CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần S

 

SA

Sa Đà

Sa Đọa

Sa Trường

 

SÁCH

Sách

Sách Phụ

Sách Truyện

Sách Trường Xuân

 

SAI

Sai Lạc

Sai Suyển

Saint Pierre

 

SÃI

Sãi

 

SÁM

Sám Hối

Sám Hối Kinh

 

SÀM

Sàm Biện

Sàm Tấu

 

SAN

San Hà

 

SẢN

Sản Nghiệp

Sản Tất Viên Phương Sóc Chi Bối

 

SANG

Sang (Võ Văn Sang)

Sang (Cao Hoài Sang)

Sang Cả

Sang Đoạt

Sang Giàu

Sang Trọng

 

SÁNG

Sáng

Sáng (Trần Ngọc Sáng)

Sáng Lạng

Sáng Lập

Sáng Tạo

 

SANH

Sanh Biến

Sanh Biến Qui Hồi

Sanh Chúng

Sanh Diệt

Sanh Giã Tạo Đắc Thiện Duyên

Sanh Hoa

Sanh Hóa

Sanh Ký Tử Quy

Sanh Khí

Sanh Linh

Sanh Ly Tử Biệt

Sanh Mạng

Sanh Quang

Sanh Sanh Chi Vị Dịch

Sanh Sanh Hóa Hóa

Sanh Sanh Là Phận

Sanh Tịch

Sanh Tiền

Sanh Tồn

Sanh Tử

Sanh Tử Sự Đại, Vô Thường Tấn Tốc

Sanh Vật

 

SAO

Sao Bắc Đẩu

Sao Lục Án Tòa Tam Giáo

 

SÀO

Sào Phủ - Hứa Do

 

SÁT

Sát Mạng

Sát Na

Sát Sanh

 

SẮC

Sắc Cao Ban

Sắc Chỉ Tam Kỳ

Sắc Dân

Sắc Huỳnh

Sắc Huỳnh Chiếu

Sắc Không

Sắc Lịnh

Sắc Phái

Sắc Phục

Sắc Sảo

Sắc Tài

Sắc Tốt

Sắc Tướng Âm Thanh

Sắc Trời

 

SẮP

Sắp Thiên Phong

 

SẤM

Sấm Ký

Sấm Tiên Tri

Sấm Truyền

 

SÂN

Sân Khấu Hí Trường

Sân Ngô (Đồng)

Sân Si

Sân Trình

 

SẤP

Sấp Mình

 

SÂU

Sâu Xa

 

SẦU

Sầu Bi

 

SEN

Sen

 

SHA

Shakespeare

 

SI

Si

 

Sĩ Diện

Sĩ Khí

Sĩ Đạt Ta (Shidarta)

Sĩ Quan Cơ Thánh Vệ

Sĩ Tải

Sĩ Tải Phạm Duy Nhung

Sĩ Tải Trần Tấn Hợi

Sĩ Tải Lê Văn Chương

Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển

 

SIÊU

Siêu Đọa

Siêu Độ

Siêu Hình

Siêu Nhiên

Siêu Phàm

Siêu Phàm Nhập Thánh

Siêu Quần Xuất Chúng

Siêu Rỗi

Siêu Sanh

Siêu Thăng

Siêu Thoát

Siêu Việt

 

SINH

Sinh Lộ

Sinh Hồn

 

SO

So Đo

So Hơn Tính Thiệt

So Quyền Liệu Sức

So Sánh

So Thiệt Tính Hơn

 

SÓC

Sóc Vọng

 

SON

Son (Giáo Sư Thượng Châu Thanh)

Son Phấn

Son Sắt

 

SONG

Song Thân

Song Thủ

 

SÓNG

Sóng Sắc

Sóng Trần

 

SỐ

Số

Số Căn

Số Mạng

 

SỔ

Sổ Bộ Đạo

 

SÔI

Sôi Kinh Nấu Sử

 

SÔNG

Sông Giang Tân

Sông Hương

Sông Lệ

Sông Mê

Sông Mê Bể Khổ

Sông Mê Bến Tục

Sông Ngân

 

SỐNG

Sống - Chết

 

Sơ Giao

Sơ Hiến Lễ

Sơ Khai

Sơ Sanh

Sơ Lược

Sơ Thất

 

SỚ

Sớ Cầu Đạo

Sớ Văn

Sớ Văn Thượng Tấu

 

SỞ

Sở Bá Vương

Sở Cầu - Sở Vọng

Sở Cậy

Sở Dụng

Sở Định

Sở Hành

Sở Tại

Sở Nguyện

Sở Vọng

 

SỢI

Sợi Từ Khí

 

SỚM

Sớm Thăm Tối Viếng

 

SƠN

Sơn Hà

Sơn Lâm

Sơn Tinh - Thủy Tinh

Sơn Trân Hải Vị

Sơn Xuyên Hà Hải

 

SUẤT

Suất Sư

 

SUN

Sun Sen (Tôn Văn)

 

SUNG

Sung Túc

 

SÙNG

Sùng Bái

Sùng Thượng

Sùng Tín

 

SUY

Suy Gẫm

Suy Luận

Suy Nghiệm

Suy Sụp

Suy Vi

 

Sư Quẻ Địa Thuỷ Sư

Sư Đệ

Sư Đoàn

Sư Huynh

Sư Hư Vô

Sư Hữu

Sư Mẫu

Sư Phạm

Sư Phó

Sư Phụ

Sư Tăng

Sư Tử

 

SỨ

Sứ Mạng

 

SỬ

Sử Cương Đại Đạo

Sử Liệu

Sử Thi

Sử Xanh

 

SỰ

Sự Cao Trọng

Sự Cầu Nguyện

Sự Chết

Sự Giải Thoát

Sự Nghiệp

Sự Thế

Sự Thương Yêu

 

SỬA

Sửa Cải

Sửa Cải Chơn Truyền

Sửa Đương

Sửa Lòng

Sửa Mình

Sửa Đổi Chơn Truyền

Sửa Ngay Làm Vạy

Sửa Tánh

Sửa Tánh Tu Thân

Sửa Tánh Từ Hòa

Sửa Trau Ba Mối

Sửa Trị

Sửa Trấp Nâng Khăn

 

SỪNG

Sừng Đội Lông Mang

Sừng Sững

 

SƯU

Sưu Khảo

Sưu Tập

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 28-10-2017

 

 

 

SA ĐÀ


E: To make a false step.
F: Faire un faux pas.

Sa đà 蹉跎: Sa đà là sẩy chân vấp ngã.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Thân thể cho mạnh mẽ tinh vi, đừng để sa đà vào lục dục thì là thuận cùng trí lự khôn ngoan.

 

 

SA ĐỌA

E: To fall into the darkness.
F: Tomber dans les ténèbres.

Sa đọa là bị phạt rơi xuống chỗ tối tăm khổ sở.

Phối Thánh Màng giáng Cơ nói: "Tiếc thay cho một kiếp sanh, đã gặp Phật mà không thấy Phật thì Thiên vị lấy đâu mà định đặng? Các bạn Phạm Môn! Khá để ý cho lắm nghe! Một lời quở cũng đủ sa đọa đừng gây tội tình mà khổ đa!"

 

 

SA TRƯỜNG

(Sa: Cát; trường: bãi, là nơi chốn) là nơi bãi cát rộng thường chỉ chỗ hai bên giao tranh với nhau, sau khi đã qua rồi cuộc chiến. Đây là lời tiên tri về quốc vận của nhà cách mạng Nguyễn Trung Trực giáng Cơ:

Nhìn thấy cảnh sa trường máu đổ,
Nhìn Ngũ châu thành phố tiêu điều.
Ruộng vườn xơ xác quạnh hiu,
Đường đi vắng vẻ dập dìu thây thi.

 

 

SÁCH

Thi văn dạy Đạo:

Sách dầu muôn cuốn dạy câu lành,
Nào kẻ học cao thế gọi lanh.
Ðổi thử máy trời coi có được,
Thì Ta đổi tội dữ ra lành.

 

 

SÁCH PHỤ

策 輔
E: To offer the strategies of help.
F: Offrir les stratégies pour aider

Sách: kế hoạch, mưu chước. Phụ: giúp. Sách phụ Kế hoach trợ giúp.

Kinh Nho Giáo:

"Vương tân sách phụ, Nho tông khai hóa."

 

 

SÁCH TRUYỆN

Sách truyện 册傳: Quyển sách ghi lại những cốt truyện để dạy bảo người.

Thi văn dạy Đạo:

Sách truyện xưa ghi đã lắm điều,
Như chuông tỉnh thế gõ nên kêu.
Ðường tu ví bẳng không lo trước,
Ðền điện Lương Vương phải cháy tiêu.

 

 

SÁCH TRƯỜNG XUÂN

Sách trường-xuân 策長春: Sách lược, cách sống sao cho được tươi trẻ lâu bền.

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cung Như-Ý Lão-Quân tiếp khách,
"Hội Thánh-minh giao sách Trường-xuân.
"Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn
"Chơn hồn khoái-lạc lên đàng vọng Thiên."

 

 

SAI LẠC

E: To be wrong.
F: Être dans l’erreur.

Sai lạc: Làm sai lệch không còn như lúc ban đầu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Các con làm sai lạc bản chất, tôn chỉ của nền Thánh giáo.

 

 

SAI SUYỂN


F:
Etre dans l’erreur.

Sai-suyển 差舛: lầm lẩn, sai sót, không đúng.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Ðạo cốt yếu nhắc cho con cái Ðức Chí-Tôn để trong trí rằng: "Không giờ phút nào Chí Tôn nói gì, hứa gì với con cái của Ngài mà thất tín, thất hứa, thế nào cũng kết liễu mà thôi". Con cái của Ngài nếu đủ khôn ngoan chịu khó ôn lại Thánh-giáo của Ngài từ trước xem lại từ trương, từ lời Thánh-huấn thì hiểu ngay rằng không hề sai-suyển một mảy may nào cả. [Đêm 26-tháng giêng năm Mậu Tý (dl. 06-03-1948)]

 

 

SAINT PIERRE

Ông là một trong 12 Thánh Tông đồ của Chúa, giáng Cơ ngày 31 Decembre 1925:

Thiên đàng giữ cửa góc Trời Tây,
Truyền Ðạo cho dân biết mặt Thầy.
Cứu chuộc đã gần đôi ngàn tuổi,
Cao Ðài phú thác dắt dìu bây.

 

 

SÃI

F: Bronze.

Kinh Sám Hối có câu:

"Thêm những sãi giả nương cửa Phật,
"Của thập phương châu cấp thê nhi."

 

 

SÁM HỐI

懺 悔
F: Confession, remord.

Sám hối 懺悔: Biết tội lỗi của mình mà muốn sửa đổi.

Cao-Đài: ngày 26 Avril 1926:

"Chiêu, ngươi chẳng kiên lịnh TA, Ai kiên? TA chờ ngươi. Chiêu, ngươi chẳng thừa lịnh TA, ai thừa lịnh? TA đã nói ngươi làm đầu Tam-giáo, đã bao phen TA lập Đạo sẵn cho, ngươi chê há? TA đã sở định, ngươi dám cải:

Chuyên quyền từ đó bỏ tuồng xưa,
Nghe nịnh, nghe khen thói cũng chừa.
Sám-hối TA cho tu ít tháng.
Tài hay, tài khéo chớ đua lừa.

 

 

SÁM HỐI KINH

懺 悔 經
E:The prayer of confession.
F: La prière de confession.

Trong sách Nho, định nghĩa Sám Hối là: "Sám giả sám kỳ tiền khiên, Hối giả hối kỳ hậu quá." Nghĩa là: Sám là ăn năn lỗi trước, Hối là chừa bỏ lỗi sau.

"Sám nghĩa là ăn năn các tội trước của mình. Những tội do các nghiệp ác ngu mê, ngạo dối, ghen ghét đã tạo ra từ trước, tấtcả đều ăn năn, hằng chẳng gây lại nữa. Ấy gọi là Sám.Hối nghĩa là ăn năn các lỗi sau của mình. Những tội do các nghiệp ác ngu mê, ngạo dối, ghen ghét tạo ra, nay đã giác ngộ rồi, tất cả đều dứt bỏ đời đời, ngày sau chẳng gây ra nữa. Ấy gọi là Hối.

Các người phàm phu ngu muội chỉ biết ăn năn tội trước của mình mà chẳng biết ăn năn lỗi sau. Bởi chẳng ăn năn nên tội trước chẳng dứt, lỗi sau lại sanh. Tội trước đã chẳng dứt, lỗi sau lại sanh, thì sao gọi là Sám Hối được." (Pháp Bảo Đàn Kinh)

Sám Hối là điều rất quí báu và cần thiết trong việc tu thân, sửa mình cho càng ngày càng thêm tốt đẹp.

Kinh Sám Hối là bài kinh diễn tả những lỗi lầm của con người thường mắc phải và những hình phạt chờ sẵn nơi cõi Địa ngục để hành hình những người làm các điều lầm lỗi ấy, để con người biết mà chừa lỗi.

Hội Thánh có dặn rằng: "Kinh Sám Hối để tụng vào ngày Sóc Vọng, còn ngày thường lỡ có lầm lỗi điều chi thì tụng mà xin tội." Kinh Sám Hối khi xưa được gọi là Kinh Nhơn Quả.

Kinh Sám Hối gồm 444 câu thơ song thất lục bát, được các Đấng Tiên, Phật giáng cơ ban cho Minh Lý Đạo (TamTông Miếu). Hội Thánh thỉnh kinh nầy về làm kinh của ĐĐTKPĐ.

Ông Âu Minh Chánh, Đạo trưởng của Minh Lý Đạo, thuật lại việc tiếp Kinh Sám Hối như sau:

"Một khi kia, đến cầu kinh giùm một người bằng hữu thọ bịnh tại Thủ Thiêm, có Đức Thái Thượng Lão Quân giáng xuống mà cho một khoản đầu Kinh Sám Hối.

Sau đó lần lần, mỗi khi cúng, có Tam giáo Đạo chủ hoặc là chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, hoặc là Thập Điện Minh Vương giáng đàn cho tiếp Kinh Sám Hối.

Cũng tưởng rằng Thần Tiên cho Kinh đó đặng làm phước giúp người mà thôi, không dè Đức Văn Tuyên Vương giáng dạy chúng tôi phải kiếm một cảnh chùa đặng ngày Sóc Vọng đến đó dâng hương và Sám Hối."

Ông Thơ ký thất của Minh Lý Đạo (Tam Tông Miếu) cho biết chi tiết việc tiếp Kinh như sau:

"Các Đấng giáng cho Kinh Sám Hối (KSH):bắt đầu từ ngày Chúa nhựt 27-3-Ất Sửu (dl 19-4-1925) cho đến ngày Thứ bảy 6-10-Ất Sửu (dl 21-11-1925).

Lịch trình các Đấng giáng cơ cho Kinh như sau:

• Chúa nhựt 19-4-1925 (âl 27-3-Ất Sửu), Đức Thái Thượng Lão Quân giáng cho 24 câu đầu, từ Câu 1 đến Câu 24:

C.1: Cuộc danh lợi là phần thưởng quí.
C.24: Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.

• Ngày 22-4-1925, Đức Thái Thượng Lão Quân giáng cho tiếp từ Câu 25 đến Câu 52:

C.25: Nếu vội trách người trên thì đọa.
C.52: Nước nguồn cây cội mới là tu mi.

• Ngày 26-4-1925, Đức Quan Âm Bồ Tát giáng cho tiếp, từ Câu 53 đến Câu 64:

C.53: Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết.
C.64 Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

• Ngày 5-5-1925, Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cho kinh tiếp, từ Câu 65 đến Câu 72:

C.65: Người tai mắt đạo nhà khá giữ.
C.72: Gồm bao nâng đỡ ruột rà thương nhau.

• Ngày 22-5-1925, Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cho tiếp, từ Câu 73 đến Câu 88:

C.73: Người trung trực lo âu việc nước,
C.88: Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.

• Tiếp theo là Đức Nhiên Đăng Cổ Phật giáng cho tiếp từ Câu 89 đến Câu 100:

C.89: Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại.
C.100: Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

• Tiếp theo là Đức Quan Âm Bồ Tát giáng cho tiếp, từ Câu 101 đến Câu 124:

C.101: Chừa thói xấu đảo điên trong dạ.
C.124: Ra tay tế độ, ấy thì lòng nhơn.

• Ngày 2-6-1925, Đức Tây Ba Đế Quân giáng cho kinh tiếp, từ Câu 125 đến Câu 148:

C.125: Thương đồng loại cũng hơn thí bạc.
C.148: Rủi cho gặp lúc long đong chẳng sờn.

• Ngày 24-6-1925, Đức Quan Âm Bồ Tát giáng cho kinh tiếp, từ Câu 149 đến Câu 160:

C.149: Hễ biết nghĩa thọ ân chẳng bội.
C.160: Lường cân tráo đấu, dối tu cúng chùa.

• Ngày 4-7-1925, Đức Địa Tạng Bồ Tát cho tiếp từ Câu 161 đến Câu 212:

C.161: Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy.
C.212: Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.

• Ngày 20-7-1925, Đức Khổng Phu Tử giáng cơ cho tiếp Kinh Sám Hối từ Câu 213 đến Câu 284:

C.213: Chớ kiếm thế gọi ngoan xảo trá.
C.284: Khai ra bán mắc, Trời nào dung cho.

• Ngày 8-8-1925, Đức Địa Tạng Bồ Tát giáng cho tiếp, từ Câu 285 đến Câu 308:

C.285: Ơn trợ giúp khá lo đền báo.
C.308: Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

• Ngày 25-8-1925, Tề Thiên Đại Thánh giáng cơ cho kinh tiếp từ Câu 309 đến Câu 356:

C.309: Miền âm cảnh nhiều thay hình lạ.
C.356: Đo gian đong thiếu, Thánh Thần chẳng kiêng.

• Ngày 29-8-1925, Thập Điện Minh Vương giáng cơ cho kinh tiếp từ Câu 357 đến Câu 376:

C.357: Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại.
C376: Vì chưng hung bạo đốt nhà bắn săn.

• Ngày 1-9-1925, Đức Lữ Tổ giáng cơ cho tiếp từ Câu 377 đến Câu 392:

C.377: Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu.
C.392: Lâu mau nặng nhẹ chịu mang tội nầy.

• Ngày 21-9-1925, Đức Alfred Aya giáng cho tiếp Kinh Sám Hối từ Câu 393 đến Câu 424:

C.393: Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa.
C.424: Bày ra thuộc độc phá thai tuyệt loài.

• Ngày 21-10-1925, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát giáng cho tiếp từ Câu 425 đến 440:

C.425: Người ở thế mấy ai khỏi lỗi.
C.440: E không hiểu thấu diễn ra ích gì.

• Ngày thứ bảy 21-11-1925 (âl 6-10-Ất Sửu), Đức Vân Trung Tử giáng cơ cho 4 câu chót, dứt Kinh Sám Hối:

C.441:

Chớ buông tiếng thị phi khinh dể,
Ráng làm lành phước để cháu con.
Làm người nhơn nghĩa giữ tròn,

C.444:

Muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa.

Ngay sau khi hết Kinh Sám Hối, Đức Đông Phương Lão Tổ (một biệt hiệu của Đức Thái Thượng Lão Quân) giáng cơ tiếp cho Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối. Ấy là trọn vẹn.

Tính từ ngày khởi cho Kinh Sám Hối (19-4-1925) cho đến ngày cho dứt Kinh Sám Hối (21-11-1925), chúng ta thấy thời gian kéo dài hơn 7 tháng.

 

 

SÀM BIỆN

讒 辯
E: To calumniate.
F: Calomnier.

Sàm biện là luận bàn không đúng làm gây hoang mang cho kẻ khác, nói ra nói vào một cách không ý-thức.

Thầy dạy:Thứ tư, 24-11-1926 (âl 20-10-Bính Dần)

"Thầy nghĩ lại việc hôm nọ tại Thánh Thất biến ra một trường Tà quái mà Thầy bắt đau lòng đó các con. Các con thiết nghĩ lẽ nào?.Ðó là bước Ðạo, đó là Thiên cơ. Các con hiểu sao được, nhưng Thầy buồn vì nỗi có nhiều đứa sàm biện về việc ấy. Thầy cũng muốn phạt chúng nó một cách nặng nề, nhưng Thầy nghĩ lại mà thương đó chút. Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế. Bởi bước Ðạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đỗi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quí, mê chữ vinh sang mà ngán đạo. Các con hiểu, Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi. Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn".

 

 

SÀM TẤU


E: To calumniate before the dignitary.
F: Calomnier devant le dignitaire.

Sàm: Gièm pha, nói xấu, phao vu. Tấu: tâu, trình bày với vua. Sàm tấu là lời tâu cáo của đứa gian thần nói xấu người trung lương chánh trực để hãm hại.

Thánh Ngôn Hệp Tuyển:

Nào tật đồ hiền tài, hữu thỉ vô chung, nghe lời sàm tấu.

 

 

SAN HÀ

San hà 山河: Núi và sông.

Thi văn dạy đạo có câu:

Ly kỳ cảnh vật cao nhơn thưởng,
Ðáo để san hà thượng khách ca.

 

 

SẢN NGHIỆP

產 業
F: Propriété, fortune, biens.

Sản nghiệp 產業: Tài sản và của cải.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện để rước ngoại bang,
Phước Thiện sản nghiệp bảo toàn thế gian.
Phước Thiện gầy dựng giang san,
Cả chư vạn quốc đồng sang phục tùng.

 

 

SẢN TẤT VIÊN PHƯƠNG SÓC CHI BỐI

(Câu kinh này trong bài Kinh Tiên Giáo)

(Sản: sanh ra, sản xuất. Chi: Tiếng đệm. Bối: Bọn. Tất Viên: Tất là cây sơn, nhựa của nó dùng làm sơn mài, Viên là cái vườn. Tất Viên là cái vườn cây sơn. Từ ngữ nầy sau đó biến thành địa danh của vùng đất có Vườn sơn). Ông Trang Tử được bổ làm một chức quan nhỏ tại Cổ Thành Tất Viên, thuộc ấp Mông nước Tống; người ta gọi Ông là Tất Viên Lại, vì thế Ông lấy chữ Tất Viên làm hiệu. Vậy, Tất Viên là tên hiệu của Ông Trang Tử. (Phương Sóc: Ông Ðông Phương Sóc, một vị Tiên thời vua Hán Võ Ðế bên Tàu.

Thời này đã sản xuất ra các Ông Trang Tử và Ðông Phương Sóc. Hai vị nầy học theo giáo lý của Ðức Lão Tử mà tu luyện thành Tiên. Sau đây là sơ lược Tiểu sử của Trang Tử và Ðông Phương Sóc:

TRANG TỬ: tên là Trang Châu (Chu), tự là Tử Hưu, người ở ấp Mông nước Tống. Năm sanh của Ông khoản vào năm thứ 7 đời vua Châu Liệt Vương (369 trước Tây lịch) và năm mất lối năm thứ 29 đời vua Châu Noãn Vương (288 trước Tây lịch), Trang Tử thọ 82 tuổi.

Theo sách Kim Cổ Kỳ Quan của Bảo Ung: Trang Tử thường ngủ ngày, mơ thấy hóa thành bướm, bay nhởn nhơ trong vườn hoa thơm cỏ lạ, lòng rất vui thích, khi tỉnh dậy vẫn còn thấy như ở vai có hai cánh chuyển động. Trang sinh lấy làm lạ và lâu lâu thì lại nằm mơ như thế, nên khi nói về Ngài là

"Trang Chu hóa bướm".

Một hôm, Trang sinh đang ngồi trong phòng học nghe Ðức Lão Tử giảng Kinh Dịch. Khi giảng kinh xong, Trang sinh bèn đem giấc mơ hỏi Thầy là Lão Tử. Ðức Lão Tử là vị Ðại Thánh, biết được lai lịch tiền kiếp, nói cho Trang sinh biết: Trang sinh vốn là một con bướm trắng trong khi Hỗn Ðộn mới phân: Trời sanh nước, nước sanh cây, cây tươi hóa thành con bướm trắng hút tinh chất của trăm hoa, đoạt được tư chất của trăng sao, nên được trường sanh bất tử, cánh lớn như bánh xe, sau bay qua Cung Diêu Trì, hút trộm nhụy hoa Bàn Ðào, bị con chim Thanh loan giữ Vườn Ðào của Tây Vương Mẫu mổ chết. Hồn bướm thác sanh xuống trần là Trang Châu.

Vì Trang Châu có căn trí khác phàm, đạo tâm kiên cố, thờ Ðức Lão Tử làm thầy, học theo Ðạo Tiên, nay được thầy chỉ rõ tiền căn, như mộng mới tỉnh, tự thấy hai nách sanh gió, mường tượng như bướm vỗ cánh bay, nên coi sự được mất, nhục vinh ở cõi đời nầy như nước chảy mây trôi, không quan tâm đến nữa. Ðức Lão Tử biết Trang sinh đã giác ngộ, nên đem bí quyết của Ðạo Ðức Kinh truyền cho. Trang sinh chuyên cần tu tập, bèn được phép phân thân ẩn mình, xuất thần biến hóa. Từ đó, Trang Châu phế bỏ việc đời, từ biệt Ðức Lão Tử, đi chu du sơn thủy, xưng là Trang Tử. Sau, Trang Tử đi ẩn cư tại núi Nam Hoa, viết ra sách đề là Nam Hoa Kinh, cũng gọi là sách Trang Tử, xiển dương Ðạo Lão. Bộ sách nầy rất hay, được truyền lại đến ngày nay.

ÐÔNG PHƯƠNG SÓC: Sanh vào đời vua Hán Võ Ðế, tu theo Ðạo, có lời rằng: Ông Ðông Phương Sóc muốn đi tu, xảy gặp một vị Tiên xưng là Huỳnh My Lão Tổ. Sóc hỏi:

- Chẳng hay Ðại Tiên được bao nhiêu tuổi?

Ông Tiên đáp: Mỗi 3000 năm ta phản cốt rửa mỡ một lần, 3000 năm ta thay da một lần, 3000 năm ta thay xương một lần. Cộng chung ta đã hớp khí trời được 9000 năm.

Sóc nghe vậy liền xin thọ giáo đi tu và sau đó đắc đạo thành Tiên. Ông Ðông Phương Sóc có luyện được một lá Bàn Ðào dùng làm phép ẩn thân hay lắm. Ông có viết một quyển sách đặt tên là Thần Dị Kinh, thuật lại những việc lạ thường ở ngoài Ðịa Cầu 68 của chúng ta và những chuyện lạ ở Bắc Câu Lư Châu. Ông là Tổ Sư Tán Tiên, có giáng cơ cho nhiều bài thi rất tức cười, nên được tặng danh hiệu là Thần linh trào phúng.

 

 

SANG (VÕ VĂN SANG) (Tên)

Đây là một trong số 12 Môn đệ đầu tiên của Đấng Chí Tôn, lại có trùng hai tên SANG trong câu thi "BẢN, đạo khai SANG, QUÍ, GIẢNG thành" hoá ra ông Võ văn Sang là người thứ 13, trùng tên với ông Cao-Hoài-Sang (Thượng Sanh)

Cách đây ít ngày, Đức Thượng Đế giáng cơ dạy mấy ông: Trung, Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức phải hiệp với ông Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo.

Ngài lại dạy rằng, mỗi mỗi phải do nơi ông Chiêu là Anh Cả. Lúc nầy trong Đạo kể được 13 người: 

1-Ngô Văn Chiêu

 

2-Lê Văn Trung

 

3-Vương Quan Kỳ

4-Nguyễn Văn Hoài

 

5-Đoàn Văn Bản

 

6-Võ Văn Sang

7-Lê Văn Giảng

 

8-Lý Trọng Quí

 

9-Cao Quỳnh Cư

10-Phạm Công Tắc

 

11-Cao Hoài Sang

 

 

12-Nguyễn Trung Hậu

 

13-Trương Hữu Đức.

 

 

 Đến đêm 30 tháng chạp năm Ất Sửu (dl: 12-2-1926), Đấng Thượng Đế giáng cơ cho mỗi người một bài thi Đêm nay, hai ông Trương Hữu Đức và Cao Hoài Sang vắng mặt, thế nên hai vị này Đức Thượng Đế không cho Thi.

- Bài thi cho ông Võ Văn Sang:

Tân dân hỷ kiến đắc Tân niên,
Phổ Độ Tam Kỳ bá thế hiền.
Nhứt tịnh chủ tâm chơn đạo lý,
Thăng Thiên huợt địa chỉ như Thiên.

 

 

SANG (CAO HOÀI SANG) (Tên)

Sau đắc phong Thượng Sanh Hiệp-Thiên-Đài.

Đêm 30 tháng chạp năm Ất Sửu (dl 12-2-1926), Đấng Thượng Đế giáng Cơ cho mỗi người một bài thi. Đêm nay, hai ông Trương Hữu Đức và Cao Hoài Sang vắng mặt, thế nên hai vị này Đức Thượng Đế không cho Thi. Dù bài thi chung có tên "BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành".

Từ lúc chấm dứt việc Xây bàn thay vào phò cơ thì hai Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc làm đồng tử, nên tất cả những bài từ trước của các Đấng giáng cho đều do cặp cơ nguyên thủy này viết ra. Vì vậy, Ngài Cao Hoài Sang thấy mình hơi thừa, rồi lần lần ít chịu đi hầu Đàn. Các Ngài mới xin với Đấng Cao Đài để lời dạy bảo. Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng rằng: "Nó thật thà, vả lại nó còn mang xác phàm. Ai dưới thế này đặng trọn vẹn, các con chỉ cho Thầy coi?"

Buổi đầu, Ngài Cao Hoài Sang (Thượng Sanh) thường ít đi hầu Đàn vì không tin. Một hôm xây bàn, Ngài Cao Quỳnh Diêu thưa với chơn linh cụ Cao Hoài Ân (thân sinh Ngài Cao Hoài Sang) rằng "Anh đề thi mà khuyên dạy nó (ông Diêu là chú ông Sang) và lấy vận voi, mòi, còi, roi, thoi của bài Tứ Thứ qui Tào họa lại". Chơn linh cụ Ân cho thi:

                        THI

Thuyền khơi gió ngược khá nương voi,
Vận thới hầu nên đã thấy mòi.
Vườn cúc hôm nay muôn cụm nở,
Rừng tòng buổi trước một cây còi.
Hồng nương dặm gió chi sờn cánh,
Ngựa ruỗi đường hòa khá nhọc roi.
Nín nằm chờ qua cơn bỉ cực
Thìn lòng chứng có lượn đôi thoi.

 

 

SANG CẢ

E: Noble.
F: Noble.

Sang cả: Giàu có, quí phái.

Kinh Sám Hối có câu:

"Người sang cả là vì duyên trước,
"Kẻ không phần luống ước cầu may."

 

 

SANG ĐOẠT

抢 奪
F:Déposséder, piller.

Sang đoạt 抢奪: Cướp giựt, tranh lấy.

Đức Hộ-Pháp trả lời thơ cho Thượng Tương Thanh tại Toà-Thánh Tây ninh ngày 27 Janvier 1935 về bức thơ buộc:

"Trách-nhiệm của Bần-Đạo là cầm Cân Công-Bình buộc kẻ ấy phải giữ y theo lời tự nguyện mà thôi. Bần Đạo chỉ biết có luật Đạo chớ không hề biết đến cá-nhân. Tình đồng Đạo là tình Đồng Đạo, còn Luật pháp là Luật pháp. Bần Đạo không vì đồng đạo mà quên Luật pháp được, huống chi người đã ra công khó khai phá Toà-Thánh là Bần-Đạo đây mà Bần-Đạo chưa hề kể đến công. Còn người lo vay mà mua đất cho Đạo là Quyền Đầu-Sư Thái Thơ Thanh mà Người cũng chưa hề nhắc đến của. Còn Đạo Huynh chỉ là Người của Đạo tạm mượn cái tên đặng đứng Bộ đất giùm cho Đạo đặng đối phó cùng Đời mà thôi. Còn lại ra Châu-tri cho hay rằng: Đạo huynh vẫn làm chủ đất, thì bên nào là người sang đoạt của Đạo? Là của Vạn linh, Là của chung?"

 

 

SANG GIÀU

F: noble et riche.

Kinh Sám Hối có câu:

"Sang giàu chẳng khác như mây,
"Khi tan khi hiệp đổi xây không chừng."

 

 

SANG TRỌNG

F:Comblé d’honneurs; luxueux.

Đức Hộ-Pháp nói: "Hôm nay là 18 tháng 2 âm lịch là ngày Vía Đức Quan Âm Bồ Tát, Bần Đạo đã thường nói nơi cửa Thiêng liêng Hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng hơn hết".

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Lợi nhỏ đừng quên bỏ nghĩa to,
Chưa nên sang trọng Ðạo không lo.
Ðức kia ví đặng đầy nồi gạo,
Ăn mãn đời con cũng đủ no.

 

 

SÁNG


F: Establir, créer.

Sáng : Làm ra đầu tiên, xây dựng nên.
Td: Sáng lập, Sáng tạo.

 

 

SÁNG [Trần Ngọc Sáng (1888-1980)] (Tên)

Tên của vị Đầu sư Thượng Sáng Thanh. Thế danh là Trần Ngọc Sáng, sanh năm 1888 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho, người quốc tịch Việt Nam. Nhập môn ngày 16 tháng 11 năm Bính Dần (1926) tại chùa Gò Kén, Tây Ninh. Sau ngày nhập môn tùng giáo, Ngài giữ trọn phận sự Tín đồ Đại Đạo, xứng đáng là Môn đệ yêu dấu của Đấng Chí Tôn. Đây, bài Thài hiến lễ Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh:

SÁNG đèn cánh bướm phải điêu tàn,
Phải biết gần quan mới hiểu quan.
Thinh thế mượn con tua trả lại,
Thử chơn danh mối Đạo tìm đàng.

Bài thi bốn câu nầy là của Đức Chí Tôn ban cho Ngài Đầu Sư vào năm Bính-Dần khi Chí Tôn thâu nhận Ngài làm Môn đệ, nay lấy bài thi nầy làm bài thài hiến lễ cho Ngài.

(Xem: Đầu sư Thượng Sáng Thanh. Vần Đ)

 

 

SÁNG LẠNG

粲 爛
F:Brillant.

Sáng lạng 粲爛: Rực-rỡ, sáng sủa, huy hoàng.

Cúng Tứ Thời được Phật Quan Âm dạy (TNII / 89):

Các Em phải lo cúng kiếng thường:

1- Một là tập cho Chơn-thần được gần-gũi với các Đấng thiêng liêng cho đặng sáng lạng.

2- Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các Em và cả chúng sanh.

3- Ba là có tế-lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự-nhiên.

4- Bốn là tâm có cảm thì lòng Bác-Ái mới mở rộng mà nhứt là khiếu lương tri, lương-năng của các Em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ. Các Em nhớ à!"

 

 

SÁNG LẬP


E: To found.
F: Fonder.

Sáng lập 創立: Trước tiên gây nên, lập nên, làm ra.

Td: trường nữ "Gia-Long" hay còn gọi là trường "Áo tím" có đầu tiên ở Sài-Gòn là do Ông Lê Văn Trung sáng lập.

 

 

SÁNG TẠO

創 造
F: Créer, inventer.

Sáng tạo 創造: tự làm ra (Cái mới mẻ dựng lên đầu tiên do sức suy nghĩ và kinh nghiệm của chính mình, không hề mô phỏng bất cứ một khuôn mẫu nào, cũng không dựa vào bất cứ một sự vật nào).

Thầy dạy: "Các con đều có Chức sắc lớn hay nhỏ đều thọ Thiên phong nơi Thầy. Cứ giữ phẩm vị các con nhưng có một điều yếu thiết là cầu các con lập nhiều công quả nơi trường Thầy sáng tạo cho khỏi phế hủy nửa chừng. Các con khá gìn luật lệ cho tới ngày Thầy lập thành Tân Luật. Thành cùng chẳng thành cũng do nơi Thầy. Đương lúc đầu Thầy khai Đạo thì Luật pháp rẻ rúng đặng dụ kẻ biếng nhác. Các con đừng phế phận".

 

 

SANH BIẾN


E: To transform and create.
F: Transformer et créer.

Sanh: Sanh ra, sống. Biến: thay đổi. Sanh biến tức là sanh ra và biến đổi.

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu

"Vùng thoại-khí bát hồn vận-chuyển,
"Tạo-Hóa-Thiên sanh biến vô cùng."

 

 

SANH BIẾN QUI HỒI

"Hễ có động có tịnh ắt có cơ sanh hóa, động thì sanh biến mà tịnh qui hồi. Luật sanh biến qui hồi ấy chuyển luân bất tận nhưng vạn-vật vẫn tiến mãi thôi, vật nào không tiến nỗi ắt để cho ngừng chớ Càn-khôn không cho phép thoái, nếu thoái hết là tiêu-diệt hết rồi còn gì".

 

 

SANH CHÚNG

Sanh chúng 生眾: Là những bạn đồng sanh với chúng ta trên trái đất này.

Kinh Khi Ăn Cơm Rồi có câu:

"Trên theo pháp-luật Đạo Trời,
"Dưới thương sanh chúng một lời đinh-ninh."

 

 

SANH DIỆT


E: To be born and annihilate.
F: Être né et anéantir.

Sanh diệt 生滅: Sanh ra và mất đi, sinh tử.

Hễ có sanh ắt phải có diệt, diệt rồi lại được sanh ra với một hình thể khác. Sanh diệt cứ thế luân chuyển trong vòng vật chất nơi cõi trần, nên gọi là luân hồi.

Khi nào không sanh thì đương nhiên không có diệt, như thế là thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.

 

 

SANH GIẢ TẠO ĐẮC THIỆN DUYÊN

生者

Đây là đôi câu đối liễn đặt tại Khách đình Tòa-Thánh:

-

Sanh giã tạo đắc thiện duyên.

-

Tử giã thoát ly quả kiếp.

Đôi liễn nầy đặt tại cửa của Khách đình Tòa Thánh Tây Ninh có nghĩa rằng: (Sanh: sống. Giả: (thì…) Lời phân biệt, trong câu văn có chữ "giả" là để phân biệt chỗ cách nhau. Tạo: làm ra. Đắc: được. Thiện duyên: duyên lành, cái duyên tốt đẹp may mắn do nghiệp lành đem lại).

Sống thì phải tạo được duyên lành. Ý nói là khi sống thì phải làm lành để tạo được duyên lành, mới hưởng quả lành về sau.

(Tử là chết. Thoát ly là lìa khỏi, thoát ra khỏi. Quả kiếp cái kết quả là giàu sang hay nghèo khổ thể hiện ra trong kiếp sống hiện tại có nguyên do là những việc làm thiện hay ác trong kiếp sống trước, nay kiếp sống nầy nó báo đáp lại theo đúng luật Nhân quả).

Nếu kiếp trước mình làm nhiều việc phước thiện (nhân lành) thì kiếp nầy mình hưởng được quả lành, tức là được giàu sang sung sướng. Vậy toàn ý nghĩa là: Chết thì thoát ly khỏi các nghiệp quả của kiếp sống.

Muốn thoát khỏi các nghiệp quả trong kiếp sống hiện tại, để được rước về cõi Thiêng liêng, thì trong lúc còn sống khỏe mạnh, phải lo làm lành, lập công quả, tô bồi phước đức, kiên nhẫn trả hết các món nợ oan nghiệt cũ và nhứt định không gây ra các mối oan nghiệt mới, tức là phải nhập môn vào cửa đạo lo tu hành.

Đức Thượng Phẩm nói về "Sự chết của thế là gì?"

"Hễ chết tại thế là sanh tại Thiêng liêng; chết tại Thiêng liêng là sanh tại thế, vì hai đường khác nhau, nghĩa là có vô vi phải khuất hữu hình, mà có hữu hình phải khuất vô vi. Bần Đạo tỷ cho dễ hiểu là như mấy người giờ này ở tại Tây Ninh thì không thế nào có tại Sai gòn cho đặng, mà muốn có tại Sài-gòn thì chắc không thể ở tại Tây Ninh. Vậy thì cả nhơn sanh chỉ có biết sanh không có biết tử."

Lời của Đức Hộ-Pháp: "Chúng ta thấy các nền Tôn Giáo đương nhiên bây giờ có nền Tôn Giáo nào phụng sự cho chúng sanh không? Có nền Tôn Giáo nào làm tôi tớ cho chúng sanh đặng giải khổ cho chúng sanh hay chăng? Quan sát coi. Chưa có! Chúng ta ngó thấy chúng ta có một điều tức cười hơn hết là họ ngồi gõ mõ đánh chuông mà họ nói giải khổ cho chúng sanh. Sanh trước cái đã, là mực thước đi từ khuôn khổ của nó nếu nói phi lý không quan sát được, không thể công nhận được, nhưng đương nhiên chúng ta đã thấy gì? Bần Đạo đã thuyết kỳ rồi cái pháp luật của thiên hạ là họ đã xu hướng theo "Tứ Diệu Đề" của Đức Phật Thích Ca, họ giong ruổi theo Tứ Diệu Đề để giải khổ cho chúng sanh là: Sanh, Lão, Bịnh, Tử. Họ thi hành trong khuôn khổ quyền pháp của họ mà thôi".

 

 

SANH HOA

Sanh hoa là đóa hoa tươi tốt được sanh hóa ra để định sanh mạng của mỗi con người khi xuống thế gian này. Nếu kiếp sanh này mà hồn biết làm điều thiện thì hoa tươi đẹp, làm chuyện ác thì hoa úa héo. Khi hồn sắp qui hồi thì hoa rụng để Mẹ Diêu Trì biết con đang về. Nhứt Nương có bổn phận giữ vườn hoa Ngạn Uyển.

Nhứt Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ngày 12-12-1934:

"Phận sự Ngạn Uyển Chưởng Hồn không giờ nào rảnh đặng đến mà trò chuyện cùng mấy anh cho thỏa tình hoài vọng. Ngạn Uyển Chưởng Hồn nghĩa là vườn Ngạn Uyển trồng hoa; mỗi hoa là một chơn hồn của các kẻ Nguyên Nhân, thạnh, suy, thăng, đọa chi cũng do nơi khối sanh hoa ấy mà định sanh mạng của mỗi người nên phải chăm nom từ buổi".

Kinh Đệ Nhứt Cửu có câu:

"Vườn Ngạn-Uyển sanh hoa đã héo,
"Khối hình hài phải chịu rã tan.
"Bảy dây oan nghiệt hết ràng,
"Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương."

 

 

SANH HÓA


E: To create.
F: Créer.

Sanh hóa 生化: Sinh thành và hóa dục (Sinh ra, nuôi dưỡng và giáo hóa).

"Một chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong càn khôn thế giái nên chi các con là Thầy, Thầy là các con." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Trang 30-Q.1)

Kinh Hôn Phối:

"Cơ sanh hóa Càn Khôn đào tạo,
"Do âm dương hiệp đạo biến thiên."

Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị có câu:

"Ơn cha sanh hóa ra thân,
"Ơn thầy huấn giáo cũng gần như nhau."

 

 

SANH KÝ TỬ QUI

(Sanh ký: sống gửi, sống nhờ; Tử quy: Thác hay là chết là lúc trở về) luật tạo hóa hễ có sinh thì có diệt, có sống thì có chết nên gọi là Sống gửi thác về "hữu hình hữu họai", tức nhiên cõi đời này không thường tại Chúng sanh đến thế này để học hỏi cho tấn hóa, khi nào mãn hạn căn số kiếp thì trở về ấy là nếu như người thì bỏ xác thúi hôi này để trở về với hư vô. Bởi vì thế gian là một cõi tạm bợ, ví như quán trọ bên đường để cho khách trần gửi thân nghỉ tạm, sau đó từ giã ra đi, chớ không phải là nơi ở mãi đặng. Còn thác lại trở về, là trở về nơi cố hương Hằng sống của Chơn linh, tức là về với nguồn cội Đại Linh quang Thượng Đế, là nơi yên nghỉ an toàn và là quê hương đẹp đẽ nhất cho những khách trần đã viễn du bao nhiêu kiếp luân hồi sinh tử trên khắp nẻo đường đời đầy gió bụi.

 

 

SANH KHÍ


E: Vital breath.
F: Souffle vital.

Sanh khí là chất khí nuôi dưỡng sự sống, nên cũng gọi là dưỡng khí, Khoa hoc gọi khí ấy là Oxygène có nhiều trong không khí.

Đức Hộ-Pháp nói: "Loài thú, ta thấy hiển nhiên mới sanh ra tuy mắt còn nhắm híp mà vẫn tìm vú mẹ để sống, đến cỏ cây hễ sanh ra thì biết trải lá hứng sương tuyết, hấp thụ cái sanh khí mà nuôi sự sống, một vật có điểm linh quang ấy như thế khối linh quang ấy là Cha vậy".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mà làm cho sanh khí nơi phổi chẳng đủ ngày giờ nhuận huyết tinh sạch cho đặng.

 

 

SANH LINH

生 靈
E: Living beings.
F: Êtres vivants.

Sanh: Sanh ra, sống. Linh: linh hồn. Sanh linh là tất cả những linh hồn đang sống nơi cõi trần, tức là những người đang sống nơi cõi trần.

Thầy dạy: Ngày 11-12-1926 (âl 7-11-Bính Dần).

"Ngày vui vẻ của sanh linh đã mòn, họa Thiên điều đã cận, Càn khôn Thế giới còn đeo đuổi, dụng thất đức vô nhân mà gieo thảm chất sầu trong nhân loại. Họa Âu tai Á sẽ lần lần thay phiên nhau, dụng luật Thiên đình mà diệt phạt người vô đạo. Càn khôn cũng vì đó mà phải điên đảo. Thầy lấy đức háo sanh mở Ðạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần, tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt. Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị Tà yêu cám dỗ."

Thuộc Nhiêu, 19-6-1927 (âl 20-5-Đinh Mão).

"Thầy để lời cho các Môn đệ ở đây biết rằng: Nguồn Đạo nơi đây còn chưa phổ thông thạnh hành như mấy chỗ khác là vì phần nhiều môn đệ chưa để hết tấc thành vào nền Đạo và độ rỗi sanh linh".

Nhưng "Con người thọ sanh đều được trọn lành, cái bổn tánh ấy do nơi điểm linh quang của Tạo Hóa ban cho. Rồi ra có kẻ lành, người dữ là tại nơi biết cùng không biết trau giồi Thánh chất đó thôi. Đấng Tạo Hóa là Cha cả, nhơn loại vẫn con chung, cha nào lại chẳng muốn cho trai lành, gái hạnh. Cha dầu muốn vậy mà con cãi quá thì mới sao? Vậy mới có lành thưởng, dữ răn, luân hồi quả báo. Ấy là luật công bình thiêng liêng của Tạo Hóa. Ngài lại vì đức háo sanh không nỡ để cho sanh linh chịu nhiều hình phạt, mới lập Đạo cho mà nhờ. Đạo vẫn là đường để dắt sanh linh thoát khỏi luân hồi, quả báo vậy".

Ðức Tả Quân LÊ CÔNG cũng nhập bàn cho thi:

Khi hòa tùy có chí đồng thinh,
Vận nước nên hư cũng bởi mình.
Tôi giặc lắm người xô võ trụ,
Lòng trung mấy kẻ xót sanh linh.

 

 

SANH LY TỬ BIỆT

生 離 死 別
E: Separation in life and separation in death.
F: Séparation du vivant et séparation de la mort.

Sanh: Sanh ra, sống. Ly: chia lìa. Tử: chết. Biệt: xa cách. Sanh ly tử biệt là sống mà chia lìa nhau, chết là xa cách vĩnh viễn. Đó là hai cảnh đau khổ của con người nơi cõi trần.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Sự thác vô tình sẽ đến mà vẽ cuộc sanh ly pha màu tử biệt.

 

 

SANH MẠNG

Đức Hộ-Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh Tòa-Thánh Tây Ninh, ngày 15 tháng 6 năm Mậu-Tý (dl: 21-07-1948).

Hôm nay Bần Đạo giảng về Luật Nhân quả vay trả của nhân loại trong thời kỳ Hạ nguơn hầu mãn bước sang thời kỳ Thượng nguơn Thánh Đức. Các con rán ẩn nhẫn để Ông Trời hát từ màn cho các con coi; các con trông cho đời mau tới, tới chừng tới các con khóc mẹ khóc cha luôn. Bần Đạo nói thật cái quyền năng vô đối của Đức Chí-Tôn một nháy mắt không còn một sanh mạng ở quả địa cầu này, không cần một tích tắc đồng hồ, những nhân nào quả ấy trả cho rồi đặng lập đời Thánh Đức mà thôi. Một ngày kia Trung-Cộng với Cambodge (Căm bốt) chết không còn một con đỏ, bởi vì Cambodge nghe lời xúi giục của người ta thành ra phải chết hết. Các con biết sau này sắc tộc, sắc tộc đánh nhau; Tôn giáo, Tôn giáo đánh nhau. Đài-loan từ Hồng Kông tản cư qua Việt-Nam trước, bởi vậy người hành ác mà mình theo họ, mình ôm eo ếch họ rồi họ trật chân, sút tay, họ té chết thì mình cũng chết theo họ mà thôi, thành ra người Miên (Campuchia) còn có bao nhiêu giống bên Việt Nam đó thôi, các con rán thương giùm họ.

 

 

SANH QUANG


E: The vital fluid.
F: Le fluide vital.

(Sanh : sự sống; Quang: ánh sáng). Sanh quang hay Khí sinh quang là khí sống, một chất khí bàng bạc trong Càn Khôn Vũ Trụ, tạo ra sinh khí và nuôi dưỡng cho vạn linh. Lấy khí sanh quang (Fluide de vitalité), nuôi nấng con cái của Người tức là Vạn linh đó là quyền năng của Đức Phật Mẫu Diêu Trì vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "May một điều là Tôi còn thiếu với Đức Chí-Tôn Tôi xin đầu kiếp, thiếu hay không mà kiếp này Tôi là tên dân nô-lệ cho nước Việt-Nam, đã chịu thống-khổ tâm hồn lẫn hình thể trên 35 năm. Tôi không xin, không biết tại sao Tôi đầu kiếp xuống dân Việt-Nam, Tôi cảm-kích vô hạn: nào chịu khổ, nào chịu bạc nhược và yếu-hèn, tại thấy nhơn loại đau đớn Chí-Tôn mới đến mở một nền Tôn-giáo, làm một khối sanh quang cho toàn nhơn-loại đó là cái danh-dự của nước Việt Nam đã chịu khổ. Vì cái tình Chí-Tôn đối với dân tộc Việt Nam nên Tôi thí thân phải chết mới đền bồi xứng đáng".

Bà Đoàn Thị Điểm giáng Cơ cho Thi rằng:

Kìa quyền thế vạn linh lừng lẫy,
Dụng hóa cơ xô đẩy sinh quang.
Nào là binh khí diệt tàn,
Nào là cường lực ép hàng quần lê.

 

 

SANH SANH CHI VỊ DỊCH

"Sinh sinh chi vị Dịch" nghĩa là Sinh rồi sinh gọi là dịch, nên dịch cũng đồng nghĩa chưa xong. Quả Càn Khôn cũng biểu tượng chưa xong, chưa xong mới biến cho hoàn toàn. Trong Kinh Dịch, quẻ 63 là Ký tế: xong rồi nhưng đến quẻ cuối 64 lại là Vị tế : chưa xong. Hợp rồi tan, tan rồi hợp là một qui luật của vũ trụ. Thế nên, Đạo Cao Đài lúc khai nguyên có đủ Giáo Tông, Hộ Pháp coi như đã xong. Bỗng nhiên, Giáo Tông không nhận chức lại chưa xong. Đạo một mối, chia ra nhiều chi phái để phổ độ chúng sanh. Theo qui luật "Tan rồi hợp", nhất định Đạo Cao Đài sẽ thống nhất. Đức Lý Giáo Tông dạy "Cơ qui nhứt thế nào cũng sẽ thực hiện" (Đàn tại Đền thánh đêm 1970 Đinh Dậu)

 

 

SANH SANH HÓA HÓA


E: To create and to multiply.
F: Créer et multiplier.

Sanh: Sanh ra, sống. Hóa: Trời Đất tạo hóa ra vạn vật. Sanh sanh là sống và sanh sản thêm ra. Hóa hóa là Trời Đất tạo hóa thêm ra mãi. Sanh sanh hóa hóa là chỉ cho sự sanh hóa không bao giờ dứt. Vạn vật sống và sanh sản thêm ra càng lúc càng nhiều.

Kinh Tắm Thánh:

"Sanh sanh là phận, hiền hiền là công."

 

 

SANH SANH LÀ PHẬN

Sanh là tạo ra vật mới, đẻ con gọi là Sanh; sự sống.

Sanh sanh 生生 hay sinh sinh, theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, có nghĩa là sinh nở ra mãi, như sinh sinh bất tức 生不息 sinh nở ra mãi không thôi, sinh sinh hóa hóa 生生化 Sinh nở và biến hóa ra mãi không cùng. Tiếng Việt Nam khi hai từ liền nhau là có sự kéo dài thêm. Phận là Danh phận hay bổn phận) Sanh sanh là phận tức nhiên chỉ Sự sinh sôi nẩy nở ra mãi là một bổn phận với Trời đất, hay nói cách khác, là một thiên chức của con người.

Sở dĩ có vạn vật là nhờ có sự sinh của Trời đất. Cho nên có thể nói rằng: "Đức lớn của Trời đất là sự sinh" (Thiên địa chi đại đức viết sinh" 天地之大德曰生. Theo Dịch học, sự sinh hóa của Trời đất, vạn vật do Âm Dương, Cơ Ngẫu phối hợp mà thành. Trong Hệ Từ Hạ có viết: "Thiên địa nhân uân, vạn vật hóa thuần, nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh" 天地氤氳, 萬物化醇, 男女構精, 萬物化生 Khí Trời đất nghi ngút trên dưới hòa hợp nhau, vạn vật do khí tinh thuần ấy mà hóa ra, nam nữ phối giao mà sinh ra mãi.

Người là một phần trong vạn vật, nên phải theo lẽ trời mà biến hóa, đó là thiên chức của con người.

Theo thuyết trên, cái đức lớn của Trời đất là sự Sinh, thì đạo người phải theo đạo Trời đất mà bồi dưỡng sự sinh.

- Đạo Trời có bốn đức: Nguyên , Hanh , Lợi , Trinh .

- Đạo người có bốn đức là Nhân , Nghĩa , Lễ , Trí .

Như vậy, Nhân (hay hiền) là đầu hết các điều thiện, là gốc lớn của sự sinh hóa trong Trời đất Vậy hợp với cái đức sinh là hiền là thiện, trái với đức sinh là ác.

Kinh Tắm Thánh có câu:

"Đã gan dốc kiếm diệu huyền,
"Sanh sanh là phận, hiền hiền là công."

 

 

SANH TỊCH

Sanh tịch 生寂: Sống và chết.

Xây bàn tiếp điển, Ông Hậu sẵn-sàng bút viết để ghi chép, một lát sau thì có chơn-linh của Quí-Cao giáng cho thi:

Âm dương tuy cách cũng chung trời,
Sanh tịch đời người có bấy thôi.
Chén rượu đồng tâm nghiêng-ngửa đổ.
Thương nhau nhắn-nhủ một đôi lời.

 

 

SANH TIỀN


E: In the life time.
F: De son vivant.

Sanh tiền là ngay buổi còn sống, lúc Còn nơi thế gian này.

Thầy dạy: 05-6- Bính Dần (Mercredi 4 Août 1926):

"Sự chơn thật và sự giả dối, mắt phàm các con đâu có thế phân biệt đặng; một trường thử Thánh, Tiên, Phật vì vậy mà phải lập nơi thế gian nầy; nếu buổi sanh tiền dầu cho một kẻ phàm tục tội lỗi biết đặng cơ quan mầu nhiệm của Ðấng Chí Tôn là Trời đã sắp đặt, thì cũng chẳng dám gây ra tội lỗi mà thôi, lại có thể đắc Đạo mà gấm ghé phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng nữa, huống lựa là các Đấng ấy phải bị đọa trần mà biết mình hằng giữ, thì mầu nhiệm thử Thần, Thánh, Tiên, Phật chẳng có nghĩa lý gì hết."

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Chơn linh lắm chịu mê tân,
Sanh tiền khó hưởng phước lành Trời ban.
Rồi đây giặc giã khắp tràn,
Khiếm đường đạo đức chịu đàng Thiên tai.

 

 

SANH TỒN

(Sanh là sống, Tồn là còn.) Sanh tồn là sự sống còn (còn sống, còn tồn tại). Sự sống còn ở đây nhằm về hai phương diện:

1- Sống còn về thể xác: phải ăn uống để nuôi thây phàm xác thịt.

2- Sống còn về linh hồn là phải tu tâm sửa tánh, cải dữ làm lành, phải theo một Tôn giáo như vào một trường học, từ đó mới làm nơi giải thoát khỏi tứ khổ là: Sanh, lão, Bịnh, Tử. Ấy vậy chỉ có Đức Thượng Đế đến trong nguơn hội này mới có thể giải khổ cho về phần xác và giải thóat linh hồn cho sanh chúng mà thôi.

Thầy dạy: "Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy, thì trên qủa địa-cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả. Lại có lắm kẻ đáng thương hại lại tự-phụ rằng họ hiểu thấu cả lẽ mầu-nhiệm của Ðấng Tạo-Hóa. Nhưng Thầy không bao giờ cho một kẻ nào dưới cõi trần nầy tiết lậu Thiên-cơ cả".

Thi văn dạy Đạo có câu:

"Sanh tồn cụ pháp vô công trác,
"Tử hậu cùng đồ uổng lộ diên."

 

 

SANH TỬ

Sanh tử : Việc sống chết của một đời người. Sanh tử tức nhiên nói về sự Sống và sự chết của con người cũng như toàn cả vạn linh sanh chúng. Đó là định luật bất di bất dịch, không ai thoát ra ngoài luật định này cả.

Kinh Sám Hối có câu:

"Việc sanh tử như dường chớp nháng,
"Bóng quang âm ngày tháng dập dồn."

 

 

SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

(Sinh tử sự đại: việc sinh tử là một vấn đề trọng đại; Vô thường tấn tốc: vì còn sinh tử thì Chơn linh còn mãi trôi lăn trong vòng luân hồi khổ não, khó thóat). Muốn thoát lìa sinh tử, may duyên được sinh ra kiếp con người, đặc biệt lại gặp được thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn mở cơ Đại Ân xá, khai nền Đại Đạo mở cơ tận độ cho toàn thể chúng sanh chung hưởng.

Người ta thường nói: "Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn" 人身難得, 佛法難聞, nghĩa là thân người khó có được, pháp Phật khó có dịp nghe. Thế mà hôm nay chúng ta đều có được cả hai, đó là nhờ vô lượng kiếp chúng ta tu hành, lập nhiều phước đức để tạo được duyên phần trong kiếp hôm nay.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: "Thầy lấy đức háo sanh mở Đạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần, tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt. Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị tà yêu cám dỗ".

 

 

SANH VẬT


F: Etre vivant.

(Sanh: sống, có sự sống; Vật: chỉ chung vạn vật như cây cỏ, thú cầm, cả đến lòai người) Ấy là chúng sanh có sự sống và cũng cần sự sống, như không khí chẳng hạn.

Sanh vật là những vật có chứa sự sống. Ví như:

- Cây cỏ có một hồn sống của nó gọi là sanh hồn.

- Thú cầm có đến hai hồn là sanh hồn và giác hồn, tức nhiên nó biết đau đớn, có cảm giác sợ sệt khi người tìm bắt nó.

- Người có đến ba hồn: ngoài sanh hồn, giác hồn còn có linh hồn nữa.

Thầy dạy: "Phàm xác thân con người, tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn một khối chất chứa vàn vàn, muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối (la formation des cellules). Vật ấy có tánh linh. Vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật; tỷ như rau, cỏ, cây, trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh. Nếu nó không có chất sanh thì thế nào tươi tắn và chứa sự sống, như nó khô rũ thì là nó chết. Mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ. Còn như nhờ lửa mà nấu, thì là phương pháp tẩy trược đó mà thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết".

 

 

SAO BẮC ĐẨU (Bắc Đẩu Tinh)

E: The polar star.
F: L’étole polaire.

 

 

 

Đây là Bắc-Đẩu-tinh 北斗星 nghĩa là Sao Bắc Đẩu (Étoile polaire) là vì sao lớn ở thẳng về miền Bắc cực. Kế bên sao Bắc Đẩu có hai chòm sao (mỗi chòm 7 cái) gọi là hai bánh lái (Grande Ourse et Petite Ourse): Một chòm nhỏ gồm có bảy vì gọi là Tiểu Hùng Tinh và một chòm lớn hơn gồm có bảy vị gọi là Đại Hùng Tinh. Hai chòm này hướng về Sao Bắc Đẩu hình như chầu sao Bắc Đẩu, cho nên trong Luận Ngữ có câu: "Vi chánh dĩ đức thí như Bắc Đẩu cư kỳ sở nhi chúng Tinh cung chi" (Lấy đức làm chánh, tỷ như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các vì sao khác đều chầu chực). Bắc Đẩu là ngôi sao sáng ở hướng Bắc, nằm đúng trên trục quay của Ðịa cầu, nên còn được gọi là sao Bắc Cực. Sao Bắc Đẩu là một Định tinh, các ngôi sao khác thì chuyển động quanh sao Bắc Đẩu, cho nên sao Bắc Đẩu là trung tâm của Càn Khôn Vũ-Trụ.

Theo Thiên văn Trung Hoa xưa thì Sao Bắc Đẩu chính là tâm điểm của vũ-trụ, các Tinh-tú khác đều vận chuyển chung quanh nó. Sao Bắc Đẩu là một ngôi mà Đức Thượng Đế thường ngự, thế nên trên Quả Càn Khôn, Thiên Nhãn phải vẽ ngay vì sao Bắc Đẩu này.

Cai Quản sao Bắc Đẩu là Bắc đẩu Tinh quân. Đức Ngài có giáng Cơ cho bài thi như sau:

Cầm cân Tạo Hóa ở trên trời,
Sao Đẩu xưa nay chiếu sáng ngời.
Nửa điểm phải chăng đều xét thấu,
Trăm bề họa phước thảy cho dời.
Tuy là sống thác quyền nơi đấy,
Song cũng hư nên chác tại đời.
Khuyên đó hỏi lòng không hổ thẹn,
Lựa là quì lạy nhọc cầu mời.

 

 

SAO LỤC ÁN TÒA TAM GIÁO

Khi một Chức sắc bị phạm tội mà Tòa Tam Giáo đã xử rồi, thì Ông Đầu Tỉnh họ phải sao lục cái án ấy ra để công bố nơi mà vị ấy cư ngụ, cốt để thông báo cho tòan Đạo đều biết, theo sự chỉ dạy sau:

"Xin Đầu Họ lãnh thi hành cái án sao ra như dưới đây và dán một bổn tại mỗi Thánh Thất trong Tỉnh.

Cách thi hành phải làm ra như sau đây:

Đạo Hữu nào có tên trong bổn án, mà ở trong tỉnh mình, thì trích lục ra từ cái án mà giao lại cho Đạo hữu ấy và phải lấy biên nhận. Đạo hữu nào không chịu lãnh án, thì Đầu họ phải lập Vi bằng mà gởi về Tòa Thánh.

Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài
Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ
(Đệ Lục niên)

Sao lục Án Tòa Tam giáo xử ngày 28 Aout 1931

Tuân y theo Thánh giáo Đức Lý Giáo-Tông, Nghị định ngày mùng 3 tháng 10 năm Canh Ngọ.

Chiếu theo Đạo Nghị Định của Đức Hộ-Pháp và lời phê chuẩn của Giáo-Tông ngày 30 tháng 10 năm Canh Ngọ, thiết lập TAM-GIÁO-TÒA.

TAM-GIÁO-TÒA CỬU TRÙNG ĐÀI
(Kỳ nhì)

Tại Tòa Thánh Tây ninh ngày rằm tháng 7 năm Tân Vị
(le 28 Aout 1931)

Xử các vụ và kết án như sau đây:

Tên họ - Chức- Định án:

1-Trần Đạo Quang - Ngọc Chưởng Pháp- Chiếu theo hình phạt thứ 9: Phải ăn-năn sám hối, thọ tội cùng chúng sanh

……………………..

Làm tại Tòa Thánh Tây Ninh, ngày rằm tháng 7 Tân Vị

Bảo Văn Pháp Quân
Quyền Lục-Sự
Cao Quỳnh Diêu

 

Quyền Giáo Tông
Chánh Tòa
Thượng Trung Nhựt

Ví dụ Người thứ nhứt có tên trong bổn án là Đạo hữu Trần Đạo Quang có ở trong tỉnh mình, thì sao lục án ra một tờ như dưới đây mà giao cho người:

Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ

(Đệ Lục niên)

_____________________________+

 

Sao lục Án Tòa Tam giáo xử ngày rằm tháng 7 Tân Mùi tại Tòa Thánh Tây Ninh (nhằm 28 Aout 1931)

Đạo hữu Trần Đạo Quang, Tòa xử: "Phải ăn-năn sám hối, thọ tội cùng chúng sanh".

Hạng một tháng, kể từ ngày giao án, phải về Tòa Thánh. Nếu chẳng tuân y, thì phạm tội bất tuân luật Đạo, kỳ Tòa tới phải bị án nặng hơn.

Vâng lịnh Ông Ngọc Chánh Phối Sư, Quyền Ngọc Đầu Sư- Kiêm Chủ trưởng Chức sắc Nam phái.

Gia định, le 1er Octobre 1931
Đầu Họ Tỉnh
(ký tên)

 

 

SÀO PHỦ - HỨA DO

Sào Phủ Hứa Do 巢父-許由: Người cao sĩ đời Đường Nghiêu, thường hay ở trên cây nên gọi là Sào-Phủ.

Sự tích: Đời Đường Nghiêu có hai người cao sĩ là Sào-Phủ và Hứa-Do. Tương truyền rằng Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho mà hai người đều không chịu nhận.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Sánh vai Sào Phủ ẩn danh xưa,
Vì nẻo lợi danh cũng đã thừa.
Mau bước lui lần qua cõi tục,
Cười, than, vui, khóc, thấy hay chưa?

 

 

SÁT MẠNG


E: To assassinate.
F: Assassiner.

(Sát là giết, làm cho chết, làm mất đi sự sống. Mạng hay mệnh là kiếp sống của sinh vật). Sát mạng hay sát mệnh là giết đi sự sống của vạn vật nói chung là cả người hay vật nữa (Hủy mạng sống, giết chết).

Thánh giáo của Đức Chí Tôn nói về "Bất Tà Dâm" (Giới cấm thứ ba). Đề ngày 26-6-Bính Dần (dl: 30-6-1926).

"Các vật thực vào tỳ vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết, chẳng cần nói, các con cũng biết cái chơn linh khí huyết là thế nào? - Nó có thể huờn ra nhơn hình mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhơn loại. Vì vậy mà một giọt máu là một khối chơn linh, như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Ðài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ gìn giới cấm ấy cho lắm".

Kinh Sám Hối dạy về sát sanh hại vật là tội, có câu:

"Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,
"Đức háo-sanh Tiên, Phật một màu.
"Thượng cầm hạ thú lao xao,
"Côn trùng, thảo mộc loài nào chẳng linh.
"Nó cũng muốn như mình đặng sống,
"Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.?
"Bền công kinh sách xem coi,
"Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan."

Kinh Ði Ra Ðường có câu:

"Gót chơn đưa rủi như sát mạng,
"Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi."

 

 

SÁT NA

Sát-na ; S: kṣaṇa; Một khoảng thời gian ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.

 

 

SÁT SANH

E: To kill the living beings.
F: Tuer les êtres vivants.

Sát sanh (Hủy diệt sự sống) là giết đi sự sống của con vật mà làm thức ăn cốt để cầu sự ngon miệng cho chính mình, ấy là một sự bất nhân mà là điều giới cấm thứ nhứt của Tôn giáo: "Nhứt bất sát sanh".

Đây là điều bốn trong 10 điều Khuyến tu của Đức Chí-Tôn:

Ðiều thứ tư: Pháp môn qui luật,
Lục, thập trai cố sức trau giồi.
Thịt thì xương máu tanh hôi,
Cỏ cây rau cải cũng rồi bữa ăn.
Ðức từ bi thường hằng thể hiện,
Không sát sanh lòng thiện ta còn;
Lạt chay tuy chẳng ngọt ngon,
Còn hơn thú vị cơm chan máu hồng.

 

 

SẮC CAO BAN

Sắc Tờ giấy viết lệnh của vua ban ra. Sắc cao ban: Sắc chỉ của Thượng-Đế ban ra.

Thi văn dạy đạo có câu:

Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.

 

 

SẮC CHỈ TAM KỲ

Đức Phật-Mẫu ban cho Thi:

Diêu Cung Phật Mẫu rất hân hoan,
Vội ngự Thanh Loan đến địa hòan.
Xưa bồi tâm Thánh nơi Hớn Đế,
Nay thối linh đô chốn Nậm Bàng (?).
Biển trần lắm khách còn mê luyến,
Đường Đạo vì con phải luận bàn.
Sắc chỉ Tam Kỳ chầu Hội Yến,
Phái vàng Mẹ lãnh ngự trần gian.

 

 

SẮC DÂN


F:Race.

Sắc dân 色民: Nòi giống, giống dân.

Đức Hộ Pháp thuyết ngày 8 tháng giêng năm Ðinh Hợi (1947) nhân Lễ rước QỦA CÀN KHÔN:

"Ngày nay đã dời Quả Càn Khôn về Ðền Thánh, Ðức Chí Tôn đã ngự nơi ngai của Ngài, chúng ta nên mừng cho nhơn loại được ảnh hưởng nơi Ðền-Thánh nầy mà tiến hóa mãi lên. Ðền Thánh kể từ đây không còn ai xem nó là vôi, cát, xi măng nữa, mà là một khối đức tin đã tượng nên hình vậy. Nhờ những bàn tay khéo léo của mấy em, mấy con, thợ hồ, thợ mộc đã chịu đói rách khổ cực hơn mười năm trường mới dày công đào tạo nên. Từ đây một sắc dân nào có đủ đức tin nơi Chí Tôn là Chúa Tể vạn loại thì dầu ở phương trời nào, họ sẽ hướng về Ðền Thánh mà cầu nguyện hàng ngày hàng giờ để mong hưởng phước lành của Ngài".

Đức Ngài nói tiếp: "Một điều Bần Đạo nói cho nước Pháp biết rằng: "Sắc dân này không quen chịu lệ thuộc, cả sự tranh đấu đặng giải ách lệ thuộc của họ đối với nòi giống Trung Quốc buổi nọ không ai cản họ được. Hốt Tất Liệt thâu cả Hoàng đồ bên Âu Châu, đặt gót tới Việt Nam bị thảm bại".

 

 

SẮC HUỲNH

F: Jaune.

Sắc huỳnh: Hay Huỳnh sắc 黃色 là màu vàng.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,
"Cõi Huỳnh Thiên nhẹ thoát chơn Tiên."

 

 

SẮC HUỲNH CHIẾU

Sắc huỳnh chiếu 色黃照: Màu vàng tỏa ra óng ánh.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,
"Cõi Huỳnh-Thiên nhẹ thoát chơn Tiên.
"Năm Rồng đỡ nổi đầu thuyền,
"Vào cung Tuyệt-khổ kiến Huyền-Thiên-Quân."

 

 

SẮC KHÔNG


E: The appearances are not real.
F: Les apparences n’ont rien de réel.

(Sắc là chỉ hữu hình, không là chỉ vô hình). Sắc không : Có và Không.

- Ngã không: Không có thực thể độc lập, riêng biệt, thường còn, nên không có ngã.

- Sắc không: Sắc không khác với không, không không khác với sắc, sắc là không, không là sắc. Nhờ không mà vạn vật mới hiện hữu được và chính bởi vì cái sự kiện hiện hữu, vạn vật phải là không. Chính vì chủ trương của Phật giáo là "Vạn pháp giai không" 萬法皆空 nên người ta thường gọi cửa chùa hay cửa nhà Phật là Không môn.

Thực tế con người chúng ta duyên khởi từ cái "‘không" của tinh cha huyết mẹ đã tạo nên con người. Người sống để tấn hóa trên cõi trần, sau cùng chết chôn vào lòng đất "không" và cứ xoay chuyển trong vòng tấn hóa, đó là định luật "không sắc; sắc không" là không môn.

Vô Danh Tiên Trưởng giáng cho thi giảng chữ "Sắc- Không":

VÔ tận kho kia mấy kẻ dò,
DANH thơm nhờ có biết lường đo.
TIÊN gia chỉ thú mùi thi Đạo,
TRƯỞNG giả đừng mong mỏi đến đò.

Bần Đạo chào quí vị. Bần Đạo thấy lòng chư quí vị mến Đạo thương đời, nên cũng nhân lúc nhàn du đặng để ít lời giáo huấn. "Đạo là không, đời là sắc", qui bao nhiêu sắc trở lại làm không, ấy là cơ đắc Đạo đó. Sắc thành không, không biến sắc, thật ra hư hư nên nên, thật cõi đời muôn việc có cũng như không. Nếu vì có mà quên ngôi xưa vị cũ, phải chăng hữu ích có phải? Hay trăm năm giấc mộng của đời trả cho thế, rồi về chỉ cái hồn không, đặng hối tiếc ăn năn đã muộn".

Nhân xuống thăm mộ Cửu Nương Cao Thị Khiết, (trên nắp mộ ghi bằng chữ Hán Cao-Thoại Kiết) các thiên sứ không hẹn mà đã gặp ở Từ-đường họ Cao liên ngâm, toát lên khẩu khí của bậc lãnh đạo, tiên đoán được thiên chức mai sau của mỗi vị một: ông Ngọc Lịch Nguyệt xướng đầu tiên:

Thi của Ông Ngọc Lịch Nguyệt luận với Cửu-Nương:

Nâng chén trà thơm mời Đạo Muội,
Đề câu không sắc gởi tri âm.
Sắc không hai lẽ huyền thâm,
Chí tâm mới biết được tâm ta, người.

 

 

SẮC LỊNH

敕 令
F: Décret.

Sắc: Tờ giấy viết lệnh của vua ban ra. Lịnh hay Lệnh: mệnh lệnh. Sắc lịnh hay Sắc lệnh là tờ giấy viết lệnh của vua ban ra, hay của vị đứng đầu quốc gia ban ra (Lịnh trên kêu gọi).

Riêng trong Tôn giáo thì đây là mệnh lệnh của Đức Chí Tôn. Chơn hồn khi về Thiêng liêng sẽ có trong người hai điều: hoặc thăng hoặc đọa. Tùy theo mức cao thấp mà được phong thưởng hay trừng trị nơi cõi Thiêng liêng cũng theo luật "Công thưởng tội trừng" và căn cứ theo những hành vi thiện ác nơi thế gian mà định công tội cho Chơn hồn. Nếu có công thì được siêu thăng và phong thưởng cho những phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật; còn nếu có tội thì bị trừng phạt đọa đày trở lại thế gian vào con đường Lục đạo.

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu

"Cung Bắc-Đẩu xem căn quả số,
"Học triều-nghi vào ở Linh-Tiêu.
"Ngọc-Hư-Cung, sắc lịnh kêu,
"Thưởng, phong, trừng trị, phân điều đọa thăng."

Trong Đạo Cao Đài, Sắc lịnh là lịnh của Đức Giáo Tông hay Đức Hộ Pháp ban ra cho toàn đạo thi hành.

• Dây Sắc lịnh của Hiệp Thiên Ðài: là một cái băng bằng vải có 3 sọc là 3 màu: vàng, xanh, đỏ, buộc ngang bụng bên ngoài đạo phục của Thập nhị Thời Quân, Thượng Sanh, Thượng Phẩm và Đức Hộ Pháp. (Xem chi tiết: Dây Sắc lịnh, vần D)

• Dây Sắc lịnh của Cơ Quan Phước Thiện: là cái băng vải một màu (hoặc vàng, hoặc xanh, hoặc đỏ tùy theo phẩm cấp), trên đó có gắn khuê bài hàng phẩm, choàng trên áo đại phục từ vai trái xuống hông mặt.

Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện

 

Dây Sắc lịnh đỏ;

Chí Thiện, Đạo Nhơn, Chơn Nhơn

 

Dây Sắc lịnh xanh,

Hiền Nhơn

 

Dây Sắc Linh vàng.

_______________________________

SẮC LỊNH - SẮC MẠNG

敕令 - 敕命
E: The decree.
F: Le décret.

Sắc lịnh của đời là do chính phủ ban ra cốt yếu làm điều hòa các nơi công sở và sự thi hành các luật lệ. Ở đây: Sắc lịnh là mệnh lệnh của Vua Trời, tức là Đấng Chí Tôn- Ngọc Hoàng Thượng Đế ban ra. Nếu là

• Sắc lịnh Tam Giáo có ba màu: vàng, xanh, đỏ. Ba màu này tượng trưng Chưởng Quản Tam Giáo: Nho, Đạo, Thích, nơi mình, nghĩa là nắm trọn Thể pháp và Bí pháp để thống nhất về một mối:

Thể pháp: Thể là tính chất, hình thái, hình thức; Pháp là sự mầu nhiệm, là pháp luật. Chữ Pháp lại còn có nghĩa rộng hơn để chỉ bất kỳ vật gì dù hữu hình hay vô vi, chơn thật hay hư ảo trong vũ trụ này, khiến ai cũng có thể thấy được.Thể pháp chính là cái hình trạng Hội-Thánh hay nói khác đi là Thánh Thể Đức Chí-Tôn tại thế.

Bí pháp: (bí là bí mật, thần bí, huyền bí) Bí pháp là những sự mầu nhiệm được dấu kín bên trong không ai có thể thấy biét được. Bí pháp lá những huyền năng mầu nhiệm vô biên, vô đối của đức Chí-Tôn.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn dạy: "Vậy các Pháp-Luật của Chí-Tôn đã đào-tạo đều hữu-ích cho cơ-quan hành-động cho Chánh giáo của Người, một cái dấu bỏ ra cũng chẳng đặng. Hễ tùng thì Đạo thành, còn nghịch thì Đạo diệt. Cả thảy Hội Thánh chưa ai đặng quyền ra khỏi ngoại Luật. Chúng ta vâng theo mới đắc thành quyền-hành Hội Thánh, thảng có một người nghịch thì làm rối loạn Chơn truyền. Kẻ nghịch cùng Thế đạo thì trục ngoại xã hội hay là diệt tàn cho khỏi lưu hại, còn kẻ nghịch cùng Đạo-pháp thì tội trục ngoại Thánh Thể Chí Tôn hay là có ngày quyền Thiêng-liêng diệt thác. Chúng ta từ đây coi kẻ phạm Pháp-Luật như thù địch của Đạo, dùng phương trừ khử. Bần-Đạo đã thọ Sắc lịnh Ngọc-Hư lo chuyển Pháp, thì không phương tha thứ điều phạm bao giờ. Từ đây Hội-Thánh Ngoại giáo giữ nghiêm Pháp-Luật. Bần-Đạo xin để lời cầu khẩn cùng Giáo Tông và Hộ-Pháp cũng để lòng lo phương trừ hại, đừng vì BÁC ÁI- TỪ BI vị nễ". [03-03-Quí-Dậu (dl: 26-5-1933)]

 

 

SẮC PHÁI

色 派
E: The colour of every branch.
F: La couleur de chaque branche.

Sắc: Màu sắc. Phái: ngành, nhánh. Sắc phái là màu đạo phục của mỗi phái (màu sắc đạo phục của mỗi phái).

Chức sắc Cửu Trùng Ðài chia làm 3 phái: Thái, Thượng, Ngọc.

Phái Thái là phái Phật, mặc đạo phục màu vàng.
Phái Thượng là phái Tiên, mặc đạo phục xanh dương.
Phái Ngọc là phái Nho, mặc đạo phục màu đỏ.

Chú giải Pháp Chánh Truyền:

Tiểu phục (của Giáo Sư) đầu không đội mão mà bịt khăn tùy theo sắc phái mình, 7 lớp chữ Nhơn.

 

 

SẮC PHỤC

色 服
E: The full dress.
F: La grande tenue.

Sắc: Màu sắc. Phục: quần áo. Sắc phục là đạo phục có màu sắc và kiểu vở tùy theo phẩm trật Chức sắc.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục cho nữ phái, nghe và từ đây xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp.

 

 

SẮC SẢO

E: Beautifull.
F: Beau, merveilleux.

Sắc sảo: Sắc sảo là xinh tốt, đẹp khéo.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Cội sởn sơ mới đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng. (Sởn sơ: nở nang tươi tốt. Sum sê: rậm rạp xanh tốt).

 

 

SẮC TÀI

Sắc tài 色才: Có sắc và có tài (chỉ về phái Nữ).

Tiên Cô Thất-Nương Vương thị Lễ chính danh là Nữ Tiên ở Diêu-Trì-Cung, còn tên Đoàn Ngọc Quế cho thi:

Nỗi niềm tâm sự tỏ cùng ai?
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào dè phủi nợ xuống tuyền-đài.

 

 

SẮC TỐT

Pháp Chánh Truyền: Hội-Thánh nghe Lão ban sắc phục cho Nữ phái: Nghe và từ đây xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp.

Chú Giải: Đức Giáo-Tông đến kêu Hội-Thánh Nam phái nói rằng: Từ đây phải xem sắc tốt của Nữ-phái Ngài đến ban đặng hành Lễ theo đẳng cấp. Cái tiếng "sắc tốt" không, dầu ai đọc đến cũng thầm hiểu nghĩa-lý sâu xa.(1). Giáo-Tông duy chỉ dặn xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp, ấy là Ngài buộc phải có trật-tự cho lắm, vì vậy mà cũng chính mình Ngài đến lập lệ Nam Nữ phải phân biệt nhau, chẳng đặng chung hiệp nhau về phần xác và phần hồn.

 

 

SẮC TƯỚNG ÂM THANH

Sắc tướng âm thanh 色相音聲: Chỉ những ngoại vật có hình thức, có âm thanh nghe thấy được.

Đến sáng ra thì Anh Cả Đức Quyền-Giáo-Tông mới qua hỏi Đức Hộ Pháp:

- Quả Càn Khôn bị cháy Hộ Pháp nghĩ sao?

- Đức Hộ Pháp nói: Quả Càn Khôn bị cháy mà Thiên Nhãn còn, tức là Đạo còn, nhưng đời phải tận.

Sau vụ cháy Quả Càn Khôn rồi thì Đức Chí Tôn có giáng cơ cho một bài thơ sau:

Chẳng phải Tây Ninh chịu nạn nghèo,
Cuộc đời luân chuyển thế cheo leo.
Trời còn đất lỡ tang thương biến,
Ruộng rẫy phố phường lộ mốc meo.
Sắc tướng âm thinh tua giảm bớt,
Mở đường công quả chúng làm theo.
Văn chương đâu rõ thông cùng lý,
Tận thế hưng vong đã thấy vèo.

 

 

SẮC TRỜI

Sắc Trời: sắc chỉ của Trời (Thượng-Đế).

Thi văn dạy Đạo có câu:

Sắc Trời đã đến tận nơi tay,
Cực nhọc khuyên con chớ dạ nài.

 

 

SẮP THIÊN PHONG

Là sắp đặt nghi thức cho trang nghiêm và trật tự đặng Thầy bắt đầu phong phẩm tước cho các Chức Sắc trong buổi đầu tiên gọi là "Sắp Thiên phong".

Thầy dạy: Ðêm 22 rạng 23-4-1926 (âl 11/ 12-3-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
Giáo Đạo Nam Phương

Ba con nghe dạy cuộc sắp Thiên phong. Các con vui không? Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở. Vậy thì ba con (Trung- Cư- Tắc) cứ sắp đặt thế nầy:

Trung nghe! Con dời bài vị của Lý Bạch để dưới tượng Thầy, con dọn dẹp trong hết, để một cái ghế kế một bên tran thờ, rồi để lên một cái ghế lớn đặng làm ngôi Giáo Tông, ba cái nữa để sắp hàng theo ở dưới đặng làm ngôi cho ba vị Ðầu Sư. Con phải bao bốn cái ghế ấy cho tinh khiết. Con đem Thiên phục Giáo Tông để nơi ghế ở trên, còn bộ Thượng Thanh thì để giữa, bộ Ngọc Thanh bên hữu, còn ghế bên tả, con phải viết một miếng giấy để chữ "Thái" cho lớn mà dán lên chỗ dựa. Ngay chỗ bàn ngự của Thầy, phải để một cái ghế trước ngôi ba vị Ðầu Sư, vọng một bài vị, biểu Lịch viết như vầy:

"Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên Tôn" lại vẽ thêm một lá bùa "Kim Quang Tiên" để thòng ngay giữa, ai ai ngó vào cũng đều thấy đặng.

Bàn Thầy giáng Cơ thì để trước bàn vọng Ngũ Lôi, khi giáng cơ rồi thì dời đi cho trống chỗ, đặng nhị Ðầu Sư quì mà thề." Con lại để thêm một cái bàn giữa bên cửa sổ, đằng trước ngó vô.

CƯ! Nghe dặn. Con biểu Tắc tắm rửa sạch sẽ (xông hương cho nó), biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón. Cười...Ðáng lẽ nó phải sắm khôi giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu. Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt ngay vô ngôi Giáo Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt nó lại. Lịch! Con viết một lá phù "GIÁNG MA XỬ" đưa nó cầm. Các con phải thanh tịnh, kể từ ngày nay diệt tận phàm tâm, chớ nhơ một điểm thì ngày ấy thề mới đặng.

Cư! Khi đem ba bộ Thiên phục đến vọng trên ba cái ngai thì con phải chấp bút bằng nhang như mọi lần, đặng Thầy trấn Thần trong ba bộ Thiên phục và ba ngai ấy, rồi mới kêu hai vị Ðầu Sư đến quì trước bửu ngai của nó, đặng Thầy vẽ phù vào mình. Khi hai vị Ðầu Sư vái rồi, phải đến trước Bửu điện Thầy mà làm lễ (12 lạy) và trước ngôi Giáo Tông (9 lạy), rồi biểu Giảng xướng lên: "Phục vị", thì hai người leo lên ngồi.

Cả thảy Môn đệ phân làm ba ban, đều quì xuống.

Biểu TẮC leo lên bàn, con chấp bút bằng nhang, đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới tới trước mặt TẮC đặng Thầy trục xuất Chơn thần của nó ra, nhớ biểu Hậu, Ðức, xông hương tay của chúng nó, như em có giựt mình té thì đỡ. Rồi biểu hai vị Ðầu Sư xuống ngai, đến quì trước mặt Ngũ Lôi, hai tay chấp trên đầu, quì ngay bùa Kim Quang Tiên mà thề như vầy:

"Tôi là Lê Văn Trung tự Thiên ân là Thượng Trung Nhựt và Lê Văn Lịch tự Thiên ân là Ngọc Lịch Nguyệt, Thề Hoàng Thiên Hậu Thổ trước bửu pháp Ngũ Lôi rằng làm trọn Thiên đạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là Môn đệ của Cao Ðài Ngọc Ðế, nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định, chẳng dám chuyên quyền mà lập thành tả đạo, như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt."

Ðến bàn Vi Hộ Pháp cũng quì xuống, vái y vậy, điều câu sau thì như vầy: "Như ngày sau phạm Thiên điều, thề có Hộ Pháp đọa tam đồ bất năng thoát tục."

Rồi mới biểu Giảng xướng lại nữa "Phục vị", thì nhị Ðầu Sư trở lại ngồi trên ngai. Chư môn đệ đều đến lạy mỗi người hai lạy.

Tới phiên các Môn đệ, từ người đến bàn Ngũ Lôi mà thề rằng: "Tên gì? Họ gì? "Thề rằng: Từ đây biết một Ðạo Cao Ðài Ngọc Ðế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn đệ, gìn luật lệ Cao Ðài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Ðịa lục." Tới trước bàn Hộ Pháp cũng thề như vậy, rồi mới đến lạy nhị Ðầu Sư.

 

 

SẤM KÝ

讖 記
E: The book of oracles.
F: Le livre des oracles.

Sấm: Lời đoán trước có tính cách bí ẩn cho biết những việc sẽ xảy ra. : ghi chép. Sấm ký là sách ghi chép (Sách chép lời sấm) những câu tiên tri các việc sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng viết dưới dạng ẩn dụ, nghĩa lý sâu xa khó hiểu, ít người biết được, chỉ thấy rõ khi việc đã xảy ra.

Nước Việt Nam có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà Lý học nổi tiếng, vang danh tận bên Tàu, có viết một quyển Sấm Ký gọi là Sấm Trạng Trình, để tiên đoán vận mệnh nước VN và các việc xảy ra từ đó trở về sau.

Lời sấm bình dị, nhưng chứa đựng bí mật vô cùng khó hiểu, đến chừng việc xảy ra rồi, nghiệm lại câu sấm thì mới thấy rõ là rất đúng:

Thí dụ như câu sấm:

Giữa năm hai bảy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

Tám gà, chữ Hán là Bát Kê, mà Bát kê là tiếng phiên âm từ tiếng Pháp: Pasquier, tên của viên Toàn quyền Pháp tại Đông Dương. Toàn quyền Pasquier rất ác độc, muốn tiêu diệt Đạo Cao Đài, giả tạo các tài liệu để đem về Pháp chứng tỏ Đạo Cao Đài là một tổ chức chánh trị chống Pháp, cần phải tiêu diệt.

Khi Pasquier đi phi cơ về tới nước Pháp, bỗng máy bay phát hỏa, Pasquier và toàn bộ tài liệu giả tạo đều bị đốt cháy trên không trung. Năm ấy là năm âm lịch nhuần hai tháng 7, nên có 13 tháng. Đó là sự hành phạt của Thiên điều đối với những kẻ muốn tiêu diệt Đạo Cao Đài.

 

 

SẤM TIÊN TRI

讖 先 知
E: Predictions, Oracles.
F: Prédictions, Oracles.

Sấm : Lời đoán trước có tính cách bí ẩn cho biết những việc sẽ xảy ra. Tiên : trước. Tri: : biết. Tiên tri: biết trước.

Sấm tiên tri là lời sấm cho biết trước các việc sẽ xảy ra.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ngày giáng sinh của Chúa Cứu Thế là việc đã có lời sấm tiên tri rồi mà các con không chịu quan tâm đến.

 

 

SẤM TRUYỀN

Sấm truyền 讖傳: Lời tiên tri truyền lại.

Đức Hộ-Pháp xác nhận: "Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vị Giáo chủ ngày xưa. Chỉ có phương diện là do nơi Tam giáo thất chơn truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hạp theo dân trí buổi nầy, mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh. Hiệp cả tinh thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA Chung, mà thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ một nền Tôn Giáo Đại Đồng, thì nhơn loại mới đặng gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn loại mới chung hưởng Hòa bình, phục lại đời thượng cổ, là do nơi Thiên Thơ tiền định, buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu nghinh tân".

 

 

SÂN KHẤU HÍ TRƯỜNG

Đức Thượng Phẩm nói: "Đời là một sân khấu hí trường, mọi sự đều phải thay đổi, chớ nên lấy đó làm mục phiêu chính để noi theo, vì đã nói rằng: một sân-khấu hí-trường thì trong đó đủ đào kép và ông bầu, dầu hay dầu dở thì bổn phận họ phải làm cho rồi để cho kẻ khác lên thay thế, đặc-sắc hơn và hay-ho hơn. Hiện các Em đã thấy biết bao nhiêu màn đời thay đổi liên tiếp mà những màn ấy cũng chẳng làm cho dân Việt-Nam được hưởng cảnh thái-bình. Càng thay đổi càng làm cho dân chúng Việt-Nam thêm hoang-mang, hồi-hộp và cảnh tương-tàn, tương-sát của Việt-Nam cũng chưa thấy giảm bớt chút nào mà lại càng tăng thêm cực độ. Các Em biết tại sao vậy không? Nói nghe thử!...

- Trúng! Nhưng còn thiếu một chút là dân Việt Nam chưa được mãn nguyện cho sự lãnh-đạo của những bậc giả thương dân chúng đó vậy.

Vậy có câu "Dĩ Đức phục nhân" tức nhiên lập Hòa-bình bằng nhân đức; mà chính các vị lãnh-tụ không thực-hành được mảy-may nào cả thì đừng trông chi họ đem hạnh-phúc và đem nguyện-vọng chân-chánh đến cho dân chúng được. Dầu cho phải thay màn như vậy nữa, dân chúng Việt-Nam chắc chắn không bao giờ đạt vọng được, cũng vì sự bất lực của quyền đời như vậy.

Mọi sự biến-chuyển đều do Đức Chí-Tôn, còn sự lập đời cũng do Đức Chí-Tôn định phận cho các Thiên mạng rồi thì còn chi mà khó nữa; chỉ đi đúng chơn-truyền của Đạo và trọn tuân lịnh của Đức Hộ-Pháp thì xong mọi việc, các Em cũng đã hiểu rồi!

Về việc lập quốc cho nòi giống Việt-Nam, mặc dầu địa-thế của nó nhỏ, nhưng sẽ được các liệt-cường trợ giúp cho nó thành một nước độc-lập hoàn toàn mà lại còn là trụ cốt thái-bình cho vạn-quốc nữa.

Vì chính nước Việt-Nam đã được Đức Chí-Tôn định là Thánh-Điạ thì tức nhiên nó phải có chút ảnh-hưởng của Đạo Cao-Đài quyết-định, không dựa vào hình-thức nào hay là chút ảnh-hưởng văn-minh của một liệt cường nào cả. Vì sự tiền-định khéo-léo và cao trọng như thế mà Đạo Cao-Đài sẽ được vi-chủ về mặt tinh-thần để chấm dứt cuộc chiến-tranh tàn khốc của hoàn-cầu.

Theo thế thường, đời càng gay mà muốn lập lại đời thái-bình thì phận-sự của Đạo lại càng thêm khó-nhọc và nặng-nề.

Vậy các Thiên-mạng phải cố tâm trì-chí, đứng trọn trong khuôn-khổ Đạo thì mới được dễ-dàng để bước qua những trở ngại trên phận-sự mà thành-công một cách mỹ mãn. Các Em cứ đặt trọn Đức-tin nơi Đạo rồi thì mọi việc sẽ được như ý.

Cần nhứt là các Bạn Thiên-mạng phải làm khác hơn thế tình thì mới được đa nghe!"

 

 

SÂN NGÔ (ĐỒNG)

E: The yard of sterculias.
F: La cour de sterculiers.

Sân ngô (đồng): Sân ngô là cái sân có trồng cây ngô đồng.

Có hai trường hợp:

1. Cây ngô đồng ở bên Tàu có đặc tính là khi mùa thu đến, lá ngô đồng biến thành màu vàng rơi xuống.

Thơ cổ: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu. (Cây ngô đồng một chiếc lá rơi, thiên hạ đều biết mùa thu tới).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.

2. Cây ngô đồng tượng trưng người khoa bảng hiển đạt.

Họ Hàn có 8 anh em đều học giỏi và thi đậu làm quan vẻ vang, được người đời truyền tụng là: Hàn thị bát đồng: Tám cây ngô đồng nhà họ Hàn.

Do đó, nơi sân trường thời xưa, thường có trồng cây ngô đồng, ngụ ý trường nầy sẽ sản xuất nhiều người tài giỏi.
Sân ngô là chỉ trường học.

Nữ Trung Tùng Phận:

Thăm chàng đang học nơi trường sân ngô.

 

 

SÂN SI

Sân-si 瞋癡: Tánh hay hờn dỗi và mê lầm.

Kinh Sám Hối có câu:

"Ấy là những gái hung-đồ,
"Xúi chồng tranh-cạnh hồ-đồ sân-si."

 

 

SÂN TRÌNH

E: Ancient school.
F: École ancienne.

Sân: Cái sân, khoảng đất rộng. Trình: Trình Di tức là Trình Y Xuyên (1033-1107), một danh nho đời Tống bên Tàu. Ông chú thích nhiều kinh sách của Nho giáo và cùng với anh là Trình Hạo (Trình Minh Đạo) phát huy cái học về Tâm và Tính của Nho giáo.

Sân Trình: chỉ trường đào tạo nho sĩ thời xưa.Thường nói: cửa Khổng sân Trình, cùng ý nghĩa trên.

 

 

SẤP MÌNH

E: To prostrate oneself.
F: Se prosterner.

Sấp: nằm úp xuống. Mình: thân mình. Sấp mình là cúi mình lạy xuống.

Kinh Khi Ði Ngủ:

"Sấp mình cúi lạy xin thưa.
"Ơn trên Từ Phụ cho chừa tội khiên."

 

 

SÂU XA

Sâu xa: Khó hiểu.

Kinh Sám Hối có câu:

"Chẳng dùng những tiếng sâu xa,
"E không hiểu thấu diễn ra ích gì?"

 

 

SẦU BI


E: Sad.
F: Tritesse.

Sầu: buồn rầu. Bi: đau xót. Sầu bi là buồn rầu đau xót.

"Ôi! Chiếc nhạn kêu thu cũng là một cảnh sầu bi nơi trầm luân khổ hải này, một con thơ còn bơ vơ nơi đất khách, sau dầu bước đặng thang mây, vinh qui bái tổ, ôm cái tháp này khóc than, chớ Cha hiền đã cỡi hạc qui Tiên".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Bá tước công khanh ý vị gì?
Mà đời đem đổi kiếp sầu bi.

 

 

SEN (Liên Hoa)

Sen (S: padma; L: nelumbo nucifera) Hán Việt: Liên hoa 蓮花 Sen có một vị trí quan trọng trong đạo Phật. Sen tuy mọc trong bùn, tượng trưng cho Luân hồi và sự Ô nhiễm, nhưng hoa vẫn thơm tho trong sạch (tượng trưng cho thể tính của con người), nhờ đạt Giác ngộ (s, p: bodhi) mà có. Hoa sen hay được vẽ trong tranh tượng làm tòa sen của Đức Phật (Phật tọa). Hoa sen cũng tượng trưng cho Đức Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara). Trong Tịnh độ tông, hoa sen là biểu tượng của giáo pháp. (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Trong cửa Đạo Cao Đài ngày nay thì có Bát Nương Diêu Trì Cung lấy hiệu là Hồ Hớn Liên Hoa, hoặc Hồ Hơn Liên Bạch (tiêu biểu cho sen trắng).

Ca dao:

Trong đầm gì đẹp bằng sen?
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

 

 

SHAKESPEARE

Shakespeare giáng cơ bằng Pháp ngữ 4-1 Ất Hợi (29-12-1935): "Không một sự thận trọng nào của loài người mà thắng nổi ý chí của Thượng Đế" (Aucun diplomatie humaine ne vaincra la volonté de Dieu).

 

 

SI

Si (); S, P: moha; Si ở đây có nghĩa là đặt niềm tin vào một cái gì nghịch lý, không thể có (Lông rùa sừng thỏ). Trong đạo Phật, si được sử dụng tương tự như biểu đạt Vô minh, không nhận được chân tính hoặc Phật tính nằm trong các Pháp – nói tóm lại là không biết ý nghĩa của cuộc sống.

Theo quan niệm của đạo Phật thì con người bị sáu Thức – năm giác quan thông thường và thêm vào đó là ý thức (tri thức), thức biết phân biệt – làm mê hoặc, si mê. Một tâm trạng vướng mắc vào sáu thức nêu trên dẫn dắt con người đi vào cõi mê bởi vì chúng thúc đẩy, tạo điều kiện làm cho con người dễ tin rằng, thế giới hiện hữu là sự thật tuyệt đối, mặc dù nó chỉ là một khía cạnh, một khía cạnh rất hạn chế của sự thật.

Quan niệm rằng, thế giới nằm ngoài Tâm cũng là một quan niệm cuồng si, bởi vì thế giới chính là sự phản chiếu của tâm, là những biến chuyển của tâm thức (thức biến). Như vậy không có nghĩa là thế giới hiện hữu hoàn toàn không có. Nếu các vị Ðại sư trong Phật giáo bảo rằng, các pháp hiện hữu đều không có thật thì người ta nên hiểu rằng, chư vị nói như thế để phá tà kiến, niềm tin của một phàm phu vào một thế giới nằm ngoài tâm, thế giới khách thể, cho rằng nó chính là sự thật. Mục đích của Đạo Phật là tiêu diệt si mê qua kinh nghiệm Giác ngộ và trong tất cả các trường phái thì Thiền tông nổi bật lên với quan niệm Kiến tính thành Phật, trực nhận chân lý.

Theo giáo lý tối thượng của Phật giáo như Thiền, Ðại Thủ ấn, Ðại cứu kính, giác ngộ và si mê, thế giới hiện hữu và sự thật tuyệt đối, sắc và Không (s: śūnyatā), Luân hồi (s: saṃsāra) và Niết-bàn (s: nirvāṇa) là một, không hai. Ðể đạt đến sự nhận thức này, người ta cũng có thể dùng phương pháp biện chứng, suy luận phân tích – như nhiều trường phái Phật giáo khác. Nhưng Thiền Tông lại cho rằng, cái thức phân biệt – vốn đã bị một màn si mê bao phủ, dẫn dắt con người đến bể khổ trầm luân – chỉ có thể vượt qua bằng kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp, như "người uống nước biết mùi vị như thế nào".

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

SĨ DIỆN

士 面
F: Orgueil de lettré; honneur.

: Học trò, người học thức, trí thức. Diện: cái mặt. Sĩ diện, nghĩa đen là cái mặt của người trí thức, nghĩa bóng là chỉ cái giá trị bề ngoài của mỗi người trong giao thiệp.

 

 

SĨ KHÍ

士 氣
E: Schollar’s virtue.
F: La vertu du lettré.

Sĩ khí 士氣: Khí tiết của người theo nho học thời xưa.

Nho-Giáo có câu để nói lên sĩ khí của người: Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.

 

 

SĨ ĐẠT TA (SHIDARTA)

Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, trước là một vị Thái-Tử tên là Siddharta; chữ Siddharta nghĩa là vạn sự như ý.

"Đức Shidarta (gọi là Kakya-Mouni) nghĩa là người Hiền xứ Cakya, lấy lòng nhơn bao trùm thiên hạ, tầm thêm đặng chơn lý Sanh khổ mà lập thành Phật giáo, nên dùng phép đoạn trái oan trừ nghiệt chướng đặng làm phương giải thoát luân hồi. Ấy là giữa chốn khổ não đau thương, Ngài lại đem tánh Từ-bi tự toại ra chuyên chế lòng phàm, cầu sanh chúng tương thân lẫn ái, thật chẳng khác nào đã khổ nơi ô-trược nhớp nhơ mà Ngài đến rải mùi thơm ngào ngạt. Ngài nhờ Lão– Bịnh- Tử khổ giác minh "bổn thiện" mới đoạt phương cứu khổ loài người." (Ðức Phạm Hộ Pháp: trích Khuê bài Thiêng liêng vị)

 

 

SĨ QUAN CƠ THÁNH VỆ

Chiếu theo Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938) về khoản cầu phong của Hành Chánh thì mọi người đều phải chịu điều kiện 5 năm công nghiệp đầy đủ và tròn trách nhiệm ở phẩm Chánh Trị Sự, mới được đem tên vào sổ cầu phong Lễ Sanh. Song cũng có nhiều trường hợp cầu phong vào hàng Lễ Sanh qua khỏi mặt luật ấy, do nơi quyền thống nhứt Chánh Trị Ðạo ban cho: Sĩ Quan Cơ Thánh Vệ (Bất luận phẩm nào trong hàng phẩm Sĩ Quan Cơ Thánh Vệ) mà chư vị Bảo Thể đã đắc lịnh bổ dụng trong Cơ Thánh Vệ được đầy đủ 5 năm hành sự được đem tên vào sổ cầu phong Lễ Sanh (Sau nầy Sĩ Quan quân đội có từ cấp Úy đổ lên được xin cầu phong Lễ Sanh).

 

 

SĨ TẢI (Phẩm)

士 載
E: Archivist.
F: Archiviste.

Sĩ Tải là phẩm tước bên Hiệp-Thiên-Đài đối phẩmLễ Sanh.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng Cơ nói: Thánh chỉ Chí Tôn nên mới đặng rộng đường xuất Thánh. Bần Đạo có để lời trân trọng cầu thưởng cho học tu nên mới đặng cao phong phẩm giá. Phẩm trật rắc rối khó nói rõ, nhưng chia ba: Pháp, Đạo, Thế, thì theo sự hiểu biết của Bần Đạo như vầy:

- Sĩ Tải là Secrétaire Archiviste. Chiếu Thánh Giáo Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn đêm 16 tháng 2 năm Ất Hợi (dl: 20-3-1935) chỉ giáo về phẩm vị của Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài từ hàng Sĩ Tải lên Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn.

Quyền hành và trách nhiệm phẩm Sĩ Tải:

Phẩm Sĩ Tải là Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài. Sĩ Tải có phận sự:

- Minh tra công nghiệp cầu phong và cầu thăng.

- Thẩm vấn chư Lễ Sanh, Giáo Thiện, Chức Việc, Ðạo Hữu Nam Nữ Hành Chánh và Phước Thiện phạm pháp.

- Gìn giữ hồ sơ lưu trữ.

- Ðược làm Bí Thơ cho Chức Sắc cao cấp các Văn phòng Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài ba chi Pháp-Ðạo-Thế.

- Ðược bổ dụng hành sự Pháp Chánh địa phương.

Mặc dầu quyền hành và trách nhiệm của mỗi cấp bậc qui định như trên, tuy nhiên trong trường hợp thiếu Chức Sắc mà cấp dưới có khả năng, thì có thể được bổ dụng lãnh phận sự cấp trên với địa vị của mình đương có, tùy ý định của Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài.

Ðạo phục của Sĩ Tải có hai bộ: Ðại và Tiểu phục.

a/- Ðại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân Công bình.

b/- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên Mạo, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có Cân Công bình và hai chữ SĨ TẢI bằng quốc tự.

Việc cầu phong và thăng thưởng Phẩm Sĩ Tải:

Sĩ Tải muốn thăng phẩm Truyền Trạng phải có đầy đủ 5 năm công nghiệp với chức vụ và có sự minh tra đủ lẽ.

Khi thọ mạng lịnh của Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài hay của Thập Nhị Thời Quân, từ phẩm Sĩ Tải đến phẩm Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn được buộc dây Sắc Lịnh nơi mình trong lúc hành sự, nhưng phải theo Chi của vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài hay của vị Thời Quân ra lịnh mà thả mối. Trường hợp mang dây Sắc Lịnh phải được ghi rõ trong Thánh Lịnh giao phó nhiệm vụ cho đương sự.

 

 

SĨ TẢI PHẠM DUY NHUNG (1926-1967)

Qui vị ngày 22-04-Đinh Mùi (30-5-1967).

Phạm Duy Nhung thi Luật Sự năm 1949. Khóa ấy chỉ có hai người là Nhung và Hà Chí Khiêm (hiện nay là Phó Giám đốc Đạo Đức Học Đường). Ông được bổ làm Luật Sự chép án nơi Pháp-Chánh Tư Quyền Cửu Trùng Đài. Có lúc ông được tuyển thư ký đặc biệt tại Hộ-Pháp Đường thay thế cho Luật Sự Nguyễn Ngọc Thơ xin từ chức để lo cho gia đình. Ông có làm Pháp-Chánh Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Bến Tre. Khi Đức Hộ Pháp lưu vong Kim-Biên, anh em có lo tổ chức cuộc biểu tình vĩ đại tết Kỷ Dậu (1956) Ông đóng góp phần đắc lực sắp xếp mọi vấn đề cần thiết. Khi lập ban Miền Nam Chính Sách Hòa Bình Chung Sống, Nhung lãnh Trưởng Ban Tuyên Huấn. Ông cùng Sĩ Tải Trần Văn Hưởng, Sĩ Tải Trần Văn Hợi… đi Lục tỉnh tổ chức các Ban Tỉnh, Quận cho có đủ cơ cấu làm việc sau nầy. Ông bị chánh-quyền Ngô Đình Diệm bắt bỏ tù nhiều lần, nhưng vẫn can đảm đeo đuổi theo chí hướng Hòa Giải Dân tộc, Hòa Bình Nam Bắc. Ông có làm hai cuộc họp báo tại nhà hàng Soái Kình Lâm và nhà hàng Majestic để tuyên truyền đường lối. Vì chịu đựng nhiều năm kham khổ nơi khám đường ông bị thổ huyết nhiều lần và cuối cùng trút linh hồn tại bệnh viện Tây Ninh, hưởng dương 42 tuổi. Theo tài liệu của Sĩ Tải Huỳnh Văn Hưởng. Ông Phạm Duy Nhung sanh ngày 10-10-năm Bính Dần (1926) tại làng Bô Bảng, huyện Hòa Vang. tỉnh Quảng Nam, con của ông Phạm Duy Trinh và bà Hồ Thị Ngọc.

Nhập môn ngày 1-5-Ất Dậu (1945) tại Thánh Thất Đa Phước Đà Lạt. Năm 1945 vào Tòa Thánh làm Thư Ký Lương Viện, Quốc Sự Vụ. Có đi Hà Nội học lớp Dân Huấn Vụ về cộng tác với Hồ Thái Bạch lập Học Sinh Bá Nghệ Đoàn.

Ngày 22-8-Kỷ Sửu, đắc khoa Luật Sự có được chọn làm thơ ký Hộ Pháp Đường. Lãnh thêm chép án nội các phiên tòa Pháp Chánh Tư Quyền Cửu Trùng Đài.

Ngày 22-3-Qúi Tỵ (1953) lãnh Pháp Chánh hai tỉnh Tây Ninh và Gia Định. Thăng Sĩ Tải năm 1954 và được bổ Pháp Chánh Mỹ Tho - Gò Công.

Năm 1956 lãnh Pháp Chánh Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre.Lãnh thêm Ban Tuyên Huấn, Ban Miền Nam Chánh Sách Hòa Bình Chung Sống.

Ngô Đình Diệm bắt Hòa Bình Chung Sống, ông Nhung bị tù đày nhiều phen nên mang bịnh đau phổi và trút linh hồn tại bệnh viện Tây Ninh ngày 22-4-Đinh Mùi (dl: 30-5-1967) thọ 42 tuổi. Nhờ anh em Hòa Bình Chung Sống bổ túc thêm về sự nghiệp văn chương cũng như hành động can đảm để đem thắng lợi về cho Đạo. Riêng Quang Minh có bài thi trách thiện như vầy khi bạn Nhung từ trần:

Tinh thần vật chất vốn so đồng,
Phải giữ song bằng mới đúng cân.
Nếu trọng phần hồn e xác lụy,
Còn nâng nhục thể chí thêm đần.
Hồn nhờ nương xác bồi âm chất,
Xác bám nương hồn lập đức công.
Hồn xác tuy hai mà vẫn một,
Hồn minh, xác kiện, phước vô song.

Nhung là một đồng tử điển âm rất tốt, ngồi với ai cũng được. Nhờ vậy mà sự học hỏi với Bà Bát Nương và Đức Cao Thượng Phẩm được nhiều lời dạy hay, bí mật về bí pháp. Dựa theo Thánh Giáo ấy, Thừa Sử Phước có sáng tác quyển Luật Tam Thể được Đức Hộ Pháp duyệt y và khen hay. Cũng còn nhiều bài Thánh Giáo tả cảnh, tả tình bằng văn vần rất có giá trị. Nhưng cái gì có lợi cũng có luật tương đối của nó. Nhơn một đàn cơ, nói rằng của Đức Hộ Pháp, ra một thiên lịnh cho Phạm Duy Nhung một quyền rất lớn lao là thay mặt cho Đức Ngài để chuyển thế, cứu thế; lại định cho các vị Thời Quân, các Chức Sắc cao cấp bên Cửu Trùng Đài và Phước Thiện làm cố vấn…. nên Hội Thánh hội lại cho đó là Nhung cố ý cầm quyền Hội Thánh, rồi chiếu theo Thánh Lịnh số 2/TL mà trục xuất 6 vị Sĩ Tải: Nhung, Hưởng, Giảm, Ngời, Nguyên, Tú.

Sau 30-4-1975 Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh ra lệnh hủy án đó và cho cả thảy đều được phục chức Sĩ Tải. Riêng Nhung khi chết chỉ được chôn cất theo hàng Tín Đồ. Anh em Hòa Bình chung đậu xây mộ anh tại Thái Bình Cực Lạc rất đẹp bằng đá rửa. Đám tang anh có Luật Sư Trịnh Đình Thảo và phái đoàn Ủy Ban Bảo Vệ Hòa Bình đến tư gia đem lễ vật cúng tế và điếu một bài do Đặng Văn Ký đọc:

Hòa Bình Chung Sống Phạm Duy Nhung,
Nối chí Thầy nên thuyết Đại Đồng.
Họp báo tuyên dương đường chánh, ngụy,
Vô tư thông cảm cuộc tồn, vong.
Liên hoan bạn đặng lên nhà bạn,
Truy điệu ông nằm dưới mộ ông.
Thống nhất ngày vui ông vắng mặt,
Xa gần nhắc nhở, nhớ nghi phong.

Phái đoàn gồm có:

1- Trịnh Đình Thảo 2- Kỹ Sư Tô Văn Cưng
3- Nhà văn Thiếu Sơn 4- Thanh Nghị

Trong Uỷ Ban Bảo Vệ Hòa Bình của Bác Sĩ Phạm Văn Huyến. Tòa án quân sự Bạch Đằng Sài gòn ngày 29-4-1966 xử ông Phạm Duy Nhung 8 tháng tù treo về tội làm Hòa Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp, cho rằng phá rối cuộc trị an, do cuộc họp báo tại nhà hàng Majestic, ngày 17-3-1965.

            Tám Tháng Tù Treo
Trước tòa đem đổi chút tình thương,
Tám tháng tù treo với Việt-thường.
Dẫn lối Hòa Bình anh chủng tộc,
Đưa đường Chung Sống cứu quê hương.
Bàn cờ thế giới không diêu động,
Cuộc chiến Việt Nam phải độ lường.
Lấy trí làm thành ngăn máu đổ,
Tạo phương Nam Bắc hiện Trung Ương.
                        (Phạm Duy Nhung)

            Tỉnh Say
Biết ai đang tỉnh biết ai say?
Thấy tỉnh trong say mới thực tài.
Cạn chén san hà say ấy tỉnh,
Vui tình phong nguyệt tỉnh mà say.
Tuồng đời xạo xự đường say tỉnh,
Nẻo Đạo quanh co vẻ tỉnh say.
Say đức, say nhân, say tổ quốc,,
Tỉnh đâu sánh được cái say này!
            (26-12-1957 tại trung tâm Huấn Chính Thủ Đức
                                    Phạm Duy Nhung

Thế là một người bạn thứ 6 của chúng tôi đã về với Đức Chí Tôn. Tuy các vị sau đây là khóa đàn anh, hoặc vì nhiệm vụ mà hy sinh, hoặc vì bịnh mà qui liễu, nhưng chúng tôi muốn lưu lại công nghiệp và sự nghiệp văn chương nên cũng mạn phép ghi vào tập này để nêu gương hậu tấn.

 

 

SĨ TẢI TRẦN TẤN HỢI

Qui vị ngày 28-09-Đinh Dậu (1957).

Sau khi đậu Luật Sự bạn Hợi được thuyên bổ Pháp Chánh Bạc Liêu, Mỹ Tho rồi trạm chót là Đà Lạt. Sau về trung ương giữ hồ sơ (Archivister). Anh rất thích đánh cờ tướng và uống rượu, còn cà phê lại là món đặc biệt hơn nữa. Có lần anh nói: "Nhứt nhựt bất ẩm nhứt ly cà phê, bất năng hành sự hồn" (Thầy Hợi viết). Anh thường ở đậu nhà Sĩ-Tải Diệp Thành Nên ở cửa số 4. Cơm thì anh ăn không định chỗ nào. Ở trại đường thì "Bà ria rượt" nên ông thường ghé nhà Thừa-Sử Hợi (còn gọi là Hợi lớn) hay đến nhà chị Ba Chiêu là chị của Sĩ Tải Võ Nhàn-Du là những mạnh thường quân của anh. Có bữa trớt he anh phải về gõ cửa nhà tôi để hỏi: "Ê còn cơm nguội không "toi" cho "moi" một "chén". Tội nghiệp một kiếp sanh hy sinh cho Đạo không kể chi là sự nghiệp riêng tư. Có lần anh về Soài-Riêng thăm vợ con, nhưng kiếm chuyện đi thăm bạn bè không dám ngủ nhà, vì sợ vợ sanh thêm con thì tội nghiệp cho người đàn bà. Anh đã có hai con rồi mà bỏ gia đình đi tu luôn ít khi về thăm viếng. Khi anh được bổ làm Pháp-Chánh miền Trung, anh châu du khắp hang cùng ngõ hẽm của Trường Sơn để tuyên truyền đường lối Hòa Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp. Anh được đề cử đi Nam-Vang chúc tết Đức Hộ-Pháp hồi năm 1957 và đem nhiều tài liệu trình Đức Ngài. Sự tiến triển của đường lối Hòa Bình Chung Sống. Anh trở về thăm gia đình trên đường về Thánh Địa, nhưng khi đến biên giới Miên-Việt anh bị bắt và an trí tại trại giam Biên Hòa. Nơi khám đường anh đi tiêu ra máu, có lẽ vì đứt dây chỉ của vết thương mổ ruột của anh. Vì thiếu thuốc men, anh ốm dần và chết tại khám. Nghe nói lại là họ bỏ vào cái hòm cây khiêng tới huyệt, rồi đem xác anh ra bỏ vào lòng đất lấp lại, còn hòm họ đem về. Sau này anh em Hoà Bình Chung Sống đến Biên Hòa lấy cốt anh đem về chôn ở Cực Lạc cũ, có làm mã đá tử tế. Quang Minh có làm bài tưởng niệm anh như sau:

Hồn ai lảng vảng chốn lao lung,
Hay tiếc dở dang thuyết Sống Chung.?
Giận lũ buôn dân vênh mặt nịnh,
Thương người vị quốc vẹn lòng trung.
Bắt cầu Bến Hải trương oai dũng,
Rêu phướn Nhan Uyên tấn khí hùng.
Giọng quốc gào khuya bên mộ vắng,
Tha bang Chúa Thánh có hay cùng?

Sau đây nguyên văn bài Thánh Giáo:

Phò loan:
Thừa Sử Hợi, Sĩ Tải Nhung, Sĩ Tải Tiếp, Giáo Hữu Tý

Chào ông Giáo, mấy Bạn và mấy em. Cười...

Bị đứt ruột mà chết coi cũng khỏe thây! Cười…nên nhớ tụi Hiệp Thiên mình về tòan là xách cặp lăng xăng nơi cửa Cung Điện, coi vậy mà oai. Nè, ông Thầy Ba nhà mình cũng quạu ra phết. Hôm trước nhân vụ Đức Hộ Pháp biểu tụi kép Hiệp Thiên đến phò nơi ông Phối Sư, ông Thầy Ba cầm can gõ, làm mấy người dòm ngó giựt mình lui hết rồi. Cười... cười.. Ê! Ông Thánh Phi Châu lâu lâu không biết rinh đâu được ít rượu đem về thú quá, nhưng cười... vậy mà cái ông Thánh Trấn cự nự chớ. Cười... nè khi nhàn rỗi, lúc nhấm trà, lúc thưởng hoa, ngắm lại vui hơn lúc còn ở thế lộn xộn quá.

- Sĩ Tải Tiếp hỏi: về Thiêng Liêng có lẽ Anh ở không chơi tối ngày, khỏe quá phải không?

- Khỏi phải nói, lo muốn hụt hơi chớ đâu có ở không?

- Sĩ Tải Tiếp hỏi: hồi ở thế chúng ta có đọc vụ cụ Nít về Thiêng Liêng qua các cung điện như trong các bài Cửu-Cửu. Bây giờ anh đã đi, xin cho biết đúng như vậy không?

- Cười…xạo! Nằm mơ nói mộng chớ cõi Thiêng Liêng nào mà vậy. Ê nói thiệt nghe: Đức Ngự Mã giữ Cực Lạc Thế Giới, Đức Ngài đang chuyển vận pháp mạnh mẽ vô cùng. Ông Thánh Phi Châu lo giữ phần chuyển giống da đen. Ông Thánh Hiển lo phần da trắng, ông Thánh Trấn lo phần da vàng và Thánh Địa. Ông Hiển tức ông Thánh Phi Châu, nhưng phải mang hai phận sự, còn Thầy Ba lo phần chạy việc thường xuyên để nâng đỡ Kim-Tiên, trong khi Đức Ngự Mã chuyển Ma Xử. Còn thằng Hội thì xách cặp chạy hết ông này đến ông khác, biết không? Cho Thi:

Chẳng phải lon ton chẳng ký còm,
Làm tên thừa lịnh phải lom khom.
Vậy mà coi lại oai ra phết,
Tiên Thánh thấy mình cũng nễ mồm.

Ê! cười... mấy em gái cứ vui đi, Thầy Ba biểu tôi nói các em chớ lo chi, đợi ổng sẽ về nói chuyện sau. Bây giờ nhớ lời ổng nói lúc nãy là đủ. Ít lời Hợi xin kiếu".

Chúng tôi còn nhớ có lần anh Hơi có hơi men về Bộ Pháp Chánh thấy anh em cầm Cơ học Đạo, anh mặc áo dài vào đứng hầu, Bát Nương quở bằng mấy câu sau đây:

Ngửi mùi thang thảng có hơi men,
Nong nã đàng trung vội đuổi hèm
Khuyên có một lần đừng nữa đó!
Lưu Linh đâu ở tận bùn lem.

Anh biết lỗi chuồng đi mất. Anh là người thứ năm trong chúng tôi về với Đại Từ Phụ.

 

 

SĨ TẢI LÊ VĂN CHƯƠNG

Tức Thầy Giáo VĂN - ( -1968)

 

 

 

Thuở thiếu thời, ông Giáo Văn làm giáo viên Đạo Đức Học Đường, Tòa Thánh Tây Ninh. Học trò ông nhiều người nên phận, hoặc làm Sĩ quan hoặc thọ phong Chức Sắc, hoặc làm công chức, hoặc trở thành phú gia… Ông có lãnh một phận sự mật của Hội Thánh đến Ban Chỉnh Đạo Bến Tre đem bộ sổ đất Thánh Địa về Tòa Thánh. Vì thời cuộc, ông giả điên, giả say để qua mắt chính quyền đối lập trong các thời đại. Ông già bệnh và trút hơi thở cuối cùng tại Thánh Địa ngày 3-7-1968 (âm lịch là 8-6-Mậu Thân). Hội Thánh nhớ công nên cho hành lễ an táng theo hàng Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài. Theo sự tường thuật của ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn-Văn-Hội thì ông Văn dâng tờ cầu phong Lễ Sanh, lấy công nghiệp giáo viên. Khi vào Cung Đạo, Đức Lý Giáo Tông dạy "Hiệp Thiên Đài định vị, nhưng phải có đề nghị của Quyền Gíáo Tông mới được".

Đức Hộ Pháp chờ lịnh Đức Quyền Giáo Tông, nhưng Đức Ngài giải đải thời gian rồi Ông Văn qui vị. Đức Hộ Pháp có nói: Nếu phong nó Sĩ Tải thiệt thọ thì nó sẽ hư, cứ để làm "Folie de cour" mà nó còn giữ phẩm vị được. Ngài giải những người Folie de cour là những người can gián Vua bằng cách giả điên, vì quyền quân chủ chuyên chế ngày xưa không có kẻ tỉnh nào dám can vua, bởi sợ bọn xàm nịnh ám hại sẽ bỏ mạng, nên có người thành công trong Folie de cour. Ông Văn tiếp thu ý kiến ấy, muốn can ông Tương đừng nghịch với Tòa Thánh bèn xuống làm đồ đệ của ông Tương. Ban đầu cúc cung tận tụy, sau giả say mắng ông Tương: "Chức Đầu Sư của Chí Tôn mà ông chê, ông muốn lên Giáo-Tông, không sợ Thiên Điều, không ngán Ngũ Lôi tru diệt….." giả điên nhiều lần thành quen tánh ăn nói quàng xiêng mà phải mang danh "Văn Điên".

Khi ông Văn qui vị Hội Thánh nhắc tích Đức Lý để Hiệp Thiên Đài định vị, nên đồng ý phong Ông vào hàng Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài để ân cử về phần hồn cho một người trung thành cùng với nền Đại Đạo. Thế là trong sử Đạo chỉ có một vị Sĩ Tải không thi Luật Sự, không hành quyền Pháp Chánh, mà vẫn được truy phong vào phẩm vị Thiên Thần, nên chúng tôi kể như ông là một Chức Sắc Hiệp Thiên Đài.

Ông tên thật là Lê Văn Chương, hưởng thọ 59 tuổi. Những bài thi điếu sau đây chứng tỏ hành vi lập công của ông và chứng minh một kiếp sanh trọn Đạo của một chơn linh phi thường.

Bài của Thông Quang:

Thầy Giáo Văn đã mãn quả duyên,
Từ đây bặt tiếng gọi "Văn Điên".
Tuy là trọn kiếp không danh vị,
Nhận thấy đôi khi có thẩm quyền.
Đạo Đức Học Đường còn nhớ mãi,
Công trình giáo hóa buổi đầu tiên.
Thiện nam, chơn nữ cùng kính mến,
Cầu nguyện hồn linh hưởng phước riêng.

Bài của Hoàng Nhiên:

Giáo Văn đã rảnh nợ trần,
Về chầu Bạch Ngọc tinh thần vui tươi.
Nhớ xưa công quả đắp bồi,
Đầu tiên sang tạo nên ngôi Học Đường.
Dày công dìu kẻ tầm chương,
Giáo viên công quả không lương một đồng.
Hôm nay nhiều bậc vinh phong,
Môn sinh xứng phận khó mong ân nồng.
Giúp đời, giúp Đạo nên công,
Khắp trong quốc nội nhiều trang nhân tài.
Thương Anh trong lúc sau này,
Vì Thầy vì Đạo trày trày tâm trung.
Đó đây riễu Đạo khắp cùng,
Gặp hồi loạn lạc lắm phường gian manh.
Nặng lời kẻ nịnh hám danh,
Bất trung bất chánh cạnh tranh dối lừa.
Mượn bầu rượu sớm cùng trưa,
Đóng trò múa hát say sưa xác trần.
Làm điên, làm dại, làm khùng,
Làm quan gián nghị, sửa trang lộng quyền.
Mặc thân vất vả ngang nhiên,
Chẳng màng danh lợi lụy phiền không nao.
Bây giờ anh hết khổ đau,
Đường mây lướt dặm về chầu Chí Linh.

Bài của Võ Thành Lương (Giáo Thiện):

Giáo Văn thoát xác gội hồng ân,
Sĩ Tải truy phong bởi hữu phần.
Công nghiệp phi thường xưa tạc sử,
Bồng Lai nhược thủy sớm dời thân.
Thật không phải lãng con đường Đạo,
Giả dại cho xong cái kiếp trần.
Lê Phủ từ đây anh vắng bóng,
Nguyện hồn siêu thóat ngự Đài Vân.

Bài của Chơn-Tâm:

Điện Trung ai rõ nổi cang trường,
Ông giáo ly trần nghĩ tiếc thương.
Không vợ, không con, không sự nghiệp,
Có tài, có trí, có văn chương.
Giả say để thức bao người tỉnh,
Tuy mất còn lưu một tấm gương.
Chẳng nhiễm mảy may mùi tục lụy,
Quên mình mới thật bực phi thường.

Có lần ông mua đinh một tấc đóng dài dài theo các gốc cây ở rừng Thiên Nhiên. Nếu ai hỏi để làm gì, thì ông nói để Chức Sắc máng áo mão, vì sẽ có một cơn khảo mà rất đông Chức Sắc phải bị rớt, không còn quyền mang áo mão vào Đền Thánh để đảnh lễ Đức Chí Tôn.

Một hôm nọ, ở cửa số 7 ngoại-ô Thánh Địa, ông đang nghiến răng, nói xiêng xỏ những vị Chức Sắc phạm pháp; đàng xa thấy Đức Hộ-Pháp đi lại, tức thì ông xuôi tay, câm miệng đứng như Trời trồng. Đức Ngài thấy thương tâm bảo về tắm rửa, nghỉ ngơi, đừng làm khùng điên nữa. Ông riu-ríu đi một nước về nhà. Lối 12 giờ khuya, ông đi rảo thấy một số người không đi Cúng, ông lớn tiếng nói nặng: "Mấy thằng Giáo Thiện, Chí Thiện ăn no làm biếng, chẳng chịu đi Cúng, ở nhà ngủ cho mập…". Còn đối với Chức Sắc Hiệp Thiên Đài ông kêu "Chư Sở", mấy thằng Tòa của ông Nghĩa. Ông không kiêng nễ, không sợ mích lòng ông lớn, ông nhỏ nào hết. Hễ ai quấy là mạnh miệng chỉ trích. Ấy cũng là phương lập công mà không có người thứ hai bắt chước.

Ông Trần Ngọc Văn Chương được Đức Quyền Giáo Tông nhận làm con nuôi nên còn có tên là Lê Văn Chương, tuy tên là Văn Chương nhưng ông được tất cả mọi người gọi là Thầy Giáo Văn.

Gọi là Thầy Giáo Văn.để tránh trùng hợp với Giáo Chương, bút hiệu của Ngài Bảo Đạo Hiệp Thiên Đài: Ca Minh Chương

(Ngài Ca Minh Chương được dân chúng làng Mỹ Lộc Tây, thuộc quận Cần Giuộc cử làm Hương Bộ, sau một thời gian Ngài xin nghỉ và đi dạy học nên được dân làng gọi là Thầy Giáo Chương. Giáo Chương còn là bút hiệu của Ngài, dù rất ít làm thơ. Dưới đây là một bài thơ của Ngài, bên dưới đề là: Giáo Chương, tức Thấy Giáo Ca Minh Chương.

            CHỮ BẦN
(Họa vận bài thơ của Ngài Thuần Đức)

Chi bận trần gian nẻo phú bần,
Dốc tìm đường cả đẩy đưa chân.
Linh luân chí dễ an thân phận,
Hồ hải tình mong lánh nợ trần,
Vui lại ngổn ngang dòng nước Trí,
Buồn về lẩn bẩn khóm non Nhân.
Huỳnh-đình mấy cuốn hằng ngâm đọc,
Ngõ họa thân sau khỏi bợn trần.
                        (Giáo Chương)

Năm Quí Dậu (1933), sau khi nhị vị Đầu Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh (Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang) tự tách về Bến tre lập thành Chi phái gọi là Ban Chỉnh Đạo. Nhị vị Đầu Sư đem theo số Hồ-sơ và giấy đất của Đạo. Thầy Giáo Văn đã len lỏi theo xuống Bến Tre do cuộc bầu cử ngôi Giáo Tông ở Thánh Thất An-Hội ngày 08-01-Ất Hợi (Thứ Hai:11-02-1935), thừa dịp Thầy Giáo Văn tìm được số Hồ sơ và giấy đất của Đạo đem trở về cho Hội-Thánh.

Sau việc trên Đức Hộ-Pháp dạy Thầy Giáo Văn giả điên vì sợ nhóm người của Ông Nguyễn Ngọc Tương lên ám sát.

Sau đó, ông giáo Văn được Đức Chí-Tôn phong cho chức Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài.

Chuyện kể về thầy Giáo VĂN trong dân gian:

Vào năm 1972, trong lễ Hội Kỳ Yên đình thần làng Long-Thành ở Bến kéo (Đức Chí-Tôn ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành lên chức Văn Xương ngày 19-01-Đinh Mão (dl: Chúa nhựt, 20-02-1927). Vì cúng mặn, nên Thầy giáo Văn có nhập vào một em bé trai khoảng 7 tuổi. Đột nhiên đi ra giữa buổi lễ và rầy ban tổ chức (Y như tiếng nói của Thầy Giáo Văn lúc còn sống):

"Ta là Thầy Giáo Văn: nay được lịnh của Đức Chí-Tôn đến trấn nhậm vùng này thay thế cho Văn Xương. Kể từ nay Ta ra lịnh cho lễ Hội tại Đình phải cúng chay mà thôi".

Nói xong, em bé ngã lăn ra bất tỉnh. Em được mang ra ngoài xoa dầu một lúc sau mới tỉnh lại.

Đình Thần làng Long Thành ở Bến kéo có lập bàn thờ Thầy Giáo Văn và lệ cúng Đình được làm chay từ đó.

Về sau, Thầy Giáo Văn còn nhập vào nhiều vị khác để dạy và chữa bịnh cho dân chúng rất là hiệu nghiệm.

 

 

SĨ TẢI ĐỖ QUANG HIỂN

Chúng tôi có đến Trí Giác Cung để phỏng vấn bà Phối Sư Hương Cúc là Cô ruột của Ông Thánh Hiển và được tiết lộ như sau: Thân sinh ông tên Đỗ Quang Khánh và bà mẫu thân tên Lâm Thị Đó. Ông Hiển là con thứ 3, người thứ 5 tên Dung, người thứ 6 tên Tiển, người thứ 7 tên Tâm (tức là người bạn đời của ông Hợi, Tiếp Dẫn Đạo Nhơn). Người thứ 9 tên Hường (chết), còn người út tên Thành. Ông Hiển cầu phong Lễ Sanh, nhưng Đức Lý phê Hiệp Thiên Đài định vị. Khi Đức Hộ Pháp hỏi ở phẩm vị nào thì Đức Lý nói: phẩm Sĩ Tải.

Năm 1941, bị đồ lưu nơi Phi Châu tại Madagascar. Trong năm người bị đày, ông là người trung thành nhất đối với Đức Hộ Pháp. Khi Pháp bắt Đức Ngài gánh nước thì ông Hiển gánh thế, hoặc làm gì nặng nhọc thì ông giành làm không ngại gian lao. Vì bị đổi đến nơi lam chướng nên ông bịnh mà chết. Hài cốt hiện giờ còn ở Madagascar. Nhờ dạ trung thành, trọn tâm cùng Đạo, chẳng thay dạ đổi lòng trong cơn khảo đảo, nên đặng đắc Thánh vị. Ông thường giáng cơ xưng Thánh Hiển, hoặc Thánh Phi Châu. Có lần ông cho một bài:

Cuộc đời còn lắm nỗi gay go,
Các Đấng bao phen đã dặn dò.
Hành Đạo Cao Đài cho phải Đạo,
Học trò Xiển Giáo đáng danh trò.
Lợi quyền chớp nhóang đừng mơ mộng,
Đạo đức trường tồn gắng chí lo.
Một kiếp phù sanh không mấy lát,
Thật hành cho vẹn Thích, Tiên, Nho.

THI SAY RƯỢU

Tại Thanh Trước Đàn ông Hiển có cho một bài nói về người say rượu, nhưng chung ý tả chánh quyền lúc ấy (chánh phủ Nguyễn Phan Long) sắp đổ, vì nó không phải của dân cử mà là con đẻ của thực dân Pháp.

Gập ghềnh cao thấp cái đường quan,
Giữa lộ cây đâu lại mọc càng.
Chếnh-choáng không gì ai đỡ nỗi,
Thênh thang đợi có kẻ nâng toan.
Oát đầu áo mặc hai tay thiếu,
Rộn mắt kiếng đeo bốn vó chòan.
Đã biết Đạo mình là thú vị,
Chẳng cần cầu bắc cứ sang ngang.
                        (Thánh Phi Châu 1950)

_______________________________

Phò Loan:
Thừa Sử Hợi, Luật Sự Nhung.

Đêm 11-10-Tân Mão (dl: 9-11-1951)

Đỗ Quang Hiển

Xin chào mấy Bạn. Cười…Cho ăn chocolat mà chưa biết vị, cười…Để Hiển nói chuyện chơi, ráng nghe, nghe mấy Bạn!.

Ông già chống gậy khóc tù hu,
Áo rách tả tơi, tóc rối bù.
Thưởng đám con khờ không thể đỡ,
Đau bầy sói dữ lắm người bu.
Giữ đời an lạc tay đưa gậy,
Đón thế bại tồi miệng biểu tu.
Bởi trẻ già đành đi thất thưởng,
Chỉ đường đưa gậy chiếu thăng phù.

Cười….

Gậy đó khen ai khéo khéo cầm,
Đừng lơi, đừng giả mất tình thân.
Dò đường cao thấp tay nâng gậy,
Chớ để rồi đây oán oán thầm.

Cười…biết Hiển nói chi không mấy Bạn? Hiển chỉ có ít vần đó, xin kiếu.

Em Hiển, qua mừng cho em đó.

Em muốn kẹo phải không? Ở quì đó đi nè:

Quen chiều non nước lúc xuân xanh,
Tên tuổi Đài Mây đã sẵn dành.
Lộc thế rẽ mùi chê mặn lạt,
Ơn Trời nên phận gắng đua tranh.
Lẫy lừng cánh hạc xong trường võ,
Đầm ấm duyên loan để chí thành.
Vùng vẫy Võ môn qua mấy cấp,
Soi tâm đêm lạnh phó trường canh.

Em nhớ lời chị, gắng trọn trung trọn hiếu nghe.

_______________________________

Phò Loan:
Giáo Sư Đến, Truyền Trạng Trấn

Văn Phòng Hiệp Thiên Đài, ngày 1-7-Đinh Hợi (dl: 6-8-1947)

Thánh Hiển

Chào các Bạn. Đến nay có các Đấng hội tại Ngọc Hư Cung định liệu số phận cho đất nước Việt Nam. Lại nữa, chư vị tiền bối, các bậc vĩ nhân cũng hội nơi Sài Thành đặng lo ám trợ sự đàm luận của các đảng, nhứt là nơi lăng quan lớn thường là căn cứ của cách mạng tiền vãng. Ê, các Bạn lúc này cứ vuốt răng, vì anh già mà không còn râu để vuốt. Các ông đồ nho cố làm thi, mới ra đề Việt Nam độc lập. Ê các bạn để mắt xem coi các đảng rạo rực xôn xao mà kết cuộc trên sân khấu chỉ có kép chính vai tuồng là kép của ông Bầu Trời là định hiển, kế lớp thứ ba sau hậu mà thôi. Nếu chẳng vậy, thì Đạo Cao-Đài không có chi cao thượng bằng buổi lập quốc. Các Bạn cứ đủ đức tin mà tiến hóa mãi cho đến ngày thành Tiên hoàn toàn. Hiển mừng cho các Bạn sẽ đoạt tròn hy vọng nay mai. Thôi, không dám nói nhiều lắm để đợi xem cuộc lạc quan sắp tới. Bạn Trấn lúc này lên chưa được lắm. Cứ việc múa đi, nhưng phải xem coi chừng từ buổi đêm nay Hiển thấy các Bạn có lòng lo việc quốc gia nên phải đến chơi và tỏ cho biết tin mừng sẽ cận.

Thôi kiếu các Bạn. Thăng

_______________________________

Phò Loan:
Thừa Sử Hợi, Luật Sự Nhung

Đêm 7-11 Tân Mảo (5-12-1951)

Xin chào mấy bạn. Cho Thi:

ĐỖ trắng đỗ đen cùng giống đỗ,
QUANG tròn khiên mệt bọn ăn khô.
HIỂN vinh chi đó còng lưng gánh,
Đợi bóng chiều về mới nhớ ngô.

Cười…… hiểu không bạn Phước.

- Đi Sơn La mà không biết Đỗ là gì à?

- Thừa Sử Phước bạch……..

- Nói tụi ấy đó biết không? Nói tụi chánh trị đó mà. Thì còn ai nữa, mũi cao với mũi xẹp mà không biết sao? Cười….. cũng gần đây rồi, nhưng chúng cũng lùm bùm cho đã rồi mới chịu. Còn anh em mình cứ dầm rượu thuốc rồi nhâm nhi chơi. Bạn không hiểu rượu thuốc thì hỏi Phước, có đồng đảng phái mới có lợi chớ.

- Bạch…..

- Phải sức hợp quần nơi rượu thuốc đó.

- Thừa Sử Hội bạch (nói Đức Quyền Giáo Tông)

- Cười… mà Hiển cũng ưa lắm. Nói rõ thì Hiển không dám nói. Cho Thi:

Lơ lửng trời cao một đám mây,
Gió đưa bay thẳng tuốt phương Tây.
Miền Nam trở sóng ba đào dậy,
Cõi Bắc nổi cồn bờ lũy xây.
Thúc tiếng còi sương đưa kiếm đỡ,
Kêu bầy ghe dại chống buồm vây.
Đường về cõi thọ thuyền đưa khách,
Kiếm báu đùm bao với một Thầy.

Rồi xin lui.

_______________________________

Phò Loan:
Khỏe-Vân [Ngày: 22-1-Tân Mão (1951)]

Thánh Hiển

Xin chào các Bạn. Hiển rất mừng mà được thấy nơi cửa Hiệp Thiên lại thêm một Chức Sắc tiểu cấp được đoạt cao phẩm vị nơi cõi Hư Linh, tức là bạn Hải của chúng ta đó.

Vậy từ đây các Bạn sẽ được vững bước trên bước đường lập vị Thiêng Liêng là bên mặt giáo hóa an ủi thì có Hiển, còn bên mặt Đạo Pháp thì có ông Giám Đạo Hải của chúng ta. Như thế còn mong chi nữa mà các Bạn không mừng để mạnh tiến trên bước đường hành pháp do lịnh Đức Hộ Pháp ban cho sao? Về mặt bí mật nhà nghề của Đài Hiệp Thiên thì các Bạn đã được chỉ dạy từ lâu rồi, mà mỗi đẳng cấp của Hiệp Thiên là một phương pháp của Đức Chí Tôn dùng để sắp đặt trật tự trong Đài chớ phận sự của mỗi phẩm thì thừa lãnh được trọn quyền đem cả tài đức và sáng suốt để thi thố cho xứng phận. Trong trường hợp này dù cho quyền của Chí Tôn ở tại thế cũng không muốn cản, miễn là người lãnh phẩm tước ấy phải trọn tâm phụng sự cho Chí Tôn để thi hành phận sự bảo thủ chơn truyền của Đạo, không cho qui phàm giáo. Lại nữa, cơ đọat Đạo của Chức Sắc tiểu cấp Hiệp Thiên Đài được cao hay thấp đều do nơi sở hành can đảm hay không can đảm. Tóm lại, cả Chức Sắc tiểu cấp Hiệp Thiên Đài không phải là cái máy để bị điều khiển bởi người tài xế, tức là mỗi vị được tự chủ định vận mạng của mình trong phương giúp Đạo, giúp đời.

Hiển nói ít, các Bạn hiểu nhiều, Hiển xin mừng chung các bạn. Hiển xin thăng.

Đức Hộ-Pháp nói về Thánh Hiển:

"Bần Đạo chỉ thấy một Đức Ngài (Khai Pháp Trần Duy Nghĩa) và em Thánh Hiển hết lòng phụng sự giúp đỡ Bần Đạo, còn bao nhiêu vì quyền lợi mà xua đuổi hành phạt Bần Đạo đáo để. Anh Trọng già rồi chẳng nói chi, nhứt là Ông Thái Phấn và Gấm, dựa quyền lợi theo thuyết Cộng Sản Nga Xô, dùng sức mạnh trở lại hành phạt khổ khắc Bần Đạo mà chưa vừa lòng, họ còn xúi giục Chánh quyền đày Bần Đạo lên chỗ nguồn cao nước độc đặng giết một cách gián tiếp cho vừa lòng, nếu chẳng phải quyền năng Thiêng Liêng giúp sức thì không thế trở về Tổ Đình, Thánh Địa đất nước Việt Nam với ngày nay. Tội nghiệp thay! Em Thánh Hiển với Đức Ngài Khai Pháp thấy vậy cũng xin đi theo, đã bị chúng đánh đuổi mà tìm kế đi theo nuôi dưỡng Bần Đạo cho được, Thánh Hiền vì đi theo Bần Đạo bị uống nước độc, mà bỏ mình nơi rừng sâu núi thẵm, chỉ còn Bần Đạo và Đức Ngài, Người ôm lấy Bần Đạo mà khóc chỉ van vái có một điều là cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu đem xác về gởi đất Thánh Địa lúc cởi xác mà thôi, thật quả nhiên lời nguyện không sai".

 

 

SIÊU ĐỌA

超 墮
E: The ascension and the fall.
F: L’Ascension et la chute.

Siêu: Vượt lên trên, vượt qua. Đọa: đày xuống cõi thấp kém khổ sở.

Có hai trường hợp sau đây:

1. Siêu đọa là siêu và đọa, tức là siêu thăng và đày đọa. Một linh hồn khi thoát xác trở về cõi thiêng liêng, Tòa Tam Giáo nơi Ngọc Hư Cung sẽ định phận: siêu hay đọa.

Nếu công đức nhiều mà tội ít thì được siêu thăng.

Nếu công đức ít mà tội nhiều thì phải bị đọa luân hồi, trở lại cõi trần để trả cho xong nghiệp quả.

Quả, công xem xét đền bồi,
Lành siêu, dữ đọa, thêm nhồi tội căn.

2. Siêu đọa là đọa đày quá mức qui định.

Siêu là vượt khỏi mức qui định hay mức bình thường. Vô siêu đọa là không đọa đày quá mức. Không bị đọa đày quá mức, căn quả của mỗi người đều có luật pháp qui định rõ ràng.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Vô siêu đọa quả căn hữu pháp,
"Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan."

 

 

SIÊU ĐỘ

超 度
E: The salvation of the soul.
F: La salvation de l’âme.

Siêu độ là cứu giúp cho được siêu thăng về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Người trọn lòng thương yêu chơn thật thì Đức Phật Mẫu siêu độ, cầu rỗi Chí Tôn đem vào cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống.

 

 

SIÊU HÌNH

超 形:
E:Metaphysical.
F: Métaphysique.

Siêu hình là vượt lên trên hình tướng, tức là không còn hình tượng nữa, thường gọi là vô hình đồng nghĩa với Siêu hình là: Vô hình, vô vi.

 

 

SIÊU NHIÊN

超 然
F: Surnaturel.

Siêu nhiên 超然: Vượt lên trên cả, không có gì bó buộc được.

Sở dĩ dùng hai chữ "siêu nhiên" vì Phật Pháp vốn cao xa huyền nhiệm. Muốn thể hiện giáo pháp nầy phải vượt lên trên những ảo hóa của sự vật bên ngoài Vũ trụ, cũng như những ảo hóa của tâm lý bên trong nội giới.

 

 

SIÊU PHÀM


F:Qui sort de l’ ordinaire.

Siêu phàm 超凡: Vượt lên trên cõi phàm trần.

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

"Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,
"Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm."

Thi văn dạy Đạo:

Vâng lời Thánh ắt đặng siêu phàm,
Trần thế là chi để dạ tham.
Mua đức khá tua gieo cửa tục,
Chừng mô đức vẹn mới siêu phàm.

 

 

SIÊU PHÀM NHẬP THÁNH

Siêu: Vượt lên trên, vượt qua. Phàm: cõi trần. Nhập: vào. Thánh: cõi Thánh.

Vượt lên khỏi cảnh tầm thường của phàm nhân mà bước vào cõi Thần thánh tức là đắc đạo

Thầy dạy: "Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh chẳng khác chi đũa ăn cơm, chẳng có đũa, kẻ có cơm bốc tay ăn cũng đặng. Các con coi kinh điển lại, rồi thử nghĩ lại sự công bình thiêng liêng mà suy gẫm cho hay lẽ phải. Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất nghe à!" (TNII/ Ngày 12 tháng 6 Bính Dần dl. 21-7-1926)

Buổi nay "Thờ Thiên-Nhãn là một phương mầu nhiệm cho mọi người biết tùng thiên-lý. Kỳ Hạ-nguơn này Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo không có chơn-linh giáng sanh nguyên hình như các vị Giáo-chủ trước nữa. Nếu sự thờ phượng riêng một vị Giáo-chủ như buổi trước thì không đủ thống nhất đặng tín ngưỡng của nhơn-sanh trong hoàn-cầu thế giới. Cho nên thờ Thiiên-Nhãn là cơ-quan hiệp cả chơn-thần của toàn vạn linh và hiệp Tam Bửu: Tinh Khí Thần vi nhứt. Ấy là cơ mầu-nhiệm siêu phàm nhập Thánh".

 

 

SIÊU QUẦN BẠT CHÚNG

Đức Hộ-Pháp nói: "Tôn-chỉ của Ðại-Ðạo đã biểu lộ ra rõ-ràng, bí quyết đoạt Ðạo chẳng phải do một mặt yểm thế để tịnh dưỡng tinh thần, mà lại phải lịch-lãm nhơn sự và phải siêu quần xuất chúng, rồi lấy đạo đức mà cứu vớt nhơn quần. xã hội, phải tùy sở nhu của chúng sanh mà lập phương phổ hóa, thì cái công tu luyện kia mới bổ ích cho. Vì vậy mà Anh Cả chúng tôi mới đắc dụng trong Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ."

 

 

SIÊU RỖI

E: To save the soul.
F: Sauver l’âme.

Siêu rỗi: cứu vớt các linh hồn cho được siêu thăng.

Thầy nói: "Gặp TAM KỲ PHỔ ÐỘ nầy mà KHÔNG TU thì không còn trông mong siêu rỗi".

Pháp Chánh Truyền dạy: (Giáo Tông) "Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Ðịa Cầu và Thập Ðiện Diêm Cung, đặng cầu rỗi cho các con". Thầy đã nói, đặng cầu rỗi cho các con thì Thầy đã chỉ rõ rằng; Giáo Tông có phần cầu rỗi mà thôi, chớ phần siêu rỗi là về quyền của Bát Quái Ðài Chưởng quản".

 

 

SIÊU SANH


E: To ascend to Heaven.
F: Monter au Ciel.

Siêu sanh 超生 là tạo cho Chơn-linh vượt ra ngoài, thoát khỏi phàm tục để lên sống vĩnh viễn nơi cõi Thiêng Liêng. Được vậy là do ánh hào quang của Đấng Cao Đài đã chiếu diệu khắp chốn, đó là cơ hội may mắn cho những Chơn linh có duyên phần đặng gặp được ngày siêu sanh, về đến cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống.

Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Ðã Qui Liễu có câu:

"Hào quang chiếu diệu CAO ĐÀI,
"May duyên nay đã gặp ngày siêu sanh."

 

 

SIÊU THĂNG

(Siêu thăng là bay vượt lên Trời) Siêu thăng là thăng lên cao, vượt lên cõi Thiêng Liêng để được siêu thoát và thăng lên cõi cao hơn, có câu "Siêu thăng Phụng Liễn qui khai". Nếu hồn siêu thăng thì nhờ cái xe Tiên là xe Phụng Liễn mở cửa đi về:

- Chơn linh được thảnh thơi nhàn hạ thì hãy định tâm tánh để níu theo phướn mà đi.

- Và lần theo cõi Tây phương Cực Lạc thẳng đường siêu thăng.

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

"Tiêu diêu định tánh nắm phan,
"Do theo Cực Lạc đon đàng siêu thăng."

Câu chuyện giữa Đức Quyền Giáo-Tông lúc còn sanh tiền cùng Bát-Nương Diêu-Trì-Cung: Trong một đàn cơ, nhân có Bát Nương Diêu-Trì-Cung giáng đàn, Đức Quyền Giáo Tông hỏi thăm Bát Nương về linh hồn của thân phụ và thân mẫu của Ngài có được siêu thăng cùng chăng? Giờ đây đang ở đâu? Bát Nương giáng cơ đáp: Em chỉ nói bằng thơ, nếu Anh giảng trúng thì nói nữa, trật thì lui.

Đức Quyền Giáo Tông năn nỉ: Nếu Qua nói trật thì nhờ Em thương tình mà chỉ dẫn để cho Qua học thêm với:

"Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc.

"Bá phụ cùng Bá mẫu đặng an!".

Như vậy là thân phụ và thân mẫu của Qua trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở nơi cõi Cực Lạc? - Đúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của Anh nên Bá phụ và Bá mẫu được siêu thăng nơi Cực Lạc".

 

 

SIÊU THOÁT


E: The deliverance.
F: La délivrance.

Siêu thoát : Được giải thoát.

Đức Hộ-Pháp nói: "Đức Chí-Tôn đã thấy rõ rằng: Các nguyên nhân ấy không phương gì tự giải thoát đặng vì quá tội tình, quá mê luyến hồng trần hoặc đào tạo quả kiếp nặng nề quá đỗi, vì cớ cho nên tu thì có tu mà thành thì không có thành, tức nhiên từ ngày Đạo bế thì cơ siêu thoát đã mất tại mặt thế này, chính mình Đức Chí Tôn biết rằng không thế gì các nguyên nhân tự mình đạt cơ giải thoát đặng. Hôm nay, Ngài đến lập nền chơn giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy lòng yêu ái vô tận của Ngài là thế nào!"

 

 

SIÊU VIỆT

超 越
F:Supérieur, transcendant.

Siêu việt 超越: Phi thường, vượt lên trên tất cả.

Ngài Hiến Pháp nhận định về quyền năng Cơ Bút của Đức Hộ-Pháp, nói rằng: "Cơ phong Thánh của Hiệp-Thiên-Đài do Đức Hộ Pháp và Đức Cao Thượng-Phẩm phò loan là "Cơ ĐẠO PHÁP". Trong khi đó cũng có nhiều cặp Cơ Phổ Độ, dạy Đạo của chư vị Thập Nhị Thời Quân. Nhưng "Đức Hộ-Pháp là một chơn linh siêu việt mới đủ năng lực xây dựng nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, tạo tác Tổ Đình đồ sộ với nhiều sự nghiệp bất hủ không còn ai phủ nhận được".

 

 

SINH LỘ

Ssinh lộ 生路: Con đường sống, trái với tử lộ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bao giờ cũng vậy, nhân loại cố kiếm một con đường để tạo một đời sống trong hòa bình và hạnh phúc mà vẫn không đạt được ý muốn chỉ vì không biết nghe theo mệnh Trời. Ngày nay nhân loại đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần ghê-gớm và vẫn còn phải tự hỏi đâu là sinh lộ?"

 

 

SINH HỒN

Sinh hồn 生魂: Hồn con người lúc còn ở thể xác.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm môn,
Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.

 

 

SO ĐO

F: Avare, pingre, regardant.

So đo: Toan tính thiệt hơn.

Kinh Sám Hối có câu:

"Trước người giả bộ siêng lo,
"Sau lưng gian-trá so-đo tấc lòng."

 

 

SO HƠN TÍNH THIỆT

Đức Hộ-Pháp nói "Tài lợi không đồng, phương-diện không đồng, xã-tắc không đồng, tức nhiên buộc chánh-trị cũng không đồng, cái chánh-sách hiệp quốc, hiệp quần chưa đủ kế hay mà vĩnh thủ. Xin nói hẳn rằng nếu đem giá-trị hữu-hình của vạn quốc toàn cầu đặng định nặng nhẹ thấp cao thì là phép giục thêm hại, so hơn tính thiệt".

 

 

SO QUYỀN LIỆU SỨC

Đức Phật Quan Âm dạy: "Chí Tôn không đến là có ý để cho chư Đạo hữu điều đình thử coi có làm kham phận sự cùng chăng? Trước khác, nay thì khác, đã mang Thiên mạng nơi mình, phải so quyền liệu sức mà hành chánh, cả chúng sanh đương lao nhao lố nhố trông cậy nơi chư Hiền hữu, phải làm sao cho xứng phận thì làm."

 

 

SO SÁNH

F: Comparer.

Đức Hộ-Pháp nói: "Lấy cái thực học Âu Mỹ để so sánh với thực-học Á Đông cân nhắc nhau thì phần nhiều cái học Á Đông bị lu mờ chỉ vì cách trình bày, luận-lý không rõ ràng, còn về phần tinh thần thì bao trùm được khắp võ-trụ như: Thiên văn, Địa-lý, Dịch-lý mà ông cha ta vẫn cho là những môn học khó-khăn, huyền-diệu. Vì những lẽ trên, ta thấy khó khăn, khúc-chiết mà xếp đặt cái học-thuyết âý vào hàng tâm truyền hay bí-truyền".

 

 

SO THIỆT TÍNH HƠN

Kinh Sám Hối có câu:

"Lòng đừng so thiệt tính hơn,
"Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi."

 

 

SÓC VỌNG


E: The first day and the fifteenth day of lunar month.
F: Le premier jour et le quinzième jour du mois lunaire.

Sóc : Ngày đầu tháng Âm lịch, là ngày mùng một, là lúc mặt trời mặt trăng tương hội nhau (hợp sóc) khiến ban đêm tối mờ.

Vọng : Ngày rằm của tháng Âm lịch, lúc mặt trời mặt trăng gióng thẳng nhau nên ban đêm trời sáng.

Với Cao Đài giáo thì hai ngày này có thiết lễ cúng Tiểu Đàn nơi Trung ương hay các Thánh Thất, Điện thờ ở địa phương dâng Tam Bửu cho Đức Chí-Tôn nên gọi là Sóc- vọng có dâng Sớ và lòng Sớ như sau:

SỚ SÓC, VỌNG

NGƯỠNG VỌNG VÔ TRUNG TỪ PHỤ phát hạ hồng ân, quảng thi đại đức, bố hóa chư đệ tử trí não quang minh tinh thần mẫn huệ, thừa hành mạng lịnh, tế độ nhơn sanh, định tâm giác ngộ hòa ái tương thân, Đại đồng huynh đệ, phục hồi thượng cổ Thánh đức thuần lương, cộng hưởng thanh bình, an ninh hạnh phước.

Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu. Dĩ văn

: , , , , , , , , , , , , . 上奏. .

 

 

SON (Giáo Sư Thượng Châu Thanh)

Thọ phong Giáo Sư phái Thượng. Thánh danh Thượng Châu Thanh vào ngày Rằm tháng 10 Bính Dần.

Thánh giáo ngày Rằm tháng 10 Bính Dần (Vendredi Novembre 1926) Thầy dạy: "Các con cứ lấy tên mình mà lót giữa và để chữ Thượng trước, duy có Son tên chữ Nôm, Thầy sửa lại là Châu".

Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo

 

 

SON PHẤN

F: Rouge et fard.

Hai vật này là thứ để làm đẹp cho người Nữ phái, dùng son tô lên môi cho hồng, dùng phấn điểm lên má cho trắng, cốt tạo cho có nét duyên dáng, mặn mà, dễ nhìn, dễ ngắm. Tuy nhiên đây chỉ là phương tiện chớ không phải là cứu cánh. Người con gái nếu Trời đã ban cho nét đẹp sẵn có thì không cần những thứ này làm gì, vì nó là giả tạo. Nếu dùng thì chỉ điểm nhẹ mà thôi, nhưng lạm dụng thì sinh ra lố bịt, chẳng những khó nhìn mà còn dị tướng, dị hình không còn nét con người mà trời đã ban cho nữa. Nghĩa bóng khi dùng chữ "son phấn" còn có nhiều nghĩa là chỉ hạng người thiếu đoan trang, một nữa là chỉ "gái buôn hương bán phấn". Sở dĩ các Đấng muốn nhắc nhở nhằm vào ý nghĩa sau này vậy.

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Nghi dung chớ mượn màu son phấn,
Để trong gương mà hứng non sông.
Coi như gác tía lầu hồng,
Chẳng phen giữa trận tên đồng không nao.

 

 

SON SẮT

F: Minium et fer.

(Son: màu đỏ tươi dùng làm vật trang sức của nữ phái, Sắt: vật chắc chắn, cứng bền; một thứ chỉ vật chất, một thứ chỉ tinh thần). Son sắt là chỉ sự kiên quyết thủy chung, không đổi.

Thầy dạy: "Nhà nghèo hạnh tốt ấy là gương treo dạy đời, các con khá bền lòng son sắt; cái hạnh tốt là thang vạch ngút mây xanh; tâm thành là để giồi trau tánh tục; lòng đạo đức quí hơn là miếng đỉnh chung; tố bần hàn tùy mình mà hành Ðạo, thì công quả ấy trổi hơn hạng thượng lưu đó các con".

Thầy dạy: 20 Février 1926

Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,
Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.
Chung hiệp rán vun nền đạo đức,
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

 

 

SONG THÂN


E: The parents.
F: Les parents.

(Song là hai; thân: là người mà ban cho tinh cha huyết mẹ để nắn đúc nên một con người mới nữa gọi là thân, là gần gũi nhứt, thương yêu nhứt). Nói chung cả hai: cha và mẹ gọi là Song thân, riêng người cha gọi là Phụ thân, người mẹ gọi là Mẫu thân.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Đầu cúi lạy Song thân linh hiển,
"Lễ muối dưa làm miếng hiếu tâm."

 

 

SONG THỦ

雙 手
E: Two hands.
F: Deux mains.

Song: Hai cái, một đôi. Thủ: bàn tay. Song thủ là hai bàn tay.

Hai bàn tay tượng trưng Âm Dương: tay trái Dương, tay mặt Âm (nên cũng nói: Nam tả nữ hữu).

Kinh Phật Giáo:

"Ốc trần huờn ư song thủ chi nội."

 

 

SÓNG SẮC

E: The waves of the beauty.
F: Le vagues de beauté

Sóng: Làn sóng dợn trên mặt nước. Sắc: sắc đẹp của phụ nữ. Sóng sắc là sắc đẹp của phụ nữ như những làn sóng có thể nhận chìm các hạng đàn ông háo sắc.

Sắc bất ba đào dị nịch nhân: cái sắc đẹp của phụ nữ không phải là làn sóng nhưng dễ nhận chìm nhiều người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Vui còn sóng sắc hại mình thôi.

 

 

SÓNG TRẦN

E: The miseries of world.
F: Les misères du monde.

Sóng: Làn sóng dợn trên mặt nước. Trần: cõi trần.

Cõi trần được ví như biển khổ. Biển trần khổ vơi vơi trời nước. Sóng trần là làn sóng trên biển khổ, nó vùi dập biết bao nhiêu người đang ngụp lặn trong biển khổ ấy.

Sóng trần là chỉ những nỗi đau khổ phiền não nơi cõi trần.

Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu:

"Trầm luân khổ hải chơi vơi sóng trần."

 

 

SỐ

Số :số đếm.

Sau đây là giá trị và tính chất đặc biệt về các con số:

SỐ 0 (không) ấy là cơ-quan Hư-vô bổn thể. Số 0 là số vô thủy, tức là không có chi trước nó hết, nó là số chúa của chúa cả vạn-vật. Chính trong không mà sinh ra vạn-hữu, nên nó hợp với số nào thì làm cho số đó tăng tiến thêm lên. Nó là cái vòng bao-bọc tượng-trưng, chủ cả cái hữu-vi sự-vật này.

Tánh-chất đặc-biệt của con số 0 : Số O là số vô-vi nó có tánh-chất trung tính, nhiệm yếu, hiền-hòa, sáng-suốt. Vật mang số O là vật trung dung, nhậm lẹ, không khuynh-đảo nhưng chưa tiến-hóa. Người mang số O là người lưỡng tính, phần tấn-hóa chưa nhiều. Số O chỉ năng-lực tiềm-ẩn nhưng chưa phát-triển đúng mức. Nhưng khi nào một vật chi được thử về O ấy về lẽ Đạo, nhưng qui cơ tịnh lặng hoàn-toàn được gặp nhiều chân phúc quí báu. "Không không ấy thiệt lý trường sinh". Phép bói-toán tính đến số O là rốt-ráo vẹn toàn, viên mãn. Rồi O sẽ biến dịch vòng quanh thành nhiều bản thể. Số O sẽ là cơ khởi đầu cũng như là cơ chót hết, nó tiếp nối giữa hai đường tấn-hóa và qui-nguyên. Hai đầu tấn-hóa, qui nguyên, nó ở giữa làm mấu chốt. Số O vốn gồm nhiều bí-mật cần phải tìm phương giải đáp. Kể còn nhiều môn phải hiểu cho thấu-đáo.

SỐ 1 Là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến vi hữu tướng.

Tánh-chất đặc-biệt của con số 1: Số 1 chỉ về Thái cực tức Dương, người hay vật mang số này thì có tánh chuyên nhất và ưa cầm quyền vi chủ. Tánh tình cứng-cỏi, ít chịu thua kém ai, hễ muốn làm là làm cho được nhưng hay nóng-nảy, ít chịu đầu phục nên đôi khi hơi quá mức. Số 1 chỉ cơ động nên dễ thành-công và cũng hay thất-bại, khó điều-hòa. Hay thái-quá nhưng thường là người có danh-giá được đời tôn-kính. Phép toán đến số 1 là chỉ gặp điều lành nhưng không may-mắn lắm, mà chỉ một tánh-chất gì có giá-trị dài lâu. Số 1 là số động, nó vốn là lý Thái-cực suy ra nên nó huyền-diệu, nhiệm-mầu, hiện biến. Nên Đạo-gia nói "Thiên đắc nhứt linh, địa đắc nhứt minh, nhơn đắc nhứt thành". Ngôi số 1 thuộc về ngôi Phật, chủ quyền cai-trị và giáo-hóa vạn-linh. Số 1 thuộc bản thể Hư-linh sản xuất nên có quyền thống-trị cả càn-khôn. Bất cứ ở đâu cũng vậy có một vi-chủ là quyền ấy toàn vẹn, còn nhiều chủ thì sanh phân tán, nên số 1 chỉ một uy-quyền tuyệt đối. Người mang số 1 là người có đầy-đủ đặc tính can-đảm, ý chí siêu-việt, ảnh hưởng của ngôi Thái-cực hóa-sanh.

SỐ 2 là số biến-hóa do số 1 mà ra. 1 biến thêm 1 nữa thành 2. Tánh-chất đặc-biệt của con số 2: Số 2 là số tịnh, ấy là cơ Âm dương thuộc về Pháp. Pháp là tương-liên nên phải nhỏ nhẹ, mềm-mỏng. Như hình ảnh một Bà mẹ hiền-từ, ưu-ái, dịu dàng. Số 2 chỉ vào lẽ ấy. Tóm lại số 2 chỉ cơ hòa-hiệp.

SỐ 3 là do 1 với 2 hỗn-hợp lại mà biến ra 3.Ba tức là cơ quan hữu tướng cùng vô tướng hiện có ở càn-khôn vũ-trụ này. Tánh-chất đặc-biệt của con số 3: Số 3 là số nửa tịnh, nửa động. Nhưng phần động nhiều hơn. Số 3 chỉ cơ biến tướng và vi-chủ vật-loại thuộc quyền Tăng. Số ấy có đặc-tính năng động, biến đổi. Vạn hữu mang số 3 thì chất nóng-nảy nhưng vì có phần tịnh nên cũng biết dung-hòa. Số 3 là cơ-sở của Tam thể: PHẬT-PHÁP-TĂNG nên nó vừa có năng-lực huy-động mà cũng vừa có năng-lực dung-hòa. Vật nào có số 3 là vật ấy có bản-thể cứng-rắn, nhiều hoạt-động, ít may-mắn, dễ thành nhưng mau bại.

SỐ 4 là cơ-quan hữu tướng biến hình, tức là âm dương biến sanh. Nho-gia gọi là Lưỡng nghi sanh Tứ-tượng là vậy, số 4 cũng có nghĩa là 1+3 tức là do lý Thái-cực điều hành với ba ngôi hóa sanh vạn hữu nên hễ đến 4 là biến hóa ra rồi.

SỐ 5 là do 1 và 4 kết thành hay là 2 và 3 hiệp lại. Hai ấy là âm dương. Ba ấy là 3 ngôi chủ-tể đầu tiên của vạn-hữu. Số 5 tức là càn khôn đã an vị rồi, xong xuôi hết, đã sắp đặt đâu đó có thứ lớp an bày.

SỐ 6 do lý Thái-cực hiệp với cơ quan an-vị này (1+5). Cũng có nghĩa là lưỡng-nghi hiệp cùng tứ-tượng (2+4) nghĩa là hai lý âm dương đun đẩy nhau để biến sanh những caí đã sanh ra. Nó cũng có nghĩa là 3+3 tức là 3 ngôi đầu tiên hỗn-hợp nhau để hóa thành 3 ngôi nhỏ nữa, cũng có nghĩa là 3x2 tức là tam ngôi ở cấp bực thứ nhì do luật Âm dương biến tướng với 3 ngôi đầu tiên.

SỐ 7 là số ngưng kết do 1+2+4 tức là Thái-cực cọng Lưỡng-nghi và Tứ-tượng. Thái-cực là dương, Lưỡng nghi là cơ biến tướng, Tứ tượng là cơ sanh-hoá. Nhưng cơ biến tướng và sanh-hóa chạm nhau lại khắc nên số 7 trở thành số riêng biệt không có biến động, có nghĩa là trạng-thái yên tịnh ngừng-nghỉ, nên nó cũng ám chỉ vào thể âm. Số 7 cũng chỉ vạn-vật hữu tướng thành hình, trong thân người nó là thất khiếu ở trên đầu. 7 ấy tức là 3 ngôi cọng 4 biến hay là 1+2+1+2+1 nên Vô cực vi-chủ.

SỐ 8 là do 1+7 mà thành, tức là lý Thái-cực đã phát động để biến sanh, cũng như Âm Dương đã phối hợp vào nhau để biến sanh thêm nữa. Số 8 ấy là Bát-quái có nghĩa là 4x2=8, 4 là cơ chuyển biến, 2 là cơ âm dương, cơ chuyển biến phát động trên cơ âm dương nên nó huyền-diệu nhiệm-mầu thay thay đổi đổi. Tuy vậy nó cũng chưa thật toàn năng cũng như lý Thái-cực chưa soi thấu vào âm-quang hữu tướng hữu vi. Nó cũng có nghĩa là 3+5=8 là tam ngôi cọng ngũ khí, cơ mộc dục vận hành trong trạng-thái tĩnh.

SỐ 9 Phải đợi đến số 9 là số huyền-diệu nhiệm-mầu, huyền-diệu hơn hết là số đó, nó là cơ chuyển biến đến mực độ tận thiện tận mỹ toàn năng toàn tri. Nó là 1+8 tức là cơ vận hành trong trạng-thái tĩnh được lý Thái-cực thúc đẩy thêm cho nên năng tri sáng-suốt. Nó cũng là 3+6, 3 và 6 đều là hai lý nhiệm-mầu và đều ở trong trạng-thái động. Nó cũng có nghĩa là 3x3 hay 32 (hay ba bình phương) là cấp bực Tam ngôi biến hóa, vận-hành suốt thông trời đất. Đến số 9 là đến chỗ tột cùng vận-động để hợp về cơ qui nhứt. Phép toán-học thử đến 9 rồi trở về 0 là vậy. Cùng cực cái động tức trở về trạng-thái tịnh nguyên-thủy.

SỐ 10 do 9+1 tức là số hiền-hòa, lặng-lẽ, an-bình, đầm-ấm.

SỐ 12 là số đặc-biệt tức là 9+3, 9 là cơ-quan vận chuyển, 3 là ba ngôi. Lấy ba ngôi hiệp vào cơ vận-chuyển tức là cơ qui nhứt, nắm cả các pháp trong tay, mà người nắm pháp ấy là Chủ-tể Càn-khôn vũ-trụ. Nên Thầy có nói số 12 là số riêng của Thầy là vậy. Nếu cọng lại là 1+2=3 tức là ba ngôi đầu tiên. Nếu tính theo hàng là 1 và 2 tức là lý Thái-cực đứng trước luật âm dương thì thấy rõ quyền-năng Chưởng-quản trong đó. Vì thế nên Thầy nói chi chi cũng có luật-định, không một vật chi ngoài quyền sở-định của tạo-hóa hết. Nhưng luật công bình có hai phần: một Âm, một Dương biến động; dù ngay trong luật-định cũng có, ở đâu cũng có cái lý mâu thuẫn trong đó, hễ có mâu-thuẫn tương-quan là có biến sanh. Hết vòng biến đổi mới trở về trạng-thái đầu tiên là 1, rồi từ 1 trở lại trạng-thái Hư-vô cho nên người tu đắc nhứt qui cơ là thành Đạo nghĩa là hiệp cùng lý Thái cực để trở lại trạng-thái tĩnh lặng nhiệm-mầu. Trong là lý Hư-vô phát sanh một Thái-cực. Thái-cực biến-hóa 3 ngôi, mỗi 3 ngôi lại biến-hóa nữa thành ra Cửu chuyển. Những con số giải trước đó là tính-chất tổng quát và sau là phần tánh chất đặc-biệt của chúng nó về các phương diện: ảnh-hưởng, tác dụng và biến dịch.

SỐ 50 do ở:

Trời số 25

=

(1+3+5+7+9)

 

Đất số 20

=

(2+4+6+8)

 

Không có số 10

 

────────

 

Cộng chung là:

 

45

 

Tổng cộng của Âm Dương số.

Bấy giờ hiệp hai lần Tổng số này lại được một thành quả: 55+45=100. Chính là 100 trứng của Mẹ Âu-Cơ.

Nhưng rồi Cha mẹ chia đôi ra đi mỗi người về nơi khởi thủy của mình: Cha Rồng dẫn 50 con xuống biển. Mẹ Tiên dẫn 50 con lên núi. Con số 50 này là do (100:2) tức là ngày nay Đạo Cao-Đài dùng Trung Thiên Bát-Quái hay Bát Quái Đồ Thiên, chính là 50 Thiên Nhãn Thầy trong toàn bộ hình Thiên Nhãn của Đền Thánh làm biểu tượng.

"Số đại diễn là 50, bởi vì số ấy lấy ở Hà Đồ giữa cung:

Thiên số 5 đến Địa số 10 mà được số ấy, tức là cái số tột cùng của Trời đất, đến cái kiếp thứ năm là có sự an nhàn nghỉ ngơi, là tượng cái khí thái hoà của Âm Dương giao hoà nhau, hoà nhau một Dương 1 và một Âm 0 (không). Vì sao Dương 1 Âm 0? Bởi Càn 3 nét liền thay bằng dấu chấm  nếu kéo thẳng xuống sẽ thành số 1, quẻ Khôn biểu tượng bằng 3 nét đứt, thay vào đó bằng 6 dấu chấm  nếu ta nối liền các điểm này lại sẽ là số 0 nên mới có sự yên vui sung sướng. Vì lẽ đó đến cái mức của một cõi thì có sự nghỉ ngơi cho nên có sự đại diễn số, lấy tượng hoà số 5 trời với 10 đất tức là số 50.

 

 

SỐ CĂN

Số căn 數根 là Cái số phận do căn nghiệp tạo ra.

Căn là gốc rễ, do gốc rễ đó mà kiếp sống hiện tại của con người phải thọ lãnh cái nghiệp, nếu kiếp trước làm những điều thiện, thì tạo căn lành cho kiếp sống hiện tại, nếu kiếp này làm những việc ác, thì tạo ác căn cho kiếp lai sinh. Như vậy căn hay gốc rễ sẽ tạo thành cái nghiệp cho con người, nên gọi là căn nghiệp hay căn quả. chính cái căn nghiệp hay căn quả đó mới định ra Số phận của con người nên được gọi là Số căn.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,
"Đừng hãi kinh, cầu đảo Chí Tôn."

 

 

SỐ MẠNG

数 命
E: The destiny.
F: La destinée.

Số: Vận mạng, số kiếp. Mạng hay Mệnh: cái mạng sống. Số mạng là cái vận mạng của mỗi người được định sẵn (Vận mệnh do Trời định trước).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tôn chỉ để vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa vị cao thượng, để tránh khỏi số mạng luân hồi.

 

 

SỔ BỘ ĐẠO

E: The religious registers.
F: Les registres religieux.

Sổ: tập giấy để biên chép những thứ cùng một loại. Bộ: cuốn sổ lớn và dày để ghi được nhiều và đầy đủ. Sổ bộ đạo: sổ sách của Đạo.

Sổ bộ là tất cả những tập giấy lớn nhỏ dùng để ghi chép những thứ cùng loại để thống kê và lưu trữ.

Sổ bộ của Đạo gồm các thứ sau đây:

1. SỔ NHẬP MÔN: ghi chép tên tuổi và sơ yếu lý lịch những người mới làm lễ Minh Thệ nhập môn vào đạo. Sau đó mới biên chánh thức vào Bộ Đạo.

2. BỘ ĐẠO: cuốn sổ lớn ghi tên tuổi và sơ yếu lý lịch những người chánh thức là tín đồ của Đạo. Bộ Đạo lập ra theo từng Hương Đạo.

3. BỘ SANH TỬ: gồm Bộ Sanh và Bộ Tử để ghi chép những trẻ con nhà Đạo mới sanh ra có chịu phép Tắm Thánh, và những tín đồ đã chết.

4. BỘ HÔN PHỐI: ghi chép tên tuổi, ngày tháng những cặp vợ chồng làm Lễ Hôn Phối tại Tòa Thánh hay Thánh Thất.

5. BỘ CHỨC SẮC: ghi chép tên tuổi và sơ yếu lý lịch của các Chức sắc. Có bộ Chức sắc nam phái Cửu Trùng Ðài, Bộ Chức sắc nữ phái Cửu Trùng Ðài, bên Cơ Quan Phước Thiện và Hiệp Thiên Ðài cũng lập tương tợ như vậy.

6. SỔ TRỤC XUẤT: ghi tên tuổi những vị phạm luật đạo bị Toà Tam giáo định án trục xuất ra khỏi đạo.

7. BỘ TỪ KHÍ: cuốn sổ lớn ghi chép tất cả vật dụng của mỗi Thánh Thất, hay Điện Thờ.

Pháp Chánh Truyền:

Chúng nó (các Giáo Sư) cầm sổ bộ của cả tín đồ.

 

 

SÔI KINH NẤU SỬ

Sôi kinh nấu sử: miệt mài với sự học.

Hãy nghe Đức quyền Giáo-Tông là Anh Cả của nhơn sanh nói về Đức kiên-nhẫn: "Bực tu-hành cần phải biết kiên-tâm trì chí hơn người ở thế mới nên cho: khó-khăn phải ráng, cực nhọc phải cam thì mới mong giữ tròn bổn phận. Nghĩ coi, muốn làm quan cần phải sôi kinh nấu sử, khuya sớm nhọc-nhằn từ mười năm sắp lên mới đặng, hà huống là muốn đạt phẩm-vị Thần Tiên thì bảo sao không phải cần lao khổ hạnh? Cho nên Ngạn-ngữ có câu "Chí công mài sắt chầy ngày nên kim". Chư Đạo-hữu cần phải nhắc-nhở nhau về hạnh nầy cho lắm" (Phương châm hành Đạo)

 

 

SÔNG GIANG TÂN (Địa)

Con sông này chảy qua địa phận Giang Tân (làng Long Thành, Tỉnh Tây Ninh) được Đức Hộ-Pháp gọi là Linh giang như sông Gange bên Ấn Độ. Phải chăng đây cũng là Bảo giang mà Sấm Trạng Trình có câu "Bảo giang Thiên Tử xuất".

Đức Hộ-Pháp dâng Sớ chung niên vào năm Ất Mùi (1955) có đoạn như sau: "Thừa dịp Lễ Khánh Thành này Đệ Tử có thiết lễ thiêu phàm thân của Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung Nhựt (Lê-Văn-Trung); Đức Cao-Thượng-Phẩm (Cao Quỳnh-Cư), Đức Nữ Đầu Sư (Lâm-Ngọc-Thanh) và Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh (Lê Bá Trang). Xá-lợi đang thờ nơi Bát-Quái-Đài, tro tàn đã rải trên dòng sông Giang Tân tại Tỉnh Tây-Ninh. Nhờ hồng ân Đại-Từ-Phụ và Đức Phật Mẫu, Đệ-Tử khẩn nguyện nước sông Giang-Tân sẽ là Cam-Lồ-Thủy tẩy trược cho kẻ hữu căn, người hữu phước như dòng sông Gange bên Ấn-Độ-quốc thì may mắn cho chúng sanh sẽ có nơi gội rửa bụi trần giải bớt oan khiên nghiệp chướng, hầu khử ám hồi minh cải tà qui chánh".

 

 

SÔNG HƯƠNG

E: The perfumed river.
F: Le fleuve parfumé.

Hương: là mùi thơm. Sông hương là dòng sông thơm. Mùi thơm dùng để khử các mùi ô trược hôi hám. Do đó, sông hương được ví với con đường đạo, dùng đạo đức để khử trừ quỉ mị.

Cũng giống như chữ: Nhà lan, tức Lan thất, là nhà có mùi thơm của hoa lan, để chỉ nhà có đạo đức.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mạch sầu nay rửa bến sông hương.

 

 

SÔNG LỆ

E: The river of tears.
F: Le fleuve de larmes.

Lệ là nước mắt. Sông lệ là sông nước mắt, chỉ những nỗi sầu khổ của con người nơi cõi trần nhiều đến nỗi nước mắt chảy thành sông (Giọt nước mắt (khổ đau) tuôn chảy như giòng sông không hề dứt). Sông lệ đồng nghĩa: Biển khổ, khổ hải, sông Ngân.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Buồm trương lái vững chờ sông lệ.

 

 

SÔNG MÊ

E: The river of passions.
F: Le fleuve des passions.

: tối tăm lầm lạc. Sự mê muội lầm lạc của con người nơi cõi trần nhiều như nước sông,.Sự đam mê không ngừng, mãi mê như giòng sông nước chảy nên gọi là Sông mê. Do đó, sông mê là chỉ cõi trần.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tách bến sông mê sóng tạt thuyền.

 

 

SÔNG MÊ BỂ KHỔ

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nguyên kiếp trước một nhà chung ở,
Vì đầu xanh gây nợ oan khiên.
Khiến nên nghiệp chướng trần duyên
Sông mê bể khổ chiếc thuyền chơi-vơi.

 

 

SÔNG MÊ BẾN TỤC

Thầy dạy:"Đạo Trời lần lựa kẻ có căn phần mà dìu bước phục hồi cựu vị, nhưng nếu các con đặng biết nguồn Chánh giáo là quí hóa, tìm kẻ mà toan độ rỗi dìu dắt thì cả sanh linh đều nhờ nơi đó mà rửa hết khổ tâm nơi miền sông mê bến tục nầy. Thầy trông mong sao cho nhơn loại đều để dạ thương lẫn nhau thì ngày thế cuộc tuần hoàn, thuyền Bát Nhã chẳng nhọc công tế độ."

 

 

SÔNG NGÂN

E: The milky way.
F: La voie lactée.

Sông Ngân còn gọi là Ngân Hà : Theo truyền thuyết, vợ chồng Ngưu Lang và Chức Nữ mắc tội với Trời, nên bị Trời phạt, mỗi người phải ở một bên sông Ngân Hà, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần vào đêm Thất tịch (mùng 7 tháng 7 âm lịch). Sông Ngân là chỉ sự chia cách giữa vợ chồng.

Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn có câu:

Nào khi đứng giữa đàng trông ngọc,
Nào khi ngồi dưới bộc trong dâu.
Chừ sao phụ nghĩa sơ giao,
Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

 

 

SỐNG - CHẾT

Sống là gì? Từ xưa đến giờ chữ Nho thường có chiết tự, vì tất cả đều cho rằng chữ Nho (Hán) là một linh tự, còn chữ Quốc ngữ của chúng ta không phải là một linh tự sao? Có chứ! Vì nếu không phải là một Linh tự thì tại sao Đức Chí-Tôn "lấy Quốc Ngữ làm chính tự?" Ta thử phân tích chữ "SỐNG" trước. Bởi trong chữ SỐNG đã có chữ "SỐ" đứng trước. Tức nhiên bất cứ người hay vât khi bắt đầu có sự sống là đã có định số rồi. Lẽ dĩ nhiên là người có kẻ giàu sang, kẻ bần hàn không phải tự ý mà muốn được. Tuy nhiên, phía sau chữ số còn có vần "NG" (đọc là "ngờ") nghĩa là phía sau cái "SỐ" này còn tùy duyên, tuỳ cảnh, tùy phước đức của ông bà, tổ phụ mà chơn linh đó giáng vào, hay là khi lớn lên biết TU cũng là một cách cải số đó vậy. Ví như con vật: Mèo hay chó thì số phận thiên định cho nó rồi, nhưng nó còn may rủi nữa là nếu vào trong gia đình phúc hậu thì nó được đối đãi như con, mà người nghèo khó bì được sự ân cần săn sóc đó. Sự chuyển đổi ấy là do chữ "Ngờ" phía sau vậy.

Đức Cao Thượng Phẩm có giáng cơ vào năm 1931 cho Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp giải thích về sự sống chết và cho rằng cúng tế phải có lòng thành và phải tạo lập công đức để hồi hướng cho Chơn linh người quá cố, Ngài nói: "Hễ chết tại thế thì sanh tại Thiêng Liêng, chết tại Thiêng Liêng thì sanh tại thế, vì hai đường khác nhau, nghĩa là ở vô vi thì phải khuất hữu hình, mà ở hữu hình phải khuất vô vi.

Bần Đạo tỉ cho dễ hiểu là như mấy người giờ này tại Tây Ninh thì không thể nào có mặt tại Sài Gòn cho đặng, mà muốn có mặt tại Sài Gòn thì chắc không thể ở tại Tây Ninh. Vậy thì cả nhơn sanh chỉ có biết sanh, không biết tử.

TÁM, Em nhớ Thầy đã nói cùng Em rằng: "Tri sanh bất tri tử, mãn sanh vị chi tử".

Đức Hộ-Pháp nói: "Ngày xuân nói đến tiếng xuân, miệng nói tiếng xuân là nói tiếng SỐNG. Vạn-vật ngày xuân nầy là sống, là ngày phục sinh. Qua mơ ước tâm hồn của cả thảy trong một năm già cỗi; trong lúc xuân đến, cây cối nở lá nở bông, tốt tươi trở lại, tức nhiên là được phục sinh lại thì cả tâm hồn của chúng ta cũng phục sinh như thế."

"Sống của con vật là phải ăn mà sống, phải mặc mà sống, phải ở mà sống, sống một khuôn-luật sắt đá cỏ cây, côn-trùng, điểu thú. Nhơn-loại đã nghịch lẫn nhau, tàn hại lẫn nhau, giết bỏ lẫn nhau, cũng do bởi chạy theo cái sống của con đường duy-vật. Trái lại, cái sống của tinh-thần là sống tự-chủ, tự quyền, thí cái sống ấy không nguồn, không cội, không luật, không hình, lkhông bờ, không cõi, sống theo gió, theo mưa, theo trời, theo đất, sống với càn-khôn vũ-trụ, sống với nhựt, nguyệt, tinh-hoa, theo một khuôn-luật với cái sống vô-ảnh, vô hình của các tư-tưởng bậc thánh-hiền từ thượng-cổ.

Cái sống của con vật chỉ có hai bữa ăn mà sống, còn cái sống của tinh-thần vốn vô độ lượng, cái sống của vật-chất ở tại bụng, cái sống của tinh-thần tại óc, bụng với óc vẫn khác nhau thì hai cái sống cũng khác nhau đặc biệt.

 

 

SƠ GIAO


E: The new acquaintances.
F: Premières relations.

Sơ giao là lúc mới giao tiếp với nhau, tức là lúc đầu mới quen biết nhau.

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị có câu:

"Niềm ân ái thân hòa làm một,
"Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương."

 

 

SƠ HIẾN LỄ


E: To offer at first time.
F: Offrir pour la première fois.

: Bắt đầu, đầu tiên, mới, ngày mùng. Hiến: dâng. Lễ: làm lễ, nghi thức cúng tế. Sơ hiến lễ là lễ dâng phẩm vật lần đầu (lần thứ nhứt).

Trong Tang lễ, phần nghi tiết cúng tế hàng vong thường, không có dâng bông, mà chỉ dâng 3 tuần rượu và dâng trà.

Dâng rượu lần đầu gọi là: Sơ hiến lễ.
Dâng rượu lần kế thì gọi là: Á hiến lễ.
Dâng rượu lần chót gọi là: Chung hiến lễ.

 

 

SƠ KHAI


E: The beginning.
F: Le commencement.

( là mới bắt đầu. Khai là mở ra). Sơ khai là buổi đầu tiên, mới bắt đầu, có trước hơn hết mọi việc.

Thầy dạy tại Ðàn Chợ Lớn (Nhà của Ngài Lê Văn Trung) ngày 13-12-1926 (âl 9-11-Bính Dần)

"Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Ðạo là quí thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai."

Đức Hộ-Pháp dạy rõ: "Cả luật pháp khuôn viên điều mục của ba nhà Tôn giáo từ buổi sơ khai có đủ phương diện quyền năng dìu đời thống khổ, nhơn sanh trong thời kỳ Thượng cổ còn Thánh-đức, biết giữ chơn-truyền, chuẩn thằng, qui củ của ba nhà Nho -Thích -Đạo: làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, nên mới chung hưởng đời thái bình, an cư lạc nghiệp".

Bài Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu có câu:

"Kể từ hỗn độn sơ khai,
"Chí-Tôn hạ chỉ trước đài Linh Tiêu,
"Lưỡng Nghi phân Khí Hư vô,
"Diêu Trì Kim-Mẫu nung lò hóa sanh."

 

 

SƠ SANH

( là mới bắt đầu, khởi sự. Sanh là cho ra đời). Sơ sanh là nói con trẻ mới chào đời, mới sanh ra, vừa lọt lòng mẹ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Thánh Thể Đức Chí Tôn chẳng phải trong Hội Thánh mà thôi, mà cả toàn con cái của Ngài Nam, Nữ, nếu Qua không nói đến mấy em mới sơ sanh, nó cũng là đám Thánh Thể của Ngài, là buổi may duyên của chúng nó ngộ Đạo "Bá Thiên vạn kiếp nan tao ngộ". Bởi cái may duyên ấy do nơi mấy em đào tạo nó một phần tử buổi sơ sinh tức nhiên, kể từ hạng sơ sinh Đức Chí-Tôn đã đến lựa từ khi mấy em đã có trí khôn ngoan cho nhập Thánh-Thể của Ngài đứng vào hàng Chức-Sắc Thiên-Phong gọi là Chư Thánh, mấy em mới nên người "Tam thập nhi lập".

 

 

SƠ LƯỢC

疏 略
E: Summary.
F: Sommaire.

: Thưa, ít, không thân, sơ sót. Lược: lọc ra những nét chánh. Sơ lược là chỉ đưa ra những nét chánh, bỏ những chi tiết không quan trọng (qua loa, tóm gọn, không bày vẽ phiền phức).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Con nên đọc sơ lược Thánh ngôn mấy lần chót cho chúng sanh và phải biểu ăn năn hỏi mình trước khi cầu Thầy.

 

 

SƠ THẤT

疏 失
E: To neglect.
F: Négliger.

: Thưa, ít, không thân, sơ sót. Thất: mất. Sơ thất là không cẩn thận để mất mát, thất bại (thiếu sót, sao lãng).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mỗi mỗi đều ghé mắt đến mà cải sửa cho kịp giờ mới khỏi sơ thất lớn lao.

 

 

SỚ CẦU ĐẠO

疏 求 道
E: Certificate of admission to Caodaism.
F: Certificat d’admission au Caodaïsme.

Sớ: tờ giấy. Cầu: xin. Đạo: chỉ Đạo Cao Đài. Sớ Cầu Đạo là tờ giấy mà Hội Thánh cấp cho người đã nhập môn vào Đạo Cao Đài, nhìn nhận vị nầy là tín đồ của Đạo (Giấy chứng nhận có nhập môn vào Đạo).

Người mới nhập môn vào Đạo Cao Đài được cấp cho một Sớ Cầu Đạo Tạm, hạn lệ sáu tháng (Certificat provisoire de conversion au Caodaïsme, valable pour six mois).

Sau thời gian 6 tháng, vị tín đồ đó phải học thuộc kinh kệ và Tân luật, học tập lễ nghi cúng kiếng và bắt đầu ăn chay mỗi tháng 6 ngày, rồi lên 10 ngày, thì được đổi giấy Sớ Cầu Đạo Tạm bằng Sớ Cầu Đạo Thiệt Thọ (Certificat définitif de conversion au Caodaïsme), chứng nhận đây là tín đồ thiệt thọ của Đạo Cao Đài. (Conversion là cải tôn, tức là bỏ tôn giáo cũ để theo tôn giáo mới).

Người tín đồ Cao Đài phải giữ Sớ Cầu Đạo thiệt thọ nầy suốt đời, khi chết phải đốt để đem theo cho linh hồn.

Sớ Cầu Đạo phải được vị Chánh Trị Sự Đầu Hương Đạo chứng thật, ký tên đóng dấu, Đầu Tộc Đạo chứng kiến và Khâm Châu Đạo vi chứng.

 

 

SỚ VĂN

(Sớ: tờ giấy viết lời điều trần dâng lên vua. Văn: bài văn). Sớ văn là bài văn viết lên giấy để tấu trình các việc hay để cầu nguyện, dâng lên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng trong cửa Đại Đạo ngày nay.

Sớ văn trong nền Đại Đạo, là bản văn do Hội Thánh soạn thảo theo mẫu để chúng sanh nơi Đền Thánh, Báo Ân Từ, các Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu ở các địa phương tấu trình lên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng trong lễ cúng Đại đàn hay Tiểu đàn.

Trước kia, Sớ văn được viết bằng chữ Hán, sau này người học Nho ngày càng giảm, chữ Hán lần lần ít người biết đến. Từ đó, Sớ Văn mới được Hội Thánh phiên âm ra Việt Hán cho đến ngày hôm nay. Lúc đầu nguyên văn bản sớ do Lễ viện Tòa Thánh phân phát về các Châu, Tộc, rồi những địa phương đó tự sao chép nhiều lần để dùng.

 

 

SỚ VĂN THƯỢNG TẤU

上奏
E: The petition to the throne.
F: Le placet au trône..

(Sớ văn là bài văn. Thượng: lên trên. Tấu: trình bày với vua, vua đây là vua Trời là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế). Sớ văn thượng tấu là bài văn viết lên giấy để tấu trình các việc hay để cầu nguyện, dâng lên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng trong cửa Đại Đạo ngày nay. Trong các lễ cúng Đại đàn hay Tiểu đàn tại Thánh Thất hay tại Điện Thờ Phật Mẫu, sau khi dâng Tam bửu (Bông-Rượu-Trà) thì tới phần dâng sớ.

Lễ sĩ xướng: "Sớ văn thượng tấu" vị Chức sắc chứng đàn cầm bao sớ (trong có tờ sớ) đưa lên trán cầu nguyện, xong rồi lấy tờ sớ ra, trao cho vị đọc sớ.

Lễ sĩ xướng: "Thành đọc sớ văn", vị có phận sự đọc sớ cất cao giọng đọc sớ, vị Chức sắc chứng đàn hai tay cầm bao sớ đặt lên trán, mặt bao sớ hướng lên Thiên bàn, đặt hết tinh thần vào lời văn trong sớ. Trên bao sớ có đề hàng chữ nho: 南無玉皇上帝玉虛宮靈霄殿 "Nam mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Ngọc Hư Cung Linh Tiêu Điện".

Khi đọc đến danh hiệu của các Đấng thì hầu chuông điểm một tiếng để mọi người cúi đầu tôn kính.

Khi đọc xong sớ, Lễ sĩ xướng: "Cung phần sớ văn", vị chứng đàn lấy tờ sớ đặt trở lại vào bao sớ, rồi đưa lên hai ngọn đèn chụm lại của hai Lễ sĩ quì hai bên, đốt cả sớ và bao sớ, tức là dâng về Thiêng liêng rồi vậy.

Có nhiều loại Sớ văn: Sớ văn dâng Đức Chí Tôn, Sớ văn dâng Đức Phật Mẫu, Sớ văn cúng Thượng nguơn, Trung nguơn, Hạ nguơn, cúng sóc vọng thường lệ, đưa chư Thánh, rước chư Thánh, Sớ Tân Cố, Sớ Cầu siêu, Sớ Tuần cửu....

Các Sớ văn đều giống nhau ở phần đầu, chỉ khác ở phần lòng sớ, vì tùy trường hợp mà lòng sớ có nội dung thích ứng. Sớ văn được viết bằng Hán Việt.

Đây là hai bài Sớ văn: một dâng lên Đức Chí Tôn tại Thánh Thất và một dâng lên Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu, vào các ngày Sóc Vọng thường lệ.

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
(Tứ thập cửu niên)
Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy,

Thiên vận Giáp Dần niên,…ngoạt, …nhựt,..thời, hiện tại Việt Nam quốc,… trấn, …châu, …tộc, …hương, cư trụ …..chi trung.

Kim hữu đệ tử thọ Thiên ân …., công đồng chư Chức sắc, hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng, quì tại điện tiền, thành tâm trình tấu:

HUỲNH KIM KHUYẾT nội:

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn,
Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO:

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,
Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM:

- Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,
- Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,
- Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
- Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,
- Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,
- Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,
- Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì Sóc nhựt lương thần, chư Thiên phong hiệp dữ thiện nam tín nữ đẳng, nghiêm thiết đàng tràng, hương hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng nguyện Đức Từ Bi quảng bố hồng ân, xá tội chúng sanh thoát ly nghiệp chướng, qui hiệp Đại Đồng, hòa bình thế giới, Đại Đạo hoằng khai, phổ hóa quần linh, hồi đầu hướng thiện, nhập vi môn đệ, vĩnh sùng chánh giáo, tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ, lập công bồi đức, giải quả tiền khiên, hậu hưởng thái bình, Nghiêu thiên Thuấn nhựt, phong điều võ thuận, quốc thới dân khương, an cư lạc nghiệp.

Phục vọng VÔ TRUNG TỪ PHỤ, phát hạ Thiên ân, chuyển họa vi phước, tập kiết nghinh tường, độ tận các đẳng chơn hồn đồng đăng bỉ ngạn.

Chư đệ tử đồng thành tâm khẩn đảo, cúc cung bá bái, cẩn sớ thượng tấu. Dĩ văn.

Đệ tử:

* Mẫu SỚ VĂN Cúng Đại Đàn Đức Phật Mẫu vào năm Mậu-Dần

ĐẠI ĐAO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Thất Thập Tam niên)
Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt

Thời duy

Thiên vận Mậu-Dần niên, Lục ngoạt, Thập ngũ nhựt, Ngọ thời, hiện tại Việt Nam quốc, Tây Ninh tỉnh, Hòa Thành huyện, cư trụ Báo Ân Từ chi trung. Kim Đệ Tử Nguyễn thị Khéo, Công đồng chư Thiện Nam Tín Nữ đẳng, quì tại Điện tiền, thành tâm trình tấu.

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI:

-Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.
- Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO:

-Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.
-Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
- Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM:

- Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai.
-Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
- Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
- Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn.
- Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn.
- Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.
- Thập Phương Chư Phật, Vạn chưởng Chư Tiên Liên đài chi hạ.

Kim vì: Vọng nhựt lương thần, chư Thiện Nam Tín Nữ đẳng, nghiêm thiết đàn tràng, hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi, thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng vọng: Đức Kim Bàn Phật Mẫu dĩ đức từ bi, chuyển họa vi phước, thoát ách tiêu tai, thế giới an ninh, cộng hòa nhơn loại, Tổ quốc Việt Nam đạt vinh quang, sanh chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi Đường Ngu chi phong hóa.

Ngưỡng vọng: Đức Kim Bàn Phật Mẫu, Phát hạ hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận chúng sanh, hiệp trí hòa tâm, tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng Chánh giáo, giải thoát tiền khiên, triêm ngưỡng Mẫu ân tứ phước.

Ngưỡng vọng: Đức Kim Bàn Phật Mẫu Cứu độ các đẳng Chơn linh quá vãng, tảo đắc siêu thăng, an nhàn Cực Lạc. Chư Đệ tử đồng thành tâm khẩn nguyện cúc cung khấu bái thượng tấu, dĩ văn.

Đệ tử:...

 

 

SỞ BÁ VƯƠNG (Hạng Võ)

"Hào kiệt sức năng cử đảnh, ít sánh Sở Bá Vương sau cũng dâng thủ cấp cho Ô Giang Ðình Trưởng".

 

 

SỞ CẦU - SỞ VỌNG

所求 -
E: That which one wishes.
F: Ce que l’on souhaite, demande.

Sở: Tiếng dùng chỉ vật gì của mình hay của người. Cầu: xin. Vọng: ước muốn.

Sở cầu là cái mà mình đang tìm kiếm, cầu xin. Như ý sở cầu: tìm cái gì thì được như ý muốn. Sở vọng là điều mà mình thường ước muốn. (Điều mà người ta mong muốn, cái mình tìm kiếm).

Bài Niệm Hương:

"Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo."

 

 

SỞ CẬY

Sở cậy: nhờ vã, trông cậy vào.

Thầy dạy: "Thầy là Đấng cầm quyền thưởng phạt há lại không quyền hành mà làm mọi việc một mình Thầy đặng sao, lại phải sở cậy tay phàm? Chẳng qua là đạo-đức thiếu kém của các con, nó làm cho các con bị phạt. Từ đây phải tin-tưởng một Thầy và nghe lời Thầy dặn: giữ đạo-đức cho bền, còn ngoại trừ sự chi nghịch với Chơn Đạo là mưu chước tà quái".

"Chiêu đã hữu căn, hữu kiếp: Thầy đã dùng huyền diệu mà thâu phục, độ rỗi nó trước các con. Biết bao phen Thầy gom các Môn-đệ lại. Thầy sở cậy nó ấp-yêu dùm cho Thầy dường như gà mẹ ấp con. Song nó chẳng vâng mạng lịnh Thầy, lại đành lòng cắn mổ xô đuổi dường ấy, thì làm sao cho xứng đáng cái trách-nhiệm rất lớn của Thầy toan phú-thác cho nó. Các con đừng trông mong rỗi cho nó. Nghe và tuân mạng lịnh Thầy!".

 

 

SỞ DỤNG


E: What one use.
F: Ce qu’on use.

Sở: Tiếng dùng chỉ vật gì của mình hay của người. Dụng: dùng, công dụng. Sở dụng là cái công dụng quan trọng của nó (Chỗ mà người ta cần dùng).

Pháp Chánh Truyền:

Thầy đã nói cái sở dụng thiêng liêng. Thầy cũng nên nói cái sở dụng phàm trần của nó nữa.

 

 

SỞ ĐỊNH


E: What one determines.
F: Ce qu’on détermine.

Sở định: là định quyết cho một việc gì và giao cho người ấy làm. Là một lịnh truyền không thể từ chối (Cái mà người ta đã ấn định., chỉ định).

Đức Cao-Đài dạy: ngày 26 Avril 1926:

"Chiêu, ngươi chẳng kiên lịnh TA, Ai kiên? TA chờ ngươi. Chiêu, ngươi chẳng thừa lịnh TA, ai thừa lịnh? TA đã nói ngươi làm đầu Tam-giáo, đã bao phen TA lập Đạo sẵn cho, ngươi chê há? TA đã sở định, ngươi dám cải:

Chuyên quyền từ đó bỏ tuồng xưa,
Nghe nịnh, nghe khen thói cũng chừa.
Sám-hối TA cho tu ít tháng.
Tài hay, tài khéo chớ đua lừa.

 

 

SỞ HÀNH


F: Acte.

Sở hành 所行: Cái việc mình làm.

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Chúng tôi thay mặt cho nhiều người An Nam, mà đã nhìn-nhận sở hành của chúng tôi và đã ký tên vào Tờ Đạo-tịch ghim theo đây, đến Khai cho Quan lớn biết rằng: Kể từ ngày nay chúng tôi đi Phổ-thông Đại Đạo khắp cả hoàn cầu".

Đức Hộ-Pháp nhận định "Tưởng lại, tương-lai của Đạo Cao Đài do nơi cái sở hành và cái tư-tưởng cao-thượng của nó, ngày nay nó có thể hứa với nhơn-sanh rằng: Chúng ta sẽ hưởng điều hạnh-phúc ấy".

 

 

SỞ TẠI


E: Local.
F: Local.

Sở: Tiếng dùng chỉ vật gì của mình hay của người. Tại: nơi đây. Sở tại là ở ngay chỗ mình đang đứng hay ở ngay chỗ mình đang cư ngụ (Chỗ hiện ở).

Thánh Thất sở tại là Thánh Thất ở trong địa phương của mình đang cư ngụ.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Trước khi lãnh trách nhiệm, buộc Chánh Trị Sự phải đến Thánh Thất sở tại mà lập minh thệ.

 

 

SỞ NGUYỆN


F:Désir.

Sở nguyện 所願 là Điều mà mình cầu nguyện, điều mình đang mong ước, mong mỏi trong lòng.

Pháp Chánh Truyền dạy: "Kẻ ngoại giáo, Tả đạo bàng môn, người vô Đạo, riêng nắm quyền hành thế tục, nghịch cùng chơn lý chánh truyền; mượn thế lực phàm tục mà diệt lành dưỡng dữ, mê hoặc nhơn sanh, lưu luyến trần thế; Trên không biết trời, dưới không kỉnh đất; lấy người làm lợi khí đặng vụ tất công danh, quyền quyền thế thế; chẳng kiêng nể luân hồi, ham vật-chất hơn tinh thần, lấy vinh hoa của kiếp sanh làm sở nguyện, như thú vật, cây cỏ, sắt đá, chỉ biết sống mà không biết sống để làm gì, còn không hay mà mất cũng không biết. Ấy là hạng phàm, gọi Đời đó vậy".

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Xin Trời Phật chứng lòng sở-nguyện,
"Hộ thương-sanh u-hiển khương-ninh."

 

 

SỞ VỌNG

(Sở: Ðiều của chính mình. Vọng: Mong ước). Sở vọng là điều quan trọng của mình hằng mong ước, mơ nghĩ đến. Đây là Sở vọng của các bậc Tiền Hiền:

Đức Hộ-Pháp thuyết đêm 14-11-Giáp Ngọ:

"Các Em Phước Thiện! Qua chỉ có một thân, một đầu, một óc, một hình ảnh cũng như mấy Em thôi, nghĩ lụng lại khổ não của chúng sanh các Em đã hiểu, Đức Chí Tôn đến Ngài có mục đích chia khổ và cứu khổ cho con cái của Ngài. Qua đã giao cho mấy Em một sứ mạng đặc biệt là hai chữ "Phước Thiện" Qua cầu mong cho có một điều chúng ta ngó thấy trước mắt một khổ não của Đời, mấy Em giăng tay ra nâng đỡ an ủi, binh vực được, ấy là sở vọng của Qua để nơi mấy Em".

Ðức Quyền Giáo Tông đọc Bài Diễn Văn tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) rằng:

"Bởi biết mình, biết Thầy, biết người, biết Ðạo, mới yên trí Ðạo tâm, giữ gìn Ðạo mạch. Tệ Huynh duy có một sở vọng là ngày nào Ðạo đắc thành, đời đặng thái bình thì thối bước lui chơn liền đặng thích chí du sơn ngoạn thủy; cái vui cùng tận của Tệ Huynh ở tại nơi đó mà thôi, chớ chẳng phải tại mến đời ngồi chịu khổ".

Bài Niệm Hương có câu:

"Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo,
"Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành."

 

 

SỢI TỪ KHÍ

Sợi từ khí: Sợi dây có sức thu hút.

Theo quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh cho biết như sau: "Người ta chết là khi sợi từ khí cột dính Vật thể và Khí thể bị bứt đi, thế là Khí phách và Thần hồn lìa xác thịt". Theo trên thì "sợi từ khí nhiều khi khó bứt ra, nên khiến cho kẻ hấp hối phải chịu nhiều đau đớn. Cho nên Đạo Cao Đài dùng Kinh Cầu Hồn tụng trong lúc người bệnh sắp tắt hơi là để giúp cho sợi từ khí nhờ sức rung động của những tiếng mầu nhiệm trong câu Kinh mà được bứt ra dễ dàng. Người tu hành đầy đủ đạo đức thì Khí thể của họ nhẹ và trong sạch, sợi từ khí ấy được tinh vi, nên khi thoát xác phàm, sợi từ khí bứt ra rất dễ, nên liễu trần một cách êm ái".

 

 

SỚM THĂM TỐI VIẾNG

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Trên Huyền-Mẫu da mồi tóc bạc,
Thụ cửu tuần qui hạc ngày cao.
Dưới màn ấm lạnh âm hao,
Sớm thăm tối viếng biết bao dám rời.

 

 

SƠN HÀ

E: The country.
F: La patrie.

Sơn hà: núi sông, đất nước.

Lý Thường Kiệt có để lại một bài thi bất hủ sau đây:

Nam Quốc sơn hà Nam đế cư,
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư.
Như hà nghịch Lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

 

 

SƠN LÂM


F: Forêts et montagnes, région montagneuse.

(Sơn là núi, Lâm là rừng). Chốn sơn lâm là chốn rừng núi. Chữ Sơn Lâm ở đây ý nói là những biểu tượng chứng tỏ rằng nơi đây có rừng lẫn có núi. Thực tế thì Tòa Thánh Tây Ninh trước kia là khu rừng Cấm, khi người Pháp sang đô hộ Việt Nam thì họ chiếm cứ cả đất đai, sông núi làm tư hữu. Khi Hội Thánh Cao-Đài được lịnh Đức Lý dạy đi tìm đất cất Thánh Thất thì tìm đến khu rừng này và mua lại của người Pháp tên Aspar. Tòa Thánh được tọa lạc trên vùng đất 96 mẫu do Bà Lâm Hương Thanh và Ông Nguyễn Ngọc Thơ xuất tiền ra mua. Người có công bứng gốc phá rừng làm nên các Đền Điện và Dinh thự nguy nga như ngày nay đều do bàn tay khởi xướng của Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư. Theo bản đồ chỉ vẽ của Đức Lý thì hình dáng Đền Thánh có dạng chữ SƠN và có chừa ra hai khu rừng nhỏ, hai bên mặt tiền của Đền tượng chữ LÂM . Khi ghép lại thành chữ SƠN LÂM. Đền Thánh được cất theo kiểu vở trên Thiên đình chính là Tòa Bạch-Ngọc-Kinh tại thế.

A- Đền Thánh Cao Đài dưới mắt người Công Giáo:

Cảnh "Sơn Lâm" là Tòa Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, dưới mắt người Công Giáo nhìn ra nơi Chúa đến và ngự trong nguơn hội này.

Sơn là núi, lâm là rừng; chỉ cảnh âm-u rậm rạp của thiên nhiên tạo hóa: có núi, có rừng. Đây muốn nói nơi Tòa Thánh này đủ ý nghĩa của SƠN LÂM trong tinh thần đạo pháp của Cao-Đài có liên hệ qua lời tiên tri của Chúa Cứu thế. Lời Bà Nữ Đầu sư Hương Hiếu kể lại rằng: Sau ngày Đền Thánh được Khánh Thành (1955) ít lâu thì có một vị Linh Mục người Tây Phương, có bằng Tiến sĩ Thần học, biết 6 thứ tiếng trên thế giới, lại biết nói và viết rành tiếng Việt và Trung hoa, nhưng Bà lại quên tên vị Linh Mục này. Khi Linh mục viếng, quan sát bên ngoài lẫn bên trong Đền, xong rồi Ông ra ngoài, bên hông Đền Thánh, đoạn quì xuống lạy vô Đền (Lạy và quì theo kiểu người Công giáo). Có người Đạo thấy vậy mới đến mời ông vào lạy bên trong Đền, trước Bửu Điện mới đúng qui cách Cao Đài. Vị Linh Mục trả lời: "Tôi lạy đây là lạy chỗ Cha ta đến. Rồi lát nữa tôi vào trong Đền Thánh mà lạy nơi Cha ta ngự". Người kia nói: Xin ông nói thêm cho rõ. Vị Linh Mục tiếp: Trong Thánh Kinh Tân ước nói Đức Chúa Jésus-Christ có tiên tri: Trong 2.000 năm, Cha ta sẽ đến các ngươi một lần nữa, chỗ Cha ta đến là SƠN LÂM, xung quanh nhiều CON MẮT. Các ngươi muốn thấy Cha ta, đầu óc các ngươi phải minh mẫn và sáng suốt, tâm hồn các người phải có lòng Thành khẩn và Tín ngưỡng hiệp lại mới thấy Cha ta. Từ lâu đã có nhiều người đi tìm chỗ Cha ta đến, họ lên Hy-Mã-Lạp-Sơn, lên non cao rừng thẵm mà tìm không thấy; còn nơi Cha ta ngự là một "con vật linh động", xung quanh có nhiều CON MẮT. Nghĩ rằng phải tìm ra con quái vật, nên họ bỏ luôn không đi tìm nữa. Ngày nay thì tôi đã tìm thấy chỗ Cha Ta đến rồi. Chỗ Cha ta đến là Đền Thánh đây, còn nơi Cha ta ngự là bên trong Đền Thánh tại Quả Càn Khôn. Ông nói xong, ngồi xuống lấy một cái que vạch lên đất: vừa gạch vừa giải thích: Đền Thánh là một nét dài ở giữa, Đông lang và Tây lang là nét ngắn hai bên, hậu điện là một nét ngang sau cùng làm thành chữ SƠN (Sơn là núi). Hai đám rừng thiên nhiên trước Đền Thánh là chữ LÂM Tức nhiên mỗi một chữ MỘC là cây tượng cho một khu rừng, hai chữ đứng ngang nhau thành chữ Lâm là thế. Như vậy tôi đã tìm thấy chỗ Cha ta đến là Đền Thánh, còn bên trong là chỗ Cha ta ngự.

 

 

 

Đền Thánh nếu nhìn ngang giống như Con Long Mã quì, nhưng nếu nhìn từ phía trước nhìn tới, thì thấy con Long Mã đang múa (Rõ là con vật linh động). Xung quanh có nhiều CON MẮT tức nhiên là chung quanh Đền theo những ô cửa sổ có trang trí hình Con Mắt tức là THIÊN NHÃN THẦY vậy. Vị Linh Mục nói tiếp: Đền Thánh là cái mình Con Long Mã: Hiệp Thiên Đài có lầu chuông và lầu trống cao vút lên là hai caí sừng của Long Mã. Nghinh Phong Đài nơi phần trên của Cửu Trùng Đài: ở giữa có Quả địa cầu, trên quả Địa cầu có hình Long Mã chạy từ Đông sang Tây mang Hàm Ấn (Lạc Thư- Hà Đồ) mà con Long Mã mang trên lưng gọi là LONG MÃ PHỤ HÀ ĐỒ. Trên nóc Bát-Quái-Đài có một cái lầu 8 góc (Bát giác). Trên nóc Bát Quái Đài là ba vị Phật ngự tượng cái đuôi của Long Mã. Nóc Đền Thánh lợp bằng ngói móc (ngói vảy cá) tượng vảy của con Long Mã. Xung quanh Đền Thánh có nhiều Thiên Nhãn tức là "Con vật linh động xung quanh có nhiều Con Mắt". Đền Thánh nhìn ngang sẽ thấy dáng Long mã đang quì, đầu thấp, mông cao. Nếu nhìn từ phía trước, như thấy Long Mã đang múa, miệng hả ra (đây là một sự hình dung, tưởng tượng, chứ Đền Thánh vẫn là bằng xi măng và vôi cát) điều ấy ứng vào câu của Chúa nói: Các ngươi muốn thấy Cha ta, đầu óc các ngươi phải minh mẫn và sáng suốt, tâm hồn các người phải có lòng Thành khẩn và Tín ngưỡng hiệp lại mới thầy cha ta. Đền Thánh nhìn từ phía trước: Trước là Hiệp Thiên Đài có lầu chuông, lầu trống là cặp sừng của Long Mã. Đền Thánh chỉ có một cửa vào là miệng của Long Mã (khác với nhà thờ hay chùa chiền thì có ba cửa vào). Trên có bao-lơn là hàm trên của Long mã, dưới có 5 bậc thềm là hàm dưới của Long Mã có râu. Hai chữ NHƠN NGHĨA trên đầu có hai câu Liễn là cặp mắt của Long Mã. Đức Phật Di-Lạc ngồi trên nóc Hiệp-Thiên-Đài là cái đầu con Long Mã. Vào bên trong Đền Thánh, muốn đến Bát-Quái-Đài phải qua Hiệp Thiên Đài (nơi Hiệp-Thiên-Đài có ngai với Thất đầu Xà của Hộ-Pháp là Bí pháp luyện Đạo của Đạo Cao-Đài). Qua Hiệp-Thiên-Đài rồi, phải đi lên 9 cấp của Cửu Trùng Đài là Cửu phẩm Thần Tiên mới đến Bát-Quái-Đài. Trong Bát-Quái-Đài có Quả Càn Khôn, trên Quả Càn Khôn thờ Thiên Nhãn, tượng trưng ngôi thờ Đức Chí-Tôn, chính là Đức Chúa Cha, hay là Đức Chúa Trời mà người Công Giáo quan niệm. Đức Thượng đế cho biết đây là "Nhãn thị chủ Tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả ngã dã". Cũng có câu Hoàng Thiên hữu Thần. Đức Chí-Tôn là Đấng vô hình, thế nên dưới mắt nhiều nhà Tôn giáo, tùy theo suy luận mà tạo nên nhiều biểu tượng khác nhau để mà thờ phượng, ví như thờ Thần Mặt Trời là ngôi Thượng đế, có nơi thờ bằng tấm vải điều cũng có ý nghĩa Trời. Vị Linh Mục nói tiếp: Đạo Công giáo, Đức Chúa Jésus Christ chỉ vào trái Tim của Ngài mà nói: các ngươi hãy thờ Lương tâm của các ngươi, mà thờ Lương tâm tức là thờ Đức tin, mà thờ Đức tin tức là thờ Đức Chúa Trời đó vậy. Đạo Cao Đài lấy CON MẮT làm biểu tượng thờ Lương tâm. Đạo Công Giáo lấy quả tim làm biểu tượng thờ Lương tâm chỉ là MỘT. Như vậy Bát-Quái-Đài trong Đền Thánh là nơi Cha Ta ngự, không còn chỗ nào khác. Vị Linh Mục ấy giải thích xong rồi nói: Tôi sẽ thông báo cho toàn nhân loại trên Quả Địa cầu này biết rằng: Tôi đã tìm thấy "CHỖ CHA TA ĐẾN VÀ NƠI CHA TA NGỰ" như lời tiên tri của Đức Chúa Jésus Christ trong Thánh Kinh Tân Ước của Công giáo: là Đền Thánh của Đạo Cao Đài là TÒA THÁNH TÂY NINH.

B- Đền Thánh Cao Đài dưới mắt vị Thượng Tọa Phật Giáo Đại Hàn

Năm 1965, có nhiều lực lượng Quân sự ngoại quốc tham chiến tại Việt Nam, trong số đó có Quân đội Đại Hàn. Số người này có Thượng Tọa Phát Hồng Châu (Pack-Hong-Shu) là Thiếu Tá Tuyên-úy Phật Giáo của Quân đội Đại Hàn. Ông Thượng Tọa Phát Hồng Châu đến Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, xin ở lại một đêm trong Đền Thánh để tìm hiểu huyền vi mầu nhiệm của nền Đại Đạo như thế nào, vì ông đã đắc Lục thông, nghĩa là ông có thể thấy xa và nhìn rộng ngoài cảnh giới của mắt thường thấy được.

 

 

 

Theo lời của Thượng Tọa Phát Hồng Châu kể lại thì Sư Phụ của ông là một vị Hòa thượng đã đắc Đạo, trước khi viên tịch đã nói với ông rằng: Ở Việt Nam có một nền Tôn giáo mới, Đạo đó thờ MỘT CON MẮT trong khuôn hình Tam giác đứng, đó là Đạo của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế lập ra, Đạo đó mới là đạo Chánh, Đạo đó mới có đủ quyền năng độ rỗi về Phần xác và phần hồn cho cả chúng sanh. Con phải tìm đến nơi đó mà nhập môn vào cửa Đạo. Sau khi Sư Phụ của ông viên tịch, ông được lên thay thế làm Chủ một ngôi chùa lớn tại Thủ đô Hán Thành. Nay ông tình nguyện vào Quân đội Đại Hàn làm Thiếu Tá tuyên úy Phật giáo là cốt yếu qua Việt Nam tìm đến nền Tôn giáo Thờ "MỘT CON MẮT" trong khuôn hình Tam giác đứng. Thượng Tọa Phát Hồng Châu (Pack-Hong-Shu) được Hội Thánh cho phép ở lại một đêm (ông ngồi Thiền). Thời điểm này Đức Thượng Sanh đang cầm quyền Hội Thánh. Sáng ra Thượng Tọa Phát Hồng Châu (Pack-Hong-Shu) nói: Quả thật Đền Thánh có nhiều huyền vi mầu nhiệm không thể diễn tả bằng lời. Tôi chỉ có thể nói được một điều là: dưới độ sâu của Đền Thánh chừng 300 thước có sáu nguồn nước đoanh lại, mà thượng nguồn phát sanh từ Trung Quốc, cuối nguồn đưa lên Núi Bà Đen (chỗ nền Vạn Pháp Cung). Sáu nguồn nước này là Linh huyệt LỤC LONG PHÒ ẤN (Trùng hợp với lời của Bác vật Lang) Đền Thánh được ấn trên huyệt này, về sau Đền Thánh sẽ linh thiêng và mầu nhiệm vì: Tất cả hồn thiêng sông núi của Trung Quốc sẽ chảy về đây: Những tinh hoa của dân tộc, những mầu nhiệm thiêng liêng của Trung Quốc đã có từ trước sẽ qui tụ về đây. Những tài năng về nhân lực, những phong phú về vật lực, những sáng tạo về trí lực sẽ qui tụ về đây (ứng vào câu Thánh Ngôn của Đức Chí-Tôn:

"Một nước nhỏ nhoi trong Vạn quốc,
"Mà sau làm CHỦ mới là kỳ"

Chính người Trung hoa họ cũng biết trước như vậy, nên đã cho người (Các Thầy địa lý) qua Việt Nam để ếm những linh huyệt này (Dùng bùa Lỗ Ban) nhưng họ đã không biết đến linh huyệt "Lục long phò ấn" ở Tòa Thánh Tây Ninh (Vì lúc đó nơi đây là khu rừng Cấm). Tuy nhiên họ cũng ếm được một linh huyệt xuất Vương, xuất Tướng tại Mỹ Tho (núi Lan gần Thánh Thất Khổ Hiền Trang) Việc này nhờ Bát Nương mách bảo và nhờ Tổ Sư Lỗ Ban giáng Cơ chỉ dẫn. Đức Hộ-Pháp đã giải ếm được huyệt này và lấy được LONG TUYỀN KIẾM. Thượng Tọa Phát Hồng Châu (Pack-Hong-Shu) hứa rằng: Ngày nào Đạo Cao-Đài truyền qua Đại Hàn, Ông sẽ hiến một ngôi Chùa lớn của ông tại Thủ đô Hán Thành để làm Thánh Thất Cao Đài và sẽ khuyên tín đồ Phật Giáo của Ông vào Đạo Cao Đài hết. Trước khi về nước Thượng Tọa Phát Hồng Châu (Pack-Hong-Shu) đến Thánh Thất Đô thành (891 Trần Hưng Đạo) nhập môn rồi mới về nước.

 

 

SƠN TINH - THỦY TINH (Truyện)

Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh: Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ 18 có người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước thì gả cho người ấy. Ngày hôm sau Sơn Tinh đến trước lấy được Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh Sơn Tây).

Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ Nương, tức giận vô cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh ở trên núi không việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu, thì Sơn Tinh làm núi cao lên bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống, Thủy Tinh phải rút nước chạy về. Từ đó Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một lần, dân gian thật là cực khổ.

Truyện này là nhân vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng 6, tháng 7 cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy xuống tràn vào trong đồng áng, ngập mất cả ruộng đất. Người ta không hiểu là tại lẽ gì, mới tưởng tượng mà đặt ra câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.

Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối thập tam thế kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê Văn Hưu, soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên, làm quan Lễ Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký: chép từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ. Xem thế thì đủ biết những truyện về đời ấy khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại, cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên cả.

Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình. Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là con Tiên cháu Rồng,...

Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử nên phân biệt truyện nào là truyện thực, truyện nào là truyện đặt ra, thì sự học mới có lợi vậy.

 

 

SƠN TRÂN HẢI VỊ

山 珍 海 味
F: Mets exquis tirés des montagnes et mers.

Sơn: Núi, còn đọc là SAN. Trân: quí báu. Hải: biển. Vị: Mùi, thức ăn. Sơn trân hải vị là những thức ăn ngon và quí tìm được nơi núi và ngoài biển.

Đồng nghĩa: Sơn hào hải vị. (Hào là thức ăn bằng thịt cá).

"Cuối Hạ Nguơn nầy, nhơn loại phần nhiều dụng hết trí não xu hướng vào lối văn-minh vật-chất; món ăn đủ sơn trân hải vị; chỗ ở lại nguy nga đài các: y phục tiện dùng gấm nhiễu che thân, ra một tấc đường thì có ngựa xe đỡ gót."

 

 

SƠN XUYÊN HÀ HẢI

Sơn là núi, xuyên là sông, là sông lớn, hải là biển. viết tắt là Sơn-Hà.

Sơn hà là núi sông, non sông, chỉ quê hương đất nước. Thường nói: Sơn hà Xã tắc, đồng nghĩa: Giang sơn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đạo thành vạn đại chiếu sơn hà.

Đức Chí-Tôn dạy: "Nơi địa-cầu cũng có sơn xuyên hà hải như Thái bình dương, Đại-tây-dương, Bắc-hải, Hắc hải, chỗ trắng, chỗ đen, chỗ xanh, chỗ đỏ; bề sâu có chỗ tới tám ngàn thước, có chỗ ba ngàn thước, có chỗ hai ngàn thước, không đều nhau."

 

 

SUẤT SƯ

(Suất là thống-lĩnh, còn đọc là Suý hay soái là tướng lãnh, đứng đầu hết. là Thầy dạy) nhưng ông Thầy dạy Đạo cũng là quan Đạo phải là người gương mẫu, vừa dạy đạo đức, giáo-lý, giáo pháp của nền Tôn-giáo mà cũng vừa là mẫu mực về lối sống Đạo nơi chính bản thân của Chức-sắc nữa. Cho nên người xưa viết hai chữ Suất-sư 帥師 giống in nhau, chỉ khác ở chữ Sư có nét nhứt ở phần bên phải của chữ, còn chữ Suất thì không có, tức là bảo "Tri hành hiệp nhứt" mà nét nhứt bên chữ Sư là cái tâm mật pháp, mật truyền của người Thầy dạy đạo vậy.

"Những Chức-sắc Thiên-phong phải ra Suất-sư 帥師 tức là giáo-hoá là chánh vai trò, gọi là hành đạo địa phương, nhưng cũng có thể ra ngoại-quốc nữa. Chức sắc hiểu rõ cái nhiệm-vụ "Suất sư" thì việc đi hành-đạo mới hoàn-toàn được".

Hỏi: Chức-Sắc ở Tòa-Thánh 3, 4 năm mới bổ đi hành đạo một năm, kế được Hội Nhơn-Sanh thì mới hành quyền ít quá rồi phải định sao?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Chỉ kể từ ngày Suất sư khỏi Tòa-Thánh bao lâu đặng định công-nghiệp mà thôi."

Hỏi: Chức-Sắc từ trước giờ ở Tòa-Thánh mới được bổ đi cầm quyền sau khi Hội Nhơn-Sanh công nhận được kể vào hàng Chức-Sắc có hành quyền đặng công nhận không?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Kể từ ngày bổ đi hành đạo tha-phương là đáng kể công-nghiệp. Nếu đủ tài, đủ đức, đủ công nghiệp phi thường và đủ lệ năm năm là cho thăng vị đặng, song để vào hàng Chức-Sắc mới Suất-sư khỏi Tòa-Thánh mà thôi."

 

 

SUN SEN (Tôn Văn)

Tức là Tôn Văn, Tôn Trung Sơn, Tôn Sơn Chơn Nhơn.

Đức Ngài giáng Cơ tại Phạm nghiệp, ngày 11-4-Ất Hợi (dl: 13-5-1935). Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo.

SUN SEN

Chào chư vị Đại đức, Âu Dương (1) Hiền đệ và Từ Huệ. Bình thân. Bần Đạo tưởng chẳng cần nói rõ thì Âu Dương hiền đệ cũng đủ hiểu rằng: quê hương của chúng ta ngày nay vì tấn bộ trong đường vật chất văn minh nên đạo đức như ra phế hủy. Hại thay! Tinh thần Trung-huê từ trước chỉ nhờ đạo đức mới bảo thủ giống nòi, vững gìn đại quốc. Nếu đạo đức tiêu hao thì thế nào an quốc, vì trên 500 triệu sanh linh chỉn coi đường danh là quí, nẻo lợi là hơn, thì trường tranh đấu thế nào không náo nhiệt. Hễ có tranh đấu ắt có nghịch thù, hễ có nghịch thù thì ngoại bang xúm xui mưu làm loạn, loạn thì nhược, nhược thì vong, vong hưng Tàu đều do trị loạn, trị đặng chỉ nhờ Đạo, Đạo thạnh mới mong mỏi nước hưởng thái bình. Hiền đệ nghĩ đến điều ấy, rồi mới biết phận sự dành để cho Hiền đệ rất nên yếu trọng. Ấy là tương lai ngày sau. Còn buổi nầy nương ngụ hải ngoại kiều cư, Hiền đệ gắng qui tâm liên lạc, giúp khó trợ nghèo, ấy là ơn sâu của Hiền đệ thi ra cho người đồng xứ. Khá để lòng rằng: Tàu là Việt Nam, Việt Nam là Tàu, cũng chung huyết khí đa nghe".

(1) Âu Dương: Âu Dương Tu, thọ phong Thái Phối Sư Thái Tu Thanh.

Sun Yat Sen giáng cơ: "Khi mới khởi nghĩa vốn chung tâm, còn ngày nay vì quyền lợi đã ra khác tánh, cuộc thống nhứt trở nên khó nhọc trăm đường. Đế xá Mãng Thanh sống lại, Quốc Hội Cộng Sản lập thành, chánh trị chia phân đảng phái. Tưởng làm thất diện anh hùng, Đường dân biết đâu nương dựa. Ôi Trung Quốc! có phải vì mi mà ta tái sanh lại nữa hay chăng? Lụy!"

 

 

SUNG TÚC


E: Abundant.
F: Abondant.

Sung: đầy đủ. Túc: đủ. Sung túc là đầy đủ, dồi dào, đồng nghĩa: Sung mãn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Các con dòm nền đạo, bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy cái mạch bịnh trong tâm.

 

 

SÙNG BÁI

崇 拜
E: To worship
F: Adorer, vénérer.

Sùng: Kính trọng, chuộng, ngưỡng mộ. Bái: lạy. Sùng bái là tôn sùng kính lạy (Kính trọng bội phục, kính lạy).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nếu chẳng nhờ lấy công ấy thì ngày nay đâu có tên tuổi của nhiều tôn giáo mà cả nhơn sanh chia ra sùng bái.

 

 

SÙNG THƯỢNG


E: To esteem.
F: Estimer.

Sùng thượng : Quí chuộng, tôn sùng.

 

 

SÙNG TÍN

崇 信
E: To believe in.
F: Croire en.

Sùng: Kính trọng, chuộng, ngưỡng mộ. Tín: tín ngưỡng, tin tưởng. Sùng tín là tôn sùng và tín ngưỡng (Tôn sùng và tin tưởng).

 

 

SUY GẪM

Suy gẫm: truy xét tận tường Suy nghĩ cho thấu lý và xét gẫm cho tường tận.

Thầy dạy: "Các con coi kinh điển lại, rồi thử nghĩ lại sự công bình Thiêng liêng mà suy gẫm cho hay lẽ phải. Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất nghe à." (TNII/ Ngày 12 tháng 6 Bính Dần, dl. 21-7-1926)

 

 

SUY LUẬN

推 論
E: To deduce.
F: Déduire.

Suy: Suy nghĩ, suy xét, tìm ra mối. Lý: lẽ phải, lẽ thật. Luận: bàn luận. Suy lý là từ một lẽ thật mà suy ra những điều chưa biết. Suy luận là từ một vấn đề mà bàn rộng ra.

 

 

SUY NGHIỆM

推 理
E: To experiment.
F: Expérimenter.

Suy: Suy nghĩ, suy xét, tìm ra mối. Nghiệm: xem xét. Suy nghiệm là suy nghĩ tìm xét lại coi đúng hay sai (Kinh nghiệm, từng trãi, lịch duyệt, lão luyện).

Suy cổ nghiệm kim: Suy nghĩ việc đời xưa để xem xét việc đời nay.

 

 

SUY SỤP

Suy sụp: thời hưng thịnh đã hết, thời tàn tạ.

Kinh Sám Hối có câu:

"Trong lòng mưu chước rất sâu,
"Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi."

 

 

SUY VI

:
E: To decline.
F: Tomber en décadence.

Suy: Sút kém, không thạnh. Vi: hèn kém, nhỏ nhoi. Suy vi là sút kém thấp hèn.

Đức Hộ-Pháp nói: "Nay đến đời Hạ nguơn cuối cùng, thế Đạo suy vi, nhơn tâm bất cố, đạo đức đổi dời, lòng người chẳng giống như xưa, luật Tam Cang chẳng giữ, phép Ngũ Thường không noi, Tam giáo thất chơn truyền, nhơn tâm biến đổi, bỏ phép công bình, tranh danh trục lợi, cướp giựt hiếp đáp, giết hại lẫn nhau, thành ra một trường náo nhiệt, nên gọi là đời mạt kiếp".

Thất Nương giáng: 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947):

Nhơn đạo rày đã suy vi,
Chay lạt dời đổi còn chi tu hành.
Mang câu thất hiếu đã đành,
Bao nhiêu công quả biển gành rã tan.

Kinh Sám Hối có câu:

"Khi vận thới lung lăng chẳng kể
"Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu."

 

 

là thầy dạy học. Như tôn sư trọng Đạo (Maitre, Professeur).

là người tu theo Đạo Phật, ở chùa. Thi của Hồ Xuân Hương "Một Sư đầu trọc ngồi khua mõ" Bonze. Sư bà, Sư cô, sư cụ.

  là đoàn quân đông nhất trong hệ thống tổ chức quân đội (Division).

 

 

SƯ Quẻ 07. Quẻ Địa Thuỷ Sư

 

 

Quẻ 07. Quẻ Địa Thuỷ Sư

 

 

Tượng: Thánh Thể Đức Chí-Tôn

Quẻ này là quẻ Địa Thuỷ Sư. Khảm dưới là nội Khảm. Khôn trên là ngoại Khôn. Khôn là Địa, Khảm là Thuỷ, nên tên quẻ đặt là Địa Thuỷ Sư. Biệt số: 86.

SƯ có nhiều nghĩa:

1-Nhiều, đông người như Sư chúng, Sư đoàn. Trong Quân-đội một Sư-đoàn là 20.000 người.

2-Sư là Thầy dạy học như Giáo sư, Sư trưởng; tức là người dạy-dỗ có quyền sai khiến kẻ khác. Thế nên Thầy là người đứng đầu cuộc Sư. Người đứng đầu một Hệ-phái là Tổ Sư. Đức Khổng-Tử được nhân-loại tôn tặng là Bậc "Vạn thế Sư biểu" ấy là người Thầy của muôn đời vậy.

3-Đây là một Thầy gương mẫu vừa dạy chuyên môn vừa là tấm gương cho người học theo,nhất là học Đạo.

Vì sao, sau quẻ Tụng tiếp lấy quẻ Sư?

Theo như hai thể quẻ này, Khôn thượng là địa, Khảm hạ là thủy; ở giữa đất có nước đọng lại, tượng là quần chúng nhóm họp.

Lại theo về Đức quẻ, nội quái Khảm là hiểm, ngoại quái Khôn là thuận, giữa đường hiểm mà đi bằng cách thuận, tượng là đem quân đi đánh giặc.

Toàn quẻ có năm hào Âm, một hào Dương, thì hào Dương làm chủ. Một Dương thống-suất năm Âm, tượng là Tướng Thống suất toàn quân.Vậy nên đặt tên quẻ bằng Sư.

Một Chức-sắc đi hành-đạo ở Địa-phương gọi là SUẤT SƯ 帥師 Hai chữ Suất-Sư này về cách viết có dạng như nhau. Chữ Suất có nghĩa là thống lãnh. Chữ Sư là Thầy, riêng chữ Sư có nét Nhứt trên đầu của phần thứ hai, chữ Suất không có. Vậy Thầy phải có lời nói đi đôi với việc làm, gọi là "Tri hành hiệp nhứt".

Thời Tụng là cuộc phân phe chia phái, vì chỗ bất đồng ý-kiến nhau giữa các Chức-sắc, nên mạnh ai nấy chia ra lập Hội-Thánh riêng: Người đi miền Tây, người về miền Trung. Chỉ riêng Chức-sắc ở Toà-Thánh Tây-Ninh thì các Ngài cứ theo sự sắp đặt như Pháp-Chánh-Truyền của Đức Chí-Tôn qui định mà mỗi người làm trách-nhiệm của mình.Các vị Tiền-bối như: Đức Thượng-Phẩm, Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Sanh, Đức Quyền Giáo, phải hoàn thành cơ cấu cơ-quan Hành-Chánh-Đạo, dưới quyền Hội Thánh ba Đài, gọi là Hội-Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đặt tại Toà-Thánh Tây-ninh đều theo chơn-truyền. Tất cả các nghi thức cúng kính, thờ phượng, Sắc phục, Áo-mão, Kinh nghĩa… mỗi mỗi đều nhất Luật. Các ngôi thứ bậc đều chuẩn mực tôn ti trật tự, những vị này thay thân Đức Chí Tôn khai Đạo Cứu Đời trong chủ-nghĩa Bác-ái, Từ-bi, thực hành Nhân nghĩa.

Đúng nghĩa Sư là hành quân dẹp giặc, nhưng với Đạo-pháp thì Sư này "Trừ Tà diệt mị hộ chơn truyền".

Là theo tinh-thần câu liễn này:

- Phạm giáo tuỳ ngươn cứu thế độ nhân hành chánh pháp.
- Môn quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn-truyền.

Thời Sư chính là Hội-Thánh Thánh-Thể của Đức Chí Tôn đó vậy.

Đức Hộ-Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh, đêm 29 tháng 10 năm Quí Tỵ: "Thánh Thể Đức Chí Tôn chẳng phải trong Hội Thánh mà thôi, mà cả toàn con cái của Ngài Nam, Nữ, nếu Qua không nói đến mấy em mới sơ sanh, nó cũng là đám Thánh Thể của Ngài, là buổi may duyên của chúng nó ngộ Đạo "Bá Thiên vạn kiếp nan tao ngộ". Bởi cái may duyên ấy do nơi mấy em đào tạo nó một phần tử buổi sơ sinh tức nhiên, kể từ hạng sơ sinh Đức Chí-Tôn đã đến lựa từ khi mấy em đã có trí khôn ngoan cho nhập Thánh-Thể của Ngài đứng vào hàng Chức-Sắc Thiên-Phong gọi là Chư Thánh, mấy em mới nên người "Tam thập nhi lập".

Cái phẩm vị Thiêng Liêng của mấy em nơi mặt thế, Phó Trị Sự, Thông Sự đối với Ngôi Giáo Tông, Hộ Pháp, trong khi tuổi của mấy em đã tri thiên mạng rồi, rất ngộ nghĩnh thay Đức Chí Tôn lấy công bình ấy đặng lập Thánh Thể của Ngài, Ngài để một kiểu vở, một khuôn luật Tạo đoan hay là một gia đình kia không khác gì hết. Mấy em đã ngó thấy trong Đạo, Đức Chí-Tôn đã để:

-Hàng Tín-Đồ đối với Đại-Từ-Phụ.

-Phó-Trị-Sự và Thông Sự đối với Phẩm Giáo Tông và Hộ Pháp.

-Chánh-Trị-Sự đối với Phẩm Đầu-Sư.

Thì mấy em thử nghĩ coi khuôn khổ Thánh Thể của Ngài không có một cái gì sơ sót hết."

 

 

SƯ ĐỆ

師 弟
E: The master and pupil.
F: Maitre et élève

( là thầy, đệ là em, là học trò, nằm trong chữ đệ-tử) Sư đệ là thầy trò, nghĩa thầy trò. Cũng còn gọi là Sư đồ.

 

 

SƯ ĐOÀN

師 團
F: Division.

Là Đoàn quân thuộc quyền một Trung tướng coi. Một sư đoàn tùy theo mỗi nước mà có thể nhiều ít chênh lệch nhau về con số quân. Ngày nay, thường mỗi Sư-đoàn có chừng 15.000 quân.

 

 

SƯ HUYNH

( là Thầy, huynh là anh) Thầy và anh. Nghĩa bóng là tiếng gọi tên người cùng học một đạo với mình.

Nguyễn Du có câu "Dạy đem pháp bảo sang hầu sư huynh".

Riêng Đạo Cao Đài ngày nay thì tiếng danh xưng của người ở phẩm dưới gọi cấp lãnh đạo mình là Đại huynh, Trưởng huynh, Hiền huynh là tỏ sự kính trọng từ cao đến thấp. Tiếng Sư huynh không thông dụng, ít phổ biến.

 

 

SƯ HƯ VÔ


E: Master in the nothingness.
F: Maitre dans les néant.

( là thầy, Hư vô là cõi không, tức nhiên là các Đấng thiêng liêng như Đức Thượng Đế cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật) Ấy là những bậc Thầy đến giáo Đạo cho dân tộc Việt Nam này làm khởi điểm. Tuy không thấy hình dáng hay nghe tiếng nói: Dù cho Thầy học cũng không thấy, Đạo cũng không rờ đụng được, nhưng biết được là do Huyền diệu Cơ Bút làm nhịp cầu giao cảm giữa Thần Tiên đến với cõi tục một cách linh thông và mầu nhiệm.

Kinh Xuất Hội có câu:

"Đạo Hư vô, Sư Hư vô,
"Reo chuông thoát tục, phất cờ tuyệt sinh."

 

 

SƯ HỮU

師 友
E: Master.
F: Maitre et ami; par ext. compagnon d’études, condisciple.

( là thầy, hữu là bạn). Nghĩa riêng là tiếng gọi những bạn bè cùng học một Thầy gọi nhau.

 

 

SƯ MẪU

師 母
E: Master’s wife.
F: Femme du maitre.

( là thầy, mẫu là mẹ). Học trò ngày xưa thường gọi vợ của thầy học của mình là sư mẫu. Vì thầy xem như cha rồi trong cái đạo: Quân-Sư-Phụ (Vua, Thầy, Cha). Bởi ông thầy ngày xưa thường dạy học trò có khi suốt cả một đời làm học trò của mình, nên cái nghĩa "tôn sư trọng Đạo" một cách rõ rệt lắm. Ngày nay đã mất đi một phần ý nghĩa ấy, là vì mỗi người dạy học trò chỉ một môn nào đó thôi, nên tình thầy trò ít khi khắn khít. Vả lại thời buổi gần đây dường như cái tình "thầy trò" có phần lạt lẽo hơn xưa nhiều lắm. Thầy học nó còn quên, có đâu đến vợ của Thầy thì giá trị càng nhẹ hơn nhiều. Chữ Sư mẫu ngày nay dường như quên lãng.

 

 

SƯ PHẠM

師 範
F: Norme, règle que doit observer le maitre.

Sư phạm 師範: Khuôn phép làm thầy (Khuôn phép của thầy dạy).

 

 

SƯ PHÓ

師 傅
E: Master of king (thầy dạy).
F: Le maitre du prince héritier.

: Thầy dạy học. Phó: phụ, giúp. Sư Phó là thầy dạy vua khi vua còn nhỏ tuổi, hay là thầy dạy thái tử. Thái tử là người sẽ nối ngôi vua (Thầy dạy học của vua hoặc của Thái-tử, quan thầy dạy vua chúa khi còn nhỏ tuổi).

(Chữ Phó ở đây không có nghĩa là chức Phó phụ tá cho chức Chánh như Chánh Trị Sự và Phó Trị Sự).

Nơi cõi thiêng liêng, Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ (Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) là Sư Phó của Bạch Vân Động. Đó là vị thầy của tất cả các vị Thánh trong Bạch Vân Động, đứng đầu và cầm quyền điều khiển Bạch Vân Động.

 

 

SƯ PHỤ


E: Master.
F: Maitre.

(: thầy; Phụ: cha) Thông thường là tiếng học trò gọi thầy trong sự tôn tặng, Sư Phụ vừa là Thầy vừa là Cha. Chỉ một bậc đáng tôn kính. Đây là Thầy, Đức Chí Tôn- Đại-Từ-Phụ.

Trong thời mở Đạo kỳ ba này, Đức Chí Tôn không giáng Chơn linh như những lần trước, mà chính Ngài dùng huyền diệu Thiêng liêng để giáng cơ khai Đạo. Ngài là Đấng Thiên Đế trong Càn khôn Vũ trụ, lại là Giáo chủ của nền Đại Đạo, mà hạ mình xưng là Thầy và gọi chư tín đồ là môn đệ. Vì thế, mọi tín đồ của Đạo Cao Đài đều coi Ngài như Sư Phụ và gọi bằng Thầy.

Kinh Xuất Hội có câu:

"Các con cúi đầu trình Sư Phụ,
"Gìn từ tâm khuyến nhủ tăng đồ."

 

 

SƯ TĂNG

師 僧
F: Bonze.

Sư tăng 師僧: Thầy tu theo đạo Phật.

 

 

SƯ TỬ (Động)

F: Lion.

Sư tử: Loại mãnh thú rất dữ ở rừng của những xứ nóng. Ở Việt Nam không có sư tử. Sư tử cái (Lionne), sư-tử con (Lionceau).

Sư tử Hà-đông là chỉ người đàn bà hung dữ hay ghen chồng (Hà Đông là một Tỉnh ở Bắc Việt).

 

 

SỨ MẠNG

使
F:Mission.

Sứ mạng 使命: Mệnh lệnh mà sứ giả vâng lịnh.

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Nhận lãnh nơi Đức Thượng Đế, bậc Từ-phụ của toàn nhân-loại, chúng tôi có sứ mạng truyền-bá nền Chánh-giáo của Người đến khắp hoàn-cầu.

Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về sự giáng hạ của Người trên đất nước này. Nhiều phép lạ đã xảy ra giống như thời Chúa Jésus ngự đến ban phép lạ xưa kia ở Lourdes và các nơi khác".

Riêng Đức Hộ-Pháp thì rằng: "Qua nhớ lại khi Đức Chí-Tôn vừa đến, tức nhiên năm 1925 khi đó trong các Môn Đệ của Ngài, Qua chẳng biết mỗi người đã lãnh sứ mạng đặc biệt riêng nhau làm sao! Đức Chí Tôn đến với họ một cách riêng biệt thế nào Qua không hiểu".

Là anh em chúng ta, người Đạo Cao Đài mỗi một người đều có lãnh sứ mạng thiêng liêng: dầu nhỏ, dầu lớn cũng là sứ mạng, Vậy trên cũng sứ mạng, dưới cũng sứ mạng, vậy tất cả đều có sứ mạng. Biết chung nhau mà thực thi sứ mạng, thì ngày kia chúng ta sẽ thành công, thành công để mà giữ được cái nề nếp của Đạo Trời ban cho chúng ta trước hết. Dầu cho mình không tài đi nữa, mình cũng có Đạo, mình cứ nhắm theo Đạo mà đi. Điều đó tưởng anh em cũng đều hiểu biết hết. Chỗ cốt yếu là đối với sứ mạng thiêng liêng, chúng ta đừng có khinh thường. Cái sứ mạng ấy, phải lấy hết chơn tâm ra mà hành đạo, mỗi người, muôn người như một đều chú ý vô một chuyện đó thì làm gì mà chẳng nên. Cho nên tôi nói rằng muôn người như một, đoàn kết nhau cho thành đoàn thể thì việc khó đến đâu chúng ta cũng đủ sức vượt qua.

 

 

SỬ CƯƠNG ĐẠI ĐẠO

E: The general history of Caodai.
F: L’histoire générale du Caodaïsme.

Sử: Lịch sử. Cương: những nét chính, đại cương. Sử cương là đại cương về lịch sử, tức là chỉ trình bày những nét chánh của lịch sử. Sử cương Đại Đạo: Đại cương về lịch sử Đạo Cao-Đài.

 

 

SỬ LIỆU

史 料
E: Historical documents
F: Documents historiques.

Sử liệu 史料: Tài liệu để nghiên cứu lịch sử.

 

 

SỬ THI

史 詩
E: Epic poem.
F: Poème épique.

Sử: Lịch sử. Thi: thơ ca. Sử thi là thơ ca về lịch sử, tức là những bản anh hùng ca nói về lịch sử của một dân tộc (Lịch sử viết bằng lối thi văn hùng tráng, Anh hùng ca).

 

 

SỬ XANH

E: History book.
F: Livre d’histoire.

Sử xanh là tiếng Nôm, do chữ "Thanh sử" 青史 dịch ra. Ngày xưa chưa có kỹ nghệ làm giấy như bây giờ cho nên muốn ghi những việc quan trọng xảy ra thì phải chép hay khắc trên thẻ tre xanh. Tiếng gọi này được lưu truyền đến ngày nay dùng để gọi về lịch sử hay sách sử.

Nguyễn Du có câu:

Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

 

 

SỰ CAO TRỌNG

Sự cao trọng 事高重: Việc cao quý và trọng đại.

Trích trang 23 trong Kinh Tân Ước, có lời rằng: "Sự cao trọng thật: Nếu người nào có 100 con chiên, một con bị lạc mất đi thì há chẳng để 99 con lại trên núi mà đi kiếm con đã lạc mất sao? Quả thật Ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi kiếm lại được thì lấy làm vui mừng vì con đó hơn 99 con không lạc. Cũng thế ấy: Cha các ngươi ở trên Trời không muốn cho một đứa nào trong những đứa trẻ nầy phải hư mất".

 

 

SỰ CẦU NGUYỆN


F: Prière.

(Sự là việc làm, cầu là xin, nguyện là hứa). Sự cầu nguyện là thể hiện một đức tin, phát xuất từ trong lòng của mỗi người. Khi người ta không tự mình giải quyết được một điều trắc ẩn nào đó thì cầu nguyện với huyền linh hộ trì hay gia hộ.

Đức Hộ-Pháp thuyết tại Báo Ân Từ, đêm 24 tháng chạp Bính Tuất (1947): "Sự cầu nguyện có cảm ứng với Chánh Trị Thiêng Liêng tức là các Ðấng Vô Hình đều rõ biết mọi sự hành tàng nơi cõi thế, triết lý về hình thể của con người, thọ tinh cha huyết mẹ sản xuất ra, thì có sự cảm giác thiêng liêng đối cùng nhau rất mật thiết, cho nên một người con lúc đi làm ăn xa nhà, khi cha mẹ có bịnh hoạn hay xảy ra điều gì tai biến, thì thân thể của người con sẽ có điềm máy động; giựt thịt, máy mắt, hoặc là ứng mộng thấy rụng răng và các điều khác.. đó là về phần Tinh - Khí hình thức của con người, còn về phần linh tánh thì do nơi Ðức Chí Tôn ban cho nhứt điểm lương tâm, nó có cảm giác cùng Chí Linh, cho nên khi ta hữu sự thì thành tâm cầu nguyện. Nền Ðạo là một điều cảm ứng rất mầu nhiệm vô cùng, có câu: "Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên địa tất giai tri". Từ đây chư Chức Sắc và Chức Việc cùng Ðạo Hữu nam, nữ gắng thành tâm cầu nguyện cho nền Ðạo và cơ Ðời được an ninh trật tự, kể từ ngày nay cho đến Tân Xuân đầu năm Ðinh Hợi thì sẽ thấy sự tiến hóa phi thường và huyền linh mầu nhiệm, nếu toàn cả quốc dân mà đủ lòng tín nhiệm với quyền hành Chánh Trị Thiêng Liêng, hiệp nhứt tâm cầu nguyện, thì cơ loạn lạc sẽ trở nên an ninh trật tự, Ðời sẽ được cộng hòa chung hưởng mọi điều hạnh phúc."

Hộ-Pháp Cầu-nguyện với Đức Chí-Tôn cũng như hồi trước Tam-Tạng đi thỉnh kinh nơi Ấn-Độ.

Đêm 22 tháng 02 năm Kỷ-Sửu (21-03-1949): "Bần Đạo có những điều trọng-yếu căn dặn: Từ ngày Bần-Đạo giảng cái Bí-pháp ấy, Bần-Đạo vẫn cầu nguyện với Đức Chí-Tôn luôn, bởi vì nó có nhiều điều khó-khăn, những điều mà mình ngó thấy bằng con mắt Thần, lấy cái nhân-khẩu của mình mà tả chẳng hề khi nào đúng chắc đặng. Bần-Đạo thú thật rằng mười phần có lẽ Bần-Đạo tả đặng năm hay bảy phần là nhiều, sợ còn kém hơn nữa. Bần-Đạo chỉ có Cầu-nguyện với Đức Chí-Tôn cũng như hồi trước Tam-Tạng đi thỉnh kinh nơi Ấn-Độ. Ngài là người Tàu mà Kinh viết tiếng Phạn, muốn dịch ra rất khó lắm, lấy cả Kinh-Luật trong tiếng Phạn đem ra rất khó cho Ngài lắm, cho nên Ngài đại nguyện: Ngài làm thế nào Ngài rán sức, Ngài âm tiếng Phạn ấy ra chữ Nho. Ngài chắc ý Ngài âm tiếng Phạn ấy chưa đúng, Ngài có hứa chừng nào mà tôi qui liễu, nếu trong Kinh-luật Đạo giáo mà tôi không minh-tả ra đặng thì khi chết cho cái lưỡi tôi đen, nếu tôi tả trọn vẹn thì cho cái lưỡi tôi đỏ. May phước Bắc-Tông được hưởng một ân-huệ của nhà Phật đã ban ân riêng cho Đức Tam-Tạng, khi Ngài chết người ta vạch lưỡi của Ngài ra coi thì lưỡi của Ngài đỏ, vì cớ mà Chơn-giáo của nhà Phật là Bắc-Tông có thể nhờ Đức Tam-Tạng đã minh tả ra trọn vẹn. Ngày nay Bần-Đạo mỗi phen lên giảng về Bí pháp thì cầu-nguyện với Đức Chí-Tôn cho sáng-suốt, mà biết vẫn còn thiếu kém không thể gì tả bằng con mắt Thần của mình đã ngó thấy đặng trọn một bài. Nếu thoảng như Đức Chí-Tôn ban ân riêng trong nền Thánh-Giáo của Ngài có cả Thánh-Thể của Ngài đoạt Pháp đặng, thấy đặng, có lẽ cũng chỉnh thêm, giùm giúp tay với Bần-Đạo mới toàn-thiện toàn-mỹ đặng".

Một Đàn Cơ Thầy dành riêng cho người Pháp như vầy: "Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy, thì trên quả địa-cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả. Lại có lắm kẻ đáng thương hại lại tự-phụ rằng họ hiểu thấu cả lẽ mầu nhiệm của Ðấng Tạo-Hóa. Nhưng Thầy không bao giờ cho một kẻ nào dưới cõi trần nầy tiết lậu Thiên-cơ cả. Muốn đến Thầy thì phải cầu nguyện. Thầy không bao giờ không cảm ứng với những lời cầu nguyện chơn-thành. Như thế đủ chứng tỏ cho các con tin rằng Thầy là Ðức Jéhovah của dân Hébreux vị chủ tể của quân-lực dân Israel, vị Thánh vô danh của dân Do-Thái, Ðức Ðại-Từ-phụ của chúa Jésus Cứu Thế. Con chỉ cần cầu nguyện Thầy với danh hiệu "CAO-ÐÀI" thì sẽ có sự cảm ứng chấp-thuận. Con đến đây với tấm lòng thành thật để làm việc phải cho giống dân biết phục-thiện hiện đang giao phó cho con. Vậy Thầy nhờ con truyền bá giáo-lý nầy cho dân tộc đặt dưới quyền bảo hộ của con. Chỉ có cách đó mới có thể kềm giữ nhơn-loại trong tình yêu sanh-chúng và đem lại cho con một cuộc đời hòa bình bền bĩ."

Ngoài ra, với tất thảy "Chúng ta nên để tâm cầu nguyện đặng tỏ rằng người sống không bao giờ quên kẻ chết và kẻ chết cùng người sống vẫn có một quan niệm chung thờ một chủ nghĩa; duy có khác là cái chết và cái sống. Ngoài ra không ai phân biệt được, mà nếu không phân biệt được thì nhơn loại có một mà thôi. Tinh thần vẫn một, sự phân biệt đó là tại tâm lý phàm phân chia, chớ tinh thần không phân màu sắc dân tộc nào hết, chỉ có một quê hương chung là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, có một Ðấng Chúa Tể là Trời."

 

 

SỰ CHẾT

F: La mort.

Chết là chấm dứt một giai đoạn sống. Chết là hết, nhưng hết một kiếp sống này thôi. Bởi trong chữ CHẾT thì phần cuối là chữ HẾT rõ ràng như vậy, nhưng chỉ hết phần thể xác, chứ linh hồn vẫn còn. Kinh Cao Đài xác nhận:

"Hồn Trời hóa trở về Thiên cảnh,
"Xác đất sanh đến lịnh phục hồi."

Tuy nói hết đây là thân cát bụi trở về cát bụi, nhưng nó được phân hóa ra thành mảy-mún để làm phân bón cho cây, cho đất cũng chưa gọi là hết một cách hoàn toàn đâu. Còn hồn phải về Trời nếu người có tu hành. Nhất định như vậy.

Thầy dạy: ngày 13-6-Bính Dần (Jeudi 22 Juillet 1926): "Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết Đạo nên tưởng lầm. Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì... Cười... Nếu Thầy không đến kịp, thì các con cũng vẫn bị trong vòng sự chết. Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi, thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái? Còn bậc chơn tu tỉ như một hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, trổ bông rồi sanh trái mà biến biến sanh sanh càng tăng số. Vì vậy mà các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn thần, Chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo. Bởi vậy một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế Giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con. Như kẻ bên Phật Giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng Giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế. Người gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương. Người gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu. Người gọi Lão Tử là Tiên Tổ Giáo, thì Lão Tử cũng sanh ra đời nhà Châu. Người gọi Jésus là Thánh Ðạo Chưởng Giáo, thì Jésus lại sanh nhằm đời nhà Hớn. Thầy hỏi vậy chớ ai sanh ra các Ðấng ấy? Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó ai sanh? Ấy là Ðạo. Các con nên biết. Nếu không Thầy, thì không có chi trong Càn Khôn Thế Giới nầy, mà nếu không có Hư Vô Chi Khí thì không có Thầy".

 

 

SỰ GIẢI THOÁT


F:Délivrance, émancipation.

Ngài Hiến Đạo giải nghĩa sự giải thoát: "Sống không ham mà chết cũng không sợ, tiên thị là được giải thoát khỏi cửa Địa Ngục, đến Niết-Bàn là thành Phật, mà thành Phật ở kiếp nầy, ở cõi nầy, chớ không phải kiếp sau và ở cõi khác vậy. Các vị tu học phải nghiền ngẫm suy nghĩ cho nhiều để tìm cho ra cái chân giải thoát thì cái công học Đạo mới được thuần thục, có kết quả tốt đẹp. Qúi vị sẽ được mãn nguyện, "lạc dĩ vong ưu" là hiểu được Đạo lý, rồi trong lòng nầy tỏ ra vui sướng vô cùng, vì đó mà quên hết những việc buồn rầu, những cảnh ngộ bên ngoài làm gì cho mình mất vui được?"

 

 

SỰ NGHIỆP


F: Entreprise, profession.

Sự: Việc. Nghiệp: việc lớn. Sự nghiệp là toàn thể việc làm của một cá nhân hay của một đoàn thể, có ích lợi lớn và lâu dài cho đời (Việc của người làm mà có ích cho xã hội hoặc cá nhân).

Đức Hộ-Pháp nói về Đức Chúa Cứu Thế: "Ngài hằng dạy rằng "Cái khổ của thế gian là sự nghiệp của con người, phải Thọ khổ mới rõ cơ thoát tục". Ấy đời đương giả dối mà Ngài đem chân thật đặng khử trừ, chẳng khác nào vào chốn náo nhiệt dữ dằn mà Ngài đờn tiếng đờn thanh tao hòa nhã".

 

 

SỰ THẾ

事 世
E: The affairs of life.
F: Les affaires de la vie.

Sự: Việc. Thế: đời. Sự thế là việc đời (Việc sinh sống của đời).

Kinh Khai Cửu Ðại Tường Tiểu Tường:

"Dứt tan sự thế nợ trần từ đây."

 

 

SỰ THƯƠNG YÊU

F: Amour.

Đức Chí-Tôn dạy: "Thầy thường nói với các con rằng: Thầy là Cha của sự Thương-yêu, do bởi Thương yêu Thầy mới tạo thành thế-giới và sanh dưỡng các con. Vậy thì các con sản xuất nơi sự Thương-yêu. Đã sản-xuất nơi sự Thương-yêu, các con tức là cơ thể của sự Thương-yêu. Ấy vậy, sự Thương-yêu là giềng bảo-sanh của Càn khôn thế-giới. Bởi Thương-yêu mà vạn loại Hoà-bình, Càn Khôn an-tịnh mới không thù-nghịch nhau, không thù nghịch nhau mới không tàn hại nhau. Không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh-hóa. Còn kẻ thù-nghịch cơ sanh hóa là ai? Là Quỉ Vương đó! Quỉ Vương vốn diệt-hóa cũng như có sống của Thầy ắt phải có chết của Quỉ-vương.

Quỉ-Vương lấy cơ thể nào mà tàn hại các con? Ấy là sự ghét. Vì ghét nhau vạn loại mới nghịch lẫn nhau, nghịch lẫn nhau mới tàn hại lẫn nhau, mà tàn hại lẫn nhau là cơ diệt thế. Vậy Thầy cấm các con từ đây, nếu không đủ sức Thương-yêu nhau cũng chẳng đặng ghét nhau".

"Thầy chỉ một lòng mơ ước cho các con biết Thương yêu nhau trong Thánh đức của Thầy. Sự thương yêu là chìa khóa mở Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế giới và Bạch Ngọc-Kinh. Kẻ nào ghét sự thương yêu thì chẳng hề qua khỏi cửa luân hồi."

Có câu này nữa "Mọi sự khó khăn Thầy gánh vác, chỉ cậy các con Thương yêu, gắng công độ rỗi".

 

 

SỬA CẢI (Sửa Đổi)

E: To modify.
F: Modifier.

Cải: sửa đổi. Sửa cải là sửa đổi thêm bớt cho vừa ý.

Chú giải Pháp Chánh Truyền:

Giáo Hữu đặng phép hành lễ y như thức lệ Giáo Sư sở định, không đặng phép sửa cải, nhứt nhứt phải đợi lịnh Giáo Sư.

 

 

SỬA CẢI CHƠN TRUYỀN

Ngày nay tuy Đức Chí-Tôn không giáng phàm như các Kỳ Phổ Độ trước nhưng vẫn có Người thay thân cho Ngài là Hộ Pháp Ngự Mã Thiên Quân, Chưởng Quản cả Hội-Thánh hai Đài là Hiệp-Thiên và Cửu Trùng. Ngoài ra còn có Thập Nhị Thời Quân, tức là Thập Nhị Thánh Tông đồ xưa của CHÚA. Thế mà có người vẫn làm sái đi để rồi cuối cùng cũng phải buông lời ân hận và thú nhận về việc sửa cải chơn truyền:

Đây là lời của Ngài Tiếp-Đạo Cao Đức Trọng trước khi đi đầu thai có gặp Mẹ một lần để nói lên lỗi lầm của mình rằng:

"Khi lãnh lịnh Ngọc-Hư-Cung xuống thế, có bổn phận phải giúp Ngự-Mã Quân mà ngược lại không tròn Nghĩa, vì nặng mang phàm tục lôi cuốn, quên hẳn Thiêng liêng cao trọng…Ôi! Phàm tục! Vì mi mà làm Ta lầm-lạc, chẳng hiểu đặng rằng Ngự-Mã là mạng lịnh của Khí Hư-vô thay thân Chí Tôn tạo đời cải dữ ra hiền. Mẹ ơi! Một lời nói sai với Ngự-Mã cũng bị đọa, huống chi sửa cải chơn truyền tội trọng dường nào! Sự lỗi lầm của con nay việc đem Em về tước quyền Thiên Quân nên gánh lấy tội lỗi. Tưởng lúc lâm chung đày đọa xác thân vậy thôi. Nào dè, linh hồn chịu án Thiên-Điều! May nhờ ơn Đức Ngự-Mã đầy lòng Từ-bi Bác ái vị tha đến thức tỉnh và an-ủi con. Nhứt là Đức Ngài không nói đưa Giáng-Ma-xử. Hai nữa nhờ Đức Thượng-Phẩm và Lục Nương dìu độ. Đức Ngự Mã, Ngài cầu xin với Ngọc-Hư cho khỏi bị tiêu diệt linh hồn để tái kiếp đền lại những lỗi-lầm mà nợ tình của hàng vạn linh-hồn cùng Thánh-Thể Chí-Tôn mà con đã gây ra…."

 

 

SỬA ĐƯƠNG

E: To correct.
F: Corriger.

Sửa đương là ra sức sửa chữa.

Chú giải Pháp Chánh Truyền:

Đặng phép sửa đương, giúp đỡ, dìu dắt, dạy dỗ chư tín đồ trong địa phận trấn nhậm.

 

 

SỬA LÒNG

E: To correct oneself.
F: Se corriger.

Sửa lòng: chữ Hán là Tu Tâm, nghĩa là sửa đổi cái Tâm cho chơn chánh tốt đẹp, trong sạch (trong thì được thanh nhẹ, sạch thì không ô trược). Tâm trong sạch thì làn sóng tư tưởng mới thanh nhẹ, vượt lên khỏi lớp không khí, đến với các Ðấng thiêng liêng. Như vậy, người tu cần phải sửa đổi cái Tâm cho trong sạch để tụng kinh và cầu nguyện thì mới được sự cảm ứng của các Ðấng thiêng liêng. Vì có sửa lòng mới trau giồi đức hạnh, tập cho được những tính tốt như: đức thương yêu, Bác ái, vị tha, quên mình vì người, lo cho chúng sanh như lo cho mình; không ham danh, lợi, quyền, là những thứ trói buộc con người. Phải hành trang tất cả những gì cao đẹp để xứng đáng là học trò Tiên.

"Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh kinh" Muốn tụng những bài kinh của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, trước nhứt con người nên tu sửa hằng ngày cái tâm cho chơn chánh, và lòng trong sạch, dứt hết mọi dục vọng, có vậy tư tưởng mới nhẹ nhàng hòa đồng với Thiên lý: "Nhân dục tận tĩnh, Thiên lý lưu hành" 人欲盡淨, 天理 流行.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy như sau: "Phải thường hỏi lấy mình, khi đem mình lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy xong chưa, mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng? Nếu phận còn nét chưa rồi, lương tâm chưa đặng yên tĩnh thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con lo chi chẳng bì chí Thánh".

Kinh Tứ Thời Nhựt tụng, có dạy pháp tu như vầy:

"Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh,
"Một cội sanh ba nhánh in nhau.
"Làm người rõ thấu lý sâu,
"Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh-Kinh."

 

 

SỬA MÌNH

F: Se perfectionner, se corriger.

(Sửa là làm cho đúng đắn, cho hay đẹp hơn lên, mình là chính bản thân của mỗi người) Tự hối cải là biết sửa mình. Làm người phải biết trau sửa tánh tình, từ lời ăn tiếng nói, cử chỉ, tư tưởng mỗi ngày một cao đẹp hơn lên. Đó là khởi đầu của sự Tu thân vậy.

Thầy dạy: "Trước khi vào lạy Thầy buổi tối phải tự hỏi mình coi phận sự ngày ấy xong chưa? Nếu phận-sự chưa rồi, lương tâm chưa an tịnh thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy tội lỗi của mình đã làm thì các con lo chi không bì bực chí Thánh. Thầy mong cho mỗi đứa đều lưu ý đến sự sửa mình ấy. Đặng vậy thì may-mắn cho Đạo và các con cũng sẽ đặng thung dung nêu gương cho kẻ khác".

 

 

SỬA ĐỔI CHƠN TRUYỀN

Kinh Đại Tường có câu:

"Hỗn-Nguơn-Thiên dưới quyền Giáo-chủ,
"Di-Lặc đương thâu thủ phổ duyên.
"Tái sanh sửa đổi chơn-truyền,
"Khai cơ tận độ cửu-tuyền diệt vong."

 

 

SỬA NGAY LÀM VẠY

Kinh Sám Hối có câu:

"Hễ nghe khua động đồng tiền,
"Sửa ngay làm vạy không kiêng chút nào."

 

 

SỬA TÁNH

Sửa tánh: Bỏ tính ác theo tánh thiện.

Hỏi: Chức-Sắc bị án sau khi Hội Nhơn-Sanh công nhận rồi có được thăng không, vì 5 năm trước hồ-sơ trong-trắng, nên nhơn-sanh công-nhận?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Hễ kể bỏ công-nghiệp cũ được trắng án thì kể từ ngày đặng trắng-án hành-đạo lại đặng bao lâu mới kể từ ngày đó mà thôi. Đủ công-nghiệp, đủ tài-đức nhưng phải xem coi có sửa tánh và hãm mình vào trong các tội-lỗi mình làm, có sửa cải quả quyết chăng, nếu đủ lẽ như vậy. Đủ 5 năm công-nghiệp kể từ ngày đặng trắng-án. Đủ hạnh-đức tài-tình và làm công nghiệp phi-thường sửa cải tội án đã bị đem ra Pháp-Chánh trừng trị. Ba điều ấy, Hội-Thánh xem xét lẽ thì có thể cho thăng vị. Song dâng lên quyền Chí Tôn định."

 

 

SỬA TÁNH TU THÂN

Đức Hộ-Pháp nói: "Phương tu của Anh em bổn Đạo mình, nếu tùy theo Tôn-chỉ của Tam-giáo, thì phải làm thế nào cho gồm cả tinh thần của ba Đạo: Nho- Đạo- Thích mới phải; nhưng xét sự khó-khăn chẳng thế nào làm ba Đạo một lượt cho đặng hoàn-toàn. Vậy chúng ta cứ lần lượt luyện Tinh-thần rồi tập buộc mình hằng ngày sửa tánh tu thân, từ từ lần bước đến cho tận nẻo Đạo của Thầy đã khai ra quảng-đại, đẹp-đẽ, quang minh, trước mắt chúng ta đó".

 

 

SỬA TÁNH TỪ HÒA

Kinh Sám Hối có câu:

"Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,
"Rán tập thành sửa tánh từ hòa."

 

 

SỬA TRAU BA MỐI

Ba mối đây là ba giềng (mối) tức Tam Cang và năm hằng gọi là Ngũ Thường. Làm người trai đứng trong trời đất là phải gánh cái gánh gia đình đã nặng trịu rồi tức là bổn phận làm con (phụ tử). Lớn lên có gia thất thì trách nhiệm ấy tăng lên gấp bội (phu thê). Ngoài ra còn nợ nước non, đối với giang san tổ quốc nữa (Quân thần). Tóm lại ba giềng mối là: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang. Phải giữ đúng đạo làm người là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. (Xem Tam Cang Ngũ thường)

Kinh Sám Hối có câu:

"Trai trung hiếu sửa trau ba mối,
"Đừng buông lung lầm-lỗi năm hằng."

 

 

SỬA TRỊ

E: To administer.
F: Administrer.

Sửa trị là sửa lại cho đúng và trừng trị kẻ phạm tội (trị an,làm cho yên ổn).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chư Đạo hữu mựa chớ luận bàn, để phải quấy Lão cũng ra tay sửa trị được vậy. (Lão: Đức Lý Giáo Tông)

 

 

SỬA TRẤP (Túi) NÂNG KHĂN

Do thành ngữ Hán văn: Thị phụng cân trất: dịch ra là: Sửa áo nâng khăn, hay Nâng khăn sửa túi, là để chỉ công việc của người vợ săn sóc chồng.

Thi văn dạy Đạo:

An bề sửa trấp với nâng khăn,
Đã dín nghĩa nhau cũng tiếng rằng.
Lo lắng chung cùng lo lập nghiệp,
Lo chàng dù lộng thiếp đai cân.

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu:

"Theo tùng phu sửa áo nâng khăn."

 

 

SỪNG ĐỘI LÔNG MANG

Sừng là chỉ con vật như: trâu, bò trên đầu có sừng. Lông là chỉ muông cầm, điểu thú mang bộ lông vĩnh viễn trọn kiếp sanh của nó. Nếu người mà trong kiếp này làm nhiều tội lỗi sẽ bị thoái chuyển, tức là trở xuống làm thú mà trả quả.

Kinh Sám Hối có câu:

"Lương-tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,
"Mới biệt phân sừng đội lông mang."

 

 

SỪNG SỮNG

E: To be standing motionless.
F: Se tenir debout et immobile.

Sừng sựng hay Sừng sững là chỉ một vật to lớn đứng trơ ra không nhúc nhích, vững chắc như chôn chặt một chỗ (Oai nghi, dõng dạc).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tòa Thánh là cội nguồn, ngày nào được sừng sựng đứng vững, nêu trên miền Tây vức nầy, ấy là ngày họ cầu thỉnh các Đạo hữu đó.

 

 

SƯU KHẢO

搜 考
E: To search and to study.
F: Rechercher et étudier.

Sưu: sưu tầm, tìm kiếm. Khảo: khảo cứu, tìm tòi nghiên cứu. Sưu khảo là sưu tầm và khảo cứu (Tìm tòi và tra cứu).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chỉ sau nhiều cuộc khảo cứu và sưu tầm về Thần Linh Học,....

 

 

SƯU TẬP

蒐 輯
E: To assemble.
F: Rassembler.

Sưu; tìm kiếm, Tập; gom góp lại. Sưu tập là gom góp tất cả lại, sắp xếp cho có hệ thống, làm thành một tập sách để lưu lại và truyền bá (Nhóm góp lại mà biên ra).

Thánh Ngôn Sưu Tập là tìm kiếm và gom góp lại tất cả các bài Thánh Ngôn (ngoài Thánh Ngôn Hiệp Tuyển), sắp xếp lại theo thứ tự ngày giáng cơ, làm thành sách để lưu truyền.

Thánh Ngôn Sưu Tập sẽ là phần nối tiếp và bổ sung cho hai quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển mà Hội Thánh đã xuất bản.

 

 

HẾT VẦN S

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


SA | SÁCH | SAI | SÃI | SÁM | SÀM | SAN | SẢN |
SANG | SÁNG | SANH | SAO | SÀO | SÁT |

SẮC | SẮP | SẤM | SÂN | SẤP | SÂU | SẦU |

SEN | SHA |

SI | | SIÊU | SINH |

SO | SÓC | SON | SONG | SÓNG |

SỐ | SỔ | SÔI | SÔNG | SỐNG |

| SỚ | SỞ | SỢI | SỚM | SƠN |

SUẤT | SUN | SUNG | SÙNG | SUY |

| SỨ | SỬ | SỰ | SỬA | SỪNG | SƯU |


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SA | | | SE | SI | SO | | | SU |

 

 

 

Danh mục vần S

 

SA

Sa Đà

Sa Đọa

Sa Trường

 

SÁCH

Sách

Sách Phụ

Sách Truyện

Sách Trường Xuân

 

SAI

Sai Lạc

Sai Suyển

Saint Pierre

 

SÃI

Sãi

 

SÁM

Sám Hối

Sám Hối Kinh

 

SÀM

Sàm Biện

Sàm Tấu

 

SAN

San Hà

 

SẢN

Sản Nghiệp

Sản Tất Viên Phương Sóc Chi Bối

 

SANG

Sang (Võ Văn Sang)

Sang (Cao Hoài Sang)

Sang Cả

Sang Đoạt

Sang Giàu

Sang Trọng

 

SÁNG

Sáng

Sáng (Trần Ngọc Sáng)

Sáng Lạng

Sáng Lập

Sáng Tạo

 

SANH

Sanh Biến

Sanh Biến Qui Hồi

Sanh Chúng

Sanh Diệt

Sanh Giã Tạo Đắc Thiện Duyên

Sanh Hoa

Sanh Hóa

Sanh Ký Tử Quy

Sanh Khí

Sanh Linh

Sanh Ly Tử Biệt

Sanh Mạng

Sanh Quang

Sanh Sanh Chi Vị Dịch

Sanh Sanh Hóa Hóa

Sanh Sanh Là Phận

Sanh Tịch

Sanh Tiền

Sanh Tồn

Sanh Tử

Sanh Tử Sự Đại, Vô Thường Tấn Tốc

Sanh Vật

 

SAO

Sao Bắc Đẩu

Sao Lục Án Tòa Tam Giáo

 

SÀO

Sào Phủ - Hứa Do

 

SÁT

Sát Mạng

Sát Na

Sát Sanh

 

SẮC

Sắc Cao Ban

Sắc Chỉ Tam Kỳ

Sắc Dân

Sắc Huỳnh

Sắc Huỳnh Chiếu

Sắc Không

Sắc Lịnh

Sắc Phái

Sắc Phục

Sắc Sảo

Sắc Tài

Sắc Tốt

Sắc Tướng Âm Thanh

Sắc Trời

 

SẮP

Sắp Thiên Phong

 

SẤM

Sấm Ký

Sấm Tiên Tri

Sấm Truyền

 

SÂN

Sân Khấu Hí Trường

Sân Ngô (Đồng)

Sân Si

Sân Trình

 

SẤP

Sấp Mình

 

SÂU

Sâu Xa

 

SẦU

Sầu Bi

 

SEN

Sen

 

SHA

Shakespeare

 

SI

Si

 

Sĩ Diện

Sĩ Khí

Sĩ Đạt Ta (Shidarta)

Sĩ Quan Cơ Thánh Vệ

Sĩ Tải

Sĩ Tải Phạm Duy Nhung

Sĩ Tải Trần Tấn Hợi

Sĩ Tải Lê Văn Chương

Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển

 

SIÊU

Siêu Đọa

Siêu Độ

Siêu Hình

Siêu Nhiên

Siêu Phàm

Siêu Phàm Nhập Thánh

Siêu Quần Xuất Chúng

Siêu Rỗi

Siêu Sanh

Siêu Thăng

Siêu Thoát

Siêu Việt

 

SINH

Sinh Lộ

Sinh Hồn

 

SO

So Đo

So Hơn Tính Thiệt

So Quyền Liệu Sức

So Sánh

So Thiệt Tính Hơn

 

SÓC

Sóc Vọng

 

SON

Son (Giáo Sư Thượng Châu Thanh)

Son Phấn

Son Sắt

 

SONG

Song Thân

Song Thủ

 

SÓNG

Sóng Sắc

Sóng Trần

 

SỐ

Số

Số Căn

Số Mạng

 

SỔ

Sổ Bộ Đạo

 

SÔI

Sôi Kinh Nấu Sử

 

SÔNG

Sông Giang Tân

Sông Hương

Sông Lệ

Sông Mê

Sông Mê Bể Khổ

Sông Mê Bến Tục

Sông Ngân

 

SỐNG

Sống - Chết

 

Sơ Giao

Sơ Hiến Lễ

Sơ Khai

Sơ Sanh

Sơ Lược

Sơ Thất

 

SỚ

Sớ Cầu Đạo

Sớ Văn

Sớ Văn Thượng Tấu

 

SỞ

Sở Bá Vương

Sở Cầu - Sở Vọng

Sở Cậy

Sở Dụng

Sở Định

Sở Hành

Sở Tại

Sở Nguyện

Sở Vọng

 

SỢI

Sợi Từ Khí

 

SỚM

Sớm Thăm Tối Viếng

 

SƠN

Sơn Hà

Sơn Lâm

Sơn Tinh - Thủy Tinh

Sơn Trân Hải Vị

Sơn Xuyên Hà Hải

 

SUẤT

Suất Sư

 

SUN

Sun Sen (Tôn Văn)

 

SUNG

Sung Túc

 

SÙNG

Sùng Bái

Sùng Thượng

Sùng Tín

 

SUY

Suy Gẫm

Suy Luận

Suy Nghiệm

Suy Sụp

Suy Vi

 

Sư Quẻ Địa Thuỷ Sư

Sư Đệ

Sư Đoàn

Sư Huynh

Sư Hư Vô

Sư Hữu

Sư Mẫu

Sư Phạm

Sư Phó

Sư Phụ

Sư Tăng

Sư Tử

 

SỨ

Sứ Mạng

 

SỬ

Sử Cương Đại Đạo

Sử Liệu

Sử Thi

Sử Xanh

 

SỰ

Sự Cao Trọng

Sự Cầu Nguyện

Sự Chết

Sự Giải Thoát

Sự Nghiệp

Sự Thế

Sự Thương Yêu

 

SỬA

Sửa Cải

Sửa Cải Chơn Truyền

Sửa Đương

Sửa Lòng

Sửa Mình

Sửa Đổi Chơn Truyền

Sửa Ngay Làm Vạy

Sửa Tánh

Sửa Tánh Tu Thân

Sửa Tánh Từ Hòa

Sửa Trau Ba Mối

Sửa Trị

Sửa Trấp Nâng Khăn

 

SỪNG

Sừng Đội Lông Mang

Sừng Sững

 

SƯU

Sưu Khảo

Sưu Tập

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 28-10-2017

SA | | | SE | SI | SO | | | SU |


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF