CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần O

 

OAI

Oai Dõng

Oai Đức

Oai Linh

Oai Linh Tiên

Oai Nghiêm

Oai Quyền

Oai Thần

 

OAN

Oan Gia

Oan Gia Nghi Giải Bất Nghi Kết

Oan Gia Nghiệt Chướng

Oan Gia Trái Chủ

Oan Hồn

Oan Khiên

Oan Nghiệt

Oan Oan Nghiệt Nghiệt

Oan Oan Tương Báo

Oan Trái

Oan Uổng

 

OÁN

Oán Chạ Thù Vơ

Oán Chạ Tham Lam

Oán Cừu

Oán Hờn

Oán Trách

 

OÁT

Oát Vận

 

OẰN

Oằn Oại

 

OM

Om Sòm

 

ONG

Ong Lìa Bầy

 

Ô

Ô Li Vê

Ô Nhiễm

Ô Thước Qui Sơn

Ô Trược

Ô Trược Tội Tình

Ô Uế

 

ỐC

Ốc Trần Huờn Ư Song Thủ Chi Nội

 

ÔM

Ôm Bình Bao Tóc

Ôm Cầu Khóc Duyên

 

ÔN

Ôn Cố Tri Tân

Ôn Hòa

Ôn - Lương - Cung - Kiệm - Nhượng

Ôn Nhu

 

ÔNG

Ông Ác

Ông Lò

Ông Táo

Ông Thiện

 

ỐNG

Ống Tiêu

Ống Tiêu Trương Lương

 

Ố (1)

Ố (2)

 

Ở Ngoại Càn Khôn

 

ƠN

Ơn Cúc Dục

Ơn Dưỡng Dục

Ơn Hồng

Ơn Tái Tạo

Ơn Trên

Ơn Trên Từ Phụ

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 18-09-2017

 

 

 

OAI DÕNG

威 勇
E: Powerful.
F: Puissant.

Oai: vẻ tôn nghiêm khiến người ta nể sợ. Dõng (Dũng): mạnh mẽ, can đảm.

Oai dõng hay Uy dũng là có vẻ tôn nghiêm đáng nể sợ và có tinh thần mạnh mẽ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nếu không đủ tài tình oai dõng thì chẳng hề thắng đặng.

 

 

OAI ĐỨC

威 德
E: Severe and virtuous.
F: Sévère et vertueux.

Oai: vẻ tôn nghiêm khiến người ta nể sợ. Đức: đạo đức. Oai đức là oai quyền và đạo đức.

Có oai để hàng phục kẻ tà, xử trị việc ác; có đức để hộ trợ người chánh, giúp đỡ việc thiện.

Nhờ có oai mà người ta kính sợ, nhờ có đức mà người ta yêu mến.

 

 

OAI LINH


E: Majestic and sacred.
F: Majestueux et sacré.

Oai linh là Có oai lực thiêng liêng như Thần Thánh Tiên Phật, cả đến oai Trời nữa, khi được hộ trì thì huyền diệu vô cùng mạnh mẽ.

Đức Lý nói: "Chẳng một ai phạm đến oai linh Thầy mà không bị hình phạt. Lão sẽ cho chúng ngây ngây dại dại trước mắt muôn người, cho biết quyền hành của Lão. Sự chết chẳng phải hình phạt. Muốn chết há dễ lắm sao?"

Thánh Giáo Đức Chí Tôn dạy: "Thầy hằng nói với các con rằng: Thà là các con lỗi với Thầy, thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ, chớ chẳng động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì họ chẳng tha thứ bao giờ."

Đức Thượng Phẩm giáng: 15-07-GiápTuất (1934) nói:

"Tâm tư ba đứa mình (Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh) nhờ lẫn lộn trong cảnh dở mới thấu đáo được nhơn tình, ngày nay mới có oai linh cầm sanh chúng. Mình ở trong dở mới đoạt được cái hay thì sự dở là bài học giỏi. Cười…ấy vậy cả sự dở của đời có lạ chi với mình phòng luận biện. Cười…Ôi! họ dở để cho họ dở chơi, còn Bần Đạo cần cho các Bạn biết chọn hay đặng làm hay thêm nữa. Cười… phải vậy không Anh lớn?

- Quyền Giáo Tông: Em giải hay lắm, quân tử với anh hùng phải đủ luận chưa, nói thêm chơi.

"Quân Tử Tắc,
"Anh Hùng Sang" mà!

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ép trí sợ trôi, trôi khó níu,
Thương thì để dạ, dụng oai linh.

 

 

OAI LINH TIÊN (Đường)

Trong Nội-Ô Tòa Thánh có Lộ Oai Linh Tiên là việc làm nhớ ơn của Đức Hộ Pháp về việc cho Hoa Hạnh Nhơn. Nơi cung Huyền Đô Đại Pháp Sư có sai vị Tiên Thánh Danh "Oai Linh Tiên" đem hoa Hạnh Nhơn dâng cho Đức Hộ Pháp để gắn nơi Đền Thánh, hoa Hạnh Nhơn có dây lá. Do đó, để ghi nhớ, Đức Hộ Pháp đặt tên đường OAI LINH TIÊN cho sử ghi tạc đời đời công ơn và biết rõ sự tích hoa Tiên. Đường Oai Linh Tiên nằm từ ngã tư Đại Lộ Phạm Hộ Pháp đến cửa số 4.

 

 

OAI NGHIÊM


E: Majestic and grave.
F: Majestueux et grave.

Oai nghiêm hay uy nghiêm là dáng vẻ trang nghiêm, làm cho người khác phải kính sợ.

Kinh Đưa Linh-cữu có câu:

"Nam-Mô Tam Trấn Hư-vô,
"Oai-nghiêm độ rỗi Cao đồ qui nguyên."

 

 

OAI QUYỀN

威 權
E: Power.
F: Autorité.

Oai quyền 威權: Uy lực quyền thế đối với người khác.

2 giờ sáng, Mardi 23 Novembre 1926 (18 rạng 19 Bính Dần): Thầy quở: "Ta sẽ cho những kẻ thờ ta với miệng lưỡi, chớ chẳng phải thờ ta với lòng dạ, biết oai quyền ta thể nào. Ta nói thiệt tốt hơn kẻ ấy đừng sanh ra ở thế nầy hơn là có sống mà đã chết. Quản chi một lũ ma hồn quỉ xác mà phải nhọc nhằn cho ta dường này. Chúng nó dám mượn màu dối thế mà bêu dạng trước mắt Ta. Khổ cho những kẻ ấy! Khốn cho những kẻ ấy!"

-Đức Hộ-Pháp nói: "Buổi nọ, Ðức Chúa Jésus Christ, Ngài nói "Con chim có tổ, con chồn có hang mà con người nầy chỉ bởi theo nghiệp đời mà Ngài không kiếm được chỗ để gối đầu". Chúng ta thấy lời than của Ngài thì biết: đời chẳng ai nghèo nàn hơn Ðức Chúa Jésus-Christ. Ngày nay hiển nhiên trước mắt chúng ta thấy vinh quang vô đối của Ngài, về mặt xác thịt và linh hồn làm Chúa cả gần toàn mặt địa cầu nầy. Hỏi nợ ấy ai trả đặng, chỉ có Người (Thượng Đế) đó cho, là Người đó trả, với một kiếp sanh vinh diệu, sang trọng oai quyền."

Song song còn có "Ðức Cái Thiên Cổ Phật Quan Thánh Ðế Quân tức Hớn Thọ Ðình Hầu Quan Vân Trường nhà Hớn đời Tam Quốc. Một vị Hiển Thánh đời Hớn, thời Tam Quốc, ngày nay đạt phẩm vị đến Tam Trấn Oai Nghiêm trong nền Chánh Giáo của Ðức Chí Tôn, sự vinh hiển cao trọng đó ta thấy giá trị vô đối. Với một Ðấng Thiêng Liêng mà lập được vị mình một cách oai quyền vinh hiển ta thường thấy rất ít, thảng có chăng trong nước Việt Nam ta Ngài Trần Hưng Ðạo gọi có thể đương đầu với Ngài được mảy may chút ít mà thôi, chớ phần đông từ thử đến giờ kể cả các nước Á Ðông nầy hiếm có".

-Đức Hộ-Pháp nói: "Bần Ðạo xin khuyên một điều: Lớn nhỏ phải yên tâm giữ Ðạo, đừng sơ sót nhứt là đừng có ỷ công khi lịnh, coi chừng Ngài, Ngài trừng trị một cách oai quyền, trước mắt Bần Ðạo đã thấy, hai mươi mấy năm lập Ðạo cùng Ngài, Bần Ðạo quả quyết như vậy. Chúng ta hãy để trọn đức tin nơi Ngài một Ðấng công chánh oai quyền, nhưng rất yêu ái. Chúng ta được Ngài bảo vệ cho thật là một sự an ủi vĩ đại trong kiếp sanh của chúng ta đó vậy".

 

 

OAI THẦN

威 神
E: The majestic genius.
F: Le génie majestueux.

Oai thần: Hay thần uy 神威: Cái oai linh thần diệu.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Đắc văn-sách thông Thiên định Địa,
"Phép huyền-công trụ nghĩa hóa thân.
"Kỵ kim-quang kiến Lão-Quân,
"Dựa xe Như-Ý oai thần tiễn thăng."

 

 

OAN GIA


E: Enemy of the anterior existence.
F: Ennemi de l’existence antérieure.

Oan gia là Người có thù hận với mình.

Thầy dạy: 15-3-Mậu Thìn (4-5-1928): "Các con, Cười.... Thầy tưởng khi các con còn cứng lòng hơn nữa chớ... Cười....Các con chỉ biết rằng có xác thịt trần của các con đó là hữu hình, biết có mình các con mà thôi, chớ còn Lão già nầy thì chẳng cần chi kể đến há? Nầy, Thầy nói cho các con biết rằng: Chẳng giờ phút nào mà mắt Thầy không chăm nom gìn giữ các con, Thầy đợi xem cho rõ coi cách các con lập vị mình dường nào. Thầy lại nghĩ mà cười thầm hoài. Mỗi phen Thầy thử thách các con thì các con rối rắm, Thầy chẳng biết tới chừng nào các con mới đoạt đặng Thánh đức của Thầy dành để cho các con. Trước mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, Thầy lấy làm hổ thẹn, oan gia là oan gia lắm hử! Từ ngày các con nghịch lẫn nhau thì chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chẳng còn ở cùng các con nữa, các con có biết à?"

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Dầu trọn kiếp sống không nên đạo,
"Dầu oan gia tội báo buộc ràng."

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng
"Bộ lôi Công giải tán trược quang.
"Cửa lầu Bát quái chun ngang,
"Hỏa Tinh Tam muội thiêu tàn oan gia."

 

 

OAN GIA NGHI GIẢI BẤT NGHI KẾT

Trích Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

"Ðấng Hóa Công là Ðại Từ Phụ chung của cả nhơn sanh trông thấy hoàn cảnh như vầy cũng đổ lụy rơi châu với bầy con dại, biết bao thương xót lũ con hoang ra đường gây tội lỗi, trong mấy muôn năm phải bị luân hồi, trả vay mãi mãi như chóng vần xây. Từ việc rất lớn lao tới việc tế vi mảy mún, thạnh suy bỉ thới cũng phải chuyển vần y như luật Trời đã định. Ðạo Trời đem tin cứu thế, thức tỉnh nhơn sanh phải tu tâm dưỡng tánh, theo lành lánh dữ cho khỏi nạn luân hồi vay trả; hằng ngày phải nhớ câu: "Oan gia nghi giải bất nghi kết".

 

 

OAN GIA NGHIỆT CHƯỚNG

Đức Hộ-Pháp nói: "Khi chơn vừa bước tới chính mình ta ngó thấy dường như mình yếu đi, nhưng người nào bước tới cũng đặng. Đi được nửa chừng nếu không đủ Thiên-vị, hay vì tội tình oan-gia nghiệt-chướng chi mà chúng ta đã đào tạo nơi mặt thế này, chúng ta đi tới nửa cầu sẽ bị lọt xuống Bích-Hải".

 

 

OAN GIA TRÁI CHỦ

Pháp Chánh Truyền dạy: "Ðã tấn, ắt có thối, đã dở phải tìm hay, đã tà thì tìm chánh, đã dữ ắt tìm lành (la loi des réparations), nỗi cuộc tranh đua đã gây biết bao oan gia trái chủ, buộc các Ðấng Thiêng Liêng, dầu cho đặng cao thăng, biết dưỡng chí, tu tâm đi nữa, cũng bởi lẩn truất thương sanh, mà phải phế hủy kiếp duyên, chịu đọa đày nơi trần tục".

 

 

OAN HỒN

寃 魂
E: The soul of a person who die a victim of injustice.
F: L’âme d’une personne morte victime d’une injustice.

Oan: - Thù giận, thù oán. - Bị ức, không làm mà chịu. Hồn: linh hồn. Oan hồn là linh hồn của người bị chết oan (Hồn người bị chết oan uổng - Chết oan là chưa tới số mà bị chết thình lình).

Thường thì những oan hồn rất đau khổ, tức giận, thù oán người đã gây cho họ cái chết oan ức, nên các oan hồn thường đi theo kẻ thù để chờ dịp báo oán.

Thân nhân của các oan hồn cần phải tụng kinh Cầu Siêu, kinh Di-Lạc, tụng thường xuyên để các oan hồn thức tỉnh, cởi bỏ điều thù giận, thì mới có thể siêu thoát được.

 

 

OAN KHIÊN

冤 愆
E: The hate and sin.
F: La haine et le péché.

Oan: Thù giận, thù oán. Khiên: tội lỗi. Oan khiên là thù giận và tội lỗi (oan gia nghiệp chướng).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Bước Ðạo lần chơn một dạ thành,
Xu trần chớ luyến lợi cùng danh.
Nâu sồng nhuộm áo pha màu khổ,
Tránh mối oan khiên chớ buộc mình.

Thanh Sơn Ðạo Sĩ có thi rằng:

Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,
Trả vay cho sạch vết oan khiên.
Trường Ðời đem thử gan anh tuấn,
Cửa Ðạo mới ra mặt Thánh Hiền.
Ðau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,
Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.
Non sông Việt chủng ngày êm lặng,
Chung sức cùng nhau đức lập quyền.

 

 

OAN NGHIỆT

寃 孽
E: Retribution for evil.
F: Rétribution par la mal.

(Oan : nỗi khổ không giải bày, Nghiệt : điều chướng ngại) Oan nghiệt 冤孽 là Oan trái và ác nghiệp (Mầm tai hại tự mình gây ra - oan trái và ác nghiệp).

Nếu khi nói: Oan oan nghiệt nghiệt: là chỉ những oan trái và ác nghiệp cứ nối tiếp nhau mãi mãi, làm cho đau đớn.

Vì sự thù giận mà con người gây ra những hành vi hung dữ, rồi tạo thành những mầm ác. Những mầm ác đó mới tạo nên căn nghiệp ác mà tự thân phải đền trả ngay trong kiếp hiện tại hay kiếp lai sinh. Cứ thế, những oan nghiệt trong nhiều kiếp chồng chất lên nhau mà tạo thành những chuỗi oan oan nghiệt nghiệt.

Thầy nói: Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết. Các con đặng thong dong rỗi rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật, gây thêm tội lỗi nữa, thiệt là đáng giận".

Đức Hộ-Pháp cũng nói: "Mong sao chúng ta từ đây phải biết trọng lấy lẽ ấy mà luyện Đệ Nhị xác thân cho đủ đầy sự tinh khiết, là phải thương loài vật, phải thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt ấy mà truyền bá cái huờn thuốc linh đơn nầy là đạo đức của Chí Tôn, để cứu vớt quần sanh thoát vòng đọa lạc hoàn toàn".

Đức Hộ-Pháp nói: "Có điều thảm trạng hơn hết là có nhiều kẻ đi đến nơi, biết mình đi không được đến bờ, khóc lóc rồi trở lại. Cả thảy tưởng-tượng coi họ cốt yếu tái kiếp làm người để trả oan-nghiệt của họ là vì lẽ đó."

"Đã may duyên gần gũi hình bóng của Đức Chí Tôn, ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm! Cái oan nghiệt kiếp sanh đáng ghê sợ chưa bằng không gặp mặt Chí Tôn, vì lẽ ấy mà biết bao nhiêu Tiên, Phật hạ trần chịu khổ".

Ngày 28-01-1926 (16-12-Ất Sửu) Ðức Chí Tôn dạy:

Cương tỏa đương thời đã giải vây,
Ðừng mơ oan nghiệt một đời nầy.
Hữu duyên độ thấu nguồn chơn Ðạo,
Tu niệm khuyên bền chí chớ lay.

 

 

OAN OAN NGHIỆT NGHIỆT

Kinh Giải Oan có câu:

"Vòng xây chuyển vong hồn tấn-hóa,
"Nương xác thân hiệp ngã Càn-khôn.
"Bước đường sanh tử đã chồn,
"Oan-oan nghiệt-nghiệt dập-dồn trái căn."

 

 

OAN OAN TƯƠNG BÁO

Vendredi 22 Septembre 1926 (16-8-Bính Dần).

Thầy dạy: "MINH bị chúng nó khảo nặng nề lắm, đáng kiếp! Cũng vì tiền kiếp oan oan tương báo, các con nên thương mà cầu nguyện cho nó hằng ngày. Ðặng vậy thì họa may chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thương, lòng từ bi Thầy vững cho khỏi cơn thịnh nộ, rồi đây nó xuống luân hồi nữa. Con cũng đồng con, thương cũng đồng thương, chưa ai cắt ruột mà không đau. Vậy các con dùng quyền mà trị cho chúng nó cho bỏ ghét. Trung, Lịch hai con phải hội chư Thánh mà xin khai Ðạo. Phải làm đơn mà dâng cho Thầy xem xét sửa trước nghe".

 

 

OAN TRÁI


E: The dept from the previous existence.
F: La dette de l’existance antérieure.

Oan trái là mối nợ oan khiên.

Đức Hộ-Pháp nói: "Các con nhớ rằng: dữ tận hiền thăng, mạnh thua yếu được, nhu nhược trường tồn, Xỉ cương tắc chiết. Nhơn loại trả quả với nhau các con chịu cái nạn chung, trả từ đời Hồng Bàng tới giờ. Tổ phụ của chúng ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn quả ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong."

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Khá tỉnh thức tiền-duyên nhớ lại,
"Đoạn cho rồi oan-trái buổi sanh.
"Đem mình nương bóng Chí-Linh,
"Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa."

 

 

OAN UỔNG

冤 枉
E: Injustice.
F: Injustice.

Oan: Bị ức, không làm mà chịu. Uổng: nhọc mà không ích lợi. Oan uổng là bị thiệt hại mà không phải vì lỗi của mình (Nỗi oan không giải bày ra được).

 

 

OÁN CHẠ THÙ VƠ

E: The nonsensical hate.
F: La haine de bêtise.

Oán: Giận, hận. Chạ: bậy bạ, bừa bãi. Thù: căm giận. : không căn cứ. Oán chạ thù vơ là thù oán bậy bạ, không căn cớ, chỉ hạng tiểu nhân hèn hạ đi kiếm chuyện gây sự.

Kinh Sám Hối có câu:

"Đừng tính kế độc sâu trong dạ,
"Mà gổ ganh oán chạ thù vơ."

 

 

OÁN CHẠ THAM LAM

Kinh Sám Hối có câu:

"Chớ oán-chạ tham-lam ngược-ngạo,
"Bội nghĩa ân trở-tráo chước sâu."

 

 

OÁN CỪU


F: Ennemi.

Oán cừu 怨仇: Người cừu thù.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Mới bày đặt chia đường rẻ ngõ,
Ong lìa bầy kiến nọ bỏ hang.
Rần rần lưới nghiệp dây oan,
Xé lòng ân-ái lòng tan oán cừu.

 

 

OÁN HỜN

F: Animosité.

Oán hờn ( Như chữ oán hận): hờn giận và thù ghét.

Đức Hộ-Pháp nói: "Nguyên căn ngày nay là khi Ðức Chúa Jésus Christ giáng sanh có tiên-tri rằng Chúa Cứu Thế sẽ ra đời làm chủ tinh-thần thiên hạ. Các vị Vua Chúa ác sợ mất quyền tìm cách giết Chúa. Nhưng vì đã lánh khỏi, chúng biết ngày sanh, vì oán hờn mà đeo đuổi bắt con nít đẻ trùng ngày với Ðức Chúa mà giết. Kẻ bị giết ngày ấy đều đặng hiển Thánh, vì Chúa mà chết thay thế cho Chúa, nên Thiên-Chúa-Giáo lấy ngày ấy làm ngày kỹ niệm các Thánh bỏ mình vì Chúa".

 

 

OÁN TRÁCH

F: murmurer contre.

Oán trách: Trách giận.

Đức Hộ-Pháp còn căn dặn: "Ấy vậy, con cái của Đức Chí-Tôn ráng nghe và ráng đi Cúng đặng nghe, để nữa sau khỏi hối tiếc và oán trách, nói sao Bần-Đạo không cho hay trước, không cho biết trước, để được nghe những điều bí-yếu trong nền Đạo Cao-Đài, những triết-lý cao-siêu mà chỉ có ĐẠO CAO ĐÀI mới có".

 

 

OÁT VẬN

運 斡
E: To turn around.
F: Tourner.

Oát vận 運斡: chuyển xoay vần.

Kinh Tiên Giáo có câu:

"Đạo kinh hạo kiếp, Càn Khôn oát vận." (thay vì hoát vận).

 

 

OẰN OẠI

E: To twist.
F: Se tordre.

Oằn oại: vẹo cong, vẹo thân mình lại.

Thầy đến dạy Đạo cho ba vị Tiền bối có câu:

Gia đình oằn oại gánh đôi vai,
Thế cuộc nên hư cũng một tay.
Chưa mãn xuân mai đơm lá bích,
Ngày xuân đừng ỷ phận còn dài.

Chưa biết buổi đua chen, mà đã gặp nhiều khi thất nguyện (dl: 01-02-1926)

 

 

OM SÒM

F: bruyant.

Om-sòm: Ồn ào.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Nhà thờ Đạo mới mừng có chỗ,
Lời thị phi chưa tỏ với đời.
Om-sòm nghị luận khắp nơi,
Người thời kích bác, kẻ thời hiềm nghi.

 

 

ONG LÌA BẦY

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Mới bày đặt chia đường rẻ ngõ,
Ong lìa bầy kiến nọ bỏ hang.
Rần rần lưới nghiệp dây oan,
Xé lòng ân-ái lòng tan oán cừu.

 

 

Ô LI VÊ (Núi)

E: Mount of Olives.
F: Mont des Oliviers.

Ô-li-vê là tiếng phiên âm từ tiếng Pháp, là tên của một ngọn núi nhỏ và thấp ở ngoại thành Jerusalem nước Do Thái.

Đức Chúa Jésus Christ cùng với 12 vị Tông đồ thường lên núi nầy để cầu nguyện.

Tại núi nầy, Chúa Jésus dự ngôn về thành Jérusalem bị tàn phá, về cái chết của Ngài và sự phục sinh của Ngài.

Trước khi Ngài bị bắt và bị hành hình trên cây thập tự, Ngài đã lên núi Ô-li-vê cầu nguyện cho nhơn loại.

Kinh Khi Về:

"Núi Ô-li-vê để dấu chơn,
"Gia Tô Giáo chủ giải phần hữu sanh."

 

 

Ô NHIỄM (Phật Học)

Ô NHIỄM (Phật học)

Ô nhiễm (S: āśrava, āsrava; P: āsava) Nguyên nghĩa là Lậu, nghĩa là rỉ chảy, tiết lậu ra ngoài, cũng có thể hiểu là Phiền não; có ba thứ ô nhiễm làm gốc của mọi khổ đau và nguyên nhân của Luân hồi:

1- Ô nhiễm qua dục Ái Dục lậu (s: kāmāśrava; p: kāmāsava); 2. Ô nhiễm qua sự tồn tại 有漏 Hữu lậu ( s: bhavāśrava; p: bhavāsava); 3. Ô nhiễm của Vô minh Vô minh lậu ( s: avidyāśrava; p: avijjāsava).

Giải thoát ba ô nhiễm này ; lậu tận đồng nghĩa với việc đắc quả A-La-Hán (s: arhat).

Quan điểm về ô nhiễm này là quan điểm cuối cùng trong mọi suy luận từ trước đến nay về nguyên nhân của sự dính mắc trong vòng sinh tử. Quan điểm này bao gồm ba dạng của Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và vô minh, là nguồn gốc của Khổ như trong Mười hai nhân duyên chỉ rõ.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

Ô THƯỚC QUI SƠN

Chữ "Vừng ô" không có điển văn, chỉ có trong văn chương tả cảnh trời chiều mà thôi. Tuy nhiên Thi văn có câu "Ô thước qui sơn" tức là quạ bay về núi. Đã biết rằng hễ chiều thì biết bao nhiêu loài chim bay về núi, song lấy tích quạ mà chỉ rằng chiều tối thì phải hơn, vì quạ thì "Đen lông đen cánh bộ giò cũng đen". Chữ Hán thì chỉ các loài chim đều gọi là Điểu (11 nét) Chim quạ cũng là loài Điểu, nhưng chỉ có con mắt có màu trắng, dễ nhận ra ban ngày, còn khi chiều xuống, đêm tối dần nên hình dáng cùng màu lông của Quạ lẫn trong màn đêm, còn lại màu đen tuyền mà thôi. Thánh nhân viết chữ Ô (10 nét).

 

 

Ô TRƯỢC


E: Dirty and impure.
F: Sale et impure.

Ô trược : Hay ô trọc là nhơ bẩn, không sạch sẽ.

Thầy dạy: "Ðã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước cho đặng trong sạch. Nhơn loại đã thâm nhiễm vào tình luyến ái tà mị trên mười ngàn năm, thì thế nào cỗi Thánh Đức trong một lúc chẳng tới một năm cho trọn lành đặng?"

Kinh Giải Oan có câu:

"Chịu ô-trược Chơn Thần nặng trịu,
"Mảnh hình hài biếng hiểu lương tâm.
"Phong trần quen thú cung âm,
"Cảnh thăng ngơ-ngẩn lạc-lầm Phong Đô."

 

 

Ô TRƯỢC TỘI TÌNH

Đức Hộ-Pháp nói:"Ấy vậy, muốn duy-trì cơ hòa-hiệp Đại Đồng này cũng do gốc Bí-Pháp ấy mà thôi, dầu triết lý thâm uyên đạo-đức mà Tôn-giáo nào cũng không qua lẽ ấy, mà nếu không đạt được toàn lẽ ấy là đệ nhứt xác thân của toàn thể ô-trược tội tình, thì thế-giới sẽ điêu-tàn tiêu diệt mà chớ!"

 

 

Ô UẾ


E: Sullied.
F: Souillé.

(Ô : bẩn, Uế : trược). Ô uế : Dơ bẩn, trược.

Kinh Đệ Lục Cửu có câu:

"Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh-thể,
"Trừ tiêu tàn ô-uế sinh-quang."

 

 

ỐC TRẦN HUỜN Ư SONG THỦ CHI NỘI

(Ốc: còn một âm nữa là Ác, nghĩa là nắm giữ, cầm giữ. Trần: bụi bặm. Huờn: hay hoàn là vùng đất lớn. Trần huờn hay Trần hoàn là chỉ các cõi trần, đó là các quả địa cầu có nhơn loại ở. Có tất cả 72 địa-cầu gọi là "Thất thập nhị Ðịa", mà địa cầu chúng ta đang ở là địa cầu 68. Ư: Ở tại. Song thủ là hai tay, chữ Song thủ có hàm ý nói về Âm Dương nhị khí tức Khí Âm và Khí Dương. Chi: Tiếng đệm. Nội: Trong, ở trong).

Toàn câu Kinh này (trong bài Kinh Thích giáo) ý nghĩa là nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong hai bàn tay. Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị Thầy đáng kính, được sanh ra vào thời Hỗn-độn, "Hỗn Độn Tôn Sư, Càn Khôn chủ tể", làm Chúa tể Càn Khôn Thế giái, tóm thâu 3000 Thế giới vào trong một Khí Hư Vô, nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong hai bàn tay. Vậy, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được Ðức Chí Tôn ban cho quyền hành thay mặt Ðức Ngài cai quản Càn Khôn Vũ-Trụ hữu hình gồm: Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu).

 

 

ÔM BÌNH BAO TÓC

Ôm: dùng hai tay mà giữ lấy. Bình: tấm bình phong. Ôm bình là giữ lấy tấm bình phong để làm kỷ niệm.

Ý nói: Cái duyên thành vợ chồng.

Điển tích: Theo Đường thư, ông Đậu Nghị, người đất Mậu Lăng, làm quan Thượng Trụ Quốc thời Nam Bắc triều, có một con gái yêu, muốn kén rể, bèn sai vẽ hai con khổng tước (con công) lên tấm bình phong, ước hẹn rằng cậu trai nào giương cung bắn hai phát, mà trúng mắt khổng tước thì sẽ được gả con gái cho.

Nhiều cậu trai đến thử tài nhưng không bắn trúng. Sau có Lý Uyên đến dự thi, chỉ bắn một phát là trúng mắt công, nên được Đậu Nghị nhận làm rể.

Về sau, Lý Uyên khởi lên và làm vua ở đất Đường, hiệu là Đường Cao Tổ và con gái của Đậu Nghị làm Hoàng Hậu, gọi là Đậu Hoàng Hậu.

Hai vợ chồng Lý Uyên giữ mãi tấm bình phong có vẽ hai con khổng tước ấy để làm kỷ niệm duyên vợ chồng.

Từ điển tích nầy, người ta rút ra hai chữ "Xạ tước", ý nói là bắn con mắt chim khổng tước, nhưng vì chữ "tước" còn có nghĩa là con chim se sẻ, nên chữ Xạ tước lại được dịch ra là "Bắn sẻ" và được dùng rộng rãi, cũng từ điển tích nầy mà ra, nên cùng có một ý nghĩa là chỉ việc thử tài kén rể và kết duyên thành vợ chồng.

Kinh Hôn Phối có câu:

"Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,
"Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam."

 

 

ÔM CẦU KHÓC DUYÊN

Chỉ mối tình trai gái nồng nàn.

Ôm cầu: Có hai cách hiểu về điển tích này, nếu:

*Chữ Cầu là cây cầu (kiều ) thì lấy điển ôm trụ cầu, do tích như sau: Vĩ Sinh là người nước Lỗ, hẹn với người tình gặp nhau ở dưới cầu. Đúng giờ, Sinh ra chỗ hẹn mà chờ đợi. Nước dưới sông càng lúc càng lớn, mà người tình vẫn không tới, Vĩ Sinh cứ ở dưới cầu, ôm vào trụ cầu mà đợi. Nước ngập thì chịu chết, chớ không chịu tránh chết, không dám bỏ chỗ hẹn với người tình. Kẻ ôm cầu đây là chỉ người chồng giữ mối tình chung thủy.

* Chữ Cầu là trái cầu hay tú cầu 繡球, tức quả cầu bằng gấm thêu, dùng để các nàng Công chúa hoặc con các quan kén chồng. Do điển tích:

Vua Vũ Đế nhà Hán, có Công chúa vừa tuổi lấy chồng, vua bèn truyền lịnh các vị Vương tôn công tử xa gần hay các anh hùng hào kiệt khắp mọi nơi biết và tập trung về để Công chúa tuyển lựa phu quân. Người nào nhận được quả tú cầu do Công chúa gieo xuống thì được nhà vua gả Công chúa cho và phong làm Phò mã.

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

"Bước Tiên nàng đã ngao du,
"Đoái tình thương kẻ ôm cầu khóc duyên."

 

 

ÔN CỐ TRI TÂN

E: To recall the past and to know the present.
F:Se rappeler le passé et connaitre le présent.

Ôn: Học lại bài vở. Cố: xưa, cũ, chuyện xưa. Tri: biết. Tân: mới.

Ôn cố tri tân là xem xét lại những điều xưa cũ thì biết được nhiều điều mới. Dò lại sự việc qua rồi để biết cái dắp tới ( cái mới).

• Sách Luận Ngữ có viết rằng: Ôn cố nhi tri tân, khả vi sư hỹ. Nghĩa là: Ôn lại những điều cũ mà biết được điều mới, có thể làm thầy được vậy. Ý nói: Xem xét nghiền ngẫm các việc đời xưa, thì có thể suy đoán biết rõ việc ngày nay, và như thế là có thể làm thầy dạy kẻ khác.

• Trong sách Trung Dung, Chương thứ 27 có viết rằng:

Cố quân tử tôn đức tính nhi đạo vấn học,
Trí quảng đại nhi tận tinh vi,
Cực cao minh nhi đạo Trung Dung,
Ôn cố nhi tri tân, đôn hậu dĩ sùng lễ.
Thị cố cư thượng bất kiêu, vi hạ bất bội,
Quốc hữu đạo, kỳ ngôn túc dĩ hưng;
Quốc vô đạo, kỳ mặc túc dĩ dung.

Nghĩa là:

Cho nên người quân tử tôn đức tánh mà lo học vấn,

Tìm đến chỗ rộng lớn mà xét hết những cái tinh vi,

Rất cao minh mà vẫn noi theo đạo Trung Dung,

Ôn lại việc đời xưa mà biết việc đời nay, đắp dày nền nhân mà sùng kính lễ.

Vậy cho nên ở địa vị cao thì không kiêu, ở địa vị thấp thì không trái,

Lúc nước trị (có đạo) thì lời nói đủ làm hưng thịnh,

Lúc nước loạn (vô đạo) thì sự yên lặng đủ giữ lấy mình.

 

 

ÔN HÒA

温 和
E: Moderate.
F: Modéré.

Ôn: Ôn là ấm, hoà nhã. Hòa: êm đềm tốt đẹp với nhau. Ôn hòa là tánh tình hòa nhã, không nóng nảy quá khích (không nóng nẫy cấp táo).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nơi xứ nầy, dân tình rất thuần hậu, ôn hòa.

 

 

ÔN - LƯƠNG - CUNG - KIỆM - NHƯỢNG

Ðức Khổng-Tử, giáo hóa nhơn-sanh có dạy năm điều là: "Ôn, Lương, Cung, Kiệm, Nhượng". Vua tôi có cung kỉnh thì thiên-hạ mới được thái-bình, cho nên vua Nghiêu đối với bá-quan thường dùng một chữ Khâm, ngàn thu còn để tiếng Thánh-quân. Cha con có cung-kỉnh thì gia-đình mới được thuận hòa. Ông vua Thuấn thờ cha mẹ trọn niềm thủ kỉnh, mà muôn đời còn lưu danh là đại hiếu. Anh em có cung kỉnh với nhau, mới có tình cảm thân thương yêu mến. Ðời xưa ông Lý-Tịch làm quan to, ông đã già mà cung kỉnh bà chị một cách lạ thường. Một hôm bà chị đau ông thân hành đi nấu cháo cho chị ăn, thổi lửa rủi bị cháy hết râu, người chị thấy em như vậy thì hết lòng thương xót. Còn vợ chồng mà biết cung kỉnh với nhau, thì tình thân-ái mới được thuận-hòa, tạo nên cửa nhà đồ sộ. Ðời xưa vợ chồng ông Khước-Khuyết tương kỉnh như tân, vợ chồng của ông kỉnh nhường nhau ví như khách quí, thường bữa ông đi cày bà vợ đem cơm mà cung kỉnh dâng cho ông, rồi đứng hầu đến trọn bữa. Ngày kia có quan Đại-Phu, đi ngang qua xem thấy cách cung kỉnh của vợ chồng ông như vậy, bèn về tâu lại với Vua nước Tấn, Vua liền mời ông Khước-Khuyết phong làm quan Hạ Ðại Phu, ấy là vợ ngoan làm quan cho chồng. Người tu-hành mà biết cung-kỉnh, thì tinh-thần đạo-đức mới được tăng tiến lên cao. Trong xã-hội từ lớn chí nhỏ đều biết cung kỉnh lễ phép thì xã-hội mới có vẻ điều-hòa thuần phong mỹ-tục. Toàn thể nhân-loại mà biết giữ lễ-nghĩa cung kỉnh với nhau, thì thế-giới sẽ được hòa-bình phục hồi thượng-cổ.

Thi Chữ Cung:

Cung kỉnh là đầu của thế gian,
Lễ nghi biết giữ đặng trang-hoàng.
Tài sơ bác-học đều lưu-ý,
Nghiêu-Thuấn thường dùng đối bá quan.

 

 

ÔN NHU


E: Moderate.
F: Modéré.

Ôn nhu 溫柔 là lòng hòa nhã và nhu thuận.

Lòng Sớ dâng về Đức Chí-Tôn có câu:

"Phụng thừa Thánh ý, giáo hóa Nhơn sanh, ôn nhu hòa thuận" .

Thi văn dạy Đạo:

Cung trương chim đỡ thế nào đang,
Mất phước ôn nhu ấy mất nhàn.

 

 

ÔNG ÁC

E: The Evil Genius.
F: Le Mauvais Génie.

Trước cửa Tòa Thánh hay các Thánh Thất, có đặt hai pho tượng lớn, đầu đội kim khôi, thân mình mặc giáp.

- Một ông đứng bên nam phái, tay cầm đại đao, vẻ mặt hiền lành phúc hậu, đứng trên tòa sen, đó là Ông Thiện (Thiện Thần) tượng trưng điều thiện, điều chánh.

- Một ông đứng bên phía nữ phái, một tay cầm cái búa, một tay cầm cục ngọc tỷ, gương mặt hung dữ, đứng trên tòa lửa, đó là Ông Ác (Ác Thần) tượng trưng điều ác, điều tà.

Sự tích Ông Thiện và Ông Ác như sau:

Thời thượng cổ, vua Tỳ Kheo có hai con trai là Tỳ Văn và Tỳ Võ. Tỳ Văn thì hiền lành, trái lại Tỳ Võ rất hung dữ.

Vua Tỳ Kheo rất hâm mộ đạo đức. Lúc ấy, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ổ Ấn Độ, độ được vua Tỳ Kheo. Vua Tỳ Kheo lo lập chùa để tu niệm và muốn nhường ngôi lại cho con trưởng là Tỳ Văn hiền lành, nhưng lại sợ Tỳ Võ hung dữ không chịu.

Vua Tỳ Kheo lập kế, sai Tỳ Võ đi các trấn vỗ an bá tánh và đến Hàng Châu chiêu mộ anh tài. Nơi triều đình, vua Tỳ Kheo nhường ngôi cho Tỳ Văn, còn ông vào chùa tu niệm.

Khi Tỳ Võ hoàn thành nhiệm vụ, trở về triều, thấy anh mình là Tỳ Văn đã lên ngôi vua rồi.

Tỳ Võ liền nói:

- Anh hiền lắm, làm vua sao được, dân không sợ đâu. Anh hãy để ngai vàng lại cho tôi. Tôi dữ là dữ với kẻ hung ác bạo tàn vô đạo chớ không dữ với người đạo đức bao giờ.

Tỳ Văn nghe em nói như vậy biết là Tỳ Võ muốn lên làm vua, sợ phải thất lời với vua cha, nên Tỳ Văn vội vàng cầm ngọc tỷ (ấn của vua bằng ngọc) chạy lên chùa để báo cáo cho vua cha sự việc. Nhưng khi Tỳ Văn chạy tới cửa chùa thì vấp té chết, linh hồn thoát xác đi lên cõi Trời.

Tỳ Võ đuổi theo tới nơi, thấy xác của anh mình nằm chết trước cửa chùa, cúi xuống lượm ngọc tỷ cầm lên, bất giác hối hận ăn năn, thấy con người khi chết không đem theo được gì cả, bao nhiêu tiền tài, danh vọng, quyền thế, đều bỏ lại cõi đời, linh hồn chỉ ra đi với hai tay trắng. Tỳ Võ thức tỉnh, quyết bỏ hết sự đời, theo vua cha tu niệm, cuối cùng thì đắc đạo.

Một người dầu lòng dạ hung ác, nhưng khi biết ăn năn cải hối, giác ngộ tu hành, thì trong một kiếp cũng có thể đắc đạo giải thoát.

Hai pho tượng Ông Thiện và Ông Ác, tức là Thiện Thần và Ác Thần, tiêu biểu cho sự thiện và sự ác, sự chánh và sự tà, đối chiếu hai mặt trái ngược nhau của cuộc đời. Đời chỉ ra hai con đường: con đường thiện và con đường ác. Dù con người đi theo đường ác, nhưng đến phút cuối, biết ăn năn sám hối, quày đầu hướng thiện, thì cũng được Đức Chí Tôn cứu rỗi linh hồn.

Khi Đức Phạm Hộ Pháp trấn thần hai pho tượng Ông Thiện và Ông Ác nầy, Đức Ngài giải thích:

"Đời thường lầm lạc, làm điều ác cho là thiện, và thường lấy điều lành cho là ác. Nên từ đây, năng lực của Thiện Thần sẽ phô bày ra mặt đời thế nào là chánh, việc nào là thiện, làm thế nào là phước cho thiên hạ rõ.

Còn Ác Thần thì phô bày ra mặt đời, thế nào là tà, việc nào là ác, sao gọi là tội, cho nhơn loại rõ.

Hai Ông Thần nầy rất linh hiển, dùng quyền năng thiêng liêng đưa ra thiệt tướng hai con đường: phước và tội, siêu và đọa, để cho con cái Đức Chí Tôn khỏi lầm lạc, hầu tránh khỏi con đường tự diệt. Đi vào con đường sanh thì nhơn loại mới mong hòa bình đặng."

 

 

ÔNG LÒ

Nguơn linh là Thổ Hành Tôn

Gọi là Ông Lò (không nhớ tên) thường quen gọi như thế. Người có mặt ngay từ buổi mới khai Đạo, ở luôn trong Nội Ô Toà-Thánh. Người công quả rất lớn, chuyên lo nấu nước tại nhà lò Trai đường và hốt thuốc Nam cho công quả làm Ðền Thánh uống. Nguơn linh Người là Thổ Hành Tôn, đời Phong Thần, Hội Thánh có lần đem danh sách Người xin cầu phong, nhưng Ðức Lý Giáo Tông cho biết Người là một vị Tiên giáng trần đi chơi, không có tên trong Tam Kỳ Phổ Ðộ, nên không phong tước phẩm cho Ông Lò.

 

 

ÔNG TÁO

E: The genius of kitchen.
F: Le génie du foyer.

Ông Công: tiếng gọi Thổ Công, là một vị Thần trong ba vị Táo Quân.

Ông Táo: tiếng gọi Táo Quân, Táo Công, Táo Thần.

Táo Quân là chỉ chung ba vị Thần trông nom các việc trong nhà, kể ra:

1. Thổ Công: tức là Ông Công, trông nom việc bếp.
2. Thổ Địa: tức là Ông Địa, trông nom việc nhà,
3. Thổ Kỳ: trông coi việc chợ búa.

(Xem chi tiết nơi chữ: Táo Quân, vần T)

 

 

ÔNG THIỆN

E: The Good Genius.
F: Le Bon Génie

(Xem Ông Ác ở trên)

 

 

ỐNG TIÊU

Ống tiêu bằng đồng thổi dọc dài 63 phân và có 6 lỗ thổi (trước 5 lỗ sau một lỗ) cùng hai lỗ thông hơi. Đường kính của ống tiêu vào khoảng 2,5 phân.

Phật Shiva thổi ống tiêu để thức tỉnh quần linh:

Trên đỉnh của Bát Quái Đài Tòa-Thánh Tây Ninh có tạc tượng "Tam Thế Chí-Tôn" ấy do Càn khôn vạn loại tạo ra ba ngôi đầu tiên ấy là: 1- Đức Brahma Phật. 2- Đức Shiva Phật 3- Đức Krishna Phật. Còn gọi là Tam Thế Phật. Các hình ảnh biểu-tượng này thì Đức Shiva-Phật mình trần quay về chánh Bắc, đứng trên Thất-đầu-xà tức là Thần hủy diệt, ngó qua phía hữu, ấy là ngôi thứ nhì tượng trưng phần Âm Dương, cơ sanh hoá cũng là cơ hủy diệt, ấy là ngôi Bảo tồn. Phật Shiva cũng như Hộ Pháp ngự trên Thất Đầu Xà để trừ bốn mầm độc trong bản thân nhơn loại, đó là Ai, Nộ, Ố, Dục. Nhìn vào thực tại Đấng đó cũng là hiện thân của Hộ Pháp, nhưng thổi ống tiêu để thức tỉnh quần linh, hướng miệng ống tiêu để đưa sinh khí vào cung Chấn chánh Đông tức là cung Pháp, nơi tụ nguơn Thần. Nếu những tư tưởng quấy ở con người có dấy lên sẽ bị ngự trị phần Ai, Nộ, Ố, Dục, của nhơn sanh để giữ còn cái nguơn Linh của Thượng Đế. Ống tiêu có bảy lỗ tượng cho Thất tình, nếu con người khéo tu biến thành thất bửu cũng thể hiện cho thất khiếu sanh quang, nhưng đắc pháp rồi thần khí phục hồi mở được Cửu khiếu nhờ kết tụ Tam diệu sẽ chiếu ngần ánh Xá lợi. Nên Thích Lão định danh là Mâu Ni Bửu Châu hoặc Thử Mễ Huyền Châu hay Cửu Khúc Minh Châu. Diêu-Trì-Cung là nơi ngự của Đức Phật-Mẫu, ngày nay Ngài đến tại mặt thế gian này đã tượng-trưng bên Ấn Độ: Phật-Giáo Ấn-Độ gọi Ngài là Shiva Phật, là cái hình ở trên Bát-Quái-Đài chúng ta để trên nóc, thấy có "Tinh Nhũ" nơi ngực của Ngài đó. Hồi buổi Chí-Tôn phân định, phân tánh của Ngài, lấy Khí tức nhiên là Ngài dùng cái "Linh-Pháp"của Ngài biến tướng ra Phật-Mẫu. Phật-Mẫu thuộc về Âm, Chí-Tôn thuộc về Dương, Âm-Dương hiệp lại mới biến hóa Càn Khôn Vũ Trụ, sanh ra vạn-vật.

 

 

ỐNG TIÊU TRƯƠNG LƯƠNG

Đức Hộ-pháp nói: "Ấy vậy, giờ phút nầy Qua ký Thánh Lịnh cho mấy Em đi các nơi, cốt yếu đặng mấy Em đem cái ngôn ngữ điều hòa, lấy một ống tiêu mà Trương Lương đã làm cho tan vỡ một đạo binh hùng tráng của Hạng Võ, đánh tan nát cơ nghiệp của Sở, thâu đạt cơ nghiệp ấy đem lại cho nhà Hớn duy có ống tiêu Trương-Lương mà thôi. Giờ phút nầy Qua giao cho mấy Em một sứ mạng làm sao cho thiên hạ nghe ống tiêu Thiêng Liêng của mấy Em đặng tinh thần nòi giống mấy Em đứng dậy định tương lai vinh-quang cho mình với cái giọng ngọt dịu của mấy Em, làm cho thiên hạ thức tỉnh, diệt tiêu bớt hung hăng bạo ngược, trái lại đem đến một con đường hòa huỡn, cao quí, tốt đẹp, êm dịu, đem lại cái đạo đức tinh thần chiến thắng để cứu vãn sanh mạng loài người. Bởi giờ phút nầy họ đang đi đến con đường diệt vong mà chớ".

 

 

Ố (1)

E: Dirty.

: ố là lắm lem, vấy đồ dơ bẩn.

 

 

Ố (2)


F:détester.

nghĩa là ghét, một trong 7 thứ tình của con người gọi là Thất tình: Hỉ, Ái, Lạc, Dục, Ai, Ố, Nộ. Chữ Ố cấu hợp bởi chữ Á là thứ, ở trên và bộ tâm ở dưới (còn đọc là ác). Ố là ghét, từ chỗ ghét nhau mới sinh ra Ác tâm và họ có thể làm những gì cho thỏa sự ghen tức ấy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Chữ là Ghét: Người tu hành không nên chất chứa sự ghét trong tâm, vì sự ghét giận mà sanh ra thù nghịch lẫn nhau cho đến tàn hại nhau, mà gây thành oan trái, trả vay đời đời kiếp kiếp. Nên Đức Chí Tôn có dạy rằng: "Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Tam Thập Lục Thiên, đặng vào nơi Bạch Ngọc Kinh", còn sự ghét là phương tà mị, nó làm cho lòng người chia rẽ, mất tình đoàn thể, cốt nhục phân ly cũng do sự ghét. Vấn đề chữ Ố, nó làm cho lòng người nhiều điều tai hại, nói không cùng. Tóm lại, chỉ nhớ một câu của Thầy dạy ta: "Từ đây các con chẳng đủ sức thương yêu nhau thì cũng chẳng đặng ghét nhau".

Có câu phương ngôn rằng:

"Thương người khác thể thương thân,
"Ghét người khác thể vun phân cho người."

 

 

Ở NGOẠI CÀN KHÔN

Ở ngoại Càn khôn là Ở ngoài cõi Trời đất, tức là ở một cõi giới nào đó, không phải cõi trần gian. Nhưng dầu cho chơn hồn có gây ra tội chướng ở nơi cõi địa giới hay dầu cho có gặp oan gia nghiệt chướng ở ngoài Càn khôn (ngoài cõi Trần) đi nữa cũng phải ráng cầu nguyện Chí Tôn để hưởng phần giải thoát.

Cầu nguyện Chí-Tôn là niệm câu chú của Thầy "Nam-mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát".

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

"Dầu tội chướng ở miền địa giái,
"Dầu oan gia ở ngoại Càn Khôn."

 

 

ƠN CÚC DỤC

Tức là công ơn nuôi dưỡng bú mớm của người Mẹ đã lo lắng cho con từ hồi còn là trứng nước. Chỉ có người Mẹ mới dành cho con cái một tình thương cao trọng như thế. Còn gọi là chín chữ cù lao

Ngài Cao Đức Trọng (Tiếp Đạo Thời quân của Hiệp Thiên Đài) giáng Cơ từ giã Mẹ là Bà Hồ Hương Lự (Nữ Đầu sư) đêm 01 rạng 02 tháng 03 năm Canh-Tý (1960) với lời thống thiết: "…Thưa Mẹ, Hôm nay con đến đây với thâm tình Mẫu tử, hầu tỏ nỗi niềm tâm sự, mặc dầu vô hình khác cảnh, nhưng Ơn cúc dục sanh thành nghĩa nặng đeo mang, lòng bác ái của Mẹ vô hạn. Bởi công đức lớn và tâm trung của Mẹ đối với Ngọc-Hư-Cung và các Đấng đều ghi. Hơn nữa đối với Thiên quân trọn nghĩa chung thủy nên quyền Thiêng-liêng ân tứ cho con được trở về thăm, tỏ nỗi tâm sự khổ đau bởi vì lòng thương vô hạn: Mẹ hằng cầu khẩn vái van mà động lên lòng các Đấng. Khi con còn tại thế, vì mang xác phàm không gìn tròn sứ mạng nên có sự lỗi-lầm! Bên ngoài thế tục còn qua được, nhưng về tâm sự nơi lòng người khó tránh lẽ công bình, luật Thiên-điều nhặc nhiệm. Sự oan nghiệt tâm phàm của con rủi một chút mà linh hồn con phạm Thiên Điều. May nhờ công tu-luyện và tâm trung vì Đạo nên an-ủi đó chút! Khi lãnh lịnh Ngọc-Hư-Cung xuống thế, có bổn phận phải giúp Ngự-Mã-Quân mà ngược lại không tròn Nghĩa, vì nặng mang phàm tục lôi cuốn, quên hẳn Thiêng-liêng cao trọng… Ôi! Phàm tục! Vì mi mà làm Ta lầm-lạc, chẳng hiểu đặng rằng Ngự-Mã là mạng lịnh của Khí Hư-vô thay thân Chí-Tôn tạo đời cải dữ ra hiền".

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Ơn cúc dục cù lao mang nặng,
"Lỡ thân côi mưa nắng khôn ngừa.
"Âm Dương cách bóng sớm trưa,
"Thon von phận bạc không vừa hiếu thân."

 

 

ƠN DƯỠNG DỤC

Dưỡng là nuôi nấng về thể xác, dục là nuôi nấng dạy bảo về tinh thần. Người nuôi nấng như vậy đối với kẻ được lo lắng phải nhận là một cái ân (Ơn) rất trọng đại, ví bằng trời đất. Nếu không được sự bảo dưỡng ấy thì con người đã chết tự lâu rồi. Ơn dưỡng dục này có thể không phải là người sanh đẻ ra, mà người khác ra tay cứu giúp cũng làm được công việc này.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Ơn dưỡng dục đất trời cao rộng,
Ngại đền bồi cảm động lòng con.
Nếu trong chữ Hiếu chưa tròn,
Dầu đi hành Đạo sao an dạ này?

 

 

ƠN HỒNG

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Thầy thương trẻ buồn than lắm lối,
Nhờ ơn hồng tắm gội bợn nhơ.
Bấy lâu tăm-tối mịt-mờ,
Thầy cho đuốc huệ sáng soi tỏ tường.

 

 

ƠN TÁI TẠO

Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng trước khi đi đầu thai có gặp Mẹ một lần để nói lên lỗi lầm của mình: "Đức Ngự-Mã, Ngài cầu xin với Ngọc-Hư cho khỏi bị tiêu diệt linh hồn để tái kiếp đền lại những lỗi-lầm mà nợ tình của hàng vạn linh-hồn cùng Thánh Thể Chí-Tôn mà con đã gây ra. Rồi đây không biết đến nơi nào với một kiếp sanh để đền nợ. Nếu chẳng may vương mang sự lỗi lầm thì con chưa cỗi xác tục đây, phải đợi mãn kiếp sanh mới và thọ lịnh hoặc tội đày hoặc tái kiếp. Từ đây tình cốt nhục cũng như Mẫu-tử biết ngày nào hội ngộ trùng phùng đền ơn tái tạo?"

 

 

ƠN TRÊN

Ơn Trên là Ơn huệ của Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng thiêng liêng. Nhờ ơn ấy mà nhơn sanh được sự giúp đỡ, ban cho phước lành.

Bài Niệm Hương có câu:

"Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo,
"Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành."

Kinh Sám Hối có câu:

"Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức,
"Phước ấm no túc thực túc y."

 

 

ƠN TRÊN TỪ PHỤ

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Tiên, Nho, Thích, một nhà hiệp lại,
Bước tu-hành rộng-rãi thinh thinh.
Ơn Trên TỪ-PHỤ chứng minh,
Cầm quyền Chủ-tể tá danh CAO-ĐÀI.

 

 

HẾT VẦN O

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


OAI | OAN | OÁN | OÁT | OẰN | OM | ONG |

Ô | ỐC | ÔM | ÔN | ÔNG | ỐNG | |

| ƠN |


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

O | Ô | Ơ

 

 

 

Danh mục vần O

 

OAI

Oai Dõng

Oai Đức

Oai Linh

Oai Linh Tiên

Oai Nghiêm

Oai Quyền

Oai Thần

 

OAN

Oan Gia

Oan Gia Nghi Giải Bất Nghi Kết

Oan Gia Nghiệt Chướng

Oan Gia Trái Chủ

Oan Hồn

Oan Khiên

Oan Nghiệt

Oan Oan Nghiệt Nghiệt

Oan Oan Tương Báo

Oan Trái

Oan Uổng

 

OÁN

Oán Chạ Thù Vơ

Oán Chạ Tham Lam

Oán Cừu

Oán Hờn

Oán Trách

 

OÁT

Oát Vận

 

OẰN

Oằn Oại

 

OM

Om Sòm

 

ONG

Ong Lìa Bầy

 

Ô

Ô Li Vê

Ô Nhiễm

Ô Thước Qui Sơn

Ô Trược

Ô Trược Tội Tình

Ô Uế

 

ỐC

Ốc Trần Huờn Ư Song Thủ Chi Nội

 

ÔM

Ôm Bình Bao Tóc

Ôm Cầu Khóc Duyên

 

ÔN

Ôn Cố Tri Tân

Ôn Hòa

Ôn - Lương - Cung - Kiệm - Nhượng

Ôn Nhu

 

ÔNG

Ông Ác

Ông Lò

Ông Táo

Ông Thiện

 

ỐNG

Ống Tiêu

Ống Tiêu Trương Lương

 

Ố (1)

Ố (2)

 

Ở Ngoại Càn Khôn

 

ƠN

Ơn Cúc Dục

Ơn Dưỡng Dục

Ơn Hồng

Ơn Tái Tạo

Ơn Trên

Ơn Trên Từ Phụ

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 18-09-2017

O | Ô | Ơ


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF