CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần TR

 

TRẢ

Trả Chức

Trả Thảo Mẹ Cha

Trả Quả

Trả Vay

Trả Vay Vay Trả Đồng Cân

 

TRÁC

Trác Tuyệt

 

TRÁCH

Trách

Trách Nhiệm (Trách Nhậm)

Trách Nhậm Dụng Nhơn

Trách Vụ

 

TRAI

Trai Đường

Trai Giới

Trai Kỳ

Trai Phạn

Trai Tâm

 

TRÁI

Trái Càn Khôn (Quả Càn Khôn)

Trái Căn

Trái Chủ

Trái Oan

Trái Tai Gai Mắt

Trái Thánh Ý

 

TRAN

Tran Thờ

 

TRANG

Trang Nghiêm

Trang Tử (1)

Trang Tử (2)

 

TRÀNG

Tràng Tiếp Pháp Trương Văn Tràng

 

TRÁNG

Tráng Kiện

Tràng Phan

 

TRẠNG

Trạng Trình

Trạng Trình Nguyễn Bĩnh Khiêm

 

TRANH

Tranh Cạnh

Tranh Chấp

Tranh Đấu

Tranh Giành

Tranh Luận

 

TRÁO

Tráo Trở Thị Phi

 

TRÁP

Tráp Tam Bửu

 

TRAU

Trau Giồi Hiếu Đạo

Trau Thân

 

TRẮC

Trắc Ẩn

Trắc Ẩn Chi Tâm Ái Vật Chi Lý, Bất Sát Bất Hại Thể Háo Sanh Chi Đại Đức Vi Nhơn

Trắc Trở

 

TRĂM

Trăm Họ

Trăm Họ Bình Yên

Trăm Năm

 

TRẦM

Trầm Đoàn

Trầm Luân

Trầm Luân Khổ Hải

Trầm Tư Mặc Tưởng

 

TRẦN

Trần

Trần Ai

Trần Cao Vân

Trần Cấu

Trần Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu)

Trần Duyên

Trần Duy Nghĩa

Trần Đạo Quang

Trần Đoàn

Trần Gian

Trần Hưng Đạo

Trần Khánh Dư

Trần Khổ

Trần Kim Phụng

Trần Nhân Tông

Trần Phủ Từ

Trần Quang Vinh

Trần Thái Tông

Trần Thế

Trần Thị Lựu

Trần Tình

Trần Trọng Kim

Trần Tục

Trần Văn Hoằng

Trần Văn Tạ

Trần Văn Tấn

Trần Văn Xương

 

TRẤN

Trấn Bùa

Trấn Đạo

Trấn Đạo Tần Quốc

Trấn Nhậm

Trấn Pháp

Trấn Pháp Thiên Hỉ Động

Trấn Pháp Thất Đầu Xà

Trấn Thánh Phi Châu

Trấn Thần

Trấn Thần Đền Thánh

Trấn Thủ

 

TRẬN

Trận Vong Chiến Sĩ

 

TRẬT

Trật Tự Phẩm Vị

 

TRỄ

Trễ Nải

 

TRÊU

Trêu Cay Ngậm Đắng

 

TRI

Tri Âm

Tri Ân

Tri Cơ

Tri Thiên Mạng

Tri Túc

Tri Hành Hiệp Nhứt

 

TRÍ

Trí Dục

Trí Giác Cung (Địa Linh Động)

Trí Huệ

Trí Huệ Cung (Thiên Hỉ Động)

Trí Huệ Kiếm

Trí Khôn

Trí Lự

Trí Lực

Trí Nhàn - Trí Sĩ

Trí Thức

Trí Thức Tinh Thần

 

TRÌ

Trì

Trì Chí

Trì Giới

Trì Hoãn

 

TRỊ

Trị Nhi Vô Giáo

Trị Sự

Trị Thế Thái Bình

Trị Xảo Trừ Tà

 

TRÍCH

Trích Điểm

Trích Lục

Trích Tiên

 

TRIẾT

Triết Học

Triết Học Á Đông

Triết Lý

Triết Lý Đạo Cao Đài

Triết Lý Đạo Phật

 

TRIÊU

Triêu Tịch

Triêu Văn Đạo Tịch Tử Khả Hỉ

 

TRIỀU

Triều Cống

Triều Đình

Triều Nghi

Triều Thiên

Triều Ngọc Hư

 

TRIỆU

Triệu

Triệu Nương Vương

 

TRINH

Trinh

Trinh Liệt

Trinh Tiết

 

TRÌNH

Trình Duyệt

Trình Minh Thế

Trình Tấu

 

TRÒ

Trò Đạo Đức

 

TRỌN

Trọn Đạo

Trọn Kính Trọn Ngay

Trọn Lành

Trọn Nghì

 

TRỌNG

Trọng Đại

Trọng Đông

Trọng Hậu

Trọng Ni

Trọng Hệ

Trọng Nam Khinh Nữ

Trọng Nghĩa Khinh Tài

Trọng Tài

Trọng Trách

Trọng Trược

Trọng Xuân

Trọng Yếu

 

TRÒNG

Tròng Tên Tráo Tuổi

 

TRÔNG

Trông Ngọc

 

TRỐNG

Trống Là Âm Thinh Của Ðạo

 

TRỒNG

Trồng Trầu Trồng Lộn Với Tiêu

 

TRỘM

Trộm Nén Hương Thừa

 

TRỞ

Trở Chơn

Trở Giáo Hại Thầm

Trở Tâm

Trở Tráo

 

TRỢ

Trợ Lịnh

Trợ Lực

Trợ Lý

 

TRỜI

Trời Là Ai?

Trời Phật

Trời Xanh

 

TRU

Tru Diệt

Tru Lục

 

TRÙ

Trù Phòng

 

TRỤ

Trụ Căn

Trụ Nghĩa

Trụ Tâm

Trụ Tinh Thần

Trụ Thần

Trụ Trì

 

TRUÂN

Truân Quẻ Thuỷ Lôi Truân

Truân Chuyên

 

TRUẤT

Truất Quyền

 

TRỤC

Trục Tinh

Trục Xuất

Trục Xuất Chơn Thần

Trục Xuất Quan Phủ Chiêu

 

TRUNG

Trung (Lê Văn Trung)

Trung Can Nghĩa Khí

Trung Cộng

Trung Dung

Trung Dũng

Trung Đạo

Trung Giả Dã, Thiên Hạ Chi Đại Bản Dã, Hòa Giả Dã, Thiên Hạ Chi Đạt Đạo Dã. Chí Trung Hòa, Thiên Địa Vị Yên, Vạn Vật Dục Yên

Trung Gian

Trung Giới

Trung Hậu

Trung Hiếu

Trung - Hiếu - Nghĩa

Trung Hiếu Tiết Trinh

Trung Hòa

Trung Hòa Học Phái

Trung Khổ Hải

Trung Kiên

Trung Lập

Trung Lương

Trung Ngôn Nghịch Nhĩ

Trung Nghĩa

Trung Nguơn

Trung Quân

Trung Quân Ái Quốc

Trung Quân Hiếu Phụ

Trung Thành

Trung Thu

Trung Thứ

Trung Tín

Trung Tông Đạo

Trung Trinh

Trung Trực

 

TRÙNG

Trùng

Trùng Huờn

Trùng Ngũ

Trùng Tu

 

TRUY

Truy Điệu

Truy Hồn

Truy Nguyên

Truy Phong

Truy Thăng

 

TRUYỀN

Truyền Bá

Truyền Bá Đạo Thầy

Truyền Đại Đạo

Truyền Đạo

Truyền Giáo

Truyền Hiền

Truyền Kế Lửa Hương

Truyền Kiếp

Truyền Ngôn

Truyền Pháp

Truyền Phương Thọ Khổ

Truyền Tâm

Truyền Thần Giải Bệnh

Truyền Trạng

Truyền Trạng Phạm Văn Ngọ

Truyền Tử Lưu Tôn

 

TRUYỆN

Truyện Ký Tượng Tam Thánh

 

TRỨNG

Trứng Để Đầu Giàn

 

TRỪ

Trừ Diệt Quỉ Quyền

Trừ Diệt Tà Gian

Trừ Oan

Trừ Phục

Trừ Tà Diệt Mị

Trừ Tịch

Trừ Tiêu Tàn

 

TRỮ

Trữ Đức - Trữ Vàng

 

TRỰC

Trực Giác

Trực Ngôn

Trực Tâm

 

TRƯNG

Trưng Vương

 

TRỪNG

Trừng Phạt

Trừng Trị

 

TRƯỚC

Trước Lâm Thất Hiền

Trước Mai

 

TRƯỢC

Trược Chất

Trược Khí

Trược Quang

 

TRƯƠNG

Trương Công Nghệ Cửu Thế Đồng Cư

Trương Hữu Đức

Trương Lương

Trương Phủ Từ

Trương Quả Lão

Trương Thị Nhạn

Trương Thị Tròn

Trương Văn Nhung

Trương Văn Tràng

Trương Vi Rồng

 

TRƯỜNG

Trường

Trường Ác Cảm

Trường Áo Tím

Trường Canh

Trường Công Danh

Trường Công Đức

Trường Công Quả

Trường Cửu

Trường Đình

Trường Đồ Tri Mã Lực

Trường Đổ Bác

Trường Giang Đại Hải

Trường Hỗn Độn

Trường Khảo

Trường Lê Văn Trung

Trường Lưu

Trường Mộng Ảo

Trường Náo Nhiệt

Trường Ngôn Luận

Trường Phổ Tế

Trường Qui Thiện

Trường Sanh

Trường Sanh Bất Tử

Trường Sanh Địa

Trường Tà Quái

Trường Thế Sự

Trường Thi Công Quả

Trường Thi Tiên Phật

Trường Thử Thách

Trường Tồn

Trường Tồn Vĩnh Cữu

Trường Trai

Trường Tranh Luận

Trường Trung Học Lê Văn Trung

Trường Xuân

 

TRƯỞNG

Trưởng Huynh

Trưởng Lão

Trưởng Nam

Trưởng Nữ

Trưởng Thành

 

TRƯỢNG

Trượng Khinh

Trượng Nghĩa

Trượng Phu

Trượng Tiết

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 16-12-2017

 

 

 

TRẢ CHỨC

Tờ xin trả chức của Lễ Sanh Ngọc-Giác-Thanh.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Bần-Đạo buồn-cười mà để dấu hỏi coi ai dạy Giác mà nó ngoan Đạo quá vậy. Đương chèo thuyền Bát Nhã là một tên bạn chèo mà coi mình trọng hơn phẩm Lễ Sanh cũng là một điều hi-hữu. Ừ phải! nó chỉ biết nó theo khuôn thuyền tế-độ, ấy là vì biết chủ chiếc thuyền là Đức Di-Lạc Vương-Phật, nên nó nghĩ: "Thà làm tôi cho một vị PHẬT đặng đưa bước Thiêng Liêng cho các Chơn-Hồn, hơn là làm tôi-đòi cho Vạn-Linh Sanh-Chúng". Sáng-suốt ấy chẳng phải xác-thịt phàm của Giác xúi-biểu nó, mà là Chơn-Linh Phật-Tánh của nó đã nói nhỏ với nó. Bần-Đạo lại làm trái ý nó một phen chơi, chúng sanh đã muốn cho nó làm Lễ Sanh nó chê, Bần-Đạo cho nó vào hàng Giáo Thiện, Hội-Thánh Phước Thiện lập Thánh-Lịnh. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

TRẢ THẢO MẸ CHA

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm con phải trau giồi hiếu đạo,
"Trước là lo trả thảo mẹ cha."

 

 

TRẢ QUẢ

E: To pay back a debt of the anterior life.
F: Payer une dette de la vie antérieure.

Trả là một hình thức vay mượn của người, sau đó phải trả lại bằng hoặc hơn. Quả: trái, kết quả của việc trồng cây, sau đó hái Trái, nghĩa bóng là "gieo nhân nào gặt quả nấy" gieo nhân lành gặt quả tốt, gieo nhân xấu gặt quả xấu. Như vậy trả quả là đến lúc phải bồi hoàn lại cho người xứng đáng.

Đức Hộ Pháp nói: "Các con nhớ rằng: dữ tận hiền thăng, mạnh thua yếu được, nhu nhược trường tồn, Xỉ cương tắc chiết. Nhơn loại trả quả với nhau các con chịu cái nạn chung, trả từ đời Hồng Bàng tới giờ. Tổ phụ của chúng ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn quả ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong."

Lý Giáo-Tông nhắc lời Chí-Tôn dạy cách trả quả là:

Trái oan chưa dứt thuở nào thôi?
Muốn đặng phi thăng, ráng trả rồi.
Cượng lý tu hành cho thoát tục,
Tiền vay nợ hỏi, sổ ai bôi?

"Các con ôi! Phải ráng vui lòng mà chịu điều cực khổ. Hễ Thầy thương các con chừng nào thì hành hạ các con chừng nấy. Bởi vậy, khi các con hiến thân hành đạo với Thầy, đã lịnh truyền cho Thần, Thánh bắt các con phải trả cho đủ kiếp, đặng trừ cho kịp kỳ nầy. Bởi các con phải chịu Luật luân hồi, vì cớ mà các con phải chịu điều khổ sở như vậy, các con chớ than phiền, chính theo lời thề của các con thì Thầy hành các con cho đúng lẽ. Vậy mới xứng đáng là Môn đệ của Thầy. Có nhiều đứa vì không rõ Luật Thiên điều, cứ than van mãi." Vậy, chư Hiền hữu, Hiền Muội nghe Ơn Trên dạy đành rành. Nợ thì phải trả, chớ không chạy đâu được. Dầu một vị Đại La mà phạm luật Thiên điều thì cũng phải tái kiếp mà đền bù cuộc trả vay.

Thế nào gọi là Trả quả? -Là nhận chịu các nợ tiền khiên đã kết nạp trong nhiều kiếp chỉ quyết trả cho xong mà không vay thêm nữa.

Có hai cách Trả quả:

- Một là quả báo về tinh thần ở phạm vi tư tưởng, buồn thảm âu sầu.

- Hai là quả báo về xác thịt, tật bệnh, đói rét, khốn nàn.

Quả lại chia ra làm ba ảnh hưởng:

1- Là quả báo cá nhân do mình tạo ra.

2- Là quả báo của chủng tộc do nòi giống tạo ra.

3- Là quả báo do quần chúng của mỗi người trong xã hội gây ra.

Vậy muốn dứt các dĩ vãng là kết quả của hiện tại âu sầu thống khổ thì phải lấy cái hiện tại mà tạo cái tương lai cho được rực rỡ vẻ vang, rồi lấy cái tương lai đó mà tạo một cơ sở vững vàng muôn kiếp, tức là đi tới chỗ trường sanh bất tử đó vậy."

 

 

TRẢ VAY

E: To pay and to borrow.
F: Payer et emprunter.

Trả: trả nợ. Vay: vay nợ. Vay là nhân, trả là quả. Trả vay là trả nợ cũ xong rồi lại vay nợ mới, hết trả tới vay, hết vay tới trả, nên cứ lẩn quẩn trong vòng sanh tử luân hồi nơi cõi trần.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Trả vay cho sạch vết oan khiên.

 

 

TRẢ VAY VAY TRẢ ĐỒNG CÂN

Thầy dạy: "Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương".

 

 

TRÁC TUYỆT


E: Eminent.
F: Éminent.

Trác: cao xa. Tuyệt: tột đỉnh. Trác tuyệt là vượt lên khỏi mức bình thường, tức là phi thường, siêu việt, đồng nghĩa: Trác việt.

 

 

TRÁCH

Trách: Quở, bắt lỗi, - phần việc của mình. Td: Trách cứ, Trách nhậm, Trách thiện.

Thầy dạy ngày 29-1-Bính Dần (dl. 13-3-1926).

"Thầy cho các con biết trước đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả môn đệ. Các con đủ hiểu rằng, phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối. Nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt. Cười..."

 

 

TRÁCH NHIỆM (TRÁCH NHẬM)

E: The responsibility.
F: La responsibilité.

Trách: phần việc của mình. Nhậm: Nhiệm: gánh vác. Trách nhậm hay Trách nhiệm là phần việc được giao cho nhận lãnh gánh vác.

"Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ chiếu theo luật Thiên-đình hội Tam-giáo mở rộng mối Đạo Trời, ấy cốt để dìu-dắt nhơn sanh bước lên con đường Cực-lạc, tránh khỏi đoạ luân-hồi và dụng Thánh-tâm mà dẫn dân sanh, làm cho hoàn-toàn trách nhiệm nặng-nề của đứng làm người, về bực nhơn phẩm ở chốn trần-ai khốn-đốn này".

Thầy dạy: "Tr..., L..., K..., T... nghe: Bốn con đã mang nơi mình mỗi đứa một trách nhậm chẳng phải nhỏ. Thử nghĩ lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào? Cái hạnh và cái đức của các con nó phải phù hạp với cái trách nhậm mới đặng. Các con là đèn và gương soi của nhơn loại; phải tập mình cho xứng đáng. Các con có đặng hạnh phúc ấy là do học đặng mảy mún nơi Thầy, mà Thầy dạy các con chẳng nghe, Thầy sai các con chẳng tuân. Tu thân còn chưa xong, thì thế nào mong mỏi thành Tiên Phật đặng?".

Đức Thương Phẩm giáng: 15-7-Giáp Tuất (dl. 24-8-1934): "Trách nhậm là trách nhậm, cá nhơn là thứ chi, phải biết nguồn cội là gốc, thì mới tránh khỏi thường tình đặng. Các Ðấng thiêng liêng đã thường nói: Lợi danh thường tình là nhỏ, danh giá Ðạo là trọng. Ðãi người một bực, bất kể tên gì, chịu thiệt thòi mà làm phận sự. Trễ nải của bước Ðạo thế nầy thì Thầy có khổ tâm khai Ðạo cho chúng ta độ rỗi sanh linh đâu. Sự trễ nải là sự phàm tâm của ta, Anh cũng cần nên đoạn khổ cho người, chớ nên tạo khổ cho ai. Ðường đời là bến sông mê, thoát mê thoát khổ được, ai lại còn mang đeo thằng phược vào mình mà để cho loạn tâm mệt trí về nơi đó, chẳng uổng kiếp sanh lắm ru?".

 

 

TRÁCH NHIỆM DỤNG NHƠN

Do tờ trả lời về vụ Lễ Sanh Chót (Thượng) góp tiền chợ Long-Hoa.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Quyền Ngọc Chánh Phối Sư là người chủ-quyền của Thiên-Phong Chức-Sắc tức phải chịu cả trách-nhậm dụng nhơn, thoản kẻ vô quyền-hành mà người đem để trách-nhiệm yếu-trọng làm cho hư cả thanh danh và năng-lực của Hành Chánh thì thử hỏi tội người thế nào? Ra Tòa Tam-Giáo và mất Quyền Chức là chắc, thuyên-bổ Chức-Sắc không có Quyền trên phê-chuẩn là phạm tội quá quyền đáng thâu quyền Chánh Phối Sư lại, nhưng vì nhục lây cho quyền Hành-Chánh nên phạt quì mười hương tại Điện, mỗi ngày ba nhang. Phải đem Chót ra khỏi Long-Hoa-Thị liền". [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

TRÁCH VỤ

責 務
E: Charge.
F: Charge.

Trách: phần việc của mình. Vụ: công việc. Trách vụ là trách nhiệm và công việc.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Con người không làm thì không có nên hư, còn lãnh trách vụ thì có nên hư, đặng thất.

 

 

TRAI ĐƯỜNG


E: The vegetarian refectory.
F: Le réfectoire végétarien.

Trai: Ăn chay. Đường: cái nhà. Trai đường là nhà ăn chay tập thể.

Nơi Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh có cất hai dãy nhà lớn dùng làm Trai đường, để cho các Chức sắc, các nhơn viên công quả, khi mãn giờ làm việc Đạo thì tụ họp lại đây để ăn cơm chay.

Khách thập phương về dự lễ nơi Tòa Thánh cũng được mời xuống Trai đường dùng cơm chay.

 

 

TRAI GIỚI


E: The observance of vegetarian diet.
F: L’observance du régime végétarien.

Trai giới là Giới luật về ăn chay. Phải đọc là Trai mới đúng nguyên ngữ, nhưng vì quen gọi là "chay" như ăn chay, chay lạt chẳng hạn. Việc trai giới này đã có từ Phật giáo, nay là buổi Cao-Đài vẫn giữ nguyên luật buộc trong giới tu hành.

Ðức Chí Tôn mở ra thời kỳ Ðại Ân Xá, nên ban ơn cho môn đệ ăn chay đủ 10 ngày trong mỗi tháng thì được thọ truyền bửu pháp luyện đạo, nhưng khi đã vào Tịnh Thất để luyện đạo thì buộc phải ăn chay trường (trường trai) để việc luyện đạo mới đạt được kết quả tốt đẹp. (Câu Thánh ngôn cuối).

Ngọc Ðàn (Cần Giuộc) [Vĩnh Nguyên Tự] Thứ bảy, 17-7-1926 (âl 8-6-Bính Dần)

Thầy dạy: "Hỉ chư Môn đệ, chư Ái nữ. Ðại hỉ! Ðại hỉ! Ngọc Ðầu Sư khả tu truyền Pháp, thuyết Ðạo. Kẻ nào trai giới đặng mười ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng. Chư Môn đệ phải trai giới. Vì tại sao? Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu Luật, song Luật ấy rất nên quí báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.

Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân. Một phàm gọi là corporel. Còn một Thiêng liêng gọi là spirituel. Mà cái Thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng. Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí -Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí.

Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh- Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần không có Tinh- Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng. Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong Khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn Thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn Thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng? Như rủi bị huờn, thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d'électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn. Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo." Hơn nữa: "Muốn cho khỏi phụ lòng Chí Tôn thì ta phải đào luyện cho Đệ Nhị xác thân ấy đặng tinh khiết nhẹ nhàng. Muốn được vậy, ta chỉ có hai điều là phải trai giới, chỉnh tu cho cái đệ nhị xác thân được tráng kiện hoạt bác, tùng khuôn viên thiện đức. Ðệ nhị xác thân ta khi còn sống ở quanh mình ta, bảo hộ về sanh quang tiếp với đệ tam xác thân là linh hồn".

Điều thứ nhứt trong Ngũ giới cấm là không sát hại sinh vật:

Theo TÂN LUẬT: Chương IV: Ðiều Thứ 21: "Hễ nhập môn rồi phải trau giồi tánh hạnh, cần giữ Ngũ Giới Cấm: Điều thứ Nhứt là Bất Sát Sanh, tức nhiên chẳng nên sát hại sanh vật.

Năm Mậu Thìn (1-1928) Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: "Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn-khôn Thế-Giới thì khí Hư-Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái-Cực. Thầy phân Thái-Cực ra Lưỡng-Nghi, Lưỡng-Nghi phân ra Tứ-Tượng, Tứ-Tuợng biến Bát-Quái, Bát-Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn-Khôn Thế-Giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn-vật là: vật-chất, thảo mộc, côn-trùng, thú cầm gọi là chúng-sanh. Các con đủ hiểu rằng: Chi-chi hữu sanh cũng do bởi chơn-linh Thầy mà ra, hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự-sống, vì vậy mà lòng háo-sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng-sanh, Thầy phân-phát khắp Càn-Khôn Thế-Giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm; nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến-hóa.

Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa-sanh cũng vậy, đến thế nầy lâu mau đều định trước, nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả-báo không sai; biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân-hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ, các con gắng dạy nhơn-sanh điều ấy."

Vì sao phải Trai giới? Thánh giáo Thầy dạy:

"Kẻ nào trai giái đặng mười ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng. Chư Môn đệ phải trai giới." Tại sao?

- Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu Luật, song Luật ấy rất nên quí báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.

Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ phàm dưới thế này đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng. Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí- Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng.

Còn có Thần không có Tinh Khí thì khó huờn đặng nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng.

Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí tiên thiên thì hằng có điển quang. Cái chơn thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí mới ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng.

Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn chứng thì làm sao giải tán cho đặng?

Nếu rủi bị huờn thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d’ électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn biết khôn thì ẩn nấp tại thế mà làm một bậc Nhơn Tiên thì kiếp đoạ trần vẫn còn chưa mãn. Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo."

Thầy cũng cho biết: "Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu, bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy."

 

 

TRAI KỲ

齋 期
E: The days of abstinence in the lunar month.
F: Les jours the abstinence dans un moi lunaire.

Trai kỳ là giữ trai giới theo một hạn định. Nếu lục trai là giữ trai giới 6 ngày trong một tháng. Thập Trai là giữ trai mười ngày một tháng. Đó là thời gian người Đạo hữu tập sự cho quen, nhưng khi đã ý thức được thì phải trường trai, nghĩa là giữ trai giới suốt cuộc đời cho đến khi chết.

"Nhập-môn rồi phải tập trai-giới, ban đầu ít nữa phải giữ lục-trai, lần lần tập đến thập-trai, như trường-trai được càng tốt.

Lục-trai: Là ăn chay ngày 1, 8, 14, 15, 23 và 30 (như tháng thiếu thì ăn ngày 29 thế cho bữa 30).

Thập-trai: Là ăn chay ngày mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30 (tháng thiếu ăn thêm ngày 27).

Vị nào giữ được thập-trai đổ lên thì sau khi qui-liễu, được Hội-Thánh đến làm phép xác, y như lời Thầy đã tiên tri: "Ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên, được thọ-truyền bửu-pháp".

 

 

TRAI PHẠN (Cơm Chay)

齋 飯
E: The vegetarian meal.
F: Le repas végétarien.

Trai: Ăn chay. Phạn: cơm. Trai phạn là cơm chay.

Bài thài Từng Phạn trong Lễ Chúc Thọ:

Trai phạn xin dâng thọ phước lành. (Xin dâng lên bữa cơm chay, hưởng được phước lành).

 

 

TRAI TÂM

齋 心
E: To purity one’s heart.
F: Purifier son cœur.

Trai: Ăn chay. Tâm: lòng dạ, cái tâm của con người. Trai tâm là giữ lòng trong sạch, tức là giữ cho tư tưởng, trong sạch, tự nhiên, không vọng động, không nghĩ bậy.

Việc trai tâm rất quan trọng, quan trọng như là việc ăn chay, bởi vì ăn chay là để cho thể xác và chơn thần trong sạch, trai tâm là để cho tư tưởng trong sạch.

Nếu ăn chay mà lòng không chay thì chưa đạt hết cứu cánh của việc ăn chay.

 

 

TRÁI CÀN KHÔN (Quả Càn Khôn)

E: Globe of universe.
F: Le globe de l’univers.

(Xem Quả Càn Khôn)

 
   

- Bát Quái Đài là nơi thờ các Đấng Thiêng Liêng.

* Trên hết là thờ Trời bằng Quả Càn Khôn và Thiên Nhãn.

- Quả Càn Khôn tức là vũ trụ. Trong Quả Càn Khôn có 3072 Ngôi Sao - thay thế cho Tam Thiên Thế Giới và Thất Thập Nhị Địa Cầu.

- Thiên Nhãn là sự soi xét thấy cả mọi việc trong Càn Khôn vũ trụ tức là Trời, Trời huyền diệu biến hoá vô cùng, bao quát cả thế gian chớ Trời không hình ảnh. Bát Quái biến Càn Khôn nên Trái Càn Khôn để trên Đài Bát Quái, Càn Khôn sinh vạn vật. Ấy là Đấng Tạo Hoá (Tượng trưng cho Trời vậy).

- Thời kỳ Hạ Nguơn nầy Đức Thượng Đế đem các vị Giáo Chủ hiệp lại, đến mà kêu các Môn Đệ nhìn Thầy kỳ thứ ba giáng xuống để chuyển thế và cứu thế hầu rước Cửu nhị ức nguyên nhân đem về cõi thiêng liêng.

* Kế dưới thờ các vị giáo chủ Nhị Kỳ Phổ Độ (tức là Thầy của nhơn loại) là Tam giáo và Ngũ Chi:

Tam Giáo:

- Giữa là Đức Phật Thích Ca, Giáo Chủ Đạo Phật, sinh ngày mồng 8 tháng 4, năm thứ 24 Vua Chiêu Vương đời Nhà Châu.

- Phía bên phải (Trong nhìn ra) là Đức Lão Tử, Giáo Chủ Đạo Tiên, sinh ngày 15 tháng 02 năm Đinh Dậu, đời vua Võ Đinh Nhà Thương.

- Phía bên trái (của Đức Chí-Tôn) là Đức Khổng Phu Tử, Giáo Chủ Đạo Nho sinh ngày 15 tháng 9 năm Kỷ Dậu, vua Linh Vương đời Nhà Châu.

Ngũ Chi Đại-Đạo:

Ấy là Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo, theo vị trí phần giữa tính từ dưới lên trên:

- Nhơn Đạo từ ngôi Giáo Tông trở xuống. Giáo Tông là Anh cả của nền Đại-Đạo, là người cầm giềng mối và Chưởng Quản Cửu Trùng Đài do Đức Lý chấp chưởng. Đức Ngài là người công bình chánh trực, nên Đức Chí Tôn chọn Ngài làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm và thay mặt cho Tiên Giáo.

- Thần Đạo Đức Khương Thái Công (Khương Thượng) là Giáo Chủ Thần Đạo, Ngài vâng mạng lịnh Ngọc Hư đến lập bảng Phong Thần đời Nhà Châu.

- Thánh Đạo do Đức Jésus-Christ là Giáo Chủ Đạo Thánh, Ngài vâng mạng lịnh Đức Chúa Trời xuống thế chuộc tội cho nhân loại lần thứ nhì. Ngài mở Đạo Thánh tại xứ Âu Châu.

- Tiên Đạo Tức Lão Tử là Giáo Chủ Đạo Tiên. Ngài lập Đạo Tiên tại nước Trung Hoa để phổ hoá chúng sanh đời nhà Thương.

- Phật Đạo Đức Thích Ca làm Giáo Chủ Đạo Phật, Ngài lập đạo Phật tại nước Ấn Độ để độ rỗi chúng sanh đời Nhà Châu.

Năm mối Đạo nầy họp lại thành: Ngủ Chi Phục Nhất.

 

 

 

 

Bức đồ trên là khai triển "Thánh Tượng Ngũ Chi" hiện nhơn sanh đang thờ trong mỗi nhà để sùng bái và Tứ Thời nhựt tụng. Bức Thánh Tượng có đủ Tam Giáo, Tam Trấn và Ngũ Chi Đại-Đạo.

- Tam giáo như trên đã trình bày.

- Tam Trấn thay quyền Tam Giáo trong kỳ Ba Phổ Độ này:

*Phât Quan Âm thay quyền Phật Đạo (Nhị Trấn).

*Đức Lý Giáo Tông thay quyền Tiên Đạo (Nhứt Trấn Oai Nghiêm).

*Đức Quan Thánh Đế Quân thay quyền Thánh Đạo (Tam Trấn Oai Nghiêm).

*Ngũ Chi Đại-Đạo: (hàng giữa) từ trên xuống là: Thích Ca Mâu Ni, Thái Bạch Kim Tinh, Gia-Tô Giáo Chủ, Khương Thượng Tử Nha, Giáo Tông Đại-Đạo Tam kỳ Phổ Ðộ.

 

 

TRÁI CĂN


E: The debt of the anterior life.
F: La dette de la vie antérieure.

Trái là nợ, căn là gốc rễ. Trái căn là những món nợ có gốc rễ từ kiếp trước, gây ra tai họa cho kiếp này phải đền trả. Do gốc rễ đó, mà kiếp sống của con người phải thọ lãnh cái nghiệp báo: Nếu kiếp trước làm những điều thiện thì tạo căn lành cho kiếp sống hiện tại, nếu bây giờ ta gieo những việc ác, thì tạo ác căn cho kiếp lai sinh. Như vậy căn hay gốc rễ tạo thành cái nghiệp cho con người. Vì thế người ta thường gọi căn quả hay căn nghiệp.

Thiện căn hay ác căn có khả năng ăn sâu và lớn mạnh lên vào gốc rễ mà tạo thành nghiệp báo. Thế nên khi chơn hồn đã chịu nhiều lần sinh tử trên bước đường luân hồi nên Chơn linh đã mòn mỏi, chán ngán.

Kinh Giải Oan có câu:

"Bước dường sanh tử đã chồn
"Oan oan nghiệt nghiệt dập đồn trái căn."

 

 

TRÁI CHỦ


E: Creditor.
F: Créancier.

Trái chủ 債主 là người chủ nợ. Nói chung là những người có nợ nần với nhau, cho nên có Trái thì có Chủ, tức nhiên có người cho vay mới có người thiếu nợ. Một khi nó cấu kết nhiều đời thì thành khối gọi là Khối trái chủ, tức là chỉ những người chủ nợ và những người vay nợ.

Trái chủ là Chủ nợ của oan nghiệt, đã gây ra từ xa xưa đến giờ này phải đền trả. Nếu mình gây ra tội ác cho người, sẽ tạo nên món nợ oan nghiệt: Mình là con nợ, người bị hại là chủ nợ hay trái chủ. Theo luật nhân quả, thiếu nợ đương nhiên phải đền trả, còn người chủ nợ chờ ngày đòi món nợ oan nghiệt đó. Vì vậy, nợ nần trở thành dây oan nghiệt buộc ràng giữa người chủ lẫn kẻ thiếu nợ với nhau, gọi là oan gia trái chủ. Sự vay trả trong một kiếp hay nhiều kiếp của chúng sanh, khiến cho nợ nần chất chồng mà phải luân hồi sanh tử triền miên.

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

"Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,
"Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên."

 

 

TRÁI OAN


E: The debt of hate.
F: La dette de haine.

Trái oan hay oan trái 冤債 ấy là món nợ oan khiên do kiếp trước mình gây ra những điều ác cho người, khiến người thù hận mình, kiếp này phải đề trả, đó gọi là oan trái, tức là món nợ oan nghiệt do mình tạo ra cho người.

Thầy dạy: "Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc Huỳnh lương".

Kinh Sám Hối có câu:

"Trái oan nào khác mối tơ,
"Rối rồi không gỡ bao giờ cho ra?"

 

 

TRÁI TAI GAI MẮT

E: Grating to the ears and shocking to the eyes.
F: Blesser les oreilles et offusquer la vue

Trái: (nôm) ngược lại. Trái tai: gây cảm giác rất khó chịu cho người nghe. Gai mắt: làm cho khó chịu con mắt như có cái gai trong mắt.

Trái tai gai mắt là chỉ những lời nói hay việc làm trái với lẽ thường, khiến người nghe và người thấy rất khó chịu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Các con nghe rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tay gai mắt, các con có biết vì sao chăng?

Tại vô đạo.

 

 

TRÁI THÁNH Ý

Thầy dạy: Chợ Lớn, ngày 27-1-1928 (âl 5-1-Mậu Thìn) "Nhiều đứa muốn trái Thánh-ý lắm. Thầy dạy từ đây, con Trung và Lịch phải có mặt nơi Tòa Thánh, trừ ra đứa nào có lịnh dạy đi đâu, hay là mắc đi việc chi về Đạo phải vắng mặt, thì có Phối Sư thế được mà thôi. Con phải chăm nom từ chút và dọ tánh chư Đạo hữu, chớ vội tin, lúc nầy nhiều đứa bị cám dỗ mà sái bước lần. Ấy là lúc Tà Chánh tranh giành với nhau. Đứa nào chẳng giữ được đường ngay thì khó mong đến cùng Thầy đặng đó. Đạo chẳng khó, duy nơi tấc lòng, mà thương hại thay! Từ xưa, công quả của mấy bực chơn tu đều trôi theo dòng bích hết, cũng vì đó mà nay cũng khó thế tránh được. Các con yêu dấu! Nên giữ mình cho lắm!"

 

 

TRAN THỜ

E: The little suspendu altar.
F: Le petit autel suspendu.

(Tran: cái kệ. Thờ: thờ phượng). Tran thờ là có hình dáng giống như cái kệ đặt ở giữa nhà để làm bàn thờ.

Tiểu dẫn cách thờ phượng và cúng kiếng: "Lập vị Thượng Đế thì phải lựa nơi nào cho tinh khiết, tốt hơn hết là giữa nhà, lập tran thờ cho cao và treo màn cho khuất chỗ thờ phượng."

 

 

TRANG NGHIÊM

莊 嚴
E: Serious.
F: Sérieux..

Trang: Trang trọng, trang trại, cửa hàng. Nghiêm: oai nghi đáng nể sợ. Trang nghiêm là trang trọng và nghiêm nghị.

Đức Lý Thái Bạch dạy tại Thánh Thất Tây Ninh (Từ Lâm Tự) Thứ Năm: 02-12-1926 (âl 28-10-Bính Dần).

"Thầy sai Bần Đạo đến sắp đặt trang nghiêm trong Thánh Thất. Bần Đạo phân phép từ ngày nay, hễ nhập Thánh Thất thì phải giữ phép: Nam Nữ bất thân. Nam ở Ðông hiên, Nữ ở Tây hiên. Hai bên không lân cận nhau. Nam theo Nam, Nữ theo Nữ. Cấm cười cợt trững giỡn với nhau. Trừ ra vợ chồng hay là chị em ruột, anh em ruột đặng chuyện vãn nhau nơi Tịnh đàn. Còn kỳ dư, như hai đàng muốn chuyện vãn nhau, phải có hai người chứng, một bên Nam, một bên Nữ. Phòng trù, dầu phải chung lộn với nhau buổi nấu nướng, khi dọn ăn, chẳng đặng lộn xộn cùng nhau, nghe à!..Thơ Thanh, Hiền hữu phải viết luật cấm nầy dán nơi Thánh Thất. Nghe à!"

 

 

TRANG TỬ (Tiên)

Trang: họ Trang. Tử: thầy.

Trang Tử là một nhà triết học nổi tiếng của Trung hoa, vào thời Chiến quốc, theo phái của Đức Lão Tử.

Ông tên là Trang Châu (Chu), tự là Tử Hưu, người ở ấp Mông nước Tống. Ông Trang Tử được bổ làm một chức quan nhỏ tại Cổ Thành Tất Viên, thuộc ấp Mông; người ta gọi Ông là Tất Viên Lại, vì thế Ông lấy chữ Tất Viên làm hiệu. Vậy, Tất Viên là tên hiệu của Ông Trang Tử. Năm sanh của Ông ước chừng vào năm thứ 7 đời vua Châu Liệt Vương (369 trước Tây lịch) và năm mất lối năm thứ 29 đời vua Châu Noãn Vương (288 trước Tây lịch) Trang Tử thọ 82 tuổi.

Theo sách Kim Cổ Kỳ Quan của Bảo Ung: Trang Tử thường ngủ ngày, mơ thấy hóa thành bướm, bay nhởn nhơ trong vườn hoa thơm cỏ lạ, lòng rất vui thích, khi tỉnh dậy vẫn còn thấy như ở vai có hai cánh chuyển động. Trang sinh lấy làm lạ, và lâu lâu thì lại nằm mơ như thế. Một hôm, Trang sinh đang ngồi trong phòng học nghe Ðức Lão Tử giảng Kinh Dịch. Khi giảng Kinh xong, Trang sinh bèn đem giấc mơ hỏi Thầy là Đức Lão Tử. Ðức Lão Tử là vị Ðại Thánh, biết được lai lịch tiền kiếp, nói cho Trang sinh biết: Trang sinh vốn là một con bướm trắng trong khi Hỗn Ðộn mới phân. Trời sanh nước, nước sanh cây, cây tươi hoa thạnh, con bướm trắng hút tinh chất của trăm hoa, đoạt được tư chất của trăng sao, nên được trường sanh bất tử, cánh to lớn vô cùng, sau bay qua Cung Diêu Trì, hút trộm nhụy hoa Bàn Ðào, bị con chim Thanh-loan giữ Vườn Ðào của Tây Vương Mẫu mổ chết. Hồn bướm thác sanh xuống trần là Trang Châu. Vì Trang Châu có căn trí khác phàm, đạo tâm kiên cố, kính Ðức Lão Tử làm thầy, học theo Ðạo Tiên, nay được thầy chỉ rõ tiền căn, như mộng mới tỉnh, tự thấy hai nách sanh gió, mường tượng như bướm vỗ cánh bay, nên coi sự được mất, nhục vinh ở cõi đời nầy như nước chảy mây trôi, không quan tâm đến nữa. Ðức Lão Tử biết Trang sinh đã giác ngộ, nên đem bí quyết của Ðạo-Ðức-Kinh truyền cho. Trang sinh chuyên cần tu tập, bèn được phép phân thân ẩn mình, xuất thần biến hóa. Từ đó, Trang Châu phế bỏ việc đời, từ biệt Ðức Lão Tử, đi chu du sơn thủy, xưng là Trang Tử. Sau, Trang Tử đi ẩn cư tại núi Nam Hoa, viết ra sách đề là Nam-Hoa-Kinh, cũng gọi là sách Trang Tử, xiển dương Ðạo Lão. Bộ sách nầy rất hay, được truyền lại đến ngày nay.

 

 

TRANG TỬ (Phật Học)

Trang Tử ( C: zhuāngzǐ ) [ ~369-286] cũng được gọi là Trang Châu . Một hiền triết Trung Quốc, tác giả của Trang Tử Nam-Hoa Chân Kinh 莊子南花真經 (c: zhuāngzǐ nánhuā zhēnjīng). Cùng với Lão Tử, ông được xem là người sáng lập Ðạo giáo.

Trang Tử sinh trưởng tại Tỉnh Hồ Nam bây giờ của Trung Quốc. Về cuộc đời của ông thì hầu như không có tài liệu gì được lưu lại cụ thể. Ông có lập gia đình, giữ một quan chức nhỏ. Vì từ chối phục hầu một Chư hầu nên ông sống trong hoàn cảnh cơ hàn. Trong Nam Hoa Chân Kinh, ông chỉ trích mạnh mẽ các nghi lễ, quan niệm của nhà Nho.

Một giai thoại được ghi lại trong Sử ký của Tư Mã Thiên nêu rõ tính tình lạ lùng, tự do tự tại của Trang Tử (bản dịch của Nguyễn Duy Cần): "Uy vương nước Sở nghe nói Trang Châu là người Hiền trong thiên hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn mời ra làm Tướng. Trang Châu cười, bảo với sứ giả: Cái lợi của nghìn vàng quả trọng thật, cái địa vị khanh tướng quả cũng quí thật. Nhưng riêng ông chả thấy con bị tế hay sao? Ðược người ta săn sóc, được mặc đồ trang sức văn vẻ để đưa vào Thái miếu lúc ấy sao? Ðược người ta săn sóc, được mặc đồ trang sức văn vẻ để đưa vào Thái miếu: lúc ấy, dù nó muốn được làm con lợn côi há còn được nữa hay không? Ông hãy đi đi, chớ có đến làm nhục ta. Thà ta dong chơi ở chốn bùn lầy nhơ bẩn còn thấy sung sướng hơn là để cho kẻ làm chủ một nước kia trói buộc ta."

Các đề tài được Trang Tử nêu lên trong Nam Hoa Chân Kinh trùng hợp với quan niệm của Lão Tử trong Ðạo Đức Kinh, nhất là tư tưởng về Ðạo. Tác phong "vô vi", tức là làm không có tác ý "Bất hành nhi hành" rất được Trang Tử chú trọng. Ngoài vô vi ra, ông cũng rất đề cao tính chất tương đối của vạn vật hiện hữu, sự đồng nhất của sinh tử và sự quan trọng của phép tu tập Thiền định "tĩnh tọa" để đạt sự thống nhất với Ðạo. Theo ông, thế giới chỉ là sự luân chuyển, biến chuyển vô cùng của vạn vật và ông cũng là một trong những người đầu tiên chỉ rõ tính chất huyễn, Ảo ảnh của thế giới hiện hữu.

Một bài luận rất ngắn, rất đơn giản trong thiên Tề Vật Luận 齊物論 đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho những thế hệ sau và nó cũng là một ví dụ tiêu biểu cho lối hành văn vô song của Trang Tử. Nguyên văn (bản dịch của N. D. Cần):

昔者莊周夢爲蝴蝶,栩栩然蝴蝶也自喻適志與不知周。我然覺。則蘧蘧然周也。不知周之夢爲蝴蝶與?蝴蝶之夢爲周與?周與蝴蝶則必有分矣!此之謂物化

"Xưa, Trang Châu chiêm bao, thấy mình là bướm, vui phận làm bướm: tự nhiên thích chí không còn biết Châu. Chợt tỉnh giấc, thấy mình là Châu. Không biết Châu lúc chiêm bao là bướm, hay bướm lúc chiêm bao là Châu? Châu cùng bướm ắt có phận định. Ấy chính gọi là Vật hóa".

Trang Tử từ chối sự phân minh rõ ràng giữa "phải" và "quấy" theo người đời vì ông cho rằng, trong thế giới hiện hữu tương đối này người ta không thể tìm được một thước đo tuyệt đối cụ thể để phân biệt chúng. "Sinh" và "Tử" cũng như thế; chúng chỉ là những bước luân chuyển không cùng, không phải là "Thủy", là "Chung". Tư tưởng này của ông được trình bày rất rõ qua thái độ bình thản ngay khi vợ ông chết.

Nguyên văn (bản dịch của N. D. Cần): "Vợ Trang Tử chết, Huệ Tử đến điếu. Thấy Trang Tử ngồi, duỗi xoạc hai chân, vừa vỗ bồn vừa ca. Huệ Tử nói: Cùng người ở tới già, có con lớn mà người chết lại không khóc, cũng đã là quá lắm rồi, lại còn vỗ bồn ca, không phải thái quá sao?

Trang Tử nói: Không! Lúc nàng mới chết, tôi sao chẳng động lòng. Nhưng nghĩ lại hồi trước, nàng vốn là không sinh. Chẳng những là không sinh, mà đó vốn là không hình. Chẳng những không hình, mà đó vốn là không khí. Ðó, chẳng qua là tạp nhất ở trong hư không biến ra mà có khí, khí biến ra mà có hình, hình biến ra mà có sinh, rồi lại biến ra nữa mà có tử. Sinh, hình, khí, tử có khác nào xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa hành vận. Vả lại, người ta nay đã yên nơi nhà lớn, mà tôi còn cứ than khóc, chẳng là tự tôi không thông Mệnh ư? Nên tôi không khóc."

Trang Tử Nam Hoa Chân Kinh đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho nền văn hóa, tư tưởng Trung Quốc. Nhiều vị Thiền sư đã nghiên cứu bộ sách này và đã nếm "đạo vị" nơi nó trước khi xuất gia tu học thành đạo.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

TRÀNG Tiếp Pháp Trương Văn Tràng (Tên)

(Xem Tiếp Pháp Trương Văn Tràng)

 

 

TRÁNG KIỆN

壯 健
E: Vigorous.
F: Vigoureux.

Tráng: To lớn, khỏe mạnh. Kiện: mạnh mẽ. Tráng kiện là khỏe mạnh, sức khỏe tốt.

Kinh Khi Ăn Cơm Rồi:

"Con cầu xin mảnh hình tráng kiện,
"Giúp nên công xây chuyển cơ Đời."

 

 

TRÀNG PHAN (Cờ Phướn)

-
E: Standard, Oriflamme.
F: Étendard, Oriflamme.

Tràng: cờ. Phan: phướn. Trong mỗi cuộc lễ đưa rước hồi Đức Phật Thích Ca còn sanh tiền đều có: cờ, phướn và lọng quí che cho Phật.

 

 

TRẠNG TRÌNH

Trạng: Người thi đậu thứ nhứt kỳ thi Đình: Trạng nguyên. Trình: Trình Quốc Công, một tước rất cao trong triều đình, do vua nhà Mạc phong thưởng cho ông Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trạng Trình là nói tắt: Trạng nguyên Trình Quốc Công, tước vị của Ngài Nguyễn Bỉnh Khiên thời nhà Mạc.

Nơi cõi thiêng liêng, Trạng Trình là một vị Thánh, đạo hiệu Thanh Sơn Đạo Sĩ, đứng đầu Bạch Vân Động chư Thánh. (Xem tiểu sử của Ngài nơi chữ: Thanh Sơn Đạo Sĩ, vần Th)

Thầy dạy: "Chính Trạng-Trình là chơn-linh của Quan Âm Bồ Tát cầm quyền điều-khiển cả thời-gian mới hiểu rõ phép Bát-Môn Độn Giáp và Bộ Thái-Ất Thần-Kinh. Sách ấy chẳng phải tầm thường".

 

 

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BĨNH KHIÊM

Là chơn linh của Quan Âm Bồ Tát

Ngài đứng đầu trong Tam Thánh, ký Hoà-ước với Đức Chí-Tôn. Ngài là Sư Phó của Bạch-Vân Động.

Nay, Tam Thánh đại diện cho nhân loại, vâng lịnh Đức Chí-Tôn ký Hoà ước với Đức Chí-Tôn thực hiện cho được hai điều: BÁC ÁI - CÔNG BÌNH.

Là đại diện của Hội-Thánh Ngoại-Giáo, các Ngài là những Thiên mạng truyền giáo Ngoại quốc (Missionnaires étrangers) cho nên tượng ảnh để ở Hiệp Thiên-Đài, day mặt ra ngoài cho thiên hạ đều thấy mà hưởng ứng theo tiếng gọi Thiêng liêng của các Ngài.

Ba vị Thánh là:

1- Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ (1491-1585). Ngài giáng trần ở Việt-Nam là Trạng Trình Nguyễn Bĩnh Khiêm.

2- Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (1802-1885).Ngài giáng trần tại nước Pháp là Đại văn hào Victor Hugo.

3- Đức Trung Sơn Chơn Nhơn (1866-1925).Ngài giáng trần ở Trung Hoa là nhà Cách mạng Tôn Dật Tiên, tức là Tôn Văn.

Ba vị Thánh kể trên.là Người của Bạch Vân Động.

(Xem chữ: Bạch Vân Động. Vần B)

 

 

TRANH CẠNH

爭 競
F:Lutte, concurrence.

Tranh cạnh: Dành nhau, đua nhau.

Kinh Sám Hối có câu:

"Ấy là những gái hung-đồ,
"Xúi chồng tranh-cạnh hồ-đồ sân-si."

 

 

TRANH CHẤP

爭 執
F: Conflit.

Tranh chấp: cãi nhau, dành nhau.

Đức Hộ Pháp nói: "Nay hai bên (Tư bản và Cộng sản) đã thực sự tranh chấp và cả hai chủ thuyết đều hứa hẹn tạo cho nhân loại một đời sống tốt đẹp hơn xưa. Có một điều mà chúng ta có thể nhận xét thật rõ rệt là cả hai đều không đạt tới Hòa bình và hạnh phúc".

 

 

TRANH ĐẤU


F: Lutter.

Tranh đấu: đánh đá nhau.

Thứ tư, 22-9-1926 (âl 16-8-Bính Dần).

Thầy dạy: "Rất đỗi Thầy là bực Chí Tôn đây mà còn bị chúng nó mưu lén cho qua Thánh ý Thầy thay! Một đàng trì, một đàng kéo, thảm thay các con chịu ở giữa. Thầy dạy các con một điều là biết tranh đấu cùng Thầy. Hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trổi hơn mới đắc thắng. Các con chịu nổi thì Ðạo thành, còn các con ngã thì Ðạo suy. Liệu lấy!"

Thi văn dạy Đạo:

Anh-tài chưa biết dựa quyền người,
Còn nói chi chi bổn phận ngươi?
Tranh đấu cuộc đời là huyết chiến,
Nhứt nhơn chịu khổ chịu người cười.

Đức Hộ Pháp thuyết rằng: "Mấy em! Bần Đạo đứng trước giảng đài nầy thừa lịnh Đức Chí Tôn, làm Anh cả mấy em để lời tâm huyết dặn rằng: Buổi mấy em bị áp bức, mấy em sợ, phải bảo vệ tức là phải tranh đấu, giờ phút nầy mấy em mạnh rồi, có đủ oai quyền, đủ năng lực nên bỏ phương pháp tranh đấu ấy đi, trải lớp từ bi ra đặng độ thế. Qua cho mấy em biết đại nghiệp của Đạo ngày nay đáng làm anh, làm chủ được thiên hạ, không cần tranh đấu nữa, lấy từ bi mà đối với Đảng Phái một lỗi hai lầm, ngày nay ăn năn trở lại."

*Có một lần cuộc thi về nói láy thì chữ "Tranh đấu" trên như vầy "Tranh đấu thì trâu đánh. Trâu đánh rồi tránh đâu. Tránh đâu cũng bị trâu đánh". Thế mới thấy chữ Quốc ngữ có chỗ tuyệt vời và linh động là chỗ đó.

 

 

TRANH GIÀNH

F: Se disputer, rivaliser.

Tranh-giành: tranh đấu và giành giựt nhau.

Đức Hộ Pháp nói: "Trong thời-kỳ ấy Bần Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo, thì Đức Chí-Tôn mới hỏi rằng: Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí Pháp trước hay là mở Thể-Pháp trước?

Bần-Đạo trả lời: - Xin mở Bí-Pháp trước.

- Chí-Tôn nói: Nếu con mở Bí-Pháp trước thì phải khổ đa! Đang lúc đời cạnh-tranh tàn bạo, nếu mở Bí Pháp trước, cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, Đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại thì mối Đạo phải ra thế nào? Vì thế nên mở Thể-pháp trước, dầu cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại, xin miễn mặt Bí Pháp còn là Đạo còn."

 

 

TRANH LUẬN

爭 論
F: Discuter.

Tranh: Giành nhau, giựt lấy về phần mình. Luận: bàn cãi. Tranh luận là bàn cãi sôi nổi với nhau để giành lấy phần đúng về mình.

Thầy dạy: "Các con nghe Thầy: Sự biến xảy ra đến nay đã thành một trường ngôn luận, có khi cũng náo nhiệt đến nền Ðạo. Kẻ gọi Tà, người nói Chánh. Nơi Thiên thơ đã có dấu ràng ràng. Các con có đi tranh luận cũng nhọc công vô ích. Kẻ hữu phần, người vô phước, tin tin, không không, cũng chẳng sửa cơ Trời đặng."

 

 

TRÁO TRỞ THỊ PHI

F: Fourbe, traitre.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Rồi những kẻ lòng Tần dạ Sở,
Mới thừa cơ tráo-trở thị phi.
Khua môi uốn lưỡi thiếu chi,
Kẻ quanh đường tắt, người đi ngõ thầm.

 

 

TRÁP TAM BỬU

E: The casket of three precious objects.
F: La cassette de trois objets précieux.

Tráp: cái hộp có ngăn và nắp đậy. Tam bửu: ba món quí báu: bông, rượu, trà, tượng trưng Tinh, Khí, Thần của con người, để dâng lên cúng Đức Chí Tôn hoặc Đức Phật Mẫu hay các Đấng thiêng liêng.

Tráp Tam bửu, còn được gọi là Tam bửu ngọc hàm: 三寶玉函, (ngọc là quí, hàm là cái tráp) là một cái hộp hình khối chữ nhựt, bề cao độ 4 tấc, bề dài độ 6 tấc, bề dầy độ 2 tấc, làm bằng loại gỗ quí, sơn màu đỏ, mặt trước có chạm vẽ hình lưỡng long triều nhựt (hay lưỡng long tranh châu) có gắn một sợi dây dài để vị Chức sắc choàng qua cổ, đeo tráp tam bửu trước bụng. Phía trong Tráp Tam bửu cũng sơn màu đỏ, lót dưới một tấm nhung đỏ, trong đó có đựng: 1 bình hoa năm sắc và 1 dĩa trái cây, 1 chung rượu và 1 nhạo rượu, 1 tách trà và 1 bình trà.

Nơi Tòa Thánh, mỗi khi cúng Đại đàn, vị Chức sắc phái Ngọc, phẩm Giáo Sư mang Tráp Tam bửu từ lầu Hiệp Thiên Ðài đi xuống đến Ngoại nghi.

 

 

TRAU GIỒI HIẾU ĐẠO

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm con phải trau giồi hiếu đạo,
"Trước là lo trả thảo mẹ cha."

 

 

TRAU THÂN

E: To correct oneself.
F: Se corriger.

Trau: (nôm) Sửa chữa, giồi mài cho tốt đẹp. Thân: thân mình. Trau thân là sửa mình, chữ hán là: Tu thân.

Thầy dạy: Thứ hai, 6-12-1926 (âl 2-11-Bính Dần).

"Ta vì lòng Đại Từ - Đại Bi, vẫn lấy đức háo sanh mà dựng nên mối Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, tôn chỉ vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa vị cao thượng, để tránh khỏi số mạng luân hồi và nâng những kẻ tánh đức bước vào cõi nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở nơi trần thế nầy. Than ôi! Ðiều vui sướng lao trần chẳng ai buộc mà nhiều kẻ tìm tới, mối đạo đức trau thân là phương châm thoát tục mà lắm kẻ trốn lánh, bài bác mối Ðạo Trời, khua môi uốn lưỡi, mà tưởng cho mình hơn đặng các phẩm nhơn sanh, chớ chẳng dè là một hình phạt rất nặng nề đã chực chúng nó nơi chốn A Tỳ."

 

 

TRẮC ẨN

惻 隱
E: To have pity for.
F: S’apitoyer.

Trắc: thương xót. Ẩn: giấu kín. Trắc ẩn là thương xót trong lòng.

Vô trắc ẩn chi tâm phi nhân dã: không có lòng trắc ẩn không phải là người vậy.

 

 

TRẮC ẨN CHI TÂM ÁI VẬT CHI LÝ, BẤT SÁT BẤT HẠI THỂ HÁO SANH CHI ĐẠI ĐỨC VI NHÂN

Nghĩa là: tỏ lòng thương người mến vật chẳng nỡ sát hại sanh mạng, noi theo lòng từ-bi của Ðức Chí-Tôn mới gọi là NHÂN . Nền Ðạo CAO-ÐÀI là Nho-Tông chuyển thế, trước cửa Tòa-Thánh có biểu-dương hai chữ NHÂN-NGHĨA 仁義 thật to, thì thấy chữ NHÂN là chủ sự thương-yêu. Có câu: "Trắc ẩn chi tâm ái vật chi lý, bất sát bất hại thể háo sanh chi đại-đức vi nhơn"..Bởi sự thương yêu mà vạn-loại hòa bình, Càn-Khôn an tịnh, đặng an-tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, không thù nghịch lẫn nhau mới không tàn hại nhau, không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa" (ấy là chơn luật thương-yêu). Còn Chơn-Pháp công-bình, thì Thầy có dạy rằng: "Ðạo của Thầy là công-lý, ngày nào các con còn trông thấy một điều bất bình ở thế nầy, thì Ðạo chưa thành tựu".

 

 

TRẮC TRỞ

側 阻
E: The obstacle.
F: L'obstacle.

Trắc: nghiêng một bên. Trở: trở ngại. Trắc trở là gặp khó khăn trở ngại.

THẦY dạy tại Từ Lâm Tự, Gò Kén, Tây Ninh. Thứ Ba: 23-11-1926 (âl 19-10-Bính Dần).

"Các con chớ phiền hà chuyện Thánh Thất xảy ra, ấy cũng một bước trắc trở trong đường Ðạo của Thầy. Thầy còn phải đau lòng thay, nhưng cũng là nơi Thiên cơ vậy. Thầy hằng biết công của các con, nhưng Thầy phải cực lòng chìu ý của mỗi đứa mà xây đắp nền Ðạo. Vì vậy mà nhiều sự xảy ra đều do nơi tâm chí của nhiều đứa. Thầy hằng dùng tâm chí của các con mà bố mọi điều thiết yếu trong việc đạo đức."

 

 

TRĂM HỌ

E: The people.
F: Le peuple.

Trăm họ, chữ Hán là Bá tánh, chỉ dân chúng.

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân Lê-văn Duyệt giáng cho thi:

Ðã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc-địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép tây tà.

 

 

TRĂM HỌ BÌNH YÊN

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Vọng Thượng-Đế chứng lòng thành-tín,
"Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn-nguyền.
"Nguyền cho trăm họ bình yên,
"Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than."

 

 

TRĂM NĂM

E: The life.
F: La vie.

Trăm năm, chữ Hán là Bách niên hay Bá niên, chỉ một đời người, bởi vì đời người nơi cõi trần nầy nhiều lắm là một trăm năm (tương đối).

Trăm năm là do câu trong Kinh Lễ: "Nhân thọ dĩ bách niên vi kỳ" 人壽以百年為期 nghĩa là đời sống của con người lấy trăm tuổi làm kỳ hạn. Thường lấy tuổi của con người là hạn định một trăm năm.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ngảnh lại hỏi người là chắc đó,
Trăm năm là tuổi chết rồi chôn.

Kinh Tắm Thánh có câu

"Sanh nơi đây, ở nơi đây,
"Trăm năm là tuổi đủ đầy mạng căn."

Kinh Hôn Phối có câu:

"Trăm năm khá nhớ hương-nguyền,
"Chồng hay trọn nghĩa, vợ hiền trọn trinh."

 

 

TRẦM ĐOÀN (Lư Trầm)


E: The perfume-burner.
F: La brûle-parfum.

Trầm: gỗ trầm. Đoàn: vật hình tròn. Trầm đoàn là cái lư trầm bằng thau, hình tròn, dùng để đốt gỗ trầm trong đó, tỏa mùi thơm ra chung quanh, khử hết các mùi ô trược hôi hám.

Bài Thài hiến lễ - Tuần hương:

Trầm đoàn khói tỏa năm mây,
Mùi hương phưởng phất thơm bay ngút trời.

 

 

TRẦM LUÂN

Trầm luân 沉淪 là Chìm đắm trong luân hồi biển khổ.

Thầy dạy: "Con duy có TU mà đắc Đạo, phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn-sanh còn phải trầm luân nơi khổ hải chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng Từ-bi mà độ rỗi. Nay tuy các con chưa thấy đặng hành-vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chân thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy cơ mầu nhiệm đặng thì chừng ấy đã muộn rồi. Vậy các con khá tuân lịnh dạy".

Kinh Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu có câu:

"Từ con cách Mẹ phương Trời,
"Trầm luân khổ hải chơi vơi sóng trần.
"Dù thương nhắm mắt đưa chơn,
"Giờ nay gặp lối nghiệt trần giảm tiêu."

Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần có câu:

" Khối tình ái hương hồn dầu nhớ,
"Tránh oan gia giải nợ trầm luân."

 

 

TRẦM LUÂN KHỔ HẢI


E: To be plunged into the painful sea.
F: Être plongé dans la mer douloureuse.

(Trầm : chìm trong nước, Luân : đắm sa, Khổ : đau đớn, Hải : biển). Trầm luân khổ hải 沉淪苦海 là chìm đắm trong biển khổ. Ngụ ý chỉ con người đến thế này không theo con đường tiến hóa về tâm linh, cứ để vật dục, ngoại cảnh lôi cuốn đến chỗ sa đọa; Ấy là thuận theo nợ oan khiên mà phải chìm đắm vào biển khổ luân hồi muôn đời ngàn kiếp.

Muốn thoát khỏi luân hồi trong biển khổ thì phải làm sao?

Trong bài Thuyết Đạo ngày 14-2-Mậu Thìn của Đức Hộ Pháp có giải thích như sau: "Phải đoạt cho đặng cơ bí mật siêu phàm nhập Thánh. Cơ bí mật ấy, nếu không phải Thầy cho thì chưa ắt xin ai mà đặng. Ấy vậy, Đạo là cơ bí mật làm cho kẻ phàm có thể đoạt đặng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Thầy đến "Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi" để cho chúng sanh hiểu cơ mầu nhiệm mà luyện Tinh-Khí-Thần".

Pháp chánh Truyền dạy: "Thượng Sanh đặng mạng lịnh chuyển thế, điều độ nhơn sanh ra khỏi trầm luân khổ hải, buộc Thượng Sanh phải gần gũi kẻ vô Đạo đặng an-ủi dạy-dỗ. Mà kể từ hạng vô Đạo trở xuống cho tới vật chất thuộc về phàm, ấy vậy Thượng-Sanh là thể Đời, người đứng đầu của phẩm phàm tục."

Đức Quyền Giáo Tông khóc Cao Thượng Phẩm có câu:

"Ôi! Chiếc nhạn kêu thu cũng là một cảnh sầu bi nơi trầm luân khổ hải này, một con thơ còn bơ vơ nơi đất khách, sau dầu bước đặng thang mây, vinh qui bái tổ, ôm cái Tháp này khóc than, chớ Cha hiền đã cỡi hạc qui Tiên".

 

 

TRẦM TƯ MẶC TƯỞNG

沉 思 默 想
E: The profound meditation.
F: La méditation profonde.

Trầm: Chìm xuống, sâu kín. : suy nghĩ. Mặc: yên lặng. Tưởng: nghĩ. Trầm tư là chìm đắm vào sự suy tư. Mặc tưởng là yên lặng suy tưởng.

Trầm tư mặc tưởng là trạng thái tập trung tư tưởng, đắm mình vào sự suy nghĩ một vấn đề đạo lý.

 

 

TRẦN

"Trần là cõi khổ để đọa bậc Thánh, Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả, phải mất cả chơn linh là luân hồi, nên kẻ bị đọa trần gọi là khách trần". (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2-Trang3)

 

 

TRẦN AI


E: The worls, the misfortunes of world.
F: Le monde, les malheurs du monde.

Trần: Bụi đất, chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại. Ai: bụi.

Trần ai là bụi bặm, chỉ cõi trần, tức cõi của nhơn loại đang sống.

Trần ai là chỉ cõi trần, hay những nỗi vất vả nơi cõi trần.

Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần:

"Rủi Thiên số Nam Tào đã định,
"Giải căn sinh xa lánh trần ai."

Bài Khai Cửu có câu:

"Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,
"Quên trần ai mong mỏi Động Đào."

 

 

TRẦN CAO VÂN (1866-1916)

Cụ Trần Cao-Vân sinh năm 1866 tại làng Tư phú, Tổng Đa-Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nhân lúc cụ đi dạo chơi để ngắm các nơi danh lam thắng cảnh, đến Ngũ Hành Sơn vào đêm rằm tháng tám, năm Ất Dâu (1885).Trong lúc trăng thanh gió mát bỗng gặp một dị nhân (đi sau có hai Tiểu thanh đồng). Tay bên trái cầm một quyển sách, tay bên phải cầm một hoa sen, vừa đi vừa ngâm rồi lại ngồi ngay thẳng trên một hòn đá. Người ấy đầu đội nón cỏ nga, buộc thắt lưng rộng, xương hạc, vẻ Tiên, đạo mạo, nghiễm nhiên là một vị Tôn sư. Lúc ấy Cụ Trần Cao Vân tỏ ra kỉnh phục, liền đến trước lễ phép xin Cụ cho biết danh tánh. Ông Cụ phá lên cười và nói:

"TA là người ở Đông, Tây, Nam, Bắc, vậy. TA đứng giữa Trời và Đất, hình TA dễ thấy, tên TA khó xưng. Ôi! Trời che TA, đất chở Ta! Trời đất sinh Ta có ý không! Ngày nay Ta vì vua vì Cha mà đến. Dân thảy là con Ta, vật thảy là của Ta, Ta chẳng muốn gì hơn ngoài cái đó. Ta chỉ lấy địa vị của Ta mà làm, tức là Ta đem cái Ta là thiên mạng mà làm cái tánh của Ta. Ta tu cái Đạo của Ta, Ta làm sáng Giáo lý của Ta. Ta ở đây hay Ta đi rồi cũng là Ta. Người muốn biết Ta mười tám năm sau cũng chưa muộn vậy."

Thế rồi Ngài đè lên tim tôi, rờ trên trán tôi, nắm lấy tay chân tôi mà xem chỉ, nhận quả có tiền căn, mới trao cho tôi một quyển sách nhan đề là "HỘI CỰC THÁI BÌNH ĐỒ THƯ NHẤT QUYỂN". Lại còn thêm dặn-dò dạy bảo chỉ dẫn thời sự về sau… nhất nhất chỉ rõ, chứ không nên nói hết. Rồi kế tiếp:

"Cứ lấy điều thiện mà làm Thầy, lập Trung- Hiếu làm gốc, còn các việc Bàng môn tả đạo, pháp thuật, đều là việc dối ác thì cấm, nhất thiết không được phép làm. Đợi Ta ba ngày rồi qua lại nơi đây, Ta sẽ truyền dạy cho". Lại còn chỉ vẽ ở trong bàn tay hình dạng của Trung Thiên Tân Thế giới vạn quốc thống hội đô. Khi trở về, nghe lời Thầy không dám cho trong chùa một ai biết cả. Đến ngày thứ ba, giờ Ngọ, tôi qua đến đó thì thấy thầy trò từ giã, vọng không trung mà đi như bay, tôi chỉ biết ngóng không trung mà bái tạ rồi về… Theo lời dạy của Tôn sư, Cụ Trần Cao Vân chí thành sáng tác Trung Thiên Dịch và truyền bá Trung Thiên Đạo tại các Tỉnh: Nam, Ngãi, Bình, Phú.

Nhưng truyền đến Phú-Yên thì bị nhà đương cuộc bắt giam và gán cho cái tội "Hoặc thế du dân, xúi dân làm loạn" rồi đưa ra Hội-Đồng xử án tại Tỉnh Bình Định (gồm có Công sứ và Tổng đốc hai tỉnh Quảng Nam và Bình Định xét xử). Trước tòa Cụ Trần Cao-Vân đã biện bạch phân minh, nhưng cuối cùng Cụ cũng bị kết án chín năm khổ sai và giam tại nhà lao Bình-Định (1903). Vào đấy Cụ tiếp tục sáng tác Trung Thiên Dịch và hình thành Trung Thiên Đạo. Sau ba năm triều đình xét lại bản án Cụ được tha về Quảng Nam (1906).

Về Quảng Nam lại xảy ra vụ chống thuế (1908) Cụ lại bị bắt và tống giam vào lao Quảng Nam. Mấy ngày sau Cụ gặp các Cụ: Huỳnh Thúc Kháng, cụ Tiểu La Nguyễn Thành, Cụ Châu Thơ Đồng, Cụ Phan Châu Trinh và các nhà chí sĩ khác. Cụ còn tìm cách liên lạc với Cụ Phan Bội Châu khi còn bôn ba nơi hải ngoại. Khi nhàn rỗi Cụ có bàn với các Cụ Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu về Trung Thiên Dịch - Trung Thiên Đạo, thì hai Cụ đều cho là một triết thuyết Dịch lý uyên-thâm và lý tưởng. Bởi thế các Cụ đã tán dương về:

- Cụ Hoàng-Hoa-Thám với binh pháp cao cường danh tiếng,

- Cụ Trần Cao Vân xuất sắc với Trung Thiên Dịch- lý nghiệm cao siêu, tiêu biểu một nền văn hóa đặc biệt của dân tộc. Đó là hai phương chước cứu nước cứu dân hiệu quả nhứt.

Sau khi Cụ Trần Cao Vân được thả về từ nhà lao Côn Lôn, tháng Giêng (1914). Tiếp đó Cụ Thái Phiên giới thiệu Cụ Trần gặp Vua Duy-Tân. Vua mời Cụ Trần Cao Vân làm Quốc Sư, Cụ nhận lời. Sau cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Vua Duy-Tân bị thất bại, chính phủ bảo hộ và triều đình Huế ghép tội cho Cụ "giả danh bạo nghịch" rồi đem xử chém tại cửa An Hòa (phía Tây thành phố Huế) cùng một lần với Cụ Thái Phiên, Tôn Thất Đề vào ngày 16-04-1916.

Trước khi chuẩn bị đưa ra Hội đồng quyết án, Cụ Trần Cao-Vân tìm cách gởi thơ riêng đến các vị Đại thần Nam triều bằng mấy lời tâm huyết:

"Trung là ai, Nghĩa là ai, đai cân võng lọng là ai? Thà để cô thân tử biệt;

"Trời còn đó, Đất còn đó, xã tắc sơn hà còn đó, mong cho Thánh Thượng sanh toàn".

Nghe tin Cụ Trần Cao Vân mất, Cụ Phan Bội Châu ngậm ngùi thương tiếc, bèn viếng Cụ hai câu đối:

-

Suối vàng thêm một ma chí sĩ, xã hội mất một vị Đạo sư, liếc mắt xem Âu hải phòng trào thương đoàn hậu tiến,

-

Cựu học cũng một nhà danh gia, tân học cũng một tay cự phách, co tay kể hiện thời nhân vật được mấy Tiên sanh.

Được tin Cụ Trần Cao Vân đã mất, các nhà chí sĩ cách mạng cứu quốc đang bị giam ở ngục Côn-Lôn vô cùng xúc động, tán dương Cụ Trần qua bốn câu thơ:

Hy tiên Văn hậu thử chân thuyên,
Biệt tự trung gian tạo nhất thiên.
Học thuyết năng tương tiên huyết nhiễm,
Nam phương Tân dịch tích vô truyền.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch ra quốc âm, đăng trong "Thi Tù tùng thoại":

Văn sau Hy trước vốn Kinh này,
Riêng giữa Trung Thiên dựng một tay.
Học thuyết đem bầu tâm huyết nhuộm,
Trời Nam, Dịch mới tiếc không thầy.

Sau khi cụ Trần Cao Vân, Cụ Thái Phiên đã chết vì chánh sách bạo tàn của thực dân Pháp thì những tài liệu về Trung Thiên Dịch - Trung Thiên Đạo đều bị lục soát và thủ tiêu.

Kết luận:

Cụ Trần Cao-Vân, nhà chí sĩ cách mạng cũng vừa là nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ. Ông đã làm tròn nghĩa vụ của người trai nước Việt, đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tranh đấu không ngừng. Từ năm 20 tuổi từ biệt gia hương. Hai mươi bảy tuổi (27) đặt chân trên trường tranh đấu. Ba mươi ba (33) tuổi vào ngục Phú-Yên. Ba mươi lăm (35) tuổi vào ngục Bình Định và Quảng Nam.Bốn mươi ba (43) tuổi vào ngục Côn-Lôn.

Đến năm mươi mốt (51) tuổi- năm Bính Thìn-ngày 16 tháng tư, cái ngày kết liễu đời anh hùng tại làng An-Hòa, (cách kinh đô Huế một vài cây số) nhà chí sĩ Trần Cao-Vân và cùng ba đồng chí: Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu, lên đoạn đầu đài để đền nợ non sông.

 

 

TRẦN CẤU


E: The dust and stains.
F: La poussière et les souillures.

Trần: Bụi đất, chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại. Cấu: cáu bẩn. Trần cấu là những thứ dơ bẩn nơi cõi trần.

Bài Ngụ Đời của Đức Lý:

Đem thân trần cấu gieo miền trầm luân.

 

 

TRẦN CHÁNH CHIẾU (GILBERT CHIẾU)

Gilbert Chiếu là một chiến sĩ nhiệt quyết của phong trào Duy Tân. Ông có đưa con Trần Chánh Tuyết (Tiết) đang học Trung học tự do Giáo Hội Thiên Chúa mở tại Hương Cảng (Trường Saint Joseph dạy Anh ngữ). Cụ Phan Bội Châu thuyết phục Trần Chánh Tuyết mời Trần Chánh Chiếu qua Hương Cảng để bàn chuyện. Bấy giờ là (1907) Trần Chánh Chiếu bấy giờ là người có ưu thế và tín nhiệm đối với thực dân Pháp. Ông xuất thân là chủ điền, nhập Pháp tịch nên công khai đến Hương Cảng rồi lén qua Nhựt Bổn để gặp Cường Để. Khi về Việt Nam ông làm Tổng Lý Nam Kỳ Minh Tân Công Nghệ tại Mỹ Tho: Lập lò chỉ, kéo bông vải, lò dệt, lò xà bông, thuộc da, làm đồ pha ly, làm hộp quẹt diêm… Ông lập phòng ngũ: Minh Tân Khách Sạn Mỹ Tho, Nam Trung Khách Sạn Sài Gòn, còn lập công ty tàu thủy đưa đò để làm ngân sách hoạt động. Ông viết báo chủ trương tờ Nông Cổ Mín-Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn. Ông còn viết cuốn: Minh Tân tiểu thuyết để tuyên truyền phong trào Duy Tân.

Ngày 21-4-1909, Trần Chánh Chiếu bị bắt nhờ có Pháp tịch và thế lực nên được tha bổng. Thật là một chiến sĩ rất có công trong việc giải phóng quê hương. Lối 1934, ông giáng cơ cho 2 bài thi tự thuật ý chí mình như sau:

GILBERT CHIẾU

Nương Nhựt, ý mong phục nghiệp nhà,
Dở vì dụng tính động can qua.
Cơ quan bại lộ hờn tây Thọ,
Mưu chước đông tay bởi bụng Hòa.
Nát mặt duyên châu ôm nặng triệu,
Bền gan nghĩa Thục gánh đường xa.
Biển Nam bao thuở tin rồng hiện,
Cường Để ngồi trông quá tuổi già.

Biết bao tình nghĩa, biết bao hờn,
Quyết vẫy vùng cho rõ thiệt hơn.
Xã tắc thấy lưng lưng chẳng lắp,
Giang sang xem rỗng rỗng khôn lường.
Tạo thời rủi thiếu tay Y- Doãn,
Cải thế vô duyên thiếu Tín Lương.
Để luận cõi Thiên hồn chiến sĩ,
Thương dân, dân lại phụ tình thương.

Thử xem qua bài 1, ông hối hận vì nóng lòng dựng can qua sớm nên bị bắt, tức cơ quan nồng cốt nuôi sống Cách Mạng bại lộ. Ông hờn giận Đốc Phủ Thọ đã phanh phui tố cáo với thực dân Pháp mới ra nông nỗi. Ông lại nhắc công của ông Hòa đã làm cho cơ quan được nhiều người gia nhập ủng hộ. Lại nhắc đến lãnh tụ mình là Cường Để đang ngồi ở nước Nhựt trông sự thành công mà tuổi lại không chờ.

Bài 2 ông than thiếu tay mưu lược như Y Doãn, thiếu dũng sĩ như Hàn Tín, thiếu quân sư như Trương Lương, nên phong trào Duy Tân thất bại, bị Pháp đàn áp tan rã, kẻ tù đày, người lên đọan đầu đài, người bôn tẩu ra ngoại quốc để tránh bố ráp chớ không còn hy vọng phục vụ cho tổ quốc theo chí yêu nước của mình. Cả cuộc đời trải mật phơi gan vì đâu mà nhân dân có ai thương hại ông không? Dân thuở ấy (1934) cứ lầm lũi mua quan bán tước, theo Pháp để được vinh thân phì gia, ai bị đàn áp thì mặc ai.

Dẫu ông đã về cõi Thiêng Liêng mà còn vẫn thương nước non dân tộc, vì không rõ Thiên cơ nên hoạt động trong lúc Pháp còn thế lực, nạn bị đô hộ của Việt Nam chưa dứt nên ăn năn tâm hồn, chớ chi với tài năng ấy, với khối yêu nước thương dân ấy, ông gặp con đường cứu khổ của Đức Chí Tôn mà gởi thân vào cửa Thánh thì chí tang-bồng đâu đến nỗi mai một. Những người yêu nước phỉ chí như:

Đức Cao Thượng Phẩm nên đã thốt: "Để mắt xanh coi nước khải hoàn".

Là Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt nên đã thốt lên: "Ái quốc Việt Nam nhét bể bầu".

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thì: "Tô điểm non sông Đạo lẫn đời".

Những vị ấy đã được trọn phần đời là phục vụ dân tộc, lại đắc ý về phần Đạo là hưởng đặng cao thăng chi vị nơi cảnh Thiêng Liêng hằng sống. Gương sáng sờ sờ trước mắt, chúng ta hãy đem hết sức lực tinh thần mà noi theo kẻo ngày về với Từ Phụ khỏi phải ân hận như trường hợp của ông Gilbert Chiếu.

Buồn đời Trần Chánh Chiếu đã thốt: "Thương dân, dân lại phụ tình thương".

 

 

TRẦN DUYÊN

塵 緣
E: The fastening to the world.
F: Les attaches au monde.

Trần: Bụi đất, chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại. Duyên: mối dây ràng buộc. Trần duyên là những mối dây ràng buộc con người vào cõi trần.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Diệt tục kiếp trần-duyên oan trái,
"Chưởng đào tiên thủ giải trường-tồn."

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nguyên kiếp trước một nhà chung ở,
Vì đầu xanh gây nợ oan khiên.
Khiến nên nghiệp chướng trần duyên,
Sông mê bể khổ chiếc thuyền chơi-vơi.

 

 

TRẦN DUY NGHĨA (1888-1954) (Tên)

Khai Pháp Hiệp Thiên Đài.

Tiền kiếp Ngài Khai Pháp là nguơn linh Thánh Pierre, một trong 12 vị Thánh Tông Ðồ của Chúa.

Ngày sinh: 17-8-Mậu Tý (dl. 11-9-1888) tại làng Thành Phô, tổng Hòa Lạc Hạ, tỉnh Gò Công. Trưởng thành trong một gia đình Nho phong. Thân phụ là Ông Trần Duy Quyền và Thân mẫu là Bà Đặng Thị Lâu, đều ở Gò Công.

Ngày Qui: 22-1 Giáp Ngọ (dl. 24-2-1954) 3g30 sáng. Hiền nội của Ngài là Bà Hồng Thị Đỏ. Ngài luôn theo sát Đức Phạm Hộ Pháp để hành Đạo. Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Mão (dl. 13-2-1927) Ngài được Thiên phong Khai Pháp. Ngài hợp cùng Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng thành cặp Phò-loan truyền Đạo lúc ban sơ và sau đó trở thành cặp Phò loan chuyên về Bí Pháp. Năm 1930 Ngài lãnh Quyền Ngọc Chánh Phối Sư Cửu Trùng Đài.

Ngài là một trong 247 vị đứng tên vào Tờ Khai Đạo cùng cả gia đình.

 

 

TRẦN ĐẠO QUANG (Tên)

Ông Trần Đạo Quang là Thầy tu tại làng Hạnh-Thông Tây, là người đứng vào số 04 trong số 28 người ký tên vào Tờ khai Đạo ngày 23-8 Bính-Dần, nhằm Thứ Tư: 29-9-1926).

Sau khi Đức Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương đăng Tiên, Ngài Trần Đạo Quang được Đức Chí Tôn phong làm quyền Thượng Chưởng Pháp vào ngày 12-12-Bính Dần (dl. Thứ Bảy, 15-01-1927).

Sau khi Đức Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên, Đức Chí Tôn ân phong Ngài Trần Đạo Quang làm Ngọc Chưởng Pháp chánh vị.

Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung nói: "Tôi có nạp tên mấy vị ấy tại Chánh phủ, khi tôi dâng Tờ Khai Đạo, là ngày 6 Octobre 1926. Khi ấy tôi có bạch với Ðấng Chí-Tôn rằng tôi không có thì giờ đủ mà đệ Tờ Khai Đạo cho ông Thái Lão Trần Ðạo Quang ký tên, Ðấng Chí-Tôn có phán dạy tôi cứ việc đem tên Trần Ðạo Quang vô Tờ Khai Đạo. Ðấng Chí-Tôn có phán rằng: "Con cứ đem tên nó vô Tờ Khai Đạo, Ðạo Quang nó không chối cãi đâu mà con phòng ngại".

Thiệt từ ngày ấy, Anh Cả chúng ta là Trần Ðạo Quang hết lòng sốt sắng vì Ðạo nên Ðấng Chí-Tôn phong cho chức Chưởng Pháp trong Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ."

 

 

TRẦN ĐOÀN

Trần Đoàn hay Hi Di Tiên Sinh giáng ngày 18-2-1934:

Giấc Ngủ Có Danh Đó

Giấc ngủ ngàn năm tiếng đã rằng,
Mặc dầu nhật nguyệt đổi trời trăng.
Té lừa mừng gặp nhà ông Triệu,
Quảy thỏ vui vầy tiệc cửa Tăng.
Cuộc cờ mua núi chưa xong nước,
Trận chiến cầu binh đỡ ngỏ hằng.
Lau sạch non sông khăn một chéo,
Mặc ai vương đế, mặc ai hoăng. (Hoăng là băng)

 

 

TRẦN GIAN

Trần gian 塵間: Nơi bụi bặm, thế gian, trần thế.

Bài thài hiến lễ Đức Quyền Giáo Tông có câu:

Càn khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm riêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo xủ phướn Tiêu Diêu.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Mượn của trần gian lưu chất lại,
Thiên niên còn mặc đứng gầy Trời.

Kinh Sám Hối có câu:

"Khi hồn lìa khỏi trần gian,
"Hóa ra ngạ-quỷ cơ-hàn khổ thân."

 

 

TRẦN HƯNG ĐẠO

"Ðức Cái Thiên Cổ Phật Quan Thánh Ðế Quân tức Hớn Thọ Ðình Hầu Quan Vân Trường nhà Hớn đời Tam Quốc. Một vị Hiển Thánh đời Hớn, thời Tam Quốc, ngày nay đạt phẩm vị đến Tam Trấn Oai Nghiêm trong nền Chánh Giáo của Ðức Chí Tôn, sự vinh hiển cao trọng đó ta thấy giá trị vô đối. Với một Ðấng Thiêng Liêng mà lập được vị mình một cách oai quyền vinh hiển ta thường thấy rất ít, thảng có chăng trong nước Việt Nam ta Ngài Trần Hưng Ðạo gọi có thể đương đầu với Ngài được mảy may chút ít mà thôi, chớ phần đông từ thử đến giờ kể cả các nước Á Ðông nầy hiếm có."

 

 

TRẦN KHÁNH DƯ (Tên)

Một gánh CÀN KHÔN quảy tếch ngàn,
Hỏi chi bán đó? Dạ rằng than!
Ít nhiều miễn đặng đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn.
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp,
Thử xem vàng đá có bền gan.
Nghề này lem-luốt toan nghề khác,
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn!
                        (Trần Khánh Dư)

 

 

TRẦN KHỔ


E: Misfortunes of world.
F: Le malheurs du monde.

Trần: Bụi đất, chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại. Khổ: vất vả khổ cực.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Trần khổ dầu ai chơn muốn lánh.

Cõi Trần là cõi khổ, không ai tránh khỏi. Chính nơi này là nơi để cho các chơn hồn đến học hỏi và tiến hóa. Xem như là lò "Luyện thép" vậy. Nếu không vào đây để chịu sự trui rèn thì không có nơi nào mà vào con đường siêu thoát để đạt đến ngôi Tiên vị Phật được bao giờ.

Thầy dạy: "Nơi trần khổ nầy, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quí báu vô giá. Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên Chánh quả. Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương. Thầy có thế dùng hai con đặng đắp vun nền Ðạo, cứu vớt sanh linh, nhưng đức tín ngưỡng biết có đặng tròn, sự dày công chịu khó vì nhơn sanh biết có đặng bền bỉ chăng?"

Bài Khai Kinh có câu:

"Biển trần khổ vơi vơi Trời nước,
"Ánh Thái Dương giọi trước phương Đông."

 

 

TRẦN KIM PHỤNG (NỮ GIÁO SƯ)

Quang Minh (sưu tầm)

Theo lời tường thuật của ông Giáo Hữu Thái Cảnh Thanh (kêu là Cảnh Điện Báo) thì Bà Trần Kim Phụng là chơn linh của Khổng Minh. Bà rất sáng suốt giải quyết những sự khó khăn của Đạo. Một khi Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp gặp việc khó khăn, hai ông lên Nam Vang hỏi ý kiến của Bà thì Bà giải quyết mau lẹ thỏa đáng.

Chồng bà là ông Trưởng Tòa người Mertinique, tên Batrya… Cũng do ông Cảnh cho biết chơn linh của ông nầy là Mạnh Hoạch. Theo truyện Tam Quốc Chí thì Khổng Minh bắt được Mạnh Hoạch bảy lần đều tha, lần chót mới giết. Thành thử Mạnh Hoạch tái kiếp để đòi cái quả mà Khổng Minh đã giết mình, nên làm chồng, còn Khổng Minh phải hoá nữ để cho xong quả kiếp. Bà làm thi không cần suy nghĩ, thường kêu: "Ký Cảnh đem giấy viết tôi đọc cho viết". Bà làm thi hay họa thi trong 5-10 phút là xong.

Sau khi Bà lìa đời thời gian lâu không có giáng cơ. Một hôm bà về cơ Đức Hộ Pháp hỏi nguyên do thì Bà tiết lộ rằng bà được Chí Tôn phong Giáo Sư, nhưng thời gian lãnh chức hành Đạo chưa bao nhiêu, chưa có công nghiệp xứng đáng với nền chánh giáo. Vì lẽ đó mà Bà thẹn không giáng Cơ. Nhơn dịp nầy Bà khuyên Nữ phái ráng lập công bồi đức cho xứng đáng phẩm tước chớ chẳng phải lãnh Thiên Phong, không hành Đạo mà về cõi Hư Linh vẫn tự toại an nhàn.

THƠ CỦA BÀ TRẦN KIM PHỤNG

Ngài Cao Tiếp Đạo làm bài Luận Cơ Đời:

Thay đổi tang thương tỷ cuộc đời,
Chuyển xây vòng thế biết bao mươi.
Cột trò mộng huyễn người khôn dại,
Thử thách nhơn gian tiếng khóc cười.
Lừa lọc khuôn linh âu cũng thật,
Sắp bày cơ Tạo há rằng chơi.
Vẫy vùng cho khỏi lằn vay trả,
Đến cửa vĩnh sanh mới thấy Trời.
                        Huyền Quang (Cao Tiếp Đạo)

Họa Nguyên Vận:

Đến hỏi cùng ai cuộc ở đời?
Tẻ vui hòa lẫn mấy nhiêu mươi.
Gặp thời tranh cạnh say rồi tỉnh,
Nói chuyện tang thương khóc gượng cười.
Hư thiệt trò đời mua cũng rẽ,
Lợi danh chóan thế nghĩ mà chơi.
Nào ai muốn biết cơ mầu nhiệm?
Thử bước non cao thấy tột Trời.
                        Ứng Quân
            (Nữ Giáo Sư Trần Kim Phụng)

Ông Đặng Thúc Liêng một thi gia khi hay tin chồng Bà Kim Phụng qua đời đã gởi cho Bà một bài thi để ghẹo như vầy:

Xa nhắn hoa thơm tiếng đã từng,
Rằng nghe vắng vẻ cái vườn xuân.
Can giồng lá thắm thôi thời chớ…
Đón gió chim xanh há biểu đừng…
Cung quế đường xưa đà bật dấu,
Vườn đào lối cũ đã quen chưa?.
Văn Quân nay gặp chàng Tư Mã,
Rồng nọ thêm vây, ráng mọc sừng.
                        Đặng Thúc Liêng

Bà họa lại:

Cái giọng năm ba cũng đã từng,
Xin đừng vẽ bướm cợt hoa xuân.
Bày lời Đổng Trác ai kìa chớ?
Dở ngón Tương Như thiệp bảo đừng.
Bắt phụng cỡi Rồng khen lớn mật,
Cấp non nhảy biển há quen chưn.
Làm thinh chẳng nói cho rằng ngỗ,
Nói lại thì mang tiếng sẻ sừng.
                        Trần Kim Phụng

Có một thi sĩ vô danh cũng ghẹo Bà:

Nầy hỡi nầy cô gái sắc tài!
Cầm kỳ thi họa chẳng thua ai?
Chẳng hay tuổi Á bao lăm đẩy?
Mà góa duyên Âu đã bấy chầy?
Đẹp vẻ duyên nay còn đượm sắc,
Hương đưa liễu nhụy khắp cùng bay.
Thuyền kia dồn dập còn mờ mệt,
Nầy hỡi nầy cô gái sắc tài!
                        Vô Danh

Bà họa lại:

Thôi chớ đon ren chữ sắc tài,
Giang sơn nầy hỡi thuộc về ai?
Sá chi bồ liễu âu thân phận.
Để thẹn mày râu đã bấy chầy.
Gan óc để đâu nông nỗi thế?
Cánh hồng sao chẳng vẫy vùng bay?
Cái cơ duyên nợ không chi lạ,
Thôi chớ đon ren chữ sắc tài.!

Thật là tuyệt diệu, ông Vô danh trách Bà lấy chồng Âu, bà hỏi lại phận nam nhi sao không chống Pháp để giải phóng cho nước nhà mà sao lại trách phận quần thoa yếm mang quần vận, vậy chớ tài an bang tế thế để nơi nào?

Ông Trần Khải-Sơ ở Sa Đéc có tặng Bà đại ý táng tụng văn tài của nữ sĩ:

Bấy lâu nghe tiếng sấm vang tai,
May mắn hôm nay thấy đặng tài.
Da tuyết tóc mây đời có một,
Miệng thêu lòng gấm, gái không hai.
Tạ Nương vịnh liễu không nhường gót,
Tô Thị hồ văn khó sánh tài.
Gặp gỡ tình cờ lòng kính tặng,
Phước duyên toàn vẹn chúc trang đài.
                        Trần Khải Sơ

Bà họa lại:

Tiếng ngọc lời vàng đã chán tai,
Sa giang dễ thấy bậc anh tài.
Tước kinh lịch sự già nên một,
Quyền được nhơn tình thế chẳng hai.
Bảy bước thi hành khan tót bực,
Năm xe văn khẩm đã bày vai.
Dưới đời ít kẻ bì cho kịp,
Phong nhã thôi thôi dọa các đài.
                        Trần Kim Phụng

Có ông Hồ Xuân Lang đi Nam Vang chơi, chê xứ nầy không có cảnh đẹp, cũng thiếu bực văn chương, thiếu tay cầm kỳ, có làm bài sau:

Nam Vang phong cảnh có chi hay?
Tài tử phong lưu chẳng mấy người.
Uống rượu chung tình e thiếu bợm,
Gãy đàn lưu thủy chẳng siêng tay.
Nghe ma đọc phú thêm buồn mãi,
Mời quỉ chơi cờ giải muộn đây.
Ước đặng ít người ra đối diện,
Nhọc lòng Gia Cát đợi lâu nay.
                        Hồ Xuân Lan

Bà họa lại:

Thoạt nghe tiếng nói, húy chà hay!
Nẻo tắc đường quan cũng gọi tài.
Chưa hãn dại khôn hầu nể mặt,
Cho tường cao thấp sẽ nhường tay.
Văn chương lối Hán kìa ai đó?
Thao lược bên đường hiếm kẻ đây!
Múa chớ khoe khoan tài trí ẻ!
Cửa Ban thường lại thế xưa nay….
                        Trần Kim Phụng

Câu văn chương lối Hán nào ẩn ý chê Hồ Văn Lan là thấp thỏi lại có nghĩa tục nhục mạ một cách tài tình. Câu chót nói ông Lan nhè múa hát trước cửa Lỗ Ban mà khóc văn trước Khổng Thánh thì nó đau đớn sâu sắc đến tột bực, thật đáng phục tài.

            TIỄN BẠN

Cá nhạn từ đây rẽ nước mây,
Nhìn sông non luống những châu mày.
Còi reo giục khách lời tan hiệp,
Rượu rót đưa người lúc tỉnh say.
Trăng giọi nhấp nhô lằn sóng bạc,
Mưa phùng láy pháy giọt sầu xây.
Cái mùi ly biệt ai từng nếm,
Nếm thử rồi ai cũng thế nầy.
                        Trần Kim Phụng

            TỰ THUẬT (quả sầu riêng)

Này thương cho trái, trái gai gai,
Căn dặn về ăn phải nhớ dai.
Vật mọn vì tình xin gắng tưởng,
Người cam thọ nghĩa dể đâu sai.
Đợi lòng bận biu lòng chưa dứt,
Bốn mắt trắng trưng mắt đoái hoài.
Dập dã cảnh tình khi trở bước,
Sầu riêng luống để chẳng mời ai.
                        Trần Kim Phụng

            THI CHÚC HÔN

Dâu Nam Vang, Rễ đông sàng,
Tơ nguyệt săn bền mối tạo đoan.
Hiệp bạn trăm năm gầy sự nghiệp,
Chung lưng một gánh nợ giang san.
Câu tùng phận gái nên dày-dặn,
Chữ nghĩa đàn trai hỡi vẹn toàn.?
Duyên trẻ phỉ nguyền xuôi bạn cũng,
Trò đời gương Đạo cả phô trang.
                        Trần Kim Phụng

Tầu Tấn hôm nay hiệp một nhà,
Phú Đời hạnh Đạo kết nhân gia.
Tuồng đời tua vẽ màu Đời đậm,
Cửa Đạo thanh cao nét Đạo lòa.
Gái Tấn khá già tròn đức bốn,
Trai Tầu bền giữ vẹn giềng ba.
Nhúm nhen ấm áp lò hương lửa,
Chung gánh giang sơn chớ nại hà.
                        Giáo Sư Trần Kim Phụng (1932)

            KHÓC CHỒNG

Bến tục đã từng giải tuyết sương,
Bồng lai nay gởi tấm cang trường.
Trổi ca hờn thiếu khua sanh ngọc,
Chớp bóng giận gì thiếu mảnh gương.
Lầu giải đồng tâm ai những nhớ,
Hoài tình tri kỷ kẻ ngồi thương.
Trông mây hỏi bạn ơi còn nhớ?
Cái nghĩa cùng nhau xẻ mấy đường.
                        Trần Kim Phụng

            GIÃ BẠN của Hà Thủy (Dursal)

Cùng nhau bàn bạc chỉ hôm nay,
Rựng sáng dương quang, tớ trở hài.
Tức cảnh phân trình thơ gượng tả,
Cảm tình lãnh ý nhạn hồi lai.
Khêu đèn ứng đối thâu canh vắng,
Nhìn khách tương giao trọng nghĩa dài.
Mỗi mỗi vẻ vào trong trí nhớ,
Dầu xa muôn dặm tưởng không phai.

Bà Trần Kim Phụng họa:

Nước bèo tan hiệp lẽ xưa nay,
Bận bịu làm chi lúc trổi hài.
Nam Bắc tuy nhiên rằng cách bức,
Non sông còn giống thuở tương lai.
Thơ đưa rượu tiển câu thù tạc,
Kẻ ở người đi, dậm vấn dài.
Tri kỷ dễ tầm đâu có nữa,
Ngại gì nghĩa lợt với tình phai?

Nơi quyển Chí Sĩ Nguyễn Quang Diệu Thi Ca và Cuộc sống của tác giả Nguyễn Văn Hậu trang 92 có viết đoạn như vầy: Người ta còn kể chuyện ngâm họa sôi nổi giữa Thầy Minh, nữ sĩ Trần Kim Phụng và cụ Nguyễn Quang Diệu chuyện khá vui xin phép được nhắc lại: Nữ sĩ Trần Kim Phụng tức cô hai Hỏn mà ở miền Nam nhiều người biết tiếng hay thơ, trước kia từng lưu lạc nhiều nơi… Năm ấy nữ sĩ đi tu và được xung vào phái đoàn truyền Đạo từ Kim-Biên xuống Tân Châu. Thầy Minh một Nho-sĩ ở Cao Lãnh, trước đã từng nghe danh Trần Kim Phụng nhưng chưa biết mặt lại vốn không thích mối Đạo mà nữ sĩ Trần Kim Phụng đang theo, nay tình cờ gặp nữ sĩ đứng ra truyền bá, có ý không bằng lòng nên chất vấn rồi công kích thẳng tay.

Sau một hồi biện bác cãi cọ, Thầy Minh đưa ra một bài thơ tỏ ý châm chọc và không muốn nữ sĩ làm công việc ấy nữa. Mời bạn xem bài xướng của Thầy Minh.

Tai đã từng nghe mắt chữa từng,
Hôm nay gặp gỡ xiết cho mừng.
Lòng mong…….. …… vàng đá,
Chuyện khéo gây nên tiếng sõ sừng.
Mở Đạo phải toan dìu dắt nẻo,
Bứt dây nổ để động lay rừng.
Chừ thôi lở-dở đường lui tới,
Quày quả lên yên bước ngập ngừng.

Nữ sĩ bèn họa lại bài Thầy Minh, bài họa chỏi ngược khiến Thầy Minh phải đỏ mặt.

Kẻ tục người thanh gặp mới từng,
Dở buồn, dở giận, dở vui mừng.
Say sưa nể bợm khoe mình ốc,
Sè sụt thì ông đỗ vận sừng.
Chát chúa không phân loài điệu vị,
Mịt mù nào tỏ đám mây rừng.
Cợt trò nghỉ nổi cơn cười lạnh,
Lấp lửng làng văn bước lại ngừng.

Trời! Kim Phụng mỉa mình "đổ vận sừng" và chê văn chẳng suông câu? Phải!

"Lấp lững làng văn bước lại ngừng".

Hai đàng đang cải nhau thì cụ Nguyễn Quang Diệu tới cụ hỏi ra rồi giảng hòa và sau đó họa trao nữ sĩ một bài khuyên theo con đường cách mạng.

Nghe nói mây mưa giấc đã từng,
Vì ai tỉnh ngộ khiến ta mừng.
Não nề lúc trước thân tê phấn,
Hồi hộp chuyện sao xác đội sừng.
Đài kiến đôi phen vùi lắp bụi,
Đường gai hoa nở mở thông rừng.
Con đường giải phóng thênh thang đấy
Gót ngọc khuyên ai bước chớ ngừng.

Nữ sĩ xem và chịu Cụ là người có học và cao hạnh đáng xưng lên bậc đàn anh.

Ngày 30- Mars-1941

Giáng Cơ Giáo Sư Hương Phụng

Chào ông Khai Đạo, anh Sĩ Tải, ba anh Cửu Trùng và em Hai. Chị hồi còn tại thế chị muốn tìm kiếm em đặng độ em đi với chị một con đường, ngặt tìm kiếm không ra manh mối. Nay chị về Thiêng liêng chị trông thấy em biết đường Đạo đức chơn chánh mà lập công thì chị mừng biết bao cho kể xiết.

Em từ đây nếu như có việc chi buồn hoặc việc chi bí yếu thì kêu chị, chị chỉ giáo cho. Em có căn quả lớn ngày sau em có phần hơn người ta. Em vừa biết Đạo, tiếc thay chị đã ly trần song chị có trìu mến em về buổi trước nên có tình nguyện theo hộ em.(Ngọc Đạt: xin chị độ ông già em vào cửa Đạo).

- Để mặc chị toan liệu, để chị cầu nguyện xin các Đấng Thiêng liêng đặt cho em một cái tên Thánh để dễ bề tu niệm. Chị khuyên em ráng học cho biết chữ Quốc Ngữ đặng dễ cho em xem kinh coi sách một mình ở nhà khỏi cần ai.

Ráng, có chị bố hóa cho. Thôi chị tạm thăm em mấy lời khá nhớ nghe. Ông Khai Đạo tại sao lên Kim-Biên không ghé thăm em. (Trí Thanh nói:……………..) (1)

À lúc nầy em có một chuyện muốn cậy ông, vậy ông sẵn lòng chăng? - Sẵn lòng.

Em có một người em yêu dấu là em Hai đây. Vậy kể từ đây em cậy ông ngó chừng dùm nghe. (Trí Thanh nói:………..)

À việc đó không chứng cớ ai, nay có đủ mặt đây thì ông liệu. (Trí Thanh nói:………….)

Được kỳ tới sẽ nói nhiều, em xin kiếu.

                        (1) Trí Thanh là Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi

Ngày 25 Mai 1941 à 11h

Giáo Sư Hương Phụng: Chào mấy anh lớn, chào em Hai. Chị hứa cầu xin cho em nhưng các Đấng buộc chị phải tiếp dẫn, xong chị vì nhiều phận sự, vậy chị khuyên em ráng lập công đức trước đi, thế nào chị cũng nài xin cho em được, chị mới an dạ. Chị để một vị Thần theo hằng ngày để xua đuổi những tà thần theo cám dỗ em. Em cứ an tâm công phu. (Xin chị giáng tâm cho em thức tỉnh chớ em không được minh mẫn).

- Được, ráng nghe, việc ấy em cầu nơi lịnh bà Cửu Vị Tiên Nương, miễn mình lo trù nghĩ làm âm chất thì thần minh ủng hộ. Xin chào mấy vị, em xin kiếu.

Một giai thoại nói về sự độ rỗi Bà Trần Kim Phụng. Đức Hộ Pháp lên Nam Vang muốn độ Bà bằng văn chương; Đức Ngài gởi bà bài thi sau đây:

Nắm vóc đất vẽ tranh chòi lũy,
Cầm mũi kim soi bụng Thái Sơn.
Biết người cái thế khai nguơn,
Làm chi đổ lệ, để hờn non sông.

Bà chiêm nghiệm biết Thiên mạng của Đức Ngài nên xin thọ giáo theo Đạo Cao Đài. Như thế chúng ta thấy các chơn linh cao trọng rất nhạy cảm về đường Đạo đức, hễ nghe tiếng chuông cảnh tỉnh thì nhớ lại Thánh tâm mà hồi đầu hướng thiện ngay (Bà theo Đạo Cao Đài khoản năm 1927).

Sau đây là Thánh Giáo của Bát Nương nói đến nguyên căn của Bà Trần Kim Phụng.

Phò loan : Hộ Pháp-Tiếp Đạo

Phạm Môn ngày 10/11-6 Nhâm Thân (13/14 Juillet 1932)

BÁT NƯƠNG

Chào mừng mấy anh và chị Ứng Quân. Chị nghe em:

Quán tục bấy chừ đặng thảnh thơi,
Phân ranh ở thế khổ theo đời.
Trái oan vấn vít nhành khuê hoát,
Duyên phận đeo đai đóa ngọc bồi.
Lửa kiếp hương còn thơm cửa Phật,
Nước duyên gọt rãi ước cung Trời.
Đem thân ra khỏi phồn ba cảnh,
Dầu phải dầu than cũng hạp mùi.

Mấy người đàn ông, em ít ưa làm quen nên không cho chi hết, họ vô duyên quá. Ứng Quân à, họ nói lén em hoài, nên em phát ghét. Thôi em từ giã chị Ứng Quân, còn anh Trọng muốn hỏi thì đợi họ về nhà mà hỏi. Em chào Nhị Tỷ. (Bài Thánh Giáo nầy của ông Phối Sư Thượng Cảnh Thanh tặng).

Nhóm Tuyệt Cốc và Tiên Thiên về phá Tòa Thánh, Bà Trần Kim Phụng chống lại bằng văn chương rất nặng nề:

Mồ cha tám kiếp lũ gian manh,
Năm tối đồ mưu phá Đạo lành.
Khảo Phật trầy da không thấy mở,
Làm tôi phản chúa đáng ghê danh.
Đốt kinh, hủy báng người tu niệm,
Quyết sách đón ngăn kẻ học hành.
Quỉ giận, Thần hờn, Trời đất ghét,
Há dung tánh mạng gã tồn sanh.
                        Ứng Quân Giáo Sư Trần Kim Phụng

Bà Giáo Sư Hương Phụng cùng Giáo Hữu Thái Đến Thanh đi hành Đạo trên vũng Sài Năng (Kom-pong-chuang) năm 1937 xe chạy cập triền núi Tà Lơn, tức cảnh:

Tả Cảnh trời chiều:

Hương Phụng:

 

Cảnh lịch khen ai khéo vẽ vời,
Nước non qua lại mấy ngàn khơi.

Thái Đến:

 

Một bầu thế giới khinh khinh rộng,
Đôi dãy càn khôn rạng rạng ngời.

Hương Phụng:

 

Màn sáng xuê xang hình gấm trải,
Rừng tòng tịch mịch bức tranh phơi.

Thái Đến:

 

Vạn bang thế sự do Thiên tạo,
Khách tục kìa ai có biết thời.

MỘT VỤ TRÁO LÁ SỚ THỬ CƠ

Trong quyển Hồi ký bổ túc của ông Phối Sư Thượng Vinh Thanh, trang 7 có đoạn như vầy:

"Một đêm nọ, có Bà góa phụ Trần Kim Phụng là người đàn bà sang trọng, có tên tuổi lại là một thi sĩ ở Nam Vang mà ai ai cũng đều kính nể, đến hầu Đàn mà lại có tư ý muốn thử cho biết sự thiệt hư. Bà cũng vào trước Đàn cơ quì lạy như mọi người, dâng sớ xin thi. Trong Đàn thì đông đảo, mỗi người đội một lá sớ, lòng thành cầu khẩn. Lúc mới vào Đàn còn đang lộn xộn, kẻ đứng người quì, bỗng dưng có ông bạn quen tên Huỳnh Đình Thới, kế toán viên hãng buôn, cố ý đến thử sự linh thiêng của Đàn cơ, ông lòn ra phía sau của Bà Trần Kim Phụng đã quì và đổi lá sớ trên đầu, ông lén tráo lá sớ của ông để tráo vào lá sớ của Bà mà Bà không hay, cũng không ai để ý, rồi ông quì xuống đó đội lá sớ của Bà Trần Kim Phụng.

Khi Cơ giáng ban một bài thi bát cú cho Bà Trần Kim Phụng thì do ông Huỳnh Đình Thới đội dâng, chữ đầu của bài thi là "Phụng" (Phụng đến Hồ dương trổi tiếng kêu…) tác giả chỉ nhớ câu đầu của bài thi, còn trong ý tứ bài thi toàn là chuyện của Bà Trần Kim Phụng.

Rồi đến lượt ông Trần Đình Thới mà lá sớ lại do Bà Trần Kim Phụng đội dâng, Cơ giáng cho một bài thi bát cú có tên "Thới" đứng đầu mà ý tứ và sự việc đều đúng với sở cầm mà ông Thới đã viết trong lá sớ. Khi bãi đàn đem thi ra đọc lại, ông Thới mới thú thật là ông tráo lá sớ của ông cho Bà Trần Kim Phụng để thử xem cơ thiệt hay giả. Chừng ấy ông mới bái phục sự linh hiển của Thiêng liêng."

Lời kết: Đây chỉ là tài liệu sưu tầm, chưa đầy đủ về cuộc đời hành Đạo và ngày sanh tháng mất của Bà. Rất mong được sự bổ sung của chư Đạo Hữu để người viết sử Đạo sau nầy có đầy đủ tài liệu hoàn thiện về Tiểu Sử của Bà Trần Kim Phụng. [Quang Minh (sưu tầm)]

 

 

TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1308)

(Vua) Trần Nhân Tông cũng được gọi là "Trúc Lâm Ðầu Ðà" 竹林頭陀 "Ðiều Ngự Giác Hoàng" 調御覺皇 Thiền sư Việt Nam uyên thâm, đạt đạo và cũng là một nhà vua xuất sắc, từng đánh bại quân Nguyên. Sư khai sáng phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, được tôn là Ðệ Nhất Tổ của phái này.

Ông là vua thứ ba nhà Trần, tên húy là Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông.

Năm 16 tuổi, ông được lập Hoàng Thái tử. Cố nhường lại chức này cho em nhưng không được, ông trốn triều đình vào núi Yên Tử tu học. Ðến chùa Tháp ở núi Ðông Cứu thì trời vừa sáng, ông bèn vào trong nghỉ. Thấy dung mạo của ông khác thường, vị trụ trì chùa này ân cần làm cơm thiết đãi. Hay tin, vua cha liền sai quan thỉnh ông trở về cung điện.

Năm lên 21, ông lên ngôi Hoàng Ðế. Mặc dù ở địa vị cùng tột nhưng ông vẫn giữ mình thanh tịnh, thường ăn chay. Vì bẩm chất thông minh nên ông sớm tinh thông nội (kinh luận) lẫn ngoại điển. Lúc rỗi, ông thường hay mời các bậc hiền triết đến luận đạo, tôn Huệ Trung Thượng sĩ làm thầy và cũng ngộ huyền chỉ của thầy mình.

Năm 1293, ông truyền ngôi lại cho con là vua Anh Tông và chỉ sáu năm sau đó, vào năm 1299, ông chính thức xuất gia và sau được xem là người thừa kế chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu. Sư trở thành Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm, là một dòng Thiền mạnh mẽ thời bấy giờ, có tính nhập thế. Tổ thứ hai của dòng Trúc lâm là Thiền sư Pháp Loa, là truyền nhân chính của Sư. Nhân một buổi pháp hội tại chùa Sùng Nghiêm tại núi Chí Linh, Sư thượng đường bảo: "Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện trong đời, 49 năm mấp máy đôi môi mà chưa nói lời nào. Ta nay vì các ông lên tòa, sẽ nói cái gì đây?"

Rồi Sư sang ngồi bên giường Thiền, đánh một tiếng chuông và ngâm kệ:

Thân như hô hấp tỷ trung khí
Thế tự phong hành lãnh ngoại vân
Ðỗ Quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân.

(Thân như hơi thở ra vào mũi
Ðời giống mây trôi đỉnh núi xa
Chim Quyên kêu rã bao ngày tháng
Ðâu được ngày xuân để luống qua!)

Một vị tăng hỏi:

Thế nào là Phật?

- Sư đáp:

 

Chấp nhận như xưa là không đúng.

Tăng hỏi:

 

Thế nào là pháp?

- Sư đáp:

 

Chấp nhận như xưa là không đúng.

Tăng hỏi:

 

Thế nào là Tăng?

- Sư đáp:

Chấp nhận như xưa là không đúng.

Tăng hỏi:

Rốt cuộc như thế nào?

- Sư đáp:

"Bát tự đả khai phân phó liễu
"Cánh vô dư sự khả trình quân."

(Tất cả mở toang trao hết sạch
(Ðâu còn việc chi nói cùng người.)

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

TRẦN PHỦ TỪ

 

 

 

 

 

 

TRẦN QUANG VINH (Tên)

Thượng Phối Sư Thượng Vinh Thanh. Nguơn linh Francois Hugo đệ tử Bạch Vân Ðộng.

 

 

 

Tiền kiếp ông Trần Quang Vinh là con của Ðức Victor Hugo -Nguyệt Tâm Chơn Nhơn- Chính Đức Victor-Hugo Ngài có giáng Cơ nhìn con, là ông Trần Quang Vinh. Sau, ông Trần Quang Vinh đắc phong vào phẩm Phối sư phái Thượng. Thánh danh là Thượng Vinh Thanh.

Ông Trần Quang Vinh đạo hiệu Hiển Trung là con của Đức Victor-Hugo hồi tiền kiếp.

Ông Bà VICTOR-HUGO giáng Cơ nhìn Con.

Nguyên văn bài Cơ chữ Pháp (Lời ông Hiển Trung nói: sao lục ra đây để lưu kỷ niệm. Đây bài của Đức Chưởng Đạo giáng đàn đêm 30-12-1931, lối 23 giờ, có đăng trong quyển lịch sử "Les Messages Spirites de la 3ème Amnistie de Dieu" trang 63)

Saigon 30-12-1931, (23 h)

Chez le grand Dignitaire Thái Thơ Thanh à Tân định, Saigon.

Médiums: Hộ Pháp et Văn Pháp.

Présents à la séance: Le Pape Intérimaire Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh,

Gíao Hữu Thượng Vinh Thanh et quelques Dignitaires

Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn
ou Victor Hugo

Bonjour mes grands frères,
Et la Mission Étrangère
Viens Hiển Trung mon enfant,
Voilà ton nom est maintenant grand,
Viens recevoir la bénédiction de ton père
La lignée des Hugo a le droit d’être fière
Tu as assez vu n’est-ce pas?
La France est vraiment grand Etat,
Oh! Ne te plains pas de son ingratitude,
Quoiqu’ Elle soit France, Elle garde cette habitude.
Tu lui as rendu un grand service,
Et, en religion, tu n’es que novice.
Pauvre garcon! Tu m’as fait tant souffrir au berceau,
Et tu me paies maintenant d’un renom des plus beaux
Ta mère a promis de venir
Avec moi, elle voudra te benir
Nous parlerons plus amplement au Saint-Siège.
Au revoir et à tantôt.

Bài dịch ra Việt văn:

Muốn cho chư đọc giả dễ hiểu, nên xin tạm dịch ra đây bằng Việt văn, điệu "Song thất lục bát" cũng cố gắng cho sát ý nghĩa, chư đọc giả nào rành hai thứ chữ Pháp Việt, xin bảo cho tác giả nếu có điều sơ thất, xin đa tạ.

Sai gòn, đêm 30-12-1931 (23 giờ) tại Biệt xá ông Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh ở Tân Định.

Phò loan: Hộ Pháp và Văn Pháp

Hầu đàn: Q.Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, Chánh Phối SưThái thơ Thanh, Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh và vài Chức Sắc.

Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn
hay Victor Hugo

Chào chư Đại Huynh và Hội Thánh Ngoại giáo.

HIỂN TRUNG con! Lại đây Thầy dặn,
Tuổi tên con nay đặng chói loà,
Huệ ân con nhận nơi Cha,
Có quyền hãnh diện giòng Ta với đời.

Con đã thấy bao thời Pháp thuộc,
Được các nơi tôn bậc Đại cường,
Phiền chi con, kẻ vô ơn,
Mặc dù danh vọng cũng còn thói quen.

Ân lớn kia một phen con trả,
Khi mới vào lập quả đường tu,
Nuôi con CHA lắm công phu,
Giờ đây mừng trẻ đền bù vinh quang.

MẸ con hứa đến trần gian,
Cùng CHA thăm viếng ân ban con hiền.

Thăng

Trong hai câu cuối bài Thánh giáo trên Đức Chưởng Đạo báo cho hay rằng BÀ VICTOR HUGO, tức là MẸ kiếp trước của HIỂN TRUNG, hứa ban ơn cho con. Lần lượt, ngày qua ngày, cho tới hơn một năm sau, mới có dịp cho Bà giáng tại Kim-Biên đêm 16-02-1933, do Đức Hộ Pháp và ông Cao Tiếp Đạo phò loan. Sau đây là nguyên văn bài thi bằng Pháp văn. Tác giả cũng tạm dịch ra Việt Văn theo điệu "Song thất lục bát". Có đăng trong quyển lịch sử "Les Messages Spirites de la 3ème Amnistie de Dieu" trang 73.

Phnom-Pênh, le 13 Février 1933 (22h)

(Chez Chánh Đức)

Médiums: Hộ Pháp et Tiếp Đạo.

Présents à la séance: Giáo Sư Thượng Bảy Thanh, Giáo Sư Thượng Vinh Thanh, Giáo Sư Thượng Chữ Thanh.

VICTOR HUGO

Bonjour mes frères et soeurs.
Charles et Francois, votre mère vient.

Madame VICTOR HUGO née Adèle FOUCHER

Debout mes enfants. Pleurs!
Je ne suis contrarier de ma vie
La volonté de votre père,
Surtout dans ses actes humanitaires
C’est toujours contre la tuerie
Qu’il a lutté.
Apres sa mort, il n’abandonne pas son projet,
Il vous envoie continuer ses oeuvres
Parmi ceux qui vous ont reniés.
Par ingratitude, ils accumulent les pires manoeuvres
Les calomnies et les iniquités.
Qu’a-t-il pu obtenir comme resultat?
Il a toutes les facultés de connaitre dans l’ Au-Delà
Non, il persiste malgré mes pleurs
A vous envoyer dans ce monde de terreur

Vacquerie lui aussi se reincarne;
Il se dit souvent que cette terre est son charme.
Il va être grand homme d’ Etat.
Il suit la trace de Léopold dans les Pays-Bas
Adèle ne veut plus souffrir,
Pour vous voir seulement, elle refuse de venir.
Elle dit que le souvenir est cuisant,
Elle ne veut revoir le monde des vivants.
Au revoir

Bài dịch ra Việt văn:

Victor Hugo phu nhân, nhũ danh Adèle FOUCHER

Này hai con bình thân nghe dạy!
Đổ luỵ thương MẸ phải đến đây,
Xét ra đời MẸ bao ngày,
Giữ tròn bổn phận đắng cay cùng chồng.

Ý CHA con MẸ không dám trái,
Bởi việc làm Nhơn ngãi của Người.
Đấu tranh chống giết muôn loài,
Về Tiên, người cũng chưa nguôi mộng lành.

Nên giao con sở hành tiếp tục,
Lắm những người xúi dục không nhìn,
Bày trò bạc nghĩa vô tình,
Mưu mô bất chánh để mình con cam.

MẸ hỏi thử có đem kết quả?
Cõi Thiêng liêng Người đã rõ thông,
MẸ dù than khóc cũng không,
Chí Người cương quyết gởi con xuống trần.

Vacquerie riêng phần tái kiếp,
Đến thế gian cho hiệp với lòng,
Đại Thần nó sẽ nên công,
Hoà Lan giúp nước theo giòng Léopold.

Adèle sợ tâm hồn thêm khổ,
Nên không về hội ngộ cùng con,
Và rằng kỹ niệm xưa còn,
Đau thương lắm cảnh héo hon lòng người.

Nên không muốn thấy cõi đời,
Con người sống nữa để rồi khổ thân.

Thăng.

Ông là người lập ra Quân Đội Cao-Đài:

Nhắc lại: Mấy tháng cuối năm 1945 đến mấy tháng đầu năm 1946 là giai đoạn nguy khốn nhứt của Đạo Cao Đài. Pháp tàn sát Đạo để trả thù đảo chánh. Còn Việt Minh tàn sát Đạo vì buộc tội theo phát xít Nhật. Một đàng giết mà có điều kiện dàn xếp, còn một đàng giết không có điều kiện giải quyết.

Sau khi được một số tín hữu ở Cà Mau giải thoát khỏi nhà giam Việt Minh, ông Trần Quang Vinh về Saigon ẩn náu được vài ngày thì bị Pháp bắt giam tại bót Catinat cùng một số Chức sắc. Trước tình cảnh bi đát đó, ông buộc lòng phải nhận lời của Pháp, dàn xếp với điều kiện phải kêu gọi hai Chi Đội 7 và 8 trở về thành lập Quân đội tự vệ Cao Đài thì Pháp sẽ cho Đạo được tự do tín ngưỡng.

Việc hiệp tác với Pháp buổi đó ngoài ý muốn của mọi người, nên anh em ở chiến khu còn dè dặt chưa quyết định dứt khoát vì không hợp nguyện vọng của họ. Nhưng dầu muốn hay không cũng phải gỡ rối cho Đạo lúc khó khăn. Anh em chỉ về hiệp tác một số ít, phần đông ở lại đề phòng mọi sự bất trắc có thể xảy ra, nếu người Pháp không thật tâm.

Thoả hiệp ký kết với Pháp ngày 9-6-1946.

 

 

TRẦN THÁI TÔNG (1218-1277)

Vua tên thật là Trần Cảnh 陳煚 quê làng Tức Mặc 即墨, phủ Thiên Trường 天長 (huyện Mỹ Lộc 美祿, tỉnh Nam Định sau này). Tác phẩm có: Kiến trung thường lễ 建忠常禮, Quốc triều thông chế 國朝通制, Khoá hư lục 課虛錄...

Khi viết bài Tựa cho Thiền tông chỉ nam 禪宗指南, vua ám chỉ rằng trách nhiệm độ đời của Phật hay Nho vẫn là một: "Lục tổ có nói: Bậc đại Thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau." Như thế đủ biết đại giáo lý của Đức Phật ta lại phải nhờ Tiên Thánh mà truyền lại cho đời.". Trong bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, vua viết: Vị minh nhân vọng phân Tam giáo 未明 人妄分三教 Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.了得底同悟一心.

(Chưa tỏ ngộ, người đời lầm lẫn phân biệt Tam giáo, Khi đạt chỗ gốc cội rồi thì cùng ngộ một tâm.)

Trong bài Tọa thiền luận 坐禪論, vua so sánh Tam giáo về pháp môn tu luyện và nêu lên sự tương đồng như sau: "Thích-ca Văn phật vào núi Tuyết sơn, ngồi ngay ngắn trong sáu năm, chim bồ các làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên qua bắp vế mà thân tâm vẫn bình thản. Tử Cơ [Đạo gia] ngồi tựa ghế, thân như cây khô, lòng như tro nguội. Nhan Hồi [Nho gia] ngồi quên, chân tay rời rã, thông minh dẹp bỏ, lìa xa cả trí, cả ngu để hòa chung với Đạo lớn. Ba bậc Thánh hiền của Tam giáo đời xưa đó đều nhờ ngồi định mà có thành tựu." Tuyết sơn tức là Hy-mã-lạp-sơn (Himalayas). Chim bồ các có sách dịch là chim thước, hoặc dịch là chim khách. Tử Cơ tức là Nam Quách Tử Cơ, được chép trong Nam Hoa Kinh của Trang tử. Trong bài Giới sát sinh văn 戒殺生文, vua nêu lên chỗ tương đồng của Tam giáo về mặt hành thiện: "Sách Nho dạy làm điều nhân đức, kinh Lão dạy thương yêu người và vật, Phật chủ trương hãy giữ gìn giới cấm sát sinh…"

 

 

TRẦN THẾ

塵 世
E: The world.
F: Le monde.

Trần: Bụi đất, chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại. Thế: đời, cõi đời. Trần thế là cõi trần, tức là cõi đời, cõi thế gian.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế.

 

 

TRẦN THỊ LỰU (Tên)

Bà là hiền nội của Ngài Cao-Quỳnh Diêu (Bảo Văn Pháp Quân. Hiệp Thiên Đài). Bà Trần Thị Lựu đắc phong Nữ Giáo Hữu trong kỳ Đức Chí Tôn phong Thánh Nữ phái lần đầu tiên, được Đức Chí Tôn giao nhiệm vụ cùng với Nữ Giáo Sư Hương Hiếu (hiền nội của Ngài Cư, đây là hai chị em bạn dâu trong gia đình họ Cao) dạy các Đồng nhi tụng kinh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I trang 44, Đức Chí Tôn bảo: "Lựu và Hiếu tập một lũ Nữ Đồng nhi chừng 36 đứa đặng mỗi khi Đại lễ nó tụng kinh cho Thầy".

Bà là một trong số 247 người đứng tên Tờ Khai Đạo.

 

 

TRẦN TÌNH

塵 情
E: The feelings of man in the world.
F: Les sentiments de l’homme dans le monde.

Trần: Bụi đất, chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại. Tình: tình cảm. Trần tình 塵情 Tình cảm của con người ở cõi trần. Theo Phật, trần là cõi uế-trược, nên những thứ tình cảm của con người đối xử với nhau nơi cõi ấy cũng không có gì là bền vững hay siêu phàm được, mà lẫn lộn đủ thứ thanh trược, thiệt giả, tốt xấu. Người ta chia tình cảm con người ra làm bảy thứ, gọi là Thất tình, đó là Hỷ (mừng), Ái (yêu), Lạc (vui), Dục (muốn), Ai (buồn), Ố (ghét), Nộ (ghét).Diệt trừ hết những thứ tình cảm xấu xa nơi cõi trần, mà vui hưởng tiêu diêu, thảnh thơi nhàn hạ. Ấy là biết chế ngự Thất tình vậy. (Xem: Thất đầu xà, vần Th)

Kinh Khi Đã Chết Rồi có câu:

"Cửa Tây Phương khá bay đến chốn,
"Diệt trần tình vui hưởng tiêu diêu."

 

 

TRẦN TRỌNG KIM

Ông Trần Trọng Kim có viết một câu rất ý nghĩa:

"Ngôn chi vô văn, hành chi bất viễn." Nghĩa là: Nói không có văn chương thì truyền ra chẳng đặng xa.

 

 

TRẦN TỤC

塵 俗
E: Vulgar world.
F: Monde vulgaire.

Trần: Bụi đất, chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại. Tục: thấp kém. Trần tục là cõi trần thấp kém.

Người trần tục là con người thấp kém nơi cõi trần.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Sao ra Tiên Phật, người trần tục,
Trần tục muốn thành phải đến Ta.

Thi văn dạy Đạo:

Lánh đường trần tục đến non Tiên,
Lấy nước nhành dương tưới lửa phiền.
Ðã chẳng phải duyên không phải nợ,
Can chi con buộc tấm tình riêng.

"Trần tục là cõi sầu than khổ lụy dành cho các Đấng vô hình vì bị tội lỗi, lạc lầm mà phải sa đọa đặng tìm phương giải thoát trầm luân qui hồi cựu phẩm. Trần tục cũng là trường thi công đức, dành cho khách phàm trả nợ tiền khiên, dứt đường oan trái đặng lập vị thiêng liêng khỏi luân hồi chuyển kiếp".

Trần tục là cõi chứa nhiều phiền não, nên chúng sanh ở đây tâm thường lo lắng, ray rứt, bất an..Tại sao cõi này chứa nhiều phiền não? Bởi vì chúng sanh bị năm động lực sau đây sai khiến, nên thân tâm lúc nào cũng âu lo, tính toan, sợ sệt...

Tham: Lòng ham muốn của con người vô tận, nên tâm bao giờ cũng tìm đủ mọi cách để thỏa mãn dục vọng của mình, lòng muốn thâu góp vào một tay làm bá chủ.

Sân: Gặp cảnh trái ý liền giận dữ, lòng lúc nào cũng hờn giận nổi nóng. "Giận mất khôn".

Si: Tâm bị mê hoặc, không tỉnh táo để nhận định gọi là si.

Mạn: Kiêu căng, ngạo mạn, cậy mình tài trí có lòng khinh khi miệt thị người khác gọi là mạn.

Nghi: Đối với mọi việc, thường sanh lòng ngờ vực, chẳng thể nào phán đoán dứt khoát, gọi là nghi. Nghi kỵ, nghi ngờ…

Do năm yếu tố trên làm cho con người sống ở thế gian phiền não, nên lúc nào cũng bất an, sợ sệt...Vì vậy, thế gian còn gọi là cõi tục lự, nó nhuộm đen đến cả đến tâm hồn.

Pháp Chánh Truyền: "Ðã tấn, ắt có thối, đã dở phải tìm hay, đã tà thì tìm chánh, đã dữ ắt tìm lành; (La loi des réparations), nỗi cuộc tranh đua đã gây biết bao oan gia; trái chủ, buộc các Ðấng Thiêng Liêng, dầu cho đặng cao thăng, biết dưỡng chí, tu tâm đi nữa, cũng bởi lẫn tuất thương sanh, mà phải phế hủy kiếp duyên, chịu đọa đày nơi trần tục".

Bài thi Thầy cho ông Lê Văn Giảng:

Trần tục là nơi chỗ biển buồn,
Nghe nơi Ðại Ðạo rán nghe luôn.
Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó,
Ách nạn chi chi cũng chảy tuôn.

 

 

TRẦN VĂN HOẰNG (Tên)

Trần Văn Hoằng là con trai Trần Văn Tạ. Cả gia đình ông đều đứng tên vào Tờ Khai Đạo 247 vị.

 

 

TRẦN VĂN TẠ (Tên)

Trần Văn Tạ thọ phong phẩm Hộ Đàn Pháp Quân nơi Toà Thánh Tây-Ninh. Gia đình ông có bốn người đều ký tên vào Tờ Khai Đạo trong số 247 người. Ông và vợ là Trương Thị Tròn, con gái là Trần Thị Trang và con trai là Trần Văn Hoằng.

Ông Trần Văn Tạ tích cực hành Đạo tại Toà Thánh Tây Ninh. Theo lời Đạo trưởng Liên Hoa (Hội Thánh truyền giáo) khoảng năm 1930, ông Trần Văn Tạ có xây dựng tại làng Long Hiệu, xã Long Tân, Nhơn Trạch ngôi Trung Hưng Thánh bản trên một ngọn đồi cách lộ độ 3000m. Qua chiến tranh ngôi chùa cũng bị huỷ hoại, không còn vết tích. Ông chuyên giải bịnh tà.

Tại Thánh Thất Cầu Kho Thứ sáu: 27-8-1926 (âl 20-7-Bính Dần). Thầy dạy: "Tạ, Thầy giao khổ bịnh nhơn sanh cho con. Thầy lấy nhà con làm Thánh Thất của Thầy".

Ngoài đàn lệ, lại còn thiết đại đàn ở nhiều chỗ khác để giúp vào cuộc phổ thông Thiên Ðạo. Đức Thượng Ðế lại dạy lập một cái đàn riêng nơi nhà ông Ðội Trần Văn Tạ để cứu chữa bịnh nhơn. Công quả ấy về phần ông Trần Văn Tạ và con ông là Trần Văn Hoằng lo lắng.

 

 

TRẦN VĂN TẤN

Trần Văn Tấn (Đốc Phủ Tấn) (Trích quyển Hoa Trái Mùa bài):

            NHẠN VỀ ĐÔNG

Nhạn về đông gởi bạn tình chung,
Gởi bạn tình chung một tấm lòng.
Chung một tấm lòng ngơ ngẩn đợi,
Lòng ngơ ngẩn đợi nhạn về đông.

Kỉnh vấn Bát Nương:

Khép nép cầu Tiên chỉ giáo giùm,
Cửa Trời trò khó đứng khum khum.
Nhơn là tiếng súng tai nghe ỏi,
Nghĩa ấy quân reo tiếng ó rùm.
Chiu chít bầy gà côi khóc mẹ,
Nghinh ngang lũ sói cậy oai hùm.
Nhơn sanh xâu xé xương thành núi,
Thiên hạ bao giờ cội mới sum?

Bát Nương đáp:

Đoạn đời đã trải mấy ai giùm?
Một gánh giang san nổi tiếng um.
Trông bóng thiều quang, mây án khuất,
Cầm gươm tuế nguyệt đở khum khum.
Bấy nhiêu đó rồi nên Đạo sẽ tiếp cho….

 

 

TRẦN VĂN XƯƠNG

Đức Quyền Giáo-Tông giáng cơ ngày 19-12-Ất Mùi (1955): "…Rồi đây thế phải cậy Đạo đưa đường mà mấy ông nhà mình nằm gát cẳng thì trông nỗi gì chớ! Cười… Phải huấn luyện đầy đủ. Em Bảo Thế giúp sức giùm, Qua sở cậy bấy nhiêu. Còn Thánh Địa thì giao cho Trần Văn Xương giữ cửa rồi. Ê! Lão đó treo giò hay số dách, biểu con cái Chí Tôn giữ mình, họ lang thang lắm rồi đa, nhứt định Trần Văn Xương giữ nguyên bổn phận, chớ trách."

 

 

TRẤN BÙA

Thầy dạy: ngày 18-5-Đinh Mão (dl.17-6-1927)

"Hoạch! Trao nước cho anh con dâng lên, trao chai nước khác, Thầy trấn bùa đặng gởi cho Hộ, để vọng nơi Thánh Tượng, mỗi lần cúng lấy, đứng lên niệm 3 lần "Nam mô Ngọc Hoàng Thượng Đế từ bi cứu khổ" rồi dành đặng cứu bịnh những kẻ hữu căn. Nó đặng phép lấy bông mà làm theo lời Thầy đã dặn. Nơi đây, Thầy để lời cho các con phải biết thương Đạo Hữu, việc chi lỗi để cho Thầy biết và cứ tuân theo lời Thầy dặn."

 

 

TRẤN ĐẠO

鎮 道
E: Religious region.
F: Région religieuse.

Trấn: Khu vực hành chánh. Đạo: tôn giáo. Trấn Đạo là một khu vực đạo rộng lớn có từ 3 đến 5 Châu Đạo. Châu Đạo là một Tỉnh Đạo.

Ðầu Trấn Ðạo là Khâm Trấn Ðạo, phẩm Giáo Sư, cũng do Hội Thánh bổ nhiệm. Khâm Trấn Ðạo nhận lệnh trực tiếp từ Cửu Viện Trung Ương Tòa Thánh, do 3 vị Chánh Phối Sư cầm quyền.

Ngoài Thánh địa ra, tổ chức Hành chánh địa phương của Đạo Cao-Đài gồm có Trấn Đạo, Châu đạo, Tộc Đạo và Hương Đạo.

Trấn đạo chia làm nhiều Châu-đạo (mỗi Châu Đạo tương ứng với một Tỉnh của Quốc gia) Châu đạo chia làm nhiều Tộc Đạo (Tộc đạo tương ứng với một Quận). Mỗi Tộc đạo có nhiều Hương Đạo. Hương Đạo tương ứng với một Xã.

Đứng đầu Trấn đạo là ông Khâm Trấn (Cửu Trùng Đài) và ông Quản Trấn (Phước Thiện).

Đứng đầu Châu đạo là ông Khâm Châu (Cửu Trùng Đài) và ông Quản Châu (Phước Thiện).

Đứng đầu Tộc đạo là ông Đầu Tộc (Cửu Trùng-Đài) và Ông Quản Tộc (Phước Thiện).

Đứng đầu Hương đạo là một Bàn-Trị Sự (Cửu Trùng Đài) và Bàn Cai-quản (Phước Thiện).

Riêng Bộ Pháp Chánh thì có một vị Sĩ-tải Pháp Chánh coi từng vùng (mỗi vùng gồm 2, 3 Tỉnh) và một vị Luật Sự Pháp Chánh trông coi từng Tỉnh.

 

 

TRẤN ĐẠO TẦN QUỐC

Đức Hộ Pháp dâng sớ chung niên Ất Mùi (1955) có câu:

"Trấn Đạo này do một vị Giám Đạo Bộ Pháp Chánh tạm cầm Quyền Khâm Trấn, vì thiếu Chức sắc Hành Chánh Đạo.

Nhơn tâm chư Đạo hữu nới Kim Biên không được nhứt trí, phần đông Hoa kiều không thuận tùng Khâm Trấn. Đệ Tử sẽ liệu phương thống hợp, vì con cái Đức Chí Tôn không phân màu da sắc tóc hay nòi giống ngôn ngữ.

Thánh Thất Kim Biên phải dời nơi khác trong phần đất của Chánh Phủ Miên Triều tạm cấp cho và hiện thời Chức sắc hành chánh đang lo xây dựng. Trong công cuộc tạo tác này, nền tài chánh còn khiếm khuyết mọi bề… Nhưng không vì thiếu nợ mà không tiến hành công việc, vì phải dời Thánh Thất cũ nơi khác, hiện giờ toàn Chức Sắc và Chức việc cùng Đạo hữu tạm định cư tại Báo-Ân-Đường, dưới sự chăm nom của một vị Nữ Đạo Nhơn Phước Thiện tại Tần Quốc".

 

 

TRẤN NHẬM

鎮 任
E: To govern.
F: Gouverner.

Trấn: - Đè nén, giữ cho yên. - Khu vực hành chánh. Nhậm: Nhiệm: gánh vác. Trấn nhậm là đảm nhận chức vụ gìn giữ yên ổn ở một địa phương.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy đã ban sắc cho Thần hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương, vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh.

 

 

TRẤN PHÁP

Đức Hộ Pháp trấn pháp; tay cầm nhành dương và Cam Lồ thủy.

 
   

 

 

TRẤN PHÁP THIÊN HỈ ĐỘNG

Đức Hộ Pháp nói: "Hôm nay là ngày mở cửa thiêng-liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên nhân ấy một quyền năng đặng tự giải-thoát lấy mình; hai món bí-pháp ấy là:

1- Long-Tu-Phiến của Đức Cao Thượng-Phẩm để lại.
2- Kim-Tiên của Bần-Đạo.

Hiệp với ba vòng vô-vi tức nhiên là diệu-quang Tam giáo hay là hình-trạng của Càn-khôn vũ-trụ mà đó cũng là tượng ảnh Huệ-quang-Khiếu của chúng ta đó vậy.

KIM-TIÊN là gì?

- Là tượng hình-ảnh của điển-lực điều-khiển Càn-khôn vũ-trụ mà chính đó là điển-lực tức nhiên là sanh lực của vạn-vật đó vậy. Với nó mới có thể mở Đệ-Bát-Khiếu - trong thân con người có thất-khiếu và còn có một khiếu vô-hình là Huệ-Quang-Khiếu - vì nó là điển-lực nên nó mở khiếu ấy mới được.

Nói rõ, con người có ngũ-quang hữu tướng và lục-quang vô-hình, mà phải nhờ cây Kim-Tiên ấy mới có đủ quyền-hành mở lục-quang của mình đặng.

LONG-TU-PHIẾN, có thể vận-chuyển Càn Khôn vũ-trụ do ngươn khí đào-độn sanh ra đó vậy. Nó có quyền đào-đôn ngươn-khí, thâu-hoạch ngươn-khí để trong sanh-lực.

Con người nắm được điều ấy là kẻ đắc-pháp, nhờ nó mới có thể luyện Tinh hóa Khí luyện Khí hóa Thần được.

Ấy là Bí-pháp trấn tại Thiên-Hỉ-Động - Trí-Huệ-Cung, toàn thể ngó thấy không có gì hết mà trong đó huyền-pháp vô-biên vô giới, giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó mà thôi.

 

 

TRẤN PHÁP THẤT ĐẦU XÀ

Ngài Hiến Pháp nói: "Khi trấn thần Ngai Hộ Pháp ngự, Ngài trấn chữ KHÍ, có tượng một con rắn bảy đầu quấn vào dưới ngai Ngài: ba đầu ngóc lên sau lưng, bốn đầu gục xuống, cái mình quấn Ngôi Thượng Phẩm, cái đuôi quấn Ngôi Thượng Sanh. Rắn Thần bảy đầu tượng trưng cho người có thất tình: Hỉ, Ái, Lạc, Dục, Ai, Ố, Nộ. Ba đầu rắn ngó lên sau lưng Hộ Pháp là: Hỉ, Ái, Lạc, ý nghĩa là người tu nên luyện tập nâng đỡ ba tình (Vui, Mừng, Thương) ấy. Còn bốn tình kia: Ai, Nộ, Ố, Dục thì đè xuống đừng cho ngóc đầu lên.

Khi Đức Hộ Pháp trấn Pháp hành bí Pháp cùng thể pháp các Đàn, Vía, Sóc, Vọng, khi Ngài đứng là chuyển Pháp, Ngài ngồi là trụ Pháp và khi Ngài ngồi hai chân đạp hai đầu: Ai bên tả, Nộ bên hữu; hai tay đè: Ố bên Hữu, Dục bên tả. Đức Ngài nói: khi Hộ Pháp trấn trên Thất Đầu Xà là để nén các vật dục ở thế này gom lại khỏi cấu xé nhau, để Mừng, Vui, Thương, cho mọi người chung hưởng Thái bình để gìn giữ đạo đức tu hành cho dễ dàng, nước nhà thanh trị, e sau này Hộ Pháp xuất ngoại Thượng Sanh về ngự nơi đuôi thì tự do Thất tình lôi cuốn cấu xé lẫn nhau, không phương kềm chế, ấy là cơ thử thách nội và ngoại.

Ngày nào Hộ Pháp trấn lại trên Ngai thì mới có thể dễ dàng mọi việc Đời Đạo. Quyền Thiêng liêng phải vậy đặng vay trả cho sạch oan khiên, mới đem thuần phong mỹ tục vãn hồi hoà bình, trật tự, tháng Thuấn, ngày Nghiêu, trở nên Thượng Cổ. Vì lời tiên tri trên của Đức Hộ Pháp mà Hội Thánh rất lo ngại nên quyết định đúc tượng của Đức Ngài gấp rút để trấn an trên Thất Đầu Xà nghĩa là trấn áp phần nào Thất Tình của con người, đặng tránh bớt biến cố trong Đạo, vì lời tiên tri ấy đã thực hiện rõ rệt từ ngày Thượng Sanh về cầm quyền tối cao trong Đạo. Có nhiều hiện tượng cho thấy Thất tình đã dậy, gây sự bất hòa giữa người Đạo với người Đạo."

 

 

TRẤN THÁNH PHI CHÂU

Đức Hộ Pháp bị bắt ngày mùng 04-06-Tân Tỵ (dl. 28-06-1941): Chánh quyền Pháp nhận biết nền Quốc Đạo sẽ thực hiện cái mộng giành lại chủ quyền của Việt Nam qua hình thức Tôn giáo, dẫn dắt tâm linh dân tộc phục nguyên hoàng đồ đã mất trong 80 năm. Nên họ đã lên án vị Giáo Chủ đã xâm phạm nền an ninh Đông Pháp tại Viễn Đông và đày Ngài cùng năm vị Chức Sắc Đại Thiên Phong ra Hải đảo Madagascar thuộc Phi Châu (Africa). Cuộc đời hành Đạo đã gánh biết bao hy sinh, nay Đức Ngài lại phải cảnh lưu đày ra phương trời xa, cuộc sống đau thương của Đấng Thiên-mạng ấy như thế nào? Ngài đã làm những gì nơi Hải đảo? Sự phiêu bạt giang hồ ấy sẽ được trình bày rõ sau đây bởi một tín hữu trung kiên nhất của Ngài thuật lại trong lúc lưu vong tại Campuchia năm 1956.

Ngài nằm trên võng tường thuật mỗi ngày một vài chuyện: từ khi đến Madagascar, đến khi được xuống tàu Ile de France, rồi được trở về Việt Nam là 5 năm 2 tháng [ngày 2-8-Ất Dậu (dl. 27-9-1945)]. Sau phần diễn tả các công tác trên Hải Đảo, xin trình bày một số Thánh Giáo cầu tại Madagascar.

 

 

1- Cảnh sống lưu đày:

Nhơn Lễ Đại-Tường Ngài Trần Khai Pháp, Đức Hộ Pháp có đề cập đến cảnh sống lưu đày của Đức Ngài cùng năm vị Thiên Phong bị lưu đày gồm:

1- Ông Trần Duy Nghĩa - Khai Pháp Hiệp Thiên Đài.
2- Ông Đỗ Quang Hiển - Sĩ Tải.
3- Ông Ngọc Trọng Thanh - Phối Sư.
4- Ông Thái Phấn Thanh - Giáo Sư.
5- Ông Thái Gấm Thanh - Giáo Sư.

Đức Ngài thuyết tại Bửu Tháp của Ngài Khai Pháp ở Ao Hồ Tây-Ninh ngày 20-03-Ất Mùi (1955).

(Xem qua chữ Khai Pháp Trần Duy Nghĩa)

"Lúc chánh quyền Pháp đày ra Hải đảo Madagascar trong đó có nhiều vị Chức Sắc Thiên Phong và chung chịu ảnh hưởng, Bần Đạo chỉ thấy một Đức Ngài và em Thánh Hiển hết lòng phụng sự giúp đỡ Bần Đạo. Còn bao nhiêu vì quyền lợi mà xua đuổi, hành hạ Bần Đạo đáo để. Anh Trọng già rồi chẳng nói chi, nhứt là Thái Phấn và Gấm, dựa quyền lợi theo thuyết cộng sản Nga Xô, dùng sức mạnh trở lại hành phạt khắc khổ Bần Đạo mà chưa vừa lòng. Họ còn xúi giục đẩy Bần Đạo lên chỗ nguồn cao, nước độc để được giết một cách gián tiếp. Nếu chẳng phải nhờ quyền năng Thiêng Liêng giúp sức thì Bần Đạo không thể trở về Tổ Đình Thánh Địa nước Việt Nam ngày nay.

Tội nghiệp thay em Thánh Hiển với Đức Ngài Khai Pháp thấy vậy cũng xin đi theo, đã bị chúng đánh đuổi, vẫn tính kế đi theo nuôi dưỡng Bần Đạo cho được. Thánh Hiển đi theo Bần Đạo bị uống nước độc mà bỏ mình nơi rừng sâu núi thẵm. Chỉ còn Bần Đạo Đức Ngài ôm Bần Đạo mà khóc, chỉ van-vái một điều là cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu đem về đất Thánh Địa cỗi xác mà thôi. Thật quả nhiên lời nguyện không sai!"

2- Hành động của Đức Hộ Pháp trên đảo Madagascar:

Đức Hộ Pháp không muốn môn đệ Ngài thù hận ai, nên không hồi ký việc năm năm bị lưu đày của Ngài tại Đảo Madagascar. Những sự cực khổ, những cái ngược đãi của bọn thực dân Pháp làm cho Ngài va chạm đến thực tế, tình đời ấm lạnh. Ngài chỉ kể những hành động của Ngài đã làm gì ở trên hòn đảo kỷ niệm ấy, Ngài làm gì ra tiền để nuôi năm vị Chức Sắc trong tù? Ngài còn giúp đỡ anh em Cách Mạng Việt Nam bị đày tại Madagascar như: Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Thế Song, Trần Hữu Nam… Ngài không phân biệt khuynh hướng chánh trị, chỉ biết giúp người yêu nước chưa gặp thời.

Chỉ có một mình Ngài được tự do sớm, ra ở ngoài khám tìm phương sanh nhai để làm tròn nhiệm vụ một công dân yêu nước. Ngài làm Thợ Bạc, đẽo cày bừa, xây lò gạch, lò vôi, làm thầu khóan cất nhà, xây đập nước. Ngài lại làm Pháp Sư mở khiếu cho tu sĩ đoạt Đạo, thâu môn đệ trí thức để làm mầm gieo giống lành của Chí Tôn nơi phương trời Phi Châu xa diệu vợi. Rồi Ngài gặp lại anh em chiến sĩ Pháp Hồi tại Madagascar và cùng với 13 người ấy đi chung một chuyến tàu Ile de France về Việt Nam. Sau đây là những việc làm của Đức Hộ Pháp:

1- LÀM THỢ BẠC: Ngày 27-7-1941, chánh quyền Pháp bắt Đức Ngài đày đi Madagascar (Phi Châu) cùng với năm vị Đại Thiên Phong. Pháp qui về tội làm quốc sự chống chế độ thuộc địa để đòi Việt Nam độc lập. Trước hết Ngài bị giam vào khám lớn Sài Gòn 28-06-1941 rồi chúng đổi ra Sơn La là nơi rừng thiêng nước độc, được vài tháng chúng mới đưa ra đảo Madagascar. Đảo nầy thuộc Châu Phi, diện tích 585.300km2, dân số lên đến 3.363 người, kinh đô là Tananarive. Nước Pháp chiếm làm thuộc địa năm 1896. Dân thuộc địa có người Malgaches nay kêu là Madécasses. Pháp bắt Đức Ngài giam tại châu thành Nosilava, ngồi ngục hai năm mới đưa ra ngoài. Ngài để ý thấy dân chúng địa phương thích đeo bông tai, kiền vàng, cà rá, bèn nghĩ rằng mình phải học nghề thợ bạc đặng tạo ra tiền, hầu nuôi sống bạn đồng môn và các nhà ái quốc trong khám. Thế là trong vài tháng Ngài thành công. Ông thợ bạc bất đắc dĩ đã hốt bạc, vì đồ Ngài làm mỹ thuật hơn đồ địa phương, lại có nhiều kiểu lạ nên bán rất đắc. Ngài mướn thêm thợ địa phương cộng tác thành một tiệm vàng lớn. Quí ông trong khám sống tương đối bớt vất vả, nhờ lương thực chiếu mền của Ngài gởi vào làm ấm lòng những người đồng khổ. Lần lượt Ngài được một số vốn khá lớn.

2- LÀM CÀY BỪA: Người Malgache rất chất phát nghèo nàn, người Pháp muốn dễ trị nên không mở mang nông nghiệp để họ tự do làm theo phương pháp cổ truyền. Họ lùa trâu bò đi quần cho cỏ rạp xuống rồi vạch đất mà cấy, không biết cày bừa chi hết. Ngài mới đẻo một cái cày và một cái bừa, kêu nông dân dẫn bò lại cho Ngài cày thử. Ngài làm ách, cột cây rồi bắt người dẫn bò. Ban đầu đường cày cong queo; cày một buổi thấy đất lật lên nhiều quá, họ rất mừng Rồi họ hỏi: "Đất cục lớn quá làm sao cho nhỏ lại?" Ngài tháo cày ra, gắn bừa vào, rồi biểu dẫn bò, chính Ngài cầm vàm mà bừa. Họ vỗ tay mừng rỡ, coi Ngài như ông Thần Nông thời Thượng Cổ. Từ đó cái kiểu cày và bừa được dân địa phương phổ biến, trước gần sau xa, cả vùng làm ruộng trúng mùa, họ tôn trọng Ngài đáo để.

3- LÀM CỐI XAY LÚA: Có lúa rồi mà họ vọt lúa như người Miên lấy chày vọt lúa cho ra gạo, ngày nào ăn vọt đủ ngày nấy. Thấy vậy Ngài biểu ông Ngọc Trọng (lúc nầy được thả ra khám) đóng một cái cối xay. Ban đầu vì không chuyên môn lúa sống và cối không êm, khó xay. Ngài làm răng cối lại cho xuôi rồi gạo ra đều, vỏ lúa (trấu) tróc theo ý muốn. Còn chỉ cách vầng, quạt gió, giê để lấy gạo trắng, phân biệt với thóc vàng. Sàng, Ngài cũng phải làm mẫu cho họ bắt chước. Kiểu cối xay được dân địa phương phổ biến tòan đảo, dân chúng mến Ngài lắm! Ngài còn đục một cái cối giã gạo và chày giã gạo để làm mẫu; dạy cách vo cơm nấu nướng theo kiểu Việt Nam.

4- LÀM LÒ GẠCH: Ngài đi dạo thấy dân chúng cất nhà bằng tranh hoặc lá, không có gạch ngói. Ngài mới nghĩ phải xây một cái lò gạch. Ngài biểu dân chúng chỉ chỗ có đất sét, Ngài đem về làm một lò nhỏ thử đun lửa. Vài hôm sau Ngài thấy gạch rất tốt nên Ngài quyết định xây một miệng lò lớn, rồi chỉ cách in gạch, ngói mà hầm. Ban đầu lò bị nứt, hơi không đều, nên chỗ sống, chỗ chín, sau Ngài biểu lấy bùn non tô mấy chổ nứt thì gạch có chỗ nóng quá phải bị da lu tức thành sành. Sau rốt Ngài làm lỗ hơi cho điều hòa, gạch ra lò mới đạt được theo ý muốn. Người Pháp ở Madagascar muốn cất nhà, họ mua gạch chỗ khác chở bằng tàu đến Đảo thì giá đắc gấp đôi. Lò gạch của Ngài bán rẻ, dễ kiếm lời.. Kế Ngài biểu dân bản xứ coi theo đó mà xây lò, in gạch, in ngói, học chụm lò… mà phát triển tự làm giàu. Ngài không giữ độc quyền (monopole).

5- LÀM LÒ VÔI: Ngài đi theo kẹt núi lượm nhiều hòn đá về rồi bỏ vào lửa thí nghiệm, cục nào biến thành vôi thì Ngài trở lại chỗ của nó mà tìm. Ngài xây ban đầu một lò vôi nhỏ, mỗi ngày sản xuất lối hai tấn, sau có vốn xây nhiều lò với sự cộng tác của dân địa phương. Thành công rồi thì Ngài cho phép ai cũng làm được, không giữ độc quyền. Cách xây lò và cách đun vôi được chỉ dẫn tận tình. Dân chúng có thêm nhiều công ăn việc làm, sống thoải mái hơn trước.

6- TẠO CỐI XAY CIMENT: Có gạch, có vôi còn thiếu ciment, Ngài đi nghiên cứu chất đất, đào sâu tìm được đất Ngài mua một moteur kéo máy xay ciment bột. Ngài cũng chỉ cho dân Magache phát triển làm ciment. Dân chúng có công ăn việc làm bớt cảnh thất nghiệp, cũng có người trở nên giàu sang.

7- LÀM THẦU KHOÁN XÂY CẤT: Ban đầu lãnh nhà tư, sau lãnh cất dinh thự của chánh quyền Pháp trên đảo. Uy tín mỗi ngày một lên, chẳng những dân chúng thương mà chánh quyền Pháp cũng tín nhiệm; thích đến độ họa đồ nào mà không mang chữ ký của ông Phạm Công Tắc thì không được Công Chánh chấp thuận cho phép. Lúc làm thầu xây cất, Ngài có lãnh xây cất một hàng rào của một Đại Sứ Mỹ nơi đảo Madagascar. Ngài vẽ họa đồ rất đẹp, xây dựng chắc chắn làm Đại Sứ Mỹ vừa ý. Ngày khánh thành hàng rào, Đại Sứ muốn tạ ơn Ngài bằng một tiệc có sự tham dự của tất cả các Đại Sứ Quán ngoại quốc của các nước. Ông dặn Đức Ngài hãy đến sau vài phút để làm danh dự cho Ngài. Máy bay trực thăng từ từ hạ cánh có mấy mươi chiếc, không biết xuất phát từ đâu, mỗi máy bay là Đại sứ của một nước, cờ xí rợp trời. Họ đến trước làm hàng rào danh dự. Ngài bước vào có trống kèn chào mừng. Cả thảy đều bắt tay chào vị "Giáo Hoàng bị đày" Nhờ sự giới thiệu của Đại Sứ Mỹ. Giữa tiệc các Đại Sứ yêu cầu Ngài thuyết Đạo, nói mục đích của Cao Đài giáo.

Đức Ngài thuyết thao thao bất tuyệt, các Đại Sứ vỗ tay tán thưởng: Ngài thuyết bằng Pháp ngữ. Ông Đại Sứ Mỹ đem một bản văn đánh máy sẵn nhờ đại diện các quốc gia ký vào. Đó là họ nhận bảo vệ Đền-Thánh Tây-Ninh dầu Quốc Gia hay Cộng Sản không nước nào được quyền chiếm đóng và quấy phá Đền thờ của Thượng Đế. Ấy vậy, thiên trách bảo vệ Tổ Đình, dầu Ngài ở phương trời diệu vợi Ngài vẫn làm tròn sứ mạng. Sau nầy khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm khủng bố Đạo, Ngài nói với mấy vị thân tín rằng: "Coi vậy nó không làm hại Tòa Thánh đâu các con coi, vì luật Quốc tế nó đã biết, nó không dám phạm, các con đừng lo".

8- XÂY ĐẬP NƯỚC: Ngài quan sát thấy dân chúng lấy nước rất vất vả, xa nhà, phải đội về nhà rất khó nhọc. Ngài lên núi tìm hồ chứa nước đặng làm một cái đập "dẫn thủy nhập điền". Ngài thấy có một công trình dang dở, Ngài phăn hỏi thì ông Toàn Quyền trên đảo đáp: "Công trình đã được thực hiện bởi kỹ sư Pháp, rồi kỹ sư Đức đều thất bại vì sức nước mạnh quá làm vỡ hết, nhiều lần cất đập không được". Ngài quan sát thấy nếu cất một hồ nước lớn không thể chịu nỗi vì sức nước đổ từ thác rất mạnh. Ngài đề nghị xây cất 4 cái hồ:

- Một hồ tắm cho trẻ em.
- Một hồ tắm cho đàn bà.
- Một hồ tắm cho đàn ông.
- Một hồ chứa nước lớn.

Ngài mới làm đập cản nước, nhờ vậy sức nước yếu đi không làm bể đập.Vật liệu cũ vẫn còn, chỉ thiếu hơn 1.000 mét ống cống. Ông Toàn Quyền ban đầu từ chối công trình vì lúc ấy chánh quốc không ủng hộ tài chánh, trên đảo không đủ công quĩ tạo tác. Đức Ngài nói: "Tôi xuất của tư tôi ra, cộng với tiền các mạnh thường quân địa phương có thiện ý sẽ làm được". Được sự chấp thuận của Toàn Quyền, Đức Ngài khởi xây cất ống cống rồi làm hồ tắm như dự định: Một hồ cho trẻ em, Một hồ cho đàn bà, Một hồ cho đàn ông.

Còn một hồ chứa lớn, chứa nhiều khối nước. Công thợ bắt đầu đào đất, đặt ống cống dài theo họa đồ đã vẽ sẵn. Cuối cùng công việc cũng hoàn tất và định ngày khánh thành. Dân chúng tề tựu tại đập nước rất đông, có chính phủ Pháp tham dự. Quần chúng đứng dài theo đường mà cống xuyên qua. Đông nhứt là tại miệng mà nước chảy ra. Đến giờ mở vòi, nước chảy ào ào, phún tung tóe, dân chúng thích quá đồng loạt la lên: "Vive Monsieur TẮC; Vive Monsieur TẮC" (Vạn tuế ông Tắc! Vạn tuế ông tắc!).

Lúc nầy Đức Ngài cảm thấy sung sướng, cảm động vì đã giúp được dân Malgache một đại công, chẳng những họ có nước uống, họ còn trồng tỉa hoa màu, lúa thóc, nhờ cái đập nầy tháo nước ra.

9- MỞ TRƯỜNG HỌC: Mỗi cơ sở mà Đức Hộ Pháp đào tạo như lò gạch, lò vôi, đập nước…Ngài còn lập gần đó một trường Tiểu học dạy từ Enfantin đến Élementaire (Hồi xưa thời Pháp thuộc thì từ lớp 5 đến lớp 3 rồi lên lớp nhất là Supérieur nay thì khác) để khai hóa dân trí Malgache. Chương trình dạy tiếng địa phương và tiếng Pháp. Mục đích của thực dân Pháp để cho dân ngu dốt mới dễ trị, để cho dân nghèo khó họ mới câu nhữ những kẻ thân họ mà phục vụ làm nô lệ lâu dài. Khi Đức Hộ Pháp đặt chân lên Đảo, Ngài nghĩ ngay đến người Việt Nam bị trị, lòng từ bi của Ngài xem người Malgache như đồng chủng của mình, cần khai hóa họ, cần mở mang trí tuệ họ, họ cũng là con cái Đức Chí Tôn, chung thọ điểm linh quang của Đấng cha lành cần giúp đỡ mọi mặt, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho họ được hấp thụ nền văn minh Đạo đức, người tận thiện, vật tận mỹ. Vì thế nhân dân Malgache xem Ngài như một vị cứu tinh, tín nhiệm Ngài như một cha lành, rất kính mến Ngài.

10- MỞ HUỆ KHIẾU CHO ĐẠO SĨ: Có một Đạo Sĩ địa phương học với một sư phụ về phép tu hành, nhưng sư phụ nói: "Nhà ngươi chờ có một vị Phật đến sẽ truyền Pháp cho nhà ngươi đoạt Pháp, chớ ta chỉ dẫn đến đây thôi". Đạo Sĩ là một tư chức, tốt nghiệp Cử Nhân Luật. Một hôm Ngài đi dạo, tay cầm can, không hiểu sao đi tới đi lui trước nhà Đạo Sĩ ba bận. Đạo Sĩ ra chào và mời vào nhà trà nước, rồi quì xuống xin truyền Pháp. Ngài hẹn ba hôm nữa sẽ trở lại. Ngài xuất Thần về Ngọc Hư Cung xin phép Đức Chí Tôn và Đức Lý được sự chấp thuận nên đúng hẹn Ngài đến nhà Đạo Sĩ Cân Thần, mở huyền quang khiếu. Đạo Sĩ đoạt Đạo, vân du thiên ngoại được, bái phục Ngài tột độ, tự xưng là đệ tử và kỉnh Ngài là Thầy. Về mặt Đạo đức tinh thần Ngài vẫn làm chủ của đảo Madagascar vì nhờ vị Sư Tổ địa phương đã biết giá trị của Ngài là một vị Phật sống.

11-THÂU THÊM ĐỆ TỬ TRÍ THỨC: Có một cô gái nhà giàu du học ở Paris Pháp, đến năm thứ hai của trường Đại học Luật Khoa, nằm mộng thấy vị Thần bảo: "Phật ở xứ không thờ lại đi tìm đâu xa mà lập thân". Đương nhiên cô bỏ học về, bị cha mẹ anh em trích điểm. Cô không cải cứ đi tìm Phật, dường như có căn nguyên nên khiến cô gặp được Đức Ngài và thọ giáo làm môn đệ Cao Đài đầu tiên ở Madagascar. Nhờ vậy mà ông thầu khoán bất đắc dĩ lại có một cô thư ký giúp việc đắc lực. (Rất tiếc người thuật lại không nhớ tên Đạo Sĩ cũng như người tín đồ trí thức).

12- GẶP LÍNH PHÁP HỒI: Anh em tình nguyện tùng chinh đi lính Pháp đánh Đức, có một tốp được đưa qua Madagascar. Đức Ngài nhớ các tín đồ đi lính, họ cũng nhớ Đức Ngài mà đâu tưởng bao giờ có ngày hội ngộ, nhưng trong số được đưa lên Đảo, phần nhiều là người miền Trung, người Bắc, còn người miền Nam chỉ có 13 người. Một người Trung Kỳ nói: "Ê tụi Sài Gòn bây có quen với ông già chống gậy đằng kia không? Ông cũng người Nam, đâu lại nhìn coi có bà con không?" Anh Tám Quận lại gặp, Ngài hỏi thăm. Ngài hỏi: "Em ở đâu? Đi lính hồi nào? do Pháp bắt hay tình nguyện?". Anh Quận nói: "Tôi là tín đồ Cao Đài vâng lịnh Đức Giáo Chủ tình nguyện đi đánh Đức.

- Ngài hỏi: "Cao Đài nào?"

- Cao Đài Tây Ninh.

- Tây Ninh thiệt không?

- Dạ thật.

- Ngài hỏi: "Con biết Đức Giáo Chủ không?"

- Dạ con mới nhập môn nên không biết mặt.

- Ngài ôm anh, vỗ ngực mà nói rằng: "Thầy đây con (rồi òa khóc) con đi mấy đứa? kêu chúng nó lại cho Thầy thăm."

Anh Quận mừng quá chạy về trại lính cho anh em hay lại chào Thầy.

Có ba người gặp trước là các anh: Tám Quận, Chín Tháo và Mười Phụ; thấy dáng Thầy thì Tháo và Phụ chạy riết lại không chào hỏi, mỗi người ôm một giò nhấc bổng Thầy lên cao; muốn kêu Thầy mà kêu không ra tiếng, cảnh quấn quít thầy trò tương ngộ nó đậm đà trong yên lặng, nó thâm trầm, nó thiêng liêng không bút mực nào tả cho cạn lý được.

Bốn thầy trò quấn quít nhau trong giây lâu, Thầy mới trấn tĩnh nói: "Con kêu hết mấy đứa khác cho Thầy thăm, còn bao nhiêu nữa?".

Tám Quận nói: "Chúng con có 13 đứa Cao Đài".

Thầy hối kêu lại, sự mừng rỡ không kể xiết.

1.Chánh Trị Sự Tháo 2.Thôi 3.Phu
4.Dương 5.Quận 6.Ái 7.Lăng 8.Lễ 9.Hoài
10.Lợi 11.Lên 12.Thông Sự Én 13.Lân

Thầy dắt anh em lại nhà Thầy ở, giới thiệu với bà Đầm chủ nhà là vợ ông Quan Tư Desange Thiếu Tá có nhiệm vụ đưa Ngài về Việt Nam, bà cũng mừng. Anh em mời Thầy đãi một tiệc, Thầy trò trút hết bầu tâm sự. Thầy mời các chiến sĩ, đãi tại nhà Bà Đầm vì chính bà cũng có ý mời các anh em. Hân hạnh thay! Tưởng rằng kẻ hy sinh luôn luôn bị thiệt thòi vì chánh nghĩa, nhưng có những phút an ủi tâm hồn mà không ai dự tính trước được nó đã diễn biến như vậy.

13- GIỜ LY BIỆT HAY GIỜ HẠNH PHÚC?

Bị đày 5 năm 2 tháng. Ngài khổ tâm không biết nền Đạo ở nhà, có lẽ nó hư nát thì thiên trách của Ngài không trọn vẹn. Bỗng dưng, khi nghe đài phát thanh tuyên bố: "Nhựt Bổn đảo chánh Pháp tại Việt Nam, Đại Biểu Trần Quang Vinh Lập nội ứng nghĩa binh, giữ gìn trật tự tại thủ đô Sài Gòn. Cao Đài được tự do hành Đạo".

Không có gì sung sướng bằng ngày 09-03-1945, Pháp đổi thái độ sắp đem Ngài và các Chức Sắc tháp tùng về nước. Ngài từ giã chánh quyền Pháp, các trí thức Malgache, dân chúng Malgache họ đưa Ngài mà lệ đổ chứa chan vì cảm tình sâu đậm. Tại nhà ga, hết người nầy vẫy tay, tới người kia hôn mặt, hôn tay, hôn chân, kẻ liệng nón, người cởi áo liệng lên xe lửa để tỏ tình trìu mến. Còi súp lê 1, 2 rồi 3 mà dân chúng chưa chịu buông Ngài ra. Cảnh sát phải đến can thiệp mới giải tỏa được. Tàu hỏa từ từ lăn bánh, một tiếng hô vang: "Vive Monsieur Tắc! Vive Monsieur Tắc!" văng vẳng rồi nhỏ dần, nhỏ dần… Xe lửa đến bến tàu tại Post Tamatave Ngài gặp lại 13 chiến sĩ Pháp Hồi cùng về một chuyến tàu "Ile de France".

Khi đến Vũng Tàu Việt Nam ông Thiếu Tá Déjanges có nhiệm vụ đưa Ngài về nói: "Giá trị của ông Tắc có thể định bằng số vàng mà thân hình ông cân được". Thật là một lời nói có ý nghĩa của một nhà trí thức Pháp.

14- VỀ TÒA THÁNH TÂY NINH: Ngày mùng 4-8-Bính Tuất (dl. 30-8-1946) Đức Hộ Pháp được tiếp rước long trọng tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ngài Giáo Sư Đại Biểu Trần Quang Vinh có đọc một bài Diễn văn như sau:

Kính thưa Đức Hộ Pháp

Sau năm năm phiêu lưu nơi Hải ngoại vì chủ nghĩa thương đời, ngày nay một ngày đáng kể vào sử Đạo. Ngài đã để chơn về Tổ Đình, Tiểu chức xin thay mặt cho Hội Thánh Cửu Trùng Đài và toàn Đạo nam nữ để tỏ ít lời chúc tụng mừng rỡ Ngài. Luôn dịp để dâng cho Ngài ý nguyện chung của toàn sanh chúng, nhứt là trong buổi mặt đời biến đổi, tình thế phân vân do cuộc tang thương hiện tại.

Kính Ngài: Tiếng nói của tâm hồn nó có thật chăng là khi trí não nó kích thích một cách quá ư mạnh mẽ do sự biến động của cơ hữu hình hay là nói trái lại khi xác thịt phải chịu nhọc nhằn quá lẽ trong cảnh điêu linh sầu khổ: Về mặt Đạo, cái khổ ấy lại là phần hơn, bởi thế từ khi vắng mặt Ngài, trong Đạo không một ai là không buồn thảm. Bất luận già, trẻ, lớn, nhỏ, nam, nữ khi gặp nhau nhắc nhở đến Ngài và các bạn xa quê thì trên khuôn mặt âu sầu đôi giòng lệ nhìn nhau từ từ rơi xuống khóe miệng để thế cho lời nói…Điểm tô thêm thảm trạng ấy, cảnh Đạo điệu linh, kẻ còn, người mất. Nhưng đó là ngày đã qua. Chiếc thuyền từ của Đức Phật Thích Ca há chẳng phao tuông trên bể khổ chứa đầy nước mắt mới độ đặng chúng sanh? Nhìn đặng tận mặt Ngài nơi đây, Tiểu chức tưởng tượng dường như thấy đặng chiếc Bình-Bát-Vu của Đức Thích Ca trôi ngược dòng nước Maha một cách huyền linh rực rỡ, khi người đã lập thành Đạo Phật. Vậy tiểu chức xin dâng Ngài đóa hoa tươi nở nầy, nó là biểu hiện cho cả triệu quả tim của con cái của Đức Chí Tôn cùng đang tươi nở cõi lòng để hiến cho Ngài mối tình thân ái yêu thương vô giá của Đức Chí Tôn đã đào tạo trong bao nhiêu năm khổ hạnh.

Kính Ngài, Cái vui mừng của toàn Đạo đối với Ngài tràn trề. Nương dựa nơi sự mừng vui ấy là một tiếng kêu đau thương tha thiết của tâm linh. Nó làm cho chúng tôi ái ngại, xốn xang. Đó là tiếng kêu đau thảm của mặt đời vì hoàn cảnh hiện tại ấy, tiếng kêu đau thương ấy có khi đã làm cho lay động lòng Ngài giữa trời Nam. Ước mong rằng chiếc thuyền từ của Ngài sẽ vẹt lối nguy nan làm cho nhơn sanh bớt khổ thì Hội Thánh Cửu Trùng Đài và cả nam nữ nguyện đồng tâm hiệp lực cùng Ngài, theo Ngài từng bước một đặng đoạt mục đích cao thượng của Đạo là:

"Cỗi thân làm mảnh áo tơi,
"Che mưa đỡ nắng cho đời nguy nan."

Thì dầu phải quên vết thương lòng chúng tôi nguyện không hề thối bước.

Trần Quang Vinh

15- CỨU NHỮNG NHÀ YÊU NƯỚC MALGACHE:

Một hôm Ngài đọc báo ngoại quốc thấy những nhà cách mạng Malgache bị chánh phủ Pháp xử tử hình. Ngài viết thơ chính thức can thiệp với Tổng Thống Pháp yêu cầu khoan hồng cho họ. Vụ nầy họ được giảm án tử hình xuống chung thân khổ sai (về chánh trị nếu có một sự đổi thay chế độ họ có thể được trả tự do dễ dàng). Đó là tình cảm của Đức Ngài đối với người Malgache ở bên trời Phi.

3- THÁNH GIÁO ở Đảo Madagascar:

Phò Loan: Hộ Pháp, Sĩ Tải Hiển

TIÊU DIÊU ĐẠO SĨ

                        THI

Lược chiến từng quen đã bấy lâu,
Thiên cơ đã rõ máy cao sâu.
Dằn lòng nhẫn nại chờ đôi lúc,
Sẽ thấy khuôn linh phép nhiệm mầu.

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên Phong, có Đức Nhàn Âm Đạo đến để Bần Tăng đi triệu Thần Hoàng Bổn Cảnh đến giữ cơ.

NHÀN ÂM ĐẠO SĨ

Cười, Bần Tăng lấy làm cảm xúc cho chư vị dường nầy, hận giống dã man tàn ác. Đương nhiên Trung Huê chia làm Tam Quốc Trung Quân tức là Nam Kinh đó vậy, nơi ấy cả hang ổ Việt kiều, thời cuộc Á Đông sẽ kết cuộc do nơi đó.

                        Thi:

Quá hải đòi phen đến viếng nhau,
Ngặt không Cơ Bút để lời giao.
An nhàn đôi thuở triều linh địa,
Chuyển thế gặp hồi phải múa đao.
Cõi Á đã gầy thành chúng quốc.
Phương Âu kẻ diệt tận Nô-lao.
Lửa hương đất Việt dầu nhen nhúm,
Nhờ đám Trung Quân ở nước Tàu.

NẶC DANH

Chào Thiên Tôn, chào chư vị Đại Thiên Phong. Trong cảnh buồn nầy, có người quen đến viếng thường cũng nên cho là hậu tình đó chứ.

- Đức Hộ Pháp: Xin cho biết tên.

- Chẳng cần biết tên mà làm gì, thà để gần gũi nhau hay hơn. Vậy trước khi từ bút, thiếp xin để lại một bài thi làm của:

                        Thi:

Nô Si Lao tiếng đặt buồn cười! (1)
Mi đã rước ai hỡi hỡi ngươi?
Lượng thảm bủa gành tình ột ạt,
Gió sầu xô đảnh ái tơi bời.
"Yêu phu điểu" gọi thương cành sớm (2)
Giọng Ngạn Uyên khêu nhớ buổi mơi (3)
Tổ quốc đon đường bao dặm thẳng?
Thưa! xa thăm thẳm một phương trời.

Xin giải thích:

(1) "Nô-Si-Lao" là tên chỗ Đức Ngài bị đày, tiếng Pháp gọi Nosilava, chữ Nô là nô lệ, chữ Lao là lao tù; cái tên chỗ giam Ngài nó mỉa-mai làm sao đâu. Ngươi có biết ngươi đã rước một vị Phật chăng?

(2) Sáng sớm có con chim, tiếng địa phương kêu là "Yêu Phu Điểu" nó kêu dường như: "Trả chí chàng, trả chí chàng". Còn trong buổi sớm mai có con quốc nó gọi hồn nước của kẻ yêu giang san nhưng bị thất vận.

(3) Ngạn Uyên hay Đỗ Vũ có tích là ông vua Thục Đế thất quốc, quá buồn nên chết làm con Quốc. Ngài muốn biết Tổ Quốc chừng nào được thanh bình an lạc thì tôi xin thưa còn xa xăm thăm thẳm, vì nghiệt oan của dân tộc Việt Nam quá nhiều, phải vay trả cho hết rồi mới hưởng hồng ân của Chí Tôn được.

 

TIÊU DIÊU ĐẠO SĨ

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên Phong.

Đức Lý Giáo Tông nhận rằng: Trong hai tháng nữa người sẽ đến dạy việc Đạo… Có Đức Tôn Sơn đến. Cười…Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có nhắn lời rằng: Jersey Afrique cũng như Jersey Anglais vậy chớ.

Bần Tăng đố ai đánh "cu di" nầy trúng thì Bần Tăng biểu Uông Tinh Vệ nhường Nam Kinh cho về đó mà ở.

- Đức Hộ Pháp hỏi:…………

- Đây lấy Tàu mà noi Đạo. Tội nghiệp cho Tưởng Giới Thạch, khi đặng thống nhứt rồi để cho Nhựt Mỹ đánh ghen mới có đồ mưu nội loạn theo kế hoạch đôi đàng, ai chiếm đặng tâm Tàu, chừng ấy cõi Đông Dương mới mong đoạt quyền vi chủ. Ôi! cảnh tượng ấy ai lại chẳng ham, chẳng khác nào kẻ nghèo đi cưới vợ Phú hộ.

- Đức Hộ Pháp và chư vị Thiên phong hỏi:…

- Nhưng Tàu là thuyền quyên băng tuyết kia mới định phận lẽ nào nói thử?

Bởi vậy Hiền hữu như một gái lấy hai chồng nếu ở gần thì bị dụ dỗ, cũng nên xách gói mà ra đi, đợi hai anh hùng tranh đấu, ai đoạt đặng phao cầu, chừng ấy mới định duyên tơ tóc. Bởi vậy Chí Tôn dắt chư Hiền hữu đi đây cũng như dục gái trốn mau.

- Đức Hộ Pháp: ở đâu mau?

- Như bên trai xong thì về mau, bằng không thì cứ ở thế mà!

TÁI CẦU:

Chatel sẽ có đảm nhiệm lớn lao nơi Đông Dương không phải như lời của chư Hiền hữu để hận, cốt yếu Langsa, nhứt là Decoux đem chư vị đi nơi xa cầm sanh mạng đặng toàn Đạo chẳng dám phản loạn rồi thừa kế Đức (?) vào tay phái phục hoàng để làm nha hảo. Rồi đây kế ấy tác thành vì Decoux đã cho tin tức trong đảng phái ấy hay rồi. Nhưng Thiên ý Chí Tôn lại khác, xin chư vị cứ chờ đợi sẽ thấy. (Thăng.)

TIÊU DIÊU ĐẠO SĨ

Từ ngày chư vị mông trần nơi đây, Bần Tăng lấy nơi nầy làm căn cứ đặng dễ bề gần gũi. Bần Tăng may duyên gặp đặng Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gabron nơi Cung Lập Khuyết, người có hứa đến hội hiệp cùng chư vị, nhưng mắc bận việc nên chẳng định ngày, đợi đôi tháng nữa Bần Tăng sẽ đi rước. (Thăng)

NẶC DANH

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên Phong. Thiếp vì có mạng lịnh đến đây làm bạn bút nghiên trong lúc chư vị đặng mạng lịnh Chí Tôn cho ngồi nghỉ nơi đây. Chí Tôn than rằng: Chức Sắc Thiên Phong bên Cửu Trùng Đài thiếu hùng biện văn tài đặng làm tay qui phục sanh chúng, vì cớ ấy mà triết lý Đạo khó phổ thông cho toàn thiên hạ. Nhưng Chí Tôn nhứt định trao chơn truyền cho mấy vị đây mà thôi. Thiếp xin trích thi văn đặng dìu bước chư vị Thiên Phong vào khuôn viên đoạt thành khẩu khí, rồi lần lượt dẫn vào luật tân của Ngô Thường Quân là cháu hai đời của Ngô Tôn Sách sau cầu phong lên làm Phong Hầu, nên gọi là Tân Luật.

Tái Cầu:

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên Phong.

Vì có mạng lịnh nên Thiếp xin phép cho Thiếp thổ lộ đôi điều. Khi Thầy Thiếp là Vương Thất Nương về chầu và dâng sớ cho Đức Chí Tôn tỏ nỗi sự khổ hạnh nhọc nhằn của chư vị nơi đây. Đức Chí Tôn lấy làm đau đớn thương tâm, nhứt định chính mình Người đến nơi an ủi. Nhưng Lý Giáo Tông can gián, e rằng nhẹ Thiên nhan, để cho người cam lãnh phận sự ấy. Người mới cử kim hài xuống Âm quang nhủ giáo Thầy thiếp giúp sức. May thay nhờ chư vị thương yêu trìu mến, Thầy thiếp nay dạy thiếp đến làm bạn bút nghiên hầu liệu phương an ủi, nên thiếp dạy thi văn, còn về mặt thuyết minh thì để cho Thiên Tôn huấn luyện.

                        THI

Đã phong trần thế chịu phong trần,
Có thân âu phải biết thương thân.
Nam xa ví chẳng về đường khó,
Việt đảnh mong chi đoạt lửa mừng.
Nặng gánh giang san là thượng trụ,
Nhẹ đai cung kiếm ấy thường quân.
Ngũ hồ tứ hải không lưu lạc,
Mặt địa cầu ta vốn định chừng.

Nam xa: Tích là Ngô Sĩ Liên đi sứ bên Tàu, nhơn Châu Công cho một cỗ xe có để địa bàn chỉ nam, nương theo đó mà về nước. Ôi! đường đi qua núi, xuống đèo trăm bề khó nhọc nhờ vậy mà biết con đường bộ từ Nam chí Tàu, mới hành binh đuổi quân Tàu về nước. Sau lấy đặng Hoàng Triều, lập nên Quốc Pháp, nên thi sĩ đời sau cho Nam xa là việc tối khinh mà tối báu.

Việt Đảnh: là lư đảnh để thờ Hoàng Tộc, ai thâu đặng bá tánh thì bá tánh là con của Hoàng Tộc sau lập Tổ Miếu mà thờ, gọi là "Lư Hương Đảnh Việt".

                        THI

Hòn đảo nầy đây trước nhốt tù,
Mà nay làm khám khảo thầy tu.
Quả như oan nghiệt vay rồi trả,
Thì lũ Tây man Nhựt Bổn trừ.
Tiếp sau có hai câu Nho thích nôm:
Vân trọc đằng phong phi yểu yểu,
Triều tư tẩu bá khứ bôn bôn.

Thích nôm:

"Cuồn cuộn mây đưa theo ngọn gió,
"Ồn ào sóng rượt chụp khuôn thuyền."

Thăng

Đến đây là hết tài liệu về thơ văn Thánh Giáo Madagascar.

(Tài liệu Thánh Giáo Madagascar do Giáo Hữu Thượng Bội Thanh tặng. Xin tri ân ông bạn có nhiều nhiệt tình để chúng ta học Đạo).

TỔNG KẾT

Để kết luận chung về Lưu Xứ Ký Sự chúng tôi xin mượn bài Thánh Giáo của Đức Quyền Giáo Tông tỏ nổi niềm mình về sự thọ khổ của Đức Hộ Pháp và các Đại Thiên Phong nơi hải đảo.

Hộ Pháp Đường đêm 16-11 Bính Tuất (18-11-1956)

Phò Loan: Hộ Pháp, Tiếp Đạo

Thượng Trung Nhựt

Mấy em Nữ Phái

Cười… hèn lâu không gặp mấy em cũng nhớ quá!

Nè mấy em nên nhớ rằng: Sống một đời đã nhiều đau thảm với tuồng đời, mà niên cao kỷ trưởng, hỏi lại lập nghiệp tại thế có thú vị gì không?

Trong nửa kiếp sanh, đầu râu bạc trắng mà lắm thảm sầu, rốt cuộc chung hưởng điều gì nói thử?

-Giáo Sư Hương Nhiều bạch:…….

-Phải đó! đã làm tôi tớ cho đời, vô công nghiệp thì tự tin lấy tâm hồn mà tạo Thiêng Liêng vị mới không uổng kiếp sanh. Vui chi, sướng chi mà mê mẫn theo đời cho thất phận. Nghiệp vĩnh cửu không tầm, Lại ăn xin của vô giá. Mấy em nên trọn hiếu cùng Chí Tôn, trọn trung cùng Hội Thánh thì ngày chung qui anh em đặng gặp. Xin nhớ nghe!

Chuyến khảo Đạo nầy có 2 vị thiệt mạng:

1- Ông Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển.

2- Ông Giáo Sư Thái Gấm Thanh.

Trong một bài thuyết Đạo Đức Hộ Pháp gọi sự đày ải nầy là "Cuộc Trấn Thánh Phi Châu".

Cơ Đạo đang trên đà tiến triển bổng dưng ngày 4-6 nhuần Tân Tỵ (dl. 27-07-1941) Đức Hộ Pháp và 5 vị Đại Thiên Phong bị Pháp bắt rồi lưu đày sang đảo Madagascar (Phi Châu). Năm vị gồm:

1- Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, Chưởng Quản Sở Phước Thiện.

2- Ông Ngọc Trọng Thanh - Ngọc Chánh Phối Sư.

3- Ông Thái Phấn Thanh - Quyền Thái Chánh Phối Sư.

4- Ông Thái Gấm Thanh - Giáo Sư Công Viện.

5- Ông Đỗ Quang Hiển - Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài.

Dần dần 1 số Chức Sắc bị bắt thêm gồm các ông:

1- Ông Giáo Sư Thượng Đứa Thanh bị đày đi Bà Ná.

2- Hai ông Luật Sự Phan Hữu Phước và Võ Văn Nhơn bị đày ra Sơn La.

3- Chánh Trị Sự Lê Văn Ngà ở Gia Lộc Trảng Bàng bị đày ra Côn Đảo.

4- Ông Giáo Sư Thượng Sáng Thanh cũng bị đày ra Côn Đảo.

Còn nhiều Thánh Tử Đạo bị biệt tích vì sự thủ tiêu vô nhân đạo của thực dân Pháp, không thể kể hết được.

Rồi ngày qua ngày hai vị Thánh đã bỏ mình nơi Đảo vắng là hai ông Thánh Hiển và Thái Gấm Thanh. Còn Ngài Khai Pháp, ông Thái Phấn và ông Ngọc Trọng được về cùng Đức Thầy năm 1946 sau hơn 5 năm thọ khổ.

Cơ Đạo nói chung và Sở Phước Thiện nói riêng phải bị đình trệ vì sự lưu đày nầy. Đức Thầy không nề lao nhọc quyết phục hồi Quyền Vạn Linh bèn tổ chức Đại Hội Nhơn Sanh và Đại Hội Phước Thiện. Kỳ nầy là kỳ Ân xá cho nên việc cầu phong, cầu thăng được chế giảm rất nhiều, bực Lễ Sanh và Giáo Thiện được thăng chức một số đông đáng kể. Đó là Đại Hội năm Bính Tuất (1946).

Có nhân lực trong tay Đức Ngài chấn chỉnh hành chánh và Phước Thiện lại có qui củ. Cơ sở xây cất thêm, Hạnh Đường mở dạy Đạo Đức, giáo lý và phương pháp làm quan Đạo sao cho ra vẻ là Thầy của Nhơn Sanh. Từ sự xuống dốc gần như muốn tan rã, Đức Ngài dựng lên mạnh hơn cái cũ 5 năm về trước. Nếu chẳng phải Thiên Tài, Thiên Mạng thì không thể chấn hưng nền Đại Đạo một cách hùng hậu, sung mãn như vậy được. Thực ra Đức Ngài rất xứng đáng bậc thay Trời tại thế đó!

 

 

TRẤN THẦN


E: The sanctification.
F: La sanctification.

Trấn Thần là một hình thức giao trách nhiệm cho các chư Thần trấn giữ một vật gì, một nơi nào… mà người hành pháp muốn. Có nhiều hình thức Trấn thần:

1- Đức Chí-Tôn Trấn Thần: "LỊCH! Con viết một lá phù "Gíang Ma Xử" đưa nó cầm. Các con phải thanh tịnh, kể từ ngày nay diệt tận phàm tâm, chớ nhơ một điểm thì ngày ấy thề mới đặng. CƯ! Khi đem ba bộ Thiên phục đến vọng trên ba cái ngai thì con phải chấp bút bằng nhang như mọi lần, đặng Thầy trấn Thần trong ba bộ Thiên phục và ba ngai ấy, rồi mới kêu hai vị Ðầu Sư đến quì trước bửu ngai của nó, đặng Thầy vẽ phù vào mình".

2- Khi Hành pháp Trấn Thần phải do một vị Thời Quân hay một Chức sắc cao cấp bên Hiệp-Thiên Đài thực hiện. Vị nầy cầm 9 cây nhang đang cháy, vẽ bùa Trấn Thần vào vật.

Ý NGHĨA LỄ TRẤN THẦN & HÀNH PHÁP

Pháp Đạo ngày nay khi Trấn Thần hay Trấn pháp thì dùng NƯỚC TRẮNG để luyện thành NƯỚC PHÁP gọi là MA HA THUỶ. Trấn Thần là dùng phép Huyền diệu của Đức Chí Tôn ban cho để ban rải thanh điển vào một vật, khử trừ các trược điển và đưa một vị Thần đến trấn giữ, không cho tà quái xâm nhập khuấy phá. Nơi cửa Đạo, Đức Hộ Pháp trấn Thần các Dinh thự như: Trấn Thần Đền Thánh, Báo Quốc Từ, Chợ Long hoa… Trấn Thần trên vật như Áo Mão của Chức sắc… Hành pháp là trên hài cốt đối với người giữ Đạo đã qui Thiên gọi là hành phép xác; với Chức sắc gọi là hành pháp độ thăng… tất cả các Bí-pháp này chỉ có được trong buổi Đại Ân Xá của Chí-Tôn mà thôi.

Trấn Thần là một Bí pháp đặc biệt của Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn ban cho sử dụng trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, khi mà tà ma quỉ quái của khối trược quá lộng hành, làm cho khí trược bừng lên bao phủ khắp địa cầu. Trấn Thần là để đem thanh điển đẩy lui trược điển, khiến cho tà ma không thể nhập vào mà khuấy phá, đồng thời hộ trợ thanh điển cho người tu để giúp người tu bớt khỗ não và mau tiến hóa.

A- Trường hợp Trấn Thần một vật: là dùng phép huyền diệu của Đức Chí Tôn ban cho để rải thanh điển vào vật.

- Trấn Thần Thánh Tượng Thiên Nhãn: Các bức Thánh Tượng Thiên Nhãn sau khi in xong, phải được trấn Thần rồi mới phát cho bổn đạo đem về tư gia thượng lên bàn thờ. Khi cúng Đức Chí Tôn trước Thiên bàn, mọi việc cầu nguyện thì luồng tư tưởng nương theo thanh điển ấy mà đến với Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.

- Trấn Thần áo mão Chức sắc có tác dụng đưa thanh điển vào trong áo mão của Chức sắc, đẩy lui các trược điển và có một vị Thần đến trấn giữ.

- Trấn Thần Tam bửu (Hoa-Rượu-Trà) trước khi dâng cúng Đức Chí Tôn: Trong các lễ cúng Đại đàn tại Tòa Thánh, Bông- Rượu- Trà được đựng trong Tráp Tam bửu, một Chức sắc Hiệp-Thiên Đài hành pháp trấn Thần để ban rải thanh điển vào Tam bửu, hoá giải hết các trược điển làm cho Bông -Rượu- Trà hoàn toàn được trong sạch, trước khi giao cho các Lễ sĩ điện dâng vào Bát-Quái-Đài cúng Đức Chí Tôn.

B. Trường hợp Trấn Thần các pho tượng:

Trấn Thần các pho tượng là ban rải thanh điển vào các pho tượng để đẩy lùi các trược điển và kêu gọi chơn linh của vị ấy nhập vào pho tượng để thi hành phận sự về phương diện vô hình và chứng nhận các lời cầu nguyện.

Khi Đức Hộ Pháp trấn Thần bức họa Tam Thánh ký Hòa ước đặt tại Tịnh Tâm Điện Tòa Thánh, Đức Hộ Pháp cầm 9 cây nhang đang cháy hành pháp trấn Thần Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ trước, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn kế đó, và Đức Tôn Trung Sơn sau cùng. Đức Hộ Pháp nói:

"Trấn Thần ba vị Thánh rất khó, vì phải kêu chơn linh của họ đến nhập vào tượng ảnh, mà muốn cho họ đến, phải thấu đáo cả căn kiếp của họ mới đặng. Còn 9 cây nhang dùng để trấn Thần là 9 cây nhang bắc lên Cửu Trùng Thiên cho các chơn linh nương theo đó. Chẳng biết họ ở từng trời thứ mấy, mình cứ đưa lên đủ, họ gặp họ tới ngay, quan hệ là trước khi trấn Thần, phải xem lại coi có tắt cây nhang nào không. Thảng như họ ở từng trời thứ 7 mà cây nhang thứ 6 rủi tắt đi, thành ra bị cách khoảng, họ không thể tới được. Bây giờ chúng ta chỉ thông công với các Đấng trong Cửu Thiên Khai Hóa, rồi đây cũng có ngày Bần Đạo kêu lên Đức Di-Lạc ở từng trời thứ 11 chưa biết chừng, khi ấy sẽ phải dùng đến 11 cây nhang chớ không phải 9 cây nữa.... Trước tượng ảnh không có bàn thờ chi hết, vì chơn linh đã nhập vào đó như người sống vậy. Khi trấn Thần tượng Đức Phật Di Lạc, Đức Hộ Pháp nói: Đức Phật Di-Lạc đã ngự vào tượng, ngồi thị chứng cho nhơn loại thập phương thế giới day hướng về Đền Thánh mà cầu nguyện Ngài ban ân huệ cho toàn sanh chúng."

Đức Hộ Pháp trấn Thần Tòa Thánh ngày mùng 6-giêng-Đinh Hợi (dl. 27-01-1947), tượng Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung và tượng Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh, Đức Hộ Pháp nói: "Tượng Đức Quyền Giáo Tông và Bà Nữ Đầu Sư có ý nghĩa là: Nhị vị ngự thường xuyên trước Đền Thánh để tiếp rước nhơn sanh tiến bước vào đường Chánh giáo, năng lo dìu dắt con cái Chí Tôn mỗi khi vào cầu nguyện và chiêm bái Đức Chí Tôn."

Khi Đức Phạm Hộ Pháp trấn Thần hai pho tượng: Ông Thiện và Ông Ác, Ngài nói: "Đời thường lầm lạc, làm điều ác cho là thiện và thường lấy điều lành cho là ác. Nên từ đây, năng lực của Thiện Thần sẽ phô bày ra mặt đời, thế nào là chánh, việc nào là thiện, làm thế nào là phước, cho thiên hạ rõ. Còn Ác Thần thì phô bày ra mặt đời, thế nào là tà, việc nào là ác, sao gọi là tội, cho nhơn loại rõ. Hai Ông Thần nầy rất linh hiển, dùng quyền năng thiêng liêng đưa ra thiệt tướng trong hai con đường: phước và tội, siêu và đọa, sanh và tử, để cho con cái Đức Chí Tôn khỏi lầm lạc, hầu tránh khỏi con đường tự diệt. Đi vào con đường sanh thì nhơn loại mới mong hoà bình được."

 

 

TRẤN THẦN ĐỀN THÁNH

 

Lễ Trấn Thần Tòa Thánh

Trấn Thần Thiên Nhãn trước Phi Tưởng Đài

Trấn Thần tượng Đức Phật Di-Lạc

Trấn Thần Tượng Đức Quyền Giáo Tông và Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Trấn Thần hai vị Thiện Thần và Ác Thần

Trấn Thần cây Cân Công Bình

Trấn Thần con Long Mã

Trấn Thần tượng Tam Thế Phật

Trấn Thần tám con Kim Mao Hẩu

Trấn Thần 23 Thiên Nhãn bên ngoài Đền

Trấn Thần bên trong Đền

Trở xuống, Ngài trấn Thần chữ KHÍ và Thất Đầu Xà

Trấn Thần tượng Tam Thánh

Đại cương về Tượng Tam Thánh

Nguồn gốc Tượng Tam Thánh

Trấn Thần Tượng Tam Thánh

Giải thích Ba vị Thánh

Đức Hộ Pháp trấn pháp

Trấn Pháp nơi Trí Huệ-Cung - Thiên Hỉ Động

Trấn Thần và Ban phép lành chợ Long Hoa

_________________________________

I- Lễ Trấn Thần Tòa Thánh:

"Sớm mai ngày mùng 06 tháng Giêng năm Đinh Hợi (dl. 27-01-1947), Đức Phạm Hộ Pháp hành lễ Trấn Thần Toà Thánh và có ghi lời thuyết minh. (Lời ký chú của Chức sắc Hiệp Thiên Đài đã thừa lịnh Đức Hộ Pháp) minh tả:

Khởi đầu: Đức Hộ Pháp mặc Tiểu phục, dạy Thừa Sử Huỳnh Hữu Lợi, Truyền-Trạng Phạm-Ngọc-Trấn và các Chức sắc có trách nhiệm đồng theo Ngài đến Báo-Ân-Từ triều bái Đức Chí-Tôn xong (vì Quả Càn Khôn còn thờ nơi Báo Ân Từ), Ngài dùng nước Âm Dương cúng thời Mẹo hành pháp, xin Cam Lồ Thủy và một nhành dương giao cho Thừa Sử Lợi.

Đức Hộ Pháp lấy ba bó hương, hành pháp xong, Ngài giao cho Truyền Trạng Trấn. Trước tiên:

1-Trấn Thần Thiên Nhãn trước Phi Tưởng Đài:

Đức Ngài ra đi thẳng lại Đền Thánh lúc 9 giờ 28 phút. Ngài đứng trước Đền-Thánh, ngó ngay Thiên Nhãn trước Phi Tưởng Đài rải Cam Lồ Thủy và cầm bó hương hành pháp Trấn Thần.

Ý nghĩa là: "Từ đây, Đức Chí Tôn hằng để mắt dìu dẫn con cái của Ngài và mong mỏi được vui thấy con cái của Ngài về chầu Ngài nơi Bạch Ngọc Kinh, sau khi làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng của Ngài phú thác."

2-Trấn Thần tượng Đức Phật Di-Lạc:

Đoạn tiếp hành pháp Trấn Thần như thế lần lượt đến tượng Đức Phật Di-Lạc trên nóc Phi Tưởng Đài. Đức Hộ Pháp nói: "Đức Phật Di-Lạc đã ngự vào tượng, ngồi thị chứng cho nhơn loại thập phương thế giới day hướng về Đền Thánh mà cầu nguyện Ngài ban ân huệ cho toàn sanh chúng."

3-Trấn Thần Tượng Đức Quyền Giáo Tông và Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Với ý nghĩa là: "Nhị vị ngự thường xuyên trước Đền Thánh để tiếp rước nhơn sanh tiến bước vào đường Chánh giáo, năng lo dìu dắt con cái Chí-Tôn mỗi khi vào Cầu nguyện và chiêm bái Đức Chí-Tôn".

4-Trấn Thần hai vị Thiện Thần và Ác Thần:

Pho tượng hai vị Thiện Thần và Ác Thần đặt hai bên mặt tiền Đền Thánh Toà Thánh Tây Ninh, ở cấp hạ của Tịnh Tâm Đài. Đức Phạm Hộ Pháp nói: "Đời thường lầm lạc, làm điều ác cho là thiện và thường lấy điều lành cho là ác. Nên từ đây, năng lực của Thiện Thần sẽ phô bày ra mặt đời, thế nào là chánh, việc nào là thiện, làm thế nào là phước cho thiên hạ rõ. Còn Ác Thần thì phô bày ra mặt đời, thế nào là tà, việc nào là ác, sao gọi là tội, cho nhơn loại rõ. Hai Ông Thần nầy rất linh hiển, dùng quyền năng thiêng liêng đưa ra thiệt tướng trong hai con đường: Phước và Tội, Siêu và Đọa, Sanh và Tử để cho con cái Đức Chí Tôn khỏi lầm lạc, hầu tránh khỏi con đường tự diệt. Đi vào con đường sanh, thì nhơn loại mới mong hòa bình".

5-Trấn Thần cây Cân Công Bình:

Đức Hộ Pháp vào cửa Đền Thánh, đứng ngay ngó vào Tịnh Tâm Điện, Trấn Thần cái Cân trên ngưỡng cửa. Ngài nói: "Từ đây, cái Cân Công Bình thiêng liêng của Đức Chí Tôn đã biến tướng thiệt hiện ở thế gian nầy để phân công chiết tội mà định phẩm vị Tòa sen cho toàn con cái của Ngài".

6-Trấn Thần con Long Mã:

Đức Hộ Pháp sang bên Nam, phía tả Đền Thánh, ngang Cửu Trùng Đài đúng 12 bước thẳng, trấn Thần con Long Mã. Ngài giải: "Long Mã tượng trưng Đạo là cơ sanh hóa vạn vật, trên lưng nó có bộ Bát Quái Đồ Thơ và cây Bửu kiếm, nên có câu "Long Mã phụ Hà đồ". Ý nghĩa: Đạo xuất từ Đông, đem từ Đông sang Tây cứu vớt chúng sanh, đem Vạn linh trở về nơi sanh hóa, tránh cơ tự diệt, nên hình Long Mã chạy về Tây mà đầu ngó ngoéo về Đông. (Sau nầy Đức Ngài sẽ giải thêm hay là nhờ các bậc uyên thâm đạo đức giải rõ)

7-Trấn Thần tượng Tam Thế Phật:

Đức Hộ Pháp đến Bát-Quái-Đài, ngó lên trên, trấn Thần pho tượng Tam Thế Phật (Tam Thanh).

- Brahma Phật đứng trên lưng con Thiên nga (Ngỗng trời) ngó tới (ngó hướng Tây), ấy là ngôi thứ nhứt, tượng trưng ngôi Thánh đức, thuộc về Cơ Sanh hóa, ấy là Đấng tự hữu hằng hữu, hữu nguyên hữu thỉ của vạn vật.

- Đức Phật Civa đứng trên Thất đầu Xà (rắn bảy đầu) ngó qua phía chánh Bắc, ấy là ngôi thứ hai tượng trưng phần Âm Dương: Cơ Sanh cũng là cơ Cơ Diệt, ấy là ngôi Bảo tồn.

- Đức Phật Christna đứng trên con Giao long (Cá hóa rồng) ngó về phía chánh Nam ấy là ngôi thứ ba, tượng trưng cuộc tuần hoàn, tiên tri cho nhơn loại biết việc trí xảo thuộc Cơ tranh đấu, cũng là cuối Hạ nguơn, khởi Thượng nguơn Tứ Chuyển.

8-Trấn Thần tám con Kim Mao Hẩu:

Đức Hộ Pháp trấn Thần hai con Kim Mao Hẩu ở hai bên nấc thang bên hữu Đền Thánh, rồi Ngài vào Cửu Trùng Đài sang qua bên tả Đền Thánh trấn Thần hai con Kim Mao Hẩu ở nấc thang luôn. Giải rằng: Con Kim Mao Hẩu rất mạnh và khỏe, tượng trưng cái năng lực tinh thần người tu, nhờ nó mà qua các từng Trời và về cùng Thầy. Ngày nay, Đền Thánh cất xong, Đức Chí Tôn cho tám con Kim Mao Hẩu xuống trần để trấn Cửu Trùng Đài và Bát Quái Đài tại thế, là không cho ai dùng bạo quyền nào mà chạm đến nó vậy.

9-Trấn Thần 23 Thiên Nhãn bên ngoài Đền:

Đức Hộ Pháp vào bên tả Cửu Trùng Đài, trấn Thần Thiên Nhãn xung quanh Tổ đình, khởi từ giữa xuống đến Bát Quái-Đài, rồi sang qua bên hữu, hết thảy là 23 Thiên Nhãn ngó ra ngoài hành lang.

10-Trấn Thần bên trong Đền: Rồi Đức Ngài trở vào trong cửa bên hữu Cửu Trùng Đài, trấn Thần tượng Tam giáo Ngũ Chi, sang bên hữu trấn Thần tượng Bát Tiên: Hớn Chung Ly, Trương Quả Lão, Tào Quốc Cựu, Lý Thiết Quả, Hàn Tương Tử, Lữ Đồng Tân, Hà Tiên Cô, Lam Thể Hòa. Sang bên tả Đức Hộ Pháp trấn Thần Thất Thánh: Lý Tịnh, Vi Hộ, Dương Tiễn, Lôi Chấn Tử, Na Tra, Kim Tra, Mộc Tra.

11-12- Trở xuống, Ngài trấn Thần chữ KHÍ và Thất Đầu Xà:. Nơi Ngai của Đức Hộ Pháp ngự có một con rắn Thần 7 đầu, quấn vào thân dưới của Ngai, ngóc lên sau lưng 3 đầu, cúi xuống 4 đầu, cái mình quấn ngôi Thượng Phẩm, cái đuôi quấn ngôi Thượng Sanh. Rắn Thần 7 đầu tượng trưng con người có Thất tình: 3 đầu rắn ngó lên sau lưng Hộ Pháp có chữ: HỈ, ÁI, LẠC. Người tu nên luyện tập nâng đỡ 3 tình này tức là Mừng, Vui, Thương. Còn 4 tình: AI, NỘ, Ố, DỤC (buồn, giận, ghét, muốn) thì đè nén xuống, đừng cho ngóc lên.

II- Trấn Thần tượng Tam Thánh:

1-Đại cương về Tượng Tam Thánh:

Bức hình "Truyên ký Tượng Tam Thánh" đặt tại Tịnh Tâm-Đài thuộc phạm vi Hiệp-Thiên Đài của Đền Thánh Toà Thánh Tây Ninh. Bên cạnh bức Tượng Tam Thánh, có tấm bia để giải thích về bức tranh:

- Cụ NGUYỄN BỈNH KHIÊM: Nhà tiên tri danh tiếng lớn ở đời Mạt Lê, thi đậu Trạng Nguyên, tước vị là Trình Quốc Công, tục gọi là Trạng-Trình, giáng cơ tự xưng là Thanh Sơn Đạo Sĩ, tức là Sư Phó của Bạch Vân Động.

- Cụ VICTOR HUGO: Một Thi gia trứ danh của Pháp quốc, giáng cơ tự xưng là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức là Đệ tử của Cụ Nguyễn-Bĩnh-Khiêm ở Bạch-Vân Động.

- Cụ TÔN DẬT TIÊN: Đại-Cách-mạng-gia nước Trung Hoa, nhũ danh là Tôn-Văn, giáng cơ tự xưng là Trung Sơn Chơn Nhơn, tức là Đệ tử Cụ Nguyễn-Bĩnh Khiêm ở Bạch Vân Động. Ba vị Thánh-nhơn trên đây là Thiên-sứ đắc lịnh làm Hướng đạo cho nhơn loại để thực hành Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước".

2-Nguồn gốc Tượng Tam Thánh:

Bức tượng Tam Thánh nầy do vị Hiền Tài Lê Minh Tòng vâng lịnh Đức Hộ Pháp truyền họa, khuôn khổ mỗi bề: 2m80x1m90. Hình tượng bằng người thường.

- Đức Thanh Sơn cầm bút lông thỏ viết lên 8 chữ Hán.
- Đức Nguyệt Tâm cầm bút lông ngỗng viết 4 chữ Pháp.
- Đức Tôn Sơn cầm nghiên mực dùng cho việc viết chữ.

Hai Đấng đang viết trên bia đá những chữ, như:

* 8 chữ bằng Hán văn:

Thiên thượng

-

Thiên hạ

-

Bác ái

-

Công bình

* 4 chữ bằng Pháp-văn:

DIEU et HUMANITÉ- AMOUR et JUSTICE

3-Trấn Thần Tượng Tam Thánh:

Đức Hộ Pháp nói: "Trấn Thần ba vị Thánh rất khó, vì phải kêu Chơn linh họ đến nhập vào tượng ảnh, mà muốn Chơn-linh họ đến phải thấu đáo cả căn kiếp của họ mới đặng. Còn 9 cây nhang dùng để trấn Thần là 9 cái thang bắc lên Cửu Trùng-Thiên cho các Chơn-linh nương theo đó. Chẳng biết họ ở từng Trời thứ mấy mình cứ đưa lên đủ, họ gặp họ tới ngay. Quan hệ là trước khi trấn Thần, phải xem lại coi có tắt cây nhang nào không. Thảng như họ ở từng thứ 7 mà cây nhang thứ 6 rủi tắt đi, thành ra bị cách khoảng, họ không thể tới được. Bây giờ chúng ta chỉ thông công với các Đấng trong Cửu Thiên Khai Hóa, rồi đây cũng có ngày Bần Đạo kêu lên Đức Di-Lạc ở từng thứ 11 chưa biết chừng, khi ấy sẽ phải dùng đến 11 cây nhang, chớ không phải 9 cây nữa."

4-Giải thích Ba vị Thánh: Khi Đức Hộ Pháp Trấn Thần tượng ảnh Tam Thánh xong, cả nhân viên tùng sự lui theo cửa hông trở ra, vòng ra cửa trước, đi vào Hiệp Thiên Đài, thỉnh Thánh Tượng đặt lên vách tường, ngó mặt ra trước cửa Đền-Thánh. Đức Hộ Pháp giải thích về Ba vị Thánh:

1. Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn.
2. Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ.
3. Đức Tôn Trung Sơn.

Là đại diện của Hội-Thánh Ngoại-Giáo, các Ngài là những Thiên mạng truyền giáo Ngoại quốc (Missionnaires étrangers) cho nên tượng ảnh để ở Hiệp Thiên-Đài, day mặt ra ngoài cho thiên hạ đều thấy mà hưởng ứng theo tiếng gọi Thiêng liêng của các Ngài..Cả ba vị Thánh đều mặc Cổ phục. Cái nghiên mực trên tay Đức Tôn Trung Sơn có hào quang chiếu diệu, tượng trưng sự rực rỡ của nền văn minh tối cổ Trung Hoa. Cái khuôn xi măng đúc trên vách Hiệp Thiên Đài, từ ngày tạo tác Tổ đình, là để dành ngày nay đặt tượng ảnh Tam Thánh lên đó. Trước kia, Bần đạo cũng không hiểu để làm gì, chỉ biết tạo theo lịnh của Đức Lý Giáo Tông. Ngày nay thời cuộc biến thiên, vị Hiền Tài LÊ MINH TÒNG ở Hải đảo trở về đây, Đức Lý truyền lịnh cho vẽ tượng ảnh nầy, mới hiểu rằng Đức Lý chờ người mà Ngài cần dùng đến. Trước tượng ảnh không có bàn thờ chi hết vì Chơn linh đã nhập vào đó như người sống vậy.

Kể từ ngày 10-7 Mậu-Tý (dl. 19-8-1948) tượng ảnh Tam Thánh đã đặt lên vách tường Hiệp Thiên Đài là biểu hiệu cho Chủ nghĩa Đại Đồng của Đạo Cao Đài, mở đầu một giai đoạn tiếp dẫn chúng sanh Vạn quốc vào cửa Đại Đạo, mà cũng là ngày khởi đoan sự bành trướng ngoại giáo".

Cuộc lễ bế mạc lúc 9 giờ cùng ngày."

Tòa Thánh, ngày 10-7 Mậu-Tý (dl. 19-8-1948)
Luật Sự VÕ QUANG TÂM tường thuật.

III- Đức Hộ Pháp trấn pháp:

Hành Bí pháp trong các Đàn Vía, Sóc, Vọng: khi Ngài đứng là Chuyển Pháp, Ngài ngồi là Trụ Pháp; nên khi Ngài ngồi, hai chân đạp lên hai đầu: AI (bên tả), NỘ (bên hữu); hai tay đè: DỤC (bên tả), Ố (bên hữu).

Đức Ngài nói: Khi Hộ Pháp trấn trên Thất Đầu Xà là đè nén các vật dục ở thế nầy gom lại để đời khỏi cấu xé nhau, để Mừng, Vui, Thương cho mọi người chung hưởng, để gìn giữ đạo đức, tu hành dễ dàng, nước nhà thạnh trị. E sau nầy Hộ Pháp xuất ngoại, Thượng Sanh về ngự nơi đuôi, thì tự do Thất tình lôi cuốn cấu xé lẫn nhau, không phương kềm chế. Ấy là cơ thử thách nội và ngoại…Ngày nào Hộ Pháp trấn lại trên Ngai thì mới có thể dễ dàng mọi việc cho Đời Đạo.

Quyền thiêng liêng phải vậy, đặng vay trả cho sạch oan khiên, mới đem thuần phong mỹ tục, vãn hồi hòa bình trật tự, tháng Thuấn ngày Nghiêu, trở nên thời Thượng cổ."

Còn chữ KHÍ ở sau ngai Hộ Pháp là Khí Sanh Quang của Càn Khôn Vũ Trụ. Vạn vật nhờ Khí Sanh Quang hiện tượng ra mặt thế để bảo tồn Cơ Sanh hóa hay Tấn hóa của toàn thể vạn loại, tức là hữu sanh.

Đã xong Lễ Trấn Thần, Đức Phạm Hộ Pháp đứng giữa Đền Thánh, thì cô Lễ Sanh Hương Tranh hỏi:

- Bạch Thầy, còn 23 Thiên Nhãn ngó vào trong Đền Thánh, sao Thầy không trấn Thần luôn?

Ngài dạy rằng: "Thiên Nhãn bên ngoài, thì để cho thiện nam tín nữ quì ở ngoài, khi chầu Lễ nếu chật chỗ thì ở ngoài xung quanh Đền Thánh lạy vào chiêm bái trong giờ hành Lễ. Đó cũng là nêu ra từ Đông, Tây, Nam, Bắc, dầu ven trời góc bể, nơi nào đến giờ lễ bái, day về hướng Đền Thánh lạy thì đều có Thiên Nhãn cả. Ấy là Thể pháp tượng trưng Bí pháp. Còn Thiên Nhãn ở vách ngó vô Đền Thánh, vì người đạo quì ngang, sợ ô-uế, không coi sóc cho tinh khiết được".

IV- Trấn Pháp nơi Trí Huệ-Cung - Thiên Hỉ Động:

Đức Hộ Pháp thuyết tại Đền Thánh đêm 14 tháng chạp năm Canh Dần (dl. 01-9-1950): "Ngày mai nầy Trấn Pháp Thiên Hỉ Động - Trí Huệ Cung. Bần Đạo lấy làm mừng đã làm tròn phận sự đặc biệt của Bần Đạo. Từ thử đến giờ Bần Đạo đã nhiều phen giảng giải về hình thể Đức Chí Tôn. Bần Đạo đã gánh vác về Thể pháp Cửu Trùng Đài, tạo nghiệp cho Đạo là làm giùm cho thiên hạ chớ không phải phận sự của Bần Đạo. Ngày nay là ngày vui mừng của Bần Đạo hơn hết, là Bần Đạo còn sức khỏe đầy đủ cầm Bí Pháp của Đức Chí Tôn đã giao phó, ấy là phận sự đặc biệt của Bần Đạo đó vậy. Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa nầy cốt để rước Cửu nhị ức Nguyên Nhân là bạn chí thân của Người đã bị đọa lạc nơi hồng trần không phương giải thoát, muốn rước các Bạn chí thân của Bần Đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy Pháp Giới tận độ chúng sanh. Hôm nay là ngày mở cửa Thiêng Liêng và đưa nơi tay các Đấng Nguyên Nhân ấy là một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình hai món Bí Pháp ấy là:

1- Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm để lại.

2- Kim Tiên của Bần Đạo. Hiệp với ba vòng Vô Vi, tức nhiên Diệu Quang Tam Giáo hay là hình trạng Càn Khôn Võ Trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang Khiếu của chúng ta đó vậy.

KIM TIÊN là gì? - Là tượng hình ảnh điển lực điều khiển Càn Khôn Võ Trụ mà chính nơi đó là điển lực tức nhiên là sanh lực đó vậy. Với nó mới có thể mở Đệ Bát Khiếu, trong thân thể con người có Thất Khiếu và còn có một khiếu vô hình là Huệ Quang Khiếu, vì nó là điển lực, nên nó mở Khiếu ấy mới được. Nói rõ con người có Ngũ quan hữu tướng và Lục quan vô hình mà phải nhờ cây Kim Tiên ấy mới có đủ quyền hành mở Lục quan của mình đặng.

LONG TU PHIẾN có thể vận chuyển Càn Khôn Vũ Trụ, do nguơn khí đào độn sanh ra đó vậy. Nó có quyền đào độn nguơn khí, thâu hoạch nguơn khí để trong sanh lực. Con người nắm được điều ấy là kẻ đắc Pháp, nhờ nó mới có thể luyện TINH hóa KHÍ, luyện KHÍ hóa THẦN được. Ấy là Bí Pháp trấn tại Thiên Hỉ Động Trí Huệ Cung. Toàn thể ngó thấy không có gì hết, mà trong đó có quyền pháp vô biên, vô giới. Giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó.

V- Trấn Thần và Ban phép lành chợ Long Hoa:

Long Hoa Thị, ngày 5 tháng 6 năm Tân Mão (1951)

Đức Hộ Pháp nói: "Cái cơ Chuyển thế đã đến ngày lập: hiệp nhứt Đạo Giáo, khiến toàn thể con cái Đức Chí Tôn lo quay về một mối sống dưới lá cờ NHÂN NGHĨA của Đạo Cao Đài. Ngoài thì được sự bảo vệ của Quân Đội, trong thì được sự dìu dắt của Hội Thánh, càng ngày nhơn sanh qui tụ càng đông, vì thế nguồn sanh sống càng bị bóp nghẹt, nên Bần Đạo cho lập gấp cái Chợ nầy để tạo lại một nguồn sanh sống dễ dàng cho nhơn sanh. Ngày giờ nầy, tuy là nhìn thấy cái chợ thô sơ, nhưng rồi đây nó sẽ bành trướng rộng rãi hơn, long trọng hơn mà chắc chắn con cái Đức Chí Tôn không bao giờ ngờ như thế, nhưng Bần-Đạo dám quả quyết nó phải có và nhứt định có, vì cái chợ chuyển thế và huyền diệu Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn đã định vậy."

 

 

TRẤN THỦ

鎮 守
E: To guard.
F: Garder.

Trấn: - Đè nén, giữ cho yên. - Khu vực hành chánh. Thủ: gìn giữ. Trấn thủ là gìn giữ, bảo vệ nơi quan yếu, chống lại sự xâm nhập của kẻ phá hoại.

Bát Ðạo Nghị Ðịnh:

Quan Thánh Đế Quân, chào chư vị Thiên phong Hiệp Thiên Ðài và Hương Lự Hiền muội, chư vị cứ thiết đàn, có ta trấn thủ.

 

 

TRẬN VONG CHIẾN SĨ

Trận: mặt trận hai bên đánh nhau. Vong: mất, chết. Chiến sĩ: người lính đánh trận. Trận vong chiến sĩ: Người lính chết ngoài mặt trận.

Tưởng niệm tới Lễ ấy, nên Hội-Thánh mới quyết định lập Báo Quốc Từ thờ trọn cả các Vong Linh của các Anh Hùng Chiến Sĩ, Cứu Quốc Công Thần cùng là Trận Vong Chiến Sĩ.

 

 

TRẬT TỰ PHẨM VỊ

Thầy dạy: "Các con nghe Thầy, Thầy chẳng biết vì cớ nào các con không để trí khôn ngoan mà xét đoán cho minh lý Ðạo của Thầy đã giao cho các con. Thầy hỏi từ khi tạo Thiên lập Ðịa các con có thấy những vật loại hồn tính nào Thầy đã sanh ra trên mặt địa cầu nầy mà không trật tự phẩm vị chưa vậy hử?"

 

 

TRỄ NẢI

Đức Thương Phẩm giáng: 15-7-Giáp Tuất (dl. 24-8-1934): "Trách nhậm là trách nhậm, cá nhơn là thứ chi, phải biết nguồn cội là gốc, thì mới tránh khỏi thường tình đặng. Các Ðấng thiêng liêng đã thường nói: Lợi danh thường tình là nhỏ, danh giá Ðạo là trọng. Ðãi người một bực, bất kể tên gì, chịu thiệt thòi mà làm phận sự. Trễ nải của bước Ðạo thế nầy thì Thầy có khổ tâm khai Ðạo cho chúng ta độ rỗi sanh linh đâu. Sự trễ nải là sự phàm tâm của ta, Anh cũng cần nên đoạn khổ cho người, chớ nên tạo khổ cho ai. Ðường đời là bến sông mê, thoát mê thoát khổ được, ai lại còn mang đeo thằng phược vào mình mà để cho loạn tâm mệt trí về nơi đó chẳng uổng kiếp sanh lắm ru."

 

 

TRÊU CAY NGẬM ĐẮNG

Trêu: tức là Trươu: ngậm trong miệng. Cay đắng: chữ Hán là Tân khổ, chỉ những nỗi xót xa đau khổ. Trêu cay ngậm đắng là phải chịu đựng nhiều nỗi xót xa đau khổ.

Cay đắng là hai vị khó nuốt, nghĩa bóng là những nỗi khổ trong đời luôn gặp phải nhưng cũng cam lòng gánh chịu, có khi là chuyện riêng tư, nhưng quan trọng hơn là chuyện quốc gia hoặc Đạo sự mà người có tinh thần luôn hứng chịu.

Thầy dạy: "Con đã để dạ ưu-tư về mối Đạo, đã lắm lần trêu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sồng, mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đường sau mà lần đến cảnh tự tọai thung dung tránh bớt muôn điều phiền-não. Ấy là Môn-đệ yêu dấu, khá gìn mực ấy mà đi cho cùng nẻo quanh co, cân công-quả sẽ vì phần phước mà định buổi chung qui cho mỗi đứa."

 

 

TRI ÂM

知 音
E: The intimate friend.
F: L'ami intime. Connaitre la voix.

Tri: Biết, hiểu biết, quen biết. Âm: tiếng đàn. Tri âm, nghĩa đen là nghe tiếng đàn biết được ý nghĩ của người đàn, nghĩa bóng là bạn bè thân thiết hiểu biết lòng dạ nhau.

Bài hoạ của Ông Cao-Quỳnh-Cư qua bài "Thác vì Tình" của Thất Nương Vương Thị Lễ có câu:

Rằng liễu khóc oanh có mấy ai?
Mộ người quốc-sắc Đấng thiên-tài.
Nhìn văn độ phẩm hàng khuê-các,
Xót Bạn tri-âm cõi dạ-đài.

 

 

TRI ÂN

知 恩
E: To be grateful.
F: Être reconnaissant.

Tri: Biết, hiểu biết, quen biết. Ân: ơn. Tri ân là biết ơn.

Lễ Khánh-Thành ngày 20-10-Bính Ngọ (dl. 01-12-1966), Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Người Việt chúng ta từ ngàn xưa đã sẵn chất chứa trong cõi lòng một nguồn tri ân nồng hậu đối với những nhân vật nào, dầu xa dầu gần, bất luận người bổn xứ hay khách ngoại bang, đã chơn thành hy sinh tấm thân trần cấu, giúp hộ cho quốc dân ta, tạo dựng một uy lực hùng cường trong quốc nội hay lập nên một ngôi thứ gì trong vạn chủng".

 

 

TRI CƠ

知 機
E: The sageness.
F: La sagesse.

Tri: Biết, hiểu biết, quen biết. : máy, ở đây ý nói Thiên cơ: máy Trời. Tri cơ là biết được máy Trời, tức là biết được những lẽ bí mật mầu nhiệm của Trời Đất.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tìm vào nẻo Đạo mới tri cơ.

 

 

TRI THIÊN MẠNG

(Tri là biết; Thiên mạng là mệnh trời), đây là do câu "Ngũ thập tri thiên mệnh" nghĩa là con người khi bước vào 50 tuổi là tự mình biết được số mệnh của Trời, tức nhiên là cái tuổi đã am tường, quán triệt được số phận của mình do trời định.

Đức Hộ Pháp nói: "Cái phẩm vị Thiêng Liêng của mấy em nơi mặt thế: Phó Trị Sự, Thông Sự đối với ngôi Giáo Tông, Hộ Pháp, trong khi tuổi của mấy em đã tri thiên mạng rồi, rất ngộ nghĩnh thay Đức Chí Tôn lấy công bình ấy đặng lập Thánh Thể của Ngài, Ngài để một kiểu vở, một khuôn luật Tạo đoan hay là một gia đình kia không khác gì hết. Mấy em đã ngó thấy trong Đạo, Đức Chí-Tôn đã để:

- Hàng Tín-Đồ đối với Đại-Từ-Phụ.
- Phó-Trị-Sự và Thông Sự đối phẩm Giáo Tông và Hộ Pháp.
- Chánh-Trị-Sự đối với phẩm Đầu Sư.

Thì mấy em thử nghĩ coi khuôn khổ Thánh Thể của Ngài không có một cái gì sơ sót hết".

Minh Tâm Bửu Giám, Tích hiền có nói rằng: Người biết mệnh Trời thấy lợi không động, gặp chết không oán, được một ngày qua một ngày, được một giờ qua một một giờ. Đi mau đi chậm, tiền đồ cũng chỉ bấy nhiêu đường. Thời mình đến, dù gác Đằng Vương xa, gió đưa cũng tới, vận mình đi, dù cái bia Tiến phước, sét cũng đánh hư ngã.

"Tri mệnh chi nhân kiến lợi bất động, lâm tử bất oán, đắc nhất nhật quá nhất nhật, đắc nhất thời quá nhất thời, khẩn hành mạn hành tiền trình chỉ hữu hứa đa lộ, thời lai phong tống Đằng Vương các, vận khứ lôi oanh Tiến phước bi".

(知命之人見利不動, 臨死不怨, 得一日過一日, 得一時過一時, 緊行慢行前程只有許多路, 時來風送滕王閣, 運去雷轟薦福碑).

 

 

TRI TÚC


E: To know to be satisfied.
F: Savoir se contenter.

(Tri là biết, túc là đủ). Tri túc là bằng lòng với những gì mình đang có, mình có thể có với sức của mình và trong phạm vi đạo đức. Người tri túc thì dầu nằm trên đất cũng cho là sung sướng, người không biết tri túc dầu nằm trên đống vàng vẫn thấy chưa đầy đủ.

Nguyễn Công Trứ nói rằng:

Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc?
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?

Nghĩa là mình biết đủ, thời đủ, đợi cho đủ biết bao giờ mới đủ? Biết nhàn là nhàn, đợi nhàn, biết bao giờ mới nhàn?

 

 

TRI HÀNH HIỆP NHỨT

(Tri: Biết, hiểu biết, quen biết. Hành: Làm. Hợp (hiệp) nhứt: hiệp lại làm một). Tri hành hiệp nhứt là sự biết và việc làm phải đi đôi với nhau, chớ không nên nói nhiều mà làm ít, hoặc là chỉ nói suông mà không hề làm. Câu mà người đời thường chê là "Năng thuyết bất năng hành".

Đây là một học thuyết của nho gia Vương Dương Minh (1472-1528) đời nhà Minh bên Tàu.

Ông Vương Dương Minh cho rằng Tri với Hành là một. Ông theo cái tôn chỉ Duy tâm nhứt trí mà lập ra thuyết nầy để đem học giả vào con đường thực tiễn của đạo đức. Ông nói rằng: "Muốn hiểu cái thuyết Tri Hành hợp nhứt, trước hết phải biết cái tôn chỉ sự lập ngôn của ta. Người đời nay học vấn, nhân vì đã phân Tri Hành ra làm hai việc, cho nên khi có một khái niệm phát động, tuy là bất thiện, nhưng bởi chưa thi hành thì không tìm cách ngăn cấm. Ta nói cái thuyết Tri Hành hợp nhứt chính là để người ta hiểu được chỗ nhất niệm phát động, tức là Hành rồi. Hễ chỗ phát động có điều bất thiện thì đem điều bất thiện ấy trừ bỏ ngay đi, cốt bỏ đến chỗ căn để khiến cho cái niệm bất thiện không tiềm phục ở trong bụng. Ấy đó là tôn chỉ sự lập ngôn của ta."

Ta nên biết rằng hai chữ Tri và Hành của Dương Minh nói ở đây có cái nghĩa khác với cái nghĩa thường dùng. Tri là chuyên nói cái minh giác của Tâm, Hành là nói sự phát động của Tâm, nhưng trong sách Đại học gọi là Ý vậy. Tri là bản thể của Tâm, Ý là sự phát động của Tâm. Tâm với Ý là một thì Tri với Hành cũng là một. (Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim) Bài của Ngài Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài nói về thuyết Tri Hành hợp nhứt, trích trong quyển Tiếng Gọi, như sau đây: "Thuyết Tri Hành hợp nhứt do nhà học giả trứ danh Vương Dương Minh đề xướng. Trước khi bàn về thuyết nầy, nên nói qua sơ lược tiểu sử của tác giả.

Ông là Vương Thủ Nhân, tự là Bá An, dòng dõi Nho học có tiếng đời nhà Minh, ở đất Dư Diêu, tỉnh Chiết Giang. Vì ông làm nhà ở Dương Minh động, cách thành Hàng Châu 20 dặm cho nên các học giả gọi ông là Dương Minh tiên sanh. Ông chẳng những học vấn đã tinh mà võ công cũng rỡ, kể về học thuyết thì Tri Hành nhứt trí, kể về sự nghiệp thì văn võ kiêm toàn. Lúc trẻ tuổi hay trầm tư mặc tưởng. Năm 17 tuổi, đương đi chơi xa, cha gọi về cưới vợ. Trên đường về gặp một đạo sĩ đương ngồi bên đường, Nhân hỏi đạo dưỡng sinh, ông nghe qua lấy làm đắc ý, ngồi nghe hoài không chán, quên phứt đêm ấy là đêm cưới vợ. Ông có bộ óc tư tưởng cải cách, thoát ly cái lối học hủ lậu của các nhà nho thuở ấy. Học thuyết của ông về phần tinh túy là thuyết "Tri Hành hợp nhứt". Xưa nay các nhà học giả đều chia phần TRI và phần HÀNH làm hai việc. Đến đời ông Dương Minh mới xướng lên cái thuyết Tri Hành hợp nhứt. Ông nói: Hễ tri lúc nào là Hành lúc ấy. Có Hành mới chứng nghiệm được Tri. Nếu không Tri lấy gì mà Hành? Không Hành lấy gì gọi rằng Tri? Tri Hành không thể chia làm hai việc được, nên ông chủ trương Tri Hành hợp làm một. Tỷ như thấy sắc đẹp, biết nó là sắc đẹp, đó là Tri; nhưng ở trong lúc thấy sắc đẹp tức khắc đã ham liền, đó là Hành; như nghe mùi hôi, biết là hôi, đó là Tri, nhưng trong lúc nghe mùi hôi, tức khắc đã ghét liền, đó là Hành. Giả như thấy sắc đẹp mà không ham, nghe mùi hôi mà không ghét, là vì không biết đẹp, không biết hôi, đủ chứng được không tri, thời không hành. Chớ như biết đẹp thì thích ngay, nghe hôi thì ghét ngay, chẳng phải Tri với Hành đi cặp với nhau hay sao?

Còn như Tri Hành chia làm hai việc, há có lẽ mắt thấy đẹp, mũi nghe hôi, rồi ham đẹp, ghét hôi lại ra một lúc khác hay sao? Đều là không thể có được. Lại như nói người kia biết hiếu, người kia biết đễ, tất là người ấy đã làm việc hiếu việc đễ rồi, thì mới bảo là biết hiếu, biết đễ. Cũng như biết đau tất là mình đã thấy đau rồi mới biết đau; biết đói tất là mình đã thấy đói rồi mới biết đói. Như vậy thì Tri với Hành phân ra làm hai thế nào được? Hoặc là tâm mình khởi một niệm thiện, liền khi đó ý thiện phát sanh; hoặc là tâm mình khởi một niệm ác, liền khi đó ý ác phát sanh. Tâm khởi niệm, ý phát sanh đồng trong một lúc, đủ chỉ rõ Tri Hành hợp làm một.

Nếu đem Tri Hành phân ra hai việc thì khi có một niệm phát động, tuy là bất thiện nhưng bởi chưa thi hành, thì không tìm cách ngăn cản, cái niệm ấy có thể sanh mộng nẩy chồi càng ngày càng lớn, sau khó diệt trừ. Như vậy là nguy thay!

Vương Dương Minh phát huy cái thuyết "Tri Hành hợp nhứt" chính là để người hiểu được nhứt niệm phát động, tức là hành rồi. Hễ chỗ phát động có điều bất thiện thì đem điều bất thiện ấy trừ ngay đi, cốt bỏ đến chỗ căn để khiến cái niệm bất thiện không tiềm phục ở trong lòng được nữa. Ấy tôn chỉ "Tri Hành hợp nhứt" là thế. Vương Dương Minh muốn đem học giả vào con đường thực tiễn đạo đức. Tự mình muốn gột rửa cái gì còn dơ bẩn thì phải dụng công ở sự "Tỉnh sát khắc trị".(1)

Cái công phu "Tỉnh sát khắc trị" không phải một ngày một bữa mà nên, phải liên tục, không lúc nào rỗi, bất kỳ giờ phút nào, ở chỗ nào, hoặc đi đứng nằm ngồi, chớ chẳng phải theo thế tình là tham thiền mới được. Người có chí dốc lòng tự sửa mình, sau mới nên người có tinh thần mạnh mẽ, có đức tính trong sạch, có tư cách hơn người. Về phần thực tế trong xã hội, ta thường thấy, trường kỹ thuật, trường huấn nghệ, học viên vừa học vừa làm, phần lý thuyết và thực hành đi cặp với nhau. Khi thành nghề, cái học đã hay, cái nghề lại giỏi. Các trường Trung học, các Viện Đại học, nơi nào cũng có đặt phòng Thí nghiệm, mở lớp thực tập, cũng không ngoài cái thuyết Tri Hành hợp nhứt. Để kết luận, Tri là cái khởi đầu của Hành, Hành là cái thành tựu của Tri. Tri đến nơi đến chốn thì Hành viên mãn chu toàn.

Septembre 1972
HIẾN ĐẠO Phạm Văn Tươi

(1) Tỉnh sát khắc trị: 省察克治 Tự kiểm điểm hành vi tư tưởng của mình, xem xét kỹ lưỡng, để khắc phục sửa trị.

 

 

TRÍ DỤC

智 育
E: The intellectual education.
F: Éducation intettectuelle.

Về Trí dục: là môn dưỡng dục thứ nhì của con người, là Thể dục, Trí dục, Đức dục. Chơn thần tức là trí hoá thì do Phật-Mẫu đào tạo ra. Khi làm người thì phải học mới khôn, nhờ học quyển sách đời, sách Đạo, nhờ học ở Thầy, ở bạn. Nói chung là túi khôn của loài người trải qua hằng bao nhiêu thế kỷ đó giờ còn tồn đọng lại đây.

Đức Hộ Pháp có dạy rằng: "Trí dục, trí của chúng ta đã khôn ngoan tài tình, hễ có trí thì có tài mà ai cần dùng tài của chúng ta và ta lấy trí ấy nơi đâu mà đặng? Tức nhiên ta phải nhờ đồng sống cùng xã hội nhơn quần, tức nhiên đồng sống cùng chủng tộc, ta mới có thể mở mang trí lực được. Có đồng sống với họ, họ mới mở quyển sách đời cho ta đủ khôn ngoan tài đức, ta mới đồng sống với họ đặng. Thảng như chúng ta thiếu: Sự thiếu ấy quả quyết có duyên cớ hiển nhiên rằng: Thử bỏ xã hội nhơn quần chúng ta lên non cao rừng rậm chúng ta ở từ thuở bé xuân, thì con người chúng ta sự khôn ngoan sẽ thiếu kém, trí thức chúng ta không thể mở mang đặng rộng rãi hoạt bát như chúng ta đã đồng sống trong xã hội nhơn quần. Mà xã hội nhơn quần cần yếu chúng ta có trí tài đặng chi? -Đặng chúng ta mới có phương thế giúp ích cho họ, nếu không đủ trí tài thì chúng ta sẽ làm một con vật mà thôi, làm một vật ăn bám của xã hội nhơn quần không có hữu ích gì hết. Đây cả thảy đều ngó thấy một người ngơ ngơ không đủ trí, ngu xuẩn thì bao giờ họ cũng chỉ làm bậy làm quấy, không thể gì biểu họ làm điều phải với hay cho đặng. Hạng nhứt xã hội nhơn quần sợ cái đó hơn hết, nên cần nhứt họ phải giáo hóa mở mang trí lự toàn thể quốc dân của họ. Ấy vậy lập trường họ viết sách, họ luận biện, họ thuyết cả lý do chia sống của chúng ta, họ đem cả phương pháp tạo cho đặng trí tài ấy hầu giúp ích cho sự sống cùng toàn thể chủng tộc của họ. Ấy vậy về trí dục là về phần của xã hội nhơn quần, nói trắng ra thuộc về phận sự tối yếu tối trọng của quốc gia, xã hội, của nhà nước."

 

 

TRÍ GIÁC CUNG (Địa Linh Động)

E: The sageness.
F: La sagesse.

 

 

 

Xuất xứ: Trước khi lập Trí Giác Cung (Địa Linh Động) thì nơi đây là cơ sở của Trường Qui Thiện, do ông Lễ Sanh - Giáo Thiện Đinh Công Trứ qui tụ các bạn đạo Minh Thiện Đàn ở Phú Mỹ (Mỹ Tho) về Tòa Thánh lập nên, ngày khởi lập là 26-9-Quí Mùi (dl. 24-10-1943). (Xem chữ: Qui Thiện, vần Qu.)

- Đêm 25 rạng 26-5-Kỷ Sửu (dl. 21/22-6-1949), ông Đinh Công Trứ bị tử nạn. Đức Hộ Pháp bổ nhiệm ông Chí Thiện Lê Văn Trung đến cai quản Trường Qui Thiện để trấn định nơi đây.

- Ngày 12-6-Tân Mão (dl. 15-7-1951) Hội Thánh Phước Thiện rút ông Chí Thiện Lê Văn Trung về văn phòng Hội Thánh Phước Thiện.

- Ngày 14-10-Tân Mão (dl. 12-11-1951) Hội Thánh Phước Thiện bổ ba vị Giáo Thiện lãnh cai quản Trường Qui Thiện:

- Giáo Thiện Trần Văn Ninh, coi Lễ Vụ,
- Giáo Thiện Trần Văn Liễu, coi Công Vụ,
- Giáo Thiện Lại Văn Phu, coi Hộ Vụ.

- Ngày 3-9-Giáp Ngọ (dl. 29-9-1954), do theo lịnh của Đức Hộ Pháp, Hội Thánh Phước Thiện bổ ông Đạo Nhơn Dương Văn Khuê đến trấn nhậm Trường Qui Thiện.

- Ngày 22-10-Giáp Ngọ (dl.17-11-1954) do Tờ Thỉnh giáo của Đạo Nhơn Khuê về ba việc nơi Địa Linh Động:

- Ban Trị Sự có bao nhiêu người?
- Danh hiệu và phẩm tước chi?
- Trách vụ của mỗi người hành sự?

Đức Hộ Pháp dạy ông Khuê triệu tập Đại hội toàn thể tín đồ Trường Qui Thiện tại Hậu Điện Báo Ân Đường ngày 11-11-Giáp Ngọ (dl. 5-12-1954) để bầu cử Ban Trị Sự. Bảng Phúc trình và Vi Bằng hội nhóm được dâng lên Đức Hộ Pháp. Đức Ngài điều chỉnh danh từ và thành phần Ban Trị Sự và các cơ sở (có bút tích sửa chữa).

- Ông Tổng Quản và Ban Trị Sự Địa Linh Động vâng lịnh thực hành kể từ ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl. 29-12-1954) do Huấn Lịnh số 285/VP-HP. (Trích Tài liệu để Tu học của Trường Qui Thiện, in năm Quí Sửu 1973, trang 15)

Như vậy, thấy rằng, Đức Hộ Pháp đã chánh thức chuyển đổi Trường Qui Thiện thành một cơ sở Tịnh Thất gọi là "Địa Linh Động - Trí Giác Cung" vào ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl. 29-12-1954) do Huấn Lịnh số 285/VP-HP.

Vị Tổng Quản đầu tiên của Địa Linh Động - Trí Giác Cung là Đạo Nhơn Dương Văn Khuê.

THÀNH PHẦN BAN TRỊ SỰ ĐỊA LINH ĐỘNG

1-

Tổng Quản (do Hội Thánh Phước Thiện chọn bổ Chức sắc vào hàng Đạo Nhơn).

2-

Đầu Phòng Văn.

3-

Quản Khố (Thủ Bổn).

4-

Cai Quản Giáo Huấn.

5-

Cai Quản Canh Nông.

6-

Cai Quản Công Nghệ.

7-

Cai Quản Thương Mãi.

8-

Quản Y (Kiểm Soát Viên: 2 vị).

9-

Nhiều vị Trưởng Ban và Chủ Sở dưới quyền quí Cai quản.

Thành lập và thật hành kể từ ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl. 29-12-1954).

Kể từ lúc thành lập Địa Linh Động - Trí Giác Cung ngày 5-12-Giáp Ngọ (1954) đến năm Bính Thìn (1976), có tất cả 12 vị Tổng Quản được bổ nhiệm đến Địa Linh Động:

- Đạo Nhơn Dương Văn Khuê: từ ngày 3-9-Giáp Ngọ (dl. 29-9-1954) đến ngày 29-6-Đinh Dậu (dl. 26-7-1957) thời gian: 2 năm 9 tháng 26 ngày. Thánh Lịnh bổ ngày 3-10-Giáp Ngọ (1954).

- Chí Thiện Lê Văn Chưởng: từ ngày 29-6-Đinh Dậu (dl. 26-7-1957) đến ngày 27-12-Đinh Dậu (dl. 15-2-1958) thời gian: 5 tháng 28 ngày.

- Đạo Nhơn Nguyễn Văn Nhiêu: từ 27-12-Đinh Dậu (dl. 15-2-1958) đến 12-4-Mậu Tuất (dl. 30-5-1958) thời gian: 3 tháng 15 ngày.

- Đạo Nhơn Trần Văn Lợi: từ 12-4-Mậu Tuất (dl. 30-5-1958) đến 10-5-Kỷ Hợi (dl. 15-6-1959) là 1 năm 28 ngày.

- Đạo Nhơn Phạm Duy Hoai: từ 10-5-Kỷ Hợi (dl. 15-6-1959) đến 29-6-Kỷ Hợi (dl. 3-8-1959) là: 1 tháng 19 ngày.

- Chí Thiện Bùi Văn Trăm: từ 29-6-Kỷ Hợi (dl. 3-8-1959) đến 6-9-Canh Tý (dl. 25-10-1960) là: 1 năm 2 tháng 7 ngày.

- Chơn Nhơn Văn Tấn Bảo: từ 6-9-Canh Tý (25-10-1960) đến 9-2-Giáp Thìn (dl. 22-3-1964) là 3 năm 5 tháng 3 ngày.

- Chí Thiện Lê Văn Chưởng: (lần nhì) từ 9-2-Giáp Thìn (dl. 22-3-1964) đến 14-8-Nhâm Tý (dl. 21-9-1972) là 8 năm 6 tháng 15 ngày.

Trong thời gian nầy, ông Chí Thiện Lê Văn Chưởng hợp với các tín đồ nơi đây, xây dựng lại Đền Thờ Phật Mẫu bằng vật liệu nặng, rước các Chức sắc của Hội Thánh lưỡng đài và Đức Thượng Sanh đến chủ tọa lễ an vị và trấn thần.

Đến ngày 14-8-Nhâm Tý, Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa (Thống quản Tam Cung) và Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức (Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài) ra lịnh không cho tổ chức Hội Yến Diêu Trì Cung nơi Đền Thờ Phật Mẫu tại Địa Linh Động.

Ban Trị Sự Địa Linh Động đứng đầu là Tổng Quản Lê Văn Chưởng chống lại lịnh trên, nên ông Tổng Quản Lê Văn Chưởng bị giải nhiệm và Ban Trị Sự bị giải tán luôn.

Hội Thánh Phước Thiện bổ ông Đặng Văn Chưởng đang làm Quản Châu Thành Thánh Địa Phước Thiện kiêm nhiệm Tổng Quản Địa Linh Động, nhưng ông Chưởng lại nhờ ông Phó Quản Châu Thành Phước Thiện là Chí Thiện Nguyễn Kế Cận tạm thay ông điều hành Địa Linh Động. Thời gian chỉ có 13 ngày thì Hội Thánh Phước Thiện chánh thức bổ Đạo Nhơn Nguyễn Thành Lạc làm Tổng Quản.

- Đạo Nhơn Nguyễn Thành Lạc: từ 11-9-Nhâm Tý (dl. 17-10-1972) đến ngày 6-11-Giáp Dần (dl. 18-12-1974) thời gian 2 năm 1 tháng 25 ngày.

- Chơn Nhơn Nguyễn Văn Tấn: từ 6-11-Giáp Dần (dl. 18-12-1974) đến: 1-6-Bính Thìn (dl. 27-6-1976) thời gian: 1 năm 6 tháng 25 ngày.

- Chí Thiện Lê Văn Chấp: từ 1-6-Bính Thìn (dl. 27-6-1976) đến 2-3-Đinh Tỵ (dl. 19-4-1977) thời gian: 9 tháng 2 ngày. (Tài liệu của Lê Minh Dương, cựu quản gia Địa Linh Động - Trí Giác Cung)

"Có một điều huyền vi bí pháp mà chúng ta chưa đạt được, chúng tôi tưởng cũng nên trình ra đây cho toàn thể quí đồng đạo rõ: Trí Giác Cung đã được lịnh dạy của Đức Hộ Pháp tạo trước, Trí Huệ Cung tạo sau, mà làm Lễ Khánh Thành Trí Huệ Cung trước và trấn pháp xong, có lịnh Đức Hộ Pháp dạy phải treo ba vòng Vô vi Tam Thanh nơi trước Trí Huệ Cung thường xuyên thay vì treo Đạo kỳ.

Còn nơi Trí Giác Cung (Địa Linh Động) thì ba vòng Vô vi Tam Thanh ấy cũng đã được lịnh cùng làm sẵn một lượt (hai món cùng do một vị tín đồ thợ mộc làm ra và sơn màu: vàng, xanh, đỏ) song mãi cho đến ngày nay vẫn còn tạm giữ một nơi đó, chớ chưa được lịnh treo lên. Một điều bí mật mà ngày tương lai chúng ta sẽ được rõ." (Trích tập tài liệu của Trường Qui Thiện)

Đôi liễn đặt tại cổng chánh đi vào Trí Giác Cung thuộc Địa Linh Động. Đây là một trong ba Cung do Đức Phạm Hộ Pháp lập ra dùng làm Tịnh thất.

-

TRÍ linh quán thế Thiên cơ đạt,

-

GIÁC ngộ siêu phàm Đạo pháp thông.

Nghĩa là:.Cái trí hiểu biết thiêng liêng thông suốt việc đời, đạt thấu máy Trời. Cái trí huệ giác ngộ siêu phàm rõ thông đạo pháp.

Sau khi ông Đinh Công Trứ, Chủ Trường Qui Thiện mất ngày 25-5-Kỷ Sửu (dl. 21-6-1949), Đức Hộ Pháp cải tổ Trường Qui Thiện thành Địa Linh Động, trong đó có xây dựng Trí Giác Cung để làm Tịnh Thất.

Trí Giác Cung

 
   

Nơi đây có Hộ Pháp Tịnh Đường là nơi Đức Ngài nghỉ ngơi tịnh dưỡng, cũng là nơi Ngài Khai Pháp Chơn Quân đến khai Pháp. Hiện giờ các Ngài đã qui Thiên nên nơi này cũng làm nơi thờ phượng:

 

 

 

- Gian giữa thờ Đức Hộ Pháp.

- Bên trái thờ Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa.

- Bên phải thờ ba vòng vô vi như thế này, tức là ba vòng vô vi để đứng, khác với ba vòng vô vi nơi Trí-Huệ Cung. Vì sao?

- Đây biểu tượng cho Đời trong Đạo tức là Cơ quan Cửu Trùng Đài, là cơ quan giáo hoá nhơn sanh, tượng phần Trí linh, đứng đầu có ba vị Đầu Sư đầu tiên có chữ: NHỰT, NGUYỆT, TINH

- Đầu Sư Thái Nương-TINH.
- Đầu Sư Thượng-Trung NHỰT
- Đầu Sư Ngọc-Lịch NGUYỆT.

Nhưng hiện tại thì Ngài Đầu sư Thượng Trung Nhựt đã được Chí-Tôn ban cho phẩm Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, nên Ngài là Chưởng quản Cửu Trùng Đài. Nếu ba vòng vô vi này hiệp một cũng còn lại một vòng duy nhứt mà thôi.

 

 

TRÍ HUỆ

智 慧
F: Sagesse.

Trí: Khôn ngoan hiểu biết, sáng suốt. Huệ: sự sáng suốt hiểu biết rốt ráo. Trí huệ là sự hiểu biết sáng suốt rốt ráo của trí não nhờ được khai sáng một cách đặc biệt bởi sự tu tập thiền định nên thông suốt được các lẽ huyền vi của Trời Đất mà trí não bình thường không thể biết được.

Người thường thì có Trí thức; bực đắc đạo thì có Trí huệ.

Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi thuyết về Trí Huệ 12-1972.

"Kẻ học rộng biết nhiều, hiểu nhiều, thông thuộc kinh điển, có tài hùng biện, hoạt bát trong sự luận đàm, lịch duyệt về khoa ngôn ngữ, chỉ là người học hay, học giỏi, là người trí thức đó thôi, không phải là trí huệ… Nghĩa chữ trí huệ mường tượng nghĩa chữ trực giác, không cần lý trí, không cần kinh nghiệm mà hiểu biết, hiểu biết một cách chính chắn và mau lẹ. Khi mình nghe chạm phải một lời gì hoặc chợt thấy một vật gì bỗng dưng tâm mình được sáng tỏ, bất thình lình mình hiểu biết. Sự hiểu biết bất ngờ đó là Trí Huệ".

 

 

TRÍ HUỆ CUNG (Thiên Hỉ Động)

- 天喜洞
E: The sageness.
F: La sagesse.

Trí Huệ Cung

Địa thế Trí Huệ Cung

Đức Hộ Pháp trấn pháp nơi Trí Huệ Cung

Bí pháp và Thể pháp của Trí Huệ Cung

Cúng Tứ thời tại Trí Huệ Cung và vùng phụ cận

_________________________________

 

 
   

Đức Hộ Pháp nói: 26-12-Canh Dần (1950): "Trí Huệ Cung là một cơ quan tận độ chúng sanh đã xuất hiện nơi cửa Đạo Cao Đài nầy. Bần Đạo nói rằng: nó không phải của ta, của đặc biệt của chúng ta, mà nó là của toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy; bởi nó tượng trưng hình ảnh Chí Linh Đức Chí Tôn nơi thế nầy, mà hễ tượng trưng hình ảnh Chí Linh tức nhiên không có quyền nào nắm nó được, vì nó là của đặc biệt của toàn thể nhơn loại, tức nhiên toàn thể con cái Đức Chí Tôn. Nó không có phép phân biệt đảng phái, Tôn giáo hay nòi giống nơi mặt địa cầu nầy."

1- Địa thế Trí Huệ Cung:

 
   

Trí Huệ Cung Trí-Huệ tọa lạc tại Ấp Trường Xuân, Xã Trường Hòa, huyện Hòa thành, thuộc Châu thành Thánh địa, cách Tòa Thánh độ 7 km về hướng Đông Nam. Đức Hộ Pháp khởi tạo Trí Huệ Cung và khai mở vùng phụ cận vào cuối năm Đinh Hợi (1947) và ngày hoàn thành là ngày Đức Hộ Pháp trấn Thần Trí-Huệ-Cung ngày 15-12-Canh Dần (dl. 22-1-1951). Đây là ngày Lễ trọng đại, các đạo hữu phải đi vòng xuống Thiên Thọ Lộ qua phía Đoạn Trần Kiều mới vào được Trí Huệ Cung mà tham dự buổi Lễ. Đó là Bí pháp "Qui Thánh". Nhưng vận hạn của nhơn sanh còn dài, nên khiến cho thợ đắp vẽ đắp hình Vân Trung Tử cỡi hạc bay về Trí Huệ Cung, mà quay đầu về chợ Trường Lưu, hình này sẽ biểu tượng là Thánh lâm phàm. Thế nên sáng ngày 15-04 nhằm ngày Vía Phật Tổ (dl. 01-06-2004) chim Hồng hạc về vườn Trí Huệ rước những hành giả đắc Đạo.

Đức Hộ Pháp có đọc một bài Diễn văn tại Trí Huệ Cung ngày 17-8-Tân Mão (dl. 17-9-1951) có sự hiện diện của ông Tỉnh-Trưởng Tỉnh Tây-Ninh, để giới thiệu với ông Tỉnh Trưởng và chánh quyền đời, vùng đất nơi Trí Huệ Cung do Đạo Cao Đài khai mở, nay giao lại cho chánh quyền đời để tiếp tục mở mang rộng lớn thêm.Xin trích một đoạn trong bài Diễn văn:

"Từ ngày Đức Chí Tôn giáng cơ mở Đạo đến nay, phần đông con cái của Người đến nương sống nơi đây, mới đủ sức lực mở mang điền địa. Bần Đạo thấy đặng sự thật là: Ta có đủ điền địa phì nhiêu mà nuôi dân phu phỉ, nhưng phú hữu của nó chưa quá khác, vì ai cũng biết lâm sản của nó mà không nỡ phá hại đặng mở mang điền địa. Cả lợi tức trong một hạn lệ từ năm mở tới 10 năm sau đặng thâu một mối lợi tân khai tân khẩn, vẫn bao giờ cũng làm cho Chánh phủ cầm quyền buổi nọ e-dè, không nhứt quyết. Bần Đạo vì phải tầm phương sanh sống cho Đạo nên đã mạo hiểm từ trên 20 năm, thắng nỗi khó khăn trở lực, ngày nay điền địa bổn xứ ta khai mở quá nhiều rồi, tưởng khi trong năm mười năm nữa đây, dân bổn tỉnh khỏi phải mua gạo lúa miền Trung và Hậu giang, mà sống vì nguồn lợi sẽ phu phỉ.

Khoảng đất ngày nay đặng tên Thiên Hỷ Động nầy, trước 20 năm, đây là rừng rậm, nên đã xin khai khẩn, song họ chỉ ăn (khai thác) cây và củi của nó, chớ không đủ sức mở mang cho nỗi. Bần Đạo thấy địa thế của nó rất nên tốt đẹp và đất địa của nó là thứ phì nhiêu, nên nay khai mở cho thành khoảnh, cái đẹp của nó, hôm nay ta vui thấy đây đã đáng giá, trót cả 10 năm nhọc nhằn. Bần Đạo đã cỡi ngựa ruồng khắp vùng nầy. Được hiểu rằng đất nầy sẽ trở nên quí báu cho dân bổn xứ, xóm Trường Hòa, Ngài (Đức Hộ Pháp gọi ông Tỉnh Trưởng Tây Ninh) đã thấy rõ là một làng rừng, chớ không phải mảy may là thành thị, mà hôm nay đã trở nên một đô thị tối tân và đẹp đẽ, chẳng phải đẹp mà thôi, mà nó sẽ trở nên giàu có nữa mà chớ.! Bởi thế cho nên, Bần Đạo mở con đường An Nhàn Lộ và bắc cây cầu Đoạn-Trần-Kiều, đặng làm cho ngọn suối không còn là chướng-ngại-vật nữa, mà là con kinh thiên nhiên giúp cho sự mở mang vườn ruộng. Con đường nầy liên hiệp với con đường sẽ mở từ Trường Hòa vô vùng Thiên Hỷ Động mà Bần Đạo đặt tên là Trường Xuân Lộ, rồi lại hiệp luôn với con đường ra Cẩm Giang mà Bần Đạo lại đặt tên là Thiên Thọ Lộ. Các cơ thể của Bần Đạo đã gầy nên là quyền xã hội, tức là quyền của chánh phủ và của dân, nên nay Bần Đạo phải làm lễ mở các tân lộ ấy và giao nó lại cho Ngài sử dụng. Cử chỉ ấy chẳng qua là Bần Đạo thi hành y theo chơn pháp Cao Đài giáo, khi đời chịu thống khổ thì Đạo phải giúp đời. Phận sự của Bần Đạo đã xong, bây giờ là phận sự của quan lớn. Dân đã cho Bần Đạo hiểu rằng: con đường mới nầy nó sẽ cho khách du hành đặng 4000 thước tây gần hơn chúng ta sẽ đi trên hai con đường lộ ấy đặng về Châu Thành, coi có quả vậy chăng?"

Thiên Hỷ Động có vòng rào vuông vức rộng lớn bốn bên, mỗi bên có xây một cổng lớn ra vào, trên cổng có tấm bảng đề chữ THIÊN HỈ ĐỘNG, hai cột cổng có cẩn đôi liễn TRÍ HUỆ:

-

TRÍ định thiên lương qui nhứt bổn,

-

HUỆ thông đạo pháp độ quần sanh.

Nghĩa là: - Sự khôn ngoan hiểu biết của con người sắp đặt đem cái Thiên lương trở về hiệp vào một gốc (gốc đó là Thượng Đế) - Cái trí huệ thông hiểu đạo pháp để cứu độ nhơn sanh.

Nơi khu trung tâm là một tòa nhà hình khối lập phương, gọi là Trí Huệ Cung: "Trí Huệ Cung đã thành lập nên hình tướng nhiệm mầu, bề cao 12 thước, chia làm 3 từng, mỗi từng 4 thước y nhau, bốn bên, mỗi mặt là 12 thước, vuông vức như cái hộp, ngay trung tâm có một cây cột đội luôn 3 từng đến nóc, gọi là Nhứt trụ xang Thiên, là nhiệm mầu."

Khi chúng ta đứng trước Trí Huệ Cung nhìn vào, thấy Trí Huệ Cung chỉ có hai từng, đó là hai từng trên vì từng trệt. Còn một từng nữa được Đức Hộ Pháp xây dưới mặt đất. Trí Huệ Cung là cửa vào con đường Thiêng liêng Hằng Sống:

Đức Hộ Pháp thuyết ngày 16-12-Canh Dần và ngày 26-12-Canh Dần (dl. 2-2-1951): "Ngày nay, Đức Chí Tôn đã mở cho chúng ta một con đường Thiêng liêng Hằng Sống và Bần Đạo đã vâng mạng lịnh Đức Ngài tạo dựng một bến giải thoát cho toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu nầy. Bần Đạo nói: Từ đây, kể từ ngày nay, cửa thiêng liêng của Đạo đã mở rộng. Bần Đạo kêu toàn thể con cái Đức Chí Tôn, ai hiểu biết mình đứng trong hàng phẩm Cửu Nhị ức nguyên nhân (92 ức nguyên nhân) hãy tỉnh mộng lại đặng về cùng Đức Chí Tôn. Cửa nầy là cửa của các người đến đoạt pháp, đặng giải thoát lấy mình, đến trong lòng Đức Chí Tôn, vì Đức Chí Tôn đã đưa tay ra nâng đỡ mà chúng ta không đến, không tưởng nghĩ đến thì sau nầy ắt sẽ bị đọa lạc nơi cõi Phong đô. Giờ phút ấy không còn trách Đức Chí Tôn rằng: không thương yêu con cái của Người, không đem cơ quan Tận độ chúng sanh để nơi mặt địa cầu nầy cứu vớt nữa".

Cửa Thiên Hỷ Động là cửa Thiêng liêng Hằng Sống của toàn thể các đẳng chơn linh, nên nó không chịu thúc phược hay là nô lệ cho một tư tưởng nào, hơn là tượng trưng cái quyền vô tận vô đối của Đấng Chí Linh, hằng tạo dựng đại nghiệp cho con cái của Ngài nơi mặt địa cầu nầy, tức nhiên toàn thể nhơn loại đó vậy". Bần Đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn, nhứt là Cửu Nhị ức nguyên nhân, tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung, phải vào cửa ấy mới đoạt đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa Thiêng liêng Hằng Sống mà Đức Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người."

2- Đức Hộ Pháp trấn pháp nơi Trí Huệ Cung:

Đức Hộ Pháp thuyết tại Đền Thánh đêm 14-12-Canh Dần (dl. 21-1-1951) rằng: "Ngày mai nầy trấn pháp Thiên Hỉ Động Trí Huệ Cung, Bần Đạo lấy làm mừng đã làm tròn phân sự đặc biệt của Bần Đạo. Từ thử đến giờ, Bần Đạo đã nhiều phen giảng giải về hình thể Đức Chí Tôn. Bần đạo đã gánh vác về thể pháp Cửu Trùng Đài, tạo nghiệp cho Đạo là làm giùm cho thiên hạ, chớ không phải phân sự của Bần Đạo. Ngày nay là ngày vui mừng của Bần Đạo hơn hết là Bần Đạo còn sức khỏe đầy đủ cầm Bí pháp của Đức Chí Tôn đã giao phó. Ấy là phân sự đặc biệt của Bần Đạo đó vậy. Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa nầy cốt để rước Cửu Nhị ức nguyên nhân là bạn chí thân của người đã bị đọa lạc nơi hồng trần không phương giải thoát, muốn rước các bạn chí thân của Bần Đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy pháp giới tận độ chúng sanh. Hôm nay là ngày mở cửa thiêng liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên nhân ấy một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình hai món Bí pháp ấy là:

- Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm để lại.

- Kim Tiên của Bần Đạo.

- Hiệp với Ba vòng Vô vi, tức nhiên là Diệu Quang Tam Giáo, hay là hình trạng Càn khôn vũ trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang khiếu của chúng ta đó vậy.

Kim Tiên là gì? Là tượng hình ảnh điển lực điều khiển Càn khôn vũ trụ, mà chính nơi đó là điển lực tức nhiên là sanh lực đó vậy. Với nó, mới có thể mở Đệ bát khiếu, trong thân thể con người có Thất khiếu và còn có một khiếu vô hình là Huệ Quang khiếu, vì nó là điển lực nên nó mở khiếu ấy mới được. Nói rõ, con người có Ngũ quan hữu tướng và Lục quan vô hình, mà phải nhờ cây Kim Tiên ấy mới có đủ quyền năng mở Lục quan của mình đặng. (Lục quan là đệ lục giác quan, tức là giác quan thứ sáu).

Long Tu Phiến có thể vận chuyển Càn khôn vũ trụ, do nguơn khí đào độn sanh ra đó vậy. Nó có quyền đào độn nguơn khí, thâu hoạch nguơn khí để trong sanh lực. Con người nắm được điều ấy là kẻ đắc pháp, nhờ nó mới có thể luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hóa Thần được. Ấy là Bí pháp trấn tại Thiên Hỷ Động - Trí Huệ Cung. Toàn thể ngó thấy không có gì hết, mà trong đó quyền pháp vô biên vô giới. Giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó."

Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ tại Trí Huệ Cung đêm 25-12-Canh Dần (dl. 1-2-1951) mừng Đức Hộ Pháp đã hoàn thành Trí Huệ Cung.

Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo. Hầu bút: Thừa Sử Lợi.

CAO THƯỢNG PHẨM

Chào Hộ Pháp, Tiếp Đạo và Thừa Sử. "Cười... Hộ Pháp, nếu Bạn trông thấy cái vui mừng vô biên nơi Diêu-Trì-Cung và Ngọc Hư Cung từ ngày trấn bửu pháp đến nay, thì sự khổ nhọc của Bạn cũng nên cho là đáng giá. Đức Chí Tôn vui mừng hơn hết, còn các bạn Nữ của mình thì chỉ có thấy một điều, nhứt là Bát Nương: "Bạn không cho ai vui với Bạn hết."... Cười... Bát Nương gởi nhắn một bài thi, Bần Đạo chỉ làm lon-ton đưa lại:

THI

Mở rộng đường mây rước khách trần,
Bao nhiêu tình gởi nhắn nguyên nhân.
Biển mê cầu Ngọc liên phàm tục,
Cõi thọ sông Ngân tiếp đảnh Thần.
Chuyển nổi Càn Khôn xây võ trụ,
Nhẹ nâng nhựt nguyệt chiếu đài vân.
Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,
Điều độ quần sanh diệt quả nhân........

3- Bí pháp và Thể pháp của Trí Huệ Cung:

- Bí pháp: Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động là cửa Thiêng liêng Hằng Sống. Muốn đắc đạo để đi vào cõi Thiêng liêng Hằng Sống thì phải đi tại cửa nầy mà thôi. Bần Đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn, nhứt là Cửu Nhị ức nguyên nhân, tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung, phải vào cửa ấy mới đọat đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa Thiêng liêng Hằng Sống mà Đức Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người." (Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp)

- Thể pháp: "Trí Huệ Cung, bên Phạm Môn tạo tác đây là nhà tu của Nữ phái. Giờ phút nầy Bần Đạo mới nói thiệt, tại sao làm nhà tu cho Nữ phái trước? Đáng lẽ Bần Đạo phải làm cho phái Nam trước trên Sơn Đình mới phải chớ, như nếu Bần Đạo làm cho phái Nam trước, rồi họ sẽ bỏ phái Nữ không làm. Bần Đạo làm cho phái Nữ trước, đặng họ phân bì. Dầu Bần Đạo có qui thì họ cũng cố tâm làm cho nên việc." (Trích Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp tại Cửu Viện Phước Thiện ngày 30-8-Tân Mão 1951)

"Ấy vậy, khi muốn bước vô Trí Huệ Cung phải có đủ Tam lập. Nhưng làm sao biết họ đã đủ việc lập Công lập Đức lập Ngôn, dầu giao Bộ Pháp Chánh cũng chưa chắc điều tra được, bởi nó thuộc về nửa Bí pháp nửa Thể pháp.

Bây giờ Bần Đạo có một điều: những người nào xin đến Trí Huệ Cung, Bần Đạo coi màng màng được thì Bần Đạo trục Thần của họ, cho hội diện cùng quyền năng thiêng liêng, nếu có đủ Tam lập thì vô, không đủ thì ra." (Trích Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp tại Đền Thánh ngày 19-4-Tân Mão 1951)

4- Cúng Tứ thời tại Trí Huệ Cung và vùng phụ cận:

 
   

"Lập cơ hữu hình mà thuộc Vô vi chi pháp, không sắc tướng, trông không mà chứa đựng nhiệm mầu, bửu pháp vô biên vô giới, nên thờ CHA vô hình, MẸ thiêng liêng. Nơi Trí Huệ Cung, đúng giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu, có lịnh đổ chuông 3 hồi, mỗi hồi 2 hiệp (Âm - Dương), mỗi hiệp giựt đủ 36 tiếng, 2 hiệp chung lại 72 tiếng âm thanh cho nhơn sanh tỉnh ngộ, đứng dậy thành tâm tưởng niệm. Việc giựt chuông nầy thực hiện nơi cổng Đông Nam của Thiên-Hỷ-Động, nơi đó có làm cái giá cao, treo một cái chuông, khi đến giờ cúng thì giựt cái chuông nầy cho phát ra tiếng.

Cúng đủ Tứ thời, được phép tụng niệm các bài kinh:

- Niệm Hương. -Khai Kinh. -Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.
- Phật Mẫu Chơn Kinh. -Dâng Tam bửu. -Ngũ Nguyện.

Cúng Tứ thời không đèn nhang chi hết.

Đạo là Vô vi, cúng cũng Vô vi, là Chánh pháp.

Bất luận đứng ngồi nơi đâu, khi nghe lịnh đổ kiểng (giựt chuông) liền đứng dậy, tay bắt Ấn Tý, day mặt hướng về Trí Huệ Cung tưởng niệm, duy chỉ có vùng Thiên Hỉ Động hoặc mấy Hương đạo kế cận mới được phép cúng đủ Âm Dương một lượt, nghĩa là thờ CHA kỉnh MẸ, hữu hạp thuộc về Đạo. Cầu nguyện vô vi do nơi Tâm, hoặc đi đường, đi ngang qua Trí Huệ Cung, cũng phải dừng lại khi nghe kiểng đổ."

 

 

TRÍ HUỆ KIẾM

智 慧 劍
E: The sword of sageness.
F: L’épée de sagesse.

Trí huệ kiếm là cây gươm trí huệ, ý nói: sử dụng cái trí huệ đạt được như là một cây gươm để diệt trừ các mối phiền não do những tên địch nguy hiểm là Lục tặc và Tam độc gây ra.

Lục tặc là Lục dục và Tam độc là: Tham, Sân, Si.

Kinh Duy Ma Cật có câu: Dĩ Trí huệ kiếm phá phiền não tặc. Nghĩa là: lấy gươm trí huệ phá tan đám giặc phiền não.

Trí huệ kiếm đồng nghĩa: Gươm huệ, Huệ kiếm gươm thần, Gươm thần huệ.

Kinh Khai Cửu Ðại Tường Tiểu Tường:

"Nắm cây huệ kiếm gươm thần,
"Dứt tan sự thế nợ trần từ đây."

 

 

TRÍ KHÔN

"Cái trí khôn của con người biết thương, ghét, vui, buồn mà toàn trong nhơn-loại đều có; khi rốt cuộc thì trí khôn ấy đi đâu? Không lẽ cái trí khôn ngoan dường ấy mà cũng mất đi đặng sao các con? Thầy hỏi như vậy đặng cho các con mỗi đứa về suy nghĩ mà trả lời cho mình. Hễ trả lời phù hạp thì dễ biết Đạo, còn ngu-xuẩn thì cũng huờn ngu-xuẩn".

 

 

TRÍ LỰ

智 慮
E: The thought.
F: La pensée.

Trí lự là sự hiểu biết suy tính, những điều nghĩ ngợi trong trí.

"Chữ Ðạo là đường đặt ra bởi đó, đặng dìu dắt nhơn sanh khỏi bước đời gay trở; cốt yếu là lập mục đích, định chuẩn thằng cho kẻ trước hiệp người sau, kẻ kim hòa người cổ, tóm cả trí lự của nhơn loại, đặng làm ngọn huệ quang soi rọi khắp nhơn gian, mượn cả sự tội tình sầu thảm của thế, mà tạo Bát Nhã Thuyền đặng vớt người nơi khổ hải". (Pháp Chánh Truyền)

 

 

TRÍ LỰC

智 力
E: The force of mind.
F: La force d'esprit.

Trí: Khôn ngoan hiểu biết, sáng suốt. Lực: sức. Trí lực là năng lực của trí tuệ, tức là cái sức hiểu biết, trình độ hiểu biết.

Đức Chí Tôn dạy: "Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm Linh quang của Thầy ban cho các con lắm".

 

 

TRÍ NHÀN - TRÍ SĨ

致 閑 - 致 仕
E: To retire from office.
F: Être en retraite.

Trí: Làm cho đến nỗi, hết, vời tới, đường lối, nghỉ. Nhàn: rảnh rang thong thả. : làm quan. Trí nhàn, đồng nghĩa Trí sĩ, là thôi làm quan, nghỉ việc đời, lui về sống an nhàn nơi thôn quê vắng vẻ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Khách trí nhàn đời ấy là buổi chung qui của bậc chí Thánh vậy.

 

 

TRÍ THỨC

智 識
E: Knowledge.
F: Connaissance.

Trí thức là sự thông minh hiểu biết. Người trí thức là người học rộng biết nhiều, thông thuộc kinh sách, có tài văn chương, luận đàm hoạt bát.

Cái trí thức có được là do học tập, nghiên cứu kinh sách, nên nó khác với Trí huệ.

Đại Sư Thần Tú là một nhà trí thức, lảu thông kinh sách Tam giáo, còn Huệ Năng dốt nát, không biết chữ, nhưng lại là người Trí huệ. Do đó, Y Bát của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền cho Huệ Năng chớ không truyền cho Thần Tú, đủ thấy Trí huệ cao hơn Trí thức rất nhiều.

 

 

TRÍ THỨC TINH THẦN

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở: "Thưa chị, Em chẳng dám nào xin cạn tỏ ra đây nhiều điều ước vọng của Thầy Em và Quan Âm Bồ Tát. Cả cơ độ tận Nữ phái chỉ xu hướng về trí thức tinh thần. Có đủ trí thức tinh thần mới mong đoạt đặng sự khôn ngoan của cơ Tạo hóa. Đoạt đặng cơ Tạo hóa mới đắc đạo đặng. Hại thay, Em chưa thấy Nữ phái đặng một người thì mong chi độ rỗi. Thưa chị, xin ráng chung sức nhau, chị phần Đời, các Em phần Đạo, lo liệu nên phương đặng dạy lẫn giùm Nữ phái, kẻo Thầy Em và Chí Tôn đã lắm phen buồn thảm. Chị nương theo Thánh giáo của mấy Em, chẳng khác nào mấy Em nương theo điều dạy răn của chị, nhưng Em xin một điều là, phải khởi tuyển chọn Nữ phái y như lời anh Thượng Phẩm đã chỉ vẽ cho anh Hộ Pháp, nghĩa là các nơi nào chưa lập Nữ phái, chị gia công lo lập cho thành, và lựa người cho đi các nơi quan sát sở hành của Nữ Chức sắc. Em thưa thiệt cùng chị rằng, nhiều kẻ lạm dự Thiên phong mà làm nhục lây toàn Nữ phái".

 

 

TRÌ

TRÌ : Gìn giữ, nắm giữ chắc chắn, chấp hành nghiêm túc.

 

 

TRÌ CHÍ

持 志
E: Patient.
F: Patient.

Trì: Cầm giữ, nắm lấy, kềm chế, giúp đỡ. Chí: ý chí. Trì chí là giữ vững ý chí, giữ cho ý chí không đổi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Gắng công trì chí, liệu chừng với nhau mà vẹt cho sạch mấy lối chông gai.

 

 

TRÌ GIỚI

持 戒
E: To observe the prohibitions.
F: Observer les prohibition.

Trì: Cầm giữ, nắm lấy, kềm chế, giúp đỡ. Giới: điều răn cấm, giới luật tu hành. Trì giới là gìn giữ giới luật tu hành.

Trái với Trì giới là Phá giới, Phạm giới.

Người tu mà không trì giới thì không thể đạt được cứu cánh. Đạo Cao Đài có hai giới luật quan trọng hàng đầu cần phải gìn giữ: Ngũ giới cấm và Giới luật ăn chay. Đức Chí Tôn thường nói rằng: "Chẳng phải Thầy còn buộc các con theo Cựu luật, song luật ấy rất nên quí báu, không giữ chẳng hề thành Tiện, Phật đặng."

 

 

TRÌ HOÃN

遲 緩
E: To adjourn.
F: Ajourner.

Trì: Chậm chạp. Hoãn: thong thả, không gấp. Trì hoãn hay Trì huỡn là để chậm lại, kéo dài thời gian.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Còn hai cha con phải lập Minh Thệ cho kịp, chớ để trì huỡn không đặng.

 

 

TRỊ NHI VÔ GIÁO

Đức Lý nói: "Đạo của Thầy ngày nay và từ đây sắp tới nhơn loại hoan nghinh lắm đó. Lão rất vui mừng thấy hạnh của chư hiền hữu công quả trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ lắm nỗi nặng nề. Mười phần nhơn sanh, chư hiền hữu phải độ tới chín. Than ôi! Hễ Đạo càng thạnh thì nghịch lại càng nhiều. Trên Chánh phủ hằng để mắt nghi nan, dưới bọn ma hồn quỉ xác theo kích bác. Chư hiền hữu phải chịu và sẽ phải chịu hổ nhục trăm điều. Nếu Lão có lời căn dặn là thấy sự cực nhọc của chư hiền hữu muốn toan cất bớt, nên phải dặn lấy sự cẩn thận nhịn nhục dè dặt mà hành đạo. Chánh phủ hằng dòm hành chư hiền hữu. Nghĩ nỗi buồn cười. Trị nhi vô giáo, nay đặng hữu trị hữu giáo mà lại nghi nan. Ấy cũng một lũ phàm."

 

 

TRỊ SỰ

治 事
E: To administer.
F: Administrer.

Trị: - Coi sóc, cai quản, yên ổn. - Sửa trị, trừng phạt. Sự: việc. Trị sự là coi sóc công việc.

Ban Trị Sự: cũng gọi là Bàn Trị Sự, là một ban gồm nhiều người coi sóc công việc đạo trong một Hương đạo.

 

 

TRỊ THẾ THÁI BÌNH


E: To govern in peace.
F: Gouverner en paix.

(Trị thế là trị đời, tức là làm cho đời được yên ổn. Thái bình là được bình yên) Đạo ra cứu đời là làm cho Đời được yên ổn và đất nước thạnh trị.

Đức Hộ Pháp nói: "Bần-Đạo xin nói thật, Đức Phật Thích-Ca, dầu sự trị thế của Ngài đã hết, chúng ta chỉ nói là hết thôi. Hai ngàn năm trăm năm (2.500) lập Đạo trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống kia, Môn-đệ của Ngài nhiều lắm, các người đừng tưởng Ông già ăn mày ấy không đủ quyền năng, mà các người khi dễ. Nội cái Bình-Bát-Vu của Ông đựng cả chơn hồn trong Càn Khôn Vũ Trụ, Ông ăn mày tại thế này vậy mà ngôi vị Cực Lạc Thế Giới của Ông các người xin một phẩm Liên Hoa, Ông có thể cho, là một người không nên khi dễ, không nên nguội lạnh với người đó, bởi vì Môn đệ của Ngài trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống nhiều lắm."

Kinh Nhập Hội có câu:

"Một nuôi nấng tinh thần tinh khiết,
"Hai dạy răn cho biết tội tình.
"Ba lo trị thế thái bình.
"Cộng chung Pháp luật Thiên Đình chí công."

 

 

TRỊ XẢO TRỪ TÀ

Trị xảo trừ tà là cách trừng trị xảo trá, diệt trừ tà mị.

Kinh Xuất Hội có câu:

"Cứ nương dưới máy linh cơ Tạo,
"Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà."

 

 

TRÍCH ĐIỂM

謫 點
E: To criticize.
F: Critiquer.

Trích: Trách điều lỗi, phạt đày đi xa. Điểm: kiểm điểm, xem xét. Trích điểm là vạch cái sai của người khác ra để chê trách.

Đức Thượng Sanh nói rằng: "Khi Qua ở Sài-Gòn, nghe khách bàng quan trích điểm về Giáo-lý Cao-Đài nhiều lắm. Bởi lẽ người trong Đạo chưa viết được một quyển sách đúng với Giáo-lý chơn-truyền".

 

 

TRÍCH LỤC

摘 錄
E: To extract.
F: Extraire.

Trích: Rút ra, chọn lấy. Lục: sao chép. Trích lục là lựa chọn lấy ra rồi sao chép lại.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Được, nhưng Thánh ngôn và văn thi đều phải trích lục cho kỹ càng, phải có Hội Thánh phê nhận, rồi sẽ in....

 

 

TRÍCH TIÊN


E: The fallen Angel.
F: L’Ange déchu.

Trích: Trách điều lỗi, phạt đày đi xa. Tiên: vị Tiên. Trích Tiên là vị Tiên bị đày xuống cõi trần.

Lý Bạch đời nhà Đường bên Tàu là một vị Trích Tiên.

 

 

TRIẾT HỌC

哲 學
E: The philosophy.
F: La philosophie.

Triết: có trí tuệ, thông minh, sáng suốt. Triết học: Thứ học vấn nghiên cứu về nguyên-lý của vũ-trụ và nhân sinh. Thí dụ: triết gia, triết-lý.

 

 

TRIẾT HỌC Á ĐÔNG

Đức Hộ Pháp nói: "Trong lúc nước biến gia vong, sự tồn vong của nước VIỆT-NAM đang như trứng để đầu giàn. Bần-Đạo cảm thấy Kinh (Dịch Kinh Tân khảo) này là cả một Triết học Á-đông độc nhứt vô nhị, mà chính là những Bí-pháp Cổ truyền của Đạo CAO-ĐÀI, một Đạo-giáo VIỆT-NAM hoàn toàn nảy sanh ở cái Triết lý hoàn-toàn Á-Đông mà KINH này gồm hết những lý thuyết cao siêu mà ông NGUYỄN-MẠNH-BẢO đã nêu cao tinh-thần ĐẠI-ĐẠO."

 

 

TRIẾT LÝ


F:Philosophie.

Triết: sự sáng suốt hiểu biết đến cái lẽ tận cùng. : cái lẽ của sự vật. Triết lý là nghiên cứu để hiểu biết cái lẽ sâu xa tận cùng của một sự vật, hay của một hiện tượng.

"Một thi-sĩ xứ Perse gọi triết-lý là bản-thảo lúc đem in đã bay mất hai trang: đầu và cuối. Triết-lý thường gồm ba loại vấn đề sau:

- Nhân-sinh hà tại? 人生何在 Tại sao tôi sinh ra ở trên đời? Vì nguyên-nhân nào?

- Tại thế hà như? 在世何如 Và sinh ra để làm gì? Tức là triết lý nhân-sinh.

- Hậu thế như hà? 世如何 Sau này sẽ ra sao?

Tức là vấn đề cứu cánh của con người.

Trong ba loại đó thì vấn đề nguyên-uỷ vạn-vật cũng như về loài người và cứu cánh cuối-cùng của con người thuộc trang đầu và trang cuối đã mất, nghĩa là không thể tìm ra câu trả lời thỏa-mãn cho trí khôn".

Đức Hộ Pháp nói: "Bần Đạo thuyết, bây giờ Bần Đạo khai rõ cả tâm lý của Bần Đạo rồi cả thảy con cái Đức Chí Tôn cũng vậy tự mình cung chiêu của mình đi. Bần Đạo theo Đạo Cao Đài do lẽ này: Kiếp sống của Bần Đạo không có biết tin gì hết, nhứt là đầu óc chỉ lấy triết lý học thức làm căn bản, không ai nhồi sọ đặng, nhứt định không để chủ quyền tinh thần mình bị ai lừa gạt, dầu cho Bần Đạo đã theo Đạo Thiên Chúa Giáo."

 

 

TRIẾT LÝ ĐẠO CAO ĐÀI

E: Philosophy of Caodaism.
F: La philosophie du Caodaïsme.

Triết-lý Đạo Cao-Đài thì cấm xa-hoa phung-phí, tránh bã lợi mồi danh, trọng duy tâm hơn duy vật và xả phú cầu bần, xả thân cầu Đạo đặng giữ cho tâm thần được thơ thới nhẹ nhàng.

- Triết-lý của Đạo-Giáo

Đức Hộ Pháp nói: "Các vị Giáo-Chủ, lập giáo đều nương nơi một tinh thần của họ, tinh-thần hữu-định ấy có căn-nguyên trong tinh-thần của toàn nhơn-loại. Họ chỉ lấy một thuyết trọng yếu đặng làm triết-lý Đạo-Giáo của họ, tỷ như:

- Thánh-Giáo Gia-Tô lấy TÂM làm căn bản,
- Lão-Giáo lấy THÂN làm căn bản,
- Hồi-Giáo lấy TÍN-NGƯỠNG làm căn bản.

Mỗi Giáo-lý đều có sở-năng làm trung-tâm-điểm đặng vi-chủ tinh-thần của con người trong chỗ khuyết điểm của họ".

"Có một điều Bần-Đạo xét đoán lấy làm sợ sệt hơn hết là nền Tôn-Giáo của Đức Chí-Tôn lấy Tinh Thần làm căn-bản. Hỏi vậy, tinh-thần của nhơn-loại hiện ở dưới quyền áp bức của văn-minh vật-chất, tinh-thần ấy có đủ quyền-năng tự-vệ lấy họ chăng? Tinh-thần họ có đủ lực-lượng chiến thắng chăng? Nếu thoảng tinh-thần của nhơn-loại không quật khởi lên, tự-quyết, tự-chủ, tự định-phận đặng mà phải chịu làm nô lệ cho văn-minh vật-chất, thì tương-lai của Đạo Cao-Đài sẽ ra sao? Mà chẳng những phải tự bảo vệ chiến thắng mà thôi, mà còn phải bảo vệ chơn tướng của đạo đức tinh thần của loài người trở mặt ra đối với tinh-thần cường liệt của Chí-Tôn, thì tương-lai nơi mặt thế này sẽ như thế nào? Chúng ta cũng nên để có một câu hỏi. Có một điều ta nên để mắt nhìn coi Chí-Tôn tạo hình thể nào đặng bảo trọng tinh-thần đạo-đức ấy. Ấy là một phương pháp ta nương theo đó đặng tạo dựng khối đức tin vững chắc bền-bĩ vậy."

Đức Ngài nói rằng: "Cả con cái Đức Chí-Tôn nên hiểu rằng: triết lý cao thượng của Đạo Cao-Đài lấy tính chất nó ở buổi sơ khởi, khai thiên lập địa của Đức Chí-Tôn sanh hóa vạn loại nơi mặt địa cầu nầy. Trong tạo đoan Đạo Cao-Đài chỉ thờ kỉnh có hai quan niệm mà thôi:

- Trên là thờ Thiên-Thượng là Đức Chí Tôn,

- Dưới là thờ Vạn-vật, mà tối linh của Vạn vật là nhơn loại ấy là thờ Thiên-hạ.

Nó không biết trích điểm ai, dầu các Tôn giáo trích điểm hay đàm thuyết thế nào cũng mặc. Đạo CAO-ĐÀI chỉ biết nắm lấy cái căn bản, cái nguyên lý của nó mà thôi".

Đức Ngài tiếp: "Ðức Chí-Tôn duy có một mình, Ngài phân ra mới có Phật-Mẫu. Ngài phân ra Đệ nhị quyền hiệp lại Đệ nhứt quyền, đủ quyền-năng tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ để lập gia đình cho loài người đó vậy. Nhờ Chí-Tôn phân tánh là Bí-pháp lập thành xã-hội đó. Chúng ta đã hằng tưởng hiểu cả, loài cầm thú phải có hiệp lại mà biến sanh được, giải rõ là trống mái, đực cái hay Nam Nữ vậy, nó tương liên trước mặt chúng ta hoặc một cách âm thầm bí mật. Vậy loài người bao giờ cũng có xã hội nhơn quần, gia đình, vì mặt luật buộc như vậy, lời chúng ta thường nói: 'Chưa ai ở đất nẻ mà chun lên' tức là muốn nói đến 'Cây có cội, nước có nguồn'."

 

 

TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT

Đức Hộ Pháp nói: "Bần-Đạo xin thuyết Triết Lý Đạo Phật của Đức Phật Thích Ca, Ngài đã đoạt Đạo đặng rồi, tức nhiên Chị (Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh) hiểu cái huyền vi bí mật của kiếp sanh con người, Ngài tầm ra căn-nguyên bí yếu hơn hết là:

Luật Nhơn-Quả pháp định (Loi Karmique):

Cái Luật Nhơn Quả của Ngài nó trúng trong chơn lý lạ thường, thử ta chối con người không có quả kiếp chi hết cũng như thuyết duy vật đã nói: con người đã sinh ra ở mặt thế nầy là tình cờ mà thôi, sống như vạn vật kia vậy, nếu cái thuyết ấy quả nhiên là chơn lý thì ta thử hỏi vậy chớ duyên cớ nào kẻ sanh ra vừa khỏi lòng Mẹ đã nằm trên đống vàng hay là ngự trên ngai vàng. Còn những kẻ sanh ra đã bị tật nguyền, đui mù, ngu dại, nếu không có định luật thiên nhiên công bình vô đối của Đại Từ Phụ tức nhiên của Đức Chí Tôn thì lẽ bất công ấy chúng ta phải giải nghĩa ra thế nào mà chớ? Cái triết lý bí yếu ấy, Đức Thích Ca đã tìm đặng tức là nhơn quả của ta. "Nhơn" nghĩa là ta đã có làm điều chi thì "quả" của nó trả lụng lại. Cái Luật Nhơn Quả ấy nó là căn kiếp sống của ta. Có nhiều kẻ cả đời làm lụng nhọc nhằn vợ con đông đúc, cả mọi điều gì muốn thi thố ra đều thất bại, mà cái thất bại ấy chẳng phải dở, cái miệng thường những kẻ ấy trong cơn đau khổ nói số kiếp của tôi nó thế nào, tội tình gì mà làm cho tôi như thế đó, là kẻ bên Đạo Phật. Các Tôn giáo khác không cần luận, ta thấy họ đã quyết định cái quả kiếp là gì? Phật đã nói: Cái kiếp sống đương nhiên của ta, định số phận của ta đương kiếp sống hiện thời là do căn quả của ta đã tạo kiếp trước, bây giờ cái triết lý ấy biểu ta muốn cho nên kiếp tới thì kiếp nầy ta chẳng nên gây nhơn quả nhiều hay nặng nề, vì cớ cho nên những bổn Đạo cùng những người tín ngưỡng theo triết lý của nhà Phật, khi họ thấy căn kiếp của họ đã nhiều bằng cớ không may, hoặc về tình ái, hoặc về sanh kế, hoặc về công danh, hoặc về nghèo giàu, bất kỳ quả kiếp của con người ta thường nương lấy đó mà sống, làm cho cái khổ của con người đã sanh ra chịu khổ rồi quả kiếp nặng nề ấy lại tăng thêm khổ nữa. Bây giờ quá sức chịu của trí não con người phải làm sao? Hễ khi nào bị khổ não quá chừng thì tìm phương pháp an ủi, bởi cớ cho nên nhà Phật là nhà hay an ủi tâm hồn của những kẻ đau khổ hơn hết đặng tự giác lấy mình, hiểu cái quả kiếp mà mình đã đào tạo, vì tại mình vi chủ tạo thành nó ra, bây giờ tìm phương giải nó đi, tức nhiên tránh kiếp tới, nếu ta đã biết kiếp nầy không may ta để trả nó mà thôi, ta đừng gây thêm quả kiếp nữa. Bởi cớ cho nên Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy, cạo đầu phế cả cái sống của mình gọi là qui y thọ phái vô chùa gởi thân trong cửa Phạm, cửa Đức Phật Thích Ca đặng tìm phương an ủi hay là hay hơn nữa đủ trí thức, đủ tự giác để đào tạo cái quả kiếp tương lai của mình, thật ra chơn lý ấy của nhà Phật an ủi một cách mạnh mẽ các tâm hồn bị đau khổ. Chính Phật cũng phải nhờ triết lý ấy mà nhiều phen đã tự an ủi mình làm một Phật vị, bởi chính mình Ngài muốn tạo một lớp Liên Hoa của Ngài, Ngài phải đầu kiếp làm Thảo mộc lên Thú cầm tới Nhơn loại rồi đến Phật vị, thì tức nhiên trọn cái vòng siêu thoát của Ngài, Ngài đã biết nhơn loại, biết kiếp sống của con người đau khổ như thế nào. Thật có sống với đời mới biết cái khổ của đời, những tay thầy thuốc giỏi hay biết được bịnh con người một cách đúng đắn mực thước thì chính mình ông phải có bịnh đó, ổng tự thí nghiệm bào chữa chứng bịnh của ổng rồi ổng mới đoạt được lịch thi của ổng không thế tưởng tượng.

Đức Phật Thích Ca cũng thế, Ngài cũng sống Ngài đã chịu trong cái Luật quả kiếp ấy luân chuyển từ vật hình dĩ chí cho tới Phật vị, cái quả kiếp của Ngài nó phải chơn thật không thể tưởng tượng được, thể bỏ nó ra thì không có cái triết lý nào giải nghĩa kiếp sanh con người cho nó mực thước hết.

Bây giờ xin luận về duy vật nó nói loài người là một giống khỉ tiến hóa lên chớ không phải Trời sanh ra, Bần Đạo dòm lụng lại sắc dân của Ấn Độ chính mình Phật Thích Ca là dân của Ấn Độ, dân da đen gọi Hắc Chủng, Ngài sanh ra ở đó, da thay vì đen nó hơi hồng hồng, rồi người Đời tặng Ngài màu hồng, họ gọi Ngài là Kim-thân, vì cớ cho nên các tượng hình của Ngài đều phết vàng, bởi tại hai chữ Kim-thân ấy, chính Ngài là sắc dân da đen, mà sắc dân da đen là một Chủng tộc đến mặt địa cầu nầy sớm hơn hết. Chúng ta thử xét đoán nếu quả nhiên là loài khỉ tấn hóa lên cho tới sắc dân hắc chủng ấy có đâu đầu óc của họ đâu có quá chừng quá đỗi, tâm thần quán thế như thế đó, nhứt là đặc biệt hơn hết các triết lý cao siêu về mặt vô hình dân Ấn Độ đứng đầu hơn hết các chủng tộc. Nó trái ngược lụng lại những tộc chủng đã noi theo luật tiến hóa, nhứt là chót hết bây giờ là Bạch-chủng: Tôi thấy họ đã tiến hóa nhiều từ Hắc-chủng lên Thanh-chủng tới Xích-chủng đến Huỳnh-chủng, rồi tới Bạch-chủng đường tiến hóa của nhơn loại nhiều quá, sâu xa lắm, tời chừng dòm lụng lại sắc dân Bạch chủng kia cũng không phải hơn gì sắc dân Hắc-chủng, vì Hắc chủng người đã đến mặt địa cầu nầy hồi ban sơ hết, hay nói là Mẹ của các giống người hết thảy nơi thế gian nầy, mà người ta cao siêu như thế đó thì chính mình Bần Đạo không tin loài khỉ tiến hóa lên được, cái lý thuyết ấy vô lối, nếu không nói là quái dị, hay đặt cho nó cái tiếng là quái gỡ. Cái triết lý của nhà Phật từ thử tới giờ chưa có một vị Giáo-chủ nào đã đọat Pháp mà biết cái bí ẩn Thiêng-liêng của luật Thiên-nhiên kia một cách chánh đáng như thế, chơn thật như thế, có một điều chính mình trong sự luân hồi quả kiếp ấy, Đại Từ Phụ đã làm chứng trong Bài Thơ của Ngài:

"Đài Vân Quan Võ để Phong Thần,
"Còn của Thầy đây để nhắc cân.
"Muôn phước ngàn lần không sót một,
"Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần".

Nói như thế đó, chính mình Đại Từ Phụ đã nói rằng: "Quả kiếp Nhơn quả của con người luật ấy hiển nhiên vẫn có thiệt đó vậy".

 

 

TRIÊU TỊCH

朝 夕
E: Morning and evening.
F: Le matin et le soir.

Triêu: Sáng sớm, buổi sáng. Tịch: buổi chiều tối. Triêu tịch là buổi sáng và buổi chiều tối.

Hành lễ triêu tịch: làm lễ dâng cơm vào buổi sáng và buổi chiều trong tang lễ.

Phật Mẫu Chơn Kinh:

"Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang."

 

 

TRIÊU VĂN ĐẠO TỊCH TỬ KHẢ HỈ

Thánh nhân đạt Đạo mới thấy rằng: sớm mai nghe Đạo chiều chết cũng vui. Trong lòng lúc nào cũng ung dung tự tại với nguồn đạo lý nhiệm mầu.

 

 

TRIỀU CỐNG

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Buồn vì từ đời Hồng Bàng dĩ chí Hậu Lê, dân Việt không ngớt làm thân nô lệ cho Đường-trào. Còn vui tuy ít, mà có hơn không, để giảm bớt cơn sầu của dân ta trong một thuở. Ấy là Việt Vương Câu Tiễn thắng mưu cao kế độc của Tàu, ngay trong đất nước Tàu mới hết nạn triều cống."

 

 

TRIỀU ĐÌNH

Triều đình là chỗ các quan vào chầu vua, chính phủ nước quân chủ. Giúp cho nhân dân hưởng chữ thái bình.Các vị quan văn võ đều trung can, nên giúp cho triều đình được yên ổn đặc biệt.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Giúp dân hưởng chữ thái bình,
"Văn ban võ bá triều đình đặc an."

 

 

TRIỀU NGHI


E: The Court rites.
F: Les rites de la Cour.

Triều nghi 朝儀 là những phép tắc và lễ nghi của triều đình. Đây chỉ triều nghi ở cõi Thiêng Liêng tức Thiên đình. Trước khi vào Linh Tiêu Điện, Ngọc Hư Cung, Chơn hồn phải học những lễ nghi, phép tắc nơi Thiên đình là vậy.

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu:

"Cung bắc Đẩu xem căn quả số,
"Học triều nghi vào ở Linh Tiêu."

 

 

TRIỀU THIÊN

E: To attend to the audience of God.
F: Aller à l’audience de Dieu.

"Giờ đây ba vị Tướng-soái đã triều-thiên, nên mới đến vai-tuồng của Thập Nhị Thời-Quân phải đảm-đương trọng trách cầm quyền Chưởng-Quản Hiệp Thiên Đài là quyền tối cao của Hội-Thánh đương kim. Điều ấy cũng do theo công-lệ "tiền tấn hậu kế".

 

 

TRIỀU NGỌC HƯ

Triều : Triều đình, chầu lạy vua, một đời vua. Td: Triều đại, Triều nghi, Triều Thiên, Triều Ngọc-Hư.

Ngọc-Hư: (Xem Ngọc-Hư vần N).

Kinh Đệ Nhị Cửu có câu:

"Đã thấy đủ Thiên-đình huyền pháp,
"Cổi giác thân lên đạp Ngân-Kiều
"Đẩu-Tinh chiếu thấu Nguyên-Tiêu,
"Kim-Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc-Hư."

 

 

TRIỆU

TRIỆU : Gọi lại, vời đến. Td: Triệu hồi, Triệu tập.

Ngày 2-1-1926 là ngày lịch sử trong khoảng đời tâm linh của Ngài Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư, vì từ đây Đức Chí Tôn mới thực sự dạy Đạo cho Ngài. Vì vậy các Ngài gặp điều gì khó khăn thì triệu thỉnh các Đấng Thiêng liêng. Đêm mồng 4 tháng đó, Đức Chí Tôn giáng cơ quở rằng:

"Thầy đã nói AĂÂ là Thầy, còn cung Diêu Trì là cung Diêu Trì, các Thánh đều có quả. Ấy là những Đấng Thầy sai đến dạy dỗ mấy con, đừng triệu thường vì mỗi vị đều có phận sự riêng. Chư Tiên và chư Thánh đều có quả, song đừng triệu về mà chơi, kỳ dư có điều gì học hỏi".

 

 

TRIỆU NƯƠNG VƯƠNG

Là Bà Triệu Nữ Vương có biệt hiệu là Lệ hải Bà Vương. Tục truyền vú Bà dài lắm. Bà cỡi voi mặc áo giáp vàng, đánh giặc rất giỏi, làm cho quân tướng nhà Ngô bên Tàu phải khiếp sợ, chúng phải thú nhận "Nhập sơn cầm hổ dị, đối diện Bà vương nan" nghĩa là vào núi bắt con hổ là việc dễ, còn đối diện chiến đấu với Bà Vương thật rất khó.

 

 

TRINH

Trinh là gì? -Trinh là chính bền, kết thúc của sự việc.

Trinh là sự chính đính, bền chặc cho đến cùng. Hợp bởi chữ bốc là bói và bối là đồng tiền, tức là chỉ sự bói toán dùng tiền gieo quẻ, mong được ứng điều lành. Trinh, mang ý-nghĩa sự chính bền cũng là sự thành tựu. Điển hình như các Quẻ Kiền, Khôn đều có đủ 4 đức: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Mà Trinh là một trong bốn đức ấy.

*Về thời tiết: trinh thuộc về mùa Đông sự cùng cuối của một năm là giai đoạn thành hình.

*Về người: Trinh thuộc về đức Trí Trí là sự minh mẫn, xét-nét được mọi lẽ thịnh suy, bĩ thới, hành sử theo lương tri, lương-năng của con người một cách sáng suốt. Đức Trinh làm cốt căn cho hành-động, nên nói Sự chi cán dã 事之幹也 Cán nghĩa là một thân cây vững chắc nhờ đó mà cành lá mới nương vào để trở nên tươi tốt.

Thượng-Đế thì "Vô-vi nhi dịch sử quần linh" (Ngọc Hoàng-Kinh). Không làm mà khiến được cả quần linh (Lợi vậy).

Đức Hộ Pháp nói: "Ðức Chí-Tôn duy có một mình, Ngài phân ra mới có Phật-Mẫu. Ngài phân ra Đệ Nhị quyền hiệp lại Đệ Nhứt quyền đủ quyền-năng tạo ra Càn-khôn Vũ-trụ để lập gia đình cho loài người đó vậy. Nhờ Chí-Tôn phân tánh là Bí pháp lập thành xã-hội đó. Chúng ta đã hằng tưởng hiểu cả, loài cầm thú phải có hiệp lại mà biến sanh được, giải rõ là trống mái, đực cái hay nam nữ vậy. Nó tương liên trước mặt chúng ta hoặc một cách âm thầm bí-mật. Vậy loài người bao giờ cũng có xã hội nhơn quần, gia đình, vì mặt luật buộc như vậy, Lời chúng ta thường nói 'Chưa ai ở đất nẻ mà chun lên'. Tức là muốn nói đến 'Cây có cội, nước có nguồn' là như thế."

 

 

TRINH LIỆT

貞 烈
E: Firm, faithful.
F: Ferme, fidèle.

Trinh: Chính đính, không tà vạy, không thất tiết. Liệt: cứng cỏi, không chịu khuất. Trinh liệt là giữ lòng trong sạch, không chịu khuất.

Kinh Sám Hối có câu:

"Giá trong sạch nữ-nhi trượng tiết,
"Giữ cho tròn trinh-liệt mới mầu."

 

 

TRINH TIẾT

Trinh : Chính đính, không tà vạy, không thất tiết.

Kinh Sám Hối có câu:

"Vì chưng trinh-tiết chẳng gìn,
"Có chồng còn lại ngoại tình với trai."

 

 

TRÌNH DUYỆT


E: To present for examination.
F: Présenter pour examen.

Trình: Bày tỏ, phô bày, nói với cấp trên. Duyệt: xem., xét. Trình duyệt là đưa công văn, giấy tờ lên cấp trên xem xét và quyết định.

 

 

TRÌNH MINH THẾ

(Trích lược sử Quân Đội Cao-Đài tự vệ - Lê Thành Dân)

 
   

Nói đến Anh hùng phải cho thật đúng nghĩa: Anh là vua của loài hoa, nghĩa là chỉ về tinh thần, đạo đức, trong sáng. Hùng là vua của loài thú tức là hùng dũng, gan dạ, quyết thắng. Ở đây Tướng Trình Minh Thế thật xứng đáng là Anh hùng của dân tộc, hay nói khác đi Ông là người nồng cốt xuất thân từ Đạo Cao-Đài. Tướng Trình Minh Thế được bổ làm Tham Mưu Trưởng thay Tướng Phương.

Tháng 12 năm Tân Mẹo (Janvier 1951) Tướng Thành, Tổng Tư Lịnh Quân Đội Cao Đài quyết định thuyên bổ các Sĩ Quan trong Quân Đội đảm trách vụ mới như sau:

Tướng Thế về đảm nhận chức Tham Mưu Trưởng thay cho Tướng Nguyễn Thành Phương đi trị bịnh lao phổi tại Bệnh viện Đồn Đất (Hopital Grall Saigon).

Tướng Trình Minh Thế ra Chiến Khu:

…Đêm 21-3-1951 Tướng Trình Minh Thế rút tất cả Tứ phòng và các ban ngành công xưởng cơ khí trực thuộc tại Bộ Chỉ huy Liên Tỉnh Miền Đông cùng các Trung Đội lưu động khu vực Tây Ninh vào rừng lập Chiến khu kháng chiến. Căn cứ kháng chiến của Tướng Trình Minh Thế đóng cập theo biên giới Việt-Miên như các làng Long Thuận, Long Khánh, Long Giang, Long Chữ, Long Vĩnh, Thanh Điền, Ninh Điền và núi Bà Đen (Tỉnh Tây Ninh).

Ông thành lập Mặt trận gọi là "Mặt trận Quốc gia Liên Minh kháng chiến" đặt bản doanh tại núi Bà Đen. Mặt trận tuyên ngôn rằng: Đoàn kết toàn dân gồm 6 thành phần: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh, Tăng, nhằm đánh ba kẻ thù là bài phong, đả thực, diệt cộng để giải phóng quê hương, giành độc lập cho đất nước.

Chủ trương của Mặt trận dứt khoác không hợp tác với phong kiến, với thực dân, với Cộng Sản. Mà chỉ kết hợp với tất cả các đoàn thể và các cá nhân có lòng yêu nước. Đài phát thanh trong núi lan đi khắp nơi trong nước cũng như ngoài nước làm cho Pháp, Chánh phủ Quốc gia và Việt Minh cũng như các giới chánh trị nghi ngờ về đường lối của Cao Đài.

Việt Minh cho rằng việc Tướng Thế ra rừng là do tổ chức của các nhà lãnh đạo Tôn giáo Cao-Đài, nhằm mục đích lấn chiếm vùng kiểm soát của Việt Minh.

Pháp thì nói sự ra đi của Tướng Thế là do Ông Phạm Hộ Pháp tổ chức để chống Pháp.

Chánh phủ Trần Văn Hữu của Bảo Đại cũng làm khó dễ không ít đối với Đức Hộ Pháp và Tướng Thành. Cho rằng đây là một âm mưu của Đạo Cao Đài tổ chức cho Tướng Thế đi để chống lại Quốc Gia Việt-Nam.

Một số Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu cho rằng Tướng Thế vì buồn nội bộ mà ly khai.

Bốn trường hợp trên đây ai đoán đúng ai đoán sai? Và sự thật ra sao?

Chủ Tịch Mặt trận Quốc Gia Liên Minh Kháng chiến tuyên bố:

Tổ chức Chiến khu an bày và bắt đầu hoạt động thì bom nổ trước nhà hàng Majestic Saigon, xe của các Sĩ quan Pháp và các Bộ trong nội các Chánh phủ hư hại nhiều. Tại Nam vang Cao Miên, bom nổ tại bãi xe Nhà hàng lớn làm cho công chức và Sĩ Quan Pháp bị thương và chết cũng nhiều. Tại Tỉnh Sa-Đéc miền Tây Nam Việt, ném bom giết Thiếu Tướng Chamson là một Tư lịnh và Thái Lập Thành, Thủ Hiến Nam phần Việt Nam, gây tiếng vang đều khắp trong cả nước lẫn ngoài nước. Sự xuất hiện xuất quỉ nhập Thần của Liên minh làm cho Pháp và Chánh phủ bù nhìn lo sợ. Pháp đưa quân thiện chiến về núi đồi tấn công vào bản doanh của Tướng Thế tại núi Bà và bao vây liên tục nhưng không sao triệt hạ được thế lực của Tướng Trình Minh Thế.

Quân đội của Tướng Trình Minh Thế đã tấn công Quân Đội Pháp liên tục và Quân đội Pháp cũng hành quân ráo riết cố diệt cho được Quân đội Liên Minh, như thế mà Việt minh còn tuyên truyền khắp trong vùng sâu rằng: Lực lượng của Tướng Trình Minh Thế là tay sai của Pháp đưa vào lập Chiến khu để đánh Việt Minh. Việt Minh cấm nhân dân không được tham gia hoạt động cho Quân Đội Liên Minh, nếu ai tham gia thì sẽ chịu tử hình. Việt Minh gây căm thù với Liên Minh tích cực. Thậm chí người Cha của Tướng Trình Minh Thế là Cụ Trình Thành Quới và em ruột là Trình Minh Đức làm lò gạch ở vùng Cái Tắt (Bến Cầu) mà Việt Minh cho nhơn viên đột nhập vào đốt cháy hết các dãy trại, giết chết Ông Quới và em Đức cùng một số người thân thuộc rồi bỏ đi. Điều này càng căm hờn chủ thuyết của Việt Minh nhiều hơn nữa.

Tuy nhiên, không vì vậy mà Tướng Trình Minh Thế thù hận hết những người Việt Minh. Trái lại, ông rất thâm tình với các anh Việt Minh đã bỏ hàng ngũ Cộng Sản trở về hợp tác cùng Ông lo cho đại nghĩa Liên Minh như các Anh:

- Lâm Tiến Dũng (tự Thưởng) Bí thư Tỉnh Gia Định.

- Vũ Ước, nhà báo.

- Nhị Lang, nhà chánh trị (cả hai là người Bắc).

- Nguyễn Văn Phương, chánh trị viên.

- Hồ Hán Sơn, nhà chánh trị và Quân sự. (cả hai là người Trung).

Ngoài các anh này ra Tướng Trình Minh Thế còn kết hợp với các nhân vật tên tuổi khác trong Việt Nam Quốc Dân Đảng của Cụ Hải Thần. Độc lập đảng của Cụ Hồ Văn Ngà. Dân xã Đảng của Hoà Hảo. Quốc gia Liên hiệp của Vũ Tam Anh và Đệ Tam Sư đoàn của Nguyễn Hoà Hiệp… nên Mặt trận Quốc gia Liên Minh Kháng chiến có một Bộ Tham mưu nhiều thành phần đứng chung nhau để chiến đấu giành lại quê hương đất nước.

Ngoài mục đích trên Tướng Trình Minh Thế còn có nhiệm vụ tối mật là bảo vệ nền Đạo của Đức Chí-Tôn cho đến ngày Khánh Thành Đền Thánh (Toà Thánh Tây Ninh).

Bấy nhiêu tài năng và thành tích của TRÌNH MINH THẾ cũng đã làm cho người Pháp phải kinh oai. Sau đây là phúc trình của Ông GAUTIER gởi cho Bộ trưởng Liên Quốc nói về Quân Đội Cao-Đài.

PHÁP nhận định riêng về Ông Trình Minh Thế:

Tướng Trình Minh Thế bao giờ cũng là địch thủ nguy hiểm nhất của ta cả về chánh trị lẫn quân sự.

Ông ta có một nghị lực không gì khuất phục nỗi, một sức làm việc không biết mỏi mệt và những đức tính, hành động đã được chứng tỏ nhiều lần có thể phá hoại công cuộc của chúng ta được. Ông đã gây cho ta không phải ít điều phiền toái, khi ông còn ở trong Quân Đội Cao Đài trước ngày ra khu. Ông đã lập được nhiều xưởng cơ khí quan trọng và gây được phong trào quần chúng mạnh mẽ. Hiện nay Ông được rất nhiều dư luận Quốc tế chú ý, đứng đầu là dư luận Mỹ, bởi Ông ta đã chiếm một lập trường vững chắc. Ông vừa tuyên bố chống Ta, chống Cộng. Trước khi rời khỏi hàng ngũ Cao-Đài, Ông đã có liên lạc nhiều giới nhân vật Mỹ ở Sài-gòn, theo sự dò xét của ta thì những sự tiếp xúc đó không ngoài vấn đề cộng tác giữa hai bên. Khi Ông ta ra Rừng, Ông có lần gặp gỡ Tổng Thơ Ký Toà Đặc sứ Mỹ ở Cẩm Giang (Tây Ninh).

Hiện nay phong trào của Trình Minh Thế không phải là một đe doạ nặng nề cho chúng ta nữa, bởi vì những quân sĩ của Ông ta vẫn còn tranh đấu trong phạm vi Tôn giáo nhiều hơn, là bởi trong bộ đội còn thiếu chánh trị viên. Chúng ta có thể lợi dụng lòng Tín ngưỡng của họ để buộc Ông Phạm Công-Tắc ra mệnh lệnh cho Tín Đồ rời bỏ chiến khu, lại nữa ta bảo Ông Thành tuyên truyền rằng: "Ông Thế hành động theo mạng lịnh của Việt Minh". Vì đó mà Ông Thành buộc phải tiêu diệt quân phiến loạn. Bằng cách ấy ta có thể làm suy yếu nội bộ Cao-Đài mà không sợ dư luận Mỹ, như thế vấn đề Ông Trình Minh Thế có thể coi là tạm giải quyết xong …

Nói tóm lại: Chiến thuật của ta là chia rẻ lực lượng Cao Đài, không kể lực lượng của Ông Thế, làm hai phe dễ dàng bóp nghẹt một phe, hoặc là ta để cho lực lượng ấy thăng bằng nhau để dễ bề tiêu diệt cả hai.

Ở Việt Nam vấn đề Cao-Đài là một trong những vấn đề gai gốc nhứt cần phải giải quyết kịp thời để tránh những kết quả tai hại"….

(Bản Phúc trình này viết bằng tiếng Pháp. Quân Đội Cao Đài mua của các gián điệp viên làm việc với Pháp, dịch ra Việt Ngữ dài 12 trang giấy pelure đánh máy, chỉ trích lấy một phần trọng yếu).

Bài thài Trình Minh Thế:

Lỡ bước qua sông chẳng kịp đò,
Chí cao khéo định khỏi phiền lo.
Anh hùng định thế chưa an thế,
Chỉ tiếc mày râu chẳng vẹn trò.

 

 

TRÌNH TẤU

呈 奏
E: To expose respectfully.
F: Exposer respectueusement.

Trình: Bày tỏ, phô bày, nói với cấp trên. Tấu: tâu lên Đức Chí Tôn. Trình tấu là tâu lên Đức Chí Tôn các sự việc xảy ra.

Sớ Văn:

Quì tại điện tiền thành tâm trình tấu.

 

 

TRÒ ĐẠO ĐỨC

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nên trò đạo đức dễ gì đâu,
Vui chẳng vui sầu chẳng dám sầu.
Cái khổ của đời mình ước vọng,
Cái chê của chúng lại nài cầu.

 

 

TRỌN ĐẠO

E: To fulfil one’s duty.
F: Accomplir son devoir.

Trọn: (nôm) Hoàn toàn. Đạo: nguyên tắc đúng đắn phải gìn giữ và tuân theo. Trọn đạo là gìn giữ trọn vẹn bổn phận của mình.

Kinh Vào Học:

"Nguyện Tam cang gìn tâm trọn đạo."

 

 

TRỌN KÍNH TRỌN NGAY

Kinh Sám Hối có câu:

"Phận làm tớ thật-thà trung-tín,
"Với chủ nhà trọn kính trọn ngay."

 

 

TRỌN LÀNH

E: Perfectly pure.
F: Parfaitement pur.

Trọn: (nôm) Hoàn toàn. Lành: thiện, tốt, trong sạch. Trọn lành là hoàn toàn tốt lành, hoàn toàn trong sạch.

Đấng trọn lành: các Đấng thiêng liêng vào hàng Tiên, Phật và Bồ Tát.

Chú Giải pháp chánh Truyền: Trong Bát Quái Ðài, kể từ Tiên vị đổ lên cho tới Thầy thì đã vào địa vị các Đấng trọn lành (Classe des Parfaits ou des Purs), từ Thánh vị trở xuống nhơn vị thì vào hàng Thánh (Classe des Épures), từ thú cầm xuống vật chất thì hàng phàm tục (Classe des Impures). Ấy vậy, trong Bát Quái Ðài từ bực Thánh hồn thì còn phận sự điều đình Càn Khôn Thế giới, giao thiệp cùng các chơn hồn, còn ở trong vòng vật chất, nâng đỡ, dạy dỗ cho phàm phẩm tấn hóa lên cho tới Thánh vị. Hễ vào Thánh vị rồi thì tự nhiên mình biết lấy mình, dầu phải bị đọa trần đi nữa cũng còn giữ vẹn Thánh đức mà tu hành đặng đạt đến địa vị trọn lành, lên địa vị trọn lành rồi thì mới đồng quyền cùng Tạo hóa, từ bi, tự tại, bất tiêu bất diệt.

 

 

TRỌN NGHÌ

E: Entirely loyal.
F: Entièrement fidèle.

Trọn: (nôm) Hoàn toàn. Nghì: Nghĩa: cách cư xử đúng theo đạo lý.

Trọn nghì hay Trọn nghĩa: hoàn toàn vì nghĩa.

Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu:

"Con gìn câu chết sống trọn nghì."

 

 

TRỌNG ĐẠI

重 大
E: Great and important.
F: Grand et important.

Trọng: Nặng, rất, lớn, chuộng, kính trọng. Đại: lớn. Trọng đại là lớn lao và quan trọng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Con sẽ trọng đại và đủ quyền năng do Thiên ý.

 

 

TRỌNG ĐÔNG

E: The second month of Winter.
F: Le deuxième mois d’Hiver.

Trọng Đông là tháng giữa mùa Đông: tháng 11 âm lịch.

Khi nói về các tháng trong một mùa, người ta thường dùng các từ ngữ: Mạnh, Trọng, Quí. Mạnh là tháng đầu, Trọng là tháng giữa và Quí là tháng chót.

 

 

TRỌNG HẬU

重 厚
E: Generous.
F: Généreux.

Trọng: Nặng, rất, lớn, chuộng, kính trọng. Hậu: dày dặn. Trọng hậu là quan trọng và dày dặn.

Thầy nói: "Không cần nói chúng nó cũng hiểu, Thầy rất vui mừng. Vậy Thầy dặn con, mỗi khi chúng nó (Thổ nhơn) đến, phải tiếp rước trọng hậu, nghe à!"

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ấy là các con hiến cho Thầy một sự thành kính trọng hậu đó.

 

 

TRỌNG NI

Khi Đức Khổng Tử lên ba tuổi, thân phụ Ngài mất, nhờ mẹ nuôi nấng và dạy dỗ nên người. Lớn lên Ngài là người học Nho, nên rất trọng về lễ nghi và những phép tắc của các Đế Vương đời trước. Ngài có ra làm quan nước Lỗ, nhưng thấy vua mê nữ sắc bỏ phế việc triều chính, Ngài bèn từ quan mà đi chu du liệt quốc chư hầu, mong tìm vị minh quân để phò tá, nhân đó xiển dương Thánh Đạo.

Cuối cùng, Ngài thất vọng phải trở về nước Lỗ mở trường dạy học và san định Lục kinh. Lúc Ngài viết quyển kinh Xuân Thu vừa xong, có tin người thợ săn bắt được một con kỳ lân què chơn trái, Ngài thắc mắc "Kỳ lân ra làm gì thế?". Ít hôm sau nghe tin kỳ lân bị giết chết, Ngài bưng mặt khóc mà than rằng: Đạo Ta cùng vậy "Ngô Đạo cùng hỹ" 吾道窮矣 Ngài mất vào đời vua Ai Công nước Lỗ, tháng tư, ngày Kỷ-Sửu thọ được 73 tuổi.

Đức Hộ Pháp nói: "Đức Khổng-Phu-Tử tự là Trọng Ni cũng vì nhơn thấy đặng hung bạo của đời nên lo trù hoạch phương-châm giảm ác mới đặng đoạt triết lý chí thiện là cơ quan bảo thế. Ngài đắc thông nên tự nhiên biết rằng cơ Tạo, nghĩa là Trời, Đất và vạn vật hữu hình phải tấn hóa lần lần cho tận con đường chí thiện (nghĩa là người thì tận thiện, vật thì tận mỹ) gọi là Đạo".

 

 

TRỌNG HỆ

重 繫
E: Important.
F: Important.

Trọng: Nặng, rất, lớn, chuộng, kính trọng. Hệ: dính dấp, liên hệ. Trọng hệ là liên hệ quan trọng, có phạm vi ảnh hưởng lớn.

Thầy dạy:"Thượng Sanh, Mỹ Ngọc và Hoạch Hiệp Thiên Đài! Thầy đã sắp đặt còn lại chẳng bao nhiêu xứng đáng, trách nhậm ba con cũng khá trọng hệ, làm thế nào chung trí cùng Anh của ba con mà ngăn ngừa các sự bất công của mấy đứa tà tâm đặng vững tư cách của Đạo thì công quả chẳng nhỏ".

Riêng Đức Hộ Pháp thì nói về phần hành của Ngài rằng: Qua chỉ biết phận sự của Qua là Đại-Từ Phụ giao phó với một lời yếu thiết như thế này: Tắc, đời quá khổ chẳng phải khổ về xác thịt mà thôi, mà lại khổ đến tinh thần nữa, nạn của nhơn loại tương tàn tương sát sắp đến. Thầy giao cho con một cây Cờ Cứu Khổ, chẳng phải cứu khổ tinh thần mà thôi, lại lẫn cả thể xác nữa. Trọng hệ hơn hết là điều ấy Thầy giao phó cho con, nhưng mà con phải hiểu: có khổ về tinh thần mới biến sanh ra khổ của thể xác".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy sẽ giao trách nhậm trọng hệ cho con truyền Đạo ở Trung Kỳ.

 

 

TRỌNG NAM KHINH NỮ

重 男 輕 女
E: To respect man and despise women.
F: Respecter les hommes et mépriser les femmes.

Trọng: Nặng, rất, lớn, chuộng, kính trọng. Khinh: xem nhẹ, coi thường. Nữ: phụ nữ. Trọng nam khinh nữ là quí trọng đàn ông con trai, khinh rẻ đàn bà con gái.

Chế độ quân chủ thời xưa thì trọng nam khinh nữ, nên đưa đến chế độ đa thê, nhưng ngày nay với thể chế tự do dân chủ thì nam nữ bình quyền, việc đa thê được bãi bỏ.

Ở các nước Tây phương, nữ lại được tôn trọng hơn nam; trái lại, trong các nước Hồi giáo thì nam được tôn trọng mà nữ bị khinh rẻ.

 

 

TRỌNG NGHĨA KHINH TÀI

重 義 輕 財
E: To honour duty and despise riches.
F: Honorer le devoir et mépriser la richerse.

Trọng: Nặng, rất, lớn, chuộng, kính trọng. Nghĩa: việc phải. Tài: tiền bạc. Trọng nghĩa khinh tài là xem nặng việc nghĩa, coi thường tiền bạc.

 

 

TRỌNG TÀI

仲 裁
E: Arbitration.
F: L’arbitrage

Trọng: Giữa, thứ nhì. Tài: quyết đoán, phân xử. Trọng tài là đứng giữa phân xử khi hai bên tranh chấp không chịu nhượng bộ nhau.

 

 

TRỌNG TRÁCH

Trọng trách là một trách nhiệm nặng nề trong việc đạo. Tuy nhiên chỉ riêng Thầy mới biết khả năng của mỗi người mà so tài lượng sức Thầy mới giao phó, nhưng khi đã nhận thì phải gắng công, có khó mới có hay, thì công thưởng tội trừng cũng không nhỏ vậy.

Đây là lời Thầy dạy riêng cho (ông B...) tức ông Lê Văn Bảy, Giáo Sư Thượng Bảy Thanh, làm Chủ trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo tại Kim Biên, Nam Vang, ông qui vị tại Nam Vang ngày 10-1-Mậu Tý (19-2-1948).

Thầy dạy: "B...! Thầy đã lấy ân huệ ban cho con, rất xứng đáng. Cái ân huệ ấy là tấm sắt hộ tâm, sao chẳng giữ gìn trọng trách, làm cho chinh lòng nhau?"

 

 

TRỌNG TRƯỢC

重 濁
E: Very dirty.
F: Très sale.

Trọng: Nặng, rất, lớn, chuộng, kính trọng. Trược: Trọc: dơ đục, dơ bẩn. Trọng trược là rất dơ bẩn.

 

 

TRỌNG XUÂN

仲 春
E: The second month of Spring.
F: Le deuxième mois du Printemps.

Trọng: Giữa, thứ nhì. Xuân: mùa xuân. Trọng xuân là tháng giữa mùa xuân, tức là tháng thứ nhì của mùa xuân. Đó là tháng 2 âm lịch, vì mùa Xuân có 3 tháng: tháng giêng, tháng hai và tháng ba.

Khi nói về các tháng trong một mùa, người ta thường dùng các từ ngữ: Mạnh, Trọng, Quí. Mạnh là tháng đầu, Trọng là tháng giữa và Quí là tháng chót.

 

 

TRỌNG YẾU

F: Important.

Trọng yếu: Trọng hệ và cần thiết.

Đức Hộ Pháp nói:"Chúng ta đã thấu đáo cả chơn truyền của Đức Chí Tôn các huyền vi bí mật cơ tạo đoan Càn Khôn Vũ Trụ, nó có ba điều trọng yếu là: 1- Cái kiếp sanh của ta theo như chơn truyền Đức Chí Tôn các chơn linh đến tại mặt thế này hay là các địa giới trong Càn Khôn Vũ Trụ, cốt để trả quả kiếp của mình, hoặc mình đã tạo căn quả, vì trong con đường tấn hóa chơn linh của mình không đủ mực thước để điều khiển khối nguơn linh yếu ớt, không đủ quyền duy chủ mà phải phạm thêm tội tình oan nghiệt. 2- Đến đặng tìm tàng cái học lực của mình, học lực của mình là điều mình muốn biết cả kiếp căn của mình nếu không biết cũng đeo đuổi theo, tìm tàng theo cho biết cả cơ quan bí mật tạo đoan. 3- Là đến lập vị cao thăng hơn nữa tức nhiên theo cơ tạo đoan Càn Khôn Vũ Trụ về hữu hình cốt yếu để giúp cho các chơn linh tấn triển trên con đường Thiêng Liêng Hằng Sống. Bần Đạo có cho toàn thể chúng ta thấy căn sống của mình chẳng phải nơi trái địa cầu 68 này mà thôi, mà các mặt địa cầu khác trong Càn Khôn Vũ Trụ cũng đều một khuôn luật ấy."

 

 

TRÒNG TÊN TRÁO TUỔI

Có nghĩa là một sự gian dối, khai tên tuổi giả mạo mong được một sự lợi lộc nào đó, làm qua mặt giới hữu trách.

Đức Lý dạy:"Lão phong thêm Chức sắc Hội Thánh cho phu phỉ việc làm. Lão sở cậy mỗi người chung lo với Lão, hết lòng hành sự. Mỗi Tín đồ phải cầm giấy chứng của Hội Thánh ban cho chúng nó, phải khai tịch họ hàng, con cái cho Hội Thánh cầm. Nhiều đứa cả gan tròng tên tráo tuổi. Chư Hiền hữu đâu rõ thấu. Chức sắc phải có cấp bằng."

 

 

TRÔNG NGỌC

Trông ngọc là ý nói trông ngóng người yêu. Thơ cổ có câu: "Nguyệt di hoa ảnh ngọc nhân lai" có nghĩa là: Bóng trăng đã xế, người ngọc đến. Người ngọc là người con gái đẹp như ngọc, chỉ người yêu.

Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn có câu:

Nào khi đứng giữa đàng trông ngọc,
Nào khi ngồi dưới bộc trong dâu.
Chừ sao phụ nghĩa sơ giao,
Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

 

 

TRỐNG LÀ ÂM THINH CỦA ĐẠO

 

 
   

Đức Hộ Pháp giảng: "Trống là âm thinh của Ðạo. Thuở chưa có càn khôn vũ trụ, Ðạo giáo có dạy: Hai lằn nguơn khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái Cực. Chủ ngôi Thái Cực là Ðức Chí Tôn. Khi nào Trời sét nổ, chúng ta nghe sao? An Nam mình kêu "Ầm" còn theo Ðạo pháp kêu "Ùm", vì cớ phép Phật sửa lại là "úm"' (Úm ma ni bát rị hồng) câu ấy đọc có nghĩa là nắm cả quyền năng vũ trụ quản suất trong tay. Tiếng nổ ta nghe nó ra sao? Khi nổ rồi còn nghe tiếng bay xa, nguyên căn của tiếng nổ là tiếng trống, còn giọng ngân là tiếng chuông. Ấy vậy nguyên căn của Ðạo Giáo do bên Á Ðông nầy, có tiếng trống ngân bay qua Âu Châu, nên các Ðạo giáo Âu Châu đều là hưởng ứng theo Phật Giáo mà Phật Giáo xuất hiện nơi Á Ðông. Vì vậy mà các nền tôn giáo phụ thuộc không đúng theo nguyên tắc căn bản."

 

 

TRỒNG TRẦU TRỒNG LỘN VỚI TIÊU

Ca dao Việt Nam thường ví von rằng:

Trồng trầu trồng lộn với tiêu,
Con theo hát bộ mẹ liều con hư.

Câu này ngụ ý một sự lầm lẫn đáng tiếc, khi tính một chuyện mà kết quả lại thành ra một vấn đề khác. Thường, trên trường chánh trị của đời luôn mang theo một hình thức giả dối, lừa bịp, giả thương sanh chúng. Nếu một người cầm đầu biết thương dân có khác nào như vua Thuấn, Nghiêu thuở nọ, nhưng chưa thấy, chỉ toàn là kế xảo mị mà thôi.

Thế nên Bát Nương Diêu-Trì-cung giáng cho thi như vầy:

Trồng trầu sao lại hóa dây tiêu?
Đánh cá nhờ quơ rựa lão Tiều.
Cửa Phật nào dè trông gặp Quỉ,
Nhà ma đâu nỡ dụng làm yêu.
Bịt đầu sớ rớ đi quơ áo,
Làm cá lộn tôm chạy kiếm rìu.
Đạo chỉ làm hiền nên quái lạ,
Chủ thì nhỏ nhẹ, tớ làm kiêu.

 

 

TRỘM NÉN HƯƠNG THỪA

(Trộm là một sự lén lút, nén hương là chỉ sự thơm tho và đáng quí, Thừa là vô ích). Trộm nén hương: Ý nói việc trai gái yêu nhau vụng trộm. Trộm nén hương thừa: Ý nói yêu đương vụng trộm với một người con gái thuộc loại không tốt.

Điển tích: Theo Thế Thuyết Tân Ngữ, Hàn Thọ đang làm thư lại cho quan đại thần Giả Sung, dưới triều nhà Tần. Hàn Thọ đẹp trai, nên con gái của Giả Sung phải lòng và tư thông nhau. Giả Sung có thứ hương liệu quí do vua Tần ban thưởng, bị con gái đánh cắp đem cho Hàn Thọ. Khi lộ chuyện ra, Giả Sung buộc lòng phải gả con gái cho Hàn Thọ.

Không lẽ nói mến anh quên én,
Không lẽ rằng trộm nén hương thừa.
Nói chi tìm vợ dâng dưa,
Lẽ nào nói rượt theo vừa Hằng Nga.

 

 

TRỞ CHƠN

Trở: (nôm) Thay đổi, đổi hướng, lật ngược. Td: Trở pháp, Trở tâm.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Trở chơn ít kẻ lo đi ngược,
Bước đọa xem qua dấu dập dìu.

 

 

TRỞ GIÁO HẠI THẦM

Trở giáo hại thầm: Ám chỉ kẻ phản bội.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Biết bao kẻ gọi là thương Đạo,
Cận bên mình lừa đảo phản tâm.
Chờ khi trở giáo hại thầm,
Ghét ganh hám vọng chớ lầm kẻ ngoa.

 

 

TRỞ TÂM

E: To change feelings.
F: Changer de sentiments.

Trở: Thay đổi, đổi hướng, lật ngược. Tâm: lòng dạ. Trở tâm là thay lòng đổi dạ.

Kinh Ði Ra Ðường:

"Dòm thấy cuộc kinh dinh dưới mắt,
"E trở tâm tánh bắt đổi thay."

 

 

TRỞ TRÁO

E: To betray.
F: Trahir.

Trở: Thay đổi, đổi hướng, lật ngược. Tráo: đổi vật nọ thay vật kia để lừa gạt. Trở tráo hay Tráo trở là đổi trắng thay đen một cách dễ dàng, làm trái những điều đã cam kết.

Lời Thầy dạy Nữ phái: Huệ con, Lâm thị con, khá nghe lời dạy. Con ôi!

Đừng tưởng Lão chẳng vì lòng thảo,
Cậy con rồi trở tráo chối công đâu.
Cười... Khó việc chi cũng tại buổi đầu,
Con ra sức mới thâu toàn Nữ phái.

 

 

TRỢ LỊNH


E: To aid the execution of an order.
F: Aider à l’exécution d’un ordre.

(Trợ: Giúp đỡ. Lịnh: lịnh của cấp trên, mệnh lệnh). Trợ lịnh: Giúp đỡ thi hành các mệnh lệnh.

Kinh Đưa Linh Cữu có câu:

"Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh,
"Giữ Chơn hồn xa lánh xác trần."

 

 

TRỢ LỰC

助 力
E: To aid.
F: Aider.

Trợ: Giúp cho, giúp đỡ. Lực: sức. Trợ lực là giúp sức.

Bát Ðạo Nghị Ðịnh:

Cao Tiếp Đạo, em ráng nâng loan, có Qua trợ lực. (Đức Cao Thượng Phẩm nói với Ngài Cao Tiếp Đạo).

 

 

TRỢ LÝ

助 理
E: To assist.
F: Assister.

Trợ: Giúp cho, giúp đỡ. : sắp đặt công việc cho trật tự. Trợ lý là giúp đỡ người có chức vụ quan trọng trong công việc chuyên môn.

Trợ lý Giám đốc: người giúp đỡ vị Giám đốc trong những phần hành chuyên môn.

 

 

TRỜI LÀ AI?

"TRỜI là Đấng đủ quyền-hành Chí-linh tạo thành càn khôn thế-giới. Đấng tự hữu hằng hữu, đã sanh thành vạn-vật và loài người, Cha Cả của chúng-sanh, Chúa-tể của các đẳng linh hồn, chủ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật… theo ngôn ngữ của các sắc nhơn-sanh tôn tặng. Kể hoài cũng không hay gì hết, cái không-trung vô-ngằn (L’infini) không bờ không bến kia đã huyền-bí bao nhiêu, thì Đấng Tạo-hóa là Chủ-tể của nó cũng huyền-bí bấy nhiêu.

"Thật là hễ càn khôn vô-tận-thức thì đức tánh của Hóa công cũng vô-tận-thức. Chí ư xem thử cơ-quan hữu-vi là vạn linh của tay Người đào-tạo cũng thấy rõ-ràng là cơ vô-tận. Càng trầm-tư mặc-tưởng mà tìm-tỏi tánh Trời thì càng thấy to tát nhiệm-mầu đến phải kinh-tâm tán đởm.Dầu bên Âu-Tây hay là nơi Á-Đông đây cũng vậy, từ thử cũng sản-xuất lắm mặt hiền tài, trí cao học rộng, chưa để ý vào một Tôn-giáo nào đủ sức gợi đức-tin để tự mình quan-sát. Thường lấy cả cuộc hữu-vi thế-giới đặng làm máy hành-tàng mà tìm cho ra mặt Đấng Chí Tôn vạn-vật. Càng tìm kiếm, càng lạc-lầm, càng muốn hay càng thấy dốt, rốt lại thì chỉ than rằng: Thật là tối cao! Thật là tối đại!"

 

 

TRỜI PHẬT

Kinh Sám Hối có câu:

"Ăn-năn khử ám hồi minh,
"Từ-bi Trời Phật rộng tình xét cho."

 

 

TRỜI XANH

Ông Phạm Công Tắc hết lời khen lời châu ngọc về điệu thơ Tiên của Thất Nương xong hoạ lại ngay:

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
Trời xanh vội lấp Nữ-anh-tài.
Tình thâm một gánh còn dương-thế,
Oan nặng ngàn thu xuống dạ-đài.

 

 

TRU DIỆT

誅 滅
E: To exterminate.
F: Exterminer.

Tru: Giết chết. Diệt: làm cho tiêu mất. Tru diệt là giết cho tiêu mất.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt.

 

 

TRU LỤC

誅 戮
E: To kill.
F: Tuer.

Tru: Giết chết. Lục: giết chết. Tru lục là giết chết.

Minh Thệ: ... như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.

Thiên tru Địa lục: Trời giết Đất giết, không thể chạy trốn đâu cho khỏi bị giết chết.

 

 

TRÙ PHÒNG

廚 房
E: The kitchen.
F: La cuisine.

Trù: nhà bếp. Phòng: cái phòng. Trù phòng hay Phòng trù là nhà bếp dùng để nấu ăn cho một cơ quan gồm nhiều người.

 

 

TRỤ CĂN

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Trụ căn quỉ khí cửu-tuyền,
"Quảng khai thiên thượng tạo quyền chí công."

Cả quỉ hồn, Phật Mẫu trụ nó lại tuyền đài, mở rộng cửa Trời đặng thật hành quyền Chí Tôn tại thế.

 

 

TRỤ NGHĨA

住 義
E: To conserve one’s duty.
F: Conserver son devoir.

Trụ: Ở, ngừng, giữ yên, nương dựa. Nghĩa: điều nghĩa. Trụ nghĩa 住義 là đứng vào những điều nghĩa, tức là ở trong vòng những điều đúng theo đạo lý.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Đắc văn sách thông Thiên định Địa,
"Phép huyền công trụ nghĩa hóa thân."

 

 

TRỤ TÂM


E : To hold fast the heart.
F: Conserver son coeur.

Trụ: Ở, ngừng, giữ yên, nương dựa. Tâm: lòng dạ, cái tâm của mỗi người. Trụ tâm là giữ vững cái tâm, tức là đem cái tâm ý vào một chỗ, chuyên chú vào một đối tượng, một cảnh, không để tâm bị phân tán, ấy goị là phóng tâm, nghĩa là đừng để tâm chạy theo duyên ở quá khứ, hiện tại hay tương lai.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Trụ tâm nâng đỡ quốc hồn,
"Giữ bền đảnh nghiệp vĩnh tồn hậu lai."

 

 

TRỤ TINH THẦN

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu:

"Nơi Kim-Bồn vàn-vàn nguơn chất,
"Tạo hình-hài các bậc nguyên nhân.
"Cung Trí-Giác, trụ tinh thần,
"Huờn hư mầu-nhiệm thoát trần đăng Tiên."

 

 

TRỤ THẦN

住 神
E: Conserve one’s mind.
F: Conserver son esprit.

Trụ: Ở, ngừng, giữ yên, nương dựa. Thần: tinh thần. Trụ thần là giữ vững tinh thần, không để cho tinh thần phân tán lo ra.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Bắt ba ấn phải trụ thần, làm sao cho ấn ấy đừng thất pháp.

 

 

TRỤ TRÌ

住 持
E: The headmonk of the pagoda.
F: Le bonze chef d’une pagode.

Trụ: Ở, ngừng, giữ yên, nương dựa. Trì: gìn giữ. Trụ trì là ở và gìn giữ.

Sư trụ trì là vị sư làm chủ chùa, ở tại chùa, điều khiển các công việc trong chùa.

Sư trụ trì cũng được gọi là: Chủ tăng, Thủ tọa.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Nhứt là Thiền môn, mỗi khi làm chay, cầu siêu hay tuần tự chi, đều rước một vị Hòa Thượng trụ trì đến.

 

 

TRUÂN Quẻ 03. Thuỷ Lôi Truân

 

 

Quẻ 03. Quẻ Thuỷ Lôi Truân

 

 

Tượng: Thời Tiền khai Đại-Đạo

Quẻ này là quẻ Thuỷ Lôi Truân. Trên là Khảm thượng là quẻ ngoài. Dưới là Chấn nội. Khảm là Thuỷ, Chấn là Lôi, tên quẻ đọc là Thuỷ Lôi Truân. Biệt số 64.

Chữ Truân chính nghĩa của nó là cây cỏ có mầm xuyên dưới đất, thế nên dạng giống như chữ thảo là cỏ, vì mới nhô lên trong đất nên cây mọc chưa thẳng.

1-Tại sao quẻ Truân lại đứng vào quẻ thứ 3 của Thượng kinh, sau quẻ Càn Khôn?

- Bởi vì có Trời đất rồi sau đó muôn vật mới hoá sanh. Bấy giờ khắp trong trời đất duy chỉ có vạn-vật, nên sau quẻ Càn Khôn tiếp lấy quẻ Truân.

Truân kết hợp bởi:

Khảm trên là Khảm thượng, có một hào Dương bị hãm ở giữa hai hào Âm, đức của nó là hãm, là hiểm nghèo; tượng là mây, mưa, nước…

Chấn ới là Chấn hạ, có một hào Dương bị đè dưới hai hào Âm, tượng là sấm, đức của nó là động.

Mỗi quẻ đơn như vậy có ba vạch. Hai quẻ đơn họp thành quẻ kép là Quẻ Thuỷ Lôi Truân có 6 vạch. Truân là gian khó, cái ý chưa thông đạt của muôn vật, vì mới bắt đầu sinh ra, như mầm cây cỏ còn trong đất.

Truân do Chấn gặp Khảm. Bởi qua thời Càn Khôn mới giao nhau thì gặp chỗ hiểm nên đặt tên là TRUÂN. Nếu Âm Dương không giao nhau là thời BĨ (Thiên Địa Bĩ). Thoảng gặp thời gian-nan hơn nữa thì gọi là KHỐN (Trạch Thuỷ Khổn).

Khi trời đất đã thành, muôn vật bắt đầu cuộc Truân.

Truân nghĩa là mới bắt đầu sinh ra, vật mới sinh ra còn non-nớt. Suy ra, nếu sự việc gì còn trong lúc ban đầu, bỡ ngỡ, khó-khăn gọi là thời Truân (gian-truân).

Phàm ở đời có câu "Vạn sự khởi đầu nan".

Cuộc Truân là cuộc huy động bên trong, chưa hiện ra ngoài. Nên nói rằng: Truân hiện ra mà không mất chỗ của nó "Truân hiện nhi bất thất kỳ cư" 屯現而不失其居.

2-Luận về Y-học:

Sau cuộc Càn Khôn, chính đạo Âm Dương đã định vị thì đến cuộc Truân. Khí Dương đã xâm nhập vào khí Âm, hai khí biến-chuyển là cuộc Truân. Lúc khí Dương của đàn ông bắn vào gặp trứng trong dạ con người đàn bà trong 30 giờ nó chia cái trứng ra làm hai, 50 giờ chia ra làm bốn, 60 giờ chia ra làm tám (đây là những sự nghiệm xét của Bác-sĩ về sự thai nghén của đàn bà đúng theo luật Âm Dương song tiến số của Dịch-lý).

Thời Truân chính là thời của Tạo-hoá nắn đúc nên con người: từ khởi điểm là 1, phân 2, phân 4, phân 8, để đi lập nên các nguyên-tử đầu tiên mà làm thành lục phủ, ngũ tạng con người. Do đó tượng quẻ Truân có đủ 4 đức: Nguyên , Hanh , Lợi , Trinh giống như Kiền.

Dịch vẫn đúng ở mọi nơi, mọi sự vật, dù là Y-học, Lý-học hay Đạo-học vẫn cùng một nguyên lý cấu-tạo.

Quẻ Truân là kết-quả sự giao-thoa của hai quẻ Càn Khôn. Thời Truân ví như mầm được phát-triển trong đất, mà đất làm chủ. Mầm được vươn lên phải có giống, rồi nhờ sức ấm của đất đủ điều-kiện giống mới nảy mầm. Vậy quẻ Chủ phải là nội Chấn vì chính là gốc từ Khôn do sự giao-phối với một Dương của Càn mà thành, nên Khôn là chủ thể, mà hào nhứt Dương ở dưới là chủ động.

Về Đạo-pháp thì Đạo Cao-Đài đã cho thấy rõ, tất cả vật hữu hình cũng khởi đầu từ Khôn, tức là:

Riêng Đức Chí-Tôn thì chỉ đến với danh xưng là AĂÂ tức nhiên là 3 chữ cái (nguyên-âm) của vần Quốc ngữ Việt-Nam, mà vần quốc-ngữ này lại khởi nguyên từ vần của La-tinh thế là dụng ý của Ngài họp cả Đông-Tây, thu về một mối, Tam-Tài thiên địa n