CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần TH

 

THA

Tha

Tha Lực

Tha Phương

Tha Thiết

Tha Thứ

 

THÁC

Thác Địa

Thác Vì Tình

 

THẠCH

Thạch Động

Thạch Kỳ

Thạch Thất

Thạch Xá

 

THÁI

Thái Quẻ Địa Thiên Thái

Thái Âm - Thái Dương

Thái Ất

Thái Ất Thiên Tôn

Thái Bình

Thái Ca Thanh

Thái Chánh Phối Sư

Thái Công Tướng Phụ

Thái Cực

Thái Cực Đăng

Thái Cực Thánh Hoàng

Thái Chưởng Pháp - Hòa Thượng Như Nhãn

Thái Dương

Thái Đầu Sư Thái Minh Tinh

Thái Hòa

Thái Hư

Thái Quá - Bất Cập

Thái Sơn

Thái Tây (Europe)

Thái Ðầu Sư Thái Nương Tinh

Thái Đầu Sư Thái Thơ Thanh

Thái Thượng Ðạo Quân

Thái Thượng Đạo Tổ

Thái Thượng Nguơn Thỉ

Thái Văn Thâu (Khai Thế Hiệp Thiên Đài)

 

THÀI

Thài

 

THAM

Tham

Tham Chiếu

Tham Danh Trục Lợi

Tham Dự

Tham Khảo

Tham Quyền Cố Vị

Tham Thiên Lưỡng Địa

Tham Thiền - Nhập Định

Tham Vọng

 

THẢM

Thảm Thiết

 

THAN

Than Van

 

THANG

Thang Mây

 

THÁNG

Tháng Thuấn Ngày Nghiêu

 

THANH

Thanh Bạch

Thanh Bai

Thanh Bần

Thanh Bình (Thanh Bường)

Thanh Cao

Thanh Cân

Thanh Danh

Thanh Đạm

Thanh Khiết

Thanh La

Thanh Lâu

Thanh Liêm Chánh Trực

Thanh Loan

Thanh Minh

Thanh Nhã

Thanh Niên Việt Nam

Thanh Nhàn

Thanh Quang

Thanh Sơn Đạo Sĩ

Thanh Sử

Thanh Tịnh

Thanh Tịnh Đại Hải Chúng

Thanh Thanh

Thanh Thiên

Thanh Thiên Bạch Nhựt

Thanh Thủy

Thanh Trược

Thanh Tâm Tài Nữ

Thanh Vương Đại Hội

Thanh Y Xích Diện

Thanh Xuân

 

THÁNH

Thánh

Thánh Ân

Thánh Bất Khả Tri Công Bất Khả Nghị

Thánh Bút

Thánh Cam Địa (Gandhi)

Thánh Chất

Thánh Chất Thiêng Liêng

Thánh Chỉ

Thánh Chỉ Chí Tôn

Thánh Chúa

Thánh Cốc

Thánh Cốt

Thánh Danh

Thánh Đản

Thánh Đạo

Thánh Đạo Của Chúa Cứu Thế

Thánh Địa

Thánh Địa Long Thành

Thánh Điện

Thánh Điều

Thánh Đức

Thánh Giang

Thánh Giáo

Thánh Giáo Gia Tô

Thánh Giáo Pháp

Thánh Giáo Tâm Kinh

Thánh Hiền

Thánh Hình

Thánh Huấn

Thánh Hồn

Thánh Kinh

Thánh Lịnh Cấm Cơ Bút

Thánh Lịnh Cho Chức Sắc Bộ Nhạc

Thánh Luật

Thánh Miếu

Thánh Ngôn

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển

Thánh Ngự

Thánh Ngữ

Thánh Nhơn (1)

Thánh Nhơn (2)

Thánh Phong

Thánh Pierre

Thánh Quyền

Thánh Sống

Thánh Tâm

Thánh Tông Đồ

Thánh Tổ (Niên Hiệu: Minh Mệnh)

Thánh Thai

Thánh Thân

Thánh Thần Tiên Phật

Thánh Thất

Thánh Thể

Thánh Thể Thiêng Liêng

Thánh Thơ

Thánh Trị

Thánh Truyền

Thánh Trước Hiền Xưa

Thánh Tử Đạo

Thánh Tượng Thiên Nhãn

Thánh Vệ

Thánh Vị

Thánh Vô Danh

Thánh Vức

Thánh Ý

 

THÀNH

Thành Danh

Thành Đạo

Thành Hoàng Thần

Thành Kỉnh

Thành Khẩn

Thành Phật

Thành Phục

Thành Tâm Cầu Nguyện

Thành Tâm Hiến Lễ

Thành Thái (Vua Nhà Nguyễn)

Thành Thật

Thành Tích

Thành Tín

Thành Tựu

Thành Uổng Tử

 

THẠNH

Thạnh Nộ

Thạnh Thế

Thạnh Trị

 

THẢO

Thảo Am

Thảo Đài

Thảo Ðường (1)

Thảo Ðường (2)

Thảo Hài

Thảo Luận

Thảo Lư

Thảo Mộc

Thảo Ngay

Thảo Thuận

Thảo Xá Hiền Cung

 

THÁP

Tháp

Tháp Kỷ Niệm

 

THAY

Thay Mặt Cho Thầy Tức Là Thầy

Thay Thân Chí Tôn

Thay Trời Tạo Thế

 

THÀY

Thày Lay

 

THĂNG

Thăng

Thăng Cấp

Thăng Chức

Thăng Hà

Thăng Thiên

Thăng Thưởng

 

THẮNG

Thắng Bại

 

THẰNG

Thằng Phược

 

THÂM

Thâm Giao

Thâm Nhập

Thâm Nhiễm

Thâm Tâm

Thâm Thúy

 

THẨM

Thẩm Mỹ

Thẩm Tra

 

THẬM

Thậm Chí

Thậm Thâm

 

THÂN

Thân Bằng

Thân Bằng Cố Hữu

Thân Cận

Thân Côi

Thân Danh

Thân Dân

Thân Hòa Làm Một

Thân Hữu

Thân - Khẩu - Ý

Thân Mẫu

Thân Phàm

Thân Phụ

Thân Sinh

Thân Sơ

Thân Tộc Ruột Rà

 

THẦN

Thần

Thần Biến

Thần Chơn Lý

Thần Chú

Thần Chủ

Thần Dân

Thần Đạo (1)

Thần Đạo (2)

Thần Hoàng Bổn Cảnh

Thần Hoàng Long Thành

Thần Hoàng Mỹ Lộc

Thần Học

Thần Huệ

Thần Linh

Thần Linh Học

Thần Minh

Thần Minh Chánh Trực

Thần Nhân Tâm

Thần Nông

Thần Phẩm

Thần Quyền

Thần Sầu Quỉ Khóc

Thần Tài

Thần Tiên Hội Hiệp

Thần Tỉnh

Thần Tú

Thần Tú - Huệ Năng

Thần Tử

Thần Thánh

Thần - Thánh - Tiên - Phật

Thần Thoại

Thần Thông

Thần Thông Biến Hóa

Thần Thông Nhơn

Thần Thức

Thần Trí

Thần Văn Thánh Võ

 

THẬP

Thập Ác Lục Hình

Thập Cẩm

Thập Dực

Thập Ðiện Diêm Vương

Thập Điện Từ Vương

Thập Hình Của Ðức Lý Giáo Tông

Thập Mục Ngưu Đồ

Thập Mục Sở Thị, Thập Thủ Sở Chỉ

Thập Nhị Bảo Quân

Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng

Thập Nhị Địa Chi

Thập Nhị Gia Liên Bảo

Thập Nhị Khai Thiên

Thập Nhị Nhơn Duyên

Thập Nhị Thánh Tông Đồ

Thập Nhị Thời Quân

Thập Nhị Thời Thần

Thập Nhị Tiên Gia

Thập Phương

Thập Phương Chư Phật

Thập Tàng

Thập Thiên Can

Thập Thiên Can - Thập Nhị Địa Chi

Thập Thiện

Thập Trai

Thập Tự Giá

Thập Tử Nhứt Sanh

 

THẤT

Thất Bửu

Thất Chánh

Thất Chí

Thất Chơn Truyền

Thất Cơ

Thất Danh Đạo

Thất Đạo

Thất Đạo Nhơn Luân

Thất Đạo Tâm

Thất Đầu Xà

Thất Đức

Thất Đức Vô Nhân

Thất Hiền

Thất Hiếu

Thất Hộ

Thất Khiêm Cung

Thất Khiếu

Thất Kỳ Truyền

Thất Lẽ Công Bình Thiêng Liêng

Thất Lễ

Thất Lộc

Thất Lợi

Thất Nhơn Tâm

Thất Nương Diêu Trì Cung

Thất Phách

Thất Pháp

Thất Sách

Thất Thánh

Thất Thập Nhị Địa

Thất Thập Nhị Hiền

Thất Thệ

Thất Thiêng Liêng Pháp

Thất Thời

Thất Tịch

Thất Tín

Thất Tinh

Thất Tình - Lục Dục

Thất Tổ

Thất Ức Niên

Thất Vị

Thất Vọng

 

THẬT

Thật Thà

 

THÂU

Thâu Các Đạo Hữu Hình Làm Một

Thâu Phục

Thâu Phục Thích Ðạo

Thâu Thủ

 

THẤU

Thấu Đáo

Thấu Triệt

 

THÂY

Thây Phàm

 

THẤY

Thấy Của Dấy Tham

 

THẦY

Thầy

Thầy Duy Có Một

Thầy Đến Chỉ Độ Kẻ Vô Đạo

Thầy Giáo Văn

Thầy Là Các Con, Các Con Là Thầy

Thầy Là Cha Của Sự Sống

Thầy Là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế

 

THẾ

Thế Cuộc

Thế Đạo

Thế Độ

Thế Gian

Thế Giới

Thế Giới Địa Hoàn

Thế Giới Quan

Thế Luật

Thế Quyền Thầy

Thế Sự

Thế Thái Nhơn Tình

Thế Trần

Thế Tục

 

THỀ

Thề Nguyền

Thề Non

 

THỂ

Thể Dục

Thể Chất

Thể Phách

Thể Pháp Thiên Đạo

Thể Pháp - Bí Pháp

Thể Tánh

Thể Thiên Hành Hóa

Thể Thống

 

THỆ

Thệ Nguyện - Thệ Ước

 

THI

Thi

Thi Ân

Thi Ân - Thọ Ân

Thi Hài

Thi Hài Hữu Hình

Thi Hành

Thi Hành Mạng Lịnh

Thi Hành Phận Sự

Thi Hình

Thi Khả Dĩ Hưng, Khả Dĩ Quan, Khả Dĩ Quần, Khả Dĩ Oán. Nhĩ Chi Sự Phụ, Viễn Chi Sự Quân, Đa Thức Ư Điểu, Thú, Thảo, Mộc Chi Danh

Thi Lễ

Thi Thố

Thi Phàm

Thi Pháp

Thi Phú

Thi Văn Tuyệt Bút

 

THỊ

Thị Chứng

Thị Dục

Thị Giả

Thị Hiếu

Thị Không Thị Sắc

Thị Lập

Thị Phi

 

THÍCH

Thích Ca Mâu Ni

Thích Ca Mâu Ni (Phật)

Thích Ca Như Lai Thị Ngã

Thích Già

Thích Giáo

 

THIÊN

Thiên (1)

Thiên (2)

Thiên Ân

Thiên Bàn

Thiên Bàn Tại Tư Gia

Thiên Các

Thiên Cảnh

Thiên Cầu

Thiên Chúa Giáo

Thiên Chức

Thiên Chuyển

Thiên Cổ

Thiên Cơ

Thiên Cơ Bất Khả Lậu

Thiên Cơ Chuyển Hóa

Thiên Cung

Thiên Đạo

Thiên Đàng

Thiên Ðịa Càn Khôn

Thiên Ðịa Hoằng Khai

Thiên Ðịa Hữu Âm Dương

Thiên Ðịa Tuần Huờn Châu Nhi Phục Thỉ

Thiên Ðịa Vô Tư

Thiên Điều

Thiên Điều Khảo Tội

Thiên Đình

Thiên Định

Thiên Đường

Thiên Đường - Địa Ngục

Thiên Đường Phật Tiên

Thiên Giáng Tai Ương

Thiên Hạ

Thiên Hạ Nhứt Gia

Thiên Hậu

Thiên Hỉ Động

Thiên Hóa

Thiên Hồn

Thiên Hữu Tứ Thời Xuân Tại Thủ

Thiên Khai Huỳnh Đạo

Thiên Khai Huỳnh Ðạo (Chi Phái)

Thiên Khải

Thiên Khuynh Điạ Khúc

Thiên Kiến

Thiên Kiều

Thiên Linh

Thiên Luật

Thiên Lực

Thiên Lực - Nhơn Lực

Thiên Lương

Thiên Lý

Thiên Mạng

Thiên Mạng Chi Vị Tánh, Suất Tánh Chi Vị Đạo, Tu Đạo Chi Vị Giáo

Thiên Mạng Thập Nhị Thời Quân

Thiên Môn

Thiên Ngoại

Thiên Nguơn Mạo Bát Quái

Thiên Nhãn

Thiên Nhiên

Thiên Nhơn Hòa Ước

Thiên Niên

Thiên Oai

Thiên Phẩm

Thiên Phong

Thiên Phong - Đại Thiên Phong

Thiên Phong Phật Sắc

Thiên Phục

Thiên Quân

Thiên Sai

Thiên Sắc

Thiên Sầu Địa Thảm

Thiên Soái Mạng

Thiên Số

Thiên Sứ

Thiên Tai

Thiên Tai Ách Nước

Thiên Tài

Thiên Tánh

Thiên Tào

Thiên Thai

Thiên Thánh

Thiên Thần

Thiên Thi

Thiên Thiều

Thiên Thơ Chuyển Pháp

Thiên Thời - Địa Lợi - Nhơn Hòa

Thiên Thu

Thiên Thu Phụng Tự

Thiên Thượng

Thiên Thượng Thiên Hạ Duy Ngã Độc Tôn

Thiên Tiên

Thiên Tinh

Thiên Tôn

Thiên Trị

Thiên Tru Ðịa Lục

Thiên Trúc

Thiên Trung Điểu Tích, Họa Giả Giai Nan

Thiên Tùng Nhơn Nguyện

Thiên Tư

Thiên Tước

Thiên Tượng

Thiên Tử Quái

Thiên Vận

Thiên Vị

Thiên Võng Khôi Khôi Sơ Nhi Bất Lậu

Thiên Vương

Thiên Ý

 

THIỀN

Thiền

Thiền Bệnh

Thiền Định

Thiền Đường

Thiền Lão

Thiền Lâm - Thiền Môn

Thiền Minh

Thiền Sư

Thiền Tâm Vọng Cầu

Thiền Tông

Thiền Viện

 

THIỆN

Thiện (1)

Thiện (2)

Thiện Ác

Thiện Ác Đáo Đầu Chung Hữu Báo

Thiện Căn

Thiện Duyên

Thiện Đạo

Thiện Lương

Thiện Minh (Thái Đầu Sư Thái Minh Tinh)

Thiện Nam Tín Nữ

Thiện Nghiệp

Thiện Nguyện

Thiện Niệm

Thiện Tâm

Thiện Tín

Thiện Thần - Ác Thần

Thiện Tri Thức

 

THIÊNG

Thiêng Liêng

Thiêng Liêng Chi Vị

Thiêng Liêng Hằng Sống

Thiêng Liêng Vị

 

THIẾT

Thiết Đàn

Thiết Đinh

Thiết Giáp Đạo Bào

Thiết Lập

Thiết Lễ

Thiết Yếu

 

THIỆT

Thiệt - Dối

Thiệt Thiệt Hư Hư

Thiệt Tướng

 

THIÊU

Thiêu Xác Thánh Tông Đồ

 

THIẾU

Thiếu Lâm Tự

Thiếu Niên

Thiếu Phụ Nam Xương

 

THIỀU

Thiều Hoa

Thiều Quang

Thiều Quang Nhị Bá

 

THIỂU

Thiểu Đức

 

THÌN

Thìn Lòng

 

THINH

Thinh Thế

 

THÍNH

Thính Giả

 

THỈNH

Thỉnh Giáo

Thỉnh Nguyện

 

THỌ

Thọ

Thọ Ân (Thụ Ân)

Thọ Đắc Kỳ Truyền

Thọ Đức (Thụ Đức)

Thọ Đường

Thọ Giáo

Thọ Giới

Thọ Hình

Thọ Khảo

Thọ Khổ

Thọ Lãnh Thiên Mạng

Thọ Lịnh

Thọ Mạng

Thọ Phép Giải Oan

Thọ Pháp Quyền Năng Thiêng Liêng

Thọ Phong

Thọ Sanh

Thọ Sắc

Thọ Tang

Thọ Thiên Phục

Thọ Trai

Thọ Trì

Thọ Truyền Bửu Pháp

Thọ Tước

 

THỎ

Thỏ Lặn Ác Tà

 

THỎA

Thỏa Mãn

Thỏa Nguyện

Thỏa Ước Bính Thân

 

THOẠI

Thoại Khí

 

THOÀN

Thoàn Mây (Thuyền Mây)

 

THOÁT

Thoát Đọa Luân Hồi

Thoát Kiếp

Thoát Khổ

Thoát Tai

Thoát Trần

Thoát Trần Đăng Tiên

Thoát Tục

Thoát Vòng Tục Lụy

Thoát Xác

 

THÓI

Thói Tục

 

THON

Thon Von

 

THỎN

Thỏn Mỏn

 

THONG

Thong Dong

 

THỔ

Thổ Công - Thổ Địa - Thổ Kỳ

Thổ Khí Thành Hồng, Hóa Kiếm Thành Xích, Nhi Tam Phân Thác ĐỊa

Thổ Lộ

Thổ Nhơn

Thổ Thần

Thổ Võ

 

THỐI

Thối Bước Lui Chơn

Thối Bước Ngã Lòng

Thối Tâm

Thối Trầm

 

THÔNG

Thông (Giáo Sư Ngọc Thông Thanh)

Thông Báo

Thông Công

Thông Điệp

Thông Điệp Hòa Bình

Thông Đồng

Thông Gia

Thông Lệ

Thông Linh Học

Thông Minh

Thông Qui

Thông Thần Lực

Thông Thiên Ðài

Thông Thiên Định Địa

Thông Thiên Học

Thông Tri

Thông Tri Giải Thể Đạo Cao Đài

Thông Truyền

Thông Tuệ

Thông Tư

 

THỐNG

Thống Đốc Nam Kỳ

Thống Khổ

Thống Ngự Vạn Vật

Thống Nhứt

Thống Nhứt Đức Tin

Thống Nhứt Qui Nguyên

Thống Nhất Tín Ngưỡng

Thống Nhứt Tinh Thần

Thống Quản

Thống Thiết

 

THƠ

Thơ (Nguyễn Ngọc Thơ)

Thơ Đường Luật

Thơ Thăm Hỏi

Thơ Thới

Thơ Truyện Huê Tình

Thơ Viện (Thư Viện)

 

THỜ

Thờ Chồng Tiết Hạnh

Thờ Người Và Thờ Trời

Thờ Phượng

Thờ Thầy

Thờ Thiên Nhãn

Thờ Với Miệng Lưỡi

 

THỜI

Thời

Thời Cơ

Thời Đại

Thời Gian

Thời Kỳ

Thời Kỳ Dấu Diếm Thiên Cơ Đã Qua

Thời Kỳ Nghệ Thuật

Thời Lai

Thời Thừa Lục Long Du Hành Bất Tức

Thời Thượng

 

THÙ

Thù Đồ

Thù Tạc

Thù Nghịch

 

THÚ

Thú Cầm

Thú Tánh

Thú Vị

 

THỦ

Thủ Bổn

Thủ Bút

Thủ Cơ

Thủ Cựu

Thủ Khoa Huân

Thủ Lễ

Thủ Phận

Thủ Túc

Thủ Tự (Thủ Từ)

Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh

 

THỤ

Thụ

Thụ Giới

 

THUẤN

Thuấn Ðế

 

THUẦN

Thuần Ðức

Thuần Ðức Hậu Giáo

Thuần Hậu

Thuần Lương

Thuần Phong Mỹ Tục

Thuần Túy

 

THUẬN

Thuận Căn Thuận Mạng

Thuận Hòa

Thuận Nhơn Tâm

Thuận Thiên Giả Tồn, Nghịch Thiên Giả Vong

 

THUẬT

Thuật Hoài

 

THÚC

Thúc Phược

 

THỦ

Thủ Bút Của Đức Cường Để

Thủ Giải Trường Tồn

 

THUẾ

Thuế Sưu

 

THUNG

Thung Đường

Thung Huyên

 

THUỐC

Thuốc Kim Đơn

 

THUỘC

Thuộc Địa

 

THÙY

Thùy Từ Mẫn Khổ

 

THỦY

Thủy

Thủy Chung Như Nhứt

Thủy Thổ

Thủy Tổ

Thủy Triều

 

THUYÊN

Thuyên Bổ

Thuyên Chuyển

 

THUYỀN

Thuyền Bát Nhã

Thuyền Độ Nhân

Thiền Quyên

Thuyền Sen

Thuyền Tiên

Thuyền Thơ

Thuyền Từ

 

THUYẾT

Thuyết Đạo - Thuyết Pháp

Thuyết Đạo Của Đức Hộ Pháp

Thuyết Định

Thuyết Giáo

Thuyết Minh

Thuyết Pháp

 

THƯ

Thư Hương

Thư Hùng Kiếm

Thư Xuân Đầu Năm Ất Mùi

 

THỬ

Thử Cơ Bút

Thử Thách

Thử Thất

 

THỪA

Thừa - Tiểu Thừa - Ðại Thừa

Thừa Hạc Cỡi Rồng

Thừa Hành

Thừa Lịnh

Thừa Quyền

Thừa Sử

Thừa Sử Phạm Ngọc Trấn

Thừa Tự

 

THỨC

Thức

Thức Thần

Thức Tỉnh

 

THƯƠNG

Thương Hải Tang Điền

Thương Mến

Thương Nghị

Thương Phong Bại Tục

Thương Sanh

Thương Tâm

Thương Trường

Thương Tưởng Ông Bà

Thương Yêu

Thương Yêu Vô Tận

 

THƯỜNG

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai

Thường Du

Thường Lệ

Thường Nhơn

Thường Niên

Thường Phục

Thường Tình

 

THƯỞNG

Thưởng Ban

Thưởng Đền

Thưởng Phạt

Thưởng Phạt Phân Minh

Thưởng Phong

Thưởng Thiện Phạt Ác

 

THƯỢNG

Thượng Bất Khả Thượng, Hạ Bất Khả Hạ, Chỉ Nghi Tại Hạ, Bất Khả Tại Thượng

Thượng Cầm Hạ Thú

Thượng Chánh Phối Sư

Thượng Chưởng Pháp Lão Sư Nguyễn Văn Tương

Thượng Chưởng Tam Thập Lục Thiên

Thượng Cổ

Thượng Đẳng

Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt

Thượng Ðế

Thượng Đế Ngọc Hoàng

Thương Đế Toàn Năng

Thượng Đức

Thượng Giới

Thượng Hoài Thanh

Thượng Hoàng

Thượng Hội

Thượng Hương

Thượng Kỳ Thanh

Thượng Khách

Thượng Latapie Thanh

Thượng Lực

Thượng Lưu Trí Thức

Thượng Mưu

Thượng Nghị Viện

Thượng Nguơn

Thượng Nguơn Thánh Đức

Thượng Nguơn Tứ Chuyển

Thượng Phẩm

Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư

Thượng Sanh

Thượng Sanh Cao Hoài Sang

Thượng Sớ

Thượng Tấn

Thượng Tấu

Thượng Tấu Sớ Văn

Thượng Thánh Tượng

Thượng Thiên

Thượng Thông Thiên Đàng

Thượng Thừa

Thượng Tiên Hoa

Thượng Tiên Tửu

Thượng Tiêu

Thượng Tọa

Thượng Tôn Quản Thế

Thượng Trình

Thượng Tượng

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 16-12-2017

 

 

 

THA

THA Bộ: nhân là Khác, là kẻ kia. Như tha nhân 他人 người khác, tha sự 他事 việc khác, v.v. Lòng khác. Như chi tử thỉ mĩ tha 之死失靡他 thề đến chết chẳng hai lòng.

 

 

THA LỰC (Phật Học)

Tha lực (J: tariki) là lực từ bên ngoài, lực của người khác. Tha lực ở đây được hiểu là sức cứu độ của Phật A-Di-Đà, mà theo quan điểm của Tịnh-độ-Tông là vị sẽ tiếp dẫn những ai cầu xin Ngài. Tha lực được dùng đối ngược lại từ Tự lực 自力. Thiền Tông là một môn phái dựa trên tự lực.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

THA PHƯƠNG

他 方
E: The foreign region.
F: La région étrangère.

Tha: Khác, người khác, cái khác. Phương: địa phương. Tha phương là địa phương khác, cách xa quê hương mình.

Tha phương cầu thực: đi kiếm ăn ở phương khác.

Hành đạo tha phương: đi làm đạo ở một địa phương khác, không phải nơi quê hương của mình.

Bát Ðạo Nghị Ðịnh:

Chánh Thái Phối Sư đặng quyền cầu xin Chức sắc hành đạo tha phương, song tại nơi người điều độ,...

 

 

THA THIẾT

磋 切
F: Avec insistance.

Tha thiết là Nói tắt câu trong sách Đại Học: "Như thiết như tha" 如切如磋. Ý chỉ sự giồi mài, khắc dũa cho bóng, vì thế bạn bè gắng gỏi gọi là thiết tha.

Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần có câu:

"Rót chung ly biệt lưng vơi,
"Mảnh lòng tha thiết đưa người bạn xưa."

 

 

THA THỨ

F: Pardonner, excuser.

Lời Thầy dạy: Thầy hằng nói với các con rằng: Thà là các con lỗi với Thầy, thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ, chớ chẳng động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì họ chẳng tha thứ bao giờ." Thầy lại cũng đã nói: "Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng Đàn, thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ. Các con nếu mắt phàm thấy đặng, phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng! Nhưng thấy chẳng đặng, nên tội cũng giảm nhẹ đó chút. Thất lễ là đại tội trước mắt các Đấng Chơn linh ấy! Thầy phải thăng cho các con khỏi hành phạt. Thầy chẳng buổi nào chấp trách các con, bởi lòng thương yêu hơn chấp trách rất nhiều. Sợ là sợ cho các con mất đức với chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.II, ngày 15-10-1926)

Lời Thầy dạy: "Xem đó, thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm! Vì Thầy là bậc Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh hễ các con có lỗi, thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con nghe à!". (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.II, ngày 30-09-1926)

 

 

THÁC ĐỊA

托 地
E: To raise the earth.
F: Soulever la terre.

Thác: Lấy tay nâng vật. Địa: đất. Thác địa là nâng đỡ giềng đất.

Kinh Phật Giáo:

"Hóa kiếm thành xích nhi tam phân thác địa."

 

 

THÁC VÌ TÌNH

(Thác là sự chết, Tình là tình cảm, tình yêu đôi lứa) Trai gái yêu nhau nhưng nhiều khi gặp một trở lực nào họ không đến với nhau được, thì họ chết để tỏ sự chung tình, nhưng điều này không được luật pháp của Đạo hay Đời công nhận.

Đây là bài thơ giao duyên có tựa đề "Thác vì tình" thể thất ngôn bát cú. Thật ra đây là bài thi của Tiên Cô Thất-Nương Vương thị Lễ chính danh là Nữ Tiên ở Diêu-Trì-Cung, còn tên Đoàn Ngọc Quế chỉ là một giả danh mà thôi.

            Thác vì tình

Nỗi niềm tâm sự tỏ cùng ai?
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào dè phủi nợ xuống tuyền-đài.
Dưỡng sanh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn-dập tương-tư oằn một gánh,
Nỗi niềm tâm-sự tỏ cùng ai?
                        (Đoàn Ngọc Quế)

Ba Ông: CƯ, TẮC, SANG hết lời khen "lời lời châu ngọc" của điệu thơ Tiên. Xong hoạ lại ngay. Trong buổi ban đầu Diêu Trì Cung được lịnh đến dẫn dắt ba ông vào đường Đạo, nhưng phải dùng thi văn để dụ, thì ba ông mới vui theo.

*Bài hoạ của Ông Phạm Công Tắc:

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
Trời xanh vội lấp Nữ-anh-tài.
Tình thâm một gánh còn dương-thế,
Oan nặng ngàn thu xuống dạ-đài.
Để thảm Xuân-đường như ác xế,
Gieo thương lữ-khách ngóng tin mai.
Hềm gì chưa rõ đầu đuôi thế,
Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
                        (Nhị ca: Phạm Công Tắc)

*Bài hoạ của Ông Cao Quỳnh Cư:

Rằng liễu khóc oanh có mấy ai?
Mộ người quốc-sắc Đấng thiên-tài.
Nhìn văn độ phẩm hàng khuê-các,
Xót Bạn tri-âm cõi dạ-đài.
Ngàn dặm hoa trôi sầu cụm trước,
Một mồ cỏ loáng ủ nhành mai.
Cửu-tuyền hồn Quế xin linh chứng,
Rằng liễu khóc oanh có mấy ai?
                        (Trưởng-ca: Cao Quỳnh Cư)

*Bài hoạ của Ông Cao Hoài Sang:

Nửa chừng Xuân gãy tủi thân ai?
Nông-nỗi nghĩ thôi tiếc bấy tài.
Ngọc thốt dám bì trang tuấn kiệt,
Vàng rơi riêng chạnh khách Chương-đài.
Những ngờ duyên thắm trao phòng Bích!
Hay nỗi xương tàn xủ giậu mai.
Một dải đồng-tâm bao thuở nối,
Nửa chừng Xuân gãy tủi thân ai?
                        (Tam-ca: Cao Hoài Sang)

Những bài thơ xướng họa cùng nhau chính là duyên thơ nối liền Tiên tục để mở đường xuất Thánh mà Đức Thượng Đế đã chuẩn bị cho ba vị Tướng Soái của Đức Ngài từ lâu rồi, Ấy là "Khai Đạo muôn năm trước định giờ".

 

 

THẠCH ĐỘNG

石 洞
E: Stone cavern.
F: La caverne.

Thạch: Đá, bền vững như đá. Động: hang. Thạch động là hang đá.

 

 

THẠCH KỲ

Kỳ : kỳ lạ, vật hiếm có. Thạch kỳ: loại đá quí, hiếm có.

Thi văn dạy đạo có câu:

Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,
Hoàng thiên bất phụ chí anh hào.

 

 

THẠCH THẤT

石 室
E: The stone house.
F: La maison en pierre.

Thạch: Đá, bền vững như đá. Thất: nhà. Thạch thất: đồng nghĩa thạch xá, là ngôi nhà bằng đá.

 

 

THẠCH XÁ

石 舍
E: The stone house.
F: La maison en pierre.

(Thạch: là đá, bền vững chắc chắn như đá. : cái nhà nhỏ) Thạch xá chỉ cái nhà nhỏ bằng đá (nhà nhỏ đây là thân xác). Với đạo pháp Thạch xá 石舍 nghĩa là Ngọc thạch xá lợi. Thân xác bậc đắc đạo, sau khi chết rồi hỏa táng, xương cốt còn lại là những tinh thể tròn hạt, rắn chắc như viên đá sáng lóng lánh, cho nên người ta gọi những tinh thể đó là Thạch xá lợi hay Ngọc xá lợi.

Thạch xá Giải thi 解屍: Cỗi bỏ hình thể, tức chết rồi. Nơi thế gian một con người tu hành đắc đạo, khi giải bỏ hình thể, hay hỏa táng thì sẽ được những viên ngọc đá xá lợi. Cho nên từ "Thạch xá giải thi" được dùng để chỉ sự đắc đạo.

Kinh Đệ Thất Cửu có câu:

"Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo hóa,
"Kiến Chuẩn Đề thạch xá giải thi."

 

 

THÁI Quẻ 11. Quẻ Địa Thiên Thái

 

 

Quẻ 11. Quẻ Địa Thiên Thái

 

 

Tượng: Cơ Đại Ân xá của Chí-Tôn

Quẻ này là quẻ Địa Thiên Thái. Kiền ở dưới là nội Kiền. Khôn trên là ngoại Khôn. Khôn là Địa. Kiền là Thiên, nên tên quẻ đọc là Địa Thiên Thái. Biệt số: 81.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ: Sau quẻ Lý tiếp lấy quẻ Thái là vì sao?

Bởi Lý nghĩa là Lễ, cũng nghĩa là giày, là đi. Có giày đi được an ổn, sau mới thoả-thích. Thế nên sau quẻ Lý tiếp lấy quẻ Thái. Thái nghĩa là an thích, cũng có nghĩa là thông suốt, thuận hợp, an-nhiên.

Tượng quẻ này Khôn là quẻ Âm ở trên, là khí âm thượng đẳng mà giao tiếp với Dương. Kiền dương ở dưới là khí Dương thăng lên mà giao tiếp với Âm. Nhị khí giao hoà với nhau thì vạn-vật sinh trưởng mà được THÁI.

Khí Âm Dương nguyên là vô hình, đã nói là vô hình thì không thể chỉ rõ ra được. Vậy nên phải mượn ba vạch: Âm Dương đặt liền nhau để miêu tả khí vô hình đó.

Ba nét Kiền ở dưới thì thấy rằng trời ở dưới và thiên đó chẳng phải là thiên có hình dáng mà là khí Dương.

Ba nét Khôn ở trên thì thấy rằng đất ở trên, nhưng đó chẳng phải là địa hữu hình, mà địa đó là khí Âm.

Khí Âm có tính giáng xuống, khí Dương có tính thông lên, thế là Âm Dương hoà hiệp, thiên địa tương giao, nên tên quẻ đọc bằng Thái.

Nếu như Thiên địa hữu hình, mà địa trên, thiên dưới, thành ra trời đất điên đảo, còn gì là trật tự an-ninh cho con người sống được?

Nhờ có được một qui củ, phép tắc như thế nên giờ này nhân-loại mới hưởng được một đặc ân to lớn mà Việt Nam hân-hạnh được đón nhận trước tiên để rồi thông truyền cho cả thế giới một Tân-Tôn-giáo với chủ-nghĩa Đại-Đồng để hưởng Cơ Đại-Ân xá lần ba của Thượng-Đế.

Dưới đây là bản đồ ghi rõ 12 tháng trong một năm.

Mỗi tháng ứng vào một Cung. Phân ra hai bên:Âm Dương:

 

 

 

- Khởi ở Tý là tháng 11 là quẻ Phục (Địa Lôi Phục).

- Tháng Sửu là tháng12 ứng với quẻ Lâm (Địa Trạch Lâm).

- Tháng 1 (giêng) Dần, ứng vào quẻ Thái (Địa Thiên Thái).

- Tháng 2 là Mẹo ứng với quẻ Đại-Tráng (Lôi Thiên Đại Tráng).

- Tháng 3 là Thìn ứng quẻ Quyết (hay Quải) (Trạch Thiên Quyết).

- Tháng 4 là Tỵ ứng vào quẻ Kiền (Bát Thuần Kiền).

Dương bắt đầu thăng từ 1 Dương ở quẻ Phục tiến dần đến khi thuần Dương ở quẻ Kiền có 6 hào Dương. Đây là Dương tiến, thì Âm thoái tức là Âm tiêu Dương trưởng, nghĩa là Âm lui dần.

- Tháng 5 là Ngọ ứng vào quẻ Cấu (Thiên Phong Cấu).

- Tháng 6 là Mùi ứng vào quẻ Độn (Thiên Sơn Độn).

12 tháng chính trong một năm gọi là 12 Thiên-tử-quái.

- Tháng 7 là Thân ứng vào quẻ Bĩ (Thiên Địa Bĩ).

- Tháng 8 là Dậu ứng vào quẻ Quán (Phong Địa Quán).

- Tháng 9 là Tuất ứng quẻ Bác (Sơn Địa Bác).

- Tháng10 là Hợi ứng với quẻ Khôn (Bát Thuần Khôn).

Thái là quẻ của tháng giêng, tháng Dần (lưu-ý Dịch ở đây chỉ dùng tháng âm-lịch mà thôi).

Hình ảnh này làm đại diện cho 12 quẻ ứng với 12 tháng gọi là 12 Thiên tử quái: Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quải, Kiền, Cấu, Độn, Bĩ, Quán, Bác, Khôn.

Nhờ có được một qui củ, phép tắc như thế nên giờ này nhân-loại mới hưởng được một đặc ân to lớn mà Việt Nam hân-hạnh được đón nhận trước tiên để rồi thông truyền cho cả thế giới một Tân-Tôn-giáo với chủ-nghĩa Đại-Đồng để hưởng Cơ Đại-Ân xá lần ba của Thượng-Đế.

Quẻ THÁI tượng cơ Đại-Ân-xá của Chí-Tôn

Đại Ân xá tức là một cuộc Ân-xá lớn (tiếng Pháp gọi là Troisième Amnistie de Dieu en Orient).

"Mỗi ngươn hội Đức Chí-Tôn với lòng Từ-bi tha thiết thương con cái của Người không nỡ để chìm đắm nơi sông mê bể khổ, nên mỗi ngươn hội Đức Chí-Tôn có mở một kỳ Phổ-Độ để cứu vớt nhơn-sanh và rước các Nguyên nhân tức là nguyên-linh đã xuống trần nay đem trở về ngôi vị cũ.

Như thế thì mỗi Kỳ Phổ-Độ đều có mở một cuộc Ân-xá, mở cửa dễ dàng cho các Đẳng chơn hồn có đủ phương lập vị.

Nền Đạo này là Cơ Đại-Ân-Xá tận độ chúng sanh nên Cao-Đài xưng là Đại-Đạo. Vì chủ-nghĩa tối cao của Đại-Đạo chẳng những là QUI TAM-GIÁO HIỆP NGŨ CHI mà thôi, mà phải làm thế nào dầu bậc Đế vương ngoài thế cũng phải bái phục, phải tùng Đạo, phải dò theo các cơ thể của Đạo, phải nhờ Đạo mới mong trị an thiên hạ đặng.

Vậy mới gọi là HIỆP NHỨT!

Vậy mới gọi là ĐẠI-ĐẠO!

Đại-Đạo ngày nay cũng là Phật-Đạo vì gồm hết Tam giáo Nho, Thích, Đạo và Thích-Ca cũng là Thầy, Thầy là Thích-Ca".

 

 

THÁI ÂM - THÁI DƯƠNG

  - 太 陽
E: The moon - The sun.
F: La lune - Le soleil.

(Thái: Lớn, rất, cả, tuyệt cao. Âm: khí Âm. Dương: khí Dương) Thái âm là rất Âm. Thái dương là rất Dương; Kinh rằng "Ánh Thái Dương giọi trước phương đông".

Nói Thái Âm, Thái Dương tức là luận từ Thái cực, Lưỡng Nghi (Âm Dương) từ Kinh dịch, Hệ-Từ Thượng trong Kinh Dịch đã cho biết: cốt tủy Kinh Dịch nằm trong câu "Dịch hữu Thái cực nhi sinh Lưỡng Nghi; Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái; Bát quái sinh vạn vật" nghĩa là Dịch có ngôi Thái cực, Thái cực sanh Lưỡng nghi (tức là Âm Dương), Lưỡng nghi sinh Tứ Tượng (là Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm).Tứ Tượng sanh Bát Quái (CÀN nhất, ĐOÀI nhị, LY tam, CHẤN tứ, TỐN ngũ, KHẢM lục, CẤN thất, KHÔN bát). Bát Quái sinh ra vạn vật.

Sinh ở đây là biến hóa bất diệt và vô cùng huyền diệu.

Bát Quái Tiên Thiên đặt nằm ngang:

 

 

 

Dưới đây là sự biến hóa từ Thái cực đến khi thành hình một Bát Quái đầu tiên đó là Bát Quái Tiên Thiên đặt nằm ngang:

Đạo Cao Đài ra đời Đức Chí-Tôn xác định điều ấy: "Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn Khôn thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra:

- Có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực,

- Thầy phân Thái cực ra Lưỡng Nghi,

- Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng,

- Tứ Tượng biến Bát Quái,

- Bát Quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn Khôn Thế giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sinh ra vạn vật là: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh". (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển II /62)

Thầy nói tiếp: "Một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con".

Thánh nhân đã chỉ rõ rằng: đầu tiên ngôi Thái cực phân hóa thành hai, gọi là Âm Dương. Ví như hột giống khi nứt mầm thì có hai lá đầu tiên, gọi là song-tử-diệp, tức là Âm Dương đó. Nhưng khi biểu tượng là dùng: nét liền  tượng Dương, nét đứt  tượng Âm. Với 1 nét như vậy thì gọi Nghi (tức nghi Dương và nghi Âm).

Khi sanh biến thì hai nghi Âm Dương sẽ sanh ra Tứ tượng. Khi gọi là Tượng thì biểu hiệu bằng hai nét, có bốn Tượng là: Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm.

Gọi là sinh tức là làm tăng thêm, luôn luôn nghi ban đầu vẫn làm gốc có nghĩa là hai nét Âm Dương vẫn đặt nằm dưới cùng, vì đó là gốc, là khởi điểm để từ đó tiếp diễn sinh ra.

Khi thành Tượng thì lấy Nghi dương làm gốc, đặt nét Dương lên nghi dương thành hai Dương là Thái Dương  lần biến thứ nhì thì đặt nét Âm lên nghi dương sẽ là Thiếu Âm. Đến nghi Âm cũng qua hai lần biến hóa thành ra Thái Âm  Thiếu Dương .

Khi Thái Cực phân ra Lưỡng Nghi, rồi Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng thì Tứ Tượng gồm: Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm. Thông thường, Thái Âm là chỉ Mặt trăng; Thái Dương là chỉ mặt trời. nguyên lý của Âm Dương.

Thái Âm Tinh Quân là vị Tiên cai quản mặt trăng.

 

 

THÁI ẤT

(Thái tức là rất, là cao hơn hết; Ất là hai: Giáp, Ất). Vì rằng trong Thập Can thì can Giáp thuộc Dương, can Ất thuộc Âm. Ất Âm mà cường thạnh thì Giáp Dương phải tránh đi đó là theo đúng với Thiên lý. Cho nên "Độn Giáp" là cái hình của Thái Ất. Thái Ất tức là cái ẤT thái quá - cái Âm thái quá - Cái Âm thái quá tức là Âm cực. Âm cực thì Dương suy. Dương suy ắt phải ẩn tàng tránh đi, mà Dương đây là Giáp tức là Độn Giáp.

Gọi là Thái Ất còn là để tả cái đời vật chất âm-u này và thêm nữa để tả cái vòng thứ tư tức là cái kiếp Âm tột cực theo một vận chuyển đến kiếp thứ 5 là một nơi dừng nghỉ."

"Thái Ất tức là cơ-quan hữu tướng cao-trọng hơn hết, là khoa nghiên-cứu sự vật đã hiện tướng, cao diệu nhiệm mầu. Vạn-vật được điều-hành bằng những phương-thức". (Chí-Tôn)

Đây Thầy giải về những con số lập thành để làm tượng-trưng:

- Số 0 (không) ấy là cơ-quan Hư-vô bổn thể. Số 0 là số vô thủy, tức là không có chi trước nó hết, nó là số chúa của chúa cả vạn vật. Chính trong không mà sinh ra vạn-hữu, nên nó hợp với số nào thì làm cho số đó tăng tiến thêm lên. Nó là cái vòng bao bọc tượng-trưng, chủ cả cái hữu-vi sự-vật này.

- Số 1 Là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến vi hữu tướng.

- Số 2 là số biến-hóa do số 1 mà ra. 1 biến thêm 1 nữa thành 2.

- Số 3 là do 1 với 2 hỗn-hợp lại mà biến ra 3. Ba tức là cơ-quan hữu tướng cùng vô tướng hiện có ở càn-khôn vũ-trụ này.

- Số 4 là cơ-quan hữu tướng biến hình, tức là âm dương biến sanh. Nho-gia gọi là Lưỡng nghi sanh Tứ-tượng là vậy, số 4 cũng có nghĩa là 1+3 tức là do lý Thái-cực điều hành với ba ngôi hóa sanh vạn hữu nên hễ đến 4 là biến hóa ra rồi.

- Số 5 là do 1 và 4 kết thành hay là 2 và 3 hiệp lại. Hai ấy là âm dương. Ba ấy là 3 ngôi chủ-tể đầu tiên của vạn-hữu. Số 5 tức là càn khôn đã an vị rồi, xong xuôi hết, đã sắp đặt đâu đó có thứ lớp an bày.

- Số 6 do lý Thái-cực hiệp với cơ quan an-vị này (1+5). Cũng có nghĩa là Lưỡng-nghi hiệp cùng Tứ-tượng (2+4) nghĩa là hai lý âm dương đun đẩy nhau để biến sanh những cái đã sanh ra. Nó cũng có nghĩa là 3+3 tức là 3 ngôi đầu tiên hỗn-hợp nhau để hóa thành 3 ngôi nhỏ nữa, cũng có nghĩa là 3x2 tức là tam ngôi ở cấp bực thứ nhì do luật Âm Dương biến tướng với 3 ngôi đầu tiên.

- Số 7 là số ngưng kết do 1+2+4 tức là Thái-cực cọng Lưỡng nghi và Tứ-tượng. Thái-cực là Dương, Lưỡng nghi là cơ biến tướng, Tứ tượng là cơ sanh-hoá. Nhưng cơ biến tướng và sanh hóa chạm nhau lại khắc nên số 7 trở thành số riêng biệt không có biến động, có nghĩa là trạng-thái yên tịnh ngừng-nghỉ, nên nó cũng ám chỉ vào thể âm.

Số 7 cũng chỉ vạn-vật hữu tướng thành hình, trong thân người nó là thất khiếu ở trên đầu. 7 ấy tức là 3 ngôi cọng 4 biến hay là 1+2+1+2+1 nên Vô-cực vi-chủ.

- Số 8 là do 1+7 mà thành, tức là lý Thái-cực đã phát động để biến sanh, cũng như Âm Dương đã phối hợp vào nhau để biến sanh thêm nữa.

Số 8 ấy là Bát-quái có nghĩa là 4x2=8, 4 là cơ chuyển biến, 2 là cơ Âm Dương, cơ chuyển biến phát động trên cơ âm dương nên nó huyền-diệu nhiệm-mầu thay thay đổi đổi. Tuy vậy nó cũng chưa thật toàn năng cũng như lý Thái-cực chưa soi thấu vào âm-quang hữu tướng hữu vi. Nó cũng có nghĩa là 3+5=8 là tam ngôi cọng ngũ khí, cơ mộc dục vận hành trong trạng-thái tĩnh.

- Số 9. Phải đợi đến số 9 là số huyền-diệu nhiệm-mầu, huyền diệu hơn hết là số đó, nó là cơ chuyển biến đến mực độ tận thiện tận mỹ toàn năng toàn tri. Nó là 1+8 tức là cơ vận-hành trong trạng-thái tĩnh được lý Thái-cực thúc đẩy thêm cho nên năng tri sáng-suốt. Nó cũng là 3+6, 3 và 6 đều là hai lý nhiệm mầu và đều ở trong trạng-thái động. Nó cũng có nghĩa là 3x3 hay 32 (hay ba bình phương) là cấp bực Tam ngôi biến-hóa, vận-hành suốt thông trời đất.

Đến số 9 là đến chỗ tột cùng vận-động để hợp về cơ qui nhứt. Phép toán-học thử đến 9 rồi trở về 0 là vậy. Cùng cực cái động tức trở về trạng-thái tịnh nguyên-thủy.

- Số 10 do 9+1 tức là số hiền-hòa, lặng-lẽ, an-bình, đầm-ấm.

- Số 12 là số đặc-biệt tức là 9+3, 9 là cơ-quan vận chuyển, 3 là ba ngôi. Lấy ba ngôi hiệp vào cơ vận-chuyển tức là cơ qui nhứt, nắm cả các pháp trong tay, mà người nắm pháp ấy là Chủ-tể Càn-khôn vũ-trụ. Nên Thầy có nói số 12 là số riêng của Thầy là vậy. Nếu cọng lại là 1+2=3 tức là ba ngôi đầu tiên. Nếu tính theo hàng là 1 và 2 tức là lý Thái-cực đứng trước Luật âm dương thì thấy rõ quyền-năng Chưởng-quản trong đó.

Vì thế nên Thầy nói chi chi cũng có luật-định, không một vật chi ngoài quyền sở-định của tạo-hóa hết. Nhưng luật công-bình có hai phần: một Âm, một Dương biến động; dù ngay trong luật-định cũng có, ở đâu cũng có cái lý mâu thuẫn trong đó, hễ có mâu-thuẫn tương-quan là có biến sanh. Hết vòng biến đổi mới trở về trạng-thái đầu tiên là 1, rồi từ 1 trở lại trạng-thái Hư-vô cho nên người tu đắc nhứt qui cơ là thành Đạo nghĩa là hiệp cùng lý Thái cực để trở lại trạng-thái tĩnh-lặng nhiệm-mầu. Trong là lý Hư-vô phát sanh một Thái-cực. Thái-cực biến-hóa 3 ngôi, mỗi 3 ngôi lại biến-hóa nữa thành ra Cửu chuyển.

 

 

THÁI ẤT THIÊN TÔN

Thái Ất Thiên Tôn 太乙天尊 là Một vị đại Tiên, thầy của Tam Thái Bảo Na-Tra, có nhiệm vụ Chưởng quản bộ sổ ở cõi Phong Đô, Địa ngục theo như Phật giáo lưu truyền.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn,
"Miền Âm cảnh ngục môn khai giải."

 

 

THÁI BÌNH

F: Paix.

Đức Hộ Pháp nói: "Cái tư-tưởng vô cùng chiều theo thời thế của đời đặng nâng-đỡ trí-thức của nhơn-sanh tạo thời cải thế. Nếu hiểu rằng nghĩa lý của Đạo là đường duy nhất của tâm-lý nhơn sanh ắt phải nhìn-nhận rằng: phải để cho tinh-thần đặng tự-do tín-ngưỡng, miễn là làm thế nào cho Đạo thuận cùng đời, đời không nghịch Đạo, mới gọi là lý-thuyết cao-siêu làm cho thái-bình tâm-lý. Thái-bình tâm-lý đặng mới làm cho thái-bình thiên-hạ đặng, thái-bình thiên-hạ đặng mới Đại Đồng Thế Giới đặng".

 

 

THÁI CA THANH - Thái Chánh Phối Sư

Nguơn linh Ngài là Độc giác Thanh Ngưu (Tức là con trâu của Ðức Lão Tử cưỡi).

Năm 1931 Ngài Phối Sư Thái Ca Thanh rút khỏi Toà Thánh Tây Ninh về Mỹ Tho lập Minh Chơn Lý trong cơ Ðạo phân chia Chi phái. Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang hợp tác với Minh Chơn Lý, sau đó thấy ông Ca và ông Phùng sửa đổi hết cách thờ phượng, nên Ngài rút khỏi Minh Chơn Lý, xuống Bạc Liêu hợp tác với ông Cao Triều Phát mở phái Minh Chơn Ðạo năm 1935. Nguyên căn của Phối Sư Thái Ca Thanh là Ðộc Giác Thanh Ngưu của Ðức Lão Tử giáng phàm. Truyền Trạng Phạm Văn Ngọ là Từ Giáp cùng giáng phàm với. Thanh Ngưu ở với Ðức Lão Tử lâu năm nên có nhiều phép biến hóa huyền diệu (truyện Ðông Du Bát Tiên). Khi Đức Hộ Pháp đến Ngọc-Hư-Cung lãnh lịnh xuống trần lập Đạo Cao-Đài có gặp Đức Thái Thượng Đạo-Tổ, Ngài cho biết:"Hiền hữu sẽ bị Thanh Ngưu xuống thế khảo Hiền hữu, nhưng không sao, Lão sẽ cho Từ-Giáp xuống thế theo gìn giữ nó". Nguyên do: Đức Hộ Pháp đến Cung Đẩu Suất từ giã Đức Lý-Lão-Quân. Ngay lúc mà Đức Hộ Pháp mặc khôi giáp rực rỡ đến trình diện trước Ngọc Hư Cung. Thanh ngưu của Đức Lão Tử kinh hoảng giựt mình chạy làm đứt dây sứt lỗ mũi, chạy bay xuống thế đầu kiếp làm Nguyễn văn Ca, với ý định để trả thù Hộ Pháp sau này, gọi là báo thù "Sứt lỗ mũi trâu". Đốc Phủ Ca, sau lập Chi phái Minh Chơn Lý chống đối Toà-Thánh Tây-ninh dữ-dội. Cuối cùng đi đến cuồng tín không còn thờ Thiên-Nhãn và danh hiệu Đại Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ nữa. Từ-Giáp giữ Thanh Ngưu, khi đầu kiếp xuống trần để giữ ông Ca là Truyền Trạng Phạm-Văn-Ngọ. Sau đó, Đức Hộ Pháp cho Ông Ngọ liên hiệp Chi phái của ông Ca để kềm giữ. Ông Ca chỉ sợ và nghe lời khuyên nhủ của ông Truyền Trạng Ngọ mà thôi. Vì thế mỗi sự việc đều có nguyên-nhân của nó. Dấu tích của ông Ca hiển hiện rõ như: lỗ mũi có thẹo, nơi ngực có chòm lông, đụng đâu bạ đó, cũng như trâu thường vung sừng đụng trán đối phương.

Cuộc Ân oán đối với Đốc Phủ Ca:

Lúc đầu ông Đốc Phủ Ca làm Quận Trưởng Châu Đốc.

Ông vâng lịnh Thực dân Pháp ruồng bố các nhóm Cách Mạng chống Pháp đang lập căn cứ trong Thất Sơn, giết chết ông Cử Ða và bắt học trò của Cử Ða là Bảy Do giao cho Pháp xử tử. Chơn linh Ông Bảy Do là Phật Thầy Tây-An. Linh hồn Ông Bảy Do lên kiện nơi Ngọc Hư Cung. Ngọc Hư Cung cho phép ông Bảy Do báo oán và giao phận sự giục loạn trong nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn để trục ngoại các thành phần phản đạo, rửa ráy hàng ngũ Chức sắc cho trong sạch. Theo luật báo oán, Ngọc-Hư-Cung cho phép ông Bảy Do báo thù ông Ca về tội sát nhơn, báo cho Ông Ca tu không được, bị khảo cho đến chết. Lúc đương quyền thì ông Quận trưởng nhiều uy quyền, ai cũng sợ ông Ca, riêng ông Ngọ đối xử với ông bằng tình bạn-bè thân mật vẫn gọi ông Ca bằng tiếng "mày, tao". Ông Ngọ nói gì ông Ca cũng nghe cả (đó là người nài đối với con trâu nên cả nễ nhau từ tiền kiếp đến giờ). Khi Ông Ca chết, Chi-phái này tan rã, vì không còn dấu vết gì của Cao-Đài Toà-Thánh Tây-Ninh nữa, ông Ca là người phản Đạo thứ nhứt.

Ngày 21-7-1934, tại Phạm Nghiệp, Ðức Hộ Pháp cùng Ngài Cao Tiếp Ðạo phò loan, ông Bảy Do nhập cơ:

BẢY DO

"Kính chào chư vị Ðại Ðức và chư Ðạo hữu,

- Xin cho biết phẩm vị.

- Thần. Thầy của Bần tăng mắc chuyển cơ đặng giáo hóa TRANG, TƯƠNG, nên đến không đặng, mới sai Bần Tăng thưa lại cùng chư quí vị. Thưa Ðức Hộ Pháp, Bần Tăng lấy làm bất nguyện vì buổi nọ Ngọc Hư Cung ban lịnh cho trừ diệt Phủ CA đặng báo oán. Bần tăng đã dụ nó vào Cấm Sơn và định đưa luôn vào ngục thất đặng sát hại, nào dè có lịnh Chí Tôn mật chỉ không cho sát mạng. Sau Bần tăng muốn nhập thể nó, làm cho nó điên cuồng rồi bắt nó tự ải, nào dè Chí Tôn lại binh vực cấm ngăn thêm nữa, chỉ cho hành bịnh mà thôi. Nay nó bị điêu tàn, cơ giả Ðạo nên mang bịnh thất tình, tưởng khi Bần Tăng cũng còn phương tẩy hận. Ngài nín nẩm lóng tin thì hiểu rõ hành tàng mọi lẽ. Còn hai người TRANG, TƯƠNG thì Ngọc Hư Cung cho khảo. Thần đặng phép thử, khử tà trừ trược đủ ba năm khảo án, rồi dạy dỗ cho nó trung tâm, rồi cho trở lại Hội Thánh.

- Không. Cười! Hạng Thiên Thánh mà vào phẩm Ðầu Sư sao đặng. Bần tăng tưởng khi Ngài hiểu điều ấy chán chường, chẳng cần để luận. Họ chỉ lãnh Hàm phong là may mắn lắm đó." (sưu tập của Quang Minh)

 

 

THÁI CHÁNH PHỐI SƯ (Phẩm)

Trong ba phái: Thái, Thượng, Ngọc thì mỗi phái sẽ điều hành ba Viện theo đúng Thánh ngôn dưới đây của Đức Lý Giáo Tông (Thái là Thái Chánh Phối Sư Chưởng quản):

THÁI: Hộ, Lương, Công ngoại chủ trương,
THƯỢNG: Học, Y, Nông chấp phương cương.
NGỌC: Hòa, Lại, Lễ quyền cai quản,
Cửu Viện phân qua khả khán tường.

Bài Thánh ngôn trên có nghĩa như sau:

Phái Thái coi ba viện: Hộ viện, Lương viện, Công viện. Bổn phận là coi sóc, (đốc suất) bên ngoài.

Phái Thượng coi ba viện: Học viện, Y viện, Nông viện, đảm trách phương pháp làm cho Đạo mạnh thêm.

Phái Ngọc coi ba viện: Hòa viện, Lại viện, Lễ viện. Đây là quyền cai quản của phái Ngọc.

Chín Viện phân qua cho xem, phải biết rõ, một cách tường tận.

Nghị định thứ tư của Đức Lý Giáo Tông dạy:

Ðiều thứ ba: - Thái Chánh Phối Sư, đặng quyền điều đình sự Phổ Độ, tài liệu của Ðạo đều nơi người chủ, định lương hướng cho Chức Sắc Thiên Phong, lo về tài chánh.

Ðiều thứ sáu: - Thái Chánh Phối Sư, đặng quyền cầu xin Chức Sắc hành Ðạo tha phương, song tại nơi người điều độ, làm Chủ Tọa Hội Thánh.

 

 

THÁI CÔNG TƯỚNG PHỤ

"Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn" 太公相父管法天尊. Đây là Thánh danh Đức Khương Thượng Tử Nha, họ Khương , tên Thượng , tên chữ là Tử Nha 子牙, vua Châu Võ Vương tôn làm Thượng Phụ hay Tướng Phụ, hàm ân là Thái Công.

Lúc thiếu thời Ngài rất mộ đạo Tiên, nên tầm sư học đạo và thọ giáo Đức Nguơn Thỉ Thiên Tôn tại núi Côn Lôn. Ngài quyết chí tu hành, không màng đến việc thế tục nữa, theo thầy lo tu hơn 40 năm trên núi.

Vào thời ấy, Trụ Vương vì đắm say nữ sắc của Đắc Kỷ, không lo việc triều chính, công thần nhiều vị khuyên can đều bị giết hại, nhân dân đồ thán, giặc cướp nổi lên bốn phía, vận nước suy vi. Nguơn Thỉ Thiên Tôn khuyên Khương Tử Nha hạ trần để phò Châu, phạt Trụ. Khí số nhà Thương sắp mãn, vận nước Tây Châu hưng thịnh, nên Cơ Phát lên nối nghiệp cha, xưng hiệu Võ Vương, rồi cử binh phạt Trụ. Trên mười năm mới bình định xong tứ phương, vua lên ngôi thiên tử, phong Khương Tử Nha đứng đầu các bậc khai quốc công thần và cho làm vua nước Tề, đời đời con cháu được phụ truyền tử kế mà hưởng lộc tại nước Tề.

Câu 29 trong bài U-Minh-Chung có câu:

"Nam mô Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn"

 

 

THÁI CỰC


E: The Universal Monad.
F: La Monade Universelle.

 

 

 

Đức Chí-Tôn giáng dạy (Thánh-ngôn II trang 62)

"THẦY đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn Khôn Thế-Giới thì Khí Hư-vô sanh có một THẦY và ngôi của Thầy là THÁI CỰC. Thầy phân Thái cực ra Lưỡng-Nghi, Lưỡng-Nghi phân ra Tứ-Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn Khôn thế-giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà phân ra vạn vật là: Vật-chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh. Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu-sanh cũng do bởi Chơn-linh Thầy mà ra, hễ có sống ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự sống, vì vậy mà lòng háo-sanh của Thầy không cùng tận."

Theo Cụ trần Cao Vân thì: "Ngôi Thái-Cực đứng vào vị trí trung ương, thống quản Lưỡng Nghi, tự nhiên Tứ Tượng hóa sanh, muôn vật đều theo đó mà sinh sôi nẩy nở; cũng như:

- Ở Trời có Tứ tượng: Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương.

- Ở Đất có Tứ chánh: Đông, Tây, Nam, Bắc.

- Ở Người có Tứ thể: hai tay, hai chân.

- Đạo có Tứ giáo: Thích, Nho, Gia, Lão.

Bốn yếu tố này không thể thiếu một và cứ theo đó mà suy cầu thì đến số 5 là sinh số, số đứng giữa Hà-Đồ và Lạc Thư là yếu tố cần và đủ để hoàn thành năm nguyên chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; nên số 5 tượng trưng ngôi Thái cực, cũng gọi là "Doãn chấp khuyết trung". Bởi thế Cụ Trần Cao Vân gọi Trung Thiên Đạo là Đại-Đạo, là Đạo Trời "Đạo chi đại nguyên xuất ư Thiên", biểu tượng ngôi Thái-Cực là Thượng Đế lý tính.

Vậy trước khi chưa phân Trời đất, KHÍ HƯ-VÔ bao quát Càn Khôn, sáng-soi đầy vũ-trụ. Đó là một cái Trung-Tâm điểm tức là ĐẠO. Rồi Đạo ấy mới sanh ra Thái cực. Hồng mông sơ khởi, huyền huyền hạo hạo khối lại thành ngôi Thái cực, rất đầm-ấm lưng-chừng trong đó toàn là một khối, đúng mấy muôn năm bùng nổ ra tiếng dường như thiên khuynh điạ khúc, thì đã có THẦY ngự trong ngôi THÁI-CỰC; rồi có một tầng ÂM và một tầng DƯƠNG gát chồng nhau thành hình chữ thập ló ra bốn cánh gọi là LƯỠNG-NGHI sanh ra TỨ TƯỢNG. Chữ thập mới dần dần quay lộn chạy lăn tròn như chong chóng, lăn tủa ra muôn ngàn quả tinh-cầu thế giới, chữ thập ấy dưới có bốn cánh bóng kêu là TỨ ÂM, TỨ DƯƠNG tác thành Bát Quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Bát-Quái mới biến-hóa vô cùng, phân định Ngũ hành, Càn Khôn muôn vật. Thái-cực sanh Lưỡng-Nghi tức Tam thiên-vị (ba ngôi Trời). Dưới ba ngôi ấy có Tam thập tam thiên (ba mươi ba từng trời) cộng với ba ngôi trên là ba mươi sáu từng trời, nên gọi là Tam thập lục Thiên. Trong mỗi từng Thầy chia Chơn-linh, có một vị Đại-La Thiên-Đế Chưởng-quản.

 

 

THÁI CỰC ĐĂNG


E: The Monad lamp.
F: La lampe de Monade.

Thầy giải về Thái Cực Đăng: "Trước khi phân Trời Đất, thì khí Hư-vô bao quát Càn khôn, sáng soi đầy trong vũ trụ. Nó là một cái trung tâm-điểm, tức là Đạo. Đạo ấy mới sanh ra Thái-cực, hóa Lưỡng-nghi. Lưỡng-nghi là Âm Dương tức là động và tịnh. Có Âm Dương rồi mới có hóa sanh muôn vật."

Ngọn đèn thờ chính giữa, là giả mượn làm Tâm đăng, Phật Tiên truyền Đạo cũng do đó, thành Đạo cũng tại đó. Nó đặt ngay chính giữa, không lay động, xao xuyến, chiếu thấu khắp cả Càn khôn. Mặt Nhựt, mặt Nguyệt có lúc sáng, lúc tối, giờ khắc nào cũng tỏ rạng, không lu mờ. Nhơn vật nhờ đó mà sanh, nhờ đó mà thành, nhờ đó mà an vui. Trời Đất nhờ đó mà quang minh trường-cửu. Người tu-hành nhờ đó mà tạo Tiên tác Phật, siêu phàm nhập Thánh. Hễ chinh qua bên trái thì Tả Đạo; dịch qua bên hữu thì bàng-môn, ngay ở giữa là Chánh Đạo. Đạo Cao-Đài ngày nay chỉ dùng hai chữ chánh và trung thôi.

Chúng-sanh phải nên am-tường lý ấy, lý ấy ở trong Tâm. Tâm an-tịnh vô-vi tự nhiên bất động là Chánh Đạo. Tâm còn tính mưu thần chước quỉ, độc ác hiểm sâu, ấy là bàng-môn, tả Đạo chớ chi đâu!

Tại sao nhân-loại phải thờ Đức Thượng-Đế trong buổi Tam-kỳ Phổ-Độ này? Đức Hộ Pháp nói:

"Đời quá ư bạo-tàn cho nên Đức Chí-Tôn mới giáng trần mở Đạo cho con cái biết: các ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật đều tình nguyện hạ thế cứu đời, xuống bao nhiêu lại càng mất bấy nhiêu. Trong thời-kỳ ấy Bần Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo, thì Đức Chí-Tôn mới hỏi rằng:

- Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí-pháp trước hay là mở Thể-pháp trước?

Bần-Đạo trả lời:

- Xin mở Bí-pháp trước.

- Chí-Tôn nói:

- Nếu con mở Bí-pháp trước thì phải khổ đa! Đang lúc đời cạnh-tranh tàn bạo, nếu mở Bí pháp trước, cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, Đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại thì mối Đạo phải ra thế nào?

Vì thế nên mở Thể-pháp trước, dầu cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại, xin miễn mặt Bí pháp còn là Đạo còn.

*Bí-pháp là Hiệp Thiên Đài giữ.

*Thể-pháp là Cửu Trùng Đài mở-mang bành trướng về mặt phổ-thông Chơn-giáo".

 

 

THÁI CỰC THÁNH HOÀNG

太 極 聖 皇
E: The Emperor of Monad.
F: L’Empéreur de Manade.

Thái Cực: (đã giải bên trên). Thánh Hoàng: vua Thánh, vị vua thiêng liêng huyền diệu. Thái Cực Thánh Hoàng là vị vua Thánh ngự ở ngôi Thái Cực, đó là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế:

"Đại La Thiên Đế, Thái Cực Thánh Hoàng"

 

 

THÁI CHƯỞNG PHÁP - Hòa Thượng Như Nhãn

Hòa Thượng Như Nhãn (1864-1939)

 

 

 

Hòa Thượng Như Nhãn, thế danh là Nguyễn Văn Tường, sanh năm 1864, con của ông Nguyễn Văn Bầu và bà Ðoàn Diệu Hoa, quê quán ở Ðức Hòa (Long An), đi tu từ năm 17 tuổi, qui y với Hòa Thượng Thích Trí Lượng (Minh Ðạt) trụ trì ở chùa Thiền Lâm Cổ Tự (xóm Chùa, tỉnh Tây Ninh), thọ Pháp danh là Thích Từ Phong. Nguyên vào năm Mậu Tý (1888) tại vùng Phú Lâm Chợ Lớn, (đường Bà Kế, khu vực Chợ Gạo, nay là Bến Phú Lâm, Quận 6), bà Hồ Thị Lộc có xây một ngôi chùa lớn, đặt tên là Chùa Giác Hải, bà giao cho ông Thủ Tọa Nguyễn Minh Sự coi sóc. Ông Sự mất năm 1908. Sư Thích Từ Phong về đây kế nghiệp, trụ trì Chùa Giác Hải. Năm 1912, Ngài Thích Từ Phong giữ chức Yết Ma và năm 1924, Ngài được phong chức Hòa Thượng, nên các Phật tử tại vùng nầy thường gọi Ngài là Hòa Thượng Giác Hải. Trong lúc trụ trì ở chùa Giác Hải, Hòa Thượng Giác Hải có quyên góp tiền bạc trong bổn đạo để mua đất và lập một cảnh chùa tại vùng Gò Kén, Tây Ninh, lấy tên là Từ Lâm Tự (sau đổi lại là Thiền Lâm Tự). Chùa được xây dựng trên một khu đất gò rộng 4 mẫu, dựa quốc lộ Sài Gòn Tây Ninh, cách quốc lộ khoảng 200 mét và cách thị xã Tây Ninh chừng 5 cây số, phía trước cất chùa, phía sau làm nghĩa địa. Trong số bổn đạo đóng góp tiền mua đất và xây chùa Từ Lâm ở Gò Kén, ông bà Huyện Nguyễn Ngọc Thơ và Lâm Ngọc Thanh đóng góp tiền bạc nhiều hơn cả. Chùa mới vừa xây dựng xong phần chánh, chưa trang trí, chưa làm đường lớn từ quốc lộ vào chùa. Lúc đó là vào năm 1925. Vào giữa năm Bính Dần (1926), ông bà Nguyễn Ngọc Thơ được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ, nhập vào Ðạo Cao Ðài. Hai ông bà cũng muốn Ðức Chí Tôn thâu phục Hòa Thượng Như Nhãn, nên ông bà thuyết phục Hòa Thượng đến dự một đàn cơ cầu Ðức Chí Tôn tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ ở Tân Ðịnh. Ðức Chí Tôn giáng cơ thâu phục được Hòa Thượng Như Nhãn. Giữa tháng 7 năm Bính Dần (1926), Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ. Sau đó, do sự yêu cầu của ông bà Thơ, Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm (Gò Kén) cho Ðạo Cao Ðài dùng làm Thánh Thất tổ chức Lễ Khai Ðạo. (Có lẽ trong thời gian xây dựng chùa Từ Lâm ở Gò Kén, Hòa thượng Giác Hải lấy hiệu là Như Nhãn). Ngày 29-7-Bính Dần (dl: 5-9-1926), Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí Tôn giáng cơ ân phong là: Quảng Pháp Thiền Sư Thích Ðạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Thái. Ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926), Ðại Lễ Khai Ðạo Cao Ðài được tổ chức long trọng tại Thánh Thất Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh), có hằng vạn Tín đồ Cao Ðài dự lễ, số quan khách đời đến dự rất đông. Chính đêm 14 rạng 15 tháng 10 âm-lịch, tổ chức đàn cơ trong Thánh Thất, Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt trấn pháp sót một cửa, nên thừa dịp nầy, quỉ nhập vào đàn, một nhập vào ông Lê Thế Vĩnh xưng là Tề Thiên Ðại Thánh, một quỉ khác nhập vào cô Vương Thanh Chi xưng là Lê Sơn Thánh Mẫu, nói năng lộn xộn, rồi nắm tay nhau nhảy múa, khiến cho nhiều người mới vào Ðạo Cao Ðài mất đức tin. Hòa Thượng Như Nhãn cũng bị mất đức tin luôn. Mặc khác, số đệ tử của Hòa Thượng Như Nhãn yêu cầu Ngài bỏ Ðạo Cao Ðài và đòi chùa lại. Hòa Thượng Như Nhãn nghe theo và quyết định đòi chùa Từ Lâm, không hiến cho Ðạo Cao Ðài nữa, hẹn trong 3 tháng Ðạo Cao Ðài phải dời đi. Ngày 19-11-Bính Dần, Hòa Thượng Như Nhãn bị thiêng liêng phạt làm cho đau nặng. Ngày 01-12-Bính Dần, Ðức Chí Tôn giáng cơ quở phái Thái và Hòa Thượng Như Nhãn, tỏ ý muốn phế bỏ phái Thái. Ðức Phổ Hiền Bồ Tát cầu xin Chí Tôn tha thứ phái Thái và đừng bỏ phái Thái (phái Phật). Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ trục xuất Hòa Thượng Như Nhãn ra khỏi Ðạo Cao Ðài. Tháng 2 năm Ðinh Mão, Ðức Lý Giáo Tông quyết định trả chùa Từ Lâm cho Hòa Thượng Như Nhãn và chỉ dẫn Hội Thánh tìm mua được 96 mẫu đất tại làng Long Thành (Tây Ninh) để dời các cơ sở của Ðạo về nơi đây, lập thành Tòa Thánh Trung ương của Ðạo Cao Ðài. Hòa Thượng Như Nhãn qui liễu vào ngày 5-12-Mậu Dần (dl: 24-1-1939) hưởng thọ 75 tuổi. Tháp của Ngài được xây ngay trước chùa Từ Lâm Tự (nay là Thiền Lâm Tự) Gò Kén (Tây Ninh). Trên bia mộ có đề chữ Hán, dịch ra như sau đây: Ngài là Ðại Lão Hòa Thượng Thiền Tông Lâm Tế đời thứ 39. Ngày sanh: 15-3-Giáp Tý (1864). Ngày chết: 5-12-Mậu Dần (1939), thọ 75 tuổi. Tháp của Hòa Thượng Như Nhãn xây ở chính giữa, hai tháp hai bên là của hai vị: - Hoà Thượng Minh Ðạt, thầy của Ngài Như Nhãn, - Hòa Thượng Hồng Tằng, học trò của Ngài Như Nhãn.

1- Thầy có dạy riêng Hoà Thượng Như Nhãn:

Chùa Giác Hải, Sài gòn. Ngày 21-9-1926 (âl 15-8-Bính Dần)

THÍCH CA MÂU NI PHẬT viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
chuyển Phật giáo Nam phương

"Như Nhãn, con nghe Thầy: Khi giáng trần Chí Tôn Phật Tổ, Thầy duy đặng có bốn Môn đệ, chúng nó đều chối Thầy. Khi giáng lập Đạo Tiên, Thầy có một trò là Nguơn Thỉ. Khi lập Đạo Thánh thì đặng mười hai môn đệ, song đến khi bị bắt và hành hình thì chúng nó đều trốn hết, lại còn bán xác Thầy nữa. Còn nay, Thầy đã sắm sẵn Môn đệ cho con cũng đã nhiều, con đừng thối chí. Thầy thường than rằng: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh, nên Thầy nôn nóng nhưng Thiên cơ chẳng nghịch đặng. Ma quỉ hằng phá Chánh mà giữ Tà, chư Tiên Phật trước chưa hề tránh khỏi. Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ. Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy. Nếu Thầy dùng quyền pháp Chí Tôn thì mất lẽ công bình thiêng liêng Tạo hóa. Con cứ lo lập Luật, để công phổ độ cho chư Đạo hữu con hưởng chút ít. Như Nhãn, con nhớ lời tiên tri của Thầy, đọc Thánh Ngôn lại. Thăng."

Thứ ba, 4-1-1927 (âl 1-12-Bính Dần)

Trung bạch về sự Giác Hải và Thánh Thất.

-"Thầy chẳng qua yêu mến đạo Thiền, quyết gom tóm các con lại làm một nên giữ Thánh Thất đến ngày nay, đặng qui tụ các em con đến cho đủ mặt. Như Thiên Cơ phải y như lời xin của Phổ Hiền Bồ Tát thì chẳng ép lòng bỏ chết phái ấy. Thầy sẽ coi ngày Như Nhãn đòi Thánh Thất lại thế nào, rồi mới trả."

Đức Lý dạy: Ngày 18-1-Đinh Mão (DL: 19-2-1927)

"Chẳng vì Thánh Thất, Như Nhãn phản ngôn mà trễ phổ thông Thánh giáo. Cười… Đã hiểu đời còn mê muội, chẳng phân đặng chơn giả thế nào, thảm thay! Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn (phái Thái) dám cả gan nghịch Thiên mà phải đọa trầm luân muôn kiếp, xét đến công tu, khó ngăn giọt lụy. Chí Tôn đau đớn bấy nhiêu, Lão càng giận bấy nhiêu. Biết bao phen, Lão cầm viết toan bôi xóa cho rồi trọn phái oan nghiệt mà Chí Tôn nằn nằn xin Lão để cho Người gia công độ rỗi. Ngày nay, Lão nhứt định trả lại chùa nầy. Song, trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng ở tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh Địa, vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Chí Tôn không chịu"

2-Lập lại lời của Đức Hộ Pháp nói về việc mượn chùa Từ Lâm của Hoà Thượng Giác Hải:

"Đức Chí Tôn nói "chi chi cũng tại Tòa Thánh Tây Ninh nầy mà thôi". Ngó lại thấy hiện tượng của Đạo nghèo đến nước không phương thế làm chùa để mượn Từ Lâm Tự của nhà Thiền tức của Hòa Thượng Giác Hải làm mới nửa chừng, họ muốn cho mượn đặng lợi dụng mình làm cho xong. Xuất của ra làm, chừng mở Đạo vừa xong quyền Đời quyền Đạo xúm lại đè nén muốn hạ nhục làm cho rẻ giá trị, đòi chùa lại, đuổi đi. Thật vậy, họ đuổi đi, phải đi cấp thời, mua được đất Long Thành ngó lại toàn rừng già thú dữ đầy cọp beo đủ thứ. Như thế ấy mà nói chi chi cũng tại Tòa Thánh Tây Ninh nầy mà thôi. Nếu buổi ấy ai đức tin không vững chắc còn có nước trốn mà đi. Một phần đã từ bỏ Đạo vì lẽ ấy, còn những người có đức tin một chút nói rằng ở coi, coi họ làm sao tương lai sẽ như thế nào? Nếu nên thì mình theo, bằng không nên thì đả đảo rồi bỏ đi. Như vậy mà vẫn còn một đám người nữa vì thương chúng sanh kính trọng con cái Đức Chí Tôn đem đức tin để trọn vẹn nơi Ngài lo lắng cho tương lai của nhơn sanh, tự hỏi: nếu lời hứa của Đức Chí Tôn không thành tựu thì Đạo Cao Đài thành sao đặng, vì cớ, những kẻ ấy đem tất cả nhiệt huyết của mình đặng cứu dân, lời hứa của Đức Chí Tôn đem cả đức tin thực hiện cho thành tựu mong mỏi cứu tình thế, thấy khổ nhơn loại mà hy sinh tạo nghiệp. Bần Đạo ngó lại hai mươi mấy năm rồi biết bao nhiêu sanh mạng về gởi rừng nầy nơi nước độc bệnh chướng, nhìn lại Thánh Địa biết bao nhiêu mồ mã, biết bao xương máu."

3-Diễn tiến về việc Ngài Như Nhãn đòi Chùa nên toàn Đạo phải tìm mua đất làm Đền-Thánh:

*Sau khi làm Lễ Khai Đạo tại chùa Từ Lâm (Gò Kén) ngày 15-10 Bính-Dần (dl 19-11-1926) chủ chùa Từ Lâm là Hòa-Thượng Như-Nhãn (Giác-Hải) đòi chùa lại, không hiến cho Hội-Thánh Cao-Đài nữa, kỳ hẹn trong 3 tháng buộc phải dời đi.

*Ngày 19-1 Đinh-Mão (dl 20-2-1927) tại Từ Lâm Tự, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ quyết định trả chùa lại cho Hòa-Thượng Như-Nhãn, rồi dạy Hội-Thánh đi chọn mua đất cất Tòa-Thánh, phải chọn đất tại Tây-Ninh nầy mà thôi. Đức Lý xin mua đất nơi khác nhưng Đức Chí Tôn không chịu, bởi vì Tây-Ninh là Thánh-địa, nơi đây phong thổ thuận tiện cho người ngoại-quốc đến học Đạo.

*Ngày 20-1 Đinh-Mão (dl 21-2-1927) cũng tại Từ Lâm Tự, Đức Chí-Tôn giáng cơ quyết định: "Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng ở tại Tây Ninh nầy mà thôi".

*Hội-Thánh Cao-Đài phải trả chùa lại cho Ông Như Nhãn và hứa trong 3 tháng sẽ tìm đất mới để dọn đi: Kể từ Rằm tháng 10 năm Bính-Dần (1926) tới Rằm tháng Giêng Đinh-Mão (1927) là đúng kỳ hứa trả chùa Từ Lâm (Gò Kén) là 3 tháng, nhưng tới tháng 2 năm Đinh-Mão, đã quá kỳ hạn 1 tháng mà Hội Thánh chưa trả chùa lại được, vì chưa kiếm được đất để mua, còn Ông Hòa Thượng Giác Hải thì cứ đòi chùa lại hoài". (Đạo-Sử I /51)

*Vì sự đòi Chùa ấy nên Đức Lý Giáo Tông giáng dạy tại chùa Gò-Kén ngày 19-1 Đinh-Mão(dl 20-2-1927): "Ngày nay Lão nhứt định Chùa nầy trả lại. Xong trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh địa. Vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Đức Chí Tôn không chịu. Thượng Trung Nhựt! Phải làm thế nào chừa đất dư ra ít nữa là 50 mẫu là trọn cả bản đồ Bạch Ngọc Kinh và cho đủ Thánh địa ấy. Hiền hữu đi chọn đất về cho Lão hay, cầu khẩn Chí Tôn nghe!" (Trích Đạo-Sử. II/ 222)

Hôm sau, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 20-1 Đinh Mão (Dl. 21-2-1927) Đức Chí-Tôn giáng dạy như sau:

"Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh địa. Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh dạy dỗ dân vô đạo, Thầy ban quyền thưởng phạt, đặng răn làng ấy cho đến ngày chúng nó biết ăn năn cải quá. Vậy thì Làng Long Thành, các con khá an lòng. Còn Tòa Thánh thì muốn để cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước. Từ Thầy đến lập Đạo cho đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. Các con lựa chọn nơi nào mà Hội Thánh vừa lòng thì là đẹp lòng Thầy. Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi. Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm mỗi sự chi về phương tiện mà thôi.

THƠ! Thầy giao cho con góp tư bổn trong một tháng cho rồi, dặn các em con rằng: "Danh thể Đạo nơi Tòa Thánh, nghe à!". Sau Thái Bạch sẽ dạy con kiểu vở.

Cẩm Giang thì các con phải chịu khổ về phần ăn uống, Bén Kéo thì địa thế hẹp hòi, chớ chi các con khôn ngoan lấy cớ rằng: vì ích lợi lương sanh, vì đạo đức mà ký. Chánh phủ cho các con mé rừng Cấm bên kia đường thì đẹp lắm. Các con liệu thử! Thơ! Suối Vàng thì đặng, phương chuyên chở không thuận tiện, song phong thổ tốt đẹp. Con cũng yêu cầu Hội Thánh xét nét, nghe à! Thầy ban ơn cho các con." (ĐS. II. 223) & [Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 98]

 

 

THÁI DƯƠNG

E: The sun.
F: Le soleil.

Bài Khai Kinh là một trong những Bài kinh cúng Tứ thời có câu:

"Biển trần khổ vơi vơi trời nước,
"Ánh Thái Dương giọi trước phương Đông."

 

 

THÁI ĐẦU SƯ THÁI MINH TINH - Hòa Thượng Thích Thiện Minh

Thế danh Nguyễn Văn Giáp (1883-1927)

Đầu Sư phái Thái: Thánh danh là Thái Minh Tinh. Chính là Hòa Thượng Thích Thiện Minh, học trò của Hòa Thượng Như Nhãn Thích Từ Phong. Thiện Minh được Đức Chí-Tôn phong Đầu Sư phái Thái ngày 13-10-Bính Dần. Ông là một trong 247 vị đứng tên trong Tờ Khai Đạo. Ông mất năm 1927. Trước đó bị Đức Lý ngưng quyền, chức.

Thầy dạy tháng 4- Bính Dần (dl: tháng 5 năm 1926)

"Thiện Minh, con há! Mầng con, Con ôi! Khi Thầy giáng sanh lập Đạo Thánh, Thầy phải đổ máu mà rửa tội cho chúng sanh, đến đỗi phải lấy Thân làm của tế, mà cầu khẩn cho chúng sanh. Hai ngàn năm chưa qua, giọt máu Thầy đã trôi hết. Nay con vì ma khảo, phải đổ máu mà rửa tội cho phái Thái. Chưa vì, sự vinh diệu con trước mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đã đặng so sánh cùng Thầy rồi. Cười! Con phải lấy hiệu Thiên ân là THÁI MINH TINH, làm Đầu Sư đạo Thiền. Con phải trông cậy pháp luật vô biên của Thầy". (TNCT. HH. 82)

Thầy nói với ông Như Nhãn: [Dimanche 5 Septembre 1926 (29-7-Bính Dần)] :

Thầy cậy con một điều là đòi MINH, vì nó là Môn đệ của con, đặng giao chức Thái Đầu Sư cho nó đi Phổ Độ nhơn sanh. Cái trách nhậm ấy đáng lẽ về phần con, song con tuổi đã cao rồi, khó bề cực nhọc, nghe à! Thầy để con trọn quyền mà Thầy xin con an lòng, Thầy lo chung cùng con, Thầy trông cậy nơi con lắm đó!" (Ðạo Sử. II. 238)

Vendredi 22 Septembre 1926 (16-8-Bính Dần).

Thầy dạy: "MINH bị chúng nó khảo nặng nề lắm, đáng kiếp! Cũng vì tiền kiếp oan oan tương báo, các con nên thương mà cầu nguyện cho nó hằng ngày. Ðặng vậy thì họa may chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thương, lòng từ bi Thầy vững cho khỏi cơn thịnh nộ, rồi đây nó xuống luân hồi nữa. Con cũng đồng con, thương cũng đồng thương, chưa ai cắt ruột mà không đau. Vậy các con dùng quyền mà trị cho chúng nó cho bỏ ghét. Trung, Lịch hai con phải hội chư Thánh mà xin khai Ðạo. Phải làm đơn mà dâng cho Thầy xem xét sửa trước nghe".

Trong năm Khai Đạo, Đức Chí Tôn Thiên phong ba vị Đầu Sư vào phẩm Đầu Sư đầu tiên của Đạo Cao Đài có mang ba chữ: Nhựt, Nguyệt, Tinh là ba bửu của Trời.

- Đầu Sư phái Ngọc: Ngài Lê Văn Lịch, Thánh danh là Ngọc Lịch Nguyệt.

- Đầu Sư phái Thượng: Ngài Lê Văn Trung, Thánh danh Thượng Trung Nhựt, sau thăng Quyền Giáo Tông.

- Đầu Sư phái Thái: Hòa Thượng Thiện Minh, Thánh danh là Thái Minh Tinh. Ngài Thiện Minh được Thiên phong Thái Đầu Sư nhưng Ngài không hành Đạo, nên ngày 12-12-Bính Dần (dl 15-1-1927), Đức Lý Giáo Tông cách chức Thái Đầu Sư của Ngài Thiện Minh. Cũng trong ngày nầy (12-12-Bính Dần), Đức Chí Tôn phong Ngài Dương Văn Nương chức Thái Đầu Sư, Thánh danh Thái Nương Tinh.

Ba vị Đầu Sư đầu tiên có mang chữ: NHỰT, NGUYỆT, TINH là ba báu của Trời, đó là một đặc ân của cơ quan Cửu Trùng Đài. Nhưng chắc cũng là trong vòng hữu định nên khiến như thế, vì mặt trời (NHỰT) cũng như mặt trăng (NGUYỆT) mỗi thứ chỉ có một, nên hai vị này giữ phẩm tước được bền bỉ, còn TINH tức là sao có đến 3.072 sao nên khiến cho vị mang chữ Tinh có đến hai người là Đầu Sư: Thái Minh Tinh và Thái Nương Tinh. Từ đó về sau thì tất cả Chức sắc Cửu Trùng Đài, dù ở phẩm Đầu Sư đi nữa cũng lấy Thánh danh là chữ "Thanh" (cho nam phái), nữ lấy chữ "Hương" mà thôi, vì còn trong thời Lý Giáo Tông nên Tịch đạo là THANH HƯƠNG. Qua một thời Giáo Tông kế tiếp mới đổi Tịch là ĐẠO TÂM.

 

 

THÁI HÒA

太 和
E: The great peace.
F: La grande paix.

Thái: Lớn, rất, cả, tuyệt cao. Hòa: êm thuận, hoà bình. Thái hòa là rất hòa bình êm tịnh có nghĩa là thiên hòa, địa hòa và nhơn hòa tức thiên, địa, nhơn hòa hợp gọi là "Thái-hòa".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thái hòa Dương thạnh Đạo nam khai.

 

 

THÁI HƯ

太 虛
E: The Nothing.
F: Le Néant.

Thái: Lớn, rất, cả, tuyệt cao. : trống không.

Thái hư, đồng nghĩa Thái không, là chỗ không không trên thượng từng không khí, nơi đó thấy trống không nhưng rất huyền diệu, vì tất cả các pháp đều sanh ra từ chỗ Hư không nầy.

 

 

THÁI QUÁ - BẤT CẬP

太 過 - 不 及
F:Excès - Insuffisance.

Thái: Lớn, rất, cả, tuyệt cao. Quá: vượt qua. Bất: không. Cập: kịp. Thái quá là quá mức qui định. Bất cập là không kịp, không đúng mức qui định.

Đây là hai trạng thái làm việc đối chọi nhau: một là làm việc quá mức, hai là làm việc không đúng mức. Cả hai lối đều có hại, vì không giữ mức trung dung, khó đạt được thành công như mong muốn.

Phải giữ lấy con đường trung đạo, tức trung dung, làm việc điều hòa, vừa phải nhưng siêng năng và chuyên cần, thì kết quả thành công chắc chắn.

Kinh Sám Hối có câu:

"Chớ thái-quá đừng lòng bất cập,
"Phép tu hành luyện tập nhiều ngày."

 

 

THÁI SƠN

Thái Sơn 太山 là một ngọn núi ở cõi Huỳnh Thiên.

Kinh Đệ Tứ Cửu:

"Đạp Thái Sơn nhảy qua Đẩu Suất,
"Vịn Kim Câu đến chực Thiên Môn."

Dưới thế: Thái Sơn là một trong năm trái núi lớn và nổi tiếng nhất của nước Trung Hoa, chính cái tên núi này đã làm đề tài cho ca dao Việt Nam ngâm ngợi về gương hiếu thảo. (Ngũ: năm, Nhạc: núi lớn) Ngũ Nhạc là năm trái núi có tên sau:

- Đại Tông tức là núi Thái Sơn, ở về phía Đông cũng gọi là Đông Nhạc, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Ca dao rằng:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

- Tây Nhạc: núi có tiếng ở về phía Tây, tức là Hoa Sơn, nay thuộc Tỉnh Thiểm Tây.

- Nam Nhạc: núi to ở về phía Nam, tức Hành Sơn, nay thuộc Tỉnh Hồ Nam.

- Bắc Nhạc: núi có tiếng ở về phía Bắc, tức là Hằng Sơn. Nay thuộc Tỉnh Sơn Tây.

- Tung Nhạc là quả núi ở vào vị trí Trung ương so với bốn quả núi kia, còn gọi là Tung Sơn.

Tóm lại năm quả núi kể trên là: Thái, Hoa, Hành, Hằng, Tung. Xưa kia, trong năm năm Vua đi tuần thú một lần, lấy năm nơi ấy làm hành cung, hay hành tại (ăn nghỉ ở đây).

 

 

THÁI TÂY (Europe)

西

(Thái là thịnh vượng. Tây là phương Tây) tức là các nước cường thịnh ở Châu Âu gồm: Anh, Pháp, Ý, Ðức, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha... Ðêm 24 tháng 12 là đêm giáng sinh của Ðức Chúa Jésus Christ ở nước Do Thái. Ngài là con yêu quí của Ðấng Thượng Ðế, thay mặt Đức Thượng Ðế giáng trần mở Đạo Thiên Chúa ở nước Do Thái và truyền bá qua các nước Âu Châu. (Europe tiếng Pháp là Châu Âu). Chữ Thái Tây là nhắc ngày Giáng sanh của Chúa có ảnh hưởng trong cửa Đạo ngày nay, tức nhiên Đấng ấy có nhiệm vụ rất lớn trong nền Đại-Đạo.

Thầy dạy: Ðêm Noel 24-12-1925 (âl: 09-11-Ất Sửu)

Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

"Ðêm nay, 24 Décembre, phải vui mầng vì là ngày của Ta xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây (Europe).

Ta rất vui lòng mà đặng thấy đệ tử kính mến Ta như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta. (Nhà của M. C...)

Giờ ngày gần đến, đợi lịnh nơi Ta. Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa".

Đây là bài giáng Cơ đầu tiên mà Đấng "Ngọc-Hoàng Thượng Đế viết Cao-Ðài Tiên Ông Ðại-Bồ-Tát-Ma-Ha-Tát giáo Đạo Nam phương" xưng chính danh, dạy Đạo tại nước Việt Nam.

*Theo Ðạo Sử, Ðức Chí Tôn- Ngọc Hoàng Thượng Đế đến với nhóm Xây bàn (gồm ba Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang) vào hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1925) với danh xưng là AĂÂ. Khi dạy Đạo cho ba ông thì Ðức Chí Tôn xưng là Thầy và gọi các ông là Môn đệ. Vì lời cam kết nên ba ông không dám tìm hiểu Ðấng AĂÂ là ai, chỉ biết đó là một Ðấng có quyền uy rất lớn nơi cõi vô hình, là vị Đại Tiên.

Mãi đến đêm Noel, 24 rạng 25 tháng 12 năm 1925, Ðấng AĂÂ mới giáng cơ cho bài Thánh Ngôn trên, cho biết Ngài là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, nay gọi là Ðấng Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Hát, giáng cơ dạy Đạo ở nước Việt Nam.

 

 

THÁI ÐẦU SƯ THÁI NƯƠNG TINH

Nguơn linh là Văn Thù Bồ Tát đời Phong Thần. Thế danh Dương Văn Nương (1870-1929)

 

 

 

Ngài Thái Nương Tinh, thế danh là Dương Văn Nương, làm Tri Huyện Hàm tại Sa-Đéc, sanh năm Canh Ngọ (1870) tại Sa-đéc và mất ngày 25-10-Kỷ Tỵ (dl: 25-11-1929) tại Sa-đéc, hưởng thọ 60 tuổi. Mộ của Ngài hiện ở phần đất dành làm nghĩa trang gia đình của hai họ Dương và Phạm, tại đường Đinh Tiên Hoàng (Tạ Thu Thâu cũ), Thị xã Sa-đéc cách chợ chừng hơn ngàn thước. Được biết, trước kia, mộ của Ngài ở Chợ Cồn xã Tân Qui Đông, Sa đéc, bên bờ sông Tiền Giang. Vì bờ sông bị đất lở, nên con cháu trong gia đình cải táng về đây ngày 21-8-1959. Kế bên mộ của Ngài là mộ của Bà Huyện Dương Văn Nương, nhũ danh Nguyễn Thị Quế (1876-1951) cũng được cải táng về đây ngày 24-4-1960. Sau đây xin chép lại hai bài Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn có liên quan đến quí Ngài: Đầu Sư Thái Minh Tinh, Đầu Sư Thái Nương Tinh và Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh. (Trích trong Đạo Sử quyển II của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, trang 172 và 177)

Ngày 12-12-Bính Dần (dl 15-1-1927)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

Các con: Nhị Chưởng Pháp, Nhị Đầu Sư tọa vị.

Đạo Quang! Con phải quyền Chưởng Pháp.

Nương! Thầy dặn con, con chẳng hề nghe đến. Thầy muốn bỏ, song vì cựu vị nên chẳng đành. Từ đây phải lo Đạo nghe. Thầy phong cho con chức Thái Đầu Sư. Phải hành Đạo mà hiệp sức phổ độ phái Thái. Thái Minh Tinh bị Thái Bạch cách chức.

Đức Lý dạy: "Nương phải sắm Thiên-phục như Thơ Thanh vậy nghe!" (13-12 Bính-Dần)

Ngày 14-12-Bính Dần (dl 17-1-1927).

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

Thơ! con đừng lo lắng về chơn thần con lắm vậy nghe! Nhiều phen Thầy nghe con vái, nhưng mà ngày chưa đến, nên Thầy chưa nói, ngày nay Thầy tỏ thiệt cho con hiểu. Con là một chơn linh cùng Quan Âm Bồ Tát, con đã hiểu rồi, vậy từ đây phải biết mình trân trọng mà trau giồi tánh hạnh nghe. Thầy chẳng nói căn cội của Nương, e con giận. Vậy Thầy nói luôn để cho anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành Đạo cho tới ngày hai con đắc quả đặng trở về cùng Thầy".

Đức Chí Tôn giáng cơ tiết lộ cho biết, nguơn linh của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh là Từ Hàng Bồ Tát, còn của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh là Long Nữ, đồ đệ của Đức Quan Âm Bồ Tát. Ngài Đầu Sư Thái Nương Tinh là Văn Thù Bồ Tát.

Thầy dạy: "Thầy chẳng nói ra căn cội của Nương e con giận. Vậy Thầy cũng nói luôn thể để anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành Đạo cho tới ngày hai con đến đắc quả đặng trở về cùng Thầy".

Ba phẩm Đầu Sư kế tiếp lấy chữ THANH làm Tịch Đạo cho Nam phái, các Ngài phải lấy Thánh danh là: Thái Đầu Sư Thái Thơ Thanh, Ngọc Đầu Sư Ngọc Trang Thanh, Thượng Đầu Sư Thượng Tương Thanh (buổi đầu các Ngài chỉ là "Quyền Đầu Sư". Từ đó hai Ngài Tương và Trang hợp với Ngài Thơ lập "Quyền Thống Nhứt".

Hai vị cùng là TỪ HÀNG ĐẠO NHƠN như:nguơn linh của Ngài Hiến Pháp là Từ Hàng Đạo Nhơn. Ngày 3-7 Đinh-Mão (31-7-1927) may được Quỉ Cốc Đại Tiên giáng đàn. (Trang 60)

Ở đây Ngài Thái Thơ Thanh cũng là Từ Hàng Đạo Nhơn, theo như lời Đức Chí-Tôn cho biết. Hỏi vì sao hai người cùng một nguơn linh? Đây không phải là lạ vì Đức Chí-Tôn có cho biết một nguơn linh cao trọng có thể chiết chơn linh xuống trần cùng một lúc mà hai ba người cùng làm nhiệm vụ cứu đời.

 

 

THÁI ÐẦU SƯ THÁI THƠ THANH

Nguơn linh Ngài là Từ Hàng Ðạo Nhơn

 

 

 

Tức là Quan Âm Bồ Tát. Tầm nguyên thì Phật Từ Hàng tu đắc Đạo ở Phổ Đà Sơn, "Phổ Đà Sơn giải qủa Từ Hàng" cũng là Quan Âm Bồ Tát.

Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh, thế danh là Nguyễn Ngọc Thơ, tên thật là Nguyễn Văn Tơ, sanh năm 1873 tại quận Bãi Xàu tỉnh Sóc Trăng, sau lên Sài gòn lập nghiệp ở Tân Định. Thân sinh là Ông Nguyễn Hưng Học, cháu ruột của Trung Quân Nguyễn Văn Thiền, vốn dòng trâm anh thế phiệt, Trung hưng công thần.

Ngài Nguyễn Ngọc Thơ có chấp nối duyên vợ chồng với Bà Lâm Ngọc Thanh ở Vũng Liêm, tục gọi là Bà Huyện Xây (Lâm Ngọc Thanh). Hai Ông Bà đều được Đức Chí Tôn độ theo Đạo. Về sau bà Lâm Ngọc Thanh đắc phong Nữ Đầu Sư, Thánh danh là Lâm Hương Thanh.

Ngày 2-7-Bính Dần (dl 9-8-1926), Đức Chí Tôn phong Ngài Thơ làm Phối Sư phái Thái, cầm quyền Thái Chánh Phối Sư, Thánh danh là Thái Thơ Thanh.

Ngày 17-2-Quí Dậu (dl 12-3-1933), Ngài Thái Thơ Thanh được thăng lên Quyền Thái Đầu Sư.

Cả hai nhà nghiệp chủ này vừa giàu sản nghiệp lại vừa giàu đạo đức nên đã góp một công quả rất lớn trong buổi đầu như mua đất hiến làm Toà Thánh và các cơ sở…

Bài Thánh Ngôn Ðức Chí Tôn dạy Ngài Ðầu Sư Thái Nương Tinh. Ðức Chí Tôn nói:"Thiên cơ Thầy đã thố lộ nơi Thơ, rán xem đó mà liệu trong lúc sau nầy".

Ngày 08-12-Bính Dần (dl 11-1-1927) Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngài Thái Thơ Thanh như sau:

Ðạo Sử. II. 177: "Thơ, con đừng lo lắng về Chơn thần con lắm vậy nghe...Nhiều phen Thầy nghe con vái, nhưng mà ngày giờ chưa đến nên Thầy chưa nói. Ngày nay Thầy tỏ thiệt cho con hiểu. Con là một chơn linh cùng Quan Âm Bồ Tát. Con đã hiểu rồi, vậy từ đây phải biết mình trân trọng mà trau giồi tánh hạnh nghe.

Thầy chẳng nói căn cội của Nương e con giận. Vậy Thầy cũng nói luôn để cho anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành Đạo cho tới ngày hai con đến đắc quả đặng trở về cùng Thầy.

Lâm Thị Ái Nữ! như lời Thầy nói thì hai con phải thương yêu nhau hơn nữa, hầu sau khỏi thẹn với nhau, nghe con!"

Chơn linh của ông Đầu Sư Thái Thơ Thanh là Từ Hàng Đạo Nhơn. Không hiểu vì cớ nào, một chơn linh cao trọng dường ấy mà dám nghịch lại Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp muốn soán đọat ngôi Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Nhờ sự nắm nghiêm luật của Đức Hộ Pháp nên mộng không thành phải lui về lập Chi phái. Nay về Thiêng Liêng phải mắc tội cùng Ngọc Hư. Xin xem bài Thánh Giáo sau đây:

Phạm Môn ngày 26-3-1934

TỪ HÀNG ĐẠO NHƠN

"Nhà bạc phước kính chào mấy vị ân nhân. Thưa cùng Lý hiền hữu, xin đứng dậy. Quan Thơ đại nghiệt, đã gây lắm oan khiên rồi, còn thêm vô Đạo, Thiên vị ngày nay đã khó nỗi cầm, Ngọc Hư biếm trị thật là một tộc phái phải cam phần sỉ hổ. Thưa cùng Hộ Pháp! Bần Đạo đã buộc rút chơn linh, không chịu còn nhập thể. Nếu chư vị thương tình giúp lời để Chí Linh giải nạn thì Bần Đạo cám ơn quá trọng.

- Phải!" (Thăng)

Đây là một hình phạt khác với các hình phạt trước. Đức Từ Hàng Đạo Nhơn đã rút chơn linh, không còn chịu nhập thể vào xác thân của ông Thơ nữa. Bài học thật là quí trọng để cảnh tỉnh cho những ai ỷ lại vào căn kiếp của mình. Nếu làm sai, thất Đạo thì chơn linh phải lìa mình, mình chỉ còn phàm thân, chỉ còn giác tánh tức mất chơn tánh. Mà hễ chơn linh không nhập thể thì rất dễ lạc nẻo lầm đường, rất nên hệ trọng cho kiếp sanh cõi thế.

 

 

THÁI THƯỢNG ĐẠO QUÂN

Khí Tiên Thiên là chất khí có trước khi tạo dựng Trời Ðất. Chính khí Tiên Thiên nầy hóa sanh ra Ðức Thái Thượng Ðạo Quân. Ðức Thái Thượng là vị Tiên có trước hết trong Càn Khôn Vũ-Trụ này và làm chủ Tiên Đạo cũng là đứng đầu các vị Tiên. Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân hiện xuống cõi trần rất nhiều lần.

*Vào thời Thái cổ:

- Thiên Hoàng: Ngài là Bàn Cổ.
- Ðịa Hoàng: Ngài là Vạn Pháp Thiên Sư.
- Nhơn Hoàng: Ngài là Ðại Thanh Tử.

*Vào thời Thượng cổ:

- Vua Phục Hy, Ngài là Huất Hoa Tử.
- Vua Thần Nông, Ngài là Xích Tòng Tử.
- Vua Huỳnh Ðế, Ngài là Quảng Thành Tử.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân, do khí Tiên Thiên hóa sanh, nên Ngài có pháp lực vô biên, biến hóa vô cùng. Khi Ngài hiện xuống cõi trần là để giáo hóa nhơn sanh, nhưng khi trở về cõi Thượng Thiên rồi thì không đầu thai xuống nữa.

Mãi đến đời nhà Thương bên Tàu, Ngài mới đầu thai đến trần. Việc đầu thai của Ngài cũng rất kỳ diệu. Ðời vua Bàn Canh nhà Thương (1401 trước Tây lịch) có một nàng con gái gọi là Ngọc Nữ 玉女 (5-3) mới vừa 8 tuổi (5+3=8) (theo sách Ðông Du Bát Tiên), con của một gia đình đạo đức, ra chơi sau vườn, thấy cây Lý 李理 có một trái to chín đỏ, cô liền hái ăn. Ăn xong, nàng cảm thấy mỏi mệt và có thai.

Người cha thấy sự lạ, bèn toán quẻ Âm Dương, biết là có một vị Ðại Tiên giáng sanh, nên không phiền hà gì cả và nuôi con gái rất kỹ. Nhưng nàng chịu mang thai như vậy cho đến già. Ðến năm nàng được 80 tuổi, trở thành bà già, tức là nàng đã mang thai ngót 72 năm, lúc đó là đời vua Võ Ðinh (1324 trước Tây lịch) nhà Thương, bà Ngọc Nữ thấy trăng tỏ, bèn đi dạo sau vườn. Khi đi ngang qua cây Lý khi xưa thì đứa con từ trong bụng theo nách mẹ nhảy ra ngoài. Bà Ngọc Nữ kinh hãi, coi thấy nách mình liền lại như thường, không đau đớn chi cả. Ðứa con ra đời thì đã ở trong bụng mẹ 72 năm nên đầu đã bạc trắng, do đó mới gọi là Lão Tử (con già). Lúc đó là giờ Sửu, ngày Rằm tháng 2 năm Canh Thìn, đời vua Võ Ðinh. Lão Tử chỉ cây Lý bảo rằng đó là họ của Ngài, lại xưng hiệu là Lão Ðam, tự là Bá Ðương, lại mỗi tai có 3 lỗ ở bên trong nên còn gọi lá Lý Nhĩ.

Cội Lý, nơi giáng sanh của Lão Tử, ở tại xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở.

Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đình cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao như chẻ hai, trên trán có chỉ như 3 chữ Tam Thiên.

 

 

THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ

Thái Thượng Đạo Tổ hay còn gọi là Thái Thượng Lão Quân hay Lão-Tử, quê quán Ngài ở xóm Khúc Nhơn, làng Lệ, huyện Khổ, thuộc nước Sở đời Xuân Thu (nay là tỉnh Hồ-Nam) Ngài sinh và mất vào năm nào, hành trạng ra sao, đến nay sử vẫn còn mập mờ trong nghi vấn. Người ta chỉ biết rằng Ngài sống cùng thời với Đức Khổng Tử, có lần Đức Khổng Tử đến yết kiến hỏi Lễ một lần và chỉ biết được bấy nhiêu đấy mà thôi.

Vào thời Tiên Thiên, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng thứ nhứt đứng đầu Ðạo Tiên và Ngài là Giáo chủ Ðạo Tiên. Ngài là Ðấng Thiên Tôn. Bài kinh Tiên giáo, niệm danh Ngài là: "Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Lòng sớ dâng lên Chí-Tôn có câu: Tam Tông chơn giáo:

- Tây Phương Giáo Chủ Thích-Ca Mâu-Ni Thế Tôn.
- Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh ứng hóa Thiên Tôn.
- Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho thạnh thế thiên Tôn.

 

 

THÁI THƯỢNG NGUƠN THỈ (Đạo Quân)

(Xem Lão Tử. Vần L)

 

 

 

Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ và Ðức Nguơn Thỉ Thiên Tôn là Giáo chủ Tiên giáo vào hai thời kỳ: Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ giáng trần thời nhà Châu bên Tàu, gọi là Lão Tử. Ðức Khổng Tử giáng sanh năm 551 trước Chúa giáng sinh, có đến hỏi Ðức Lão Tử về Lễ.

Câu 23 trong bài U-Minh-Chung có câu: "Nam-mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn".

Đức Thái Thượng Lão Quân là do Khí Tiên Thiên sanh ra. Thái Thượng Đạo Tổ có một kiếp giáng trần nhằm ngày rằm tháng hai vào năm 604 trước công nguyên (đời nhà Thương bên Trung Hoa) được gọi là Lão Tử. Theo sử ký Tư mã Thiên, Lão Tử là người nước Sở , huyện Khổ , làng Lệ , xóm Khúc nhân 曲仁. Ở tỉnh Hồ Nam bây giờ.

 

 

THÁI VĂN THÂU (1899-1981) (Khai Thế Hiệp Thiên Đài)

(Xem Khai Thế Hiệp-Thiên Đài)

Ngày sinh: năm Kỷ Hợi (1899)

Qui Thiên: Lúc 5giờ 30 chiều ngày 02-06-Tân Dậu (dl: 03-07-1981).

Ngài Khai Thế Thái Văn Thâu bị bịnh tâm thần kéo dài. Sau cùng qui tại Tư gia Xã Qui-Đức (Cần-giuộc). Ngài là người cùng quê nhà với Ngài Hiến- Đạo Phạm Văn Tươi. Thời trẻ hai người là bạn với nhau. Đầu năm Bính-Dần (1926) một đàn Cơ ở Tân-Kim (Cần giuộc) tại nhà ông Hội-đồng địa hạt Nguyễn Văn-Lai, ông Đốc Phủ Nguyễn Văn Tương (Chủ Quận Cần giuộc) và ông Lê Văn Lịch (Vĩnh Nguyên Tự) chứng đàn.

Hai ông Ca Minh Chương và Phạm Văn Tươi phò loan. Ngài Thái Văn Thâu có đến hầu đàn và được Đức Chí-Tôn thâu làm Môn-Đệ.

 

 

THÀI

E: To declaim slowly.
F: Déclamer lentement.

Thài: ngâm từng chữ của bài kinh với giọng ngân kéo dài theo điệu nhạc Đảo Ngũ Cung.

Bài thài: bài kinh để đồng nhi thài.

Khi cúng Đức Chí Tôn, hay Đức Phật Mẫu, đại đàn hay tiểu đàn, đồng nhi thài ba bài Dâng Tam bửu: bài Dâng hoa, bài Dâng rượu và bài Dâng trà. Trong lúc đồng nhi thài thì Lễ sĩ đi điện lễ, dâng phẩm vật cúng từ ngoại nghi vào nội nghi với cách đi đặc biệt, chân bước theo hình chữ Tâm, nhún theo điệu nhạc Đảo Ngũ Cung.

Trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung tại Báo Ân Từ hằng năm, các Giáo nhi đứng hầu hai bên bàn lễ, thài các bài hiến lễ Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương và thài ba bài hiến lễ Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm và Đức Thượng Sanh, tổng cộng 13 bài thài, thài ba hiệp: hiệp đầu là Dâng hoa, hiệp kế là Dâng rượu và hiệp chót là Dâng trà. Trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, không có Lễ sĩ dâng phẩm vật. Hoa thì được đặt sẵn trên bàn lễ, khi dâng rượu thì Chức sắc Hiệp Thiên Ðài lên rót rượu, khi dâng trà thì Chức sắc Hiệp Thiên Ðài lên rót trà.

Trong Tang lễ, dâng hương, dâng hoa, rượu và trà, các Lễ sĩ đi điện dâng lên, trong lúc đồng nhi thài các bài thài tương ứng, giọng thài chậm, kéo dài nghe rất bi ai.

 

 

THAM

THAM Ham muốn không chánh đáng. Td: Tham danh, Tham dục, Tham ô.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Tham chi sự thế lắm đua tranh,
Cái miếng đỉnh chung xúm giựt giành.
Bỏ hết trong cơn mê một giấc,
Trăm năm ngắn ngủi nhớ làm lành.

 

 

THAM CHIẾU


E: To compare.
F: Comparer.

Tham: Dự vào, xen vào. Chiếu: đưa ra mà xét, đối chiếu. Tham chiếu là đưa vào để đối chiếu.

 

 

THAM DANH TRỤC LỢI

貪 名 逐 利
E: To covet the fame and gain.
F: Rechercher avidement la gloire et gain.

Tham: Ham muốn không chánh đáng. Danh: tiếng tăm. Trục: đuổi theo, tranh giành. Lợi: lợi lộc. Tham danh trục lợi là ham muốn và tranh giành danh lợi.

Thành ngữ nầy đồng nghĩa: Tham danh chác lợi. (Chác là chuốc lấy, mang vào mình).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy đã vì chúng sanh mà lập Đạo, nhưng kẻ phàm tục còn ám muội, tham danh chác lợi, lấn tước cầu quyền.

 

 

THAM DỰ

參 預
E: To participate in.
F: Participer à.

Tham: Dự vào, xen vào. Dự: xen vào, gia nhập vào. Tham dự là góp mặt vào và nhận một phần công việc.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nơi đàn nào mà khác hơn Thánh giáo và bày biện nhiều trái cách thì Đạo hữu không phép tham dự.

 

 

THAM KHẢO

參 考
E: To consult.
F: Consulter.

Tham: Dự vào, xen vào. Khảo: tra xét. Tham khảo là tra xét nhiều tài liệu để so sánh và tìm hiểu đầy đủ các khía cạnh của một vấn đề.

 

 

THAM QUYỀN CỐ VỊ

貪 權 固 位
E: To hold a power and to hang on to one’s position.
F: Rechercher l’autorité et se cramponner à sa place.

Tham: Ham muốn không chánh đáng. Quyền: quyền hành. Cố: giữ chặt lấy. Vị: địa vị, chỗ ngồi có chức quyền. Tham quyền cố vị là ham muốn quyền hành, giữ chặt lấy địa vị có được, không muốn buông ra.

 

 

THAM THIÊN LƯỠNG ĐỊA

(Tham là dự vào, tham là nói về con số 3 mà tự nó không thể chia lìa, như tham thiên tức là dự vào việc của trời ấy là Thiên-Nhân-Địa. Tam cũng là 3 nhưng có thể chia lìa được. Tương tự Lưỡng là hai, nhưng Lưỡng là dùng vào việc không thể chia lìa: Lưỡng mục, lưỡng thê (loài vật vừa sống dưới nước vừa sống trên cạn), lưỡng quyền (hai gò má). Còn có thể chia lìa được thì gọi là Nhị, như nhị nhân (hai người).

"Đây là nói qui tắc và hạn số vận chuyển pháp luân mà trong Kinh Dịch gọi là "Tham Thiên lưỡng địa" vì trong năm con số sanh của Ngũ hành là 1,2,3,4,5:

- Số trời có ba số chẵn (1,3,5) cộng ba số này lại thành 9.

- Số đất có hai số lẻ (2,4) cộng hai số này lại thành 6.

Số 9 là số Thái Dương; số 6 là số Thái Âm.

Tham Thiên Lưỡng địa còn có thể giải thích là mỗi quẻ trong Bát Quái có ba hào, vì thế số 3 là số quan trọng trong Kinh Dịch:

- Lấy số 3 mà nhân 3 thì thành 9 (3x3=9) gọi là Tham Thiên, số Trời, số Thái Dương.

- Lấy số 3 nhân cho 2 thành ra số 6 (3x2=6) gọi là Lưỡng địa, vì số 2 là số chẵn, số đất. Số 6 là số Thái Âm.

Hào quẻ Càn dùng số 9, hào quẻ Khôn dùng số 6. 6 đây là nói qui tắc hạn số để vận chuyển Pháp luân.

Dùng số 9 của quẻ Càn mà nhân cho 4 thì được 36.

Áp dụng con số này làm chiều cao 36m của hai Đài Lôi Âm Cổ và Bạch Ngọc Chung (hai bên Hiệp Thiên Đài) của Đền Thánh- Tòa Thánh Tây Ninh.

Dùng số 6 trong quẻ Khôn nhân cho 4 thì được 24. Áp dụng con số này làm chiều cao cho Nghinh Phong Đài Đền Thánh có chiều cao 24m.

Rồi lấy số 36 và số 24 nhân lên 4 lần:

(36x4= 216) + (24x4=144) = 360.

Số thăng giảm đều số 6. Hiệp lại thành 360 (vòng tròn 360º), đó là hoàn thành độ số vận chuyển pháp luân. Phép tu tánh mạng (trung đạo) dùng phương pháp này để tịnh dưỡng vận chuyển pháp luân bằng cách hô hấp đúng theo qui tắc mà vận hành: Càn Cửu Khôn Lục".

 

 

THAM THIỀN - NHẬP ĐỊNH

參 禪 入 定
E: The meditation and contemplation.
F: Le méditation et comtemplation.

Tham: Dự vào, xen vào; cũng có nghĩa là: suy xét, quan sát. Thiền: yên lặng để chiêm nghiệm đạo lý. Nhập: vào. Định: giữ cái tâm cho yên tịnh, không vọng động, để suy nghĩ về đạo lý.

Tham thiền, rồi mới Nhập định, ghép chung lại để nhấn mạnh ý nghĩa, thường được nói tắt là Thiền Định.

Hai chữ: Thiền và Định, trong nhiều trường hợp, được dùng như đồng nghĩa với nhau, nhưng thật ra ý nghĩa của chúng có phần khác nhau đôi chút: Định là một trạng thái tâm lý chứng ngộ được bằng phép Tu Thiền. Thiền là một diễn trình, còn Định là cứu cánh.

Tham thiền nhập định là phép tu ngồi kiết già, yên lặng nhằm lắng đọng tất cả vọng tưởng tán loạn, tập trung tư tưởng để suy nghĩ tìm tòi cho ra lẽ một vấn đề đạo lý, để cho chơn tâm bừng sáng, trí huệ hoát khai, hiểu rõ đạo lý, ngộ nhập chơn lý, tức là đắc đạo.

Đức Hộ Pháp nói: "Nhớ lại, từ khi Đức Chí-Tôn chọn Bần-Đạo làm Hộ Pháp; dạy Bần-Đạo phò-loan và chấp bút, đặc biệt hơn hết là chấp bút, vì nhờ chấp bút, mà Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn dạy cách Tham-Thiền, khi biết Tham-Thiền rồi mới Nhập-định. Nhưng Nhập-tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút là có thể hỏng cả cuộc đời, nhập-tịnh mà không tới thì bị hôn-trầm tức là ngủ gục, còn nhập-tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ; nhập-tịnh mà đúng rồi, còn phải nhờ các Đấng Thiêng-liêng mở Huệ-quang-khiếu nữa mới xuất hồn ra được. Con đường mà Chơn-Thần xuất ra rồi về với Đức Chí-Tôn là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống đó vậy. Chính Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn mở Huệ quang-khiếu nên mới được về hội kiến cùng Đức Chí-Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí-Tôn nhiều điều bí-yếu bí trọng."

 

 

THAM VỌNG

貪 望
E: The ambition.
F: L’ambition.

Tham: Ham muốn không chánh đáng. Vọng: mong ước. Tham vọng là tham lam nhiều ước muốn, lòng tham lam không bờ bến.

Đức Thượng Sanh hết lời ca tụng một bậc vĩ nhân của nhân loại, là một bậc Giáo chủ đáng tôn kính như Đức Hộ-Pháp rằng: "Nếu vì một lẽ nào, vì một tham vọng hoặc vì tranh giành quyền lợi, người Chức sắc hay tín hữu có manh tâm làm cho nền Ðạo phải mang tai tiếng, danh giá Ðạo bị tổn thương thì chính đó là hành động cố ý xô ngã công phu gầy dựng của Ðức Ngài (Đức Hộ-Pháp). Cái tội đó Ðức Ngài và các Ðấng Thiêng Liêng không thể dung thứ được."

 

 

THẢM THIẾT

Thảm thiết 慘切 là đau đớn như cắt vào da thịt.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,
"Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết."

 

 

THAN VAN

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân LÊ VĂN DUYỆT nhập bàn cho bài thi như sau:

Ðã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc-địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép tây tà.

 

 

THANG MÂY

E: The ladder to go up clouds.
F: L’échelle s’élevant jusqu’aux nuages.

Thang: Cái thang có nấc để trèo lên cao. Mây: đám mây trên bầu trời. Thang mây là cái thang bắc lên cao tận mây để có thể trèo lên trời.

Đó là nói ví dụ về việc tu hành, giống như là bắc cái thang lên tận mây xanh để khi đắc đạo thì đi lên tới trời.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ấy là muốn dìu bước đường đạo đức, bắc thang mây để độ dẫn các con trở về ngôi cũ.

 

 

THÁNG THUẤN NGÀY NGHIÊU

Thời Nghiêu-Thuấn là chỉ thời thái bình, thạnh trị, dân chúng được hưởng hoàn toàn hạnh phúc. Nhân loại ngày nay gặp thời Ha nguơn biến chuyền, nhân vật đổi dời nên ai cũng mơ được sống lại "ngày Nghiêu tháng Thuấn" là vậy.

Trong thời đại tối cổ, ở xứ Trung Hoa có năm ông vua ra đời liên tiếp nhau mà dạy dân là: Phục Hi, Thần Nông, Huỳnh Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, sách gọi đó là Ngũ Đế là năm vị Thánh Vương đắc Đạo, nhờ có Thần thông nên trông thấy được những hiện tượng trong cõi Hư Linh. Một hôm, Vua Phục Hi đi dạo chơi trên sông Hà (Huỳnh Hà) ông trông thấy một con vật mình ngựa đầu rồng, trên lưng có dấu chấm, Ngài theo đó mà lập ra Bát Quái Đồ, cắt nghĩa Đạo biến hóa của Trời Đất để làm nguyên tắc dạy người.

Ngày 06 tháng Giêng Đinh Hợi (1947) lễ rước Quả Càn Khôn tạm thờ nơi Báo Ân Từ về Đền Thánh. Đức Hộ Pháp hành pháp trấn Thần An Vị. Khi đến Ngai Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, Đức Ngài thuyết minh tiên tri ngày về của người đứng đầu chi Thế:

"E sau nầy Hộ Pháp xuất ngoại, Thượng Sanh về ngự nơi đuôi (ngôi Thượng Sanh trên đuôi Thất đầu xà), thì thất tình lục dục tự do dấy động, cái loạn không phương kềm chế. Ngày Hộ Pháp trấn lại trên Ngai, mới êm tịnh Đạo Đời, lập lại tháng Thuấn ngày Nghiêu, hưởng thuần phong mỹ tục".

 

 

THANH BẠCH


E: Pure, clean.
F: Pur, propre.

Thanh bạch 清白 là Trong trắng, trong sạch.

Bài Kinh Tắm Thánh có câu

"Xin gìn giữ thánh hình thanh bạch,
"Xin xá ân rửa sạch tiền khiên."

 

 

THANH BAI

E: Pure and distinguished.
F: Pure et distingué.

Thanh: Trong sạch, rõ, sạch sẽ. Bai: (nôm) lịch sự, không thô. Thanh bai là trong sạch và lịch sự.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Cuộc đời thêm rạng vẻ thanh bai.

 

 

THANH BẦN


E: Poor but clean.
F: Pauvre mais propre.

Thanh: Trong sạch, rõ, sạch sẽ. Bần: nghèo. Thanh bần là nghèo mà trong sạch.

Châu Lễ viết: Thanh bần thường lạc, trọc phú đa ưu.

Nghĩa là: Nghèo mà trong sạch thì vui vẻ luôn luôn, giàu mà nhơ bợn thì nhiều nỗi lo âu sầu muộn.

 

 

THANH BÌNH (THANH BƯỜNG)


E: Pacific.
F: Pacifique.

(Thanh bình nói trại ra là Thanh bường, đó là để cho đúng vận thơ Đúng ra các bậc tiền bối, xưa hay dùng lối nói này là một cách kỵ húy, tức là cử không nói tên của vị quan, hay vua chúa gì đó). Thanh bình là cảnh dân chúng sống bình yên, an lạc. Thoải mái cả tinh thần và vật chất.

Bài Dâng Trà có câu:

"Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước,
"Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường."

 

 

THANH CAO


E: Pure and noble.
F: Pur et noble.

(Thanh là trong sạch. Cao là cao thượng). Thanh cao là tốt đẹp cả trong lẫn ngoài, tức nhiên là mẫu người đạo đức.

Đức Hộ Pháp dạy rằng: "Về Bí pháp của Đạo cũng như triết lý của Đời là càng đau khổ thì càng kinh nghiệm, càng thanh cao. Con đường Thiêng liêng lập vị của Đạo cũng do nơi Bí Pháp ấy. Thử hỏi từ ngàn xưa, biết bao vị đắc đạo mà không nhờ trong khuôn khổ nào chăng?"

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thanh cao là biết ngon dưa muối,
Hơn ngự lầu Yên ngó đảnh Tần.

 

 

THANH CÂN

青 巾
E: The blue head dress.
F: La coiffure bleue.

Thanh: Màu xanh. Cân: cái khăn bịt trên đầu. Thanh cân là cái khăn xanh bịt trên đầu, gọi là cái Bao đảnh xanh, trong bộ đại phục của Đức Thượng Sanh.

 

 

THANH DANH

聲 名
E: The reputation.
F: Réputation.

Thanh: còn đọc Thinh: tiếng, âm thanh. Danh: tiếng tăm. Thanh danh là tiếng tăm tốt.

Thanh danh quán thế: Tiếng tăm tốt đứng trên cả một đời. (Quán thế là đứng đầu trên cả một đời).

 

 

THANH ĐẠM

清 淡
E: Sober.
F: Sobre.

Thanh: Trong sạch, rõ, sạch sẽ. Đạm: nhạt, đơn giản. Thanh đạm, nói về thức ăn, là trong sạch, đơn giản.

Bữa cơm thanh đạm là bữa cơm chay, gồm các thức ăn là rau cải đơn giản và trong sạch.

 

 

THANH KHIẾT

清 潔

Khiết: giữ mình thanh bạch không thèm làm các sự phi nghĩa. Thanh khiết là thanh bạch và liêm khiết.

Đức Hộ Pháp nói: "Muốn cho khỏi phụ lòng Chí Tôn thì ta phải đào luyện cho Đệ Nhị xác thân ấy đặng tinh khiết nhẹ nhàng. Muốn được vậy, ta chỉ có hai điều là: phải trai giới, chỉnh tu cho cái đệ nhị xác thân được tráng kiện hoạt bác, tùng khuôn viên thiện đức. Ðệ nhị xác thân ta khi còn sống ở quanh mình ta, bảo hộ về sanh quang tiếp với đệ tam xác thân là linh hồn. Khi lìa khỏi xác thúi hôi hữu hoại thì nó trực tiếp ngay với linh hồn nếu nó được thanh khiết. Bằng nó nghiệt ác thì nó phải dính líu với cái xác thúi hôi nầy mà phải chịu lìa xa cái linh hồn thì thần tử sẽ rước đi mà phải đọa là vậy. Bởi cớ Chí Tôn ban cho ta cái Bí Pháp (phép xác) cắt đứt dây oan nghiệt cho nó rời hẳn với đệ nhứt xác thân được khinh phù nhập một với linh hồn tức là hằng sống vậy."

 

 

THANH LA

聲 鑼
E: The cymbal.
F: La cymbale.

Thanh: còn đọc Thinh: tiếng, âm thanh. La: cái phèng la. Thanh la là loại nhạc khí cổ, bằng thau, hình tròn dẹp, ở giữa lồi lên để gõ vào đó cho phát ra tiếng phèng phèng, nên cũng gọi là phèng la.

 

 

THANH LÂU

青 楼
F: Bordel.

Thanh-lâu (Lầu xanh) chỗ gái điếm ở.

Kinh Sám Hối có câu:

"Hành đến chết huờn hồn sống lại,
"Cho đầu thai ở tại thanh-lâu."

 

 

THANH LIÊM CHÁNH TRỰC

F: Intègre et droit, loyal.

Thanh liêm chánh trực: ngay thẳng không nhơ bợn.

Đức Hộ Pháp nói: "Trong nước hiện giờ có các Đạo giáo thanh-liêm chánh-trực đang làm cha mẹ cho dân, có tinh-thần tạo hạnh phúc cho dân, một trang anh dũng biết bảo trọng nền quốc-túy, nâng đỡ nước nhà, biết tôn sùng Nhân Nghĩa. Chúng ta đã ngó thấy Đạo-giáo của chúng ta đem cái Nhơn-nghĩa làm huờn thuốc liệng vào tâm-lý của loài người là có thể trị đặng cái tinh thần bạo-ngược của họ."

 

 

THANH LOAN

青 鸞
E: The blue female phoenix.
F: Phénix femelle bleu.

 

 

 

Thanh: Màu xanh. Loan: con chim loan. Con chim trống thì gọi là Phụng, con chim mái thì gọi là Loan.

Thanh loan là con chim loan màu xanh, đây là con chim lịnh của Đức Phật Mẫu.

Khi Đức Phật Mẫu du hành thì Đức Phật Mẫu cỡi lên lưng chim thanh loan. Do đó, trên nóc các Điện Thờ Phật Mẫu đều có đắp hình Thanh loan.

Đức Phật-Mẫu ban cho Thi:

Diêu Cung Phật Mẫu rất hân hoan,
Vội ngự Thanh Loan đến địa hòan.
Xưa bồi tâm Thánh nơi Hớn Đế,
Nay thối linh đô chốn Nậm Bàng (?).
Biển trần lấm khách còn mê luyến,
Đường Đạo vì con phải luận bàn.
Sắc chỉ Tam Kỳ chầu Hội Yến,
Phái vàng mẹ lãnh ngự trần gian.

 

 

THANH MINH (LỄ)

聲 明
E: Festival of tomb cleaning.
F: La fête de nettoyage des tombes.

Thanh: Trong sạch, rõ, sạch sẽ. Minh: sáng. Thanh minh là trong sáng, chỉ một tiết khí hậu trong 24 tiết của một năm, vào đầu tháng 3 âm lịch, tiết trời mát mẻ, trong trẻo, sáng sủa.

Theo phong tục của người Tàu, truyền qua VN, trong tiết Thanh minh, người ta đi tảo mộ, làm mộ, hay cải táng.

 

 

THANH NHÃ

清 雅
F: Élevé, noble.

Thanh nhã: thanh tú và văn nhã.

"Bộ Thiên Phục ấy một mình một vẻ ở dưới thế gian nầy, tuy là kỳ lạ khác thường mà là vật báu hy hữu, nếu không xứng làm người thì không nên mặc. Là vì mặc nó để chầu Thiên tất phải người thanh-nhã trong lời nói, tốt đẹp trong tư tưởng và minh chánh trong việc làm. Bên trong cần phải giữ bản thân cho tinh khiết, bên ngoài nên vẹn sắc phục cho trang hoàng, thì Thánh Thể Đức Chí Tôn tại thế mới ra xinh lịch và thanh cao".

 

 

THANH NIÊN VIỆT NAM

Đức Hộ Pháp nói về Đức Ngoại hầu Cường Để: "Cả một đời sống hy sinh của Ngài mong tạo hạnh phúc cho Tổ Quốc, cho giống nòi mà phải chịu chẳng biết bao nhiêu gian truân khổ não, cũng chỉ vì lòng ái quốc vô đối của Ngài. Cả Thanh Niên Việt Nam nên ghi nhớ những lời nhắn gởi của Ngài, trước nửa giờ chết, Ngài còn rán ngồi dậy nhắn cho toàn Thanh Niên Việt Nam phải cương quyết quật cường cứu quốc, mặc dầu còn một hơi thở cuối cùng, nhưng Ngài còn rán hô "Việt Nam Muôn Năm" rồi mới tắt thở. Bần Đạo không thấy mà đã nghe đồng bào Việt Kiều ở Đông Kinh thuật điều ấy làm cho Bần Đạo khóc và chính mình Bần Đạo chỉ biết khóc mà thôi".

 

 

THANH NHÀN

清 閒
F: Être en paix, Désoeuvré.

Thanh-nhàn: Rảnh rang không có gì vướn bận.

Thánh Ngôn Thầy dạy

Thanh nhàn muốn vẹn buổi chung qui,
Giáo hóa nhân sanh đức phải vì.
Bước thế chịu đày khơi bạch phát,
Nguồn Tiên rán lướt rạng thanh mi.

Công quả tuy nhọc nhằn, nhưng địa vị cao thượng cũng chẳng phải dễ đoạt được. Có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, có dãi dầu sương mơi nắng xế, mà quên bậc phẩm vô vị ở cõi trần nầy, có vày vã nẻo gai chông lần theo bước đường hạnh đức, mới có ngày vui vẻ bất tận, mới có buổi an hưởng địa vị thiêng liêng, tránh điều phiền não, thoát đọa luân hồi, mới có lúc rảnh nợ phong trần, nhàn xem sự thế, non cao suối lặng, động mát rừng thanh, là chỗ con lấy đạo đức làm thang để bước lên cho cùng tột. Khá gắng nghe và hành trình liệu bước.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nghiệp nước nỗi nhà còn bận bịu,
Thanh nhàn chưa phải buổi xem mai.

 

 

THANH QUANG


E: The blue light.
F: La lumière bleue.

Thanh quang 青光 Ánh sáng màu xanh. Ánh sáng màu xanh rực rỡ soi khắp núi rừng trùng điệp.

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,
"Chơn thần khoái lạc lên đàng vọng Thiên."

 

 

THANH SƠN ĐẠO SĨ

Đây là Thánh danh của Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong kỳ Ba Đức Chí-Tôn khai nền Đại-Đạo. Ngài là một trong ba vị Thánh (Tam Thánh) ký Hòa ước với Đức Chí-Tôn, thực thi hai điều: Bác ái và Công bình.

*Cụ NGUYỄN BỈNH KHIÊM: Nhà tiên tri danh tiếng lớn ở đời Mạt Lê, thi đậu Trạng nguyên, tước vị là Trình Quốc Công, tục gọi là Trạng-Trình, giáng cơ tự xưng là Thanh Sơn Đạo Sĩ, tức là Sư Phó của Bạch Vân Động".

Ngoài ra còn gọi là Thanh Sơn Đạo Trưởng vì Ngài đứng đầu trong Tam Thánh, hay Thanh Sơn Chơn Nhơn (Chơn Nhơn là chỉ bực Tiên - Thánh trong nguồn Đạo).

Thanh Sơn vốn là biệt danh của Đức Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) vẫn là Thầy của 500 Đệ-Tử nơi Bạch Vân-Động. Cũng trong một thời gian tương đương với Đức Nhàn Âm. Đức Thanh Sơn riêng dạy về trách nhiệm và lộ nét Thiên Thơ để lời tiên tri cho Hộ Pháp, Thượng-Phẩm và Tiếp Đạo. Ngày 04-11-Ất Sửu (dl: 19-12-1925) Thần Sơn Quan Tổng Thống Tông Kim Diệu Võ Tiên Ông (tức Thanh Sơn Đạo Trưởng) cho thi (đặc biệt là bản chép tay số 1/20 quyển của Ngài Bảo Văn Pháp Quân, đề tháng 02 năm Nhâm Ngọ (Mars 1942) rất khác xa với lời văn trong quyển Đạo sử của bà Hương Hiếu. (Đây là chép theo bản văn của Ngài Bảo Văn)

Thập thủ liên hoàn:

1.

Âm dương tuy cách cũng Trời chung,
Thấy trái nên đây mới tỏ cùng.
Thắc dạ thuyền xưa không đậu bến,
Ðau lòng hạc cũ chẳng về tùng.
Cúi đầu đành chịu thân trăm tuổi,
Ngước mặt ngơ trông bặt chín trùng.
Mạnh yếu há ngồi cam chịu vậy,
Hay chi cá chậu với chim lồng.
                        (Thanh Sơn Đạo Trưởng)

2.

Chim lồng bao thuở lại non xanh,
Ngóng mắt trông vơi chốn thoát mình.
Dựng nước chẳng ai tài tướng lược,
Liều mình thiếu kẻ đứng hùng anh.
Vầy thuyền chi sợ cơn giông tố,
Hiệp chủng còn hơn cuộc chiến tranh.
Thìn dạ chờ Châu về Hiệp phố,
Nơi mình sự nghiệp mới tan tành.

3.

Tan tành nhớ đến gánh giang san,
Lòn cúi thương dân lắm buộc ràng.
Phú quí mồi câu con hạc lánh,
Ðỉnh chung gió thổi đám mây tàn.
Ðợi thời toan mượn cần câu Lữ,
Dựng nghiệp tua chờ mặt lưới Thang.
Ly loạn gặp đời, đời muốn chán,
Công danh phủi sạch hưởng thanh nhàn.

4.

Thanh nhàn ngày tháng lại Tiên gia,
Trị loạn hằng xem thế nước nhà.,
Bể hoạn dập dồi thương bấy trẻ,
Thành sầu chất chứa cám cho già,
Bạc đầu non chịu lằn sương nhuộm,
Nhăn mặt nước chờ trận gió qua.
Thân ái mối dây tua nắm chặt,
Chít chiu ấy cũng một bầy gà.

5.

Bầy gà mất mẹ kiếm bơ vơ,
Yếu đuối biết ai để cậy nhờ.?
Nắng hạn trông mưa trông mắt mỏi,
Ðắng cay mộ nước mộ lòng chờ.
Ngoài khua tiếng giặc trong khua nịnh,
Võ thiếu binh nhung quốc thiếu cờ.
Trí chúa tôi hiền không gặp chúa,
Nào người gánh nổi mối xa thơ.
                        (19-12-1925)

6.

Xa thơ hầu ngã nước nhà nghiêng,
Ai giữ phong cương đặng vững bền.
Ðắp lũy Cổ Loa chưa mấy mặt,
Lấp Hồ Hoàn Kiếm bấy nhiêu tên.?
Thăng Long bao thuở nung hùng khí,
Gia Ðịnh từ nhiên chấp ấn quyền.
Sông núi dật dờ chờ tạo khách,
Hóa Công nên núi Ðạo nên thiền.

7.

Nên thiền khi trước lập nên dân,
Chín bệ xem qua chẳng trí quân.
Ích nước xủ tay khoe đẹp áo,
Lợi nhà vỗ bụng dưỡng tròn thân.
Nam Giao vắng vẻ đường cung kiếm,
Văn Hiến khô khan ngọn bút thần.
Danh vọng ru hồn quên thổ võ,
Thẹn nòi bộc lại mộ đai cân.

8.

Ðai cân đã có vẻ chi chưa,
Hay phận tù lao kiếp sống thừa.?
Đạp đất gập ghình chôn trẻ dại,
Ngừa thời điên đảo trí già xưa.
Ngồi hang thương kẻ mang da chó,
Ngự điện ghét quân đội lốt lừa.
Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa,
Xoi hao mạch nước ý chưa vừa.

9.

Chưa vừa mộng mị với tây tà,
Vụ xác vong hồn dựa phách ma.
Tiêu hủy thân cây lằn lửa táp,
Tan tành hình nộm trận giông qua.
Rước voi phá mã đào Lăng miếu,
Thả rắn xua ong nhiểu Điện tà.
Ðổ lụy hỏi người sao chẳng nhớ,
Ngọn rau tấc đất nước nhà ta.

10.

Nước nhà ta có tiếng anh phong,
Vẻ đẹp trời Ðông sắc Lạc Hồng.
Nam Hải trổ nhiều tay Thánh đức,
Giao Châu sanh lắm mặt Anh hùng.
Tinh trung lửa thét thành Bình Ðịnh,
Khí liệt gươm đề tỉnh Quảng Ðông.
Văn Hiến bốn ngàn năm có sẵn,
Chi cần dị chủng đến dâng công.
                        (Thanh Sơn Đạo Trưởng)

 

 

THANH SỬ

青 史
E: The history book.
F: Le livre de l’histoire.

Thanh: Màu xanh. Sử: lịch sử. Thanh sử, dịch là Sử xanh, là quyển sách lịch sử.

Thời xưa chưa làm được giấy để in ấn, nên phải dùng mũi nhọn khắc chữ vào các miếng tre xanh để ghi lại các sự kiện lịch sử, nên gọi sách lịch sử ấy là Sử xanh.

Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước có nói: "Thử lật trang thanh sử mà xem đại lược, đọc giả sẽ thấy trước mắt một bức tranh cẩm tú từ dãy Hoành Sơn xuống tới Cà-Mau pha màu buồn vui lẫn lộn, mà buồn nhiều vui ít, thành ra màu sậm".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt.

 

 

THANH TỊNH

清 淨
E: Pure and clean.
F: Pur et propre.

Thanh: Trong sạch, rõ, sạch sẽ. Tịnh: yên lặng, không xao động. Thanh tịnh là rất an binh, không bị khuấy động.

Đó là nghĩa đen. Nghĩa trong tôn giáo, Thanh tịnh là lìa khỏi các hành động gian ác, xa lìa mọi phiền não và mê muội.

Tâm thanh tịnh là tâm trong sạch, không nhuốm phiền não, lòng tin không nghi ngờ.

Thanh tịnh cũng được nói tắt là Tịnh, đồng nghĩa với: An lạc, Thanh khiết, thành tựu viên mãn; trái nghĩa với: ô trược, uế trược, cấu ác.

Tân Luật:

Tịnh thất là nhà thanh tịnh để cho các tín đồ vào mà tu luyện.

 

 

THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG

Thanh tịnh: (đã giải ở trên). Đại: lớn. Hải: biển. Chúng: nhiều người. Hải chúng: rất nhiều người, nhìn thấy như một biển người.

Thanh tịnh Đại hải chúng là một cõi thiêng liêng mà người nơi đó rất đông đảo, nhìn vào thấy một biển người mênh mông như đại hải, dành cho những chơn hồn có tội (ít hoặc nhiều) tạm ở đó chờ Toà Tam Giáo Ngọc Hư Cung xem xét cân phân tội phước của mỗi chơn hồn để định phận.

Trong khi chờ đợi như thế, các chơn hồn có thể tu luyện thêm, và có Thất Nương Diêu Trì Cung đến đây độ rỗi.

Như vậy, Thanh tịnh Đại hải chúng là một khu vực phụ thuộc của cõi Âm Quang, dưới quyền độ rỗi và giáo hóa của Đức Địa Tang Vương Bồ Tát và Thất Nương Diêu Trì Cung.

Sau đây là lời phê của Đức Phạm Hộ Pháp, liên hệ đến Thanh tịnh Đại hải chúng, về việc ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi từ chức Giáo Thiện để vô núi Linh Sơn (núi Bà Đen) tu luyện, do Tờ đề ngày 3-11-Canh Dần (dl 11-12-1950) của ông Nguyễn Văn Thế và 16 vị thệ hữu đồng đứng xin dâng công quả của mấy vị đó lên để chuộc tội cho ông Võ Văn Đợi là Sư huynh của họ trong nhóm Đạo núi:

Lời phê của Đức Hộ Pháp:

"Đợi bị phế vị là vì nó từ chối Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, ngày nay theo Thiên điều thì nó phải tái kiếp mà hành đạo lại, nếu nó đặng ở Thanh tịnh Đại hải mà tu hành nơi cõi Hư linh cũng là may phước cho nó, còn quyền thiêng liêng thưởng phạt là do quyền Ngọc Hư Cung, có phải của Bần đạo đâu mà xin Bần đạo.

Còn dâng công quả cho Đợi, chỉ có vợ con của Đợi mới đặng. Còn mấy em, ai thèm đâu mà dâng."

Lời Phê ngày 08-09-Kỷ Sửu cho ông Trần Văn Mến ở Châu Đốc xin từ chức Giáo Thiện.

Lời Phê của Đức Hộ Pháp: "Phước Thiện cũng có phẩm tước là Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng, nếu chê bỏ không kể đến phần hồn thì thay vì đi về với Cửu Thiên Khai Hóa, lại an trú nơi Đại Hải Chúng."

 

 

THANH THANH

Thanh thanh 青青: trong suốt một màu xanh.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thanh thanh nhựt nguyệt Cửu Trùng Thiên,
Hiện xuất cao nhơn tại nhãn tiền.

 

 

THANH THIÊN

Thanh Thiên 青天 là một tầng Trời trong Cửu Trùng Thiên, có ánh sáng màu xanh. Từ cõi Trời Thanh Thiên đi lên miền Bồng Lai Tiên cảnh.

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cõi Thanh Thiên lên miền Bồng Đảo,
"Động Thiên Thai bảy Lão đón đường."

 

 

THANH THIÊN BẠCH NHỰT

青 天 白 日
E: In the broad daylight.
F: En plein jour.

Thanh: Màu xanh. Thiên: trời. Bạch: trắng. Nhựt: ngày. Thanh thiên bạch nhựt là giữa ban ngày, dưới trời xanh. Ai cũng thấy rõ. Ý nói: rất rõ ràng, không giấu giếm ai hết.

 

 

THANH THỦY (Đạo Hiệu)

Thanh Thủy là Đạo hiệu của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang. Tuy nhiên Ngài thường dùng Huệ Giác làm Đạo hiệu mà ký dưới những bài thi văn đối họa nhiều hơn. Vì thế mà ít người biết đến Đạo hiệu này. Chữ Thanh Thủy được Đức Thanh Sơn giáng cho thành đôi câu đối ngày 12-3-1928:

- THANH bạch vẹn lòng, vì Trời mở Đạo vững phong cương.
- Chánh trực gìn tâm, cải thế vì nhân làn bích THỦY.

Ngày 24-6-1926 Ðức Chí Tôn ban thi cho Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang với đạo hiệu Thanh Thủy:

Ðã có căn phần dựa cảnh Tiên,
Bước đời chớ quản bậc sang hèn.
Mưa mai nắng xế chờ qua khỏi,
Ðêm tối lần ra gặp ánh đèn.

***

*Ngày 14-1-1926 BÁT NƯƠNG giáng mừng: hai ông Cao Quỳnh Cư (sau là Thượng Phẩm) và Phạm Công Tắc (sau là Hộ Pháp) và Đại Tỷ là Bà Nguyễn Thị Hiếu (Hiền nội của ông Cư) nhưng hôm ấy thiếu vắng ông Cao Hoài Sang (Sau là Thượng Sanh) với lời trách nhẹ rằng:

"Em mừng hai anh và Ðại Tỷ. Em buồn cho Thanh Thủy không đến.

Nỗi phận vô duyên phận chẳng đành,
Trách ai mộ thói yến cùng anh.
Nương mây đợi mỏi lòng tình ái,
Mượn ngọc trông ngơ tấm liệt trinh.
Vuốt dạ riêng đau người một cảnh,
Dằn thương cố nhớ buổi chung tình.
Nhắn mưa gởi gió bâng khuâng để,
Một tấm tơ duyên đứt đoạn gìn.

***

*Diêu Trì Nương Nương (3-7-1927) giáng Thi cho Thanh Thủy (Cao Hoài Sang):

Bước đời chìm nổi bấy nhiêu niên,
Tâm chí ghe phen dập lửa phiền.
Ấm lạnh dốc tròn gương phấn đại,
Vui buồn chưa vẹn nỗi hàn huyên.
Lòng trần nung nấu trăm mùi khổ,
Biển ái đầy vơi một chiếc thuyền.
Nín nẩm chờ ngày tiền quả sạch,
Trau giồi đạo hạnh hưởng ân Thiên.

 

 

THANH TRƯỢC

清 濁
E: Pure and impure.
F: Pur et impur.

(Thanh là trong sạch; Trược là dơ bẩn) đây là nói lên hai lý đối nghịch nhau. Hễ có trong tức nhiên có đục, có tốt thì có xấu. Đã gọi đời thì không bao giờ hoàn toàn tốt được.

Bát Nương Diêu Trì Cung (Giải thích về Âm quang):

"Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các Chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy Chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy. Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu, thì kinh khủng chẳng cùng. Nếu để cho Chơn thần ô trược thì khó mong trở lại cõi thiêng liêng và về cùng Thầy đặng. Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng.Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các Chơn hồn, dầu sa đọa luân hồi, cũng có người giúp đỡ. Nghe lại coi có phải vậy chăng?"

 

 

THANH TÂM TÀI NỮ (Tiên)

Thanh Tâm Tài Nữ là một Tiên Nương ở Diêu-Trì Cung đầu kiếp xuống trần. Xong rồi sau đó Nàng tắm biển Vũng Tàu (Cap Saint-Jacque) bị chết đuối trên biển vào ngày 05-04-Đinh Mão (dl:17-05-1927) được các vị tiền bối trong Đạo Cao-Đài dâng Sớ cầu xin Đức Phật-Mẫu cứu rỗi. Do vậy mới có Bài Thánh Giáo của Đức Phật Mẫu như sau:

"Thiếp chứng lòng thành kỉnh và đạo đức của chư Đạo Hữu. Vả lại Thanh Tâm đã có căn trước, nên Thiếp vì Chư Đạo Hữu mà cứu rỗi cho Chơn linh của nó trước ngày "Mãn hạn". Vậy Thiếp đem Chơn Linh Thanh Tâm.

Đức Hộ Pháp nói: "Nữ Tiên Thanh Tâm Tài Nữ, trước kia vì tình mà chết, nên phải đầu kiếp, trước khi người đầu kiếp tại nước Anh, người có đến đặng từ biệt chúng tôi, buổi ấy chúng tôi hỏi: Sao lại đến nước Anh, chớ không đến nước khác? Thanh Tâm Tài Nữ nói: Nhơn duyên của em nơi đó. Em cốt yếu đến nước Anh đặng đón đường Đức Chí Tôn đi ngang qua đấy. Thanh Tâm Tài Nữ làm như vậy là:

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,
Ai ơi đừng tưởng dễ như chơi.
Nghe danh tuy chất chồng bên gối,
Cổ Phật không duyên khó gặp người.

Bần Đạo nói thật: Mấy bạn nam cũng thế, nữ cũng thế, đương chung hiệp cùng nhau nơi đây, cái buổi hạnh phúc của chúng ta là buổi nầy "Bá Thiên vạn kiếp nan tạo ngộ" không phải dễ mà gặp. Ta đã gặp đặng tưởng chắc nếu chúng ta hiểu rõ giá trị của nó, thì cái kiếp duyên của chúng ta đây dầu có của phú hữu tại mặt địa cầu này, cái danh giá cao trọng như thế mấy, cái hạnh phúc giá trị sang trọng thế mấy cũng xa cái giá trị của kiếp duyên như Trời với vực".

Chợ Lớn, ngày 23-5-1928 (âl 5-4-Mậu Thìn).

"Đạo lòng vòng chẳng qua ngưng tạm sự rối đó thôi, chớ chưa chắc đã bình tịnh đặng. Người làm Đạo có trách nhậm lớn lao, chẳng khác chi là làm màu mè bề ngoài trong một lúc, chớ tâm trung cũng chưa chắc phế hết những tánh phàm phu trọn được. Lửa lòng ham muốn của họ chẳng qua là bị lai rai vài hột mưa tro yếu đuối mà ướm tắt đó thôi, chớ cái ngòi cũng còn chui trốn nơi trong, một mai bắt được luồng gió thuận thì bảo sao chẳng lần hồi nhen nhúm lại như xưa. Những sự kích bác của mấy anh và một vài Đạo hữu có tâm chí khác, tất là đám mưa tro đó, thế nào tắt rụi đống lửa kia đã khởi cháy từ mới khai Đạo đến giờ. Phận sự mấy anh nên lo tới nữa, chớ vội tin mà phế công phu nơi ấy thì sự rối chẳng thế chi dứt được.

Anh Mỹ Ngọc, nên để ý vào đó, chớ ngại mất lòng mà chẳng tìm phương châm cứu chữa. Việc nào nói cho chánh đáng, chẳng vì tư riêng, có bổ ích chung cho Đạo thì cứ thung dung phăng từ gốc tới ngọn mà biện bạch, thế mới có ích cho nền Đạo và chẳng có mãnh lực Tà nào lấn lướt qua nỗi. Phải ráng sức thêm nữa thì phần kết quả xứng đáng họa may mới hiển hiện đặng. Đức Chí Tôn còn phải khiêm cung để dìu sanh chúng. Những kẻ nào đem quyền hành mà nâng mình lên cao thì kỳ thật quyền hành ấy phải vô dụng. Trong Đạo, nếu còn quyền hành áp chế thì là Đạo của Tà quái đó; mà những kẻ nào hay làm quyền riêng đó cũng chẳng tránh khỏi mãnh lực của Tà quái xung nhập. Chơn đạo chẳng dụng quyền áp chế bao giờ. Mấy anh cũng đủ rõ. Hiệp Thiên Đài, dầu cho ai cũng là kẻ để giúp cho người trong Đạo hành phận sự và kiếm đem người ngoại Đạo vào nẻo chánh mà thôi, chớ chẳng có quyền chi với ai, dầu một tên tín đồ cũng ngang mà thôi, duy có được: Chẳng bậc phẩm nào bên Cửu Trùng Đài đặng phán đoán bên Hiệp Thiên Đài về việc chi cũng phải do nơi Đức Chí Tôn. Còn nói gì về việc hành chánh chưởng quản trong Đạo, thì Hiệp Thiên Đài chẳng có một mảy chi vào đó hết. Đức Chí Tôn lập Chức sắc Hiệp Thiên Đài đặng khai Đạo, dìu Đạo, làm cho Đạo có giá trị, giúp kẻ hành đạo tròn phận sự, thức tỉnh kẻ ngoại Đạo thấy đường phải, lánh nẻo quanh, phẩm vị chẳng lớn hơn ai, mà cũng chẳng nhỏ hơn ai, được ngang bực với bất kỳ phẩm tước nào bên Cửu Trùng Đài mà phán đoán luận biện việc Đạo, được gần gũi những hạng người hạ tiện hơn hết nơi cõi trần mà độ dìu. Bàn hội nào mà luận thi hành việc Đạo thiếu mặt Hiệp Thiên Đài thì theo Thiên ý, việc thi hành ấy trái chánh sách của Đạo, phải kể như việc tư mà thôi. Ấy vậy, Hiệp Thiên Đài quyền hành lớn hơn ai, mà cũng nhỏ hơn ai.

Mấy anh thấu chưa? THĂNG. (TNCT. HH. 177-178-179)

May là cái kiếp duyên được ngộ Đạo:

Vị Tiên Thanh Tâm Tài Nữ giáng Cơ nói:

"Trong cái kiếp duyên của chúng ta có cái kiếp ngộ đạo là hạnh phúc hơn hết và trọng hệ hơn hết, mà chính cái ngộ Đạo ấy, chúng ta có thể may duyên đến hội hiệp cùng Đại-Từ-Phụ, tức nhiên vào ngồi trong lòng của Đức Chí-Tôn vậy. Cái kiếp duyên cao trọng hơn hết là đấy. Bần-Đạo nói rõ. Mấy Bạn yêu ái của chúng ta đương ở trong lòng thương yêu vô tận của Đức Chí-Tôn nhập trong cái đại gia đình Thiêng Liêng của Ngài. Ngài đến nơi mặt địa cầu này là để cái dấu chơn của Ngài trên cái Cao-Đài này, đặng Ngài làm cái dấu hiệu cho toàn thể con cái của Ngài đã hữu duyên gặp đặng Ngài, đó là nơi hội hiệp của nó, nghĩa là chúng ta ngày hôm nay ngồi trong cái Đền Thánh này, tức nhiên trong một cái cơ thể tượng trưng lòng yêu ái vô tận của Đức Chí-Tôn, nó không phải tình cờ mà được vậy, chúng ta chung hiệp với nhau ngày hôm nay trong lòng yêu ái của Ngài nơi Đền Thánh này không phải do nơi cái may mà ra, chúng ta đã đạt đặng một kiếp duyên của chúng ta, hội hiệp cùng nhau chung cả hạnh phúc của chúng ta làm một khối Thiêng-liêng vô đối trong lòng yêu ái vô tận vô biên của Đức Chí-Tôn, đặng cầm cái quyền năng yêu ái ấy rải khắp cho toàn thiên hạ được hưởng, có nghĩa là chúng ta có cái duyên phận đến đặng thọ mạng lịnh của Đức Chí Tôn phụng sự con cái của Ngài, cái phụng sự ấy là để tạo kiếp duyên cho họ, cũng như ta đã được may phước ngộ Đạo gặp Ngài nơi thế này.

Đức Hộ Pháp nói tiếp: "Không có cô hồn đâu, nếu như Bần Đạo không lầm thì người ta đã có một vị là cô hồn, ấy là người con gái, là Thanh Tâm Tài Nữ đã chết, là khi người tắm ở tại Cap St. Jacques bị chết chìm. Thanh Tâm Tài Nữ chết như thế mà không phải là cô hồn đâu. Các phẩm chơn hồn đạt phẩm vị nhơn phẩm không có cô quả bao giờ. Nơi cảnh Hư Linh hằng sống kia người ta còn có gia đình, thân tộc bạn tác anh em của người ta, không có một chơn hồn nào đã đạt nhơn phẩm mà gọi là cô hồn đặng. Có hay chăng là thiên hạ tưởng tượng vậy thôi. Tưởng người chết không con nối hậu, không ai phụng sự, xiêu mồ lạc mã, người ta cho là cô hồn, sự thật là không phải."

 

 

THANH VƯƠNG ĐẠI HỘI

Thanh: Màu xanh. Hồng: màu đỏ. Bạch: trắng. Vương: vua.

Thanh vương, Hồng vương, Bạch vương là ba thời kỳ khai Hội Long Hoa ứng với ba thời kỳ Phổ Độ nhơn sanh.

Do đó, bài kệ U Minh Chung có ba câu kệ cuối là:

Nam mô Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

Nam mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội Di-Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

Nam mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội Di-Lạc Cổ Phật Chưởng giáo Thiên Tôn.

Ba câu trên có nghĩa là:

Cầu nguyện với Đức Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Hội Long Hoa kỳ I gọi là Thanh Vương Đại Hội.

Cầu nguyện với Đức A-Di-Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Hội Long Hoa kỳ II gọi là Hồng Vương Đại Hội.

Cầu nguyện với Đức Di-Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Hội Long Hoa kỳ III gọi là Bạch Vương Đại Hội.

Dùng 3 chữ: Thanh, Hồng, Bạch để chỉ thứ tự 3 kỳ Long Hoa Đại Hội có ý nghĩa căn cứ trên sự sinh trưởng của vạn vật trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông xoay vần trong một năm, tương ứng với các màu trong Ngũ Hành.

1. Kỳ Khai Đạo Phổ Độ lần thứ nhứt ví như cây cỏ đang mọc vào mùa Xuân, ứng vào thời kỳ vua Phục Hy bên Tàu.

Xuân chủ về Mộc, sắc của Mộc trong Ngũ Hành là màu Xanh, nên thời kỳ nầy gọi là Thanh Vương Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh chủ khảo trong thời kỳ nầy là Đức Nhiên Đăng Cổ Phật.

2. Kỳ Khai Đạo Phổ Độ lần thứ nhì ví như cây cỏ đang vào mùa Hạ, đang trổ bông đặng bắt đầu kết trái, ứng vào thời kỳ Đông Châu Liệt Quốc bên Tàu.

Hạ chủ về Hỏa, sắc của Hỏa trong Ngũ Hành là màu đỏ (Hồng), nên thời kỳ nầy gọi là Hồng Vương Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh chủ khảo là Đức A-Di-Đà Phật.

3. Kỳ Khai Đạo Phổ Độ lần thứ ba ví như cây cỏ đang kết trái ở mùa Thu, ứng vào năm Bính Dần (dương lịch 1926).

Thu chủ về Kim, sắc của Kim trong Ngũ Hành là màu trắng (Bạch), nên thời kỳ nầy gọi là Bạch Vương Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh chủ khảo là Đức Di-Lạc Vương Phật.

Vạn vật chỉ có sanh khí vào ba mùa: Xuân, Hạ, Thu. Đến mùa Thu thì gặt hái, cho nên qua mùa Đông thì điêu tàn vì không có sanh khí, để rồi qua hết mùa Đông, bắt đầu mùa Xuân thì vạn vật sanh trưởng.

Sách Nho xưa có câu: "Xuân sanh, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông tàn." Cho nên chỉ có 3 thời kỳ: Thanh vương, Hồng vương, Bạch vương, mà không có Hắc vương, vì Hắc vương là tử kỳ (thời kỳ chết: điêu tàn). (Theo Ngũ Hành, mùa Đông chủ về Thủy, sắc của Thủy là màu đen: Hắc).

Trong hai thời kỳ: Thanh vương và Hồng vương, người cầu đạo phải xuất gia tu hành khổ hạnh.

Đến thời kỳ Bạch vương, Đức Chí Tôn Thượng Đế mở đạo phổ truyền tâm pháp tu hành, dầu tại gia hay xuất gia đều tu được cả, và người tu có thể đắc đạo tùy theo công đức làm được nhiều ít của mình.

Chẳng những thế, những vị tu hành trong hai kỳ trước mà chưa đắc quả, kể cả người trong quỉ vị, nếu kỳ nầy lập được nhiều công đức thì đều được đắc đạo thoát khỏi luân hồi, vì Đức Chí Tôn đại khai ân xá.

Câu 32 trong bài U-Minh-Chung có câu:

Nam mô Sơ hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật chưởng giáo Thiên Tôn.

 

 

THANH Y XÍCH DIỆN

Ðức Quan Thánh Ðế Quân giáng cơ cho bài thi khoán thủ: Quan Thánh Ðế, viết ra chữ Hán như sau:

QUAN thành tái hiệp Hớn triều phong,

 

THÁNH đức mạc vong hám thế trần.

 

ÐẾ thất nhứt tâm trung khí dõng,

 

Thanh y xích diện hảo vinh phong.

 

 

 

THANH XUÂN

青 春
F: Jeune âge.

Thanh xuân: Xuân xanh tức là thiếu niên.

Huỳnh Hoa Tiên Nương giáng đêm 28-7 Mậu Tuất (11-9-1958) có câu:

Thể cách đoan trang tiết rạng ngần,
Muôn đời giữ trọn vóc thanh xuân.
Lồng sương dạng ẩn tầng khuê các,
Dấu bóng hương che mắt thế trần.

 

 

THÁNH

Là người hiểu biết mọi việc. Người học thức và đạo đức rất thâm cao.Tiếng tôn xưng một vì vua nhân từ là vị Thánh. Phân tích chữ Thánh gồm có chữ Nhĩ là tai nghe, nghe là học; chữ khẩu là miệng nói, nói là hành. Dưới cùng là chữ Vương, là người làm Chủ được chính mình, là bậc giác ngộ.

 

 

THÁNH ÂN


E: Favour of God.
F: Faveur de Dieu.

Thánh: chỉ những gì thuộc Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng. Ân: ơn huệ. Thánh ân là ơn huệ của Đức Chí Tôn ban cho.

Đức Hộ Pháp nói: "Tội nghiệp thay, vì 92 ức nguyên nhân ấy mà chính mình Đức Chí Tôn phải giáng trần mà lập nền chơn giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy cái Thánh ân, đặc biệt hơn hết là Đức Chí-Tôn đã thấy rõ rằng: Các nguyên nhân ấy không phương gì tự giải thoát đặng vì quá tội tình, quá mê luyến hồng trần hoặc đào tạo quả kiếp nặng nề quá đỗi, vì cớ cho nên Tu thì có Tu mà thành thì không có thành, tức nhiên từ ngày Đạo bế thì cơ siêu thoát đã mất tại mặt thế này, chính mình Đức Chí Tôn biết rằng không thế gì các nguyên nhân tự mình đạt cơ giải thoát đặng."

Kinh Nhập Hội:

"Mượn Thánh ân xây đổi cơ đời."

 

 

THÁNH BẤT KHẢ TRI CÔNG BẤT KHẢ NGHỊ

(Thánh: bậc tu hành đạo đức cao, là thiêng liêng mầu nhiệm. Bất khả: không thể. Tri: biết, hiểu biết. Công: nỗi vất vả khó nhọc làm việc. Bất khả: không thể. Nghị: luận bàn). Đây là câu kinh trong bài "Kinh Tiên giáo" ca ngợi công đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân. Câu: Thánh bất khả tri, tức nhiên là các bậc vào hàng Thánh cũng không thể biết rõ hết sự thiêng liêng mầu nhiệm của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân được. Công bất khả nghị là công đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân to lớn không thể nào luận bàn cho hết nỗi. Như vậy:

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân do khí Tiên Thiên hóa sanh, là vị Tiên lớn nhứt đứng đầu các vị Tiên, nên quyền pháp của Ngài cao siêu vô cùng, thiên biến vạn hóa, không ai có thể biết rõ được. Từ khi có loài người xuất hiện trên cõi trần đến nay, không có thời nào mà Ðức Thái Thượng Ðạo Quân không hiện xuống trần gian để giáo hóa và cứu độ nhơn sanh. Công đức của Ngài từ đó đến nay nhiều vô lượng, không thể nào kể cho hết hay luận bàn được.

 

 

THÁNH BÚT

Nghĩa là Bút Thánh, tức nhiên là thời kỳ Cơ Bút của Cao-Đài.

Thầy dạy: Long Thành, 29-7-1927 (âl 1-7-Đinh Mão)

"Các con, Thầy thâu nhập Môn đệ, cho Thánh bút kỳ nầy là chót, định ngưng cơ phổ độ, từ đây do theo Tân Luật mà hành đạo và thâu nhập chúng sanh, nhưng nếu có chuyện bí yếu chỉ về nền Đạo và về đường trách nhậm của các con, thì Thầy sẽ lấy từ bi mà khuyến dạy".

 

 

THÁNH CAM ĐỊA (Gandhi)

Ông Mahatma-Gandhi, Việt Nam phiên âm là Thánh Cam-Địa, là người Ấn Độ, sanh năm 1869, là nhà tư tưởng và lãnh đạo chánh trị, đòi độc lập cho nước Ấn Độ với chủ trương bất bạo động. Thánh Gandhi làm Cách mạng ôn hoà đã giải phóng đất nước Ấn-độ ra khỏi tay độc tài Anh Quốc. Người tranh đấu bất bạo động mà thành công một cách vẻ vang.

Ông Gandhi bị ám sát chết ngày 30-1-1948 tại Delhi (Ấn Độ). Khi Đức Phạm Hộ Pháp hay tin ông Gandhi qui thiên, Đức Ngài ra lịnh cho tất cả các Thánh Thất thiết lễ Tiểu đàn cầu siêu cho ông. Về sau, Ông có giáng Cơ:

Ngày 21-3-Mậu Tý (dl 29-4-1948).

Phò loan : Tiếp Đạo - Thái Đến Thanh

CAM ĐỊA (Gandhi)

Bần Tăng chào các Bạn, Các Bạn có lòng quan niệm đến, Bần Tăng rất vui vì ngày nay được về cảnh vô hình mới rõ cơ mầu nhiệm thiêng liêng tiền định sẵn mọi điều. Chẳng nói chi một nước Ấn Độ mà toàn cõi địa hoàn cũng do Thiên điều sắp sẵn. Cuộc tương lai theo luật công bình của Đấng Tạo đoan, dầu một người cũng như một nước, bĩ thới luân chuyển theo lẽ thiên nhiên, hễ mạnh rồi lại yếu, nhược trở nên cường. Nếu chẳng vậy thì kẻ thế cô phải cam phận thiệt thòi mãn kiếp.

Nước Việt Nam hiện chừ đã nổi danh cùng lân quốc là nhờ ơn huệ Đức Từ Bi hoằng hóa một nền Chánh giáo gồm các tinh ba các Giáo lý từ xưa để cho toàn nhơn sanh chung thờ một Chủ nghĩa Đại Đồng. Nhưng có một phần người không đặng hữu hạnh là vì đã mất hẳn lương tâm thì cũng đáng thương mà đáng cho là bất phước.

Chẳng khác nào dân Ấn Độ đã có sẵn một nền tảng kiên cố từ lâu, lại xem như một vật thường, chỉ dụng thứ giả danh mà đổi nài của báu thì cũng đành chịu!

Cuộc tang thương bước sau nầy, Bần Tăng không trách gì kẻ bạo ngược mà bận lòng vì nước suy đồi. Nay Bần Tăng được tự toại nơi cõi Hư Linh thì đã làm xong bổn phận làm Anh, không thiếu lời giáo hóa. Còn thời thế lọc lừa, tạo nhơn hiền, cơ tàn của quốc dân phải chịu trong vòng tuyển lựa của Đấng chủ quyền đã định phần hơn thua cho toàn mặt thế. Chừng kết cuộc, nước trong cũng nhờ lọc lược trải mấy hồi. Còn người hiền lương khổ tâm bao nhiêu trận, thế thời chỉ có vậy, chớ Bần Tăng rất cảm tình mấy Bạn. (THĂNG.)

 

 

THÁNH CHẤT


E: The sacred quality.
F: La qualité sacrée.

Thánh: Thiêng liêng, mầu nhiệm, tốt đẹp hoàn toàn. Chất: phẩm chất. Thánh chất là phẩm chất tốt đẹp hoàn toàn. Trái với Thánh chất là Phàm chất.

Thầy dạy về "Quyền: Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy, mà quyền ấy trở nên một cơ thể buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi. Ôi! Thảm thay! Cái thất vọng của Thầy nên ghê gớm! Các con có hiểu vì sao mà cả nhơn sanh gian tham chăng? Thì cũng muốn cho nhiều sanh mạng chịu phục dưới quyền thế lợi lộc đó. Vậy sự yếu trọng của con người là nạn cơm áo. Nắm chặt quyền phân phát cơm áo thì chưa ai đã chịu thọ sanh nơi thế nầy lánh khỏi. Muốn cho đặng quyền hành ấy thì làm thế nào? Dùng hết mưu chước quỉ quyệt thâu đoạt cho đặng lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh tranh đấu đấu, giựt giựt giành giành, gây nên mối loạn, nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép Tà quyền, mạnh hơn, yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng Tạo hóa. Cái trường thảm khổ của thế gian cũng do nơi đó mà ra".

Thánh ngôn dạy: "Hội Thánh là vầy các con há? Áo não! Thảm thay! Thầy tưởng khi chẳng lẽ phải cần nói ra; đợi cho Thánh chất các con tăng thêm đặng chút nào, lại càng thấy đặng khổ não của Thầy vì các con mà đeo đuổi từ ngày khởi lập nhơn loại đến chừ, chẳng dè phàm chất các con nó mạnh mẽ thế nào đè khuất trọn vẹn chút mảy mún Thánh-chất Thầy để vào lòng các con, nên nay Thầy buộc mình phải nói rõ."

Đức Quan Thánh Đế Quân nhấn mạnh: "Nền Ðạo chưa lập thành mà bên trong thì người biếng trau Thánh chất, nơi ngoài người lại muốn kêu nài so đo với các Ðấng Thiêng liêng, đặng làm cho rõ mình là thấy xa hiểu rộng. Thời thế đã đổi dời, họa Thiên điều hầu kế cận. Từ Nam chí Bắc, khắp Ðông qua Tây, thỉnh thoảng trường náo nhiệt khởi động, diệt tàn kẻ vô đạo. Xác phàm mắt thịt, nếu đã sẵn ánh thiêng liêng mà không sớm tỉnh hồn thì mảnh tro bụi kia chẳng khỏi chịu hình đòi lúc. Đức Quan Thánh căn dặn khá gắng nhớ bài nầy:

Khuôn đời chưa dễ tạo nên hình,
Tóc bạc còn mờ lối nhục vinh.
Hòn ngọc khó đem trau Thánh chất,
Cân vàng khôn lấy nện chày kình.

Thánh Ngôn Thầy dạy rằng:

Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,
Thánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.
Bóng trải diềm dà xuân đợi chúa,
Tiết nồng thơ thới hạ khoe sen.

 

 

THÁNH CHẤT THIÊNG LIÊNG

Ngày 26-2-1927 (âl 25-1-Đinh Mão).

Thầy dạy: "Các con nghe Thầy.Thầy dặn các con đừng ỷ mình, mà cũng đừng hạ mình, lấy sự mềm mỏng mà oai quyền đối đãi cùng đời. Khôn ngoan đạo đức là khôn ngoan nhịn nhục, kiên nhẫn. Từ bấy lâu nay, ai cũng cho các con là bạc nhược, chẳng đủ trí biết đặng cái mạnh thiêng liêng là thế nào. Thầy đã đến un đúc một tòa Thánh-chất, tức là cái mạnh thiêng liêng đó vậy.Tòa Thánh-chất thiêng liêng phải biến ra hữu hình trước mắt kẻ phàm phu tục tử, đặng thấy, mới biết kiêng oai Thầy. Hỏi Tòa Thánh-chất ấy là gì?

Các con nói thử. Cười... Các con chẳng biết đâu, nghĩa là một Tòa chứa trọn cả đức tin của các con. Cái đức tin ấy càng ngày càng tăng thêm hoài theo số nhơn sanh các con độ rỗi. Nay Thầy muốn nó biến ra hữu hình là sao? Thầy muốn Tòa Thánh-chất của Thầy tức là cả đức tin của các con biến thành một Tòa Thánh, cũng như xác phàm của Noln biến thành Long vị, hầu vùa giúp cho đức tin càng lớn thêm, đủ sức kềm thúc đức tin của cả nhơn loại trên mặt địa cầu nầy. Mà hễ kềm thúc đặng cả nhơn loại thì chưa khí giới nào mong diệt đặng.

Vì vậy, Thầy lập Tòa Thánh."

 

 

THÁNH CHỈ

Thánh: Thiêng liêng, mầu nhiệm, tốt đẹp hoàn toàn. Chỉ: lời vua ban bảo tôi dân gọi là "chỉ".

 

 

THÁNH CHỈ CHÍ TÔN

Là mệnh lệnh của Đức Chí-Tôn ban truyền xuống Hiệp Thiên Đài phải tuân hành.qua lời Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn.

Ngài giáng Cơ tại Phạm nghiệp, ngày 16-2-Ất Hợi (dl 20-3-1935) để lời rằng:

"Thưa Hộ Pháp, Bần Đạo để lời chia vui cùng Ngài. Khi hôm qua, nhờ có Thánh chỉ Chí Tôn nên mới đặng rộng đường xuất Thánh. Bần Đạo có để lời trân trọng cầu thưởng cho học tu nên mới đặng cao phong phẩm giá. Cười...

Phẩm trật rắc rối khó nói rõ, nhưng chia ba: Pháp, Đạo, Thế, thì theo sự hiểu biết của Bần Đạo như vầy :

-Sĩ Tải là Secrétaire Archiviste,
-Lên phẩm Truyền Trạng là Greffier.
-Rồi lên phẩm Thừa Sử là Commissaire de la justice.
-Phẩm Giám Đạo là Inspecteur,
-Lên phẩm Cải Trạng là Avocat,
-Lên phẩm Chưởng Ấn là Chancelier.

Lên phẩm ấy rồi, tùy phái lên điạ vị Hiệp Thiên Đài, nhưng phải biết rằng: Chưởng Ấn phải lên địa vị Tiếp Dẫn Đạo Nhơn mà đắc công phổ thông đặng một nước nào rồi mới vào chánh vị."

 

 

THÁNH CHÚA

Thánh chúa: Vua của chư Thánh, là đấng Chí-Tôn.

 

 

THÁNH CỐC


E: The sacred cereal.
F: La céréal sacrée.

Thánh: Thiêng liêng, mầu nhiệm, tốt đẹp hoàn toàn. Cốc: hột lúa. Thánh cốc là hột lúa Thánh, ý nói hạt giống đạo đức.

Sự truyền bá giáo lý của một nền tôn giáo ví như đem hột giống đạo đức gieo vào mảnh tâm điền của mỗi nhơn sanh để cho nó sinh sôi nẩy nở thêm nhiều ra.

Đức Lý nói: "Tâm Thánh là ngôi vị của Ðấng thiêng liêng, không lo trau giồi thì cũng còn tự nhiên vì vẻ đẹp, còn vẻ đẹp thiên nhiên đã mang nặng thi hài nơi khổ cảnh nầy mà không mất thì đoạt vị đã đặng rồi, lại cần ai nâng đỡ. Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ."

 

 

THÁNH CỐT

(Thánh là Thánh, trên bực phàm nhân rất nhiều, là người đạo đức. Cốt là xương, chỉ người chết còn lại nắm xương tàn).

Người Việt Nam có tục lệ khi người chết thì đem chôn trong lòng đất chứ không hỏa táng như các nước khác, như người Miên chẳng hạn. Do vậy mà trong kỳ Đại Ân xá này Đức Chí Tôn ban cho đất Tây Ninh là Thánh Địa cho người Đạo có nơi sinh sống, tu hành. Ngoài ra còn dành "đất Cực Lạc Thái bình" làm Nghĩa địa là nơi chôn cất người chết nữa.

Đây lời dạy: Đức HỘ-PHÁP căn-dặn một điều là nên để ý là làm sao ngày qui-liễu gởi Thánh-Cốt tại đất Thánh-Địa, vì trái địa-cầu 68 nầy không còn có chỗ đất nào quí-hóa bằng đất Thánh-Địa nếu để được cốt-hài nơi đây rồi thì rất hạnh phúc cho tương-lai con cháu. Dù nơi Cực-Lạc cũ hay đất mới cùng là nghĩa-địa đất 50 mẫu ở Long-Thành cũng vậy. Bần-Đạo đã biết bên nước Tàu hễ Cha-Mẹ họ có qui, họ quàn lại để chọn ngày hoặc chọn chỗ đất tốt có hàm rồng, dầu phải 5, 3 năm họ cũng đợi kiếm được mới làm lễ an-táng, vì bên nước Tàu có nhiều nhà biết Thiên-Văn hay khoa coi bói họ giỏi. Phần nhiều là các nhà giàu có hay chọn lựa, ngày nay dân tộc Việt-Nam có phước Chí-Tôn đã tiền-định cho giòng-giống Lạc-Hồng hưởng điều phúc-hậu tương-lai, ai có duyên mà về đây gởi cốt-hài là có phước lắm vậy. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

Về việc Xin mở rộng đất Cực-Lạc mới (do Phước Thiện)

ĐỨC HỘ-PHÁP dạy tiếp "Đất Thánh là nơi tạm gởi Thánh-Cốt con cái Đức Chí Tôn cho đến ngày mãn một đời Giáo Tông, là thiêu cốt lấy tro làm nên một khối lớn đem vô để nơi hầm Bát-Quái-Đài. Tro đầu, trên Hạ Đơn-Điền, tay chơn là đem vô khối ấy, còn dư bao nhiêu thì có làm lễ long-trọng đem xuống sông Cẩm-Giang đổ. Cẩm Giang tức là Thánh Giang như sông Gange vậy. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

THÁNH DANH


E: Sainted name.
F: Saint nom.

(Thánh là chỉ bậc cao thượng, đã thoát lên trên bậc thường, cũng là đấng phi phàm hay siêu phàm. Nếu là người thường thì có tên được gọi thường là Thế danh. Khi tu hành có phẩm tước Thiên ban thì gọi là Thánh danh. Danh là tên). Ở đây Thánh danh là chỉ Đức Thượng đế được nhân loại xưng tụng qua nhiều danh khác nhau tùy theo mỗi thời khai Đạo.

Hỏi rằng: Thuở nay tôi nghe nói Ngọc Hoàng Thượng Đế, sao bây giờ anh gọi là Cao Đài Thượng Đế?

ĐÁP: Mỗi lần khai Đạo, Đức Ngọc Đế đều lấy Thánh danh riêng, như đời Châu Sơ, Ngài giáng thế bên Trung Hoa lập Đạo Tiên, thì lấy Thánh danh là Lão Tử, qua lối Trung Châu (giữa đời nhà Châu), Ngài giáng sanh bên Ấn Độ, lập thành Đạo Phật, Ngài lại lấy Thánh danh là Thích Ca Mâu Ni Phật. Đời Hớn, giáng sanh lập Đạo Thánh, Ngài lại lấy Thánh danh là Jésus. Ngài phổ độ lần nầy là lần thứ ba bên Á Đông, nên gọi là Tam Kỳ Phổ Độ. Ngày nay, tùy theo thời thế, Ngài không giáng sanh như hai lần trước, chỉ dùng huyền diệu Tiên Bút mà truyền Đạo, Ngài lại lấy Thánh danh là CAO-ĐÀI.

Vả lại, Cao Đài là Thánh danh tắt, chớ toàn danh là: "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát".

-Cao Đài là Đài Cao, chỉ về chỗ cao thượng của Đạo Nho;
-Tiên Ông là chỉ về Đạo Tiên,
-Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ về Đạo Phật.

Thánh danh ấy gồm đủ Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt vậy. Tuy vẫn gọi Thánh danh là Lão Tử, Thích Ca, Jésus, Cao Đài, chớ cũng một Chơn linh của Thượng Đế".

Xưa, thường gọi là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế; nay trong nguơn hội Tam-Kỳ Phổ-Độ gọi là Ðấng "Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát" dạy Đạo tại miền Nam Việt Nam: Trước, Ngài tá danh AĂÂ, sau giáng Cơ xưng chính danh Ngài

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT Giáo Đạo Nam Phương

Ngài có giáng Cơ ban cho Bài thi khoán thủ:

"Ngọc Hoàng Giáng Thế Giáo Đạo Nam Phương"

Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,

 

Hoàng Thiên bất phụ chí anh hào.

 

Giáng ban phúc hạnh nhơn đồng lạc,

 

Thế tạo lương phương thế cộng giao.

 

Giáo hóa nhơn sanh cầu triết lý,

Ðạo truyền thiên hạ ái đồng bào.

Nam nhơn tỉnh cảm sanh cao khí,

Phương tiện tu tâm kế diệt lao.

便

Giải nghĩa bài thi trên, đồng thời viết ra chữ Hán:

-Ngọc thường ẩn trong đá núi, ngọc tự có giá trị cao,
-Trời không phụ ý-chí của người anh-hùng hào-kiệt.
-Giáng trần ban hạnh-phúc cho loài người cùng vui vẻ
-Ðời tạo phương hay để giao hòa chung cùng nhau
-Dạy-dỗ nhơn sanh cầu cái triết lý cao siêu của Ðạo,
-Ðạo truyền cho dân chúng biết thương yêu đồng bào.
-Người Nam sớm tỉnh, cảm ứng sanh chí cao thượng.
-Phương tiện tu tâm là kế tiêu diệt các nỗi khổ đau.

*Theo Ðạo Sử, Ðức Chí Tôn - Ngọc Hoàng Thượng Đế đến với nhóm Xây bàn trong buổi tiền khai Đại-Đạo (gồm ba Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang) vào hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1925) với danh xưng là AĂÂ. Khi dạy Đạo cho ba ông thì Ðức Chí Tôn xưng là Thầy và gọi các Đệ tử là Môn đệ. Vì lời cam kết nên ba ông không dám tìm hiểu Ðấng AĂÂ là ai, chỉ biết đó là Ðấng có quyền-uy rất lớn ở cõi vô hình, là vị Đại Tiên. Mãi đến đêm Noel, 24 rạng 25 tháng 12 năm 1925, Ðấng AĂÂ mới giáng cơ cho bài Thánh Ngôn sau đây, cho biết Ngài là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, nay gọi là Ðấng Cao-Ðài Tiên-Ông Ðại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, giáng cơ dạy Đạo ở miền Nam nước Việt Nam.

Đây là bài giáng Cơ đầu tiên là khởi sự dạy Đạo:

Noel 1925 [Ðêm 24-12-1925 (âl: 09-11-Ất Sửu)]

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
Giáo Đạo Nam Phương

Muôn kiếp có TA nắm Chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên".

"Ðêm nay, 24 Décembre, phải vui mầng vì là ngày của TA xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây (Europe). TA rất vui lòng mà đặng thấy đệ tử kính mến TA như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn TA. Giờ ngày gần đến, đợi lịnh nơi TA. TA sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa."

 

 

THÁNH ĐẢN


E: The nativity.
F: La nativité.

Thánh: Bực Thánh, bực tài trí phi thường, tiếng tôn xưng vua. Đản: Đán: ngày sanh (đản nhựt). Thánh đản hay Thánh đán là ngày sanh của một vị Thánh hay một vị Tiên. Đối với một vị Phật thì gọi là Phật đản.

Đêm mùng 10 tháng 10 Canh Dần (dl 19-11-1950

Quyền Giáo Tông giáng: "Mỗi năm đến kỳ Lễ Hạ Nguơn, kỷ niệm Khai Đạo, thì các em không quên ngày Thánh đản của Anh và mỗi em đều để tâm lo lắng, nhứt là Hộ Pháp cư xử trọn nghĩa đệ huynh, đến như thi hài của Anh đối về phần Đạo thì cũng chẳng trọng hệ chi, nhưng đó là một phần trong Thánh Thể của Chí Tôn, các em lo cho Anh được châu toàn, Anh có lời cảm ơn trước là Hộ Pháp, sau là tất cả các em".

 

 

THÁNH ĐẠO (Phật Học)


E: Doctrine of Saint.
F: La doctrine du Saint.

Thánh đạo là Ðạo xuất thế, con đường xuất thế bao gồm bốn cấp bậc. Mỗi cấp lại được phân biệt là: Thánh nhân đi trên đạo và Thánh quả của đạo đó. Bốn cấp của đạo xuất thế là: 1- Dự lưu, người mới nhập dòng; 2- Nhất lai, người tái sinh trở lại thế gian này một lần nữa; 3- Bất hoàn, người không bao giờ trở lại thế gian này nữa; và 4- A-la-hán.

Đạo Cao Đài - Thánh ngôn dạy: Thánh Ngôn dạy: "Khi khai Thánh giáo bên Thái Tây thì Chí-Tôn đã nói trước: còn nhiều chuồng chiên Người sẽ đến đem về làm một. Lời tuyên ngôn ấy nghĩa là còn nhiều Đạo đương nuôi nấng ung đúc tinh thần của con cái Chí-Tôn đặng chờ ngày Người đến hiệp chung lại Một, lời ấy ngày nay đã quả. Các chuồng chiên Thiêng liêng của Chí-Tôn là, về:

- Thánh Đạo thì là Thiên-Chúa-giáo (Christianisme) Gia Tô (Catholicisme). Tin lành (Protestantisme), Hồi Hồi (Mahométantisme).

 

 

THÁNH ĐẠO CỦA CHÚA CỨU THẾ

Còn gọi là Thánh-Gíao Gia-Tô: Đức Hộ Pháp nói đến thế-kỷ 19 được đem đến nước ta truyền-giáo mới thành một trường nhiệt-liệt đua tranh quyết chinh-phục hết thảy tất cả các Tôn-giáo khác. Bần đạo tưởng ai có đọc tờ phúc-sự năm 1937 đều biết rõ, Bần đạo đã giảng rõ ràng nguyên-do đó, thành thử Việt-Nam có nhiều Đạo quá nên thành không Đạo!"

Thầy dạy: "Thánh Đạo của Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối với người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp dưới."

"Hỡi nầy dân tộc có diễm phước; Thầy sẽ làm thỏa mãn tánh hiếu kỳ của con. Là loài người, các con có biết tự đâu các con đến chăng? Trong vạn vật hiện hữu trên quả địa cầu nầy, các con là kẻ được ban ân huệ nhiều hơn cả. Thầy đem các con đến tận Thầy bằng cả tinh thần lẫn trí huệ. Các con có đủ bằng chứng để tự biết mình do sự thăng phẩm vị Thiêng Liêng. Chúa Cứu Thế đã đến với các con. Người đã phải chịu đổ máu Thánh để chuộc tội cho loài người. Trong 2000 năm vắng mặt Người, các con đã làm gì hữu ích? Các con truyền bá Đạo Người, nhưng chính các con cũng không hiểu chi cả. Các con lại làm sai lạc bản chất Tôn chỉ của nền Thánh giáo. Nhân loại phải chịu đau khổ vì sự biến thể của các Thánh Tông Ðồ. Chiếc ngai quí báu nhứt trên thế gian nầy hiện là chiếc ngai của vị Đệ nhứt cao đồ của Người. Giáo lý ấy đáng lẽ phải đem lại Hòa bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẽ và chiến tranh. Bởi thế, nên nay chính Thầy phải đến để đem lại cho các con nền Hòa bình đã từng hứa hẹn. Rồi đây Chúa Cứu Thế sẽ trở xuống sau. Thầy giã từ các con. Các con sẽ còn học hỏi nhiều việc khác nữa với mấy vị Môn đồ của Thầy."

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo có cho biết: "Bởi thế cho nên nền Tôn Giáo mới hơn các nền Tôn Giáo khác có mặt tại địa cầu này là nền Thiên Chúa Giáo, vị Giáo Chủ sáng suốt, vị Giáo Chủ ngôn ngữ hoạt bát, tinh thần minh hoạt hơn hết, là Đức Chúa Jésus Christ, nhưng hại thay trong Thể pháp Ngài đủ quyền năng đem đủ giáo lý của Ngài, đặng làm nền tảng tâm lý của nhơn loại. Nhưng về mặt Bí Pháp chơn truyền, Ngài chỉ có nói một điều, các Môn Đệ nhứt là các vị Thánh Tông Đồ:

- "Có nhiều lý lẽ cao siêu ta chưa có thể nói với các ngươi đặng, dầu ta có nói các ngươi cũng chưa hiểu."

Vì cớ cho nên Bí Pháp Chơn Truyền của Công Giáo không có, không có thể có; bởi theo Bí Pháp, theo lời Đức Chúa Jésus Christ thì buổi nọ Bí Pháp Chơn Truyền của Ngài chưa có thể gì nói cho thiên hạ nghe đặng."

Cho đến lời trong thơ của Đức Mẹ FATIMA rằng: "Hội Thánh La Mã chỉ lo củng cố Vương quyền, các hàng giáo phẩm lãnh đạo không thực thi đúng điều CHÚA dạy và không hướng dẫn giáo dân đi theo đường lối CHÚA muốn, đến nỗi trước nguy cơ chết chóc của con người bởi thảm họa chiến tranh, Đức MẸ phải hiện ra tại FATIMA vào thế chiến thứ nhứt (1914-1918) để ban ra những Thông điệp quan trọng và khẩn cấp, nhằm thức tỉnh Hội Thánh La Mã và kêu gọi những tín đồ Thiên Chúa Giáo phải thực thi đúng lời Chúa dạy.

Đức Mẹ FATIMA phán: "Nếu loài người muốn chấm dứt chiến tranh thì phải ăn chay, hãm mình và lần chuỗi Mân côi. Muốn cho được thấy Thiên đàng, thì phải trường chay, tuyệt dục và bố thí. Tất cả ai cầm quyền Giáo hội nên TRƯỜNG CHAY vì đó là cứu cánh cho nhơn loại, như ngọn đuốc soi đường cho tín đồ. Bởi chưa thực hiện được trường chay, do đó mà nhơn sanh còn khổ, dù có kêu gọi cách nào đi nữa, nhưng thâm tâm họ chưa trong sạch thì ý tưởng đẹp cũng hóa ra dơ bẩn. Nếu Đức Giáo Hoàng đương kim là PHAOLÔ IV chỉ thị và chính Ngài ăn chay trường thì thế giới đương nhiên Hòa bình. Bởi tín đồ Thiên-Chúa-Giáo sẽ nghe theo Ngài mà trường chay tất cả, thì Tình thương sẽ lan tràn cả Thế giới".

Đó là hồng ân của Thiên Chúa ban rải để cứu rỗi loài người qua phép lạ FATIMA. Nhưng từ đó đến nay, Giáo hội La Mã chẳng sửa sai một điều gì đáng kể. Nếu tình trạng nầy cứ tiếp tục như vậy, rồi đây Giáo hội La Mã sẽ hoàn toàn sụp đổ trong cuối thế kỷ nầy, thể hiện đúng lời tiên tri của Đức Mẹ FATIMA. (Theo nội dung của Bức thơ Fatima)

Tóm lại, các nền Tôn giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ gồm Tam giáo ở Á Đông và Thiên Chúa giáo ở Âu Châu đều bị Thất Chơn truyền sau mấy ngàn năm truyền đạo và hoàn toàn suy bại trong thời kỳ Mạt pháp nầy.

 

 

THÁNH ĐỊA


E: Holyland.
F: Terre Sainte.

Thánh địa là đất Thánh, là vùng đất linh thiêng, vì đây là nơi xuất hiện mối đạo Trời, có viễn trình 700.000 năm tuổi Đạo, gọi là Thất ức niên.

Sài Gòn, 7 Septembre 1926 (1-8-Bính Dần).

CAO ÐÀI- Thầy, các con: "Trung nghe con. Con biết rằng Thánh Thất đã lập tại Tây Ninh, Thầy đã cho con hiểu là Thánh Ðịa nữa. Nguyên Ðạo Thầy do nơi đó mà xuất thấu thế gian. Ấy vậy dân nơi đó là con yêu dấu của Thầy, nhưng phần đông chưa biết Ðạo là gì? Thầy rất cảm xúc, con tính sao, Trung?...".

Tìm hiểu Châu vi Nội Ô Tòa Thánh: Nhìn ra xung quanh thì Tòa Thánh nằm lệch về phía Bắc trên một vuông đất gồm có Đền Thánh, Báo Ân Từ và các dinh thự như: Giáo Tông Đường, Hộ Pháp Đường, Đầu Sư Đường nam, nữ kiến thiết theo kiểu Đạo đồ, cùng các cơ sở của các cơ quan ban bộ. Hai bên đường là Dinh thư. Đại lộ thẳng tấp:

- Đại lộ Cao Thượng Phẩm, Phạm Hộ Pháp, Cao Thượng Sanh, chạy dài theo chiều dọc, có hình Quẻ CÀN Nhưng đại lộ Hộ Pháp vẫn ở giữa, chính trung, hai lộ còn lại nằm hai bên về phía trái và phải.

- Các lộ ngang như: Oai Linh Tiên, Thượng Trung Nhựt, Thái Thơ Thanh chạy theo chiều dọc, hình quẻ KHÔN Lộ Thượng Trung Nhựt vẫn ở giữa đúng theo qui luật.

 

 

 

Hai dạng quẻ này đặt chồng lên nhau thành chữ ĐIỀN Ấy là tâm của BÁT QUÁI ĐỒ THIÊN, tức là Bát-Quái Cao Đài đó vậy. Nói rõ hơn là hình của các số Ma phương. Vùng Nội-Ô Toà Thánh có cả thảy 12 cửa. Thực tế nhân sanh sẽ không thấy cửa số 5, nhưng được thay bằng cổng Chánh Môn cũng đủ vào số 12. Bởi vì số 5 là ở chính giữa (Ngũ trung) của đồ hình như bảng Ma phương số. Thế nên số 5 là hình ảnh của "Báo Ân Từ" là ngôi Điện thờ Đức Phật Mẫu. Các cửa này đặt nghịch chiều với chiều quay của kim đồng hồ. Mỗi cửa cách nhau 300 m. có hàng rào tường bao quanh 12 cửa. Riêng cổng Chánh Môn cao 36m, ngang 60m, cổ kín Tam quan, trên nóc là 3 Cổ Pháp: "Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu" có bản đồ theo sự chỉ dẫn trước của Đức Hộ Pháp để lại.

Tuy nhiên, cổng Chánh Môn hiện nay do chi Thế là Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước lúc nắm quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài kiêm Thống Quản Hội Thánh Phước Thiện phối hợp với Tỉnh trưởng Tây Ninh là Thiếu Tướng Lê Văn Tất xây dựng theo bản đồ của Ty Kiến Thiết Tỉnh Tây Ninh, nên có hai Rồng tranh Cổ Pháp. Tại sao nói tranh Cổ Pháp? Vì bản tánh của Rồng là "Long năng biến hóa", hình Rồng hả miệng, mình uốn khúc, phải là Rồng tranh Châu thời Phong Kiếm Xuân Thu; nay đem tranh Cổ Pháp, đó là việc làm của Thời Quân Chi Thế, không đúng với bản vẽ ban đầu của Đức Hộ Pháp còn lưu lại.

1- Thầy dạy: "Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh Địa: chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi

Đạo Cao Đài làm Lễ Khai Đạo ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926) tại Thánh Thất tạm đặt tại Chùa: Từ Lâm Tự (tục gọi là Chùa Gò Kén- Tây Ninh), nằm trên Quốc lộ 22, cách thị xã Tây Ninh cũng độ 5 km.

Nguyên ngôi chùa nầy do Hòa Thượng Như Nhãn (cũng gọi là Hòa Thượng Giác Hải) góp tiền bổn đạo mua đất và xây dựng nên. Kịp khi Đức Chí Tôn giáng cơ mở Đạo, Đức Chí Tôn dùng Huyền diệu Cơ Bút độ được Hòa Thượng Như Nhãn theo Đạo Cao Đài và trở thành một vị Chức sắc Đại Thiên phong của nền Đại-Đạo, do đó nên Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm Tự cho Hội Thánh Cao Đài làm Thánh Thất tổ chức Lễ Khai Đạo. Nhưng sau ngày Lễ Khai Đạo, Hòa Thượng Như-Nhãn một phần bị mất đức tin, một phần bị nhà cầm quyền Pháp bấy giờ xúi giục và hăm dọa, nên Hòa Thượng Như Nhãn không theo Đạo Cao Đài và đòi chùa lại, không hiến nữa. Hội Thánh Cao Đài phải trả chùa cho Hòa Thương Như Nhãn, hứa trong ba tháng sẽ tìm đất để dọn đi.

"Kể từ Rằm tháng 10 năm Bính-Dần (1926) tới Rằm tháng Giêng Đinh-Mão (1927) là đúng kỳ hứa trả Từ Lâm Tự (Gò Kén) là ba tháng, nhưng tới tháng 2 năm Đinh Mão, đã quá kỳ hạn một tháng mà Hội Thánh chưa trả chùa lại được, vì chưa kiếm được đất để mua, còn Ông Hòa Thượng Giác Hải thì cứ đòi chùa lại hoài" (Đạo-Sử I/51). Vì sự đòi Chùa ấy nên Đức Lý Giáo Tông giáng dạy tại chùa Gò Kén ngày 19-01-Đinh Mão (dl: 20-2-1927)

"Ngày nay Lão nhứt định chùa nầy trả lại. Song trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh Địa. Vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Chí Tôn không chịu.

Thượng Trung Nhựt! Phải làm thế nào chừa đất dư ra ít nữa là 50 mẫu là cả trọn bản đồ Bạch Ngọc Kinh và cho đủ Thánh địa ấy. Hiền hữu đi chọn đất về cho Lão hay, cầu khẩn Chí Tôn nghe!" (Trích Đạo-Sử. II/ 222)

Hôm sau, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 20-01-Đinh Mão (dl: 21-2-1927) Đức Chí Tôn giáng dạy như sau: "Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh Địa. Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh dạy dỗ dân vô đạo, Thầy ban đặng quyền thưởng phạt, đặng răn làng ấy cho đến ngày chúng nó biết ăn năn cải hóa. Vậy thì Làng Long Thành, các con khá an lòng. Còn Tòa Thánh thì muốn để cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước. Từ Thầy đến lập Đạo cho đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. Các con lựa chọn nơi nào mà Hội Thánh vừa lòng thì là đẹp lòng Thầy. Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi. Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm mỗi sự chi về phương tiện mà thôi.

THƠ! Thầy giao cho con góp tư bổn trong một tháng cho rồi, dặn các em con rằng: "Danh thể Đạo nơi Tòa Thánh, nghe à!" Sau Thái Bạch sẽ dạy con kiểu vở.

Tuy nhiên Thầy cũng nêu lên nhiều địa điểm thuộc vùng Tây Ninh Thánh địa, nhưng Thầy có phân tích sự lợi hại của mỗi nơi, như: Cẩm Giang thì các con phải chịu khổ về phần ăn uống, Bến-Kéo thì địa thế hẹp hòi, chớ chi các con khôn ngoan lấy cớ rằng, vì ích lợi lương sanh, vì đạo đức mà ký Chánh phủ cho các con mé rừng Cấm bên kia đường thì đẹp lắm. Các con liệu thử. Thơ! Suối Vàng thì đặng, phương chuyên chở không thuận tiện, song phong thổ tốt đẹp. Con cũng yêu cầu Hội Thánh xét nét, nghe à! Thầy ban ơn cho các con." (Ðạo Sử. II. 223)

Tiếp theo, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 21-01-Đinh Mão (dl: 22-02-1927) Đức Lý Giáo Tông giáng:

"Thượng Trung Nhựt! Thái Thơ Thanh! Cười! Nhị vị Hiền Hữu muốn cho Đạo phải mang tiếng rằng: Trốn lánh hay sao mà tính dời Tòa Thánh xa dữ vậy hử? Tỷ như Lão muốn lập Tòa Thánh gần bên thành binh, chư Hiền Hữu tưởng sao?

-Trung bạch: Có hai làng cúng đất.- Mua thì đặng, khó gì! Một nơi chí Thánh trước mắt mà chư Hiền Hữu chẳng biết xem, ấy cũng còn hai phần phàm. Thái Thơ Thanh! Lão cậy Hiền Hữu một phen nữa, mai nầy đi lên đường trên gọi là đường dây thép, nhắm địa thế dài theo cho tới ngã ba Ao Hồ, coi Hiền Hữu thấy đặng chăng cho biết. Lão đã nói rằng: Mỗi sự chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết. Chư Hiền Hữu đừng sợ ai hết, hễ sợ thì chối quyền Thiêng liêng của Chí Tôn thì còn gì Đạo! nghe à!" (Đạo-Sử. II./ 224)

2- Lão cắt nghĩa vì sao cuộc đất ấy là Thánh Địa?

Đức Lý giáng dạy đêm 23-01-Đinh Mão (dl: 24-02-1927), tại chùa Gò Kén: "Sâu hơn 300 thước, như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa 6 nguồn, làm như 6 con rồng đoanh nhau. Nguồn nước ấy trúng ngay đỉnh núi, gọi là LỤC LONG PHÒ ẤN. Ngay miếng đất đó đặng 3 đầu: Một đầu ra giếng mạch Ao hồ, hai đầu nữa bên cụm rừng bên kia. Người Lang sa chỉ đòi 20 ngàn, nói rồi trả đúng có 15 ngàn, Lão dặn thì thành trả 17 ngàn, 18 ngàn thì đặng vậy. Còn xin khai khẩn miếng đất rừng bên kia nữa mới trọn. Đất nay còn rẻ, miếng đất chung quanh Thánh địa ngày sau hóa vàng. Chư Hiền hữu biết lo lập, ngày sau rất quí báu.

3- Vị trí cất Đền Thánh tạm hiện thời:

Đức Lý Giáo Tông dạy: "Thánh Thất tạm cất trên miếng đất trống. Ngay trung tim rừng cách miếng đất trống chừng 3,50m đóng một cây nọc, đo Hiệp Thiên Đài như vầy: ngoài Bàu Cà Na đo vô chừng 50m đóng một cây nọc, ấy là khuôn viên Tòa Thánh. Lão dặn: Từ cây nọc phía bên miếng đất đo vô Bàu Cà Na 27m tây. Nghe à!". Tư vuông 27 thước, mỗi góc của Bát Quái Đài, nghĩa là hình nhà tròn có tám nóc, cao từ dưới đất lên thềm 9m, phân làm tám nóc.

-Trên Điện Bát-Quái-Đài bề cao 9m, hình nóc tròn mô lên có tám nóc phân minh, trên đầu phải để một cây đèn màu xanh,

-Kế nữa là Chánh Điện bề dài 81m, ngang 27m (81x 27). Hai bên Hiệp Thiên Đài mặt tiền có Lôi Âm Cổ Đài, bên trái có Bạch Ngọc Chung Đài. Lão phải vẽ mới đặng…". [Gò Kén ngày 27 tháng 1 Đinh Mão (dl: 28-02-1927)]

4- Đức Lý dạy cất Đền Thánh theo kiểu Thiên đình:

Thánh Giáo ngày 07-02-Đinh Mão, Đức Chí Tôn dạy Ngài Phối Sư Thái Thơ Thanh lo lập Thánh Thất. Ngài bạch: "Xin đúc nền Tòa Thánh bề cao 9m theo kiểu của Đức Lý Đại Tiên".

Đức Chí Tôn dạy: "Tốn kém nhiều lắm con! Bính, con đo từ mé rừng dưới vào cho tới 50m, bỏ miếng trảng vào tới 50m, rồi 81m, rồi kế 27m; làm như vậy Thánh Thất nằm trọn vào rừng mà thành ra như bao quanh một vườn thiên-nhiên rất đẹp…Khi cất, con nhắm thế nào cho nọc Bát Quái Đài và Hiệp Thiên Đài cho ngang mặt trời phía Tây thì trúng, con nhớ nghe!"

Đức Lý Giáo Tông dạy: "Cười… Họa đồ của Lão, Chí Tôn chê và trách rằng: hao tốn vô nền nặng lắm. Chí Tôn sửa lại mỗi cấp ba tấc tây mà thôi. Dưới đất năm tấc, chín cấp ba tấc là 2,70m cộng 5 tấc là 3,20m. Còn 10m thì chí đầu trong nền Bát Quái Đài. Trên đầu song chí nóc 13m mới khỏi đọng nước mưa phải mục. Nóc Đại Điện và Hiệp Thiên Đài cũng y như vậy. Phải làm plafond hai Đài Chuông, Trống cao hơn nóc Hiệp Thiên Đài 6 thước".

1/- Đèn vàng ngay nóc Điện Bát Quái.

2/- Đèn xanh ngay giữa Đại Điện làm hình Long Mã Phụ Hà Đồ.

3/- Đèn đỏ để Hiệp Thiên Đài.

Do vậy mà Đền Thánh hiện nay xây dựng bằng bê tông cốt sắt nằm trên Lục Long Phò Ấn, trung tâm Thánh Địa, vẫn còn là tạm; vì Chí Tôn dạy cất ngôi Tổ Đình trong sân Đại Đồng Xã. Đền Thánh được khởi công xây cất vào ngày 23 tháng 10 Tân-Mùi (1931), phải trải qua thời gian bốn lần kiến tạo mới hoàn thành vào năm Đinh Hợi (đầu năm 1948):

1/- Lần thứ nhất đào hầm Bát Quái, đổ bê-tông do Ngài Thái Chánh Phối Sư - Thái Thơ Thanh lãnh đạo- rồi bị ngưng trệ vì cuộc nội phản. (1931).

2/- Lần thứ hai do Đức Quyền Giáo Tông và Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh đảm nhiệm. (1932).

3/- Lần thứ ba do Ngài Tiếp-Thế Lê Thế Vĩnh lãnh vận động, mướn Bác Vật Phan Hiếu Kinh khởi làm Lầu Hiệp Thiên Đài, đúc cột được phần ít rồi cũng phải ngưng. (1933).

4/- Lần thứ tư do Đức Hộ Pháp lãnh đạo khởi công vào ngày 01-11-Bính Tý (1936), tiếp tục kiến tạo đến ngày 30-12 Đinh Hợi (dl: 24-01-1948) mới hoàn thành trọn vẹn.

5- Tạo tâm đức hiến thân – thủ trinh:

Phương pháp nào đạt kết quả qua ba lần thất bại không hoàn thành Thánh Tòa được? – Do Đức Hộ Pháp khéo léo tạo tâm đức cho con cái Chí Tôn, người Phạm Môn, Phước Thiện đảm nhận tình nguyện trường trai và thủ trinh hiến thân làm công quả cho đến ngày làm xong Đền Thánh. Nhờ vào đức tin mãnh liệt đó mới sớm hoàn thành hình tượng Bạch Ngọc Kinh tại thế.

- Trong giai đoạn nầy đến năm Tân Tỵ (1941) nhằm ngày 25-05 phải tạm ngưng vì Pháp bắt Đức Hộ Pháp lưu đày sang đảo Madagascar. Mãi đến 30-08-Bính Tuất (1946) Đức Ngài được trở về nước nhà, điểm tô thêm bốn tháng nữa, thợ hồ mới làm lễ bàn giao Đền-Thánh cho Hội Thánh (03-01-Đinh Hợi). Đức Hộ Pháp cho tổ chức cuộc lễ Khánh Thành Tòa Thánh trong vòng 10 ngày, kể từ ngày 6 đến 16 tháng giêng năm Ất Mùi (dl: 29–01 đến 8–2–1955), Đức Ngài cho diễn ba vở tuồng cổ: San Hậu, Tiêu Anh Phụng, Hoàng Phi Hổ Tây Châu.

6- Những bí mật của Đền Thánh:

Đền Thánh là hình trạng Bạch Ngọc Kinh tại thế, kiến trúc theo Thiên Đình thể hiện cổ kim tổng hợp, đúc kết tinh hoa hai nền văn minh Âu Á về khoa học lẫn Đạo học. Từ xa nhìn vào nhận diện nó là con Tu vật: một con LONG MÃ QUÌ đem nguồn sống vĩnh sanh cho loài người, bởi bên trong nó là Pháp giới gồm có:

- Bát Quái Đài thể hiện Bạch Ngọc Kinh,

- Cửu Trùng Đài thể hiện Cửu Thiên Khai Hóa,

- Hiệp Thiên Đài là hình trạng Cung Hiệp Thiên Hành Hóa, trên Diêu Trì Cung một cảnh giới.

Muốn vào Bát Quái Đài, trước phải vào Hiệp Thiên Đài là cửa Trời – Người hiệp nhứt, rồi qua Cửu Trùng Đài phải chịu sự khảo duợt của Cửu phẩm Thần Tiên, chịu nỗi rồi mới vào Bát Quái Đài được, bằng chẳng phải thối bước. Đền Thánh uy nghi như thế, vẫn còn tạm. Sau đây phải xây cất Tổ Đình theo Thánh Giáo của Đức Chí Tôn mà nền móng Bát Quái Đài đã xây xong vào năm Canh Ngọ (1930) tại trụ phướn (mặt trước của Đền).

7-Tội cho Thành Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh, Huế, Hải Phòng, Hà Nội...

"Lão tưởng chẳng cần nói chi một nước nhỏ nhen đã đặng danh Thánh Ðịa là Nước Nam nầy, mà Lão xin không đặng tội cho Thành Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh, Huế, Hải Phòng, Hà Nội... Thảm! Thảm! Thảm!"

 

 

THÁNH ĐỊA LONG THÀNH

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh.

Ra sức mạnh non cao đốn gỗ,
Tạm nhứt thời lợp đỡ Chùa tranh.
Dời qua Thánh-Địa Long-Thành,
Ra tiền mua đất Tây-Ninh cụm rừng.

 

 

THÁNH ĐIỆN (Phật Học)

Thánh điện 聖殿; S: caitya; P: cetiya; Nơi các vị Tỉ-khâu ngày xưa hội họp và ngồi thiền. Về sau, Thánh điện này không còn được chú trọng và hòa nhập lại thành Chính điện, nơi thờ tượng của đức Phật.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

THÁNH ĐIỀU

Bài thài hiến lễ Đức Quyền Giáo Tông có câu:

Càn khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm riêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo xủ phướn Tiêu Diêu.

 

 

THÁNH ĐỨC


E: The virtue of Saint.
F: La vertu de Saint.

Thánh đức 聖德 là Cái đức độ của bậc Thánh.

Đường Thánh đức là Đường để đạt được bậc Thánh, tức con đường đạo đức. Ngay trong buổi sanh tiền, người Môn đệ của Chí-Tôn có theo con đường Thánh đức thì khi thoát xác mới biết nhớ đến câu Kinh mà người người lo tế độ:

Trên đường Thánh đức lần dò,
Trường sanh mầu nhiệm nơi lò Hóa công.

Đức Hộ Pháp nói: "Hôm nay, Bần-Đạo giảng về "Luật nhân quả vay trả của nhân-lọai" trong thời-kỳ Hạ nguơn hầu mãn bước sang thời kỳ Thượng-nguơn Thánh-Đức. Các con ráng ẩn-nhẫn để Ông Trời hát từ màn cho các con coi; các con trông cho đời mau tới, tới chừng tới các con khóc mẹ, khóc cha luôn. Bần-Đạo nói thật cái quyền năng vô đối của Đức Chí-Tôn một nháy mắt không còn một sanh mạng nơi quả địa cầu này, không cần một tích-tắc đồng hồ, những nhân nào quả ấy trả cho rồi đặng lập đời Thánh-Đức mà thôi".

Kinh Giải Oan có câu:

"Luật Nhân quả để răn Thánh Đức,
"Cửa luân hồi nhắc bực cao siêu
"Dầu chăng phải mực Thiên điều,
"Cũng quyền tự chủ dắt dìu thiên lương."

 

 

THÁNH GIANG

Đức HỘ-PHÁP dạy "Đất Thánh là nơi tạm gởi Thánh Cốt con cái Đức Chí Tôn cho đến ngày mãn một đời Giáo Tông, là thiêu cốt lấy tro làm nên một khối lớn đem vô để nơi hầm Bát-Quái-Đài; tro đầu, trên Hạ Đơn-Điền, tay chơn là đem vô khối ấy, có dư bao nhiêu thì có Lễ long-trọng đem xuống sông Cẩm-Giang đổ. Cẩm Giang tức là Thánh Giang như sông Gange vậy. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

THÁNH GIÁO

Chữ Thánh giáo có nhiều nghĩa tùy trường hợp nhưng nghĩa chánh vẫn là dạy con người làm nên bậcThánh Hiền:

1. Thánh giáo là nền đạo của Đức Chí Tôn:

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Vì vậy mà Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu mà chấn hưng nền Thánh giáo.

2. Thánh giáo là lời dạy bảo của Đức Chí Tôn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Con được phép cho mấy anh con coi Thánh giáo của Thầy.

3. Thánh giáo là lời dạy bảo của các Đấng thiêng liêng. Td: Thánh giáo của Đức Lý Giáo Tông.

Nghĩa thường dùng: Thánh giáo là các bài văn giáng cơ dạy đạo của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng. Trường hợp nầy, Thánh giáo đồng nghĩa Thánh Ngôn.

Đức Hộ Pháp nói: "Chúng ta thấy Đức Chí-Tôn đến: Trước hết Ngài mở ra Cơ Bút dạy bằng Thánh giáo. Nhưng khi chưa đến thì đã có Đức Phật-Mẫu đến với chúng ta lập thành khuôn khổ một mực: dầu cho cơ quan nào "Dĩ tiểu vi đại" cũng vậy. Bà Mẹ phàm chúng ta sản xuất nuôi dưỡng chúng ta thế nào thì Phật Mẫu cũng thế ấy". (15-8 Mậu-Tý - 1948)

Đây, Thánh giáo Thầy dạy cho người Pháp hầu Đàn: "Chúa Cứu Thế đã đến với các con. Người đã phải chịu đổ máu Thánh để chuộc tội cho loài người. Trong 2000 năm vắng mặt Người, các con đã làm gì hữu ích? Các con truyền bá đạo Người, nhưng chính các con cũng không hiểu chi cả. Các con lại làm sai lạc bản chất, tôn chỉ của nền Thánh giáo. Nhân loại phải chịu đau khổ vì sự biến thể của các Thánh Tông đồ."

Thầy dạy: "Ôi! Lốt Ðạo, lốt Ðạo, Thầy buồn cho trẻ ngây, chẳng còn biết làm sao đem Thánh giáo vào tai chúng nó được. Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo, chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình; giày gai áo bã, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giạu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ chánh giáo.Thầy hỏi: Ai chứng cho?"

 

 

THÁNH GIÁO GIA TÔ

"Đức Jésus de Nazareth (gọi Christ) bởi lòng Nhơn Cứu thế lập nên Thánh Giáo Gia-Tô; Ngài mượn bác ái nhân sanh đặng thế mặt Chí-Tôn khai hóa, xem phổ tế chúng sanh rằng trọng, nên chuyên lo giúp khó trợ nghèo: dỗ kẻ dữ, dạy người ngu, ngó chơn thật mạng sanh hành thiện đạo, diệt dị đoan, trừ mê tín, dụng Chơn lý để răn đời, nhìn lương tâm là hình ảnh của Trời, lấy trí tuệ vẽ tươi Thiên cảnh." (trích Khuê bài Thiêng liêng vị của Ðức Phạm Hộ Pháp)

Đức Hô-Pháp nói: "Đến thế-kỷ 19 Thánh-Gíáo Gia-Tô đem đến nước ta truyền-giáo mới thành một trường nhiệt-liệt đua tranh quyết chinh-phục hết thảy tất cả các Tôn-giáo khác. Bần Đạo tưởng ai có đọc tờ phúc-sự năm 1937 đều biết rõ, Bần Đạo đã giảng rõ-ràng nguyên-do đó, thành thử Việt Nam có nhiều Đạo quá nên thành không Đạo!"

Một lần Đức Hộ Pháp hỏi: - "Thưa Thầy theo như luật lệ Thánh-giáo Gia-Tô Thầy truyền tại thế thì Thầy cho Giáo Tông trọn quyền về phần hồn và phần xác: Người nhờ nương quyền hành cao trọng đó, Đạo Thánh mới có thế-lực hữu-hình như vậy. Đến ngày nay Thầy giảm quyền Giáo Tông của mấy con về phần hồn đi, thì con sợ e cho Người không đủ quyền lực mà độ rỗi chúng-sanh chăng?

Thầy đáp…"Cười! Ấy là một điều lầm-lạc của Thầy, vì nặng mang phàm thể mà ra, Thầy cho một người phàm đồng quyền cùng Thầy về phần hồn thì nó lên ngai Thầy mà ngồi, lại nắm quyền-hành Chí Tôn ấy đặng buộc nhơn-sanh phải chịu lòn cúi trong vòng tôi-tớ của xác thịt. Hơn nữa cái quyền-hành quí-hóa ấy, Thầy tưởng vì thương mà cho các con, nào dè nó là một cây gươm hai lưỡi để giục loạn cho các con. Nay Thầy đến chẳng phải lấy nó lại, mà Thầy chỉ đến làm cho tiêu-diệt cái hại của nó, nếu muốn trừ cái hại ấy thì chẳng chi hay hơn là chia đôi nó ra, không cho một người nhứt thống. Kẻ nào nắm trọn phần hữu-hình và phần thiêng liêng, thì là độc chiếm quyền chánh-trị và luật-lệ, mà hễ độc chiếm quyền chánh-trị và luật lệ vào tay, thì nhơn-sanh chẳng phương nào tránh khỏi vòng áp chế. Như Thầy để cho Giáo Tông trọn quyền về phần xác và phần hồn (nghĩa là Đạo và Đời) thì "Hiệp Thiên Đài" lập ra chẳng là vô-ích lắm sao con?

"Cửu Trùng Đài là Đời, Hiệp Thiên Đài là Đạo. Đạo không đời không sức, Đời không Đạo không quyền; sức quyền tương-đắc mới mong tạo thời cải thế, ấy là phương hay cho các con liên hiệp cùng nhau, chăm-nom săn-sóc lẫn nhau, mà giữ vẹn Thánh-giáo của Thầy cho khỏi trở nên phàm-giáo". (Pháp Chánh Truyền)

 

 

THÁNH GIÁO PHÁP

Ông Allan Kardec là Văn sĩ Thần Linh Học Pháp thế kỷ 19. Quí danh Ông là Hippolyte Rivail, bút hiệu Allan Kardec (1804-1869).

Năm 1853, Allan Kardec lập thành học thuyết Thần Linh Học Pháp, có công truyền bá Thần Linh Học ở nước Pháp và nhờ Ông mà Học thuyết Thần Linh Học được hệ thống hóa. Ông có viết hai tác phẩm về Thần Linh Học là: Le livre des Esprit (Sách về Thần linh) và Le livre des Médiums.

Các đồng tử Cao-Đài nhận được Thánh giáo phát xuất từ Allan Kardec, Léon Denis, Camille Flammarion, Descartes, Jeanne d’Arc, Chateaubriand …nhứt là Victor-Hugo và gia đình Victor-Hugo. Người Việt Nam nói rằng nhiều vị lãnh đạo Tôn giáo Cao-Đài là hóa kiếp của nhiều Victor-Hugo. Nhiều sự kiện khá lạ lùng khiến người ta tin như vậy. Trong vài Thánh Thất có hình của Victor-Hugo.

Ông Léon Denis cũng là Văn sĩ Thần Linh học Pháp ở thế kỷ 19. Ông có viết quyển "Sau khi chết" rất đáng chú ý.

Ông Camille Flammarion là nhà Thiên văn Pháp giữa thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 (1842-1925) sáng lập Hội Thiên văn học Pháp năm 1887.

Ông René Descartes (1596-1650) là Triết gia và Khoa học gia người Pháp thế kỷ 17. Ngoài những khám phá khoa học nổi tiếng của Ông, ông còn viết sách sáng lập Triết học tân thời. Theo Ông thì khả năng thiết yếu của con người suy tư là lý trí, những nhà tìm tòi khám phá những chân lý cao cả nhứt nhờ lý trí hướng dẫn. Ông sanh năm 1596, mất năm 1650.

Bà Jeanne d’Arc là Nữ Thánh và cũng là anh hùng cứu nước Pháp thế kỷ thứ 15 (1412-1431), tiền kiếp của Lục Nương Diêu-Trì-Cung. Nàng bị hỏa thiêu vào năm 19 tuổi.

Ông Francois René de Chateaubriand (1768-1848)

Thuộc dòng dõi quí phái được xem như người khởi xướng chánh của Thi văn lãng mạn Âu Châu, ông phục hưng tình cảm Tôn giáo trong tác phẩm của Ông , ông còn là Sử gia và phê bình văn chương nữa.

Đức Victor-Hugo là tiền kiếp của Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn. Tác phẩm "Messages Spirites de la 3è Amnistie de Dieu en Orient’ xuất bản năm 1962 của Ngài Phối Sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) có đề cập nhiều đến Đức Ngài và hai con của Ngài là Francois Hugo và Charles Hugo. Bản dịch Việt văn "Những Thông điệp thuộc Thần Thông học của "Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ" hay là Thánh giáo Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ có nói nhiều đến Đức Victor-Hugo và hai con của Ngài.

Moise: Nhà lãnh đạo của dân Do Thái thời Thượng cổ, lúc dân Do Thái bị các Pharaon Ai Cập bắt làm nô lệ. Moise được Ðức Chúa Trời chọn, vâng lịnh Ðức Chúa Trời dẫn dắt dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ, đến định cư và dựng nước ở đồng bằng phì nhiêu dưới chân núi Sinai. Ðức Chúa Trời giao cho Moise 10 Ðiều Răn để dạy dân Do Thái, các giáo lý, cách thờ phượng Ðức Chúa Trời, tạo thành đạo Do Thái thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ.

Jean Baptiste: Thánh Jean Baptiste là nhà tiên tri sửa soạn sự xuất thế của Chúa Jésus. Ông làm phép Giải Oan cho Chúa ở bờ sông Jourdain và xác định đây là Chúa Cứu Thế. Ông bị tử đạo năm 28 do lịnh của Salomé. Lễ kỷ niệm Ông hằng năm vào ngày 24 tháng 6.

Élie: ở Thi-sê-be, nhà tiên tri người Do Thái thời vua Do Thái là A-hap, sau thời Thánh Moise xa lắm, vâng lời Ðức Chúa Trời đến ở khe Kê-rit, đối ngang sông Jourdain. Élie với học trò là Élisée, vâng lịnh Ðức Chúa Trời, đi đến bờ sông Jourdain, Élie lấy áo tơi cuốn lại đập trên nước thì nước sông rẽ hai cho 2 người đi qua sông, rồi Élie được Ðức Chúa Trời rước lên Trời trong một cơn gió lốc. Élisée tiếp nối Élie làm tiên tri của dân Do Thái.

 

 

THÁNH GIÁO TÂM KINH

(Do hai vị Đầu Sư Thượng Trung nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt giải trong Tứ thời Nhựt tụng, năm 1928)

Thánh Giáo Tâm Kinh xưng tụng Đức Văn Tuyên. Cũng vậy, nhưng niệm danh Khổng Thánh là vị Hưng Nho. Cúng đàn cũng ngày của Khổng Thánh.

1-

 

"Quế hương nội điện, Văn Thỉ thượng cung"

Giải:

 

Ðền quế hương mùi bay thơm ngát,
Gốc vốn là trên cõi Thượng Thiên.

Mùi quế hương nực chốn nội Điện, Ðức Văn Xương ở căn đầu nơi chốn thượng cung. Sách có câu "Lam bào nhả quế hương". Khi xưa hễ người thi đỗ Trạng thì vua ban cho cái áo Lam Bào và cho đi vu khai ba ngày cho rõ danh thơm, thì được tiếng thiên hạ ngợi khen thơm tho nực như mùi quế hương bay khắp vậy. Còn về văn khoa đấu tự thì có tích ông Ðậu Yên Sơn sanh ra năm người con trai được sự ứng mộng của cha bảo tu nhơn, tích đức thì năm đứa con ấy sau nầy sẽ nên danh. Ông vâng lời cha phát nguyện lòng lành lấy nghĩa phương giáo tử. Nhờ đó năm con của ông học hành rất tiến, đồng thời ông có trồng năm cây quế trước sân. Ðến khi năm người con trai ông vào trường thi đều được danh đề Kim bảng, đời truyền là: "Ngũ quế đường khai".

2-

 

"Cửu thập ngũ hồi, Chưởng thiện quả ư, thi thơ chi phố"

Giải:

 

Chín lăm lần xuống xuống lên lên,
Gieo trái Ðức, Văn chương, Nhơn nghĩa.

Ðức Văn Xương ở cõi Thượng Cung, chín mươi lăm lần luân hồi gieo trái lành nơi vườn Thi Thơ. Trong Kinh Ðiển ghi chép Ðạo Thánh dạy việc lành là: Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Thành ra cho nên lấy Kinh Ðiển làm vườn, lấy việc lành làm giống, trái ngon trồng tỉa, đặng lưu truyền cho đời đám ruộng gọi rằng "Tâm Ðiền" vun bồi cội quế thơm tho, con cháu gìn giữ ruộng đất nối đời hưởng dùng không cùng.

3-

 

"Bá thiên vạn hóa, Bồi quế thọ ư, âm chất chi điền"

Giải:

 

Trăm lần phải sanh sanh hóa hóa,
Vun quế hòe, âm đức, tâm điền.

Trăm ngàn lần hóa thân cũng lấy đức âm chất gieo làm đám ruộng gọi rằng Tâm Ðiền, vun bồi cội quế thơm tho, con cháu gìn giữ ruộng đất nối đời hưởng dùng không cùng.

4-

 

"Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh"

Giải:

 

Văn tự linh hơn sấm lôi,
Linh hơn linh điểu mở thông Ðạo người.

Ðời Thượng cổ chưa có văn tự thì lấy gút để nhớ việc. Ðến đời vua Phục Hi có Long Mã phụ đồ, vua Phục Hi vạch Bát Quái Ðồ chế ra văn tự. Qua đời Huỳnh Ðế có ông Thượng Kiết trí tuệ thông minh: trên thì biết xem tượng sao, dưới thì xét soi dấu chim, chế làm văn tự. Khi văn tự thành rồi thì Trời mưa luôn ba ngày, quỷ ban đêm khóc. Từ đó văn tự mở mang trong thiên hạ, người đều tấn hóa. Quỉ khóc bởi sợ có chữ ghi chép chơn lý đạo đức, người người đều theo chơn đạo bỏ tà thuyết thì quỉ đạo phải bị tận diệt. Khi Ðức Khổng Tử làm kinh Xuân Thu, sách Hiếu Kinh rồi thì quì lạy về ngôi Bắc Ðẩu tỏ bày ý nghĩa của mình làm kinh sách. Trời liền mưa ròng ba ngày có móng đỏ từ trời sa xuống hóa ra sắc vàng trên có chữ "Xuất sách cố tự".

5-

 

"Chí như ý từ, tường ư ngao trụ"

Giải:

 

Chí lành hiệp với ý lành,
Cự Ngao chở nổi núi non đức dày.

Chí như lời đạo đức ý tứ uyên thâm cảm động lòng Trời, lời ý hiền lành hơn Ngao Trụ đã chống vững năm hòn núi nơi biển Bột Hải. Ngao Trụ là núi Ngao. Ở phía Ðông biển Bột Hải có năm hòn núi: 1/- Núi Ðại Dư 2/- Núi Viên Kiều 3/- Núi Phương Hô 4/- Núi Dinh Châu 5/- Núi Bồng Lai. Năm hòn núi nầy các vì Thánh Tiên thường ở tại đó, núi không chơn, thường trôi theo nước lớn nước ròng. Các vì Tiên Thánh bèn tâu với Ngọc Ðế nghe. Ngài sợ núi ấy để vậy thì trôi ra tứ phía mới sai mười lăm con Cự Ngao cất đầu đội năm hòn núi ấy vững lại chẳng cho trôi nữa mà lại phân làm ba phiên, mỗi sáu muôn năm đổi một lần. Về sau hễ ai thi đỗ Trạng thì gọi độc chiếm Ngao Ðầu. Ðến như nay mà lòng người ý thành, chắc thiệt một dạ nhân từ thì phước đức để cho con cháu lâu dài. Thì ra chẳng qua là một đời vinh hiển sang trọng đó thôi, sao bằng phước đức để đời đời lưu truyền con cháu hưởng không cùng.

6-

 

"Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu"

Giải:

 

Trau tâm gốc cội con người,
Hiếu thảo cha mẹ mới nên đạo người.

Còn việc giáo hóa thì Ðạo Nho mở rộng lòng người, dạy con người phải thờ cha kính mẹ, lấy chữ hiếu làm gốc.

7-

 

"Thọ quốc mạch tất tiên, ư trí chúa chi trung"

Giải:

 

Ơn nhà nợ nước trước xong,
Công ơn bảo hộ Vua lành Tôi ngay.

Kẻ nhơn, thần tâm phải vững bền như mạch nước, phải hết lòng trung, liều mình cùng chúa, dầu cho ngàn cay muôn đắng vào sanh ra tử, đạp sỏi vày sành cũng chẳng nao lòng thối chí. Còn như các Ðấng đã dày công dạy dỗ ta nẻo chánh đàng ngay thì ta phải làm thế nào cho khỏi phụ các Ngài.

8-

 

"Ứng mộng bảo sanh, Thùy từ mẫn khổ"

Giải:

 

Ðiềm lành báo mộng lợi nhơn,
Dù cho khổ cực nhưng mà chí cao.

Còn phận làm vua thì phải có lòng nhơn từ, bảo hộ sanh linh thương xót những kẻ dân nghèo. Hễ có lòng thương dân nghèo khổ thì khiến cho mình có tư tưởng hay nằm chiêm bao. Sách chép: Châu Võ Vương có lòng đạo-đức tư tưởng thường, cho nên chiêm bao thấy ông Châu Công ứng mộng bảo làm lành. Võ Vương là vì vua không ra hành chánh hiệu lịnh, chỉ lo làm việc đạo đức bảo hộ sanh linh, để lòng nhơn từ thương người khổ nạn...

9-

 

"Ðại Nhơn, Ðại Hiếu, Ðại Thánh, Ðại Từ"

Giải:

 

Nhơn, hiếu rộng tâm lành sáng chói.

Nhơn lớn thì ơn lớn, thánh đức lớn từ bi cũng thiệt là lớn.

10-

 

"Thần văn, Thánh võ, Hiếu đức trung nhơn"

Giải:

 

Văn có Thần gốc Hiếu Nghĩa Nhơn,
Võ nơi thông rõ âm dương.
Hiếu cha thảo mẹ đứng đầu Ðạo Nho,
Ðức ấy thiệt Tâm làm âm chất.
Ðạo thờ Vua một mực thẳng ngay,
Chữ Nhơn gồm bộc Ðạo Nho.

Một là hiếu thuận, hai là nhơn từ, ba là trung tín, bốn là đức hạnh; nghĩa là bốn đức khiêm cung đủ vậy.

11-

 

"Vương Tân sách phụ, Nho Tông khai hóa"

Giải:

 

Ngôi vua không nước dạy rành nhơn luân,
Dựng Nho Giáo khai minh bổn thiện.

Ðức Khổng Thánh đi châu du, các nước đều nghinh tiếp Ngài gọi là vì Vương Tân (khách của vua). Vì Ngài hay giúp vua làm điều nhơn đạo, đàm luận chánh giáo, hễ nước phải Đạo thì Ngài đến, nước chẳng phải Đạo thì Ngài lui, tới lui thong thả nên gọi là ngôi Vương Tân, Ngài mở mang giáo hóa nên Ngài là Giáo chủ trong Ðạo Nho vậy.

12-

 

"Văn Tuyên Tư Lộc, Hoằng nhơn Ðế quân"

Giải:

 

Tố Vương rày tặng Văn Tuyên,
Ðế Quân đức cả sáng rày thinh thinh.

Vua Văn Tuyên hay việc thi cử khoa lộc là vì Ðế Quân nhơn đức rộng, tánh chất thiệt ngay thẳng chánh sáng, báu rạng hiền lành.

13-

 

"Trừng chơn chánh quang, Bửu Quang từ tế Thiên Tôn"

Giải:

 

Thiên Tôn chấp chưởng cầm quyền Ðạo Nho.

Trong tốt, chắc thiệt, ngay thẳng, sáng láng, lành thương tế độ là vì Bửu Quang Từ Tế Thiên Tôn.

 

 

THÁNH HIỀN


E: Saint and Sage.
F: Saint et Sage.

Thi văn dạy Đạo rằng:

Noi chân theo dõi Thánh Hiền xưa,
Từng tuổi đời qua cũng đã vừa.
Khôn khéo khá lo âm chất để,
Phẩm Tiên nẻo tục chẳng thừa ưa.

 

 

THÁNH HÌNH

Thánh hình 聖形 là thân hình Thiêng liêng của con người. Nghĩa như chữ Thánh thể

Buổi Tam Kỳ Đức Chí-Tôn không có giáng trần như các Giáo chủ trước đây là phải tá mẫu đầu thai, nghĩa là phải có xác trần. Nay Ngài phải dùng Huyền diệu Tiên gia là Cơ Bút để giáo Đạo, ngoài ra còn phải lập Hội Thánh làm Thánh Thể thay thân cho Ngài, để làm nhiệm vụ của Ngài giao phó gọi đó là Thánh hình, là tạo nên hình Thánh đặng đủ năng lực mà cứu đời. Tức nhiên Đức Chí-Tôn đến với nhân loại lần này đặng ban cho mối Đại-Đạo chánh truyền mà Đức Hộ Pháp nói: "Đại Từ-Phụ đến, Ngài đã nói quả quyết Ngài đến để Ngài chia khổ cùng con cái của Ngài, vậy nếu Ngài không có hình trạng thế nào Ngài chia khổ ấy được; tức nhiên Ngài phải làm thế nào Ngài có hình mà chớ, muốn cho ra cái Thánh-hình của Ngài không phương chi hay hơn là Ngài tụ họp con cái hiền lương của Ngài đặng lập thành Thánh-Thể tức nhiên cái hình Thánh của Ngài; chúng ta thường gọi là Hội-Thánh. Ấy vậy Ngài đến Ngài chia khổ, Ngài lập Hội Thánh tức nhiên Ngài lập hình ảnh của Ngài. Hình ảnh của Ngài nó có đẳng cấp trật tự cả Thiên Phong Chức Sắc của Hội-Thánh từ Giáo-Hữu đổ lên là Thánh hình của Ngài, chẳng khác nào như cái đầu. Còn cả toàn thể con cái của Ngài từ bực Lễ-Sanh đổ xuống, tỷ như tay chân thân thể của Ngài, Ngài lấy cái đại thể Chơn Giáo của Ngài đã lập giáo thành tướng của nó tức là cái gia đình Đạo giáo.

Ấy vậy Chơn Truyền của Ngài đã đặt trên thế gian này là gia đình Đạo giáo của Ngài tức nhiên gia đình tinh thần. Bây giờ ta lại luận hình thể của đời, bất kỳ xã hội nhơn quần nào. Bần-Đạo đã có dịp thuyết minh rằng, con người bao giờ cũng phải sống tập đoàn đặng bảo vệ cái sống cho nhau mới gầy nên quốc gia xã hội, cái đại thể đó nó thành ra toàn thể nhơn loại. Bần-Đạo nói giờ phút nầy cả toàn thể nhơn loại lại còn mong rằng họ sống tập đoàn với nhau trong đại thể của nhơn loại mà chớ. Ấy vậy, mỗi xã hội có Vua, có Chúa, không thì có vị Quốc Trưởng, dưới quyền của vị Quốc Trưởng ấy, hoặc có Triều đình hoặc có Chánh phủ, cả nhơn viên Chánh phủ hiệp lụng lại với Quốc Trưởng là cái đầu, còn dưới là dân chúng tức nhiên là các năng lực của toàn thể Quốc dân: Sĩ, Nông, Công, Thương, tứ dân, tứ thú là tay chân và thân thể. Rồi trong xã hội ấy định phương pháp đặng lập cái Đại thể gia đình của toàn một sắc dân. Đại gia đình của một sắc dân gọi là gia đình xã hội, tướng diện của hai bên đó vậy. Bây giờ Bần Đạo luận về cái quyền. Cái quyền đôi bên bao giờ cũng phải quyết định với một cái pháp luật của Hội-Thánh. Luật của Hội-Thánh để định quyền cho Đạo, cho Đại-gia-đình của tinh thần nhơn loại, ngó thấy Tân-Luật, Pháp-Chánh-Truyền là một chơn tướng lập Thánh Thể của Ngài không cần luận đến, chỉ luận về Tân Luật mà Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông đã dạy Hội Thánh khi mới khai Đạo. Lập trong ba tháng phải thành tựu. Trong Tân Luật con cái của Đức Chí Tôn đều ngó thấy, Bần Đạo không cần lập đi lập lại vô ích chỉ lấy cái tinh túy của nó là trong Tân Luật ấy Đức Chí Tôn định cho Ngũ Giới Cấm và Tứ Đại Điều Qui và trong ấy cốt yếu bảo vệ Tam Cang Ngũ Thường của toàn thể con cái của Ngài, thật ra cái Thiên Luật của Ngài mà Ngài đã để trong tâm não con cái của Ngài. Luật chỉ có một là Thương Yêu, Quyền chỉ có một là Công Chánh."

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Sanh quang dưỡng-dục quần-nhi,
"Chơn-linh phối nhứt thân vi Thánh hình."

 

 

THÁNH HUẤN

 

Văn phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Hộ-Pháp

(Nhị Thập Tam niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

Số: 222/TH

_________________________

THÁNH HUẤN

Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

 

Gởi cho toàn Đạo Phật-giáo Hòa-Hảo và Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ,

Chư Hiền Hữu, Bần Đạo lấy làm hân hạnh được ban bố Thánh Huấn này cho chư Thiện nam, Tín nữ Phật giáo Hòa Hảo và Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ đặng rõ:

Vì có Thỏa ấn ký kết giữa Tổng Tư lịnh Phật-giáo Hòa Hảo Trần Văn Soái và Tổng Tư Lịnh Cao-Đài Trần Quang Vinh có đại diện Quốc Sư Nguyễn Phước Hậu và Lê-Văn-Hoạch, nên kể từ nay cho đến ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ trở về, toàn cả Thiện nam, Tín nữ Phật giáo Hòa-Hảo và toàn cả Tín đồ Đạo hữu Cao Đài và Bần Đạo đã vui nhận đảm nhiệm làm Hộ Pháp cho Phật giáo Hòa-Hảo đặng hiệp hai nền Tôn giáo làm một, cho họp như con một Cha, như anh em một nhà, thờ chung một chủ nghĩa, chung chịu một luật pháp chơn truyền của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, nhứt là trong lúc này bá tánh đảo huyền, quốc dân loạn lạc và hai khối năng lực và tinh thần cần tương liên, tương ứng đặng giữ vững cơ-đồ, đặng đem lại sự độc lập thống nhứt cho Quốc gia, ấy là một điều rất vẻ-vang cho non sông đất Việt.

Sau khi hai vị Tổng Tư Lịnh quân đội Hòa-Hảo Trần Văn Soái và Quân Đội Cao Đài Trần Quang Vinh nắm tay siết chặc chung lo phận sự nước nhà, vừa nâng cao danh Đạo, mong rằng tình tương thân tương ái giữa đôi bên ngày càng khắn khít, đặng tránh những sự xung đột nhỏ-nhen, tầm những điều thực hành cao cả hầu đưa tổ quốc giang san đến con đường uy linh rực-rỡ thì lấy làm hạnh phúc cho 25 triệu dân Hồng Lạc.

Tân Xuân đã gần kề, Bần Đạo để lời chào chung tất cả các Bạn đồng Đạo và hứa chắc năm Mậu Tý sắp đến sẽ đem lại cho giòng giống Rồng Tiên một kỷ nguyên bất hủ cho lịch sử Việt-Nam.

Vì Bảo-Thế Hiệp Thiên Đài thừa quyền Hộ Pháp và Ngọc Chánh Phối Sư lãnh ban hành Thánh huấn này.

Tòa Thánh, ngày 20 tháng 12 năm Đinh-Hợi.
(dl: 30-01-1948)
Hộ Pháp (Ấn ký)

Phụ lục vào lịch sử:
Huỳnh Giáo Chủ thọ nạn ngày 25-02-1947
Mất ngày 15-04-1947

 

 

THÁNH HỒN

Pháp Chánh Truyền: "Từ Thánh-vị trở xuống Nhơn vị thì vào hàng Thánh "Class des Épures"…Từ thú cầm xuống vật chất thì hàng phàm tục "Classe des Impurs" ấy vậy trong Bát Quái-Đài từ bậc Thánh hồn thì còn phận sự điều đình Càn Khôn thế giới, giao thiệp cùng các chơn hồn, còn ở trong vòng vật chất nâng đỡ, dạy dỗ cho phàm phẩm tấn hoá lên cho tới Thánh vị. Hễ vào đặng Thánh-vị rồi thì tự nhiên mình biết lấy mình, dầu phải bị đoạ trần đi nữa cũng còn giữ vẹn Thánh đức mà tu hành đặng đạt đến địa vị trọn lành. Lên địa vị Trọn lành rồi thì mới đồng quyền cùng Tạo-Hóa, Từ bi, tự tại, bất tiêu, bất diệt."

 

 

THÁNH KINH


E: The Sainted prayers.
F: Les Saintes prières.

Thánh: chỉ những gì thuộc Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng. Kinh: bài văn có vần điệu để tụng. Thánh kinh là các bài kinh do các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật giáng cơ ban cho dùng để tụng khi cúng tế.

Thánh kinh của Đạo Cao Đài thường được gọi là Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo. Đây là kinh của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ nên còn được gọi là Tân Kinh. (Thánh kinh của Thiên Chúa giáo và đạo Tin Lành là quyển Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước).

Kinh Tứ Thời Nhựt tụng, có dạy pháp tu như vầy:

"Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh
"Một cội sanh ba nhánh in nhau
"Làm người rõ thấu lý sâu,
"Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh-Kinh."

 

 

THÁNH LỊNH CẤM CƠ BÚT

THÁNH LỊNH

HỘ-PHÁP Chưởng quản Nhị Hữu hình Đài:
Hiệp-Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng giêng năm Mậu Dần (dl: 15-2-1938) giao quyền Thống nhất Chánh trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ cho tới ngày có Đầu Sư chánh vị.

Nghĩ vì Cơ bút là một cơ quan thuộc về huyền linh pháp nên vẫn là hư hư thiệt thiệt vì bất kỳ mọi sự chi mà có tính phàm của con người phối hiệp vào đó đều giả nhiều mà thiệt ít.

Nghĩ vì Cơ bút đã đủ quyền tạo Đạo đặng thì nó cũng đủ quyền diệt Đạo đặng. Vì cớ mà Đức Chí-Tôn đã cấm Cơ Phổ độ.

Nghĩ vì Đức Hộ Pháp đã khoan hồng cho phép mỗi người được tự do dùng Cơ Bút để học riêng mà thôi, còn cấm nhặt không được truyền bá.

Nghĩ vì có nhiều người ở nhiều nơi không thực hành y như lịnh dạy, nên lúc sau này Cơ bút giả nảy sanh quá nhiều làm cho bổn Đạo xao-xuyến phân vân, e di hại cho toàn sanh chúng.

THÁNH LỊNH

Điều thứ nhứt: Mỗi người trong bổn Đạo được phép dùng Cơ Bút học hỏi riêng mà thôi, nhưng cấm nhặt truyền bá ra ngoài.

Điều thứ nhì: Sự truyền bá ra ngoài có nghĩa là chép Thánh giáo của người học hỏi riêng rồi phân phát ra cho người khác xem hoặc tuân hành theo.

Điều thứ ba: Những người nào phạm lịnh trên đây (điều thứ nhứt và điều thứ nhì) sẽ bị nghiêm trị như sau đây:

1-Nếu bài Cơ nào để học hỏi riêng mà truyền bá ra ngoài thì quân đội và cơ Thánh vệ được phép truy nã người tuyên truyền và đồng tử, giam cả thảy lại cho tới khi có cơ của Hiệp-Thiên đài định phân thiệt giả.

2-Nếu giả thì đồng tử và người tuyên truyền sẽ bị giao cho Quân đội tuỳ ý sung vào cơ binh theo lính hoặc Cơ Thánh vệ cho tới ngay nào tiên tri hay huyền linh nói trong Cơ bút ấy thiệt hiện ra có thật cho đủ lẽ.

Điều thứ tư: bất kỳ Cơ Bút nào mà ra lịnh cầm quyền Hội-Thánh không có mặt đủ Thiên phong Nhị hữu hình Đài và nơi Cung Đạo Đền Thánh xuất hiện, thì Hội Thánh liền ra lịnh bắt đồng tử và người tuyên truyền Cơ Bút ấy giam lại rồi đệ nội vụ ra Pháp chánh kết án trục xuất ra khỏi Đạo.

Điều thứ năm: Vị Bảo Thế thơ ký Chánh trị Đạo, chư vị Chức sắc Hiệp Thiên Đài, vị Khai pháp Chưởng quản bộ Pháp chánh, chư vị quyền Thái Chánh Phối Sư, quyền Thượng Chánh Phối Sư, quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Đạo Nhơn Chưởng quản Phước Thiện, quyền Tổng tư lịnh Quân Đội Cao-Đài chỉ huy Cơ Thánh Vệ, Khâm Thành Thánh Địa, Nữ Chánh Phối Sư hành chánh và Nữ Chánh Chưởng quản Nữ phái Phước Thiện, các tư kỳ phận lãnh thi hành Thánh Lịnh này.

Toà Thánh ngày 22 tháng 2 năm Tân Mão.
(dl: 29-3-1951)

HỘ-PHÁP Chưởng quản Nhị Hữu hình Đài:
Hiệp-thiên và Cửu Trùng
Ấn ký.

 

 

THÁNH LỊNH CHO CHỨC SẮC BỘ NHẠC

(Đức Hộ Pháp đã để lời phổ hóa trong cuộc phát THÁNH-LỊNH cho CHỨC SẮC BỘ NHẠC đi hành Đạo Nam- Trung- Bắc và Kim-Biên Tông-đạo ngày 18-07-Quí Tỵ (1953)

Đức Hộ Pháp Thuyết:

 

 

 

Thưa cùng Chư Vị cầm quyền các Cơ Quan Chánh Trị Ðạo.

"Hôm nay Bần-Ðạo đến dự lễ nầy trọng yếu đặng mừng cho cả Chức sắc Bộ Nhạc lãnh sứ mạng chỉnh đốn cả Lễ-Nhạc y theo chơn truyền của Ðạo. Các Em, mấy đứa nhỏ, Thầy lấy làm vui mừng thấy cả tâm đạo của mấy Em biết chọn một con đường lập thân danh khéo léo. Qua thường nói với mấy em rằng: Nếu một nền Tôn-giáo mà không có LỄ, không có NHẠC thì cả cái mỹ pháp của nó, dầu Thể Pháp, Bí Pháp cũng vậy, chẳng hề khi nào đặng tốt đẹp hoàn mỹ.

Qua có giảng cho mấy Em biết, vì cớ nào Nhạc là Lễ, mấy Em biết khuôn khổ của Nhạc do tinh thần xuất hiện, Qua chỉ rõ một bằng chứng, dầu cho cả thảy mấy Em trong Nhạc-Sĩ cho tới chức lớn của Bộ Nhạc là Tiếp Lễ Nhạc Quân, mấy Em cầm một cây đờn mà đờn thì không có đứa nào giống đứa nào hết, bởi cả tinh thần ra trong ngón đờn của mấy Em, đó là cá nhân của mấy Em đó vậy. Ấy vậy, Nhạc nó sản xuất trong tinh thần, mà tinh thần là gì? Tinh thần mới thiệt là Ðạo.

Tại sao Nhạc là Lễ? - LỄ ngoài đời mấy Em ngó thấy một bằng cớ hiển nhiên, là khi mấy Em đờn hòa cùng nhau, tuy ngón đờn của mấy Em mỗi đứa đều khác, hay dở đặc biệt mỗi đứa đều không giống nhau, nhưng mà cái nhịp trường canh mấy Em phải theo nó mà thôi, nếu không tùng nó thì mấy Em chẳng hề khi nào hòa NHẠC cùng kẻ khác được. Ấy vậy trong khuôn khổ HÒA với nhau, ấy là LỄ. Vì cớ cho nên Qua giảng tiếp cho mấy Em hiểu, LỄ NHẠC do âm thinh đó vậy.

Ngộ nghĩnh thay! Giờ phút nầy Qua cho mấy Em biết, chỉ có dân tộc Việt-Nam về văn hóa Nho-Tông của chúng ta mới có đặng một cái NHẠC là đều do nơi âm thinh và điều Qua đương nói với mấy Em, cái kinh dinh của các sắc dân trên mặt địa cầu nầy, cả các quốc dân xã hội đều nhận điều đó. Nước Trung Hoa hay các sắc dân chịu ảnh hưởng cái văn minh tối cổ của Nho-Tông chúng ta mới có NHẠC, âm thinh ấy là LỄ.

Bằng cớ hiển nhiên, chính Qua đọc một tờ nghị luận tại nơi Liên-Hiệp-Quốc, họ luận rằng: Nếu cả thảy các dân tộc nơi mặt địa cầu nầy mà đặng gìn giữ cho còn LỄ cũng như nước Tàu đã được LỄ tối cổ của họ, cả những điều nghịch hẳn cùng nhau, khởi hấn cùng nhau giữa hội nghị của Liên Hiệp Quốc chẳng hề khi nào xảy ra, nếu có xảy ra là tại họ vô lễ cùng nhau mà chớ.!

Do nơi vô lễ ấy mà nhơn loại chịu thống khổ hai phen Đại-chiến hoàn cầu. Mấy Em nghĩ, họ vô lễ cùng nhau cho đến nước họ đập bàn ghế ra khỏi Hội-nghị của Quốc-tế là tại họ thiếu LỄ, mà LỄ là NHẠC. Qua lấy một bằng cớ rõ ràng, người Pháp đã nói: "La Musique Adoucit les Moeurs".

NHẠC làm cho phong hóa luân lý tốt đẹp dịu dàng, mà không phải một mình nước Pháp mà thôi, cả các liệt quốc Âu Châu đều cũng nói. Ấy vậy, giờ phút nầy Qua ký Thánh Lịnh cho mấy Em đi các nơi, cốt yếu đặng mấy Em đem cái ngôn ngữ điều hòa, lấy một ống tiêu mà Trương-Lương đã làm cho tan vỡ một đạo binh hùng tráng của Hạng Võ, đánh tan nát cơ nghiệp của Sở, thâu đạt cơ nghiệp ấy đem lại cho nhà Hớn duy có ống tiêu Trương-Lương mà thôi. Giờ phút nầy Qua giao cho mấy Em một sứ mạng làm sao cho thiên hạ nghe ống tiêu Thiêng Liêng của mấy Em đặng tinh thần nòi giống mấy Em đứng dậy định tương lai vinh-quang cho mình với cái giọng ngọt dịu của mấy Em, làm cho thiên hạ thức tỉnh, diệt tiêu bớt hung hăng bạo ngược, trái lại đem đến một con đường hòa huỡn, cao quí, tốt đẹp, êm dịu, đem lại cái đạo đức tinh thần chiến thắng để cứu vãn sanh mạng loài người.

Bởi giờ phút nầy họ đang đi đến con đường diệt vong mà chớ".

 

 

THÁNH LUẬT


E: Saint laws.
F: Saintes lois.

Thánh: Bực Thánh, bực tài trí phi thường, tiếng tôn xưng vua. Luật: luật pháp. Thánh luật là luật pháp của nền Đại đạo của Đức Chí Tôn, đó là luật pháp của Đạo Cao Đài.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Dặn các Thánh Thất, các Đạo hữu phải để lòng thành khẩn, hiệp sức làm một với Lão mà nài xin Thánh luật.

 

 

THÁNH MIẾU


E: The temple of Cofucius.
F: Le temple de Confucius.

Thánh: Bực Thánh, bực tài trí phi thường, tiếng tôn xưng vua. Miếu: đền thờ. Thánh miếu là đền thờ Đức Thánh Khổng Tử và các vị Thánh hiền của Nho giáo.

Nữ Trung Tùng Phận:

Cửa Thánh miếu hỡi còn thiếu gái,
Chốn quyền môn nữ lại vẫn không.

 

 

THÁNH NGÔN


E: The Sainted Speeches.
F: Les Saintes paroles.

"Thầy nói cho các con nghe: Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ, thì số hằng sống nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để cho chúng nó theo Tà Quái. Ðạo là quí, của quí chẳng bán nài; các con đừng thối chí. Thầy ban ơn cho phái phụ nữ.Các con cũng vậy, rán lo phận sự.Thầy ban ơn cho mỗi đứa".

Thầy dạy: "Tr... đã thọ mạng nơi Thầy, con đi đâu Thầy theo đó. Lời đạo đức trong miệng con nói ra, ấy là lời của Thầy bố hóa tập trí con đặng đi truyền Ðạo; tùy cơ mà dạy kẻ, một mình con đâu đủ sức phục người. Chẳng luận là Nam hay Nữ, bất kỳ là nước nào, nó muốn biết đạo lý, con phải độ, biểu chúng nó đến nghe Thầy dạy, mới có thế nó tu hành đặng, trước con không nên buộc chúng nó lắm.Thầy nói một lần từ đây nhớ lấy, dầu cho đá, sắt, cây cỏ, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy mà con nói ra, cũng hoan nghinh, huống lựa là người, con nhớ và an lòng".

Thầy dạy: ngày 10-5-1927 (âl 10-4-Đinh Mão).

Phò loan : Hộ Pháp - Thượng Phẩm

"Từ đây, những Thánh Ngôn ban hành cho các Môn đệ, cần phải có con (Lê Văn Trung) ký tên và ấn dấu đành rành. Nếu Thánh Ngôn nào mà thiếu cách phòng ấy thì chư Môn đệ được phép không tuân. Con phải cho trong cả chư Môn đệ biết nghe! Thầy vốn chẳng muốn làm cho nhọc lòng của Môn đệ nào mà không bổ ích chi cho nền Đạo."

Đức Lý dạy: "Thượng Trung Nhựt! Đạo hữu cũng có nghe lắm điều dạy của chư Tiên về nền Đạo trong lúc nầy, vậy khá liệu mà làm phận sự. Thánh Ngôn nào can yếu nên xem cho thường mà nhớ lời của Đức Chí Tôn dạy về các sự hành động. Đạo chậm tấn là bởi kẻ hành đạo, chẳng do Thiên ý, mà nếu biết sái, chẳng chịu sớm sửa thì nền Đạo phải hoại, kẻ hành đạo chẳng công chi mà chúng sanh cũng không mong độ rỗi đặng. Nên biết à.!" Sự cải Thánh Ngôn đặng tự tác theo trí phàm là một hại chẳng nhỏ, nên chăm nom và liệu mà ngăn ngừa thói tà mị của nhiều Đạo hữu. Nếu chẳng có Đức Từ Bi rộng thứ thì Lão bôi xóa hết Trường công quả của Đại Đạo, đặng để cho nhiều đứa tự tôn chìm vào hang thẳm trót mấy kiếp mà răn các tánh trược phàm tục của chúng nó. Đạo hữu nên chung trí với các Đạo hữu khác có trách nhậm lớn lao và hiệp cùng Hiệp Thiên Đài mà sớm cải bước Đạo lại nghe.!

Hiệp Thiên Đài cũng tránh không khỏi sơ sẩy lớn lao, ba Đạo hữu cũng khá biết mà ngăn mình, vì kẻ trở lòng chẳng chừng đổi, phải lấy hết tâm thành mà giữ cho khỏi các sự sẽ đến cho khỏi hại đến lòng tín ngưỡng của nhơn sanh. Chư Đạo hữu sẽ thấy sự hành phạt riêng của mỗi đứa."

Thầy dặn rằng: "Thầy đến chẳng phải lập một nền Ðạo mới mà đặng nhắc các con rằng: Ngày tận tuyệt đã hầu gần, Quỉ vương sắp đến, Thánh ngôn các Ðạo đã khai từ thuở tạo Thiên không đủ kềm thúc nhơn sanh đặng trọn lành. Ðời càng ngày càng trở nên hung bạo, nhơn loại giết lẫn nhau, cả hoàn cầu giặc giã, bịnh chướng biến sanh, thiên tai rấp đến. Ấy là các điều Thầy đã nói tiên tri rằng: Ngày tận thế đã đến. Thầy đã tạo thành trọn đủ Pháp Luật. Thầy đến chỉ độ kẻ vô Ðạo, chớ không phải sửa Ðạo. Con hiểu à.!"

Pháp Chánh Truyền: "Cả Thánh Ngôn của Thầy dạy dỗ chúng ta từ buổi khai Ðạo đến chừ đã hiện thành Tân Pháp (nouvel vangile) mà ngày nay chúng sanh còn chưa hiểu thấu, vì phần nhiều người lạm dự vào bậc Thiên Phong lấy tà tâm bẻ bai biếm nhẻ chớ chẳng chịu truyền bá lời lành, làm cho kẻ Ðạo tâm xiêu đường lạc ngỏ."

Thơ Thán Đạo ngâm của Nữ Đầu Sư Hương Thanh:

Lời Thầy dạy Thánh-ngôn ghi chữ,
Biểu chúng ta lánh dữ làm lành.
Phải lo khử ám tựu minh,
Cải tà qui chánh lập thành chơn tu.

 

 

THÁNH NGÔN HIỆP TUYỂN

言協
E: The collection of the selected spiritistic messages.
F: Le recueil des messages, spirites choisies.

Ghi lại lời phỏng vấn với Chánh quyền nhà nước Việt Nam:

- Sao gọi là Thánh Ngôn Hiệp Tuyển? Nếu nói Hiệp tuyển thì ắt còn nhiều Thánh giáo khác chưa phổ biến phải không? Xin quí Cụ cho chúng tôi những bài Thánh giáo ấy.

- Đúng vậy! Các Đấng dạy có nhiều Thánh giáo, nhưng Hội Thánh chúng tôi trước kia phải soạn những bài nào dạy hợp thời thế mới ấn tống ban hành, còn những bài nào có tánh cách Quốc sự thì không ấn tống ban hành, vì không phù hợp với thời thế mà các bậc tiền bối xem rồi thì tiêu huỷ nên chúng tôi không được rõ biết. Riêng đây tôi tìm được bài Thánh giáo còn sót lại do Đức Lénine đã giáng trước kia, tôi xin hiến quí Ngài triêm nghiệm.

- Nói đến Thánh giáo thì thật là huyền diệu, như bài Thánh giáo của Đức Lénine đã giáng, khi Cơ lên chưa xưng tên…Đức Quyền Giáo Tông đã biết, mới hỏi:

- Ai đó kìa? Có phải Chúa Tể Cộng Sản đó không?

- Đức Lénine trả lời: Vâng! Chào quí Đại Đức. Người ta cho tôi là Chúa Cộng Sản, thật không phải vậy, vì tôi lấy triết lý tư duy của nhà Phật mà tạo ra chủ thuyết Xã hội chủ nghĩa để đưa nhân loại đến chỗ Đại-Đồng đó thôi!

Lấy đây mà luận, hôm nay Chánh phủ ta cũng như Nga Sô đang sử dụng thuyết Tư-duy cải cách đó là phù hợp với thời đại hiện nay, nhưng đáng tiếc trên thì Chánh phủ đang lo lắng sự tồn vong của Tổ quốc mà dưới địa phương không thực hành đúng theo chủ trương của Nhà nước. Tôi còn nhớ khi Cụ Nguyễn văn Linh đang cầm quyền Tổng Bí thư nước ta có tuyên bố: đối với chánh sách Tư-duy chúng ta cần mạnh dạn đẩy ánh sáng chui vào bóng tối để soi rọi sự hư nên và cần nhổ cỏ dại trong đám lúa non. Thế mà cỏ dại đâu có nhổ hết được bao giờ! Đồng thời tôi cũng hân hạnh được xem quyển Hiến-pháp của Chánh phủ, tôi chẳng dám bình luận chi cả, nhưng tôi chỉ tưởng và ước mong Hiến Pháp được Chánh phủ thêm vào 6 chữ: "TÔN GIÁO TỰ DO TRUYỀN BÁ" thì quí biết bao!

Thầm nghĩ, nước Việt Nam hiện có bốn Tôn giáo, mà Hoà Hảo là một phần nhỏ, không căn bản. Còn Phật giáo và Công Giáo đã có trên dưới 2.000 năm, không cần truyền bá nữa nhân loại cũng biết. Riêng Đạo Cao-Đài khai mới 69 năm, nhơn loại cả Thế giới làm sao thấu triệt, mà lại cũng khai tại nước Việt Nam, lẽ ra Chánh phủ Việt Nam phải tôn trọng và nâng đỡ để Chức sắc chúng tôi được tự do truyền bá, chẳng những trong nước mà luôn cả thế giới hầu có dìu dẫn nhơn sanh lo sự tu, làm lành lánh dữ, tránh nạn nồi da xáo thịt, đảo lộn nhơn luân. Đó cũng là việc bảo vệ an ninh giúp đỡ chánh phủ phần nào, vì sách có câu "Tu kỷ dĩ an bá tánh" và Đạo Khổng cũng có câu "Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bổn".Ấy vậy, quí Ngài ghĩ sao câu sách này?

… … …

 

 

THÁNH NGỰ

Thánh ngự (Thánh là tiếng tôn xưng Đức Vua, ngự là tiếng dùng cho các vua chúa để chỉ hành động) Ở câu Kinh này ngự là đấng Vua Trời an ngự trên ngôi.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Thiên Tào Thánh ngự an ngôi,
"Cầu cho dân chúng khỏi hồi can qua."

 

 

THÁNH NGỮ

Đức Hộ Pháp thuyết tại Đền-Thánh đêm 26 tháng 11 năm Tân-Mão (dl: 24-12-1951): "Chúng ta thử tìm trong các Thánh-ngữ của Đức Chúa Jésus do Ngài để lại. Hiểu thấu cái huyền vi bí ẩn Đạo giáo của Ngài thế nào, cái ấy có lẽ hữu ích hơn, nên Bần-Đạo lấy lời triết lý của Ngài đã nói lưu trong Thánh ngữ của Ngài để lại cho các Thánh Tông Đồ có câu nói cao sâu bí ẩn mà thiết thật làm sao, hay làm sao! Ngài nói rằng: "Biết hy sinh cái chết đặng đạt cho đặng cái sống". Vì lời Thánh giáo ấy mà những kẻ tìm Đạo thường hay bàn luận tìm cái nghĩa lý của nó, Đức Chúa Jésus-Christ đã sanh ra thì bị cường bức, Đạo của Ngài truyền giáo thiên hạ không hiểu thấu và người ta đã bắt bớ, người ta đã đè nén, người ta đã âm mưu hại Ngài, cho nên lời nói ấy cốt yếu giục các Môn-đệ của Ngài quyết chiến đấu và quyết thắng, điều ấy chưa phải lẽ"… Bây giờ luận theo Đức Chúa Jésus Christ, phải biết hy sinh cái chết mới tìm cái sống. Đạo giáo nào kiếm mắc mỏ khó khăn, chớ Đạo giáo Cao-Đài Đức Chí Tôn để bí pháp ấy trong Thánh-Thể của Ngài. Ngài nói những kẻ nào dám chết về đời, sống vì Đạo, những kẻ ấy mới đáng làm Thánh-Thể của ta nơi mặt thế gian này. Cả toàn Thánh Thể đã hiểu lắm, tới phẩm Giáo-Hữu phải chết, chết vì đời rồi sống lại sống vì Đạo. Tức nhiên Đức Chúa Jésus Christ nói cao sâu rằng: Nếu ai đã biết ai, đã biết cái sống của chúng ta đã ban cho mà dám hy sinh cái kiếp chết của họ, là cái xác thịt này thì mới đạt đặng cái sống trường tồn vĩnh cửu, tức nhiên Thiêng Liêng Hằng Sống của Cha ta đã dành để."

 

 

THÁNH NHƠN (1) (Phật Học)


E: The Saint.
F: Le Saint.

Thánh nhân (S: ārya-pudgala; P: ariya-puggala) Danh từ chỉ người đang đi trên Thánh Đạo nhưng cũng thường được dùng cho những người có Đạo hạnh xuất chúng. (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Chính ngày xưa Mạnh Tử cho rằng Thánh nhân với nguời thường cũng không khác nhau. Có người bảo ông rằng: Vua nước Tề sai người đi dò xem ông có điều gì khác hơn người không. Ông nói rằng: Ta có gì khác người đâu, các bậc vua Thánh như Nghiêu, Thuấn cũng như mọi người vậy. "Hà dĩ dị ư nhân tai, Nghiêu Thuấn dữ nhân đồng nhĩ" 何以異於人哉, 堯舜與人同耳. Thực vậy, vua Nghiêu, Thuấn cũng là người như chúng ta, đều bẩm thụ một lý, một khí, cùng một tâm như mọi người cả, chỉ có điều là những bậc ấy khéo lấy cái bản tâm thiện lành để cư xử trong gia đình, xã hội. Nếu ai cũng giữ được như thế thì chắc là chẳng khác gì những bậc ấy.

 

 

THÁNH NHƠN (2)

Người đứng vào hàng Thánh, như Tam Thánh sau đây đều là bực Thánh Nhơn, qua bức Tượng Tam Thánh còn đó.

*Cụ NGUYỄN BỈNH KHIÊM: Nhà tiên tri danh tiếng lớn ở đời Mạt Lê, thi đậu Trạng nguyên, tước vị là Trình Quốc Công, tục gọi là Trạng-Trình, giáng cơ tự xưng là Thanh Sơn Đạo Sĩ, tức là Sư Phó của Bạch Vân Động.

*Cụ VICTOR HUGO: Nhà thi gia trứ danh của Pháp quốc, giáng cơ tự xưng là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức là đệ tử của Cụ Nguyễn-Bĩnh-Khiêm ở Bạch-Vân Động.

*Cụ TÔN DẬT TIÊN: Đại-cách-mạng gia nước Trung-Hoa, nhũ danh là Tôn-Văn, giáng cơ tự xưng là Trung Sơn Chơn Nhơn, tức là đệ tử Cụ Nguyễn-Bĩnh Khiêm ở Bạch Vân Động.

Ba vị Thánh-nhơn trên đây là Thiên-sứ đắc lịnh làm Hướng đạo cho nhơn loại để thực hành Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước"

 

 

THÁNH PHONG

Ông Thượng Ai Thanh giáng Cơ nói:.

Lửng chửng tiếc khi bước ngập ngừng,
Đưa thân cửa Đạo chẳng nên thân.
Thuận tà đã chịu hơi nhơ lấm,
Phải mất Thánh phong, chịu vị Thần.

 

 

THÁNH PIERRE

Tiền kiếp của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa là Thánh SAINT PIERRE, tức là một trong 12 Thánh Tông-Đồ của Thiên-Chúa-giáo, ngày nay các vị Thánh ấy cũng trở lại trong hàng Thập Nhị Thánh, tức là Thập Nhị Thời-Quân trong cửa Hiệp-Thiên Đài, cũng giữ phận sự hầu Thầy mà thôi".

Ông Chơn Nhơn Phạm Duy Hoai có thuật chuyện Ngài Khai Pháp như sau: "Một hôm nọ, Đức Phạm Hộ Pháp lập đàn, có các vị Chức sắc Thiên phong dự chứng. Đức Phạm Hộ Pháp cầm cây Kim Tiên đưa ra bên trên và trước mặt Ngài Khai Pháp đang quì. Đức Phạm Hộ Pháp nói:

- "Nầy Pierre, ngày trước nguơi đã chối ta ba lần, lần nầy ta tha cho đó."

Một hôm Ông Bà Đốc Phủ Chi, là người theo Đạo Công-giáo có đến nhà Ngài Cư, mục đích muốn thử xem vấn đề chơn giả của Cơ Bút, nên ông Bà có đề nghị: "Xin cho chúng tôi để thử trên bàn Cơ hai vật này là Ảnh tượng CHÚA và Cây Thánh giá. Nếu Đức Cao-Đài là Thượng-Đế thật thì mới giáng Cơ được, bằng Quỉ Vương thấy hai vật báu này tự nhiên phải tránh". Ông Cư bằng lòng cho thử. Đoạn Ông Đốc Phủ cùng ngồi với Ngài TẮC để quan sát. Trước hết Thánh Pierre giáng Cơ cho 4 câu thi để trả lời cho Ông Bà Đốc Phủ Chi, vào ngày 17-11 Ất-Sửu (dl 01-9-1926).Thánh giáng cho biết ngày:

SAINT PIERRE

Thiên Đàng giữ cửa góc Trời Tây,
Truyền Đạo cho dân biết mặt THẦY.
Cứu chuộc đã gần hai ngàn tuổi,
CAO ĐÀI phú thác dắt dìu bây.

 

 

THÁNH QUYỀN

Ngày 26-2-1927 (âl 25-1-Đinh Mão).

Thầy dạy: "Các con nghe Thầy. Chẳng phải ở dưới thế nầy còn quyền lực nào lớn hơn Thánh quyền của Thầy, song nhiều khi Thầy đành ngồi cười đặng xem cuộc trần xây đổi. Lập Thánh giáo cho các con, lập công Phổ Độ nhơn sanh, nếu Thầy choán hết mọi sự, muôn việc đều lập thành, thì cái địa vị nơi Bạch Ngọc Kinh của các con không có giá trị. Có một điều là hoạn họa xảy đến cho các con thì Thầy hằng cải sửa cho khỏi lỗi hứa cùng các con. Thầy dặn các con đừng ỷ mình, mà cũng đừng hạ mình, lấy sự mềm mỏng mà oai quyền đối đãi cùng đời. Khôn ngoan đạo đức là khôn ngoan nhịn nhục, kiên nhẫn".

 

 

THÁNH SỐNG

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Ðền Thánh đêm 14 tháng 11 năm Ðinh-Hợi (1947) nói về Đức Chúa rằng: "Ðến năm 30 tuổi nghe Saint Jean Baptiste truyền giáo tại bờ sông Jourdain, cũng trong lúc đó, Ðức Chúa đến gặp ông đang giải oan cho thiên hạ. Khi vừa thấy Ðức Chúa ở xa xa đi đến thì ông đã biết là Ðấng Chúa Cứu Thế, mới nói: "Từ sáng đến giờ tôi chỉ chờ có một người nầy thôi". Ðức Chúa đến thọ giáo nơi ông Thánh Saint Jean Baptiste và chịu phép Giải Oan của Ngài. Trong buổi vừa hành pháp xong, Ðức Chúa ở bờ sông Jourdain vừa bước lên thì trên không trung hiện ra hào quang sáng suốt, hiện ra giống như chim bồ câu trắng (colombe) sa giữa đầu Chúa, ngay giữa thinh không có tiếng nói: "Nầy con yêu dấu của Ta, cả ân đức của Ta để cho Ngươi đó". Từ ngày đó Ðức Chúa Jésus là chơn linh Ðấng Christna giáng hạ cho nên đi truyền giáo nơi nào, chơn linh Ngài không phải như ngày sanh nhựt nữa, mà đã biến thành Chí Thánh vậy. Ngài là chơn linh Thánh sống trước mắt cả thiên hạ đạt cả Ðạo Giáo, Ngài quan sát nơi mặt thế nầy, Ðức Jésus Christ không kém hơn ai trong hàng Giáo Chủ. Ngài để nhứt tâm lẫn tuất thương sanh, yêu ái người thật nồng nàn chơn chất".

 

 

THÁNH TÂM


E: The sacred heart.
F: Le cœur sacré.

Thánh tâm 聖心 là Cái tâm chí thánh, cái tâm rất Thiêng liêng, tức là cái tâm thiện lương, chơn chánh. Thánh Tâm là chỉ người có Tâm Thánh vì "Tâm Thánh là ngôi vị của Ðấng Thiêng liêng, không lo trau giồi thì cũng còn tự nhiên vì vẻ đẹp, còn vẻ đẹp thiên nhiên đã mang nặng thi hài nơi khổ cảnh nầy mà không mất thì đoạt vị đã đặng rồi, lại cần ai nâng đỡ?" (Đức Lý). Ấy vậy Thánh tâm là người có lòng đạo đức, cao thượng, biết thờ Trời kỉnh Phật.

Thầy dạy: "Thánh tâm dầu phải chịu khổn trần đi nữa, thì chất nó cũng vẫn còn. Các con khác hơn kẻ phàm là duy tại bấy nhiêu đó mà thôi. Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đọa trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên Cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ra ưng thuận hạ thế cứu đời? Con chỉ có tu mà đắc Ðạo. Phải ngó đến hằng ức, thiên vạn kẻ nhơn sanh chưa đặng khỏi luân hồi, để lòng từ bi độ rỗi kẻo tội nghiệp".

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Trường Phổ-tế khó khăn lắm nỗi,
"Cậy Thánh tâm sửa đổi tánh phàm."

 

 

THÁNH TÔNG ĐỒ


E: Apostles.
F: Apôtres.

"Chúa Cứu Thế đã đến với các con. Người đã phải chịu đổ máu Thánh để chuộc tội cho loài người. Trong 2000 năm vắng mặt Người, các con đã làm gì hữu ích? Các con truyền bá Đạo Người, nhưng chính các con cũng không hiểu chi cả. Các con lại làm sai lạc bản chất Tôn chỉ của nền Thánh giáo. Nhân loại phải chịu đau khổ vì sự biến thể của các Thánh Tông Ðồ. Chiếc ngai quí báu nhứt trên thế gian nầy hiện là chiếc ngai của vị Đệ nhứt cao đồ của Người. Giáo lý ấy đáng lẽ phải đem lại Hòa bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẽ và chiến tranh. Bởi thế, nên nay chính Thầy phải đến để đem lại cho các con nền Hòa bình đã từng hứa hẹn. Rồi đây Chúa Cứu Thế sẽ trở xuống sau. Thầy giã từ các con. Các con sẽ còn học hỏi nhiều việc khác nữa với mấy vị Môn đồ của Thầy". (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1/ 08-06-1926 - âl. 28-04-Bính Dần)

12 Thánh Tông đồ của Ðức Chúa Jésus là:

1- Thánh Pierre [Phêrô].

 

2- Anrê [em của Phêrô]).

3- Yacôbê [con của Zêbêđê].

 

4- Yoan [em của Yacôbê].

5- Philip.

 

6- Barthôlômêô.

7- Thôma.

 

8- Mathêô.

9- Yacôbê [con của Alphê].

10- Thađê.

11- Simôn nhiệt thành.

12- Yuđa Iscariôt.

Yuda phản Chúa nên bị chết thảm. 11 Tông đồ còn lại cử Ông Matthya vào thay Yuda cho đủ số 12 như buổi đầu.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp 8 giờ sáng ngày mồng 2 tháng 10 năm Mậu Tý (1948): "Ngày nay là ngày cầu-nguyện cho các Thánh Tử Ðạo tức nhiên là ngày lễ các Thánh. Nguyên căn ngày nay là khi Ðức Chúa Jésus-Christ giáng sanh có tiên tri rằng Chúa Cứu Thế sẽ ra đời làm chủ tinh-thần thiên hạ. Các vị Vua Chúa ác sợ mất quyền tìm cách giết Chúa. Nhưng vì đã lánh khỏi, chúng biết ngày sanh, vì oán hờn mà đeo đuổi bắt con nít đẻ trùng ngày với Ðức Chúa mà giết. Kẻ bị giết ngày ấy đều đặng hiển Thánh, vì Chúa mà chết thay thế cho Chúa, nên Thiên-Chúa-Giáo lấy ngày ấy làm ngày kỹ-niệm các Thánh bỏ mình vì Chúa. Ngày nay là ngày kỹ-niệm các chiến-sĩ trận vong, các chiến-sĩ ấy hy-sinh cho quốc gia, vì nước nhà, vì nòi giống, vì nhơn loại họ không tiếc mạng sống, đứng lên để mưu hạnh phúc cho toàn cầu gầy dựng lại Quốc-gia".

12 Thời Quân Hiệp-Thiên Đài:

Đức Hộ Pháp nói: "Trong 12 Thánh Tông-Đồ của Thiên-Chúa-giáo, ngày nay các vị Thánh ấy cũng trở lại trong hàng Thập Nhị Thánh, tức là Thập Nhị Thời-Quân trong cửa Hiệp Thiên Đài cũng giữ phận sự hầu Thầy mà thôi".

Nhưng được biết rõ nhứt là Ông Thánh Pierre là hiện thân của Ngài Khai-Pháp Trần Duy Nghĩa.(1888-1954)

Thánh Juda là hiện thân của Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng (1897-1958)

 

 

THÁNH TỔ (Niên Hiệu: Minh Mệnh)

Thánh Tổ 聖祖(1820-1840) niên hiệu: Minh Mệnh.

1. Đức độ Vua Thánh Tổ: Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Hoàng Thái Tử húy là Đảm lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mệnh. Vua Thánh Tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu học và lại hay làm; phàm có việc gì, Ngài cũng xem xét đến và có châu phê rồi mới được thi hành. Ngài tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, cho nên không ưa Đạo mới, cho là một Tả đạo lấy Trời Thánh ra mà làm mê hoặc lòng dân. Bởi vậy, Ngài mới nghiêm cấm và trừng trị những người theo đạo Gia Tô. Về sau có nhiều nhà làm sử, vì ý riêng mà cho Ngài là bạo quân, thì thiết tưởng điều ấy không hợp với lẽ công bằng. Phải biết rằng nước ta từ xưa đến nay, điều gì cũng theo Nho Giáo, lấy Tam Cương Ngũ Thường làm căn bản cho sự ăn ở. Vua tôi, cha con, vợ chồng, ấy là cái khóa luân lý của xã hội mình. Ai tháo cái khóa ấy ra thì cho là không phải loài người nữa. Vậy con phải theo cha, tôi phải theo vua, ai trái với cái đạo ấy ra phải tội nặng, đáng chém giết. Lúc trong nước mình từ vua quan cho chí dân sự, ai ai cũng lấy cái lý tưởng ấy làm phải, làm hay hơn cả, mà lại thấy có người bỏ đi theo đạo khác, nói những chuyện mà lúc bấy giờ lại không mấy người hiểu rõ ra thế nào thì tất cho là theo tả đạo làm hư hỏng cái phong tục hay của mình. Bởi vậy cho nên nhà vua mới cấm, không cho người trong nước đi theo đạo mới.

Một ông vua nghiêm khắc như Thánh Tổ mà cấm không được, thì tất là phải giết. Trong khi cấm và giết như vậy, là vẫn tưởng mình làm bổn phận làm vua của mình, chớ có biết đâu là mình làm sự thiệt hại cho dân cho nước.

Việc cấm Đạo: Từ khi vua Thánh Tổ lên ngôi, ngài đã có ý không cho người ngoại quốc vào giảng đạo ở trong nước. Đến năm ất dậu (1825), khi chiếc tàu Thétis vào cửa Đà Nẵng, có một người giáo sĩ tên là Rogerot ở lại đi giảng đạo các nơi, vua Thánh Tổ nhân dịp ấy mới có dụ cấm đạo, và truyền cho các quan phải khám xét các tàu bè của ngoại quốc ra vào cửa bể. Trong dụ nói rằng: "Đạo phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo".

Vua Thánh Tổ mất năm Canh Tý (1840), thọ được 50 tuổi, và trị vì được 21 năm, miếu hiệu là Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế. Trong thời Thánh Tổ làm vua, pháp luật, chế độ, điều gì cũng sửa sang lại cả, làm thành một nước có cương kỷ. Nhưng chỉ vì Ngài nghiêm khắc quá, cứ một mực theo cổ, chứ không tùy thời mà biến hóa phong tục; lại không biết khoan dung cho sự sùng tín, đem giết hại những người theo đạo, và lại tuyệt giao với ngoại quốc làm thành ra nước Nam ta ở lẻ loi một mình. (Xem thêm Minh mệnh. Vần M.)

 

 

THÁNH THAI


E: The spiritual foetus.
F: Le foetus spirituel.

Thánh: Thiêng liêng, mầu nhiệm, tốt đẹp hoàn toàn. Thai: đứa bé hình thành trong bụng mẹ.

Trong phép luyện đạo, luyện cho Tam bửu Tinh Khí Thần hiệp nhứt thì tạo được chơn thần huyền diệu, đắc đạo tại thế. Cái chơn thần huyền diệu nầy được các nhà luyện đạo gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như: Thánh thai, Anh nhi, Kim đơn, Xá lợi Tử, Bổn lai diện mục,....

Vậy Thánh thai là chỉ cái chơn thần huyền diệu của người đắc đạo.

Khi luyện đạo như vậy là luyện cho Tinh hóa Khí, tức là nghịch chuyển, mới tạo thành Thánh thai. Người không luyện đạo thì tự nhiên Khí hóa thành Tinh, tức là thuận chuyển, mà thuận chuyển thì Tinh đi xuống, lọt ra ngoài theo đường sinh dục, kết hợp với noãn châu của người nữ, tạo thành Phàm thai.

 

 

THÁNH THÂN


E: Sainted body.
F: Le Saint corp.

Thánh: chỉ những gì thuộc Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng. Thân: thân thể. Thánh thân là Thánh thể, tức là hình thể của Đức Chí Tôn tại thế. Đó là Hội Thánh Cửu Trùng Ðài. (Xem chữ: Thánh thể)

Trái với Thánh thân là Phàm thể, chỉ về nhơn sanh.

Kinh Xuất Hội:

"Vẹn toàn phàm thể Thánh thân,"

 

 

THÁNH THẦN TIÊN PHẬT

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Chí Tôn xá tội giải oan,
"Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ vong."

 

 

THÁNH THẤT


E: Holy house.
F: L’oratoire.

Thánh: chỉ những gì thuộc Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng. Thất: cái nhà. Thánh Thất là nhà thờ Đức Chí Tôn và các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thánh thất có hai nghĩa chánh:

1- là ngôi nhà, tòa nhà thờ các Thánh (nói chung là thờ: Thần, Thánh, Tiên, Phật và thờ Trời nữa). Chỉ có Đạo Cao-Đài mới dùng chữ Thánh Thất. Còn các Tôn giáo khác như Phật-giáo gọi là Chùa Phật. Công giáo gọi là Nhà thờ…

2- Nghĩa thứ nhì là chỉ cái Tâm của người biết Đạo đức, biết kỉnh Trời Phật Thánh Thần, thì nơi đây là "Thánh Thất". Bài Kinh Ngũ nguyện có câu: "Ngũ nguyện Thánh Thất an ninh".

Đức Chí-Tôn còn dạy thêm rằng: "Các con! Thầy đã lập Thánh-Thất, nơi ấy là nhà chung của các con, biết à?

- Thầy lại qui Tam-giáo lập Tân-Luật trong rằm tháng mười, có Đại-hội cả Tam-giáo nơi Thánh-Thất, các con hay à?

- Sự tế lễ sửa theo "Tam-Kỳ Phổ-Độ" cũng nơi ấy mà xuất hiện ra, rõ à?

- Thầy nhập ba chi lại làm một, Thầy là Cha Chưởng quản, hiểu à?

- Từ đây trong nước Nam duy có một Đạo chơn-thật là Đạo Thầy đã đến lập cho các con, gọi là "Quốc-Đạo" hiểu à?.

- Thầy phải buộc các con hiệp chung trí mà lo vào đó, nghe à!" (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I/46)

 

 

THÁNH THỂ


E: The spiritual body of God.
F: Le corps spirituel de Dieu.

Thánh thể là hình thể Đức Chí Tôn, tức là Hội Thánh Cửu Trùng Đài Nam - Nữ.

Chính vì Đức Chí-Tôn trong buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ này không có nhân thân phàm ngữ nên phải lập Hội-Thánh làm Thánh Thể của Ngài. Đức Hộ Pháp nói rõ: "Ngày nay Đức Chí Tôn đến, Ngài không giáng thân như các lần trước, mà giáng linh bằng Huyền Diệu Cơ Bút. Vì lẽ đó Ngài phải lập Hội Thánh để làm Thánh Thể cho Ngài."

Đức Ngài giải: "Thánh-Thể Đức Chí Tôn chẳng phải trong Hội Thánh mà thôi, mà cả toàn con cái của Ngài Nam Nữ, nếu Qua không nói đến mấy Em mới sơ sanh, nó cũng là đám Thánh-Thể của Ngài. Là buổi may duyên của chúng ta ngộ Đạo "Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ". Bởi cái may duyên ấy do nơi mấy Em đào tạo nó, một phần tử buổi sơ sanh, tức nhiên kể từ hạng sơ sinh Đức Chí-Tôn đã đến lựa, từ khi mấy Em đã có trí khôn ngoan cho nhập Thánh-Thể của Ngài đứng vào hàng Chức sắc Thiên phong gọi là chư Thánh, mấy Em mới nên người "Tam thập nhi lập". Cái phẩm vị Thiêng liêng của mấy Em nơi mặt thế: Phó Trị sự, Thông Sự, đối với ngôi Giáo Tông, Hộ Pháp trong khi tuổi của mấy Em đã tri thiên mạng rồi. Rất ngộ-nghĩnh thay cho Chí-Tôn lấy công bình ấy đặng lập Thánh Thể của Ngài. Ngài để một kiểu vở, một khuôn luật tạo đoan hay là một gia đình kia không khác gì hết. Mấy em đã ngó thấy trong Đạo, Đức Chí-Tôn đã để:

-Hàng Tín-đồ đối với Đại Từ Phụ

-Phó-Trị-Sự và Thông Sự đối với phẩm Giáo Tông và Hộ Pháp

-Chánh-Trị-Sự đối với phẩm Đầu Sư, thì mấy em thử nghĩ coi khuôn khổ Thánh thể của Ngài không có điều gì sơ sót hết".

Đức Hộ-Pháp nói: Có một Đạo Giáo Ngài đến một thân Ngài mà thôi. Cả con cái của Ngài đã cho đầu kiếp dưới thế gian này trước, rồi Ngài mới đến sau, Ngài chung hiệp lại làm Thánh Thể của Ngài, Ngài biểu nó dâng Tam-Bửu là dâng xác thịt, trí não, dâng cả tâm hồn tức nhiên dâng cả sanh mạng của nó cho Ngài để làm chữ Khí, rồi Ngài trả chữ Khí của Càn Khôn Vũ Trụ, tức nhiên cái sống của nhơn loại đi đến mục đích chữ TU, Ngài biểu cả toàn thể dâng xác thịt cho Ngài, Ngài trả lộn lại cái sống của Càn Khôn Vũ Trụ, trong mình nó sống dậy mà làm Thánh Thể của Ngài. Chúng ta tưởng tượng một ngày kia, toàn cả nhơn sanh đứng làm phần tử Thánh Thể của Ngài phụng sự cho Vạn Linh, tức nhiên phụng sự cho nhơn loại, hiệp trí não tâm hồn dâng cho Ngài hết, còn trở lực nào ngăn cản nữa, nhơn loại sẽ đến một cái tối trọng và thiên hạ nhứt gia như Đức Chí-Tôn đã muốn."

"Đạo Cao-Đài Đức Chí Tôn để bí pháp ấy trong Thánh Thể của Ngài. Ngài nói những kẻ nào dám chết về đời, sống vì Đạo, những kẻ ấy mới đáng làm Thánh-Thể của ta nơi mặt thế gian này. Cả toàn Thánh Thể đã hiểu lắm, tới phẩm Giáo-Hữu phải chết, chết vì đời rồi sống lại sống vì Đạo. Tức nhiên Đức Chúa Jésus Christ nói cao sâu rằng: Nếu ai đã biết ai, đã biết cái sống của chúng ta đã ban cho mà dám hy sinh cái kiếp chết của họ, là cái xác thịt này thì mới đạt đặng cái sống trường tồn vĩnh cửu, tức nhiên Thiêng liêng Hằng Sống của Cha ta đã dành để."

Đức Ngài giảng Đạo ngày 5-6-Kỷ Sửu (1949):

"Đức Chí Tôn đến cậy nhơn sanh làm Thánh Thể của Ngài, Ngài phải bồi thường, phải trả mắc cho người, người ta mới phụng sự cho Ngài. Trả bằng cách đến ký Hòa-ước với loài người, nhứt là với dân tộc Việt-Nam nầy trước đã. Nếu các Người thay thế cho Tôi phụng sự con cái Tôi, Tôi có phận sự lập vị Thần, Thánh, Tiên, Phật cho các người chịu không? Nếu các người chịu "làm tôi" cho con cái của Tôi cho vừa sức Tôi muốn, cho vừa sở ý Tôi định, thì Tôi sẽ trả mắc cho mấy người. Mấy người đoạt được nơi thế nầy thế nào, nơi cõi Hư Linh Tôi cũng không chối cải."

Đức ngài nhấn mạnh: "Tòa Thánh là nơi Thánh Thể Đức Chí Tôn cầm quyền Đạo Giáo. Về mặt Đạo giá trị của nó thiên hạ định đặng là do nơi hành tàng của toàn thể con cái Đức Chí Tôn, tức toàn Thánh Thể của Ngài vậy."

Khi Chí-Tôn đến "Lập Pháp-Chánh-truyền giao cho Hiệp Thiên-Đài gìn-giữ trong đó có diệu-pháp của Chí Tôn đến lập vị cho con cái của Người tại thế-gian này. Ngài mượn xác thịt của con cái Ngài tổng hợp lại cho có trật-tự, có đẳng-cấp tức nhiên là lập Thánh-thể của Ngài; các phẩm-trật có liên quan với các phần-tử, tức nhiên Hội-Thánh tổng hợp lại là Thánh-thể của Ngài, mà hễ đạt quyền được tức nhiên về với Ngài được. Ấy vậy, Pháp-chánh Hiệp-Thiên là phương định vị, lập quyền đặng hiệp một con cái của Chí Tôn cùng Chí Tôn vậy".

Đức Ngài đã giải thích rồi: "Cái công-lý của nhơn-loại bây giờ là công-lý giả, vì bởi công-lý giả ấy, cho nên mới có trường hỗn loạn, tương-tàn tương-sát với nhau, phải họ đem công-lý về mặt tinh thần quả quyết, đặng cân phân cùng các chủng-tộc nơi mặt địa-cầu này, nếu cân công-chánh ấy thiệt tướng của nó, thì thiên-hạ không có tương-tàn tương sát với nhau, ngày nay máu sông xương núi, họ dùng lời, dùng tiền thực hiện công-chánh đặng lòe-loẹt nghĩa lý công chánh của họ, con người chưa có đoạt đặng công-chánh thật sự vì cớ con người chưa có mặt luật Công-Bình Bác-Ái dưới thế-gian này. Bởi cớ cho nên Đức Chí-Tôn buộc cả con cái của Ngài nhứt là Thánh-Thể của Ngài thi-hành cho được thiệt tướng. Bởi vậy có câu Thánh-Ngôn của Ngài nói: "Ngày giờ nào các con dòm thấy một lẽ bất công nào nơi mặt thế-gian này thì ngày giờ ấy chưa thành Đạo".

Thánh thể Dâng Tam bửu:

Ấy vậy, cái lời của Chí-Tôn để trên mặt thế gian này có hai phương pháp, siêu hình cũng trong đây, mà siêu vật cũng trong cửa Đạo này.

Đức Hộ Pháp hỏi duyên cớ tại sao?

- Tại vì có một Đạo Giáo, Ngài đến một thân Ngài mà thôi. Cả con cái của Ngài đã cho đầu kiếp dưới thế gian này trước, rồi Ngài mới đến sau, Ngài chung hiệp lại làm Thánh Thể của Ngài, Ngài biểu nó dâng Tam Bửu là dâng xác thịt, trí não, dâng cả tâm hồn tức nhiên dâng cả sanh mạng của nó cho Ngài để làm chữ KHÍ, rồi Ngài trả chữ Khí của Càn Khôn Vũ Trụ, tức nhiên cái sống của nhơn loại đi đến mục đích chữ Tu, Ngài biểu cả toàn thể dâng xác thịt cho Ngài, Ngài trả lộn lại cái sống của Càn Khôn Vũ Trụ, trong mình nó sống dậy mà làm Thánh Thể của Ngài. Chúng ta tưởng tượng một ngày kia, toàn cả nhơn sanh đứng làm phần tử Thánh Thể của Ngài phụng sự cho Vạn Linh, tức nhiên phụng sự cho nhơn loại, hiệp trí não tâm hồn dâng cho Ngài hết, còn trở lực nào ngăn cản nữa, nhơn loại sẽ đến một cái tối trọng và thiên hạ nhứt gia như Đức Chí Tôn đã muốn".

Kinh Nhập Hội có câu:

"Các con vốn trong vòng Thánh thể,
"Phép tu vi là kế tu hành."

 

 

THÁNH THỂ THIÊNG LIÊNG

Thầy nói: "Ôi! Thầy sanh ra các con thì phải yêu trọng các con chẳng cùng, mà Thầy cho các con đến thế giới nầy với một Thánh thể Thiêng liêng, y như hình ảnh của Thầy, không ăn mà sống, không mặc mà lành, các con lại không chịu, nghe điều cám dỗ, mê luyến hồng trần, ăn cho phải bị đọa, dâm cho phải bị đày, nên chịu nạn áo cơm, dục quyền cầu lợi."

 

 

THÁNH THƠ

Là Bức thơ của một bậc hàng Thánh viết ra. Đây là Thánh Thơ của Đức Thượng Sanh chấp thuận cho Ban Đạo Sử phổ biến "Lời thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp" như sau:

Hiệp-Thiên-Đài

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tứ Thập Ngũ Niên)

Thượng Sanh

Tòa Thánh - Tây Ninh

______

Số: 121/TS

_________________________

THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ĐÀI

 

Kính gởi:

Hiền Huynh Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh

Tham chiếu quý Thánh thơ số 16/ÐS ngày 12-6-1970.

Kính Hiền Huynh,

Theo đề nghị của Hiền Huynh tôi chấp thuận cho Ban Ðạo Sử xuất bản để phổ biến những Bài Thuyết Ðạo tại Tòa Thánh của Ðức Hộ Pháp từ năm 1946 đến năm 1955.

Những bài giảng được chọn để ấn hành phải có sự kiểm duyệt của Ban Kiểm Duyệt Kinh Sách.

Nay kính,

Tòa-Thánh, ngày 14 tháng 5 năm Canh Tuất.
(dl.: 17-06-1970)
Thượng Sanh (Ấn ký)

 

 

THÁNH TRỊ

Thánh trị là trị theo tính chất Thánh. Thánh là gì? Tức nhiên Thánh gồm có chữ Nhĩ là nghe, khẩu là miệng vương là vua. Vậy là cách trị này là nói cho người ta, để họ thực hành theo, với mục đích cao thượng. Khác hơn là phàm trị.

Đêm mùng 10 tháng 10 Canh Dần (dl: 19-11-1950) Đức Quyền Giáo Tông giáng dạy rằng:

"Mừng các em: Mỗi năm đến kỳ Lễ Hạ Nguơn, kỷ niệm Khai Đạo, thì các em không quên ngày Thánh đán của Anh và mỗi em đều để tâm lo lắng, nhứt là Hộ Pháp cư xử trọn nghĩa đệ huynh, đến như thi hài của Anh đối về phần Đạo thì cũng chẳng trọng hệ chi, nhưng đó là một phần trong Thánh Thể của Chí Tôn, các em lo cho Anh được châu toàn, Anh có lời cảm ơn trước là Hộ Pháp, sau là tất cả các em. Một điều Anh ước mong sao hành trình của mỗi em làm thế nào cho đoàn hậu tấn để tâm kính mến lo cho các em, cũng như các em lo cho Anh từ thử. Còn cơ Đạo của Chí Tôn, bước qua năm 26 sẽ phát triển lên cao thượng một cách phi thường, làm cho dân tộc Việt-Nam đều ngạc nhiên và chủ tâm hưởng ứng. Nền Đạo cao lên bao nhiêu thì danh thể của các em tăng tiến lên; trọng yếu và trách nhậm phải thế nào? Các em cần lo trau giồi cho đáng giá, để làm gương mẫu hướng dẫn quần chúng noi bước theo con đường đạo đức và lập quốc buổi tương lai đã đến đây.

Trong phương diện hành đạo, có ba điều nên chú ý như sau nầy, các em khá nhớ: - Một là Quyền. - Hai là Luật, - Ba là Pháp, đều của Đức Chí Tôn vậy:

Quyền là giáo hóa dìu dẫn chúng sanh vào khuôn linh của Đạo. Luật là thương yêu, rộng dung, tha thứ cho kẻ lỗi biết ăn năn. Pháp là giữ công bình chánh trực.

Nếu có kẻ không nghe lời giáo hóa, cố tâm phạm luật, thì người cầm quyền cai trị lấy Thánh đức mà định hình phạt là cốt yếu cạo gọt cho nên hình người, chớ không phải kẻ cầm quyền mà để phạm vào tội ác bất nhơn, bởi Đạo quyền là Thánh trị, chớ không phải Phàm trị, các em nên nhớ. Còn Cơ đời sẽ biến chuyển cho đến ngày liễu kết cuộc chiến tranh hầu có lập lại đời Thánh đức. Đạo và Đời, Quốc và Cộng…"

 

 

THÁNH TRUYỀN


E: The Sainted doctrine.
F: La Sainte doctrine.

Thánh: chỉ những gì thuộc Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng. Truyền: trao lại. Thánh truyền là Thánh giáo chơn truyền, tức là những lời dạy bảo của Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng truyền lại.

Nhân lễ kỹ-niệm ngày Khai Đạo Ngài Thượng Trung Nhựt nói: "Tôi rất hân hạnh vì ngày nay được thay mặt Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đặng thổ lộ ít lời, nhắc tích ngày kỹ niệm hôm nay… Khi cầu Cơ, Đấng Chí Tôn giáng kêu Tôi dạy: phải cho Môn đệ của Thầy tới tối 23 tháng 8 tựu tại nhà Đạo hữu Tường đây. Tôi không biết rõ Thánh ý, điều tôi vâng mạng, cho chư Đạo hữu hay lời Thánh truyền tối 23-8 Bính-Dần tựu tại đây rồi cầu Đấng Chí Tôn giáng dạy, Tôi phải biên tên hết các nam nữ lưỡng phái đặng đứng TỜ KHAI ĐẠO với Chính phủ. Khi ấy có mặt tại đàn hết thảy là 247 vị Đạo hữu. Tôi có nạp tên mấy vị ấy tại chính phủ, khi Tôi dâng TỜ KHAI ĐẠO là ngày 6-10-1926. Ấy là buổi ban đầu.

Tiếp theo "Nếu người nào không Nhập-môn làm Môn đệ Đức Chí Tôn thì không thế gì vào được Cực-Lạc Thế-Giới, vì các Đạo Giáo đã bị bế, chỉ còn lại nền Đạo Thánh-truyền của Di-Lạc Vương tận độ mà thôi".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thế thì sau nầy có ngày phải khuất hết dấu Thánh truyền.

 

 

THÁNH TRƯỚC HIỀN XƯA

Thầy giáng dạy: "Các con có học rộng, nhưng cái rộng còn khuyết điểm muôn phần. Nơi thế-giới hữu-hình hiện-tượng trước mặt mà còn chưa hiểu đặng, huống hồ gì thấu-đáo sự vô hình. Vì Huyền-diệu Thiêng-liêng mà người không học Đạo dễ gì hiểu đặng. Những bậc Thánh trước Hiền xưa ra công tham khảo, cùng đời mãn kiếp còn chưa vén nỗi cái màn Bí-mật của Đấng Tạo-hoá đón ngăn, huống chi người thường nhơn luận bàn sao cho suốt lý."

 

 

THÁNH TỬ ĐẠO


E: The Saint martyrs.
F: Les martyrs sanctifiés.

Thánh: Bực Thánh, bực tài trí phi thường, tiếng tôn xưng vua. Tử: chết. Đạo: tôn giáo.

Thánh tử đạo là những vị tín đồ bị giết chết vì bảo vệ Đạo pháp hay vì trung thành với Đạo, nên được đắc phong vào hàng Thánh, được biên tên họ đem vào thờ nơi Bát Quái Ðài.

Từ ngữ này phát xuất từ Công giáo: Ngày Chúa sắp ra đời có người tiên tri, biết chúa sẽ đến trong sự huy hoàng. Các vì vua ganh tỵ nếu để Chúa ra đời sẽ bị mất quyền lợi nên tìm cách giết Chúa từ trong trứng nước. Nhưng may là có Thần báo mộng nên cha mẹ Chúa đã ra đi trước. Thế là trong đêm ấy các vì Vua đã cho giết tất cả trẻ con mới sanh, nghĩ rằng sẽ có Chúa hài đồng trong số ấy. Thế là những trẻ con này đã chết thay cho Chúa, nên được thành Thánh tử Đạo. Nay buổi Cao Đài, những người nào chết vì Đạo cũng đều được liệt vào Thánh Tử Đạo.

Đức Hộ Pháp thuyết lúc 8g ngày 2-10-Mậu Tý (1948)

"Ngày nay là ngày cầu-nguyện cho các Thánh-Tử-Ðạo tức nhiên là ngày lễ các Thánh. Nguyên căn ngày nay là khi Ðức Chúa Jésus-Christ giáng sanh có tiên tri rằng Chúa Cứu Thế sẽ ra đời làm chủ tinh-thần thiên hạ. Các vị Vua Chúa ác sợ mất quyền tìm cách giết Chúa. Nhưng vì đã lánh khỏi, chúng biết ngày sanh, vì oán hờn mà đeo đuổi bắt con nít đẻ trùng ngày với Ðức Chúa mà giết. Kẻ bị giết ngày ấy đều đặng hiển Thánh, vì Chúa mà chết thay thế cho Chúa, nên Thiên-Chúa Giáo lấy ngày ấy làm ngày kỹ-niệm các Thánh bỏ mình vì Chúa. Ngày nay là ngày kỹ-niệm các chiến-sĩ trận vong, các chiến-sĩ ấy hy-sinh cho quốc gia, vì nước nhà, vì nòi giống, vì nhơn loại họ không tiếc mạng sống, đứng lên để mưu hạnh phúc cho toàn cầu gầy dựng lại Quốc-gia. Ấy là các Thánh vô tội đã hy-sinh tạo hạnh-phúc cho toàn thiên hạ, cho kẻ khác hưởng, bởi thế ngày nay chúng ta nên hội hiệp nhau lại làm lễ cho long-trọng mà cầu siêu cho các chiến-sĩ đã hy-sinh bảo vệ sanh mạng tồn tại của thiên-hạ. Ngày nay là ngày trọng yếu, mà lại là ngày lễ của Chính-phủ chọn lựa. Chúng ta nên để tâm cầu-nguyện đặng tỏ rằng người sống không bao giờ quên kẻ chết và kẻ chết cùng người sống vẫn có một quan niệm chung thờ một chủ-nghĩa; duy có khác là cái chết và cái sống. Ngoài ra không ai phân biệt được, mà nếu không phân biệt được thì nhơn loại có một mà thôi. Tinh thần vẫn một, sự phân biệt đó là tại tâm lý phàm phân chia, chớ tinh thần không phân màu sắc dân tộc nào hết, chỉ có một quê hương chung là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, có một Ðấng Chúa Tể là Trời. Cả thảy chúng ta ngày nay chung hiệp lại để cầu-nguyện cho các bạn ta hay người ân của ta để cho các Ðấng linh hồn đặng siêu thăng. Và chúng ta cũng hiến trọn cả thi hài nầy cho Chí-Tôn, thì bất kỳ cầu chuyện chi, ta làm sự gì tức là dâng cho Ngài cả".

 

 

THÁNH TƯỢNG THIÊN NHÃN


E: The Holy image of the Divine Eye.
F: La Sainte image de l’œil Divin.

 

 

 

Thánh Tượng Thiên Nhãn là bức Thiên Nhãn làm biểu tượng thờ Đấng Thượng Đế trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ này được phổ biến trong toàn Đạo. Các Thánh Thất của địa phương cũng như mỗi nhà đều có thờ Thánh tượng Thiên Nhãn. Đạo trải qua thời gian, Hội Thánh cũng đã nhiều lần thay đổi Thánh Tượng Thầy. Tuy nhiên, về hình ảnh của Thánh Tượng có nhiều mẫu khác nhau, nhưng điểm chính-yếu vẫn là "Con Mắt Thầy" ở giữa. Hội Thánh định cho toàn Đạo thờ "Thánh Tượng Ngũ Chi". Dưới Thiên Nhãn Thầy có hình các Đấng Giáo-Chủ xưa: Tam-Giáo, Tam-Trấn, Ngũ Chi với ý nghĩa "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt".

A- Đạo Cao Đài thờ "Thánh Tượng Ngũ Chi" là biểu tượng đủ Tam giáo- Tam Trấn Oai nghiêm và Ngũ Chi Đại-Đạo:

1-Tam giáo:

Hàng trên cùng của bức tượng là các Đấng Giáo chủ của Nhị kỳ Phổ Độ:

Phật-Đạo: Ở giữa là Thích Ca Mâu Ni, Giáo-Chủ Đạo Phật.

Tiên-Đạo: Phía tả là Đức Thái-Thượng Lão Quân, Giáo-Chủ Đạo Tiên.

Thánh-Đạo: Phía hữu là Đức Khổng Thánh Tiên-Sư, Giáo Chủ Đạo Thánh. (Tả hữu là ở ngoài nhìn vào)

2-Tam Trấn Oai-nghiêm:

Nhị Kỳ đã qua, nay là thời Tam-Kỳ Phổ-Độ Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt. Đức Chí-Tôn phải lập Tam Trấn Oai nghiêm thay quyền Tam giáo. Đây là phần chính giữa của bức tượng, càng thấy sự yếu trọng của Tam Trấn thế nào! Tam Trấn thay mặt cho Tam Giáo

Phật: Phía tả là Đức Quan Âm Như Lai, chủ về Phật Đạo.

Tiên: Ở giữa là Đức Thái Bạch Kim Tinh, chủ về Tiên Đạo.

Thánh: Phía hữu: Đức Quan Thánh Đế Quân, chủ Thánh Đạo.

3- Ngũ Chi Đại-Đạo:

Từ trên kể xuống thì Ngũ Chi ở hàng giữa là:

1/- Phật Đạo: Đức Phật Thích Ca Mâu-Ni, Giáo Chủ Đạo Phật.

2/- Tiên Đạo: Đức Lý Đại Tiên Trưởng Thái Bạch Kim Tinh thay quyền Chưởng giáo Đạo Tiên.

3/- Thánh Đạo: Đức Gia-Tô Giáo Chủ (Chúa Jésus-Christ) Giáo chủ Đạo Thánh.

4/- Thần Đạo: Đức Khương Thượng Tử-Nha, Giáo chủ Thần Đạo.

5/- Nhơn Đạo: Tượng 7 cái Ngai thể về Nhơn Đạo gồm có: Một Ngai Giáo Tông, ba Ngai Chưởng-Pháp, ba Ngai Đầu Sư; tức nhiên người đứng đầu, lãnh đạo Nhơn sanh về phần Nhơn Đạo là Giáo Tông Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. (Thế nên nơi Thánh Thất chỉ viết chữ"Giáo Tông Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ" tượng cho Nhơn-Đạo là đủ ý nghĩa.

Trong tượng Ngũ-Chi nhận thấy có phần chính-yếu là Thiên-Nhãn Thầy ở chính giữa với số tia hào-quang khác nhau tuỳ theo mẫu Thánh Tượng. Kế đến là mặt trời và mặt trăng tức là Âm Dương nhị khí. Dưới là Tam-Giáo, kế Tam Trấn và Ngũ Chi. Như vậy mỗi vị đều đứng vào tâm của mỗi vòng tròn, tức là mỗi vị là một Thái-cực với sự yếu trọng khác nhau. Đặc biệt nhứt trong thời Tam-Kỳ Phổ-Độ này hình ảnh Chúa Jésus Thánh-Đạo là Chúa Cứu Thế đứng vào tâm của vòng tròn tức nhiên hoà nhập cùng Thượng Đế. Đó là Thọ khổ, là một trong năm bước Khổ. Người tu trong buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ là hành đủ Tam lập, là Phụng sự Vạn linh tức là phụng sự Chí-linh.

Dưới đây là hình vẽ biểu hiệu cho Thánh Tượng.