành ấy dầu thấy con bạc bẽo thế nào, Ðấng ấy cũng còn thương yêu. Sự thương yêu của ông Cha lành nó truyền nhiễm tôi, do nơi chỗ tôi nghe được, tôi hiểu được, biết rõ đặng Người. Ðấng ấy có mơ mộng gì vô hạn? Nhứt là Ngự Mã Quân của Chí Tôn biết trước hơn ai hết, bởi vì Ngài có dạy, trước hết là Ngài bỏ Huỳnh Kim Khuyết, bỏ Thiên Cung đòi xuống trần dạy con cái của Ngài lập phương giải khổ. Nếu tôi không lầm, Cơ Bút đã cho tôi biết.

Các Bạn Hiệp Thiên do nơi đâu sản xuất?

- Do để giữ quyền Thiêng Liêng nên mới có 12 vị Thời Quân, Thập Nhị Ðịa Chi, tức là cảnh Thiêng Liêng vô hình của chúng ta. Tôi tưởng tấn tuồng tôi đã làm trọn và làm nơi cõi vô hình. Ngày kia về thiêng liêng các Bạn sẽ thấy hình tối đại tối thiểu. Phận sự tôi đối với các Bạn nó có thâm tình vô hạn, vì đồng tâm, đồng chí, một mực đề xướng cả thảy đều nghe chịu một hoàn cảnh, Bần Ðạo làm không hết, số là tại Bần Ðạo và các Bạn Hiệp Thiên Ðài đã hứa với Chí Tôn.

Bần Ðạo lo cho toàn cả nhơn loại hoàn cầu, chớ không phải thương một cá nhân nào hay một đoàn thể nào, một quốc gia nào, không phải làm tôi mọi cho Ðời, làm tôi mọi cho Ðạo, nhưng vì cái năng lực vô hình kia mà thôi.

Trước khi lãnh lịnh trên Bạch Ngọc Kinh tạo nền Chơn Giáo, Chí Tôn quyết định có Ngài giáng thế mới được, Ngự Mã Quân không cho, bắt buộc phải có người thay thế cho Ngài tức là Thánh Thể của Ngài tại đây.

Ngài đi mà không cho thì phải có hình ảnh thế cho Ngài mới được. Hình ảnh của Ngài là Hội Thánh Cửu Trùng Ðài và Hiệp Thiên. Hộ Pháp có khôn ngoan nào hơn là cầu khẩn cho có người đến với mình đặng tạo Thánh Thể đó, chớ một mình Hộ Pháp xuống không thế được, nên phải cám dỗ Cung nầy Điện kia, đến Cửu Thiên Khai Hóa, biết chắc làm được mới đi.

Các Bạn cứ làm đi, vì cái phận sự đối với thế gian, đối với lời hứa ở trên kia, mặt cân không biết đồng chưa? Lời hứa trước kia, sự làm bây giờ, biết hai cái đó có đúng không? Bần Ðạo làm mãi không biết làm sao cho rồi, nào lo cho Cửu Trùng, rồi đến Phước Thiện, đầu óc của Hộ Pháp đã chịu thâm giao cùng các Bạn, cứ làm mãi thôi, sống giờ nào làm giờ nấy. Không phải kiếp nầy tại đây có Thánh Thể, không phải tại xứ Việt Nam ta mới có, chúng ta chỉ là người cặm bông tiêu thôi, chớ không phải người tạo, chúng ta sáng lập là để cho đoàn hậu tấn, vì chúng nó đứng chàng ràng, không biết đứa nào gánh vác đảm đương.

Bổn phận làm anh phải tạo nghiệp cho em, mở đường trước cho con cháu đi, sau nhờ có chúng nó Thánh Thể của Chí Tôn mới tồn tại. Thầy không phải đến một kiếp nầy thôi, mà đến phải ở đời đời, không phải Thánh Thể đương nhiên, họ sẽ đến nữa hay đã đến rồi, nó còn lộn xộn không biết đứa nào.

Biết còn nữa thì tức nhiên phải mở con đường cho chúng nó đi vào tạo nghiệp cho chúng nó. Tôi là đầy tớ của Ðức Chí Tôn, biết có bao nhiêu đó cứ đảm nhiệm cương quyết nâng đỡ Ðạo và Ðời thôi.

May một điều là tôi còn thiếu với Ðức Chí Tôn, tôi xin đầu kiếp, thiếu hay không mà kiếp nầy tôi đã là tên dân nô lệ cho nước Việt Nam, đã chịu thống khổ tâm hồn lẫn hình thể trên 35 năm.

Tôi không xin, tôi biết tại sao tôi đầu kiếp xuống dân Việt Nam, tôi cảm khích vô hạn, nào chịu khổ, nào chịu bạc nhược và yếu hèn. Tại thấy nhơn loại đau đớn Chí Tôn mới đến mở một nền Tôn Giáo, làm một khối sanh quang cho toàn nhơn loại, đó là cái danh dự của nước Việt Nam đã chịu khổ.

Vì cái tình của Chí Tôn đối với dân tộc Việt Nam nên tôi thí thân phải chết mới đền bồi xứng đáng.

Còn một việc khác nữa là Ngài tạo đầu óc, từ ngày mở Ðạo Cao Ðài đến giờ, Ngài tạo đầu óc nòi giống Việt Nam để vãn hồi quốc vận, như thế cũng đủ cho mình đưa sanh mạng mà đổi.

Vậy sự làm của chúng ta phải cương quyết và nhẫn nại đủ điều, không nhút nhác, vui chịu, bởi đã hiểu giá trị ân đức của Ðức Chí Tôn như thế nào rồi, muốn trả được hết phải học sách làm đầy tớ của những đầy tớ của Ðức Chí Tôn, làm được vậy chừng đó mới trả nợ tình của Ðức Chí Tôn đặng."

 

 

VĂN SĨ NHO PHONG

(Văn sĩ Là một người biết văn chương, làm văn; nói rộng ra là người có tài văn chương, có học thức, hiểu sâu, biết rộng. Nho phong là phong hóa, phong tục của nhà Nho). Văn sĩ Nho phong ở đây là niềm tự hào của một người ngoại quốc (Pháp) mà thông hiểu được cả văn chương, đạo lý của Nho học. Ấy là Ông Pierre Pasquier được quyền thiêng liêng cho phép Ông về Cơ, giáng bút phân trần rằng:

Tòa-Thánh, 2 tháng 7 Bính Tý (dl 18/8/1936)

Tôi nói tiếng An Nam, Tôi đã cầm đặng một cuốn sách Nho, học thông Đạo-lý. Cái tư-tưởng của tôi buổi nọ, nó thiên về bên Khổng-giáo chớ không phải hướng qua bên Phật-Đạo. Tôi càng suy xét thì lại lấy làm lạ vì cớ nào Tôi lại dùng nhà Thiền toan phá Đạo Cao-Đài buổi nọ. Quái dị thay! Tôi đã dám xưng mình là Văn-sĩ Nho phong; kinh truyện, văn chương trước mắt mà lại chịu thiệt thòi, sai-sót, chẳng hiểu đặng rằng NHO-GIÁO chuyển-luân tạo dựng toàn-cầu Tân-thế. Sự lạc lầm ấy do đâu mà có? Ôi quan trường! Ôi nha lại! Vì mi mà làm cho Ta phải đui mắt, linh hồn phạm tội nghịch-ý Chí-Tôn, Thiên-điều tàn sát. Hận thay ngôi vị Đế-Vương là đao kiếm trừ mạng linh-hồn mà chớ. Gớm thay! Ghê thay!"

THI

"Vương-bá bửu ngôi thị ngục hình,
"Thiên lao như thử tấc công khanh.
"Đồ thân phát phối cầm dân mạng,
"Y-phục cân-đai thị tử thành,"

Tạm dịch:

Ngục hình Vương-bá đã trêu ngươi,
Công danh lợi lộc chốn đày người.
Đem thân Tướng-soái dìu sanh chúng,
Bởi mảnh đai cân chết một đời.
                        (Bài dịch của soạn-giả)

 

 

VĂN TẾ

(Ðiệu văn Lưu Thủy)
Tiểu Sử CAO THƯỢNG PHẨM

Than ôi! Miền Ðông Á từ thời Bàn Cổ, xưa đã bao phen Ðạo Thánh dẫn nhơn sanh.

Ðất Việt Nam khai những thuở Hồng Bàng, nay mới gặp lúc thuyền linh đưa bến khổ.

Cho hay rằng: Sanh là ký, tử lại là qui, nhưng phải biết mạng tuy yểu, mà danh ấy thọ.

Nhớ Cao Thượng Phẩm xưa, tư chất ôn lương, tánh tình hòa huỡn, nhà phiệt duyệt lưu truyền nơi thế thượng, tỉnh Tây Ninh lớn nhỏ thảy đều thương.

Trí thông minh còn roi dấu thơ hương, miền Bến Nghé trẻ già nào chẳng rõ.

Trải mấy mươi năm cùng thế sự, chí nam nhi đủ sức vẫy vùng. Quanh theo lối trong gia, phần em trẻ nhiều lời khuyên nhủ. Cùng lân lý hay thương người thất thủ, hằng ra tay tế độ bạc tiền.

Với mẹ cha thường để tấc lòng thành, gắng hết sức đền ơn nhủ bộ.

Ðạo Thánh mở phú một tay truyền bá, lãnh mạng Trời bố hóa khắp hoàn cầu.

Giọt sương gieo vì trăm họ khát khao, vưng Thánh chỉ rưới ban ân võ lộ, hiến thân cho Ðạo son sắc một lòng, nương bút thủ cơ tuyết sương mấy độ, đã nhiều cơn tân khổ chẳng quản đến tình nhà, dìu sanh linh từ thành thị chí thôn quê, dư mấy lúc gian truân, lần lừa theo mạch Ðạo, dẫn bầu bạn vạch đường về cội cũ.

Toàn trong sáu tỉnh để tiếng ngợi khen, khắp cả muôn dân riêng phổ độ. Trước từng trải Biên Hòa, Sài Gòn, Gia Ðịnh, mới lần qua cửa Tiểu, đã mấy buổi nắng mưa cam chịu, Ðấng Tạo Ðoan soi tỏ rõ tấm kiên trinh, rồi lại từ Mỹ Tho, Sa Ðéc, Long Hồ, mà thẳng tới Bạc Liêu, biết bao phen sương tuyết dãi dầu, ơn Thượng Phẩm đáng ghi vào nơi phế phủ.

Phần du Tiên gẫm cũng tại Thiên cơ, người khuất bóng thiếu tay rường trụ.

Nhớ những khi:

Vun trồng cội Ðạo, lấy chí trượng phu, tẩy sạch lâm tuyền, dựng Tòa Thánh tổ, lo xây nền lập Ðiện, đem hết lòng tu bổ, trót mấy thu từng trải mảnh hình hài, lo trẩy gốc ven đường, dâng trọn tấm nhiệt thành, bao nhiêu tuổi đủ đền ơn thủy thổ.

Hỡi ôi!

Chuông reo cảnh hạc, bóng khuất non Tây, khách giục rừng tòng, người về quê cũ, thương vì đoàn thê tử, mẹ Nam con Bắc, vợ dựa cửa trông chồng, xem càng chạnh nỗi, dầu lòng thương ôm chịu chớ biết sao!

Ngảnh lại, bóng tang du cha khuất, mẹ còn già ngồi lên khóc trẻ, nghĩ cũng lạ thường, thất chữ hiếu phải cam là vậy đó. Nhưng... nhưng cũng nghĩ rằng tình chồng vợ cũng đủ dạ yêu thương, nghĩa mẹ con cũng đã dày công báo bổ...

Bởi vậy cho nên:

Vì công lao khổ, ơn huệ thưởng ban, hứng cảnh tiêu diêu, sắt son đã rõ. Miền Cực Lạc xin hương hồn Cao Thượng Phẩm chứng lòng đơn cho các bạn tại tiền, trước Linh Tòa cả Chức Sắc Hiệp Thiên, dâng Tam Bửu ngỏ đền ơn tri ngộ.

Ngày 8-3-1929
Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài Ðiếu Cao Thượng Phẩm của Thượng Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt.

 

 

VĂN THI

文 詩
E: The poetry.
F: La poésie.

Văn: Vẻ đẹp, lời văn, có học vấn, lễ phép. Thi: thơ, văn vần. Văn thi hay Thi văn là chỉ chung các bài thơ có vần điệu.

 

 

VĂN THỈ THƯỢNG CUNG

Văn Thỉ: Văn là văn chương, Thỉ còn viết là Thủy, là bắt đầu, nguồn gốc. Văn Thỉ là khởi đầu về văn chương. Thượng: Trên, ở trên. Cung: Tòa nhà. Cung nhỏ hơn Ðiện. Trong một Ðiện có nhiều Cung. Văn Thỉ thượng cung: Cung Văn Thỉ ở phía bên trên. Ở đây, "Văn Thỉ Thượng cung" là tên riêng của một Cung nơi cõi thiêng liêng, nơi này Đức Khổng Thánh ngự. Kinh cho biết ở cõi thiêng liêng có một tòa nhà lớn gọi là Ðiện Quế Hương, trong đó một Cung ở trên hết gọi là Cung Văn Thỉ. Ðó là nơi thường ngự của Ðức Khổng Tử, Giáo chủ Nho giáo.

 

 

VĂN THÙ BỒ TÁT

Thầy dạy Ông Thơ (sau là Thái Đầu Sư Thái Thơ Thanh) nhân Thầy nói qua về nguyên căn của ông Nương tức là Thái Nương Tinh) như vầy: "Thầy chẳng nói ra căn cội của Nương, e con giận. Vậy Thầy cũng nói luôn để anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à.! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành đạo cho tới ngày hai con đều đắc quả đặng trở về cùng Thầy."

 

 

VĂN TUYÊN

Văn Tuyên là tên thụy của Ðức Khổng Tử do các vua đời sau truy tặng cho Ngài, với tấm lòng ngưỡng mộ, như sau:

- Khi Hớn Lưu Bang dẹp xong Hạng Võ, vua đi ngang nước Lỗ, đến làng Khuyết Lý, nơi sanh ra Ðức Khổng Tử, vào miếu bái lễ Ngài và truy phong là Khổng Thánh Tiên Sư.

- Vua Ðường Huyền Tông truy tặng Văn Tuyên Vương.

- Vua Tống Chơn Tông truy phong là Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

- Vua Thái Tổ nhà Nguyên truy phong Ngài là Ðại Thánh Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

- Vua Gia Tịnh nhà Minh tặng là Chí Thánh Tiên Sư.

- Vua Thạnh Trị nhà Thanh truy tặng là Chí Thánh Tiên Sư Văn Tuyên Vương Khổng Tử.

Nếu hiệp tất cả các danh hiệu mà các vị vua đã truy tặng

Ðức Khổng Tử, sẽ được một danh hiệu mới là "Ðại Thánh Chí Thánh Tiên Sư Văn Tuyên Vương Khổng Tử".

Ngày nay thời Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, Ðức Khổng Tử có tước hiệu là: "Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn".

Kinh Nho giáo (Khổng Thánh chí tâm qui mạng lễ) có:

Vương tân sách phụ.

 

Nho Tông khai hóa.

 

Văn Tuyên tư lộc.

 

祿

Hoằng nhơn Đế quân.

 

 

 

VĂN TỪ


E: Style.
F: Le style.

Văn từ là văn chương và lời nói. Nghĩa rộng là văn chương chữ nghĩa của một nước, một dân tộc thường dùng, thể hiện tinh thần tự chủ và độc lập của nước đó.

Kinh Vào Học có câu:

"Đại Từ Phụ xin thương khai khiếu,
"Giúp trẻ thơ học hiểu văn từ."

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Nguyện các Đấng đương chầu Bạch Ngọc,
"Giúp thông minh lảu thuộc văn từ."

 

 

VĂN TỰ


E: The writing.
F: L’écriture.

Thánh nhân chế tác văn tự đều có dụng ý tinh vi: bắt chước theo Tượng hình của Trời đất mà chế ra Văn; ứng dụng theo hình thanh mà chế ra Tự. Nói chung về văn tự tức nhiên là ý nghĩ được đặt thành văn, thành bài.

Vào thời Thượng cổ chưa có văn tự thì lấy gút để nhớ việc. Ðến đời vua Phục Hi có Long Mã Phụ Đồ, vua Phục Hi vạch Bát Quái Ðồ chế ra văn tự. Qua đời Huỳnh Ðế có ông Thương Hiệt trí tuệ thông minh: trên thì biết xem tượng sao, dưới thì xét soi dấu chim, chế làm văn tự. Khi văn tự thành rồi thì Trời mưa luôn ba ngày, quỷ ban đêm khóc. Từ đó Văn tự mở mang trong thiên hạ, người đều tấn hóa. Quỉ khóc bởi sợ có chữ ghi chép chơn lý đạo đức, người người đều theo chơn đạo bỏ tà thuyết thì quỉ đạo phải bị tận diệt. Khi Ðức Khổng Tử làm kinh Xuân Thu, sách Hiếu Kinh rồi thì quì lạy về ngôi Bắc Ðẩu tỏ bày ý nghĩa của mình làm kinh sách. Trời liền mưa ròng ba ngày có móng đỏ từ trời sa xuống hóa ra sắc vàng trên có chữ " Xuất sách cố tự".

Kinh Nho-giáo có câu:

"Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh."

Giải nghĩa:

Văn tự linh hơn sấm lôi,
Linh hơn linh điểu mở thông Ðạo người.

Ví như chữ Nhân là con người ứng dụng theo thuyết Thiên địa - Âm Dương và sách Lễ ký đã nói: "Nhân giả thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỉ thần chi hội, Ngũ hành chi tú khí dã" nghĩa là con người là đức lớn của Trời đất, sự giao hợp của Âm Dương, sự tụ hội linh khí (quỉ thần) của non sông đất nước và tinh túy của năm chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Chữ Nhân cách cấu tạo theo thuyết Âm Dương:

- Một phết bên trái biểu thị cho Dương,
- Một phết bên phải biểu thị cho Âm.

Chữ Nhân do một phết và một nhấn hợp lại, ấy là âm dương họp thành Nhân (người). "Âm Dương hợp nhất vi nhân" nghĩa là người do Âm Dương phối hợp mà sinh ra.

Con người được Tạo-hóa sanh ra tất cả đều bình đẳng và đầy đủ cả thân xác và linh hồn, nhưng ý thức tâm linh mỗi người không giống nhau. Có người sanh ra là hiểu biết ngay; có người cần phải học mới hiểu biết được.Vì thế Thánh nhân là con người "đại thiên hành hóa"; trên thể lòng Trời, dưới phù quốc chánh, nên mới lập ra qui tắc, phương pháp, lễ nghi để làm mực thước cho con người chu-toàn Nhân đạo, đó là đạo làm người: Trung hiếu, Nghĩa-Nhân, Hòa thân, Ái kính. Khi con người chu toàn nhân đạo có thể góp phần vào việc giúp đỡ hoàn chỉnh cái đạo Trời đất, nâng đỡ cho sinh dân: Lập đức, Lập công, Lập ngôn để lại cho đời, thì người đó đã đạt đến bậc đại nhân, tức là con người đứng vào số Một trong mọi người. Người đắc nhất là người biết được cơ mầu nhiệm của Tạo-hóa cùng Trời đất tồn tại mãi mãi đó là Đại nhân."Nhất nhân vi đại" 一人為大. Vì chữ Đại gồm có chữ nhất và chữ nhân hợp lại. Đại nhân là con người thông minh, giác ngộ, thánh thiện, tài đức hơn người, nên hợp đức với Trời đất, hợp sự sáng suốt với mặt trời, mặt trăng, hợp thứ tự với bốn mùa, hợp lành dữ với quỉ thần, đi trước trời mà trời không trái, đi sau trời mà vâng thời trời. Trời còn không trái phương chi là người, là quỉ thần. Như thế Đại nhân sống hòa hợp trong đại vận của trời đất không một lúc nào nhàn, không một phút ngừng nghỉ, giống như chiếc bánh xe lớn quay mãi, thể theo đạo Trời mà hành động, quyết bắt chước cái tính "hành kiện" của Trời, không để cho nhân dục phương hại đến thiên lý, nên "tự cường" mãi mãi.

"Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức" nghĩa là hành động cương quyết, người quân tử tự cường mãi không ngừng. Đại nhân đã đạt đến bậc Thánh nhân, tức là người có đức lớn "Tham thiên hóa dục, dữ thiên đồng đức". Người đó chính là người đứng số Một trong hàng Đại nhân. Đó là bậc Phật, Tiên, Thánh, Thần, vậy. Câu "nhất đại vi Thiên" 一大為天 thì chữ Thiên gồm có chữ nhất và chữ đại hợp lại (Trung thiên dịch- Trang 311)

 

 

VĂN VƯƠNG

Văn Vương là vị vua khai sáng ra nhà Châu (Chu) vào thời thượng cổ nước Tàu, nên được gọi là Châu Văn Vương.

Theo Trung quốc sử:

- Năm 1136 trước TL, vua Văn Vương, con ông Vương Quý, cháu ông Thái Vương, dựng cơ nghiệp ở đất Phong.

- Năm 1122 trước TL, vua Võ Vương, con Văn Vương đánh diệt vua Trụ, lên làm Hoàng đế, đóng đô ở đất Hạo.

Lúc vua Trụ đang trị vì nước Tàu, ở phía Tây có Tây Bá Hầu Cơ Xương, đặt thủ phủ ở Tây Kỳ, thống suất các chư Hầu ở phía Tây. Vua Trụ hôn ám, bị nịnh thần xúi giục, bắt Tây Bá Hầu Cơ Xương giam tại thành Dũ Lý 7 năm.

Tây Bá Hầu bị cầm chơn tại đây chớ không phải tù tội chi, nên ông lấy điều nhân nghĩa dạy dân, khiến cho dân trong thành đều mến đức.

Tây Bá dùng thời giờ nhàn rỗi để nghiên cứu thêm về Bát Quái Tiên Thiên của vua Phục Hy, Hà Đồ, và Lạc Thơ, rồi ông chế ra Bát Quái Hậu Thiên bằng cách thay đổi vị trí các quẻ, rồi phối hợp với Ngũ Hành, giải thích về vạn vật hữu hình.

Vua Phục Hy đặt ra 64 quẻ Tiên Thiên Bát Quái nhưng không có văn tự giải thích, Tây Bá Hầu mới nghiên cứu viết ra Thoán Từ để giải thích ý nghĩa của mỗi quẻ.

Tù túng bảy năm thành Dũ Lý,
Điểm trang một tập quẻ Tiên Thiên.
Dạy đời muôn việc điềm hung kiết,
Để tiếng ngàn thu bậc Thánh hiền.

Khi hết hạn 7 năm ở Dũ Lý, vua Trụ đòi Tây Bá về kinh, khen thưởng phong Tây Bá Cơ Xương làm VĂN VƯƠNG, có búa Việt cờ Mao đặng quyền chinh phạt chư Hầu....

Thi văn dạy Đạo có câu:

Gương đạo noi theo đời Thuấn Ðế,
Ðế dân vẹn giữ lối Văn Vương.

 

 

VĂN XƯƠNG

(Thần làng Long thành)

Hôm sau, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 20-01-Đinh Mão (dl. 21-2-1927) Đức Chí Tôn giáng dạy như sau:

"Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh địa. Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh dạy dỗ dân vô đạo, Thầy ban đặng quyền thưởng phạt, đặng răn làng ấy cho đến ngày chúng nó biết ăn năn cải hóa. Vậy thì Làng Long Thành, các con khá an lòng".

 

 

VÂN (Giáo Sư Ngọc Vân Thanh)

Thế danh là Ngô Tường Vân. Thọ phong Giáo Sư phái Ngọc vào mùng 8 tháng 6 Bính Dần.Thánh danh là Ngọc Vân Thanh.

Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo và cũng có ký tên cùng với 28 vị tiền khai Đại Đạo nữa.

 

 

VÂN DU


E: To travel everywhere as a cloud.
F: Voyager partout comme un nuage.

(Vân du là dạo chơi thong thả như đám mây bay) Còn có câu Vân du Thiên ngoại tức là dạo chơi ở những thế giới khác ở ngoài Ðịa cầu). Khi hồn của người tu được thoát ra khỏi xác phàm rồi được nhẹ nhàng thẳng tiến đến nơi mà nó thích hợp với từng số của nó. Sự ra đi nhẹ nhàng như cỡi mây lướt gió ra ngoài từng không.

Thầy dạy: "Chơn Thần là Nhị xác thân (périsprit), là xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu. Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc Đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy."

Tuy nhiên Thầy vẫn buồn lo cho nhơn sanh: "Đạo Trời khai ba lượt, người tục lỗi muôn phần, sanh đứng vào thế cuộc, chưa biết mình đã lãnh một vai tuồng, đặng chờ lúc kết-quả hồn qui Thiên ngoại, lánh khỏi xác phàm trở về nơi khởi hành mà phục các điều đã thi hành giữa sân khấu là chốn trần-ai khốn đốn nầy; phận chưa xong phận, thân chẳng nên thân, thân phận lo tính chưa rồi, còn mong mỏi chi dụng mình vào đường đạo đức để cho có ích chung nữa đặng!

Lương-tâm của các con là một khiếu Thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn-đức; làm một việc phải tức là do nơi ý Trời; phạm một nét vạy tà là cải nơi Thiên luật; phải quấy Thần, Thánh chỉnh chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc! Khá biết lấy!" (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 ngày 27-12-1926)

Đức Quyền Giáo Tông giáng họa thi của Hộ Pháp:

Tách trần tính lại đã là đâu!
Thế giới vân du chỉn một bầu.

 

 

VÂN ĐÀI

雲 臺
E: The sky hight tower.
F: Le tour élevé jusqu’au ciel.

Vân: Mây. Đài: cái đài cất cao lên. Vân đài, dịch Đài mây, là một cái đài cất cao tận mây.

Đài nầy do vua Hán Minh Đế cho xây dựng rất cao, nhìn như thấy cao tận mây, làm nơi đặt ảnh của 28 vị đại công thần nhà Hán, để ghi nhớ công đức của các vị ấy và cũng để làm gương tốt cho đời.

Được treo hình nơi Vân đài là một danh dự cao quí nhứt của các bề tôi. Đó cũng là mục tiêu phấn đấu để cho các bực anh hùng ra sức phục vụ cho nước cho dân, sẽ được hưởng cái vinh dự tột bực đó.

Như thế, Vân đài là đài vinh quang, là đài công danh, ở nước Pháp họ gọi là Panthéon (Công thần miếu), trong Đạo Cao Đài gọi là Báo Ân Từ (Temple de Reconnaissance).

(Báo Ân Từ hiện nay được tạm dùng làm Đền Thờ Đức Phật Mẫu. Khi Hội Thánh cất Điện Thờ Phật Mẫu trung ương xong thì sẽ trả Báo Ân Từ lại để thờ các bực vĩ nhân có đại công với nhơn loại, và các bực có đại công trong Đạo Cao Đài).

Trong tôn giáo, Vân đài là đài danh vọng thiêng liêng của người tu, tức là nơi dành cho những người đắc đạo, đạt được phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Dìu dắt sanh linh lo tế độ,
Thiên niên ghi tạc chốn Vân đài.

 

 

VÂN ĐỘNG

Đức Hộ Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống:

"Chúng ta đến nữa xa xa dòm tới một phương trời xanh thấy một Vân-Động đẹp vô-biên, vô-giới, không tả bằng mực hay bút nghiên được, Vân-Động ấy hữu tình nồng-nàn với chúng ta làm sao đâu!"

 

 

VÂN HÁN


E: The milky way.
F: La voie lactée. (Ngân hà)

Vân: Mây. Hán: sông Ngân hà. Vân hán là sông Ngân hà trên bầu trời.

 

 

VÂN TRÌNH

雲 程
E: Road of glory.
F: Le chemin de gloire.

Vân: Mây. Trình: con đường. Vân trình, dịch Đường mây, là con đường lên mây, ý nói con đường công danh, đồng nghĩa: Vân thê.

 

 

VÂN XA

雲 車
E: The mysterious carriage on the cloud.
F: La voiture mystérieuse sur les nuages.

Vân: Mây. Xa: chiếc xe. Vân xa là chiếc xe đi trên mây.

Đây là pháp bửu của các Đấng Tiên Phật, dùng để di chuyển đến các thế giới trong Càn Khôn Vũ Trụ.

 

 

VẤN NẠN

E: To set the difficult questions.
F: Poser the questions difficiles.

(Vấn là hỏi, nạn là sự khó khăn). Vấn nạn là hỏi câu hỏi khó, mắc mỏ, cốt tìm cho ra yếu lý.

Thuở Đức Hộ Pháp còn sanh tiền Ngài cũng lo ngại cho loài người vì sự văn-minh tuyệt đỉnh bị "giục thúc bởi phương sống vật chất, họ tìm hạnh phúc trong cái sống vật hình, vì cớ Đạo-giáo mất quyền". Ngài vấn nạn Đức Lý Giáo Tông:

"Đương thế kỷ hai mươi này văn-minh cực điểm đã đi quá cao rồi, đem đạo-đức tinh thần làm thuyết cứu thế sợ chẳng có kết quả. Tôi công nhận rằng trước hai ngàn năm có lẽ nhơn loại còn bảo thủ được khối thiên lương, biết xu-hướng đạo-đức; tinh thần đạo-đức buổi ấy dường như gặp một mảnh ruộng có nhiều phân nên hột giống mới mọc đặng, còn thế-kỷ hai mươi này là thời-kỳ văn-minh vật chất, nếu đem đạo-đức ra làm môi giới cứu vãn tình thế cho đời e vô hiệu quả.?

Đức Lý Ngài than, nói quyết đoán rằng:

- Theo lẽ Hiền-Hữu nói nhơn loại ngày giờ này không cần đạo-đức có phải?

Bần-Đạo trả lời: - Thật vậy! Nhơn-loại buổi này không cần đạo-đức, chỉ tìm hạnh phúc nơi văn-minh khoa học cũng có thể được chứ?

Ngài cười: - Văn-minh khoa-học chỉ nuôi phần xác thịt mà thôi, con phần linh hồn chắc-chắn họ sẽ đói!

Bần-Đạo vấn nạn tiếp: Tại sao Ngài nói linh-hồn đói? Linh-hồn có ăn sao mà đói?

- Phải! Phải có vật-thực đặng bảo dưỡng nó như thi hài vậy, nếu không vật thực nó sẽ tiều-tụy rồi chết mà chớ!

Bần Đạo lại hỏi: - Đạo-đức tìm nơi đâu mà có đặng?

- Tức nhiên tìm nơi cửa Thiêng-liêng hằng sống mới có, mà tìm nơi cửa Thiêng-liêng hằng sống tức là cửa Đạo. Buổi ăn của linh-hồn là buổi ta vô Đền thờ Cúng đấy! Ta không thấy mùi của nó tức chưa hưởng được, tưởng vô Đền thờ là bị luật buộc, không dè mỗi phen đi Cúng tức là cho linh-hồn ăn vậy! Bần Đạo tưởng thấy trong trí cần phải bắt buộc cả thảy đi Cúng. Vì trong thâm tâm Bần Đạo định mấy người chưa biết mùi của nó, cũng như kẻ nhà quê đưa cho gói bánh ăn chẳng được, rồi khi đã biết mùi rồi bán cả áo quần mà mua ăn." (Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp II/152)

 

 

VẤN TÂM

 
E: To ask oneself.
F: Se demander.

Vấn: Hỏi, hỏi thăm. Tâm: lòng. Vấn tâm là hỏi lòng mình, hỏi lương tâm mình.

Ý nói: Phải tự xét mình.

 

 

VẬN BĨ

運 否
E: Adversity.
F: L’adversité.

Vận: Chở, chuyển, dời đi, xoay vần, số mạng. : suy, bế tắc. Vận bĩ là thời vận xấu, suy vi, bế tắc.

Kinh Sám Hối:

"Lúc vận thới lung lăng chẳng kể,
"Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu."

 

 

VẬN ĐỘNG


E: To make in motion.
F: Faire mouvoir.

Vận động là một sự hoạt động để làm việc.

Kinh Ði Ra Ðường có câu:

"Thân vận động trong trường thế sự,
"Đạo nhân luân cư xử cùng đời."

 

 

VẬN CHUYỂN

Vận chuyển 運轉 Dời động một vòng xoay.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Qua vòng tục theo miền vận chuyển,
Cảnh vô ưu tùy biến màu tranh.
Còn bao dâu bể tan tành,
Địa Cầu này sẽ biến thành ngôi Thiên.

 

 

VẬN HỘI


E: Occasion.
F: L’occation.

Vận hội 運會 là Cái vận khí đang trải qua, đang gặp phải.

Lòng Sớ dâng về Thiêng liêng có câu:

"Kim vì Vận hội Thượng nguơn Ngọc Hư Cung Linh Tiêu Điện đại khai ân xá các Đẳng linh hồn". 今為運會上元 玉虛宮靈霄殿 大開恩赦各等靈魂.

 

 

VẬN MẠNG

運 命
E: The fatality.
F: La fatalité.

Vận: Chở, chuyển, dời đi, xoay vần, số mạng. Mạng: mệnh: số mạng. Vận mạng là số mạng của mỗi người.

Những việc xảy tới cho mình một cách bất ngờ, không thể biết trước được, cũng không thể tránh được, như có sự sắp đặt sẵn cứ xoay vần mà tới, đó là vận mạng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chư Đạo hữu đã có nghe lời Thánh giáo về vận mạng nên hư của nền Đạo.

 

 

VẬN NƯỚC

Vận nước là vận mệnh của một quốc gia, một dân tộc.

Ðức Tả Quân LÊ CÔNG cũng nhập bàn cho tiếp bài thi:

Khi hòa tùy có chí đồng thinh,
Vận nước nên hư cũng bởi mình.
Tôi giặc lắm người xô võ trụ,
Lòng trung mấy kẻ xót sanh linh.

 

 

VẬN THỚI


E: The prosperity.
F: Prospérité.

Vận thới là thời vận hanh thông, hưng thịnh.

Kinh Sám Hối có câu:

"Khi vận thới lung-lăng chẳng kể,
"Lúc suy-vi bày lễ khẩn-cầu."

 

 

VẬN TỪ THỨ

Vận Từ Thứ: Vần điệu của một bài thơ gọi là Từ Thứ qui Tào.

Đây, xuất xứ từ một bài thơ của Tôn Thọ Tường có đề tựa là "Từ Thứ qui Tào". Tôn Thọ Tường (1825-1877) quê ở Bình Dương, phủ Tân bình (Gia Định), ông xuất thân trong một gia đình trâm anh thế phiệt, văn hay chữ giỏi, nhưng vì gia đình giàu có, ỷ lại cha là Tôn Thọ Đức đỗ Cử nhân, làm quan triều Nguyễn, tánh tình phóng túng nên công danh muộn màng, không đắc ý về mình nên gặp khi Pháp sang chiếm nước ta, ông liền theo Pháp để hưởng bổng lộc cao, mà sát hại lại những nghĩa quân vì dân tộc mà chống Pháp. Hai lý tưởng một cuộc đời. Ông bị mỉa mai và cũng tỏ ra ăn năn xấu hổ, nên làm nhiều thơ Quốc văn để bày tỏ nỗi lòng, chống chế, bào chữa cho hành động "phản bội dân tộc" nên qua bài thơ ông muốn ví với một hoàn cảnh bắt buộc như trường hợp của Từ Thứ khi về Tào Tháo. Bài thơ này lấy vận "Voi, mòi, còi, roi, thoi" như sau:

TỪ THỨ QUI TÀO

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi,
Muối xát lòng ai nấy mặn-mòi.
Ở Hán còn nhiều rường cột cả,
Về Tào chi sá một cây còi.
Mảng nghe tin Mẹ khôn nâng chén,
Chạnh tưởng Ơn Vua biếng dở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,
Thân này xin gác ngoại vòng thoi.

Sở dĩ bài thơ này nổi tiếng là vì cái giọng thơ nghe bi thiết quá, nhưng mà lòng người không thật, chỉ để che dấu một sự dối giả, ngượng ngùng. Người ta tôn vinh bài này là vì lối văn điêu luyện, đồng thời là một "bản án" đối với dân tộc lúc bấy giờ. Hơn nữa một lối "khổ vận" như vầy khó cho một cây bút chưa điêu luyện lắm. Từ đó về sau khi nói đến vận Từ thứ là nói đến trường hợp này vậy.

Tuy vậy, mà khi viết được một bài thơ hay là phải có nhiều thứ ngoắc ngoéo, khó khăn như vậy mới đáng giá. Các nhà thơ giỏi thường dùng "vận Từ Thứ" như vầy.

Trường hợp của Ngài Cao-Hoài-Sang:

Buổi đầu, Ngài Cao Hoài Sang (Thượng Sanh) thường ít đi hầu Đàn vì không tin Cơ Bút. Một hôm Xây bàn, Ngài Cao Quỳnh Diêu thưa với chơn linh cụ Cao Hoài Ân (thân sinh Ngài Cao Hoài Sang) rằng "Anh đề thi mà khuyên dạy nó (ông Diêu là chú ông Sang) và lấy vận voi, mòi, còi, roi, thoi của bài "Tứ Thứ qui Tào" họa lại". Chơn linh cụ Ân cho thi:

THI

Thuyền khơi gió ngược khá nương voi,
Vận thới hầu nên đã thấy mòi.
Vườn cúc hôm nay muôn cụm nở,
Rừng tòng buổi trước một cây còi.
Hồng nương dặm gió chi sờn cánh,
Ngựa ruỗi đường hòa khá nhọc roi.
Nín nằm chờ qua cơn bỉ cực,
Thìn lòng chừng có lượn đôi thoi.

 

 

VẬN TỬ HỒI MÔN

Vận: Chở, chuyển, dời đi, xoay vần, số mạng. Tử: con. Hồi: trở về. Môn: cửa, nhà. Vận tử hồi môn là vận động đem các con trở về ngôi nhà cũ nơi cõi thiêng liêng.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Nghiệp hồng vận tử hồi môn,
"Chí-công định vị vĩnh-tồn Thiên-Cung."

 

 

VẬN TRÙ


E: To project.
F: Projecter.

Vận: Chở, chuyển, dời đi, xoay vần, số mạng. Trù: tính toán, liệu định. Vận trù là vận động và định liệu kế hoạch để thi hành.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch"
"Qui thiên-lương quyết sách vận-trù."

Duy Tân giáng cơ ngày 11-8 Ất Mùi (1955):

Mở lối nghĩa nhân quét sạch thù,
Qua vòng tân khổ quốc gia thu.
Cái gia khô cổ nay nhờ Đạo,
Về cõi Hư Linh cũng vận trù.

 

 

VẬT CHẤT - TINH THẦN

-

Vật: Những cái có hình thể trong Trời Đất, vật chất, động vật, cảnh vật. Chất: cái chất cấu tạo nên vật thể. Vật chất: tất cả những vật và những chất hiện có trong vũ trụ mà giác quan con người nhận biết được. Đối với vật chất là Tinh-thần là vật không thể thấy được hình dạng bằng mắt thường.

"Vật chất (La matière) phải tùng lịnh tinh thần (L'essence) mà lập thành hình tượng. Cái cớ hiển nhiên là hình thể của nhơn loại cũng phải tùng tinh thần mà biệt phân đẳng cấp. Kẻ hung bạo thì hình dung cổ quái, còn người lương thiện thì tướng hảo quang minh; nhờ đó mà cổ nhơn xem tướng đoán tánh người". (Pháp Chánh Truyền)

Đức Hộ Pháp nói: "Bần-Đạo chẳng cần luận thuyết chi sự phân-biệt xa cách nhau như trời với vực của vật-chất tinh thần thì chư thính-giả cũng dư hiểu: Hễ vật chất hữu bổn nguyên, hữu định thể, còn tinh-thần thì tự chủ, tự-do. Ấy vậy, vật-chất có giới hạn, chớ tinh-thần vốn không giới-hạn".

 

 

VẬT CHẤT TIẾP ĐIỂN

F: Bon conducteur d’ électricité.

Thầy dạy: "Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn chứng thì làm sao giải tán cho đặng? -Nếu rủi bị huờn thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d’ électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn biết khôn thì ẩn nấp tại thế mà làm một bậc Nhơn Tiên thì kiếp đoạ trần vẫn còn chưa mãn. Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo."

 

 

VẬT CHẤT VĂN MINH

物 質 文 明
E: The material civilisation.
F: La civilisation matérielle.

Vật: Những cái có trong Trời Đất, vật chất, động vật, cảnh vật. Chất: cái chất cấu tạo của vật thể. Văn: đẹp. Minh: sáng. Vật chất: tất cả những vật và những chất hiện có trong vũ trụ mà giác quan con người nhận biết được.

Vật chất văn minh là nền văn minh về khoa học thực nghiệm, sản xuất ra nhiều của cải vật chất làm cho đời sống vật chất của con người được tiện nghi tốt đẹp.

Đối với Văn minh vật chất là Văn minh tinh thần.

 

 

VẬT DỤC


E: The carnal desires.
F: La désirs charnels.

Vật dục là lòng ham muốn về vật chất. Lòng ham muốn này nằm trong năm thứ dục vọng, gọi là ngũ dục:

1. Tài :

Tiền của và tài sản.

2. Sắc :

Sắc đẹp, thuộc về ái dục, tình dục.

3. Danh :

Danh vọng, địa vị.

4. Thực :

Ăn uống, ham thích cao lương mỹ vị.

5. Thụy :

Ngủ nhiều, ham ngủ.

Ngoài ra, ngũ dục còn được hiểu là năm đối tượng ham muốn của con người ở thế gian này:

a/ Sắc :

Sắc đẹp.

Đối tượng tham dục của mắt, gọi là sắc dục.

b/ Thanh :

Âm thanh êm ái.

Đối tượng tham dục của tai, gọi là thanh dục.

c/ Hương :

Mùi hương thơm.

Đối tượng tham dục của mũi, gọi là hương dục.

d/.Vị :

Mùi vị thơm ngon.

Đối tượng tham dục của lưỡi, gọi là vị dục.

e/ Xúc :

Đụng chạm của da thịt.

Đối tượng tham dục của thân, gọi là xúc dục.

Ngũ dục hay vật dục là sợi dây trói buộc bản thân con người. Để dứt trừ được tâm tham nhiễm vật dục, người tu phải nhìn sâu vào thân, tâm, cảnh đều là bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã. Người chưa biết Đạo thì buông lung năm căn, chạy theo mê đắm ngũ dục, còn người biết Đạo rồi thì cố tìm cách xa lìa.

Ấy vậy: "Cơ quan của đời hiện hữu lại do nơi quyền năng vật dục mà thành hình, đến đỗi trừ tinh thần ra thì trí thức con người cũng lậm nhiễm lấy quyền duy vật, đạo đức tinh thần xem ra càng ngày càng mòn-mỏi".

Kinh Khi Ði Ngủ có câu:

"Các vật dục xảy qua một buổi,
"Cả hành vi lầm lỗi khôn ngừa."

 

 

VẬT HỮU BỔN MẠT

Về vật lọai thì đều có gốc ngọn, đó là nói về nghĩa đen; "Cây có cội, nước có nguồn"; nghĩa bóng thì là lời giáo húân chỉ rõ: "Con người phải biết tổ tiên ông bà". Nếu người biết tu hành thì càng nên trọng chữ hiếu, bởi lẽ Nho giáo có dạy: "Vật hữu bổn mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiền hậu, tắc cận Đạo hỹ" 物有本末, 事有終始, 知所前後, 則近道矣. Nghĩa là Vật có gốc ngọn, việc có trước sau, nếu mình biết gốc ngọn trước sau, thì gần được Đạo vậy, tức là mình phải biết nguồn gốc sinh thành ra chúng ta đây để lo đền đáp công ơn đào tạo ấy.

 

 

VẬT HỮU LINH

Vật hữu linh là mỗi vật đều có bẩm thụ Chơn linh của Đức Chí Tôn phân tính ra, nên các loài vật đều có linh tánh. Tánh linh này tùy trình độ tiến hóa của mỗi loài, trong đó, con người là có tánh linh hơn hết.

Kinh Ði Ra Ðường có câu:

"Gót chơn đưa rủi như sát mạng,
"Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi."

 

 

VẬT LOẠI

物 類
E: The kinds of beings.
F: Les sortes des êtres.

Vật: Những cái có trong Trời Đất, vật chất, động vật, cảnh vật. Loại: loài. Vật loại là các thứ loài vật, từ kim thạch đến con người.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Cộng vật-loại huyền-linh đồ nghiệp,
"Lập tam-tài định kiếp hòa căn."

 

 

VẬT THỰC


E: The foods.
F: Les aliments.

(Vật là vật chất có hai loại: động vật và thực vật. Thực là ăn) Con người xưa nay dùng hai thứ này để ăn mà sống. Nay là buổi văn minh tinh thần cao độ nhờ Đức Chí-Tôn mở nền Đại Đạo dạy rõ sự cần yếu là nên ăn thức ăn thực vật: một là tránh quả báo do sát hại sanh vật mà ra. Hai là giữ cho Chơn Thần được tinh khiết mới mong luyện Đạo được. Ba là giữ cho cơ thể thanh khiết vì thời buổi này nhiều thứ dịch bệnh có trong động vật quá nhiều; mà người ăn thịt động vật dễ bị chết vì vi trùng bịnh. Cả thế giới phải lên tiếng kêu gọi ăn chay cũng vì lẽ ấy.

Thầy dạy: "Các vật thực vào tỳ vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết, chẳng cần nói, các con cũng biết cái chơn linh khí huyết là thế nào? Nó có thể huờn ra nhơn hình mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhơn loại. Vì vậy mà một giọt máu là một khối chơn linh, như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Ðài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ gìn giới cấm ấy cho lắm".

 

 

VẤY

Vấy: lắm lem, hoen ố, ô nhiễm.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Hồng cấu đã chui thân phải vấy,
Hơn thua cười kẻ biết nơi tiền.

 

 

VẸN TOÀN

Vẹn toàn: Đầy đủ, nguyên vẹn, không sứt mẻ, hoàn toàn.

Kinh Vào Học có câu:

"Đại-Từ-Phụ Từ bi Tạo hoá,
"Tượng mảnh thân giống cả Càn khôn.
"Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
"Xây Cơ chuyển thế bảo tồn Vạn linh."

 

 

VẸN TRÒN

Vẹn tròn như vẹn toàn.

Kinh Sám Hối có câu:

"Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
"Kính anh mến chị thì là phận em."

 

 

VẸN VẺ

Vẹn vẻ như vẹn toàn.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cầm mối Thiên cơ lo cứu chúng,
Ðạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

 

 

VỀ VỚI ĐỨC CHÍ TÔN

Đức Hộ Pháp thuyết đêm 13-8- Mậu-Tý (16-9-1948).

"Con đường về với Đức Chí-Tôn không phải dễ, mà cũng không phải về là tới liền, muốn về với Đức Chí-Tôn ta phải qua nhiều Cung, nhiều Điện; mỗi Cung chúng ta gặp một sự lạ, mỗi Điện chúng ta gặp một huyền-vi khác nhau, phải đi từ Cung này đến Điện nọ, nên gọi là "Dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống". Về được với Đức Chí-Tôn thì không còn hạnh-phúc nào bằng. Một kiếp Tu chưa chắc đã về được với Đức Chí Tôn, muôn năm ngàn kiếp mà nếu thiếu Tu, cũng không khi nào về được với Đức Chí-Tôn, mấy Anh mấy Chị rán nhớ điều đó, mà Tu thì sao? Trong cửa Đạo Cao-Đài này đã dạy Tu rồi, nhứt là Bần-Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn đó vậy."

 

 

VỀ VỚI ĐỨC CHÍ TÔN BẰNG CHƠN THẦN

Đức Hộ Pháp nói: "Còn hôm nay chúng ta về với Đức Chí-Tôn bằng Chơn-Thần, vì Bần-Đạo may duyên được đặc ân của Đức Chí-Tôn cho phép nên mới đi riêng cũng như đi tắt vậy. Chúng ta ngó lên thấy như Đại-hải minh mông, nhưng thật ra không phải Đại-hải mà là vòm trời của Càn Khôn Vũ-Trụ. Nơi xa xa khi ẩn khi hiện trong mây, một tòa nhà nguy-nga đồ sộ, thoạt ẩn thoạt hiện mập-mờ, vừa ngó thấy thì ta muốn đến ngay, không biết làm sao đến, vừa lúc đó pháp-thân ta như có một sức mạnh hút đi, không đi mà đến, đến mau như đi bằng máy bay vậy. Đến rồi ngó thấy quần-sanh nhơn-loại muôn trùng, lớp đến lớp đi không biết bao nhiêu mà nói, nhiều như vậy, mà dường như không có tiếng động nào, thứ-tự lớp lang có trật-tự lắm. Nơi đó gọi là Cung Thánh, tức là Cung để cho các chơn hồn ra khỏi cảnh Thiêng-Liêng đi tái kiếp mà cũng là nơi tiếp rước các đẳng linh-hồn sau khi tái kiếp trở về. Nơi đó giống như một trạm hàng không hay là trạm xe lửa vậy, kẻ đi, người đến muôn trùng, đi thì buồn, về thì vui, nhưng tất cả đều hiển hiện lên khuôn mặt của mọi người một sự lo lắng chung; đi cũng lo mà về cũng lo, đi mà lo là lo không biết xuống thế gian có làm tròn bổn-phận khi giao-ước với Đức Chí-Tôn không? Về cũng lo là lo không biết phẩm-vị mình ra sao có còn hay mất, lo lắm, mọi người đều lo lắm".

 

 

VI BẰNG

為 憑
E: Official report.
F: Procès-verbal.

Vi bằng là làm chứng cớ để tin. Tờ Vi bằng: là tờ giấy ghi chép các ý kiến bàn cãi và quyết nghị trong một phiên họp, đồng ký tên xác nhận để làm pháp lý căn cứ vào đó mà thi hành.

Trong Đạo gọi là Vi bằng, ngoài đời gọi là Biên bản.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Từ hàn lãnh phân sự lập Vi bằng trong mỗi kỳ hội nhóm.

TỜ VI BẰNG BUỔI HỌP
Đại hội Vạn linh (36 trang đánh máy)

(Đây là Vi bằng buổi họp "Đại Hội Vạn Linh năm Quí Dậu" (1933) của Nguyễn Phan Long qui tụ các Chi phái Hậu giang hiệp với số người phản Thầy phản Đạo kéo nhau về Toà Thánh Tây ninh trích điểm Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt và Đức Hộ Pháp mục đích muốn chiếm Toà Thánh, có hơn ngàn người. Trong buổi họp có làm Vi bằng dài 36 trang đánh máy, vì vậy nên đặt cho nhóm này "Tam thập Lục động quỉ về phá Toà Thánh". Ông Nguyễn Phan Long là nhà chánh trị đời bị Pháp mua chuộc xúi giục hại Đạo).

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Đệ Bát niên)

Tòa Thánh - Tây Ninh

_____________________________+

VI BẰNG
Nhóm Hội Vạn linh tại Toà-Thánh
ngày 19 - 5 Quí-Dậu (dl. 11-6-1933)

Nhơn có Tờ của Chức sắc Thiên phong Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài, Hội viên Thượng hội mời nhóm đặng Công đồng bàn luận việc lỗi Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, sớm mơi ngày 11-6-1933, chư Đạo hữu tề tựu đông đảo tại Toà-Thánh Tây Ninh.

Đúng 10 giờ khai Hội, chư Chức sắc Thiên phong và Đạo-hữu đến trước Bửu Điện, nhưng cửa đã khoá chặc rồi, có hai Đạo hữu đang giữ. Ông Quyền Chưởng Quản Nguyễn Trung Hậu hỏi chìa khoá, hai người giữ cửa trả lời rằng ông Giáo Sư Ngọc Trọng Thanh được lịnh của Đức Quyền Giáo Tông dạy khoá cửa Bửu Điện và cấm không cho mở.

Khi ấy có thầy Cai tổng và hai Hương chức làng sở tại đến gìn-giữ trật tự. Ông Nguyễn Trung Hậu xin Thầy chứng lời khai ấy và dạy hai người giữ cửa ký tên vô tờ khai để làm Vi bằng. Đoạn sai người đi mời ông Giáo Sư Ngọc Trọng Thanh đem chìa khoá đến, ông không đến, chờ quá 20 phút đồng hồ cho chắc rằng ông Giáo Sư Ngọc Trọng không chịu đến, ông Nguyễn Trung Hậu bèn nói lớn lên cho chư vị Đạo hữu đứng xung quanh biết rằng: Hôm nay anh em chúng ta về Toà-Thánh đặng hiệp nhau bàn tính việc quan-hệ của Đạo, mà ông Quyền Giáo Tông cấm mở cửa Bửu Điện, vậy tôi xin hỏi chư Đạo hữu, Bửu Điện là của riêng ông Quyền Giáo Tông hay là của chung của toàn Đạo?

Chư Đạo hữu đứng tại đó trên năm trăm người, đồng rập một tiếng nói rằng: là của chung!

Ông Nguyễn Trung Hậu hỏi: của chung mà ông Quyền Giáo Tông ra lịnh khoá lại, vậy chúng ta tính làm sao? Chư Đạo hữu đồng giơ tay lên rập một tiếng: Chúng ta phải mở cửa ra! Các việc này có thầy cai tổng và làng sở tại chứng kiến. Liền đó có một vị Đạo hữu trèo lên song-ly vào Bửu Điện, vặn song hồng mở cửa ra, rồi Chức sắc Thiên phong vào Bửu Điện và Đạo hữu nam nữ đồng theo vô.

Khi hay cửa Bửu Điện đã mở rồi, thì chư Đạo hữu ở xung quanh Toà-Thánh trước kia vì bị lịnh của Quyền Giáo Tông hăm doạ và ngăn cản mà không dám đến, bây giờ mới lần lượt kẻ trước người sau vào Bửu Điện, chia ra ba ban: phía bên nam phái chật nức, còn bên nữ phái xem có hơi rải rác một chút. Chức sắc của ba Hội có mặt: bốn vị Hội viên Thượng Hội: Quyền Chưởng Quản Nguyễn Trung Hậu, Lê Thiện Phước, Phạm Văn Tươi và Quyền Ngọc Đầu Sư Lê Bá Trang.

Bốn vị Giáo Sư: Ngọc Kinh Thanh, Thượng Lai Thanh, Thượng Thình Thanh, Thái Minh Thanh, 16 vị Giáo Hữu: Ngợi, Hiển, Lợi, Đối, Thêm, Thành, Bảy, Ngọc, Giáp, Dành, Đàng, Huỳnh, Tri, Bộ, Hoạ, Môn. Còn nhiều Thiên phong không mặc Đạo phục phải đứng theo hàng vạn linh và nhiều vị Lễ sanh Đầu Họ Tỉnh, Đầu Họ Quận, các chủ Thánh Thất và chư phái viên Hội nhơn sanh, hiệp kể chung với đạo hữu trên ngàn người.

Báo giới Tây, Nam có quí ông:

1- Vabois (Courrier de Saigon)
2- Bonvicini (C.pinion)
3- Trạng sư Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Thế Phương (Công Luận)
4- Nguyễn Phan Long (Đuốc Nhà Nam)

Khi lập ba ban xong rồi, chư Đạo hữu làm lễ ra mắt Đức Chí-Tôn và chư Tiên Phật. Xong việc lễ rồi, ông Quyền Đầu Sư Ngọc Trang Thanh mở lời trước như vầy:

Kính trình cùng chư vị Đạo hữu nam nữ, ngày nay chư vị Đạo hữu đặng Tờ mời trước không mấy ngày mà đành chịu hao tốn, cực nhọc đến đây đông đủ như vầy, chúng tôi xin để lời kính chào mừng và cám ơn chu vị.

Đặng Tờ mời, kế đặng lịnh cấm nhặc, mà chư vị cũng đi đến, ấy là một việc của chư vị xử riêng bằng lương tâm, tôi không lẽ nói việc này là phải hay không, chỉ để cho chư vị đến rồi còn có ngày giờ xem xét thêm mà quyết đoán cho ra lẽ phải chăng; còn phần tôi, giờ này đứng ra đây tỏ đôi điều cùng chư vị, vì phận đứng đầu Tổ cáo và đầu Tờ mời, lại cũng có lãnh vai giải nghĩa sơ qua cho một phần chư vị chưa đọc được Châu tri và Vi bằng Thượng hội cho rõ cái mục đích của buổi hội nhóm hôm nay.

Số là Anh Cả chúng ta là ông Thượng Trung Nhựt sái phận sự Quyền Giáo Tông, nên chúng tôi là bảy Chức sắc Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài, có nhóm tại Bửu Điện ngăn ngừa sự sái ấy cho nền Đạo khỏi ngửa nghiêng thêm nữa:

- Lần thứ nhất là ngày 19 tháng Chạp năm rồi (dl. 15-01-1933) mời Đức Quyền Giáo Tông đến bàn luận việc thiết yếu của Đạo, Ngài không đến, vì Ngài cho rằng mời thiếu lễ.

- Lần thứ nhì ngày 22 tháng 3 năm nay (dl: 16-4-1933) Ngài cũng cho rằng mời thiếu lễ không đến.

Vì chúng tôi được đủ số Hội viên Thượng Hội, nên có nhóm lại xem xét kỹ lưỡng, thiệt quả là Quyền Giáo Tông có lỗi với Đạo; nên lập Vi bằng gởi cho Ngài xem, xin mãn tám ngày trả lời cho chúng tôi biết việc chúng tôi cáo Ngài là phải hay quấy? - Trả lời không nói việc phải quấy, cứ nói rằng Hội nhóm không đúng Pháp luật, không đủ lễ nghĩa với Ngài.

Mời Ngài đôi ba phen không đến, gởi Tờ trả lời không cho biết rõ việc oan, ưng thế nào; nên nay phải mời thêm chư vị Hội-Thánh và Hội Nhơn Sanh cho đủ ba Hội hiệp lại kêu là "Hội Vạn Linh" đến xem xét lại công việc chúng tôi làm có sái Pháp luật chỗ nào, có bất công, bất chánh hay không? Xin hết lòng chỉ giáo, bằng xem xét không có chỗ nào làm sái phép thì nên hiệp cùng chúng tôi mà thi hành những điều quyết định trong Tờ Vi bằng Ngày 23- 3 Quí Dậu (dl: 16-4-1933).

Xin chư vị nam nữ nghĩ lại coi, bởi ý muốn hoà mới đôi ba phen mời nhóm, cho anh em có đường phân giải thiệt hơn cùng nhau, mà Quyền Giáo Tông không chịu đến, để đi làm những việc sái luật Đạo và luật Đời, xúi người này ngỗ nghịch kình chống với người kia, rồi không thi hành phận sự, có phải tại Ngài muốn loạn không? Vậy nay muốn thấu đáo việc chúng tôi đã làm ra đây có chánh đáng cùng không, tôi tưởng phải làm như vậy thì đặng công bình. Cử một ban Uỷ viên tạm thời đặng điều đình việc của chúng ta sẽ bàn luận, bất luận là Chức sắc hay Đạo hữu cũng đều được phép cử vô Uỷ ban ấy, vì lúc này cả thảy chúng ta là đồng một quyền Môn đệ của Đức Chí Tôn không còn phân lớn nhỏ nữa, ban Uỷ viên có 4 người:

1- Một Nghị trưởng

 

2- Một Phó Nghị trưởng

3- Một Từ Hàn

 

4- Một Phó từ Hàn

Ban này thay mặt cho cả ba Hội, kêu là "Hội Vạn Linh" được quyền đối phó cùng quyền hành Chí-Tôn. Nên xin lựa chọn Đạo hữu nào đủ tư cách, biết đạo và biết đời, có đủ cớ là người biết lo cho Đạo, không phải phe phái nào hết.

Đó! Chúng tôi có mấy lời thưa cùng quí vị, xin để hết lòng vì Đạo, minh chánh việc này ra cho việc Đạo được rỡ ràng cho nhơn sanh có chỗ dựa nhờ cho xứng đáng."

Khi dứt lời thì ông Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh xướng lên cử ông Nguyễn Phan Long làm Nghị trưởng ban Uỷ viên tạm thời, chư Đạo hữu đứng gần truyền lần lời xin ấy ra cho cả thảy Đạo hữu xung quanh nghe biết, thì toàn cả chư Đạo hữu hiện diện đồng ưng thuận cử ông Nguyễn Phan Long làm chức Nghị trưởng, vì là người đủ tư cách, thuở giờ không thuộc đảng phái nào, tài đức có lại làu thông cả việc đời và việc Đạo. Ông Nguyễn Phan Long không thế từ chối, phải vào lãnh ghế Nghị trưởng.

Ông Trương Duy Toản được cử Phó Nghị trưởng, ông Giáo Hữu Tuyết Tấn Thành làm Từ hàn, ông Chánh Trị Sự Phạm Văn Long làm Phó Từ hàn.

Ban Uỷ viên cử xong, ông Nghị Trưởng đứng lên khai hội, Ngài nói:

Thưa chư Đạo hữu, ngày nay tôi ra mắt Thầy, sau ra mắt chư Đạo hữu lần thứ nhứt, nhưng đã lâu nay tôi vẫn ái mộ Đạo, vẫn sùng bái Thầy. Tôi sở dĩ lấy tư cách nhà viết báo mà lên đây, không dè chư Đạo hữu quá yêu, nhứt tâm công cử tôi là Nghị trưởng Hội đồng tạm thời này, thiệt là một là điều vinh dự, song có hơi quá phận sự của tôi, nhưng chư Đạo hữu đã đồng tâm chiếu cố, tôi đâu dám từ chối.

Thưa chư Đạo hữu, nền Đạo của Đức Chí-Tôn mấy năm trước thạnh hành như lửa cháy, rồi sau lại phải chịu nhiều nỗi khó khăn, bên ngoài kẻ ganh người ghét, kiếm trăm phương ngàn kế để ngăn cản sự tiến hoá của Đạo; bên trong lại sanh lắm điều rắc rối, anh em một Đạo mà chia ra nhiều phe, nhiều phái không hoà thuận với nhau, tưởng có khi người cầm quyền mối Đạo không đủ tư cách và đắc nhơn tâm nên mới ra cớ đỗi!

Xin chư Đạo hữu biết rằng trong cửa Đạo ngày nay có gần một triệu Tín đồ và danh Đạo đã bay ra ngoại quốc: nước Đức, Ba lan, Ấn độ, Lithuanie… đã biết tên Đạo và họ kính trọng Đức Quyền Giáo Tông mình lắm, tưởng không thua gì Đức Thánh Pha-Pha bên Thiên Chúa giáo.

Chúng ta phải có vị làm đầu cho xứng đáng mới chẳng hổ với người; vậy mà coi trong Đạo ngày nay có vẻ suy đồi, mới đây có báo đăng tin rằng trong Đạo hữu có 47 người đã qua nhập Đạo Thiên Chúa giáo. Trong số này có một vị trước theo Đạo Minh sư, người này hứa sẽ đem thêm vài ngàn Đạo hữu khác vào Đạo Thiên Chúa nữa. Ấy là chỗ nguy hiểm cho Đạo đó. Có nhiều Đạo hữu tưởng rằng bởi Đức Quyền Giáo Tông thiếu đức nên ngày nay đem Ngài ra vấn nạn ở buổi nhóm này. Xin chư Đạo hữu nhớ câu "Hữu công tắc thưởng hữu tội tắc trừng". Còn bổn phận của tôi thì phải giữ trật tự và để cho đôi bên tiên cáo và bị cáo biện bác lời lẽ của mình cho thong thả".

Ông Nghị trưởng dứt lời ban Uỷ viên bắt đầu làm việc. Trước hết ông Nghị trưởng xin dùng lễ khiêm tốn viết thơ mời Đức Quyền Giáo Tông đến trả lời những điều Ngài đã bị cáo giữa Hội cho minh bạch.

Quyền Đầu Sư Ngọc Trang Thanh nói: Lời yêu cầu của Nghị trưởng sợ e không được hiệu quả, vì chiều hôm qua tôi có viết thơ cho Quyền Giáo Tông hay và xin mời Ngài đến dự Hội, bây giờ đã quá giờ nhóm rồi mà không thấy hồi âm. Thế thì chắc Ngài chẳng khứng đến. Vậy xin truyền cùng Ban Uỷ viên thân hành đến Giáo Tông-Đường mời Ngài.

Cả thảy Đạo hữu đều ưng thuận lời xin của Quyền Ngọc Đầu Sư. Ban Uỷ viên liền thi hành việc ấy, Vạn linh lại phái thêm ba vị Giáo Hữu ba phái đồng hành cùng Ban Uỷ viên. Khi đến Giáo Tông-Đường, thấy cửa ngõ đóng, ông Nghị trưởng xin vô, người giữ cửa mời vào nhà gát, ban Uỷ viên vào nhà gát rồi, thì ông Nghị Trưởng viết thơ xin ra mắt Quyền Giáo Tông.

Thơ như vầy: "Thưa Ngài, nhơn sanh cử ban Uỷ viên có tôi là Nguyễn Phan Long và mấy ông nữa đặng chứng kiến việc biện bác về Tờ tố cáo trong Đạo cách mấy bữa rày. Tuân theo ý muốn của nhơn sanh và giữ phép khiêm tốn, ban Uỷ viên xin ý kiến Ngài, đặng mời Ngài ra mắt Hội đồng. Vậy Ngài định lẽ nào xin Ngài cho ban Uỷ viên biết..?"

Nay kính
Ký tên: Nguyễn Phan Long

Thơ đưa rồi chờ gần 20 phút, Quyền Giáo Tông cho người mời vào Dinh, thì thấy ông Quyền Ngọc Chánh Phối Sư ra nói "Đức Quyền Giáo Tông dạy tôi đến rước mấy ông". Ban Uỷ viên theo vô phòng, ông Quyền Giáo Tông chào mời và hỏi "Hôm nay là Hội gì mà mời tôi?"

Nghị trưởng đáp: - Hội Vạn linh.

Quyền Giáo Tông nói: "Tôi không thế đi được vì Hội sái phép". Nói đoạn Ngài dở sổ ra đọc cái thơ trong đó có hai bài chấp bút dạy về sự lập Hồng thệ. Đọc một hồi lâu rồi Đức Quyền Giáo Tông hỏi: hai vị Chánh Phó Từ hàn, ban Uỷ viên có biết ba vị Quyền Chưởng pháp lãnh trách nhiệm có đúng luật lệ không?

- Phó Từ Hàn đáp: Chúng tôi được Tờ mời về đặng nghe nói chuyện Anh Cả, khi đến hội được nhơn sanh tín nhiệm công cử vào ban Uỷ viên, nay đi đến mời Anh Cả, còn phần luật lệ đúng hay không xin hỏi lại mấy vị đứng Tờ mời".

Nghị trưởng nói: "Nhơn sanh đang chờ đợi xin mời Ngài đến dự Hội".

Quyền Giáo Tông nói: "Tôi không thể đi được, vì Hội không đúng pháp luật. Vả lại việc Đạo tôi lãnh phần đối đãi với Chánh phủ, sau tôi giao quyền cho ông Thượng Tương Thanh, còn mấy tháng sau đây thì về phần ông Giáo Sư Latapie, cho nên chuyện xin phép tắc thì về ông Giáo Sư Latapie, mà ông này không có xin phép thì Hội làm sao?".

Quyền Ngọc Chánh Phối Sư Trần Duy Nghĩa, Quyền Thái Chánh Phối Sư Phạm Tấn Đãi, Quyền Thượng Chánh Phối Sư Thái Văn Thâu. Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh.

Chức sắc Ngoại giáo: Giáo Sư Thượng Bảy Thanh, Thượng Chữ Thanh, Hương Phụng; ngoài ra có hai ông Trạng sư Dương Văn Giáo và Diệp Văn Kỳ, hai ông sau đây đã cáo từ.

Ban Uỷ viên cho Hội hay rằng "Quyền Giáo Tông nói Hội nhóm hôm nay sái phép, không đúng luật Đạo nên không đến, song Ngài có phái 9 vị Chức sắc có tên bên đây thay mặt đến dự nhóm:

Cách một hồi lâu Chức sắc thay mặt đi đến Bửu Điện, thấy có ông Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh mặc Thiên phục, còn kỳ dư mặc đồ thường. Ban Uỷ viên liền mời vào, rồi ông Nghị trưởng giới thiệu cho Nghị viên biết. Kế đó, ông Lê Thế Vĩnh trình hai Tờ thay mặt cho Giáo Tông và Hộ Pháp trong buổi nhóm này.

Nghị trưởng nói: "Tôi xin cho Hội Đồng rõ biết ông Lê Thế Vĩnh có tờ thay mặt cho Giáo Tông và Hộ Pháp, vậy trong khi phái viên của Quyền Giáo Tông đứng lên nói. Xin chư Đạo hữu phải êm tịnh mà nghe lời bào chữa cho Quyền Giáo Tông và xin chư vị đến nhóm hôm nay phải tuân ba điều kiện kể dưới đây đặng giữ phần trật tự trong buổi nhóm hội:

1- Mỗi người đứng nói không quá 15 phút.
2- Vấn đề nào nói rồi người sau không phép lập lại.
3- Ban Uỷ viên cho phép thì mới được nói, khi người nói thì chư Đạo hữu phải lẳng lặng mà nghe.

Kế trao lời cho ông Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh:

Ông Tiếp Thế nói: "Tôi xin lỗi Hội đồng trước khi nói, vì em có lỗi nên xin phép làm lễ Đức Chí-Tôn rồi sau sẽ nói".

Làm lễ rồi ông Tiếp Thế nói tiếp: "Xin lỗi ông Nghị trưởng em làm theo phận sự, Đạo theo Đạo, đời theo đời, em có hứa với Quyền Chưởng Pháp Lê Thiện Phước là Anh Cả của em ngày nay không ra đây. Em thất lời hứa có lỗi tình cốt nhục, em xin lạy anh để tạ lỗi". Nói rồi lạy 1 lạy

Quyền Chưởng Pháp Lê Thiện Phước nói:

Đạo có quyền của Đạo, Em tôi có phận sự riêng, tôi không nhận cái lạy. Tiếp Thế là em tôi ở đây không có quyền hành chánh, vì nhẹ tình nghe lời cám dỗ ra gánh vác việc này là một điều sái phép, tôi không thể ngồi nghe em tôi tranh luận, vậy tôi xin kiếu ra hội.

Tiếp Thế nói: nay lãnh phần thay mặt cho Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp rất khó cho tôi, vậy tôi xin lui. Tiếp-Thế đi ra.

Nghị trưởng nói: Xin hai ông Chưởng Pháp và Tiếp Thế hãy để tình cốt nhục riêng ra, đây là nơi công đồng về sự đạo lý, mỗi ông đều có phần trách nhiệm theo bổn phận, không vì cốt nhục mà trái phận sự được, vậy xin Tiếp Thế ở lại dự đại hội" (ông Tiếp Thế đi ra luôn).

Quyền Ngọc Đầu Sư: "Tôi xin nói việc này quyền Giáo Tông bị cáo cũng nhiều việc, có một hai việc khi hỏi đến tôi sẽ xin Ngài quì giữa Thiên bàn rồi sẽ nói; mà nay Ngài không đến lại phái người thay mặt, chúng tôi hỏi biết đâu mà trả lời, vì có việc chỉ một mình Ngài và tôi biết mà thôi. Còn tôi không hiểu cái số người thay mặt là bao nhiêu cho Quyền Giáo Tông mà sao đây tôi thấy đông người, An nam có, Tây có, đàn ông, đàn bà có…Tuy nói vậy cho biết chớ nay xin cho mấy người bào chữa tôi cũng chịu hết.

"Luôn đây tôi xin Hiền hữu Thượng Bảy Thanh đem trả những tờ giấy về Thượng Hội tôi đã giao cất giùm mà Hiền Hữu nói lần lựa hoài, thoảng bị cáo hỏi bằng cớ, tôi lấy đâu mà trưng ra?"

Nghị trưởng nói: Xin ông Thượng Bảy Thanh đem hết giấy tờ bữa nhóm Thượng Hội ra đây đặng xem xét lại mới biết bên nào phải, bên nào quấy".

Thượng Bảy Thanh nói: Xin nhường cho chị Hương Phụng đàn bà nói trước, rồi tôi sẽ trả lời sau".

Bà Hương Phụng nói: Tôi đã được giấy mời nhóm hội rồi tiếp được Châu tri ngăn cấm không biết liệu thế nào, nhưng tôi cũng rán đến xem coi công việc ra sao, chớ tôi không phải người của Quyền Giáo Tông phái đến, tôi sở dĩ đến đây dự thính hầu sau sẽ tường thuật lại các việc xảy ra cho bổn Đạo Kim-biên hay biết".

Quyền Ngọc Chánh Phối Sư Trần Duy Nghĩa:

Thưa mấy anh, mấy chị, tôi đến đây chẳng phải là người thay mặt cho Quyền Giáo Tông, tôi dự đây là có phần riêng của tôi. Tôi hay được bữa nhóm hôm nay là nhờ thấy một tờ báo Quốc âm có đăng tin này. Chúng tôi làm Châu tri số 2 là để cấm ngăn người dự hội, tôi cho rằng Hội nhóm sái phép. Hội hôm nay ra sao? Theo luật Đạo mà tôi hiểu về quyền mời Hội Nhơn sanh thì về phần Thượng Chánh Phối Sư, còn mời Chức sắc về phần tôi là Ngọc Chánh Phối Sư.

"Nay Quyền Đầu Sư gởi giấy mời là sái, chính mình tôi sai người đóng cửa Bửu Điện không cho nhóm hội, tôi không thiên vị bên nào, tôi lấy làm lạ sao Quyền Ngọc Đầu Sư nói việc riêng của Quyền Giáo Tông mà lại mời nhóm đại hội như vầy?

Quyền Ngọc Đầu Sư: Hiền Hữu nói hội sái phép vì chiếu Đạo Nghị Định thứ Tư của Đức Lý Giáo Tông thì Thượng Chánh Phối Sư mời Hội Nhơn sanh, còn Hội Thánh về phần Hiền Hữu là tạm Ngọc Chánh Phối Sư mời, xin Hiền Hữu coi lại Châu tri năm rồi và năm nay cho biết ai mời Hội-Thánh có phải là Ngọc Chánh Phối Sư thiệt thọ, Quyền Đầu Sư không? Còn Hội Nhơn Sanh thì Thượng Chánh Phối Sư quyền Đầu Sư mời, mà nay Quyền Thượng Đầu Sư vì bịnh mà vắng mặt, thì tưởng tôi thế cũng được."

"Lại cho Hiền Hữu và chư Đạo hữu biết luôn rằng tôi đã đặng lịnh riêng của Đức Lý Giáo Tông giao việc "nên hư của Đạo" cho tôi, nay nền Đạo chinh nghiêng tới nỗi này Hiền Hữu cũng rõ là tại đâu, vậy thì việc mời nhóm hôm nay hay là làm việc chi khác nữa cho Đạo khỏi hư thì tưởng tôi cũng đặng "phép làm". Còn Hiền Hữu nói là tôi nói việc riêng của Quyền Giáo Tông? Xin Hiền Hữu đọc lại Vi bằng Thượng hội 12 khoản coi có khoản nào là việc ngoài đời hay là việc riêng của tôi và Quyền Giáo Tông? Xin Hiền Hữu nhớ lại coi năm ngoái đây, ai đứng chung tờ với hai vị Chức sắc Hiệp Thiên Đài cư ngụ tại Sài-gòn gởi cho chúng tôi hay biết rằng ông Thượng Trung Nhựt hết xứng phận sự, cần phải xa nền Đạo, mà nay Hiền Hữu là Chức sắc Hiệp Thiên Đài lại đi tùng phục người hết xứng mà hành chánh?

Sau này xin hỏi Toà-Thánh là của riêng của Hiền Hữu hay sao, mà Hiền Hữu được phép ra lịnh đóng cửa Bửu điện, cấm nhơn sanh và tôi hội nhóm?"

Quyền ngọc Chánh Phối Sư Trần Duy Nghĩa: "Vì sao tôi ký tên cùng hai vị chức sắc Hiệp Thiên Đài?" – Vì tôi có lập thệ lấy dạ vô tư. Vì sao tôi lãnh chức Quyền Ngọc Chánh Phối Sư tại nơi Hội Thánh định? Vì sao ba chánh Phối Sư lên Quyền Đầu Sư, nên Chánh Phối Sư khuyết, có linh Hộ Pháp…

"Về việc tôi đứng tên trong thơ, còn một lẽ nữa buổi đó Chức sắc Hiệp Thiên Đài đứng tờ cản ngăn Quyền Giáo Tông, đồng nhìn nhận không xứng đáng, tới ngày nay tôi cũng còn nhìn nhận Quyền Giáo Tông là không xứng đáng".

Nghị trưởng: "Tôi xin chư Đạo hữu hãy nghe và nhớ lời ông Quyền Ngọc Chánh Phối Sư Trần Duy Nghĩa mới vừa nói đó. Ông cũng nhìn nhận rằng Quyền Giáo Tông không xứng đáng."

Quyền Ngọc Chánh Phối Sư nói: Tôi không binh bên nào bỏ bên nào, hội nhóm hôm nay không đúng pháp luật, tôi xin kiếu, chiều tôi không dự hội, nếu hội đúng pháp Đạo thì tôi cũng chung họp với mấy ông đứng ra tổ chức thì Quyền Giáo Tông không chạy đâu khỏi luật Đạo và ngày hôm nay Ngài cũng không được thong thả trốn tránh như vậy.

Thượng Chữ Thanh nói: "Ông Quyền Ngọc Đầu Sư hội không đúng pháp, lại công chúng đến đây không phải bấy nhiêu đây mà đủ số nhóm hội".

Nghị trưởng nói: "Tôi cho ông Thượng Chữ Thanh biết rằng: Chư Đạo hữu các nơi về nhóm hội ngày nay được bao nhiêu đây tưởng cũng là đông đủ lắm rồi, ông dư biết rằng Quyền Giáo Tông, Hộ Pháp và ba vị Quyền Chánh Phối Sư với phe phái binh vực cho Ngài, dùng hết phương thế ngăn cản cuộc nhóm họp hôm nay. Nào là Châu tri số 02 hăm doạ giáng cấp, hoặc trục xuất những người về Toà Thánh, nào là bố cáo dán khắp nơi cũng đồng là mục đích, lại còn truyền ra như ai lỡ về, phải về Hạnh đường và phòng Nội chánh ký tên xin lỗi.

"Cho đến nỗi nhiều người đem bố cáo rải khắp nẻo đường chận ngõ không cho bổn đạo về Toà-Thánh. Bao nhiêu phương thế đó cản ngăn mà Đạo hữu về nhóm trên ngàn người, tưởng là số không phải ít đâu?

(Tới đây đã 11 giờ trưa sợ chư Đạo hữu vừa mệt vừa đói, nên ông Nghị trưởng xin tạm ngưng. Buổi chiều tái nhóm lúc 2 giờ 30 phút).

NHÓM HỘI BUỔI CHIỀU LÚC 3 GIỜ

Gần 3 giờ chiều hội nghị khai trở lại, số Đạo hữu nam nữ vừa hội kém bớt vài trăm, mãi đến 3 giờ chư phái viên của Quyền Giáo Tông lần lượt vào Bửu Điện, thấy những ông:

- Quyền Ngọc Chánh Phối Sư Trần Duy Nghĩa.
- Quyền Thái Chánh Phối Sư Phạm Tấn Đãi.
- Quyền Thượng Chánh Phối Sư Thái văn Thâu.
- Giáo Sư Latapie.
- Phái Ngoại giáo có Giáo Sư Bảy, Giáo Sư Chữ, lại cũng có hai ông Trạng sư Diệp Văn Kỳ, Dương Văn Giáo.

Mấy ông phái viên an vị rồi, ông Diệp Văn Kỳ trình cho ông Nghị trưởng một giấy của Hộ Pháp gởi, ông Nghị trưởng liền đọc cho toàn hội nghe. Trong giấy ông Hộ Pháp phái ông Diệp Văn Kỳ thay mặt cho ông để biện luận trong buổi nhóm này. Câu chót có mấy lời như vầy:

"Tôi sở dĩ cậy ông Diệp Văn Kỳ thay mặt, là vì trong buổi nhóm này, chẳng những trong Hội viên mà ngay trong ban Uỷ viên cũng có người ngoại Đạo dự vào".

Đọc xong ông Nghị trưởng liền nói. "Buổi nhóm này để vấn nạn ông Quyền Giáo Tông, chớ không phải vấn nạn ông Hộ Pháp, thì chỉ có Quyền Giáo Tông phái người thay mặt cho Ngài mà thôi, vả lại hội nhóm này để bàn tính việc Đạo, mà ông Diệp Văn Kỳ không phải là người trong Đạo, chỉ được dự thính mà thôi đâu có quyền tranh luận "Còn câu chót chắc ông Hộ Pháp muốn nói xéo tôi, ông Hộ Pháp tưởng như thế là lầm, tôi đã vào Đạo ba năm nay được ban chức Giáo Sư, song ít khi đến đặng Toà-Thánh nên nhiều vị trong Đạo chưa rõ".

Lê-Kim-Tỵ: "Lời ông Nghị trưởng nói rất đúng sự thật, Ngài là chủ nhiệm hai tờ báo: Tribune Indochinois và Đuốc Nhà Nam, thiết tưởng ai cũng biết; mấy năm nay hai tờ báo thường đứng ra bênh vực Đạo rất sốt sắng, nồng nàn lại ông Nghị trưởng Nguyễn Phan Long chẳng những đã Nhập môn rồi mà trong Ngũ chi: Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, đều nhìn nhận Ngài có chưn trong mấy chi hết".

Ông Diệp Văn Kỳ nói: "Việc thay mặt được cùng không tưởng không quan hệ, tôi chỉ xin cho hội biết rằng tôi đến đây không có ý binh ai bỏ ai hay xu phụ theo phe đảng nào; Ông Hộ Pháp cậy tôi thay mặt là cốt ý giải bày một ít luật Đạo cho Hội biết mà thôi. Chí như nói: ông Hộ Pháp là người không dính dấp tới hội này, tôi e rằng không đúng. Hội đã công khai giữa Bửu Điện, thì bất cứ một Tín đồ nhỏ nhen nào cũng được quyền tranh biện hết, phương chi Hộ Pháp là người gìn giữ pháp luật Đạo trên hết Chức sắc. Còn nói Quyền Giáo Tông sai người đến thay mặt, tức là nhìn nhận buổi nhóm này đúng luật lệ, lại là một cách buộc Ngài chạy chung quanh cái vòng tròn không có đường ra. Không đến mấy ông trách; sai người thay mặt, mấy ông lại bảo nhìn nhận buổi nhóm này".

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: "Thưa chư Đạo hữu ông Diệp vừa mới nói rằng ông được Đức Hộ Pháp uỷ Quyền biện giải luật Đạo giữa hội, vì Hộ Pháp Chưởng quản về phần luật. Phải, Hộ Pháp Chưởng quản Đạo luật không luật nào khỏi tay Ngài được; nhưng Ngài uỷ quyền cho ông Diệp lại là một điều trái luật đó. Vả chăng dưới quyền Hộ Pháp chỉ có Thượng Sanh, Bảo Pháp, Bảo Đạo, Bảo Thế, Hiến Pháp, Hiến Đạo, Hiến Thế. Đành rằng nếu ba vị: Bảo Pháp, Bảo Thế và Hiến Đạo đứng về tiên cáo, thì còn lại mấy vị Hiệp Thiên Đài khác, lẽ thì Hộ Pháp uỷ quyền cho một ông trong mấy vị ấy mới phải, chớ giao quyền thay mặt cho ông Diệp là người ngoại Đạo, là nghĩa lý gì? Tôi cực lực phản kháng việc này.

Giáo Sư Thượng Chữ Thanh nói: Tôi xin trả lời cho ông Hậu: ông Hộ Pháp đã có phái ông Tiếp Thế thay cho Ngài, song vì tình anh em không thể nhóm được, nên ông Tiếp Thế phải về. Tôi xin hỏi bên Hiệp Thiên Đài: hội ngày nay đủ số nhơn sanh chưa? Mấy ông nhóm không đúng luật Đạo, mà dám mời Đạo hữu về hết?"

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: Đạo là Đạo, anh em là anh em. Ông Tiếp Thế vì tình cốt nhục không chịu tranh biện với anh nên bỏ ra về, ấy là tự ý ông Tiếp Thế, nào có ai buộc ông bỏ hội mà ra đâu? Ông Thượng Chữ Thanh trả lời với tôi mà ông còn nói vói thêm những là hội nhóm không đúng luật Đạo, là những câu không ăn chịu với câu nói trên của tôi, tôi cho là nói lạc đề. Nếu ông muốn tranh luận cùng tôi cho rõ hội nhóm đúng luật Đaọ hay không, xin ông chịu phiền hỏi riêng câu khác, tôi sẽ trả lời cho".

Nghị trưởng: Ngày giờ ít tôi xin chư Đạo hữu, ông Diệp Văn Kỳ có quyền dự hội hay không?

Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh đáp: "chẳng đủ luật chẳng đặng phép dự".

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: "Tôi là Bảo-Pháp bên Hiệp Thiên Đài, nay quyền Chưởng quản bảo giữ luật lệ của Đạo, tôi không công nhận ông Diệp Văn Kỳ được quyền dự hội hôm nay".

Ông Diệp Văn Kỳ: "Vậy xin mấy ông nán đợi tôi về trả lời với ông Hộ Pháp coi Ngài còn phái ai đi thế quyền Ngài nữa hay chăng?

Quyền Ngọc Đầu Sư: "Tôi xin nói thêm ít lời cho ông Giáo Sư Thượng Chữ Thanh hiểu: Hiền Hữu thường nói việc hội hôm nay không đúng luật, không đúng phép, không đủ số người hội viên, đủ số thêm cho đông, cho nhiều, càng thêm nhục nhã cho Quyền Giáo Tông không xứng đáng phận sự".

Giáo Sư Thượng Chữ Thanh nói: "Tôi ước ao từ Giáo Tông sắp xuống đều phải tuân luật Đạo, rán làm sao cho trúng luật thì rất may cho Đạo lắm đó, chớ kẻ nhỏ mà bất tuân lớn là không thông hiểu Đạo".

Lê Kim Tỵ: "Ngày hôm nay chư Đạo hữu tựu về đây đông đảo, mà mấy ông cứ nói chuyện ngoại hoài, rốt cuộc vô ích, vậy tôi xin cứ đem vấn đề trong Tờ Vi bằng ra mà bàn tính.

Nghị trưởng: Xin nhắc lại cho chư Đạo hữu nhớ trong các hội nhóm, phàm muốn bàn cải một vấn đề nào thì phải viện lý lẽ cho đủ và nhứt là chẳng nên nói chuyện riêng, đừng có châm chích mà nói dông dài làm mất ngày giờ, xin các ông không nên đem việc cá nhân ra mà nói.

Ông Bác-Vật Phan Lương Báu ở Ô-Môn: "Ngày nay hơn ngàn Đạo hữu đường xa về dự nhóm hội, rồi lại mấy ông nói không đúng phép, thế thì Đạo hữu phải trở về hay sao? Tôi ví dụ như muốn ăn trái cam mà cứ liếm ngoài vỏ thì bao giờ mới nếm được chất ngọt của nó. Vậy xin cứ đem các vấn đề trong Vi bằng ra biện luận, chớ để cải cọ dây dưa ra biết mấy ngày cho rồi?"

Nghị trưởng: Tôi xin nói lời chót, hãy lấy dạ vô tư, tránh sự biện luận lạc đề, buổi nhóm hội nay nói chuyện ông Quyền Giáo Tông mà thôi, chứ đừng luận bàn việc ngoài nữa. Vậy nãy giờ tranh luận việc ngoài cũng đã lâu rồi, tôi xin đọc mấy khoản trong Vi bằng. (Chưa kịp đọc thì ông Tiếp Thế và ông Diệp Văn Kỳ trở vào Bửu Điện).

Ông Tiếp Thế trình thơ: ông Nghị trưởng xem rồi nói rằng "Buổi nhóm hội sớm mai, ông Tiếp Thế đã từ hội về, thì hai cáo giấy của Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp uỷ quyền cho ông Tiếp Thế kể như đã huỷ bỏ rồi; chiều nay ông trở lại chỉ cầm thơ riêng của Hộ Pháp gởi cho ông, chẳng phải giấy của Quyền Giáo Tông phải đến thay mặt. Vậy phiền ông nên về xin Quyền Giáo Tông ký tên vào bức thơ này đặng chứng rõ còn giao quyền cho ông rằng chiều hôm nay nữa".

Đến đây ông Giáo Sư Thượng Bảy Thanh đứng dậy lên tay nói lớn: "Xin lỗi ông, thuở nay tôi vẫn kính trọng ông là hữu tâm với Đạo, nhưng cử chỉ ông ngày nay bất minh, ông lấy quyền nào Chủ toạ hội này? Còn Hội này là hội gì? Lại ông vào Đạo hồi nào không ai hay biết?

Nghị trưởng: À! Ông biết tôi là người hữu tâm với Đạo, chẳng những vậy thôi, mà tôi hết lòng chiêm ngưỡng đạo Đức Chí-Tôn nữa, tuy việc đời ràng buộc tôi ít lên đây, chớ tôi thường hầu đàn nơi khác. Tôi thọ chức Giáo Sư có Thánh ngôn, có văn bằng, ông không biết thì thôi, tôi biết làm sao được? Từ khi mở Hội đến giờ, thái độ của tôi vẫn công bình, chánh trực, ông thấy chỗ nào tôi thiên vị đâu mà dám gọi là bất minh? Chỗ này không phải chỗ lớn tiếng, ông còn làm rầy, tôi xin mời ông ra khỏi hội".

Giáo Sư Thượng Bảy Thanh nói thêm rằng: "Nhà thờ này lập ra nay thành ra trường diễn thuyết, chớ không phải chỗ thờ phượng, nói rồi ông ngó ngay Quyền Ngọc Đầu Sư mà nói lớn rằng: Hiền huynh Ngọc Trang Thanh, tôi cùng Hiền huynh sẽ đối diện ngày về cùng Thầy, Hiền huynh thọ Thiên điều đừng trách. Ông Thượng Bảy Thanh liền đi ra Bửu Điện thì ông Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu kêu lại, xin ông trả giấy tờ bữa nhóm Thượng Hội.

Ông Giáo Sư Bảy nói: Trả lại cho ai? Nói rồi quay đi liền. Cũng liền đó có một vị Đạo hữu đứng lên la-lối om sòm, nói không ăn thua vào đâu hết, nghe ra như nhà thuyết pháp vậy. Bên nữ phái lại có một vị nữ Giáo Sư than khóc inh-ỏi (Và lúc ấy nhà chuyên trách giữ trật tự chưa đến kịp) nên phe phản đối thừa dịp khuấy rối cho mất điều êm tịnh.

Nghị trưởng: "Ông Tiếp Thế, buổi mơi tôi có mời mà ông không ở lại, còn cái thơ ông đem lại buổi chiều nay là của Hộ Pháp gởi cho ông, thì ông không đủ quyền nhóm hội".

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: "Nếu thơ này là thơ riêng của Hộ Pháp gởi cho Tiếp Thế, thì ông Tiếp để dành mà coi".

Ông Tiếp Thế: Sớm mai được hai cái thơ cho thay mặt, Em tưởng là Em đủ quyền trọn buổi hội".

Nghị trưởng: "Nếu buổi mơi ông đừng giận bỏ ra thì ông được trọn quyền dự hội, trái lại ông đã bỏ hội mà đi ra rồi giờ đây trở lại, sợ e Quyền Giáo Tông đã đổi ý, không khứng giao quyền cho ông nữa, xin ông về xin giấy thay mặt khác."

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: "Chỗ này chẳng phải chỗ chơi, ai muốn đến, ai muốn về chừng nào cũng được"

Ông Tiếp Thế: "Thôi tôi lui"

Ông Nghị Trưởng khởi đọc Tờ Vi bằng thượng Hội khoản cáo thứ nhứt.

KHOẢN THỨ NHỨT:

"Về Đạo Nghị định đề ngày 05-01-1933 của Quyền Giáo Tông lập ra mà trục xuất tín đồ Nguyễn Văn Lịch (kêu là Biện Lịch) có Hộ Pháp đồng ý chỉ".

Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ rằng: đây nói về phần luật pháp, không phải nói phần phạm nhân, hễ tín đồ phạm luật Đạo thì chiếu theo Tân luật (chương thứ bảy, điều thứ 27) có Hội Công đồng phán đoán. Hội này được quyền trục xuất; chớ Quyền Giáo Tông không nên lạm quyền đặc biệt của Hội Công đồng, Quyền Giáo Tông trục xuất Biện Lịch như vậy là lạm quyền. Vả lại Quyền Giáo Tông lo phần thiêng liêng, còn phần sửa trị thì có Chức sắc giao thông với Tín đồ. (Theo ý Ngài Giáo Tông thường hay ân xá hay giảm tội, chớ không lẽ tăng hoặc vì việc riêng mà trục xuất một Đạo hữu nào có việc tư riêng với mình lại Hộ Pháp tỏ với Ngài rằng: tưởng là đuổi phạm nhân ra khỏi Toà Thánh chớ không dè là trục xuất nên mới ký tên).

Chư hội viên đều ngạc nhiên cho vị tối cao bên Hiệp Thiên-Đài là Hộ Pháp mà trước khi ký tên một tờ giấy chi chẳng chịu đọc cho hiểu tờ giấy ấy.

Đến đây Quyền Chưởng Pháp Lê Thiện Phước tỏ rằng: vậy thì Hộ Pháp cũng nhìn nhận rằng Quyền Giáo Tông không có quyền trục xuất một Tín đồ.

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu tỏ rằng: có những tờ kêu nài về khoản ấy với Hộ Pháp từ lâu rồi, nhưng ngày nay chưa thấy định đoạt ra sao.

"Lời quyết nghị của Thượng Hội sau khi chư Hội viên bàn tính, thì Thượng hội định huỷ bỏ Đạo Nghị định ngày 05-01-1933 nói trên đây, vì bất hợp pháp và giao tội nhơn ra Hội Công đồng phán đoán theo Tân luật".

Luôn dịp Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu tỏ rằng: Nghe Hộ Pháp giải rằng Toà Thánh và các Thánh địa chung quanh là của riêng Quyền Giáo Tông. Ngài lấy làm lạ, vì Toà Thánh và các Thánh địa là của chung, là giọt mồ hôi của nhơn sanh, không lý nào là của riêng của Quyền Giáo Tông, vì chẳng phải Quyền Giáo Tông lấy tiền bạc nhà mà sắm ra.

Chư hội viên đồng tỏ rằng: lời của Hộ Pháp nói ra như vậy không được chánh lý, Toà Thánh là của cả nền Đạo, tức là của nhơn sanh, không ai được nói của riêng của mình. Vả lại Chí-Tôn đã dạy rằng Toà Thánh là nhà chung của cả bổn Đạo".

Đọc dứt khoản ấy Nghị trưởng hỏi chư hội viên rằng: "Ai có điều chi bào chữa hay phản đối ông Quyền Giáo Tông chăng?" Chư Đạo hữu lẳng lặng không ai nói chi hết.

KHOẢN THỨ NHÌ:

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc Đạo Nghị định đề ngày 11-02-1933 của Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp ký tên về việc thăng ba Chánh Phối Sư lên địa vị Quyền Đầu Sư, Ngài tỏ rằng khi Đức Lý Giáo Tông và Hộ Pháp đã lập sáu Đạo Nghị Định thì Nghị định thứ hai này ngày 03-10-Canh Ngọ (dl: 22-11-1930) đã thăng ba Chánh Phối Sư lên Đầu Sư rồi, sau lại có Đạo Nghị định ngày 30-11-1930 của Hộ Pháp và Lý Giáo Tông đã ban hành đặc biệt rồi, nên không cần phải lập thêm Đạo Nghị định ngày 11-01-1933 làm gì nữa.

Vả lại quyền phong Chức sắc là của Chí-Tôn với Tam Trấn, chớ dưới thế này không một ai được quyền thăng thưởng chức cho một người khác, vì vậy nên Ngài xin huỷ bỏ Đạo Nghị định ở trên.

"Theo lời bàn của Chưởng Pháp Lê Thiện Phước và Nguyễn Trung Hậu thì Thượng Hội không định huỷ Đạo Nghị định ấy, nhưng sửa chữ "Thăng" ra chữ "giao" mà thôi.

Về khoản này cũng không có ai ra nói chi hết.

- Ông Nghị trưởng nói: "vậy thì chư Đạo hữu đừng nhìn nhận hai khoản ấy đúng với sự thật".

Tới đây ông Nghị trưởng có hơi mệt, xin nhượng lại cho ông Quyền Ngọc Đầu Sư đọc tiếp.

KHOẢN THỨ BA:

Ông Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ rằng từ 03-10-Canh Ngũ tuy Đức Lý Giáo Tông đã lập Đạo Nghị định ban quyền cho mỗi vị Đại Thiên phong, nhưng Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đã cả quyền hành Giáo Tông và Đầu Sư. Xin xem các Châu tri sau đây và thơ Quyền Giáo Tông gởi cho ba chánh Phối Sư thì rõ.

Quyền Chưởng Pháp Lê Thiện Phước hỏi: Sao khi đó không phản kháng? – Thì Quyền Ngọc Đầu Sư trả lời rằng thật khi ấy Ngài chưa rõ quyền hành Đầu Sư tới đâu và hai vị Quyền Đầu Sư kia cũng vậy. Ngài nhớ chắc rằng Hộ Pháp có quyền hành của Ngọc Chánh Phối Sư sắp xuống.

Quyền Chưởng Pháp Lê Thiện Phước hỏi: Vậy có điều chi hại Đạo chăng? – Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ rằng: nay nói ra đây cho biết việc trên phạm quyền dưới, làm cho ba vị Đầu Sư không rõ quyền hành của mình (xem vi bằng ngày 25-12-1932). Quyền Thượng Đầu Sư cũng để lời than: Anh Cả nay nắm Quyền Giáo Tông, mai nắm quyền Đầu Sư, nên ba vị cựu Chánh Phối Sư chỉ biết tuân theo lịnh trên hành sự mà thôi.

Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ rằng: Quyền Giáo Tông lập Châu tri gởi cho Chức sắc, Đạo hữu, không tuân y Pháp Chánh Truyền, nắm một lượt hai quyền thì là lạm quyền đó: lớn lấn quyền nhỏ là phạm tội phải giải ra Toà Tam giáo. Cũng có nhiều khi Ngọc Đầu Sư bàn tính với Quyền Giáo Tông xin lãnh hành chánh Quyền Giáo Tông thiệt thọ đi, thì Ngài nói: "không dám, để ở địa vị Đầu Sư!" Câu trả lời này nghe rất khiêm tốn mà ý trí sâu xa.!

"Vì lớn phạm quyền nhỏ nên ba Đầu Sư không được rõ quyền hành của mình. Vả lại Hộ Pháp biết rõ việc lạm quyền này, nhưng không có chỉ giải để đến đỗi sau này mới tỏ ra. Thật tình Ngọc Đầu Sư không rõ quyền hành ấy, nếu thuở giờ mà rõ biết, thì Quyền Giáo Tông không có thế nào lạm quyền được.

Nghị trưởng tỏ rằng: "Quyền Giáo Tông có ý làm như vậy đặng dụng lưỡng quyền, tuỳ theo hoàn cảnh thuận lợi cho mình".

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu tỏ rằng: "Hễ nắm nơi tay hai quyền chẳng phải trọn của mình, đặng lợi dụng là phạm luật đó.

Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ thêm rằng: "Mới rồi đây giữa Hội Thánh và trong Vi bằng của Hiệp Thiên Đài nhóm hôm 11-02-1933 Hộ Pháp có nói rằng: ba Quyền Đầu Sư nắm hai quyền trong tay, muốn làm sao tự ý, nên Ngài phải nói ra đây cho rõ rằng hồi giờ từ 1930 Chánh Phối Sư Quyền Đầu Sư lo việc hành chánh theo trách nhiệm Chánh Phối Sư hết 9/10, một hai khi chỗ nào có cần dùng tới chức Đầu Sư thì mới đem lên thế vị đó vậy; thời Ngài tưởng cho Hộ Pháp phải nói rằng: Quyền Giáo Tông nắm một lượt hai quyền đó mới phải, vì không lẽ hai việc quyền như một (Quyền hành Đầu Sư và Quyền Giáo Tông) mà thấy cái nầy không thấy cái kia, nghĩa là thấy Đầu Sư chuyên quyền mà không thấy Giáo Tông chuyên quyền.

Sau khi hội viên bàn tính, thì thượng hội định rằng "Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt biết mình đã được thăng quyền Giáo Tông, khi thì dùng quyền Đầu Sư, khi thì dùng Quyền Giáo Tông, thì là lạm quyền đó!"

Chiếu theo Đạo Nghị Định thứ nhứt ngày 20-11-1930 của Đức Lý Giáo Tông, thì phạm tội phải giải ra Toà Tam giáo". Dứt khoản thứ Ba, thì ông Nghị trưởng hỏi chư Đạo hữu, có ai bào chữa cho Quyền Giáo Tông không?

Khi ấy có Đạo hữu Phò (Thơ ký mới của Quyền Giáo Tông) đứng ra nói: "Sớm mai ông Tiếp Thế thay mặt cho Quyền Giáo Tông, sao chiều nay ông Nghị Trưởng không cho?

Nghị trưởng: Sớm mai ông Tiếp-Thế tự quyền cáo thối, hai tờ thay mặt kia được kể như đã huỷ rồi. Nay muốn trở lại Hội thì phải xin giấy ông Quyền Giáo Tông uỷ quyền lại mới được. Tưởng chẳng thất công chi, chỉ viết vài chữ ký tên là đủ."

Giáo Sư Thượng Chữ Thanh: Tôi ước ao sao hội vui lòng nhóm lại một lần nữa cho đúng luật lệ, cho ông Quyền Giáo Tông có ngày giờ đến dự.

Quyền Ngọc Đầu Sư: Ông muốn vậy theo ý tôi cũng được.

Nghị trưởng: Như vậy thì dây dưa ngày giờ lắm, chúng tôi nhóm đây cốt công luận coi ông Quyền Giáo Tông có lỗi không? Thiết tưởng nhóm như buổi hôm nay cũng đủ rồi. Mỗi lần mời nhóm thì hao phí mất ngày giờ cho nhơn sanh, song giữa đây muốn cho công bằng, tôi xin hỏi trong hội Vạn linh ai định nhóm một lần nữa? – Nhơn sanh rập nhau một tiếng: KHÔNG BẰNG LÒNG! (1 ngày)

Quyền Ngọc Đầu Sư: Vì nghe một Đạo hữu không rõ luật pháp Đạo, cho rằng làm việc này là bất công, bất chánh nên tôi xin nhắc lại việc Đạo hữu Lịch và hỏi các Đạo hữu, nhứt là Giáo Sư Thượng Chữ Thanh, có biết quyền Giáo Tông trục xuất ai không? Thượng Chữ Thanh: Xin ông Nguyễn Trung Hậu trả lời giùm.

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: Hộ Pháp đã nói là sái phép rồi. Đoạn ông Quyền Ngọc Đầu Sư liền đọc lại Vi bằng nhóm ngày 19-12-Quí Dậu cho chư vị biết rằng Hộ Pháp cũng nhìn nhận Quyền Giáo Tông lập Nghị định mà trục xuất như vậy là sái phép, vì quyền trục xuất Tín đồ là của Hội Công đồng.

Giáo Sư Thượng Chữ Thanh: xin hãy kể tội của Đạo hữu Lịch ra cho công chúng rõ.

Nghị trưởng: Trong Vi bằng chẳng có nói Đạo hữu Lịch có tội hay không có tội, mà chỉ nói việc Quyền Giáo Tông trục xuất như vậy là lạm quyền.

Khi ấy có một Nữ Giáo Sư hỏi lớn lên rằng: "Ông Nghị trưởng Chủ toạ trước Bửu điện, sao không mặc Thiên phục?

Nghị trưởng: Tôi vốn lấy tư cách nhà báo lên đây dự thính, nên mặc Âu-phục, tình cờ lại được cả chư Đạo hữu tín nhiệm cử lên ghế Nghị trưởng, vì vậy mà tôi không mặc Thiên phục.

Lê Kim Tỵ: Anh em chúng ta đã công nhận ông Nghị trưởng là người đủ tư cách chỉ huy cuộc tranh biện hôm nay. Vậy là đủ rồi, mặc Thiên phục cùng là không mặc Thiên phục ấy là điều không quan hệ chi.

Nghị trưởng: Trình cùng chư hội viên, tôi mới được giấy của ông Diệp Văn Kỳ, xin cho phép ông hỏi vài câu trong luật lệ Đạo. Chư hội đồng cho phép:

Ông Diệp Văn Kỳ đứng lên nói: Thưa quí Ngài, trước khi xin hỏi vài câu, tôi xin tỏ trước cho quí Ngài biết rằng: tôi là ngoại Đạo, song tôi thấy suốt trong bổn Đạo dự nhóm đây, chọn cử ông bạn đồng nghiệp Nguyễn Phan Long lên làm Nghị trưởng buổi hội nghị này và cũng nhờ đó mà tôi được biết rằng ông bạn tôi đã vào đạo lâu rồi lại được Ơn Trên ban Thiên chức thì tôi lấy làm mừng cho Đạo. Cái thái độ ôn hoà đứng đắn của ông Nguyễn chẳng những làm cho rực rỡ buổi nhóm hội hôm nay, mà rồi đây, Đạo cũng nhờ đó bước lên con đường vẻ vang sáng sủa.

Tôi sở dĩ muốn hỏi vài điều là cốt cho thấu đáo pháp luật của Đạo, chớ chẳng phải lãnh thay mặt cùng binh vực ai.

Theo như Tân Luật của Đạo mà tôi được thấy, chỉ có một khoản nói về Giáo Tông như vầy:

"Chưởng Pháp phải can gián, sửa lỗi của Giáo Tông, nếu cả ba thấy lẽ vô đạo của Giáo Tông, có quyền đem đơn kiện cùng Toà-Thánh".

Luật này coi dường như không được phân minh cho lắm, một việc rất trọng hệ là việc đem Giáo Tông ra xử mà luật lệ nói tóm tắt như vậy, thì tôi sợ chưa được hoàn toàn.

Còn Quyền Vạn linh là gì? Có phải là quyền gồm cả ba cơ quan yếu trọng: Thượng Hội, Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh chăng?

Ngày hội hôm nay có phải là ngày Hội Vạn Linh chăng?

Tôi xin nói rõ thế nào là Thương Hội? Thế nào là Hội Thánh? Thế nào là Hội Nhơn Xanh?.

Theo lệ thì Thượng Hội gồm có quí vị Chức sắc trọng yếu trong Đạo. Hội Thánh gồm cả Chức sắc trong Đạo kể Phối Sư sắp lên Giáo Tông (Từ Giáo Hữu đổ lên đó là Hội-Thánh).

Ấy vậy mà buổi nhóm hôm nay, Thượng Hội thời như tuồng sáu vị, song sáu vị đều là người đứng buộc tội Giáo Tông, thì bữa nay là ngày xử, tôi e cái quyền hành-vi của sáu vị ấy phải ở trong phạm vi rất hẹp hòi, "vừa buộc tội, vừa xử cũng khó liệu".

Còn Hội Thánh? – Hội-Thánh hôm nay có những ai hiện diện? Theo số Chức sắc mặc Thiên phục tôi thấy đây, thì tôi tưởng e về phương diện Hội-Thánh cũng còn thiếu nhiều lắm. Vậy mà thôi, hai cái cơ quan ấy, thiếu đủ thế nào tôi xin nhượng quyền ấy lại cho quí Ngài phê phán. Ông Ngọc Đầu Sư cho tôi biết Hội-Thánh và Hội Nhơn sanh nhóm mấy kỳ trước có quyết định số Đạo hữu hiện diện là bao nhiêu không?

Quyền Đầu Sư đáp: Không!

Quyền Chưởng pháp Nguyễn Trung Hậu: Nếu mấy kỳ trước nhóm không buộc số quyết định ấy, thì bây giờ không thế bắt chẹt bắt lỏng về số bổn đạo hiện diện nhiều hay ít, vì đã có gương trước kia mà. Ông Kỳ cười... đoạn cùng ông Phương kiếu hội ra về, khi ấy lối chừng 4 giờ 30.

Quyền Đầu Sư đọc khoản cáo thứ Tư,

KHOẢN THỨ TƯ:

Quyền Ngọc Đầu Sư trình Châu tri số 01, ngày 7 tháng 3 Quí-Dậu (dl: 1-4-1933) của Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp lập ra, có bài bố cáo của ba Chánh Phối Sư tạm và tỏ rằng "Cách ít bữa rày (11-4-1933) Ngài có gặp Thượng Chánh Phối Sư nói rằng: Khi đến Giáo Tông Đường, mới hay ra cái Châu tri đó, còn chiều hôm kia (14-4-1933) Quyền Thái Chánh Phối Sư đến phòng thăm hỏi Ngài, thì có cho Ngài biết rằng không có ký tên Tờ bố cáo in vô trong Châu tri số 01, vì là chữ in có phải ký tên sao, mà nói là người ký, cái đó là Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp nay nắm quyền Chí-Tôn mà làm ra Châu tri ấy, rồi tái bút, lập luôn Tờ bố cáo ấy".

Lại lúc Ngài đi khỏi, tại Giáo Tông-Đường có người sai đến nơi phòng Ngài mà lấy con dấu NOPS nhận vào Châu tri ấy. Khi về mới hay cử chỉ ngang ngược đó.

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: Trong châu tri số 01 nói trên đây (trương 5) Quyền Giáo Tông tuân y Thánh ngôn Đức Chí-Tôn ngày 23-12-1931, Ngài và Hộ Pháp nhứt định dụng Quyền Chí-Tôn giúp cho ba Chánh Phối Sư đủ quyền thi hành chương trình hành Đạo định theo Châu tri ấy.

Nhưng mà theo Thánh ngôn ấy thì Chí-Tôn có dặn như:

"Vây từ đây hễ có mạng lịnh chi, đã đủ hai đứa nó, là Lý Giáo Tông và Hộ Pháp hạ truyền thì các con phải hội đủ Nhơn sanh, Hội Thánh và Thượng Hội mà xem xét cho cặn kẻ phân minh đặng thi hành phận sự".

Ấy vậy là chính mình Đức Lý Giáo Tông hạ lịnh, cũng còn phải nhóm ba Đài nói trên đây mà xét, huống là Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt hiện thời trách nhiệm Ngài chỉ do theo Vi bằng của Thượng Hội nhóm ngày 25-12-1932 nhằm ngày 28-11-Nhâm Thìn, trương số 9 mà thôi.

Trách nhiệm ấy như sau đây: "Phần Quyền Giáo Tông chi chi cũng cầu hỏi Lý Giáo Tông dạy bảo mà ban hành theo cho khỏi điều lầm lạc, sơ sót, vì hễ là người thì thân phàm xác thịt, nếu lấy ý riêng mà làm ra thì phải có điều trở ngại. Mỗi vị đương quyền lãnh một chức vụ đặc biệt, thì ba ngôi Chánh Phối Sư sẽ trống, vậy thì Quyền Giáo Tông chọn lựa trong mấy vị Phối Sư đương quyền mà giao chức ấy. Thoảng như khiếm khuyết Phối Sư thì chọn lựa trong hàng Giáo Sư, rồi đem trình cho ba Đài: Hội Nhơn sanh, Hội Thánh và Thượng Hội công nhận theo phép. Việc này đình lại một tuần, đặng Quyền Giáo Tông chọn lựa người. Tóm lại, thì Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp lập Châu-tri số 01 và giao trách nhiệm Chánh Phối Sư cho ba vị Thời quân bên Hiệp Thiên Đài là trái với lời quyết nghị trên đây và không đem ra trình cho ba Đài thì là một sự trái thêm nữa.

Nghị trưởng: Làm Đạo như vậy là muốn chuyên quyền độc tài.

Quyền Chưởng Pháp Lê Thiện Phước hỏi: Pháp Chánh Truyền có giá trị hơn hay là Thánh ngôn chưa kiểm duyệt?

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu đáp lại rằng: "Chiếu theo chương trình về Cơ Bút của Hiệp Thiên-Đài và Cửu-Trùng-Đài lập ra ngày 24-1-1932 mà Thượng Quyền Đầu Sư đã ra Châu tri thi hành ngày 04-02-1932 số 42, thì bài Cơ giáng nơi nào mà không có ban kiểm duyệt xem xét thì Hội Thánh không phép nhìn nhận và đem ra thi hành.

Tờ Châu-tri số 01 ngày 01-3-1933 nguyên vì chiếu theo bài giáng Cơ ngày 12-2-1933 tại Kim-biên và chấp bút ngày 10-3-1933 mà lập ra, nhưng hai bài này không đủ thức lệ buộc Châu tri 42 trên đây, nên Thượng Hội không công nhận vì vậy mà huỷ bỏ Châu tri.

Quyền Ngọc Đầu Sư chỉ về chương trình hành Đạo của ba Chánh Phối Sư trong Châu tri số 01, khoản phái Ngọc, điều thứ 3, về việc thăng chức cho Chức sắc, có câu "Sau khi đem ra ba Đài công nhận thì Giáo Tông và Hộ Pháp ra Đạo Nghị định phong chức. Ngài tỏ rằng hai vị Đại Thiên phong này không đủ phong chức cho ai hết. Khi ba Đài công nhận rồi phải cầu Chí Tôn giáng Cơ thăng thưởng."

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu tỏ rằng: Hội Nhơn sanh và Hội Thánh mỗi năm nhóm có lệ, không lẽ mỗi việc mỗi mời nhóm cho mất ngày giờ và tốn kém cho hội viên.

Quyền Chưởng Pháp Phạm Văn Tươi nói rằng: Có Hội Nhơn sanh thường xuyên, vậy như chưa tới kỳ nhóm thường lệ, mà có việc chi cần kíp, thì nhóm hội thường xuyên mà bàn tính. Vừa đọc dứt khoản tư, ông Nghị trưởng hỏi trong Nghị viên có ai bào chữa cho Quyền Giáo Tông không?

Không có ai nói chi hết. Đọc qua khoản 5.

KHOẢN THỨ NĂM:

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc bài Thánh giáo của Chí Tôn ngày 14-2-1933 do Hộ Pháp và Tiếp Đạo phò loan tại Kim biên, có câu "Khi Đại hội Ngọc Hư Cung".

Chiếu theo Thánh giáo ấy, thì trọn Cửu Trùng Đài từ Giáo Tông đổ xuống tranh quyền phá hư vẻ Đạo, thì phải bị tội hết, cả quyền hành Cửu Trùng Đài phải về Hiệp Thiên Đài nắm trọn. Như có câu "Trả quyền hành chánh cho Hiệp Thiên Đài, thì phải hiểu như vầy: quyền hành chánh ấy trước vẫn là Hiệp Thiên-Đài nên nay mới trả lại.

Nghị Trưởng: Từ thử chưa có Thánh giáo nào nói về khoản đó, chỉ có trong Pháp Chánh Truyền nói rằng:

"Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài mỗi Đài đều có quyền đặc biệt: quyền Hiệp Thiên Đài là quyền Tư pháp, còn quyền Cửu Trùng Đài là quyền hành chánh".

Trả quyền hành chánh cho Hiệp Thiên Đài là một quyền vô lý.

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu hỏi Quyền Ngọc Đầu Sư: Tại sao khi hành lễ đăng Điện chịu làm theo? Không phản kháng? – Thì Ngài trả lời rằng: Lúc đó Quyền Giáo Tông ra lịnh thi hành, Ngài có kêu nài, mà nhắm thế không được, nên phải tuân đỡ cho yên việc tại Bửu Điện, rồi sau sẽ nói. Vả lại lúc ấy Quyền Giáo Tông ngồi tại Ngai mà ra lịnh, quyền Thái Đầu Sư thì vâng liền, Quyền Thượng Đầu Sư thì khóc, nên tôi cũng buộc lòng vâng theo, vì không lẽ để lỗi nơi Ngài.

Sau khi hội viên bàn tính thì Thượng Hội quyết định:

A- Huỷ bỏ bài giáng Cơ ngày 14-2-1933 vì không y theo thể lệ cầu Cơ đã lập ra rồi:

-Một là không phải nơi Quyền Giáo Tông cầu xin mà ra bài đó.

-Hai là bài chấp Cơ này không cầu nơi bửu điện Hiệp Thiên Đài.

- Ba là không đủ mặt Chức sắc có trách nhiệm theo chương trình Cơ bút hầu đàn.

- Bốn là Chức sắc phái Ngoại giáo duy có được phép cầu Cơ hỏi về phần mình mà thôi, còn việc can hệ tới Toà Thánh mà có bài giáng nào nói đến, thì Toà-Thánh phải kiểm soát lại".

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu: xin Chức sắc phái Ngoại giáo, khi nào có bài giáng Cơ nói về Toà-Thánh thì xin các Đấng cho phép Toà-Thánh hay mà cầu lại.

B- Huỷ bỏ bài chấp bút của Hộ Pháp ngày 10-3-1933 tại Hộ Pháp-Đường hay Giáo Tông-Đường chấp bút để dùng học riêng cho mình, không được đem ra ban hành.

C- Bài giáng Cơ ngày 23-12-1931 tại Thảo xá Hiền Cung, thì phải giao cho ban kiểm duyệt xem xét trước rồi mới ban hành.

D- Huỷ Tờ Châu tri số 01 ngày 01-4-1933 (Tháng 3 năm Quí Dậu) vì Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp lấy ý riêng mà lập ra.

E- Phải tuân theo các lời quyết nghị trong Tờ Vi bằng Thượng hội ngày 25-2-1932 đã tuyên bố rồi.

F- Giao ba vị Thời Quân đã qua Cửu Trùng Đài, đã lãnh chức Chánh Phối Sư tạm về Hiệp Thiên Đài tái thủ nguyên chức và chọn lựa ba vị Chánh Phối Sư khác, y theo Tờ Vi bằng nói trên đây.

Nghị trưởng: Có ai tranh cải khoản 5? Chẳng có ai.

Khi chuẩn bị sắp tới khoản 6, ông Nghị trưởng đứng lên nói: "Xin chư Đạo hữu ráng lẳng lặng mà nghe cho rõ khoản thứ 6, khoản này rất quan hệ, có dính dấp với việc đời, thoảng có ai cáo ra Toà đời, thì còn chi danh giá của Giáo Tông!

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc khoản cáo thứ 6.

KHOẢN THỨ SÁU:

Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ rằng: Nguyễn Văn Lịch kêu là Biện Lịch, có vô ba lá đơn kêu nài việc Quyền Giáo Tông bán đất cát không phân minh. Tiên cáo có nạp biên lai 0$20 làm bằng, giấy có in danh hiệu Đại-Đạo và ký tên Trung. Quyền Ngọc Đầu Sư, vì kính nễ bề trên và làm theo phép, nên phong gởi cho Quyền Giáo Tông mà hỏi ý kiến, thì Quyền Giáo Tông trả lời cho Quyền Ngọc Đầu Sư rằng: cứ coi theo giấy tờ ấy xử, như có tội thì Ngài chịu.

Qu. Ngọc Đầu Sư tiếp rằng: nếu Ngài muốn dùng Toà tạp tụng, thì cứ gởi tờ đòi bị cáo là ông Lê-Văn-Trung đến đối nại cũng được, song không nỡ. Vả lại mắc nhiều điều xảy đến liền liền hoài, nên không thể lo riêng một vụ này đặng.

Chư hội viên định rằng ngày nay Ngọc Chánh Phối Sư lên Quyền Đầu Sư thì các đơn từ ấy nên giao lại cho Tân Ngọc Chánh Phối Sư định đoạt.

Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ rằng: Quyền Giáo Tông có lãnh bạc ngàn của Đạo hữu đặng mua dùm đất rừng, có làm giấy ký tên rõ ràng, mà đến nay việc giao lãnh đất cát không rành-rẽ gì hết: kẻ có đất, người không, Đạo hữu kêu nài không ngớt, đơn từ giao lại đặng trả lời cho người ta, mà Ngài không làm cái chi cho minh bạch, cho hết việc thán oán. Quyền Giáo Tông thâu tiền mua đất rồi, phần đất của ai chỗ nào không biết chắc, không giấy tờ gì cho rành rẽ, để tới có người hăm kiện đến Toà đời và có người hết sức kêu nài, rồi bỏ luôn số bạc. Xin coi biên lai 160$ của hai người ở Chợ-lớn thì rõ, lại có một chủ Thánh Thất lãnh bạc mua dùm cho vài chục vị Đạo hữu ở Tân an mà đến nay không biết đất cát chỗ nào.

Thơ từ năn nỉ, kêu nài không biết mấy cái, thét rồi phải đến tận văn phòng của Giáo Tông mà rầy rà, nhục mạ, đòi tiền lại, buộc phải trả tiền lời.

Quyền Giáo Tông kỳ hẹn một đôi tháng, nay cũng mãn rồi mà cũng chưa có chi hết cho người ta, nếu kiện thưa ra không khỏi bị án. Vả lại đất rừng của hai người Lang-sa lãnh khẩn chưa khai phá, chưa có giấy tờ vĩnh viễn, mà Đạo hữu nghe lời mua đất, không có bằng cớ chi cầm tay hết. Thoảng đất ấy nhà nước lấy lại hoặc chủ đất, hoặc người làm trung gian từ trần, rồi Đạo hữu mua đất mới làm sao?

Bởi vì lòng nễ vì, không nỡ đòi xử, nên Quyền Ngọc Đầu Sư gởi các đơn từ cho Quyền Giáo Tông toan liệu cho yên việc. Vả lại thấy Ngài nghèo nàn nên cũng nhắm mắt để cho kiếm chút lợi, miễn là đâu đó làm cho xuôi việc thì thôi, hầu có yên trí mà lo việc Đạo. Ngài chịu cái lỗi ấy.

Ngài xin hội viên cho biết việc Quyền Giáo Tông làm như vậy có nhục đến danh giá của Người và danh Đạo chăng? – Chư hội viên nghĩ vì đã mấy năm nay, Quyền Giáo Tông mỗi tháng lãnh của Hội Thánh năm chục đồng (50$) có nhà cửa tử tế, trong Đạo phụng dưỡng trọng thể. Vả lại là một vị tối đại Thiên phong, chủ trương một nền Đạo, Anh Cả nhơn sanh, phải phế đời toan lo cho Đạo. Bởi các cớ ấy nên Thượng Hội đồng quyết nghị rằng: Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt không được phép lo việc đời, buôn bán để sanh lợi, còn như việc mua bán đất cát không phân minh để đến đỗi người vào Thánh địa đòi hỏi nhục nhã, thì can hệ đến phẩm giá tối cao tối trọng của Quyền Giáo Tông và cho Đạo nữa.

Đọc tới khoản "vài chục Đạo hữu ở Tân an mua đất" thì có một vị Đạo hữu kêu là cựu Thôn trưởng Lưu, hiện đương làm chủ Thánh-Thất Bình-Quới, hạt Tân an đứng ra khai rằng: "Số bạc tôi lãnh của chư Đạo hữu đặng mua dùm đất là 1.400$, tôi giao cho Quyền Giáo Tông hồi năm 1930, Quyền Giáo Tông có nói rằng: mua dùm mỗi mẫu đất là 50$, tới nay đã lâu rồi mà chưa thấy chi hết".

Cũng liền đó có một Đạo hữu có giao số tiền cho Lựu, ra nói: "Sẽ vào đơn kiện nơi Toà đời".

Nghị trưởng: Đạo hữu khoan đã, chúng ta nên điều đình trước với Quyền Giáo Tông, chừng nào không được Đạo hữu sẽ ra Toà đời cũng chẳng muộn chi, mình phải thương Thầy, mến Đạo, việc trong nhà mình tính với nhau là phải hơn. Có câu phương ngôn: "Phải giặt áo dơ trong nhà".

Quyền Ngọc Đầu Sư tiếp khoản cáo thứ sáu, vừa dứt khoản này thì ông Nghị trưởng hỏi: chư Đạo hữu có ai nói thêm điều chi không?

Quyền Ngọc Đầu Sư: Tôi xin cắt nghĩa việc chia đất của Quyền Giáo Tông mua cho Đạo hữu. Quyền.Giáo Tông giao cho hai người là Lễ Sanh Thượng Tài Thanh và Đạo hữu Xướng coi sở đất 113 mẫu, Xướng thì lãnh phần đốn củi bán, mỗi mẫu trên 500 thước củi, giá mỗi thước 0$20. Khi Đạo hữu đưa tiền rồi mà chưa có đất ở đâu, kêu nài thì Quyền Giáo Tông và Thượng Tài Thanh lo chia.

Cách chia như vầy: "Sở đất 113 mẫu nằm theo đường dây thép, nơi cây số 2 ngàn, mặt tiền được 500m, sâu vô 2.000m cắt lấy hai; lấy 1000m trở ra ngoài mặt tiền chia cho 5 Đạo hữu có mặt, mỗi người 10 mẫu, rồi về phải chia lại cho vài chục người khác. Chia rồi, Đạo hữu ở xa đến sau, chưa có phần, kêu nài nữa và không chịu chia ở phía sau, lại đất bị đốn củi gần hết. Khi mua cả năm ba chục Đạo hữu đều kể chắc là đất có cây, không dè đốn hết, chừa gốc lại. Nay muốn khai phá, phải tốn thêm tiền lấy gốc, nên không chịu, kẻ đến đòi tiền lại, người thì hăm kiện.

Quyền Ngọc Đầu Sư vừa nói rồi thì có ba Nữ Đạo hữu đem ra ba biên lai, trình cho ông Nghị trưởng mà nói rằng: Có giao số bạc cho Quyền Giáo Tông ba năm rồi, mà không có được đất, ba biên lai kể dưới đây:

1- Phạm Thị Chi ở Phước Lâm 150$ ba mẫu.
2- Trần Thị Mực ở Phước Hậu 200$ bốn mẫu.
3- Mai Thị Cúc ở Phước Lâm 400$ tám mẫu.

Kế ông Nghị trưởng hỏi thêm: Có ai nói chi nữa không?

– Không thấy ai kêu nài nữa.

Dưới đây, ba biên lai của Quyền Giáo Tông nhận lãnh bạc bán đất cho Đạo hữu:

*Nay tôi làm biên lai có lãnh của Phạm thị Viên ở làng Phước Hậu hai trăm đồng (200$) bạc lớn về tiền mua 4 mẫu đất ở Tây Ninh, về phần đất 113Ha

Biên lai này làm tạm, sau sang bộ sẽ làm giấy.

Chợ-lớn, Le 15 Mai 1930
(Ký tên)
Lê Văn Trung

*"Nay tôi làm biên lai có lãnh của Bà Trần thị Mực ở làng Phước Hậu hai trăm đồng (200$) bạc lớn về tiền mua 4 mẫu đất ở Tây Ninh, về phần đất 113Ha.

Biên lai này làm tạm sau sẽ sang bộ

Chợ-lớn, Le 15 Mai 1930
Lê Văn Trung (Ký tên)

*Tây Ninh Le 23 Mai 1930

Biên lai nhận lãnh của Nguyễn Phước Lưu ở làng Bình Quới, Tổng Thành Hội Thượng (Tân an) số bạc là 50$ về tiền mua 1 mẫu đất (1Ha) đất nơi sở 113 mẫu tại làng Ninh thạnh (Tây Ninh)

Biên lai này làm tạm chừng nào tách bộ rồi sẽ đổi.

Chợ-lớn, Le 15 Mai 1930
Lê Văn Trung (Ký tên)

Quyền Đầu Sư đọc khoản 7.

KHOẢN THỨ BẢY:

Quyền Đầu Sư trình ra một cái giấy vay bạc 300$ ngày 11-11-1931 của Quyền Giáo Tông viết và ký tên, bạc này Quyền Giáo Tông mượn của một vị Hoà Thượng Tàu tên là Âu-Tu ở Chợ lớn, nói rằng qua bên Pháp in Thánh Tượng, kỳ một tháng trả lại. Lâu rồi không trả, buộc chủ nợ đòi hỏi và có viết thơ nhục mạ gởi cho Ngài đưa qua cho Quyền Giáo Tông. Trong thơ có câu "Lời nói của Tiên-nhơn sao không bằng lời nói của thường nhơn?".

Quyền Ngọc Đầu Sư sợ người ta làm nhục mạ nữa nên xin xuất tiền của Hội Thánh 100$ mà trả cho chủ nợ, phải trừ hai tháng phụ cấp cho Quyền Giáo Tông. Nay còn thiếu 200$. Bạc này không rõ dùng khoản nào, nhưng một điều rõ-ràng là Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt lấy danh Đạo mà mượn của người và có nhiều Đạo hữu cho hay rằng Quyền Giáo Tông có mượn bạc, nói rằng lo cho phái ngoại giao, cũng hứa trả lại, mà lâu nay chưa trả cho ai hết. Quyền Giáo Tông lại có lãnh số bạc 1.500$ mà chưa thấy pièces justificatives. Hiện giờ đây Qyền. Giáo Tông cũng thường xuất ngoại, vay mượn xin xỏ, nói rằng lo cho việc ngoại giao.

Khoản thứ bảy đọc dứt, có Giáo Hữu Thượng Áo Thanh coi kho sách ở Toà-Thánh đứng ra biện giải cho Quyền Giáo Tông về vụ 300$ của vị Hoà Thượng ở Chợ-lớn. Người nói số bạc đó Quyền Giáo Tông mượn để đặt Thánh Tượng, hiện nay 500 Thánh Tượng lấy về rồi, để tại kho sách, như ai không tin đến đó coi".

Quyền Ngọc Đầu Sư: chẳng phải nói mượn số bạc mà để xài, không đặt Thánh Tượng. Tôi chỉ nói việc mượn lâu không trả để người ta đòi hỏi, viết thư nói nhiều tiếng nặng nề, xấu hổ cho Đạo và cho Quyền. Giáo Tông.

Đọc tới khoản thứ 8.

KHOẢN THỨ TÁM:

Quyền Ngọc Đầu Sư tỏ rằng một ngày kia Quyền Giáo Tông giao cho Sở giữ cò để gởi thơ, một sắp thư, bảo gắn cò đặng gửi đi. Quyền. Ngọc Đầu Sư coi lại thì thơ của Quyền Giáo Tông ký tên Thượng Trung Nhựt, đóng con dấu Thượng Đầu Sư gởi cho Đạo hữu và người ngoại Đạo, cậy mua nhựt báo "Bảo An". Việc nhựt trình là việc riêng mà dùng tiền của Đạo, tuy không phải là bao nhiêu đó, song Quyền Ngọc Đầu Sư không cho gởi thơ đó, vì là Quyền Giáo Tông lấy danh Đạo gởi hỏi mượn tiền đặng giúp cho Tờ nhựt trình ấy.

Quyền Chưởng Pháp Nguyễn Trung Hậu tỏ rằng: Ông cũng sẵn có trong tay cái thơ của Quyền Giáo Tông viết gởi cho một Đạo hữu là Bà Cả Đường chủ Thánh Thất, để mượn 50$ cho nhựt trình "Bảo An". Thơ ấy ký tên Thượng Trung Nhựt và đóng dấu Đầu Sư, Ngài sẽ giao thơ ấy cho Quyền Ngọc Chánh Phối Sư mời.

"Sau khi hội viên bàn tính, thì Thượng Hội định nhựt trình "Bảo An" không phải của Đại-Đạo, Quyền Giáo Tông mượn danh Đạo cổ động cho Nhựt trình ấy là sái phép.

Đọc dứt khoản này Nghị trưởng đứng lên hỏi: Có ai phản đối điều chi không?

Quyền Ngọc Đầu Sư: Tôi xin cắt nghĩa việc mượn và trả số bạc 280$ - Mượn 280$ nói gởi cho Kim-biên có trả được 190$, trong số 190$ đó có 100$ cũ chủ nợ đổi ra xài được có 50$ và lỗ 50$, nay còn thiếu 90$ nên kêu nài.

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc khoản cáo thứ 9.

KHOẢN THỨ CHÍN:

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc tờ của Quyền Thượng Đầu Sư, Đầu Sư trình cho Thượng Hội rõ việc Ngài trả lời về việc Quyền Giáo Tông cáo hai vị cựu Ngọc và Thượng Chánh Phối Sư hôm Hội nhóm Hội Thánh (ghim theo đây). Chuyện này của Quyền Giáo Tông sắp đặt trước, cậy tay người dưới quyền đặng có trương công cán của mình hồi giờ để hạ nhục hai vị Thượng và Ngọc Chánh Phối Sư giữa Hội-Thánh cho biết. Việc này sau sẽ định đoạt. Không thấy ai ra biện hộ cho Quyền Giáo Tông.

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc khoản thứ 10.

KHOẢN THỨ MƯỜI:

Quyền Ngọc Đầu Sư trình ra một phong thơ. Bề mặt thì có chữ của Hộ Pháp đề như vầy:13-3-1930 thơ này đem ra cho chư hội viên thấy sự giả, mà sự giả này có thể Quyền Giáo Tông biết được, vì có con dấu Thượng Đầu Sư đóng trên keo niêm sau lưng bao thư ấy, Quyền Giáo Tông có gởi Tờ Chức sắc mà giới thiệu thơ ấy. Nay nói cho biết vậy, ngày sau sẽ xin xét lại, nên Thượng Hội chưa định sao hết. (Không thấy ai ra biện hộ cho Quyền Giáo Tông).

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc khoản cáo thứ 11.

KHOẢN THỨ MƯỜI MỘT:

Quyền Ngọc Đầu Sư đem ra một sắp thơ sao lục Thánh ngôn, trong ấy có dạy nhiều việc mà Quyền Giáo Tông không thi hành. Bởi không có mặt Quyền Giáo Tông nên Thượng Hội chưa định sao. (Không ai ra biện hộ cho Quyền Giáo Tông).

Quyền Ngọc Đầu Sư đọc khoản cáo thứ 12.

KHOẢN THỨ MƯỜI HAI:

Quyền Ngọc Đầu Sư đem cái thơ của Thượng Sanh gởi cho Hộ Pháp hồi tháng 3 năm 1930 trách cứ Hộ Pháp và Thượng Đầu Sư, song chưa giáp hai người nên còn đình việc này lại. Không thấy ai ra biện hộ cho Quyền Giáo Tông (Câu này hoàn toàn sai vì thơ chưa đọc về việc của Thượng Sanh).

Nghị trưởng: Trong 9 khoản đầu trong tờ Vi bằng mới vừa đọc rồi, chư Đạo hữu đều thấy bất cứ khoản cáo nào cũng có bằng cớ, không một chút chi oan ức, nhưng có khoản thứ 6 là nặng hơn hết, chư Đạo hữu cũng nên để ý vào khoản này.

Tôi xin khuyên: một người Đạo mà có tội với Đạo thì để cho Thầy xử, Đạo xử, chớ để ra Toà đời thì nhục cho danh Đạo lắm. Trước khi Hội nghị bế mạc tôi xin hỏi hết hội viên hai câu như vầy:

1-Ông Quyền Giáo Tông quả có phạm tội theo chín khoản cáo trong Tờ vi bằng này không?

2-Ông Quyền Giáo Tông còn xứng đáng phẩm vị không.

Cả chư Đạo hữu đồng giơ tay nhìn nhận ông Quyền Giáo Tông có tội và không còn xứng đáng phẩm vị tối cao ấy nữa.

Nghị trưởng: Tôi xin thay mặt ban Uỷ viên trình cho chư Đạo hữu hay phận sự chúng ta tới đây đã dứt, vậy từ đây là về phần Ba Hội định liệu, sao cho phù hợp với điều lệ của Đại Đạo.

Lê Kim Tỵ: Tôi xin chư Đạo hữu nhóm hội hôm nay đồng thanh cảm tạ ban Uỷ viên lấy hết trung tâm, thành ý mà điều đình cuộc hội ngày nay được kết quả rất là mỹ mãn.

Ông Tỵ dứt lời, có một Đạo hữu không rõ họ tên đứng ra nói: Ngày nay Quyền Ngọc Đầu Sư đứng ra tố cáo Quyền Giáo Tông trong khi Ngài vắng mặt và không có bằng cớ chi chắc chắn, ấy là Ngọc Đầu Sư "Hoạ phù thân đái".

Quyền Ngọc Đầu Sư Ngọc Trang Thanh: Tôi có mời Quyền Giáo Tông nhưng Ngài không đến chớ cũng có phái người đến cải lẽ nãy giờ. Mỗi khoản đều có để cho công chúng thong thả biện luận.- Có hai vị Đạo hữu nam và ba vị nữ trình biên lai mua đất, lại có người đòi kiện Quyền Giáo Tông giữa đây, bằng cớ như vậy, nhơn sanh đồng công nhận Quyền Giáo Tông có tội, Đạo hữu ở đâu xa mới đến sau, không rõ trước sau nên mới nói vậy phải không?

Nghị trưởng: Tôi xin lập lại một lần nữa cho chư Đạo hữu nhớ rằng trong 9 khoản buộc tội, chỉ có khoản thứ 6 là hệ trọng hơn hết. Thoảng như một ngày kia chư Chức sắc điều đình việc này không được để cho mấy người mua đất ức lòng kiện ra Toà đời, thì thế nào Quyền Giáo Tông cũng không tránh khỏi đường lao lý, vì có đủ bằng cớ.

Đạo mình thuở nay đã bị người ta nghi ngờ, cách vài bữa đây một viên Phó Thẩm biện nói với tôi rằng: kẻ cầm quyền trong Đạo không minh chánh, vì vậy mà chánh phủ để ý dòm ngó. Vậy xin chư Đạo hữu phải quyết định lẽ nào cho Đạo khỏi mang tai tiếng nữa. Dứt lời Ban Uỷ viên thoái vị, nhường quyền phán đoán cho Hội Vạn linh, chư hội viên Hội vạn linh đồng quyết định việc Quyền Giáo Tông nay có tội như vậy, thì phải đệ lên Toà Tam Giáo Thiêng Liêng định án.

Tới đây đã hết vấn đề bàn giải, hội giải tán hồi 6 giờ chiều cùng ngày.

Nghị trưởng

Nguyễn Phan Long

Phó nghị trưởng

Trương Duy Toản

Từ Hàn

Giáo Hữu Tuyết Tấn Thành

Phó Từ hàn

Chánh Trị Sự Phạm Văn Long

 

 

VI CHỦ


E: To be the master of.
F: Être le maitre de.

Vi chủ là tự mình làm chủ lấy mình. Đối với bản thân sự làm chủ là điều trọng yếu hơn hết. Đức Phật Thích Ca nói: "Thắng một vạn quân không bằng tự thắng lấy mình". Còn đối với đất nước là không chịu làm nô lệ cho bất cứ một cường quyền nào.Nhất là dân tộc Việt phải có tinh thần vi chủ trên hết.

Đức Hộ Pháp nói: "Bần Đạo xin hai chánh phủ phải hiệp với nhau làm một và toàn thể quốc dân Việt Nam không phân biệt đảng phái, Tôn Giáo phải hiệp nhau làm một đừng chia đôi ra. Bần Đạo cầu xin họ sáng suốt đặng định tương lai mình, do mình vi chủ không muốn cầu ai. Nhứt là nước Việt Nam nhờ Pháp nói với Mỹ: Nước Việt Nam đã đánh đổ quyền hành của Pháp, không muốn quyền hành nào thay thế là vậy. Đạo mở tức là Cơ Đại-Ân-xá của Đức Chí-Tôn".

Cơ Đại Ân Xá này tôn chỉ là "Nho Tông chuyển Thế":

"Bần Đạo tìm hiểu Nho-Phong ta đoạt đặng hay đã có trước? Chúng ta thấy nòi giống Việt-Thường này là con cháu nước Lỗ. Nói rằng giống Lỗ lập Đạo Nho, chắc hẳn là Nho Tông chúng ta vi chủ. Nói vi chủ tức là của mình nếu có Đạo Nho sẵn trước thì ta có: Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Phật; ba nền Tôn-Giáo mà mặt địa-cầu nhìn là trọng yếu, bất kỳ là sắc dân nào hay liệt quốc nào cũng đều nhìn nhận là do trong xứ Á Đông này. Thêm nữa Thần-Đạo nguyên do ở tại Phù-Tang, sắc dân vi chủ tức là Nhựt-Bổn đem truyền qua Trung-Huê rồi qua xứ ta. Ta chịu ảnh hưởng quyền-lực của Thần Giáo từ đó. Nhờ có nó Nho-Tông phát triển khác chánh giáo hơn, lại biết Tín ngưỡng một cách đặc-biệt hơn Thần Giáo. Bằng cớ hiện-hữu là ta đã thờ Thần trong các làng ngày nay đó vậy. Ngoài nữa tâm-lý Tín-ngưỡng của nòi giống, của Việt-Nam nhiệt-liệt và thật-thà đối với bất-kỳ đạo-giáo nào. Đến thế-kỷ 19 Thánh-Gíáo Gia-Tô đem đến nước ta truyền-giáo mới thành một trường nhiệt-liệt đua tranh quyết chinh-phục hết thảy tất cả các Tôn giáo khác".

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?
Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

 

 

VICTOR HUGO

(Xem: Nguyệt Tâm Chơn Nhơn. Vần NG.)

 

"Cụ Victor-Hugo, nhà Thi gia trứ danh của Pháp Quốc, giáng Cơ tự xưng là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức là Đệ-tử của Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Bạch Vân Động."

     

 

 

VI DIỆU


E: Subtle.
F: Subtil.

(Vi là tinh tế đến cực điểm; Diệu là huyền vi mầu nhiệm) Nói về pháp đạo thật là tinh tế và sâu kín vô cùng mà trí phàm không thể hiểu biết được. Cái pháp thể sâu kín đó gọi là vi, tinh thông khéo léo không thể dùng ý mà xét hay dùng lời mà bàn là diệu. Tóm lại: những giáo pháp vô thượng của Đức Phật lắm cao siêu mầu nhiệm.

Kinh Di-Lạc mở đầu là câu:

"Khai Kinh kệ vô thượng thậm thâm vi diệu pháp."

無上 甚深微妙法

 

 

VI ĐÀ HỘ PHÁP

E: Sanscrit: Pâladharma, Dharmapâla.
F: Protéger la Doctrine.

Đức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có trả lời Đức Hộ Pháp về nguyên linh VI-HỘ khi Ngài cầu hỏi: tại Báo Ân Đường Kim-Biên, ngày 15-8-Bính Thân (dl: 19-9-1956).

Phò loan: Hộ Pháp - Bảo Đạo

- "Phải! Thì trước đầu kiếp vào nhà họ VI, còn nay vào nhà họ PHẠM. Điều đó có chi khó hiểu mà phỏng đoán. Tiên tri của Bần Tăng đã nhiều và chỉ rõ Việt Nam xuất Thánh thì đã hẳn rồi, còn chi không rõ rệt. Hơn nữa lại còn một điều trọng hệ hơn là DI-LẠC giáng linh, thì Thiên Tôn đã thấy rằng, tiên tri vốn không sai sót. …Vui mừng hơn nữa là từ đây thiên hạ sẽ hiểu rõ Thánh chất của Thiên Tôn và ngọn cờ cứu khổ sẽ cứu quốc cho giống nòi Việt Nam, rồi loán ra cho toàn thế giới chung hưởng."

Quả thật ngày nay Vi Hộ đắc quả Phật Hộ Pháp, gọi là VI HỘ PHÁP, hộ giá Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Vi Hộ Pháp đầu kiếp xuống trần vào nhà họ Phạm, tên là Phạm Công Tắc, làm Tướng soái cho Đức Chí Tôn khai Đạo cứu Đời."

Xem vậy, chữ VI-HỘ hay VI-ĐÀ HỘ-PHÁP viết là "VI" khác hơn Di-Đà-Phật hay A-Di-Đà.

 

 

VI HỘ (Tên Vị Phật)

Giáo Tông Đường: 02-12 Giáp Thìn (dl: 4-1-1965).

Khai Pháp: "Chào Hiền Huynh Bảo-Thế cùng các Em. Tiện đây, Bần Tăng đàm đạo cùng Bảo Thế. Ngày Bần Tăng về Chí-Tôn mới rõ quyền năng Thiên triều vô biên. Chính Bần Tăng rón rén bước vào Bạch-Ngọc-Kinh phải nhờ chơn linh Vi-Hộ dẫn đến. Từ đây mới biết Chí-Tôn phần nào và được thấu đáo nhiệm vụ của Thời Quân chẳng những nơi thế gian mà còn nơi cõi Thiên nữa. Như thế mới khiếp sợ trách vụ mình. Nếu quí bạn được thấy thì tưởng không còn muốn ở cõi trần nữa làm gì. Vậy Bần Tăng ước mong quí Bạn Thời Quân tìm cách dòm về hướng Chí-Tôn để rộng quyền làm tròn Thiên soái mạng."

 

 

VI LỊNH

違 令
E: To infringe an order/
F: Enfreindre un ordre.

Thầy cũng đã dạy: "Các con đã từng nghe lời Thầy khuyên nhủ về chuyện ngừa Cơ bút, thế mà một phần chẳng chịu sửa cải đường ngay cho khỏi lâm vào nẻo Tà-mị đã vi-lịnh Thầy mà dìu-dắt các con lạc bước. Thầy cũng đại lụy mà ngó xem một phần Môn-đệ xứng đáng của Thầy phải sa vào vực thẵm. Các con nên ghi nhớ mà coi chừng đường lối sau này. Thầy đã chỉ rõ nẻo quanh co, thì khá liệu chừng mà bước tới, tâm bền dạ vững, kính mến Thầy là yêu dấu Thầy đó, nên nghe à!" (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.II/48)

 

 

VI MANG

微 芒
E: Mysterious.
F: Mystérieux, microscopique.

Vi: Nhỏ nhặt, hèn, suy, sâu kín, mầu nhiệm. Mang: mũi nhọn. Vi mang là cực nhỏ, không thể thấy được; ý nói: huyền vi mầu nhiệm.

Tiên Giáo (Kinh Tiên Giáo):

"Đơn tích vi mang, khai Thiên Địa,...."

 

 

VI PHẠM

Victor Hugo giáng cơ bằng Pháp ngữ ngày 9-8-1934,

Dịch ra Việt ngữ như vầy: "Những kẻ nào dám vi phạm vào Thiêng Liêng dù xa, dù gần đều phải bị trừng phạt. Hãy coi Pasquier và nhiều kẻ khác đã bị giết bởi phán quyết của Thượng Đế. Không một ai có thể tránh được những cơn thịnh nộ của Trời, nếu chống lại vô vi. Hãy tưởng tượng ra và tin tưởng vào sự công bằng của Thương Đế".

 

 

VI PHẠM THIÊN ĐIỀU

Trích bài Thánh Giáo trên có đoạn: "Đức Hộ Pháp căn dặn chư Thời Quân còn tại thế cố bảo thủ Chơn truyền và Đạo Pháp vì chư Chức Sắc lưỡng đài hành Đạo ngoài lời dạy của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng từ ngày khai Đạo, vi phạm Thiên Điều, bị Thần Thánh lánh xa không ủng hộ; bằng cớ Kim Quang Sứ cho lịnh Qủi Vương cám dỗ và thâu làm môn đệ là khác. Chừng ấy công nghiệp khổ hạnh của chư Chức Sắc đều bị phế hủy hết".

 

 

VĨ ĐẠI


E: Grandiose.
F: Grandiose.

: To lớn, đẹp lớn. Đại: lớn. Vĩ đại là to lớn, đồ sộ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Phải lấy nét đạo đức mà đoán xét thì mới hiểu thấu sự mầu nhiệm vĩ đại của Chí Tôn sắp đặt.

 

 

VĨ NHÂN


E: Great man.
F: Grand homme.

: To lớn, đẹp lớn. Nhơn: Nhân: người. Vĩ nhơn hay Vĩ nhân là người có tài đức lớn và có sự nghiệp vĩ đại đối với một quốc gia hay đối với nhơn loại.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Các bậc vĩ nhân cố tâm cần cù đặng quyết định vận mạng trị dân, an bang tế thế.

 

 

VỊ KỶ

(Kỷ là Ta, là Bản-ngã (le Moi). Vị-kỷ là chỉ biết có Ta, vì Ta, người như thế hoàn toàn ích-kỷ (Égoiste). Phản nghĩa với "vị-kỷ" là "vị-tha" hay là "vô ngã" (la négation de soi) nghĩa là không nghĩ có Ta. Vậy Vị kỷ cũng đồng nghĩa ích kỷ.

Người vị kỷ là chỉ biết ích-lợi riêng cho mình nên không kể đến người khác.Vì quá bảo-thủ cho bản thân mà quên mất sự sống còn của người khác. Do đó, tấm lòng từ thiện không nảy nở được để tế khổn phò nguy, giúp kẻ yếu cô hoạn nạn. Nếu mỗi cá nhân giữ tánh ích-kỷ đó, thì cuộc đời sẽ không thành công. Chính tinh thần Vị tha là một đức-tính cần thiết cho người tu hành nói riêng, cho tất cả mọi người nói chung. Dầu ai dèm pha chê trách mình điều gì cũng đừng nên vội giận. Nghe thấy ai khen điều gì cũng chưa nên vội mừng. Không quá vui vì được phước, mà cũng đừng quá buồn khi gặp tai họa."…

 

 

VỊ NỄ

Đức Hộ Pháp nói trong bài Diễn văn ngày 15-07-Nhâm Thân (dl: 16-08-1932) rằng. "Tệ Đệ duy nói chắc rằng, Tệ Đệ chưa buổi nào biết vị nễ ai tất cả. Phàm hễ ai đã để lòng vị nễ ai, trong mọi việc gì thì tất nhiên phải có duyên cớ buộc ràng: hoặc là bởi chung hưởng quyền lộc, hoặc là chung chịu tội tình, hoặc bị mang tình thân ái, nhưng mà điều sau nầy vẫn ít có, vì sợ để hại kẻ đồng tình, mình bị liên can vào đấy."

 

 

VỊ QUỐC ÁI DÂN

Vì muốn tôn thờ cái tinh thần vị quốc ái dân đó, Ðức Hộ Pháp mới có sáng kiến xây dựng ngôi BÁO QUỐC TỪ để làm nơi hương hỏa phụng tự cho các Ðấng Tiên Vương và các nhà tôn thất có dày công với Tổ Quốc Việt Nam.

 

 

VỊ QUỐC VONG THÂN

(Vị: vì, quốc: nước, vong thân: quên mình). Những người vì nước quên mình là những bậc khai quốc công thần, là những chiến sĩ liều mình hy sinh để giữ gìn đất nước.

Ngày 16 tháng 10 âl: Hạ Nguơn. Cũng trong dịp lễ Khánh thành sự trùng tu Báo Quốc từ, Ðức Cao Thượng Sanh ban huấn từ, có nói rằng: "Vì muốn tôn thờ cái tinh thần vị quốc vong thân đó, nên Ðức Hộ Pháp có sáng kiến xây dựng ngôi Báo-Quốc-Từ để làm nơi hương hỏa phụng sự các Ðấng Tiền Vương, các bậc anh hùng đã dày công với tổ quốc. Ðại Ðạo có phận sự bảo tồn quốc túy, giữ cho còn mãi cái hay cái đẹp đó hầu roi truyền cho con cháu đời sau. Lòng ái quốc chơn chánh của Ðức Hộ Pháp đã làm cho toàn Ðạo mãn nguyện. Nay Hội Thánh tiếp tục gìn giữ dấu tích của Ðức Ngài và tô điểm cho nó còn mãi vẻ uy nghiêm. Ðạo thì dụng từ bi bác ái, cứu khổ nâng nguy. Ðời thì dụng tiết tháo anh hùng, trung can nghĩa khí... Cho nên dù trong cửa Ðạo hay Ðời, những bậc siêu phàm đều có giá trị hiển hách ngang nhau. Trải thân hữu dụng để phục vụ cho Ðạo và nhơn sanh, hay lấy chí anh phong để phụng sự quốc gia, gìn giữ biên cương lãnh thổ. Khi nợ trần giũ sạch, nhục thể trả lại cho lòng đất thì dầu Ðạo hay Ðời, những linh hồn bất diệt cũng đều được hưởng sự ban thưởng thiêng liêng, qui hồi cựu vị".

 

 

VỊ SANH


E: Not-born yet.
F: Pas encore né.

Vị: Chưa, không. Sanh: sanh ra. Vị sanh là chưa được sanh ra.

Di Lạc Chơn Kinh:

"Nhược nhơn đương sanh, nhược nhơn vị sanh,..."

 

 

VỊ TẤT

未 必
E: It is not certain that.
F: Il n’est pas certain que.

Vị: Chưa, không. Tất: ắt hẳn, hẳn như thế. Vị tất là chưa hẳn như thế, chưa chắc.

Vị tất nhân giai bạch thủy: chưa chắc tình người đều như nước lã.

 

 

VỊ TÌNH

(Vị là vì, Tình là tình cảm riêng). Vị tình là vì tình cảm riêng tư mà làm cho mất lẽ công bình trong đoàn thể.

Đức Cao Thượng Phẩm giáng tại Tòa Thánh, ngày 15-02-Ất Hợi (dl: 19-3-1935) nói: "Bần Đạo cùng Thượng Trung Nhựt đã cầu phong cho toàn Hội Thánh, nhưng Đức Lý Giáo Tông còn thấy lắm cớ vị tình, nên người nhứt định đến chính mình người lựa chọn."

 

 

VỊ THUỐC KHỬ TỘI

(Thuốc là chất liệu để chữa bịnh cơ thể, nhưng lời giáo huấn lại là thuốc trị bịnh cho tinh thần; Khử tội là rửa sạch tội lỗi đã gây ra). Lời đạo đức, cùng là sự dạy bảo khuyên răn là phương thuốc rất diệu dụng dùng để rửa sạch lỗi tiền khiên.

Thầy nói: "Cắt ruột ai lại không đau; nếu Thầy không cầu khẩn Thái-Bạch đình hình phạt lại cho tới ngày lập thành Tòa Thánh, các con lấy công mà chuộc tội, thì trong các con chẳng đặng còn lại một phần mười, các con nên lấy lời răn Thầy đây làm vị thuốc khử tội của các con, phải sợ mạng lịnh Thái Bạch."

 

 

VỊ TRÀ HƯƠNG


E: The fragrant tea flavour.
F: Le parfum du thé.

(Vị: Cái cảm giác do lưỡi khi nếm cho biết. Hương: Mùi thơm ngon của trà). Mùi vị thơm ngon của trà có trong các loài hoa suốt trong bốn mùa, như hoa mai mùa Xuân, hoa cúc mùa Thu, dùng làm lễ kỉnh, thành tâm hiến các Đấng cõi thiên.

Bài Dâng Trà có câu:

"Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,
"Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương."

 

 

VỊ VONG NHÂN

Một người chưa chết. Đây là nói một người đau thảm vì cảnh Tử biệt sanh ly, nên dầu sống mà xem như đã chết hay nói nôm-na là dở sống dở chết.

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị có câu:

"Dầu sống sót cũng đành gọi thác,
"Vui chi còn man mác tơ duyên."

Dầu sống sót cũng đành gọi thác: Người đàn bà ngày xưa khi chồng đã chết rồi, thường tự xưng mình là "vị vong nhân" 未亡人 tức người chưa chết, ý muốn nói người đàn bà rất chung thủy với chồng, tuy còn sống sót nhưng xem như mình đã chết rồi, tức không còn tha thiết với cuộc đời nữa.

Trong Cung Oán Ngâm Khúc có câu:

Thôi đi đâu biết có trời,
Bỗng không mà hóa ra người vị vong.

 

 

VÍA

E: Vital spirit.
F: Le fluide vital, l’esprit vital.

Vía là buổi Lễ kỹ niệm ngày sanh hoặc ngày tử của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật hoặc các vị tiền bối đã dày công với nền Đại-Đạo.

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo nói về nguyên căn của Bà Lâm Hương Thanh, đồng thời đây là kỷ niệm ngày cúng giỗ của Bà trùng với ngày Thánh đản của Phật, nhưng trong cửa Đạo Cao Đạo thay vì ngày giỗ, thì gọi là ngày Vía, có lời rằng: "Đêm nay là VÍA Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni mà cũng là ngày Vía Chị Cả của chúng ta là Bà Nữ Đầu Sư Lâm-Hương Thanh. Chẳng biết ngẫu nhiên hay là tiền định mà Bà Nữ Đầu Sư qui liễu nhằm ngày Vía Đức Phật Thích-Ca. Theo Bần-Đạo hiểu biết, tưởng những người ái mộ Đạo Phật nồng nàn hơn hết, chúng ta có thế nói rằng: Bà Nữ Đầu Sư cũng là người đứng đầu sổ của thiên hạ vậy. Trước ngày Đức Chí-Tôn mở Đạo, Bà Đầu Sư duy có biết Đạo Phật mà thôi, chính miệng Bà thuật lại với Bần-Đạo: Từ bé, Bà chỉ để tâm ham mộ Đạo Phật. Không biết có quyền-năng lạ-lùng của Đức Chí-Tôn tiền định hay chăng? Mỗi khi niệm câu chú của Phật để tồn tại, thì Đức Chí Tôn Ngài đứng trong nhà Phật, gọi là Tam thiên Đại Thiên Thế giái. Đức Chí-Tôn là Phật vị, nên Bà đã thương lắm, thương một cách nồng nàn. Khi Đức Chí-Tôn mở Đạo Cao Đài, tức nhiên Phật giáo Chấn hưng đó vậy. Ngày nay là Lễ của Đức Phật Thích Ca và là ngày Lễ của Chị chúng ta, chúng ta nên để tâm cầu nguyện Chơn linh của Ngài và của Bà, tức nhiên là Long Nữ, cả thảy chúng ta đều biết cái bí mật ấy."

Theo "Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo" thì ngoài những ngày Lễ của Đạo còn có những ngày VÍA như sau:

- 15-02: Vía Đức Thái Thượng Lão Quân (Đại Đàn).

- 19-02: Vía Đức Phật Quan Âm (Đại Đàn).

- 08-04: Vía Đức Phật Thích Ca (Đại Đàn).

- 24-06: Vía Đức Quan Thánh Đế Quân (Đại Đàn).

- 18-08: Vía Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ (Đại Đàn).

- 27-08: Vía Đức Khổng Thánh (Đại Đàn).

- 25-12 dl: Vía Đức Chúa Jésus-Christ (Đại Đàn).

Ngày VÍA tức là lấy ngày qui Thiên của các Ngài làm Lễ kỷ niệm. Tuy nhiên chữ "Vía" đây là dùng cho các Đấng thuộc hàng Tam Giáo và Tam Trấn, thì nơi Tòa Thánh thiết lễ cúng Đại Đàn. Như Bà Lâm Hương Thanh đứng vào hàng Đầu Sư thì lẽ ra là làm lễ kỷ niệm hội ngày qui thiên của Đức Quyền Giáo Tông, quí Đầu Sư và chư Chức sắc hàng Thánh nam nữ là ngày 13 tháng 10, thiết lễ cúng Tiểu đàn. Nhưng đây là một ân huệ riêng mà Bà được hưởng là trùng ngày với Phật Thích Ca.

Riêng Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu thì những ngày kỷ niệm này thì gọi là Đại Lễ chứ không gọi là ngày Vía được, vì là hai Đấng Tạo hóa, tất nhiên là bất diệt, không có ngày sinh cũng không có ngày tử.

 

 

(VÍA) ĐẠI LỄ ĐỨC CHÍ TÔN

E: Great feats of the Supreme.
F: Grand fête du Suprême.

Lễ Đức Chí-Tôn là một ngày Lễ trọng đại để toàn nhân sanh tưởng nhớ đến Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế là một Đấng cao cả chỉ có thời buổi Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ này nhân sanh mới được hạnh phúc là mỗi người được đến Đền thờ mà Cúng lạy, cung kỉnh Đức Ngài mà thôi. Nói cho đúng chữ nghĩa thì phải nói là "Đại Lễ Đức Chí-Tôn" chứ không dùng chữ VÍA đối với hai Đấng tự hữu hằng hữu đó là: Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu được. Chỉ có những bậc hữu sanh hữu tử mới dùng chữ Vía mà thôi. (Xem Đại Lễ Đức Chí-Tôn.Vần Đ.)

 

 

VÍA - PHÁCH

E: Ethereal body.
F: Le corps éthéré.

Vía là cái phách của con người, tức là chơn thần, xác thân thiêng liêng.

Phách (Xem chữ Phách)

Ba hồn bảy vía: hán văn gọi là Tam hồn thất phách.

 

 

VIÊN GIÁC


E: The perfect knowledge.
F: La connaissance parfaite.

Viên: Tròn, đầy đủ. Giác: giác ngộ, không còn mê muội. Viên giác là giác ngộ hoàn toàn, thông suốt tất cả.

 

 

VIÊN MÃN

滿
E: Perfect.
F: Parfait.

Viên: Tròn, đầy đủ. Mãn: đầy. Viên mãn là tròn đầy, trọn vẹn, thành tựu.

Tu hành viên mãn: tu hành có chứng ngộ, đạt được kết quả hoàn toàn.

 

 

VIÊN TỊCH


E: To enter in Nirvana.
F: Entrer dans Nirvana.

Viên: Tròn, đầy đủ. Tịch: yên lặng. Viên tịch là tịch diệt hoàn toàn, chỉ trạng thái nhập Niết Bàn.

Từ ngữ Viên tịch dùng để chỉ một vị sư tu đắc đạo, bỏ xác trần, nhập Niết Bàn; về sau dùng chỉ sự chết của một cao tăng.

 

 

VIỄN (Giáo Sư Thượng Viễn Thanh)

Thọ phong Giáo Sư phái Thượng. Thánh danh Thượng Viễn Thanh vào ngày Rằm tháng 10 Bính Dần.

Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo.

 

 

VIỄN DU TIÊN CẢNH

遠 遊 仙 境
E: To take along journey to the fairyland.
F: Faire un long voyage au séjour des immortels.

Viễn: Xa, cách xa, sâu xa, trái với Cận: gần. Du: đi chơi. Tiên cảnh: cõi Tiên. Viễn du: đi chơi xa. Viễn du Tiên cảnh là đi chơi xa đến cõi Tiên.

Ý nói: Cầu nguyện linh hồn người chết đi lên cõi Tiên.

 

 

VIẾT CỦA CHÀNG HỒ

Viết của chàng Hồ là nói về Cây viết của Ông Ðổng Hồ.

Ðổng Hồ làm quan Thái Sử (quan viết sử) đời vua Tấn Linh Công nước Tấn thời Xuân Thu. Ông chép sử rất trung thực, vô tư, không sợ sự đe dọa của bạo quyền, được Ðức Khổng Tử khen là: "Cổ chi lương sử".

Văn Thi dạy Đạo rằng:

Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
Giữa biển ai từng gặp Lão Tô?
Mượn thế đặng toan phương giác thế,
Cũng như nương viết của chàng Hồ.

 

 

VIỆT ĐẢNH

(Việt: vượt qua, chỉ nước Việt Nam chúng ta đã vượt qua sông Hoàng Hà- Động Đình Hồ để tiến về phương Nam, nên còn gọi là cuộc Nam tiến; đảnh hay đỉnh là cái vạc để nấu thức ăn trong cung nhà vua, vì có đông người ăn; còn chỉ những nhà giàu có, quyền quí cao sang. Sau đảnh dùng làm lư hương).

Việt đảnh là lư đảnh để thờ Hoàng tộc, ai thâu đặng bá tánh thì bá tánh là con cái của Hoàng tộc, sau lập Tổ miếu mà thờ gọi là "Lư hương đảnh Việt". Ấy là phong hóa nhà Nam.

Điển tích này từ trong câu thơ của một người "Nặc danh" đến thăm Đức Hộ Pháp khi Ngài đang bị đày nơi Mã Đảo Madagascar (Phi châu):

Đã phong trần chịu phong trần,
Có thân âu phải biết thương thân.
Nam xa ví chẳng vì đường khó,
Việt đảnh mong chi đượm lửa mừng…

 

 

VIỆT GIAN

Đức Lý dạy: "Bần Đạo đã nói, Đạo phải diệt tận trong một lúc, nên trước đã giao quyền lại cho Tòa Tam Giáo. Nay cái màn Việt gian ấy đã lộ ra rõ ràng. Ôi! Đạo chết trước tất là Quỉ Vương xâm nhập. Cầm cả quyền hành Tổ đình, hồn Đạo phưởng phất ngoài muôn dặm, duy còn xác Đạo ngẩn ngơ, như nhà trống bỏ, lũ hoang vào, mặc dầu tung hoành phá nát. Hiệp Thiên Đài khoanh tay chờ coi thành bại há?"

 

 

VIỆT NAM (Tổ quốc)

Nước Việt Nam có hình chữ S. Phân ra ba miền rõ rệt:

Đức Hộ Pháp nói: "Sở dĩ Đức CHÍ-TÔN chọn đất nước Việt Nam này làm Thánh-Địa để Phổ-Độ chúng sanh kỳ ba, chỉ vì Việt-Nam là nơi kết hợp được tinh hoa của tất cả các nguồn Văn minh trên thế giới, Việt-Nam là nơi tổng hợp các ngành đạo đức: Nho, Lão, Thích và cũng là nơi gặp gỡ của hai nền văn minh Đông Tây".

ĐỊA DƯ VIỆT NAM VỀ MẶT KINH TẾ, CHÁNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO

VIỆT NAM ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÀM CƠ QUI NHỨT

NỀN TẢNG ĐẠI-ĐẠO

Thiên thời

Địa lợi

Việt-Nam là một Quốc gia Thiên định

Về Tôn giáo - Tam Giáo ở Việt Nam ngày trước

_________________________________

ĐỊA DƯ VIỆT NAM VỀ MẶT KINH TẾ,
CHÁNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO

Nhìn vào lịch sử Việt Nam không loại trừ huyền sử và cận đại sử để thấu triệt lý do chánh đáng về địa thế ba miền: Nam- Trung- Bắc có sự liên quan mật thiết cùng nhau từng thời kỳ Vương vị cùng Đế Đô của mỗi thời đại. Dựa vào huyền sử, kể từ Lạc-Long-Quân phối hợp với Bà Âu-Cơ sanh ra vua Hùng dựng nước và giữ nước trải qua 18 đời Vương Đế trị vì, đó là giòng giống Rồng Tiên. Về phương diện Địa lý ba vùng:

1- Vùng cực Nam tên nước là Phù Nam, sau đổi thành Chân Lạp (Thuỷ Chân Lap) sau cùng sát nhập vào An-Nam Quốc.

2- Vùng ở giữa nước là Lâm Ấp, sau đổi tên Chiêm Thành, rồi đồng hoá vào An-Nam-Quốc.

3- Vùng phía Bắc.

Tên nước đổi thay nhiều lần:

- Ban đầu tên là Xích Quỉ,

- Qua đời Hồng Bàng gọi là Văn Lang,

- Đến đời Thục gọi là Âu Lạc,

- Qua đời Triệu gọi là Nam-Việt.

- Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhứt, bị Tàu chia làm ba quận: Giao chỉ, Cửu chân, Nhật Nam.

- Đến Bắc thuộc nhà Đường, đặt lại An-Nam Đô-Hộ-phủ.

- Đến đời nhà Đinh dẹp loạn Sứ quân rồi đổi lại Đại Cồ-Việt.

- Đến đời Vua Lý Thánh Tông đổi tên Đại Việt.

- Vua Lý Anh Tông đổi lại An-Nam Quốc.

- Đến Hồ-Quí-Ly đổi là Đại Ngu, nhà Lê đổi lại là Đại Việt.

Khi Vua Quang Trung băng hà, vua Gia Long thống nhất đất nước và cầu phong với Tàu lấy hiệu nước là Nam Việt. Vua nhà Thanh bên Tàu cho rằng đất Nam-Việt đời nhà Triệu ngày trước gồm Lưỡng Quảng, Vân Nam, Phúc kiến, nếu nhận cái tên Nam-Việt là mặc nhiên nhận chủ quyền của Việt Nam trên bốn tỉnh của Tàu. Vì vậy vua nhà Thanh đổi hiệu nước là VIỆT NAM. Đến đời vua Minh Mạng cho rằng cái tên Việt Nam có mang ý nghĩa thần phục nhà Thanh bên Tàu nên cải tên nước lại là Đại Nam cho đến nhà Nguyễn mới dứt.

Năm 1945, tên nước Việt Nam được nêu lại. Sau ngày Hiệp định Genève chia đôi lãnh thổ do Pháp và Việt Minh chia hai miền Nam - Bắc, lấy vĩ tuyến 17 phân ranh (Nam thì Việt Nam Cộng Hoà - Bắc thì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà).

Nhìn tổng quát lịch sử Việt Nam thì tên Việt Nam do nhà Thanh áp đặt cho Vua Gia Long phải ép bụng mà nhận do sự cầu phong. Sử gia Trần-Trọng-Kim cho rằng hai chữ An Nam có ý thần phục người Tàu, nên lấy tên Việt Nam, lại không kể rõ việc cầu phong của vua Gia Long từ cái tên Nam Việt đổi thành Việt Nam. Đó là cận đại sử, để thấy rõ sự liên hệ Tàu- Việt. Tại sao nước ta xưa kia đặt tên nước là Xích Quỉ?

- Do chỗ "Con Rồng Cháu Tiên" nên gọi mình là Xích Quỉ là lửa đỏ, do câu "Hoả Sơn Lữ" (lửa đỏ trên núi) vào thời 50 con theo mẹ Tiên lên núi làm ruộng rẫy gọi là "đào canh hoả Nậu" đó là giai đoạn đi với vật biểu như: Núi, chim, lửa… đúng vào huyền sử 100 con, 50 con theo Cha Rồng xuống biển. Nếu cứ định hai chữ Nam Việt làm tên xứ gồm: Lưỡng Quảng, Vân Nam, Phúc kiến, thế thì cái tên Việt Nam chỉ có nghĩa về địa lý mà thôi.

- Về địa lý: Lịch sử cận đại nước ta có Tonkin là Bắc phần, thủ đô Thăng Long Thành trải qua nhiều thời đại được chấm dứt… tức trải qua nhiều cuộc biến thiên tuần hoàn, nên vượng khí địa lý được thạnh hành nơi Trung Phần: Cố đô Huế… Rồi cũng nằm trong chu kỳ định luật, rồi sang địa lý vượng khí Sài-Gòn, Gia định. Đến đây cuộc tuần hoàn dường phản bổn hoàn nguyên châu nhi phục thỉ trở lại Thăng Long, nên Vương vị Sài-Gòn rất ngắn hạn, cao lắm 9 năm trở lại, nên được chấm dứt vào ngày 30-4-1975, đúng vào dự đoán biến thiên của Thế kỷ. Cứ sau 25 năm gần mãn thế kỷ cũ sang thế kỷ mới thì trải qua cuộc bể dâu của thế kỷ 20 vào năm 1975 là quá đúng. Cuộc tuần hoàn chuyển xây hết loạn tới bình, vận mạng máu xương dân tộc tới hồi kết thúc. Nước Việt Nam được thống nhất theo chủ nghĩa Cộng hoà Xã hội, Thủ đô trở lại Hà Nội, đúng vào qui luật. Đến đây ta thấy nước Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn: hùng hồn, uy liệt làm cho ngoại bang khủng khiếp, kinh hồn cũng có, mà tủi hổ thần phục cũng có… Đó là phần Đời khi nước Việt Nam chưa có Đạo, tín ngưỡng đạo giáo do nước ngoài du nhập mà thôi.

Dân tộc Việt Thường dù phải chịu lệ thuộc hai nước đại bang: Tàu đô hộ trót ngàn năm, Pháp gần trăm năm, nhưng với ý chí quật cường bất khuất nên vẫn đứng vững giữa Năm Châu. May thay, cũng nhờ đức tin cao độ và lòng tín ngưỡng của dân tộc nói chung mà được hồng ân Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế khai sáng nền Đại Đạo trong nước nên gọi là QUỐC ĐẠO lấy danh Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ và cho biết rằng:

Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà,
Nay TA gầy dựng lập nên ra.
Ví bằng ai hỏi sao bao nã?
Rằng trẻ noi sau biến hoá già.

Nay Đấng Chí-Tôn chọn đất Tây Ninh làm Thánh Địa là nguồn cội Đạo Trời để bao bọc, chở che cho toàn nhơn loại vì đạo đức, thương yêu nhau, không sát hại lẫn nhau hầu tránh nạn chiến tranh hạt nhân nguyên tử, cũng tiền định làm nơi thay thế cho ba thành: Sài-Gòn, Chợ Lớn, Gia Định về mặt Tôn giáo.

VIỆT NAM
ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÀM CƠ QUI NHỨT

- Theo Địa-lý-học:

Nước Việt-Nam của chúng ta là một thành phần trong Đông Nam Á và chịu ảnh hưởng văn-hoá của hai xứ Ấn-Độ và Trung-Hoa. Phật Giáo thì do Ấn Độ truyền đến, Đạo-Giáo và Nho-Giáo thì du nhập bởi Trung-Hoa; Tam Giáo hòa hợp, đồng hóa thành một nền nhơn văn đặc biệt của người Việt Nam.

- Theo lịch sử học:

Qua các đời Đinh, Lê, Lý, Trần dùng tinh thần Tam Giáo làm Quốc-học. Nay tuy còn trong thời kỳ Pháp thuộc mà người Việt-Nam vẫn theo Nho Giáo, thờ phượng Tổ Tiên hoặc tụng kinh Phật, sùng bái các Đấng Thần linh.

- Về luân lý học:

Việt-Nam đặc biệt chú-trọng Tam Cang Ngũ thường; Tam tùng Tứ đức và tin tưởng luật Nhơn quả Luân hồi. Gần đây, Thiên-Chúa-Giáo lại du nhập nữa, ấy là một cơ hội mở rộng lòng Tín-ngưỡng của người Việt Nam. Nhờ đó mà chúng ta có một nền Đạo-đức truyền thống sâu xa, vững chắc, gồm cả bốn nguồn Đạo mà ít nước nào có vậy. Nay Việt Nam được thành hình bởi một Tôn giáo toàn cầu đó là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, tôn chỉ "Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi".

NỀN TẢNG ĐẠI-ĐẠO

Nền Đại-Đạo phải có đủ ba yếu-tố: Thiên-Địa-Nhân đó là nền-tảng của Đại-Đạo ngày nay, còn gọi là Thiên-thời, Địa lợi, Nhân hoà.

1- Thiên thời:

Đây là Thiên-Thơ đã định "Khai Đạo muôn năm trước định giờ". Nền Đại-Đạo này tức là Tôn-giáo toàn cầu vậy! Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp tín-ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi, với Tôn-chỉ: Tam Gíao Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt!

Thánh-ý của Chí-Tôn rằng: "Thầy đã lập Đạo nơi cõi Nam này, là cốt để ban thưởng một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy lại tha-thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo Thiên lập Địa, chưa nước nào dưới quả Địa-cầu 68 này đặng vậy, cốt để ban thưởng các con thì các con hưởng phần hơn là đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao!" (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.II/25)

2- Địa lợi:

- Việt-Nam là Thánh-Địa: Chính đây là một nền tảng quan-trọng về vật-chất nữa, là đất nước Việt-Nam: Toàn dân Việt-Nam có chung một niềm kiêu-hãnh về dân-tộc, về đất nước.Vì đất nước Việt-Nam thân yêu của chúng ta có những nét đặc thù khả kính. Lời tiên-tri của Thầy là:

"Một nước nhỏ-nhoi trong Vạn quốc,
"Mà sau làm CHỦ mới là kỳ."

Tuy nhiên cũng nên điểm lại trên thực-tế Việt-Nam có được những yếu-tố nào mà được chọn là nước CHỦ của Vạn quốc trong kỳ Thượng-nguơn Tứ chuyển? Vì sao nước Việt Nam được gọi là Thánh-Địa? Xét về ba phương-diện:

* Về mặt triết-lý văn-minh:

Nước Việt-Nam thọ ba ảnh-hưởng của ba nền Tôn giáo: Thích-Đạo-Nho từ Ấn-Độ và Trung-Hoa truyền sang. Ba nền Tôn-giáo ấy đã được đồng-thời phát triển dưới thời nhà LÝ và nhà TRẦN bằng sự bình-đẳng của ba nền Tôn giáo nói trên. Kịp đến khi văn-minh Âu-châu tràn vào thì Việt Nam lại được hưởng thụ thêm nền văn-minh Cơ-Đốc-giáo nữa. Như vậy, Việt-Nam là mảnh đất gieo Đạo giáo từ lâu; vả lại Việt Nam ít tạo oan báo, nên nghiệp quả của nó cũng nhẹ nhàng. Việt-Nam có đủ điều-kiện để làm cơ qui nhứt toàn Thế-giới vì lý-do ấy.

* Xét về hình thể địa-lý thiên-nhiên:

Việt-Nam nằm vào vị-trí đặc biệt của Á-Châu, mà Á Châu lại nằm vào vị trí trung-tâm của quả đất và Á-châu là châu lớn nhất thế giới. Châu Á thuộc sắc da vàng, theo lý của Ngũ Hành thuộc Thổ mà Thổ chính là ở trung ương. Việt-Nam là cửa ngõ để tiếp nạp các luồng tư-tưởng từ Đông sang Tây cũng là cửa ngõ để phòng-vệ đất nước cho các giống dân miền Đông Nam châu Á.

*Xét về hình thể địa-lý huyền-bí:

Việt-Nam có con sông dài vào bậc nhất thế-giới tất sẽ tạo nên linh-khí thiêng-liêng. Linh-khí ấy tạo nên Long mạch Cửu-Long và dãy Thất-Sơn nơi Châu-đốc đó vậy. Miền Nam là nơi đất mới khai-khẩn nên những quả báo chưa gây nhiều, lại có luồng nước nóng và nước lạnh từ các miền đại-dương hòa hợp để tạo nên một khí-hậu điều-hòa. Lại nữa, vì địa thế và sanh khí tốt lành nên tiền định cho Việt Nam là Thánh Địa của Thế giới mà Tây Ninh là Thánh Địa của Việt Nam.

Đức Chí-Tôn dạy: "Chi chi cũng tại Tây Ninh mà thôi".

Muốn thấu đáo chân lý này, cần suy nghiệm về Đạo học lẫn khoa học về địa thế và máy nhiệm cơ mầu của Đấng Hoá công đã đào tạo sắp bày nơi vùng Tây Ninh Thánh Địa: Về địa thế là huyệt rồng: một vùng đất "Lục Long phò ấn" theo Thánh giáo sau đây: "Sâu hơn ba trăm thước, như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa sáu nguồn làm như sáu con Rồng đoanh nhau, nguồn nước ấy chảy trúng đảnh núi Bà Đen, nên gọi Lục long phò Ấn." Tóm lại: Việt-Nam có đủ điều-kiện: Thiên-Địa-Nhân tức là TAM TÀI để đứng ra chủ-trương một mối Đại Đạo. Tam-Tài ứng với lý Tam-ngôi. Tam ngôi ba điểm đều vẹn thì làm CHỦ thiên-hạ là lẽ thường chớ có gì đâu khác lạ!

Nhưng Thầy cũng thường dạy rằng: "Làm CHỦ đây là chủ về tinh-thần chớ không phải mang binh hùng tướng mạnh đi chiếm đất như các con lầm tưởng. Cái chủ tinh thần mới trường-cữu, còn làm chủ theo thói đời thì nó lỏng-lẻo, bấp-bênh nào có bền-chắc, nào có nghĩa lý gì!" Cái lý Tam ngôi nhứt thể biến sanh Tam-giáo, Tam nguơn, Tam bửu…Số Tam là chu-kỳ của trời đất để thực hiện cơ vận-chuyển hóa sanh, qui hợp. Việt-Nam cũng là một Bát Quái Đồ-Thiên có đầy-đủ các con số ấy, tức nhiên là một Thái Cực-Đồ trọn vẹn.

3- Việt-Nam là một Quốc gia Thiên định:

 

 

 

Với đất nước Việt-Nam cũng thế, cũng có đủ yếu tố Âm-Dương như trong một cơ thể con người toàn vẹn. Nhờ Việt-Nam được kết tinh tú-khí Âm Dương điều hòa mới được đứng vào hàng địa linh. Khi đã là địa-linh tất nhiên xuất hiện nhiều nhân-kiệt.

Việt Nam là một Thái Cực Đồ chia hai phần rõ rệt:

- Phần đất liền là Thái Dương.
- Phần biển là Thái Âm.

Trong đất liền có biển Hồ (thuộc Cambodge) là nước trong đất tức là Thiếu Âm.

Trong biển có đất (đảo Hải Nam ở Trung-Hoa là đất trong nước) là Thiếu Dương.

Như vậy bốn yếu-tố trên hợp thành Tứ Tượng.

Giữa dãy đất có rặng Ngũ Hành-Sơn để định cái tâm của vòng tròn tạo thành một Hậu Thiên Bát-Quái mà núi này đứng vào Ngũ trung. Việt Nam là một Thái Cực Hoàn đồ.

*Miền Bắc có Thăng Long thành (kinh đô nhà vua).
*Miền Trung có Cố-Đô Huế (kinh đô nhà Nguyễn).
*Miền Nam có Tòa-Thánh Tây-Ninh là (Thiên-triều của Thượng-Đế).

Ba kinh-đô này đã chấm đậm 3 nét Dương hùng-vĩ lập thành Tam Tài (Thiên- Địa- Nhân) là quẻ CÀN Càn vi Thiên (Càn là trời). Hơn nữa bờ biển Việt-Nam chạy suốt từ Bắc đến Nam như một xương sống xuyên qua Quẻ Càn biến thành chữ VƯƠNG . Nhưng vì có Tòa Thánh Tây Ninh ở miền Nam Việt-Nam, do Đức Chí-Tôn ngự là một Thiên triều của Thượng-Đế, thế nên chữ Vương biến thành chữ CHỦ tức nhiên Việt-Nam là một quốc gia Thiên định, như lời Đức Ngài có tiên tri từ thử. Trong đất nước Việt-Nam còn có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, đó là:

Châu-Đốc có Thất Sơn là 7 núi; đối với người là thất khiếu Dương ở mặt, người tu biến thất tình thành Thất khiếu sanh quang để suốt thông trời đất.

Miền Nam có Cửu Long giang, phát-nguyên từ ngọn núi cao nhất thế giới là nguồn phát xuất tức là Hy Mã Lạp-Sơn (Hymalaya), đổ ra sông Hoàng Hà chảy dài từ Ấn Độ, Trung-Quốc qua Lào, Miên, rồi ra 9 cửa tạo thành Cửu Long-giang chín khúc (ở toàn người là Cửu khiếu).

Địa thế miền Nam Việt-Nam như một mình Rồng uốn khúc, dài từ mũi Cà-Mau đến ải Nam-Quan thật linh động. Thế đất Việt-Nam là một con Rồng khi ẩn khi hiện có đỉnh đầu là dãy Thất Sơn (Châu Đốc): có hai mắt là núi Dương Đông (Phú Quốc) và núi Thạch Động Hà-Tiên, vùng Cần-Thơ có miệng là các cửa sông Cửu Long, chót lưỡi là núi Côn Lôn (Côn Đảo).

Chấm đậm 12 huyệt sáng-suốt, 6 huyệt chánh, 6 huyệt phụ và huyệt trung ương là huyệt hội các huyệt, mà số 12 huyệt lại thuộc về Tâm-điền-huyệt, cho nên khiến các hạng dân trong nước lần lần xu-hướng vào đường đạo hạnh. Các huyệt vừa kết tụ thì các Tôn-giáo, giáo-hội lần lần phát triển, nhân dân mở rộng tâm thiện biết hướng về đạo pháp, biết tín-ngưỡng tu trì.

Dân Việt-Nam theo thời cơ thiên-định, tinh-thần rất thông-minh, tài trí, đức hạnh; các hồn linh chuyển kiếp làm con người trong nước, vì mảnh đất Việt-Nam được coi như là một thí điểm. Nam phần Việt-Nam là nơi địa huyệt, thích-hợp với sự tiến hóa của các linh-hồn ấy. Cho nên các linh hồn tốt đẹp, ưu tú khắp nơi hội hiệp tại Nam phần Việt-Nam do luật trời biến động "nguồn ân thánh triết" lâm phàm sẽ thâu các linh hồn ấy vào hàng Môn Đệ của Đức Thượng Đế đúng vào địa cầu này vậy. Quả đúng như lời tiên-tri của Đức Chí-Tôn về Thượng Nguơn Thánh Đức, mà Đức Ngài đã dạy. Nói đúng ra Việt Nam là một Thái-Cực-Đồ trọn vẹn.

4- Về Tôn giáo: Tam Giáo ở Việt Nam ngày trước.

Theo địa dư học, nước Việt Nam của chúng ta là một thành phần trong Đông Nam Á và chịu ảnh hưởng văn hoá của hai xứ Ấn Độ và Trung Hoa:

- Phật Giáo thì do Ấn Độ truyền đến,
- Đạo Giáo và Nho Giáo thì du nhập từ Trung Hoa.

Tam Giáo hòa hợp, đồng hóa thành một nền nhơn văn đặc biệt của người Việt Nam.

Theo lịch sử học, đời nhà Đinh, nhà Lý, nhà Trần dùng tinh thần Tam Giáo làm Quốc học. Ngay trong thời kỳ Pháp thuộc, cũng còn thấy người Việt Nam:

- Tụng kinh Phật, đi chùa, đi miễu (Đạo Phật).
- Hoặc theo bóng, chàng, đồng cốt (Đạo Lão).
- Hoặc thờ phượng Tổ Tiên (Đạo Nho).
- Hay sùng bái một vị Thần linh nào (Thần Đạo).

Về luân lý học thì chú trọng Tam Cang, Ngũ Thường; Tam Tùng, Tứ Đức và tin tưởng luật Nhơn quả, Luân hồi (Nhơn Đạo).

Gần đây, Thiên Chúa Giáo lại du nhập nữa, ấy là một cơ hội mở rộng lòng tín ngưỡng của người Việt Nam. Nhờ đó mà Việt Nam có một nền đạo đức truyền thống sâu xa, vững chắc.

Ngày nay, buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ,Thánh-Ngôn Thầy dạy ngày 24-4-1926:

"Vốn từ trước, Thầy lập Ngũ Chi Đại Đạo là: Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo. Thầy tùy phong hóa của nhơn sanh mà gầy Chánh giáo, vì trước, Thế giái chưa thông đồng Nhơn sanh chỉ hành Đạo nơi tư phương mình mà thôi. Còn nay thì Càn Khôn dĩ tận thức, nhơn loại hiệp đồng thì Nhơn sanh lại bị nhiều Tôn Giáo mà sanh nghịch lẫn. Vậy Thầy nhất định Qui Nguyên Phục Nhứt".

Tóm lại: Đức Chí-Tôn:

- Qui Nguyên Tam Giáo thành một học lý;
- Còn Hiệp Nhứt Ngũ Chi là chỉ vào sự thực hành.

Khi mới nhập môn thì thể hiện Nhơn Đạo, rồi tiến lên Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo.

Có người nói Tam Giáo và Ngũ Chi, mỗi mỗi đều có qui điều, giới luật, kinh điển riêng biệt, vậy làm sao mà Qui Nguyên Phục Nhứt được?

Tìm những thắc mắc và truy nguyên các lẽ ấy:

Nói về sự tín ngưỡng:

- Nho Giáo thì tin tưởng rằng Linh hồn người ta bất diệt. Tiền bối của chúng ta có chết là chết phần xác nhưng phần hồn vẫn sống và luôn luôn cận kề với con cháu thân yêu để hộ trì, giúp đỡ. Cái lẽ thờ phượng Tổ Tiên của người Việt Nam bắt nguồn từ đó.

- Đạo Giáo tin tưởng rằng trong Thế giái Hư linh có Thần linh, sinh động và hằng cứu độ chúng sanh trên đường tấn hóa.

- Phật Giáo: tin tưởng vào "Pháp" tiếng Ấn Độ gọi là Dharma. Chữ "Pháp"nghĩa là luật pháp của Tâm linh. Kẻ tu hành theo đó thì có thể "Minh tâm kiến tánh thành Phật".

Tóm lại:

- Nho Giáo tin tưởng linh hồn bất diệt.
- Đạo Giáo tin tưởng Thần linh.
- Phật Giáo tin tưởng Tâm linh siêu nhiên.

Danh từ tuy bất đồng, nhưng tựu trung chỉ về linh hồn là điểm tánh của Thái Cực Thánh Hoàng ban cho người ta và linh hồn có thể trở về với cội sanh mình là Trời, nếu người ta biết thực hành theo Đạo Pháp.

Nói về học lý:

- Nho giáo hay Khổng giáo: Đức Khổng Phu Tử mở rộng một khoa Luân lý học, lấy Thiên lý là cốt yếu. Thế nên, mặc dầu trải qua muôn đời, vạn kiếp, khoa Luân lý-học ấy vẫn không hề sai chạy và dân tộc nào cũng có thể áp dụng được.

Đức Hộ Pháp nhận định:

Sau đời Mạnh Tử, Nho giáo càng ngày càng lạc lầm, đường Thiên lý chẳng cầu, chỗ thâm diệu không rõ, chỉ học đặng khoe tài hay giỏi, dục lợi cầu danh, tổn nhơn ích kỷ, chớ không chịu học để sửa mình, tầm hiểu cho tột cùng cái lý cao siêu huyền bí, cái cơ nguồn cội của muôn loài.

Học là để mở mang tinh thần, trí hóa, đặng trau giồi cho tận thiện tận mỹ cái cơ hữu hình; chớ học mà để cầu vinh hay là mong mỏi đến quyền cao chức cả, ấy là người tiểu nhân hạ trí, không biết cầu lấy cái cao siêu quí trọng nhứt là Thiên chức mà Trời đã nấy trao.

Con người có hai phận sự: Thứ nhứt là Thiên chức, thứ nhì là Nhơn tước.

Thiên chức là cái chức vụ thiên nhiên của Trời phú cho người; còn Nhơn tước là cái tước phẩm phàm trần của người phong cho người.

Người quân tử bao giờ cũng trau giồi tánh cách cho hoàn toàn, đào luyện tinh thần cho thuần khiết, để lo cho tròn cái Thiên chức ấy. Vả lại con người, hễ Thiên chức đã hoàn toàn thì Nhơn tước nào lại khó chi. Nhưng người đời lại hay có tánh ham ngọn mà bỏ gốc, nên hằng đem hết Thần hồn mà đắm say về Nhơn tước, chớ không cần nhớ đến cái Thiên chức chút nào. Ấy thiệt là đám hủ nho vậy".

- Đạo Giáo hay Lão giáo: Đạo Giáo dạy về Vũ trụ thiên nhiên. Đức Lão Tử cho sự vật ở đời là ảo ảnh; kẻ học nên tìm hiểu Chơn lý bất di bất dịch kia mà cố gắng thể hiện Chơn lý thành tâm đức của mình, cầu một nếp sống tiêu diêu theo đạo tự nhiên. Sách Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu có câu:

Thoát trần một gót thiên nhiên,
Cái thân ngoại vật là Tiên trong đời.

Nay, Đạo giáo thì quá ư huyền bí, nên người bực thượng trí mới thấu đáo chỗ căn nguyên; còn thường nhơn trí hạ là rất khó thông cơ mầu nhiệm vô cùng, bởi vậy mới hiểu lầm tưởng sai, mà bày ra phép tắc, phù chú làm cho mê hoặc thói đời, thêm hủ phong bại tục, khiến người nhiễm lấy dị đoan, nào là hô phong hoán võ, tróc quỉ trừ ma, bày binh bố trận, mới biến ra Tả đạo Bàng môn, thiệt là rất hại.

- Phật Giáo thì cho rằng Tâm linh người ta rất huyền nhiệm. Kẻ tu hành cứ khai sáng nó đến cùng độ thì sẽ giác ngộ được Phật tánh. Tự giác là pháp môn giải thoát kiếp luân hồi, nhơn quả.

Tóm lại:

- Nho Giáo dạy về Nhơn sanh,
- Đạo Giáo dạy Đạo tự nhiên,
- Phật Giáo dạy pháp môn giải thoát kiếp sanh tử.

Tam Giáo tuy lập luận khác nhau về danh từ, về cách học, về hình thức, nhưng tựu trung tinh thần thì Tôn giáo nào cũng lấy Tâm Tánh làm căn bản học hành. Mà muốn thâm nhập vào Tâm Tánh, khám phá những lẽ huyền nhiệm của nó thì phải dùng Vô-Vi-Pháp. Đây là điểm Tam giáo đồng nhứt lý và có thể qui hợp thành một học thuyết:

Xét Nho Giáo, chúng ta thấy Kinh Dịch bảo rằng: "Vô tư dã, vô vi dã tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố" có nghĩa là không suy nghĩ, không hành động, yên lặng mà chẳng động, đến khi cảm thì thông suốt cái đại lý của Thiên hạ. Lại nói rằng: "Đại nhơn vô tư" là bậc đại nhơn không nghĩ quấy, mà trái lại, họ luôn luôn giữ Tâm lặng lẽ vô sự, để rồi cảm thông với Thiên lý là căn bản Nhơn Đạo mà họ phải thể hiện. Sách Luận Ngữ chép rằng: "Tử vô tứ, vô ý, vô cố, vô ngã". Cũng có nhiều sách nhắc nhở câu: "Vô vi, vô ngôn, vô dục". Phép vô vi nầy, người nào thực hiện được thì tâm trí thông sáng được đại lý trong thiên hạ: "vô vi nhi trị".

Đạo Giáo giải bày Vô-Vi-Thuyết rõ ràng hơn. Chính Đức Lão Tử là người ẩn dật để thực hiện nó. Đạo Đức Kinh thường nhắc câu: "Vi vô vi, sự vô sự, vị vô vị" tức là vi chi ư vị hữu trị chi ư vị loạn. Lại có câu: "Thánh nhơn vô kỷ, vô công, vô danh". Thánh nhơn không cầu công ơn, không tư kỷ, không ham danh, mà ngày nay Đức Hộ Pháp dạy người Tu phải đạt cho được ba ngàn công quả (3.000) cũng do lẽ đó.

Ấy là:

- Chí nhân vô kỷ (số 0).
- Thần nhân vô công (số 0).
- Thánh nhân vô danh (số 0).

Như thế là khi đạt được ba số không (000) rồi đặt số 3 trước các con số không ấy thành ra 3.000 công quả.

Phật Giáo: Đức Thích Ca Mâu Ni bỏ ngôi Thái Tử giàu sang, bỏ nếp sống Vương giả trong hoàng cung, tách mình ẩn dật trong rừng sâu, để tìm Chơn lý tuyệt đối. Đó là thể hiện Vô-Vi-pháp. Bát Nhã Tâm Kinh có câu "Vô sắc vô không, vô ngã, vô thường, vô pháp, vô tranh, vô tướng, vô sở hành, vô sở đắc".

Như vậy: Tam Giáo nương Vô-Vi-Pháp để hàm dưỡng sự tịch tịch linh thông, giải thoát được cái thân ô trọc, hẹp hòi, để rồi hòa đồng với võ trụ, hòa đồng với Thượng Đế. Đó là điểm Tam Giáo đồng nhứt lý. Cho nên người xưa bảo rằng: "Đồng nhứt trong cái sai biệt". Còn Đức Khổng-Phu-Tử nói rằng: "Đồng qui nhi thù đồ, nhứt trí nhi bách lự". Thiên hạ đồng về một chỗ, nhưng do nhiều đường lối khác nhau; đồng đến một điểm, nhưng do trăm ngàn ý nghĩ khác nhau.

Đức Thượng Phẩm nói: "Về việc lập quốc cho nòi giống Việt-Nam, mặc dầu địa thế của nó nhỏ, nhưng sẽ được các liệt-cường trợ giúp cho nó thành một nước độc-lập hoàn toàn mà lại còn là trụ cốt thái bình cho vạn-quốc nữa. Vì chính nước Việt-Nam đã được Đức Chí-Tôn định là Thánh-Điạ thì tức nhiên nó phải có chút ảnh hưởng của Đạo Cao-Đài quyết-định, không dựa vào hình-thức nào hay là chút ảnh-hưởng văn-minh của một liệt cường nào cả. Vì sự tiền-định khéo-léo và cao trọng như thế mà Đạo Cao-Đài sẽ được vi-chủ về mặt tinh-thần để chấm dứt cuộc chiến-tranh tàn khốc của hoàn-cầu. Theo thế thường, đời càng gay mà muốn lập lại đời thái-bình thì phận-sự của Đạo lại càng thêm khó-nhọc và nặng-nề. Vậy các Thiên-mạng phải cố tâm trì-chí, đứng trọn trong khuôn-khổ Đạo thì mới được dễ-dàng để bước qua những trở ngại trên phận-sự mà thành-công một cách mỹ mãn. Các Em cứ đặt trọn Đức-tin nơi Đạo rồi thì mọi việc sẽ được như ý".

Đức Hộ Pháp nói: "Tổ-phụ ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu LỤÂT NHƠN QUẢ ngày nay. Bần Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ-tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô-lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong. Các con để tâm suy nghĩ; ngó thấy ở dưới thế gian này ai mạnh cho bằng Tần Thủy-Hòang, Thành Cát Tư Hãn? Có ai mưu sĩ cho bằng Tào-Tháo? Còn Đức Thích-Ca, Đức Chúa Jésus-Christ không có một tấc thép trong tay để bảo vệ lấy thân mà làm bá chủ hòan cầu mới là lạ cho chớ!"

Vị Giáo Chủ hữu hình của nền Đại-Đạo tại Việt Nam là:

Đức Hộ Pháp nói: "May một điều là Tôi còn thiếu với Đức Chí-Tôn Tôi xin đầu kiếp, thiếu hay không mà kiếp này Tôi là tên dân nô-lệ cho nước Việt-Nam, đã chịu thống-khổ tâm hồn lẫn hình thể trên 35 năm. Tôi không xin, không biết tại sao Tôi đầu kiếp xuống dân Việt-Nam, Tôi cảm-kích vô hạn: nào chịu khổ, nào chịu bạc nhược và yếu-hèn, tại thấy nhơn loại đau đớn Chí-Tôn mới đến mở một nền Tôn-giáo, làm một khối sanh quang cho toàn nhơn-loại đó là cái danh-dự của nước Việt Nam đã chịu khổ. Vì cái tình Chí-Tôn đối với dân tộc Việt Nam nên Tôi thí thân phải chết mới đền bồi xứng đáng".

 

 

VIỆT NAM THÁNH ĐỊA

Đức Thượng Phẩm nói: "Về việc lập quốc cho nòi giống Việt-Nam, mặc dầu địa-thế của nó nhỏ, nhưng sẽ được các liệt-cường trợ giúp cho nó thành một nước độc-lập hoàn toàn mà lại còn là trụ cốt Thái-bình cho Vạn-quốc nữa. Vì chính nước Việt-Nam đã được Đức Chí-Tôn định là Thánh-Điạ thì tức nhiên nó phải có chút ảnh hưởng của Đạo Cao-Đài quyết-định, không dựa vào hình-thức nào hay là chút ảnh-hưởng Văn-minh của một liệt cường nào cả. Vì sự tiền-định khéo-léo và cao trọng như thế mà Đạo CaoĐài sẽ được vi-chủ về mặt tinh-thần để chấm dứt cuộc chiến-tranh tàn khốc của hoàn-cầu. Theo thế thường, đời càng gay mà muốn lập lại đời Thái-bình thì phận-sự của Đạo lại càng thêm khó-nhọc và nặng-nề. Vậy các Thiên-mạng phải cố tâm trì-chí, đứng trọn trong khuôn-khổ Đạo thì mới được dễ-dàng để bước qua những trở ngại trên phận-sự mà thành-công một cách mỹ mãn. Các Em cứ đặt trọn Đức-tin nơi Đạo rồi thì mọi việc sẽ được như ý. Cần nhứt là các Bạn THIÊN MẠNG phải làm khác hơn.

Hiện các em đã thấy biết bao nhiêu màn đời thay đổi liên-tiếp mà những màn ấy cũng chẳng làm cho dân Việt-Nam được hưởng cảnh Thái-bình. Càng thay đổi càng làm cho dân chúng Việt-Nam thêm hoang-mang, hồi-hộp và cảnh tương-tàn tương-sát của Việt-Nam cũng chưa thấy giảm bớt chút nào mà lại càng tăng thêm cực độ.

Các em biết tại sao vậy không? Nói nghe thử?

-Trúng!... Nhưng còn thiếu một chút là dân Việt-Nam chưa được mãn nguyện cho sự lãnh-đạo của những bậc giả thương dân-chúng đó vậy.

Vậy có câu "Dĩ đức phục nhơn", tức là lập hòa-bình bằng nhơn-đức, mà chính các vị lãnh-tụ không thật-hành được mảy-may nào cả thì đừng trông chi họ đem hạnh-phúc và nguyện-vọng chơn-chánh đến cho dân-chúng được. Dầu cho phải thay màn như vậy nữa dân-chúng Việt-Nam chắc-chắn không bao giờ đạt vọng được cũng vì sự bất lực của quyền đời như vậy".

 

 

VIỆT NAM LÀ TÀU - TÀU LÀ VIỆT NAM

Đây là lời xác nhận của một vị Thánh người Trung hoa (quen gọi là nước Tàu) rằng: "Việt Nam là Tàu:" vì Việt Nam trước đây đã hấp thụ một nền văn hóa cao sâu của các Thánh Khổng, Mạnh, Lão, Trang, nhưng ngày giờ này là thời "Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi" cho nên dù là nước nào cũng phải lấy đạo đức của chính ông Thầy Trời đến dạy, thì phải lấy tinh thần đạo đức đó làm trọng, mà Đạo-đức khởi phát từ Việt Nam thì dẫu là "Tàu cũng là Việt Nam" trên tinh thần Qui hiệp ấy.

Ngài Tôn Văn tức Tôn Trung Sơn giáng Cơ xưng là Tôn Sơn Chơn Nhơn. Ngài giáng tại Phạm nghiệp, ngày 11-4-Ất Hợi (dl: 13-5-1935).

Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo.

"Chào chư vị Đại đức, Âu Dương Hiền đệ và Từ Huệ. Bình thân. Bần Đạo tưởng chẳng cần nói rõ thì Âu Dương Hiền đệ cũng đủ hiểu rằng: quê hương của chúng ta ngày nay vì tấn bộ trong đường vật chất văn minh nên đạo đức như ra phế hủy. Hại thay! Tinh thần Trung-huê từ trước chỉ nhờ đạo đức mới bảo thủ giống nòi, vững gìn đại quốc. Nếu đạo đức tiêu hao thì thế nào an quốc, vì trên 500 triệu sanh linh chỉn coi đường danh là quí, nẻo lợi là hơn, thì trường tranh đấu thế nào không náo nhiệt. Hễ có tranh đấu ắt có nghịch thù, hễ có nghịch thù thì ngoại bang xúm xui mưu làm loạn, loạn thì nhược, nhược thì vong, vong hưng Tàu đều do trị loạn, trị đặng chỉ nhờ Đạo, Đạo thạnh mới mong mỏi nước hưởng thái bình. Hiền đệ nghĩ đến điều ấy, rồi mới biết phận sự dành để cho Hiền đệ rất nên yếu trọng. Ấy là tương lai ngày sau. Còn buổi nầy nương ngụ hải ngoại kiều cư, Hiền đệ gắng qui tâm liên lạc, giúp khó trợ nghèo, ấy là ơn sâu của Hiền đệ thi ra cho người đồng xứ. Khá để lòng rằng: Tàu là Việt Nam, Việt Nam là Tàu, cũng chung huyết khí đa nghe".

 

 

VIỆT NAM MUÔN NĂM

Lòng mong mỏi của mọi người công dân muốn rằng đất nước này sẽ đời đời bền vững. Nhưng sự bền vững này có cơ sở:!-Là có được mối Đạo Trời gầy dựng trên đất nước Việt. 2-Người dân Việt được trui rèn trong lò đạo đức từ thuở khai quốc đến giờ nên giờ phút này đầy đủ tinh thần bất khuất, ý chí tự lực tự cường; tất cả đều sống trên một Quốc gia thiên định; tức nhiên Việt Nam đã có đủ Tam Tài trọn vẹn đó là Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa.

Đây nhắc lại tiếng tung hô đầy ước vọng của Đức Ngoại Hầu Cường Để, người đã theo đuổi con đường Cách mạng mong được cứu dân, cứu nước, nhưng sau cùng đành thất vọng. Tiếng kêu lên giờ phút này như tiếng vang trong sa-mạc, nhưng cũng nói lên một tinh thần ái quốc nồng nàn, dù đã mất tất cả.

Đức Hộ Pháp tuyên bố tại phi trường Tân Sơn Nhứt ngày 12-10-1954 (năm Giáp Ngọ): "Đây là di hài của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, quí danh là Nguyễn Phúc Vân, Ngài là đích tôn của Đức Đông Cung Cảnh tức là Tông Chi Hoàng Tộc. Cả toàn thể Quốc Dân đều biết dĩ vãng của Ngài. Ngài đã hy sinh một đời sống lưu vong nơi đất khách, cốt theo đuổi một mục đích, là làm thế nào phục hồi vận mạng Tổ Quốc, độc lập thiệt hiện. Ngài cũng như Bần Đạo, tâm hồn của Ngài phù hạp với tâm hồn của Bần Đạo là chẳng lúc nào Ngài phân biệt màu sắc chánh trị cùng đảng phái, đoàn thể, Tôn Giáo. Một kiếp sống của Ngài, chỉ có một mục đích là làm thế nào phục sự vận mạng Tổ Quốc và đồng bào Việt Nam. Đau đớn thay! Trên bốn chục năm lưu vong nơi đất khách. Ngài theo đuổi một mơ vọng mà Ngài không đạt đặng. Công chưa thành, danh chưa toại, Ngài đã thành người thiên cổ nơi đất khách quê người. Hôm nay, di hài của Ngài đã được đem về nước: Do đó khối anh linh của Ngài cũng cùng về hiệp với khối Quốc hồn của bốn ngàn năm lập quốc.

Thê thảm thay! Trước nửa giờ lâm chung, Ngài còn rán ngồi dậy nhắn cùng tất cả Thanh Niên Việt Nam hãy cương quyết phục cường cứu quốc, rồi Ngài nằm thiêm thiếp. Trước khi trút hơi thở cuối cùng Ngài còn rán kêu: "Việt Nam Muôn Năm". Bần Đạo nghe thuật lại điều ấy, Bần Đạo cảm khích vô ngần. Những bạn đã lưu vong cùng Ngài đã khóc hết nước mắt. Khối tâm hồn ái quốc ấy hôm nay ước mong nó sẽ là một ngọn lửa thiêng nung sôi tâm hồn của toàn thể Quốc Dân Việt Nam, bỏ thành kiến, bỏ đảng phái hiệp sức cùng nhau để cứu vãn tình thế nước nhà đang lúc nguy vong tan tác… Bần Đạo xin toàn thể đồng bào nối điêu theo dư âm khốn khổ của Ngài đã kêu cả toàn thể đồng bào của chúng ta. Bần Đạo hô như Ngài đã kêu gào thống thiết trước hơi thở cuối cùng của Ngài… Nối theo lời kêu gọi thống thiết của Ngài Bần Đạo về đến đây cũng xin cả toàn thể con cái Đức Chí Tôn Nam, Nữ Lưỡng Phái lập lại lời thống thiết trước giờ chết của Ngài. Bần Đạo hô cả thảy đều hô theo "Việt Nam muôn năm!".

 

 

VIỆT THƯỜNG

越 裳
E: Ancient name of Việt Nam.
F: L’ancien nom du Việt Nam.

Việt Thường là tên của nước Việt Nam thời vua Hùng Vương.

"Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN] mới gọi là Việt Thường thị, tên Việt bắt đầu có từ đấy".

Đức Hộ Pháp nói: "Chúng ta thấy nòi giống Việt thường này là con cháu nước Lỗ. Nói rằng giống Lỗ lập Đạo Nho, chắc hẳn là Nho-Tông chúng ta vi chủ. Nói vi chủ tức là của mình nếu có Đạo Nho sẵn trước thì ta có: Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Phật; ba nền Tôn-giáo mà mặt địa-cầu nhìn là trọng yếu, bất kỳ là sắc dân nào hay liệt quốc nào cũng đều nhìn nhận là do trong xứ Á-đông này". Nhưng vận mạng Việt Thường còn truân chuyên thống khổ, nên sau khi vua Gia Long tức vị thì nước Việt Nam bị Pháp tóm thâu làm thuộc địa. Một lần nữa, dòng châu kia chưa ráo, lệ thảm nọ lại tuôn, quân khí ta lẫy lừng định kế chống ngoại xâm. Ngặt nỗi sức yếu cô đơn, chư liệt Vương: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, lần lượt bị biếm và đồ lưu hải ngoại, rồi gởi xác nơi xứ lạ quê người."

Đức Tôn Trung Sơn giáng Cơ nói: "Bần Tăng thậm cảm. Cũng một cơ đời không phương tận thức, hỏi chi Tàu Nhựt đương nhiên. Bần tăng e cho khoảnh đất Việt Thường nầy cũng không xa khói lửa."

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.

 

 

VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Buồn vì từ đời Hồng Bàng dĩ chí Hậu Lê, dân Việt không ngớt làm thân nô lệ cho Đường Trào. Còn vui tuy ít, mà có hơn không, để giảm bớt cơn sầu của dân ta trong một thuở. Ấy là Việt Vương Câu Tiễn thắng mưu cao kế độc của Tàu, ngay trong đất nước Tàu mới hết nạn triều cống."

 

 

VINH (Giáo Sư Thượng Vinh Thanh)

Ngày 09 -09 Bính Dần. Thọ phong Giáo Sư phái Thượng. Thánh danh Thượng Vinh Thanh vào ngày 09 tháng 09 Bính Dần.

Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo

 

 

VINH DIỆU

耀

Vinh: Vẻ vang. Diệu: rực rỡ. Vinh diệu là vẻ vang rực rỡ.

Sách Phật Tông Nguyên Lý chép rằng: Khi Đức Thích Ca viên tịch, Đệ tử của Ngài là A NAN-ĐA rơi lụy mà hỏi rằng: Khi Tôn-Sư nhập Niết-Bàn rồi ai dạy bảo các con?

- Đức Phật đáp: "Ta chẳng phải vị Phật đầu tiên hay cuối cùng, ngày giờ đến, sẽ có một Đấng khác xuất hiện cứu đời, một Đấng Chí-Thánh, một Đấng Đại-giác cực kỳ cao thượng, một Đấng dẫn đạo vô song, một Đấng chủ tể Thánh, Thần và loài người. Đấng ấy sẽ truyền dạy các con một mối Đạo: Vinh-diệu buổi sơ khai, vinh-diệu buổi thạnh hành, vinh diệu buổi kết cuộc. Đấng ấy sẽ xướng xuất một đời sống đạo đức hoàn toàn thuần khiết".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Con coi cái vinh diệu có chi bằng chăng?

 

 

VINH HIỂN


E: Glorious.
F: Glorieux.

Vinh: Vẻ vang. Hiển: có tiếng tăm được ngưỡng mộ. Vinh hiển là vẻ vang và có tiếng tăm được ngưỡng mộ.

Đức Hộ Pháp nói: "Ba mươi năm khổ não, toàn con cái Đức Chí-Tôn lập nghiệp cho Đạo hôm nay đặng thành tựu. Ngó dĩ-vãng, ngó đương nhiên bây giờ xa cách như Trời với vực. Yếu buổi nọ, so-sánh mạnh hôm nay. Nhục buổi nọ so-sánh vinh-hiển hôm nay, giá-trị xa nhau thiên-lý".

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị có câu:

"Chàng dầu vinh hiển cảnh Thần,
"Gởi trong giấc mộng đặng gần cùng nhau."

 

 

VINH HOA (VINH HUÊ)

榮 華
E: Honour and prosperous.
F: Honneur et prospère.

Vinh: Vẻ vang. Hoa: Huê: tốt, thịnh vượng. Vinh hoa hay Vinh huê là vẻ vang và thịnh vượng. Vinh hoa phú quí: vẻ vang, thịnh vượng và giàu sang.

Đức Phật Quan Âm dạy rằng: "Còn việc Phổ Độ, các em chớ nên vội quá, mà cũng chẳng nên biếng nhác quá! Các em mỗi đứa phải để lòng vào đó thì mới có cảm động đến Ðức Ðại Từ Bi và có để lòng lo thì mới thành. Dầu một việc nhỏ mọn ở thế gian nầy cũng phải vậy. Huống chi Ðại Ðạo là việc cứu vớt cả chúng sanh đương chìm đắm trong biển trầm luân kia. Các em rán noi theo lời Thiếp thì có ngày được vinh diệu. Cái vinh hoa ấy, ở thế gian chẳng hề có đặng."

Thầy nói: "Thầy chịu ép lòng để cho các con hằng nhớ rằng: Chẳng giờ phút nào Thầy xa các con hết. Nghe à! Cho thi:

Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường.
Cho roi cho vọt mới là thương.
Nhơn-tình ví chẳng mưu thâu-phục,
Thế-giới mong chi phép độ lường.
Nhỏ dại Thầy nuôi mùi đạo-hạnh,
Lớn khôn bây xứng mặt hiền-lương,
Vinh-hoa phẩm cũ ngôi xưa đó,
Khổ cực các con chớ bỏ trường.!"

 

 

VINH HOA (HUÊ) PHÚ QUÍ

"Nơi vinh hoa phú quí thường ngăn cản đường tu, cân đai lòe loẹt hay buộc chặc xác phàm".

Đức Lý dạy: Giồng Luông,29-1-Mậu Thìn (dl:20-2-1928).

Cười… Thượng Hoài Thanh, Lão mừng cho Đạo hữu đó. Hiền Hữu định cuộc vinh huê phú quí nầy cho mình hưởng trọn là quí hay là cho toàn cả chúng sanh nương dựa mà lập địa vị Thiên tước là quí, đó Hiền Hữu? Vậy, Hiền Hữu nghe Lão phân:

Một địa vị ngôi xưa có sẵn,
Vì thương nhau lo lắng để lời.
Giấc vinh huê vốn tạm của đời,
Tỉ chẳng khác cuộc chơi phong nguyệt.
Một điểm thiếu mà ai chẳng tiếc,
Của non sông da diết lắm buồn vui,
Trong thềm Nho nhà hạnh phước roi,
Mình sang trọng vì ngôi sẵn sắm.
Màn bí mật tay kia đã nắm,
Lợi danh hay ngăn cấm bước đường tu.
Mẹ già kia chưa vẹn công phu,
Vợ nghĩa đó, kiếp tu còn gắng vó.
Mình biết ngõ phải tua dẫn ngõ,
Cầm đèn soi khêu tỏ giữa Âm đình,
Phải biết đời gọi trọng, ấy khinh,
Nhớ nguồn cội, tánh linh xưa để sẵn.
Nơi trần khổ bớt lần đeo đẳng,
Vì lắm thương mới dặn cạn lời.

Mỗi điều nào Lão dặn, phải xét nét cho cạn. Vợ hiền, mẹ tiết, cái phước nơi hồng trần nầy ít ai đặng vậy. Phải lo bảo bọc độ rỗi cho trọn phận làm người. Ngày Tân gia, Lão tưởng chẳng cần định, vì Chí Tôn hằng ngự nơi lòng Hiền Hữu, chẳng ai dám phạm, phòng lo. Ngày nào xong các việc, tự nơi Hiền Hữu định liệu. Lão cho Hiền Hữu đôi liễn nầy:

Tích đức lưu phương hoài cổ trị gia thường dĩ Đạo,
Hàm ân phúng thế ưu kim xử sĩ chỉ tùng Tâm.

 

 

VINH HƯ

Vinh: Vẻ vang. : Không thực, không có, không vào đâu cả, hư ảo. Td: Vinh diệu, Vinh hoa.

Thi văn dạy Đạo rằng:

Ðã thừa may rủi cuộc vinh hư,
Làm lắm công phu thử đến chừ.
Hiệp khách nên trang non nước sửa,
Càng qua lần lựa cửa anh thư.

 

 

VINH NHỤC

Thi văn dạy Đạo:

Vinh nhục đòi phen vui lẫn khóc,
Ghét thương lắm lúc giận pha cười.

 

 

VINH THÂN PHÌ GIA

Vinh: Vẻ vang. Thân: thân mình. Phì: béo, đầy đủ. Gia: nhà. Vinh thân: tấm thân vẻ vang. Phì gia: nhà sung túc. Vinh thân phì gia là sướng mình béo nhà, thân mình vẻ vang, gia đình giàu có.

Đức Hộ Pháp nói: "Nặng mang cái mảnh hình hài gọi rằng mạng sống, luật thiên-nhiên bảo tồn (la loi de conservation) định vậy, phận thiêng liêng giúp thế ở nơi mình, nên cũng phải chung lộn với thế tình ăn ăn mặc mặc. Nào là vinh thân, nào là phì gia, tuồng đời nêu trước mắt như lượn sóng ba đào xao-xuyến giữa dòng thế-sự. Nào là yếu thua mạnh thắng, nào là ngu thiệt trí hơn, nhập vào trí-não như gươm gíao đua tranh giữa trận lợi danh hoàn-vũ, vì vậy mà đòi phen vùi lấp tánh-linh xu về hình thể."

 

 

VINH QUI BÁI TỔ

榮 歸
E: To return home with honour.
F: Retourner au village avec l'honneur.

Vinh: Vẻ vang. Qui: trở về. bái tổ: bái tạ tổ tiên. Vinh qui là trở về làng quê một cách vẻ vang sau một chiến thắng.

Vinh qui bái tổ: Nói về các sĩ tử đi thi thời xưa, khi thi đậu Trạng nguyên hay Tiến sĩ, được vua phong tước và ban cho áo mão, xe ngựa, quân lính đi khoe quan nơi kinh thành, xong thì cho phép trở về quê nhà để khoe quan với người trong làng xóm, đồng thời bái tạ tổ tiên. Sau thời hạn cho phép thì phải trở lại kinh thành để vua bổ đi làm quan.

Đức Quyền Giáo Tông khóc Cao Thượng Phẩm:

"Ôi! Chiếc nhạn kêu thu cũng là một cảnh sầu bi nơi trầm luân khổ hải này, một con thơ còn bơ vơ nơi đất khách, sau dầu bước đặng thang mây, vinh qui bái tổ, ôm cái tháp này khóc than, chớ Cha hiền đã cỡi hạc qui Tiên".

 

 

VĨNH BẤT TỰ DỤNG

Vĩnh bất tự dụng là vĩnh viễn không bao giờ dùng người nầy trở lại nữa, vì người nầy đã phạm lỗi rất nặng và bị cách chức.

Lời phê của Đức Phạm Hộ Pháp về trường hợp Chức sắc phạm lỗi nặng, bị kết án: Vĩnh bất tự dụng:

"Hễ mang án Vĩnh bất tự dụng thì chỉ đặng lãnh các phân sự phụ thuộc mà thôi, chớ không đặng quyền cầm chủ quyền một cơ quan Chánh Trị Đạo nào hết, dầu cho một Hương đạo đến các Trấn đạo, các chủ quyền ấy không đặng cầm, duy đặng làm phân sự phụ thuộc mà thôi."

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Nhị thập ngũ niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

Số: 302

_________________________

THÁNH LỊNH

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

Chiếu y Đạo luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (dl: 15-02-1938) giao quyền thống nhất Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ cho tới ngày có Đầu Sư chánh vị.

Nghĩ vì toàn thể Chức Sắc Thiên phong các cơ quan Chánh Trị Đạo đã lãnh sứ mạng nơi mình khuyến dân qui thiện, tạo thời sửa đời, hướng dẫn nhơn sanh vào con đường cọng yêu hòa ái, thì không được một ai đi ngoài tôn chỉ này.

THÁNH LỊNH

Điều thứ nhất: Từ đây cả Chức sắc Thiên phong toàn thể các cơ quan Chánh trị Đạo, nếu vị nào hành quyền nơi địa phận không đủ đức hạnh, đạo tâm, hòa thuận, yếu ái lẫn nhau, hầu giúp phương diện thể thống cho Đạo, sanh sự bất hòa, sai trái nghịch lẫn nhau, làm cho nhơn sanh khinh rẻ nền Đạo, thì Hội Thánh sẽ dùng quyền nghiêm khắc trừng trị và liệt vào hàng "VĨNH BẤT TỰ DỤNG".

Điều thứ nhì: Thánh lịnh này có hiệu lực cho toàn cả Chức sắc Nam phái lẫn Nữ phái.

Điều thứ ba: Chư vị: Bảo Thế, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Đạo Nhơn Chưởng Quản Phước Thiện, Nữ Chánh Phối Sư Lại Viện Hành-chánh, Nữ Phối Sư Chưởng quản Nữ Phái Phước Thiện, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh này.

Lâp tại Tòa Thánh, ngày 02 tháng 08 năm Canh Đần
(Le 20 septembre 1950)
HỘ-PHÁP
(Ký tên và đóng dấu)

 

 

VĨNH BIỆT


E: The eternal separation.
F: La séparation éternelle.

Vĩnh biệt là Ly biệt vĩnh viễn, xa cách mãi mãi, không bao giờ còn gặp lại nhau. Đây là nói đến sự chết.

Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần có câu:.

"Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt,
"Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng."

 

 

VĨNH CỬU - VĨNH TRƯỜNG

E: Eternal.
F: Éternel.

Thầy dạy: "Các con nên tìm sự giàu đức-tính của Trời. Chỉ có cách đó, mới gọi là vĩnh-cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả. Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ sự gian trá. Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt. Và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách."

 

 

VĨNH HẰNG

永 恆
E: The eternity.
F: L’éternité.

Vĩnh: Lâu dài, mãi mãi. Hằng: luôn luôn. Vĩnh hằng là tồn tại mãi mãi, không bao giờ hư hoại.

Cõi Vĩnh hằng: Cõi thiêng liêng Hằng sống.

 

 

VĨNH KIẾP QUÂN SANH NGƯỠNG KỲ HUỆ ĐỨC

(Vĩnh là Lâu dài, vĩnh viễn. Kiếp: Khoảng thời gian từ lúc sanh ra cho đến lúc mất đi. Một kiếp sống là một đời người. Vĩnh kiếp là lâu đời nhiều kiếp, chỉ thời gian lâu dài lắm. Quần: Nhiều người đông đảo. Quần sanh đồng nghĩa với chúng sanh, chỉ tất cả các loài sanh vật trong Càn Khôn Vũ Trụ gồm: Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại; với nghĩa hẹp chúng sanh hay Quần sanh là nhơn loại. Ngưỡng: Ngửa mặt trông lên với lòng kính trọng và yêu mến. Kỳ: Trợ ngữ. Huệ: Ơn huệ. Ðức: Ðiều tốt lành hạp lòng người, thuận đạo Trời.

Toàn câu ý nói chúng sanh vĩnh viễn đời đời ngưỡng nhờ ơn đức của Ngài.

 

 

VĨNH NGUYÊN TỰ (Chùa)

Vĩnh Nguyên Tự hay chùa Vĩnh Nguyên Ở xã Tân An, quận Cần Giuộc, do Thái Lão Sư Lê Văn Tiểng, pháp danh Lê Ðạo Long tu theo Minh Ðường (trong Ngũ Chi Minh Ðạo) lập nên. Trước khi Ngài Lê Ðạo Long đăng Tiên, Ngài có tiên tri: "Nơi đây là Thập Nhị Khai Thiên, cơ quan của Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ hoằng khai chánh giáo chơn truyền". Ngài dạy các Môn đệ phải tùng Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Ông Lê Văn Lịch là con ruột của Ngài, được Ðức Chí Tôn phong Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt; Thái Lão Sư Trần Văn Thụ, pháp danh Trần Ðạo Minh, là Môn đệ lớn nhất của Ngài, nhập vào Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ được Ðức Chí Tôn ân phong là Ngọc Chưởng Pháp. Vĩnh Nguyên Tự trở thành một trong những Thánh Thất đầu tiên của Ðạo Cao Ðài.

 

 

VĨNH SANH

永 生
E: The eternal life.
F: La vie éternelle.

Vĩnh: Lâu dài, mãi mãi. Sanh: sống, đời sống. Vĩnh sanh là sống mãi mãi, hằng sống.

Kinh Vào Ăn Cơm có câu:

"Công Thần Nông hóa dân buổi trước,
"Dạy khôn ngoan học chước canh điền.
"Nhớ ơn bảo mạng Huyền Thiên,
"Con mong mượn xác đoạt quyền vĩnh sanh."

 

 

VĨNH TỒN

永 存
E: Eternally existent.
F: Existant éternellement.

Vĩnh: Lâu dài, mãi mãi. Tồn: còn. Vĩnh tồn là tồn tại mãi mãi, không bao giờ mất.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Nghiệp hồng vận tử hồi môn,
"Chí-công định vị vĩnh-tồn Thiên-Cung."

 

 

VĨNH TỒN HẬU LAI

(Vĩnh tồn là tồn tại vĩnh viễn, còn mãi mãi; Hậu lai là đến sau, sau này). Sự bền bĩ lâu dài không mất.

Nếu là một Minh quân thì lo gì không có Thần trung. Khi ấy thì tất cả cùng nhau vững tâm mà nâng đỡ hồn của đất nước, đồng thời cũng ráng giữ gìn cơ nghiệp to lớn của nhà vua để lưu truyền mãi mãi về sau. Vì cơ nghiệp vua chính là của toàn dân tộc hưởng nhờ.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Trụ tâm nâng đỡ quốc hồn,
"Giữ bền đảnh nghiệp vĩnh tồn hậu lai."

 

 

VĨNH TRƯỜNG


E: Eternal.
F: Éternel.

Vĩnh trường 永長 là Lâu dài, mãi mãi.

Kinh Tắm Thánh có câu:

"Đừng thối chí ngã lòng trở gót,
"Để cho đời chua xót tình thương
"Trăm năm thọ khảo vĩnh trường,
"Thuận căn thuận mạng đôi đường cao thăng."

 

 

VÓ NGỰA

Vó ngựa: chân ngựa, bước chân ngựa.

Vó ký là bước chân của con tuấn mã

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ðường dài vó ngựa tua bền sức,
Sức yếu lòng người khéo để gương.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Vó ký ướm ngập ngừng mà cánh hồng toan lướt gió.

 

 

VÕ LỰC

Võ lực 武力 Sức mạnh bằng tay chân làm ra. Võ lực trái với đạo đức văn chương.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thế đời càng dữ càng kiên đức,
Võ lực hùng oai cũng chẳng màng.

 

 

VÕ MÔN

Vũ môn hay Võ môn là chỉ người học chiếm được công danh. Ca dao: "Mười ba cá đi ăn thề, Mười bốn cá về cá vượt Võ môn".

Ý nghĩa: Võ môn hay Vũ môn là một cái cửa núi ở thượng du sông Trường giang nước Trung Hoa, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, chân núi có cái vực rất sâu. Tương truyền đến mùa thu nước lớn thì cá đua nhau tới đó nhảy thi với nhau, con nào vượt qua vũ môn thì hóa ra rồng. Sách Tàu có câu: "Vũ môn tam cấp lãng" 禹門三級浪 nghĩa là Cửa Vũ có ba bực sóng, dùng để chỉ việc thi cử, tuyển lựa người tài giỏi ra giúp nước, an dân.

Nước Việt Nam huyện Hương Khê tỉnh Hà Tỉnh và Nghệ An, trên chót núi cũng có một cái hồ ba bực, không khác gì nơi sông Trường giang.

Bát Nương Diêu Trì Cung có thơ:

Quen chiều non nước lúc xuân xanh,
Tên tuổi đài mây đã sẵn dành.
Lộc thế rẻ mùi chê mặn lạt,
Ơn Trời nên phận gắng đua tranh.
Lẫy lừng cánh hộc xông trường võ,
Đầm ấm duyên loan để chí thành.
Vùng vẫy võ môn qua mấy cấp,
Soi tâm đêm quạnh phó Trường Canh.

 

 

VÕ PHU (VŨ PHU)

Có hai trường hợp:

• Võ (Vũ): Dùng sức mạnh, trái với Văn. Phu: người đàn ông.
Võ phu hay Vũ phu 武夫 là người đàn ông thô tục, chỉ biết giải quyết công việc bằng sức mạnh bắp thịt.

• Võ: một thứ đá có màu đẹp dùng làm ngọc giả. Phu: một thứ đá giống như ngọc, dùng làm ngọc giả.
Võ phu hay Vũ phu 碔砆 là ngọc giả, chỉ người giả dối, gian xảo, chuyên đi lừa gạt người.

Kinh Sám Hối có câu:

"Trong đời rất hiếm võ-phu,
"Lường cân tráo đấu, dối tu cúng chùa."

 

 

VÕ PHỦ TỪ

 

 

 

 

 

 

VÕ PHỤC

Võ phục: y phục của con nhà võ, y phục của tướng soái nhà Trời.

Đức Hộ Pháp nói: đêm 18-02 năm Nhâm Thìn (1952).

"Mỗi kỳ Đại Đàn kể từ 12 giờ cho đến 2 giờ, trong hai giờ đồng hồ nếu mấy người mặc một bộ đồ võ phục như vầy, có buộc dây như Tôi, chịu thử như Tôi coi ra sao mấy người biết. Từ lúc mới vô dĩ chí cho tới mãn lễ, không có lúc nào ở không, luôn luôn hành pháp không nghỉ, tới xong lễ lại lên giảng đài giáo Đạo cho con cái Đức Chí Tôn, nếu ngày kia có tuổi thêm chút nữa, chắc làm không nỗi, không thể đứng nỗi, chịu không nỗi nữa."

 

 

VÕ TÁNH - NGÔ TÙNG CHÂU (Tên)

Đức Hộ Pháp nói: "Trong công cuộc định quốc, Bần Đạo nói có hai vị trung thần mà Hoàng Triều đã đặt họ là "Trung quân" tức là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Tây Sơn đem cả lực lượng mình đặng lấy thành Bình Định, Võ Tánh với Cao Hoàng Gia Long chẳng cần gì phải giải vây cho thành Bình Định tức nhiên là Qui Nhơn, nên thừa cơ hội binh lực của Tây Sơn không có đề phòng mà đánh lấy luôn thành Phú Xuân, nhờ thế Gia Long tức nhiên Đức Cao Hoàng đã lấy Phú Xuân đặng, hai người Ngô Tùng Châu và Võ Tánh tử tiết, thật sự ra Hoàng Đồ nước Việt Nam ta đặng thống nhứt từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan ngày nay là nhờ lực lượng Cao Hoàng đã cầm vận mạng và nhờ hai vị "Tinh trung" Ngô Tùng Châu và Võ Tánh mà ta có thể hãnh diện nói rằng: Hai người ấy là người đồng bào trong Nam ta đó vậy."

Võ Tánh có giáng Cơ:

Ngọn lửa tinh trung định Nguyễn trào,
Nam bang gầy dựng lắm công lao.
Thủ thành Bình Định Tây Sơn đọat,
Phạt ải Đông kinh chúa Nguyễn thâu.
Đế nghiệp xây thành ba tấc củi,
Quốc gia vững nghiệp ít tô dầu.
Anh hùng thân tử thần vô tử,
Nêu tấm gương trung độ kẻ sau.
                        (Tiền Quân Võ Tánh)

 

 

VÕ TRỤ

宇 宙
E: The universe, Cosmos.
F: L'univers, Cosmos.

: Khoảng không gian 4 phương trên dưới. Trụ: thời gian xưa qua nay lại.

Nho gia Lục Cửu Uyên định nghĩa Võ trụ như sau:

Thượng hạ tứ phương viết Vũ,
Cổ vãng kim lai viết Trụ.

(Trên dưới bốn phương gọi là Vũ,
Xưa qua nay lại gọi là Trụ.)

Vậy, Vũ trụ có nghĩa bao gồm cả không gian và thời gian. Thường nói: Càn Khôn Vũ Trụ, nghĩa là khắp Trời Đất, khắp không gian và thời gian suốt từ xưa tới nay.

Mỗi vũ trụ bao gồm nhiều thế giới, mỗi thế giới là một địa cầu. Địa cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là một thế giới, nó chỉ là một phần bé nhỏ trong toàn cả vũ trụ bao la vô cùng rộng lớn mà con người khó tưởng tượng nổi.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Các võ trụ lớn hơn hoặc nhỏ,
Cơ sanh tồn do ngõ Hư linh.
In theo khuôn luật hữu hình,
Cũng nguời cũng vật cũng tình yêu thương.

 

 

VÕ VĂN ĐỢI (Tên)

(Giáo-Thiện Võ Văn Đợi sau tu theo Đạo Núi)

Ông VÕ VĂN ĐỢI, tự là Đại, quê quán làng Gia Lộc, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nhập vào Phạm Môn, lập hồng thệ kỳ I tại Sở Trường Hoà ngày 3-giêng-Nhâm Thân (dl: 7-2-1932) được Đức Hộ Pháp ban cho Đạo hiệu: Linh Đoán, đắc phong Lễ Sanh-Giáo Thiện (phái Thượng), bắt thăm đi làm Đầu Họ Đạo Rạch Giá để khai mở Nhà sở Phước Thiện và các cơ sở lương điền công nghệ thương mãi để thu huê lợi về xây cất Tòa Thánh, ngày khởi đi làm Đầu Họ là ngày 12-9-Ất Hợi (dl 9-10-1935). Khi ông Đợi từ chức Giáo-Thiện để lập thành cơ sở Tu chơn tại Vạn-Pháp-Cung, nhóm của ông được Đức Hộ Pháp gọi là Nhóm Đạo Núi. Ông Đợi mất ngày 22-4- Đinh Hợi (1947), hưởng 50 tuổi. Ông Võ Văn Đợi có người con trai tên là Võ Văn Kỵ. Sau khi ông Đợi qui liễu thì ông Kỵ được tín nhiệm làm Chủ sở nơi Vạn Pháp Cung, đứng đầu Nhóm Đạo Núi. Ông Kỵ mất năm Tân Tỵ (2001).

Chuyến đi núi Bà của Đức Hộ Pháp lần thứ nhứt ngày 12-6-Mậu Dần (dl 9-7-1938) xác định vị trí lập Cực lạc Thế giới có quí ông: Nguyễn Văn Gia, Nguyễn Văn Lư và Võ Văn Đợi (Đại) tham dự. Ông Võ Văn Đợi ở họ đạo Mỹ-Tho về Tòa Thánh thăm Đức Thầy, nghe Đức Thầy định đi núi nên ông xin theo hầu Thầy...Khi lên được một đỗi, gặp một tảng đá lớn, dưới tảng đá có một cái hang kêu là hang Gạo. Đức Thầy chun qua hang đá, rồi leo lên một tảng đá khác, nơi đây mát mẻ, Đức Thầy ngồi nghỉ mát. Lúc đó, ông Võ Văn Đợi (đạo hiệu Linh Đoán) đem võng ra giăng cho Đức Thầy nằm nghỉ, rồi ông chạy xuống cầu đá, chỗ bến xe gần Chùa Trung mua nước dừa đem lên cho Đức Thầy uống..Rồi Đức Thầy ra lịnh trở về Tòa Thánh. Thật là dịp may hay có định duyên hạnh ngộ đối với ông Võ Linh Đoán, trước kia được nghe Đức Thầy nói: "Không biết có đứa Phạm Môn quèn nào lên núi lập cho Bần Đạo một vườn nho." Khi nghe câu nói nầy trong dịp Lễ Khánh thành Nhà Bảo Cô, ông đảm nhận Đầu Họ Đạo từ Rạch Giá về Tòa Thánh tham dự. Nay lại được nghe nói: Cực Lạc Thế Giới ở trên núi, có đủ Am Vân, Tịnh Cốc, tất cả những điều đó được khắc sâu vào tâm não và chính đó là điểm hành trình để ông lên núi sau nầy. (Sau thành Đạo núi)

Tìm hiểu Giáo Thiện Võ văn Đợi: Sau ba năm đi Đầu Họ Đạo rồi làm gì? Trong số 72 môn đệ Phạm Môn được thọ giáo với ân sư Hộ Pháp, có ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi đáng quan tâm, lưu ý về gương đạo hạnh của ông. Sau ba năm hành đạo theo lịnh Đức Tôn sư, lo tạo cơ sở, lương thực nuôi công quả làm Đền Thánh, ông liền từ chức, về cửa Tu Chơn. Song sự từ chức nầy chưa được thượng quyền chấp thuận, bởi vì từ bỏ chức tước phẩm vị Thập Nhị đẳng cấp thiêng liêng là từ bỏ Thiên vị mình, thay vì đi về với Cửu Thiên Khai Hóa, lại phải an trú nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng. Để bảo tồn ý định của mình, ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi tự treo ấn từ quan Đạo, lên núi, tự lập cơ sở tu hành riêng, không còn tùng Hội Thánh Phước Thiện nữa, thay áo trắng ra đồ nâu! Mặc dù có hành động mở đường khác, song ông Võ Văn Đợi vẫn giữ nghĩa thầy trò, luôn trung thành tôn kính Đức Hộ Pháp. Điều nầy đáng phục ông biết giữ 36 chữ lời Minh thệ, nhứt là tình nghĩa thầy trò nơi cửa Phạm. Hành động nầy ông căn cứ vào đâu? Theo sự hiểu biết từng cá nhân, hoặc đúng hoặc sai, có lẽ do văn thơ ngày 22-1-Kỷ Mão (dl:12-3-1939) của Ngài Khai Pháp Chưởng quản Cơ Quan Phước Thiện như vầy:

"Kính cùng ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi:

Tiếp thơ hồi âm của Hiền hữu theo thơ số 219 của Bần Tăng đề ngày 17-11-Mậu Dần. Bần Tăng đắc lịnh của Đức Hộ Pháp để trả lời cho Hiền hữu rõ về lẽ thăng phẩm Chí Thiện cho Hiền hữu và giải rành rẽ vì cớ nào mà Người chưa muốn để cho Hiền hữu thọ lãnh tân phẩm Chí Thiện? Vốn Thập Nhị đẳng cấp thiêng liêng là chơn tướng bí truyền của Đạo, mỗi bậc thăng là một cơ quan giải khổ về phần hữu vi, hình thể của chúng sanh. Kể từ bậc Giáo Thiện đổ xuống, trách nhiệm đã nặng oằn khó khăn dường nào! Thử nghĩ từ bậc Thính Thiện mà lần leo đến Giáo Thiện thì ôi thôi! Thật là tân khổ trăm bề. Hiện thời chúng sanh còn khổ thì lẽ cố nhiên, Hiền hữu phải còn chịu nhọc nhằn, mà cái khổ ấy, chúng ta đã thấy trước mắt dẫy đầy không còn ai chối cãi đặng. Hiền hữu chẳng lẽ ngơ tai nhắm mắt mà đi ngang qua cái khổ cảnh của chúng sanh cho đặng. Huống chi bậc phẩm Chí Thiện lại còn khó khăn phận sự hơn bội phần. Đức Hộ Pháp vì lòng yêu đương Hiền hữu, không nỡ để chồng chất sự khó khăn thêm cho nặng oằn hai vai Hiền hữu, sợ nỗi nặng gánh đổ nhiều, nên mới duy trì, không cho thăng vị Chí Thiện là vậy đó." [Khai Pháp]

Qua Thánh ý nầy, hiểu được rằng: Đức Hộ Pháp đã tiên liệu về sứ mạng đi đến con đường Tu Chơn của ông Đợi, nên cố ý duy trì không thăng phẩm Chí Thiện là do đó. Như thế, ông là người đầu tiên được Đức Hộ Pháp tuyển chọn đưa vào con đường Tu Chơn, hầu dìu dắt các bạn đồng môn để trả nghĩa thầy. Nhưng tiếc thay! Ông đi trúng đường mà lại làm sai Thánh ý là lập luật riêng, thay vì tùng theo kỷ luật Phạm Môn đã có ân sư giáo huấn. Do đó, ông bị Thánh lịnh số 25/PT ngày 26-2-Kỷ Mão (dl: 15-4-1939) đương thời gọi là Đạo Nghị Định khép về tội bất tuân Luật Pháp Đạo, hiệp nhau làm nghịch mạng bề trên, tự chuyên phế bỏ phận sự hành đạo, nên cho xuất ngoại Phước Thiện kể từ ngày ký tên Thánh lịnh nầy. Mặc dù phải thi hành theo luật pháp đạo, nhưng tình nghĩa thầy trò đối với Tôn sư, ông vẫn giữ. Đến năm Đinh Hợi (1947), ông thọ bịnh nặng trên chơn núi. Đức Hộ Pháp hay tin liền ra lịnh đem ông Võ Văn Đợi về Nội Ô Tòa Thánh để trị bịnh. Đức Thầy giao cho Chức sắc Phước Thiện chăm sóc thuốc thang, vì họ là thệ hữu Phạm Môn trước đây. Đức Thầy thường đến thăm và chọn thầy thuốc điều trị cho môn đệ đến ngày ông qui liễu. Trước ba ngày cổi xác trần, ông tự biết mình có tội với thầy, với bạn, nên dạy đàn em viết tờ xin tội cho ông ký tên dâng lên Đức Thầy, nguyên văn như sau:

Chùa Cao Đài, ngày 22 tháng 4 năm Đinh Hợi.

TỜ XIN TỘI

Cúi bạch Sư Phụ, Con là Võ Văn Đợi, 50 tuổi, cúi đầu trăm lạy Sư Phụ xá tội giùm con. Kể từ ngày con hiến thân làm đạo đến nay tính 17 năm có lẻ. Đến nay con đau nặng, không thể mạnh được, mà lại gần rốt kiếp sống rồi. Nên nay con cúi đầu trăm lạy Sư Phụ xá tội cãi thầy, cãi bạn của con. Xin Sư Phụ xá tội cho con. Cúi bạch. [Võ Văn Đợi (ký tên)]

Lời Phê của Đức Hộ Pháp: "Làm thầy như ai thì khác, còn Qua đây vẫn khác. Với Qua, thầy chỉ biết thương trò, tha thứ là phận thầy. Em chẳng vì đời mà phạm, nếu có phạm là vì Đạo, mà chẳng hiểu rõ mầu nhiệm của thầy. Em về trước rồi mấy Qua lục thục cũng về sau. Chúng ta sẽ hội hiệp vĩnh viễn nơi cõi Hư linh, là quê hương thiệt. Thầy trò sẽ thiệt, bạn hữu sẽ thiệt, cảnh nầy chẳng phải của chúng ta vì nó là cảnh dành để cho kiếp trái oan khiên. Em an lòng, thầy chỉ thầm khen em chớ chưa biết em đã có tội gì hết. Ngày 22 tháng 4 năm Đinh Hợi. HỘ PHÁP (ấn ký)

Quí hóa thay lòng từ bi của Đức Thầy đã không trách phạt mà lại còn thầm khen và xác nhận không có tội gì hết. Nhờ lượng khoan hồng của Đức Hộ Pháp là vị "Phật sống" mà ông được an trú nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, thay vì phải đầu kiếp tu hành lại. Ngoài ân huệ khoan dung, Đức Thầy còn cho phục chức Giáo Thiện do Thánh lịnh số 58/TL đề ngày 23-4-Đinh Hợi (dl. 11-5-1947):

"Cho phục phẩm Giáo Thiện (Phước Thiện) kể từ ngày 22-4-Đinh Hợi, vị Đạo hữu Võ Văn Đợi 50 tuổi, khi còn tại thế ở làng Gia Lộc (Tây Ninh). Lễ cất táng người được dùng theo hàng Giáo Thiện và linh vị được đem vào Báo Ân Từ."

Phẩm Giáo Thiện được hành lễ tang tại Báo Ân Từ lần đầu tiên là Giáo Thiện Võ Văn Đợi vậy.

Làm sao biết ông VÕ VĂN ĐỢI ở Thanh Tịnh Đại Hải Chúng?

Căn cứ vào Lời Phê sau đây của Đức Hộ Pháp, do Tờ đề ngày 3-11-Canh Dần (1950) của ông Nguyễn Văn Thế và 16 vị nữa đồng đứng dâng cả công quả của mấy vị ấy để chuộc tội cho ông Võ Văn Đợi là sư huynh của họ ở Đạo núi: "ĐỢI bị phế vị là nó dám từ chối Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, ngày nay theo Thiên điều thì nó phải tái kiếp mà hành đạo lại, nếu nó đặng ở Thanh Tịnh Đại Hải mà tu hành nơi cõi Hư linh cũng là may phước cho nó, còn Quyền thiêng liêng thưởng phạt là do quyền Ngọc Hư Cung, có phải của Bần Đạo đâu mà xin Bần Đạo. Còn dâng công quả cho ĐỢI chỉ có vợ con của ĐỢI mới đặng. Còn mấy em, ai thèm đâu mà dâng."[HỘ PHÁP (ấn ký)]

Ý nghĩa nầy liên hệ với Lời Phê ngày 8-9-Kỷ Sửu cho ông Trần Văn Mến ở Châu Đốc xin từ chức Giáo Thiện.

Lời Phê của Đức Hộ Pháp: "Phước Thiện cũng có phẩm tước là Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, nếu chê bỏ không kể đến phần hồn thì thay vì đi về với Cửu Thiên Khai Hóa, lại an trú nơi Đại Hải Chúng."

Sưu khảo tài liệu nầy để chiêm nghiệm về ý nghĩa 3000 công quả như thế nào? Nguyên nhân là Hội Thánh Phước Thiện có dâng Tờ lên Đức Hộ Pháp là thầy của Phạm Môn Phước Thiện, cầu xin ân xá, phục chức Giáo Thiện cho ông Võ Văn Đợi. Trước khi ban hành pháp lịnh quyền Chí Tôn hiệp nhứt (Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng) đặc xá phục chức Giáo Thiện cho ông Võ Văn Đợi, Đức Hộ Pháp kêu ông Chí Thiện Phạm Văn Út đến hỏi rằng: - Đợi nó đủ 3000 công quả chưa?

Gặp câu hỏi khó nầy thuộc về mặt pháp giới, ông Chí Thiện Út bạch thầy: - Điều đó con làm sao biết được!

Đức Hộ Pháp phán: - Nếu vậy, căn cứ vào Tờ xin tội của Hội Thánh Phước Thiện mà phục phẩm Giáo Thiện lại cho Võ Văn Đợi. Ý nghĩa gì? không rõ ông Phạm Văn Út có thỉnh giáo rõ việc nầy không?

Kết luận: Nhờ ân sư tha thứ là phận thầy, nên đệ tử khỏi đầu kiếp mang xác phàm, mà được lưu trú nơi Đại Hải Chúng ở cõi Hư linh.

 

 

VÕ VĂN KỈNH (1880-1946)

Ông Võ Văn Kỉnh, Giáo-tập Cần-giuộc, là người đứng vào số trong số 27 người ký tên vào Tờ Khai Đạo ngày 23-8 Bính-Dần, nhằm Thứ Tư: 29-9-1926).

Ông Kỉnh người làng Thanh Hà, xã Tân Kim, Cần Giuộc. Từ nhỏ, ông sống với Mẹ là bà Lê Thị Liên. Ông lập gia đình với bà Lê thị Ngưu. Ông bà có 4 người con: người đầu mất sớm, kế đến là Võ Thị Cúc (An), Võ Văn Nhàn và Võ Thị Thủ (Thạnh). Ông Võ văn Kỉnh dạy Quốc ngữ tại trường Quy Đức cho đến khi về hưu. Ông dạy thêm chữ Nho tại nhà. Trước lúc nhập môn vào Đạo Cao Đài (dl. 5-3-1926), ông Giáo Kỉnh có thời gian khoảng 3 năm tu học với Hoà Thượng Nhứt Thiện trên đỉnh núi Bà Đen.

Sau khi nhập môn, ông Võ Văn Kỉnh tích cực hành Đạo, được thọ phong Lễ Sanh ngày 17-5 năm Bính-Dần (1926), nhưng sau đó thì ông rời bỏ Toà Thánh Tây Ninh và theo Chi Phái Bến Tre tức là Ban Chỉnh Đạo.

Ông Võ Văn Kỉnh qua đời vào ngày 15-12 Bính Tuất (1946), an táng tại đất nhà làng Thanh Hà. Khoảng năm 1980, gia đình đã bốc mộ lưu tro tại chùa Huê Nghiêm (An Dưỡng Địa) Phú Lâm.

Ông là một trong số 247 vị đứng tên vào Tờ Khai Đạo đồng thời cũng có ký tên cùng với 28 vị tiền khai Đại-Đạo nữa.

 

 

VONG ÂN BỘI NGHĨA

忘 恩 背 義
E: Ungrateful.
F: Ingrat.

Vong: Quên. Ân: ơn. Bội: làm trái lại, phản lại. Nghĩa: cách cư xử đúng theo lẽ phải và đạo lý. Vong ân bội nghĩa là quên ơn phụ nghĩa.

"Nếu ta vô tình lãnh đạm để cho họ phải chịu mai một thân thể lẫn tâm hồn, thì cái tội của ta vong ân bội nghĩa không cải chối. Hôm nay các anh linh chư vị anh hùng tiền bối và hậu bối đang ngự trị trong khối Quốc hồn của ta và đang vơ vẩn bên ta."

Thầy dạy:

Thấy đời đã vong ân bội nghĩa,
Thấy đời vì các tía lầu son.

 

 

VONG BẢN

忘 本
E: To forget one’s origin.
F: Oublier son origine.

Vong: Quên. Bản: Bổn: gốc, nguồn cội. Vong bản hay Vong bổn là quên nguồn gốc, quên tổ tiên của mình.

 

 

VONG HỒN (VONG LINH - LINH HỒN)


E: Soul of death person.
F: L’âme du mort.

Vong: Mất, chết. Hồn: linh hồn. Linh: linh hồn. Vong hồn, đồng nghĩa với Vong linh, là linh hồn của người chết.

Vong hồn 亡魂 là Hồn của người đã chết, còn được gọi là linh hồn hay chơn hồn. Triết lý Đạo Cao Đài tin rằng con người có linh hồn và thể xác. Mỗi con người ở thế gian gồm có ba thể: Xác thân phàm, Chơn Thần, Linh hồn.

- Phàm thân 凡身: Hay nhục thể là Đệ nhứt xác thân, do cha mẹ đào tạo bằng xác thịt, Phật giáo cho là thân Tứ đại, bởi đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành. Thể này hữu hình, trọng trược, không thường tồn, dễ bị hoại.

- Chơn Thần 真神: Hay Đệ nhị xác thân. Theo Thánh giáo đây là một xác thân Thiêng liêng do Phật Mẫu dùng nguơn khí tạo thành. Thể này thuộc khí chất, bán hữu hình, vì nó có thể thấy đặng, mà cũng không có thể thấy đặng. Khi ra khỏi xác phàm, thì Chơn Thần lấy hình xác phàm như khuôn in rập.

- Linh hồn 靈魂: Hay Chơn linh là một điểm Linh quang từ khối Đại Linh quang của Thượng Đế chiết ra ban cho. Thể này Thiêng liêng trong con người, nó vốn vô vi, bất tiêu bất diệt, nên khi chết, linh hồn nhẹ nhàng sẽ trở về cõi Hằng Sống.

Khi còn sống, Chơn Thần không thể xuất ra đặng vì bị xác phàm níu kéo, chỉ bậc chân tu mới có thể xuất ra đặng.

Đức Hộ Pháp nói trong ngày Khánh Thành Báo-Quốc Từ: "Nơi Đền Thờ nầy các Ngài đã thấy Linh Vị của mấy vị Cựu Hoàng và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, xin các Ngài đừng lầm tưởng rằng: Đạo đã xu hướng theo thuyết "Bảo Hoàng" mà kỳ thật các Đấng ấy chỉ liệt vào hàng trung quân ái quốc của xã hội Việt-Nam mà thôi, vì công nghiệp của họ là tranh đấu giải ách lệ thuộc cũng như các chiến sĩ cách mạng khác kia vậy. Tưởng niệm tới lễ ấy nên Hội Thánh mới quyết định lập BÁO QUỐC TỪ thờ trọn cả các vong linh của các anh hùng chiến sĩ, Cứu quốc công thần cùng là Trận vong chiến sĩ."

Kinh Giải Oan có câu:

"Vòng xây chuyển vong hồn tấn-hóa,
"Nương xác thân hiệp ngã Càn-khôn.
"Bước đường sanh tử đã chồn,
"Oan-oan nghiệt-nghiệt dập-dồn trái căn."

 

 

VONG NIÊN

忘 年
E: To forget one’s age.
F: Oublier son âge.

Vong: Quên. Niên: năm, tuổi.

Bạn vong niên: hai người bạn một già một trẻ chơi thân với nhau, vì hợp ý hợp tình hợp chí, không kể tuổi tác lớn nhỏ.

 

 

VONG PHÀM

亡 凡
E: The soul of laymon.
F: L’âme du laïque.

Vong: Mất, chết. chỉ vong linh. Phàm: người thường, không tu. Vong phàm là vong linh của người phàm.

Người phàm là người thường, không có đạo, không tu. Nhưng khi họ ý thức được cuộc đời là giả tạm, quyết lánh vòng danh lợi, nhập môn cầu đạo, gìn giữ giới luật tu hành, thì người ấy tiến lên được một bước, đứng trên bực người phàm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Vong phàm, lạy 4 lạy là tại sao? là vì 2 lạy của phần người, còn 1 lạy Thiên, 1 lạy Địa.

 

 

VONG XU (VONG KHU)


E: To forget one’s body.
F: Oublier son corps.

Vong: Quên. Xu: thường đọc là Khu: thân mình. Vong xu là quên cái tấm thân của mình.

Vì quên tấm thân mình nên cũng quên cả linh hồn mình, thường đưa mình vào nơi trụy lạc ăn chơi, quên hết chức năng cao quí của một con người trong Càn Khôn Vũ Trụ, uổng một kiếp sanh.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Vong xu trọn cả một Càn Khôn,
Hết kiếp thịt xương, tới kiếp hồn.
Ngảnh lại hỏi người là chắc đó,
Trăm năm là tuổi chết rồi chôn.

 

 

VÒNG MINH KHÍ

E: Mystic circle.
F: Le cercle mystique.

Vòng Minh-khí là một thứ ánh-sáng minh triết mà cái văn minh tinh-thần đã khởi điểm nơi này. Học Đạo, hiểu Đạo là tạo cho mình một ánh sáng minh-triết, phát ra bằng vòng Minh-khí; nói Đạo cho người hiểu Đạo, ban-bố khắp nơi bằng huyền-lực, bằng hào-quang, điển sáng gọi là vô-vi. Đạo Cao-Đài khởi nơi đất nước Việt-Nam này hân hạnh có được hồng-ân ấy.

Pháp Chánh Truyền:

Đại phục Giáo Tông "Đầu đội mão vàng 5 từng hình Bát-Quái (thế Ngũ Chi Đại-Đạo) ráp tròn lại bít chính giữa; trên chót mão có để chữ Vạn, giữa chữ Vạn có để Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh khí."

 

 

VÒNG TRẦN

E: The world.
F: Le monde.

Vòng: Phạm vị rộng lớn có giới hạn. Trần: bụi, chỉ cõi trần. Vòng trần là phạm vi trong đó là bụi bặm. Ý nói: cõi trần, cõi của nhơn loại.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Vòng trần chìm nổi từ đây dứt.

 

 

VÒNG XÂY CHUYỂN

E: The wheel of reincarnation.
F: La roue de réincarnation.

Vòng xây chuyển: Hay vòng luân chuyển, tức là vòng luân hồi chuyển kiếp của chúng sanh trong tam đồ lục đạo.

Theo Phật, chúng sanh bị nghiệp lực cuốn hút vào vòng sinh tử, lên xuống không bao giờ ra khỏi các cõi và không bao giờ dừng nghỉ. Nghiệp là động cơ lôi chúng sanh đi trong sáu cảnh giới: Cõi người, Cõi trời, A tu la, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Tuy vậy, người tu hành phải nhờ con đường của vòng xây chuyển để được tiến hóa cho đến khi đạt giải thoát.

Kinh Giải Oan có câu:

"Vòng xây chuyển vong hồn tấn-hóa,
"Nương xác thân hiệp ngã Càn-khôn.
"Bước đường sanh tử đã chồn,
"Oan-oan nghiệt-nghiệt dập-dồn trái căn."

 

 

VỌNG

• VỌNG Viễn vông, hư giả, càn bậy. Td: Vọng chấp, Vọng ngữ, Vọng niệm.

• VỌNG - Trông xa, mong mỏi, ngưỡng mộ. - Ngày rằm âm lịch. Td: Vọng bái, Vọng động, Vọng nhựt.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nếu muốn an vui theo lẽ đạo,
Từ từ đừng vọng vị cao lương.

 

 

VỌNG BÁI


E: To prostrate oneself from far away.
F: Se prosterner de loin.

(Vọng : trông lên, hướng về trên. Bái : lạy, tỏ lòng kính) Vọng bái 望拜: Ngưỡng vọng mà cúi lạy. Nếu là lúc Cầu siêu thì đầu ngưỡng vọng cúi lạy Đức Phật Tổ ở cõi Tây Phương cùng Phật A-Di-Đà nơi Cực Lạc xin cứu giúp cho chúng sanh.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,
"A-Di-Đà Phật độ chúng dân."

 

 

VỌNG CẦU

妄 求
E: The vain hop.
F: Le vain espoir.

Vọng: Viễn vông, hư giả, càn bậy. Cầu: tìm, xin. Vọng cầu là cầu mong việc viễn vông.

Thầy dạy: "Ðường đời khúc mắc chông gai là lẽ Thiên cơ đã định vậy; cái nơi để cho cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến kiến công lập vị mình chẳng khác nào con buôn trong buổi chợ. Cả sức lực, cả trí não tinh thần đều bị tiêu tán nơi ấy, vì vậy nên mới mất chơn linh, thất ngôi diệt vị. Bởi vậy cho nên nhiều bực Thánh, Thần, Tiên, Phật cam lòng thủ phận chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đọa, nhưng mà chẳng tái kiếp thì như nhu sĩ trốn thi, thế nào mong mỏi địa vị ra cao thượng".

 

 

VỌNG ĐỘNG

妄 動
E: To act in vain.
F: S’agiter vainement.

Vọng: Viễn vông, hư giả, càn bậy. Động: làm, chuyển động. Vọng động là toan tính làm chuyện hư giả, vô ích.

Tâm vọng động: Lòng dấy động lên hoài, hết toan tính làm cái nầy đến ham muốn làm cái kia.

 

 

VỌNG NGỮ

妄 語
E: The lie.
F: Le mensonge.

Vọng: Viễn vông, hư giả, càn bậy. Ngữ: lời nói. Vọng ngữ là nói láo, nói dối, nói không đúng sự thật.

Vọng ngữ là điều răn cấm thứ 5 trong Ngũ Giới Cấm.

Tân Luật -Ngũ bất vọng ngữ: là cấm xảo trá, láo xược, gạt gẫm người, khoe mình bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng thô tục, chửi rủa người, hủy báng tôn giáo, nói ra không giữ lời hứa.

 

 

VỌNG NGƯỠNG

E: To look up and to hope.
F: Regarder en haut et espérer.

Vọng ngưỡng là ngửa mặt trông chờ Ơn Trên chiếu cố.

Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng nói: "Bần đạo khuyên khá hết dạ kỉnh thành mà vọng ngưỡng nơi Ðấng Chí Tôn, thì con đường được thung dung đầm ấm, chí ư đem họa cỏn con biến đổi trong gia đình mà so sánh trành tròn với đức háo sanh của Tạo hóa, thì đường đạo đức minh quang thế nào trông trờ bước tới nữa, mà vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh tự tại."

 

 

VỌNG NIỆM - VỌNG TƯỞNG

望 念 - 妄 想 (妄念)
E: The Vain thought.
F: La Vaine pensée.

Có hai trường hợp:

• Vọng: - Trông xa, mong mỏi, ngưỡng mộ. - Ngày rằm âm lịch. Niệm: tưởng nghĩ. Vọng niệm 望念 là hướng về Trời Phật mà tưởng niệm. Td: Vọng bái, hướng lên trên, Vọng nhựt.

Kinh Sám Hối có câu:

"Ngày ngày vọng niệm chớ vong,
"Chẳng nên hủy hoại mới phòng khỏi hoang."

• Vọng: Viễn vông, hư giả, càn bậy. Tưởng: ý nghĩ. Niệm: tưởng nghĩ. Vọng tưởng 妄想 đồng nghĩa với vọng niệm 妄念 là nghĩ tưởng những việc sai trái, càn bậy.

Sự Vọng niệm khiến chúng ta bị chậm trễ trên con đường tiến hóa, vì linh hồn chúng ta có thói quen nương tựa, ỷ lại vào tha lực, chờ đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài, nên còn yếu đuối, trí não lâu mở sáng, nên sự tiến hóa tất nhiên trì trệ.

 

 

VỌNG THIÊN

Vọng Thiên 望天 là trông ngóng vào cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Chơn hồn sung sướng vui vẻ lên đường mà trông ngóng về cõi Thiêng Liêng.

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,
"Chơn thần khoái lạc lên đàng vọng Thiên."

 

 

VỌNG THIÊN CẦU ĐẠO

(Vọng: hướng về, trông lên; Thiên: trời; Cầu Đạo: xin đạo) là hướng lên Trời để cầu xin mối Đạo. Ngày Vọng Thiên Cầu Ðạo là sắp vô đề mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Các Ðấng dìu dắt ba ông lần lần, nghĩa là ba ông mới nhập trường Ðạo.

Đúng vào ngày 27-10-Ất Sửu (dl: 12-12-1925), Đức Cửu Thiên Huyền Nữ, tức là Phật Mẫu hay còn gọi là Cửu Thiên Nương Nương, giáng mách bảo rằng: "Mùng 1 tháng 11 nầy, Tam Vị Đạo Hữu Vọng Thiên Cầu Đạo".

Ba ông hợp nhau bàn giải, không hiểu Cầu Đạo là gì mà Bà dạy, để cầu hỏi mấy Em. Ngày sau, ba ông cầu Thất Nương hỏi: - Thất Nương dạy giùm, Cầu Đạo là gì?

Thất Nương nói:

- Không phải phận sự của Em, xin hỏi Ông AĂÂ.

Ngày sau nữa, có các Đấng giáng, ba ông hỏi thì các Đấng cũng nói: Không phải phận sự của tôi, xin hỏi Ông AĂÂ.

Ngày 30-10-Ất Sửu (dl: 15-12-1925), ba ông cầu Đấng AĂÂ thì Đấng AĂÂ giáng dạy rằng:

- Ngày mùng 1 tháng 11 nầy (dl: 16-12-1925), Tam Vị phải Vọng Thiên Cầu Đạo. Ba Vị tắm gội cho tinh khiết, ra quì giữa Trời, mỗi vị cầm 9 cây nhang mà vái rằng: "Ba tôi là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, vọng bái Cao Đài Thượng Đế, ban ơn đủ phúc lành cho ba tôi cải tà qui chánh".

Nhớ lời Ông AĂÂ dạy, tối hôm mùng 1 tháng 11 năm Ất Sửu, ba ông mặc áo dài đen, quần trắng, đầu đội khăn đóng, đặt một cái bàn nhỏ và thấp ngoài sân, trước nhà ông Cư, đồng quì xuống, chống tay lên bàn, mỗi người cầm 9 cây nhang đốt cháy, đưa lên vái: "Ba tôi là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Vọng Bái Cao Đài Thượng Đế ban ơn đủ phúc lành cho ba tôi cải tà qui chánh". Ba ông cứ tịnh tâm mặc niệm, vái đúng như lời của Đấng AĂÂ dạy, không nhớ tới cái vụ quì ngoài sân cỏ, dựa đường đi, có kẻ qua người lại dập dìu, lớp thì xe cộ họ đi chơi, lớp thì đi coi hát về, họ dừng chân lại coi ba ông nầy cúng vái ai mà lại quì ngoài sân cỏ như vậy. Ai coi mặc ai, ba ông cứ quì đó cầu khẩn, van vái cho tàn hết 9 cây nhang. Cúng vái xong, ba ông vào nhà, đem Ngọc Cơ ra cầu.

Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng, viết chữ Nho, cho 4 câu Hán văn, chép ra sau đây:

"Vọng niệm phân thùy sự sự phi,
"Cá lý Thiên tâm thường thế nhẫn.
"Thiên tâm tu hướng cá trung cầu.
"Quân vấn Thiên tâm mạc tri tường".

Ba Ông không hiểu chi cả. Khi Đấng Cao Đài Thượng Đế thăng rồi, ba ông mới thỉnh bàn ra, cầu Ông AĂÂ xin giải nghĩa 4 câu Hán văn của Đức Cao Đài Thượng Đế trên đây.

Đấng AĂÂ giáng, giải nghĩa từng chữ đơn, đại ý như sau về nghĩa xuôi:

Việc cầu ước đều chẳng phải,
Mỗi lẽ do lòng Trời, phải đợi lịnh.
Lòng Trời tua ngó theo, mỗi việc đều cầu khẩn,
Bây hỏi lương tâm chưa biết rõ sao?

                                                Lòng Trời: Conscience.

Đấng AĂÂ nói:

- Đấng Cao Đài Thượng Đế nói Tam Vị chưa đủ đức tin về Ngài nên hỏi gạn lại. Tam Vị phải nghĩ cho thấu.

Đấng AĂÂ cho bài thi:

Cứ níu theo phan Đức Thượng Hoàng,
Tự nhiên tu tánh đặng bình an.
Nguyệt hoa căn tội tua xa lánh,
Vịn lấy nhành dương hưởng đạo nhàn.

Luận Đạo:

Điều đáng lưu ý là ngày Vọng thiên cầu Đạo là ngày 1-11-Ất Sửu, tức là ngày Âm lịch có đến 3 con số 1 ấy là sự "đắc nhứt" Thiên đắc nhứt dĩ linh, địa đắc nhứt dĩ ninh, Nhơn đắc nhứt dĩ thành (đủ Tam Tài: Thiên-Địa-Nhơn) rồi vậy. Hơn nữa đúng vào năm ẤT SỬU. Tính theo thứ tự của Thiên can. (Ngày 1-11-Ất Sửu, dl.16-12-1925)

 

 

VỌNG THIÊN BÀN

Đức Thượng Sanh nói: "Nhờ chơi Xây Bàn mà ba ông Cư, Tắc, Sang học hỏi Ðạo-lý, trau giồi trí thức cho tới ngày Ðức AĂÂ xưng chính danh là Ðức Chí-Tôn dạy ba ông Vọng Thiên Bàn ngoài sân, quì giữa Trời mà cầu Ðạo ngày 1 tháng 11 Ất Sửu (dl. 16-12-1925).

 

 

VỌNG THƯỢNG ĐẾ

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Vọng Thượng-Đế chứng lòng thành-tín,
"sanh đồng bái kỉnh khẩn-nguyền.
"Nguyền cho trăm họ bình yên,
"Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than."

 

 

VÔ BIÊN


E: Without limits.
F: Sans limites.

: Không, trống không, không có gì. Biên: biên giới, giới hạn. Vô biên là không giới hạn, không cùng tận.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế:

"Oát triền vô biên, Càn kiện cao minh,...."

Vô biên vô giới: không biên không giới, tức là không giới hạn, bao la không cùng tận.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tánh háo sanh của Đức Đại Từ Bi cũng nhân đó mà vô biên vô giới.

 

 

VÔ CAN


E: To be out of cause.
F: Être hors de cause.

Kinh Sám Hối có câu:

"Bền công kinh sách xem coi,
"Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan."

 

 

VÔ CĂN - VÔ KIẾP

Bà Bát Nương Diêu-Trì-Cung nói: …"Nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hóa. Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu. Vậy thì chính lời nhiều Tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn Giải thân định trí".

 

 

VÔ CÔNG TRÁC

Trác: mài dũa, trau dồi. Vô công trác: không ra sức trau dồi.

Phương ngôn có câu:

Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài,
Cũng thành vô dụng cũng hoài ngoc đi.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Sanh tồn cụ pháp vô công trác,
Tử hậu cùng đồ uổng lộ diên.

 

 

VÔ CÙNG TẬN


E: Infinite, endless.
F: Infini, sans fin.

Vô cùng 無窮 Không giới hạn, không cùng tận.

Đức Hộ Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống: "Bông hoa Thiêng Liêng ấy sẽ sống một triệu lần, do nơi quyền-năng biến hóa của nó và nó sẽ hiện tượng biến hóa trước mặt ta vô cùng tận vậy".

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu:

"Vùng thoại khí bát hồn vận chuyển,
"Tạo Hóa Thiên sanh biến vô cùng."

 

 

VÔ CỰC ĐĂNG

Thầy giải về Vô Cực Đăng: Trước khi phân Trời Đất, thì khí Hư-vô bao quát Càn khôn, sáng soi đầy trong vũ-trụ. Nó là một cái trung tâm-điểm, tức là Đạo. Đạo ấy mới sanh ra Thái-cực, hóa Lưỡng-nghi. Lưỡng-nghi là Âm Dương tức là động và tịnh. Có Âm Dương rồi mới có hóa sanh muôn vật.

Ngọn đèn thờ chính giữa, là giả mượn làm Tâm đăng, Phật Tiên truyền Đạo cũng do đó, thành Đạo cũng tại đó. Nó đặt ngay chính giữa, không lay động, xao xuyến, chiếu thấu khắp cả Càn khôn.

Mặt Nhựt, mặt Nguyệt có lúc sáng, lúc tối, giờ khắc nào cũng tỏ rạng, không lu mờ. Nhơn vật nhờ đó mà sanh, nhờ đó mà thành, nhờ đó mà an vui. Trời Đất nhờ đó mà quang minh trường-cửu. Người tu-hành nhờ đó mà tạo Tiên tác Phật, siêu phàm nhập Thánh. Hễ chinh qua bên trái thì Tả Đạo; dịch qua bên hữu thì bàn-môn, ngay ở giữa là Chánh Đạo. Đạo Cao-Đài ngày nay chỉ dùng hai chữ chánh và trung mà thôi.

Chúng-sanh phải nên am-tường lý ấy, lý ấy ở trong Tâm. Tâm an-tịnh vô-vi tự nhiên bất động là Chánh Đạo. Tâm còn tính mưu thần chước quỉ, độc ác hiểm sâu, ấy là bàng-môn, tả Đạo chớ chi đâu! Thế nên nhân-loại phải thờ Đức Thượng Đế trong buổi Tam-kỳ Phổ-Độ này.

 

 

VÔ CỰC - THÁI CỰC - THÁI HƯ LÀ GÌ?

(Trích Trung Thiên Dịch - Trần Cao Vân - trang 375)

Theo triết thuyết Thiên Địa - Âm Dương thì chữ Thái là nói cực kỳ to lớn; vô cùng vô tận, không thể so sánh được nữa.

Vũ trụ bao la là Thái Hư, là nói chân thể ấy trống không. Song trong cái Hư không vô cùng vô tận, vô xú vô thanh ấy vốn ở trong cái Lý và cái Khí cũng vô cùng vô tận; cho nên khi ta muốn nhấn mạnh phần Lý, thì ta gọi Thái Hư hay Vô cực; khi ta muốn nhấn mạnh về phần Khí thì ta gọi Thái Hư hay Thái cực:

- Khí là phần hữu hình, là điện tử lưu hành trong vũ trụ.
- là mãnh lực xoay vần, chủ thể những điện tử ấy.

- Vô cực và Thái cực là hai phương diện nói về cái thể của Thái Hư. Còn Lý và Khí tuy nói là hai mà chỉ có một. "Có Lý thì có Khí và có Khí thì có Lý, danh tuy là hai mà kỳ thực thì có một". Bởi vây khi chưa có trời đất và một vật gì, thì khí cơ (hạt điện tử) nhờ mãnh lực vận động của Lý sinh ra hình chất, nên nói "Vị hữu Thiên địa Khí sinh hình". Nhưng chừng vật ấy đã sinh ra rồi, thì hình chất ấy hàm ngụ nơi Khí "dĩ hữu Thiên địa hình ngụ Khí" và nhờ khí ấy muôn loài vạn vật sinh ra được. Khí này lại chia hai:

- Khí hóa là do Âm và Dương khí huân chưng mà thành ra như cây cỏ (hóa sanh).

- Hình hóa là do hai giống khác tính (trai gái, đực cái) cấu tinh mà sinh ra (hóa thuần).

Vậy phải tùy theo hình mà nghiên cứu cái Khí ấy thì mới biết được Âm Dương và phải ngay trên Khí ấy mà xét cho được Lý thì mới biết rõ Thái cực là hữu hình vận chuyển bởi sức mạnh vô hình là Lý vậy.

Để tượng cho Thái-cực, Thánh nhân tượng một vòng tròn, gồm có điểm đen và điểm trắng, đen trắng tượng hình cho Âm Dương còn hồn nhất trong đại thể ấy. Đại thể duy nhất bất phân đó là trung tâm, là chủng tử, sanh thành gây dựng Càn Khôn Vũ Trụ sau này.

Trước khi khởi thủy, chưa có một tượng hình động tịnh, nên gọi là Tiên Thiên. Ta có thể lấy chữ MINH "Nhật Nguyệt hiệp thành Minh". Minh ở đây là viên minh, diệu giác, tự tánh chân như.

Khi trời đất phân nghi, Âm Dương hiển hiện, thì trời đất được dựng nên, muôn oài sinh sôi nẩy nở dẫy đầy trong vũ trụ. Đó là then chốt biến hóa trong trời đất: Có đóng thì có mở, đóng tức là hạp, mở tức là Khai hay tịch; có tử thì có sanh, có giáng có thăng, có siêu có đọa. Cuộc Dịch biến hóa triền miên bất định, luật biến thiên chẳng chút ngừng nghỉ. Đó là "nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản".

 

 

VÔ CỰC VÔ THƯỢNG


E: Without limits and supreme.
F: Sans limites et suprême.

: Không, trống không, không có gì. Cực: cái đầu cùng. Thượng: trên. Vô cực: không có cái nào ở ngoài đầu cùng. Vô thượng: không có cái nào ở trên nữa. Vô cực vô thượng là trên tất cả, cao hơn tất cả.

Đức Hộ Pháp nói: "Cái quyền-năng vô cực vô thượng của Ngài do những pháp vô-vi mầu-nhiệm mà có nên gọi là BÍ PHÁP. Đức Chí Tôn cũng dùng BÍ PHÁP mà lập Đại-Đạo Tam kỳ Phổ-Độ để ứng nghiệm cái quyền-năng của Ngài nơi địa cầu 68 này để bảo-tồn cơ sanh-hóa, vì Ngài là Chúa sự Thương yêu, mà vì thương-yêu mới có sanh sanh hóa hóa. Vậy nên Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ do BÍ PHÁP lập thành. Đền-Thánh là nơi Thầy ngự tại thế cũng do BÍ PHÁP mà biến tướng ra. Ấy vậy, Đền-Thánh này chứa tất cả BÍ PHÁP của Đấng Chúa-tể Càn khôn vậy. Đền-Thánh hoàn thành là cái triệu chứng "Châu nhi phục thủy". Từ đây đến vô cùng Vạn linh sanh chúng sẽ hưởng được muôn điều hạnh phúc của quyền-năng vô cực vô thượng của Đức Chí-Tôn ban cho tại thế này.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế:

"Hồng oai hồng từ, vô cực vô thượng,...."

 

 

VÔ DANH ĐỒNG TỬ

Một vị đồng tử đến nói Đạo nhưng không xưng danh, mục đích là muốn khuyên chúng sanh tu hành, nhưng việc thiên cơ thì không dám lậu.

Sài Gòn, ngày 24-1-Đinh Sửu (dl 6-3-1937).

Phò loan : Bảo Pháp - Nguyễn Trung Ngôn.

VÔ DANH ĐỒNG TỬ

VÔ tư mới rõ đạo mầu thay,
DANH chửa nên danh chớ cậy tài.
ĐỒNG đạo tương thân là đạo chánh,
TỬ sanh phú có Đức Cao Đài.

Chào chư đạo huynh. Bình thân.

Mừng nay đặng gặp mấy anh đây,
Có chuyện chi hay nói tớ hay.
Đã quá mấy thu tình cảm vọng,
Đạo còn lắm việc phải ra tay.

Mấy anh nói chuyện chơi đi.

(Hậu xin Ngài chỉ dạy về việc Đạo).

- Đệ có dám lãnh phần giáo huấn đâu, nhưng lâu ngày đặng gặp mừng quá nên muốn bàn sơ việc Đạo với mấy anh cho vui, chớ Đệ cũng không dám nói rằng đắc lịnh Ngọc Hư mà dám nhiều lời. Song việc Đạo là việc công, tưởng ai cũng bàn đặng. Vậy xin nhượng chư huynh.......

- Đệ xin thưa chư huynh, Đạo còn nhiều bước khó khăn vì bị lũ tà thần quỉ mị bày lắm trò quái gỡ để lừa gạt chúng sanh mà phá loạn cơ quan của Đạo mà chính mình Đại Từ Phụ đã lưu tâm từ thử. Ấy cũng vì tư tâm ích kỷ mà ra, nhưng đó cũng là một bài học vỡ lòng cho anh em ta. Vậy đệ xin khuyên chư đạo huynh chớ thấy vậy mà vội buồn và hãy gắng công thêm nữa. Đệ xin tạm biệt.

Tái cầu:

VÔ tình đâu rõ đặng nhơn tình,
DANH đạo vì ai lắm bất bình.
ĐỒNG niệm nhứt tâm hành thiện đạo,
TỬ thị sanh phi khuyến chúng sinh.

Đệ đã nói rằng không đắc lịnh, thế thì đâu dám quyết định điều gì. Còn yêu cầu Lý Đại Tiên và Đại Từ Phụ thì quyết chưa đặng vì đã có lịnh Trên dạy để vậy ít lâu cho rõ giả chơn, rồi các anh em sẽ tự nhiên tỉnh ngộ, vì chẳng lẽ Đức Chí Tôn làm việc chơi một lúc đâu! Nếu ai có tâm chí lớn mới đáng làm hướng đạo cho cơ hiệp nhứt, vì những người có công khai Đạo đã bị thử thách, rồi nhơn cơ hội ấy mà bị khinh bỉ và đố kỵ là khác nữa. Vì lẽ ấy mà không khôi phục nhơn tâm. Chẳng những vậy thôi mà những kẻ đó lại còn đem đường ganh ghét cho người Đạo mất vẻ thân ái với nhau. Chớ chi đừng kể những điều phàm tục mà bạo gan ráng chịu cho đặng những điều nghịch ý mình thì có lo chi không hiệp nhứt. Đệ xin tạm vài lời thổ lộ". (Thánh Ngôn chép tay của Ngài Bảo Pháp, trang 62)

 

 

VÔ DANH THIÊN ĐỊA CHI THỦY

(Vô danh: không tên; Thiên địa: trời đất, chi: tiếng đệm; thủy: ban đầu) không tên là cái có trước trời đất.

- Đạo-giáo: Đạo Đức Kinh chương I nói rằng: "Vô danh thiên địa chi thuỷ" 無名天地之始 (không tên là cái có trước trời đất). Nay như hỏi: "cái vô-danh" ra sao?

Đạo Đức Kinh chương 25 nói rằng: có cái tự nó hỗn luân mà sanh thành lấy nó. Cái ấy sanh trước trời đất, yên lặng, trống không; đứng một mình mà chẳng nghiêng, chẳng lệch, lưu-hành khắp nơi mà chẳng mòn-mỏi; cái ấy khá gọi là nguồn sanh hóa thiên-hạ. Ta không biết tên gì, song mượn chữ gọi là "ĐẠO" "hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh, tịch hề, liêu hề, độc lập nhi bất cải, châu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu, Ngô bất tri kỳ danh, tự chi vị Đạo".