CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần N

 

NA

Na Sầm

Napoléon (Nã Phá Luân)

 

NẠI

Nại Hà kiều

 

NÀI

Nài Cầu

 

NAM

Nam Ai - Nam Xuân

Nam Âm

Nam Bán Cầu

Nam Bắc Cực

Nam Bắc Phân Kỳ

Nam Bắc Tông

Nam Bắc Triều

Nam Băng Dương

Nam Bình

Nam Bình Vương Phật

Nam Bộ

Nam Châm

Nam Châu

Nam Chiếu

Nam Cực

Nam Chủ Nữ Thứ

Nam Diện

Nam Dương

Nam Đại Lục

Nam Đảnh

Nam Đầu Sư Đường

Nam Giao

Nam Nhi

Nam Nữ Thọ Thọ Bất Thân

Nam Phần

Nam Phong Thử Nhựt Biến Nhơn Phong

Nam Tả - Nữ Hữu

Nam Tào - Bắc Đẩu

Nam Tông Thiền

Nam Thanh Nữ Tú

Nam Uyên

 

NAN

Nan

 

NẠN

Nạn Nguy

 

NẠP

Nạp Dụng

 

NAO

Nao Nư

 

NÁO

Náo Loạn

Náo Động Thiên Cung

Náo Nhiệt

 

NÁU

Náu Nương

 

NẶC

Nặc Danh

 

NĂM

Năm Âm

Năm Bước Khổ

Năm Cây Nhang

Năm Châu

Năm Địa Cầu Có Nhân Loại Ở

Năm Điều Cấm Cơ Bút

Năm Giới

Năm Hằng

Năm Loại Mắt

Năm Lực

Năm Rồng

Năm Sắc Dân

Năm Sắc Hoa Tươi

Năm Yếu Tố Của Vần Quốc Ngữ

 

NẮM

Nắm Máy Huyền Vi

Nắm Phan

Nắm Tâm

 

NĂNG

Năng Cứu

Năng Cứu Khổ Ách Nghiệt Chướng

Năng Lai Năng Khứ

Năng Lực

Năng Tri

Năng Trừ Ma Chướng Quỉ Tai

 

NẮNG

Nắng Lửa Mưa Dầu

Nắng Quáng Đèn Lòa

 

NÂU

Nâu Sồng

 

NẤU

Nấu Kinh Sử

 

NÉM

Ném Thử Giáng Ma Đóng Cửu Tuyền

 

NẺO

Nẻo Hạnh

Nẻo Phiền

Nẻo Thánh

 

Nê Hoàn Cung

 

NỀ

Nề Nếp

 

NÊN

Nên Thì Để, Hư Thì Bỏ

 

NỀN

Nền Đạo Đức

 

NÊU

Nêu Danh

 

NI

Ni Kim Cô

 

NIÊM

Niêm Luật

 

NIỀM

Niềm Son Sắt

 

NIỆM

Niệm

Niệm Danh Thầy

Niệm Hương

Niệm Hương Chú

Niệm Nam Mô

Niệm Phật

 

NIÊN

Niên Cao Kỷ Trưởng

 

NIẾT

Niết Bàn

Niết Bàn Qua Tinh Thần Cao Đài Giáo

 

NÍP

Níp Tử Xe Châu

 

NO

Noln Dinh

 

NON

Non Kỳ

Non Nam

Non Thần

 

Nô Lệ

 

NỘ

Nộ

Nộ Khí

Nộ Khí Xung Thiên

 

NỐI

Nối Tông Tổ

 

NỘI

Nội Giáo Vô Vi, Ngoại Giáo Công Truyền

Nội Loạn

Nội Luật

Nội Ô - Ngoại Ô

 

NỒI

Nồi Da Xáo Thịt

 

NÔNG

Nông Canh

Nông Trang

Nông Viện

 

NỢ

Nợ Ba Sinh

Nợ Tiền Khiên

 

NƠI

Nơi Lòng Thầy Ngự Động Thầy Hay

 

NÚI

Núi Bà Ðen

Núi Ô-Li-Vê

Núi Tu Di

 

NUÔI

Nuôi Nấng

 

NUỐT

Nuốt Đắng Trêu Cay

 

NỮ

Nữ Anh Tài

Nữ Đầu Sư

Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Nữ Đầu Sư Đường

Nữ Ðồng Nhi

Nữ Kiệt

Nữ Nhi

Nữ Phách

Nữ Phái

Nữ Phái Vốn Của Lý Gíao Tông Lập Thành

Nữ Phật Tông

Nữ Phối Sư Hương Nhiều

Nữ Sĩ

Nữ Tâm

Nữ Tu

 

NỬA

Nửa Chừng Xuân

 

NƯỚC

Nước Âm Dương

Nước Âu Lạc

Nước Biến Gia Vong

Nước Cam Lồ

Nước Lóng Phèn

Nước Lỗ

Nước Ma Ha

Nước Nam

Nước Nguồn Cây Cội

Nước Nhành Dương

Nước Thánh

Nước Trí Với Non Nhân

Nước Văn Lang

 

NƯƠNG

Nương (Dương Văn Nương)

Nương Náu

Nương Theo Con Dại

Nương Thuyền Bát Nhã

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 27-07-2017

 

 

 

NA-SẦM

Đêm 12 tháng 10 năm Nhâm Thìn ( 1952 )

Tại Bửu Tháp Đức Quyền Giáo Tông, Đức Hộ Pháp đến dự cuộc thi Văn Đàn, Đức Ngài dạy bói trong tờ nhật báo xem trúng chữ gì. Ông Cao Tiếp Đạo chỉ ngón tay, nhằm chỗ Pháp và Việt Minh đánh nhau tại Na Sầm nên lấy đó làm đề tài ( trích theo đặc san thế đạo 5/70 ).

Lúc nào Ngài cũng sẵn sàng gặp gỡ anh em kháng chiến để tìm phương giúp đỡ cách này hay cách khác vì đó là chí hướng của Ngài. Nhân Lễ Kỷ niệm Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đêm 12-10-Nhâm Thìn (1952), khi nghe báo chí loan tin Việt Minh thắng Pháp ở Na Sầm, sau khi Pháp rút bỏ vùng Cao Bắc Lạng, Đức Hộ Pháp có ra đầu đề "Giải bày trận đánh Na Sầm" cho nhiều Chức Sắc Cao Đài mỗi người làm một bài thơ. Bài thơ Đức Hộ Pháp như:

NA-SẦM chưa phải trọn sơn hà
Khí tiết anh hùng giống Việt ta
Chước quỉ hỏi ai gây khói lửa?
Mưu thần nào kẻ dẹp can qua!
Tinh trung phục quốc đương tranh đấu
Chánh nghĩa hưng bang khó giải hoà
Thử nghĩ hoàn đồ là nghiệp cả
Vì đâu chia xẻ đặng làm ba.

 

 

NAPOLÉON (NÃ-PHÁ-LUÂN) (1769-1921)

 

 

 

Là một vị Hoàng Đế nước Pháp. Ông sinh ra năm 1769. Mất năm 1821. Năm 1794 làm Tướng, xâm lược Ý-đại-Lợi, phá Áo-đại lợi, chiếm Ai-cập, uy vọng ngày càng lớn. Đến nắm 1799 về nước tổ chức chánh phủ mới. Năm 1804 xưng đế, sau đánh thua nước Anh, bị đày ra đảo Thánh Hê-len (Le Saint-Hélène)Đức Hộ-Pháp nói: "Nã Phá-Luân đã được cơ hội làm nên

nghiệp đế, hồi buổi đó làm cho cả toàn dân Âu Châu, các nước chư hầu đều cúi đầu hết thảy, đến chừng chết, chết trong

Đức Hộ-Pháp nói: "Nã Phá-Luân đã được cơ hội làm nên nghiệp đế, hồi buổi đó làm cho cả toàn dân Âu Châu, các nước chư hầu đều cúi đầu hết thảy, đến chừng chết, chết trong ngục Le Saint Hélène.

 

 

NẠI HÀ KIỀU

Nại hà là làm sao được (Que faire)? Một sự lo lắng, phân vân trước một việc khó giải quyết. Là câu hỏi?

Nại hà là tên một con sông. Tục truyền Đỗng Quang chết, hồn đến một con sông rộng không rộng, nước chảy về hướng Tây Nam, tục gọi là sông Nại hà (trên sông có bắc cầu nên gọi là Nại Hà kiều). Tuy vậy mà hồn qua đó không dễ, vì nếu không đủ thiêng liêng vị thì nửa chừng bị lọt xuống sông, vì cầu rất yếu, tội hồn qua không được. Nguồn nước này phát xuất từ Địa phủ chảy ra, Quang nhìn thấy toàn là huyết, mùi tanh hôi xông lên, không chịu nỗi. Theo thuyết nhà Phật con người sau khi lìa khỏi cõi đời, thể xác bị vùi sâu trong lòng đất lạnh, hồn chịu vất vưởng đi qua cầu Nai hà, sang bên kia bờ có hai lối rẻ: một về Âm phủ, nơi đây là Địa ngục dành cho những ai ở trần gian quá gian ác, bất nhân, bất nghĩa, còn một đường thênh thang dành cho những hồn vô tội, thăng đến cõi cao hơn.

Theo Đạo Cao Đài Nại hà kiều còn gọi là Cầu hại hà, tức là một con sông trên cảnh Thiêng liêng hằng sống. Khi một Chơn hồn thoát xác, muốn qua những cảnh giới cao siêu hơn, trước phải qua một cây cầu. Nhưng cây cầu này bắc qua sông lớn, dáng mong manh khó qua vô cùng, nếu hồn không tội-lỗi thì qua được nhẹ nhàng. Còn hồn nhiều tội lỗi thì dẫu đi được đến nửa cầu cũng bị lọt xuống sông và nhiều nguy hiểm kế tiếp xảy ra. Do vậy mà khi hồn đứng trước sự hiểm nguy mới có lời tự thở than.

Kinh Sám Hối có câu:

"Cầu Nại hà bắc giăng sông lớn,
"Tội nhơn qua óc rởn dùn mình.
"Hụt chơn ván lại gập ghình,
"Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây."

 

 

NÀI CẦU

Nài: năn nỉ, xin xỏ. Cầu: Cầu khẩn, van xin. Nài cầu: van xin cho bằng được mới thôi.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nên trò đạo đức dễ gì đâu,
Vui chẳng vui sầu chẳng dám sầu.
Cái khổ của đời mình ước vọng,
Cái chê của chúng lại nài cầu.

 

 

NAM AI - NAM XUÂN

- 南春
E: Melancholic piece of ancient music.
F: Un air mélancolique de musique ancien.

Nam ai là tên một bản nhạc Cổ Việt Nam, các cung bậc theo một giọng sầu thảm bi ai, nghe ra buồn áo não vô cùng. Phần lớn những bài Kinh cúng tế đều có ghi ở dưới đề bài Kinh là "giọng Nam ai" để đồng nhi biết mà đọc cho đúng giọng hòa với đàn, như: Kinh tụng khi vua thăng hà. Kinh tụng cho Thầy khi qui vị. Kinh cầu Tổ phụ đã qui liễu. Kinh tụng cha mẹ đã qui liễu. Kinh cầu bà con thân bằng cố hữu đã qui liễu… Trái với giọng Nam ai là "giọng Nam Xuân".

 

 

NAM ÂM

Nam âm là Âm nhạc của phương Nam

 

 

NAM BÁN CẦU (Địa)


F: Hémisphère austral)

Phần nửa địa cầu từ xích đạo trở về Nam

 

 

NAM BẮC CỰC (Địa)


F: pôle Nord et pôle Sud)

Hai đầu cực Nam, cực Bắc của địa cầu

 

 

NAM BẮC PHÂN KỲ

Nam Bắc là chỉ hai đầu đối xứng nhau, xa nhau lắm; phân kỳ là chia rẻ. Cả câu này ý nói là Nam bắc chia đường, kẻ ngược người xuôi.

 

 

NAM BẮC TÔNG (Phật)

Cũng nói là Nam Bắc Tông: Trong Thiền Tông của Phật giáo, từ Ngũ Tổ về sau chia ra hai phái: Nam Tông do Lục Tổ sáng lập, Bắc Tông do Thần Tú sáng lập.

 

 

NAM BẮC TRIỀU (Sử)

Là triều phương Nam và triều phương Bắc. Sau đời Đông Tấn, Trung quốc chia ra Nam triều và Bắc triều. Cuối đời Lê, Việt-Nam chia ra Nam triều (Lê) và Bắc triều (Mạc). Trong hồi Trịnh Nguyễn phân tranh: về phần họ Trịnh từ Hoành sơn trở về Bắc gọi là Bắc triều, về phần họ Nguyễn từ Hoành Sơn trở về Nam gọi là Nam Triều.

 

 

NAM BĂNG DƯƠNG (Địa)


F: Océan antarctique.

Đại dương ở gần Nam Cực, vì quá lạnh nên cả năm nước đóng thành băng.

 

 

NAM BÌNH

Tên một bài Nhạc của ta, theo giọng chậm rải, buồn rầu.

 

 

NAM BÌNH VƯƠNG PHẬT

王佛

Nam Bình Vương Phật là ai?

Nơi Điện Thờ Phật Mẫu tại Địa Linh Động có thờ Nam Bình Phật Tổ hay Nam Bình Vương Phật cũng là Ngài. Nhơn chuyến đi Đài Loan của Đức Hộ Pháp có đem về hai tượng ảnh Nam Bình Vương Phật, dạy nơi Đền Thờ Địa Linh Động, thờ phía ngoài ngôi thờ ngó vào Chánh Điện Phật Mẫu, cũng như ở Đền Thánh có hình Hộ Pháp ngự trên Ngai ngó vào Bát Quái Đài vậy. Đây là việc làm của Phật Hộ Pháp, nào ai hiểu được… mà luận thuyết thế nầy thế nọ…Duy chỉ biết rằng: Khi Đức Hộ Pháp cầm hai tấm Tượng Phật xuống Trí Giác Cung Địa Linh Động, xổ thẳng xuống mà bảo rằng: "Đây là Nam Bình Vương Phật, thờ ở đây là Phật Việt Nam, vì Ngài có công khai Đạo…". Còn lại một tấm giao cho vị Đầu Phòng Trần Thái Lang để thờ tại Hộ Pháp Tịnh Đường Địa Linh Động…

Trong tượng hình có hai hàng chữ:

1-

Hữu tế hóa nhân hữu tế hóa vật.

2-

Thì vị kỳ trấn tả hữu ngã Phật. Phật kỳ hữu linh kháng hương bái khất.

Nghĩa là

Đức Nam Bình Vương Phật là Đấng Phật huyền linh thường lo tế độ loài người và loài vật.

Nếu thành tâm nguyện cầu sẽ được linh ứng.

Để hiểu rõ cách thờ Nam Bình Phật Tổ, theo lời phê của Đức Hộ Pháp giải đáp tờ thỉnh giáo của Thợ Hồ về hình tượng Nam Bình Vương Phật. Đức Ngài nói: "Chừng nào có Đền Thờ Phật Mẫu chính thức, thì Thầy cho biết không gì lạ! Đền Thánh tượng trưng Bạch Ngọc Kinh tại thế, có hình Hộ Pháp mặc Thiên Phục Khôi Giáp, thì nơi Đền Thờ Phật Mẫu tượng trưng cho Lôi Âm Tự, lẽ dĩ nhiên đắp hình của Ngài, nhưng không mặc Thiên Phục, chỉ mặc áo Cà Sa nhà Phật mà thôi. Nơi Trí Giác Cung Qui Thiện nầy, Thầy có dạy thờ Nam Bình Vương Phật trong Đền Thờ Phật Mẫu, cũng như hồi ban sơ Phật Mẫu giáng cơ tại Thánh Thất Khổ Hiền Trang, Ngài cho biết nơi đây là "Phước Địa Ngộ Tòng Hoa, Lục ức dư niên vũ trụ hòa" (Đất Phú Mỹ 600.000 năm, kém Thánh Địa Tây Ninh 100.000 năm". Đức Phật Mẫu dạy tạm lập Nhà Thờ Phật Mẫu tại Thảo Đường và cho biết sau nầy Tổ Đình Tòa Thánh hoàn thành rồi mới khởi tạo Đền Thờ Phật Mẫu lớn lao cũng như Đền Thánh vậy. Nhưng nạn vay trả quả nghiệp tiền khiên của dân tộc Việt Nam chưa dứt, khiến nạn biến cố mãi đến nên không tạo đặng Đền Thờ nơi Thảo Đường Khổ Hiền Trang (Mỹ Tho).Hiện giờ đây, Thầy có dành 4 mẫu đất (4 Ha) trước cửa Hòa Viện Tòa Thánh để tạo Đền Thờ (Xóm Tà Mun cũ). Nhưng lòng từ bi của Phật Mẫu thấy con cái của Ngài đang chịu loạn lạc đồ khổ và trong cửa Đạo con cái của Ngài cùng Hội Thánh chưa thống nhất, nên Ngài dạy tạm thờ Ngài nơi Báo Ân Từ là Nhà Thờ công nghiệp của con cái Ngài đặng thấy lòng thương yêu của Mẹ cưng con đáo để dường nào… Chừng nào cả con cái Phật Mẫu xúm nhau sùng bái để gọi chút "Hiếu để" đền ơn với Đức Mẹ, thì ngày ấy sẽ có Đền Thờ Phật Mẫu chánh thức…"

Vì chiến tranh, khiến cho số người Minh Thiện Đàn về Toà Thánh ở, không còn ở Phú Mỹ được nữa; do đó mà số người nầy hợp nhau cất Đền Thờ Phật Mẫu nơi Địa Linh Động thờ Đức Mẹ thay vì Thảo Đường Khổ Hiền Trang (Mỹ Tho), nên Đức Hộ Pháp gọi danh Đền Thờ Phật Mẫu và cho Cúng Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung hằng năm vào đêm 14, đặng đêm 15 về Đền Thờ Trung Ương dự lễ, Hội Thánh Hiệp-Thiên-Đài cúng Lễ Hội Yến. (Trích từ quyển: Tìm Hiểu Châu Thành Thánh Địa Soạn giả: Thanh Minh)

 

 

NAM BỘ (Sử)


F: Sud-Vietnam.

Nam bộ : Phần phía Nam của nước Việt-nam.

 

 

NAM CHÂM

Nam châm : Vật thể có tính hút sắt, thép. Có hai loại nam châm:

Nam châm đá (aimant asturel),
Nam châm điện ( électro-aimant)

 

 

NAM CHÂU

 Nam Châu là phía Nam của quận Giao Châu .

Theo Việt Sử, vua Triệu Đà đánh được An Dương Vương rồi, sáp nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập thành một nước Nam-Việt,lên ngôi là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung.

Đến đời Hán Vũ Đế nước Trung Quốc, đánh thắng được nhà Triệu, lấy nước Nam Việt, rồi cải ra Giao Chỉ bộ 交趾部 và chia ra làm 9 quận, trong đó có ba quận thuộc Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía bắc Trung Việt, đó là: Giao Chỉ 交趾, Cửu Chân 九真, Nhật Nam 日南.

Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ  là Giao Châu 交州.Vậy,Nam-Châu là phía Nam của Giao Châu.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Bốn ngàn năm quốc gia đã lập,
"Cõi Nam Châu bồi đắp giang sơn."

 

 

NAM CHIẾU (Sử)

Nam Chiếu : Một nước ngày xưa ở phía Tây-bắc quận Giao-chỉ, tức là phía Tây tỉnh Vân-Nam.

 

 

NAM CỰC

Nam cực . Ở hai đầu trục trái đất: về Nam bán cầu gọi là Nam-cực Pôle Sud; về Bắc bán cầu gọi là Bắc cực Pôle Nord.

 

 

NAM CHỦ NỮ THỨ

主女

Phúc-sự số 32 của Cai-Quản Báo-Ân-Đường Bà Đạo Nhơn Võ-Hương-Nhâm, trạng tỏ về việc Lễ Trung Nguơn tại Hội-Thánh Ngoại-giáo và nỗi khó-khăn của Hội-Thánh.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP (Số: 1009/HỘ-PHÁP)

"Tư cho Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài nam-nữ lưỡng phái xem cùng là Hội-Thánh Đường-Nhơn triệt-để thi hành mạng lịnh của Bần-Đạo là: Nữ-phái dầu ngang tước cùng Nam, mà khi hành-quyền Nam là Chủ, Nữ là Thứ, còn Hội-Thánh Đường-Nhơn trong khi chưa đặng quyền tự-do Chức-Sắc hành quyền của mình đảm-nhiệm bằng quyền-hành và đẳng-cấp của Bổn-Quốc thì phải tuân mạng-lịnh của Chủ-Quyền Bổn-Quốc. Ấy vậy Khâm Châu Nữ-Phái Kim-Biên và đại-diện Hội-Thánh Đường Nhơn phải triệt-để tùng quyền của Khâm-Trấn-Đạo nơi đó, nếu còn một phen vi-phạm nữa thì cả hai đều bị truất quyền rút về Toà-Thánh hay là bị thuyên-bổ đi nơi khác. HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) [(ngày 02-10- Giáp Ngọ)]

 

 

NAM DIỆN

Ngày xưa ngôi của vua ngồi đặt trở mặt về hướng Nam, cho nên chữ "Nam diện" tức là ngôi vua. Quan trong triều đến chầu vua, đứng trở mặt về hướng Bắc nên gọi là "Bắc khuyết". Vì khi quan chầu thì đứng quay lưng lại chỗ vua ngồi, đó là một sự ngưỡng vọng ngôi trời (Thượng Đế). Nghĩ ra đó là một cách khiêm cung của nhà vua với Thượng Đế đến vô cùng vậy.

Buổi Cao Đài, Đức Chí-Tôn xưng chính danh và có lời tiên tri:

CAO như Bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng.
ĐÀI tại Nam phương đạo thống truyền.

 

 

NAM DƯƠNG

南 洋
F: Malaisie.

Nam Dương 南洋: Nước gồm có các quần đảo ở phía Nam Thái-Bình-dương nên cũng gọi là Nam-Dương quần đảo.

 

 

NAM ĐẠI LỤC (Địa)

南 大 陸
F: Continent austral.

Nam đại lục 南大陸 (Địa): Đại lục ở miền Nam, gần Nam-cực.

 

 

NAM ĐẢNH

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt giáng cho thi:

Xa thơ biến gảy rời vương thất,
Nam đảnh hầu thay sáng quốc-gia.
Ách nước nạn dân gần muốn mãn,
Hết hồi áp chế tới khi hòa.

 

 

NAM ĐẦU SƯ ĐƯỜNG

Tòa nhà của vị Đầu Sư nam phái làm việc cùng với các ban bộ liên hệ trong việc Đạo-sự.

 

 

NAM GIAO

(Nam là phương Nam; giao là khoảng cách xa đô thành khoảng trăm dặm. Ngày xưa, người ta đắp một cái nền ở phía Nam kinh thành để làm lễ tế trời, nên gọi là "Lễ Nam giao").

Hiện ở Huế còn "Đàn Nam giao". Chỉ có nhà vua mới được tế Trời nơi đàn Nam giao này mà thôi. Làng xã thì tế xã tắc, còn người dân thì tế ông bà tổ phụ của mình. Do đó lòng người dân luôn ngưỡng vọng đến trời đã ban cho mưa thuận gió hòa, nên tự đặt ra một chỗ ở ngoài trời, trong sân nhà để thờ cúng bằng bông trái, nhang đèn, gọi là "Bàn Vọng thiên". Ngày nay, Đức Thượng đế mới cảm lòng hiếu đạo ấy mà ban cho dân Việt Nam một mối Đạo Nhà, chính mỗi nhân sanh được thỉnh Đấng Thượng Đế vào ngự trong nhà của mình mà bái kỉnh hằng ngày. Từ đó những người có Đạo Cao-Đài rồi thì không còn lập "Bàn vọng thiên" ở ngoài trời nữa.

 

 

NAM NHI


E: Men.
F: Hommes.

Nam nhi là chỉ những người trai trẻ. Nam là con trai, đàn ông, theo chữ Hán thì trên là chữ Điền là ruộng, dưới là chữ Lực là sức khỏe; tức nhiên Nam là người đàn ông có sức khỏe để làm ruộng. Bởi dân Á-châu phần đông sống nghề làm ruộng, mà muốn làm ruộng phải có sức khỏe mới đảm đương nỗi công việc nặng nhọc và hầu như trường kỳ gắn bó với con người. Nhi là trai trẻ, thiếu niên. Nói chung là người đàn ông khỏe mạnh. Tuổi trẻ là sức trai đang vươn lên.

Thầy dạy:

Nam nhi ơn nhà cùng nợ nước,
Trung hiếu còn đây, nhớ nghe con!

 

 

NAM NỮ THỌ THỌ BẤT THÂN

(Nam nữ là trai và gái "Nam nữ, âm dương" thọ là nhận, thọ là trao, bất thân là không gần gũi nhau). Theo quan niệm thời xưa thì khi hai người nam nữ muốn trao đổi nhau vật gì phải có mặt người thứ ba, xem như làm chứng cho cuộc gặp gỡ

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng liêng Hằng Sống:

"Có một điều ngộ-nghĩnh là chúng ta ngó thấy Nam hóa Nữ, Nữ hóa Nam không còn hình ảnh nữa, đến bây giờ trong Đài ấy hiện ra hai ánh lửa: Nếu người nào thiếu lòng thương yêu không biết thương mình, không biết thương người, nếu phạm vào luật thương yêu ấy thì dầu Nam cũng phải hóa Nữ. Nữ đã trọn kiếp tu thật-hành nghiêm luật thương yêu đó thì đặng hóa Nam. Có một điều ta nên để ý là không biết lúc nào họ ra cửa, khi họ ra không biết họ ra cửa nào, chúng ta ra chỉ biết mình thôi, không thể gì đoán được mấy người kia, nếu có đoạt phẩm-vị họ chỉ biết lấy họ mà thôi, họ thành Tiên, thành Phật cũng tại đó, khi họ ra Nam hóa Nữ, nếu họ có tội tình gì thì bắt họ phải trở lại đầu kiếp. Dầu cho hình luật định họ phải đầu kiếp, nhưng họ còn quyền duy chủ của họ nữa, không có quyền luật nào buộc họ phải đầu kiếp liền được, họ đặng vô Đài ấy 1.200, 2.400 tới 3.000 năm ở đó an nghỉ vui hứng, ngày giờ nào biết ta có thể đầu kiếp trở lại, đặng chuyển Pháp, đến giáo Đạo, hành Đạo, chừng ấy chúng ta ra khỏi Niết-Bàn đặng đầu kiếp. Ngày ấy chúng ta định cho chúng ta chớ không phải Ngọc-Hư-Cung định cho chúng ta, ta có quyền tự chủ khi đã định nơi cõi Hư-Linh; còn khi mang xác phàm này rồi thì mình không định được nữa. Có nhiều Đấng Thiêng Liêng đến trọn một kiếp sanh mà không làm gì được lại phải đầu kiếp. Ấy vậy chúng ta nên kể trong sử của chúng ta từ thử đến giờ, nhứt là Đạo-Giáo họ để tâm-thần tìm cho nhơn-sanh một thuyết, thuyết không đúng với chơn-lý Thiêng-Liêng chút nào, họ lập thuyết là phân chúng sanh ra Nam Nữ, làm ra khuôn-khổ "Nam Nữ thọ thọ bất thân", cả nền Tôn-Giáo tạo ra Pháp-Giới bất công là Nữ bao giờ cũng chịu thiệt thòi hơn Nam. Đạo vợ chồng ở trên thế gian này chúng ta nên cẩn thận để ngày kia về đến Bát Quái-Đài khỏi thất lỗi với vợ, nếu người vợ đối tròn bổn-phận với mình thì họ được hóa Nam, chừng ấy là người bạn mật thiết với chúng ta; thoảng như chúng ta làm sai với Bạn chúng ta, thì ngày kia Bạn ta trách ta rằng: Tôi xuống trần chung sống với Bạn, những cảnh khổ Bạn không dìu dắt tôi, Bạn còn hân-hủi tôi nữa, câu trách ấy ta phải chịu không thể gì trả lời được. Vì cớ cho nên Phật-Giáo cho Nữ đồng quyền Nam, Bần-Đạo nói quả quyết rằng: Chừng nào chúng ta thấy nơi mặt thế này đoàn em Nữ phái mình biết sợ, kiêng nể Pháp Luật thì nó cũng như Nam vậy. Nếu bạc đãi nó, hủy bỏ nó không dìu-dắt đồng sống nhau, ngày giờ đến Bát-Quái-Đài nó hóa Nam dòm lại nó là người Bạn quí nhứt của mình, cũng chịu đau khổ trọn kiếp sanh, chúng ta tưởng lấy làm đau đớn không giúp được, trái lại còn khi rẻ gớm ghiết. Chúng ta đến sẽ thấy chỗ đó không còn Nam Nữ nữa. Hư-Linh kia quả quyết rằng: Có nhiều bạn Nam ta quen biết, đầu kiếp Nữ tại thế-gian này, không biết là bao nhiêu, nhiều lắm. Có các Đấng cao siêu đến Nguơn Tứ Chuyển này đặng tạo hình các chơn-hồn, họ xuống tại thế đặng chuyển thế, dầu Nam Nữ ở các Cung cũng đến tại thế gian này, làm đàn bà đặng thay các sắc dân ấy, để chuyển thế, chơn thật nơi cõi Hư-Linh kia không phân biệt Nam Nữ, Đức Chí-Tôn nói: Nam không được lấn quyền hành hơn Nữ, Nam Nữ đều con của Đức Chí-Tôn hết, nói như thế ta biết không có gì lạ."

Đức Lý Thái Bạch dạy tại Thánh Thất Tây Ninh (Từ Lâm Tự) Thứ Năm: 02-12-1926 (âl 28-10-Bính Dần)

"Thầy sai Bần Đạo đến sắp đặt trang nghiêm trong Thánh Thất. Bần Đạo phân phép từ ngày nay, hễ nhập Thánh Thất thì phải giữ phép: Nam Nữ bất thân. Nam ở Ðông hiên, Nữ ở Tây hiên. Hai bên không lân cận nhau. Nam theo Nam, Nữ theo Nữ. Cấm cười cợt trững giỡn với nhau. Trừ ra vợ chồng hay là chị em ruột, anh em ruột đặng chuyện vãn nhau nơi Tịnh đàn. Còn kỳ dư, như hai đàng muốn chuyện vãn nhau, phải có hai người chứng, một bên Nam, một bên Nữ. Phòng trù, dầu phải chung lộn với nhau buổi nấu nướng, khi dọn ăn, chẳng đặng lộn xộn cùng nhau, nghe à!..Thơ Thanh, Hiền hữu phải viết luật cấm nầy dán nơi Thánh Thất. Nghe à!"

 

 

NAM PHẦN


F: Sud-Viet Nam.

Là phần đất nằm vào phía Nam của đất nước Việt Nam. Trong thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam thì gọi đây là Nam-kỳ (Nam là phía Nam, kỳ là cắt ra, chặt ra làm ba phần để trị) Rồi cũng còn gọi là Nam bộ, cũng cùng nghĩa với Nam phần vậy.

Đức Thượng Sanh nói: "Do lịnh Ðức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Ðế ba vị Cư, Tắc, Sang lần lượt đắc phong vào Hiệp-Thiên-Đài là Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp, Thượng-Sanh hiệp với chư vị Bảo Văn Pháp-Quân, Bảo-Pháp, Hiến-Pháp, Khai Pháp, Tiếp-Pháp chia nhau đi khắp các Tỉnh Nam-phần để phò loan, thâu người cầu Ðạo nhập môn."

 

 

NAM PHONG THỬ NHỰT BIẾN NHƠN PHONG

Nam phong thử nhựt biến nhơn phong" là gì?

Đức Hộ-Pháp nói: "Chánh văn Nam-Phong nghĩa là phong-tục nhà Nam thử nhựt là ngày nay, biến nhơn phong là thành phong-hóa của con người. Chữ Nhơn ấy Chí-Tôn không nói là nhơn-loại hay nhơn-sanh, chỉ nói là con người, nghĩa là phong-hóa của con người mà thôi, mà muốn nói đến con người tức là nói đến toàn thể nhơn-sanh vậy. Ta sưu-tầm cái câu ấy và xem coi ta có cái gì đáng giá-trị để đem ra cho toàn nhân-loại chăng? Ta đã chán biết rằng nhơn-sanh trên mặt địa cầu này, nguyên-do do sự tương-liên của chồng vợ khởi đoan trước hết; có chồng vợ mới ra gia-đình, gia-đình mới ra hương đảng, hương-đảng mới ra quốc-gia xã hội; mới biến ra toàn thể toàn cầu vạn-quốc. Nguyên-do trọng-yếu là cả sự liên-quan ấy khởi đoan nơi cặp chồng vợ trước hết, mà quan-hệ hơn hết là gia đình. Vì cớ nên Đức Khổng Phu-Tử mới đem triết-lý đặng lập xã-hội nhơn-quần, chung cho đến tương-lai toàn quốc, Ngài dùng phương-pháp của Nho-Tông và lấy chơn tướng của con người là Tu-thân để tạo mình trước đã, tìm-tàng chỗ đáng làm người đã, rồi mới biết đến Tề gia, đó là tìm phương an-nhàn đặng chỉnh-đốn khuôn phép nhà, kế Trị quốc là nâng-đỡ tinh thần quốc-gia, có định quốc-gia được rồi mới do theo khuôn khổ ấy mà Trị, Bình thiên-hạ. Bây giờ chúng ta quan-sát nhơn luân coi thế nào, rồi quan-sát đến triết-lý của Tổ-phụ ta để lại như thế nào mà có được câu quí và có thể "Nam-phong thử nhựt biến nhơn-phong". Đạo nhơn-luân trên mặt địa-cầu này, nhứt là bên Âu-châu ngày nay đã ra thô-bỉ, đó là Đạo nhơn luân đã đi đến trụy-lạc, chồng chẳng phải chồng, vợ chẳng phải vợ, cho đến việc hôn-phối là phép trọng-hệ đem hiệp hai đời sống của Nam và Nữ buộc vào khuôn khổ tạo đoan nhơn-loại thêm nữa, mà đối với khuôn-khổ tương-liên vợ chồng, đầu óc của nhơn-loại tấn-triển trí hóa rất cao rồi sanh tệ; tệ đến mức nói rằng sống tại thế-gian này mỗi người đều có quyền tự-do, lấy cái quyền ấy mà nam nữ định phận cho nhau, nghĩa là tự-do kết-hôn không cần cha mẹ, thế là "buôn đầu chợ bán cuối xóm" không trọn tình với nhau, vì đó mà vợ chồng không bền bĩ. Lại nữa, cha mẹ có trí-hóa hơn, lịch-lãm hơn, biết lựa chọn người rễ phù hạp với tánh-đức của đứa con mà định đôi bạn, cho nên từ trước đến giờ có khi cha mẹ định hôn cho con mà hai kẻ Nam Nữ đó chưa biết nhau, thế mà chẳng hề khi nào sơ-siển, hôn-nhân vẫn thành-tựu. Tuy không biết trước nhau mà kết cấu vợ chồng, giữ Đạo trọn đời không sai là do bởi gương-mẫu gia đình của cha mẹ để lại cho con hiển-nhiên trước mắt. Cả phong-hóa tồi-bại trên mặt địa-cầu này, nhứt là nước Mỹ, hiện giờ ta nhìn thấy sự tồi-phong bại tục ấy không thể tả được. Ví như tại Hollywood là nơi quay phim chớp bóng danh tiếng, dám cả gan ra cái tuồng nam nữ định hôn với nhau trong 24 giờ, đặng chỉ tập có cái hun nhau cho mặn nồng, cho thiên-hạ thấy thiệt, những quái tượng về nhân-luân thấy gớm-ghiết làm sao! Các nước Âu-châu định cho tự-do kết-hôn đặng phỉ chí tương-liên, nên sự phối-hiệp nhơn duyên rất rẻ-rúng: vì lợi, vì danh, chớ không vì yêu-ái, nên ân-tình đã hết là vì đó. Phong hóa gia-đình dường đó, quốc-phong mới thế nào? Sự tồi bại khuôn mẫu đó là hung-tàn bạo-ngược, vì xu-hướng theo vật chất mà không còn mảy mún gì có tánh cách gia-đình. Đã ra mặt xã-hội, sống không tinh-thần xã-hội, cho đến vợ chồng kết cấu cùng nhau cũng như con vật kia thì chỉ có thể tạo sanh ra con vật mà thôi. Vì cớ nên cả hoàn-cầu đều xu-hướng theo duy vật: cha không đáng phận cha, sanh con là vì rủi sanh, vì lỡ mà sanh đó thôi, tức nhiên cha không thương yêu con, con làm sao thương yêu cha được, rồi con đối với cha không hiểu là do căn bản vợ chồng coi nhau không ra gì. Phong-hóa nhà Nam đương nhiên suy đồi, hình như cũng bị bịnh chướng ấy lây rồi. Dòm lại Nam-Phong tốt đẹp biết bao mà bị ảnh hưởng Âu-Châu còn phải thay hình đổi tướng thành ra thô-bỉ như thế ấy, huống lựa là các quốc-gia lạc-hậu không văn-hóa, không thuần-phong.

May thay! Nếu Chí-Tôn đến không kịp thì phong-hóa nhà Nam cũng suy tồi như vạn-quốc vậy. Ngài đến chỉnh-đốn, dùng ái-tình làm căn-bản, mà ái-tình cần yếu là do nơi chồng vợ gây nên. Ái-tình cốt buộc nam nữ tương thân, aí-tình không vì quyền-lợi, dùng ái-tình mà lập nên xã-hội phong-hóa nhà Nam ta cũng do ái-tình mà thành tướng. Một đôi vợ chồng ở với nhau dầu đến trăm tuổi cũng coi nhau như bạn, như khách, biểu sao con cái không đồ theo. Đối với bực cha mẹ mà có tình ái như thế thì tức nhiên con cái cũng bắt chước mà rập theo một khuôn, một mẫu. Phong-hóa trước đây trăm năm, trước khi chưa chịu ảnh-hưởng của Âu-Châu, Bần-Đạo dám chắc rằng phong-hóa của nước Nam đứng đầu các dân tộc. Mặc dầu bị nạn ảnh-hưởng tồi-bại ấy, nhưng ông cha ta vẫn cố thủ nền phong-hóa của mình, nên thiên-hạ gọi là thủ cựu hay là gì gì cũng mặc kệ. Cái Phong-hóa 4.000 năm của tổ-tiên lưu lại đến ngày nay cố giữ lấy cho nguyên-vẹn mà thôi, vì nó là một gia-tài thiêng-liêng vĩ-đại của ta đó. Chí-Tôn đến lấy phong-hóa ấy đặng chỉnh-đốn bắt đầu từ vợ chồng, đến gia-đình, quốc-gia, đến cả địa cầu này. Chúng ta có của báu ấy cho nhơn-loại cần dùng đặng chỉnh-đốn gia-đình của họ, nên Chí-Tôn để câu "Nam-phong thử nhựt biến nhơn-phong" là đúng lý vậy". (Đức Hộ-Pháp thuyết ngày 26-4 Mậu-Tý -1948)

 

 

NAM TẢ - NỮ HỮU


E: Man on the left, woman on the right.
F: Homme à gauche, femme à droit.

Nam: Đàn ông con trai, trái với Nữ. Tả: bên tay trái. Hữu: bên tay mặt.

Nam tả là đàn ông (phái Nam) ở phía tay trái. Nữ hữu là đàn bà (phái Nữ) ở phía tay mặt.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: "Tòa Thánh day mặt về hướng Tây tức là chánh cung Đoài, ấy là Cung Đạo, còn bên tay trái Thầy là cung Càn, bên tay mặt Thầy là cung Khôn. Đáng lẽ Thầy phải để 7 cái ngai của phái Nam bên tay trái Thầy tức bên cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn Đạo cho đủ Ngũ Chi, cho nên Thầy buộc phải để vào Cung Đạo là cung Đoài cho đủ số.

Ấy vậy, cái ngai của Đầu Sư Nữ phái phải để bên cung Khôn tức là bên tay mặt Thầy."

Như vậy, chúng ta thấy: bên tay trái của Đức Chí Tôn dành cho Nam phái (Nam tả) vì bên tả thuộc cung Càn theo Bát Quái Đồ Cao Đài, và bên tay mặt của Đức Chí Tôn dành cho Nữ phái (Nữ hữu) vì bên hữu thuộc cung Khôn theo Bát Quái Đồ Cao Đài.

 

 

NAM TÀO - BẮC ĐẨU

-

(Nam Tào 南曹 là một ngôi sao ở phương Nam, còn gọi là Nam Cực Tinh 南極星. Bắc Đẩu 北斗 là một ngôi sao sáng nằm ở phương Bắc. Sao Bắc Đẩu là một Định tinh nằm trong bảy vì sao, gọi là Thất Tinh 七星). Nam Tào và Bắc Đẩu là hai vì sao nằm trên trục Nam Bắc của địa cầu. Khi địa cầu tự quay hay quay xung quanh mặt trời, hai vì sao này vẫn luôn luôn nằm theo hai hướng Nam Bắc của địa cầu.ấy. Gọi là Nam Cực tinh 南極星 vì nó xác định gần đúng hướng Nam của địa cầu. Rất khó nhìn thấy sao Nam Tào, bởi nó ở rất thấp, nằm gần chơn trời. Muốn tìm sao Nam Tào, phải tìm chùm sao chữ Thập (La Croix du Sud), kéo một đường thẳng tưởng tượng nối dài, nét sổ dài của chữ Thập xuống phía chơn trời, mới gặp một ngôi sao hơi lu một chút, đó là Nam Tào.

Tương truyền: Nam Tào - Bắc Đẩu là hai vị Tiên nắm Bộ sanh và Bộ tử của nhơn loại.

- Nam Tào còn gọi là Nam Cực Tiên Ông coi về bộ sanh. Có câu "Rủi Thiên số Nam Tào đã định"

- Bắc Đẩu Tiên Ông coi về bộ Tử.

Theo Đức Hộ Pháp, nơi Cung Nam Tào- Bắc Đẩu có một quyển sách Thiên Thơ để trước mặt ta, dở ra xem thấy cả tên và kiếp sanh của mình đã làm gì thì trong quyển Thiên Thơ ấy nó hiện tượng ra hết; chúng ta tự xử chúng ta, mình làm Tòa để xử mình, hoặc mình phải đầu kiếp hay là đoạt đến địa vị nào, mình đứng đến mức nào, thì cũng do mình định đoạt lấy.

Vị Chưởng quản nơi Cung ấy theo tiếng phàm đặt tên là Nam Tào - Bắc Đẩu".

Ngài Hiến Pháp nhắc: "Tôi có bổn phận phải nhắc nhở anh chị em toàn Đạo nên thận trọng mỗi hành vi của mình để tránh thất thệ đối với Đức Chí-Tôn cùng các Đấng Thiêng liêng. Tôi cũng xin nhắc lại lời Thánh giáo của Đức Chí-Tôn ngày 12 tháng 6 năm Bính Dần (1926) có câu: Nếu cả thế gian này biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên Đình mà làm cho tiêu tại, tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì là Thiên Đình cầm bộ Nam Tào cũng chẳng ít chi!

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc Ðẩu,
"Kìa im đìm phúc hậu Nam Tào."

 

 

NAM TÔNG THIỀN (Phật Học)

Nam Tông Thiền (C: nánzōng-chán; J: nanshū-zen) Thiền Tông do Lục Tổ Huệ Năng sáng lập sau Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Bắc Tông Thiền được Thần Tú Thiền sư khai sáng nhưng sau vài đời tàn rụi. Vì chia ra hai phái như vậy nên người ta thường gọi "Nam Năng, Bắc Tú" .

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

NAM THANH NỮ TÚ

Nam: Đàn ông con trai, trái với Nữ. Thanh: trong sạch. Nữ: con gái. : đẹp. Nam thanh nữ tú là trai xinh gái đẹp.

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng liêng Hằng Sống:

"Con người ở thế gian này gọi Nam thanh Nữ tú, nhưng Bần-Đạo quả-quyết rằng: thế gian này không có, nếu có thì cũng chẳng đẹp bằng, ở trên đó không người nào không xinh, nơi cảnh ấy không cần gì ăn mặc, họ muốn thì hiện-tượng có. Tỷ như mình muốn cái gì đẹp thì có cái nấy, nhứt là mấy cô nhỏ muốn chi đặng nấy, cái kiếp chúng ta nơi cảnh này là cảnh giả, chúng ta đoạt ý muốn một điều vui hơn nữa là những người thiếu-thốn nơi mặt thế này nếu họ đoạt vị được thì ngày đó họ vui hưởng biết bao nhiêu."

 

 

NAM UYÊN

Nam Uyên 南淵: cái vực ở phương Nam

Thi văn dạy Đạo có câu:

Bất quản hổ tranh thâu Bắc Cực,
Chỉ nguy long đấu đoạt Nam Uyên.

 

 

NAN

Nan : Khó khăn. Thí dụ: Nan đào, nan phân, nan giải.

 

 

NẠN NGUY

Nạn nguy 難危: tai vạ nguy hiểm

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Cả kêu thức tỉnh hỡi ai,
Thành tâm hối ngộ Cao Đài cứu nguy.
Nếu mà dụ dự diên trì,
Phải cam chịu lấy nạn nguy buổi nầy.

 

 

NẠP DỤNG

納 用
F: recueillir et employer.

Nạp dụng 納用: thu dụng.

Pháp Chánh Truyền: "Mừng thay cho nhân-loại chút ít rồi. Hội-Thánh chơn truyền Tân-Pháp đã đạt đặng như phép "Giải oan", phép "khai sanh-môn, Ban kim-quan"…lại còn nhiều Bí-pháp nữa mà Hộ Pháp chưa có lịnh truyền và lại bị chúng sanh và Hội Thánh còn mờ-hồ không nạp dụng. Ngày nay chẳng biết các Đấng Thiêng-liêng là chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại Bát Quái Đài đã…làm cho các Tôn-giáo đã lập thành trên mặt địa-cầu này phải kinh-khủng, sợ sệt. Cười!"

 

 

NAO NƯ

Nao nư: Lo lắng,xốn xang.

Đức Phật Mẫu giáng tại Báo Ân Từ, đêm 15-8-Kỷ Sửu (dl 6-10-1949) nói: "Khi Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo thì Người đã tìm phương giải kiếp, buộc các con hành Đạo phế đời. Thử hỏi các con có tùng pháp y lời Minh Thệ của các con chăng? Lấy thanh tâm đoán xét thì phép Ngũ Lôi đã đúng Thiên điều. Mụ lấy làm xốn xang áo não khi rước mấy đứa qui hồi với tràn trề giọt lụy, vì chúng đã tạo nghiệt, chớ không đoạt quả chút nào hết. Cái đau thảm ly tình của các con nó làm cho nao-nư lòng Mụ".

 

 

NÁO LOẠN

Náo loạn 鬧亂: biến động dữ dội, loạn động, lộn xộn mất trật tự

Đức Phật Mẫu: Báo Ân Từ, đêm 15-8-Kỷ Sửu (dl 6-10-1949). "Mụ lấy làm thậm cảm thành tâm của các con đoái tưởng đến Mụ. Mỗi phen gần gũi là mỗi phen làm cho Mụ phải nhớ đến oan nghiệt kiếp sanh của mỗi đứa. Thế thời vẫn đương cơn náo loạn, Mụ hoài tưởng đến công quả của chủng tộc các con thì buộc phải nhìn rằng mặt công bình thiêng liêng không sai sót. Thử xem lại trong khoảng 200 năm trước, thì tấn tuồng đời của mấy con vẫn y hệt như ngày nay không khác: vay vay trả trả, chẳng mất mảy nào: Tây Sơn cũng Nguyễn, mà Nguyễn cũng Tây Sơn".

Đức Hộ-Pháp nói: Hồi tưởng lại việc đã qua trong các thời xưa, nhứt là thời cận đại và lấy kinh-nghiệm xét đoán, nhận thấy nơi nào hễ sôi-nổi phong-trào náo-loạn lôi cuốn con người vào lối diệt-vong thì cập theo đó sản xuất một mối ĐẠO mới để cứu vớt sanh-linh khỏi nơi đồ thán".

 

 

NÁO ĐỘNG THIÊN CUNG

Thầy nói: Thầy chưa hề biết hành phạt các con bao giờ. Từ khai Thiên Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một ông Cha nhân từ thế quá lẽ làm cho đến đỗi con cái khinh khi, phản nghịch lại cũng như Kim Quan Sứ là A-Tu-La, Thánh giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên Cung. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn-nàn trách cứ Thầy thay!"

 

 

NÁO NHIỆT


F: Trouble, tumulte.

Náo nhiệt 鬧熱: Rộn ràng, ồn ào.

Đức Chí-Tôn nói: "Các con nghe Thầy: Sự biến xảy ra đến nay đã thành một trường ngôn luận, có khi cũng náo nhiệt đến nền Ðạo. Kẻ gọi Tà, người nói Chánh. Nơi Thiên thơ đã có dấu ràng ràng. Các con có đi tranh luận cũng nhọc công vô ích. Kẻ hữu phần, người vô phước, tin tin, không không, cũng chẳng sửa cơ Trời đặng."

 

 

NÁU NƯƠNG

F: Se mettre à l’abri.

Náu nương: Trú ẩn, nương nhờ.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Tròi trọi mình không mới thiệt bần,
Một nhành sen trắng náu nương chân.
Ở nhà mượn đám mây xanh kịt,
Đỡ gót nhờ con hạc trắng ngần,

 

 

NẶC DANH


F: Anonyme.

Nặc danh 匿名: dấu tên

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên phong.

Trong cảnh buồn nầy, có người quen đến viếng thường cũng nên cho là hậu tình đó chút.

Đức Hộ Pháp : - Xin cho biết tên.

- Chẳng cần biết tên mà làm gì, thà để gần gũi nhau hay hơn. Vậy trước khi từ bút, thiếp xin để một bài thi làm của:

THI

Nô-si-lao, tiếng đặt buồn cười,
Mi đã rước ai hỡi hỡi ngươi?
Lượn thảm bổ gành tình ột- ạt,
Gió sầu xô đảnh ái tơi bời.
Yêu phu điểu gọi thương cành sớm,
Giọng ngạn quyên kêu nhớ bụi mơi.
Tổ quốc đon đường bao dặm thẵm,
Đưa xa thăm thẳm một phương trời.

Chú thích:

Nô-si-lao là một địa danh: tên chỗ Đức Hộ Pháp bị lưu đày nơi Hải đảo Madagascar (Phi châu). Nơi đây có loài chim gọi là Yêu phu điểu, tức là loài chim tại Hải Đảo, tiếng kêu của nó như là "trả chí chàng". Cũng gợi nhớ một loại chim quen thuộc gọi là Ngạn quyên tức là chim Đỗ vũ, thường gọi là con chim quốc, vì nó kêu "quốc quốc" để tỏ lòng của người xa xứ, luôn hướng về quốc tổ. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan có câu:

"Nhớ nước đau lòng con "Quốc quốc,
"Thương nhà mỏi miệng cái "Gia gia."

Khi Đức Hộ Pháp muốn biết tổ quốc chừng nào thanh bình an lạc thì xin thưa: Còn xa thăm thẵm vì nghiệt oan của dân tộc Việt Nam quá nhiều, phải vay trả cho hết rồi mới hưởng hồng ân của Đức Chí Tôn được. Người nói: Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên phong. Thiếp vì có mạng lịnh đến đây làm bạn bút nghiên trong lúc chư vị đặng mạng lịnh Chí Tôn cho ngơi nghỉ nơi đây. Chí Tôn than rằng: Chức sắc Thiên phong bên Cửu Trùng Đài thiếu hùng biện văn tài đặng làm tay qui phục sanh chúng. Vì cớ ấy mà triết lý Đạo khó phổ thông cho toàn thiên hạ. Nhưng Chí Tôn nhứt định giao chơn truyền cho mấy vị đây mà thôi. Thiếp xin trích thi văn dìu bước chư vị Thiên phong vào khuôn viên đoạt thành khẩu khí rồi lần lượt dẫn vào mặt luật của Ngô Thường Quân là cháu hai đời của Ngô Tôn Sách, sau tân phong lên làm Phong Hầu, nên gọi là Tấn luật.

Tái cầu:

Chào Thiên Tôn và chư vị Thiên phong. Vì có mạng lịnh nên thiếp xin phép cho thiếp thố lộ đôi điều. Khi Thầy thiếp là Vương Thất Nương có về chầu và dâng sớ cho Đức Chí Tôn tỏ nỗi sự khổ hạnh nhọc nhằn của chư vị nơi đây. Đức Chí Tôn lấy làm đau đớn thương tâm. Nhứt định chính mình Người đến nơi an-ủi. Nhưng Đức Lý Giáo Tông can gián rằng: E nhẹ Thiên nhan, để cho người cam lãnh phận sự ấy. Hại thay! Đôi bên Thiên Chúa và Cao Đài đương khắc đấu nhau nơi Ngọc Hư Cung nhiệt liệt, nên chẳng cho người nơi Thiên Cung đến được. Người mới từ Kim Bàn xuống Âm Quang đặng giao Thầy thiếp giúp sức. May thay, nhờ chư vị thương yêu trìu mến, thầy thiếp mới dạy thiếp đến làm bạn bút nghiên hầu liệu phương an ủi, nên thiếp dạy thi văn, còn về mặt thuyết minh thì để cho Thiên Tôn huấn luyện:

THI

Đã phong trần chịu phong trần,
Có thân âu phải biết thương thân.
Nam xa ví chẳng vì đường khó,
Việt đảnh mong chi đượm lửa mừng.
Nặng gánh giang sơn là Thương Trụ,
Nhẹ đai cung kiếm ấy Thường Quân.
Ngũ hồ tứ hải không lưu lạc,
Mặt địa- cầu Ta vốn định chừng.

Nam xa: tích Ngô Sĩ Liên đi sứ bên Tàu, nhờ Châu Công cho một cỗ xe có để địa bàn chỉ nam, hướng theo đó mà đi về nước. Ôi! Đường đi qua núi xuống đèo, trăm bề khó nhọc, nhờ vậy mà biết con đường bộ từ Nam chí Tàu, mới hành binh đuổi quân Tàu về nước. Sau lấy đặng hoàng triều, lập nên quốc pháp, nên thi sĩ đời sau cho "Nam xa" là việc tối linh mà tối báu.

Việt đảnh: là lư đảnh để thờ Hoàng tộc, ai thâu đặng bá tánh thì bá tánh là con cái của Hoàng tộc, sau lập tổ miếu mà thờ gọi là "Lư hương đảnh Việt".

THI

Hòn đảo nầy đây trước nhốt tù,
Mà nay làm khám khảo thầy tu.
Quả như oan nghiệt vay rồi trả,
Thì lũ Tây man, Nhựt bổn trừ.

Đức Ngài liền nói với quí Chức sắc chung khổ rằng: Chúng ta sẽ về nước một ngày gần đây. Tiếp sau có hai câu Nho:

Vân tróc đằng phong phi yểu yểu,
Triều tri tẩu bá khứ bôn bôn.

Thích nôm:

Cuồn cuộn mây đưa theo lượn gió,
Ồ ào sóng rượt chụp khuôn thuyền.

 

 

NĂM ÂM

F: les cinq sons.

Năm âm: năm thư âm thanh

Đêm thanh vắng lên dây trổi nhịp,
Khải năm âm cho hiệp cùng nhau.
Chớ phân tiếng Thổ tiếng Bào,
Thạch Kim với Mộc hòa vào mới vui.

Dữ Tư Trước trước thêm mùi du thủy,
Cách sơn xuyên hòa mỹ nương nhau.
Xưa kia đều khách Thiên Tào,
Nay đây cảnh tục tranh cao lợi quyền.

Dạo đàn cảm tác của Bà Bát Nương (21-2-1929)

Gượng khải năm âm giải tấm lòng,
Nhắn đưa gió ái đến thu song,
Gióng dây lìa nhạn sầu nghiêng ngửa
Dở ngón rơi loan thảm chập chồng.

 

 

NĂM BƯỚC KHỔ

"Cái khó đời lại còn gây thêm lắm điều tăng khổ, đời càng khó phận càng gay, đời càng hay càng sanh nỗi khó; nếu chúng ta không khảo duợt tận tâm cái vấn đề cơ sanh hóa chúng ta, mà quyết định lấy một chương trình, hầu nương theo mà điều độ cái hành vi thân thể, thì là tránh sao cho khỏi hại bởi lạc lầm, vì vụng trí.

Cái chương trình ấy là những cơ chỉ sanh ra bởi các tư tưởng của cả Tôn giáo đã lập thành nên Đạo. Chữ Đạo là đường đặt ra bởi đó, đặng dìu-dắt nhơn sanh khỏi bước đời gay trở; cốt yếu là lập mục đích, định chuẩn thằng cho kẻ trước hiệp người sau, kẻ kim hòa người cổ, tóm cả trí lự của nhơn loại, đặng làm ngọn Huệ-quang soi rọi khắp nhơn gian, mượn cả sự tội tình sầu thảm của thế mà tạo Bát-nhã-thuyền đặng vớt người nơi khổ hải.

Phật vì thương đời mà tìm cơ Giải khổ.
Tiên vì thương đời mà bày cơ Thoát khổ.
Thánh vì thương đời mà dạy cơ Thọ khổ.
Thần vì thương đời mà lập cơ Thắng khổ.
Hiền vì thương đời mà đạt cơ Tùng khổ.

Chữ "KHỔ" là đề mục của khoa học trường đời, phẩm vị: Hiền, Thần, Thánh, Tiên, Phật là ngôi vị của trang đắc cử." (Pháp Chánh Truyền)

 

 

 

Năm bậc thang là lý Ngũ hành.

Đây là ngay cửa chính đi vào Đền-Thánh. Bất cứ một ai khi bước vào Đền đều phải qua năm bậc thang này, cũng như một Đấng làm người dù muốn dù không cũng phải qua:

Người Môn đệ Chí-Tôn phải làm những gì?

Người có thấu rõ những Thể pháp đã hiện hình Bí pháp thì đây là số 5 chỉ về người biết nhìn vào đó mà sửa đương cho cuộc đời mình có đủ Ngũ đức, đó là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đó vậy. Tuy nhiên trước kia thời Mạnh Tử ông chỉ qui về 4 đức mà thôi, tức nhiên Nhân Nghĩa Lễ Trí. Về sau thì các Thánh mới thêm đức Tín nữa. Bởi Tín là sự tin cậy, tin tưởng nhau, nên dù là Nhân cũng phải có Tín, Nghĩa cũng cần có Tín. Lễ, Trí cũng phải có Tín. Các đức này cần có sự hỗ tương lẫn nhau:

Kinh rằng:

Cang Tam thường Ngũ phải gìn,
Chứa đức làm lành, làm phước, làm doan.

 

 

NĂM CÂY NHANG (NGŨ PHẦN HƯƠNG)

E: Five sticks of incense.
F: Cinq baguettes d’encens.

Chỉ có Đạo Cao Đài khi đốt hương (nhang) trên bàn thờ Thầy hoặc bàn thờ ông bà quá vãng phải tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định. Nhứt là trên Thiên bàn phải đốt đủ năm cây hương.

Ý-nghĩa 5 cây hương: Kinh Nhựt Tụng có dạy: "Khi cúng Thầy phải đốt cho đủ 5 cây hương, cắm hàng trong ba cây gọi là: Án Tam Tài; thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là Tượng Ngũ Khí".

Đức Hộ-Pháp giải: "Năm cây hương tượng Ngũ khí mà biến thành Ngũ-hành vận chuyển cả càn khôn thế-giới tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi chất đều có mỗi sắc, mỗi sắc đều có mỗi khí, mùi vị và sanh quang của nó chúng ta không thể hưởng được, nghe được, nên khi làm Lễ đốt đủ năm cây nhang là đúng theo phép tín ngưỡng là qui pháp lại, mọi vật trong Ngũ Khí dâng lễ cho Chí-Tôn chỉ có Người vui hưởng qui pháp ấy mà thôi, cắt nghĩa rõ-rệt là NGŨ KHÍ đó vậy.

"Đúng hơn nữa là trong Bát hồn vận-chuyển được phải nhờ đến Ngũ-khí cùng một ý-nghĩa "vạn vật đồng thinh niệm Chí-Tôn".

Trong quyển Thiên Đạo của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, có đoạn nói về năm cây nhang như:

"Luận về phép tu tỉnh, năm cây nhang (hương) ấy biểu tượng năm giai đoạn tu hành, tùy theo công đức mà nên đạo quả. Năm cây nhang ấy gọi Ngũ phần hương (ngũ là năm, phần là đốt cháy, Hương là cây nhang)

Giới: là giữ trọn giới cấm cho tâm mình trong sạch. Chúng ta có sợ Luật Luân hồi Quả báo của Trời, chúng ta mới dấn thân vào đường tu niệm. Khi vào đường tu niệm thì phải trọn giữ giới cấm cho tâm được trong sạch (Phật)

Định: Nghĩa là thiền định cho tâm thần an tịnh. Bấy giờ, đã trọn giữ giới cấm rồi, phải học về Thể Pháp và Bí Pháp của Đạo. Chừng ấy, chúng ta mới thiền định cho tâm thần an tịnh được, tức là thuộc về (Pháp).

Huệ: Nghĩa là thiền định rồi phát huệ. Khi đã thiền định rồi thì trở thành người có huệ sáng suốt, ấy là đoạt Pháp, thuộc về (Tăng).

Tri kiến: Nghĩa là phát huệ rồi gia công thêm nữa thì sẽ biết cái lẽ mầu nhiệm của Tạo Hóa, tức là đắc Lục thông. (Tri kiến, nghĩa là biết và thấy). Khi đoạt Pháp rồi, bấy giờ ta thấy rõ qua bên thế giới vô hình và biết được sự mầu nhiệm của Đức Chí Tôn, ấy là chúng ta đã đoạt Đạo.

Giải thoát: là giải thoát Luân hồi Quả báo. Được giải thoát Luân hồi Quả báo tức là đoạt đến phẩm vị Phật.

Tri kiến và Giải thoát, thì đến đây là người đã được trở về với nguyên thủy của người, là "Âm Dương biến tạo Chơn Thần", hay nói "Âm Dương hiệp nhứt phát khởi Càn Khôn sanh sanh hóa hóa, tức là Đạo".

Qua sự huyền linh mầu nhiệm đó, người tín hữu Cao-Đài hằng ngày khi cúng Thầy, đốt đủ năm cây hương là một sự đại nguyện, sự nhiệm mầu vô giá. Nghĩa là: Trên thông Thiên văn, dưới đạt Địa lý, giữa quán nhân sự. Khi mà:

- Ngũ khí điều hòa.
- Ngũ hành an tịnh.

Ngày nay, pháp tu của người Tín-hữu Cao-Đài đã thể hiện tinh thần của Tam giáo cùng một lúc:

* Cao-Đài Tam-giáo qui nguyên Ngũ chi phục nhứt.
* Người giữ trọn Tam Cang Ngũ Thường.
* Hằng ngày Dâng Tam Bửu, Ngũ nguyện.
* Người tu hành gìn Tam Qui Ngũ Giới. Một Thể pháp nữa làm điển hình:

 

 

NĂM CHÂU (Ngũ Châu)


F: les cinq parties du monde.

Năm phần lục địa trên hoàn cầu: Châu Á,Châu Âu,Châu Phi, Châu Đại dương tức châu Úc (bốn châu này ở Đông bán cầu) và châu Mỹ (gồm kể cả Nam, Bắc Mỹ, ở Tây bán cầu)

Thầy dạy: "Bốn con đã mang nơi mình mỗi đứa một trách nhậm chẳng phải nhỏ. Thử nghĩ lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào? Cái hạnh và cái đức của các con nó phải phù hạp với cái trách nhậm mới đặng. Các con là đèn và gương soi của nhơn loại; phải tập mình cho xứng đáng.Các con có đặng hạnh phúc ấy là do học đặng mảy mún nơi Thầy, mà Thầy dạy các con chẳng nghe, Thầy sai các con chẳng tuân. TU THÂN còn chưa xong, thì thế nào mong mỏi thành Tiên Phật đặng?...

Thầy dạy: 20 Février 1926

Nguồn Tiên tầm Ðạo dễ gì đâu?
Quyền phép Càn Khôn một túi thâu.
Thoát xác xưa tầng tu vạn kiếp,
Ðộ hồn nay gội khắp năm châu.

 

 

NĂM ĐỊA CẦU CÓ NHÂN LỌAI Ở

Năm địa-cầu có nhơn-loại: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Đức Hộ-Pháp nói trong "Con đường Thiêng liêng Hằng Sống"

"Mỗi người đều có một phẩm-vị đặc-biệt của mình, mỗi kiếp sanh đều tấn, khi tấn tới có một sở định địa-vị của mình, mỗi một bước là một đẳng-cấp; đẳng-cấp định giai-cấp của mình, giai-cấp không phải giống nhau như ở thế-gian này. Bởi địa-vị không giống nhau, phẩm-vị chỗ nào thì đứng chỗ nấy, không ai xô đuổi không ai giành giựt được, từ chối gì cũng không được, bởi không có danh từ, mà danh-từ dường như để sẵn, bởi có địa-vị sẵn. Đức Chí-Tôn đã nói: "Đại-nghiệp của mỗi đứa Thầy có sắm sẵn cho đó".

Bây giờ nói về tánh-chất tôn-ti của mình, hàng phẩm của mình đã không có, biết lấy chi mà định lấy nó, lấy gia-tộc của mình? Bần-Đạo ngó thấy gia-tộc của các Đấng có mặt tại thế-gian này, thế-giới nghiệt oan của chúng ta, tức nhiên có năm trái địa-cầu có nhơn-loại ở, tức nhiên có tên của kẻ đoạt Đạo được là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Ngoài ra nữa chúng ta ngó thấy:

- Đại gia-đình của Đức Phật Thích-Ca,
- Đại gia-đình của Đức Lão-Tử,
- Đại gia-đình của Đức Khổng-Phu-Tử,
- Đại gia đình của Mahomet,
- Đại gia-đình của Jésus-Christ.

Đại gia-đình vinh-hiển hơn hết là đại gia-đình của Quan-Âm Bồ-Tát, tức nhiên Từ-Hàng-Bồ-Tát, vinh-hiển hơn hết là gia đình ấy.

Ấy vậy gia-đình nào thì có phần trong gia-đình ấy, xây chuyển họ có tương-thân với nhau một cách mật-thiết, như một chơn-linh Kim-Thanh-Quan xuống thế này, có lẽ đầu-kiếp trong gia-đình của Từ-Hàng-Bồ-Tát, hay là của Khổng-Phu Tử, hay là của Mahomet, hay là của Phật Thích-Ca, cho nên các chơn-linh ấy họ đã liên-quan mật thiết; vì lẽ ấy cho nên Càn-Khôn Vũ-Trụ có tên mình, dầu mà chúng ta muốn biết số trái địa-cầu thì chúng ta không thể gì biết được, chỉ có năm trái của chúng ta ở thì chúng ta biết mà thôi, chúng ta không biết cho hết."

Đức Hộ-Pháp nói tiếp rằng: "Chúng ta phải biết các Đấng nhập vào Ngọc-Hư-Cung, tức nhiên các Đẳng Linh-Hồn ấy đã đoạt kiếp được. Có những kẻ đến thế nhập vào pháp-thân mà họ đã tạo căn quả, thì cả Tông-Đường họ khổ não lắm. Bần Đạo nói Tông-Đường Thiêng-Liêng thường ở tại Ngọc-Hư-Cung: - Cao trọng hơn hết là Tông-Đường của Quan-Âm Bồ Tát tức nhiên Từ-Hàng Bồ-Tát.

- Tông-Đường cao trọng thứ nhì là Tông-Đường của Địa-Tạng-Vương-Bồ-Tát,

- Tông-Đường thứ ba là Đức Di-Lạc.

Ba Tông-Đường cao trọng hơn hết, còn nhiều Tông Đường khác nữa. Mỗi người đều có Tông-Đường đặng ngồi ở đây là chờ ta."

 

 

NĂM ĐIỀU CẤM CƠ BÚT

Năm điều cấm Cơ Bút theo Thánh Lịnh Đức Hộ-Pháp:

Điều thứ nhứt: Mỗi người trong bổn Đạo được phép dùng Cơ Bút học hỏi riêng mà thôi, nhưng cấm nhặc truyền bá ra ngoài.

Điều thứ nhì: Sự truyền bá ra ngoài có nghĩa là chép Thánh giáo của người học hỏi riêng rồi phân phát ra cho người khác xem hoặc tuân hành theo.

Điều thứ ba: Những người nào phạm lịnh trên đây (điều thứ nhứt và điều thứ nhì) sẽ bị nghiêm trị như sau:

1- Nếu bài Cơ nào để học hỏi riêng mà truyền bá ra ngoài thì Quân đội và cơ Thánh vệ được phép truy nã người tuyên truyền và đồng tử, giam cả thảy lại cho tới khi có cơ của Hiệp-Thiên-Đài định phân thiệt giả.

2- Nếu giả thì đồng tử và người tuyên truyền sẽ bị giao cho Quân đội tuỳ ý sung vào cơ binh theo lính hoặc Cơ Thánh vệ cho tới ngày nào tiên tri hay huyền linh nói trong Cơ Bút ấy thiệt hiện ra có thật cho đủ lẽ.

Điều thứ tư: bất kỳ Cơ Bút nào mà ra lịnh cầm quyền Hội-Thánh không có mặt đủ Thiên phong Nhị Hữu Hình Đài và nơi Cung Đạo Đền Thánh xuất hiện, thì Hội Thánh liền ra lịnh bắt đồng tử và người tuyên truyền Cơ Bút ấy giam lại rồi đệ nội vụ ra Pháp chánh kết án trục xuất ra khỏi Đạo.

Điều thứ năm: Vị Bảo Thế thơ ký Chánh trị Đạo, chư vị Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, vị Khai Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp-chánh, chư vị quyền Thái Chánh Phối Sư, quyền Thượng Chánh Phối sư, quyền Ngọc Chánh Phối sư, Đạo-Nhơn Chưởng quản Phước Thiện, quyền Tổng tư lịnh Quân Đội Cao Đài chỉ huy Cơ Thánh Vệ, Khâm Thành Thánh Địa, Nữ Chánh Phối sư hành chánh và Nữ Chánh Chưởng quản Nữ phái Phước-Thiện, các tư kỳ phận lãnh thi hành Thánh Lịnh này.

Toà Thánh ngày 22 tháng 2 năm Tân Mão.
(dl: 29-3-1951)
HỘ-PHÁP Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài:
Hiệp-Thiên và Cửu Trùng
Ấn ký.

 

 

NĂM GIỚI

(Xem Ngũ giới cấm. Vần NG.)

Năm giới (S: pañcaśīla; P: pañcasīla) Hán Việt: Ngũ giới 五戒 gồm chung: Nhứt bất sát sanh, Nhì bất du đạo, Tam bất tà dâm, Tứ bất tửu nhục, Ngũ bất vọng ngữ (ấy là Năm giới luật quan trọng, bao gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không say sưa (Riêng nghĩa từng giới: Xem thêm chữ đầu: Nhứt bất. Vần NH...)

 

 

NĂM HẰNG (Ngũ Thường)

E: Five cardinal virtues.
F: Cinq vertus cardinales.

Năm hằng, chữ Hán là Ngũ thường, là năm đức tánh thường có của con người.

Năm hằng gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Kinh Sám Hối có câu:

"Tu tâm sửa tánh ăn-năn,
"Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi."

(Ba giềng - Năm hằng: dịch chữ Tam cang - Ngũ thường)

 

 

NĂM LOẠI MẮT (Phật Học)

Năm loại mắt (S: pañcacakṣuṃṣi) Hán Việt: Ngũ nhãn 五眼 Bao gồm:

1- Nhục nhãn (s: māṃsacakṣus), là con mắt thịt, con mắt của một phàm phu;

2- Thiên nhãn (s: divyacakṣus), con mắt của chư Thiên, có thể nhìn thấy được những hiện tượng siêu nhiên, quá khứ, vị lai, địa ngục...;

3- Pháp nhãn ( s: dharmacakṣus) là con mắt pháp, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu;

4- Huệ nhãn ( s: prajñācakṣus), là con mắt trí huệ, nhìn thấu suốt được tính Không (s: śūnyatā) của các pháp;

5- Phật nhãn ( s: buddhacakṣus), là con mắt của một bậc giác ngộ, nhìn thấu suốt thể tính của vạn sự.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

NĂM LỰC (Phật Học)

Năm lực ( S, P: pañca-bala) Hán Việt: Ngũ lực 五力 Năm sức mạnh tinh thần hay năm khả năng xuất phát từ năm Căn (s, p: indriya) và giúp đạt giác ngộ. Năm lực đó là:

1-Tín lực 信力(s: śraddhābala), là tâm loại bỏ các loại tin tưởng sai lầm;

2-Tinh tiến lực ; s: vīryabala) là năng lực tu trì Bốn tinh tiến (s: saṃyak-prahanani) cũng được gọi là chính cần, để diệt trừ bất thiện pháp;

3-Niệm lực ( s: smṛtibala), sức mạnh do tu trì Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasṭhāna) đem lại;

4-Ðịnh lực 定力(s:samādhibala)sức mạnh do Thiền định (s: dhyāna) mang lại nhằm loại bỏ mọi tham ái;

5- Huệ lực ( s: prajñābala) là sức mạnh nhờ phát khởi tri kiến Tứ diệu đế. Năm lực là một phần của 37 giác chi (yếu tố giác ngộ, Bồ-đề phần; s: bodhipākṣika-dharma).

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

NĂM RỒNG

Năm rồng còn nói là Ngũ Long . Đây là Thuyền có năm con rồng đỡ đầu cho chiếc thuyền nổi lên hầu đưa Chơn hồn vào cung Tuyệt Khổ để bái kiến Đức Huyền Thiên Quân.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Năm Rồng đỡ nổi đầu thuyền,
"Vào Cung Tuyệt khổ kiến Huyền Thiên Quân."

 

 

NĂM SẮC DÂN

Đức Hộ-Pháp nói: "Sắc dân của Ấn Độ: chính mình Phật Thích Ca là dân của Ấn Độ, dân da đen gọi HẮC CHỦNG, Ngài sanh ra ở đó, da thay vì đen nó hơi hồng hồng, rồi người Đời tặng Ngài màu hồng, họ gọi Ngài là Kim Thân, vì cớ cho nên các tượng hình của Ngài đều phết vàng, bởi tại hai chữ Kim Thân ấy, chính Ngài là sắc dân da đen mà sắc dân da đen là một Chủng tộc đến mặt địa cầu nầy sớm hơn hết….nhứt là đặc biệt hơn hết các triết lý cao siêu về mặt vô hình, dân Ấn Độ đứng đầu hơn hết các chủng tộc. Nó trái ngược lụng lại những tộc chủng đã noi theo luật tiến hóa, nhứt là chót hết bây giờ là BẠCH CHỦNG, Tôi thấy họ đã tiến hóa nhiều từ Hắc chủng lên THANH CHỦNG tới XÍCH CHỦNG đến HUỲNH CHỦNG, rồi tới Bạch chủng đường tiến hóa của nhơn loại nhiều quá, sâu xa lắm, tời chừng dòm lụng lại sắc dân Bạch chủng kia cũng không phải hơn gì sắc dân Hắc chủng, vì Hắc chủng người đã đến mặt địa cầu nầy hồi ban sơ hết, hay nói là Mẹ của các giống người hết thảy nơi thế gian nầy, mà người ta cao siêu như thế đó".

 

 

NĂM SẮC HOA TƯƠI

E: The five fresh couloured flowers.
F: Les fleurs fraiches de cinq couleurs.

(Xem thêm ngũ hoa. Vần NG.)

Năm sắc hoa là năm loại hoa tươi, dùng trong cửa Đạo Cao-Đài là một sự kỉnh lễ, dâng phẩm vật này lên để tỏ lòng kính trọng đối với Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu là hai Đấng Tạo đoan đã tạo nên xác hình này. Vì người được thọ bẩm khí thiêng của Trời đất (ngũ Khí), mới có hình hài là Ngũ Tạng, qua sự tác động của Ngũ hành. Thế nên: Năm sắc hoa tươi là tượng trưng cho Ngũ Tạng và Ngũ Quan của thân thể con người, tương ứng với Ngũ Hành, như sau:

NGŨ TẠNG

 

NGŨ QUAN

 

NGŨ HÀNH

Tâm (tim)

 

Lưỡi

 

Hỏa: màu đỏ.

Can (gan)

 

Mắt

 

Mộc: màu xanh.

Tỳ (lá lách)

 

Miệng

 

Thổ: màu vàng.

Phế (phổi)

 

Mũi

 

Kim: màu trắng.

Thận (thận)

 

Tai

 

Thủy: màu đen.

Bài Dâng Hoa, là một trong Tam bửu:

"Từ bi giá ngự rạng môn thiền,
"Ðệ tử mừng nay hữu huệ duyên
"Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ,
"Cúi mong Thượng Ðế rưới ân Thiên."

 

 

NĂM YẾU TỐ CỦA VẦN QUỐC NGỮ

Từ lý Dịch suy ra trong bản Vần Quốc Ngữ cũng có những yếu tố: Thái cực, Lưỡng Nghi, Tam Tài, Tứ Tượng, Bát Quái, Ngũ hành. Do vậy mà người Việt Nam có quyền tự hào về nền văn hiến của mình:

"Văn hiến bốn ngàn năm có sẵn,
"Chi cần dị chủng đến dâng công"

Việt-Nam là cửa ngõ tiếp nạp các luồng tư tưởng từ Đông sang Tây, nên tương lai Văn hóa cũng như chữ viết của Việt-Nam sẽ trở thành quốc-tế-ngữ hay thế-giới-ngữ cũng không phải là chuyện lạ. Có vậy mới truyền bá Đạo Trời khắp cùng thế giới, tức là văn-chương chữ Việt sẽ chở Đạo đi khắp các nơi, gọi là: "Văn dĩ tải Đạo". Nói rõ hơn thì chữ viết của Việt-Nam là gốc từ tiếng La Tinh, nên cách viết từ trái sang phải, tạo thành một đường ngang của nét nhất còn tinh thần tiếng Việt thì chịu ảnh hưởng tiếng Trung-hoa cho nên nó theo đường thẳng đứng Hai nét này họp lại thành ra chữ thập chứng tỏ tinh thần Đông Tây hòa-hiệp, cả đến văn-hóa cũng vậy, đó là về hình thức. Nếu nói về vần Quốc-ngữ thì tiếng Việt có đủ cả nguyên âm và phụ-âm ấy là lý Âm Dương hiệp nhứt trong chữ Việt:

1- Nguyên Âm: Kể từ gốc thì có 5 nguyên-âm là: A, E, O, (I-Y), U tượng cho Ngũ Hành. Gọi là 5 vì có hai chữ I,Y cùng đồng âm với nhau. Nhưng là 6 vì lý Dịch là biến, mới bao quát cả Càn khôn được. Đặc biệt nguyên âm là có tính cách trung tín; nghĩa là một vần đơn phương đọc lên có đủ nghĩa, ví như Trò A, Trò E. Có 6 vần tức là Tam Âm, tam Dương.

2- Phụ Âm: là những vần phụ thuộc còn lại như: B,C,D,G, H… Những vần này phải ghép với một nguyên âm, mới có nghĩa, như: Ba, Be, Bê…

3- Lý Âm Dương gắn liền trong mỗi từ: Như đã biết vần Việt-Nam có hai loại: Nguyên âm và Phụ âm. Nguyên âm là Dương, phụ âm là Âm. Trong các nguyên-âm phải kể đến 5 vần chánh, tượng là NGŨ-HÀNH khi biến thái từ vần Tây phương qua Đông phương, có 5 nhóm:

*AĂÂ, OÔƠ là hai nhóm, mỗi nhóm có 3 vần (con số 2 mà 3),

*EÊ, IY, UƯ là ba nhóm, mỗi nhóm có hai vần (con số 3 mà 2), cộng chung là 5 nhóm.

Con số 2 là Thiếu Âm, số 3 là Thiếu Dương; cọng chung cũng là 5. Như trên đã nói về nguyên âm đơn có 5 nhóm. Nguyên âm biến thể có 5 nhóm: chính là ngũ-hành Âm và ngũ hành Dương đó vậy. Hai con số 5 này còn gọi là Cơ Nhị Ngũ. Nếu cộng hai nhóm ba vần ở trên thì có 6 vần và ba nhóm dưới cũng có 6 vần. Như vậy có đến hai lần số 6 tức là 6 Âm, 6 Dương họp chung là 12. Số 1 đứng trước số 2, ấy là Thái cực đứng trước Lưỡng Nghi, chứng tỏ một quyền-năng tối thượng trong đó. Vả lại số 12 là con số riêng của Thầy, như lời Thầy xác định: "Thập nhị khai Thiên là Thầy, Chúa cả càn khôn thế giái, nắm trọn Thập Nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy." Trong các dấu, cũng có 5 dấu, tượng là NGŨ KHÍ. dấu sắc (/), dấu huyền (\), dấu nặng (.), dấu hỏi (?), dấu ngã (~). Chỉ với 5 dấu này đã biến đổi ý-nghĩa của chữ một cách nhanh chóng, không như tiếng Pháp hay tiếng Anh phải có tiếp-đầu-ngữ hay tiếp-vỹ-ngữ; còn tiếng Việt chỉ xê dịch một dấu là chuyển cả âm lẫn ý. Tóm lại: Có 3 con số Ngũ cũng hội tụ đủ trong qui luật Tam Tài:

- Năm dấu tượng cho cơ Thiên là Ngũ khí.

- Năm nhóm nguyên âm đơn là cơ Địa, là Ngũ hành.

- Năm nhóm nguyên âm kép là cơ Nhân, Ngũ tạng.

Như vậy ba giai đoạn thành hình số Ngũ:

- Nhứt Ngũ là do1+4 tức là Thái Dương 1 hợp với Thái Âm 4.

- Nhị Ngũ là (2+3) là do Thiếu Âm 2 cộng với Thiếu Dương 3.

- Tam Ngũ (3x5) là 15, do Ngũ Khí (5) hợp với Ngũ Hành (5) và Ngũ Tạng (5)

4-Sự giản dị của chữ Quốc ngữ: Thí-dụ: BA là cha, là giống đực (Masculin), muốn chuyển sang giống cái (Féminin) thì chỉ thêm một dấu huyền là đủ: BÀ. Nói chung, tiếng Việt-Nam đủ yếu-tố của một thứ chữ được hình thành bằng lý Âm Dương, Ngũ hành, Tam tài, Tứ tượng, Bát quái để cho Đông Tây hòa hợp nhau trong lý-tưởng Đại-Đồng không phải là sự khó-khăn.

5-Lý Âm Dương còn thể hiện ở các Từ ngữ:

Thí dụ Đạo-Đức: Đạo là dương, vì nó còn ẩn tàng trong tâm của người. Đức là Âm: vì nó được thể hiện ra ngoài bằng tình thương, lòng nhân-ái, làm việc nghĩa…Thế nên, các từ ngữ kép của tiếng Việt ngày xưa phải viết có dấu gạch nối (gọi là Trait d’union). Thật ra dấu gạch nối này nó có một giá trị rất cao quí, chứng tỏ rằng Âm Dương không xa lìa nhau. Có rất nhiều từ ghép: Hoặc danh-từ, hoặc Tĩnh-từ, hoặc động-từ…vì thật ra có những từ ghép này nếu đứng riêng thì không có nghĩa, như: Trẻ con la ầm-ĩ. Mặt giấy phẳng-phiu. Thân hình tròn-trịa, trắng trẻo, bóng-loáng. Nếu không có dấu nối thì những từ theo sau sẽ không có ý-nghĩa. Tóm lại văn hoá Việt-Nam là Đại-Đồng:

Thế nên Thầy cũng đã dùng Quốc ngữ làm chính tự.

Đức Hộ-Pháp còn giải rõ thêm: "Trừ ra các Kinh-điển Hán-văn hay là Pháp văn cùng của các nước khác, xưa để lại, rõ hữu ích cho Đạo lược dịch ra, thì Tôi chẳng luận chi, chớ Tôi thấy phần nhiều sách vở của nhiều người Đạo-hữu viết ra chẳng dùng văn-từ lý-lẽ giản dị, làm cho phần đông coi không hiểu thấu nên không bổ ích chi cho Đạo hết. Rất đỗi là Thầy còn phải dùng tiếng nói dễ dàng, rẻ rúng mà làm Thi dạy Đạo thay! Nhờ vậy mà văn-từ của Thầy ai coi cũng hiểu. Tôi dám chắc rằng tuy vậy mặc dầu mà cái ngòi văn tuyệt bút rõ-ràng, hễ càng thấu tứ lại càng thâm-thúy nơi lòng. Tôi nhớ có một phen kẻ nghịch Đạo để lời dèm pha biếm-nhẻ rằng văn-từ của Thầy xem rất thường tình. Tôi chấp bút phân-phiền cùng Thầy. Thầy dạy rằng: "Con ôi! Trong anh em của con phần dốt nhiều hơn phần hay chữ, đứa ám-muội đông hơn đứa thông minh, Thầy đến chăm-nom dạy-dỗ đứa ngu-dốt hơn là đứa hay giỏi; thà là đứa sáng khôn quá hiểu mà chê Thầy hơn là đứa dốt nghe Đạo Thầy không rõ lý. Thầy cười rồi tiếp nữa rằng: "Thầy muốn Đạo của Thầy làm thế nào cho trẻ con nên ba tuổi cũng hiểu đặng, con nghĩ sao con? Lại cười nữa! Tôi hiểu lòng nhơn-từ quá lẽ của Thầy cũng bắt tức cười theo" (Phương tu Đại-Đạo)

 

 

NẮM MÁY HUYỀN VI

Thầy dạy: "Ðường còn dài, bước càng nhọc, thì nền Ðạo càng cao, công trình càng rỡ. Ôi! Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ, vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước. Thầy cũng phải đau lòng mà nắm máy huyền vi để cơ Trời xây đổi. Các con liệu lấy."

 

 

NẮM PHAN

Nắm phan: níu cho chặc cây phướng dẫn đường.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Dìu đường thoát tục nắm phan,
"Trông Kinh Bạch-Ngọc định thần giải căn."

 

 

NẮM TÂM

E: To keep the heart.
F: Conserver de cœur

Nắm tâm: Giữ tâm cho vững.

Kinh Khi Thức Dậy có câu:

"Rõ phước đức, biết tội tình
"Nắm tâm đắp vững mặt thành Càn Khôn."

 

 

NĂNG CỨU


E: To have abitity to save.
F: Être possible de sauver.

Năng cứu 能救: có khả năng cứu giúp

Kinh Cứu Khổ có câu:

Phật cáo A Nan ngôn, thử kinh Đại Thánh,năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ.

 

 

NĂNG CỨU KHỔ ÁCH NGHIỆT CHƯỚNG

(Khổ : Lo lắng, cực nhọc. Ách : Khốn cùng quẫn bách. Khổ ách là lúc khổ sở khốn cùng. Nghiệt chướng 孽障: chướng ngại cản trở người tu tập do mầm ác gây ra.

 

 

NĂNG LAI NĂNG KHỨ

Năng lai năng khứ 能來能去 Có thể đến và có thể đi. Chơn linh nhẹ nhàng có thể đến và có thể đi, mau lẹ như lằn sóng điện của điển chiếu và nhẹ nhàng như đám mây bay.

Kinh Khi Ðã Chết Rồi có câu:

"Năng lai năng khứ khinh khinh,
"Mau như điển chiếu nhẹ thành bóng mây."

 

 

NĂNG LỰC


F: Énergie.

Đức Hộ-Pháp dạy: "Bất kỳ Tôn Giáo nào dầu họ đem lý thuyết cao siêu bao nhiêu mà giục nhơn sanh tàn ác vô lương thất đức, thì nền Tôn giáo ấy bất quá là giả Đạo. Chúng ta thử nghĩ lại coi cửa Đạo Cao Đài chúng ta, Đức Chí Tôn lấy triết lý nó là gì, thử coi chúng ta lập đức được hay không, suy đoán coi? Ổng đến Ổng tuyển chọn lương sanh làm Thánh Thể của Ổng, mà phụng sự cho nhơn loại đương thống khổ, tưởng không nền chơn giáo nào tu tâm có năng lực hơn phương pháp ấy."

 

 

NĂNG TRI

Tri là biết, tri thức. Phàm cái gì thuộc về tâm mình nhận biết,biện biệt, phán đoán, toan tính, ghi nhớ được đều gọi là "Tri".

Thi văn dạy đạo có câu:

Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.

 

 

NĂNG TRỪ MA CHƯỚNG QUỈ TAI

(Ma chướng quỉ tai là chướng ngại của ma, tai ách của quỉ) nhằm để ngăn chận hay thử thách hành trình của người tu tập.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có cho biết: "Những sự phàm tục đều là mưu kế của Tà Mị Yêu Quái cốt để ngăn trở bước đường Thánh Đạo của các con. Những mưu quỉ quyệt ấy do lịnh Thầy dùng để thử các con".

Như vậy, những chướng ngại hay tai ách của quỉ ma là để ngăn bước đường của người tu hành, cũng là cơ thử thách. Vì thế, chúng ta phải có trí huệ và nghị lực để tự mình vượt qua mọi chướng ngại, mọi tai ách. Ngoài ra, nhờ vào việc tu trì, nhờ vào nguyện lực mà chúng ta có thể cầu các Đấng hộ trì để trừ ma diệt quỉ, hầu đi trọn con đường Thánh Đạo.

 

 

NẮNG LỬA MƯA DẦU

Thi văn dạy Đạo:

Sanh đời nắng lửa với mưa dầu,
Tội là đâu, phước lại là đâu.
Chiu chít như chim cơn khuất bóng,
Mới vui rồi tới chịu đeo sầu.

 

 

NẮNG QUÁNG ĐÈN LÒA

(Nắng quáng là vì sức nóng cao độ làm cho mắt quáng đi tức là bị chóa, đèn lòa là vì ánh đèn chiếu thẳng làm cho mắt như lòa). Nói chung những sự thái quá bên ngoài làm cho con người không nhận định rõ mọi vật, bị thu hút bởi vật dục.

Ðức Quyền Giáo Tông giải về: Ðức Chí Thành (1935).

"Người nay tuy gọi văn minh tấn bộ; song cái ánh sáng văn minh chóa ra làm cho con người dường như bị nắng quáng đèn lòa mà xem không rõ cái tướng của đức chí thành đặng vậy. Cũng bởi không chí thành cho nên ở đời mới có người nầy xảo trá, kẻ kia gian tham, sanh lòng nghi kỵ lẫn nhau đến đổi trong một việc làm nhỏ mọn mà có nhiều kẻ chung lo thì cũng hóa ra hư hỏng. Theo đường đời mà đức chí thành còn quan trọng là thế, huống chi đường Ðạo là chỗ cần phải treo lên một tấm gương thanh bạch hầu để soi chung thiên hạ".

 

 

NÂU SỒNG

E: Dark brown colour.
F: Couleur brune sombre.

Nâu sồng là màu nâu và màu sồng là hai màu quần áo của tăng ni Phật tử thường mặc. Nâu sồng là chỉ sự tu hành phải có một cuộc sống giản dị mà thanh cao, đạm bạc mà tâm hồn thư thái. Đó là hạnh của người TU

Thầy dạy: Ngày 14-12-1926 (âl 10-11-Bính Dần)

Nâu sồng tánh gội dành trăm tuổi,
Chung đỉnh đường qua trót một thì.
Gương sáng phước Trời soi hậu tấn,
Chờ xuân khải chiết đắc mai chi.

"Từ đây, Thầy là Ðứng cầm quyền thế giới, đã vì con mà độ dẫn con lại cảnh thanh nhàn cực lạc. Vậy rán giồi Thánh đức, lấy đạo hạnh mà giáo hóa đám dân sanh, phần nhiều đã mơ màng trong giấc mộng. Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn."

 

 

NẤU KINH SỬ

Kinh sử: Kinh là sách do các bậc Thánh Hiền viết ra, thí dụ như Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu...Sử là sách chép lại các việc xảy ra trong nước theo thời gian. Nấu Kinh sử: Do thành ngữ "Nấu sử xôi kinh", ý nghĩa là học tập kinh sử một cách nhuần nhuyễn để đi thi và thông thấu mọi việc ở đời.

Thầy dạy:

"Dày công nấu sử sôi kinh,
"Rừng Nhu biển Thánh công trình biết bao!’
Bà Đoàn viết Nữ Trung Tùng Phận có câu:
Nấu kinh sử ra mùi son phấn,
Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.
Quần xoa đỡ ngọn binh đao,
Xây hình thục nữ giặm màu nước non

 

 

NÉM THỬ GIÁNG MA ĐÓNG CỬU TUYỀN

Câu nầy nói về Ðức Phạm Hộ Pháp, dùng bửu pháp Giáng Ma Xử để đóng cửa Ðịa ngục, theo lịnh của Ðức Chí Tôn trong thời Ðại Ân Xá Kỳ ba:

Đức Lý nói: Nghe thi nầy và kiếm hiểu:

Bát Nhã từ đây vững lái thuyền,
Tuông pha khổ hải độ nhơn duyên.
Gay chèo thoát khổ đầy linh cảm,
Rạch nước trừ oan đủ diệu huyền.
Thổi thẳng cánh buồm thì Lão thủ,
Nâng an lòng bản cậy Thần, Tiên.
Phong ba mấy độ đà qua khỏi,
Ném thử Giáng Ma đóng Cửu tuyền.

 

 

NẺO HẠNH

E: The path of plum-trees.
F: Le chemin de vertu.

Nẻo: đường hướng, lối đi. Hạnh: nết na đức hạnh. Nẻo hạnh là con đường hạnh đức, tức là con đường trau giồi đức hạnh, con đường tu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thắm,
Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.

 

 

NẺO PHIỀN

E: Path of sadness.
F: Chemin de tritesse.

Nẻo: Lối đi, con đường đi. Phiền: buồn rầu lo lắng. Nẻo phiền là con đường phiền não, đó là con đường đời tranh danh đoạt lợi, giựt giành quyền tước

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Dẫn khách phồn hoa lánh nẻo phiền.

 

 

NẺO THÁNH

Nẻo Thánh: Con đường Thánh, tức là con đường đi vào cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Xin lịnh cha định thần định tánh,
"Noi khuôn linh nẻo Thánh đưa chơn."

 

 

NÊ HOÀN CUNG

E: The fontanelle.
F: La fontanelle.

Tên một huyệt đạo nằm trên đỉnh đầu còn có tên gọi là mỏ ác.

Khi đứa bé mới sanh ra, xương mỏ ác chưa mọc đầy đủ nên nhìn thấy chỗ đó hơi lõm vào, có dạng hình tròn, mềm mềm, nhấp nhô theo nhịp tim, đó là Nê hoàn cung.

 

 

NỀ NẾP

Đức Hộ-Pháp nói về Kim Quan Sứ: "Vì cớ cho nên người có giáng-cơ buổi Đạo đương bình tịnh, cả Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn đương hòa ái với nhau, không có tâm-tánh gì phản động, chưa có một mảy may gì gọi là loạn, họ còn giữ theo nề-nếp chơn truyền của Đức Chí-Tôn mà thinh không Kim-Quan-Sứ giáng-cơ cho một bài thi chẳng khác nào như tìm đến Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn mà liệng một tối hậu thơ"

Bài thơ ấy như vầy:

Cửu phẩm Thần-Tiên nễ mặt ta,
Thích-Ca dầu trọng khó giao hòa.
Cửa Kinh Bạch-Ngọc năng lui tới,
Đường Đạo Tây-Phương thử chánh tà".

 

 

NÊN THÌ ĐỂ, HƯ THÌ BỎ

Với lòng quảng đại bao la, Đức Chí-Tôn thương yêu tất cả con cái của Ngài: dù người ngoan Đạo hay kẻ phản nghịch lại như Lucifer còn gọi là Quỉ Vương mà Chí-Tôn vẫn còn tha thứ. Nhưng điều này gặp phải trở ngại rất lớn cho người điều hành chánh giáo, vì vậy mà Đức Lý phải từ chức Giáo Tông ba năm. Ngài cũng phải một phen quyết định: "Nên thì để, hư thì bỏ" cũng như Bát Nương Diêu Trì Cung sau này vậy. Có nghĩa là sự giáo huấn đã nhiều lần rồi, bây giờ nên để, hư bỏ mà lo lập đời Thánh Đức, Tân Dân. Vì vậy mới có cuộc thanh lọc này đây làm cho cả toàn cầu chấn động: thiên tai, động đất, bão lũ…Người thì chết đủ thứ trong các thứ hiểm họa nói trên, còn thêm dịch bệnh, chiến tranh tang tóc nữa

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở: "Thưa anh Thượng Trung Nhựt và chị, đã đắc lịnh Chí Tôn rồi, thì từ đây không còn vị nễ chi đặng nữa. Nên thì để, hư thì bỏ. Dường ấy mới có phương lập thành Nữ phái. Em nên cho chị hiểu rằng, Nữ phái lập thành, Nam phái chỉnh đốn lại hoàn toàn thì Lý Giáo Tông mới giảm nộ và tái thủ quyền hành. Em dùng điệu văn Động đình biến hóa mà khởi răn lỗi của đời. Xin mấy chị ngày sau dùng nó mà trách khuyên phái Nữ:

Trong gia thất điều đình phần Nữ phái,
Điều hư nên trái phải nơi mình,
Sẵn tay nắm mối tơ tình,
Làm nên quân tử phận mình mới an…

 

 

NỀN ĐẠO ĐỨC

Thầy dạy: 20 Février 1926

Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,
Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.
Chung hiệp rán vun nền đạo đức,
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

 

 

NÊU DANH

Thi văn dạy Đạo có câu:

Lập Ðạo dầu nên ngàn thuở để,
Nêu danh hậu thế tiếng bền dai.

 

 

NI KIM CÔ


E: The hood of female bonze.
F: Le capuchon de bonzesse.

(Ni: người phụ nữ xuất gia đi tu. Kim: vàng. : cái vành, cái đai). Kim Cô là một cái vành tròn bằng vàng.

Đạo phục của Nữ Đầu Sư có đội một cái Ni Kim Cô bằng hàng trắng, y như các vãi chùa, có thêu bông sen, bao quanh đầu một cái Kim Cô bằng vàng, trên Ni Kim Cô ấy phải choàng một cái mão Phương Thiên, nghĩa là một cái choàng bằng hàng cho thiệt mỏng, trên chót thêm một cái mũ bằng vàng chụp trọn đầu tóc, chính giữa; ngay trước mặt có chạm Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh khí. Cái choàng của mão Phương Thiên phải cho thiệt dài, 3 thước 3 tấc 3 phân, vì mỗi phen lên ngự trên ngai thì phải có hai vị Lễ Sanh nữ phái theo sau, nâng đỡ chẳng cho phết dưới đất.

 

 

 

Nữ Chánh Phối Sư, Nữ Phối Sư, Nữ Giáo Sư đều đội Ni Kim Cô bằng hàng trắng, phải cho dài từ đầu tới gót.

Ni cô: người phụ nữ xuất gia tu theo Phật giáo.

Ni sư: 尼師 là Ni cô tu lâu năm, có trình độ cao, làm thầy các Ni cô khác trong chùa.

Pháp Chánh Truyền: "Đầu-sư Nữ phái mặc một bộ Đạo phục toàn là hàng trắng có thêu bông sen, y như Đạo phục Đầu sư Nam phái, áo chín dải, đội một cái Ni-kim-cô; nghĩa là cái Ni kim Cô bằng hàng trắng, y như của các vãi chùa, có thêu bông sen, bao quanh đầu một cái Kim-Cô bằng vàng. Trên Ni-kim-cô ấy phải choàng một cái Mão Phương Thiên, nghĩa là: cái choàng bằng hàng cho thiêt mỏng, trên chót thêm một cái Mũ bằng vàng chụp trọn đầu tóc, chính giữa ngay trước mặt có chạm Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí. Cái choàng của Mão Phương Thiên phải cho thiệt dài, ba thước ba tấc ba phân, vì mỗi phen lên ngự trên Ngai; thì phải có hai vị Lễ Sanh Nữ-phái theo sau, nâng đỡ chẳng cho phết dưới đất, chơn đi giày vô ưu toàn bằng hàng trắng, trên chót mũi giày có chữ "HƯƠNG" là Tịch Đạo."

 

 

NIÊM LUẬT

Niêm-luật (Cái gì dính dẽo như keo đều gọi là "niêm" ): qui-luật không thể tách rời.

Đức Hộ-Pháp quả-quyết: "Tân-luật Đức Chí Tôn cốt yếu muốn cho ta làm, đặng ta bảo-vệ Tam cang Ngũ thường của nhân-lọai. Nói về phương Đông này dầu cho luận tới các quốc-gia, xã-hội đến đâu đi nữa, họ tự trọng, họ văn-minh thế nào họ chưa ra khỏi đường lối ấy, niêm-luật ấy bao giờ. Nếu họ ra khỏi là muốn tự bỏ cả xã-hội của họ, thì họ sẽ thành cái gì chớ không thành xã-hội!"

 

 

NIỀM SON SẮT

(Niềm: Lòng tưởng nghĩ tới. Son sắt: Đỏ như son, cứng như sắt). Ý nói bền vững như sắt, không phai lợt như màu đỏ của son. Niềm son sắt là lòng trung thành không dời đổi, trước sau như một.

Bà Đoàn viết Nữ Trung Tùng Phận có câu:

Nào khi ước giữ niềm son sắt,
Nào thề non nắm chặt dải đồng.
Chừ sao đổi dạ thay lòng,
Hẹn xưa bỏ chảy theo dòng Tương giang.

 

 

NIỆM (Phật Học)

Phân tích chữ Niệm sẽ thấy trên là bộ Nhơn tức là người, dưới là chữ Nhị là hai, sau cùng là chữ Tâm ; tức nhiên người thường dùng cái tâm mình nghĩ nghị hai lần một sự việc, ấy là niệm, là nhớ tưởng đến, khó mà quên được. Chữ niệm trên gồm đủ ba yếu tố ấy là hiệp Tam Tài rồi vậy.

Niệm (S: smṛti; P: sati) nghĩa là "nhớ, nghĩ"; Trong Đạo Phật, niệm chỉ sự chú tâm hay tỉnh giác. Ðó là lúc hành giả chú tâm lên các hoạt động của thân thể và tư duy. Ðó chính là chính niệm, yếu tố thứ bảy của Bát-chính-đạo, một trong Bảy giác chi (s: bodhyaṅga) và một trong Năm lực (s: pañcabala). Tâm thức đó được gọi là "đúng đắn" vì nó giúp hành giả giác ngộ. Nhờ chính niệm, người ta phát khởi tri kiến về vô thường, vô ngã và khổ của sự vật. Niệm là phép tu căn bản trong Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasthāna; p: satipaṭṭhāna). (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

NIỆM DANH THẦY

Thầy dạy: Chợ Lớn, ngày 5-1-Mậu Thìn (dl: 27-1-1928)

"Kỳ Vía tới đây, đứa nào phải gia đạo hàn vi không thể đến đặng thì niệm danh Thầy, dâng một tấm lòng thành thật cũng đủ là quí trọng. Nếu phần nhiều đến được thì làm cho cuộc lễ ra vẻ long trọng, hầu làm cho hưng vượng Tòa Thánh và thêm lòng ngưỡng mộ của chúng sanh".

 

 

NIỆM HƯƠNG (Kinh)

(Niệm là tưởng nghĩ tới, hương là mùi thơm, chỉ cây nhang đang đốt cháy tỏa mùi thơm-tho khắp trong đàn cúng). bài Niệm Hương là bài Kinh khởi đầu cho buổi Cúng trong Tứ thời Nhựt tụng, có tính cách đốt nhang và tưởng niệm các Ðấng Thiêng liêng

Nguồn gốc bài Niệm Hương:

Kinh Niệm Hương có nguồn gốc từ bài Kinh chữ Hán gọi là "Phần Hương Chú" trích trong Kinh Cảm Ứng của Tiên giáo. Vào năm Ất Sửu (1925) Ðức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ tại Minh Lý (Tam Tông Miếu) dịch bài "Phần Hương Chú" ra chữ Nôm ban cho Chi nầy, mục đích làm cho dễ hiểu, dễ đọc. Khai Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Ðạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Ðường) dâng Kinh cho Ðại-Ðạo. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm 4 vị: Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, Thượng Giáo Sư Vương Quan Kỳ, đến Chi Minh-Lý thỉnh 6 Bài Kinh: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối, Kinh Cầu Siêu, Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần, làm Kinh dùng trong Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nguyên văn bài

Phần Hương Chú

 

Ðạo do tâm hiệp

 

Tâm giả hương truyền.

 

Hương phần ngọc lư

 

Tâm chú Tiên nguyện

 

Chơn linh hạ giáng.

 

Tiên bội lâm hiên.

 

Kim thần quan cáo

 

Kính đạt Cửu Thiên

 

Sở khải sở nguyện

 

Hàm tứ như ngôn

 

Dịch nghĩa:

Bài Cầu Nguyện đốt nhang.
Ðạo là do Tâm hợp lại,
Lòng thành mượn mùi thơm khói nhang để truyền đi.
Ðốt nhang tỏa mùi hương thơm ngát nơi lư ngọc.
Lòng thành hướng đến chư Tiên để cầu nguyện.
Cầu Chơn linh của các Ðấng giáng xuống,
Chư Tiên có thể ngồi xe giáng lâm.
Ngày nay kẻ bề tôi xin tấu trình.
Mau chóng thẳng đến Chín từng Trời.
Ðiều quan trọng mà lòng muốn tỏ bày và mong ước,
Cầu xin ban cho ơn huệ như lời khẩn-nguyện.

Bài Phần Hương Chú của Tiên giáo để Cúng các vị Tiên, được Ðức Nam Cực Chưởng Giáo diễn nôm rất thoát ý, thành bài Kinh cúng Ba Ðấng Giáo chủ Tam giáo nơi Tam Tông Miếu của Minh Lý Ðạo và cuối cùng được thỉnh về làm Kinh của Ðạo Cao Ðài cúng Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và Ba Ðấng Giáo Chủ Tam giáo. Do đó, ý nghĩa của bài Kinh nầy được thăng hoa đến tột đỉnh vì được dùng để Cúng Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế và Đức Phật-Mẫu hằng ngày từ Trung ương đến địa phương. Đây bài kinh Niệm hương:

NIỆM HƯƠNG
(Giọng Nam-Ai)

Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp,
Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra.
Mùi hương lư ngọc bay xa,
Kính thành cầu-nguyện Tiên-gia chứng lòng.
Xin Thần, Thánh ruổi-dong cỡi hạc,
Xuống phàm-trần vội gác xe Tiên.
Ngày nay Đệ-tử khẩn-nguyền,
Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.
Lòng sở vọng gắng ghi đảo-cáo,
Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

Niệm: "Nam-Mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" (12 lạy) Đặc biệt bài Kinh Niệm Hương có 10 câu, bài kế tiếp là Khai kinh có 12 câu. Hai con số này là bày tỏ lý Âm Dương của Càn Khôn Vũ trụ. Số 10 là Thập Thiên Can, số 12 là Thập Nhị Địa Chi. Hai con số này đã nói lên quyền năng Chủ tể của hai Đấng Tạo đoan vạn vật, như hai cánh cửa mở ra cho nhơn sanh đến cùng Trời. Kinh Phật Mẫu dạy rằng:

"Thập Thiên Can bao hàm vạn Tượng,
"Tùng Địa Chi hóa trưởng Càn Khôn"

 

 

NIỆM HƯƠNG CHÚ

念香咒
E: The rite of the offering of incenses.
F: Le rite de l’offre des encens.

Niệm: Tưởng nghĩ tới, tư tưởng, đọc lên. Hương: cây nhang đốt cháy tỏa mùi thơm. Chú: bài cầu nguyện.

Niệm hương chú là bài kinh đọc lên khi đốt nhang dâng lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng để cầu nguyện.

Niệm hương chú cũng được gọi là Phần hương chú, là bài chú đốt nhang.

Câu xướng của Lễ sĩ: "Thành kỉnh tụng Niệm hương chú", nghĩa là: Thành kính tụng bài kinh Niệm hương.

 

 

NIỆM NAM MÔ

(Niệm là nhớ Hai chữ "Nam Mô" là một triết lý quan yếu đối với trời đất cùng vạn vật, đó là Âm Dương Nhị Khí. Thuở hỗn độn Hồng mông trong pháp sơ tạo ấy chính là Đạo khởi thỉ của Trời Đất nên chữ "Nam vô" 南無 được niệm đầu tất cả các Thánh danh, nhưng đọc trại là "Nam mô". "Nam" là Phương Nam thuộc Bính Đinh, HỎA là lửa Thái-Cực ở lý nhứt nguyên biến cung Càn thành ba vạch.."Vô" là chỗ tách rời hình Khôn lục đoạn với khoảng không đó là vòng Vô Cực nơi phát xuất sanh quang cho Vũ Trụ. Đây là các câu niệm của Cao-Đài: khi Cúng Đức Phật-Mẫu niệm:

- Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn
- Nam-Mô Cửu Vị Nữ Phật
- Nam-Mô Bạch Vân Động Chư Thánh

Lời Thầy dạy Nữ phái: Huệ con, Lâm thị con, khá nghe lời dạy. Con ôi!

Thương dìu dắt lấy đoàn em dại,
Đạo đức ngoan phải trái con thấy rồi,
Niệm Nam mô hai chữ thấy thôi thôi,
Lo cứu thế mới rồi lẽ chánh.

 

 

NIỆM PHẬT (Phật Học)


E: To invoke the Buddha.
F: Invoquer le Bouddha.

Niệm Phật (J: nembutsu) Là tụng niệm danh hiệu Phật; trong một nghĩa hẹp thì Niệm Phật là phương pháp tu tập chính của Tông Tịnh độ và Phật ở đây chính là Phật A-Di-Đà. Nếu ai niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà với tất cả niềm tin và hy vọng thì có thể thác sinh vào cõi Cực Lạc của Ngài. Sau đây là một vài cách niệm Phật, Bồ Tát thường gặp: 南無阿彌陀佛 "Nam-Mô A-Di-Đà-Phật; Nhật ngữ (Namu Amida Butsu) Phạn ngữ: (Namu Amitābha Buddha) 南無本師釋迦牟尼佛 "Nam Mô Bản sư Thích-ca Mâu-ni Phật; Phạn ngữ (Namu Upādhyāya Śākyamuni Buddha) 南無大悲觀世音菩薩 "Nam-mô Ðại bi Quán Thế Âm Bồ Tát" (Namu Mahākaruṇā Avalokiteśvara Bodhisattva). (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Thông thường những người tu theo Phật chỉ có một việc duy nhất là lần chuỗi và niệm câu: "Nam-Mô A-Di-Đà-Phật". Với danh niệm này chỉ có 6 chữ mà thôi. Nếu suy ra thì số 6 chia làm hai phần bằng nhau là 3, tức là tam Âm tam Dương, thuộc số Trời. Thế nên thời kỳ Phật giáo chỉ có độ tử mà không độ sanh, độ Nam mà không độ Nữ. Cho nên thời Phật chỉ độ có 6 ức nguyên nhân, cũng suy ra từ con số 6 ấy.

Kinh Sám Hối có câu:

"Hễ là niệm Phật tụng kinh,
"Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền."

 

 

NIÊN CAO KỶ TRƯỞNG

Là chỉ những người tuổi tác lớn, cuộc đời ngày càng thâu ngắn lại, sức khỏe hao mòn dần theo năm tháng. Họ phải được sự chuẩn bị cho bước trở về (tức là buổi chết) cần phải độ cho họ hiểu biết tường tận kiếp thật không phải là cõi trần này, mà đây là cảnh giả. Cảnh thiệt là cảnh Hằng sanh kia mà.

Đức Hộ-Pháp nói: đêm 19-11-Mậu-Tý (dl: 19-12-1948)

"Bần-Đạo nói rõ cái chí hướng của Bần-Đạo thế nào mà Bần Đạo giữ căn-bản đặng rủ các Bạn đi cùng Bần Đạo trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-sống. Cả thảy các bạn Nam cũng vậy Nữ cũng vậy, có một điều làm cho Bần-Đạo ái ngại lo lắng hơn hết. Trước khi mở nền Đạo đã có định-phận đặng đi độ những Chơn-hồn Thánh Thể của Đức Chí-Tôn, nhứt là đối với mấy Anh mấy Chị niên cao kỷ trưởng. Bần-Đạo lo lắng với nhiều điều hơn hết, vì cớ cho nên Bần-Đạo giảng Dục-tấn trên con đường Thiêng-liêng Hằng-sống, cốt-yếu là để cho có địa-vị trước mặt cả Thánh-Thể Đức Chí-Tôn, nhứt là mấy Anh, mấy Chị lớn biết con đường đi, hiểu rõ thấy trước mặt, dường như mình đã biết rồi, định tinh thần, đừng mờ-mệt, áy-náy, sợ-sệt, ngập-ngừng; đường mình đi quen tức nhiên mình đặng, đặng mình đi mạnh bước trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống... Hôm nay Bần-Đạo giảng về Triết-lý trọng yếu nên hơi lâu dài, cả thảy ngồi có mỏi mệt xin đừng phiền. Mỗi phen cúng giờ khuya, muốn giảng Triết-lý nào có thể viết ra một quyển sách mà gom nó lại thế nào làm một bài văn ngắn-ngủi, có đủ tinh thần không phải là dễ, khó lắm vậy. "Bần-Đạo xin nhắc và giảng từ bước, đặng cho con cái Đức Chí-Tôn dễ hiểu. Bần Đạo ngó thấy, chỉ thuật lại, xin cả thảy Nam-Nữ nhứt là mấy vị niên cao kỷ trưởng, mấy vị Chức-Sắc Thiên-Phong phải để ý lắm và nhớ. Bần-Đạo sẽ thuyết cảnh tượng ấy, cả thảy đều thấy hiện-tượng trước mặt."

 

 

NIẾT BÀN (Phật Học)

Niết-Bàn (S: nirvāṇa; P: nibbāna) dịch nghĩa là Diệt Diệt tận Diệt độ , Tịch diệt , Bất sinh 不生, Viên tịch , Giải thoát , Vô vi , An lạc .

Mục đích tu hành của mọi trường phái Phật giáo. Trong Đạo Phật nguyên thủy, Niết-Bàn được xem là đoạn triệt Luân hồi (saṃsāra) và đi vào một thể tồn tại khác. Ðó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp Bất thiện (s: akuśala) là tham, sân và si. Ðồng thời Niết-Bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của Nghiệp (s: karma), không còn chịu qui luật nhân duyên; Vô vi (s: asaṃkṛta), đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt.

Với sự xuất hiện của Ðại Thừa (s: mahāyāna), người ta có một quan điểm mở rộng của Niết-Bàn dựa trên khái niệm Bồ Tát (s: bodhisattva) và trên tính nhất thể của vạn vật. Niết-Bàn được xem là sự thống nhất với cái Nhất thể tuyệt đối (sự bình đẳng của chúng sinh (s: sattvasamatā) đó, sự thống nhất của luân hồi với "dạng chuyển hóa" của nó. Ở đây Niết-Bàn được xem như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự an lạc khi thấy mình cùng một thể với tuyệt đối, khi thấy mình giải thoát khỏi mọi ảo giác, mọi biến tướng, mọi tham ái.

Nhiều người hiểu Niết Bàn chỉ là một cõi Hư vô tịch diệt. Ngay Phật giáo nguyên thủy đã bác bỏ quan niệm đó. Trong nhiều kinh sách, người ta mô tả Niết-Bàn như một "ngọn lửa đã tắt": Phật giáo quan niệm ngọn lửa tắt không có nghĩa là nó hoại diệt, nó đi vào Hư không (s: ākāśa), trở thành vô hình, thì như thế, Niết-Bàn không phải là sự hoại diệt, đó là tình trạng đi vào một sự tồn tại khác. Như lửa phát sinh từ hư không và trở về với hư không, thì Niết-Bàn là một tình trạng của tâm thức trở về với một cõi xứ không chịu sự sinh diệt. Ðó là một tình trạng không có một vị trí địa lý, mà là một dạng siêu việt, Xuất thế 出世 (s: lokottara) và chỉ có những hành giả đã đạt mới biết được. Vì vậy, trong Đạo Phật nguyên thủy, Niết-Bàn hầu như được hiểu xa cách thế gian, giải thoát khỏi phiền não.

Trong một số kinh sách khác, Niết-Bàn được hiểu là sự "an lạc" nhưng phần lớn được hiểu là sự giải thoát khỏi cái Khổ (s: duḥkha). Vì không có ngôn ngữ để diễn tả Niết-Bàn, đó là phạm vi nằm ngoài ngôn ngữ và lý luận, nên có nhiều người hiểu Niết-Bàn theo quan niệm Hư vô. Cách thế dễ tiếp cận nhất về Niết-Bàn là hiểu sự tồn tại là một tình trạng đầy dẫy khổ đau và Niết-Bàn là dạng tồn tại thiếu vắng sự khổ đau đó. Ðối với hành giả Phật giáo thì định nghĩa liệu Niết-Bàn là một dạng tồn tại thật sự hay chỉ là cõi tịch diệt không hề quan trọng. Vì lý do này mà Phật Thích-Ca từ chối mọi mô tả về Niết-Bàn.

Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), người ta phân biệt hai loại Niết-bàn:

1-Hữu dư Niết-Bàn 有餘涅槃 (s: sopadhiśeṣa-nirvāṇa; p: savupadisesa-nibbāna): Niết-bàn còn tàn dư, Niết-bàn trước khi tịch diệt. Niết-bàn này là trạng thái của các bậc Thánh nhân đã dứt bỏ mọi phiền não, không còn tái sinh. Các vị này còn sống trên đời nên vẫn còn Ngũ uẩn, còn có nhân trạng nên gọi "hữu dư". Trong Hữu dư Niết-bàn hành giả còn khổ vì còn chịu nghiệp cũ. Có lúc hành giả thoát được cái khổ đó một cách tạm thời trong một số tình trạng Thiền-định nhất định. Từ quan điểm hữu dư Niết-bàn này của Tiểu thừa mà phát sinh khái niệm Niết-bàn vô trụ (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa) của Ðại thừa.

2- Vô dư Niết-bàn 無餘涅槃 (s: nirupadhiśeṣa-nirvāṇa; p: anupadisesa-nibbāna): là Niết-bàn không còn Ngũ uẩn (s: pañca-skandha), Mười hai xứ (s, p: āyatana), mười tám Giới (s, p: dhātu) và các Căn (indriya). Niết-bàn vô dư đến với một vị A-La-Hán sau khi chết, không còn tái sinh. Loại Niết-bàn này cũng được gọi là Niết-bàn toàn phần hay Bát-Niết-Bàn 般涅 (s: parinirvāṇa).

Ngay trong Tiểu thừa thì quan điểm của mỗi phái cũng khác nhau. Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) luận về Niết-bàn với khái niệm khả quan, cho rằng Niết-bàn là thể không sinh thành hoại diệt, có thể dần dần đạt đến bằng cách loại trừ khổ. Cứ diệt một loại khổ thì đạt được một cảnh giới của Niết-bàn. Vì thế mà có nhiều loại Niết-bàn và hầu như Niết-bàn là một cảnh giới cụ thể. Ðối với Kinh lượng bộ (sautrāntika) thì Niết-bàn chỉ là dạng chấm dứt khổ, nhưng không phải là một cảnh giới vĩnh hằng. Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya) cho rằng có một cá nhân (s: pudgala) thường còn, hiểu Niết-bàn là cõi mà cá nhân đó tiếp tục tồn tại. Ðối với Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) – được xem là tiền thân của phái Ðại thừa – thì khái niệm Niết-bàn vô dư không còn quan trọng nữa. Từ đây các bộ phái sau bắt đầu phát triển và sử dụng danh từ Vô trụ Niết-bàn (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa). Ðó là trạng thái Niết-bàn của các vị Phật đã thoát khỏi ràng buộc của thế gian nhưng chưa muốn hoàn toàn tịch diệt.

Trong Ðại thừa, người ta nhấn mạnh đến tính chất Bồ Tát nhiều hơn và vì thế khái niệm Niết-bàn không được đề cao nhưng vẫn là mục đích cao nhất trên đường giải thoát. Không có tông phái Ðại thừa nào xem Bồ Tát là mức cuối cùng của Phật đạo; đối với Bồ Tát, việc "nhập Niết-bàn" chỉ được "hoãn lại" sau khi toàn thể chúng sinh đều được giải thoát. Theo quan điểm Ðại thừa, Niết bàn là sự thống nhất với cái tuyệt đối, không phải chỉ mỗi một cá nhân mà với mọi hiện tượng và vì vậy, Ðại thừa không thấy sự khác biệt giữa Niết-bàn và sinh tử. Ở đây, người ta phân biệt hai loại Niết-bàn: Vô trụ Niết-bàn (s: apratiṣṭhitanirvāṇa) và Thường trụ Niết-bàn (s: pratiṣṭhita-nirvāṇa; "thường trụ" ở đây với ý nghĩa cố định, bất động).

Trong các phái Ðại thừa, quan niệm về Niết-bàn cũng khác nhau: phái Trung quán (s: mādhyamika) cho rằng, Niết-bàn nằm trong tính Không (s: śūnyatā), đó là sự "chấm dứt cái thiên hình vạn trạng", cái chấm dứt đó là sự vắng bóng của mọi ràng buộc thế gian. Niết-bàn là sự thống nhất với Chân như (s: tathatā) không diễn tả được, là cái luôn luôn hiện hữu, nhưng không được nhận biết. Niết-bàn và sinh tử không hề khác nhau, đứng trên phương diện lý tính tuyệt đối mà nói. Chính cái Thức vô-minh của chúng ta ngăn cản không cho nhận ra cái lý tính tuyệt đối đó. Duy thức tông cũng cho rằng Niết bàn và luân hồi không khác, mọi hiện tượng đều không tồn tại, không thật có. Ðối với tông này thì Niết-bàn xuất hiện khi mọi phân biệt chấm dứt. Duy thức tông cho rằng có hai dạng Niết bàn: Niết-bàn của A-La-Hán, đó là người khi chết chỉ còn Chân như tuyệt đối là tồn tại. Ðó là người "đã yên nghỉ". Dạng Niết bàn đó tuy nhiên không ưu việt bằng Niết-bàn của Phật, là dạng chủ động "dập tắt ngọn lửa đời sống" nhưng cũng chủ động ban phát lòng từ bi. Ðây là dạng thống nhất của Chân như với mọi chúng sinh, trong đó mỗi cá nhân vẫn còn tồn tại trong nghĩa qui ước.

Trong Thiền tông, Niết-bàn cũng không hề tách rời với thế giới này mà chính là sự trực ngộ được thể tính của Tâm, là thể tính của con người, thể tính của Phật. Thực hiện Niết-bàn phải thông qua trí huệ và vì vậy, có khi Niết-bàn được xem là đồng nghĩa với Trí huệ Bát Nhã. Niết-bàn và Trí huệ chỉ là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn là trạng thái của một người đã đạt trí huệ Bát-nhã, đã đạt tri kiến về Tâm và ngược lại Bát Nhã là trí huệ của một người đã thực hiện Niết-bàn."

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

NIẾT BÀN QUA TINH THẦN CAO ĐÀI GIÁO

E: Nirvana.
F: Nirvana.

Với Cao-Đài-Giáo, Thầy giải rõ: Dưới ba mươi sáu từng Trời còn có một từng nữa là nhứt mạch đẳng tinh-vi gọi là cảnh Niết Bàn. Chín từng nữa gọi là Cửu Thiên Khai Hóa tức là chín phương Trời cộng với Niết-Bàn là mười, gọi là Thập phương Chư Phật. Gọi "Chín phương Trời, mười phương Phật" là do đó. Cõi Niết-Bàn là chư Phật ngự, Phật-Tổ ngự nơi hướng Tây, Quan-Âm ngự nơi hướng Nam, mỗi từng đều có sơn xuyên hà hải, tứ phương bát hướng, liên đài hằng hà sa-số Phật".

"Cái phẩm-vị của các con phải buộc tái sanh nhiều kiếp mới đến điạ vị tối thượng mình là Niết-Bàn. Một lời nói với nhau, cũng đủ cả hai xuống thế mà khuyên giúp lẫn nhau. Con chẳng nên gọi là oan nghiệt".

 

 

NÍP TỬ XE CHÂU

Đây là câu thơ trong Truyện Kiều. Một hôm, Ông Bồng Dinh bạch cùng Ðấng AĂÂ: Trong Truyện Kiều có câu:

"Sửa sang níp Tử xe Châu,
"Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa".

Chẳng hay: Níp Tử xe Châu là gì? Xin Ngài chỉ giáo. Ðấng AĂÂ đáp: Níp Tử là cái rương của Khổng Tử. Xe Châu là cái xe của Châu Võ Vương ngồi đi phạt Trụ. Cái rương của Khổng Tử dùng đựng sách vở, tức là văn chương của người văn sĩ thác rồi, thời biết bao nhiêu học thức văn chương cũng theo xác thịt mà chôn vào quan cữu, nên Nguyễn-Du mới dùng hai chữ Níp Tử để gọi cái quan tài của bậc văn chương tài tử là nàng Ðạm Tiên. Vua Châu Võ Vương ngồi Long xa đi phạt Trụ, tức là gồm thâu giang sơn nhà Trụ vào đấy. Con người ở đời làm được bao nhiêu sự nghiệp, khi thác rồi cũng phủi tay không, thì chẳng khác nào bao nhiêu sự nghiệp tự mình gây dựng trong buổi sanh tiền, khi nhắm mắt rồi, thảy đều thâu vào trong linh xa vậy. Cho nên, Nguyễn Du dùng hai chữ Xe Châu để gọi cái linh xa của kẻ tài tình bạc mạng. (Trích trong Ðại Ðạo Căn Nguyên của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu).

 

 

NOLN DINH (Tên)

Tên một người Thổ (Campuchia) trên đường về Tòa Thánh cầu Đạo, nhưng bị giết chết. Hiện giờ được thờ tại Bát Quái Đài. Đền Thánh - Tòa Thánh Tây Ninh, như lời dạy của Đức Lý Giáo Tông: Ngày 24-1-Đinh Mão (dl: 25-2-1927)

"Thượng Trung Nhựt! Hiền Hữu phải lập tức cấp một cái bài vị Long chỉ niên, ngoạt, nhựt, thời, sanh tử của Noln Dinh, để tại Bàn Thánh, dưới Khương Thượng Tử Nha. Nhớ làm rõ ràng là để phía sau rốt rằng: "Tên Noln vì Đạo mà bị tên Mẹ Khum sát hại, có kiện tại Tòa, song phép công bình đời không đủ. Ngọc Đế cho qui vị vào bậc Thần, lại ban cho sắc chỉ báo oán. Nghe à! và tuân mạng Lão!" (TNCT. TTT. 819)

 

 

NON KỲ

Non Kỳ: núi Kỳ sơn thuộc đất Tây Kỳ thời Phong Thần nước Tàu.

Đức Lý dạy: qua bài thi rằng:

Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,
Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.

 

 

NON NAM

Thi văn dạy Đạo:

Phụng gáy non Nam, Ðạo trổ mòi,
Trổ mòi nhân vật bốn phương Trời.

 

 

NON THẦN

E: Mountain of immortals.
F: Montagne des immortels.

Non: núi. Thần: ý nói các vị Thần Tiên. Non Thần là núi có các vị Thần Tiên ở, chỉ cảnh Tiên.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Non Thần vẹt ngút tới tìm phương.

 

 

NÔ LỆ


F: esclave.

Nô lệ kẻ làm đầy tớ

Đức Hộ-Pháp nói: "Tổ-phụ ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn Quả ngày nay. Bần Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ-tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô-lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong. Các con để tâm suy nghĩ; ngó thấy ở dưới thế gian này ai mạnh cho bằng Tần Thủy-Hòang, Thành Cát Tư Hãn? Có ai mưu sĩ cho bằng Tào-Tháo? Còn Đức Thích-Ca, Đức Chúa Jésus-Christ không có một tấc thép trong tay để bảo vệ lấy thân mà làm bá chủ hòan cầu mới là lạ cho chớ!"

Đức Ngài còn nói về quyền hành cao cả của Hội Thánh: "Mấy em thấy từ thử Thầy mấy em làm nô-lệ cho Ðạo, tạo ra bao nhiêu của cải, mà vẫn cúi đầu trước Hội Thánh. Bởi quyền Hội-Thánh là quyền thiêng-liêng của Chí Tôn để tại mặt thế. Nếu phân chia thì bị tiêu diệt, mà còn bị Phong-đô dòm ngó nữa.!"

 

 

NỘ


F: Se mettre en colère.

NỘ cũng là một trong thất tình của con người, là: Hỉ, Ái, Lạc, Dục, Ai, Ố, Nộ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Chữ Nộ là Giận: Con người vì giận quá mà sanh hại đến gia đình, hoặc bị tù tội là khác. Nên có câu: "Nhứt Nộ sầu tâm khởi, bát vạn chướng môn khai." Nghĩa là một phen giận nổi lên thì trăm ngàn nghiệt chướng sanh ra, có thể làm tiêu nhà hại mạng, đến khi biết sự chẳng lành, tỉnh lại ăn năn thì đã muộn, nghĩ thôi đáng tiếc! Ví như ông Châu Công Cẩn (Chu Du), lầm mưu Khổng Minh Gia Cát Lượng, mà nộ khí xung thiên, đến đỗi thổ huyết lâm lụy mà chết. Ấy là một gương nêu cho đời lưu ý, còn nhiều sự giận mà chiụ khổ hình.

 

 

NỘ KHÍ


F: Colère.

(Nộ: giận; Khí: hơi). Phân tích chữ Nộ thấy có hai phần: phần trên là chữ Nô : nô lệ, dưới là bộ Tâm . Ghép lại thành chữ Nộ, nghĩa là người chưa chế ngự được thất tình, để nó dấy động mà cái tâm phải chịu làm nô lệ vậy. Nộ khí tức là cái sức nóng giận của người khi gặp phải một sự bất bình nào đó nên tự nó phát ra. NỘ cũng là một trong thất tình của con người, là: Hỉ, Ái, Lạc, Dục, Ai, Ố, Nộ.

Nộ khí hay Khí Nộ tức nhiên là khí giận, một trong Thất tình bị dấy động, khi gặp phải một việc không vừa lòng, thì mặt nóng bừng lên làm thay đổi sắc mặt, có khi tỏ thái độ giận dữ.

Đức Hộ-Pháp chấp bút, ngày 11-3-Bính Dần (dl: 22-4-1926) Thầy dạy: "Cười! TẮC, Khí nộ xung lên, động lung lay Huỳnh Kim Khuyết của Thầy đa! Con hiểu: Khổng Phu Tử xưa truyền ra Nhơn đạo khó dễ là dường nào: Qua Tề bị Yến Anh, qua Yên bị phế, qua Triệu bị đuổi, biết bao phen bị người bắt, kẻ buộc, ăn vác nằm sương, nhọc nhằn biết mấy, song chưa có một tiếng than cùng Thầy, còn con thì phiền. Con biết Lão Tử khi truyền Đại-Đạo là thế nào chăng? Người đời ấy chê Lão điên, còn con thì giận! Con hiểu khi Thích Ca truyền Đạo, khổ hạnh là dường nào chăng? -Còn con thì than. Con biết Jésus de Nazareth truyền đạo Thánh ra cho các Môn đệ bị tử đạo là dường nào chăng? - Còn con thì sợ nhục. Cười …! Thầy đã nói trước, TẮC, con ôi! Nếu kẻ nào khác hơn con, dầu đứng chín phẩm Thần Tiên, Thầy cũng cho bị đọa, còn con thì Thầy quá thương…."

Đức Lý dạy: "Hộ Pháp Hiền Hữu chẳng nên nộ khí lắm. Cái giận của Hiền Hữu chẳng bằng sự phạt của Thầy. Hiền Hữu biết giận chớ chưa biết phạt. Hiền Hữu sẽ thấy những kẻ dối Ðạo bị hình phạt nặng nề thế nào. Lẽ thì Bần Ðạo trục xuất những kẻ ấy ra liền, nhưng mà trục xuất rồi thì chư Ðạo Hữu chẳng đặng thấy hình phạt. Hiền Hữu phải đuổi Quới ra khỏi hàng Môn Ðệ, vì nhiều phen phạm giái chẳng kể Luật Ðạo chút nào. Nếu Lão chẳng vì huyết thệ thì đã trục xuất lâu rồi. Chỉnh đàn Thầy ngự".

 

 

NỘ KHÍ XUNG THIÊN

E: The towering rage.
F: La colège s’élève jusqu’au ciel.

Nộ: giận. Khí: hơi. Xung: xông lên. Thiên: Trời. Nộ khí xung Thiên là khí giận xông lên tới Trời, ý nói: sự tức giận dữ dội lắm.

 

 

NỐI TÔNG TỔ

Nối Tông tổ: Nối dõi Tổ tiên, phụng thờ Từ đường (Nối là làm cho dài dòng ra. Tông tổ là họ hành tông tộ)

Câu này muốn nói đến: Người vợ sinh con để kế thừa Tông tổ, thờ phụng Từ đường, ơn nghĩa đó biết bao nhiêu là nặng nề. Sự nghiệp tạo lập ra còn lưu lại đây là có ý sống cùng nhau đến chuổi ngày già.

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

"Nối Tông Tổ biết bao nghĩa trọng,
" Cơ nghiệp còn lưu mộng tang du."

 

 

NỘI GIÁO VÔ VI, NGOẠI GIÁO CÔNG TRUYỀN

教無為 - 外教公傳
E: The esoterism, The exsoterism.
F: L’ésotérisme, L’exotérisme.

Nội: Trong, bên trong, trái với Ngoại. Giáo: dạy. Vô vi: thuộc về vô hình.

Ngoại: ngoài. Công: chung. Công truyền: truyền bá rộng rãi cho người đời.

Bất cứ một nền tôn giáo nào cũng đều phải có hai phần: Phần Bí pháp, còn gọi là Nội giáo Vô vi. Phần Thể pháp, còn gọi là Ngoại giáo Công truyền.

 

 

NỘI LOẠN


F: Troubles Intérieurs.

(Nội là bên trong, trái với ngoại, loạn là trái với bình trị) tức nhiên là nhiều việc rắc rối xảy ra do chính bên trong khởi phát, nhỏ thì một gia đình, kế đến là trong nước, trong Tôn giáo

Thầy đã nói tiên-tri: "Chi chi qua Quí-Dậu cũng phải cho thành Đạo, mà trước khi Đạo thành thì Tam Thập Lục Động quỉ phá dữ-dội lắm, mà trừ an nội loạn rồi mới thành Thiên-cơ’’

 

 

NỘI LUẬT

內 律
E: Interior rules.
F: Règlement intérieurs.

Nội: Trong, bên trong, trái với Ngoại. Luật: luật lệ, phép tắc. Nội luật là các phép tắc đặt ra cho một cơ quan mà mọi người trong cơ quan phải tuân theo để công việc của cơ quan tiến triển trật tự và tốt đẹp.

Luật lệ trong một cơ quan lớn thì được gọi là Nội Luật, còn trong cơ quan nhỏ thì gọi là Nội Qui. Thí dụ như: Nội Luật của Ban Thế Đạo, Nội Qui của Đạo Đức Học Đường.

Nội Luật của một cơ quan ấn định các chức vụ trong cơ quan, nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm kỳ của mỗi chức vụ, cách tổ chức, việc khen thưởng và trừng phạt.

 

 

NỘI Ô - NGOẠI Ô

E: Urbain area, Outskirts.
F: Zône urbaine, Zône suburbaine.

Nội: Trong, bên trong. Ngoại: ngoài. Ô: cũng đọc là Ổ: cái dinh có xây tường thành bao quanh.

Nội Ô là khu vực trong thành, nên còn gọi là Nội thành. Ngoại Ô là khu vực ngoài thành, nên gọi là Ngoại thành.

Nội Ô - Ngoại Ô: Bên trong và bên ngoài chu vi Tòa Thánh.

Nội Ô Tòa Thánh là phần đất rộng 96 mẫu, tọa lạc tại làng Long Thành, cách Thị xã Tây Ninh chừng 5 km, nơi đó có cất Tòa Thánh và các cơ quan trung ương của Đạo Cao Đài.

Chung quanh Nội Ô Tòa Thánh có xây tường rào bao quanh chắc chắn, có 12 cửa ra vào, cất theo kiểu cửa Tam quan, bên trên có mái cong cổ kính. Các cửa được đánh số từ 1 đến 12 để gọi tên. Trong số 12 cửa nầy, có một cửa lớn nhứt, theo hướng Tây trước Tòa Thánh, gọi là Chánh Môn, và cửa nầy cũng là nơi khởi đầu của Đại lộ Chánh Môn.

Trong Nội Ô, có những con đường thẳng tắp, rộng rãi, theo hướng Nam Bắc và Đông Tây, ngang dọc như bàn cờ. Tên của các con đường nầy là Thánh danh của các Chức sắc tiền bối có đại công với Đạo. Trong Nội Ô có hai Đền thờ lớn: một là Tòa Thánh để thờ Đức Chí Tôn, hai là Báo Ân Từ để thờ Đức Phật Mẫu. Ngoài ra Hội Thánh còn xây dựng rất nhiều dinh thự để làm các cơ quan trung ương điều hành nền Đạo.

Phần Ngoại Ô của Tòa Thánh là Châu Thành Thánh Địa do các tín đồ khai khẩn và cư ngụ

 

 

NỒI DA XÁO THỊT

Thời mà nhân loại còn ăn lông ở lỗ, tức nhiên chưa biết chế ra lửa để làm chín thức ăn như bây giờ. Có nghĩa là ăn những vật sống, xé ra ăn như con thú vậy, ở thì trong hang, trong động. Sau, tiến bộ hơn, biết chế ra lửa bằng cách dùng hai cục đá xẹt vào nhau thì được lửa, rồi làm thịt thú vật lột lấy da làm nồi, để thịt lên trên nồi bằng da ấy mà nấu nên nói là "nồi da" rồi xáo thịt cho chín để ăn, nên gọi là "Nồi da xáo thịt". Nghĩa bóng là chỉ anh em tương tàn, sát hại nhau.

Đức Hộ-Pháp nói: "Kể từ ngày về Thánh Địa Đức Ngài Khai Pháp thường than khổ với Bần Đạo, vì sợ e không khỏi gây cảnh nồi da xáo thịt, bên ngoài thì Pháp, bên trong thì Việt Minh, ở giữa thì Quân Đội Cao Đài, ai vui hứng chớ riêng Đức Ngài không có ngày nào mà không lo sợ sự đổ máu giết chốc lẫn nhau làm đến tương tàn cốt nhục của nòi giống Việt Nam ta nữa mà chớ!"

 

 

NÔNG CANH

Kinh Khi Ăn Cơm Rồi có câu:

"Nguyện nhớ ơn Nông Canh nhằn-nhọc,
"Nguyện ơn người lúa thóc giã xay."

 

 

NÔNG TRANG

E: To urge.
F: Presser.

Nông trang (tiếng nôm) là nôn nóng thúc giục làm việc cho mau kết quả.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Quí anh quí chị coi bộ ráng nông trang hành đạo.

 

 

NÔNG VIỆN

:
E: Institute of Agriculture.
F: Institut d’Agriculture.

Nông: việc làm ruộng làm rẫy. Viện: tòa sở lớn.

Nông viện là một trong Cửu Viện Cửu Trùng Ðài, có nhiệm vụ tổ chức, đôn đốc việc trồng tỉa các loại cây lương thực để sản xuất lúa gạo, ngũ cốc, nuôi Chức sắc và các nhân viên công quả hành đạo.

Đứng đầu Nông Viện là một Chức sắc phẩm Phối Sư, có các vị Phụ Thống, Quản Văn phòng và Thơ ký giúp việc.

Nông Viện thuộc hệ thống trực tiếp của Thượng Chánh Phối Sư.

 

 

NỢ BA SINH

Thất Nương Diêu-Trì-Cung trả lời duyên cớ nào mà thác:

Trời già đành đoạn nợ ba sinh,
Bèo nước xẻ hai một gánh tình.
Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỉ,
Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình.

 

 

NỢ TIỀN KHIÊN

Đức Hộ-Pháp nói: "Các con nhớ rằng: dữ tận hiền thăng, mạnh thua yếu được, nhu nhược trường tồn, Xỉ cương tắc chiết. Nhơn loại trả quả với nhau các con chịu cái nạn chung, trả từ đời Hồng Bàng tới giờ. Tổ phụ của chúng ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn quả ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong."

 

 

NƠI LÒNG THẦY NGỰ ĐỘNG THẦY HAY

Người tu hành là phải nói ngay đến đức tin, lòng tín ngưỡng về Tôn giáo hay một Đấng Thiêng liêng nào đó. Thế nên vì có lòng tín ngưỡng nên có sự cảm ứng với thần linh. Nhất là buổi Cao Đài ngày nay, nhờ Cơ Bút làm thông công nên Thầy cho biết: Khi ta suy nghĩ điều gì thì Thầy đều hay biết, vì Thầy đã ngự nơi tâm tư mỗi người rồi.

Thánh ngôn Hiệp tuyển quyển I trang 8, Thầy có dạy với lời lẽ thâm tình của một Đấng Cha hiền: "Thầy cấm, không cho dị nghị việc người, nhứt là Đạo-hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp; chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó".

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Nơi lòng Thầy ngự động thầy hay,
Ngặt nỗi là xưa chẳng dám bày
Đạo hạnh khuyên con gìn tánh đức,
Cửa Kinh Bạch Ngọc đã gần khai.

Chắc hẳn mỗi việc chi đều có duyên cớ trong thuở ban đầu, cho nên Đức Chí-Tôn mới nhân việc ấy mà để lời giáo hoá, cũng là một cách tu đức để ngàn đời sau. Hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam được hưởng tất cả những ân huệ nồng nàn, mà có lẽ từ xưa đến giờ các bậc cha ông chúng ta cũng từng ước ao được một phần nào như chúng ta có được như hiện tại, mà chẳng bao giờ được. Nguyên buổi tiền khai Đại-Đạo hai ông CƯ, TẮC (sau các Ngài đắc phong Thượng Phẩm và Hộ Pháp thuộc Hiệp-Thiên-Đài) đem Cơ đi đến từng chùa, từng nhà để Đức Chí Tôn giáng Cơ dạy đạo. Tùy theo người hầu đàn, tùy theo trí thức hay nông dân, Thiêng liêng uyển chuyển, linh động mà giáng Cơ dìu dẫn họ vào đường đạo lý. Có khi triết lý, có khi chính trị, việc đời hay gia sự. Cơ Bút đều đáp ứng rất thỏa đáng theo lời cầu xin. Dù vậy, có những việc xảy ra bất bình thường mắt phàm không thể nào hiểu được, nên mới có lời xầm xì bàn kín với nhau, nhưng Đức Chí Tôn vẫn biết vì quả thật là "Nơi lòng Thầy ngự động Thầy hay": Một hôm, Ơn Trên giáng phong cho ông Huyện Nguyễn Ngọc Thơ phẩm Phối Sư phái Thái, tức là. Thái Phối Sư Thái Thơ Thanh. Ông Thơ vốn làm nghề thầu khoán cho Pháp, nên các ông Trương Hữu Đức, Nguyễn Trung Hậu, Trần Duy Nghĩa xúm nhau dị nghị, nói với nhau bằng câu tiếng Pháp:

- Il n' était pas propre! (Ông ấy không trong sạch).

Bỗng nhiên, hai tay ông Trần Duy Nghĩa run lên chuẩn bị tiếp điển phò Cơ, vì có điển Thiêng liêng giáng. Đức Thượng Đế dạy: Thầy muốn tận độ chúng sanh, cho nên có khi Thầy cũng phải làm ông thầy phàm. Nếu các con biết lẽ Đạo thì từ nay Thầy cấm dị nghị. Dù vậy, tiếng đời vẫn kích bác cho rằng kẻ giàu sang được phẩm tước cao trọng. Thế nên, ông Cao Quỳnh Cư bạch Thầy và nhận được lời dạy:

- Tiền bạc của chúng nó là của chúng sanh. Thầy lấy tiền đó để phổ độ chúng sanh thì có sao đâu!?

Cũng trong bài Thánh ngôn này, Thầy luôn nhắc nhở đến chữ "HOÀ THUẬN, THƯƠNG YÊU" Chính đó là định luật của Càn khôn vũ trụ này vậy.

 

 

NÚI BÀ ĐEN (gọi tắt là núi Bà)

BÀ ÐEN là LINH SƠN THÁNH MẪU.

Nơi tỉnh Tây Ninh có một ngọn núi cao nhất miền Nam Việt-Nam, được gọi là núi Ðiện Bà, tục gọi là núi Bà Ðen, vì trên núi có lập một cái Ðiện để thờ Bà Ðen. Bà Ðen rất linh thiêng nên được vua Gia Long truyền cho đúc cốt tượng thờ Bà bằng đồng đen và sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu. Vào khoảng cuối năm 1953, Ông Bùi Trung Phẩm có làm tờ dâng lên Ðức Hộ Pháp xin rước cốt Bà Ðen về thờ nơi Báo Ân Từ Tòa-Thánh Tây-Ninh, Ðức Hộ Pháp phê như sau:

"Tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối Sư cùng hai vị Quyền Thượng Chánh Phối Sư, Thái Chánh Phối Sư, sắp đặt trước đặng rước cốt Bà Linh Sơn Thánh Mẫu về để thờ tạm nơi Báo Ân Từ cho tới khi thái bình trở lại, trùng tu am tự nơi Ðiện Bà rồi sẽ đem về Ðiện trả lại. Nghĩ đến tình cũ trong hồi lao khổ tù đày nơi ngục, mà Bà đến thăm viếng, an ủi, bênh vực và phò hộ, Bần Đạo phải lo trả nghĩa nầy. Công chuyện làm cũng lễ nghi phải cho long trọng, phải tuyên truyền cho toàn tỉnh, nhứt là Châu Thành Tây Ninh hay, đặng định ngày họ đến dự lễ."

Theo Ðạo sử, ngày 4-6 Nhuần- Tân Tỵ (dl: 27-7-1941), Ðức Hộ Pháp bị nhà cầm quyền Pháp bắt tại Tòa Thánh. Ngày 11-7-Tân Tỵ (dl 2-9-1941), nhà cầm quyền Pháp lại vào Tòa Thánh bắt thêm ba Chức sắc nữa là: Ngài Chánh Phối Sư Ngọc Trọng Thanh, Giáo Sư Thái Gấm Thanh, Sĩ Tải Ðỗ Quang Hiển; đồng thời tại Sài Gòn chúng bắt Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa và bắt Giáo Sư Thái Phấn Thanh tại Nam Vang. Nhà cầm quyền Pháp đưa Ðức Hộ Pháp trở về Tòa Thánh ngày 4-8-Bính Tuất (dl: 30-8-1946).Ðức Hộ Pháp bị đày như vậy ở Madagascar thời gian 5 năm 2 tháng.

Trong thời gian Ðức Hộ Pháp cùng năm vị Chức sắc bịnhà cầm quyền Pháp lưu đày nơi đảo Madagascar ở Phi Châu, Bà Linh Sơn Thánh Mẫu thường đến giáng bút chuyện trò cùng an ủi Ðức Hộ Pháp. Bà không xưng tước hiệu của Bà, chỉ nói rằng: Thầy thiếp là Vương Thất Nương sai thiếp đến đây để viếng thăm Ðức Hộ Pháp. (Vương Thất Nương là Thất Nương Diêu-Trì-Cung, thế danh Vương thị Lễ). Khi Bà thăng rồi thì Ðức Hộ Pháp thấy hột ngọc của chiếc nhẫn đeo nơi ngón tay phát ra tia hào quang thì Ðức Ngài biết đó là Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, vì hột ngọc nầy do ông Lễ Sanh - Giáo Thiện Võ văn Ðợi kiếm được ở trên núi Ðiện Bà khi ông lên thỉnh cốt Bà về thờ nơi Báo Ân Từ. Lúc còn bị đày trong ngục Nossilava ở đảo Madagascar, Ðức Hộ Pháp tay cầm một cái que, tay kia khỏa cát thì liền tiếp điển của Bà Linh Sơn, viết trên cát bài thi sau đây:

Nô-Si-Lao tiếng đặt buồn cười,
Mi đã rước ai hỡi hỡi ngươi?
Lượn thảm bổ gành tình ột ạt,
Gió sầu khua đảnh ái tơi bời.
Yêu phu điểu gợi thương cành sớm,
Vọng ngạn quyên kêu nhớ bụi mơi.
Tổ quốc đon đường bao dặm thẳng,
Ðưa xa thăm thẳm một phương trời.

***

Hòn đảo nầy đây trước nhốt tù,
Ngày nay làm khám khảo thầy tu.
Quả như oan nghiệt vay rồi trả,
Thì lũ Tây man Nhựt Bổn trừ.

Sự tích Bà Đen:

Có hai truyền thuyết về sự tích Bà Ðen:

*Bà Ðen là nàng Ðênh, người Cao Miên.
*Bà Ðen là Lý Thị Thiên Hương, người Việt Nam.

1.- Bà Ðen là Nàng Ðênh:

"Tương truyền rằng, khi xưa, thuở còn là phần đất của Cao Miên, tại vùng rừng núi Tây Ninh có một viên quan trấn thủ người Miên sinh hạ được hai con: một trai tuấn tú và một gái hiền thục, tục gọi là nàng Ðênh. Lúc nàng Ðênh 13 tuổi, có ông sư người Tàu tên là Trung Văn Danh từ Bến Cát (Thủ Dầu Một) đến vùng núi Tây-Ninh tìm chùa làm nơi hoằng dương Phật pháp. Khi đến nhà quan trấn, sư ông thăm hỏi việc truyền bá đạo Phật trong vùng và dò la kiếm nơi cất chùa hành đạo. Quan trấn thủ mời nhà sư tạm nghỉ nơi nhà mình để ông thừa dịp học đạo. Sư ông vui vẻ nhận lời và từ đó bắt đầu truyền bá Phật pháp trong gia đình quan trấn và cơ vệ đội. Tuy tuổi trẻ nhưng sớm nhuộm màu thiền, nàng Ðênh miệt mài nghe sư ông giảng đạo. Quan trấn cũng mộ đạo nên thiết lập cho sư ông một cảnh chùa, nay còn di tích là chùa Ông Tàu, nằm về phía Ðông chân núi, phía làng Phước Hội đi lên. Thời gian thấm thoát trôi qua, nghĩ lại đã mấy năm xa cách thiện nam tín nữ Bến Cát, sư ông bèn tạm biệt quan trấn để trở về thăm cảnh cũ người xưa. Từ ngày sư ông vắng mặt, nàng Ðênh vẫn một lòng sùng kính Phật đạo, luôn luôn lo việc hương khói trong chùa.

Vốn con nhà trâm anh, lại tuổi tới tuần cập kê, nên nhan sắc nàng Ðênh càng thêm xinh lịch, tiếng đồn khắp nơi. Quan trấn địa phương vùng Trảng Bàng có dinh đặt tại Sông Ðua thuộc làng Lộc Hưng (nay còn di tích), mới cậy mai mối hỏi cưới nàng Ðênh cho con trai trưởng của ông. Thân sinh nàng Ðênh vui vẻ tán thành. Nhưng khi nói lại cho nàng Ðênh biết thì nàng rất bối rối, chưa biết trả lời ra sao, nàng xin cha mẹ đình đãi để kịp suy nghĩ. Qua nhiều đêm trằn trọc, vì nàng Ðênh đã phát nguyện xuất gia tu hành, không thể lấy chồng, nàng quyết tâm lánh mặt. Một đêm, khi cha mẹ ngủ yên, nàng Ðênh lén ra đi tìm nơi thuận tiện để tiếp tục tu hành. Mọi việc dở-lở ra, quan trấn cho lính đi tìm nàng Ðênh khắp nơi, kẻ băng rừng, người lên núi, mãi đến trưa, quân lính tìm thấy trong kẹt đá một khúc chân của nàng Ðênh, có lẽ nàng bị thú dữ bắt ăn thịt còn sót lại một khúc chân, vội báo về cho quan trấn rõ. Sau khi khóc than thương tiếc, quan trấn cho mai táng khúc chân nàng Ðênh trên núi và rước thầy tụng kinh giải oan cho nàng. Dân địa phương cho rằng, nàng Ðênh chết oan như thế ắt rất linh hiển, nên từ đó, khi gặp việc gì khó khăn thì khấn vái nàng Ðênh phò hộ thì thường được toại ý.

Việc nàng Ðênh hiển linh đồn xa, nhân dân rất sùng kính nên gọi nàng là Bà Ðênh để tỏ ý tôn kính. Thời gian trôi qua.. Bao nhiêu năm sau, lúc ấy Chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đuổi theo rất gấp, từ Gia Ðịnh, Nguyễn Ánh theo đường sứ đi Tây Ninh định trốn qua Miên. Lúc Nguyễn Ánh chạy đến Trảng Mang Chà vùng bùng binh hiện nay, thì quân Tây Sơn cũng đuổi theo gần tới, nhân dân cho biết trên núi có Bà rất linh, ai cầu gì được nấy. Nguyễn Ánh liền sai quan Quản Cơ Lê văn Duyệt phi ngựa lên núi cầu Bà mách giùm cách thoát nạn và cho biết tương lai.

Trong đêm, Nguyễn Ánh được Bà hiện ra trong giấc chiêm bao cho biết cứ theo đường sứ đến Tây Ninh, vòng qua núi, lên Võ môn Tam cấp, rồi qua Xiêm cầu viện, nghiệp cả sẽ nên, còn việc ngăn đón quân Tây Sơn để Bà lo liệu giúp cho. Sau khi Nguyễn Ánh dẹp được nhà Tây Sơn, lên ngôi vua xưng là Gia Long, Ngài nhớ ơn cũ, cho đúc tượng Bà bằng đồng đen để thờ và sắc phong cho Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu." (Viết theo sách Nếp Cũ Hội Hè Ðình Ðám của Toan Ánh). Dân chúng truyền nhau sự tích của Bà Ðênh, và vì kiêng úy nên gọi trại ra là Bà Ðen.

2.- Bà Ðen là Lý Thị Thiên Hương:

Tại Trảng Bàng, có cô gái tên Lý thị Thiên Hương, con của ông Lý Thiên và Bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp. Tuy Thiên Hương không đẹp nhưng rất có duyên và có tài năng khiến nhiều người để ý. Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, được nhà sư Trí Tân nuôi dưỡng từ nhỏ, nên có được văn hay võ giỏi. Lúc đó, con trai của Hà Ðảnh, quan Huyện Trảng Bàng, rất bạo ngược, dùng quyền thế, tiền bạc mua chuộc Thiên Hương đem về làm thiếp nhưng không được, nên sai một thuộc hạ thân tín tên Châu Thiện cầm đầu nhóm người Miên dùng võ lực quyết bắt nàng Thiên Hương đem về cho kỳ được. Thiên Hương bị đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Nàng rất cảm động tạ ơn chàng, rồi về nhà thuật chuyện cho cha mẹ nàng rõ. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn. Ngày chia tay, nàng ngậm ngùi nói:

- Một lời đã hứa cùng nhau, thiếp nguyện thủ tiết chờ chàng trở về. Xin chàng an tâm lên đường nghĩa vụ.

Chàng ra đi, nàng ở nhà vò võ trông chờ ngày đoàn tụ. Một hôm nàng lên núi lễ Phật và thăm sư Trí Tân, dưỡng phụ của Lê Sĩ Triệt. Lúc về đến chơn núi, thình lình bọn Châu Thiện thấy nàng đi một mình, liền vây bắt. Nàng chạy trở lên núi nhưng bị tuyệt đường, đành nhào xuống khe núi tử tiết. Ba hôm sau, Thiên Hương báo mộng cho sư Trí Tân, trụ trì ngôi chùa trên núi. Hoà Thượng thấy Thiên Hương hiện ra nói:

- Ðệ tử là Thiên Hương 18 tuổi, chẳng may bị bọn gia nô của quan Huyện Trảng Bàng vây bắt nên phải nhào xuống khe núi tử tiết. Nhờ căn tu kiếp trước nên linh hồn được siêu thoát, dù đã ba ngày nhưng xác vẫn còn nguyên, xin Sư phụ xuống triền núi đông nam đem thi hài của đệ tử hỏa táng giùm. Hòa Thượng làm theo lời mách bảo, tìm gặp xác của Thiên Hương, làm lễ hỏa táng chu đáo. Bọn Châu Thiện đến xem hỏa táng bị nàng Thiên Hương báo oán, khiến cho hộc máu chết liền tại chỗ. Sau một thời gian khá lâu, Chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy lạc đến Tây Ninh, nàng Thiên Hương đến báo mộng, mách bảo Nguyễn Ánh phải qua Xiêm tá binh, sau nầy sẽ khôi phục cơ đồ, thống nhứt giang sơn. Sự linh hiển của nàng Thiên Hương được đồn vang, dân chúng các nơi lên núi Tây Ninh cầu cúng rất đông. Lúc bấy giờ Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt ở Gia Ðịnh đi lên núi Tây Ninh xem xét hư thực thế nào, đến nơi nói với người khuất mặt:

- Hồn trinh nữ Thiên Hương quả có hiển linh, hãy xuất hiện cho bổn chức xem thử.

Xảy thấy một cô gái chạy đến ứng tiếng:

- Tôi là Thiên Hương đây, xin chào Thượng quan.Thì ra Lý Thị Thiên Hương nhập vào xác của một cô gái đến nói chuyện với quan Thượng Công. Cô nói tiếp:

- Tôi xin mách trước cho Thượng quan biết, Thượng quan sau nầy sẽ được phong Thần vinh hiển, nhưng xác của Thượng Công bị hành hạ, mả bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét, sau mới được minh oan. Ngài Thượng Công Lê văn Duyệt nói:

- Bổn chức không cầu xin biết tương lai của mình mà muốn biết rõ căn do của nàng.

Hồn Thiên Hương qua miệng cô gái thuật rõ mọi việc:

- Thượng Ðế chứng lòng đoan chính của thiếp, nên cho thiếp hết đọa luân hồi và được xuống trần cứu nhơn độ thế. Ngài Thượng Công không còn nghi ngờ gì nữa, liền dâng sớ về triều tâu rõ mọi việc. Vua Gia Long nhớ lại chuyện bôn tẩu năm xưa, khi đến Tây Ninh, có nàng Thiên Hương hiển linh báo mộng, nên ra sắc chỉ phong Lý Thị Thiên Hương là Linh Sơn Thánh Mẫu, chủ trì Linh Sơn Tiên Thạch Ðộng, cho cất điện và đúc tượng bằng đồng đen để thờ nơi núi Tây Ninh. Kể từ đó, núi Tây Ninh được gọi là núi Linh Sơn và để tránh gọi tên Thiên Hương, dân chúng gọi là Bà Ðen, vì tượng của Bà màu đen và gọi núi ấy là Núi Bà Ðen. Lễ Vía Linh Sơn Thánh Mẫu được tổ chức hằng năm tại Ðiện Bà vào dịp đầu Xuân, từ ngày mùng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch, có hằng trăm ngàn người đến cúng vái cầu xin sự phò hộ của Bà để việc kinh doanh và việc gia đình được may mắn tốt đẹp.

 

 

NÚI Ô-LI-VÊ (Mont des Oliviers)

Núi Ô-Li-Vê là đọc từ âm chữ Pháp Mont des Oliviers, chỉ một ngọn núi ở gần thành Jérusalem của Do Thái. Nơi ngọn núi này Đức Chúa Jésus Christ đã từng tiên tri về thành Jérusalem sau này sẽ bị tàn phá và về sự tái sinh của Ngài. Trước khi Ngài chết để chuộc tội cho loài người, Ngài có lên núi Ô-Li-Vê (Mont des Oliviers) để cầu nguyện Đức Thượng Đế tha tội cho nhơn loại.

Kinh Khi Về có câu:

"Núi Ô-Li-Vê để dấu chân,
"Gia Tô Giáo Chủ giải phần hữu sanh."

 

 

NÚI TU-DI

Đức Chí-Tôn dạy: "Còn núi Tu-Di cao phỏng độ tám ngàn thước. Núi nhiều nên chỗ thấp, chỗ cao không đồng, phong-thủy mùa tiết nóng-nực không đồng, mùa nắng tại đây, chỗ khác lại mưa; xứ nóng-nực, xứ lạnh-lùng, ngày đêm trong cực địa hai mươi bốn giờ, còn ở Bắc-Băng-dương sáu tháng tối, sáu tháng sáng, quanh năm nước đặc như giá, chỗ chua, chỗ mặn, chỗ ngọt, không đều."

 

 

NUÔI NẤNG

F: Nourrir.

Nuôi nấng là tiếng Nôm. Chỉ một sự chăm chút kỹ lưỡng, nâng niu, quí trọng như hình ảnh người Mẹ nuôi con.

Thánh Ngôn Thầy dạy: "Khi khai Thánh giáo bên Thái Tây thì Chí-Tôn đã nói trước: còn nhiều chuồng chiên Người sẽ đến đem về làm một. Lời tuyên ngôn ấy nghĩa là còn nhiều Đạo đương nuôi nấng ung đúc tinh thần của con cái Chí-Tôn đặng chờ ngày Người đến hiệp chung lại Một, lời ấy ngày nay đã quả. Các chuồng chiên Thiêng liêng của Chí-Tôn về phần: Tiên Đạo thì là Lão-Tử-Giáo, Dương Châu, Mặc Địch, Vạn pháp, Bàn Môn cho tới thầy pháp, thầy phù, bóng, chàng, đồng cốt…".

Kinh Nhập Hội có câu:

"Một nuôi nấng tinh thần tinh-khiết,
"Hai dạy răn cho biết tội tình,
"Ba lo trị thế thái bình,
"Cộng chung Pháp-Luật Thiên-Đình chí công."

 

 

NUỐT ĐẮNG TRÊU CAY

Đắng và cay là hai thứ khó ăn, khó nuốt vào, vì các vị đó khi ăn không quen thì làm cho lưỡi tê khó chịu. Thế mà người không muốn ăn lại bị buộc phải ăn, phải nuốt những thứ mà khó nuốt. Nghĩa bóng là nói đến những việc làm bị bắt buộc, làm trong sự miễn cưỡng mà những người vì Thầy, vì Đạo phải chịu đựng khi gặp phải cảnh trái ngang.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nam chí nữ gần xa dìu dắt,
Đeo theo Thầy dạ sắt không lay.
Phong trần một bước một gay,
Nhiều phen nuốt đắng trêu cay với đời.

 

 

NỮ ANH TÀI

(Nữ là phái nữ, trái lại là phái nam, là hai mối Âm Dương trong trời đất. Anh nghĩa chính là vua của loài hoa, là hoa vừa thơm vừa đẹp. Tài là khả năng đặc biệt của người). Nữ anh tài là chỉ người phái nữ có tài ba đức độ, đáng kính, đáng tôn trọng, vùa đẹp người, đẹp nết; nghĩa bóng là chỉ cái đẹp bên trong của người con gái: đoan trang, phúc hậu; lại có khả năng đặc biệt, hơn người. Nếu nói về văn chương, thi phú mà nàng Tô Huệ đã thể hiện qua "Chức Cẩm hồi văn", như các Nữ sĩ Việt Nam là Bà Đoàn thị Điểm văn chương xuất chúng; Còn võ-nghiệp cứu lấy non sông, phất cờ khởi nghĩa như Bà Trưng, Bà Triệu, tức nhiên là những bậc nữ lưu có tài ba hơn người thường, được lịch sử ca tụng. Ngày nay trong cửa Đạo Cao Đài các bậc Nữ-anh-tài là phải nói đến là Cửu vị Tiên Nương là Đấng tài ba quán chúng. Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh..là Nữ anh tài của nền Đại Đạo ngày nay.

Ông Phạm-Công-Tắc (sau là Hộ-pháp) rất khen lời châu ngọc về điệu thơ Tiên của Thất Nương, xong hoạ ngay:

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
Trời xanh vội lấp Nữ-anh-tài.
Tình thâm một gánh còn dương-thế,
Oan nặng ngàn thu xuống dạ-đài.

 

 

NỮ ĐẦU SƯ

E: Lady cardinal.
F: La Cardinale.

Nữ Đầu Sư là phẩm vị cao nhất của Chức sắc nữ phái Cửu Trùng Đài. Phẩm Nữ Đầu Sư chỉ có một vị.

Không như bên Cửu Trùng Ðài nam phái, phẩm Nữ Đầu Sư chỉ có một vị, còn bên nam phái, Đầu Sư có 3 vị phân ra theo Tam Thanh: Thái Đầu Sư, Thượng Đầu Sư và Ngọc Đầu Sư.

Quyền hành, nhiệm vụ, Đạo phục của Nữ Đầu Sư được qui định rõ trong Pháp Chánh Truyền Chú giải.

Từ ngày Khai Đạo 15-10-Bính Dần (1926) đến nay, Nữ phái Cửu Trùng Ðài có 3 vị Nữ Đầu Sư:

Nữ Đầu Sư Hương Thanh (Lâm Ngọc Thanh).

Nữ Đầu Sư Hương Hiếu (Nguyễn Thị Hiếu)

Nữ Đầu Sư Hàm phong Hương Lự (Hồ Thị Lự).

 

 

NỮ ÐẦU SƯ Lâm Hương Thanh (1874-1937)

Lâm Ngọc Thanh - Nghiệp Chủ Vũng Liêm.

1- Phần Đời: Thế danh Bà là Lâm Ngọc Thanh, sanh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Trung Tín, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Thân mẫu Bà là Trần Thị Sanh. Không rõ tên ông thân sanh. Bà Lâm Ngọc Thanh là vợ của một người Pháp tên Monnier, gọi là Ông Huyện Huỳnh-Ngọc-Xây (Tên Việt), nên Bà thường được người ta gọi là Bà Huyện Xây, là một nghiệp chủ rất giàu có tại Vũng Liêm. Ông và Bà có một người con gái tên là Huỳnh Thị Hồ. Ông Huyện Xây qua đời, Bà tái giá với Ông Huyện Hàm Nguyễn-Ngọc-Thơ, một nghiệp chủ ở Tân Định Sài-gòn. Hai Ông Bà đều hâm mộ Phật giáo, đều qui y theo Phật, thọ giáo với Hòa Thượng Như Nhãn, trụ trì Chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn. Bà Lâm-Ngọc-Thanh rất sùng kính Đức Phật Thích Ca, nên gần bên biệt thự của Bà ở Vũng Liêm có lập một ngôi chùa Phật để gia đình Bà cùng với dân chúng xung quanh có nơi chiêm bái.

2- Thời-kỳ gặp Đạo Cao-Đài: Bà Lâm Ngọc Thanh vừa giàu về vật chất lại giàu về tinh-thần, đã cống hiến một sự nghiệp, một tài sản lớn lao cho nghiệp Đạo. Bà sớm sùng mộ Đạo Phật nên khi gặp Đạo Trời khai, Bà sẵn sàng đến với Đạo trong một Đức-Tin trọn vẹn. Nếu đã là bậc Thiên mạng thì việc ngộ Đạo chỉ là duyên cớ để cho Đức Chí-Tôn gom con cái của Ngài lại mà thôi. Đầu năm Bính-Dần (1926) Ông Phạm Tấn Đãi (sau là Khai Đaọ Hiệp-Thiên-Đài), nhà ông ở Rạch-kiến, huyện Bến lức, tỉnh Long an. Ông thường chấp bút học Đạo. Buổi nọ, ông được lịnh Đức Chí-Tôn dạy: "Đãi, con hiệp cùng Trung để độ Thơ"(1)

Ông Phạm-Tấn-Đãi vốn chưa quen biết các vị này, nhưng vì lịnh của Đức Chí-Tôn nên lên Sài-gòn tìm đến nhà ông Cao-Quỳnh-Cư để hỏi thăm về ông Trung (2) mà tìm đến ông Thơ. Khi gặp được nhà ông Trung thì người nhà cho biết là ông Trung đã ra Sài-gòn gặp ông Thơ rồi! Khi gặp được đầy đủ liền trình bài Thánh-giáo do Thiêng-Liêng đã dạy cho hai ông xem. Ông Thơ xem xong nói: "Tôi muốn làm sao hai ông cầu-nguyện cho tôi chấp bút được mới linh!"

Các ông bằng lòng và buộc ông Thơ trai giới ba ngày. Đồng thời hai ông Phạm-Tấn-Đãi và Lê-văn-Trung cũng ở đó và hiệp cùng ông Thơ để cầu nguyện Ơn trên. Quả đúng như lời cầu xin "nhơn hữu thiện nguyện thiên tắc tùng chi". Sự chấp bút, thông công với các Đấng Thiêng liêng được kết quả. Ông xin làm thế nào để độ vợ Ông ở Vũng liêm cùng theo một Đạo để thuận chiều thuận hướng về tâm linh. Ông nguyện xin cho biết giờ này Bà Lâm-Ngọc-Thanh đang làm gì ở Vũng-Liêm? Ông được Ơn trên báo cho từng chi tiết, ông ghi rõ cất giữ, rồi đánh điện tín gọi Bà lên. Lên tới, Bà báo-cáo từng sự việc đúng như sự thể, càng làm tăng lòng tin-tưởng cho cả hai người. Bà liền nghĩ cách làm thế nào để độ ông Thầy của ông bà là Hoà Thượng Như Nhãn nữa. Ông Lê văn Trung và ông Nguyễn Ngọc-Thơ đồng ý nên cậy ông Phạm-Tấn-Đãi ra nhà ông Cao Quỳnh-Cư để mời ba ông: Cư, Tắc, Sang (nay là Thượng Phẩm, Hộ-Pháp, Thượng-Sanh) và đạo hữu lập Đàn cầu Cơ tại nhà ông Thơ. Việc cầu Cơ được kết quả.

3- Thời-kỳ hành Đạo: Bà Lâm-Ngọc-Thanh được Đức Chí-Tôn độ vào Đạo Cao-Đài. Bà hiến dâng một phần sản nghiệp vĩ đại của Bà để giúp Đạo trong buổi sơ khai có được phương tiện hoằng hóa mối Đạo Trời. Bà hiến đất làm Đền Thánh, Bà biến cả ngôi Chùa do Bà xây dựng ở bên cạnh biệt thự thành một Thánh Thất thờ Đức Chí-Tôn để những người trong vùng đến đó Nhập môn cầu Đạo, họ là những tá điền của Bà. Bà in kinh phát cho không, may cho Đạo phục. Tình thầy trò giữa Hòa Thượng Như Nhãn và Ông Bà Nguyễn Ngọc Thơ rất là thân thiết. Ông Hòa Thượng Như Nhãn cũng đã Nhập môn vào Đạo. Ông bằng lòng hiến ngôi chùa Từ-Lâm-Tự ở Gò Kén Tây-Ninh cho Đạo Cao Đài dùng làm Thánh Thất tạm, tổ chức Lễ Khai Đạo. Vả lại khi cất ngôi chùa nầy, Ông Bà Thơ đã đóng góp một số tiền lớn, giờ này tiếp-tục tu bổ và tạo tác thêm. Vào đêm 14 rạng ngày rằm tháng 10 năm Bính-Dần (dl 18-11-1926) là ngày Đại Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất tạm Từ Lâm-Tự, Bà Lâm Ngọc Thanh thọ Thiên Ân Nữ Giáo Sư, Thánh danh là Lâm Hương-Thanh. (TNHT.II./13)

Từ ấy, Bà lo Phổ-độ nhơn sanh khắp các Tỉnh, khi thì Khai đàn, lúc Thượng tượng, giảng đạo, đọc Thánh ngôn cho nhơn sanh được thấu hiểu chơn truyền Đại-Đạo. Trong kỳ Phong Thánh Nữ-phái lần thứ I ngày 14 tháng giêng năm Đinh Mão (dl 15-2-1927), Đức Chí Tôn thăng phẩm cho Bà lên hàng Nữ Phối Sư, cầm đầu Nữ phái và phong người con gái của Bà, Cô Huỳnh thị Hồ, vào phẩm Nữ Giáo Sư, Thánh danh Huỳnh Hương Hồ. Bà Lâm Hương Thanh và Ngài Thái Thơ Thanh xuất tiền riêng ra mua thêm một miếng đất rừng nữa, từ ngã ba Ao Hồ vào giáp với miếng đất đã mua cất Tòa-Thánh để tạo cảnh Cực Lạc Thế giới, gọi là Cực Lạc Cảnh.

Ngày mùng 9-3 Kỷ-Tỵ (dl 16-4-1929) Bà Lâm Hương Thanh được thăng phẩm Nữ Chánh-Phối-Sư, Chưởng quản Hội-Thánh Nữ phái.

Năm Đinh Sửu (1937) Đức Hộ Pháp cùng Hội Thánh đi Nam Vang lo Đạo sự nơi đó, giao cho Bà ở nhà lo ngoại giao với nhà cầm quyền Pháp ở những nơi nào Đạo bị làm khó dễ. Bà đi hầu Tòa, rồi trở về, kế đó lâm trọng bịnh. Bà qui Thiên vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (dl: 17-5-1937) đúng vào ngày Lễ Thánh đản của Đức Phật Thích Ca, tại quê nhà ở Vũng Liêm, hưởng thọ 64 tuổi. Đức Hộ Pháp lúc đó đang hành đạo ở Nam Vang, được tin điện, cấp tốc trở về để cùng Hội Thánh lo Lễ Đạo táng cho Bà. Một điều huyền diệu là khi Bà Lâm Hương-Thanh còn sống thì Bà lo đi ngoại giao với chánh quyền Pháp về việc Đạo, rồi khi thoát xác đăng Tiên, Bà cũng lo y như vậy. Số là Đạo xin phép Khai đàn, nhà cầm quyền Pháp lúc đầu thì cho, sau lại cấm. Hội Thánh chưa biết tính sao thì Bà liền giáng cơ nói: Để Bà lo việc đó cho và yêu cầu Hội Thánh cử người đến xin, kỳ sau thì được dễ dàng. Quả đúng y như vậy. Sau khi Bà qui Thiên được 17 ngày, đến ngày 25-4 Đinh Sửu (dl: 3-6-1937), Bà được Đức Chí-Tôn ân tứ lên phẩm Nữ Đầu Sư, vì Bà là người có đại công với Đạo trong buổi sơ khai và là người Chị cả, dìu dẫn cả đoàn em Nữ phái Cao Đài. Sau, Hội Thánh đem hài cốt của Bà ở Vũng Liêm về Tòa Thánh, đặt vào Bửu tháp Nữ Đầu Sư, xây ở phía Tây Lang Tòa Thánh và tượng của Bà được tạc ở mặt tiền Đền Thánh, phía bên Nữ phái, trên Lôi Âm Cổ Đài, để nhơn sanh chiêm ngưỡng một bậc Nữ Chức sắc đại công của Đạo.

4- Lời Bà Tự thuật: "Nhắc lại đoạn đầu khi Tôi Nhập môn rồi, khiến lòng Tôi suy-nghĩ cuộc đời không thấy ích gì cho phần linh hồn, nên Tôi không còn luyến tiếc sản nghiệp của Tôi nữa, nếu còn say mê vật-chất hữu hình này thì biết chừng nào mới trở về quê xưa cho được, nên Tôi đem mình quì trước Thiên bàn nguyện rằng: Hiến thân này cho Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ tùng Hội-Thánh Tây-Ninh, ngõ hầu dìu dắt nhơn sanh vào đường đạo-đức. Riêng về Phật-tự, thì khi Tôi chưa gặp Đạo Cao Đài Tôi có lập một kiểng Chùa tại Vũng-Liêm, sau này Tôi hiến cho Đại-Đạo rồi, Tôi hiểu rõ rằng Cao-Đài là Phật giáo chấn hưng đó vậy, nên Tôi sửa Chùa Phật lại làm ngôi Tiểu Thánh-Thất Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đặng tiện cho việc phổ độ kẻ đồng huyện, đồng lân. Nào kẻ gần, người xa trong thôn quê sằng dã, nào là Tá điền của Tôi đồng lòng đến Nhập môn, cầu Đạo mỗi ngày đến 15, 20 người. Hễ có em nào thiếu thốn gì thì Tôi ủng hộ mỗi người một bộ Đạo-phục và một cuốn Kinh Lễ đặng học thuộc Kinh để đi Cúng Tứ thời, Tôi dạy thờ, dạy lạy đâu đó đều được xong rồi.

5- Khai Đàn: Tôi hiệp với Chức sắc và Cô Ngọc-Hồ cùng Nguyễn Thị-Hương đi khai đàn Thượng Tượng, rồi Tôi giảng Đạo và đọc Thánh-ngôn cho chư vị mới Nhập môn nghe cho hiểu Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là Chấn hưng Phật Đạo. Bởi vì Tôi biết phần đông thì nhơn sanh còn tín-ngưỡng Đạo Phật, Tôi phải giải nghĩa cho thiện tín nghe rõ rồi họ vô Nhập môn (tôi úp bộ hết tại Vũng-Liêm). Đức tin nhơn sanh nơi đây càng ngày càng tăng tiến rất đông, Tôi bèn lập Bàn-trị-sự phân công cho phái Nữ có phận sự để làm Đạo. Ngày lụn tháng qua đủ công nghiệp, Tôi dạy làm lai lịch dâng lên Hội-thánh xin cầu phong.

6-Về việc Chùa Gò-kén: Nhờ Thiêng-liêng dùng huyền diệu, trước khi Tôi chưa nhập môn, khiến cho Tôi qui y Phật giáo, Thầy Tôi là ông Hoà Thượng chùa Giác-Hải. Tôi và ông Huyện Thơ cúng một số tiền to để xây dựng chùa Từ-Lâm-Tự (Gò-kén Tây-Ninh). Mỗi năm hai Tôi xuống Chùa Gò-kén thường lắm. Nơi đây là hồi chưa mở Đạo, nhờ cớ ấy được gieo cảm tình Thầy trò nghĩa nặng như phụ tử tình thâm, nên vâng lịnh Đức Chí-Tôn họp với Chức sắc Đại Thiên phong Hiệp Thiên-Đài và Cửu-Trùng-Đài, Tôi chung lưng đâu cật với Hội Thánh khai mở Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ tại tỉnh Tây-Ninh, vì thế mà hai Tôi mượn Chùa Gò-kén rất dễ-dàng. Thầy Tôi ưng thuận cho mượn, thành thử thiêng liêng đã sắp đặt trước nên Tôi mới có sẵn một ngôi Chùa Từ-Lâm-Tự đặng đúng ngày giờ của Đức Chí-Tôn khai Đạo năm Bính-Dần (1926). Vì Chí-Tôn tiền định trước mười ngàn năm, nên Thầy có cho bài thi:

"Từ đây nòi giống chẳng chia ba.
"Thầy hiệp các con lại một nhà,
"Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc,
"Chủ quyền chơn Đạo một mình TA"

Nhờ bài thơ của Đức Chí-Tôn trên đây, Tôi chung lo với Anh Cả Thượng Đầu-Sư Thượng Trung Nhựt cùng Đức Hộ Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh mà đi phổ độ cùng lục tỉnh.

Việc phổ độ miền Hậu-giáng lối tháng 9 năm Bính Dần đặng cho kịp ngày 14 tháng 10 năm Bính-Dần mở Đạo tại Chùa Từ Lâm-Tự (Gò-kén Tây-Ninh). Ông Huyện Thơ và Tôi xuất tiền nhà ra lên cốt chư Phật, đủ Ngũ Chi, Tam Trấn, Tam giáo tức Đức Phật Tổ, Đức Lão-Tử và Đức Khổng-Tử. Mở Đạo tại chùa Từ-Lâm-Tự ba tháng thì ông Hoà Thượng chùa Giác-Hải đòi chùa lại, thì hai Tôi (Huyện Thơ và Tôi) cho Hội-Thánh mượn số tiền 24.000 đồng (hai mươi bốn ngàn đồng) mua đất đặng dời chùa, thỉnh cốt chư Phật về bên đất mới mua (mua đất của ông Kiểm lâm người Pháp). Bởi vì lúc mới phôi thai Hội-Thánh chưa có tiền nên mượn của hai Tôi. Mua đất xong rồi Tôi lên xuống thường, không ở luôn nơi đây được vì lo xã giao với Chánh phủ Pháp đặng để cậy nhờ họ. Buổi ban sơ khai Đạo (thời Pháp thuộc) Đạo gặp biết bao cảnh gay-go thống khổ cũng vì việc Đạo Đời chưa tương đắc. Chánh phủ Pháp để dạ nghi nan, hăm doạ đủ điều: nào là bắt Đạo-hữu hăm xẻ nhượng, nào là đóng cửa Thánh-Thất ở miền Hậu-giang. Anh Thượng Đầu-Sư cho Tôi hay, khi đó Tôi liền tìm kế gần-gũi với Chánh phủ xin mở cửa Thánh-Thất. Tôi làm đơn xin ngay với chánh phủ Pháp, Tôi đứng bảo lãnh trách nhiệm, Tôi hứa và Tôi nhìn nhận Đạo Cao-Đài là chánh tông chấn hưng Phật giáo, Tôi nói trước mặt Chánh phủ Pháp rằng: Tất cả Đạo Cao-Đài là bậc chơn tu, không biết làm sái luật chánh phủ, thật là người tu hành đạo-đức, cả thảy đều có lòng bác-ái, không sát sanh hại vật, chỉ biết tu, ăn chay làm lành mà thôi, thì chánh phủ Pháp cho mở cửa Thánh-Thất được yên ổn mà sự cúng kiến cũng được đông đảo tự do. Tôi đã nói chắc-chắn trước mặt chánh phủ như vậy rồi Tôi với Anh Thượng Đầu-sư phải thường đi xuống miền Hậu giang để lời khuyến nhủ chư Đạo-hữu tu hành cho chính-chắn và ăn chay làm lành như Tôi đã hứa trên đây.

7- Nhắc việc cất Tổ-Đình: Khi trả chùa Gò-Kén lại cho Hoà-Thượng Như Nhãn rồi, Hội-Thánh dọn về đất mới mua, ngày nay là Thánh Địa. Dời chùa thỉnh cốt Phật cũng là khó khăn hết mức. Chính phủ cứ theo rình mò, làm khổ sở cho Đức Cao Thượng Phẩm, vì cớ mà bổn Đạo quá sợ, ít ai dám tụ họp đông. Khách lai rai, có ít người đến Cúng thôi. Cũng vì cớ mà eo-hẹp tài chánh, nên phát một ngôi Chùa tạm lợp bằng tranh, đốn cây trong rừng làm cột. Tranh thì vô rừng cắt khỏi tốn tiền, cắt dây cổ rùa đem về làm lạt. Tuy là chùa tranh, cây gỗ mặc dầu cũng chịu đựng được mười năm dư. Trong lúc này Đức Cao Thượng Phẩm đã qui Tiên, năm 1929. Khởi đầu đúc nền Toà-Thánh ngày mùng 1 tháng 11 năm Bính-Tý (1936). Còn Đức Hộ-Pháp thì Ngài xuống Vũng Liêm thương lượng với Tôi rằng: Chùa lợp tranh hư dột, mối ăn, cây hư hết, nên Đức Hộ Pháp tính cất chùa cho chắc, làm bằng xi-măng, sắt cho được vĩnh-viễn (Hoạ đồ Đức Lý đã vẽ sẵn, coi theo hoạ đồ của Đức Lý mà cất).

8- Việc mua đất Cực-Lạc: Đất Cực-Lạc, hai Tôi đứng mua đất này, sau Ông Huyện để là Đất Cực-Lạc vô vi cảnh giới (ngày nay thành ra Nghĩa địa). Về việc xã-giao: Đời, họ trọng vật chất hơn nên Tôi tìm phương gần-gũi với thượng khách, nói đạo-đức cho đời họ hiểu biết rồi mới độ được. Nhắc lại hồi Tôi mới gặp Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ nhằm ngày mùng 5 tháng 6 năm Bính-Dần (Mardi 15 Juillet 1926) Thầy giáng Cơ kêu hai Tôi quì trước Thiên bàn, Thầy ban ơn cho hai Tôi, Thầy làm phép Hôn-phối đầu tiên hết (Phò loan có Thượng Phẩm, Hộ Pháp) Thầy cho 4 câu thi cùng dạy Đạo tại nhà ông Nguyễn Ngọc-Thơ ở Tân Định (ngày 5-6 Bính Dần):

Thầy: Thơ! Con với vợ con quì ngay giữa, nắm tay nhau:

"Thiên ân thử nhựt tứ thành hôn,
"Mãn thế bất ly thể dữ hồn.
"Đạo-đức nhất tâm tu đáo cáo.
"Chủ trung thị Ngã chí Thiên Tôn"

Dạy con hiểu à!" (Thầy dạy ông Nguyễn-Ngọc-Thơ viết ra Hán văn) Dưới đây là bút tích của Ngài Thái Thơ Thanh

 

(Bút tích của Ngài Thái Thơ Thanh)

 

9-Bà là người đã lập một đại công với nền Đại-Đạo:

Riêng Nữ-phái, Bà là người Chị Cả dìu-dắt đàn Em phái Nữ. Sở hành của Bà là sở hành của một Nữ Trung Tùng phận, là một Nữ phái Cao Đài gương mẫu. Nghĩa cử ấy hằng năm Hội-Thánh làm lễ Vía, kỹ niệm một cách trọng thể, nhưng dù thế nào thì ngày Vía của Bà cũng trùng với lễ Vía của Phật Thích-Ca: Công ấy, cảm tình này, đồng Đạo mãi ghi ơn Người đến thất ức niên tuổi Đạo. Bức tượng ảnh của Bà được ghi tạc trước mặt tiền Đền Thánh, bên lầu trống, tức là Lôi Âm Cổ Đài.

Còn bên lầu chuông thì tạc tượng của Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung, đối xứng nhau. Khi Đức Hộ-Pháp trấn Thần Đền Thánh vào ngày 6 tháng giêng Đinh-Hợi (dl 27-1-1947), lúc trấn Thần đến hai bức tượng này, Ngài giải thích: "Nhị vị ngự thường xuyên trước Đền Thánh để tiếp rước nhơn sanh tiến bước vào đường Chánh giáo, năng lo dìu dắt con cái Chí-Tôn mỗi khi vào Cầu nguyện và chiêm bái Đức Chí-Tôn"..

10- Bài thài hiến Lễ cho Bà Lâm Hương-Thanh:

Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh giáng cơ cho bài thi để làm Bài Thài tế điện, hiến Lễ cho Bà trong ngày Vía:

Đầy giỏ Hoa Lam chất ái tình,
Y theo mặt luật của khuôn linh.
Thử căn linh thể nơi phàm tục,
Mới hưởng hồng ân chốn Ngọc đình.
Nam Hải là bờ ao Thất Bửu,
Tây Ninh nền tổ quán Tam Thanh.
Thuyền từ trở lái lìa sông Lệ,
Nhớ bạn chơn mây gởi tấc thành.

Nguơn linh Bà là Long Nữ hầu Phật Quan Âm.

Long Nữ vốn là em của Đệ Tam Thái Tử con vua Long Vương, hóa cá dạo chơi, bị vướng phải lưới ông chài. Đức Quan Âm sai Thiện Tài Đồng tử hóa thường nhơn đến mua cá đem ra Nam Hải thả. Nam Hải Long Vương cám ơn đức, sai con gái là Long Nữ đem tặng Đức Quan Âm một viên ngọc chiếu sáng cả ban đêm. Long Nữ cảm phục quyền năng của Đức Phật nên xin qui y và làm Đệ tử Đức Quan Âm. Ngày nay Bà cùng ông Nguyễn Ngọc Thơ nên duyên chồng vợ. Nguơn linh ông là Từ Hàng Đạo Nhân, tức Quan Âm Bồ Tát. Kiếp này Ông Thơ và Bà Lâm Hương Thanh là đôi bạn đời với nhau vì tiền kiếp đã định.

 

 

NỮ ĐẦU SƯ ĐƯỜNG


E: Lady Cardinal office.
F: Office de la Cardinale.

 

 

 

 Một tòa nhà dành riêng cho vị Đầu sư cầm quyền Nữ Phái làm việc. Đây cũng là nơi thờ phượng các bậc Nữ Đầu sư thời tiền khai Đại-Đạo đã quá vãng. Phải kể đến công đầu là Bà Nữ Đầu Sư: Lâm Hương Thanh, Nguyễn Hương Hiếu, Hồ Hương-Lự.

Nhân buổi Lễ Khánh Thành Nữ Đầu Sư-Đường ngày 15-08 năm Tân-Mão (1951) vào lúc 8g sáng, Đức Hộ-Pháp nói:

"Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo Ổng nói "Tròi trọi mình không mới thiệt bần". Ông đến cho ta một danh thể là lập Hội-Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh-Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được. Có lẽ cả thảy đều ngó thấy buổi phôi thai, là khi Đền Thánh mới tạo, con cái của Ngài phải chịu biết bao nhiêu khổ hạnh, ăn thì bữa đói bữa no đặng tạo dựng Đền-Thánh, đến bây giờ thành tướng làm cho Vạn quốc ngó thấy, trông vào đều khen ngợi, đó là khối muối của sắp nhỏ trở nên hình đó, do sự nhẫn-nại, nhọc nhằn của sắp nhỏ mà nên đại nghiệp ngày nay đó vậy. May thay! Đám con chí hiếu của Ngài trước sao sau vậy, liều mảnh thân phàm nầy làm con tế vật cho Đạo.

Cả thảy Hội-Thánh tưởng lại coi tạo dựng một dinh thự Nữ-Đầu-Sư-Đường như vậy chỉ có 250.000$ (hai trăm năm chục ngàn đồng bạc chẵn) có tay thợ nào dám làm không? Tôi dám chắc không dám. Bởi vì giọt mồ hôi, nước mắt của sắp nhỏ nó đổ vô trong này bằng ba lần như vậy, đó chỉ có nhờ thiên hạ cho mớ vật liệu hòa với giọt mồ hôi đám sắp nhỏ mà nên hình tượng đó vậy. Các Con, các Em để ý coi Ông già đó, Ổng không chịu thiếu nợ ai hết, công nghiệp của mấy Em, Ông trả nơi thế nầy không đặng thì về cửa Thiêng Liêng Hằng Sống Ổng cũng trả cho được Ổng mới nghe. Các con đã ngó thấy, những đứa con hiếu hạnh của Ông giờ phút nầy có biết định phận của nó thế nào đối với Thánh Thể. Mấy đứa trong Quân Đội bây giờ là ai? Là đám công thợ buổi trước tạo dựng nghiệp Đạo rồi nó còn hy sinh xương máu bảo vệ đại nghiệp cho con cái của Ngài nữa, đương đầu với những trở lực oai quyền, hiện giờ nó nuôi lại Em nó, chia từ miếng cơm manh áo cho mặc. Cả đại nghiệp nầy là nhờ đám con chí hiếu của Ngài tạo dựng nên, chớ Tôi không làm gì được hết, chỉ có là đốc thúc vô cho chúng nó làm, chớ thân nầy ôm viên gạch cũng không nỗi. Bần-Đạo chỉ mong có một điều là toàn thể con cái của Ngài Nam Nữ mỗi ngày đều tưởng tượng đến công khó nhọc Anh Em nó, khó nhọc của đồng bào toàn thể nước nhà, nòi giống đã tạo dựng nên nghiệp ấy, lấy cả sự nghiệp nầy làm môi giới, giữ đạo đức làm bùa hằng tâm, thương yêu với nhau, giữ nghĩa với nhau cho đến bảy trăm ngàn năm (Thất ức niên) theo lời của Đức Chí-Tôn đã định, dầu Bần-Đạo còn ở đây hay về cõi Hư-Linh. Cung ấy an lạc đi nữa, cũng nhớ đến đại nghiệp con cái của Ngài và Bần-Đạo dám đại ngôn với Ngài rằng: Con cái của Ngài giữ tâm chí hiếu với Ngài và đối với Phật Mẫu cũng vậy".

Thi văn dạy Đạo Đức Chí-Tôn có cho bài thơ sau:

Tròi-trọi mình không mới thiệt Bần,
Một nhành sen trắng náu-nương chân.
Ở nhà mượn đám mây xanh kịt,
Đỡ gót nhờ con hạc trắng ngần.
Bố hoá người Đời gây mối Đạo.
Gia ân đồ đệ dựng nền Nhân
Chừng nào đất dậy Trời thay xác,
Chư Phật, thánh, Tiên xuống ở trần.

 

 

NỮ ĐỒNG NHI

Thầy dạy: "Lựu và Hiếu tập một lũ "Nữ Ðồng Nhi" chừng ba mươi sáu đứa đặng mỗi khi đại lễ nó tụng kinh cho Thầy, bên Nam cũng vậy, Cư, Tắc, Sang, Phú, mấy con cũng phải dạy ba mươi sáu đứa "Nam Ðồng Nhi" nữa. Cư, Thầy đã nói với con phải tập nhạc lại, nhớ không con?

 

 

NỮ KIỆT


E: Heroine.
F: Héroine.

Nữ: Phụ nữ, đàn bà, con gái. Kiệt: tài giỏi hơn người. Nữ kiệt là người phụ nữ tài giỏi hơn người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt.

 

 

NỮ NHI


E: Young girl.
F: Jeune fille.

Nữ nhi : Người con gái còn trẻ.

Đức Chí Tôn dạy: "Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm Linh quang của Thầy ban cho các con lắm".

Lời Thầy dạy Nữ phái: Huệ con, Lâm thị con, khá nghe lời dạy. Con ôi!

Con vốn thật là tay chơn Lão,
Phái nữ nhi bọc bảo giúp công Thầy,
Cùng Tỷ nương Đường thị con đây,
Lo phương thế đỡ day trong mối Đạo.

Kinh Sám Hối có câu:

"Giá trong sạch nữ-nhi trượng tiết,
"Giữ cho tròn trinh-liệt mới mầu."

 

 

NỮ PHÁCH

(Nữ: gái, phách: khí phách, cái phách, thể phách), khí phách của phái nữ tức là sự tinh-anh, sự sáng suốt của một tinh thần mạnh mẽ trong con người nữ phái. Riêng chữ phách đạo học phân tích ra từ trong Đệ Nhị xác thân của con người tức gồm Chơn khí và Chơn thần hiệp lại; Chơn khí là do Chơn tinh của Đệ Nhứt xác thân bốc lên hiệp với Chơn thần thì có ánh sáng còn gọi là hào quang, phách thuộc bán hữu hình nghĩa là có thể thấy được và cũng có thể không thấy được tùy sự sáng suốt trong việc tu hành của mỗi người. Phách có màu sắc trắng trong. Thanh khiết đối với người được trọn lành; với người thường có sắc hồng, sắc tím sẫm hoặc đen đối với Chơn thần trọng-trược. Phần thanh hơn gọi là Vía tức hào quang

Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn mở đầu bằng câu:

Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.
Gươm thư giúp sức gươm hùng,
Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên

 

 

NỮ PHÁI


E: Female.
F:Genre Féminin.

Nữ phái là chỉ chung tất cả đàn bà, con gái, trái lại là Nam phái. Trời có Âm Dương. Đất có cương, nhu; Người thì có Nam Nữ; hiệp chung là Tam Tài, chỉ có người mới đứng vào hàng Tam tài mà thôi.

Sau đây là lời Đức Chí-Tôn phân phiền với Bà Lâm Hương Thanh về Nữ phái, vì Bà là Chị Cả của đoàn Em nữ phái Cao-Đài. Hơn nữa Bà lãnh lịnh Ngọc Hư thay mặt cho Đức Quan Âm đến thế kỳ ba này dắt dìu dìu Nữ Phái. Lời rằng:

"Thầy lập Đạo nơi cõi Nam này, là cốt để ban thưởng cho một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thịnh nộ của Thầy, Thầy lại tha-thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo thiên lập địa, chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 này đặng vậy, cốt để ban thưởng các con thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao.! Ôi! Mà hại thay! Thảm thay! Đau-đớn thay! "Hòn ngọc" đẹp đẽ quí báu dường này Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu căng, trề nhún, Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành-đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ-phái mà làm gì. Nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ, Thầy lại thương con nên đã lắm phen lấy khảo trừ công cho con trở lại phẩm cũ, bởi một lời đã hứa với Quan-Âm, Thầy mới nhứt định dành phần công quả ấy cho con. Con ôi! Thầy thấy con đau thảm bấy nhiêu, một phen lầm-lỡ lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm!"

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Khiến Nữ-phái leo-nheo than tức,
Khắp xa gần bức-rức hỏi thăm.
Người thời than khóc tủi thầm,
Kẻ thời nong-nã thơ âm tới nhà.

 

 

NỮ PHÁI VỐN CỦA LÝ GÍAO TÔNG LẬP THÀNH

Hộ-Pháp nhắc lại lời Thầy nói cùng Chánh-Phối-Sư HƯƠNG-THANH rằng: Muốn phế Nữ-phái, song con cũng đồng con, hễ bao nhiêu Nam tức cũng bao nhiêu Nữ; Nam Nữ vốn như nhau, nên Thầy đến phong cho Nữ-phái buổi lập Pháp-Chánh-Truyền, chẳng hiểu có điều chi huyền-bí với Thầy cùng Ngọc-Hư-Cung nên Thầy mới đành lòng nói ra lời ấy, rồi lại cam lòng để cho Đức Lý Giáo-Tông đứng lập đặng tránh cho khỏi luật-lệ Thiên điều hay chăng? Hễ càng suy-nghĩ lại càng thêm sợ hằng ngày. Xem lại Nữ-phái không biết trau-giồi trí thức đặng làm trách-nhậm cho xứng vị mình, thì lại càng âu-lo hơn nữa! Chính mình Cao Thượng-Phẩm mới giáng Cơ nói rằng nhờ Ngài cầu xin tha-thứ cho Nữ-phái nơi Ngọc-Hư, bằng chẳng thì đã bị phế; xin chư Đạo-Tỷ để dạ lo lấy phận mình. Nữ phái phải tùng Đầu sư Nữ phái song Đầu-sư lại phải tùng quyền của Giáo-Tông và Chưởng-pháp.

Pháp Chánh Truyền "Hội-Thánh nghe Lão ban sắc phục cho Nữ phái: Nghe và từ đây xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp".

Chú Giải: Đức Giáo-Tông đến kêu Hội-Thánh Nam phái nói rằng: Từ đây phải xem sắc tốt của Nữ-phái Ngài đến ban đặng hành Lễ theo đẳng cấp. Cái tiếng"sắc tốt" không, dầu ai đọc đến cũng thầm hiểu nghĩa-lý sâu xa. (1) Giáo-Tông duy chỉ dặn xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp, ấy là Ngài buộc phải có trật-tự cho lắm, vì vậy mà cũng chính mình Ngài đến lập lệ Nam Nữ phải phân biệt nhau, chẳng đặng chung hiệp nhau về phần xác và phần hồn cũng vậy.

Hộ-pháp có hỏi Ngài về sự tôn-ti phẩm-trật, thì Ngài dạy rằng: Nam Nữ vốn đồng quyền. Còn hỏi về Lễ nghĩa giao thiệp về phần đời, thì Ngài dạy: Giáo-Hữu Nam-phái cũng chịu dưới quyền Giáo-sư Nữ-phái (2). Còn Lễ thì khi vào Đại Điện tỷ như Giáo-sư Nam-phái gặp Phối-sư Nữ-phái thì Nam phải đảnh lễ Nữ trước, lớn nhỏ vẫn đồng, quyền hành tùy Chức sắc.

Pháp Chánh Truyền: Nữ-phái phải tùng Đầu-sư Nữ-phái, song Đầu sư lại phải tùng quyền của Giáo-Tông và Chưởng Pháp.

Chú Giải: Hội-Thánh Nữ-phái phải tùng quyền Đầu-sư Nữ phái, song cả thảy đều phải tùng quyền Giáo-Tông và Chưởng Pháp. Xem rõ lại, thì Pháp-chánh-truyền truất quyền Nữ phái không cho lên địa-vị Chưởng-pháp và Giáo-Tông.

Hộ-Pháp để lời phân phiền cùng Thầy như vầy:

- Thưa Thầy, Thầy đã nói con cũng đồng con, Nam Nữ vốn như nhau mà Thầy truất quyền của Nữ-phái không cho lên địa-vị Chưởng-Pháp và Giáo-Tông, thì con e mất lẽ công-bình chăng?

Thầy dạy: Thiên địa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn Khôn thế giới nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương-quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy-lừng, ấy là ngày càn khôn thế giới phải chịu trong hắc-ám, mà bị tiêu diệt. Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ phái cầm quyền Giáo-Tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Đạo ắt bị tiêu tàn ám-muội." Hộ-Pháp lại kêu nài nữa rằng: Thầy truất quyền Giáo-Tông Nữ-phái thì đã đành, song quyền Chưởng-pháp thì tưởng dầu ban cho cũng chẳng hại.

Thầy dạy: Chưởng-pháp cũng là Giáo-Tông, mà còn trọng-hệ hơn, là vì Người thay mặt cho Hộ-Pháp nơi Cửu-Trùng-Đài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa-vị Giáo Tông, thì lẽ nào cho ngồi địa-vị Hộ-Pháp con! Bởi chịu phận rủi sanh nên cam phận thiệt-thòi, lẽ Thiên-cơ đã định, Thầy chỉ cậy con để dạ thương-yêu binh-vực thay Thầy kẻo tội-nghiệp!" (PCT)

Chú thích: (1) Nếu Chư Hiền-hữu biết coi Nữ-phái như Em thơ dại, chỉ biết mến đẹp ham xinh, liệu phương dụ dỗ như Lão vậy, mới đặng làm trai, con Thầy mà chớ! (2) Phải vậy.

Thảo Xá Hiền-Cung, đêm 6-5-Ất Dậu (dl 15-6-1945)
Phò loan : Thượng Sanh - Bảo Văn Pháp Quân.

DIÊU TRÌ NƯƠNG NƯƠNG

Mừng chư Chức sắc Hiệp Thiên, Chức sắc Nữ phái. Thiếp được hân hoan trông thấy nền Chánh giáo được dựng lại và dìu dắt cả con cái hiệp làm một để tạo lại đời tàn buổi sau nầy. Nhờ Chí Tôn trợ giúp thêm vào sức hiệp chơn thành của các bậc anh tuấn của Đạo, nên non sông Đất Việt ngày nay mới được mở mang trên màu cờ độc lập. Đó là kết quả xứng đáng của sự lập Đạo của Đức Chí Tôn. Thiếp ước mong cho Hiệp Thiên Đài để hết công tâm mà lo lắng chủ nghĩa chung là lập nền tảng chắc chắn để độ sanh linh đi đến con đường giải thoát. Đó là dâng cho Chí Tôn một lễ trọng hậu và gặp dịp may để lập ngôi vị cho mình. Nên lưu tâm: Các con Nữ phái gắng công độ rỗi và làm cho Nữ phái được đạo đức dồi dào, đông đủ mới hiệp Thiên thơ. Bước đường trước, nếu chẳng đặng hay, thì con đường sau nên dè dặt và thận trọng lấy trách nhiệm, đặng đi đến kết quả tốt đẹp. Thiếp trông mong nơi đó".

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở: "Cái gương hiền đức của Nữ phái là vật của Chí Tôn để lòng tìm kiếm và cũng vì nó mà Chí Tôn mới định lập pháp ban quyền cho Nữ phái đối phẩm cùng Nam. Thoảng như gương hiền đức ấy đã ra vô giá trị, điêu tàn thì công nghiệp nương đâu mà bền vững? Chị nói thiệt rằng: Dầu cho Phật Mẫu tái sanh mà thất bề hiền đức thì Ngọc Hư Cung cũng định tội qui phàm. Vậy thì các em phải giữ lấy phận mình. Chị nghĩ cũng chưa kham, đừng thày-lay cầu tội giùm cho kẻ khác. Chị rất cám cảnh, nhưng Thiên điều định vậy, biết liệu làm sao. Tự nơi chị Ứng Quân tự mình giải thoát." Thưa chị Hương Thanh: Em vưng mạng lịnh Thầy lo về sự khuyết điểm trí thức tinh thần của Nữ phái, còn chị thì lo về phần vật chất tuồng đời. Vậy thì Em sở cậy chị sự hành động làm thế nào cho sự dạy dỗ của mấy Em ra thiệt hành thì mới mong cải sửa đặng tà tâm của nhiều kẻ.

Thưa chị, Em chẳng dám nào xin cạn tỏ ra đây nhiều điều ước vọng của Thầy Em và Quan Âm Bồ Tát. Cả cơ độ tận Nữ phái chỉ xu hướng về trí thức tinh thần. Có đủ trí thức tinh thần mới mong đoạt đặng sự khôn ngoan của cơ Tạo hóa. Đoạt đặng cơ Tạo hóa mới đắc đạo đặng. Hại thay, Em chưa thấy Nữ phái đặng một người thì mong chi độ rỗi. Thưa chị, xin ráng chung sức nhau, chị phần Đời, các Em phần Đạo, lo liệu nên phương đặng dạy lẫn giùm Nữ phái, kẻo Thầy Em và Chí Tôn đã lắm phen buồn thảm. Chị nương theo Thánh giáo của mấy Em, chẳng khác nào mấy Em nương theo điều dạy răn của chị, nhưng Em xin một điều là, phải khởi tuyển chọn Nữ phái y như lời anh Thượng Phẩm đã chỉ vẽ cho anh Hộ Pháp, nghĩa là các nơi nào chưa lập Nữ phái, chị gia công lo lập cho thành, và lựa người cho đi các nơi quan sát sở hành của Nữ Chức sắc.

Em thưa thiệt cùng chị rằng, nhiều kẻ lạm dự Thiên phong mà làm nhục lây toàn Nữ phái.

Thưa anh Thượng Trung Nhựt và chị, đã đắc lịnh Chí Tôn rồi, thì từ đây không còn vị nể chi đặng nữa. Nên thì để, hư thì bỏ. Dường ấy mới có phương lập thành Nữ phái. Em nên cho chị hiểu rằng, Nữ phái lập thành, Nam phái chỉnh đốn lại hoàn toàn thì Lý Giáo Tông mới giảm nộ và tái thủ quyền hành.

Em dùng điệu văn Động đình biến hóa mà khởi răn lỗi của đời. Xin mấy chị ngày sau dùng nó mà trách khuyên phái Nữ:

Trong gia thất điều đình phần Nữ phái,
Điều hư nên trái phải nơi mình,
Sẵn tay nắm mối tơ tình,
Làm nên quân tử phận mình mới an.

Đừng cậy sắc dọc ngang búng rảy,
Dầu ngu si cũng ngãi vợ chồng.
Đừng nay khen bưởi chê bòng,
Đổi thay mái tóc duyên nồng lại quên.

Nương lấy bóng tòng quân mượn tiếng,
Đã đeo mang lấy miếng hồng quần.
Đừng ham mây khỏa đảnh Thần,
Nhớ cơn lỗi đạo tảo tần mai xưa.

Đặng trí thức phải ngừa lòng khách,
Dìu dắt nhau chớ nghịch lòng nhau.
Biết tâm biết chí anh hào,
Nữ tâm làm mảnh nhung bào chở che.

Dầu lời thốt dặt dè từ chuyện,
Mượn đoan trang thay miếng đỉnh chung.
Làm cho sấn chí anh hùng,
Non sông trổi bước ngàn trùng gươm đao.

Nghi dung chớ mượn màu son phấn,
Để trong gương mà hứng non sông.
Coi như gác tía lầu hồng,
Chẳng phen giữa trận tên đồng không nao.

Có công khéo khá trau nên khéo,
Phen nàng Tô dệt điệu Hồi văn.
Đừng theo tính nết ả Hằng,
Đêm khuya bán nguyệt trốn chồng cung trăng.
                        (TNCT. HH. 192-196)

 

 

NỮ PHẬT TÔNG

Thánh Ngôn dạy: "Người gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương".

 

 

NỮ PHỐI SƯ HUƠNG NHIỀU

Nguyễn Thị Nhiều (1892-1967)

Tiểu sử của Bà Chánh Phối Sư Hương Nhiều đăng trong Tạp san Chân Lý tháng 6 năm Đinh Mùi (1967) với nguyên văn: Bà Chánh Phối Sư Hương Nhiều Chưởng Quản Nữ Phái Phước Thiện liễu Đạo hồi 20 giờ đêm 24-6-Đinh Mùi (dl: 31-7-1967).

Bà Chánh Phối Sư Hương Nhiều nhũ danh Nguyễn Thị Nhiều đến trần vào năm 1892 tại làng Long Phú, quận Bến Lức tỉnh Long An. Thân phụ Bà là ông Nguyễn Văn Phước và thân mẫu là Lê Thị Bưởi. Bà trưởng thành trong một gia đình Nho phong hiền đức. Bà kết thân cùng Ngài Phạm Công Tắc (Đức Hộ Pháp) hạ sanh được hai người con gái. Buổi đầu tiên, Đức Chí Tôn đến khai cơ lập Đạo Cao Đài tại nước Việt Nam, Bà được thâu làm Môn đệ và Đức Chí Tôn dạy Bà về Tòa Thánh hành Đạo do đàn cơ tại Sài-gòn ngày 24-9-Bính Dần (dl:30-10-1926)

Từ lúc Bà được Cửu Nương Diêu Trì Cung độ nhập môn rồi Bà hằng lo sùng bái cho đến ngày rằm tháng giêng Đinh Mão (1927) Bà được thọ Thiên Ân phẩm Giáo Hữu do cơ phong Thánh kỳ nhứt tại Từ Lâm Tự Gò Kén (Tây Ninh). Khi Bà thọ thiên ân rồi lo sắp xếp gia đình về Tây Ninh hiệp cùng Hội Thánh khai cơ lập Đạo tại chùa Từ Lâm Tự. Qua năm Mậu Thìn (1928) Bà lãnh trách nhiệm Quản lý Lễ-Viện Nữ-phái được 4 năm, tiếp tục Hội Thánh thuyên bổ Bà cầm quyền Đầu Họ Đạo Tây-Ninh được ba năm và kiêm luôn Quản Lý Lương Viện Hành Chánh được bảy năm.

Năm Mậu Dần (1938) Bà được thăng phẩm Giáo Sư và hành quyền nơi Cửu Viện Hành Chánh. Năm Tân Tỵ (1941) cơ Đạo gặp lúc chinh nghiêng, Đức Hộ Pháp bị đày đi hải ngoại Bà vẫn chung chịu mọi khổ đau với Hội Thánh cho đến ngày Đức Hộ Pháp hồi loan trở về Tòa Thánh lo chỉnh trang đại nghiệp Đạo. Năm Mậu Tý (1948) Bà được thăng phẩm Phối Sư do Thánh lịnh số 3/TL đề ngày 7-3-Mậu Tý (dl:15-5-1948) và được lịnh Đức Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài thuyên bổ Bà cầm quyền Chưởng Quản Nữ Phái Phước Thiện. Năm Ất Mùi (1955) Đức Hộ Pháp bổ Bà cầm quyền hành chánh ba Viện: Học-viện, Y-viện, Nông-viện (Cửu Trùng Đài).

Năm Bính Thân (1956) thuyền Đạo gặp phải hồi khảo đảo, Đức Hộ Pháp lưu vong sang Miên Quốc, Bà rất khổ tâm vì gia đình bị cảnh sanh ly cho đến năm Kỷ Hợi (1959) hay tin Đức Hộ Pháp qui Thiên, thì sự khổ đau của Bà thêm chồng chất. Nhưng vì lẽ Đạo là trọng nên Bà gắng gượng làm vui, tiếp tục đảm nhiệm phận sự Chưởng Qủan Phước Thiện Nữ-phái đến nay. Đại Hội Nhơn Sanh Cửu Trùng Đài khai mạc vào ngày 16-4-Đinh Mùi và ròng rã 39 ngày, Bà với lòng thiết tha vì Đạo thường hiện diện chứng kiến trong cuộc đại hội. Hội bế mạc chỉ trong vòng mấy ngày, nhơn sanh trở về nguyên quán được yên bày thì Bà cỡi Hạc triều Thiên vào lúc 8 giờ tối ngày 24-6-Đinh Mùi (dl: 31-7-1967) tại Tịnh-Tâm-Hiên Hộ Pháp Đường hưởng thọ 75 tuổi. Bà qui Thiên mà giữa lúc toàn Đạo không ngờ được, trước cảnh xúc động của toàn thể giáo đồ đều ngậm ngùi thương mến, nhứt là cơ quan Phước Thiện Nữ Phái. Thực tế hơn hết là những ngày trước đó trời mưa tầm tã mà từ đêm qui thiên của Bà trở đi đến ngày 28-6-Đinh Mùi, lễ an táng nơi Phạm Nghiệp, bầu trời chỉ dịu mát và dường như có vẻ u buồn, đôi khi lác-đác những hạt mưa sương trên ngọn cỏ, hình như dục lòng toàn Đạo sự luyến tiếc càng tiếc cảm hoài hơn … Phận sự Đạo, Đức Chí Tôn giao cho Bà đã hoàn thành sứ mạng, bởi cớ cho nên ngày liễu Đạo của Bà được mọi điều như ý mà có lẽ ở phàm chưa ai từng hưởng được như thế. Tang lễ cử hành trọng thể và cúng tế tại nhà Phước Thiện Nữ Phái, nơi mà Bà đến làm việc hằng ngày, rồi đến Báo Ân Từ và hành Pháp độ thăng tại Đền Thánh. Linh cữu được di về Phạm Nghiệp là nơi Bà gởi lại nắm xương tàn để nghìn thu vĩnh biệt. Lể an táng của Bà toàn Đạo đưa vô cùng đông đảo, có trên 50.000 người và các thành phần quan khách tham dự, như phái đòan chánh phủ Quốc Hội Lập Hiến, Hội Đồng Tôn Giáo, chánh quyền Tỉnh, các Tôn Giáo bạn trong tỉnh, các toàn thể chánh trị quốc gia, ông Đại Sứ Nhật Bản và phái đoàn Đài Phát Thanh Sài gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, Vô Tuyến Truyền Hình …Được biết với lòng tha thiết vì Đạo, vì Tổ Quốc của Bà qua những lối trình bày của Cô Tư (Bà Phối Sư Phạm Hương Tranh, ái nữ của Bà) trước khi hạ huyệt như: "Tôi hằng nhớ lời Cô tôi còn sanh tiền dạy rằng: Cô cầu nguyện Chí Tôn, Phật Mẫu ban ân cho nước Việt Nam sớm thanh bình thống nhứt và độc lập để di Liên đài của Thầy con về Tổ Đình, Cô được trông thấy thì chừng ấy Cô sẽ nhắm mắt từ giã cõi trần cũng được vui lòng." Đây là đại lược thời gian hành Đạo của Bà Chánh Phối Sư Hương Nhiều, đã gần 43 năm dày sành đạp sỏi, hy sinh phụng sự cho đại nghiệp Đạo Cao Đài và đến lúc làm xong sứ mạng huy hoàng của vị được sự mến yêu của toàn Đạo cũng như các giới trong cộng đồng quốc gia. Thật là tấm gương thế gian hy hữu.

Thi văn của Bà Hương Nhiều

Thi Chúc Đáo Tuế cho Bà Nữ Chánh Phối sư Hương Hiếu, ngày 23 tháng 09 năm Đinh Hợi (1947) có đoạn như:

Nay là ngày Đáo-tuế chúc thọ Bà Nguyễn Hương Hiếu là về phần Nhơn Đạo- chị em với tôi- còn nơi cửa Đạo là đứng trong Thánh Thể Chí-Tôn Nữ-Phối-Sư của Hội Thánh, Bà hưởng thọ lục tuần, 61 tuổi, nên tôi thay mặt chị em Nữ Phái chúc tụng cho Bà "Tăng Long Tuổi Thọ", "Sống dư trăm tuổi".

THI

Chúc mừng Đáo tuế hưởng ngày xuân,
Tuổi sáu mươi dư thọ Hạ Tuần.
Tứ Đức giồi trau nên tiết rạng,
Nhị Tùng vẹn phận với lang quân.
Nhơn luân đã trọn đường trung hiếu,
Thiên Đạo dắt dìu luật pháp tuân.
Phối Thánh muôn năm còn để tiếng,
Sư Tôn ngàn thuở gội ơn nhuần.
                        Nữ Giáo Sư Hương Nhiều

Diễn văn của Bà Chánh Phối Sư Hương Nhiều đọc trong dịp bế mạc Đại Hội Phước Thiện Ất-Tỵ (1965).

Kính Hội Thánh,

Kính thưa chư Chức Sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Phước Thiện, Khâm Thành, Đầu phận châu thành Thánh Địa, Khâm Châu Đầu Tộc cũng như Phái Viên, Nghị Viên Nam Nữ.

Cuộc đại hội Phước Thiện năm Ất Tỵ (1965) giữa thời buổi khó khăn, đường sá lưu thông không được giản tiện mà chư vị Nghị Viên, Phái Viên chẳng màng cực nhọc hao tốn, về Tòa Thánh dự hội đông đủ làm cho Hội Thánh Phước Thiện cảm kích khôn cùng. Trải mấy mươi năm qua mới có cơ hội may mắn nầy, do Ngài Bảo Thế Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài cho mở Đại Hội Phước Thiện để lập vị cho nhơn sanh theo Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng cùng giải quyết nguyện vọng của toàn Đạo. Chư Nghị Viên, Phái Viên hôm nay đã hòan tất bổn phận, tìm sự chơn chánh, công bằng đủ trí sáng suốt nhận định điều hay lẽ phải, đem lại một tương lai tốt đẹp cho nền Đạo và cho cơ quan Phước Thiện. Nền giáo lý cao siêu của Đức Chí Tôn, chính tay Ngài dùng huyền diệu Cơ Bút lập ra, là ngọn cờ cứu khổ che chở cho toàn nhơn loại thì những hành vi nào không đúng Nhân Nghĩa công bằng lẽ dĩ nhiên nghịch hẳn với Thánh ý của Ngài. Đời là thể hình vật chất, Đạo là bóng mát của trí thức tinh thần, nếu Đạo không đủ thương yêu và giúp lẫn nhau thì mong chi bảo tồn nghiệp Đạo. Bốn mươi năm trong cửa Đạo, biết bao nỗi thăng trầm khổ não truân chuyên, cơ quan Phước Thiện là cơ quan cứu khổ cũng phải gánh chịu đau thương ngăn trở bước tiến của toàn Đạo-hữu Phước-Thiện. Đường còn dài hành trình của toàn Đạo còn lắm nỗi gay go, chư vị phải ráng tận tâm với trách nhiệm, gieo truyền hột Thánh cốc của Đức Chí Tôn cho toàn nhơn sanh chung hưởng, đem cả lương tri lương năng đặng dìu dắt sanh linh qui bổn thiện. Thời kỳ chiến tranh khói lửa làm cho con cái Đức Chí Tôn phải điêu linh, tinh thần bất định, biết bao thảm trạng thương tâm phô bày trước mắt, Phước Thiện phải lau thảm rửa sầu chở che đùm bọc, an ủi những kẻ cô đơn, già cả góa bụa, tật nguyền côi cút, tích cực tương thân tương ái, đoàn kết Đạo lẫn Đời, chung lo hạnh phúc cho nhơn loại. Nên nhớ rằng Phước Thiện là cơ quan do Hộ Pháp lập thành theo Thánh ý của Đức Chí Tôn để thực hành sứ mạng như kể trên. Đáng thương hại thay là từ buổi ban sơ các vị tiền bối của cơ quan nầy đã hy sinh tánh mạng lẫn tài sản của họ mới tạo nên một sự nghiệp tinh thần đồ sộ như ngày hôm nay. Qua rất mừng cho cuộc Đại Hội Phước Thiện đã biểu quyết những nguyện vọng của nhơn sanh trong vòng trật tự tôn nghiêm với một tánh cách chí lý chánh tâm để nêu cao tinh thần Đạo đức. Chức Sắc đại diện Bộ Pháp Chánh đã hoàn tất nhiệm vụ trên tinh thần thông cảm, bác ái và công bằng. Qua có đôi lời nhắn nhủ chư vị được đắc phong thăng thưởng xin chớ khá vội mừng mà phải rán giữ Đạo tâm, trau giồi đức hạnh cho xứng đáng với phẩm vị của mình. Còn các vị chưa đủ công nghiệp hoặc vì lý do nào mà bị đình lại cũng chớ khá buồn thối chí ngã lòng, thờ-ơ việc Đạo, mà trái lại phải cần sốt sắng tận tụy với nhiệm vụ để chờ kỳ hội tới. Qua cầu xin Đức Đại Từ Phụ, Đại Từ Mẫu, các Đấng Thiêng Liêng ban ân huệ tinh thần cho mấy em Khâm Châu, Đầu Tộc, Nghị Viên, Phái Viên, Đạo Sở địa phương về dự Đại Hội được tấn hóa bước đường Đạo-đức để lập vị Thiêng Liêng.

Hôm nay là ngày bế mạc Đại Hội, rồi đây mấy em sẽ trở về địa phương để tiếp tục phận sự hành Đạo, Qua cầu chúc mấy em đi an khương về cũng an khương.

Tòa Thánh ngày 29-2-Ất Tỵ (dl: 07-03-1965)
Nữ Phối Sư Chưởng Quản Nữ Phái Phước Thiện
HƯƠNG NHIỀU

NGÀI CAO TIẾP ĐẠO CHÚC THỌ BÀ HƯƠNG NHIỀU Chưởng Quản Nữ Phái Phước Thiện

Thiện nữ vui hứng bóng Kim Bàn,
Đáo tuế mừng rọi ánh diệu quang.
Công nghiệp xây nền xin cội phúc,
Đức tâm khêu đuốc rạng rừng nhàn.
Cung Trời Tạo Hóa thừa chung hưởng,
Đền Ngọc Diêu Trì chuẩn thọ ban.
Vẹt lối Nữ tài qua bể khổ,
Thuyền sen vững lái đẹp huy hoàng.
                        Cao Tiếp Đạo

BÀI PHỦ DỤ CỦA NGÀI BẢO THẾ

Trong dịp Bà Phối Sư Hương Nhiều tái thủ phận sự Chưởng Quản Phước Thiện Nữ Phái ngày 24-3-Gíap Thìn (1946).

Kính Hội Thánh Lưỡng Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng.
Kính Hội Thánh Phước Thiện

Kính Bà Phối Sư Hương Nhiều,
Kính quí Chức Sắc, Chức Việt Nam, Nữ.

Trong cửa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, một ngày công quả của mỗi chúng ta là một ngày trọn vẹn chúng ta hiến thân cho Đức Chí Tôn và Phật Mẫu sử khiến để thay thế cho người đặng dìu dắt nhơn sanh thoát ly khổ hải, nhất là hạng người còn nặng say sưa với mùi chung đỉnh, còn lắm oằn oại trong bã vinh hoa là những miếng mồi treo gương cho kẻ phàm phu lạc lầm, làm tôi cho tà mị. Thật là một ngày công quả là một buổi phục vụ nhơn sanh, vì nhơn sanh vẫn còn chìm đắm trong vòng tục lụy. Vả chăng, trong bổn Đạo có hai hạng người: Một là hạng Hạ thừa chỉ lo giữ Đạo cho vuông tròn và đức tin cho mạnh mẽ. Và một nữa là hạng Thượng Thừa, có nhiệm vụ trọng yếu hơn như trên đã kể. Thoảng như trong phẩm nầy mà có người còn liều lĩnh trong sứ mạng Thiêng Liêng, tự mình đã nhận lãnh thì thà xuất ngoại cho khỏi phụ lòng Đức Từ Bi che chở. Vì đó trong đêm mùng 5 tháng chạp Tân Sửu (dl: 10-1-1962) tại Cung Đạo Đền Thánh, Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng cơ dạy như vầy: "Một vị Chức Sắc cần phải có một phận sự, nếu không phải là phận sự Đạo thì là một phận sự đối với Đời về mặt Bác ái thì mới thật hành câu Cứu nhơn độ thế. Nếu không có phận sự gì đặc biệt, cứ đếm ngày giờ trông mong phẩm vị thì tội với Thiêng Liêng đó. Thế thì dầu Chức Sắc hay Đạo hữu cả Nữ lẫn Nam, không ai được trái bước trong Đạo nhơn luân, nhiên hậu mới gấm ghé vào Thiên Đạo, thì công quả là phương châm duy nhứt dọn lối vào đường lập vị. Sau nầy chúng ta cũng cần ý niệm rằng gắng sức thường hành công quả là phương chước đoái công chuộc tội, nếu chẳng phải nợ hiện kim thì cũng nợ tiền khiên vì không ai được thập toàn trên mặt thế. Rửa sạch tội lỗi bằng công quả tức là ưng lòng hứng chịu những gian lao về trí não cùng những khổ nhục về hình hài, đặng đền lại cái mà những ai trong chúng ta đã tạo hoặc trực tiếp hay gián tiếp cho kẻ khác phái vì ta mà điêu linh tân khổ. Đòn cân công bình nhứt là thuộc phái vô hình không bao giờ chênh lệch, thử hỏi những công kia trả nợ nầy, hồ dễ không hạp chân lý cho được?

Một trong những điểm khác nên quan tâm là trong khi làm công quả, có những việc hàm oan phải mang, có những điều oan trái phải gánh, những chuyện thị phi phải lãnh với ngậm ngùi nuốt đắng trêu cay mà không dám than thân, không nên trách phận. Đó là những cách thử thách của tà thần để cho ta được thực nghiệm trau giồi đức tính thế nào cho ngang hàng với Phật, Thánh, Tiên mới mong thành Đạo. Lẽ dĩ nhiên quả đẹp thì vị cao, bằng trái lại thì chỉ có kẻ tái sanh tục kiếp mà lần hồi tiến hóa. Vả chăng Đại Đạo khai sáng một lần, Đại ân xá chẳng ân tứ hai lượt, thì nhơn loại hạnh ngộ Tam Kỳ, hội nầy là may duyên hi hữu. Nếu chẳng tu theo ngọn đèn Thiêng Liêng vạch lối, dầu giữa nắng ban ngày hay bán dạ thâm canh luôn luôn tỏ rạng trong lúc tà quyền giành giựt con cái Chí Tôn đặng lôi kéo vào chốn âm-u đày đọa. Chừng ấy tiến thoái lưỡng nan, có hối tiếc cũng muộn màng không xoay trở kịp."

Đức Hộ Pháp buổi nọ đã dụng phương hay chước khéo bảo vệ Chức Sắc, Chức Việc và Thiện Nam tín Nữ của cơ quan Phước Thiện cho khỏi sa vào cạm bẫy, món ngon vật lạ, tứ giăng chung quanh mỗi người nhứt là phái yếu nữ lưu còn lắm thiệt thòi về trình độ học thức và tinh thần phục vụ và lắm hiếm hoi về Đạo đức để làm gương mẫu cho kẻ mình phổ độ noi theo, nên Ngài mượn tay một nữ Chức Sắc Cửu Trùng Đài là Bà Phối Sư Hương Nhiều, có đủ kinh nghiệm và phúc hậu để dìu dẫn Nữ phái Phước Thiện đi trên đường ngay nẻo chánh của Chơn Đạo. Mở trí khai minh là việc khó khăn nặng nhọc mà Bà đã làm tròn bổn phận từ lâu cho đến khi phải gián đoạn nhiệm vụ của Đức Hộ Pháp giao, vì đại biến trong cửa Đạo liên hệ đến gia đình Bà mà Bà vẫn kiên tâm bền chí, không rời Thánh Địa để giữ cho còn sự tượng trưng lãnh đạo, giáo hóa Nữ phái Phước Thiện. Khổ hạnh nầy Hội Thánh hằng ghi nhớ.

Hôm nay cơ điều hòa trong cửa Đạo đã trải qua nhiều trạng thái khó khăn mới được trổ mầm hứa hẹn một tương lai nhiều hy vọng khả quan cho con cái Chí Tôn và Đức Phật Mẫu trụ hết đức tin vào hai Đấng Khai Thiên Lập Địa, nắm cả huyền vi mầu nhiệm cơ Đạo, đặng cứu giúp nhơn sanh khỏi cơn đồ thán. Hội Thánh Hiệp Thiên Đài nhận thấy sứ mạng của Bà Phối Sư Hương Nhiều còn tiếp tục được đắc lực hơn, theo ý định của Đức Hộ Pháp khi còn tại tiền. Nên chúng tôi vui lòng giao huờn cho Bà trách vụ Chưởng Quản Nữ Phái Phước Thiện. Ngày nay Bà chánh thức hành sự, tôi ước mong Bà sẽ thi ân bố đức cho đoàn em út Nữ phái dưới quyền Bà đặng thụ hưởng, để rồi cả thảy cùng một nhịp một nhàng, chị trước em sau, nâng đỡ lẫn nhau trong tình tương thân tương ái thì may mắn lắm. Đành rằng Hội Thánh Hiệp Thiên Đài có phận sự lập ngôi định thứ cho chư Chức Sắc, chẳng luận ở cơ quan trọng yếu nào trong cửa Đạo, nhưng phải có sự tận tâm tận lực của mỗi đơn vị dễ bề Hiệp Thiên Đài công minh phán đoán.

Nhơn danh Hội Thánh Hiệp Thiên Đài tôi cầu nguyện Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu phát hạ hồng ân cho Hiền Tỷ trong công khó đặc biệt nầy sẽ được sớm cao thăng phẩm tước.

Nay kính

Tòa Thánh ngày 24-3-Giáp Thìn (5-5-1964)
Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài
Bảo Thế Lê Thiện Phước (Ấn Ký)

XIN GIẢM LUẬT CẦU THĂNG

Trong một đàn cơ năm Mậu Thân (1968) có đoạn: "Đức Thượng Sanh bạch: Xin dâng danh sách Hành Thiện cầu thăng Giáo Thiện để Đức Ngài phán định. Theo Thánh Giáo năm Ất Tỵ, Đức Ngài dạy đình lại sự thăng thưởng lên phẩm Giáo Thiện vì không nuôi nỗi 12 gia tộc, nên năm nay Hội Thánh Hiệp Thiên Đài không cứu xét những hồ sơ cầu thăng Giáo Thiện xin Đức Ngài chỉ dạy.

- Cười……thật là một việc khó cho Bần Đạo, vì Bà Phối Sư Hương Nhiều đã có lời cầu khẩn thiết tha cho sắp nhỏ Hành Thiện, nhất là Nữ Phái nhược chất liễu bồ, không thể nuôi 12 gia tộc nên xin miễn thể lệ nầy cho Nữ Hành Thiện. Bần Đạo không thể từ chối đặng, nên chấp thuận cho tất cả Nữ Hành Thiện được phong phẩm Giáo Thiện nếu hội đủ thâm niên công nghiệp và hợp lệ. Còn Hành Thiện Nam Phái chờ hội đủ điều kiện qui định mới đặng cầu thăng.

…Như vậy ở thế Bà dìu dắt Nữ Phái về hạnh đức, công nghiệp. Về Thiêng Liêng Bà nâng phẩm giá binh vực triệt để Nữ Phái, ơn ấy sẽ còn triền miên từ năm 1968 đến mãi mãi về sau. Thật là một đại ân đối với nhơn loại khắp hòan vũ.

THI ĐIẾU Bà PHỐI SƯ HƯƠNG NHIỀU

Bà Phối Sư Hương Nhiều Chưởng Quản Nữ Phái Phước Thiện, qui thiên ngày 24-6-Đinh Mùi (1967)

ĐỨC THƯỢNG SANH

Bà Chánh Phối Sư lánh cõi trần,
Công viên quả mãn ngự thanh vân.
Cõi Thiên trở gót hồi ngôi vị,
Tuồng thế may duyên dứt nợ trần.
Đạo sử còn ghi gương Thánh đức,
Diêu Trì nhuần gội giọt Hồng ân.
Ngùi ngùi ngó lại Tâm-Hiên cũ (1)
Hiền Tỷ biết bao thử đặng gần.
                        Huệ Giác

(1) Tịnh Tâm Hiên sau Hộ Pháp Đường.

NGÀI HIẾN PHÁP

Sử Đạo ghi thêm một tiếng vang,
Lịnh Bà Chưởng Quản phục Kim Bàn.
Về chầu Phật Mẫu nhàn Tiên cảnh,
Ở lại Môn Đồ thọ nghĩa tang.
Sanh tử náu-nương đò Tạo hóa,
Tồn vong định mạng máy xây vần.
Nén hương tâm niệm tâm hồn chứng,
Nguyện giải quần sinh khổ thế gian.
                        Thân Dân

ÔNG PHỐI SƯ THÁI ĐẾN THANH

Tuổi bảy mươi lăm rảnh cuộc đời,
Cung Diêu Bà Tám nghỉ an nơi.
Trăm năm Thánh thể nương lòng đất,
Ngàn thuở chơn linh hưởng phước Trời.
Bậu bạn trần gian hằng ái tuất,
Chị em Tiên cảnh hiệp vui chơi.
Sanh ly tử biệt xưa nay đã,
Rộng xét thâm suy cũng ngậm ngùi.
                        Thông Quang

PHƯỚC HUỆ

Khung Trời ảm-đạm hạc kêu vang,
Bà Chánh Phối Sư nhập Niết Bàn.
Phước Thiện, Cửu Trùng đồng kính đíếu,
Phạm Môn, Trí Giác thọ cư tang.
Vườn xuân Ngạn Uyển màu sương phủ,
Cửa Tịnh Tâm Hiên ngọn gió vàng.
Thánh Thể niêm phong nơi Phạm Nghiệp,
Chơn Thần siêu thoát khỏi trần gian.

GIÁO THIỆN PHAN TRUNG CHẪM

Bà Chánh Phối Sư cỗi xác phàm,
Nương thuyền Bát Nhã đến Thiên Bang.
Rừng tòng hứng cảnh xa trần tục,
Bồng đảo an ngôi hưởng phước nhàn.
Trọn kiếp hy sinh dìu Phước Thiện,
Nghìn thu bia tạc tấm lòng nhân.
Công viên quả mãn nên thanh sử,
Đời Đạo người trông bậc chí thành.

GIÁO THIỆN VÕ THÀNH LƯỢNG

Phối Sư Chưởng Quản bậc siêu nhiên,
Lại sớm sang chơn Bát Nhã Thuyền.
Liên tọa Thầy còn lưu dị quốc,
Hương hồn Bà vội lánh trần duyên.
Cửu Trùng cảm nỗi chia Tiên Tục,
Phước Thiện nhớ ơn nắm mối giềng,
Vẹn phận chăm nom dìu Nữ Phái,
Tiếc trang kỳ cựu Đạo thâm uyên.

HUỲNH BÁ TÒNG

Bà Chánh Phối Sư đã ly trần,
Tin buồn, toàn Đạo tưởng công ân.
Đăng Tiên sớm vội chầu Kim Mẫu,
Độ thế nay đà vững nghiệp nhân.
Thánh thể lánh xa vòng khổ hải,
Chơn thần siêu thoát ngự đài vân.
Đỡ nâng Phước Thiện còn noi dấu,
Đạo Sử ngàn thu đức rạng ngần.

CHƠN TÂM

Đương quyền Phước Thiện thắm nhuần ân,
Nữ Chánh Phối Sư thấy ly trần.
Thanh thể Bà nay an đất Việt,
Liên Đài Thầy những ngóng mây Tần.
Ngậm ngùi hợp phố châu còn đợi,
Đau đớn Bồng Lai khách lại gần.
Cửu Viện từ đây thương Nữ Phái,
Dắt dìu đành vắng bậc siêu nhân.

HUỆ NGÀN

Bước Đạo thăng trầm trải mấy niên,
Thương Bà nay đến tuổi về Tiên.
Cửu Trùng thọ sắc đương ngôi trọng,
Phước Thiện cầm giềng vững nghiệp Thiên.
Đức rạng gương lành luôn tạc để,
Công làu nét đỏ mãi lưu truyền.
Con em một cửa đồng thương mến,
Tống táng chen nhau mấy dặm liền.

THÁI PHONG

Muôn người như một lệ trào dâng,
Bà Chánh Phối Sư đã lánh trần.
Phước Thiện cầm giềng gìn Nữ Phái,
Cửu Trùng đoạt vị vẹn Thiên ân.
Liên Đài Thầy vẫn chưa về nước,
Trách nhậm Đạo xong vội lánh trần.
Cội đức vun trồng lưu vạn thuở,
Xe mây nhẹ tách dặm kiều ngân.

THIỆN TÂM

Từ thuở hay tin đấng Mẹ Hiền,
Trút hơi xa lánh cõi trần duyên.
Ngậm ngùi tưởng nhớ ân khuyên bảo,
Tức tửi nhớ ân nghĩa vẹn tuyền.
Phẩm hạnh làu soi gương nhựt nguyệt,
Công trình hiển rạng cảnh Thần Tiên.
Ngôi vị Sư Mẫu thân dầu toại,
Xin hộ nước non, Đạo vững bền.

GIÁO HỮU THƯỢNG TƯ THANH

BÀ lìa cõi tục tiếng còn vang,
CHÁNH tế lễ nghi chất khắp bàn.
PHỐI hiệp Đạo đời đồng khẩn nguyện,
SƯ nhân vắng bóng đậm màu tang.
HƯƠNG bay phảng-phất nơi Cung Ngọc,
NHIỀU kiếp chuyển luân gọi tiếng đàn.
QUI đến cung Diêu chầu Đức Mẹ,
TIÊN phong Phật cốt lướt không gian

 

 

NỮ SĨ

女 士
F: Femme lettré,femme écrivain.

Người phái Nữ có tài về thi văn, tức nhiên là chỉ chung hạng trí thức và đạo đức. Đây là thơ của Nhứt Nương Diêu-Trì Cung giáng: Chào các em nam nữ. Cho Thi:

HUỲNH lương giấc mộng có chi vui,
HOA trổ gặp thời chớ dễ ngươi.
TIÊN cảnh sẵn chờ người Nữ sĩ,
NỮ nam đồng phận nếm ngon bùi.

 

 

NỮ TÂM

Nữ tâm 女心 : Tấm lòng của người phái nữ

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Đặng trí thức phải ngừa lòng khách,
Dìu dắt nhau chớ nghịch lòng nhau.
Biết tâm biết chí anh hào,
Nữ tâm làm mảnh nhung bào chở che.

 

 

NỮ TU


E: A nun.
F: La religieuse.

Nữ: Phụ nữ, đàn bà, con gái. Tu: theo đạo để tu hành. Nữ tu hay Nữ tu sĩ là người phụ nữ nhập vào một tôn giáo để lo việc tu hành.

Từ ngữ Nữ tu thường được dùng bên Thiên Chúa giáo, Nữ tu ở trong các Nữ Tu Viện. Bên Phật giáo gọi là Ni Cô, Cô Vãi, tu trong các Ni Tự (chùa Ni Cô), có một Ni Sư điều khiển.

 

 

NỬA CHỪNG XUÂN

Bài hoạ của Ông Cao-Hoài Sang qua bài "Thác vì Tình" của Thất Nương Vương thị Lễ có câu:

Nửa chừng Xuân gãy tủi thân ai?
Nông-nỗi nghĩ thôi tiếc bấy tài.
Ngọc thốt dám bì trang tuấn kiệt,
Vàng rơi riêng chạnh khách Chương-đài.

 

 

NƯỚC ÂM DƯƠNG (Âm Dương Thủy)

E: The Holy water.
F: L’eau bénite.

Đây là nói về nứơc Âm- nước Dương là những Lễ phẩm dâng cúng Đức Chí-Tôn- Đức Phật Mẫu để tỏ lòng kính trọng bên ngòai

- Nước Dương thật là thanh bạch, nên chén nước trắng để bên tả gọi là Dương. (1)

Nước Dương đây là nước không có nấu, dù nước mưa hay nước giếng chỉ lọc sạch để dâng cúng mà thôi.

Trong các thứ nước chỉ có nước giếng là đầy đủ tính Dương, nghĩa là không bị ảnh hưởng bởi những chất hòa tan, như rác rến, cặn bã hôi thúi. Đức Chí Tôn mở Đạo nơi đất Tây Ninh này rất thích hợp đất đai cũng là hạnh phúc cho nhân sanh buổi này: Vì chỉ dùng nước giếng thôi.

Nước âm là nước Trà: Để bên hữu, ấy là Âm.

Nếu nói nước Dương là nước mưa từ trên trời thì Nước Âm là nguồn nước ở trong lòng đất và biển cả, sông ngòi, rạch suối. Nguồn sống của đất do Phật-Mẫu ban cho, một nguồn sống triền miên vô tận. Người ở miền đất cao, thì đào đất sâu xuống làm giếng lấy nước uống. Người ở đất thấp đồng bằng, thì dùng nước biển, sông, suối, rạch, ngòi, dầu mùa mưa hay nắng hạn, người và vật cũng nhờ đó mà sống, nên chén nước trà để bên hữu gọi là Âm: Nước nấu chín để trà vào gọi là nước trà. Chén nước trà còn tượng trưng cho Thần, tức là Linh hồn. Khi cúng rót nước đủ tám phân, tượng trưng cho "Bát hồn vận chuyển" do Đức Diêu Trì Kim Mẫu dùng Âm quang biến tạo Chơn thần.

Tám phân của chén nước Dương là tượng cho Bát Quái của Đấng Chí-Tôn.

Người tu phải coi theo đó mà hành Bát Chánh Đạo Hiểu lẽ của Âm Dương trời đất là Hòa thì người tu cũng lấy sự hòa làm chánh yếu, chứ không vì các con số bí-pháp trên lầm hiểu, mà nhiều khi làm mất hòa trong lẽ Đạo. Đạo là hòa, là sự sống. Đây là con số biểu tượng chứ không nhứt thiết phải đo cho thật chính xác. Bởi thế, con người đặt nặng tình cảm đối với Đất hơn Trời. Hầu hết trẻ con mới sanh ra, người ta lại đem nhao rún chôn xuống đất, nên sự sống và tình cảm của người dính liền với đất. Vì thế nên người do tình cảm Thiêng Liêng ấy mà không nỡ rời quê hương là nơi "chôn nhao cắt rún" của mình mà đi nơi khác. Cũng như người đến trong cõi trần-ai này nhưng lúc nào cũng nhớ về cõi xa-xăm kia mà luôn hướng đến việc tu-hành, tức nhiên sự tu-hành là tìm về căn cội. Thường nói người có căn tu mới đắc thành là như thế.

Đức Chí Tôn có nói: "Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đọa trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh".

 

 

NƯỚC ÂU LẠC (Sử)

Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của Hùng Vương thứ 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh báo thù lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy giờ cậy mình có binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán, biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự tử.

Năm Giáp Thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp yên mọi nơi rồi, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm Bính Ngọ (255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành. Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An.

 

 

NƯỚC BIẾN GIA VONG

Đức Hộ-Pháp nói: "Trong lúc nước biến gia vong, sự tồn vong của nước VIỆT-NAM đang như trứng để đầu giàn. Bần-Đạo cảm thấy Kinh này là cả một Triết học Á-đông độc nhứt vô nhị, mà chính là những Bí-pháp Cổ truyền của Đạo CAO-ĐÀI, một Đạo-giáo VIỆT-NAM hoàn-toàn nảy sanh ở cái Triết lý hoàn-toàn Á-đông mà KINH này gồm hết những lý thuyết cao siêu mà ông NGUYỄN-MẠNH-BẢO đã nêu cao tinh-thần ĐẠI-ĐẠO."

 

 

NƯỚC CAM LỒ

Nước Cam-Lồ hay Cam-Lộ-Thủy 甘露水 nghĩa là thứ nước sương ngọt mát, một thứ nước huyền diệu Thiêng liêng của Phật Quan Âm Bồ Tát thường luyện ra chứa trong Tịnh bình, dùng để tiêu trừ bịnh tật, giải sạch oan khiên, nghiệt chướng...cải tử hoàn sanh...Nước Cam Lồ của Đức Phật Quan Âm để rửa sạch hết oan khiên nơi cõi trần sầu. Đức Quan Âm dùng nhành Dương nhúng vào để rải Nước Cam Lồ này còn được gọi là Nước Dương.

Nước Cam Lộ còn tượng trưng cho lòng Từ Bi của Bồ Tát Quan Âm. Bởi chúng sanh đang sống trong lửa phiền não thiêu đốt, Bồ Tát mang nước Từ Bi đến dập tắt và đem lại sự an lành, mát mẻ cho chúng sanh.

Thầy dạy: "Phải đem cả thảy vô đây, tắm rửa cho sạch sẽ làm cho thiên-hạ muốn gần, vì đáng tôn sùng yêu-ái mà gần.

Hình-luật Tam-giáo là nước Cam-lồ để tắm rửa linh hồn vậy. Chơn-truyền từ trước đến nay Đức Chí Tôn để tại mặt thế trên các Đạo: Phật, Tiên, Thánh là phương để gội rửa linh-hồn mà thôi".

Bí pháp Đạo Cao Đài cũng luyện được Cam Lộ Thuỷ để làm phép xác cho các tín đồ qui liễu.

Cách luyện Cam Lộ Thủy được Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh chỉ như sau: "Để chén ngay Thiên bàn, gát ngang nhành Dương liễu qua miệng chén, đoạn lấy hai chung nước Âm Dương xáp lại cùng nhau cho Âm Dương Ký Tế, nghĩa là hai mặt nước hiệp nhau rồi đổ ngay giọt xuống chén mà niệm câu chú này: "Cam-Lộ-Thủy năng hủy trược kiếp ô-sinh oan nghiệt tội chướng chi đọa". Hễ dứt câu niệm thì phải dừng giọt nước. Đoạn tay trái bắt ấn Hộ Pháp, để chén nước Cam Lồ trên Ấn; tay mặt cũng bắt Ân Hộ Pháp chụp lên miệng chén co ngón giữa tay mặt vẽ bùa (.) trên mặt nước rồi buông ngón tay ra, truyền thần xuống mặt nước. Đoạn nhắm hai mắt định thần, hễ thấy Thiên Nhãn giáng ngay mặt nước thì tức cấp giựt tay ra, đừng đứng đợi để tiêu Thiên Nhãn thì thất pháp. Nước Cam Lộ đã luyện thành".

Kinh Hạ Huyệt có câu:

"Rỡ ràng Phật cốt Tiên duyên,
"Nước Cam Lồ rửa sạch thuyền độ nhân."

 

 

NƯỚC LÓNG PHÈN

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

An vui miễn biết giữ lòng lành,
Nước có lóng phèn nước mới xanh.
Giữa cõi phong trần trường dạy học,
Khôn ngoan thói tục ấy đua tranh.

 

 

NƯỚC LỖ

Nước Lỗ ( là quê hương của Đức Khổng-Tử)

Đức Lý dạy: qua bài thi rằng:

Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,
Nầy xem nước Lỗ biến hình Lân.

 

 

NƯỚC MA HA

Nước Ma Ha tức là Ma-Ha-Thủy 摩訶水 nguyên ý là nước của sông Gange ở bên xứ Ấn Độ, gọi là sông Hằng Hà. Do tích Đức Phật Thích Ca xuống tắm và dùng nước con sông ấy để tẩy trần mà đắc thành Phật vị.

Trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Bí pháp Giải oan cũng dùng nước Ma-Ha để làm phép cho người thọ giải. Theo quyển Bí Truyền Chơn Pháp của Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh, phép Giải Oan được vị Chức sắc hành pháp như sau:

Múc một tô nước để tại Thiên Bàn, người hành pháp đứng trước, định thần ngó ngay lên Thiên Nhãn, vẽ bằng con mắt chữ (.) trong con ngươi của Thiên Nhãn, rồi co chân trái lên vẽ chữ (.), đạp trên chữ (.) ấy, rút chân mặt ký chữ Đinh gọi là đạp Đinh Giáp.

Khi hành pháp rồi, tay trái bắt ấn Hộ Pháp để ngay ngực, tay mặt cũng bắt ấn Hộ Pháp để trên tô nước, buông ấn ra, co ngón tay giữa vẽ bùa (.), đoạn ngay tay ra truyền thần xuống nước, niệm câu chú: "Ma Ha Thủy năng hủy oan nghiệt tội chướng chi đọa", nhắm mắt định thần, đợi thấy Thiên Nhãn giáng trên mặt nước thì xả ấn.

Cầm tô nước tay mặt, đến trước mặt người giải oan biểu cúi đầu xuống, lấy con mắt vẽ chữ (.) ngay Nê hoàn. Hễ vẽ vừa rồi liền chụp năm ngón tay trái lên mỏ ác gọi là ấn Ngũ Hành Sơn, vừa chụp vừa niệm câu chú này: "Úm Ma Ni Bát Rị Hồng". Đoạn cầm tô nước đổ xuống ngay mỏ ác mà niệm: "Nam Mô Phật", giọt thứ nhì: "Nam Mô Pháp", rồi trút hết tô nước niệm: "Nam Mô Tăng". Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Luyện Ma Ha Thủy và Cam Lồ Thủy chỉ có các vị Chức sắc từ Giáo Hữu trở lên và phải được thọ truyền Bí pháp.

Ở một số địa phương, các vị chức sắc hoặc chức việc, khi cầu giải bệnh, phát tang thường hay dùng bông nhún nước để rải lên đầu bệnh nhân hoặc tang quyến, điều này, theo thiển ý hành sái chơn pháp của Đạo, bởi vì vị chức sắc, chức việc đó chưa thọ pháp, nên không luyện được Ma Ha Thủy hay Cam Lồ Thủy. Thế nên việc Tắm nước Ma Ha để gội rửa những mê lầm và rửa sạch những oan khiên tội lỗi của kiếp sống.

Chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ gặp được một con đường do Đức Chí Tôn đã soi sáng và dìu dắt cho từng bước chân đi, là điều may mắn rất lớn, chớ người không duyên phần thì chẳng dễ gì gặp đặng. Đức Hộ Pháp có nói rằng: "Đấng Vô hình quyền năng đã tạo thế này, từ tạo Thiên lập Địa chưa có một người đặng gặp. Sự gặp đặng Người và chung ở cùng Người là một phần thưởng quí trọng không cùng, dầu cho các Đấng chí Tiên, chí Phật đi nữa cũng hằng ngưỡng vọng".

Kinh Giải Oan có câu:

"Cứ nương bóng CHÍ LINH soi bước,
"Gội mê đồ tắm nước MA HA."

(Xem thêm: Ma-Ha-Thủy. Vần M.)

 

 

NƯỚC NAM

Thứ hai, 27-9-1926 (âl: 21-8-Bính Dần)

Thầy dạy: "Thầy dặn các con, từ đây ai nói chi tùy ý, cứ nghe một Thầy thì khỏi lầm lạc. Con Trung cứ lo khai Đạo, món binh khí tà quái vì đó mà tiêu diệt. Nước Nam có một chủ mà thôi là Thầy. Từ trước vì nhiều Đạo trong nước mà chẳng một Đạo nào chơn chánh, làm mạnh quốc dân nên nước phải yếu, dân phải hèn. Dân tộc các con duy biết làm tớ chớ chưa biết làm chủ."

Thi văn dạy Đạo:

Từ trước nước Nam chẳng Đạo nhà,
Nay TA gầy dựng lập nên ra.
Ví dù ai hỏi sao bao nã?
Rằng trẻ noi theo biến hóa già.

 

 

NƯỚC NGUỒN CÂY CỘI

Nước nguồn cây cội (là tiếng nói vắn tắt: cây có cội nước có nguồn)

Kinh Sám Hối có câu:

"Lòng thành thương tưởng ông bà,
"Nước nguồn cây cội mới là tu mi."

 

 

NƯỚC NHÀNH DƯƠNG

E: The Holy water.
F: L'Eau bénite.

Nước nhành dương hay nói tắt là nước dương, là thứ nước rải ra từ cành cây dương liễu. Đó là nước Cam Lồ.

Trong Phép xác, vị Chức sắc hành pháp luyện Cam Lồ thủy xong, thì dùng cành dương liễu, nhúng vào nước Cam lồ, rải xung quanh quan tài, để làm phép tẩy rửa chơn thần người chết cho được trong sạch.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

• Lấy nước nhành dương tưới lửa phiền.

Nước dương tưới sạch trần ai cũ.

Ông Quí-Cao giáng hoạ ngay thi của Bát Nương Diêu Trì-Cung có câu:

Một tiếng U-minh gióng cửa Không,
Phồn-hoa giục tỉnh giấc đương nồng.
Ngồi thuyền Bác-Nhã qua tình biển.
Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng.

 

 

NƯỚC THÁNH

E: the Holly water.

Nước Thánh (gọi là âm dương ký tế) tức là người dùng nước cúng trên Thiên bàn gồm có nước Trà (âm) và nước trắng (dương) hiệp[ lại rồi cho bịnh nhân cầu nguyện uống.

Chính có lời hứa của Chư Phật, nên sau khi thiết lễ cầu giải bịnh xong, vị chứng đàn trở vào quì cầu nguyện Đức Chí Tôn và hội hai ly nước Thánh lại (Gọi âm dương ký tế) rồi cho bịnh nhân cầu nguyện uống. Đây là một ân điển thiêng liêng mà Thầy ban cho cả chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, tức là nhờ sự thành tâm cầu nguyện mà Chí Tôn Phật Mẫu ban cho hai nguồn ân điển Âm Dương hòa hiệp trong ly Thánh thủy để người bịnh uống vào được điều hòa về vật chất và tinh thần, dứt trừ vạn bịnh, thể xác khương cường, tinh thần tráng kiện.

Chợ Lớn, ngày 21-11-Đinh Mão (dl: 14-12-1927)

Thầy dạy:"Hoạch đem cho Thầy một chén nước Thánh Con! Căn mạng chẳng qua hành tàng của các lũ quỉ mị. Trong ít ngày nữa, ai chẳng đặng yên ổn, Thầy cho nước Thánh nầy, khá niệm danh Thầy mà uống vào hai ngày 24, 25, chẳng xuất môn mà gắng thiện niệm, dùng trai kỳ hai bữa ấy thì nạn qua khỏi. Phú lấy tâm thành đối với Đạo thì Thầy biết đến con luôn, gắng sửa nết đời lại chút nữa, theo mấy anh có hạnh đức mà làm công quả, nhứt là nhờ Thầy buổi ban sơ." (ĐS. II. 249)

Tháng 3 năm 1927 Đức Cao Thượng Phẩm được Đức Lý giao việc di cốt Phật Tổ từ chùa Từ Lâm ở Gò Kén về đất mới ở làng Long Thành.

Con ngựa Cantaka của Đức Phật Tổ cỡ lớn và dài, nên Đức Cao Thượng Phẩm phải kết hai cái xe bò lại để dễ chở.Viên Chánh Tham biện tưởng Đức Cao Thượng Phẩm tụ tập dân chúng mưu sự gì nên cho quân lính kích hai bên đường. Dọ Thám cho biết Đức Cao Thượng Phẩm chỉ di cốt Phật Tổ chớ không làm gì khác nên họ giải tán. Bửu tượng Đức Phật Tổ đặt giữa hai cụm rừng Thiên Nhiên. Mặt hướng về nước Cao Miên. Tay che trán như chờ đón cả dân tộc này. Tượng biểu hiện Thái tử Sĩ-Đạt-Ta rời bỏ hoàng cung đi tu, phía sau có Sa-Nặc chạy theo chắp tay xin Ngài trở lại.

Người Cao Miên thì cho pho tượng Phật Tổ cỡi ngựa đó là vị Thái Tử của nước họ đã chuyển hóa giúp dân họ hồi đầu hướng thiện. Vào buổi sáng mình ngựa đầy mồ hôi; họ cố công hứng lấy nước mà uống chữa được nhiều thứ bịnh. Vì vậy, họ về nước đồn lên khiến hàng vạn người lũ lượt kéo đến Toà Thánh làm công quả phá rừng cất chùa mới. Công quả giúp phá rừng quá đông. Đạo chưa tạo được cái nhà nào phải nấu ăn và ăn uống giữa trời. Thế mà người công quả lục tỉnh, Nam Vang ngày càng mỗi về đông. Dù thiếu-thốn mọi phương tiện phòng bịnh, thuốc thang không có. Đức Cao Thượng Phẩm xin Đức Chí Tôn ban bí pháp luyện Cam-Lồ-Thủy mà dân Đạo quen gọi là NƯỚC THÁNH

Chưa có đền thờ nên Đức Cao Thượng Phẩm hành pháp giữa trời. Người xin nước Thánh đem chai xếp hàng trên bàn. Mỗi khi làm phép trấn thần xong là múc vào chai của ai nấy lấy đem về uống. Nhờ có huyền diệu Thiêng Liêng nước Thánh trị được bá bịnh. Tiếng lành đồn xa, công quả các nơi tập nập kéo về. Nhờ thế rừng cấm không bao lâu trở thành mảnh đất bằng phẳng. Toà Thánh tạm bằng tranh được dựng lên. Đó chẳng phải nhờ huyền diệu thiêng liêng, ơn trên giúp sức sao? mà nước Thánh chỉ là phương tiện để giúp đạt thành cứu cánh ngôi Bửu điện: Thiên Nhơn hợp nhất hiện rõ từ đầu.

 

 

NƯỚC TRÍ NON NHÂN

Thi văn dạy Đạo rằng:

Ðâu vui nước trí với non nhân,
Lòn lõi công danh khổ phận thân.
Nực nội trong lòng lo lúng túng,
Ðài mây để bước khá nơi chân.

 

 

NƯỚC VĂN LANG (Sử)

Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.

Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:

1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn (? )

Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.

Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm Tân Mão (1109 trước Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía Nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?

Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước. Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm Quý Mão (258 trước Tây lịch) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu được như vậy. Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.

 

 

NƯƠNG (Dương Văn Nương) (1870-1926) (Tên)

Nương là Ngài Dương Văn Nương. Huyện Hàm ở Sađéc. Sau khi Ngài Đầu Sư Thái Minh Tinh bị Đức Lý Giáo Tông cách chức, Đức Chí Tôn phong Ngài Dương Văn Nương thế vào chức ấy, làm Đầu Sư Thái Nương Tinh.

Ngày 15-1-1927 (âl 12-12-Bính Dần). Thầy dạy:

"Nương! Thầy dặn con, con chẳng hề nghe đến. Thầy muốn bỏ, song vì cựu vị nên chẳng đành. Từ đây, phải lo Đạo nghe. Thầy phong cho con chức Thái Đầu Sư, phải hành đạo mà hiệp sức phổ độ phái Thái.

Thái Minh Tinh bị Lý Bạch cách chức"

Thứ hai, 17-1-1927 (âl 14-12-Bính Dần).

Thầy dạy: "Thơ, con đừng lo lắng về Chơn thần con lắm vậy nghe.

Nhiều phen Thầy nghe con vái, nhưng mà ngày giờ chưa đến, nên Thầy chưa nói. Ngày nay, Thầy tỏ thiệt cho con hiểu. Con là một Chơn linh cùng Quan Âm Bồ Tát, con đã hiểu rồi, vậy từ đây phải biết mình trân trọng mà trau giồi tánh hạnh nghe.!

Thầy chẳng nói ra căn cội của Nương, e con giận. Vậy Thầy cũng nói luôn để anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à.! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành đạo cho tới ngày hai con đến đắc quả đặng trở về cùng Thầy."

Thầy dạy: Chợ Lớn, ngày 27-1-1928 (âl 5-1-Mậu Thìn).

Nương! Công quả thiệt thòi. Thầy sẽ định sau nầy.

Con nên gắng hết lòng khuyên nhủ là đủ."

 

 

NƯƠNG NÁU

F: s’abriter.

Nương: nhờ vào, dựa vào. Náu: ẩn náu. Nương náu: lánh nhờ, lánh tạm

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Nhớ những lúc sơ khai mối Đạo,
Xúm-xích nhau nương-náu cành non.
Cảnh chùa Gò-kén thon-von,
Tạm nơi cửa Phật chìu lòn người ta.

 

 

NƯƠNG THEO CON DẠI

Đức Hộ-Pháp giải lời nói của Đấng Chí-Tôn rằng: "Bởi thế cho nên khi Ngài đến cầm cây linh bút đặng mở chơn truyền của Ngài, những kẻ phàm tâm kia lấy làm lạ lùng và không có thể tưởng tượng đặng và không có thể tin đặng. Ôi! Một trường ngôn luận buổi nọ biết bao nhiêu kẻ chê bai, khinh rẽ là thế nào. Trong một bài thơ Ngài than như vầy:

Cười khan mà khóc bởi thương bây,
Chẳng mất một con nghiệt cả bầy.
Biết phận già không chờ chống gậy.
Nương theo con dại mới ra vầy.

Thật vậy, Ngài quá thương con cái mới ra nông nỗi đó, tưởng lòng thương yêu vô tận ấy không thể gì ta tưởng tượng đặng, không thể gì chúng ta biết đặng cái giá trị nồng nàn yêu ái vô biên vô tận ấy, chỉ vì "Nương theo con dại mới ra vầy" câu ấy nồng nàn thấm thúy đau đớn làm sao, câu nói đó là vì thương con dại của Ngài, mà toàn thể anh em chúng ta có hiểu cái tiếng "DẠI" ấy là thế nào không? Bần-Đạo xin nhắc lại lời nói của Đức Chúa Jésus Christ đã nói:

- Hạnh phúc thay cho những kẻ khờ khạo! Vì nó được quyền năng của ông Cha của Thiêng Liêng kia binh vực nó, hồi nó sống đây nó dại khờ, nhưng không phải cái dại ấy mà nó cô độc, bởi vì nó còn ông Cha oai quyền vô tận vô biên, Ổng thay thế cái khôn cho nó. Hạnh phúc thay cho những kẻ yếu hèn! Những kẻ yếu hèn với những người sang cả, khi trở về cùng Cha của họ nơi nước Hằng Sống của Đức Chí-Tôn đã dành để cho con cái đau khổ của Ngài, cái giá trị vẫn khác. Khốn khổ thay những kẻ miệt sát kẻ yếu hèn. Khốn khổ thay cho những kẻ áp bức, hiếp đáp những người cô thế, trẻ con, góa bụa, tật nguyền, bởi vì nó miệt sát nhục mạ con cái của Ngài tức là nhục mạ Đấng Tạo-đoan, như vậy là còn tội tình nào lớn hơn điều ấy. Nếu quả nhiên sắp con của Ngài phải chịu hèn hạ khổ não, ngu khờ là tại Ngài muốn vậy, Ngài muốn dành để cái oai quyền binh vực của Ngài cho chúng nó".

 

 

NƯƠNG THUYỀN BÁT NHÃ

Nương thuyền Bát Nhã là nương tựa vào trí huệ để làm chiếc thuyền lướt qua thoát khỏi biển khổ để về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, hay nói cách khác là thuyền Đạo

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

"Nương thuyền Bát Nhã cho an,
"Dìu chừng con cháu vào đàng nghĩa nhân."

 

 

HẾT VẦN N

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


NA | NẠI | NÀI | NAM | NAN | NẠN | NẠP | NAO | NÁO | NÁU |

NẶC | NĂM | NẮM | NĂNG | NẮNG | NÂU | NẤU |

NÉM | NẺO | | NỀ | NÊN | NỀN | NÊU |

NI | NIÊM | NIỀM | NIỆM | NIÊN | NIẾT | NÍP |

NO | NON |

| NỘ | NỐI | NỘI | NỒI | NÔNG | NỢ | NƠI |

NÚI | NUÔI | NUỐT | NỮ | NỬA | NƯỚC | NƯƠNG |


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NA | | | NE | | NI | NO | | | NU |

 

 

 

Danh mục vần N

 

NA

Na Sầm

Napoléon (Nã Phá Luân)

 

NẠI

Nại Hà kiều

 

NÀI

Nài Cầu

 

NAM

Nam Ai - Nam Xuân

Nam Âm

Nam Bán Cầu

Nam Bắc Cực

Nam Bắc Phân Kỳ

Nam Bắc Tông

Nam Bắc Triều

Nam Băng Dương

Nam Bình

Nam Bình Vương Phật

Nam Bộ

Nam Châm

Nam Châu

Nam Chiếu

Nam Cực

Nam Chủ Nữ Thứ

Nam Diện

Nam Dương

Nam Đại Lục

Nam Đảnh

Nam Đầu Sư Đường

Nam Giao

Nam Nhi

Nam Nữ Thọ Thọ Bất Thân

Nam Phần

Nam Phong Thử Nhựt Biến Nhơn Phong

Nam Tả - Nữ Hữu

Nam Tào - Bắc Đẩu

Nam Tông Thiền

Nam Thanh Nữ Tú

Nam Uyên

 

NAN

Nan

 

NẠN

Nạn Nguy

 

NẠP

Nạp Dụng

 

NAO

Nao Nư

 

NÁO

Náo Loạn

Náo Động Thiên Cung

Náo Nhiệt

 

NÁU

Náu Nương

 

NẶC

Nặc Danh

 

NĂM

Năm Âm

Năm Bước Khổ

Năm Cây Nhang

Năm Châu

Năm Địa Cầu Có Nhân Loại Ở

Năm Điều Cấm Cơ Bút

Năm Giới

Năm Hằng

Năm Loại Mắt

Năm Lực

Năm Rồng

Năm Sắc Dân

Năm Sắc Hoa Tươi

Năm Yếu Tố Của Vần Quốc Ngữ

 

NẮM

Nắm Máy Huyền Vi

Nắm Phan

Nắm Tâm

 

NĂNG

Năng Cứu

Năng Cứu Khổ Ách Nghiệt Chướng

Năng Lai Năng Khứ

Năng Lực

Năng Tri

Năng Trừ Ma Chướng Quỉ Tai

 

NẮNG

Nắng Lửa Mưa Dầu

Nắng Quáng Đèn Lòa

 

NÂU

Nâu Sồng

 

NẤU

Nấu Kinh Sử

 

NÉM

Ném Thử Giáng Ma Đóng Cửu Tuyền

 

NẺO

Nẻo Hạnh

Nẻo Phiền

Nẻo Thánh

 

Nê Hoàn Cung

 

NỀ

Nề Nếp

 

NÊN

Nên Thì Để, Hư Thì Bỏ

 

NỀN

Nền Đạo Đức

 

NÊU

Nêu Danh

 

NI

Ni Kim Cô

 

NIÊM

Niêm Luật

 

NIỀM

Niềm Son Sắt

 

NIỆM

Niệm

Niệm Danh Thầy

Niệm Hương

Niệm Hương Chú

Niệm Nam Mô

Niệm Phật

 

NIÊN

Niên Cao Kỷ Trưởng

 

NIẾT

Niết Bàn

Niết Bàn Qua Tinh Thần Cao Đài Giáo

 

NÍP

Níp Tử Xe Châu

 

NO

Noln Dinh

 

NON

Non Kỳ

Non Nam

Non Thần

 

Nô Lệ

 

NỘ

Nộ

Nộ Khí

Nộ Khí Xung Thiên

 

NỐI

Nối Tông Tổ

 

NỘI

Nội Giáo Vô Vi, Ngoại Giáo Công Truyền

Nội Loạn

Nội Luật

Nội Ô - Ngoại Ô

 

NỒI

Nồi Da Xáo Thịt

 

NÔNG

Nông Canh

Nông Trang

Nông Viện

 

NỢ

Nợ Ba Sinh

Nợ Tiền Khiên

 

NƠI

Nơi Lòng Thầy Ngự Động Thầy Hay

 

NÚI

Núi Bà Ðen

Núi Ô-Li-Vê

Núi Tu Di

 

NUÔI

Nuôi Nấng

 

NUỐT

Nuốt Đắng Trêu Cay

 

NỮ

Nữ Anh Tài

Nữ Đầu Sư

Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Nữ Đầu Sư Đường

Nữ Ðồng Nhi

Nữ Kiệt

Nữ Nhi

Nữ Phách

Nữ Phái

Nữ Phái Vốn Của Lý Gíao Tông Lập Thành

Nữ Phật Tông

Nữ Phối Sư Hương Nhiều

Nữ Sĩ

Nữ Tâm

Nữ Tu

 

NỬA

Nửa Chừng Xuân

 

NƯỚC

Nước Âm Dương

Nước Âu Lạc

Nước Biến Gia Vong

Nước Cam Lồ

Nước Lóng Phèn

Nước Lỗ

Nước Ma Ha

Nước Nam

Nước Nguồn Cây Cội

Nước Nhành Dương

Nước Thánh

Nước Trí Với Non Nhân

Nước Văn Lang

 

NƯƠNG

Nương (Dương Văn Nương)

Nương Náu

Nương Theo Con Dại

Nương Thuyền Bát Nhã

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 27-07-2017

NA | | | NE | | NI | NO | | | NU |


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF