CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần P

 

PA

Paul Doumer

Palais Louis XIV

Pierre Pasquier

 

PHÁ

Phá

Phá Chấp - Phá Mê

Phá Cổ

Phá Gia Chi Tử

Phá Giới

Phá Kính Trùng Viên

Phá Lệ

Phá Ngu

Phá Nhứt Khiếu Chi Huyền Quang

Phá Tà Hiển Chánh

Phá Thai Tuyệt Loài

 

PHÁCH

Phách

Phách Anh Linh

Phách Lạc Hồn Kinh

Phái Nữ

 

PHÁI

Phái Thái

Phái Tiên Thiên

Phái Vàng

Phái Viên

 

PHẢI

Phải Kiêng Phải Vì

 

PHÀM

Phàm

Phàm Cách

Phàm Chất - Thánh Chất

Phàm Gian

Phàm Giáo

Phàm Giáo - Chánh Giáo

Phàm Nhãn

Phàm Nhơn

Phàm Phẩm

Phàm Phong

Phàm Phu Tục Tánh

Phàm Phu Tục Tử

Phàm Quyền

Phàm Tâm

Phàm Tâm Tục Tánh

Phàm Tục

Phàm Thể

Phàm Trần

Phàm Trí

Phàm Trị

 

PHẠM

Phạm

Phạm Ác

Phạm Công Tắc

Phạm Giới

Phạm Giái Ngũ Lôi Đả Tử

Phạm Hộ Pháp

Phạm Hồ Cầm

Phạm Húy

Phạm Lãi - Tây Thi

Phạm Luật

Phạm Luật Lệ

Phạm Môn

Phạm Nghiệp

Phạm Ngũ Giới Cấm

Phạm Phủ Từ

Phạm Pháp

Phạm Tăng

Phạm Tần Tranh

Phạm Thệ

Phạm Thiên Điều

Phạm Thượng

Phạm Trù

Phạm Văn Tỷ

 

PHAN

Phan (Phướn)

Phan Bội Châu

Phan Châu Trinh

Phan Phủ Từ

Phan Thanh Giảng

Phan Tiếp Dẫn

Phan Thị Thuấn

 

PHÁN

Phán Đoán

Phán Xét Cuối Cùng

 

PHÀN

Phàn Nàn

 

PHẢN

Phản Đạo

Phản Động

Phản Động Lực

Phản Kháng

Phản Kháng Đạo Quyền

Phản Khắc Ðạo Quyền

Phản Loạn

Phản Loạn Chơn Truyền

Phản Ngôn

Phản Nghịch

Phản Phúc

Phản Tâm

Phản Tiền Vi Hậu

Phản Tỉnh

Phản Trắc

 

PHẠN

Phạn Ngữ

 

PHAO

Phao Câu

 

PHÁP

Pháp

Pháp Chánh

Pháp Chánh Định Án

Pháp Chánh Hiệp Thiên (Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài)

Pháp Chánh Minh Tra

Pháp Chánh Chỉ Biết Thi Hành Luật Pháp

Pháp Chánh Truyền

Pháp Chánh Truyền - Tân Luật

Pháp Danh -Thánh Danh

Pháp - Đạo - Thế

Pháp Điều

Pháp Giới

Pháp Luân Thường Chuyển

Pháp Luật

Pháp Luật Đại Đạo

Pháp Luật Đạo Trời

Pháp Luật Quốc Gia

Pháp Luật Thiêng Liêng

Pháp Luật Vô Tư

Pháp Môn

Pháp Nhân

Pháp Siêu Quần Thánh

Pháp Thân

Pháp Thí

Pháp Xa

 

PHÁT

Phát Chẩn

Phát Huy

Phát Khởi Nguồn Đại Đạo

Phát Lạc

Phát Nguyện

Phát Tang

Phát Hạ Hồng Ân

Phát Hành

Phát Triển

 

PHẨM

Phẩm Cũ

Phẩm Liên Hoa

Phẩm Phục

Phẩm Thiên Vị

Phẩm Trật

Phẩm Trật Thiên Vị - Quỉ Vị

Phẩm Tước

Phẩm Vị

Phẩm Vị Thiêng Liêng

 

PHÂN

Phân Biện

Phân Biệt

Phân Chia Đẳng Cấp

Phân Công Chiết Tội

Phân Giải

Phân Phái Chia Phe

Phân Quyền

Phân Tánh

Phân Tâm

Phân Thân

Phân Trần

Phân Tường

Phân Xử

Phân Vân Bất Nhứt

 

PHẤN

Phấn Chấn

Phấn Chí

Phấn Hương

Phấn Khởi

 

PHẦN

Phần Chúc

Phần Hương

Phần Mộ

Phần Thưởng Thiêng Liêng

Phần Thư Khanh Nho

Phần Xác - Phần Hồn

 

PHẬN

Phận Bạc

Phận Đạo

Phận Liễu Mai

Phận Sự

Phận Sự Chức Sắc

 

PHẪN

Phẫn Nộ

 

PHẤT

Phất Chủ (Phất Trần)

 

PHẬT

Phật

Phật Cốt

Phật Christna

Phật Duyên

Phật Đài

Phật Đản

Phật Đạo

Phật Điều

Phật Độ

Phật Giả Vô Ngôn

Phật Giáo

Phật Giáo Chấn Hưng

Phật Giáo Đã Bị Bế Lại

Phật Giáo Tâm Kinh

Phật Mẫu

Phật Mẫu Chơn Kinh

Phật Mẫu Diêu Trì

Phật Như Lai

Phật Pháp

Phật - Pháp - Tăng

Phật Sống

Phật Tánh

Phật Tâm

Phật Thích Ca

Phật Thư

Phật Tổ

Phật Tông

Phật Tông Nguyên Lý

Phật Tông Thất Chánh

Phật Tông Vô Giáo

Phật Trời

Phật Tự

Phật Tử

Phật Vị

Phật Xứ

 

PHÉP

Phép Công

Phép Biến Thân

Phép Diệu Huyền

Pháp Đoạn Căn

Phép Độ Thăng

Phép Giải Oan

Phép Hôn Phối

Phép Huyền Hư

Phép Huyền Công

Phép Lành

Phép Linh

Phép Lục Nương

Phép Mầu

Phép Ngũ Lôi

Phép Tắm Thánh

Phép Tiên Đạo

Phép Thiên Nhiên

Phép Thương Yêu

Phép Tu Vi

Phép Xác - Đoạn Căn - Độ Thăng

Phép Xưng Tội

 

PHÊ

Phê Chuẩn

Phê Duyệt - Phê Kiến

 

PHẾ

Phế Bạch Ngọc Kinh, Huỳnh Kim Khuyết

Phế Nữ Phái

Phế Đời Hành Đạo

Phế Phận

Phế Vị

Phế Vong

 

PHỆ

Phệ Hạp Quẻ Hoả Lôi Phệ Hạp

 

PHI

Phi Ân Bạc Nghĩa

Phi Cầm Tẩu Thú

Phi Lễ Vật Thị, Phi Lễ Vật Thính, Phi Lễ Vật Ngôn, Phi Lễ Vật Động

Phi Lý

Phi Ngã

Phi Nhân

Phi Phàm - Phi Thường

Phi Thường

Phi Tướng Lễ

Phi Tưởng Đài

Phi Tưởng Thiên

 

PHIỀN

Phiền Hà

Phiền Não

Phiêu Linh

Phiêu Lưu

Phiêu Phi

 

PHỈNH

Phỉnh Phờ

 

PHÓ

Phó Giáo Sư

Phó Thác

 

PHÒ

Phò Cơ Chấp Bút

Phò Loan

Phò Trì

 

PHONG

Phong Ba

Phong Cương

Phong Dời Tục Đổi

Phong Điều Võ Thuận

Phong Đô

Phong Hóa

Phong Sắc

Phong Thánh

Phong Thần

Phong Thưởng

Phong Tịch

Phong Tục

Phong Trần

Phong Vân

Phong Võ (Phong Vũ)

Phong Thưởng Công Nghiệp

 

PHÒNG

Phòng Đào

Phòng Trù

 

PHÓNG

Phóng Sanh

Phóng Tâm

 

PHỎNG

Phỏng Định

 

PHÔ

Phô Diễn

 

PHỔ

Phổ Cáo Chúng Sanh

Phổ Cập

Phổ Duyên

Phổ Đà Sơn

Phổ Độ

Phổ Độ Lục Tỉnh

Phổ Giáo

Phổ Hiền Bồ Tát

Phổ Hóa

Phổ Hóa Chúng Sanh

Phổ Tế Cơ Quan

Phổ Thông

Phổ Thông Đại Đạo Khắp Cả Hoàn Cầu

Phổ Truyền

 

PHÔI

Phôi Thai

 

PHỐI

Phối

Phối Sư

Phối Sư Thái Bính Thanh

Phối Sư Thượng Cảnh Thanh

Phối Sư Trần Quang Vinh

Phối Nhứt (Phối Nhất)

Phối Thánh

Phối Thánh Bùi Ái Thoại

 

PHỒN

Phồn Ba

Phồn Hoa

 

PHƠI

Phơi Gan Trải Mật

 

PHU

Phu Tử

 

PHÚ

Phú Quí

Phú Thác (Phó Thác)

Phú Thác Dặn Dò

Phú Túc

 

PHÙ

Phù Ba

Phù Du

Phù Đổng Thiên Vương

Phù Hợp

Phù Ngôn

 

PHỤ

Phụ Bạc

Phụ Mẫu Chi Dân

Phụ Nữ

Phụ Nữ Thế Giới

Phụ Rãy

Phụ Thân

Phụ Thống Lại Viện Phước Thiện

Phụ Từ Tử Hiếu

Phụ Vong

Phụ Xử Tử Vong

 

PHỦ

Phủ Thờ Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung

Phủ Từ

 

PHÚC

Phúc Hậu

Phúc Lộc

Phúc Sự

Phúc Trình

 

PHỤC

Phục Quẻ Địa Lôi Phục

Phục Chức

Phục Cổ

Phục Hồi

Phục Hồi Cựu Vị

Phục Hồi Thượng Cổ

Phục Hưng

Phục Hưng Khổng Giáo

Phục Linh Tánh Phật

Phục Lịnh

Phục Nguyên Nhơn

Phục Quốc

Phục Sanh (Phục Sinh)

Phục Thiện

Phục Tùng

Phục Vị

 

PHỦI

Phủi Thảy Lợi Danh

 

PHÚNG

Phúng Điếu

 

PHÙNG

Phùng Khắc Khoan

 

PHỤNG

Phụng

Phụng Hành

Phụng Lãnh

Phụng Lầu

Phụng Liễn

Phụng Lịnh

Phụng Sự

Phụng Sự Đức Chí Tôn

Phụng Sự Vạn Linh

Phụng Sự Tha Nhân

Phụng Thừa

Phụng Tự

 

PHƯỚC

Phước Duyên

Phước Địa

Phước Đức

Phước Hạnh

Phước Họa

Phước Lành

Phước Linh Tiêu

Phước -Lộc - Thọ

Phước May Gặp Đạo

Phước Thánh

Phước Thiện

Phước Thiện - Cơ Quan Phước Thiện

Phước Thiện Cơ Quan

Phước Từ Bi

 

PHƯỚN

Phướn

Phướn Chiêu Hồn

Phướn Đền Thánh

Phướn Linh

Phướn Phật Mẫu

Phướn Phụng

Phướn Tiêu Diêu

Phướn Thánh Thất

Phướn Thượng Phẩm

 

PHƯƠNG

Phương Châm

Phương Chước

Phương Diện Chánh Thể Đạo

Phương Diện Hành Đạo

Phương Đông

Phương Luyện Kỷ

Phương Lược

Phương Pháp

 

PHƯỜNG

Phường Trăng Hoa

 

PHƯỞNG

Phưởng Phất

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 18-09-2017

 

 

 

PAUL DOUMER (1857-1932) (Tên)

Ông là Nhà chánh trị và hành chánh của Pháp, sanh tại Aurillac năm 1857, làm Toàn Quyền Đông Dương năm 1897 đến 1902, làm Chủ Tịch Thượng-Nghị-Viện năm 1927 và Tổng Thống Cộng Hòa Pháp năm 1931, bị ám sát chết tại Paris năm 1932. Ông có giáng cơ bày tỏ:

Phạm nghiệp, ngày 03-08-Giáp Tuất (dl: 11-09-1934)

Phò loan : Hộ Pháp - Tiếp Thế.

Hiện diện: Q. Giáo Tông, Giáo Sư Thượng Chữ Thanh

PAUL DOUMER

Bonjour mes Chers Vénérables.

Quyền Giáo Tông:…

- Merci.

Quyền Giáo Tông:…

mourir. C’est n’avoir pas accordé en temps voulu votre liberté de conscience.

Tiếp Thế:…

- Oui, mais savez vous qu’il est difficile de changer un coeur humain. Sauront - ils m’écouter?

Ce manque du sacré devoir envers l’Éternité m’a couâté douze ans de vie.

Je viens vous dire seulement celà. Adieu.

Bài dịch việt văn:

PAUL DOUMER

Kính chào quí Ngài.

Quyền Giáo Tông:…. - Cám ơn.

Quyền Giáo Tông :..

- Phải, nhưng tôi đã thiếu một bổn phận mật thiết trước

khi chết, đó là không chấp thuận đúng lúc sự tự do tín ngưỡng của quí Ngài.

Tiếp thế :..

- Phải, nhưng quí vị có biết chăng, thật là khó khăn cho việc thay đổi lòng dạ con người. Họ có chịu nghe tôi nói không? Sự thiếu sót bổn phận thiêng-liêng ấy đối với Đấng Thượng Đế làm tôi trả giá 12 năm của đời sống của tôi. (Tuổi thọ giảm 12 năm). Tôi đến để chỉ nói với quí Ngài như thế. Xin cáo biệt".

 

Cầu Paul Doumer (1906)

 

Đáng sợ thật, những kẻ can ngăn phép Trời hãy coi chừng luật vô hình mà ăn năn rất muộn. Chúng ta để ý hai ông Toàn Quyền Đông Dương bị hai hình phạt khác nhau, vì một mục đích "phá Đạo ".

- Ông Pasquier bị chết cháy trên phi cơ.

- Ông Doumer bị giảm thọ 12 tuổi.

Có lẽ họ còn phải tái kiếp để lập công chuộc tội hoặc lãnh một Thiên Sứ để tạo liên đài mỗi lúc mỗi cao trọng hơn.

 

 

PALAIS LOUIS XIV (Vua Pháp)

Đức Hộ Pháp nói: "Ông vua giàu có sang trọng hơn hết là LOUIS XIV. Thiên hạ hồi thế kỷ đó cho Ông là vua Trời "Le Roi Soleil" cả thiên hạ đều tùng phục, kính trọng, kiêng nể, Âu Châu buổi nọ, có thể nói Ngài là một Vị Bá Chủ của thiên hạ, không có cái gì mà anh ta không có, "Phú Hữu Tứ Hải" sang trọng vô biên, có một điều là đền Vua của Ngài "Palais-Louis XIV quân lính canh từng bảy vòng, cấm cái chết vô trong Hoàng Gia của Ngài mà không đặng, chết cả con cháu của Ngài cho đến nỗi gần hết trong Hoàng Gia. Rốt chuyện Ngài truyền ngôi báu lại cho đứa cháu nội mà thôi. Ngài than rằng: "Hại thay! Hoàng Thành của ta mấy vòng canh nghiêm nhặt mà không cản được cái chết đến nhà ta."

 

 

PIERRE PASQUIER

Từ năm 1929 đến năm 1933 Toàn quyền Đông Dương là Pierre-Pasquier ngụy tạo một số tư liệu vu khống Đạo Cao Đài mưu đồ quốc sự, phản động chống pháp bằng hình thức bí mật gom góp những tài liệu ấy được ông thâu thập đầy đủ chở về Pháp để đem ra nghiên cứu tìm phương diệt Đạo.

Tại phi trường Tân Sơn Nhứt Sài-gòn, ông Pasquier mang theo tất cả tài liệu và sử dụng chiếc phi cơ thượng thặng Éméraude chở về Paris. Đức Hộ Pháp hay tin lấy làm lo lắng, nếu tài liệu đó được đem về Pháp thì Đạo không còn. Nhưng khi máy bay chở vợ chồng Toàn quyền Pierre-Pasquier về tới nội địa Pháp bị nổ trên không phận làng Corbingy, thuộc tỉnh Nièvres, chỉ còn cách thủ đô Paris 150 cây số về phía Nam nước Pháp, cả vợ chồng Toàn Quyền Pierre-Pasquier bị chết cháy trên phi cơ Éméraude, không một ai còn sống sót trên chuyến phi cơ này.

Ông Pierre Pasquier được thiêng liêng cho phép Ông giáng Cơ tại Tòa-Thánh ngày 02-07-Bính Tý (dl: 18-08-1936) Đức Hộ Pháp và Ngài Tiếp Thế phò loan: Ông nói rằng:

"Tôi nói tiếng An Nam, Tôi đã cầm đặng một cuốn sách Nho, học thông Đạo-lý. Cái tư-tưởng của tôi buổi nọ, nó thiên về bên Khổng-giáo chớ không phải hướng qua bên Phật Đạo. Tôi càng suy xét thì lại lấy làm lạ vì cớ nào Tôi lại dùng nhà Thiền toan phá Đạo Cao-Đài buổi nọ. Quái dị thay! Tôi đã dám xưng mình là Văn-sĩ Nho phong; kinh truyện, văn-chương trước mắt mà lại chịu thiệt thòi, sai-sót, chẳng hiểu đặng rằng NHO-GIÁO chuyển-luân tạo dựng toàn-cầu Tân-thế. Sự lạc lầm ấy do đâu mà có? Ôi quan trường! Ôi nha lại! Vì mi mà làm cho Ta phải đui mắt, linh hồn phạm tội nghịch-ý Chí-Tôn, Thiên-điều tàn sát. Hận thay ngôi vị Đế-Vương là đao kiếm trừ mạng linh-hồn mà chớ. Gớm thay! Ghê thay!"

                        THI

Vương-bá bửu ngôi thị ngục hình,
Thiên lao như thử cất công khanh
Đồ thân phát phối cầm dân mạng
Y-phục cân-đai thị tử thành"

Tạm dịch:

Ngục hình Vương-bá đã trêu ngươi,
Công danh lợi lộc chốn đày người
Đem thân Tướng-soái dìu sanh chúng.
Bởi mảnh đai cân chết một đời
                        (Bài dịch của soạn-giả)

Thật ra việc này cũng được Đức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên tri hằng bao trăm năm trước rồi. Với câu:

"Giữa năm hai bảy mười ba,
"Lửa đâu lại đốt TÁM GÀ trên mây".

Khi xảy ra sự việc thì mọi người mới đoán ra "Hai bảy mười ba" tức nhiên năm mà Pierre-Pasquier bị rớt máy bay là năm âm lịch, nhuần hai tháng bảy, thành ra năm ấy có 13 tháng.

"đốt TÁM GÀ". Tám dịch văn Nho là "Bát", kê là "gà". Theo Âm Pháp đọc là "Bát kê" tức là Pasquier.

Nhận xét: Làm Toàn Quyền Đông Dương là làm vua của ba nước Việt- Miên- Lào. Thế mà giờ đây làm người tù cũng như kẻ đồ lưu, còn cầm sanh mạng của dân, mang cân đai có khác chi lên đoạn đầu đài, mà lại không dè. Chỉ biết thế quyền là trọng, không hiểu máy trời đã câu nhữ kẻ ở thế gian ham mê vinh hoa phú quí đến đỗi linh hồn phải đọa lạc Phong Đô. Ông Pasquier về cõi vô hình mới thấy nền Đạo Cao Đài là của Trời lập mà mình tìm phương phá hoại nó. Đây là bài học quí để kẻ cầm quyền dầu chế độ nào phải coi chừng đừng sấn tay phá Đạo Trời thì phải ân hận thiên thu, hối tiếc đã muộn.

Người Pháp phá Đạo như thế nào?

Về việc kiến tạo Đền Thánh bị bắt buộc đình mọi công tác, không thể ngồi yên trước sự áp bức bất công của thực dân Pháp. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc liền có thơ can thiệp gởi thẳng lên ông Georges Mandel, Tổng Trưởng bộ thuộc địa Pháp tại Paris, về việc Toàn quyền Pierre-Pasquier tại Việt Nam phải để cho Đạo Cao Đài được tự do truyền bá và tiếp tục xây cất Đền Thánh Tòa Thánh Tây Ninh đúng theo pháp định của chánh phủ Pháp đã phê chuẩn cho Đạo Cao Đài được tự do tín ngưỡng, truyền bá vào năm 1926.

Theo khiếu nại của Đức Hộ Pháp có trọng lượng đáng kể là ông Georges Mandel, Tổng Trưởng thuộc địa Pháp chấp nhận những lời khán cáo và chỉ thị cho Toàn quyền Đông Dương Pierre-Pasquier phải tôn trọng tự do tín ngưỡng của Đạo Cao Đài và Thánh Thất các địa phương cũng như Đền Thánh Tòa Thánh Tây Ninh được tiếp tục xây cất. Toàn quyền Pierre Pasquier bị khiển trách nên cố tâm triệt hạ Đạo Cao Đài cho thỏa lòng tự ái, vì ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron đại diện Đạo Cao Đài tại Pháp-quốc cũng có khán thơ lên Quốc hội Pháp và Chủ tịch Hội Nhân Quyền Pháp tại Paris về hành động đàn áp Đạo Cao Đài do Toàn quyền Pierre-Pasquier chủ xướng nên bị chánh phủ Pháp khiển trách nặng nề.

Hãy nghe Đức Hộ Pháp nói: "Khi nền Đạo chinh nghiêng: trong bị quyền Đạo khảo đảo, ngoài bị Pháp buổi nọ áp bức làm cho mấy Anh lớn cầm quyền của Đạo chia rẽ, nghịch lẫn nhau với thiên hạ giục cho nghịch, giục cho loạn. Đức Cao Thượng Phẩm về Thảo Xá Hiền Cung, chỉ còn Đức Quyền Giáo Tông, tình trạng nguy ngập không thể tưởng tượng, chúng tuyệt lương, chúng bắt buộc bất cứ ai trong Đền Thánh buổi nọ đi ra hành Đạo đều bị chúng bắt và đem giam cầm. Pháp định diệt Đạo hồi buổi sơ sanh, mới phôi thai. Họ bắt buộc cho đến đổi không có cơm ăn đủ; có sao đặng, miệng ăn đông, việc làm không có gì hết, ba bốn phen đi xin tiền về để tạo Đền Thánh, ba bốn phen đều ăn hết, làm cho thiên hạ thối chí ngã lòng, trong cũng thế, ngoài cũng thế. Bên ngoài chúng mướn tay sai của Pháp buổi nọ bắt buộc, giam cầm, bị nhục một cách không thể tưởng tượng. Bên trong chia phe phân phái, một đoàn theo Đức Quyền Giáo Tông, một đoàn theo Ông Tương, một đoàn theo Đức Cao Thượng Phẩm (ba bốn phe). Họ nghịch nhau cho đến nước, Thầy trò Phạm Môn không có gì hết, để lại bao nhiêu người Môn Đệ thiên hạ lại gọi rằng Tả Đạo Bàng Môn, lập phe lập phái đi đầu cáo Pháp. Pháp bắt Phạm Môn đem ra tòa xử: nào phạt vạ, nào tù tội, làm cho Đạo buổi nọ phải chết cho đến những kẻ chứa Đức Cao Thượng Phẩm cũng không đặng và những người trọn hiến thân hy sinh vì Đạo cũng bị thiên hạ xô đuổi.

 

 

PHÁ

PHÁ Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng.

Td: Phá chấp, Phá cổ, Phá giới.

 

 

PHÁ CHẤP - PHÁ MÊ

破 執 - 破 迷
E: To destroy the stubbornness- To destroy the passion.
F: Détruire l'opiniâtreté - Détruire la passion.

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. Chấp: giữ chặt lấy, không chịu buông ra. : không tỉnh, lầm lạc). Trái với Mê là Ngộ.

Hễ chấp thì mê, mà người mê mới chấp. Chấp và mê liền nhau như hình với bóng, không thể tách rời được. Do đó, nếu phá được chấp thì mê cũng tan, mà phá được mê thì chấp cũng hết.

Phá chấp là sự phá tan bảo thủ tà kiến, phá tan cái ý kiến thiên lệch của người học đạo, khiến cho cái hiểu biết trở nên khoáng đạt, dung thông, thấu nhập chỗ Trung đạo.

Muốn phá chấp thì phải dùng cái lương năng lương tri của mình mà cách vật trí tri, xét hết các mặt của sự việc, đâu là đúng, đâu là sai, lần lần trí não mẫn huệ, thấy rõ chỗ sai lầm.

 

 

PHÁ CỔ


E: To destroy the ancient laws.
F: Détruire les lois anciennes.

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. Cổ: tấm lưới pháp luật, chỉ pháp luật). Phá cổ là phá vỡ pháp luật cũ vì không còn thích hợp với tâm lý cùng lương tri lương năng và trình độ tiến hóa của nhơn sanh nữa.

Thánh ngôn: "Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít".

 

 

PHÁ GIA CHI TỬ


E: The bad son who ruins his family.
F: L'enfant qui ruine sa famille.

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. Gia: nhà. Chi: tiếng đệm. Tử: con). Phá gia chi tử là đứa con hư làm hại gia đình, phung phí tiền bạc và của cải do cha mẹ để lại. Đây là cảnh ngang trái trong gia đình, ông bà cha mẹ gầy dựng cả đời, giờ này con cái hư hỏng, phá hoại sự nghiệp.

 

 

PHÁ GIỚI


E: To violate the religious rules.
F: Violer les règles religieuses.

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. Giới: các điều răn cấm của tôn giáo, các giới luật tu hành). Phá giới là phá bỏ các giới luật tu hành mà các nhà tôn giáo đã lập ra từ trước đến giờ mà người không biết, không sám hối. Phá giới khác Phạm giới và ở mức độ nặng hơn, bởi vì người phá giới là người biết rõ các giới luật, đã gìn giữ giới luật ấy được bấy lâu, mà nay bỗng bỏ đi tất cả. Còn Phạm giới là vi phạm một vài giới luật. Trái với Phá giới là Trì giới, tức là giữ gìn giới luật. Người tu chân chính là phải giữ giới luật tu hành là mức căn bản của Tôn giáo. Các ma Lục dục, Thất tình và Tam độc luôn luôn rình rập để cám dỗ người tu, xúi giục người tu phạm giới hay phá giới để từ bỏ đường tu-hành đi, mục đích là muốn có người đồng hành với chúng nó, theo luật đồng thanh tương ứng là vậy. Thế nên: người tu phải có ý chí mãnh liệt để quyết thắng các thứ ma quỉ ấy thì mới mong tiến hóa cao trên đường tu niệm.

 

 

PHÁ KÍNH TRÙNG VIÊN

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. Kính: tấm gương soi. Trùng: lặp lại. Viên: tròn, đầy đủ). Phá kính trùng viên tức như câu tục ngữ nói: "Gương vỡ lại lành", chỉ tình vợ chồng phân ly nay được đoàn tụ. Anh em, bạn bè ly tán giờ được đoàn viên, sum hợp.

 

 

PHÁ LỆ


E: To violate the ordinary rule.
F: Violer la règle ordinaire.

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. Lệ: phép tắc đã có từ trước). Phá lệ là phá bỏ lệ cũ, không theo lệ cũ nữa.

 

 

PHÁ NGU

破 愚
E: To develop the mind.
F: Dégrossir.

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. Ngu: ngu dốt). Phá ngu là phá vỡ cái ngu dốt để được khôn ngoan.

 

 

PHÁ NHỨT KHIẾU CHI HUYỀN QUAN

(Phá: làm vỡ ra. Nhứt: Một. Khiếu: Cái lỗ hổng. Chi: Tiếng đệm. Huyền: Sâu kín, huyền diệu. Quan: Cái cửa ải).

Khiếu huyền quan, hay huyền quan khiếu 玄關竅 là một lỗ nhỏ, hay là một cái cửa khi luyện Đạo, người ta phải khai khiếu nầy thì mới đắc Đạo. Trong Thuật Ngữ Đạo Giáo có viết: Huyền quan khiếu là chỗ sinh ra nhất khí tiên thiên, vì nó không trong ngoài cũng không cạnh bên. Vả lại trong đó chứa Càn khôn, sửa đổi ngũ khí, hòa hợp bách thần, thông suốt thái cực. Tính mệnh bắt đầu từ đây, kết tiên thai gốc từ đây, tinh khí thần sinh ra từ đây.

Trong kinh Thượng Thừa Chơn Pháp có viết:

Tam quan cửu khiếu qui huờn,
Rõ thông đắc bộ là chơn ứng thành.
Phá nhứt khiếu điểm thanh bày lộ,
Ứng vào trong mấy độ đặng âu.
Tri quan chơn pháp diệu mầu,
Tầm sưu chánh lý đạt thâu máy huyền.

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ (Dịch giả Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ) thì Khiếu nầy có rất nhiều tên và chẳng biết nằm tại đâu, "Đan kinh thường nói bằng ví dụ, làm cho học giả không biết đường vào. Tiền bối chỉ là Tiên Thiên chủ nhân, Vạn tượng chủ tể, Thái cực chi đế, Hỗn độn chi căn, Chí Thiện chi địa, Ngưng kết chi sở, Hư vô chi cốc, Tạo Hóa chi Nguyên, Bất Nhị Pháp Môn, Thậm Thâm Pháp Giới, Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan, Trung Hoàng Cung, Hi Di Phủ, Tổng Trì Môn, Cực Lạc Quốc, Hư Không Tạng, Tây Nam Hương, Mậu Kỷ Môn, Chân Nhất Xứ, Huỳnh Bà Xá, Thủ Nhất Đàn, Tịnh Thổ, Tây Phương, Hoàng Trung, Chính Vị, Giá Cá, Thần Thất, Chân Thổ, Huỳnh Đình, trăm nghìn tên khác nhau, khó mà ghi ra hết được.

Cái khiếu nầy phải cầu nơi thân: Không phải mồm, không phải mũi, không phải tâm, không phải thận, không phải gan, không phải phổi, không phải tì vị, không phải rốn, không phải Vĩ Lư, không phải Bàng quang, không phải Cốc đạo, không phải huyệt giữa hai thận, không phải huyệt dưới rốn một tấc ba phân, không phải Minh Đường, Nê Hoàn, không phải Quan Nguyên, Khí Hải. Như vậy nó thực sự nằm ở đâu?

Thuần Dương Tổ Sư (Lữ Động Tân) nói:

Huyền Tẫn, Huyền Tẫn chân Huyền Tẫn,

 

玄牝, 玄牝, 真玄牝,

Bất tại Tâm hề bất tại Thận.

 

不在心兮不在腎

Cùng thủ sinh thân thụ khí sơ,

 

窮取生身受氣初

Mạc quái Thiên cơ đô tiết tận.

 

莫怪天機都泄盡

Nghĩa là:

Huyền tẫn, Huyền tẫn, chân Huyền tẫn,
Không phải ở tâm, không ở thận.
Ở tại chỗ người vừa thụ khí,
Không sợ Thiên cơ đã tiết lộ.

La Công Viễn (Mộng Cửu Tập) nói:

一竅虛無天地中

 

Nhất khiếu Hư vô thiên địa trung,

纏綿秘密不通風

 

Triền miên bí mật bất thông phong.

恍惚杳暝無色象

 

Hoảng hốt yểu minh vô sắc tượng,

真人現在寶珠中

 

Chân nhân hiện tại bảo châu trung.

Nghĩa là:

Một khiếu Hư vô giữa đất trời,
Triền miên bí mật, gió không chui.
Khiếu đó sắc trần không có bợn,
Chân nhân coi nó Ngọc châu thôi.

Tư Mã Tử Vi cho biết khiếu đó cũng gọi là Huyền Quan khiếu:

虛無一竅號玄關

 

Hư vô nhất khiếu hiệu Huyền Quan,

正在人身天地間

 

Chính tại nhân thân thiên địa gian.

八萬四千分上下

 

Bát vạn tứ thiên phân thượng hạ,

九三五六列循環

 

Cửu tam ngũ lục liệt tuần hoàn.

大包法界渾無跡

 

Đại bao pháp giới hồn vô tích,

細入塵埃不見顏

 

Tế nhập trần ai bất kiến nhan.

這個名為祖竅穴

 

Giá cá danh vi tổ khiếu huyệt,

此珠一粒正中玄

 

Thử châu nhất lạp chính trung huyền.

Dịch nghĩa:

Hư vô một khiếu gọi Huyền Quan,
Giữa lòng Trời đất với nhơn gian.
Tám vạn bốn nghìn phân thượng hạ,
Chín, ba, năm, sáu liệt tuần hoàn.
Lớn trùm pháp giới không lưu vết,
Nhỏ nhập trần ai chẳng thấy nhan.
Cái đó gọi là Chân Tổ Khiếu,
Trường sinh, Linh Bảo vốn hàm tàng.

Công tham Thái cực phá nhứt khiếu chi huyền quang: Công đức sánh với Thái cực (bằng Trời đất), mở thông một lỗ khiếu huyền quan trong con người mà phối hiệp với Trời.

Nhứt khiếu chi huyền quan: Một cái Khiếu Huyền quan, tức là một cái lỗ sâu kín làm cửa ải trong thân thể con người, nó ngăn lại, khó mở ra được, làm cho con người mê muội vô minh. Tu luyện là cốt để khai thông cái cửa ải nầy. Khiếu Huyền Quan nầy mà được mở hoát ra thì đắc đạo. Trong Kinh Huyền Diệu Cảnh, tác giả Ly Trần Tử viết rằng: "Trong mấy khiếu duy có một cái Khiếu Huyền Quan là Chúa tể. Ví dụ Huyền Quan là vua một nước, Tam quan Tam điền tỷ như Lục Bộ Thượng Thơ, 9 Khiếu kia phía trước phía sau ví như quan văn tướng võ, những cái lỗ nhỏ chơn lông ví như muôn dân. Nếu như chẳng có Khiếu Huyền Quan thì cũng như nước không vua, nhà không chủ, dân chúng phải điêu đứng khổ sở. Thân con người mà không có Khiếu Huyền Quan thì cái thân không chủ, tức nhiên Thần phải mệt, Khí phải bị hại, ắt bị mê muội theo tửu điếm thanh lâu, thì làm sao sống lâu cho được, vì Tinh - Khí -Thần hao mòn lần lần.

Người tu luyện phải đem hết Chơn tâm Thực ý (Lòng ngay ý thiệt) mà luyện cho đến lúc hư cực. Ðược như vậy cũng như cái cây trăm thước mà mình đã leo đến mức chót, nhưng phải rán lên cao hơn nữa thì Huyền Quan Nhứt Khiếu mới tự nhiên xuất hiện.

Huyền Quan màu như sương tuyết. Luyện Huyền Quan hóa ra Kim Ðơn, hơi nó đỏ như màu châu sa, hơi nó sáng chói như màu thủy ngân. Nó không chân mà đi được, không hình mà động được, hễ tụ thì có, tán thì không còn, nên Huyền Quan Kim Ðơn hiện ra hay ẩn ẩn, thiệt là mầu nhiệm, không thể tả hết được. Cho nên có câu: Thiên đắc nhứt dĩ thanh, Ðịa đắc nhứt dĩ ninh, Nhơn đắc nhứt dĩ Thánh." (Trời được một thì trong, Ðất được một thì yên, Người được một thì thành Thánh). Ðược một đó là được một Khiếu Huyền Quan, được món Kim Ðơn. Kinh Kim Cang: "Nhứt hiệp tướng bất khả thuyết": nghĩa là: Âm Dương hiệp lại thành Kim đơn, khó tả khó nói cho rõ được.

Sách Ðại Học: Chí thiện chi Ðịa. Nghĩa là: Chỗ đất tốt hơn hết, không chi bì kịp.

Kinh Dịch nói: Huỳnh trung thông lý. Nghĩa là: Giữa Huỳnh Ðình thì thông lẽ nhiệm mầu.

Ðó là những tên đặt ra cho nhiều, kể chẳng hết, chớ chung cuộc cũng chỉ cái Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy mà thôi."

Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, trong sách THIÊN ÐẠO của Ngài, có giải về Huyền Quan Khiếu, trang 125-126, như:

"Người tu hành, chừng nào luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô, thì Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy mở hoát ra.

Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy là chi? Là Thiên Nhãn vậy. Nó ở ngay Nê Hoàn Cung, gom trọn Chơn Dương chánh đạo....

Khi Tâm người đi đến chỗ Hư không rồi, thì Huyền Quan Nhứt Khiếu được mở hoát ra, tức là Thiên Nhãn đó, ấy là ngôi Thái Cực. Chừng ấy, sự hiểu biết không lo nghĩ mà biết, không học tập mà hay. Cái biết đó vốn có sẵn từ mấy kiếp trước, nay nhờ tu tỉnh mà được xuất hiện ở kiếp nầy, nhà tôn giáo gọi là Phát Huệ."

Tánh hiệp vô vi: Hiệp là hợp lại, Vô vi là không làm, nghĩa thường dùng là vô hình vô ảnh nhưng rất huyền diệu.

TÁNH: Theo Phật giáo, Tánh là cái bản thể chơn thật của mình vốn sáng suốt, an lạc, trong lặng. Tánh là cái nguyên lý chẳng dời đổi, chẳng tiêu mất như: Thiện tánh, Phật tánh.

Theo Thiền Tông thì cái Bổn lai Tự Tánh của ta tức cái Bổn lai Diệu giác Chơn tâm, cũng là cái Bổn lai Diện Mục.

Ðức Lục Tổ Huệ Năng nói kệ về Tánh:

Nào dè Tánh mình vốn tự nhiên trong sạch,
Nào dè Tánh mình chứa đầy đủ muôn Pháp,
Nào dè Tánh mình vốn không lay động,
Nào dè Tánh mình có thể sanh ra muôn Pháp.

Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học Pháp vô ích, bằng biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là Phật.

Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng về Tâm và Tánh:

"Nhà Nho nói: Tánh tự Tâm sanh. (Cái Tánh từ cái Tâm sanh ra). Ðó là lý thuyết của Ðạo Nho. Chỉ biết có một điều là ta quan sát có thể thấy hiện tượng mà tả trạng hình được, vì Ðạo Nho chưa phải là một tôn giáo huyền bí. Còn Ðức Chí Tôn dạy ta biết rằng: Tánh là chơn tướng của Chơn Thần, còn Tâm là chơn tướng của Chơn linh. Ðức Chí Tôn dạy: Tánh của mỗi chúng ta là hình thể thứ nhì của ta. Hình thể thứ nhứt là Tâm, tức Chơn linh; thứ nhì là Tánh tức Chơn Thần; thứ ba là xác phàm thú chất nầy.

Ðức Chí Tôn hỏi: Tại sao từ trước đến giờ, theo Triết lý Ðạo Nho lấy nghĩa "Tánh tự Tâm sanh" mà tả ra? Bởi vì nó liên quan mật thiết cùng nhau. Trong Tâm mình như thế nào thì xuất Tánh ra y như vậy. Nhà Nho thấy hiện tượng mà đặt tên, còn Ðức Chí Tôn chỉ rõ cho biết: Chơn thần cũng tấn bộ như Chơn linh. Mỗi cá nhân đều có hai năng lực ấy, có đủ quyền năng đào tạo ra hình hài xác thịt ta. Một Chơn linh cao trọng tự nhiên có một Chơn thần cao trọng."

Tánh hiệp vô vi là đem Tánh hiệp với Hư Vô, tức là huờn Hư. Nói cách khác, luyện Chơn thần huờn Hư (vì Tánh là Chơn thần), Tinh Khí Thần hiệp nhứt, đắc đạo.

Khai phá một Khiếu Huyền Quan cho thông suốt thì cái Tánh được huờn Hư, tức là Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tạo được Chơn thần huyền diệu, đắc đạo.

"Phá nhứt khiếu chi Huyền quan, Tánh hiệp vô vi".

 

 

PHÁ TÀ HIỂN CHÁNH

(Phá: Làm vỡ ra, làm tan nát hư hỏng. : tà vạy, sái quấy. Hiển: làm lộ ra. Chánh: ngay thẳng, trái với Tà). Phá tà hiển chánh là phá bỏ tà kiến sai lầm để làm sáng tỏ điều chơn chánh.

 

 

PHÁ THAI TUYỆT LOÀI

Kinh Sám Hối có câu:

"Phạt răn quến gái, dụ trai,
"Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài."

 

 

PHÁCH

Phách tức là Chơn thần, là một khí thể, bao bọc chung quanh xác thân con người. Nhờ Chơn thần mà xác thân con người được sống, và không bị tan rã.

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
"Phách anh-linh ắt phải anh-linh.
"Quản bao thập ác lục hình,
"Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn."

 

 

PHÁCH ANH LINH

魄 英 靈
E: The mysterious perisprit.
F: Le périsprit mystérieux.

Phách: chơn thần. Anh linh: cao quí thiêng liêng. Phách anh linh là chơn thần cao quí thiêng liêng.

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
"Phách anh-linh ắt phải anh-linh.
"Quản bao thập ác lục hình,
"Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn."

 

 

PHÁCH LẠC HỒN KINH

魄 落 魂 驚
E: To lose consciousness.
F: Esprit égarné et âme effrayée.

Phách: chơn thần. Hồn: linh hồn. Lạc: rơi rụng. Kinh: sợ hãi. Phách lạc hồn kinh là chơn thần lạc mất, linh hồn sợ hãi. Ý nói: Sợ hãi quá mức, hết hồn hết vía.

 

 

PHÁI NỮ

Chỉ chung đàn bà, con gái. Đối lại là phái nam. Mỗi mỗi đều có một thiên trách đối với gia đình, xã hội, tổ quốc và tôn giáo. Tuy nhiên hai phái này vẫn hỗ trợ cho nhau về mọi mặt.

Đức Hộ Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống:

"Bà Mẹ hình hài chúng ta đây, là nhơn-viên của Đức Phật-Mẫu bên phái Nữ đó. Phái Nữ rán để tâm nghe điều ấy, là nhân-viên mật thiết của Đức Phật Mẫu, trước khi đã để tại thế gian này một hình-hài vào lòng mình sản-xuất, tức nhiên là Phật Mẫu đã giao quyền năng Tạo Đoan trong tay mình đó vậy. Chẳng cần nói cái vinh-diệu của người đàn bà khi người con ấy nên người, biết dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng Sống. Mình về tại Cung Diêu-Trì dòm lên thấy tượng ảnh của mình, không vinh-diệu nào bằng, cái vinh-diệu ấy, có điều trọng hệ là dầu Nam, Nữ cũng vậy rán giữ một điều này, coi chừng đừng thất hiếu với cha mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh của Đức Phật-Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền-hậu vô cùng, hạnh-phúc mình được hưởng đó, còn trái ngược lụng lại nếu ta thất hiếu, ta dòm vào hình ảnh của Phật-Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm-nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó."

Thầy dạy Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương-Thanh:

Con vốn thật là tay chơn Lão,
Phái nữ nhi bọc bảo giúp công Thầy,
Cùng Tỷ nương Đường thị con đây,
Lo phương thế đỡ day trong mối Đạo.

 

 

PHÁI THÁI

Thầy dạy: Vạn Phước Tự (Hốc Môn), 22-8-1926 (âl 15-7-Bính Dần)

"Hỷ chư môn đệ, chư chúng sanh. Nhung, môn đệ rất yêu dấu ôi! Nếu cả môn đệ Thầy biết kính mến Thầy như con, biết sợ luật lệ như con, chẳng kể chức phận như con, thì Đạo Thầy mới truyền bá kịp mà cứu vớt nhơn sanh. Thầy khen con đó. Từ đây con phải lấy Thiên ân là Thái Nhung Thanh, phái Thái. Con sẽ ở trong một phái Thái rất lớn. Con phải mặc Đạo phục như Thơ, song đội mão Hiệp Chưởng Hòa Thượng, có thêu Con Mắt Thầy hai bên. Con nghe há!"

 

 

PHÁI TIÊN THIÊN (Chi Phái)

Chi Phái Tiên Thiên thành lập vào năm (1932). Phái Tiên Thiên, trụ sở đặt tại T.T. Châu Minh Sóc Sãi, Bến Tre, hiện đang áp dụng Tân Luật và Pháp Chánh Truyền trong sự tổ chức Hội Thánh. Phái nầy cố gắng lấy lại sự quan trọng ngày xưa nhứt là đối với Thất Thập Nhị Tịnh. Tiên Thiên, đứng đầu là Ông Lê Kim Tỵ ở Phú Nhuận (Gia định), Ông Lê Kim Tỵ tự phong cho mình là Hội Trưởng Cao Ðài Hiệp Nhứt, ông mất tại Hải Phòng năm 1948. Theo tài liệu nầy thì Ông Gabriel Gobron nhìn nhận Tòa Thánh Tây Ninh là cái gốc của Ðạo, từ cái gốc này các vị mới nảy sanh ra các nhánh, sanh Chi phái. Ngài Gabriel Gobron kể ra 11 Chi phái vào năm 1948. Theo ông Quế: Tiên Thiên, với chư quí Ngài: Tòng, Tỵ.

Sau là Ông Nguyễn Bửu Tài lãnh đạo phái Tiên Thiên: Ông Tài sanh năm 1882 tại làng Chẹt Sậy, sau đổi tên là làng Phú Hưng, tỉnh Bến Tre. Ngài theo tân học nhưng cũng rất giỏi Hán học, làm giáo viên tại Bến Tre, được thăng lên Thanh Tra Tiểu Học, sau bị đổi lên Biên Hòa.

Năm 1926, ông Nguyễn Bửu Tài lập một phái tu đơn tại Chẹt Sậy, Tịnh Thất được đặt tên là Tây Tông Vô Cực Cung.

Năm 1941, ông có liên lạc với Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể ở Nhựt, nên bị Pháp bắt đày đi Côn Ðảo 5 năm.

Ngày 25-8-1945, Chánh phủ Trần Trọng Kim ân xá, ông Tài được trả tự do, ông trở về quê nhà tiếp tục tu đơn.

Sau đó ông gia nhập phái Tiên Thiên, được cơ bút phái Tiên Thiên phong ông vào hàng Thất Thánh, sau được phong Thượng Ðầu Sư, trở thành Chức sắc lãnh đạo phái Tiên Thiên. Một số lớn Chức sắc cao cấp của phái Tiên Thiên nhập qua các phong trào Thống Nhứt Chi phái, làm cho phái Tiên Thiên suy yếu. Do đó, ông Nguyễn Bửu Tài cùng một số Chức sắc Tiên Thiên cấp dưới qui hiệp về Tòa Thánh Tây Ninh, được Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ chấp thuận trong đàn cơ đêm 1-3-Mậu Tý (dl: 9-4-1948) và Ðức Hộ Pháp ra Thánh Lịnh số 535 ngày 4-6-Kỷ Sửu (dl: 29-6-1949) để thi hành quyết định của Ðức Lý Giáo Tông.

Ngày 27-5-Canh Dần (dl: 11-7-1950), theo lời dạy của Ðức Lý Giáo Tông đêm 3-1-Canh Dần, Ðức Phạm Hộ Pháp ký Thánh Lịnh số 302, chư Chức sắc phái Tiên Thiên có danh sách trong Thông qui ngày 30-10-Kỷ Sửu, đã đệ trình lên Ðức Lý Giáo Tông xem xét, được Ðức Lý tạm phong vào hàng Chức sắc Tòa Thánh Tây Ninh, sụt bớt một cấp, như sau đây:

- Phối Sư Thượng Tài Thanh (Nguyễn Bửu Tài)

- Phối Sư Thượng Hiền Thanh (Phan Lương Hiền)

- Giáo Sư Ngọc Thiệu Thanh (Phan Lương Thiệu)

- Giáo Sư Ngọc Dừng Thanh (Ðinh Văn Dừng)

- Giáo Sư Thượng Tấu Thanh (Trần Văn Tấu)

Phần tiếp theo là danh sách 26 Giáo Hữu và 35 Lễ Sanh.

Tổng cộng: 66 vị Chức sắc, không ai là Ðạo hữu cả.

Ngày 23-12-Canh Dần (dl: 30-1-1951) Ðức Phạm Hộ Pháp lại ký Thánh Lịnh phong thêm 5 vị Giáo Sư, 3 Giáo Hữu và 17 Lễ Sanh.

Cả thảy Chức sắc phái Tiên Thiên được Ðức Lý Giáo Tông tạm phong do Cơ Bút tại Tòa Thánh Tây Ninh, phải hành sự tùng quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Chủ trưởng Chức sắc.

Giữa năm 1951, ông Nguyễn Ngọc Tương Giáo Tông phái Bến Tre qui liễu tại Thánh Thất An Hội Bến Tre.

Sau đó, ông Nguyễn Bửu Tài và số Chức sắc Tiên Thiên đã qui hiệp về Tòa-Thánh Tây-Ninh trước đây, âm thầm tự ý rút lui khỏi Tây Ninh, trở về Sóc Sãi tỉnh Bến Tre tái lập phái Tiên Thiên, lập Tòa Thánh Châu Minh và Hội Thánh Tiên Thiên.

Ngày 13-8-1955, cơ bút phái Tiên Thiên phong ông Nguyễn Bửu Tài lên chức Thượng Chưởng Pháp.

Ngày 9-1-1957, ông Nguyễn Bửu Tài được tấn phong Quyền Giáo Tông phái Tiên Thiên.

Ngày 9-1-1958, tức là đúng 1 năm sau, cơ bút phong ông Nguyễn Bửu Tài lên chức Giáo Tông chánh vị phái Tiên Thiên. Ngày 21-9-Mậu Tuất (dl 1-11-1958), ông Nguyễn Bửu Tài qui liễu, tháp được xây tại Tòa Thánh Châu Minh ở Sóc Sãi, Bến Tre. Vậy ở Bến Tre, trước sau có hai vị Giáo Tông Chi phái: Nguyễn Ngọc Tương và Nguyễn Bửu Tài.

CUỘC THỬ CƠ của PHÁI TIÊN THIÊN

Phò loan: Thanh Trước Ðàn

LÝ GIÁO TÔNG

Chào con cái Chí Tôn, Thượng Tài Thanh, Hiền hữu có biết chăng Ðạo Thầy có một? Khai Pháp Hiền Hữu chấp bút nhang đuổi nó đi, vì đây trước mặt Lão lại còn cho Thần Cái trụ. Thượng Tài Thanh, hỏi một Hội Thánh có mấy Ðài Hiệp Thiên và mấy Ðài Cửu Trùng?

Chính tay Lão đã lập Ðạo Nghị Ðịnh thứ 8, có đâu Lão lại phá luật; còn Ðài Hiệp Thiên do Hộ Pháp nắm giữ, có đâu Lão lại quá quyền phạm pháp, phong tước Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, Hiền Hữu vốn biết Lão đương quyền GÍAO TÔNG đó chớ? Cơ chia phe phân phái cũng do đó có phải? Nè Lão cho hay rằng: Hội Nhơn Sanh sắp đến đó, thử hỏi Chức sắc và tín đồ về đặng bao nhiêu? Hiền hữu khá nhớ rằng: được phẩm thì dễ, chớ ngồi yên khó lắm, sự không qui thuận của Chức sắc và tín đồ Tiên Thiên là lỗi nơi Hiền hữu, chớ không phải nơi họ. Từ đây, Hiền hữu cứ ra nghiêm lịnh coi. Nên nhớ rằng: với tình thì Lão dung thứ được, chớ về luật pháp e khó dung tha được.

Cao Sĩ Tấn! Lão biết Hiền hữu có ý bất mãn, nhưng Lão khuyên Hiền hữu khá suy nghĩ sẽ thấy rõ đường đi. Ðức Chí Tôn khai Ðạo chẳng bó buộc một ai hết thảy, nếu ngoan là con của Thầy, còn dại thì mặc tình quỉ dẫn. Những cặp đồng tử của Hiền hữu, tuy vốn xuất thần, nhưng bị hồi điển do bổn thân. Hiền hữu khá đem họ nhờ sự trau luyện của Hiệp-Thiên-Ðài Chức sắc thì sẽ được ứng dụng ngày sau. Hiền hữu thử hỏi lại chúng nó coi: trước đêm mùng 4 vừa qua nó có suy nghĩ gì chăng? - Thượng Tài Thanh, Hiền hữu hiểu lời Lão rồi chớ?

Bảo Thế, Khai Pháp, Tiếp Ðạo, sáng ngày mai phải xuống Trí Huệ Cung tường thuật cặn kẽ cho Hộ Pháp nghe.

Còn hai em Hưởng và Nhung, Lão khen đó, hai em đã giúp Lão chỉnh đốn Cửu Trùng Ðài nhiều lắm đó, Lão mang ơn nơi cõi Hư linh, còn hữu hình Lão chẳng có quyền. Thăng.

Tái cầu: Lúc 23 giờ.

THƯỢNG TRUNG NHỰT

Qua chào mấy em. Cười..Ông Già nộ khí dữ quá ta! Lúc nãy đồng tử của họ có một người tà tâm nên Ổng đánh nó đó.

- Không sao, tuy vậy chớ Thượng Tài Thanh và Cao Sĩ Tấn biết suy nghĩ lắm, họ bị quá mê tín mà nên nông nỗi.

Cười... Coi chừng đồng tử bị đánh, bịnh ta ơi! Tội nghiệp, không phải tự họ muốn lên giả, nhưng tại Thần trược mà bị hồi điển. Những người đồng tử họ bất bình, họ nói mình xúm nhau mà làm ngưng nghề họ, chớ không phải là Ðức Lý. Cười.... Mặc dầu lúc nãy, Ông Già đã nói trước rồi. Còn KHOA thì coi hình như đeo muốn rớt.

Em Trung Dõng nên gần gũi dẫn dụ họ, nếu họ có ức thì xin với Ðức Hộ Pháp, Ðức Hộ Pháp phò loan tại Trí Huệ Cung một lần nữa, nhưng không cho đồng tử theo vì có hại cho họ.

Cười... Cần cơ gãy... Cười...Anh nói thiệt, nếu Cơ không gãy thì e cho họ phát điên rồi mà chớ. Ðó cũng may cho họ vì đầu Cơ không có điển, hành pháp không xuất được. Thôi cũng yên một phần, em Trung Dõng cười đi em.

(Khoa: Ngài Hồ Tấn Khoa, lúc đó chưa được phong chức Bảo Ðạo.Trung-Dõng hiệu của Trung Tướng Nguyễn Văn Thành).

Thơ của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Người thối chí bước qua Tịnh độ,
Kẻ buồn lòng lại mộ Tiên Thiên.
Thất thời nghe nói đi liền,
Về bên phái khác một thiên Đạo đồ.

 

 

PHÁI VÀNG

E: The yellow branche.
F: La branche jaune.

Phái vàng là tượng trưng Phật đạo, tức "Thiên khai Huỳnh đạo". Hiện nay trong cửa Đạo Cao-Đài có ba sắc phái Đạo: Vàng (phái Phật- Thái Thanh), xanh (phái Tiên – Thượng Thanh), đỏ (phái Thánh – Ngọc Thanh), những màu sắc này chỉ riêng Chức sắc nam phái từ phẩm Lễ Sanh trở lên dùng làm sắc phục chầu lễ Đức Chí Tôn. Còn Nữ phái dùng toàn sắc phục trắng. Nhưng chỉ riêng Đức Phật Mẫu thì dùng sắc phục vàng qua hình thức trang trí: như màn nơi Điện thờ Phật Mẫu là màu vàng, lễ sĩ điện lễ vào ngày cúng Vía Phật Mẫu thì mặc sắc phục vàng. Vì Phật Mẫu có danh xưng là "Kim Bàn Phật Mẫu" hay "Diêu-Trì Kim Mẫu", vì nhìn tổng thể thì kim loại có sắc trắng, nhưng thứ kim loại quí hiếm (vua của kim loại) là vàng (or) có màu vàng rực rỡ, biểu hiện sắc Vàng là hình ảnh cao quí của Mẹ Sanh nhân loại. Thế nên chữ Kim Mẫu viết là .

Đức Phật-Mẫu ban cho Thi:

Diêu Cung Phật Mẫu rất hân hoan,
Vội ngự Thanh Loan đến địa hòan.
Xưa bồi tâm Thánh nơi Hớn Đế,
Nay thối linh đô chốn Nậm Bàng (?).
Biển trần lắm khách còn mê luyến,
Đường Đạo vì con phải luận bàn.
Sắc chỉ Tam Kỳ chầu Hội Yến,
Phái vàng Mẹ lãnh ngự trần gian.

Bài Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Ngọc-Hư định phép cũng nhiều,
"Phái Vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ.
"Trước kia trẻ vẫn mịt-mờ,
"Từ đây mới hản ơn nhờ Mẫu-Nghi."

 

 

PHÁI VIÊN

派 員
E: The representative.
F: Le représentant.

Phái: phân phối sai khiến. Viên: người. (Người được phái đi công tác).

Phái viên là người được các Đạo hữu trong Tộc đạo cử ra thay mặt để đi tham dự Đại Hội Nhơn Sanh nơi Tòa Thánh.

Đạo Luật: Cứ 500 Đạo hữu trường chay đặng quyền tuyển cử lên một vị Phái viên thay mặt.

Nam thì cử theo nam, nữ thì cử theo nữ.

• Bên Cơ Quan Phước Thiện, việc chọn cử Phái Viên đi dự Đại Hội Phước Thiện được qui định như sau:

Đạo Luật: Mỗi Quận Đạo nào có lập cơ sở Lương điền, Công nghệ, Thương mãi, thuộc về Phước Thiện thì từ 1 đến 500 người hiến thân công quả, đặng cử một Phái viên ra thay mặt; từ 501 đến 1000 người thì công cử 2 vị, y theo thể lệ chọn cử Phái viên của Quyền Vạn Linh.

 

 

PHẢI KIÊNG PHẢI VÌ

Kinh Sám Hối có câu:

"Anh em bằng-hữu kết nguyền,
"Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì."

 

 

PHÀM

Phàm: - Tầm thường, chỉ cõi trần, Cõi tục (phàm tục, phàm trần.) - Gồm tất cả, đại khái. Td: Phàm chất, Phàm nhãn, Phàm lệ.

Pháp-Chánh-Truyền gọi phàm, ấy là: "Kẻ ngoại giáo, Tả đạo bàng môn, người vô Đạo, riêng nắm quyền hành thế tục, nghịch cùng chơn lý chánh-truyền, mượn thế lực phàm tục mà diệt lành dưỡng dữ, mê hoặc nhơn sanh, lưu-luyến trần thế, trên không biết Trời, dưới không kỉnh đất, lấy người làm lợi khí đặng vụ tất công-danh, quyền quyền thế thế, chẳng kiêng nể luân hồi, ham vật-chất hơn tinh thần, lấy vinh-hoa của kiếp sanh làm sở nguyện, như thú vật, cây cỏ, sắt đá, chỉ biết sống mà không biết sống để làm gì; còn không hay mà mất cũng không biết. Ấy là hạng phàm, gọi là ĐỜI đó vậỵ"

Đức Chí-Tôn đã dạy hồi mới khai Đạo:

"Thầy đã chán biết thế gian này là phàm, Thầy đến lấy cái phàm hiệp cùng cái Thánh, làm sao tránh đặng cái phàm không lẫn-lộn trong cái Thánh, nếu còn vướng chút phàm thì không còn là Thánh-thể, các con nên hiểu phẩm-vị cao trọng ấy mà trau lòng cho ra Thánh-thể mới đáng giá"!

Đối với các triết-lý Bí-pháp buổi nọ, bây giờ nhân-loại tăng tiến quá lẽ thành thử các vị Giáo-chủ đã lập luật-pháp, nhưng luật-pháp đơn sơ ấy ngày nay không có đủ quyền-năng trị tâm thiên-hạ nữa."

Thi văn dạy Đạo có câu:

Mình xưa chưa kẻ độ nên phàm,
Phải ngó tâm mình đạo mới ham.
Phải phải cùng đời đừng sửa quấy,
Quấy nhiều tức quỉ giục mình tham.

 

 

PHÀM CÁCH

Phàm cách: tư cách của người trần tục

Đức Hộ Pháp nói: "Ta thấy trên khuôn mặt họ hiện ra đủ khôn-ngoan, hiền-từ, đức tánh Thiêng-liêng lộng-lẫy không còn một mảy-may phàm cách. Cái phong-thần vẫn còn huyền bí vô biên, họ muốn thế nào thì đẹp cả đôi như vậy."

 

 

PHÀM CHẤT - THÁNH CHẤT

-
E: The vulgar quality, the sacred quality.
F: La qualité vulgaire, la qualité sacrée.

Thầy dạy: ngày 27-4-Ðinh Mão (dl: 27-05-1927):

Thầy, các con! "Hội Thánh là vầy các con há? Áo não! Thảm thay! Thầy tưởng khi chẳng lẽ phải cần nói ra; đợi cho Thánh chất các con tăng thêm đặng chút nào, lại càng thấy đặng khổ não của Thầy vì các con mà đeo đuổi từ ngày khởi lập nhơn loại đến chừ, chẳng dè phàm chất các con nó mạnh mẽ thế nào đè khuất trọn vẹn chút mảy mún Thánh-chất Thầy để vào lòng các con, nên nay Thầy buộc mình phải nói rõ. Các con ôi! Thầy hỏi vậy chớ mỗi phen độ rỗi cho đặng các con, các con có biết Thầy chịu khổ não dường nào chăng? Quyền hành Chí Tôn của Thầy, các con nếu hiểu thấu thì các con sẽ thấy nó là một hình phạt rất nặng nề, chẳng khác nào như gông với tróng".

 

 

PHÀM GIAN


E: The world.
F: Le monde.

Phàm gian 凡間 là cõi phàm trần, cõi nhơn gian, là chỉ chung người sống trên địa cầu 68 này, gọi là trần tục, trần hồng.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Thà cam vui chốn động Đào,
"Đừng vì nhớ trẻ trở vào phàm gian."

 

 

PHÀM GIÁO

(Phàm: tầm thường; giáo: tôn giáo, khởi đầu của mối Đạo) một tôn giáo tầm thường không thể đưa con người đến nơi gọi là giải thóat. Phàm giáo trái nghĩa với Chánh giáo.

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 22-06-Mậu Dần (1938) như sau: "Do Tam giáo thất chơn truyền: Nho- Thích- Đạo hiện nay đã trở nên phàm giáo. Chư Đệ tử trong ba nhà Đạo không giữ y luật pháp qui điều, lại canh cải chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc làm cho Tam Giáo biến thành dị đoan".

Đức Thượng-Phẩm cho biết thêm: "Các em cũng dư hiểu rằng các giáo-lý từ xưa đã bị thất-kỳ-truyền là tại Môn-đồ của họ không chịu đặt mình trong khuôn viên Luật-Pháp của giáo-lý ấy. Nếu một thời-kỳ mà một giáo-lý đã thất chơn truyền thì đem đến cho nhơn-sanh biết bao tang thương biến đổi! Cũng vì lẽ ấy mà nay Đức Chí-Tôn giáng trần lập Đạo, lại chia hình thể của Ngài ra hai phần để có phương kềm-thúc nhau trên bước đường lập vị.

- Phần Cửu-Trùng-Đài chuyên về mặt giáo hóa nhơn-sanh.

- Còn phần của Hiệp-Thiên-Đài thì lo về mặt Luật pháp để bảo-thủ chơn-truyền của Đạo. Nhờ đó nền Thánh giáo của Đức Chí-Tôn khỏi phải qui thành phàm-giáo".

 

 

PHÀM GIÁO - CHÁNH GIÁO

E: The profane doctrine, the sacred doctrine.
F: La doctrine vulgaire, la sainte doctrine.

Ngày 12-1-Ðinh Mão (dl 13-2-1927)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
Giáo Đạo Nam phương

Các con. Cả chư môn đệ khá tuân mạng.

"Hiệp-Thiên-Ðài là nơi Thầy ngự cầm quyền Thiêng liêng mối Ðạo. Hễ Ðạo còn thì Hiệp Thiên Ðài vẫn còn.

Thầy đã nói Ngũ Chi Ðại Ðạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra Phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa."

 

 

PHÀM NHÃN


E: The carnal eyes.
F: Les yeux charnels.

Phàm nhãn là con mắt của người phàm, tức là mắt của thân thể xác thịt, gọi là mắt phàm.

Kinh Ði Ra Ðường có câu:

"Gót chơn đưa rủi như sát mạng,
"Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi."

 

 

PHÀM NHƠN

凡 人
E: The vulgar person.
F: La personne vulgaire.

Bà Bát Nương Diêu-Trì-Cung giáng đàn cho thi:

Thân phận phàm nhơn trược đã đành,
Chẳng vì nguyệt huyết kỵ anh Linh.

 

 

PHÀM PHẨM

凡 品
E: The vulgar grade.
F: Le grade vulgaire.

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Phẩm: thứ bực chức tước cao thấp. Phàm phẩm là phẩm bực thấp kém của người tầm thường, còn mê muội trong vòng vật chất.

Người tu hành, đi từ Phàm phẩm tiến hóa lên Thần phẩm, rồi Thánh phẩm, v.v....

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: Nâng đỡ, dạy dỗ cho phàm phẩm tấn hóa lên cho tới Thánh vị.

 

 

PHÀM PHONG

Phàm phong 凡封: người trần tục phong cho.

Theo Huấn lịnh 638 của Đức Hộ Pháp ngày 4-6-Đinh Hợi (1947) nói rằng: "Dầu tòan Hội Thánh hay là một phần tử của Hội Thánh tức là một Chức sắc Thiên phong nào cũng vậy,phải đáng mặt lương sanh đặng vào Thánh Thể của Người chẳng phải là dễ. Vì vậy mà Chí-Tôn phải đem lương sanh ấy vào bậc Thiên phong cho đồng thể cùng Thần, Thánh, Tiên, Phật mới đáng làm hình thể của Người. Nếu để phàm phong thì quả nhiên nhân lọai đã lăng mạ danh thể của Người. ấy là tội Thiên điều chẳng hề dung thứ. Mà Thiên phong chánh vị còn giữ phàm tánh thì lại lăng mạ danh thể của Người hơn thập bội".

 

 

PHÀM PHU TỤC TÁNH

凡 夫 性
E: The vulgar quality.
F: La qualité vulgaire.

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Phu: người. Tục: thấp kém. Tánh: tánh nết. Phàm phu tục tánh là người tầm thường có tánh nết thấp kém, còn ở trong vòng vật dục, tranh đua danh, lợi, quyền (tánh tình của kẻ phàm).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nhưng Thiên cơ há vị phàm phu tục tánh mà để cho các con toại kỳ sở nguyện sao?

 

 

PHÀM PHU TỤC TỬ

凡夫俗

Thầy dạy: "Tòa Thánh-chất thiêng liêng phải biến ra hữu hình trước mắt kẻ phàm phu tục tử, đặng thấy, mới biết kiêng oai Thầy."

 

 

PHÀM QUYỀN

Ngày 10-3-1927 (âl 7-2-Đinh Mão).

Phò loan : Bảo Pháp - Hiến Pháp, tại Đàn Phú Nhuận.

Thầy dạy: "Vì lòng Bác ái, Thầy đến mở Đạo cho chúng sanh nhờ, mà cũng còn có điều trở ngại, ấy là do kẻ bất lương mà ra. Chúng nó cũng dối lấy chữ nghĩa Bác ái mà ngăn đón. Các con vì đó mà ngần ngại giữa đường, cũng vì phần đông chưa đủ nhơn cách, nên Thầy cũng phải nương theo cho qua hồi trắc trở. Thế nào rồi đây cũng có ngày phổ thông Chánh giáo đặng. Các con đừng thấy những sự phàm-quyền ấy mà lo cho Thầy không đủ quyền pháp chế trị, các con sẽ thấy phép mầu của Thầy là dường nào! Vậy, lúc nầy, những Môn đệ mới phải lập thệ giữa Thầy mà nhập Đạo."

 

 

PHÀM TÂM

凡 心
E: The vulgar heart.
F: Le cœur vulgaire.

Thầy than: "Hại thay cho một nền Tôn giáo chơn chánh dường nầy, bị phàm tâm của các con đã ra ô trược... Thầy đã thấy trong Thiên thơ, tội tình của mỗi đứa, Thái Bạch đã giao nạp cho Ngọc Hư Cung rồi, đã đủ mặt Cửu Trùng-Ðài và Hiệp Thiên-Ðài đều có hết."

Vào Đền Thánh phải bỏ hết phàm tâm:

Đức Hộ Pháp dạy: "Khi mấy Em vào hầu Lễ, nếu biết hưởng cái ân Thiêng-liêng ban cho đó, thì tinh thần được an tịnh và hạnh-phúc biết bao. Nếu biết hưởng thọ cái hồng ân đó, cũng như lúc mấy Em đói rồi có ai đem cho đồ ăn mà không biết hưởng thì làm sao no đặng, tất phải đói!

Đáng lẽ khi bước vô Bửu Điện, đi qua Hiệp-Thiên Đài thấy toàn màu đỏ, màu đỏ thuộc về xác thịt, vậy đi qua rồi phải tịnh tâm. Qua không nói ai, vì trước mỗi buổi đều tắm rửa, vô đó dầu hình thể mấy Em có nhơ-nhớp, thúi hôi, cùi đày mà cái Tâm của mấy Em trong sạch đó là cái Tâm vô tội. Dầu kẻ nào tội tình ưu lự thế mấy mà bước vô Đền Thánh rồi cũng phải nhập tánh cho thanh khiết, bỏ cả những tư-tưởng phàm tục, để Tâm nhứt nguyện mới có sự hưởng ứng. Mấy Em đem cái hình xác vào Đền Thánh, nhưng là cái xác vô tội đặng hiến cho Chí-Tôn. Nếu không vậy, thì có vào Đền Thánh: kẻ ngồi chỗ này, kẻ ngồi chỗ kia mà trong óc không tưởng niệm thì vô Đền Thánh có ích gì?

Đi Cúng, điều trọng-yếu nhứt là Tinh-thần, cái huyền-vi bí-pháp tinh thần ở đấy là Cửu-Trùng-Đài, rồi Bát-Quái-Đài thuộc về chơn linh; Ấy là linh tâm xuất hiện. Nếu mấy Em có cảm mới có ứng, mà nếu có ứng thì mấy Em mới hưởng được, thoảng không hưởng được là lỗi tại mấy Em không trọn tâm thành kính. Vậy từ đây về sau, Qua chỉ xin mấy Em một điều: là hễ bước vô Đền Thánh phải bỏ hết cả phàm tâm thì hạnh phúc sẽ to lớn, bằng chẳng vậy đừng đi Cúng, vì đến Cúng không những không hưởng được đặc ân mà còn bị tội là khác"

 

 

PHÀM TÂM TỤC TÁNH

Nghĩa là tâm còn phàm tánh thì tục.

Pháp Chánh Truyền rằng: "Thầy vì sợ phàm tâm tục tánh, lập Luật Pháp rất nghiêm đặng đủ quyền hành buộc cả Hội-Thánh, nghĩa là thân thể Thiêng liêng hiệp làm một:

- LUẬT thì có Tân luật.

- PHÁP thì có Pháp Chánh Truyền.

- QUYỀN thì có Toà Tam giáo

Ấy là cái còi, cây gậy, hàng rào Thiêng liêng đặng lùa cả các chuồng chiên của Thầy hiệp Một; mà hại thay, kẻ chăn chẳng biết lóng tiếng còi, đoàn chiên không kiêng con gậy, rào thưa rích thưa ran để đến đỗi bầy sói lũ hùm bắt Chiên của Thầy phân thây xé thịt; cái hại ấy do tại nơi đâu?"

 

 

PHÀM TỤC

Thầy dạy: Thứ bảy 29-06-Bính Dần (dl: 07-8-1926):

"Mấy con nghe: Những sự phàm tục đều là mưu kế của Tà mị Yêu quái, cốt để ngăn trở bước đường Thánh Đạo của các con. Những mưu quỉ quyệt ấy do lịnh THẦY dùng để thử các con. Thầy đã nói: Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con, nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Thầy lại khuyên các con gìn giữ bộ thiết giáp cho đến ngày hội hiệp cùng Thầy. Ấy vậy, Ðạo là vật rất hữu ích, như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lổ, còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép Tà thần..Các con chớ ngại, ngày nay, Ðạo khai tức Tà khởi. Vậy thì các con phải hết lòng hết sức mà gìn giữ lấy mình, đã chẳng phải giữ mình các con mà thôi, lại còn gìn giữ cả Môn đệ Thầy nữa. Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: Cả Môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa, còn lối nửa phần, vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ. Cười.... Ði bao nhiêu đều mất bấy nhiêu. Các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít là lẽ hằng. Các con liệu phương thế mà nâng đỡ đức tin của Môn đệ cao lên hằng ngày, ấy là công quả đầu hết".

Thế nào là Phàm tục? Pháp Chánh Truyền có giải:

"Thượng-Sanh về Thế độ, đem các chơn hồn vào cửa Đạo, dầu Nguyên nhân hay là Hóa nhân cũng vậy, phải nhờ Người độ rỗi. Thượng Sanh đặng mạng lịnh chuyển thế, điều độ nhơn sanh ra khỏi trầm luân khổ hải, buộc Thượng-Sanh phải gần gũi kẻ vô Đạo đặng an-ủi dạy-dỗ. Mà kể từ hạng vô Đạo trở xuống cho tới vật chất thuộc về phàm, ấy vậy Thượng Sanh là thể Đời, người đứng đầu của phẩm phàm tục."

"Kẻ ngoại giáo, Tả đạo bàng môn, người vô Đạo, riêng nắm quyền hành thế tục, nghịch cùng chơn lý chánh truyền; mượn thế lực phàm tục mà diệt lành dưỡng dữ, mê hoặc nhơn sanh, lưu luyến trần thế; Trên không biết trời, dưới không kỉnh đất; lấy người làm lợi khí đặng vụ tất công danh, quyền quyền thế thế; chẳng kiêng nể luân hồi, ham vật-chất hơn tinh thần, lấy vinh hoa của kiếp sanh làm sở nguyện, như thú vật, cây cỏ, sắt đá, chỉ biết sống mà không biết sống để làm gì, còn không hay mà mất cũng không biết. Ấy là hạng phàm, gọi Đời đó vậy"

Thánh Giáo Ðức Chí Tôn dạy: "Thầy dùng Lương sanh mà cứu vớt Quần sanh, cả Lương sanh ấy Thầy dùng quyền Thiêng Liêng dạy dỗ, trước un đúc nơi lòng một khiếu từ bi cho tâm địa có tình ái vật ưu sanh theo tánh đức háo sanh của Thầy, dùng lợi khí phàm tục để độ rỗi người phàm tục".

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Có tình phải nghĩ đến câu duyên,
Mình hẹp hòi xưa mới để phiền.
Lựa chọn đã nhiều già kém lắm,
Chẳng ưa phàm tục hỏi đâu Tiên.

 

 

PHÀM THỂ


E: The physical body.
F: Le corp physique.

Phàm thể là thân thể phàm tục. Đây có ý chỉ toàn thể chúng sanh..

Kinh Xuất Hội có câu:

"Vẹn toàn phàm thể Thánh thân,
"Tùng theo Chơn pháp độ lần chúng sanh."

 

 

PHÀM TRẦN


E: The terrestrial world.
F: Le monde terrestre.

Bài Kinh Niệm Hương có câu:

"Xin Thần, Thánh ruổi-dong cỡi hạc,
"Xuống phàm-trần vội gác xe Tiên."

 

 

PHÀM TRÍ

Đức Quyền Giáo-Tông nói: "Chẳng có một điều chi dầu nhỏ mọn thế nào mà Chí Tôn không cho biết trước. Qua đã thấy phàm trí của mình chưa hề đủ nghị lực thay đổi Thiên thơ đặng bao giờ. Ngày nay Qua lại càng đặng thấu đáo, lại càng ghê sợ hơn nữa. Ôi! Thiên cơ mầu nhiệm, chỉn có một đường chỉ do bởi biến đổi của nhơn tâm mà phải tùng quyền day trở, nhưng chơn tướng vẫn chẳng thể đổi dời. Hại thay cho những số mạng căn kiếp nào mà tiền định cho phải chịu làm màu cho Thiên thơ biến tướng".

 

 

PHÀM TRỊ

凡 治
E: Punishment in the world.
F: Punition dans le monde.

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Trị: trừng trị, trừng phạt. Phàm trị là trừng phạt theo luật pháp của cõi phàm.

 

 

PHẠM

Phạm còn đọc là PHẠN: Phật, thanh tịnh.
Td: Phạm môn, Phạm nghiệp.

Phạm họ Phạm.
Td: Phạm Hộ Pháp.

Phạm đụng chạm, xâm lấn, người có tội.
Td: Phạm giới, Phạm pháp.

Phạm Khuôn mẫu.
Td: Phạm trù.

 

 

PHẠM ÁC

Kinh Sám Hối có câu:

"Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,
"Tánh gian-dâm hành phạt gớm ghê."

 

 

PHẠM CÔNG TẮC (Tên)

(Xem: Hộ Pháp Phạm Công Tắc.Vần. H.)

Tiểu sử Ông Phạm Công Tắc:

Ngài Phạm Công Tắc sanh ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch năm Canh Dần (dl: 21-6-1890) tại làng Bình Lập bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An), nhưng song thân Ngài quê quán tại làng An Hòa, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Thân phụ của Ngài là Phạm Công Thiện được Đức Chí Tôn cho biết là chơn linh của Ngân Hà Công Bộ nơi Thiêng Liêng, thân mẫu là Bà La thị Đường.

Ngài Phạm Công Tắc là người đứng vào hàng áp út trong một gia đình gồm 8 người con. Gia đình Ngài đều theo đạo Công giáo.

Năm 1902, cha Ngài mất khi Ngài mới 13 tuổi. Thuở nhỏ, Ngài theo học chữ Nho tại một trường làng, sau đó mới đổi qua Tây học và học hết bậc Trung học tại trường Chasseloup Laubat Sài gòn. Năm 1907, Ngài đậu bằng Thành Chung. Trong thời gian học, Ngài có tham gia phong trào Đông Du (1904-1907) và Ngài có tên trong danh sách các thanh niên đi du học ở Nhựt, nhưng Mật thám Pháp phát hiện được nhóm hoạt động liền phi tang hồ sơ, hủy bỏ chuyến đi đó.

Ngài Phạm Công Tắc tạm gác lại phong trào Đông Du, để quyết định xin đi làm việc để có tiền phụ giúp gia đình. Ngài làm ở sở Thương chánh Sài gòn.

Năm 21 tuổi, Ngài vâng lịnh lập gia đình với Bà Nguyễn Thị Nhiều sanh đặng ba người con, nhưng chỉ còn lại hai gái là Phạm Hồ Cầm và Phạm Tần Tranh.

Năm 1912, thân mẫu của Ngài qui liễu khi Ngài được 22 tuổi, là cái tang đau đớn vô cùng đối với Ngài.

Lúc này Ngài thường để tâm nghiên cứu Thần linh học và tìm cách liên lạc với các vong linh của thế giới vô hình.

Vào hạ tuần tháng 7 năm 1925, Ngài cùng với ông Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh Cư và Cao Hoài Sang tổ chức Xây bàn để tiếp xúc với các vong linh nơi thượng giới.

Nhờ việc Xây bàn, cầu Cơ mà Ngài cùng với một số Chức sắc đã trở thành Thiên sứ của Đức Chí Tôn trong việc khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Ngài đóng góp nhiều công to lớn để phát triển nền Đạo:

- Lập Hội Thánh Ngoại Giáo.

- Xây dựng Tòa Thánh và Báo Ân Từ.

- Lập các phẩm Chức sắc Hiệp Thiên Đài dưới Thập Nhị Thời Quân.

- Lập Phạm Môn và cơ quan Phước Thiện.

- Xây dựng các Cung như Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung để sau này làm Tịnh Thất cho người tu chơn.

- Cất chợ Long Hoa và mở mang châu thành Thánh địa

Vì quá lao tâm lao lực với nền Đạo, lại bị đày đọa khổ cực trong hơn 5 năm đồ lưu nơi Hải đảo và thêm những nỗi đau buồn khi lưu vong tại Nam Vang, Ngài đã mang bịnh và đăng Tiên vào lúc 13 giờ 30 ngày 10 tháng 4 năm Kỷ Hợi (dl: 17-5-1959), hưởng thọ 70 tuổi.

Ngài Phạm Công Tắc được thọ phong Hộ Giá Tiên Đồng Tá cơ Đạo Sĩ vào ngày 15-03-Bính Dần. Qua ngày 15-10-Bính Dần, Đức Chí Tôn chánh thức phong Ngài chức HỘ-PHÁP chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, đứng đầu chi Pháp.

Đức Hộ Pháp thuật lại rằng: "CHÍ-TÔN đến ban đầu làm bạn thân yêu, sau xưng thiệt danh Ngài, biểu Bần-Đạo phế đời theo THẦY lập ĐẠO. Khi ấy Bần-Đạo chưa tín-ngưỡng, bởi lẽ nòi-giống nước Nam còn tín ngưỡng thập tàng lắm; không hiểu đúng, không căn-bản, nói rõ là không tín-ngưỡng gì hết. Bần-Đạo mới trả lời với ĐỨC CHÍ-TÔN; ngày nay Bần Đạo nghĩ lại rất nên sợ sệt. Nếu không phải gặp đặng Đấng Đại-từ Đại-bi thì tội tình biết chừng nào mà kể:

- Thưa Thầy, Thầy biểu con làm Lão-Tử hay Chúa JÉSUS con làm cũng không đặng, Thích-Ca con làm cũng không đặng, con chỉ làm đặng PHẠM-CÔNG-TẮC mà thôi, con lại nghĩ bất tài vô-đạo-đức này quyết theo Thầy không bỏ nhưng tưởng cũng chẳng ích chi cho Thầy.

Đấng ấy trả lời: - TẮC! thoảng Thầy lấy tánh đức PHẠM CÔNG TẮC mà lập giáo con mới nghĩ làm sao?

Bần Đạo liền trả lời: - Nếu đặng vậy!

Ngài liền nói: - THẦY đến lập cho nước VIỆT NAM này một nền QUỐC-ĐẠO!

Nghe xong, Bần-Đạo từ đấy hình như phiêu-phiêu lên giữa không trung mơ-màng như giấc mộng. Được nghe nói cái điều mà mình thèm ước, nên Bần-Đạo không từ chối đặng. Ôi! QUỐC-ĐẠO là thế nào? Quốc là nưóc, vậy nòi giống tín ngưỡng lập Quốc-Đạo; Bần-Đạo theo tới cùng coi lập nó ra thế nào, hình tướng nào cho biết; vì đó mà lần mò theo đuổi đến ngày nay, thấy hiện-hữu cái hình trạng là ĐẠO CAO-ĐÀI rồi lại đoán xét coi nó biến thành Quốc Đạo Việt-Nam ra sao?"

 

 

PHẠM GIỚI (PHẠM GIÁI)


E: To violate an interdiction.
F: Violer à une interdiction.

(Phạm: đụng chạm, xâm lấn, người có tội. Giới: điều răn cấm, giới luật tu hành). Phạm giới là vi phạm giới luật tu hành. Thí dụ: phạm Ngũ Giới Cấm, phạm Trai giới.

 

 

PHẠM GIÁI NGŨ LÔI ĐẢ TỬ

Nếu phạm vào giới cấm này thì bị hình phạt của Thiên điều là Thần Ngũ Lôi đánh chết.

Đức Lý dạy ngày 29-11-Bính Dần. (dl: 2-1-1927)

Trì! Nghe dạy:

"Sơn! Phải lấy một ly rượu nhỏ, một ly rượu lớn, rót ly nhỏ vào ly lớn, đem lại đây. Đưa cho nó cầm, đội ngay trán, thề rằng: "Tôi tên là Lê Châu Trì, thề uống Tiên tửu một phen nầy với Lý Đại Tiên, từ đây không uống nữa, như ngày sau phạm giái Ngũ Lôi đả tử". Như quỉ giục thì Hiền Hữu niệm câu nầy: "Tửu nhập tâm di, hại tổn bình sanh chi đức, tánh thiên, Đạo diệt, dục tranh thế sự chi oan" Giải nghĩa: Rượu vào lòng đổi, hại hao đức bình sanh, tánh dời, Đạo hủy, dục tranh oan nghiệt thế tình. Trì! Nhớ nghe (ĐS. II. 134)

 

 

PHẠM HỘ PHÁP


E: His Holyness Phạm Công Tắc, Maintener of rules and laws.
F: Sa Sainteté Phạm Công Tắc, Détenteur des règles et lois.

(Phạm: họ Phạm. Hộ Pháp: phẩm vị Chưởng quản Hiệp Thiên-Đài). Phạm Hộ Pháp là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. (Xem: Hộ Pháp Phạm Công Tắc, vần H)

Tiểu Sử Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

1-Thời kỳ niên thiếu: Đức Phạm Hộ Pháp thế danh Phạm Công Tắc, hiệu Ái Dân. Sanh ngày mùng 05 tháng 05 năm Canh-Dần (dl: 21-6-1890) tại làng Bình Lập (Tân-An). Quê quán Đức Ngài tại làng An Hòa, quận Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh. Thân Phụ Đức Ngài là ông Phạm Công Thiện, thân mẫu là Bà La Thị Đường. Năm 17 tuổi, Đức Ngài học trường Chasseloup-Laubat (Saigon).

Đức Hộ Pháp sinh ra trong hòan cảnh lịch sử của một dân tộc bị trị, đầy dẫy bất công. Khi lớn lên, phong trào chống Pháp nổi dậy khắp nơi, đã có sẵn ý thức về nỗi thống khổ của một dân tộc vong quốc, Đức Ngài tham gia vào phong trào Đông Du năm 1906 vừa 17 tuổi, cùng với các nhà cách mạng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Khắc Ninh…họat động bí mật đưa người sang Nhật. Sau khi một số người sang Nhật rồi, có lẽ Thượng Đế đã an bày nên chuyến tàu đưa Đức Ngài sang Nhật bị chận lại, Đức Ngài phải tạm trở về quê ẩn dật. Một đêm trăng sáng Ngài nằm dưới hiên nhà, ngắm trăng đầu xuân Đinh Mùi (1907) hận vong quốc ngổn ngang trong lòng, Đức Ngài ngâm bài Thần Đồng Vấn Nguyệt, ý thơ nhẹ nhàng, lời thơ truyền cảm, đưa Đức Ngài vào cõi mộng. Không nắng nhưng ánh sáng vẫn trong, ấm dịu chan hòa khắp nơi đầy huyễn ảo: Một cụ già Tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, nét mặt nghiêm trang nhưng hiền hòa, phong thái uy nghi tiếp Đức Ngài trong đền ngọc bích nguy nga, cụ dạy Đức Ngài nhiều điều cao siêu huyền bí ở thượng giới, phân tích cho Đức Ngài rõ về phương thức tu-hành, tỏ ý đặt nhiều hy vọng vào Đức Ngài trên đường Đạo-đức. Đây là lần đầu Đức Ngài triều kiến Chí Tôn.

2-Thời kỳ Ngộ Đạo: Khoảng năm 1920-1924, phong trào Thần Linh Học ở Âu Châu tràn sang Việt Nam, trong thời gian nầy Đức Ngài cùng với các ông Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang.. đêm đêm Xây bàn cầu cơ thỉnh các vong linh ở Thượng giới về họa thi và học hỏi nơi cõi vô hình. Đêm 15 tháng 7 năm Ất Sửu (1925) trong số các chơn linh giáng hạ, có một vị không xưng danh mà chỉ xưng là AĂÂ. Mãi đến Noel 1925, ông AĂÂ mới cho biết Ngài là Đức Chí Tôn tức Ngọc Hoàng Thượng Đế, chúa cả vạn loài. Ngài giáng trần lập Đạo…Từ đó Đức Chí Tôn thường giáng dạy Đức Ngài về Đạo lý, cùng các cơ mầu nhiệm ở cõi thiêng liêng. Đại khái như:

*Đêm mùng 8 tháng 8 năm Ất Sửu (dl: 24-9-1925) Đấng AĂÂ bảo ba Ngài: 15 tháng 8 năm Ất Sửu (dl: 01-10-1925) phải thiết một tiệc chay thỉnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu vị Tiên Nương đến dự, tiệc ấy gọi là Hội Yến Diêu Trì.

*Ngày mùng 01 tháng 11 năm Ất Sửu (dl:!6-12-1925) ba ông lập bàn, quì giữa Trời Vọng Thiên Cầu Đạo y như lời Cửu Thiên Nương Nương giáng dạy.

*Ngày 01 tháng 09 năm Bính Dần (dl: 07-10-1926) Đức Ngài cùng các vị tiền bối khác gồm 247 vị đứng đơn xin Khai Đạo. Đạo Cao Đài được chánh thức thành lập và cũng từ ngày đó Đức Ngài xin thôi việc làm công chức để trọn phế đời hành đạo.

*11 giờ 30 đêm 14 rạng 15 tháng 03 năm Bính Dần (đêm 25 rạng 26-04-1926) Đức Ngài được Đức Chí Tôn trục hồn khỏi xác để chơn linh Hộ Pháp ngự vào.

Trong Đạo Cao Đài chỉ có Đức Ngài là môn đệ duy nhứt được hưởng đặc ân nầy. Sứ mạng thiêng liêng của Đức Hộ Pháp được mô tả trong mấy câu kinh:

Giáng linh Hộ Pháp Di Đà,
Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.
Thâu các Đạo hữu hình làm một,
Trường thi Tiên Phật dượt kiếp khiên.
Tạo đời cải dữ ra hiền,
Bảo sanh nằm giữ diệu huyền Chí Tôn."

LONG TUYỀN KIẾM TRIỆT NHÂN TÀI

Đức Phạm Hộ Pháp được lịnh Đức Chí Tôn đi Thủ Đức (1928). Đến nơi bà Bát Nương chỉ dẫn đi lấy Long Tuyền Kiếm ở Mỹ Tho. Nhưng Đức Cao Thượng Phẩm bịnh nặng Đức Ngài phải trở về Toà Thánh. Sau khi an táng Đức Cao Thượng Phẩm xong, (Đức Cao Thượng Phẩm qui ngày 01-03-Kỷ Tỵ) Đức Ngài mới đi Phú Mỹ - Mỹ Tho. Ngày 27-2-Kỷ Tỵ (1929) Đức Ngài đến Khổ Hiền-Trang, chấp bút thì được chỉ dẫn nơi yếm Long tuyền kiếm là về phía Tây Nam. Nơi điểm chỉ là một khoản đồng ruộng, có dạng hình núi lang mé bên kia sông, phải đi ghe chừng 5 cây số mới đến. Cánh đồng nước phèn, mọc toàn năng, lát, phía xa xa là rừng đưng và bàng. Đất màu đen chưa trồng lúa được, nên dân cư sống bằng nghề làm đồ gốm, làm lu, hủ, chén..

*Đêm 18 tháng 10 năm Mậu Thìn (1928) Bát Nương giáng cơ tiết lộ: Năm 1789 sau khi Quang Trung Hoàng Đế đại thắng quân Thanh, triều đình Thanh bên tàu bí mật sai một vị địa lý sang Việt Nam, dùng Long Tuyền Kiếm ếm long mạch, khiến Thánh Chúa và dũng tướng Việt Nam không xuất hiện được và năm 1917, triều đình Thanh sai thên một vị địa lý khác len lỏi qua Việt Nam kiểm soát lại nơi ếm Long Tuyền Kiếm, rồi dùng linh phù ếm thêm để bảo vệ Long Tuyền Kiếm.

Thiên Đình đã định, Đức Ngài có nhiệm vụ thu hồi Long Tuyền Kiếm để sau nầy Việt Nam có được Thánh Chúa và tướng tài.

*Đêm mùng 28 tháng 02 năm Kỷ-Tỵ (1929) Bát Nương giáng cơ bảo: đã đến thời kỳ Đức Ngài đi thu hồi Long Tuyền Kiếm và theo sự chỉ dẫn của Bát Nương. Đức Ngài và một số tín hữu, từ Khổ Hiền Trang (lúc Đức Ngài xuống làng Phú Mỹ Tỉnh Mỹ Tho truyền Đạo, tạo được nơi đây một Thánh Thất lấy tên là Khổ Hiền Trang).

Đi thuyền theo kinh chợ Thầy Yến về hướng Đông Bắc độ 5.000 thước, gặp một láng cát, rời thuyền lên bờ đi bộ, băng qua cánh đồng sình lầy, năng lác, khoảng 700 thước gặp một gò đất độ 700 thước vuông, chạy dài theo chiều Đông Tây. Từ mực nước ở đầu gò hướng Đông, đo vào 70 thước, chọn đúng trung tâm, đào xuống 1m3 tấc, gặp một phiến đá lớn, khiên phiến đá ấy lên, đào thêm xuống 3 tấc gặp một khối đá khác, trên mặt khối đá ấy có một hình nhơn bằng đồng đen, cao 1 tấc 8, một lưỡi dao gãy cán đè lên 6 con cờ tướng bằng ngà gồm: 1 con tướng, 2 con sĩ, 2 con xe, 1 con chốt và 6 đồng tiền kẽm để 6 góc, ứng vào 6 Cung: Chấn, Cấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, còn hai cung Càn và Khảm để trống. Khiên khối đá ấy lên, ở dưới có cái hộp bọc chì dài 9 tấc, rộng 3 tấc, cao 1 tấc 8, Đức Ngài cho biết bên trong hộp ấy có thanh Long Tuyền Kiếm và đạo linh phù. Vừa lấy hộp đựng Long Tuyền Kiếm khỏi lòng đất thì một mạch nước trắng xóa phun lên, Đức Ngài hành phép giải khai long mạch và chỉ dạy tín hữu đào một con rạch dẫn nước từ long mạch ra sông, để được châu lưu khắp giang san đất Việt.

Đức Phạm Hộ Pháp được lịnh Đức Chí Tôn đi Thủ Đức (1928). Đến nơi bà Bát Nương chỉ dẫn đi lấy Long Tuyền Kiếm ở Mỹ Tho.

Nhưng Đức Cao Thượng Phẩm bịnh nặng Đức Ngài phải trở về Toà Thánh. Sau khi an táng Đức Cao Thượng Phẩm xong, (Đức Cao Thượng Phẩm qui ngày 01-03-Kỷ Tỵ) Đức Ngài mới đi Phú Mỹ - Mỹ Tho.

Ngày 27-2-Kỷ Tỵ ( 1929) Đức Ngài đến Khổ hiền trang, chấp bút thì được chỉ dẫn nơi yếm Long tuyền kiếm về phía Tây Nam. Nơi điểm chỉ là một khoản đồng ruộng, có dạng hình núi lang mé bên kia sông, phải đi ghe chừng 5 cây số mới đến. Cánh đồng nước phèn, mọc toàn năng, lát, phía xa xa là rừng đưng và bàng. Đất màu đen chưa trồng lúa được, nên dân cư sống bằng nghề làm đồ gốm, làm lu, hủ, chén. (Đặc san –HTKD ngày 7-4.CT (11-5-1970) 22-6.CT(24-7-1970)

3- Đức Chí-Tôn lấy tánh đức Phạm Công Tắc lập Đạo:

Đức Ngài nói: "Ngày CHÍ-TÔN tình-cờ đến, vì ham thi văn nên ban sơ DIÊU-TRÌ-CUNG đến dụ bằng thi-văn tuyệt bút làm cho mê-mẩn tinh-thần. Hại thay! Nếu chẳng phải là nhà thi-sĩ ắt chưa bị bắt một cách dễ-dàng như thế, vì ham văn-chương thi-phú nên Ngài ráng dạy. CHÍ-TÔN đến ban đầu làm bạn thân yêu, sau xưng thiệt danh Ngài, biểu Bần-Đạo phế đời theo THẦY lập ĐẠO. Khi ấy Bần-Đạo chưa tín-ngưỡng, bởi lẽ nòi-giống nước Nam còn tín ngưỡng thập tàng lắm; không hiểu đúng, không căn-bản, nói rõ là không tín-ngưỡng gì hết. Bần-Đạo mới trả lời với ĐỨC CHÍ-TÔN; ngày nay Bần-Đạo nghĩ lại rất nên sợ sệt. Nếu không phải gặp đặng Đấng Đại-từ Đại-bi thì tội tình biết chừng nào mà kể:

- Thưa Thầy, Thầy biểu con làm Lão-Tử hay Chúa JÉSUS con làm cũng không đặng, Thích-Ca con làm cũng không đặng, con chỉ làm đặng PHẠM-CÔNG-TẮC mà thôi, con lại nghĩ bất tài vô-đạo-đức này quyết theo Thầy không bỏ nhưng tưởng cũng chẳng ích chi cho Thầy.

Đấng ấy trả lời:

- TẮC! thoảng Thầy lấy tánh đức PHẠM CÔNG TẮC mà lập giáo con mới nghĩ làm sao?

Bần Đạo liền trả lời: - Nếu đặng vậy!

Ngài liền nói: - THẦY đến lập cho nước VIỆT NAM này một nền QUỐC-ĐẠO!

Nghe xong, Bần-Đạo từ đấy hình như phiêu-phiêu lên giữa không trung mơ-màng như giấc mộng. Được nghe nói cái điều mà mình thèm ước, nên Bần-Đạo không từ chối đặng. Ôi! QUỐC-ĐẠO là thế nào? Quốc là nưóc, vậy nòi giống tín-ngưỡng lập Quốc-Đạo; Bần-Đạo theo tới cùng coi lập nó ra thế nào, hình tướng nào cho biết; vì đó mà lần mò theo đuổi đến ngày nay, thấy hiện-hữu cái hình trạng là ĐẠO CAO-ĐÀI rồi lại đoán xét coi nó biến thành Quốc Đạo VIỆT-NAM ra sao?

Ngài có một bài thi dám chắc không ai thấu-đáo nỗi; người coi cái gốc thì không thấy ngọn, người coi cái ngọn thì không thấy gốc, tứ văn thiệt-thà hay ho cho tới các đảng-phái quốc sự ngày nay cũng là lợi-dụng.

Thân thế: Ông Phạm-Công-Tắc, Thơ-ký Sở Thương Chánh Sài gòn, là người đứng vào số 18 trong số 28 người ký tên vào Tờ khai Đạo ngày 23-8 Bính-Dần, nhằm Thứ Tư: 29-9-1926). Là Người đứng đầu của Thời tiền khai Đại Đạo và là Giáo Chủ của nền Đạo Cao Đài - Tòa Thánh Tây Ninh.

Sau hơn năm năm chịu lưu đày trở về Đức Hộ-Pháp nói:

"Nếu hận phiền ấy theo tâm lý thường tình thì có gì quan-hệ đâu. Trái lại trong thi hài của Phạm Công Tắc còn có một vị làm chủ của nó nữa là Hộ Pháp; quyền của Hộ Pháp mạnh mẽ hơn. Phạm-Công-Tắc là con ngựa để cỡi mà thôi, còn Hộ Pháp là người cỡi, nên con ngựa không thể không tuân mạng lịnh của chủ nó được. Hộ Pháp có một phần, mà Phạm Công Tắc có một phần, Phạm-Công-Tắc là Tôi, còn Hộ Pháp là quyền năng của Chí Tôn" [(Mồng 1 tháng giêng năm Mậu Tý (dl. 10-02-1948)]

Đấng AĂÂ giáng ngày 10-7-Ất Sửu (dl: 28-8-1925):

"Nhớ lại lối trung tuần tháng 7 năm Ất Sửu (10-7-Ất Sửu,- dl: 28-8-1925) ba ông: Cư, Tắc, Sang, thỉnh bàn ra (lúc nầy in như say Đạo) tính Xây bàn cầu Cô Đoàn Ngọc Quế (tá danh của Thất Nương Vương Thị Lễ) về dạy học văn thi. Ba ông để tay thì Bàn dở lên, bỗng có một Ông giáng: ông Cư hỏi tên gì, thật rất lạ, xưng là AĂÂ, gõ bàn cho một bài thi sau đây:

Ớt cay cay ớt gẫm mà cay,
Muối mặn ba năm muối mặn dai.
Túng lúi đi chơi nên tấp lại,
Ăn bòn chẳng chịu tấp theo ai.

Ông Phạm Công Tắc nghe dứt câu liền nói với ông Cao Quỳnh Cư rằng: Thôi Anh, ai đâu mà nói tiếng gì khó nghe quá! Sao lại không có tên mà xưng là AĂÂ. Ông Cư nói: - Ậy, Em ngồi lại cho Qua hỏi, vị nầy không phải tầm thường đâu em.!

Ông Cư hỏi Ông AĂÂ mấy chục tuổi?

Ông AĂÂ gõ bàn, đếm hoài không ngừng, đếm đến mấy trăm cái mà cũng không thôi. Liền đó ông Cư ngưng lại không dám hỏi nữa và kiếm hiểu Ông nầy ở trển chắc lớn lắm. Từ đó về sau, có vị nào giáng cho thi thì ba ông cầu Đấng AĂÂ xin giải nghĩa". (Theo ĐS. I. 5)

Nên biết rằng: Khoảng đầu tháng 9 năm Ất Sửu, Đấng AĂÂ giáng bàn phân rằng:

"Muốn cho Bần Đạo đến thường, xin chư vị nạp mấy lời yêu cầu của Bần Đạo như sau đây:

- Một là đừng kiếm biết Bần Đạo là ai.

- Hai là đừng hỏi đến Quốc sự.

- Ba là đừng hỏi đến Thiên cơ."

Quí vị Xây bàn đều hứa giữ ba điều ấy.

 

 

PHẠM HỒ CẦM (Tên)

Phạm Hồ Cầm là con gái thứ ba của Ông Phạm Công Tắc (Giáo Chủ Đạo Cao-Đài).

Bà là một trong số 247 người ký tên vào Tờ Khai Đạo???

 

 

PHẠM HÚY


E: To profane tabooed name.
F: Violer un nom interdit.

(Phạm: đụng chạm, xâm lấn, người có tội. Húy: tên, kiêng sợ). Phạm húy là phạm vào việc không kiêng tên các bậc tôn trưởng. Thời Quân chủ chuyên chế, những Sĩ tử trước khi ra thi phải hiểu rõ tên các vì vua chúa mà tránh đi không được dùng trong văn tự. Thí dụ vua Minh Mạng thì những chữ nào muốn dùng có chữ "Mạng" thì đổi ra chữ khác là "Mệnh" như mệnh lệnh, mệnh trời, số mệnh… Nếu viết chữ "Mạng lịnh" thì bị Phạm húy. Khi đã phạm thì bị hỏng thi. Nhà thơ Trần Tế Xương là một nhà thơ vừa gàn vừa ngông, nên khi làm bài thi ông không tuân thủ vào các luật trên nên cứ bị hỏng thi mãi. Ông nói "Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui" là vì lẽ đó.

 

 

PHẠM LÃI - TÂY THI

- 西

Phạm Lãi và Tây Thi là một đôi trai tài gái sắc, chung một tinh thần vì nước vì nhà, đặt nghĩa vụ quốc gia trên tình cảm riêng tư.

Phạm Lãi là vị tướng tài ba giúp vua nước Việt là Việt Vương Câu Tiễn đánh thắng và giết chết vua Ngô Phù Sai, trả được cái nhục mất nước vào thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu. Sau khi thành công, Phạm Lãi bí mật rút lui khỏi quan trường "Công thành thân thóai" cùng với người đẹp Tây Thi lên thuyền đi vào Ngũ Hồ, sống cuộc đời phóng khoáng tự do. Sau đó, Phạm Lãi thay đổi tên họ, lấy tên mới là Đào Châu Công, chỉ huy một đoàn thương thuyền và một đoàn thương xa, chuyên đi buôn bán, mua hàng hóa từ nơi dư thừa, chở đến bán ở các nơi thiếu thốn, rất được các nước chư Hầu hoan nghinh. Đào Châu Công có một hệ thống xe, thuyền vận tải hàng hóa đi khắp các thị trấn lớn của nước Tàu thời bấy giờ. Việc thương mãi của Đào Châu Công thật là phát đạt.

Tây Thi là người con gái rất đẹp của nước Việt, giặt lụa ở Trữ-La-thôn. Nàng Tây Thi được Phạm Lãi tìm đến để dùng hiến kế mỹ nhân mà phục cừu Vua Ngô Phù Sai. Nhưng khi Phạm Lãi gặp Tây Thi thì gái sắc trai tài làm cho ngọn lửa ái tình cháy rực lòng, nung thêm chí cả vì nhà vì nước. Họ thề non hẹn biển khi thù nhà trả xong thì kết lại mối duyên thề ngày cũ.

Nguyên nhân: Vua nước Việt là Câu Tiễn muốn đem quân sang đánh nước Ngô. Phạm Lãi can vì việc binh là điều bất lợi, đánh nhau là điều trái với đức, tranh nhau bằng quân sự là việc thấp hèn. Lo âm mưu làm trái với đạo lý là việc mà Thượng Đế không muốn. Nếu thi hành những việc này đều bất lợi.. Việt Vương không nghe, đem binh đánh Ngô, bị vua Ngô Phù Sai và Tướng Quốc Ngũ-Tử-Tư đánh cho đại bại, bị bắt làm tù binh. Ngũ Tử Tư yêu cầu vua Ngô giết ngay Câu Tiễn để khỏi lưu hại về sau. Nhưng Văn Chủng đã dùng nhiều tiền bạc lo lót cho Thái Tể Phỉ, một đại thần của vua Ngô, tìm cách cứu mạng Câu Tiễn, nên Thái Tể Phỉ tâu với vua Ngô, không nên giết Câu Tiễn, chỉ nên giam cầm mà thôi.

Vua Ngô sắp ưng thuận thì Ngũ Tử Tư lại can nữa:

- Nếu nay mà Đại Vương không tiêu diệt nước Việt, thì sau nầy sẽ hối hận. Câu Tiễn là người có chí khí, lại có hai bề tôi tài giỏi là Phạm Lãi và Văn Chủng phò tá, nước Việt sẽ mau hùng cường, nhứt định sẽ đánh lại nước Ngô. Nhưng Vua Ngô không nghe, chỉ bắt Câu Tiễn giam cầm đày đọa một thời gian thật là lắm điều nhục nhã cho một vì Vua mất nước. Nào là chăn ngựa, nào là làm kế nếm phân khi vua Ngô bị bệnh nặng.

Vua Ngô Phù Sai cũng cảm nghĩa của Việt Vương dám cúi xuống nếm phân nên quên hận cũ mà tha giết Việt Vương. Ngũ Tử Tư can rằng "Hôm nay Vua Việt cúi xuống nếm phân cho Đại Vương thì ngày kia sẽ ngẩng đầu lên mà nhai nghiến bộ đồ lòng của Đại Vương".

Suốt thời gia tù đày, Phạm Lãi hết mình phò tá, giữ nghĩa vua tôi dù cho gian khổ nơi chốn tội tù, vẫn giữ nghĩa quân thần trọn vẹn. Sau cùng rồi Vua Ngô Phù Sai cũng thả cho Vua tôi Phạm Lãi trở về nước. Việt Vương Câu Tiễn được trở về nước rồi thì ngày đêm nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả bộ an phận phục tùng vua Ngô, hằng năm triều cống. Phạm Lãi bí mật luyện tập quân đội, tích thảo đồn lương; Văn Chủng lo sửa sang việc chánh trị và kinh tế, đồng thời tuyển lựa một đoàn mỹ nữ, huấn luyện đủ các ngón nghề mê hoặc Ngô Phù Sai, để Việt Vương dâng hiến cho vua Ngô cùng với gỗ quí để làm Cô-Tô-đài, làm cho Ngô Phù-Sai bị đắm sắc mà quên đi việc quốc gia đại sự.

Quả thật, Ngô Phù Sai đã trúng kế mỹ-nhân, hết sức sủng ái Tây Thi, suốt ngày vui say múa hát nơi Cô-Tô-Đài. Ngũ Tử Tư không bằng lòng vì thấy trước cái nạn vong quốc, vội vào triều can vua Ngô nhiều lần, nhưng vua không nghe, lại còn có ý muốn diệt trừ. Bảy năm trôi qua, nước Việt đã khá hùng mạnh. Việt Vương nóng lòng phục thù, muốn đem binh đánh Ngô, nhưng Phạm Lãi can vì chưa phải lúc. Trong lúc đó, bên nước Ngô, Ngô Phù Sai tin dùng Thái Tể Phỉ, lại được Văn Chủng đem vàng bạc đút lót người để cố ý gièm pha hãm hại Ngũ Tử Tư. Âm mưu nầy dần dần thành công. Ngũ Tử Tư bị vua Ngô bức tử.

Trước khi chết, Ngũ Tử Tư bảo: Các ngươi hãy móc cặp mắt của ta đặt ở cửa thành phía Đông để ta xem quân nước Việt tiến vào đốt phá Cô-Tô-Đài.

Việt Vương Câu Tiễn hay tin Ngũ Tử Tư bị bức tử chết thì rất mừng, liền dời Phạm Lãi đến thương nghị việc đánh Ngô, nhưng Phạm Lãi vẫn can, vì tuy nước Ngô mất tướng tài là Ngũ Tử Tư, nhưng thế của nước Ngô còn mạnh lắm.

Mùa Xuân năm sau, vua Ngô Phù Sai làm Bá Chủ chư Hầu ở phía Nam, đem đại quân lên phía Bắc, họp với các chư Hầu ở Hoàng Tri. Tinh binh của nước Ngô đều đi theo, chỉ chừa lại những lính già giữ thành mà thôi. Việt Vương Câu Tiễn lại thương nghị với Phạm Lãi và Văn Chủng xem lúc nầy đánh Ngô được chưa. Phạm Lãi đáp:

- Đúng lúc nầy mà Đại Vương tấn binh thì nhứt định đại thành công, giết được Ngô Phù Sai, trả cái thù thuở trước. Việt Vương Câu Tiễn xuất toàn lực bất ngờ tấn công nước Ngô. Quả nhiên quân Ngô đại bại. Ngô Phù Sai dẫn binh trở về tiếp cứu, nhưng Ngũ Tử Tư đã chết rồi, trong triều không còn trung thần, đâu có ai chống nỗi Phạm Lãi và Văn Chủng. Ngô Phù Sai đành thảm bại, che mặt ân hận nói:

- Ta không còn mặt mũi nào nhìn thấy Ngũ Tử Tư nữa. Nói rồi, Ngô Phù Sai rút gươm tự sát. Toàn quân Ngô đều tan rã đầu hàng.

Phạm Lãi đã có kế hoạch chuẩn bị sẵn từ trước, liền chạy thẳng lên Cô Tô Thành, vào ngay cung cấm để tìm nàng Tây Thi, người yêu cũ 17 năm về trước, đưa nàng xuống ngay một chiếc thuyền lớn đã đậu chờ sẵn, rồi dùng mũi kiếm khắc vào thẻ trúc một mật thơ gởi cho Văn Chủng (hiệu là Tử Hội):

Việt Vương có nói: Chim đã hết thì cung tốt phải cất, thỏ khôn đã chết thì chó săn bị làm thịt. Vua Việt là người cổ dài, miệng diều hâu, có thể cùng chung lo lúc hoạn nạn, nhưng không thể cùng chung hưởng với ông ta khi thành công. Sao bạn không bỏ đi? Nếu Tử Hội còn tham mến công danh, ắt ngày sau không khỏi bị tai họa. Phạm Lãi gọi một cận thần đến dặn: Đợi ta đi khỏi Cô Tô Thành chừng nửa giờ thì ngươi đem bức mật thư nầy giao cho Đại Phu Văn Chủng. Xong, Phạm Lãi cho thuyền rời ngay Cô Tô Thành, đi về phía Ngũ Hồ. Gió thổi mạnh, thuyền lướt nhanh, Thái Hồ mênh mông nhìn thấy trước mặt. Phạm Lãi và Tây Thi cùng nhìn lại phía sau, Cô Tô Thành đang còn ngập trong biển lửa, kết thúc một triều đại trong những mối oan cừu. Phạm Lãi thở dài: Tất cả đã kết thúc, hận cũ được tiêu tan, thì thù mới sẽ tới. Việt Vương ngày nay rồi sẽ theo vết xe đổ của Ngô Vương. Văn Chủng không chịu bỏ đi hôm nay thì ngày kia cũng giống như Ngũ Tử Tư mà thôi.

Phạm Lãi và Tây Thi rời bỏ tất cả, cắt đứt mọi quan hệ với thế giới bên ngoài. Họ vô tư ca hát vui vẻ trên thuyền, khi câu cá, lúc đọc sách, mặc thời gian trôi theo dòng nước biếc.

Phạm Lãi và Tây Thi cùng có chung một ước muốn là trước khi chấm dứt đời mình, cả hai muốn du hành nước Ngô và nước Việt một lần cuối. Sau cùng cả hai đều toại nguyện khi được nhìn ngắm lại công trình, bao hy sinh to lớn để báo thù nhà, đền ơn nước. Nhưng tiếc thay! Cái bịnh háo sắc của những Vua quan đời nào cũng có: một là hao tổn tướng tài đã một đời phò chúa, hai là dân sanh vô tội cũng phải chịu lắm đau thượng vì nạn nước mất nhà tan. Ba là vua vô minh thì tướng phải biết ẩn mình sau khi làm xong việc. Như Phạm lãi đã biết lui đi gọi là "Công thành thân thoái". Nếu ở lại mà chờ hưởng lộc như đại phu Văn Chủng thì tránh sao khỏi họa.

Trong lịch sử nước Tàu thời cổ, chỉ có hai vị thành danh biết áp dụng câu: CÔNG THÀNH THÂN THOÁI.

- Người thứ nhứt là Phạm Lãi thời Xuân Thu Chiến Quốc.

- Người thứ nhì là Trương Lương thời Hán Sở tranh hùng.

Giữa hai người có điều hơi khác là Trương Lương thì "thân thoái" để lo việc tu hành, tìm sự siêu thoát cho linh hồn; còn Phạm Lãi thì với tấm lòng yêu đời, đầy nhiệt huyết, thích dấn thân phụng sự, nên khi thân thoái rồi thì mai danh ẩn tích, thay đổi tên họ, tiếp tục làm nhiều việc giúp ích cho đời.

Do đó, nơi bao lơn trước Tòa Thánh Tây Ninh, có đắp một khuôn hình Phạm Lãi - Tây Thi chèo thuyền đi buôn, tượng trưng nghề Thương mãi. Biểu tượng chữ THƯƠNG trong bốn chữ "Sĩ-Nông-Công-Thương".

 

 

PHẠM LUẬT

Đức Quyền Giáo Tông giáng: "Nếu có kẻ không nghe lời giáo hóa, cố tâm phạm luật, thì người cầm quyền cai trị lấy Thánh đức mà định hình phạt là cốt yếu cạo gọt cho nên hình người, chớ không phải kẻ cầm quyền mà để phạm vào tội ác bất nhơn, bởi Đạo quyền là Thánh trị, chớ không phải Phàm trị, các em nên nhớ. Còn Cơ đời sẽ biến chuyển cho đến ngày liễu kết cuộc chiến tranh hầu có lập lại đời Thánh đức".

 

 

PHẠM LUẬT LỆ

Pháp Chánh Truyền: "Các chơn linh dầu nguyên nhân hay là hóa nhân đều nhờ Thượng Phẩm gìn giữ binh vực cho ngồi đặng an ổn địa vị mình, giúp đỡ cho đức hạnh trổi thêm cao cho khỏi phạm luật lệ; xem sóc ngôi thứ chẳng cho giành giựt lẫn nhau, ắt giữ cho Cửu Trùng Ðài đặng hòa nhã êm đềm, khép cửa Thiên Môn, cấm đường không cho các chơn linh thối bước (hay). Phẩm trật nhờ người mà đặng thăng lên, hay là bị người mà phải hạ."

 

 

PHẠM MÔN


E: The buddhist door.
F: La porte bouddhique.

Thầy dạy: "Như-Lai là cảnh Phật chớ không phải danh Phật nên trong kinh có câu "Bổn giác vị kim giác Như lai". Bồ Đề là chỗ Phật ngự, Phạm-môn là cửa Phật, Bĩ ngạn là đất Phật".

1- Nguyên nhân có Phạm Môn:

Trước, vào ngày rằm tháng giêng năm Mậu-Thìn (dl: 06-02-1928) Đức Thượng Đế có dạy Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung và Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư đến làng Phú Mỹ, quận Cai-Lậy, tỉnh Mỹ tho lập Minh-Thiện Đàn. Nay, trong lúc Đạo Cao-Đài bị khảo đảo dồn dập, Minh-Thiện-Đàn không được trông nom tới, có vẻ suy tàn, nên khi Đức Hộ Pháp đến hợp nhứt hai nhóm cầu Cơ là Hồng-đăng-đàn và Bạch đăng đàn lại để phục hưng Minh-Thiện-Đàn thì Đức Ngài làm Chưởng-Quản đồng thời cũng lập Phạm-Môn. Khi ấy, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế có giáng cho bài thi về Phạm Môn, sau Đức Hộ Pháp giải trong bài thuyết Đạo:

Phạm-Môn là gì? Do nơi đâu mà nảy sanh ra Phạm Môn? - "Phạm-môn là cửa Phật; Phạm là Phật, môn là cửa, tức là cửa Phật, thật-hành là nhà Phật. Trong Thánh-ngôn hiệp tuyển trang thứ 119 về khỏan thi văn dạy Đạo, có một bài thi tứ tuyệt, chính mình Đức Chí-Tôn giáng cho như vầy:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm môn,

 

Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.

 

Vô lao bất phục hồi chơn mạng,

 

Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn.

 

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm-môn là nghĩa gì? Nghĩa là Chí-Tôn kêu cả con cái của Đức Chí-Tôn thức giấc cho mau hiến thân vào cửa Phạm.

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn nghĩa là khuyên chúng sanh nên ráng tu-hành tùng khuôn viên kỷ-luật nhà Phật, thì ngày kia linh hồn được siêu thăng thoát hóa.

Vô lao bất phục hồi chơn mạng là Đức Chí-Tôn dạy con cái của Ngài nếu không có công lao khổ hạnh trong cửa Đạo thì không thể nào trở về ngôi xưa vị cũ được.

Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn là nhằm lúc thế kỷ hai mươi này, thời kỳ Đức Chí-Tôn rộng mở cửa Phật độ tòan con cái của Ngài, chỉ khuyên chúng ta ráng tu tỉnh ngộ, huỷ cả hành-vi của thế sự, đem thân vào cửa Phạm chịu nâu sồng, khổ hạnh cho đặng thì tự-nhiên đắc Đạo tại thế đó vậy...Bài thi này chính Đức Chí-Tôn giáng dạy trong Thánh-ngôn hiệp tuyển hai mươi mấy năm trường; song le, ít ai để ý tìm hiểu nghĩa lý sâu xa có ẩn nhiều huyền-vi mầu-nhiệm của Đạo. Do bởi tấm màn bí-mật nên khó nỗi truy tầm, song cũng có lắm người vén được màn bí-mật ấy, nên ngày nay nhơn-sanh mới hưởng được giọt nước Cam-lồ của Đức Chí-Tôn cho tòan nhơn-loại. Đời quá bạo tàn cho nên Đức Chí-Tôn mới giáng trần mở Đạo cho con cái của Ngài biết; các ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật đều tình nguyện hạ thế cứu đời, xuống bao nhiêu lại càng mất bấy nhiêu. Trong thời kỳ Bần-Đạo vâng lịnh Đức Chí-Tôn xuống thế mở Đạo thì Đức Chí Tôn mới hỏi rằng:

- Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí-pháp trước hay là mở thể-pháp trước?

Bần-Đạo mới trả lời: - Xin mở Bí-pháp trước

Chí-Tôn nói: Nếu con mở Bí-pháp trước thì phải khổ đa! Đang lúc đời đang cạnh-tranh tàn-bạo, nếu mở Bí-pháp trước cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại, thì mối Đạo phải ra thế nào? Vì thế nên mở thể-pháp trước, dù cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cả cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại. Xin miễn là mặt Bí-pháp còn là Đạo còn" (ĐHP 30-5-Quí-tỵ 1953)

2- Lập Hồng thệ khi vào Phạm môn:

Bấy giờ, nhân sự nghe theo Đức Hộ Pháp vào Phạm Môn ngày càng đông nên cần phải mở Lương điền ra các Tỉnh khác nữa.

Ngày 03-01 năm Nhâm-Thân (Thứ Hai: 8-2-1932)

Tất cả người Phạm Môn lập Hồng thệ "Đào Viên Pháp" quì trước Thiên bàn Đức Chí-Tôn mà thề rằng:

"Tôi, (Họ, Tên, Tuổi) thề rằng từ nay coi Phạm Môn như ruột thịt, sanh tử bất ly, thoảng có điều chi hoạn nạn thì tôi liều mình với anh em tôi. Nếu ngày sau tôi thất nguyện, quyền Thiêng liêng sẽ hành pháp Tận đoạ Tam đồ bất năng thoát tục và Thầy tôi không nhìn nhận tôi nữa".

Thoạt đầu, nhóm thực dân Pháp nghi rằng Đức Hộ Pháp sẽ lập ra Chi Phái Cao-Đài mới, để đối kháng với ba ông Quyền Đầu Sư: Trang, Tương và Thơ đúng như ý đồ của Pháp hoạch định, do đó chúng mới để yên cho Minh-Thiện-Đàn phát triển.

Đến khi thấy thành lập Phạm Môn, ban qui điều; phân nhiệm tổ chức, phát triển hậu cần. Bấy giờ thực dân Pháp sinh lo ngại nên quyết dẹp Phạm Môn. Chúng xúi giục những thân nhân của nhóm người theo Phạm Môn kiện Đức Hộ Pháp ra Toà về tội "dụ dỗ con em của họ bỏ quên tộc họ của mình mà tôn thờ họ Phạm", phá hoại phong hoá Việt-Nam, xúc phạm Tông đường của họ.

3- Đức Hộ Pháp ra Toà trả lời về Phạm Môn:

Trước Toà, Đức Hộ Pháp giải thích rằng:

Câu 1: Chữ Phạm có nhiều nghĩa trong lối viết chữ Nho, mà chữ Phạm đây là Phật, gồm có lâm trên và phàm dưới. Tóm lại: Phạm Môn là cửa Phật, chứ không phải là tộc họ Phạm của Ngài (Phạm Công Tắc).

Câu 2: Khi vào Phạm Môn có buộc mỗi người phải làm Tờ hiến thân, có cha mẹ, vợ chồng đồng ý ký tên mới nhận, thì không có lý do gì ai dụ dỗ ai được.

Câu 3: Điều thứ nhì trong"Thập điều giới răn" của Phạm Môn có qui định rõ "Phải trọn hiếu với Tông đường, phụ mẫu. Trọn nghĩa vợ chồng, vẹn phận làm cha mẹ, thì không thể bảo rằng phá hoại luân lý, xúc phạm Tông đường được.

Toà không buộc tội về những lý do trên, lại xoay qua vấn đề "Lập Hội đoàn" không xin phép.

Đức Hộ Pháp chống án lên Toà Thượng Thẩm Sài gòn. Toà Thượng Thẩm Sài gòn xử chung quyết "Y án Toà Sơ Thẩm". Đức Ngài liền chống án lên Tối Cao pháp viện ở Thủ đô Paris (Pháp). Đức Ngài uỷ quyền cho Ngài Bảo-Cô-Quân là Luật-Sư Dương-Văn-Giáo thay mặt Đức Ngài lo việc chống án.

Kết quả: Tối cao pháp viện phán quyết: Trắng án! Bấy giờ, Đức Ngài vẫn lo hoạt động Phạm Môn: một mặt bổ nhiệm 21 vị Phạm môn đi 21 Tỉnh (Thuở ấy miền Nam Việt-Nam chỉ có 21 Tỉnh mà thôi). Một mặt Ngài trở về Tây-Ninh lập Phạm Nghiệp.

*Lời-phê về người Phạm-Môn:

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ PHÁP: "Mấy em trong cửa Phạm-Môn là Tông-Tộc của Phật, tức là Tông-Tộc Thiêng Liêng, Qua tạo làm kiểu mẫu cho mấy em tạo Tông-Tộc phàm trần nghĩa là gồm chung bá-tánh, chung-hiệp mỗi họ hầu lo bảo trọng Đạo Đức và sanh sống cùng nhau, ấy là quyền sở-hữu của mấy em về phần Đời không liên can chi đến Đạo, phòng định luật-pháp. Phải tạo Tổ-Đường mỗi họ rồi cầu-nguyện bắt thăm đặng định trật-tự lớn nhỏ của các gia-đình. Tổ-Đình là hương hỏa của Chí-Tôn, gắng sức làm cho thành tựu đặng nương nhau mà sống và duy trì kiến-họ". Ngày 14-9-Mậu Tý HỘ PHÁP (Ấn-Ký)

*Tờ phúc của Trưởng-Tộc Phạm-Môn nói về 13 vị Giáo Thiện do Hội-Thánh bổ làm nơi Thiên-Hỉ-động Trí Huệ Cung.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ PHÁP: "Trả cả mấy người nầy về Hội-Thánh Phước Thiện, cả người Phạm-Môn phải từ chức Phước-Thiện trở về Phạm Môn, nếu còn mang chức-tước Phạm-Môn từ bỏ" [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

*Anh Ba Lầu làm tờ hỏi Hội-Thánh vay bạc của Cô-Nhi đặng mua xe hơi đặng chở củi lò-gạch.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ PHÁP: "Ông cố-vấn Phạm Môn cho Lầu hay Hội-Thánh không phải chà Xã-Tri mà cho vay bạc". [HỘ PHÁP (Ấn-Ký)]

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện là vốn Phạm Môn,
Phước Thiện là cửa Thiên đường Phật Tiên.
Phước Thiện thống nhứt qui nguyên,
Phước Thiện là vốn chuồng chiên của Trời.

Đôi Liễn Phạm Môn:

-

PHẠM giáo tùy nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp.

-

MÔN quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Hộ Pháp Đường thường gọi là đôi liễn Phạm Môn, vì có hai chữ đầu là PHẠM MÔN. Đôi liễn nầy cũng thấy đặt phía sau ba cái ngai của Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh tại Đền-Thánh Tòa Thánh Tây Ninh..Đây là biểu thị tôn chỉ của Phạm Môn tức Cửa Phật.

Giải thích:

Câu 1: Phật dạy, tùy theo thời gian mà cứu độ người đời, thực hành chánh pháp (Phạm: Phật, chữ Phạm là Phật, khác với chữ Phạm là họ Phạm. Giáo: dạy. Tùy: theo. Nguơn: chữ Nguơn của câu 1 đối với chữ Hội của câu 2. Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài. Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim thì một nguơn là 12 Hội, một Hội = 30 Vận, một Vận = 12 Thế, một Thế = 30 năm. Cứu thế: cứu đời. Độ nhơn: cứu giúp người đời. Hành: làm. Chánh pháp: giáo lý chơn chánh)

Câu 2: Quyền hành nơi cửa Đạo là định ra cái thời gian để diệt trừ tà mị yêu quái, bảo hộ chơn truyền. (Môn: cửa, chỉ cửa Đạo. Quyền: quyền hành. Trừ tà diệt mị: diệt trừ tà mị yêu quái. Hộ: bảo vệ. Chơn truyền: truyền giáo lý chơn thật)

Phạm Môn thể hiện trước Đền bằng hình ảnh:

Hãy nhìn hai khu rừng thiên nhiên phía trước Đền Thánh, mỗi khu rừng tượng một chữ Mộc là cây, hai khu rừng là hai chữ mộc đặt liền nhau thành ra chữ LÂM là rừng. Đền Thánh có dạng chữ Sơn . Vậy Sơn Lâm chính là rừng núi. Nay Chúa đã đến nơi này. Nơi Đại-Đồng-Xã cũng gọi là cảnh phàm nếu họp với lâm trên, phàm dưới, kết hợp thành chữ Phạm . Nhìn ra vòng rào Nội-ô có cả thảy 12 cửa, mà cửa gọi là Môn Vậy cảnh Toà-Thánh này chính là Phạm môn là đất Phật vậy.

Đức Hộ Pháp nói: "Mấy em đã đặng ân Thiêng-liêng ban thưởng do lòng đạo-đức của mấy em, nên mấy em được hưởng sự vinh dự hôm nay là lập một sự nghiệp hữu hình cho thiên hạ. Qua nhớ lại khi Đức Chí-Tôn vừa đến tức nhiên năm 1925 khi đó trong các Môn Đệ của Ngài, Qua chẳng biết mỗi người đã lãnh sứ mạng đặc biệt riêng nhau làm sao! Đức Chí Tôn đến với họ một cách riêng biệt thế nào Qua không hiểu. Chỉ Qua biết phận sự của Qua là Đại Từ Phụ giao phó với một lời yếu thiết như thế này:

- Tắc, Đời quá khổ chẳng phải khổ về xác thịt mà thôi, mà lại khổ đến tinh thần nữa, nạn của nhơn loại tương tàn tương sát sắp đến. Thầy giao cho con một cây Cờ Cứu Khổ, chẳng phải cứu khổ tinh thần mà thôi, lại lẫn cả thể xác nữa. Trọng hệ hơn hết là điều ấy Thầy giao phó cho con, nhưng mà con phải hiểu: có khổ về tinh thần mới biến sanh ra khổ của thể xác. Thầy nói rõ Thầy giao cho một gánh Đạo và Đời. Thật sự ra Bần Đạo xin thú thật, gánh của Đạo chẳng hề khi nào làm cho Bần-Đạo khủng khiếp. Duy có gánh của Đời Ngài giao phó nó nặng nề hơn hết. Mấy em Nam, Nữ nghĩ coi; một lời tiên tri trước kia nó hiện tượng hôm nay ra thể nào, mấy em biết cái quyền linh vô biên của Đấng cầm quyền thưởng phạt vô hình nó mạnh mẽ và chơn thật thế nào? Bởi cớ cho nên khi Đạo mới phôi thai thì các quỷ quyền toan diệt Đạo. Buổi sơ sanh Đạo yếu ớt, bạc nhược, ngu dại, dốt nát thế nào, nên bị nó giục cho thiên hạ dùng cả năng lực quyền hành của mình toan tiêu diệt cho kỳ đặng Đạo. Hồ đồ mưu chia rẻ làm cho trong Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn phải ly tán, Anh nghịch Em, Em bất hòa với Anh, cả nền Đạo chinh nghiêng đảo ngược.

Gánh một chức vụ Hộ Pháp cầm cả Luật Pháp của Đạo, không lẽ Qua ngồi ngó đặng chịu tội cùng Đức Chí Tôn. Qua phải tìm phương giải quyết đem chữ HÒA của Đức Chí Tôn muốn ấy đặng làm căn bản. Bởi cớ cho nên mới sản xuất ra Phạm-Môn và Qui-thiện. Thiên hạ nói Qua lấy Tộc Qua là Phạm, tức nhiên lập cái đảng-phái cho họ Phạm. Qua hỏi: Thiên hạ đã tuyên-truyền dối trá ấy đặng đánh đổ cả uy-tín của Qua như thế nào, Qua chưa hề trả lời cho ai hết, dầu cho quyền hành buổi nọ rất mạnh-mẽ đòi phen đem đến Luật hình, mà chính mình Qua cũng chưa nói cho họ biết nghĩa lý Phạm-Môn là gì? Hôm nay mấy em biết chưa? Có lẽ phần nhiều mấy em đã biết, Phạm ấy là Phật, Phạm Môn là cửa Phật, nói rõ hơn nữa là cửa Tu Chơn của Đạo, cửa Bảo-thủ Chơn Pháp của Chí Tôn. Còn Qui Thiện thế nào Qua chưa nói ra cho thiệt tướng.

Thiên hạ đều hung bạo, vì lẽ hung bạo làm cho anh nghịch em, em hận anh, trong cửa Đạo không có một vẻ chi là Đạo hết. Lập trường Qui-thiện là cốt yếu đem lòng lành của toàn thể con cái Đức Chí-Tôn hiệp nhứt cùng nhau làm một đặng bảo thủ Chơn Truyền của Đạo. Buổi đầu tiên nó sản xuất tại nơi Mỹ-Tho, Qua lập "Khổ Hiền Trang" mấy em biết hai chữ Khổ Hiền ý định Qua thế nào không? Trong bảy mươi hai anh em chung sức cùng nhau mà làm đầu trường Qui Thiện ấy là Đinh Công Trứ vẫn là một trong đó vậy. Nhờ cả sự giáo hóa của Qua cái nghĩa lý tối yếu, tối trọng của Chơn Pháp Đức Chí Tôn Qua giao lại cho nó, để làm thế nào cho thiên hạ hết thống khổ về tinh thần lẫn vật chất. Sự biết Đạo của Đinh-Công-Trứ là vậy. Tưởng cũng như Qua đã bị các nạn-nhân của các lực lượng quyền Đạo luôn quyền Đời. Buổi nọ thiên hạ tuyên truyền dối trá thì Đinh-Công-Trứ cũng bị nạn ấy. Qua đã bị thiên hạ chê là lo Đời hơn lo Đạo, thì Đinh công-Trứ cũng vậy, thiên hạ nói nó cũng như Qua lo Đời hơn lo Đạo. Mấy em ôi! Trong buổi phong ba bão táp, nhơn loại ở trong sông mê bể khổ, một con thuyền Bát-Nhã chưa tạo thành đặng độ-rỗi họ, ít nữa mấy em cùng Qua cố gắng tạo cho thành đặng cứu vớt khổ não của họ đặng bao nhiêu hay bấy nhiêu. Thiên hạ thấy mấy em khổ-não, cái khổ ấy nó đã làm cho Qua đổ biết bao nhiêu giọt huyết lệ từ khi mới biết Đạo."

Phạm Môn thọ nạn:

Ngày 16-10-Qúi Dậu (dl: 3-1-1933) anh em dựng nhà lớn tại sở Trường Hòa để làm Nhà Thờ. Vụ nầy có thân quyến của anh em Phạm Môn rất đông (lối 500 người). Bảy giờ sáng khởi sự, thợ mộc đang chỉnh đốn kèo cột để đóng đòn tay thì bỗng đâu có ông Phủ Sửu chủ Quận Châu Thành Tây Ninh đi với 5 người lính và Hương-Thân Hương ở Chà Là vô tới. Anh em rất lo sợ. Thầy ra bắt tay Quận Sửu chào hỏi, ông Sửu chào lại và quở rằng: Làm gì đông dữ vậy? - Dựng nhà.

- Ông có xin phép không? Vì theo lịnh quan lớn chánh thì cuộc hội họp quá 10 người phải xin phép. Còn bây giờ bốn, năm trăm người mà không có phép nên tôi phải lập biên bản. Đọan Quận Sửu kêu thầy đội vô làm biên bản liền. Lúc ông Quận nói chuyện với Đức Hộ Pháp, anh em rút vô đám rừng phía sau chỗ dựng nhà và trong hai đám mía lau bên hông cao khỏi đầu. Khi lính kêu biên tên từng người thì chỉ còn lối 30 người. Quận Sửu nổi giận hét lớn: "Cho mấy người giỏi trốn, rồi đây sẽ biết". Kế bắt Thầy ký tên vào biên bản rồi ra xe về liền. Quận Sửu đi xe hơi từ Tây Ninh đến Chà Là, kế đi xe bò đến sở Phạm Môn Trường Hòa.

Gần tết Qúi Dậu (1933) ông trưởng Tâm (xếp lính Tây Ninh) đi với năm người nữa, đi tới Hộ Pháp Đường trình giấy Chánh Thanh Biện Tây Ninh cho lính xét nhà. Họ tịch thu:

- Hồ sơ hiến thân của cả Phạm Môn.

- Văn thơ của Đạo.

- Văn thơ của đời (Mật thơ của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ở Nhật, của Nguyễn Hải Thần ở Tàu, cùng các tài liệu chính trị khác).

Hai tháng sau có lịnh đóng cửa các sở Phạm Môn, mỗi Nhà Sở đều dựng một tấm bảng: "Niêm cửa lại vì lập hội không xin phép trước". Trát Tòa đòi Đức Hộ Pháp và các Chủ sở Phạm Môn. Đức Quyền Giáo Tông cũng theo ủng hộ tinh thần. Tòa kêu Đức Ngài ra trước buộc tội lập hội riêng mà không xin phép. Đức Quyền Giáo Tông xác nhận các Sở nầy là của chung của Đạo Cao Đài chớ không phải của riêng. Tòa phạt mỗi vị Chủ sở 18 quan (18 frances) lối 20 đồng, còn Đạo sở mỗi người 10 quan. Thầy dạy anh em ký tên chống án lên Tòa Thượng Thẩm Sài-gòn. Tòa Sài-gòn cũng xử y án Tòa Tây Ninh. Luật Sư Trương Văn Giáo (Bảo Cô Quân) của Đạo biểu anh em chống án qua Pháp. Tòa Tối Cao của Pháp xử trắng án. Tuy được trắng án nhưng các sở Phạm Môn không được hoạt động công khai, kể như từ đây bị đóng cửa vĩnh viễn.

Công nghiệp của Phạm-Môn:

Đức Hộ Pháp nói: "Buổi nọ Phạm Môn cũng bị đuổi ra khỏi Đền Thánh, Thầy trò dắt nhau mua miếng đất tạo nên Phạm Nghiệp làm cho Đạo sống trở lại…Trong số 72 Môn Đệ của Bần Đạo, thật sự hành Đạo chỉ có 26 đứa mà nghiệp Đạo hôm nay được thành tướng dường này.

"Họ nghịch nhau cho đến nước, Thầy trò Phạm Môn không có gì hết, để lại bao nhiêu người Môn Đệ thiên hạ lại gọi rằng Tả Đạo Bàng Môn, lập phe lập phái đi đầu cáo Pháp. Pháp bắt Phạm Môn đem ra tòa xử nào phạt vạ, nào tù tội, làm cho Đạo buổi nọ phải chết, cho đến những kẻ chứa Đức Cao Thượng Phẩm cũng không đặng và những người trọn hiến thân hy sinh vì Đạo cũng bị thiên hạ xô đuổi.

May thay! "Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhơn" nhất là Đức Chí Tôn ở bên mình nên những mâu thuẫn phá hoại không thành tựu gì hết...

Nếu không có Phạm-Môn thì Đền Thánh không thành tựu, nếu không có Phạm Môn thì nền Đạo Cao Đài đã chết rồi".

Hai câu chuyện liên quan mật thiết về vấn đề Phạm Môn

Câu chuyện 1:

Hôm nọ xin Đức Hộ Pháp trục Thần và cân Thần cho anh em Phạm Môn; ông Trịnh Phong Cương đến gặp Đức Ngài tại Hộ Pháp Đường và trình ý kiến:

"Bạch Thầy, xin Thầy cho chúng con được hưởng phép cân Thần như mấy vị ở Khổ Hiền Trang".

Đức Ngài nói: Phạm môn mấy em ở đây hơn mấy đứa Khổ Hiền Trang, vì mấy em hữu phước được gần Qua hơn, cái gì Qua cũng để ý chỉ dạy nhiều, vì gặp mặt trò chuyện hằng ngày. Còn ở Phú-Mỹ xa Qua, nên Qua phải trục Thần, cân Thần để chọn lựa đứa nào có căn có duyên mới được.

Lưu ý: Khổ Hiền Trang ở Phú Mỹ, Mỹ Tho. Phạm Môn này được Đức Hộ Pháp trục Thần, cân Thần, lập thệ mới được dự "Đào Viên Pháp".

Tây Ninh Phạm Môn ở đây: Không có trục Thần, cân Thần, ai cũng xin vào được miễn là đồng ý xin vào và được lập thệ dự "Đào Viên Pháp".

Câu chuyện 2:

Một hôm đang nghỉ trưa, lúc khai phá rừng để cất Khách Đình, Đức Hộ Pháp ngồi trên võng. Hai anh em ông Phạm Duy Hoai đến chỗ Ngài ngồi, lạy hai lạy rồi thưa: "Bạch Thầy, con ở Khổ Hiền Trang xin Thầy cho hai anh em con vào Phạm Môn với anh em. Đức Ngài ngồi lặng thinh hồi lâu, ngó quanh rồi nói: Cái Phạm Môn của Đức Chí Tôn thì Qua không biết định cho ai, chớ Phạm Môn của Qua lập dầu ở đây hay mấy con ở Khổ Hiền Trang cũng vậy mà thôi".

Đức Hộ Pháp giải: "Cái Phạm Môn của Đức Chí Tôn là 500 vị La Hán lãnh lịnh ở Cực Lạc Quốc theo Ngài, trợ giúp Ngài trong việc lập Đạo".

Phạm-Môn của Hộ Pháp lập dầu ở Phú-Mỹ Khổ Hiền Trang Mỹ-Tho hay ở Tây-Ninh thì cũng vậy mà thôi. Chỉ khác là ở Phú-Mỹ thì Cân-Thần còn Ở Tây-Ninh thì không cần phải Cân-Thần.

Còn Phạm-Môn của Chí-Tôn định riêng cho Ngài gồm 500 Vị La-Hán thì Hộ Pháp không biết được, có nghĩa là Chí Tôn định riêng cho Ngôi Ba của Chí-Tôn sau nầy thì Hộ Pháp không biết được, mà chỉ biết những vị của Hộ Pháp lập mà thôi. Cho nên Hộ Pháp lặng thinh hồi lâu, ngó quanh rồi nói: "Cái Phạm-Môn của Đức Chí-Tôn thì Qua không biết định cho ai, chớ Phạm-Môn của Qua lập dầu ở đây hay mấy con ở Khổ Hiền-Trang cũng vậy mà thôi"; là vậy đó.!

 

 

PHẠM NGHIỆP

Đức Hộ Pháp, Ngài dẫn giải đây chính là sự nghiệp của người tu theo tinh thần của Đạo Cao-Đài tức là Phật giáo chấn hưng, nên cũng còn gọi là PHẠM NGHIỆP

Ngày 15 tháng 8 Mậu Thìn (Thứ Sáu: 28-9-1928)

Đức Hộ Pháp trở về nơi Trường đua, làng Trường Hoà, quận Châu Thành, Tỉnh Tây Ninh mua một phần đất lập Phạm Nghiệp. Mục đích lập Phạm nghiệp là để cho thành phần đối lập trong Đạo Cao Đài giờ này họ chỉ chú ý vào đấy (Một hình thức dương đông kích tây). Ngoài ra Ngài còn lo tiến nhanh tổ chức các sở Lương điền Phạm môn thuộc Tỉnh Tây-Ninh nữa. …Bấy giờ trước sự im lặng của Đức Quyền Giáo Tông, sự tích cực hoạt động của Đức Hộ Pháp, nhóm người đối nghịch cũng rất lo ngại, nên quyết ra lịnh "Truất phế" ngay những vị này. Nhưng Chánh giáo bao giờ cũng thắng tà mưu, thế mới thấy giá trị của Cơ quan Phước Thiện là dường nào!

1-Tạo Phạm Nghiệp: Năm Kỷ-Tỵ (1929) ngôi nhà đầu tiên Đức Hộ Pháp đặt ông Lễ Sanh Thượng Nguơn Thanh lãnh khoán, khi làm xong kéo tới dựng lên tại Trường Đua, xã Hiệp Ninh, Quận Châu Thành (Tây Ninh). Nhà cột cây lợp tranh. Có một số người vào làm công quả, Đức Hộ Pháp ra lệnh: Em nào muốn TU phải làm tờ hiến thân vào Phạm Môn trọn đời, có cha mẹ, vợ con đồng ý thì Hội Thánh mới thâu. Ngài mướn sở ruộng của Bà Phối Sư Lâm Hương Thanh tại Bến Sỏi, bổ ông Võ Văn Lên làm Chủ-sở để trồng lúa. Đức Thầy dạy anh em về Tòa Thánh lập Sở thứ nhì là Sở Khách Đình kế lộ Phước-Đức Cù, chủ sở là Nguyễn Văn Lư.

Năm Canh Ngọ 1930, Sở thứ 3 được mở tại Tầm Lạnh tại xã Trường Hòa do ông Lê Văn Lưu làm Chủ sở, làm rẫy và ruộng. Sở nầy do ông Phạm Văn Màng (sau đắc Phối Thánh) lãnh nhiệm vụ coi lối 40 người Miên và Việt; ông Lại Văn Sắc coi về lương thực. Khi mới đến anh em phải ở tạm nhà của Út Giáp (Phạm Văn Giáp) và nhờ ông nầy giúp đỡ mọi việc. Ngày ra công cày đầu tiên Đức Thầy cầm cày đi 3 vòng rồi trao lại cho anh em ở Sở. Ngài còn ra điều kiện cả Phạm Môn phải học thuộc lòng Thập Điều Giới Răn nữa.

2-Thập Điều Giới Răn:

1.

 

Phải tuân y luật pháp chơn truyền của Chí Tôn.

2.

 

Phải trọn hiếu với Tông Đường Phụ Mẫu, trọn nghĩa vợ chồng, vẹn phận làm cha.

3.

 

Phải trọn giữ trai giới.

4.

 

Phải xa lánh các đảng phái.

5.

Phải thật hành Phước Thiện, nuôi người già, dưỡng trẻ thơ.

6.

Không đặng thâu của chúng sanh.

7.

Coi anh em đồng Đạo như ruột thịt.

8.

Không đặng bội sự phản bạn.

9.

Phải ở như Thánh Hiền, đừng phạm tội vọng công bội đức.

10.

Phải thương yêu loài người và loài vật, kính trọng mạng sanh vừa theo tánh chất của Chí Tôn là Chúa sự sống.

Đến năm Tân Mùi (1931) Thầy dạy tạo Sở thứ 4 kêu là Sở Giang Tân kế mé sông Vàm-Cỏ-Đông thuộc xã Trường Hòa do ông Trịnh Phong Cương làm Chủ sở (sau nầy ông Cương làm Chưởng Quản Hội Thánh Phước Thiện).

Sở thứ 5 kêu là Sở Nam Công Nghệ gần ngã 3 Suối Đá, Chà-Là, tại nách đường đi vô Thái-Bình Thán- Địa do ông Võ Văn Đợi tự Đại làm Chủ sở (sau ông Đại làm Sư Trưởng Vạn Pháp Cung)

Sở thứ 6 kêu là Sở Nữ Công Nghệ gần ngã tư Ao Hồ, gần cửa số 7 ngoại ô Thánh Địa do ông Đinh Văn Tiết, Chủ sở. Sở thứ 7 kêu là Sở Dưỡng-Lão-Đường, gần Ngã Tư Ao Hồ (nền nhà Sở Dưỡng Lão là Đền Thờ Phật-Mẫu Đệ Tam ngày nay) do ông Võ Văn Chi làm Chủ sở.

Trên đây là những Sở đầu tiên của Phạm Môn lập tại Tây Ninh.

3- Đôi liễn Phạm Nghiệp: Nhà sở cũng được trùng tu làm cửa ngõ đề hai chữ "Phạm Nghiệp". Hai bên có đôi liễn.

-

PHẠM nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng.

-

MÔN quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.

祿

Đôi liễn nầy do Đức Phạm Hộ Pháp viết ra và Đức Ngài cho đặt lên cổng của ngôi nhà Phạm Nghiệp vừa mới cất xong. Phạm nghiệp là cơ sở đầu tiên của Phạm Môn, do Đức Ngài lập ra vào năm 1929 tại phần đất nằm bên quốc lộ 22, khoảng giữa Giang Tân và Thị xã Tây Ninh, như trên đã nói. Hai chữ đầu của đôi liễn là PHẠM NGHIỆP, nên Phạm Nghiệp chính là Phạm Môn, mà Phạm Môn cũng là Phạm Nghiệp.

Giải thích

Câu 1: Sự nghiệp của Phật, thừa lúc nhàn, lợi lộc và công danh đều không cần dùng đến. (Phạm: Phật. Phạm nghiệp: sự nghiệp của Phật. (Đừng hiểu lầm là sự nghiệp của dòng họ Phạm). Thừa nhàn: nhơn vào lúc nhàn. Lợi lộc: những món lợi nói chung. Công danh: có sự nghiệp và địa vị cao trong xã hội. : không. Sở dụng: cái công dụng của nó)

Câu 2: Cơ quan chứa đạo đức, tinh thần và pháp bửu truyền lại được người sau noi theo. (Môn: cửa. Quan: cơ quan. Tích đạo: chứa đạo đức. Tinh thần: phần sáng suốt thiêng liêng. Pháp bửu: cái pháp quí báu. Cơ cầu: con cháu nối theo cái nghề nghiệp do cha ông truyền lại)

Số người theo ngày càng đông đến nỗi phải cất thêm nhiều nhà cửa bằng tranh lá tạm mới có đủ chỗ cho người đến học Đạo thuộc Phạm Môn lúc bấy giờ. Khi có số đông người thì phải có qui điều giới luật là đương nhiên.

 

 

PHẠM NGŨ GIỚI CẤM

Tờ Phúc số 56 của Bà Phối-Sư Hương-Hiếu nói về vụ: Phó-Trị-Sự: Phan-Thị Kim-Anh và Trần-Văn-Phải phạm vào Ngũ-Giới-Cấm điều thứ ba tại phòng cô Đầu Tộc, Sa-Đéc.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Quyền Ngọc Chánh Phối-Sư về phần bên Nam. Nữ Chánh-Phối-Sư về bên Nữ ra lịnh cho hai Chức Việc Phan-Thị Kim-Anh và Trần-Văn-Phải tức-cấp ra khỏi Thánh-Thất rồi đợi khi Pháp-Chánh định đủ luật-hình sẽ cất-chức của người ấy, từ đây nên ra Huấn-Lịnh cho Nam Nữ nơi các Thánh-thất không nên chung-lộn, xu-bồ xu bộn nhau nữa. Luật Thiên-Nhiên đã định vậy, hễ Nam-Nữ là phải khắn-khít nhau, yêu-ái cho nhau như nam-châm với sắt mới tạo đời mãi-mãi truyền-lưu đặng, luật ấy rất mạnh-mẽ, trước Quyền Thiêng-Liêng là điều vô-tội, song Nhơn-Đạo đã định-luật cho khỏi sa vào thú-tánh. Đời chưa hiểu thông Chơn Pháp và vẫn bao giờ cũng mê-tín tự-tôn, ta vì đó mới giữ-gìn nghiêm-luật, chớ chơn-lý vốn là khác hẳn. Đạo bao giờ cũng chịu khổ vì lẽ ấy, vì phải tùng phàm tâm đặng tạo nên Thánh Đạo, có khi sự thái-quá tùng phàm làm cho ta nhiều phen hổ thẹn vì sai-lạc đạo đức tinh-thần, nhưng phải chịu chớ chưa đến buổi sửa-cải đặng, có nói với nhơn-sanh cũng chưa biết nghe biết hiểu, nói ra thêm vô-ích". [HỘ PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

PHẠM PHỦ TỪ

Phạm Phủ Từ là ngôi nhà lớn dùng làm nơi thờ phượng tổ tiên của dòng họ Phạm. (Phủ Từ là ngôi nhà lớn dùng làm nơi thờ phượng tổ tiên của một dòng họ. Phạm: họ Phạm. Phủ: ngôi nhà lớn. Từ: nhà thờ.)

Nơi Châu Thành Thánh Địa Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh khuyến khích những người có cùng chung một Họ, cả nam và nữ, xúm nhau cất một ngôi nhà chung làm nơi thờ phượng tổ tiên của dòng họ mình.

Họ Phạm thì có Phạm Phủ Từ. Họ Lê thì có Lê Phủ Từ. Họ Bùi thì có Bùi Phủ Từ. Họ Huỳnh có Huỳnh Phủ Từ....

Phạm Phủ Từ được xây dựng ở gần Trí Giác Cung.

Nơi cổng của Phạm Phủ Từ có đặt đôi liễn:

Thuận hòa nghinh nhập thất,
Phản loạn cấm lai môn.


Nghĩa là: Người biết đối xử với nhau bằng lẽ đạo là biết thuận hòa, yêu thương nhau thì được nghinh đón tiếp vào nhà. Còn những kẻ làm phản loạn thì cấm đến cửa.

* Đôi liễn bên bàn thờ Nội Tông Phạm phủ:

Phạm phủ ân thâm thiên cổ tại,
Từ đường nghĩa trọng bá niên tồn.


Có nghĩa rằng: Ơn sâu của nhà họ Phạm ngàn xưa tại đây, Nhà thờ Tổ tiên nghĩa nặng trăm năm còn.

* Đôi liễn bên bàn thờ Ngoại Tông Phạm phủ:

Vạn đại lưu truyền ân tợ hải,
Thiên niên hương hỏa nghĩa cao sơn.


Nghĩa là: Muôn đời lưu truyền cái ơn lớn như biển, Ngàn năm thờ cúng cái nghĩa cao như núi.

Lời phê của Đức Hộ Pháp ngày 14-9-Mậu Tý (1948):

"Mấy em trong cửa Phạm Môn là tông tộc của Phật, tức là tông tộc Thiêng liêng. Qua tạo làm kiểu mẫu cho mấy em tạo Tông tộc phàm trần, nghĩa là gồm chung bá tánh, chung hiệp mỗi Họ hầu lo bảo trọng đạo đức và sanh sống cùng nhau. Ấy là quyền sở hữu của mấy em về phần đời, không liên can chi đến Đạo, phòng định luật pháp.

Phải tạo Tổ Đường của mỗi Họ, rồi cầu nguyện bắt thăm đặng định trật tự lớn nhỏ của các gia đình.

Tổ Đình là hương hỏa của Chí Tôn, gắng sức làm cho thành tựu đặng nương nhau mà sống và duy trì kiếng Họ."

HỘI VỀ VẤN ĐỀ PHẠM PHỦ TỪ.

Đức Hộ Pháp thuyết tại Trí Giác Cung ngày 25-02 năm Nhâm Thìn (1952):

"Ngày hôm nay Bần Đạo vào hội đây chẳng phải lấy danh thể Hộ Pháp, chỉ lấy danh thể Phạm Công Tắc mà thôi. Bần Đạo đến giữa Tông Đường của Bần Đạo, lấy một tình anh em cốt nhục mà thôi. Chỉ định về Đạo, Phạm Phủ Từ cốt yếu là do ông anh thứ bảy của Bần Đạo và chị thứ sáu của Bần Đạo đề xướng, Bần Đạo để trọn quyền cho hai người ấy, chúng ta có thể gọi là đàn anh chị, phần niên kỷ, phần tâm đức đối lại Tông Đường ta thế nào, Bần Đạo giải quyết để trọn tín nhiệm trong hai người ấy, thiệt hiện cho được một Đạo Nhơn Luân của chúng ta. Chữ hiếu là đứng đầu hết, không trọn hiếu không thể gì làm mọi điều khác được, chúng ta muốn có một nghiệp Đạo của mình cho đặng tận thiện tận mỹ vĩ đại, có thể nói rằng ta muốn cho danh thể tồn tại nơi mặt thế này bền bỉ lâu dài; đại nghiệp thiệt của chúng ta là đấy. Về nghiệp đạo đức tinh thần các bậc tiền bối của ta có nói rằng: "Lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế", ta có thể làm Đạo lập thân danh ta được mà phải có hiếu trước đã, do trọn hiếu mới làm được vậy. Hiếu là căn bản đầu tiên hơn hết. Phạm Thủ Từ chúng ta mà tạo dựng được có nhiều điều ích lợi một trong Tông Phạm ta còn ở rải rác khắp nơi; cả thảy đều biết rằng dòng Phạm Vi, dòng Phạm Đăng, tưởng không ai còn lạ gì. Dòng họ Phạm ấy đã có phủ thờ tại kinh đô Triều Nam ta bây giờ, thì trong kiến Phạm của chúng ta từ Nam chí Bắc rải rác rất nhiều. Chúng ta không kể Tông Đường chúng ta do nơi Bắc Việt, tức nhiên do nơi bên Tàu sản xuất ra. Tông Đường của chúng ta còn nơi Bắc Tam Tỉnh tức nhiên nước Tàu máu mủ của chúng ta còn trong đấy. Tạo Phạm Phủ Từ chẳng phải riêng trong cửa Đạo hay nội trong nước Việt Nam mà thôi. Chúng ta có thể ngó tới Bắc Việt, ngó tới Trung Hoa, Tông Đường của ta ở mé biển nữa thành thử một cơ quan vĩ đại. Miếng gạch đầu tiên chúng ta để đây chẳng qua một cục gạch đầu tiên mà thôi, Bần Đạo dám chắc tương lai phủ thờ, giờ phút nầy nếu như quả chúng ta tin rằng đặc ân Đức Chí Tôn ban thưởng, trong Tông Chi máu mủ của chúng ta lại xuất hiện ra một người cầm giềng mối Đạo, một người có thể nắm trọn cả cửa Đạo là một nền Đạo Tổ Tiên nước Việt Nam để lại, tối cổ, con người đủ biết đặc ân cao trọng quý hóa chẳng cần khoe khoang.

Tông Đường họ Phạm không thiệt hiện ra được thống nhứt cả Tông Đường lại, đem chữ hiếu đặng nêu lên cho cả thảy bá tộc kia coi gương làm theo. Bần Đạo dám chắc một điều chúng ta dở quá, chúng ta thất phận đối với Thế Đạo chúng ta mà chớ, có sang cả, vinh hiển, cao trọng một mớ anh em, còn phần nhiều nghèo hèn, khó khăn khổ não, chúng ta không thể chối được. Nếu chúng ta tạo Phạm Phủ Từ là nhà chung của họ trong thời kỳ này, đặng sau con cháu của dòng họ chúng ta nó đã có một đại nghiệp đặng làm trụ cốt cho nó. Nó thấy Tông Đường của nó không hèn hạ, nó tự an ủi, tự nắm phần sống một cách chơn chánh quí hóa không đến nỗi sa đọa thấp hèn. Cả Tông Đường chúng ta khỏi khổ nhục trông thấy nó vô nhân nghĩa. Được đại nghiệp này dễ gì nó bỏ Đạo, dám chắc không khi nào miếng gạch đầu tiên này thất bại bao giờ, tôi dám chắc như thế và toàn cả Tông Đường ta trông mong lẽ đó lắm. Biết Đạo, chúng ta làm đây vì hiếu mà làm và thật hành đại nghĩa đối với cốt nhục Tông Đường chúng ta.

Ấy vậy giờ phút này chúng ta vì hiếu nghĩa mà làm. Hiếu nghĩa là đầu hết của các mối Đạo đó, hiếu nghĩa mà thiệt hiện không đặng, đứng trong cửa Đạo cũng như hình gỗ, dám chắc không bao giờ hữu dụng được. Đứng trong cửa Đạo bền vững hay chăng là do trường học trong Phủ Thờ này. Trường học đầu tiên vô trường học Đạo lập thân danh để lại hậu thế, dìu dẫn Tông Đường vinh quang vô tận, Đức Chí Tôn đã có ban rồi. Chúng ta có thể đối với nhau cho bền vững, nắm cả ân điển Thiêng liêng đặc biệt của Ngài ban cho trong cửa họ Phạm, nắm vững chắc hạnh phúc đời đời, được hạnh phúc biết bao nhiêu mà nói. Hạnh phúc Tông Đường biết bao nhiêu to lắm, làm cho cả thảy đều thấy, trong bá tộc kia làm theo, hay, hay là dở, mấy em vẽ nét mực đầu tiên đi.

Ấy vậy, giờ phút này mấy em Tông Đường của bá Tộc làm dở cả, cả thảy đều dở, chẳng có Phủ Thờ, thờ Tông Tổ của mình mãi mãi không cùng. Cho tới giờ phút này mấy em coi thiên hạ đảo ngược, nhưng cả cái khuôn khổ Tông Đường bên Tàu vẫn giữ nguyên vẹn một cách vững bền không lay động gì hết, thấy có Đạo, thấy Đạo một cách đạo tâm. Kiến họ Phạm đã vững chắc vì thấy kỹ trong khuôn khổ Tông Đường trọn nghĩa bền vững không xao xuyến, thì không lực lượng gì hủy diệt dòng họ này được.

Từ trước đến giờ Đạo Cao Đài lấy Tông Đường làm nền móng cho Đạo Cao Đài, từ đây sẽ càng mạnh mẽ hơn nữa, sẽ càng cao trọng hơn nữa. Không vì Đạo mà vì Tông Đường ta tạo dựng rồi bá Tộc kia cũng làm, ngày kia ai không Đạo họ cũng về Tộc họ. Luôn dịp mấy em tạo Phủ Thờ này công nghiệp mấy em đối với Đạo Cao Đài một cách gián tiếp đó vậy, mấy em không thất Đạo, một gương vĩ đại đối với Đạo mà chớ.

Một điều cốt yếu hết thảy để trọn quyền cho mấy em bàn tính công cử với nhau, kể từ hôm nay chúng ta hội với nhau trong gia đình này, gia phổ của mình khai nạp, mỗi người đến nạp gia phổ đem vào cuốn Livrét chung".

 

 

PHẠM PHÁP

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: "Dầu cho Luật lệ ấy đã thuận ý Giáo Tông đi nữa, thì Giáo Tông cũng không quyền phê chuẩn tức thì, nhưng buộc phải giao lại cho Chưởng Pháp xét nét trước đã. Trên đã có định quyền cho Chưởng Pháp rằng: Các Luật lệ chẳng đủ ba vị phê chuẩn thì luật lệ ấy không đặng phép ban hành.

Vậy thì Ðầu Sư và Giáo Tông chẳng đặng thuận tình với nhau mà trái nghịch cùng Pháp Chánh Truyền, hễ đôi bên chẳng do nơi Chưởng Pháp xét nét Luật lệ thì là phạm pháp: Mà hễ phạm pháp thì dầu cho bực nào cũng khó tránh qua khỏi Luật Tòa Tam Giáo".

 

 

PHẠM TĂNG (Tên)

Phạm Tăng cải Trời làm lếu: Phạm Tăng làm Quân Sư cho Hạng Võ, biết được Lưu Bang và Hàn Tín sau nầy sẽ diệt Hạng Võ, nên trong lúc Hạng Võ còn quyền thế mạnh, xúi Hạng Võ giết chết Hàn Tín và Lưu Bang để trừ hậu họa, nhưng Trời khiến Hạng Võ không làm. Ấy là do Tà tâm, tức là lòng dạ không ngay thẳng, trái với chánh tâm, công tâm nên khiến lòng người thán oán, giận hờn than thở, làm cho lòng người bất bình với nhau, lắm phen phải chịu phát lạc tức là bị đày đi xa, tất thảy đều do lòng người làm lệch cơ mầu của tạo hoá

Hễ là hạng hữu học, đủ đầy trí mưu thì còn phải lựa minh chúa mà thờ. Nếu rủi thờ kẻ bạo chúa thì vì tội sát phạt sanh linh làm khổ sở thiên hạ mình phải gánh lấy trách nhiệm, lãnh tội liên quan Thiên Điều khó tránh. Đây là những lời hối tiếc của Phạm Tăng vì lầm thế Hạng Võ mà chơn linh phải đọa đày, ngàn năm chưa khuây khỏa.

Trong một đàn cơ năm 1934, Phạm Tăng giải bày:

"Chào chư Thiên Phong. Tiện sĩ đến có điều minh bạch và luôn dịp theo bảo hộ Ngô Quân là Sở Bá Vương, đến cầu xin chư quí vị giúp công độ rỗi, cầu nguyện Đức Chí Tôn tha thứ tiền khiên tội khổ.

Tiếp Đạo:….

- Truy hồn Tệ Sĩ chẳng nỡ bỏ người, nên hằng theo bảo vệ.

Thảm thay! người cũng còn xem Bần Tăng theo hàng Thần Sĩ, nên cam phận không nghe, đến ngày nay cũng chưa tỉnh mộng.

Quyền Giáo Tông:……..

- Bậc chi mà đã là tội nhơn rồi đó Ngài.

Hộ Pháp:…

- Giáo hóa, khuyên nhủ cho người tỉnh hồn.

Hộ Pháp:…….

- Tệ Sĩ không phép đến gần, xin chư vị tiến dẫn.

Hộ Pháp :……

- Dạ đặng. Xin nghe Thi:

Lỡ bước đầu quân hóa lỡ thì,
Mấy ngàn năm những chịu ai bi.
Hồng Môn đoạt nghiệp liên can tội,
Bành xử thí quân đủ thất nghì.
Đào mã Ly Sơn, Tần án định,
Đày binh Nhựt Bổn nghiệt còn ghi.
Diệt Lưu dám nghịch như Thiên ý,
Tái thế đền oan đã lắm kỳ.

Tiếp Đạo:…..

-Tệ Sĩ đặng vào phần tự giác nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng mà thôi."

Chúng ta thử hỏi chơn linh của Phạm Tăng không dám gần Hạng Võ, lại đi cậy Đức Hộ Pháp làm trung gian để trình bày quan niệm của mình hầu tỏ dấu ăn năn? Theo bài thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp trong đọan "Trọng Tương Vấn Hớn" thì Tiền kiếp Hạng Võ. Hậu kiếp Quan Công. Quan Công nhờ tu nơi Phổ Tịnh Thiền Sư nên được giác ngộ tâm hồn và đắc Đạo, đoạt Phật-vị gọi là Phật Dà-Lam. Trong Tam Kỳ Phổ Độ Ngài lại được phong Tam Trấn Oai Nghiêm nên quyền hạng rất nên to tát. Vì quyền hạng đó mà Phạm Tăng không dám lại gần nên phải nhờ Thiên Tôn Hộ Pháp bạch dùm. Nhơn dịp nầy chúng ta cũng rõ thêm quyền hành của Đức Hộ Pháp nơi cõi vô hình rất đỗi oai nghiêm cao trọng. Ngài thay mặt cho các chơn linh trình bày những uẩn khúc, can thiệp cùng Ngọc Hư để bênh vực họ, an ủi họ, định phận họ, làm Trạng Sư cho vạn linh đoạt kiếp.

Quan sát bài thi chúng ta thấy được Phạm Tăng khai cả tội tình của mình và đã lắm lần tái kiếp mà vẫn chưa trả hết nợ trong mấy ngàn năm nay. Có lẽ tội nặng nhứt là tội giết hàng binh của Tần Thủy Hòang (20 muôn) và sát luôn nhân dân bá tánh Hàm Dương có mấy vạn người.

Tội tổ chức Hồng Môn Yến để giết Hớn Bái Công, nhờ Phàm Khoái và Hạng Bá múa gươm che chở Bái Công cho nên cơ mưu bại lộ, tà kế bất thành. Tần Thủy Hoàng đã chết mà còn đào mã người thì thật là vô nhân Đạo. Cái án đày một số người ra hoang đảo để sau nầy thành dân Nhựt Bổn là nghiệp nặng mà Phạm Tăng phải gánh. Đã tái thế lắm lần mà chưa dứt oan khiên, ấy cũng tại ác tâm thâm nhiễm, xem mạng người thua con sâu con kiến, nay lại trách Hạng Võ tại sao lại không cho lại gần. Có lẽ hồn của 20 muôn binh và bá tánh Hàm Dương vướng vít nên khó giải nghiệt. Cũng là lẽ công bình máy Tạo.

 

 

PHẠM TẦN TRANH (Tên)

Phạm Tần Tranh là con gái thứ Tư cuả Ông Phạm Công Tắc (Giáo chủ Đạo Cao-Đài). Bà hành Đạo được thăng phẩm Nữ Chánh Phối Sư (Cửu-Trùng-Đài), điều hành về Nữ phái. Bà là một trong số 247 người ký tên vào Tờ Khai Đạo

 

 

PHẠM THỆ


E: To violate the oath
F: Violer le serment.

Phạm: đụng chạm, xâm lấn, người có tội. Thệ: lời thề. Phạm thệ là vi phạm lời thề, tức là không giữ đúng lời Minh Thệ lúc nhập môn cầu đạo (vi phạm lời thề).

Mỗi lần Minh Thệ thì có các Đấng thiêng liêng ghi tên vào Bộ Thệ nơi cõi thiêng liêng. Nếu làm đúng lời Minh Thệ thì được tưởng thưởng xứng đáng; ngược lại không làm đúng lời Minh Thệ thì bị tội tình y như lời thề.

 

 

PHẠM THIÊN ĐIỀU

Thiên điều là Luật Trời. Thiên điều do chư Phật chư Tiên họp tại Ngọc Hư Cung lập thành để cai trị toàn thể Càn khôn Vũ trụ. Phạm Thiên điều là một trọng tội.

Phạm Thiên điều là phạm vào điều Luật của trời. Trong cửa Đạo hiện nay Tân Luật và Pháp Chánh Truyền ấy là Thiên điều tại thế. Nếu phạm vào các Luật ấy tức là Phạm Thiên điều.

"Những kẻ đã hưởng hết phúc hậu từ mấy đời trước, nay lại còn phạm Thiên điều, thì tội tình ấy thế chi giải nổi. Mấy con biết luật hình thế gian còn chưa tư vị thay, huống là Thiên điều thì tránh sao cho lọt? Dầu các con như vậy thì Thầy cũng lấy oai linh ấy mà trừng trị chớ không tư vị bao giờ. Phải lo sợ tội tình cho lắm. Phải có sợ mới có giữ mình, biết sợ phải biết giữ mình. Phải hiểu rõ rằng: Thiên Ðịa vô tư, đừng ỷ là có Ðại Từ Phụ mà lờn oai, nghe các con!"

Đức Hộ Pháp ân cần nhắc nhở: "Hôm nay Bần Ðạo chứng chắc quả nhiên như vậy, cái năng lực của Ðạo hôm nay được như thế là nhờ Ðức Lý Ðại Tiên cầm quyền Thiêng liêng vô đối, nhờ Anh Cả của ta là Ðức Lý Giáo Tông điều khiển quyền năng vô hình của Ngài, Bần Ðạo hôm nay mới đặng cái quyền và năng lực bành trướng như thế này. Có một điều Bần Ðạo dặn trước, những kẻ tưởng Ngài vô hình coi chừng Ngài, những kẻ thiếu đức tin dám khi rẻ quyền linh của Ðạo, oai quyền của Ngài, coi chừng Ngài trừng trị, những kẻ nào phạm nhằm Thiên Ðiều, Bần Ðạo dám quả quyết khó tránh nơi tay của Ngài. Các con cái Ðức Chí Tôn coi Ngài rất công bình. Ngài dạy: Phải lập công, lập đức, lập ngôn, tức nhiên là "Tam Lập". Ngài rất công bình, rất oai quyền. Thiên vị chúng ta nhờ Ngài bảo vệ, không thế gì sơ sót. Ðức Chí Tôn coi Ngài cũng như một Tướng Soái; oai quyền của Ngài lớn lắm. Ở nơi Ngọc Hư Cung quyền của Ngài yếu trọng vĩ đại to tát lắm. Cả con cái của Ngài cũng nên tin nơi Ngài, mong mỏi nơi Ngài để cả ước vọng và đức tin nơi Ngài. Bần Ðạo xin khuyên một điều: Lớn nhỏ phải yên tâm giữ Ðạo, đừng sơ sót nhứt là đừng có ỷ công khi lịnh, coi chừng Ngài, Ngài trừng trị một cách oai quyền, trước mắt Bần Ðạo đã thấy, hai mươi mấy năm lập Ðạo cùng Ngài, Bần Ðạo quả quyết như vậy. Chúng ta hãy để trọn đức tin nơi Ngài một Ðấng công chánh oai quyền, nhưng rất yêu ái. Chúng ta được Ngài bảo vệ cho thật là một sự an ủi vĩ đại trong kiếp sanh của chúng ta đó vậy."

Ngày nay: "Có một Ðấng Chơn linh Tam Thế Chí Tôn, nhơn loại đều biết tánh danh đó. Nhứt Thế BRAHMA Phật, tức nhiên là Tạo Hóa, Nhị Thế CIVA Phật tức nhiên Tấn Hóa, Tam Thế CHRISTNA Phật tức nhiên Bảo Tồn. Ðấng trọn quyền bảo tồn ấy là lòng ái tuất thương sanh vậy. Vì cớ cho nên Ðức Chúa Jésus Christ thương nhơn loại một cách nồng nàn thâm thúy, Ngài đã ngó thấy Nhứt Kỳ Phổ Ðộ nhơn loại ký Hòa ước với Chí Tôn mà đã bội ước, nên phạm Thiên Ðiều, nhơn quả nhơn loại gớm ghiết, do nhơn quả ấy mà tội tình nhơn loại lưu trữ đến ngày nay, Thánh Giáo gọi "tội tổ tông", chính mình Ngài đến, đến với một xác thịt phàm phu, Ngài đến giơ tay để ký đệ nhị hòa ước với Ðức Chí Tôn chịu tội cho nhơn loại, ký đệ nhị hòa ước đặng dìu dắt chúng sanh trở về cùng Ðấng Cha lành của họ tức nhiên là Ðức Chí Tôn, là Ðại Từ Phụ chúng ta ngày nay đó vậy."

 

 

PHẠM THƯỢNG


E: To offend a superior.
F: Offenser un supérieur.

Phạm thượng là làm tổn thương danh dự của Chức sắc bề trên, cấp lãnh đạo tinh thần tối cao (Phạm: đụng chạm, xâm lấn, người có tội. Thượng: trên, người bề trên, cấp trên).

"Phạm thượng là một tội thuộc đệ tứ hình trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông. Ai phạm vào điều nầy thì bị phạt ngưng quyền từ 3 năm tới 5 năm."

Thầy than: "Thầy đã lắm lúc nhọc nhằn chìu theo thế mà dẫn bước đường, nhưng nhiều đứa dụng thời thế ở trần mà phạm thượng đến Thầy và dằn thúc chư Môn đệ và chư chúng sanh. Nếu Thầy chẳng lấy đại từ đại bi mà lập nền Ðạo thì sổ của kẻ đặng vớt khỏi trầm luân và kẻ Chí Thánh đã bị Thầy bôi xóa hết".

T... con, Ðạo mở tức để cứu vớt sanh linh thoát vòng khổ hải, ấy là cho kẻ hữu phần mà thôi. Nếu nơi Thiên cơ chẳng xảy ra điều trắc trở, Ðạo Thầy chừng một năm đã khắp toàn trong thế giới. Nhưng thiệt hư, hư thiệt chỉ có đức hạnh của các con lướt qua khỏi mà thôi. Thầy đã lắm lúc nhọc nhằn chìu theo thế mà dẫn bước đường, nhưng nhiều đứa dụng thời thế ở trần mà phạm thượng đến Thầy và dằn thúc chư Môn đệ và chư chúng sanh. Nếu Thầy chẳng lấy đại từ đại bi mà lập nền Ðạo thì sổ của kẻ đặng vớt khỏi trầm luân và kẻ Chí Thánh đã bị Thầy bôi xóa hết."

 

 

PHẠM TRÙ


E: The category.
F: La catégorie.

Theo triết học, phạm trù là khuôn mẫu để tư tưởng hay để hoạt động, hay là hình thức căn bản để tư tưởng. (Phạm: Khuôn mẫu. Trù: khoảng ruộng cao, các thứ đồng một loại)

Thí dụ như: Tư tưởng theo thuyết Âm Dương là một phạm trù tư tưởng trong Nho giáo và Lão giáo. Theo triết gia Kant, phạm trù tiên thiên là những khuôn mẫu của tư tưởng không do kinh nghiệm mà có.

 

 

PHẠM VĂN TỶ (1887-1949) (Tên)

- Ông Phạm-Văn-Tỷ, Giáo-Tập Cần-giuộc, là người đứng vào số 28 trong số 28 người ký tên vào Tờ khai Đạo ngày 23-8 Bính-Dần, nhằm Thứ Tư: 29-9-1926).

Theo Đạo-sử của Bà Hương Hiếu thì nguyên ông Phạm Văn-Tỷ là Giáo tập ở Quận Cần-giuộc. Ông được Ơn Trên thâu nhận vào Đạo ngày 20-3-1926 tại đàn Tân Kim, vì Ông thường đến hầu Đàn nơi Đàn Tân-kim (Quận Cần-Giuộc). Đàn này lập tại nhà Ông Nguyễn-Văn-Lai (nguyên Hội-Viên Hội Đồng Quản Hạt). Phò loan: Ông Ca-Minh Chương (Nguyên là Lão-Sư Minh-Sư và ông Phạm Văn Tươi. Hầu đàn gồm có các ông Nguyễn-Ngọc Tương chủ Quận Cần-giuộc, Lê-Văn-Lịch trụ trì chùa Vĩnh Nguyên, Phạm-Văn-Tiếp, Phạm Văn Tỷ, Phạm Văn Nhơn, Võ-Văn-Kinh. Ông Phạm-Văn-Tỷ được thọ phong phẩm Lễ-Sanh ngày 17 tháng 5 năm Bính-Dần (1926). Trong gia đình ông thứ sáu (người em ruột thứ chín là ông Phạm Văn Tươi, cùng theo Đạo Cao-Đài, sau này là Hiến Đạo, một trong Thập nhị Thời Quân của Toà Thánh Tây Ninh). Ông là một trong số 247 vị đứng tên vào Tờ khai Đạo đồng thời cũng có ký tên cùng với 28 vị tiền khai Đại-Đạo nữa.

 

 

PHAN (PHƯỚN)


E: Banner, Oriflamme.
F: Bannière, Oriflamme.

Phan hay là lá phướn, tựa như lá cờ dùng riêng trong Tôn giáo, có công dụng là để dẫn đường thuộc về phần hồn. Phướn bề ngang hẹp, có chiều dài, trong lá phướn có ren lụa thêu rũ xuống. Hồn do theo đó dò đường mà đi "Dìu đường thoát tục nắm phan".

Đạo Cao Đài có nhiều loại Phan, tùy theo công dụng:

- Tả Phan Quân: Vị Chức sắc cầm cây Phướn Thượng Sanh, đứng bên trái Đức Thượng Sanh. Về thể pháp, nếu người chết từ phẩm Lễ sanh trở xuống chức việc, đạo hữu thì Chơn linh người chết được hướng dẫn bằng cây phướn Thượng sanh

- Hữu Phan Quân: Vị Chức sắc cầm cây Phướn Thượng Phẩm, đứng bên mặt Đức Thượng Phẩm, nếu người chết từ phẩm Giáo hữu trở lên thì Chơn linh được dìu dẫn bằng cây phướn Thượng phẩm.

Về bí pháp Cao Đài, khi một người chết thì Chơn linh phải có cây phướn (phan) để dẫn dắt đường đi.

Phướn Truy hồn hay phướn Tiêu diêu. Nơi cõi Thiêng Liêng mỗi Chơn linh đều được dẫn dắt bằng phướn Tiếp dẫn hay phướn Tiêu diêu:

Phướn Tiếp dẫn thì do Tiếp Dẫn Đạo Nhơn hay Tiếp Dẫn Phật cầm để dẫn dắt các Chơn linh đắc Đạo về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Phướn Tiêu diêu hay phướn Truy hồn là của Lục Nương Diêu Trì Cung nắm giữ.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Tây phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,
"Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi Âm."

Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu có viết:

"Lục Nương phất phướn Truy hồn,
"Tang thương nay lúc bảo tồn chúng sanh."

 

 

PHAN BỘI CHÂU (Hiệu là Sào Nam) (Tên)

Sau khi được tin Cụ Tiểu La mất năm 1910 tại Côn Đảo. Cụ Phan-Bội-Châu có bài Văn tế:

Hỡi ôi! Tiểu La anh ơi!

Chúng ta sinh gặp thời đại này, nếu đã vá tròn trời khuyết, lấp cạn bể oan, thì dầu năm năm, mười năm hoặc hai mươi năm nữa, mang rốn lấy kiếp phù sinh, múa đùa với tay con Tạo, chẳng làm thích chí lắm sao?

Những chuyện đó há dễ dàng đâu!

Nhớ Anh có câu thi:

"Bổ thiên vô lực đàm thiên dị. Tế thế vô thời tị thế nan"

Thiêt cảm kích với mấy lời ấy mà cũng đau đớn cho đời chúng ta vậy.

Năm xưa Em còn ở ngoài bể, được tin Anh ra Côn Đảo thời tê chí dĩ một!

Trời ơi! Một người như anh Tiểu-La mà sự nghiệp mới có ngần ấy: Rằng đáng đau, đau biết chừng nào!

Tuy nhiên thiên hạ bất như ý sự, thập thường bát cửu, mà huống gì thời đại của chúng ta bấy giờ, trăm việc ngàn việc rặt là bất như ý cả kia mà!

Từ thuở trời đất đổi ngôi, núi sông thay sắc, kể trước khi chưa có Anh, kế sau khi đã mất Anh.

Biết bao máu nhân nhân chí sĩ, biếc nhuộm cỏ xanh, vô số xương nghiệt tử cô thần, trắng phau đá bạc.!

Kể đáng đau, đáng tiếc, há phải một mình Anh Tiểu-La mà thôi đâu! Nhưng riêng về Bội-Châu này, thì đau tiếc vì đại nghĩa, lại đau tiếc về tư tình.

Nghĩ một người đào tạo ra Em, thành tựu cho Em mà bây giờ kẻ mất người còn, hồn trời phách đất.!

Mây Hải Vân mờ-mịt bóng gươm vàng!

Bể Đà-Nẵng chập chờn cơn sóng bạc.

Thường ngẫm nghĩ chuyện trước hai mươi năm,

Mưa gió bên màn, gối Việt Thạch chung dòng khi thức nhấp

Thần minh trước án, rượu Vân Trường dằn chén lúc phô bày.

Kể bọn đồng chí, đồng sự trong mấy năm ấy, thâm tri em chẳng ai hơn Anh, mà thâm tri Anh cũng chẳng ai hơn Em.

Ôi, Anh ôi! Ôi, Anh ôi! Em nay lẻ-loi, lận đận, trời xế, đường xa, kể tâm sự với ai, thăm đường lối với ai?

Anh còn sống lại được chăng? Trời khôn thăm hỏi!

Em đã về không trơ đó, đất quá hẹp hòi.!

Ngậm-ngùi nông-nỗi ấy. Bối rối sự tình này!

Mà bảo rằng không đứt ruột rơi châu với Anh có thể nào đặng.

Than ôi! Lịch sử Anh thế nao, nhân cách Anh thế nao, nhưng ai là người có tâm huyết, có mắt tai, chắc đều biết thảy.

Em nay xin kể lại vắn tắt mấy câu, còn như tường thuật thỉ chung, Em đã viết vào bản Việt Nam nghĩa liệt bằng Hán văn.

Than ôi! Thất bại mà vẫn anh hùng,

Thời cùng mới thấy tiết nghĩa.

Kiếm mã thuở đầu xanh khởi nghĩa, tuổi hai chín đã nứt tiếng tri binh.

Phong vân khi tay trắng chống trời, sau trăm trận vẫn bền gan sát tặc.

Vai vế rập anh em đủ ngón, mười năm lẻ kinh dinh thảm đạm, chuốt vẩy rồng toan thổi chín từng mây.

Lược thao đầy binh pháp ngang lưng, trải mấy phen sắp xếp trong ngoài, mài vuốt cọp quyết xông tư mặt gió.

Vận tổ quốc đương hồi điên đảo, nên nói tài cao mà cũng mạnh, lưới cường quyền bủa rập tới người khôn.

Kiếp đồng bào chưa thoát khỏi trầm luân, ngán chiều thuyền ngược nước đương xuôi, thân hào kiệt hy sinh vì sóng dữ.

Côn-lôn-Đảo xây mồ Thần Thánh, tiếng chiêu hồn ba vạn sóng chung quanh.

Hải-Vân-Quan nghi ngút khói chung thành, mây bất hủ mấy tầng non vằng vặc.

Ôi thôi! Nghĩ càng xót ruột. Nói không hết lời,

Chí em chưa thỏa đã đành mà thân Em còn sống sót tới nay làm thế nào bây giờ?

Địa hạ cáo trình Anh, hồn thiêng Anh giùm cho Em, vẽ cho em, họa may cái sống thừa của Em nhờ Anh mà hy-vọng!.

Vì vậy đêm khuya trời lạnh vạch máu đốt hương, viết mấy lời thăm Anh ở dưới suối vàng và lại có hai bài gởi thăm Anh Ô Gia với anh Nam Xương:

Đau đời nên phải nhớ Tiên sinh,
Ưu quốc xưa nay bậc lão thành.
Tay trắng đỡ liều vai gánh nặng,
Lòng son đưa trước bạn đầu xanh,
Bội-Châu không bác e vô sự,
Lào-Bảo nhờ ông mới có danh.
Tiếc bác lấy gì an-ủi bác?
Một chung rượu lạt máu Thần minh.

Bảy thước thân trai gánh nợ đời,
Tinh thần khu xác một nhà hai.
Trong vòng lồng chậu không chim cá
Trước mắt non sông có bể trời.
Cây cỏ biết đem giòng máu nhuộm,
Ruột gan hòng cậy tấm trăng soi.
Chúng ta cũng vẫn dòng Hồng Lạc
Xin hỏi Nam Xương có mấy ai?

Phan Sào Nam giáng cơ: 13-4 Đinh Hợi (1957)

"Bần Đạo đến đây là trả lời cốt yếu cuộc lễ hôm nọ và tỏ sự vui vẻ của nước Việt Nam đã được nổi danh cùng lân bang chủ quốc, mà nhứt là Cao Đài được lừng tiếng tung hô từ năm 1946 đến nay, các nước đều để ý. Hiện giờ sự tín nhiệm Cao Đài đối với các đảng phái thì được phần chú ý hơn. Vậy mọi sự hành trình chỉ một sự chơn thật là thắng hết các cơ quan trong cuộc đời đang tranh đấu".

Ngày 24-11-Ất Dậu (1945) Cụ Phan giáng cho Thi;

Hồng Lạc gặp thời vỗ cánh bay,
Tuôn mây lướt gió chẳng ai tài.
Nghìn thu tên tuổi còn noi dấu,
Khí tượng anh hùng há một mai.
Đất Việt lẫy lừng danh Đại Đạo,
Trời Nam tỏ rạng tiếng Cao Đài.
Có chi vui bẵng ngày tương hội,
Chúa Thánh tôi hiền phỉ chí thay!

 

 

PHAN CHU TRINH (Tên)

Trong thời gian ở nhà lao Quảng Nam (1908) Cụ Phan Châu Trinh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Trần Cao-Vân, cụ Tiểu-La sắp lên đường đi Côn Đảo, để tỏ niềm tâm sự kẻ ở người đi, Cụ Phan Châu Trinh cũng ghi lại mấy dòng cảm tác, nói lên tư tưởng anh hùng dân tộc và khẳng khái lúc ra đi:

Bắc Nam đâu cũng một non sông,
Đi ở cần chi phải bận lòng?
Vận nước hãy còn đang kiển BĨ,
Làm trai chi sá nại lao-lung!
Gió mưa mấy độ cây không chuyển,
Sấm sét nhiều phen núi chẳng rung
Việc trải qua rồi, rồi mới biết,
Non sông muốn thử khách anh-hùng!

 

 

PHAN PHỦ TỪ

Phan phủ từ: Nhà thờ họ PHAN

 

 

 

 

 

PHAN THANH GIẢN (Tên)

Đức Hộ Pháp nói: "Cũng có kẻ dầu có học-thức như Phan Thanh-Giảng hồi đi sứ sang Pháp-triều thấy cả nền văn minh phát khởi đến huyền-vi tư tưởng. Ngài là người văn học trí sĩ của nước Nam ta đến cũng phải sợ sệt, nhận rằng nền văn minh đã đến mức cao cực độ. Ngài dâng sớ cho nhà vua, nói một câu nói dường nầy quá lẽ:

"Dĩ nghệ tề thiên địa,
"Chỉ nhượng tử sanh tạo hóa quyền".

Ngài nói rằng: Cái quyền hành vi chủ, duy vật chẳng nhượng quyền Tạo hóa, chỉ có chết sống mới nhượng cho quyền Tạo hóa mà thôi. Thành thử mình thấy văn chương khoa học đương nhiên làm chủ tư tưởng của con người. Hại thay! Nếu khoa-học mà dìu dắt tâm lý nhân-sanh đến đạo đức tinh thần thì may biết bao! Trái ngược lại văn-minh ấy chỉ giục thúc phương sống vật-chất, họ tìm hạnh phúc trong cái sống vật hình, vì cớ Ðạo Giáo mất quyền. Bần Ðạo tưởng người khác hơn Bần-Ðạo cũng lưu ý đến điều ấy, nên đã vấn nạn Ðức Lý Giáo-Tông.

Hỏi rằng: Ðương thế kỷ hai mươi nầy văn-minh cực điểm đã đi quá cao rồi, đem đạo đức tinh thần làm thuyết cứu thế sợ e chẳng có kết quả. Tôi công nhận rằng trước hai ngàn năm có lẽ nhơn-loại còn bảo thủ được khối thiên lương biết xu hướng đạo đức. Tinh thần đạo đức buổi ấy dường như gặp một mảnh ruộng có nhiều phân nên hột giống mới mọc đặng, còn thế kỷ hai mươi nầy là thời kỳ văn-minh vật-chất nếu đem đạo-đức ra làm môi giới, cứu-vãn tình thế cho đời, e vô hiệu quả.!

Ngài than! Nói quyết đoán rằng: Theo lẽ Hiền-hữu nói nhơn-loại ngày giờ nầy không cần đạo đức có phải?

Bần Ðạo trả lời: Thật vậy! Nhơn-loại buổi nầy không cần đạo-đức, chỉ tìm hạnh phúc nơi văn minh khoa học cũng có thể được chớ?".

Ngài cười: Văn-minh khoa học chỉ nuôi phần xác thịt họ mà thôi, còn phần linh hồn dám chắc họ sẽ đói.

Bần Ðạo vấn nạn: Tại sao Ngài nói linh hồn đói, linh hồn có ăn sao mà đói?

- Phải, phải có vật thực đặng bảo dưỡng nó như thi hài vậy, nếu không vật thực nó sẽ tiều tụy rồi chết mà chớ!

(Đây nói lên tình Bằng Hữu Của Cụ Phan Thanh Giản)

 

 

 

Phan thanh Giản là nhà nhà cách mạng yêu nước của Việt Nam. Cụ Phan Thanh Giản làm Khâm Sai Miền Nam của Triều Đình Huế. Cụ có một bạn học rất giỏi, văn võ song toàn nhưng không chịu ra làm quan. Một hôm cụ Phan đi thăm bạn. Quân lính theo hầu rất đông nhưng cụ dừng chân rất xa nhà bạn. Cụ lấy bộ đồ cũ hồi đi học ra mặc, thay áo mão và bách bộ vào nhà bạn. Ông bạn nghe tin, lúc gặp cụ thì quì xuống thi lễ, cụ đỡ dậy và chỉ vào chiếc áo mà nói: "Tôi đến đây với tư cách bạn của anh ngày nào, với bộ đồ học trò, xin anh đừng giữ lễ nghĩa". Sau khi hàn huyên cụ hỏi: "Tại sao bạn có tài, không ra giúp nước mà mãi chịu cảnh nghèo hèn mãi như vầy".

Ông bạn trả lời: "Tôi xem sao lấy quẻ Dịch biết Trời đã định cho Việt Nam phải bị lệ thuộc nên dầu tôi có ra làm quan cũng không sửa được luật trời".

Cụ Phan ngủ nhà bạn một đêm hầu tâm sự việc thạnh hưng của nước nhà. Sáng ra từ giã bạn buồn bã và quyết định uống độc dược để kết thúc cuộc đời mình như sử hằng viết lại: "Ngày 20 đến 24 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863) rồi An Giang và Hà Tiên. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nỗi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi. Đền thờ Phan Thanh Giản hiện ở ấp Thạnh Nghĩa, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, Bến Tre. Và từ rất lâu, nhân dân ở vùng núi Ba Thê, thuộc huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang vẫn coi ông là một vị thần Thành Hoàng."

Tại sao cụ Phan không sống để kháng chiến đến viên đạn cuối cùng hầu tỏ sĩ khí của Nho gia Việt Nam? Không phải cụ thiếu tinh thần thượng võ, nhưng cụ so sánh lực lượng địch hơn hẳn mình nhiều khía cạnh. Nếu chiến tranh kéo dài chỉ làm mồ chôn cho chiến sĩ ta mà thôi. Cụ rất thức thời, biết tiết kiệm xương máu của dân tộc. Người ta máy bay, tàu lặn, xe tăng thiết giáp…Còn mình thủy lục không quân hầu như không có. Nền văn minh Pháp đã đạt đến mức độ khá cao mà triều đình ta còn chấm bút lông bảo thủ, không chịu canh tân mọi mặt. Dịp sang Pháp Quốc cụ đã nhiều phen xin cho Thanh Triều du học để khai hóa nền kỹ thuật khoa học mà sĩ phu ta lại cho là đi xa về bịa đặt chẳng chịu tin. Biết mình, biết người, so sánh người hay ta dở. Cụ không ngần ngại cầm chén thuốc độc ngâm:

Minh tinh chín chữ lòng ghi tạc,
Trời đất từ đây bật gió thu.

Ông giáng cơ ngày 20-2 Tân Mùi (28-4-1931) cho bài thi:

Tuyệt cốc hy sinh báo quốc cừu,
Tế nguy tam Tỉnh hủy danh lưu.
Văn bang bất cử giang san đảnh,
Võ lược nan truy loạn tặc hưu.
Khám thán Nguyễn trào di ngọc bệ,
Ai tai bá tánh khổ công sưu.
Ngã ngôn nhược đắc nghê quân thính,
Nam Việt cường ban kế vận trù.
                        (Phan Thanh Giản)

Ngày 6-1-1934 ông Phan Thanh Giản có giáng cơ tặng bà bạn đời của ông một bài thi để tỏ dấu biết ơn Bà đã vất-vả nuôi mẹ mình trong lúc mình vì nước bôn ba đó đây để phục vụ tổ quốc. (Lúc nầy bà Phan còn sanh tiền)

            THI HỨA PHU NHÂN

Một vòng nhật nguyệt tuyết in làu,
Son sắt giữ niềm vẹn trước sau.
Thức ngọc không lờ cao trọng giá,
Mảnh gương trọn đẹp lại nêu sao.
Đường công danh toại phần quân tử,
Nẻo nghĩa nhơn khoe tiếng má đào.
Lời dặn đinh ninh tua để nhớ,
Thu sang cảnh trở, dạ đừng nao.

Bát Nương Diêu Trì Cung cũng tặng bà Phan một bài:

Đài Tần bao thuở hiệp Đông Châu,
Biển hoạn mênh mông đã đủ cầu.
Ngoài ngõ dậm vang chơn ngựa tứ,
Trong trường ré dậy cánh chim câu.
Đài mây yên để nên thanh sử,
Cửa ngõ lời khoe tận Ngọc Lầu.
Đất Việt chừ nghe câu phúc hạnh,
Xin về Nhị Thủy nhấp cần câu.

Thật vạn hạnh cho một vị phu nhân biết giúp chồng làm tròn nhiệm vụ cùng tổ quốc nên được đời khen tặng mà các Đấng cũng tưởng thưởng hạnh đức. Há có phải một nữ lưu gương mẫu của Việt Nam cận đại chăng?

Bà Phan đâu có thua gì gương xưa:
Vợ Châu Công hiền thần mạng phụ,
Ở thôn gúc lam lụ làm ăn.
Chồng thì triều nội cao sang,
Vợ lo canh cưỡi, cơ hàng khổ thân.

Những gương đẹp ấy cũng có thể làm tiêu biểu cho phụ nữ quốc tế noi theo mà chớ? Còn phần Phan Tiên Sinh, dân tộc Việt Nam ngày nay biết ơn một vị đại công thần, thà tự hủy mình chớ không chịu đầu giặc, nêu gương bất khuất của một dân tộc anh hùng, lại đủ tánh đức một Nho phong sĩ khí.

PHAN THANH GIẢNG

Cụ Phan Thanh Giảng giáng Cơ đề Bút hôm 01- 08 vừa qua (dl: 15-09-1966):

Thanh bình Nam Bắc mỏi lòng đau,
Ngoại cảnh chia phân ruột nát xào.
Chỉ tại nhơn sanh chưa ý thức,
Chung tâm nào ngại việc binh đao,
Con đường Cứu quốc lo NHÂN NGHĨA
Chí cả trượng phu giúp ĐẠO CAO,
Phù thế Lam Sơn chưa trổ mặt,
Chỉnh tu thân phận nắm phong trào.

………………..

Biết Cơ độc lập toàn Nam Bắc,
Xây dựng nền Nhân tránh lẽ Tà.
Gắng chí Thư Hùng lo Xã tắc,
Chỉ cho đôi chút việc gần xa.

Phan Thanh Giản (chữ Hán: 潘清簡; 1796 - 1867), tự Tĩnh Bá, Đạm Như (淡如), hiệu Ước Phu, Lương Khê; là một danh sĩ, một đại thần triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

 

 

PHAN TIẾP DẪN ( PHƯỚN TIẾP DẪN)

Phan Tiếp dẫn: Hay Tiếp dẫn phan 接引幡 tức cây phướn Tiếp Dẫn của Tiếp Dẫn Chơn Nhơn, là một vị Phật có nhiệm vụ hướng dẫn các Chơn linh đắc Đạo về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Trong truyện Tây Du Ký, có nói về Tiếp Dẫn Đạo Nhơn như sau: Bốn thầy trò Đường Tam Tạng, sau khi đi thỉnh kinh về, đến bến Lăng Vân, thì không thể qua bên kia bờ sông được, còn đang bối rối, thời may có Tiếp Dẫn Đạo Nhơn chèo chiếc thuyền không đáy tới rước để đưa qua sông. Tam Tạng sợ quá, không dám xuống thuyền, Tề Thiên Đại Thánh đưa Thầy xuống thuyền, một lát thì Ngài thấy xác người trôi trên sông, Ngài tỏ vẻ thương hại, gần đến Tây phương mà phải bỏ xác, Tề Thiên giải cho biết: đó là xác của Thầy đã đắc Đạo, bỏ lại cái áo xác thịt này.. Tiếp Dẫn Đạo Nhơn đỡ Tam Tạng ngồi vào thuyền và chèo đưa qua bên kia sông. Thế là Tam Tạng đã bỏ xác phàm mà thành Phật.

Trong kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu nói về Tiếp Dẫn Phật như sau:

"Tây phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,
"Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi Âm."

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu

"Cảnh Thiên noi bước Hóa Công,
"Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai."

 

 

PHAN THỊ THUẤN (Tên)

(Tình vợ chồng chung thủy của người Việt Nam)

Bà là vợ của ông Ngô Cảnh Hoàng đời Hậu Lê. Ông đi đánh giặc Tây Sơn tử trận ở sông Thúy-Ái nay thuộc huyện Thanh-Trì tỉnh Hà Đông (Việt Nam). Người được tin than khóc mà Bà thì vẫn cười nói như thường, cho rằng chết vì nước thì còn gì quí hơn. Bà đợi làm đám tang xong xuôi, mặc quần hồng, áo lụa đến chỗ chồng tử trận đâm đầu xuống sông mà chết theo chồng. Sách Tang Thương Ngẫu Lục của ông Chiêu Hổ thì lại chép Bà họ Đòan, vợ thứ của Du Tỉnh Hầu Ngô Phúc Du. Phúc Du cũng tử trận ở sông Thúy Ái.

 

 

PHÁN ĐOÁN

Thầy dạy: "Các con phải hiểu rằng: Thầy là Huyền diệu thế nào? Cách dạy, Thầy buộc tùy thông minh của mỗi đứa mà dạy. Dầu cho thầy phàm tục cũng phải vậy, nếu đứa nào dở mà dạy cao kỳ, nó biết đâu mà hiểu đặng. Thầy dặn các con một điều, nhứt nhứt đều đợi lịnh Thầy chẳng nên lấy tứ riêng mà phán đoán chi hết. Phận sự và trách nhiệm các con, Thầy đã định trước, song giờ ngày chưa đến; phải tuân theo lời Thầy nghe!"

 

 

PHÁN XÉT CUỐI CÙNG

E: The general judgement.
F: Le jugement général.

Phán: Phân xử, xử đoán, tuyên bố sự quyết định về việc gì, sai bảo người dưới. Xét: xem xét. Cuối cùng: lần sau chót. Phán xét cuối cùng là sự xem xét về tội phước của nhơn loại để ban thưởng hay trừng phạt lần cuối cùng trước khi xảy ra cuộc Tận Thế, để lập đời Thánh đức.

Đây là từ ngữ thường dùng của Thiên Chúa giáo, mà Phật giáo gọi là Đại Hội Long Hoa, Di-Lạc Phật Vương ra đời.

Trong kỳ Phán xét cuối cùng nầy, Đức Di-Lạc Vương Phật làm Chánh Chủ Khảo chấm thi đậu rớt toàn cả nhơn loại căn cứ trên công đức đã lập được.

Tùy theo công đức nhiều ít của mỗi người mà Đức Phật sẽ ban cho các phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tương xứng. Những người ít công đức hơn nữa sẽ được làm một Tân Dân để lập đời mới gọi là đời Thượng nguơn Thánh đức. Còn những người làm nhiều điều tội lỗi, không đáng làm một Tân Dân thì sẽ bị đọa, chờ đợi để nhập vào một thế giới tiến hóa thấp hơn.

 

 

PHÀN NÀN

F: se plaindre.

Phàn nàn: Than phiền về việc gì.

Thầy dạy: "Nơi đây, Thầy để lời cho các con phải biết thương Đạo hữu, việc chi lỗi để cho Thầy biết và cứ tuân theo lời Thầy dặn. Hành sự cho là đủ, chớ nên chấp lẫn nhau mà mất niềm đồng Đạo chẳng tốt. Nhiều đứa cũng lắm cầu danh vì mối Đạo, chúng nó phải bị truất phần công quả về sau.Lý Bạch hằng phàn nàn về đức Từ bi của Thầy, nhưng con cũng đồng con, Thầy đã độ rỗi các con, há để cho hành phạt các con đến điều hay sao? Những đứa nào chẳng biết tự cải thì sau cũng khó mong nơi lượng từ bi của Thầy nữa đặng."

 

 

PHẢN ĐẠO

Phản đạo là người đã có gốc Đạo bây giờ bỏ đạo ra đi, đồng thời có tính cách phá hoại lại nền Đạo. (Phản là làm nghịch lại với buổi ban đầu. Đạo ở đây có nghĩa là Tôn Giáo, tức là con đường được vạch ra cho chúng sanh theo mà tu hành để được sự cứu rỗi: giải khổ trong kiếp sanh, đồng thời giải thoát cho linh hồn).

Ông Lê-Thế Vĩnh gởi thơ cho Chức-sắc và bổn Đạo nói về ông Lê Bá Trang vào năm Đạo thứ tám (Đệ Bát niên) tại Toà-Thánh Tây Ninh, ngày 29 tháng 8 năm Quí Dậu (le 10 Novembre 1933). Nguyên văn như sau: Kính gởi cùng Chư Chức sắc Thiên phong Nam Nữ và Chư Đạo-Hữu Nam Nữ lưỡng phái. Kính cùng chư Hiền huynh và chư Hiền Tỷ:

Ngày 12 Septembre 1933, Đạo-hữu Lê Bá-Trang là Cựu Quyền Đầu-Sư Cửu-Trùng Đài bị ngưng quyền.

Ngày 26 Juillet 1933, có ra Châu-tri số 146 nói là can dự đến Tệ Đệ và toàn nền Chánh-trị Đạo. Tệ Đệ chỉ buồn cười cũng bỏ qua cho Người biết xét mình mà ăn-năn tự hối, dè đâu ngày 20 Septembre 1933, Người lại ra thêm một tờ Châu-tri số 147 cố ý nhục mạ Đức Quyền Giáo-Tông và nhiều vị Chức-sắc đương hành Đạo. Tệ Đệ vẫn điềm nhiên xem coi trong trí lực thường tình của Người sau này được nảy nở được nhiều chi đặc biệt nữa. Thật vậy cách vài hôm sau, quả có kẻ phụ sự của Người đến Giáo-Tông-Đường giựt máy đánh chữ và vu vạ, rồi thì càng ngày càng lộng, nào là nhóm ngày nhóm đêm, nào là xúi giục kiện thưa, nào là hăm doạ bỏ tù Đạo hữu, nào là kỳ cho một tháng nữa là đuổi hết cả Quyền Giáo Tông và Hộ Pháp ra khỏi Thánh-Địa, nào là hiêu hiêu tự đắc khoe rằng: Chấp ba ngựa cũng thắng…Đầu-Sư gì mà luật Đạo không thông, trách nhiệm không biết, thậm chí kinh Cúng Tứ Thời cũng không thuộc, Tu hành gì mà còn giả dối, còn mưu-mô, còn quyền quyền thế thế. Than ôi! Nếu Tệ Đệ không có phận-sự đặc biệt trong Hội-Thánh, thì Tệ Đệ đã thối bước lâu rồi, để cho họ tự quyền diệt Đạo.… Cả bằng cớ Tệ Đệ đều nắm sẵn nơi tay đặng đợi ngày giải kẻ phạm ra Toà Tam giáo, sẽ cho toàn Đạo biết rõ rằng: "Hai Đạo-Hữu Lê-Bá-Trang và Nguyễn Ngọc Tương là người phản Đạo". Tệ Đệ xin chư Đạo-Hữu cứ giữ phận-sự tu-hành, đừng lầm nghe mà sau này ăn-năn rất muộn. Tệ Đệ vì phận-sự quyết xin Đức Hộ Pháp giữ nghiêm pháp luật và từ đây ngày nào còn Đức Hộ Pháp và Tệ Đệ thì bọn Tà Thần đừng mong gì đến cửa Đạo mà dụng Tà quyền để áp bức và hăm doạ đạo-hữu…"

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Lòng phản Đạo làm chi quá lẽ?
Ngoài chơn thành trong để mưu sâu.
Con ma lục tặc ở đâu,
Cứ theo đeo đuổi mọt sâu Đạo trường.

 

 

PHẢN ĐỘNG

反 動
F: Réaction.

Phản động 反動: Hành động hoặc vận động trái lại.

Đức Hộ Pháp nói về Kim Quan Sứ: "Vì cớ cho nên người có giáng-cơ buổi Đạo đương bình tịnh, cả Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn đương hòa ái với nhau, không có tâm-tánh gì phản động, chưa có một mảy may gì gọi là loạn, họ còn giữ theo nề-nếp chơn truyền của Đức Chí-Tôn mà thinh không Kim-Quan-Sứ giáng-cơ cho một bài thi chẳng khác nào như tìm đến Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn mà liệng một tối hậu thơ, bài thơ ấy như vầy:

"Cửu phẩm Thần-Tiên nễ mặt ta,
"Thích-Ca dầu trọng khó giao hòa.
"Cửa Kinh Bạch-Ngọc năng lui tới,
"Đường Đạo Tây-Phương thử chánh tà".

 

 

PHẢN ĐỘNG LỰC

反 動 力
F: Pouvoir réactif.

Phản động lực 反動力: Cái sức hành động trái lại với nguyên động lực.

Đức Hộ Pháp nói về Đức Quyền Giáo Tông: "Ngày nay Anh Cả chúng tôi đã vào cõi Hư-vô rồi, thiết tưởng những phản động lực kia cũng lần lần giảm bớt.Anh em trong Ðạo cũng đã rõ thấy mà nhận thức cái chơn lý sờ sờ kia vậy. Cái khó nhất là phải có đủ đức kiên nhẫn để chống lại với các phản động-lực ở trong Ðạo và ngoài Ðời"

Nhưng luận về cả toàn cầu cũng tương tự như thế:

"Gia-đình còn loạn-lạc thay! Huống chi là toàn cầu trong giờ này xã-hội tạo nhiều lẽ bất-công đối với nhân-loại vì muôn ngàn thế-kỷ tạo sự bất-công càng chồng-chất; nhơn-tâm bất nhất, lẽ bất công càng ngày càng thêm, không thấy giảm. Biểu sao không phát ra phản-động-lực để phản-đối sự bất-lực của xã hội, nên mới có tấn-tuồng thống-khổ tương-tàn tương-sát. Chủng-tộc khác với nhau tương-tàn đã đành, đến cùng chung chủng tộc còn sát hại nhau, vì cớ có cơ-quan tự diệt.

"Ngày giờ nào Đạo Cao-Đài đủ quyền-năng tinh thần đem Công-chánh và Yêu-ái làm thuốc trị bịnh ấy tưởng đã bất trị, ngày ấy mới Hoà-bình thiên-hạ và Đại Đồng thế giới."

 

 

PHẢN KHÁNG

反 抗
F: Résistance, opposition.

Phản kháng 反抗: Chống cự lại.

Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) rằng:

"Cuộc kết quả sự phản kháng ấy hoặc thành, hoặc bại, có ảnh hưởng của tương lai sanh hoạt quyền lực đương nhiên của họ vì cớ mà sự xung đột hằng xem dữ dội.Ấy là phương khảo thí tài lực của trí thức tinh thần, hầu làm cho trí thức tinh thần sanh điều hay, bày điều dở; hay thì chánh dở thì tà; chánh thì còn tà thì dứt. Ấy vậy, dầu cho sự xung đột của quyền Ðạo với quyền Ðời thoảng đã làm cho lao tâm tiêu tứ của những trang chấp chánh Ðạo quyền đi nữa, là phương chước tô điểm vẽ vời cho lịch xinh mặt Ðạo".

Đức Hộ Pháp nói: "Ôi thôi! Buổi ấy rất biến đổi, đến chừng Ngài triệu hồi Đức Lý trở lại, rồi Đức Chí Tôn không thể gì phản kháng với Ngài nữa".

 

 

PHẢN KHÁNG ĐẠO QUYỀN

Tờ phúc của Giáo-Sư Thượng-Phùng-Thanh số 49 ngày 03-03-Giáp-Ngọ.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Một chức Giám-Đạo của Hiệp-Thiên-Đài đã có Minh thệ trước Ngũ-Lôi cầm Pháp Chánh chẳng còn ai là thân-nhơn trong khi hành quyền dầu rằng bạn thân của mình chẳng phải là một Chức-sắc của Hội Thánh Phước-Thiện. Giám-Đạo Lợi và Chí-Thiện Nhâm là hai vị Chức Sắc của Đạo ai có phần nấy, nếu còn tính đời: là bạn nhau mà thôi, khuôn-luật của Đạo đã định vậy, Thượng-Quyền cũng cho vậy. Chỉ có Giáo-Sư Phùng còn kể Lợi và Nhâm là vợ-chồng nhau đặng phản cáo mà thôi. Quyền Ngọc Chánh Phối-Sư nên giải-quyết rút Giáo-Sư Phùng về Toà-Thánh và thuyên-bổ người thay thế làm Khâm-Trấn Đạo Kim-Biên cho khỏi phản-kháng Đạo-quyền." (11-3-Giáp-Ngọ) HỘ PHÁP (Ấn-Ký)

 

 

PHẢN KHẮC ĐẠO QUYỀN

Đạo Nghị định thứ sáu: Đức Lý Đại Tiên dạy:

"Chiếu theo Pháp Chánh Truyền của cả Hội Thánh Bát Quái Ðài, Cửu Trùng Ðài, Hiệp Thiên Ðài.

Nghĩ vì, Pháp Chánh Truyền, Lão đã dạy Hộ Pháp chú giải, chẳng thi hành từ thử, làm cho Cửu Trùng Ðài và Hiệp Thiên Ðài phản khắc Ðạo quyền, gây nên rối loạn Chánh Giáo Chí Tôn."

 

 

PHẢN LOẠN

反 亂
F: Rebellion.

Phản loạn 反亂: Gây rối loạn để phản đối.

Ông Thành (trước là Thiếu Tướng của Quân Đội Cao Đài) nói một câu mà báo chí Sài Gòn thời ấy mãi nhắc nhở: "Tôi là giặc, anh bắt được cứ bắn, không bao giờ tôi chịu đầu hàng". Tướng CÓ phải năn nỉ mãi, nên ông mới chịu xuống đồi mà làm người tù binh. Bị giam một thời gian, Tòa Án Quân Sự làm thủ tục đem ra xử ở Bến Bạch Đằng, lúc ấy ông mặc quân phục Thiếu Tướng Quốc Gia trước vành móng ngựa.

Chủ Tọa cho ông là "kẻ phản loạn".

Ông nói: "Tôi là Thiếu Tướng của Quốc Trưởng Bảo Đại. Tôi tranh đấu chống lại kẻ nào phản lại Quốc Trưởng, tôi là kẻ trung thành. Còn kẻ phản loạn chính là Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, người được Quốc Trưởng ban chức mà trở lại chống Quốc Trưởng tức chống lại nhân dân Việt Nam…"

Tòa tuyên bố: Tử hình, ông Thành mỉm cười không sợ sệt

Tòa cho quyền xin ân xá hay cho chế giảm. Ông nói: "Một khi người ta muốn giết mình mà xin ân xá tức là hèn. Tôi chấp nhận án tử hình một cách an lòng".

 

 

PHẢN LOẠN CHƠN TRUỴỀN

E: To revolt against the true teaching.
F: Se révolter contre le vrai enseignement.

Đức Hộ Pháp viết thơ trả lời cho ông Tương, khi ông Tương tách khỏi Tòa Thánh lập Ban Chỉnh Đạo mà còn gởi thơ mời Đức Hộ Pháp đến dự cuộc công cử Giáo Tông đặng toan truất phế Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, lời lẽ như vầy:

"Ngày Đạo Huynh và Ngọc Trang Thanh đã phản loạn Chơn truyền, toan phương đánh đổ quyền-hành của Đức Quyền Giáo-Tông thì Bần Đạo cũng nhiều phen can gián. Chỉnh sợ có một điều là Đạo bị phân phe chia phái, mà hễ phân phe chia phái thì tức phải có điều xung đột cùng nhau.

Than Ôi! Cái khôn ngoan sáng tính ấy không đặng kết quả cũng vì Ngọc Trang Thanh cầm cán để toan phá hoại Chánh giáo của Đức Chí-Tôn, đương nhiên trước mặt chúng ta để định, hẳn thế nào cũng phải do một trường náo-nhiệt…"

 

 

PHẢN NGÔN

Phản ngôn 反言 phản lại lời nói của mình.

Đức Lý dạy: Ngày 18-1-Đinh Mão (DL: 19-2-1927)

"Chẳng vì Thánh Thất, Như Nhãn phản ngôn mà trễ phổ thông Thánh giáo. Cười…Đã hiểu đời còn mê muội, chẳng phân đặng chơn giả thế nào, thảm thay! Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn (phái Thái) dám cả gan nghịch Thiên mà phải đọa trầm luân muôn kiếp, xét đến công tu, khó ngăn giọt lụy. Chí Tôn đau đớn bấy nhiêu, Lão càng giận bấy nhiêu. Biết bao phen, Lão cầm viết toan bôi xóa cho rồi trọn phái oan nghiệt mà Chí Tôn nằn nằn xin Lão để cho Người gia công độ rỗi. Ngày nay, Lão nhứt định trả lại chùa nầy. Song, trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng ở tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh Địa, vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Chí Tôn không chịu".

 

 

PHẢN NGHỊCH

Phản nghịch 反逆: chống đối lại.

Thầy dạy: "Thầy chưa hề biết hành phạt các con bao giờ. Từ khai Thiên Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một ông Cha nhân từ thế quá lẽ làm cho đến đỗi con cái khinh khi, phản nghịch lại cũng như Kim Quan Sứ là A-Tu-La, Thánh-giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên Cung. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn-nàn trách cứ Thầy thay! Tình trạng của các Đẳng Chơn-Linh đã đoạt-vị trong Càn Khôn Vũ Trụ chịu nạn khảo-thí do nơi Kim-Quan-Sứ. Kim-Quan Sứ đã đặng Đức Chí-Tôn cho làm Giám Khảo kỳ thi Hạ Nguơn Tam-Chuyển qua Thượng Nguơn Tứ-Chuyển này".

 

 

PHẢN PHÚC

Phản phúc : dối trá,tráo trở không tin cậy được.

Đức Hộ Pháp nói: "Ðức Chí Tôn đến độ rỗi, lập giáo rồi lại bắt Minh thệ. Hỏi tại sao Ngài lại bắt Minh thệ buộc con cái phải hiệp đồng cùng nhau. Mỗi người có một chút Đức tin, Thầy bảo qui Đức tin ấy lại, phải có tâm đức tin tưởng yêu ái lẫn nhau. Phải nhìn nhận có Thầy, có Đức tin nơi Thầy. Hại thay! Có nhiều đứa con của Ngài cũng nghe, cũng tìm Ðạo, cũng thọ giáo, cũng Minh thệ đủ phép tắc. Biết bao nhiêu, khi mới đến cùng Thầy, quì dưới chơn Thầy mà hễ ra khỏi chơn Ngài rồi thì lại phản phúc Ngài và con cái của Ngài."

Chứng minh nơi Kim Quan Sứ "Do cái tự-kiêu tự đại, còn một bước đường nữa mà đoạt không đặng, nếu người nhường là nhường Đức Chí-Tôn mà thôi. Vì người hám vọng, tự-tôn, tự-đại, gọi cả quyền-năng Đức Chí-Tôn người không nhường, tức nhiên người đủ quyền năng hơn Đức Chí-Tôn mà chớ! Vì cớ cho nên Ngài dành quyền trọng đại muốn cầm quyền một quyền-lực để điều khiển Càn-Khôn Vũ-Trụ, chưa đoạt đặng mà Ngọc-Hư Cung đã biết tinh-thần Kim Quan-Sứ muốn phản phúc. Phản phúc dám đối diện cùng Đức Chí-Tôn mà Ngọc-Hư-Cung đã biết; cho làm Thống-Đốc một thế giới của chúng ta đương thời bây giờ. Thế-giới địa hoàn này, nếu như người mà không có tự-kiêu, tự-đại…"

 

 

PHẢN TÂM

Phản tâm 反心: Làm nghịch lại với lương tâm.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Biết bao kẻ gọi là thương Đạo,
Cận bên mình lừa đảo phản tâm.
Chờ khi trở giáo hại thầm,
Ghét ganh hám vọng chớ lầm kẻ ngoa.

 

 

PHẢN TIỀN VI HẬU

Phản tiền vi hậu 反前為後: Lấy cái đầu tiên làm cái cuối cùng.

Có nghĩa là từ trước đem ra phía sau. Đặt nghịch lại vị trí ban đầu. Buổi Tam Kỳ này, cơ tuần huờn phải phản tiền vi hậu, Thầy đến trước tiên xưng là AĂÂ. Thầy là Phật chủ cả Pháp và Tăng, với chơn lý cơ tận độ. Cũng là một hình thức qui nhứt, về nguồn, hay nói khác đi là một sự nghịch chuyển, mà Thầy đã dạy "Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh Thiêng Liêng"

Phước Linh Tự: 24-10-1926 (âl 18-9-Bính Dần)

Thầy dạy: "Vì Tân Luật chưa ra nên Thầy phải giải:

Ðã có Thánh Tượng Thầy thì là cốt Ngọc Hoàng con để lại chẳng nghĩa chi hết. Thầy nói cho các con rõ, vì cớ nào trước từ Nhứt Tổ chí Lục Tổ thì thờ Thầy ngồi trước, vì trước là lớn phải vậy. Khai Thiên Ðịa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy. Thầy đã nói một Chơn thần mà biến Càn khôn Thế giới và cả nhơn loại. Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy. Các con là chư Phật, chư Phật là các con. Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn khôn Thế giới, nên mới gọi là Pháp; Pháp có mới sanh ra Càn khôn Vạn vật rồi mới có người, nên gọi là Tăng. Thầy là Phật chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.

Thầy lập Phật giáo vừa khi Khai Thiên lập Ðịa, nên Phật giáo là trước, kế Tiên giáo, rồi mới tới Nho giáo.

Nay là Hạ nguơn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.

Tỉ như Tam giáo qui nhứt thì:

Nho là trước- Lão là giữa- Thích là chót.

Nên Thầy phải ngồi sau chư Phật, Tiên, Thánh, Thần, mà đưa chúng nó lại Vô Vi chi Khí, chính là Niết Bàn đó vậy... Còn cổ lễ cúng thì: Rượu là Khí, Bông là Tinh, Trà là Thần.

 

 

PHẢN TỈNH

返 省
F: Rétrospection, réflextion.

Phản tỉnh 返省: Xét lại ở bề trong mình.

 

 

PHẢN TRẮC

Phản trắc 反側: lập tâm làm phản (Như chữ phản phúc).

Cung Đạo Tòa Thánh: 1-3-Mậu Tý (dl 9-4-1948)

Đức Lý Giáo-Tông giáng nói: "Từ ngày Hiền Hữu hồi mã, Lão chưa đến viếng đặng, chẳng phải lơ lảng tình nhau, nhưng buổi Thiên thơ biến chuyển, nếu Lão đến thì e cho vì thương mà thố lộ Thiên cơ, phải bị tội Ngọc Hư định án. Nay vì đã gần liễu kết, dầu cho còn xảy ra tai nạn cho nhơn sanh chút ít chẳng hại gì, nên Lão đến phân trần đôi điều hơn thiệt.

Hiền hữu khuynh tâm vì Lão và Thượng Trung Nhựt lập quân đội khi Hiền Hữu vắng mặt có phải?

Tình cảnh đôi ta phản trắc:

- Lão là Thiên điều mà cầm quyền trị thế.

- Còn Hiền Hữu tại thế mà nắm Thiên điều.

Lão xin nhắc: Khi Hiền Hữu tịnh pháp tại Thủ Đức, Lão đã nói cơ chuyển thế Trời Người hiệp một. Hiền Hữu có nhớ? Cười!...

Thiên Đình tại thế, thế tại Thiên Đình, cơ huyền bí độ tận chúng sanh mới đặng, có phải? Thoảng như vậy thì cơ chuyển thế nguy hiểm nầy, nhơn sanh sẽ định số phận Hiền Hữu thế nào có biết?

Cười! Chẳng lẽ phải chịu một phen khảo xác nữa thì nạn chiến tranh Lão đã tiên tri từ trước, vì chủng tộc Việt Nam vô đạo, mới khó giải kiết cứu nguy. Nếu Hiền Hữu ngày nào cầm lại Thiên Thơ thì mới rõ phần nhơn quả. Chẳng lẽ Lão là chủ phần xác của nhơn sanh mà ngồi khoanh tay, không tìm phương cứu chữa. Địa vị của Hiền Hữu như Lão thì Hiền Hữu mới thế nào? - Chẳng phải vì những kẻ lợi dụng vô tâm, đọa đày thiên hạ mà lại đố kỵ chẳng dám cứu đời. Hiền Hữu căn dặn cả thảy các con cái của Chí Tôn ráng sức ăn năn cầu nguyện.

                        THI

Việt Thường hữu phúc xuất Thiên Quân,
Chuyển thế Chí Tôn dĩ định tuần.
Trị loạn Nam phương trừ mãnh hổ,
Thừa bình Bắc địa kiến kỳ lân.
Hoàng triều hậu nhựt nghi tùng cổ,
Văn hiến tương lai khả hoán tân.
Thánh Chúa hiền thần phò tổ nghiệp,
Khải ca định vận tại Thu phân.

Cung Đạo Tòa Thánh: 22-4-Mậu Tý (dl :30-5-1948)

Đức Lý Giáo Tông giáng nói: "Hộ Pháp, Hiền Hữu muốn Lão ký tên Thánh Lịnh thăng vị cho chư Chức sắc Thiên phong. Điều ấy vốn không khó, chỉ sợ nghịch Thiên điều. Lão đã nói, hoàn cảnh của đôi ta phản trắc:

- Lão vô hình lại đảm nhiệm trách nhậm trị thế định vị, tức là Chủ khảo Thiêng liêng vị. Bởi thế cho nên khi Hộ Pháp trấn Thánh Phi châu, Lão mới đến cầm quyền đặng định vị cho các Thánh Tử Đạo, vì đó mà lập nên Quân đội.

- Còn Hiền Hữu hữu-hình mà lại nắm Thiên điều Hành pháp lập Giáo. Hiền Hữu là Chủ khảo hữu hình vị, bởi cớ cho nên Hiền Hữu làm đầu toàn Hội Thánh.

Khi Ngọc Hư giáng lịnh thì Hiền Hữu vẫn nhớ hai câu thi nầy :

"Cửu Trùng không kế an thiên hạ,
"Phải để Hiệp Thiên đứng trị vì."

Bởi lẽ ấy, Lão đến khi nọ giao quyền trong bài thi:

"HỘ PHÁP CHƯỞNG QUẢN NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI".

Ấy vậy, nơi tay Hiền Hữu đủ quyền Chí Tôn mà chuyển thế. Lão bất quá là một Gián-Nghị Đại-Phu ở gần Hiền Hữu, chia lo sớt nhọc mà thôi. Lão tưởng khi thiên hạ chưa an, có phải?

- Cười! Thì nay đã hiện diện là Quốc Sư Việt Nam, đặng bước qua Quốc Sư thiên hạ. Xong chưa mà toan thối thác?

Cứ ký đi như trước đến giờ là đúng phép".

 

 

PHẠN NGỮ


E: The sanscrit.
F: Le sanscrit, Pali.

Phạn: tức là Phạm: Phật. Ngữ: chữ viết. Phạn ngữ hay Phạm ngữ là tiếng Phạn, tức là ngôn ngữ của xứ Phật, ngôn ngữ của nước Thiên Trúc ở miền bắc Ấn Độ.

Nước Ấn Độ có rất nhiều ngôn ngữ, nhưng Đạo Bà La Môn và Đạo Phật chỉ dùng tiếng Phạn để thuyết pháp và chép kinh sách.Tiếng Phạn cũng phân ra làm hai loại:

Bắc Phạn là tiếng Sanscrit.

Nam Phạn là tiếng Pali.

Phật giáo Bắc Tông tức là Phật giáo Đại Thừa chép kinh bằng tiếng Sanscrit, thường gọi là tiếng Phạn.

Phật giáo Nam tông tức là Phật giáo Tiểu Thừa chép kinh bằng tiếng Pali.

Người học Phật muốn thấu triệt giáo lý của Phật thì phải học tiếng Phạn để trực tiếp nghiên cứu kinh sách của Phật giáo, còn những bản dịch Kinh Phật ra tiếng nước ngoài thường không diễn đạt hết ý nghĩa của lời kinh.

Do đó, tiếng Phạn là chánh tự của Phật giáo.

Cũng như Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn mở Đạo tại Việt Nam, chọn tiếng Việt Nam làm chánh tự. Do đó, sau nầy, ai muốn thấu đáo giáo lý và triết lý của Đạo Cao Đài thì phải học thông thạo ngôn ngữ Việt Nam. Những bản dịch ra tiếng nước ngoài, tuy có dịch sát nghĩa cách nào đi nữa, cũng không thể diễn đạt hết ý nghĩa như bản chánh tự.

 

 

PHAO CÂU

Đức Hộ Pháp xướng: Nhắn Bạn Quyền Giáo Tông.

Nhơn tài nẩy nở tuy trăm bụng,
Dân trí biến sanh bởi một đầu.
Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận,
Cuộc cờ thắng bại tận phao câu.
                        (11-9-Bính Tuất 1946)

 

 

PHÁP

Pháp là chủ của vạn-linh: ( thuộc quyền của ngôi Hai)

Kinh Phật-Mẫu có câu:

"Thiên-cung xuất vạn-linh tùng Pháp,
"Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh."

"Bởi do nơi Pháp, vạn-linh mới chủ tướng biến hình, do nơi Pháp mới sản-xuất vạn-linh, cả huyền-vi hữu hình Đức Chí Tôn tạo Đạo do nơi Pháp, chúng ta biết Pháp thuộc về hình thể của vạn linh, vì cớ cho nên Đạo giáo minh-tả rõ-rệt Tam châu Bát bộ thuộc về quyền Hộ Pháp".

Quyền-hành của Hộ Pháp:

1-Sao gọi là Tam châu? "Trong Tứ Đại Bộ châu ở phần thiêng-liêng thì Hộ Pháp nắm ba châu: Đông thắng thần châu, Tây Ngưu hạ châu, Nam-thiệm bộ châu, đều thuộc về quyền hạn của Hộ Pháp; còn Bắc Cù Lư châu để cho các phần chơn hồn quỉ vị họ định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó. Họ có một quyền-năng vô định chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một châu cho quỉ-vị ăn-năn tu học đặng đoạt vị. Ba bộ châu kia do quyền-hạn của Hộ Pháp giáo-hóa, duy có Bắc Cù Lư châu Ngài không thường ngó tới lắm, để cho họ tự-do làm gì thì làm: khôn nhờ dại chịu.

2- Bát bộ là gì? - Là nơi Bát phẩm chơn-hồn chớ có chi đâu! Tám hồn là: vật-chất-hồn, thảo-mộc-hồn, thú cầm hồn, nhơn-hồn, Thần-hồn, Thánh-hồn, Tiên Hồn, Phật-hồn. Tám bộ ấy thuộc quyền HỘ PHÁP THIÊN-VỊ nơi Đức Chí Tôn gọi đến tạo cơ-quan tận độ chúng sanh không còn ai khác hơn Hộ Pháp. Chính Hộ Pháp trách-nhiệm ấy.

Ðức Hộ Pháp kể việc "Ðức Chí Tôn dạy Pháp cho Ngài"

Đức Hộ Pháp trong một lần vui vẻ, Ngài cùng các vị Phạm Môn trò chuyện, Ngài kể việc Đức Chí Tôn dạy "Pháp" cho Ngài để quí Phạm Môn nghe.

Ngài nói: Vào một buổi tối đêm trước, tự nhiên Ngài bắt muốn đi, đi miết vào bàn giấy viết: Ngồi vào bàn, tay lấy giấy viết, lấy giấy viết xong. Đức Chí Tôn cầm tay Ngài vẽ vẽ chữ Bùa và dặn Đức Ngài: Ngài mai, phải sắm sẵn giấy viết từng tờ riêng biệt, viết chì vót nhọn sẵn cho nhiều, giấy trắng từng tờ cũng cho nhiều để Thầy dạy "Pháp". Đức Chí Tôn cũng cho Ngài biết là lúc nãy Thầy đã kéo con vô bàn đó. Nhớ là chỉ một mình con thôi. Qua đêm sau, cũng tại bàn, Đức Chí Tôn giáng, cầm tay Ngài viết từng tờ một liên tục, còn viết chì cứ tà ngọn nào là bỏ lấy cây khác, cứ thể kéo dài mãi cho đến khi xong mới thôi. Khi xong, Đức Ngài kiểm lại hết 3 lố viết chì, chỉ còn vài cây, còn giấy trắng thì đầy đất. Đức Ngài nhặt lên để xem rồi sắp lại thứ tự. Đức Ngài thầm khen Đức Chí Tôn đáo để. Ông quá kỹ, chỉ từ nét, từ chữ, từ phần và số thứ tự thì niêm san sát. Từ đó Đức Ngài bắt đầu học và thực tập, học hoài thôi, học cố để mà nhớ mới được vì Đức Chí Tôn bảo: "Bí pháp này nếu để lộ ra ngoài cho kẻ nào biết thì Đạo Thầy sẽ hoại. Con cố gắng học cho xong, nắm cho chắc, rồi thì con đốt đi".

Học kỹ rồi, nắm được rồi: Ba phen Ngài muốn đốt nhưng sợ lỡ quên thì làm sao? Đốt rồi còn gì coi lại. Đức Ngài lại xem đi xem lại tới lui, nhiều lần nữa và thực tập thật là hoàn hảo đến lúc Đức Ngài thật sự tự tin, không có trở ngại nữa, không còn gì lo; Ngài đốt đi, mà lòng vẫn yên, không tiếc nuối vì coi như Ngài đã duợt thuộc lòng.

Bí pháp mà Ngài đã thọ truyền nơi Đức Chí Tôn: Đức Ngài có truyền lại vài pháp chính cần thiết sử dụng trong Đạo như: Giải oan, Tắm thánh, Độ thăng, Đoạn căn, Hôn phối, Trấn thần, Giải bệnh… Còn nhiều nữa nhưng chưa phải lúc Ngài truyền. Đức Ngài nói: thật là hữu hạnh: Vì từ tạo Thiên lập Địa tới giờ, Đức Chí Tôn chỉ mới có giao cho Hộ Pháp lần đầu tiên mà thôi; chưa giao cho người nào cả; Đức Thích Ca cũng chưa được vậy (có lẽ lúc Đức Thích Ca mở Đạo chưa phải lúc dùng Bí pháp này). Cái hữu hạnh lớn nhất là lúc Đức Ngài được Đức Chí Tôn cho Đức Ngài vào kho Bí pháp. Đức Chí Tôn giao cho Ngài một cái chìa khóa, cho phép mở cửa kho Bí pháp của Đức Chí Tôn; Đức Ngài diễn tả lại:

Cái kho ấy hình bát giác có Bát quái, kín bít. Chỉ có hai cửa mà thôi, cửa trước và cửa sau.

Đức Chí Tôn hỏi: Con mở cửa nào vào.

Ngài trả lời: Con mở cửa trước vào.

Đức Chí Tôn bảo: "Không được, đây là kho Bí pháp để tạo dựng Càn khôn Vũ trụ từ ngàn xưa, không bao giờ mở cửa trước cả, chỉ được mở cửa sau mà thôi.

Thế là Đức Hô Pháp vâng lời Đức Chí Tôn đi cửa sau vào. Cửa vừa được mở, cả muôn ánh hào quang sáng rực rỡ, chói lọi chiếu ra. Ngài bước vào trong, Ngài chỉ lựa những pháp nào quí hiếm, rất quan trọng mới lấy, còn loại thường thì không cần.

Kể đến đây, Ngài Khai Pháp vội nói: Vậy là Thầy đã thâu hết Thập Nhị Quyền Công rồi. Đức Hộ Pháp nói tiếp:

- Ra khỏi cửa, theo sau lưng Ngài là đám quỉ: Nó chỉ nhận được hào quang của Bí pháp, nó đem xuống thế gian nầy mà tạo nên quyền pháp cỡ đó. Nếu nó được vào kho thì không biết cỡ nào nữa.

Ngài tiếp: Bởi vậy, trước mặt là Hộ Pháp, sau lưng Hộ Pháp là đám quỉ vậy.

Nhớ hồi khai Đạo tại chùa Gò Kén, Đức Chí Tôn bảo Đức Hộ Pháp đứng trên Ngai ngó thẳng vào Đức Chí Tôn. Lúc đó Đức Chí Tôn mượn Đức Cao Thượng Phẩm để Đức Chí Tôn hành pháp Trấn Đàn.

Đức Ngài đứng trên Ngai, ngó thấy Đức Thượng Phẩm, đứng trước mặt mình trong giữa Điện, mặt ngó ngay Đức Ngài, tay cầm nhang vẽ vẽ; đứng xa nhìn lại Ðức Hộ Pháp có cảm tưởng là tay Thượng Phẩm có ý như ngoắc ngoắc mình vậy. Chính vì thấy thế cho nên Ðức Ngài mới bỏ Ngai đi lại gần Ðức Cao Thượng Phẩm, trong ý nghĩ muốn hỏi xem Ðức Thượng Phẩm kêu lại có chuyện gì, vừa bước khỏi Ngai ba bước: thì quỉ lộng phá liền tức thì, đó là:

- Nhập vào Lê Thế Vĩnh xưng là Tề Thiên Ðại Thánh.

- Nhập vào Vương Thanh Chi xưng là Quan Âm Bồ Tát.

Bấy giờ Ðức Ngài mới giật mình, mới biết oai quyền của Hộ Pháp khi trấn ngự trên Ngai.

 

 

PHÁP CHÁNH

Hiện tướng của Hiệp Thiên Ðài là:

- Pháp Chánh
- Phước Thiện

PHÁP CHÁNH là cơ quan bảo thủ Chơn truyền, giữ gìn luật pháp, dìu dẫn và lập vị cho con cái CHÍ TÔN, trong khuôn viên Pháp Luật của Ðạo đã thành lập, giữ cân công bình thể Thiên hành hóa, có trách vụ nặng nề để bênh vực kẻ cô thế, yếu hèn bị áp chế, để sửa răn những kẻ phạm pháp luật, hầu tránh khỏi Thiên điều trừng trị, nếu bị Thế trị thì mới mong giảm tội Thiêng Liêng, bằng không bị thế trị thì Thiên điều không mong gì cầu rỗi.

Vậy Pháp Chánh rất cần thiết để giữ gìn phẩm trật và địa vị của mỗi con cái CHÍ TÔN và quyền hành phân minh cho nền Chánh Trị Ðạo, y theo khuôn khổ Chơn truyền.Vậy Pháp Chánh rất cần thiết để giữ gìn phẩm trật và địa vị của mỗi con cái CHÍ TÔN và quyền hành phân minh cho nền Chánh Trị Ðạo, y theo khuôn khổ Chơn truyền.

"Pháp-Chánh, nhiệm-vụ trọng-yếu là cơ quan bảo thủ chơn-truyền, giữ-gìn pháp-luật, dìu dẫn và lập vị cho con cái Đức Chí-Tôn trong khuôn viên Luật-pháp của Đạo đã thành lập, giữ cân công-bình thể thiên hành-hóa, có trách-vụ nặng-nề để binh-vực kẻ cô thế, yếu hèn bị ép-chế, để sửa răn những kẻ phạm pháp-luật, hầu tránh khỏi Thiên-điều trừng-trị, nếu bị Thế-trị thì mới mong giảm tội thiêng-liêng, bằng không bị Thế trị thì thiên-điều không mong gì cầu rỗi. Vậy Bộ Pháp-Chánh rất cần-thiết để giữ gìn phẩm trật và địa-vị của mỗi con cái Chí Tôn và quyền-hành phân-minh cho nền Chánh-trị-đạo, y theo khuôn-khổ chơn truyền."

"Bộ Pháp-Chánh là cơ-quan Tư-pháp trung ương của Đại-Đạo, có nhiệm-vụ gìn-giữ luật-pháp Đạo, không cho Chức sắc và Tín-đồ vi phạm để nâng cao phẩm-giá con người, do đó Bộ Pháp-Chánh có tổ-chức các Tòa-án Đạo để xử trị người bị phạm Luật-pháp của Đạo mà thôi."

Đôi Liễn Pháp Chánh:

-

PHÁP luật vô tư đạo giáo từ oai tùng lý.

-

CHÁNH tông bất dịch chơn truyền thiện ác tùy hình.

Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Văn phòng Bộ Pháp Chánh Hiệp-Thiên-Đài. Pháp Chánh là pháp luật qui định việc thi hành Chánh Đạo.

Giải thích:

Câu 1: Pháp luật của tôn giáo thì vô tư, nhơn từ, oai nghiêm, tùng theo lẽ phải. (Vô tư: không thiên vị ai cả. Đạo giáo: Tôn giá lớn. Từ: lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới và muốn giúp kẻ dưới. Oai: vẻ nghiêm trang đáng kính sợ. Tùy: theo. : lẽ phải.)

Câu 2: Chơn truyền của một nền tôn giáo chơn chánh thì không thay đổi, việc lành việc dữ tùy theo mức độ mà có hình phạt nặng nhẹ thích đáng. (Chánh: ngay thẳng, chánh đáng. Tông: cũng đọc Tôn. Bất dịch: không thay đổi. Chơn truyền: giáo lý chơn thật được truyền lại. Thiện ác: lành dữ. Tùy hình: tùy theo mức độ mà có hình phạt nặng nhẹ thích đáng)

Đối với Tòa Đạo, Điều thứ 15. Định án những người phạm luật-pháp và hình phạt thì kẻ phạm phải chịu dưới 2 quyền luật:

a/- Luật: là Tân-Luật và Luật Hội-Thánh.
b/- Pháp: là Pháp-Chánh-Truyền và Đạo Nghị Định.

Người Môn-đệ của Đức Chí-Tôn hơn ai hết phải biết:

- Thông việc Đạo
- Thạo việc đời.
- Trau-giồi đức hạnh.
- Giữ chánh dạy người.

Muốn đặng 4 điều ấy phải tìm-tòi học hỏi cho mở rộng kiến văn, nâng cao kiến thức, năng đọc Thánh ngôn cùng các sách vở Đạo Cao-Đài. Quan-trọng nhứt là Pháp-luật Đại-Đạo ngày nay. Thông hiểu rành mạch về Tân-luật và Pháp Chánh truyền. Vì đây là:

"Một nền Chánh-trị-Đạo, không khác gì chánh trị hiện ở các nước Âu-châu. Ở Á-Đông này có nhiều nước phát-triển như: Nhựt, Tàu, Miến, Xiêm cũng có một khuôn-khổ nhất định như vậy. Dầu Quân-chủ lập-hiến hay Dân-chủ Pháp chánh cũng một mực như nhau đều chia ra hai phần:

- Phòng Dân-chủ.
- Phòng định luật.

* Phòng Dân-chủ là phòng tấn-bộ.
* Phòng định luật là phòng bảo thủ.

Phòng Dân-chủ của Pháp dưới thời dân quyền "La Chambre des Députés", còn phòng định-luật hay quân luật thật ra không có Chúa, nhưng muốn biết phòng quân luật hẳn-hoi, xem như nước Anh có "Chambre des Lords" tức là Sénat của Pháp vậy. Đời chia ra hai phòng đặc biệt, Đạo lại khác hẳn.

Chơn-pháp của Chí-Tôn để hai phòng hiệp một là Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài:

- Hiệp-Thiên-Đài là phòng Quân-luật.
- Cửu-Trùng-Đài là phòng Dân-chủ.

Biểu sao khỏi xích-mích nhau! Một đàng bảo-thủ, một đàng dục tấn; nếu hai đàng không hòa nhau; đem chơn-lý hiển nhiên thì hòa được, còn không lấy chơn-lý thì đụng tại chỗ, phản-khắc không thể đệ lên Thượng quyền mà còn nhơ bợn được. Đó là các bàn sàng, sàng mãi cũng phải lọt xuống". (TĐI/126)

Buổi nọ Đức Lý Giáo-Tông dạy lập Pháp trước; sau Ngài sẽ giáng cơ chấn-chỉnh, lập cho có đủ hữu vi, đặng có đủ phương-pháp Hội-Thánh làm hình thể cho Chí-Tôn mới xứng phận cho Ngài. Đức Chí-Tôn đã dạy hồi mới khai Đạo:

"Thầy đã chán biết thế gian này là phàm, Thầy đến lấy cái phàm hiệp cùng cái Thánh, làm sao tránh đặng cái phàm không lẫn-lộn trong cái Thánh, nếu còn vướng chút phàm thì không còn là Thánh-thể, các con nên hiểu phẩm vị cao trọng ấy mà trau lòng cho ra Thánh-Thể mới đáng giá"! Đối với các triết-lý Bí-pháp buổi nọ, bây giờ nhân loại tăng tiến quá lẽ thành thử các vị Giáo-chủ đã lập luật-pháp, nhưng luật-pháp đơn sơ ấy ngày nay không có đủ quyền-năng trị tâm thiên-hạ nữa.

 

 

PHÁP CHÁNH ĐỊNH ÁN

Tờ phúc-sự của Thái-Phóc-Thanh ngày 2-2-Quí-Tỵ.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"Tư cho Hoà-Viện Hành-Chánh hiệp cùng Kiểm Thủ Thánh-Địa coi đất này của ai? Nếu quả ra Nguyễn Thị-Quá toan giựt đất của Đạo-Hữu Tần-Nhơn thì đem nội-vụ ra Pháp-

Chánh đặng định-án Thị-Quá.

Bần-Đạo cấm-nhặt không ai đặng ỷ mình khôn ngoan gian xảo hơn mà hiếp-đáp người Thổ. HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)

 

 

PHÁP CHÁNH HIỆP THIÊN (PHÁP CHÁNH HIỆP THIÊN ĐÀI)

Ngài Hiến Pháp nói: "Vai tuồng của Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài, Đức Chí Tôn lập ra là cốt yếu làm tiêu chuẩn cho tất cả con cái của Ngài nhìn vào đó mà tiến bước vững vàng đặng xây dựng nền Đạo do chính mình Ngài đến thành lập nơi cõi thế này. Pháp Chánh là khuôn vàng thước ngọc của Đức Chí Tôn tự ban cho chúng ta để do theo đó mà hành Đạo cho khỏi lầm đường, lạc lối. Nếu không có Pháp Chánh kềm chế thì mạnh ai nấy tự động theo ý riêng mình, như chúng ta thường mục kích từ thử trong cửa Đạo làm cho loạn Chơn Truyền, rồi Chánh giáo có thể qui Phàm mà chớ! Vì cớ mà Đức Chí Tôn mới thành lập cơ quan Pháp Chánh để bảo thủ Chơn truyền bằng cách trông nom giữ gìn toàn Đạo tránh khỏi phạm Thiên điều".

 

 

PHÁP CHÁNH MINH TRA

Do tờ của Ngọc Chánh Phối-Sư xin cho bốn mươi Đạo sở Phước-Thiện nơi Cái-Bè qua hành-đạo bên Hành Chánh.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Chiếu theo Đạo-Luật thì bên Hành-Chánh là Hành chánh còn bên Phước-Thiện là Phước-Thiện, hai phận-sự hành đạo không phù-hạp với nhau, thắc-mắc hơn hết là phẩm Hành Thiện mà lên Giáo-Thiện buộc phải tạo nghiệp cho mười hai gia-đình; còn bên Hành-Chánh lại thông-đồng hơn, nên hai công-nghiệp không đồng, không dung-hoà nhau đặng. Nhưng theo Bần-Đạo thì dầu cho Hành Chánh khi đến vị Chánh-Trị-Sự mà có thể tạo đặng mười hai gia-nghiệp cho gia-đình thì cũng có thể lên Giáo-Thiện đặng. Còn bực Hành-Thiện mà cầm quyền Hành-Chánh đắc-lực đủ 5 năm cũng đem ra quyền Vạn Linh cầu-thăng Lễ-Sanh đặng. Điều ấy do nơi Pháp chánh minh-tra công-nghiệp mà định vị. HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)

 

 

PHÁP CHÁNH THI HÀNH LUẬT PHÁP

Thơ số 1593 ngày 9 tháng 6 năm Ất-Mùi của Tiếp Pháp thỉnh-cầu Đức HỘ-PHÁP đình-đãi Thánh-Lịnh số 1503 đề ngày 01 tháng 6 năm Ất-Mùi buộc trẻ gái trước ngày giá-thú phải biết khoa-dưỡng-dục, nên Bộ Pháp Chánh xin đình lại sáu tháng sẽ thi-hành.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP [Số: 1525/ HP.]

Thánh-Lịnh ban-hành kể từ ngày ký-tên thì không thể không thi-hành, Thánh-Lịnh trai phải có một nghề gì mới được, còn gái phải có giấy chứng-nhận biết khoa sanh-dục, phải triệt để thi-hành.

Bộ Pháp-Chánh không phép xin như vậy nữa, vì Pháp Chánh chỉ biết thi-hành Luật-pháp mà thôi, nên nhớ. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

PHÁP CHÁNH TRUYỀN

E: The religious constitutional laws of Caodaism.
F: Lois constitutionnelles religieuses du Caodaïsme.

1-Pháp Chánh Truyền là Pháp luật chơn chánh được Đức Chí Tôn Ngọc-Hoàng Thượng-Đế giáng cơ truyền dạy để làm căn bản lập giáo, tổ chức và điều hành nền Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ.

2-Pháp Chánh Truyền được xem là Hiến-pháp của Đạo do Đấng Chí Tôn dụng quyền năng Thiêng Liêng của Huyền diệu Cơ Bút mà truyền thế, nên có tính cách cố định, bất di bất dịch trong Thất ức niên.

3- Pháp Chánh Truyền của Đạo là một bản văn kiện qui định sự tổ chức của nền Đại Đạo, sắc phục của chư Thiên phong, đẳng cấp, quyền hạn của chư Chức sắc cầm quyền Chánh Trị Đạo hầu giữ vững chơn truyền của nền chánh giáo, không cho có sự xâm phạm, giữ gìn cho cơ đạo khỏi qui phàm.

4- Đức Chí Tôn giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái vào ngày 16-10-Bính Dần (dl: Thứ Bảy, 20-11-1926)

5- Đức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nữ Phái vào ngày 11-01-Đinh Mão (dl: Thứ bảy, 12-02-1927). Cũng ngày này Đức Giáo-Tông Lý Thái Bạch giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Nữ Phái và ban sắc phục cho Nữ phái.

6- Đức Chí Tôn giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài. 12-01-Đinh Mão (dl: Chúa Nhựt, 13-02-1927).

Pháp Chánh Truyền Chú giải:

Pháp Chánh Truyền là văn bản tổng quát tổ chức nền Ðạo Cao Ðài. Ðó là Hiến Pháp của Ðạo, cho nên Ðức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ ra lịnh cho Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc chú giải tỉ-mỉ từng chi tiết để cho Chức sắc trong hai Ðài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng dễ thi hành, có Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ hiệu đính, gọi là Pháp Chánh Truyền Chú Giải, tạo thành Hiến Pháp bất di bất dịch của Ðạo Cao Ðài.

Ðức Lý Giáo Tông nói rõ trong Ðạo Nghị Ðịnh thứ 06, ngày 03-10-Canh Ngọ (1930) trích ra sau đây:

NGHỊ ÐỊNH: "Hai vị Thiên phong Giáo Tông và Hộ Pháp phải điều đình Hiến Pháp, sửa trị Ðài mình cho hiệp Pháp Chánh Truyền, nên đồng ký tờ nầy mà ước hẹn."

1- PHÁP CHÁNH TRUYỀN CỬU TRÙNG ĐÀI:

Pháp Chánh Truyền của Đạo Cao Đài là thành văn Hiến pháp Thiêng Liêng, do Đức Chí-Tôn giáng cơ lập thành sau ngày Khai Đạo (là 15-10-Bính Dần) một ngày. Qua ngày 16-10-Bính Dần (dl: 20-11-1926) Đức Chí Tôn giáng Cơ lập Pháp Chánh Truyền tại Thánh Thất Gò Kén (Từ Lâm Tự) Tây Ninh. Trước tiên là lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài phân định rõ phẩm cấp và chức năng của mỗi phẩm từ Giáo Tông đến Lễ Sanh. Mỗi phẩm đều có chữ GIÁO hay chữ SƯ. Đến phẩm Đầu Sư là Thầy của các Thầy; nghĩa là từ Giáo Hữu trở lên mới đứng vào hàng Chức Sắc Thánh Thể của Chí-Tôn. Phẩm Lễ Sanh chưa được vào hàng Chức sắc, chỉ là người có hạnh đức dùng vào việc lễ nghi. Ngày xưa dùng phẩm Lễ sanh này là người dâng Lễ (nay đổi ra là Lễ Sĩ). Tôn chỉ của Đại Đạo Tam Kỳ là Phổ Độ, thế nên quyền Chí Tôn hữu hình tại thế là khi nào Giáo Tông hiệp cùng Hộ Pháp làm một. Từ khi Đức Lý Giáo Tông hiệp với Đức Hộ Pháp mới lập thêm Bàn Trị sự gọi là Hội Thánh Em, do vậy mà phẩm Lễ Sanh mới được nâng lên hàng Chức sắc, có trách nhiệm thuyên bổ, đảm trách vụ đặc sứ, sau này Cai quản Tộc Đạo nên còn là Đầu-Tộc Đạo. Hội-Thánh Cửu Trùng Đài là cơ quan Hành pháp, nắm quyền Hành-Chánh Đạo, phổ thông chơn đạo đến khắp chúng sanh, nên Luật ghi: nếu có vị nào nói rằng không thông lý Đạo thì Chức việc Bàn Trị Sự phải chịu trách nhiệm thiếu giáo hoá mà cấp lãnh đạo là Lễ Sanh và Giáo Hữu (Đầu Tộc đạo, Khâm Châu Đạo).

Ấy Thế Đạo tượng trưng xác thể của Chí Tôn.

Đức Chí-Tôn lập Pháp Chánh Truyền:

Từ Lâm Tự (Gò Kén): 16-10-Bính Dần (dl: 20-11-1926)

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ viết CAO-ÐÀI
Giáo Đạo Nam phương

GIÁO TÔNG nghĩa là Anh Cả các con, có quyền thay mặt Thầy mà dìu dắt các con trong đường Ðạo và đường Ðời. Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn. Nó đặng phép thông công cùng Tam thập lục Thiên và Thất thập nhị Ðịa giái đặng cầu rỗi cho các con, nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.

CHƯỞNG PHÁP của ba phái là Ðạo, Nho, Thích. Pháp luật Tam giáo tuy phân biệt nhau, song trước mặt Thầy vốn coi như một. Chúng nó có quyền xem xét luật lệ trước buổi thi hành, hoặc là nơi Giáo Tông truyền xuống, hay là nơi Ðầu Sư dâng lên. Như hai đàng chẳng thuận thì chúng nó phải dâng lên cho Hộ Pháp đến Hiệp Thiên Ðài cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại, hay là tùy ý mà lập luật lại. Vậy chúng nó có quyền xem xét kinh điển trước khi phổ thông. Như thảng có kinh luật chi làm hại phong hóa thì chúng nó phải trừ bỏ, chẳng cho xuất bản. Buộc cả tín đồ phải vùa sức mà hành sự trước mặt luật đời. Thầy khuyên các con rán xúm nhau vùa giúp chúng nó. Mỗi Chưởng Pháp có ấn riêng. Ba ấn phải có đủ trên mỗi luật, mới đặng thi hành. Chư môn đệ tuân mạng.

ÐẦU SƯ có quyền cai trị phần Ðạo và phần Ðời của chư môn đệ. Nó đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn. Luật lệ ấy phải xem xét một cách nghiêm nhặt, coi phải có ích cho nhơn sanh chăng. Giáo Tông buộc phải giao cho Chưởng Pháp xét nét trước khi phê chuẩn. Chúng nó phải tuân mạng lịnh Giáo Tông, làm y luật lệ Giáo Tông truyền dạy. Như thảng luật lệ nào nghịch với sự sanh hoạt của nhơn sanh thì chúng nó đặng phép nài xin hủy bỏ. Thầy khuyên các con phải thương yêu giúp đỡ lấy nó. Thầy lại dặn các con, như có điều chi cần yếu thì khá nài xin nơi nó. Ba Chi tuy khác, chớ quyền lực như nhau. Như luật lệ nào Giáo Tông đã truyền dạy mà cả ba đều ký tên không tuân mạng thì luật lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông. Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét lại. Chúng nó có ba cái ấn riêng nhau. Mỗi tờ giấy chi chi phải có ấn mới thi hành, nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.

PHỐI SƯ mỗi phái là 12 người, cộng là 36 người. Trong 36 vị ấy có ba Chánh Phối Sư. Ba vị ấy đặng thế quyền cho Ðầu Sư mà hành sự, song chẳng quyền cầu phá luật lệ, nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.

GIÁO SƯ có 72 người, trong mỗi phái là 24 người. Giáo Sư là người để dạy dỗ chư môn đệ trong đường Ðạo với đường Ðời. Buộc chúng nó lo lắng cho các con như anh ruột lo cho em. Chúng nó cầm sổ bộ của cả tín đồ. Chúng nó phải chăm nom về sự tang, hôn của mỗi đứa. Như tại Châu thành lớn thì mỗi đứa đặng quyền cai quản cúng tế Thầy như thể Ðầu Sư và Phối Sư. Chúng nó đặng quyền dâng sớ cầu nài về luật lệ làm hại nhơn sanh, hay là cầu xin chế giảm luật lệ ấy. Chúng nó phải thân cận với mỗi môn đệ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ, nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.

GIÁO HỮU là người để phổ thông Chơn đạo Thầy. Chúng nó đặng quyền xin chế giảm luật lệ Ðạo. 3000 Giáo Hữu chia ra đều, mỗi phái là 1000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt. Chúng nó đặng phép hành lễ khi làm chủ các chùa trong mấy tỉnh nhỏ.

LỄ SANH là người có hạnh, lựa chọn trong chư môn đệ mà hành lễ. Chúng nó đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ. Thầy dặn các con hiểu rõ rằng Lễ Sanh là người Thầy yêu mến, chẳng nên hiếp đáp chúng nó. Như vào đặng hàng Lễ Sanh mới mong bước qua hàng Chức sắc. Kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới đi khỏi ngả ấy mà thôi, nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.

Ðầu Sư muốn lên Chưởng Pháp thì nhờ 3 vị công cử nhau

Phối Sư muốn lên Ðầu Sư thì nhờ 36 vị kia công cử.

Giáo Sư muốn lên Phối Sư thì nhờ 72 vị kia xúm nhau công cử.

Giáo Hữu muốn lên Giáo Sư thì nhờ 3000 vị kia xúm nhau công cử.

Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ cả Lễ Sanh xúm nhau công cử.

Môn đệ muốn lên Lễ Sanh thì nhờ cả môn đệ xúm nhau công cử.

Kỳ dư Thầy giáng cơ phong cho người nào thì mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.

Còn Giáo Tông thì hai phẩm Chưởng Pháp và Ðầu Sư tranh đặng, song phải chịu cho toàn môn đệ công cử mới đặng, kỳ dư Thầy giáng cơ ban thưởng mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi. Chư môn đệ tuân mạng. Thầy ban ơn cho các con".

2- PHÁP CHÁNH TRUYỀN NỮ PHÁI:

Qua Tết Ðinh Mão, ngày Vía Ðức Chí Tôn mùng 9 tháng Giêng năm Ðinh Mão (1927) Ðức Lý Thái Bạch Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Ðài Nữ phái. Nên nói qua lý-do vì sao Đức Chí-Tôn không lập mà để cho Đức Lý đứng ra lập? (Trích Thánh-ngôn của Giáo-Tông Lý Thái-Bạch)

"Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục Nữ phái:

Pháp Chánh Truyền: Nữ-phái phải tùng Đầu-Sư Nữ-phái, song Đầu Sư lại phải tùng quyền của Giáo-Tông và Chưởng Pháp.

Chú giải: Hội-Thánh Nữ-phái phải tùng quyền Đầu-Sư Nữ phái, song cả thảy đều phải tùng quyền Giáo-Tông và Chưởng-Pháp. Nữ-Đầu-Sư quyền như Nam-phái, song điều đình bên Nữ-phái mà thôi, chẳng đặng xen lộn qua Nam, cũng như Nam chẳng đặng xen lộn qua Nữ. Mỗi điều chi thuộc về Nữ-phái thì Giáo-Tông và Hộ Pháp chỉ do nơi Nữ-Đầu-Sư.

Pháp Chánh Truyền: "Đầu Sư Nữ phái chịu công cử theo luật Hội Thánh ban hành, theo luật Hội-Thánh phân xử đường Đời và đường Đạo".

Chú giải: Đầu Sư Nữ-phái phải tuân y Tân-Luật của Hội Thánh về đường Đạo và đường Đời, phải chịu dưới quyền Hội-Thánh xử trị cũng như Nam-phái vậy, dầu cho sự công cử lên các phẩm vị cũng phải tùng y như luật Hội Thánh ban hành; nhứt nhứt y quyền Nam-phái, không điều chi cải sửa, dầu cho sự hành chánh cũng vậy. Quyền hành sự cũng về nơi Chánh Phối-Sư. Đầu-Sư không đặng phép lấn quyền; hễ lấn quyền thì phạm Pháp Chánh Truyền, cũng như Đầu Sư Nam-phái vậy.

Pháp Chánh Truyền: Đầu-Sư Nữ-phái mặc một bộ Đạo phục y như Đạo phục Đầu Sư Nam phái, phải đội một Ni-Kim-Cô như các Vãi Chùa, toàn hàng trắng, áo chín dải có thêu bông sen. Trên Kim Cô có choàng từ đầu tới gót. Đội Mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngay đầu tóc có Thiên Nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, đi giày vô ưu màu trắng, trên chót có đề chữ "Hương" nghe à!".

Chú giải: Đầu-Sư Nữ phái mặc một bộ Đạo phục toàn là hàng trắng có thêu bông sen, y như Đạo phục Đầu Sư Nam phái, áo chín dải, đội một cái Ni-kim-cô; nghĩa là cái Ni kim Cô bằng hàng trắng, y như của các vãi chùa, có thêu bông sen, bao quanh đầu một cái Kim-Cô bằng vàng. Trên Ni-kim-cô ấy phải choàng một cái Mão Phương Thiên, nghĩa là: cái choàng bằng hàng cho thiêt mỏng, trên chót thêm một cái Mũ bằng vàng chụp trọn đầu tóc, chính giữa ngay trước mặt có chạm Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí. Cái choàng của Mão Phương Thiên phải cho thiệt dài, ba thước ba tấc ba phân, vì mỗi phen lên ngự trên Ngai; thì phải có hai vị Lễ Sanh Nữ phái theo sau, nâng đỡ chẳng cho phết dưới đất, chơn đi giày vô ưu toàn bằng hàng trắng, trên chót mũi giày có chữ "HƯƠNG" là Tịch Đạo."

3- PHÁP CHÁNH TRUYỀN HIỆP-THIÊN-ĐÀI:

Hiệp-Thiên-Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền Thiêng liêng mối Đạo. Đạo còn thì Hiệp-Thiên-Đài còn. Hiệp Thiên Đài là Chơn thần trung gian giữa xác và hồn. Cửu Trùng Đài muốn thông công cùng Bát Quái Đài, phải nhờ Hiệp-Thiên-Đài làm trung gian, ấy là nơi của Giáo Tông đến để thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Địa-cầu mà cầu siêu-rỗi cho nhơn loại. Thế nên Pháp Chánh Hiệp-Thiên-Đài phải lập riêng, đó là cơ quan TƯ PHÁP, bảo thủ chơn truyền.

3- Ngày 12-01-Đinh Mão (dl: 13-02-1927) Đức Chí Tôn giáng Cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp-Thiên-Đài. Từ đây Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền Chưởng Quản của Hộ Pháp, Tả có Thượng Sanh, hữu có Thượng Phẩm. Thầy lại chọn Thập nhị Thời Quân chia làm ba Chi: Pháp,Đạo, Thế.

Nhận xét ba thời điểm lập Pháp Chánh Truyền:

*Ngày 16-10-Bính Dần (dl: 20-11-1926) lập PhápChánhTruyền Cửu Trùng Đài Nam. Cửu Trùng-Đài tượng quẻ Khảm .

*Ngày 09-01-Đinh Mão lập Pháp Chánh Truyền Nữ-phái.

*Ngày 12-01-Đinh Mão (dl: 13-02-1927) lập Pháp Chánh Truyền Hiệp-Thiên-Đài. Hiệp Thiên Đài tượng quẻ Ly .

Pháp Chánh Cửu Trùng Đài Nữ Phái là lý trung hòa

Vậy là đủ Âm Dương đồng thời hoàn thành con số 3 là Tam Tài: Thiên- Địa- Nhân. Như vậy số 3 gọi là Tam, mà Tam là Càn khôn vũ trụ định thể. Số 3 là con số thiêng-liêng tạo đoan vạn-vật là vậy". Thấy ra con "SỐ 3" này là con số huyền diệu, là con số căn bản nhất. Hơn nữa: Thầy lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài trước rồi mới lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài sau, tức là mở Thể pháp trước, mở Bí pháp sau. Tất cả đều đi vào nhất quán. Lý Đạo nhiệm mầu là thế! Pháp Chánh Truyền tức là cơ quan truyền Chánh Pháp thì do quyền năng của Thượng Đế giáng Cơ lập thành. Song song với thời gian này Đức Chí-Tôn dạy nhơn sanh lập Luật để tu, tức là Tân Luật. Như vậy thì Tân Luật này uyển chuyển hơn, tức là có thể thay đổi tùy theo trình độ tiến hóa của nhơn sanh. Riêng Pháp Chánh Truyền là bất di bất dịch. Nếu Tân Luật là Âm, thì Pháp Chánh Truyền là Dương. Âm Dương tương hiệp thì từ đó mới biến hóa và mãi mãi trường tồn. Đạo Cao Đài với chu-kỳ thất ức niên là bởi đó.

Đức Hộ Pháp nói: "Nghĩ vì cơ huyền vi mầu-nhiệm của Đạo có Thiên điều cũng như cơ đời có luật-pháp chơn-truyền để chế-ngự những dục-vọng bất chánh mà ở cõi nào và đời nào cũng có, nếu không có gì chế-ngự thì sự điều-hòa tốt đẹp của cơ tạo-hóa sắp đặt có thể mất đi mà chớ! Nên khi mở Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ, Đức Chí-Tôn đã lập ngay một PHÁP CHÁNH TRUYỀN và TÂN-LUẬT để điều-hành guồng máy Hành-Chánh-Đạo hầu bảo-thủ chơn-truyền và Công bình Thiên đạo, kèm theo Pháp-luật còn có Thánh-ngôn và giáo-điều dạy bảo. Hơn nữa khi Đức Chí-Tôn đến: "Lập Pháp-Chánh-Truyền giao cho Hiệp Thiên Đài gìn-giữ trong đó có diệu-pháp của Chí Tôn đến lập vị cho con cái của Người tại thế-gian này. Ngài mượn xác thịt của con cái Ngài tổng hợp lại cho có trật-tự, có đẳng cấp tức nhiên là lập Thánh-Thể của Ngài; các phẩm-trật có liên quan với các phần-tử, tức nhiên Hội-Thánh tổng hợp lại là Thánh-Thể của Ngài, mà hễ đạt quyền được tức nhiên về với Ngài được. Ấy vậy, Pháp-chánh Hiệp-Thiên là phương định vị, lập quyền đặng hiệp một con cái của Chí Tôn cùng Chí-Tôn vậy".

 

 

PHÁP CHÁNH TRUYỀN - TÂN LUẬT

Pháp-Chánh-Truyền và Tân-Luật tức là Thiên-điều tại thế.

Đức Hộ Pháp giải rõ: "Muốn cho xã-hội loài người trong thế-giới này đạt được mức quân-bình tuyệt-đối thì phải có sự công-bình được lập lại bởi cán cân công-lý, mà xã-hội loài người từ xưa đến giờ chưa có công bình thật sự. Ngày nay Thiên Thơ đã định cho nước VIỆT NAM này có được cán cân công-lý do bởi tay Thượng-Đế đến cầm đòn cân định vận-mạng cho Việt-Nam và cả nhân loại. Cho nên khi mở Đại-Đạo Tam Kỳ Phồ-Độ, Đức Chí-Tôn đã lập ngay Pháp-Chánh-Truyền và Tân Luật tức là Thiên-điều tại thế để điều-hành guồng máy hành-chánh-đạo hầu bảo thủ chơn truyền và công-bình Thiên Đạo vì nếu thiếu Pháp Luật thì còn gì là Đạo nữa!.

Ấy vậy, Đức Chí-Tôn lập TÂN PHÁP là lập chủ quyền cho Đạo. Nếu chúng ta biết Đạo và ý thức rằng Pháp-Luật là do Thiên-ý và công-lý mà lập ra thì tự nhiên phải tuyệt-đối tôn trọng chủ quyền đó là tuân-hành qui điều pháp-luật Đại Đạo.

Phạm Luật Đạo tức là phạm Thiên-điều, mà phạm Thiên-điều thì tội-tình kia có chi giải nỗi. Hội-Thánh hiệp nhau lập luật cũng như cả Thập Nhị Khai Thiên lập LUẬT. Thập Nhị Khai Thiên lập Luật giao lại cho Thầy, còn Hội Thánh lập Luật cũng giao lại cho Thầy. Vậy thì TÂN LUẬT với THIÊN ĐIỀU cũng đồng giá-trị. Dẫu cho Hộ Pháp phạm luật cũng bị đòi đến Tòa Tam giáo bên Cửu-Trùng-Đài, thì Thiên phẩm mình dường như không có, kể như một người đạo-hữu kia vậy. Còn Giáo-Tông nếu phạm tội cũng phải bị đòi đến Tòa Hiệp-Thiên-Đài thì cũng chẳng khác một người tín-đồ kia vậy. Luật Đạo thành ra Thiên Điều thì Hội Thánh là Ngọc-Hư-Cung tại thế. Hội-Thánh hiệp nhau lập Luật Đạo thì cũng như chư Thần, Thánh, Tiên, Phật lập Thiên-điều. Vậy thì Hội-Thánh và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cũng đồng một thể" (ĐHP diễn-văn14-2 Mậu-Thìn 1928)

Như thế: "PHÁP-CHÁNH và TÂN LUẬT cốt để bình tâm thiên hạ đặng để gỡ tội cho kẻ có tội-lỗi; phạm mà không biết thú tội trước mặt người và trước phép thiêng-liêng. Định pháp-luật ấy cũng là sợi dây thiết tỏa liệng xuống Âm-quang cho kẻ tội nhơn nắm nó mà phăng về thiêng liêng cựu cảnh chớ chưa phải là chơn-luật và chơn pháp…Toàn Thánh-thể Đức Chí-Tôn nếu biết thì nắm quyền luật thiên-nhiên ấy, ngày giờ nào thiên-hạ được yêu thương nhau nồng-nàn, thì giờ ấy quyền Đạo là quyền tối thượng nơi mặt thế đó" (Thuyết-Đạo II / 98)

Lý do Thầy không lập Hiệp-Thiên-Đài một lượt với Cửu-Trùng-Đài:

Như Tân-Luật ngày nọ thì Lý Giáo-Tông hội cùng chư Thánh mà lập thành, chớ Thầy chưa hề biết đến, chỉ ngày nào đã dâng lên cho Thầy thì nó thành Thiên-luật mà thôi.

Hễ Thiên luật thì phải vô tư, tỉ như Thiên điều, dầu cho chính mình Thầy là Chí-Tôn cũng chẳng vị tình. Bởi cớ ấy mà khi lập Pháp-Chánh-Truyền, Thầy không lập Hiệp-Thiên-Đài một lượt với Cửu-Trùng-Đài, e cho cả Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài ra ngoại luật. Thầy lại để cho các Chức-sắc ấy dự hội lập luật cùng chư Chức sắc Cửu Trùng Đài thì phàm thân của họ cũng phải dưới quyền luật lệ như mọi người vậy.

 

 

PHÁP DANH - THÁNH DANH

E: Religiouss name, Holy name.
F: Nom religieux, Nom sacré.

1.- Pháp danh, bên Phật giáo, là tên do vị Hòa Thượng trụ trì đặt cho đệ tử khi mới qui y vào Phật đạo.

Đối với Đạo Cao Đài, Pháp danh là tên hiệu do một Đấng thiêng liêng ban cho, do đó còn được gọi là Đạo hiệu.

Td: Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn ban Đạo hiệu cho quí vị sau đây:

Giáo Sư Thượng Bảy Thanh, Đạo hiệu Phong Chí.
Phối Sư Thượng Vinh Thanh, Đạo hiệu Hiển Trung.
Phối Sư Thượng Chữ Thanh, Đạo hiệu Ngạn Sơn.
Phối Sư Thượng Tuy Thanh, Đạo hiệu Từ Huệ.

Đức Hộ Pháp ban Đạo hiệu cho những đệ tử Phạm môn hồng thệ kỳ đầu ngày 3-1-Nhâm Thân (1932):

Ông Võ Văn Đợi (Đại), Đạo hiệu là Linh Đoán.
Ông Phạm Văn Út Đạo hiệu Lưu Thiện.
Ông Võ Văn Chở Đạo hiệu Trường Tải......
Bà Từ Thị Kế Đạo hiệu Thừa Thiện.
Bà Lê Thị Lơi Đạo hiệu Hồng Huệ.
Bà Lưu Thị Sen Đạo hiệu Duy Từ......

2.-Thánh danh là tên Thánh.

Những tín đồ nam nữ, khi đắc phong vào hàng Lễ Sanh mới bắt đầu có Thánh danh.

Tất cả Chức sắc nữ phái Cửu Trùng Ðài có Thánh danh khởi đầu là chữ HƯƠNG. Thánh danh của Chức sắc nữ phái Cửu Trùng Ðài gồm 2 chữ: chữ đầu là Hương (Tịch đạo), chữ sau là thế danh.

Td: Bà Lâm Thị Thanh, đắc phong Nữ Đầu Sư, Thánh danh là Hương Thanh.

Các Chức sắc nam phái Cửu Trùng Ðài được phân 3 phái: Thái, Thượng, Ngọc, Thánh danh đều có chữ THANH ở sau cùng.Thánh danh của Chức sắc Cửu Trùng Ðài nam phái gồm 3 chữ: chữ đầu là chỉ phái (Thái, Thượng, Ngọc), chữ thứ nhì là thế danh, chữa sau cùng là Thanh (Tịch đạo).

Td: Ông Lê Văn X đắc phong Lễ Sanh, được Đức Lý Giáo Tông chấm cho phái Ngọc, Thánh danh của ông Lễ Sanh X là: NGỌC X THANH.

Thánh danh của Chức sắc Cửu Trùng Ðài nam phái có chữ Thanh, của nữ phái có chữ Hương. THANH HƯƠNG là tịch đạo của Chức sắc trong đời Giáo Tông thứ nhứt là Đức Lý Thái Bạch.

Qua đời Giáo Tông thứ hai thì tịch đạo là ĐẠO TÂM, nam lấy chữ Đạo, nữ lấy chữ Tâm).

Chức sắc Hiệp Thiên Ðài và Cơ Quan Phước Thiện không có Thánh danh theo Tịch Đạo.

 

 

PHÁP - ĐẠO - THẾ

(Xem chữ: Ba Chi)

Đức Phật Mẫu dạy: "Đạo chia ra ba chi: Pháp, Đạo, Thế.

"Mình tu cho đúng theo Luật, hành theo Pháp, thì chúng-sanh nơi thế ca tụng công đức mình, trọng kính mình, ấy là mình ĐẮC THẾ. Hễ đắc thế thì phải tầm pháp đặng cứu chữa, dạy bảo theo pháp; nếu mình hành pháp hiển-linh, chúng-sanh ứng mộ, thì mình ĐẮC PHÁP. Nếu mình đắc pháp thì phải tầm Đạo vô vi, muốn tầm không phải dễ, mà dễ khó là do nơi mình; nếu đi được hai khoản, thì khoản sau này phải ráng, nếu đắc Đạo thì nhập cõi Niết-Bàn."

 

 

PHÁP ĐIỀU


E: Articles of laws.
F: Articles de lois.

Pháp điều 法條: Những điều khoản trong một bộ luật.

Lòng Sớ dâng về thiêng liêng có câu: "Tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ" 從是法條三期普度 tức là tùng theo những điều Luật Pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thực thi công quả và bồi dưỡng đức hạnh.......

 

 

PHÁP GIỚI

Pháp-giới 法界: Bản tính của chúng sinh.

Đức Hộ Pháp nói: "Ta đi tới mãi, càng đi sâu chúng ta thấy hưởng vui khoái-lạc vô cùng. Chúng ta sẽ đi tới cảnh đó, để tạo ra các Pháp-giới. Muốn đặng thì đặng vô biên huyền-bí, chúng ta thấy các việc ta chưa đoạt đến mà dòm thấy mặt thiên hạ đặng. Họ không phải lãnh-đạm với ta đâu, chờ ta đặng đón rước ta. Ta thấy trên khuôn mặt họ hiện ra đủ khôn-ngoan, hiền-từ, đức tánh Thiêng-liêng lộng-lẫy không còn một mảy may phàm cách. Cái phong-thần vẫn còn huyền-bí vô biên, họ muốn thế nào thì đẹp cả đôi như vậy."

 

 

PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN

E: The wheel of the Holy doctrine turns ordinarity.
F: La roue de la Sainte doctrine tourne ordinairement.

Đức Hộ Pháp nói: "Tại sao phải Hoán đàn, nam, nữ chen nhau? - Ðó là bùa Pháp Luân Thường Chuyển.

Tại sao Chí Tôn để bùa Pháp Luân Thường Chuyển tại thế này, đặng chi vậy? - Hiện đã mãn Hạ Nguơn Tam chuyển, bắt đầu Thượng Nguơn Tứ chuyển ta gọi là khai nguơn nên phải để cho pháp luân chuyển. Ta đã biết thời Tiên Thiên Khí và Hậu Thiên Khí chuyển làm một mới đạt Ðạo đặng. Cả thảy đều biết qua Cửu Trùng Ðài nầy là Cửu Thiên Khai Hóa, còn Cung trên kia là Cung Ðạo, từ trước đến nay, mỗi người mải miết tìm Ðạo mà Chí Tôn để giữa đó, trước mắt mà không biết. Ði chín từng Trời để cho phần hồn đi cho cùng tột Cửu Phẩm Thần, Thánh, Tiên, đến Phật, tức là Phật xuống phàm, rồi phàm trở lại Phật, chuyển luân như vậy, bí pháp gọi là đạt Ðạo".

PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN (Trích Trung Thiên Dịch của Trần Cao Vân-trang 387-389)

Nguyên lý: "Bởi lẽ khi con người còn là một thai nhi nằm trong bụng mẹ, thì mẹ truyền hơi thở cho con sống điều hòa gọi là tử tức. Đó là Khí Tiên Thiên, nhưng sau khi gần 10 tháng thai nhi ra chào đời bằng ba tiếng khóc thì bắt đầu hít thở Khí Hậu Thiên và trải qua một cuộc sống trong cõi lao trần, gian khổ, phí quá nhiều sức lực, hạn hao huyết tốn, chất tụy hình khô, da nhăn má hóp, cần phải trở về lòng mẹ để bồi dưỡng Khí Tiên Thiên. Đó chính là phương tu tánh luyện mạng để thấy lại lòng trời đất trong lúc nguyên sơ "pháp luân thường chuyển".

Pháp luân thường chuyển là nói cách tu luyện làm sao giữa Mạch Nhâm và Mạch Đốc qua lại thông với nhau thì trăm mạch đều thông. Đó là con đường qua lại vận chuyển Pháp luân, vì rằng: Mạch Nhâm ở cung phía trước của đơn điền (rún) đi vòng theo bụng đi đến đỉnh đầu. Còn Mạch Đốc ở phía sau của đơn điền vòng theo xương sống lên đến phong phủ vào não dinh, hội họp cùng mạch Đốc. Khi hai mạch thông thương thì Pháp luân do đấy mà vận chuyển. Biết được con đường ấy thì Xá-Lợi do đấy mà thành.

Kinh Dịch có nói: đóng cửa gọi là Khôn, mở cửa gọi là Càn, một đóng một mở gọi là biến, qua lại không cùng gọi là thông. Do câu "Hạp hộ vị chi Khôn, tịch hộ vị chi Càn. Nhất hạp nhất tịch vị chi biến. Vãng lai bất cùng vị chi thông". Phương pháp này dạy ta dùng cách điều hòa hơi thở để vận chuyển Pháp luân vậy, nghĩa là phương pháp điều tức, dùng Khí Tiên Thiên là mượn sự hô hấp của Khí Hậu Thiên để chuyển pháp luân. Vì đóng ngõ tức là hít hơi vào, hơi hít vào đi xuống dưới cho nên gọi là Khôn. Còn mở ngõ tức là thở hơi ra, thở ra hơi đi lên trên cho nên gọi là Càn. Đó là nói về cái lý Hậu Thiên.

Biến là hơi thở giữa hai quẻ Càn và Khôn như đẩy xe vậy. Càn Khôn là bánh xe, mà biến là trục, bởi vì xe không thể tự vận chuyển được, nhờ ở trục hai đầu. Trục hai đầu lại nhờ bánh xe hai đầu. Bánh xe hai đầu lại phải nhờ sự hấp dẫn đóng mở. Xe phải đợi trục mà chuyển động, trục phải đợi bánh mà xoay vần, bánh phải đợi sự xô đẩy đóng mở thì cái dụng của nó mới toàn vẹn. Đó là sự qua lại mầu nhiệm không cùng; là cách vận chuyển hơi thở, hít khí Tiên Thiên và Hậu Thiên vậy.

Thông là đạt được nguyên quan then máy Càn Khôn đồng vận chuyển. Nếu ta cứ thở theo cách: mũi hít hơi vào và miệng thở hơi ra, cứ qua lại mãi như thế, không điều hòa thì Khí Tiên Thiên xa vậy; cho nên ta phải dùng hơi thở Hậu Thiên để điều hòa hơi thở Tiên Thiên. Thở ra là mở, là Càn; hít vào là đóng, là Khôn. Càn Khôn là định vị của Trời đất. Ở nơi người thì đầu là Càn, bụng là Khôn. Biến tức là làm chủ tể chính giữa khoảng Càn Khôn đó. Đấy là chơn lý của ta, làm sao cho hai Khí (thở hít) điều hòa như sao Nam Đẩu và Bắc Đẩu qua lại trong bầu trời mãi mãi, là sự vận chuyển của hai Khí vậy (mượn khí cơ đóng mở của Hậu Thiên để vận khí Tiên Thiên). Khi mà trước mặt (Nhâm), sau lưng (Đốc) và khoảng giữa (chơn ý chủ tể) của ta. Ba ngõ đường đều thông suốt, bánh xe và trục máy Càn Khôn vận hành: một thở, một hít; một lên, một xuống, không sai ly hào, theo đúng qui trình hạn số, không thái quá, không bất cập, thật đúng theo cung cách:

Càn Cửu, Khôn lục.

 

Tứ điệp thành chương.

Hiệp hồ Tạo hóa.

 

Đồng hồ chuyển luân.

Bất thiên bất ỷ,

Chánh chánh tương đương.

Thành hồ kỳ Đạo.

 

Diệu lý minh trường.

Pháp môn thường chuyển.

 

Bất ly thử phương.

Dịch, hựu viết: "Càn hào dụng Cửu, Khôn hào dụng Lục" nghĩa là: hào Càn dùng số 9, hào Khôn dùng số 6).

Đây là nói qui tắc và hạn số vận chuyển pháp luân mà trong Kinh Dịch gọi là "Tham Thiên lưỡng địa" vì trong năm con số sanh của Ngũ hành 1,2,3,4,5:

- Số trời có ba số (1,3,5) cộng ba số này lại thành 9.

- Số đất có hai số (2,4) cộng hai số này lại thành 6

Số 9 là số Thái Dương; số 6 là số Thái Âm.

Tham Thiên Lưỡng địa còn có thể giải thích là mỗi quẻ trong Bát Quái có ba hào, vì thế số 3 là số quan trọng trong Kinh Dịch:

- Lấy số 3 mà nhân 3 thì thành 9 (3x3=9) gọi là Tham Thiên, số Trời, số Thái Dương.

- Lấy số 3 nhân cho 2 thành ra số 6 (3x2=6) gọi là Lưỡng địa, vì số 2 là số chẵn, số đất. Số 6 là số Thái Âm.

Hào quẻ Càn dùng số 9, hào quẻ Khôn dùng số 6.6 đây là nói qui tắc hạn số để vận chuyển Pháp luân.

Dùng số 9 của quẻ Càn mà nhân cho 4 thì được 36.

Áp dụng con số này làm chiều cao 36m của hai Đài Lôi Âm Cổ và Bạch Ngọc Chung (hai bên Hiệp Thiên đài) của Đền Thánh-Tòa Thánh Tây Ninh.

Dùng số 6 trong quẻ Khôn nhân cho 4 thì được 24. Áp dụng con số này làm chiều cao cho Nghinh Phong Đài Đền Thánh có chiều cao 24 m Rồi lấy số 36 và số 24 nhân lên 4 lần:

(36x4= 216) + (24x4=144) = 360.

Số thăng giảm đều số 6. Hiệp lại thành 360 (vòng tròn 360°), đó là hoàn thành độ số vận chuyển pháp luân. Phép tu tánh mạng (trung đạo) dùng phương pháp này để tịnh dưỡng vận chuyển pháp luân bằng cách hô hấp đúng theo qui tắc mà vận hành (Xem bí quyết chân tu trung đạo).

 

 

PHÁP LUẬT


F: La loi.

Pháp luật là những điều khoản của một nước hay một Tôn giáo định ra để làm qui tắc hành vi cho con người.

Đạo Trời đất hay đạo người thường dùng lễ để sửa cải thiên hạ, song nếu có những người hay ương ngạnh, không chịu theo giáo-hóa thì tất nhiên phải có Pháp Luật để răn cấm, ngăn ngừa những kẻ gây việc bạo ngược. Điều này Tuân Tử có viết như sau: Phàm hình pháp là cái gốc của thiên hạ, ngăn cấm điều bạo ngược, ghét bỏ điều ác là để răn những điều chưa xảy ra. "Phàm pháp hình, nhân chi bản, cấm bạo ố ác, thả trưng kỳ mạt dã 凡法刑, 人之本, 禁暴惡惡, 且徵其末也.

- Khi nào gọi là Luật-pháp?
- Khi nào gọi là Pháp-luật?

Hiện tại có hai xu-hướng về học-thuyết:

- Theo học-thuyết Đời tức là xu-hướng theo cái SỐNG.
- Theo học-thuyết Đạo tức là xu-hướng theo cái LINH.

Cả hai tinh-thần đều không có lầm-lạc, nhứt là đàng nào cũng có nguyên-lý của nấy:

- Xu-hướng theo cơ-quan Đời có Bí-pháp và Thể pháp.
- Xu-hướng theo cơ-quan Đạo có Bí-pháp và Thể-pháp.

- "Về phần Đạo, thì trí thức tinh-thần nhơn-lọai nhìn nơi vô biên biết càn-khôn vũ-trụ tức là cơ tạo-đoan nó định luật cho khối người thành ra Pháp chủ Luật, tức là Pháp có trước, Luật có sau, nên gọi là Pháp-Luật.

- "Về cơ-quan Đời, tức là cơ-quan xu-hướng theo cái sống, định Luật được rồi mới tìm-tàng giải-pháp đặng thi hành Luật, định pháp-hình để bảo-vệ luật; thành ra Luật trước pháp sau, gọi là Luật-Pháp.

Hai lý dường như tương-phản nhau, nhưng bấy giờ nhu cầu của nhân-loại là thiết-yếu, muốn dung-hoà phải có một nền Đạo có kỷ-cương làm giềng mối mới có thể "Xây cơ chuyển thế bảo-tồn vạn-linh" được.

Do vậy mà "Đến đêm 14 rạng ngày 15 tháng 10 Bính Dần, nhằm ngày 19-11-1926, Ðức Chí-Tôn dạy thiết Ðại Lễ Khai Ðạo chánh thức tại Từ-Lâm-Tự tỉnh Tây Ninh, đồng thời Ðức Chí-Tôn lập Pháp-Chánh-Truyền phong vị cho Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Ðài, Cửu-Trùng-Ðài Nam Nữ và Ðức Chí Tôn dạy nhóm Hội-Thánh lập Luật. Vậy sau ba tháng Ðại Hội, Ðạo đã có Pháp, có Luật thì nghiễm-nhiên Ðạo trở thành một nền Tôn-Giáo danh gọi là Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.

"Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ do Đức Cao-Đài Thượng Đế dùng Huyền-diệu Cơ bút khai sáng tại nước Việt Nam từ năm Bính-Dần (1926) đến nay đã 30 năm, độ dân được một số thiện-nam tín-nữ hơn hai triệu người, Tổ Đình thờ Đức Chí Tôn và Điện thờ Đức Phật-Mẫu lập thành tại Thánh-địa Tây-Ninh. Hội-Thánh hành-đạo dưới quyền Đức Tiên-Trưởng Lý Thái Bạch kiêm Giáo-Tông về mặt vô-vi, còn về mặt hữu-vi thì dưới quyền Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung nay đã qui thiên. Hiện giờ Đức Hộ Pháp chấp chưởng quyền tối cao trong cửa Đạo cho tới ngày có Giáo Tông hữu-hình chánh-vị"

(Bảo-Thế đọc Diễn văn tại Tokyo, Nhựt năm 1956)

"Nếu hỏi Đạo mà còn phải có PHÁP có LUẬT để làm gì?

- Thầy vì sợ phàm tâm tục tánh, lập Luật Pháp rất nghiêm đặng đủ quyền-hành buộc cả Hội-Thánh, nghĩa là thân thể Thiêng-liêng hiệp hoà làm một:

- LUẬT thì có TÂN-LUẬT.
- PHÁP thì có PHÁP-CHÁNH-TRUYỀN.
- QUYỀN thì có TOÀ TAM-GIÁO.

Ấy là cái còi, cây gậy, hàng rào ThiêngLiêng đặng lùa cả các chuồng chiên của Thầy hiệp một" (Pháp Chánh Truyền)

Xem thế thì Pháp Chánh Truyền do Đức Thượng Đế giáng Cơ ban cho, xem như là cơ Dương; còn Tân Luật là do Hội-Thánh hội nhau lập nên đó là cơ Âm. Vì vậy mà Tân Luật sẽ thay đổi tuỳ theo trình độ tiến hoá của nhơn sanh, còn Pháp Chánh Truyền thì bất di bất dịch.

 

 

PHÁP LUẬT ĐẠI ĐẠO

Pháp-luật hay là Luật-pháp?

Bao giờ cũng vậy, pháp-luật dường như luôn có sự phản khắc giữa Đạo và đời.

- Về phần Đạo: trí thức tinh-thần nhơn-loại nhìn nơi vô biên, biết càn khôn vũ-trụ tức là cơ-quan tạo-đoan nó định-luật cho khối người, thành ra PHÁP là chủ của LUẬT; tức là Pháp có trước Luật có sau nên gọi là PHÁP LUẬT.

- Về cơ-quan Đời tức là cơ-quan xu-hướng theo cái sống, định-luật được rồi, mới tìm-tàng giải-pháp đặng thi hành Luật, định Pháp-hình để bảo-vệ luật, thành ra Luật có trước, Pháp có sau, gọi là LUẬT PHÁP.

Do vậy, khi Chí-Tôn vừa khai Đại-Đạo là đã lo lập ngay PHÁP-CHÁNH-TRUYỀN, đồng thời dạy các Chức sắc nhóm họp Hội-Thánh để lập TÂN-LUẬT.

Thế nên Pháp-luật của Đại-Đạo dùng làm qui củ, chuẩn thằng, phép khuôn duy chỉ có Pháp-Chánh-truyền để truyền Chánh-pháp và Tân-luật mà thôi gọi chung là PHÁP-LUẬT ĐẠI-ĐẠO.

Xem thế, thì Pháp-Luật Đại-Đạo là điều tối-yếu, tối trọng của mọi người, từ Tín-đồ đến chư Chức-sắc, nó là nhu cầu, là sự chờ đợi, là niềm tin-tưởng được đặt vào đó làm đòn cân công-lý, là điều cần-thiết không thể không có được mà Thầy đã dạy rõ:

"… Nó có ảnh-hưởng đến Tiên-phong Phật-sắc của các con", bởi vì: Chẳng Luật-lệ thì trái phép, mà trái phép thì thế nào vào Bạch-Ngọc-Kinh cho đặng".

Hơn nữa, trong cuộc sống hiện-hữu đây nó là "hàng rào, cây gậy" cho mỗi nhơn-sanh nương theo đó mà lần bước đến thang mây, đồng thời để cho Chức-sắc Hành-Chánh-Đạo do theo đó mà dắt-dìu nhơn-sanh cho khỏi sa chân trái bước.

Pháp-Luật chính là đèn và gương soi vậy.

Nếu hỏi Đạo mà còn phải có Pháp, có Luật để làm gì?

"Thầy vì sợ phàm tâm tục tánh lập Pháp luật rất nghiêm đặng đủ quyền-hành buộc cả Hội-Thánh, nghĩa là thân-thể thiêng-liêng hiệp-hòa làm một:

- LUẬT thì có Tân-Luật,
- PHÁP thì có Pháp-Chánh-Truyền,
- QUYỀN thì có Tòa-Tam-giáo.

Ấy là: cái còi, cây gậy, hàng rào thiêng-liêng đặng lùa cả các chuồng chiên của Thầy hiệp một".

"Trong xã-hội ấy định phương-pháp đặng lập cái đại thể gia-đình của toàn một sắc dân. Đại-gia-đình của một sắc dân gọi là gia-đình, xã-hội, tướng diện của hai bên đó vậy.

"Bây giờ Bần-Đạo luận về cái Quyền; cái quyền đôi bên bao giờ cũng phải quyết-định với một cái Pháp-luật của Hội Thánh. Luật của Hội-Thánh để định quyền cho Đạo, cho đại gia-đình của tinh-thần nhân-loại, ngó thấy TÂN-LUẬT và PHÁP-CHÁNH-TRUYỀN là một chơn tướng lập Thánh-Thể của Ngài không cần luận đến, chỉ luận về Tân-Luật mà Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo-Tông đã dạy Hội-Thánh khi mới khai Đạo, lập trong ba tháng phải thành-tựu. Trong Tân-Luật con cái của Đức Chí-Tôn đều ngó thấy, Bần-Đạo không cần lập đi lập lại vô-ích, chỉ lấy cái tinh-túy của nó là trong Tân-Luật ấy Đức Chí-Tôn định cho Ngũ Giới-Cấm và Tứ Đại-Điều-Qui và trong ấy cốt bảo-vệ Tam cang Ngũ thường của toàn thể con cái của Ngài, thật ra cái Thiên-Luật của Ngài mà Ngài đã để trong tâm não con cái của Ngài.

- LUẬT chỉ có một là THƯƠNG-YÊU,
- QUYỀN chỉ có một là CÔNG-CHÁNH.

Thiên-hạ đã lập Luật nhiều quá, mà cái Luật của thiên hạ lập ấy tưởng khi cả thảy đều thấy, dầu cho họ có thay đổi cho tới tận thế, họ chưa có phương nào làm cho nó phù-hợp với cả nhân-tâm bao giờ. Còn Đức Chí-Tôn đến lập Luật có một điều mà thôi là THƯƠNG-YÊU, cả thảy đều hiểu cái luật ấy, nghĩ coi có ai tránh khỏi đặng không? Người nào không có dính trong cái Luật Thương-yêu ấy thì chẳng hề họ sống được bao giờ, nhất là sống chung của đồng-loại, hoặc họ phải tự họ ly-dị cả nhơn-loại hay là cả nhơn-loại buộc phải đào-thãi họ, nếu họ không tuân cái luật ấy.

Còn cái quyền CÔNG-CHÁNH, công-bình, chánh-trực; dầu một kẻ không học kia, dốt nát thế nào mà học được hai cái đặc tính quí-báu ấy. Tôi tưởng cả thảy thiên-hạ đều cúi đầu tôn trọng, kính nhường và nhứt là họ thương-yêu.

THIÊN-LUẬT của Chí-Tôn là vậy!

Tân-Luật, Đức Chí-Tôn cốt yếu muốn cho ta làm, đặng ta bảo-vệ cái Tam Cang Ngũ Thường của nhân-loại.

Nói về phương Đông này dầu cho luận tới các quốc-gia, xã-hội, đến đâu đi nữa, họ tự-trọng, họ văn-minh thế nào, họ chưa ra khỏi đường lối ấy, niêm-luật ấy bao giờ, nếu họ ra khỏi là muốn tự-tử bỏ cả xã-hội của họ thì nó sẽ thành cái gì chớ không thành xã-hội.

Giờ đây luận tới Luật Hội-Thánh. Luật của Hội-Thánh chỉ lập ra trong buổi con cái Đức Chí-Tôn bị óc ngoại hình ngoài đời kia xâm-phạm tinh-thần và hình-chất của nó. Hội Thánh buộc phải lập Luật chẳng khác nào như một phương pháp che-chở, như ta đã ngó thấy một người kia đi tới miệng giếng họ muốn sa vào đó, ta kêu trở lộn lại. Luật của Hội Thánh phải chuyển-luân theo thời thế của xã-hội, nhứt là trong con cái của Ngài, chớ thật ra không có giá-trị gì hết. Bởi hình không có!

Bây giờ nói tới HÌNH của luật Đạo!

Cái quyền của Đạo quì hương, tụng kinh sám-hối, đáo để trục-xuất nội thành nơi Thánh-địa, rồi còn dữ hơn nữa trục xuất ra khỏi Đạo, chớ chưa giết ai, chưa có tù-tội, ngục hình, cũng chưa có đem ai mà bắn, mà giết bao giờ! Ấy là Luật của Đạo. Vậy cốt-yếu cái khuôn-khổ đại-gia-đình tinh-thần này để tạo con cái của Đức Chí-Tôn thành THÁNH, nong-nã dạy-dỗ dìu-dắt thế nào cho họ thành THÁNH đặng họ mới cầm cái cờ cứu-khổ của Đức Chí-Tôn vững-vàng và mạnh-mẽ, họ mới thay-thế hình ảnh của Đức Chí-Tôn đặng.

Vì cớ cho nên cả khuôn-khổ quyền-lực của Đạo cốt-yếu để tạo THÁNH.

Bây giờ ta muốn luận về quyền đời, cả quyền đời thật quyền của họ, thiệt lực của họ là Nhơn-đạo. Muốn thành-tựu Nhơn-đạo ấy họ phải thông-minh trí-thức, lịch-duyệt thế-tình; thông-minh trí-thức phải học, lịch-duyệt thế-tình họ phải chuyên-nghiệp lấy họ, nghiệp làm quan ấy, vì cớ cho nên một Ông quan mới đầu tiên thủng-thỉnh bực nhỏ lên cao, học đặng chuyên-chế nghề-nghiệp của họ. Cốt yếu họ cầm quyền trị dân ấy, đặng chi? Họ mong-mỏi gì?

- Họ mong-mỏi cho cả toàn dân được hạnh-phúc. Cả cái sống còn của dân được hòa-ái tương-thân, thật ra họ không có đi ngoài khuôn-khổ Tam Cang Ngũ Thường của văn-minh ta lưu lại từ thử tới giờ. Muốn bảo-vệ cho họ đặng Hòa-bình thân ái với nhau phải "dĩ Đạo vi trị". Họ phải mượn văn-minh Đạo giáo của Tổ-phụ ta để Tam Cang Ngũ Thường làm căn-bản, có căn-bản ấy thì mới ích nước lợi dân, trừ gian diệt nịnh.

Hại có một nỗi là họ tạo Luật quá-quắt, có nhiều điều họ lập ra khuôn-luật mình thấy thất đức, bất nhân, toàn ác; họ dùng cả cường lực trị dân, vì cớ cho nên cái xã-hội nhơn-quần hiện tại bây giờ đây loạn là vì họ không lấy "đạo-đức nhi trị" họ không tùng theo tâm-lý mà họ chỉ tùng theo quyền-lực mà thôi, nào là khám lớn, nào súng, nào gươm máy, hễ tuân theo khuôn-luật của họ trị thì họ để cho sống, nếu không tuân theo khuôn-luật thì họ giết. Mà kỳ trung, thật ra Bần-Đạo tổng luận gia-đình tinh-thần tức nhiên: Đạo là tu thân, còn gia-đình, xã hội là trị quốc; còn thiếu Tề gia, tề gia không phải Tề gia-đình tối thiểu của mọi gia-đình, mà tề gia-đình-thiêng-liêng, gia-đình tinh-thần về xã-hội, duy có Tề gia ấy mà đôi bên: bên Đạo và bên Đời hiệp phương chước lại với nhau dùng cái phương tề gia ấy mà tương-liên mật-thiết với nhau, nó phù-hợp lấy nhau đời mới hưởng được hạnh-phúc thái-bình.

Ngoài ra nữa, dầu phương-chước nào hay hơn bao nhiêu mà không có đặng cái Tề ấy, chữ Tề ấy không quyết-định đặng

thì nước vẫn loạn mà thôi, nhơn-sanh phải thống-khổ mà thôi, vì cớ cho nên Bần-Đạo mới nói "Đạo không Đời không sức, đời không Đạo không quyền", hễ họ tương-liên với nhau không được Tề gia nhứt thống về gia-đình tinh-thần và gia-đình xã-hội của họ thì bao giờ họ cũng bất lực hết thảy". (ĐHP 30-3nh.Ất-Mùi)

"Do nơi Bác-ái và Công-bình: những phương-pháp của các vị Giáo-chủ lập Pháp-Luật trong các Tôn-giáo, cốt-yếu mở đường chỉ nẻo, chỉ cho nhơn-loại đi lên hiệp cùng chơn-tướng và chơn-pháp của Đạo-giáo tức nhiên là tín-ngưỡng: Thờ Người và Thờ Trời, luật pháp duy có Bác ái, Công-bình mà thôi. Đức Phật Thích-Ca nếu nói Ngài không Bác-ái, Công-bình thì Đạo-giáo không Công bình sao!

Đức Hộ Pháp nói: "Pháp-Luật đã do Thiên-lý và Công lý mà lập ra, thì tự-nhiên phải tuyệt-đối công-bình, không còn sự chênh lệch nào đối với toàn thể bổn đạo. Vì trong Đạo từ trên tới dưới, từ nhỏ tới lớn đều có qui luật định phân, lớn không giành quyền nhỏ, nhỏ không lấn quyền lớn. Nếu cứ chiếu luật thi-hành thì toàn đạo được điều-hòa êm-ái và guồng máy Hành-Chánh-Đạo cứ tiến hành theo luật-định thiên nhiên không còn gì trở ngại."

Đức Chưởng-Đạo Nguyệt-Tâm Chơn-nhơn dạy:

"Phàm Pháp-Luật lập thành đều tùng sở dụng, buộc kẻ chung công hiệp trí tác thành một cơ-sở vĩ-đại, Đông Tây tương-thân tương-ái. Bởi cớ mà Pháp Luật vẫn nhiều mặt đặc biệt cùng nhau, tùy theo phương dụng, chẳng thế dùng một mặt Pháp-Luật nào mà thay thế vào một cơ-sở khác hành-vi cho đặng, cần thì mới lập, còn vô ích thì bỏ. Vậy các Pháp-Luật của Chí-Tôn đã đào-tạo đều hữu-ích cho cơ-quan hành-động cho Chánh giáo của Người, một cái dấu bỏ ra cũng chẳng đặng. Hễ tùng thì Đạo thành, còn nghịch thì Đạo diệt. Cả thảy Hội Thánh chưa ai đặng quyền ra khỏi ngoại luật. Chúng ta vâng theo mới đắc thành quyền-hành Hội-Thánh, thảng có một người nghịch thì làm rối loạn chơn truyền. Kẻ nghịch cùng Thế-đạo thì trục ngoại xã hội hay là diệt tàn cho khỏi lưu hại, còn kẻ nghịch cùng Đạo-pháp thì tội trục ngoại Thánh-thể Chí Tôn hay là có ngày quyền Thiêng-liêng diệt thác. Chúng ta từ đây coi kẻ phạm Pháp-Luật như thù địch của Đạo, dùng phương trừ khử. Bần-Đạo đã thọ sắc lịnh Ngọc-Hư lo chuyển Pháp, thì không phương tha thứ điều phạm bao giờ. Từ đây Hội-Thánh Ngoại giáo giữ nghiêm Pháp-Luật. Bần-Đạo xin để lời cầu-khẩn cùng Giáo Tông và Hộ Pháp cũng để lòng lo phương trừ hại, đừng vì Bác-ái, Từ-bi vị nễ" [03-03-Quí-Dậu (dl: 26-5-1933)]

Thầy cũng có nhắc-nhở: "Trường đời có ấm lạnh, cũng như lẽ Đạo có thạnh suy, mà cùng cực cái thạnh ắt lại suy, cùng cực cái suy ắt lại thạnh. Mà cái thạnh của Đạo thì vô cùng người thường không phương thấu-đáo. Chơn-truyền Luật-pháp là bất di bất dịch, ai sửa cải chơn-truyền Luật-pháp ắt bị tội chẳng sai, dầu là địa-vị gì đi nữa. Thầy phong thưởng chúng nó đặng ắt thầy hình phạt chúng nó cũng đặng vậy".

 

 

PHÁP LUẬT ĐẠO TRỜI

Pháp luật Đạo Trời: Những qui ước, những công lệ do Đạo Trời đề ra

Kinh Khi Ăn Cơm Rồi có câu:

"Trên theo pháp-luật Đạo Trời,
"Dưới thương sanh chúng một lời đinh-ninh."

 

 

PHÁP LUẬT QUỐC GIA

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Trên Chánh-phủ sẵn lòng nhơn đức,
Nhưng buộc vì pháp luật Quốc gia.
Ra tờ đòi tới Công Toà,
Cam đoan ký giấy vậy mà mới nghe!

 

 

PHÁP LUẬT THIÊNG LIÊNG

Đức Hộ Pháp nói: "Không có điều nào qua Pháp Luật vô biên ấy, chúng ta ngó thấy mỗi việc nơi thế gian này ta nên lấy làm bài học đặng định tâm chúng ta, đặng tu tỉnh tinh-thần ta cho nên chí-thiện, chí Thánh, hầu xứng đáng làm phần-tử Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn, đừng mộng tưởng một hành tàng nào trong kiếp sống thế gian này của ta có thể khuất lấp qua khỏi quyền Thiêng Liêng của Đức Chí-Tôn được.

Ta minh-mẫn, sáng suốt, biết phân biệt tội phước đặng định số phận Thiêng-Liêng, quyết hẳn rằng không có điều nào khuất lấp Luật-Pháp Thiêng-Liêng của Đức Chí Tôn đã định cả.

 

 

PHÁP LUẬT VÔ TƯ

Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy Pháp Chánh:

"Còn những kinh sách nào có tính cách tổn thương tinh thần đạo đức, Pháp Chánh Hiệp-Thiên-Đài cũng được phép đề nghị hủy bỏ.

"Pháp luật vốn vô tư, đứng trong chánh giới chơn truyền, nó là Bác ái, Công bình. Thi hành luật pháp đại khái là làm cho cả chúng sanh biết tương thân tương ái trên đường sanh sống và tấn hóa. Vậy phận sự của Pháp Chánh Hiệp Thiên-Ðài là gieo rắc sự thương yêu trong toàn sanh chúng: không tư chẳng vị và giúp chúng sanh một cách cận kề, kẻ hung người bạo, kẻ tham người tà, rồi tìm phương nâng đỡ tinh thần họ trở về với chơn lý. Ðó là áp dụng Luật Bác ái. Còn như kẻ dữ nào còn muốn dở lối tà mị, không thể sửa cải được, chừng ấy mới đem pháp luật thi hành một cách công minh, chẳng vì thương mà trọng, không vì ghét mà khinh, chẳng vì trung trực mà binh, không vì tà vạy mà bỏ. Như thế thì cân tội phước mới chói rạng. Ấy là phương bảo tồn trật tự trước Luật Công bình. Vậy, thực hành cái thuyết Bác ái - Công bình là phận sự của Pháp Chánh Hiệp-Thiên-Đài. Thành thử có khi dùng Ðức để cảm hóa, có khi dùng Pháp luật để khuyên răn, cầu cho kẻ sai lầm giác ngộ chơn lý.

Nhưng chúng ta cũng chẳng khá quên rằng, ngoài Pháp luật của Ðạo, kẻ tu hành còn phải chịu dưới hệ thống thưởng phạt của Luật Nhơn Quả: Lành thì thăng, dữ thì đọa. Sự báo ứng chẳng hề sai chạy mảy may. ‘Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu". Ðó là một điều mà người hành đạo nên lưu tâm cho lắm." (Hạnh Ðường 1973)

Thế nên câu liễn Bộ Pháp Chánh đề rằng:

-

PHÁP luật vô tư đạo giáo từ oai tùng lý,

-

CHÁNH tông bất dịch chơn truyền thiện ác tùy hình.

Nghĩa là

Pháp luật của Ðạo thì vô tư, nhơn từ, oai nghiêm, tùng lẽ phải,

Chơn truyền của nền Ðạo chơn chánh thì không đổi, việc lành hay dữ tùy mức độ mà có hình phạt.

 

 

PHÁP MÔN


E: The ways of improvement.
F: Les voies de perfectionnement.

Đây là điều bốn trong 10 điều Khuyến tu của Đức Chí-Tôn:

Ðiều thứ tư: Pháp môn qui luật,
Lục, thập trai cố sức trau giồi;
Thịt thì xương máu tanh hôi,
Cỏ cây rau cải cũng rồi bữa ăn.
Ðức từ bi thường hằng thể hiện,
Không sát sanh lòng thiện ta còn;
Lạt chay tuy chẳng ngọt ngon,
Còn hơn thú vị cơm chan máu hồng.

 

 

PHÁP NHÂN

法 人
E: Juridical personality.
F: Personnalité juridique.

Pháp: Pháp luật, các Luật đặt ra để quản lý việc Đời hay việc Đạo. Nhân: người. Pháp nhân là một tổ chức, một đoàn thể, hay một tôn giáo, được pháp luật quốc gia công nhận như một cá nhân, tức là có tư cách pháp lý, nghĩa vụ và quyền lợi như một cá nhân. (Một chủ thể có quyền lợi nghĩa vụ như cá nhân, song do pháp luật đặt ra chứ không phải tự nhiên mà có).

Không phải đoàn thể nào cũng có Pháp nhân.

Một đoàn thể muốn được công nhận Pháp nhân thì phải có các điều kiện sau đây:

Có những quyền lợi chánh đáng cần được bảo vệ.

Những quyền lợi đó có thể được qui tụ vào một trung tâm đại diện.

Có một hệ thống tổ chức rõ ràng, có người đại diện hợp pháp.

Việc công nhận một đoàn thể, tổ chức, tôn giáo phải được thực hiện bằng một Sắc Lệnh của chánh phủ.

Căn cứ vào Sắc Lệnh đó, kể từ ngày ký, đoàn thể ấy mới có tư cách pháp nhân, mới được đứng tên làm chủ các bất động sản hay động sản, cũng như các quyền lợi khác.

Đạo Cao Đài từ trước tới nay, có 2 lần được chánh phủ ban cho tư cách pháp nhân:

- Ngày 12-7-1965, Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa ra Sắc Luật số 003/65 công nhận Hội Thánh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ có tư cách pháp nhân.

- Ngày 9-5-1997, Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được Ban Tôn Giáo Chánh phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban cho pháp nhân theo Quyết Định số 10 QĐ/TGCP.

Sau đây, chúng tôi chép lại bản Hiến Chương của Đạo Cao Đài kỳ ban Pháp nhân thứ 1 và kỳ ban Pháp nhân thứ 2.

PHÁP NHÂN theo Sắc Luật số 003/65 ngày 12-7-1965.

PHÁP NHÂN theo Quyết Định số 10 QĐ/TGCP ngày 9-5-1997.

 

 

PHÁP SIÊU QUẦN THÁNH


E: His miracle pass the whole of Saints.
F: Son miracle dépasse l’ensembre des Saints.

(Đây là câu kinh trong bài Kinh Tiên Giáo)

Pháp tắc của Đức Thái Thượng Đạo Quân là vượt hẳn lên trên các bực Thần Thánh

 

 

PHÁP THÂN

法 身
E: Astral body.
F: Corps éthéré.

Đức Hộ Pháp nói: "Bắt đầu từ lúc này chúng ta bước vào Con đường Thiêng-liêng Hằng-sống rồi đó. Nếu đi theo con đường Cửu-Thiên Khai-hóa và con đường Thập Nhị đẳng cấp Thiêng-liêng thì khác. Vì đi hai con đường đó là khi ta mãn kiếp về với Đức Chí-Tôn, ta đi với cả Linh-hồn và Thể-phách. Còn hôm nay chúng ta về với Đức Chí-Tôn bằng Chơn-Thần, vì Bần-Đạo may duyên được đặc ân của Đức Chí-Tôn cho phép nên mới đi riêng cũng như đi tắt vậy. Chúng ta ngó lên thấy như Đại-hải minh mông, nhưng thật ra không phải Đại-hải mà là vòm trời của Càn Khôn Vũ Trụ. Nơi xa xa khi ẩn khi hiện trong mây, một tòa nhà nguy nga đồ sộ, thoạt ẩn thoạt hiện mập-mờ, vừa ngó thấy thì ta muốn đến ngay, không biết làm sao đến, vừa lúc đó pháp-thân ta như có một sức mạnh hút đi, không đi mà đến, đến mau như đi bằng máy bay vậy."

 

 

PHÁP THÍ

法 弛
E: Donation of doctrine
F: La donation de la doctrine.

Pháp: Giáo lý, giáo thuyết của một nền tôn giáo. Thí: bố thí, đem cho.

Pháp thí là bố thí giáo lý, tức là dùng lời nói giảng giải giáo lý, để người nghe hiểu Đạo mà thức tỉnh, thấy cuộc đời chẳng khác chi một giấc mộng mà công danh phú quí là những sợi dây ràng buộc con người vào vòng tội lỗi, để từ đó lo việc tu tâm dưỡng tánh, thoát khỏi những nỗi phiền não của cuộc đời (Lấy Phật pháp mà bố thí cho người).

Bố thí thực phẩm cho người đói lòng là một nghĩa cử từ thiện có phước đức, nhưng bố thí lời đạo đức để giác ngộ người mê đắm vật chất phàm trần thì lại càng có phước đức nhiều hơn, công quả trọng đại hơn.

 

 

PHÁP XA


E: Mysterious cart.
F: Char mystérieux..

Đức Hộ Pháp thuyết về cảnh Thiêng Liêng: "Khi Bần Đạo ngồi trên Pháp xa đến, thấy các Chơn linh hằng hà sa số, bao vây trước cửa la liệt không thể đếm. Pháp xa vừa ngừng, Bần đạo bước xuống thấy ba cửa nơi Bạch Ngọc Kinh có 12 vị Thời Quân mặc khôi giáp, tay cầm Bửu pháp, đứng cản đường không cho thiên hạ vô. Bần đạo thấy ba cửa ấy xa nhau, mỗi cửa có bốn người giữ. Bần đạo muốn nói chuyện thì ba cửa ấy gom lại, 12 người hiệp lại đứng trước mặt Bần Đạo. Bần Đạo hỏi, vì cớ nào không cho người ta vô? Vừa hỏi thì họ bỡ ngỡ nói người ta biểu đừng cho vô. Nói người ta biểu thì Bần Đạo biết là Kim Quang Sứ biểu xúi đừng cho các Chơn linh vào Bạch Ngọc Kinh. Giận quá, day mặt ra ngoài biểu các Chơn linh vô. Họ tràn vô nghe một cái ào, dường như nước bể bờ chảy vào Bạch Ngọc Kinh vậy. Tới chừng các Chơn linh vô hết, liền biểu 12 vị Thời Quân vô, rồi đứng dòm cùng hết thảy coi còn ai ở ngoài nữa không? Bần Đạo cầm cây Giáng Ma Xử đi vô Bạch Ngọc Kinh sau hết."

 

 

PHÁT CHẨN


F: Distribuer des aumônes.

Phát: Khởi đầu, mở ra, nổi lên, phân phối. Chẩn: cấp tiền bạc, thuốc men, lương thực cho người nghèo khổ hoạn nạn. Phát chẩn là đem tiền bạc, lương thực, thuốc men, quần áo, phát cho người nghèo khó đang lúc bị hoạn nạn (phát đồ cứu trợ).

 

 

PHÁT HUY


F: Manifester.

Phát huy : Làm cho rõ rệt ra.

Đức Quyền Giáo Tông viết trong Tờ Khai Đạo gởi Thống-Đốc Nam-kỳ Sài Gòn: "Đạo Cao Đài là thể hiện một nền văn minh tinh thần triết lý, gồm cả bí quyết của trời đất và vạn vật. Tam Giáo và Ngũ Chi để phát huy cơ huyền nhiệm của vũ trụ, là một "Đại nhứt thể".

 

 

PHÁT KHỞI NGUỒN ĐẠI ĐẠO

Trước mặt ba vị: Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao Hoài-Sang. Ngài hỏi rằng: "Thầy muốn dùng các con mà khai Đạo, các con có dám lãnh trọng-nhậm ấy chăng?".

Ba Ông bạch rằng: "Trong các con từ bé chí trưởng, chẳng thông Đạo lý chi, duy nhờ Đức Chí-Tôn dạy bảo bấy lâu, thì sự biết chưa đặng trong muôn một, e cho chẳng xứng đáng mà lãnh trách-nhậm lớn lao ấy".

Đức Ngài nói rằng: "Chi chi có Thầy gần bên các con, miễn là các con khứng chịu, gắng để trọn tấc lòng, thì chẳng hề chi.". Khấn vái xong rồi thì vào nhà phò loan, Đức Chí Tôn giáng dạy như vầy: "Thầy cho các con hiểu rằng: Buổi tạo Thiên lập Địa, Thầy sanh loài người ra, nhằm ngày Dần "Nhân sanh ư Dần". Vậy từ đây, Thầy dùng các con, làm tay chơn, mà gầy dựng nền Chánh-giáo. Lại cũng kể ngày nay là ngày phát khởi nguồn Đại-Đạo, lấy hiệu Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, còn Thầy thì Tá-danh Cao-Đài Tiên-Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát."

 

 

PHÁT LẠC

發 落
E: To exil.
F: Exiler.

Phát lạc: Ðưa đi đày. Một hình phạt tùy theo việc làm trong kiếp sanh đã gây nên nhơn quả buộc ràng, tội hình do đó mà nặng nhẹ khác nhau.

Ngày l5-11-Bính Dần (dl: 09-12-1926) THẦY dạy Thượng Chưởng Pháp Tương rằng: "TƯƠNG tuy chưa đặng như mấy kẻ ấy, song lòng đạo đức đã ra vun đắp mối Ðạo Trời, thì địa vị cũng có khi khác thế thường đặng. Ðiểm Chơn-Thần của nó còn phải đến hầu trước Tòa Tam Giáo mà đợi lịnh phát lạc tùy theo công quả, tội tình của nó bấy nay. Ấy là Thánh ý của Thầy đã lập Luật riêng cho mỗi đứa trong các con đó. Chư Môn đệ cũng nên hiểu biết. Còn việc an táng nó, các con cũng nên lưu ý chung với nhau mà lo bề Nhơn đạo của các con cho toàn."

 

 

PHÁT NGUYỆN

發 願
E: To make a vow.
F: Faire un vœu.

Phát: Khởi đầu, mở ra, nổi lên, phân phối. Nguyện: mong ước. Phát nguyện là phát ra lời nguyện ước (Phát lời thề, Phát lời nguyện ước).

Di Lạc Chơn Kinh:

"Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, tín Ngã ưng đương phát nguyện: Nam mô Từ Hàng Bồ Tát...."

 

 

PHÁT TANG

發 喪
E: Death announcement.
F: Avis de funérailles.

Phát: Khởi đầu, mở ra, nổi lên, phân phối. Tang: cái lễ đối với người chết. Phát tang là báo tang cho mọi người đều biết (Tức là cáo phó, cáo tang).

 

 

PHÁT HẠ HỒNG ÂN

Phát hạ hồng ân 發下洪恩 là ban phát xuống ơn to lớn cho tất cả nhân loại và vạn vật.

Lòng Sớ dâng về Thiêng liêng có câu:

"Ngưỡng vọng vô Trung Từ phụ phát hạ hồng ân Càn Ngươn Đại Đức" 仰望無中慈父, 發下洪恩,乾元大德

 

 

PHÁT HÀNH


F:Expédier.

Phát hành : khởi đi.

 

 

PHÁT TRIỂN


F: Développer.

Phát triển 發展 là Làm mở mang thêm.

 

 

PHẨM CŨ

E: The ancient grade.
F: Le grade ancien.

Phẩm: Tính chất tốt xấu, thứ bậc chức sắc, tư cách, từng cái hay từng loại. Ngôi: chổ ngồi của người có chức vị. Phẩm cũ ngôi xưa là phẩm tước và ngôi vị nơi cõi thiêng liêng có được trước khi đầu kiếp xuống cõi trần (phẩm vị tiền kiếp).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Căn xưa quả cũ đã trả vẹn thì con đường đạo đức tất là nấc thang dìu đến phẩm cũ ngôi xưa.

 

 

PHẨM LIÊN HOA

Đức Hộ Pháp nói: "Bần-Đạo xin nói thật, Đức Phật Thích-Ca, dầu sự trị thế của Ngài đã hết, chúng ta chỉ nói là hết thôi. Hai ngàn năm trăm năm (2.500) lập Đạo trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống kia, Môn-Đệ của Ngài nhiều lắm, các người đừng tưởng Ông già ăn mày ấy không đủ quyền năng, mà các người khi dễ. Nội cái Bình-Bát-Vu của Ông đựng cả chơn hồn trong Càn Khôn Vũ Trụ, Ông ăn mày tại thế này vậy mà ngôi vị Cực Lạc Thế Giới của Ông các người xin một phẩm Liên Hoa, Ông có thể cho, là một người không nên khi dễ, không nên nguội lạnh với người đó, bởi vì Môn đệ của Ngài trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống nhiều lắm."

 

 

PHẨM PHỤC


E: Uniform of dignitaries.
F: Uniforme des dignitaires.

(Phẩm là thứ bậc Chức sắc, lớn nhỏ, tư cách, từng cái hay từng loại. Tính chất tốt xấu, Phục : y phục, quần áo). Phẩm phục là y phục của Chức sắc tùy theo phẩm cấp mà khác nhau. Tuy nhiên chính cái phẩm phục do Đức Chí-Tôn ban cho đã nói lên quyền hành và trách nhiệm mỗi phẩm rồi.

 

 

PHẨM THIÊN VỊ

E: The heavenly classes.
F: Les classes célestes.

Phẩm Thiên vị (Phẩm vị thiêng-liêng): Phẩm vị do Trời ban cho.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Cái phẩm vị của các con buộc phải tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị tối thượng mình là nơi Niết Bàn.

 

 

PHẨM TRẬT

Phẩm trật 品秩: phẩm tước cao thấp.

Phạm nghiệp, ngày 16-2-Ất Hợi (dl 20-3-1935)

Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm giáng dạy: "Phẩm trật rắc rối khó nói rõ, nhưng chia ba: háp, Đạo, Thế, thì theo sự hiểu biết của Bần Đạo như vầy :

- Sĩ Tải là Secrétaire Archiviste,
- Lên phẩm Truyền Trạng là Greffier.
- Rồi lên phẩm Thừa Sử là Commissaire de la justice.
- Phẩm Giám Đạo là Inspecteur,
- Lên phẩm Cải Trạng là Avocat,
- Lên phẩm Chưởng Ấn là Chancelier.

Lên phẩm ấy rồi, tùy phái lên đại vị Hiệp Thiên Đài, nhưng phải biết rằng: Chưởng Ấn phải lên địa vị Tiếp Dẫn Đạo Nhơn mà đắc công phổ thông đặng một nước nào rồi mới vào chánh vị.

 

 

PHẨM TRẬT THIÊN VỊ - QUỈ VỊ


E: The heavenly classes - The hierarchy of Satan.
F: Les classes célestes - La hiérarchie de Satan.

Phẩm: Tính chất tốt xấu, thứ bậc chức sắc, tư cách, từng cái hay từng loại. Trật: thứ tự, trật tự. Vị: ngôi vị, địa vị.

Phẩm trật: phẩm tước cao thấp.

Thiên vị: ngôi vị nơi cõi Trời, tức là ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Quỉ vị: các tước vị nơi cõi của Chúa quỉ.

Các con coi đó thì đủ hiểu, các phẩm trật của các con nó nhiều là dường nào, song ấy là phẩm trật Thiên vị.

Còn phẩm trật Quỉ vị cũng như thế đấy, nó cũng noi....

 

 

PHẨM TƯỚC

品 爵
E: The classes of dignity.
F: Les classes de dignité.

Thầy hỏi: - Phẩm-tước là gì? Của cải danh-vọng là gì?

-Phẩm tước là sự tổng-hợp các chức tước đã bày ra để quyến rũ người hoặc ít hoặc nhiều. Những chức-tước ấy do người đời tạo ra phong-thưởng kẻ khác.

Giá-trị của các chức-tước ấy ra sao? Giá-trị những chức tước ấy tuỳ theo mà tạo nó ra. Việc chi do người đều phàm cả nó không bền, thường thường bị hư hỏng và tiêu tan ngay sau khi người đã được nó tặng bị cướp mất sự sống. Các con hãy tìm tước phẩm nơi cõi Thiêng-liêng, tước phẩm ấy mới là vĩnh viễn. Còn tài-sản là tổng-quát các vật quý-giá của con người để thu nhặt trên thế-gian nầy.

Của cải ấy gồm những gì? Vàng bạc chỉ là loại kim-khí tầm thường. Hồng là một chất màu. Còn lục là chất do loài vật cấu thành ra. Các con xem của ấy là quý giá thật-sự sao? Xét từ nơi sản xuất các vật ấy, đều không đáng kể. Các con nên tìm sự giàu đức-tính của Trời. Chỉ có cách đó, mới gọi là vĩnh-cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả. Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ sự gian trá. Danh-quyền nơi Trời là bền chắc nhứt. Và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách.

Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng phẩm tước của cải và danh-vọng của Trời.

-Thầy trả lời: "TU".

 

 

PHẨM VỊ

品 位
E: The dignity.
F: La dignité.

Pháp Chánh Truyền dạy: "Phép của Trời có một, là thương khắp cả chúng sanh, nên định cho phẩm vị hữu hình và Thiêng Liêng có một, nghĩa là phải tương đắc cùng nhau, đặng định quyết phép công bình lành thăng, dữ đọa".

Thầy dạy: "Nơi kiếp sống nầy, nếu không biết TU buổi chung qui sẽ mắc tội nơi Thiên đình. Phẩm vị Tiên Phật để thưởng cho kẻ lành mới đáng phẩm vị, chớ chẳng phải của để treo tham cho thế gian phòng toan đạt đặng. Tuy luật lệ siêu phàm nhập Thánh thì vậy mặc dầu, chớ cũng do cơ thưởng phạt của Thiên đình mới đạt phẩm vị ấy đặng, của vô vi chưa chắc ai muốn lấy thì lấy tùy ý".

Đức Hộ Pháp nói: "Đức Lão-Tử thấy loài người không biết điểm tinh thần mình, không biết chơn-tướng tinh-thần mình để nơi nào định vị cho có giá trị. Ngài sanh tại Trung-hoa, tâm-lý nhơn-sanh không biết phẩm-giá tinh-thần của con người là gì, đến đỗi tâm lý loài người buổi ấy sa-đoạ, không biết phẩm-vị mình nơi nào, không biết tôn-trọng phẩm-vị đó nên đọa xuống thú-chất vật loại, nếu không vì Bác-ái, Từ-bi thức tỉnh nhơn-loại, cho biết phẩm-vị tối cao của họ, đừng làm con vật nữa. Nếu không phải vì tâm Bác-ái, Công-bình thì không hề Ngài lập Giáo dường ấy".

Hôm nay Thầy dạy rằng :"Thầy lại đến lập trong nước các con một nền Chánh giáo đủ tư cách độ rỗi chúng sanh. Các con và cả dân tộc các con vì nơi Đạo mà đặng đoạt đến phẩm vị cao thượng; cái phẩm-vị ấy do đâu mà có? -Là bởi đạo-đức các con, đạo-đức thắng hung bạo là thường tình".

 

 

PHẨM VỊ THIÊNG LIÊNG

Đức Hộ Pháp có nói: "Đại-Từ-Phụ đến khai Tam-Kỳ Phổ-Độ có đem theo một gia nghiệp Thiêng liêng xuống thế, rồi nắm tay các Lương-sanh mà dắt đến một nơi vinh-diệu lại bảo rằng: Các con phải leo cho thấu trên chót Đài Cao này cùng Thầy đặng xem tòan thể của địa hòan, ngó cho chường, suy cho quyết, rồi chung tâm hiệp trí cùng Thầy lo liệu bề chuyển thế…Của cải này đủ thế lực cám-dỗ nhơn-sanh qui hồi bổn thiện. Thừa tánh tham của phù du thế tục, các con trao phẩm vị Thiêng-liêng. Do tâm dữ tranh quyền lộc công danh, các con đổi Chí-linh bổn thiện. Cơ-quan cứu khổ chúng sanh cũng do nơi đó".

Đức Lý Giáo Tông nói với ông Thượng Tương Thanh:: "Ngày nay đã hành chánh thì cũng nên lập mình cho đủ tư cách của một người cầm sanh mạng của nhơn loại. Chưa có ngôi vị Ðế Vương nào mà sánh với phẩm vị thiêng liêng đặng. Khá phân biệt trượng khinh mà giữ gìn, kẻo bị tà tâm rối loạn. Hiểu à! Lão chưa hề thấy ai để trọn tấc lòng mà làm nên danh thể cho Ðạo, mà kẻ phá Ðạo hư rất nhiều. Hiền Hữu rán mà trừ tà diệt mị cùng Lão, kẻo ngày sau tránh không qua lời tiên tri của Lão đa nghe! Phải hiệp đồng cùng cả Chức sắc Ðại Thiên phong mà khử loạn, bằng chẳng vậy, thì Lão nhứt định không cho ai thăng cấp một người".

Đức Hộ Pháp ghi nhận: - "Nếu được như vậy thì mới trọn tâm trong sự dâng mảnh thân phàm cho Đức Chí Tôn dùng trong việc cứu vãn tình thế nguy nan của nhơn loại đó. Bần Đạo xin khuyên các Em ráng lưu tâm những lời chỉ giáo của Bần Đạo mà tự nâng cao tinh thần của mình hầu làm gương cho nhơn sanh- Nói về triết lý của Đạo Cao Đài thì mỗi phẩm tước càng cao lại càng phải gồng gánh phận sự nhiều hơn, phải liệu lượng sức tài của mình và hành động coi có xứng với phẩm tước mà mình đang mang nơi mình chăng? Nếu nhận thấy xong phận thì là điều nên và phải cố gắng thêm nữa, thoảng như nhận thấy mình chưa xong phận thì phải làm cho xứng phận, mới khỏi hổ một kiếp sanh gặp Đạo sớm và cũng khỏi hổ với phẩm tước của mình đã mang. Phẩm vị thiêng liêng cũng do nơi đó mà có. Các Em nên làm cho khác với thế tình là vẹn phận. Bần Đạo cũng mừng cho các Em." (Báo Ân Từ, 1-10-Canh Dần (dl: 10-11-1950)

 

 

PHÂN BIỆN


F:Distinguer.

Phân biện 分辨 Chia riêng ra mà xét rõ.

Thánh Thất Kim Biên, 22-8-Ất Hợi (dl: 19-9-1935) Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm nói:

Chư vị Chức sắc Thiên phong xin nghe Bần Đạo phân biện phận sự trọng yếu khó khăn của Bần Đạo hầu sống với chức trách của mỗi người, may ra cũng hiểu riêng phận mình, hầu làm cho thêm danh giá cao trọng của Hội Thánh, tức là của Đạo vậy.

Bần Đạo chẳng phải cầm toàn quyền nơi tay mà phải tùng lịnh của Đức Lý Đại Tiên, đương kiêm Giáo Tông của Đạo. Các bạn biết rằng, nơi Cửu Trùng Đài chẳng một ai ra ngoài quyền vi chủ ấy. Bần Đạo chẳng cần tỏ rằng chính mình Bần Đạo là tôi tớ của quyền hành ấy và người cầm quyền ấy đã nghiêm khắc là dường nào!

Ôi! Biết bao phen cũng vì thương công nghiệp của nhiều người mà Bần Đạo không quyền phong thưởng, phải chịu đổ lụy châu mày, mà cũng nhiều phen căm giận những kẻ vị danh vô giá trị đã không nên phận mình, lại còn hại lây cho người xứng đáng.

Bần Đạo mỗi phen cầu thăng cùng Đức Lý Giáo Tông thì đều bị hổ thẹn, vì người giở Thiên Thơ cho xem công nghiệp. Nếu Bần Đạo thoảng như cầm bút phê phong mà bôi tên của người nào, xin chư Hiền Hữu đừng coi rằng lạ chưa?".

 

 

PHÂN BIỆT

分 別
F: séparer, différence.

Phân biệt 分別 :Chia riêng nhau ra.

Thầy bảo: 05 tháng 6 Bính Dần (Mercredi 4 Août 1926)

"Sự chơn thật và sự giả dối, mắt phàm các con đâu có thế phân biệt đặng; một trường thử Thánh, Tiên, Phật vì vậy mà phải lập nơi thế gian nầy; nếu buổi sanh tiền dầu cho một kẻ phàm tục tội lỗi biết đặng cơ quan mầu nhiệm của Ðấng Chí Tôn là Trời đã sắp đặt, thì cũng chẳng dám gây ra tội lỗi mà thôi, lại có thể đắc đạo mà gấm ghé phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng nữa, huống lựa là các đấng ấy phải bị đọa trần mà biết mình hằng giữ, thì mầu nhiệm thử Thần, Thánh, Tiên, Phật chẳng có nghĩa lý gì hết."

 

 

PHÂN CHIA ĐẲNG CẤP

- "Nơi cõi vô hình phải có Thập nhị Khai thiên tức là Thập nhị Thời Thần phối-hợp nhau để tạo nên cung Trời, thì ở mặt thế này đối-tượng của Thập Nhị Khai Thiên là Thập Nhị Thời-quân cũng phải phối-hợp cùng nhau để giúp tạo thành hình tướng của Đạo Cao-Đài. Vì đó mà Thập Nhị Thời-quân mới có mặt bồi tửu trong buổi Lễ Hội-Yến.

Bên Cửu-Trùng-Đài là hình ảnh Cửu-Thiên khai hóa, mà nơi cõi vô hình thì Cửu-Thiên khai-hóa chỉ là sự phân chia đẳng-cấp của cơ Trời; còn về phần hữu hình thì Cửu-Trùng-Đài cũng chỉ là phận-sự chia đẳng cấp trong cửa Đạo mà thôi.

 

 

PHÂN CÔNG CHIẾT TỘI

Khi Đức Hộ Pháp Trấn Thần cây Cân Công Bình, Ngài đi vào cửa Đền Thánh, đứng ngay ngó vào Tịnh Tâm Điện, Trấn Thần cái Cân trên ngưỡng cửa. Ngài nói: "Từ đây, cái Cân Công Bình thiêng liêng của Đức Chí Tôn đã biến tướng thiệt hiện ở thế gian nầy để phân công chiết tội mà định phẩm vị Tòa sen cho toàn con cái của Ngài".

"Về mặt cân công-bình thiên-hạ gọi là công-lý mà thế gian này chưa có công-lý, mạnh thì công-lý của họ khác, giàu thì công-lý của họ khác, sang thì công-lý của họ khác, vinh hiển thì công-lý của họ khác, nghèo thì công-lý của họ khác".

 

 

PHÂN GIẢI

分 解
E: To make clear.
F: Éclaisir.

Phân: Chia ra, một phần, bày tỏ tách bạch. Giải: trình bày cho rõ ra. Phân giải là nói rõ từng phần của vấn đề cho sáng tỏ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nên Thầy không giáng cơ mà phân giải lại nữa.

 

 

PHÂN PHÁI CHIA PHE

Đức Hộ Pháp nói: "Hại thay! cho những người vô phần toan phân phái chia phe làm cho xác Chí-Tôn phải tan-tành rời rã.

"Khổ thay cho những kẻ không duyên chối Thánh giáo nghịch chơn-truyền, làm cho Chơn thần của Chí-Tôn phải ô-uế đê-hèn muốn toan bỏ xác. Đau-đớn thay cho những người ấy! Thê thảm thay cho những kẻ ấy! Dám để tay vào mà làm hại Chí-Tôn; cái tội-tình ấy lớn-lao bao nã. Coi lại gương JUDA bán Đức Chúa Jésus-Christ còn nhẹ, vì Juda ham ba chục nguơn bạc đặng nuôi Môn-đệ của Người, còn những kẻ này đây duy háo danh mà phản Đạo. Chí-Tôn đã đến thế, hạ mình đặng làm Thầy dạy dỗ chúng ta, hằng trông mong giờ nào chúng ta biết hòa hiệp nơi lòng Bác-ái từ-tâm của Người, là hiệp làm một cùng Người mới có đủ quyền-hành đặng tận độ chúng sanh qui hồi cựu vị; mà đã sáu năm chầy rồi, thân-thể hỡi còn rời rã ngất-ngơ, Chơn-thần hỡi còn dật-dờ mê-muội, thì thế nào các Đấng Thiêng-liêng hiệp một cùng đời cho đặng, hầu mong sửa cải Thiên-thơ, tụ hội các nguyên-nhân đem vào cửa Đạo". (Pháp Chánh Truyền)

 

 

PHÂN QUYỀN

分 權
F: Décentralisation administrative.

Phân: Chia ra, một phần, bày tỏ tách bạch. Quyền: quyền hành. Phân quyền là phân chia quyền hành cho rõ ràng và hợp lý để khi làm việc khỏi dẫm chân lên nhau (Chia quyền ra để trị).

Bát Ðạo Nghị Ðịnh:

Chánh Phối Sư nam phái hành chánh riêng nam, Chánh Phối Sư nữ phái hành chánh về nữ, nam nữ phân quyền.

 

 

PHÂN TÁNH

Đức Hộ Pháp nói: "Ðức Chí-Tôn duy có một mình, Ngài phân ra mới có Phật-Mẫu. Ngài phân ra Đệ Nhị quyền hiệp lại Đệ Nhứt quyền đủ quyền-năng tạo ra Càn-khôn Vũ-trụ để lập gia đình cho loài người đó vậy. Nhờ Chí-Tôn phân tánh là Bí pháp lập thành xã hội đó. Chúng ta đã hằng tưởng hiểu cả, loài cầm thú phải có hiệp lại mà biến sanh được, giải rõ là trống mái, đực cái hay nam nữ vậy. Nó tương liên trước mặt chúng ta hoặc một cách âm thầm bí-mật. Vậy loài người bao giờ cũng có xã hội nhơn quần, gia đình, vì mặt luật buộc như vậy. Lời chúng ta thường nói "Chưa ai ở đất nẻ mà chun lên". Tức là muốn nói đến "Cây có cội, nước có nguồn" vậy.

 

 

PHÂN TÂM

分 心
E: The divided spirit.
F: L’esprit partagé.

Phân: Chia ra, một phần, bày tỏ tách bạch. Tâm: lòng dạ. Phân tâm là lòng dạ bị chia cắt, không tập trung được vì lo nghĩ nhiều việc dồn dập cùng một lúc.

Khi bị phân tâm thì mất sáng suốt, hay lưỡng lự.

 

 

PHÂN THÂN

Phân: Chia ra, một phần, bày tỏ tách bạch. Thân: thân mình. Phân thân là chia thân mình ra thành hai người.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Muốn tầm hiểu cho ra Chơn Lý
Dẹp các điều nghi kỵ hoang đàng
Chí Tôn truớc cũng tạo chàng
Phân thân từ chỗ Hỗn mang dắt dìu

 

 

PHÂN TRẦN

分 陳
E: To expose.
F: Exposer.

Phân: Chia ra, một phần, bày tỏ tách bạch. Trần: bày tỏ, trình bày. Phân trần là phân tích và trình bày mọi nỗi để mọi người biết rõ mà thanh minh cho mình (bày giải cho rõ ràng).

 

 

PHÂN TƯỜNG

Phân tường 分詳 Bày giải một cách tận tường

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nền Chánh giáo như nghiêng như ngã,
Ai phân tường rằng giả rằng chơn.
Cũng vì tiếng nói phi-thường,
Khiến nên Nhà nước nhọc đường xem trông.

 

 

PHÂN XỬ

分 處
E: To judge.
F: Juger.

Phân: Chia ra, một phần, bày tỏ tách bạch. Xử: quyết đoán. Phân xử là phân tách và quyết đoán một vụ phạm pháp hay một vụ tranh chấp (Phân giải và xử trí).

Tân Luật: Điều 29:

Chư Chức sắc, ai có phạm luật pháp trong Đạo thì đem trước Tòa Tam Giáo phân xử.

 

 

PHÂN VÂN BẤT NHỨT

Phân vân bất nhứt: chưa nhất quyết

Đức Hộ Pháp thuyết ngày 30-08 Tân Mão (1951)

"Đêm nay Bần Đạo mời cả Thánh Thể của Đức Chí Tôn và con cái của Ngài nam, nữ hiệp trí lại đặng tìm coi cái lẽ chơn giả của các Đạo giáo từ thử đến giờ, cả trí não con người đã tầm Đạo phân vân bất nhứt".

 

 

PHẤN CHẤN

奮 震
E: The feel enthusiastic.
F: S’enthousiasmer.

Phấn: Gắng sức, hăng hái tiến lên. Chấn: rung động. Phấn chấn là hăng hái, hứng khởi (Hăng hái, ra sức tiến lên).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Lo lắng phải ra tươi cười, mỏi mòn thành phấn chấn.

 

 

PHẤN CHÍ

奮 志
E: The enthusiasm.
F: Enthousiasme.

Phấn chí 奮志: Phấn phát chí khí để tiến thủ

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
giáo đạo Nam phương

"Thầy dặn con Trung: Lý-Bạch phiền Tương vì trong Sổ không nhiều công quả, Người mới để cho nó chết. Con dặn cả Môn đệ coi gương Tương mà giữ mình. Ráng phấn chí lập thành Chánh giáo, chẳng bao lâu đây, Thầy sẽ cho một phương pháp rất trọng để cho các con cứu độ nhơn sanh".

 

 

PHẤN HƯƠNG

Phấn hương là những vật dụng trang sức của Phái Nữ, cốt làm cho tăng thêm nét đẹp trên khuôn mặt. Ở đây nói khiêm nhượng là phận Nữ Nhi, nhường phần thua kém hơn Nam nhi. Nhưng thực tế ở thời buổi này nếu nói tài trí, thì chưa ai hơn kém ai. Chỉ duy người không học thì chịu thua kém người có học là chuyện đương nhiên. Ngày nay người phái Nữ Cao-Đài nói riêng và người Nữ trên thế giới nói chung đã lấy:

"Phấn son tô điểm sơn hà,
"Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam."

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Con quyết dạ liều đem hồn xác.
Nguyện hy sinh gởi thác Đạo trường
Nghĩ con chút phận phấn hương,
Dám đâu ra chốn công đường to gan.

 

 

PHẤN KHỞI

奮 起
F: S’ Enthousiasmer, activer.

Phấn khởi 奮起:Trổi dậy cách mạnh mẽ

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân Lê-Văn Duyệt giáng cho thi:

Ðã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc-địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép tây tà.

 

 

PHẦN CHÚC

E: To burn the petition.
F: Brûler la pétition.

Phần: Đốt cháy. Chúc: bài văn tế, ở đây chỉ bài văn sớ. Phần chúc là đốt sớ văn (đốt sớ).

Đây là câu xướng của Lễ sĩ sau khi đọc xong sớ văn, để cho vị Chức sắc chứng đàn đốt sớ.

Lúc trước câu xướng nầy là: Phần sớ (đốt sớ), sau đổi lại là: Phần chúc, và ngày nay đổi lại là: Cung phần sớ văn: cung kính đốt bài văn sớ.

 

 

PHẦN HƯƠNG

焚 香
E: To burn incenses.
F: Brûler les encens.

Phần hương là đốt nhang.

Đây là câu xướng của Lễ sĩ để cho vị Chức sắc quì ở ngoại nghi đốt nhang và đốt trầm, rồi trao cho Lễ sĩ điện dâng vào nội nghi.

 

 

PHẦN MỘ

墳 墓
E: The tomb.
F: Le tombeau.

Phần: Cái gò mả. Mộ: cái mả. Phần mộ hay mộ phần là mồ mả.

 

 

PHẦN THƯỞNG THIÊNG LIÊNG

Đức Thượng Sanh nói: Có câu phương ngôn: "Nhà nghèo biết con thảo, nước loạn rõ tôi trung". Ðạo đã bao phen chịu thiệt thòi, chịu hiếp đáp, nhưng nhờ lòng trung thành của con cái Ðức CHÍ TÔN mà qua nhiều cơn giông tố rồi cũng đứng sựng và nêu cao ngọn cờ cứu khổ. Quí vị đã thọ lãnh sứ mạng Thể Thiên Hành Hóa thì mỗi việc làm của Quí vị đều có Thánh Thần chứng kiến, sự tận trung với Ðạo sẽ đem đến cho quí vị một phần thưởng Thiêng Liêng xứng đáng. Nếu vì một lẽ nào mà quí vị "bán đồ nhi phế" hoặc chịu làm dụng cụ cho kẻ khác phá Ðạo, tức là quí vị sẽ thất thệ và sự thất thệ là một trọng tội vô phương cứu chữa "hoạch tội ư thiên vô sở đảo dã".

 

 

PHẦN THƯ KHANH NHO

NHẠC là một trong Ngũ-Kinh: THI, THƯ, LỄ NHẠC, DỊCH, XUÂN THU nhưng qua thời đại của Tần Thủy-Hoàng với chánh sách "Phần thư khanh Nho" tức là đốt sách chôn học trò, nên ngọn lửa Tần đã thiêu rụi tất cả chỉ còn lại bộ KINH DỊCH mà thôi, vì nhà Tần cho rằng đây chỉ là sách bói toán, không đáng quan ngại.

Lời trần tình của Ban tốc ký viết Lời Thuyết đạo của Đức Hộ Pháp: "Nếu một mai thời cuộc lại biến thiên, có thể các cuộc "Phần Thư" lại diễn thì thiết tưởng trong số tài liệu nầy vẫn còn có nhiều người nhiệt tâm gìn giữ được vẹn toàn".

 

 

PHẦN XÁC- PHẦN HỒN

Pháp Chánh Truyền dạy: "(Giáo Tông) Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn.

CHÚ GIẢI: Hễ nói về phần xác là nói phần hữu hình, mà nói về phần hữu hình của chúng sanh tức là nói về phần Ðời. Còn như nói về phần hồn tức là phần Thiêng Liêng ấy là phần Ðạo. Trên đây Thầy đã nói rằng: Có quyền dìu dắt trong đường Ðạo và đường Ðời, thì Thầy đã chỉ rõ rằng, có quyền dìu dắt cả các con cái của Thầy trên con đường Ðạo Ðức của chính mình Thầy khai tạo và trên con đường Ðời cơ Ðạo gầy nên; chớ chẳng phải nói trọn quyền về phần Ðạo và phần Ðời, nghĩa lý phân biệt nhau duy có chữ ÐƯỜNG và chữ PHẦN, xin rán hiểu đừng lầm hai chữ ấy. Ðây là lời Thánh giáo của Thầy đã dạy Hộ Pháp khi Người hỏi Thầy về quyền của Giáo Tông.

Hộ Pháp hỏi: "Thưa Thầy theo như luật lệ Thánh Giáo Gia Tô Thầy truyền tại thế, thì Thầy cho Giáo Tông trọn quyền về phần hồn và phần xác; Người nhờ nương quyền hành cao trọng đó, Ðạo Thánh mới có thế lực hữu hình như vậy. Ðến ngày nay, Thầy giảm quyền Giáo Tông của mấy con về phần hồn đi, thì con sợ e cho Người không đủ quyền lực mà độ rỗi chúng sanh chăng?"

Thầy đáp: "Cười! Ấy là một điều lầm lạc của Thầy, vì nặng mang phàm thể mà ra. Thầy cho một người phàm đồng quyền cùng Thầy về phần hồn thì nó lên ngai Thầy mà ngồi, lại nắm quyền hành CHÍ TÔN ấy, đặng buộc nhơn sanh phải chịu lòn cúi trong vòng tôi tớ của xác thịt hơn nữa. Cái quyền hành quí hóa ấy, Thầy tưởng vì thương mà cho các con, nào dè nó là một cây gươm hai lưỡi để giục loạn cho các con.

Nay Thầy đến chẳng phải lấy nó lại, mà Thầy chỉ đến làm cho tiêu diệt cái hại của nó; nếu muốn trừ cái hại ấy thì chẳng chi hay hơn là chia đôi nó ra, không cho một người nhứt thống. Kẻ nào đã nắm trọn phần hữu hình và phần Thiêng Liêng, thì là độc chiếm quyền chánh trị và luật lệ, mà hễ độc chiếm quyền chánh trị và luật lệ vào tay, thì nhơn sanh chẳng phương nào thoát khỏi vòng áp chế. Như Thầy để cho Giáo Tông trọn quyền về phần xác và phần hồn (nghĩa là Ðạo và Ðời) thì "HIỆP THIÊN ÐÀI" lập ra chẳng là vô ích lắm sao con? "CỬU TRÙNG ÐÀI" là Ðời "HIỆP THIÊN ÐÀI" là Ðạo, Ðạo không Ðời không sức, Ðời không Ðạo không quyền: Sức quyền tương đắc mới mong tạo thời cải thế, ấy là phương hay cho các con liên hiệp cùng nhau, chăm nom săn sóc lẫn nhau, mà giữ vẹn Thánh Giáo của Thầy cho khỏi trở nên phàm giáo".

 

 

PHẬN BẠC

E: Unhappy lot.
F: Sort malheureurx.

Phận bạc hay bạc phận 薄分 Số phận mỏng manh.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Âm Dương cách bóng sớm trưa,
"Thon von phận bạc không vừa hiếu thân."

 

 

PHẬN ĐẠO

分 道
E: The parish.
F: La paroisse.

Phận: Số phận của mỗi người, một phần. Đạo: tôn giáo.

Phận Đạo là một khu vực đất đai thuộc Châu Thành Thánh Địa, có số tín đồ tương đương với một Tộc Đạo.Công-giáo gọi là xứ hay giáo khu.

Chỉ có Châu Thành Thánh Địa Tòa Thánh Tây Ninh mới được chia ra thành 18 Phận Đạo ( Vùng Thánh-Địa chia ra 18 phận Đạo), còn các nơi khác thì gọi là Tộc Đạo hay Họ Đạo.

Về phương diện Hành Chánh Đạo, Phận Đạo tương đương với một Tộc Đạo, có một vị Lễ Sanh đứng đầu gọi là Đầu Phận Đạo. (Xem: Châu Thành Thánh Địa, vần Ch)

 

 

PHẬN LIỄU MAI

Phận liễu mai: chỉ thân phận người con gái.

Thầy dạy:

Âm chất vốn là điều thứ nhất,
Âm chất nhiều mới dứt cõi trầm luân,
Phận liễu mai phải mang kiếp hồng trần,
Thầy lắm lúc bâng khuâng thương trẻ dại.

 

 

PHẬN SỰ


E: Duty.
F: Devoir.

Phận sự là việc về phần mình phải làm.

Đức Hộ Pháp nói: ngày 08-9-Mậu-Tý (10-10-1948)

"Phận sự, khi nào gọi đến phận sự thì không có quyền sở hữu chi riêng của mình nơi đó, chẳng phải quyền hành riêng tư của mình, thì không có lý do được tự-kiêu, tự làm phận sự, nếu nói chánh đáng nữa, thì ta bất quá là cái máy Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn, mạnh yếu tại nơi Người điều khiển, không phải tại chúng ta có quyền tự chủ, tự-kiêu gì mà đọat được. Chúng ta có quyền thay thế làm Thầy, làm Cha của con cái Đức Chí-Tôn; chúng ta không có quyền làm chủ sự đày-đọa họ bắt làm nô lệ. Chẳng phải vì công-nghiệp vĩ-đại hay là công-nghiệp tối cao của mình mà trở lại khi rẻ các chơn-linh xuống thế gian này, nếu các Bạn không giữ cho nó công-bình, ấy cũng không phương thoát khỏi tội đó. Bởi nó là phương pháp trị loạn vậy."

Đức Thương Phẩm giáng: 15-7-Giáp Tuất (dl: 24-8-1934): "Trách nhậm là trách nhậm, cá nhơn là thứ chi, phải biết nguồn cội là gốc, thì mới tránh khỏi thường tình đặng. Các Ðấng Thiêng liêng đã thường nói: Lợi danh thường tình là nhỏ, danh giá Ðạo là trọng. Ðãi người một bực, bất kể tên gì, chịu thiệt thòi mà làm phận sự. Trễ nải của bước Ðạo thế nầy thì Thầy có khổ tâm khai Ðạo cho chúng ta độ rỗi sanh linh đâu. Sự trễ nải là sự phàm tâm của ta, Anh cũng cần nên đoạn khổ cho người, chớ nên tạo khổ cho ai. Ðường đời là bến sông mê, thoát mê thoát khổ được, ai lại còn mang đeo thằng phược vào mình mà để cho loạn tâm mệt trí về nơi đó chẳng uổng kiếp sanh lắm ru"

Kinh Khi Về có câu:

"Cảm tạ ơn trên đầu dìu đỡ,
"Từ khi đi khi trở lộn về.
"Đặng xong phận sự mọi bề,
"Tâm tu lại vững chẳng hề lảng-xao."

 

 

PHẬN SỰ CHỨC SẮC

Đêm mùng 5 tháng chạp Tân Sửu (dl: 10-1-1962) tại Cung Đạo Đền Thánh, Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng Cơ dạy như vầy: "Một vị Chức Sắc cần phải có một phận sự, nếu không phải là phận sự Đạo thì là một phận sự đối với đời về mặt Bác ái thì mới thật hành câu Cứu nhơn độ thế. Nếu không có phận sự gì đặc biệt, cứ đếm ngày giờ trông mong phẩm vị thì tội với Thiêng Liêng đó. Thế thì dầu Chức Sắc hay Đạo hữu cả Nữ lẫn Nam, không ai được trái bước trong Đạo nhơn luân, nhiên hậu mới gấm ghé vào Thiên Đạo, thì công quả là phương châm duy nhứt dọn lối vào đường lập vị.

Sau nầy chúng ta cũng cần ý niệm rằng gắng sức thường hành công quả là phương chước đoái công chuộc tội, nếu chẳng phải nợ hiện kim thì cũng nợ tiền khiên vì không ai được thập toàn trên mặt thế. Rửa sạch tội lỗi bằng công quả tức là ưng lòng hứng chịu những gian lao về trí não cùng những khổ nhục về hình hài, đặng đền lại cái mà những ai trong chúng ta đã tạo hoặc trực tiếp hay gián tiếp cho kẻ khác phái vì ta mà điêu linh tân khổ. Đòn cân công bình nhứt là thuộc phái vô hình không bao giờ chênh lệch, thử hỏi những công kia trả nợ nầy, hồ dễ không hạp chân lý cho được?.

Một trong những điểm khác nên quan tâm là trong khi làm công quả, có những việc hàm oan phải mang, có những điều oan trái phải gánh, những chuyện thị phi phải lãnh với ngậm ngùi nuốt đắng trêu cay mà không dám than thân, không nên trách phận. Đó là những cách thử thách của tà thần để cho ta được thực nghiệm trau giồi đức tính thế nào cho ngang hàng với Phật, Thánh, Tiên mới mong thành Đạo. Lẽ dĩ nhiên quả đẹp thì vị cao, bằng trái lại thì chỉ có kẻ tái sanh tục kiếp mà lần hồi tiến hóa. Vả chăng Đại Đạo khai sáng một lần, Đại ân xá chẳng ân tứ hai lượt, thì nhơn loại hạnh ngộ Tam Kỳ, hội nầy là may duyên hi hữu. Nếu chẳng tu theo ngọn đèn Thiêng Liêng vạch lối, dầu giữa nắng ban ngày hay bán dạ thâm canh luôn luôn tỏ rạng trong lúc tà quyền giành giựt con cái Chí Tôn đặng lôi kéo vào chốn âm-u đày đọa. Chừng ấy tiến thoái lưỡng nan, có hối tiếc cũng muộn màng không xoay trở kịp."

 

 

PHẪN NỘ

憤 怒
F: Colère.

Phẫn nộ 憤怒:Nổi giận.

Đức Hộ Pháp nói: "Bà Nữ Đầu-Sư hồi còn tại thế này cũng vậy, hay về cõi Thiêng-Liêng cũng vậy thương Em lắm, thương phái Nữ lắm, Bà binh vực bảo trọng từ khi mới mở Đạo, biết bao phen Đức Lý-Giáo-Tông đã phẫn nộ, chính mình Bần Đạo cũng không thế binh vực được mà còn có thể ghét nữa mà chớ! Duy có một mình Chị binh vực bảo trọng phái nữ còn tồn tại đến ngày nay, bằng không thì bị phế rồi, bị Đức Lý phế rồi đó".

Đây là điều 5 trong 10 điều Khuyến tu của Đức Chí-Tôn:

Ðiều thứ năm: Quyết không hờn giận,
Ghét ganh chi cho bận lòng mình;
Con xem vạn quyển Thiên Kinh,
Hiền nhân quân tử rộng tình ví câu.
Muôn việc xảy bắt đầu phẫn nộ,
Là nguyên nhân thống khổ ly tan;
Chơn truyền Pháp chánh Ðạo Vàng,
Tập xong chữ Nhẫn Niết Bàn không xa.

 

 

PHẤT CHỦ (PHẤT TRẦN)


E: The dust brush of the immortals.
F: L’époussette des immortels.

Phất trần 拂塵 là Còn gọi là Phất chủ là cây dùng để quét bụi. (Phất là quét, Chủ là con chủ) Phất chủ là cây chổi quét bụi làm bằng lông đuôi con Chủ. Do vậy mà Phất chủ còn được gọi là Phất trần (quét bụi = trần là bụi).

Con chủ là một loài thú, thuộc loại nai, hình dáng như con hươu nhưng lớn hơn, có lông đuôi dài chấm đất, khi đi thì cái đuôi của nó phe phẩy như để quét bụi. Thông thường thì con chủ đi trước, đàn hươu đi theo sau, con chủ đi đến đâu phẩy sạch bụi đến đó.

Các vị Tiên thường dùng đuôi con chủ để quét bụi. Nhưng đây nói là cây chổi Tiên, nên nó có rất nhiều huyền phép nhiệm mầu, dùng nó để quét sạch bụi bám vào Chơn Thần làm cho Chơn Thấn không còn ô-trược, nó cũng là chổi để quét sạch tâm hồn, làm cho tâm thêm sáng tỏ. Do đó Phất chủ là bửu bối của Tiên gia. Đạo Cao Đài chọn Phất chủ làm Cổ Pháp tượng trưng Tiên giáo hay Lão giáo.

Theo Bí pháp, Phất chủ là kết tụ điển khí của Thất bảo Diêu Trì Cung dùng để sửa trau Chơn Thần cho tinh khiết.

Nguồn gốc cây Phất Chủ là của Đức Thái Thượng Lão Quân, chính nó là bảo vật của Tiên gia. Các vị Tiên trong tranh vẽ thường thấy cầm cây Phất chủ.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Xuân-Thu, Phất-Chủ, Bát-Vu,
"Hiệp qui Tam-Giáo hữu cầu Chí-Chơn."

Bài thài hiến lễ Đức Quyền Giáo Tông có câu:

Càn khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm riêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo xủ phướn Tiêu Diêu.

 

 

PHẬT (BỤT) (Phật Học)


E: Buddha.
F: Bouddha.

Phật (S, P: buddha; T: sangs rgyas) Dạng viết tắt của chữ Phật-Đà, dịch âm của từ Buddha ra Hán ngữ, cũng được gọi là Bụt-đà, Bụt, dịch nguyên nghĩa là Bậc giác ngộ, Giác giả. Danh từ Phật có nhiều nghĩa:

 

 

 

1.- Phật là người đã dứt khỏi Luân hồi (s: saṃsāra), đạt Giác ngộ hoàn toàn, đạt giải thoát (Niết-bàn). Nội dung quan trọng nhất của giáo pháp giác ngộ là Tứ Diệu Đế. Phật là người đã vượt qua mọi tham Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā), là người biết phân biệt hay dở tốt xấu, nhưng tâm không vướng mắc vào các phân biệt đó. Sau khi chết, một vị Phật không còn tái sinh.

Người ta phân biệt hai quả vị Phật: Ðộc giác Phật (s: pratyeka-buddha) là người hoàn toàn giác ngộ, nhưng không giáo hóa và Tam-Miệu Tam-Phật-Đà, dịch ý là Bậc Chính đẳng chính giác (s: samyak-saṃbuddha) là người giáo hóa chúng sinh về những điều mình chứng ngộ. Một vị Tam-Miệu Phật là một vị đạt Nhất thiết trí (s: sarvajñatā), Mười lực (s: daśabala), chứng Bốn tự tín. Vị Phật của thời đại chúng ta là Thích-Ca Mâu-Ni. Ðức Thích-Ca – một nhân vật lịch sử có thật – không phải là vị Phật đầu tiên và duy nhất. Trong những kinh Tiểu Thừa nguyên thủy, người ta đã nhắc các vị Phật trong các thời đại trước: Tì-bà-thi (s: vipaśyin; p: vipassi), Thi-khí (s: śikin; p: sikhī), Tì-xá-phù (s: viśvabhū, p: vessabhū), Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda, p: kakusandha), Câu-na-hàm (s, p: konagāmana) và Ca-Diếp (s: kāśyapa, p: kassapa). Vị Phật sẽ xuất hiện trong tương lai để tiếp tục hoằng pháp là Di-Lặc (s: maitreya, p: metteyya).

Trong kinh sách, người ta còn nhắc đến 13 vị Phật khác mà vị quan trọng nhất là Nhiên Ðăng (s, p: dīpaṅkara). Trong thời quá khứ, Phật Thích-Ca là người tu khổ hạnh mang tên Thiện Huệ (sumedha), đệ tử của Nhiên Ðăng Phật. Lịch sử các vị Phật được ghi trong Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya).

Bắt đầu con đường tiến lên Phật quả, một vị Bồ Tát phát nguyện trước một vị Phật, quyết tâm thành đạo giác ngộ. Trải qua vô lượng kiếp, vị Bồ Tát đó thực hành mười hạnh Ba-la-mật-đa. Trước khi sinh lần cuối, vị đó thường giáo hóa ở cung trời Ðâu Suất (s: tuṣita). Khi sinh lần cuối vị Phật sẽ mang trong người ba mươi hai tướng tốt, 80 vẻ đẹp khác cũng như đã đạt 37 Bồ Đề phần. Vị Phật khi sinh ra thì Mẹ của Ngài sẽ chết bảy ngày sau đó. Lúc lớn lên, đến thời kỳ thích hợp, các vị Phật sẽ sống không nhà và sau khi giác ngộ sẽ thành lập Tăng-già. Lúc Đức Phật nhập Niết-bàn cũng là lúc chấm dứt quá trình đạt đạo.

2- Nhân vật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Ngài sinh năm 563 trước Công nguyên, con trai của một Tiểu Vương của dòng họ Thích-ca (s: śākya), ngày nay thuộc nước Nepal, gần Hi-mã Lạp sơn. Tên thật Ngài là Tất-Đạt-Đa (s: siddhārtha), thuộc họ Cồ-Đàm (s: gautama; p: gotama), vì vậy cũng có người gọi là Phật Cồ-Đàm. Sau quá trình tu hành đạt Đạo, Ngài mang danh hiệu Thích-Ca Mâu-Ni – "Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca". Nhằm phân biệt Đức Phật lịch sử với Phật tính, người ta nên gọi rõ là Phật Thích-Ca.

3- Phật tính, được xem là gốc của mọi hiện tượng; mọi hiện tượng là biểu hiện của Phật tính. Nếu phái Tiểu thừa chỉ công nhận mỗi thời đại chỉ có một vị Phật và vị này phải là một nhân vật lịch sử và là đạo sư giáo hóa, thì phái Ðại thừa cho rằng có vô số Đức Phật được biểu hiện khác nhau. Theo quan điểm Ba thân (s: trikāya) của Ðại thừa thì Phật tính biểu hiện qua ba dạng chính và mỗi dạng Phật biểu hiện một tính chất của Chân như.

Các dạng siêu việt của Phật tính, Chân như được kể là các vị Phật A-Di-Đà, Ðại Nhật, Bảo Sinh, Bất Ðộng, Bất Không Thành Tựu, Kim cương Tát-đóa. Các vị này là thầy của các vị Bồ Tát và là Giáo chủ của các Tịnh độ. Các dạng Phật-Đà siêu việt của Chân như đều có tính chất siêu thế gian, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, toàn năng, vô lượng thọ. Theo quan điểm Ba thân thì Báo thân Phật (s: saṃbhogakāya) chính là hình ảnh lý tưởng của các vị Bồ Tát tự tạo nên để theo đó mà tu học. Báo thân lại chính là Chân tâm của Ứng thân hay Hóa thân ( s: nirmāṇakāya), là thân của Phật có dạng con người sống trên địa cầu. Khoảng năm 750 sau Công nguyên, sau khi Kim Cương Thừa ra đời thì trong các trường phái Ðại thừa cũng chấp nhận ngoài Pháp thân (dharmakāya) có thêm năm vị Phật chuyển hóa từ Pháp thân đó, được gọi là Ngũ Phật hay Phật gia, vì mỗi một vị Phật đó được xem có thêm một vị Phật lịch sử (từng sống trên địa cầu) và một vị Bồ Tát đi kèm:

1/-. Cùng với Phật Ðại Nhật là vị Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda) và Bồ Tát Phổ Hiền (s: samantabhadra),

2/-. Cùng với Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya) là vị Ka-na-ca Mâu-ni (s: kanakamuni) và Bồ Tát Kim Cương Thủ (s: vajrapāṇi),

3/-. Cùng với Phật Bảo Sinh là vị Phật lịch sử Ca-Diếp (s: kāśyapa) và Bồ Tát Bảo Thủ (s: ratnapāṇi),

4/-. Cùng với Phật Bất Không Thành Tựu là vị Phật Di Lặc và Bồ Tát Phổ Chùy Thủ (s: viśvapāṇi),

5/-. Cùng với Phật A-Di-Đà là Đức Thích-Ca Mâu-Ni và Bồ Tát Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara).

4. Một khái niệm chỉ cái tuyệt đối, cuối cùng của thế giới. Thể này nằm ngoài mọi suy luận, không thể nghĩ bàn, là bản thể không hề biến hoại của Phật tính."

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

_______________________________

Với Cao-Đài giáo:

PHẬT tức là bậc đã giác ngộ hay nói khác đi là người đã quét sạch được lòng phàm. Trong chữ Phật gồm có bộ nhân là chỉ về người và chữ Phất là quét, tức nhiên người đã quét sạch bụi trần. Như vậy dù là vị Phật thật lớn đi nữa cũng là con của Trời, chứ Phật không lớn hơn Trời!

Phật là gì? -Đức Hộ Pháp nói: "Phật là một Đấng toàn-tri toàn-năng, người ta lầm lạc, tưởng không thấy hình dạng là không có. Người thế gian lầm lạc nhiều lắm. Họ quả nhiên là người sống hiện tại chỉ khác hơn chúng ta là không có thi-hài mà thôi. Đấng toàn tri toàn năng ấy là Đấng đầu tiên hiệp lại với Đức Chí-Tôn. Bần-Đạo đã giải nơi Phật có ba cảnh đặc-biệt:

1-Hạo Nhiên Pháp Thiên tương liên hiệp 1 cùng Đức Chí Tôn.

2-Hư-vô Cao-Thiên thuộc về Pháp-giới cầm cả luật Thiên-điều.

3-Hỗn-nguơn Thượng Thiên thuộc Tạo-hóa, thuộc Tăng.

Phật-vị có ba đẳng-cấp ấy đặng nắm cả quyền-năng Càn Khôn thế giới".

 

 

PHẬT CỐT


E: The buddhist trait.
F: L’ossature bouddhique.

Phật cốt là xương của đức Phật, ý nói trong cơ thể của Phật đáng trân trọng vì phật là người trường trai giới sát, lại nữa là người đã đắc Kim đơn. Kinh cũng nói về Phật, Tiên là Đấng được tôn trọng nên từ "Phật cốt Tiên duyên" là nói Cốt cách như Phật, dáng vẻ như Tiên. Câu này đồng nghĩa với câu Tiên phong Phật cốt 仙風佛 là Chỉ phẩm cách cao thượng: có phong thái như Tiên, cốt cách như Phật.

Kinh Hạ Huyệt có câu:

"Rỡ ràng Phật cốt Tiên duyên,
"Nước Cam Lồ rửa sạch thuyền độ nhân."

 

 

PHẬT CHRISTNA

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 24 tháng 12 năm 1949 (âl: Kỷ Sửu):

"Đêm nay một đêm kỷ niệm Jésus-Christ tức nhiên là Phật Christna giáng sanh bên Âu Châu mở Đạo. Thường năm hễ đến lễ Giáng Sanh này thì Đạo Cao Đài chúng ta vẫn tôn sùng Giáo Chủ Gia-Tô cũng như Vị Phật của chúng ta vậy, chúng ta coi Ngài cũng như một Vị Giáo Chủ của một nền Tôn Giáo đương nhiên đã để tại mặt thế này. Âu Châu văn minh cầm quyền thiên hạ gần có ba trăm triệu năm (300.000.000)".

 

 

PHẬT DUYÊN

Có duyên với Phật. Đây phải hiểu là mối duyên với nền Đại-Đạo, vì Đạo Cao Đài chính là Phật giáo chấn hưng. Do vậy mà trong hằng hà sa số kiếp luân hồi sanh tử, con người của thời này có duyên may mới gặp được thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí-Tôn, nhứt là thời kỳ này chính Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, vị sáng tạo ra Càn Khôn vạn vật, dùng Huyền diệu Cơ Bút dẫn dắt các vị Thiên sứ mở ra nền Đại Đạo để độ tận chúng sanh thoát khỏi luân hồi, đưa các chơn linh trở về ngôi xưa vị cũ. Đây là một sự may mắn nhất mới gặp được.

Đức Lý Đại Tiên cho biết: "Mở một mối Đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sinh nhằm đời đặng gặp mối Đạo cũng chẳng dễ."

 

 

PHẬT ĐÀI

佛 臺
E: Buddhist altar.
F: Autel Bouddha.

Đài: nơi xây cất cao lên. Phật đài là cái đài cao trên đó có đặt tượng Phật. Phật đài cũng là bàn thờ Phật, có đặt tượng Phật để thờ.

 

 

PHẬT ĐẢN


E: Buddha birthday.
F: Jour de la naissance du Bouddha.

Ngày sanh của Đức Phật. Theo Đại thừa thì cho rằng Phật giáng sanh vào ngày mồng 8 tháng 4, còn Tiểu thừa thì vào ngày rằm tháng tư. Vì thế để thống nhất lại, Phật giáo thế giới chọn ngày rằm (15) tháng 4 làm ngày Phật đản.

 

 

PHẬT ĐẠO (Phật Học)

Phật Đạo (J: butsudō): 1- Giáo pháp của Đức Phật, Phật giáo. Phật Đạo thường được dùng đồng nghĩa với Phật pháp nhưng trong trường hợp này thì khía cạnh thực hành để thấu triệt chân lý được nhấn mạnh hơn; 2- Con đường dẫn đến Phật quả, Niết-bàn, Giải thoát; 3- Vô thượng chính đẳng chính giác, Phật quả tối thượng. Trong Thiền Tông, người ta thường hiểu Phật đạo dưới nghĩa này. (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

_______________________________

Đạo Cao-Đài, Đức Hộ Pháp nói: "Khi khai Thánh giáo bên Thái Tây thì Chí-Tôn đã nói trước: còn nhiều chuồng chiên Người sẽ đến đem về làm một. Lời tuyên ngôn ấy nghĩa là còn nhiều Đạo đương nuôi nấng ung đúc tinh thần của con cái Chí Tôn đặng chờ ngày Người đến hiệp chung lại Một, lời ấy ngày nay đã quả. Các chuồng chiên Thiêng liêng của Chí-Tôn là, về:

- Phật Đạo thì có Bà-La-Môn (Brahmanisme), Thích Ca Mouni (Caky-Mouni), Pythagore giáo.

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

"Tuy Tệ Huynh không giảng Phật Ðạo, chớ Ðại Ðạo ngày nay cũng là Phật Ðạo, vì gồm hết Tam Giáo (Nho- Thích- Ðạo) và Thích Ca cũng là Thầy, Thầy là Thích Ca. Tệ Huynh hằng nhắc chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội rằng: Ðạo vẫn một, mà mỗi thời kỳ khai Ðạo thì phương diện khác nhau vì Ðạo khai phải phù hạp với dân trí đương thời khai Ðạo. Khi Ðức Thích Ca mở Ðạo Phật thì nhơn sanh buổi ấy còn Thánh Ðức nhiều; cá nhơn đều ngán sự khổ não truân chuyên ở thế nên Thiên Ðình phú cho Ngài lấy tôn chỉ tiêu cực diệt Tứ Khổ (Sanh- Lão- Bịnh- Tử) mà độ chúng".

 

 

PHẬT ĐIỀU

Kinh Tiểu-Tường có câu:

"Tịnh niệm phép Nhiên-Đăng tưởng tín,
"Hư-Vô-Thiên đến thính Phật-điều.
"Ngọc-Hư đại hội ngự triều,
"Thiều quang nhị bá Thiên-Kiều để chơn."

 

 

PHẬT ĐỘ


E: Land of Buddha.
F: Terre de Bouddha.

Độ: dẫn dắt người từ bến mê sang bờ giác. Trong Phật giáo có 6 phương phép độ người: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí huệ gọi là "Lục độ".

Phật độ là cõi Phật, là cõi mà Phật lãnh trách nhiệm giáo hóa chúng sanh, nên cũng kêu là: Phật quốc, Phật địa,…

 

 

PHẬT GIẢ VÔ NGÔN

(Phật giả là ông Phật ấy; vô ngôn: không có nói) Ông Phật không có nói. Tức nhiên ngày xưa người tu theo Đạo Phật thì cứ nhìn theo Phật mà bắt chước, vì vậy bắt chước ngay cả cách ăn mặc, tướng đi, cách đứng; bắt chước ôm bình đi khất thực. Nhưng chủ ý của những vị này xem như chỉ xin ăn cho đủ no mà thôi. Còn Phật là xin với mục đích khác: 1- là nuôi trẻ côi, khốn khó, đem về cấp cô độc viện. 2- Là tạo duyên lành cho người bố thí cho họ có công quả. 3- là tạo sự gần gũi để nói cho hiểu lời đạo đức và hạnh của Phật.

Thầy dạy tại Trường Sanh Tự (Cần Giuộc) Chúa nhựt, 19-04-Bính Dần (dl: 30-05-1926):

Thầy chẳng hiểu thế nào chư Môn đệ ám muội dường ấy? "Chiêu kỳ trung độ dẫn hoài sanh" nghĩa là gì? Dầu cho trẻ con trong bụng cũng phải độ, sao các con lại đuổi thiện nam tín nữ? Hứa nhập - Khai môn. Chư chúng sanh nghe:

Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe chúng sanh nói "Phật giả vô ngôn"! Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo đạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn".

Thầy xác nhận lần nữa: "TA đã đến với huyền diệu nầy thì từ đây, TA cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa."

 

 

PHẬT GIÁO


E: Buddhism.
F: Bouddhisme.

"Phật-giáo thì cho vạn-tượng do Chơn-như mà ra, sắc với không là một, sự sinh hóa là cái vọng niệm chứ không phải là thực. Cái thực là Chân-như. Người ta phải tìm cái thực ấy mà quay trở về gốc cũ để ra thoát vòng sanh, tử; tức là để đến Niết-Bàn, hết cả sự khổ-não".

Phật giáo có hơi khác với Thích giáo ở điểm: Thích là chỉ Ðức Phật Thích Ca. Thích giáo là tôn giáo do Ðức Phật Thích Ca lập ra tại Ấn Ðộ và Ðức Thích Ca làm Giáo chủ. Từ ngữ Thích giáo cũng tương ứng với các từ ngữ như: Lão giáo, Khổng giáo. Phật giáo đồng nghĩa với Phật đạo, chỉ những tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật. Khác với Thích giáo ở điểm Thích là chỉ Ðức Phật Thích Ca. Thích giáo là tôn giáo do Ðức Phật Thích Ca lập ra tại Ấn Ðộ và Ðức Thích Ca làm Giáo chủ. Phật giáo: sau khi Đức Phật thành Đạo, Ngài đã đem điều chứng đắc để giác ngộ chúng sinh tìm về bản thể chơn như, hầu đưa chúng sanh theo con đường giải thoát. Đến khi Phật nhập diệt, các vị Đệ Tử mới đem những lời dạy của Ngài kết tập lại thành Tam Tạng Kinh. Từ đó, kinh sách của Phật được phổ truyền theo muôn đường vạn nẻo để đem cái Giáo Pháp cao siêu của Đức Phật mà giác ngộ chúng sinh trong tam đồ, lục đạo.

Từ ngữ Thích giáo tương ứng với các từ ngữ như: Lão giáo, Khổng giáo. Tuy nhiên, Thích giáo dạy tín đồ tu thành Phật, nên Thích giáo cũng là Phật giáo, nhưng từ ngữ Phật giáo có nghĩa rộng hơn, vì Thích giáo là chỉ riêng về tôn giáo của Phật Thích Ca, còn Phật giáo là nói chung các Tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật đã có từ xa xưa đến giờ. Do đó, Bà La Môn giáo, Pythagore giáo, là thuộc về Phật giáo (hay Phật đạo), chớ không thuộc về Thích giáo. Người ta gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh đời nhà Châu."

Cho nên, bài Xưng Tụng Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được gọi là bài Kinh Phật giáo thì sát nghĩa hơn.