CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần QU

 

QUA

Qua

Qua Phân

 

QUÁ

Quá Cố

Quá Vãng

 

QUẢ

Quả Báo

Quả Càn Khôn

Quả Căn

Quả Duyên

Quả Địa Cầu 68

Quả Kiếp

Quả Nhân

Quả Phẩm

Quả Phúc

Quả Quyết

Quả Vị

 

QUẠ

Quạ Nuôi Tu Hú

 

QUÁI

Quái Dị

Quái Khí

 

QUAN

Quan Ải

Quan Âm Như Lai

Quan Gián Nghị

Quan Hôn

Quan Hôn Lễ

Quan Kiến

Quan Lại

Quan Lại Của Chánh Trị Đạo

Quan Lại Của Pháp

Quan Lớn Trà Vông

Quan Quách

Quan Tài

Quan Tâm

Quan Thánh Ðế Quân

Quan Trung

 

QUÁN

Quán Thông

 

QUẢN

Quản Hạt

Quản Trị

Quản Văn Phòng

Quản Suất

 

QUANG

Quang Minh

Quang Minh Chánh Đại

Quang Vinh

 

QUẢNG

Quảng Đại

Quảng Hàn Cung

Quảng Khai

Quảng Truyền Đạo Đức

 

QUẢY

Quảy

 

QUÂN

Quân Đội

Quân Đội Được Dự Hội Quyền Vạn Linh Không?

Quân Đội Cao Đài

Quân Thần

Quân Tử

Quân Tử Thận Kỳ Sát Thân

 

QUẦN

Quần Chơn

Quần Hồng

Quần Linh

Quần Nhi

Quần Sanh

Quần Thánh

 

QUẾ

Quế Hương

 

QUẾN

Quến Gái Dụ Trai

 

QUI

Qui Căn

Qui Chánh Cải Tà

Qui Cổ

Qui Điều

Qui Hạc

Qui Hồi

Qui Khai

Qui Liễu

Qui Nguyên

Qui Nguyên Đại Đạo

Qui Nguyên Phục Nhứt

Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi

Qui Nhứt

Qui Phàm

Qui Phàm Ra Tả Đạo

Qui Pháp

Qui Thiên Lương

Qui Thiện

Qui Tiên

Qui Tụ

Qui Ư Cực Lạc

Qui Vị

Qui Y

Qui Y Thọ Phái

 

QUÍ

Quí Lý Trọng Quí

Quí Cao (Huỳnh Thiên Kiều)

 

QUỈ

Quỉ Dạ Xoa

Quỉ Dỗ Dành

Quỉ Khí

Quỉ Lộng

Quỉ Mị

Quỉ Nhân

Quỉ Quyền

Quỉ Quyệt Tinh Ma

Quỉ Vị

Quỉ Vô Thường

Quỉ Vương

 

QUỐC

Quốc

Quốc Âm

Quốc Dân

Quốc Dân Thiên Mạng

Quốc Đạo

Quốc Đạo Nam Phong

Quốc Gia

Quốc Hồn

Quốc Luật

Quốc Mạch

Quốc Sắc

Quốc Sắc Thiên Hương

Quốc Sĩ

Quốc Sự

Quốc Sự Vụ

Quốc Thể

Quốc Trưởng Bảo Đại

 

QUYỀN

Quyền

Quyền Biến

Quyền Chí Tôn

Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài Thừa Mạng

Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung

Quyền Hành

Quyền Hành Bố Hoá

Quyền Hành Chí Tôn Của Thầy

Quyền Hành Tâm Lý

Quyền Hành Vô Lượng

Quyền Lực

Quyền Năng

Quyền Năng Giải Thoát

Quyền Phép

Quyền Thế

Quyền Thiêng Liêng

Quyền Thống Nhất

Quyền Thưởng Phạt

Quyền Tước

Quyền Vạn Linh

Quyền Uy

 

QUYẾT

Quyết Định

Quyết Đoán

Quyết Liệt

Quyết Nghị

Quyết Sách Vận Trù

Quyết Tình

 

QUYỆT

Quyệt Ngữ

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 28-10-2017

 

 

 

QUA

Qua : Dưa.

 

 

QUA PHÂN

瓜 分
F: Diviser, Partager.

Qua phân 瓜分: chia xẻ đất đai.

Đức Hộ-Pháp nói: "Trái lại, nhân loại vẫn cứ bị qua phân và còn phải đau khổ nhiều vì cuộc xung đột cứ kéo dài không có lối thoát. Chúng ta đều lo lắng tự hỏi rằng Thế giới sẽ đi tới đâu, nếu không phải đi đến chỗ diệt vong?"

 

 

QUÁ CỐ

過 故
E: Deceased.
F: Décédé.

Quá: đã qua, trải qua. Cố: chết. Quá cố là đã chết. Người quá cố là người đã chết (Đã qua đời, đã chết).

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Dường như người quá cố nhắc nhở ta điều gì.

 

 

QUÁ VÃNG


F: Mort, Trépasser.

Quá: đã qua, trải qua. Vãng: đi qua. Quá vãng là đã đi qua cõi đời (người đã khuất). Ý nói: chết.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Hạng truy phong công nghiệp, những người đã quá vãng mà có đủ bằng cớ đặng công chúng hoan nghinh.

 

 

QUẢ BÁO

果 報
E: Retribution.
F: Rétribution.

Quả: Trái cây, kết quả, hẳn, chắc, thật ra. Báo: đáp lại. Quả báo là cái kết quả báo đáp lại những việc làm thiện hay ác của mình lúc trước.

Thầy dạy: "Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu-sanh cũng do bởi Chơn-linh Thầy mà ra, hễ có sống ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự sống, vì vậy mà lòng háo-sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng sanh Thầy phân phát khắp Càn-khôn thế-giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm; nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến-hóa. Mỗi mạng sống đều hữu căn, hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa-sanh cũng vậy, đến thế này lâu mau đều định trước, nếu ai giết mạng sống đều chịu quả báo không sai; biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân-hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ, các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy".

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,
"Đừng hãi kinh cầu đảo Chí-Tôn."

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Chớ tự phụ, cũng đừng khinh ngạo,
"Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.
"Lời khuyên già trẻ gái trai,
"Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành."

 

 

QUẢ CÀN KHÔN

E: The heavenly globe.
F: Le globe céleste.

 

 

 

(Quả là trái, Càn Khôn là hai quẻ trong Bát Quái: CÀN là trời, KHÔN là đất). Quả Càn Khôn còn gọi là Trái Càn Khôn, là biểu tượng một quả cầu tròn tượng trưng vũ trụ để thờ Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, chính Ngài đã đến ban cho một mối Đạo nhà, danh gọi là Đại- Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Ngày 12-8-Bính Dần (dl 17-9-1926) tức là trước ngày Đại Lễ Khai Đạo 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926) một khoảng thời gian gần 2 tháng, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài Phối Sư Thái Bính Thanh làm một Quả Càn Khôn để thờ Đức Chí Tôn nơi Bát Quái Đài, lời dạy như sau:

"Bính! Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không? Cười... Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm ba thước ba tấc (3m30) nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hóa trong ấy, mà sơn màu xanh da trời, cung Bắc Đẩu và tinh tú vẽ lên Càn Khôn ấy. Thầy kể Tam thập lục Thiên, Tứ Đại Bộ Châu ở không không trên không khí, tức là không phải Tinh tú, còn lại Thất Thập nhị Địa và Tam Thiên Thế giới thì đều là Tinh tú. Tính lại 3072 ngôi sao. Con phải biểu vẽ lên đó cho đủ. Con giở sách Thiên văn Tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Đẩu, con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Đẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Đẩu, vẽ con Mắt Thầy, hiểu chăng? Đáng lẽ trái ấy phải bằng chai đúc, trong một ngọn đèn cho nó thường sáng. Ấy là lời cầu nguyện rất quí báu cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế giới đó, nhưng mà làm chẳng kịp thì con tùy tiện, làm thế nào cho kịp Đại hội, nghe à!" (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 45)

Xem như thế, Quả Càn Khôn nầy chính là một Thiên cầu tượng trưng cho Càn Khôn Vũ Trụ hữu hình của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, lại được đặt trên Bát Quái Đài để thờ, nên biểu thị rõ rệt Triết lý về Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài. Càn Khôn Vũ Trụ của Đức Chí Tôn gồm có 2 phần : Phần hữu hình và Phần vô hình.

*Phần hữu hình: tức là phần nhìn thấy được bằng mắt:

- Tam Thiên Thế giới, tức là 3000 quả tinh cầu nhìn thấy như những ngôi sao trên bầu Trời, được vẽ tượng trưng bằng 3000 ngôi sao trên Quả Càn Khôn.

- Thất Thập Nhị Địa, tức là 72 quả Địa cầu, cũng được nhìn thấy như những vì sao trên bầu Trời, nên cũng được vẽ tượng trưng bằng 72 ngôi sao trên Quả Càn Khôn. Tổng cộng tất cả là 3072 ngôi sao, phải vẽ cho đủ số trên Quả Càn Khôn ấy Trong số 3072 ngôi sao nầy có chòm sao Bắc Đẩu với Đại Hùng Tinh (Chòm sao Gấu lớn) và Tiểu Hùng Tinh (Chòm sao Gấu nhỏ), mỗi chòm có 7 ngôi sao (Thất Tinh), có hình giống như cái bánh lái thuyền, nên cũng gọi là Chòm sao Bánh lái. Đức Chí Tôn bảo vẽ "Con Mắt Thầy" ngay trên ngôi sao Bắc Đẩu, tức nhiên Đức Chí Tôn ngự tại sao Bắc Đẩu, nên sao Bắc Đẩu chính là Trung tâm của Càn khôn Vũ trụ của Đức Chí Tôn. Các vì sao khác đều chuyển động chung quanh ngôi sao Bắc Đẩu nầy, giống như Địa cầu của chúng ta, tuy chuyển động chung quanh Mặt Trời, nhưng trục tự quay của Địa cầu luôn luôn hướng về ngôi sao Bắc Đẩu. Như vậy, Càn Khôn Vũ Trụ của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm 3072 ngôi sao chỉ là một phần tử nhỏ trong một khoảng không gian bao la vô cùng tận có đến hàng tỷ ngôi sao mà các nhà Thiên văn học hiện nay đã khám phá và nhìn thấy được trên bầu Trời. Do đó, chúng ta có thể suy đoán rằng, bên ngoài Càn Khôn Vũ Trụ của Đức Chí Tôn, còn có rất nhiều Càn khôn Vũ trụ khác của các Đấng Thượng Đế khác.

*Phần vô hình: Ngoài phần Vũ trụ Hữu hình mà mắt phàm nhìn thấy được, Càn Khôn Vũ Trụ của Đức Chí Tôn còn có phần Vô hình mà mắt phàm không thấy được, chỉ có Huệ nhãn thì mới có thể thấy được. Theo bài Thánh giáo của Đức Chí Tôn vừa nêu trên và những bài Thánh giáo khác ta biết được phần Càn khôn Vũ trụ Vô hình gồm có:

- Tam Thập Lục Thiên: 36 từng Trời.

- Thập Nhị Thiên: 12 từng Trời nối tiếp ở bên dưới Tam thập lục Thiên, chia ra:

+ Phần trên 3 từng là: Hỗn Nguơn Thiên, Hội Nguơn Thiên, Hư Vô Thiên.

+ Phần kế dưới là 9 từng gọi là Cửu Trùng Thiên.

- Ngọn đèn đặt tại Tâm của Quả Càn Khôn tượng trưng ngôi Thái Cực.

Đáng lý Quả Càn Khôn nầy phải được làm bằng thủy tinh trong suốt, nhưng vì thời gian quá ngắn nên không thể thực hiện được, vì quá lớn, đường kính 3 thước 3 tấc. Ngài Phối Sư Thái Bính Thanh phải làm Quả Càn Khôn bằng nan tre, bọc vải và sơn màu xanh da Trời, trên đó vẽ các ngôi sao đúng số như Đức Chí Tôn đã dạy, làm gấp rút cho kịp ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926) chuẩn bị tổ chức Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất tạm đặt tại Chùa Gò Kén Tây Ninh. Chỉ có Tòa Thánh Tây Ninh mới được làm Quả Càn Khôn để thờ nơi Bát Quái Đài, còn tại các Thánh Thất địa phương chỉ được đắp Thiên Nhãn lớn để thờ mà thôi. Như vậy, Quả Càn Khôn thờ nơi Bát Quái Đài Tòa Thánh là hình ảnh của Càn khôn Vũ trụ của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, nó có hình như một quả cầu tròn, trong đó có 3072 ngôi sao, mà tâm điểm là Thái Cực. Quả Địa Cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là Địa cầu số 68 trong số Thất thập nhị Địa (72 Địa cầu), nên được tượng trưng bằng một ngôi sao trên Quả Càn Khôn nầy.

Lễ an vị quả Càn Khôn.

Ngày 6 tháng giêng Đinh Hợi (1947) lễ rước Quả Càn Khôn tạm thờ nơi Báo Ân Từ về Đền Thánh. Đức Hộ Pháp hành pháp trấn Thần An Vị. Khi đến Ngai Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, Đức Ngài thuyết minh tiên tri ngày về của người đứng đầu chi Thế:

"E sau nầy Hộ Pháp xuất ngoại, Thượng Sanh về ngự nơi đuôi (ngôi Thượng Sanh trên đuôi Thất đầu xà), thì thất tình lục dục tự do dấy động, cái loạn không phương kềm chế…" "Ngày Hộ Pháp trấn lại trên Ngai, mới êm tịnh Đạo Đời, lập lại tháng Thuấn, ngày Nghiêu, hưởng thuần phong mỹ tục".

Cảm tưởng Ngài Hiến Pháp: 15-01-Qúi Mão (1969)

Một sự Thiêng Liêng ngoài tưởng tượng của mọi người sau khi hạ Quả Càn Khôn cũ thì cả thế giới và trong Đạo đều chấn động. Trong Đạo thì xảy ra nhiều điều rối rấm gây sự bất hòa giữa người Đạo, làm cho mất sự êm-ấm điều hòa, đến đỗi Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng cơ quở trách và ngưng việc cầu phong, cầu thăng. Ngoài đời thì có nhiều thay đổi, chẳng hạn như cuộc cách mạng của Hội Đồng Tướng Lãnh, vụ mưu sát Tổng Thống Mỹ, nhà vua Thái Lan và nhiều cuộc biến chuyển khác trên toàn thế giới".

Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Ðền Thánh, ngày 8 tháng giêng năm Ðinh Hợi (1947)

Lễ rước quả càn khôn

Ngày nay đã dời quả càn khôn về Ðền Thánh, Ðức Chí Tôn đã ngự nơi ngai của Ngài, chúng ta nên mừng cho nhơn loại được ảnh hưởng nơi Ðền-Thánh nầy mà tiến hóa mãi lên.

Ðền Thánh kể từ đây không còn ai xem nó là vôi, cát, xi măng nữa, mà là một khối đức tin đã tượng nên hình vậy.

Nhờ những bàn tay khéo léo của mấy em, mấy con, thợ hồ, thợ mộc đã chịu đói rách khổ cực hơn mười năm trường mới dày công đào tạo nên. Từ đây một sắc dân nào có đủ đức tin nơi Chí Tôn là Chúa Tể vạn loại thì dầu ở phương trời nào, họ sẽ hướng về Ðền Thánh mà cầu nguyện hàng ngày hàng giờ để mong hưởng phước lành của Ngài. Ðền Thánh làm xong, nền Ðạo đã vững vàng, chúng ta sẽ dẹp lần cái bạo tàn của đời để dìu dắt nhơn loại đi vào con đường gầy dựng lại trật tự hòa bình cho cái năng lực nhơn nghĩa, chúng ta sẽ đem hạnh phúc lại cho thiên hạ trong buổi chuyển thế nầy. Chúng ta nên mừng vì nhơn loại sẽ nhờ khối đức tin của chúng ta mà hưởng ân huệ của Ðấng Chí Tôn. Bần Ðạo nhắc lại, Ðức Chí Tôn đã hứa với con cái của Ngài những gì ngày nay chúng ta đã thấy, Ngài cho chúng ta theo lời hứa, Bần Ðạo đứng tại tòa giảng đây chứng chắc như thế, bởi những công nghiệp phi thường tạo thành trong thời gian qua để làm bằng chứng. Vì quốc dân Việt Nam ta còn kém đức tin nơi Ngài, nên cơ quan cứu khổ để giải thoát cái ách nặng nề của chúng ta phải còn muộn màng đến ngày nay, mà trước mắt chúng ta còn thấy cái thảm trạng tương tàn tương sát rất đau đớn thương tâm, phải chi quốc dân ta thử và cầu nguyện thử đi, rồi coi Ðức Chí Tôn sẽ cho chúng ta y như lời hứa không. (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q I / tr25)

 

 

QUẢ CĂN

果 根
E: The consequences of the actions in the previous life.
F: Les conséquences des actions dans l’existence antérieure.

Quả căn 果根: cái nghiệp quả của hôm nay là do cái gốc (căn) mình đã tạo từ tiền kiếp.

Phật Mẫu Chơn Kinh:

"Vô siêu đọa quả căn hữu pháp,"

 

 

QUẢ DUYÊN

果 緣
E: The divine position.
F: La position divine.

Quả duyên 果緣:Cái kết quả do người tu hành đã tạo dựng được.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Đài Chiếu-giám cảnh minh nhẹ bước,
"Xem rõ-ràng tội phước căn sinh.
"Lần vào cung Ngọc diệt hình,
"Khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên."

 

 

QUẢ ĐỊA CẦU 68

Thầy phân-phiền với Bà Lâm Hương-Thanh về Nữ phái:

"Thầy lập Đạo nơi cõi Nam này, là cốt để ban thưởng cho một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thịnh nộ của Thầy, Thầy lại tha-thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo thiên lập địa, chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 này đặng vậy, cốt để ban thưởng các con thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao! "

 

 

QUẢ KIẾP


E: The result of the previous life.
F: Le résultats de la vie antérieure.

Quả kiếp là kết quả của sự giàu sang hay nghèo khổ thể hiện ra trong kiếp sống hiện tại đều có nguyên do, là những việc làm thiện hay ác trong kiếp sống trước, nay kiếp sống nầy nó vương vấn theo đúng luật Nhân quả. Nếu kiếp trước mình làm nhiều việc phước thiện (nhân lành) thì kiếp nầy mình hưởng được quả lành, tức là được giàu sang sung sướng.

Muốn thoát khỏi các nghiệp quả trong kiếp sống hiện tại, để được rước về cõi Thiêng liêng, thì trong lúc còn sống khỏe mạnh, phải lo làm lành, lập công quả, tô bồi phước đức, kiên nhẫn trả hết các món nợ oan nghiệt cũ và nhứt định không gây ra các mối oan nghiệt mới, tức là phải nhập môn vào cửa Đạo lo tu hành. Nơi Khách đình có đôi câu liễn đối:

-

Sanh dã tạo đắc thiện duyên.

-

Tử dả thoát ly quả kiếp.

Sanh thì phải tạo nên duyên lành.

Chết thì thoát ly khỏi các nghiệp quả của kiếp sống.

Đức thượng phẩm nói về "Sự chết của thế là gì?"

Hễ chết tại thế là sanh tại Thiêng liêng; chết tại Thiêng liêng là sanh tại thế, vì hai đường khác nhau, nghĩa là có vô vi phải khuất hữu hình, mà có hữu hình phải khuất vô vi. Bần Đạo tỷ cho dễ hiểu là như mấy người giờ này ở tại Tây ninh thì không thế nào có tại Sai gòn cho đặng, mà muốn có tại Sài-gòn thì chắc không thể ở tại Tây ninh. Vậy thì cả nhơn sanh chỉ có biết sanh không có biết tử."

 

 

QUẢ NHÂN


E: Cause and effect.
F: Cause et effet.

Quả nhân: quả là cái trái; nhân là cái hạt. Ý nói gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Có câu: chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu:

Dìu độ quần sanh diệt quả nhân.

 

 

QUẢ PHẨM

果 品:
E: The fruits.
F: Les fruits.

Quả: Trái cây, kết quả, hẳn, chắc, thật ra. Phẩm: các thứ, các loại. Quả phẩm là lễ vật dâng cúng là các thứ trái cây.

 

 

QUẢ PHÚC

果 福
E: The divine position.
F: La position divine.

Quả: Trái cây, kết quả, hẳn, chắc, thật ra. Phúc: phước đức. Quả phúc là kết quả của việc làm phước đức. Đó là ngôi vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.

Kinh Tiểu Tường có câu:

"Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam."

 

 

QUẢ QUYẾT

果 决
F: Résolu.

Quả quyết 果决 : kiên quyết, không dụ dự.

Nói một cách quyết đoán, khẳng định rằng không sai sự thật chút nào. Dầu hoàn cảnh nào cũng vẫn đúng: Vì là chân lý.

Đức Hộ-pháp thuyết tại Đền Thánh đêm 30-5-Nhâm Thìn (1952) rằng: Đêm nay Bần Đạo giảng về Luật nhân quả. Hai chữ nhân quả là danh từ mà Tiên Nho đã đề: Chữ Nhân theo nghĩa chánh của nó là chỉnh lại hay dò lại. Nối luôn theo chữ quả thì chữ nhân ấy đồng khuôn chữ đại. Quả là chắc chắn mạnh mẽ, chúng ta thường hay dùng tiếng quả quyết lắm, dùng chữ quả quyết hay là mạnh mẽ chẳng hạn. Chữ nhân quả dịch ra nghĩa lý tiếng Phạn là tiếng Karma, thiệt tiếng Phạn có nghĩa là làm cái chi phải trả cái nấy, phải bồi thường, ta có thể hiểu nó là khuôn luật "vay trả" đó vậy. Khuôn luật ấy huyền bí vô cùng, tại liên hệ với chữ Karma. Quyền Chí Tôn tiếng Phạn đề "Boudha, Shama, Saya". Tức nhiên câu niệm của chúng ta: Phật- Pháp- Tăng. Tiếng Karma liên hệ với Pháp như thế ấy, có định luật thiêng liêng của nó, vì không thể lấy trí khôn ngoan của chúng ta mà suy đoán luận biện cho đặng. Chúng ta thấy cũng như cả toàn thể từ xưa đến giờ dầu cho bực Thánh nhân Hiền triết ta để con mắt quan sát tiềm tàng thấy khuôn luật ấy nó vô hình mà nó quả quyết làm sao, chắc chắn làm sao. Người ta kiếm tìm khuôn luật ấy thì thấy rằng: Có một quyền năng vô đối là quyền năng của Đức Chí Tôn, tức nhiên Đấng tự hữu kia để trong tay Đấng đó mới có thể cầm quyền về khuôn luật đó mà thôi".

Đức Ngài trần tình: "Chúng ta thử ôn lại đã có bao năm hành đạo, chúng ta đã chịu bao nhiêu khổ hạnh để bảo vệ con cái của Chí Tôn. Ngày nay cái kết quả nầy có đáng giá trừ cái khổ hạnh trong bao năm ấy chăng? Bần-Ðạo xin nói quả quyết rằng: Từ tạo thiên lập địa đến giờ chưa có nền Tôn-giáo nào được mau chóng như Tôn Giáo của Chí-Tôn đến tạo nơi xứ Việt-Nam chúng ta."

 

 

QUẢ VỊ

Quả vị 果位: Ngôi vị đã đạt được (là tùy theo cái công quả của mình đã thi hành)

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Qua cũng dư hiểu buổi tạo đời bước đầu tiên thì các vị nguyên nhân lãnh lịnh phải chịu muôn sầu ngàn thảm là cố nhiên, nếu ai đủ nghị lực làm xong phận sự thì quả vị thiêng liêng không nhỏ vậy. Mấy em nên cắt nghĩa cho nhau hầu vẹn đền lòng Đại từ Đại bi của Chí Tôn quá thương chúng sanh nên giáng trần lập Đạo. Mấy em là người để thúc giục tâm chí cương quyết và can đảm với những hoàn cảnh khó khăn luôn, nghe à!"

 

 

QUẠ NUÔI TU HÚ

Quạ và tu hú là hai loại thuộc loại cầm điểu, biết bay. Nhưng con tu hú thì ranh mãnh hơn: khi quạ đẻ trứng thì nó đến ổ trứng của Quạ mà ăn hết trứng đi, Tu hú mới đẻ trứng của nó vào thế trong ổ của Quạ: vừa khỏi phải lót ổ, vừa có quạ ấp trứng của tu hú, khi tu hú nở ra thì quạ nuôi con của Tu hú.

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

"Ngảnh lại đời nay mà ngán cho đời! Ôi, trong tám năm dư chuông Thánh truy hồn, Ðạo Trời đem tin cứu thế mà hễ có nghe phưởng phất lời đồn huyễn hoặc chi của người toan phá Ðạo thì mau mau cuốn Thánh Tượng, dẹp Thiên Bàn lòng toan chối Ðạo....Biết bao nhiêu người nịnh quyền hiếp thế, xu phụ theo nịnh tà mong toan phá Ðạo, rước rắn rừng vô cắn gà nhà, nạp chí Thánh vô đề lao cho phỉ lòng oán hận.Con một cha, gà một ổ, mà làm cho đổ lụy rơi châu, gieo thảm sầu cho lắm người tâm thành trí vẹn phải dừng chơn thối bước! Quạ nuôi tu hú cũng còn biết thương, người đi một đường sao nỡ hại nhau như thế?"

 

 

QUÁI DỊ

怪 異
F: étrange, étonnant

Quái-dị 怪異: khác thường, kỳ lạ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Dưới ngọn đuốc văn-minh chiếu diệu soi huệ-trí sáng ngời giữa thế-kỷ hai mươi này, chúng ta đã thấy quả-quyết sự tương-hiệp thân-thiết của cơ-quan hình thể với tinh-thần thì chúng ta lấy làm ngạc-nhiên cho sự quái-dị cái nỗi phân chia của thuyết tinh-thần đối cùng hình thể."

 

 

QUÁI KHÍ

怪 氣
E: Foul air.
F: Air vicié.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng
"Bộ Lôi Công giải tán trược quang.
"Cửa lầu Bát quái chun ngang,
"Hỏa Tinh Tam muội thiêu tàn oan gia."

 

 

QUAN ẢI

Quan ải là cái cửa tại biên giới để qua lại giữa hai nước.

Âm quang gọi là cái quan ải; tức là các chơn hồn khi qui Thiên phải đi ngang qua đó: Các linh hồn muốn đi lên cõi Trời thì phải đi qua cõi Âm quang, để nơi đây thanh lọc. Chơn hồn nào trong sạch, đạo đức, có đầy đủ công quả thì cho đi lên. Chơn hồn nào ô trược, tội lỗi thì phải ở lại đây để học đạo. Riêng tín đồ Cao Ðài, ai giữ đúng luật Ðạo, thì Ðức Chí Tôn đặc ân cho đi thẳng lên Cửu Trùng Thiên, có Cửu vị Tiên Nương dẫn đường, được lên từ từng Trời thứ nhứt cho đến từng Trời thứ 10 là Hư Vô Thiên, vào Ngọc Hư Cung, được các Ðấng xem xét công và tội. Công nhiều thì thăng và có phẩm vị tương xứng; tội nhiều thì trở về cõi Âm Quang học đạo.

Bát Nương Diêu Trì Cung (Giải thích về Âm quang):

"Vậy thì chính lời nhiều Tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn Giải thân định trí (một nơi trung gian giữa Thiên đường và Ðịa ngục hay là mờ mờ mịt mịt). Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó."

 

 

QUAN ÂM NHƯ LAI (Quán Thế Âm Bồ Tát) (Phật)

 

 

 

Ðức Quan Âm Như Lai, cũng gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát). Ngài là chiết chơn linh của Từ Hàng Bồ Tát giáng trần, tu hành tại Phổ Ðà Sơn, đắc đạo thành Bồ Tát lấy hiệu là Quan Thế Âm. Từ Hàng Bồ Tát lại giáng sanh vào thời Phong Thần Trung hoa.

Thánh ngôn Thầy dạy: "Các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn thần, Chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo. Bởi vậy một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế Giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con…Người gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương.

Đức Hộ Pháp thuyết tại Ðền Thánh: 18-2-Kỷ Sửu (1949)

Đức Quan Âm thể hiện cho Từ-hoà và Nhẫn-nại:

"Hôm nay là ngày Vía Đức Quan Âm Bồ Tát, Bần Đạo đã thường nói nơi cửa Thiêng Liêng Hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng oai quyền hơn hết. Cái nguyên căn của Đức Quan Âm Bồ Tát do nơi pháp thân của Từ Hàng sản xuất. Quan Âm đến thời đó chỉ rõ cho chúng ta biết nguyên căn của mình, Quan Âm là cái thời gian của luật tạo Càn Khôn thế giới, ấy là một chơn linh rất cao trọng đó vậy, cũng như Đức Lý Thái Bạch là một chơn linh của ánh sáng. Hào quang Thái Cực khi đã hiện ra tức nhiên bóng đèn chúng ta ngó thấy khối lửa có ánh sáng kia tức nhiên là Đức Lý Giáo Tông. Đức Quan Âm Bồ-Tát đã cầm quyền nhứt thống oai nghiêm chẳng cần luận thuyết, cả thảy cũng đều biết cái quyền oai của Ngài vĩ đại như thế nào, nhứt là Phái nữ nên để ý bài giảng nầy cho lắm. Vả chăng, thời gian chúng ta, sẽ nói thời gian mà thôi, chúng ta phải kiên nhẫn và từ hòa, nếu chúng ta hấp tấp hay lật đật, thì chẳng hề khi nào chúng ta để thời gian đến trước mặt chúng ta đặng. Chơn linh của Người tức nhiên thể tánh của Người, chứng tỏ rằng: một Đấng đã có 52 kiếp ở trong trái địa cầu 68 nầy và có đảm nhận trọng trách lớn lao hơn hết, là buổi trái địa cầu nầy nó chưa có thoát xác của nó, là nó đầu kiếp lụng lại cho tới Đệ Tứ Chuyển ngày nay. Đức Quan Âm Bồ Tát đã cầm quyền điều khiển trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy từ thử đến giờ đã 52 kiếp. Ngài đã đầu thai tại thế gian nầy mấy kiếp, vì có tánh đức từ hòa và tinh thần đạo pháp mà thôi, tỷ như Bạch Vân Hòa Thượng, Bạch Vân là ai? Bạch Vân là Ngài, ngày nay Ngài ở trong cửa Đạo, trong một cơ quan trọng yếu của Tam Kỳ Phổ Độ nầy.

Bạch Vân Hòa Thượng kiếp trước là Đức Quan Âm Bồ Tát đầu kiếp ở bên nước Tàu trước, rồi mới đầu kiếp ở bên xứ Việt Nam, ta kêu là Thanh Sơn Đạo Sĩ tức nhiên là Trạng Trình đó vậy, Thanh Sơn Đao sĩ dầu kiếp bên Pháp là Ralagode Bourgall, 52 kiếp có một kiếp trọng hệ có thâm tình với nòi giống Việt Nam ta hơn hết, chúng ta có hạnh phúc lắm, mới được Ngài đầu kiếp ở trong nước hai lần, lần thứ nhứt đầu kiếp làm người đàn bà tức nhiên Thị Kính, chúng ta đã biết Quan Âm là ai rồi. Bởi vậy cho nên buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy Đức Chí Tôn đã chọn lựa một Đấng cao trọng cho đến mặt địa cầu 68 nầy, có lẽ chúng ta đều biết danh Ngài hết, nhứt là Ngài lựa chọn một Đấng có thâm tình với nòi giống chúng ta hơn hết, cái tánh đức từ hòa yêu ái của Ngài, chúng ta đừng kiếm Đức Quan Âm đâu xa hơn là Thị Kính. Kiếm cái đức Thị Kính thế nào, thì tánh đức trạng thái của Quan Âm như thế ấy, tánh đức của Ngài là từ hòa nhẫn nhục, hiền lương, ân tha mọi điều oan khúc, chịu nỗi, thắng nỗi thời gian là Đức Quan Âm. Đức Quan Âm chơn linh của Ngài là thời gian cho nên tánh đức của Ngài không bao giờ thối tâm ngã lòng hay bật rật, gấp rút, lật đật. Bà là người điềm tĩnh, bởi thế cho nên Bà đầu kiếp người ta vu oan đủ mọi điều, nhưng tánh đức từ hòa nhẫn nại của Bà vẫn chịu nỗi đủ phương diện khổ não và oan khúc, chịu nỗi thế tình ấy là một vị Trạng Sư đắc lực và oai quyền nơi cảnh thiêng liêng hằng sống bảo vệ cả Nữ phái vậy. Chúng ta lấy làm hạnh phúc lắm Bần Đạo lấy làm mơ vọng và Bần Đạo nói quả quyết rằng: rất hạnh phúc cho chơn linh kẻ nào được gia tộc của Ngài, gia tộc vinh hiển tối cao tối trọng trên cửa thiêng liêng hằng sống, dầu bên cửa Thiên Oai hay là bên Cực Lạc thế giới cũng thế. Bần Đạo nói quả quyết rằng: Ngài là một Đấng Phật Mẫu yêu ái hơn hết, tôn trọng hơn hết."

Bần đạo hiểu về cái thuyết bí mật của Đức Quan Âm Bồ Tát lãnh trách nhiệm trọng yếu, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật, chưởng quản điều khiển Bát Nhã Thuyền. Vì cớ cho nên Đức Quan Âm Bồ Tát không thể giáng trần được, chính mình Long Nữ là người hầu của Bà, tình nguyện giáng trần đặng hiệp với các Chơn linh, các Cung các Điện và Hộ Pháp, đặng mở nền Chánh giáo của Đức Chí Tôn, hầu tận độ vạn linh đoạt cơ giải thoát".

Câu 25 trong bài U-Minh-Chung có câu: "Nam mô Thường cư Nam Hải Quan Âm Như Lai"

QUAN-ÂM NHƯ LAI Giáng Cơ:

Trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, có một bài Thánh giáo của Ngài, xin trích ra sau đây :

Đêm mùng 02 tháng 11 năm Tân Mùi (1931).

                        THI

Nhựt hoành nhị thập kiến giai thì,
Lục nhựt Đạo thành hiệp nhứt chi.
Thứ kỷ thương nhơn tâm bất tại,
Nhị nhơn thê mộc diệt nguyên qui

Đây là một bài thi chiết tự. Nếu ráp lại những chữ thích hợp sẽ thành danh hiệu: QUAN ÂM NHƯ LAI

Giải rõ thi chiết tự:

*Bên trái có các bộ phận này: Chữ nhựt "Nhựt hoành", tức là chữ nhựt mà đặt nằm ngang .Nhị thập ++ đặt phía trên, Giai đặt phía dưới. Kiến đặt bên phải, ra chữ QUAN

*Lục nhựt 六日 tức nhiên chữ lục phía trên, chữ nhựt ở dưới, giữa là chữ nhứt ghép chung lại thành chữ Âm .

*Chữ thứ gồm chữ như và bộ tâm Đây nói thứ kỷ là mình tha thứ cho mình, thương nhân tức là làm tổn hại cho người, Tâm bất tại là cái tâm không thể ở đó được.Vì lẽ đó mà phải bỏ chữ tâm ra, thành chữ NHƯ .

*Nhị nhân thê mộc, nghĩa là hai người đợi dưới gốc cây thành chữ LAI .

 

 

QUAN GIÁN NGHỊ

Đức Thượng Sanh viết trong báo Duy Tâm số 3 ngày 18-5-1948: "Bậc vua chúa đời trước muốn tránh khỏi sai lầm hay muốn sửa mình, có đặt ra một quan Gián Nghị, đặng quyền can gián những hành động bất chánh của mình, nhưng quyền quân chủ quá ư tối cao, nhiều vị quan chịu chết về phận sự mà không có kết quả chi hết. "Dân di quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" cái thuyết của Mạnh Tử xuất hiện cũng vì lẽ đó."

 

 

QUAN HÔN

Quan hôn 冠婚: Lễ gia quan và lễ hôn phối.

Kinh Sám Hối có câu:

"Khi tế tự chớ lờn chớ dể,
"Việc quan, hôn, thủ lễ nghiêm-trang."

 

 

QUAN HÔN LỄ

Ngày xưa, ở bên nước Tàu (Trung Hoa) con trai đến 18 tuổi làm Lễ Ðội Mũ gọi là Lễ Gia Quan; con gái đến 16 tuổi làm Lễ Cài Trâm gọi là Lễ Cập Kê. Ta cũng theo phong tục nước Tàu, nên có câu ca dao:

Trai thời 18 Gia Quan,
Gái thời 16 hiệp đàng Cập Kê.

Tuổi đến thời cho con trai đội mũ, con gái cài trâm là tuổi trai gái đã trưởng thành, đủ sinh lực, cha mẹ có thể định lứa đôi được. Trai gái đến tuổi ấy, ta thường gọi là tuổi dậy thì. Người Tàu, người Việt hay có cái lệ dựng vợ, gã chồng cho con sớm, gọi là tảo hôn. Ðiều nầy có hại cho sức khỏe trai và gái. Nếu có sanh con sớm, thì con cũng không được cường tráng. Lệ tảo hôn ngày nay đã giảm bớt nhiều rồi, vì điều kiện sanh sống trong xã hội, nên định con trai 19 tuổi lấy vợ, con gái 18 tuổi lấy chồng.

Khi hành lễ Gia Quan Cập Kê, gia trưởng có mời thân tộc, họ hàng đến mầng con cháu đã trưởng thành. Ai cũng có một lời dạy con trai, con gái đã lớn khôn rồi, phải biết giữ phận làm người. Trai có phận trai, gái có phận gái, đừng làm điều chi cha mẹ phải buồn lòng, tông môn phải nhục nhã.

Ở nước ta hiện giờ, không còn ai làm lễ Gia Quan Cập Kê cho con nữa. Tục lệ cũ đã bỏ.

Nên nhớ, Lễ Gia Quan đây không phải là Lễ Gia Quan Tấn Tước. Lễ Gia Quan Tấn Tước là lễ của hàng Quan Lại, mầng được thăng phẩm tước, được lên chức. (Ấn bản năm Bính Thìn (1976). In tại BẠCH VÂN Ấn Quán - Cơ Quan Phát Thanh nội ô TÒA THÁNH Tây Ninh. Hội Thánh Giữ Bản Quyền.)

 

 

QUAN KIẾN

觀 見
E: To observe.
F: Observer.

Quan kiến 觀見: xem xét và nhìn thấy.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu ( Lời Bát Nương nói với Đức Hộ Pháp): Em an dạ, từ đây đã quan kiến sự kết cuộc của Chí-Tôn đã định trước.

 

 

QUAN LẠI


F: Fonctionnaire.

Những người làm việc công cho nhà nước, cho chánh phủ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Mấy em rán nhớ đừng bắt chước làm quyền theo quan lại, mấy em phải yểm tình dục quyền tước lại, cũng như Qua yểm trên Thất Đầu Xà, chỉ mình tập tánh thương yêu mà thôi, đừng hờn giận ai, cứ bình tĩnh chịu những sự khó của ai đã làm mà mấy em phải gánh."

 

 

QUAN LẠI CỦA CHÁNH TRỊ ĐẠO

Lời-Phê của Đức Hộ-Pháp: "Gấm có tật hay độc-tài, từ trước Bần-Đạo quảng đại để rộng quyền cho mỗi đứa tự-do, tự chủ lấy mình, dầu cho Chưởng-Quản gia-nghiệp chung. Họ cũng đủ quyền làm chủ riêng của họ, mấy em đều biết; còn nay thì Hội-Thánh Phước Thiện đã thành-lập, Đạo Cao-Đài thành Quốc-Đạo, thì khuôn luật buộc ràng không còn như trước đặng. Cả Chức-Sắc dầu Cửu-Trùng-Đài hay Phước-Thiện cũng là một vị Quan-Lại của Chánh-Trị-Đạo, hễ phạm tội thì án-luật định hình không ai khỏi đặng. Như thế mới trừ đặng cái hại: Mượn danh Đạo tạo danh mình, nương bóng Đạo-Đức lợi cho mình, Qua đã biết trước thế nào trong mấy em cũng có đứa ngồi ngục, Gấm bị trước, vì Phối Thánh Thoại muốn cho nó trả quả đối với Phối Thánh còn ở phàm. Đáng kiếp Gấm đã đụng đầu xe lửa cũng như mẹ con Út-Giáp đụng đầu xe lửa Màng buổi trước vậy. Mấy em ráng cẩn thận coi chừng ăn-hiếp mấy ông Thánh ẩn thân bất-ngờ mà phải ngồi cửa Phong-Đô mà khóc đa nghe." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

QUAN LẠI CỦA PHÁP

Đức Hộ-Pháp, Ngài có viết: "Khi mới mở Ðạo thì mấy Anh lớn đều do nơi trường Quan lại của Pháp, trong hàng Phủ và Ðốc phủ mà họ đương cầm quyền Chủ Quận hay Phó Chủ Tỉnh. Vì cớ mà Pháp đã ra lịnh cho mấy Anh ấy phải từ khước, không đặng hiệp tác cùng Anh Lê Văn Trung, là tay nghịch hẳn cùng Pháp đã rõ ràng bằng cớ. Pháp lại hứa cùng mấy Anh lớn ấy rằng: Họ muốn tu theo Ðạo Cao Ðài thì họ tự lập Chi phái, rồi họ sẽ được sự bảo vệ đặc biệt của Pháp, còn theo Anh Lê Văn Trung thì họ sẽ bị khủng bố, không cho làm quan lại của Pháp nữa. Ðiều ấy mấy Anh lớn cũng không đủ sợ, vì công danh quyền lợi mình mà nhảy ra thành lập Chi phái, nhưng tới khi Pháp hăm rằng: sẽ khủng bố đến con cái của họ đương du học tại Pháp, tiền cấp học bổng bị thâu lại và không cho cha mẹ có phương thế gởi tiền sang cho nữa đặng tiếp tục việc học hành. Ðiều nầy làm cho họ kinh khủng hơn hết. Thật ra thì cả con cái mấy Anh đương du học tại Pháp và tương lai của chúng rất nên sáng lạng, sẽ bị bỏ dở vì cuộc trả thù của Pháp. Bởi cớ cho nên họ lén trở về hội đàm cùng Anh Quyền Giáo-Tông liệu phương gỡ rối. Buổi ấy có mặt Qua và chính mình Qua khuyên họ nên nghe lời Pháp, lập Chi Phái dưới quyền bảo hộ của họ, miễn là Ðạo đặng truyền bá là đủ. Nguyên do lập Chi phái của Ðạo là như thế."

 

 

QUAN LỚN TRÀ VÔNG

Người dân Tây Ninh vẫn nhớ ơn những vị anh hùng đã có công bảo vệ vùng biên giới này trong thời mới mở mang. Miếu thờ quan lớn Trà Vông và đền thờ Huỳnh Công Nghệ là những nơi tiêu biểu, tỏ lòng tri ơn đó. Theo các bô lão ở các xã Cẩm Giang, Bến Cầu và Thái Bình (Tây Ninh) thì khoảng năm 1846 giặc Cao Miên tung hoành cướp bóc chém giết nhiều người Việt Nam ở vùng biên giới này. Triều đình Huế phái ba anh em họ Huỳnh đến tảo trừ bọn giặc đem lại an ninh cho dân chúng. Tổng chỉ huy đoàn quân là tri phủ Huỳnh Công Giản tức quan lớn Trà Vông. Ngài đóng quân tại đây, bị quân Miên vây hãm ngặt nghèo. Quân tiếp viện của hai người em là Huỳnh Công Thắng và Huỳnh Công Nghệ không đến kịp để giải vây. Huỳnh Công Giản chống cự không nỗi trước lực lượng quá đông của giặc Miên nên đã tuẫn tiết. Miếu thờ Ngài được xây tại ấp Thái Vĩnh Đông, xã Thái Hiệp Thạnh. Miếu không lớn lắm, giữa miếu có bàn thờ trên đó có linh vị của Ngài. Phía trên có treo tấm biển sơn son phết vàng khắc bốn chữ "ĐÁP TẠ THẦN ÂN".

Hai bên có hai câu liễn chữ nho do cụ Nguyễn Ngọc Diệp phụng cúng:

"Nhựt tảo xuất anh tài, vị quốc vong thân, trứ trứ phương danh thùy trúc bạch,

Tà dương trừ man tặc, ưu quân tri mạng, nguy nguy chính khí quán sơn hà."

Cụ Hi Đạm dịch hai câu trên như sau:

-

Nhật Tảo trổ oai thần, nặng nước nhẹ thân, rỡ rỡ hùng danh ghi sử sách.

-

Trà Vông ngăn giặc Thổ, tròn trung vẹn tiết, long long chánh khí ngút non sông.

Quân tiếp viện của Huỳnh Công Nghệ và Huỳnh Công Thắng đến nơi tuy không còn kịp để cứu anh nhưng cũng còn cơ hội để tiêu diệt đám quân Miên, đuổi bọn sống sót chạy về nước để không còn dám qua quấy nhiễu nữa. Huỳnh Công Nghệ chết, được dân Tây-Ninh nhớ ơn làm đền thờ ở Vàm Bảo, Bến Cầu, thuộc quận Hiếu Thiện. Mộ của tướng Huỳnh Công Thắng thì còn ở phía châu thành Cẩm Giang cũ. Cả ba anh em đều rất linh hiển nên dân chúng rất sùng kính, lập miếu thờ cúng, làm lễ tế hằng năm.

 

 

QUAN QUÁCH

棺 棺
F: Le cercueil extérieur et intérieur.

Quan là cái hòm ở bên trong, quách là cái hòm bao ở phía bên ngoài dùng để chôn người chết (những nhà giàu có khi xưa thường hay xử dụng loại hòm này để tẩn liệm người thân của họ). Ngày nay có khác: tiếng quan để dùng cho ngừơi lớn và quách chỉ dùng riêng cho trẻ em hoặc dùng trong việc bốc cốt thì mới xử dụng cái quách.

Người xưa có câu: Sống thì đồng tịch đồng sàng chết đồng quan đồng quách là để chỉ sự yêu thương khắn khit như vợ chồng.

 

 

QUAN TÀI

棺 材
F: Le cercueil

Quan tài 棺材: cái hòm để liệm xác chết.

 

 

QUAN TÂM

關 心
E: To concern oneself with.
F: S’intéresser à

Quan tâm 關心: thường để ý đến người nào.

 

 

QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN (Thánh)

帝 君

 

 

 

Đức Hộ-Pháp thuyết vào thời Tý đêm 24 tháng 6 năm Mậu Tý (dl: 30-07-1948): "Hôm nay là ngày Vía Ðức Cái Thiên Cổ Phật Quan Thánh Ðế-Quân tức Hớn-Thọ Ðình Hầu Quan Vân-Trường nhà Hớn đời Tam Quốc. Một vị hiển Thánh đời Hớn thời Tam Quốc, ngày nay đạt phẩm vị đến Tam Trấn Oai-Nghiêm trong nền Chánh-giáo của Ðức Chí-Tôn, sự vinh-hiển cao trọng đó ta thấy giá trị vô đối. Với một Ðấng Thiêng-Liêng mà lập được vị mình một cách oai quyền vinh hiển ta thường thấy rất ít, thảng có chăng trong nước Việt-Nam ta Ngài Trần-Hưng-Ðạo gọi có thể đương đầu với Ngài được mảy-may chút ít mà thôi; chớ phần đông từ thử đến giờ kể cả các nước Á-Ðông nầy hiếm có. Vậy, ta nên khảo-cứu coi Ngài làm thế nào để đạt được Thiên vị vinh diệu đặc biệt dường ấy.

Hớn Thọ Ðình-Hầu Quan Vân-Trường buổi nọ là một vị tướng của Thục tức của Lưu-Bị. Ta thấy đại-nghĩa của Ngài, trung-can nghĩa-khí của Ngài, nhứt là về bằng hữu chi giao, tình nghĩa đối với bạn hữu của Ngài, dám chắc dầu chúng ta, dân-tộc Việt-Nam hằng chịu ảnh hưởng văn-hóa của Nho Tông, chưa có được người nào đã giống như Ngài vậy. Tâm trung nghĩa chẳng vì sang mà theo Tào, chỉ chuộng Hớn; nghĩa chẳng vì bạn buổi khổ-não truân-chuyên mà phụ rảy tình nhau; trung và nghĩa ấy hi hữu. Nói đến chí-khí của Ngài, Bần-Ðạo tưởng luận không hết: Ngài bất sát hạ mã chi nhơn. Truyện sách lưu lại rằng Ngài suýt bị Hạ-Hầu-Ðôn giết vì nó biết cái sở yếu của Ngài mà lợi dụng nếu không Trương-Liêu đến cứu. Mỗi phen Ngài trở cây Yểm-Nguyệt Thanh-Long-Ðao định vớt nhà nớ, thì nhà nớ nhảy xuống ngựa, chí-khí đó thế gian hi hữu. Nơi Ngài chỉ lập chí với bộ sách Xuân-Thu mà thôi, người sau có tặng cho Ngài đôi liễn:

Chí tại Xuân Thu, công tại Hớn
Trung đồng nhựt nguyệt nghĩa đồng thiên

Trọn đời Ngài không lúc nào rời bộ sách ấy, lúc nào cũng đọc lấy tinh-thần của sách suy luận làm tinh-thần của mình. Kể từ Ðào-Viên kết tình bằng-hữu cùng nhau, từ thuở bần-hàn cho đến khi vinh huê phú quý sang trọng, Ngài vẫn một mực không hề thay đổi tâm đức bao giờ. Tinh-thần của người ấy là tinh thần đứng riêng biệt một mình một cảnh giới mà thôi. Thế-gian khó tìm thấy một kiểu vở thứ hai nữa đặng. Tinh-thần của Ngài có oai quyền đặc sắc, ta thử tìm coi Ngài làm sao mà đặng như vậy? Nguơn-linh của Ngài là Xích-Long-Tinh. Buổi nọ dân Bắc-Hớn phạm Thiên-điều bị Ngọc-Hư-Cung phạt hạn không cho mưa, đặng cho dân ấy phải đói. Dân làng biết mà cầu nguyện nơi Ngài cứu nạn. Ngài cũng thừa biết dân ấy bị Thiên điều hành pháp, nhưng vì lòng ái-tuất thương-sanh không nỡ để dân chết đói nên Ngài làm mưa. Ngọc Hư-Cung bắt tội sai Ngũ-Lôi tru diệt. Ngài chạy trốn vào một cái chùa, nhờ ông thầy chùa lấy chuông úp lại. Vị Ðạo-nhơn có căn-dặn bổn Ðạo trong chùa đừng ai dở chuông cho đến ngày nào Ngài hết hạn. Chư Ðạo trong chùa tọc-mạch dở ra xem coi vật gì, thành thử Ngài phải chịu đầu kiếp, kiếp ấy là Hạng Võ. Hạng Võ thì ai cũng biết. Nếu ta quan-sát trong "Trọng Tương vấn Hớn" thì rõ tiền căn Hạng-Võ, hậu kiếp Quan-Công. Bởi Hớn-Bái-Công khi lập quốc rồi nghe lời Lã-Hậu diệt công thần giết Hàn-Tín. Án ấy nằm dưới Phong-đô mấy đời mà không ai xử đặng. Buổi ấy có thầy Trọng-Tương là học-trò khó, nhà nghèo nhưng rất hiếu hạnh. Cha chết, Trọng-Tương cất nhà mồ thờ cha mà ở, thường hay buồn than thân trách phận biết mình hữu tài vô mạng nên viết một bài thi có ý than rằng: "Thiên địa hữu tư, thần minh bất công" dụng ý trích-điểm cái án nhà Hớn mà dưới Phong-đô xử chưa có nỗi. Vì vậy nên mắc tội phạm-thượng, bị bắt hồn dẫn đến Phong-đô, đem cho Thập Ðiện Diêm Quân vấn tội. Trọng-Tương bình-tĩnh trả lời rằng: "Nếu cho tôi ngồi làm Thập Ðiện Diêm Vương tôi xử án ấy cho mà coi". Thập Ðiện Diêm Vương bằng lòng. Ngài xử: "Tiền căn báo hậu kiếp, như Bành-Việt cho đầu kiếp làm Lưu-Bị, Anh-Bố làm Ngô-Tôn-Quyền, Hàn-Tín làm Tào-Tháo, Hạng-Sư làm Nhan-Lương, Hạng Bá làm Văn Xủ, Hạng-Võ làm Quan-Công". Ta thấy hồi sáu tướng của Hạng-Võ đem lòng phản bội, đầu nhà Hớn rượt Hạng-Võ đến bến Ô-Giang phải cắt đầu trao cho Ðình-trưởng, chú là Hạng Bá trở lại phản cháu đã đầu lụy Hớn-Bái-Công còn trở lại phạt Sở. Tiền căn hậu kiếp vay trả, quả báo y nhiên. Có một điều lạ là với Lữ-Mông, oan nghiệt có khác. Tiền kiếp của Lữ-Mông là ông thợ rèn, Quan-Vân-Trường đến mướn rèn Thanh-Long Ðao với một kiểu mẫu bí mật mà Ngài không muốn có người thứ nhì biết đặng. Khi rèn xong, Ngài cầm ra sân đi thử đường đao, chợt nghĩ đến điều ấy liền day lại vớt ông thợ rèn đứt đoạn. Ông thợ rèn ấy sau đầu kiếp làm Lữ-Mông. Cho nên buổi Ngài xuất thần qui-vị là trả cái ngày giết ông thợ rèn là Lữ-Mông đầu kiếp trả báo giết Ngài. Khi Chơn-linh của Ngài xuất ngoại, Châu-Xương và Quan-Bình cũng tự tử chết theo, ba người ấy bay giữa không trung, đi ngang ngôi chùa kêu ông thầy chùa là Phổ-Tịnh đòi ông nọ trả cái đầu, ông bèn lấy cái quạt gõ trên cửa tụng ba phiến vãng sanh, Ngài hạ giáng xuống tiếp đòi đầu nữa. Ông nọ cười nói rằng: "Nhan-Lương, Văn-Xủ kia mới đòi đầu với ai? Ấy là tiền căn báo hậu kiếp thôi chớ".

Ðức Quan-Thánh Ðế-Quân tỉnh ngộ, xin ông Phổ-Tịnh cho Ngài ở đó đặng tu, Chơn-linh của Ngài nhờ ở nơi chùa đó mà hiển Thánh. Khi hiển Thánh rồi Ngài trừ tà diệt quỉ, cứu độ sanh-linh và từ đó đến bây giờ không tái kiếp lần nào nữa, duy dụng cái quyền-hành thiêng-liêng mà hành Ðạo thôi. Với quyền thiêng-liêng ấy mà Ngài lập được Phật vị là Cái Thiên Cổ Phật, nhờ vạn-linh tôn trọng Ngài lên. Bần-Ðạo dám quả quyết Ngài không phải là Thiên phong mà chính là người của vạn-linh bầu cử. Cho nên Ðức Chí-Tôn mở Ðạo là cơ quan hiệp nhứt vạn linh để Ðấng ấy là một Trấn Oai Nghiêm đặng làm quan Trạng Sư cho vạn linh đạt kiếp. Bần-Ðạo tưởng nếu có sự công-chánh ở Tòa Hư Linh kia ta nên gọi điều ấy là điều công-chánh đệ nhứt mà Chí-Tôn quyết định, vậy nên Hớn-Thọ Ðình-Hầu lập thiêng- liêng-vị với Chơn-linh của mình đặng. Ðó là chỉ rõ cho cả con cái của Thầy biết rằng không phải chết là hết, chết ấy là sống, mà cái sống nơi Thầy mới oai quyền chơn thật hơn cái sống hiện tại nơi thế nầy".

Quyền hành Tam Trấn Oai Nghiêm:

Đền Thánh đêm 29-6 năm Nhâm-Thìn (1952)

"Hôm lễ Vía Quan Thánh Đế Quân, Bần Đạo đã có nói đến quyền hành của Ngài về Tam Trấn Oai Nghiêm, có liên quan với cái lễ tối trọng tối yếu của chúng ta là phải dâng Tam Bửu cho Đức Chí Tôn. Bần Đạo đã có dịp giảng về Tam Bửu ấy. Tỷ như một người kia tìm Đạo, người ta thấy mình dâng ba món ấy mà mình gọi là ba báu, rồi người ta để mắt thấy Bông, Rượu, Trà người ta để dấu hỏi (?), ba món ấy báu lắm hay sao? Báu ấy là báu gì? Bần Đạo đã giảng ba cái đó tượng trưng cho báu vật của ta là: Thứ nhứt thân phàm xác thịt của chúng ta đây, thuộc về Tinh, Bông tượng trưng xác thịt. Thứ nhì là trí não của ta, khôn ngoan hơn vạn vật gọi là Khí, Rượu tượng trưng cho trí não. Thứ ba: Trà tượng trưng cho linh hồn của chúng ta là cái hằng sống thiêng liêng của chúng ta, nó mới gọi là ba cái báu. Thật ra chúng ta suy nghĩ coi không có gì quí hơn xác thịt ta, trí óc ta và linh hồn ta hơn hết. Đức Chí Tôn đến biểu chúng ta dâng ba báu vật ấy cho Ngài, Ngài không đòi hỏi dâng cho Ngài cái gì khác. Giả tỷ như đời Thượng Cổ nhơn loại dâng cho Ngài tới sanh mạng con người, nên người ta phải giết người để làm tế vật. Sau đó thay thế mạng sống con người, nhơn loại lại dâng Tam sanh tức nhiên bò, trâu, heo và sau nữa bên Âu Châu theo Đạo Do Thái thì dâng cho Đức Chí Tôn một con chiên trắng, con chiên ấy phải trắng như tuyết mà thôi. Giờ phút này Đức Chí Tôn đến biểu chúng ta dâng Tam Bửu: Bông, Rượu, Trà; tưởng đâu là gì, thiên hạ nói báu gì đâu ba món ấy gọi là báu. Ai ngờ ba món báu ta dâng cho Ngài là báu vật, bởi vì Ngài là Chúa của ta, Ngài tạo sinh ta, Ngài là Cha của ta về phần hồn và phần xác, Ngài đòi ba món quyền sở hữu của Ngài cho ta, lấy ba món báu của ta đó vậy. Bây giờ nếu như người tầm Đạo kia nói: Tôi không biết Ông đòi ba món ấy để làm gì? Và tôi không biết Ông dùng ba món báu ấy là xác thịt, trí não và linh hồn của mình để Ông làm gì? Người ta để dấu hỏi, tức nhiên ta phải trả lời. Chúng ta đã thấy hiện tượng Đức Chí Tôn đến qui Tam Giáo: Nho, Thích, Đạo, lấy cả tinh thần đạo đức của ba nền Tôn Giáo ấy đặng làm môi giới chuẩn thằng. Rồi lập thêm làm gì Tam Trấn Oai Nghiêm? Có phải chăng lập Tam Trấn Oai Nghiêm là để bảo vệ ta, và Tam Trấn Oai Nghiêm có bổn phận dâng lên cho Đức Chí Tôn, sự thật như vậy. Nếu không phải vậy Đức Chí Tôn chẳng hề khi nào sắm Tam Trấn Oai Nghiêm ra làm gì cho chúng ta thờ phượng, ấy vậy Tam Trấn Oai Nghiêm trượng trưng ba báu vật ấy.

Đức Quan Thánh tượng trưng TINH: tức nhiên tượng trưng xác thịt của chúng ta, vì cái sống trong xã hội nhơn quần của chúng ta ngày nay không có cái giá trị nào bằng giá trị Tinh, Khí, Thần. Quả vậy tôi tưởng chắc rằng: Nếu chúng ta có mảnh thân phàm này mà muốn cho nên, đứng cho vững vàng, đáng giá nơi thế này, kiếp sống ta không có một kiểu vở nào, không một nền Tôn Giáo nào có tôn chỉ đặc biệt về xã hội nhơn quần của chúng ta hơn là Nho Giáo. Ấy vậy hôm kỳ Vía của Ngài, Bần Đạo đã có nói Ngài tượng trưng Tinh, tức nhiên Ngài là đại diện của Nho Tông Chuyển Thế đó vậy. Bần Đạo đã có thuyết minh nếu trong cử chỉ hành tàng kiếp sống của chúng ta, chúng ta có thể học đòi theo cả hành tàng của Ngài, lấy Xuân Thu làm chuẩn thằng lập chí. Tưởng nếu cả toàn thiên hạ lập chí cho xã hội, phục vụ cho xã hội dường này, tôi tưởng nhơn loại không hạnh phúc nào cho bằng.

Bây giờ nói Đức Lý, tức nhiên Anh Cả Thiêng Liêng chúng ra giờ phút này, Đấng Thiêng Liêng đến cầm quyền Giáo Tông trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà cũng là Nhứt Trấn Oai Nghiêm nữa, Ngài đại diện cho Tiên Giáo đó, mà Tiên Giáo chúng ta đã thấy gì? Thấy kiểu vở Tiên Giáo trong tinh thần chữ Đạo. Phải chăng Đức Ngài chỉ cho chúng ta thấy chữ Đạo là gì? Đạo là cái sống. Cái sống mà thiên hạ đã biết, nhưng mà không hiểu hình trạng và tướng diện của nó, bí mật của nó thiên hạ nơi thế gian này chưa biết, Bần Đạo lấy một tỷ thí như nam nữ phối hiệp nhau, sao lại sanh ra đứa bé, cái bí mật đó là gì? Trứng gà, nếu có trống khi ấp lại nở ra con, cái sống đó là gì? Đức Lão Tử gọi đó là Đạo. Đạo ấy trong cái sống tối thiểu, có cái sống tối đại của nó. Cũng như cái sống bí mật của ta, đương giờ phút này, đương nhiên sống với bạn đồng sinh của ta đây. Ngoài ra cái sống nữa, cái sống bí ẩn, sống thiêng liêng mà Đức Chí Tôn gọi là sống, hằng sống của Ngài ban cho ta đó vậy, đấy là Đạo. Ấy vậy, Đức Lão Tử đã dạy cho trí khôn ngoan của loài người mở rộng cái sống bí ẩn sống với vạn linh, trong sự sống của Càn Khôn Vũ Trụ. Các người bảo trọng cái sống của các người, thì các người phải cung kỉnh thờ phụng cái sống của vạn linh. Ấy là Ngài dạy cho ta tôn sùng cái sống, tức nhiên trí não của mình mở mang, hiểu sống đã là Đạo mà người thay quyền cho Đạo Lão tức nhiên Đức Lão Tử đặng cầm giềng mối giữ gìn cái mực thước sống của chúng ta cho còn tồn tại đó vậy. Ấy vậy Đức Lý tượng trưng cho cả trí não tinh thần chúng ta, bảo vệ Đạo tức bảo vệ sống còn của nhơn loại vạn linh. Thuộc về Khí.

Về phần Đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát, Ngài tượng trưng cho LINH HỒN chúng ta, phải chăng chúng ta sanh ở thế gian này đương mang nặng thi hài xác thịt này, cả toàn nhơn loại trên mặt địa cầu có mặt nơi đây, phải chăng do quả kiếp của họ, Bần Đạo không nói trọn hết thảy bị quả kiếp, cũng có những Đấng lãnh sứ mạng của Đức Chí Tôn đến giáo Đạo dìu dắt Vạn linh. Hại thay! Chín mươi hai ức nguyên nhân cũng vì sức mạng tối yếu tối trọng ấy thay vì lãnh sứ mạng của mình trọn vẹn, lại quá ham sống, gây nên tội tình phải bị sa đoạ. Thành ra một ông Thầy đến giáo Đạo lại trở thành một học trò quá tệ hơn trò nữa. Chín mươi hai ức nguyên nhân, giờ phút này có một điều thắc mắc hơn hết, chúng ta thấy trong Vạn linh, con người tối linh hơn vạn vật, mà ta ngó thấy có thứ người không phải người, họ đã mang xác thịt làm như người mình, họ tàn ác dối trá gian ngược, làm cho các Đấng Thiêng Liêng hay là người đạt Đạo ở thế gian này cũng vậy để dấu hỏi, đến phẩm người mà vậy, hỏi họ có đáng làm người không? Họ có đáng ngồi trong phẩm vị đại hồi này, hay tiểu hồi vật loại? Nếu chúng ta để nhóm người đó ở trong tiểu hồi vật loại thì bất công, chính mình người ta đã đạt tới nhân phẩm, nếu để trong đại hồi, trong nhân phẩm thì không đáng vị, bởi vì cớ cho nên Đạo giáo để phẩm Maya, tức nhiên quỉ vị, phẩm vị riêng biệt là "quỉ vị". Ấy vậy Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng Thường Du Nam Hải, các cửa Phong đô nơi Cửu tuyền đài kia, là con đường của Ngài đi lên đi xuống không biết mấy lần, không biết thế kỷ nào dứt, để tận độ cho thiên hạ, Ngài tượng trưng cho một cơ thể thiêng liêng giải cả oan nghiệt tội tình, giải cả Nhơn quả cho chúng sanh đạt vị, tức nhiên đạt cơ giải thoát. Hỏi có người nào tượng trưng cho Đấng đó hơn Quan Thế Âm Bồ tát không? Ba cái gương ba kiểu vở kia đặc biệt chúng ta không thể gì làm được."

QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN Giáng Cơ ngày 15-7 Tân Mùi (dl 28-8-1931)

Trùm đời TRUNG NGHĨA chúng kiêng oai
Trời khiến thay quyền Khổng Thánh nay
Xưa vốn phò Lưu sau dực Hớn,
Phật phong chơn tể thưởng Kim bài.

Này chư Nhu:

Kể từ Đại-Đạo mới hoằng khai,
Lão chịu ra truyền mối Thánh nhai.
Chỉ một tâm TRUNG nên đặng hưởng,
Xuân Thu nghĩa khí trọn lòng ngay.

Đạo vốn không hai, mà nay cả nơi đều nghịch lẫn, mong tiếm giả quyền, làm cho Đạo chịu chinh nghiêng. Ta hỏi chư Nhu: Đức Chí-Tôn mở Đạo dạy cả thảy con của Đức Chí-Tôn đặng qui hiệp nhau và làm cho thân ái nhau hay là lập đặng tàn hại nhau? Vậy chớ lập quyền hành đặng dìu dắt hay là lập đặng áp chế phân phái dứt bẩn nhau? Có phải lập ra cho có kẻ lớn dìu kẻ nhỏ ra làm đạo-đức để gương cho hậu tấn chăng? Mà chư Nhu chẳng mong tầm yếu lý của Đạo vô vi, lấy trọn tinh thần mà hành Đạo thì lý yếu chư Nhu làm sao rõ đặng?
Vậy Ta khuyên Đạo Hữu lưỡng phái khá tương thân tương ái mà dìu dắt cho nhau.

NỮ PHÁI! Ta quá buồn, vì cả Cung Diêu-Trì mong chế sửa Đức tin cho Nữ phái, mà đã cả năm không dời tục tánh đặng giồi ánh Thiêng-liêng.

TA rất ưu phiền Cho Chư Hiền-Muội.
Sanh trong đời cuối Gặp buổi Đạo khai,
May quá đỗi may Có Đức CAO-ĐÀI.
Ra dìu con dại Khuyên trai hiếu ngãi.
Khuyên gái tiết trinh Ba mối khá gìn
Năm giềng nắm chặc Làm cho đáng mặt
Trai hiếu gái trinh Ở chốn Thiên đình
Thiêng-liêng một thể Xuống phàm làm tệ.
Cứ kẻ Nữ nhi Chẳng biết bầu bì.
Mặc dầu hay dở Đường Tiên bợ ngợ
Cuộc thế ước mơ Dạ thiệt hẫng hờ
Bơ-ngơ biển khổ Trong lòng chẳng cố
Xét thử đường mô Đặng lánh mê đồ
Hư vô tầm đến Đức tánh vững bền,
Cho nên tài gái Khuyên khuyên nhau phải
Phải lập chí trai Đôi lời TA dạy.
Chớ có lợt phai Rán giữ dạ hoài,
Đừng cho sai nhé!

Ta mừng chư Đạo-Hữu lưỡng phái

Câu 27 trong bài U-Minh-Chung có câu: "Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân"

 

 

QUAN TRUNG (Địa)

Quan Trung là tên của phần đất ở giữa hai ải: Hàm Cốc và Lũng quan, địa thế rất tốt, ba mặt đều có thiên nhiên hiểm trở, chướng ngại, làm cho phong khí trở nên hiểm yếu ngăn giặc ngoài cũng như thù trong, nên được nhà Tần và nhà Hán làm nơi đóng đô.

Thánh ngôn Thầy dạy rằng:

Yến Tử Hà xưa lúc vận cùng,
Còn mang dép rách đến Quan Trung.
Nay con chưa đủ thông đường Ðạo,
Cứ ngóng theo chơn Lão tháp tùng.

 

 

QUÁN THÔNG

Quán thông 串通: quán chiếu thông suốt.

Ông Phan-Bội-Châu nói: "Nếu nghiên cứu về Dịch-học thì Phật-học và Lão-học cũng quán thông, gần-gũi cùng thiên lý, Âm Dương lý số thông cùng vạn vật" là vậy."

 

 

QUẢN HẠT

Đúng ra phải nói là Hội-Đồng Quản Hạt mới đủ nghĩa. Chính Ngài Lê Văn Trung được thâu nhận vào làm Thơ Ký tại Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Ngài làm việc Thơ Ký cho đến năm 1906, tổng cộng được 12 năm. Sau đó, Ngài xin thôi việc và được chấp thuận ngày 6-3-1906. Ngài Lê Văn Trung ra ứng cử và được dân chúng bầu vào Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ (Conseil Colonial de Cochinchine) đại diện cho các tỉnh: Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Gò Công, Tây Ninh, được liên tiếp 2 khóa, tổng cộng 8 năm. (Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ có 10 Hội Viên người Pháp và 6 Hội Viên người Việt. Hội Viên người Việt do đại diện các Hương chức Nam Kỳ bầu lên). Lúc làm Hội Viên Hội Đồng Quản Hạt, mỗi khi nhóm họp nơi Soái Phủ Nam Kỳ, Ngài Lê Văn Trung thẳng thắng bàn cãi những sự ích nước lợi dân. Ngài rất lưu tâm đến việc mở mang các trường dạy học và công việc thương mãi. Trong những sự bàn cãi, đôi khi làm trái ý quan trên, nhưng Ngài vẫn thẳng thắng vì nhiệm vụ đại biểu của dân, chẳng đoái đến phận mình bị thiệt thòi, cho nên, xa gần, quan dân đều ngợi khen Ngài là người khẳng khái cương trực. Có thơ rằng:

Ra tài Quản Hạt bấy thu chầy,
Quan chuộng dân yêu hội hiệp vầy.
Lòng dạ thẳng ngay, gương vặc vặc,
Tiếng tăm khen ngợi, tiết hây hây.

 

 

QUẢN TRỊ

管 治
E: To administer.
F: Administrer

Quản trị 管治: quản lý, xử trí mọi việc.

 

 

QUẢN VĂN PHÒNG

E: General secretary.
F: Secrétaire général.

Quản văn phòng: Chức sắc có nhiệm vụ quản lý các việc giấy tờ nơi văn phòng của một cơ quan lớn trong Đạo gọi là Quản-văn phòng (gọi tắt là quản văn).

 

 

QUẢN SUẤT

"Cái nguyên-lý có từ thuở chưa có Càn Khôn vũ-trụ. Đạo-giáo có dạy: Hai lằn nguơn-khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái-cực, chủ ngôi Thái-cực là Đức Chí Tôn. Khi trời sét nổ ta nghe gì? An-Nam mình kêu là "ùm". Vì cớ phép Phật sửa lại là "úm" (úm ma ni bát ri hồng). Câu ấy đọc có nghĩa là nắm cả quyền-năng vũ-trụ quản suất trong tay. Tiếng nổ ta nghe nó ra sao? Khi nổ rồi còn nghe tiếng bay xa, nguyên-căn của tiếng nổ là tiếng trống, còn giọng ngân là tiếng chuông".

Bài thi khoán thủ : "Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài" có câu:

Chưởng quyền cực Lạc phân ngôi vị,
Quản suất Càn Khôn định cõi bờ

 

 

QUANG MINH

Quang minh 光明: sáng sủa rõ ràng

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Ấy Tôn chỉ Đạo Thầy truyền bá,
Lấy tinh-thần Hoằng-hóa nhơn sanh.
Đạo ra ngày tháng đành rành,
Mảnh gương nhựt nguyệt quang minh rõ ràng.

 

 

QUANG MINH CHÁNH ĐẠI

光 明 正 大
E: Open and straight forward.
F: Clair et droit.

Quang: Sáng, rực rỡ, vẻ vang. Minh: sáng. Chánh: ngay thẳng. Đại: lớn. Quang minh chánh đại là rõ ràng ngay thẳng, không có gì lén lút hay mờ ám.

Ðức Quyền Giáo Tông giải về Ðức Chí Thành (1935) "Người hành đạo cần phải có đức chí thành, tôn chỉ Ðạo mới đặng quang minh chánh đại, rồi nhơn đó mới đặng lòng tín nhiệm của chúng sanh. Khi tụng kinh cầu nguyện, khẩn vái với Trời Phật, nếu đặng chí thành mới có cảm. Có cảm mới có ứng. Có ứng mới có nghiệm; cho nên có câu: "Hữu thành tất hữu Thần" là vậy đó.!"

 

 

QUANG VINH

光 榮
F:Honneur, gloire.

Quang vinh 光榮 : Rực rỡ vẻ vang.

Đức Togo giáng cơ bằng Pháp ngữ ngày 1-7-1934:

"Ta có nhiệm vụ tới đây chuyển tới quí vị lời chào của nước Nhựt chúng ta và đặt lời cám ơn của ta về việc Tôn giáo quang vinh của quí vị đã nâng cao tinh thần tương lai của toàn thể dân tộc ta: Hội nghị cuối cùng những quốc gia Đông Phương quyết định bãi bỏ tất cả căn cứ hải quân của những cường quốc Âu Châu. Đông Dương sẽ ở những điểm chiến lược được nhắm tới, và dù muốn dù không nó phải được trả lại cho người Việt Nam".

 

 

QUẢNG ĐẠI

廣 大
E: Generous.
F: Vaste, étendu.

Quảng đại 廣大: Rộng lớn.

Bài này Thầy dạy ông "M... N." tức Mỹ Ngọc, là bút hiệu của Ngài Cao Quỳnh Diêu, sau đắc phong Bảo Văn Pháp Quân vào ngày 30-9-1926 (âl 24-8-Bính Dần)

Thầy dạy: "M... N..., không chuyện chi cần, Thầy không muốn làm nhọc chư Tiên và chư Thần, mỗi vị đều có trách nhiệm riêng, con hiểu à! Xem đó thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm, vì Thầy là bực Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh, hễ các con có lỗi thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con, nghe à!

 

 

QUẢNG HÀN CUNG

廣 寒 宮
E: Palace of the moon.
F: Palais de la lune.

Quảng: Lớn, rộng, mở rộng, cái điện lớn. Hàn: lạnh. Cung: cung điện. Quảng Hàn Cung là cung điện của vị Thái Âm Tinh Quân ở trên mặt trăng (Mặt trăng).

 

 

QUẢNG KHAI

廣 開
E: To enlarge.
F: Élargir.

Quảng: Lớn, rộng, mở rộng, cái điện lớn. Khai: mở ra. Quảng khai là mở rộng ra.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Trụ căn quỉ khí cửu-tuyền,
"Quảng khai thiên thượng tạo quyền chí công."

 

 

QUẢNG TRUYỀN ĐẠO ĐỨC

廣 傳 道 德
E: To propagate the book of Đạo Đức.
F: Propager le livre de Đạo Đức.

Quảng: Lớn, rộng, mở rộng, cái điện lớn. Truyền: trao lại cho người khác. Đạo Đức: sách Đạo Đức Kinh, là quyển sách do Đức Lão Tử viết ra, truyền lại cho Doãn Hỷ, dùng làm căn bản cho giáo lý của đạo Tiên.

Quảng truyền Đạo Đức là truyền bá rộng rãi sách Đạo Đức Kinh của Đức Lão Tử.

Kinh Tiên Giáo có câu:

"Tử khí đông lai, Quảng truyền đạo đức."

 

 

QUẢY

Đức Quyền Giáo Tông giáng họa thi của Hộ-Pháp:

Đường trần hạnh phúc đã là đâu?
Chi bẵng Càn khôn quảy một bầu.

 

 

QUÂN ĐỘI

NĂM TÂN TỴ: 1941:

Đức Hộ Pháp bị Chánh Phủ Pháp đày sang Madagascar.

NĂM 1942:

"NỘI ỨNG NGHĨA BINH." HIỆP TÁC VỚI NHẬT. Ông Trần Quang Vinh cầm quyền Tổng Tư Lệnh.

NĂM 1943:

Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để phong Ông Trần Quang Vinh làm Phó Đoàn trưởng " VIỆT NAM PHỤC QUỐC ĐỒNG MINH HỘI".

NĂM 1945:

Đảo Chánh Pháp. HIỆP TÁC VỚI VIỆT MINH. Ông Trần Quang Vinh từ chức Tổng Tư Lệnh…

Ông Đặng Trung Chữ cầm quyền Tổng Tư Lệnh.

LLCĐ là Đệ Tam Sư Đoàn của Nam Bộ Kháng Chiến… "gồm có 02 chi đội 7 và 8" [NAM BỘ KHÁNG CHIẾN DO VIỆT MINH LÃNH ĐẠO]

Ông Trần Quang Vinh bị Việt Minh bắt….

NĂM 1946:

Ông Trần Quang Vinh vượt khám trở về Sài Gòn và bị Pháp bắt… cuối cùng là sự hợp tác….

HIỆP TÁC VỚI PHÁP: 9-6-1946.

ĐỨC HỘ PHÁP VỀ TOÀ THÀNH TÂY NINH

Nội Ứng Nghĩa Binh tiến lên thành Quân Đội Cao Đài.

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài cầm quyền Thượng Tôn Quản Thế.

Tổng Tư Lệnh: Giáo Sư Thượng Vinh Thanh. (Đến 07-4- Mậu Tý " 15-02-1948" mới được phong Phối Sư). Phó Tổng Tư Lệnh là Ông Nguyễn Văn Thành.

NĂM 1947: QUÂN ĐỘI CAO ĐÀI.

Ngày 8-1-Đinh Hợi (1947) chính thức làm lễ xuất quân. ĐỨC HỘ PHÁP TỔ CHỨC LỄ THƯỢNG CỜ QĐCĐ.

NĂM 1948:

Ngày 01-6- 1948. Ông Trần Quang Vinh làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng cho chánh phủ Nguyễn Văn Xuân. Ông Nguyễn Văn Thành nắm quyền Tổng tư Lệnh.

NĂM 1949:

(28-4-1949: Pháp lại đưa Bảo Đại về làm Quốc Trưởng "01-4- Kỷ Sửu").

THƯỢNG TÔN QUẢN THẾ. Ký Thánh Lịnh Ngày 24-01- Kỷ Sữu. 21-02-1949.

"Nghĩ vì nhà cầm quyền Pháp không thật hành đúng theo Hiệp ước ngày 08-01- dương lịch trên đây nên Hội Thánh nhứt định cho toàn Đạo Hữu CAO ĐÀI GIÁO sẽ đứng trung lập trên hết các đảng phái."

NĂM 1950.

Thủ Tướng: Nguyễn Phan Long.

Năm 1950 Việt Nam Phục Quốc Hội ra đời…

NĂM 1951:

Thủ tướng: Trần Văn Hữu ( 1950-1952).

+ Ngày 7-6-1951 Tướng Trịnh Minh Thế vào rừng lập chiến khu để chống Pháp với danh nghĩa " MẶT TRẬN LIÊN MINH QUỐC GIA KHÁNG CHIẾN" gọi tắt là CAO ĐÀI LIÊN MINH.

+ Bộ Tư Lệnh QĐCĐ xin cho Quân Đội được dự hội Q. Vạn Linh năm Tân Mảo (1951). ĐHP KHÔNG CHẤP NHẬN.

NĂM 1952:

Thủ Tướng Trần Văn Hữu (1950-1952).

" Tổng Tư lệnh Quân Đội Cao Đài: Trung Tướng Nguyễn Văn Thành "

+ Ông Thừa Sử Phạm Ngọc Trấn bị nội bộ giết…09-7- Nhâm Thìn.

+ Ngày 6-10-N.Thìn. (22-11-1952). Đức Hộ Pháp….. …" Bởi vì thế mà Bần Đạo buộc mình phải từ bỏ phận sự THƯỢNG TÔN QUẢN THẾ mà Bần Đạo đã hạ mình giúp đở Quân Đội. Từ đây Quân Đội không còn là Quân Đội của Đạo nữa vì hằng hà sa số điều ác hành của nó"

NĂM 1953:

Thủ Tướng: Nguyễn Văn Tâm ( 1952-1953).

Ngày 01-11- 1953 Đức Hộ Pháp ra lịnh bầu chọn Tổng Tư Lệnh QĐCĐ. Cùng ngày Ông Trần Quang Vinh bị Tướng Thế bắt….

Lễ Thăng Quyền T.T.L.Q.Đ.C.Đ. cho Thiếu Tướng Nguyễn Thành Phương ngày 1 tháng 11 Quí Tỵ (06-12-1953)

Phó Tổng Tư Lịnh Đại Tá Lê Văn Tất, Tham Mưu Trưởng Trung Tá Lê Quang Thế

NĂM 1954:

Thủ Tướng Bửu Lộc ( 1/1954- 6/ 1954).

Sau đó là Ngô Đình Diệm (6/1954- 23-10-1955)

NĂM 1955:

Thủ Tướng Ngô Đình Diệm (6/1954- 23-10-1955)

Tháng 5-1955: Tướng Trịnh Minh Thế chết.

(Chánh phủ Ngô Đình Diệm đã quốc gia hoá Quân Đội Cao Đài vào ngày 11-3- Ất Mùi. "02-5-1955")

Đầu tháng 8 năm Ất-Mùi, Tướng Nguyễn Thành Phương và Đại Tá Lê Văn Tất… sau khi được quốc-gia-hóa lãnh lịnh Chánh Phủ Ngô Đình Diệm lập Ban Thanh-Trừng.

Quân đội Cao Đài lúc đó chia làm ba cánh:

Cánh Tướng Phương và Ô. Tất.

Cánh Đại Tá Huỳnh Thanh Mừng.

Cánh của Tướng Mạnh và Đại Tá Đờn.

Đến 05-01-Bính-Thân (1956) thì Đức Ngài sang Campuchia".

Đức Hộ-Pháp nói: "Quân Đội của các con thành lập đặng cũng do toàn thể trụ cả năng lực trên nền tảng Nghĩa Nhân, đạo đức, ngọn cờ cứu khổ của các con xuất hiện nơi nào thì nhân sanh nơi ấy đều phải đặng các con bảo vệ, cứu hiểm phò nguy mà làm cho rạng danh anh tuấn của non sông chủng tộc. Thầy lại giao luôn cho các con ngọn Đạo Kỳ là cốt ý muốn cho các con bền trụ khối tin trung đặng giữ vững cơ đồ Tổ Phụ các con, đã dầy công xây dựng trên 4.000 năm và hiện nay bao nhiêu dòng máu anh phong của nòi giống Lạc Hồng đã rưới chan đất Việt. Phận sự của các con vì đó mà khó khăn. Trách nhiệm của các con vì đó mà cao cả. Sự khó khăn cao cả ấy nếu các con nhứt quyết thành công thì tên tuổi các con mới ghi tạc nơi Đài Vân mà lưu lại những trang sử uy hùng cho hậu thế. Thầy không nói, các con cũng dư hiểu rằng từ xưa các bậc thương đời, hễ lo cho quần chúng thì quần chúng thương yêu, bằng ghét bỏ nhơn sanh thì nhơn sanh ghét lại. Vậy quyền lợi nào hạp với nghĩa nhân thì các con dùng làm quyền lợi chung, còn trái với nhân tâm thì các con nên từ bỏ. Để kết thúc lời Huấn dụ này, Thầy chỉ nói vắn tắt với các con: Chí ôn nhu của các con là khí cụ tinh anh, còn lòng đạo đức của các con mới thật là lũy đồn kiên cố vậy. Đầu xuân Giáp Ngọ Thầy ban ơn lành cho toàn cả các con và mong các con đoạt thành nguyện vọng đặng giải nguy cho Tổ Quốc và mở con đường vinh hiển cho chủng tộc của các con buổi sau này."

 

 

QUÂN ĐỘI ĐƯỢC DỰ QUYỀN VẠN LINH KHÔNG?

Do theo lời của Bộ Tư-Lịnh Quân-Đội-Cao-Đài xin cho Quân-Đội được dự hội Quyền Vạn-Linh năm Tân Mão (1951).

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Thiệt một việc yêu-cầu làm cho Bần-Đạo rất nên khó liệu, Bảo-Thế nói lại cho Quân Đội biết rằng: Dầu mảnh thân này và sự sống thác của nó Bần Đạo còn không tiếc với Quân-Đội thì kể chi hành-tàng xấu-hổ. Viết một bức thơ xin họ kiếm hiểu sở-năng của thủ đoạn tiếng văn minh của Á-Đông và tiếng văn-minh của Âu-Châu là nghĩa lý gì? Quân-đội không có là một phần công-lý sẽ bị tiêu-diệt, mà có Quân-Đội là một áp-bức, bất công không chi bì kịp, nó là Thánh cũng là Phàm, cái Thánh ấy Đời đã lợi-dụng đặng làm mạnh cái phàm-lực của họ. Phải! Cơ quan Cửu-Trùng-Đài là Cơ-Quan dìu Đời nên hai Ông chủ của Cửu-Trùng-Đài dám lập Quân-Đội; mà Hiệp-Thiên Đài là Cơ-Quan dìu Đạo nên Ông chủ của nó sợ-sệt, ngại ngùng. Biết đâu ngày nay Bần-Đạo mở cửa cho Quân-Đội đem quyền-hành vào, nó không áp-bức, nó không vô quyền thì đã, mà cửa ấy lại không cần mở cho Quân Đội của Đời xông vào. Thử hỏi ngày kia, nếu Quân Nhân của ta phải trở về cầm đảm-đương quyền Đạo trong Thánh Thể của Chí-Tôn, vì chẳng lẽ họ còn mang võ-khí nơi mình cho đến ngày tận-thế đặng. Chừng ấy quyền Quân Đội Đời mới nhập vào quyền Vạn-Linh "cầm súng cầm gươm" nơi tay đưa ngay đầu họ, đặng buộc họ ký một mạng lịnh chịu phục dưới mạng lịnh của quyền Đời thì họ mới nghĩ sao? Bần-Đạo không cho Quyền Vạn-Linh có thủ-đoạn vì lẽ đó. Quân-Đội giờ này là một cơ-quan chánh-trị tạm-thời, thì chỉ đặng quyền làm một cơ-quan Chánh-Trị-Đạo như Cửu-Viện của Hội-Thánh mà thôi, chỉ nghĩa là phải có mặt cho Quyền Vạn-Linh hạch-vấn, chớ không phải là một phần-tử của Quyền Vạn-Linh. Vậy Bộ Tư-Lệnh, Bộ-Tham-Mưu, Bộ-Chỉ-Huy phải có mặt đặng có chịu dưới Quyền Vạn-Linh vấn-nạn." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký])

 

 

QUÂN ĐỘI CAO ĐÀI

F: Troupes caodaist.

Đức Hộ-Pháp dâng sớ chung niên Ất-Mùi (1955) có câu: "Quân Đội Cao-Đài dưới quyền Tổng chỉ huy của Trung-Tướng Nguyễn Thành Phương và Quân đội Kháng chiến Liên Minh dưới quyền của Thiếu Tướng Trình Minh Thế đã được quốc gia hóa một phần, còn một phần trở về Đạo từ ngày 11 tháng 03 nhuần Ất Mùi. Nhơn dịp này Đệ Tử không còn cầm quyền Thượng Tôn Quản Thế và chỉ lo về mặt Đạo thôi.

Ngày 13 tháng 03 nhuần Ất Mùi.(dl: 04-05-1955) Thiếu Tướng Trình Minh Thế cầm binh đánh Quân Đội Bình Xuyên và tử trận tại cầu Tân Thuận Đông. Chánh phủ Nam Việt truy thăng Người lên Trung Tướng. Đệ Tử truy phong Người vào Quốc Sĩ. Anh linh được thờ nơi Báo-Quốc-Từ ngoại-ô Thánh Địa, còn thi hài thì an táng tại chơn núi bổn Tỉnh. Từ khi quốc gia-hóa Quân Đội Cao-Đài Trung-Tướng Nguyễn Thành Phương từ chức Quốc-vụ-khanh trong chánh phủ Ngô Đình Diệm và giữ chức Tổng Tư Lịnh như trước..

Ngày 20-08-Ất Mùi, Trung Tướng Phương bao vây Hộ Pháp Đường, cố ý truy nã những Sĩ-quan trở về Đạo và từ đó đệ Giác thư đưa ra 10 yêu sách xin Hội-Thánh giải quyết với thái độ bình tĩnh và ôn hòa, Hội-Thánh xem xét từng khoản và chấp thuận những yêu sách nào không phạm Chơn truyền Luật Pháp của Đạo. Trung-Tướng Nguyễn Thành Phương tố cáo Đệ-Tử nhiều điều còn trong vòng minh xét của bộ Pháp Chánh và đòi hỏi phải trả quyền Thống nhứt cho Hội quyền Vạn linh. Nghĩ vì quyền Thống nhứt này do Hội Quyền Vạn linh nấy trao từ năm Mậu-Dần chớ chẳng phải do Đệ-Tử tự lập, nên Đệ-Tử không ngần ngại giao ại cho Hội Quyền Vạn linh trọn trách nhiệm trạch cử đầu Sư chánh vị.

Xét vì cuộc biến chuyển có tánh cách bạo hành và cho đặng tránh lưu huyết trong vùng Thánh Địa, Đệ tử vào Tịnh Đường để an dưỡng tinh thần trong một thời gian vô định. Đồng thời một số quân sĩ của Phương lần lượt ly khai hàng ngũ,cũng như một số quân sĩ trở về Đạo lại tái lập lực lượng võ trang để phòng khi ứng dụng. Sống chung một cơ binh như thù túc mà vì ý kiến bất đồng, tâm lý bất hiệp, trở lại coi nhau như thù địch, thì vô phước thay cho ngọn cờ "Bảo Sanh- Nhơn Nghĩa" lần lần xiêu ngã. Đệ tử hết lòng cầu khẩn Đức Chí-Tôn và Tam Trấn Oai nghiêm ban hồng ân cho trẻ thanh xuân được hồi tâm tự giác.

 

 

QUÂN THẦN

Có câu "Quân minh thần trung" tức là trong một nước mà vị vua là người thanh minh chánh trực, thì mới có được bầy tôi trung liệt với mình.

Bài thài hiến Lễ của Ngài Hiến Thế như vầy:

Hiến mình cho Đạo buổi sơ khai,
Thế cuộc vần xoay dạ chẳng nài.
Chơn tánh quyết tâm lo lập đức,
Quân thần vẹn giữ cảm bi ai.

 

 

QUÂN TỬ

Quân tử 君子: Người tài đức xuất chúng, người có nhân cách hoàn toàn, theo Khổng giáo.

Kinh Sám Hối có câu:

"Người quân-tử chẳng thà chịu khổ,
"Đâu làm điều nhục tổ hổ tông."

 

 

QUÂN TỬ THẬN KỲ SÁT THÂN

君子慎

"Quân tử thận kỳ sát thân" có nghĩa là bậc quân tử, đạo đức rất thận trọng với chính mình mà tự xét lấy thân mình.

 

 

QUẦN CHƠN

群 眞
E: All the Saints.
F: Tout les Saints.

Quần chơn 群眞: Những người chơn chất, thật thà, luôn sống và làm theo đạo lý, người tu chơn.

Kinh Tiên Giáo có câu:

"Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng,"

 

 

QUẦN HỒNG

群 紅
E: Rose trousers.
F: Pantalon rouge.

Quần hồng 群紅: Chỉ về phái đẹp, đàn bà con gái.

Nữ Trung Tùng Phận có câu:

Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.

 

 

QUẦN LINH

群 靈
E: All the espirits.
F: Tous les esprits.

Quần linh 群靈: các chơn linh cao trọng.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế:

"Vô vi nhi dịch sử quần linh."

 

 

QUẦN NHI

群 兒
E: All the children.
F: Tous les enfants.

Quần-nhi 群兒:Những trẻ con, trẻ thơ.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Sanh quang dưỡng-dục quần-nhi,
"Chơn-linh phối nhứt thân vi Thánh hình."

 

 

QUẦN SANH

群 生
E: All the living beings.
F: Tous les êtres vivants.

Quần sanh 群生: chúng sanh (bao gồm con người và vật).

Thầy dạy: "Các con đã ra công lập vị cho quần sanh mà bị nhục, bị thãi cũng nơi quần sanh. Nhớ lấy mà tránh lối sau nầy, bỏ tự cao, dùng bình đẳng, hiệp nhân tâm, hòa Thế đạo, tạo đoàn thể, gây bác ái, nâng phong hóa, cải hủ bại, giồi trí hay, dìu bước lạc, ấy là những phương hay gìn Đạo đó. Có nên giận ai chăng? Quên giận, bỏ hờn, thương hại chúng nó nghe! Nếu dự vào nữa thì lạc luôn. Phải tìm đường lo để rồi sau trì níu đem chúng nó lại nẻo ngay mới đặng cho.Các con hiểu Thầy à."

Thi của Ðức Nhàn Âm Ðạo Trưởng có câu:

Tìm Ðạo mà chi khá hỏi mình:
Bến mê mới vững vớt quần sinh.
Vun trồng cội phúc ơn chan thấm,
Giong rủi đường tiên nghĩa tạc gìn…

 

 

QUẦN THÁNH

群 聖
E: All the Saints.
F: Tous les Saints.

Quần Thánh 群聖: Các vị Thánh, chư thánh

Kinh Tiên Giáo:

"Đức hoán hư linh, pháp siêu quần Thánh."

 

 

QUẾ HƯƠNG

Quế Hương: Mùi thơm của cây quế. Quế là một loại cây quí, vỏ cây có mùi rất thơm, vị ngọt và cay nồng, tính ấm, dùng làm thuốc trị bịnh, như Quế chi (cành cây quế), Quế khâu (vỏ cây quế).

Ở đây, Quế Hương là tên riêng của một Ðiện nơi cõi thiêng liêng. Tương truyền rằng trên cung trăng có cây quế, nên gọi mặt trăng là quế cung 桂宮 hay quế luân 桂輪. Vì vậy ở thời khoa cử, ai đạt được khoa thi thì gọi là "thiềm cung chiết quế" (là bẻ cành quế trên cung trăng). Sân quế để chỉ những gia đình có con mà hiển đạt, như câu "Yên Sơn ngũ quế" do tích Đậu Võ Quân đời Ngũ đại, tỉnh Yên sơn, có người tính ngay thẳng, lại hay làm phước, nên trời cho hiển đạt. Năm người con của ông học giỏi cả năm, đậu cao và làm quan to trong triều, được danh tiếng là Yên Sơn ngũ quế.

Kinh Nho giáo khởi đầu bằng câu: "Quế Hương nội điện" 殿 là bên trong của Điện Quế hương, thuộc cõi thiêng liêng, tức là nơi ngự của đức Khổng Thánh.

 

 

QUẾN GÁI DỤ TRAI

Kinh Sám Hối có câu:

"Phạt răn quến gái, dụ trai,
"Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài."

 

 

QUI CĂN

歸 根
E: To return to the right and to give up wrong way.
F: Retouner à l’origine.

Qui: Trở về, chịu về theo. Căn: gốc rễ. Qui căn là trở về nguồn cội.

Kinh Tẫn Liệm có câu:

"Đất biến hình tự thử qui căn."

 

 

QUI CHÁNH CẢI TÀ

歸 正 改 邪
F: Revenir au bien et quitter la voie du mal.

Qui chánh cải tà là trở về điều chánh, sửa đổi điều Tà. Làm một người trong cõi đời này ai cũng có điều lầm lỗi, dù là lỗi lớn hay lỗi nhỏ cũng là lỗi cần phải sửa đổi, nên bỏ nó đi.

Thầy dạy: "Khá gắng nghe và hành trình liệu bước. Chư Nhu cũng tùy đó mà sửa bước. Nhơn sanh phải thiện tâm và hết lòng vì đạo đức mới đặng Thần, Thánh chứng minh, mới có thấy ngày kết quả đặng. Thầy vì đức háo sanh nên thâu thập nhiều đứa lương tâm chưa chánh đáng, là Thánh ý để cho chúng nó qui chánh cải tà, nhưng thói phàm tục lung lăng chẳng dứt. Nếu Thầy chẳng lấy đại từ đại bi mà lập Ðạo thì đã để cho chư Thần, Thánh hành hình nặng nề chẳng xiết kể.

Đức Quan Thánh để lời rằng: "Ðời mộng ảo nầy, sự còn mất như bọt nước mây bay, khá qui chánh cải tà, nắm giữ lòng thiện niệm thì một mai mới tránh khỏi bẫy vô thường của Quỉ Vương đương giành xé."

Các Đấng cho bài thi:

Cao Đài khai hội tại Tây trường,
Cải cựu hoán tân chế lệ thương.
Qui chánh cải tà hườn miếu võ.
Tòng chơn khử giả đinh phong cương,
Hông môn thử nhựt tri thành bại,
Xích Bích kim triêu biện nhược cường,
Phụng tấn Long hồi hườn nhứt thổ,
Lập cân hiển hiên buổi huỳnh lương.

 

 

QUI CỔ

歸 古
F:Retourner à l'antiquité.

Qui: Trở về, chịu về theo. Cổ: xưa. Qui cổ là trở lại thời xưa, tức là trở lại thời kỳ Thánh đức mà con người còn giữ được bổn tánh thuần lương (Trở về thời Thánh đức khi xưa).

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Tam trấn Oai-nghiêm thay quyền cho Tam giáo lập Đạo vô-vi, không có hình thể như trước. Bởi nay là thời-kỳ Hạ-nguơn mạt kiếp tức là thời qui cổ, chính mình Đức Chí Tôn giáng trần dùng Huyền-diệu Cơ Bút mới biết đây: các nguyên nhân đắc Đạo trong hai kỳ trước đều tình-nguyện nơi Ngọc-Hư-Cung, giáng trần chịu mạng lịnh nơi Đức Di-Lạc Vương-Phật lo cứu-rỗi 92 ức nguyên-nhân còn say đắm mùi trần. Do vậy, Tam Trấn Oai-nghiêm là ba vị trấn nhậm với một quyền-hành oai nghiêm. Ba vị này thay thế cho các vị Giáo-chủ của Nho- Thích- Đạo để phổ-độ chúng-sanh trong kỳ ba Ân-xá của Đức Chí Tôn".

 

 

QUI ĐIỀU

規 條:
E: The rule.
F: Le règlement.

Qui điều là những qui ước, điều khoảng, luật lệ được lập ra để điều hành một tổ chức, một cơ quan, bắt buộc mọi người trong tổ chức phải nghiêm chỉnh thi hành.

Qui Điều của Ban Thế Đạo là một bản văn do Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài lập ra qui định việc thành lập Ban Thế Đạo, các phẩm Chức sắc, hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, lễ phục, việc cầu phong, thăng thưởng, và kỷ luật. Bản Qui Điều nầy được dâng lên Đức Hộ Pháp và Đức Lý Giáo Tông phê chuẩn.

 

 

QUI HẠC

Qui hạc 龜鶴:Con rùa và con hạc là loài sống lâu lắm. Nói qui hạc là chỉ sự sống lâu trăm tuổi như con qui và con hạc.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Trên Huyền-Mẫu da mồi tóc bạc,
Thụ cửu tuần qui hạc ngày cao.
Dưới màn ấm lạnh âm hao,
Sớm thăm tối viếng biết bao dám rời.

 

 

QUI HỒI


E: To return to
F: Retourner vers.

Qui: Trở về, chịu về theo. Hồi: trở về. Qui hồi là trở về chốn cũ (Trở lại chốn củ, quê xưa).

Qui hồi cố quốc: Trở về nước cũ sau thời gian lưu lạc nơi nước ngoài.

Qui hồi cựu vị: Trở về ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng.

 

 

QUI KHAI

Qui khai 歸开: có nghĩa là mở đường trở về

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Siêu thăng phụng liễn qui khai,
"Tiên-Cung Phật xứ Cao-Đài xướng danh."

 

 

QUI LIỄU

歸 了
E: To die.
F: Mourir.

(Qui là về. Liễu là xong. Tức nhiên là xong phận sự nơi trần thế nên được trở về cõi thiêng liêng). Nói nôm na là chết.

Trong những bài Kinh Thế Đạo, thấy có ghi rõ: 1-Kinh cầu Tổ phụ qui liễu. 2-Kinh tụng cha mẹ qui liễu. 3-Kinh cầu bà con thân bằng cố hữu qui liễu. 4-Kinh tụng khi vợ qui liễu. Ấy là những vị này sau khi làm nhiệm vụ đối với đời như: ông bà, cha mẹ, họ hàng và người vợ đối với cuộc thế, giờ đã xong phận sự nên trở về. Để phân biệt hai vai trò: Với người chồng thì gọi là qui vị. –Còn người vợ thì gọi qui liễu là sao? Tức nhiên người vợ đã làm xong trách nhiệm đối với gia đình, chồng, con, cả cái gánh giang san của nhà chồng. Giờ đây đã được thiêng liêng gọi về tức là đã hoàn thành trách nhiệm. Còn người đàn ông gọi là qui vị tức nhiên trở về ngôi vị, nhưng được đến vị hay không là còn tùy công quả nữa.

Đức Hộ-Pháp nói: "Phật Mẫu khi thấy con cái đến ngày qui liễu, bỏ cái áo xác thịt nầy về với Ngài, Ngài rất vui lòng tiếp rước con cái, như người đàn bà gặp được đứa con yêu dấu cách biệt từ lâu. Ðền thờ nầy là nơi lễ bái Ðức Phật Mẫu trong buổi Nhơn đạo mãn sang hồi cựu vị."

 

 

QUI NGUYÊN

Qui nguyên 歸元 Trở về với ban đầu, hay trở về với gốc.

Ban đầu hay gốc của con người là khí Thái cực của Ngọc Hoàng Thượng Đế chiết ra ban cho con người để làm linh hồn, gọi là Tiểu linh quang. Qui nguyên hay qui hồi cựu vị tức là trở về ngôi vị cũ của mình là khối Đại linh quang (Đại hồn) của Chí Tôn. Người khi cầu nguyện với Thiêng liêng là dùng oai linh để độ rỗi những Chơn linh của Môn đồ Cao Đài (Tín đồ) được trở về với Đức Chí Tôn.

Kinh Đưa Linh Cữu có câu:

"Nam Mô Tam Trấn Hư Vô,
"Oai Nghiêm độ rỗi Cao Đồ qui nguyên."

Bài Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Chuyển-luân định phẩm cao thăng,
"Hư-Vô Bát-Quái trị thần qui nguyên."

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện là vốn Phạm Môn,
Phước Thiện là cửa Thiên đường Phật Tiên.
Phước Thiện thống nhứt qui nguyên,
Phước Thiện là vốn chuồng chiên của Trời.

 

 

QUI NGUYÊN ĐẠI ĐẠO

Qui nguyên Đại Đạo 歸原大道: Trở về cội nguồn Đại-Đạo

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển

Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Chuyển Phật Đạo.
- Chuyển Phật Pháp
- Chuyển Phật Tăng
Qui nguyên Đại Đạo
Tri hồ chư chúng sanh. (Trang 14-Q.1)

 

 

QUI NGUYÊN PHỤC NHỨT

(Qui là gom về, nguyên là một khối, phục: trở lại, nhứt là điểm môt) Qui nguyên là trở về nguồn cội. Phục nhứt: Trở lại thành một. Tức nhiên thống nhất về một khối đem về với một nguồn cội mà thôi. Đây là mục đích của nền Đại-Đạo là "Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhất Ngũ Chi" trong ý muốn của Đức Cao Đài Thượng Đế.

Thầy dạy ngày 24-04-1926 (âl 13-03-Bính Dần):

"Vốn từ trước Thầy lập Ngũ Chi Ðại Ðạo là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Tùy theo phong hóa của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi. Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định Qui Nguyên Phục Nhứt."

Thánh ngôn Thầy dạy năm Bính-Dần (1926) rằng:

"Thầy muốn Qui Nguyên Phục Nhứt là độ rỗi cả Môn đệ Thầy và cả chúng sanh về nơi miền Cực Lạc, song le chúng sanh phần đông ham danh quí lợi, mê tửu đắm tình nơi chốn trầm luân, chơi vơi giữa dòng biển khổ. Than biết bấy nhiêu lần mà chúng nó có thấu đáo đâu? Chúng nó trở lại cắn rứt các con, hăm he giành xé các con. Thầy cũng buồn cho đó".

 

 

QUI NGUYÊN TAM GIÁO PHỤC NHỨT NGŨ CHI


E: To return to the origin and unify.
F: Retourner à origine et unifier.

Nói cho đủ nghĩa phải là "Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi" tức nhiên đây là Tôn chỉ của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là qui ba Đạo chánh lại là Phật-Tiên-Thánh về một mối. Hiệp cả năm Chi: Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo đó là Ngũ Chi Đại Đạo coi như Ngũ Hành dương và Ngũ chi Minh Đạo là Minh Đường, Minh Sư, Minh Tân, Minh Thiện, Minh lý xem như Ngũ hành Âm thành một nền Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, xuất phát tại Việt Nam quốc.

Đức Hộ-Pháp giải thích về Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi:

"Muốn thoát khỏi luân hồi phải làm sao? - Phải đoạt cho đặng cơ bí mật siêu phàm nhập Thánh. Cơ bí mật ấy, nếu không phải Thầy cho thì chưa ắt xin ai mà đặng. Ấy vậy, Đạo là cơ bí mật làm cho kẻ phàm có thể đoạt đặng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Thầy đến Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi để cho chúng sanh hiểu cơ mầu nhiệm mà luyện tinh thần. Thầy đã đến rồi, thoảng muốn lập riêng ra một Tôn giáo khác lại chẳng đặng sao? Lại Qui Tam Giáo và Hiệp Ngũ Chi mà làm gì?

Nếu như kẻ ngoại giáo nói mình bắt chước đoạt cả Đạo của người ta mà làm của mình thì mới nói sao?

Ai ai cũng hiểu rằng:

- Nhơn Đạo dạy tu luyện phần xác.
- Tiên Đạo phần trí thức tinh thần.
- Phật Đạo phần Thiêng liêng Hư vô tịch diệt.

Qui Tam Giáo là gì?

Em xin giải quyết vì cớ nào mà Qui Tam Giáo trước đã, lại luận đủ hình thể và tinh thần cho trọn vẹn.

*Về hình thể:

Ai sanh ra dưới thế nầy cũng phải giữ đủ Tôn chỉ của ba Đạo: Nhơn Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo mới làm đặng hoàn toàn phận sự con người.

Tỉ như Nhơn đạo thì dạy mình vẹn giữ Tam Cang Ngũ Thường, mới biết bổn phận mình đối với xã hội nhơn quần thế nào cho nhơn loại cộng hưởng hòa bình, chẳng nghịch lẫn nhau, không tiêu diệt lẫn nhau mà phải trái hẳn với đức háo sanh của Thượng Đế. Muốn cho nhơn loại đặng lòng hữu ái mà kính mến lẫn nhau thì Tiên Đạo lại dạy ta phải lão luyện tinh thần cho đặng thông minh trí hóa, hầu kiếm phương giúp đỡ binh vực lẫn nhau. Nơi Địa cầu 68 nầy là nơi luyện cảnh (monde expiatoire), chúng ta chẳng những bị ma hồn quỉ xác cám dỗ mà thôi, mà chúng ta lại còn bị thiên tai mộc ách, chúng ta chẳng những phải đối địch cùng sự hung bạo của đời mà thôi, mà ta lại còn phải đối địch cùng các nghiệt bịnh của trời hành xác nữa.

Ôi! Vì vậy mà nhiều bậc văn tài trí sĩ bên Âu Tây cắm cúi cả đời tìm kiếm một phương hay mà sửa đời đặng binh vực nhơn sanh khỏi điều tận diệt. Trí não phải tháo luyện đến đỗi nhiều vị đoạt đặng cơ bí mật của Trời mà làm ra một khoa học, có nhiều phương hay và quá trí khôn của người, nên ta coi các Đấng ấy như là Địa Tiên cũng phải. Khi chúng ta đã đặng đủ khôn ngoan chiếm đoạt cơ bí mật của Trời mà lập ra các cơ khí, nếu không có Phật Giáo dạy ta giữ dạ Từ bi mà cứu độ nhơn sanh thì cái học thức khôn ngoan ấy nó trở lại hại nhơn sanh hơn nữa. Cái lý hữu nhân hữu quả, Em xin để mấy anh mấy chị thẩm nghĩ. Em chỉ tưởng lòng Bác ái từ tâm thì buộc người phải có, bằng chẳng vậy thì dầu cho toàn xã hội đều Công chánh mà có một kẻ bất lương vụ ngã lộn vào thì cũng đủ làm cho xã hội trở nên rối loạn. Biểu sao chúng ta không thấy dưới mắt chúng ta đời chẳng khác nào một buổi chợ mơi: khôn ngoan thì đặng hơn, thiệt thà thì bị ép. Người biết Đạo người thì là trọng mình, mà trọng mình thì phải giữ tinh thần cho tinh tấn. Tinh thần tinh tấn mới đủ tư cách dạy đời làm lành lánh dữ. Ấy là Tam Giáo Qui Nhứt.

Nếu trong một xã hội mà mỗi người đặng vậy thì xã hội đặng hưởng phước hạnh thái bình, còn ước như các xã hội trên mặt Địa cầu nầy đều đặng vậy thì đời mới thế nào? Cái hạnh phước của toàn nhơn loại trên Địa cầu 68 nầy có ngày đặng vậy chăng? Coi lại Tôn chỉ của Đạo thì anh em ta có lòng dám tin chắc rằng sẽ đặng điều hạnh phước ấy không sai.

*Về thiêng liêng:

Trước không có chi trong Càn Khôn Thế giới là vô vi. Thoạt nhiên, hai lằn không khí chẳng biết gốc nơi đâu, kêu là Hư Vô Chi Khí đụng nhau mới có Chơn linh của Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Trái lửa Thái Cực là cơ của hữu hình, vâng lịnh Thầy mà phân ra Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, và biến Bát Quái, nhứt nhứt có trật tự : Ấy là cơ Nhơn Đạo.

Rồi sanh ra vàn vàn muôn muôn Địa cầu cùng khắp trong Càn Khôn thế giới và 72 trái Địa cầu có nhơn loại ở: Ấy là phép biến hóa của Tiên Đạo.

Khi chia mình ra mà lập Càn Khôn thế giới rồi thì khối lửa Thái Cực của Thầy đã tiêu mất trở lại vô vi, tức là cơ mầu nhiệm của Phật Đạo đó vậy.

Bát Quái biến hóa vô cùng mà lập ra các Địa cầu trong Càn Khôn Thế giới và vạn vật mà chúng ta thấy đặng dưới mắt rõ ràng đây. Ấy là một cuộc hữu hình, mà trọn cuộc hữu hình nầy dường như vâng mạng lịnh của một quyền hành Thầy rất lớn, không xâm phạm lẫn nhau mà phải hại. Cơ mầu nhiệm Nhơn Đạo rõ ràng đó vậy.

Mỗi trái Địa cầu có nhơn loại, tức là có chơn linh ở, hằng ngày tô điểm sửa sang làm cho nó đặng đẹp. Hễ Địa cầu đẹp thì tinh thần của các Chơn linh phải tấn hóa thêm cao đến ngày cực điểm văn minh. Ấy là cơ mầu nhiệm của Tiên Đạo.

Chừng Địa cầu đặng toàn hảo, các Chơn linh đặng cực điểm văn minh rồi, dầu hưởng đặng lâu hay mau thì rồi phải bị tiêu diệt. Ấy là cơ mầu nhiệm của Phật Đạo.

*Người lúc chưa vào thai bào thì là Hư vô, khí Âm Dương tương hiệp biến thai ra nhơn hình, tới lúc sanh ra cho đến khi trưởng thành là cơ mầu nhiệm của Nhơn Đạo.

Khi đã trưởng thành lại học tập tu luyện tinh thần cho trí hóa trở nên khôn ngoan, là cơ mầu nhiệm của Tiên Đạo.

Khi già rồi chết, thi hài bị tiêu diệt là cơ mầu nhiệm của Phật Đạo.

Luận qua hiệp Ngũ Chi (theo hình thể)

Ngũ Chi là: Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo. Cả toàn địa cầu nầy, hễ làm người thì có Nhơn Đạo nơi mình rồi, mà mình nong-nã làm ra người hữu dụng cho đời, tức nhiên mình đã hơn người, ấy là Thần Đạo đó vậy.

Hễ hữu dụng cho đời, tức là mình hơn đời, gọi là quán thế, tức nhiên mình làm Thánh Đạo đó vậy. Mình hơn đời là nhờ cái khiếu thông minh nó hứng sự thông suốt của đời dạy mình cho nhiều, rồi lại biến hóa ra thêm, trí hóa phù hạp với cơ huyền vi mầu nhiệm của Trời Đất. Nếu đoạt đặng cơ mầu nhiệm ấy mà làm của mình, rồi lại truyền bá cho cả nhơn loại học hiểu cái biết của mình mà thật hành ra sự hữu ích cho đời, tức là mình làm Tiên Đạo đó vậy.

Biết đời rồi biết mình, rồi biết đến tinh thần mình là Chủ tể của mình, mình biết đặng tinh thần mình rồi, hễ nhờ nó mà Nhơn phẩm mình đặng cao bao nhiêu thì lại càng yêu thương lại nó bấy nhiêu, nên buộc phải lo cho nó đặng thanh tịnh nghỉ ngơi đôi lúc mà đợi ngày thoát xác, tức là làm Phật Đạo đó vậy.

Với các Nguyên nhân thì Ngũ Chi tỉ như một cái thang năm nấc, bắc cho mình leo lên một địa vị ngang bực cùng Thầy, tức là Phật-Đạo đó vậy. Chưa ai nhảy một nhảy mà lên cho tới một từng lầu năm thước bề cao, mà như ai đã để sẵn một cái thang năm nấc, mình có thể lần hồi mà leo lên đặng. Thầy hiệp Ngũ Chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình. Hễ ngồi đặng phẩm nào thì địa vị mình nơi ấy, chẳng ai còn tranh giành ngược ngạo không nhìn nhận cho đặng. Mình là người tức là có sẵn Nhơn phẩm, mình mới luyện Nhơn hồn theo gương của chư Thần mà chúng ta thờ phụng đó, thì tức nhiên cũng đoạt đặng đức tánh của chư Thần mà làm Thần Vị của mình.

Đặng Thần Vị rồi, lại xem gương của các Thánh mà tu luyện Thần hồn mình cho đặng Thánh đức, tức nhiên cũng đoạt đặng Thánh Vị vậy.

Đặng Thánh Vị rồi, cũng luyện Thánh hồn mình theo tánh đức của chư Tiên mà đoạt cho đặng Tiên Vị.

Khi biết mình đã vững nơi Tiên vị rồi thì mình cũng cứ đào luyện Tiên hồn theo gương chư Phật mà gấm ghé vào Phật vị.

Thoảng như có kẻ hỏi: Thần, Thánh, Tiên, Phật xa cách với người như Trời với đất, khác nhau kẻ tục người thanh, thì thế nào người phàm mà mong mỏi leo lên phẩm vị ấy cho xứng đáng? Ta lại đáp như vầy: Dầu cho hạng Hóa nhân đi nữa thì là

- Những Vật-chất-hồn có một điểm Thảo-mộc-hồn như bông đá (Éponge) đó vậy.

- Thảo-mộc có một điểm Thú-hồn như cây mắc cở (Sensitive).

- Thú-hồn có một điểm Nhơn-hồn như loài cầm điểu thì là: két, quạ, cưỡng, nhồng; như tẩu thú thì là: chó, ngựa, khỉ; như ngư thì là cá ông đó vậy.

- Nhơn-hồn có Thần-hồn, đã đành chẳng cần phải giải.

- Thần-hồn có Thánh-hồn, Thánh-hồn có Tiên-hồn, Tiên hồn có Phật-hồn.

Ấy vậy, nơi mình chúng ta đã có sẵn một điểm Thần, Thánh, Tiên, Phật-hồn. Nếu ta biết làm cho chơn hồn tăng tiến lên hoài cho tới phẩm vị Tiên Phật thì phải tập luyện tu hành và đắc kỳ truyền mới đặng. Muốn tu ắt phải có Đạo, vì vậy nên Thầy mới lập Đạo. Đạo thì hữu hình, nếu có kẻ hỏi: Đạo vốn vô vi mà lấy hữu hình lập thành thì thế nào đắc đạo vô vi cho đặng? Ta lại đáp rằng: Không hữu hình, vô vi cũng khó có; mà chẳng có vô vi thì hữu hình vốn không bền vững, tỉ như hồn với xác ta đây vậy. Không hồn thì xác phải tiêu diệt, mà có xác không hồn cũng không cơ khí mà lập thành nên đạo người vẹn vẻ. Hai đàng phải tương hiệp nhau mới đặng hoàn toàn.

Ấy vậy, có vô vi ắt có hữu hình. Chánh pháp và Hội Thánh là hữu hình, mà hữu hình ấy nó phù hạp với luật lệ Thiên-điều và đối chiếu với Cửu-Thiên Khai-Hóa. Luật Đạo ấy là Thiên điều, còn Hội Thánh là chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế đó vậy."

Thầy dạy: "Thầy muốn Qui Nguyên Phục Nhứt là độ rỗi cả Môn đệ Thầy và cả chúng sanh về nơi miền Cực Lạc, song le chúng sanh phần đông ham danh quí lợi, mê tửu đắm tình nơi chốn trầm luân, chơi vơi giữa dòng biển khổ.

Than biết bấy nhiêu lần mà chúng nó có thấu đáo đâu? Chúng nó trở lại cắn rứt các con, hăm he giành xé các con. Thầy cũng buồn cho đó." [Năm Bính Dần (1926)]

Do Thiên-Thơ tiền định đến thời kỳ chuyển-giáo cho nên phải có Ðạo CAO-ÐÀI.

BÀI THI CỦA ÐỨC CHÍ-TÔN
(Giáng cơ dạy buổi ban sơ)

Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,
Tam-giáo qui nguyên dữ cộng đồng.
Phật-Pháp khuyến nhơn qui mỹ-tục,
Nho-Tông phục thế hưởng thuần-phong.
Diệu-huyền Chơn Ðạo tu tông hướng,
Mê hoặc tà mưu khả tự phòng.
Thế thượng dục tri Thiên-Sứ đáo,
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ lập kỳ công.

 

 

QUI NHỨT


E: The unification.
F: L’unification.

Qui: Trở về, chịu về theo. Nhứt: một. Qui nhứt là đem trở về một mối.

Nhứt bổn tán vạn thù, Vạn thù qui nhứt bổn: Một gốc phân ra muôn hình khác nhau, muôn hình khác nhau hiệp trở về một gốc.

Cơ qui nhứt là cơ quan có nhiệm vụ qui hiệp tất cả về một mối. Cơ qui nhứt ở đây cũng có nghĩa là cơ quan qui nguyên Tam giáo và Phục nhứt Ngũ chi.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: Mà ba đạo vẫn khác nhau, nội dung ngoại dung đều khác hẳn, luật lệ vốn không đồng, chỉ nhờ Tân Luật làm cơ qui nhứt.

Đức Hộ-Pháp nói: "Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp Tín ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi. Nắm cả Tín-ngưỡng của loài người lại, chính CHÍ TÔN là CHÚA TỂ Càn Khôn Thế Giái, làm CHÚA nền chính trị tại nước NAM, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập QUỐC ĐẠO."

 

 

QUI PHÀM

歸 凡
E: To materialize.
F: Matérialiser.

(Qui là trở về, làm lại từ đầu. Phàm là thường, là còn kém cỏi, như trí phàm, tâm phàm…). Qui phàm là làm cho sút kém, suy giảm, không còn ở mức cao thượng, tốt đẹp nữa.

Pháp Chánh Truyền: "Thầy đã nói Ngũ Chi Ðại Ðạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra Phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy-dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa."

Qui phàm như thế nào? Đức Hộ-Pháp nói: "Các vì Giáo Chủ ngày xưa tiên tri rằng: Buổi sau nầy, Tam giáo phải qui phàm, nên có để lời trong Sấm truyền:

- Như trong Phật Tông Nguyên Lý, Đức Thích Ca có nói: "Lục vạn dư niên Thiên khai Huỳnh Đạo".

- Còn Nho giáo, Đức Khổng Tử nói: "Mạt hậu Tam Kỳ Thiên khai Huỳnh Đạo".

- Đức Chúa Jésus khi bị đóng đinh trên cây Thánh giá có nói tiên tri với các Môn đồ rằng: Trong 2000 năm Tận thế, Ta sẽ đến Phán Xét cho nhơn loại một lần nữa và Ngài nói: Còn nhiều chuồng chiên, sau Đức Chúa Cha sẽ qui về một mối.

Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vị Giáo chủ ngày xưa. Chỉ có phương diện là do nơi Tam giáo thất chơn truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hạp theo dân trí buổi nầy, mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh. Hiệp cả tinh thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA Chung, mà thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ một nền Tôn Giáo Đại Đồng, thì nhơn loại mới đặng gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn loại mới chung hưởng Hòa bình, phục lại đời thượng cổ, là do nơi Thiên Thơ tiền định, buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu nghinh tân".

 

 

QUI PHÀM MÀ RA TẢ ĐẠO

Tòa Thánh, tháng 4-Mậu Thìn (dl: tháng 5-1928)

Thầy, các con. "Ứ hự! Con đứa lớn không nên lớn, đứa nhỏ không nên nhỏ, uổng công Thầy dạy dỗ từ bấy lâu nay lắm! Một nền đạo đức mà ra mất giá cũng tại nơi các con đó. Thầy đã lập trọn vẹn tư cách của nó, các con chỉ còn có ra công tô điểm cho nên mỹ lệ, mà các con để nông nỗi như vầy, Thầy cũng muốn bỏ đi đó chút, nhưng mà đoái đến nhơn sanh và công lao khó nhọc của nhiều kẻ nên dạ không đành, mà giận cái ngây dại của các con mà thêm nỗi nầy. Thầy đã sắm sẵn đẳng cấp trật tự, quyền lịnh cho các con mà các con chẳng biết phận sự của mình, biểu sao nền Đạo không bị đạp đổ, khi dể phẩm vị Thiên phong.

Cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chinh lòng, muốn toan phế hủy. Đạo mới ra loạn lạc dường ấy. Nay đã biết rằng kế thử nhơn sanh, làm cho hiểu rằng không Thầy nâng đỡ thì dầu cho một mối Đạo nào chơn chánh, hiệp lý thiêng liêng đi nữa, thì cũng phải bị nơi tay các con mà qui phàm ra Tả đạo, mặc dầu chớ Thầy rất phiền các con không nhớ lời Thầy đã tiên tri mọi điều cho các con biết trước hết. Vì vậy mà làm cho Thầy rất tiếc công khó nhọc với các con từ khi Thầy đến dạy dỗ.

Nhiều đứa dám lộng ngôn gọi sức mình là đủ, không giữ hạnh khiêm cung, phải đắc tội cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Mưu mưu kế kế hại lẫn với nhau, Thầy đã dự định cho mỗi đứa đủ quyền kềm thúc lấy nhau, đặng giữ gìn Thánh đức yêu sanh của Thầy mà binh vực lấy nhau, mà chẳng một đứa nào biết ngó đến phẩm giá mình, làm cho cả nhơn sanh phiền muộn. Nếu Thầy phải chịu thất vọng một phen nầy nữa thì toàn địa cầu 68 phải bị đọa đời đời kiếp kiếp.

Thảm thay cho nhơn loại! Đau đớn thay cho nhơn loại! Thầy cho các con biết trước rằng: Ngọc Hư Cung hằng để ý vào công cán của các con và tội tình của các con. Thầy nhứt định không dạy dỗ chi nữa hết, song Thầy dặn các con một điều là cứ tuân y Luật lệ và Thánh Ngôn của Thầy mà hành đạo".

 

 

QUI PHÁP

Qui pháp : Gom các pháp lại làm một (Đạo ).

Đức Hộ-Pháp dạy: "Năm cây hương tượng Ngũ Khí mà biến thành Ngũ Hành vận chuyển cả Càn Khôn thế-giới tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi chất đều có mỗi sắc, mỗi sắc đều có mỗi Khí, mùi vị và sanh quang của nó chúng ta không thể hưởng được, nghe được, nên khi làm Lễ đốt đủ năm cây nhang là đúng theo phép tín-ngưỡng là Qui pháp lại, mọi vật trong Ngũ Khí dâng lễ cho Chí-Tôn chỉ có Người vui hưởng Qui pháp ấy mà thôi, cắt nghĩa rõ-rệt là NGŨ KHÍ đó vậy. Đúng hơn nữa là trong Bát hồn vận-chuyển được phải nhờ đến Ngũ Khí cùng một ý nghĩa "Vạn-vật đồng thinh niệm Chí-Tôn."

 

 

QUI THIÊN LƯƠNG

Qui: Trở về, chịu về theo. Thiên: Trời. Lương: tốt lành.

Thiên lương là cái phần tốt đẹp và lành mà Trời ban cho mỗi người để con người biết được điều hay lẽ phải. Cái Thiên lương ấy chính là cái tánh bổn thiện, cái Lương tri Lương năng, mà Phật giáo gọi là Phật tánh.

Cái Thiên lương ấy vốn lành và sáng suốt, nhưng vì Lục dục Thất tình che lấp làm cho nó lu lờ, khiến cho con người làm nhiều điều sái quấy, gian ác, trái với Thiên lý.

Qui Thiên lương là đem cái Thiên lương ấy trở về làm chủ con người, làm chủ Lục dục Thất tình, để con người từ bỏ đường ác, trở lại đường lành, làm điều hay sự phải, hợp với Thiên lý (Gom tính bản thiện, tính lành mà trời đã ban cho không hề thay đổi).

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Hiệp vạn-chủng nhứt môn đồng mạch
"Qui thiên lương quyết sách vận trù."

 

 

QUI THIỆN


E: To return to the Heaven.
F: Retourner au Ciel.

Lập trường Qui-thiện là cốt yếu đem lòng lành của toàn thể con cái Đức Chí-Tôn hiệp nhứt cùng nhau làm một đặng bảo thủ Chơn Truyền của Đạo. Hiện nay: Thiên hạ đều hung bạo, vì lẽ hung bạo làm cho anh nghịch em, em hận anh, trong cửa Đạo không có một vẻ chi là Đạo hết. Đức Thượng Phẩm giáng dạy tại Đền Thờ Phật Mẫu Qui Thiện, đêm 26-10-Canh Dần (dl 5-12-1950) giải thích rằng:

Qui Thiện là gì? "Bần Đạo chẳng cần luận chi cao xa hơn nữa, chỉ nhắc các em nhớ đến hai chữ Qui Thiện thì đủ. Qui tức là hợp lại thành đoàn thể, Thiện là những kẻ biết ham chuộng sự hiền lương, hoặc những người thức thời, biết chê đời mến Đạo. Vậy thì Qui Thiện Đường là nơi qui tụ những người đã nhận thức sự thiệt về giá trị và sở hành của mình, đã có sẵn một tâm hồn cao thượng nên biết rõ cái mất cái còn, hoặc biết cân phân điều hơn lẽ thiệt. Bần đạo cũng khen các em đó. Ở đời, mọi sự đều giả, cho đến mảnh thân của chúng ta cũng không được tồn tại. Nếu ai đã mê theo đường danh bể hoạn hiện thời thì tất nhiên họ sẽ chuốc lấy sự mất ở ngày mai; chỉ những kẻ đi tìm sự mất ở đời và sớm dắt mình vào khuôn khổ vị tha, bản tâm luôn luôn sẵn sàng phụng sự cho người đời, kẻ nghèo, kẻ đau, kẻ yếu, mới được còn mảy may mà thôi. Giá trị cùng chăng, quí trọng cùng chăng là do nơi hành động phi phàm hay cùng không phi phàm đó thôi. Chơn truyền của Phước Thiện là thay thế Đức Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không vợ không chồng, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Có như vậy mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ của Đức Chí Tôn để mơi mặt thế nầy. Các có em hiểu chưa?

- Nếu các em đã nhận thức rõ rệt về Chơn truyền của Phước Thiện thì phải cố gắng tự đặt mình vào nơi khuôn khổ ấy, dâng trọn mảnh thân phàm nầy làm con tế vật cho Đức Chí Tôn để phụng sự cho con cái của Người, để Người khỏi mỏi lòng trông đợi. Các em phải tự hỏi lấy mình hằng ngày rằng: Nhơn loại đã hết khổ chưa? Và nhơn loại đã hưởng được mảy may hạnh phúc gì chưa? Do nơi hành động của các em, nếu thấy rằng nhơn loại hết khổ và hưởng được một đôi điều hạnh phúc thì phận sự của các em mới xong. Có thể được không các em? - Hiện nay sự thật y như em Trấn nói, nhưng ở ngày mai, Đức Chí Tôn quả quyết làm cho nhơn loại hết khổ đối với mắt phàm và trí phàm của chúng sanh, nhưng cơ quan cứu khổ của Chí Tôn phải thật hiện cho kỳ được, điều đó là ân huệ của Chí Tôn đã định ban cho nhơn loại trong thời mạt kiếp nầy.

- Đó là tại số kiếp của những kẻ vô phần, đã đứng trong lòng yêu ái đùm bọc của Đức Chí Tôn mà chẳng biết gìn giữ đặng hưởng. Lại nữa, đó là cơ xáo trộn thử thách của Đức Chí Tôn. Đức Chí Tôn đã thường nói rằng: Ma Ma, Phật Phật, hai đường, ai muốn đi đường nào thì đi. Các em có thương họ thì nhắc nhở giùm họ vậy thôi. Các em nam nữ nơi Qui Thiện Đường ráng nhớ những lời của Bần đạo đa nghe. Bần đạo lúc nào cũng phò hộ các em về mặt vô hình, cũng như Đức Hộ Pháp giúp đỡ chỉ dạy chăm sóc các em về mặt hữu hình vậy".

*Đơn xin đấp lộ của ông Giám-Đốc trường Qui-Thiện ( ngày 20-11- Mậu-Tý)

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Lịnh cho toàn-thể bổn đạo từ Giang-Tân, Bến Kéo, Cây-Chò, Trường-Hòa, Qui-Thiện, Thánh-Địa Tòa Thánh chung sức nhau làm cho thành con đường chung quanh Châu Thành Tây-Ninh, từ chợ Thái-Hiệp Thạnh ra Bến-Kéo xuống Trường-Hòa vô Qui-Thiện lên Tòa Thánh thẳng vào Núi trở ra Châu-Thành, con đường ấy khi hoàn thành sẽ có tay Chánh-Phủ tráng đá, phải làm lề ruộng mương to cho nước đủ chảy, nơi nào phải đặt cống thì làm cống, cây Cầu bắc ngang từ Qui-Thiện qua suối đi nhà Tịnh phải làm tạm bằng cây và đường đủ rộng cho xe hơi camion chạy đặng, bất kỳ đất của ai hễ phóng hoa tiêu con đường đi ngang qua thì cũng không đặng phép ngăn cản." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

QUI TIÊN

歸 仙
E: To return to the Paradise.
F: Retourner au Paradis

Qui Tiên 歸仙: Trở về cảnh Tiên giới, ý nói được siêu thoát.

 

 

QUI TỤ

Qui tụ 歸聚: Nhóm họp về một nơi, một chỗ.

Đức Hộ-Pháp nói: "QUỐC-ĐẠO này Ngài qui-tụ tinh thần đạo đức, trí-thức toàn nhơn-loại cho đặc biệt: có cao, có thấp, có hàng ngũ, có phẩm giá; còn về phần xác thịt của người đời, mạng sống trước mặt Ngài không ai hơn ai, cả thảy sống đồng sống, chết đồng chết đặng đem QUỐC-ĐẠO làm mô-giới cả Đại-Đồng đặng tạo tương-lai loài người cho có địa-vị oai quyền, cao-thượng. Nếu thoảng hiểu đặng thì Thánh-thể cũng vậy".

 

 

QUI Ư CỰC LẠC

歸 於 極 樂
E: To return to the Nirvana.
F: Retourner au Nirvana.

Qui: Trở về, chịu về theo. Ư: tại, nơi. Cực Lạc: nơi hoàn toàn an vui hạnh phúc. Đó là cõi Cực Lạc Niết Bàn hay Cực Lạc Thế Giới. Qui ư Cực Lạc là trở về nơi cõi Niết Bàn, tức là đắc đạo, rời bỏ xác trần, linh hồn lên cõi Niết Bàn.

Di Lạc Chơn Kinh:

"Năng trừ ma chướng quỉ tai, năng cứu khổ ách nghiệt chướng,Năng độ chúng sanh qui ư cực lạc tất đắc giải thoát."

 

 

QUI VỊ

歸 位
E: To die.
F: Mourir.

Qui vị 歸位:trở về ngôi vị củ nơi cảnh thiêng-liêng.

Đức Cửu Thiên Huyền Nữ giáng nói: "Thiếp chào Tam vị Ðạo Hữu. Phải tu tâm dưỡng tánh, phòng ngày sau đặng qui vị." (12 giờ khuya ngày 20-10-1925).

 

 

QUI Y

歸 依
E: To follow Caodaism.
F: Suivre Caodaïsme.

Qui: Trở về, chịu về theo. Y: nương theo. Qui y là đem mình nương theo Phật đạo (Vào chùa tu, nương mình nơi cửa Phật).

Nghĩa tổng quát của Qui y là theo đạo tu hành.

Người đời, muốn theo đạo Phật thì đến chùa cho vị Hòa Thượng trụ trì làm lễ thọ "Tam qui, Ngũ giới"

Tam qui là Qui y Tam bảo, nghĩa là: Qui y Phật, Qui y Pháp, Qui y Tăng. Ngũ giới là Ngũ giới cấm.

Đức Chí Tôn cho ông Phạm Tấn Đãi (sau là Khai Đạo Hiệp Thiên-Đài) bốn câu thi sau:

Dằn lòng len lỏi hãy qui y,
Nay gặp Ta đây đã đến kỳ.
Oanh liệt hồng trần e phải khổ,
Tầm đường đạo đức tránh đường nguy.

 

 

QUI Y THỌ PHÁI

Đức Hộ-Pháp nói: "Bởi cớ cho nên Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy, cạo đầu phế cả cái sống của mình gọi là qui y thọ phái vô chùa gởi thân trong cửa Phạm, cửa Đức Phật Thích Ca đặng tìm phương an ủi hay là hay hơn nữa đủ trí thức, đủ tự giác để đào tạo cái quả kiếp tương lai của mình, thật ra chơn lý ấy của nhà Phật an ủi một cách mạnh mẽ các tâm hồn bị đau khổ".

 

 

QUÍ (LÝ TRỌNG QUÍ) (Tên)

Ngày 30-12-Ất Sửu (dl: 12-2-1926) hiệp với ông Ngô Văn Chiêu. Là trong số 12 Môn đệ đầu tiên của Đấng Chí Tôn, kỷ niệm qua bài thi, câu "BẢN, đạo khai SANG, QUÍ, GIẢNG thành". Cách đây ít ngày, Đức Thượng Đế giáng cơ dạy mấy ông: Trung, Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức phải hiệp với ông Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo.

Ngài lại dạy rằng, mỗi mỗi phải do nơi ông Chiêu là Anh Cả. Lúc nầy trong Đạo kể được 13 người:

1-Ngô Văn Chiêu

 

2-Lê Văn Trung

 

3-Vương Quan Kỳ

4-Nguyễn Văn Hoài

 

5-Đoàn Văn Bản

 

6-Võ Văn Sang

7-Lê Văn Giảng

 

8-Lý Trọng Quí

 

9-Cao Quỳnh Cư

10-Phạm Công Tắc

 

11-Cao Hoài Sang

 

 

12-Nguyễn Trung Hậu

 

13-Trương Hữu Đức.

 

 

Đến đêm 30 tháng chạp năm Ất Sửu (dl 12-2-1926), Đấng Thượng Đế giáng cơ cho mỗi người một bài thi Đêm nay, hai ông Trương Hữu Đức và Cao Hoài Sang vắng mặt, thế nên hai vị này Đức Thượng Đế không cho Thi.

- Bài thi cho ông Lý Trọng Quí:

Lỡ một buổi lướt một ngày,
Một lòng thành thật chớ đơn sai.
Lôi thôi buổi trước nhiều ân xá,
Lấp lửng đừng làm tội bữa nay.

 

 

QUÍ CAO (Huỳnh Thiên Kiều) (Tên)

Quí-Cao tên thật là Huỳnh-Thiên Kiều, là một thi-sĩ. Ông là người thuở sanh tiền giúp việc sở tuần thành, bổ vào Dinh Đốc-lý Sàigòn, coi về sở Patentes. Người ấy, ở Sàigòn rất nhiều người biết tiếng, khi còn ở thế có nhập vào Hội-Thi-Xã. Nguyên trước đây là bạn với Ông Nguyễn Trung-Hậu, hiệu là Thuần Đức (sau đắc phong vào Hiệp Thiên-Đài, phẩm Bảo Pháp Chơn-Quân). Quí ông ban đầu định thử cầu các vị quá vãng để xem sự linh-ứng thế nào. Quả nhiên, các vị Thần Tiên giáng đàn và thi họa với nhau thật là tâm đắc và cứ tiếp diễn trong tình thơ Tiên tục. Sau đó, Ông Quí-Cao giáng nhắc sơ đến tình cố hữu:

Nhắn-nhủ mấy Anh một ít lời,
Làn mây hồn trẻ đã xa chơi.
Mẹ già nỗi hiếu chưa rồi Đạo,
Vợ yếu niềm duyên chẳng trọn đời.
Chạnh nhớ quê xưa lòng xót-xáy,
Buồn trông làng cũ mắt chơi-vơi.
Ai về gởi lại tình sông núi?
Kiếp khác Ơn sinh sẽ đắp bồi
                        (Quí-Cao)

Ông Nguyễn-Trung-Hậu khi nghe được tin ấy bèn đến nhà Ông Cao Quỳnh-Cư mà xin ông Xây bàn để thỉnh Ông Quí Cao về chơi. Ba Ông Cư, Tắc, Sang đem bàn ra, thắp nhang vái ông Quí-Cao rồi các Ông bắt đầu cuộc Xây bàn tiếp điển, Ông Hậu sẵn-sàng bút viết để ghi chép, một lát sau thì có chơn-linh của Quí-Cao giáng cho bài thi:

Âm dương tuy cách cũng chung trời,
Sanh tịch đời người có bấy thôi.
Chén rượu đồng tâm nghiêng-ngửa đổ.
Thương nhau nhắn-nhủ một đôi lời.
                        Quí Cao

Ông Hậu vẫn còn nửa tin, nửa ngờ, Ông bèn nói rằng: Tôi sẵn có làm một bài thi đem theo đây, xin đọc cho Anh nghe và xin Anh họa lại chơi cho vui (Ấy cũng muốn thử về sự linh ứng). Bài thơ của Ông Hậu như vầy:

Mấy năm vùng-vẫy cũng tay không,
Nào khác chiêm-bao một giấc nồng.
Cữ nắng tuần mưa dày-dạn mặt.
Mồi danh bã lợi ngẩn-ngơ lòng.
Ngày qua thỏn-mỏn xuân thu dập.
Gương rạng phui-pha cát bụi lồng.
Chừ gặp cố-nhân lời ướm hỏi,
Hỏi ra cho biết nẻo cùng thông.
                        (Nguyễn-Trung-Hậu)

Ông Quí-Cao bèn giáng hoạ ngay:

Một tiếng U-minh gióng cửa Không,
Phồn-hoa giục tỉnh giấc đương nồng.
Ngồi thuyền Bát-Nhã qua tình biển.
Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng.
Cuộc thế lạnh-lùng làn gió lọt.
Đường đời ngán-ngẫm bụi trần lồng,
Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Đạo,
Oan-trái phủi rồi phép Phật thông.

Ngày 5 tháng 8 Ất-Sửu (dl 22-8-1925) các Ngài vừa họp lại bàn, thì Tiên Nương Vương-Thị-Lễ giáng để trình diện một vị Tiên mới đến, xin ra mắt quí Ngài. Rất mừng rỡ liền mời tân khách giáng vào; đoạn Tiên Nương giáng linh rằng:

- Em là Hớn-Liên-Bạch, xin hiến một bài thi ra mắt mấy Anh; song, xin mấy Anh chớ nệ chi về văn chương hay dở!

- Ông Cao-Hoài-Sang liền tiếp rằng: Tôi vừa nghe Cô Vương-Thị-Lễ nói thi-văn của Cô hay lắm; vậy tôi xin ra đề (ý của Ông Sang chưa tin cho mấy, e vì các ông bịa đặt mà giả mạo gạt chăng). Tiên Nương bằng lòng, Ông Cao-Hoài-Sang suy nghĩ ra đề-tài là "Tiễn-biệt tình lang".Thật ra thì ông cũng chưa thật tin rằng có được sự huyền diệu như vậy, nên ra đề thi, là một cách thử-thách khéo léo vậy thôi. Lời thơ dìu dặt:

TIỄN BIỆT TÌNH LANG

Chia gương căn-dặn buổi Trường-đình,
Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.
Bước rẻ ngùi trông con ác xế.
Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.
Ngày chờ mây án ngàn dâu khuất,
Đêm bặt đèn khuya một bóng nhìn.
Lần lựa cô phòng xuân thỏn-mỏn.
Xa xuôi ai thấu nỗi đinh-ninh.
                        (Bát Nương- Hớn-Liên-Bạch)

Dứt bài thi, các Ông hết lời khen tặng: Văn thiệt là quán thế! Việc Xây bàn có kết quả như vây, bây giờ các ông mời Ông Huỳnh-Thiên Kiều tức là Quí Cao về, giáng hoà nguyên vận bài thi của Bát-Nương:

Ình-ình trống giục thảm Trường-đình,
Đau nỗi chia phôi một chữ tình.
Hồng-nhạn đưa tin trông vắng dạng,
Phụng lầu gác quyển đợi hòa thinh.
Vầng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó,
Một mảnh gương treo biếng mắt nhìn.
Kẻ ở phương trời người góc bể,
Lòng thành nhắn gởi chữ khương-ninh.
                        (Quí Cao)

Tình thơ Tiên tục tiếp diễn: Gặp lúc mấy ông đương mê thi-văn, lại có người thơ tuyệt-bút, ấy là Bát Nương, đến giáng vào, đề một bài thi: Vịnh Xuân:

Ngàn liễu khoe xuân cảnh rỡ màu,
Xuân nồng vườn ngự vẻ thanh tao.
Chào xuân ác lố trăm lằn rạng,
Ghẹo liễu trăng soi một sắc làu.
Thơ-thới cành hôm, hoa đọng ngọc,
Êm-đềm dạo tối, cỏ đeo châu.
Đượm bầu nhân sự xuân qua lại,
Khuất bóng xuân sang khách luống sầu.
                        (Hớn-Liên-Bạch kỉnh hiến)

*Vào ngày 13-11-1925 Ông Quí-Cao giáng cho Thi:

Thương nhau nhớ lúc xướng thơ hòa,
Sanh tịch đôi đàng phải cách xa.
Chén rượu đồng tâm nghiêng-ngửa đổ,
Biệt ly này trách bấy Trời già.

Ông Nguyễn-Trung-Hậu tự Thuần-Đức họa lại ngay bài thơ của ông Quí-Cao giáng:

Đêm khuya tịch-mịch gió Thu hòa,
Chạnh nghĩa Kim-bằng dạ xót xa.
Đạo-lý những mong vầy một cửa,
Ngừa đâu rời-rã buổi chưa già.
                        (Nguyễn-Trung-Hậu)

Đức Thượng-Phẩm họa lại bài thơ của Quí-Cao:

Mừng Bạn hôm nay đặng hiệp-hòa,
Âm Dương dường gẫm chẳng bao xa.
Nhìn văn mà chẳng trông hình dạng
Gặp mặt còn mong đợi tuổi già.
                        (Cao-Quỳnh-Cư)

.*Ngày 12-10-Ất Sửu (dl: 27-11-1925) Qúi Cao giáng cho thi:

Tử sanh dĩ định tự Thiên kỳ,
Tái ngộ đồng hoan hội nhất chi.
Bắc Ngụy quan vân tâm mộ hữu,
Giang Ðông khán thụ lụy triêm y.

Ngày 28-11-1925 Thất-Nương giáng giải nghĩa hai câu chót của bài Thi trên:

"Bắc Ngụy quan vân tâm mộ hữu,
"Giang Ðông khán thụ lụy triêm y"

Khi Như Hoành ở Bắc Ngụy đi thuyết chiến bên Giang Ðông gặp Bạch Hàm thì tâm đầu ý hiệp, kết làm anh em. Đến khi Như Hoành trở về Ngụy thì anh em khó phân tay.

Như Hoành than rằng: "Bắc Ngụy văn thiên thụ".

Bạch Hàm than rằng: "Giang Ðông nhất mộ vân".

Nghĩa là ngó Bắc Ngụy nghe ngàn cây đưa tiếng bạn.

Nhìn Giang Ðông thấy khóm mây vẽ hình anh.

*Ngày 16-1-1926 (âl 3-12-Ất Sửu) Hôm nay Quí-Cao đến giáng nói: "Ðã lâu mà không dám nói, vì em còn phải tu như hai anh vậy. Không dám nói vì hai anh có Thầy, em không dám lộng quyền." Cho Thi:

Tu như cỏ úa gặp mù sương,
Ðạo vốn cây che mát mẻ đường.
Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng,
Ðôi năm mệt nhọc vạn năm bường.
Có Thần nuôi nấng Thần càng mạnh,
Luyện Khí thông thương Khí mới tường.
Nhập thể lòng trong gìn tịnh mẫn,
Nguồn Tiên ngọn Phật mới nhằm phương
                        (Huỳnh-Thiên-Kiều hiệu là Quí-Cao)

(Giải thích: Phương là hướng, là đường đi. Tường là lành. Bường là bình. Tịnh mẫn là êm sáng. Nhập thể là đem Thần vào mình đặng êm sáng). Từ đây, xin Nhị huynh hỏi Thầy, đừng hỏi Em, Em nói mà phạm tội. Em xin kiếu.

Định luật ngàn đời: "Bèo hợp để rồi tan, trăng tròn rồi lại khuyết". Có cơn mưa nào mà không tạnh, có cuộc họp nào mà chẳng tàn. Buồn xa cách nhớ. Tiên tục cũng dường như nhau! Hôm nay Ông Quí-Cao đến cho thi:

Buồn xa cách mặt dễ xa lòng,
Nhờ dạy thi văn mới đặng ròng.
Cái nghĩa đệ huynh là nghĩa trọng,
Thâm tình cố cựu mấy thu đông.
                        (Huỳnh-Thiên-Kiều tự là Quí-Cao)

Thất Nương cũng đến từ giã, xem như xong một "khóa Trường Tiên" rồi: bảy tháng. Tiên Nương trách nhẹ rằng:

Bạc tình chi lắm hỡi ai ơi!
Bảy tháng chung vui đã mất rồi.
Khi hứng trăng thơ khi gió sách,
Ðèn khuya nay luống một mình thôi.

 

 

QUỈ DẠ XOA

Quỉ Dạ xoa 鬼夜叉:loài quỷ có hình thù kỳ dị, rất hung dữ ở dưới địa ngục chuyên tra khảo tội nhân.

Kinh Sám Hối có câu:

"Cột trói ngược quá kinh rất lạ,
"Quỉ Dạ-xoa đánh vả kẹp cưa."

 

 

QUỈ DỖ DÀNH

Một sự dẫn dắt của người khác làm cho sai trái với đạo đức hoặc đạo lý luân thường, ấy là tâm của tà quái quỉ vương ám hại, gọi là "Quỉ dỗ dành".

Thầy dạy ngày 29-01-Bính Dần (dl: 13-03-1926)

"Thầy nói cho các con hiểu rằng, muốn xứng đáng làm Môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm môn đệ Thầy thì là Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước; còn ngã thì cửa Ðịa Ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét, ai thấu đáo vậy ôi! Bởi vậy cho nên, Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành".

 

 

QUỈ KHÍ

鬼 氣
E: The evil spirit.
F: L’esprit errant (mauvai)

Quỉ: Ma quỉ. Khí: phần vô hình, ý nói: chơn thần, linh hồn. Quỉ khí đồng nghĩa với Quỉ hồn, là linh hồn của quỉ.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Trụ căn quỉ khí cửu-tuyền,
"Quảng khai thiên thượng tạo quyền chí công."

 

 

QUỈ LỘNG

Đức Hộ-Pháp nói: "Ban sơ, buổi Chí Tôn mới giao cho Bần Ðạo tại Từ Lâm Tự, cái khó là trí óc vẫn lo ra, vì không quen, không phải mình làm thầy phù, thầy pháp gì ổng giao cho học mãi làm không trúng. Vì cớ nên mới có quỉ lộng tại Từ Lâm Tự buổi nọ, các ấn khác của Hộ Pháp có linh hay không mà quỉ lộng? Ấy là Thiên Cơ khiến vậy. Chí Tôn mở Tam Thập Lục Ðộng coi có phá nổi Ngài không? Có thể làm cho tiêu diệt nền Chánh Giáo không? Ðể cho chúng sanh thí nghiệm mà thay quyền năng vô tận của Ngài. Buổi nọ vì thời gian ngắn ngủi, nên công việc chưa rành rẽ, vì không đủ thì giờ để chuyên luyện, hoặc cho là chưa trọng hệ cho lắm, nên có điều sơ lược. Ðó là Thánh ý của Ðức Chí Tôn muốn như vậy."

 

 

QUỈ MỊ

鬼 媚:
F: Diable, démon, les sprits mauvais.

Quỉ: Ma quỉ. Mị: quyến rũ, mê hoặc người để làm hại người. Quỉ mị là loài ma quỷ quyến rũ, mê hoặc và làm hại người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy đã nói bầy hổ lang, lũ quỉ mị đã sẵn bên mình của mỗi đứa mà con lớn nhỏ gì cũng chẳng để ý đến.

 

 

QUỈ NHÂN

Quỉ nhân là chỉ con người, nhưng tâm hồn không có đạo đức, luôn luôn làm chuyện trái nghịch với thế tình cốt gây xáo trộn trật tự an ninh và gây đau khổ cho người khác. Trong số ba bậc phẩm nhơn sanh thì Quỉ nhân là hạng người thấp nhất, chỉ được xếp vào hàng Quỉ vi. Tuy nhiên nếu những hạng người này mà biết hướng thiện thì cũng được dự vào cơ Đại Ân xá của Chí-Tôn.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Trùng huờn phục vị Thiên môn,
"Nguơn linh, Hóa chủng, Quỉ hồn nhứt thăng".

Tức nhiên ngày nay là Cơ Đại ân xá của Chí Tôn, thì tất cả ba bậc phẩm nhơn sanh này được về cùng một lượt, nên gọi là "Trùng huờn", khác với những lần phổ độ trước là phải tuần tự, nên câu Kinh là "Tuần hườn phục vị Thiên môn" là vậy.

Pháp Chánh Truyền: "Quỉ nhân là hai chơn linh kia xu hướng ác hành mà bị đọa đày vào Quỉ vị. Quỉ sanh là hai phẩm kia phạm Thiên Ðiều bị sa đọa. Trong các kiếp hữu sanh, duy có phẩm người là cao hơn hết, nên gọi là Thượng Sanh. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ này, Thầy đem các chơn linh dầu nguyên sanh, quỉ sanh hay là hóa sanh lên phẩm vị nhơn loại mới trọn câu Phổ Độ. Chơn linh các Nguyên nhân bị đọa trần, Quỉ nhơn chuộc tội hay là Hóa nhân thăng cấp đều nhờ Thượng Sanh độ rỗi (ấy là Thế độ). Nên Thượng Sanh làm chủ của Thế Ðạo, nắm luật thế nơi tay, mà dìu dắt cả chúng sanh vào cửa Ðạo."

 

 

QUỈ QUYỀN

Quỉ: Ma quỉ. Quyền: quyền hành. Quỉ quyền là quyền hành của loài quỉ.

Cái quyền hành đó có được là do Đức Chí Tôn ban cho nó để nó thử thách người tu, khảo duợt người tu để xem chơn giả. Nếu người tu nào vượt qua được thì mới xứng đáng đắc quả.

Đức Hộ-Pháp nói rằng: "Khi Đạo mới phôi thai thì các quỉ-quyền toan diệt Đạo. Buổi sơ sanh Đạo yếu ớt, bạc nhược, ngu dại, dốt nát thế nào, nên bị nó giục cho thiên hạ dùng cả năng lực quyền hành của mình toan tiêu diệt Đạo cho kỳ đặng. Họ đồ mưu chia rẻ làm cho trong Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn phải ly tán, Anh nghịch Em, Em bất hòa với Anh, cả nền Đạo chinh nghiêng đảo ngược".

Cũng chính Đức Ngài đã quả quyết rằng: "Qua nghĩ cái độc tâm của người có những quỉ quyền tưởng đâu sẽ tiêu diệt Thánh Thể của Đức Chí Tôn. Qua nói thiệt, nếu dưới mặt thế gian nầy tiêu diệt cả Thánh Thể của Đức Chí-Tôn được, thì không còn ai nữa. Từ Tín Đồ đến Hội Thánh chẳng hề khi nào tiêu diệt nó được, kẻ nào muốn tiêu diệt Đạo Cao Đài tốt hơn đừng sanh ra bởi chẳng hề khi nào muốn tiêu diệt Đạo đặng, khuôn luật vẫn vậy".

Bát Ðạo Nghị Ðịnh:

Ngày nay Lão định trừ diệt quỉ quyền, không cho rối loạn nền Đạo mà thử thách Thiên phong nữa.

 

 

QUỈ QUYỆT TINH MA

Quỉ quyệt tinh ma 詭譎精魔: gian dối,xảo trá, tráo trở không lường.

Thầy dạy:

Cuộc đời quỉ quyệt tinh ma,
Cha con chồng vợ sai mà cang luân.

 

 

QUỈ VỊ

Một địa vị thấp kém nhứt trong ba hạng chúng sanh: Nguyên sanh, Hóa sanh, Quỉ sanh. Trong số nhơn sanh có mặt trong vũ trụ này tuy rất nhiều nhưng chỉ có ba bậc: Nguyên nhân, Hóa nhân, Quỉ nhân. Nay, Kim quan Sứ đứng vào Quỉ vị.

- Nguyên nhân là khi Khai Thiên rồi thì đã có chơn linh ấy. Nguyên sanh là "Vật chất hữu sanh, thảo mộc hữu sanh, cầm thú hữu sanh, nhơn loại hữu sanh, tức là chúng sanh. Trong chúng sanh đã có nguyên sanh, hóa sanh và quỉ sanh.

- Hóa nhân là chơn linh vật loại, đoạt đến phẩm vị nhơn loại. Hóa sanh là Khai Thiên rồi mới biến hóa ra.

- Quỉ nhân là hai chơn linh kia xu hướng ác hành mà bị đọa đày vào Quỉ vị. Quỉ sanh là hai phẩm kia phạm Thiên Ðiều bị sa đọa. Trong các kiếp hữu sanh, duy có phẩm người là cao hơn hết, nên gọi là Thượng Sanh. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ này, Thầy đem các chơn linh dầu nguyên sanh, quỉ sanh hay là hóa sanh lên phẩm vị nhơn loại mới trọn câu Phổ Độ. Chơn linh các Nguyên nhân bị đọa trần, Quỉ nhơn chuộc tội hay là Hóa nhân thăng cấp đều nhờ Thượng Sanh độ rỗi (ấy là Thế độ). Nên Thượng Sanh làm chủ của Thế Ðạo, nắm luật thế nơi tay, mà dìu dắt cả chúng sanh vào cửa Ðạo."

Kim-Quan-Sứ là ai? Bên Thánh-Giáo Gia Tô gọi là Quỉ Vương đó vậy. Kim-Quan-Sứ là một vị Đại-Tiên có quyền hành đem ánh sáng Thiêng-Liêng Đức Chí-Tôn chiếu diệu trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, vị Đại-Tiên ấy đã gấm-ghé bước vào Phật-Vị, cái quyền-năng của Ngài đã đoạt đặng tưởng không thua kém Đức Chí-Tôn là bao nhiêu, do cái tự-kiêu tự đại, còn một bước đường nữa mà đoạt không đặng, nếu người nhường là nhường Đức Chí-Tôn mà thôi. Vì người hám vọng, tự-tôn, tự-đại, gọi cả quyền-năng Đức Chí-Tôn người không nhường, tức nhiên người đủ quyền năng hơn Đức Chí-Tôn mà chớ! Vì cớ cho nên Ngài dành quyền trọng đại muốn cầm quyền một quyền-lực để điều khiển Càn-Khôn Vũ-Trụ, chưa đoạt đặng mà Ngọc-Hư Cung đã biết tinh-thần Kim Quan-Sứ muốn phản phúc. Phản phúc dám đối diện cùng Đức Chí-Tôn mà Ngọc-Hư-Cung đã biết; cho làm Thống-Đốc một thế giới của chúng ta đương thời bây giờ. Thế-giới địa hoàn này, nếu như người mà không có tự-kiêu, tự-đại, cái chức tước dù cho quả là làm Tổng Thống của một Càn-Khôn Vũ-Trụ cũng không phải là hèn gì. Người không vừa, phản lại mới bị đọa vào QỦI-VỊ….

Ngày giờ này, Đại-Tiên Kim-Quan-Sứ đã đặng Ân xá, cũng như các Đẳng Chơn-Linh được Ân xá, bởi vì trong Quỉ-Vị cũng được hưởng Hồng-Ân Đức Chí Tôn ân xá, cũng như toàn-thể các Chơn-Hồn trong Càn-Khôn Vũ Trụ. Vì cớ cho nên, người Quỉ Chúa đàng ấy còn lãnh một phận-sự tối trọng, tối yếu là làm Giám-Khảo dượt Chư Tiên đoạt phẩm-vị Phật."

 

 

QUỈ VÔ THƯỜNG


E: The changeful demon.
F: Le démon changeant.

Quỉ: Ma quỉ. Vô thường: không luôn luôn như vậy, tức là biến đổi luôn luôn. Quỉ vô thường là loài quỉ có hình thù biến đổi luôn luôn.

Kinh Sám Hối có câu:

"Lúc chung mạng dứt hơi, hồn xuất,
"Quỉ vô-thường sẵn chực đem đi."

 

 

QUỈ VƯƠNG


E: Satan.
F: Roi des démons.

Quỉ Vương 鬼王: Vua của loài quỉ quái.

Thầy dạy: "Con đường vô tư để tìm cứu khổ cho chúng sanh là con đường đạo đức. Ngọn đèn Thiêng Liêng sẽ chực soi tỏ bước của các con; khác với con đường ấy là đường của Quỉ Vương đem lối. Nên hiểu kỹ lời, bằng chẳng thấu thì TU có ích chi.. Thầy tưởng để cho các con lo liệu giành giựt đương cự với chúng nó, nhưng dòm Thiên Thơ thì tám phần mười đã sa ngay vào chơn của Quỉ vương vày đạp, mà lại phần đông các con là bậc phẩm cao, chức trách trọng hậu."

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Chẳng thí dụ chi xa khó hiểu
A-Tu-La là hiệu Quỉ Vương
Ai từng lai lịch hà phương?
Tại ai dắt lối đem đường mà ra?

A Tu La tiếng Phạn là Asura. A Tu Lacó nhiều tên gọi khác nhau: A tác la, A tô la, A tố la, A tố lạc, A tu luân. Trong Kinh thường nêu ra ba loại A Tu La:

1/ A Tu La thiên đạo. 2/ A Tu La quỉ đạo. 3/ A Tu La súc đạo.

Theo Từ Điển Phật Học Huệ Quang, quyển 1, trang 84 giải thích: "A Tu La là 1 trong 6 đường, 1 trong 8 bộ chúng, 1 trong 10 giới, một trong những vị thần xưa nhất ở Ấn Độ.

Một loại quỷ thần hiếu chiến, thường bị coi là ác thần và thường tranh đấu với trời Đế Thích không ngừng nên có danh từ A Tu La trường, A Tu La chiến v.v…

Theo phẩm A Tu La Luân trong Kinh Tăng Nhất A Hàm 3 : Thân hình của ATu La cao 84.000 do tuần, miệng rộng mỗi bề 1.000 do tuần. Còn phẩm A tu La Luân trong Kinh Trường A Hàm 20, phẩm A tu luân trong Kinh Đại Lâu Thán 2. Kinh Khởi Thế Nhân Bản 5 v.v…đều ghi rõ chỗ ở và sự tích của A Tu La.

Về nghiệp nhân của A tu la, các Kinh thường nêu ra 3 thứ nhân làm cho chúng sanh sanh trong loại nầy: Sân, mạn, nghi.

Theo Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt thì liệt kê ra 10 thứ nhân làm cho chúng sanh sanh trong loài A tu la.

1.Thân làm việc ác nhỏ.

 

2. Miệng nói lời ác nhỏ.

3. Ý nghĩ điều ác nhỏ.

 

4. Khởi tâm kiêu mạn.

5. Khởi tâm ngã mạn.

 

6. Khởi tâm tăng thượng mạn.

7. Khởi tâm đại mạn.

 

8. Khởi tâm tà mạn.

9. Khởi tâm mạn mạn.

10. Hướng về các căn lành.

Hình tượng của A tu la có nhiều thuyết khác nhau. Có chỗ cho rằng: A tu la có 9 đầu, 1000 mắt, miệng phun lửa, có 990 tay, 6 chân, thân to gấp 4 lần núi Tu di. Có chỗ cho rằng: A tu la có 1000 đầu, 2000 tay; 10.000 đầu, 20.000 tay; 3 đầu, 6 tay. Có chỗ cho rằng: A tu la có 3 mặt màu xanh đen, giận dữ, lõa hình và có 6 cánh tay.

Phật giáo quan niệm các cõi thế giới bao gồm 10 cõi: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, Người, Atula, súc sinh, ngạ quỹ, địa ngục. Cõi Atula chính là cõi của các vị thần linh được thờ phụng trong nhân gian. Các vị thần này (theo mô tả trong kinh Phật) thường có tính hay giận dữ, tranh đấu, hiếu chiến, nghi kỵ.

Xét kỹ thì các nhà đầu tư tài chính và các đại gia lắm tiền nhiều của chính là các Atula trong cõi ta bà này (cõi ta bà là thế giới của chúng ta đang sống và cũng là thế giới của Đức Phật Thích Ca). Tạm gọi các đại gia này là các "Atula tài chính".

QUYỀN NĂNG SIÊU NHIÊN

Các vị thần, thông qua những quyền năng siêu hạng có thể tạo ra những điều đặc biệt. Thì cũng như vậy, các Atula tài chính, với tiềm lực khổng lồ, họ có thể tạo lập những điều vượt quá sức tưởng tưởng. Họ có thể xây dựng nên những khu công viên (1), những tòa nhà chọc trời (2), những tổ hợp khách sạn (3), những khu phức hợp nhân tạo (4) chỉ có trong mơ (mà có lẽ ông Thần đèn của anh chàng Aladdin cũng chỉ đến thế là cùng).

Bằng khả năng siêu nhiên, các vị thần có thể đi mây về gió, có thể hô phong hoán vũ thì các Atula tài chính bằng sức mạnh kỹ thuật, cũng đi mây về gió (trên phi cơ), hô phong hoán vũ (tạo mưa, gió nhân tạo) và thậm chí, thông qua những kết nối internet, họ có thể gặp nhau bất kỳ lúc nào và bất cứ đâu (Ngày xưa, Tôn Ngộ Không có triệu hồi thổ địa cũng phải mất hết tuần nhang).

BAN PHƯỚC GIÁNG HỌA

Bằng quyền năng siêu hạng của mình, các vị thần có thể trở thành những người ban phước giáng họa cho người khác. Thì các Atula này, bằng vào khả năng tài chính của mình, cũng có khả năng ban phước giáng họa. Chẳng hạn, Bill Gates và Warren Buffett đã hiến tặng phần lớn tài sản của mình, giá trị hàng chục tỷ đô la mỹ (lớn hơn cả GDP của một nước trung bình) cho các hoạt động từ thiện. Với số tiền này, hàng triệu người nghèo khổ, bệnh tật đã được cứu giúp.

Ở khía cạnh ngược lại, cũng với khả năng tài chính và năng lực tư duy bậc thầy của mình, các Atula tài chính cũng có thể giáng họa lên người khác. Cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm 2008 đã cho thấy điều đó. Một loạt các quỹ đầu cơ cỡ bự đã thực hiện nghiệp vụ đầu cơ giá lên, làm cho giá dầu từ 50 USD/thùng có lúc tăng lên gần đến 150 USD/thùng và có lúc người ta dự đoán nó sẽ lên đến mốc 200 USD/thùng. Tương tự như vậy, giá các loại ngũ cốc thiết yếu đã tăng lên nhiều lần, gây ra tình trạng thiếu ăn và hoảng loạn (vì cướp bóc lương thực) rất nhiều nơi trên thế giới. Hoặc ngược dòng về cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1998, người ta đã xác đinh rõ, chính Soros, nhà đầu tư tài chính, đã đầu cơ vào đồng Bath của Thái Lan và làm cho hệ thống tiền tệ của nước này bị sụp đổ, kéo theo khủng hoảng tiền tệ của các nước Đông Nam Á và Đông Á khác.

SÂN HẬN, NGHỊ KỴ VÀ HIẾU CHIẾN

Thế giới của các Atula tài chính là một thế giới tranh đấu đến vô cùng. Các nhà đầu tư cạnh tranh với nhau, bóp chết nhau để tồn tại và chiếm lĩnh thế giới. Dĩ nhiên, trong cuộc tranh đấu ấy, các Atula này ngày càng trở nên hiếu chiến, bất cứ sự xung đột nhỏ bé nào cũng đều làm họ trở nên giận dữ, có thể gây ra những trận chiến (thương mại, đầu tư...) một mất một còn.

Và trong một thế giới đầy xung đột, tranh đấu và hiếu chiến đó, tính nghi ngờ của Atula tài chính luôn được đặt lên hàng đầu. Đối với các Atula này, mọi thứ chỉ đáng tin nếu nó được minh chứng một cách đầy đủ và đúng đắn. Mọi quyết định đều được thực hiện thông qua những bản phân tích, những đề án đã được xem xét kỹ lưỡng. Họ không bao giờ tin tưởng ai và bất cứ điều gì (5). Các mối quan hệ, các hành động chỉ được thực hiện dựa trên các lợi ích kinh tế là chính (6).

--------------------------------------------
Chú giải:

(1) Xem Công viên Disney lớn nhất thế giới

(2) Xem Tòa nhà cao nhất thế giới

(3) Xem Khách sạn 7 sao

(4) Xem Đảo Cọ Dubai

(5) Ngay từ khi cắp sách đến trường, họ đã được giáo dục một cách cẩn thận để đặt tiêu chí lý trí lên hàng đầu. Họ thực hiện đúng châm ngôn của nhà duy lý nổi tiếng Descartes "Tôi tư duy (nghi ngờ) nên tôi tồn tại".

(6) Như ai đó đã từng nói "Không có bạn bè vĩnh viễn, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vình viễn".

 

 

QUỐC


F: État, Nation

Quốc : quốc gia, nước.

 

 

QUỐC ÂM


F: Langue nationale.

Quốc-âm 國音: Tiếng quốc-ngữ (Tiếng Việt).

Đức Hộ-Pháp nói: "Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế vì đức háo sanh, không nỡ ngồi xem nhơn-sanh sa vào nơi tội lỗi nên dụng huyền-diệu tiên-thiên giáng cơ giáo Ðạo; hơn một năm trường tô vẽ biết bao lời châu tiếng ngọc. E dụng văn từ cao xa người thường không rõ lý, rồi ra dạy cũng như không, nên Ðấng Chí-Tôn tiện dùng Quốc-âm cho dễ hiểu".

 

 

QUỐC DÂN

國 民
F: les citoyens.

(Quốc là nước, Dân là người dân sống trong đất nước đó). Xưa nay người dân đối với nước ví như thuyền đi trên nước: Thuyền nhờ nước mà lướt nhanh, cho nên dân sống nhờ đất nước. Vì thế mà người làm đầu đất nước phải có trách nhiệm với dân, mới được gọi là "Phụ mẫu chi dân" là vậy.

"Đức Chí Tôn nói với môn đệ của Ngài, Ngài lấy kẻ nghèo khó, hạng nhứt là Ngài đến với một quốc dân hèn hạ, quốc dân còn bị lệ thuộc của người, làm tôi đòi thiên hạ, Ngài lấy phần tử ấy làm Thánh Thể của Ngài mà tạo nền Chơn Giáo, Ngài lấy quốc dân nô lệ trong giờ phút tạo nghiệp của Đạo. Cả con cái của Ngài tạo dựng nên hình tướng của nó, không cướp bóc của ai, không cầu lụy ai cho mình mà làm cái nhân ấy quý báu làm sao, lại nữa người tượng trưng lấy nó, cơ thể hữu hình là người chủ quyền lo tạo dựng nó, thân phải hèn hạ truân chuyên, bị thiên hạ áp bức đè nén hiếp đến nỗi thân của họ bị đồ lưu, tù tội, cái nhục nhã hèn hạ của họ, ngày nay đem vô luật nhân quả thế nào? Thì toàn thể con cái của Đức Chí Tôn luận lại thì hiểu".

Bài Tế Chiến Sĩ Trận Vong có câu:

Ách nô lệ ngày nay hầu dứt,
Nước quật cường nhờ sức quốc dân.
Hồn thiêng rày đã tỉnh lần,
Muôn năm chung hưởng hồng ân của Trời.

 

 

QUỐC DÂN THIÊN MẠNG

Ngài Bảo-Thế dịch thơ của ông Saint Jorioj đề ngày 27-10-1949 gởi cho Phối-Sư Thượng-Vinh-Thanh, đại ý muốn sau khi nhập Việt-Tịch ông sẽ lấy tên Việt là Cao-Thiện-Tiến.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"Bảo-Thế dịch thơ của ông Việt-Nam mới: Cao Thiện Tiến nên gởi cho các cơ-quan Chánh-Trị-Đạo cho họ hay biết rằng các nước đã hưởng-ứng theo Đạo, khuyên họ nâng cao danh-giá Thiên-Phong thêm nữa cho xứng phận làm Thầy các nước và làm một Quốc-Dân Thiên Mạng. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

QUỐC ĐẠO

( )
E: The national religion.
F: La religion nationale.

(Quốc là nước. Thông-thường chữ Quốc ở trong có chữ hoặc (hoặc là thay đổi) đặt trong bộ vi (vi là vây quanh). Ý nói ở đất nước không có chủ-quyền nhứt định khi thì vua, lúc lại Tổng-Thống, thay đổi chế-độ luôn. Nhưng với Việt Nam ngày nay Đức Chí-Tôn đến ban cho một nền Quốc Đạo đặt trong một Quốc-gia Thiên định thì chữ Quốc  ấy phải là chữ Vương nằm trong bộ vi chứng tỏ rằng nước này có Chủ quyền thật sự. Đạo là Đạo, dưới hình thức một Tôn giáo) Là một nền Tôn giáo thật sự có chủ quyền của đất nước, của toàn cầu.

Đức Hộ-Pháp thuyết ngày 30-9-Đinh Hợi rằng:

"Ngày nay ĐẠO CAO-ĐÀI đã đến khoảng đường kết liễu danh-giá và hình tướng của nó, nên Bần Đạo lấy đề hai chữ QUỐC-ĐẠO đem giảng-giải. Chí-Tôn ban sơ thuyết-minh đạo lý hầu may ra những kẻ mơ hồ tỉnh mộng đặng hiểu biết mình đang đến lập-trường nào, phương sách nào, khoảng đường nào ấy là điều rất hay về tâm-lý toàn cả quốc-dân buổi này.

Hai chữ QUỐC-ĐẠO lần đầu Chí-Tôn viết ra làm cho Bần-Đạo mờ-mịt, cũng vì hai chữ Quốc-Đạo ấy mà PHẠM CÔNG-TẮC chết năm 35 tuổi, thí thân theo đuổi làm cho ra thiệt tướng. Ôi! hai chữ Quốc-Đạo là một vật của Bần-Đạo tìm tàng rồi mới biết khôn, khởi điểm biết thương nòi-giống, biết thương Tổ-quốc, đeo đuổi mất còn với cái điều muốn khát-khao từ buổi thanh-xuân đó vậy. Tự biết khôn dĩ chí gặp Đạo năm 35 tuổi, Bần-Đạo thấy sao mà vẫn phải khao khát thèm lạt, tại làm sao Chí-Tôn biết thiếu thốn nơi tinh-thần điều ấy mà cho Bần Đạo. Bần-Đạo ban sơ nghi hoặc, có lẽ một Đấng có quyền-năng thiêng-liêng biết tâm lý đang nồng-nàn ao-ước, đương thèm-lạt khao-khát, đương tìm-tàng mà đem ra cám-dỗ.

Hại thay! Yếu-ớt đức-tin, ngày nay Bần-Đạo ăn năn quá lẽ. Mười lăm năm đã đặng thấy gì? Toàn cả thiên-hạ nói rằng nòi-giống Việt-Nam không có Đạo. Lạ-lùng thay! Chúng ta tự hỏi có thật vậy không? -Thật quả có chớ! Có nhiều Đạo quá mà thành ra không Đạo, mượn Đạo, xin Đạo của thiên-hạ mà thôi.!"

Quốc Ðạo là nền Đạo khởi khai từ Việt Nam, mở ra trên đất nước Việt Nam, để từ nơi đây truyền bá ra khắp thế giới. Dân tộc Việt Nam là dân tộc được Ðức Chí Tôn lựa chọn, nên rất được sự ưu ái của Ðức Chí Tôn hơn các dân tộc khác. Do đó, Ðức Chí Tôn có cho hai câu thi trong bài thi gởi Vua Bảo Ðại:

"QUỐC ĐẠO kim triêu thành Ðại Ðạo,
"Nam phong thử nhựt biến nhơn phong".

(Có nghĩa rằng Quốc Ðạo trong nước Việt Nam ngày nay sẽ thành nền Ðại Ðạo. Nền phong hóa của Việt Nam ngày kia sẽ trở thành nền phong hóa của nhơn loại).Nhờ Quốc Ðạo nầy, dân tộc Việt Nam ngày sau sẽ làm chủ tinh thần của nhơn loại theo như ý muốn của Thầy:

"Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc,
"Ngày sau làm CHỦ mới là kỳ!"

Thầy dạy: "Từ đây trong nước Nam duy có một Ðạo chơn thật là Ðạo Thầy đã đến lập cho các con, gọi là QUỐC ÐẠO, hiểu à!"

Đức Hộ-Pháp thuật lại, khi "Nghe xong, Bần-Đạo từ đấy hình như phiêu-phiêu lên giữa không trung mơ-màng như giấc mộng. Được nghe nói cái điều mà mình thèm ước, nên Bần-Đạo không từ chối đặng. Ôi! QUỐC-ĐẠO là thế nào? Quốc là nưóc, vậy nòi giống tín-ngưỡng lập Quốc-Đạo; Bần-Đạo theo tới cùng coi lập nó ra thế nào, hình tướng nào cho biết; vì đó mà lần mò theo đuổi đến ngày nay, thấy hiện-hữu cái hình trạng là ĐẠO CAO-ĐÀI rồi lại đoán xét coi nó biến thành QUỐC ĐẠO VIỆT-NAM ra sao? Ngài có một bài thi dám chắc không ai thấu-đáo nỗi; người coi cái gốc thì không thấy ngọn, người coi cái ngọn thì không thấy gốc, tứ văn thiệt-thà hay ho cho tới các đảng-phái quốc sự ngày nay cũng là lợi-dụng.

Từ đây nòi giống chẳng chia ba: tức nhiên không chia ba ĐẠO, chớ không phải ba kỳ à!

Thầy hiệp các con lại một nhà: Thầy nắm chủ quyền HIỆP TAM GIÁO, nếu nói riêng nòi giống hiệp Nam- Trung- Bắc thì vô-vị lắm!

Nam Bắc cùng rồi ra ngoại-quốc: tức nhiên nền chơn giáo QUỐC ĐẠO, không phải của ta thôi, mà lại của toàn nhơn loại, là truyền giáo Nam Bắc thành tướng rồi ra ngoại-quốc, tức là Tôn-giáo toàn-cầu vậy.

Chủ quyền chơn đạo một mình TA: Tam-giáo Ngài vi chủ Năm châu hiệp tín-ngưỡng lại, QUI NHỨT mà thôi. Nắm cả tín-ngưỡng của loài người, chính Chí Tôn là Chúa-Tể Càn Khôn Thế-Giới, làm CHÚA nền chánh giáo tại nước Việt-Nam, vi chủ tinh thần loài người, tức đủ quyền năng lập Quốc Đạo. Ngài đến đem đại nghiệp cho Quốc dân này"

 

 

QUỐC ĐẠO NAM PHONG

  南風

Đức Chí-Tôn giáng Cơ cho Ngài Quốc-Trưởng Bảo Đại, do Hộ-Pháp và Tiếp-Đạo phò-loan đêm 12 tháng 12 Đinh Hợi (dl: 22-01-1948) như sau:

"Thầy, các con. Ừ! Ngày nay là ngày Thầy đã đắc vọng cho toàn cả nòi giống các con. Vĩnh (Lê-Thế-Vĩnh) và Hoạch (Lê-Văn Hoạch) phải hiệp cùng Vĩnh-Thuỵ (Bảo-Đại) mà làm tròn sứ mạng theo Thánh-ý Thầy đã định đa nghe!

TẮC! con biểu Tài viết Nho-văn bài thi này, rồi Hoạch, con đưa tận tay cho Vĩnh-Thuỵ.

                        THI

Thượng, hạ nhị thiên xử địa hoàn,
Việt-Nam nhứt quốc nhứt giang san.
Hoàng-đồ toàn bảo thiên-thơ định,
Đảnh-tộ trường-lưu tổ-nghiệp tồn.
QUỐC-ĐẠO kim triêu thành ĐẠI-ĐẠO,
NAM-PHONG thử nhựt biến NHƠN-PHONG.
An dân liệt Thánh tùng Nghiêu Thuấn,
Văn-hóa tương-lai lập Đại-Đồng.


 





Hôm nay tựa đề "QUỐC-ĐẠO NAM-PHONG" được thành hình là lấy hai chữ đầu của hai câu thơ 5 và 6 trong đề tài, kết-hợp thành tiểu tựa: "QUỐC-ĐẠO NAM-PHONG " là vậy!

Tuy nhiên tôi chỉ có trong tay bài cơ vỏn-vẹn có mấy câu trên, còn phần chữ Hán tôi tự viết lấy để làm tượng-trưng, nếu có sự sai biệt xin được quí vị chỉnh thêm cho và rộng lòng tha-thứ. Hơn nữa đây là một đề-tài tôi chỉ góp nhặt, xâu kết những lời giảng dạy hầu hết là những bài Thuyết Đạo của Đức Hộ-Pháp Giáo-chủ Đạo Cao-Đài hoặc trích-lục những tài-liệu của Đại Đạo. Cái khởi nguyên của QUỐC-ĐẠO đã được ĐẤNG Tôn-sư HỘ-PHÁP trần-tình bằng tất cả trái tim yêu ái, giờ đây ta hãy lật từng trang đã được đúc kết, hệ-thống-hóa thành tập sách nhỏ bé này để cùng nhau chiêm-nghiệm và cùng hoà nhập với không khí thiêng-liêng của Đạo-pháp.

1- Tinh-thần của Quốc Đạo Nam-phong

*Giảng-luận về bài thơ: Tinh-thần của nền Quốc-Đạo được gói-ghém trong bài thơ trên. Qua bài thơ thấy cả tình-ái nồng-nàn của Đấng TRỜI CHA đã gởi trọn cả thâm-tình dành cho nhân loại trong thời buổi này. Xin được tạm thích-nghĩa nôm và tìm hiểu ý-nghĩa từng câu thơ để nghe được tâm-tình của Thiên Phụ, đồng-thời thấy được trọn vẹn chân tướng của Nam Phong để dựng nền QUỐC-ĐẠO.

Giải-nghĩa:

Câu 1: "Thượng hạ nhị thiên xử địa hoàn" 上下二

Chính là THIÊN-THƯỢNG và THIÊN-HẠ mà con người được đứng phẩm tối-linh nên đứng giữa kết liên thành TAM-TÀI (THIÊN- NHÂN- ĐỊA) vậy phải xử thế nào cho được vẹn toàn. Tức là thuận nhân-tâm ắt thuận Trời, mà cũng là bực tài ba quán-thông mọi việc thì mới mong gánh vác nỗi vai-trò quá ư nặng nề Thể thiên hành hóa mà Thượng Đế đã phó giao cho các nhà lãnh đạo Tôn giáo.

 

 

 

Hai chữ "Thiên-thượng", "Thiên-hạ" tức là "Nhị Thiên" ý nói trên là trời, dưới là đất, giữa là người hiệp thành Tam tài (số 3 trọn vẹn). Nếu dùng những nét vạch để làm biểu-tượng thì thấy rất rõ đây là hình ảnh quẻ CÀN (Càn vi Thiên) là Trời.

Xử địa hoàn: có nghĩa là phải thông nhau, nối liền lại với nhau trong tình tương thân tương ái. Về chữ nghĩa là thêm một nét sổ ở chính giữa quẻ Càn thành ra chữ Vương Vương là vua, người đứng đầu một nước.Vua phải là người hiểu biết:

- Trên thông thiên-văn
- Dưới đạt địa-lý
- Giữa quán nhân-sự

Phải chăng Đấng Chí-Tôn giao trách-nhiệm Việt Nam lúc bấy giờ cho vì vua anh minh để bảo-tồn quốc thổ, vì đây là một Quốc-gia Thiên-định. Phải có một vị Vua xứng đáng, toàn hảo. Nhưng Đạo là lý, phải lấy lý mà giải để thấy rằng ngày nay Thầy dùng tánh-đức của Vĩnh-Thuỵ (Bảo-Đại) mà lập quốc cũng như Thầy lấy tánh-đức của Ông Phạm Công-Tắc mà lập Giáo vậy. Xưa Thầy nói rằng:

- "TẮC! thoảng THẦY lấy tánh đức PHẠM CÔNG TẮC mà lập giáo con mới nghĩ làm sao?"

Hai trường-hợp nào có khác nhau! Tức nhiên dù bất cứ ai đi nữa mà khi làm Vua, làm Quốc-Trưởng thì phải "bảo trọng cái Lớn" tức "Bảo-Đại" thì mới giữ vững nghiệp "QUỐC" của Đức Chí-Tôn đến thất ức niên. Nếu cứ nghĩ rằng "Bảo-Đại" chỉ có Ông vua cuối triều: Nguyễn Vĩnh-Thuỵ bằng xác thịt, thì ngày nay Người đã an nghỉ rồi thì nghiệp Đời, nghiệp nước này giao lại cho ai? Chả lẽ đến đây Đạo phải bế? Đất nước này sẽ về ai? Và đây là yếu-tố tiên quyết:

Năm 1948: Đức Hộ-Pháp đề xướng thuyết Bảo-Đại như vầy: "Trận giặc giữa Việt Minh và Pháp đang đánh nhau, chớ Việt Nam chưa có một Chánh Phủ hợp pháp để thương thuyết với Pháp. Đức Hộ-Pháp triệu tập Hội nghị toàn quốc tại Sài Gòn, có đông đủ các nhân sĩ Nam- Trung- Bắc, các Tôn giáo, Đảng phái. Đức Hộ-Pháp được đề cử Chủ toạ phiên họp. Đức Hộ-Pháp đưa ra giải pháp Bảo-Đại, lúc ban đầu mọi người đều tỏ vẻ không tán đồng, xầm xì to nhỏ với nhau. Đức Hộ-Pháp giải thích thêm vì sao Ngài đề xướng giải pháp Bảo Đại:

1- Nhà Nguyễn đã ký hai Hiệp Ước 1862 và 1864 giao nước Việt-Nam cho Pháp bảo hộ, bây giờ Nhà Nguyễn phải lấy lại, rồi giao cho Quốc dân Việt-Nam liệu định. Chỉ có Cựu Hoàng Bảo-Đại mới có đủ tư cách thương thuyết với Pháp.

2- Trong phiên họp, ông Nghiêm-Xuân-Thiện một nhân sĩ miền Bắc đứng lên chấp nhận ý kiến của Đức Hộ Pháp, kế đó là ông Trần-Văn-Lý một nhân sĩ miền Trung cũng tán thành. Đức Hộ-Pháp mới tuyên bố như vầy Nam, Trung, Bắc, đã đồng ý, nhờ toàn hội cho biết ý kiến và toàn hội đồng hoan-hỉ giải pháp Bảo-Đại của Đức Hộ Pháp". (Trích Dưới bóng cờ cứu khổ)

Câu 2: "Việt-Nam nhứt quốc nhứt giang san" 越南一 一江山

Đức Chí-Tôn đã hứa với nhân-loại là Đạo Cao-Đài sẽ đạt được là Cơ quan Đại-Đồng Thế-giới tức là sẽ có:

Một Quốc gia - Một nòi giống - Một Tôn giáo.

Chính đất nước Việt-Nam này làm khởi điểm một Thánh-Địa đã ôm trọn Thái-Cực-Đồ mà thiêng-liêng đã dành sẵn; khi được địa-linh thì hẳn sẽ có nhân-kiệt vậy. Việt-Nam phải liền một dãy: một đất nước, một giang-san bờ cõi. Đó là ý muốn của Đức Chí-Tôn. Có như vậy thì Đại-Đạo này mới ra toàn cầu thế giới được.

"Nam Bắc cùng rồi ra ngoại-quốc
"Chủ-quyền Chơn-đạo một mình TA".

Hơn thế nữa chữ-nghĩa cũng xác-định điều ấy.

Còn với đất nước Việt-Nam mà Ngài chỉ-định là "nhứt quốc nhứt giang-san" thì chữ Quốc  ấy phải là chữ Vương nằm trong bộ vi, chứng tỏ rằng nước ấy có Chủ quyền thật sự.

Câu 3: "Hoàng-đồ toàn bảo Thiên-thơ định" 隍圖全寶天書定

Trong bức đồ trọn vẹn họp đủ Tam Hoàng: Thiên hoàng, Địa-hoàng, Nhân-hoàng vô cùng quí-báu đó, Việt Nam hân hạnh được đón nhận đầy-đủ trong quyển sách trời gọi là "Thiên Thơ" đã ghi chép hẳn-hoi. Cả một mảnh giang-san gấm vóc này đã được quyền Thiêng-liêng quyết định rồi, tức nhiên là nước chủ của Vạn quốc.

Câu 4: "Đảnh-tộ trường-lưu tổ-nghiệp tồn" 鼎怍長流祖業存

Là phúc mệnh trời ban cho được lưu-truyền nhiều đời cháu con toại hưởng. (Đảnh là điểm cao, tộ là phúc vận may của đất nước, trường lưu là ví như nước cuồn cuộn chảy, Tổ-nghiệp là sự-nghiệp của cha ông nhiều đời đã tích-luỹ cho con cháu; tồn là còn). Nói chung là đã qua khúc quanh của lịch-sử, Việt Nam lại được quyền Thiêng Liêng giao phó một trách nhiệm lớn, do theo cái đà của sự nghiệp Tổ-tiên để lại cứ nối theo mà phát-huy thêm nữa; tức nhiên là thời-kỳ Nho Tông Chuyển thế đã đến đó vậy.

Câu 5: "Quốc-Đạo kim triêu thành Đại-Đạo" 國道今朝成大道

Nền ĐẠO có trong nước Việt-Nam hôm nay dân Nam được tiếp nhận làm mối Đạo nhà, sẽ làm khởi điểm cho nền Đạo của toàn Thế-giới trong một sớm một chiều nhân-loại đều chung hưởng.

Câu 6: "Nam-Phong thử nhựt biến nhơn phong" 此日

Chính cái phong-hóa của nhà Nam đã tàng ẩn nhiều điều quí hóa, như triết-lý nhân-sinh-quan, vũ-trụ-quan…kết-tinh thành một nền Văn-hiến bốn ngàn năm, trong thời điểm này sẽ làm nền phong-hóa chung cho nhân-loại đồ theo khuôn mẫu đó.

Câu 7: "An dân liệt Thánh tùng Nghiêu Thuấn"

Muốn cho quốc thới dân an, phương-pháp thực hành phải noi theo chư liệt Thánh đã nêu gương trước mà làm cho dân được sống cảnh thái-bình gọi là thuở trời Nghiêu đất Thuấn. Cả một cơ cấu Chánh-trị-Đạo trong nền Đạo Cao-Đài ngày nay chính Đức Chí-Tôn đến lập, chứ không phải một vị nào khác.

Trong chữ AN đã có chữ Nữ đặt dưới bộ miên, tức nhiên muốn nói đến sự bình đẳng, bình quyền phải có bàn tay của Nữ-phái trợ lực nữa để đem lại sự an bình cho đất nước. Như vậy người Nữ phải có nhiệm-vụ góp bàn tay xây dựng đất nước cũng như Đạo nghiệp của Chí-Tôn. Nhưng dù Nữ dù Nam cũng phải là mẫu người đạo-đức thật sự. Chính Đức Chí-Tôn đã ban cho sự bình đẳng ấy rồi.

Câu 8: "Văn-hóa tương-lai lập Đại-đồng" 立大

Nền văn-hoá trong tương-lai sẽ là nền văn-hoá Đại Đồng, Đông Tây hoà-hợp: văn-minh tinh-thần của Đông phương kết-hợp với văn-minh của nhân-loại mà làm nên nền Văn-hoá Cao-Đài làm khởi điểm. Tức nhiên Văn-hóa của Việt Nam hôm nay đầy đủ yếu-tố để đi đến Đại-Đồng. Nay, Đức Chí-Tôn đã dùng Quốc-Ngữ làm chính-tự, làm căn-bản để thông-truyền về Tôn-giáo, thứ văn-hóa này sẽ làm nồng cốt đưa nguồn Chơn-đạo chánh truyền phổ thông trong thế-giới tức là "Văn dĩ tải Đạo" vậy. Mối Đạo trong nước giờ đây chỉ trong một sớm sẽ trở thành nền Đại Đạo tức là sẽ có ảnh-hưởng đến toàn cầu Thế giới. Tiền-nhân có cho biết:

"Văn-hiến bốn ngàn năm có sẵn,
"Chi cần dị chủng đến dâng công"

Để kết-luận: xin dẫn lời nhận-định của Đức Hộ Pháp: "Ta thường nói Đông Tây không bao giờ gặp nhau. Câu đó không thể áp dụng được trong giới triết-học tuy có đến hàng trăm đường lối khác nhau, nhưng chung qui cũng gồm về một mối. Lấy cái thực học Âu Mỹ để so-sánh với thực-học Á đông cân nhắc nhau thì phần nhiều cái học Á-đông bị lu mờ chỉ vì cách trình bày, luận-lý không rõ ràng, còn về phần tinh-thần thì bao trùm được khắp võ-trụ như: Thiên văn, Địa-lý, Dịch-lý mà ông cha ta vẫn cho là những môn học khó-khăn, huyền-diệu. Vì những lẽ trên, ta thấy khó khăn, khúc-chiết mà xếp đặt cái học thuyết ấy vào hàng tâm-truyền hay bí-truyền. Nhưng nếu ta lấy cái học-thuyết hiện tại của Âu Mỹ hoà với DỊCH-LÝ để giải cho rõ, ta cảm thấy cái lý học Á-đông đã đến chỗ tuyệt-đối huy hoàng".

 

 

QUỐC GIA


F: Nation.

(Quốc là nước, Gia là nhà) là nước nhà, cũng là chỉ bờ cõi đất đai trong phạm vi của mỗi dân tộc. Như Quốc gia Việt Nam, quốc gia Lào,mỗi quốc gia đều có chế độ, phong tục riêng.

Nhân ngày cầu siêu cho chiến sĩ trận vong, Đức Hộ Pháp nói rằng: "Ngày nay là ngày kỹ-niệm các chiến-sĩ trận vong, các chiến-sĩ ấy hy-sinh cho quốc gia, vì nước nhà, vì nòi giống, vì nhơn loại họ không tiếc mạng sống, đứng lên để mưu hạnh phúc cho toàn cầu gầy dựng lại Quốc-gia. Ấy là các Thánh vô tội đã hy-sinh tạo hạnh-phúc cho toàn thiên hạ, cho kẻ khác hưởng, bởi thế ngày nay chúng ta nên hội hiệp nhau lại làm lễ cho long-trọng mà cầu siêu cho các chiến-sĩ đã hy-sinh bảo vệ sanh mạng tồn tại của thiên-hạ. Ngày nay là ngày trọng yếu, mà lại là ngày lễ của Chính-phủ chọn lựa.

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân Lê-văn Duyệt giáng cho thi:

Xa thơ biến gảy rời vương thất,
Nam đảnh hầu thay sáng quốc-gia.
Ách nước nạn dân gần muốn mãn,
Hết hồi áp chế tới khi hòa.

 

 

QUỐC HỒN


E: The national spirit.
F: L’esprit national.

Quốc hồn 國魂: linh hồn,tinh thần của một nước.

Đức Hộ-Pháp nói: "Qua để hy vọng tương lai kẻ nào cầm vận mạng của nó phải biết giá trị và tánh chất hòa hợp với tiếng đờn yểu điệu, hiền từ, lịch lãm, khí khái của mấy em đã đào tạo. Ngày kia nó có giá trị và ảnh hưởng cho cả Quốc hồn là cây đờn của mấy em, nó sẽ là tương lai vận mạng của nước, nhớ từ đây sắp về sau phải biết tự trọng lấy mình, mà biết tự trọng lấy mình thì sau thiên hạ mới trọng mình vậy".

 

 

QUỐC LUẬT

Quốc-Luật 國律: Luật pháp của quốc gia.

Do tờ thỉnh-giáo của Thượng-Chánh Phối-Sư về việc Chánh-Phủ Tổng-Động-Viên thanh-niên.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"Dẫu mình là người Đạo Cao-Đài là một nền Đạo tương-lai của toàn Quốc đi nữa mà mình là người Việt Nam ở trong nước Việt-Nam tức là con dân Việt-Nam. Ta phải làm tròn phận-sự con dân của đất nước cũng như ai kia vậy. Nếu Bần-Đạo bị Quốc-Luật, Quốc-Pháp buộc làm tròn phận-sự công-dân ấy Bần-Đạo cũng cúi đầu phục lịnh. Nếu nói thanh niên ấy là Quân-Đội Cao-Đài trừ-bị thì phải nạp danh-sách cho Chánh-Phủ biết rõ, nếu ta lãnh làm Quân-Đội Quốc-Gia, với lý lẽ vô bằng cớ thì chúng ta muốn làm mưu-mẹo dơi không dơi, chuột không chuột đặng gạt qua Quốc-Pháp.

Phải thi-hành triệt-để Quốc Luật. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

QUỐC MẠCH


E: The economical life of a country.
F: La vie économique d’un pays.

Quốc: Nước, quốc gia. Mạch: ống dẫn máu để đem dưỡng khí nuôi sống các tế bào trong cơ thể. Quốc mạch là mạch sống của một nước, tức là những sinh hoạt của tất cả ngành nghề trong nước làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân được đầy đủ và tốt đẹp.

Kinh Nho-Giáo có câu:

"Khai nhơn tâm tất bổn, ư đốc thân chi hiếu.
"Thọ quốc mạch tất tiên, ư trí chúa chi trung."

 

 

QUỐC SẮC


F: Beauté nationale, reine de la beauté.

Quốc-sắc 國色: người con gái đẹp nhất của một nước.

Bài hoạ của Ông Cao-Quỳnh-Cư qua bài "Thác vì Tình" của Thất Nương Vương thị Lễ có câu:

Rằng liễu khóc oanh có mấy ai?
Mộ người quốc-sắc Đấng thiên-tài,
Nhìn văn độ phẩm hàng khuê-các.
Xót Bạn tri-âm cõi dạ-đài.

 

 

QUỐC SẮC THIÊN HƯƠNG

Quốc-sắc thiên hương 國色天香: người con gái rất đẹp, còn gọi là sắc nước hương trời.

 

 

QUỐC SĨ (Phẩm)

國 士
E: Eminent scholar of a country.
F: Lettré éminent d' un pays.

(Quốc: Nước, quốc gia. : người trí thức). Có hai nghĩa:

1- Quốc sĩ là người trí thức tài giỏi danh tiếng trong nước.

2- Trong cửa Đạo Cao Đài, Quốc Sĩ là một phẩm Chức sắc trong Ban Thế Đạo, đứng trên phẩm Hiền Tài, nhưng dưới Đại Phu và Phu Tử. Phẩm Quốc Sĩ được cầu phong vào phẩm Giáo Sư Cửu Trùng Đài.

Đức Hộ-Pháp truy thăng Tướng Trình Minh Thế vào hàng phẩm Quốc Sĩ đặng thờ nơi Báo Quốc Từ

Đức Hộ-Pháp là một vị Giáo-chủ Cao-Đài thể theo lòng Từ bi của Thượng Đế, là nói đến cái tâm của Phật. Đức Hộ Pháp chơn linh là Hộ Pháp Vi-Đà. Dù gặp kỳ Nho Tông chuyển thế, nhưng là một Đấng tu hành, Đức Ngài vẫn hằng thương con cái của Đức CHÍ TÔN, hạ mình mà dìu dẫn toàn chư Môn đệ. Xem vậy, Ngài không những phong tặng phẩm vị QUỐC SĨ đầu tiên trong Ban Thế Đạo mà còn đặc ân cho thờ chung với các vì Vương thì rõ lòng yêu mến người chiến-sĩ của Đức Ngài như thế nào!

Năm 1955, Quí Ngài Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối Sư cầu xin Đức Hộ-Pháp truy phong Tướng Trình-Minh-Thế vào phẩm Thế Đạo, Đức Ngài ký Thánh lịnh như sau:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Đệ Tam thập niên)

Tòa Thánh - Tây Ninh

_____________________________+

 

HỘ-PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp-Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (dl: 15-02-1938) giao quyền thiêng liêng Thống nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ-Pháp nắm giữ cho đến ngày có Đầu Sư chánh vị.

Chiếu y Thánh giáo của Đức Lý Giáo-Tông ngày mùng 03-12-Quí Tỵ (dl: 08-01-1953) qui định phẩm vị của Thế Đạo:

Chiếu y đơn yêu cầu ngày 16-03-nhuần Ất-Mùi (dl: 07-05-1955) của ba vị Chánh Phối sư thay mặt cho Hội-Thánh Cửu Trùng Đài cầu xin truy thăng cho Trình Minh Thế được vào hàng phẩm của Thế đạo.

Nghĩ vì Trình Minh Thế buổi sanh tiền đã lập đặng đại công với Tổ Quốc, được chánh phủ Quốc gia Việt Nam truy thăng lên phẩm Trung Tướng xứng đáng là một vị anh hùng để nêu gương cho hậu thế. Nên:

THÁNH LỊNH

Điều thứ nhứt: Truy phong Trình Minh Thế vào phẩm QUỐC-SĨ và Linh vị đặng thờ nơi Báo-Quốc-Từ, kể từ ngày ký tên Thánh Lịnh này.

Điều thứ nhì: Tam Đầu chế Hiệp-Thiên-Đài và Cửu Trùng Đài các tư kỳ phận lãnh thi hành Thánh Lịnh này.

Lập tại Tòa Thánh, ngày 16 tháng 03 nhuần Ất-Mùi
(Dương-lịch: 07-05-1955)
HỘ-PHÁP
Ký tên và đóng ấn

___________
Số: 20/SL Vâng lịnh ban hành

Nội chánh, ngày 19 tháng 03 nhuần Ất-Mùi
(dl: 10-Mai 1955)

Qu. Thượng Thống Lại viện
Ngọc Hoài Thanh (Ký tên)

 

 

QUỐC SỰ

(Quốc là nước; Sự là việc) là việc nước, tức nhiên điều yếu trọng nhất là chính trị và Quân sự (việc quốc gia, việc chánh trị). Nhưng việc binh bị thì không cần bàn, chỉ có việc chánh trị là gây nhiều điều rắc rối, dễ làm loạn, nên nhà nước lúc nào cũng nghi ngờ và lo sợ.

Nhưng, Thầy có nói "Chánh trị với Ðạo chẳng buổi nào liên hiệp cùng nhau" vì từ trước tới nay, nhiều vị lãnh đạo tôn giáo lợi dụng uy thế của đông đảo tín đồ, đứng ra tranh giành quyền lực với chánh quyền quốc gia, khiến cho nhà đương quyền luôn luôn nghi ngờ tôn giáo làm chánh trị. Trong giáo lý của Ðạo Cao Ðài do Ðức Chí Tôn lập ra, không có khoản nào cho phép Chức sắc làm chánh trị; "Bất thiên hữu, bất thiên tả, bất bạo động". Bởi vì mục đích của tôn giáo là làm lành, còn Chánh trị thì làm lợi. Nếu nhà cầm quyền hoàn toàn vì nước vì dân đúng nghĩa thì tôn giáo là cơ quan rất đắc lực hỗ trợ nhà nước về Phước thiện, về an sinh xã hội, giáo dục đạo đức, củng cố và phát triển thuần phong mỹ tục, ngăn ngừa tội ác tội phạm. Một xã hội không đạo đức thì dễ đưa đến hỗn loạn và đồi trụy. Chỉ có tôn giáo mới có thể cải tạo tệ nạn xã hội một cách hữu hiệu đến tận gốc rễ.

Ngày 21-10-1926 (âl 15-9-Bính Dần)

Thầy dạy: "Trung, mặc kệ nó, chúng nghi cho các con lo Quốc sự. Thầy vì các con xin lắm mới ép lòng chịu vậy, chớ Chánh trị với Ðạo chẳng buổi nào liên hiệp cùng nhau. Thầy nói ít, các con hiểu nhiều."

 

 

QUỐC SỰ VỤ

Quốc sự vụ 國事務: Cơ quan chuyên lo việc công, việc nước.

 

 

QUỐC THỂ


F:Renommée d’un pays.

Quốc: Nước, quốc gia. Thể: thể diện (danh dự), thể chế (chế độ).

1. Quốc thể là thể diện, là cái danh dự của một nước.

2. Quốc thể là thể chế, là chế độ cai trị của một nước, như thể chế dân chủ, quân chủ,.... (Cái thể thống của một quốc gia).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mở đường quốc thể, định phong vân.

Lời Đức HỘ-PHÁP tuyên-bố trong chuyến Bắc Du tháng 10 năm 1950: "Nền Độc-Lập của nước nhà không ai có quyền giữ mà ta phải đòi, hỏi, xin. Trái lại, ta phải đoàn kết cùng nhau để tạo thành, vì nền Độc-Lập chính là quyền sở-hữu của ta. Nhiệm-vụ của người công-dân lúc Quốc-Gia hữu sự. Một điều quan-trọng mà tất cả thanh-niên, học-sinh cần biết đó là "QUỐC-THỀ" của một dân-tộc. Nhưng Quốc Thể của một nước tức là sự tập-hợp của một khối cá-thể của những cá-nhân nước ấy. Vậy thì mỗi công-dân một nước phải có một cá-thể đã. Cá-thể của một người tức là nhân-cách và nhân-phẩm của người đó vậy. Mà muốn cho cá-thể xứng-đáng thì Ông Cha chúng ta đã để lại cho hai chữ vô-cùng quí-báu ấy là Tu-Thân vậy."

 

 

QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI

Đức Chí Tôn giáng Cơ cho Ông Bảo Đại một bài thi

Phò Loan : Hộ Pháp - Tiếp Đạo

Đêm 11 tháng 12 Đinh Hợi (dl: 21-1-1947)

Thầy, các con. "Ừ! Ngày nay là ngày Thầy đã đắc vọng cho toàn thể nòi giống các con. Vinh! Con và Hoạch phải hiệp cùng Vĩnh Thụy mà làm tròn sứ mệnh theo Thánh ý Thầy đã định đa nghe! Tắc! Con biểu Tài viết Nho văn bài thi nầy rồi Hoạch con đưa tận tay Vĩnh Thụy.

                        THI

Thượng hạ nhị thiên xử địa huờn,
Việt Nam nhứt quốc nhứt giang san.
Hoàng Đồ toàn bảo Thiên Thi định,
Đảnh tộ trường lưư tổ nghiệp tồn.
Quốc Đạo kim triêu thành Đại Đạo,
Nam Phong thử nhựt biến Nhơn Phong.
An dân liệt Thánh tùng Nghiêu Thuấn,
Văn hóa tương lai lập Đại Đồng.


 





Thầy lại muốn cho hai con Hoạch và Vinh hiệp cùng Vĩnh Thụy hội thuyết tại Hạ-Long nghe à! Thầy ban ơn cho các con".

*Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng:

Ảnh hưởng bài thi rất mạnh mẽ khiến cựu Hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng Việt Nam, lãnh Đạo được một thời gian. Ở Hà Nội Đức Hộ Pháp cho hai trung đội lính Cao Đài làm Ngự Lâm Quân, ở Đà Lạt cũng hai trung đội làm Ngự Lâm Quân: Là lý do Sĩ Quan và binh sĩ Cao Đài 20.000 người cũng được Quốc-gia-hóa làm hậu thuẫn cho Quốc Trưởng tùy nghi sử dụng. Vì giao quyền Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Thủ Tướng cho Ngô Đình Diệm nắm giữ, nên Bảo Đại bị ông Diệm phản phúc, lấy cớ trưng cầu dân ý lên làm Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, khiến Bảo Đại phải lưu vong qua Nice tị nan. Thời cuộc cứ đổi thay, ông Ngô Đình Diệm bị Dương Văn Minh đảo chánh, rồi Phan Khắc Sửu được cử làm Quốc Trưởng. Kế đến Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng Thống Việt-Nam Cộng Hòa cho đến 30-4-1975, Cộng-Sản đến lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như hiện nay.

 

 

QUYỀN


F: Autorité, pouvoir.

Quyền: - quyền hành, - quyền biến, - tạm làm, - sung vào chức vụ mà chưa chánh vị.

Pháp Chánh Truyền: "QUYỀN Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy, mà quyền ấy trở nên một cơ thể buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi. Ôi! Thảm thay! Cái thất vọng của Thầy nên ghê gớm!"

 

 

QUYỀN BIẾN


F: Débrouillard.

Quyền: thay đổi cách làm việc khi gặp hoàn cảnh khó khăn khác hơn lúc bình thường. Biến: thay đổi. Quyền biến là thay đổi cách thức làm việc cho kịp thời để đối phó với sự biến chuyển mau lẹ của tình thế (Theo việc xãy ra bất thường mà ứng biến).

Thi văn dạy Đạo:

Cung trương chim đỡ thế nào đang,
Mất phước ôn nhu ấy mất nhàn.
Quyền biến dầu dùng khi buổi ngặt,
Dằn lòng nhớ tránh kế mưu gian.

 

 

QUYỀN CHÍ TÔN

"Trên ba Hội lập quyền thì có Giáo-Tông và Hộ Pháp.

Giáo-Tông là chủ Cửu-Trùng-Đài thì lo về việc chánh-trị của Đạo có Chưởng-Pháp và Đầu Sư ở trung gian giúp sức điều-đình các luật-lệ truyền xuống cho ba Chánh Phối-Sư nắm trọn quyền hành-chánh. Giáo-Tông có quyền định đoạt trong việc chánh-trị của Đạo.

Hộ-Pháp thì lo giữ luật-lệ của Đạo cho khỏi sái Thiên-điều vì luật-lệ của Đại-Đạo Tam kỳ Phổ-Độ ngày nay thì thế cho Thiên-điều.

Hộ-Pháp có quyền đặc-biệt về Ân-xá cũng như Giáo-Tông có quyền Chánh-trị vậy..

Hộ-Pháp Chưởng-quản Hiệp-Thiên-Đài có Thượng Phẩm, Thượng-Sanh và Thập Nhị Thời Quân giúp sức.

Giáo-Tông và Hộ-Pháp hiệp một là Quyền Chí-Tôn".

 

 

QUYỀN CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ĐÀI THỪA MẠNG

Đức Hộ-Pháp ban thi cho Ngài Bảo-Thế Lê-Thiện Phước, Đàn đêm 06-02-Ất Tỵ (dl: 08-03-1965) tại Giáo Tông Đường lúc 20g30p. Ấy cũng là ban quyền hành thừa mạng lịnh để hành quyền trong cửa Đạo vậy.

QUYỀN uy nhờ bởi giữ chơn truyền,
CHƯỞNG đức dụng hiền mộ Thánh Tiên.
QUẢN quán chúng sanh tu cội phúc,
HIỆP hào nhân sĩ hưởng tiền duyên.
THIÊN môn mở rộng nguyên nhân đến,
ĐÀI nội tuyển thăng Thánh đức lên.
THỪA thế chuyển nguy an Thánh địa,
MẠNG trời đâu để quỉ hành quyền.
                        (Đức Hộ-Pháp)

 

 

QUYỀN GIÁO TÔNG LÊ VĂN TRUNG (Phẩm)

E: Interim Pope.
F: Pape intérimaire.

(Xem thêm Thượng Đầu sư Thượng Trung Nhựt)

 

 

 

- Quyền Giáo Tông hữu hình của Ngài Lê Văn Trung:

Quyền Giáo Tông là phẩm Giáo Tông chưa chánh vị. Người được hân hạnh nắm Quyền Giáo Tông ấy là Đức Lê Văn Trung. Đầu tiên được Đức Chí-Tôn độ vào cửa Đạo với phẩm Đầu sư phái Thượng Thánh-danh Thượng Trung Nhựt.

Ngày 03-10-Canh Ngọ (dl: 22-11-1930) Đức Lý Giáo Tông giáng cơ hiệp với Đức Phạm Hộ Pháp ra Đạo Nghị Định thứ hai, ban Quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, còn quyền-hành Giáo Tông thiêng liêng vẫn do Đức Lý nắm giữ. Kể từ ngày đó, Hội Thánh gọi Ngài là Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung. Như vậy, chúng ta thấy trong Đạo Cao Đài, quyền hành của Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp có hai phần: phần hữu hình và phần vô hình. Đức Lý Giáo Tông nhường phân nửa quyền hành Giáo Tông cho Ngài Lê Văn Trung điều khiển phần hữu hình, còn quyền hành Giáo Tông thiêng liêng vẫn do Đức Lý nắm giữ. Khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung qui Thiên, Đức Lý đem nửa quyền hành Giáo Tông hữu hình ấy giao cho Đức Hộ Pháp, nên Đức Phạm Hộ Pháp lúc đó là Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng.

- Đạo Nghị Định thứ 2 thăng phẩm Quyền Giáo Tông:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Đệ Ngũ niên)

Chiếu theo Pháp Chánh Truyền ban quyền hành cho Giáo Tông và Hộ Pháp,

Nghĩ vì chư Chức sắc Thiên phong có quyền đặc biệt ngoài luật đã định, còn quyền hành Hội Thánh nữa.

Nghĩ vì thiếu luật Hội Thánh nên quyền hành chánh chẳng đặng vẹn toàn.

NGHỊ ĐỊNH

Điều thứ nhứt: Ban quyền hành cho Thượng Đầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Giáo Tông về phần xác, còn phần thiêng liêng có Lão.

Điều thứ nhì: Chức sắc Cửu Trùng Đài, duy bậc Chánh Phối Sư phải tùng quyền mà hành chánh về phần Chánh trị của Đạo, song đặng thế mặt cho Đầu Sư, đương buổi Người cầm quyền Giáo-Tông của Lão.

Điều thứ ba: Mọi việc chi thuộc về quyền Chánh trị đều giao cho Chánh Phối Sư.

Điều thứ tư: Chánh Phối Sư đặng trọn quyền thông công cùng Chánh phủ và nhơn sanh, nhưng buộc phải có Hội viên Nhơn sanh và Hội Thánh chăm nom cơ hành động.

Điều thứ năm: Nghị Định nầy sẽ ban hành vào ngày 15-10-Canh Ngọ.

Làm tại Tòa Thánh Tây Ninh ngày 03-10-Canh Ngọ.

GIÁO TÔNG
Lý Thái Bạch

 

HỘ PHÁP
Phạm Công Tắc

_______________________________

- Sự biến loạn vì lòng đố kỵ phẩm Giáo Tông:

Một số ít Chức sắc Thiên phong sanh lòng đố kỵ Đức Quyền Giáo Tông, nên tìm đủ cách để công kích và buộc tội Ngài. Nào thiết lập Hội Vạn Linh để kết án Ngài, viết Tờ Châu Tri để mạ lỵ, xúi giục tín đồ đem nhiều việc phi lý kiện Ngài nơi Tòa-án Tỉnh Tây-Ninh, đồng thời vu cáo Ngài làm cách mạng chống Chánh-quyền Pháp. Không ngày nào mà Đức Quyền Giáo Tông không bị các viên Thẩm-phán Tòa Án đòi ra hỏi cung. Đang lúc bị khủng bố nguy nan như thế, Đức Ngài vẫn điềm tĩnh đối phó, một mặt hiệp với Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh sắp đặt Nữ phái trong Đạo.

Đức Ngài nói: "Lúc trước tôi đã giúp bà Cụ Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương lập trường Nữ học, bây giờ tôi hiệp với Bà Nữ Chánh Phối Sư tổ chức các Nữ Viện, cũng đồng một nghĩa. Tôi chỉ ao ước cho Nam Nữ bất bình đẳng ở ngoài Đời chẳng còn trong Đạo nữa".

Kết cuộc các vụ thưa kiện Đức Ngài ở Tòa Án tỉnh Tây Ninh, họ kết tội Ngài: trường hợp công quả đánh xe bò ban đêm không thắp đèn hiệu, bò thiếu dây buộc ách, 34 người Đạo công quả thiếu thuế, họ phạt Ngài hai ngày tù. Thật là khôi hài đối với một vị Cựu Thượng Nghị viên thưởng thọ Bắc Đẩu Bội Tinh của Chánh phủ Pháp. Họ biết Ngài vô tội, nhưng cũng cố buộc tội để làm nhục Ngài. Bọn lính "sen đầm" đem hai án tòa vào Giáo Tông Đường đặng bắt Ngài ra ngồi tù ở khám đường Tây Ninh. Ngài chậm rãi khăn áo chỉnh tề, mang Bắc Đẩu Bội Tinh vào, rồi đi theo sai nha. Đó là buổi sáng ngày mùng 07 tháng Giêng năm Giáp Tuất (dl: 20-02-1934), trước lễ Vía Đức Chí Tôn hai ngày. Đức Ngài ngồi tù tại khám đường Tây Ninh hai ngày rưỡi mới được thả về.

Sau khi cúng vía Đức Chí Tôn và lễ rằm Thượng nguơn xong, Đức Ngài liền viết một văn thư đề ngày 04-03-1934 (âl 19-01-Giáp Tuất), gởi cho Chánh phủ Pháp giao trả Bắc Đẩu Bội Tinh, vì nó không còn ý nghĩa gì nữa. Bức văn thư nầy viết bằng Pháp ngữ, trong đó có nhiều chi tiết lịch sử quan trọng, xin chép nguyên văn ra đây và có bài dịch ra Việt băn.

_______________________________

THƠ CỦA ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG
Gởi cho Giám Quốc Pháp trả Mề-đai điều

Bản phiên dịch Việt văn

Thưa Ông, Tôi xin hoàn lại nơi tay ông cái Médaille điều của Chánh-phủ Pháp ban thưởng cho tôi hồi năm 1912.

Ra làm việc quan trong 12 năm, ai ai cũng đều mến yêu và khen ngợi, làm Hội đồng Quản Hạt trong 8 năm, lại có chưn trong ban Hội đồng Thượng Thơ Ðông Dương được 12 năm, cả thảy là 32 năm trời. Tôi lấy lòng trung thành lo việc cho Quốc Pháp nên mới có một cái vinh diệu xứng đáng như thế. Nhiệm vụ của Tôi đối với đời đã mãn hạn, Tôi sắp sửa về nghỉ an dưỡng lão. Bỗng chốc Ðức Chí Tôn gọi Tôi ra gánh vác nền Ðạo-đức để dung hợp các Giáo lý với thế gian, hầu gieo khắp trên võ trụ, sự ham muốn điều qui thiện và lòng yêu thương đồng loại, sự nhiệt thành đạo đức đặng cho loài người biết công lý và quả báo tương lai. Trót 8 năm nay, Tôi nhiệt tâm mưu kết sự Thương-yêu tình nhân loại trong các chủng tộc, vì Tôi đây nhận chắc Giáo lý tân khai nầy để làm tài liệu cho chúng sanh bước lên Hòa-bình Thế-giới. Ðạo Cao-Ðài ngày nay tính ra trên một triệu Tín đồ, phần nhiều là người Việt-Nam, còn bao nhiêu người Langsa, người Cao-Miên, người Lào, người Sơn-cước và người Tàu; có lẽ Chánh phủ thuộc địa chưa có hiểu tâm lý của chúng tôi, cho nên Tín-đồ của Ðức Chí Tôn thường thường bị người bạc đãi áp chế một cách vô lý, mỗi lần chúng tôi yêu cầu xin xỏ điều chi, thì mỗi lần Chánh phủ lấy võ lực can thiệp khuấy rối người hành đạo. Trong thời buổi nầy Chánh phủ lại dùng đủ phương sách để đánh đổ người đứng ra sáng lập nền Giáo lý của Ðức Chí Tôn. Tôi xin trích lục nhiều đoạn Tôi đã viết một cái thơ gởi cho Tham Biện Vilmont ở Tây Ninh: Ông đã làm ăng-kết (enquête) rồi, vậy xin ông cho chúng tôi biết chừng nào mãn cái qui định cúng tế đã tổ chức ra đây. Còn những chuyện lôi thôi mà ông đã lược thuật cho Tôi biết trong thơ của ông, Tôi xin lỗi, chớ phải chi ông cố cập đến Tôi một chút ít, nghĩa là: Nếu ông không nhìn nhận Tôi là Giáo-Tông, thì ít nữa cũng nhìn nhận Tôi là chủ Thánh Thất Long-Thành, thì đâu có xảy ra mấy vụ lôi thôi như thế. Vả lại chúng tôi đây, không phải là người tổ chức các vụ ấy, cuộc hội nghị tại Thánh Thất, rồi ông có lòng khinh khi miệt thị một người tôi tớ trung thành lão nhược của Chánh-phủ Pháp, người tớ ấy tức là Tôi đây, mà ngặt nỗi Tôi đây có cái hân hạnh được Chánh-phủ Pháp ban thưởng Médaille điều, Tôi vì mạng lịnh của Ðức Chí Tôn mà tận tâm mưu công ích cho hai nước Pháp Việt, cho dân tộc được đề huề một cách chơn thật, cùng sống mà hưởng lợi quyền như nhau, mà ngày nay lại thấy thân giam hãm vào trong nghịch cảnh nầy, thì thật là khổ tâm cho Tôi là dường nào? Tôi viết thơ phân trần mọi lẽ mà Chánh phủ đáp lại bằng cách bạo ngược. Mới rồi đây, hôm ngày 22 tháng 2, có 34 người Ðạo của Tôi thiếu thuế mà Chánh phủ lại bắt bỏ tù Tôi, một ông già 60 tuổi có Médaille (mày-đai) điều, vô cớ ngồi tù hai ngày giữa mặt Chánh phủ thuộc địa. Vậy cái Médaille quí báu kia có giá trị gì? Vậy lỗi ấy do bởi Chánh phủ Pháp-quốc không biết chọn người cho xứng đáng. Kể từ đây Tôi không muốn theo cái danh vị gì nữa, danh vị dầu cao trọng thế mấy, Chánh phủ thuộc địa coi cũng không ra gì, mà lại không thể chứng cái lòng trìu mến của Tôi đối với nước Pháp. Tuy nhiên, Tôi cũng vẫn còn hy vọng đến ông Thần công lý của Pháp-quốc mà bấy lâu thiên chức của Tôi, hầu có ngày tự biết điều quấy của mình và rõ thấy Ðạo Cao Ðài không ngoài cái mục đích đem Thế-giới lên con đường Hòa-bình và thân ái. Kính chào ông.

LÊ VĂN TRUNG

Bản chánh Pháp văn

Tây Ninh, le 4 Mars 1934.

A Monsieur le Président de la République Francaise PARIS

Monsieur le Président de la République,

J'ai l'honneur de venir très respectueusement remettre entre vos mains la Décoration de Chevalier de l'Ordre National de Légion d'honneur que ma conférée la République Francaise par Décret du 18 Mai 1912.

Fonctionnaire apprécié et estimé pendant douze ans, Conseiller Colonial ensuite pendant huit ans, enfin Membre du Conseil du Gouverment de l'Indochine pendant douze ans, telles sont les trente-deux années de vie mises loyalement au service de la France, qui m'ont valu cette haute récompense de la République.

Après ma vie publique, je m'apprêtais à finir mes vieux jours dans un coin oublié de terre en Cochinchine, quand soudain (1926) je fus appelé par l'invisible à reprendre ma tâche pour l'unification de toutes les religions existantes, pour "semer parmi les peuples l'amour du bien et des créatures de Dieu, la pratique de la vertu, apprendre à aimer la justice et la résignation: révéler aux humains les conséquences posthumes de leurs actes, tout en assainissant leur âme".

Depuis huit ans je me consacre entièrement à cette oeuvre de fraternisation des races, convaincu que la nouvelle religion constitue un des puissants facteurs indispensables à la réalisation d'une collaboration loyale et sincère de tous les peuples, d'une paix mondiale durable.

Le Caodaisme comprend aujourd'hui plus d'un million de fidèles composé d'Annamites en très grande partie et de Francais, Combodgiens, Laotiens, Mois et Chinois.

Nous ne sommes pas compris peut-être par le gouvernement Colonial?

Toujours est-il que le Caodaisme est sans cesse injustement frappé.

À nos doléances et à nos réclamations, on répond par des actes arbitraires et des persécutions religieuses.

À l'heure qu'il est en fait tout pour atteindre le promoteur de cette nouvelle église dans son honneur.

Dans de nombreux documents, je me permets d'extraire les passages édifiants ci-après d'une lettre que j'ai écrite récemment à Monsieur l'Administrateur Vilmont, chef de la Province de Tây Ninh Cochinchine.

"En ce qui concerne vos récentes instructions, je vous serais très obligé de bien vouloir me faire connaitre jusqu'à quand est applicable cette nouvelle règlementation des cultes.

Quant aux évènements dont vous avez fait allusion dans votre lettre, je me permets de vous faire remarquer que si vous aviez bien voulu tenir compte de mes requêtes et de mes droits sinon de chef du Sacerdoce Caodaisme, du moins de chef du Temple de Long Thanh (Tây Ninh) ces "désordres" n'auraient jamais au lieu. Mieux que tout autre vous saviez que les désordres que vous signalez aujourd'hui ne venaient pas de nous.

Le réunion du 24 Novembre dernier, autorisée par vous à se tenir dans mon Temple, à des personnes tout à fait étrangères à la religion et malgré ma lettre No 394 du 22 Novembre 1933, est un véritable défi, sinon une insulte, jeté sans motif à la face qu'un vieux et loyal serviteur de la France doublé d'un décoré de la Légion d'honneur. Il m'est vraiment pénible de constater ces choses à l'heure où tous mes efforts et tout mon dévouement sont mis sincèrement au service de la cause commune des deux peuples, c'est-à-dire à l'entente cordiale et sincère les deux races applelées par la volonté du tout puissant à vivre en communauté de vie et l'interêts."

Naturellement ces doléances sont restées sans réponse, par contre les persécutions se sont de plus belle.

La dernière en date fut mon emprisonnement, le 22 Février dernier, pour dette due au fisc par trente-quatre de mes coreligionnaires, prétexte tout à fait falicieux.

Le Chevalier de Légion d'Honneur, à l'aurore de sa soixantième d'année, fut jeté en prison sans qu'aucune formalité prescrite par la loi ne fut observée. J'ai séjourné deux jours et demi dans une cellule de la prison de Tây Ninh avec mon ruban arboré et la carte de Chevalier sur moi.

Ainsi aux yeux du Gouvernement Colonial, la Légion d'honneur ne signifie rien, l'infâmie peut atteindre.

Tout le tort revient-il à la République qui ne devait pas conférer cet insigne honneur à un pauvre indigène?

J'accomplis mon geste avec d'amers regrets, mais je préfère ne plus porter une très haute distinction à laquelle le Gouvernement Colonial n'a aucun égard et qui ne peut même plus devenir un éclatant témoignage de mon attachement à la France.

Cependant, confiant en la justice de cette France douce et généreuse que j'ai toujours aimée, je poursuivrai jusqu'au bout ma tâche sans passion et sans haine, espérant qu'on voudra bien un jour se rendre compte des erreurs commises et rendre justice à une religion qui n'a d'autre prétention que celle d'apporter au monde la paix et la concorde.

Veuillez agréer, Monsieur le Président de la
République, l'expression de mon plus profond respect.
LÊ VĂN TRUNG
LÊ VĂN TRUNG Pâpe Intérimaire
du Bouddhisme rénové ou Caodaisme,
Ancien Conseiller Colonial,
Ancien Membre du Conseil de Gouvernement de l'Indochine.

Long Thành Tây Ninh (Cochinchine).
Pièce jointe: Un certificat de Monsieur le Grand Chancelier de l'Ordre National de la Légion d'Honneur.

_______________________________

Vì sao Đức Quyền Giáo-Tông trả Bắc-đẩu Bội tinh?

"Ông Lê Văn Trung, nguyên Thượng Nghị Viện thưởng thọ Bắc Ðẩu Bửu Tinh, Giáo Tông Đạo Cao Ðài, lại do hai cái án "tuần cảnh" phạt hai tên đánh xe bò của Tòa Thánh về tội không thắp đèn và bò thiếu dây buộc ách mà phải bị bắt vô chịu tù ở khám đường Tây-Ninh. Ngày Ông vô khám nhằm lễ khai hạ, mồng bảy Tết năm Giáp Tuất (1934) trước Vía Trời vài ba bữa. Tôi còn nhớ khi sen-đầm đem hai bổn sao lục của hai cái án nói trên đây vô Giáo-Tông-Ðường đặng bắt Ông ra Tòa Bố Tây Ninh, thì ông chậm rãi, khăn áo chỉnh tề, mang Bắc-Ðẩu Bửu-Tinh và huy hiệu Giáo-Tông vào rồi đi theo sai nha không nói một tiếng chi khác hơn là dặn các Giáo Hữu, các Tín đồ hãy yên lặng mà lo việc cúng Vía.

Mấy ngày Ông ngồi trong khám, ngoài Tòa Thánh từ các Chức Sắc cho đến Tín đồ họ đều nhịn đói mà chờ Ông.

Mãn hạn ba ngày, Ông về Tòa Thánh, Chức Sắc, Tín đồ người khóc kẻ ôm tay Ông hun, Ông xem cũng như tuồng có ý cảm động nhiều hơn trong những dịp khác.

Làm Lễ vía Trời vừa xong, thì Ông liền viết một bức thơ gởi cho Chánh phủ mà xin trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh lại.

Thơ ấy có nhiều câu ý vị sâu xa. Song tôi không muốn thuật ra đây, vì sau khi Quan Toàn Quyền ROBIN qua trấn nhậm, Ông đã có vào diện yết Ngài và hai đàng cũng đã điều đình công việc "Tự do tín ngưỡng" của Ðạo, thì nhắc lại chuyện cũ sợ e có hại đến hòa khí của Ông đã đào tạo ra.

Tôi chỉ muốn thêm rằng trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh là một "việc làm" sau hết của cái đời sống của ông và nhắc lại lời của ông đã cắt nghĩa "việc làm" ấy: Ngài nói:

- "Ðừng tưởng tôi trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh mà còn có ý chi phiền Chánh phủ, trách những nhà đương quyền lúc bấy giờ. Danh giá thể thống của Viện Bửu Tinh buộc tôi phải làm như vậy. Tôi mà nói đây chẳng phải vì nghi sợ điều chi mà chỉ vì ước ao ai nấy đều hiểu rằng tôn chỉ, mục đích của Ðạo chúng tôi là Hòa bình, thân ái khắp cả chúng sanh "nhứt thị đồng nhơn" thì chúng tôi đâu được phép phiền trách hờn giận. Huống chi, theo thiển kiến của tôi đối với vấn đề thực dân, thì dầu cho lúc ban sơ nó là "việc làm do ở cường quyền" song dần dần bên cai trị và bên bị cai trị cùng nhau tiếp xúc, rồi biết rõ nhau mà yêu nhau, thì chúng ta lại có thể hi vọng rằng cái "việc làm do ở cường quyền" kia sẽ thành ra một mối dây đoàn thể, thân thiện của dân tộc nầy đối với dân tộc khác".

Sau khi đối với Ðạo, Ðạo biết Ông vô tội; đối với Tòa, Tòa biết Ông vô tội; cái danh hành Ðạo của Ông được trắng như tuyết. (Nhà báo Diệp-văn-Kỳ)

 

 

QUYỀN HÀNH


F: Autorité, pouvoir.

Quyền-hành 權行: Có quyền hành động, xử lý công việc.

Đức Hộ-Pháp nói: "Có một điều ân hận hơn hết là tại sao đã gọi nước Việt Nam độc lập mà khi Đức Thượng Hoàng Thành Thái trở về, thiên hạ không cho Ngài trở về? Cùng cho đến nước, chính mình Bần-Đạo phải làm tờ xin cho Ngài về đặng tạm cầm quyền-hành trở lại, nhưng nghĩ cũng chưa có một quyền-hành gì và cho đến khi Ngài chết mới đem về được. Bần Đạo nghịch nhất: thử hỏi độc-lập chúng ta giờ phút này phải bánh vẽ hay chăng? Nội bằng cớ ấy làm chứng quả-quyết cái lịch-trình tranh-đấu của nước Việt Nam vẫn còn tiếp tục không bao giờ chấm dứt được!".

 

 

QUYỀN HÀNH BỐ HÓA

Quyền hành bố hoá 權行佈化: quyền sấp xếp và giáo hóa.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Đã thọ lãnh quyền hành bố hoá,
Dầu đắng cay không ngã tấc lòng.
Nếu nay chẳng hết dạ trung,
Đạo đành bị bế còn mong nỗi gì?

 

 

QUYỀN HÀNH CHÍ TÔN CỦA THẦY

Thầy dạy tại Thảo Xá Hiền Cung Tây Ninh, ngày 15-11-Tân Mùi (dl: 23-12-1931):

"Các con nghe lời dặn cần yếu nầy mà làm phận sự các con cho vẹn vẻ cùng Thái Bạch. Các con phải nhớ rằng, toàn Thế giới Càn khôn chỉn có hai quyền: Trên là quyền hành Chí Tôn của Thầy, dưới là quyền hành của sanh chúng. Thầy đã lập hình thể hữu vi của Thầy, nghĩa là Hội Thánh của Ðại Ðạo ngày nay rồi thì Thầy cũng phải ban quyền hành trọn vẹn của Thầy cho hình thể ấy đặng đủ phương tận độ chúng sanh; còn các con cả thảy đều đứng vào hàng sanh chúng, dưới quyền hành chuyển thế của Ðời, nghĩa là toàn nhơn loại đồng quyền cùng Thầy, mà tạo hóa vạn linh vốn là con cái của Thầy. Vậy thì Vạn linh cũng có thể đoạt vị vào hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng. Trong quyền hành ấy có nhiều đẳng cấp, nên khởi phải chịu phẩm Người. Ấy vậy, Người là chủ quyền của Vạn linh. Thầy nói rõ, quyền Chí Tôn là Thầy, quyền Vạn linh là sanh chúng. Ngày nào quyền lực của Chí Tôn đặng hiệp một cùng Vạn linh thì Ðạo mới ra thiệt tướng. Thầy đã ban quyền hành Chí Tôn của Thầy cho hai đứa làm đầu Hội Thánh là Giáo Tông cùng Hộ Pháp. Vậy thì quyền hành Chí Tôn của Thầy đặng trọn vẹn khi Giáo Tông cùng Hộ Pháp hiệp một. Còn cả nhơn loại thì là quyền lực Vạn linh. Quyền hành Chí Tôn của Thầy duy có quyền hành Vạn linh đối phó mà thôi. Thái Bạch hằng giận các con rằng, mọi điều chi nó đã hiệp đồng cùng Hộ Pháp mà ban hành thì các con lại còn khi lịnh mà xem rẻ rúng. Vậy thì từ đây, hễ có mạng lịnh chi đã đủ hai đứa nó hạ truyền thì các con phải hội đủ Nhơn sanh, Hội Thánh và Thượng Hội mà xét nét cho cặn kẽ phân minh, đặng thi hành phận sự. Thái Bạch đã hứa cùng Thầy rằng, qua ngày Tòa Tam Giáo Nữ phái rồi thì nó sẽ phong Thánh thêm nữa. Các con rán mà chiều theo lòng nó nghe. Thầy ban ơn cho các con".

 

 

QUYỀN HÀNH TÂM LÝ

Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) rằng:

"Ôi, quyền hành tâm lý buổi nào thì cũng gặp sẵn một tay thù địch mạnh mẽ, cường thạnh, oai nghiêm, là quyền Ðời hiện hữu. Sự xung đột của quyền Ðời và quyền Ðạo tự cổ chí kim tự nhiên đều có. Chúng ta đã choán biết rằng những quyền lực mà hành thế đều nương theo tinh thần mà sản xuất. Trứng tinh thần ấy nở sanh quyền lực, vì cớ cho nên các quyền hành đã có đủ thế lực mạnh mẽ, nắm thế trị vào tay, hễ vừa thấy trí thức tinh thần của nhơn sanh ướm mòi sản xuất một cái trứng quyền hành chi khác nữa thì đã sợ lưu hại mình nên toan phương đạp đổ."

 

 

QUYỀN HÀNH VÔ LƯỢNG

Quyền hành vô lượng 權行无量: Quyền hành vô cùng tận.

Thứ tư, 22-9-1926 (âl 16-8-Bính Dần).

Thầy dạy: "Cầm cả quyền hành vô lượng nơi tay, Thầy ngó một cái cũng đủ tiêu diệt nó đặng, nhưng mà phép công bình thiêng liêng chẳng phải nên vậy. Ấy cũng là cơ mầu nhiệm cho các con có thế lập công quả.

Trung, Lịch, hai con phải hội chư Thánh mà xin Khai Ðạo. Phải làm đơn mà dâng cho Thầy xem xét sửa trước nghe!"

 

 

QUYỀN LỰC

權 力
F: Pouvoir.

Quyền lực 權力: Quyền hành và thế lực (Cái sức có thể cưởng chế khiến người ta phải phục tòng mình).

Thầy dạy: "Con khá hiểu lời Thầy và nên biết rằng, nếu con chẳng dụng quyền lực của Thầy ban cho con mà đương cự, dìu dắt các em thì một ngày kia, nó dẫn đi lần hồi hết, rồi còn một mình như chim lẻ bạn, như phụng lạc bầy, gặp cơn giông tố kia, cũng chẳng sức gì đởm đương cho khỏi sa nơi hắc ám".

 

 

QUYỀN NĂNG

權 能
E: Power.
F: Pouvoir.

Quyền năng 權能: Quyền hành và cái khả năng tự phát của mình.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần Ðạo sau 5 năm bị đồ lưu nơi hải ngoại, chịu mọi điều thống khổ, cái chết của Bần Ðạo cách cái sống bằng một sợi tóc, mà Bần Ðạo vẫn còn về đây. Nếu nói thế thường, cái tình cảnh chịu 5 năm khổ sở lao lý ấy, tinh thần, lấy vật hình thường tình tâm lý mà nói, không ai không cố hận, cố phiền được, hận với phiền nó cố nhiên, mà nếu hận phiền ấy theo tâm lý thường tình thì có gì quan hệ đâu. Trái lại trong thi hài của Phạm Công Tắc còn có một vị làm chủ của nó nữa là Hộ Pháp; quyền của Hộ Pháp mạnh mẽ hơn của Phạm Công Tắc là con ngựa để cỡi mà thôi, còn Hộ Pháp là người cỡi, nên con ngựa không thể không tuân mạng lịnh của chủ nó được. Hộ Pháp có một phần, mà Phạm Công Tắc có một phần, Phạm Công Tắc là tôi, còn Hộ Pháp là quyền năng của Chí Tôn."

 

 

QUYỀN NĂNG GIẢI THOÁT

Chính mình Đức Chí-Tôn biểu Đức Phật Mẫu tức nhiên Mẹ sanh của chúng ta cầm cả quyền-năng giải thoát trong tay đến lập Hội-Yến Diêu-Trì tại mặt thế này và cả con cái của Ngài, nhứt là 92 ức nguyên nhân ấy. Nếu nhập vào cửa Đạo tùng theo chơn-pháp thì đặng hồng-ân của Đức Chí-Tôn cho hưởng cái Bí pháp Diêu-Trì tại thế này, cái cơ siêu thoát thiên-hạ đã đoạt nơi tay họ sẵn, tức nhiên giờ phút cuối cùng này là giờ phút hứng thú, giờ phút chết của họ thì họ đoạt vị một cách dễ-dàng ngôi-vị vào cơ-quan siêu thoát. Đức Chí-Tôn đã cho không họ đó vậy!

Nhờ đó mà cơ-quan tận độ vạn-linh của Đức Chí-Tôn đã lập lại tại thế này, từ đây sẽ mở rộng cửa Thiêng-liêng hằng sống đặng đến gom góp cả con cái của Ngài, trở về Hội hiệp một cùng Ngài, Bí-pháp Hội-Yến Diêu-Trì là vậy đó."

 

 

QUYỀN PHÉP

Đức Hộ-Pháp nói về Kim Quan Sứ: "Ngó thấy quyền của người ta như thế đó. Hại thay! Đường đi từ Ngọc-Hư-Cung qua Cực Lạc Thế Giới buổi nọ bị người ta ngăn đường không cho người ta đi qua, bằng không thì trở lại. Theo chúng ta lấy tình thật thì Đạo-Giáo sẽ chỉ điều ấy, cũng không có lạ gì với Đức Chí-Tôn. Đấng mà dám đưa tay cho kẻ thù định phận, quyền năng dường ấy để khảo duợt toàn con cái của Ngài, tức nhiên là khảo-duợt Người, mà Người không có nao, không có sợ. Chúng ta đủ biết quyền phép của Đức Chí-Tôn hơn quyền phép Kim-Quan-Sứ thế nào? Hơn nhiều lắm!"

 

 

QUYỀN THẾ

權 世
F: Pouvoir, puissance.

Quyền thế 權世: Quyền hành và thế lực.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Lo lập nghĩa nhân đồng loại giúp,
Ðừng ham quyền thế một mình riêng.

 

 

QUYỀN THIÊNG LIÊNG

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo đêm 8 tháng 4 Ất Mùi (1955):

"Đêm nay là ngày vía Đức Phật Thích Ca luôn ngày vía Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, có phải chăng là một việc tình cờ hay là quyền Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn đã định, Chị Nữ Đầu Sư vẫn thương yêu Đức Phật Thích Ca lắm. Tuy vân, Đức Chí-Tôn đến kêu Người phải về cùng Thầy mà sự thật, tâm Đạo của Chị từ bé tới lớn chỉ theo chơn Đức Phật Thích-Ca mà thôi, nếu xét đoán ra đã biết Đạo thì sự ấy không chi lạ".

 

 

QUYỀN THỐNG NHẤT


E: The unified power.
F: Le pouvoir unifié.

(Quyền: quyền hành. Thống nhứt: gom vào một mối). Quyền Thống Nhứt là hai quyền Hành chánh và Tư pháp gom về một mối do một người nắm giữ.

Trong Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn lập Cửu-Trùng Đài cầm quyền Hành Chánh Đạo do Đức Giáo Tông Chưởng quản và lập Hiệp-Thiên-Đài cầm quyền Tư Pháp Đạo do Đức Hộ Pháp chưởng quản. Trong trường hợp đặc biệt, hai quyền nầy tập trung vào một người nắm giữ thì gọi là Quyền Thống Nhứt. Như vậy, Quyền Thống Nhứt là Quyền Chí Tôn tại thế. Bởi vì Quyền Thống Nhứt là quyền mà Đức Chí Tôn đã phân ra làm hai: một nửa giao cho Đức Giáo Tông Cửu-Trùng Đài, một nửa giao cho Đức Hộ Pháp Hiệp-Thiên-Đài. Cho nên Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp hiệp lại ra lịnh chi, thì lịnh đó có giá trị như là lịnh của Đức Chí Tôn. Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung qui Thiên, nền Đạo chinh nghiêng. Ở bên ngoài thì nhà cầm quyền Pháp tìm cách đàn áp, bên trong nội bộ thì các Chức sắc bất hòa, công kích nhau, rồi tách riêng ra lập Chi phái, chống đối Tòa Thánh. Để đối phó với tình thế khó khăn nầy, Đức Lý Giáo Tông giao quyền Giáo Tông tại thế cho Đức Phạm Hộ Pháp, để Đức Hộ Pháp có đủ oai quyền điều khiển toàn Hội Thánh Cửu Trùng Đài, Hiệp-Thiên-Đài và Phước Thiện.

Trong Đạo Luật năm Mậu Dần (1938) Đại-Hội Hội Thánh họp giao quyền Thống Nhứt cho Đức Phạm Hộ Pháp, xin trích ra sau đây:

LUẬT: Toàn đạo nam nữ đồng công nhận và tín nhiệm Quyền Thống Nhứt của Đức Hộ Pháp cho đến ngày có Giáo Tông ra mặt.

PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH: -Trong mấy năm vừa qua, nền Đạo nhờ nương dưới Quyền Thống Nhứt của Đức Hộ Pháp mà đặng thạnh hành phát đạt một cách mau chóng, trên Hội Thánh đủ oai quyền vững đạt, dưới chúng sanh đặng đầy đủ tinh thần nghị lực mà thật hành chủ nghĩa cao thượng của Đức Chí Tôn. Vậy từ đây, toàn đạo nam nữ nên để cả đức tin nơi Ngài hầu đủ phương pháp tạo đời sửa thế.

LUẬT: Toàn đạo nam nữ giao quyền Chánh Trị Đạo cho Quyền Thống Nhứt cầm cho đến ngày có Đầu Sư nam nữ chánh vị.

PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH: Theo Pháp Chánh Truyền thì quyền Chánh Trị Đạo là đặc quyền của Đầu Sư, nhưng hiện thời bên Cửu-Trùng Đài phẩm vị Đầu Sư không có, còn Quyền Vạn Linh thì không đủ sức, vì thiếu bậc tài ba đạo đức, nên để cho Quyền Thống Nhứt đủ năng lực đặng lập thành quyền Đạo đối với quyền đời, đương nhiên cùng các nền Tôn giáo. Ấy là cái hay làm cho Đạo ra thiệt tướng.

Ngày 01-12-Quí Tỵ (dl: 05-01-1954), Đức Lý giáng cơ nói với Đức Phạm Hộ Pháp:

- "Hiền Hữu có nghĩ tại sao Lão phải dâng quyền Giáo Tông cho Hiền Hữu đặng có trọn quyền Chí Tôn hữu hình tại thế chăng?

Hộ Pháp bạch: - Xin Ngài dạy rõ.

- Thì cũng do lòng từ bi vô tận của Đại Từ Phụ. Người sợ oai của Lão vì cầm quyền thiêng liêng mối đạo quá chấp nê phàm tánh, không dung thứ tội tình cho con cái của Người, nên giao cho Hiền Hữu, là bạn đồng sanh, biết đau đớn, biết khổ cực với mảnh thi phàm mà rộng dung cho họ. Cười... Quyền Chí Tôn trong tay Hiền Hữu thì cứ tự dụng, định vị cho Thánh Thể của Người. Lão chẳng nên can thiệp vào đó. Nầy Hiền Hữu, Lão nói thử, Hiền Hữu nghĩ coi có lẽ nào Lão cầm cơ thăng vị cho những người như: Kiên, Chấn, Thạch, Dược. Cười... Hiền Hữu tự mình định liệu lấy, nếu cần thì phò loan nơi Giáo Tông Đường, Lão sẽ đến bàn luận. Lão xin kiếu."

Theo Pháp Chánh Truyền, Quyền Thống Nhứt giao cho 3 vị Đầu Sư khi nền Đạo gặp cơn nguy biến. (Phải có đủ 3 vị Đầu Sư ba phái mới lãnh được Quyền Thống Nhứt, thiếu một vị cũng không được).

"QUYỀN THỐNG NHỨT: Khi Minh Thệ rồi, Đầu Sư đặng cầm quyền luôn cả Chánh trị và Luật lệ. Nhờ quyền lớn lao nầy, Đầu Sư sẽ có đủ thế lực mà ngăn ngừa Tà quyền hại Đạo. Thảng gặp cơn nguy biến mà cả ba Chánh Phối Sư không đủ sức chống ngăn, thì Đầu Sư đặng dùng Quyền Thống Nhứt ấy mà điều khiển Hội Thánh. Cả Chức sắc Cửu-Trùng Đài và Hiệp-Thiên-Đài phải phục mạng, dầu cho Giáo Tông và Hộ Pháp cũng phải vậy." (Hay!)

 

 

QUYỀN THƯỞNG PHẠT

Quyền thưởng phạt 權賞: Quyền ban thưởng và xử phạt.

Quyển thưởng là ban khen cho kẻ có công. Quyền phạt là sự trách cứ theo luật Thiên điều. Kể từ ngày 29-10-1926, Ðức Chí Tôn giao quyền thưởng phạt Chức-sắc cho Ðức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ-Độ đủ thấy quyền-uy của Ngài lớn đến dường nào!

Thánh ngôn: Ngày 29-10-1926 (âl 23-9-Bính Dần)

"Thầy buộc phải nói rõ cho các con đừng lầm mà trách Thầy. Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ. Thầy đã đến mà dìu dắt từ đứa thì lẽ nào lại đành lòng xô đuổi. Thầy thấy các con bị phép thử thất Ba Trấn lập thành thì đã hiểu nhiều đứa bị hành. Thầy ngậm đau nuốt thảm ngồi nhìn. Thầy chẳng để thử thất, Ba Trấn trách Thầy vì yêu mến quá lẽ mà làm mất hết công bình, nhứt là Lý Thái Bạch kêu nài hơn hết. Dầu Quan Âm và Quan Thánh xin cũng chẳng đặng. Nhứt là buổi thử thất ấy, lại nhằm ngày khai Thánh Thất thì các con đủ hiểu là hại dường nào, song phải dằn lòng chịu vậy. Các con ngã thì tại nơi Thầy. Nếu Thầy biết các con nhẹ tính thì thế nào cũng chẳng chịu. Lại để lời tiên tri mà dặn trước, nào dè Thánh Ngôn, các con không đọc, lời Thầy nói cũng như không, mới ra tội lỗi các con phạm thượng thế ấy. Vậy từ đây, quyền thưởng phạt đã giao vào tay Lý Thái Bạch. Các con liệu mình mà cầu rỗi nơi Người. Thầy dạy dỗ, các con không nghe, đợi có hình phạt thì các con chịu lấy."

TÁI CẦU: Đức Lý Thái Bạch giáng dạy:

"Từ đây Thầy đã giao quyền thưởng phạt về nơi tay Bần Đạo. Vậy các Đạo-hữu khá hết lòng lo lắng vun đắp nền Đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh-ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.

Mở một mối Đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối Đạo cũng chẳng phải dễ. Muốn lập thành tất phải có điều nghiêm chánh thưởng phạt. Có thưởng mới giục lòng kẻ có công, có phạt mới răn đặng lòng tà vạy.

Thưởng phạt tuy chẳng phải hữu hình, nhưng là một sự mừng vui, chưa có bậc cao thượng ở thế nào bằng, và một sự buồn bã nào sánh đặng. Dầu có ăn năn hối hận mấy kiếp, ngày giờ cũng đã qua rồi. Ngôi Cực Lạc vẫn có người choán hết.

Phần nhiều các Đạo hữu dày công mà xây đắp nền đạo, nhưng sự ham muốn còn bôn chôn theo tình thế. Công đã nhiều mà bước tới nữa dường như ngán bước, gặp sự gay go đã mỏn lòng. Than thay! Tiếc thay!

Ðặng bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới dìu dắt, rửa lỗi, mà chẳng bươn chải cho kịp thì, để đua nhau nghĩ tính về miếng đỉnh chung, nếu Thầy chẳng đại từ đại bi thì công quả đã chảy theo dòng nước.

Từ đây Bần Đạo phải để ý dìu dắt bước đường cho các Đạo-hữu, phải gắng công thêm nữa cho hiệp với cơ Trời. Ai hữu phước thì địa vị đặng cao thêm, ai vô phần thì bị đọa Tam pháp. Phước phần cũng khó lựa người, rủi rủi may may đừng trách nơi Bần Đạo"

 

 

QUYỀN TƯỚC

Quyền tước: quyền hành và phẩm tước.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần Đạo nhớ lại lúc ban sơ nền Đạo mới phôi thai nền chính trị Đạo không có chi hết. Bần Đạo đã bị uy quyền ép chế thành thử buổi ấy chưa biết giá trị của mình lãnh sứ mạng nơi Đức Chí Tôn là gì hết, mà dám chịu lãnh quyền tước, khi chịu mang cái quyền tước trong mình thì thời buổi không có làm gì được hết."

 

 

QUYỀN VẠN LINH

Theo chánh thể của Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, thì có ba Hội, đã định quyền hành đặc biệt:

1- Thứ nhứt là Hội Nhơn Sanh: Trong Hội Nhơn Sanh thì Chánh Phối Sư phái Thượng là Chủ Trưởng.

Hội Viên thì từ Lễ Sanh đổ xuống Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự và người Phái Viên thay mặt cho nhơn sanh. Trong Nội Luật Hội Nhơn Sanh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ luật lệ. Ấy vậy từ hàng Tín Ðồ cùng Đồng nhi đều có người thay mặt đặng xem xét việc Ðạo rồi đệ lên Hội Thánh phán đoán.

Vạn vật cũng có ảnh hưởng trong Hội Nhơn Sanh vì người là Chúa của Vạn vật. Xét kỹ thì Thầy công bình không xiết kể và lo việc hóa sanh không ngằn không tận.

2- Thứ nhì là Hội Thánh: Trong Hội Thánh thì có Thái Chánh Phối Sư làm Chủ Trưởng. Hội Viên thì từ Giáo Hữu, Giáo Sư và Phối Sư thiệt thọ có trách nhậm hành chánh đặc biệt.

Trong Nội Luật Hội Thánh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ thức lệ. Hội Thánh có quyền xem xét các việc của Hội Nhơn Sanh dâng lên và các việc hành chánh trong Ðạo, rồi đệ lên Thượng Hội.

3- Thứ ba là Thượng Hội: Thượng Hội thì cũng có Nội Luật chỉ rõ thức lệ. Trong Thượng Hội thì Giáo Tông làm Chủ Trưởng, Hộ Pháp làm Phó Chủ Trưởng. Hội Viên thì có:

- Thượng Phẩm
- Thượng Sanh
- Ba vị Chưởng Pháp
- Ba vị Ðầu Sư
- Và Ðầu Sư Nữ Phái

Không cần nhắc thì chư Hiền Hữu Lưỡng Phái cũng hiểu rằng mấy Ðại Thiên Phong kể trên đây có hành chánh phận sự lớn lao của mình thì mới đặng vào Thượng Hội.

Thượng Hội để giúp Giáo Tông và Hộ Pháp điều đình cả nền Ðạo lớn lao của Thầy.

Thượng Hội có quyền xem xét các điều nghị luận của Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh rồi hoặc đệ lên cho Giáo Tông và Hộ Pháp phê chuẩn hay là trả lại cho Hội Thánh định đoạt lại. Ba Hội (Thượng Hội, Hội Thánh, và Hội Nhơn Sanh) toàn nhập lại theo thức lệ rành rẽ thì gọi là Quyền Vạn Linh, chớ không phải ai muốn lập Hội Vạn Linh, tổ chức gì theo ý riêng của mình rồi muốn đem ai lên làm Chủ Trưởng tổ chức gì cũng được. Như vậy thì có Luật lệ gì đâu? Mà không Luật lệ thì là không phải Ðạo.

Trên ba Hội, thì có Giáo Tông và Hộ Pháp.

- Giáo Tông làm chủ Cửu Trùng Ðài thì lo việc Chánh Trị của Ðạo, có Chưởng Pháp và Ðầu Sư ở trung gian giúp sức điều đình các Luật lệ truyền xuống cho ba Chánh Phối Sư nắm trọn quyền hành chánh. Giáo Tông có quyền định đoạt trong việc Chánh Trị của Ðạo.

- Hộ Pháp thì lo giữ Luật lệ của Ðạo cho khỏi sái Thiên Ðiều vì Luật lệ của Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ ngày nay thì thế cho Thiên Ðiều.

Hộ Pháp có quyền đặc biệt về ân xá cũng như Giáo Tông có quyền Chánh trị vậy.

Hộ Pháp chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, có Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân giúp sức.

***

Một quốc gia biểu lộ sự sanh tồn bằng các quyền năng (fonctions), quyền năng ấy lại phải có cơ quan (organe) để thi hành. Trong cửa Ðạo, muốn biểu lộ sự hoạt động không ngừng của bộ máy Chánh trị cũng có đủ các quyền năng và cơ quan để thi hành quyền năng đó. Quyền năng và cơ quan hiệp lại gọi là trị quyền. Như quyền Lập Pháp tức là Quyền Vạn Linh là một trị quyền. Quyền năng của nó phải biểu lộ ý chí và nguyện vọng của Nhơn sanh, còn cơ quan thì có ba Hội.

Quyền Lập Pháp của Ðời lấy Nghị hội làm cơ quan, gọi là Viện, thường chia ra hai Viện (Lưỡng Viện chế) là: Thứ Dân Nghị Viện hay là Hạ Nghị Viện và Nguyên Lão Nghị Viện hay Thượng Nghị Viện, hay là thống nhất lại thành một viện (Nhứt Viện chế) Quốc Dân Ðại Hội (kêu tắt là Quốc Hội).

Trong nền Ðạo, cơ quan Lập Pháp theo một chế độ khác lạ, là chia ra làm ba Nghị Hội, ta có thể tạm gọi là chế độ ba viện (Tam Viện chế).

Ba Hội ấy là:

1. Hội Nhơn Sanh (Conseil populaire) giống như Thứ Dân Nghị Viện, nghĩa là trực tiếp với Nhơn sanh, gồm có các Ðại Biểu trực tiếp do Nhơn sanh bầu cử đặng thay mặt cho mình, đem lời thỉnh nguyện của mình ra trình bày giữa hội (tánh cách dục tấn).

2. Hội Thánh (Conseil sacerdotal) giống Nguyên Lão Nghị Viện với tánh cách bảo thủ đặng dung hòa, kềm chế bớt những ý nguyện quá bồng bột của Nhơn sanh, do Hội Nhơn Sanh dâng lên. Hội Thánh có quyền tán thành hay phản đối lời thỉnh cầu của Nhơn sanh chiếu theo Luật Pháp của Ðạo.

3. Thượng Hội (Haut Conseil) tức là Hội Tối Cao, có quyền xem xét đề nghị của Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh rồi có quyền chấp thuận hay là không.

Ba Hội nầy hiệp lại làm Cơ quan của "Quyền Vạn Linh"

Tại sao có Quyền Vạn Linh?

Từ xưa đến nay, xem qua Chánh trị của Ðời, Quyền Lập Pháp thường do một người hay một thiểu số người chủ trương, thành ra đa số thường bị áp bức phải tuân theo ý chí của nhóm thiểu số kia. Mà pháp luật đã đặt ra do một thiểu số người, chỉ thích hợp với quyền lợi của một nhóm người nầy mà không thích hợp với quyền lợi của nhóm người khác, thích hợp với tập quán của địa phương nầy mà không thích hợp với tập quán của địa phương khác. Vậy thì ta chỉ thấy "Người cai trị người" chớ chưa hề thấy "Luật cai trị người".Vì cớ cho nên Ðời thường loạn. Con người có ý chí trước, rồi hành động sau, thì hành động đó mới thích hợp được, bằng không thì chỉ là những hành động lầm lẫn, thiếu suy gẫm, thiếu tính toán. Pháp luật cũng như ý chí của con người, có pháp luật làm khuôn viên, thì toàn Nhơn sanh cứ một mực khép mình vào khuôn viên ấy, mới có thể tránh những hành vi trái phép được. Ý chí của con người thường biến đổi. Trình độ của Nhơn sanh luôn luôn tiến hóa về mặt trí thức tinh thần, cần phải có Luật Pháp chế biến cho thích hợp với trình độ tiến hóa với nhơn ý, nhơn nguyện thì Nhơn sanh mới vui lòng tuân hành. Ðức CHÍ TÔN là Ðấng Tối Cao, sản sanh ra muôn loài, song Ngài đã nói rằng: "Thầy là các con, các con là Thầy" ý nghĩa nói rằng: Quyền Vạn Linh bằng với quyền của Chí Linh. Ý muốn của Vạn Linh (Créatures) tức là ý muốn của Chí Linh (Créateur): Ý muốn của "con cái" tức là ý muốn của "Cha Lành" đó vậy. Vì thế mới có lập Quyền Vạn Linh để Vạn Linh tự lập luật lấy, đặng tự kiềm chế mình trong con đường tu, hầu qui hồi cựu vị, hội hiệp cùng Thầy.

(Trích Chánh Trị Đạo của Ngài Khai Pháp)

*Hội Nhơn Sanh gồm ba thành phần:

- Phái viên là đại diện của các Ðạo hữu Nam Nữ.

- Nghị viên là đại diện của Chức việc BTS Nam Nữ.

- Các Lễ Sanh Nam Nữ đương quyền hành đạo.

Hội Nhơn Sanh đại diện cho Kim Thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn và Thần hồn.

*Hội Thánh gồm tất cả các Chức sắc Nam Nữ từ phẩm Giáo Hữu đến phẩm Phối Sư và Chánh Phối Sư của Cửu-Trùng-Đài. Hội Thánh đại diện Thánh hồn.

*Thượng Hội gồm 11 vị: Ðức Giáo Tông, Ðức Hộ Pháp, ba Chưởng Pháp, ba Ðầu Sư Nam, một Nữ Ðầu Sư, Thượng Phẩm, Thượng Sanh. Thượng Hội đại diện Tiên hồn và Phật hồn.

Những quyết nghị của Hội Nhơn Sanh được dâng lên Hội Thánh. Hội Thánh xem xét rồi quyết nghị dâng lên Thượng Hội. Thượng Hội xem xét và chấp thuận thì quyết nghị đó là của Vạn linh, tức là quyền Vạn Linh.

Quyền hành Chí Tôn của Thầy duy có quyền hành Vạn linh đối phó mà thôi. Ðức Chí Tôn cho quyền Vạn linh đồng quyền với Ðức Chí Tôn. Cho nên Ðức Chí Tôn cũng đã có nói rằng: "Các con là Thầy, Thầy là các con". Ngoài ra, Ðức Chí Tôn còn ban quyền của Chí Tôn cho Ðức Giáo Tông và Ðức Hộ Pháp: "Thầy đã ban quyền hành Chí Tôn của Thầy cho hai đứa làm đầu Hội Thánh là Giáo Tông và Hộ Pháp. Vậy thì quyền hành Chí Tôn của Thầy đặng trọn vẹn khi Giáo Tông cùng Hộ Pháp hiệp một." Như thế, khi Ðức Giáo Tông và Ðức Hộ Pháp đồng ký tên ra lịnh điều chi thì đó là lịnh của Ðức Chí Tôn. Cho nên, các Ðạo Nghị Ðịnh do Ðức Lý Giáo Tông và Ðức Phạm Hộ Pháp ký tên ban hành thì không có quyền nào cải sửa đặng, vì đó là quyền của Chí Tôn, là Thiên điều tại thế.

 

 

QUYỀN UY


F: puissance.

Quyền uy 權儀: quyền lực và uy thế.

Đức Hộ-Pháp ban thi cho Ngài Bảo-Thế Lê-Thiện Phước, Đàn đêm 06-02-Ất Tỵ (dl: 08-03-1965):

Quyền uy nhờ bởi giữ chơn truyền,
Chưởng đức dụng hiền mộ Thánh Tiên.
Quản quán chúng sanh tu cội phúc,
Hiệp hào nhân sĩ hưởng tiền duyên.

 

 

QUYẾT ĐỊNH

决 定
F: Décider, décision.

Quyết-định 决定: Dứt khoát không thay đổi.

Đức Hộ-Pháp cho biết: "Đức Đại-Từ-phụ với lòng Đại-từ Đại-bi của Ngài không thể gì nói đặng. Hai mươi mấy năm trường Ngài đến, Ngài độ từ đứa, Ngài dụ từ người, đem cả một thể thống thiêng liêng vô cùng vô tận, quí hóa kia đem đổi lại một tấm yêu-ái của chúng ta đặng làm cơ-quan cứu thế. Buổi Ngài mới đến, Bần-Đạo thú thật phần nhiều anh em chúng ta buổi nọ không hiểu Đạo là gì, dầu đàn anh của chúng ta có sứ mạng nơi mình lãnh trách-nhiệm làm Thánh-Thể cho Ngài, khi ấy cũng không biết Đạo là gì cả, chỉ nhắm mắt theo Ngài mà thôi; chính Bần Đạo buổi nọ, Đại Từ-Phụ xin Bần-Đạo, nói xin lại với một lời yếu thiết: - "TẮC! dâng cả mảnh thân con đặng Thầy tạo Đạo cứu Đời, con có chịu chăng?

Bần-Đạo trả lời với Ngài một cách quả quyết rằng:

Nòi giống con còn nô-lệ, nước nhà còn lệ thuộc, thì làm thế nào con TU cho đặng!

Ngài cười nói: Nhưng điều ấy các con làm không đặng đâu, để đó cho Thầy. Tiếng "để đó cho Thầy" Bần-Đạo nhớ lại nói dễ như không không, mà đã hai mươi mấy năm trường rồi đó. Ngài hứa khi Ngài mới đến cùng Cao Thượng-Phẩm và Bần-Đạo cuối năm Tý đó vậy, theo phàm tánh của ta có lẽ buồn, nhưng vì chúng ta sống trong thời-gian, còn Đức Chí-Tôn sống trong không-gian; chúng ta tính từ ngày, tháng, năm; còn Ngài chỉ lấy quyết-định của Ngài làm căn-bản mà thôi. Lời hứa đơn sơ ấy ngày nay chúng ta đã thấy rằng Ngài không bao giờ thất hứa với chúng ta đó vậy, nếu chúng ta đoán xét kỹ cơ-quan của Ngài đã thi thố, đã giải ách nô-lệ cho nòi giống Việt-Nam, chúng ta ngó thấy một hành tàng khắc-khe khó nói, thi thố với một cách mà trí óc phàm chúng ta không thể đoán đặng và Bần Đạo nói rằng không có một tay phàm thi thố đặng; muốn giải ách nô-lệ cho nước Việt-Nam mà dùng quyền phép vô biên của Ngài đào-độn cả vạn quốc hoàn-cầu đặng làm cho sôi-nổi một trường chiến-tranh của toàn thế-giới giục-thúc các nước còn lạc hậu chiến-đấu lấy cho đặng quyền sở hữu của họ, giành cho được độc-lập cho nòi giống và quốc-gia của họ. Quyền sở-hữu ấy là quyền định sống của họ đó vậy. Nơi cõi Á-Đông cả toàn thể nước nào còn lạc-hậu đều đặng giải-thoát, đều chiến-đấu đặng tranh độc-lập và thống nhứt."

 

 

QUYẾT ĐOÁN

决 断
E: To decide.
E: To take a deliberation.

Quyết: Xét đoán, nhứt định, dứt khoát. Đoán: định chắc. Quyết đoán là phán xét một cách chắc chắn (Quả quyết đoán định).

Thầy dạy: "Lập Nhơn phẩm làm Thiên phẩm chẳng dễ chi mà không dùng huyền diệu. Các con hơi nào nghe lời thế sự, một điều nào cũng chưa quyết đoán cho cùng phải quấy. Khi Thích Ca truyền Đạo, dân Brahma cho là Bàng môn vì khác Thánh giáo Phật đạo. Khi Lão Tử truyền Đạo thì đời cho là phép mê hoặc. Khi Chúa Jésus truyền Đạo thì nhà Israel gọi là cải Chánh đạo, đến đỗi bắt giết. Các con muốn vừa lòng Thiên hạ thì là giỏi hơn Thầy rồi! Thầy khuyên đừng nao núng, các con ngó Thầy trước: các con coi bước Thầy đi trước, các con cứ đi theo sau Thầy là đủ. Cười.!.

Ngày 10-10-Canh Dần (dl: 19-11-1954) Đức Quyền Giáo Tông giáng Đàn nói chuyện với Ngài Cao Tiếp-Đạo về cơ Đạo, Đức Ngài có cho Thi:

Tài ba Động Bích bao nhiêu sức?
Quyền phép Côn-Lôn sẵn mấy bầu.
Quyết đoán cuộc cờ ai thắng bại,
Chỉn xem Tiên Phật hướng về đâu?

 

 

QUYẾT LIỆT

Quyết liệt 决裂 :Quả quyết và kịch liệt.

Đây là Thánh Giáo ngày 13-10-Đinh Mùi của Đức Lý Đại Tiên giáng Cơ: "Cơ Đạo ngày nay sắp đến ngày quyết liệt, cả thảy Nam Nữ phải để tâm cho lắm. Cầu nguyện Thầy và các Đấng ban ơn lành cho mới giữ vững đức tin trong kỳ đại khảo này: Chư Đạo Hữu phải giữ trai giới cho được 10 ngày đổ lên y như Tân Luật, thì mới mong sống sót."

 

 

QUYẾT NGHỊ

决 議
F: Décider.
F: Prendre une délibération.

Quyết: Xét đoán, nhứt định, dứt khoát. Nghị: bàn luận, bàn cãi. Quyết nghị là bàn luận đưa ra nhiều ý kiến rồi bỏ thăm để chọn ý kiến nào được đa số đồng ý (Quyết định và nghị bàn).

 

 

QUYẾT SÁCH VẬN TRÙ

Quyết: Xét đoán, nhứt định, dứt khoát. Sách: kế hoạch, sách lược. Vận: vận động. Trù: tính toán sắp đặt. Vận trù là vận động sắp đặt. Quyết sách vận trù là quyết định kế hoạch và sắp đặt các việc.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Hiệp vạn-chủng nhứt môn đồng mạch,
"Qui thiên lương quyết sách vận trù."

 

 

QUYẾT TÌNH

Quyết tình 决情:Quyết lấy hết lòng.

Thầy dạy: Lâm Ái Nữ, Đường Ái Nữ vào trong. Chư môn đệ đứng dậy.

Tưởng hai trẻ chẳng lòng sanh nạnh,
Gắng chung lo mạnh Đạo nhà mình,
Lòng hiếu con thấu động Thiên đình,
Mẹ trẻ đó Thầy quyết tình cứu độ.

Bài Thánh giáo này Thầy dạy Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh gắng công lo cho Nữ phái. Công quả ấy Thầy sẽ trả lại là Thầy sẽ cứu độ Mẹ của Bà Lâm Ngọc Thanh. Điều này chứng tỏ lời Kinh "Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa". Tức nhiên Thầy hứa sẽ không thiếu nợ bất cứ ai khi đã cho Thầy vay.

 

 

QUYỆT NGỮ


F: La parole fourbe.

Quyệt: dối trá, giỏi thay đổi. Ngữ: lời nói. Quyệt ngữ là lời nói gian dối để lừa gạt người (Lời nói dối trá không ngay thẳng, trái với đạo chính).

Kinh Sám Hối có câu:

"Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại
"Đừng gian mưu hãm-hại người hiền."

 

 

HẾT VẦN QU

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUA | QUÂ | QUÊ | QUI | QUÔ | QUY

 

 

 

Danh mục vần QU

 

QUA

Qua

Qua Phân

 

QUÁ

Quá Cố

Quá Vãng

 

QUẢ

Quả Báo

Quả Càn Khôn

Quả Căn

Quả Duyên

Quả Địa Cầu 68

Quả Kiếp

Quả Nhân

Quả Phẩm

Quả Phúc

Quả Quyết

Quả Vị

 

QUẠ

Quạ Nuôi Tu Hú

 

QUÁI

Quái Dị

Quái Khí

 

QUAN

Quan Ải

Quan Âm Như Lai

Quan Gián Nghị

Quan Hôn

Quan Hôn Lễ

Quan Kiến

Quan Lại

Quan Lại Của Chánh Trị Đạo

Quan Lại Của Pháp

Quan Lớn Trà Vông

Quan Quách

Quan Tài

Quan Tâm

Quan Thánh Ðế Quân

Quan Trung

 

QUÁN

Quán Thông

 

QUẢN

Quản Hạt

Quản Trị

Quản Văn Phòng

Quản Suất

 

QUANG

Quang Minh

Quang Minh Chánh Đại

Quang Vinh

 

QUẢNG

Quảng Đại

Quảng Hàn Cung

Quảng Khai

Quảng Truyền Đạo Đức

 

QUẢY

Quảy

 

QUÂN

Quân Đội

Quân Đội Được Dự Hội Quyền Vạn Linh Không?

Quân Đội Cao Đài

Quân Thần

Quân Tử

Quân Tử Thận Kỳ Sát Thân

 

QUẦN

Quần Chơn

Quần Hồng

Quần Linh

Quần Nhi

Quần Sanh

Quần Thánh

 

QUẾ

Quế Hương

 

QUẾN

Quến Gái Dụ Trai

 

QUI

Qui Căn

Qui Chánh Cải Tà

Qui Cổ

Qui Điều

Qui Hạc

Qui Hồi

Qui Khai

Qui Liễu

Qui Nguyên

Qui Nguyên Đại Đạo

Qui Nguyên Phục Nhứt

Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi

Qui Nhứt

Qui Phàm

Qui Phàm Ra Tả Đạo

Qui Pháp

Qui Thiên Lương

Qui Thiện

Qui Tiên

Qui Tụ

Qui Ư Cực Lạc

Qui Vị

Qui Y

Qui Y Thọ Phái

 

QUÍ

Quí Lý Trọng Quí

Quí Cao (Huỳnh Thiên Kiều)

 

QUỈ

Quỉ Dạ Xoa

Quỉ Dỗ Dành

Quỉ Khí

Quỉ Lộng

Quỉ Mị

Quỉ Nhân

Quỉ Quyền

Quỉ Quyệt Tinh Ma

Quỉ Vị

Quỉ Vô Thường

Quỉ Vương

 

QUỐC

Quốc

Quốc Âm

Quốc Dân

Quốc Dân Thiên Mạng

Quốc Đạo

Quốc Đạo Nam Phong

Quốc Gia

Quốc Hồn

Quốc Luật

Quốc Mạch

Quốc Sắc

Quốc Sắc Thiên Hương

Quốc Sĩ

Quốc Sự

Quốc Sự Vụ

Quốc Thể

Quốc Trưởng Bảo Đại

 

QUYỀN

Quyền

Quyền Biến

Quyền Chí Tôn

Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài Thừa Mạng

Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung

Quyền Hành

Quyền Hành Bố Hoá

Quyền Hành Chí Tôn Của Thầy

Quyền Hành Tâm Lý

Quyền Hành Vô Lượng

Quyền Lực

Quyền Năng

Quyền Năng Giải Thoát

Quyền Phép

Quyền Thế

Quyền Thiêng Liêng

Quyền Thống Nhất

Quyền Thưởng Phạt

Quyền Tước

Quyền Vạn Linh

Quyền Uy

 

QUYẾT

Quyết Định

Quyết Đoán

Quyết Liệt

Quyết Nghị

Quyết Sách Vận Trù

Quyết Tình

 

QUYỆT

Quyệt Ngữ

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 28-10-2017

QUA | QUÂ | QUÊ | QUI | QUÔ | QUY


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF