CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần NH

 

NHÀ

Nhà Đăng Cao

Nhà Nghèo Biết Con Thảo, Nước Loạn Rõ Tôi Trung

Nhà Tịnh (Tịnh Thất)

Nhà Tu Trì

 

NHẠC

Nhạc

Nhạc Công

Nhạc Chấp Sự

Nhạc Hành Lễ

Nhạc Lễ

Nhạc Pháp

Nhạc Sĩ

Nhạc Sinh

Nhạc Sư

Nhạc Tấu Quân Thiên

Nhạc Thiều

Nhạc Tiêu Thiều

 

NHAM

Nham Hiểm

 

NHAN

Nhan Hồi (Nhan Uyên)

Nhan Uyên Kỳ

 

NHÀN

Nhàn Âm Ðạo Trưởng

 

NHÁNH

Nhánh

 

NHÀNH

Nhành Dương

 

NHÃN

Nhãn

Nhãn Huệ Quang

Nhãn Tiền

Nhãn Tiền Báo ứng

 

NHẮM

Nhắm Mắt Đâu Còn

 

NHĂN

Nhăn Mày Khổ Lụy

 

NHẶT

Nhặt Khoan

 

NHÂN

Nhân (1)

Nhân (2)

Nhân Ái (Nhơn Ái)

Nhân Bản

Nhân Cách (Nhơn Cách)

Nhân Chính

Nhân Chủng (Nhơn Chủng)

Nhân Dục

Nhân Duyên

Nhân Đạo

Nhân Đạo - Thiên Đạo

Nhân Định Thắng Thiên

Nhân Đức

Nhân Giả Kỳ Thiên Địa Chi Đức, Âm Dương Chi Giao, Quỉ Thần Chi Hội, Ngũ Hành Chi Tú Khí Dã

Nhân Gian

Nhân Hậu

Nhân Khẩu

Nhân Loại

Nhân Luân

Nhân Lực

Nhân Lực - Thiên Lực

Nhân Năng Hoằng Ðạo, Phi Ðạo Hoằng Nhân

Nhân Nghĩa

Nhân Phẩm

Nhân Quả

Nhân Quần

Nhân Sanh

Nhân Sanh Quan

Nhân Sanh Ư Dần

Nhân Sĩ

Nhân Sự

Nhân Tài

Nhân Tâm Bất Túc Xà Thôn Tượng, Thế Sự Đáo Đầu Đường Bộ Thiền

Nhân Tâm Sanh Nhứt Niệm, Thiên Địa Tất Giai Tri

Nhân Tiên

Nhân Tình

Nhân Tình Thế Thái

Nhân Từ

Nhân Thân

Nhân Thân Phàm Ngữ

Nhân Vị

 

NHẪN

Nhẫn

Nhẫn Nhục

 

NHẤP

Nhấp Nhóa

 

NHẬP

Nhập Bát Quái

Nhập Càn Khôn

Nhập Diệu

Nhập Diệt

Nhập Đàn Hành Lễ Cúng Phật Mẫu

Nhập Định

Nhập Hội

Nhập Môn

Nhập Niết Bàn

Nhập Nội

Nhập Quan

Nhập Tâm

Nhập Thế - Xuất Thế

Nhập Thể

Nhập Tịnh

Nhập Xác

 

NHỊ

Nhị Bá

Nhị Bất Du Ðạo

Nhị Ca

Nhị Châu Chơn Võ

Nhị Chúa

Nhị Hữu Hình Đài

Nhị Ngoạt Thập Ngũ Phân Tánh Giáng Sanh

Nhị Nguyên Luận

Nhị Nương Diêu Trì Cung

Nhị Thập Bát Tú

Nhị Thập Tứ Hiếu

Nhị Thập Tứ Tiết

Nhị Trấn Oai Nghiêm

Nhị Xác Thân

 

NHIỆM

Nhiệm Kỳ

Nhiệm Mầu

 

NHIỄM

Nhiễm Trần Thì Sa Đọa

 

NHIÊN

Nhiên Đăng

Nhiên Đăng Cổ Phật

 

NHIẾP

Nhiếp Căn

Nhiếp Tâm

 

NHIỆT

Nhiệt Huyết

Nhiệt Tâm

Nhiệt Thành

 

NHIỄU

Nhiễu Điều

 

NHO

Nho

Nho Gia

Nho Giáo (1)

Nho Giáo (2) (Kinh)

Nho Nhã

Nho Phong

Nho - Thích - Đạo

Nho Tông

Nho Tông Chuyển Thế

 

NHỒI

Nhồi Quả

 

NHƠN

Nhơn (Giáo Sư Thượng Nhơn Thanh)

Nhơn (Lễ Sanh)

Nhơn Chủng

Nhơn Đạo

Nhơn Điển

Nhơn Đức

Nhơn Hình

Nhơn Hư Đạo Bất Hư

Nhơn Linh

Nhơn Loại

Nhơn Luân

Nhơn Lực

Nhơn Nhi Bất Nhơn Như Lễ Hà? Nhơn Như Bất Nhơn Như Nhạc Hà?

Nhơn Nghĩa

Nhơn Phẩm

Nhơn Quần

Nhơn Sanh

Nhơn Sanh Ư Dần

Nhơn Sanh Triết Lý Học

Nhơn Sanh Vạn Vật Tối Linh, Lễ Giả Thiên Ðịa Chi Tự Dã

Nhơn Tài

Nhơn Tâm

Nhơn Thánh

Nhơn Thân Phàm Ngữ

Nhơn Tình

Nhơn Tước - Thiên Tước

Nhơn Vật Mười Phần Hao Tám Chín

 

NHU

Nhu Quẻ Thuỷ Thiên Nhu

Nhu Nhược Trường Tồn

Nhu Sĩ (Nho Sĩ)

 

NHŨ

Nhũ

Nhũ Danh

Nhũ Lịnh

 

NHUẦN

Nhuần Thần Huệ

 

NHỤC

Nhục Mạ

Nhục Nhã Tổ Tông

Nhục Nhãn

Nhục Tổ Hổ Tông

Nhục Thể

 

NHUNG

Nhung (Giáo Sư Thái Nhung Thanh)

 

NHƯ

Như Lai

Như Nguyện

Như Nhãn (Hòa Thượng Giác Hải)

Như Lâm Thâm Uyên, Như Lý Bạc Băng

Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn

Như Thị

 

NHƯỢC

Nhược Hữu

Nhược Thiệt, Nhược Hư

Nhược Nhơn Liễu Đạt Âm Dương Lý, Thiên Hạ Đô Lai Nhất Chưởng Trung

 

NHƯỢNG

Nhượng Nửa Quyền

 

NHỨT

Nhứt Bất Sát Sanh

Nhứt Dương Sanh

Nhứt Đại Viết Thiên

Nhứt Điểm Linh Quang

Nhút Khí Chi Trung

Nhứt Môn Đồng Mạch

Nhứt Nhị Tam Kỳ Phổ Độ

Nhứt Nguyên

Nhứt Nguyên Luận

Nhứt Nhứt Phải Đợi Lịnh Thầy

Nhứt Nhựt Bất Thiện Niệm Chư Ác Giai Tự Khởi

Nhứt Nhựt Tam Tỉnh Ngô Thân

Nhứt Niệm

Nhứt Niệm Sân Tâm Khởi, Bá Vạn Chướng Môn Khai

Nhứt Nộ Sầu Tâm Khởi, Bát Vạn Chướng Môn Khai

Nhứt Nương Diêu Trì Cung

Nhứt Phật

Nhứt Quán

Nhứt Tâm Thiện Niệm

Nhứt Tâm Nhứt Trí

Nhứt Thăng

Nhứt Thân Ức Vạn Diệu Huyền Thần Biến

Nhứt Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh

Nhứt Thiết Chư Phật

Nhất Thiết Duy Tâm Tạo

Nhứt Thống

Nhứt Thống Oai Nghiêm

Nhứt Thời

Nhứt Toán Họa Phước Lập Phân

Nhứt Trấn Oai Nghiêm

Nhứt Triêu Nhứt Tịch

Nhứt Vãng Nhứt Lai

 

NHỰT

Nhựt - Đức - Tàu - Tây

Nhựt Nguyệt

Nhựt Nguyệt Chi Quang

Nhựt Nguyệt Mạo

Nhựt Nhu Ngoạt Nhiễm

Nhựt Nhựt Tân Hề Nhựt Nhựt Tân

Nhựt Tụng

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 18-09-2017

 

 

 

NHÀ ĐĂNG CAO

Lại một hôm, nhơn bàn về vấn đề Tôn giáo, tôi nói với Ông LÊ VĂN TRUNG: Tôi nhớ như tuồng một nhà Văn sĩ Ăng-Lê kia đã nói: "Tôn giáo nầy mà khác với Tôn giáo kia cũng giống như những nhà đăng cao, tuy là khi mới trèo lên, thì người ở bên chơn núi nầy, kẻ ở chơn núi kia, chớ chừng đến trên đảnh cũng gặp nhau một chỗ".

Ông trả lời: Ðạo Cao Ðài chúng tôi cũng vậy. Song chỉ có một điều khác, là muốn sao từ khi đương ở dưới chơn núi, thì tất cả các nhà đăng cao đều đã biết nhau, yêu nhau".

 

 

NHÀ NGHÈO BIẾT CON THẢO NƯỚC LOẠN RÕ TÔI TRUNG

Khi gặp cảnh nghèo mà con cái biết nghĩ tới và lo lắng cho cha mẹ tức nhiên là chứng tỏ được lòng hiếu thảo. Lúc nước biến mà dám ra đi vì nghĩa vụ, ấy là chứng tỏ tấm lòng trung thành. Chữ Hiếu Trung thường đi đôi nhau ấy là sự đạo đức có sẵn trong lòng người. Nếu trong nhà là người con Hiếu, tất nhiên đối với nước sẽ là tôi Trung và đối với mọi người là có Nghĩa. Ba đức Trung- Hiếu- Nghĩa nếu có tức nhiên sẵn có, chứ không thể học được. Câu này được dịch từ câu Nho của Thánh Hiền: "Gia bần tri hiếu tử, Quốc loạn thức trung thần".

Đức Thượng Sanh nói: Có câu phương ngôn: "Nhà nghèo biết con thảo, nước loạn rõ tôi trung". Ðạo đã bao phen chịu thiệt thòi, chịu hiếp đáp, nhưng nhờ lòng trung thành của con cái Ðức CHÍ TÔN mà qua nhiều cơn giông tố rồi cũng đứng sựng và nêu cao ngọn cờ cứu khổ. Quí vị đã thọ lãnh sứ mạng Thể Thiên Hành Hóa thì mỗi việc làm của Quí vị đều có Thánh Thần chứng kiến, sự tận trung với Ðạo sẽ đem đến cho quí vị một phần thưởng Thiêng Liêng xứng đáng. Nếu vì một lẽ nào mà quí vị "bán đồ nhi phế" hoặc chịu làm dụng cụ cho kẻ khác phá Ðạo, tức là quí vị sẽ thất thệ và sự thất thệ là một trọng tội vô phương cứu chữa "hoạch tội ư thiên vô sở đảo dã".

 

 

NHÀ TỊNH (TỊNH THẤT)

Vấn: Nếu cất Nhà tịnh thì mấy con cũng cứ lo làm Công quả, làm sao vào Tịnh được? Và từ cấp bực nào mới vào Tịnh?

Đức Hộ-Pháp nói: "Thầy lập Nhà Tịnh là chung cho cả nhân loại, hạng nào cũng được, không phân biệt chức sắc hay Tín đồ hoặc các Chi Phái, nếu họ muốn thì cũng vào được, nhưng phải có Quyền Vạn Linh công nhận, đó là phần Chi Phái ngoại giáo.

Vấn: Bạch Thầy, rồi đây người nào cũng xin vào Tịnh, rồi ai lo phổ độ? Ai lo làm công quả? Chỉ có mấy người không phận sự họ mới xin vào Tịnh.

Đức Hộ-Pháp day sang nói với Sĩ Tải Hiển và Luật Sự Trấn: "Ờ! biên đi, Hiển với Trấn hay tò-mò lục lạo, các nước ngoài người ta giỏi lắm, chế ra nhiều thứ chữ viết tắt tắt lẹ lắm. Mỗi khi cuộc hội đàm cùng diễn thuyết họ đều ghi chú lại hết, còn mình đây còn dở, chưa phát minh, có khi hội đàm cùng đi ra ngoài đời có nhiều cái hay má mình không ghi chép lại được để học hỏi. Mấy đứa bây rán chế làm sao, hoặc dẫu làm thế nào để ghi lại cái hay mà người ta nói giữa đông người.

Điều kiện nhập Tịnh Thất để Tịnh luyện:

"Chơn! Bộ con ham Tịnh luyện lắm sao? Đâu có phải người làm biếng mà vào Tịnh được. trước khi vào Tịnh thì phải có đủ Tam Lập là: Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn. Nơi cửa Đạo đặt ra việc chi đều hữu ích cả, mượn Thể Pháp tượng trưng mới đoạt Bí-Pháp. Trước kia Thầy lập Phạm Môn xuất hiện tại Tòa-Thánh tượng trưng cửa Phật độ sanh hồn tức nhiên gọi là PHẬT. Minh-Thiện-Đàn mở tại Khổ-Hiền-Trang Thầy khai Thể-Pháp tại đó gọi là PHÁP. Phước Thiện ngày nay đã ra thiệt hiện tức nhiên ra mặt xã-hội gọi là TĂNG, thì nó sẽ bành trướng vận chuyển lưu hành cùng khắp xã hội nhơn-quần; nghĩa là phải phụng sự cho toàn thể chúng sanh, tế khổn phò nguy, đi Đầu họ, Đầu Quận làm hậu thuẫn cho Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài lo cơ tận độ, chỉ có công phổ-độ mới giải quả tiền khiên. Ai không xuất thân hành Đạo, nghĩa là không có công phổ độ thì không vào Nhà Tịnh được, vì không đủ Tam Lập.

Trước khi xin vào Nhà Tịnh phải nạp tất cả giấy tờ hành Đạo, lai lịch từ thuở nhỏ đến trưởng thành, ở ngoài đời không án tiết, trong cửa Đạo cũng vậy, trọn tùng Luật Pháp Đạo và trường trai mới được, rồi giao cho chi Pháp minh tra về Thể pháp đủ bằng chứng. Chi Pháp phải giữ hồ sơ của mỗi người, còn điều trọng yếu về vô vi, không thể gì Chi Pháp biết đặng. Chiếu văn kiện thì đầy đủ lắm, vậy Chi Pháp chỉ biết văn-bằng hiện hữu về mặt hữu hình mà thôi.. Khi minh tra đủ lẽ rồi mới giao cho Hộ-Pháp cân thần, nếu vị nào đủ Tam Lập thì cho vào Nhà Tịnh, bằng thiếu thì trở lại đi Đầu Họ, Đầu Quận hành Đạo nữa. Nói rõ là có hộ-pháp trục Thần khai khiếu mới biết đặng đủ thiếu, bằng không thì ngồi Tịnh lớn bụng vô ích"

Làm Công quả cũng là thực hiện Tam Lập:

Vấn: Bạch Thầy: như con đây cứ làm công quả không đi Đầu Họ, Đầu Quận thì làm sao vào Tịnh được?

Đức Hộ-Pháp nói: "Riêng phận mấy con cứ lo làm Đền Thánh rồi đây Thấy định cho, phần Thiêng liêng thì Chí-Tôn đã hứa, còn hữu hình nếu nuốn làm Quan Đạo thì Thầy ban cho phẩm Giáo Thiện, nam nữ cũng vậy.

Vấn: Bạch Thầy: những hạng văn hay chữ giỏi, có tài đức người ta mới giúp ích cho nhơn quần xã hội, đúng theo lời Thầy dạy là phải giúp cho nhơn loại khắp cả hoàn cầu đạng LẬP ĐỨC. Còn LẬP CÔNG.

… … …

 

 

NHÀ TU TRÌ

Ngài Bảo-Thế Lê-Thiện-Phước đọc tại Tokyo, rằng:

…"Người ta có quan-niệm nhà tu trì chỉ biết có kinh kệ nguyện-cầu, mà Quên rằng vì thương hại chúng-sanh nhà tu mới sớm kệ chiều kinh cầu-nguyện cho chúng-sanh bớt khổ. Quên rằng chớ chi các nhà thông-thái phát-minh nguyên-tử-lực chịu hợp-tác với nhà tu-trì để xử-dụng thì lực nguyên-tử sẽ dùng vào việc giúp ích cho thế-gian hơn là giết hại đồng-chủng. Quên rằng nếu lấy đạo-đức khuyến thiện là bổn phận thiêng-liêng của nhà tu đặng bảo-thủ Hoà-bình, còn lấy bạo-hành ép buộc dân-chúng thì không bao giờ hết loạn. Thoảng như đời biết nương Đạo, thì Đạo sẽ nâng tay dìu đời. Ngặt vì đời quá rẻ-rúng Đạo, bảo sao người tu hành không lánh mình ngoài chốn oai-quyền thế-lực để mặc ai sa vào cạm bẫy của tà-thần, tự rước lấy sự thất-bại chua cay vô phương cứu chữa".

 

 

NHẠC


F: Musique.

NHẠC là thanh âm có tiết điệu dễ nghe như hát, đàn, trống, kèn. Một âm LẠC là vui mừng. Đủ thấy Nhạc là một sự thoải-mái, vui hứng trong lòng. NHẠC là một trong Ngũ-Kinh: THI, THƯ, LỄ NHẠC, DỊCH, XUÂN THU nhưng qua thời đại của Tần Thủy-Hoàng với chánh sách «Phần thư khanh Nho» tức là đốt sách chôn học trò, nên ngọn lửa Tần đã thiêu rụi tất cả chỉ còn lại bộ KINH DỊCH mà thôi, vì nhà Tần cho rằng đây chỉ là sách bói toán, không đáng quan ngại. Thật ra:"Bộ kinh NHẠC của KHỔNG-TỬ đã san định, nay chỉ còn có một ít trong thiên Nhạc-Ký, chép ở trong bộ Lễ Ký. NHẠC được hiểu theo ý của cổ-nhân: NHẠC là do ÂM mà sinh ra. Cho nên mới hình ra ở cái THANH, những thanh tương ứng cùng nhau rồi biến ra thành phương, tức là thành cung bực, trong, đục, cao, thấp, gọi là ÂM..Đem các âm so vào những Nhạc-khí để đánh ra tiếng: Kim, Thạch, Ty, Trúc những đồ múa là Can (khiên), thích (búa), vũ (lông chim sẻ), mao (lông đuôi bò) và những thi phú ca vịnh, gồm tất cả gọi là NHẠC.

Vậy nghĩa chữ NHẠC nói chung cả chuông trống, đàn địch, múa hát và văn thơ.

SỰ QUAN TRỌNG CỦA NHẠC

Vì NHẠC có một nguồn gốc thần-bí như thế nên NHẠC có thể làm điều-hòa Trời Đất; hòa chung với Trời đất. Ngoài ra NHẠC còn có thể cảm hóa lòng người vì tình dục con người thì do ngoại cảnh sinh ra trong khi tính tình thì do Trời phú cho: phàm là người ai cũng có cái tính bởi huyết khí, tâm trí sinh ra mà cái tình AI, LẠC, HỈ, NỘ thì không thường. Sự ứng cảm khởi ở ngoại vật mà động rồi cái tâm thuật mới hình rõ ra. Thật vậy, khi nghe âm thanh thong-thả êm-đềm thì lòng người cảm thấy vui-vẻ mà khi nghe âm thanh trầm buồn thì lòng người thương cảm xót xa hay khi nghe âm thanh chính-trực thì lòng người cũng trang nghiêm, tôn kính. Vì NHẠC cảm hóa con người một cách sâu xa nên có thể biến cải tâm-tánh con người khiến con người trở nên hiền lương nhân hậu hoặc độc ác, tàn bạo, dâm đảng. Nhạc thanh thiện khiến người làm điều thiện, NHẠC thanh ác khiến người làm điều ác. Như vậy, tác dụng của NHẠC còn để di dưỡng tính tình con người nhờ những âm thanh tao nhã. Đức KHỔNG PHU TỬ nói rằng: "Xét cho cùng các lẽ về NHẠC để trị lòng người thì cái lòng giản dị, chính trực, từ ái, thành tín, tự-nhiên phơi phới mà sinh ra"

Chính vì cái tác-dụng mãnh-liệt của NHẠC đó mà cổ-nhân đã giáo-dục con người bằng cách chế ra NHẠC. "NHẠC là cái vui của Thánh-nhân mà khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và di phong dịch-tục được cho nên Tiên-Vương mới đặt ra dạy Nhạc".

Thầy dạy: Chợ Lớn, ngày 27-1-1928 (âl 5-1-Mậu Thìn)

"Mỹ Ngọc! Nhạc trong Đạo chưa có vẻ chi hoàn toàn, con gắng lo đặng có thế dạy truyền ra cho nhiều đứa biết mà dùng trong khi hành Đại lễ. Nhiều đứa có thể học được nhưng chẳng để lòng đến, nên lúc hữu sự, Lễ Nhạc gì đều chẳng trọn.

Trung! Con hiệp với Mỹ Ngọc cho lịnh đặng biểu môn đệ Thầy, đứa nào có thể giúp về Nhạc đặng thì gắng học cho đủ mà dùng, khỏi nhọc lòng cầu nơi ngoài. Con biết à.!

Phú! học Nhạc được, gắng sức giúp cho Đạo, con! Còn nhiều đứa khác, Trung và Mỹ Ngọc liệu mà lựa cho đủ."

CHỨC SẮC BỘ NHẠC (10 PHẨM)

Phẩm từ trên xuống:

1- Tiếp lễ Nhạc Quân

 

2- Nhạc Sư

3- Đốc Nhạc

 

4- Đề Nhạc

5- Lãnh Nhạc

 

6- Quản Nhạc

7- Đội Nhạc

 

8- Cai Nhạc

9-Bếp Nhạc

 

10- Nhạc Sĩ

 

 

NHẠC CÔNG

樂 工
E: The player.
F: L’éxécutant.

Thầy dạy Bảo-Văn-Pháp Quân: "Được! nhưng còn sơ sót, món nào liệu chẳng có ích, thì nên chế giảm, trừ ra NHẠC phải giữ cho toàn, đi LỄ cho có vẻ nghiêm-nghị, ấy là hai món đại khái đó. NHẠC còn chưa đủ thể cách, đờn để rước chư TIÊN THÁNH không phải vậy là đủ, người Nhạc-công phải ăn mặc tinh-khiết. Sắp đặt vào khởi NHẠC phải có thứ lớp phân minh, chớ chẳng phải muốn đờn bài chi cũng đặng, ấy là trái Thánh-ý đó. Phải sắp đặt lại nghe à! Nơi Đàn nào mà khác hơn Thánh-giáo và bày biện nhiều trái cách thì Đạo hữu không phép tham dự". (TNHH 18-7-1928)

 

 

NHẠC CHẤP SỰ

Nhạc chấp sự 樂執事:người có phận sự về lễ nhạc.

Nhạc chấp sự các môn chánh phải là vị Chức sắc quan trọng hơn, nghiêm chỉnh thi hành, vì trước Đại điện Chí-Tôn, Chức sắc phải trọng vọng khiêm cung đảnh Lễ.

 

 

NHẠC HÀNH LỄ

Nhạc hành lễ là Âm Nhạc diễn tấu trong Đại đàn và Tiểu đàn khi cúng Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu. Sau đây là bài của Nhạc Sư Trần Thiện Niệm.

 

 

*****

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Lục Thập Bát Niên)

Tòa Thánh - Tây Ninh

_____________________________+

 

Kính gởi:

Chư vị Chánh Phó trưởng phiên Nhạc 1,2,3.
Chức sắc, chức việc và nhân viên thuộc ban Nhạc Tòa Thánh.

Chánh yếu
Về việc cúng Đại Đàn, Tiểu Đàn và Tứ thời hai nơi Đền-Thánh và Báo-Ân-Từ.

Xin nhắc lại để đồ theo khuôn mẫu Lễ-nghi của các bậc Đại Đức tiền nhân ra công dạy dỗ Nhạc, Lễ, Kinh kệ buổi sơ khai, hôm nay chúng ta phải gia tâm chỉnh đốn cho y khuôn mẫu để khỏi phần thất lễ.

Nhạc hành lễ là âm nhạc diễn tấu trong Đại đàn và Tiểu đàn khi cúng Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

Sau đây là bài của Nhạc Sư Trần Thiện Niệm, cai quản Ban Nhạc Tòa Thánh, gởi cho các Chánh Phó Trưởng Phiên Nhạc, Chức sắc và nhân viên Bộ Nhạc, để thi hành về phần Âm nhạc trong Đại đàn, Tiểu đàn và Tứ thời khi cúng Đức Chí Tôn tại Đền Thánh và cúng Đức Phật Mẫu nơi Báo Ân Từ.

B. Nhạc Đại đàn và Tiểu đàn tại Đền Thánh:

1- Toàn thể Chức sắc Chức việc tới Đàn vía phải mặc phẩm phục Chức sắc của mình. Đại đàn thì mặc Đại phục, Tiểu đàn thì mặc Tiểu phục, không có phẩm cấp thì không được ngồi vào băng Bán nguyệt, khi lên lầu Hiệp Thiên Đài đảnh lễ xong là 11 giờ 35 phút.

2- Gần tới giờ hành lễ, ban Nhạc phải ngồi vào băng Bán nguyệt, là nơi hành lễ trước 15 phút mà lo chu đáo các món Nhạc khí của mình. Đại đàn thì ở Nghinh Phong Đài và lầu Bát Quái Đài, Tiểu đàn thì tại lầu Hiệp Thiên Đài.

3- Khi Chức sắc và toàn thể nhập đàn đến Hiệp Thiên Đài thì Nhạc không khua động, chuyện vãn, thử kèn chi cả, do Lễ đài báo hiệu.

4- Nhạc chấp sự các môn chánh phải là vị Chức sắc quan trọng hơn, nghiêm chỉnh thi hành, vì trước Đại điện Chí-Tôn, Chức sắc phải trọng vọng khiêm cung đảnh Lễ.

5- Trống Tiếp Giá phải là vị Trưởng ban y căn bản thủ vĩ phân minh. Các môn phụ phải tế nhị khiêm nhường, giọng kèn oai linh không lệch lạc. Tới đờn 7 bài, hay 5 bài, hay 3 bài, cần thúc lẹ.

6- Từng Hương, không đờn quá lơi và không đờn lớp trống Xuân, tới kinh Niệm Hương và Khai Kinh, đừng đờn cho đọc kinh lơi quá, lệch chữ Kinh cùng ảnh hưởng đến toàn thể mỏi mệt và giảm tinh thần Tín ngưỡng. Đờn Nam xuân cho đọc Kinh Ngọc-Hoàng và Tam giáo, đờn giữ mức trung bình, lẹ quá mất giọng Xuân, cũng không đờn lớp trống xuân, vì lớp trống xuân, Đức Chí-Tôn đã tiền định rồi.

7- Trống lập ban: đổ trống nhuyễn nhẹ ngắn, chờ gài thủ các môn phụ mới tiếp vào để không lấp câu xướng cũng không trễ lạy (nhứt là chờ nơi Lễ đài báo hiệu).

8- Trong ba từng Dâng Tam bửu, không đổi người nhằm thủ vĩ bất động phách. Đàn nội tôn nghiêm gìn tiền hậu luật y nhứt mẫu khiến đàn nội không bị phóng tâm.

9- Thượng tấu Sớ Văn: câu sớ quan trọng, điểm trống tỏ ý uy linh, kính cẩn hơn; câu trung bình thì điểm trung bình. Phần sớ (đốt sớ) có uy linh, trống chuyển qua thét.

10- Trống lập ban: ba lạy xong gài trống vô đờn lớp trống xuân tụng kinh Ngũ Nguyện, lạy xong dứt trống lập ban.

11- Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài nhập Nội nghi và Hộ Đàn Pháp Quân, Tả Hữu Phan Quân nhập Nội nghi, bái xong dứt trống lập ban, trở thét trung bình. Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài đi về tới chỗ, tiếng kiểng đổ, toàn thể đứng lên xá, rồi bày ban đứng chờ.

12- Toàn thể nghe tiếng chuông bãi đàn, nhạc gài thái bình, tiền bần hậu phú, tiễn bước Chức sắc đi ra, Nhạc dứt, tịch, ấy là đàn tràng viên mãn.

C. Nhạc cúng Từ thời tại Đền Thánh:

1- Khi lên từng lầu Hiệp-Thiên-Đài thì ban nhạc đảnh lễ một lượt cho rập ràng. Còn 10 phút trước khi khởi lễ thì ngồi vào băng bán nguyệt, soạn lên dây đờn nhỏ nhẹ, cần nghiêm túc thủ lễ tỏ sự tôn kính vì là trước đại điện.

2- Đúng giờ hành lễ, chuông nhứt, nhạc rao đờn, Chức sắc, Chức việc và toàn đạo tới cấp Hiệp-Thiên-Đài thì nhạc đờn bài Hạ.

3- Kế tiếp chuông nhì, Chức sắc, Chức việc đồng xá, vào ngồi thì dứt bài Hạ. Nhạc liền ra Ai, chuông thỉnh Thánh vừa xong là khởi đờn Nam ai, Giáo nhi và đồng nhi tụng kinh Niệm Hương. Lạy xong, tiếp tụng bài Khai Kinh. Hai bài giọng Nam ai nầy, đừng đọc kinh lơi quá, khiến tiếng kinh lệch lạc không đúng chữ Kinh và không đúng giọng nếu đờn lơi, cũng không đờn lớp mái Nam ai trong đờn kinh nầy.

4- Tới đờn Xuân, Giáo nhi và đồng nhi tụng bài Ngọc Hoàng Kinh và luôn trong các bài kinh giọng Xuân nầy, không lẹ quá mà mất phù ba của giọng xuân, cũng không xen lớp trống xuân vì lớp trống xuân thể pháp đờn cho Năm câu nguyện, đặng dứt thời cho cúng đàn mà thôi.

5- Tới đờn Dâng Tam bửu, Giáo nhi đồng nhi chờ qua nhịp mới thài, đều đúng câu đờn nào cũng vậy. (Lời dạy của Đức Hộ Pháp vì chánh pháp môn nhịp điệu).

6- Thời cúng có Dâng Sớ, khi mãn thài thì đờn bài Hạ, tùy mau chậm, dứt để đọc sớ. Khi phần sớ, nhạc rao xuân, lạy 3 lạy xong thì nhịp vô lớp trống xuân đọc Ngũ Nguyện, dứt thì trở đờn bài Hạ. Nếu có Chức sắc Hiệp Thiên-Đài lên Nội nghi lạy thì chờ, khi về tới chỗ thì đứng lên bài ban, Nhạc và Giáo nhi đồng nhi lạy. Nghi lễ kệ chuông bãi đàn.

7. Cúng thời Ngọ, Nhạc còn đờn để Giáo nhi và đồng nhi tụng kinh Tuần Cửu, khi dứt kinh đến niệm Câu chú của Đức Chí Tôn, nhạc không được đờn nhái theo mà được đờn xuân tới cho ăn nhịp mà thôi.

8- Mỗi thời cúng Đức Chí Tôn, Phật Mẫu, mỗi nơi có Chức sắc Bộ Nhạc để ủng hộ chư nhân viên trong thời cúng được nghiêm túc, tôn kính của Nhạc Thánh đường, đối với lòng tín ngưỡng của toàn đạo trong thời cúng, ấy là gương mẫu Nhạc của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vậy.

9- Riêng về Chức sắc, Chức việc cúng thời Tý tại Đền Thánh phải mặc áo Tiểu phục cho nghiêm trang hơn. Mong chư Chức sắc Chức việc chú ý khoảng nầy cho được chu toàn thiện mỹ.

D. Nhạc cúng Đại đàn tại Báo Ân Từ:

1- Tới 11 giờ 35 phút, ban nhạc lo chuẩn bị trước, nhứt là lo chỉnh soạn các môn nhạc khí và nhân viên của mình. Còn 15 phút đến 12 giờ thì đến lễ bái mà ngồi vào băng bán nguyệt, so dây đờn nhỏ nhẹ, nhứt là kèn và trống cơm, muốn thử kêu rõ ràng thì phải tại cơ sở của mình, còn đến giờ cúng thử nhỏ cho biết ăn giọng âm thanh với đờn mà thôi.

2- Lên trước Đại Điện không được hút thuốc, nói chuyện ồn ào mất vẻ trang nghiêm, vì là nơi tất cả tịnh tâm đảnh lễ, còn hút thuốc cũng là trược đối với thiêng liêng, hơn nữa khi đi cúng cũng đã súc miệng sạch rồi.

3- Các môn chánh của nhạc phải là người có phẩm lớn và đạo hạnh mà làm chuẩn hướng.

Nhạc Tấu Quân Thiên, trống gài đầu trung bình, bạc không phép lướt trống, vì thúc lẹ thì lớp và âm thanh không phân minh, làm giảm uy hùng của Tiếp Giá. Còn đờn 3 hay 5 bài thì cần đờn lẹ lên, nhớ tôn Thánh ý Đức Phạm Hộ Pháp, không hối thúc Tiếp Giá mà hối thúc đờn.

4- Tới từng Điện Hương: đờn xuân điện không đờn lơi, cũng không đờn lớp trống xuân. Khi lễ quì, toàn thể nghe chuông thỉnh Thánh, nhạc rao đặng vô đờn Nam ai. Giáo nhi đồng nhi đọc kinh Niệm Hương, đừng đờn đọc kinh lơi vì trong giọng kinh quá trầm, chữ kinh lệch lạc, bổn đạo mỏi, giảm tín ngưỡng. Tới bài Khai Kinh cũng giọng Nam ai, hai bài nầy cần thúc nhịp lại.

5- Trống lập ban: trống nhỏ ngắn gọn, các môn tum, bạc, kèn và phụ chờ gài thủ vô sau nghe đúng pháp, còn đổ ồn lên một lượt làm lấp mất tiếng câu xướng của Lễ sĩ, đổ kéo dài thời gian làm mất một lạy của tập thể.

6- Tới đờn Xuân, Giáo nhi đồng nhi đọc Phật Mẫu Chơn Kinh, giữ mức trung bình, lẹ quá mất giọng Xuân, cũng không đờn lớp trống xuân (vì như đã nêu ở phần trên), dứt, trống lập ban, lạy.

7- Lễ điện Tam bửu: qua những lớp bài Hạ và trống thét, lớp trống thét không đánh mỏ, bạc, lẹ quá mất điệu thuần hậu trung dung, tới gài Đảo ngũ cung, giữ mực trung bình. Lễ tới Nội nghi, tới thượng Tam bửu, Lễ sĩ đổi sang thì nhạc thúc mực trung bình mà thôi, lẹ quá giảm giá nhịp điệu Nhạc Thánh đường.

8- Trống lập ban, lạy, một mình trống đổ nhỏ gài thủ thì các môn phụ lập vô thủ nhịp sau, còn đổ rầm lên lấp xướng, trễ lạy lụp chụp có khi lễ phải chờ vì Lễ hưng Nhạc tác.

9- Đến Thượng Tấu Sớ văn, từ xây tá đến thét ngắn. Lưu ý tới câu sớ quan trọng thì điểm trống, tôn kính uy linh hơn (đổ ro roi điểm ba), câu trung bình thì điểm trung bình (không ro mà điểm ba). Tới phần sớ, đổ trống phần sớ có vẻ tôn nghiêm dâng uy hùng, tiếp thét luôn. Lạy 3 lạy.

10- Đến Ngũ Nguyện, gài trống vô đờn, chừng mức hồi khởi đầu không lẹ không chậm (như đờn Xuân và Tiếp Giá mới vô nhịp ban đầu) tới đây mới đờn lớp trống xuân với năm câu Nguyện, cuối cùng tận tâm cầu đảo của toàn thể đặng mãn đàn. Khi 3 lạy xong, nghe chuông, toàn thể đứng lên xá và đứng lưỡng ban.

11- Nhạc còn trổi đều, cho Lễ sĩ, Giáo nhi, đồng nhi, Trật tự, Kiểm đàn lạy, còn Nhạc khi mãn Năm câu nguyện thì lo thi nhau mà lễ bái, đến đây đồng chờ tiếng kiểng và ba tiếng chuông.

12- Lễ sĩ xướng: Lễ thành, nhạc đổ trống gài lớp thái bình, tiền bần hậu phú rồi dứt, tịch, mãn lễ.

E. Nhạc cúng Tứ thời tại Báo Ân Từ:

1- Còn 20 phút tới giờ cúng, Nhạc phải ứng trực sẵn, đến chừng còn 10 phút, Nhạc vô bái lễ, xong vào băng bán nguyệt ngồi lên dây đờn nhỏ gọn và không nói chuyện ồn ào pha lẫn, thủ lễ nghiêm túc.

Tới giờ, Chuông nhứt, rao đờn vô bài Hạ. Chuông nhì, vô quì, dứt đờn bài Hạ, toàn thể nghe chuông thỉnh Thánh, nhạc rao đờn vô Nam ai, Giáo nhi đồng nhi đọc kinh Niệm Hương (đừng vô đờn và đọc kinh quá lơi). Dứt bài Niệm Hương, lạy 3 lạy. Tiếp đọc bài Khai Kinh. Hai bài Nam ai nầy đọc quá lơi sẽ có nhiều chữ kinh lệch lạc.

2- Dứt bài Khai Kinh, tiếp đờn Nam xuân cũng không quá lẹ, Giáo nhi đồng nhi đọc Phật Mẫu Chơn Kinh, nếu lẹ sẽ mất giọng phù ba của hơi xuân, nhạc cũng không đờn lớp trống xuân (như đã nêu ở phần trên), dứt bài xuân, lạy 3 lạy.

3- Nhạc rao Xuân nữ, vô đờn Xuân nữ, đờn mức trung bình, nhứt là thuần túy thung dung pháp Nhạc Thánh đường (chớ không phải cải lương sân khấu), Giáo nhi đồng nhi cũng không nên tụng bài kinh Tán Tụng Công Đức Phật Mẫu kéo dài, ngược lại vì kinh đọc cúng không phải nói lối của sân khấu mà tưởng sân khấu là phi pháp. Phi pháp là phi lễ.

4- Mãn bài kinh đờn giọng Xuân nữ, nhạc rao giọng Đảo, lạy 3 lạy xong, nhạc vô đờn bài Đảo, Giáo nhi đồng nhi chờ qua một nhịp mới khởi thài. Ấy là ý thức của Đạo nghiệp.

5- Ba lạy xong chờ gõ vô nhịp trở đờn lớp trống xuân một lớp, Giáo nhi đồng nhi tụng Ngũ Nguyện, dứt bài Ngũ Nguyện liền đờn bài Hạ, lạy 3 lạy xong, toàn thể đàn nội đứng lên. Nhạc dứt đờn. Toàn thể đứng lưỡng ban. Giáo nhi đồng nhi và Nhạc đi lạy, nghi lễ đánh chuông.

Lạy xong trở về vị trí.

6. Nghi lễ kệ chuông bãi đàn, bái mãn đàn.

 

 

NHẠC LỄ

樂 禮
E: The music and rites.
F: La musique et les rites.

Thứ hai, 27-9-1926 (âl: 21-8-Bính Dần)

Thầy dạy: "Còn Nhạc Lễ là phép nhà Nam, Thầy muốn giữ gìn sao cho trọn vẹn, các con hiểu.?"

 

 

NHẠC PHÁP

"Thể hình Nhạc pháp hai phương Văn Võ khác nhau: các thức đờn đều thuộc về Văn ban, vì có sẵn bản của Hiền xưa đã sắp đặt. Trong mỗi bản đều có lớp có lang tùng theo nhịp nhàng nội ngoại ứng biến mà diễn tả bài Nhạc của nghệ sĩ thế nào cho có đủ câu Âm câu Dương đúng với niêm thức của bản, mới có thể hòa âm với các giống đờn khác, chẳng khác nào như các nhà văn sĩ cần chủ tâm, tùy nơi âm vận, niêm, luật, phá, thừa, trạng, luận, chuyển, kết, cho đúng mà hành văn mới tác thành những áng thi phú văn từ đáng giá. Hơn nữa, Nhạc sĩ cần phải thấu hiểu rằng: tuy nhà văn sĩ đã chung họa thi văn với nhau trong một đề chủ, nhưng tinh thần trong bài văn đều do nơi khí phách riêng của mỗi người, tùy nơi tâm chí cao thấp mà biến tướng, nhờ đó mà ngoại nhân rõ thấy tài hay dở của văn sĩ. Nghệ thuật của Nhạc sĩ cũng vẫn dường ấy, vì cũng do nơi giọng đờn thanh cao tao nhã hay là thô bỉ sượng sùng mà người nghe hiểu được trình độ tiến hóa của Nhạc sĩ là thế nào".

 

 

NHẠC SĨ (Phẩm)


E: Musicain.
F: Musicien.

Nhạc sĩ là người chuyên về Âm nhạc.

Nhạc Sĩ là phẩm Chức sắc trong Bộ Nhạc. Phẩm thấp nhứt là Nhạc Sĩ. Nhạc Sĩ đối phẩm Chánh Trị Sự. Muốn được vào phẩm Nhạc Sĩ, người học nhạc phải qua một kỳ thi do Hội Thánh tổ chức và phải đậu kỳ thi nầy, có cấp bằng của Hội Thánh. Khi đủ công nghiệp, Nhạc Sĩ phải thi lên Bếp Nhạc. Thể thức thi Nhạc Sĩ: Biết cầm một cây đờn và trọn hiểu nhạc khi có Tiểu đàn và Đại đàn, Nhạc trống Tiếp Giá.

Thể thức thi Bếp Nhạc là: Biết trọn nghi lễ và nhạc nghệ về tài tử.

Đức Hộ-Pháp Thuyết Đạo Tại Bộ Nhạc Lễ, 8 giờ 40 Ðêm 16-09-Canh Dần (1950) nói về Trọng trách của Nhạc Sĩ

"Lễ Nhạc là hai điều trọng hệ của Ðức Chí Tôn, khi Ngài đến vẫn chú ý đến hai điều ấy, chúng ta cũng vẫn biết nền Ðạo Cao Ðài là Nho Tông chuyển thế thì tức nhiên toàn cả xã hội nhơn quần nơi mặt địa cầu nầy nhờ Ðạo Nho sửa đoan chỉnh đốn thiên hạ lại, chúng ta thấy xã hội tinh túy đạo đức của họ dường như đảo ngược lại, khủng hoảng tinh thần mà ra vậy. Nho Ðạo đã lập xã hội ở Á Ðông từ Tam Hoàng qua tới nhà Châu rồi Ngài Châu Công chỉnh đến Tân Dân. Lễ Nhạc sản xuất do nơi Huỳnh Ðế với Châu Công; ấy vậy mình phải biết Nhạc, khi nào cầm cây đờn, năm mười cây hòa lại nó một giọng thì tức nhiên chữ HÒA do nơi nhạc sanh ra vậy.

Lễ Nhạc do nơi âm thinh, bởi thế nên chúng ta thấy vạn quốc giờ phút nầy, dầu văn minh thế nào mà hiểu đặng nền tăng tiến của Trung Hoa thì đều khen ngợi. Từ thử đến giờ trên mặt địa cầu nầy có nước Tàu là do Ðức Khổng Phu Tử chỉnh đốn hoàn bị nên Lễ Nhạc có phương thế làm môi giới, làm khí cụ cho toàn vạn quốc đương buổi nầy, lấy tư cách lễ độ làm ngoại giao, tưởng chắc không nghịch nhau, chúng ta thấy tấn tuồng của vạn quốc họ đều thất lễ ấy mà thế giới khởi chiến tranh.

Mấy em Nhạc tự biết mình chẳng phải làm nghề sơ lược của những người đờn thổi ngoài đời như họ vậy, thành ra hèn hạ, còn nếu muốn biết tánh cách quan trọng của nó thì dở lịch sử ra xem mới biết, dầu nước văn minh nào ở mặt địa cầu nầy cũng không thế cải bỏ nhạc được. Mấy em phải biết cái tinh túy mà người ta có thể đo lường Nhạc cao thấp mà hiểu được, vì cớ cho nên mỗi nước có bản Quốc-thiều. Qua nói cùng mấy em rõ, giờ phút nầy mấy em cầm cây đờn, giữ giá trị riêng để tự trọng lấy mình, Qua nói rõ hồi lúc Qua học đờn tài tử, Qua đờn không cần ai khen, không sợ ai chê, hễ cầm cây đờn lên giọng đều như nói chuyện về tinh thần với cây đờn của mình, nhứt là Ðức Cao Thượng-Phẩm sanh tiền buổi nọ, lấy cây đờn mà làm bạn thiết, hết thảy ngôn ngữ thường tình đều khinh rẻ. Qua nghe từ ngôn ngữ của Nhạc, Qua biết nó là bạn tri âm, tri kỷ, cao thâm hoạt bát của nó, nên lấy trí luận thì từ trước kia Bá Nha là bạn tri âm của Tử Kỳ, biết tri kỷ đặng để làm gương, hễ cầm cây đờn thì phiêu phi ở giữa lừng trời, nhiều khi tiếng đờn hợp với tinh thần, thấy dường như tưởng tượng ra khỏi xác thân để giúp tinh thần cường liệt vô đối, cái năng lực của cây đờn là ấy vậy. Kẻ ngoài bàn luận, phê bình tánh cách hòa nhã mà thôi, mình biết tinh túy của mình, trọng hay khinh là do nơi mình, nếu mình biết trọng thì họ trọng, nếu mình khinh thì họ khinh, mấy em tưởng tượng nghe đờn của mấy em, giờ phút nầy mấy em có thể nghĩ nó có giới hạn và có thể làm bạn với ta. Từ Thượng cổ, từ bực yếu trọng, họ nói là bạn với nó vậy, chí hướng tự trọng của nó từ trước kia những bậc tiền nhân của chúng ta là bạn thế nào thì ngày nay chúng ta cũng làm bạn như thế ấy. Mấy đứa thi đậu kỳ nầy, con đường Thánh Thể của Ðức Chí Tôn đã mở rộng cho mấy em khoan thai bước tới, Qua để hy vọng tương lai kẻ nào cầm vận mạng của nó phải biết giá trị và tánh chất hòa hợp với tiếng đờn yểu điệu, hiền từ, lịch lãm, khí khái của mấy em đã đào tạo ngày kia nó có giá trị và ảnh hưởng cho cả quốc hồn là cây đờn của mấy em, nó sẽ là tương lai vận mạng của nước nhà. Nhớ từ đây sắp về sau phải biết tự trọng lấy mình, mà biết tự trọng lấy mình thì sau thiên hạ mới trọng mình vậy. (Thuyết Ðạo QIII / tr 109)

 

 

NHẠC SINH


E: Student of music.
F: Étudiant de musique.

Nhạc: Âm nhạc, âm thanh có tiết tấu hòa nhau nghe êm tai, để nói lên một ý nghĩa. Sinh: học trò. Nhạc sinh là học trò của trường dạy âm nhạc

 

 

NHẠC SƯ (Phẩm)


E: Professor of music.
F: Professeur de musique.

Nhạc sư là bực thầy về Âm nhạc.

Nhạc Sư là phẩm Chức sắc trong Bộ Nhạc. Phẩm cao nhứt là Nhạc Sư. Nhạc Sư đối phẩm Giáo Sư.

 

 

NHẠC TẤU QUÂN THIÊN

Đức Hộ-Pháp nói: "Từ thử ai cũng cho âm thanh sắc tướng là tà mị, mà căn bản của Ðạo Nho là Lễ Nhạc mà chính Ðạo Tam-Kỳ là Nho Tông Chuyển Thế thì phải truy tầm nguyên lý của nó mà xác nhận cho đúng nghĩa là thế nào?

Ðôi phen chúng ta không hiểu được cho uyên thâm khi dâng lễ cho Chí-Tôn lúc Nhạc Tấu Quân Thiên, hết lớp trống, qua đến Bảy bài thì lâu quá có khi phải chồn chân rồi nản chí, chính Bần-Ðạo cũng vậy vì nghĩ rằng: Chí Tôn tư vị quốc dân Việt Nam nên tiền định chi chi cũng làm gương mẫu cho toàn Đại đồng Thế giới mà có Lễ Nhạc nầy luôn luôn khi dâng Lễ thì ý nghĩa ấy ắt cao trọng lắm là phải.? Bởi cớ nên khi mới Khai Ðạo, Bần-Ðạo đến tại Thánh Thất Thủ Ðức của ông Thơ tạo lập, Bần Ðạo không tin nên hỏi Ðức Lý Giáo Tông, Ngài dạy rằng, trên Ngọc Hư Cung có hai câu liễn:

Phía hữu: Bát hồn vận chuyển ca Huỳnh Lão.
Phía tả: Vạn vật đồng thinh niệm Chí Tôn.


Bần-Ðạo cũng không hiểu là gì, lần lần Bần-Ðạo hỏi nữa, Bần-Ðạo lại được dạy mà hiểu rằng: Kể từ phôi thai Càn Khôn vạn vật nầy, Chí Tôn là khối sanh quang, biến thành hai khối sanh khí, hai khối ấy trụ lại thành một khối lớn tương hiệp nhau mới nổ sanh tiếng Âm, người ta gọi là nổ ầm, hay nghe tiếng Ni, Ðạo Phật sửa lại thành Úm (Úm ma ni bát rị hồng ) nhờ tiếng nổ ấy Bát hồn mới vận chuyển biến sanh vạn vật và loài người.! Tiếng ấy bay ra nghe đến đâu thì khí sanh quang đến đó tức là có sự sống đến, bằng chẳng nghe được thì nơi ấy tiêu diệt nghĩa là chết mất mà thôi. Bởi cớ nên dùng những vật Bát âm, nó đã chết đi rồi như cái trống chẳng hạn là tấm da trâu đã chết mà với sự khôn ngoan của loài người nó mới có tiếng kêu được tức là làm cho nó sống lại được, nghĩa là Bát hồn ấy vận chuyển sống lại mà đảnh lễ Ðức Chí-Tôn, vì cớ nên khi nghe Nhạc Tấu Quân Thiên là có âm thinh sắc tướng, song hiểu xác lý: Khi dâng lễ Chí Tôn qui pháp định, thấy và nghe cả Bát Hồn vận chuyển dâng cái sống cho Ngài. Nên chi từ đây, khi Nhạc Tấu Quân Thiên chúng ta xem quí hơn dâng Tam Bửu, dầu phải lỡ đi nửa chừng trong Ðền Thờ, nghe đến đó phải dừng lại, cấm không được đi lộn xộn thì lễ ấy giảm điều kính trọng dâng cho Chí-Tôn mà không nên.

Khi ấy là vận chuyển Bát hồn đảnh lễ Ðức Chí Tôn, vì cớ Lễ Nhạc hiểu rõ lại thì Chí-Tôn không phải là tư vị nước Việt-Nam mà chính nghĩa là làm cho sống lại Bát hồn và Ngài vẫn vui nhận lễ ấy. Ấy vậy mới có thể làm chủ và làm gương cho toàn nhơn loại được, thì danh ấy không phải là quá đáng. Xin khuyên toàn Ðạo từ đây nên để trọn tâm mà kính trọng khi Nhạc Tấu Quân Thiên".

Đức Hộ-Pháp giảng giải rằng: Bên Á Ðông, trong nền Ðạo Cao Ðài có trống có chuông, còn bên Âu Châu có chuông mà không có trống là tại sao? Tại sao Á Ðông dùng trống còn Âu Châu dùng chuông? -Trống là âm thinh của Ðạo. Thuở chưa có Càn Khôn vũ trụ, Ðạo giáo có dạy: Hai lằn nguơn khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái Cực. Chủ ngôi Thái Cực là Ðức Chí Tôn. Khi nào Trời sét nổ, chúng ta nghe sao? An Nam mình kêu "Ầm" còn theo Ðạo pháp kêu "Ùm", vì cớ phép Phật sửa lại là "úm" (Úm ma ni bát rị hồng) câu ấy đọc có nghĩa là nắm cả quyền năng vũ trụ quản suất trong tay. Tiếng nổ ta nghe nó ra sao? Khi nổ rồi còn nghe tiếng bay xa, nguyên căn của tiếng nổ là tiếng trống, còn giọng ngân là tiếng chuông. Ấy vậy nguyên căn của Ðạo Giáo do bên Á Ðông nầy, có tiếng trống ngân bay qua Âu Châu, nên các Ðạo giáo Âu Châu đều là hưởng ứng theo Phật Giáo, mà Phật Giáo xuất hiện nơi Á Ðông. Vì vậy mà các nền Tôn giáo phụ thuộc không đúng theo nguyên tắc căn bản.

Còn tại sao khi vô làm lễ, lúc "Nhạc Tấu Quân Thiên" tức là lễ hiến dâng sự sống cho Ðức Chí Tôn là Thầy của cả Càn Khôn vạn vật, Bần Ðạo thường nhắc nhở tất cả phải đứng ngay ngắn, nghiêm chỉnh. Nhạc là hưởng ứng của cả khối sanh quang, của Càn Khôn vạn vật đồng thinh. Nơi Á Ðông có câu "Biều, Thổ, Cách, Mộc, Thạch, Kim dữ , Trước nãi bát âm". Các vật vô năng mà nói đặng có trật tự niêm luật hòa nhau là đạt đạo, hiệp lại với tiếng Kinh mình đọc là âm thinh, nghĩa là con người cùng vạn vật đồng thinh hiến lễ. Nơi Ngọc Hư Cung có đôi liễn:

"Bát hồn vận chuyển ca Huỳnh Lão.
"Vạn vật đồng thinh niệm Chí Tôn."

Khi nhạc trổi, cả thảy phải im lặng, hiến cả âm thinh sự bí mật ấy gọi là Phi Tướng Lễ, chủ ý là trình tấu với Ðức Chí Tôn rằng: Các con biết được mầu nhiệm nguyên căn của Cha lành muốn cho các con nối nghiệp theo một khuôn phép trường tồn. Lễ đó trọng hệ như dâng Tam Bửu vậy. (TĐII/80)

 

 

NHẠC THIỀU

Nhạc: Âm nhạc, âm thanh có tiết tấu hòa nhau nghe êm tai, để nói lên một ý nghĩa. Thiều: đẹp, sáng. Nhạc thiều là những khúc nhạc do vua Thuấn đặt ra, nghe réo rắc êm tai, khiến cho lòng người trở nên tốt đẹp. Nhạc thiều được dùng trong cung đình.

Nhắc lại cuộc đời của Đức Khổng-Tử:

Khi Ngài châu lưu khắp thiên hạ thì bên mình không khi nào rời cây đàn Ngũ huyền cầm. Quan niệm của Ngài là tiếng đàn thanh nhã có thể nâng cao tinh thần và trụ vững tâm chí siêu nhân của người quân tử. Lúc Ngài bị vây giữa khoảng nước Trần và nước Sái, bảy ngày không nấu ăn, chỉ ăn rau luộc suông, các đệ tử như Tử Lộ, Nhan Hồi, Tử Cống vv... đều băn khoăn lo sợ cho Ngài, nhưng Ngài vẫn ung dung ngồi đàn hát. Chúng ta thấy rõ Thánh nhơn trọng dụng Âm nhạc như vậy vì Nhạc nghệ là một bộ môn văn hóa cao đến tột độ và Nhạc Thiều có mãnh lực huyền bí cao siêu, giúp an dân trị nước, cải hóa xã hội. Du Bá Nha đập nát Dao cầm, thề không đờn nữa vì người bạn tri âm là Chung Tử Kỳ đã mất thì không còn ai biết nghe tiếng đờn của mình. Khổng Minh Gia Cát Lượng mượn tiếng đờn mà lui giặc Tư Mã Ý. Trương Tử Phòng nhờ có giọng tiêu ai oán mà trong một đêm giải tán tám ngàn đệ tử của Sở Bá Vương tại Cửu Lý San để cho Lưu Bang diệt được kẻ thù chung của thiên hạ, lập nên cơ nghiệp nhà Hớn hơn 400 năm. Công dụng của Nhạc Thiều thời xưa thì cao thượng như vậy. Ngày nay, người ta dùng Âm nhạc làm công cụ cho chủ nghĩa con buôn trên sân khấu, khiến nên nhạc sĩ vì kế sanh nhai phải bán rẻ tài nghệ, làm cái giá trị của Quốc Nhạc phải bị hạ thấp đến cực điểm".

 

 

NHẠC TIÊU THIỀU

Nhận thấy xưa kia vua Thuấn Đế dùng Nhạc Tiêu thiều cảm hóa lòng dân, đến thời kỳ này ĐẤNG CHÍ TÔN lại dùng Nhạc tiêu-thiều ca tụng Nam xuân cảm hóa toàn thể chúng sanh đều được hòa thuận thương yêu. Còn luận đến pháp hành-lễ thì ĐẤNG CHÍ-TÔN dùng pháp Nhựt-dụng thường hành lễ bái cảm hóa toàn thể chúng sanh đều phát khởi Đạo-tâm, biết cung kỉnh khiêm nhượng, hiển nhiên rằng tinh-thần của LỄ NHẠC rất quan hệ cho việc trị quốc an dân bình phục tâm-lý toàn thể thiên hạ đều hiệp kỉnh, đồng hòa không còn tranh chấp hơn thua hay là kỳ thị chủng tộc và tất cả xem nhau như anh em một nhà.

 

 

NHAM HIỂM


F: Dangereux,périlleux.

Nham: đá núi cao dốc. Hiểm: hiểm trở gay go. Nham hiểm: tính hiểm ác.

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm lành đặng hưởng phước duyên,
"Trong lòng nham hiểm lộc quyền giảm thâu."

 

 

NHAN HỒI (Nhan Uyên) (Tên)

-

"Trong 70 môn đồ, Trọng Ni chỉ khen riêng Nhan Hồi hiếu học, mà Nhan Hồi (Uyên) thường xác xơ, ăn hẩm hút mà cũng không được no, lại chết yểu. Trời kia báo đáp người thiện mà như vậy ư?".

Nhan Hồi, họ Nhan, tên Hồi, tự là Tử Uyên, nên cũng gọi là Nhan Uyên, là con của ông Nhan-Do, người nước Lỗ. Nhan Hồi theo học với Đức Khổng Tử và là học trò giỏi nhứt trong số các Môn đệ của Đức Khổng Tử. Nhan-Hồi kém hơn Đức Khổng Tử 30 tuổi, thiên tư thông minh, nhanh nhẹn, hiếu học, chuộng Lễ, làm việc gì cũng không lầm lỗi đến hai lần, nói điều gì cũng không cẩu thả, khi giận người nầy không giận lây người kia, đứng đầu khoa đức hạnh trong cửa Khổng. Đức Khổng Tử thường khen rằng: Ta có trò Hồi, cho nên các học trò ngày càng thân với Ta. Nhan Hồi nhà nghèo, ở trong ngõ hẹp, giỏ cơm bầu nước, nếu là người khác thì không chịu được mà lo buồn. Nhan Hồi thì tự nhiên vui vẻ, học đạo. Đức Khổng Tử khen là người Hiền và có Nhân. Năm Nhan Hồi 29 tuổi thì tóc đã bạc trắng.

Lúc Đức Khổng Tử và các môn đệ bị nước Trần và nước Sái vây khổn ở ngoài đồng, không cho đi qua nước Sở, Khổng Tử hết lương thực. Những người đi theo đều ốm, dậy không nổi, nhưng Đức Khổng Tử vẫn dạy môn đệ, rồi ngâm thơ, đánh đàn, ca hát, không tỏ ra vẻ suy yếu.

Tử Lộ (tên là Trọng Do) thấy thế có vẻ giận, đến hỏi:

- Người quân tử cũng có lúc cùng khốn ư?

Đức Khổng Tử đáp: Người quân tử lúc cùng khốn thì giữ vững, còn kẻ tiểu nhân trong lúc cùng khốn thì làm bậy.

Đức Khổng Tử nhìn mặt Tử Cống (tên là Đoan Mộc Tứ) thấy có vẻ giận, liền nói: Này anh Tứ, anh cho ta học nhiều mà biết phải không?

Tử Cống đáp: Dạ, đúng thế, không phải thế sao?

Đức Khổng Tử nói: Không phải đâu! Ta lấy một điều để quán triệt tất cả.(Nhà triết học khác với người thường là đó).

Đức Khổng Tử biết các học trò còn có chỗ tức tối, bèn gọi Nhan Hồi đến hỏi: Này anh Hồi! Kinh Thi có nói: Chẳng phải con trủy, chẳng phải con hổ, ở ngoài đồng vắng. Đạo của ta phải hay sai? Tại sao ta gặp cảnh nầy? Nhan Hồi đáp:

- Đạo của Phu Tử hết sức lớn lao, nên cả thiên hạ không ai dung nạp được. Nhưng Phu Tử cứ theo đó mà làm, người ta không dung nạp được thì có hại gì! Người ta không dung nạp, nhưng sau nầy người ta sẽ thấy Phu Tử là người quân tử. Đạo không được trau giồi, đó là cái điều mà ta lấy làm xấu hổ. Đạo đã được trau giồi mà vẫn không được dung nạp thì đó là điều xấu hổ của kẻ làm vua một nước. Người ta không dung nạp được Phu Tử thì có hại gì! Về sau người ta sẽ thấy Phu Tử là người quân tử.

Đức Khổng Tử hớn hở cười nói:

- Đúng lắm! Hỡi con người họ Nhan, nếu nhà ngươi lắm của cải thì ta sẽ làm người quản lý của cải cho nhà ngươi.

Sau đó, Đức Khổng Tử sai Tử Cống sang nước Sở yêu cầu vua Sở Chiêu Vương đem binh đến rước, Đức Khổng Tử mới thoát được cái nạn ấy.

Bạch kỳ Nhan Uyên:

Một ngày kia, Đức Khổng Tử hỏi các môn đệ rằng:

- Thảng như trường hợp nước nọ chẳng hòa với nước kia, đến nỗi phải gây chiến với nhau, thì các môn đệ nghĩ làm sao?

Các môn đệ đều lần lượt trả lời, cũng không ngoài cái ý thường tình là ai vì chúa nấy, cất binh đánh nhau. Duy có Nhan Hồi thì có tư tưởng khác hẳn, đáp rằng: Nếu gặp trường hợp ấy, tôi nguyện cầm cây cờ trắng, xông ra giữa vòng binh để giải hòa hai bên, hầu ngăn chận cuộc tương tàn tương sát.

Đức Khổng Tử nghe xong thì rất hài lòng, còn các môn đệ khác thì ngạc nhiên. Do đó mới có từ ngữ: Bạch kỳ Nhan Uyên, là cây cờ trắng hòa giải của Nhan Hồi.

Đức Khổng Tử thường khen Nhan Hồi:

"Hiền tai Hồi giả! Nhất đan tự, nhứt biều ẩm, tại lậu hang, nhân bất kham kỳ ưu, Hồi giả, bất cải kỳ lạc! Hiền tai Hồi giả!" Nghĩa là Hiền vậy thay Nhan Hồi! Một giỏ cơm, một bầu nước, ở chỗ ngõ hẹp, giá người khác ở vào cảnh ấy thì lo buồn không chịu được, thế mà Nhan Hồi không bao giờ đổi cái vui của mình. Hiền vậy thay Nhan Hồi!

Nhan Hồi mất lúc còn rất trẻ, mới 31 tuổi. Đức Khổng Tử than rằng: - Trời hại ta! Trời hại ta!

Mộ của Nhan Hồi ở Khổng Lâm, có những đền miếu mái lợp ngói tráng men, tường sơn đỏ, cửa sơn xanh, xà cột chạm vẽ. Miếu chính thờ tượng của Nhan Hồi, các miếu trong thờ bài vị song thân và phu nhân của Nhan Hồi. Đời sau có Thi:

KHỔNG TỬ KHÓC NHAN HỒI

 

Khả tích Nhan Hồi mạng tảo vong,
Giáo nhơn tư tưởng phát như sương.
Chỉ nhơn lậu hạn đơn biều lạc,
Lưu đắc hiền danh vạn cổ dương.

Dịch:

 

Khá tiếc Nhan Hồi mạng vắng ôi!
Nhớ thương mái tóc bạc như vôi.
Đai cơm bầu nước vui quê hẹp,
Lưu tiếng hiền danh biết mấy đời.

Đời sau truy tặng Nhan Hồi là Uyển Quốc Công, phối hưởng với Đức Khổng Tử khi cúng tế và được tôn là Phục Thánh, một trong Tứ Thánh của Nho giáo, gọi là Phục Thánh NhanTử.

Hai vị Thánh Nhan Hồi và Tử Tư có giáng cơ nơi Đàn ở Cần Thơ giảng Đạo lý. Ngày 17-1-Nhâm Thân (dl: 22-2-1932).

                        THI

NHAN sắc người tu trổ đượm nhuần,
HỒI tâm tánh tục khỏi gian truân.
TỬ tôn noi dấu nhà Nho giáo,
TƯ mộ chơn truyền gặp cảnh xuân.
NHỊ thế trau giồi nền chánh lý,
THÁNH Tiên rồi rảnh đạo nhơn luân.
GIÁNG khuyên người thế mau hồi tỉnh,
CƠ tạo đổi xây khó độ chừng.

Diễn dụ: Phàm làm người ở thế phải biết Tam Cang Ngũ Thường vi bổn và biết đạo. Nếu muốn hiểu thông chơn lý và cư xử cuộc thế đạo nhà, dạy dân lễ nghĩa, cũng nhờ văn chương khai khiếu. Kẻ học Đạo mà không dùng Nho tợ như thuyền thiếu lái, kẻ thương mãi mà chẳng dùng Nho thì sổ bộ loạn hành, bổn lợi chẳng minh. Bởi có câu: "Vạn sự tùng Nho sở xuất."

Muốn minh chơn lý phải dùng Nho,
Máy tạo huyền vi chẳng dễ mò.
Học Đạo thiếu văn thuyền chích lái,
Cũng nên tìm kiếm một đôi pho.

 

 

NHAN UYÊN KỲ

Nhan-Uyên-Kỳ là cờ của Thầy Nhan Hồi tự là Nhan Uyên, học trò thứ nhứt của Đức Khổng Tử. Thật ra thì cờ Nhan-Uyên không có, chỉ có trong lý thuyết mà thôi. Một hôm trước hàng Môn đệ, Đức Khổng Tử đưa ra một đề tài để thảo luận. Giả thiết rằng trong nước có loạn thì làm cách nào để trị loạn hay nhất? Trong hàng Môn đệ người trả lời cách này, cách kia. Chỉ có Nhan Hồi đưa ra ý kiến làm một cây cờ trắng xông vào chốn ba quân, kêu gọi hai tiếng trách nhiệm chấm dứt đổ máu. Ý kiến đó được Đức Khổng Tử cho là kế hay hơn cả.

Câu chuyện của Đức Hộ Pháp nói với ông Trứ:

"Mấy em nếu có chí can đảm đến Thái Bình Dương sẽ gặp Thầy là buổi sau này kìa. Dầu cho Thượng Sanh chừng đó có can đảm đến đó sẽ gặp. Bằng chẳng vậy, cây cờ CỨU THẾ của Thượng Sanh về tay kẻ khác hay là Qua sẽ đến giữa trận giặc toàn cầu thứ ba". Trong câu chuyện của Đức Hộ Pháp nói với ông Đinh Công Trứ, cai trường Qui Thiện ngày 12-8-Đinh Hợi (1947) rằng: "Nhan Hồi buổi nọ cố công thật hành lý thuyết bình đẳng nhân loại, tránh nạn tương tàn tương sát nòi giống, nhưng rốt cuộc chưa làm được thì chết".

Ngài nói tiếp: "Em biết cây cờ trắng trương nó lên để làm gì? Biểu hiện ấy có phải để cứu nhân loài không? Chỉ một ngày kia, Thượng Sanh ra mặt đời là cây cờ Cứu Thế, còn Thượng Phẩm cây cờ Cứu Khổ. Qua đã thay cho Thượng Phẩm gầy dựng đào tạo. Thầy trò ta đã chung chịu cực khổ, từ khoảng rừng xanh ít người lai vãng. Mà buổi nọ Qua vắng mặt, em đi ngược Thánh ý của Qua". Cây cờ trắng dùng để khi nước nhà nòi giống ta xô xát, cốt nhục tương tàn khốc liệt, vô phương cứu chữa, thì ngày ấy là giá trị của nó. Ngày giờ nào có kẻ thất thế, yếu cô, rách rưới, lang thang, đói cơm, khát nước, khổ não tâm hồn của nòi giống, không ai binh vực che chở. Chừng ấy nhiệm vụ trọng yếu của Thầy trò ta phải ra gánh vác. Đó là CƠ CỨU KHỔ thực hiện". Phong trào Hòa Bình Chung Sống được các ông THOẠI, KỲ, ĐẠI, LỢI tổ chức Ban Túc trực Bến Hải cắm cờ Nhan Uyên tại đó, kêu gọi hai miền Nam Bắc sớm thống nhất, bị chánh quyền Ngô Đình Diệm giải tán. Cũng nên biết vào ngày 23-10-1961 Sĩ Tải Phạm Duy Nhung thừa Ủy-quyền của Đức Hộ Pháp họp báo tại nhà hàng Soái Kình Lâm (Sài gòn) công bố các bức thư gởi qua Mỹ, Anh, Pháp (trong Hội nghị Genève) có đoạn viết: "Chúng tôi tin tưởng sự chân thành của qúi quốc với đại danh là liệt cường luôn luôn có ý chí giúp đỡ dân tộc chúng tôi mà không vụ lợi". Ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và tra tấn đến chết.

Bốn ông Thoại- Kỳ- Đại- Lợi cắm cờ Bến hải:

Sở dĩ tinh thần các vị phấn khởi hơn lên là cũng bởi bài Thi của Đức Thượng Phẩm giáng cơ ngày 23-04-1931 như sau:

Long-Tu-Phiến quạt bợn sơn hà,
Như Giáng-Ma-Xử trấn quốc gia.
Rưới nước Cam-lồ lau xã tắc,
Múa gươm thần huệ dẹp can qua,
Niệm Kinh Khổng Thánh thâu Mao- Tưởng,
Phất phướn Nhan Uyên chận Mỹ - Nga
Thế giới Hòa bình ai chủ xướng?
Thì dân nước Việt khải hoàn ca.

Chính bài thơ này làm động cơ thúc giục cho Bốn vị trong nhóm Hòa-Bình Chung Sống của Đức Hộ-Pháp, phấn khởi tính thần mà đi cậm cờ Bến hải. Đó là: Thoại, Kỳ, Đại, Lợi đã thực hiện tinh thần yêu nước. Bốn vị này dám đột nhập cầu Hiền lương treo cờ trắng (Bạch kỳ).

Tại Trung phần miền Nam Việt-Nam, công an Mật vụ chế độ Ngô-Đình-Diệm ráo riết truy tầm thủ phạm dám cả gan đột nhập treo Cờ Trắng nơi cầu Hiền lương. Khi trở về tới ranh giới Tỉnh Quảng-Trị, chẳng may cho Trung Tá Lê-văn-Thoại bị mật vụ của Ngô Đình Cẩn chận bắt. Còn ba người: Nguyễn văn Kỳ, Nguyễn Quốc Đại và Nguyễn văn Lợi thì cũng bị Công-an Mật vụ chận bắt ở bến xe Quảng Trị. Cả bốn người: THOẠI, KỲ, ĐẠI, LỢI đều bị Công-an giải về giam giữ tại Huế trên ba năm mới được trả tự do trở về Tòa Thánh- Tây Ninh.

Thật sự ra bốn vị này đã hiên ngang, xem thường mọi hiểm nguy đột nhập cầu Hiền lương (vĩ tuyến 17) treo Bạch-kỳ (tức Nhan-Uyên kỳ) là hoàn thành sứ mạng một Tín đồ trung kiên của nền Đại Đạo Cao Đài thể hiện tinh thần Hòa Bình vậy.

 

 

NHÀN ÂM ĐẠO TRƯỞNG

Nhàn Âm Ðạo Trưởng là một danh hiệu của Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ, dùng giáng cơ dạy Đạo cho nhơn sanh. Nhàn Âm là một ẩn tự của Đức Thái-Thượng Lão Quân để giáng trong buổi còn "Xây bàn", tức là buổi mới mở nền Đại-Đạo này. Muốn tạo nên mặt khách đặng chung nhau gầy nên mối Đại-Đạo, các Đấng thiêng-liêng thường hay dùng một danh từ khác, cốt yếu để làm cho khách khỏi để ý e-lệ, gìn giữ lễ nghi đặng dễ gieo tình tríu mến, lưu luyến nhau, chẳng khác chi các Đấng vầy vui với khách đặng dụ dẫn khách vào đường Đạo. Ấy là noi theo ý của Đức Chí-Tôn đã hạ bậc mà xưng hô Thầy trò với chúng ta là kẻ phàm nhơn.

*Ngày 15 tháng 7 năm Ất Sửu (dl: 01-09-1925) Ngài giáng cho thơ mời các Ngài có mặt họa Thi:.

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,
Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.
Rượu cúc một bầu trăng gió hứng,
Non sông dạo khắp lối đêm xuân.
                        (Nhàn Âm Đạo Trưởng)

Ông Cao Xuân Lộc giáng họa nguyên vận bài thư trên:

Sống thác từ xưa đã có chừng,
Nơi trần mãn tính trọn nhơn luân.
Ðò đưa phút chịu vùi ba tấc,
Tay trắng phủi rồi một tuổi xuân.
                        (Cao-văn-Lộc)

Ngài Cao Quỳnh Cư họa nguyên vận hai bài thi trên:

Cõi thọ là đâu khó độ chừng?
Ẩn tàng lội lạc bậc kinh luân,
Buổi già ước đặng đem thân gởi,
Biển Thánh rán dò lúc tuổi xuân.
                        (Cao Quỳnh Cư)

*Bài thơ "làm trai cho vẹn phận" của Đức Nhàn Âm:

Gánh đời đã tự cất lên vai,
Trau chuốt cho sao đủ trí tài.
Tấn thối dè chừng mưu kế hiểm,
Thiệt hư nhìn nhận chước phương hay.
Dụng quyền hơn đức, quyền tan nát,
Tạo thế kém nhân, thế đọa đày.
Ví biết giống nòi đang thống khổ,
Trở đương cho vẹn phận làm trai.

Làm trai cho vẹn phận:

Non sông muốn gánh phải lo tròn,
Giữa biển khơi lắt lẻo chiếc thuyền con,
Cơn sóng gió liệu cho còn hay để mất.
Khóc nước loạn rừng hôm con quốc quốc,
Máu thành sông thây chất ví non cao.
Kiếp ngựa trâu Việt chủng vận kêu gào,
Đá Tinh vệ chừ bao cho lấp bể.?
Vận hội đến đã xây thời thế,
Bởi hung tàn mà chưa dễ thoát lệ nô.
Bốn ngàn năm một gánh cơ đồ,
Chia rẽ mãi mà điểm tô không kịp bước.
Đời lấn Đạo, Đời xa cội phước,
Đạo dìu Đời, vận nước mới an.
Đức lập Quyền, dân được châu toàn,
Quyền xua Đức, nhơn gian thống khổ.
Lấy chí Thánh dìu đời giác ngộ,
Dụng bạo tàn đâu phải chỗ an bang.
Trị theo đời mà dân chúng vẫn lầm than,
Đó là dìu chúng đến con đàng tự diệt.
Do bốn chữ: Minh, Cang, Liêm, Khiết,
Đạo hay Đời trăm việc cũng thành.
Gắng đề phòng bả lợi đua tranh,
Cầm hạc giữ đạm thanh khi sớm tối.
Chẫm rãi bước đường xa chớ vội,
Góp ý hay mở lối cang thường.
Thương đời cho trọn chữ thương!

Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng giáng cho Thập thủ liên hoàn dạy về trách nhiệm và để lời tiên tri cho Thượng Sanh, Văn Pháp và Bảo Sanh.

 

            Khai thủ

 

Thi vịnh thừa khi bước hứng nhàn,
Vòng trần luân chuyển luống lo toan.
Cày mây cuốc nguyệt chờ Thang Võ,
Hằng biết cho dân lắm buộc ràng.
                        (28-12-1925)

1-

 

Buộc ràng túng tiếu cõi Nam Châu,
Trị loạn vần xây cuộc bể dâu.
Phép nước đòi khi mưa gió thảm,
Nghiệp nhà lắm lúc nước non sầu.
Thương đời để dấu noi người trước,
Hiệp chủng làm gương dắt lũ sau.
Cá chậu chim lồng chi để chịu,
Rừng xưa bến cũ thảnh thơi đâu?
                        (28-12-1925)

2-

 

Thảnh thơi đâu buổi nước non nhà,
Nam đảnh hầu xem trận gió qua.
Trải mật ướm nâng nền võ-trụ,
Bền lòng còn đợi gánh san hà.
Nổi chìm sóng hoạn thương bầy trẻ,
Lắc lở thoàn du hổ phận già.
Cũng muốn lẫy lừng xây thế cuộc,
Vòng trần ngặt đã bước chân ra.
                        (1er Janvier 1926)

3-

 

Bước chân ra nghĩ ngậm ngùi thay!
Nỗi ức nhiều cơn khó cạn bày.
Rừng trước tuy vui chung rượu thắm,
Ơn xưa đâu lợt tấm lòng ngay.
Rèn tâm khá nắm dây thân ái,
Giữ dạ đừng quên mối cảm hoài.
Bể khổ mang bầu chờ tế độ,
Giựt giành chi khỏi trả rồi vay
                        (23-01-1926)

4-

 

Trả rồi vay tua vẹn lòng son,
Bia cũ gương trung dấu hãy còn.
Ðội mão khỉ ngồi non hớn hở,
Lìa rừng cọp ngóng biển thon von.
Nào khi đất Việt trời ngang dọc,
Chừ lúc vùng Nam phận cúi lòn.
Xương thịt cũng đồng nhân loại thế,
Vày bừa há chẳng hổ sông non?
                        (19-03-1926)

5-

 

Non sầu cỏ nhuộm đá phơi sương,
Thành cũ đồn xưa cảnh để buồn.
Vạc ngã người đày trâu ngựa kéo,
Da tàn yến rủ gió mưa tuông.
Vật còn biết mến ngày thong thả,
Mình há đâu quên chỗ cội nguồn.
Vầy hiệp đồng tâm liên ái kết,
Cường quyền sức mọn dễ chi sờn.
                        (19-03-1926)

6-

 

Chi sờn miễn vẹn mối thương tâm
Bảy chục năm qua ngọc cát lầm
Âu chiến uổng khi đền nghĩa nặng
Thương quyền ấy lúc kết thù thâm
Buộc ràng Bắc địa nhân sanh thán,
Túng tiếu Nam lao nghĩa sĩ cầm,
Nhìn cảnh giang san Hồng Lạc trước,
Non sầu tuyết xủ lụy tuôn dầm.
                        (25-07-1927)

7-

 

Tuôn dầm đêm lụn giọt Trời thương
Thành lũy ngơ trông cảnh đoạn trường
Tỉnh thế gió đưa hồn chí sĩ,
Cầm quyền biển đổi khách tha hương.
Đai cân pha lẫn mùi cung kiếm,
Nô lệ chôn vùi trí bá vương.
Trào chánh dòm quanh gương bộc lại,
Túi cơm giá áo cũng chung phường.
                        (27-07-1927)

8-

 

Phường mọt nước, lũ sâu dân,
Vạc ngã vì bây biết mấy lần.!
Hang Ngụy tro tàng hồn Uổng Tử,
Thành Nam ngọc rạng xác hôn quân
Gieo oan trăm họ lừng oai Kiệt,
Kết oán ba châu dụng bạo Tần
Thời thế đổi dời hung dữ tận,
Trả vay Tạo-hóa chất đồng cân
                        (06-08-1927)

9-

 

Ðồng cân thưởng phạt Đạo dìu đường,
Nín nẵm rửa hờn cũng đặng phương,
Yếu thế phơi gan noi Dự Nhượng,
Rõ thời lánh sĩ học Trương Lương.
Dồi gương trí huệ nâng phong hóa.
Nấu tấm trung cang dựng thới bường.
Hải loạn chờ ngày thời cuộc đổi,
Tuốt thanh gươm thét lũ hung cường.
                        (12-08-1927)

10-

 

Cường thạnh đua chen khắp địa cầu,
Hồ Tây đợi vận khách buông câu.
Lần dây thân ái qua vùng khổ,
Chứa máu anh phong rửa bợn sầu.
Biển Thái tan tành lằn sóng dậy,
Non Âu ngất ngưởng bóng Trời thâu.
Cuộc cờ Tao-hóa xây thời thế,
Rốt lại chung qui cũng đáo đầu.
            (Nhàn Âm Đạo Trưởng-(22-08-1927)

NHÀN du bạch dạ tuyến phong đình,
ÂM tảng diệt kỳ chiếu Đẩu Tinh,
CHƠN tịch quyền khai Thiên vị đắc,
NHƠN bang hữu cọng liệt cung đình
                        (06-08-1927)

Chiêu tập hồn thi bước Đạo dìu,
Non xưa chớp cánh nhạn trông theo.
Trời thanh khách gắng lần qua suối,
Đêm rạng trăng soi lướt khỏi đèo.
Mây khỏa đảnh Tần màu gió cuốn,
Thuyền khơi sông Bích cánh buồm treo.
Giang san một dãy nền chung dựng,
Biển cả chi nao ít mái chèo.
                        (Nhàn Âm Đạo Trưởng)

Năm 1928 (Mậu Thìn) Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng giáng:

"Chư Đạo Hữu biết trước, muốn rèn lòng đạo đức phải khởi nơi đâu cho chắc bước đường chăng? - Ðạo đức cần trau nơi Tâm là chỗ chẳng ai thấy được. Rèn trau cho thuần tâm mỹ tánh, rồi mới lần đến bề ngoài, trọn hết cả ngoài trong, thì chừng ấy thân hình tâm trí chắc khư, nào ai chuyển lay cho được. Lo ngoài quên trong, che bề trong trau bề ngoài, ấy là cách thức của Hớn Lưu Bang đối đãi với tướng sĩ đó, cũng như có xác không hồn, chuộng hữu hình mà quên các huyền bí chơn truyền.

Than ôi! Có hình thể xương thịt mà chơn hồn phưởng phất nơi xa, thì cái thân vô dụng ấy trơ trơ như khối đá dựa đường, như khúc cây bên trủng. Có đèn dầu đầy mà thiếu hơi lửa nhen lên, thì cũng phải mờ mịt thâm u, trông chi soi sáng. Ấy vậy, nên biết mà răn mình. Cái Tâm là vật người không thấy được, khá giồi trau nó trước. Nếu bỏ Tâm kia ra ngoài mà rèn hình thể thì chẳng khác chi quì đọc kinh, đèn đốt đỏ hừng, mà thiếu bức Thiên Nhãn trên điện vậy. Hồn ma bóng quế cũng lên ngồi, mà ngạ quỉ vô thường cũng xẩn bẩn, đó là phương đem đường cho Quỉ vương, chẳng một ai tránh được, nghe! Nên hiểu kỹ lời, bằng chẳng thấu thì tu có ích chi!".

 

 

NHÁNH

Nhánh là một phần trong thân thể của cây. Nói rộng ra là mỗi một Tôn giáo mà Thầy đã lập trước đây như một nhánh mà Thầy làm chủ cái cây "đạo đức" ấy.

Thầy dạy: "Cái nhánh các con là nhánh chính mình Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu. Thầy vui muốn cho các con thuận hòa cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh đạo Thầy. Ðạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy. Phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh gổ nghe! Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn, ngày kia sẽ rõ thấu ý muốn của Thầy. Ðức Chí Tôn đã có cho bài thi tiên tri, có tính cách cảnh tỉnh, nhưng không ai để ý

Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,
Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.
Chung hiệp rán vun nền đạo đức,
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.
            (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: ngày 20-2-1926)

 

 

NHÀNH DƯƠNG (Dương Liễu)

Nhành dương liễu là Cành của cây dương liễu dùng để Ðức Quan Âm Bồ Tát rải nước Cam Lồ, ý nói sự cứu vớt chúng sanh của Ðức Quan Âm Bồ Tát.

"Biển khổ đã lắm nổi chìm, mà nhành dương liễu chẳng mau vói níu, đọa trầm luân chưa chịu thoát, mà điều tình tội lại chác thêm, buộc thảm đeo phiền, cũng tự mình tác tệ, chờ ăn năn rất muộn về sau. Khá hiểu lấy".

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cõi Thanh-Thiên lên miền Bồng-Đảo,
"Động Thiên-Thai bảy lão đón đường.
"Cam-Lồ rưới giọt nhành dương,
"Thất tình lục-dục như dường tiêu-tan."

Thi văn dạy Đạo có câu:

Dập dìu lắm kẻ ngó Thiên đường,
Buổi thế không lo níu nhánh dương.

 

 

NHÃN

Nhãn tức là con mắt thấu thị, gồm chữ Cấn là núi họp với chữ là mục là mắt, do hai chữ này kết hợp lại, thế nên còn gọi là Huệ nhãn, Thần nhãn, Thánh nhãn. Do vậy thời điểm này Đạo Cao-Đài có được Bí-Pháp để chỉ rõ một thời kỳ chuyển tiếp để đến một giống dân Thần Thông Nhơn, tức là người người đều có được một sự sáng suốt, chí linh, chí diệu.

 

 

NHÃN HUỆ QUANG

Nhãn huệ quang là cặp mắt trí huệ của người đắc đạo, không còn bị các chướng ngại phàm trần che đậy. Nhờ vậy mà thấu suốt được các cõi vô biên vô giới, đồng thời cũng thấu hiểu được ý muốn của người khác nữa, đó là đắc Lục thông trong đó có tha tâm thông…

Đức Thương Phẩm giáng 15-7-Giáp Tuất (dl: 24-8-1934):

"Hồi Em còn ở thế, sức giận của Em đến đỗi, nếu Em được thiêng liêng vị tức cấp, thì có lẽ cây quạt của Em đã đưa họ trụm vào Phong đô không sót một ai. Nhưng chừng bỏ xác phàm, được nhãn huệ quang rồi, Em lại thương đau thương đớn, dường như sợ cho họ sái đường lạc nẻo, thì phải mất một bạn thiêng liêng rất quí trọng vậy. Thành thử, phải dìu dắt chiều theo tâm phàm họ cao thấp mà sửa từ bước, độ từ chặng, mà nếu rủi dìu họ không được thì phải tận tụy với trách nhiệm, làm thế nào cho họ đừng sa đọa Phong đô, để cầu với Tam Giáo Tòa cho tái kiếp mà chuộc căn quả. Thế, Anh có vì việc nhỏ nhen vô vị mà nỡ ngó Ðạo chinh nghiêng à?"

 

 

NHÃN TIỀN

Nhãn: con mắt. Tiền: trước. Nhãn tiền: ngay trước mắt, xảy ra ngay, không đợi lâu.

Là sự thấy trước mắt, có hiện thực rõ ràng, như quả báo nhãn tiền, Báo ứng nhãn tiền

Thầy dạy ông Phối Sư Thơ về việc Cơ bút: "Con khá nghe lời Thầy, việc Bút Cơ là việc lớn trong Đạo, nên khi nào phò cơ chấp bút, phải diệt tận phàm tâm, đừng lo lượng điều chi trong trí của con. Phải biết dùng cái chí Thánh chí Phật của con mà làm cho xứng đáng cái vai tuồng mà Thầy đã định. Con ôi! Cái bả vinh hoa, con đã thấy tường tận rồi, nào có ra chi, chi bằng biết Đạo hết lòng độ vớt chúng sanh, trẻ thơ trông cậy nơi con nhiều đó con à! Cái công quả ấy, nếu con làm được thì con hưởng nhãn tiền, vì con làm nghĩa cho nhơn sanh thì con được toại chí, rồi cái đạo tâm của con nó nở như tòa sen. Con sẽ thấy ấn chứng nhãn tiền, chớ không phải đợi sau mới thấy đâu. Con đã hiểu ý Thầy chưa? Tự ý con muốn định sao, Thầy cho vậy."

Câu nói trong dân gian:

Ngày xưa quả báo thì chầy,
Ngày nay quả báo một giây nhãn tiền.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thanh thanh nhựt nguyệt Cửu Trùng Thiên,
Hiện xuất cao nhơn tại nhãn tiền.

Kinh Sám Hối có câu:

"Nhãn tiền trả quả tức thì,
"Tội dư con cháu một khi đền bồi."

 

 

NHÃN TIỀN BÁO ỨNG

E: Immediate retribution.
F: Rétribution immédiate.

Kinh Sám Hối có câu:

"Cũng có khi tai họa trả liền.
"Đó là báo ứng nhãn tiền,
"Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con."

 

 

NHẮM MẮT ĐÂU CÒN

Kinh Sám Hối có câu:

"Một mai nhắm mắt đâu còn,
"Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng?"

 

 

NHĂN MÀY KHỔ LỤY

Thánh Ngôn: "Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy, nên chẳng nại công lao khó nhọc, yêu cầu cùng Tam Giáo nới tay cho Thầy cứu rỗi các con. Than ôi! Công trình Thầy và các Ðấng Thiêng liêng thì nhiều mà tấc thành của mỗi con thì không đặng mấy. Nhiều phen sóng khổ muốn chìm đắm các con mà Thầy phải sợ cho đến nhăn mày khổ lụy."

 

 

NHẶT KHOAN

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cung Đẩu-Tốt nhặt khoan tiếng nhạc,
"Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.
"Tiêu thiều lấp tiếng dục-tình,
"Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân."

 

 

NHÂN (1)


F: Humain.

Nhân: Người, giống khôn nhất trong loài động vật.

Tiếng đối lại với mình. Như tha nhân 他人 người khác, chúng nhân 眾人 mọi người, vô nhân ngã chi kiến 無人我之見 là không có phân biệt mình với người...thấu được nghĩa này, trong đạo Phật cho là bực tu được nhân không 人空.

Thánh nhân khi chế tác thành chữ đều có dụng ý rất tinh vi: Nghĩa là bắt chước theo tượng hình của trời đất mà chế ra VĂN, ứng dụng theo hình thanh mà chế ra TỰ.

Chữ Nhân là người, ứng dụng theo thuyết Thiên địa Âm dương và sách Lễ ký đã nói: con người là đức lớn của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự hội tụ linh khí (quỉ thần)

của non sông đất nước và tinh túy của năm chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. "Nhân giả thiên địa chi đức, Âm dương chi giao, quỉ thần chi hội, Ngũ hành chi tú khí dã".

Chữ nhân : cách cấu tạo theo thuyết âm dương:

- Một phết bên trái (丿) biểu thị cho dương
- Một nhấn bên phải () biểu thị cho Âm.

Chữ nhân do cả hai thành phần vừa nêu trên họp lại, tức là do âm dương phối hợp mà sinh ra. Như lời Kinh Hôn phối rằng:

Cơ sanh hóa Càn khôn đào tạo,
Do Âm dương hiệp đạo biến thiên.
Con người nắm vững chủ quyền,
Thay Trời tạo thế giữ giềng nhân luân.

Như vậy con người được tạo hóa sanh ra tất cả đều bình đẳng, đầy đủ cả thể xác và linh hồn, nhưng ý-thức tâm linh mỗi người không giống nhau. Có người sinh ra là hiểu biết ngay, có người cần phải học hỏi mới hiểu biết được. Vì thế Thánh nhân là người "Thể Thiên hành hóa": trên thể lòng Trời, dưới phù chánh đạo, nên mới lập ra qui tắc, phương pháp, lễ nghi để làm mực thước cho con người chu toàn nhân đạo, đó là đạo làm người: trung-hiếu, nghĩa-nhân, hòa-ái, kỉnh vì. Khi con người chu toàn nhân đạo có thể góp phần vào việc giúp đỡ hoàn chỉnh cái đạo của trời đất, nâng đỡ cho dân sinh: lập đức, lập công, lập ngôn để lại cho đời, thì người đó đã đạt đến bậc Đại nhân.

Có nhiều chữ NHÂN, tuy đồng âm nhưng dị nghĩa:

1- Chữ là người, có hai nét là do Âm Dương hòa hợp; nét trái là chân Âm, nét phải là chân Dương. Nếu chữ nhân (người) hợp với chữ nhị (là hai) thành ra chữ thiên . Trong chữ Nhị thì nét nhứt trên chỉ trời, nét nhứt dưới chỉ đất, giữa là chữ nhân đặt vào, như vậy chỉ có người mới được dự vào chuyện của trời đất để hoàn thành Tam tài: Thiên- Nhân- Địa. Người là sản phẩm hoàn hảo nhất của Thượng Đế.

Đức Hộ-Pháp có lời dạy rằng: "Con người là một động vật ở nơi mặt địa cầu này. Chúng ta ngó thấy hiện hữu phải vận hành, phải xao động, bởi nó là động vật, nó phải hoạt động, nếu không hoạt động là chết".

2- Nhân Nhân là gì? -Là lòng nhân, hào hiệp, phóng khoáng. Theo phép Lục thư thì chữ nhân do hai chữ: Nhân là người và nhị là hai, ghép lại mà thành, là nói lòng nhân của người, biết thương người mến vật, thể hiện đức háo sanh của Thượng Đế. Nếu đem chữ Nhị và nhân ghép lại thành ra chữ nguyên là đứng đầu tất cả. Phép lục thư có nói:

"Nguyên dĩ Nhị dĩ nhân. Nhân dĩ nhân dĩ nhị" 元以二以人. 仁以人以二

- Chữ nguyên lấy chữ nhị và chữ nhân ghép lại.

- Chữ nhân thì lấy chữ nhân và chữ nhị mà nên.

- Ở trời gọi là nguyên, nên quẻ Càn có 4 đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh; mà chữ nguyên đứng đầu.

- Ở người thì chữ Nhân đứng đầu trong năm thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Người linh hơn vạn vật là ở đức Nhân "nhân sở dĩ linh ư vạn vật giả nhân dã" 人所以靈於萬物者仁也

3- Nhân là đầu mối của sự việc, là hột giống.

Cấu tạo chữ Nhân gồm chữ Đại ở trong và bao quanh ngoài là bộ Vi . Đấy cho thấy điểm khởi đầu nó quan trọng dường nào. Chữ đại là lớn về vật thể. Ví như hột xoài, có lớp vỏ bao, phần trong là chủng tử, là giống, chính nó khi gieo xuống đất để được một cây con mới ra đời. Suy ra chữ "Nhân quả" nhà Phật cho biết rằng Phật rất sợ quả nên không gầy nhân. Còn chúng sanh cứ nhắm mắt gây nhân, rồi khi gặt hái kết quả xấu thì mới kêu la.

Kết luận: Phật sợ nhân, chúng sanh sợ quả, là thế.

4- Nhân là chỉ về hôn nhân, nhân duyên. Có bộ Nữ (gái) đứng trước chữ nhân thứ ba . Điều này cho thấy rằng trong việc hôn nhân thì vai trò chính là Nữ-phái. Thế mà hầu như ít ai chú ý dạy riêng về phần học vấn, đạo đức, nhân cách cho nữ phái. Nay là thời Hạ nguơn thì đạo đức đã suy đồi trầm trọng, ảnh hưởng ngoại lai rất nhiều, nhưng chỉ ảnh hưởng cái bóng dáng bên ngoài, xấu xa nhơ nhuốt, mà điều tốt nếu có cũng bị khuất trong cái lố lăng, tệ hại. Nếu rác bên ngoài đang thời kỳ kêu cứu, thì rác trong tư tưởng giờ cũng tương đương. Những nhà đạo đức sẽ kêu cứu cùng ai? Trách nhiệm về ai?

 

 

NHÂN (2)

Nhân : Sự đối đãi tốt giữa người với nhau.

Thầy có dạy về chữ Nhân rằng:

Nhân là đầu mối các hành tàng.
Cũng bởi vì Nhân dân hoá quan.
Dân trí có nhân nhà nước trị
Nước nhà nhân thiệt một cơ quan.

 

 

NHÂN ÁI (NHƠN ÁI)


E: The charity.
F: La charité.

Nhân: Lòng thương người mến vật. Ái: thương. Nhân ái là lòng thương yêu, thương người thương vật, thương khắp chúng sanh (Lòng thương yêu người, lòng từ thiện).

 

 

NHÂN BẢN


E: Humanism.
F: Humanisme.

Nhân: Nhơn: Người. Bản: Bổn: gốc. Nhân bản là lấy con người làm gốc.

Đây là một học thuyết Triết học, gọi là Nhân bản triết học, chủ trương lấy con người làm gốc, cho rằng con người là trung tâm của vũ trụ. Mọi vật đều phải qui về con người.

 

 

NHÂN CÁCH (NHƠN CÁCH)


E: Personality.
F: Personalité.

Nhân: Nhơn: Người. Cách: tư cách, phẩm chất.

Nhơn cách hay Nhân cách là tư cách và phẩm chất của con người (Phẩm cách của người).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Các con đừng vì tư lợi mà làm mất nhơn cách thì rất uổng cái điểm linh quang của Thầy để vào xác thân của các con lắm.

 

 

NHÂN CHÍNH

Nhân-chính 仁政: Làm cho chính, chỉnh đốn lại lòng người.

Đức Hộ-Pháp nói: "Trong lúc nhân tình xáo trộn, đạo lý suy đồi ai ai cũng nhìn về danh với lợi, một chân trời xa thẵm u ám sau một cơn ác-mộng ghê hồn, Bần-Đạo thấy giờ đã điểm phải phổ-thông nền ĐẠI-ĐẠO, gieo rắc cho khắp cả nhân loại một nhân-chính êm-dịu để tồn-tại nhân-sinh."

 

 

NHÂN CHỦNG (NHƠN CHỦNG)


E: Human race.
F: Race humaine.

Nhân: Nhơn: Người. Chủng: nòi giống, chủng tộc. Nhơn chủng nòi giống con người, các chủng tộc của loài người.

Nếu căn cứ trên màu da thì loài người hiện nay có 4 chủng tộc: Da trắng, da vàng, da đen và da đỏ.

Phật Mẫu Chơn Kinh:

"Đại Long Hoa nhơn chủng hòa ki."

 

 

NHÂN DỤC


E: Human passions.
F: Passions humaines.

Nhân dục 人欲: Lòng ham muốn của con người.

Nho-giáo có câu: "Nhân dục tận tịnh thiên lý lưu hành"

 

 

NHÂN DUYÊN (Phật Học)


E: Cause.
F: Cause.

Nhân là nguyên nhân, chỉ cho những sự vật chính đó là nhân, trực tiếp sanh ra một vật khác, như hạt lúa lam nhân sanh ra cây lúa. Duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật gì có tánh cách trợ gíup trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân công...là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà cũng vừa là trợ duyên cho tất cả vật chung quanh nó.

Chữ "Nhân duyên" lại có nghĩa thứ hai: Các vật đều là "nhân", các "nhân" đó "duyên" với nhau mà thành ra các vật khác. Như vôi, gạch, ngói, gỗ v.v...là nhân, các nhân này duyên nhau (nương giúp) mà thành ra cái nhà. Vì các pháp trùng điệp nhiều lớp làm duyên cho nhau, mà thành ra vật thế này hay thế khác, nên trong kinh chép: "Chư pháp trùng trùng duyên khởi".

Tính Nóng Nảy Là Nhân Duyên Chướng Ngại Việc Tu Ðạo

Có câu rằng: "Phiền não là Bồ-đề." Có người hỏi: "Thế thì, nếu không sanh phiền não phải chăng sẽ không có Bồ-đề?" Không phải! Bởi vì bản thân của phiền não chính là Bồ-đề! Thế nào là Bồ-đề? Bồ-đề tức là không sanh phiền não! Nếu con người chỉ sanh ra phiền não mà thôi, thì phiền não vẫn cứ là phiền não và Bồ-đề vẫn cứ là Bồ-đề, do đó, các bạn đừng hiểu lầm ý nghĩa của câu trên.

Các bạn phải biết rằng một khi chính bản thân mình đạt tới cảnh giới thật sự không còn phiền não, không còn vô minh, không còn vọng tưởng, không còn dục niệm nữa, thì dầu có nóng tánh đôi chút cũng vẫn có thể tha thứ được. Song, đương nhiên tốt nhất là không còn tánh nóng nảy, cùng với mọi người chung sống một cách vui vẻ, hòa thuận, đoàn kết, khiến cho ai nấy đều cảm thấy thân thiết.

Người tu Ðạo nên dùng đức hạnh để cảm hóa kẻ khác, chứ không nên dùng thế lực để áp bức người ta. Ðối với bất cứ người nào các bạn cũng nên nói đạo lý, để cho ai nấy đều hết lòng cảm phục, khâm phục các bạn là người có tài cán, có đạo đức, có học vấn, có lòng từ bi. Bằng không, nếu các bạn bị vướng vào vòng danh lợi, thì sẽ cách xa con đường của Phật tới mười vạn tám ngàn dặm, các bạn cần phải đặc biệt chú ý điểm này.

Xuất gia tu Ðạo là tu đạo gì? Là tu Ðạo Nhẫn Nhục. Người nào nổi nóng tức giận là đi ngược với Ðạo, vĩnh viễn không thể có sự tương ưng với Ðạo được. Nổi nóng là một tánh rất xấu, và cũng là nhân duyên chướng ngại trên bước đường tu Ðạo. Hy vọng mọi người đều thận trọng, tuyệt đối không nên phạm lỗi lầm này!

Người xuất gia tu Ðạo khi chưa nắm vững được căn bản của vấn đề thì sự tu hành ấy cũng giống như "nấu cát mà mong thành cơm," dù có nấu bao lâu đi nữa thì cát cũng không thể nào thành cơm được! Nếu các bạn không có "lửa" vô minh thì dục niệm sẽ ngừng dứt. Vì sao vậy? Các bạn có dục niệm là vì trong lòng có "lửa giận." Do đó các bạn cứ cảm thấy thế này là "không được," thế nọ cũng "không được," rất nhiều vấn đề "không được" xảy đến cho các bạn. Vì vậy, người tu Ðạo cần phải dứt sạch phiền não thì mọi rắc rối, chướng ngại, mới không còn!

(Ngày 25 tháng 7 năm 1983)

Nhân duyên (S: hetuprātyaya; J: innen) Nghĩa là cái lý do chính (nhân; s: hetu) và các điều kiện phụ trợ giúp (duyên; s: prātyaya); danh từ này được sử dụng trong các trường phái Phật giáo để làm sáng tỏ luật Nhân quả, Nghiệp (s: karma).

Đạo Cao Đài, Đức Lý nói: Nghe thi nầy và kiếm hiểu:

"Bát Nhã từ đây vững lái thuyền,
"Tuông pha khổ hải độ nhân duyên."

Nhân là phần chính có năng lực phát sanh, Duyên là phần phụ để hổ trợ cho nhân phát sanh ra sự vật. Nhân duyên là một định lý, theo đó mọi sự vật trong vũ trụ đều có nhân duyên phối hợp với nhau mà thành, khi nhân duyên đã hết sự vật ấy sẽ không còn.

Thí dụ : Hạt đậu là nhân, phải có người gieo trồng, có đất, nước, không khí, tia nắng mặt trời là những phần phụ, chúng hòa hợp lại, làm cho hạt đậu nẩy mầm, ra lá, lớn lên rồi đơm bông, kết trái..

Lý nhân duyên giải thích cho chúng ta biết vì sao người làm việc nầy thành tựu nhanh, người kia cũng làm việc ấy mà thành tựu chậm, Xưa Tế Công Hòa Thượng muốn cứu độ cho một người mà không thể độ được, vì người đó không chịu làm theo, ngài buộc miệng than : " Vô duyên bất năng độ ".

Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên cụ thể như sau:

Vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống;

1. Vô minh sinh Hành (zh. , sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý;

2. Hành sinh Thức (zh. , sa. vijñāna, pi. viññāṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định;

3. Thức sinh Danh sắc (zh. 名色, sa., pi. nāmarūpa), là toàn bộ tâm lí và vật lí của bào thai mới, do Ngũ uẩn (sa. pañcaskandha, pi. pañcakhandha) tạo thành;

4. Danh sắc sinh Lục căn (zh. 六根, sa. ṣaḍāyatana, pi. saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu);

5. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (zh. , sa. sparśa, pi. phassa);

6. Xúc sinh Thụ (zh. , sa., pi. vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài;

7. Thụ sinh Ái (zh. , sa. tṛṣṇā, pi. taṇhā), tham ái, lòng ham muốn xuất phát từ vô minh;

8. Ái sinh Thủ (zh. , sa., pi. upādāna) là điều cá nhân mới muốn chiếm lấy cho mình;

9. Thủ dẫn đến Hữu (zh. , sa., pi. bhava), là toàn bộ những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới;

10. Hữu dẫn đến Sinh (zh. , sa., pi. jāti), một thế giới và cá nhân mới xuất hiện hẳn hoi;

11. Sinh sinh ra Lão tử (zh. 老死, sa., pi. jarāmaraṇa), vì có Sinh nên có hoại diệt.

12. Thời nọ, Phật Thế Tôn an trú tại Ưu-lâu-tần loa (zh. 優樓頻螺, sa. uruvilvā, pi. uruvelā), bên bờ sông Ni-liên-thiền (zh. 尼連禪, sa. nairañjanā, pi. nerañjarā, nirañjarā) dưới gốc một cây bồ-đề, lần đầu tiên đạt chính đẳng giác (sa., pi.abhisambuddha). Phật Thế Tôn ngồi chân tréo kết già bảy ngày dưới gốc cây bồ-đề, thưởng thức sự an lạc của giải thoát.

13. Vào canh thứ nhất, Phật quán chiếu trong thâm tâm nguyên lí duyên khởi hướng xuôi chiều (sa., pi. anuloma) và ngược chiều (sa. pratiloma, pi. paṭiloma): Từ vô minh mà các hành phát sinh, từ các hành mà thức phát sinh, từ thức danh sắc, từ danh sắc là sáu giác quan (cùng với sáu đối tượng của chúng), từ sáu giác quan sinh ra xúc, từ xúc sinh ra thụ, từ thụ tham ái, từ tham ái ra thủ, từ thủ ra hữu, từ hữu ra sinh, từ sinh ra lão tử, ưu sầu, hoạn nạn, bất hạnh, tuyệt vọng. Sự hình thành của nguyên khối khổ này là như thế.

14. Qua sự chấm dứt và tiêu diệt của vô minh mà các hành chấm dứt, qua sự chấm dứt của hành mà thức chấm dứt, qua sự chấm dứt của thức mà danh sắc chấm dứt, qua sự chấm dứt của danh sắc mà sáu giác quan chấm dứt, qua sự chấm dứt của sáu giác quan mà sự chạm xúc chấm dứt, qua sự chấm dứt của sự chạm xúc mà thụ chấm dứt, qua sự chấm dứt của thụ mà tham ái chấm dứt, qua sự chấm dứt của tham ái mà thủ chấm dứt, qua sự chấm dứt của thủ mà hữu chấm dứt, qua sự chấm dứt của hữu mà sinh chấm dứt, qua sự chấm dứt của sinh mà lão tử, ưu sầu, hoạn nạn, bất hạnh, tuyệt vọng chấm dứt. Sự chấm dứt của nguyên khối khổ này là như vậy.

15. Lúc ấy, sau khi nhận thức rõ điều này, Thế Tôn thốt lên một cách cảm kích: "Thật như thế, khi các pháp hiện rõ cho một người tinh tiến, một hiền nhân đang quán chiếu thì tất cả những nghi hoặc của ông ta tan biến, bởi vì ông ta đã nhận thức được Pháp với nguyên nhân của nó (pi. hetu)."

16. Người ta có thể nhìn Mười hai nhân duyên dưới nhiều cách phân tích khác nhau. Cách phân tích thông thường có tính thời gian là: yếu tố 1-2 thuộc về đời sống trước đây, yếu tố 3-7 là điều kiện và nguyên nhân sinh thành của đời sống sau này, yếu tố 8-10 là kết quả trong đời sống này, yếu tố 11-12 chỉ đời sống tương lai.

17. Mười hai nhân duyên chỉ rõ tính chất liên hệ lẫn nhau của dòng chảy "Tâm", "Vật" của thế giới hiện tượng, trong đó những khái niệm quan trọng nhất là "Ta", "Người", "Sinh vật". Nếu thuyết vô ngã chỉ rõ thế giới và con người do các yếu tố giả hợp kết thành với nhau, thật chất là trống rỗng, thì thuyết nhân duyên có tính chất tổng hợp các yếu tố đó, chỉ ra rằng mọi hiện tượng thân tâm đều bắt nguồn từ những hiện tượng khác. Sự phụ thuộc lẫn nhau đó có thể nhìn dưới khía cạnh đồng thời hoặc có thứ tự thời gian.

18. Thuyết Mười hai nhân duyên được các trường phái Phật giáo giải thích khác nhau. Nam tông cho rằng thuyết này đã giải thích nguyên nhân của khổ và tất cả mọi pháp hữu vi (sa. saṃskṛta) đều có nguyên nhân và điều kiện mới sinh ra nên chúng vô ngã - không có một tự tính nào. Như thế thuyết Mười hai nhân duyên nhằm dẫn đến quan điểm vô ngã.

19. Trong Bắc tông, Mười hai nhân duyên được sử dụng để chứng minh sự không thật của sự vật và đặc biệt trong Trung quán tông (sa. mādhyamika), Mười hai nhân duyên được định nghĩa là tính Không. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa nhấn mạnh rằng Mười hai nhân duyên không nên hiểu theo thứ tự thời gian. Thuyết này nói lên sự liên hệ của vạn vật một cách tổng quát.

 

 

NHÂN ĐẠO


E: Charitable and virtuous.
F: Charitable et vertueux.

Thi văn dạy Đạo:

Sai lầm một thuở biết ăn năn,
Năn nỉ lòng kia tự xét rằng.
Rằng ở đời thì nhân đạo trọn,
Trọn rồi Thiên đạo mới hoàn toàn.

 

 

NHÂN ĐẠO - THIÊN ĐẠO

-
E: Doctrine of Sages, the Holy doctrine of God.
F: Doctrine des Sages, la Sainte doctrine de Dieu.

Nhơn: Người. Thiên: Trời. Đạo: con đường, tôn giáo.

- Nhơn đạo là đạo làm người, đạo ở đời, nên nó cũng được gọi là Thế đạo (Thế là đời). Đó là những nguyên tắc và bổn phận mà con người phải tuân theo trong đời sống đối với gia đình và xã hội. Nhờ Nhơn đạo mà con người mới xứng đáng phẩm người, mới có giá trị là loài thượng đẳng chúng sanh.

Nói đến Nhơn đạo thì chúng ta nghĩ ngay đến Nho giáo, vì không có tôn giáo nào dạy về Nhơn đạo kỹ lưỡng và chi tiết bằng Nho giáo.

- Thiên đạo là đạo Trời, tức là con đường để người tu theo đó thì được trở về cõi Trời, giải thoát khỏi luân hồi để được hiệp nhập vào Thượng Đế.

Người là Tiểu linh quang, Trời hay Thượng Đế là Đại linh quang; nên con người là một phần tử nhỏ của Thượng Đế. Thượng Đế cho con người đầu kiếp xuống cõi trần là để học hỏi và tiến hóa, học hỏi mãi mãi và tiến hóa mãi mãi, tới mức cùng tột thì trở thành Thượng Đế và hiệp nhứt vào Thượng Đế.

Muốn đạt được như thế, con người phải trải qua năm cấp tiến hóa:

Cấp tiến hóa thứ nhứt là Nhơn đạo lên Thần đạo,
Cấp tiến hóa thứ nhì là Thần đạo lên Thánh đạo,
Cấp tiến hóa thứ ba là Thánh đạo lên Tiên đạo,
Cấp tiến hóa thứ tư là Tiên đạo lên Phật đạo,
Cấp tiến hóa thứ năm là Phật đạo lên Thiên đạo.

Trong năm cấp tiến hóa đó, Nhơn đạo là căn bản. Không hoàn thành Nhơn đạo thì không mong chi bước lên các cấp tiến hóa cao hơn. Thánh nhơn khi xưa có nói rằng: Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhơn đạo, Nhơn đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỹ. Nghĩa là: Muốn tu Tiên đạo, trước tu Nhơn đạo, Nhơn đạo không tu, thì Tiên đạo xa vời lắm vậy.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mở ra kỳ nầy là Đức Chí Tôn dựng lên một cái thang 5 nấc để cho người từ từ tu tiến mà đoạt vị. Hễ công đức tu hành đạt đến mức nào thì Đức Chí Tôn chấm cho mức ấy với những phẩm vị cao trọng tương xứng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Buông trôi ví chẳng tròn Nhơn đạo,
Còn có mong chi đến đạo Trời.

Rằng ở đời thì Nhơn đạo trọn,
Trọn rồi Thiên đạo mới hoàn toàn.

Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy về Thế đạo (Nhơn đạo) và Thiên đạo, trích trong Luật Tam Thể, chép ra như sau:

"Hẳn mấy em đã rõ đại cương về Thế đạo (Nhơn đạo) là: Nam thì Tam cang, Ngũ thường; Nữ thì Tam tùng, Tứ đức.

Song đó chỉ là thể của Nhơn đạo hữu hình mà thôi.

Nếu mấy em hằng ngày tâm niệm có bấy nhiêu đó thôi thì làm sao trọn vẹn được.

Trong Thế đạo phải phân tách ra làm hai pháp lý: - Một là Thể pháp Thế đạo, - Hai là Bí pháp Thế đạo.

Tam cang Ngũ thường, Tam tùng Tứ đức là thể đặng làm sở hành cho mặt Thể pháp Thế đạo mà thôi, lấy đó làm chánh đề mà đi.

Bây giờ muốn giữ Tam cang Ngũ thường thì phải làm thế nào?

- Quân Thần cang: Vua là kẻ chăn dân. Vậy bổn phận ấy là phải lập trên những hành tàng để cứu giúp dân cho khỏi điều thống khổ. Ấy là công việc của Cơ Quan Phước Thiện bây giờ đó. Tôi thì phải tỏ dạ trung thành đặng vùa giúp vua mà làm cho bá tánh an cư lạc nghiệp, tức là bổn phận của hàng Thánh thể đó vậy.

- Phụ tử cang: Cha là người thay quyền Chí Tôn trong một tiểu gia đình, tức nhiên là phải biết mình có bổn phận giáo hóa, dưỡng dục, tức nhiên là một Hội Thánh nhỏ trong một gia đình. Vậy con phải trọn hiếu, tức nhiên không làm điều nhục tổ hổ tông, tức là bổn phận của một tín đồ, hay nói đúng hơn là một môn đệ xứng đáng của Đức Chí Tôn đó vậy.

- Phu phụ cang: Chồng là người cầm lèo giữ lái đặng đưa một tiểu gia đình đến chỗ đạo đức thanh bạch, tức nhiên là bổn phận của cơ quan Hành Chánh đó vậy. Vợ là người tùng theo chồng để giúp an sự nghiệp, tạo nên hạnh phúc gia đình, tức là bổn phận của Bảo Cô đó vậy.

Về Ngũ thường thì:

- NHƠN: là phải biết nghĩa đồng sanh, biết tình đồng hưởng Âm Dương chi khí, chẳng để lòng sái loạn chơn truyền, tức là phải trọn vâng theo luật Công bình Bác ái.

- NGHĨA: là phải biết trọn phận người để tạo nên danh trọng giá cao, tức là phải giữ phẩm hạnh mà nhìn rõ của chung đồng hưởng.

- LỄ: là giữ hạnh nết đúng đắn để tạo nên một nhơn phẩm, biết nhường biết nhịn, tức nhiên là phải giữ trọn hạnh đạo đó vậy.

- TRÍ: là phải thông hiểu việc thế mà đi, không để tên tuổi phải bị lời chê tiếng nhẻ, tức nhiên là phải trọn vâng Luật pháp Chơn truyền đó vậy.

- TÍN: là phải đúng lời đúng hẹn, tức là phải danh chánh ngôn thuận, thuyết hành phải được giống in nhau, tức là phải trọn thệ đó vậy.

Đó là mặt Thể pháp Thế đạo.

Còn mặt Bí pháp Thế đạo là phương tầm ra định hướng để vẹn giữ Tam cang Ngũ thường, tức nhiên là trọn phần Nhơn đạo. Ấy là kết quả do Thể pháp mà nên.

Nói chung về Bí pháp Thế đạo, tức nhiên là phương giúp đời an nhàn đạo đức đó vậy.

Về Tam tùng Tứ đức là phận của Nữ phái:

- Tùng phụ: như người con phải trọn giữ tiết trinh, cũng như kẻ tín đồ phải giữ tròn danh đạo.

- Tùng phu: như bóng tùy hình. Tức nhiên là phải ví mình như một trong Thánh thể, tùng Hội Thánh vậy.

- Tùng tử: là phải vì đám hậu sanh mà quên mình đặng tạo thành sự nghiệp tương lai cho chúng, tức nhiên là bổn phận của Chức sắc vậy.

- Công, Dung, Ngôn, Hạnh: tức là việc làm cho nhơn sanh thoát khổ, lời nói để đưa đường giáo hóa, hành vi cử chỉ đáng treo gương mặt thế, tức là phải biết nâng cao giá trị của Thánh thể Chí Tôn, nết na đầm thấm, giữ trọn thương yêu, tức nhiên là làm nền móng cho Đại đồng thế giới.

Đó là Thể pháp.

Kẻ đã trọn về mặt Thể pháp, tức nhiên hiểu biết Bí pháp, vì Bí pháp không chi lạ hơn là phương pháp bí yếu để nâng cao giá trị cho Thế đạo. Nói rõ hơn nữa là phương làm cho đời trở nên tận thiện tận mỹ. Nói theo Nhơn sanh Triết lý thì Bí pháp là kế hoạch nâng cao đời sống trong Nhơn Nghĩa đó vậy."

"Trong Thiên đạo cũng có Thể pháp và Bí pháp như Thế đạo vậy.

- Về Thể pháp Thiên đạo tức nhiên là những nơi để học hỏi, để un đúc tinh thần trên khuôn viên chánh pháp.

Trong Thể pháp Thiên đạo chia làm 3 thời kỳ:

Thứ nhứt là thời kỳ Khai thác,
Thứ nhì là thời kỳ Luyện tập,
Thú ba là thời kỳ Thi hành.

Trong thời kỳ sau nầy mới thường gặp những cơ khảo đảo đặng thử thách tinh thần.

Về thời kỳ thứ nhứt, là những tạo tác nơi qui hợp đức tin cho con cái Chí Tôn, tức là các Đền thờ đó vậy. Khi một môn đệ đã nhập môn tùng giáo thì phải do nơi các Đền thờ đặng tựu hiệp đức tin. Đó là bước đầu tiên của Thể pháp Thiên đạo. Do đó, sự cúng kiếng niệm kinh là điều trọng yếu vậy.

Qua thời kỳ thứ nhì là đem đức tin đã trụ được đặng tập luyện tâm tánh và khởi lập Công trừ Quả đặng tự giải khổ cho mình và giúp phương cứu khổ cho toàn nhơn loại. Ấy là phương tập luyện tánh thành, tâm niệm đó vậy.

Qua thời kỳ thứ ba là thi thố những đức tin hầu lấy phương giải khổ mà đem gieo truyền hột giống thương yêu, ấy là phương cứu khổ đó vậy.

Trong lúc nầy, tinh thần hay gặp những chướng ngại, hoặc làm cho nao núng tan rã đức tin, hoặc theo đường quỉ mị, chia phe phân phái, mà nên Tả đạo Bàng môn như đã xảy ra đó.

Trong ba thời kỳ: Thứ nhứt là Lập Ngôn, thứ nhì là Lập Công, thứ ba là Lập Đức. Đó là Thể pháp của Thiên đạo.

Khi đã trọn phần Thể pháp rồi, liền bước qua mặt Bí pháp, là phương tu tâm sửa tánh, hầu lập thành Chơn khí thanh khiết mà hiệp với Chơn thần, đặng tiếp Chơn linh để giải phương cứu khổ thêm bề siêu lý diệu chơn. Ấy là phương tầm hiểu Chơn truyền Chánh pháp đó vậy.

Khi đã vẹn sạch Tinh, Khí, Thần thì đắc Pháp đó vậy."

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy dạy Nữ phái biết trọng Tam tùng Tứ đức, Nam phái Tam cang Ngũ thường. Hễ Nhơn đạo thành là phù hạp Thiên đạo, nghe à!

 

 

NHÂN ĐỊNH THẮNG THIÊN


E: Human determination will over come the destiny.
F: La volonté de l’humanité peut triompher de la destinée.

Nhơn định thắng Thiên là lòng người quyết định thì thắng được Trời, tức là sửa cải được mệnh Trời.

Truyện Kiều của Nguyễn Du: Xưa nay nhân định thắng Thiên cũng nhiều.

Nhưng ở đây, chúng ta phải hiểu Nhơn định là thế nào?

Nhơn định có phải là một người định ra hay một nhóm người, hay một triệu người?

Nhơn định ở đây, chúng ta phải hiểu là toàn cả nhơn loại quyết định, chớ không phải một người hay một nhóm người.

Nếu toàn cả nhơn loại quyết định điều gì thì chắc chắn Trời sẽ chiều theo quyết định ấy, vì ý dân là ý Trời.

Điều nầy không có gì quá đáng, bởi vì Trời là Thượng Đế, chúng sanh là Vạn linh mà người là đại diện của chúng sanh, tức là đại diện của Vạn linh. Đấng Thượng Đế đã ban cho Vạn linh cái quyền ngang bằng quyền của Thượng Đế: Quyền Vạn linh đối quyền Chí linh.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên đình mà làm cho tiêu tai tiêu nạn đặng; huống lựa mỗi cá nhân biết tu, thì Thiên đình cầm bộ Nam Tào cũng chẳng ích chi."

"Các con phải nhớ rằng, toàn thế giới Càn Khôn chỉn có hai quyền: trên là quyền hành Chí Tôn của Thầy, dưới là quyền hành của sanh chúng.

Thầy đã lập thành hình thể hữu vi của Thầy, nghĩa là Hội Thánh của Đại Đạo ngày nay rồi thì Thầy cũng phải ban quyền hành trọn vẹn của Thầy cho hình thể ấy, đặng đủ phương tận độ chúng sanh, còn các con cả thảy đều đứng vào hàng sanh chúng, dưới quyền hành chuyển thế của đời, nghĩa là toàn nhơn loại đồng quyền cùng Thầy, mà tạo hóa vạn linh vốn là con cái của Thầy. Vậy thì vạn linh cũng có thể đoạt vị vào hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng.

Thầy nói rõ: quyền Chí Tôn là Thầy, quyền Vạn linh là sanh chúng. Ngày nào quyền lực Chí Tôn đặng hiệp một cùng Vạn linh thì Đạo mới ra thiệt tướng.

Thầy đã ban quyền hành Chí Tôn của Thầy cho hai đứa làm đầu Hội Thánh là Giáo Tông cùng Hộ Pháp. Vậy thì quyền hành Chí Tôn của Thầy đặng trọn vẹn khi Giáo Tông cùng Hộ Pháp hiệp một.

Cả nhơn loại thì là quyền lực Vạn linh.

Quyền hành Chí Tôn của Thầy duy có quyền hành Vạn linh đối phó mà thôi."

Vậy thì theo lời dạy của Đức Chí Tôn, nếu toàn cả nhơn loại mà quyết định một điều gì thì đó cũng chính là quyết định của Đức Chí Tôn. Ý dân là ý Trời thật là đúng nghĩa.

Chúng ta phải hiểu "nhân định thắng Thiên" là như thế đó, mới đúng lẽ Đạo.

 

 

NHÂN ĐỨC

Đức Thượng Phẩm nói: "Vậy có câu "Dĩ Đức phục nhân" tức nhiên lập Hòa bình bằng nhân-đức; mà chính các vị lãnh-tụ không thực-hành được mảy-may nào cả thì đừng trông chi họ đem hạnh-phúc và đem nguyện-vọng chân-chánh đến cho dân chúng được. Dầu cho phải thay màn như vậy nữa, dân chúng Việt-Nam chắc-chắn không bao giờ đạt vọng được, cũng vì sự bất lực của quyền đời như vậy".

"Ðối với thế gian nầy, nếu có phương chước, có Bí pháp thì duy lấy Nhân đức trị nó mà thôi. Hung bạo của đời nầy không lấy hung bạo trị đặng, duy lấy đạo đức tinh thần trị mới đặng".

 

 

NHÂN GIẢ KỲ THIÊN ĐỊA CHI ĐỨC, ÂM DƯƠNG CHI GIAO, QUỈ THẦN CHI HỘI, NGŨ HÀNH CHI TÚ KHÍ DÃ

, ,
,

Sách Lễ Ký, lễ vận IX nói: Người là cái đức của trời đất, sự giao hợp của Âm Dương, sự tụ hội của quỉ Thần, cái khí tinh anh của ngũ hành. Quả thật vậy, khi Thánh nhân hoàn thành chữ viết đã cho thấy chữ Nhân là người gồm có hai nét: nét bên phải là chân Âm, nét bên trái là chân Dương, ấy là do luật "Âm Dương hữu hạp biến sanh" mà ra. Khi người lớn lên là phải làm tất cả cho cái chí của mình được phát huy đầy đủ, là hoàn thành chữ nhất, đó là chí đại là lớn, tức nhiên đã thực hiện được "nhứt nhơn viết đại". Nhưng cái chí đại đó phải thể hiện theo đức của trời, tức là trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý và giữa quán nhân sự, là đã đứng vào hàng tam tài: Thiên-Địa-Nhân. Ấy là con người đứng giữa trời đất, là nhứt đại viết Thiên . Phu-Tử nói rằng: Người quân tử xét cơ Trời mà làm việc "Quân tử kiến cơ nhi tác". Gặp thì thế như vậy, chỉ duy gởi chặc lòng chí thành, xót thương dân chúng như lòng thành khẩn đối với thần linh, thời cuối cùng chắc cũng thụ phúc đó vậy. Xét như thế thì người là tượng của trời đất, quỉ thần, cho nên trong khi khốn đốn, người phải cầu khẩn Thượng-Đế để ban phúc lành cho vậy.

 

 

NHÂN GIAN


E: The world.
F: Le monde.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Bình Dương lập trận sờ sờ,
Cả chư vạn quốc dựng cờ chiến tranh.
Đánh nhau đổ nước nghiêng thành,
Lưu hồng một trận tan tành nhân gian.

 

 

NHÂN HẬU


E: Generous.
F: Genereux.

Nhơn: Lòng thương người mến vật. Hậu: dày dặn, trái với Bạc là mỏng. Nhơn hậu hay Nhân hậu là lòng nhơn từ dày dặn.

Kinh Sám Hối:

"Quấy rồi phải biết ăn năn,
"Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà."

 

 

NHÂN KHẨU

(Nhân là người, Khẩu là miệng) tức là dùng lời nói để truyền đạt tư tưởng, ý nói những nhà thuyết giáo, trong thời đại Đạo này cũng gọi là Thuyết Đạo, Thuyết pháp…

Đức Hộ-Pháp nói: "Từ ngày Bần-Đạo giảng cái Bí pháp ấy, Bần-Đạo vẫn cầu nguyện với Đức Chí-Tôn luôn, bởi vì nó có nhiều điều khó-khăn, những điều mà mình ngó thấy bằng con mắt Thần, lấy cái nhân-khẩu của mình mà tả chẳng hề khi nào đúng chắc đặng. Bần-Đạo thú thật rằng mười phần có lẽ Bần-Đạo tả đặng năm hay bảy phần là nhiều, sợ còn kém hơn nữa."

 

 

NHÂN LOẠI


F: Humanité.

(Nhân là người, loại là loài). Nhân loại là nói chung tất cả loài người có mặt trong Càn khôn vũ trụ, không phân biệt bất cứ một giống dân nào; vì tất cả đều là con của Đức Thượng Đế.

Vào năm 1927, quí ông Tắc, Hậu, Đức hợp nhau tại nhà ông Trần Duy Nghĩa ở đường Hamelin Sài gòn. Ông Hậu thấy trên bàn có tượng bà Jeanne d'Arc. Ông Nguyễn Trung Hậu táy-máy tay sờ mó. Ông vừa đụng vào tượng liền bị giựt nẩy mình. Ông Phạm Công Tắc phò cơ, bà Jeanne d' Are giáng đàn: - La Religion résume en un seul mot: HUMANITÉ. Si vous voulez arriver au but poursuivi que ne faites - vous pour l' Humanité?" (Tôn giáo tóm gọn trong một tiếng: Nhân loại. Nếu các Anh muốn đi đến mục đích mà các Anh đang theo dõi, sao các Anh không có ý tưởng nhân loại?)

Chính sự hiện diện thường xuyên của các Đấng bên cạnh Thập Nhị Thời Quân mà các ông không dám xem thường sứ mạng hoằng giáo Phổ Độ chúng sanh.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện bảo dưỡng khắp nơi,
Phước Thiện lập để cứu đời chúng sanh.
Phước Thiện là phước Trời dành,
Để cho nhơn loại lập thành cửa tu.

 

 

NHÂN LUÂN

人 倫
E: The moral laws.
F: Les lois morales.

Nhơn: Người. Luân: phép tắc ở đời đúng đạo lý. Nhơn luân là những phép tắc ở đời mà con người phải tuân theo để giữ cho nhơn cách và phẩm giá được cao trọng.

Nhơn luân bao gồm Ngũ luân, tức là 5 cách cư xử của con người trong quan hệ gia đình và xã hội.

Thầy dạy: "Các con phải biết trong trời đất, nhơn sanh là con quí của Thầy, nên Thầy hằng để ý lo lường cho chúng con biết hối ngộ, hầu chung hưởng phước lành. Nhơn luân giữ trọn, ấy là mối đạo nhân, lo Thánh đức trau lòng là phương thoát tục".

Kinh Ði Ra Ðường có câu:

"Thân vận-động trong trường thế sự,
"Đạo nhân luân cư xử cùng đời.
"Đòi phen lúc biến khi dời,
"Thân như bèo bọt giữa vời linh đinh."

 

 

NHÂN LỰC


E: The humain force.
F: La force humaine.

Nhơn: Người. Lực: sức. Nhơn lực là sức lao động của con người, sức lực lao động đóng góp của nhơn sanh. Tận nhân lực tri thiên mạng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Còn Tòa Thánh thì Thầy muốn cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý, ấy là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước. "

 

 

NHÂN LỰC - THIÊN LỰC

-

Đức Lý dạy: "Việc tán thành Tân Luật, nếu Thầy để cho Lão, nội trong 2 giờ thì hoàn thành tất cả, ngặt một điều là nếu Lão lập Luật, chẳng một ai trong hàng Đạo hữu hành đạo đặng.

Vì vậy Thầy giao trọn quyền cho chư Đạo hữu lập thành là chủ ý để phần nhân lực vào đó chút ít, rồi lấy huyền diệu làm ra Thiên lực, ấy là một hạnh công bình đó." Đấy cũng là lẽ Công bình thiêng liêng của Tạo hóa, đâu đâu cũng có lý Âm Dương tương hợp.

 

 

NHÂN NĂNG HOẰNG ĐẠO PHI ĐẠO HOẰNG NHÂN

"Ðức Khổng Tử có nói rằng: "Nhân năng hoằng Ðạo, phi Ðạo hoằng nhân." Nghĩa là: Người có thể mở rộng Ðạo, chứ Ðạo không mở rộng được người. Người thì có sự biết (tri giác) mà Ðạo thì vô vi. Nhờ sự biết mà người mới làm cho Ðạo rộng lớn ra, chớ Ðạo tự nó không làm cho người rộng lớn ra được. Bởi vì Ðạo lập thành cái cùng cực của người, mà người là cái khí cụ của Ðạo, cho nên Ðạo và người không lìa bỏ nhau được. Người phải dụng lực làm cho Ðạo thông sáng. Nếu người không dụng lực, cứ muốn để cho cái Ðạo tự nhiên làm cho người ta lên đến chỗ cao minh quảng đại thì không có bao giờ." (Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim)

• Muốn hoằng khai nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn, chúng ta phải làm sao? – Thiết nghĩ, chúng ta phải nói đạo, viết sách báo truyền bá và xiển dương Giáo lý, Triết lý của Ðại Ðạo, rồi dùng các phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến rộng ra như: Báo chí, Truyền thanh, Truyền hình, Băng từ, để cho mọi người đều biết nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn, rồi truyền bá từ trong nước ra khắp các nước ngoại quốc, đủ các sắc dân. (đó là hình ảnh của Cửu Trùng Đài)

• Muốn Phổ Ðộ chúng sanh, phải làm sao? - Sự cứu độ phải có hai mặt: Cứu độ phần xác và cứu độ phần hồn. - Cứu độ phần xác là khi thấy người ta đói thì phải giúp ngay lương thực để cứu đói; khi thấy người ta bịnh hoạn thì phải giúp thuốc men để cứu bịnh; khi thấy người ta rách rưới nghèo nàn thì phải giúp áo quần, mền chiếu; khi thấy người ta thất vọng đau khổ thì phải an ủi khuyên lơn. (Đó là hình ảnh của Phước Thiện)

- Cứu độ phần hồn là phải gieo vào lòng người một sự tín ngưỡng chơn chánh, tin tưởng rằng có Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu là hai Ðấng Cha Mẹ Thiêng liêng của toàn sanh chúng, tin tưởng mỗi người đều có một Linh hồn bất diệt do Ðức Chí Tôn ban cho, tin tưởng có Luân hồi quả báo để lo làm lành lánh dữ, tu thân, lập đức bồi công, giải quả tiền khiên, tiêu trừ nghiệp chướng, để sau khi chết Linh hồn nhẹ nhàng siêu thăng lên cõi Thiêng liêng Hằng sống. Ngoài ra còn phải lo làm đám tang cho người chết, giúp đỡ tang gia trong công việc tẫn liệm, tế lễ và an táng, lo cầu siêu, tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu thăng, đúng theo pháp Đạo, hầu bảo thủ chơn truyền của nền Đại-Đạo (đây là hình ảnh của Hiệp Thiên Đài). Như vậy khi tâm khởi làm việc hay, đạo đức, nhân nghĩa chắc chắn sẽ được sự hộ trì của các Đấng Thiêng liêng, thì mọi việc sẽ chu toàn.

 

 

NHÂN NGHĨA


E: Charity and justice.
F: Charité et justice.

Chiết tự chữ NHÂN NGHĨA:

Hai chữ NHÂN NGHĨA đặt ở mặt tiền Tòa Thánh, trên lầu Hiệp-Thiên-Đài. Phía bên trong lại có đôi liễn nầy giải thích

NHÂN bố tứ phương Ðại Ðạo dĩ Nhân hưng xã tắc,

NGHĨA ban vạn đại Tam Kỳ trọng Nghĩa chấn sơn hà.

Giải thích:

Câu 1: Lòng Nhân đem rải khắp bốn phương, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ lấy đức Nhân làm hưng thạnh nước nhà

(Nhân: lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh. Bố: bày ra. Tứ phương: bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, ý nói khắp các nơi. : lấy. Hưng: làm cho thạnh vượng. Xã Tắc: Thần Đất và Thần Lúa, nghĩa thường dùng xã tắc là quốc gia).

Câu 2: Điều Nghĩa ban cho muôn đời, Đại Đạo Tam

Kỳ Phổ Độ xem trọng điều Nghĩa để làm hưng khởi nước nhà.

(Nghĩa: những việc làm hợp lẽ phải, hợp lòng người. Ban: cấp cho. Vạn đại: muôn đời. Tam kỳ: lần ba, chỉ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Trọng: nặng. Chấn: nhấc lên. Sơn hà: núi sông, chỉ quốc gia).

Tôn chỉ của Nho giáo là NHÂN và NGHĨA. Đạo Cao Đài, với chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, nên lấy hai chữ NHÂN NGHĨA làm tiêu chuẩn cho công cuộc chuyển thế, biến đời hung dữ bạo tàn thành đời thuần lương Thánh đức. Do đó, nơi mặt tiền của Tòa Thánh Tây Ninh, trên lầu Hiệp Thiên Đài, có đắp hai chữ NHÂN NGHĨA 仁義 bằng Hán văn thật lớn, có đèn ống cháy sáng rực vào ban đêm trong các ngày lễ lớn.

"Nói đến Tôn-giáo là nói đến Nhân-Nghĩa, đã là Nhân nghĩa thì Nhân Nghĩa của nhà Phật không thể khác với Nhân Nghĩa của Cơ Đốc, mọi con đường Nhân-Nghĩa đều giống nhau, Nhân-Nghĩa chỉ có kẻ thù là bất Nhân, bất Nghĩa và vô Tôn giáo mà thôi".

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm người Nhơn Nghĩa giữ tròn,
"Muôn năm bóng khuất, tiếng còn bay xa."

HỘT GIỐNG NHÂN-NGHĨA

Trong cửa Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ này đã chủ-trương NHƠN-NGHĨA làm phương-châm phụng-sự. Thế nên Vấn-đề Nhân-Nghĩa là điều tối yếu, tối trọng trong việc tu nhập thế của người Cao-Đài.

Đức Hộ-Pháp nói: "Nước Việt-Nam ở trong khoảnh đất phì-nhiêu nên Tổ-phụ chúng ta biết trọng sanh mạng con cái của Trời, biết nhận nhân-loại là anh em, là cốt-nhục đồng chung mà ra, biết nhìn câu "Tứ-hải giai huynh-đệ". Tổ-phụ ta biết thương yêu nhân-loại bất kỳ là một sắc dân nào. Một nòi giống nào có trí thức cao-minh làm cho loài người đặng hạnh phúc thì Tổ-phụ ta kỉnh trọng tôn thờ vậy. Một nền Tôn-giáo nào đến nước Việt-Nam ta đều được kết-qủa mỹ mãn. Lòng mộ đạo của Tổ-phụ ta trước kia lấy lương-thiện làm căn-bản, lấy NHÂN-NGHĨA làm môi-giới. Cái sự tôn-nghiêm của Tổ-phụ ta từ thử, hiển nhiên chúng ta đã ngó thấy. Trong nước hiện giờ có các Đạo-giáo thanh-liêm chánh-trực đang làm cha mẹ cho dân, có tinh-thần tạo hạnh-phúc cho dân, một trang anh dũng biết bảo-trọng nền quốc-túy, nâng đỡ nước nhà, biết tôn sùng Nhân-Nghĩa. Chúng ta đã ngó thấy Đạo-giáo của chúng ta đem cái Nhơn-Nghĩa làm huờn thuốc liệng vào tâm-lý của loài người là có thể trị đặng cái tinh thần bạo-ngược của họ. Nhơn loại vì qúa ỷ tài ỷ sức, nương theo cái tinh-thần hóa-học mà làm mất cái tinh-thần căn bản nhơn-luân, nên nay ta đem cái đạo Nhơn-Nghĩa mà thức tỉnh loài người đặng cho họ nhìn với nhau vì danh Nhơn-Nghĩa hầu thương yêu nhau, dắt nhau đi đến Chủ-nghĩa Đại-Đồng! Cái nền Nhơn-Nghĩa của chúng ta, nó có thể làm môi-giới cho các chủng-tộc thế-giới. Đạo Nhơn-Nghĩa của chúng ta là một căn-bản quốc-thể của nước Việt-Nam và có thể thành Quốc-Đạo được" (14-4-Mậu-Tý).

Đức Hộ-Pháp viết trong bài Diễn văn ngày 15-07-Nhâm Thân (dl: 16-08-1932).

Nhơn nghĩa! Nhơn nghĩa! Hai chữ ấy từ trước đã đủ quyền lực giúp đời, đồ vương định bá cũng đã nhiều.

- Hạ Kiệt có vô đạo thì Thương Thang mới thâu cơ nghiệp với danh nhơn nghĩa.

- Thương Trụ có vô đạo thì Châu Võ mới thâu cơ nghiệp với danh nhơn nghĩa.

- Châu U có vô đạo thì chư Hầu mới có xưng vương lập bá với danh nhơn nghĩa.

- Lục quốc có vô đạo thì Đinh Tần mới thống nhứt nhờ danh nhơn nghĩa.

- Đinh Tần có vô đạo thì Hớn Bái Công mới đoạt đặng thiên hạ cũng nhờ danh nhơn nghĩa.

- Hớn Hiến Đế cô thế nên Ngụy Tào mới đoạt nghiệp với danh Nhơn nghĩa vv.

Cơ quan Nhơn Nghĩa nó mạnh mẽ biết chừng nào mà thế gian chẳng mời cầu sao đặng. Nhưng mà bậc trí nhơn chưa để cho ai dối dụng phương pháp ấy cùng mình.

Gia Cát điếu Châu Du, duy Phụng Sồ không đổ lụy. Vì cớ mà tệ đệ bụm miệng bịt tai, ngồi làm thinh coi hành vi quỉ quyệt của người đặng cười, gọi là thú vị riêng của tệ đệ.

Tệ đệ chỉn lo ngại có một điều là mặt Chơn Đạo của Chí Tôn nó giúp thêm cho hai chữ Nhơn Nghĩa của Nho Tông mà làm thành một ngọn binh khí diệu huyền không ai thắng họ nổi.

May thay cái danh Đạo của kẻ gian quả nhiên giả tướng nên tệ đệ đem mặt Chơn Đạo ra đây đặng đấu báu giữa tòa sanh chúng.

 

 

NHÂN PHẨM


E: The human dignity.
F: La dignité humaine.

Nhơn phẩm là bực người, bực nhơn loại. Nhơn phẩm cũng có nghĩa là phẩm cách của con người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đạo là con đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi.

 

 

NHÂN QUẢ (Phật Học)


E: Cause and effect.
F: Cause et effet.

(Nhân là hạt giống, cái mầm, có năng lực tác động. Quả là trái, kết quả, là sự hình thành). Nhơn quả 因果 là Nguyên nhân và kết quả. Mỗi hiện tượng đều có nguyên nhân của nó. Hễ có nguyên nhân tất nhiên sẽ có kết quả tương thích với nguyên nhân ấy, đó là luật "nhân nào quả nấy". Luật nhân quả không bị hạn chế bởi thời gian, có khi nhanh, cũng có khi chậm. Có nhiều loại nhân quả:

- Nhân quả hiện tại gọi là Hiện báo : Nghiệp nhân trong đời này đưa đến quả báo ở hiện kiếp.

- Nhân quả trong hai đời gọi là Sanh báo : Đời trước tạo nhân đời nay mới thọ quả. Đời này gây nhân đời sau nhận quả.

- Nhân quả trong nhiều đời gọi là Hậu báo : Từ rất nhiều đời trước gây nhân, đời nay mới gặt quả, hoặc đời này tạo nhân nhưng mãi nhiều đời sau mới thọ quả.

Nhân quả là "nguyên nhân và kết quả"; trong Thiền Tông – một tông phái với một cơ sở siêu thời gian và không gian, đặc biệt chú trọng đến kinh nghiệm trực nhận – người ta thường sử dụng câu "Nhân quả nhất như" 因果一如; nghĩa là nhân quả là một Nghiệp. Phân tích chữ Nhân thấy có hai phần: bên trong là chữ đại là lớn, bao bọc bởi bộ vi là vây quanh. Ví như một hột xoài, hột ổi hay hột cải nó chứa đựng bởi một lớp vỏ có nhân bên trong. Nhưng ai biết được khi thành cây sức nó lớn cỡ nào? Còn khi có quả sẽ ra sao? Chắc chắn một điều là trồng cây gì sẽ ra quả nấy. Hễ trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu. Thánh nhân nói "Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu" là vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Nhân" nghĩa là ta đã có làm điều chi thì "quả" của nó trả lụng lại. Cái Luật Nhơn Quả ấy nó là căn kiếp sống của ta. Cái triết lý của nhà Phật từ thử tới giờ chưa có một vị Giáo chủ nào đã đọat Pháp mà biết cái bí ẩn Thiêng liêng của luật Thiên nhiên kia một cách chánh đáng như thế, chơn thật như thế, có một điều chính mình trong sự luân hồi quả kiếp ấy, Đại Từ Phụ làm chứng trong thơ của Ngài:

Đài Vân Quan Võ để Phong Thần,
Còn của Thầy đây để nhắc cân.
Muôn phước ngàn lần không sót một,
Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần".

Nói như thế đó, chính mình Đại Từ Phụ đã nói rằng: Quả kiếp Nhơn quả của con người luật ấy hiển nhiên vẫn có thiệt vậy".

Kinh Giải Oan có câu:

"Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,
"Mới gây nên nhân quả nợ đời.
"Rảnh mình đâu đặng thảnh-thơi,
"Thiên cung lỡ lối chơi-vơi cõi trần."

 

 

NHÂN QUẦN

Nhân: con người. Quần: bầy, đám đông người, quần chúng

Thầy dạy: "Thầy khen đạo tâm của hai con. Trước, Thầy chỉ biểu hai con cứu bịnh trong đạo hữu mà thôi, là vì Thầy có ý để cho hai con liệu mà đối đãi với nhân quần. Lòng nhân của hai con mà Thầy vốn rõ rất hạp với tánh háo sanh của Tạo hóa. Chẳng những phải cứu trợ kẻ ngoại Ðạo mà lại cứu kẻ nghịch cùng mình trong cơn nguy biến.".

 

 

NHÂN SANH

Thi văn dạy đạo có câu:

Chí bửu nhân sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.

 

 

NHÂN SANH QUAN

生 觀
E: Philosophy of life.
F: Conception de la vie.

Nhơn: Người. Sanh: sống, đời sống. Quan: xem xét.

Nhơn sanh quan hay Nhân sinh quan là một hệ thống tư tưởng triết học xem xét về nguồn gốc của con người, sự sống và sự chết, về mục đích và ý nghĩa của đời sống con người (cái quan niệm của người ta đối với đời người).

Về Nhân sanh quan, Triết học phân ra 2 nhóm có tư tưởng đối lập nhau:

- Nhơn sanh quan Duy Vật do hai Triết gia Marx và Engels chủ trương, không công nhận con người có Linh hồn, đưa đến thuyết Cộng Sản Vô Thần.

- Nhân sanh quan Duy Tâm do các Triết gia Socrate, Platon, Hégel,... và nhất là các nhà tôn giáo, công nhận con người có một Linh hồn bất diệt, đưa đến thuyết Tư Bản Tự Do.

 

 

NHÂN SANH Ư DẦN

Thầy sanh loài người ra, nhằm ngày Dần "Nhân sanh ư Dần".

Quyển "Đạo Mạch Truy nguyên" của Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu biên soạn, thì trong Tý thời ngày mùng Một tháng Giêng năm Bính Dần, Thầy khởi khai nguồn Đại Đạo, lấy hiệu là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ".Còn Ngài thì tá danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" rồi Ngài giải rõ trong danh hiệu của Ngài gồm đủ Tam giáo: Nho-Đạo-Thích. Thế nên Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ khai nhằm giờ Tý, ngày mùng 1 tháng 1 năm Bính Dần là do nơi đó".

Đạo Cao-Đài lấy giờ 01, ngày 01, tháng 01, năm Bính Dần (dl: 13-02-1926) làm Kỷ nguyên Đạo lịch của Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Như thế năm Bính Dần là năm Đạo lịch thứ nhứt.

Hơn nữa năm Dần là năm thứ 3 (Tý, Sửu, Dần) là một sự tròn đầy. Nếu số 1 là số Trời "Thái Dương" thì số 3 là số của người "Thiếu Dương" Thiên nhơn tương hợp nên nói "một mà ba, mà ba cũng là một". Số 3 tượng là CÀN "Tam Dương khai thái" là hình tam giác đều, tượng Tam giáo. Ngày giờ này Đức Chí Tôn khởi lập Đại-Đạo, Tôn chỉ "Qui Tam giáo" thì Thầy đứng chủ trung Qui Nguyên Hiệp Nhứt mà thôi.

Trước mặt ba vị: Cao Quỳnh Cư - Phạm Công Tắc - Cao Hoài Sang. Ngài hỏi rằng: "Thầy muốn dùng các con mà khai Đạo, các con có dám lãnh trọng-nhậm ấy chăng?".

Ba ông bạch rằng: "Trong các con từ bé chí trưởng, chẳng thông Đạo lý chi, duy nhờ Đức Chí-Tôn dạy bảo bấy lâu, thì sự biết chưa đặng trong muôn một, e cho chẳng xứng đáng mà lãnh trách-nhậm lớn lao ấy". Đức Ngài nói rằng:

"Chi chi có Thầy gần bên các con, miễn là các con khứng chịu, gắng để trọn tấc lòng, thì chẳng hề chi."

Khấn vái xong rồi thì vào nhà phò loan, Đức Chí Tôn giáng dạy như vầy: "Thầy cho các con hiểu rằng: Buổi tạo Thiên lập Địa, Thầy sanh loài người ra, nhằm ngày Dần "Nhân sanh ư Dần". Vậy từ đây, Thầy dùng các con, làm tay chơn, mà gầy dựng nền Chánh-giáo. Lại cũng kể ngày nay là ngày phát khởi nguồn Đại-Đạo, lấy hiệu Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, còn Thầy thì Tá-danh Cao-Đài Tiên-Ông Đại Bồ-Tát Ma Ha-Tát." Đấng ấy đã thật sự đến dạy Đạo tại phương Nam.

 

 

NHÂN SĨ

人 士
E: The hight personality.
F: Le haute personalité.

Nhân sĩ 人士: Những người có học vấn, có kiến thức trong đám nhân dân.

Đức Hộ-Pháp ban thi cho Ngài Bảo-Thế Lê-Thiện Phước, Đàn đêm 06-02-Ất Tỵ (dl: 08-03-1965):

Quyền uy nhờ bởi giữ chơn truyền,
Chưởng đức dụng hiền mộ Thánh Tiên.
Quản quán chúng sanh tu cội phúc,
Hiệp hào nhân sĩ hưởng tiền duyên.

 

 

NHÂN SỰ

人 事
E: Human affairs.
F: Affaires humaines.

Nhân sự人事: Những việc làm của con người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển trang 102 có đoạn: Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng hễ vào đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện-đạo. Thầy nói cho các con biết nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thế nào các con luyện thành đặng đâu mà mong.

 

 

NHÂN TÀI

Nhân tài 人才: Tài năng của mọi người, người có tài

Đức Hộ Pháp xướng: Nhắn Bạn Quyền Giáo Tông

Nhơn tài nẩy nở tuy trăm bụng,
Dân trí biến sanh bởi một đầu.
Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận,
Cuộc cờ thắng bại tận phao câu.
                        (11-9-Bính Tuất 1946)

 

 

NHÂN TÂM BẤT TÚC XÀ THÔN TƯỢNG,
THẾ SỰ ĐÁO ĐẦU ĐƯỜNG BỘ THIỀN

不足

Thánh nhân có câu: "Nhơn tâm bất túc xà thôn tượng, Thế sự đáo đầu đường bộ thiền." nghĩa là: Lòng người chẳng đủ như rắn nuốt voi, Việc đời đến lúc cùng tận chẳng khác châu chấu bắt ve. Cũng vì lòng tham muốn mà rốt cuộc mạnh yếu sang hèn tương tàn tương sát."

 

 

NHÂN TÂM SANH NHỨT NIỆM THIÊN ĐỊA TẤT GIAI TRI

Thánh nhân nói: "Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên địa tất giai tri" có nghĩa là khi người khởi một niệm trong lòng thì trời đất đều nghe, thấy, biết tất cả, không sai sót điều gì.

Đức Hộ-Pháp nhắc "Từ đây chư Chức Sắc và Chức việc cùng Ðạo-hữu nam, nữ gắng thành tâm cầu nguyện cho nền Ðạo và cơ Ðời được an ninh trật tự, kể từ ngày nay cho đến Tân Xuân đầu năm Ðinh Hợi thì sẽ thấy sự tiến hóa phi thường và huyền linh mầu nhiệm, nếu toàn cả quốc dân mà đủ lòng tín nhiệm với quyền hành Chánh-trị Thiêng-liêng, hiệp nhứt tâm cầu nguyện, thì cơ loạn lạc sẽ trở nên an ninh trật tự, Ðời sẽ được cộng hòa chung hưởng mọi điều hạnh phúc."

 

 

NHÂN TIÊN

Là người đạt hàng phẩm thứ nhì trong hàng Tiên vị. Trong Tôn giáo Cao-Đài về đối phẩm thì Nhân Tiên là đứng vào phẩm Giáo Sư thuộc Cửu Trùng Đài. Bởi hàng Tiên vị có ba phẩm, từ thấp đến cao, có:

- Giáo Hữu

 

đối phẩm

 

Địa Tiên

- Giáo Sư

 

đối phẩm

 

Nhân Tiên

- Phối Sư

 

đối phẩm

 

Thiên Tiên.

Tại Ngọc Ðàn (Cần Giuộc) [Vĩnh Nguyên Tự]

Thứ bảy, 17-7-1926 (âl: 08-6-Bính Dần)

Thầy dạy: "Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng. Như rủi bị huờn, thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d'électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn. Vì vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo".

 

 

NHÂN TÌNH

人 情
E: The human feelings
F: Les sentiments humains.

Nhơn: Người. Tình: tình cảm. Nhơn tình là tình cảm của con người (tình người: tình đối đãi giữa con người với nhau).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nhơn tình ví chẳng mưu thâu phục.

 

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI

E: The human feelings and manners of times.
F: Les sentiments humains et les mœurs du temps.

Nhơn: Người. Tình: tình cảm. Thế thái: thái độ, thói đời đổi trắng thay đen. Nhơn tình thế thái là tình người hay thay đổi.Thành ngữ nầy dùng để than thở cho tình người thường thay đổi, còn thói đời thì đen bạc, cuộc đời đáng bi quan.

 

 

NHÂN TỪ


E: The universal love.
F: L’amour universel.

Nhân từ 仁慈: có lòng đạo đức biết thương người.

Thầy dạy: "Thầy chưa hề biết hành phạt các con bao giờ. Từ khai Thiên Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một ông Cha nhân từ thế quá lẽ làm cho đến đỗi con cái khinh khi, phản nghịch lại cũng như Kim Quan Sứ là A-Tu-La, Thánh-giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên Cung. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn-nàn trách cứ Thầy thay! Tình trạng của các Đẳng Chơn-Linh đã đoạt-vị trong Càn Khôn Vũ Trụ chịu nạn khảo-thí do nơi Kim-Quan-Sứ. Kim-Quan Sứ đã đặng Đức Chí-Tôn cho làm Giám Khảo kỳ thi Hạ Nguơn Tam-Chuyển qua Thượng Nguơn Tứ-Chuyển này. (Trích Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống)

 

 

NHÂN THÂN


F: le corp humain.

Nhân thân 人身: thân thể con người.

"Cái học về Thế-Đạo hay Nhơn-đạo thì có Nhân luân và Nhân thân: Nhân-luân tạo nên qui-củ, phép khuôn, phương thức sống. Nhân-thân là y-học, sống khỏe, sống mạnh, sống lâu, ấy là lo về cái sống xác thân. Những qui-luật này có liên-hệ nhau chặc-chẽ để TINH- KHÍ- THẦN được hiệp nhứt".

 

 

NHÂN THÂN PHÀM NGỮ

(Nhân là con người, thân là thân thể, phàm ngữ là ngôn ngữ phàm) Đức Chí-Tôn chỉ cho thấy rõ Thầy và các Đấng Thiêng Liêng không có xác thân hữu hình và tiếng nói như của người phàm; vì các đấng là vô hình, vô ảnh, vô thinh, vô sắc

Thầy nói rằng:"Thầy cùng các Ðấng Thiêng liêng không nhơn thân phàm ngữ, thế nào mà thông công cùng cả chúng sanh, lại còn cao khó vói, khuất không rờ, chỉ nhờ lương sanh giúp công gầy đạo đức. Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài là người giúp công cho Thầy và các Ðấng Thiêng Liêng gầy Ðạo".

 

 

NHÂN VỊ

位 人
E: Personalism.
F: Personnalisme.

Nhơn: Người. Vị: phẩm vị, địa vị. Nhơn vị hay Nhân vị là phẩm vị và tư cách của con người, tạo nên một giá trị đặc biệt cho con người.

Nhân vị là ngôi thứ của con người trong vũ trụ, và là cái gì tạo ra phẩm giá cao quí của con người để xứng đáng đứng ở ngôi vị ấy.

Chủ nghĩa Nhân vị là một trào lưu triết học, chủ trương con người có trách nhiệm (Nhân vị), là giá trị cao nhất trên các giá trị khác. Con người là những bản thể tinh thần chi phối vật chất. Toàn bộ thế giới tự nhiên và xã hội là một cộng đồng Nhân vị mà Thượng Đế là Nhân vị tối cao.

Chủ nghĩa Nhân vị đặt trên nền tảng Chủ nghĩa Duy Linh, gồm 3 nội dung cơ bản sau đây:

1. Nhân vị là một khái niệm dùng để chỉ con người, và con người ở đây gồm có Thể xác và Linh hồn, mà Linh hồn giữ vai trò quyết định đối với Thể xác, là linh thiêng, là bất tử.

2. Nhân vị nói lên thái độ của chủ nghĩa Nhân vị đối với con người. Với nghĩa nầy, chủ nghĩa Nhân vị là triết lý tự nhận, coi trọng con người trên cơ sở xác định vị trí cao cả của con người trong vũ trụ.

3. Chủ nghĩa Nhân vị còn bao hàm ý nghĩa mưu cầu hạnh phúc cho con người, tức là cho nhân vị, từ đó tạo hạnh phúc cho cả nhơn loại.

Tất cả hành động của con người trong mọi lãnh vực trong đời sống đều nhằm vào việc phục vụ Nhân vị, nghĩa là gây hạnh phúc cho mình và cho mọi người. Muốn đạt được mục đích ấy, ta phải trở về nội tâm để chiến thắng vị kỷ tính và ác tính của mình, xây dựng cho mình và cho người tư tưởng và hành động sau đây: Tôn trọng nhân phẩm và tạo hạnh phúc cho nhơn loại. Vì vậy, chủ nghĩa Nhân vị chú trọng cả tinh thần và vật chất, và cho rằng cả hai phần tinh thần và vật chất đều cần thiết, chớ không như thuyết Duy Vật chỉ chú trọng về vật chất và thuyết Duy Linh chỉ chú trọng phần linh hồn.

Chủ nghĩa Nhân vị gắn liền với Thần học Tân giáo, được phổ biến rộng rãi ở nước Mỹ, đại diện tiêu biểu là: E.S. Bright-man, R.T. Flewelling, chịu ảnh hưởng của Leibniz.

Theo Leibniz, vũ trụ gồm những đơn tử hay monaden, là những bản thể tinh thần độc lập, vật chất chỉ là một biểu hiện của chúng, Thượng Đế là một đơn tử tối cao.

Ở nước Pháp, chủ nghĩa Nhân vị có một biến tướng khác, do Renouvier đề ra vào năm 1903, và nó được Mounier xây dựng thành một học thuyết hoàn chỉnh, chống lại chủ nghĩa quốc gia và các chế độ cực quyền. Nó tập hợp nhiều trào lưu Ki-Tô giáo cánh tả để làm cách mạng tôn giáo, kết hợp Công giáo với chủ nghĩa xã hội.

 

 

NHẪN (Phật Học)

Nhẫn (S: kṣānti; P: khanti) Một trong mười hạnh Ba-la mật-đa (Lục độ). Nhẫn nhục có nghĩa kiên trì chịu đựng sự căm ghét hay phỉ báng của kẻ khác, chịu sự khổ ải mà không mất đạo tâm tinh tiến".

Phân tích chữ nhẫn thấy trên là chữ Đao (con dao) dưới là bộ tâm (tim), tức nhiên sự nhẫn là cách chịu đau đớn như lấy dao đâm vào tim vậy.

Thầy dạy: "Con gấp chi, đợi an bày thì Thầy sai chư Tiên cho chi cũng được. Thầy nhắc lại các con nữa rằng: NHẪN, NHẪN, tự khiêm mà làm Đạo nghe! Nên biết người hơn biết mình là kẻ trí đó".

CHỮ "NHẪN" TRONG KINH PHẬT

Huỳnh Ngọc Chiến:

Chữ nhẫn từ ngàn xưa, trong văn hóa phương Đông, vẫn luôn được ca ngợi là phương châm thần hiệu trong việc đối nhân xử thế, là cánh cửa dẫn đến mọi đức hạnh. Dân gian ta thường nói "Một câu nhịn là chín câu lành" hay "Chữ nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu". Người Trung Quốc có rất nhiều câu thơ ca ngợi diệu dụng của chữ nhẫn.

"Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh
Thoái nhất bộ hải khoát thiên không"

(Nhịn được cái nóng nhất thời thì gió lặng sóng yên;
Lùi lại một bước nhường người thì biển trời bát ngát)

hay:

"Nhẫn đắc nhất thời chi khí
Miễn đắc bách nhật chi ưu"

(Nhịn được cơn giận một lúc,
Tránh được lo lắng trăm ngày).

Có một giai thoại vào đời Đường, gia đình ông Trương Công Nghệ sống cả 9 thế hệ trong cùng một nhà (cửu đại đồng đường). Vua bèn đến nhà ông ta hỏi có bí quyết gì, Trương Công Nghệ liền viết liền một trăm chữ "Nhẫn" dâng lên, vua đọc liền hiểu.Vì sao chữ nhẫn lại có giá trị đến vậy?

Trong đời sống thường ngày, chữ nhẫn thường được hiểu là "nhịn" và "nhường", chịu đựng nghịch cảnh, chấp nhận phần thua thiệt, mất mát về mình. Trong đời sống tôn giáo, chữ nhẫn thường được hiểu là sự tự chủ về tinh thần, đối với những sự sỉ nhục mà trong lòng không hề giận cũng không khởi tâm niệm trả thù. Chính vì vậy mà trong nhiều trường hợp, người ta thường hay lầm lẫn nó với sự nhu nhược, cam chịu một cách thụ động, hoặc hiểu nó là sự tự chủ với cảm giác cố gắng đè nén, kiềm chế để tu tập. Nếu chỉ có thế thì chữ nhẫn không thể có vị trí cực cao trong đời sống tinh thần của người phương Đông được. Cũng như bao đức tính khác, nếu không được hiểu đúng thì chữ nhẫn lại trở thành cái vỏ bọc hoa mỹ cho sự vô minh, cho lòng tham, hoặc là thái độ tự dối lừa mình.

Có khi chúng ta nhẫn vì tình thế, có khi chúng ta nhẫn vì lòng có sở cầu. Nhẫn vì tình thế là nhu nhược, nhẫn vì sở sầu là tham lam.

Tô Đông Pha đời Tống bàn về Trương Tử Phòng – một nhân vật tài trí kiệt xuất thời Tiền Hán ở Trung Quốc – nói rằng: "Kẻ được gọi là hào kiệt thời xưa, tất phải có khí độ hơn người. Nhân tình có chỗ không thể nhịn được, nên kẻ thất phu gặp nhục thì tuốt gươm đứng dậy, xông tới mà đánh. Cái đó chưa đủ gọi là dũng. Bậc đại dũng trong thiên hạ, gặp những biến cố bất ngờ mà không kinh hoảng, vô cớ bị lăng nhục cũng không nổi giận". (Lưu hầu luận)

Đó là cái nhẫn của kẻ ôm hoài bão lớn hoặc trong lòng có sở cầu mà chúng ta thấy rất nhiều trong lịch sử. Hàn Tín biết mình thân hoài tuyệt học, không thể mang lụy vô cớ vì một kẻ hạ lưu, nên chấp nhận cái nhục lòn trôn giữa chợ để sau này đem tài năng thi thố với đời. Trương Tử Phòng chấp nhận để một ông lão xa lạ mắng chửi, sai bảo như một kẻ tôi đòi để rồi được truyền thụ binh pháp. Câu Tiễn nhẫn nhục nằm gai nếm mật để mong đến ngày tiêu diệt nước Ngô. Những cái nhẫn đó, dù được ca ngợi như những tấm gương đáng để học hỏi, đều là những cái nhẫn hoàn toàn vì tư lợi, vì chính bản thân mình.

Có nhiều khi ta buộc phải chấp nhận một cách nhu nhược những tình huống bất khả vãn hồi, nhưng ta lại dùng đến vũ khí "thắng lợi tinh thần" theo kiểu nhân vật A.Q của Lỗ Tấn để an ủi mình, để tự lừa mình bằng những hoang tưởng. A.Q là một kẻ bất tài vô tướng, sống bằng nghề làm thuê làm mướn trong làng, nhưng lại luôn luôn tự xem mình giỏi giang hơn thiên hạ. Bị người ta đánh đập, chửi mắng thì dùng thái độ khinh bỉ đối phương để đỡ đau, và tự nhủ "Nó đánh mình cũng như đánh bố nó!". Đó là sự bạc nhược đớn hèn, không thể gọi là nhẫn. Chúng ta thường tự lừa mình bằng những suy nghĩ cao đạo kiểu đó, và cho đó là nhẫn!

Trong kinh Phật, chữ nhẫn lại mang thêm một ý nghĩa thâm ảo khác. Nó hoàn toàn khác với chữ nhẫn của những người mang tham vọng hay lòng có sở cầu. Ta thường quen với khái niệm chữ nhẫn trong Nhẫn nhục Ba la mật, một trong Lục độ, có nghĩa là cam chịu mọi nghịch cảnh để tu tập với thân nhẫn, khẩu nhẫn và ý nhẫn. Thế nhưng trong chươngThập nhẫn của kinh Hoa Nghiêm, đức Phật lại nêu ra mười loại nhẫn xem như là cảnh giới chứng đắc thâm diệu của đại bồ tát; đó là: âm thanh nhẫn, thuận nhẫn, vô sanh pháp nhẫn, như huyễn nhẫn, như diệm nhẫn, như mộng nhẫn, như hưởng nhẫn, như ảnh nhẫn, như hóa nhẫn, như không nhẫn. Một điều rõ ràng là ta không thể hiểu chữ nhẫn trongNhẫn nhục Ba la mật giống như chữ nhẫn trong thập nhẫn được.Thông thường chúng ta hiểu nhẫn trong kinh Phật theo nghĩa "kiên nhẫn, nhẫn nhục, nhẫn nại". Tác giả Giải Không cũng hiểu chữ nhẫn theo nghĩa đó, nghĩa là cam chịu bao khốn cảnh để cứu độ chúng sinh, nên khi chú giải câu kinh văn đầu tiên của phẩm Thập nhẫn: "Phật tử! Bồ Tát ma ha tát hữu thập chủng nhẫn (Này các Phật tử! các đại bồ Tát có mười loại nhẫn), tác giả này liền bình chú ngay : "vị điều chúng sinh, hà nhẫn bất năng?". (Vì muốn điều phục chúng sinh, có nhẫn nào mà không thực hiện được?) (1). Song có nên hiểu nhẫn như thế chăng?Ta thử trích một đoạn kinh văn trong phẩm Thập nhẫn nói về vô sinh pháp nhẫn :"Chư Phật-tử! Thế nào là đại Bồ-Tát vô-sanh-pháp nhẫn?

Ðại Bồ-Tát nầy chẳng thấy có chút pháp nào sanh, cũng chẳng thấy có chút pháp nào diệt. Tại sao vậy? Vì nếu đã vô-sanh thời vô-diệt. Nếu đã vô-diệt thì vô-tận. Nếu vô-tận thời ly-cấu. Nếu ly-cấu thời vô-sai-biệt. Nếu vô-sai-biệt thời vô-xứ-sở. Nếu vô-xứ-sở thời tịch-tịnh. Nếu tịch-tịnh thời ly-dục. Nếu ly-dục thời vô-tác. Nếu vô-tác thời vô-nguyện. Nếu vô-nguyện thời vô trụ. Nếu vô-trụ thời vô-khứ vô-lai. Ðây gọi là thứ ba, vô-sanh-pháp-nhẫn của đại Bồ-Tát." (2).

Pháp nhẫn hay vô sinh pháp nhẫn là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong kinh điển Đại thừa, và đã khiến các học giả phương Tây gặp không ít lúng túng khi dịch thuật ngữ này. Trong đoạn kinh văn trích ở trên thì ý nghĩa chữ nhẫn không hề có liên quan gì vớinhẫn nhục mà ta thường hiểu. Theo đại sư Suzuki, sau đây là một vài cách dịch "vô sinh pháp nhẫn" của các học giả phương Tâyv - M.E Burnouf, trong bản dịch kinh Pháp Hoa — Saddharmapundarīka — ra tiếng Pháp đã dịch là : "Une patience miraculeuse dans la loi" (Sự kiên nhẫn kỳ diệu trong chánh pháp).v- Max Muller trong bản dịch kinh Vô Lượng Thọ -Sukkhāvatīvyūya — (S.B.E XLIX.), dịch là "Resignation to consequences which have not yet arisen" (Sự nhẫn thuận theo các quả chưa sinh khởi).v - Cecil Bendall và W.H.D Rouse trong bản dịch tiếng Anh cuốn "Bồ Tát Đại thừa học tập luận" -Śikshasamuccaya- của Śantideva (Tịch Thiên) dịch là :" Resignation to the idea of not being reborn" (Sự nhẫn thụ trước ý tưởng không tái sinh)v - H. Kern trong bản dịch kinh Pháp Hoa (S.B.E XXI.) dịch là "Acquiessence to the eternal law" (Sự thuận tòng pháp tắc thường hằng) (3).Ngoài ra, ta thử tham khảo một vài cách dịch khác như :v - Tỳ khưu Dharma, trong bản dịch tiếng Anh cuốn Bồ đề tư lương luận — Bodhisaṃbhāraka Sāstra Commentary của Long Thọ Bồ Tát — đã dịch là "unproduced dharmas patience". Cách dịch này bám sát từng chữ trong tiếng Phạn nên rất tối nghĩa,unproduced: vô sinh, dharmas: pháp, patience: nhẫn., trong bài Buddha’s Love and Human Love, (Chung-Hwa Buddhist Journal, No. 13, 2000) dịch là : "the ultimate insight that nothing arises or perishes ": kiến giải tối hậu về sự bất sinh bất diệt của vạn pháp.

- Mục thuật ngữ Phật học tại Website http://www.buddhistdoor.com/glossary dịch là "Clear cognition of the unproduced nature of all existences; to realize that all things are beyond birth and decay": minh đạt bản chất bất sinh của vạn hữu; liễu giác được rằng vạn hữu siêu quá sinh diệt.

- Tự điển Phật học (Dictionnaire des termes Bouddhiques) dịch là : "Etape où l’on perçoit que rien ne naît ni ne meurt dans le monde des phénomènes (compréhension de la non-production et de la non-destruction du monde phénoménal)": giai đoạn nhận thức được rằng không có gì sinh hay diệt trong thế giới hiện tượng (liễu chứng được tính bất sinh bất diệt của vạn hữu).

Chúng ta dễ thấy trong hầu hết các cách dịch trên, ý nghĩa chữ nhẫn trong các loạinhẫn được liệt kê trong phẩm Thập nhẫn dường như chẳng có liên quan gì đến các khái niệm patience hay resignation theo nghĩa "kiên nhẫn, nhẫn nại, nhẫn nhục" của phương Tây cả. Các cách dịch "Acquiessence to the eternal law", "compréhension de la non-production et de la non-destruction du monde phénoménal ", hoặc "Clear cognition of the unproduced nature of all existences; to realize that all things are beyond birth and decay" v.v…, hay đúng hơn là những lời chú thích, biểu đạt được khá sát nội dung của chữ nhẫn theo tinh thần kinh văn.

Tôi không biết tiếng Phạn, nhưng biết rằng chữ nhẫn trong nhẫn nhục hay vô sinh pháp nhẫn chỉ là một, và đều được dịch từ chữ Kṣānti trong Phạn ngữ. Điều này đòi hỏi chúng ta phải hiểu chữ nhẫn theo một nghĩa khác rộng hơn. Chỉ khi nào hiểu được chữ nhẫntrong thập nhẫn thì ta mới có thể hiểu được nội hàm sâu xa trong Nhẫn nhục ba la mật.

Tinh hoa của chữ nhẫn của đạo Phật nằm trong chữ TUỆ để hóa giải tam độc: tham – sân – si.

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân loại, đỉnh cao của chữ nhẫn của đạo Phật kết tinh trong tinh thần đấu tranh bất bạo động của thánh Gandhi. Đây là cuộc đấu tranh mang tính nhân bản vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Có thể dùng bạo lực để đối kháng nhưng không đối kháng, vì muốn dùng tình thương để cảm hóa cái ác. Đó là bi trong nhẫn. Thản nhiên cam chịu bao nghịch cảnh, đó là dũng trong nhẫn. Hiểu rằng nếu chỉ có đấu tranh theo tinh thần bất bạo động, lấy "tình thương xóa bỏ hận thù" của đạo Phật mới có thể thực sự giải phóng được tâm thức nhân gian ra khỏi vòng luẩn quẩn của vô minh và thù hận; đó là tuệ trong nhẫn.

Khi còn bé, chúng ta có thể đánh nhau bươu đầu sứt trán để giành cho được một con dế. Đến lúc trưởng thành, khi hồi tưởng lại, ta sẽ xem chuyện tranh chấp những con dế ngày xưa là vớ vẩn trẻ con. Thế nhưng trong cuộc sống, ta vẫn cứ tiếp tục tranh chấp để giành giật, không chịu nhường bước trước bất kỳ ai, chỉ khác một điều là chúng ta thay con dế của tuổi thơ bằng những "con dế" khác mang tên tình yêu, sự nghiệp, danh vọng, tiền tài, địa vị … Đến lúc đứng tuổi, ta lại thấy chuyện tranh chấp thời trai trẻ không đáng để bận tâm nữa. Nếu như tại thời điểm tranh chấp của thời thơ ấu mà chúng ta có được cái nhìn của người trưởng thành, hay tại thời điểm tranh chấp của thời trưởng thành mà chúng ta có được cái nhìn của bậc lão niên thông tuệ, thì hẳn ngay lúc tranh chấp đó ta sẽ thấy mọi chuyện đều vụn vặt buồn cười. Và ta dễ dàng bỏ qua với nụ cười khoan dung hỷ xả, và vui vẻ nhường người. Vậy chữ nhẫn của Phật giáo là phương châm giúp ta tránh được sự tranh chấp, không phải chỉ vì muốn nhường nhịn theo kiểu "dĩ hòa vi quý" hay nhẫn nhục để tu hành, mà vì ta có được cái nhìn sâu thẳm vào bản chất "như huyễn, như diệm, như mộng, như hưởng, như ảnh, như hóa, như không" của vấn đề mà ta đang đối mặt. Cái nhẫn được dùng để đối trị với si theo cách đó mới chính là nhẫn theo tinh thần Phật giáo. Nó là kết quả của trí tuệ. Vì kẻ trí quán sát được vấn đề y như thực, một điều mà ta phải mất đến mười năm hoặc vài mươi năm sau, khi hồi tưởng lại mới có thể nhận ra, nếu may mắn gặp được cơ duyên.

Thông thường, nhẫn dùng để đối trị với sân trong quá trình tu học. Nóng giận là một cảm xúc rất dễ bộc phát, nhưng lại rất khó kiềm chế. Nhan Hồi – một cao đệ yểu mệnh của đức Khổng Tử – được hậu nho ca ngợi, tôn xưng là á thánh cũng nhờ vào ba chữ "Bất thiên nộ", có nghĩa là "không giận lây" theo kiểu "giận cá chém thớt". Khi ta dùng nhẫn để kiềm chế được sân, thì đó là sự dũng mãnh tự thắng được mình. Nó đòi hỏi đến công phu hàm dưỡng cực kỳ thâm sâu. Nhẫn được như vậy là dũng, nhưng vẫn còn cảm giác tự kiếm chế. Nhẫn mà còn có cảm giác tự kiềm chế, thì chưa phải là nhẫn theo tinh thần Phật giáo.

Mỗi khi nổi giận ta luôn tìm cách trút giận vào bất kỳ đối tượng nào, ta muốn đập phá cho hả hê, cho "đã nư", thì thực chất đó là tham, vì muốn thỏa mãn chính mình. Trong đời sống thường ngày, ta hay nổi giận khi cái-Tôi của ta bị xúc phạm. Thực chất, cái sân đó cũng là biến tướng của tham, do vì mong muốn được người ta kính trọng mà không được như ý nên nổi giận. Tự ngã lớn dần theo tính sân một cách vô hình, và được củng cố bởi nhu cầu muốn được thỏa mãn tính tham trong cơn giận. Nếu chúng ta sống không có ngã tướng thì lấy đâu ra sân để mà đối trị bằng nhẫn? Vậy nhẫn đó chính là tuệ.

Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm bảo "Chưa dễ ai là Bụt Thích Ca, Mọi điều nhân nghĩa nhẫn thì qua, Lòng vô sự: trăng in nước, Của thảng lai: gió thổi hoa". Chữ nhẫn đây không còn là sự kiềm chế hay tự chủ nữa, mà là sự an nhiên của một người vô sự, đủ thông tuệ để nhìn ra được bản chất vô thường, "như huyễn, như mộng" của mọi điều ân oán thị phi.

Trong phẩm Thập nhẫn, chữ nhẫn hoàn toàn mang nội hàm của trí tuệ, có nghĩa là dùng trí tuệ để trực nhận được các bản tính Như Thực của vạn pháp, và hành trì theo kiến giải đó. Trực nhận được bản tính của như huyễn của vạn pháp thì được như huyễn nhẫn, trực nhận được bản tính vô sinh của vạn pháp thì được Vô sinh pháp nhẫn, trực nhận được bản tính như hưởng của vạn pháp thì được như hưởng nhẫn v..v…. Nhẫn đây là tuệ. Chứng được bản tính của vạn pháp là vô sinh, là "như huyễn, như diệm, như mộng, như hưởng, như ảnh"… mà không kinh hãi, đó là dũng trong nhẫn.

Chính vì nhẫn là tuệ, cho nên đức Phật mới dạy : "Chư Phật-tử! Ðại Bồ-Tát có mười thứ nhẫn, nếu được nhẫn nầy thời được đến nơi vô-ngại nhẫn-địa của tất cả Bồ-tát, tất cả Phật-pháp vô-ngại vô-tận."(2)

Từ lời dạy này, Phật tử chúng ta có thể sẽ đạt đến một tầm nhìn khác rộng hơn, khi hành trì nhẫn nhục.

Chú thích:(1) Xin xem http://club.xilu.com/mbrun/msgview-950431-152420.html

(2) Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập nhẫn, H.T Thích Trí Tịnh dịch.

(3) Suzuki, Studies in the Lankavatra Sutra, NXB Routledge & Kegan Paul Ltd., London, 1968. tr.125

http://chutluulai.net/forums/showthread.php?t=6880

 

 

NHẪN NHỤC


E: To bear patiently an affront.
F: Supporter avec patience un affront.

Nhẫn: Nhịn, chịu đựng. Nhục: nhơ nhuốc. Nhẫn nhục là nhịn thua người ta và chấp nhận điều sỉ nhục, không có ý trả hận (thân phải chịu đựng các sự đáng lấy làm nhục).

Nhẫn nhục phụ trọng: nhịn nhục được mới có thể gánh vác việc quan trọng.

 

 

NHẤP NHÓA

Nhấp nhóa: chiếu sáng nhấp nhóa như lửa đom đóm

Thi văn dạy Đạo có câu:

Một Tòa Thiên các ngọc làu làu,
Liền bắc cầu qua nhấp nhóa sao.

 

 

NHẬP BÁT QUÁI

(Nhập : vào; Bát Quái 八卦 tức Bát Quái Đài nơi cõi Thiêng Liêng Hằng sống) Là hồn khi về Thiêng liêng được qua Bát Quái Đài ấy là hồn được vào Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống, tức là qua được cái ải quan trọng nhứt.

Đức Hộ Pháp tả Bát Quái Đài trên cảnh Thiêng Liêng: 8-9-Mậu Tý (dl: 10-10-1948): "Đài ấy có tám góc kêu là Bát Quái Đài không thể gì chúng ta tả ra với lời nói đặng. Bởi Đài ấy huyền bí biến hóa vô cùng; nó có tám cửa, trong tám cửa chúng ta ngó thấy cả vạn linh và vật loại; các hình thể vạn linh đều xuất hiện, hình ảnh sáng suốt hiện hào quang chiếu diệu. Trong tám góc có tám cái cầu. Lạ thay cầu ấy không phải bằng cây ván, mà nó là tám đạo hào quang, cầu ấy bắt ngang bờ. Dưới cầu ấy chúng ta ngó thấy dường như một Bích-Hải nước xao, sóng dợn như biển sôi nổi đó vậy. Trong tám góc chúng ta thấy đó, chắc cả thảy đều để ý nơi góc ta đến, thấy nhơn loại đi tới đi lui nhiều hơn hết. Lạ thay! Cầu ấy rất huyền diệu, ai đứng đó được mới biết mình nhập vô Bát Quái Đài".

Kinh Khi Ðã Chết Rồi có câu:

"Ba mươi sáu cõi Thiên Tào,
"Nhập trong Bát-Quái mới vào Ngoc Hư."

 

 

NHẬP CÀN KHÔN

(Nhập : Vô, vào; Càn Khôn 乾坤 tức là Càn Khôn Vũ trụ hay Trời đất. Đến cõi giới này, khi Chơn Thần được đắc Đạo thì có thể xuất nhập vào Càn Khôn Vũ trụ. Chơn thần được quyền nhập vào cõi thế để cứu giúp người đời hầu bảo tồn vạn linh, sanh chúng.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Chơn thần đã nhập Càn Khôn,
"Thâu quyền độ thế bảo tồn chúng sanh."

 

 

NHẬP DIỆU

入 妙
E: To penetrate the secrets of science.
F: Pénétrer les secrets d’une science.

Nhập: Vào, đi vào, đem vào, trái với Xuất. Diệu: khéo léo, tuyệt diệu. Nhập diệu là đi vào chỗ khéo léo tuyệt diệu, ý nói: sự học đã đạt đến chỗ tinh anh, rốt ráo (Vào chỗ thần diệu, sự học hỏi đã tới chỗ thâm thúy lắm).

 

 

NHẬP DIỆT

入 滅
E: To enter Nirvana (Niết Bàn).
F: Pénétrer au Nirvana.

Nhập: Vào, đi vào, đem vào, trái với Xuất. Diệt: ý nói Hư vô tịch diệt, tức Niết Bàn. Nhập diệt là đi vào cõi Hư vô tịch diệt, tức là linh hồn đi vào cõi Niết Bàn (về cõi vĩnh hằng, nhập Niết Bàn).

Đây là từ ngữ của Phật giáo, chỉ bậc cao tăng đắc đạo, lìa bỏ xác trần, linh hồn bay lên đi vào cõi Niết Bàn. Đạo Cao Đài thì dùng 2 từ ngữ: qui Thiên, đăng Tiên.

 

 

NHẬP ĐÀN HÀNH LỄ CÚNG PHẬT MẪU

Nghi thức: "Khi nhập Đàn cúng Phật-Mẫu, thì cũng chấp tay bắt Ấn Tý xá 3 xá, quì xuống để tay lên trán niệm:

- Nam-mô Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Thiên-Tôn (cúi đầu).
- Nam-mô Cửu-Vị Tiên-Nương (cúi đầu).
- Nam-mô Bạch-Vân-Động Chư Thánh (cúi đầu).

(chớ không có lấy dấu Phật, Pháp, Tăng...)

Lúc lạy thì niệm "Nam-mô Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Thiên-Tôn" (3 lạy, mỗi lạy 3 gật / 9 lạy/)

 

 

NHẬP ĐỊNH


E: To enter into the contemplation.
F: Entre dans la contemplation.

Nhập: Vào, đi vào, đem vào, trái với Xuất. Định: yên lặng, chỉ sự Thiền định. Nhập định là đi vào Thiền định, tức là người tu luyện ngồi theo thế kiết già, im lặng để giữ tâm ý cho yên lặng, trong sạch, không vọng động (vào cảnh thanh tịnh, không còn bị thất tình sai khiến nữa).

Tân Luật: Tịnh Thất: Điều 1:

Trong hàng tín đồ, ai đã xử tròn nhơn đạo và giữ trai giới từ 6 ngày sắp lên thì được xin vào Tịnh Thất mà nhập định.

 

 

NHẬP HỘI

入 會
E: To enter in the assembly.
F: Entrer dans une assemblée.

(Nhập: vào; Hội: cuộc họp mặt có rất nhiều người dự)

Đối với nền Đại-Đạo mỗi một vấn đề đều có sự chuẩn bị cẩn thận và luôn nhờ huyền linh giúp sức cho, đó là hiệp Trời người

Kinh Nhập Hội là bài Kinh do Đức Hộ Pháp soạn ra, có Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn chỉnh văn lại. Bài Kinh này dành cho Ban chủ tọa và tất cả các người tham dự cuộc họp, do đồng nhi tụng đọc trước khi bắt đầu phiên hội nghị, để cầu cho cuộc hội được thành công tốt đẹp. Bởi, hội họp là một sinh hoạt thường xuyên trong Tôn giáo Cao Đài, nhằm mục đích thảo luận chương trình hành Đạo, tổng kết việc Đạo cuối năm...

Ngoài ra, Đạo Cao Đài còn có tổ chức những phiên nhóm họp lớn như: Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh và Thượng Hội, đây là ba Hội lập Quyền vạn linh, nhằm mục đích lập pháp, sửa đổi Luật, kiểm soát các cơ quan Cửu Trùng Đài, tìm phương giúp Hội Thánh điều hành nền Đạo, mỗi ngày một phát triển tốt đẹp hơn. Vì vậy, trước mỗi phiên nhóm đều có tụng đọc bài Kinh Nhập Hội này nhằm để cầu nguyện các Đấng Thiêng Liêng ban cho phiên họp được thành công tốt đẹp.

KINH NHẬP HỘI

Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,
Giữa Tây phương nắm giữ Thiên điều.
Dưới Ngọc Hư, kể bao nhiêu,
Thiêng Liêng các Đấng lập triều trị dân.

Một nuôi nấng tinh thần tinh khiết,
Hai dạy răn cho biết tội tình.
Ba lo trị thế thái bình.
Cộng chung Pháp luật Thiên Đình chí công.

Các con vốn trong vòng Thánh thể,
Phép tu vi là kế tu hành.
Mở đường tích cực oai linh,
Cậy phương thuyết giáo vẽ thành kinh chơn.

Đại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn,
Diệt trí phàm: Hờn, giận, ghét, ganh.
Để tâm dưới ánh Chí linh,
Soi tường chơn lý chỉ rành chánh văn.

Cơ chuyển thế khó khăn lắm nỗi,
Mượn Thánh ân xây đổi cơ Đời.
Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời,
Câu kinh Vô Tự độ người thiện duyên.

Nguyện Ơn Trên cho yên trí não,
Nguyện Phật, Tiên dạy bảo Chơn linh.
Mạng danh Hội Thánh đã đành,
Nâng tay nhục thể xây hình Chí Tôn.

 

 

NHẬP MÔN


E: To adopt a religion.
F: Embrasser une religion.

(Nhập là vào, Môn là cửa). Nhập môn tức là một hình thức nhận chịu theo một Tôn giáo, mà chính mình đã chọn lựa làm tín ngưỡng, hoàn toàn không ai bắt buộc.

Sau đây là những lời thỉnh giáo về Nhập môn, được Đức Hộ-Pháp trả lời qua Lời Phê

Hỏi: Tờ khai công-nghiệp của Chánh-Trị-Sự Lê-Văn Mừng ở Hương đạo Long-Khánh (Tây-Ninh) xin phong thưởng.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối Sư cho Mừng hiểu rằng: Người mới nhập-môn từ năm 1945 mà thôi, thì những ai đã nhập-môn từ năm ấy Hội Thánh buộc để một cái dấu mơ-hồ không toàn tín-nhiệm, nhưng công-nghiệp đáng giá của Người, chiếu theo Đạo-Pháp và Đạo-Luật thì phải đem ra Quyền Vạn-linh định vị, chớ Quyền Chí Tôn tại Thế chẳng đặng ân-phong. Song Bần-Đạo muốn cho một điểm linh-hồn lập-vị bây giờ nhứt định cho người phải tùng-sự một cơ-quan Hành-Chánh dưới quyền của một vị Đại-Thiên-Phong bảo-đảm trong một thời-hạn là hai năm rồi mới quyết-định. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

"Chư Ðạo-Hữu nhập-môn sau thời kỳ ngưng Cơ Bút không hữu hạnh mà nghe đến lời vàng tiếng ngọc của Ðức Ðại Từ-Bi. Nay Hội-Thánh trích lục những Thánh Ngôn giáng cơ dạy Ðạo, in làm hai bổn để truyền bá cho mọi người thông hiểu. Thiết tưởng, trong Ðạo-Hữu, dầu xưa dầu mới, ai có Ðạo tâm mà không tiếp được Thánh Ngôn nầy lại không hết dạ hoan nghinh?"

Đức Hộ Pháp nói: "Còn nói về phần chư Môn Ðệ của Ðức Chí Tôn, từ buổi đem thân vào cửa Ðạo trong lúc Nhập môn đã quì trước Bửu Ðiện có bàn Ngũ Lôi, mà lập Minh thệ (như trên) Than ôi! Cho những người thề như vậy, mà cũng không để trọn đức tin nơi Chí Tôn lại thối bước ngã lòng, cổi áo Ðạo, dẹp khăn tu, mong mỏi xu hướng theo con đường tục lụy, cho nên mới gây tạo ra con đường lằn súng mũi đạn ngày nay. Vậy, ai là người thất thệ với Chí Tôn thì phải sớm thức tỉnh tâm hồn, ăn năn sám hối, cầu xin Ðại Từ Phụ cùng các Ðấng Thiêng Liêng, từ bi ân xá tội lỗi tiền khiên, họa may đặng chung hưởng ân huệ của Ðức Chí Tôn ban cho sau nầy."

Thầy cũng có cho một vài Chức sắc, đạo hữu nhập cơ tỏ cho nhơn sanh biết rằng lúc sanh tiền nhờ nhập môn cầu Đạo, nên khi từ trần mới được hồng ân siêu thăng vào cảnh thiêng liêng khoái lạc. Lập Đạo kỳ nầy, Đức Chí-Tôn dùng Cơ Bút mà truyền bá Đạo ra cho mau và cũng cho nhiều huyền diệu khác đặng mau thức tĩnh nhơn sanh.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện nuôi nấng tinh thần,
Phước Thiện cứu kẻ lạc gần bàng môn.
Phước Thiện báu quí càn khôn,
Độ các Chi Phái nhập môn hồi đầu.

 

 

NHẬP NIẾT BÀN

(Nhập là vào. Niết Bàn là nơi mà người tu đạt được chỗ giải thoát một cách vinh diệu nhất, là cảnh Phật) Ở đây là chỉ người tu đạt vị cao cả nhất. Người Đạo gọi là cảnh Hằng sinh.

Sách Phật Tông Nguyên Lý chép rằng:

Khi Đức Thích-Ca viên tịch, Đệ tử của Ngài là A NAN ĐA rơi lụy mà hỏi rằng: Khi Tôn-Sư nhập Niết-Bàn rồi ai dạy bảo các con?

- Đức Phật đáp: "Ta chẳng phải vị Phật đầu tiên hay cuối cùng, ngày giờ đến, sẽ có một Đấng khác xuất hiện cứu đời, một Đấng Chí-Thánh, một Đấng Đại-giác cực kỳ cao thượng, một Đấng dẫn đạo vô song, một Đấng chủ tể Thánh, Thần và loài người. Đấng ấy sẽ truyền dạy các con một mối Đạo: Vinh-diệu buổi sơ khai, vinh-diệu buổi thạnh hành, vinh diệu buổi kết cuộc. Đấng ấy sẽ xướng xuất một đời sống đạo đức hoàn toàn thuần khiết".

 

 

NHẬP NỘI


E: To enter inside.
F: Entrer dedans.

Nhập: Vào, đi vào, đem vào, trái với Xuất. Nội: trong. Nhập nội là vào bên trong.

Bát Đạo Nghị-Định:

Xin mời Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối Sư và Nữ Ngọc Chánh Phối Sư nhập nội.

 

 

NHẬP QUAN

入 棺
E: To coffin a body.
F: Mettre en bière.

Nhập: Vào, đi vào, đem vào, trái với Xuất. Quan: cái áo quan. Liệm: bọc xác người chết bằng những lớp vải và bó kín lại.

Nhập quan hay Nhập liệm (tẩn liệm) là bọc xác của người chết bằng những lớp vải, bó kín lại rồi đặt vào trong quan tài, đậy nắp và đóng đinh cho thật kín (đặt xác chết vào quan tài).

 

 

NHẬP TÂM

入 心
E: To engrave in the heart.
F: Engraver dans le cœur.

Nhập: Vào, đi vào, đem vào, trái với Xuất. Tâm: tim, lòng dạ. Nhập tâm là ghi nhớ trong lòng, không thể quên được (giữ kín trong lòng, không thể quên).

 

 

NHẬP THẾ - XUẤT THẾ

入 世 - 出 世
E: To enter in the life, to become a monk.
F: Entrer dans la vie, devenir un religieux.

Nhập: Vào, đi vào, đem vào, trái với Xuất. Thế: đời. Xuất: đi ra.

- Nhập thế là vào đời, bước vào cuộc đời, tức là đi ra gánh vác việc đời, tham gia vào các mặt hoạt động của xã hội.

- Xuất thế là bước ra khỏi cuộc đời, không tham gia vào các hoạt động của xã hội nữa, tìm nơi vắng vẻ để tu hành, ẩn thân luyện đạo.

Nhập thế là HÀNH, xuất thế là TÀNG. Trong sách Luận Ngữ có câu: Dụng chi tắc hành, xử chi tắc tàng. Nghĩa là: Dùng thì ra làm quan, không dùng thì ở ẩn.

Kinh Dịch cũng có câu: Quân tử chi đạo, hoặc xuất hoặc xử. Nghĩa là: Cái đạo của người quân tử, hoặc là ra làm quan (nếu vua cần dùng), hoặc là ở ẩn (nếu vua không dùng).

 

 

NHẬP THỂ

(Nhập thể là đem Thần sáng vào mình đặng êm sáng)

Nhập thể là Nhập vào thể hài của con người, nghĩa là thể hài tiếp nhận ân điển Thiêng liêng. Kinh nói "Cầu các Đấng Chơn Linh nhập thể" tức là Cầu xin Đấng Chơn Linh ban cho thể hài này tiếp được điển huyền diệu thiêng liêng, hay nói cách khác, là tiếp được ân điễn của Đấng Chơn Linh nhập vào.

Kinh Nhập Học có câu:

"Cầu khẩn Đấng Chơn Linh nhập thể,
"Đủ thông minh học lễ học văn."

 

 

NHẬP TỊNH


E: To enter into the contemplation.
F: Entrer dans la contemplation.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần Đạo được Đức Chí-Tôn dạy cách tham-thiền, khi biết tham thiền rồi mới nhập tịnh, nhưng nhập tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút, là có thể hỏng cả cuộc đời; nhập tịnh mà không tới thì bị hôn-trầm là ngủ gục, còn nhập tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ! Nhập Tịnh mà đúng rồi, cần phải chờ các Đấng thiêng liêng mở huệ-quang-khiếu nữa mới xuất hồn ra được, con đường mà chơn-thần xuất ra rồi về với Đức Chí Tôn là Con đường Thiêng liêng Hằng sống đó vậy. Chính Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn mở Huệ-quang-khiếu nên mới được về hội-kiến với Đức Chí Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí-Tôn nhiều điều bí-yếu, bí trọng."

Đức Hộ-Pháp Nhập Tịnh ba tháng nơi Trí Huệ Cung:

Đức Ngài thuyết tại Đền Thánh, ngày 17-04- Tân Mão (1951)

"Kể từ ngày nhập tịnh nơi Trí Huệ Cung, chắc con cái Đức Chí Tôn đều đánh dấu hỏi? Đức Hộ Pháp nhập tịnh để làm gì? Muốn làm gì? Nghĩa lý gì mà nhập Trí Huệ Cung trong ba tháng nay? - Vậy Bần Đạo giải rõ hành tàng trong ba tháng mà Bần Đạo đã làm, cái hành tàng đó cũ kỹ chớ không mấy lạ gì. Cái hành tàng về mặt Đạo giống như 40 ngày của Đức Chúa Jésus ra ngoài sa mạc cầu khẩn với Đức Chí Tôn ban bố hồng ân cho toàn nhơn loại, đặng đem cơ quan Cứu thế của Ngài giao cho khắp xã hội nhơn quần được hưởng, giống như Đức Thích Ca vào vườn Bồ đề ngồi thoàn định đặng xin giải thoát cho chúng sanh. Còn về mặt thế, nó giống như Vua David vì tội tình nhơn loại mà buổi nọ ra đồng Sa mạc cầu đảo, xin giải pháp cứu khổ cho dân Y-sơ-Ra-Ên, giống như Vua Hạ Võ mặc hài gai đội nón lá, chịu phong trần đặng cầu đảo cho quốc dân khỏi tội. Muốn nói rõ hành tàng căn mạng của toàn thể nhơn loại và toàn thể quốc dân Việt Nam đã làm cho Bần Đạo phải chịu ba tháng nơi chốn tịch mịch, để cầu khẩn với Đức Chí Tôn ban hồng ân đặc biệt đặng cứu rỗi lấy họ, là đem cơ quan Cứu khổ của Ngài đã thiệt hiện cho toàn thể nhơn loại nhứt là sắc dân yêu ái đồng chủng cùng Bần Đạo là sắc dân Việt Nam. Chúng ta thử hỏi, một người tượng trưng tinh thần của một dân tộc, tinh thần đạo đức cho nước Việt Nam đã có sứ mạng đem tinh thần đạo đức ấy cứu khổ cho thiên hạ, sửa lại cái hành tàng hung ác của người đời cho thành giọt nước Thiêng liêng của Đức Chí Tôn, nước Thiêng liêng đạo đức của Ngài gội rửa con đường Thánh Đức cho sạch-sẽ đừng cho nhơ bẩn, ấy là nước chí Thánh của Ngài, cầm giọt Cam lồ đem rưới khắp toàn thể con cái của Ngài tức là cả chúng sanh nơi mặt địa cầu nầy, người ấy còn phải làm thế nào hơn?

Ôi! Cái cao vọng buổi nầy ai cũng muốn làm, được hay chăng không phải do quyền của mình, kẻ xin thì khác, mà kẻ cho lại khác. Hại thay, tạo nghiệp của nhơn loại từ khi có nơi mặt địa cầu nầy, đến bao giờ mới bảo vệ được sanh mạng của họ, cấp tiến trong con đường giải khổ, họ đã gây thêm trong sự nghiệp của họ tội chướng thì nhiều, mà phúc hậu lại ít, biểu sao không có trường lưu huyết!.Nếu chúng ta dở lịch sử ra xem từ năm mươi năm nay, khởi đầu thế kỷ hai mươi dĩ chí đến 1951, không buổi nào nhơn loại hưởng đặng hanh phúc Hòa bình, chỉ tương tàn tương sát với nhau mà thôi. Nếu không có quyền năng Thiêng Liêng kia thì Bần Đạo nói quả quyết rằng: Không ai cứu chữa tội tình nhơn loại được. Chúng ta thương nhơn loại không bằng Cha sanh ra con, đã sanh họ ra vừa hình thể, vừa linh hồn tức là Đại Từ Phụ. Ngài đã cầm quyền sanh mạng của nhơn loại mà không cứu chữa tội tình của nhơn loại được, phải chịu khoanh tay ngồi để lụy, vì căn quả của nhơn loại đã định vậy. Chính mình Đức Chí Tôn cũng không phương sửa cải, nếu có phương sửa cải, thì không cần gì Bần Đạo phải vào Trí Huệ Cung cầu khẩn, Ngài đã làm trước rồi.

May thay! Nhờ đạo tâm của toàn Thánh Thể của Ngài và toàn con cái nam, nữ cũng vậy, nhứt là đám thiếu niên đã làm cho cảm động Đức Chí Tôn, nên Ngài cho Bần Đạo hội diện cùng quyền năng thiêng liêng bốn phen trong ba tháng. Bần Đạo nói rằng: Cái định mệnh của nhơn loại, cũng như cái định mạng của toàn thể quốc dân Việt Nam, trong giờ phút nầy ở trong tay Đức Chí Tôn và Bần Đạo dám quả quyết rằng: Luật nhơn quả của nhơn loại chưa hết thì chưa tạo hạnh phúc được. Cái mơ vọng của thiên hạ đạt đặng cùng chăng là khi nào khối Thánh đức của họ cao hơn phàm tâm của họ, thì giờ phút ấy hạnh phúc của họ mới có, và cơ quan cứu khổ của Đức Chí Tôn mới thiệt hiện được."

 

 

NHẬP XÁC

(Nhập là vào. Xác là thể xác). Nhập xác là một hình thức đồng, bóng. Thường là một hay nhiều hồn người chết nhập vào xác thể của người sống, theo luật "đồng thanh tương ứng" thì họ mới nhập được. Một là hoặc con cái đã chết, hoặc người thân. Hai là người yêu mà chẳng may người này chết trước;

khi mà họ có điển lực hợp nhau thì mới nhập xác được. Thông thường là đẳng cấp thấp mới "Nhập xác". Còn đẳng cấp cao hơn thì giáng điển linh qua Cơ Bút. Có rất nhiều vấn đề nhập xác thường là xin tu theo Đạo Cao-Đài, như trước đây vào khoảng 1990 có một người đàn bà ở Bến Tre đau bịnh oằn-oại, nhưng cố đòi về Tòa-Thánh giải bịnh, thì ra có hơn 3.000 vong linh người Chàm xin nhập môn tại Tòa-Thánh. Nhân viên Lễ viện phải ghi chép hằng ba ngày, tên họ kể ra hoàn toàn khác nhau, có vong đến hơn một ngàn tuổi. Vấn đề "Nhập xác" hay đồng bóng đối với Đạo Cao-Đài hoàn toàn bị ngăn cấm.

Câu chuyện thât "Thuở Đức Hộ-Pháp lên Nam Vang, một hôm ông Thừa sử Huỳnh Hữu Lợi và Bà Chí-Thiện Hương Nhâm đến thỉnh Đức Hộ-Pháp đi viếng Đế Thiên Đế Thích, vì nhận thấy Thầy không vui. Ông Bà đưa xe du lịch đến rước Thầy, có tài xế lái. Gần đến nơi thì bỗng xe bị hư máy. Tài xế sửa mãi không được, Thầy mới ra tay sửa cũng không xong. Thoạt trông thấy một lùm cây cổ thụ phía trong, Thầy bảo cả thảy đẩy xe vô đó có bóng mát nghỉ rồi sẽ tính sau. Xe vô đó rồi thì thấy một cái miễu xem vẻ xơ-xác, hầu như bỏ hoang, không ai tu bổ.

Ông Bà Huỳnh Hữu Lợi quét dọn một chỗ trước miễu, lót lá cây mời Thầy ngồi, đoạn bày thức ăn và thức uống cạnh đó. Thình lình Bà Chí-Thiện ợ-ngáp, giống y như lên đồng. Thầy rầy, hỏi duyên cớ, bà thưa rằng: Có chơn linh nhập xác, xin Thầy cho phép trình bày. Thầy chấp thuận. Chơn linh bạch cùng Đức Hộ-Pháp rằng: Thuở xưa là một Công Chúa phạm tội nên bị phạt ở tại miễu xơ xác, chờ khi nào có Đức Phật đến giải oan mới được siêu thăng, vì thế chơn linh mới phá máy xe cho ngừng tại đây.

Thầy dạy tài xế ra xe rồ máy xem thử, thì xe nổ máy như thường. Thầy mới biểu Ông Bà Thừa sử cùng Tài xế đọc Kinh Giải oan, rồi Thầy làm phép Giải oan cho vong hồn.

Vong hồn bái tạ Thầy và xin cho thêm một chút thời giờ để trò chuyện cùng Bà Hương Nhâm: vì Bà Nhâm trước kia là Chị của Công Chúa.

Bữa nọ, Đức Hộ-Pháp đến nhà Ông Bà Thừa Sử Lợi, hai ông bà có nuôi một con chó rất khôn, ông cưng nó đến nỗi cho chó ngủ chung với ông ban đêm. Thầy ngõ ý xin con chó, ông bà giả vờ nói khoả lấp.

Lần thứ nhì, Thầy đến nhà xin nữa, cũng y như lần trước. Lần thứ ba, Thầy lại đến hỏi con chó, Thầy mới cho biết: Thầy không cần dùng con chó làm gì. Sở dĩ xin nó là để giải oan nghiệt tiền khiên cho ông Thừa sử. Thầy bảo: con chó là đứa bạn giúp việc nhà cho ông Lợi. Trong một kiếp trước, ông làm Thông ngôn Toà án Pháp, hôm ấy ông cần đi làm việc, nên đứa bạn lo sẵn ghe hầu cho ông.

Giữa đường, tên bạn cải cọ với ông, ông giận quá, đánh nó, nó né tránh nên lọt xuống sông chết chìm. Trở về nhà, ông nói với cha mẹ nó rằng: nó lơ đễnh nên té sông chết. Do phạm tội này nên khiến con chó nói trên lọt vào gia đình ông mới có dịp trả oán. Chó chờ có một vị nào đó trong Hoàng gia Cao Miên đi ngang nhà chủ nó, nó sẽ nhảy ra cắn chết, cho ông Lợi sẽ bị táng gia bại sản, lại thêm tù tội.

Ông giựt mình, tự nhủ rằng: Thầy biết ông làm thông ngôn ngoài đời trước kia thì vụ con chó có thật.

Khi Đức Hộ-Pháp về, ông bà biểu con chó theo Thầy, nó riu ríu đi theo, một tuần sau nó chết".

 

 

NHỊ BÁ

Nhị bá: là 200. Nghĩa là từ khi làm tuần Cửu cửu cho người chết rồi (9x9) là 81 ngày. Bắt đầu sau ngày ấy đếm đủ 200 ngày thì làm Tiểu-Tường.

Kinh Tiểu-Tường có câu:

"Tịnh niệm phép Nhiên-Đăng tưởng tín,
"Hư-Vô-Thiên đến thính Phật-điều.
"Ngọc-Hư đại hội ngự triều,
"Thiều quang nhị bá Thiên-Kiều để chơn."

 

 

NHỊ BẤT DU ĐẠO

Theo TÂN LUẬT: Chương IV: Ðiều Thứ 21:

"Hễ nhập môn rồi phải trau giồi tánh hạnh, cần giữ Ngũ Giới Cấm. Đây là điều thứ Nhì trong Ngũ giới cấm là "Nhì Bất Du Ðạo" là cấm trộm cướp; lấy ngang, lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy để ý hại cho người mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận".Vì sao không được trộm cắp?

Thầy dạy. Các con: "Ôi! Thầy sanh ra các con thì phải yêu trọng các con chẳng cùng, mà Thầy cho các con đến thế giới nầy với một Thánh thể thiêng liêng y như hình ảnh của Thầy, không ăn mà sống, không mặc mà lành, các con lại không chịu, nghe điều cám dỗ, mê luyến hồng trần, ăn cho phải bị đọa, dâm cho phải bị đày, nên chịu nạn áo cơm, dục quyền cầu lợi.

Lợi: Thầy cũng đã dành cho các con chung hưởng cùng nhau, mà cũng vì tham, đứa chứa nhiều, đứa chịu đói.

Quyền: Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy, mà quyền ấy trở nên một cơ thể buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi. Ôi! Thảm thay! Cái thất vọng của Thầy nên ghê gớm! Các con có hiểu vì sao mà cả nhơn sanh gian tham chăng? Thì cũng muốn cho nhiều sanh mạng chịu phục dưới quyền thế lợi lộc đó. Vậy sự yếu trọng của con người là nạn cơm áo. Nắm chặt quyền phân phát cơm áo thì chưa ai đã chịu thọ sanh nơi thế nầy lánh khỏi. Muốn cho đặng quyền hành ấy thì làm thế nào? Dùng hết mưu chước quỉ quyệt thâu đoạt cho đặng lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh tranh đấu đấu, giựt giựt giành giành, gây nên mối loạn, nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép Tà quyền, mạnh hơn, yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng Tạo hóa. Cái trường thảm khổ của thế gian cũng do nơi đó mà ra. Vậy:

Gian tham đã thâm nhập vào lòng thì lòng hết đạo đức.

Tham gian nhập vào nhà thì nhà không chánh giáo.

Tham gian đã nhập vào nước thì nước hết chơn trị.

Tham gian đã lộng toàn thế giới thì thế giới hết Thánh, Thần. Thầy không cần nói, sự gian tham có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy mà bị lắm điều tội lỗi. Ấy vậy, gian tham là trọng tội".

 

 

NHỊ CA

Nhị Ca 二哥: Anh thứ hai (Sau đại ca: anh cả).

Bát Nương giáng Cơ nói chuyện với Nhị Ca của quí Tiên Nương là Đức Hộ-Pháp. Thuở tiền khai Đại-Đạo Thất Nương Diêu-Trì-Cung đến trước tiên và dùng thi văn xướng họa với ba ông: Cao Quỳnh Cư là Đại Ca (Thượng phẩm), Phạm Công Tắc là Nhị Ca (Hộ-Pháp), Cao Hoài Sang là Tam Ca (Thượng Sanh), còn nàng xưng là Tứ muội, có mấy lời:

"Em chào mấy anh. Cười... Đứng dậy mà.!

Nhị Ca! Cả Diêu Trì Cung đều mừng cho danh thể Hiệp Thiên Đài, nhứt là Phật Mẫu thì hơn hết, nên vội vàng tư mật ý qua Thái Thượng Lão Quân cám ơn Người đã đệ ý chí vào Ngọc Hư Cung lúc trước.

Em nên dặn Anh nhớ bài thi của Lịnh Mẫu gởi cho Anh buổi nọ đa nghe! Anh cứ do nơi Đức Lý Giáo Tông mà cầm quyền trị thế thì sẽ đắc thắng, chẳng chi phòng ngại. Nghe bài thi nầy và giữ y nguyên sở-vọng của Anh thì nên việc cả.

                        THI

Cầm mối Thiên thơ đã phải hồi,
Định an hoàn võ một mình thôi.
Xô non tuy chẳng tài ông Bá,
Dựng núi đã hay phép chú Hồi.
Thẳm thẳm ngàn trùng kìa Ngọc các,
Vơi vơi muôn dặm ấy Thiên lôi.
Chuyển luân cơ tạo quyền dự trữ,
Nương phép thiêng liêng gánh nghiệp Trời.

- Ngâm đi ông Phật mập.

Mấy đứa em nhỏ đợi chị, lễ Giáng sanh mới cho kẹo.

 

 

NHỊ CHÂU CHƠN VÕ

            Nhị Nương

NHỊ châu Chơn võ nhớ cùng không,
NƯƠNG cõi Thiên cung gởi bóng hồng.
KÍNH tặng vài câu mừng bạn cũ,
TẶNG người hiếu hạnh chịu phòng không
                        (Nhị Nương Diêu Trì Cung)

Đức Chí-Tôn dạy:"... Kế đó là Đại Thiên thế-giái, kế là Thượng phương thế-giái là chỗ Đức Tây-Vương-Mẫu ngự nơi Cung Diêu Trì, gần đó có vườn Ngạn Uyển Bàn-Đào, Ngũ nhạc Bồng lai Nhược-thủy. Các Đấng thiêng-liêng Nam Nữ hằng-hà sa số lâu đài cung điện toàn bằng ngọc-ngà châu báu, hỗ phách san hô, Điện đài lãng phương trong cảnh Nhị châu chơn võ."

 

 

NHỊ CHÚA

Nhị Chúa tức là hai Chúa; nhắc lại thời Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn phân tranh chia đôi Nam- Bắc lấy sông Gianh làm giới tuyến, cũng vì giành nhau ngôi báu, làm cho muôn dân thống khổ, lưu lại cái nhục cho giống nòi, âm vang còn đó:

Ôi Việt Nam! Cùng Việt Nam gây hấn!
Muôn ngàn năm để hận cho dòng sông!
Mộng bá vương Trịnh-Nguyễn có còn không?
Nhục nội chiến non sông còn in vết!

Đức Vô Danh Tiên Trưởng giáng cơ có dạy về việc ấy:

"Nếu ai hỏi Đức Trạng Trình, đời là thế nào? - Thì Ngài sẽ nói rằng: Tấn tuồng nhị Chúa diễn lại mà thôi, không hơn không thiệt. Ôi! là công danh, quyền lợi, hám vọng của đời vốn bấy nhiêu thôi, mà đã gây biết bao nhiêu thảm khổ: trung, nịnh, gian, ngay, trò đời vẫn vậy. Thử hỏi ngôi Nguyễn, ngôi Trịnh nay đã còn gì? Ham mà chi? Muốn mà chi? Hai mươi ba triệu diệt vong thống khổ".

Hộ Pháp Thiên Tôn đem hết trí não tinh thần chấn hưng quốc vận. Ai đã nghĩ đến như Ngài đặng toan giúp sức, giờ phút nầy toàn cầu đều loạn lạc, nhứt là hai đảng phái Trung Hoa e không khỏi gây nên đại chiến. Ai cũng mơ mộng thống nhứt hoàn cầu, cầm quyền bá chủ. Nạn diệt vong vì võ lực hầu kề thì cơ tận diệt nhơn sanh không phương tránh khỏi.

Thoảng như Bần Đạo hỏi thử các vị Thiên mạng rằng: Địa cầu sẽ chia hai một thời gian ngắn, các Ngài chịu hơn hay là muốn chia đôi khu vực Nga- Mỹ tranh hùng, xin nói thử.

Đức Hộ Pháp nói: - Không muốn cái nào hết.

Thoảng vì oan nghiệt nhơn sanh phải chịu quả báo như thế ấy thì mới nghĩ sao?

Bảo Đạo bạch: - Thà chọn điều thứ nhứt.

Cười!... Thì Thiên cơ cũng định như thế ấy.

Xin mấy vị thiếu niên nghe:

Tinh thần là chủ, thân là tôi,
Câu vật công danh để miếng mồi.
Mới biết oan gia là nghiệp cả,
Cho hay nghiệt chướng ấy cao ngôi.
Thành nghiêng vạc ngã không yên đứng,
Ngai đóng chông đơm ắt khó ngồi.
Phải mặt trượng phu đâu cũng phận,
Trọng khinh hậu bạc ở ngoài môi.

Muốn cứu vãn tình thế nước Việt, cả quốc dân nên cố gắng. Hộ Pháp Thiên Tôn an lòng, chẳng đến nỗi nhơ danh Đạo phòng sợ. Ai kia cầu Đạo, chớ Đạo chưa dễ cầu ai. Xin Ngài đừng thắc mắc".

 

 

NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI

E: Two tangible palaces.
F: Deux palaces tangibles.

Nhị: Hai, thứ nhì. Hữu hình: có hình thể thấy được. Đài: toà nhà cao lớn. Nhị hữu hình đài là hai đài có hình thể nơi mặt thế nầy. Đó là Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài.

Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài với hình thể 3 Đài: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài. Bát Quái Đài do Đức Chí Tôn chưởng quản.

Hiệp Thiên Đài chia ra hai phần gồm: Hữu hình và Vô hình, do Đức Hộ Pháp chưởng quản.

Cửu Trùng Đài cũng phân ra hai phần gồm: Hữu hình và Vô hình, do Đức Giáo Tông chưởng quản.

Giáo Tông của Đạo Cao Đài là Đức Lý Thái Bạch. Ngài là Đấng Đại Tiên Trưởng nơi cõi thiêng liêng, cầm quyền điều khiển nền Đạo nơi mặt hữu hình nầy phải thông qua cơ bút. Nếu tổ chức cơ bút chậm trễ thì sự điều khiển của Ngài cũng chậm trễ theo. Do đó, Đức Lý Thái Bạch giao quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt để điều khiển phần hữu hình cho được lẹ làng, đối phó kịp thời những biến chuyển của nền Đạo, còn quyền Giáo Tông Vô hình vẫn do Đức Lý nắm giữ. Do đó, toàn đạo gọi Ngài Thượng Trung Nhựt là Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung. (chữ Quyền để chỉ rằng Ngài chỉ nắm có nửa quyền Giáo Tông mà thôi.)

Khi Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên, Đức Lý Thái Bạch mới trao quyền Giáo Tông tại thế cho Đức Phạm Hộ Pháp nắm giữ. Do đó, Đức Phạm Hộ Pháp xưng là:

Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài: "Hiệp Thiên và Cửu Trùng." Khi Đức Phạm Hộ Pháp qui Thiên thì quyền Chưởng quản Cửu Trùng Đài hữu hình tại thế giao hoàn cho Đức Lý Thái Bạch.

 

 

NHỊ NGOẠT THẬP NGŨ PHÂN TÁNH GIÁNG SANH

Đây là câu kinh trong bài Kinh Tiên Giáo.

(Nhị ngọat: Tháng hai âm lịch; chữ Ngoạt còn đọc là Nguyệt, có hai nghĩa: Một nghĩa là Mặt trăng, một nghĩa là tháng âm lịch; vì Âm lịch tính theo sự vận hành của Mặt trăng. Thập ngũ: ngày 15 âm lịch gọi là ngày Rằm). Tức nhiên Đạo học cho rằng Đức Thái Thượng Lão Quân giáng sanh vào ngày Rằm tháng hai Âm lịch. Trong cửa Đạo Cao-Đài ngày nay từ Trung ương đến địa phương, cứ đến ngày này là toàn Đạo thiết Lễ Đại Đàn Cúng kính, gọi là Vía Đức Thái Thượng Lão Quân - (15-2).

Ngày rằm tháng hai, Ðức Thái Thượng chiết chơn linh giáng sanh xuống cõi trần là Ðức Lão Tử. Ðức Ngài giáng sanh vào đời vua Võ Ðinh nhà Thương bên Tàu. Vua Võ Ðinh lên ngôi năm 1324 trước Tây lịch, Ngài truyền ngôi lại cho Tổ Canh năm 1265 trước Tây lịch.

Ngài có giáng Cơ qua bài thi khoán thủ "Lý Lão-Tử giáng"

LÝ đào mầm tược tượng long lân,
LÃO luyện đơn thành Nhị xác thân.
TỬ phủ ngồi tu lo nấu thuốc,
GIÁNG sanh Thương, đợi Võ Ðinh quân.

(Thương là nhà Thương, Võ Ðinh quân là vua Võ Ðinh)

Nhưng theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, câu chuyện Ðức Khổng Tử đến hỏi Ðức Lão Tử về Lễ, thì người ta cho rằng Ðức Lão Tử cùng thời với Ðức Khổng Tử và lớn hơn Ðức Khổng Tử chừng 30 tuổi. Như vậy, Ðức Lão Tử cũng phải sanh vào thời Ðông Châu Liệt Quốc.

Nếu theo Truyện Ðông Du Bát Tiên và Bài thi giáng cơ của Ðức Lão Tử, tạm dùng năm sanh của Ðức Lão Tử là năm vua Võ Ðinh lên ngôi: năm 1324 trước Tây lịch, thì Ðức Lão Tử giáng sanh trước Ðức Khổng Tử là: 1324 - 551 = 773 năm

Như vậy, chẳng lẽ Ðức Lão Tử đã sống hơn 800 năm cho đến khi gặp Ðức Khổng Tử hay sao?

Ðiều nầy, đối với các nhà Khoa học thực nghiệm thì không bao giờ xảy ra. Nhưng, đứng về mặt tín ngưỡng Tôn giáo và Thần Linh Học, Ðức Lão Tử có pháp thuật vô cùng huyền diệu cao siêu, khi thì Ngài trở về cõi Thượng Thiên, khi thì Ngài trở xuống cõi trần, tùy duyên hóa độ, thì việc Ngài thị hiện xuống cõi trần để gặp Ðức Khổng Tử là một trường hợp tùy duyên hóa độ của Ngài mà thôi (Theo tài liệu HT. Hồng)

 

 

NHỊ NGUYÊN LUẬN

E: Dualism.
F: Dualisme.

Nhị nguyên luận: Luận thuyết về hai đầu mối của trần gian (còn gọi là Nguyên-lý Âm-Dương đại biểu là hai quẻ Càn Khôn).

Nhị: Hai, thứ nhì. Nguyên: khởi đầu. Luận: bàn luận với đủ lý lẽ. Nhị nguyên là hai cái mối khởi đầu có bản thể khác nhau, đối lập nhưng bổ sung nhau, để từ đó giải thích sự tạo thành vạn vật và các hiện tượng trong Vũ trụ. Đối lập với Nhị nguyên là Nhứt nguyên.

Một cách tổng quát, Nhị nguyên luận là học thuyết chủ trương thế giới và tất cả những gì tồn tại đều cấu thành do hai bản thể có tính cách khác nhau, độc lập với nhau, đấu tranh với nhau nhưng không tiêu diệt nhau mà bổ sung nhau.

Thí dụ: - Con người được cấu thành bởi hai yếu tố: thể xác và linh hồn.

Vũ trụ có 2 nguyên khởi là: Âm và Dương.

Nhị nguyên luận coi vật chất và tinh thần là hai bản nguyên như nhau. Việc tách rời tinh thần và vật chất theo quan điểm Nhị nguyên luận dẫn đến chủ nghĩa Duy tâm. Nhị nguyên luận là cơ sở của thuyết Tâm Vật song hành.

 

 

NHỊ NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

E: Second Muse.
F: Seconde Muse.

NHỊ NƯƠNG muốn hỏi rằng ai là người Khách Đạo có tinh-thần văn chương cao đẹp? Ai được gọi là Tửu Thánh Thi Thần, siêu-phàm thoát tục trong cõi trần hoàn này? Nhị Nương tuy là mang tiếng "Hồng-quần" là giới Nữ xưa nay chịu phận thiệt-thòi trong trần thế, nhưng Nàng vốn là một bậc Nữ-lưu trong đời, tài năng quán thế mà chẳng chút luyến-lưu gì cái đời tạm này, lòng cũng vẫn mến hoài nơi Tiên cảnh. Bà Muốn nhắn-nhủ khách trần-ai phải biết phân biệt giả chân, đâu là khinh đâu là trọng mà tìm về cảnh thật của cõi Hằng sinh.Cõi Trần là tạm sống ở thác về có chi đâu! Bửu pháp của Nhị Nương là LƯ HƯƠNG trong có cắm 3 cây hương: thể hiện tam hồn của chúng sanh (Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn). lửa biểu hiện cho Thần."Thần cư tại nhãn" ấy là Mắt vậy. Nhị Nương có nhiệm vụ cai quản vườn Đào của Đức Diêu Trì Kim Mẫu, đón tiếp các chơn hồn trở về, mở tiệc trường sanh thết đãi, rồi đưa các chơn hồn đến Ngân Kiều, cỡi Kim quang lên chầu Ngọc Hư Cung. Bài

Thài Hiến Lễ Nhị Nương Diêu-Trì-Cung:

 

CẨM tú văn chương hà khách Đạo?
Thi Thần tửu Thánh vấn thuỳ nhân?
Tuy mang lấy tiếng hồng-quần.
Cảnh Tiên còn mến cõi trần anh-thư.

 

 

 

Bửu pháp của Nhị Nương là LƯ HƯƠNG trong có cắm 3 cây hương: thể hiện tam hồn của chúng sanh (Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn). lửa biểu hiện cho Thần."Thần cư tại nhãn" ấy là Mắt vậy. Nhị Nương có nhiệm vụ cai quản vườn Đào của Đức Diêu Trì Kim Mẫu, đón tiếp các chơn hồn trở về, mở tiệc trường sanh thết đãi, rồi đưa các chơn hồn đến Ngân Kiều, cỡi Kim quang lên chầu Ngọc Hư Cung.

 

 

NHỊ THẬP BÁT TÚ

宿

Là 28 ngôi sao trên trời

Ý nghĩa Nhị thập Bát Tú

Trong vấn đề Đạo pháp không một điều gì xảy ra mà không có nguyên cớ. Đây là một vấn đề yếu thiết ấy. Vì sao buổi ban đầu chỉ có 28 vị ký tên vào TỜ KHAI ĐẠO mà không phải là con số khác. Nếu thật sự các Ngài không cố tình chọn con số này thì là một huyền vi bí mật đã dành sẵn cho con số huyền bí này vậy. Chính đây là số ứng nghiệm của Nhị Thập Bát Tú. Kinh nói: Khí nguyên thuỷ yếm kích mà thành hình Thuỷ kích. Đó là Tinh của Sao Chổi Huỳnh-hoặc. Thuỷ kích tuỳ theo tuế kể mà rời chỗ, như Gia lâm 28 Sao thì nảy sanh các tai biến lành dữ.

Đông phương 7 Sao (ứng Mộc):

Sao Giác : chòm sao Giác mệnh danh ban rải uy tín với hai sao chánh là Thiên Khuyết. Nay Thuỷ kích vào đó thì khiến đại nhân phải lo, có binh ngoại quốc xâm nhập lãnh thổ, toán tuế kể bất hoà thì rất hung.

Sao Cang : chòm này có 4 sao chánh, mệnh danh nội triều. Thuỷ kích vào đó thì dân sinh bệnh chết, năm đó sâu lúa, côn trùng hại mùa.

Sao Đê chòm này có 4 Tinh là phủ của Hậu Phi. Thuỷ kích vào đó là nội cung có hoả tai, có nghịch thần.

Sao Phòng 4 Tinh chính là chốn Minh Đường. Thuỷ kích vào đó là chủ việc động binh, các Tướng phải lo, toán bất hoà là đại hung.

Sao Tâm 4 Tinh chính ứng nơi Thái tử. Thuỷ kích vào đó là các Vương phải lo. Nếu ở tại Mão mà Tuế kể có Tính, có Cách là báo tin có thứ dân xâm phạm vào Cung. Năm vua Hán Vũ Đế chính hoà năm 3, dương lịch năm 90 trước Công nguyên. Lý Quảng Lợi đầu hàng Hung Nô, ứng năm Canh-Dần, (Thuỷ kích ở tại Mộc cung) năm đó Thuỷ kích gia vào sao Đê. Năm đó xảy ra việc các Công chúa và Hậu phi trở nên rất sùng tín vào "Vu thuật", tháng Tỵ năm đó, nhà vua lấy thêm Thiếp, đầu hết xảy ra trong Cung Vương và Thái Tử chiến tranh với nhau, với Hậu phi. Thái Tử và Hoàng Hậu tự sát.

Sao Vĩ 9 Tinh là phủ Hậu phi. Thuỷ kích vào đó là binh khởi, sĩ tốt lưu vong, nên tu đức để đối phó.

Sao Cơ 4 Tinh là phủ Hậu phi. Thuỷ kích vào đó là có khẩu thiệt, tai hoạ kinh khủng cho Hậu phi như năm Tân Hợi (Dl 291, đời Tấn Huệ Đế, Bà Giả Hậu phế Dương Thái Hậu, giết quan Thái phó Dương Tuấn. Sau nữa vào dương lịch 299, Kỷ Vì, Bà Giả Hậu phế Thái Tử, giết đi cùng nhiều Vương khác bị giết như Nhữ Nam Vương là Lượng.

Bắc phương 7 Sao (ứng Thuỷ làm Thuỷ kích)

Sao Đẩu 6 Tinh là Thiên Miếu. Thuỷ kích vào thì nhân quân mất tước lộc, nếu gặp cửa đóng (đỗ) thì người ăn thịt nhau. Đời Hán Vũ Đế Nguyên Đỉnh, dương lịch 114 trước công nguyên, năm đó tuế kể Thuỷ kích rơi vào Sao Đẩu, lại có Bế, Tính, cửa Đỗ (đóng) năm đó dân ăn thịt nhau vì đói quá. Những ai đã sông qua năm Ất Dậu 1945 tại các Tỉnh Nam-Định, Thái bình..cũng được thấy cảnh đói – có nơi xảy ra ăn thịt người – Mẹ giết con để lấy thịt …đói vào từ tháng Tỵ tới Ngọ. Năm đó tuế kể Thuỷ kích ở tại Âm đức, cửa đóng, xảy ra sóng Thần, (ứng năm Ất, Thuỷ kích vào Cung Thuỷ - Kim –tuyệt khí) toán bất hoà, vô thiên, đã ứng vậy.

Sao Ngưu 6 Tinh là cửa Cấm của Thái Ất chủ việc giết vật tế thần. Thuỷ kích vào đó là triệu chứng dân đói, việc cày cấy quí báu, giết hại trâu bò. Ngô Việt binh khởi.

Sao Nữ 4 Tinh là phủ của thê thiếp. Thuỷ kích vào đó là nữ hậu mắc bịnh tật, có hoả tai, lúa vải quí, tiền tài trong ngoài cạn.

Sao Hư 2 Tinh, phủ của lợn bò, chủ việc chiếm đoạt. Thuỷ kích vào đó xảy ra việc sửa đổi chính lệnh, chủ tai ương, vua tôi đều lo vì việc trả giá thách đố …giao dịch, kinh tế, thương mại.

Sao Nguy 3 Tinh chủ chợ Trời. Thuỷ kích vào đó chủ việc Thổ công, năm bị bịnh chết nhiều, tang tóc, binh đao, tiếng khóc tràn đầy, vải vóc quí hiếm.

Sao Thất 2 Tinh. Cung Thiên Tử. Thuỷ kích vào đó thì đại nhân mắc mưu, dân bị binh cách, nếu toán tam tài, Thái Ất không đủ thì nhiều tai biến.

Sao Bích 2 Tinh là phủ văn chương, nghệ thuật. Thuỷ kích vào đó là văn chương hưng thịnh. Nếu là vượng tướng thì trọng võ hơn đồ thư. Năm Vĩnh Bình 1 dương lich 58, Thuỷ kích vào năm Mậu Ngọ, rơi vào Sao Bích thì năm đó nơi nào cũng mở trường học. Năm Đinh Dậu, đời Đại Minh, Tống Hiếu Vũ Đế, năm dl 457, Thuỷ kích vào Sao Bích thì tại Lộc châu, Bắc Kinh lập Vũ học.

Tây Phương 7 Sao (ứng Kim làm Thuỷ kích)

Sao Khuê 6 Tinh là kho khí giới. Thuỷ kích vào đó thì cận thần, bề tôi bị bỏ rơi.

Sao Lâu 2 Tinh là tù ngục. Thuỷ kích vào đó thì sinh đạo tặc tại núi rừng, đường sá không thông, lúa gạo thất thu, dân đói, sinh biến, binh khởi.

Sao Vị 3 Tinh làm nơi tụ họp. Thuỷ kích vào đó thì ngũ cốc không tốt tươi, binh khởi.

Sao Mão 7 Tinh làm tai mắt trời. Thuỷ kích vào đó thì người bệnh tật và có chiến tranh lớn.

Sao Tất 8 Tinh chủ binh lực. Thuỷ kích vào đó thì binh lực mạnh, có chinh phạt. Ngũ cốc không chín. Năm Ất Mão dl 6 trước công nguyên, đời Hán Ai Đế. Thuỷ kích rơi vào Vị, Mão, Tất, năm đó bị nạn. Nam phương 19 nước bị nạn hoàng trùng, tháng 12 năm đó, sâu bọ tràn ngập đất hán trung. Năm đó động binh khắp nơi.

Sao Tuy 3 Tinh là phủ hành quân. Thuỷ kích vào đó thì đó tướng phản, ngựa trâu bị sung vào việc quân. Dân bịnh nhiều. Có cày cấy mà cây cối không mọc.

Sao Sâm 10 Tinh chủ Tướng quân. Thuỷ kích rơi vào đó là Cung thất phải rời chỗ, binh nhập vào kinh đô. Lại xảy ra Âm Dương bất điều hoà.

Nam phương 7 sao (ứng Hoả làm Thuỷ kích)

Sao Tỉnh 8 Tinh là cửa trời Nam. Thuỷ kích vào đó chủ sông ngòi đầy nước - có ngoại xâm- có đại hồng thuỷ lạo, binh đao.

Sao Quỉ 5 Tinh làm mắt Trời. Thuỷ kích vào đó chủ dân nhiều bịnh, hậu phi mất thế. Nhiều tử vong, lúa vải quí

Sao Liễu 8 Tinh làm ngục tù. Thuỷ kích vào đó thì dân đói, dân lưu vong, ly tán.

Sao Tinh 7 Tinh làm đô phủ. Thuỷ kích vào đó thì có hoả tai, vua tôi kình chống nhau.

Sao Trương 6 Tinh chủ tông miếu. Thuỷ kích vào đó thì sinh nhiều đảo lộn, biến đổi, nhiều thuyết ra đời, loạn.

Sao Dực 22 Tinh làm kho thuốc – và chủ sự an lạc. Thuỷ kích vào đó thì Âm Dương mất thứ tự, mưa nhiều – có loạn, đời rất xáo trộn, hết thuận hoà.

Sao Chẩn 4 Tinh chủ xe ngựa. Thuỷ kích vào đó thì có tang vong, có việc lập vua ngoại quốc, có binh loạn, mất thuận hoà, xáo trộn, nhiễu phiền, rầy rà. Người xưa thường lấy Kể Thần gia vào Cung Hoà Đức (Cấn) thấy Thuỷ kích rơi vào Sao nào thì biết lành dữ ra sao. Trong nhiều sách bói, người ta thường lấy theo lịch 28 sao trực để đặt ra ngày xấu tốt cho các việc: tu tạo, cưới hỏi, tang ma – cải táng, chôn cất- kiêng kỵ theo lý giải hình các vật thể ví dụ Sao Tâm là con Cáo (Hồ), sao Vĩ, con Cọp, sao Đẩu con Cua…Có biết rằng lý giải 28 sao còn có nhiều cách khác nhau- Cũng không vội tin

(Trích Thái Ất Thần kinh/ trang 565-568) của Dịch giả Thái Quang Việt).

Tác động của Tinh tú: "Vạn vật trong vũ trụ dù ở cõi vô hình hay hữu hình đều được sắp hạng và phân loại theo quy mô của số 7. Tất cả mọi hình thức sinh hoạt trong dãy hành tinh hiện tại đều thuộc một trong 7 cung. Mỗi cung có 7 phân bộ hay 49 nhóm. Toàn thể Thái dương hệ của chúng ta đều là sự biểu lộ của Thượng Đế, mỗi phần tử trong đó đều là một phần của Ngài. Ngoài ra có 7 vị tinh quân (logo) mỗi vị kiểm soát một cung. Thật ra các vị này chỉ là những trung tâm thần lực, những con đường vận hà để thần lực Thượng Đế ban rải ra. Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể trí tương ứng với ba cõi giới Hạ giới, Trung giới và Thượng giới.

Thượng Đế cũng thế:

-Tất cả vật chất trong Hạ giới hợp với thể xác của Ngài.

-Tất cả vật chất cõi Trung giới hợp thành vía của Ngài.

-Tất cả vật chất cõi thượng giới hợp thành thể trí của Ngài.

Tóm lại, tất cả đều là thành phần của Thượng Đế từ hạt bụi đến các dãy thiên hà. Mọi nguyên tử vật chất cấu tạo nên chúng ta đều là một phần của Thượng Đế xuyên qua 7 cung – khi qua đây nó bị thay đổi ít nhiều, tuỳ ảnh hưởng các cung. Khoa chiêm tinh có thể phân biệt người nào chịu ảnh hưởng cung nào tuỳ số lượng nguyên tử cấu tạo xuất phát từ cung liên hệ." (trích Hành trình về phương Đông của nguyên Phong dịch)

 

 

NHỊ THẬP TỨ HIẾU


E: Twenty four examples of filial piety.
F: Vingt quatre récits de pitié filiale.

Nhị thập tứ Hiếu là 24 gương Hiếu thảo, gốc từ Trung Hoa.

Đây là 24 gương Hiếu thảo của người xưa bên Tàu. Nhà văn Quách Cự Nghiệp (1277-1367) đời nhà Nguyên sưu tầm và biên soạn, truyền qua nước ta. Ở Việt Nam, Ông Lý Văn Phức (1785-1849) đậu Cử Nhân, làm quan dưới ba triều vua Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Là một nhà Nho chủ trương đạo đức, liền dịch truyện Nhị thập tứ Hiếu của Quách Cự Nghiệp ra thơ song thất lục bát, truyền bá và răn dạy người đời.

Nho giáo dạy về Nhơn đạo nên lấy chữ HIẾU làn căn bản đạo đức con người [Kinh Nho giáo: "Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi Hiếu"]. Người không hiếu với cha mẹ thì nhứt định không đạo đức, không dùng được.

Đạo Cao Đài vốn chủ trương Nho Tông Chuyển Thế nên luôn luôn đề cao Trung - Hiếu - Nghĩa. Đức Hiếu làm đầu trong mọi đức tánh khác. Trước hết là phải hiếu với cha mẹ nơi cõi phàm trần, sau đó còn phải hiếu với hai Đấng CHA MẸ thiêng liêng là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, bởi vì xác thân phàm do cha mẹ phàm sanh ra và nuôi dưỡng, còn linh hồn và chơn thần do Đức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo ra. Nơi mặt tiền của Báo Ân Từ trong Nội Ô Toà Thánh Tây Ninh, Hội Thánh cho đắp 24 bức tranh nổi ghi lại sự tích Nhị thập tứ Hiếu, để nhắc nhở Tín đồ Cao Đài phải hiếu thảo với cha mẹ. Thứ tự 24 bức tranh nầy có phần khác với thứ tự trong sách Nhị thập tứ Hiếu của Lý Văn Phức. Ghi chép lại sự tích theo thứ tự của 24 bức tranh nầy, kèm theo lời thơ của Ông Lý Văn Phức:

 

 

Mở đầu:

Người tai mắt đứng trong Trời
Ai là không cha mẹ sinh thành?
Gương treo Đất nghĩa Trời kinh,
Ở sao cho xứng chút tình làm con
Chữ Hiếu niệm cho tròn một tiết,
Thì suy ra trăm nết đều nên.
Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền,
Hiếu hai mươi bốn thơm nghìn muôn thu.
                                    (Lý Văn Phức)

1- NGU THUẤN

 

 

 

Ông Thuấn họ Ngu, cha là Cổ Tẩu, mẹ là Ốc Đăng rất hiền đức mà mất sớm. Cổ Tẩu có tánh ương gàn, mê muội, độc ác, cưới vợ kế, sanh được một con trai đặt tên là Tượng. Cảnh mẹ ghẻ con chồng thật là khắc nghiệt. Em Tượng lớn lên lại rất điêu ngoa và hỗn xược. Cổ Tẩu thường nghe lời vợ kế mà đày đọa Thuấn. Có lần bà mẹ ghẻ xui khiến Cổ Tẩu sai Thuấn đi cày ở đất Lịch Sơn, là nơi có nhiều cọp dữ, mục đích để trừ khử Thuấn. Thuấn nghe lời cha mẹ không chút than van, đến đó cày đất. Lòng hiếu thảo của Thuấn cảm động đến Trời cao, khiến cọp dữ không dám đến gần, voi ra cày đất, chim bay đến nhặt cỏ. Thấy không hại được Thuấn bằng cách đó, bà mẹ ghẻ lại xúi Cổ Tẩu sai Thuấn đi đánh cá ở đầm Lôi Trạch, là nơi thường có sóng to gió lớn nhận chìm tàu thuyền, không ai dám bén mảng tới gần đó. Thuấn vẫn nghe lời cha mẹ, đến đó đánh cá, sóng gió lặng yên như ngầm giúp cho người con hiếu thảo.

Dù bị hãm hại nhiều lần, nhưng Thuấn không hề oán trách cha và mẹ ghẻ, vẫn thương yêu em Tượng, sống hiền hòa hiếu thuận như không có gì xảy ra, thường lo phụng dưỡng cha mẹ và van vái Trời Phật cho cha mẹ được sống lâu và em Tượng được mạnh khỏe luôn. Với tấm lòng cao cả của Thuấn, bà mẹ ghẻ hồi tâm, ân hận các việc làm độc ác đã qua, trở lại thương yêu Thuấn. Tiếng hiếu thảo của Ông Thuấn được đồn vang, đến tai vua Nghiêu đang lo tìm người hiền để truyền ngôi vua. Vua Nghiêu đem 2 người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh gả hết cho Thuấn, và sau đó truyền ngôi lại cho Thuấn.

Đức Đại Thánh họ Ngu tên Thuấn,
Buổi tiềm long gặp vận hàn vi.
Tuổi xanh khuất bóng từ vi,
Cha là Cổ Tẩu, người thì ngang ngang.

Mẹ ghẻ lại tánh càng gay gắt,
Em Tượng nên rất mặt điêu ngoa.
Một mình thuận cả vừa ba,
Trên chìu cha mẹ dưới hòa cùng em.

Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt,
Dầu tử sanh không chút biến dời.
Xót tình khóc sớm kêu mơi,
Xui lòng ghen ghét hóa vui dần dần.

Trời cao thẳm mấy từng cũng đến,
Vật vô tri còn mến lựa người.
Mấy phen non Lịch pha phôi,
Cỏ chim vì lượm, ruộng voi vì cày.

Tiếng hiếu hữu xa bay bệ Thánh,
Mạng trưng dung trao chánh nhường ngôi.
Cầm thi xiêm áo thảnh thơi,
Một nhà đầm ấm trăm đời ngợi khen.

2- HÁN VĂN ĐẾ

 

 

 

Vua Hán Văn Đế tên là Hằng, con của Bạc Hậu, vợ thứ của vua Hán Cao Tổ Lưu Bang, em cùng cha khác mẹ với Thái Tử Dinh (sau nầy lên nối ngôi là vua Huệ Đế), con của Lữ Hoàng Hậu. Lữ Hậu không muốn Hằng và Bạc Hậu ở tại triều đình, vì sợ tranh giành ngôi Thái tử của con Bà. Vua Hán Cao Tổ biết vậy nên đưa Hằng ra làm Thân Vương ở đất Đại. Hán Cao Tổ mất, Thái Tử Dinh lên nối ngôi xưng là Huệ Đế. Huệ Đế mất sớm, Lữ Thái Hậu lập Thiếu Đế lên ngôi và Bà nhiếp chánh chuyên quyền. Thừa dịp Lữ Hậu bệnh nặng, các Đại thần đem binh bắt toàn gia Lữ Hậu giết hết, rước Hằng về nối ngôi, hiệu là Văn Đế.

Vua Hán Văn Đế nổi tiếng là người hiếu thảo, tánh rất hiền hòa, được triều thần và dân chúng mến phục. Vua Văn Đế lấy đức trị dân, bãi bỏ nhục hình, các lễ cống hiến, miễn thuế ruộng đất.

Bạc Hậu thường đau yếu luôn. Văn Đế luôn luôn hầu mẹ ngoài các buổi chầu nơi triều đình, thức đêm canh bịnh cho mẹ. Khi ngự y dâng thuốc, Văn Đế nếm trước rồi mới dâng cho mẹ uống.

Từ quan chí dân, ai cũng biết vua Văn Đế là bậc chí hiếu, đều bắt chước theo. Cả nước được thái bình thịnh trị.

Kìa Văn Đế vua hiền Hán đại,
Vâng ấn phong ngoài cõi thân vương.
Quên mình chức cả quyền sang,
Phụng thờ Bạc Hậu lễ thường chẳng sai.

Đến khi nối ngôi Trời trị nước,
Vẫn lòng nầy săn sắt như xưa.
Mẹ khi ngại gió kinh mưa,
Ba năm hầu hạ thường như một ngày.

Mắt chong bóng, dám say giấc ngủ,
Áo luôn mình dám sổ đai lưng.
Thuốc thang mắt xét tay nâng,
Nếm tường trong miệng mới dâng dưới màn.

Tiếng nhơn hiếu đồn vang thiên hạ,
Thói thuần lương hóa cả lê nguơn.
Hai mươi năm lẽ càn khôn,
Đã sau Tam Đại hãy còn Thành, Khương.

Ấy hai vị đế vương đời trước,
Chữ Hiếu dành đá tạc vàng in.
Còn ra sĩ thứ đẳng hiền,
Điểm xem mấy kẻ tiếng truyền đến nay?

3- CHÂU THỌ XƯƠNG

 

 

 

Châu Thọ Xương, người nước Tống, con của người vợ thứ trong gia đình họ Châu. Năm Ông lên 7 tuổi, người vợ cả đuổi mẹ của Ông đi, mẹ Ông sang ở đất Tần. Thọ Xương trưởng thành, được ra làm quan cho nhà Tống, nhưng lòng lúc nào cũng thương nhớ đến người mẹ ruột.

Đến đời vua Tống Thần Tông, Ông xin từ quan để đi tìm mẹ. Khi ra đi, Ông thề rằng, nếu không tìm thấy mẹ thì nhứt định không trở về nhà.

Ông đi khắp nơi, may đến đất Đồng Châu thì gặp mẹ. Xa cách nhau năm chục năm, nay mẫu tử đoàn viên. Ông xin rước mẹ về ở chung nhà đặng dễ bề phụng dưỡng.

Châu Thọ Xương làm quan Tống đại,
Mẹ sanh ra bảy tuổi lìa lòng.
Bởi vì đích mẫu chẳng dung,
Đem thân bồ liễu bạn cùng nước non.

Muôn ngàn dặm mẹ con xa khuất,
Năm mươi năm Trời Đất bơ vơ.
Sanh con những tưởng cậy nhờ,
Cái thân sung sướng bây giờ mà chi!

Từ quan chức quyết đi tìm tõi,
Nặng lời thề nói với gia đình.
Thân nầy chẳng gặp từ thân,
Thì liều sống thác với thân cho đành.

Trời đâu phụ tấm thành hiếu tử,
Chốn Đồng Châu bỡ ngỡ gặp nhau.
Nét mừng ai vẽ nên đâu,
Mẹ đầu nhuộm tuyết, con đầu hoa râm.

Đã bỏ lúc than ngầm khóc ngậm,
Lại vầy nên trên ấm dưới êm.
Cho hay máu chảy ruột mềm,
Chẳng Trời, ai tưởng còn tìm được đây.

4- VƯƠNG TƯỜNG

 

 

 

Vương Tường, sanh đời nhà Tấn, mồ côi mẹ từ nhỏ, sống với cha và bà kế mẫu khắc nghiệt. Bà mẹ ghẻ thường hay thêu dệt nói xấu Vương Tường làm cho cha cũng lần lần ghét bỏ Vương Tường. Dầu vậy, Vương Tường vẫn rất hiền hòa hiếu hạnh. Vào tiết đông băng giá, mẹ ghẻ đòi ăn cá tươi. Vương Tường đi ra bờ sông, mặt sông đóng băng, ông nằm trên băng tìm kẻ hở để bắt cá. Bỗng nhiên, băng chỗ đó nứt ra, hai con cá chép theo đó vọt lên. Vương Tường mừng quá, túm bắt đem về làm món cá tươi dâng lên kế mẫu. Kế mẫu cảm động, nhận ra tấm lòng hiếu thảo của Vương Tường, ân hận những điều sai trái do bà gây ra trước đây, nên trở lại thương yêu Vương Tường.

Ngươi Vương Tường cũng là đời Tấn,
Tủi huyên đường sớm ẩn bóng xa.
Mẹ sau gặp cảnh chua ngoa,
Tiếng gièm thêu dệt với cha đủ điều.

Lòng cha chẳng còn yêu như trước,
Lòng con thường chẳng khác như xưa.
Mẹ thường muốn bữa sanh ngư,
Giá đông trời lạnh bây chừ tìm đâu?

Trên giá đóng quyết cầu cho thấy,
Cởi áo nằm rét mấy cũng vui.
Bỗng đâu giá lở làm hai,
Lý ngư may đặng một đôi đem về.

Bữa cung cấp một bề kính thuận,
Mẹ cha đều đổi giận làm lành.
Cho hay hiếu cảm tại mình,
Dẫu trăm giận, lúc hả tình cũng thôi.

5- NGÔ MÃNH

 

 

 

Ngô Mãnh, sanh vào đời nhà Tấn, mới 8 tuổi đã biết hiếu thảo với cha mẹ. Nhà rất nghèo đến nỗi không tiền mua mùn. Đêm hè nóng nực, muỗi bay nhiều hằng đàn, Ngô Mãnh sợ cha mẹ bị muỗi đốt, mà lại không dám đập muỗi vì sợ cha mẹ nghe động thì thức giấc, nên liền cỡi trần ra, nằm phía ngoài để cho muỗi bay đến đốt mình cho no máu, khỏi bay vào đốt cha mẹ.

Tấn Ngô Mãnh tuổi thì lên tám,
Lòng sự thân chẳng dám khi nhàn.
Cực vì một nỗi bần hàn,
Có giường trong đặt, không màn ngoài che.

Trời đương buổi đêm hè nóng nảy,
Tiếng muỗi kêu vang dậy dường mưa.
Xót thay hai đấng nghiêm từ,
Để người chịu muỗi, bây chừ biết sao?

Nghĩ da thịt phương nào thay lấy,
Quyết nằm trần, muỗi mấy chẳng xua.
Dằn lòng cho muỗi được no,
Để người êm ái giấc hòe cho an.

Tuổi tuy bé mà gan chẳng bé,
Dạ ái thân đến thế thì thôi.
Cho hay phú tính bởi Trời,
Những đau trong ruột dám nài ngoài da.

6- HOÀNG HƯƠNG

 

 

 

Hoàng Hương, tự là Văn Cường, người đời Hậu Hán, mới 9 tuổi thì mẹ mất. Hoàng Hương thương nhớ mẹ khóc thảm thiết, thờ cha rất mực cung kính, thức khuya dậy sớm hầu cha, không dám xao lãng. Vào mùa đông, Hoàng Hương nằm ủ vào chăn chiếu để truyền hơi ấm cho cha khỏi lạnh; đến mùa hè thì quạt màn gối cho cha được mát mẻ luôn. Nhờ vậy mà người cha sống thoải mái vui tươi, không biết có mùa đông hay mùa hè. Quan Thái Thú Lưu Hộ ở quận biết Hoàng Hương là người con hiếu nên làm sớ tâu lên vua Hán xin ban thưởng để làm gương tốt cho mọi người.

Đời Hậu Hán Hoàng Hương chín tuổi,
Khuất bóng từ dòi dõi nhớ thương.
Hạt châu không ráo hai hàng,
Tiếng hiền đồn dậy trong làng đều khen.

Thờ nghiêm phụ cần chuyên khuya sớm,
Đạo làm con chẳng dám chút khuây.
Khi trời nắng hạ chầy chầy,
Quạt trong màn gối hơi bay mát dầm.

Trời đông buổi sương đầm tuyết thắm,
Ấp hơi mình cho ấm chiếu chăn.
Nhờ con cha đặng an thân,
Bốn mùa không biết có tuần hạ đông.

Tiếng hiếu kỉnh cảm lòng Quận Thú,
Biển nêu treo chói đỏ vàng son.
Cho hay tuổi trẻ mà khôn,
Ngàn xưa sớm biết đạo con mấy người.

7- ĐƯỜNG THỊ

 

 

 

Đường Thị, vợ nhà họ Thôi, ở với cha mẹ chồng rất hiếu thảo. Mẹ chồng quá già, răng đã rụng hết, không còn nhai cơm được nữa, Đường thị phải hằng ngày tắm rửa sạch sẽ, rồi cho mẹ bú để nuôi mẹ. Nhờ vậy mà mẹ chồng được sống thọ.

Cám ơn nàng dâu đã hết lòng nuôi nấng, bà mẹ chỉ biết khấn nguyện cùng Trời Phật ban bố cho con cháu nhà họ Thôi sau nầy người nào cũng hiếu thảo như Đường Thị.

Dâu họ Thôi ai bằng Đường thị,
Thương mẹ chồng niên kỷ đã cao.
Không răng ăn dễ được nào,
Ngày ngày lau chải ra vào thăm coi.

Lấy sữa ngọt thay mùi cơm cháu,
Mấy năm trời chẳng gạo mà no.
Vì dâu dốc dạ thờ cô,
Da mồi tóc bạc bốn mùa như xuân.

Ơn tình ấy không phần báo lại,
Buổi lâm chung vái với Hoàng Thiên,
Xin nguyền cho đặng như nguyền,
Dâu dâu ngày khác đặng hiền như dâu.

Ai nghe cũng răn nhau hiếu kỉnh,
Cửa Thôi gia hưng thịnh đời đời,
Cho hay gia khánh lâu dài,
Báu nào còn báu hơn người dâu ngoan!

8- KHƯƠNG THI

 

 

 

Khương Thi, sanh vào đời nhà Hán, có vợ là Bàng thị, hai vợ chồng đều rất hiếu thảo với mẹ. Mẹ chồng muốn uống nước sông, Bàng thị hằng ngày đi gánh nước sông ở thật xa đem về để dành cho mẹ dùng. Mẹ muốn ăn gỏi cá tươi, Khương Thi không nệ rét mướt, đi bắt cá đem về làm gỏi dâng lên mẹ. Thấy mẹ ở nhà một mình, sợ mẹ buồn bực, nên thường đến nhờ quí bà già hàng xóm đến chơi chuyện trò với mẹ cho vui tuổi già. Về sau, bên cạnh nhà, tự nhiên sanh ra một dòng suối ngọt, nước suối có mùi vị y như nước sông và hằng ngày lại có 2 con cá chép từ suối nhảy ra, Khương Thi bắt được, đủ làm bữa gỏi dâng lên mẹ dùng, và Bàng thị khỏi đi gánh nước sông ở xa nữa.

Người ta cho rằng, lòng hiếu thảo của vợ chồng Khương Thi làm cảm động lòng Trời nên Trời khiến sanh ra suối và cá như thế.

Hán Khương Thi nhà còn lão mẫu,
Vợ họ Bàng vẹn đạo chữ tòng.
Mẹ thường muốn uống nước sông,
Vợ từng đi gánh thay chồng hầu cô.

Mẹ thường muốn ăn đồ gỏi cá,
Vợ chồng đều tầm tá đủ mùi.
Lại mời lân mẫu sang chơi,
Để bồi cùng mẹ cho vui bạn già.

Bên nhà bỗng chảy ra suối ngọt,
Với nước sông in một mùi ngon.
Lý ngư ngày nhảy hai con,
Đủ trong cung cấp thần hôn thường lề.

Rày thong thả bỏ khi lận đận,
Cam thỏa lòng dâu thuận con hiền.
Cho hay gia đạo khi nên,
Đã con hiếu lại được hiền cả dâu.

9- ĐINH LAN

 

 

 

Đinh Lan, sanh nhằm đời Hớn, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên thành lập gia thất, rồi thuê người tạc tượng cha mẹ bằng gỗ để thờ, để tưởng nhớ ơn cúc dục cù lao của cha mẹ. Đinh Lan hết lòng thờ kính cha mẹ y như lúc còn sống. Mỗi khi đi và về đều thưa trình hẳn hoi. Ngày dâng 2 bữa cơm, tối đến lo sửa soạn mùn mền chiếu gối y như cha mẹ còn sống vậy. Phụng thờ như vậy được mười mấy năm, sau người vợ sanh ra giải đãi, lại dùng kim châm vào kẻ tay tượng gỗ xem thử có gì lạ không, không ngờ nơi ấy có máu chảy ra đỏ tươi, vợ Đinh Lan hoảng sợ vô cùng. Đến khi Đinh Lan trở về, vào trình cha mẹ thì thấy hai tượng gỗ đều chảy nước mắt, kẻ tay lại chảy máu. Đinh Lan gọi vợ để hỏi thì vợ thật tình kễ rõ.

Đinh Lan cho là vợ phạm tội đại bất hiếu không thể tha thứ được, nên quyết định thôi vợ.

Hán Đinh Lan thuở năm thơ ấu,
Bóng xuân huyên khuất dấu non xanh.
Đến nay tuổi đã trưởng thành,
Cám công sơn hải, thiệt tình trân cam.

Tưởng dung mạo khắc làm mộc tượng,
Cứ bữa thường phụng dưỡng như sanh.
Khi chăn gối, buổi cơm canh,
Mấy mươi năm vẫn lòng thành trước sau.

Bởi người vợ thờ lâu nên trễ,
Thử lấy kim châm kẻ ngón tay.
Bỗng đâu giọt máu chảy ngay,
Ai hay tượng gỗ lâu ngày thiêng sao?

Khi đến bữa chồng về làm lễ,
Mắt tượng rơi hàng lệ chứa chan.
Xét xem mới biết nguồn cơn,
Nổi bừng lá giận, dứt tan dây tình.

Há phải nhẫn mà đành phụ nghĩa,
Hiếu với tình nặng nhẹ phải cân.
Cho hay thành hẳn nên Thần,
Há rằng u hiển mà phân vong tồn.

10- LỤC TÍCH

 

 

 

Lục Tích, sanh vào đời Đông Hán, lên được 6 tuổi. Một hôm, Lục Tích theo cha sang Quận Cửu Giang viếng Viên Thuật. Viên Thuật làm tiệc thết đãi, Lục Tích thấy trên bàn tiệc có nhiều quít ngon, bèn lấy hai trái giấu vào túi áo. Khi mãn tiệc, đến chào Viên Thuật ra về, Lục Tích vô ý để quít lọt ra ngoài. Viên Thuật thấy vậy nói đùa: - Sao cháu lấy quít giấu như thế?

Lục Tích liền quì thưa rằng :

- Mẹ con thích ăn quít lắm! Nhân thấy trong tiệc có nhiều quít ngon, con giấu hai trái đem về biếu mẹ.

Viên Thuật khen ngợi Lục Tích còn nhỏ mà có hiếu.

Hán Lục Tích thuở còn sáu tuổi,
Quận Cửu Giang đến với họ Viên.
Trẻ thơ ai chẳng yêu khen,
Quít ngon đặt tiệc tiểu diên đãi cùng.

Cất hai quả vào trong tay áo,
Tiệc tan xong từ cáo lui chân.
Trước thềm khúm núm gởi thưa,
Vô tình quả quít nẩy lăn ra ngoài.

Viên trông thấy cười cười hỏi hỏi,
Sao khách hiền mang thói trẻ thơ?
Thưa rằng : Mẹ vốn tánh ưa,
Vật ngon dành lại để đưa mẹ thì.

Viên nghe nói trọng vì không xiết,
Bé con con mà biết hiếu thân.
Cho hay phú giữ thiên chơn,
Sanh ra ai cũng sẵn phần thiện đoan.

11- VƯƠNG THÔI

 

 

 

Vương Thôi, người nước Ngụy thời Tam Quốc. Cha của Vương Thôi là Vương Nghi làm quan cho nhà Ngụy (Tào Tháo, Tào Phỉ), bị Tư Mã Chiêu (con của Tư Mã Ý) giết chết, diệt luôn nhà Ngụy, diệt luôn nước Ngô (Ngô Tôn Quyền) và nước Thục (do Lưu Bị lập ra), thống nhất sơn hà, mở ra nhà Tấn, gọi là Tây Tấn.

Cha của Vương Thôi bị nhà Tây Tấn sát hại, ông quá thương xót, phủ phục trước mộ khóc mãi. Sách chép rằng : Nước mắt của Vương Thôi nhiều đến nỗi cây trắc trồng bên mộ xanh tươi bỗng trở nên khô héo. Vương Thôi suốt đời không quay mặt về hướng tây để tỏ cái ý chí oán giận nhà Tây Tấn giết chết cha của ông.

Mẹ của Vương Thôi lúc sanh thời rất sợ tiếng sấm. Khi mẹ mất rồi, mỗi khi chuyển mưa có sấm chớp, ông liền chạy ra mộ của mẹ, nằm sấp lên mộ khấn rằng : Có con đây, mẹ chớ kinh sợ.

Nhà Tây Tấn biết Vương Thôi là người hiền nên nhiều lần vời ra làm quan, nhưng Vương Thôi nhất định từ chối. Ông cất nhà ở kế mộ phần của cha mẹ rồi mở trường dạy học.

Khi giảng sách cho học trò, đến chương Lục Nga trong Kinh Thi có câu : Ai ai phụ mẫu sanh ngã cù lao … thì ông nhớ đến cha mẹ, nước mắt dầm dề. Sau học trò của ông bỏ chương Lục Nga không dám đọc nữa.

Ngụy Vương Thôi gặp đời Tây Tấn,
Vì thù cha lánh ẩn cao bay.
Bên mồ khóc đã khô cây,
Trọn đời ngồi chẳng hướng Tây lúc nào.

Khi sấm sét tìm vào mồ mẹ,
Lạy khóc rằng : Có trẻ ở đây,
Bởi vì tánh mẹ xưa nay,
Vốn từng sợ sấm những ngày gió mưa.

Nên coi sóc chẳng từ sớm tối,
Thần phách yên dạ mới được yên.
Trong khi đọc sách giảng truyền,
Tới câu " Sinh ngã " lệ tràn như tuôn.

Ngập ngừng kẻ cập môn cũng cảm,
Thiên Lục Nga chẳng dám còn ngâm.
Cho hay thử lý thử tâm,
Sư, sinh, cũng tấm tình thâm khác gì.

12- MẠNH TÔNG

 

 

 

Mạnh Tông, tự là Cung Võ, sanh vào đời nhà Ngô (Tam Quốc), quê ở Giang Hạ. Cha mất sớm, Mạnh Tông phụng dưỡng mẹ rất có hiếu.

Một hôm mẹ đau nặng, bỗng bà bảo thèm một chén canh măng. Trời mùa đông giá lạnh buốt xương, trái mùa măng mọc, Mạnh Tông tìm mãi trong rừng tre chẳng có mụt măng nào, buồn quá, chẳng biết làm sao, đành ôm gốc tre khóc ngất. Bỗng đâu có mấy mụt măng màu xám từ đất mọc lên, Mạnh Tông mừng rỡ xắn lấy đem về, nấu ngay một nồi canh măng dâng mẹ. Bà mẹ ăn xong canh măng thì khỏi bệnh.

Về sau có một loại tre cho loại măng màu xám giống y như vậy, được gọi là măng Mạnh Tông.

Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăn khăn.
Tuổi già trằn trọc băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.

Trời đông tuyết biết đâu tìm được,
Chốn trúc lâm phải bước chân đi.
Một thân ngồi dựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.

Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nẩy sanh.
Đem về nấu một bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.

Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.

13- QUÁCH CỰ

 

 

 

Quách Cự, tự là Văn Cứ, sanh vào đời nhà Hán, nhà rất nghèo, mồ côi cha, phụng dưỡng mẹ rất hiếu thảo.

Quách Cự có vợ sanh một đứa con trai được 3 tuổi. Khi đến bữa ăn, Quách Cự thường thấy mẹ mình nhịn bớt phần cơm, sớt qua cho cháu, nên bị thiếu ăn, lần lần sức khỏe sa sút. Quách Cự bàn với vợ : Vợ chồng mình đang thời sanh đẻ được, mẹ già thì chỉ có một lần, đã chẳng phụng dưỡng mẹ đầy đủ mà lại để cho con mình chia phần cơm của mẹ thì không phải.

Bàn nhau như vậy rồi, hai người ra sau nhà, đào một cái hố để chôn con. Khi đào xuống sâu độ một thước thì gặp một cái hủ, trên nắp hủ có viết hàng chữ "Thiên tứ huỳnh kim Quách Cự hiếu tử, quan bất đoạt, dân bất đắc thủ". Nghĩa là : Trời ban vàng ròng cho con hiếu Quách Cự, quan chẳng phép đoạt, dân chẳng được lấy. Hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ. Nhờ có vàng mà đời sống được sung túc, khỏi phải chôn con, lo phụng dưỡng mẹ già cho thỏa lòng hiếu đạo.

Hán Quách Cự cửa nhà sa sút,
Thờ mẫu thân chăm chút mọi bề.
Còn con ba tuổi biết chi,
Bữa ăn từ mẫu thường thì bớt cho.

Trông thấy mẹ bữa no bữa đói,
Với hiền thê than nói khúc nôi.
Mẹ già đã chẳng ai nuôi,
Để con xẻ ngọt chia bùi sao yên.

Vợ chồng ta còn phen sanh đẻ,
Mẹ già rồi hầu dễ đặng hai.
Nói thôi giọt vắn giọt dài,
Đào ba thước đất để vùi tình thâm.

May đâu thấy hoàng kim một hủ,
Chữ Trời cho đề rõ rành rành.
Cho hay Trời khéo ngọc thành,
Hiếu tâm đâu để đoạn tình cha con.

14- DƯƠNG HƯƠNG

 

 

 

Dương Hương, sanh vào đời nhà Tấn, mới 14 tuổi đã tỏ ra là con chí hiếu. Khi cha đi đâu, Dương Hương cũng theo hầu một bên.

Một hôm, hai cha con cùng đi thăm ruộng ở một nơi rất xa, gần vùng rừng núi, giữa đường gặp một con hổ dữ nhảy đến vồ cha. Dương Hương liều mình dùng đôi tay không đánh với hổ, dù bị nhiều vết thương nhưng Dương Hương cứ xông tới, hổ đành phải lui. Hai cha con được thoát nạn.

Tấn Dương Hương mới mười bốn tuổi,
Cha bước ra hằng ruổi theo cha.
Phải khi thăm lúa đường xa,
Chút thân tuổi tác thoắt sa miệng hùm.

Xót con mắt hầm hầm nổi giận,
Nắm tay không vơ vẩn giữa đàng.
Hai tay chặn dọc đè ngang,
Ra tay chống với hổ lang một mình.

Hùm mạnh phải xếp nanh lánh gót,
Hai cha con lại một đoàn về.
Cho hay hiếu mạnh hơn uy,
Biết cha thôi lại biết chi có mình.

15- THÁI THUẬN

 

 

 

Thái Thuận, tự là Quân Trọng, người đất Nhữ Nam, đời nhà Hán, mồ côi cha từ nhỏ, thờ mẹ rất hiếu thảo. Gặp thời loạn lạc, Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, lại nhằm năm mất mùa, dân chúng thật đói khổ. Thái Thuận phải đi lượm những trái dâu đem về ăn dỡ dạ. Rủi bị giặc Xích My bắt, lục soát trong người thấy có 2 túi đựng trái dâu : một túi đựng dâu đen, một túi đựng dâu vàng. Tra vấn thì Thái Thuận khai rằng : Dâu đen thì chín ngọt dành cho mẹ dùng, còn dâu vàng mới chín còn chua thì để riêng tôi dùng. Giặc Xích My khen Thái Thuận là con hiếu thảo, liền đem lòng thương, cấp cho 3 thúng gạo và một đùi thịt trâu đem về nuôi mẹ.

Ngươi Thái Thuận ở sau đời Hán,
Dạ thờ thân thuở loạn không lay.
Đương cơn khói lửa mù bay,
Liền năm hoang liễm ít ngày đủ no.

Nơi rừng rậm kiếm đồ nuôi mẹ,
Nhặt quả dâu chia để làm hai.
Tặc quân trông thấy nực cười,
Hỏi sao bày đặt đôi nơi cho phiền?

Rằng quả ấy sắc đen thì ngọt,
Dâng mẹ già gọi chút tình con.
Còn là sắc đỏ chẳng ngon,
Cái thân cay đắng dám còn sợ chua.

Giặc nghe nói khen cho hiếu kỉnh,
Bước lưu ly mà gánh cang thường.
Truyền quân của tiễn sẵn sàng,
Vó trâu một chiếc, gạo lương một bầu.

Mừng trong dạ bước mau nhẹ gót,
Về tới nhà miệng tỏ dâng qua.
Cho hay người cũng người ta,
Biết đâu đạo tặc chẳng là lương tâm.

16- MẪN TỬ KHIÊN

 

 

 

Mẫn Tử Khiên tên là Tổn (Mẫn Tổn), người nước Lỗ, học trò của Đức Khổng Tử. Mẹ mất sớm, cha cưới vợ kế sanh đặng 2 con. Cảnh mẹ ghẻ con chồng thật là khắc nghiệt, nhưng Mẫn Tử Khiên vẫn giữ một mực hiếu thảo với cha và mẹ kế, hoà nhã với 2 em.

Mùa đông giá rét, 2 con của mẹ ghẻ được mặc áo bông ấm áp, còn Mẫn Tử Khiên thì phải mặc áo lót bông lau không đủ ấm, lại còn phải đẩy xe đưa cha đi dạo chơi. Vì quá lạnh, tay Mẫn Tử Khiên tê cóng, phải rời xe ra. Người cha thấy vậy mới nghĩ lại, biết bà kế mẫu quá hà khắc, liền trở về nhà định đuổi bà đi. Mẫn Tử Khiên khóc lóc xin cha xét lại, đừng đuổi kế mẫu đi, vì nếu kế mẫu còn thì chỉ có mình con chịu rét mà thôi, nếu đuổi kế mẫu thì chẳng những con mà cả 2 em cũng đều phải chịu rét mướt khổ sở nữa.

Người cha nghe theo, về nhà thuật chuyện lại cho kế mẫu của Tử Khiên nghe, khiến bà cảm động. Lòng hiếu thảo của Mẫn Tử Khiên đã cảm hóa được bà, khiến bà sửa mình và trở nên một hiền mẫu.

Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu.
Thờ cha sớm viếng khuya hầu,
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.

Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời áo kép dày bông.
Chẳng thương chút phận long đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.

Khi cha dạo theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay.
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.

Gạt nước mắt chơn quì miệng gởi :
"Lạy cha xin xét lại nguồn cơn.
Mẹ còn, chịu một thân con,
Mẹ đi luống để cơ hàn cả ba."

Cha trông xuống cũng sa giọt tủi,
Mẹ nghe lời cũng đổi lòng xưa.
Cho hay hiếu cảm nên từ,
Thấm lâu như đá cũng rừ lọ ai?

17- TỬ LỘ

 

 

 

Tử Lộ, tự là Trọng Do, người ở ấp Biện nước Lỗ, là học trò giỏi của Đức Khổng Tử. Nhà nghèo, Tử Lộ thường phải đi đội gạo rất xa đem về nuôi cha mẹ mà không nệ hà cực nhọc. Không tiền mua thức ăn, ông đi hái rau lê rau hoắc nấu canh dâng lên cha mẹ dùng đỡ.

Sau khi cha mẹ mất, ông qua nước Sở được vua Sở trọng dụng, ban cho quan tước và bổng lộc cao sang. Trong cảnh phú quí vinh hoa, ông thường nhắc đến cha mẹ và lấy làm tiếc là cha mẹ không còn sống để cùng vui hưởng cảnh giàu sang, nên Tử Lộ than rằng: Nay muốn ăn rau lê rau hoắc, đội gạo như trước chẳng được nữa, vì cha mẹ đã mất. Khổng Tử khen Tử Lộ là người thận trọng và chí hiếu.

Thầy Tử Lộ cũng người nước Lỗ,
Thờ hai thân từng bữa canh lê.
Thường khi đội gạo đi về,
Xa xôi trăm dặm nặng nề hai vai.

Đỉnh huê biểu từ khơi bóng hạc,
Gót Nam du nhẹ bước tang bồng.
Xe trăm cỗ, thóc muôn chung,
Ngồi chồng đệm ghép ăn chồng vạc cao.

Thân phú quí ngắm vào thêm tủi,
Đức cù lao chạnh tới càng đau.
Nào khi đội gạo canh rau,
Muốn còn như cũ dễ hầu được ru!

Lòng thắc mắc nghìn thu vẫn để,
Biết bao giờ cam chỉ đền công.
Cho hay dạ hiếu không cùng,
Dẫu Tam Công chẳng đổi lòng thần hôn.

18- LÃO LAI TỬ

 

 

 

Lão Lai Tử, người nước Sở, sanh vào thời Xuân Thu, thờ cha mẹ rất hiếu thảo. Lúc ông được 70 tuổi mà cha mẹ vẫn còn sống rất thọ. Ông sợ cha mẹ buồn khi thấy mình già nên ông thường mặc quần áo sặc sỡ rồi múa hát trước mặt cha mẹ để làm vui cha mẹ; lại có khi bưng nước giả bộ trợt té ngồi khóc oa oa như con nít làm cha mẹ phải bật cười.

Lão Lai Tử đời Châu cao sĩ,
Thờ hai thân chẳng trễ ngọt bùi.
Tuổi già đã đúng bảy mươi,
Nói năng chẳng chút hở môi rằng già.

Khi thong thả mẹ cha ngồi trước,
Nhảy lăn vào bắt chước trẻ thơ.
Thấp cao điệu múa nhởn nhơ,
Xênh xang màu áo bạc phơ mái đầu.

Chốn đường thượng khi hầu bưng nước,
Giả làm điều ngã trước thềm hoa.
Khóc lên mấy tiếng oa oa,
Tưởng chừng lên bảy lên ba thuở nào.

Trên tuổi tác trông vào vui vẻ,
Án đình vi gió thụy mưa xuân.
Cho hay nhân tử sự thân,
Trong trăm năm đặng mấy lần ngày vui.

19- DIỄM TỬ

 

 

 

Diễm Tử, sanh đời nhà Châu, phụng dưỡng cha mẹ rất hiếu thảo. Khi cha mẹ già, mắt lòa, lại thèm uống sữa hươu từng ngày. Diễm Tử lập kế, lấy da hươu khô may làm quần áo giả làm hươu con, rồi vào rừng lẫn vào đám hươu, đến gần hươu mẹ, vắt sữa hươu mẹ, đem về cho cha mẹ dùng.

Một hôm, bọn thợ săn vào rừng săn thú, thấy Diễm Tử trong lốt hươu tưởng là hươu thiệt, định giương cung bắn chết. Diễm Tử vội la lớn rồi trút bỏ lớp da hươu, giải bày sự việc. Bọn thợ săn mến phục Diễm Tử là người mưu trí và hiếu thảo.

Châu Diễm Tử làm con rất thảo,
Chiều hai thân tuổi lão niên cao.
Mắt trần khuất nguyệt mờ sao,
Sữa hươu, người vẫn ước ao từng ngày.

Vật khó kiếm không hay thường dõi,
Phải lo phương tìm tõi cho ra.
Hươu khô tìm lấy lột da,
Mặc làm sắc áo để hòa lẫn theo.

Chốn non thẳm tìm vào bầy lứa,
Sẽ dần dà lấy sữa nuôi thân.
Bỗng đâu gặp lũ đi săn,
Rắp buông tên bắn không phân vật người.

Đem tâm sự tới nơi bày tỏ,
Chút hiếu tình nghe rõ cũng thôi.
Cho hay chung một tánh Trời,
Tấm son cũng động được người võ phu.

20- ĐỔNG VĨNH

 

 

 

Đổng Vĩnh, sanh vào thời Hậu Hán, nhà rất nghèo, nhưng ở với cha mẹ rất hiếu thảo. Khi cha mất, trong nhà không có tiền để lo việc tang cho cha, ông đến nhà một người phú hộ để xin vay tiền và cam kết khi xong đám tang cha thì ông sẽ đến dệt đủ 300 tấm lụa lấy công trừ nợ.

Nhờ số tiền vay nầy, Đổng Vĩnh lo việc tang cho cha xong xuôi tốt đẹp. Ông liền thu xếp công việc để qua nhà người phú hộ dệt lụa trừ nợ. Dọc đường đi, Đổng Vĩnh gặp một người con gái xinh đẹp và thùy mị, cùng hứa hẹn kết nghĩa trăm năm nhưng giao kết sau khi dệt xong 300 tấm lụa. Người con gái nói rằng nàng rất thạo nghề dệt lụa, nên xin theo chàng đến nhà phú hộ giúp chàng dệt cho mau xong. Nhờ có nàng phụ giúp, Đổng Vĩnh dệt xong 300 tấm lụa rất mau và lụa rất đẹp. Cả hai cùng trở về nhà và khi đi ngang qua chỗ gặp nàng trước đây, người con gái nói với Đổng Vĩnh rằng:

- Tôi là Chức Nữ trên Trời, nhơn thấy anh nhà nghèo mà có lòng chí hiếu, nên xuống giúp công cho anh trả nợ, nay chẳng đặng đứng lâu. Nói dứt thì mây giăng mù mịt, nàng đằng vân bay mất.

Đến đời nay, chỗ đó còn cái giếng giặt tơ làm dấu tích.

Đời Hậu Hán có người Đổng Vĩnh,
Nhà rất nghèo mà tánh rất thành.
Thấu chăng, chăng thấu Trời xanh,
Phụ tang để đó, nhân tình còn chi.

Liều thân thể làm thuê công việc,
Miễn cầu cho thể phách được yên.
Cực người thay nhẽ đồng tiền,
Đem thân hiếu tử băng miền phú gia.

Bỗng gặp kẻ đàn bà đâu đó,
Xin kết làm phu phụ cùng đi.
Lụa ba trăm tấm dệt thuê,
Trả xong nợ ấy mới về cùng nhau.

Đến chốn gặp bỗng đâu thoạt biến,
Là Tiên Cô Trời khiến giúp công.
Cho hay Trời vốn chiều lòng,
Há rằng cao thẳm ngàn trùng cách xa.

21- GIANG CÁCH

 

 

 

Giang Cách, người đời Hậu Hán, mồ côi cha từ lúc còn bé, thờ mẹ rất hiếu. Gặp lúc loạn lạc, Giang Cách cõng mẹ chạy đi lánh nạn. Giữa đường quân giặc bắt được hai mẹ con. Ông khóc lóc van xin thảm thiết cho được sống để nuôi mẹ già. Quân giặc động lòng tha cho. Giang Cách đưa mẹ qua ở đất Hạ Bì, ngày ngày cố sức đi làm thuê nuôi mẹ cho qua cơn loạn lạc.

Hán Giang Cách cô đơn từ bé,
Bước truân chuyên với mẹ đồng cư.
Đương cơn loạn lạc bơ vơ,
Một mình cõng mẹ ngẩn ngơ dọc đường.

Từng mấy độ chiến trường gặp giặc,
Giặc cố tình hiếp bắt đem đi.
Khóc rằng : Thân mẹ lưu ly,
Tuổi già bóng chiếc biết thì cậy ai.

Giặc nghe nói thoắt thôi chẳng nỡ,
Rồi dần dà qua ở Hạ Bì.
Dấn mình gánh mướn làm thuê,
Miễn nuôi được mẹ quản gì là thân.

Mỗi đồ vật sắm lần no đủ,
Áng xuân phong tươi nét từ nhan.
Cho hay những lúc gian nan,
Thật vàng dẫu mấy lửa than cũng vàng.

22- SƯU KIỀM LÂU

 

 

 

Sưu Kiềm Lâu, người nước Tề, tánh rất có hiếu, được làm quan lịnh ở huyện Sàn Lăng, đến nhận chức chưa được 10 hôm thì xảy đâu lòng ông kinh hoảng lạ thường, mình đổ mồ hôi như tắm, thì ông biết cha mẹ ở nhà chắc là có việc gì xảy ra chẳng lành. Ông xin từ quan để trở về nhà, mới hay cha bịnh nặng đã 2 ngày. Lương y nói rằng: Nếu muốn biết bịnh khó dễ thì nếm thử phẩn, như có vị đắng thì chữa khỏi, còn có vị ngọt thì rất khó trị. Sưu Kiềm Lâu nếm phân thử thì cảm thấy có vị ngọt, lòng rất lo sợ tánh mạng của cha già Đêm đêm, ông đốt hương nhắm sao Bắc Đẩu khấn nguyện cho cha hết bịnh. Sau đó, ông mơ thấy một người đến đưa ra một cái thẻ vàng có chữ: Sắc Trời cho bình an. Quả nhiên, mấy ngày hôm sau thì cha ông uống thuốc khỏi bệnh.

Quan Thái Thú nghe ông Sưu Kiềm Lâu có lòng hiếu như vậy nên cho ông phục chức quan trở lại.

Sưu Kiềm Lâu có danh Tề quốc,
Huyện Sàn Lăng nhận chức thân dân.
Tới nha chưa được một tuần,
Mồ hôi như dội, tâm thần thường đau.

Treo ấn ruổi vó câu bươn bả,
Về thăm cha bệnh đã hai ngày.
Nếm dơ vâng cứ lời thầy,
Ngọt ngào đầu lưỡi, chua cay trong lòng.

Thấy sách dạy "bệnh trung nguy khổ "
Ước làm sao bệnh đỡ mới cam.
Đêm đêm hướng Bắc triều tam,
Xin đem tánh mạng thay làm thân cha.

Lòng cầu khẩn thấu tòa tinh tú,
Chữ bình an vui thú đình vi.
Cho hay máy động huyền vi,
Thay mình truyện trước còn ghi Kim Đằng.

23- HOÀNG ĐÌNH KIÊN

 

 

 

Hoàng Đình Kiên sinh vào đời nhà Tống, hiệu là Sơn Cốc, còn có tên là Tăng Trực, làm quan Thái Sử triều vua Nguyên Hựu, thờ cha mẹ rất hiếu thảo. Tuy làm quan chức cao, trong nhà có nhiều tôi tớ, nhưng ông tự mình chăm sóc những thứ đồ dùng để tiểu tiện của cha mẹ, dù dơ bẩn thế nào, ông cũng chính tay lau rửa, không để cho đày tớ làm.

Triều Nguyên Hựu có thầy Tăng Trực,
Là họ Hoàng ngồi chức Sử thần.
Ơn vua đã nhẹ tấm thân,
Phận con vẫn giữ thờ thân như ngày.

Đồ dơ bẩn tự tay lau chuốt,
Việc tầm thường chẳng chút đơn sai.
Há rằng sai khiến không ai,
Đem thân quan trọng thay người gia nô.

Chức nhân tử phải cho cần khổ,
Có mẹ cha mới có thân ta.
Cho hay đạo chẳng ở xa,
Hãy làm hiếu tử mới ra trung thần.

24- TĂNG TỬ

 

 

 

Tăng Tử, tên là Sâm, tự là Tử Dư, người ở ấp Vũ Thành nước Lỗ, sanh vào thời Xuân Thu, là học trò giỏi của Đức Khổng Tử, được đời sau tôn là Tông Thánh trong hàng Tứ Phối, truy tặng là Thành Quốc Công. Tăng Tử phụng dưỡng cha mẹ rất hiếu thảo. Bữa ăn nào cũng rán mua đủ rượu thịt cho cha mẹ dùng. Khi cha mẹ ăn xong, đồ ăn dư lại, cha mẹ muốn cho ai thì ông vâng lời đem cho người ấy.

Cảnh nhà hàn vi, ông thường vào rừng đốn củi. Có một người khách đến chơi, Mẹ muốn gọi ông về ngay nhưng không biết phải làm thế nào. Trong lúc lúng túng, bà cắn vào đầu ngón tay thật đau. Tăng Tử đang chặt củi trong rừng, chợt cảm thấy lòng quặn đau kỳ lạ, e có việc không hay xảy đến cho mẹ nên vội thu xếp gánh củi trở về nhà. Gặp mẹ mới giải rõ nguồn cơn. Thật là cốt nhục tình thâm tương cảm.

Đời Châu mạt có Thầy Tăng Tử,
Thờ mẹ cha thì giữ chí thành.
Bữa thường rượu thịt ngon lành,
Cho ai vâng cứ đành rành không sai.

Nhà bần bạc thường đi hái củi,
Quãng mù xanh thui thủi non sâu.
Mẹ ngồi tựa cửa bóng sau,
Nhơn khi khách đến trông mau con về.

Rối trong dạ nhơn khi cùng túng,
Cắn ngón tay cho động lòng con.
Trong non bỗng chốc bồn chồn,
Quặn đau khúc ruột bước dồn gót chơn.

Quì dưới gối kề gần thưa hỏi,
Lắng bên tai tỏ rõ nguồn cơn.
Cho hay từ hiếu tương quan,
Non Đồng tuy lở, không hàn tiếng chuông.

PHẦN KẾT:

Bấy nhiêu tích cổ nhơn về trước,
Cách ngàn xưa như tạc một lòng.
Kể chi kẻ đạt người cùng,
Lọt lòng ai trốn khỏi vòng di luân.

Buổi công hạ cảm thân dày đội,
Xa hương quan gần cõi Thánh Hiền.
Trông vào những thẹn bóng đèn,
Muốn lưu gia phạm, nên truyền quốc âm.

Dịch giả : LÝ VĂN PHỨC

Nhận xét: Trong 24 gương hiếu thảo mà Ông Quách Cự Nghiệp chọn ra từ trong các truyện tích xưa, nếu đứng về phương diện khoa học mà xét thì các điển tích này không được hoàn hảo. Tuy nhiên người Á Đông có tinh thần nhạy bén, dễ cảm thông, thế nên nó vẫn có một giá trị sâu sắc nên mới tồn tại đến ngày nay. Về phương diện Dịch lý thì con số 24 mang rất nhiều ý nghĩa: nó là 24 tiết khí vận hành, người có 24 chiếc xương sườn chở che lồng ngực.

Trong ba đức: TRUNG-HIẾU-NGHĨA mà Hiếu đứng vào giữa và quan trọng vô cùng. Cái Hiếu vốn bẩm sinh chớ không thể học được.

 

 

NHỊ THẬP TỨ TIẾT

E: Twenty four weathers.
F: Vingt quatre temps.

Nhị: Hai, thứ nhì. Nhị thập tứ: 24. Tiết: thời tiết, khí hậu. Nhị thập tứ Tiết là 24 tiết khí hậu trong một năm.

Người Tàu thuở xưa nhận thấy trong 1 năm có 24 tiết khí hậu khác nhau, đặc biệt ở vùng sông Hoàng Hà, gọi là Nhị thập tứ Tiết, kể ra sau đây:

Ngày-tháng dương lịch:

1.

 

Tiểu hàn:

 

lạnh ít

 

05-1

2.

 

Đại hàn:

 

lạnh nhiều

 

20-1

3.

 

Lập Xuân:

 

đầu mùa Xuân

 

04-2

4.

 

Vũ thủy:

 

mưa nước

 

19-2

5.

 

Kinh trập:

 

sâu nở

 

05-3

6.

 

Xuân phân:

 

giữa mùa Xuân
(ngày và đêm dài bằng nhau)

 

21-3

7.

 

Thanh minh:

 

trong sáng

 

05-4

8.

 

Cốc vũ:

 

mưa rào

 

20-4

9.

 

Lập Hạ:

 

đầu mùa Hạ

 

05-5

10.

 

Tiểu mãn:

 

hạt trướng

 

21-5

11.

 

Mang chủng:

 

lúa trổ

 

05-6

12.

 

Hạ chí:

 

giữa mùa Hạ
(ngày dài nhất)

 

22-6

13.

 

Tiểu thử:

 

nắng ít

 

07-7

14.

 

Đại thử:

 

nắng nhiều

 

22-7

15.

 

Lập Thu:

 

đầu mùa Thu

 

07-8

16.

 

Xử thử:

 

nắng nhạt

 

23-8

17.

 

Bạch lộ:

 

sương trắng

 

07-9

18.

 

Thu phân:

 

giữa mùa Thu
(ngày và đêm dài bằng nhau)

 

23-9

19.

 

Hàn lộ:

 

sương lạnh

 

08-10

20.

 

Sương giáng:

 

sương sa xuống

 

23-10

21.

 

Lập Đông:

 

đầu mùa Đông

 

07-11

22.

 

Tiểu tuyết:

 

tuyết ít

 

22-11

23.

 

Đại tuyết:

 

tuyết nhiều

 

07-12

24.

 

Đông chí:

 

giữa mùa Đông
(đêm dài nhứt)

 

22-12

 

Ngày dương lịch ghi trên theo các Tiết có thể xê dịch 1 ngày vì năm nhuận của dương lịch (tháng 2 có 29 ngày).

Trong dương lịch, người ta coi 4 Tiết: Xuân phân, Hạ chí, Thu phân, Đông chí là 4 ngày đầu mùa, nhưng trong âm lịch thì 4 ngày đó được xem là giữa mùa, còn các ngày đầu mùa thì lại bắt đầu sớm hơn 3 Tiết, vào những ngày: Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu và Lập Đông.

Phân tích lịch 24 Tiết của Trung quốc, ta thấy mỗi Tiết kéo dài 15 đến 16 ngày, có nêu đặc điểm khí hậu quan hệ đến nông nghiệp.

Lịch 24 Tiết của Trung quốc có những ưu điểm sau đây:

Một là xác định các mùa bằng ngày mặt trời.

Hai là tính các mùa khá chi tiết.

Ba là chỉ được sự diễn biến của thời tiết, khí hậu nóng lạnh, nắng mưa và ảnh hưởng của chúng đối với mùa màng.

Lịch 24 Tiết nói trên chỉ đúng ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà và sông Trường giang ở Trung quốc, thuộc vùng ôn đới; còn ở nước ta thuộc vùng nhiệt đới, không có tuyết nên khí hậu ở nước ta có nhiều điểm khác biệt hơn ở Trung quốc.

 

 

NHỊ TRẤN OAI NGHIÊM

Trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ này, Đức Chí-Tôn mở Đạo không lập Tam giáo như hai kỳ trước, mà Ngài chỉ lập Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Tam giáo, thì: Đức Lý Đại Tiên:

- Thái Bạch Kim-Tinh là Nhứt Trấn oai nghiêm thay Tiên giáo.

- Đức Phật Quan Âm, Nhị trấn oai nghiêm thay quyền Phật giáo

- Đức Quan Thánh Đế quân là Tam Trấn Oai nghiêm thay quyền Thánh giáo. Ba Ngài đã thể hiện đủ nét: BI- TRÍ- DŨNG để nhơn sanh noi theo mà tu hành đúng theo chơn pháp trong buổi Tam Kỳ Cứu thế và Chuyển thế này.

Ngày 15-01-Canh Ngọ (dl: 13-02-1930) Đức Quan-Âm giáng Cơ dạy tiếp: Hương Thanh Hiền muội, nghe Chị phân, Buổi Chí-Tôn lập Đạo, Kim-Mẫu cậy Chị cầm quyền Nhị Trấn Oai Nghiêm thì Chị cũng vì Hiền-muội và toàn thể Nữ-phái ra cam lãnh lịnh. Khi Ngọc-Hư nhứt định không lập Nữ-phái, Chị đã quì tại Điện Bạch-Ngọc trọn ba ngày mà cầu khẩn. Nhờ lấy cớ Tà-quyền nhiễu hại lương sanh mà làm cớ, lại hứa rằng: Có Nữ-phái dây thân ái mới buộc chặc tình đời, Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên Đài mới làm đặng. Nào dè ngày nay thế này! Chí Tôn cho Chị là thất nguyện. Nếu không vì lòng Đại-Từ-Bi của Chí-Tôn thì tội ấy đủ làm cho Chị phải luân hồi chuyển kiếp một phen nữa. Chị chẳng biết phương chi dạy-dỗ Nữ phái, phải cầu với Diêu Trì, có Cửu-Nương giúp sức đặng khai trường Qui-Thiện, đặng dạy-dỗ mấy Em. Chị tưởng mấy Em làm chủ nơi đây mới đáng, y theo Cao Thượng-Phẩm liệu…"

Quan Thế Âm Bồ Tát 觀世音菩薩 là nghĩa gì?

- Quan Thế Âm hay Quán Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát có lòng Đại Từ Đại Bi và thường hay cứu khổ cứu nạn, cho nên chúng sanh đâu đâu cũng thờ và tụng niệm đến danh hiệu của Ngài. Ba chữ "Quán Thế Âm" nói lên được lòng thương vô lượng vô biên của Ngài, lúc nào Ngài cũng lắng nghe âm thanh ở thế gian, nơi nào, lúc nào có tiếng kêu đau, kêu khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp, hóa độ.

Trong kinh Pháp Hoa có câu: "Khổ não chúng sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát. Dĩ thị danh Quan Thế Âm" 苦惱眾生, 一心稱名, 菩薩即時觀其音聲, 皆得解, 以是名觀世音 nghĩa là chúng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài xem âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát. Vì thế, nên gọi Ngài là Quan Thế Âm.

Người Đời thường gọi tắt là Quan Âm. Ngài còn có hiệu là Quán Tự Tại Bồ Tát, có nghĩa là quán chiếu thâm sâu, giác ngộ tự tại mà cứu độ chúng sinh.

Đức Quán Thế Âm có phép thần thông quảng đại, thường hay biến hiện nhiều sắc tướng để cứu giúp chúng sanh, nên người đời thường thờ Ngài bằng nhiều tượng khác nhau.

- "Thiên thủ thiên nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát" 千手千眼觀世音菩 tượng có nghìn tay nghìn mắt.

- "Chuẩn Đề Quan Âm’ là Tượng có ba mắt và mười tám tay.

- "Nam Hải Viên Thông Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi, Tầm Thanh Cứu Khổ, Linh Cảm Quan Âm Bồ Tát" 南海圓通教主, 大慈大悲, 尋聲救苦, 靈感觀世音菩薩 Danh hiệu nầy có nghĩa là Đức Quan Thế Âm làm Giáo Chủ Đạo Viên Thông ở miền Nam Hải, thường tìm tiếng kêu mà cứu khổ, rất cảm ứng và rất linh thiêng.

- Quan Âm Nữ Phật 觀音女佛 là Tượng một người phụ nữ, cho nên còn gọi là Phật Bà Quan Âm, do hai sự tích: Quan Âm Diệu Thiện và Quan Âm Thị Kính.

Trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Quan Thế Âm là một Nữ Phật Tông, tượng trưng cho tình thương của một bà mẹ hiền, đứng trên hoa sen, tay cầm cành dương liễu để tiếp dẫn chúng sanh và bình Nước Cam-Lồ để rưới tắt các phiền não. Trụ Xứ của Ngài là Nam Hải, nên còn được gọi Nam Hải Quan Âm hay Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai. Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Nhị Trấn Oai Nghiêm Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai để đại diện cho Phật trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Bát Nương có giáng cơ cho biết về Đức Quan Âm như: "Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ Phổ Độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên".

 

 

NHỊ XÁC THÂN

E: The perisprit.
F: Corps astral.

Nhị xác thân là Xác thân thứ nhì. Con người có Tam thể xác thân: Thể thứ nhứt là Xác thân phàm do cha mẹ phàm trần sanh ra và được nuôi dưỡng bằng vật chất phàm trần; Thể thứ nhì gọi là Nhị xác thân, là xác thân thiêng liêng hay Chơn thần, do Ðức Phật Mẫu dùng nguyên khí nơi Diêu Trì Cung tạo nên; Thể thứ ba là Chơn linh hay linh hồn, là điểm Linh quang do Ðức Chí Tôn ban cho. Chơn linh điều khiển Chơn thần, Chơn thần điều khiển xác phàm. Thầy cắt nghĩa về đệ Nhị Xác thân:

"Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel, mà cái Thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng. Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí- Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh- Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần không có Tinh- Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng. Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng. Như rủi bị huờn, thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d'électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn. Vì vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo". Thủ cơ hay là Chấp bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất Chơn thần ra khỏi phách đặng hầu Thầy nghe dạy. Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn thần nói lại mà viết ra, mường tượng như con đặt để, con hiểu đặng vậy. Chơn thần là gì?

- Là nhị xác thân (périsprit), là xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu. Cái Chơn thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc Đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.Như chấp cơ mà mê thì Chơn thần ra trọn vẹn khỏi xác. Thầy mới dạy nó viết chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra, người đọc trật chữ, nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.

Còn chấp bút, khi Thầy đến thì làm cho thần con bất định một lát, cho Thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết. Ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông vạn vật đặng."

 

 

NHIỆM KỲ

Các Tôn-giáo xưa kia khi lập giáo thì vị Giáo-chủ có tiên tri nhiệm kỳ của mình, như:

- Phật giáo định nhiệm kỳ 2.500 năm là đến thời-kỳ mạt pháp.

- Thiên-Chúa-Giáo thì định nhiệm kỳ trong 2.000 năm.

- Đức Chí-Tôn khai mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ có tiên tri nhiệm kỳ của Đạo Cao-Đài là thất ức niên, tức là bảy trăm ngàn năm (700.000). Mỗi thời kỳ hay là mỗi nguơn hội thì có mở một kỷ nguyên mới để cho nhơn loại bước lên một bước cao hơn trên con đường tấn hoá. Nguơn hội này sẽ mở một kỷ nguyên mới cho hạng Thần Thông Nhơn ra đời. Nhiệm kỳ của Đạo Cao-Đài định thất ức niên kể ra quá lâu dài đối với nhiệm kỳ của Phật giáo và Thiên Chúa giáo.

Do đâu Đạo Cao-Đài có nhiệm kỳ quá lâu như vậy?

- Vì Đạo Cao-Đài lập ra với chủ trương nền Đạo biến chuyển theo mức tiến hoá của nhơn sanh, chứ không đặt một giáo điều bất di bất dịch, vì làm như vậy sau một thời gian những giáo điều ấy không theo kịp trình độ tiến hoá của nhơn sanh, vì trong lúc người ta đi tới mà mình đứng một chỗ, không đi thì mình hoá ra lùi và lạc hậu. Khi ấy nền Đạo không thể đủ năng lực cung cấp những món ăn tinh thần, đủ sức thoả mãn nhu cầu đòi hỏi của trí lự tinh thần của nhơn loại và từ đó Tôn giáo hoá ra lạc hậu làm cho nhơn sanh phải xa lần để đi tìm một món ăn tinh thần khác có thể thoả mãn nhu cầu đòi hỏi của họ."

 

 

NHIỆM MẦU

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện là phép nhiệm mầu,
Tóm thâu thiên hạ hồi đầu cửa tu.

 

 

NHIỄM TRẦN THÌ SA ĐỌA

Thất Nương giáng Cơ nói:

"Em may nghe đặng câu đờn thê thảm, tiếng ngâm ngọt ngào nhắc nỗi tâm tư kiếp sanh buổi nọ.

Ôi! Đời ôi! Mi đã làm cho thiếp phải chịu đau đớn với mi dường nào? Đáng lẽ thiếp phải oán hận chê bỏ mi mới phải, nào dè khối tình thâm trọng nơi tâm thiếp là nơi bí mật mà mi đủ quyền hành năng lực khươi mở áo ngoài nó ra để lòi trái tim thân ái của thiếp.

Ôi! Câu hờn giọng thảm ai khéo bày trò. Ôi! Tánh hoài tình ai gây nên mối? Cái đời đã gọi là vô vị mà ai dè cho tới bậc Thần Tiên thoạt trông đến cũng phải nghiễm nhiên yêu trọng. Hỏi cái trọng ấy do đâu nói thử?

- Thưa Nhị tỷ, đứng dậy hiểu câu hỏi của em rồi trả lời coi trúng chăng cho em học với.

Đứng dậy mấy em, con Tranh.

Cười... Vì THƯƠNG mà thôi, Nhị tỷ ôi!

Thiếp rủi qui Tiên trước cha mẹ. Thiếp nhớ mơ màng lại thì chính bởi thương cha nhớ mẹ mà khổ lúc xuất hồn, còn các bậc Thần Tiên thì cũng ngùi ngùi nhớ kiếp sanh chịu khổ mới đoạt vị cao thăng. Nhớ nỗi khổ ấy lại mặn nồng bằng mười nhớ tình sinh dục. Vì cớ nên hoàn thuốc nhiễm trần đã thấm vào cốt tủy như ghiền thuốc ghiền trà, hễ mùi nó vừa bay ngang qua mũi thì đã nhắc nhở những kiếp luân hồi chịu thảm sầu cùng thế sự.

Bởi vậy, Thiên điều đã hiểu sơ yếu nên định Pháp rất nghiêm: Hễ nhiễm trần thì sa đọa.

Ôi! Những bậc cao siêu như hàng Tiên Phật ngày nay đương mang cốt nhục thi hài, đã chẳng đủ phương chống cự, đối thủ với dạ thương đời, nên cam thọ phận, phòng nêu gương vị chúng sanh hơn vị ngã,