CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần T

 

TA

Ta

Ta Bà

Ta Bà Ha

Ta Bà Thế Giới

Ta Hồ Tận Chúng Sanh

Ta Oán

Ta Thán

Ta Thán Từ

 

Tá Danh

Tá Điền

Tá Giả Tầm Chơn

Tá Hoa Hiến Phật

Tá Lý

Tá Mẫu Đầu Thai

Tá Phàm

Tá Thế

Tá Trợ

Tá Túc

 

Tà Bất Thắng Chánh

Tà Bổn Thân

Tà Chánh

Tà Dâm

Tà Dương

Tà Đạo

Tà Gian

Tà Huy

Tà Khí

Tà Khuất

Tà Ma

Tà Mị

Tà Nguyệt

Tà Pháp

Tà Quái

Tà Quyền

Tà Tâm

Tà Tây

Tà Thần

Tà Thần Tinh Quái

Tà Thuật

Tà Thuyết

Tà Vạy

 

TẢ

Tả

Tả Chiêu Hữu Mục

Tả Đạo

Tả Ðạo Bàng Môn

Tả Phái

Tả Phan Quân

Tả Phan Quân Trang Văn Giáo

Tả Quân Lê Văn Duyệt

Tả Tư Hữu Tưởng

Tả Xung Hữu Đột

 

TẠ

Tạ

Tạ Bệnh

Tạ Khách

Tạ Lễ

Tạ Thế

Tạ Tội

Tạ Thu Thâu

Tạ Từ

 

TÁC

Tác

Tác Dụng

Tác Động

Tác Hiệp

Tác Nghiệt

Tác Phong

Tác Quyền Sở Hữu

Tác Tệ

Tác Thành

Tác Trái

Tác Uy Tác Phúc

 

TẠC

Tạc

Tạc Dạ

Tạc Thù

Tạc Tỉnh Nhi Ẩm

Tạc Triêu

Tạc Tử Kim Sanh

Tạc Tượng

 

TAI

Tai

Tai Ách

Tai Biến

Tai Họa

Tai Mắt

Tai Nguy

Tai Vách Mạch Rừng

Tai Ương

Tai Ương Hoạn Họa

 

TÁI

Tái

Tái Bản

Tái Cầu

Tái Kiếp

Tái Lập

Tái Luyến

Tái Ngộ

Tái Nhiệm

Tái Phạm

Tái Phục

Tái Sanh

Tái Thế

Tái Thệ

Tái Thủ Quyền Hành

 

TÀI

Tài

Tài Bất Khả Ỷ

Tài Bồi

Tài Cán

Tài Chánh

Tài Đa Lụy Thân

Tài Đức

Tài Giả Tai Dã

Tài Hoa

Tài Hùng Biện

Tài Liệu

Tài Sắc

Tài Tình

 

TẠI

Tại Gia

Tại Vị

 

TAM

Tam Bành Lục Tặc

Tam Bảo

Tam Bất Tà Dâm

Tam Bửu

Tam Cang

Tam Cang Lãnh

Tam Cang - Ngũ Thường

Tam Cấp

Tam Châu Bát Bộ

Tam Chuyển

Tam Cung - Tam Động

Tam Dân

Tam Dân Chủ Nghĩa

Tam Đa

Tam Đại

Tam Đầu Chế Cửu Trùng Đài

Tam Đầu Chế Hiệp Thiên Đài

Tam Đồ Khổ

Tam Độc

Tam Đức

Tam Giáo

Tam Giáo Thất Chơn Truyền

Tam Giáo Đồng Nguyên

Tam Giáo Qui Nguyên

Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt

Tam Giáo (Tòa)

Tam Hội Lập Quyền

Tam Hồn

Tam Kỳ

Tam Kỳ Phổ Độ

Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản

Tam Kỳ Xá Ân

Tam Lập

Tam Muội Hỏa

Tam Nương Diêu Trì Cung

Tam Ngôi Nhứt Thể

Tam Nguơn

Tam Quan

Tam Quang

Tam Qui

Tam Qui Thường Bộ Pháp Giới

Tam Sanh

Tam Sắc Đạo

Tam Tai

Tam Tài

Tam Tạng Kinh

Tam Thanh

Tam Thánh Ký Hòa Ước

Tam Thập Lục Ðộng

Tam Thập Lục Thánh

Tam Thập Lục Thiên

Tam Thế Phât

Tam Thế Tứ Sanh

Tam Thể Xác Thân

Tam Thiên

Tam Thiên Đồ Đệ

Tam Thiên Thế Giới

Tam Thiên Đại Thiên Thế Giái

Tam Thiên Thế Giới Hộ Pháp Giáng Lâm

Tam Thiên Vị

Tam Thừa

Tam Tiên

Tam Tộc

Tam Tông Chơn Giáo

Tam Trấn Oai Nghiêm

Tam Tụ Lục Hòa

Tam Tùng - Tứ Đức

Tam Vị Nhứt Thể

Tam Vị Nữ Đầu Sư

Tam Vị Thần

 

TÁM

Tám Phẩm Cấp Chơn Hồn

 

TAN

Tan Tành

 

TÁN

Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu

 

TÀN

Tàn (Tàn Lộng)

Tàn Bạo

Tàn Y

 

TANG

Tang Chủ

Tang Du

Tang Điền Nhựt Đảo Biến Nên Thương Hải Huê Triều

Tang Gia

Tang Hôn

Tang Lễ

Tang Lễ Chức Sắc Thiên Phong

Tang Phục

Tang Sự

Tang Thương

Tang Trí Kỳ Ai

 

TÀNG

Tàng Ẩn

Tàng Kinh Khố

 

TÁNH

Tánh Đức

Tánh Chất

Tánh Hạnh

Tánh Hiệp Vô Vi

Tánh Linh

Tánh Mạng

Tánh Mạng Song Tu

Tánh Phàm - Tánh Tục

Tánh Thần

Tánh Thiện

Tánh Thú

Tánh Tình

Tánh Tự Tâm Sanh

 

TAO

Tao Ngộ

 

TÀO

Tào Khương

Tào Quốc Cựu

 

TẠO

Tạo Chúc Cầu Minh, Đọc Kinh Cầu Lý

Tạo Đoan

Tạo Đời Cải Dữ Ra Hiền

Tạo Hóa

Tạo Hóa Thiên

Tạo Nhân Kết Nghĩa

Tạo Thế

Tạo Thiên Lập Địa

Tạo Thời Cải Thế

Tạo Vật

 

TẢO

Tảo Khai

Tảo Tần

 

TẠP

Tạp Niệm

 

TÀY

Tày Non Tợ Biển

 

TẮC

Tắc (Phạm Công Tắc)

 

TẮM

Tắm Thánh

 

TĂNG

Tăng Đồ

Tăng Viên Phước Thọ

Tăng Xán

 

TẤC

Tấc Cỏ

Tấc Đất Ngọn Rau

Tấc Lòng

 

TÂM

Tâm (1)

Tâm (2)

Tâm (3)

Tâm Ấn

Tâm Chí

Tâm Ðạo

Tâm Đắc

Tâm Đăng

Tâm Điền

Tâm Định Thần Ứng

Tâm Đức

Tâm Hồn

Tâm Huyết

Tâm Hương

Tâm Không

Tâm Kinh

Tâm Linh

Tâm Lý

Tâm Lý Huỡn Huợt

Tâm Lý Thấp Thỏi

Tâm Nguyện

Tâm Niệm

Tâm Phàm

Tâm Phàm Tánh Tục

Tâm Pháp Bí Truyền

Tâm Sự

Tâm Tang

Tâm Tánh

Tâm Thánh

Tâm Thành

Tâm Thần

Tâm Trí

Tâm Trung Chánh Đáng

Tâm Truyền

Tâm Truyền - Bí Truyền

Tâm Viên Ý Mã

 

TẤM

Tấm Thân Trần Cấu

 

TẦM

Tầm Ngôi Thiên

Tầm Nguyên Từ Điển

 

TÂN

Tân Cố

Tân Dân

Tân Dân Thị

Tân Giáo

Tân Hợi Cách Mệnh

Tân Khổ

Tân Kinh

Tân Luật

Tân Luật Sự

Tân Luật Thích Giáo

Tân Pháp

Tân Phong

Tân Sấm Truyền

Tân Thế Giới

Tân Toan

Tân Tôn Giáo

Tân Xuân Nguyên Đán

 

TẤN

Tấn Quẻ Hoả Địa Tấn

Tấn Hóa

Tấn Phong

 

TẦN

Tần Nhơn

Tần Quốc

Tần Thủy Hoàng Đế

 

TẪN

Tẫn Liệm

 

TẬN

Tận Diệt

Tận Đoạ Tam Đồ Bất Năng Thoát Tục

Tận Độ

Tận Độ Chúng Sanh

Tận Độ Vạn Linh

Tận Nhơn Lực Tri Thiên Mạng

Tận Số

Tận Tâm

Tận Thế

Tận Thiện Tận Mỹ

Tận Tụy

Tận Tuyệt

 

TẦNG

Tầng Trời

 

TẬP

Tập Luyện Tâm Tánh

Tập Quán

 

TẤT

Tất Đạt Đa Cồ Đàm

Tất Kiến

Tất Niên

Tất Yếu

 

TẬT

Tật Nguyền

 

TẤU

Tấu Nhạc

 

TÂY

Tây Hồ

Tây Lang

Tây Ninh

Tây Phương

Tây Phương Cực Lạc

Tây Phương Giáo Chủ Jésus Christ

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni

Tây Phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn

Tây Qui

Tây Sơn Nguyễn Nhạc

Tây Tà

Tây Tông Vô Cực Cung

Tây Thi - Phạm Lãi

Tây Vức

Tây Vương Mẫu

 

TẨY

Tẩy Trần

Tẩy Trược

 

TẾ

Tế Bạt

Tế Bần

Tế Chẩn

Tế Chủ

Tế Chúng

Tế Đàn

Tế Điện

Tế Độ

Tế Khổn Phò Nguy

Tế Lễ

Tế Nhị

Tế Phẩm

Tế Trợ

Tế Tự

Tế Vật

 

TỀ

Tề Gia Nội Trợ

Tề Thiên Đại Thánh

 

TỆ

Tệ Đệ

Tệ Huynh

Tệ Muội

Tệ Tăng

Tệ Tỷ

Tệ Xá

 

TỈ

Tỉ Khâu

Tỉ Khâu Ni

 

TÍCH

Tích Cốc Phòng Cơ Dưỡng Nhi Đãi Lão

Tích Cực

Tích Đức

Tích Đức Lưu Phương

Tích Kim Dĩ Vi Tử Tôn

Tích Phước

Tích Thiểu Thành Đa

Tích Trượng

 

TỊCH

Tịch

Tịch Diệt

Tịch Dương

Tịch Đạo

Tịch Đạo Thanh Hương

Tịch Đạo Đạo Tâm

Tịch Đạo Thanh Đạo

Tịch Đạo Hương Tâm

Tịch San

Tịch Tịnh

 

TIỆC

Tiệc Hồng

 

TIÊN

Tiên

Tiên Bang - Tiên Cảnh

Tiên Bút

Tiên Cảnh

Tiên Cơ - Tà Cơ

Tiên Cung Phật Xứ

Tiên Dược

Tiên Đạo

Tiên Gia

Tiên Giáo

Tiên Hiền

Tiên Hoa

Tiên Linh

Tiên - Nho - Thích

Tiên Nhơn

Tiên Nữ

Tiên Phật

Tiên Phong - Tiên Phong Phật Cốt

Tiên Phong Phật Sắc

Tiên Sinh

Tiên Sư

Tiên Thiên

Tiên Thiên Chánh Nhứt Thái Thượng Ðạo Quân Chưởng Giáo Thiên Tôn

Tiên Thiên Khí Hóa

Tiên Thiên - Hậu Thiên

Tiên Trà

Tiên Tri

Tiên Tục

Tiên Tử

Tiên Tửu

Tiên Vị

Tiên Xa

 

TIẾN

Tiến

Tiến Cử

Tiến Dẫn

Tiến Hóa Luật

Tiến Triển

Tiến Tửu

 

TIỀN

Tiền

Tiền Bối

Tiền Căn

Tiền Công

Tiền Duyên

Tiền Định

Tiền Đồ

Tiền Khiên

Tiền Kiếp - Hậu Kiếp

Tiền Nhơn

Tiền Sử

Tiền Tấn Hậu Kế

Tiền Thân

Tiền Trình

Tiền Vãng - Hậu Vãng

 

TIỄN

Tiễn Biệt Tình Lang

Tiễn Thăng

 

TIẾNG

Tiếng An Nam Thầy Cho Là Chánh Tự

Tiếng Nói Lương Tâm

 

TIẾP

Tiếp (Giáo Hữu Thượng Tiếp Thanh)

Tiếp Dẫn

Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn (1)

Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn (2)

Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron

Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Huỳnh Hữu Lợi

Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Khưu Kim Ngọc

Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn Văn Kiết

Tiếp Ðạo

Tiếp Ðạo Chơn Quân Cao Ðức Trọng

Tiếp Giá

Tiếp Lễ Nhạc Quân

Tiếp Nghinh

Tiếp Pháp

Tiếp Pháp Chơn Quân Trương Văn Tràng

Tiếp Thế

Tiếp Thế Chơn Quân Lê Thế Vĩnh

Tiếp Y Quân

 

TIẾT

Tiết Đông Thiên

Tiết Hạnh

Tiết Lậu

Tiết Phụ

Tiết Trinh

 

TIÊU

Tiêu

Tiêu Cực

Tiêu Diêu

Tiêu Diêu Đạo Sĩ

Tiêu Diệt

Tiêu Diệt Linh Hồn

Tiêu Hủy

Tiêu Hủy Án Tử Hình

Tiêu Tan

Tiêu Tàn

Tiêu Thiều

Tiêu Trừ

 

TIỀU

Tiều Tụy

 

TIỂU

Tiểu Bất Nhẫn, Tắc Loạn Đại Mưu

Tiểu Cấp Hiệp Thiên Đài

Tiểu Đàn

Tiểu Đệ

Tiểu Hồi - Đại Hồi

Tiểu Hồn

Tiểu Lễ - Đại Lễ

Tiểu Linh Quang

Tiểu Ngã - Đại Ngã

Tiểu Ngọc Cơ

Tiểu Nguyệt

Tiểu Quốc

Tiểu Súc Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc

Tiểu Tâm

Tiểu Thánh Thất

Tiểu Thiên Địa

Tiểu Thừa

Tiểu Thừa - Đại Thừa

Tiểu Tường

 

TIẾT

Tiết Lậu Thiên Cơ

 

TÌM

Tìm Pháp

 

TIN

Tin Cậy

Tin Mai

 

TÍN

Tín

Tín Điều

Tín Đồ

Tín Ngã

Tín Nghĩa

Tín Ngưỡng

Tín Ngưỡng Thập Tàng

Tín Nhiệm

Tín Nữ

Tín Thành

 

TINH

Tinh Anh

Tinh Ba

Tinh Cầu

Tinh Hoa

Tinh - Khí - Thần

Tinh-Khí-Thần An

Tinh-Khí-Thần Hiệp Nhứt

Tinh Khiết

Tinh Ma Quỉ Quái

Tinh Quân

Tinh Tấn

Tinh Tú

Tinh Thần

Tinh Thần Người Bảo Thể

Tinh Thần Nhơn Loại

Tinh Thông

Tinh Vi

 

TÍNH

Tính

Tính Hiếu Kỳ

 

TÌNH

Tình

Tình Ái

Tình Cờ

Tình Biển

Tình Chung

Tình Cốt Nhục

Tình Duyên

Tình Nguyện

Tình Nồng

Tình Thâm

Tình Thương Vạn Vật

 

TỈNH

Tỉnh

Tỉnh Ngộ

Tỉnh Thế

Tỉnh Thức

 

TĨNH

Tĩnh Dưỡng

Tĩnh Lự

Tĩnh Tâm

Tĩnh Tọa

 

TỊNH

Tịnh Dục

Tịnh Đàn

Tịnh Độ

Tịnh Luyện

Tịnh Nhục

Tịnh Niệm

Tịnh Tâm

Tịnh Tâm Xá

Tịnh Tâm Điện

Tịnh Thất

 

TÒA

Tòa Ðạo

Tòa Hòa Giải

Tòa Nội Chánh Cửu Trùng Đài

Tòa Nghiệt Cảnh

Tòa Phán Xét

Tòa Sen

Tòa Tam Giáo

Tòa Tam Giáo Của Đức Chí Tôn

Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài

Tòa Thánh Chất

Tòa Thánh Nhị Giang

Tòa Thánh Tây Ninh

Tòa Thánh Tiền Giang

Tòa Thiên Nhiên

 

TỌA

Tọa Thiền

Tọa Vị

 

TOẠI

Toại Kỳ Sở Nguyện

Toại Nhân - Hữu Sào

 

TOÀN

Toàn Cầu

Toàn Mỹ

Toàn Năng

 

Tô Ðông Pha

Tô Huệ Điệu Hồi Văn

 

TỐ

Tố Bần Hàn

Tố Cáo Cho Mướn Thuyền Bát Nhã

 

TỔ

Tổ Chức

Tổ Đình

Tổ Mẫu

Tổ Nghiệp

Tổ Phụ

Tổ Phụ Đã Qui Liễu

Tổ Quán

Tổ Sư

Tổ Sư Thái Thượng Đức Ông

Tổ Tông

 

TỐC

Tốc Ký

 

TỘC

Tộc Đạo

 

TÔI

Tôi Giặc

Tôi Tớ

Tôi Trung

 

TỐI

Tối Cổ

Tối Đại

Tối Linh

Tối Thượng

 

TỘI

Tội

Tội Ác Bất Nhơn

Tội Báo

Tội Căn

Tội Chướng

Tội Đánh Lộn

Tội Huynh Đệ Giết Nhau

Tội Khiên

Tội Lỗi

Tội Nhơn

Tội Phước

Tội Tiền Khiên

Tội Tình

Tội Tổ Tông

 

TÔN

Tôn (1)

Tôn (2)

Tôn Chỉ

Tôn Chỉ Thống Nhứt

Tôn Dật Tiên

Tôn Giáo

Tôn Giáo Đại Đồng

Tôn Giáo Toàn Cầu

Tôn Nghiêm

Tôn Sơn Chơn Nhơn

Tôn Sùng

Tôn Sư

Tôn Tẩn

Tôn Ti Phẩm Trật

Tôn Trọng

Tôn Trung Sơn

Tôn Võ Tử

 

TỒN

Tồn Tại

Tồn Vong Ưu Liệt

Tồn Tâm

Tồn Tâm Dưỡng Tánh

 

TỔN

Tổn Quẻ Sơn Trạch Tổn

Tổn Đức

Tổn Thọ

 

TÔNG

Tông Đạo

Tông Đạo Tần Nhơn

Tông Đồ

Tông Đường

Tông Tổ

 

TỐNG

Tống Chung

Tống Phủ Từ

Tống Táng

 

TỔNG

Tổng Quản

Tổng Thanh Tra Nguyễn Văn Thành

Tổng Trạo

Tổng Giám - Phó Tổng Giám

 

TỐT

Tốt Nghiệp

 

Tơ Duyên

Tơ Đồng

Tơ Tóc

 

TỜ

Tờ Khai Đạo

Tờ Kiết Chứng

Tờ Phúc Trình

 

TU

Tu

Tu Chỉnh

Tu Chơn

Tu Đức

Tu Hành

Tu Kỷ Dĩ An Bá Tánh

Tu Luyện

Tu Là Cội Phúc

Tu Mi

Tu Mi Trung Ái

Tu Niệm

Tu Sĩ

Tu Tạo

Tu Tánh

Tu Tâm

Tu Tâm Sửa Tánh

Tu Thân

Tu Thiền

Tu Tỉnh

Tu Trì

Tu Vật

 

Tù Phong Đô

 

TỦ

Tủ Hành Hương

 

TUA

Tua

 

TUÂN

Tuân Hành

Tuân Y

 

TUẤN

Tuấn Kiệt

 

TUẦN

Tuần Cửu

Tuần Hoàn

Tuần Khắp Xét Tra

 

TÚC

Túc Thực Túc Y

 

TỤC

Tục Danh

Tục Kiếp

Tục Lụy

Tục Lự

Tục Trần

Tục Vẽ Mình

 

TÚI

Túi Mình Có Ngọc Báu Mà Ngửa Tay Đi Xin Người Từng Hạt Gạo

 

TUNG

Tung Hoành

 

TÙNG

Tùng Bá

Tùng Giáo

Tùng Lâm

Tùng Khổ - Thoát Khổ

Tùng Lịnh

Tùng Pháp

Tùng Phu

Tùng Quyền

Tùng Thiên Lý

Tùng Thư

 

TỤNG

Tụng Quẻ Thiên Thuỷ Tụng

Tụng Nhơn Quả

Tụng Niệm

 

TUỔI

Tuổi Hạc

Tuổi Vàng

 

TÚY

Túy Sơn Vân Mộng

 

TỤY

Tuỵ Quẻ Trạch Địa Tuỵ

 

TUYÊN

Tuyên Bố

Tuyên Dương Công Nghiệp

Tuyên Ngôn

Tuyên Thệ

 

TUYỀN

Tuyền Đài

 

TUYỂN

Tuyển Chọn

Tuyển Phong

Tuyển Tài - Tuyển Đức

 

TUYẾT

Tuyết Tân Thành

 

TUYỆT

Tuyệt

Tuyệt Bút

Tuyệt Cốc (1)

Tuyệt Cốc (2)

Tuyệt Giống Dứt Nòi

Tuyệt Luân

Tuyệt Mạng

Tuyệt Sinh

 

Tư Bổn

Tư Cách

Tư Cách Pháp Nhân Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Tư Chất

Tư Duy

Tư Đường

Tư Mắt

Tư Mật

Tư Pháp

Tư Phương

Tư Vị

 

TỨ

Tứ

Tứ Ân

Tứ Bảo Văn Phòng

Tứ Bất Tử

Tứ Bất Tửu Nhục

Tứ Dân - Tứ Thú

Tứ Diệu Đế

Tứ Ðại Bộ Châu

Tứ Đại Điều Qui

Tứ Đức

Tứ Giáo Thánh Nhân

Tứ Hải Giai Huynh Đệ

Tứ Hồn

Tứ Khổ

Tứ Linh

Tứ Nương Diêu Trì Cung

Tứ Phối

Tứ Quí

Tứ Sinh

Tứ Táng

Tứ Thánh

Tứ Thời

Tứ Thời Nhựt Tụng

Tứ Thư

Tứ Tượng

Tứ Vị Tiên Vương

Tứ Vụ

 

TỪ

Từ

Từ Ân

Từ Bi

Từ Bi - Bác Ái

Từ Cung Thái Hậu Ngộ Đạo

Từ Chức

Từ Dũ

Từ Điển

Từ Đường

Từ Hàn

Từ Hàng

Từ Hàng Ðạo Nhơn

Từ Hàng Ðạo Nhân

Từ Huệ

Từ Huyên

Từ Khí

Từ Khước

Từ Lâm Tự - Thiền Lâm Tự

Từ Mẫu

Từ Phụ

Từ Tạo Thiên Lập Địa

Từ Tâm

Từ Thiện

Từ Thứ

Từ Thức

Từ Thử Nước Nam Chẳng Đạo Nhà

Từ Từ Nhi Tấn

Từ Từ Nhi Tiến

 

TỰ

Tự

Tự Cao

Tự Chủ

Tự Diệt

Tự Do Tư Tưởng

Tự Đắc - Tự Tôn

Tự Đức

Tự Độ - Độ Tha

Tự Giác

Tự Giáo

Tự Hối

Tự Lập

Tự Nhiên

Tự Phụ

Tự Tại

Tự Tánh

Tự Tín - Tha Tín

Tự Tỉnh

Tự Toại

Tự Thiên Tử Dĩ Chí Ư Thứ Dân, Nhứt Thị Giai Dĩ Tu Thân Vi Bổn

Tự Thử

Tự Trọng

Tự Vẫn

 

TỬ

Tử

Tử Bất Giáo Phụ Chi Quá

Tử Biệt Sanh Ly

Tử Hậu

Tử Hình

Tử Khí Đông Lai

Tử Sanh

Tử Tôn

Tử Tức

Tử Vì Đạo

Tử Vong

 

TƯỚC

Tước Hàm Trần Thế

Tước Quyền Thiên Quân

Tước Trọng

Tước Vị

 

TƯƠNG

Tương

Tương (Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh)

Tương (Chánh Phối Sư)

Tương Ái

Tương Dưa

Tương Đắc

Tương Điều Hòa

Tương Đối

Tương Đối Thuyết

Tương Giang

Tương Hòa

Tương Kế Tựu Kế

Tương Khắc - Tương Hòa

Tương Liên Mật Thiết

Tương Sanh

Tương Sanh - Tương Khắc

Tương Phản

Tương Tàn - Tương Sát

Tương Tế

Tương Tư

Tương Thân Tương Ái

 

TƯỚNG

Tướng Diện

Tướng Lễ

Tướng Soái Lớn

Tướng Soái Thời Quân

 

TƯỜNG

Tường

Tường (Lễ Sanh)

Tường Quang

Tường Vân

 

TƯỢNG

Tượng Di Lạc

Tượng Phật Tổ

Tượng Thầy

Tượng Trưng

Tưởng Tín

Tưởng Trời Tin Phật

 

TỬU

Tửu Nhập Tâm Di

Tửu Quỳnh

Tửu - Sắc - Khí - Tài

 

TỰU

Tựu Vị

 

Tý - Ngọ - Mẹo - Dậu

 

TỲ

Tỳ Bà

Tỳ Kheo

Tỳ Vị

 

TỶ

Tỷ Quẻ Thuỷ Địa Tỷ

Tỷ (Giáo Hữu Thượng Tỷ Thanh)

Tỷ Muội

 

TỸ

Tỹ Tổ

 

TỴ

Tỵ Trần

 

Phụ Lục: TỜ KHAI ĐẠO KHAI ĐẠO VỚI CHÁNH PHỦ DANH SÁCH 247 NGƯỜI KÝ TÊN.

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 28-10-2017

 

 

 

TA

F: Moi.

TA là tiếng tự xưng mình, nói về chính bản thân mình.

Phật Thích Ca dạy: "Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành Đạo. Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà TA rất đau lòng. TA đến chẳng phải cứu một mình chư Tăng mà thôi, vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, phải đọa hồng trần, TA đương lo cứu vớt. Chư Tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư Sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn. Kỳ truyền đã thất, chư Sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật THẦN TÚ, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. TA đã đến với huyền diệu nầy thì từ đây, TA cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa".

Thi văn dạy Đạo:

Ðã từng muôn kiếp có tên TA,
TA bởi Ðạo Trời mở cửa ra.
Ra để rước người lành đến ở,
Ở chung một cõi lại chung nhà.

 

 

TA BÀ

Ta-Bà: Còn gọi là Sa-Bà 娑婆, tiếng Phạn Saha, Hán dịch là Kham nhẫn 堪忍. Đây chính là một cõi Tam thiên Đại thiên thế giới, thuộc phạm vi hóa độ của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Sở dĩ dịch là Kham nhẫn, hàm ý: chúng sanh trong cõi Sa-Bà cam lòng chịu đựng những nỗi khổ sở do ngũ trược gây ra, chẳng biết kiêng sợ. Dù các Tôn giáo đem giáo pháp đến chỉ dạy, vẫn ít kẻ chịu tu hành để thoát ly khổ cảnh, cam tâm vùi đắm mãi trong trói buộc, nên gọi là Kham nhẫn. Cõi chúng ta đang sinh sống thuộc về Thế giới Ta Bà.

Kinh Khi Về có câu:

"Con nguyện xin khuôn linh giúp sức,
"Bước Ta-bà giục thức huệ quang."

 

 

TA BÀ HA

Tiếng Phạn: SWÂHA được phiên âm là Ta-Bà-Ha hay Sa-Bà-Ha, có ý nghĩa bí mật trong các câu Thần chú, có thể tạm giải ra là: Thành tựu, kiết tường, tiêu tai tăng phước, viên tịch, vô trụ, kính giác chư Phật, chứng minh công đức. Cuối các câu Thần chú đều có ba chữ: "Ta-Bà-Ha".

Bài Kệ chuông cũng có câu:

Án Dà Ra Đế Dạ Ta-Bà-Ha.

 

 

TA BÀ THẾ GIỚI

(Ta Bà là do phiên âm từ tiếng Phạn: SAHA, nên cũng có âm là Sa-Bà, nghĩa là nhẫn nhục, kham nhẫn; Thế giới là một cõi, một địa cầu). Khi nói "Ta Bà thế giới" là cõi có nhiều sự gian ác và ô-trược mà chúng sanh trong cõi đó phải nhẫn nhục cam chịu. Đối với người tu hành phải nhẫn nhịn mọi sự thì mới có thể thành đạo được. Trong cõi Ta-Bà thế-giới nầy: có người, có ngạ quỉ, có chư Thần, sống lẫn lộn với nhau nên rất khó tu học, nhưng ai tu học được thì rất mau tiến hóa hơn ở các cõi khác. Cõi trần của nhơn loại đang sống đây là một trong các cõi Ta-Bà thế-giới. Đức Phật nói: Ở cõi Ta-Bà nầy mà làm lành một ngày một đêm thì hơn làm lành một trăm năm ở cõi Cực lạc Thế giới của Đức Phật A-Di-Đà, vì cõi Cực lạc Thế giới là vô vi tự nhiên, chứa đủ mọi sự lành, không có một chút dữ nào dù nhỏ như mảy lông hay sợi tóc. Địa cầu nơi con người sống chỉ là một chỗ rất nhỏ bé trong thế giới Ta Bà. Đức Phât Thích Ca lãnh giáo hóa chúng sanh nơi cõi Ta-Bà, nên Kinh thường gọi "Sa Bà Thế giới bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật".

Trong vũ trụ có hằng hà sa số thế giới, Kinh Phật gọi Tam thiên Đại thiên Thế giới 三千大千世界 là nói gồm cả Đại Thiên Thế giới, Trung Thiên Thế giới và Tiểu Thiên Thế giới.

Kinh Di-Lạc có câu:

"Năng du Ta-Bà thế-giới độ tận vạn linh đắc qui Phật vị."

 

 

TA HỒ TẬN CHÚNG SANH

Câu này là lời than của Đức Phật Thích Ca, có nghĩa rằng: Than ôi! Đến ngày cùng tận của chúng sanh rồi!.

Đức Lý dạy: "Bần Đạo đã nói, Đạo phải diệt tận trong một lúc, nên trước đã giao quyền lại cho Tòa Tam Giáo. Nay cái màn Việt gian ấy đã lộ ra rõ ràng. Ôi! Đạo chết trước tất là Quỉ Vương xâm nhập. Cầm cả quyền hành Tổ đình, hồn Đạo phưởng phất ngoài muôn dặm, duy còn xác Đạo ngẩn ngơ, như nhà trống bỏ lũ hoang vào, mặc dầu tung hoành phá nát. Hiệp Thiên Đài khoanh tay chờ coi thành bại há? - Không nên vậy, mà cũng không làm cho trái với Tôn chỉ của Đạo, mở con đường mới đây là đề phòng, tập thành đàng đạo-đức vào cai quản dìu dắt mối Đạo, người có phẩm cách trong bọn cũ và cải sửa bước đường của chúng nó lại, lánh xa lốt kiêu căng, lấy thế cậy quyền mà mua lòng kẻ yếu tánh. Chư Đạo-hữu nên lấy luật Đạo mà bôi xóa tên họ, trục xuất khỏi quyền hành chánh và đồng tâm cầu nguyện Đức Chí Tôn ban ơn rộng, xin phép hội với Lôi Âm Tự, trục xuất Quỉ Vương ra khỏi Tổ đình, đợi cho chư Đạo Hữu làm hết phận sự, đến chừng nào chư Đạo hữu không sức kềm chế vững với lũ tà tâm, chừng chúng nó tự quyết không sửa cải, tự đem mình hiến cho tà quái, thì đó là đường cùng của Đạo, đó là ngày những nguyên nhân hữu công bỏ xác Đạo lại trọn trong cả 36 động Quỉ Vương, lại cũng là ngày cửa Phong đô mở lớn đặng chờ rước kẻ vô đạo. Ta hồ tận chúng sanh! Tại ai? Tại ai? Chư Đạo Hữu cũng khó cải số được. Lời của Bần Đạo dặn nói đây là cho chư Đạo Hữu gắng tâm mà day trở một lần chót nữa, nếu đặng thành thì đó là một công quả thêm cao, còn chẳng được thì đó là Thiên số vậy. Bần Đạo vì lòng Bác ái của chư Đạo Hữu và thương mấy triệu sanh linh nên ráng sức tâu rỗi cho Thiên Thơ đình đãi lại mà chờ công trình của chư Đạo Hữu, chớ nên vì khó mà ngán bước đường mà tội nghiệp cho TƯƠNG và TRANG (1), ráng níu kéo giùm chúng nó nghe! Bước đã lắm trờ tới rồi, còn lắm kẻ vô đạo yếu-trọng trong trách-nhậm của chư Đạo Hữu, nhưng Bần Đạo chẳng lẽ cạn chê, để vậy cho có cớ chư Đạo Hữu có công trình chút ít. Hộ Pháp ráng suy xét lời của Bần Đạo, sau có chi chi trắc trở thì có Thượng Phẩm giúp lời, đừng nao núng nghe! Từ đây chớ khiếp nhược nữa, chư Đạo Hữu sanh chỉ để hiến mình cho Đạo. Đạo đã nắm nơi tay, há để cho lũ tà tâm nhiễu loạn sao? Nên liệu lấy với hai đứa đó (2) rồi sau sẽ có phương khác, chớ lo nhọc đến ai nữa".

Câu: "Ta hồ tận chúng sanh" là do lời thuật lại của Thanh Tâm Tài Nữ giáng Cơ ngày 23-4-1928 (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

"Ðạo mở rộng, giống Ðạo gieo đã trót hai thu, mà người thiệt vì Ðạo chẳng có bao nhiêu, thế nên hồi chưa mở rộng nền Ðạo, Ðức Thích Ca dòm vào thế cuộc mà than rằng:

"Lộ vô nhơn hành, điền vô nhơn canh,
"Đạo vô nhơn thức, ta hồ tận chúng sanh!"

Ba Anh có hiểu chăng? Sao gọi: Lộ vô nhơn hành, anh M... N...? Ðường có người đi nhiều, mà không ai là người phải, đường đi dập dìu thiên hạ mà toàn là ma hồn quỉ xác, tâm giả dối, hạnh hung bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người. Còn điền vô nhơn canh là sao? Anh N... Ð...? -"Ruộng đây, là tỷ với tâm, tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi tâm, thì tâm ví như điền, có điền mà chẳng có cày bừa, đặng đem hột lúa gieo vào, cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất phải bỏ hoang; bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít xen vào ẩn trú; người mà có tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu, đặng cho buổi gặt hưởng nhờ, mà không chịu làm thế thì phải diệt tận chơn linh. Hai câu sau là kết cuộc".

_______________________________

Chú thích: (1) (2) TƯƠNG là Nguyễn Ngọc Tương thọ Thiên phong phẩm Phối Sư phái Thượng (Thượng Tương Thanh) ngày 17-5-Bính Dần.

TRANG, là ông Lê Bá Trang thọ Thiên phong phẩm Phối Sư phái Ngọc (Ngọc Trang Thanh) ngày 03-07-Bính Dần. Qua năm 1934, nhị vị rời Tòa Thánh Tây Ninh lập Ban Chỉnh Đạo (Chi phái Bến Tre). Lời trên là một sự cảnh giác.

 

 

TA OÁN

Thán siết oán trách.

 

 

TA THÁN


E: To complain.
F: Se plaindre.

Ta thán là kêu than khổ sở, đồng nghĩa: Ta oán. (Ta: than thở. Thán: than!).

Đức Hộ-Pháp nói: "Nước Việt-Nam là Thánh địa của Đức Chí Tôn mà tránh không khỏi cái nạn ta thán, hồi hộp, sợ sệt."

 

 

TA THÁN TỪ (Văn)

 

 

Mượn.. Như: Tá danh, Tá phàm, Tá mẫu đầu thai.

Giúp, phụ giúp. Ví như: Tá lý, Trợ tá, Tá cơ.

 

 

TÁ DANH


E: Assumed name.
F: Pseudonyme

Tá danh là mượn một tên khác chứ không xưng tên thiệt.

"Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Đài Đại Bồ Tát. Nhữ tri hồ? Hữu Ngã đồ Thái Đầu Sư tại thử, nhĩ vô thức luyện đạo, Ngã phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp. Tam thập tứ vị chúng sơn bất tri Chơn lý luyện thành. Ngã vi Chủ khảo giáo hóa. Khả tuân Ngã mạng. Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai!" (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 22)

Dịch nôm: Thích Ca Như Lai là Thầy (TA), muốn cứu chúng sanh, mượn danh Cao-Đài Đại-Bồ-Tát. Con biết không? Có học trò của Thầy là Thái Đầu Sư tại đây, nó không biết luyện đạo. Thầy phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp. 34 vị Tăng không biết Chơn lý luyện thành. Thầy là Chủ khảo giáo hóa. Khá tuân lịnh Thầy.

Chính Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Đế tá danh là "Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" dùng Thần Cơ diệu bút lập nên mối Đạo nhà cho dân-tộc Việt-Nam làm khởi điểm, lấy danh là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, tiếng Pháp gọi là "Troisième Amnestie de Dieu en Orient" tức là cơ Đại-Ân-xá lần ba. Thường gọi là nền Tân-Tôn-giáo Cao-Đài, mục đích là dung hòa triết lý Tam giáo: Nho- Thích- Đạo.

Đức Chí Tôn giáng cơ tại Minh Thiện Đàn (Phú Mỹ) ngày 18-6-Tân Mùi (1931). Ngài ban cho bài thi theo lối khoán thủ:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ TÁ DANH CAO ĐÀI

NGỌC bích non Côn nếu muốn tầm,
HOÀNG thành mong đến phải bền tâm.
THƯỢNG hành hạ liệu toàn cầu phục,
ĐẾ tạo Tam nguơn một Lão cầm.
TÁ thế cứu dân trong nước lửa,
DANH truyền độ chúng khỏi hang thâm.
CAO huyền diệu lý dìu con dại,
ĐÀI thượng xét xem thế chẳng lầm.

Đạo sử ghi rõ: Vào năm Bính Dần (1926) Đức THƯỢNG ĐẾ khai mở Đại Đạo kỳ ba, dạy thờ Trời và thờ các vị Giáo chủ Tam Giáo, Ngũ Chi, gọi là Qui Nguyên Phục nhứt".

Cũng ngay thời tiền khai Đại Đạo, Thất Nương Diêu Trì Cung vâng lịnh Ngọc Hư đến với ba ông Cư, Tắc, Sang xướng họa văn thơ để tạo nên duyên thơ nối liền Tiên tục, hầu mở đường xuất Thánh. Thất Nương cũng tá danh là Đoàn Ngọc Quế (mượn tên của một trong số bạn của ba Ngài có mặt hôm ấy). Thật ra Tiên Nương là VƯƠNG THỊ LỄ.

Vì sao không xưng chính danh?

- Đối với Đức CHÍ-TÔN, Ngài muốn tạo sự gần gũi, để các bậc tiền khai Đại Đạo được lân la, thân mật, khi thì cầu xin giải nghĩa thi văn, khi thì xin thuốc, giải bịnh, lần lần rồi Ngài mới xưng chính danh, rồi trao cho mối Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ. Lúc này các Ngài cũng qua nhiều cuộc thử thách quí giá.

- Đối với Thất Nương Diêu Trì Cung khi duyên thơ đã bén tình Tiên tục, thì Tiên Nương mới xin kết tình huynh muội:

- Ông Cao Quỳnh Cư (sau đắc phong Thượng Phẩm) là Đại Ca.

- Ông Phạm Công Tắc (sau đắc phong Hộ Pháp) là Nhị Ca.

- Ông Cao Hoài Sang (sau đắc phong Thượng Sanh) là Tam Ca.

Ba Ngài là Nam, luận về Dịch học là Quẻ CÀN vì tượng là hào Dương, vạch liền. Tiên Nương là Nữ, là Âm, tượng vạch đứt, nếu đặt xuyên qua Quẻ CÀN thành ra chữ VƯƠNG cũng là họ và tên của Thất Nương Vương Thị Lễ. Thật ra Tiên Nương đến trước nhứt là để báo cho nhân loại biết rằng Đức Thượng Đế sẽ ban cho Việt Nam một nền VƯƠNG ĐẠO lấy LỄ làm đầu, bằng một ẩn dụ khéo léo mà sâu sắc vô cùng. Hơn nữa nền Đạo này chính Đấng Thượng-Đế là GIÁO CHỦ vô vi, thành ra trên chữ VƯƠNG có thêm một nét chủ nữa hóa ra chữ CHỦ với nhiều ý nghĩa cao siêu, mầu nhiệm. Sau, Đức Chí-Tôn dạy cách thức thờ Trời: lập Thiên bàn hình chữ CHỦ cũng không ngoài các tiên triệu như nói trên. (Xem chữ Chủ)

 

 

TÁ ĐIỀN

Người thuê ruộng đất của địa chủ mà trồng cấy.

 

 

TÁ GIẢ TẦM CHƠN

Có nghĩa là nương theo cái giả, mượn nó làm phương tiện để đạt đến điều chơn thật.

 

 

TÁ HOA HIẾN PHẬT

Tá hoa hiến Phật là mượn hoa của người khác dâng lên cúng Phật. Ý nói: Dùng của người nầy để lấy lòng người khác. (: Mượn. Hoa: bông. Hiến Phật: dâng lên để cúng Phật). Một hình thức giả dối, chứ không thật lòng mình.

 

 

TÁ LÝ (Phẩm)


E: Adjuvant.
F: Adjuvant.

(: Giúp, phụ giúp. : sắp đặt sửa sang công việc). Phẩm Tá lý là người giúp đỡ sửa sang công việc thuộc ngành Kiến trúc. Tá Lý là một phẩm Chức việc trong Cơ Quan Công Thợ nơi Tòa Thánh do Đức Hộ Pháp lập ra, có nhiệm vụ cai quản một Sở có nhiều công thợ, chịu dưới quyền của Phó Tổng Giám và Tổng Giám. Ví dụ như Tá Lý Sở Đắp Vẽ là vị làm đầu Sở Đắp Vẽ và cai quản các công thợ về đắp vẽ.

Theo Thánh Lịnh Số: 231/TL Văn phòng Hộ Pháp Đường.

- Cơ quan Công thợ không trực thuộc riêng một Đài nào cả mà chịu dưới quyền của Hội Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Khi Ngọc Hư Cung giao cho Hiệp Thiên-Đài cầm quyền nền Đạo thì Cơ quan Công thợ đương nhiên chịu dưới hệ thống của Hiệp-Thiên-Đài.

- Các phẩm: Tổng Giám, Phó Tổng Giám, Tá Lý không có Đạo phục riêng khi chầu lễ Đức Chí Tôn, nên các vị nầy phải mặc Đạo phục của Đạo hữu và đứng ở hàng Đạo hữu để chầu lễ Chí Tôn. Nhưng khi các vị trong ba phẩm nầy qui liễu thì được hành lễ tang theo các phẩm cấp tương đương, nghĩa là:

- Tổng Giám được hành lễ tang theo hàng Giáo Hữu.

- Phó Tổng Giám được hành lễ tang theo hàng Lễ Sanh.

- Tá Lý được hành lễ tang theo hàng Chánh Trị Sự.

nghĩa là Tá lý đối phẩm Chánh Trị Sự bên Cửu-Trùng-Đài và Hành Thiện bên Cơ-Quan Phước-Thiện. Tá Lý không có Đạo phục riêng. Tá Lý phải có đủ 5 năm công nghiệp mới được thăng lên Phó Tổng Giám.

- Tá Lý coi về một Sở.

- Tá Lý đối hàm Chánh Trị Sự hay Hành Thiện.

 

 

TÁ MẪU ĐẦU THAI

Có nghĩa là phải mượn xác phàm, nhập vào người Mẹ mà đầu thai làm người, tức nhiên phải mang xác thân làm người.

Đức Hộ Pháp nói: "Đức Chí-Tôn dùng Huyền Diệu Cơ Bút giáng Cơ khai Đại Đạo, chủ nghĩa là độ tận 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa đoạ cõi hồng trần nên gọi là cơ quan Cứu thế. Nếu Đức Chí-Tôn chiết chơn linh giáng thế như các vì Giáo chủ trước thì phải tá mẫu đầu thai, mang phàm thể hữu vi, lại nữa là Đạo khai trong nước Việt-Nam thì phải thọ sanh hình hài người Nam Việt thì có thể nào chuyển ba mối Đạo khắp Ngũ châu và toàn cầu thế giới đặng. Lại nữa các dân tộc trong Vạn quốc không thể hiệp đồng sự Tín ngưỡng làm một thì khó mà độ tận chúng sanh, cho nên Đức Chí-Tôn giáng bằng Huyền Diệu Cơ Bút đặng làm cho các nước để trọn đức tin rằng một Đấng Chí-linh giáng thế cứu đời qui tụ cả khối tinh thần của nhơn loại duy nhất. Chỉ rõ bằng cớ như kỳ các Tôn giáo tại Luân đôn thì các nước đều công nhận Đạo Cao Đài là chơn thật có thể qui nguyên Đại-Đồng Tôn-giáo và tại Toà Nội-các năm 1933 Hạ-Nghị-Viện có 424 vị thân sĩ cùng đồng bỏ thăm toàn công nhận Đạo Cao-Đài."

Đức Chí-Tôn chẳng giáng bằng xác thân mà lại dụng tánh đức lương sanh lập quyền Hội-Thánh thay hình thể hữu vi cho Đức Chí-Tôn, thay thế và lập Vạn linh đối phó cùng quyền Chí linh, ấy là cơ mầu nhiệm cứu vớt quần sanh giải thoát khỏi chốn sông mê bể khổ.

 

 

TÁ PHÀM


E: The incarnation.
F: L' incarnation.

Tá phàm là mượn xác thân phàm để làm một người phàm nơi cõi trần mà thi hành phận sự. (: Mượn. Phàm: tầm thường, chỉ người phàm, ở vào cõi trần). Muốn tá phàm như vậy thì chơn linh phải đầu kiếp xuống cõi trần làm người phàm.

Thánh Ngôn: "Thầy lập nền Ðạo nầy ra, do nơi Thiên thơ, lại cũng có lòng Từ bi, để vớt cả mấy chục triệu nguyên nhân lớn lao trở hồi cựu vị. Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy, nên chẳng nại công lao khó nhọc, yêu cầu cùng Tam Giáo nới tay cho Thầy cứu rỗi các con. Than ôi! Công trình Thầy và các Ðấng Thiêng liêng thì nhiều mà tấc thành của mỗi con thì không đặng mấy. Nhiều phen sóng khổ muốn chìm đắm các con mà Thầy phải sợ cho đến nhăn mày khổ lụy."

 

 

TÁ THẾ

Tá thế là mượn cõi đời để làm việc giúp ích nhơn sanh. (: Mượn. Thế: đời, cõi đời, cõi trần).

Đức Chí-Tôn giáng Cơ dạy Đạo:

Cao-Đài tá thế đến phàm gian,
Bạch-Ngọc Huỳnh-Kim cũng chẳng màng.
Chìu luỵ đòi phen xem quá tục,
Nghĩ không đổ luỵ phải cười khan.

 

 

TÁ TRỢ


E: To help.
F: Aider.

: Giúp, phụ giúp. Trợ: giúp đỡ. Tá trợ là giúp đỡ.

 

 

TÁ TÚC

宿
E: To live in a place temporarily.
F: Habiter provisoirement.

(: Mượn. Túc: đêm, nghỉ đêm ở một nơi nào). Tá túc là mượn nơi nghỉ lại một đêm, ý nói: xin ngủ nhờ một đêm, nghĩa thường dùng là xin ở tạm nơi nhà của người quen trong một thời gian ngắn.

 

 

Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Td: Tà dâm, Tà đạo, Tà quái.

Nghiêng, xế qua đầu. Td: Tà dương, Tà huy.

 

 

TÀ BẤT THẮNG CHÁNH

(: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Bất: không. Thắng: hơn. Chánh: ngay thẳng). Tà bất thắng chánh là tà gian không thế nào thắng được sự chơn chánh. Xưa nay trong đời Tà chánh luôn lẫn lộn vào nhau, chính họ là nhân tố làm cho gia đình đến xã hội lắm đảo điên, nhưng với người tu thì chính họ là tên Giám khảo khó tánh để khảo duợt và nâng cấp cho người tu ngày được thăng tiến.

 

 

TÀ BỔN THÂN

( là trái với chánh, tức là những tư tưởng sái quấy, mục đích làm hại người đều gọi là TÀ, Bổn thân hay bản thân là chính con người mình). Vậy khi lòng mình có nảy sinh ý nghĩ sái quấy, tà vạy mà đôi khi tự mình không biết.

Đức Lý, Ngài nói tiếp: "Việc Cơ bút Hiền-Hữu tuy chưa rõ thấu Huyền diệu cho trọn mặc dầu, chớ kỳ trung cũng đã hiểu biết chút đỉnh, chẳng phải ai cầm Cơ mà đều đặng huyền diệu hết. Lão giải nghĩa: Có ba phẩm Đồng-tử phò loan:

- Một là : Giáng tâm.
- Hai là: Mê.
- Ba là: Giáng thủ.

Tây phương gọi là Intuitif, Semi Intuitif et Automatique. Thầy đã cho Hiền-Hữu chấp Cơ một đôi khi quả có huyền diệu, nhưng mà có nhiều khi tà bổn thân Hiền Hữu nó lại choán lấy Thiên ý mà dịch trật. Vì vậy mà Hiền-Hữu phải nhiều phen thất chí".

 

 

TÀ CHÁNH

Tà là sự cong vạy, chánh là ngay thẳng. Nói đến Tà chánh là nói hai sự phản khắc nhau, ví như có Phật thì có Ma; có hiền thì có dữ, có chánh thì có Tà; Dịch nói là Âm Dương.

Thầy dạy: "Con phải chăm nom từ chút và dọ tánh chư Đạo hữu, chớ vội tin, lúc nầy nhiều đứa bị cám dỗ mà sái bước lần. Ấy là lúc Tà Chánh tranh giành với nhau. Đứa nào chẳng giữ được đường ngay thì khó mong đến cùng Thầy đặng đó. Đạo chẳng khó, duy nơi tấc lòng, mà thương hại thay! Từ xưa, công quả của mấy bực chơn tu đều trôi theo dòng bích hết, cũng vì đó mà nay cũng khó thế tránh được. Các con yêu dấu, nên giữ mình cho lắm!" Thánh ngôn rằng:

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,
Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra?
Sao ra Tiên Phật người trần tục,
Trần tục muốn thành phải đến Ta.

"Những kẻ đã hưởng hết phúc hậu từ mấy đời trước, nay lại còn phạm Thiên điều, thì tội tình ấy thế chi giải nổi. Mấy con biết luật hình thế gian còn chưa tư vị thay, huống là Thiên điều thì tránh sao cho lọt? Dầu các con như vậy thì Thầy cũng lấy oai linh ấy mà trừng trị chớ không tư vị bao giờ. Phải lo sợ tội tình cho lắm. Phải có sợ mới có giữ mình, biết sợ phải biết giữ mình. Phải hiểu rõ rằng: Thiên Ðịa vô tư, đừng ỷ là có Ðại Từ Phụ mà lờn oai, nghe các con!"

Đức Thái Thượng Ðạo Tổ giải thêm rằng: "Tà Chánh, cười.... Bần Đạo nói thiệt cũng chưa dám định đoạt. Trong cái rủi thường có sự may; trong cái may vẫn khép cầm sự rủi, khó lường được. Ðiều cần là nên làm mà thôi. Nếu luận Tà Chánh thì chưa một ai dám còn mang mắt phàm xưng tụng mình là Chánh. Cái Tà vì Thiên thơ sử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Tòa, Tà vì những quỉ xác ma hồn lẫn lộn của Quỉ vương để làm cho công phu lở dở. Mỗi cái Tà có duyên cớ ấy, ngày sau đều có sự biến đổi thiêng liêng hoặc có một kết quả. Ngày chung qui chỉ đem về Thầy một chữ Tâm và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng."

 

 

TÀ DÂM


E: The fornication, lewdness.
F: La fornication, luxure.

Tà dâm là giới cấm thứ ba rất quan trọng trong Ngũ giới cấm (Tà dâm giới). Tà dâm là ham muốn khoái lạc xác thịt nam nữ một cách bất chánh (: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Dâm: ham muốn khoái lạc xác thịt nam nữ). Tam bất Tà dâm là điều răn cấm thứ ba đối với Phật giáo, ngày nay Đạo Cao-Đài cũng đã giữ nguyên giới luật là cấm tà dâm (tức là cấm lấy vợ người, thả theo đàng điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt) [vợ chồng không gọi là tà dâm].

Đức Chí Tôn dạy về giới cấm Tà dâm như sau:

Thánh ngôn: Vì sao Tà dâm là trọng tội?

"Phàm xác thân con người, tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn là một khối chất chứa vàn vàn muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi dưỡng nó đều là sanh vật, tỷ như: rau cỏ, cây trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh. Nếu không có chất sanh thì thế nào tươi tắn đặng mà chứa sự sống, như nó khô rũ là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ. Còn như nhờ lửa mà nấu thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết. Các vật thực vào tỳ vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết, chẳng cần nói, các con cũng biết, cái chơn linh khí huyết là thế nào? Nó có thể huờn ra nhơn hình, mới có sanh sanh tử tử của kiếp nhơn loại. Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh, như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Đài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ giới cấm ấy cho lắm".

 

 

TÀ DƯƠNG


E: The declining sun.
F: La soleil déclinant.

(: Nghiêng, xế qua đầu. Dương: mặt Trời). Tà dương là mặt trời xế chiều. Tà dương với Tà huy dùng như đồng nghĩa, nghĩa bóng là chỉ đời người lúc tuổi già.

 

 

TÀ ĐẠO


E: Heresy (the false doctrine).
F: Hérésie (la fausse doctrine).

Tà đạo đồng nghĩa Tà giáo, là con đường hay là tôn giáo dẫn dắt con người đến chỗ lầm lạc sai trái. (: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Đạo: con đường, tôn giáo).

Tà đạo thường được ngụy trang dưới những hình thức tốt đẹp, hợp với thị hiếu của con người, sử dụng những từ ngữ hoa mỹ để dụ dỗ con người đi theo bọn chúng. Đối ngược với Tà đạo là Chánh đạo. Tà đạo và Chánh đạo là hai biểu hiện rõ rệt của hai thế lực lớn nhứt trong Càn Khôn Vũ Trụ: một của Quỉ vương là Tà đạo, một của Tiên Phật là Chánh Đạo. Hai thế lực nầy luôn luôn đối kháng nhau, tranh giành ảnh hưởng lên tất cả các sinh hoạt của nhơn sanh, tạo thành một ngẫu lực vận chuyển bánh xe tiến hóa của Càn Khôn Vũ Trụ.

Tiên tri trong quyển Vạn diệu Thiên thơ cổ bổn: Trong quyển Vạn diệu Thiên thơ cổ bổn có bài thi:

Tam giáo kim tùng cổ hóa sanh,
Tiên Thiên phương hữu thị Tam Thanh.
Phật Pháp Nho hề qui nhứt bổn,
Tự nhiên Tà Đạo tổng tương tranh.
Vạn ức san hà giai hữu thử,
Tổng qui nhứt phái nhứt an thành.
Xà vỹ mã đầu khai Đại hội,
Tam kỳ hậu thế hiển phương danh.

Thích nghĩa: Ba giáo: Phật- Đạo- Nho nay theo xưa kia mà hóa sanh Đạo Tiên Thiên có đường hay, là Đạo Tam Thanh. Phật, Tiên, Nho đều là một gốc. Lẽ tất nhiên Đạo tà đều cùng tranh giành. Muôn ức cảnh sơn hà (muôn xứ, muôn nước) đều có như thế: đồng qui về một phái mới đặng yên ổn và nên việc. Cuối đầu rắn, đầu con ngựa thì khai Đại hội. Đời sau, Đạo Tam Kỳ sẽ được rạng-rỡ danh thơm). Cơ tuần hoàn xoay chuyển nên được Đức Chí-Tôn mở Đạo Cao-Đài cho nhơn sanh sùng bái và chính Ngài dạy phải thờ Thiên Nhãn là vậy. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn giáo Đại Đồng.

 

 

TÀ GIAN


E: Perverse.
F: Pervers.

Tà gian là khuất lấp, dối trá, có ý lừa gạt người. (: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Gian: dối trá).

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Nguyện lời nói biến hình bác ái,
"Nguyện chí thành sửa máy tà gian."

 

 

TÀ HUY


E: The declining sun.
F: Le soleil déclinant.

Tà huy là ánh sáng của mặt trời đã nghiêng ngả về Tây, nghĩa bóng là chỉ đời người lúc tuổi già, bóng xế. (: Nghiêng, xế qua đầu. Huy: ánh sáng mặt trời).

 

 

TÀ KHÍ


E: Evil emanations.
F: Émanations malsaines.

Tà khí là chất khí độc, chất khí ô trược, có hại sức khỏe. (: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Khí: chất hơi, chất khí, không khí).

 

 

TÀ KHUẤT

Ðức Quyền Giáo Tông giải về: Ðức Chí Thành (1935).

"Không chí thành thì đạo hạnh phải bị tà khuất tối tăm. Cho nên con người ở đời mà không un đúc đặng một khối chí thành là gốc rễ thì trông chi đến việc trau giồi đức hạnh là nhành lá vậy. Ðức chí thành tỉ như một khối vàng, dùng nó mà chế tạo ra lắm đồ trang sức tốt xinh cao giá. Chí khối vàng ấy phải pha phải trộn thì mất nguyên chất tự nhiên, rồi bảo sao những đồ trang sức làm ra không phải xấu hèn thấp giá. Người xưa tuy quê hèn, song giữ đặng hai chữ chí thành, đối với nhau chẳng hề dối giả, gạt gẫm là gì. Một tiếng ừ với nhau cầm đáng ngàn vàng, một lời hứa với nhau khư khư giữ chặt".

 

 

TÀ MA

Thầy giải rõ: "Còn tà ma chúng nó là do ở phần chất trược mà tạo thành, các con không biết mà sợ, cho rằng những ma-quái, chứ thật ra cũng là con cái của Thầy thôi. Tiên Phật là phần tiến-hóa cao trọng, còn tà ma là phần thối trược u-mê nên ở tại Tam-Thiên Thế-Giái, Tứ Đại-Bộ-Châu, Tam Thập Lục Thiên còn có chúng nó thay! Đó cũng là lý tương phản để xây cơ tạo-hóa. Luật thiêng liêng, cán cân Công bình buộc phải vậy. Vì vậy mà Thầy khuyên con phải Thương yêu tất cả không phân thiện-ác là vậy, còn phân thiện-ác là với kẻ hiền-nhơn thấp thỏi kìa, chớ bậc gíác-ngộ không phân chi hết cả".

 

 

TÀ MỊ


E: Demon, devil.
F: Démon, diable.

(: Lệch, cong vạy, gian trá, quái quỉ, trái với Chánh. Mị: nịnh hót để lừa gạt). Tà mị đồng nghĩa Tà quái, nói chung là Tà mị yêu quái hay Tà thần, là chỉ đám ma quỉ, luôn luôn bày ra đủ cách gian dối để lừa gạt và làm hại người.

Thầy dạy: "Những sự phàm tục đều là mưu kế của Tà mị yêu quái, cốt để ngăn trở bước đường Thánh đạo của các con. Vậy, các con khi nghe nói Cao Đài nơi nầy, Cao Đài nơi kia, đừng vội tin mà lầm mưu Tà mị. Các con nghe và tuân theo". (ĐS. II. 236)

 

 

TÀ NGUYỆT


E: The declining moon.
F La lune déclinante.

(: Nghiêng, xế qua đầu. Nguyệt: mặt trăng). Tà nguyệt là mặt trăng đã xế qua đầu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tà nguyệt vườn thu ướm trở đông.

 

 

TÀ PHÁP


E: The diabolic means.
F: Les moyens diaboliques.

(: Lệch, cong vạy, gian trá, trái với Chánh pháp. Pháp: tất cả những điều, sự việc). Tà pháp là tất cả những sự việc không ngay thẳng, có mục đích không tốt đẹp, trái đạo lý.

Đức Hộ Pháp nói: "Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp Tín ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi. Nắm cả Tín-ngưỡng của loài người lại, chính CHÍ TÔN là CHÚA TỂ Càn Khôn Thế Giái, làm CHÚA nền chính trị tại nước NAM, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập QUỐC ĐẠO. Kỳ khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ tạo một linh-đài qui Tín ngưỡng của toàn nhơn-loại, đủ quyền năng tiêu-diệt Tà pháp đặng đem nhơn-loại đến ĐẠI ĐỒNG. Nay Đức Chí-Tôn khai Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời sấm truyền của các vì GIÁO CHỦ ngày xưa.

Chỉ có hai phương diện:

1- Là do TAM GIÁO thất kỳ truyền.

2- Là chính mình ĐỨC CHÍ TÔN giáng cơ lập ĐẠO đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng TAM GIÁO lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả TINH THẦN của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA chung là thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ quyền THƯƠNG-YÊU, chung thờ một Tôn-giáo ĐẠI ĐỒNG thì nhơn loại mới gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời MỸ TỤC THUẦN PHONG thì vạn loại mới chung hưởng cơ HÒA-BÌNH, phục hồi Thượng Cổ là do THIÊN THƠ tiền định buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu duy tân. Tóm lại, ĐỨC CHÍ TÔN khai ĐẠO kỳ thứ ba này là thuận theo "Lẽ tuần-hoàn châu nhi phục thủy".

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Kỳ khai tạo nhứt Linh đài,
"Diệt hình tà pháp cường khai Đại Đồng."

 

 

TÀ QUÁI


E: Demon, devil.
F: Démon, diable.

(: cong quẹo, Quái: lạ lùng). Sự quái lạ và không đầu mối do những người tâm không ngay thẳng, thiếu đạo đức bày ra cốt để dối người, gạt đời. Rất đáng sợ cho những loại ấy.

Thầy dạy: "Thầy cho các con hay rằng: Ðại Lễ Tòa Thánh chẳng hoàn toàn theo cách thức dạy trước đây thì khá biết rằng, có tà quái chứng mà thôi nghe!"

- Sao con lại sai lầm mà chẳng hiểu sự cám dỗ của tà quái?

Khi Đạo Cao Đài khai mở, Đức Chí Tôn giáng dạy: "Thầy chẳng dùng sự chi mà thế gian gọi là tà quái dị đoan, mà nếu xảy ra có một ít dị đoan trong Đạo đã dùng lỡ thì ấy tại nơi tâm của vài Môn đệ đó. Nếu chẳng giữ theo lẽ chánh mà hành Đạo và bày biện nhiều sự vô lối thì trong ít năm sau đây, sẽ trở nên một mối Tả Đạo, mà các con đã từng thấy".

 

 

TÀ QUYỀN


E: The power of demons.
F: Le pouvoir des démons.

(: lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Quyền: quyền hành, quyền lực). Tà quyền là quyền hành của bọn tà quái, tức là quyền lực của Quỉ vương.

Lời Thầy dạy: Sài gòn, 7-7-Bính Dần (Thứ bảy, 14-8-1926)

"Các con nghe dạy: Vẫn từ ngày Đại Đạo bế lại, Chánh quyền đều vào một tay Chúa Quỉ. Cười! Khi Ngọc Hư Cung và Lôi Âm-Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Độ, Chúa Quỉ biết cơ mầu nhiệm ấy và hiểu rõ rằng Tà quyền đã dứt, nên trước khi Thầy chưa đến, nó đã hiểu rõ rằng bề nào Thầy cũng phải chiếu y Thánh ý: Tam Giáo Qui Nhứt mà dùng danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, nên chúng đã dùng chữ CAO ĐÀI trước Thầy mà lập Tả Đạo Bàng Môn. Thầy hỏi các con: Vậy chớ Tà quái nhận tên ấy là chủ ý gì? Lại làm cho ra rẻ rúng danh ấy, để cho các con nghi ngờ mà lánh xa Thánh giáo như đàn Cái Khế vậy. Nhưng có một điều là nó không dám ngự nơi ngai Thầy, tiện dụng làm một vị Tiên Ông mà thôi. Cười…Vậy, các con khi nghe nói Cao Đài nơi nầy, Cao Đài nơi kia, đừng vội tin mà lầm mưu Tà mị. Các con nghe và tuân theo". (TNCT. TTT. 263) (ĐS. II. 236)

Thất Nương nói: "Tiếc thay, Em có dặn trước ngày Em đến, đặng hội hiệp đông đủ cùng nhiều chị, nhưng phò loan trễ nải, nên Em không phương gặp đặng, nhất là việc Diêu Trì Cung bị mượn danh nơi khác mà dối gạt nhơn sanh. Cái hại ấy vốn chẳng vừa về phần tín ngưỡng. Chớ chi thất tại Tà quyền thì có mấy em trừ khử, nhưng tại nơi đồng tử, thì mấy em không phương giải nạn cho mấy người mê tín".

 

 

TÀ TÂM

Đức Lý nói: "Ngán thay cho cái trách nhậm nặng nề, vì trót đã hứa lời cùng Từ Bi ra tế độ, hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị lấy em mặc dầu, chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa. Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ TÀ TÂM toan dạy dỗ; còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích…. Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ TÀ TÂM, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ. Lão đây cũng vậy, mà chư Hiền hữu cũng vậy, chúng ta đã đến tạo thế sửa đời, vẫn là phận sự của chúng ta đã hẳn, hãy biết phận mình mới an tâm liệu thế chuyển xây, đã có khó ắt có hay, đã có gay thì có thuận, bền chí xem mảy mún cơ đời."

Đức Hộ Pháp nói "Có lần Bần Đạo nghe lời Đức Lý thì Đại Từ Phụ thất vọng thấy tội nghiệp Ngài quá đỗi, Đức Đại Từ Phụ tính không thể gì bảo trọng mấy đứa kia được, biết Đức Lý nhứt định đuổi những kẻ tà tâm ra khỏi nền Tôn Giáo".

 

 

TÀ TÂY

西
E: Perverse and partial.
F: Pervers et partiale.

(Tây là tiếng nôm, lo riêng cho mình). Tà tây là lòng tà vạy và lo riêng cho mình, tâm ý không ngay thẳng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Gìn lòng chơn chánh, chớ tà tây.

 

 

TÀ THẦN


E: Evil spirit.
F: Mauvais génie.

(: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Thần: vị Thần, bậc cao hơn trong nhóm đó). Tà thần là vị thần thuộc Tà phái, của Quỉ vương. Vì trên có Tam Thập Lục Thiên là phần cao trọng. Dưới có Tam Thập Lục Động, là phần thối trầm, thấp kém, nhưng họ noi chước Thiên cung nên cũng có đủ ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật mà dối trá, gạt người. Người tu là phải sáng suốt, biết phân biệt đâu là chánh? Đâu là tà? Thầy đã có dạy rồi "Danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi" là vậy.

Đây là lời khuyên của Ông Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh khuyên ông Ca trở về với Tòa Thánh Đại Đạo:

"Tôi có tiếp được xấp Thánh-giáo Hậu-giang của Anh gởi và một cái thơ mời hội ở Thánh-Thất Mỹ-Tho ngày rằm tháng 10 tới đây. Tôi có đọc kỹ và cũng có đọc lại các Thánh giáo, Thánh-ngôn Anh gởi xuống lần trước. Tôi thấy rõ là một cuộc khảo do nơi Tam-Trấn để cho Tà Thần mượn tên cám dỗ, trong ba cái bịnh lớn của con người là "Tham, Sân, Si" Nếu bậc cầm đuốc dẫn đường mà không trừ hết, còn một hai cũng phải bị vướng".

Thánh Ngôn Thầy dạy rằng: Con bỏ đạo thì các con ở dưới phép Tà thần.

 

 

TÀ THẦN TINH QUÁI

Những việc làm quái dị, không ngay thẳng, với mục đích hại người, làm xáo trộn trật tự an ninh trong cuộc sống.

Thánh Ngôn: "Thầy đã hằng ngày nói với con rằng: Muôn việc chi Thầy đã bố hóa vào lòng con, như con tính điều chi, tức Thầy đã định rồi. Con không cần nặng lòng lo lắng. Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm Môn đệ của Tà Thần Tinh Quái thì không thế gì làm Môn đệ Thầy đặng."

 

 

TÀ THUẬT


E: Black magic.
F: Magie noire.

(: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Thuật: pháp thuật như vẽ bùa bắt ấn). Tà thuật là pháp thuật bất chánh của Tà phái, có ý dối gạt người để thủ lợi.

 

 

TÀ THUYẾT


E: False doctrine.
F: Doctrine fausse.

Tà thuyết là luận thuyết bất chánh, có mục đích lừa bịp. (: Lệch, cong vạy, gian trá, ma quỉ, trái với Chánh. Thuyết: nói, lý thuyết, luận thuyết).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Để bài trừ tà thuyết và truyền bá chơn đạo trên toàn cầu.

 

 

TÀ VẠY

THẦY dạy tại Từ Lâm Tự, Gò Kén, Tây Ninh. Thứ Ba: 23-11-1926 (âl 19-10-Bính Dần)

"Sự xảy ra nơi Thánh Thất, tuy là nơi mối Ðạo chậm trễ, nhưng cũng do nơi lòng tà vạy của nhiều đứa mà ra, vì tâm trung chánh đáng thì làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của Tà quái xung nhập. Chi chi cứ tưởng có Thầy giúp mà lập xong nền Ðạo cho các con là đủ. Thầy cũng có phép răn trị kẻ vạy tà, các con duy có trông cậy nơi Thầy, bước đường cứ thủng thẳng đi lần tới, đừng gấp quá, mà cũng chớ thối lui, thì một ngày kia sẽ đặng toại kỳ sở nguyện. Thầy ban ơn cho các con".

 

 

TẢ

TẢ Phía tay trái, trái với Hữu. - Bất chánh. Td: Tả chiêu hữu mục, Tả đạo.

 

 

TẢ CHIÊU HỮU MỤC

Tả: Phía tay trái, trái với Hữu. Hữu: bên mặt.

Trong nhà thái miếu, nhà thờ tổ tiên của vua, ngôi thờ bên tả gọi là Tả chiêu, ngôi thờ bên hữu gọi là Hữu mục.

Trong bản đồ thờ Cửu Huyền Thất Tổ cũng phân ra Tả chiêu và Hữu mục.

 

 

TẢ ĐẠO


E: The perverse way: Heresy.
F: La voie perverse: Hérésie.

Tả: Bất chánh. Đạo: con đường, tôn giáo. Tả đạo là con đường tà vạy, tôn giáo không chánh đáng (không phải chánh đạo).

Thường nói: Tả đạo Bàng môn: tôn giáo sai trái, không phải là Chánh đạo.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Các tên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật bị mạo nhận mà lập nên tả đạo.

 

 

TẢ ĐẠO BÀNG MÔN

(Tả Ðạo: Ðạo không chánh. Tả là trái. Bàng Môn: Cửa bên hông chớ không phải cửa chánh). Ý nói không phải Ðạo Chánh, chỉ đưa người đến chỗ lầm lạc, tu không thành Chánh quả, không giải thoát khỏi luân hồi.

Lời Thầy: Sài gòn, 7-7-Bính Dần (Thứ bảy, 14-8-1926)

"Các con nghe dạy: Vẫn từ ngày Đại Đạo bế lại, Chánh quyền đều vào một tay Chúa Quỉ. Cười! Khi Ngọc Hư Cung và Lôi Âm-Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Độ, Chúa Quỉ biết cơ mầu nhiệm ấy và hiểu rõ rằng Tà quyền đã dứt, nên trước khi Thầy chưa đến, nó đã hiểu rõ rằng bề nào Thầy cũng phải chiếu y Thánh ý: Tam Giáo Qui Nhứt mà dùng danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, nên chúng đã dùng chữ CAO ĐÀI trước Thầy mà lập Tả Đạo Bàng Môn. Thầy hỏi các con: Vậy chớ Tà quái nhận tên ấy là chủ ý gì? Lại làm cho ra rẻ rúng danh ấy, để cho các con nghi ngờ mà lánh xa Thánh giáo như đàn Cái Khế vậy. Nhưng có một điều là nó không dám ngự nơi ngai Thầy, tiện dụng làm một vị Tiên Ông mà thôi. Cười, Vậy, các con khi nghe nói Cao Đài nơi nầy, Cao Đài nơi kia, đừng vội tin mà lầm mưu Tà mị. Các con nghe và tuân theo.!

Phật Thích Ca cũng giáng Cơ xác nhận cho biết rõ: "Chư Sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành Đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến "Tả Ðạo Bàng Môn". Kỳ truyền đã thất, chư Sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy".

Bát Đạo Nghị Định của Đức Lý Giáo Tông:

- Ðiều thứ nhứt: Những Chi Phái nào do bởi Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ làm gốc lập thành mà không do nơi mạng lịnh Hội Thánh, thì cả chúng sanh chẳng đặng nhìn nhận là của Chí Tôn và phải định quyết là Bàng Môn Tả Ðạo.

-Ðiều thứ hai: Các Tôn giáo xin nhập môn vào mối Chơn truyền phải có đủ Quyền Vạn Linh và Quyền Chí Tôn công nhận.

Làm tại Tòa Thánh Tây Ninh,
Ngày Rằm tháng 7 năm Giáp Tuất.

Ký tên:

Hộ Pháp
PHẠM CÔNG TẮC

 

Giáo Tông
LÝ THÁI BẠCH

 

 

TẢ PHÁI


E: Party of left wing.
F: Le parti de gauche.

Tả phái là đảng phái ngồi bên cánh tả của nghị viện, thuộc phe cấp tiến, có tính cách cực đoan, đối lập với phái ngồi bên cánh hữu của nghị viện, thuộc phe bảo thủ. (Tả: Phía tay trái, trái với Hữu. Phái: đảng phái).

Phái ôn hòa thì ngồi ở giữa hai phái tả và hữu.

 

 

TẢ PHAN QUÂN (Phẩm)

(Tả: Phía tay trái, trái với Hữu. Phan: lá phướn. Quân: người) Tả Phan Quân là vị Chức sắc cầm phướn Thượng Sanh, đứng phía tay trái của Đức Thượng Sanh khi chầu lễ nơi Tòa Thánh.

Nhiệm vụ của Tả Phan Quân lúc Cúng Đại đàn:

Đúng 12 giờ khuya, Lôi Âm Cổ khởi, dứt 4 câu kệ thì vị Tả Phan Quân cầm phướn Thượng Sanh hướng dẫn Lễ Sanh và Giáo Thiện nam nữ đi vào Tòa Thánh, lên lầu, nam tả nữ hữu, đứng từ ngang Cung Đạo ra tới ngang Hiệp-Thiên-Đài. Phần Văn nhạc và Võ nhạc cùng Giáo Nhi và đồng nhi nữ lên Nghinh Phong Đài; một ban Văn nhạc và đồng nhi nam lên lầu Bát-Quái-Đài.

 

 

TẢ PHAN QUÂN TRANG VĂN GIÁO

(1899-1976) Hưởng thọ 78 tuổi

 

 

 

Tả Phan Quân Trang Văn Giáo qui vị ngày 02-05 Bính Thìn (1976) thọ 78 tuổi. Xin lấy bản tuyên dương công nghiệp của Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài làm tiểu sử của ông Tả Phan Quân.

"… Nay là ngày ông Tả Phan Quân về chầu Đức Chí Tôn tôi thay mặt cho Hội Thánh Hiệp Thiên Đài tuyên dương công nghiệp của người quá cố: Ông Tả Phan Quân, thế danh Trang Văn Giáo, sanh ngày 27 tháng chạp Kỷ-Hợi (1899) tại xã Long Thành, Tổng Hàm Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ông thân sinh là Trang Văn Keo (Hương Cả) và thân mẫu là bà Bùi Thị Khuê. Bạn hôn phối của ông là Nguyễn Thị Thơm, sanh 7 người con 6 trai 1 gái. Về trình độ văn hóa ông học hết lớp Tiểu học tại trường tỉnh Tây Ninh, từng lãnh nhiều chức vụ trong ban Hội Tề từ 1921 đến 1927. Với thiện tâm sẵn có, lại nhờ có thế lực, ông đã giúp ích một cách đắc lực trong buổi khai đàn mở Đạo tại chùa Gò Kén. Vâng lịnh Đức Quyền Giáo Tông, ông thường xoay sở cung ứng cho Đạo các vật dụng nhu cầu cần thiết như Lễ bộ, Nhạc lễ… Do đó, ông được tín nhiệm, Đức Quyền Giáo Tông giao việc hầu bút, chép cơ những Thánh Giáo mà Đức Chí Tôn giáng cho khi thâu nhận tín hữu trong các Đàn cơ phổ độ lúc sơ khai. Ngày 18 tháng chạp năm Đinh Mão (1927) ông thọ phẩm Tả Phan Quân tại chùa Gò Kén. Từ đó ông lại càng tận trung với Đạo hơn, từng góp công vào việc khai phá rừng hoang để tạo thành vùng Nội-ô Tòa-Thánh ngày nay. Lúc bấy giờ, ông thường ở bên cạnh mấy vị tiền bối như Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và Đức Hộ Pháp phục vụ cho Đạo. Trải qua bao cuộc thăng trầm, ông đều có mặt chia đau sớt thảm với Hội Thánh, một dạ sắt son, trước sau như một.

Năm 1946, Đức Hộ Pháp bị đồ lưu nơi Phi Châu trở về, ông vào phục vụ nơi văn phòng Tòa Đạo, tức Pháp Chánh bây giờ, dưới quyền cố Khai Pháp, Tiếp Pháp và Bảo Pháp trong thời Đức Thượng Sanh cầm quyền. Điều đáng lưu ý nhất là trong thời gian làm việc, ông không bỏ sót một thời cúng khuya nào. Ông làm việc rất tích cực, miệt mài với nhiệm vụ, mãi đến khi tuổi già sức yếu, ông mới vắng mặt ở văn phòng và trút hơi thở cuối cùng lúc 22 giờ đêm, mùng 2 tháng 5 năm Bính Thìn nhằm 30-5-1976, hưởng thọ 78 tuổi. Ông Tả Phan Quân mất nhưng gương sáng nhẫn nại với ý chí kiên cường thọ khổ, với đức tánh hòa huỡn vẫn còn đáng được đàn em noi dấu.

Trong giờ phút chia tay vĩnh biệt, kẻ dương gian người âm cảnh, một lần nữa thay mặt Hội Thánh Hiệp Thiên Đài, tôi cầu nguyện cho hương hồn của ông Tả Phan Quân cao thăng Thiêng-liêng-vị và chia buồn cùng tang quyến.

Riêng phần chúng tôi, có vài vần Ai điếu:

Phất phướn Thượng Sanh trọn kiếp người,
Độ vào cửa Phạm biết bao mươi.
Rừng hoang khai phá thành Linh Địa,
Chồi lá điểm tô hóa cảnh trời.
Cay đắng đôi phen tràn nước mắt,
Gian lao lắm lúc toát mồ hôi.
Về Thầy xin tấu nhân gian sự,
Giải khổ quần sanh thoát bụi đời.

Hiển linh xin chứng.

Cải Trạng Nguyễn Minh Nhựt tự Trân
Xử lý thường vụ Bộ Pháp Chánh

 

 

TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT

Ngày mùng 5 tháng Giêng Canh Thìn (1940).

Chánh Thần Tả Quân Lê Văn Duyệt. Chào chư vị Thiên phong. Nay Tệ Thần đến hầu chuyện với chư vị về mặt tinh thần. Buổi trước Tệ Thần theo hầu lịnh Bệ hạ, trong khi đó, đông xông tây vực, vượt biển trèo non, ngày không xuống ngựa, đêm chẳng rời giáp, mãi vậy đến ngày kết liễu mới đắc vị Thần, song phải còn mang ách nặng nữa. Con người ai cũng nhận rằng hễ ngày nào nhắm mắt là phủi sạch nợ trần. Trái lại, Tệ Thần thì chung qui rồi còn bị lăng nhục chưa nghỉ, đó là cuộc đời.

Còn mối Đạo phải nhiều buổi gian truân, để bước trên gai, khéo lừa: đi nơi nào cũng dễ, còn thấy gai mà bắt dùn mình thì mãn đời phải khổ. Chí-Tôn lập Đại-Đạo nơi cõi Việt là thấy người Việt tâm thành đạo đức, nên Ấn xá kỳ ba, gieo giống lành cho nhân dân cày trỉa hầu ngày sau nhờ giống tốt đó mà cỗi ách, mình chủ trương lấy.

Tệ Thần rất mừng thầm cho những kẻ nào biết ăn-năn sám hối, cải ác theo lành, Tệ Thần thường theo ủng hộ giúp để cho thành công. Muôn việc buổi đầu là khó, quyết chí ắt nên, bởi câu: "Thế thượng vô nan sự, do nhơn tâm tự bất kiên". Ngặt Tệ Thần không có tên trong Hội Thánh của Đại Đạo, song việc Đạo là việc chung, nên đến luận đàm cùng chư vị. Vậy chư vị vui lòng chăng?"

 

 

TẢ TƯ HỮU TƯỞNG

Tả tư hữu tưởng là suy tới nghĩ lui, phải trái, rất cẩn thận. (Tả: phía tay trái, trái với hữu. Hữu: bên mặt. Tư tưởng: suy nghĩ).

 

 

TẢ XUNG HỮU ĐỘT

(Tả: Phía tay trái, trái với hữu. Xung: đánh thẳng tới trước. Hữu: bên phải. Đột: đánh vào quân địch). Tả xung hữu đột là đánh bên tả, đánh bên hữu, ý nói phải đối phó nhiều phía cùng một lúc Chỉ một người tài ba thao lược, xoay trở thế thời.

 

 

TẠ

TẠ (Bộ ngôn ) nghĩa là Từ tạ. Như tạ khách 謝客 là từ không tiếp khách. Xin thôi không làm quan nữa mà về gọi là tạ chánh 謝政. Lui: như "xuân thu đại tạ" 春秋代謝 là mùa kia lui đi mùa nọ thay đến. Hoa rụng cũng gọi là hoa tạ 花謝.

- Tạ. tội 謝罪 nói điều lỗi của mình để xin tha thứ.

- Tạ ân 謝恩 dùng lời nói hoặc việc làm để đáp lại cái ơn mà người khác làm cho mình.

 

 

TẠ BỆNH


E: To excuse oneself for reason of illness.
F: S' excuser pour cause de maladie.

Tạ: - Nói lời cảm ơn. - Xin lỗi. - Từ chối. Bệnh: bịnh hoạn, ốm đau. Tạ bệnh là xin từ chối hay rút lui vì có bệnh.

 

 

TẠ KHÁCH


E: To refuse to receive guests.
F: Éconduire les visiteurs.

Tạ: - Nói lời cảm ơn. - Xin lỗi. - Từ chối. Khách: người khách đến nhà. Tạ khách là từ chối không tiếp khách.

 

 

TẠ LỄ


E: To thank with a present.
F: Remercier pour un présent.

Tạ: - Nói lời cảm ơn. - Xin lỗi. - Từ chối. Lễ: làm lễ. Tạ lễ là làm lễ tạ ơn Thần Thánh, vì đã phò trợ mình đạt được nhiều kết quả.

Tạ lễ còn có nghĩa là đem lễ vật đến đáp lại người ta để tỏ lòng biết ơn và kính trọng (Làm lễ để tạ ơn thần thánh, đem lễ vật để đền ơn người ta).

 

 

TẠ THẾ

謝 世
E: To die.
F: Quitter le monde.

Tạ: - Nói lời cảm ơn. - Xin lỗi. - Từ chối. Thế: đời. Tạ thế là từ bỏ cõi đời, ý nói chết (Từ giả cõi đời, chết).

 

 

TẠ TỘI


E: To confess one' fault.
F: Avouer sa faute.

Tạ: - Nói lời cảm ơn. - Xin lỗi. - Từ chối. Tội: tội lỗi. Tạ tội là nhận tội và xin tha thứ.

 

 

TẠ THU THÂU (Tên)

Tạ Thu Thâu nhập xác tại thành Tarascon (Pháp Quốc) năm 1946 giữa 1.000 chiến sĩ Việt Nam: "Ta nói cho các chiến sĩ rõ biết: Nếu vị nào có óc lập quốc thì phải về Tòa Thánh Tây Ninh mà hành sự, sau nầy mới được thành công. Còn đi nơi nào khác hơn chỉ làm cho chết, hay là đến chết mà thôi chớ không khi nào thành công được".

 

 

TẠ TỪ


E: To thank and take leave.
F: Remercier et se retirer.

Tạ: - Nói lời cảm ơn. - Xin lỗi. - Từ chối. Từ: lời nói, từ biệt.Tạ từ là nói lời cảm tạ và từ biệt, hay là nói lời đáp tạ.

 

 

TÁC

TÁC Làm ra, gây ra, tạo nên. Td: Tác động, Tác nghiệt, Tác trái.

 

 

TÁC DỤNG

作 用
F: Action, effet.

Tác dụng 作用: Cái động tác có ảnh hưởng đến vật khác.

"Lễ và Nhạc có ý nghĩa rất sâu xa và có tác dụng mạnh mẽ về đường đạo đức, vì một đàng khiến cho tâm tánh ở bên trong và một đàng khiến cho sự hành động ở bên ngoài, cốt cho trong ngoài hòa thuận. Trong hòa là làm cho tâm tánh được điều hòa, ngoài thuận là làm cho hành vi cử chỉ thuận theo đạo lý, hợp lòng người. Trong và ngoài được như thế thì cái tà tâm và dục vọng không có cơ hội phát triển và dần dần sẽ biến mất, nhường chỗ cho Thánh tâm và những dục vọng thanh cao".

 

 

TÁC ĐỘNG


E: To act.
F: Agir.

Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Động: chuyển động. Tác động là làm cho chuyển động.

 

 

TÁC HIỆP


E: To unite, to marry.
F: Réunir, marier.

(Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Hợp, Hiệp: hợp lại.).Tác hợp là làm cho sum hợp với nhau thành vợ chồng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tác hiệp sẵn nhờ xây bĩ thới,
Thành song trước định gặp thư hùng.

 

 

TÁC NGHIỆT


E: To cause misfortune.
F: Causer du malheur.

Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Nghiệt: cái mầm ác, nghiệp ác. Tác nghiệt là làm điều ác tạo ra ác nghiệp.

 

 

TÁC PHONG


E: Behaviour.
F: Conduite.

Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Phong: cử chỉ dáng dấp. Tác phong là lề lối làm việc, cách đối xử với người khác.

 

 

TÁC QUYỀN SỞ HỮU


E: Copyright, Author' s rights.
F: Droit d' auteur.

(Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Quyền: quyền hành. Sở hữu: cái của mình.sẵn có). Tác quyền là quyền sáng tác của người làm văn nghệ. Tác quyền sở hữu là quyền sở hữu về tác phẩm của tác giả, được phép cấm kẻ khác in ra hay sao lục.

 

 

TÁC TỆ


E: To do bad.
F: Faire le mal.

(Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Tệ: hư, xấu). Tác tệ là làm điều xấu xa.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Cũng tự mình tác tệ, chờ ăn năn rất muộn về sau.

 

 

TÁC THÀNH


E: To perfect.
F: Parfaire.

(Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Thành: nên, nên việc). Tác thành là làm nên, làm nên công việc.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tác thành kim thể đắc trường sanh.

 

 

TÁC TRÁI


E: To lend.
F : Prêter.

Tác trái là cho vay nợ. Người tác trái là người chủ nợ, gọi là Trái chủ; còn người mắc nợ thì gọi là Trái hộ, hay Trái gia. (Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Trái: món nợ).

Đức Hộ Pháp nói: Trong năm hạng khách trần thì hạng thứ nhì là hạng tác trái, nghĩa là người đã cho vay.

 

 

TÁC UY TÁC PHÚC


E: To make the happy or unhappy.
F: Faire le bonheur ou le malheur.

Tác uy tác phúc là dùng oai quyền để làm phước hay làm họa cho người. (Tác: Làm ra, gây ra, tạo nên. Uy hay Oai: oai quyền, oai vũ, oai lực. Phúc: điều tốt lành).

 

 

TẠC

• TẠC Đào, soi lỗ, đục chạm thành tượng, mở cho thông.

• TẠC ngày hôm qua.

• TẠC Khách mời rượu lại chủ. Báo đáp lại.

 

 

TẠC DẠ

E: To engrave in the heart.
F: Graver dans son cœur.

(Tạc: ghi khắc. Dạ hay lòng là chỉ chiều sâu trong cân não, tim máu của con người). Tạc dạ ghi lòng là ghi khắc vào lòng, không bao giờ quên.

 

 

TẠC THÙ


E: To drink together.
F: Boire ensemble.

(Tạc: Khách mời rượu lại chủ. Thù: chủ nhà rót rượu mời khách). Tạc thù hay Thù tạc là chủ nhà và khách rót rượu mời qua lại để đáp tình với nhau; Ý nói trong vấn đề bạn bè giao tiếp thân mật. Thường nói là chén chú chén anh, qua lại với nhau trên một tình cảm cao thượng bằng những ly rượu giao bôi nồng ấm.

Đức Lý dạy: "Phải lấy nét thẳng đường ngay do nơi tâm thành mà hành sự tạc thù, sợ chinh lòng mà để nét bất bình cho cả chư Đạo hữu. Mỗi việc hành động đều do nơi Ðức Từ Bi sắp đặt sẵn rồi, duy có để cho chư Hiền Hữu bước lần mà đi tới."

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Giao tiếp cùng nhau cho có nét yêu dấu, tạc thù trong niềm Đạo hữu.

 

 

TẠC TỈNH NHI ẨM

Tạc tỉnh nhi ẩm là đào giếng mà uống. (Tạc: Đào xới, soi lỗ. Tỉnh: giếng. Nhi: mà. Ẩm: uống).

Tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực: Đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn, ý nói: tự mình mưu sinh.

 

 

TẠC TRIÊU


E: Yesteday morning.
F: Hier matin.

(Tạc: ngày hôm qua. Triêu: buổi sáng). Tạc triêu là sáng hôm qua.

 

 

TẠC TỬ KIM SANH

(Tạc: ngày hôm qua. Tử: chết. Kim: ngày hôm nay. Sinh: sống). Tạc tử kim sanh là nói trước chết nay sống, trước nguy nay an.

 

 

TẠC TƯỢNG


E: To sculpture statue.
F: Sculpter une statue.

Tạc tượng là lấy gỗ hay đá chạm khắc thành pho tượng. Đây cũng là một ngành mỹ thuật của Việt Nam. (Tạc: Đục, soi lỗ, chạm khắc thành tượng. Tượng: pho tượng).

 

 

TAI

TAI Cái họa hại làm hao tổn. Td: Tai ách, Tai biến, Tai nạn,Tai ương.

 

 

TAI ÁCH


E: Misfortune.
F: Malheur.

Tai: Cái họa hại làm hao tổn. Ách: khốn khổ. Tai ách là tai nạn khốn khổ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thời cuộc tuần hoàn, tai ách khởi.

 

 

TAI BIẾN


E: Misfortune.
F: Malheur.

Tai: Cái họa hại làm hao tổn. Biến: thay đổi thình lình. Tai biến là điều không may xảy đến thình lình.

Tai biến bất kỳ: Tai vạ đến thình lình, không hẹn trước.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nhơn loại hiện nay chịu đau khổ bởi nhiều cuộc tai biến.

 

 

TAI HỌA


E: The calamity.
F: La calamité.

Tai: Cái họa hại làm hao tổn. Họa: điều tổn hại lớn. Tai họa là điều rủi ro gây tổn hại lớn.

Kinh Sám Hối có câu:

"Nếu vội trách người trên thì đọa,
"Cũng có khi tai họa trả liền."

 

 

TAI MẮT

E: The notability.
F: La notabilité.

Tai: lỗ tai để nghe. Mắt: con mắt để thấy. Tai mắt là người thấy rộng hiểu xa, có danh vọng trong một vùng dân cư.

Kinh Sám Hối có câu:

"Người tai mắt đạo nhà khá giữ,
"Nghĩa anh em cư xử thuận hòa.
"Vẹn tròn Đạo cả giềng ba,
"Kính anh mến chị thì là phận em."

 

 

TAI NGUY


E: Disaster.
F: Désastre.

Tai: Cái họa hại làm hao tổn. Nguy: nguy hiểm, ngặt nghèo. Tai nguy là tai nạn nguy hiểm.

Kinh Sám Hối có câu:

"Thấy người gặp lúc tai nguy,
"Ra tay tế độ ấy thì lòng nhơn."

 

 

TAI VÁCH MẠCH RỪNG

Tai: lỗ tai để nghe. Mạch: đường thông. Tai vách mạch rừng là vách có lỗ tai, rừng có đường thông. Ý nói: Phải cẩn thận khi nói chuyện bí mật vì có thể có người rình nghe ở ngoài vách, hay ở đường thông trong rừng.

 

 

TAI ƯƠNG


E: The calamity.
F: La calamité.

(Tai: Cái họa lớn; Ương: họa hại). Tai ương 災殃 là Cái tai họa, có hại lớn, làm hao tổn, là cái họa hại lớn.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại,
"Độ kẻ lành chế cải tai ương."

 

 

TAI ƯƠNG HOẠN HỌA

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Tai ương hoạn họa luống ưu sầu,
"Vì bởi hay bày chước hiểm sâu.
"Lập kế đồ mưu âm hại chúng,
"Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu."

 

 

TÁI

TÁI Lại một lần nữa. Td: Tái bản, Tái cầu, Tái thệ.

 

 

TÁI BẢN

再 版
E: To reprint.
F: Réimprimer.

Tái: Lại một lần nữa. Bản: bản in sách. Tái bản là in cuốn sách lại một lần nữa.

 

 

TÁI CẦU

再 求
E: Second séance of spiritism.
F: Deuxième séance de spiritisme.

Tái: Lại một lần nữa. Cầu: cầu cơ. Tái cầu là cầu cơ một lần nữa, để cầu xin các Đấng giáng dạy thêm nữa.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Phải tái cầu nghe dạy.

 

 

TÁI KIẾP


E: To reincarnate.
F: Réincarner.

(Tái là lập lại một lần nữa; kiếp là kiếp sanh). Tái kiếp là phải đến trần lần nữa để trả quả hay làm Thiên mạng cho đời.

Thầy dạy: "Con Tắc! Con hôm nay đã lão thành niên trưởng. Con đã thấy rõ rằng Thầy chưa hề thất hứa với con. Thầy chỉ cám cảnh một điều là con đơn cô thế mỏng khi các Anh con đã lần lượt về cùng Thầy. Con không nên lầm tưởng như thế, vì chúng nó không buổi nào không gần bên con. Chúng nó càng xem cơ nghiệp của Đạo đồ sộ chừng nào thì càng tấm tắc khen con và mang ơn nặng của con, nhứt là TRANG, THƠ, TƯƠNG ân hận, Thầy rất nên tội nghiệp. Thầy thấy chúng nó hổ thẹn phận mình không trọn Đạo. Kỳ hội Ngọc Hư vừa qua, nhiều đứa tình nguyện tái kiếp, nhưng Thầy chưa quyết định".

Đức Hộ Pháp cho biết "Đức Chí-Tôn không tái kiếp làm người. Ngài đến cả con cái của Ngài với một huyền diệu Cơ Bút, thành thử Ngài không nói mà chúng ta nghe, Ngài không hình mà chúng ta thấy." (30-03-Ất Mùi)

Nói về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống: "Có điều thảm trạng hơn hết là có nhiều kẻ đi đến nơi, biết mình đi không được đến bờ, khóc lóc rồi trở lại. Cả thảy tưởng tượng coi họ cốt yếu tái kiếp làm người để trả oan-nghiệt của họ là vì lẽ đó."

Đức Hộ Pháp thuyết về Phật Thích Ca có nói rằng: "Đức Phật Tổ, tức nhiên Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cả thảy con cái Đức Chí Tôn đã nghe Đức Narada Thera thuyết Đạo rồi. Ngài nói Đức Phật Thích Ca là người cũng như chúng ta, có xác thân như ta, sống chết như ta, chớ không phải là người ở trong Thần thoại. Nhưng cái cao siêu về tâm hồn của Ngài, về tiền căn Thiêng liêng của Ngài lên tới Phật vị. Ngài tái kiếp làm người với mảnh thân phàm của Ngài cũng như ai kia vậy".

 

 

TÁI LẬP

再 立
E:To re-establish.
F:Rétablir.

Tái lập 再立: Xây dựng lại.

Thầy dạy: "Uổng thay! Nền Ðạo chẳng phải hư, ngày nay không phương tái lập. Thầy giao cho mấy đứa, vì Ðạo vì Ðời khá hiệp trí chung lo, họa may mới vớt người đặng muôn một."

 

 

TÁI LUYẾN

Tái luyến 再恋: Vì lưu luyến mà trở lại.

Thầy dạy: "Nếu Thầy chẳng thương công quả của chúng con thì đã để cho Lý Thái Bạch bôi xóa hết công trình từ xưa thì e cho biển khổ kia, sau chẳng khỏi tái luyến. Con nên làm thức tỉnh lần giấc chiêm bao của chúng nó mà chớ nên đem mình buộc vào chỗ tối tăm ấy".

 

 

TÁI NGỘ

再 遇
E: To see again.
F: Voir de nouveau.

Tái ngộ 再遇 gặp lại một lần nữa.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Một bóng luống chờ ngày tái ngộ.

 

 

TÁI NHIỆM (TÁI NHẬM)

再 任
E: To retake up one’s function.
F: Reprendre sa fonction.

Tái nhiệm (Tái nhậm) 再任:  là nhậm chức trở lại.

Bát Ðạo Nghị Ðịnh:

Cúi xin Đức Giáo Tông từ bi tái nhậm quyền hành hầu chỉnh đốn nền Đạo.

 

 

TÁI PHẠM

再 犯
E: To be recidivist
F: Rédiciver.

Tái phạm 再犯 phạm tội một lần nữa.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy cũng lấy từ bi dung cho, bằng tái phạm sẽ bị Tòa Tam Giáo trục xuất.

 

 

TÁI PHỤC

再 復
F: Revenir.

Tái phục 再復: Trở lại một lần nữa, lại trở lại.

"Đức Chí-Tôn mở Tam-Kỳ Phổ Độ này gọi là mở Cơ quan tận độ chúng sanh tức nhiên là lập một khoa thi sang Tam chuyển tái phục Thiêng-liêng vị nơi cảnh vô hình, mỗi chuyển tức nhiên mỗi khoa mục của các Đẳng chơn hồn cần phải thi đoạt vị: thăng hay đoạ. Bởi cớ cho nên Đức Chí-Tôn gọi là trường thi công quả là vậy. Đức Chí-Tôn cho Hộ Pháp và Thập Nhị Thời Quân đến cốt yếu để mở cửa Bí pháp ấy đặng cho vạn linh đoạt vị. Cả thảy đều hiểu rằng Đức Chí-Tôn buổi mới sơ khai, chưa tạo thiên lập địa, Ngài muốn cho vạn linh đặng hiệp cùng Nhứt linh của Ngài do quyền năng sở hữu của quyền hạn Thần linh".

 

 

TÁI SANH


E: To reincarnate.
F: Réincarner.

(Tái là lập lại một lần nữa, Sanh là sự sống). Tái sanh là được sanh lại một lần nữa, nói rõ hơn là đầu thai xuống thế gian lại một lần nữa hay còn gọi là tái kiếp. Dầu Đức Phật Di Lặc cũng được giáng linh lại một lần nữa.

Sự sống lại có nhiều cách:

1- Đối với những vong thường thì qua một kiếp thác rồi, bây giờ đầu thai trở lại vì duyên nghiệp trả vay gì đó.

2- Đối với bậc Thiên mạng thì các chơn linh cao trọng có thể chiết Chơn linh thành ra nhiều lần để làm tròn sứ mạng qua nhiều thời gian khác nhau.

Thầy dạy:"Nếu các con hiểu rõ cơ huyền diệu của kiếp luân hồi con người, chẳng phải như thói thường tình định liệu, thì con không buồn và cũng không oán trách Thầy. Nơi Bạch Ngọc Kinh, cả thảy đều là con cái của Thầy, tức là anh em với nhau. Cái phẩm vị của các con phải buộc tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị tối thượng mình là nơi Niết Bàn. Một lời nói với nhau cũng đủ cả hai xuống thế mà khuyên giúp lẫn nhau. Con chẳng nên gọi oan nghiệt".

Kinh Đại Tường có câu:

"Hỗn-Nguơn-Thiên dưới quyền Giáo Chủ,
"Di-Lạc đương thâu thủ phổ duyên.
"Tái sanh sửa đổi chơn truyền,
"Khai cơ tận độ Cửu Tuyền diệt vong."

 

 

TÁI THẾ

(Tái là lập lại một lần nữa, thế là cuộc đời, là thế gian) điều tất nhiên là chơn linh này đã có đến thế gian một hay nhiều lần, ngày nay lại đến nữa để làm Thiên mạng, làm phận sự hay học hỏi để tấn hoa, hay trả nợ gì đó. Hoặc có khi hồn phải bị thoái chuyển xuống vật loại thú hình. Sự trở lại gọi là Tái Thế.

Đức Hộ Pháp nói về Chúa Cứu Thế: "Cái chết của Jésus Christ là gì? - Là Ngài đem xác Thánh trọng quí dâng cho Chí Tôn làm tế vật, xác Thánh chết trên Thánh Giá là Lễ Tế đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cùng Ðức Chí Tôn ngày nay đó. Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng. Thật ra Ðấng Cứu Thế ấy là Tam Thế Chí Tôn giáng linh tức Christna tái thế."

Kinh Sám Hối có câu:

"Luân-hồi thưởng phạt rất mầu,
"Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền."

 

 

TÁI THỆ


E: To swear again.
F: Jurer the nouveau.

Tái: Lại một lần nữa. Thệ: thề. Tái thệ là lập lời thề trở lại một lần nữa, vì lời thề trước đã không giữ được, khiến nên lỗi thệ.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Ðối với các Chi Phái do Ðại Ðạo lập thành mà phản loạn Chơn Truyền, ngày nay đã lỗi thệ cùng Thầy, thì xin Hội Thánh thể lòng đại từ đại bi của Ðức Chí Tôn, mở kỳ ân xá cho họ đặng nhập môn tái thệ y theo Châu Tri số 31 đề ngày 18 tháng 9 năm Bính Tý, duy trong Châu Thành Tòa Thánh, những kẻ phản Ðạo không đặng nhập môn trở lại mà thôi.

 

 

TÁI THỦ QUYỀN HÀNH

(Thủ là nhận lấy, Tái thủ là nhận lại một lần nữa. Quyền hành là trách nhiệm và bổn phận phải làm trong chức năng đã sẵn) tức nhiên là tái nhận chức tước và quyền hành sau một thời gian từ bỏ. Đây là trường hợp của Đức Lý Giáo Tông có ghi trong Ðạo Sử II./289, nói về việc trước đây Ngài xin Đức Chí Tôn cho từ chức. Giờ này vì sự yêu cầu của Đức Chí-Tôn Ngài nhận chức Giáo Tông trở lại gọi là "Tái thủ quyền hành".

Nguyên do nào Ðức Lý Giáo Tông xin từ chức?

Trong ngày Ðại Lễ Khai Ðạo 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926) tại Thánh Thất Từ Lâm Tự Gò Kén, Ðức Chí Tôn dự định ban cho Ngài Ngô Văn Chiêu chức Giáo Tông, nhưng Ngài Ngô Văn Chiêu bị Quỉ Vương thử thách mà không thắng nỗi Quỉ Vương, nên Ngài rút về nhà lo tu đơn và sau đó Ngài hợp với những đệ tử do Ngài phổ độ, cùng về Cần Thơ lập ra phái Chiếu Minh tại Cần Thơ. Ðức Chí Tôn mới giao chức Giáo Tông cho Ðức Lý Thái Bạch Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm. Rồi sau đó, lần lượt có một số các Chức sắc khác cũng có ý muốn tách khỏi Tòa Thánh Tây Ninh như quí Ông: Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh lập phái Tiên Thiên ở Cai Lậy (1930), Phối Sư Thái Ca Thanh (Nguyễn Văn Ca) lập phái Minh Chơn Lý (1931) ở Cầu Vỹ (Mỹ Tho) với Ngài Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang, Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh (Vương Quan Kỳ) lập phái Cầu Kho (1930) ở Thánh Thất Cầu Kho Sài gòn…Ðức Lý Giáo Tông muốn dùng quyền của mình để trục xuất những vị muốn phân phe chia phái, nhưng Ðức Chí Tôn cản không cho, bởi vì Ðức Chí Tôn biết rằng nếu đã phân phe chia phái rồi, thì sau nầy không thế gì qui tụ trở lại được, nên Ðức Chí Tôn cản Ðức Lý nhiều phen, Ðức Chí Tôn muốn cố gắng cảm hóa và kêu gọi quí Chức sắc ấy trở về Tòa Thánh Tây Ninh hầu cứu rỗi linh hồn họ, trong lòng thương yêu của Thầy.

Do vậy mà Ðức Lý không điều hành nền Ðạo được nên xin từ chức Giáo Tông. Bởi lòng thương yêu của Ðức Chí Tôn quả thật vô hạn, nhưng vì phàm tâm lấn lướt Thánh chất nên các Chức sắc lập Chi phái không ai chịu trở về Tòa Thánh. Ðức Chí Tôn đành triệu Ðức Lý trở lại cầm quyền Giáo Tông để xử trị các Chức sắc ấy. Bấy giờ Ðức Chí Tôn bảo Hội Thánh làm lễ Ðăng điện cho Ðức Lý thật long trọng để Ðức Lý TÁI THỦ QUYỀN HÀNH.

Chỗ có nhiều chấm nơi đầu bài là bài thi Hán văn bốn câu của Ðức Lý, xin chép bổ sung ra sau đây:

Cửu tử kim triêu đắc phục huờn,
Hạnh phùng Thiên mạng đáo khai nguơn.
Thế trung kỵ tử hà tri tử?
Tử giả hà tồn chủ tịch Hương?

Viết ra chữ Hán bài thi trên của Ðức Lý Giáo Tông:

久死今朝得復還
幸逢天命到開元
世中忌死何知死
死者何存主籍香

_______________________________

Tòa Thánh Tây Ninh,
Ngày 04-11-Canh Ngọ (dl: 24-12-1930)

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
LÝ GIÁO TÔNG

Hỉ chư hiền hữu, chư hiền muội.

............................

Lão đã mang một cảm tình rất nặng cùng chư Hiền Hữu, Hiền Muội rồi đó. Lão là người đã đứng ngoài vòng thế sự hèn lâu, nên đòi phen bợ ngợ, phải tìm tàng lượng tri lý mỗi người, Ôi! nghĩ nên rất khó! Vì khi nãy, Lão thấy con cái Chí Tôn đông đảo dường ấy, may là một nước Việt Nam chưa đủ trọn mà dường nầy, ngày nào Ðạo đã truyền bá toàn trong nhơn loại, trọn khắp Ngũ châu, mới sao nữa! Ngán thay cho cái trách nhậm nặng nề, vì trót đã hứa lời cùng Từ Bi ra tế độ, hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị lấy em mặc dầu, chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa. Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ tà tâm toan dạy dỗ; còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích. Tâm Thánh là ngôi vị của Ðấng thiêng liêng, không lo trau giồi thì cũng còn tự nhiên vì vẻ đẹp, còn vẻ đẹp thiên nhiên đã mang nặng thi hài nơi khổ cảnh nầy mà không mất thì đoạt vị đã đặng rồi, lại cần ai nâng đỡ?

Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ. Lão đây cũng vậy, mà chư Hiền Hữu cũng vậy, chúng ta đã đến tạo thế sửa đời, vẫn là phận sự của chúng ta đã hẳn, hãy biết phận mình mới an tâm liệu thế chuyển xây, đã có khó ắt có hay, đã có gay thì có thuận, bền chí xem mảy mún cơ đời. Chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội xem trong năm Khai Ðạo, biết bao khổ não truân chuyên. Lão, vì đã thấy rõ, nên không nỡ ngồi an xem cơ thắng bại. Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội, mà chia bớt khổ tâm. Lão chẳng phải sợ, vì chưa có quyền hành hữu vi nào mà phạm đến Lão đặng, chỉ sợ giùm cho chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội mang nặng thi phàm, mà chịu cường quyền đè nén. Chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội có đạt được phép tiên tri như vậy đâu mà mong tránh khỏi. Lão nghĩ như thế nên nhứt định tái thủ quyền hành, đem cặp nhãn thiêng liêng thay vì cặp nhãn của Thầy, đặng thấy giùm mọi điều cho chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội, đặng quyết thắng chúng sanh trong kỳ Khai Ðạo nầy, thì Lão tưởng khi Lão chưa phải là người vô dụng vậy. Lão mang nặng tình nghĩa cùng một Bạn thiêng liêng vì đời lãnh mạng, tạo Ðạo đặng cứu chúng sanh mà phải chịu mông trần vào cảnh đọa. Lão nên nói rằng, cơ thưởng phạt của Thiên thơ thì lắm điều trái hẳn với trí người tưởng tượng. Có nhiều khi thưởng hữu hình mà làm hình phạt vô vi, mà cũng có khi lấy hình phạt hữu vi mà thưởng thiêng liêng công nghiệp. Vậy, cái thưởng và cái phạt của Lão dùng điều đình Thánh giáo, nhiều khi chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội không phương thấy lý đặng. Nên khá dè chừng, đừng vội luận nhảm bàn khùng mà mang tội thiêng liêng rất uổng, nghe!"

 

 

TÀI

• TÀI Tài năng làm được việc.Td: Tài cán, Tài đức.

• TÀI Tiền bạc. Td: Tài chánh, Tài thí.

• TÀI Gỗ dùng làm đồ đạc. Td: Tài liệu.

• TÀI Trồng cây Td: Tài bồi.

 

 

TÀI BẤT KHẢ Ỷ

Tài bất khả ỷ là có tài đừng nên cậy tài mà kiêu ngạo. (Tài: Tài năng làm được việc. Bất: không. Khả: khá. : cậy).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đừng hòng kiêu hãnh cậy mình tài,
Nên nhớ chữ tài cận chữ tai.
Tài ít đức nhiều còn hữu dụng,
Tài suông đức thiếu họa nay mai.

 

 

TÀI BỒI


E: To cultivate.
F: Cultiver.

Tài: Trồng cây. Bồi: đắp thêm. Tài bồi là vun trồng, trau giồi, đào luyện.

 

 

TÀI CÁN


E: Capacity.
F: La capacité.

Tài: Tài năng làm được việc. Cán: làm việc, cốt cán. Tài cán là khả năng tài giỏi làm được việc.

 

 

TÀI CHÁNH


E: The finance.
F: La finance.

Tài: Tiền bạc. Chánh: sắp đặt cho yên, quản lý. Tài chánh là sự quản lý về tiền bạc của một đoàn thể.

 

 

TÀI ĐA LỤY THÂN

Tài: Tiền bạc. Đa: nhiều. Lụy: dính líu khổ sở. Thân: mình. Tài đa lụy thân là tiền của nhiều thì làm lụy đến thân.

Đức Lão Tử nói: Dục đa thương thần, tài đa lụy thân. Nghĩa là: Lòng ham muốn nhiều thì hại tinh thần, tiền của nhiều thì lụy đến thân.

 

 

TÀI ĐỨC


E: Talent and virtue.
F: Talent et vertu.

Tài đức là tài năng và đạo đức. Tài là khả năng kiến thức do người trau luyện. Đức là tâm ý do sự tu sửa hằng ngày. Người có tài thì tất nhiên rất được hữu dụng, mà thêm có đức lại càng qúi trọng hơn. Có câu: "Tài bất thắng đức" là Tài năng không thể thắng nỗi phước đức vì khi đã hưởng hết phước đức rồi thì dù có tài giỏi cách mấy cũng không thể cứu vãn được sự thất bại và suy tàn. "Đức thắng tài vi quân tử" là người có đạo đức hơn tài năng thì làm người quân tử. "Tài thắng đức vi tiểu nhân" là người có tài năng hơn đạo đức thì làm kẻ tiểu nhân.

Đức Thượng Sanh giải thêm: "Cái tài thì do sự học mà có, cái đức là do lập chí tu thân theo Đạo Thánh Hiền mà được. Nếu có tài mà không có đức thì cũng như đóa hoa có sắc mà không có hương; cái tài đó cũng không phải là tài hữu dụng".

Luận về Tài Đức, Bát Nương Diêu Trì Cung có khuyên dạy:

Tài lấn đức tài mau diệt tận,
Ðức đồng tài, tài phấn khởi thêm.
Mênh mông biển khổ con thuyền,
Ðạo sơ đức kém ngửa nghiêng sóng trần.
Ỷ tài sức cậy thân dựa thế,
Tài càng nhiều càng lụy đến thân.
Tài kia tai nọ luôn vần,
Ðức tài trau luyện đồng cân mới mầu.
Trăm năm một cuộc bể dâu!

Tố Như Tiên sanh là cụ Nguyễn Du dạy đời hai câu bất hủ:

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Hoặc Thi văn dạy Đạo rằng:

ĐỨC cao thì mới đáng nên người,
ĐỨC thắng TÀI kia đã mấy mươi.
Có ĐỨC có TÀI giềng Đạo trọng,
Không TÀI không ĐỨC hóa không thời.

 

 

TÀI GIẢ TAI DÃ

Tài giả tai dã tức nhiên nói về người tài giỏi mà không biết khiêm nhường ấy là tai họa vậy. (Tài: Tài năng làm được việc. Giả: người ấy. Tai: tai họa. : vậy). Trong đời không hiếm người tài giỏi mà không đạo đức thì hợm mình, khinh người, làm cho nhiều người chán ghét. Đó là tai họa vậy.

 

 

TÀI HOA

才 華
E: Talented.
F: Talentueux.

Tài: Tài năng làm được việc. Hoa: Huê: đẹp tốt. Tài hoa là người có tài năng phát lộ ra ngoài những tinh hoa về nhạc, họa, thơ, văn chương.

 

 

TÀI HÙNG BIỆN

才 雄 辯
F: Éloquence.

Tài hùng biện 才雄辯: biện thuyết mạnh mẻ.

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Qua trách một điều là chư Chức sắc dám hy sinh cùng đời mà không dám can đảm liều thân đó thôi. Cười... Khó thật, mấy em há! Ôi! Đã nặng mang nghĩa vụ với đời thì chất khí sanh phải mong đáp đền tròn nghĩa vụ, vì vậy mà các Đấng nguyên nhân, mỗi phen xuống thế là mỗi lần âu lo, nhưng mấy em hiểu rằng: Nếu không xuống cõi trần đây mà thi thố cả tài hùng biện để lập vị thiêng liêng thì mong mỏi gì đoạt phẩm."

 

 

TÀI LIỆU

材 料
E: Documents.
F: Matériauxs

Tài: Gỗ dùng làm đồ đạc. Liệu: đồ vật. Tài liệu là chỉ chung các thứ giấy tờ, văn bản, sách vở, dùng để nghiên cứu cho hiểu rõ một vấn đề, làm thành bài thuyết trình, luận án hay một tác phẩm khảo cứu.

 

 

TÀI SẮC

才 色
E: Talent and beauty.
F: Talent et beauté.

Tài: Tài năng làm được việc. Sắc: sắc đẹp của con gái. Tài sắc là chỉ người con gái có tài năng và có sắc đẹp.

Nữ Trung Tùng Phận: Mẹ dạy con gái:

Trông người so sánh với ta,
Lường tài cân sắc hiệp hòa mới nên.

 

 

TÀI TÌNH

才 情
E: Talented and clever.
F: Talentueux et habile.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Huyền diệu mũi kim qua chẳng lọt,
Ðừng đừng xảo mị gọi tài tình.

 

 

TẠI GIA


E: To be lay at home.
F: Être laðque à la maison.

Tại gia là người tu hành nhưng còn ở tại gia đình, còn lo làm nghề nghiệp nuôi sống bản thân và gia đình.

Người tu tại gia được gọi là: Cư sĩ, Cư gia.

 

 

TẠI VỊ


E: To be on the throne.
F: Être sur le trône.

Tại: Đang ở, ở tại, còn. Vị: ngôi vị, địa vị.

Thuyết đạo Ðức Phạm Hộ Pháp:

Chúng ta thấy, trước khi lên cầm quyền vì một sơn hà xã tắc, một nhà đương quyền tại vị hay đã thoái vị cũng vậy,...

 

 

TAM BÀNH LỤC TẶC

- 六 賊
E: Three evil spirits of anger - Six brigands.
F: Trois mauvais génies de colère - Six brigands.

(Tam: Ba, số 3, thứ ba. Bành: họ Bành). Tam Bành là ba vị ác thần họ Bành, tên của ba vị các sách chép không thống nhứt nhau, đại khái là: Bành Chất, Bành Cư (Cứ, Cử, Sư), Bành Kiêu (Kiểu, Kiều, Kiển, Hiên).

Theo Lão giáo, ba vị ác thần nầy ở vào ba vị trí trong thân thể con người: Bành Cư ở tại thượng tiêu, Bành Chất ở tại trung tiêu và Bành Kiêu ở tại hạ tiêu, nên ba vị ác thần nầy còn được gọi là Tam Thi Thần. Theo sách Thái Thượng Tam Thi trung kinh, Tam Bành thường xúi giục con người làm bậy. Đến ngày Canh Thân, Tam Bành lên tâu Thượng Đế xin trừng phạt cho con người mau chết để Tam Bành khỏi theo dõi nữa. Người ta tin rằng, những sự nóng nảy, giận dữ của con người là do Tam Bành xúi giục gây nên, để con người mất hết sáng suốt và làm điều sai trái. Cho nên khi thấy ai giận dữ thì nói là "nổi Tam Bành". Trong phép luyện đạo, Tam Thi Thần là ba con quỉ, trấn tại thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu. Chúng trấn ba cửa ải ấy để cho Thần và Khí không được giao thông với Càn Khôn thăng giáng. Người luyện đạo phải tịnh tâm thiền định để kềm chế Tam Thi Thần mà khai thông tam tiêu cùng cửu khiếu thì mới đắc đạo được.

(Lục: sáu. Tặc: kẻ trộm). Lục tặc là sáu tên trộm cướp luôn luôn rình rập để cướp đi các công đức của người tu hành. Lục tặc chính là Lục trần, tức là 6 cảnh hấp dẫn của cõi trần làm cho con người mê đắm vào. Đó là: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Đây là cách nói ví của Đức Phật giảng giải cho người tu dễ hiểu. Phật ví Lục trần (Lục ngoại nhập) như sáu tên trộm cướp, luôn luôn tìm cách khêu gợi Lục căn của con người, để Lục Căn sanh ra Lục dục mà xao lãng hay bỏ bê việc gìn giữ giới luật tu hành.

Đức Phật khuyên người tu phải giữ gìn cẩn thận Lục căn: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý, làm cho nó như căn nhà trống không, không có của cải chi hết, để khi Lục tặc xâm nhập vào thì nó không vơ vét được gì cả. Ý của Đức Phật nói rằng: người tu gìn giữ Lục căn cho trong sạch, cao thượng, để Lục tặc không thể cướp mất công đức của mình. Ai giữ được như vậy thì dứt phiền não, đắc đạo. Con người, một khi để cho Tam Bành dấy lên, Lục tặc xâm nhập, tất nguy khốn cho thân mạng, hư hỏng việc tu hành. Muốn đắc đạo thì phải kềm chế chặc chẽ Tam Bành, gìn giữ Lục căn, không cho Lục tặc xâm nhập.

Đức Hộ Pháp nói về nguyên lai của Tam bành:

"… Nhứt là nền Ðạo Cao Ðài nầy; là khi đã nhập vào trận Vạn Tiên, Ðức Thái Thượng thì giận Ðức Thông Thiên Giáo Chủ, Ngài biến ra Tam Bành tức nhiên là hình ảnh của Ðức Chí Tôn lập giáo ngày nay trên mặt địa cầu nầy. Thái, Thượng, Ngọc tức nhiên Tam Thanh Ứng Hóa là ba tinh thần duy chủ của nền Tôn Giáo; Thái, Thượng, Ngọc đương nhiên là Thánh Thể của Ðức Chí Tôn đó vậy. Tại sao Ðức Chí Tôn lấy nguyên căn Tam Bành trong buổi nộ khí của Ðức Thái Thượng Nguơn Thủy lập Ðạo Giáo? - Là Ðức Chí Tôn quyết định lấy cơ quan tối đại của duy tâm đánh tiêu tan duy vật, tức nhiên lấy tinh thần đạo giáo diệt tiêu Tả Ðạo Bàng Môn.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Sao chẳng biết lòng thương nhân-loại?
Cứ tranh nhau chức đại quyền cao.
Tam bành lửa dậy ào ào,
Tín đồ đạo hữu lao xao tưng bừng.

 

 

TAM BẢO (Phật Học)

Tam bảo (S: triratna; P: tiratana) "Ba ngôi báu";

Ba cơ sở chính của Phật giáo: Phật- Pháp- Tăng, tức là bậc giác ngộ, giáo pháp của bậc giác ngộ và bạn đồng học. Người có niềm tin kiên cố nơi Tam bảo được gọi là bậc Dự lưu (vào dòng). Người Phật tử biểu lộ sự tin tưởng bằng cách qui y Tam bảo (Ba qui y). Trong mười phép quán Tùy niệm (p: anussati), ba đối tượng đầu tiên là Tam bảo.

Ý nghĩa của Tam bảo được hiểu rộng hơn theo truyền thống Ðại thừa. Trong các buổi giảng dạy về Thiền, đặc biệt sau các chương trình Tiếp tâm (j: sesshin), quán Công án, các thiền sinh được hướng dẫn vào lối nhìn Tam bảo của Ðại thừa. Theo cách nhìn này thì người ta có thể phân ý nghĩa Tam bảo ra ba tầng cấp: a) Nhất thể tam bảo (j: ittai-sambō), b) Hiện tiền tam bảo (j: genzen-sambō) và c) Trụ trì tam bảo (j: juji-sambō).

1- Nhất thể tam bảo 一體三寶 cũng được gọi là Ðồng thể tam bảo; 同體三寶) bao gồm: 1. Ðại Nhật Phật, hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya), biểu hiện của sự bình đẳng vô vi, sự thông suốt tính Không (s: śūnyatā) và Phật tính của vạn vật; 2. Pháp (s:dharma), được hiểu là luân lý của toàn thể vũ trụ và theo đó thì tất cả những pháp hiện hữu đều theo nhân duyên mà sinh, đều phụ thuộc vào nhau; 3. Sự xuyên suốt giữa hai điểm 1. và 2. nêu trên và từ đó xuất phát ra một sự thật, một sự thật mà chỉ một bậc Giác ngộ mới có thể trực chứng được.

2- Hiện tiền tam bảo 現前三寶 cũng có lúc được gọi là Biệt thể tam bảo; 別體三寶 gồm có: 1. Ðức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni), người sáng lập Phật giáo qua sự giác ngộ của chính mình và là người đã thực hiện được Nhất thể tam bảo; 2. Pháp, ở đây được hiểu là giáo lý của Đức Phật, được Ngài thuyết giảng và 3. Các vị đệ tử của Ngài.

3- Trụ trì tam bảo 住持三寶 bao gồm: 1. Những tranh tượng của Đức Phật được truyền lại đến ngày nay; 2. Những lời dạy của chư vị Phật trong kinh sách và 3. Chư Phật tử hiện nay, những người đang tu học và thực hiện Chính pháp.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

TAM BẤT TÀ DÂM

Điều răn cấm thứ ba (trong Ngũ giới cấm) là cấm việc Tà dâm. Bởi Tà dâm là trọng tội. Vì sao?

Theo TÂN LUẬT: Chương IV: Ðiều Thứ 21:

"Hễ nhập môn rồi phải trau giồi tánh hạnh, cần giữ Ngũ Giới Cấm, mà điều thứ ba trong Ngũ giới cấm là"Bất Tà Dâm" là cấm lấy vợ người, thả theo đàng điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt (vợ chồng không gọi tà dâm)".

Vì sao tội Tà Dâm là trọng tội?

Thánh giáo của Đức Chí Tôn nói về "Bất Tà Dâm": ngày 26-6-Bính Dần (dl: 30-6-1926)

"Phàm xác thân con người tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn một khối chất chứa vàn vàn, muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật, tỷ như: rau, cỏ, cây, trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh. Nếu không có chất sanh, thì thế nào tươi tắn đặng mà chứa sự sống, như nó khô rũ thì là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ. Còn như nhờ lửa mà nấu thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết. Các vật thực vào tỳ vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết, chẳng cần nói, các con cũng biết cái chơn linh khí huyết là thế nào? Nó có thể huờn ra nhơn hình mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhơn loại. Vì vậy mà một giọt máu là một khối chơn linh, như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Ðài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ gìn giới cấm ấy cho lắm".

Theo Thánh Ngôn trên đây, đủ hiểu rằng sự dâm dục có hại cho kẻ hành giả là dường nào! Phàm thân người do nhơn duyên cấu sanh, mà hễ có sanh thì tự nhiên có tử. Và khi tử thì duyên phải tan rã và trở về với đất, nước, gió, lửa. Thế thì nhục thân có trường tồn đâu mà phải cần khoái lạc nhứt thời đề rồi gây ra tội tình Nhơn quả cho phần hồn phải chịu muôn năm, ngàn kiếp, nhứt là quyến rủ vợ con người ta vào đường quấy là phá hại gia cang của người, lại là một việc ác đứng đầu trong muôn việc tội ác. Vả lại, dâm dục sát hại nhiều Chơn linh, khi thoát xác, chúng nó đến kiện nơi Nghiệt Cảnh Đài, chúng ta không chối tội được. Vậy kẻ tu hành chớ nên ham vui một thuở mà chịu khổ cả muôn đời. Tóm lại: thân thể người chẳng khác thân thể động vật. Điều chính của nó là hành động, mà hành động của nó lại khuynh hướng về tư kỷ nhiều hơn, cho nên chúng ta phải cố gắng gìn giữ giới cấm nầy, để trị thân thể và đem nó về đường Chánh Đạo.

 

 

TAM BỬU


E: Three treasures.
F: Trois trésors.

Tam bửu

Thể pháp của Đạo Cao-Đài phải đủ cả Tam ngôi

1-Tam Bửu là gì?

2-Tòa-Thánh có ba Đài tượng Tam Bửu

3-Tam Bửu trong Cửu Trùng Đài

4-Tam bửu qua Tam trấn

5-Tam bửu Phật-Pháp-Tăng

6-Nhiệm vụ của Đức Di Lạc trong kỳ ba Phổ độ

7- Ý nghĩa Tam ngôi Nhứt thể

8-Kết luận về Tam bửu là TU cho đạt thành

9-Chúa Jésus chết là dâng Tam Bửu cho Chí-Tôn

_________________________________

Tam bửu cùng nghĩa với Tam bảo. Trong cửa Đạo Cao Đài tiếng này thông dụng hơn. Ngày nay, người Tín hữu sùng thượng Đức Thượng-Đế bằng cách dâng Tam-Bửu cho Người, đó là dùng các vật làm biểu-tượng, như:

- Bông, tượng trưng cho xác thân, ấy là TINH.
- Rượu, tượng trưng cho Trí não, ấy là KHÍ.
- Trà, tượng trưng cho linh hồn, ấy là THẦN.

TINH- KHÍ- THẦN gọi là Tam bửu, tức là ba món quí báu nhứt của con người.

Trọng giá của TAM-BỬU mà CHÍ-TÔN ưa chuộng để dâng Đại Lễ cho Ngài là nguyên-nhân chấm dứt cái hoạ tranh thù đã gây nên trường oan-nghiệt cho toàn Thế-giới.

Ðức Hộ Pháp nói: Ngày hôm nay Đức Chí-Tôn đến, Ngài biểu chúng ta dâng cho Ngài ba món gọi là Tam bửu là: Tinh Khí Thần. Ngài thể nó là Bông, là Rượu, là Trà.

Bần Đạo tưởng nếu lấy vật ấy mà tưởng tượng thì nó không nghĩa lý gì hết. Ôi! Biết bao nhiêu quí hoá, nếu cả thảy con cái của Ngài biết Đức Chí-Tôn muốn dâng cho Ngài cái gì thì của dâng ấy quí hoá không thể nói.

Tinh: là Ngài biểu dâng hình thể của ta tức nhiên dâng xác thịt ta, nghĩa là dâng cái sống của ta nơi mặt thế gian này đặng cho Ngài làm khí cụ, đặng Ngài phụng sự cho con cái của Ngài, nó thuộc về Tinh tức nhiên Bông đó vậy. Phải dâng cho Ngài cái hình xác chúng ta cho đẹp đẽ, cho trong sạch, cho thơm tho, cho quí hoá như Bông kia mới được. Tưởng tượng Ngài muốn cho chúng ta trong sạch như vậy là vì Ngài mong con cái của Ngài biết thương yêu lẫn nhau, rồi lại tự mình tu tâm dưỡng tánh thế nào cho đẹp đẽ mỹ miều như Bông kia đặng xứng đáng làm Thánh thể của Ngài đặng phụng sự cho con cái của Ngài.

Giờ nói về Rượu: Ngài thể cái Chơn thần của ta tức nhiên thể cái trí thức. Cái khôn ngoan của ta về Chơn thần, tượng ảnh trí thức khôn ngoan tức nhiên Ngài biểu cả trí não con cái của Ngài phải dâng trọn cho Ngài đặng làm khí cụ. Giờ phút nào toàn thể con cái của Ngài có trí óc khôn ngoan đặng phụng sự cho nhơn loại thay thế cho Đại Từ Phụ mà nói rằng: Chúng tôi không biết làm gì ngoài phận sự thiêng liêng của Đức Chí-Tôn giao phó. Ngày giờ nào toàn thể con cái của Ngài biết nói như thế đó, thì ôi, hiến cho Đức Chí-Tôn một vật quí hoá không thể nói gì được.

Nói về Trà: Ngài thể Trà là tâm hồn tức nhiên Ngài biểu cả tâm hồn của ta hiệp lại làm một khối với nhau. Giờ phút nào toàn thể con cái của Ngài hiệp cả tâm hồn làm một, cái tâm hồn này sẽ làm tâm hồn của mặt địa cầu này, cho trái đất này, nó sẽ làm tâm hồn của toàn thể nhơn loại. Ngày giờ nào cả toàn thể con cái của Ngài tượng ảnh tâm hồn cho toàn thể nhơn loại được, thì ngày giờ ấy có thể Thánh thể của Ngài mới phụng sự cho Vạn linh tức nhiên con cái của Ngài hạnh phúc được. Chỉ ngày ấy mới có thể nói rằng: Nhơn loại hưởng được hồng ân đặc biệt của Ngài,mà hưởng được hồng ân đặc biệt của Ngài thì ngày ấy mới mong hưởng được Hoà bình và Đại Đồng Thế giới". (30-02 Nhâm Thìn 23-3-1952)

Thể pháp của Đạo Cao-Đài phải đủ cả Tam ngôi:

Về mặt Tôn-giáo:

"Là một cơ cấu hữu-vi thì cũng không ngoài luật ấy, nên trước tiên cần có đủ chủ hướng là Tinh-thần ấy là Tín ngưỡng, chủ Tinh-thần là linh hồn của Đạo-giáo, mà linh hồn của Đạo Cao-Đài là Đức Chí-Tôn chủ về cực Dương.

Một Tôn-giáo muốn sống bền vững và phát triển tốt đẹp thì Tôn giáo ấy có đủ Tam-bửu: TINH, KHÍ, THẦN.

-Về Thần: thì khi lập Đạo Cao-Đài, Thần đã sẵn có do Đức Chí-Tôn làm chủ linh hồn của Đạo-giáo.

-Về Khí thì buổi phôi thai chưa mấy tựu thành nên Đức Chí-Tôn mượn hình thể Diêu-Trì-Cung làm Khí.

-Về Tinh là hình thể của Đạo Cao-Đài tức là ba chi PHÁP, ĐẠO, THẾ tượng trưng là: Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh.

Tức nhiên Đức Chí-Tôn đã cho hiệp Tam bửu.

1-Tam Bửu là gì? - Đó là vật báu:

- Trời có Tam bửu: NHỰT, NGUYỆT, TINH, tức là sự hình thành nên các Thiên tượng như mặt trời, mặt trăng và các vì Tinh tú. Khi đã có đủ Tam bửu thì có sự phân hoá bởi Âm Dương mà thành ra Ngũ Khí là Vân (mây), Vũ (mưa), Vụ (sương mù), Lôi (Sấm), oanh (sét).

- Đất có Tam bửu: THUỶ (nước), HOẢ (lửa), PHONG (gió). Ba yếu tố nước, lửa, gió rất quan trọng để tác động nên lý Ngũ Hành: Kim (kim-loại), Mộc (cây), Thuỷ (nước), Hoả (lửa), Thổ (đất).

- Người có Tam bửu: TINH, KHÍ, THẦN và do Âm Dương phối hợp tạo thành Ngũ Tạng: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Bởi người là một sản phẩm hoàn chỉnh nhất của Thượng-Đế đã nắn đúc nên hình. Thế nên người khôn ngoan nhất trong vạn loại và đứng đầu chúng sanh, mới xứng đáng là Thượng Sanh, vì thế người Môn-đệ của Đấng Chí-Tôn khi cỗi xác trần về với Hư vô được hiên ngang ngự trên phướn Thượng Sanh mà về chầu Bạch Ngọc. Chính đó là Tam tài: Thiên, Địa, Nhân.

2-Tòa-Thánh có ba Đài tượng Tam Bửu:

"Trong Đại-Đạo có ba Đài, có ba người làm Chủ:

- Bát-Quái-Đài dưới quyền Đức Chí-Tôn, Ngài là Chúa của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cùng Vạn linh, chính ông chủ Bát-Quái Đài là Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

- Cửu Trùng Đài là dưới quyền Giáo Tông làm chủ, giáo hoá nhơn sanh.

- Hiệp-Thiên-Đài là Hộ Pháp làm chủ, bảo tồn chơn pháp.

Trong ba Ông chủ ấy thì chỉ có hai ông này là Cửu Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài nếu đứng riêng ra không thế gì dâng sớ cho Bát-Quái-Đài, tức nhiên:

Quyền Chí-Tôn nơi Bát-Quái-Đài.

Hai Đài Cửu-Trùng và Hiệp-Thiên hiệp nhứt là Quyền Chí-Tôn tại thế, không có một quyền nào cai quản cải qua quyền Bát-Quái-Đài được". (ĐHP: 18-8 Kỷ Sửu)

3-Tam Bửu trong Cửu Trùng Đài:

Ba báu: NHỰT, NGUYỆT, TINH là ba ảnh tượng của người đại diện trong thời Nhơn sanh ư Dần,là ba vị Đầu Sư của ba phái thay vì là Thái, Thượng, Ngọc, được ân phong đầu tiên:

- Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt.
- Ngọc Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.
- Thái Đầu Sư Thái Nương Tinh và Thái Minh Tinh.

Mặt trời, mặt trăng mỗi thứ chỉ có một, nhưng Tinh là sao thì rất nhiều, có đến 3072 ngôi sao, nên phải có hai vị mang chữ TINH.

Số 3 là do số 1 và 2 hỗn hợp lại mà biến ra 3. Số 3 là con số căn bản trong tất cả các số. Chính nó là một con số Huyền diệu và nhiệm-mầu nhứt.

4-Tam bửu qua Tam trấn:

5-Tam bửu Phật-Pháp-Tăng:

Về nghi thức Lễ bái của Đạo Cao-Đài, người Tín hữu trước khi mật niệm đều có lấy dấu: Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi cũng không ngoài ý-nghĩa Tam bửu:

- Phật, quyền năng tối thượng là Đức Chí-Tôn.
- Pháp, quyền năng tạo đoan là Đức Phật-Mẫu.
- Tăng, quyền-uy là giáo hoá, đứng làm đại diện qua mỗi nguơn hội như:

- Nhứt kỳ Phổ-Độ: Phật A-Di-Đà.
- Nhị kỳ Phổ-Độ: Phật Thích-Ca Mâu-Ni.
- Tam kỳ Phổ độ: Phật Di-lạc Vương.

Buổi này Ngài chấp chưởng quyền hành thay Trời tạo thế. Còn thay quyền Tam giáo thì có Phật Quan-Âm.

Vì thế cho nên hai ngôi: Phật, Pháp không đổi, mà ngôi Tăng thay đổi tuỳ theo mỗi thời kỳ. Dù phân biệt ba ngôi như vậy nhưng về bản thể cũng gồm về duy nhứt mà thôi.

Điều dễ nhận ra nhứt là thời tiền khai Đại-Đạo, Đức Thượng-Đế đến với ba vị Xây bàn thường tá danh là AĂÂ cũng biểu hiệu ba ngôi cùng chung một bản thể, tức là cùng chung một gốc, nhưng gốc ấy chỉ có một, xuất hiện từ chữ vần đầu tiên chỉ một vần A, nhưng khi qua Việt Nam (Á châu) liền biến thể: một sanh ba là AĂÂ:

A (gốc của tiếng La-tinh (Âu châu) tượng Thái cực.
Ă (dấu Ă như nửa vành trăng) tượng Lưỡng nghi.
 (dấu  đủ cả âm dương) ngôi Tứ tượng.

Ba chữ AĂÂ là chỉ quyền uy tối thượng của Đức Thượng Đế, "một sanh ba, ba sanh vạn vật", nắm ngôi Chủ tể càn khôn vũ trụ. Ngày nay Ngài đã đến với nhân loại, còn cho biết rằng Ngài dùng Quốc ngữ làm chính tự và "Chi chi cũng tại Tây ninh mà thôi". Chắc rằng tiếng Việt sau này sẽ trở thành Quốc-tế-ngữ và chính đây là thứ "Văn dĩ tải Đạo" tức nhiên văn hoá nhà Nam sẽ chở Đạo đi khắp Năm châu để truyền bá giáo lý siêu tuyệt của Đạo Trời.

Ngài đã trao bộ Thiên-Thơ cho dân tộc Việt-Nam. (là Thánh ngôn Hiệp Tuyển) Bởi Đạo Cao-Đài là một Chánh giáo siêu khoa học. Vả lại là một nền giáo lý tổng hợp giáo-lý của Tam giáo thì tầm quan trọng đến dường nào!

6-Nhiệm vụ của Đức Di Lạc trong kỳ ba Phổ độ:

Ngài sẽ là Người khởi khai mối Đại-Đạo này được Đức Chí-Tôn xác nhận qua hai câu liễn đối treo trong ngày Lễ Khai Đạo tại Từ-Lâm-tự (Gò kén-Tây ninh) vào ngày 15-10 năm Bính-Dần (Dl 19-11-1926).

- Di-Lạc thất bá thiên niên khởi khai Đại-Đạo.
- Thích-Ca nhị thập ngũ thế chung lập Thiền môn.

Như vậy mối Đạo Trời của Đức Chí-Tôn ngày nay do Đức Di-Lạc-Vương chấp chưởng, tức là người khởi khai mối Đạo này cho đến bảy trăm ngàn năm. Còn Đạo Phật do Đức Thích-Ca qua hai ngàn năm trăm năm (hai mươi lăm thế kỷ) đã kết thúc mối Đạo Thiền.

Hôm nay bài Kinh Di-Lạc mà Tín hữu tụng đọc thường ngày chính là bản Vi bằng giao ước giữa Đức Phât Thích-Ca và Đức Phật Di-Lạc vậy.

Lần này Đức Chí-Tôn sẽ tuyển chọn một trong ba Đấng để thay Thế cho Đức Ngài làm Chủ ngôi Trời này:

1- Đức Phật Thích-Ca.
2- Đức Chúa Jésus-Christ.
3- Đức Phật Di-Lạc.

Trong số ba Đấng này sẽ có một Đấng thay quyền Đức Chí-Tôn để điều khiển càn Khôn vũ trụ.

Con số 3 đã chi phối toàn cả vật loại, nên:

- Phật, cầm quyền năng của Chơn linh.

- Pháp, cầm quyền năng của Khí thể tức là cơ sản xuất hữu hình.

-Tăng, cầm quyền năng nuôi sống thể hài.

Do đó mà quyền hành mỗi ngôi mỗi khác:

Đấy là nhiệm vụ của Đạo Cao-Đài kỳ ba Cứu thế và Chuyển thế làm sao cho Tam bửu của Trời và Người được hiệp một, tức là Vạn linh trở về với Nhất linh. Thế nên đây chính là thời-kỳ gặt hái, thời-kỳ thâu thập kết quả.

7- Ý nghĩa Tam ngôi Nhứt thể:

"Thầy nói cơ tạo đoan Càn-khôn vũ trụ ra sao thì trong vạn vật cũng tương liên như vậy: cùng một khuôn khổ, một định luật như nhau hết:

- Trên hết cả là Phật, ấy là ngôi cao thượng hơn hết, nắm pháp huyền vi,

- Phật mới chiết tánh ra Pháp ấy là ngôi thứ nhì.

- Pháp mới sanh Tăng ấy là ngôi thứ ba.

Ba cơ quan ấy chừng qui nhứt lại thì duy chỉ có một nguyên căn, một bổn thể"

"Về Chơn-pháp cũng như về Bí-pháp thì mọi cơ cấu hữu vi trong cửa Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đều phải có đủ Tam Bửu: Tinh Khí Thần".

8-Kết luận về Tam bửu là TU cho đạt thành:

"Nay nhằm lúc thế kỷ 20 này là thời kỳ Đức Chí Tôn rộng mở cửa Phật, cửa Trời độ toàn con cái của Ngài, chỉ khuyên chúng ta rán TU tỉnh ngộ, huỷ cả hành vi của thế sự, đem thân vào cửa Phạm chịu nâu sồng khổ hạnh cho đặng thì tự nhiên đắc Đạo tại thế đó vậy".

9-Chúa Jésus chết là dâng Tam Bửu cho Chí-Tôn:

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Ðền Thánh đêm 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947) về Đức Chúa rằng: "Cái chết của Jésus Christ là gì? Là Ngài đem xác Thánh trọng quí dâng cho Chí Tôn làm tế vật, xác Thánh chết trên Thánh Giá là Lễ Tế đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cùng Ðức Chí Tôn ngày nay đó. Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng. Thật ra Ðấng Cứu Thế ấy là Tam Thế Chí Tôn giáng linh tức Christna tái thế."

 

 

TAM CANG


E: Three principal social bonds.
F: Trois liens sociaux principeaux.

(Tam: ba; Cang: giềng của tấm lưới, tức là phần quan trọng hơn hết). Tam cang hay Tam Cương là ba giềng lưới, giềng mối lớn trong đạo làm người, đó là:

- Quân Thần cang 君臣綱 (Đạo vua tôi)
- Phụ Tử cang 父子綱 (Đạo cha con)
- Phu Thê cang 夫妻綱 (Đạo vợ chồng).

Thầy dạy: Nghe lời Cha dạy nhớ nghe con!

Tam Cang giữ đạo phải cho tròn,
Thứ nhứt: Trung quân cho trọn chí.
Thứ nhì: Hiếu phụ, nhớ nghe con!
Thứ ba: Chồng vợ cho tròn nghĩa.
Đó là Cang đạo, nhớ nghe con!

 

 

TAM CANG LÃNH

Tam cang lãnh: ba giềng mối thiết yếu.

Sách Đại học theo danh từ mà cắt nghĩa thì nó là sách để cho người lớn học tập. Trong đó có Tam cang lãnh, và Bát điều mục.

Tam cang lãnh là Minh Minh Đức, Thân Dân và Chỉ ư Chí Thiện.

- Minh Minh Đức là sáng cái đức sáng của mình. Vả chăng người ta ai ai cũng có bẩm thọ của Trời một điểm tánh linh. Tánh ấy sáng suốt và chơn thành tức là nguồn Thiên lý ở trong người, nhưng khi nhập thế cuộc rồi, thân phàm cảm xúc vật chất và kích thích tánh Thiên nhiên làm cho tánh nầy phải biến sanh một Tánh khí chất nữa, tức là Nhơn tâm. Nguồn Thiên lý ở trong người vì đó mà phải mờ tối, Minh Minh Đức tức là đả phá cái màn đen tối ấy, để cho tánh Thiên nhiên được tỏ rạng và linh động theo sở năng của nó.

- Thân dân là gần gũi với người và yêu đương giúp đỡ người cũng như yêu đương giúp đỡ mình.

- Chỉ ư Chí Thiện là việc làm ấy nhắm đến mục đích Chí Thiện. Học tập theo Tam cang lãnh là thực hành phép chánh kỷ hóa nhơn vậy.

 

 

TAM CANG - NGŨ THƯỜNG

-

Như trên đã nói bên cạnh ba giềng mối lớn trong đạo làm người thì còn phải giữ gìn Ngũ thường nữa. Ngũ thường 五常 (ngũ: năm; Thường là hằng có). Ngũ thường là năm đạo thường gồm có: Nhân , Nghĩa , Lễ , Trí , Tín .

Kinh vào học có câu:

"Nguyện Tam Cang gìn tâm trọn đạo,
"Nguyện Ngũ thường hiếu thảo làm khuôn."

Nói cho đầy đủ và thuận về chữ nghĩa là "Tam Cang, Ngũ Thường". Cang là giềng của cái lưới, nghĩa bóng Tam cang là ba giềng mối lớn của người Nam phái trong đạo làm người là: quân thần cang (đạo vua tôi), phụ tử cang (đạo cha con), phu thê cang (đạo vợ chồng). Ngũ thường là năm điều thường thức mà đạo làm người không thể thiếu được, đó là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Thầy dạy:

Chữ NHƠN mến vật thương người,
Chữ NGHĨA đừng tham, nhớ nghe con!
Chữ LỄ đừng ham bạc bài điếm,
Chữ TRÍ rượu, trà bỏ, nhớ nghe con!
Chữ TÍN thật tình đừng nói xảo,
TAM CANG THƯỜNG NGŨ nhớ nghe con!

Thiên luật: - Trai: Tam Cang Ngũ Thường, - Gái: Tam Tùng Tứ đức.

Tam Cang Ngũ Thường là đạo của người Nam phải giữ, cũng như Tam Tùng Tứ Đức là đạo người Nữ phải gìn. Đối với Đạo Cao-Đài ngày nay đã thành Thiên Luật tức là Luật Trời. tức Đạo Nhân luân là đạo làm người vậy. Dù cho văn minh đến đâu công thức này vẫn là yếu lý vì đã thành Luật, tức nhiên là những mối liên hệ của con người sống với nhau trong gia đình, ngoài xã hội và còn liên quan nhau trong một thế giới nữa. Vì giềng mối nhân-luân là đạo trọng của dân tộc Á Đông luôn có nền-nếp văn minh tinh-thần bất khúât, dù ngày nay lượn sóng văn-minh vật-chất có lôi cuốn nhân-lọai vào cơn xáo-trộn kinh-hòang! Chắc-chắn những cái gì hay đẹp truyền thống không bao giờ mất đi được. Chính Đức Chí-Tôn đến để lập lại cán cân công bình ấy để được sống lại thuần-phong mỹ tục do Việt-Nam làm khởi điểm mà cũng làm gương cho cả nhân-loại; tức là làm người thật xứng đáng với đạo làm người!

Đức Chí-Tôn đã quyết-định cho:

"Quốc Đạo kim triêu thành Đại-Đạo,
"Nam-phong thử nhựt biến Nhơn-phong."

Vì lẽ đó nên Đức Hộ Pháp quả-quyết: "Tân Luật Đức Chí-Tôn cốt-yếu muốn cho ta làm, đặng ta bảo-vệ TAM CANG NGŨ THƯỜNG của nhân-lọai. Nói về phương Đông này dầu cho luận tới các quốc-gia, xã-hội đến đâu đi nữa, họ tự trọng, họ văn-minh thế nào họ chưa ra khỏi đường lối ấy, niêm-luật ấy bao giờ. Nếu họ ra khỏi là muốn tự bỏ cả xã-hội của họ, thì họ sẽ thành cái gì chớ không thành xã-hội". Trong TÂN LUẬT ấy Đức Chí-Tôn định cho Ngũ giới-cấm, Tứ đại điều-qui và trong ấy cốt-yếu bảo-vệ Tam cang ngũ thường cho tòan thể con cái của Ngài. Thật ra THIÊN-LUẬT của Ngài mà Ngài đã để trong tâm não con cái của Ngài". (An-hóa 19-12 Bính-Dần (22-1-1927)

Thầy dạy: "Chư Ái-Nữ. Thầy vì Tam-Kỳ Phổ-Ðộ chẳng phân cao thấp, sang hèn, Thầy chỉ khuyên một điều là Ðạo hạnh các con phải giữ hàng ngày cho nhằm phương pháp Nhơn đạo, tức là TỨ-ÐỨC đó vậy, các con hiểu à! Nền nhơn-luân của con nhà Nam-Việt chẳng lầm, mà tại các con hay nhiễm thường tình mà hư hoại, nên chi Thầy phải nhắc lại cho các con đừng lầm nữa, nghe các con! Nam phái vào. Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con có biết vì tại sao chăng? Như kẻ làm quan ỷ quyền ức hiếp dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao chăng?... Tại vô Ðạo..."

"Ai sanh ra dưới thế nầy cũng phải giữ đủ Tôn chỉ của ba Đạo: Nhơn Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo mới làm đặng hoàn toàn phận sự con người. Tỉ như Nhơn đạo thì dạy mình vẹn giữ Tam Cang Ngũ Thường, mới biết bổn phận mình đối với xã hội nhơn quần thế nào cho nhơn loại cộng hưởng hòa bình, chẳng nghịch lẫn nhau, không tiêu diệt lẫn nhau mà phải trái hẳn với đức háo sanh của Thượng Đế.

Đức Hộ Pháp quả-quyết: "Tân Luật Đức Chí-Tôn cốt yếu muốn cho ta làm, đặng ta bảo-vệ Tam cang Ngũ thường của nhân-lọai. Nói về phương Đông này dầu cho luận tới các quốc-gia, xã-hội đến đâu đi nữa, họ tự trọng, họ văn-minh thế nào họ chưa ra khỏi đường lối ấy, niêm-luật ấy bao giờ. Nếu họ ra khỏi là muốn tự bỏ cả xã-hội của họ, thì họ sẽ thành cái gì chớ không thành xã-hội!" Trong Tân Luật ấy Đức Chí-Tôn định cho Ngũ giới-cấm, Tứ đại điều-qui và trong ấy cốt-yếu bảo-vệ Tam cang Ngũ thường cho tòan thể con cái của Ngài. Thật ra cái Thiên-luật của Ngài mà Ngài đã để trong tâm não con cái của Ngài".

Thánh-ngôn: Đàn tại An-hóa, ngày 19-12 Bính-Dần (dl: 22-1-1927). Thầy dạy:

"Chư Ái-Nữ. Thầy vì Tam-Kỳ Phổ-Ðộ chẳng phân cao thấp, sang hèn, Thầy chỉ khuyên một điều là Ðạo hạnh các con phải giữ hàng ngày cho nhằm phương pháp Nhơn đạo, tức là Tứ-Ðức đó vậy, các con hiểu à! Nền nhơn luân của con nhà Nam-Việt chẳng lầm, mà tại các con hay nhiễm thường tình mà hư hoại, nên chi Thầy phải nhắc lại cho các con đừng lầm nữa, nghe các con! Nam phái vào. Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con có biết vì tại sao chăng? Như kẻ làm quan ỷ quyền ức hiếp dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao chăng?... Tại vô Ðạo..."

Đàn cơ tại Phước-Long-Tự, 1 Mars 1927

Thầy có dạy như vầy: "Chúng nó lại tưởng rằng kiếp người là kiếp sống chỉ có giây giờ rồi tiêu mất, nên tìm những chước sâu kế độc cho đặng của nhiều, no lòng sướng dạ, trối kệ luân hồi. Thầy hỏi: Vậy chớ cái trí khôn của con người biết thương ghét, vui buồn mà toàn nhơn loại đều có, khi rốt cuộc thì trí khôn ấy đi đâu? Không lẽ cái trí khôn ngoan dường ấy mà cũng mất đi đặng sao các con? Thầy hỏi như vậy đặng cho các con mỗi đứa về suy nghĩ mà trả lời cho mình. Hễ trả lời phù hạp thì dễ biết Ðạo, còn ngu xuẩn thì cũng huờn ngu xuẩn... Thầy dạy Nữ-Phái biết trọng Tam Tùng, Tứ Ðức, Nam-Phái Tam-Cang Ngũ-Thường. Hễ Nhơn-đạo thành thì phù hạp Thiên-đạo, nghe!"

Những lời giảng dạy trên chắc chắn rằng đã có những kết quả thỏa đáng mà từ xưa đến giờ cái qui luật này khiến nhân sanh hoang mang. Nhất là phía Nữ phái rất ngán, nếu chưa nói là "chán ghét". Phải thật lòng mà nói không chán ghét sao được, vì Nữ phái chịu một áp lực quá khắt khe, đến độ bị hành hạ, áp bức quá đỗi, gần như biến thành nô lệ, bị lợi dụng đủ điều– đây chỉ nói chung chung- chứ cũng còn một số ngoại lệ, là tốt đẹp, hạnh phúc. Chính Đạo Nho đã có câu: "Nhất Âm, nhất Dương chi vị Đạo" tức là dù triết lý nhân sinh hay vũ trụ cũng vậy: chỉ một Âm, một Dương mà cấu tạo thành, mới đúng nghĩa của Đạo.

 

 

TAM CẤP

三 級
E: The perron.
F: Le perron.

Tam cấp 三級: Tam: Ba, số 3, thứ ba. Cấp: bực.Tam cấp là ba bực. Bất cứ cái gì mà chúng ta thấy lên cao ba nấc thì gọi là Tam cấp, như Tam cấp trên bàn thờ, Tam cấp nơi thềm nhà.

 

 

TAM CHÂU BÁT BỘ


E: Three ethereal continents, eight departments.
F: Trois continents éthérés, Huit départements.

Quyền hành của Đức Hộ Pháp là coi cả Tam Châu và Bát bộ (3+5=8). Ngài cho biết: lẽ ra phải niệm danh Ngài là "Tam Thiên Thế giới Hộ Pháp giáng lâm" Bởi trên chiếc Mão của Ngài có bửu pháp là "cái chỉa ba ngạnh" thể Tam Sơn 三山 nhưng vì quen niệm là "Nam-Mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn" nên giờ này không sửa lại. Ngài giải câu:

"Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn" 三洲八部護法天尊

Tam Châu 三洲 là Ba châu trong Tứ Đại Bộ Châu, thuộc cõi trung giới, đó là Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Nam Thiệm Bộ Châu. Các chơn linh ở trên ba châu này có trình độ tiến hóa cao. Còn Địa cầu của nhơn loại chúng ta thuộc về Nam Thiệm Bộ Châu. Ba Đại Bộ Châu này thuộc quyền giáo hóa của Hộ Pháp Thiên Tôn.

Còn Bắc Cù Lư Châu để cho các phẩm chơn hồn quỉ vị nó định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó. Nó có một quyền năng vô định chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một Châu cho quỉ vị ăn năn tu học đặng đoạt vị; ba Bộ Châu kia thuộc quyền hạn Hộ Pháp giáo hóa, duy có Bắc Châu, Ngài không thường ngó tới lắm, để cho nó tự do làm gì thì làm, khôn nhờ dại chịu; do Kim Quang Sứ chưởng quản (tức Quỉ vị).

Bát Bộ 八部 là gì? -Là nơi Bát phẩm chơn hồn chớ có chi đâu. Bát bộ là Tám bộ, mỗi bộ cai quản một phẩm chơn hồn. Bát bộ cai quản Tám hồn là: Vật-chất-hồn, Thảo-mộc-hồn, Thú-cầm hồn, Nhơn-hồn, dĩ chí cho đến Thần, Thánh, Tiên, Phật. Tám bộ ấy thuộc về quyền hạn Hộ Pháp Thiên vị nơi Đức Chí Tôn gọi đến tạo cơ quan tận độ chúng sanh không còn ai khác hơn Hộ Pháp, chính Hộ Pháp trách nhiệm ấy.

Đức Chí Tôn cho Hộ Pháp và Thập Nhị Thời Quân đến cốt yếu để mở cửa Bí Pháp ấy đặng cho Vạn linh đoạt vị. Cả thảy đều hiểu rằng Đức Chí Tôn buổi mới sơ khai chưa tạo Thiên lập Địa, Ngài muốn cho Vạn linh đặng hiệp cùng Nhứt Linh của Ngài do quyền năng sở hữu của quyền hạn Thần Linh. Ngài vừa khởi trong mình quyết định thi hành điều ấy thì Ngài nắm cái Pháp. Trước Ngài chỉ là Pháp, vì cớ cho nên ta để Phật tức nhiên là Ngài, kế thứ nhì là Pháp, hễ nắm Pháp rồi Ngài phán đoán vạn vật thành hình; Ngài muốn vạn vật thành hình tức nhiên Tăng, cả Vạn Linh đều đứng trong Tăng. Ấy vậy, Pháp là chủ của Vạn Linh. Bởi do nơi Pháp, Vạn Linh mới chủ tướng biến hình do nơi Pháp mới sản xuất Vạn Linh. Cả huyền vi hữu hình Đức Chí Tôn tạo Đạo do nơi Pháp. Chúng ta biết Pháp thuộc về hình thể của Vạn Linh, vì cớ cho nên Đạo Giáo minh tả rõ rệt Tam Châu Bát Bộ thuộc về quyền Hộ Pháp. "Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn".

Hạnh phúc thay cho nhơn loại! Hạnh phúc thay cho Vạn Linh! Đức Chí Tôn đã đem một hồng ân tối đại để nơi mặt địa cầu 68 này. Tại sao Đức Chí Tôn giao cho Hộ Pháp? Bần Đạo nói thật giờ phút nào Bí Pháp duy chủ quyền Đạo là giả tướng mà thôi, không có chơn thật gì hết. Nếu chúng ta tu mà không đoạt Pháp được tức nhiên chúng ta không giải thoát đặng, thì kiếp tu chúng ta không hữu ích chi hết.

Đức Hộ Pháp đến cốt yếu đem Bát phẩm chơn hồn thăng vị: nhiều hoặc ít, có thể một đẳng cấp từ vật chất Hộ Pháp đem lên Thảo mộc, Thảo mộc đem lên Thú cầm, Thú cầm đem lên Nhơn loại dĩ chí Phật vị, Hộ Pháp có thể chỉ định cho họ đặng. Bởi trong quyền ấy Đức Chí Tôn nói trọng quyền thì trọng phạt. Quyền hành nắm chẳng phải nơi mặt thế gian này mà thôi, Hộ Pháp và Thập Nhị Thời Quân, không phải quyền tại thế gian này, quyền nơi cửa Đạo Cao Đài này, cũng không phải tại đây nữa. Bần Đạo nói đây là quyền Đạo Cao Đài cả Thiêng Liêng Hằng Sống.

 

 

TAM CHUYỂN

Tam là ba. Chuyển: quay vòng, đi vòng quanh, vật gì hình tròn mà quay đi quay lại được họi là chuyển. Chuyển xoay, chuyển đổi lần thứ ba.

Đức Hộ Pháp nói: tháng 02-Kỷ-Sửu (dl: 07-03-1949)

"Bần-Đạo đã nói trái địa-cầu này chuyển kiếp lụng lại, nó đi đã ba chuyển kiếp rồi. Kiếp trước nó đi đến thất-chuyển, đã bị tiêu-diệt cái hình-hài của nó, nó biến hình của nó, trái địa-cầu này nó đã đi đến tam-chuyển của nó rồi, chừng tới thất-chuyển nó sẽ tiêu-diệt nữa, hay biến-tướng trở lại tam chuyển nữa. Bốn chuyển đầu tạo-đoan ra dã-nhơn và hắc-chủng.

- Nhứt-chuyển thì họ duy có tự-vệ mà thôi, hoặc rủ một vài người với phương-pháp tự-vệ mà thôi, vì buổi ấy thú mạnh hơn người, cho nên xã-hội thời-kỳ ấy tự-vệ mà thôi.

- Tới đệ nhị-chuyển là thời-kỳ nghệ-thuật, tức nhiên kiếm phương-thế để tự-lập mình, bày ra binh khí hiệp nhau. Mường Mán này hiệp với Mường Mán khác, đặng chống-chọi với thú dữ, cơ trời buổi ấy không được hiền-từ như bây giờ. Đệ nhị-chuyển thiên-hạ bất định nhiều bịnh chướng, nhiều cơ-quan tiêu diệt loài người nên phải tự-vệ. Muốn tự-vệ được mạnh-mẽ thì họ phải tự kiếm ra cho có binh khí, thứ này thứ kia đặng họ tự-vệ họ kêu là nghệ-thuật.

- Đệ Tam-chuyển xã-hội hiệp chủng, khởi có chủng-tộc và xã-hội, mà xã-hội là gì? Là hình ảnh chánh-trị thiêng-liêng kia, suy xét chơn-lý kiếm lại coi.

 

 

TAM CUNG - TAM ĐỘNG

三 宮 - 三 洞:
F: Trois palais royaux- trois cavernes.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Cung: tòa nhà cao lớn. Động là cái hang như thạch động: hang đá, động đào : chỗ Tiên ở.

Trong phương pháp tổ chức của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có Ba Cung và Ba động gọi là Tam cung- Tam Động mà Đức Hộ Pháp đã dạy:

"Các con nên lưu ý, Đền Thánh và các kiến trúc trong hay ngòai đều tiềm ẩn Dịch lý. Các con đã thấy rõ ba Tịnh Thất có tên:

*Trí-Huệ-Cung

 

- Thiên Hỉ Động

*Vạn Pháp Cung

 

- Nhân Hòa Động

*Trí Giác Cung

 

- Địa Linh Động

Người đứng giữa Trời Đất gọi là Trung Thiên, nên giáo lý Cao Đài chủ về Nhân đạo để cứu đời là vậy".

 

 

TAM DÂN

Tam dân là: Nông, Công, Thương.

Ðời là một trường tranh đấu vì miếng ăn, chỗ ở. Muốn sống phải: no, ấm, mạnh. Phước Thiện cứu kẻ khổ, giúp kẻ nguy, dìu dắt cho có phương sanh sống, tuy không giàu mà tự toại, không sang mà thung dung, mới có thể tránh được sự tranh đấu vì lẽ sống, tức là nâng đỡ bảo sanh cho hạng Tam dân (Nông, Công, Thương) hưởng đủ quyền lợi mà mỗi người được quyền sống hưởng theo luật tự nhiên của Tạo Hóa.

 

 

TAM DÂN CHỦ NGHĨA : DÂN TỘC, DÂN SINH, DÂN QUYỀN

Học thuyết tam dân chủ nghĩa này là do Đức Tôn Trung Sơn lập ra để hướng nhân loại đến chỗ đại-đồng và cùng sống chung hòa bình trên quả địa cầu. luật Nhân quyền quốc tế ngày nay cũng giống như thế.

 

 

TAM ĐA

三 多
E: Three abundances.
F: Trois abondances.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Đa: nhiều. Tam đa là ba cái nhiều.

Đó là ba thứ mà con người rất ưa thích nên thường chúc nhau trong dịp đầu năm: Đa phúc, Đa lộc, Đa thọ.

Đa phúc là có nhiều phước đức. Đa lộc là có nhiều lợi lộc, thâu được nhiều tiền của. Đa thọ là được sống lâu.

Tam đa được tượng trưng bằng ba pho tượng của ba ông: Phước, Lộc, Thọ.

 

 

TAM ĐẠI


F: Trois grands.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Đại: to lớn.

Có ba trường hợp:

• Tam đại là ba đời người nối tiếp nhau trong một gia đình: đời ông, đời cha, đời mình.

• Tam đại là ba triều đại nối tiếp nhau cai trị vào thời thượng cổ nước Tàu: Nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu.

• Học thuyết Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân. (xem "Số 3 huyền diệu" hay Dịch Lý Cao Đài cùng tác-giả)

 

 

TAM ĐẦU CHẾ CỬU TRÙNG ĐÀI

Chưởng-Pháp của ba phái Thái, Thượng, Ngọc gọi là tam đầu chế của cơ quan Cửu Trùng Đài.

 

 

TAM ĐẦU CHẾ HIỆP THIÊN ĐÀI

Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh gọi là tam đầu chế của cơ quan Hiệp Thiên Đài.

 

Bên tả là Thượng Phẩm, chính giữa là Hộ Pháp, bên hữu là Thượng Sanh.

 

 

 

TAM ĐỒ KHỔ

Cái khổ khi hồn người chết phải đi vào ba đường dữ để chịu hình phạt đền bù tội lỗi. Đó là: Hỏa đồ (bị lửa thiêu đốt); Huyết đồ (bị sát hại và đổ máu); Đao đồ (bị dao kiếm đâm vào cơ thể).. Đó là theo Phật giáo hình luật ngày xưa như thế.

Nay theo Đạo Cao-Đài thì phải nói cho rõ hơn là "Tam đồ tội khổ bất năng thoát tục" (Tam đồ là ba đường, tội khổ là tội hình gây ra lúc sinh thời khi thoát xác phải chịu hình phạt. bất năng thoát tục: không thể thoát được cõi trần) Ấy là cái khổ sở của ba đường đày đọa không thể thoát được cõi trần.

Chúa nhựt, 22-8-1926 (âl 15-7-Bính Dần)

Thầy dạy: "Buổi Bạch Ngọc Kinh và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Ðộ, Quỉ Vương đã khởi phá khuấy chơn đạo, đến danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi mà thôi. Lại còn hiểu rõ rằng Ta đến với huyền diệu nầy, mượn cơ mầu nhiệm, hiệp Tam thập lục Ðộng đổi gọi Tam thập lục Thiên. Các tên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật bị mạo nhận mà lập nên Tả đạo. Ngươi đâu hiểu rõ làm ra lẽ Trời Phật vốn con buôn. Tội tình ấy lớn là thế nào? Ngươi hiểu chăng? Tam đồ tội khổ bất năng thoát tục là tội ngươi. Phải ăn năn sám hối, sau Ta sẽ trọng dụng, độ rỗi nhơn sanh, lấy công chuộc tội. Nghe à!"

 

 

TAM ĐỘC

三 毒
E: Three poisons.
F: Trois passions dangereux.

Tam độc tức là ba điều độc hại của con người thường hay mắc phải, đó tức là ba cái bịnh lớn của con người là "Tham, Sân, Si". Khi lòng "tham" nổi dậy thì muốn rất nhiều cho mình. Nhưng không phải muốn mà được khi bản thân ăn không ngồi rồi; ước nguyện không thành mới sinh ra "Sân" là giận, giận đời, giận cha mẹ, giận xung quanh, từ đó mới hóa cuồng là "Si" tức nhiên điên loạn. Đó là mối nguy hại vô cùng.

Đây là trích một đoạn về bức thư ông TƯƠNG gởi khuyên ông CA hồi tâm vì ông đã bỏ Đạo. Nhưng sau cùng Ông CA chưa trở lại thì chính Ông cũng tách ra lập Chi phái:

"Tôi có tiếp được xấp Thánh-giáo Hậu-giang của Anh gởi và một cái thơ mời hội ở Thánh-Thất Mỹ-Tho ngày rằm tháng 10 tới đây. Tôi có đọc kỹ và cũng có đọc lại các Thánh giáo, Thánh-ngôn Anh gởi xuống lần trước. Tôi thấy rõ là một cuộc khảo do nơi Tam-Trấn để cho Tà Thần mượn tên cám dỗ, trong ba cái bịnh lớn của con người là "Tham, Sân, Si" Nếu bậc cầm đuốc dẫn đường mà không trừ hết, còn một hai cũng phải bị vướng…"

 

 

TAM ĐỨC


E: The three great virtues.
F: Les trois grandes vertus.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Đạt: thông suốt, tốt. Đức: đức hạnh. Tam đức hay Tam đạt đức là ba đức hạnh tốt đặc biệt.Đối với Nho giáo thì Tam đức là: Nhân, Trí Dũng. Đối với Phật giáo, Tam đức là: Bi, Trí, Dũng.

Nhân là lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh. Bi đồng nghĩa với Nhân, thường nói: Nhân từ hay Từ bi.Trí là sự khôn ngoan sáng suốt hiểu biết. Dũng là sự can đảm không lùi bước trước khó khăn nguy hiểm.

Phật giáo thờ ba pho tượng Di-Đà Tam Tôn: Đức Phật A-Di-Đà ngồi chính giữa tượng trưng đức Trí, Đức Quan Âm Bồ Tát ngồi bên mặt tượng trưng đức Bi, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát ngồi bên trái tượng trưng đức Dũng.

Trong Đạo Cao Đài, Tam Trấn Oai Nghiêm tượng trưng Bi, Trí, Dũng. Đức Quan Âm Bồ Tát tượng trưng đức Bi, Đức Lý Thái Bạch tượng trưng đức Trí, Đức Quan Thánh Đế Quân tượng trưng đức Dũng.

Tu là hành trình học tập Bi, Trí, Dũng và phát triển Bi, Trí, Dũng đến mức cùng tột thì hòa nhập vào Thượng Đế.

 

 

TAM GIÁO


E: Three great religions.
F: Trois grandes réligions.

Ba nền Tôn giáo lớn từ xưa đến giờ đã làm Chủ tinh thần của nhân loại là: Phật giáo, Tiên giáo, Thánh giáo.

Trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, Đức Khổng Tử có giáng cơ dạy Đạo. Dưới đây là bài Thánh giáo của Ngài:

Ngày 17 tháng giêng năm Nhâm Thân (dl: Thứ Hai, 22-02-1932). Ngài cho Thi:

Ngã, dĩ từ chương giáo nghĩa phương,
Khổng văn hoằng hóa sự luân thường.
Phu thê, phụ tử, quân thần đạo,
Tử đệ phùng thời độ thiện lương.

Diễn dụ: Các sĩ cùng chư khanh nghe rõ: việc Tam Giáo Hiệp Nhứt: Từ mới mở mang Trời đất đã có Đại Đạo, Tam giáo vốn một nhà, đời sau chia làm ba, chớ kỳ trung một bổn, kẻ thế không hiểu nên tranh luận giành điều chơn giả với nhau hoài. Những người xưng mình là Minh sư, thọ truyền cho đồ đệ, thì mỗi người cũng muốn khoe tài mình mà truyền khẩu với chúng sanh rằng: Đạo mình chánh, Đạo khác là tà. Té ra, mình là manh sư gạt chúng.

Nên Đạo Tiên, Đạo Phật mà không dùng văn chương thì lấy chi mà tả kinh diễn kệ. Còn học Nho mà không học Đạo thì ra người người cuồng si kiêu căng.

Vậy khuyên mấy sĩ Ba Đạo cũng đồng tìm kiếm gốc cho minh chơn lý, đặng trước độ mình, sau độ chúng. Vậy mới gọi là chánh kỷ hóa nhơn.

Bà Đầu Sư Lâm Hương-Thanh có thuyết rằng: "Nay Tôi nói Tam giáo là Thích-Tiên-Nho. Kinh Nhựt tụng nói rằng: "Một cội sanh ba nhánh in nhau". Vì sao vậy? -Bởi nguồn cội Đạo từ khi vô thỉ, trời đất chưa an ngôi, Đạo đã bao hàm trong khí Thái-cực và Vô cực. Sau: Khí Thái cực phân Âm Dương, Thiên, Địa, Nhơn, Tam tài định vị, lần lần có các Đấng Đại Thiêng liêng xuất thế truyền Đạo dạy đời: Đức Thích-Ca, Đức Lão-Tử, Đức Khổng-Tử đều bởi cội gốc đó mà lập ra Đạo Thích, Đạo Tiên và Đạo Nho. Tuy mỗi nền Tôn giáo đều có danh hiệu riêng nhưng Tôn chỉ thì không hề khác.

Xem như:

Nho nói: Tồn tâm dưỡng tánh.
Tiên nói: Tu Tâm luyện tánh.
Thích nói: Minh tâm kiến tánh.

- Thích nói: TỪ BI.
- Nho nói: TRUNG THỨ.
- Tiên nói: CẢM ỨNG.

Tiên nói: Bảo nguơn thủ nhất.
Thích nói: Vạn pháp qui nhứt.
Nho nói: Chấp trung quán nhứt.

Cứ đôi câu đại khái đó thì hiểu biết nghĩa lý nào có khác chi? Nên Đức Thể Hà Tiên có bài thi rằng:

Tam giáo nguyên lai nhứt lý đồng,
Hà tu phân biệt các Tây Đông.
Tam hoa, Tam bửu, Tam tài lý,
Ngũ đức, Ngũ hành, Ngũ giới trung.

Nghĩa là: Tam giáo nguyên lai đồng một lẽ, không tất phân biệt khác nhau làm chi, xem như lời Tam hoa, Tam bửu, Tam tài. Ngũ đức, Ngũ hành, Ngũ giới đều dùng chữ TAM, chữ NGŨ mà dạy đời. Vậy thì từ thuở xưa đã công nhận Tam giáo y nhau như một". Tam giáo là ba nền Đạo Chánh thuở nay, song bị tay phàm canh cải càng ngày càng xa Thánh-giáo mà hóa ra phàm giáo. Thượng-Đế lấy làm đau đớn, hằng thấy nhơn sanh phải bị sa đoạ tội lỗi, mạt kiếp chốn A-tỳ, nên nhứt định chuyển "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt", chấn hưng Tôn-giáo lại cho hoàn toàn rồi khêu sáng ngọn đèn thiêng-liêng lên để dìu dắt bước đường cho kẻ có công TU-HÀNH mà khỏi xảy chân, lạc lối. Ấy vậy, tất cả các yếu chỉ này làm tiêu-chuẩn cho mọi hành-vi. Cả Luật-Pháp khuôn viên điều-mục của ba nền Tôn giáo ấy từ buổi sơ khai có đủ phương diện, quyền năng dìu đời thống khổ. Nhơn sanh trong thời kỳ Thượng cổ còn tính đức, biết giữ chơn truyền, chuẩn thằng, qui củ của ba nhà: Thích Đạo- Nho tức là Phật, Tiên, Thánh; nghĩa là phải làm lành lánh dữ, dưỡng tánh, tu tâm, mới chung hưởng thái-bình, hạnh phúc. Đây là ba Tôn giáo buổi Nhị Kỳ, vị Giáo Chủ cõi ta bà làm cái lý trung hoà, nên Đức Thích Ca thuyết kinh Di Đà, vị Phật buổi Nhứt Kỳ, đắc lịnh phổ truyền giáo pháp. Đến Tam Kỳ Đức Thích Ca còn thuyết Di Lạc Chơn Kinh đó là lễ bàn giao cơ tận độ chúng sinh cho Cao Đài ở thời kỳ Đức Di Lạc. Bởi Sơ hội Long Hoa Đức Nhiên Đăng Chưởng giáo Thanh Vương Đại Hội. Nhị hội Long Hoa Đức Di Đà Chưởng Giáo Hồng Vương Đại Hội. Tam hội Long Hoa Đức Di Lạc Chưởng Giáo Bạch Vương Đại Hội. Đức Di Lạc: vị Cổ-Phật thứ ba đứng ra cứu đời, vâng mệnh trời đến để lập lại thời Thượng Nguơn Thánh Đức.

Tiên tri trong quyển Vạn diệu Thiên thơ cổ bổn:

Trong quyển Vạn diệu Thiên thơ cổ bổn có bài thi:

Tam giáo kim tùng cổ hóa sanh,
Tiên Thiên phương hữu thị Tam Thanh.
Phật -Pháp -Nho hề qui nhứt bổn,
Tự nhiên Tà Đạo tổng tương tranh.
Vạn ức san hà giai hữu thử,
Tổng qui nhứt phái nhứt an thành.
Xà vỹ mã đầu khai Đại hội,
Tam kỳ hậu thế hiển phương danh.

Thích nghĩa: Ba giáo: Phật- Đạo- Nho nay, theo xưa kia mà hóa sanh Đạo Tiên Thiên có đường hay, là Đạo Tam Thanh. Phật, Tiên, Nho đều là một gốc. Lẽ tất nhiên Đạo tà đều cùng tranh giành. Muôn ức cảnh sơn hà (muôn xứ, muôn nước) đều có như thế: đồng qui về một phái mới đặng yên ổn và nên việc. Cuối đầu rắn, đầu con ngựa thì khai Đại hội. Đời sau, Đạo Tam Kỳ sẽ được rạng-rỡ danh thơm). Cơ tuần hoàn xoay chuyển nên được Đức Chí-Tôn mở Đạo Cao-Đài cho nhơn sanh sùng bái và chính Ngài dạy phải thờ Thiên Nhãn là vậy. Ấy là một nền Tôn giáo Đại Đồng. Đức Khổng Tử giáng cho Thi:

Tam giáo từ xưa vốn một nhà,
Người sau lầm tưởng, vọng chia ba.
Minh tâm may hiểu đường chơn giả,
Mẫn tánh mới thông nẻo chánh tà.
Thích, Đạo tỷ như hành bộ khách,
Nền Nho ví tợ chiếc đò qua.
Muôn ngàn kinh kệ do nơi chữ,
Tam giáo từ xưa vốn một nhà.
                        (Khổng Phu Tử)

 

 

TAM GIÁO THẤT CHƠN TRUYỀN

Tam giáo thất chơn-truyền tại đâu?

-Đạo Thích (đạo Thiền) bày dị-đoan từ đời Thần-Tú, làm mê-hoặc chúng-sanh. Vậy cũng Phổ-độ, cũng giựt-giành mà chỉ đem con người vào đường u-ám lạc-lầm. Kinh sám truyền lại mà không khảo-cứu, kiếm tầm cho ra chơn-lý, chẳng định trí tham thiền, không gom thần mà nhập định.

-Nho-giáo sau đời Mạnh-Tử càng ngày càng lạc-lầm, đường thiên-lý chẳng cần, chỗ thâm nhiệm chẳng rõ, chỉ học đặng khoe tài hay giỏi, dục lợi cầu danh, tổn nhơn ích-kỷ; chớ không chịu học đặng sửa mình, tầm hiểu cho tột cùng cái lý cao siêu huyền-bí, cái cơ nguồn cội muôn loài.

Học là cốt để mở-mang tinh-thần trí-hóa, đặng trau-giồi cho đặng tận thiện, tận mỹ, cái cơ hữu-hình, chớ học mà để cầu vinh hay là mong-mỏi đến quyền cao chức cả, ấy là người tiểu- nhơn hạ trí, không biết cầu lấy cái cao siêu quí trọng, nhứt là Thiên-chức mà Trời đã nấy giao cho.

Người quân-tử bao giờ cũng cần phải trau-giồi tánh cách cho hoàn-toàn, đào-luyện tinh-thần cho thuần-khiết để lo cho tròn cái thiên-chức ấy. Và con người, hễ thiên-chức đã hoàn-toàn thì nhơn-tước nào lại khó chi? Nhưng người đời lại hay có tánh ham ngọn mà bỏ gốc, nên hằng đem hết thần-hồn mà đắm say về nhơn-tước chớ không cần nhớ đến cái thiên-chức chút nào.

Ấy, thiệt là đám hủ-nho vậy.

- Đạo-giáo là huyền-bí, thậm chí ư huyền-bí, nên người bực thượng-trí mới thấu-đáo chỗ căn-nguyên; còn thường-nhơn chí hạ là rất khó thông cơ mầu-nhiệm vô-cùng, bởi vậy nên mới hiểu lầm, tưởng sai mà bày ra phép-tắc phù-chú làm cho mê-hoặc thói đời thêm hư phong-tục, khiến người nhiễm lấy dị-đoan, nào là hô-phong hoán-vũ, tróc quỉ trừ ma, bày binh bố trận, mới biến ra tả-đạo bàn-môn, thật là rất hại.

- Đạo Cao-Đài xuất hiện:

Vì Tam giáo đã thất chơn-truyền, nên phải chấn-hưng phục hồi nguyên bổn.

"Thầy đã nói Ngũ chi Đại-Đạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh-giáo cho tay phàm càng ngày càng xa Thánh-giáo mà lập ra phàm-giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy-dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh-giáo cho tay phàm nữa".

Thử hỏi chơn-truyền của Đức Chí-Tôn mở Đạo là một nền Chánh-giáo, tôn-chỉ bảo chúng ta làm gì? Và Đạo Cao-Đài phải đi theo con đường nào?

"Chúng ta thấy Đại-Từ-Phụ lấy ba Tôn-giáo: Nho. Thích, Đạo làm cơ-quan duy nhứt, dầu về phần thiêng-liêng hay hữu-hình cũng vậy, để làm bí-mật chơn-truyền dìu-dắt linh-hồn và thi-hài của chúng ta và là một phương-pháp đoạt kiếp giải-thoát linh-hồn:

-Nho lấy NHƠN-NGHĨA làm căn-bản,
-Đạo lấy CÔNG-CHÁNH làm căn-bản,
-Thích lấy TỪ-BI, BÁC-ÁI làm căn-bản.

Ba triết-lý ấy hiệp lại vừa lo phần đời và phần Đạo, xác hồn chúng ta đi đến tận con đường mà Đức Chí-Tôn đứng chờ đợi các con cái hiệp một cùng Người.

"Nhơn-nghĩa là gì? Người có nhơn thì không oán, có Nghĩa thì không bạc.

"Công-chánh là gì? Có công thì không phụ, có chánh thì không tà, không chối cái điều chơn-thật được, còn có Từ-bi thì có khoan hồng, dung thứ; có Bác-ái mới có thể bảo-thủ và thân mến toàn thiên-hạ, nếu chiếu theo chơn-truyền của Đức Chí-Tôn khuyên bảo chúng ta thế nào, thì chúng ta phải tuân theo thế ấy, chúng ta phải khoan-hồng, tha-thứ, biết yêu-ái, phải có công-bình, chánh-lý, chúng ta giữ được cả chơn-truyền ấy thì không ghét ai, oán ai. Trái lại, Đại-Từ-Phụ buộc chúng ta phải thương-yêu kẻ nghịch, kẻ thù cuả chúng ta nữa".

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 22-6-Mậu Dần (1938) như sau:

"Do Tam giáo thất chơn truyền: Nho- Thích- Đạo hiện nay đã trở nên phàm giáo. Chư Đệ tử trong ba nhà Đạo không giữ y luật pháp qui điều, lại canh cải chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc làm cho Tam Giáo biến thành dị đoan:

-Đệ tử nhà Đạo chẳng tùng giáo pháp của Đức Thái Thượng Lão Quân, tuy ở trong nhà Đạo mà dị đoan mê tín.

-Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca thì đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.

-Đệ tử nhà Nho chẳng thật hành điều mục của Đức Văn Tuyên Khổng Thánh thì đệ tử nhà Nho dị đoan bất chánh.

Tóm lại, hai chữ dị đoan nghĩa là đồ theo không trúng kiểu cái qui giới thể lệ chơn truyền của Tam giáo:

*Tiên Giáo: Đức Thái Thượng dạy Tam bửu Ngũ Hành, tu tâm luyện tánh, thủ cảm ứng công bình.

*Phật Giáo: Đức Thích Ca dạy Tam qui Ngũ giới, minh tâm kiến tánh, thật hành Bác ái Từ bi.

*Nho Giáo: Đức Khổng Tử dạy Tam cang Ngũ thường, tồn tâm dưỡng tánh, giữ theo hai chữ Trung Hiếu mà làm tiêu chuẩn cho mọi hành vi.

Cả luật pháp khuôn viên điều mục của ba nhà Tôn giáo từ buổi sơ khai có đủ phương diện quyền năng dìu đời thống khổ, nhơn sanh trong thời kỳ Thượng cổ còn Thánh đức, biết giữ chơn truyền, chuẩn thằng, qui củ của ba nhà Nho -Thích -Đạo: làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, nên mới chung hưởng đời thái bình, an cư lạc nghiệp.

Nay đến đời Hạ nguơn cuối cùng, thế Đạo suy vi, nhơn tâm bất cổ, đạo đức đổi dời, lòng người chẳng giống như xưa, luật Tam Cang chẳng giữ, phép Ngũ Thường không noi, Tam giáo thất chơn truyền, nhơn tâm biến đổi, bỏ phép công bình, tranh danh trục lợi, cướp giựt hiếp đáp, giết hại lẫn nhau, thành ra một trường náo nhiệt, nên gọi là đời mạt kiếp.

Các vì Giáo Chủ ngày xưa tiên tri rằng: Buổi sau nầy, Tam giáo phải qui phàm, nên có để lời trong Sấm truyền:

- Như trong Phật Tông Nguyên Lý, Đức Thích Ca có nói: "Lục vạn dư niên Thiên khai Huỳnh Đạo".

- Còn Nho giáo, Đức Khổng Tử nói: "Mạt hậu Tam Kỳ Thiên khai Huỳnh Đạo".

- Đức Chúa Jésus khi bị đóng đinh trên cây Thánh giá có nói tiên tri với các Môn đồ rằng: Trong 2000 năm Tận thế, Ta sẽ đến Phán Xét cho nhơn loại một lần nữa và Ngài nói: Còn nhiều chuồng chiên, sau Đức Chúa Cha sẽ qui về một mối.

Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vị Giáo chủ ngày xưa. Chỉ có phương diện là do nơi Tam giáo thất chơn truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hạp theo dân trí buổi nầy, mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh. Hiệp cả tinh thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA Chung, mà thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ một nền Tôn Giáo Đại Đồng, thì nhơn loại mới đặng gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn loại mới chung hưởng hòa bình, phục lại đời thượng cổ, là do nơi Thiên Thơ tiền định,buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu nghinh tân.

Tóm lại, Đức Chí Tôn khai Đạo kỳ ba nầy là thuận theo lẽ tuần hoàn, châu nhi phục thủy."

Có thấy được sự suy-đồi của Tam-giáo qua thời gian làm cho thất chơn-truyền, Cao-Đài Đại-Đạo mới ra đời để cứu nguy cho nhân-loại, mà khởi điểm là Việt Nam. Như vậy thì liệu sự thất chơn-truyền ấy do đâu? Bởi đâu? Vì đâu?

Đức Hộ Pháp nói: "Những cơ-quan và những hành-vi hiện-tượng của các Tôn-giáo đương-nhiên ngày nay như dường biến thành cổ-vật, nên đã mất cái hay để giúp đời tự-trị, tự giác, tâm hồn thiếu nơi an-ủi, tư-tưởng mất pháp chuẩn thằng, trí thức không phù hành-động, biểu sao đời không trở nên một trường náo-nhiệt, rắc-rối, khó-khăn, rồi giục cho cả nhơn sanh dong ruổi trên con đường duy-vật mà quên hẳn cái quyền vi chủ của trí-thức tinh-thần.

"Ôi, thử nghĩ cái ngày nào trí-thức tinh-thần đã tiều tụy, thì cái lương-tri, lương-năng cũng do đấy mà tiêu-tàn, thì con người đứng giữa cõi trần-hoàn này phải trở nên bao nã?

"Tưởng lại, tương-lai của Đạo Cao-Đài do nơi cái sở hành và cái tư-tưởng cao-thượng của nó, ngày nay nó có thể hứa với nhơn-sanh rằng: một ngày nào chúng ta sẽ hưởng điều hạnh phúc ấy Quả thật, "Đức Chí-Tôn hoằng-khai Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ tức là thành lập một trường công-quả tại thế gian này để cho tất cả nhơn-sanh thi đua lên nấc thang tiến-hóa tột phẩm thiêng-liêng, cao thấp tùy nơi sở-hành của mỗi người muốn cùng chẳng muốn".

Lời tiên-tri ứng-nghiệm về Đạo Cao-Đài xuất hiện"

Ba Thời kỳ khai Đạo:

Nay Đạo Trời khai sáng tại Việt-Nam đây cũng do nguyên-lý là "Đạo xuất ư Đông". Từ cổ chí kim, tạo thiên lập địa, Đạo đều phát khởi từ phương Đông (là các nước ở miền Á Đông (Asie) như các nền chơn-giáo trước kia:Nho , Đạo , Thích cũng đều phát khởi nơi miền Á đông rồi lần lần truyền-bá qua phương Tây như:

- Đạo Phật thì khai tại Thiên-trước là Đức Nhiên đăng Cổ-Phật và Đức Thích-Ca Mâu-ni khai Phật-giáo.

- Đại-Đạo là Đạo Tiên, Lão-Tử khai tại Trung-Hoa.

- Sau nữa Khổng-Tử khai Đạo Thánh cũng tại Trung Hoa là ở miền Á-Đông. Sau lần lần Đạo trải khắp qua hướng Tây, nên Đức Chúa Jésus truyền Đạo Thánh tại hướng Tây. Kế đó Đạo mới roi truyền ra khắp năm châu, đến để làm Giám khảo cho kỳ Long-Hoa Đại Hội.

Tóm lại: Tuy nhiên nay đã qua ba thời-kỳ khai Đạo:

- Nhứt-kỳ Phổ-Độ

 

cầm quyền vi chủ là Đức Nhiên Đăng Cổ-Phật.

- Nhị-kỳ Phổ-Độ

 

là Đức Thích-Ca Như-Lai.

- Tam-kỳ Phổ-Độ

 

là Đức Di-Lạc Vương-Phật đến để làm Giám-khảo cho kỳ Long-Hoa Đại hội.

Qua hai thời kỳ Phổ Độ rồi, mỗi lần Phổ Độ như vậy đều có đủ Phật, Tiên,Thánh giáng trần tùy theo phong hóa của tư phương mà gầy Chánh giáo, như:

Nhứt Kỳ Phổ-Độ:

- Phật Đạo:

có Đức Nhiên đăng cổ Phật Chưởng-giáo.

- Tiên Đạo:

có Đức Thái-Thượng Đạo Tổ Chưởng giáo.

- Thánh Đạo:

có Đức Văn Tuyên Đế quân Chưởng giáo.

Nhị Kỳ Phổ-Độ:

- Phật Đạo:

Thích-ca Mâu-Ni làm Chưởng giáo.

- Tiên Đạo:

Thái Thượng Lão-Quân làm Chưởng giáo.

- Thánh Đạo:

Đức Khổng-Tử làm Chưởng giáo.

Thánh ở phương Đông gọi là Ông Thánh Ta.

Thánh ở phương Tây là Đức Chúa Jésus gọi là Thánh Tây.

Tam-kỳ Phổ-Độ Tam Trấn Oai-nghiêm:

- Phật Đạo:

thì Quan-Âm Bồ-Tát thay quyền Phật giáo là Nhị Trấn Oai nghiêm.

- Tiên Đạo:

thì Thái-Bạch Kim-Tinh làm Nhứt Trấn Oai nghiêm thay quyền Tiên giáo.

- Thánh Đạo:

có Đức Văn Tuyên Đế quân Chưởng giáo.

Bảng tóm tắt về Tam giáo như:

 

 

 

Nay qua Tam-Kỳ Phổ-Độ thì chính Đấng Thượng Đế đến mở Đạo và Ngài làm Giáo Chủ vô vi, chứ không giao Chánh giáo cho tay phàm nữa, bởi hậu quả là càng ngày càng canh cải làm cho ra phàm giáo, nhưng phải lập Chánh thể cho có phương thế mà dìu dắt nhơn sanh trên con đường hành thiện. Do vậy mà ngày nay lập Tam Trấn Oai nghiêm để thay quyền Tam giáo:

*Ngày 14 tháng 10 Bính-Dần, nhằm ngày 18-11-1926, Ðức Chí-Tôn dạy thiết Ðại Lễ Khai Ðạo chánh thức tại Từ-Lâm-Tự tỉnh Tây-Ninh, đồng thời Ðức Chí-Tôn lập Pháp Chánh-Truyền phong vị cho Chức-Sắc Hiệp-Thiên Ðài, Cửu Trùng-Ðài và Ðức Chí-Tôn dạy nhóm Hội Thánh lập Luật. Vậy sau ba tháng Ðại-Hội, Ðạo đã có Pháp, có Luật thì nghiễm nhiên Ðạo thành một nền Tôn-Giáo danh gọi là Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ.

Như vậy, Đức Thượng Đế quyết định:

"Thầy lấy đức háo sanh mở Đạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt. Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị Tà yêu cám dỗ".

Thầy xác định rằng:

"Thầy lấy đức háo sanh mở Đạo, cứu rỗi sanh linh cho kịp trước kỳ Hạ nguơn này, nhưng Đạo chẳng hoàn toàn, con đường đi chưa cùng bước là vì tại lòng nhiều đứa chưa để hết Tín ngưỡng mà nghe lời Thánh giáo, cho nên nền Đạo phải ra tan tành manh mún".

 

 

TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN

三 敎 同 原
E: Three religions was originated from the same source.
F: Trois réligion sont provenues de même source.

Nho-Giáo lấy lý Tam-tài làm TÂM, Dich-lý gọi là quẻ Càn Trời, là con số 1. Đạo Cao-Đài ngày nay tôn thờ Trời bằng biểu tượng "THIÊN NHÃN" cũng là do lý đó.

- Công-giáo gọi là: Đức chúa Cha, Đức Chúa con và Chúa Thánh-Thần.

- Tiên Đạo gọi là Tinh-Khí-Thần.

- Người Tu-chơn gọi đó là Tam bửu.

Tam giáo tuy goi tên con số 3 này bằng nhiều danh từ khác nhau, nhưng nói về Thiên-lý thì chỉ có một, cái MỘT này chính là TÂM của ta đó cũng là chỗ mà nhà nghiên-cứu cho là "Tam giáo đồng nguyên" là đầu mối của Đại-Đạo, là Trời đó vậy.

 

 

TAM GIÁO QUI NGUYÊN

三 敎 歸 原
E: Three religions returned to origine.
F: Trois réligions revenues à l’origine.

Đức Hộ Pháp nói: "Từ ngày Đại-Từ-Phụ và Đại Từ Mẫu đến khai mở chơn-truyền giao phó ngọn cờ cứu khổ hầu dạy-dỗ con cái của hai Đấng vào con đường chí chơn, chí chánh. Cái khó-khăn cho sứ mạng thiêng-liêng là Đại Từ-Phụ và Đại Từ Mẫu buộc ta phải: Lấy căn-bản của nền văn-minh tối cổ của Tổ-phụ ta lưu lại trong triết-lý: Tam-Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt.

Nếu ta cạn xét ta ngó thấy với một Đạo-giáo mà bảo-thủ chơn-truyền rất khó-khăn quá sức của ta tưởng nghĩ. Huống chi cả triết-lý của các nền Đạo-giáo đương nhiên hiện hữu tại mặt thế này thì nó đã đành quá sức với trí khôn-ngoan tưởng-tượng; song ta phải xét đoán, nếu không như thế thì có phương chi khác mà tạo dựng ĐẠI ĐỒNG THIÊN-HẠ và thống nhất các tín-ngưỡng chơn lý lại làm một cho đặng, ấy là mục-phiêu trọng-yếu của hai Đấng phụ mẫu tạo-đoan muốn cho đoạt đến. Còn nếu ta xu-hướng theo một triết-lý đạo-giáo nào làm căn-bản thì nó sẽ trái hẳn với nghĩa-lý tận-độ của Đạo. Cái khó khăn của ta thi-hành sứ-mạng là do lẽ ấy.

- Sứ-mạng cao-trọng là phải dung-hòa các tư tưởng đạo giáo.

-Thống nhất các triết-lý tinh-thần làm một, là một điều chưa hề có trí khôn-ngoan nào làm đặng. Nó là một ảo vọng mà từ trước tới giờ chưa có một nhà triết-học nào nghĩ đến. Chính nơi yếu-điểm này Bần-Đạo vẫn ngồi xem quyền Chí Tôn vô-đối của Đại-Từ-phụ thiệt hiện nơi mặt thế này; vì thầm hiểu rằng chỉ có tay quyền-năng vô đối của Đức Chí-Tôn mới làm đặng mà thôi. Tương-lai của Đạo Cao-Đài sẽ vạch rõ cho toàn thể nhơn-sanh thấy đặng điều ấy".

Tỷ như lập Tam Giáo qui nhứt thì:

- Nho là trước,
- Lão là giữa,
- Thích là chót.

Nên Thầy phải ngồi sau Chư Phật, Tiên, Thánh, Thần mà đưa chúng nó lại vô vi chi khí chính là Niết Bàn đó vậy.

Còn như Hộ Pháp đã xuống trần rồi còn thờ chi nữa, nên các con nên lập ra ba bài vị đề:

Hộ Pháp
Thượng Phẩm bên hữu
Thượng Sanh bên tả

Còn cổ lễ thì cúng: Rượu là Khí, Bông là Tinh, Trà là Thần.

Thi văn dạy Đạo:

Thiên thơ dĩ định nhứt danh qui,
Tam Giáo Qui Nguyên chỉ thị kỳ.
Ðạo thị tối cao vô thế đoán,
Hà nhơn đảm tánh đáo khinh khi.

 

 

TAM GIÁO QUI NGUYÊN NGŨ CHI PHỤC NHỨT


F:: Trois religions revenues à l'origine - Cinq branches réunies.

Tam Giáo qui nguyên: Ba tôn giáo chánh: Phật giáo, Tiên giáo và Nho giáo đã trải qua nhiều thời kỳ, nên càng ngày càng xa rời chánh pháp. Nay, đến thời hạ nguơn mạt pháp, Đức Chí Tôn dùng huyền diệu cơ bút lập thành một nền Đại Đạo cốt qui nguyên Tam giáo, tức là chấn chỉnh tôn chỉ lại cho phù hợp với thời nghi của nếp sống văn minh tiến bộ của chúng sanh, hầu độ hết theo đường Đạo đức.

Ngũ Chi phục nhứt: Gom Ngũ Chi Đại Đạo làm một, tức là đem Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo hiệp lại làm một gọi là Đại Đạo.

"Thực hành tôn chỉ "QUI NGUYÊN PHỤC NHỨT" là thừa nhận mọi Tôn giáo đều do một gốc mà ra, đồng một chơn lý, đồng tôn sùng một Ðấng Chúa Tể càn khôn vũ trụ là Ðức Ngọc Hòang Thượng Đế. Tính chất của Ðạo Cao Ðài là "Ðại Ðồng nhơn lọai" có mục đích điều hòa tất cả mọi tín ngưỡng, dung nạp triết lý của Nho, Thích, Đạo làm căn bản. Ðạo Cao Ðài là Ðạo Trời, một Tôn giáo tổng hợp các Tôn giáo hiện hữu trên mặt địa cầu nầy từ thử, một Ðạo duy nhất có một giá trị tinh thần vô song, cao cả, thiêng liêng và mầu nhiệm".

 

 

TAM GIÁO (TÒA)

Thánh Ngôn: "Thầy lập nền Ðạo nầy ra, do nơi Thiên thơ, lại cũng có lòng từ bi, để vớt cả mấy chục triệu nguyên nhân lớn lao trở hồi cựu vị. Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy, nên chẳng nại công lao khó nhọc, yêu cầu cùng Tam Giáo nới tay cho Thầy cứu rỗi các con. Than ôi! Công trình Thầy và các Ðấng Thiêng liêng thì nhiều mà tấc thành của mỗi con thì không đặng mấy. Nhiều phen sóng khổ muốn chìm đắm các con mà Thầy phải sợ cho đến nhăn mày khổ lụy."

 

 

TAM HỘI LẬP QUYỀN

Theo chánh thể của Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ, thì có ba Hội, đã định quyền hành đặc biệt:

1- Thứ nhứt là Hội Nhơn Sanh:

Trong Hội Nhơn Sanh thì Chánh Phối Sư phái Thượng là Chủ Trưởng.

Hội Viên thì từ Lễ Sanh đổ xuống Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự và người Phái Viên thay mặt cho nhơn sanh.

Trong Nội Luật Hội Nhơn Sanh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ luật lệ. Ấy vậy từ hàng Tín Ðồ cùng đồng nhi đều có người thay mặt đặng xem xét việc Ðạo rồi đệ lên Hội Thánh phán đoán. Vạn vật cũng có ảnh hưởng trong Hội Nhơn Sanh vì người là Chúa của Vạn vật. Xét kỹ thì Thầy công bình không xiết kể và lo việc hóa sanh không ngằn không tận.

2- Thứ nhì là Hội Thánh:

Trong Hội Thánh thì có Thái Chánh Phối Sư làm Chủ Trưởng. Hội Viên thì từ Giáo Hữu, Giáo Sư và Phối Sư thiệt thọ có trách nhậm hành chánh đặc biệt. Trong Nội Luật Hội Thánh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ thức lệ. Hội Thánh có quyền xem xét các việc của Hội Nhơn Sanh dâng lên và các việc hành chánh trong Ðạo, rồi đệ lên Thượng Hội.

3- Thứ ba là Thượng Hội:

Thượng Hội thì cũng có Nội Luật chỉ rõ thức lệ. Trong Thượng Hội thì Giáo Tông làm Chủ Trưởng, Hộ Pháp làm Phó Chủ Trưởng. Hội Viên thì có:

- Thượng Phẩm
- Thượng Sanh
- Ba vị Chưởng Pháp
- Ba vị Ðầu Sư
- Và Ðầu Sư Nữ Phái

Không cần nhắc thì chư Hiền Hữu Lưỡng Phái cũng hiểu rằng mấy Ðại Thiên Phong kể trên đây có hành chánh phận sự lớn lao của mình thì mới đặng vào Thượng Hội.

Thượng Hội để giúp Giáo Tông và Hộ Pháp điều đình cả nền Ðạo lớn lao của Thầy.

Thượng Hội có quyền xem xét các điều nghị luận của Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh rồi hoặc đệ lên cho Giáo Tông và Hộ Pháp phê chuẩn hay là trả lại cho Hội Thánh định đoạt lại.

Ba Hội (Thượng Hội- Hội Thánh- Hội Nhơn Sanh) toàn nhập lại theo thức lệ rành rẽ thì gọi là Quyền Vạn Linh, chớ không phải ai muốn lập Hội Vạn Linh, tổ chức gì theo ý riêng của mình rồi muốn đem ai lên làm Chủ Trưởng tổ chức gì cũng được. Như vậy thì có Luật lệ gì đâu? Mà không Luật lệ thì là không phải Ðạo.

Trên ba Hội, thì có Giáo Tông và Hộ Pháp.

- Giáo Tông làm chủ Cửu Trùng Ðài thì lo việc Chánh Trị của Ðạo, có Chưởng Pháp và Ðầu Sư ở trung gian giúp sức điều đình các Luật lệ truyền xuống cho ba Chánh Phối Sư nắm trọn quyền hành chánh. Giáo Tông có quyền định đoạt trong việc Chánh Trị của Ðạo.

- Hộ Pháp thì lo giữ Luật lệ của Ðạo cho khỏi sái Thiên Ðiều vì Luật lệ của Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ ngày nay thì thế cho Thiên Ðiều.

Hộ Pháp có quyền đặc biệt về ân xá cũng như Giáo Tông có quyền Chánh trị vậy.

Hộ Pháp Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, có Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân giúp sức. Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một là Quyền Chí Tôn.

Sau đây cũng đã thể hiện được tinh thần "Tam Hội lập quyền" ngay buổi đầu, trước khi khai Đạo:

- Ngày 23-8-Bính Dần (dl 29-9-1926) Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt vâng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn, hiệp cùng chư Chức sắc Thiên phong và chư Đạo hữu, tổng cộng 247 người, họp tại nhà ông Nguyễn Văn Tường ở đường Galiéni, nay là đường Trần Hưng Đạo, quận 1 Sài Gòn, để thảo ra TỜ KHAI ĐẠO, chờ Đức Chí Tôn xem xét trước mới gởi lên Chánh phủ Pháp: Xem như đây là cuộc Đại Hội nhơn sanh.

- Ngày 1-9-Bính Dần (dl: 7-10-1926), Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đích thân đem TỜ KHAI ĐẠO đến gởi cho quan Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol, được ông vui vẻ tiếp nhận. Ông khen rằng vì chữ "Thiện" lo cho nhơn sanh. Trong đơn chỉ có 28 người đại diện, là những người có danh vị, sau là những Chức sắc: đây Đại hội Hội Thánh.

- Chính sự quyết định thời gian gởi đơn lên cho Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol và chỉnh sửa của Thầy là quyền quyết định tối thượng: đây là quyền Thượng Hội vậy.

- Ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926), ngày rằm Hạ nguơn năm Bính Dần, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt hiệp cùng Đức Hộ Pháp và chư Chức sắc Đại Thiên phong, vâng lịnh Đức Chí Tôn mượn chùa Từ Lâm Tự ở Gò Kén Tây Ninh làm Thánh Thất tạm để tổ chức Đại lễ Khai Đạo Cao Đài, đủ các quan-chức các cấp của Chánh quyền Pháp thời đó và đại diện các Tôn giáo khác đến dự.

- Ngày 3-10-Canh Ngọ (dl: 22-11-1930) Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt được Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban Quyền Giáo Tông hữu hình, do Đạo Nghị Định thứ 2.

Nguyên văn Đạo Nghị Định thứ nhì:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Đệ ngũ niên)

_____________________________+

 

Chiếu theo Pháp Chánh Truyền ban quyền hành cho Giáo Tông và Hộ Pháp,

Nghĩ vì chư Chức sắc Thiên phong có quyền đặc biệt ngoài luật đã định, còn quyền hành Hội Thánh nữa.

Nghĩ vì thiếu luật Hội Thánh nên quyền hành chánh chẳng đặng vẹn toàn,

NGHỊ ĐỊNH

Điều thứ nhứt: Ban quyền hành cho Thượng Đầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Giáo Tông về phần xác, còn phần thiêng liêng có Lão.

Điều thứ nhì: Chức sắc Cửu Trùng Đài, duy bậc Chánh Phối Sư phải tùng quyền mà hành chánh về phần Chánh trị của Đạo, song đặng thế mặt cho Đầu Sư, đương buổi Người cầm quyền Giáo Tông của Lão.

Điều thứ ba: Mọi việc chi thuộc về quyền Chánh trị đều giao cho Chánh Phối Sư.

Điều thứ tư: Chánh Phối Sư đặng trọn quyền thông công cùng Chánh phủ và nhơn sanh, nhưng buộc phải có Hội viên Nhơn sanh và Hội Thánh chăm nom cơ hành động.

Điều thứ năm: Nghị Định nầy sẽ ban hành vào ngày 15-10-Canh Ngọ.

Làm tại Tòa Thánh Tây Ninh ngày 03-10-Canh Ngọ.

GIÁO TÔNG
Lý Thái Bạch

 

HỘ PHÁP
Phạm Công Tắc

 Dù ngay thời buổi ấy chỉ mới chuẩn bị, để bắt đầu làm TỜ KHAI ĐẠO, nhưng phẩm tước hầu như Đức Chí-Tôn đã trù liệu hết rồi, nên khi 28 vị Ký tên vào Tờ khai Đạo chính thức gởi lên Thống Đốc Le Fol. Sau đó các vị này đều đứng vào Thiên Phong thật xứng danh là Đại Hội Hôi Thánh là vậy.

Riêng Đức Quyền Giáo Tông, Ngài đã chu toàn mọi việc khi Đức Chí-Tôn giao phó, thật xứng đáng là ANH CẢ của nhơn sanh ngay từ buổi đầu, làm cầu nối cho Thượng Hội.

 

 

TAM HỒN


E: Three souls.
F: Trois âmes.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Hồn: điểm linh quang do Đức Chí Tôn ban cho. Tam hồn là ba điểm linh quang mà Đức Chí Tôn ban cho mỗi Hóa nhân, khi tiến hóa từ Thảo mộc lên Thú cầm và thành Nhơn loại.

Tam hồn gồm: Sanh hồn, Giác hồn, Linh hồn.

Quan trọng nhất là linh hồn, vì nhờ có linh hồn mà con người đứng trên loài thú cầm, có tánh linh hơn vạn vật, và cũng chính nhờ điểm linh hồn nầy mà con người có thể tu hành đắc đạo thành Tiên, Phật.

 

 

TAM KỲ

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Tam-kỳ khai-hiệp Thiên-thi,
"Khoa-môn Tiên-vị ngộ kỳ Phật duyên."

Tam Kỳ Phổ Ðộ mở ra đúng với Thiên thơ tiền định mở hội thi cho các Tiên gia thọ khoa mục đạt Phật vị.

 

 

TAM KỲ PHỔ ĐỘ


E: The Third Universal Salvation.
F: Le troisième Salvation Universelle.

Tam Kỳ Phổ Độ là Phổ độ chúng sanh trong thời kỳ thứ ba.

Từ Thượng Nguơn đến nay, Đức Chí Tôn đã cho mở ra ba thời kỳ phổ độ để cứu giúp chúng sanh.

1-Nhứt Kỳ Phổ Độ: Vào thời kỳ Thượng Nguơn, thì:

- Phật thì có Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ.

- Tiên thì có Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên Giáo ở Trung Hoa.

- Thánh thì có: Vua Phục Hy khởi đầu Nho Giáo ở Trung Hoa. Thánh Moise mở Do Thái Giáo ở Do Thái.

2- Nhị Kỳ Phổ Độ: Vào thời kỳ Trung Nguơn, thì có:

- Phật: Đức Thích Ca Mâu Ni chấn hưng lại Phật Giáo.

- Tiên: Lão Tử chấn hưng Tiên Giáo, còn gọi Lão Giáo.

- Thánh: Đức Khổng Tử mở Khổng giáo, chấn hưng Nho Giáo. Ngoài ra, Đức Chúa Jésus Christ mở Thiên Chúa Giáo ở Do Thái.

3- Tam Kỳ Phổ Độ: Vào thời kỳ Hạ Nguơn, thì có:

Đức Chí Tôn dùng huyền diệu Thiêng Liêng giáng cơ mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn Giáo phổ độ chúng sanh trong thời Hạ Nguơn mạt pháp nầy, với tôn chỉ là "Qui Nguyên Tam Giáo Phục nhứt Ngũ Chi".

Tam Trấn Oai Nghiêm thay mặt cho Tam Giáo thì có:

- Nhứt Trấn Oai Nghiêm: Lý Đại Tiên Trưởng tức Thái Bạch Kim Tinh thay mặt cho Tiên Giáo.

- Nhị Trấn Oai Nghiêm: Đức Quan Âm Bồ Tát thay mặt cho Phật Giáo.

- Tam Trấn Oai Nghiêm: Quan Thánh Đế Quân thay mặt cho Thánh Giáo.

Thánh ngôn Thầy dạy:

Thầy hỏi: Tam Kỳ Phổ Ðộ là gì? - Là Phổ Ðộ lần thứ ba. Sao gọi là Phổ Ðộ? Phổ Ðộ nghĩa là gì?

- Phổ là bày ra. Ðộ là gì? - Là cứu chúng sanh.

Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào? Thầy hỏi?

- Phải bày Bửu pháp chớ không đặng giấu nữa"

Thầy daỵ: Dường này, từ đây, chư chúng sanh chẳng tu bị đoạ A-Tỳ, thì hết lời nói rằng "Phật Tông vô giáo" mà chối tội nữa. TA nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam-Kỳ Phổ-Độ này mà không TU thì không còn trông mong siêu rỗi". (TNI/ 20)

"Nếu không đi vào con đường Tam-Kỳ Phổ-Độ thì không thế gì đi con đường nào mà về Cực-lạc Thế-Giới là vậy đó. Phương-pháp độ dẫn chỉ có khuyên các chơn linh dầu nguyên nhân hay Hoá nhân đoạt được chữ "Hoà" với chữ "Nhẫn" mới về nơi cửa này được, dầu cho vạn kiếp sanh dày công tu-luyện mà còn ganh-ghét thì sẽ bị vào tay Chúa Quỉ, không trông gì về cùng Thầy được".

Trong lòng Sớ dâng về Thiêng-liêng có câu:

Tam Kỳ Phổ Độ Tam Trấn Oai Nghiêm 三期普度三鎮威嚴 tức là Ba vị Tam Trấn thay mặt cho ba vị Giáo Chủ Phật, Tiên, Nho, cầm quyềm Tam Giáo trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ:

-Nhứt Trấn Oai Nghiêm: "Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ" 李大仙長兼教宗大道三期普度.

-Nhị Trấn Oai Nghiêm: "Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai" 常居南海觀音如來.

- Tam Trấn Oai nghiêm: "Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân" 協天大帝關聖帝君.

 

 

TAM KỲ NGUYÊN NGUYÊN BẢN BẢN (Chi Phái)

Đây là một trong số nhiều Chi phái, lấy hiệu là "Tam kỳ Nguyên Nguyên bản bản" Theo ông Quế: Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản do quí Ngài: Kiên, Phấn. Nguyên trước đây ông Thái Phối Sư Nguyễn Văn Ca thành lập phái Minh Chơn Lý ở Mỹ Tho, được nhiều người ủng hộ, nhưng từ khi Thiên Sư Nguyễn Văn Phùng nắm Cơ Bút của Minh Chơn Lý, ông cầu cơ sửa đổi hết các cách thờ phượng, làm cho nhiều người bất mãn nên bỏ đi, như Quí Ngài Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang, Nguyễn Quang Thiệu, Cao Triều Phát về Bạc Liêu lập Minh Chơn Ðạo. Quí Ngài Vương Quan Kỳ và Ðoàn Văn Bản trở về Thánh Thất Cầu Kho. Ngài Trần Văn Quế bỏ đi, nhập phái Tiên Thiên. Quí Ngài Nguyễn Văn Kiên và Nguyễn Văn Phấn lập "Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản" trụ sở đặt tại Long An, mục đích là phục hồi nguyên bản Ðạo Cao-Ðài như buổi đầu Ðức Chí Tôn lập ra, nhưng không được nhiều người hưởng ứng. Khi ông Nguyễn Văn Kiên được bầu làm Hội Trưởng Cao Ðài Ðại Ðạo Liên Ðoàn thì phái nầy bắt đầu suy tàn và khi ông Kiên qui liễu thì phái nầy tan rã.

 

 

TAM KỲ XÁ ÂN

Tam Kỳ xá ân 三期赦恩 tức là Cơ Đại Ân xá kỳ ba.

Trong hai kỳ Phổ Độ trước vẫn có Ân xá nhưng với mức độ nào thôi. Chỉ buổi này là thời cùng cuối, nhân loại quá đau khổ nến Đức Thượng Đế mới giáng phàm mà mở Cơ Ân xá lớn như vậy, nhân sanh mau thấu hiểu chơn lý này mà tìm về với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gắng bước tu hành mong thoát tục.

Đạo Cao Đài hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một nền Đại Đạo được Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế dùng huyền diệu thiêng liêng của Cơ Bút khai sáng tại miền Nam nước Việt, mở ra một thời kỳ Đại-Ân-Xá cho toàn cả chúng sanh và các đẳng Chơn hồn, nên những oan khiên, nghiệp báo chất chồng từ muôn đời ngàn kiếp được Chí Tôn xá tội cho tất cả những lỗi tiền khiên để rảnh mình lo tu hành, lập công bồi đức, nếu biết ngộ một đời tu, đủ trở về cùng Chí Tôn đặng.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Sấp mình cúi lạy Từ Bi,
"Tiền khiên phụ mẫu Tam Kỳ xá ân."

 

 

TAM LẬP

(Tam: ba; Lập: đứng), nghĩa đen là ba vị thế đứng trong cửa Đạo ngày nay. Nghĩa bóng là ba con đường trở về với Đức Chí-Tôn hay là ba con đường để được đọat Đạo; ba cách lập vị.

Đức Hộ Pháp nói: "Một kiếp Tu chưa chắc đã về được với Đức Chí Tôn, muôn năm ngàn kiếp mà nếu thiếu Tu, cũng không khi nào về được với Đức Chí-Tôn, mấy Anh mấy Chị rán nhớ điều đó, mà Tu thì sao? - Trong cửa Đạo Cao-Đài này đã dạy Tu rồi, nhứt là Bần-Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn đó vậy.

Mỗi chơn-hồn nơi thế-gian này, khi thoát xác đều phải qui tựu tại Đền-Thánh này và đi từ trong Đền Thánh này đến các cảnh giới khác. Tại sao phải vào Đền Thánh này, mà không vào các Đền-Thánh khác? - Tại vì Đền-Thánh này tỷ như một trường thi: Mỗi năm Chánh-Phủ mở một kỳ thi như thi Tú-Tài chẳng hạn, địa-điểm đã ấn định rồi, chỉ có thi nơi đó mới có giá-trị: Tòa-Thánh này cũng vậy, Đức Chí-Tôn lập ra để con cái của Ngài lập đức, lập công, lập ngôn mà về với Ngài. Trong cửa Đạo Cao-Đài có ba cách về với Đức Chí Tôn, hay là có ba cách lập vị mình:

Cách thứ nhứt: Các chơn-hồn mượn xác phàm phải đi theo phẩm trật Cửu-Thiên Khai-Hóa, tức là theo Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài, dùng tài sức mình lập công để đoạt Đạo, nghĩa là phải đi từ bậc Đạo-hữu lên Lễ-Sanh, Giáo-Hữu, Giáo Sư... Phải lập công từ Tiểu-Thừa, Trung-Thừa đến Thượng Thừa; phải ăn chay từ sáu ngày mỗi tháng đến mười ngày, rồi ăn chay trường luôn, phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Các chơn-hồn đi theo phẩm-trật Cửu-Thiên Khai Hóa còn phải có tự tín rồi tha-tín, tức là giác-nhi giác-tha đó vậy. Có tự-tín rồi tha tín tức là có tự độ mình rồi độ chúng-sanh. Đạo Cao-Đài khác với các nền Tôn-giáo khác là ở chỗ đó; trước hết phải độ mình, độ gia-đình mình rồi độ ngoài thân-tộc, tức là độ cả nhơn-loại vậy; mình phải học để mình hiểu Đạo. Hiểu Đạo rồi, nói sao cho thân-tộc mình hiểu Đạo, chẳng những nói Đạo cho thân-tộc mình biết mà thôi, mà phải nói Đạo cho toàn nhơn-loại nữa.

- Mình học để biết Đạo là lập Đức,
- Nói Đạo cho thân tộc mình biết Đạo là lập Công,
- Độ toàn nhơn-loại là lập Ngôn.

Có làm đủ ba điểm đó mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Cửu-Thiên Khai-Hóa.

Cách thứ hai: Lập vị mình theo Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng Liêng tức là theo Hội-Thánh Phước-Thiện, nơi đây ngoài việc ăn chay giữ-gìn luật Đạo tùng theo chơn-pháp của Đức Chí Tôn còn phải dùng Đức để lập vị mình. Muốn Lập Đức phải đi từ Minh-Đức, Tân-Dân, Thính-Thiện, Hành-Thiện, Giáo-Thiện, Chí-Thiện...

Lập đức là gì? - Là dùng sự Thương-yêu để cứu độ chúng sanh mà Đức Chí-Tôn đã có nói "Sự Thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch-Ngọc-Kinh" là vậy đó. Các Đẳng chơn-hồn tái kiếp đang chơi-vơi trong "Tứ diệu đề khổ". Muốn thoát khổ họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ. Người đi theo Thập-nhị Đẳng cấp Thiêng-liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ trước hết thì mình phải thọ khổ đã, muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng đức Thương yêu. Cho nên bậc thứ nhất của Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng là Minh-đức đó vậy. Có Thương yêu mới thọ khổ được, ta thương Cha Mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng Cha Mẹ lúc tuổi già, ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn, ta thương những người cô thế tật nguyền ta mới tầm phương giúp-đỡ họ, mà tầm phương giúp họ là thọ khổ đó vậy.

Thọ khổ rồi mới thắng khổ, thọ khổ không phải một ngày, một bữa, mà phải thọ khổ cho đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi Cha Mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ khi còn bé cho đến lúc nó tự lo cho nó được. Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên-hạ hết khổ mới khó, vì khi lo người này, hết người này đến người khác và cứ như vậy trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ, có thắng khổ mới về được với Đức Chí-Tôn bằng con đường Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng.

Cách thứ ba: Cách thứ ba là cách Tu-Chơn hay là cách Tịnh luyện cũng thế".

 

 

TAM MUỘI HỎA

Đức Hộ Pháp nói: "Kẻ tài nhân đáo để trên mặt thế này đến gần mức điên của nó, cái chỗ tài nhân của họ bước qua mức điên dễ dàng, tới chút xíu nữa thì điên ngay, chỗ mà khoa học đã nói bây giờ, Đạo giáo chúng ta gọi là Huệ khiếu, ấy là cái khiếu mà trước kia không thể tả, chính khoa học đã tầm chỗ đó là địa điểm trọng yếu của Linh hồn con người. Bên Thiền môn, tức nhiên bên Đạo Phật phải đốt nó gọi là Tam-muội-hỏa đặng cho nó ngừng bớt lại, đừng chạy quá mức của nó, mà chạy có mực thước."

 

 

TAM NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

E: Third Muse.
F: Troisième Muse.

Bài Thài Hiến lễ Tam Nương Diêu-Trì-Cung viết chữ Nôm:

 

TUYẾN đức năng thành đạo,
Quảng trí đắc cao huyền,
Biển mê lắc lẻo con thuyền,
Chở che khách tục Cửu tuyền ngăn sông.

.

 

 

 

 TAM NƯƠNG có nhiệm vụ chèo thuyền Bát Nhã trên biển khổ nơi cõi Thiêng Liêng để rước những người đắc Đạo từ bến mê qua bờ giác, đi vào cõi Thiêng liêng Hằng sống và che chở Chơn linh của khách trần không cho xuống cõi Địa ngục.

Tam Nương có bửu pháp là Quạt Long Tu, có nhiệm vụ tiếp dẫn các Chơn hồn lên từng Trời Thanh Thiên, là từng Trời thứ 3 trong Cửu Trùng Thiên, trong kỳ làm Tuần Tam Cửu, để đưa chơn hồn đến diện kiến 7 vị Tiên (chính là Trúc Lâm Thất Hiền vào thời nhà Tấn, tu thành Tiên), vào Cung Như Ý bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân, học sách Trường Xuân do Hội Thánh Minh giao cho. Bửu-Pháp của Tam Nương Diêu Trì-Cung là cây quạt gọi là "LONG TU PHIẾN" cũng giống như Bửu-Pháp của Đức Cao-Thượng Phẩm.

Diệu pháp "Long Tu phiến có thể vận chuyển Càn Khôn vũ-trụ do nguơn khí đào-độn sanh ra đó vậy. Nó có quyền đào-độn nguơn khí, thâu hoạch nguơn khí để trong sanh lực.Con người nắm được điều ấy là kẻ đắc Pháp, nhờ nó mới có thể luyện TINH hoá KHÍ, luyện KHÍ hoá THẦN được."

Giải câu 1: TUYẾN đức năng thành Đạo.

Đường đạo đức có khả năng giúp con người đắc Đạo.

TUYẾN là tên của Tam Nương trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam. Tuyến là đường. Đức: đạo đức. Năng: Có khả năng làm được. Thành đạo: Đắc đạo, đạt được ngôi vị thiêng liêng.

Câu 2: Quảng trí đắc cao huyền.

Người tu là làm cho trí huệ được cao siêu huyền diệu.

Quảng: Rộng rãi. Trí: Sự thông minh hiểu biết. Quảng trí là trí hiểu biết rộng rãi, đó là Trí huệ, do theo con đường đạo đức mà có được. Đắc: Được. Cao huyền: Cao siêu huyền diệu.

Câu 3: Biển mê lắt lẻo con thuyền.

Người đến trần biết tu như đang chèo thuyền Bát Nhã dù lắt lẻo nhưng đó là vượt trên biển khổ.

Biển mê: Vì mê nên khổ, hết mê hết khổ; do đó, biển mê chính là biển khổ. Lắt lẻo: Đưa qua đưa lại không vững vì chưa tỉnh. Con thuyền: chỉ thuyền Bát Nhã là trí huệ; đang sống trên đời như đang trên biển khổ, biết tu là biết hướng thiện, vì đạo đức sẽ đưa từ bến mê qua bờ giác, để vào cõi Thiêng liêng Hằng Sống.

Câu 4: Chở che khách tục Cửu Tuyền ngăn sông.

Ngày nay nhờ mối Đạo Trời mới che chở các khách trần, ngăn cản không cho xuống cõi Địa ngục. Vì cửa Địa ngục đã đóng rồi. Ai làm điều sai quấy sẽ phải trả quả ngay trong kiếp sanh này và trả cho đến hết sạch mới thôi.

Khách tục là khách trần Vì đời là quán trọ mà người ở thế là khách lữ hành (tục là tầm thường thấp kém của cõi trần). Gọi là Khách vì cõi trần không phải là quê hương của các Chơn linh, mà quê hương thật sự của các Chơn linh là cõi Thiêng liêng Hằng sống. Các Chơn linh đến cõi trần chỉ ở tạm trong thời gian ngắn (nhiều lắm là 100 năm) để học hỏi và tiến hóa. Xong rồi thì trở về cõi thiêng liêng là quê hương thực. Cửu tuyền là chín suối: Tương truyền cõi Âm Phủ có 9 con suối, nên Cửu tuyền là chỉ cõi Âm Phủ, Địa ngục, nay gọi là Phong đô.

TAM NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

(Ba vị: Lục Nương, Thất Nương, Bát Nương) Đây là những vị có nhiệm vụ yếu trọng trong nền Đại-Đạo:

Ngày 04-01-Canh Thìn (dl: 11-2-1940)

Vô danh đồng tử: cho thi:

Đông mãn Xuân về cảnh tốt tươi,
Chào mừng quí vị đắc Ơn Trời.
Muôn năm sử chép nêu gương hạnh,
Chẳng uổng mày râu với suốt đời.

Nhường Cơ cho Thất Nương: Thất Nương cho thi:

Suốt đời lãnh lịnh phải huơi thương,
Xuân nở chẳng yêu khách đoạn trường.
Lăn lộn tấn xang theo mỗi bộ,
Tinh thần gom chặc chớ oan ương.

Chị Bát Nương xin vào: Bát Nương cho Thi:

Oan ương lơ-lẩn kiếm nhằm nơi,
Luật pháp nhóm gom chỉnh Đạo Trời.
Xuân đến khoe tài Xuân hớn hở,
Rán đương thúng lớn hứng hoa rơi.

Chị Lục Nương xin ghé. Lục Nương cho thi:

Hoa rơi lượm lựa giống nên dùng,
Thế cuộc trên đời thiệt rất hung.
Phước đức gặp Xuận, Xuân đãi phước,
Trớ trêu ắt gặp kết ngày cùng.

 

 

TAM NGÔI NHỨT THỂ

Ấy là ba ngôi mà cùng chung một bản thể. Ví như ba ngôi: Phật-Tiên-Thánh hay là Thái cực, Lưỡng nghi, Tứ Tượng (Nho giáo) hoặc nguơn: Thánh đức, Tấn hóa, Bảo tồn, đó cũng là lý Tam ngôi: Đức Chúa, Thánh Cha, Đức Chúa con và Chúa, Thánh, Thần bên Công giáo. Đó là Tam ngôi nhứt thể mà các Triết lý của Tôn giáo nào cũng có thể hiện ba ngôi ấy cả. Còn Nhứt thể là cùng chung một bản thể, gồm về duy nhất, là Một.

- Trong thân người ấy là TINH-KHÍ-THẦN.

- Ở vạn vật ấy là Vật chất, Khí thể và Năng lực: Mỗi một vật thể đều có ba ngôi ấy cả. Thầy đã dạy rằng cơ Tạo đoan Càn Khôn vũ trụ ra sao thì trong vạn vật cũng tương liên như vậy. Cùng một khuôn khổ, một luật định như nhau hết.

*Trên hết cả là PHẬT, ấy là ngôi đầu tiên cao thượng hơn hết nắm pháp huyền-vi.

*Phật mới chiết tánh ra PHÁP ấy là ngôi thứ nhì, Pháp mới sanh Tăng.

*TĂNG ấy là ngôi thứ ba.

Ba cơ quan ấy chừng qui nhứt lại thì duy chỉ có một nguyên căn, một bổn thể cho nên gọi "Tam ngôi nhứt thể" là vậy. Trong vũ trụ Chúa cả tạo đoan ấy là Thầy, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Đế, nắm cơ huyền vi bí mật trong tay. Thầy mới phân tánh Thầy ấy là PHÁP. Pháp tức là quyền-năng của Thầy thể hiện ra, cũng như lý Thái-cực ở trong cõi tịnh. Lý Thái-cực phát động mới sanh ra PHÁP.

 

 

TAM NGUƠN (TAM NGUYÊN)

Tức là ba nguơn: nếu tính năm thì gọi là nguơn niên. Trong một năm có ba nguơn: Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn. Như vậy một nguơn có bốn tháng. (Nguơn: chữ Nguơn còn đọc là nguyên. Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài. Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim thì một nguơn là 12 Hội, một Hội = 30 Vận, một Vận = 12 Thế, một Thế = 30 năm. "Từ thuở còn hỗn-mang thái cổ, loài người trải qua biết bao cuộc biến thiên của cơ trời theo luật tuần-hoàn của tạo vật, hết thạnh đến suy, hết hưng đến vong, hết thành đến bại, hết trị đến loạn…Cả cuộc biến-thiên đó không đi ngoài cuộc biến dịch thiên-hình-vạn-trạng, tương khắc tương sanh, từ mâu thuẫn xung đột đến tiến-bộ ôn-hòa, qua mỗi nguơn hội có khác.

"Thượng nguơn là thời kỳ sanh hóa, con người còn sống theo thiên-lý hồn-nhiên chơn chất nên gọi là đời Thánh đức.

"Trung nguơn là thời kỳ mâu-thuẫn tiến-bộ, nhưng rất tiếc là tiến-bộ về vật-chất thấp hèn nặng hơn về tiến-bộ tinh thần cao-thượng, tạo khổ cho nhau nhiều hơn là xây dựng hạnh-phúc chung cho nhau, tranh-đấu nhau rồi thúc-đẩy nhau, đi đến chiến-tranh tàn-khốc, Đạo-giáo gọi là nguơn tranh đấu.

"Hạ nguơn là thời-kỳ biến dịch tuần-huờn vạn-vật qui nguyên-cổ. Nếu sanh thì thiên sanh, vạn sanh; nếu diệt thì tận diệt không sao tránh khỏi (hiểu như vậy chúng ta nên chọn con đường nào trong hai lẽ sanh và diệt tức là lẽ sống hay chết. Tôi tưởng cả thảy đều muốn chọn con đường sanh tức là con đường sống, chớ không ai điên gì chọn con đường chết".

Tóm lại:

"Thượng-nguơn là nguơn Tạo-hóa; ấy là nguơn Thánh Đức tức là nguơn vô tội (Cycle de Création c’est-à-dire Cycle de l’innocence).

"Trung-nguơn là nguơn Tấn-hóa; ấy là nguơn Tranh đấu tức là nguơn tự diệt (Cycle de progrès ou cycle de lutte et destruction).

"Hạ-nguơn là nguơn Bảo-tồn; ấy là nguơn Tái-tạo, tức là nguơn qui cổ (Cycle de conversation ou cycle de reproduction et renovation)".

Đức Hộ Pháp thuyết tại Đền Thánh đêm 14 tháng 7 năm Canh Dần (1950)

"Bần Đạo thuyết tiếp về Tam nguơn, tại sao trong Càn Khôn Võ Trụ chia làm Tam nguơn? -Là khi Càn Khôn Võ trụ chưa lập ra, ban đầu cả tinh khối sanh lực của Càn Khôn bao trùm hết, khi biến thiên mới tạo ra vạn vật, hồi lúc Đức Chí Tôn giáng linh gọi là Thượng Nguơn. Người giáng linh nắm cả nguyên khí ấy luyện trong Càn Khôn Võ Trụ biết hoạt động nương theo cái sanh lực là chữ KHÍ đó (Hộ Pháp chỉ ra Liên Đài Hộ Pháp có chữ Khí) tượng hình của mình.

Kế tiếp nữa là Trung Nguơn Đức Chí Tôn tạo vạn vật dầu cho loài người cũng ở trong vạn vật ấy. Giờ phút Đức Chí Tôn đến cho loài người được cái linh, tức nhiên cho họ cái khôn ngoan hiển hách khác hơn vạn loại kia, gọi là giáng khí vì cớ Đức Hộ Pháp bắt Ấn Trung Nguơn hai bàn tay phải hiệp lại với nhau là Âm Dương tương hiệp, theo cái thiên linh của Đức Chí Tôn đến cái nhơn linh của loài người.

Đến Hạ Nguơn Đức Chí Tôn giáng Thần, tức nhiên là cái thiên vị Đức Chí Tôn mở ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật cho Vạn Linh đặng cho các chơn hồn đạt vị của mình, chuyển luân trong quả kiếp sanh sanh tử tử mà đạt pháp lập thiên vị; Đức Chí Tôn giáng trần Hạ Nguơn là cốt yếu như vậy. Vì cớ nên Hộ Pháp bắt ấn hạ nguơn là tới tuần trà: hai bàn tay úp nhau, tả là Dương trên, Hữu là âm dưới; chụp lên đầu Kim Tiên đưa xuống giáng thần cho thiên hạ ba cái Bí Pháp đó là vậy.

Bây giờ Thượng Nguơn trở lại, trong Càn Khôn Võ trụ Nhựt Quang có bảy trái địa cầu (Sept planètes du système solaire) nhơn loại ở được bảy trái đó đi chung quanh giáp một quận gọi là đại chuyển thì có: 61.000.000 năm (sáu mươi mốt triệu năm là một chuyển). Trong sáu mươi mốt triệu năm nếu chúng ta tính coi thì chúng ta ngó thấy trái đất này nó tái kiếp lại, nghĩa là chết rồi phục sinh lại bảy lần 61 là 427 triệu năm, thì trái đất đã chết một phen cốt hài của nó còn lại là mặt trăng đó. Kể từ nó mới phục sinh lại đến nay là ba chuyển rồi nó sẽ đến Thượng Nguơn Tứ chuyển. Mỗi Trung chuyển là 61.000 năm, Hạ chuyển lại là: sáu ngàn một trăm năm. Một Giáng là sáu ngàn một trăm năm cũng chia ra ba Nguơn vậy. Một Giáng là sáu ngàn một trăm năm thì mỗi Nguơn là hai ngàn ba trăm ba mươi năm, Hễ mỗi Nguơn ấy tới 2.333 năm 33 ngày 33 giờ 33 phút, qua trong mấy cái ba mươi ba đó sẽ có một vị thiêng liêng ở cung Phật hay cung Tiên giáng thế chuyển Đạo. Vì cớ nên tượng hình Càn Khôn Võ trụ có ba Nguơn tạo đoan vạn vật.

Trung Nguơn là Nguơn giáng khí, như chúng ta tin dị đoan thì Trung Nguơn này chúng ta nên cầu khẩn Đức Chí Tôn để thức tỉnh trí thức tinh thần loài người đặng cho họ minh tâm kiến tánh cho thiên linh của họ khôn ngoan đặng bảo tồn sinh mạng của họ.

Giờ phút này đừng cầu nguyện cho cô hồn nữa, mà chúng ta cầu nguyện cho con cái Đức Chí Tôn cho họ đủ năng lực để minh tâm kiến tánh, bảo trọng sanh mạng của họ mà thôi."

 

 

TAM QUAN

三 官
E: Three entrance gates.
F: Portique à trois entreés.

Cổng Tòa Thánh trung ương hay Thánh Thất địa phương đều xây theo pháp Tam Quan: Trung quan, Không quan và Giả quan (tức là có 3 lối vào một cổng).

Vòng thành Tòa Thánh hình vuông, mỗi cạnh 1Km (duy nhất). Mỗi cạnh có ba cửa, cộng chung 12 cửa, thêm Chánh môn thế vào cửa số 5 để giữ đúng Thập Nhị Khai Thiên. Số 5 là Ngũ trung, biểu tượng Đền thờ Phật Mẫu đó.

Các cửa xây theo Pháp Tam Quan (3 cửa):

- Không quan (cửa bên trái) là lối nhìn về lẽ không: "không tức thị sắc".

- Giả quan nhìn theo lẽ sắc: "Sắc tức thị không". Không theo hai nẻo.

- Không sắc là vào trung quan tức Trung Đạo, Trung Dung. Đó là con đường chính của giáo lý Đạo Cao Đài.

Kinh rằng: "Trung dung Khổng Thánh chỉ rành."

 

 

TAM QUANG

三 光
E: The three lights.
F: Les trois luminaires.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Quang: ánh sáng. Tam quang là ba vật sáng trên bầu trời: Nhựt, Nguyệt, Tinh (mặt trời, mặt trăng, ngôi sao), nên cũng gọi là Tam bửu.

Mão Tam quang (Tam quang mạo) là cái mão của chư vị Thập nhị Thời Quân, trên đó có thêu: Nhựt, Nguyệt, Tinh. Thêu mặt Nhựt ở chính giữa, Nguyệt bên phải, Tinh bên trái.

 

 

TAM QUI

三 歸
E: The three subjections.
F: Les trois refuges.

Nay Đức Chí Tôn mở Đạo Cao-Đài là Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi. Từ xưa đến giờ trong Tam Giáo thì:

- Phật dạy: Tam Qui, Ngũ Giới.

- Tiên dạy: Tam Bửu, Ngũ Hành.

- Thánh dạy: Tam Cang, Ngũ Thường. (Trong Tam Cang, Ngũ Thường có Ngũ Luân). Thế nên Tam qui có nghĩa là:

Qui y Phật:

Phật dạy người theo học lời Phật, lo tu dưỡng để trở về nguyên tánh trong người tức là tánh Phật "Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh".

Tiên dạy người tịnh dưỡng Nguơn Thần.

Thánh dạy người làm tròn bổn phận Vua Tôi, tức là Quân Thần Cang. Có làm tròn bổn phận vua tôi thì tịnh dưỡng được Nguơn Thần và trở về với tánh Phật.

Tại sao Quân Thần Cang là Nguơn Thần? Vì Thần ở trong mình con người như vị Đế Vương cai quản một quốc gia. Hễ vị Đế Vương hôn muội thì quốc dân bất minh, chư hầu bất phục, làm sao chữa bịnh quốc gia?

Qui y Pháp:

Phật dạy người học theo Đạo Pháp, mới định được tâm thần, khí phách; trí não mới được sáng suốt. Có sáng suốt mới đạt được Đạo Pháp vô vi.

Tiên dạy người phải gìn giữ Nguơn Khí.

Thánh dạy người phải làm tròn bổn phận cha con, là Phụ Tử Cang, tức nhiên gìn giữ được Nguơn Khí. Khí trong người đứng trung gian đặng liên tiếp với Tinh và Thần. Như đối với quốc gia, khí là chư hầu, bá tước để liên tiếp với vua mà cai trị con dân vậy.

Qui y Tăng:

Phật dạy người phải giữ gìn thân thể cho được mạnh mẽ và tinh vi, không để vật dục lôi cuốn làm cho thân thể bị hao mòn. Thân khỏe mạnh tinh thần mới sáng suốt.Tây phương có câu: "Một tinh thần minh mẫn ở trong thân thể tráng kiện".

Tiên dạy người phải bảo tồn Nguơn Tinh.

Thánh dạy người phải làm tròn bổn phận chồng vợ, là Phu Thê Cang, tức nhiên bảo tồn được Nguơn Tinh. Nguơn Tinh cũng như con dân trong đất nước. Hễ Chúa Thánh, quan trung, tôi hiền thì quốc gia mới thạnh trị.

Người tu luyện Tinh, Khí, Thần được hiệp nhứt, tức nhiên được đắc Đạo thành Tiên, hóa Phật. Theo lời dạy trên đây, hằng ngày Cúng Đức Chí Tôn đốt đủ năm cây hương thật là một huyền vi mầu nhiệm vô cùng. Như cắm hàng trong ba cây gọi là: Án Tam Tài. Tam Tài là: Thiên- Địa- Nhơn (Trời, Đất, Người) hay Phật-Pháp-Tăng. Tất nhiên:

- Trời có Tam bửu, Ngũ Khí.
- Đất có Tam bửu Ngũ Hành.
- Người có Tam bửu Ngũ Tạng

Khi cắm nhang hàng ngoài hai cây là tượng nhị khí âm dương hiệp với Tam tài nói trên gọi là Ngũ Khí. Bát quái sanh ngũ-hành, ngũ-hành biến ngũ khí, ngũ khí biến ngũ sắc. Ngũ khí tức là ngũ-hành chi khí. Trong Vũ Trụ: Tam Tài là Thiên, Địa, Nhơn. Riêng về bản thân con người thì Tinh-Khí-Thần cũng được xem là Tam Tài.

Trời có ba món báu là: Nhựt-Nguyệt-Tinh hay là Tam Nguơn: Thượng, Trung, Hạ. Trời nhờ ba món báu ấy mà dưỡng-dục muôn loài, hóa sanh vạn vật, luân chuyển càn-khôn, mới chia ra ngày, đêm, sáng, tối.

Đất có ba món báu là: Thủy-Hỏa-Phong. Đất nhờ ba món báu ấy mà phong vũ điều hòa, cỏ cây tươi nhuận, phân ra thời tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Người có ba món báu là: Tinh-Khí-Thần.

Người tu-hành là cốt-yếu luyện Tinh hóa Khí. TINH là một chất tinh-ba được lọc thật kỹ ở trong người để tươi nhuận cho cơ thể như: KHÍ tức là chánh khí ở trong cơ thể con người, nhờ nó mà con người luôn luôn được mạnh khỏe và một khi chánh khí suy thì tà khí ở ngoài xâm nhập, gây ra bịnh hoạn. THẦN thuộc về phần Thiêng liêng linh diệu trong cơ quan suy tư cảm giác của con người, nó vốn bất tiêu bất diệt. Ấy là điểm linh quang do Chơn linh của Tạo Hóa ban cho. Người nhờ ba món báu đó mà tạo Tiên tác Phật. Vậy thì:

- Trời có Ngũ Khí là: Ngũ Hành chi khí.

- Đất có Ngũ Hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

- Người có Ngũ Tạng là: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận.

- Thế giới có Ngũ Châu là: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc.

"Nhơn Đạo thành thì phù hạp với Thiên Đạo vậy. Nhơn Đạo bất tu, Thiên Đạo viễn hỉ".

Như trên đây, chúng ta đã thấy: Tam Qui của Phật hiệp với Tam Bửu của Tiên cùng Tam Cang của Thánh.

Dưới đây, chúng ta sẽ thấy Ngũ Giới của Phật hiệp cùng Ngũ Hành của Tiên và Ngũ Thường của Thánh.

"Vì Ngũ Tạng hoạt động mà Ngũ Khí phải hao mòn, suy kém. Nay gặp Tam Kỳ Phổ Độ nhờ Đức Chí Tôn chỉ phép hồi quang phản chiếu cho Ngũ Khí triều thiên, tụ nơi khiếu Huyền Quang mà siêu phàm nhập Thánh. Đó là phép Ngũ Khí triều nguyên hay là Ngũ Khí triều nguơn" là vậy.

 

 

TAM QUI THƯƠNG BỘ PHÁP GIỚI

Đức Hộ Pháp giải về ý nghĩa "Xá Chữ Khí" như sau:

"Cái Xá ấy chẳng phải làm Lễ trọng Chức-sắc Hiệp Thiên-Đài từ lớn đến nhỏ, mà là Xá chữ Khí. Chữ KHÍ là nguồn cội của pháp đã biến sanh vạn vật: Phật là trước, tới Pháp là thứ, kế Tăng là tiếp theo. Cái Xá ấy là kính Đệ Tam qui. Trong Pháp ấy xuất hiện Phật-Mẫu kế tới Vạn-linh. Vì cớ cho nên Diêu-Trì Cung và Hiệp-Thiên-Đài có tình mật thiết cùng nhau về mặt căn cội Pháp để vận hành nguơn Khí tạo Vạn linh thì vị Hộ Pháp do Di-Đà xuất hiện, rồi kế vị Hộ Pháp và kế tiếp Long Thần Hộ Pháp cùng toàn bộ Pháp-giới đương điều khiển Càn Khôn vũ trụ cũng đều do nơi CHỮ KHÍ mà sanh sanh hóa hóa. Chào CHỮ KHÍ tức là chào cả Tam qui thường bộ pháp giới tức là chào mạng sanh của chúng ta, chớ chẳng phải chào HỘ-PHÁP Thập Nhị Thời quân, Thập nhị Địa chi đã xuất hiện mà đang thi-hành sứ mạng nơi Hiệp Thiên-Đài, mà chào toàn thể Vạn linh đã sanh hóa từ tạo thiên lập địa".

 

 

TAM SANH


E:Three existences.
F: Trois existences.

Tam Sanh (sinh) tức là ba con vật sống dùng để cúng tế trời đất theo phong tục xưa, là: Trâu, heo và dê. Sau này người ta đơn giản hóa việc cúng tế trong tư gia thì dùng ba món thay thế là: miếng thịt heo, hột vịt, con tôm, gọi trại đi là "tôm sên".

Đức Hộ Pháp nhắc lại lời Đức Chí Tôn đến biểu chúng ta dâng ba báu vật ấy cho Ngài, Ngài không đòi hỏi dâng cho Ngài cái gì khác. Giả tỷ như đời Thượng Cổ nhơn loại dâng cho Ngài tới sanh mạng con người, nên người ta phải giết người để làm tế vật. Sau đó thay thế mạng sống con người, nhơn loại lại dâng Tam sanh tức nhiên bò, trâu, heo và sau nữa bên Âu Châu theo Đạo Do Thái thì dâng cho Đức Chí Tôn một con chiên trắng, con chiên ấy phải trắng như tuyết mà thôi."

"Tới chút nữa, nghĩa là tinh thần loài người tiến triển đến một mức nữa, họ dùng cái vật lựa chọn quí hoá, đồng thể với sanh mạng của con người đặng dâng cho Đức Chí Tôn, tức nhiên họ dâng TAM SANH. Khi ta đã xem tế Nam Giao, từ Thượng Cổ nhà Vua dâng cho Đức Chí Tôn ba cái vật là: Trâu, heo, và dê gọi là Tam sinh".

 

 

TAM SẮC ĐẠO

三 色 道
E: Three religion colours.
F: Trois couleurs réligieuses.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Sắc: màu. Đạo: tôn giáo. Tam sắc đạo là ba màu tôn giáo: vàng, xanh, đỏ, tượng trưng Tam giáo: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo.

Đặt ba màu vàng xanh đỏ liên tiếp nhau tượng trưng Tam giáo qui nguyên.

Trên đạo phục của Chánh Trị Sự và Phó Trị Sự, nơi tay trái có mang một miếng vải 3 màu đạo gọi là Tam sắc đạo.

Miếng vải tam sắc đạo của Chánh Trị Sự có kích thước: dài 10 phân, ngang 6 phân. Miếng vải tam sắc đạo của Phó Trị Sự thì nhỏ hơn: bề dài 5 phân, bề ngang 3 phân.

 

 

TAM TAI


E: Three calamities.
F: Trois calamités.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Tai: tai họa, họa hại. Tam tai là ba tai họa, gồm: Hỏa tai, Thủy tai, Phong tai. Hỏa tai là tai họa do lửa cháy, như cháy nhà, cháy rừng.Thủy tai là tai họa do nước gây ra, như lũ lụt, sóng thần. Phong tai là tai họa do gió gây ra, như bão, lốc.

Ngoài ra còn có Tiểu Tam tai là ba thứ tai họa nhỏ, gồm: Cơ cẩn chi tai, Tật dịch tai, Đao binh tai. Cơ cẩn chi tai là tai họa do mất mùa lúa và rau. Tật dịch tai là tai họa do bịnh dịch truyền nhiễm. Đao binh tai là tai họa do chiến tranh.

Di Lạc Chơn Kinh: "Nam mô Di-Lạc Vương Bồ Tát năng cứu khổ ách, năng cứu tam tai, năng cứu tật bịnh,...."

 

 

TAM TÀI


E:Three essential elements of universe.
F: Trois éléments essentiels de l’univers.

Tam tài: Thiên-Địa-Nhân.

Kinh Phật Mẫu dạy "Lập Tam Tài định kiếp hòa căn". Tam tài trên kể xuống là: Thiên, Ðịa, Nhơn, dưới kể lên là Người, Ðất, Trời. Phật Mẫu định kiếp căn của mọi người đã sanh ở cõi trần nầy".

"Nho-Tông của chúng ta có để ba câu trọng yếu, muốn lập quốc, muốn tạo hạnh-phúc cho dân, quốc dân phải có đủ ba điều kiện: "Thiên-thời, Địa-lợi, Nhơn-hòa". Ấy vậy chúng ta kiếm thử coi trong ba điều-kiện để tạo cho dân coi có phương thế gì giải khổ cho thuận lợi hay chăng?

-Thiên-thời tức nhiên theo mạng Trời, Trời đã định cho mình tức nhiên mình phải tùng mạng Trời, tùng mạng Trời tức nhiên tùng Đạo. Thiên-thời tức nhiên là Đạo, không thể gì chối được.

- Địa-lợi là gì? Là cả thảy địa-dư toàn trong nước dân đều hiền, đất sung túc được hay chăng? Bực thượng lưu, trí-thức cần nên tưởng lại câu ấy, mà câu ấy là của ai? Quốc-Vương, Thủy-Thổ, Địa-Lợi, dầu không đặng hưởng địa-lợi nó cũng biến địa-lợi, mà phải có đạo-đức, có nhơn tài tạo mới được.

- Nhơn-hòa đặng chi? Nếu cả thảy không có hòa thì loạn lạc, hễ loạn-lạc thì có giặc-giã chiến-tranh. Chúng ta là con dân Việt-Nam có niềm tự hào về đất nước của mình, về dân-tộc của mình và nhất là về tinh thần Tín ngưỡng của mình."

Đức Hộ Pháp dạy: "Các con nên lưu ý, Đền Thánh và các kiến trúc trong hay ngoài đều tiềm ẩn Dịch Lý. Các con đã thấy rõ ba Tịnh Thất có tên:

- THIÊN Hỉ động - Trí Huệ Cung.
- NHÂN Hòa động - Vạn Pháp Cung.
- ĐỊA Linh động - Trí Giác Cung.

Người đứng giữa Trời Đất gọi là Trung Thiên, nên giáo lý Cao Đài chủ về Nhân Đạo để cứu đời là vậy".

Nhà Cách mạng Trần Cao Vân, vịnh Tam Tài như sau:

Trời đất sinh Ta có ý không,
Chưa sanh Trời đất có Ta trong.
Ta cùng Trời- Đất ba ngôi sánh,
Trời- Đất in Ta một chữ đồng.
Trời nứt ra Ta, Trời chuyển động,
Ta thay Trời mở đất mênh mông.
Trời che đất chở Ta thong thả,
Trời- Đất –Ta đây đủ hóa công.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Cộng vật-loại huyền-linh đồ nghiệp,
"Lập tam-tài định kiếp hòa căn."

 

 

TAM TẠNG KINH (Phật)

Tam Tạng Kinh là ba bộ kinh quan trọng nhứt của Phật giáo, chép lại tất cả lời thuyết pháp của Đức Phật Thích Ca trong suốt 45 năm hoằng pháp của Ngài, tạo thành một nền giáo lý và triết lý rất cao siêu của Phật giáo.

Tam Tạng Kinh gồm ba bộ:

Kinh Tạng, Luật Tạng, Luận Tạng.

Tam Tạng Kinh, tiếng Phạn: Tripitaka là 3 cái giỏ: Kinh Tạng: giỏ đựng Kinh (Sutra Pitaka), Luật Tạng: giỏ đựng Luật (Vinaya Pitaka), Luận Tạng: giỏ đựng Luận (Abhidharma Pitaka).

Đức Hộ Pháp nói: "Bần-Đạo chỉ có Cầu-nguyện với Đức Chí-Tôn cũng như hồi trước Tam-Tạng đi thỉnh kinh nơi Ấn-Độ. Ngài là người Tàu mà kinh viết tiếng Phạn, muốn dịch ra rất khó lắm, lấy cả Kinh-Luật trong tiếng Phạn đem ra rất khó cho Ngài lắm, cho nên Ngài đại nguyện: Ngài làm thế nào Ngài rán sức, Ngài âm tiếng Phạn ấy ra chữ Nho. Ngài chắc ý Ngài âm tiếng Phạn ấy chưa đúng, Ngài có hứa chừng nào mà tôi qui liễu, nếu trong Kinh-luật Đạo giáo mà tôi không minh-tả ra đặng thì khi chết cho cái lưỡi tôi đen, nếu tôi tả trọn vẹn thì cho cái lưỡi tôi đỏ. May phước Bắc-Tông được hưởng một ân-huệ của nhà Phật đã ban ân riêng cho Đức Tam-Tạng, khi Ngài chết người ta vạch lưỡi của Ngài ra coi thì lưỡi của Ngài đỏ, vì cớ mà Chơn-giáo của nhà Phật là Bắc-Tông có thể nhờ Đức Tam-Tạng đã minh-tả ra trọn vẹn.

 

 

TAM THANH


E: Three purities.
F: Three purities.

Ba màu sắc biểu tượng của Tôn giáo là Thái Thanh (vàng), Thượng Thanh (xanh), Ngọc Thanh (đỏ).

1-Phần hữu thể:

 

 

 

Đứng nhìn lên từng thứ tư nơi hai lầu Chuông- Trống của Hiệp Thiên Đài. Bên trong của từng nầy, nơi Lầu trống có đặt một cái trống lớn là Lôi-Âm-Cổ và Lầu chuông có cái chuông lớn là Bạch-Ngọc-Chung. Khi đánh chuông hay đánh trống, âm thanh vang rền truyền đi rất xa để thức tỉnh những người đang còn chìm đắm trong giấc mộng trần. Tức nhiên để độ cả những âm hồn còn ở tận cõi Phong đô. Từng này có bề cao dài nhứt, bên ngoài, phần giữa chạm hình chữ T rất lớn màu trắng có đắp hình một bó hoa lớn, màu sắc sặc sỡ, như đang rơi xuống biển dưới ánh bình minh, ba phía hông còn lại thì gắn những khung lá sách sơn xanh. Hai chữ T này là TAM THANH tức nhiên biểu hiện của Tam giáo Qui nguyên: Thái Thanh, Thượng Thanh và Ngọc Thanh, tượng trưng bằng ba màu: Vàng, Xanh, Đỏ của sắc phái qua màu sắc trang trí, hoặc phẩm phục của chức sắc Nam phái Cửu Trùng Đài.

Đàn tại nhà ông Thơ 28-6 Bính-Dần (dl 6-8-1926) Thầy dạy:

"Thầy đến đây đặng cho hội-hiệp sum vầy ba ngôi cho đoàn tụ đó, bớ mấy con! Nghĩa là: Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh đã đủ mặt ngày nay rồi, thì phải lo thi hành bổn-phận cho chóng. Bởi ngày giờ đã muộn, rán mà làm bia cho đời sau noi dấu đến bảy chục muôn năm đó con! Chớ chẳng phải là cuộc nhỏ mọn đâu con! Phải rán mà đồng công cộng sự mới đặng. Trong thì có Thầy giúp sức, ngoài thì ba con phụ lực mới thành công. Ngày hôm nay là đầu giờ khai mối Đạo. Từ đây có việc chi thì ba con phải tương thương cộng sự đặng mà điều đình Môn-đệ của ba con.!"

Tái cầu: Cái trách nhậm của ba con rất quan hệ trong việc Đạo, nhứt là Thơ, con đã hưởng chán mùi Đời, con đã đủ biết điều hay điều dở ở đời này ra làm sao! Con phải riêng nghĩ lại tiền căn mà đừng mến hồng trần, vì là chốn khổ hải đó con ơi!"

(ba Ngài Đầu Sư có mang Tịch đạo chữ "Thanh" đầu tiên là: Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh, Ngọc Trang Thanh. Sau hai Ngài Trang và Tương bỏ Tòa Thánh tách ra lập Chi phái "Ban Chỉnh Đạo - Bến Tre". Có lẽ Thầy cũng tiên tri cho biết rằng trong ba mà còn có một, mới nhắc nhở Ngài Thái Thơ Thanh như thế. Bởi trước tiên cũng đã có ba Ngài Đầu Sư nhưng mang Thánh danh có ba chữ tam bửu của Trời là Nhựt, Nguyệt, Tinh, tức nhiên là Thái Nương Tinh, Thượng Trung Nhựt, Ngọc Lịch Nguyệt).

Đức Hộ Pháp nói: "Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng bằng xác thân mà chỉ giáng bằng Huyền-diệu Cơ bút, là vì thời kỳ chuyển Đạo vô-vi hiệp Tam-thanh chấn-hưng.

Tam giáo Phục nhứt Ngũ chi nên Đức Chí-Tôn giáng bằng Huyền-diệu Cơ bút mới qui đặng cả Đại-Đồng Tam giáo.

Nguyên lai: Đức Hộ Pháp nói: "nhứt là nền Ðạo Cao Ðài nầy; là khi đã nhập vào trận Vạn Tiên, Ðức Thái Thượng thì giận Ðức Thông Thiên Giáo Chủ, Ngài biến ra Tam Bành tức nhiên là hình ảnh của Ðức Chí Tôn lập giáo ngày nay trên mặt địa cầu nầy. Thái, Thượng, Ngọc tức nhiên Tam Thanh Ứng Hóa là ba tinh thần duy chủ của nền Tôn Giáo; Thái, Thượng, Ngọc đương nhiên là Thánh Thể của Ðức Chí Tôn đó vậy. Tại sao Ðức Chí Tôn lấy nguyên căn Tam Bành trong buổi nộ khí của Ðức Thái Thượng Nguơn Thủy lập Ðạo Giáo?

Là Ðức Chí Tôn quyết định lấy cơ quan tối đại của duy tâm đánh tiêu tan duy vật, tức nhiên lấy tinh thần đạo giáo diệt tiêu Tả Ðạo Bàng Môn.

Vạn pháp qui tồn sanh chúng sản xuất ấy là cơ quan chuyển thế đó vậy. Quyết định đem vào khuôn khổ cơ quan Tạo Ðoan Chí Linh, Ðức Chí Tôn bảo thủ nguyên căn vạn linh còn tồn tại, nhứt là bảo thủ các nhơn loại toàn thể trong càn khôn vũ trụ nầy.

Ngày hôm nay toàn thể Ðạo Cao Ðài biến theo trọng yếu của nó, chúng ta tưởng tượng rằng hôm nay là ngày Ðức Chí Tôn đã tuyên chiến cùng Tả Ðạo Bàng Môn đó vậy. Tượng ảnh Ðức Thái Thượng đã quyết thắng thuyết duy vật thế ấy." (Thuyết Ðạo QIII tái bản / tr13)

Pháp Chánh Truyền:…"Thọ lịnh của Thầy mà hành pháp vì thuộc về quyền-hành của các Đấng ấy, ngày nay mới tính sao? Trong các Bí-pháp có cơ mầu nhiệm đắc Đạo, bây giờ các Đấng ấy có cho hay là không? Thảm! (cười!) nếu Lão có phương chỉnh đốn nền Đạo lại thì đặng, bằng chẳng vậy, thì không có một người đắc Pháp, Cửu-Trùng-Đài cũng đã yểm quyền Bát-Quái Đài mà chớ!. Thật vậy đó chút".

Ấy là cơ vô vi: TINH-KHÍ-THẦN hiệp nhứt, chư Hiền Hữu có biết à!

- Ngọc là Tinh -Thượng là Khí -Thái là Thần.

Nếu cả ba không hiệp thì chẳng hề thành Đạo đặng mà chớ!

Bà Đầu Sư Lâm Hương-Thanh giáng cơ, có câu:

Nam-Hải là bờ ao Thất Bửu,
Tây-ninh nền Tổ quán Tam Thanh.
Thuyền Từ trở lại lìa sông Lệ,
Nhớ Bạn chơn mây gởi tấc thành.

 

 

TAM THÁNH KÝ HÒA ƯỚC

E: The three Saints declaire theTreaty between God and Humanity.
F: Le trois Saints déclarent le Traité entre Dieu et Humanité.

 

 

 

Nơi Tịnh-Tâm-Đài của Đền Thánh (Tòa Thánh- Tây Ninh) là nơi đặt Tượng Tam Thánh đắc lịnh Đức Chí Tôn lãnh làm Thiên Sứ đến ký bản Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước thể hiện 8 chữ "Thiên Thượng - Thiên Hạ - Bác Ái - Công Bình" bút lông chim ở giữa tiêu biểu cơ tận độ kỳ ba.

Bổn phận người tu đối với Đời, đối với Đạo, đối với Trời ra thế nào?

Thầy dạy: "Ai ai, đã mang mảnh xác phàm nầy rồi thì cũng tùng theo ba cái luật thiên nhiên là: Luật Đời, luật Đạo và luật Trời. Ba luật ấy tương tợ như phù hạp với luật điều của Tam-Giáo.

- Nho Giáo dạy về Nhơn sanh,
- Đạo Giáo dạy Đạo tự nhiên,
- Phật Giáo dạy Pháp môn giải thoát kiếp sanh tử.

Tam Giáo tuy lập luận khác nhau về danh từ, về cách học, về hình thức, nhưng tựu trung tinh thần thì Tôn giáo nào cũng lấy Tâm Tánh làm căn bản học hành. Mà muốn thâm nhập vào Tâm Tánh, khám phá những lẽ huyền nhiệm của nó thì phải dùng Vô vi pháp. Đây là điểm Tam giáo đồng nhứt lý và có thể qui hợp thành một học thuyết. Cái hạnh và cái đức của các con, nó phải phù hạp với cái trách nhậm mới đặng. Các con là đèn và gương soi của nhơn loại, phải tập mình cho xứng đáng"

Hòa-Ước Thứ Ba là gì?

Đức Hộ Pháp nói: Đạo Cao-Đài xuất hiện… Ngài đến ký một bản Hòa-Ước Thứ Ba với Nhơn-Loại, vì bản Hòa-Ước Thứ Hai nhơn-loại đã phản bội, không giữ sự tín-ngưỡng của mình vì cớ cho nên thất Đạo, nhơn-loại đi trên con đường diệt vong tương tranh tự-diệt nhau. Vì lòng Bác-ái Từ-bi cho nên Đức Chí Tôn Ngài đến, Ngài ký tờ "Hòa-Ước Thứ Ba" này nữa, để nơi mặt Luật-Điều cho chúng ta. Các Đấng Thiêng-Liêng chỉ ngay Đạo Cao-Đài mà tín-ngưỡng và từ-bi cho y theo chủ pháp của mình "Dieu et Humanité" nên Trời và Người về mặt Luật Bác-Ái, về mặt Pháp Công-Bình, ngoài ra dầu Luật-Pháp muôn hình ngàn tướng cũng vẫn trong Luật Bác-Ái và Công-Bình mà thôi. Hội-Thánh Cao-Đài cũng vẫn do mặt luật vô-hình tối cao là mặt Luật Bác-Ái và Công-Bình, dẫn họ đến cảnh vô-hình tối cao tối trọng, cũng do Luật-Pháp của Đạo Cao Đài. Ngoài ra Luật Công-Bình Bác Ái tất cả còn lại là phương-pháp mà thôi". (22 tháng 11 năm Mậu-Tý dl. 22-12-1948)

Đây là Bức hình "Truyện ký Tượng Tam Thánh" đặt tại Hiệp-Thiên Đài của Đền-Thánh Toà Thánh Tây ninh. bên cạnh bức hình Tam Thánh, để giải thích về bức tranh trên. Truyện ký được viết bằng năm thứ tiếng, biểu tượng cho nền Đại-Đạo này là một nền Tân Tôn giáo của toàn cầu, cả năm Châu đều được hưởng hồng ân của Đức Thượng-Đế như nhau. Sau đây là năm thứ chữ ấy được thành Truyện Ký ấy:

TRUYỆN KÝ TƯỢNG TAM THÁNH viết 5 thứ tiếng
Tượng Ngũ Châu

1- Bản Việt-văn:

*Cụ NGUYỄN BỈNH KHIÊM: Nhà tiên tri danh tiếng lớn ở đời Mạt Lê, thi đậu Trạng nguyên, tước vị là Trình Quốc Công, tục gọi là Trạng-Trình, giáng cơ tự xưng là Thanh Sơn Đạo Sĩ, tức là Sư Phó của Bạch Vân Động.

*Cụ VICTOR HUGO: Nhà thi gia trứ danh của Pháp quốc, giáng cơ tự xưng là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức là đệ tử của Cụ Nguyễn-Bĩnh-Khiêm ở Bạch-Vân Động.

*Cụ TÔN DẬT TIÊN: Đại-cách-mạng gia nước Trung-Hoa, nhũ danh là Tôn-Văn, giáng cơ tự xưng là Trung Sơn Chơn Nhơn, tức là đệ tử Cụ Nguyễn-Bĩnh Khiêm ở Bạch Vân Động.

Ba vị Thánh-nhơn trên đây là Thiên-sứ đắc lịnh làm Hướng đạo cho nhơn loại để thực hành Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước".

2- Bản Pháp-văn:

Notice de la France des trois Saints:

1- Nguyễn-Bĩnh-Khiêm ou l’agrégé Trình Quốc Công (reconnu comme grand prophète Vietnamien) Maitre de la Loge Blanche (Bạch-Vân-Động).

2-Victor-Hugo, grand poète francais reconnu par Sapropre révélation comme un des esprits de la Loge Blanche, sous le nom de Nguyệt Tâm Chơn-Nhơn (disciple de Nguyễn-Bĩnh-Khiêm).

3- Sun-Yat-Sen (Tôn-Dật-Tiên ou Tôn-Sơn Chơn Nhơn) un des esprits de la Loge Blanche, disciple de Nguyễn Bĩnh-Khiêm).

Trois Missionnaires divins envoyés comme guides spirituels de l’Humanité pour réaliser la troisième alliance.

3- Bản Anh-Văn:

The three Saints

Signatories of the Alliance between God and Makind.

From left to right:

1-Sun-Yat-Sen ( 1866-1925) leader of the Chinese Revolution in 1911.

2-Victor-Hugo (1802- 1885) France’s famed poet full of compassion for the miserable revealing himself under the name of Chưởng-Đạo Nguyệt-Tâm Chơn-Nhơn (superinlendent of monasteries).

3- Nguyễn-Bĩnh-Khiêm (1492-1587) or Trạng Trình, Việtnamese firt poet laureate famous for his prophecies revealing himself as the master of a Heavenly Lodge named Bạch-Vân-Động (White Stanza). Victor Hugo and Sun-Yat-Sen were among his disciples.

Being entrusted with the mission of realizing the 3rd Alliance between God and Mankind (the first realized by Moses, the second by Jésus-Christ) these Saints give spiritual Guidance and assist the Caodaists in spreading the new holy doctrine.

Victor-Hugo is the spiritual chief of the foreign missions of Caodaism.

Sun-Yat-Sen is shown holding an inkstone (symbol of Chinese civilization allied to Christian civilization giving birth to Caodaist doctrine) Victor-Hugo and Trạng Trình are writing the words "God and Humanity Caodaist cult, Love and Justice (Law and Rule of doctrine) the first in French, the second in Chinese characters.

4- Bản Đức-văn:

Bericht Uber die Generwart.

Dev Drei Detlgen.

Entstehung des 3 Biindnisses zwischen Gott und der Menschheit.

Von link nach rechts

1-Sun-yat-Sen (1866-1925) Fiihrer der chinesischen Revolution.

2-Victor-Hugo (1802-1885) beriihmter Franzosischer Dichter, voll mitleid fiir die armen offenbarte sich durch den Spiritismuss unter dem name Von Chưởng-Đạo Nguyệt-Tâm Chơn-Nhơn (wahrer Glaube macht den Menschen aufrichtig).

3- Nguyễn-Bĩnh-Khiêm (1492-1587) oder Trạng Trình, Vietnamesischer ausserordentlicher Professor und Dichter, beriihmt durch seine Prophezeiugen zeigte sich ais Meister Von Bạch-Vân-Động (Weisse Himmlische Lodge) Victor-Hugo und Sun-yat-Sun ziihlter zu den anhangern Von Trạng-Trình.

Diese 3 heiligen deren mission es ist das 3Bundnis zwischen gott und der menshheit zu realisieren (die 1-realisiert durch Moise, die 2. Durch Jésus-Christ) fiihren und unterstiitzen geistig die Caodaisten in der verbreitung der neuen heiligen doktrin.

Victor-Hugo is selbst der Geistige fiihrer der fremden mission des Caodaismusses.

Das bild zeigt Sun-yat-Sen ein schreibzeug haltend (symbol der chinesischen zivilisation verbundet mit der christ lichen zivilisation,entslehung der Caodaitischen doktrin).

Victor-Hugo und Trạng-Trình schreiben die Worte "Gott und die Menschreit (Caodaistiche gotlesverehrung).

Liebe und Gerechtigkeit (gesetz und prinzip der Caodaismen) der erste in franzosisch, der zweite chinesisch.

5- Bản Hán-văn:

三聖現像傳

-阮秉謙: 公阮 洞先

VICTOR-HUGO:
:
使

Đạo Trời hôm nay được mở rộng. Đức Thượng-Đế đến với nhân loại ban cho một mối Đạo nhà, đủ quyền năng để đưa Thế giới đến ĐẠI-ĐỒNG. Đem Tình thương yêu cho tất cả: Từ con người cho đến muôn loài vạn vật đều hưởng được sự Công bình ấy. Nghĩa là chẳng những giữa người và người phải có được sự Thương yêu và công bình mà thôi, mà vớiloài vật cũng phải được hưởng sự công bình nữa, tức nhiên người không sát sanh hại vật.

Bổn phận người tu đối với Đời, đối với Đạo, đối với Trời như thế nào?

Thầy dạy: "Ai ai, đã mang mảnh xác phàm nầy rồi thì cũng tùng theo ba cái luật thiên nhiên là: Luật Đời, luật Đạo và luật Trời. Ba luật ấy tương tợ như phù hạp với luật điều của Tam-Giáo.

- Nho Giáo dạy về Nhơn sanh,
- Đạo Giáo dạy Đạo tự nhiên,
- Phật Giáo dạy Pháp môn giải thoát kiếp sanh tử.

Tam Giáo tuy lập luận khác nhau về danh từ, về cách học, về hình thức, nhưng tựu trung tinh thần thì Tôn giáo nào cũng lấy Tâm Tánh làm căn bản học hành. Mà muốn thâm nhập vào Tâm Tánh, khám phá những lẽ huyền nhiệm của nó thì phải dùng Vô vi pháp. Đây là điểm Tam giáo đồng nhứt lý và có thể qui hợp thành một học thuyết.

Cái hạnh và cái đức của các con, nó phải phù hạp với cái trách nhậm mới đặng. Các con là đèn và gương soi của nhơn loại, phải tập mình cho xứng đáng".

 

 

TAM THẬP LỤC ĐỘNG (36 Động Quỉ Vương)


E: The thirty six grottos of Satan.
F: Les trente six grottes de Satan.

Thánh ngôn: "Buổi Bạch Ngọc Kinh và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Độ, Quỉ vương đã phá khuấy chơn đạo, đến danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi..Nó lại biết Ta đến với cơ mầu nhiệm nầy nên mượn Tam thập lục Động giả làm Tam thập lục Thiên. Các tên Thần Thánh Tiên Phật đều bị mạo nhận mà lập nên Tả Đạo".

Đức Hộ Pháp nói: "Các ấn khác của Hộ Pháp có linh hay không mà quỉ lộng? Ấy là Thiên Cơ khiến vậy. Chí Tôn mở Tam Thập Lục Ðộng coi có phá nổi Ngài không? Có thể làm cho tiêu diệt nền Chánh Giáo không? Ðể cho chúng sanh thí nghiệm mà thay quyền năng vô tận của Ngài. Buổi nọ vì thời gian ngắn ngủi, nên công việc chưa rành rẽ, vì không đủ thì giờ để chuyên luyện, hoặc cho là chưa trọng hệ cho lắm, nên có điều sơ lược. Ðó là Thánh ý của Ðức Chí Tôn muốn vậy."

Đức Lý dạy: "Chư Đạo hữu nên lấy luật Đạo mà bôi xóa tên họ, trục xuất khỏi quyền hành chánh và đồng tâm cầu nguyện Đức Chí Tôn ban ơn rộng, xin phép hội với Lôi Âm Tự, trục xuất Quỉ Vương ra khỏi Tổ đình, đợi cho chư Đạo hữu làm hết phận sự, đến chừng nào chư Đạo hữu không sức kềm chế vững với lũ tà tâm, chừng chúng nó tự quyết không sửa cải, tự đem mình hiến cho tà quái, thì đó là đường cùng của Đạo, đó là ngày những nguyên nhân hữu công bỏ xác Đạo lại trọn trong cả 36 Động Quỉ Vương, lại cũng là ngày cửa Phong đô mở lớn đặng chờ rước kẻ vô đạo. Ta hồ tận chúng sanh! Bước đã lắm trờ tới rồi, còn lắm kẻ vô đạo yếu-trọng trong trách nhậm của chư Đạo hữu, nhưng Bần Đạo chẳng lẽ cạn chê, để vậy cho có cớ chư Đạo Hữu có công trình chút ít. Hộ Pháp ráng suy xét lời của Bần Đạo, sau có chi chi trắc trở thì có Thượng Phẩm giúp lời, đừng nao núng nghe! Từ đây chớ khiếp nhược nữa, chư Đạo Hữu sanh chỉ để hiến mình cho Đạo. Đạo đã nắm nơi tay, há để cho lũ tà tâm nhiễu loạn sao? Nên liệu lấy với hai đứa đó, rồi sau sẽ có phương khác, chớ lo nhọc đến ai nữa".

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Đời có thạnh có suy, Đạo định tĩnh chuyển xây. Lửa thử vàng gian-nan thử Đạo. Trong tám năm rồi, biết bao phen vẹt mây ngút thấy trời xanh, mà cũng lắm lúc xem đất bằng sóng dậy.

Thầy đã nói tiên-tri: "Chi chi qua Quí-Dậu cũng phải cho thành Đạo, mà trước khi Đạo thành thì Tam Thập Lục Động quỉ phá dữ-dội lắm, mà trừ an nội loạn rồi mới thành Thiên-cơ’’.

 

 

TAM THẬP LỤC THÁNH


E: The thirty six Saints.
F: Les trente six Saints.

(Tam thập lục 三十六 là 36. Thánh : bậc cao thượng về đạo đức tinh thần). Chỉ chung 36 vị vào hàng phẩm Phối Sư trong cơ quan Cửu Trùng Đài, đứng vào Nhơn Thánh.

Tuy Thầy dạy tạo tác quả Càn Khôn mà thật ra là chỉ rõ con đường tu để về Trời tức là Niết bàn của Phật giáo: quả thật Thầy đã bắc thang tiến tới phẩm Phối Sư có 36 tức "Tam Thập Lục Thánh" nhưng kỳ thật lại chọn trong số này ra ba vị Chánh Phối Sư để làm đầu, quyền hành rất cao trọng. chỉ còn lại 33 vị Phối Sư mà thôi. Nếu không bước vào Chánh Phối Sư thì không thế nào lên địa vị Đầu Sư được.

 

 

TAM THẬP LỤC THIÊN


E: Thirty six Heavens.
F: Trente six Cieux.

Tam thập lục thiên là 36 từng Trời.

Đức Chí-Tôn dạy: "Bát-Quái biến-hóa vô cùng, phân định Ngũ hành, Càn Khôn muôn vật. Thái-cực sanh Lưỡng Nghi tức Tam thiên-vị (ba ngôi Trời). Dưới ba ngôi ấy có Tam thập tam thiên (ba mươi ba từng trời) cộng với ba ngôi trên là ba mươi sáu từng trời, nên gọi là Tam thập lục Thiên. Trong mỗi từng Thầy chia Chơn-linh, có một vị Đại-La Thiên Đế Chưởng quản. Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: "Thượng chưởng Tam thập lục Thiên, Tam Thiên Thế Giới".

Giải: Trên soi ba sáu (36) cung Trời, Ba ngàn thế giới cũng cầm trong tay.

Trên thì chưởng quản ba mươi sáu vì Thiên Can và ba ngàn Thế Giới: Ðại Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, Tiểu Thiên Thế Giới. Ba mươi sáu Thiên Can là ba mươi sáu cõi Thiên Tào ấy là căn bản thiên nhiên, mỗi cõi có một vị Tinh Quân Chưởng quản. Ba ngàn Thế Giới là:

- Cõi Thiên Tiên một ngàn,
- Cõi Ðịa Tiên một ngàn,
- Cõi Nhơn Tiên một ngàn.

Dưới 36 tầng trời còn một tầng nữa là nhứt mạch đẳng tinh vi gọi là Niết Bàn, chín tầng là Cửu thiên khai hóa, tức là 9 phương Trời cộng với Niết Bàn là Thập Phương chư Phật".

Pháp Chánh Truyền: "Hiệp Thiên Ðài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Lục thập thất Ðịa cầu, Thập Ðiện Diêm Cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại.".

 

 

TAM THẾ PHẬT (TAM THẾ CHÍ TÔN)


E: The BrahmanistTrinity.
F: F: La Trinité Brahmaniste.

Càn Khôn vạn loại tạo ra ba ngôi Phật đầu tiên ấy là:

- Đấng Brahma Phật.
- Đấng (Shiva) Civa Phật.
- Đấng (Krishna) Christna Phật.

 

 

 

1- Brahma Phật