CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần NG

 

NGA

Nga (Liên Bang Sô Viết)

Nga Mi

 

NGẠ

Ngạ

Ngạ Quỉ

Ngạ Quỉ Súc Sanh

 

NGÃ

Ngã

Ngã Chấp

Ngã Lòng

Ngã Mạn

Ngã Thiên Thị Thính

Ngã Tướng

Ngã Vấn

 

NGAI

Ngai

Ngai Đầu Sư Nữ Phái

 

NGÃI

Ngãi Vợ Chồng

 

NGÀN

Ngàn Cay Muôn Đắng

 

NGẠN

Ngạn Sơn

Ngạn Uyển - Ngạn Uyển Chưởng Hồn

 

NGAO

Ngao Du

Ngao Đầu

 

NGAY

Ngay Thẳng Thật Thà

 

NGÀY

Ngày Đạo Hận 20 Tháng 8

Ngày Tận Thế Đã Đến

Ngày Vía - Lễ Các Đấng

 

NGĂN

Ngăn Cấm Tà Quái Nhập

 

NGÂN

Ngân Hà

Ngân Kiều

 

NGẪU

Ngẫu Nhiên

 

NGHE

Nghe Nghe

 

NGHỆ

Nghệ Thuật

Nghệ Tửu Tôn Sở

 

NGHÈO

Nghèo Nàn

 

NGHI

Nghi

Nghi Dung

Nghi Lễ

Nghi Nan

Nghi Thức

Nghi Tiết Đại Đàn Và Tiểu Đàn

Nghi Trượng

Nghi Trưởng

 

NGHỊ

Nghị Án

Nghị Định

Nghị Luận

Nghị Luận Vô Trí

Nghị Lực

Nghị Trình

 

NGHỈ

Nghỉ Cúng Thời Tý

 

NGHĨA

Nghĩa (Khai Pháp Trần Duy Nghĩa)

Nghĩa (Phối Sư Phái Ngọc)

Nghĩa Đạo Với Đời

Nghĩa Hữu Bằng

Nghĩa Nhân

Nghĩa Thầy Trò

Nghĩa Trọng

Nghĩa Trúc Mai

Nghĩa Vụ

 

NGHỊCH

Nghịch Cha Phản Bạn

Nghịch Chánh Lý

Nghịch Chơn Lý

Nghịch Đạo

Nghịch Thiên

 

NGHIÊM

Nghiêm Khắc

Nghiêm Thiết Đàn Tràng

Nghiêm Trang

Nghiêm Trị

Nghiêm Trừng

 

NGHIỆP

Nghiệp

Nghiệp Căn

Nghiệp Chướng

Nghiệp Hồng

Nghiệp Hồng Quân

Nghiệp Hữu Hình

 

NGHIỆT

Nghiệt Báo Oan Gia

Nghiệt Cảnh Đài

Nghiệt Căn

Nghiệt Chướng

 

NGHIÊU

Nghiêu Thuấn

 

NGHINH

Nghinh Phong Đài

 

NGÓ

Ngó Một Cái Cũng Đủ Tiêu Diệt

 

NGOẠI

Ngoại Bang

Ngoại Nghi

Ngoại Quốc

Ngoại Thân

Ngoại Tình

Ngoại Tông

 

NGOAN

Ngoan Đạo

Ngoan Ngạnh

Ngoan Ngùy

 

NGỌC

Ngọc

Ngọc Ẩn

Ngọc Bất Trác Bất Thành Khí

Ngọc Các

Ngọc Cầu Lam

Ngọc Chánh Phối Sư

Ngọc Chưởng Pháp Thái Lão Sư Trần Văn Thụ

Ngọc Chưởng Pháp Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang

Ngọc Cung

Ngọc Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt

Ngọc Ðế

Ngọc Hoàng Thượng Ðế (1)

Ngọc Hoàng Thượng Đế (2) (Kinh)

Ngọc Hoàng Tự

Ngọc Hồ Ái Nữ

Ngọc Hư Cung

Ngọc Lầu

Ngọc Mã - Kim Đàng

Ngọc Trang Thanh

Ngọc Xá Lợi

 

NGÒI

Ngòi Văn Tuyệt Bút

 

NGỌN

Ngọn Đèn Thiêng Liêng

Ngọn Ngành

Ngọn Rau Tấc Đất

 

NGÔ

Ngô Đồng

Ngô Quyền

Ngô Thân Bất Độ Hà Thân Độ

Ngô Tường Vân

Ngô Văn Chiêu

Ngô Văn Kim

 

NGỘ

Ngộ

Ngộ Bất Cập Lượng

Ngộ Đạo

Ngộ Kỳ Phật Duyên

 

NGỖ

Ngỗ Nghịch

Ngỗ Ngang

 

NGÔI

Ngội Âm - Ngôi Dương

Ngôi Cao Phẩm Quí

Ngôi Tiên Vị Phật

Ngôi Vị

Ngôi Vị Ðế Vương

Ngôi Xưa

 

NGU

Ngu

Ngu Công Di Sơn

Ngu Dân

Ngu Dốt

Ngu Huynh

Ngu Muội

Ngu Si

Ngu Xuẩn

Ngu Thuấn Cày Voi

 

NGŨ

Ngũ Âm

Ngũ Bá

Ngũ Bá A La Hớn

Ngũ Bất Vọng Ngữ

Ngũ Chi Ðại Ðạo

Ngũ Chi Minh Đạo

Ngũ Chi Phục Nhứt

Ngũ Cốc

Ngũ Châu

Ngũ Đế

Ngũ Giới Cấm

Ngũ Hành

Ngũ Hoa - Ngũ Quả

Ngũ Hoa - Ngũ Quả - Ngũ Phần Hương

Ngũ Khí

Ngũ Kinh

Ngũ Kỵ

Ngũ Lôi Tru Diệt

Ngũ Luân

Ngũ Nguyện (Kinh)

Ngũ Nhạc

Ngũ Nương Diêu Trì Cung

Ngũ Quan Hữu Tướng Và Lục Quan Vô Hình

Ngũ Phục

Ngũ Phong Thập Võ

Ngũ Tạng

Ngũ Tạng Lục Phủ

Ngũ Thanh

Ngũ Thường

Ngũ Trung

Ngũ Trược

Ngũ Uẩn

 

NGỤ

Ngụ Đời

Ngụ Ý

 

NGỤC

Ngục Đao Kiếm

Ngục Môn

 

NGUỒN

Nguồn Đào

Nguồn Đạo

Nguồn Thánh

 

NGUƠN

Nguơn (Nguyên)

Nguơn Chất

Nguơn Linh

Nguơn Linh - Hóa Chủng - Quỉ Hồn

Nguơn Ngọc

Nguơn Tứ Chuyển

 

NGUY

Nguy Ngập

Nguy Nguy

Nguy Nga Đài Các

 

NGỤY

Nguỵ Khôi

 

NGUYÊN

Nguyên Căn

Nguyên Căn Chúa Jésus

Nguyên Chất

Nguyên Đán

Nguyên Hồn

Nguyên Khí

Nguyên Linh

Nguyên Lý

Nguyên Nhân

Nguyên Nhơn (Nguyên Nhân)

Nguyên Nhơn - Hóa Nhơn - Quỉ Nhân

Nguyên Nhân Đắc Đạo

Nguyên Sanh - Hóa Sanh

Nguyên Tánh

Nguyên Tiêu

Nguyên Tử Khí

 

NGUYỆN

Nguyện

Nguyện Vọng

 

NGUYỄN

Nguyễn An Ninh

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Du

Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Mạnh Bảo

Nguyễn Ngọc Thơ

Nguyễn Ngọc Tương

Nguyễn Nhạc (Đối Với Cao Đài)

Nguyễn Phan Long

Nguyễn Phúc Vân (Ngoại Hầu Cường Để)

Nguyễn Thị Hiếu

Nguyễn Thị Kim

Nguyễn Thị Phẩm

Nguyễn Thị Ruộng

Nguyễn Thị Sanh

Nguyễn Thị Nhiều

Nguyễn Thị Thơm

Nguyễn Thiên Kim

Nguyễn Trung Trực

Nguyễn Văn Ca

Nguyễn Văn Chức

Nguyễn Văn Đạt

Nguyễn Văn Hậu (Nguyễn Trung Hậu)

Nguyễn Văn Hoài

Nguyễn Văn Hương

Nguyễn Văn Kinh

Nguyễn Văn Mạnh

Nguyễn Văn Muồi

Nguyễn Văn Trò

Nguyễn Văn Tương

Nguyễn Văn Tường (Hoà Thượng Như Nhãn)

Nguyễn Văn Tường (Thượng Tường Thanh)

Nguyễn Vương Nhất Thống Nước Nam

 

NGUYỆT

Nguyệt Cúc

Nguyệt Hoa

Nguyệt Huyết

Nguyệt San

Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victo Hugo)

 

NGƯ

Ngư - Tiều - Canh - Mục

 

NGỰ

Ngự

Ngự Ban

Ngự Giáng

Ngự Mã Thiên Quân

Ngự Trần Gian

Ngự Triều

 

NGỪA

Ngừa

 

NGỬA

Ngửa Nghiêng

 

NGƯNG

Ngưng Quyền

Ngưng Thần Định Trí

 

NGƯỜI

Người Ngoại Quốc Đến Đây Học Đạo

Người Tu Hành

Người Giữ Đạo

 

NGƯỠNG

Ngưỡng Ân Sinh

Ngưỡng Nghĩa

Ngưỡng Nguyện

Ngưỡng Vọng

 

NGƯU

Ngưu Đầu

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 08-08-2017

 

 

 

NGA (Liên Bang Sô Viết)


F: Russie.

Đức Hộ Pháp thuyết: "Giờ phút này chúng ta ngó thấy Nga-Sô-Viết lấy thuyết Cộng Sản làm căn bản, thuyết Cộng Sản tức nhiên thuyết Duy-vật, lấy vật chất làm căn bản mà chối bỏ linh hồn. Về thuyết vật hình, tức nhiên nghịch hẳn với tinh thần đạo đức. Vật chất họ phải đề xướng "Tam vô" là vô thần đứng đầu hơn hết, nó phải đánh đổ tinh thần đạo đức đặng nó đi trọn con đường vật chất. Phải chiến đấu để vật chất thắng tinh thần. Giờ phút này nước Nga cũng chưa hề thoát ly đạo đức được, phải đem đạo đức làm căn bản mà thôi. Tại Nga Sô lúc Cộng Sản chiến thắng đánh đổ chánh quyền rồi, tức nhiên "Staline" không còn nhìn Đạo Giáo nữa, không còn nhìn quyền Hội Thánh La Mã nữa. Ngài đánh đổ chánh quyền: khám phá quyền lực của Nhà Thờ, chỉ trích quyền lực của Nhà Thờ, nhưng rốt cuộc ngày nay phải đem Đạo Giáo, đem Công Giáo, tái lập các Đền Thờ trở lại. Tuy vẫn không tùng quyền Ông Giáo Hoàng La Mã mà nó vẫn tùng quyền Ông "Got Oann" như Ông Giáo Hoàng của nhà Thờ mà thôi. Còn nhiều nữa, nếu chúng ta quan sát từ thượng cổ, bao giờ Đời cũng kiếm phương thế thoát ly Đạo, chiến đấu để thoát ly Đạo. Họ biết không tùng theo nó thì họ không quyền, mà hễ tùng theo nó thì mất tự do tự chủ của họ, nó mất thì họ chẳng khi nào mà trị thiên hạ được! Từ thượng cổ đến giờ không một quốc gia xã hội nào nơi mặt địa hoàn này vô Đạo mà cầm quyền thiên hạ được, không thể có!"

 

 

NGA MI


E: The beautiful girl.
F: La belle fille.

(Nga (nghĩ): Con ngài, thứ sâu nào giống như con ngài đều gọi là nga. Mi là mày). Nga mi là mày ngài trong câu "Mày ngài mắt phượng". Có khi gọi tắt là nga. Như Song nga hai hàng lông mày. Nga mi là lông mày đẹp nhỏ và cong của người phụ nữ, là chỉ con gái đẹp.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Bát Nương có thơ rằng:

Trau giồi cho xứng phận nga mi,
Tấn thối riêng lo kịp thế thì.
Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,
Hồng ân chi kém bạn nam nhi.
Lọc lừa chớ để đen pha trắng,
Lui tới đừng cho bạc lộn chì.
Hạnh đức điểm tô non nước Việt.
Muôn năm bia tạc tiếng còn ghi.

 

 

NGẠ (NGẠ TỬ)

Ngạ [Giản thể: 饿] là Đói quá. Thơ của Nguyễn Trãi 阮廌 trong bài Côn sơn ca 崑山歌 có câu:

"Thú Dương ngạ tử bất thực túc" 首陽餓死不食粟 Nói về điển tích của Bá Di và Thúc Tề ở núi Thú Dương thà chịu chết đói chứ không chịu ăn thóc của nhà Châu. Chứng tỏ một tấm lòng trung can nghĩa khí.

 

 

NGẠ QUỈ (Phật Học)

Ngạ quỉ ( S: preṭa; P: peta) Là quỉ đói, một trong ba đường tái sinh xấu (Lục đạo). Ngạ quỉ là hạng chúng sinh được xem như hạnh phúc hơn Ðịa ngục (s: naraka) nhưng đau khổ hơn A-Tu-La (āsura). Người ta cho rằng các yếu tố tái sinh thành quỉ đói là keo kiệt, ganh tị và tham lam. Loài chúng sinh này được biểu diễn bằng cái bụng rất lớn và cái miệng rất nhỏ. (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Kinh Cao Đài: Bài Sám Hối có câu:

"Khi hồn lìa khỏi trần gian,
"Hóa ra ngạ-quỷ cơ-hàn khổ thân."

 

 

NGẠ QUỈ - SÚC SANH

- 畜生

Các đẳng chơn hồn về súc sanh, phần nhiều là con nít, cho nên các chơn hồn trẻ mãi thôi, vì thế nên người ta làm áo thí cô hồn nhỏ nhỏ vậy. Có lẽ những người tu theo đạo Phật đạt Pháp họ gặp được đám ấy nên họ lầm cho rằng đó là các cô hồn, thật ra không có cô hồn đâu.

Theo lời Đức Hộ Pháp thuyết ngày 14-7-Canh Dần:

"Bần Đạo lập lại một lần nữa là không có cô hồn, chỉ có đám Ngạ quỉ súc sanh mà thôi. Có lẽ trước kia người ta biết một điều bí mật là các ngạ quỉ súc sanh hay ăn uống, thường phá khuấy thiên hạ đặng kiếm ăn, nên mỗi năm đến rằm tháng bảy thường cúng gọi là "thí cô hồn". Đạo Cao Đài ngày Trung nguơn hay Thượng nguơn chúng ta chỉ cúng kính ông bà Tổ phụ vậy".

 

 

NGÃ (Phật Học)


F: Le moi.

Ngã (S: ātman; P: atta) [Pinyin: wǒ] TA (tiếng tự xưng mình). Mình tự gọi mình cũng gọi là Ngã. Của ta, lời nói cho thân thêm. Tức là cái "TA" thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. Ðạo Phật không công nhận sự hiện diện của Ngã. Trong toàn bộ mọi hiện tượng tâm lý và vật lý không có một chủ thể gì được gọi là độc lập, thường tồn (Vô ngã, Ngũ uẩn).

Theo Đạo Phật, ý nghĩ cho rằng có "TA", có "người" – những đơn vị độc lập không phụ thuộc vào nhau – chính là Vô minh, Si mê. Sự nhận thức là có "TA" tự khởi lên bởi vì con người thường bị tri thức mê hoặc – tri thức ở đây là thức thứ sáu, khả năng suy nghĩ phân biệt – cho rằng thế giới nhị nguyên vốn có sẵn và từ đó phát sinh ra sự suy nghĩ và hành động theo quan niệm rằng "TA" và người, vật bên ngoài hoàn toàn là những đơn vị độc lập. Dần dần, ý nghĩ "TA" khắc sâu vào Tâm và những ý nghĩ khác như "TA yêu cái này, ta ghét cái nọ; cái này của ta, cái này của ngươi" bắt đầu nẩy nở. Những ý nghĩ nêu trên lại có ảnh hưởng trở lại với ý nghĩ "TA" và vì vậy, cái "TA" này cai trị tâm linh của con người. Nó sẵn sàng tấn công tất cả những gì mà nó cảm thấy bị đe dọa, tham khát những gì giúp nó gia tăng quyền lực. Thù hận, tham khát và xa rời chân tính là những tai hại phát sinh từ đó và chúng trực tiếp đưa con người đến bể Khổ.

Trong Thiền Tông, người ta sử dụng phương pháp Tọa Thiền (j: zazen) để phá vỡ cái vòng lẩn quẩn nêu trên. Trong quá trình tu tập dưới sự hướng dẫn của một vị Lão sư (j: rōshi), người ta có thể dần dần vượt khỏi sự khống chế của cái "Ngã", tiêu diệt "Ngã" hay đúng hơn, vượt khỏi cái "Ý nghĩ sai lầm là có tự ngã" bởi vì nhìn theo khía cạnh tuyệt đối thì người ta không thể tiêu diệt một cái gì không có thật, chưa hề có thật như cái "Ngã".

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

Ngã huynh 我兄 Anh của ta. Ngã đệ 我弟 em của ta.

 

 

NGÃ CHẤP

(Ngã: Ta, tiếng tự xưng. Chấp: cầm giữ, cố chấp).Ngã chấp là cố chấp cái ta của mình, cố chấp vào cái thân thể của mình.

Ngã chấp là nguồn gốc của phiền não. Người giác ngộ, không chấp vào cái ta nữa thì được an vui.

Chúng ta nên biết rằng, cái thân thể của ta chỉ là giả tạm nên mới gọi là giả thân, chỉ tồn tại nhiều lắm là trăm năm rồi phải chết, thể xác tan rã biến thành đất.

Linh hồn của ta mới là vĩnh viễn. Linh hồn nầy tạm mượn thể xác một thời gian để học hỏi và tiến hóa. Khi thể xác già nua, không còn hoạt động đắc lực nữa thì phải để cho nó chết, rồi linh hồn sẽ tái kiếp, ở vào một xác thân khác để tiếp tục tiến hoá, nhà đạo gọi đó là luân hồi. Do đó, chúng ta không nên cố chấp vào cái xác thân của ta, vì nó là giả chớ không phải thiệt, để rồi phải chịu phiền não khổ đau.

Đức Chí Tôn ban cho chúng ta một cách phá chấp triệt để là Dâng Tam bửu lên Đức Chí Tôn. Mỗi khi cúng Đức Chí Tôn, chúng ta dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn lên cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng. Đây là cách vô cùng hữu hiệu để phá tan cái Ngã chấp của mỗi tín đồ, bởi vì chúng ta đã dâng hết cho Đức Chí Tôn rồi, thì đâu còn gì của chúng ta mà phải Ngã chấp. Sự dâng hiến nầy phải thực sự chí thành trọn vẹn thì mới đạt kết quả. Chúng ta chỉ còn có một việc là vâng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn thực hiện đầy đủ bổn phận của một tín đồ, tức là làm đúng theo 5 câu nguyện trong bài Ngũ Nguyện mà chúng ta thường đọc trong mỗi lần cúng.

 

 

NGÃ LÒNG

F: Découragé.

(Ngã là tiếng nôm: bị té, quị xuống, lòng là ý chí, tư tưởng) nghĩa bóng là bị mất đức tin về Tôn giáo, tín ngưỡng.

Thầy: "Cười.... Hiếu, con cũng ngã lòng nữa sao con? Con nhớ ngày trước Thầy cực nhọc với các con thì thế nào, mà ngày nay các con cực nhọc với Thầy lại than phiền.. Cười..... Các con một đầu, Thầy một đầu nắm chặt tay lưới vớt cả chúng sanh. Ngày vui các con chẳng phải nơi thế này, mà là ngày các con hội hiệp cùng Thầy nơi Bạch Ngọc Kinh, hiểu con há?."

Kinh Tắm Thánh có câu:

"Đừng thối chí ngã lòng trở gót,
"Để cho đời chua xót tình thương
"Trăm năm thọ khảo vĩnh trường,
"Thuận căn thuận mạng đôi đường cao thăng."

 

 

NGÃ MẠN


E: Proud.
F: Orgueilleux.

(Ngã: Ta, tiếng tự xưng. Mạn: khinh lờn). Ngã mạn là tự cho mình tài giỏi cao hơn người mà khinh lờn người khác. Người có tánh ngã mạn thì tự đắc, kiêu ngạo, khoe-khoang và chủ quan, nên thường cô đơn và thất bại.

 

 

NGÃ THIÊN THỊ THÍNH

(Ngã: ta, Thiên: Trời, Thị: mắt để thấy, Thính: tai để nghe) nghĩa là sự nghe và sự thấy của Thầy (Ông Trời) chúng ta. Ý nghĩa của câu này là rút ra từ trong Kinh Thi: "Thiên thị tại ngã, dân thị Thiên thính, tại ngã dân thính" tức nhiên sự thấy của Trời ở nơi sự nghe của dân. Trời tức là dân, dân tức làTrời. Tôn chỉ của Đạo Cao Đài ở trong bốn chữ "Thiên đạo- Nhơn đạo".

Đây chỉ là lời ca tụng "Cuộc đời hành Đạo của Đức Quyền Giáo Tông" cũng chỉ khế xướng có bấy nhiêu thôi. Bốn chữ "NGÃ THIÊN THỊ THÍNH" này khắc lên sau lưng Liên đài của Đức Quyền Giáo Tông để tuyên dương công nghiệp của Đức Ngài.

Ngài Hiến Pháp nói: "Tôi có cảm giác rằng ngày nào bóng cờ Đại Đạo bay khắp bốn phương là ngày ấy nhân sanh sẽ được chung hưởng thanh bình hạnh phúc. Tôi không nói quá lời đâu vì tôi biết chắc rằng Đức Thượng Đế không gạt ai hết, nhứt là đám con cái của Đức Ngài; khi Đức Ngài đến mở Đạo Kỳ Ba để tận độ chúng sanh và chín mươi hai ức nguyên nhân qui hồi cựu vị. Lại còn có Tân-ước giữa Trời và Người trong kỳ Phổ độ thứ ba này. Nhưng thay vì tuyên bố như Đức Phật ngày xưa là "Thiên Thượng Thiên hạ duy ngã độc tôn" nay Tân ước này lại tuyên bố "Thiên Thượng, Thiên hạ, Bác ái - Công bình" nghĩa là trên trời dưới thiên hạ lấy bác ái công bình là tôn chỉ và có câu: "Ngã Thiên thị thính" (Trời và ta nghe thấy) tức là Trời và người thông công đó vậy.

 

 

NGÃ TƯỚNG


E: The physiognomy of mine.
F: La physionomie de moi.

(Ngã: Ta, tiếng tự xưng. Tướng: hình dạng). Ngã tướng là hình dạng của ta. Cái hình dạng nầy của ta là vật chất, là giả tạm, đừng nên cố chấp nó mà sa vào sự Chấp ngã rất tai hại.

Đức Hộ Pháp nói: "Đức Chí Tôn cho biết, trí thức và linh hồn trọng yếu, do căn nguyên của sự sanh hoạt của nó định cái Ngã tướng cho ta."

 

 

NGÃ VẤN

Ngã vấn 我問: Ngã; ta, là tiếng tự xưng. Vấn: hỏi. Ngã vấn: Ta hỏi…

Thi văn dạy đạo có câu:

Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?
Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

 

 

NGAI

F: Trône royal.

 

 

 

Cái ghế ngồi của Vua hoặc những bậc tôn quí gọi là Ngai, như ngai vàng điện ngọc, chính là đây. Trong Tôn giáo Cao-Đài những bậc phẩm như: Đầu Sư, Chưởng Pháp, Giáo Tông thì có Ngai riêng để làm tượng trưng một chức phẩm cao quí đối cùng Thánh, Tiên, Phật, bên Cửu Trùng Đài. Những Ngai này được chạm khắc công phu, tỉ mỉ, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Còn Hiệp Thiên-Đài thì ba vị: Hộ-Pháp, Thượng Phẩm, Thượng-Sanh ngự trên Ngai là những chiếc Cẩm đôn, giản dị. Ấy là biểu tượng lý Âm Dương của đạo pháp. Bảy Ngai này rất đẹp, đặt trên bệ gỗ bóng láng:

7 cái ngai nầy dành cho 7 vị Chức sắc cao cấp nhứt của Cửu Trùng Đài, là:

- 3 ngai phía dưới dành cho ba vị Đầu Sư ba phái là: Thái, Thượng, Ngọc.

- 3 ngai kế trên (giữa) dành cho ba vị Chưởng Pháp ba phái: Thái, Thượng, Ngọc.

- 1 cái ngai lớn nhứt và đẹp nhứt đặt sau cùng dành cho Giáo Tông. Hai bên 7 cái ngai nầy là 2 hàng tàng, lọng và Dàn Bát bửu.

Bảy cái ngai nầy ở cấp thứ 9 của Cửu-Trùng-Đài, tức là cấp cao nhứt của Cửu-Trùng-Đài vậy. Qua khỏi 7 cái ngai là đến cấp thứ 10 làm trung gian giữa Cửu Trùng Đài và Bát Quái Đài, nơi đây có khoảng rộng gọi là Cung Đạo.

Vị trí 7 ngai Chức sắc của nam phái:

Thầy dạy: "Tòa-Thánh day mặt ngay hướng Tây, tức là chánh Cung Đoài, ấy là Cung Đạo, còn bên tay trái Thầy là Cung CÀN , bên tay mặt Thầy là Cung KHÔN đáng lẽ Thầy phải để bảy cái Ngai của phái Nam bên tay trái Thầy, tức bên cung CÀN mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn Đạo cho đủ Ngũ Chi, cho nên Thầy buộc phải để vào Cung Đạo là cung ĐÒÀI cho đủ số".

Cách thức làm Bảy cái Ngai:

Vendredi, 17 Septembre 1926 (12-8-Bính Dần)

Thầy dạy: "Kiệt – Con phải giúp Thơ trong việc lập Thánh Thất. Thầy giao cho con phải săn sóc mướn thợ làm bảy cái ngai; một cái trọng hơn cho Giáo Tông, ba cái cho ba vị Chưởng Pháp, ba cái cho ba vị Ðầu Sư; nhứt là cái ngai của Giáo Tông phải làm cho kỹ lưỡng, chạm trổ Tứ Linh, nhưng chỗ hai tay dựa phải chạm hai con Rồng; còn của Chưởng Pháp chạm hai con Phụng; của Ðầu Sư chạm hai con Lân... Nghe à!."

 

 

NGAI ĐẦU SƯ NỮ PHÁI

Hộ Pháp có hỏi về cái Ngai của Nữ-Đầu-Sư, thì Thầy dạy: "Tòa-Thánh day mặt ngay hướng Tây, tức là chánh cung ĐOÀI, ấy là Cung Đạo, còn bên tay trái Thầy là Cung CÀN, bên tay mặt Thầy là Cung KHÔN, đáng lẽ Thầy phải để bảy cái Ngai của phái Nam bên tay trái Thầy, tức bên cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn Đạo cho đủ Ngũ Chi, cho nên Thầy buộc phải để vào Cung Đạo là cung Đoài, cho đủ số. Ấy vậy cái Ngai của Đầu Sư Nữ phái phải để bên cung Khôn, tức là bên tay mặt Thầy. Hộ Pháp hỏi cái Ngai ấy ra sao? Thì Thầy dạy: Giống y như cái Ngai của Quan Âm Bồ Tát, nghĩa là một cái Cẩm Đôn để trong vườn Trước Tử trên Nam Hải, dưới chơn đạp hai bông sen nở nhụy". Như vậy Thầy đã dạy rành: "Ngai của Đầu Sư Nữ phái phải để bên cung Khôn, tức là bên tay mặt Thầy. Hộ Pháp hỏi cái Ngai ấy ra sao? Thì Thầy dạy: Giống y như cái Ngai của Quan Âm Bồ Tát, nghĩa là một cái Cẩm Đôn để trong vườn Trước Tử trên Nam Hải, dưới chơn đạp hai bông sen nở nhụy".

Nhưng thực tế thì nay chỉ có 7 cái ngai đặt giữa Đền Thánh mà thôi. Chưa thấy có ngai của Nữ phái.

 

 

NGÃI VỢ CHỒNG (Nghĩa)

Ngãi cũng dùng là nghĩa. Đây là một tiếng xưa, dùng cách nay có trên 80 năm, vào cuối thời Bắc thuộc. Thông thường phải nói là "Nghĩa vợ chồng" tức là tình cảm gắn bó giữa đôi nam nữ sống chung để tạo nên con giòng cháu giống, gầy nên một gia đình rộng lớn. Hơn nữa Đạo vợ chồng là đầu mối của đạo Nhơn luân, tức là đạo làm người đó vậy.

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Đừng cậy sắc dọc ngang búng rảy,
Dầu ngu si cũng ngãi vợ chồng.
Đừng nay khen bưởi chê bòng,
Đổi thay mái tóc duyên nồng lại quên.

 

 

NGÀN CAY MUÔN ĐẮNG

Thầy dạy: "Ôi! Lốt Ðạo, lốt Ðạo, Thầy buồn cho trẻ ngây, chẳng còn biết làm sao đem Thánh giáo vào tai chúng nó được. Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo, chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình; giày gai áo bã, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giạu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ chánh giáo.Thầy hỏi: Ai chứng cho?

 

 

NGẠN SƠN (Đạo Hiệu)

Ngạn Sơn là Đạo hiệu của Giáo Sư Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ), mà tiền kiếp của ông là Charles Hugo, con trai của Victor Hugo.

 

 

NGẠN UYỂN - NGẠN UYỂN CHƯỞNG HỒN


E: Sacred park.
F: Parc sacré.

(Xem Vườn Ngạn Uyển. vần V)

 

 

NGAO DU


F: se promener en touriste.

Ngao du 遨遊 là Đi chơi hay đi dạo khắp nơi

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

"Bước Tiên nàng đã ngao du,
"Đoái tình thương kẻ ôm cầu khóc duyên."

 

 

NGAO ĐẦU

鰲 頭
E: The first laureate.
F: Le premier lauréat (đỗ đầu).

Ngao đầu còn gọi là Ngao trụ: điển tích này do theo sách Thần Dị kinh của ông Đông Phương-Sóc là một vị tu Tiên đắc Đạo, ông kể rằng ở phía Đông biển Bột-Hải có 5 hòn núi: 1- là núi Đại dư. 2- là núi Viên kiều 3-núi Phương hô. 4- Núi Dinh châu. 5- là núi Bồng-lai. Năm hòn núi này các vì Thánh, Tiên thường ở tại đó. Núi không chưn nên thường cứ trôi theo dòng nước khi lớn, khi ròng. Thế nên các vì Tiên Thánh tấu trình lên Đức Ngọc-Đế. Đức Ngọc-Đế ngại rằng nếu để như vậy thì núi cứ trôi khắp tứ phương nên mới sai làm 15 con Cự ngao cất đầu đội năm hòn núi ấy cho đứng vững lại, chẳng cho trôi nữa, mà lại phân làm ba phiên, mỗi sáu muôn năm thì đổi một lần. Về sau hễ ai đỗ Trạng Nguyên thì theo điển tích này gọi là "độc chiếm Ngao đầu". Ý muốn nói rằng các vị này là người tài cán sẽ ra gánh vác non sông như các con Cự Ngao đưa đầu đỡ núi vậy.Nay, trong cửa Đạo Cao-Đài nói đến Ngao trụ là chỉ người ý thành, tâm chánh, nhân từ, đạo đức, biết thương Đạo mến Thầy, ngoài biết thương dân mến nước, đó là bậc đứng trên tinh thần Nhân Nghĩa. Kinh Nho Giáo: "Chí như ý từ tường ư ngao trụ"

Tuy nhiên qua điển tích trên đã đầy đủ yếu lý cơ bản để nói lên một triết lý về vũ-trụ-quan quá cao siêu, quá mầu nhiệm là một Bát-Quái Hậu Thiên. Nay qua Hội Cao Đài, Đức Chí Tôn đã chuyển ngược lại thành Bát-Quái Đồ Thiên. Những ý nghĩa trên cho ra các con số như:

- Năm trái núi bềnh bồng trên nước,
- 15 con Ngao đầu đỡ vững trái núi.
- Chia là 3 phiên để canh giữ.
- Mỗi phiên là 6 muôn năm.

Bấy nhiêu con số này đủ tạo thành trước nhứt là:

- Một Bát-Quái Hậu-Thiên
- Sau nữa chuyển ngược lại sẽ là Bát-Quái Cao-Đài

Lý giải: Trước là "Năm hòn núi bềnh bồng trôi trên nước"

Số 5 đầu tiên là chỉ người có năm giác quan: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Bên trong thì Ngũ tạng: Tâm, can, Tỳ, phế, thận. Sự hiểu biết để đối đãi lẫn nhau là Ngũ Thường. Nhờ những quan năng này con người mới làm cho cuộc đời tiến hoá về mọi mặt tuỳ theo hướng tâm tư mỗi người chọn lựa mà tiến đến thành công. Sự tích-chứa nơi tâm mình nói chung là tạng thức. Tạng thức có thể ví như kho báu chứa các hột giống gọi là chủng tử. Mỗi cá nhân đều có một tạng thức riêng biệt lưu trữ những kinh nghiệm học hỏi qua nhiều kiếp. Trong kiếp sanh này nếu may duyên gặp được Đạo Trời khai mở cũng như giống tốt được gặp phân đất màu mỡ thì phát triển mau (số 5 là cái tâm được an trụ). Số 5 là số Ngũ trung của Bát-Quái Hậu Thiên, tức nhiên là chỉ cái tâm, mà tâm nếu không trụ thì cứ mãi phiêu bồng, cũng như người sống ở đời mà không tìm cho mình một điểm tựa bình an, tức là một Tôn giáo, một tín ngưỡng cho tâm hồn thì rất là có hại:

1- Một là lạc lỏng trên đường đời,
2- Hai là chơi vơi trong bước đường trở về (chết).

Thế nên, người trước hết phải định cho được cái Tâm. Nếu không thì có khác nào "năm trái núi bềnh bồng nổi trôi trên mặt biển mà Thánh Thần đang ngự" (nơi người là Phật tâm)

- Đức Thượng-Đế cho 15 con Ngao-đầu ra chống đỡ núi: Với mục đích là chống đỡ quả núi cho trụ lại để Thần Tiên ngự trên ấy không còn nổi trôi nữa. Chính là thời kỳ các Đấng Thần Thánh ra đời: kể ra có bốn vị Thánh nhân là Phục-Hi, Văn Vương, Châu-Công, Khổng-Tử đã hoàn thành Bộ Kinh Dịch làm túi khôn cho loài người mới hiểu được lẽ dinh hư tiêu trưởng cùng những sư biến thiên của vũ trụ. Người nhờ noi theo đó mà sống một đời sống Thánh Thiện, đó là Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát-Quái, mà Hậu Thiên Bát Quái chính là diệu dụng cho mọi hành vi xử kỷ tiếp vật, định lại kỷ cương theo nhân luân chi đạo. Số 15 này chính là con Số Ma phương đó. Ngày nay người muốn thành Tiên tác Phật không thể không theo những công thức sống Đạo mà Đức Chí Tôn đã đến mở ra cho một nền Tân Tôn giáo này, Ngài lập thêm cho hai Bát-quái nữa là:

1- Bát-Quái Đồ Thiên (hay Bát-Quái Cao-Đài)
2- Bát Quái Hư Vô      (hay là Bát-Quái luyện Đạo)

Đây là con đường trở về tức là phản bổn huờn nguyên, là ngược dòng với Bát Quái Hậu-Thiên. Đây là Thầy đã mở ra con đường Thiên-đạo cho chúng sanh về với Thầy nên có câu "Cửu thập Ngũ hồi chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố" là Bát Quái Đồ thiên. Chính thời kỳ này Đức Cao-Đài giáng thế mở Đạo mà quyền hữu hình thì giao cho Phật-Mẫu dẫn độ:

"Giờ phút này Đức Chí-Tôn quyết định tận độ con cái của Ngài thay vì Bí-pháp ấy độ con cái của Ngài về nơi Kim Bàn Phật-Mẫu đặng hưởng đặc ân thiêng liêng của Đức Chí Tôn. Đức Chí-Tôn buộc Phật-Mẫu phải đến tại thế gian này để Bí pháp Hội-Yến Diêu-Trì tại cửa Đạo này cho con cái của Ngài giải thoát ấy là một Bí-pháp thiêng liêng duy có tay Ngài định pháp ấy mới đặng. Hôm nay là ngày Phật-Mẫu đem Bí-pháp đặng giải thoát cho chúng sanh, tận độ toàn vạn linh sanh chúng. Ngài để tại mặt thế này trong cửa Đạo Cao Đài này mà thôi".

 

 

 

Bàn Hội-Yến chính là hình ảnh Bát-Quái do Đức Phật Mẫu làm chủ, nếu cộng các chiều ngang, dọc, xiên đều có số chung 15, ấy là 15 con Ngao-đầu của Thượng Đế cho xuống.

Chia làm 3 phiên để canh giữ tức là hình ảnh của tam Âm tam Dương là yếu tố để làm nên Bát-Quái.

Mỗi phiên 6 muôn năm. Con số 6 chính là "lục đạo luân hồi" nếu không tu thì không thoát vòng sanh tử được. Nhưng nếu chỉ niệm "Lục tự Di-Đà" làm sao giải thoát, vì thời Phật Đạo đã mãn nhiệm kỳ 2.500 năm rồi.

Nay Thầy mở cơ Phổ Độ phải bằng hai lần con số "Lục" ấy, tức là thời-kỳ của Cao-Đài là Phật giáo chấn hưng, câu chú của Thầy phải là 12 chữ tức là gồm 6 Âm 6 Dương, là "Nam Mô Cao-Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát". Chỉ có Đức Thượng-Đế mở cơ tận độ mới độ toàn cả thiên hạ được, tức nhiên: độ sanh và độ tử, độ nữ và độ nam, độ hồn và độ xác, độ cả toàn vạn linh sanh chúng là do đó.

Tóm lại nền Đại-Đạo này, Thầy cho biết: "Thầy là Chúa sự vô vi, nghĩa là Chúa các việc vô hình, Thầy lại ban cho người đủ khôn ngoan trí thức thiêng liêng đặng làm Chúa của sự hữu hình, nghĩa là Chúa cả của vạn vật".

Giải các điển tích trên để phá tan điều "Dị đoan mê tín" trong Tôn giáo Cao Đài mà Thầy đến để diệt trừ mê tín.

 

 

NGAY THẲNG THẬT THÀ

F: rectiligne.

Kinh Sám Hối có câu:

"Gìn lòng ngay thẳng thật-thà,
"Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn."

 

 

NGÀY ĐẠO HẬN 20 THÁNG 8

Một ngày ghi dấu sự đau khổ và nói là phải hận trong lòng nhiều lắm của nền Đạo trong buổi này vì một con người bội sư phản bạn là Nguyễn Thành Phương và nhất là Tướng Lê Văn Tất, chính những người này vì ham tiền mà bán rẻ nhân tâm làm cho nền Đạo phải xao xuyến, nhất là Đức Hộ Pháp phải lưu vong sang Miên Quốc để bảo thân đồng thời để tránh nạn đổ máu trong cảnh tương tàn. Sự ra đi của Đức Ngài lần này là vĩnh viễn và qui Thiên trên đất khách quê người. Vậy mà khi:

Đức Hộ Pháp từ Kim-Biên gởi về Thánh Lịnh tổ chức ngày Đạo Hận 20-8 đổi thành ngày cầu siêu cho những người trung thành bỏ mình vì cường quyền Ngô Đình Diệm. Những Chức sắc cầm quyền do dự không muốn thi hành. Khi đem ra Hội có những lời cương quyết: "Quí ông khôn hơn Đức Hộ Pháp hay Đức Hộ Pháp khôn hơn mấy ông? Trước khi ra Thánh Lịnh, Đức Ngài đã tiên đoán ảnh hưởng của nó, chúng ta chỉ biết thi hành lệnh, chứ không nên bàn về sự nên hay không nên thi hành". Rốt cuộc Ngài Hiến Pháp chấp thuận triệt để thi hành Thánh Lịnh ấy.

Nguyên nhân ngày Đạo hận:

Giữa lúc đang yên ổn thì Tướng Nguyễn Thành Phương bị Ngô triều mua chuộc - Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu -với giá ba chục triệu bạc (thời 1955) và còn hứa hẹn ban cho chức quyền nên đem quân về thanh trừng Đạo, đồng thời gởi lên cho Đức Hộ Pháp một bức thư, với nhiều điều yêu sách:

BỨC GIÁC THƯ
(Ngày 9 tháng 10 -1955)

Kính dâng Đức Hộ-Pháp,

Chúng con xin phép đệ bức Giác thư này lên Đức Ngài. Chúng con thiết nghĩ rằng phải nói sự thật để Đức Ngài tường, vì chúng con ở trong cửa Đạo cũng phải chịu một phần trách nhiệm của nền Đạo, của nhơn sanh. Hồi tưởng lại trong thời kỳ nền Đạo còn phôi thai trước chiến tranh, toàn thể Chức-sắc và Đạo-hữu đều yêu thương lẫn nhau, đồng một lòng một dạ, cay đắng ngọt bùi đồng chia sớt, sống trong cảnh đại gia đình Đạo, không một mảy-may gì mâu-thuẫn và bốc lột lẫn nhau, nhà nhà đều dẫy đầy hạnh phúc, Toà-Thánh thật là nơi Thánh-Địa. Khi Đức Ngài còn bị đồ lưu nơi Hải ngoại, toàn thể con cái Đức Chí-Tôn nhận thấy cần phải đoàn kết để tranh đấu, chống đế quốc Pháp đàn áp Đạo và cũng để thỉnh Đức Ngài trở về cố quốc. Vì họ quan niệm rằng nước nhà không được độc lập thì Thầy trò khó đoàn tựu và thực dân Pháp cũng không để yên cho họ tu-hành nên mới có cuộc khởi nghĩa ở hãng tàu Nichinan và khắp nơi. Họ đã viết thêm cho Đạo những trang sử oai hùng đối với tổ quốc. Những kẻ cầm đầu lại không biết khai thác sức mạnh, khai thác lòng tin-tưởng của toàn dân, để giành thắng lợi cho Đạo. Trái lại họ âm mưu đầu cơ xương máu của Đạo-hữu và Chiến binh, hai người thủ phạm là Trần-Quang-Vinh và Đặng-Trung Chữ. Nếu lúc đó hai ông này hy sinh lo việc nước, việc Đạo trước việc nhà, nhứt tâm nhứt trí gầy dựng đại nghiệp thì đã thắng lợi vẻ-vang cho Đạo biết bao nhiêu (Việc này đã có bản án của cố Trung Tướng Trình Minh Thế hài tội rồi không cần nhắc lại nữa).

Khi Đức Ngài trở về cố quốc là cơ hội thuận tiện để tranh đấu, vì từ Hội-Thánh đến Tín-đồ vắng bóng Đức Ngài như con không cha, nhà không chủ, Đức Ngài trở về cầm quyền lại giềng mối Đạo làm trụ cốt cho Đức tin của toàn con cái Đức Chí-Tôn vững tâm tu-hành cũng như vững lòng tranh đấu. Khi cuộc giành độc lập của dân tộc Việt-Nam phát khởi, thì tình hình nơi cửa Đạo đã bị xáo trộn toàn diện. Chức-sắc và Tín đồ bị thực dân Pháp và VC khủng bố thẳng tay phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn tìm nơi nương tựa. Họ cần được che chở. Vì vậy Quân Đội Cao-Đài xuất hiện để bảo vệ đồng bào và đồng Đạo (nếu trong khi đó mà không có Quân Đội Cao Đài thử hỏi nền Đạo Cao-Đài đến ngày nay sẽ ra sao?). Quân đội đã hy sinh nặng-nề về xương máu để rước Đạo hữu về tập trung gần những Thánh Thất và xây dựng căn cứ để bảo vệ Đạo, quan trọng nhứt là vùng Thánh Địa, Quân đội đánh dẹp Việt-minh tàn bạo và mở rộng phạm vi cho nhơn sanh có đất cày và công ăn chuyện làm. Những người về lánh nạn ở Thánh địa có thể nói là sống trong cảnh Thiên đàng hạnh phúc, trong khi ở những vùng khác bọn Pháp và CS Việt Minh đã gây nên bao cảnh giết chóc hãi hùng. Nhưng tiếc thay đời sống yên vui của Đạo hữu không được bền lâu, vì lẽ, lần hồi Quân đội vâng lịnh Đức Ngài phải rút khỏi vùng Thánh Địa để trao quyền an ninh lại cho cơ Thánh vệ và nhiều cơ quan Bán quân sự do Đức Ngài lập ra. Những nhân viên này lợi dụng tình trạng hỗn loạn và quyền thế của mình làm cho dân chúng đã đau khổ lại càng thêm đau khổ.

Với mục đích cứu vãn nền Đạo đang lâm nguy, thoả mãn nguyện vọng nhơn sanh đang tha thiết kêu gào, nên đã nhiều lần, trong các hội nhóm các cơ quan Chánh trị Đạo và Hội-đồng Quân sự cũng như nhiều lần riêng với Đức Ngài chúng con đã tường trình bao nỗi thống khổ của nhơn sanh do những kẻ lợi dụng danh Đạo gây ra. Những người gần gũi với Đức Ngài và gia đình Đức Ngài đã gây ra bao sự bốc lột thảm thương trong cửa Đạo, làm cho nhơn sanh phẫn uất, Đạo-hữu chán nản, Chức-sắc, Chức việc mất tinh thần, lơ-là với trách nhiệm thiêng liêng của Đức Chí-Tôn giao phó là xả thân hành Đạo. Thay vì phải giáo hoá nhơn sanh cải dữ làm lành, tu tâm dưỡng tánh, trau giồi đạo hạnh, dọn mình cho trong sạch làm gương mẫu cho chúng sanh noi theo. Một số người, trái lại núp bóng cửa Đạo, lợi dụng uy-tín của Đức Ngài, bốc lột nhơn sanh xương tuỷ. Đám người này đang bao vây chung quanh Đức Ngài để làm uy-tín Đức Ngài càng ngày càng suy giảm mà Đức Ngài lại vô tình hay quá dễ dãi mà chứa chấp và che chở.

Thưa Đức Ngài, Xin Đức Ngài hồi tưởng lại cửa Đạo khi mới hoằng khai cho đến lúc các vị Đại Thiên phong tách mình ra lập Chi phái, rồi những năm Đức Quyền Giáo-Tông đăng Tiên, Đức Ngài lại được nắm quyền Thống nhất. Trong các giai đoạn trên đây, bao cảnh thăng trầm làm cho nhơn sanh phân vân, Thánh Thể Đức Chí-Tôn chia năm xẻ bảy, một số Thập Nhị Thời quân rút về nhà ẩn dật, do ai gây ra? Tại nguyên nhân bí ẩn nào? Ngoài Đức Ngài chắc không một ai thấu nỗi. Đáng lẽ lúc đó cơ Đạo phải phổ biến sâu rộng trong dân gian để kịp thời tiến triển cơ cứu khổ nhơn loại, thì trái lại cơ phổ độ phải ngưng trệ, nền Đạo trải bao cảnh biến thiên do Chức sắc phân chia ly tán. Nếu nhìn bên ngoài thì chúng ta chỉ thấy đó là bởi thực dân Pháp, nhưng xét kỹ bên trong mới thấy nhiều bí ẩn của lắm kẻ mưu mô củng cố địa vị, manh tâm nắm độc đoán trong nền Đạo, không kể lời châu ngọc và nghiêm huấn của Đức Chí Tôn. Họ bày ra lắm trò quỉ mị làm cho sai lạc chơn truyền để lừa gạt nhơn sanh trong cửa Đạo, làm cho cửa Đạo phải hoen-ố bởi lòng phàm không gội rửa của một nhóm người lợi dụng biến cửa Đạo thành một cửa hàng mua lợi bán danh. Người đồng Đạo lần lần coi nhau như thù địch, mạnh đặng yếu thua khôn còn dại mất, sự chân thành mộ Đạo thương yêu dạy dỗ lẫn nhau khi Đức Quyền Giáo Tông còn sanh tiền, biến thành những sự lợi dụng bốc lột, xảo trá, gạt gẫm lẫn nhau, Đạo hữu tranh giành từ những miếng ăn chút mặc trong cảnh bấp bênh hỗn loạn, không ai săn sóc giáo hoá bảo vệ họ.

Vùng Thánh Địa hôm nay toàn Đạo hết sức rên siết về nạn các sưu thuế như: thuế vườn, thuế đất, thuế các loại xe, cây củi làm rẫy… Ngoài ra còn thâu tiền cho Văn phòng như: Văn phòng Khâm Thành, Đầu Phận và Bàn Trị Sự, hàng tháng mỗi nóc gia 10$ tiền lương thực. Tiền thuế thì thâu nhiều vô kể mà Trai đường Toà Thánh thì vẫn ăn cháo hằng ngày. Ngoài ra còn hàng chục thứ thâu góp của nhiều cơ quan làm cho nhiều Đạo hữu quá khổ sở đều phải bỏ nhà về xứ. Mới rồi đây lại có Thánh lịnh đuổi Đạo hữu nhập môn năm 1945 không cho ở gần Toà Thánh.

Thưa Đức Ngài, nhờ năm 1945 mà Đạo hữu thêm đông, con cháu họ đều hy sinh theo Quân đội để bảo vệ toàn Đạo. Hơn nữa họ vẫn trung thành thương Thầy mến Đạo hơn những Chức sắc như Đạo nhơn Út và Đại Tá Kiết chẳng hạn, tuy nhập môn lâu năm mà tánh tình ác độc hơn họ nhiều. Ngoài ra còn độc quyền kinh tế của một vài cá nhân và phe đảng có thế lực lấn áp khiến công ăn việc làm phải tê liệt. Thế mà vẫn chưa được yên thân, bị trộm đạo cướp bốc lung tung do những quân nhân Cơ Thánh vệ, Bảo an nội thành, Bảo an lưu động, Mật vụ, Cận vệ gây ra. Những cơ quan Bán Quân sự này không những lợi hai như thế lại còn dung túng cho bọn Cộng Sản rải truyền đơn khắp Thánh địa. Như thế mà giới hữu quyền trong Đạo không thấy phản ứng lại, nghĩa là cố ý dung túng kẻ phá hại cuộc an ninh trong Thánh địa và Quốc gia. Đó là những sự tai hại do sự bất lực của những người hữu quyền ở trong vùng Thánh Địa làm cho nhơn tâm ly tán và uy tín của Đức Ngài cùng Hội Thánh phải bị sứt mẻ. Hơn nữa những hành động tàn ác thất nhơn tâm do Bà Nhiều và cô Cầm, cô Tranh làm cho uy tín của Đức Ngài càng ngày càng suy giảm. Nào độc quyền kinh tế, nào cho vay hốt hụi theo lối của bà con thiên hạ, nào chửi bới đánh khảo, hăm doạ cào nhà những người đóng hụi trễ nải. Hay những nơi cần chiếm để lập cơ sở kinh tế cho hai cô, làm cho Đạo hữu ta thán, phải cắn răng nhịn chịu, vì họ kêu không thấu Đức Chí Tôn. Những vụ lợi dụng công quả của nhơn sanh để làm của riêng tư xây cất dinh thự nguy nga đồ sộ. Nếu lợi là của riêng còn lỗ là bắt đạo hữu chịu như "Nhàn du khách sạn" bắt công quả xây dựng, đem bến xe đò về đi hòng thủ lợi. Nhưng khi thất bại rồi giao cho đạo. Từ cổ chí kim chưa ai thấy trong Thánh địa của Tôn giáo nào mà đi lập khách sạn để làm nhà chứa chuyện dâm-ô. Thật là một chướng ngại vật trước mặt muôn người đạo đức làm cho thiên hạ mỉa mai đàm tiếu.

Trong khi bao nhiêu Chức sắc và đạo hữu công quả phải ăn cháo rau, bịnh hoạn không ai nuôi dưỡng, không thuốc men, làm lụng vất vả, cực nhọc, dầm mưa lội bộ thì các Bà, Cô (vợ và con Đức Ngài) xe cộ dù lộng, vàng xoàn, phấn son nhẩm nha mà chẳng làm gì hữu ích cho Đạo. Hơn nữa cô Tranh là một vị Giáo hữu được ở nhà lo son phấn, sanh phương lập nghiệp, khỏi phải đi cúng thời Tý, còn bao nhiêu vị Giáo hữu khác lại phải ly gia cắt ái, xả thân hành Đạo (vậy thì luật công bình của Đức Chí-Tôn để ở đâu?) Các cô lại sống hống hách ngang nhiên. Như cô Cầm tự lái xe hơi đụng một đạo hữu đi đúng thật sát lề đường, Đạo hữu chỉ than phiền chớ không dám nói lớn tiếng với cô Cầm, mà cô Cầm không biết nhận lỗi lại còn thách vị Đạo hữu ấy giỏi đi thưa đến đâu thì đi thưa coi. Chiếc xe Chevrolet do Quân đội dâng cho Đức Ngài, Đức Ngài không vừa lòng thì cất nơi nhà xe hoặc cho Hội thánh sử dụng, có lẽ nào lại để cho cô Tranh sử dụng chiếc xe ấy? Cô Tranh tự do lấy đi Sài-gòn chơi, lại còn chạy xuống Giang Tân cả buổi trêu ghẹo trước mắt bao nhiêu binh sĩ làm cho họ phẫn uất, có ý nghĩ rằng Đức Ngài khinh thường Quân đội không bằng người con gái của Đức Ngài. Những chuyện tỉ mỉ như thế không thể kể xiết, nếu gom lại thì cũng bằng hòn núi Thái sơn.

Bầu không khí Thánh Địa đã mịt mờ như thế lại còn có một đôi người khác dựa uy quyền của Đức Ngài mà dẫm thêm những nét đen tối vào như: ông Phạm Trung Hiếu (ba cô Dung NV), ông này không có công chi với Đạo, không biết một câu kinh, một ngày chay và cúng lạy cũng không nốt, dường như chưa nhập môn là khác.Thế mà được gia phong làm Thanh Tra Chánh trị Đạo, được chức vị cao trên hàng Chức sắc. Thay vì lo cho Đạo ông chỉ lợi dụng chức tước quyền thế mà làm tiền thiên hạ. Cả Sài gòn và các Tỉnh ai cũng đều biết là cháu ruột của Đức Ngài mà tư cách đê hèn như thế. Ngoài những vụ lợi dụng danh Đạo tạo danh mình, chợ đen chợ đỏ mà giấy tờ lại mang danh thay mặt Hội Thánh. Ông còn giao thiệp với Cộng Sản Việt Minh để mua bán đồ tiếp tế thủ lợi trong khi bao nhiêu chiến sĩ Cao Đài vì Thầy vì Đạo, vì chúng sanh phải hy sinh xương máu chống Cộng. Ông lợi dụng mảnh giấy Thanh tra Chánh Trị Đạo đi giao thiệp với Pháp, với các nhà hữu quyền Việt Nam ở Sài gòn để can thiệp lãnh tội Cộng Sản Việt Minh để ăn tiền. Có nhiều vụ lợi cho ông cả mấy chục ngàn. Gần đây lại a-tùng với phe thối nát, cường Đạo Bình xuyên làm nhiều chuyện thất nhơn tâm đến nỗi phải ngồi tù làm nhục nhã cho Tông môn và nền Đạo. Những sự bốc lột nếu có ai tố cáo đến Pháp Chánh thì chỉ đặng điều tra sơ sài rồi ém nhẹm luôn làm cho cân công bình của Đức Chí-Tôn bị mất giá trị.???

Trên đây chỉ kể những việc tồi tệ trước mặt muôn người, còn biết bao nhiêu chuyện bí-ẩn xấu xa không bút mực nào ghi cho hết. Trong tình thế này để trấn an nhơn tâm toàn Đạo và nhơn sanh chung quanh Thánh Địa, yêu cầu Đức Ngài chỉnh đốn lại bộ máy hành chánh Đạo để chạy được điều hoà và tiến triển. Chúng con yêu cầu Đức Ngài và Hội Thánh nghiên cứu và thực hành những khoản sau nầy:

1- Bắt tất cả những người lợi dụng Đạo để bốc lột và uy hiếp nhân sanh, những người đã có hành động ly gián giữa Đạo và Quân đội. Tài sản của họ phải bị tịch thâu chia cho nhơn sanh nghèo khổ. Các tội phạm phải bị trừng trị.

2- Giải giới và giải tán tất cả các võ trang lỗi thời trong vùng Thánh Địa, chỉ duy trì Cơ Thánh vệ không võ trang nhưng phải huấn luyện lại.

3- Bãi bỏ hết các thứ thuế má, để cho nhơn sanh tự do cúng kiến, nếu cần thâu góp chỉ thâu thuế lợi tức một cách công bình, ban bố các quyền tự do đi lại và sanh hoạt.

4- Triệu tập gấp rút Đại hội Nhơn sanh trong năm 1955 để Đức Hộ Pháp giao trả quyền hành đang tạm đảm đương lại cho nhơn sanh, cải thiện nền Đạo, tôn trọng triệt để sự phân quyền rõ rệt giữa Hiệp-Thiên Đài và Cửu Trùng Đài y theo Pháp chánh truyền.

5- Tuyên cáo với Quốc tế Đạo không phải là một tổ chức chánh trị, cấm các Chức sắc đang hành Đạo không được làm chánh trị. Nếu ai muốn làm chánh trị phải từ chức phận của mình. Những ai đang cư trú trong vùng Thánh Địa không được phép hoạt động chánh trị và Quân sự.

6- Tất cả mọi ngân quỹ của Đạo, do các nguồn lợi kinh tế hợp pháp cũng như mọi sự đóng góp công quả của nhơn sanh đều phải thanh toán minh bạch và công bố cho nhơn sanh biết.

7- Cải thiện đời sống vật chất cho Chức sắc hiến thân và đạo hữu công quả vì hiện tại họ quá kham khổ và đã mất tinh thần phục vụ Đạo. Ngoài ra tất cả dân cư quanh vùng Thánh Địa cũng được nâng đỡ về vật chất cũng như tinh thần.

8- Chỉnh đốn lại Dưỡng lão đường cho hoàn bị để phụng dưỡng những Chức sắc già yếu, dài công nghiệp để họ được tự do an hưởng ân huệ lúc tuổi già.

9- Gấp rút xây dựng một Thánh Thất vĩ đại và kiểu mẫu tại Đô Thành Sài-gòn Chợ lớn, lập ban văn hoá của Đạo để chỉnh đốn lại việc tuyên truyền giáo lý của Đạo cho hợp thời. Mở lớp huấn luyện Chức sắc có khả năng, thiết lập cơ quan truyền giáo ngoại quốc.

10- Các nơi ở ăn của các vị Chức sắc Nam phái không đặng dụng thiếu nữ làm tuỳ tùng, dù hình thức nào.

Kết luận: Bức giác thơ kính dâng lên Đức Ngài với một tinh thần tha thiết xây dựng nền Đạo và bảo trọng uy tín của Đức Ngài cũng như lời Đức Ngài đã tuyên bố mới đây trong bức thơ gửi cho Trung Tướng Tổng Tư lịnh Quân Đội Cao Đài số 1658/VP.HP ngày 23-9-1955: "Yêu ái và sùng kính đồng bào máu mủ của Bần Đạo nên buộc mình phải bảo vệ mạng sống và hạnh phúc của họ đồng một giá trị với bảo vệ và mạng sống của Bần Đạo.Vì lẽ ấy nên ai đã phạm vào quyền tự do độc lập của tổ quốc và phạm đến sanh mạng, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, chẳng kể xã hội và cá nhân nào, chính thật là kẻ thù của Bần Đạo."

Để hưởng ứng lời tuyên bố ấy của Đức Ngài mà trong mấy ngày vừa qua chúng con đã phải tích cực hành động để thanh trừng những kẻ thù của Đạo và của Đức Ngài để làm cho uy danh của Đức Ngài được sáng tỏ trong lòng "lời nói và việc làm của một Đấng Giáo Chủ lúc nào cũng đi đôi"

Thưa Đức Ngài: Những hành động và lời nói chúng con ngày nay mặc dầu có thể khiến Đức Ngài phẫn nộ bất mãn, nhưng mai sau Đức Ngài sẽ được hài lòng và thương yêu chúng con, cũng như Đức Ngài có những mục u nhọt, khi nặn thì hơi đau, nhưng nặn xong thì nhẹ nhàng khoan khoái. Chúng con ước mong bức giác thư này không phải là tiếng kêu trong bãi sa mạc, như thế thì cơ nguy khốn của Đạo còn hy vọng cứu vãn, hồng phúc của nhơn sanh sẽ tồn tại, uy tín của Đức Ngài sẽ chói rạng hơn lên. Xin Đức Ngài chứng nhận tấm lòng thành kính của chúng con.

Nay kính.

Ký tên:
1- Nguyễn Thành Phương
2- Lê văn Tất

 

_______________________________

 

Tiếp theo là phản kháng bằng Bức tâm thư

(Lời Soạn giả: Đây là một bản án gắt gao đối với một người "bội sư phản bạn" là Nguyễn Thành Phương.)

Kính gởi:

Anh Nguyễn Thành Phương.Chủ tịch Uỷ ban vận động Đoàn kết. Cựu quân nhân Cao Đài Liên Minh. SAIGON

Thưa Anh, Chúng tôi, toàn thể thành phần cựu Quân nhân trung kiên của Quân Đội Cao Đài nói riêng, những Tín đồ Cao Đài nói chung, là những nạn nhân trong cuộc tạo loạn "Bội sư phản bạn" của một vị Cựu Tướng lãnh Đạo Cao Đài đã mù quáng tuân lời bạo Chúa Diệm – Nhu dẫn bọn Khuyển Ưng, ngưu đầu mã diện vô Thánh Địa ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (dl: 05-10-1955) để lăng mạ Đức Hộ Pháp, áp bức Hội-Thánh, khủng bố toàn Đạo, giết hại anh em, khiến cho Đức Hộ Pháp phải lánh nạn và cuối cùng gởi xương nơi Miên quốc. Cơ nghiệp Đạo tan tành, anh em ly tán, uất ức, kinh tởm, xuẩn động, bất nhân hay bất trí, bất trung, bất nghĩa của vị bạo tướng phản bội tham tàn khát máu ấy. Không rõ hiện nay vị Tướng lãnh phản Thầy phản Đạo ấy yên sống nơi nào? Mà nghe đồn hình như hắn ta đang âm mưu cùng bè đảng khuyển ưng định tổ chức tái diễn một cuộc đầu cơ xương máu nữa. Vì quá lâu ngày nên anh em chúng tôi không còn nhớ rõ tên họ vị tướng lãnh phản bội ấy, nhưng nghe phong thanh dường như hắn ta có một biệt danh là "ông già dềnh" và quê quán ở đâu tận miền Rạch giá. Hân hạnh được tin người Anh cũ đứng lên làm Chủ tịch Uỷ ban Vận động đoàn kết cựu Quân nhân Cao Đài. Chúng tôi rất muốn tham gia, nhưng vì đã mang bịnh "Kinh cung chi điểu" đã có "đạp vỏ dưa thấy vỏ dừa phải tránh", nên trước khi tham gia đoàn kết giao trọn tánh mạng xương máu cho Anh lãnh đạo, anh em chúng tôi yêu cầu Anh và bộ Tham mưu hùng hậu của Uỷ ban vui lòng thẳng thắn giải đáp cho toàn thể anh em chúng tôi được sáng tỏ những điều uẩn khúc ôm ấp từ ngày Anh đã lánh xa vùng Thánh Địa:

1- Trong năm 1948, người Anh thứ hai của một vị Tướng lãnh Cao Đài nào (lúc đó là Đại Tá) đã sanh tâm cưỡng đoạt bán trọn số "Bon" vải kaki của nguyên Đại uý Nguyễn Thiện Tâm xin riêng cho anh em chiến sĩ Cao Đài tỉnh Thủ Dầu Một.

2- Cuối năm 1949, kẻ nào đã ra lịnh những tên: Thể,Triêu tổ chức ám sát nguyên Đại uý Nguyễn Thiện Tâm tại Sài-gòn cốt để ém nhẹm việc người anh đã cưỡng đoạt số "bon" vải kaki kể trên.

3- Năm 1949, kẻ nào đã ra mật lịnh mưu sát nguyên Trung-uý Nguyễn văn Bay tại Vĩnh Long.

4- Trong thời gian 9 năm qua, từ ngày bị Diệm – Nhu phỉnh gạt tước đoạt cả binh quyền, kẻ nào hiện còn đem Quân đội mà trở về Thánh Địa nữa, trừ phi một dịp nào tranh cử chức vị Tổng Thống và Phó Tổng Thống năm 1961 để được chánh quyền ủng hộ về nơi đó chốc lát rồi chuồn đi.

5- Năm 1952, kẻ nào đã âm mưu vận động tổ chức cượng quyền Tổng Tư lịnh Quân Đội Cao Đài của nguyên Trung Tướng Nguyễn văn Thế.

6- Trong đầu năm 1953, Hội Thánh Cao Đài có mở một Đại hội để tuyển chọn vị Tổng Tư lịnh Quân Đội Cao Đài thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Thành. Trong số 39 lá thăm vị nào đã được Hội Thánh Cao Đài tín nhiệm bầu cử với 35 lá thăm (người trong cuộc cho rằng đó là nguyên Thiếu Tướng Lê văn Tất) và ai là người nhận được vỏn vẹn 1 lá thăm của thân nhân kèm với 3 thăm trắng?

7- Phải chăng vì tức giận với sự thất bại đó mà người ta (?) đã xúi giục nguyên Trung Tá Nguyễn Kim Vinh vì đã không tán thành cho ai kia lên làm Tổng Tư lịnh Quân Đội Cao Đài?

8- Vị tướng lãnh Cao Đài nào đã mạo danh 20.000 quân nhân Cao Đài trong những năm 1952, 1953, 1954 để lập thẻ chuyển ngân sang Pháp mỗi tháng hàng trăm triệu đồng Quan (France). Số tiền khổng lồ này hiện do ai cất giữ và tồn trữ vào ngân hàng nào bên Pháp? Nếu vì lâu ngày Anh có quên đi xin anh vui lòng hỏi lại nguyên Đại uý Đặng Quang Hưng tự là Hưng lùn, vị tuỳ viên thân cận của anh trong thời gian được anh giao phó đảm trách việc đó với những tên: Dời, Tân, Thọ, Ba…

9- Kẻ nào đã lợi dụng căn cứ liên lạc Quân Đội Cao Đài 113 Yên Đỗ Sai-gòn để tổ chức làm trạm tích trữ và nấu thuốc phiện lậu, buôn thuốc phiện lậu với tên Bang Trương Tiêu-Châu Mã-Tuyên hiện tên này đang bị chánh quyền cách mạng giam giữ về tội cấu kết với Diệm – Nhu (việc này nguyên Đại uý Nguyễn Quang Hưng cũng còn nhớ rõ lắm).

10- Kẻ nào đã lãnh trọn ba tháng lương đầu của Bộ Quốc phòng cấp phát cho toàn thể Sĩ quan, Binh sĩ Quân Đội Cao Đài đã được Quốc-gia-hoá đang thụ huấn tại Quang Trung trong năm 1955, khiến cho các cấp chỉ huy bất bình phản đối định truy tố kẻ lưu manh ấy. Hành động ấy đã làm cho cố Thiếu tá Lê Văn Giữ phải quá uất hận mà tự sát tại Bệnh viện Cộng Hoà, vì: một mặt bị anh em đòi hỏi lương hướng, một mặt khác vị Tướng lãnh của mình lại làm lơ trơ mặt, ôm trọn số tiền bỏ mặc cho anh em kham khổ mà không ngó ngàng gì tới cảnh bệnh hoạn của mình.

11- Năm 1955, vị Tướng lãnh Cao Đài nào đã dại khờ nghe lời Diệm – Nhu phỉnh gạt treo mồi Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc phòng để chống lại Đức Hộ Pháp và phá hoại chủ trương Đại Đoàn kết của đảng phái Quốc gia của Đức Ngài.?

12- Lịch sử Cao Đài đã chứng minh rằng vị Tướng lãnh Cao Đài đó đã điên cuồng làm tay sai Diệm – Nhu mang bọn khuyển ưng về Thánh Địa lăng mạ Đức Hộ Pháp, thanh trừng Hội Thánh, khủng bố toàn Đạo, giết hại anh em, khiến cho Đức Hộ Pháp phải tỵ nạn sang Miên quốc.

13- Có phải chăng vì bất mãn đã hoàn thành công tác "Bội sư phản Đạo"mà không được Diệm – Nhu ban cho chức vụ hứa hẹn như đã kể ở đoạn thứ 11 mà vị tướng lãnh đó liền trở cờ nguyền rũa chống đối lại Diệm – Nhu bắt đầu từ năm 1956 đến sau.

14- Lợi dụng cố Thiếu Tướng Trình Minh Thế tử trận, kẻ nào đã âm mưu xúi giục nguyên Trung Tá Mạnh, nguyên Thiếu Tá Đờn (đều là nguyên Trung Uý của Quân Đội Cao Đài đã có ra khu theo cố Thiếu Tướng Trình Minh Thế) rời bỏ hàng ngũ ra chiến khu ủng hộ Hôi đồng Nhân dân cách mạng để kẻ ấy nắm lấy cơ hội tổ chức (đầu cơ chánh trị) với Diệm – Nhu.

15- Trong năm 1955, vị Tướng lãnh Cao Đài nào đã hạ lịnh cho bọn khuyển ưng bắt giam cấm cố các Sĩ quan cao cấp trung kiên của Quân Đội Cao Đài như: nguyên Đại Tá Nguyễn Văn Kiên, nguyên Trung Tá Phan Tấn Phát, nguyên Thiếu Tá Nguyễn Hoà Minh, nguyên Thiếu tá Trần văn Minh, nguyên Thiếu Tá Nguyễn Thanh Vân tự Hồng, nguyên Thiếu tá Hồ Khánh Vân, nguyên Thiếu Tá Võ Thanh Sơn, nguyên Thiếu tá Võ Minh Tá, nguyên Thiếu Tá Lê văn Thoại…) vì những vị Sĩ quan đã dám phản đối hành động bội sư phản Đạo của bạo tướng ấy.

16- Cũng trong năm tang tóc 1955 đó, vị tướng lãnh Cao Đài nào đó đã ra lịnh thủ tiêu Cán bộ Hồ Hán Sơn tại Giang Tân.

17- Vị tướng lãnh nào đã bị Hội Thánh và toàn Đạo Cao Đài kết án "Bội sư phản Đạo" và dành riêng cho một biệt danh hiện thân hỗn hợp của những tiền kiếp: Juda, Thân Công Báo, Bàng quyên, Nguỵ Diên.

18- Kẻ nào đã im ẩn số tiền 100.000 đồng của Trung Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, cựu Chủ tịch hội cựu chiến sĩ Việt Nam gởi nhờ trao tặng anh em thương phế binh Quân Đội Cao Đài làm quà cây mùa Xuân 1965, nhưng đã mua sắm tết cho riêng vợ con mình?

19- Kẻ nào và bè lũ đã đem gia đình chiếm cứ cơ sở 113 Yên Đỗ Sài-gòn thuộc chủ quyền của Quân Đội Cao Đài sau ngày Quân Đội Cao Đài đã giải tán, mà không chịu giao trả lại cho anh em Thương phế binh Cao Đài, mà làm tài sản sinh sống.

20- Vị tướng lãnh Cao Đài nào và bè lũ bị Đức Hộ Pháp ban hành Thánh lịnh trục xuất khỏi Tôn giáo Cao Đài về tội "Bội sư phản Đạo" chia rẻ hàng ngũ đồng đội?

21- Kẻ nào chủ trương qui nạp và ưu đãi bọn đầu trộm đuôi cướp khát máu dùng làm cận vệ thân tín đặng sai bảo bọn khuyển ưng này thi hành công tác ám sát, cướp bốc và khủng bố anh em đồng Đạo?

22- Vị tướng lãnh Cao Đài nào và bè lũ giả mạo chữ ký của Đức Hộ Pháp làm Thánh lịnh giả để mưu định bào chữa hành tàng "Bội sư phản Đạo" của mình.

23- kẻ nào và bè lũ đã tự ly khai khỏi hàng ngũ Quân Đội Cao Đài đã phản Thầy phản Đạo, phản bạn, gây chia rẻ trong Quân Đội Cao Đài bấy giờ, giấc mộng lợi danh không thành nên kêu gọi "Đoàn kết" để tạo nên cơ hội lợi dụng thêm xương máu anh em thêm nữa.

24- Kẻ nào liên kết với bọn đầu cơ chánh trị, chuyên chở mướn thuốc phiện lậu, lợi dụng danh nghĩa Cao Đài làm nấc thang danh lợi cá nhân.

Thưa Anh, Thưa các bạn trong uỷ ban, Anh là vị Chủ tịch của Uỷ ban Vận động Đoàn kết cựu quân nhân Cao Đài thì chắc hẳn Anh và bộ Tham mưu hùng hậu của anh phải hiểu rõ danh tánh bọn lưu manh hơn ai hết, như chúng tôi đã liệt kê trong 24 điều khoản kể trên. Chúng tôi không rõ trong phái đoàn hay Uỷ ban Vận động Đoàn kết cựu quân nhân Cao Đài do anh lãnh đạo có tên vị tướng lãnh lưu manh đã bị toàn Đạo Cao Đài kết án "Bội sư phản Đạo" ẩn núp trong hàng ngũ hay chăng? Vì thế, trước khi quyết định tham gia đoàn kết với các anh, chúng tôi thành khẩn tha thiết yêu cầu anh và các bạn nên tôn trọng công lý thiêng liêng, nên tuân theo nguyện vọng chung của toàn Đạo gồm có cả ba triệu Tín đồ, hãy cương quyết kiểm điểm vạch mặt chỉ tên "Con chiên ghẻ ghê tởm bẩn thỉu" ấy cho toàn Đạo và quốc dân đồng bào biết mặt rõ tên để khai trừ kẻ "mặt người dạ thú", "ngưu đầu mã diện", hoạt đầu chánh trị ra khỏi Uỷ ban đoàn kết của các anh. Và nếu cần, thì nên truy tố bọn lưu manh ấy ra trước Toà cách mạng xét xử các tội giết người, buôn thuốc phiện lậu, buôn đồng quan của bọn chúng. Để cho việc kiểm điểm được chí công vô tư, các bạn nên khởi đầu từ vị Chủ tịch trở xuống các Hôi viên, chớ đừng nên bắt chước gương Tào Tháo điểm tướng thuở xưa thì e sẽ có điều sơ sót đáng tiếc.Đồng một quan niệm cao đẹp như anh và các bạn, toàn thể anh em cựu quân nhân Cao Đài lúc nào cũng chủ trương đoàn kết. Tuy nhiên sự đoàn kết không chỉ nhằm riêng về nội bộ, mà chúng tôi còn kỳ vọng thực hiện một đại đoàn kết quốc gia để huy động toàn diện tiềm lực yêu nước tích cực ủng hộ Hội đồng quân nhân cách mạng- Cứu tinh của dân tộc- ổn định tình thế cực kỳ nghiêm trọng hiện thời của đất nước trong sứ mạng cứu quốc và kiến quốc.

Đó là sự cách biệt rõ rệt giữa chủ trương đoàn kết của chúng tôi và tổ chức dung nạp thiểu số nội bộ của các anh. Vì chúng tôi luôn chân thành đoàn kết với tất cả huynh đệ đồng chí trung kiên, với đầy đủ chiến sĩ quốc gia chân chính sẵn sàng hy sinh cho Đạo, cho dân, cho nước, không phân biệt đảng phái, Tôn giáo. Riêng đối với nội bộ, chúng tôi và toàn Đạo vẫn mong mỏi đón chờ những ai đã lỗi lầm sớm biết hồi tâm, cải hối. Chúng tôi cương quyết không đoàn kết bừa bãi và âm mưu cấu kết với bọn đầu cơ chánh trị, bọn chuyên môn mua bán xương máu anh em đồng đội, bọn tham danh bán lợi, bọn buôn đồng quan, buôn thuốc phiện lậu, bọn bất trung bất nghĩa, lợi dụng tình thế mưu định tái diễn bi kịch bằng máu và nước mắt để tạo danh lợi cá nhân. Chủ trương của chúng tôi như vậy không có nghĩa là quá gắt gao để cố chấp hay nhè nhẹ một tình thương tiếc đối với những tên: Juda, Bàng Quyên ấy, nên vẫn hằng tâm niệm lời Thánh huấn "Lấy ân báo oán, oán ắt tiêu tan" và câu "Các con nên khoan hồng cứu rỗi kẻ tội lỗi" của Đức Hộ Pháp khi xưa.

Chủ trương dứt khoác của chúng tôi như vây là do lòng mong muốn những huynh đệ khờ dại lỡ lầm thương hại ấy phải có hành động chứng minh thành tâm cải hối, thiện chí giác ngộ, để sớm chỉnh thân trai giới, tìm lại Đạo phục Tín đồ Cao Đài, suốt ngày đêm tam bộ nhứt bái từ Sài-gòn quay về phủ phục sám hối trước Tổ đình bảy ngày bảy đêm khẩn cầu Hội Thánh và toàn Đạo Cao Đài hỉ xả cho tội "Bội sư phản Đạo" ngõ hầu cứu rỗi thể xác và linh hồn khỏi bị tận đoạ tam đồ. Chúng tôi tin tưởng rằng: Nếu kẻ mang tội đại nghịch biết thành tâm tự kiểm như thế thì dù cho sắt đá cũng phải xiêu lòng, không những tội tình xưa mà hy vọng rằng sẽ còn được toàn Đạo và huynh đệ cảm động tiếp đón nồng hậu trong thân tình khắn khít, đậm đà để tay nắm tay, sức chung sức, chung cùng hạ sơn hiến thân phế đời giúp nước.

Trong khi chờ đợi việc tự phê tự kiểm, tự hối của anh và các bạn, chúng tôi lúc nào cũng ghi nhớ mối tình đồng đội chí thiết xưa kia của Quân Đội Cao Đài: một Quân đội cách mạng đã trưởng thành bằng gậy, bằng tầm vông vạt nhọn và khoanh dây luộc của đêm đảo chánh 09-03-1945. Một quân đội Cách mạng đã từng kháng Pháp, thực dân và chống Cộng Sản vô Thần trong suốt 10 năm qua và lúc nào cũng giữ trọn phận Tín đồ trung thành đối với Hội Thánh Cao Đài, trọn lòng công dân yêu nước đối với Tổ quốc khi cần đến.

Nhớ về dĩ vãng, nhìn vào hiện tại cũng như nghĩ đến tương lai, chúng tôi nguyện đồng tâm nhứt trí tuân hành mạng lịnh của Ngài Phối Sư đặc nhiệm Thượng Vinh Thanh tức là nguyên Trung Tướng Trần Quang Vinh, vị cựu Tổng Tư lịnh sáng-lập-viên đầu tiên của Quân Đội Cao Đài từ năm 1942. Một người đã từng trải bao lần thử thách gian khổ hiểm nguy mà luôn luôn vẫn giữ trọn đạo tâm cùng Hội Thánh Cao Đài cũng như vẫn chứng minh lòng trung thành với dân với nước. Tài đức của người sáng tỏ như nhật nguyệt, xứng đáng là bậc lãnh đạo duy nhất của toàn thể anh em chúng tôi và khi cần chúng tôi sẽ sẵn sàng tuân lịnh của người để xả thân cho Đạo, cho nước, cho dân. Chúng tôi kính cẩn thành tâm cầu nguyện Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, các Đấng Thiêng Liêng, chư liệt Thánh tử Đạo ban bố hồng ân, mở mang trí huệ, soi sáng lương tri của anh để sớm tìm ra kẻ "Bội sư phản Đạo" và bè lũ cho chúng tôi và toàn Đạo được rõ, ngõ hầu đội sớ cầu nguyện cho bọn chúng mau hồi tâm hướng thiện, cải tà qui chánh, trở về đoàn kết thực tình với chúng tôi trong tinh thần Đại Đạo. Trân trọng kính chào Anh và kính chuc anh được bình tâm an trí.

Thánh Địa Cao Đài ngày 04 tháng giêng Giáp Thìn
(dl: 16-02-1964)

Toàn thể cựu quân nhân trung kiên Quân Đội Cao Đài (Những huynh đệ chưa bao giờ đào ngũ Quân đội Cao Đài và chưa hề bị toàn Đạo kết án "Bội sư phản Đạo".

 

_______________________________

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Thứ 27

(Đệ thập Tứ niên)

***

Tòa Thánh - Tây Ninh

_________________________

SẮC LỊNH

Bần-Đạo đã mục kiến đặng nhiều bằng cớ rằng những Chi phái phản Đạo cùng là những Chức-Sắc Thiên phong Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài thọ phong từ trước chỉ chịu tước mà thôi chứ không tùng luật Đạo, hoặc Đạo cũng ham mà đời cũng muốn, hoặc là mê-hoặc tâm lý dân sanh phụng thờ Tả đạo, không công nghiệp, vào cửa Đạo để vụ tất lợi danh, những người ấy đã bị Bần Đạo mời ra khỏi Thánh Thể của Chí-Tôn (tức là Hội-Thánh) hay là ngưng quyền biếm vị nên cố tâm trả oán, gieo ác cảm đủ điều. Bần Đạo chẳng cần cạn tỏ thì chư Chức-sắc Thiên phong Nam Nữ cùng chư đạo hữu lưỡng phái, toàn Đạo cũng thấy rõ phương chước báo oán rửa hận của họ đã dùng những thủ đoạn đê hèn thế nào! Nào là truyền bố cáo, nào là viết nhựt trình, nào là sai người đi nói xấu. Gia dĩ chẳng có mưu kế nào mà họ từ, nhưng Bần Đạo vẫn điềm nhiên ngồi đợi xem những vở hề của kẻ bất lương diễn trên sân khấu của đời hay dở thế nào cho biết.

Trót mười mấy năm chầy, họ hát đủ tuồng, tưởng khi phen này cũng là bổn cũ soạn lại chớ không chi rằng lạ. Vậy khuyên toàn Đạo cứ noi theo phép của Bần Đạo ngồi xem cũng là một chước giải buồn trong một lúc. Cái bịnh ngoại cảm của Bần Đạo cũng dễ trị. Duy chỉ sợ cho hoạn nội thương, nhưng Bần Đạo chắc hẳn đủ diệu thủ mà điều đình, xin Đạo hữu lưỡng phái an tâm vững dạ. Những tay phản Đạo trong Hội-Thánh hỡi còn nhiều. Bần Đạo đương liệu phương trừ khử. Ấy vậy Bần Đạo đã chẳng phải là kiên nghịch mà trái lại chỉ đương giục nghịch hầu làm cho ra những kẻ dã tâm đặng tắm rửa Thánh Thể của Thầy cho nên tinh khiết, rồi mới dung mạo điểm trang cho ra xinh lịch đặng đem Đạo đến khoa trường cho toàn cầu khảo thí. Đạo đặng ra thiệt tướng chỉ có làm như vậy mà thôi. Chứ Chức-sắc Thiên phong, chư Chức việc Nam nữ, khá đoc Sắc lịnh này cho cả Tín-đồ đều biết.

Toà-Thánh Tây-Ninh, ngày một tháng tư, Bính-Tý
(Dl: 21 Mai 1936)
Hộ-Pháp
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài:
Hiệp-Thiên và Cửu Trùng

 

_______________________________

 

Đây là Thánh lịnh Đức Hộ Pháp nói rõ về việc thành lập Quân Đội Cao Đài ngày Đạo hận:

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập nhứt niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

Số: 99/HP-HN

_________________________

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp-Chánh-Truyền.

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu-Dần (dl: 15-02-1938) giao quyền Thống nhất Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ cho đến ngày có Đầu Sư chánh vị.

Nghĩ vì từ tháng 07 năm 1941 cho tới tháng 10 năm 1946, Bần Đạo bị đồ lưu nơi đảo Madagascar, ở nhà Phối Sư Trần Quang Vinh hiệp cùng chư Chức sắc Thiên phong Hội Thánh Cửu Trùng Đài lập Quân Đội Cao Đài, tới ngày 9-3-1945 đảo chánh Pháp.

Nghĩ vì trong thời gian ấy, Việt Minh đã cướp chánh quyền, kế tiếp Pháp trở lại, làm cho Đạo phải chịu "lưỡng đầu thọ địch" con cái của Đạo đã bị giết chóc một cách ác liệt, tàn nhẫn. Đạo gây thù giữa Pháp cùng Việt Minh.

Nghĩ vì khi Pháp trở lại thì Phối Sư Trần Quang Vinh và các Chức sắc Thiên phong đồng lòng cùng Người, cũng đã tái lập Quân Đội đặng chống Viêt Minh và đầu hàng Pháp, dưới quyền chỉ huy Tổng Tư Lịnh Phối Sư Trần Quang Vinh.

Nghĩ vì các cơ thể Quân đội đã tạo thành hiển nhiên, nên Bần Đạo phải buộc mình nhìn nhận Quân Đội ấy đặng họ thi hành sứ mạng Thiêng liêng của họ, là giành quyền Thống nhất và độc lập cho nước nhà, nên phải đảm đương làm Thượng Tôn Quản Thế.

Nghĩ vì Trần Quang Vinh đã làm Tổng Tư Lịnh quân Đội khi Bần Đạo vắng mặt, nên Bần Đạo tấn phong cho làm chức Trung Tướng Quân Đội.

Nghĩ vì khi Nguyễn Văn Thành đồ mưu lật đổ quyền Tổng Tư lịnh của Trần Quang Vinh thì Bần Đạo đã giao cả Quân Đội cho Đức Quốc Trưởng Bảo-Đại sử dụng.

Nghĩ vì khi Nguyễn Văn Thành khi nắm quyền Tổng Tư lịnh Quân Đội rồi lại toan mưu phản loạn, nên Bần Đạo thâu quyền lại giao cho Đại Tá Lê Văn Tất.

Nghĩ vì Nguyễn Thành Phương nhờ Trình Minh Thế Quân Đội Liên-minh ở rừng làm hậu thuẫn đặng thâu đoạt cho kỳ đặng quyền Tổng Tư Lịnh Quân Đội với mọi mưu mô gian ác, hăm he ám sát Lê Văn Tất buộc phải nhường quyền ấy lại cho nó với sự bất chấp thuận của Hội-Thánh, vì trong số 38 vị Chức sắc Đại Thiên phong đầu phiếu thì Nguyễn Thành Phương chỉ đặng có một mà thôi.

Nghĩ vì Nguyễn Thành Phương và Nguyễn Thái là người ngoại Đạo, chỉ có Lê Văn Tất là con của Lê Văn Trung - Chí Thiện - Hội Thánh Phước Thiện, cùng Bộ Tham mưu Quân Đội ấy là đa số đều là những người không có Đạo.

Nghĩ vì Nguyễn Thành Phương đặng Bần Đạo phong cho chức Trung Tướng đã quốc-gia-hóa hoàn toàn, mà trở lại khủng bố chiếm đoạt Tòa Thánh, bắt giam ngục Chức sắc Thiên phong và Tín đồ của Đạo với oai quyền của Quân Đội Quốc gia, cùng tổ chức Ban ám sát đặng giết chóc con cái của Đạo. Nên:

THÁNH LỊNH

Điều thứ nhứt: Cả Hội-Thánh Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài, Phước Thiện, Phạm Môn cùng các cơ quan của Đạo đều tổ chức NGÀY KỸ NIỆM 20-8 ÂM LỊCH, là ngày của Nguyễn Thành Phương đã nhơn danh Quân Đội Quốc gia về chiếm Thánh Địa.

Điều thứ nhì: Từ đây Đạo không coi Quân Đội, bất cứ với danh thể nào, còn có chơn trong Đạo nữa.

Điều thứ ba: Hội-Thánh Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài, Phước Thiện, Phạm Môn cùng các cơ quan khác của Đạo lãnh lịnh thi hành Thánh Lịnh này và truyền tống cho toàn Đạo đều hiểu biết.

Kim Biên, ngày 08 tháng 08 năm Bính Thân.
(Dương lịch: 12-09-1956)
HỘ PHÁP (Ấn ký)

___________________
Sao y nguyên văn bổn chánh Thánh lịnh ban hành

Số: 397/ SL cho toàn Đạo Phước Thiện

Tòa Thánh, ngày 13 tháng 8-Bính Thân
(dl: 17-9-1956)

- Chưởng Quản Phước Thiện
Chơn Nhơn
Trịnh Phong Cương (Ấn ký)

 

- Trưởng Tộc Phạm Môn
Đạo Nhơn
Phạm Văn Út (Ấn ký)

 

_______________________________

 

…Sự bất mãn trong lòng hơi thơ kết thành vận:

"Ôi, Thôi, rồi, nồi, xôi". Phải chăng lời của nhà thơ đã nói lên sự chán chường "Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng"

Thơ của ĐỨC HỘ PHÁP

Mấy ai vị quốc đó người ôi?
Chống mắt mà xem bắt thảm thôi!
Cứu nước không ai ra gánh vác,
Phong quan chưa định đã giành rồi!
Giặc xâm rút cổ không trông thấy,
Trống lịnh ăn cơm bới lủng nồi.
Chán bấy những phường xu Cách mạng,
Dựa thân Công tử giữ nồi xôi!

 

_______________________________

 

Nơi Toà-Thánh, ngày 01 tháng 9 năm Ất-Mùi (dl: 16-10-1955) Đức Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp-Thiên và Cửu Trùng gởi cho các cơ quan Chánh-trị Đạo nói lên biến cố của Đạo-quyền:

Bần Đạo mới tiếp đặng ở nơi Tịnh Đường mật phúc của Tam-Đầu-chế Hiệp-Thiên-Đài nói về Quân-Đội Quốc gia Cao-Đài áp bức Hội-Thánh mà nhứt là Bần-Đạo, buộc giao trả quyền Đầu-Sư lại cho nhơn sanh.

Điều ấy cả toàn Thánh-Thể Đức Chí-Tôn đều biết rõ rằng vì thiếu phẩm Đầu-Sư nên quyền Vạn linh đã giao cho cầm quyền Chánh trị-Đạo cho đến ngày có Đầu-Sư chánh vị. Muốn rảnh rang và an nhàn sau 30 năm đã khổ hạnh với Đạo nên Bần-Đạo lập Thánh lịnh trả quyền ấy lại cho Quyền Vạn linh đặng chọn người thay thế.

Thêm nữa, Bần Đạo cầu xin cả Thánh Thể Đức Chí Tôn Cửu Trùng Đài, Hiệp-Thiên-Đài luôn về Quân Đội nữa, làm ơn dâng sớ cho Đức Chí-Tôn cùng Đức Lý Giáo-Tông cho Bần-Đạo trả quyền Hộ Pháp và Giáo-Tông lại cho Đạo. Bần-Đạo chỉ mơ-mộng một điều là trở lại làm một tên Tín-đồ đặng tự tu kỳ thân hầu hưởng đặng một đôi điều hạnh phúc an nhàn, từ bi, tự toại. Trường hợp người giết người đồng loại, đồng bào tương tàn, tương sát ngoài đời; còn trong cửa Đạo thì vì công danh lợi quyền con cái của Đạo mưu hại lẫn nhau làm cho Bần-Đạo rất nên thống khổ tâm hồn cùng xác thịt. Hội-Thánh nên cho cả toàn con cái Nam Nữ của Đức Chí-Tôn và Đức Phật-Mẫu biết rằng: Nếu họ ngó thấy Bần Đạo còn hoạt động, còn lo lắng cho họ là giả tướng mà kỳ trung thì tâm hồn và xác thịt của Bần Đạo đã quá thống khổ mệt-mỏi lắm rồi! Nên cần an dưỡng, sống ngày nào hay ngày nấy, nhưng từ đây họ nên kể Bần-Đạo đã chết mất rồi đặng an-ủi lấy họ. Tuyên bố bức thư này cho toàn Đạo đều hay biết cùng cả toàn quốc dân Viêt-Nam hiểu thấu rằng: Từ đây Bần Đạo bít tai, bịt mắt, không muốn nghe thấy một điều gì về Quân-sự, Chánh trị của đời cùng hành vi của Đạo.

Xin thương tình Bần Đạo giúp cho thiệt hiện đặng những điều ước vọng nồng-nàn ấy và từ đây Bần-Đạo cầu xin đừng làm một điều gì xao-xuyến cho tâm hồn Bần Đạo trong lúc an tịnh. Nếu Bần-Đạo xem coi còn ở nơi Hộ-Pháp-Đường là một điều chướng ngại cho Đạo, thì Bần Đạo hứa rằng khi tình thế Đời và Đạo đặng ổn định, Bần Đạo thoát khỏi đặng định thức nghi-ngờ thì khi đã làm xong dinh thự Phạm Nghiệp, Bần-Đạo sẽ về nơi ấy an dưỡng tuổi già"

Đức Hộ Pháp
(Ấn ký)

 

_______________________________

 

Thế rồi Đức Hộ Pháp phải tự lưu đày sang Miên Quốc trước tình thế vô cùng khuẩn bách.

Hội-Thánh có ra Thông cáo số 23 ngày 11-9-Ất Mùi của Văn-phòng Ngọc Chánh Phối-Sư, có đủ ba Ấn ký của ba vị Chánh-Phối-Sư cũng đồng thời trấn an toàn Đạo:

"…Chư Chức-sắc và toàn Đạo Nam Nữ cũng có đủ Đức tin đã thấy rồi: Từ năm Tân-Tỵ (1941) cho đến năm Ất Dậu (1945) Đức Hộ Pháp bị đày lưu nơi Hải ngoại, một số chư Chức-sắc bị đày đi Bà-rá, Côn-nôn, Sơn-la, Lao-Bảo; người thì bị bắt tra tấn chết tại khám đường. Toà-Thánh bị chiếm cứ, các Thánh-Thất bị đóng cửa, xung công làm nhà thương, trường học. Lúc ấy trước mắt của nhơn sanh đều thấy, người đời họ cho rằng ĐẠO CAO ĐÀI đã bị cường quyền thủ tiêu không phương phục hưng lại đặng. Nhưng Thiên tùng nhơn nguyện, cuộc thế chuyển xoay, toàn thể Chức sắc, Chức việc và Đạo-hữu nam Nữ hiệp cộng nhứt trí hy sinh cùng Chánh giáo. Đến ngày 24 tháng giêng năm Ất Dậu (Dl: 9-3-1945) Đạo Cao-Đài thoạt nhiên sống lại một cách phi thường, đó là một triệu chứng cho nhơn sanh đủ Đức tin rằng: nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ chính là của Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế giáo Đạo Nam-phương.

Hôm nay việc xảy ra trong nội tình của Đạo là câu chuyện gia đình thường sự chẳng có điều chi trở ngại với bước đường hành Đạo tất cả. Hội-Thánh có đủ phương pháp điều giải, mọi sự sẽ được trên thuận dưới hoà. Vậy chư Chức việc cùng Đạo-hữu Nam Nữ cứ yên tâm lo bổn phận tu-hành, trau giồi tánh đức cho trở nên người chân chánh hiền lương, làm thế nào cho xứng đáng là Môn đệ của Đức Chí-Tôn giữ tư cách là một Tín đồ trung thành của Hội-Thánh"

Khi Đức Hộ Pháp sang Nam-Vang trong một đêm thật huyền thoại, hoàn toàn đi đường ngay chánh không hề tránh né một chút gì. Thế mà khi xe của Đức Ngài qua các trạm gát thì lính canh gát đều ngủ hết, nhất là đối với các trạm biên phòng Miên hoàn toàn không hề hay biết. khi Đức Ngài đến thánh Thất Kim biên nghỉ ngơi rồi thì Ngài viết thư cho Miên triều xin tỵ nạn chánh trị, hỏi lại Ngài qua lúc nào không một báo cáo, báo hại những người gát trong đêm này đều bị đổi hết. Nhưng một Thiên Mạng có khác là chỗ đó.

Bài TỰ THÁN

Cất bước ra đi cũng ngậm-ngùi,
Kẻ Tần người Việt dạ khôn nguôi.
Nhớ khi hội ngộ cùng huynh đệ,
Chạnh buổi chia ly luống sụt-sùi.
Hỏi bạn cố tri ai vẫn có!
Thi đề kỹ-niệm lúc chia phôi.
Nay ở chỗ này còn lai vãng,
Mai đến Miên-thành khó tới lui.
                        (Đức Hộ Pháp khi đến Kim Biên)

 

_______________________________

 

CUỘC THANH TRỪNG Ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (1955)

Trong thời gian Khánh Thành Toà Thánh nơi Văn minh-điện trước sân Đại Đồng xã có xướng xuất những câu Thai thi cuộc như "Than, Trách, Ly, Khai" hàm ý tiên tri diễn đề ngày 20 tháng 8 Ất Mùi, đến ngày 5 tháng giêng năm Bính Thân xảy ra cuộc Thanh trừng do Trung Tướng Nguyễn Thành Phương mang Quân lực Quốc gia Ngô Đình Diệm về chiếm Thánh Địa, phong toả Hộ Pháp Đường, bắt Chức sắc, Tín đồ gây hại danh thể Đạo, làm cho Đức Hộ Pháp phải lưu vong sang xứ Cao Miên gọi là xứ Chùa Tháp (Tần Quốc) vì cuộc khủng bố của bạo quyền họ Ngô.

Trích đoạn Sớ chung niên năm Ất Mùi (Về cuộc thanh trừng).

"… Năm Ất Mùi là năm Đạo trải qua nhiều trạng thái vui buồn lẫn lộn, lắm cảnh hiệp tan pha màu, khiến cho Hội Thánh phải lắm công nhọc trí xoay trở thuận chiều, hầu trấn an toàn thể con cái Đức Chí-Tôn.

Bước qua tháng tám Lễ Hội Yến Diêu Trì vừa yên, cách ba ngày sau nhằm ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl: 05-10-1955) cuộc nội biến xảy ra do Trung Tướng Nguyễn Thành Phương chủ động vào Hộ-Pháp-Đường là nhược điểm. Cuộc khảo đảo nhằm ngay Đệ Tử, nhưng dầu phải, dầu quấy, dầu nên, dầu hư, Đệ Tử cam hứng chịu cuộc bạo hành của Phương… làm sôi nổi cả dân cư trong vùng Thánh Địa, luôn cả các nước ngoài…"

 

_______________________________

 

Ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi

Quân Đội Cao Đài gởi Giác thư cho Đức Hộ Pháp ngày 09-10-1955. Đức Hộ Pháp chuyển qua Hội Thánh mở Đại hội các cơ quan chánh trị Đạo họp cùng Quân Đội giải quyết do Vi bằng ngày 28-8-Ất Mùi (dl: 13-10-1955) tại Giáo Tông Đường Toà thánh Tây Ninh vào lúc 10 giờ 30 phút.

Buổi hội có mặt Quí ngài:

Hiệp Thiên Đài:
            - Thời quân Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa
            - Bảo Thế Lê Thiện Phước.
            - Tiếp Đạo Cao Đức Trọng
            - Tiếp Pháp Trương văn Tràng
            (Chưởng quản Bộ Pháp Chánh)

Cửu Trùng Đài:
            -Qu. Thái Chánh Phối Sư: Thái Bộ Thanh
            -Qu. Thượng Chánh Phối Sư: Thượng Sáng Thanh
            -Qu. Ngọc Chánh Phối Sư: Thượng Tước Thanh
            Giáo Sư: Ngọc Hoài Thanh

Phước Thiện:
            -Chơn Nhơn: Trịnh Phong Cương
            -Đạo Nhơn: Đỗ văn Viện
            -Thượng Giáo sĩ: Chí Thiện Trần Thạnh Mậu

Quân Đội Cao Đài: (Đã Quốc gia hoá)
            -Đại Tá: Nguyễn Thành Danh
            -Thiếu Tá: Võ Tòng Lục.
            -Thiếu Tá: Nguyễn văn Ngọ.

Quân Đội Quốc gia Liên minh:
            Trung Tá: Trần văn Trạng
            Thiếu Tá: Hồ Đức Trung

Cơ Thánh vệ:
            Trung Tá: Đỗ Công Khanh.

Sau khi mật niệm Đức Chí-Tôn và các Đấng Thiêng liêng, toàn hội đồng công cử Ngài Tiếp Đạo- Cao Đức Trọng làm Chủ toạ buổi hội này:

Ngài Tiếp Đạo đảm nhận Chủ toạ, đứng lên cảm tạ toàn Hội và đề cập vào chương trình nghị sự.

Chủ toạ: "Trước mắt xin toàn hội bàn giải 10 khoản kiến nghị của Quân Đội. Còn việc biến chuyển do nội dung Quân Đội chủ trương mấy hôm nay, Đức Hộ Pháp có nói với tôi rằng: Đức Ngài rất bằng lòng, nhờ vậy mới có thể lọc lượt được nội dung của Thánh Thể và Châu thành Thánh địa, tức là Quân Đội đã giúp cho Đức Ngài Quốc-tế-hoá Thánh địa dễ dàng hơn. Nhưng Đức Ngài cũng than phiền rằng: "Quân Đội thi hành quá bạo, làm cho toàn thể Hội Thánh và nhơn sanh rúng động tinh thần…"

Về việc phải giải giới Cơ Thánh Vệ, Cận vệ quân và Bảo an lưu động, Bảo an nội thành là điều làm rất hợp lý trong việc Quốc-tế-hoá đặng lấy quyền bất khả xâm phạm nơi vùng Thánh Địa. Lại nữa, trong nội-ô và ngoại-ô Toà Thánh mà có võ trang thì có thể xảy ra lắm chuyện không hay, lấy việc nọ châm chế việc kia, nên Đức Ngài không buộc tội Quân Đội. Lại nữa, từ lúc khai Đạo, Đức Chí-Tôn đã nói: "Các con yếu mà mạnh, các con nhược là các con cường…" Thể theo Thánh giáo ấy, chúng ta phải nhận định rằng: Cái yếu của chúng ta là tình bác ái, rộng dung, kết lại thành một khối tinh thần vô đối, mạnh mẽ chống lại với mọi bất công, bạo lực trong xã hội đặng cứu dân cứu nước, cứu nhơn loại đang khổ não lần than.Vậy thể theo chánh lý ấy, chúng ta phải hiệp tâm mà lo đại cuộc, đừng để ngoại nhân thừa cơ châm biếm. Chúng ta là những người đã từng chịu gian lao khổ hạnh vì Đạo, thì trong tình trạng này chúng ta phải vững chắc tinh thần đạo đức hầu tầm giải pháp dung hoà nội bộ và giải quyết lo khoản kiến nghị của Quân Đội để được trong ấm ngoài êm, trau sửa Thánh Địa thêm phần đẹp đẽ, ấy là phương đắc sách.

- Ngài Tiếp Pháp đương quyền Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh đọc bức giác thơ của Quân Đội gởi cho Đức Hộ Pháp, đề ngày 9-10-1955 (Đọc nguyên văn)

- Thiếu Tướng Lê Văn Tất: "Trước hết, chúng ta muốn chỉnh đốn nội dung thì xin "Truất quyền độc tôn của Đức Hộ-Pháp" vì Đức Ngài còn nắm quyền Thống nhứt trong tay muốn phong cho ai, làm gì tuỳ ý, không ai dám động đến hay ngăn cản được, chính ông Giáo Sư Tuy cũng nhìn nhận như vậy. Như ông Hiếu, Cô Tranh, Cô Cầm họ làm sái chơn truyền luật pháp của Đạo mà có ai nói được đâu."

- Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa: "Việc này tôi đã mục kiến nhiều lần, Đức Ngài rầy mắng hai Cô đó, nhưng tại họ không nghe mà thôi. Chẳng lẽ chúng ta buộc Đức Ngài phải đang tay giết con của Đức Ngài bằng pháp luật hay sao? Thử đặt chúng ta vào tình trạng đó, chúng ta cũng khổ tâm cho cơn khảo đảo lắm chớ!"

- Chủ toạ: Ngài Cao Tiếp Đạo nói: "Tôi cũng nhìn nhận như vậy, vì chính tôi cũng thấy Đức Ngài rầy hai người ấy nhiều lần."

-Thiếu Tướng Lê Văn Tất: "Vậy thì chúng ta hãy giải phẫu từ vấn đề mà bàn luận về quyết định:

- Ngài Tiếp Pháp Trương văn Tràng:

Đọc kiến nghị khoản I :Bắt tất cả những người lợi dụng Đạo để bốc lột và uy hiếp nhân sanh, những người đã có hành động ly gián giữa Đạo và Quân đội. Tài sản của họ phải bị tịch thâu chia cho nhơn sanh nghèo khổ. Các tội phạm phải bị trừng trị.

- Trung Tá Trạng: "Việc xảy ra đã có dư luận là Liên Minh tham dự cùng Quân Đội Cao Đài, nhưng sự thật thì không có, đến khi chúng tôi nghe hiểu việc làm của Quân Đội Cao Đài, chúng tôi rất tán thành, dầu sao chúng tôi cũng là Tín đồ của Đạo, đã từng xuất thân nhờ Đạo, thì mọi biến chuyển trong Đạo chúng tôi phải quan tâm. Hôm nay chúng tôi đến dự là để đưa ý kiến ấy cho Hội Thánh được rõ, còn việc bàn tính nội dung của Hội Thánh, chúng tôi không có thẩm quyền." (Hay)

- Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước: "Để việc điều tra và xử đoán các tố tụng nhơn sự hay hình sự khỏi phải phạm vào quyền hành của chính phủ về Tư pháp, đối ngoại thì nhờ Tổng Tư lịnh Bộ can thiệp với Thủ tướng chánh phủ chánh thức hoá Thánh địa là vùng Bất khả xâm phạm, có quyền tự trị đối với Quốc tế (Internationnalité de la Réligion neutre avec le droit d’ asile).

Còn về nội dung thì cấm cả Chức sắc Thiên phong từ Giáo Hữu đổ lên không được tham dự vào việc làm về đời sống tư của mình nữa. Còn nói về Quân Đội thì có quân Đội Quốc gia Cao Đài, Quân đội Quốc gia Liên Minh" (Lúc này Tướng Trình Minh Thế đã chết).

Quyết nghị: Sau khi bàn thảo, toàn hội đồng ý tán thành: lập một ban Thẩm vấn hỗn hợp có bốn cơ quan: Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Phước Thiện và Quân Đội gồm có Liên minh và Cao Đài.

A- Ban này có quyền điều tra các tố tụng xảy ra giữa nhơn sanh và dân sự, hình sự; có quyền hoà giải các việc thường thức trong vùng Thánh Địa.

B- Việc quan trọng, sau khi điều tra xong, Ban này giao cho Hội đồng hỗn hợp phân xử.

C- Thành lập một Hội Đồng có 4 cơ quan kể trên để phân xử các hồ sơ của Ban thẩm vấn hỗn hợp giao qua, ngoài phạm vi Đạo luật và đạo pháp.…Ban Thẩm vấn hỗn hợp và hội Công Đồng chịu dưới hệ thống của Hội Thánh Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Tổng Tư lịnh Bộ Quân Đội Cao Đài. Riêng bản án do Hội Công Đồng thành lập phải có sự phê chuẩn của Chưởng Quản Bộ pháp chánh mới có hiệu lực.

(nghỉ trưa đến lúc 13 giờ)

Tái nhóm buổi chiều lúc 13 giờ

- Chủ toạ Ngài Cao Tiếp Đạo: "Xin tiếp tục bàn giải về việc ly gián mà Quân Đội đã nói, xin ngài Thiếu Tướng định rõ nghĩa.

- Thiếu Tướng Lê Văn Tất: Như bản thông tin của Hội Thánh đã rao truyền những tin tức thất thiệt nói xấu Quân Đội, gây mầm ác cảm giữa Quân đội với Đạo. Xin Hội Thánh định lại để sửa đổi hình thức và nội dung bản thông tin cho được đầy đủ thiện chí và hợp với lẽ đạo"

Kết luận:

Khoản thứ nhứt: Hội Thánh có lập nhiều Tiểu ban hoà giải và một ban Thẩm vấn hỗn hợp đặt dưới quyền điều khiển của Bộ Pháp chánh.

a/-Tiểu ban hoà giải tại các văn phòng Đầu phận Đạo để hoà giải các việc nhỏ nhặt.

b/-Ban thẩm vấn hỗn hợp thì đặt tại một chỗ mà thôi để thẩm vấn các việc trọng hệ rồi gửi hồ sơ lên Bộ Pháp chánh xử định. Hai ban này gồm có đại diện ba cơ quan Hoà viện: Hành chánh, Phước thiện và Quân đội.

c/-Ban Thẩm vấn hỗn hợp chỉ thi hành nhiệm vụ về các hồ sơ tố tụng đã xảy ra từ trước và hạn định ba tháng phải giải tán. Những việc mới xảy ra sau này thì giao cho Hoà viện y như cũ.

d/-Các hồ sơ tố tụng và tịch thâu tài sản do Ban thanh trừng của Quân đội đã lập thành phải giao cho Ban thẩm vấn hỗn hợp xem xét lại Ban thanh trừng rồi giải tán liền.

e/-Vụ nào xét thấy không bằng cớ thì Ban Thẩm vấn hỗn hợp phải trả tự do cho bị cáo liền và định tội tiên cáo là vu khống.

f/-Sự phân xử hồ sơ sẽ do Bộ Pháp chánh lập phiên Toà công: có đại diện các cơ quan thẩm dự với tánh cách quan sát viên.

g/-Hội Thánh bảo lãnh những người của Hội Thánh đã bị Ban Thanh trừng bắt đem về lưu giữ tại Toà thánh trong vùng Nội-ô. Từ đây Quân Đội không được dùng võ lực vào nội bộ của các cơ quan Chánh Trị Đạo cùng là bắt bớ các Đạo hữu vô cớ trái với quyền cư trú đã định.

h/-Thoản có chức sắc, Chức việc thì giao cho Bộ Pháp chánh nếu là Sĩ Quan thì giao cho Tổng Tư lịnh đặng thâu quyền chức của họ lại trước khi đưa ra Pháp Chánh công xử.

i/- Cơ Thánh vệ có phân xử giúp Ban Thẩm vấn và Bộ Pháp Chánh trong khi thi hành phận sự.

Khoản thứ hai: Hội Thánh sẽ nghiên cứu để sửa đổi danh từ Bản Thông tin và cách thức thông tin cho được hoàn toàn trong vùng đạo đức, không phô trương việc tồi tệ trong Thánh Địa cho thiên hạ biết như bản thông tin đã làm rồi.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị

Khoản thứ hai: Giải giới và giải tán tất cả các võ trang lỗi thời trong vùng Thánh Địa, chỉ duy trì Cơ Thánh vệ không võ trang nhưng phải huấn luyện lại.

Kết luận:

a/- Đã có Thánh lịnh số 1670 /VP.HP ngày 23 tháng 8 năm Ất Mùi của Đức Hộ Pháp nói về việc giải giới năm rồi. Khi giải giới các cơ quan Quân sự trong Thánh Địa, Quân đội không còn canh giữ các cửa vô ra Nội-Ô và ngoại-ô Thánh Địa, chỉ còn duy trì lực lượng đóng tại đồn hẻo lánh và quan trọng vì tình thế quân sự để phòng ngừa ngoại lực xâm nhập Thánh Địa và bảo vệ an ninh cho các cơ quan được nhìn nhận quyền bât khả xâm phạm của Thánh Địa thì Quân Đội Cao Đài phải hoàn toàn rút lui ra ngoài châu vi 15 phận.

b/- Các cơ cấu Quân sự và Bán quân sự phải dời ra khỏi Thánh Địa trong thời hạn hai tháng.

c/-Cấm tất cả các Quân nhân cũng như tư nhân không đặng mang võ khí vào vùng Nội-ô và ngoại-ô Thánh địa, nếu ai vi phạm điều này cơ Thánh vệ sẽ hiệp với Quân đội mà giải giới. Người phạm tội thì giao cho Bộ Pháp Chánh phân xử.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị:

Khoản thứ ba: Bãi bỏ hết các thứ thuế má, để cho nhơn sanh tự do cúng kiến, nếu cần thâu góp chỉ thâu thuế lợi tức một cách công bình, ban bố các quyền tự do đi lại và sanh hoạt.

Quyết nghị: Chiếu sắc huấn không số ngày 26 tháng 8 năm Ất Mùi của Quyền Thái Chánh Phối Sư, tạm đình chỉ các việc thâu góp, nhưng trong tình trạng cần thiết: tiền góp chợ và tiền góp xe chở hàng hoá và hành khách vẫn tiếp tục thâu như thường lệ, để cho thành lập một ban nghiên cứu nguyên tắc và quyết định sự thâu nhận tiền hỷ cúng.

a/- Thành lập một ban nghiên cứu nguyên tắc thâu tiền hỷ cúng cho Hội Thánh. Hạn định tiền thâu góp tuỳ ban nghiên cứu sửa đổi.

b/- Hoạch định một chương trình định giá các món hàng thương mại và thực phẩm buôn bán trong châu vi Thánh Địa.

c/- Sự thâu góp phải thống nhứt dưới hệ thống một cơ quan mà thôi.

d/- Sở dĩ lại phải để tự do khỏi phải bị xem xét giấy tờ đặng khách thập phương được về chiêm ngưỡng Toà Thánh dễ dàng. Những trường hợp người đến cần cư trú ban đêm tại Thánh Địa, chủ nhà phải đến trình với Bàn Trị Sự sở tại.

e/- Các sự sanh hoạt được tự do phát triển, các cơ quan kinh tế công cộng có ban nghiên cứu hội họp xem xét các nguyên tắc lại kỹ lưỡng hơn.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị

Khoản thứ bốn: Triệu tập gấp rút Đại hội Nhơn sanh trong năm 1955 để Đức Hộ Pháp giao trả quyền hành đang tạm đảm đương lại cho nhơn sanh, cải thiện nền Đạo, tôn trọng triệt để sự phân quyền rõ rệt giữa Hiệp-Thiên-Đài và Cửu Trùng Đài y theo Pháp Chánh Truyền.

Quyết nghị: Sau khi bàn tính về luật công cử Đầu Sư và quyền hành của Tam Đầu chế Cửu Trùng Đài thay quyền cho Đầu Sư theo Thánh lịnh số: 543/VP-HP, ngày 6-2 Ất Mùi (dl: 27-2-1955) Ngài Thiếu Tướng Lê Văn Tất xin đình việc này lại sáng bữa sau sẽ bàn tính (Đại ý để bàn lại với Tương Phương nhằm truất Đạo quyền). Đức Hộ Pháp đã chấp thuận ban hành Thánh lịnh giao trả quyền Đầu Sư và phó thác cho Thập Nhị Thời Quân chọn người cai quản mỗi Chi: Thế, Đạo, Pháp của Hiệp Thiên Đài. Thoản như có lập Luật mới hay huỷ bỏ Luật cũ thì phải thi hành đúng theo Pháp Chánh Truyền đã định. Còn Hội Nhơn Sanh thì Hội Thánh đã định vào ngày 10 tháng giêng năm Bính Thân rồi.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị:

Khoản thứ năm: Tuyên cáo với Quốc tế Đạo không phải là một tổ chức chánh trị, cấm các Chức sắc đang hành Đạo không được làm chánh trị. Nếu ai muốn làm chánh trị phải từ chức phận của mình. Những ai đang cư trú trong vùng Thánh Địa không được phép hoạt động chánh trị và Quân sự.

Quyết nghị: Đạo không cấm làm chánh trị nhưng ai tham gia chánh trị hay hoạt động chánh trị thì phải từ chức, cỗi áo mão giao lại Hội Thánh, cấm hẳn hoạt động chánh trị và Quân sự trong vùng Thánh Địa. Ông Cao Tiếp Đạo thay mặt Hội Thánh viết thư cho các Sứ thần ngoại giao của các nước, kèm theo Điện văn của Đức Hộ Pháp đã gửi cho Thủ Tướng Chánh phủ đang tuyên bố Quốc-tế-hoá Thánh địa vì vùng này thành một Thánh Địa không võ trang phòng thủ và do Chánh Phủ Bửu Lộc công nhận.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị:

Khoản thứ sáu: Tất cả mọi ngân quỹ của Đạo, do các nguồn lợi kinh tế hợp pháp cũng như mọi sự đóng góp công quả của nhơn sanh đều phải thanh toán minh bạch và công bố cho nhơn sanh biết.

Quyết nghị: Hội Thánh đã có Uỷ ban hỗn hợp kiểm soát tài chánh hàng tháng, bất cứ lúc nào Hộ viện cũng sẵn sàng trình bày sổ sách bút toán cho nhơn sanh đều có xem xét một cách chu đáo. Như thế thì yêu sách của Quân Đội Hội Thánh chấp nhận với một cách hài lòng.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị:

Khoản thứ bảy: Cải thiện đời sống vật chất cho Chức sắc hiến thân và đạo hữu công quả vì hiện tại họ quá kham khổ và đã mất tinh thần phục vụ Đạo. Ngoài ra tất cả dân cư quanh vùng Thánh Địa cũng được nâng đỡ về vật chất cũng như tinh thần.

Quyết nghị: Đạo luật năm Mậu Dần, điều thứ tám và Hội Quyền vạn linh năm Tân Mão đã quyết định: "Chăm lo châu cấp cho Chức sắc và công quả, nhưng Hội Thánh không đủ phương tiện thực hành, nghĩa là không đủ tài chánh. Còn nhơn sanh ở trong Thánh Địa, Hội Thánh cũng sẵn sàng giúp đỡ, nhưng Chức sắc và công quả kia còn bữa cháo bữa rau thay, huống chi là ai khác. Tuy thế mặc lòng, nhơn sanh vẫn núp dưới bóng Từ bi mà sống được yên vui. Vậy yêu sách của Quân Đội là phải, nhưng chưa thực hành được hoàn tất mà thôi.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị:

Khoản thứ tám: Chỉnh đốn lại Dưỡng lão đường cho hoàn bị để phụng dưỡng những Chức sắc già yếu, dài công nghiệp để họ được tự do an hưởng ân huệ lúc tuổi già.

Quyết nghị: Dưỡng lão đường đã có mầm móng sẵn, nhưng nền tài chánh của Hội Thánh còn lẩn quẩn trong vòng thiếu thốn. Lời yêu sách của Quân Đội, Hội Thánh chấp nhận tuỳ cơ mà tiến hành.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị:

Khoản thứ chín: Gấp rút xây dựng một Thánh Thất vĩ đại và kiểu mẫu tại Đô Thành Sài-gòn Chợ lớn. Lập ban văn hoá của Đạo để chỉnh đốn lại việc tuyên truyền giáo lý của Đạo cho hợp thời. Mở lớp huấn luyện Chức sắc có khả năng, thiết lập cơ quan truyền giáo ngoại quốc.

Quyết nghị: Đã có thánh lịnh tạo lập Thánh Thất tại Sài gòn - Chợ lớn, đã biết mấy phen khởi lập, nhưng chung qui cũng chưa thực hiện được, lý do cũng vì tài chánh. Hội Thánh ngoại giáo là cơ quan truyền giáo ngoại quốc, nhưng cơ quan ấy bị thử thách mọi mặt nên phải ngưng trệ. Đã có Thánh lịnh huấn luyện Chức sắc do Hạnh đường đảm đương. Hạnh đường đã có từ trước, nhưng sự huấn luyện Chức sắc chưa có kết quả mỹ mãn, vì Đạo còn ở trong thời loạn, phải chịu kham khổ mọi bề. Hội Thánh nhìn nhận là yêu sách xứng đáng, rồi đây Hội Thánh cấp tốc thi hành việc giáo hoá. Lập một ban văn hoá, Hạnh đường phải tổ chức châu đáo hơn, cả Chức sắc từ Lễ Sanh đến Giáo Hữu đều phải có cấp bằng Hạnh đường mới được cử cầu thăng.

- Ngài Tiếp Pháp đọc kiến nghị:

Khoản thứ mười: Các nơi ở ăn của các vị Chức sắc nam phái không đặng dụng thiếu nữ làm tuỳ tùng, dù hình thức nào.

Quyết nghị: Hội Thánh triệt để thi hành điều thứ nhứt, điều thứ ba, điều thứ tư của Thánh lịnh 533 đề ngày 14-9-Đinh Hợi (dl: 27-10-1947) áp dụng từ Chức sắc Đại Thiên phong đến Tín đồ. (Tạm nghỉ lúc 18 giờ 30 phút)

Tái nhóm 8 giờ 30 ngày 29-8-Ất Mùi.

Chủ toạ Ngài Cao Tiếp Đạo nói: Đức Hộ Pháp đã nhập Tinh, vậy các cơ quan chánh trị Đạo cứ theo huấn lịnh nhập tịnh của Đức Ngài mà trọn quyền chỉnh đốn nội bộ để bảo toàn Thánh Thể Đức Chí Tôn và gieo rắc ánh sáng cho toàn nhơn sanh thụ hưởng. Xin mở hội tiếp tục bàn giải kiến nghị khoản thứ VI mà hôm qua đã đình lại cho được phù hợp với chơn truyền.

Quyết nghị: Sau kết quả bàn luận, toàn Hội đồng ý mở Hội Nhơn sanh vào ngày 10-01-Bính Thân y như Hội Thánh đã định.

Chiếu Thánh lịnh số: 675/VP-HP của Đức Hộ Pháp giao cho Tam đầu chế Cửu Trùng Đài thay quyền Đầu Sư. Toàn hội đồng yêu cầu Tam đầu chế Cửu Trùng Đài nắm trọn quyền Đầu Sư mà thi hành y theo Pháp Chánh Truyền chờ đến ngày Quyền Vạn linh định đoạt.

Ghi chú: Đức Hộ Pháp đã chấp nhận giao trả quyền Đầu Sư cho Cửu Trùng Đài và giao cho Hiệp Thiên Đài chọn người cai quản ba Chi: Pháp, Đạo, Thế, y theo yêu cầu của Trung Tướng Nguyễn Thành Phương trong vi bằng phiên hội ngày 3 và 4 tháng 9 năm Ất Mùi.

Tiếp theo sau Mục linh tinh: Thiếu Tướng Lê Văn Tất yêu cầu Hội Thánh thay đổi vài danh từ trong thơ số: 1673/VP-HP ngày 26-8-Ất Mùi của Đức Hộ Pháp đã gởi cho Thủ tướng Chánh phủ Việt Nam Cộng hoà (Ngô Đình Diệm) để cải án phản Đạo mà Đức Hộ Pháp đã buộc tội Quân Đội.

Quyết nghị: Hội Thánh và Quân Đội sẽ ra thông cáo thanh minh rằng: "Những thông cáo và hiệu triệu của cả đôi bên đã rải trong Thánh Địa ngày 20-8-Ất Mùi đến nay coi như thất thiệt và Hội Thánh cùng Quân Đội vẫn được giao hiếu trong tình huynh đệ như xưa nay.

(Hội giải tán lúc 12 giờ cùng ngày)

Sau 30 phút quan sát vi bằng: Trung Tướng Nguyễn Thành Phương có thái độ như sau: Đúng 12 giờ 30 có thơ của Trung Tướng Nguyễn Thành Phương xin Hội Thánh tiếp tục hội nhóm vào lúc 16 giờ để ông bàn tính tốt đẹp hơn và đúng với chơn truyền của Đạo.(Có nghĩa là ông Phương không chịu cách giải quyết qua hai ngày của tướng Lê Văn Tất với Hội Thánh)

Buổi chiều ngày 29-8-Ất mùi: Từ lúc 16 giờ là phần của Nguyễn Thành Phương diễn tiến như sau:

- Đại diện Quân Đội là Trung Tướng Nguyễn Thành Phương Tổng Tư lịnh.

- Chủ toạ Ngài Cao Tiếp Đạo: "Ngài Trung Tướng có ý kiến gì giúp hay cho Hội Thánh lưỡng đài, xin ngài đưa ra để chúng tôi bàn luận"

-Trung Tướng Nguyễn Thành Phương: "Nếu chúng ta muốn chấn chỉnh toàn thiện lại nội dung, tôi xin toàn hội cho phép tôi giải phẫu cho rõ rệt những điều đã xảy ra trong cửa Đạo làm cho Đạo phải ngưng trệ và phải mang tai tiếng với quyền Đời do những người thân cân của Đức Hộ Pháp đã gây ra, cùng những tài liệu mà tôi đã thâu thập được ở những người mà tôi đã bắt giữ do tự ý họ khai…"

-Chủ toạ: Việc đã qua thì để cho nó trôi qua, vậy hiện tại cần chấn chỉnh lẽ nào cho đẹp đẽ nền Đạo, xin ngài Trung Tướng cho biết ý định.

-Trung Tướng Nguyễn Thành Phương: Vì vậy mà toàn thể Sĩ quan và binh sĩ trong Quân Đội Cao Đài chúng tôi đều là tín đồ của đạo, nhất định đòi Đức Hộ Pháp phải ra Thánh lịnh rõ rệt giao trả hẳn quyền hành Đầu Sư lại cho Cửu Trùng Đài và để cho Cửu Trùng Đài tự lựa người cầm quyền điều khiển và giao cho Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài trọn quyền tự lựa người điều khiển. Còn Đức Hộ Pháp thì xin Đức Ngài chỉ an dưỡng tinh thần sức lực mà thôi, không tham gia vào việc Đạo hay việc Đời gì nữa cả. Tôi nhất định trong 10 ngày kể từ nay nếu Đức Ngài không giao trả thì tôi thưa thật với quí Ngài là tôi sẽ đăng báo tất cả sự thật và mời các Chi phái, cùng tự ý chúng tôi điều động triệu tập gấp Hội Nhơn sanh đặng định đoạt. Thoản như về việc này mà Đức Hộ Pháp có trục xuất chúng tôi, thì chúng tôi sẽ lập một "Chi phái thứ mười ba" nữa có sao đâu (Cũng không sao!).

Các Đại Thiên phong trước kia đã bị uy hiếp nhiều rồi, nên mới lập Chi phái đó.

Quyết nghị: Sau khi bàn tính, Hội Thánh quyết định để tìm phương yết kiến Đức Hộ-Pháp,cầu xin Đức ngài định đoạt, vì là quyền của Đức Ngài, nhưng xin triển hạn thêm 15 ngày.

(Tạm giải tán lúc 18 giờ.)

Tái nhóm lúc 9 gờ ngày 2-9-Ất Mùi.(dl : 27-10-1955)

B- Buổi hội có mặt Quí ngài:

Hiệp Thiên Đài:
            - Thời quân Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa
            - Bảo Thế Lê Thiện Phước.
            - Tiếp Đạo Cao Đức Trọng
            - Tiếp Pháp Trương Văn Tràng
            (Chưởng quản Bộ Pháp Chánh)

Cửu Trùng Đài:
            Qu. Thái Chánh Phối Sư: Thái Bộ Thanh
            Qu. Thượng Chánh Phối Sư: Thượng Sáng Thanh
            Qu. Ngọc Chánh Phối Sư: Thượng Tước Thanh
            Giáo Sư: Ngọc Hoài Thanh

Nữ phái:
            - Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Lự
            - Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu

Phước Thiện:
            Chơn Nhơn: Trịnh Phong Cương
            Đạo Nhơn: Đỗ Văn Viện
            Đạo Nhơn Nguyễn Văn Phú
            Thượng Giao sĩ: Chí thiện Trần Thạnh Mậu

Quân Đội Cao Đài (Đã Quốc gia hoá)
            - Trung Tướng Nguyễn Thành Phương.
            - Thiếu tướng Lê Văn Tất
            - Đại Tá: Nguyễn Thành Danh
            - Thiếu Tá: Võ Tòng Lục.
            - Thiếu Tá: Nguyễn Văn Ngọ.

Quân Đội Quốc gia Liên minh:
            - Trung Tá: Trần Văn Trạng
            - Thiếu Tá: Hồ Đức Trung

Cơ Thánh vệ:
            - Trung Tá: Đỗ Công Khanh.

Buổi hội này Ngài Cao Tiếp Đạo xin nhường ghế chủ toạ, vì bịnh sợ ngồi lâu không nỗi. Toàn hội đồng yêu cầu Ngài tiếp tục ngồi ghế Chủ toạ cho mãn Đại hội.

- Chủ toạ: Hôm nay ngày 29-8-Ất Mùi, ngài Trung Tướng đã để cho chúng tôi 15 ngày đặng tầm phương giải quyết khoản thứ tư trong Bản kiến nghị. Chúng tôi đã được Đức Hộ Pháp cho yết kiến và Đức Ngài vẫn bằng lòng ký tên Thánh lịnh giao trả quyền Đầu Sư cho Cửu Trùng Đài và giao quyền điều khiển Hiệp Thiên Đài cho Tam đầu chế Hiệp Thiên Đài. Vậy hôm nay chúng ta bàn định lại nội dung hầu chấn chỉnh lại nội bộ cho được tốt đẹp hơn.

- Trung Tướng Phương: Theo chúng tôi thì Đức Ngài Hộ Pháp nên trả trọn quyền cho Cửu Trùng Đài đặng nhơn sanh tự chọn Đầu Sư, trong lúc chờ quyền Vạn linh định đoạt thì Cửu Trùng Đài tự lựa người cầm quyền cho Đài ấy. Bên Hiệp Thiên Đài cũng vậy, xin đừng dùng Tam Đầu chế vì không có trong Pháp Chánh Truyền, Đức Hộ Pháp giao trọn quyền cho Thập Nhị Thời Quân tự chọn người điều khiển ba Chi: Pháp- Đạo- Thế. Còn Đức Ngài thì trọn vẹn an tịnh không còn biết tới việc Đạo và chánh trị, quân sự nữa. Còn vị Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh thì khỏi phải thay đổi vì đã có Thánh lịnh ấn định rõ rệt. Trong Thánh lịnh này cũng xin nói rõ là cả hai Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng được trọn quyền hiệp ý mà chỉnh đốn lại nền Đạo cho đúng với Pháp Chánh Truyền. Lại nữa đừng để trong Thánh lịnh là Quân Đội Quốc gia Cao Đài, mà chỉ nói là Phương, Tất xin dâng kiến nghị mà thôi, vì chúng tôi chẳng dùng võ lực mà nói rằng Quân Đội, còn Quốc gia thì không có quyền gì về nội bộ của Đạo. Được Đức Ngài chấp thuận rồi thì chúng ta sẽ bàn tiếp" (rõ ràng là vâng lịnh của Ngô Đình Diệm chỉ đạo, ra lịnh bắt buộc phải làm theo kế hoạch)

Quyết nghị: Sau khi bàn về quyền hành của Hộ Pháp và quyền hành của Hiệp Thiên Đài, toàn hội đồng ý xin chư Thời Quân dâng ý kiến của Trung Tướng Nguyễn Thành Phương lên Đức Hộ Pháp (Tạm nghỉ lúc 11 giờ)

Tái nhóm lúc 9 giờ 15 phút ngày 4-9 Ất Mùi (Dl: 19-10-1955)

Chủ toạ Ngài Cao Tiếp Đạo: Đức Hộ Pháp vui lòng ra Thánh lịnh theo ý kiến của ngài Trung Tướng, nhưng khoản nhì về việc giao quyền cho Hiệp Thiên Đài phải đề cập đến việc Lập Luật, sửa Luật, quyền Vạn linh phải dâng lên Hiệp Thiên Đài cho Hộ Pháp phê chuẩn đặng phù hợp với Pháp Chánh Truyền.

Trung Tướng Phương: Chúng tôi muốn đừng để chi tiết vào, vì muốn đề thì phải để đủ, như vậy dài dòng lắm. Nói rõ hơn nữa, nếu để có Đức Hộ Pháp phê chuẩn này nọ, thì chúng tôi thấy đó là một mâu thuẫn để sau khi yên sẽ dùng quyền ấy mà lên án trục xuất chúng tôi. Nếu vậy thì chúng tôi cũng xin giữ thế thủ, nếu ai có mâu thuẫn sẽ gặp lại mâu thuẫn của tôi.

- Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa: Xin chư Chức sắc Cửu Trùng Đài nam nữ và Phước Thiện cho biết ý kiến

- Qu. Ngọc Chánh Phối Sư Thượng Tước Thanh phát biểu: Việc này của Hiệp Thiên Đài, vậy xin quí Ngài Thời Quân định, vì chúng tôi chỉ biết tuân Luật mà hành quyền thôi. Nhưng chúng tôi cũng hứa giữ trọn quyền hành đúng theo Pháp Chánh Truyền, khỏi phải nhọc lòng Đức Hộ Pháp để tay vào như trước. (Mượn thế mà đòi quyền Đầu Sư)

- Qu. Thái Chánh Phối Sư Thái Bộ Thanh phát biểu: Tôi cũng đồng ý như vậy. Ông Chơn Nhơn Trịnh Phong Cương: Tôi cũng đồng ý như vậy.

- Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn khoa: Đọc Pháp Chánh Truyền về khoản lập Luật hay sửa Luật đều phải dâng lên cho Đức Hộ Pháp cầu Chí-Tôn chỉ dạy hoặc tự ý định lại và đọc lời chú giải của Hộ-Pháp.

- Trung Tướng Phương: Vậy chúng tôi xin đứng chờ quí Ngài thi hành và xin Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài cam kết rằng: Không để Đức Hộ Pháp ra một lịnh gì nữa, hoặc quyền Vạn linh có lập Luật hay sửa Luật thì phải thi hành đúng với Pháp Chánh Truyền là đ ủ, khỏi phải để rõ là có Đức Hộ Pháp phê chuẩn. (Theo ý này, đương sự còn biết nghe lẽ phải, khi Ngài Hồ Bảo Đạo mạnh dạn nói về Luật pháp Hiệp Thiên Đài)

- Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước: đọc lời cam kết.

- Trung Tướng Phương: Bản cam kết này chúng tôi hứa sẽ thi hành đúng 10 khoản quyết nghị. Còn như Đức Hộ Pháp bằng lòng ra Thánh lịnh y như lời tôi nói, thì khỏi phải làm cam kết gì cả, vì chúng ta giữ chữ tín làm đầu, lấy Vi bằng quyết nghị của các cơ quan mà thi hành là trọn vẹn.

- Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước: Vây thì chúng tôi cũng rán chịu cực xin lên Đức Hộ Pháp một lần nữa.

- Trung Tướng Phương: Nhưng khi chúng tôi rút hết binh lực, có bắt được liên lạc với đối phương Pháp và phiến loạn, Hội Thánh mới tính sao?

- Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước: Họ liên lạc cá nhân thì họ chịu tội, còn Hội Thánh cam kết rằng: Không hề tiếp xúc thầm lén với một liên lạc nào cả.

- Trung Tướng Phương: Còn những lính không tuân lịnh giải giới, ôm súng trốn đi rồi sinh ra cướp bốc, bên chánh quyền đã giao cho Hội Thánh một tuần lễ nếu không gọi họ về, họ sẽ tảo thanh. Nếu chúng tôi rút binh hết, họ lại trở về phá rối bổn đạo ai chịu trách nhiệm?

- Ngài Bảo Thế: Hội Thánh sẽ ra thông báo theo Thánh lịnh số 1670/ VP-HP ngày 23-8-Ất Mùi, mà gọi những người còn giữ vũ khí phải đem nộp liền, hạn định đến 25-10-1955 là ngày chót, nếu ai bất tuân sẽ buộc họ vào tội phiến loạn.

- Ngọc Chánh Phối Sư Thượng Tước Thanh: Theo lịnh ấy, Đức Hộ Pháp hạn định ba ngày cho cơ quan Thánh-vệ và các cơ quan Bán Quân sự phải nộp đủ khí giới cho Đức Ngài trả cho Quân Đội Quốc gia Cao Đài, nếu quá hạn định thì Bộ Tư lịnh xét bắt. Hôm nay Bộ Tư lịnh nói số khí giới nạp chưa đủ, ấy là họ sợ bị bắt mà trốn. Vậy Bộ Tư Lịnh ra thông cáo kêu gọi họ đem súng về trả và hứa không bắt tội chi cả, được vậy thì Hội Thánh cùng ký tên chung trong tờ cáo ấy thì họ mới đem súng về giao trả cho Bộ Tư lịnh.

- Ngài Tiếp Pháp Trương văn Tràng: Ban Thẩm vấn hỗn hợp và Hội công đồng cũng không đúng với Pháp Chánh Truyền. Vậy xin giao các vụ của ban thanh trừng đã làm về Bộ Pháp Chánh.

- Trung Tướng Phương: Để mọi việc được thoả thuận, khỏi làm cam kết gì cả, xin để trong Thánh lịnh về khoản lập luật hoặc sử luật do quyền Vạn linh thì Hiệp Thiên Đài phải thi hành đúng y Pháp Chánh Truyền là hội Nhơn sanh cứ để y như Hội Thánh đã định. Như vậy khoản thứ tư của kiến nghị đã giải quyết xong.

-Khoản thứ nhứt: Về hội công đồng và ban thẩm vấn hỗn hợp không đúng với Pháp Chánh Truyền như lời Ngài Tiếp Pháp nói, thì giao về Bộ Pháp chánh. Ban thẩm vấn thì điều tra việc đã qua, còn việc sẽ tới thì giao về Hội Thánh thi hành y như trước. Những người của Hội Thánh bị ban thanh trừng bắt, Quân đội sẽ giao trả liền cho Hội Thánh bảo lãnh liền sau khi Thánh lịnh ban hành theo khoản thứ tư.

Khoản thứ nhì: xin thưa rằng chúng tôi sẽ khộng còn canh giữ các cửa ra vô nội và ngoại-ô Thánh địa nữa. nhưng về các đồn ở những nơi quan trọng, chúng tôi xin tạm đóng giữ cho đến ngày chánh phủ chánh thức nhìn nhận châu vi Thánh địa là vùng bất khả xâm phạm, để họ không còn thế xâm nhập vào Thánh Địa nữa, chừng đó chúng tôi rút binh ra khỏi 13 phận Đạo liền.

Khoản thứ chín: Về Thánh Thất Sài-gòn tạm dời Thánh Thất Thái-hoà về văn phòng 107 đường Trần Hưng Đạo. Còn về vụ đất mua chừng có tiền đủ sẽ chồng tiền mặt mà lấy dãy nhà ấy để nguyên đặng làm chỗ lưu trú cho Chức sắc và bổn Đạo tạm ngụ. Chúng tôi cũng đã mua một miếng đất ở Phú nhuận để tên Đức Hộ Pháp làm chủ, chừng nào mua bán xong sẽ định thành lập căn cứ cho bổn Đạo về tạm ngụ.

Ngài Bảo Thế: Xin Quân Đội Quốc gia Liên Minh cho biết ý kiến.

- Thiếu Tá Trung: Bên Liên minh chúng tôi đã thành Quân Đội Quốc gia thiệt thọ rồi, nên không thể giúp trực tiếp với Hội Thánh được, vì lý do nay đi mai ở không nhứt định. Nhưng chúng tôi đều là Tín đồ của đạo, thì hứa chắc là luôn luôn sẵn sàng bảo vệ bổn Đạo, giúp ích Hội Thánh và cam kết không nhúng tay vào nội bộ của các cơ quan chánh trị Đạo. Còn bây giờ, chúng tôi đặt trọn tín nhiệm nơi Hội Thánh và Bộ Tư lịnh Quân Đội Cao Đài, quí Ngài quyết định xong thì chúng tôi cũng đồng ý tuân theo, chớ chúng tôi không có ý kiến thảo luận gì cả.

Quyết nghị: Hội Thánh và Quân đội sẽ ra thông cáo chung kêu gọi những binh sĩ đã ôm súng trốn để họ về trình diện với Bộ Tư lịnh cam kết không buộc tội những người trình diện. Cấm các Chức sắc, Đạo hữu hay Sĩ quan, binh sĩ không được chứa chấp hay liên lạc với những người ấy cùng với đối phương, nếu ai vi phạm sẽ bị giao cho Quân Đội.

7- Hội Thánh bảo lãnh những người của Hội Thánh đã bị ban thanh trừng bắt đem về lưu giữ tại Toà Thánh trong vùng nội-ô. Từ đây Quân Đội không được dùng võ lực can thiệp vào nội bộ của các cơ quan chánh trị Đạo, cùng là bắt bớ Đạo hữu vô cớ, trái với quyền cư trú đã định trong Thánh lịnh của Đức Hộ Pháp.

10-Còn các khoản khác thi hành đúng theo quyết định Đại hội ngày 28-8-Ất Mùi. HẾT

 

_______________________________

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Tam thập niên)

TOÀ THÁNH TÂY NINH

_____________________________+

LỜI THANH MINH

Hội Thánh thanh minh rằng cuộc bắt bớ giam cầm Chức sắc và Đạo hữu do Quân đội Quốc gia Cao Đài gây ra từ ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (dl: 05-10-1955) là những hành động phi pháp.

Theo pháp lý nạn nhân nào có tội, nếu đủ bằng cớ thì họ thuộc quyền Hội Thánh xử định, chớ Quân Đội không thẩm quyền tập nã cùng giam cầm và kết án.

Không một ai được phép phạm quyền tự do cá nhân của ai cả. Phạm đến nhân quyền tức là phạm chơn truyền luật pháp cứu khổ của Đạo. Thoản như một ngày gần đây có những hành động cực hình đặng thị nhục bề trên làm hoen ố thanh danh của Đạo, thì Hội Thánh để cho dư luận phán đoán.

Nay thanh minh.

Toà Thánh, ngày 25 tháng 8 năm Ất Mùi
(Dl 10-10-1955)
Hội Thánh

 

_______________________________

 

SỐ: 1672/ VP. HP ĐIỆN VĂN

Thủ Tướng Chánh phủ Quốc gia Việt Nam Sài-gòn

Trân trọng tin cho Thủ tướng hay rằng Hội Thánh Toà Thánh Cao Đài đã hoàn toàn giải bỏ tất cả khí giới quân sự trong chu vi Thánh Địa y theo bản đồ đính theo Hiệp ước ký cùng chánh phủ Bửu Lộc. Những khí giới ấy đã giao trọn cho Bộ Tư Lịnh Quân Đội Quốc gia Cao Đài Từ đây Thánh Địa đã trở thành một đô thị không phòng thủ Quân sự.

Sẽ có thơ giải bày gởi tiếp theo.

Toà Thánh, ngày 26 tháng 8 năm Ất Mùi
(Dl: 11-10-1955)
Nay kính.
Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

1673 /VP-HP

_________________________

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Kính gởi:

Ngài Thủ tướng Chánh phủ Quốc gia Việt Nam
                                                            SÀI-GÒN

Kính Ngài,

Tiếp theo Điện văn Hộ-Pháp-Đường ngày 26 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl: 11-10-1955) Bần Đạo trân trọng giải rõ cho Ngài tường lãm cuộc nội biến hiện hành tại Toà Thánh do Quân Đội Quốc Gia Cao Đài chủ mưu phi pháp.

Nguyên uỷ, vì muốn tỏ thiện chí giúp chánh phủ gia tăng lực lượng chống thực dân, diệt CS, Bần Đạo cho quốc gia hoá một số chiến binh Cao Đài, còn số thặng dư thì được trở về Đạo. Trở về với hai tay trắng, chúng nó tự nghĩ đã làm tròn sứ mạng giành độc lập cho nước Việt Nam, nên không còn hoạt động về Quân sự. Trái lại số lính được lịnh gia nhập Quốc gia, không khứng phục tùng Tư lịnh bộ của chúng, nên bỏ hàng ngũ tìm phương sanh sống khác.Tư lịnh Bộ bất lực, chiêu quân với tư cách không xứng đáng làm anh, mới xoay qua thủ đoạn áp bức bằng võ lực. Vì thế, ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl; 05-10-1955) Tư lịnh Bộ đột ngột xâm chiếm Thánh địa, lục soát các dinh thự luôn cả Hộ-Pháp-Đường đặng bắt quân nhân đã trở về Đạo. Tạo loạn trong vùng Thánh Địa, chúng còn bày mưu thanh trừng để huỷ hoại tinh thần đạo nghĩa. Nhưng Hội Thánh vẫn bình tĩnh để xem cuộc tạo loạn xây chiều về hướng nào và tinh thần Đạo chưa hề lung lay một mảy may nào cả.

Bần Đạo nhận xét không còn lý lẽ gì phải dùng võ khí đặng bảo vệ an ninh trật tự trong vùng Thánh Địa đương hồi Chánh phủ chủ trương tái lập hoà bình, nên đã thu hết súng ống đạn dược của Cơ Thánh vệ và các cơ cấu Bán quân sự, giao tất cả cho Tư lịnh Bộ Quân Đội Quốc gia Cao Đài. Toà Thánh và Thánh Địa từ đây đã trở thành một Thánh thị mở trống cửa, không phòng thủ trong châu vi đã chỉ định nơi bản đồ đính hậu đã được Chánh phủ Bửu lộc công nhận. Thiết tưởng, trước khi Bần Đạo cho Quân Đội Cao Đài gia nhập Quân đội của chính phủ thì trên thuận dưới hoà, hàng ngũ phân minh, Thầy trò yêu thương như cha con, nay chúng trở lại bạo hành như trên thì thế gian hi hữu.

Trân trọng để lời cho Ngài am hiểu nghĩa Đạo đối với tình Đời, Bần Đạo xin Ngài chấp nhận nơi đây lòng kính mến của Bần Đạo.

Toà Thánh, ngày 26 tháng 8 năm Ất Mùi
(Dl: 11-10-1955)
HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

1674 /VP-HP

_________________________

HUẤN LỊNH

Trót ba mươi năm, Bần Đạo đã miệt mài trong phận sự Thiêng liêng của Đức Chí-Tôn phú thác về phần Đạo, rồi lại rủi gặp lúc nước nhà trong cơn biến cố về phần Đời, nên sự nhọc nhằn của Bần Đạo về phần hình thể và về phần tinh thần dường như đã trở nên bạc nhược, yếu ớt, bịnh hoạn. Bần Đạo đã cố gắng rán sức thêm quá khi đồ lưu trở về nước. Vậy Bần Đạo xin Hội-Thánh Nhị Hữu Hình Đài và Hội Thánh Phước Thiện đảm đương phận sự của mình theo quyền sở hữu của các cơ quan, đặng Bần Đạo nghỉ an tinh-thần và thân thể trong một hạn lệ vô định nơi Tịnh Thất. Vậy từ đây, Bần Đạo không muốn đến tai Bần Đạo một điều chi vế chánh trị và Quân sự của đời và không muốn nghe một điều chi về hành vi của Đạo.

Xin khá tuân lịnh.

Toà Thánh, ngày 26 tháng 8 năm Ất Mùi
(Dl 11-10-1955)
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

Số: 1675 /VP-HP

_________________________

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân luật và Pháp Chánh truyền

Chiếu y Đạo luật ngày 16 tháng giêng năm Mậu Dần (dl 15-2-1938) giao quyền thống nhất Chánh trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ cho đến ngày có Đầu Sư chánh vị.

Nghĩ vì chưa có phẩm Đầu Sư cho nên quyền Vạn linh đã giao quyền Chánh trị Đạo cho Bần Đạo cầm cho đến ngày có Đầu Sư chánh vị.

Nghĩ vì Hiệp Thiên Đài không có Thượng Sanh, Thượng Phẩm hành quyền nên Bần Đạo phải đảm đương phận sự của hai Thiên Phong ấy. Bởi cớ cho nên Bần Đạo đã định an nghỉ vì đã già, bịnh hoạn nên mới lập Tam Đầu chế Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài đang giao quyền Đầu Sư, Thượng Sanh và Thượng Phẩm cho hai Đài ấy. Nhưng nay do yêu sách khoản thứ tư trong bức giác thư ngày 9 tháng 10 năm 1955 của nhị vị Nguyễn Thành Phương và Lê văn Tất và quyết nghị của Đại hội các cơ quan Chánh trị Đạo ngày 5 tháng 9 năm Ất Mùi (dl 18-10-1955) nên Bần Đạo ra Thánh lịnh này.

THÁNH LỊNH

Điều thứ nhứt: Giao trả quyền Đầu Sư lại cho Quyền Vạn linh chọn Chức sắc Thiên phong Đầu Sư chánh vị cầm quyền.

Điều thứ nhì: Giao trọn quyền cho Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài chọn người cai quản mỗi Chi: Thế, Đạo, Pháp của Hiệp Thiên Đài. Thoản như có lập Luật mới hay là huỷ bỏ luật cũ thì phải thi hành đúng theo Pháp Chánh Truyền đã định.

Điều thứ ba: Hai Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng trọn hành quyền để chỉnh đốn nền Đạo y theo chơn truyền luật pháp của Đại Đạo.

Điều thứ tư: Bần Đạo chỉ nhập tịnh để an dưỡng tuổi già và không hoạt động Chánh trị cùng Quân sự nữa.

Điều thứ năm: Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài cùng Phước Thiện nam nữ lãnh thi hành Thánh lịnh này.

Toà Thánh, ngày mùng 4 tháng 9 năm Ất Mùi
(Dl: 19-10-1955)
Hộ-Pháp
(Ký tên và đóng dấu)

__________________
Số 127/SL
Vâng lịnh thi hành:
Toà Thánh, ngày 6 -9 Ất Mùi
            - Qu. Thái Chánh Phối Sư: Thái Bộ Thanh
            - Qu. Thượng Chánh Phối Sư: Thượng Sáng Thanh
            - Qu. Ngọc Chánh Phối Sư: Ngọc Nhượn Thanh

 

_______________________________

 

Văn phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Ngọc Chánh Phối Sư

(Tam thập niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

_________________________

HUẤN LỊNH

Kính gởi:

Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu lưỡng phái, toàn Đạo: Nam, Trung, Bắc, Đường nhơn, Tần nhơn Tông đạo.

Kính chư Hiền hữu, Hiền Muội.

Cơ biến động nội tình của Đạo, chẳng qua là một trường khảo dượt để thử thách đức tin của kẻ tu hành cho rõ vàng thau cùng ngọc đá, ai vững tâm trí thì bền vững căn tu, kẻ nhẹ dạ yếu đức tin thì ngã lòng lui bước.

Nền Đại Đạo có chơn truyền và luật pháp:

- Chơn truyền là của Đức Chí-Tôn.
- Luật pháp của Hội Quyền Vạn linh.

Toàn cả Chức sắc Thiên phong đã đứng vào hàng Thánh Thể chỉ tuân y và thực hành chủ nghĩa "Cứu khổ" của Đạo ra thiệt tướng để phổ độ chúng sanh thoát vòng sông mê bể khổ. Trách nhậm của Chức sắc Thiên phong chỉ có làm tôi tớ cho luật pháp chơn truyền, thực hành y khuôn mẫu của Đức Chí-Tôn đã định.

Còn bổn phận của Chức việc và Đạo hữu chỉ có giữ dạ trung thành tuân y luật pháp, dưỡng tánh tu thân, thờ kính Phật Trời, thương yêu nòi giống, nhìn nhận nhân loại con chung một ông cha, cư xử trong ấp xóm được trên thuận dưới hoà, đối đãi phải giữ điều Nhân nghĩa, được vậy mới xứng đáng làm con trọn hiếu với Đức Chí-Tôn, trọn trung cùng Đại Đạo.

Phải lập chí thanh cao, noi theo Thánh đức các bậc chí linh, coi vạn vật cùng mình ngang phẩm vị, không phân cao thấp, chẳng luận sang hèn, cử chỉ này tâm đức đó mới mong hướng dẫn nhơn sanh, hoà thuận luật trời, qui hồi lương thiện.

Hội Thánh tha thiết kêu gọi lòng từ bi của bổn đạo nên thương yêu nhau, nhẫn nhịn và tha thứ cho nhau, vì cơ đời thống khổ, nhơn sanh đương sống trong thời kỳ thọ khổ, khiến nên nhơn tâm ly tán, huynh đệ chia ly, thế cuộc như giấc mộng phù vân thấy đó rồi mất đó, có chi đâu bền vững lâu dài vì "thế sự vạn bang đô thị giả".

Ước mong toàn Đạo được thành tâm nhứt trí, thượng hoà hạ mục, trong gia đình êm ấm, ngoài xã hội an vui, nhứt nhứt đều do Thánh lịnh của Đức Hộ Pháp đã giao và tùng y Đạo luật của Hội Thánh thông truyền từ thử, đừng vội nghe và tin theo lời thất thiệt làm giảm uy tín của chơn truyền Đại Đạo. Các việc chi đã có Hội Thánh hoà giải và sẽ được thoả thuận vui vẻ như xưa, vì cơ Đạo phải trải qua thời kỳ biến chuyển ấy là lẽ hằng có của các Tôn giáo từ xưa, ngày nay nền Đại Đạo gặp bước thăng trầm cũng không chi lạ.

Khuyên chư Đạo hữu, Đạo muội nên bình tĩnh, lạc nghiệp an cư như trước để siết chặc tinh thần đạo đức, thành tâm cầu nguyện mỗi thời cúng cho quốc dân hưởng an ninh, nội bộ được trong ấm ngoài êm, đừng xao lãng đức tin mà thối chí ngã lòng, chừng ấy rất uổng công phu tu hành của mình từ thử.

Toà Thánh ngày 5 tháng 9 năm Ất Mùi
(Dl 20-10-1955)
Đồng ký tên:

Qu. Thái Chánh Phối Sư: Thái Bộ Thanh
Qu. Thượng Chánh Phối Sư: Thượng Sáng Thanh
Qu. Ngọc Chánh Phối Sư: Ngọc Nhượn Thanh

___________
Sao lục y nguyên văn, vâng lịnh ban hành

Ngày 6 tháng 9 năm Ất Mùi (Dl 21-10-1955)

Quyền Thượng Thống Lại Viện
Giáo Sư
Ngọc Hoài Thanh
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Tam thập niên)

Tòa Thánh - Tây Ninh

_________________________

LỜI HIỆU TRIỆU

Cuộc biến chuyển vừa qua làm xúc động cả bổn Đạo trong châu vi Thánh Địa, Hội Thánh phải dùng tinh thần đạo đức để dàn xếp cho đặng ổn thoả trong đại gia đình. Công việc không thể kết liễu mau lẹ đặng.

Nóng lòng chờ đợi, người bàng quang lầm tưởng rằng: Hội Thánh bất lực hay vô kế khả thi, nhưng thật sự là Hội Thánh không thể bỏ qua cơ hội chỉnh đốn nội bộ.

Nay cuộc hội đàm giữa các cơ quan Chánh Trị Đạo và Quân đội đã yên xong, Hội Thánh sẽ ban hành phương sách xây dựng nền Đạo đúng theo chơn pháp.

Chức sắc Hiệp Thiên Đài có phận sự bảo thủ chơn truyền tha thiết yêu cầu toàn Đạo từ Chức sắc, Chức việc cho đến Đạo hữu nam nữ hãy bình tĩnh sáng suốt trước khi phê bình, một lời nói nông nỗi hay một hành vi vô ý thức có thể làm tổn thương cho cả nền Đạo.

Trong thời gian nhập định, Đức Hộ Pháp cần được hoàn toàn an dưỡng tinh thần và hình thể, Hội Thánh xin toàn Đạo cứ ở yên:

- Một là để cho Đức Ngài khỏi phải cực lòng,

- Hai là để cho Hội Thánh tìm phương cứu vãn tình thế.

Hội Thánh hứa chắc rằng dầu sao cũng chẳng để cho Đức Hộ Pháp mất uy tín, thế nào cũng không để cho Đại Đạo mất thanh danh, xin toàn anh chị em lượng xét.

Toà Thánh, ngày mùng 10 tháng 9 năm Ất Mùi
(Dl 25-10-1955)

Hiệp Thiên Đài:

Tiếp pháp: Trương văn Tràng
Tiếp Đạo: Cao Đức Trọng
Bảo Đạo: Hồ Tấn Khoa
Bảo Thế: Lê Thiện Phước

Thay mặt Cửu Trùng Đài:

Quyền Thái Chánh Phối Sư: Thái Bộ Thanh
Quyền Thượng Chánh Phối Sư: Thượng Sáng Thanh
Quyền Ngọc Chánh Phối Sư: Thượng Tước Thanh

Thay mặt Hội Thánh Phước Thiện:

Chơn Nhơn: Trịnh phong Cương

(Tất cả ký tên và đóng dấu)

___________
Sao lục y nguyên văn, vâng lịnh ban hành

Nội chánh, ngày 12 tháng 9 năm Ất Mùi
(Dl 27-10-1955)

Quyền Thượng Thống Lại Viện
Giáo Sư
Ngọc Hoài Thanh
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

1676 /VP-HP

_________________________

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Gởi cho các cơ quan Chánh Trị Đạo.

Bần Đạo ở nơi Tịnh Đường mới tiếp đặng mật phúc của Tam Đầu chế Hiệp Thiên Đài nói về vụ Quân Đội Quốc gia Cao Đài áp bức Hội Thánh mà nhứt là Bần Đạo, buộc giao trả quyền Đầu Sư lại cho nhơn sanh. Điều ấy cả toàn Thánh Thể Đức Chí-Tôn đều biết rõ rằng vì thiếu phẩm Đầu Sư nên quyền Vạn linh đã giao cho Bần Đạo cầm quyền chánh trị Đạo cho tới ngày có Đầu Sư chánh vị. Muốn rảnh rang an nhàn sau ba mươi năm khổ hạnh với Đạo, nên Bần Đạo lập Thánh lịnh trả quyền ấy lại cho Quyền Vạn linh đặng chọn người thay thế.

Thêm nữa, Bần Đạo cầu xin cả Thánh Thể Đức Chí-Tôn: Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài, Phước Thiện luôn về Quân Đội nữa, làm ơn dâng sớ cho Đức Chí-Tôn cùng Đức Lý Giáo Tông cho Bần Đạo trả quyền Hộ Pháp và Giáo Tông lại cho Đạo. Bần Đạo chỉ mơ vọng một điều là trở lại làm một tên Tín đồ đặng tự tu kỳ thân hầu hưởng một đôi điều hạnh phúc an nhàn, từ bi tự toại. Trường hợp người giết người đồng loại, đồng bào tương tàn, tương sát ấy ngoài đời, còn trong cửa Đạo thì vì công danh quyền lợi, con cái của Đạo mưu hại lẫn nhau, làm cho Bần Đạo rất nên thống khổ về tâm hồn cùng xác thịt.

Hội Thánh nên cho cả toàn con cái Nam nữ của Đức Chí-Tôn và Phật Mẫu biết rằng: nếu họ ngó thấy Bần Đạo còn hoạt động lo lắng cho họ từ thử là giả tướng mà kỳ trung thì tâm hồn và xác thịt của Bần Đạo quá đau khổ và mệt mỏi lắm rồi, nên cần an dưỡng sống ngày nào hay ngày nấy. Nhưng từ đây, họ nên kể Bần Đạo đã chết mất rồi đặng an ủi lấy họ.

Tuyên bố bức thư này cho toàn Đạo đều hay biết cùng cả Quốc dân Việt Nam hiểu thấu rằng từ đây Bần Đạo bít tai bịt mắt, không muốn nghe thấy một điều gì về Quân sự chánh trị của Đời cùng hành vi của Đạo.

Xin thương tình Bần Đạo giúp cho thiệt hiện đặng những điều ước vọng nồng nàn ấy. Và từ đây, Bần Đạo cầu xin đừng làm một điều chi xao xuyến cho tâm hồn Bần Đạo trong lúc an tịnh. Nếu Bần Đạo xem coi còn ở nơi Hộ Pháp đường là một điều chướng ngại cho Đạo, thì Bần Đạo hứa rằng khi tình thế Đời và Đạo đặng ổn định, Bần Đạo thoát đặng khỏi định thức nghi ngờ thì khi đã làm xong dinh thự Phạm nghiệp, Bần Đạo sẽ về nơi ấy đặng an dưỡng thân già.

Toà Thánh, ngày mồng 1 tháng 9 năm Ất Mùi
(Dl 16-10-1955)
Hộ Pháp
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

Văn phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Ngọc Chánh Phối Sư

(Tam thập niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

Số :83/T.C

_________________________

THÔNG CÁO

Cùng chư Chức sắc, Chức việc và toàn Đạo Nam Nữ đặng rõ. Đạo chuyển xoay, màn đời biến đổi, ấy là phương châm tiến triển làm cho Đạo thanh Đời rạng, nhơn loại hoà bình.

Mọi việc đã xảy ra đều có quyền thiêng liêng sở định, dầu cho một đời sống của con người hay là vận mạng của một xã hội, cũng phải có trải qua thịnh suy bĩ thới, dinh hư tiêu trưởng, ấy là một cuộc thử thách để nung nấu cho đầy đủ nghị lực tinh thần.

Nền Đạo Cao Đài trải qua ba mươi năm, cũng lắm lúc vui buồn lẫn lộn, nhứt là nước Việt Nam còn lệ thuộc Chức sắc hành Đạo phải chịu dưới cường quyền áp bức của Pháp triều, sự khổ hạnh của bổn Đạo Cao Đài, khi ấy đối với ngày nay thì trăm phần chưa có một.

Chư Chức sắc và Đạo hữu nam nữ cũng có đủ Đức tin đã thấy rồi: từ năm Tân Tỵ (1941) cho đến năm Ất Dậu (1945) Đức Hộ Pháp bị đày lưu hải ngoại, chư Chức sắc Thiên phong bị đày Bà rá, Côn lôn, Sơn la, Lao bảo, người thì bị bắt tra tấn chết tại khám đường. Toà Thánh bị chiếm cứ, các Thánh Thất bị đóng cửa, xung công làm nhà thương, trường học. Lúc ấy trước mắt của nhơn sanh đều thấy, người Đời họ cho rằng Đạo Cao Đài đã bị cường quyền thủ tiêu, không phương nào phục hưng lại đặng.

Nhưng Thiên tùng nhơn nguyện: cuộc thế chuyển xoay, toàn thể Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ hiệp công nhứt trí hy sinh cùng chánh giáo. Đến ngày 24 tháng giêng năm Ất Dậu (dl 9-3-1945) Đạo Cao Đài thoạt nhiên sống lại một cách phi thường, đó là một triệu chứng cho nhơn sanh đủ đức tin rằng: nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chính là của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng trần giáo Đạo Nam phương.

Hôm nay việc xảy ra trong nội tình của Đạo, là chuyện gia đình thường sự không có điều chi trở ngại. Với bước đường hành Đạo tất cả Hội Thánh có đủ phương pháp điều giải, mọi sự có được trên thuận dưới hoà.

Vậy chư Chức việc cùng Đạo hữu nam nữ cứ yên tâm lo bổn phận tu hành, trau giồi tánh đức cho trở nên người chân chánh, hiền lương, làm thế nào cho xứng đáng là Môn đệ của Đức Chí-Tôn, đủ tư cách là một vị Tín đồ trung thành với Hội Thánh.

Xin chư Chức việc và cùng toàn Đạo nam nữ lưu tâm.

Kính cáo.

Toà Thánh ngày 11 tháng 9 năm Ất Mùi
(Dl. 26-10-1955)

Qu. Thái Chánh Phối Sư: Thái Bộ Thanh
Qu. Thượng Chánh Phối Sư: Thượng Sáng Thanh
Qu. Ngọc Chánh Phối Sư: Ngọc Nhượn Thanh

___________
Sao y nguyên văn bổn chánh và vâng lịnh thi hành

Quyền Thượng Thống Lại Viện
Giáo Sư
Ngọc Hoài Thanh
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập nhứt niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

Sắc lịnh: 27/VP-HP

_________________________

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Bần Đạo đã mục kiến đặng nhiều bằng cớ rằng những Chi phái phản Đạo cùng là Chức sắc Thiên phong Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài thọ phong từ trước chỉ chịu chức tước mà thôi chứ không tùng luật Đạo, hoặc Đạo cũng ham mà Đời cũng muốn, hoặc là mê hoặc tâm lý nhơn sanh phụng thờ Tả Đạo, không công nghiệp, vào cửa Đạo để vụ tất lợi danh, những người ấy đã bị Bần Đạo mời ra khỏi Thánh Thể của Chí Tôn (tức là Hội Thánh) hay là ngưng quyền biếm vị nên cố tâm trả oán, gieo ác cảm đủ điều.

Bần Đạo chẳng cần cạn tỏ thì chư Chức sắc Thiên Phong nam nữ cùng chư Đạo hữu lưỡng phái, toàn Đạo cũng thấy rõ phương chước báo oán rửa hận của họ đã dùng những thủ đoạn đê hèn thế nào!

Nào là truyền bố cáo, nào là viết nhựt trình, nào là sai người đi nói xấu, gia dĩ chẳng có mưu kế nào mà họ từ.

Nhưng Bần Đạo vẫn điềm nhiên ngồi đợi xem những vở hề của kẻ bất lương diễn trên sân khấu của đời hay dở thế nào cho biết.

Trót mười mấy năm chầy, họ hát đủ tuồng, tưởng khi phen này cũng là bổn cũ soạn lại chớ không chi rằng lạ.

Vây khuyên toàn Đạo cứ ntheo phép của Bần Đạo ngồi xem cũng là môt chước giải buồn trong một lúc.

Cái bịnh ngoại cả của Bần Đạo cũng dễ trị. Duy chỉ sợ cho hoạn nội thương, nhưng Bần Đạo chắc hẳn đủ diệu thủ mà điều đình, xin Đạo hữu lưỡng phái an tâm, vững dạ.

Những tay phản Đạo trong Hội Thánh hỡi còn nhiều,

Bần Đạo đương liệu phương trừ khử. Ấy là Bần Đạo đã chẳng phải là kiên nghịch mà trái lại chỉ đương giục nghịch hầu làm cho ra những kẻ giả tâm đặng tắm rửa Thánh Thể của Thầy cho nên tinh khiết, rồi mới dung mạo đểm trang cho ra xinh lịch đặng đem Đạo đến khoa trường cho toàn cầu khảo thí.

Đạo đặng ra thiệt tướng chỉ có làm như vậy mà thôi.

Chư Chức sắc Thiên phong, chư Chức việc nam nữ, khá đọc sắc lịnh này cho cả Tín đồ đều biết.

Toà Thánh Tây Ninh, ngày mùng một tháng 4 năm Bính Thân
 (dl 21 Mai 1956)
HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng
(Ký tên và đóng dấu)

 

_______________________________

 

Mấy ai vị quốc đó người ôi?
Chống mắt mà xem bắt thảm thôi!
Cứu nước không ai ra gánh vác,
Phong quan chưa định đã giành rồi!
Giặc xâm rút cổ không trông thấy
Trống lịnh ăn cơm bới lủng nồi
Chán bấy những phường xu cách mạng,
Dựa thân Công tử giữ nồi xôi!

 

_______________________________

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập Nhứt niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

168/HP-HN

_________________________

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Bần Đạo để lời khen cả con cái của Đức Chí-Tôn, Bần Đạo hài lòng vui thấy mấy đứa nhỏ mà biết đoàn kết để tìm sự sống cho nhau, lo tương lai sự nghiệp của Đạo. Bần Đạo nhìn lại số Chức sắc Thiên phong mão cao áo rộng lại chia rẻ bài bác nhau, không ra thể thống chi cả. Họ tưởng Bần Đạo qua Cao Miên rồi chết luôn không đủ quyền năng cầm quyền nơi Toà Thánh Tây Ninh, họ mơ hồ quá lẽ. Họ không nhớ trước đây Bần Đạo bị Chánh phủ Pháp vu khống bắt Bần Đạo đày qua Phi châu, năm năm mấy tháng, sau khi trở về Bần Đạo đủ quyền năng chấn chỉnh đem lại cho Việt Nam có một Hội Thánh xứng đáng cầm quyên một Tôn giáo Cao Đài ngang bằng các Tôn giáo khác. Họ quá dốt Đạo không tìm hiểu Bí pháp các Tôn giáo xa xưa đặng thấy.

Bần Đạo về Việt Nam kỳ này bằng một quyền năng phi thường để trừng trị sửa đổi những kẻ lấp lửng, mơ hồ phá hoại sự nghiệp của Đức Chí Tôn. Bần Đạo tự lưu đày qua Miên quốc là vì Bần Đạo muốn tránh cho giống giòng dân tộc Việt Nam khỏi cái cảnh của giống dân Do Thái trước đây bị tiêu diệt mất nước chớ chẳng phải Bần Đạo hèn nhát không đủ quyền năng chống chỏi Diệm Nhu. Bần Đạo để cho luật Thiên điều trừng trị đích đáng cả kiến họ Ngô của Diệm ai cũng thấy. Bần Đạo nói cho con cái của Đức Chí-Tôn biết đừng tưởng Bần Đạo đi đây rồi đi luôn mà tự tung tự tác cải sửa theo phàm tâm-ý mơ hồ của họ, làm cho một nền Chánh giáo ra phàm giáo. Đạo Cao Đài có Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Nghị Định. Bần Đạo để lại một kho tàng quí báu cho họ hành sử Đạo pháp đặng đắc thành quả vị chưa đủ hay sao mà còn…muốn dẫm lên vết cũ đó nữa, họ đừng tưởng họ khôn và họ không còn gặp lại Bần Đạo, Bần Đạo cấm không có một vị Chức sắc nào đủ quyền sửa đổi luật lệ của Đạo Cao Đài, chờ Bần Đạo trở lại Việt Nam định liệu. Hãy chờ đến ngày nào có một Hội Thánh đầy đủ uy quyền hiệp cùng nhơn sanh cầu nài xin Chí Tôn sửa đổi mới hợp pháp. Bằng không còn, cả con cái Đức Chí-Tôn bất tuân, không thi hành việc sửa đổi của một người hay một nhóm nào đó Bần Đạo ước vọng, còn cả con cái của Đức Chí-Tôn khôn ngoan giữ Đạo như thế đó đặng bảo tồn mối Đạo Cao Đài đến thất ức niên không ra phàm giáo. Một Tín đồ khôn như thế đó, chứ không phải nghe ai nói cũng nghe, vâng vâng dạ dạ đi theo, như thế đó là theo xuống Phong Đô cả lũ đó nghe!

Bần Đạo quả quyết như vậy, Đứng trước Thiên đường Bần Đạo hứa với con cái của Đức Chí-Tôn từ đây đứa nào biết lo sự nghiệp của Đạo, yêu ái nhau, coi nhơn sanh là trọng, quên mình vì Đạo, vì danh thể của Đức Chí Tôn. Bần Đạo nhân danh Hộ Pháp bảo tồn khen thưởng xứng đáng cho chư vị Thánh đó. Ngược lại những kẻ tham quyền cố vị: ganh hiền, ghét bậc Hiền tài, phá hoại sự nghiệp của Đức Chí-Tôn, Bần Đạo lấy quyền Hộ pháp trừng trị những kẻ đó tại mặt thế này. Cả con cái Đức Chí Tôn đủ đức tin, có Đức Đại Từ phụ ở bên chúng ta, bằng không chúng ta không giữ được sự nghiệp của Đức Chí Tôn đến giờ phút này. Vậy con cái Đức Chí-Tôn tiến hành việc tạo dựng sự nghiệp của Đức Chí-Tôn.

Bần Đạo thấy một điều rất ngộ nghĩnh Đức Đại Từ Phụ muốn đem con cái của Người về ngôi vị, bằng cách ở nơi mặt thế này phải chịu đựng nhiều đau khổ, chịu nhục nhã đó vậy.

Bần Đạo ban ơn cho cả con cái Đức Chí-Tôn

Kim Biên, ngày 1 tháng 10 năm Bính Thân
(Dl. 08-11-1956)
HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC
(Ấn ký)

 

_______________________________

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập tam niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

_________________________

HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Bần Đạo chỉ để lại những lời Di ngôn này cho các con để hiểu, khỏi lầm lạc. Nhất nhất các con đều phải đợi lịnh Đức Chí-Tôn và đợi lịnh Hội Thánh, nếu các con nghịch với Hội Thánh tức là nghịch với Bần Đạo bằng một cách gián tiếp đó vậy. Các con chi chi đều phải đợi lịnh Bần Đạo hồi loan về cố quốc, các con đi tới ngã ba đường thì đứng đó mà đợi Bần Đạo, bằng chẳng vậy, tự tác sai chiều, uổng cho một kiếp sanh may duyên gặp Đạo. Các con nhìn Thầy cho kỹ, sau này khỏi lầm HỘ PHÁP giả. Bần Đạo cho các con biết rằng: nếu một phẩm Giáo Hữu bên Cửu Trùng Đài mà ra một lịnh gì thì Bần Đạo cũng phải cúi đầu tuân lịnh. Cả con cái Thầy: Đức Chí-Tôn thấy một trường hợp nào bất chính thì quan sát coi trạng thái của nền Chánh giáo Đức Chí-Tôn đã hay trước nó có đại hùng, đại lực, rồi nó phải đi trong con đường đại bi, coi chừng có con đường nào đi qua đại ác của nó. Cả thảy đều đứng lên làm một bức tường thiên nhiên thay một bức tường huyền diệu của Đức Chí-Tôn đặng ngăn cản cho Ngài. Cái nền Tôn giáo của Ngài đừng đi vào con đường đại ác. Tương lai thay đổi phải mở con mắt thiêng liêng lấy tinh thần đoàn thể, dầu Chức sắc Thiên phong hay Tín đồ cũng vậy.

Con mắt phải mở cho rõ ràng, minh mẫn đặng coi chừng thay đổi. Nền chánh giáo của Đức Chí-Tôn vĩnh cữu, trường tồn. Đừng để ngày sau đổ luỵ và ân hận.

Kim Biên, ngày 29 tháng 11 Mậu-Tuất
(Dl 08-01-1959)
HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC
(Ấn ký)

 

_______________________________

 

Trong một đàn Cơ tại Cung Đạo Đền Thánh, đêm 15-11-Tân Hợi (dl: 01-11-1972, lúc 20 giờ)

Do Ngài Hiến Pháp- Khai Đạo phò loan.

Đức Hộ Pháp giáng Đàn ân phong cho chư Chức sắc, Chức việc, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện.

Khi đó Ngài Hiến Đạo bạch: xin Đức Ngài chỉ dạy về Ngày Đạo Hận.

Đức Hộ Pháp trả lời: "Thời nào theo nấy, khi Bần Đạo còn mang xác phàm nơi thế thì cũng oán ghét như ai, nên mới có ngày Đạo Hận; nhưng khi về thiêng-liêng-vị rồi thì cởi mở tất cả, chớ để hận thù làm gì trong cửa Đạo. Bần Đạo ban khen cho Khai Đạo có sáng kiến biến thành ngày ấy là "Một Lễ giỗ chung" Hay lắm!

- Bảo Đạo bạch: Cầu xin Đức Ngài cho phép thâu hồi Thánh Lịnh "Ngày Đạo hận"

- Chấp thuận.

 

 

NGÀY TẬN THẾ ĐÃ ĐẾN

"Thầy dặn rằng: Thầy đến chẳng phải lập một nền Đạo mới, mà đến đặng nhắc các con rằng: Ngày tận tuyệt đã hầu gần, Quỉ Vương sắp đến, Thánh ngôn các Đạo đã khai từ thuở tạo thiên không đủ kềm thúc nhơn sanh đặng trọn lành. Đời càng ngày càng trở nên hung bạo, nhơn loại giết lẫn nhau, cả hoàn cầu giặc giã, bịnh chướng biến sanh, thiên tai rắp đến. Ấy là các điều Thầy đã nói tiên tri rằng: Ngày tận thế đã đến! Thầy đã tạo thành đủ cả Pháp Luật. Thầy đến chỉ độ kẻ vô Đạo chớ không phải sửa Đạo. Các con hiểu à!" (Ngày 23-11 Bính Dần – 1926)

 

 

NGÀY VÍA - LỄ CÁC ĐẤNG

Hằng năm nơi Tòa Thánh trong những ngày này đều có thiết lễ Cúng, Vía các Đấng. Ngày Vía xem như ngày kỵ cơm, ngày giỗ. Với Tam Trấn Tam Giáo gọi là ngày Vía, vì có ngày giáng hạ hay thăng thiên. Tuy nhiên chỉ trừ hai Đấng: Chí tôn và Phật Mẫu không thể gọi là "Vía" được, vì hai Đấng tạo đoan

 

1 th.1

 

Lễ Giao-Thừa, rước Chư-Thánh

 

Tiểu lễ

9-1

 

Đại lễ Đức CHÍ-TÔN

 

Đại lễ

15-1

 

Lễ Thượng-Nguơn

 

Đại lễ

15-1

 

Lễ kỷ-niệm Ngài Trương Tiếp-Pháp

 

Tiểu lễ

22-1

 

Lễ kỷ-niệm Ngài Trần Khai-Pháp

 

Tiểu lễ

29-1

 

Lễ kỷ-niệm Phối-Thánh Bùi-Ái-Thoại

 

Tiểu lễ

15-2

 

Vía Thái-Thượng Lão-Quân

 

Đại lễ

19-2

 

Vía Đức Phật Quan-Âm

 

Đại lễ

1-3

 

Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Phẩm

 

Tiểu lễ

26-3

 

Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Sanh

 

Tiểu lễ

8-4

 

Vía Đức Phật Thích-Ca

 

Đại lễ

8-4

 

Lễ kỷ-niệm Bà Đầu-Sư Lâm-Hương-Thanh

 

Tiểu lễ

10-4

 

Lễ kỷ-niệm Đức Hộ Pháp qui Thiên

 

Tiểu lễ

5-5

 

Lễ sanh-nhựt Đức Hộ-Pháp

 

Tiểu lễ

11-5

 

Lễ kỷ-niệm Bà Đầu-Sư Nguyễn Hương-Hiếu

 

Tiểu lễ

22-5 dl

 

Vía Đức Nguyệt-Tâm Chơn-Nhơn

 

Tiểu lễ

22-5

 

Lễ kỷ-niệm Ngài Cao Tiếp-Đạo

 

Tiểu lễ

24-6

 

Vía Quan-Thánh Đế-Quân

 

Đại lễ

15-7

 

Lễ Trung-Nguơn

 

Đại lễ

21-7

 

Lễ kỷ-niệm Ngài Đầu-Sư Thái-Thơ-Thanh

 

Tiểu lễ

15-8

 

Đại Lễ HỘI-YẾN DIÊU-TRÌ

 

Đại lễ

18-8

 

Vía Đức Lý Giáo-Tông

 

Đại lễ

27-8

 

Vía Đức Khổng-Thánh

 

Đại lễ

4-9

 

Lễ kỷ-niệm Ngài Bảo-Văn Pháp-Quân

 

Tiểu lễ

7-9

 

Lễ kỷ-niệm Ngài Nguyễn Bảo-Pháp

 

Tiểu lễ

1-10

 

Lễ kỷ-niệm Phối-Thánh Phạm Văn Màng

 

Tiểu lễ

13-10

 

Lễ kỷ-niệm Đức Quyền Giáo-Tông

 

Tiểu lễ

15-10

 

Lễ Hạ-Nguơn và
kỷ-niệm ngày khai Đạo Đ.Đ.T.K.P.Đ.

 

Đại lễ

19-10

 

Lễ kỷ-niệm Ngài Ca Bảo-Đạo

 

Tiểu lễ

25-12 dl

 

Vía Đức Chúa Jésus

 

Đại lễ

24-12

 

Lễ đưa Chư Thánh

 

Tiểu lễ

 

_______________________________

 

Tham chiếu:

·         Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 25-06-Nhâm Tý (dl: 04-08-1972)

·         Thánh Lịnh số: 60/TL ngày 11-07-Nhâm Tý (dl. 19-08-1972)

·         Thánh Lịnh số: 24/TL/CQ-HTĐ ngày 22-04-Ất Mão (dl: 01-06-1975)

 

1 th.1

 

Lễ Giao-Thừa, rước Chư-Thánh

 

Tiểu Đàn

9-1

 

Đại lễ Đức CHÍ-TÔN

 

Đại Đàn

15-1

 

Lễ Thượng-Nguơn
Lễ kỷ niệm Chư vị Đầu-Sư Cửu-Trùng-Đài
(Nam & Nữ)

 

Đại Đàn

15-2

 

Vía Thái-Thượng Lão-Quân

 

Đại Đàn

19-2

 

Vía Đức Phật Quan-Âm

 

Đại Đàn

1-3

 

Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Phẩm

 

Tiểu Đàn

26-3

 

Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Sanh

 

Tiểu Đàn

8-4

 

Vía Đức Phật Thích-Ca
Lễ kỷ-niệm Chư Thánh Phước-Thiện
(Nam & Nữ)

 

Đại Đàn

10-4

 

Lễ kỷ-niệm Đức Hộ Pháp qui Thiên

 

Tiểu Đàn

5-5

 

Lễ sanh-nhựt Đức Hộ-Pháp

 

Đại Đàn

22-5 dl

 

Vía Đức Nguyệt-Tâm Chơn-Nhơn

 

Tiểu Đàn

24-6

 

Vía Quan-Thánh Đế-Quân

 

Đại Đàn

15-7

 

Lễ Trung-Nguơn
Lễ kỷ-niệm Chư Thánh Cửu-Trùng-Đài
và Hiệp-Thiên-Đài (Nam & Nữ)

 

Đại Đàn

15-8

 

Đại Lễ HỘI-YẾN DIÊU-TRÌ

 

Đại Đàn

18-8

 

Vía Đức Lý Giáo-Tông

 

Đại Đàn

27-8

 

Vía Đức Khổng-Thánh

 

Đại Đàn

13-10

 

Lễ kỷ-niệm Đức Quyền Giáo-Tông

 

Tiểu Đàn

15-10

 

Lễ Hạ-Nguơn và
kỷ-niệm ngày khai Đạo Đ.Đ.T.K.P.Đ.
Lễ kỷ-niệm Chư vị Thời-Quân Hiệp-Thiên-Đài

 

Đại Đàn

25-12 dl

 

Vía Đức Chúa Jésus

 

Đại Đàn

24-12

 

Lễ đưa Chư Thánh

 

Tiểu Đàn

 

 

NGĂN CẤM TÀ QUÁI NHẬP

Tờ số 29 ngày 1 tháng 2 Nhâm-Thìn của Nữ Chánh Phối-Sư dâng lên Đức HỘ-PHÁP trạng tỏ tà quái nhập vào em gái khùng tên NguyễnThị Hát.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Tư cho Ngọc Chánh Phối-Sư làm Huấn-Lịnh ngăn cấm. Bà Nữ Chánh Phối-Sư nói phải, vì các Đấng Thiêng Liêng tuyển-chọn xác đồng tử của họ là khó lắm, phải trẻ nít hay là kẻ câm-đui, cùi-điếc tỏ ra người vô-tri vô-giác rồi họ mới nhập xác đặng. Còn ngoài ra là các Đấng có Sứ-mạng Thiêng liêng Phò-loan chấp-bút chớ không đặng đụng đâu nhập đó như thế. Nếu thoảng như vậy là điều tà tinh đồng bóng đã biểu-diễn từ từ chẳng chi lạ và chúng nói bậy nói bạ mạo nhận theo thói tà tinh thì lại càng quá hơn ma-quỷ. Hễ tin thì mất Linh-hồn là chịu lấy." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

 

 

NGÂN HÀ


E: The milky way: The river of pain.
F: La voie lactée: Le fleuve de douleur.

(Ngân: bạc, trắng và sáng như bạc. : dòng sông). Ngân hà là dòng sông có màu trắng sáng như bạc. Khi nhìn lên bầu trời vào những đêm trong xanh, ta thấy một dải sáng bạc nằm vắt ngang bầu trời, gồm vô số vì sao lấp lánh, người xưa gọi đó là sông Ngân hà. Theo sách Kinh Sở Tuế Thời Ký của người Tàu, ở cõi trời có Chức Nữ làm nghề dệt vải rất khéo léo và siêng năng, có chồng là Ngưu Lang (chàng chăn trâu). Hai vợ chồng quá âu yếm nhau, bê trễ công việc, bị Trời phạt, đày mỗi người ở một bên sông Ngân hà. Mỗi năm Trời chỉ cho phép hai vợ chồng gặp nhau một lần vào đêm thất tịch, (mùng 7 tháng 7 âm lịch), do một cái cầu được tạo thành bởi các con chim Ô-thước đội đầu cho hai vợ chồng gặp nhau, rồi họ mừng rỡ khóc than cho cảnh biệt ly, nước mắt chứa chan rơi xuống cõi trần tạo thành mưa dầm gọi là mưa Ngâu. Dòng sông Ngân hà chia cắt tình yêu của Ngưu Lang và Chức Nữ, nên nó là dòng sông đau khổ, nó thông đồng với biển khổ.

Đức Hộ Pháp thuyết về Con đường Thiêng-Liêng Hằng Sống, nói về sông Ngân hà và thuyền Bát Nhã, như sau:

"Khi dòm lại thế gian phía sau lưng, hiện ra trước mặt chúng ta dường như con sông đại hải, thấy bờ bên nây người ta đứng muôn trùng thiên số, không thể đếm được. Còn phía xa mù tít bên bờ kia, số người cũng đông đảo vô cùng, nhưng họ đang khóc than đau khổ. Ở mé bên nây, thiên hạ hào quang chiếu diệu đẹp đẽ vô cùng, còn mé bên kia sông thấy hình thể họ khô khan đau thảm, tiều tụy buồn rầu. Hỏi vậy, bên nầy làm gì mà dòm bên kia lại khóc? Đó là những người trước kia đã có tình yêu thương với nhau, mà khi trắc trở, họ tự tử. Người đàn ông hay người đàn bà nào đã tự tử rồi, có lòng thương yêu chơn thật, trước đã xuống Uổng-Tử-Thành để đầu kiếp mà trở lại căn quả, vì không trọn căn số của mình, dù niên kỷ bao nhiêu cũng phải trở lại đầu kiếp, vừa đến tuổi cặp kê nam nữ, đôi bên vừa có tình dục phát ra thì chết, làm cho chết, dầu hai đàng đứng trước mặt nhau cũng không khi nào làm chồng vợ với nhau đặng. Chừng ấy, người trọn lòng thương yêu chơn thật thì Đức Phật-Mẫu siêu độ, cầu rỗi. Đức Chí Tôn đem vào cảnh Thiêng-Liêng Hằng Sống, còn người nào không biết tình thương, thương bằng tình giả dối xảo trá, phải đầu kiếp trở lại làm người. Chúng ta dòm bên kia thấy họ đau khổ, họ chỉ mong cái ước vọng của họ đoạt thành, nhưng tuyệt vọng, họ cũng đành chịu vậy. Chúng ta thấy tình trạng nầy làm cho kẻ ấy ngày đêm mơ mộng, họ ước mong sao qua khỏi con sông ấy. Bần đạo tưởng là Ngân hà sông đó vậy. Bên bờ sông kia có một chiếc thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát đã vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật đi độ sanh, thuyền ấy thường qua qua lại lại để đưa rước những người phước đức

"Bên kia có liên-tiếp mật thiết vô một nẻo sông Ngân Hà, rồi Bần-Đạo chỉ cho hiểu rằng, từ khổ hải ấy về cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống phải đi ngang qua Ngân-Hà, có một chiếc thuyền Bát-Nhã của Đức Quan-Âm Bồ-Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật chèo qua lại sông Ngân-Hà và khổ hải đặng độ sanh thiên-hạ…."Chúng ta dòm bên kia thấy họ đau khổ họ chỉ mong cái ước vọng của họ đoạt thành, nhưng tuyệt vọng! Họ cũng phải đành chịu vậy thôi. Chúng ta ngó thấy tình-trạng này làm cho kẻ ấy ngày đêm mơ-mộng, họ ước mong sao qua khỏi con sông ấy. Bần-Đạo tưởng là Ngân-Hà sông đó vậy. Chúng ta dòm xuống mặt sông bờ bên nây giữa con đường khi chúng ta phải đi ngang qua đó dòm lại thấy Bát-Quái-Đài đứng giữa không trung. Con sông ấy có tám đạo hào-quang mù-mịt chiếu ra tám cửa, chúng ta dòm tiếp trong các hào quang đều có tượng hình ảnh vạn-vật cả thảy. Bên bờ sông kia có một chiếc thuyền, thuyền ấy của Đức Phật-Quan-Âm Bồ-Tát đã vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương-Phật đi độ sanh, thuyền ấy thường qua qua lại lại, vì cớ cho nên bờ bên nây ngó bờ bên kia như mơ-mộng để trông chờ, tôi tưởng bài học này ai biết được quyền-năng vô biên ấy, ngó lại kiếp sống của mình, ngó thấy cả trạng thái đương nhiên, nó không phải là cảnh phàm này vậy. Mà mãi từ thử đến giờ, làm người ai có biết kiếm chỗ thật của mình không? Hại thay, họ không biết họ sống, họ không biết kiếp sanh của con người khổ não là thế nào."

Kinh Giải-Oan có câu:

"Huệ quang chiếu thấu chánh tà,
"Chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh."

 

 

NGÂN KIỀU


E: The bridge of the painful river.
F: Le pont du fleuve douloureux.

(Ngân: sông Ngân hà. Kiều: cây cầu bắc qua sông. Ngân kiều là cây cầu bắc qua sông Ngân hà).

Trên dòng sông Ngân hà có chiếc thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát qua qua lại lại để rước người phước đức qua sông, vào cõi Thiêng-Liêng Hằng Sống, thì việc nầy ví như làm một cây cầu bắc qua sông Ngân để người phước đức theo đó qua sông. Người không đủ phước đức mà cố lên cầu để vượt qua sông Ngân hà, thì khi đến giữa cầu sẽ bị té xuống sông, phải bị trầm luân trong biển khổ.

Kinh Đệ Nhị Cửu có câu:

"Đã thấy đủ Thiên-đình huyền pháp,
"Cổi giác thân lên đạp Ngân-Kiều.
"Đẩu-Tinh chiếu thấu Nguyên-Tiêu,
"Kim-Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc-Hư."

 

 

NGẪU NHIÊN


F: Accidentalité.

Đức Hộ Pháp nói: "Đêm nay là Vía Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni mà cũng là ngày vía Chị Cả của chúng ta là Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, chẳng biết ngẫu nhiên hay là tiền định mà Bà Nữ Đầu Sư qui liễu nhằm ngày Vía Đức Phật Thích Ca. Theo Bần Đạo hiểu biết tưởng những người ái mộ Đạo Phật nồng nàn hơn hết. Chúng ta có thể nói rằng: Bà Đầu Sư cũng là người đứng trong đầu sổ của thiên hạ vậy."

 

 

NGHE NGHE

Nghe là một sự kiện gì xảy đến người ta cảm nhận được. Khi hai tiếng đi liền nhau "Nghe nghe" là bảo cho biết phải có sự chú ý lắm! Vì nó có tính cách quan trọng. Cần nhớ.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nghe nghe thì lắm tiếng hiền lương,
Ðạo đức con tua giữ một đường.
Biển đổi, non dời đời phải tuyệt,
Ðức cao bền vững khó cân lường.

 

 

NGHỆ THUẬT


F: Art.

Là do ghép hai từ Mỹ thuật và Kỹ nghệ, như Âm nhạc và Hội họa.. Tuy nhiên nghệ thuật cũng biến chuyển qua nhiều thời gian mà nó có tính cách khác nhau.

Đức Hộ Pháp nói: "Tới Nhị chuyển là thời kỳ nghệ thuật. Tức nhiên kiếm phương thế để tự lập mình, bày ra binh khí hiệp nhau: Mường Mán này họp với Mường Mán khác đặng chống chọi với thú dữ. Cơ Trời buổi ấy không được hiền từ như bây giờ. Đệ Nhị chuyển thiên hạ bất định: nhiều bịnh chướng, nhiều cơ quan tiêu diệt loài người, nên phải tự vệ. Muốn tự vệ được mạnh mẽ họ phải kiếm ra cho có binh khí, thứ này thứ kia đặng họ tự vệ, họ kêu là nghệ thuật".

Ông Cao Quỳnh Diêu thuyết: 01-08-Nhâm Thìn (dl 19-9-1952): "Nếu muốn cho đoàn hậu tấn học tập Lễ Nhạc cho rập ràng thì rất dễ, còn trau luyện nghệ thuật cho ra vẻ thanh cao (nghĩa là được thanh tao và cao thượng) để dẫn lối thuần phong mỹ tục cho Việt chủng là việc rất khó, ta cần phải un đúc đoàn em về văn từ cho nhuận thấm thì nghệ thuật của chúng mới trở nên thuần túy mà biểu diễn trong các cuộc lễ, mà cũng vẫn có đủ tánh cách nho nhã cho mấy em."

 

 

NGHỆ TỬU TÔN SỞ

(Tửu: rượu; tôn; cái chén uống rượu, sở: nơi chốn) là bước đến chỗ đặt cái chung đựng rượu.

 

 

NGHÈO NÀN

F: Malheureux.

(Nghèo là sự thiếu thốn về vật chất, nàn là khốn khổ)

Sự thiếu thốn sẽ dẫn tới khổ sở cho con người. Có ba trường hợp: hoặc về vật chất, hoặc về tinh thần, có khi cả hai.

Đức Hộ Pháp nói: "Buổi nọ, Đức Chúa Jésus Ngài nói "Con chim có tổ, con chồn có hang mà con người nầy chỉ bởi theo nghiệp đời mà Ngài không kiếm được chỗ để gối đầu". Chúng ta thấy lời than của Ngài thì biết: đời chẳng ai nghèo nàn hơn Ðức Chúa Jésus-Christ. Ngày nay hiển nhiên trước mắt chúng ta thấy vinh quang vô đối của Ngài, về mặt xác thịt và linh hồn làm Chúa cả gần toàn mặt địa cầu nầy. Hỏi nợ ấy ai trả đặng, chỉ có Người đó cho, là Người đó trả, với một kiếp sanh vinh diệu, sang trọng oai quyền"

Người đó là Đấng Thượng Đế bởi "Chí-Tôn không có thiếu nợ chúng ta bao giờ. Bởi vì Ngài không khi nào thiếu nợ con cái của Ngài, dầu tình cũng vậy".

 

 

NGHI (Phật Học)


F: Soupconner.

Nghi (S: vicikitsā; P: vicikicā) Một thuật ngữ quan trọng, chỉ sự tâm lý nghi ngại, nghi ngờ, là một trong Năm chướng ngại (s: pañca-nīvaraṇa) và một trong ba Trói buộc (s: saṃyojana) của hành giả trên Thánh đạo (s: āryamārga). Theo Đạo Phật, nghi được xem là thái độ "không muốn hiểu", được biểu hiện bằng sự dao động, bằng sự lãnh đạm, bằng sự thiếu nhiệt thành. Còn lòng nghi ngờ lành mạnh hiểu như một thái độ thận trọng, không vội tin những gì người khác hay kinh sách, hay chính Phật nói mà phải tìm hiểu thử nghiệm thì lại là một đức hạnh mà chính Phật cũng khuyên nên có. Cần phân biệt cái nghi ở đây với Ðại nghi đoàn, khối nghi lớn cần phải có trong việc tu tập theo Thiền Tông.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

NGHI DUNG


F: Physionomie.

Nghi dung là dung mạo bề ngoài.

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

"Khi để bước phòng đào lạnh ngắt,
"Mảnh tàn y dường nhắc nghi dung."

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Nghi dung chớ mượn màu son phấn,
Để trong gương mà hứng non sông.
Coi như gác tía lầu hồng,
Chẳng phen giữa trận tên đồng không nao.

 

 

NGHI LỄ


F: Instrument pour cortège.

(Nghi lễ là những cách thức về Lễ nghi). Đây là những nghi thức riêng biệt mà riêng Đạo Cao Đài do Đức Chí-Tôn giáng dạy và sắp đặt.

Hội Thánh có dạy qua "Lời nói đầu"của tài liệu Hạnh Đường như sau:

Nghi lễ là cái hình thức phô diễn bên ngoài, tính cách qui củ chuẩn thằng của tổ chức Tôn giáo. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn giáo có tôn chỉ "Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi" tức là một sự phối hợp của tất cả các triết lý Đạo Giáo, tất cả các hình thức tổ chức Tôn giáo từ xưa đến nay. Vì vậy, nghi lễ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ rất phù hợp với phong hóa nhà Nam và vừa trình độ tấn hóa của quần chúng, không quá xưa mà cũng không quá tân thời.

Vậy Thánh ý của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, những bậc Tiền bối trong nền Đạo đã dày công nghiên cứu, châm chước và biên soạn ra các nghi lễ dùng trong việc Quan, Hôn, Tang, Tế. Ấy vậy, nghi lễ trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chẳng phải do ai tự ý bày vẽ ra mà là một công trình chung, trong một lề lối tổ chức đồng nhứt áp dụng cho tất cả các Châu, Tộc trên toàn quốc. Những sự sửa đổi về nghi lễ do ý riêng của mình rất tai hại vì nó làm cho tổ chức một Tôn giáo tại mỗi địa phương có hình thức một nhóm riêng, chẳng khác nào mỗi nơi đạo hữu tự ý bày ra thêm những kiểu vở, màu sắc đạo phục khác để mặc vậy, dần dần theo thời gian những sự khác biệt ban đầu nhỏ bé sau sẽ lớn dần ăn sâu vào tâm trí của nhơn sanh, thì sự thất kỳ truyền cũng do nơi đó mà ra.

Phận sự của Chức việc Bàn Trị Sự là những người thân cận với Tín đồ hơn ai hết, phải nghiên cứu cho tường tận những nghi lễ về Quan, Hôn, Tang, Tế và sắp đặt mọi việc y theo lời chỉ dạy của Hội Thánh thế nào để nhơn sanh đâu đâu cũng nhìn thấy Ðạo Cao Ðài nghi lễ chỉ có một chớ không hai.

 

 

NGHI NAN

疑 難
F: Douteux.

Nghi nan 疑難: Nghi ngờ không đoán định được

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Hiềm thay kẻ lòng toan quấy rối,
Gieo những lời nói dối vu oan.
Làm cho cuộc thế nghi nan,
Nhơn tình náo động Đạo tràng đảo-điên.

 

 

NGHI THỨC


E: The protocol.
F: Le protocole.

Nghi thức : Cách thức làm lễ.

Tờ thỉnh-giáo của Đội-nhạc Huỳnh-Minh-Mẫn v/v Tang sự của Hành-Chánh và Phước-Thiện.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Lễ-Sĩ, Giáo-Nhi, nhà thuyền với nhân-viên nhà thuyền là thuộc quyền của Tiếp-Lễ Nhạc-Quân quản-xuất, còn đào huyệt thuộc về phần nhơn-viên dưới quyền nhơn quan đạo-tỳ" [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

NGHI TIẾT ĐẠI ĐÀN VÀ TIỂU ĐÀN

(Nghi: Dáng dấp bên ngoài, phép tắc để tỏ lòng kính trọng, lễ phép. Tiết: có đoạn mạch trật tự). Nghi tiết là các chi tiết thứ tự để thực hành trong một lễ cúng tế cho được trang nghiêm và long trọng.

Đạo Luật Mậu-Dần: "Hội Thánh phải bổ đến mỗi Quận Đạo: Lễ sĩ, Cai Nhạc và Giáo Nhi có cấp bằng của Hội Thánh đặng chỉnh đốn về mặt nghi tiết nơi các Thánh Thất và các cuộc quan hôn tang tế.

- Đại Đàn là đàn cúng tế lớn, tức là Đại lễ.
- Tiểu Đàn là đàn cúng tế nhỏ, tức là Tiểu lễ.

- Nghi tiết Đại Đàn là các tiết mục trong Đại lễ cúng Đức Chí Tôn tại Tòa Thánh hay Thánh Thất, hoặc cúng Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ hay Điện Thờ Phật Mẫu.

Sau đây là các nghi tiết Đại Đàn và Tiểu Đàn nơi Tòa Thánh và Báo Ân Từ theo tài liệu của Bộ Nhạc Trung Ương:

 

 

A. Cúng Đức Chí Tôn tại Tòa Thánh.

I. Nghi tiết Đại Đàn:

Đúng 12 giờ khuya, Lôi Âm Cổ khởi, dứt 4 câu kệ thì vị Tả Phan Quân cầm phướn Thượng Sanh hướng dẫn Lễ Sanh và Giáo Thiện nam nữ đi vào Tòa Thánh, lên lầu, nam tả nữ hữu, đứng từ ngang Cung Đạo ra tới ngang Hiệp-Thiên-Đài. Phần Văn nhạc và Võ nhạc cùng Giáo Nhi và đồng nhi nữ lên Nghinh Phong Đài; một ban Văn nhạc và đồng nhi nam lên lầu Bát-Quái-Đài.

Bạch Ngọc Chung minh, tức là khởi dộng chuông Bạch Ngọc, vị Hộ Đàn Pháp Quân cầm cờ Đạo lịnh và vị Hữu Phan Quân cầm phướn Thượng Phẩm đi ra rước các Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, Cửu-Trùng-Đài đi vào Tòa Thánh hoán đàn, Chức việc và Đạo hữu đi nối theo sau. Khi vào Tòa Thánh thì hai tay phải bắt ấn Tý đặt nơi ngực. Hoán đàn xong, Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài lập vị mình nơi chỗ dành cho Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, còn các Chức sắc Cửu-Trùng-Đài, Chức việc và Đạo hữu thì lập vị mình theo phẩm cấp. Ba vị Chánh Phối Sư nam và vị Nữ Chánh Phối Sư vào đứng trước Nội nghi (tại Cung Đạo), một vị Phối Sư nam đứng ngang chỗ Ngoại nghi. Một vị Giáo Sư phái Ngọc lên đứng ở Giảng đài nam phái để xướng lễ, vị Tiếp Lễ Nhạc Quân lên đứng trên Giảng Đài nữ để điều khiển Nhạc Lễ và đồng nhi.

1. Nội nghi Ngoại nghi tựu vị: ba vị Chánh Phối-Sư nam và vị Nữ Chánh Phối Sư đồng xá đàn rồi bước vào giữa, đứng hướng mặt lên Bửu điện. Vị Phối Sư ở Ngoại nghi cũng xá đàn rồi bước vào đứng trước Ngoại nghi, ngó vô Bửu điện.

2. Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị: Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu đồng xá đàn một xá, bước vô, xoay người đứng hướng mặt vào bửu điện.

3. Nhạc tấu Quân Thiên: nhạc đánh trống Tiếp Giá, rồi ban nhạc đờn 7 bài (hoặc 5 bài tùy theo Đại lễ), đàn tới lớp xề, Tiếp Lễ Nhạc Quân ra hiệu, vị Giáo Sư đứng trên Giảng đài xướng:

4. Chỉnh sát cúng phẩm: vị Tiếp Pháp Hiệp-Thiên-Đài, đi lên lầu Hiệp Thiên Đài đặng trấn thần Tam bửu, 3 cặp lễ ba phái và vị Ngọc Giáo-Sư phò tráp Tam bửu từ lầu Hiệp-Thiên Đài, đi xuống, vào đường giữa đi thẳng lên Ngoại nghi, rồi tẻ ra đứng hai bên Ngoại nghi. Nhạc đờn tới bài Vạn Giá (còn đờn 5 bài thì tới nửa bài Long Đăng) thì vị Giám Đạo Hiệp-Thiên Đài, lên Bát-Quái-Đài thỉnh hương đem xuống. Bốn Lể sĩ và Giám Đạo cầm hương đồng đến đứng hai bên Ngoại nghi chờ xướng lễ.

5. Nghệ hương án tiền: (đèn chớp 1) vị Tiếp Lễ Nhạc Quân ra hiệu lịnh bằng đèn chớp 1 cái cho Ban Nhạc trên Nghinh Phong Đài biết. Nhạc xây đờn bài Hạ.

6. Giai quì: (đèn chớp 3) chuông khắc 3 tiếng để mọi người xá 3 xá, nhạc đổ 3 hồi, tất cả đồng quì xuống, Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu không trách nhiệm thì ngồi xếp bằng.

7. Phần hương: (đèn chớp 1) nhạc gài trống thét, vị Giám Đạo đưa hương cho vị Phối Sư quì nơi Ngoại nghi đốt, cầm hương xá 3 xá rồi trao cho Lễ sĩ. (Đèn chớp 3) nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, lui ra hai bên, day vào Nội nghi, chuẩn bị điện hương, nhạc dứt.

8. Điện hương: (đèn chớp 3) nhạc gài đờn xuân để Lễ sĩ cung tay chầu 4 lái, điện tới Nội nghi.

9. Quì: (đèn chớp 3) nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ quì xuống.

10. Nguyện hương: (đèn chớp 1) chuông khắc thỉnh Thánh và năm câu niệm (Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng, Nam mô Cao Đài...)

11. Thành kỉnh tụng Niệm hương chú: (đèn chớp 1) nhạc gài đờn Nam ai, Giáo Nhi và nữ đồng nhi nơi Nghinh Phong Đài tụng kinh Niệm hương, dứt bài (đèn chớp 1)

12. Thượng hương: (đèn chớp 3) nhạc gài thét đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, thét luôn cho Lễ sĩ đi xuống tới Ngoại nghi (đèn chớp 1), dứt thét.

13. Cúc cung bái: (đèn cháy) toàn thể lạy 3 lạy 12 gật. Nhạc đánh trống lập ban (đèn tắt)

14. Thành kỉnh tụng Khai kinh chú: (đèn chớp 1) nhạc gài đờn Nam ai, Giáo Nhi và nữ đồng nhi nơi Nghinh Phong Đài tụng bài Khai kinh, hết bài (đèn chớp 1), dứt đờn.

15. Thành kỉnh tụng Ngọc Hoàng kinh: (đèn chớp 1) nhạc gài đờn Nam xuân, đồng nhi nam ở lầu Bát-Quái-Đài tụng kinh, hết bài (đèn chớp 1), dứt.

16. Cúc cung bái: (đèn cháy) nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 12 gật, (đèn tắt) dứt trống.

17. Thành kỉnh tụng Phật giáo Tâm kinh: (đèn chớp 1) nhạc gài đờn xuân, đồng nhi nam ở lầu Bát-Quái-Đài tụng kinh, hết (đèn chớp 1) dứt đờn.

18. Cúc cung bái: (đèn cháy) nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 9 gật (đèn tắt) dứt trống.

19. Thành kỉnh tụng Tiên giáo Tâm kinh: (như số 16).

20. Cúc cung bái: (như số 17).

21. Thành kỉnh tụng Thánh giáo Tâm kinh: (như số 16).

22. Cúc cung bái: (như số 17)

23. Cung hiến Tiên hoa: (đèn chớp 1) nhạc xây đờn bài Hạ, 4 Lễ sĩ và vị Ngọc Giáo Sư phò tráp Tam-bửu bước vô Ngoại nghi.

24. Quì: (đèn chớp 3) nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ quì xuống.

25. Chỉnh Tiên hoa: (đèn chớp 1) nhạc đánh thét, vị Phối Sư Ngoại nghi chỉnh hoa quả, (đèn chớp 3) nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng dậy, lui ra hai bên, (đèn chớp 1) dứt thét.

26. Điện Tiên hoa: (đèn chớp 1) nhạc gài đờn Đảo Ngũ Cung, đổ 3 hồi, Lễ cung tay, chầu 8 lái, Lễ điện, Giáo Nhi và nữ đồng nhi ở Nghinh Phong Đài thài cho Lễ điện tới Nội nghi.

27. Quì: (đèn chớp 3) nhạc đổ 3 hồi, Lễ quì, vị Ngọc Chánh Phối Sư thỉnh hoa đi lên bàn, xây mặt ra ngoài, trình hoa cầu nguyện, rồi trở về chỗ quì.

28. Thượng Tiên hoa: (đèn chớp 3) nhạc đổ 3 hồi, Lễ đứng lên, nhạc trở bụa, Lễ xuống Ngoại nghi (đèn chớp 1), dứt. Hai tiếp lễ đem bình hoa và dĩa trái cây lên đặt trên bàn thờ.

29. Cúc cung bái: (đèn cháy) nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy 1 lạy 4 gật, (đèn tắt) dứt trống.

30. Cung hiến Tiên tửu: (hành y như từng Hoa)

(Xin lưu ý: Ba từng Dâng Tam bửu, Nhạc Lễ và Thiên phong hành lễ thể thức y như từng Hoa, chỉ có ba vị Chánh Phối Sư nam mỗi vị một lần nguyện dâng Tam bửu).

31. Quì: (đèn chớp 3) (hành lễ y như từng Hoa)

32. Chước tửu: (đèn chớp 1) (như trên)

33. Điện Tiên tửu: (đèn chớp 1) (như trên)

34. Quì: (đèn chớp 3) vị Thượng Chánh Phối Sư thỉnh rượu đi lên bàn trình rượu cầu nguyện, rồi trở xuống quì.

35. Thượng Tiên tửu: (đèn chớp 3) (như trên)

36. Cúc cung bái: (đèn cháy) (như trên)

37. Cung hiến Tiên trà: (đèn chớp 1) (y như từng Hoa)

38. Quì: (đèn chớp 3) (như trên)

39. Điểm trà: (đèn chớp 1) (như trên)

40. Điện Tiên trà: (đèn chớp 1) (như trên)

41. Quì: (đèn chớp 3) vị Thái Chánh Phối Sư thỉnh trà đi lên bàn, trình trà cầu nguyện, rồi trở xuống quì.

42. Thượng Tiên trà: (đèn chớp 3) (như trên)

43. Cúc cung bái: (đèn cháy) (như trên)

44. Sớ văn thượng tấu: (đèn chớp 1) nhạc xây đờn bài Hạ, vị Đại Thiên phong có trách nhiệm vô dâng sớ đi trước, có hai Lễ sĩ đi theo sau.

45. Quì: (đèn chớp 3) nhạc đổ cho Lễ quì, vị Đại Thiên phong cầm sớ cầu nguyện, rồi trao cho người đọc sớ.

46. Thành độc sớ văn: (đèn chớp 1) nhạc đánh thét, (đèn chớp 1) dứt, khởi đọc sớ.

47. Cung phần Sớ văn: (đèn chớp 1) vị Đại Thiên phong đốt sớ, nhạc đánh lớp chày sau trống phần thét luôn cho Lễ sĩ đi xuống Ngoại nghi trở về chỗ (đèn chớp 1) mới dứt.

48. Cúc cung bái: (đèn cháy) nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 12 gật, (đèn tắt), dứt trống.

49. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện: (đèn chớp 1) nhạc gài lớp trống xuân, Giáo Nhi và đồng nhi nữ ở Nghinh Phong Đài tụng Ngũ Nguyện, hết (đèn chớp 1) nhạc dứt.

50. Cúc cung bái: (đèn cháy) nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 12 gật (đèn tắt), dứt trống.

51. Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập Nội nghi: nhạc đánh thét, khi Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, vô tới Nội nghi, dứt thét, nhạc nghe tiếng chuông mà đánh lập ban, trở thét, dứt.

52. Hộ Đàn Pháp Quân,Tả Hữu Phan Quân nhập nội nghi: nhạc hành y như lúc Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, nhập Nội nghi. Sau khi lạy xong, nhạc vẫn trổi thét cho đến khi Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, trở về tới vị trí cũ, nhạc dứt. Đến đây, nhạc xem chừng có Chức sắc Đại Thiên phong lên Giảng Đài thuyết đạo hay không.

Khi xong, nhạc đánh thét rồi dứt, để nghe tiếng kiểng, đứng dậy, xá 3 xá, day ra xá chữ Khí 1 xá, phân lưỡng ban, kệ chuông bãi đàn, nghe 3 tiếng chuông bãi đàn, xá đàn 1 xá, nhạc đánh thét, qua tán điệu rồi tiền bần hậu phú, dứt tịch.

II. Nghi tiết Tiểu Đàn:

Đúng 12 giờ khuya, Lôi Âm Cổ khởi, dứt trống thì tiếp Bạch Ngọc Chung minh. Dộng chuông dứt một hồi thì vị Hộ Đàn Pháp-Quân lãnh cờ lịnh rồi trở ra đứng trước Tòa Thánh làm hiệu lịnh cho Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu đi vào Tòa Thánh. Các Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ nhập đàn, đứng lưỡng ban đúng theo phẩm vị mình, Hộ Đàn Pháp Quân và chư vị Kiểm Đàn sắp đặt cho toàn thể đứng ngay hàng, xong vị Hộ Đàn Pháp-Quân cầm cờ lịnh đưa lên cao làm hiệu cho vị Ngọc Giáo Sư nơi Giảng Đài khởi xướng lễ. Ban nhạc ngồi vào ghế bán nguyệt, Giáo Nhi đồng nhi đứng tại lầu Hiệp-Thiên-Đài.

1. Nội nghi tựu vị: một Chánh Phối Sư nam và Nữ Chánh Phối Sư xá đàn rồi bước vô Cung Đạo đứng trước Nội nghi.

2. Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị: kiểng đánh, toàn thể đồng xá đàn rồi bước vô đứng, hướng lên Bát-Quái-Đài.

3. Nhạc tấu Quân Thiên: nhạc đánh TiếpGiá, đờn 3 bài.

4. Nghệ hương án tiền: nhạc xây tá đờn bài Hạ, 4 Lễ sĩ cầm đăng và đài đi suông lên Nội nghi.

5. Giai quì: người hầu chuông khắc 3 tiếng, nhạc đổ trống, tất cả đều xá 3 xá rồi quì xuống hay ngồi xuống.

6. Phần hương: vị Chức sắc chứng đàn đốt hương, tất cả lấy dấu thỉnh Thánh theo tiếng chuông đánh đủ năm câu niệm, dứt đờn.

7. Thành kỉnh tụng Niệm hương chú: nhạc gài trống đờn Nam ai, đồng nhi tụng kinh Niệm hương, hết, dứt đờn.

8. Thượng hương: nhạc đánh trống thét để cho Lễ sĩ đứng lên trở xuống tới chỗ, nhạc dứt.

9. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 12 gật.

10. Thành kỉnh tụng Khai Kinh chú: nhạc gài trống đờn Nam ai, đồng nhi tụng kinh, dứt kinh, trống để nhẹ một hồi dót.

11. Thành kỉnh tụng Ngọc Hoàng kinh: nhạc gài trống vô đờn Nam xuân, đồng nhi tụng kinh giọng xuân.

12. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 12 gật.

13. Thành kỉnh tụng Phật giáo Tâm kinh: nhạc gài trống vô đờn Nam xuân, đồng nhi tụng kinh giọng xuân.

14. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 9 gật.

15. Thành kỉnh tụng Tiên giáo Tâm kinh: (như trên)

16. Cúc cung bái: (như trên)

17. Thành kỉnh tụng Thánh giáo Tâm kinh: (như trên)

18. Cúc cung bái: (như trên)

19. Cung hiến Tiên hoa: nhạc xây tá đờn bài Hạ, Lễ sĩ cầm đăng đài có Hoa Quả, đi suông vào Nội nghi.

20. Quì: nhạc đổ trống cho Lễ quì, vị Chánh Phối Sư nam thỉnh hoa đi lên bàn, xây ra ngoài trình để toàn thể cầu nguyện dâng hoa, rồi trở về chỗ quì.

21. Điện Tiên hoa: nhạc gài trống vô đờn Đảo, đồng nhi thài giọng Đảo, hết bài.

22. Thượng Tiên hoa: nhạc đổ trống cho Lễ đứng lên, nhạc trở thúc bụa, Lễ đi trở về chỗ.

23. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 1 lạy 4 gật.

24. Cung hiến Tiên tửu: (hành lễ y như từng Hoa)

25. Quì: (như trên)

26. Điện Tiên tửu: (như trên)

27. Thượng Tiên tửu: (như trên)

28. Cúc cung bái: (như trên)

29. Cung hiến Tiên trà: (như trên).

30. Quì: (như trên)

31. Điện Tiên trà: (như trên)

32. Thượng Tiên trà: (như trên)

33. Cúc cung bái: (như trên)

34. Sớ văn thượng tấu: nhạc xây tá đờn bài Hạ, cặp đăng đi lên Nội nghi.

35. Quì: nhạc đổ trống cho Lễ sĩ quì xuống, vị Chức sắc đứng sớ cầu nguyện, xong, nhạc dứt.

36. Thành độc Sớ văn: nhạc đổ trống thét ngắn, dứt, vị Chức sắc có phận sự đọc sớ khởi đọc.

37. Cung phần Sớ văn: nhạc đánh lớp chày, đốt sớ, qua thét, Lễ đứng lên sang tam bộ, thối quay về chỗ.

38. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 12 gật.

39. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện: nhạc gài trống vô đờn xuân, đồng nhi tụng Ngũ Nguyện.

40. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 12 gật.

41. Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập Nội nghi: nhạc đánh trống thét, xem chừng Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, vô tới Nội nghi, xá, quì, lạy, nhạc đánh trống lập ban.

42. Hộ Đàn Pháp Quân, Tả Hữu Phan Quân nhập Nội nghi: nhạc đánh trống thét cho ba vị vào Nội nghi, xá, quì, lạy, nhạc tiếp đánh lập ban.

Lạy xong, nhạc vẫn thét luôn cho các Chức sắc Hiệp Thiên-Đài, trở về đứng ở vị trí cũ thì dứt.

Xem chừng có Chức sắc Đại Thiên phong thuyết đạo hay không.

Nghi lễ đánh kiểng, toàn thể đứng lên, nghe chuông xá 3 xá, day ra ngoài xá chữ Khí 1 xá, rồi phân lưỡng ban.

Nghi lễ kệ chuông bãi đàn xong, nhạc đánh trống thét, tán điệu gài tiền bần hậu phú, dứt tịch. Hết.

B. Nghi tiết Đại Đàn cúng Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ:

Cúng Đức Phật Mẫu chỉ có một Nghi tiết Đại Đàn, không có Nghi tiết Tiểu Đàn.

Gần tới 12 giờ trưa, nam nữ sắp đàn trước.

Đúng 12 giờ, kệ chuông nhứt.

Xong, Lễ sĩ xướng:

1. Tịnh túc thị lập:

2. Chấp sự giả các tư kỳ sự: kế tiếp kệ chuông nhì.

3. Cung thành thứ tự nam nữ nhập đàn:

4. Nhạc tấu Quân Thiên: nhạc đánh Tiếp Giá, đờn 5 bài.

5. Nghệ hương án tiền: trống xây đờn bài Hạ, hai cặp Lễ sĩ đăng đài đến đứng hai bên chúng sanh quì Ngoại nghi.

6. Giai quì: nhạc đổ trống, Lễ quì, cả nam nữ đồng xá 3 xá rồi quì xuống.

7. Phần hương: một vị Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, quì ở Ngoại nghi đốt nhang rồi giao cho Lễ sĩ.

8. Điện hương: nhạc vô mặt trống đờn Nam xuân, chầu 4 lái, Lễ điện chữ Tâm, không thài.

9. Quì: nhạc đổ trống, Lễ quì, vị chứng đàn cầm hương, toàn thể niệm 3 câu niệm theo tiếng chuông điểm, nhạc dứt.

10. Thành kỉnh tụng Niệm hương chú: nhạc gài trống đờn Nam ai, đồng nhi tụng kinh giọng ai.

11. Thượng hương: nhạc dứt đờn, gài thét để Lễ sĩ lên sang về Ngoại nghi.

12. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 9 gật.

13. Thành kỉnh tụng Khai Kinh chú: nhạc gài đờn Nam ai, đồng nhi tụng kinh giọng ai.

14. Thành kỉnh tụng Phật Mẫu Chơn Kinh: nhạc gài trống đờn Nam xuân, đồng nhi tụng kinh, giọng xuân.

15. Cúc cung bái: (giống như mục số 12)

16. Cung hiến Tiên hoa: nhạc xây tá đờn bài Hạ.

17. Quì: nhạc đổ, Lễ quì, dứt đờn.

18. Chỉnh Tiên hoa: vị Chức sắc quì Ngoại nghi chỉnh hoa và quả, nhạc đánh thét rồi đổ, Lễ đứng lên lui ra, day mặt vào bửu điện, dứt thét.

19. Điện Tiên hoa: nhạc gài trống vô đờn Đảo ngũ cung, đổ cho Lễ cung tay chầu 8 lái, đi chữ Tâm vào Nội nghi, đồng nhi thài bài Dâng Hoa.

20. Quì: nhạc đổ để Lễ quì xuống nơi Nội nghi.

21. Thượng Tiên hoa: nhạc đổ trống cho Lễ đứng lên, nhạc thúc bụa, Lễ đi xuống.

22. Cúc cung bái: nhạc đánh lập ban, lạy 3 lạy 9 gật.

23. Cung hiến Tiên tửu: (hành lễ y như từng Hoa)

24. Quì:

25. Chước tửu:

26. Điện Tiên tửu:

27. Quì:

28. Thượng Tiên tửu:

29. Cúc cung bái:

30. Cung hiến Tiên trà: (hành lễ y như từng Hoa)

31. Quì:

32. Điểm trà:

33. Điện Tiên trà:

34. Quì:

35. Thượng Tiên trà:

36. Cúc cung bái:

37. Sớ văn thượng tấu: nhạc xây tá đờn bài Hạ.

38. Quì: nhạc đổ, Lễ quì, vị chứng đàn nguyện dâng sớ.

39. Thành độc sớ văn: nhạc đánh thét ngắn rồi dứt.

Khởi đọc sớ, nhạc nghe theo câu sớ và tiếng điểm chuông, chầu trống cúi đầu.

40. Cung phần Sớ văn: nhạc đánh trống đốt sớ (lớp chày) qua thét luôn, Lễ sang đi xuống.

41. Cúc cung bái: nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 9 gật.

42. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện: nhạc tệt vô đờn lớp trống xuân, đồng nhi tụng kinh Ngũ Nguyện.

43. Cúc cung bái: nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy 3 lạy 9 gật.

44. Hưng bình thân: nhạc đánh trống thét, toàn thể đứng lên, xá 3 xá, day ra xá 1 xá, dứt.

45. Cung thành thứ tự phân lập tam ban: nhạc đánh thét rồi dứt. Kệ chuông bãi đàn.

46. Lễ thành: nhạc đổ trống rồi thét, đánh tán điệu rồi qua tiền bần hậu phú, dứt tịch. Hết.

 

 

NGHI TRƯỢNG


F: Le cortège.

Nghi: Dáng dấp bên ngoài, phép tắc để tỏ lòng kính trọng, lễ phép. Trượng: các đồ binh khí để chưng bày.

Nghi trượng là các đồ binh khí bày ra nơi chỗ thờ phượng hay trong đám rước để làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm và oai quyền của Thần Thánh. Các đồ Nghi trượng nầy còn gọi là đồ Lỗ Bộ.

 

 

NGHI TRƯỞNG

(Nghi: Dáng dấp bên ngoài, phép tắc để tỏ lòng kính trọng, lễ phép. Trưởng: lớn). Nơi cõi thiêng liêng, Nghi trưởng là một vị Tiên Trưởng hay một vị Đại Tiên.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Sắm nghiệp trần gian còn phải khó,
Lựa là Nghi trưởng tại Bồng Sơn.

 

 

NGHỊ ÁN


F:: Délibérer sur un jugement.

Nghị: Bàn bạc, thảo luận. Án: một vụ thưa kiện. Nghị án là bàn bạc, thảo luận để quyết định xử lý một vụ thưa kiện cho công bình và đúng pháp luật (Việc được nêu ra giữa nghị hội để mọi người).

Đức Hộ Pháp nói: "Dường như chúng ta biết hẳn rằng: Hễ bụng no thì óc lỏng, óc cứng thì bụng mềm. Cuộc tương-tranh này chưa có một ông Tòa nào nghị-án nỗi. Ấy vậy, cái thuyết duy-vật với tinh-thần tự-chủ đến chừ chưa có một Tôn-giáo nào cầm đủ quyền-hành dung-hợp."

 

 

NGHỊ ĐỊNH


E: To decree.
F: Décréter.

(Nghị: Bàn bạc, thảo luận. Định: quyết chắc, quyết định). Nghị định là bàn bạc để đến quyết định trong một hội nghị. Những Nghị định trong Đạo được gọi là Đạo Nghị định.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Mỗi việc nghị định đều biên chép để lại đành rành, sau khỏi điều dị nghị". Hiện nay trong nền Đại-Đạo Đức Lý cùng hội ý với Đức Hộ Pháp có lập ra Tám Đạo Nghị Định để làm khuôn thước và nhứt là chận đứng Chi phái không còn dám tự ý tách rời Tòa Thánh như lúc trước. Đó chính là "Bát Đạo Nghị Định"

Đức Lý còn cho tại Khổ Hiền Trang bài thơ như vầy:

GIÁO truyền Đại Đạo khắp Đông Tây,
TÔNG chỉ Tây Ninh với cảnh nầy.
THÁI cực ôm gồm trong Pháp Chánh,
BẠCH minh điều luật sửa tà tây.

Tà tây Nghị định Đạo ban hành,
Chớ cải Thiên Điều sửa quẩn quanh.
Luật lịnh Ngọc Hư đâu để sót,
Phàm nầy sửa thử, sửa sao ranh?

 

 

NGHỊ LUẬN

Nghị luận 論論: Thảo luận, bàn định.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nhà thờ Đạo mới mừng có chỗ,
Lời thị phi chưa tỏ với đời.
Om-sòm nghị luận khắp nơi,
Người thời kích bác, kẻ thời hiềm nghi.

 

 

NGHỊ LUẬN VÔ TRÍ

Đức Nguyệt Tâm nói: "Những điều nghị luận vô trí của chư Đạo Hữu lúc nọ chẳng trúng vào đâu hết mà còn hại cho Thánh Thất nơi đây bị truất bỏ, phần nhiều Đạo Hữu bị trục xuất là vì nhẹ tánh lầm nghe, nói đi nói lại mà ra đến đỗi ấy".

 

 

NGHỊ LỰC

Nghị: Quả quyết. Lực: sức. Nghị lực:.Cái sức cương nghị, quả quyết không gì lay chuyển nổi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Thế tục là nét dìu dắt cho mất tánh thiêng liêng, phải lấy nghị lực cang tâm mà kềm chế.

Thầy dạy: "Tu hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh thiêng liêng. Thầy thấy nhiều, tu cũng muốn tu mà thế tục cũng không muốn chừa bỏ. Thế tục là nét dìu dắt cho mất tánh thiêng liêng, phải lấy nghị lực cang tâm mà kềm chế, thì cái lối diệt vong mới chẳng làm uổng công phu hành đạo cho".

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Ôi! Đã nặng mang nghĩa vụ với đời, thì chất khí sanh phải mong đáp đền tròn nghĩa vụ, vì vậy mà các Đấng nguyên nhân mỗi phen xuống thế là mỗi lần âu lo, nhưng mấy em hiểu rằng: Nếu không xuống cõi trần đây mà thi thố cả tài hùng biện, để lập vị thiêng liêng thì mong mỏi gì đoạt phẩm. Qua cũng dư hiểu buổi tạo đời bước đầu tiên thì các vị nguyên nhân lãnh lịnh phải chịu muôn sầu ngàn thảm là cố nhiên, nếu ai đủ nghị lực làm xong phận sự thì quả vị thiêng liêng không nhỏ vậy. Mấy em nên cắt nghĩa cho nhau hầu vẹn đến lòng Đại Từ Đại Bi của Chí-Tôn quá thương chúng sanh nên giáng trần lập Đạo, mấy em là người để thúc giục chí cương quyết và can đảm với những hoàn cảnh khó khăn luôn, nghe à!"

 

 

NGHỊ TRÌNH


E: The order of the day.
F: L'ordre du jour.

(Nghị: Bàn bạc, thảo luận. Trình: chương trình). Nghị trình là chương trình hội nghị.

 

 

NGHỈ CÚNG GIỜ TÝ

Tờ của Chí-Thiện Lê Văn Trường xin nghỉ cúng thời Tý vì già-cả, bệnh-hoạn.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Hễ càng già lại càng Cúng nhiều đặng dâng mạng-căn số-kiếp của mình cho Đức Chí-Tôn định, ấy là bí-mật giải thoát của Chí-Tôn để nơi Cơ Tận-Độ. Dầu đương giờ mình Cúng mà chết trước mặt Người lại càng hay. Phải tuyên-truyền cho ai-ai cũng đều thấu-đáo nghĩa-lý Bí-Pháp này. Khi đau ốm nằm dưỡng bịnh hễ nghe thời Cúng là ngồi dậy dâng Tam-Bửu cho Chí-Tôn." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

 

 

NGHĨA (Khai Pháp Trần Duy Nghĩa) (Tên)

Xem; Khai Pháp Trần Duy Nghĩa

 

 

NGHĨA (Phối Sư Phái Ngọc)

Thầy dạy:Ngày 15-1-1927 (âl 12-12-Bính Dần)

Nghĩa! Con giáng tửu nghe. Thầy phong cho con chức Phối Sư phái Ngọc, phải hiệp cùng Trang mà phổ độ nhơn sanh nghe. Chức phận quan tước con chẳng đặng một phần trăm Thiên tước, con liệu lấy.

 

 

NGHĨA ĐẠO VỚI ĐỜI

Kinh Sám Hối có câu:

"Ơn trợ giúp khá lo đền báo,
"Giữ vẹn tròn nghĩa đạo với đời."

 

 

NGHĨA HỮU BẰNG

Nghĩa hữu bằng 義友朋 Tình nghĩa bạn bè.

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Tình huynh-đệ tày non tợ biển,
"Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.
"Cang tam, thường ngũ phải gìn,
"Chứa đức, làm lành, làm phước, làm doan."

 

 

NGHĨA NHÂN


F: Fidélité et affection.

Nghĩa: Đường lối cư xử theo lẽ phải. Việc hào hiệp nên làm. Nhân: lòng thương người mến vật.

Nghĩa nhân là điều nghĩa và điều nhân. Nghĩa nhân là hai điều quan trọng trong Nho giáo, cũng là tôn chỉ của Đạo Cao Đài.

Kinh Vào Học có câu:

"Buộc yêu thương bạn đồng môn,
"Nghĩa nhân vẹn giữ xác hồn trăm năm."

(Xem thêm chữ Nhân nghĩa. Vần NH)

 

 

NGHĨA THẦY TRÒ

Ấy là tình nghĩa giữa Thầy và Trò, dù học bất cứ một ngành nghề nào, người Thầy dạy cũng là ơn ích. Nhưng chỉ có người truyền đạt cho chữ nghĩa, đạo đức thì được tuyên dương nhiều hơn hết. Thánh Hiền có câu: "Nhứt tự vi Sư, bán tự vi Sư" là một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng là Thầy.

Được sinh ra làm người nơi cõi thế gian này, ai cũng phải học, dù đó là học nghề nghiệp, học chữ nghĩa hay học đạo lý. Mạnh Tử nói rằng: Người ta tuy có đạo lý, nhưng cứ ăn no mặc ấm, ngồi rồi mà không dạy dỗ, thì gần như giống cầm thú: "Nhân chi hữu Đạo dã, bão thực noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú"人之有道也,飽食煖衣, 逸居而 無教, 則近於禽獸. Thánh nhân đời trước lấy làm lo điều đó, nên xem việc giáo hóa là hàng đầu cho con người. Do vậy, Thầy dạy học được coi là người có ơn nghĩa rất lớn đối với học trò. Ơn nghĩa của thầy được Nho giáo xếp đứng vào hàng thứ nhì sau ơn của vua và trước ơn của cha mẹ "Quân – Sư - Phụ" (Vua- Thầy- Cha)

Tại sao ơn của thầy được coi trọng như vậy? Bởi vì, việc học của cổ nhân không phải như sự học của bao nhiêu người ngày nay vẫn hiểu. Cổ nhân học là cốt học đạo của Thánh hiền để hiểu nghĩa lý, biết phải trái mà sửa mình cho thành người có đức hạnh. Chính thầy Tử Lộ đã xác định điều đó: Người quân tử học để hiểu rõ cái đạo "Quân tử học dĩ trí kỳ đạo" 君子學以致其道 để biết cách cư xử cho phải phép, để có cái phẩm hạnh đạo đức hơn người thường.

- Một đàng tạo cái hình chất, là ơn cha mẹ

- Một đàng khai hóa tinh thần, ơn của thầy giáo hóa

- Một đàng có vật thực để nuôi dưỡng cho con người, ơn ngọn rau tấc đất, ơn vua.

Ấy là ba cái công ơn rất sâu dày.

Chính vì thế, Loan Cung Tử mới nói rằng: Người ta ở đời có ba người phải thờ kính như: là cha sinh mẹ dưỡng, thầy dạy, vua nuôi; Không có cha mẹ thì không có ai sinh, không có nuôi thì không có lớn được, không có dạy thì không thể nên được người vậy "Dân sinh ư tam sự chi như nhứt, phụ sanh chi, sư giáo chi, quân tự chi; phi phụ bất sanh, phi tự bất trưởng, phi giáo bất tri, sanh chi tộc dã" 民生於三事之如一, 父生之, 師教之, 君食之, 非父不生, 非食不長, 非教不知, 生之族也.

Xét thấy ơn của Thầy cũng như ơn vua và ơn sinh thành của cha mẹ rất cao trọng như vậy, nên Đấng Tiên Nương Đoàn Thị Điểm đã giáng cơ ban cho chúng sanh Đạo Cao Đài bài Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị để dành những người học trò tế những vị thầy kính yêu hầu trả được phần nào ân sâu nghĩa nặng của sự giáo huấn cho nên người.

Bài Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị do Bà Đoàn Thị Điểm là một nữ sĩ Việt Nam đặt ra dùng để đồng nhi tụng đọc trong nghi lễ học trò tế thầy đã qui vị.

"Đường công danh càng nhìn quảng đại,
"Nghĩa thầy trò nghĩ lại khó quên."

Đời Tống một triết gia Trung Quốc là Chu Đôn Di mới lập Sư đạo (Đạo thầy trò), ông cho rằng: Cái đạo của Thánh nhân rất quí, nhưng phải có thầy dạy mới biết được. Ông đặt vấn đề: Làm sao khiến cho thiên hạ đều thiện cả? Rằng phải có thầy dạy, tức là kẻ tiên giác dạy kẻ hậu giác, kẻ mờ tối học kẻ sáng suốt, như thế thì đạo thầy được thành lập vậy.

Chính vì người xưa xem đạo thầy trò cao trọng như vậy, nên khi Khổng Tử mất, các môn đồ của Ngài phải để tâm tang ba năm (Bằng tang cha mẹ), mãn tang họ họp nhau lần cuối cùng ở trước mộ để khóc Ngài, rồi mới chia tay nhau mỗi người đi mỗi nơi. Riêng Tử Cống còn ở lại trong một căn nhà lá để giữ mộ cho thầy thêm ba năm nữa.

Tiên Nương Đoàn Thị Điểm, trong tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận cũng cho rằng ơn nghĩa thầy dạy học cũng sánh bằng với công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Bà viết:

Con nhờ thầy công danh mới toại,
Như nhờ cha mới giỏi hình dung.
Hai ơn ấy gẫm so đồng,
Nghĩa kia như hiếu, mặn nồng cả hai.

 

 

NGHĨA TRỌNG

Nghĩa trọng 義重 là Ân nghĩa rất nặng nề. Muốn nói lên trong đời này biết bao nghĩa trọng mà kiếp sanh khó trả.

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

"Nối Tông Tổ biết bao nghĩa trọng,
"Cơ nghiệp còn lưu mộng tang du."

 

 

NGHĨA TRÚC MAI

Xưa nay các bậc hiền triết có thú chơi thanh cao là chơi cây kiểng, các loại cây kiểng mà các Ngài thường dụng tới là "Mai, Lan, Cúc, Trúc" xem như là những người bạn của các Ngài, mà chính các loại cây này cũng là bốn người bạn thân của nhau nữa gọi là "Tứ quí" 四貴 Thế nên tình người luôn gắn bó với thiên nhiên, không thể thiếu, vì nó có tính cách quân tử, như Cây Trúc lòng rỗng, đốt thẳng, uốn theo chiều gió, tuy thân nhỏ mà không khuất phục trước gió giông điên cuồng, dầu bị quật xuống rồi cũng đứng thẳng lên ngay, đó chứng tỏ cái hùng khí. Hoa Mai có vẻ đẹp mơ màng duyên dáng, màu vàng rực rỡ, tượng sự thanh cao, màu vàng là màu Phật tượng sự thanh khiết, dịu dàng, mà hoa Mai hợp với đất phương Nam, nên nay Đạo Trời cũng đặt tại miền Nam, đó là cái "nghĩa" của đất trời dành cho "địa linh nhân kiệt". Cái "Nghĩa trúc mai" là như thế.

Tiên Cô Thất-Nương Vương thị Lễ chính danh là Nữ Tiên ở Diêu-Trì-Cung, còn tên Đoàn Ngọc Quế cho thi:

Dưỡng sanh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn-dập tương-tư oằn một gánh,
Nỗi niềm tâm-sự tỏ cùng ai?

 

 

NGHĨA VỤ


F: Devoir, obligation.

Nghĩa vụ 義務:Thiên chức của người ta nên làm trọn ở trong xã hội.

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Qua trách một điều là chư Chức sắc không dám hy sinh cùng đời, mà không can đảm liều thân đó thôi. Cười … Khó thật mấy em há! Ôi! Đã nặng mang nghĩa vụ với đời, thì chất khí sanh phải mong đáp đền tròn nghĩa vụ, vì vậy mà các Đấng nguyên nhân mỗi phen xuống thế là mỗi lần âu lo, nhưng mấy em hiểu rằng: Nếu không xuống cõi trần đây mà thi thố cả tài hùng biện, để lập vị thiêng liêng thì mong mỏi gì đoạt phẩm".

 

 

NGHỊCH CHA PHẢN BẠN

(Nghịch cha là chống lại với lời dạy bảo của cha; phản bạn là phản bội lòng tin của bạn bè). Ấy là con người sống mà không được lòng của ai cả. Trong khi đó cha là người thân mà làm nghịch lại, Bạn là người đồng hành mà thường phản bội, đúng là kẻ không tốt. Người vô Đạo.

Thánh ngôn có dạy rằng: "Như kẻ làm quan ỷ quyền bức hiếp dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao không? Tại vô đạo!"

 

 

NGHỊCH CHÁNH LÝ

Đức Hộ Pháp nói: "Lại thấy kẻ dốt ấy kích bác, trở lại chịu thiệt rằng: Ðạo mình là lầm lạc. Người truyền đạo dường ấy có sai chánh lý chăng?

- Phải, các con há! Chẳng khác nào ngồi nhà thấy kẻ mắc mưa ướt mình, nhảy ra che cho ướt, lại khen rằng mát thì muội lắm đó. Vậy Thầy lại thấy một bọn Môn đồ, khi đến nói Đạo với kẻ nào thì thẹn thuồng ái ngại. Phải nghịch chánh lý chăng? - Phải, thiếu tư cách đã đành.

 

 

NGHỊCH CHƠN LÝ

Chính ngày 23-08-Bính Dần (Thứ tư: 29-9-1926)

Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ dạy rằng:

"Thầy dạy chư Môn đệ một lần cho mà hiểu và nhớ hằng ngày. Nhiều đứa đi truyền đạo mà trong lòng kính sợ kẻ thọ giáo. Thầy hỏi: Phải nghịch chơn lý chăng? - Phải, các con há! Kẻ dốt mà dạy người dốt thì cả hai dầu nói tới tận thế cũng còn dốt".

 

 

NGHỊCH ĐẠO

Nghịch: Trái ngược, chống cự, bội phản. Đạo: là lý lẽ, đạo lý.

Đức Hộ Pháp nói: "Tôi nhớ có một phen kẻ nghịch Đạo để lời dèm pha biếm-nhẻ rằng văn-từ của Thầy xem rất thường tình. Tôi chấp bút phân-phiền cùng Thầy. Thầy dạy rằng: "Con ôi! Trong anh em của con phần dốt nhiều hơn phần hay chữ, đứa ám-muội đông hơn đứa thông minh, Thầy đến chăm-nom dạy-dỗ đứa ngu-dốt hơn là đứa hay giỏi; thà là đứa sáng khôn quá hiểu mà chê Thầy hơn là đứa dốt nghe Đạo Thầy không rõ lý. Thầy cười rồi tiếp nữa rằng. Thầy muốn Đạo của Thầy làm thế nào cho trẻ con nên ba tuổi cũng hiểu đặng, con nghĩ sao con? Lại cười nữa! Tôi hiểu lòng nhơn-từ quá lẽ của Thầy cũng bắt tức cười theo" (Phương tu Đại-Đạo)

 

 

NGHỊCH THIÊN

Chính là "Nghịch thiên mạng" tức là làm trái với ý Trời. Có câu: "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong" 順天者存逆天者亡 nghĩa là thuận với Trời (là định luật của vũ trụ) thì còn, làm nghịch lại thì mất. Luật của vũ trụ như đường rầy (Raill) xe lửa. Nếu vượt ra ngoài thì tai nạn là thế!

Đức Lý dạy ngày 18-1-Đinh Mão (dl: 19-2-1927):

"Chẳng vì Thánh Thất, Như Nhãn phản ngôn mà trễ phổ thông Thánh giáo. Cười…Đã hiểu đời còn mê muội, chẳng phân đặng chơn giả thế nào, thảm thay! Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn (phái Thái) dám cả gan nghịch Thiên mà phải đọa trầm luân muôn kiếp, xét đến công tu, khó ngăn giọt lụy. Chí Tôn đau đớn bao nhiêu Lão càng giận bấy nhiêu. Biết bao phen, Lão cầm viết toan bôi xóa cho rồi trọn phái oan nghiệt mà Chí Tôn nằn nằn xin Lão để cho Người gia công độ rỗi. Ngày nay, Lão nhứt định trả lại chùa nầy. Song, trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng ở tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh Địa, vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Chí Tôn không chịu".

 

 

NGHIÊM KHẮC


F: Rigoureux, sévère.

Đức Hộ Pháp xác nhận về giá trị của việc cúng kính: "Không có một điều gì mà Chí-Tôn định trong chơn giáo của Ngài dầu Bí-pháp, dầu Thể-pháp mà vô ích đâu! Đấng ấy là Đấng tưng-tiu con cái của Ngài lắm! Thoảng có điều gì không cần ích mà con cái của Ngài nói rằng "không muốn" Ngài cũng bỏ nữa đa! Từ ngày khai Đạo: Kinh kệ, Lễ bái, sự chi sắp đặt về đạo-đức cũng chính Đức Chí-Tôn tạo thành, không phải do các Đấng khác. Ngài buộc mình làm là có cần yếu, hữu ích chi chi đó Ngài mới buộc, vì cớ nên thời giờ này thấy Bần-Đạo bó buộc nghiêm khắc quá, có lẽ có kẻ biếng nhác cũng phàn nàn lén lút. Ngày cuối cùng các Bạn gặp mặt Bần Đạo nơi Thiêng-liêng, Bần-Đạo sẽ hỏi các Bạn coi khi còn ở thế Bần-Đạo buộc cả thảy đi cúng là có tội hay có công? Công hay tội ngày giờ ấy sẽ có tấn-tuồng tâm-lý ngộ nghĩnh với nhau vô cùng tận. Chừng đó mới biết lẽ nên hư. Ngày nay, giờ phút này Bần Đạo đứng tại giảng đài này để khuyên nhủ, còn biếng nhác quá, xác thịt đã hư rồi, đến linh hồn phải coi chừng cho lắm, kẻo ngày kia ăn năn quá muộn". (TĐII / 153)

 

 

NGHIÊM THIẾT ĐÀN TRÀNG

Nghiêm thiết Đàn tràng 嚴設壇場 hay nghiêm thiết đàn trường, tức là trang nghiêm thiết lễ đàn cúng tế.

Trong lòng Sớ dâng về Thiêng liêng có câu: "Chư Thiên phong nghiêm thiết Đàn tràng: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ."

 

 

NGHIÊM TRANG

嚴 裝
F: Grave.

Nghiêm-trang 嚴裝: nghiêm chỉnh, đàng hoàng.

Kinh Sám Hối có câu:

"Khi tế tự chớ lờn chớ dể,
"Việc quan, hôn, thủ lễ nghiêm-trang."

 

 

NGHIÊM TRỊ


F: réprimer sévèrement.

Ðêm 30 tháng chạp Ất Sửu (dl. 12-02-1926)

Thầy cho ông Cao Quỳnh Cư bài thi:

Sắp út thương hơn cũng thế thường,
Cái yêu cái dại mới là thương.
Thương không nghiêm trị là thương dối,
Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.

Cư, Tắc, Sang! Trong năm mới này Thầy trông mong ba con rõ thấu đạo đức hơn nữa, gắng chí nghe!

 

 

NGHIÊM TRỪNG


F: Punir sévèrement.

Kinh Sám Hối có câu:

"Phận làm chủ lấy lời nhỏ-nhẹ,
"Mà nghiêm-trừng mấy kẻ tôi-đòi."

 

 

NGHIỆP

Có hai nghĩa : Nghiệp căn và Nghiệp chướng

Nghiệp (S: karma; P: kamma) Nguyên nghĩa là "hành động"; khái niệm rất quan trọng của Đạo Phật, dùng chỉ qui luật chung nhất về nguyên nhân và kết quả. Theo Đạo Phật, mỗi tác động (nghiệp) – dưới một điều kiện nhất định – sẽ tạo thành một quả (s, p: phala). Một khi quả đó chín, nó sẽ rơi trở lại người tạo ra nó. Muốn thành quả, một nghiệp phải là tốt: Thiện; (s: kuśala) hay xấu: Bất thiện (s: akuśala) và là một hành động cố ý. Vì sự cố ý đó, một nghiệp để lại một dấu vết nơi tâm thức của người tạo nghiệp và tâm thức đó sẽ hướng theo những sự tạo tác của chính mình. Thời gian để một quả chín muồi có thể kéo dài rất lâu và chính nó tác động lên sự tái sinh và làm loài hữu tình, trong đó có con người, cứ lưu mãi trong Luân hồi (s, p: saṃsāra).

Một nghiệp được gây ra hoặc bằng một hành động thuộc thân, thuộc tâm hay ngôn ngữ. Như thế khi người ta có ý làm cái gì thì đã tạo nghiệp, không nhất thiết việc làm đó có xảy ra hay không. Chính tư tưởng đã tạo tác nghiệp. Một hành động sẽ không gây nghiệp nếu nó được thực hiện mà không xuất phát từ tham, sân, si. Một nghiệp tốt có thể mang lại kết quả tốt trong một sự tái sinh. Tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt tái sinh. Muốn thoát khỏi luân hồi, con người phải từ bỏ nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu. Cần phải hiểu nghiệp và nghiệp lực không đồng nghĩa với thuyết cho rằng mọi sự đều được quyết định sẵn (thuyết định mệnh). Nghiệp làm con người tái sinh trong một cuộc đời, một hoàn cảnh nhất định, nhưng hành động con người trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do. Nghiệp sinh ra hoàn cảnh, sự phản ứng đối với hoàn cảnh này lại nằm trong tay con người."

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

NGHIỆP CĂN


F: L'origine de Karma.

Nghiệp là con đường đi từ Nhân tới Quả. Căn nghĩa chính là rễ (rễ cây, tức là cây thì có rễ bám vào đất). Người thì có nơi chốn hay là nguồn phát xuất

Thi văn dạy Đạo có câu:

Tiền khiên đã mãn nghiệp căn xưa,
Phải biết ăn năn chiếm thượng thừa.

 

 

NGHIỆP CHƯỚNG


F: L'obstacle de Karma.

(Nghiệp là những việc làm có tác động của thân, khẩu, ý; Chướng : trở ngại trên bước đường). Nghiệp chướng là đời trước phạm những nghiệp ác cho nên đời nay thành ra tội chướng. Chính con người tạo ra nghiệp thiện hay nghiệp ác, thì chính con người sẽ được hưởng hay phải chịu hậu quả của nghiệp báo ấy. Theo Kinh Pháp Cú, Đức Phật ví nghiệp "như sét do sắt sinh ra rồi trở lại ăn sắt, còn ác nghiệp do người ta gây ra rồi trở lại dắt người ta đi vào cõi ác".

Nghiệp chướng có hai loại: Phiền não chướng và Sở tri chướng . Chấp truớc là nguồn gốc phiền não chướng, vọng tưởng là nguồn gốc của sở tri chướng. Mục tiêu của sự tu hành là chuyển hóa toàn bộ vọng tưởng và chấp truớc để khôi phục lại Thiên Tánh hay Phật tánh.Nghiệp là con đường đi từ Nhân tới Quả. Nghiệp được tạo ra bởi các việc làm lành hay dữ trong kiếp trước, tuy nó vô hình nhưng nó ảnh hưởng lên kiếp sống hiện tại, bằng sự may và sự rủi, để làm cho kiếp sống hiện tại được hạnh phúc hay đau khổ. Việc làm lành sẽ tạo nên Nghiệp lành (Thiện nghiệp), cái Nghiệp lành nầy nó theo ủng hộ mình, nâng đỡ mình (mà mình gọi đó là dịp may). Còn việc làm ác sẽ tạo ra Nghiệp ác (Bất thiện nghiệp), cái Nghiệp ác nầy nó theo báo hại mình (mà gọi đó là xui xẻo, rủi ro) khiến bị hoạn nạn tai ương và phiền não. Vậy, Nghiệp chướng là những ngăn trở khó khăn trong kiếp sống hiện tại do Nghiệp ác tạo ra. Cũng đồng nghĩa với nghiệt chướng.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nguyên kiếp trước một nhà chung ở,
Vì đầu xanh gây nợ oan khiên.
Khiến nên nghiệp chướng trần duyên
Sông mê bể khổ chiếc thuyền chơi-vơi.

 

 

NGHIỆP HỒNG


F:Grande oeuvre.

Nghiệp: Nghề nghiệp, sự nghiệp, tài sản. Hồng: cả, to lớn. Nghiệp hồng là sự nghiệp to lớn.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Nghiệp hồng dẫn tử hồi môn,
"Chí-công định vị vĩnh-tồn Thiên-Cung."

"Nghiệp quả của chúng ta, do Phật Mẫu tạo thành, Phật Mẫu lại đem ta trả về cựu nghiệp, còn Chí Tôn do cựu nghiệp ấy mà định vị".

 

 

NGHIỆP HỒNG QUÂN


E: The Creator.
F: Le Créateur.

(Hồng: To lớn. Quân: cái bàn xoay của người thợ nặn đồ gốm. Hồng quân là cái bàn xoay lớn của người thợ nặn đồ gốm, cũng nghĩa là trái cân, sự công bình). Nghiệp Hồng Quân là chỉ Đấng Tạo Hóa, hay Hóa Công, vì Ngài giống như người thợ dùng cái bàn xoay to lớn nặn ra vạn vật và Ngài rất công bình. Có câu: "Hồng Quân đào vạn loại, Địa khối bẩm quần sanh"; nghĩa là Trời nắn ra muôn vật, Đất nuôi sống chúng sanh. Vậy Nghiệp Hồng Quân là đại nghiệp của Đấng Thượng Đế hay là Đức Chí Tôn đã đến ban cho, con người có bổn phận gìn giữ đó là nền Đại Đạo ngày nay.

Đức Lý Đại Tiên giáng cơ ban cho vào năm Đinh-Sửu (1937). Đây là bài thơ thể Đường-luật (Thất ngôn bát cú: tức nhiên là loại thơ 8 câu, mỗi câu 7 chữ; như vậy tổng cộng là 56 chữ) dài gấp đôi bài thơ Tứ tuyệt. Bài thơ này đặt trên Cung Đạo Đền Thánh- Tòa Thánh Tây Ninh- Bài này là một trong ba bài cũng viết bằng chữ Nôm: viết từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, đến câu thứ ba thì dừng ở chữ thứ tư, nghĩa là bài thơ thứ nhì này cũng chỉ viết có 18 chữ như hai bài thơ kia. Tức nhiên là:

 

"Viết thử Thiên-thơ với nét trần.
"Hầu sau bền giữ nghiệp Hồng-quân.
"Chuyển luân Thế sự………….

 

 

 

Nguyên văn như sau:

Viết thử Thiên-thơ với nét trần.
Hầu sau bền giữ nghiệp Hồng-quân.
Chuyển-luân thế sự đưa kinh Thánh
Trừ diệt tà-gian múa bút Thần,
Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,
Nầy xem nước Lỗ biến hình Lân.
Công-danh nước Việt tay đành nắm,
Mưa móc dân-sanh gắng gội nhuần.

Như trên đã nói ba bài thơ chữ Nôm đều dừng ở chữ thứ tư trong câu ba, tức nhiên toàn bài chỉ có 18 chữ như các bài thơ trước. Câu sau cùng ấy là "Chuyển luân thế sự…" câu thơ bỏ lửng này có ý khuyên cả chúng sanh trong trần thế khi đã nhập môn rồi phải biết "chuyển luân thế sự.." mà chuyển như thế nào? Hẳn là chuyển chính bản thân mình, tức là phải tùng quyền pháp Đạo đừng để thất thệ hay phạm thệ với Chí-Tôn mà phải bị đoạ, khó mong trở lại cùng Thầy. Vì khi vào Đại-Đạo làm Môn đệ của Chí-Tôn, là mình có dự phần làm chủ quyền về mối Đạo ấy, trách nhiệm mỗi người tín-hữu Cao-Đài là phải lo "Xây cơ chuyển thế bảo tồn Vạn linh" là vậy.

Bởi "Nếu người nào không Nhập-môn làm Môn-đệ Đức Chí-Tôn thì không thế gì vào được Cực-Lạc thế-giới, vì các Đạo-giáo đã bị bế, chỉ còn lại nền Đạo Thánh truyền của Di-Lạc-Vương tận độ mà thôi"

Đức Hộ-Pháp, Ngài quả-quyết: "Nếu không đi vào con đường Tam-kỳ Phổ-Độ thì không thế gì đi con đường nào mà về Cực-Lạc Thế-giới là vậy đó. Phương-pháp độ dẫn chỉ có khuyên các chơn-linh dầu nguyên-nhân hay hoá nhân đoạt được chữ "Hoà" với chữ "Nhẫn" mới về nơi cửa này được, dầu cho vạn kiếp sanh dày công tu-luyện mà còn ganh-ghét thì sẽ bị vào tay Chúa quỉ, không trông gì về cùng Thầy được"

 

 

NGHIỆP HỮU HÌNH

Nghiệp hữu hình hay Hữu hình nghiệp 有形業 tức là nghiệp quả tạo ra ở cõi trần. giờ đây khi hồn về đến từng trời này thì nó hiện tượng đủ cả hình thái vô vi, tức nhiên nó hiện rõ và đầy đủ trong cõi này, không thiếu một thứ gì hết.

Kinh Đệ Bát Cửu có câu:

"Cung Diệt Bửu ngọc rèm đã xủ,
"Nghiệp hữu hình tượng đủ vô vi."

 

 

NGHIỆT BÁO OAN GIA

F: Rétribution.

Nghiệt: Mầm ác, việc ác, nghiệp ác. Báo: đáp lại. Nghiệt báo là báo đáp lại cái nghiệp ác đã tạo khi trước.

Sự báo đáp nầy có thể xảy ra nhãn tiền hay trong một kiếp, hay phải chờ đợi đến kiếp sau.

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm cho chồng vợ lìa xa,
"Cả đời nghiệt-báo oan-gia chẳng rời."

 

 

NGHIỆT CẢNH ĐÀI

Nghiệt cảnh Đài còn gọi là Đài Nghiệt Cảnh là nơi rọi sáng các việc lỗi lầm. (Trang 83-Q.1)

Thầy dạy: "Các vật thực vào tỳ vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết, chẳng cần nói, các con cũng biết cái chơn linh khí huyết là thế nào? Nó có thể huờn ra nhơn hình mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhơn loại. Vì vậy mà một giọt máu là một khối chơn linh, như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Ðài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ gìn giới cấm ấy cho lắm".

Đức Phật Quan Âm dạy:Bần nữ xin chào chư thiện tín.

                        THI
QUAN môn rạng chiếu bóng cờ Nam,
ÂM đức giồi trau rửa thế phàm.
BỒ liễu dầu cho sương khói đọng,
TÁT khô khổ hải cũng thành nam.

Bần Nữ đến để đôi lời cho thiện nam Cát hiểu lẽ huyền vi nơi Lạc Cảnh: Mỗi chơn linh khi đã mãn căn qui hồi Thiên giới đều phải đến nơi Nghiệt Cảnh Đài đặng ôn lại tội phước đã tạo nên. Khi về đến đó rồi thì một mảy gì cũng không thể giấu đặng. Bao nhiêu kiếp đều diễn ra trước mắt, rồi tự mình định lấy phận mình, chớ chẳng ai hành phạt hay thăng thưởng. Đó là Tòa phán xét lương tâm. Ông tòa lại chính là bổn nguyên chơn linh của mình. Vì cớ cơ thưởng phạt thiêng liêng không một ai có thể kêu rên bởi lẽ bất công hết thảy. Như vậy thì nhũ mẫu của thiện tín cũng ở trong khuôn luật ấy. Bần Nữ vì cảm thương lòng thành kính của thiện tín mà chỉ dẫn cho đôi điều. Từ đây, thiện tín khá luôn luôn tụng Di Lạc Chơn Kinh cho người, phải luôn tụng Cầu siêu và Cầu hồn đặng rửa bớt sự nặng nề cho vong linh. Còn âm chất thì càng nhiều lại càng hay, phương độ rỗi ấy là nhờ nơi lòng hiếu nghĩa của thiện tín mà làm giảm bớt phần nghiệt chướng nơi cõi thiêng liêng cho nhũ mẫu của thiện tín.

Nhưng thiện tín cũng nên biết rằng, khi đã độ rỗi được vong linh kẻ tội lỗi thì âm chất của thiện tín cũng đã sang bớt cho vong linh ấy chút ít rồi. Như vậy, thiện tín cần phải lập công đức thêm đặng đền bù vào chỗ đã mất. Đó là chỉ nói về sự độ rỗi vong linh của kẻ thân thuộc mà thôi.

Chí Thiện Mậu bạch:…

- Phương độ rỗi chắc chắn hơn hết là người sanh tiền phải luôn luôn thành tâm cầu nguyện và giữ vững đức tin, bồi bổ thêm công đức. Thân mẫu của thiện tín đã qua khỏi Ngân Kiều rồi. Chư thiện khá lưu tâm mà giữ cho tròn âm đức nghe!"

 

 

NGHIỆT CĂN

(Nghiệt là mầm ác, căn là gốc rễ do hành vi trong kiếp sống trước). Nghiệt căn là những việc làm ác độc trong kiếp trước, tạo thành gốc rễ để báo ứng những ác quả trong kiếp sống hiện tại mà con người phải gánh chịu.

Ông Thái Công dạy rằng: Gần son thì đỏ, gần mực thì đen, gần người hiền thì sáng, gần người tài thì trí, gần kẻ ngây thì dại, gần người lành thì có đức, gần người trí thì thông minh, gần kẻ ngu thì ám muội, gần kẻ nịnh thì bợ đỡ, gần kẻ trộm thì sinh giặc "Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc, cận hiền giả minh, cận tài giả trí, cận si giả ngu, cận lương giả đức, cận nịnh giả siểm, cận thâu giả tặc"近朱者赤, 近墨者黑, 近賢者明, 近才者智, 近癡者愚, 近良者德, 佞者諂, 偷者賊.

Thánh nhân xưa cũng thường nói: Ở gần với người tốt, như đi giữa đám mù sương, tuy chẳng ướt át mà dầm thấm mát mẻ. Còn ở chung với người không biết lẽ phải, thì cũng như ngồi giữa hàng cá ương, dầu chẳng dơ áo, mà nghe mùi hôi thúi "Dữ hảo nhân xử như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời tư nhuận; dữ vô thức giả xử như bào ngư tứ trung tọa, tuy bất ô y, thời thời văn xú 與好人處 如霧露中 , 雖不濕衣, 時時滋潤, 與無識者處如鮑魚肆中坐, 雖不 , 時時聞臭

Thế nên trong buổi Đại-Đạo này người học Đạo phải biết biệt phân chơn giả, trắng đen, là phải chọn bạn mà chơi. Câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" đúng muôn đời.

Kinh Vào Học có câu:

"Gần điều nên, lánh lẽ hư,
"Nương gươm thần huệ đặng trừ nghiệt căn."

 

 

NGHIỆT CHƯỚNG

(Nghiệt là Cái mầm của việc làm ác. Chướng là Sự ngăn trở, sự trở ngại). Nghiệt chướng là Sự trở ngại hay ngăn trở do các mầm ác gây ra.

Những hành vi hung ác trong kiếp trước do mình làm ra sẽ tạo nên nghiệp quả mà kiếp này phải thọ nhận. Ác nghiệp đó gây nhiều trở ngại trong kiếp sống hiện tại của chúng ta, nên được gọi là chướng. Như bệnh chướng, tai chướng, phiền não chướng...Nỗi nghiệt ấy biến thành Nghiệp là con đường đi từ Nhân tới Quả. Hai từ ngữ: Nghiệt chướng và Nghiệp chướng, xem như đồng nghĩa, nhưng Nghiệt chướng có ý nghĩa rõ rệt hơn (Một đằng là sự việc, một đằng là hậu quả)

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,
"Đừng hãi kinh cầu đảo Chí-Tôn."

 

 

NGHIÊU THUẤN

Nghiêu Thuấn 堯舜 là hai vị Vua trong đời Thượng Cổ:

- Nghiêu : Tên Triều đại của vua Nghiêu là Đào Đường (2357-2256 trước D.T). Ngài họ Y Kỳ, tên Phóng Huân, con bà Khánh Đô, phi thứ tư vua Đế Cốc, đóng đô tại Bình Dương, trị vì 72 năm và 28 năm với vua Thuấn đắp đê bảo vệ đồng áng. Vua có chín trai, hai gái mà phế Thái tử Đan Châu, lựa ông Thuấn là người hiền đức để truyền ngôi và gả cho hai người gái là Nga Hoàng và Nữ Anh.

- Thuấn : Tên triều đại của vua Thuấn Hữu Ngu (2255-2206 tr.D.T), cháu tám đời vua Huỳnh Đế, họ Diêu tên Trùng Hoa, con ông Cổ Tẩu. Ông Thuấn rất hiếu thảo, mẹ mất sớm. Cha, tính hung dữ, cưới người vợ khác sanh ra Tượng. Cha và mẹ ghẻ ghét ông, nhiều phen mưu giết, nhưng ông đều thoát khỏi chết mà vẫn chẳng oán hờn. Lòng hiếu của ông cải hóa cha, mẹ ghẻ và em kế.

Vua Nghiêu nghe tiếng đến tìm, gả hai người con cho và nhường ngôi. Vua Thuấn đóng đô tại Bồ Phan, làm vua 48 năm, theo gương vua Nghiêu, không truyền ngôi cho con là Thương Quân mà nhường ngôi cho vua Vũ.

Vua Thuấn băng hà tại Thương Ngô, thọ được 101 tuổi.

Lòng Sớ dâng về Thiêng liêng có câu:

"Nghiêu Thuấn lương dân, an cư lạc nghiệp, cộng hưởng thạnh trị thái bình, thanh nhàn hạnh phước"

, , ,

Câu 09 trong bài U-Minh-Chung có câu:

"Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt"

 

 

NGHINH PHONG ĐÀI

 

 

 

 

Cửu Trùng Đài & Nghinh Phong Đài

Cửu Trùng Đài là một kiến trúc lớn, gồm 9 cấp từ thấp dần lên cao, nối liền Hiệp Thiên Đài và Bát Quái Đài.

Cấp thứ 1 thấp nhứt (từ Hiệp Thiên Ðài đếm vào), cấp thứ 2 cao hơn cấp thứ 1 là 18 phân, lên đến cấp 5 là cấp chính giữa Cửu Trùng Ðài, vị trí ngang với 2 cửa hông Tòa Thánh.

Nơi cấp thứ 5 nầy dành cho Chức sắc phẩm Giáo Hữu và tương đương chầu lễ Đức Chí Tôn. Phía trên nóc của cấp nầy có một kiến trúc đặc biệt gọi là Nghinh Phong Đài, để nghinh tiếp các Chức sắc được phong thưởng vào hàng Thánh. (Ngài Khai Đạo Phạm tấn Đãi dịch Nghinh Phong Đài ra tiếng Pháp là : Le Dôme de Canonisation) [Nghinh là nghinh tiếp, Phong là phong thưởng, Đài là cái lầu cao]. Cho nên cấp bên dưới Nghinh Phong Đài dành cho phẩm Giáo Hữu là phẩm khởi đầu của hàng Thánh, đối phẩm Địa Thánh.

Nghinh Phong Đài gồm có 3 phần :

- Phần dưới hình vuông, tượng trưng Đất.

- Phần giửa hình ống tròn, tượng trưng Trời, vì người xưa cho rằng Trời tròn Đất vuông (Thiên viên Địa phương).

Trời là Dương, Đất là Âm, Âm Dương tương hiệp mới phát khởi Càn khôn Vũ trụ và hóa sanh vạn vật.

- Phần trên của Nghinh Phong Đài là một bán cầu úp xuống, có vẽ bản đồ các lục địa và đại dương của Địa cầu, tượng trưng cõi trần của nhơn loại. Phía bên trên bán cầu nầy là hình Long Mã phụ Hà Đồ (Xem giải thích nơi mục số 18).

Trở xuống các cấp Cửu Trùng Ðài, 2 cây cột rồng xanh giữa 2 cấp thứ 5 và thứ 6 có đúc 2 cái Giảng đài. Sau mỗi đàn cúng có Chức sắc lên đứng trên Giảng đài nầy thuyết đạo. Chức sắc Nam phái đứng thuyết đạo bên Giảng đài phía Nam phái, Chức sắc Nữ phái lên đứng trên Giảng đài phía Nữ phái. Đặc biệt trong các thời cúng Tiểu đàn hay Đại đàn, một vị Giáo Sư phái Ngọc lên Giảng Đài Nam phái để xướng lễ, và một Chức sắc Bộ Nhạc lên Giảng đài Nữ phái để ra hiệu lịnh điều khiển 3 Ban Nhạc, Lễ và Đồng nhi.

Lên đến cấp thứ 9 là cấp cao nhứt Cửu Trùng Ðài, tiếp giáp với Cung Đạo, ở chính giữa có 7 cái Ngai sơn son thếp vàng rất long trọng và lộng lẫy, đặt trên bục gỗ, chia làm 3 lớp : 1 Ngai Giáo Tông đặt trên cao hơn hết, kế dưới là 3 Ngai Chưởng Pháp nhỏ hơn, dành cho 3 vị Chưởng Pháp 3 phái, đặt theo hàng ngang, và chót hết là 3 Ngai Đầu Sư dành cho 3 vị Đầu Sư 3 phái Thái, Thượng, Ngọc.

Thượng Chưởng Pháp và Thượng Đầu Sư ngồi trên 2 cái Ngai đặt ở hàng chính giữa, trước Ngai của Đức Giáo Tông.

Thái Chưởng Pháp và Thái Đầu Sư ngồi trên 2 cái Ngai đặt hàng bên tay trái của Đức Giáo Tông.

Ngọc Chưởng Pháp và Ngọc Đầu Sư ngồi trên 2 cái Ngai đặt hàng bên tay mặt của Đức Giáo Tông.

Việc làm 7 cái Ngai nầy do Đức Chí Tôn giáng cơ chỉ dạy Ông Giáo Hữu Kiệt coi sóc mướn thợ làm vào ngày 12-8-Bính Dần (dl 17-9-1926).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 44 : "Kiệt! Con phải giúp Thơ trong việc lập Thánh Thất. Thầy giao cho con phải săn sóc mướn thợ làm 7 cái ngai : Một cái trọng hơn hết cho Giáo Tông, 3 cái cho 3 vị Chưởng Pháp, 3 cái cho 3 vị Đầu Sư; nhứt là cái ngai của Giáo Tông phải làm cho kỹ lưỡng, chạm trổ Tứ linh, nhưng chỗ hai tay dựa phải chạm 2 con Rồng, còn của Chưởng Pháp chạm 2 con Phụng, của Đầu Sư chạm 2 con Lân, nghe à!"

Hai bên 7 cái Ngai nầy là 2 hàng tàn, mỗi hàng 3 cây tàn với 3 màu : Vàng, Xanh, Đỏ.

Cấp thứ 8 (dưới cấp thứ 9 có 7 cái Ngai), 2 bên có 2 Dàn Bát Bửu, mỗi bên có 3 cây lọng đặt xen kẽ vào.(Xem giải thích Dàn bát Bửu nơi mục số 20).

Bát Quái Đài

Bát Quái Đài là cái đài cao có hình 8 cạnh đều nhau, mỗi cạnh là một cung của Bát Quái. Tám cạnh là 8 cung Bát Quái, gồm : Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Bát Quái Đài dùng làm nơi thờ Đức Chí Tôn, các Đấng Giáo chủ và chư Thần Thánh Tiên Phật. Mỗi khi cúng đàn tại Tòa Thánh, đều có Đức Chí Tôn và chư Thần Thánh Tiên Phật giáng ngự chứng lễ.

Khoảng giữa Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài là Cung Đạo.

Các cây cột Rồng ( Long trụ ) nơi Bát Quái Đài đều quấn rồng vàng.

Ở từng trệt, Bát Quái Đài có 12 cấp hình 8 cạnh đều nhau, bên ngoài lớn và thấp, vô trong nhỏ lại và cao hơn, xếp như bực thang, mỗi cấp cao 10 phân. Tất cả các cấp Bát Quái đều làm bằng đá mài màu vàng, cả các mái cong trên nóc cũng được sơn màu vàng.

Trung tâm của Bát Quái Đài ở từng trệt nầy là một cây trụ lớn, rất chắc chắn để giữ vững Quả Càn Khôn bên trên.

Trên mặt của phần Trung tâm Bát Quái có cẩn đủ 8 Cung Bát Quái, 8 Cung nầy có vị trí đặc biệt khác hơn Tiên Thiên Bát Quái Đồ của Phục Hy và Hậu Thiên Bát Quái Đồ của Văn Vương, vì đây là Bát Quái Cao Đài.

Đức Chí Tôn giáng cơ dạy về vị trí các cung Bát Quái của Đạo Cao Đài như sau :

" Thầy dạy : Tòa Thánh day mặt về hướng Tây, tức là chánh Cung Đoài, ấy là Cung Đạo, còn bên tay trái Thầy là Cung Càn, bên tay mặt Thầy là Cung Khôn. Đáng lẽ Thầy phải để 7 cái ngai của phái Nam bên tay trái Thầy, tức bên Cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn Đạo cho đủ Ngũ Chi, cho nên Thầy buộc phải để vào Cung Đạo là Cung Đoài, cho đủ số." (Trich Pháp Chánh Truyền Chú Gỉải, trang 41).

Các quẻ trong Bát Quái Cao Đài, nếu đem so sánh với Hậu Thiên Bát Quái Đồ thì thấy rằng : thứ tự các quẻ giống nhau, nhưng chiều quay khác nhau. Bát Quái Hậu Thiên quay theo chiều kim đồng hồ, còn Bát Quái Cao Đài quay ngược chiều kim đồng hồ, tức là cùng chiều quay tự nhiên của Địa cầu, cũng là chiều quay tự nhiên của vũ trụ.

Trục Đông Tây của Bát Quái Cao Đài giống với trục Đông Tây của Bát Quái Hậu Thiên, tức là trục của 2 cung Chấn, Đoài; nhưng trục Bắc Nam của Bát Quái Cao Đài và của Bát Quái Hậu Thiên đối ngược nhau, 2 Cung Khảm và Ly đổi chỗ cho nhau.

Nếu so sánh Bát Quái Cao Đài với Bát Quái Tiên Thiên, vị trí các Cung hoàn toàn khác nhau

LỊCH SỬ KIẾN-TRÚC
TÒA-THÁNH

Ðây là một thiên sử kiến-trúc Tòa-Thánh, do cơ bút Thiêng-Liêng điều khiển, thể hiện những bí ẩn kỳ hoặc sẽ làm cho du-khách hồi-hộp, khấp-khởi tâm-hồn khi nghe kể lạị..

Trước năm 1926, nơi xây cất Tòa-Thánh hiện tại là một khu rừng cấm hoang-vu vắng-vẻ mênh-mông... Ngày cũng như đêm, cảnh tịch-mịch nầy chỉ nghe vang tiếng cọp kêu, vượn hú, voi gầm; không một tiếng người khua động...

Thuở ấy, thành-phố Tây-Ninh chỉ là một khu chợ nhỏ. Từ tỉnh lÿ Tây-Ninh vào đây cách năm cây số ngàn. Dọc đường phần nhiều là rừng hoang, thỉnh thoảng chỉ thấy vài túp lều tranh lác-đác bên đường.

Trên con đường rừng hoang nầy, nếu một người, một bóng thì chưa chắc được an toàn bổn mạng... Sự khó khăn ấy nhứt là đối với ác thú... Còn khí hậu rừng thiêng nước độc lại là một điều đáng kể. Ai không hạp, thì bị chói nước, hoặc mắc bệnh sốt rét rừng, dần dà bổn mạng sẽ không còn...

Cảnh tượng kinh hồn như thế vẫn với thời gian âm thầm đi qua năm, tháng...

Bỗng một hôm, có một đoàn người tất tả, ngược xuôi; băng mình vào đây, tìm vị trí xây cất Tòa-Thánh.

Ðoàn người nầy do Ðầu-Sư Thái-Thơ-Thanh vâng lịnh Thánh-ngôn của Ðức Lý-Thái-Bạch hướng dẫn...

Bài Thánh-ngôn ấy cầu tại chùa Gò-Kén ngày 21-02-1927, nhằm ngày 20 tháng 1 năm Ðinh-Mão như sau:

.....................................

"Thái-Thơ-Thanh, Lão cậy hiền-hữu một phen nữạ Mai nầy đi lên đường trên, gọi là đường giây thép, nhắm địa thế dài cho tới ngã ao-hồ, coi hiền-hữu thấy đặng chăng cho biết?

"Lão đã nói rằng: mỗi sự chi chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết, chư hiền-hữu đừng sợ ai hết, hễ sợ thì chối quyền Thiêng-Liêng thì còn gì Ðạo nghe à!..."

Bởi trước kia cũng đã đi tìm vị trí nhiều phen, thế mà không được nên Ðức Lý-Thái-Bạch giảng dạy bài Thánh-ngôn trên.

Nhờ Thiêng-Liêng chỉ dạy, Ðầu-Sư Thái-Thơ-Thanh mới dẫn nhóm người đến đường giây thép mà băng vào rừng cấm nầy nhắm hướng gần ao-hồ làm vị-trí...

Cách vài ngày sau, Ðầu-Sư Thái-Thơ-Thanh cùng một nhóm người nhất định lấy vị-trí hiện hữu, vì nơi đây có nhiều hiện tượng khác thường.

Khi tìm được trở về cầu cơ, Ðức Lý-Thái-Bạch giáng cơ đề ngày 24-02-1927 nhằm 23 tháng 1 năm Ðinh-Mão dạy rằng:

".....................................

"....... Lão khen Thái-Thơ-Thanh phải đó đa! Tưởng chư hiền-hữu không thấy nữạ Lão cắt nghĩa vì sao cuộc đất ấy (vị-trí xây cất Tòa-Thánh hiện giờ) gọi là Thánh-Ðịả Sâu hơn 300 thước như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trứng giữa 6 nguồn. Làm như 6 con Rồng đoanh nhau, nguồn nước ấy chảy trúng ngay đảnh núi (núi Bà Ðen) mà gọi là LỤC LONG PHÒ ẤN. Ngay miếng đất đó đặng 3 đầu, một đầu ra giếng mạch ao hồ, hai đầu nữa bên cụm rừng bên kiạ Người Lang-Sa (người Pháp nguyên lúc ấy nước Việt-Nam ta bị Pháp đô hộ) chỉ đòi 20.000, nói rồi trả đúng 15 ngàn. Lão dặn thì thành trả 17 ngàn, 18 ngàn thì đặng.

"Còn xin khai khẩn miếng đất rừng bên kia nữa mới trọn đất nay còn rõ miếng đất xung quanh. Thánh Ðịa ngày sau hóa vàng. Chư hiền-hữu biết lo lập ngày sau rất quí báu". (Chúng tôi xin độc giả lưu ý: chúng tôi triệt để tôn trọng sự tín-ngưỡng cơ-bút củaTôn-giáo Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, nên lược thuật đúng tinh-thần tài liệu của Hội-Thánh không hề vẽ vời, hoặc thêm, bớt...)

Thế rồi từ ngày bài Thánh-ngôn trên dạy; một nhóm người thọ giáo Cao-Ðài xông vào đây nỗ lực khai thác rừng hoang bứng gốc, đốn cây cất trại và lưu lại đây làm việc...

Nhiều truyền thuyết rằng sự khổ sở, vất vả của họ không biết bao nhiêu mà kể.

Buổi Ðạo chưa nên hình, những người làm công quả không cơm mà ăn, hằng ngày bữa cháo, bữa rau, thế mà nhờ tinh thần sốt sắng và quyền lực Thiêng-Liêng hỗ trợ nên họ vẫn mạnh mẽ như thường, mặc dù phải nằm sương gối tuyết.

Công lao chịu nhọc khai thác rừng hoang, đắp bồi cuộc đất nầy, người Tần-Nhơn (Miên) và một nhóm dân-tộc thiểu số tục gọi là Tà-Mum cũng là đáng kể. Họ làm lụng vất vả, đói khát thảm thương, hy sinh ngày tháng bỏ việc gia đình...

Nhờ vậy, chẳng bao lâu vùng đất nầy được hoàn thành và dựng lên túp lều tranh ba gian làm đền thờ tạm.

Thuở sơ khai, đạo Cao-Ðài thật linh hiển, huyền-diệu vô song. Những người làm công quả khai rừng đào đất rất nhọc nhằn nhưng mỗi khi bịnh hoạn thì có thể cầu cơ (phương pháp cầu cơ nầy, hiện nay Tòa-Thánh Tây-Ninh còn thực hiện trong việc truyền giáo) chỉ vài thứ lá cây làm thuốc, thế mà giúp được những người công quả qua cơn bịnh hoạn.

Nhờ hiệu lực bảo trợ linh thiêng ấy, nên sự phá rừng đào đất, xây nền chẳng bao lâu thì được hoàn thành.

Từ ngày nơi đây dựng lên mái nhà tranh ba gian làm Tòa-Thánh tạm, thì những người xa xôi đến viếng kẻ cúng vài xu, người đôi ba cắc... số tiền nầy Hội-Thánh dành dụm lại chờ khi xây cất Tòa-Thánh.

Còn những người lo việc Ðạo vẫn dầm sương, giải nắng; ăn thì cháo rau qua bữạ

Tháng, ngàỵ.. nơi chốn rừng hoang vắng vẻ nầy, bên cội cây già, hoặc trong cảnh rừng tịch mịch âm-u, có những tiếng cưa cây, đào đất, hòa với giọng thơ buồn buồn, ai ngâm vọng lạị..

Dù vất vả, hy-sinh vì Tôn-giáọ..
Sớm: cháo, rau; chiều: dưa muối qua ngàỵ..
Mặc thế nhân còn rộn rực chốn trần aị
Bao lạc thú, chừ đây vui cửa Ðạo!
Thế cuộc đã chuyển vần xoay máy Tạo:
Bến trầm luân: điên đảo chốn phồn hoa;
Kiếp trần gian: sanh, sống, bịnh rồi già!
Ai ôi! thấu đời ta ta đâu mấy chốc!...
Thân tôi mọi cho sinh tồn vật chất
Sống thì buồn đau; thác lại gì đâủ!
Ðời triền miên trong những nỗi ưu sầu!
Thôi gắng bước, đường tu toan lập đức...
Khai Ðại-Ðạo, mê trần nay tỉnh giấc...
Trở về đây kinh kệ: sớm, chiều vuị..
Ôi! Thế nhân còn lắm cảnh ngậm-ngùi!
Ðời bao nã! Chừ đây ôi bao nã!.!.
            Thơ của T.L. Thiền-Giang Phan Văn Tân)

Thế rồi, thời-gian âm-thầm trôi quạ.. nơi đây sự hoạt động vẫn triền-miên mãi-mãị..

Hằng ngày tiếng cưa cây, đẻo cột; tiếng đào đất, xây nền vẫn vang-vang như tiếng lòng thời gian chuyển dịch...

Mãi đến năm 1933 mới khởi công tạo tác Tòa-Thánh hiện giờ.

Sự kiến-trúc Tòa-Thánh nầy do Ðức-Chí-Tôn và Ðức Lý-Thái-Bạch giáng cơ điều-khiển. (Hiện nay, theo cơ bút Thiêng-Liêng dạy thì Ðức Lý Thái-Bạch là Nhứt-Trấn Oai-Nghiêm kiêm Giáo-Tông về phần vô-vi của nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ).

Lược đồ, Ðức Lý Thái-Bạch đã giáng cơ chỉ dạy từ năm 1927 như sau:

Ngày 27 Février 1927....................

"........ Thánh-Thất tạm phải cất ngay miếng đất trống. Còn Hiệp-Thiên-Ðài tạm phải cất trước Thánh-Thất tạm. Ðạo-hữu lại, biểu khai phá đám rừng trước miếng đất ấỵ Như vậy ngay trung tâm rừng cách miếng đất trống chừng ba tấc rưỡi, đóng một cây cọc, đó Hiệp-Thiên-Ðài như vậỵ Ngoài bàu Cà-Na (Ðộng-Ðình Hồ) vô chừng 50m, đóng một cây nọc ranh phía Ao Hồ trở vô chừng 70m, đóng cây nọc ấy là khuôn viên Tòa-Thánh. Lão dặn, từ cây nọc bên phía miếng đất trống phải đo vô Bàu Cà-Na 27m Lang Sa nghe à! Từ vuông 27m mỗi góc của Ðài Bát-Quái, bề cao 9m; hình nóc mô lên, chỉ tám góc cho phân minh, trên đầu Ðài phải để cây đèn màu xanh, kế nữa là Chánh-Ðiện, bề dài 81m, bề ngang 27m. Lão phải vẽ mới đặng. Kế nữa Hiệp-Thiên-Ðài tủ vuông 27m, hai tầng, mỗi tầng 9m, hai bên Hiệp-Thiên-Ðài, bên mặt thì có Lôi-Âm Cổ-Ðài, bên tả thì có Bạch-Ngọc Chung-Ðàị Lão phải vẽ mới đặng.

Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm nội trưa nầy phải cắm một cây viết vào đầu cơ, lấy một miếng giấy lớn vào điện phò-loan cho Lão vẽ.

"Bính, Thanh phải có mặt, còn kỳ dư không cho ai vào Ðiện hết, nghe à! Phải mua miếng đất Bàu Cà-Na làm Ðộng-Ðình-Hồ..."

(Sở-dĩ chúng tôi trích lục và đăng trọn bài Thánh-ngôn trên đây là vì triệt để tôn trọng sự tín-ngưỡng cơ-bút của nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ và đây cũng là một tài liệu hết sức quí báu trong việc xây cất Tòa-Thánh Tây-Ninh mà biết bao tín-đồ Cao-Ðài-Giáo hiện nay băn khoăn tìm hiểu).

Thế là sự kiến trúc Tòa-Thánh được thực hiện theo căn bản lược đồ do Thiêng-Liêng chỉ định...

Từ năm 1933 khởi công, nhưng đến năm 1945 mới hoàn thành. Vì trong khoảng thời gian từ năm 1941 đến năm 1945 bị gián đoạn...

Bởi lúc bấy giờ nước nhà bị Pháp trị...

Hiện nay, mỗi lần nhắc đến thời gian xây cất Tòa-Thánh; biết bao nhiêu người trong giới Tín-đồ và Chức-sắc chứa chan lệ thảm.

Cơn quốc biến, chẳng những giang-san bị nhiều thảm họa, nhân dân thống khổ điêu linh thôi, mà đến nỗi nơi thờ phượng cũng chịu ảnh hưởng chung...

Khoảng thời gian 1941-1945 người Pháp lấy Tòa-Thánh làm nơi xe đậu!...

Sau những trận đánh, giết hại lê dân, thường cướp giựt của cải và bắt trâu bò đem về đây giết thịt khao đãi nhaụ

Làm như thế, người Pháp cố ý phá hoại Ðạo Cao-Ðài, cũng vì sự đe dọa tiêu diệt nền Ðạo, mà nhiều người phải băn khoăn lo nghĩ. Trước viễn ảnh đen tối ấy, họ không tìm được giải pháp...

Do đó, giới Tín-đồ quá căm tức: một vì Tổ-quốc Việt-Nam, hai vì bảo vệ nền Ðạo, mới lập quân đội để cứu vãn tình thế. Chớ sự thật, Tôn chỉ và mục đích Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ không hề có can dự việc chánh trị, dù là vấn đề hết sức nhỏ nhặt.

Hiện trạng đó còn bắt chúng ta nghĩ rằng sự tín-ngưỡng quả thật có hiệu lực tiềm tàng tự bản ngã con người nó âm thầm như không có gì đáng kể... nhưng sức mạnh của nó là sức mạnh bất khả bạị Vì sự tín ngưỡng đã xây dựng bằng nhiều lý tưởng căn bản, chuyển mạch lòng người tạo một đức tin mãnh liệt.

Xuyên qua thời cuộc để tìm hiểu vài yếu điểm có liên quan đến Ðạo Cao-Ðài, cũng như lịch sử kiến-trúc Tòa-Thánh; tưởng cũng có thể đáp ứng được nguyện vọng sưu tầm và nghiên-cứu của những ai muốn tìm hiểu về Ðạo Cao-Ðài và sự-tích Tòa-Thánh.

Ðến đây, có lẽ du-khách sẽ thắc mắc tại sao Tòa-Thánh phải cất tại vị-trí hiện hữu và ở nơi tỉnh Tây-Ninh?

Vì cơ huyền bí đã định: Tòa-Thánh phải cất tại tỉnh Tây-Ninh để gần núi Ðiện-Bàsẽ có liên quan đến những phương-pháp tịnh-luyện của người tu sau nầỵ Ðó là bí-pháp liên-đới đến Hội Long-Hoa, chúng tôi không được am tường...

Có điều chứng tỏ rằng hiện giờ Ðạo Cao-Ðài có thành lập Vạn-Pháp-Cung tại chân núi Bà...Và xây cất tại vị-trí hiện hữu cũng vì Ðức Cao-Ðài Ngọc-Ðế giáng cơ dạy ngày 20-2-1927 nhằm ngày 19-1 năm Bính-Dần như sau:

"Các con nghẹ.."

"Nơi nào Thầy ngự, thì nơi ấy là Thánh địạ....

.......................................

Nếu Tòa Thánh xây cất tại:

"Cẩm-Giang, thì các con phải chịu khổ về phần ăn-uống

"Bến-Kéo, thì địa thế hẹp hòị................

"Suối Vàng thì đặng song phương tiện chở chuyên không tiện, song phong thổ tốt đẹp:...."

Như vậy chỉ có vị-trí hiện hữu là thích-ứng mọi phương-diện.

Về sự bí-pháp vô-vị..Ðức Chí-Tôn dạy nhiều, nhưng chúng tôi xin trích đại-khái như sau:

"......................................

Các con phải hiệp chung nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa-Thánh, chi chi cũng ở tại Tây-Ninh nầy mà thôị Các con đã hiểu Thánh-ý Thầỵ..."

Khi sửa soạn xây cất Tòa-Thánh thì những vị chức sắc định kiến-trúc cho thật đồ sộ và nguy-ngạ..

Chính Ðức Lý-Thái-Bạch giáng cơ dạy những bậc nền Tòa-Thánh phải hơn kém nhau 6 tấc và bề cao 9 thước. Nhưng Ðức Chí-Tôn giáng cơ không cho, bảo sửa lại 3 tấc mà thôị..Vì sợ tốn hao của nhơn sanh... Trong bài Thánh-giáo tại chùa Gò-Kén dạy như vầy:

"Thời kỳ mạt kiếp nầy khiến mới có Tam-Kỳ Phổ-Ðộ. Các sự hữu-hình phải hủy phá tiêu diệt. Thầy đến chuyển Ðạo lập lại vô-vi, các con coi thử bên nào chánh lý. Hữu hình phải bị hủy-diệt chớ vô-vi chẳng thế nào diệt đặng... Thơ! Thầy đã khiến con đi coi Ðế-Thiên, Ðế-Thích đặng xem cho tạng mặt một sự hữu hình nội thế-gian ngày nay, ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng ".

Bài Thánh-Giáo trên đây thể hiện lòng từ-bi, triệt thấu sự khan hiếm phương tiện xây cất của Hội-Thánh đồng thời quan tâm đến đạo-đức không phải ở chỗ nguy-nga, đồ-sộ đâụ.. đó chỉ là hình thức tiêu biểu, có thể bị thời gian tàn phá như đền Ðế-Thiên, Ðế-Thích tại Cambodge vậỵ Cương lĩnh của Ðạo là ở chỗ vô-vi mà thôị

Ðây là cả một công-trình vĩ-đại, Thiên khiển Nhơn tạo một sự mới mẻ, tuyệt-xảo; bao-hàm những bí-ẩn vô-vị..

Tóm lại, Tòa-Thánh Tây-Ninh hoàn-thành được, là do cơ bút Thiêng-Liêng điều-khiển... Ngoài ra sự tạo tác thì kẻ công, người của chung họp nhau lo, ngày nay mới thành thể-diện Ðạo Cao-Ðài mà muôn đời công khó vẫn còn ghị...

 

 

NGÓ MỘT CÁI CŨNG ĐỦ TIÊU DIỆT

(Ngó là nhìn thẳng vào, một cái là chỉ một lần thôi; tiêu diệt là không còn sót một thứ gì cả) Đó là một quyền-uy tối thượng của Đức Thượng Đế, một khi hành phạt thì không còn một ai qua khỏi. Tuy nhiên Ngài không thi hành bao giờ. Thế mà luật vay trả, nhân quả của nhân loại khi Thiên điều trừng trị mà nhân loại phải chịu tang thương dường ấy. Vào thời cùng cuối này nhân loại phải chịu đủ thiên tai địa ách là nhắc nhở cho việc sai trái của thế gian đó vậy

Thứ tư, 22-9-1926 (âl 16-8-Bính Dần).

Thầy dạy: "Cầm cả quyền hành vô lượng nơi tay, Thầy ngó một cái cũng đủ tiêu diệt nó đặng, nhưng mà phép công bình thiêng liêng chẳng phải nên vậy. Ấy cũng là cơ mầu nhiệm cho các con có thế lập công quả. Trung, Lịch, hai con phải hội chư Thánh mà xin Khai Ðạo. Phải làm đơn mà dâng cho Thầy xem xét sửa trước nghe!"

 

 

NGOẠI BANG


F: Pays étranger.

(Ngoại là ngoài. Bang là nước lân cận).  Ngoại banglà nói chung các nước láng giềng, hoặc nước ngoài.

Đức Lý dạy: "Tam Giáo Tòa chuyển pháp để trừ diệt cả lũ ma hồn quỉ xác cho tiêu tận rồi đến lúc phục hưng nền độc lập một cách phi thường. Còn lại toàn bậc nhơn tài trung nghĩa làm ích nước lợi dân sau nầy, nước nhà bền vững, cơ Đạo cũng do đó lan tràn truyền khắp cả ngoại bang. Chư Hiền Hữu cứ yên tâm lo sắp đặt bề trong của mình, chờ sắp đến ra ứng dụng. Ngày cận đây, chẳng phải xa đâu, nhưng cơ thành lập một cách bất ngờ, toàn cả nước Nam không ai biết trước được."

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện để rước ngoại bang,
Phước Thiện sản nghiệp bảo toàn thế gian.
Phước Thiện gầy dựng giang san,
Cả chư vạn quốc đồng sang phục tùng.

 

 

NGOẠI NGHI


E: The exterior table.
F: La table extérieure.

Ngoại: Bên ngoài, ở ngoài. Nghi: cái bàn hương án dùng làm nghi thức.

Ngoại nghi là nghi ngoài, tức là cái bàn hương án đặt phía ngoài của chánh điện để giới hạn phạm vi tế lễ từ ngoại nghi vô tới nội nghi mà thôi.

Ngoại nghi chỉ là một cái bàn hương án, không có thờ ai hết, nhưng trên Ngoại nghi cũng chưng đủ các món: hương, đăng, hoa, quả, trà, rượu, cần nhứt là phải có một cặp chân đèn và một cái lư hương.

Nơi Thánh Thất, cặp Lễ sĩ xướng đứng ở hai bên Ngoại nghi. Ngoại nghi đặt trước bàn thờ Đức Hộ Pháp và cách bàn thờ nầy chừng ba hay bốn thước.

 

 

NGOẠI QUỐC


F:Pays étranger.

"Đức Chí-Tôn ban cho bài thi có câu này: "Nam Bắc cùng rồi ra ngoại-quốc" tức nhiên nền chơn giáo QUỐC ĐẠO, không phải của ta thôi, mà lại của toàn nhơn-loại, là truyền giáo Nam Bắc thành tướng rồi ra ngoại-quốc, tức là Tôn-giáo toàn-cầu vậy".

 

 

NGOẠI THÂN

(Ngoại: ngoài; thân là chính thân mình). Hạng ngoại thân là những Chơn hồn chúng ta đã làm bạn mỗi lần tái kiếp làm người. Mỗi kiếp làm người chúng ta có: cha, mẹ, anh em, bạn tác, cả thân quyến đó là ngoại thân. Trái lại là Nội thân, tức nhiên nhiều lần tái kiếp họp lại, thì đó là nội thân.

Ngoại thân Đức Chí-Tôn có nói: chúng ta có thể làm cho nó chí thiện được, chính mình Đức Chí Tôn cũng sợ, sợ đến nỗi Ngài biểu lập sẵn dưới thế này đi đặng giáo hóa họ lần lần. Bởi cớ cho nên riêng Ngài khi lập Đạo kêu: Trang, Tương, Kỳ…mấy vị Đại Thiên Phong, biểu mỗi người đều lập Họ, lập Họ tức nhiên là lập ngoại tông thiêng liêng của chúng ta đó vậy, trọng yếu hơn hết là điều đó.

Tại sao Đức Chí-Tôn biểu lập Họ? – Nếu không có ngoại thân thì Tiểu Thiên địa của chúng ta không có. Vì cớ cho nên các Chơn linh cao siêu người ta đã lập một Thiên cung của họ rực rỡ, điều trọng yếu hơn hết là những vị Giáo chủ, là người trong thân thể của họ kêu đi, đi cả thảy đặng giúp sức cho họ. Chính mình Đức Hộ Pháp cũng có Tông đường lớn lắm, vinh vang lắm; kém chăng là kém một hai Tông đường vĩ đại như: Di-Lạc, Quan Thế Âm, A-Di-Đà mà thôi. Tông đường của Hộ Pháp cũng khá lắm, nên Đức Quyền Giáo Tông thường có nói giả ngộ, nói bóng, nói bí mật là Triều đình họ Phạm mạnh mẽ hơn triều đình của họ Lê, nói bóng vậy thôi"

 

 

NGOẠI TÌNH


F: Adultère.

Kinh Sám Hối có câu:

"Vì chưng trinh-tiết chẳng gìn,
"Có chồng còn lại ngoại tình với trai."

 

 

NGOẠI TÔNG

(Ngoại: ngoài; i: họ hàng, tông tộc) Ý nói là người ngoài dòng họ, không được kể là người nối dõi tông đường. Đây là một quan niệm của thời phong kiến xem nhẹ người con gái vì lớn lên thì theo chồng thờ cúng tổ tiên nhà chồng, nên xem người con gái là "ngoại Tông", cho rằng "Nữ sanh ngoại tộc". Pháp luật này noi theo chế độ phong kiến, thời bị trị của Tàu cả ngàn năm, một luật lệ quá khắc khe và hầu như quái gở, xử bất công với người nữ phái, khiến cho xã hội bị lùi đi và càng lạc hậu, không biết khai thác tiềm năng quí trọng và áp chế người nữ đủ điều.

Nữ Trung Tùng Phận của Bà đoàn rằng:

Mặc người cha dễ mẹ duôi,
Ngoại Tông nương phận, nếm mùi trân cam.

 

 

NGOAN ĐẠO

E: Pious.
F: Pieux.

Ngoan: có nết na, dễ bảo. Đạo: tôn giáo.Ngoan đạo là hoàn toàn tin tưởng tôn giáo, vâng theo các luật đạo một cách nghiêm chỉnh và vui vẻ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thơ! Con đã ngoan đạo, mà sự ngoan đạo của con đó còn độ lắm kẻ.

 

 

NGOAN NGẠNH

E: Stubborn.
F: Têtu.

Ngoan-ngạnh: Ương ngạnh, bướng bỉnh, cứng đầu cứng cổ.

Kinh Sám Hối có câu:

"Tánh ngoan-ngạnh không vì cô bác,
"Thói lăng-loàn bạn tác khinh-khi."

 

 

NGOAN NGÙY

Ngoan-ngùy: Dễ dạy, biết vâng lời.

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Ngoan-ngùy chơn-chánh Phật Thần thương,
"Chơn-chánh liên-hòa với thiện lương.
"Thần-Thánh thành, do người chánh thiện,
"Thiện-lương chơn-chánh đức không lường."

 

 

NGỌC

ngọc, túc. Ngọc, đá báu. Đẹp. Như ngọc diện 玉面 mặt đẹp như ngọc. Dùng để nói các bậc tôn quý. Như ngọc thể 玉體 mình ngọc, ngọc chỉ 玉趾 gót ngọc… Vo thành. Như vương dục ngọc nhữ 王欲玉女 (Thi Kinh 詩經) vua muốn gây dựng cho mày thành tài. Một âm là túc. Người thợ ngọc. Họ Túc.

Ngọc là chỉ chung vàng bạc, ngọc ngà, đá quí, là của cải số một ở trong đời. Thường nói ngọc ngà châu báu là thứ quí hiếm. Chiết tự chữ NGỌC là dạng chữ VƯƠNG nhưng có thêm một chấm ở phần dưới, nếu nét chấm ấy đem đặt lên trên đầu của chữ, sẽ thành ra chữ CHỦ (chúa), họăc cho nó biến đi tức là hòa nhập vào bên trong thì thành ra chữ VƯƠNG. Có câu: "Ngọc tàng nhứt điểm xuất vi chúa nhập vi Vương" 玉藏一點出為主入為王 Có nghĩa là chữ Ngọc có chứa một điểm, nếu đem điểm ấy ra ngoài thành ra chữ chúa hoặc nếu điểm ấy nhập vào trong thì thành ra chữ Vương (đây là một lối chơi chữ của người xưa rất ý nghĩa).

Thi văn dạy Đạo:

Ngọc lành đáng giá biết bao lăm,
Ðể mẻ thì ai chẳng tiếc thầm.
Ðạo đức mãn đời đừng trở dữ,
Làm cho mất nghiệp mấy muôn năm.

 

 

NGỌC ẨN

Ngọc ẩn 玉隱: ngọc còn ở trong đá chưa phát hiện

Thi văn dạy đạo có câu:

Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,
Hoàng thiên bất phụ chí anh hào.

 

 

NGỌC BẤT TRÁC BẤT THÀNH KHÍ

Thánh nhân nói: "Ngọc bất trác bất thành khí" nghĩa là Ngọc chẳng giồi chẳng nên giống tốt. Ngọc ngà là vật quí báu của đời, nếu không biết cách trau-giồi, thành ra một vật vô giá trị cũng như con người có một tánh lành, mà chẳng hay trọng dưỡng để cho nó trở nên hung ác thì gọi là mất nguồn cội. Cho nên bậc nào cũng lo tu-hành là điều cần nhứt."

 

 

NGỌC CÁC


E: Rich and noble family.
F: Famille riche et noble..

Ngọc các : gia đình giàu có, quyền quý.

Tiên Cô Thất-Nương Vương Thị Lễ chính danh là Nữ Tiên ở Diêu-Trì-Cung, còn có giả danh là Đoàn Ngọc Quế, cho thi:

Nỗi niềm tâm sự tỏ cùng ai?
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào dè phủi nợ xuống tuyền-đài.

 

 

NGỌC CẦU LAM

Ngọc cầu Lam là cái chày bằng ngọc để giã thuốc mà Bùi Hàng dùng làm sính lễ cưới nàng Vân Anh ở tại cầu Lam (Lam kiều) theo điển tích sau đây:

Bùi Hàng, người đời Đường, đi thi hỏng, trở về nhà. Trên đường đi, Bùi Hàng gặp nàng Vân Kiều tặng bài thơ:

Một chén quỳnh tương dễ cảm tình,
Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh.
Lam kiều là chốn Thần Tiên đấy,
Len lỏi làm chi đất ngọc kinh.

Ý của Vân Kiều là khuyên Bùi Hàng không nên len lỏi vào chốn quan trường ở kinh đô, mà nên đến Lam kiều (cầu Lam) là chốn Thần Tiên, dùng chày ngọc giã thuốc thì gặp được nàng Tiên Vân Anh. Bùi Hàng đọc thơ xong thì lòng nghi hoặc, nhưng cũng thuê ngựa đi đến Lam kiều thử coi thế nào. Khi đến đấy thì Bùi Hàng cảm thấy khát nước lắm, phải dừng ngựa lại, rồi vào nhà của một Bà Lão ở bên đường để xin nước uống. Bà Lão biểu cháu gái là Vân Anh bưng nước ra. Bùi Hàng nhìn thấy Vân Anh tuyệt đẹp thì nhớ lại bài thơ của Vân Kiều, liền ngỏ ý cầu hôn. Bà Lão nói: Trước đây, Tiên có cho Lão một thứ thuốc, bảo rằng phải có cái chày bằng ngọc, giã thuốc đủ 100 ngày thì uống được trường thọ. Lão định hễ ai hỏi cưới Vân Anh thì phải có cái chày ngọc làm sính lễ thì Lão mới gả, còn vàng bạc thì Lão đây không cần. Bùi Hàng xin Bà Lão chờ để chàng lên đường đi tìm chày ngọc. Chàng may mắn tìm mua được chày ngọc, liền đem về Lam kiều dâng lên Bà Lão.

Bà Lão nói: Có được chày ngoc rồi thì ở đây giã thuốc cho Lão đủ 100 ngày mới được thành thân cùng Vân Anh.

Bùi Hàng làm y lời. Thuốc giã xong, Bà Lão uống ngay, rồi tổ chức đám cưới cho Bùi Hàng và Vân Anh.

Bà Đoàn viết Nữ Trung Tùng Phận có câu:

Lỡ lối cũ động đào lạc bước,
Khó cầm duyên đợi ngọc cầu Lam,
Thân Tiên dầu lỡ gót phàm,
Gương xưa lỗi ráp, ai cầm làm chi?

 

 

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ

Trong ba phái: Thái, Thượng, Ngọc thì mỗi phái sẽ điều hành ba Viện theo đúng Thánh ngôn dưới đây của Đức Lý Giáo-Tông (Ngọc đây là Ngọc Chánh Phối Sư Chưởng quản)

THÁI : Hộ, Lương, Công ngoại chủ trương
THƯỢNG: Học, Y, Nông chấp phương cương
NGỌC: Hòa, Lại, Lễ quyền cai quản,
Cửu Viện phân qua khả khán tường.

Bài Thánh ngôn trên có nghĩa như sau:

- Phái Thái coi ba viện: Hộ viện, Lương viện, Công viện, coi sóc, (đốc suất) bên ngoài.

- Phái Thượng coi ba viện: Học viện, Y viện, Nông viện, đảm trách phương pháp làm cho Đạo mạnh thêm.

- Phái Ngọc coi ba viện: Hòa viện, Lại viện, Lễ viện. Đây là quyền cai quản của phái Ngọc.

Chín Viện phân qua cho xem, phải biết rõ, một cách tường tận.

 

 

NGỌC CHƯỞNG PHÁP Thái Lão Sư Trần Văn Thụ

Thái Lão Sư Trần Văn Thụ - Chánh vị (1857-1927)

 

 

 

Ngài Trần Văn Thụ sanh năm Ðinh Tỵ (1857) tại làng Ðức Hưng, tổng Dương Hòa Hạ, tỉnh Gia Ðịnh. Thuở nhỏ Ngài học chữ Nho, lớn lên làm nghề dạy học. Năm Ðinh Mùi (1907) Ngài đến chùa Vĩnh Nguyên Tự tại làng Long An, quận Cần Giuộc, thọ giáo với Thái Lão Sư Lê Ðạo Long, thế danh là Lê Văn Tiểng (1843-1913) để học Ðạo Minh Sư. Ngài được Sư phụ Lê Ðạo Long thâu nhận và ban cho pháp danh là Trần Ðạo Minh. Ngài là đệ tử lớn nhứt trong các đệ tử của Thái Lão Sư Lê Ðạo Long nơi Vĩnh Nguyên Tự. Ðến năm Bính Dần (1926), tức là sau khi Thái Lão Sư Lê Ðạo Long liễu đạo 12 năm, Thái Lão Sư giáng cơ cho biết là Ngài đã đắc quả Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn, và khuyên các đệ tử nay tùng giáo theo Ðức Cao Ðài Ngọc Ðế. Các đệ tử vâng theo lời Ngài và do đó, Vĩnh Nguyên Tự trở thành cơ quan của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ thuở đầu tiên và sau nầy trở thành Thánh Thất của Ðạo Cao Ðài gọi là Thánh Thất Vĩnh Nguyên Tự.

Ngài Trần Ðạo Minh lúc đó đã tu lên đến bực Thái Lão Sư và con trai Ngài Lê Ðạo Long là Lê Văn Lịch tu tới bực Dẫn Ân, đạo hiệu Lê Xương Tịnh, cùng các đệ tử khác tại Vĩnh Nguyên Tự, đều vâng lịnh Ðức Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn, tùng giáo Ðấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

Ngài Trần Văn Thụ (pháp danh Trần Ðạo Minh) được Ðức Chí Tôn giáng cơ ân phong là: Nho Tông Chưởng Giáo Tuyên Ðạo Thiền Sư Ðại Ðức Ðại Hòa Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Ngọc, trong đàn cơ tại Vĩnh Nguyên Tự đêm mùng 10-9-Bính Dần (dl: 16-10-1926). Kể từ khi Ngài Trần Văn Thụ thọ phong Ngọc Chưởng Pháp, Ngài vâng lịnh Ðức Chí Tôn, cùng với các vị Chức sắc Thiên phong khác lo đi hành đạo, phổ độ nhơn sanh. Khi làm lễ Khai Ðạo tại Thánh Thất tạm ở Chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh), ngày 15-10-Bính Dần (1926) thì Ngài Ngọc Chưởng Pháp thường xuyên hành đạo tại đó, để cùng quí Chức sắc cao cấp khác soạn thảo Tân Luật theo lịnh dạy của Ðức Chí Tôn. Qua năm sau, tức là năm Ðinh Mão (1927) Ngài Ngọc Chưởng Pháp lâm bịnh, Ngài trở về nhà an dưỡng tại làng Trường Bình, quận Cần Giuộc. Sau đó Ngài đăng Tiên vào ngày 14-5-Ðinh Mão (dl: 13-6-1927), hưởng thọ 71 tuổi. Tất cả các Ngài: Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh, Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh, Phối Sư Thái Ca Thanh, cùng nhiều Chức sắc khác đến thọ tang và phúng điếu. Bởi cơ Ðạo còn sơ khai, đang tạm ở Từ Lâm Tự, nên gia đình Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đưa linh cữu của Ngài an táng nơi quê nhà ở làng Thới Hiệp, cạnh ngôi chùa cũ của Ngài, nay là Ấp 1 Xã Hiệp Phước, quận Nhà Bè. Năm Bính Tý (1996) Ban Cai Quản Thánh Thất Vĩnh Nguyên Tự đã lấy cốt của Ngài Ngọc Chưởng Pháp đem cải táng về đất phía sau Vĩnh Nguyên Tự, nằm cạnh ngôi mộ của Ngài Thái Lão Sư Lê Ðạo Long. Di ảnh của Ngài Ngọc Chưởng Pháp được thờ nơi Hậu Ðiện Vĩnh Nguyên Tự, cùng với di ảnh của Ðức Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn và của Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt. Ðức Ngọc Chưởng Pháp thường giáng cơ dạy đạo tại Vĩnh Nguyên Tự, xưng hiệu là: Thiết Quang Chơn Nhơn. Trong quyển sách ÐẠO NGUYÊN CHÁNH NGHĨA do Vĩnh Nguyên Tự in năm 1939, có in hình Ðức Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ, đề là: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Minh Thiết Quang Chơn Nhơn, Ngọc Chiếu, với hai câu liễn đặt ở hai bên ảnh là:

- CHƯỞNG khai Nho phái Tam Kỳ Ðạo,
- PHÁP hóa Thiền Tông Tứ giáo truyền

 

 

NGỌC CHƯỞNG PHÁP Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang

Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang (1870-1946)

 

 

 

(Đây là trường hợp đặc biệt) Ngài Trần Ðạo Quang, thế danh là Trần Văn Quang (có tài liệu chép là Trần Thanh Nhàn) sanh ngày 10-11-Canh Ngọ (dl: 31-12-1870) tại Ban Dầy, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Ngài là con trai duy nhứt của ông Trần Chí Hiếu và bà Dương Mỹ Hậu. Hai ông bà làm nghề nông và tu theo đạo Minh Sư, tông Phổ Tế. Ngài có lòng mộ đạo từ nhỏ. Năm 12 tuổi, Ngài noi theo cha mẹ, tu theo đạo Minh Sư. Năm 16 tuổi, Ngài bắt đầu ăn chay trường. Thái Lão Sư Trần Ðạo Cửu nhận làm thầy đứng ra khai thị cho Ngài. Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia tu hành, bắt đầu tu Nhứt Thừa: Nhứt bộ rồi Nhị bộ và Tam bộ, sau tiến lên tu Nhị Thừa qua bốn bậc: Thiên Ân, Chứng Ân, Dẫn Ân, Bảo Ân; rồi Ngài tiếp tục tu lên Tam Thừa, qua hai bậc: Ðảnh Hàng, lấy đạo hiệu Trần Vận Quang. Thập Ðịa là Thái Lão Sư: lấy đạo hiệu là Trần Ðạo Quang. Năm nầy Ngài được 45 tuổi.

Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang được sự tín nhiệm của 12 vị Lão Sư Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam, nên Ngài về trụ trì chùa Linh Quang Tự là Tổ đình của Tông Phổ Tế ở Việt Nam..Tổ Sư của Tông Phổ Tế đạo Minh Sư bên Tàu là Thái Lão Sư Trần Ðạo Khánh dự định phong cho Ngài Trần Ðạo Quang làm "Việt Nam Ðệ Nhứt Tổ" của Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

Trong lúc đó thì Lão Sư Nguyễn Văn Tương và Nguyễn Văn Kinh đã được Ðức Chí Tôn độ theo Ðạo Cao Ðài, nên hai Ngài xin lập đàn cơ tại Linh Quang Tự để Ðức Chí Tôn độ Ngài Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang luôn, Ngài Trần Ðạo Quang được Ðức Chí Tôn độ nên bằng lòng qui hiệp vào Ðạo Cao Ðài.

Khi Ngài Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương đăng Tiên tại làng Hữu Ðạo quận Cai Lậy thì hơn một tháng sau, Ðức Chí Tôn phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Quyền Thượng Chưởng Pháp ngày 12-12-Bính Dần (dl: 15-1-1927). (Theo Ðạo Sử của Bà NÐS Hương Hiếu Q.2 trang 172 và 192)

Phải chăng vì Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương qui Thiên sớm, nên phải phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Quyền Thượng Chưởng Pháp để dâng Luật lên cho có đủ số chăng? Rồi sau đó mới ân phong Ngọc Chưởng Pháp. Khi Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên ngày 14-5-Ðinh Mão, thì sau đó ít lâu, Ðức Chí Tôn ân phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Ngọc Chưởng Pháp chánh vị. Nhưng Ngài vẫn xuất ra lập Chi phái. Ấy là từ trong cơ Ðạo phân chia ra làm Chi phái. Thế nên nói đây cũng là trường hợp đặc biệt là vậy.

Năm 1931 Phối Sư Thái Ca Thanh rút khỏi Tòa Thánh Tây Ninh về Mỹ Tho lập phái Minh Chơn Lý, Ngài Ngọc Chưởng Pháp hợp tác với Minh Chơn Lý, sau đó thấy ông Ca và ông Phùng sửa đổi hết cách thờ phượng, nên Ngài rút khỏi Minh Chơn Lý, xuống Bạc Liêu hợp với ông Cao Triều Phát mở ra phái Minh Chơn Ðạo năm 1935. Năm 1937, Ngài Ngọc Chưởng-Pháp ra hành đạo ở Ðà Nẵng. Lúc đi ra Trung, Ngài Ngọc Chưởng Pháp không có giấy thuế thân, nên Ngài lấy giấy thuế thân của người trong làng tên là Hà Văn Thuần để xin làm căn cước thì mới được phép ra Trung. Cho nên khi hành đạo ở Ðà Nẵng Ngài lấy tên là Hà Văn Thuần. Ngài ủng hộ bổn đạo nơi đây xây dựng được Thánh Thất Trung Thành, để làm cơ sở hoạt động của Cơ Quan Truyền Giáo Trung Việt.

Ngày 17-2-Bính Tuất (dl: 20-3-1946), Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang qui thiên tại chùa Linh Quang Tự ở Gò Vấp, Gia Ðịnh, hưởng thọ 77 tuổi. Thi hài của Ngài được an táng tại nghĩa trang Minh Sư gần Linh Quang Tự. Sau nầy, do nhu cầu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhứt, Linh Quang Tự và nghĩa trang đều bị giải tỏa, bổn đạo cải táng Ngài về phần đất ở phía sau Thánh-Tịnh Minh Kiến Ðài vào ngày 15-8-Kỷ Mùi (1956) thuộc xã Thông Tây Hội, thuộc quận Gò Vấp.

 

 

NGỌC CUNG


E: Palace of Immortals.
F: Palais des Immortels.

Ngọc: Thứ đá quí có màu rất đẹp, là vua của loài đá, chỉ sự quí báu, cao quí. Cung: cung điện. Ngọc cung là cung điện bằng ngọc, chỉ cõi Tiên, nơi ở của các vị Tiên.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Trước có căn duyên ở Ngọc cung.

 

 

NGỌC ÐẦU SƯ NGỌC LỊCH NGUYỆT (Lê Văn Lịch)

Thế danh Lê Văn Lịch (1890-1947)

 

 

 

Ngọc Lịch Nguyệt là Thánh danh của Ngài Lê Văn Lịch, khi Đức Chí Tôn phong Ngài làm Đầu Sư phái Ngọc. Ngài Ngọc Lịch Nguyệt, cùng được Thiên phong một lượt với Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, trong cuộc Thiên phong đầu tiên tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, vào đêm 12-3-Bính Dần (dl: 23-4-1926). Đạo hiệu là Thạch Ẩn Tử, sanh ngày mùng 1 tháng 9 năm Canh Dần (dl: 14-10-1890) tại làng Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Thân sinh của Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng, tu theo Đạo Minh Sư đến bực Thái Lão Sư, hiệu Lê Đạo Long, là người sáng lập ngôi chùa Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc. Cụ Tiểng tu đắc đạo, sau khi qui liễu, đắc quả Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn. Cụ có lời di chúc: "Lập Vĩnh Nguyên Tự để sau nầy có Thập Nhị Khai Thiên đến mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ."

Thân mẫu của Ngài Lê Văn Lịch là Cụ Bà Trần Thị Đắc. Ở đây có sự liên hệ gia đình với Ngài Trần Văn Thụ (Ngọc Chưởng Pháp). Con gái của Ngài Trần Văn Thụ là Trần Thị Khá được gả cho Ngài Lê Văn Lịch. Ông Bà Lê Văn Lịch sinh hạ một người con gái là Cô Lê Ngọc Trang, Đạo hiệu là Bạch Tuyết.

Ngài Lê Văn Lịch thọ nhận từ phụ thân bí thuật huyền môn của Đạo Lão (Tiên giáo) và Y thuật. Sau khi nhập môn vào Đạo Cao Đài, Ngài không dùng bí thuật huyền môn nữa, chỉ truyền lại cho con gái Lê Ngọc Trang về Y học cổ truyền.

Đầu năm Bính Dần 1926, quí Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc được lịnh Cơ Bút dạy xuống Vĩnh Nguyên Tự lập đàn cầu cơ, Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn (Cụ Lê Văn Tiểng, đạo hiệu Lê Đạo Long, thân sinh của Ngài Lịch) giáng cơ dạy Ngài Lịch, lúc bấy giờ đã tu tới bực Dẫn Ân (Minh Đường), phải hiệp với quí Ngài Cư, Tắc để mở Đạo Cao Đài. Trong thời gian nầy, Ngài Đốc phủ Nguyễn Ngọc Tương đang làm Chủ quận Cần Giuộc đã gia nhập Đạo Cao Đài, nên cũng khuyên Ngài Lê Văn Lịch nhập môn vào Đạo. Đêm 12-3-Bính Dần (dl: 23-4-1926) Ngài Lê Văn Lịch được Đức Chí Tôn giáng cơ ân phong Ngọc Đầu Sư, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt, cùng một lượt với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, trong cuộc Lễ Thiên phong đầu tiên tổ chức tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn. Trong Thánh ngôn, Đức Chí Tôn có giáng cơ dạy Ngài Ngọc Lịch Nguyệt như sau:

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I.14: "CAO ĐÀI. Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa? Tam Kỳ Phổ Độ là gì? Là phổ độ lần thứ ba. Sao gọi là phổ độ? Phổ Độ nghĩa là gì? - Phổ là bày ra, độ là cứu chúng sanh. Muốn trọn hai chữ Phổ độ, phải làm thế nào? Chúng sanh là gì? -Chúng sanh là toàn cả nhơn loại, chớ không phải là lựa chọn một phần người, như ý phàm các con tính rối. Muốn trọn hai chữ Phổ độ, phải làm thế nào? Thầy hỏi? -Phải bày bửu pháp chớ không đặng giấu nữa. Con phải luyện lại cho thành, nội trong tháng năm nầy về theo Trung đi truyền đạo. Nghe và tuân theo. Phải mặc y phục như Trung, mà màu hồng."

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 2) "Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Đài Đại Bồ Tát. Nhữ tri hồ?

Hữu Ngã đồ Thái Đầu Sư tại thử, nhĩ vô thức luyện đạo, Ngã phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp.Tam thập tứ vị chúng sơn bất tri Chơn lý luyện thành. Ngã vi Chủ khảo giáo hóa. Khả tuân Ngã mạng. Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai!"

Diễn nôm: Thích Ca Như Lai là Thầy (Ta), muốn cứu chúng sanh, mượn danh Cao Đài Đại Bồ Tát. Con biết không? Có học trò của Thầy là Thái Đầu Sư tại đây, nó không biết luyện đạo. Thầy phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp. 34 vị tăng không biết Chơn lý luyện thành. Thầy là Chủ khảo giáo hóa. Khá tuân lịnh Thầy. Các con tu thọ pháp, tu thọ pháp. Kính vậy thay!

Những ngày đầu Khai Đạo, Ngài Ngọc Lịch Nguyệt đóng vai trò quan trọng không kém Ngài Thượng Trung Nhựt. Ngài được lịnh Đức Chí Tôn sưu tập 3 bài Kinh Tam giáo trong Kinh Tam Thánh Đại Động để làm Kinh của Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Ngài cùng với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt phụng soạn và ban hành quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH", trong đó các bài Kinh Nhựt Tụng của Đạo Cao Đài được viết bằng chữ Nho, chữ Nôm và chữ quốc ngữ, cùng là giải thích ý nghĩa tổng quát của mỗi câu kinh, có phần phụ thêm giải về Nghi tiết phụng thờ của Đạo Cao Đài, in và ban hành vào năm Mậu Thìn (1928).

Khi hai Ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang rút khỏi Tòa Thánh Tây Ninh lập Ban Chỉnh Đạo ở Bến Tre, thì Ngài Ngọc Lịch Nguyệt cũng rời Tòa Thánh, trở về Vĩnh Nguyên Tự tu hành theo lối "độc thiện kỳ thân".

Năm 1943, trong công cuộc nhà cầm quyền Pháp khủng bố Đạo Cao Đài, Ngài bị họ bắt đày đi Côn Đảo, đến năm 1945 Ngài mới được trả tự do trở về. Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt bị sát hại trong cuộc chiến chống Pháp xâm lược của phong trào Việt Minh, Ngài qui thiên tại Chợ Lớn ngày 2-9-Đinh Hợi (dl: 15-10-1947) thọ 58 tuổi. Mộ của Ngài đặt tại phần đất phía sau Vĩnh Nguyên Tự, gần mộ của thân phụ Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng. Ngài Ngọc Lịch Nguyệt thỉnh thoảng có giáng cơ tại đàn cơ ở Vĩnh Nguyên Tự. Ngày 7-1-Ất Tỵ (1965), Ngài Ngọc Lịch Nguyệt giáng cơ, xin trích lục ra sau đây:

                        THI:
NGỌC chiếu khai xuân đã vẹn tròn,
LỊCH trình quí giá đáng vàng son.
NGUYỆT lai sẽ rõ cơ mầu nhiệm,
Mừng thấy đệ huynh chí chẳng mòn.
Hỡi chư Hiền đệ, Hiền muội!

                        THI
Bần Đạo thấy khắp trong huynh đệ,
Gối đã dùn, chẳng nệ mỏi xương.
Bạc màu tóc đã điểm sương,
Mà không nệ nhọc trên đường quả công.

Thiệt quí giá phúc hồng hiếm có,
Bước dặm trường đi đó đi đây.
Phổ thông giáo lý Đạo Thầy,
Thiêng liêng nương đó giải bày thiệt hơn.

Dầu nóng bức chẳng sờn cực nhọc,
Dẫu ngày đêm lăn lóc phụng hành.
Hiệp hòa lớn nhỏ em anh,
Rày đây mai đó chẳng canh cải lời.

Bần Đạo thấy nghĩ thôi quá tiếc!
Mảnh thân phàm bị diệt tiêu tan.
Lấy đâu làm một con thoàn,
Để cùng huynh đệ một đàng thi đua.

Còn ở tục dễ thừa hành đạo,
Nương cõi đời giả, tạo cái Chân.
Có nhiều phương tiện xa gần,
Để mà khuyến thiện dìu nhân trở về.

Như Bần Đạo lỡ bề thoát tục,
Cõi vô hình mấy lúc tiếc thương.
Tùng chung Tiên Phật một đường,
Muốn dìu sanh chúng phải nương cơ huyền.

Vì lẽ đó lời khuyên hơn thiệt,
Để đệ huynh nghiệm biết gần xa.
Ráng mà khắc kỷ xông pha,
Ráng mà giữ tánh để ra giúp đời.

Đừng bê trễ than ôi uổng bấy!
Đời mỏi mòn chẳng phải còn xa.
Trước tiên gìn giữ chữ HÒA,
Tuy rằng số ít mà ra muôn phần.

Đến chùa, Thất, rửa lần tội lỗi,
Nghe kệ kinh tắm gội linh hồn.
Mau chân mà tiến bước dồn,
Quả đầy công đủ bảo tồn nguyên căn.

                        THI
Căn lành gìn giữ chớ buông lơi,
Dù mấy năm qua cũng một đời.
Mải miết mặc, ăn cùng chỗ ở,
Hơi tàn vạn sự thảy buông trôi.

Nguơn linh Ngài là Dương Tiễn

Là một trong Thất Thánh, đời Phong Thần. Dương Tiễn rất tài giỏi, có nhiều mưu lạ và có nhiều phép biến hóa không lường. Trước khi khởi sự Chinh Đông, đánh Ngũ quan, diệt vua Trụ, Dương Tiễn lạy thầy là Ngọc Đảnh Chơn Nhơn, hỏi việc chinh chiến sắp tới thế nào. Ngọc Đảnh Chơn Nhơn đáp:

- Ngươi khác với người ta xa lắm.

Nói rồi ngâm rằng:

Tập luyện huyền công, ai sánh kịp,
Tung hoành thế giới, bực nào hơn.

Dương Tiễn nhờ có Thất thập nhị Huyền công (72 phép biến hóa), nên đã giúp Tử Nha rất đắc lực, tạo nhiều kỳ công.

 

 

NGỌC ĐẾ

Ngọc Đế là nói tắt của từ "Ngọc Hoàng Thượng Đế"

Mỗi lần khai Đạo, Đức Ngọc Đế đều lấy Thánh danh riêng, như đời Châu Sơ, Ngài giáng thế bên Trung Hoa lập Đạo Tiên, thì lấy Thánh danh là Lão Tử, qua lối Trung Châu (giữa đời nhà Châu), Ngài giáng sanh bên Ấn Độ, lập thành Đạo Phật, Ngài lại lấy Thánh danh là Thích Ca Mâu Ni Phật. Đời Hớn, giáng sanh lập Đạo Thánh, Ngài lại lấy Thánh danh là Jésus. Ngài phổ độ lần nầy là lần thứ ba bên Á Đông, nên gọi là Tam Kỳ Phổ Độ. Ngày nay, tùy theo thời thế, Ngài không giáng sanh như hai lần trước, chỉ dùng huyền diệu Tiên Bút mà truyền Đạo, Ngài lại lấy Thánh danh là CAO ĐÀI. Vả lại, Cao Đài là Thánh danh tắt, chớ toàn danh là: "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát".

-Cao Đài là Đài Cao, chỉ về chỗ cao thượng của Đạo Nho;
-Tiên Ông là chỉ về Đạo Tiên,
-Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ về Đạo Phật.

Thánh danh ấy gồm đủ Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt. Tuy vẫn gọi Thánh danh là Lão Tử, Thích Ca, Jésus, Cao Đài, chớ cũng một Chơn linh của Đức Thượng Đế".

Muốn nhập môn vào Đạo Cao Đài phải lập Minh thệ:

Họ gì? Tên gì? "Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao-Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn-đệ, gìn luật lệ Cao-Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru địa lục" (36 chữ).

Thầy có giáng Cơ cho Thi:

Hảo Nam bang! Hảo Nam bang!
Tiểu quốc tảo khai Hội Niết bàn.
Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
Hảo phùng NGỌC ĐẾ ngự trần gian!

 

 

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ (1)

E: Jade Emperor.
F: Empéreur de Jade.

Xưa gọi là Ông Trời, là Ngọc Đế… Nay "Ðức Ngọc Hoàng Thượng-Ðế vì đức háo sanh, không nỡ ngồi xem nhơn sanh sa vào nơi tội lỗi nên dụng Huyền-diệu Tiên-Thiên giáng cơ giáo Ðạo". Ngài giáng Cơ dạy rằng:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

Thiên đàng nhứt thế biến Lôi Âm
Tận độ nhơn sanh thoát tục phàm,
Chánh giáo phát khai thiên thế mỹ,
Thâu hồi hiệp nhứt Đạo kỳ Tam.
                        (Cao Đài Thượng Đế)

Các Ngài không thông suốt được bài thi nên thỉnh Đấng AĂÂ xin giải nghĩa, được giải như vầy:

Ngọc Hoàng Thượng Đế là Trời, viết là dạy rằng:

- Cao Đài chỉ Nho giáo,
- Tiên ông chỉ Đạo giáo,
- Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ Thích giáo,
Giáo đạo Nam Phương là dạy Đạo ở phương Nam.

Nghĩa là Ông Trời giáng trần qui Tam giáo Nho, Thích, Đạo, dạy Đạo ở phương Nam".

Theo Ðạo Sử, Ðức Chí Tôn đến với nhóm Xây bàn (gồm ba Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang) vào hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1925) với danh xưng là AĂÂ. Khi dạy Đạo cho ba ông thì Ðức Chí Tôn xưng là Thầy và gọi các ông là Môn đệ. Vì lời cam kết nên ba ông không dám tìm hiểu Ðấng AĂÂ là ai, chỉ biết đó là một Ðấng Đại Tiên, có quyền uy rất lớn nơi cõi vô hình. Mãi đến đêm Noel, 24 rạng 25 tháng 12 năm 1925, Ðấng AĂÂ mới giáng cơ cho bài Thánh giáo sau đây và cho biết Ngài là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, nay gọi là Ðấng "Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha-Tát " Ngài giáng cơ dạy Đạo ở nước Việt Nam:

Muôn kiếp có TA nắm Chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

Ðêm nay, 24 Décembre, phải vui mầng vì là ngày của TA xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây (Europe). TA rất vui lòng mà đặng thấy Đệ-tử kính mến TA như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn TA. (Nhà của M. C...) Giờ ngày gần đến, đợi lịnh nơi TA. TA sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến TA hơn nữa".

Chú giải:

Décembre (tiếng Pháp): Tháng 12 dương lịch.

Europe (tiếng Pháp): là Châu Âu.

Thái Tây (Thái là thịnh vượng. Thái Tây là các siêu cường ở phương Tây) các nước Châu Âu gồm: Anh, Pháp, Ý, Ðức, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha....M. C...: viết tắt Monsieur Cư: Ông Cư (Cao Quỳnh Cư). Nhà của Ông Cư lúc đó ở 134 đường Bourdais Sài Gòn. Vậy đêm 24 tháng 12 là đêm giáng sinh của Ðức Chúa Jésus Christ ở nước Do Thái. Ngài là con một của Ðấng Thượng Ðế, thay mặt Thượng Ðế giáng trần mở đạo Thiên Chúa ở nước Do Thái và truyền bá qua các nước Âu Châu. Từ xưa đến giờ, nhân loại thường gọi là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, nay trong nguơn hội Tam-Kỳ Phổ Độ này Ngài xưng là "Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát", dạy Đạo tại miền Nam Việt Nam. Ngài giáng Cơ ban cho bài thi khoán thủ: "Ngọc Hoàng Giáng Thế Giáo Đạo Nam Phương"

NGỌC ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,
HOÀNG Thiên bất phụ chí anh hào.
GÍANG ban phúc hạnh nhơn đồng lạc,
THẾ tạo lương phương thế cộng giao.
GÍAO hóa nhơn sanh cầu triết lý,
ÐẠO truyền thiên hạ ái đồng bào.
NAM nhơn tỉnh cảm sanh cao khí,
PHƯƠNG tiện tu tâm kế diệt lao.

Bài thi trên được viết ra chữ Hán sau đây:








便

Giải Nghĩa:

- Ngọc thường ẩn trong đá núi, ngọc ấy tự nó có giá trị cao,
- Trời không phụ ý chí của người anh hùng hào kiệt.
- Giáng trần để ban hạnh phúc cho loài người cùng vui vẻ.
- Ðời tạo phương hay, Đạo đời giao hòa cùng chung với nhau.
- Giáo hóa nhơn sanh cầu cái triết lý cao siêu của Ðạo,
- Ðem Ðạo truyền cho dân chúng biết thương yêu đồng bào.
- Người Việt Nam tỉnh ra cảm ứng sanh chí khí cao thượng.
- Phương tiện tu tâm là kế tiêu diệt các nỗi khổ đau

Đây là bài thơ vừa khoán thủ, khoán tâm, khoán vỹ, tức là một thể thơ Đường luật, Thất ngôn bát cú mà Đức Thượng Đế đã đặt sẵn trước những câu xưng danh Ngài, như:

- Ngọc Hoàng Thượng Đế Giáo Đạo Nam-phương.
- Cao Đài Giáo Chủ hoằng hóa Ngũ Châu
- Thượng nguơn Thánh Đức nhơn loại hòa hiệp

Ngọc linh Cao vọi Thượng tầng không
Hoàng diệu Đài linh Nguơn hội thông
Thượng phụ Giáo truyền Thánh tử học
Đế Thiên Chủ tọa Đức thuần phong
Giáo Tông Hoằng pháp Nhân nhân thọ
Đạo chánh Hóa hoằng Loại loại thông
Nam Việt Ngũ Châu Hòa quốc Đạo
Phương phương Châu bộ Hiệp chung đồng

 

_______________________________

 

Có một hôm Đức Giáo chủ kể lại một câu chuyện cầu Cơ trong thời kỳ mới mở Đạo với vẻ thích thú: Lúc mới mở Đạo, Đức Chí-Tôn sai chia ra bốn cặp Cơ đi khắp Lục tỉnh để giáng dạy cho nhơn sanh thì "Moa" và Cao Thượng Phẩm tại Đàn Cần Giuộc. Khi đó có một người cầm một phong thơ đem đốt bỏ trong lư hương trầm, lúc lửa còn đang bốc cháy phừng phừng, thì tự nhiên Cơ chuyển và biểu "Moa" viết liền một bài thơ như vầy:

T. Nghe dạy:

Ngọc Hoàng giáng thế tạm xưng Ông,
Khen trẻ biết thương đến giống giòng.
Bởi mên mùi thơm nên cá chậu,
Vì ganh tiếng gáy bị chim lồng.
Người nay tham sống không tham Đức,
Phật muốn sửa Đời trước sửa lòng.
Ngày nào làm đặng Châu Thuấn Đế,
Lật bàn tay trắng dễ như không!.

Thật ra thì khi đó có một nhà thơ đang viết cho tờ "Phụ Nữ Tân Văn" đưa ra bài thi để vấn thử xem có thật linh thiêng hay không.! Nếu không, thì ông sẽ cho phá tan ngay các đàn Cơ mà ông nghi ngờ cho là trò mị dân. Bài thơ như vầy:

Thi vấn:

Mấy lời thành thật hỏi cùng Ông,
Linh hiển sao không cứu giống giòng?
Trăm họ đã toan thân cá chậu,
Muôn dân đồ thán phận chim lồng.
Thấy mòi diệt chủng càng đau dạ.
Ngắm cảnh tang thương bắt chạnh lòng.
Nỗi nước tình dân là thế ấy,
Ngồi mà đạo đức có yên không?

Nếu không có huyền diệu của Chí-Tôn ban cho thì Đạo Cao-Đài không bao giờ mở đặng.

 

 

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ (2) (Kinh)

Đây là bài Kinh xưng tụng Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, là một trong những bài Kinh tụng đọc trong Tứ thời nhựt tụng. Kinh này chì tụng đọc nơi Đền-Thánh hay Thánh Thất mà thôi. Phân biệt là vì còn có Điện Thờ Phật Mẫu thì đọc bài "Phật Mẫu Chơn Kinh" và các bài khác.

1-

"Ðại La Thiên Ðế, Thái Cực Thánh Hoàng"

Giải:

 

Vua Trời trên cõi Ðại la,
Vốn ngôi Thái cực ngự tòa Tiên Thiên.

Vì Thượng Ðế đức cao, rộng lớn minh mông như giềng lưới lớn, bao trùm cả võ trụ, là một đấng Thánh Hoàng trước ngôi Thái Cực. Trong khi Trời Ðất chưa chia đến khi Trời Ðất an ngôi rồi có nhơn loại, thì vị Thiên Ðế hóa nuôi những kẻ chúng sanh, Ngài lại phú cho mỗi người đều có tánh hư linh bất muội là: Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

2-

"Hóa dục quần sanh, Thống ngự vạn vật"

Giải:

 

Sanh thành người vật vô biên,
Thống trị muôn loài mọi việc cầm tay.

Tóm trị cả muôn vật, hóa nuôi những kẻ chúng sanh.

3-

"Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết,
Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh"

Giải:

 

Cửa Huỳnh Kim chạm vàng lộng lẫy,
Thành Bạch Ngọc cẩn ngọc nguy nga.

Trên ngôi Thiên Cung có cửa Huỳnh Kim Khuyết sơn phết những vàng ròng, cao lớn mù mù diệu vợi. Thành Thánh Hoàng cẩn những ngọc trắng trong, vòi vọi cao lớn. Hai chỗ ấy là nơi Vì Thiên Ðế thường ngự.

4-

"Nhược thiệt, nhược hư,
"Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa"

Giải:

 

Có đầy như thể trống không,
Mặc dầu không động nhưng mà đức cao.

Hình Trời xem như dày đặc thì lại như trống không, lặng lẽ không tiếng nói chi hết mà hóa ra rộng lớn. Sách Luận ngữ có câu: "Thiên hà ngôn tai, tứ thì hành diên, vạn vật sanh diên". Trời đâu có nói mà bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông vẫn xây xuống cùng, muôn vật đều sanh hóa. Trong Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo của Hội Thánh ấn hành năm Ất Mão 1975 thì là Bất ngôn nhi mạc tuyên đại hóa.

5-

"Thị không, thị sắc, Vô vi nhi dịch sử quần linh"

Giải:

 

Không như có, có như không,
Không thấy bày làm nhưng khiến Thần linh.

Hình Trời xem thiệt trống không mà trong không lại hóa sắc, sắc lại hóa không. Không làm mà sai các vị Thần linh phải đến tuân mạng, ấy là vô vi, trong sách Luận Ngữ có câu "Vô vi nhi trị"

6-

"Thời thừa lục long, Du hành bất tức"

Giải:

 

Vua Trời ngự cỡi sáu rồng,
Huyền huyền diệu diệu ngao du không ngừng.

Hằng cỡi sáu rồng đi giáp vòng Trời không hề nghỉ. Chữ Lục Long ấy trong kinh có câu "Thừa Lục Long dĩ ngự Thiên". Sáu Rồng ấy quẻ Càn sáu Rồng đều thuộc Dương, như:

 

 

 

- Hào Sơ Cửu là Tiềm Long,

- Hào Cửu Nhị là Hiện Long,

-Hào Cửu Tam là Tịch dương Long,

- Hào Cửu Tứ là Huyền Long,

- Hào Cửu Ngũ là Phi Long,

- Hào Thượng Cửu là Càn Long. Ðạo Trời biến hóa huyền diệu, vận đi giáp vòng trời chẳng ngừng.

1- Hào Sơ Cửu: Rồng còn lặn chưa hành động việc gì.
2- Hào Cửu Nhị: Rồng ở ruộng hợp với vì Ðại Nhơn.
3- Hào Cửu Tam: Mặc dầu ở ruộng rồng mong vẫy vùng.
4- Hào Cửu Tứ: Rồng nhảy lên khỏi vực.
5- Hào Cửu Ngũ: Rồng bay lên trời.
6- Hào Thượng Cửu: Rồng mạnh mẽ cứng cát, bay xa tít.

7-

"Khí phân Tứ Tượng, Oát truyền (*2) vô biên"

Giải:

 

Ngôi Vô Cực phân chia Tứ Tượng,
Lại vận hành nhựt nguyệt vô biên.

Một khí Thái Cực sanh Lưỡng Nghi (Âm Dương), Lưỡng Nghi sanh ra Thiếu Âm, Thiếu Dương; Ðông, Tây, Nam, Bắc rộng truyền xây vần khôn cùng.

(*2) Trong Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo của Hội Thánh ấn hành năm Ất Mão 1975 thì là Hoát triền vô biên.

8-

"Càn kiện cao minh, Vạn loại thiện ác tất kiến"

Giải:

 

Ngôi Càn cứng mạnh sáng cao,
Muôn loài lành dữ sáng soi tỏ tường

Ngôi Càn cứng mạnh, sáng soi tội muôn loài lành dữ đều thấy

9-

"Huyền phạm quảng đại,
"Nhứt toán họa phước lập phân".

Giải:

 

Phạm vi diệu diệu huyền huyền,
Lành dữ định tội phước ban từ tằng.

Một phép huyền diệu rộng lớn, dữ lành họa phước một toán chia trừ, tăng giảm rành rẽ không sai mảy tóc.

10-

"Thượng chưởng Tam thập lục Thiên,
"Tam Thiên Thế Giới" (*3)

Giải:

 

Trên soi ba sáu (36) cung Trời,
Ba ngàn thế giới cũng cầm trong tay.

Trên thì Chưởng quản ba mươi sáu vì Thiên Can và ba ngàn Thế Giới: Ðại Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, Tiểu Thiên Thế Giới. Ba mươi sáu Thiên Can là ba mươi sáu cõi Thiên Tào ấy là căn bản thiên nhiên, mỗi cõi có một vị Tinh Quân chưởng quản. Ba ngàn Thế Giới là cõi Thiên Tiên một ngàn, cõi Ðịa Tiên một ngàn, cõi Nhơn Tiên một ngàn.(3) Còn về chi tiết thì xin xem bộ Kinh Thiên Cung du ký thì rõ.

(*3) Trong Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo của Hội Thánh ấn hành năm Ất Mão 1975 thì là Tam Thiên Thế Giái.

11-

"Hạ ốc Thất thập nhị Ðịa, Tứ Ðại Bộ Châu"

Giải:

 

Dưới cai quản bảy hai (72) từng đất,
Lại xem luôn bốn hướng lớn lao.

Ðấng Tạo Hóa, dưới thế Ngài tóm nắm bảy mươi hai ngôi Ðịa Sát và bốn Bộ Châu lớn trong cõi trần hoàn thế giới. Bảy mươi hai ngôi Ðịa Sát ấy mỗi ngôi có một vị Tinh Quân chưởng quản. Bảy mươi hai ngôi Ðịa Sát cũng tùng mạng lịnh nơi Bắc Ðẩu mà thi hành theo bổn phận trong Càn Khôn Võ Trụ. Và bốn Bộ Châu lớn kể sau đây: Ðông, Tây, Nam, Bắc: Ðông là Ðông Thắng Thần Châu, Tây là Tây Ngưu Hạ Châu, Nam là Nam Thiệm Bộ Châu, Bắc là Bắc Cù Lưu Châu, ấy là Tứ Ðại Bộ Châu.

12-

"Tiên Thiên Hậu Thiên, Tịnh dục Ðại Từ Phụ"

Giải:

 

Chủ Trời trước, chủ Trời sau,
Do luật động tịnh mang ơn cha lành.

Ngôi Tiên Thiên là trước đời Hồng Hoang, ngôi Hậu Thiên khi Trời Ðất đã định rồi. Vì Thiên Ðế là Cha cả trong Càn Khôn Thế Giới hay thương muôn vật.(4) Chữ Tịnh dục trong sách Trung Dung có câu "Vạn vật tịnh dục, nhi bất tương hại", muôn vật đều sanh nuôi mà không giết hại.

13-

-"Kim ngưỡng cổ ngưỡng, Phổ Tế Tổng Pháp Tông"

Giải:

 

Xưa nay một dạ tín thành,
Qui hồi các pháp nhơn sanh về lành.

Ðời nay tín ngưỡng, đời xưa tín ngưỡng, tin tưởng chắc có vì Thượng Ðế tóm thâu hết cả pháp tông, là rộng đức háo sanh mà tế độ cả chúng sanh.

14-

"Nãi Nhựt, Nguyệt, Tinh. Thần chi quân,
"Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ"

Giải:

 

Cha Trời sanh Tam Quang Tam Bửu,
Hiệp Ngũ Chi thống nhứt Ðạo mầu.

Vì Thiên Ðế là chúa của mặt Nhựt, mặt Nguyệt, Sao, Tinh thần và là Chủ tể các vì Thánh, Thần, Tiên, Phật vậy.

15-

"Trạm tịch chơn Ðạo, Khôi mịch tôn nghiêm"

Giải:

 

Ðạo Trời mịt mịt cao sâu,
Ngôi Thầy, Cha dạy con về nẻo chơn.

Mở nền Chơn Ðạo rộng lớn minh mông là vì Ðấng Tôn Nghiêm là Cha cả.(5) Trong sách Lễ có nói: Hễ mình gọi Cha mình thì xưng là Nghiêm Quân còn xưng cha của người thì gọi là Tôn Nghiêm.

16-

"Biến hóa vô cùng, Lũ truyền Bửu Kinh dĩ giác thế"

Giải:

 

Chơn thần Thầy hóa muôn muôn,
Lại truyền kinh báu quí hơn ngọc ngà.

Ðạo Trời biến hóa vô cùng hằng dùng pháp tá phàm và giáng linh cơ truyền bá Kinh Cáo để thức tỉnh người đời giấc mê muội.

17-

"Linh oai mạc trắc, Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh"

Giải:

 

Chuông giác ngộ giọng kêu huyền diệu,
Giáo dẫn đời hữu ích quần sanh.