CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần M

 

MA

Madagascar

Ma Ha Thủy

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

Ma Khảo

Ma Kheo

Ma Hồn Quỉ Xác

Ma Lục Tặc

Ma Nghiệt

Ma Phương Số

Ma Xeo Quỉ Bày

Ma Vương

Ma Xử (Giáng Ma Xử)

 

Mã Bì Tuyết Thể

Mã Viện

 

MẠC

Mạc Đỉnh Chi

Mạc Trắc

 

MÁCH

Mách Bảo

 

MAI

Mai Một

Mai Táng

Mai Xuân

 

MÃI

Mãi Mãi Đọa Đày, Bất Năng Thoát Tục

 

MÃN

Mãn Kiếp - Mãn Phần

Mãn Kỳ

Mãn Phần

Mãn Tang

 

MANG

Mang Mến

 

MÃNG

Mãng Bào

 

MẠNG

Mạng Danh

Mạng Căn

Mạng Hữu Cao Đài Minh Nguyệt Chiếu

Mạng Lịnh

Mạng Pháp

Mạng Trời

 

MANH

Manh Tâm

 

MẠNH

Mạnh - Trọng - Quí

Mạnh Đặng Yếu Thua Khôn Còn Dại Mất

Mạnh Tử

 

MẢNH

Mảnh Nhung Bào

 

MÃNH

Mãnh Lực Của Tà Quái

 

MÃO

Mão

Mão Hiệp Chưởng

Mão Bát Quái (Bát Quái Mạo)

Mão (của Bảo Sanh Quân)

 

MẠO

Mạo Muội

Mạo Xưng

 

MẠT

Mạt Hèn

Mạt Kiếp

Mạt Lộ

Mạt Pháp

Mạt Thế

Mạt Vận

 

MÀU

Màu Trắng

 

MÁY

Máy Càn Khôn

Máy Huyền Vi

Máy Linh Cơ Tạo

Máy Nhiệm

Máy Sâu Họa Kín

Máy Tà Gian

Máy Trời

 

MÀY

Mày Râu

Mày Trung Mặt Nịnh

 

MẢY

Mảy Hào

Mảy May

Mảy Mún

 

MẶC

Mặc Khải (Mạc Khải)

Mặc Nhiên

Mặc Một Bộ Thiết Giáp

Mặc Niệm

Mặc Phò

 

MẮT

Mắt - Tư Mắt (Nguyễn Phát Trước)

 

MẶT

Mặt Dương

 

MẪN

Mẫn Khổ

 

MẦNG

Mầng (Mừng)

 

MẬT

Mật Chỉ

Mật Chiếu

Mật Chú

Mật Ngữ

Mật Nghĩa

Mật Niệm

Mật Yếu

 

MÂU

Mâu Ni

Mâu Thuẫn

 

MẦU

Mầu Nhiệm

 

MẪU

Mẫu Hậu

Mẫu Thân

 

MÂY

Mây Khỏa Đảnh Thần

 

MẸ

Mẹ

 

MÈO

Mèo Mả Gà Đồng

 

Mê Đồ

Mê Hoặc

Mê Hoặc Về Cơ Bút

Mê Muội

Mê Ngộ

Mê Tân

Mê Tín

 

MỀ

Mề Đai (Bắc Ðẩu Bội Tinh)

 

MẾN

Mến Vị Tham Quyền

 

MỄNH

Mễnh (Mang)

 

MIỄN

Miễn Lễ

 

MIỀN

Miền Bồng Đảo

Miền Thánh Vức

 

MIẾNG

Miếng Đỉnh Chung

 

MIỆNG

Miệng

 

MIỂNG

Miểng Bát Miểng Chai

 

MIÊU

Miêu Duệ

 

MIẾU

Miếu Bà Trương

Miếu Đường

 

MINH

Minh

Minh (Hòa Thượng Thiện Minh)

Minh Cảnh Đài

Minh Chánh

Minh Chơn Lý

Minh Chơn Ðạo

Minh Di Quẻ Địa Hoả Minh Di

Minh Đạo

Minh Ðế

Minh Đức (1)

Minh Đức (2)

Minh Đoán

Minh Ðường

Minh Huệ

Minh Quang

Minh Lý

Minh Mạng

Minh Nguyệt Tiên Ông

Minh Sư

Minh Thệ

Minh Thệ Chức Sắc

Minh Thiện

Minh Tra (Minh Xét)

Minh Triết

Minh Vương - Minh Vương Khổng Tước

 

MÓC

Móc Bươi Xúi Lời

 

MÒN

Mòn Vốn Thâm Tiền

 

Mô Phạm

 

MỒ

Mồ Côi

 

MỘ

Mộ Bia

Mộ Chí

Mộ Đạo

Mộ Khang

Mộ Phần

 

MỘC

Mộc Ân

Mộc Dục

 

MÔI

Môi Giới

 

MỒI

Mồi Phú Quí

 

MỔ

Mổ Bụng

 

MỖI

Mỗi Vị Tín Đồ Đều Có Cái Mão Của Giáo Tông Và Hộ Pháp Đội Trước Trên Đầu

 

MÔN

Môn Đệ - Môn Sinh

Môn Đệ Của Tà Thần Tinh Quái

Môn Đệ Đầu Tiên Của Thầy

Môn Đồ

Môn Quan

Môn Sanh

Môn Phái

Môn Thiền

 

MÔNG

Mông Quẻ Sơn Thuỷ Mông

 

MỘNG

Mộng Trần Gian

Mộng Điệp

Mộng Hồn

Mộng Mỵ

Mộng Nam Kha

 

MỘT

Một Cha

Một Câu Thất Đức Thiên Niên Đọa

Một Cội Sanh Ba Nhánh In Nhau

Một Dạ Thình

Một Điểm Quang Minh Một Điểm Linh

Một Đồng Mỹ Kim (One Dola)

Một Gốc Sanh Ra

Một Mai

Một Ngày Qua Là Một Ngày Chết

Một Phen Lầm Lỡ Lẽ Nào Bỏ Nghiệp Muôn Năm

Một Thiên Đạo Đồ

 

Mơ Màng

Mơ Ước

 

MỚM

Mớm Cơm Vú Sữa

 

MỜ

Mờ Hồ

 

MỞ

Mở Cơ Quan Tận Độ Chúng Sanh

Mở Huệ Quang Khiếu

Mở Tù Phong Đô

 

MUA

Mua Quan

 

MÚA

Múa Bút Thần

 

MỤC

Mục Đích

Mục Đích Của Đạo Cao Đài

Mục Kiền Liên

 

MÙI

Mùi (Giáo Sư Ngọc Mùi Thanh)

Mùi Đời

Mùi Hương

Mùi Trần

 

MUÔN

Muôn Kiếp

Muôn Sầu Ngàn Thảm

Muôn Tuổi Thọ

 

MUỘN

Muộn

 

MƯA

Mưa Mai Nắng Xế

Mưa Móc

Mưa Nắng

 

MỨC

Mức Trung Tim Của Đời Và Đạo

 

MỪNG

Mừng Thay

 

MƯỜI

Mười Điều Khuyến Tu Của Đức Chí Tôn

Mười Phần Còn Lại Có Một

 

MƯỢN

Mượn Danh Đạo Tạo Danh Mình

Mượn Đạo

Mượn Hình Chí Tôn

 

MƯỜNG

Mường Tượng

 

MƯU

Mưu Bất Khả Chúng

Mưu Chước

Mưu Đồ

Mưu Sinh

Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Do Thiên

Mưu Toan Bức Nghèo

Mưu Trí

 

MỸ

Mỹ Miều

Mỹ Ngọc (Cao Quỳnh Diêu)

Mỹ Tục

Mỹ Vị

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 27-07-2017

 

 

 

MADAGASCAR

Đây là một Hải Đảo của châu Phi, nơi mà Đức Hộ Pháp- Giáo chủ Đạo Cao-Đài- cùng một số Chức sắc Thiên phong của Đạo cùng bị quân Pháp bắt đưa đi đày nơi đây, sau năm năm 2 tháng 3 ngày.

1- Nguyên nhân: Pháp khủng bố Chức sắc và Tín đồ Đạo Cao Đài, đóng cửa Tòa Thánh và các cơ Quan của Đạo. Đức Hộ Pháp và năm vị Chức sắc bị Pháp lưu đày ở đảo Madagascar. Từ ngày 04-06-Tân Tỵ - 04-08-Bính Tuất (dl: 28-06-1941 – 30-08-1946).

Từ năm Canh Thìn (1940) chánh phủ Pháp càng tăng cường vơ vét sức người và sức của ở Thuộc địa để cung ứng cho chiến tranh thế giới lần thứ hai, đã đưa tình hình kinh tế của nước Việt Nam đến mức bần cùng, hơn 70.000 thanh niên của xứ Nam kỳ thuộc Pháp đã bị bắt đi lính theo lệnh tổng động viên để đưa sang Pháp phục vụ chiến tranh!

Năm Tân Tỵ (1941) nhà cầm quyền Pháp muốn tiêu diệt Đạo Cao Đài, nên đã gây ra nhiều hình thức khủng bố Tín đồ và Chức sắc.

- Ngày 04-06-Tân Tỵ (dl: Thứ Bảy, 28-06-1941), lính Mật Thám vào Tòa Thánh bắt Đức Hộ Pháp.

- Ngày 17-06-Tân Tỵ (dl: Thứ Sáu, 11-07-1941), lính Mật Thám lại vào Tòa Thánh bắt thêm ba vị Chức sắc nữa:

• Phối Sư Ngọc Trọng Thanh (Nguyễn Văn Trọng Quyền Ngọc Chánh Phối Sư.
• Giáo sư Thái Gấm Thanh (Thái Văn Gấm) Quản lý Công viện.
• Sỉ Tải Đỗ Quang Hiển (Hiệp Thiên Đài).

Đồng thời, tại Sài Gòn chúng đến bắt Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa (Hiệp Thiên Đài) và ở Miên Quốc chúng đến Thánh thất Kim Biên tại Thủ Đô Nam Vang bắt Giáo Sư Thái Phấn Thanh (Trần Văn Phấn).

- Ngày 04-06 nhuần-Tân Tỵ (dl: Chúa nhựt, 27-07-1941) chánh quyền Pháp đưa Đức Hộ Pháp và 5 vị Chức sắc kể trên xuống chiếc tàu Compiège đày sang Đảo Madagascar ở Phi Châu.

- Sau đó, Chánh quyền Pháp ra lệnh đóng cửa Tòa Thánh cùng các cơ quan của Đạo tại Trung ương, giải tán tất cả bổn Đạo ở vùng Thánh địa Tây Ninh ai về quê nấy rồi đưa Quân đội chiếm đóng Tòa Thánh và vùng Nội Ô Thánh Địa để làm trại đóng quân. Trại binh Pháp có tên là Compagnie de Camp n.3 viết tắt: C.C.3 chà đạp lên sự tín ngưỡng của hàng triệu tín đồ.

- Đầu năm Quí Mùi (Tháng 02-1943), Giáo Sư Đại Biểu Thượng-Vinh-Thanh hiệp cùng Giáo Sư Thượng Minh Thanh thành lập cơ chuyển thế tại hãng tàu Nitinan, Sài Gòn, hợp tác với Nhật Bổn để chống Pháp và đòi hỏi Pháp phải trả tự do cho Đức Hộ Pháp.

- Ngày 09-03-1945 Quân Đội Cao Đài chiếm lại Nội-Ô Thánh Địa khi Pháp đã bị quân Nhật lật đổ trên toàn cõi Đông Dương.

- Tháng 08-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện.

- 23-09-1945 được sự giúp đỡ của Anh, Thực Dân pháp mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai.

- Năm Bính Tuất (1946) Pháp giành lại quyền hành ở Miền Nam.

- Ngày 25-07-Bính Tuất (dl: Thứ Tư, 21-08-1946) Đức Hộ Pháp cùng ba vị Chức sắc: Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, Ngài Phối Sư Ngọc Trọng Thanh và Giáo Sư Thái Phấn Thanh cùng với 13 lính Pháp-hồi được chính phủ Pháp đưa về Việt Nam trên chiếc tàu buôn Ile de France, cặp bến ở Vũng Tàu.

Đức Hộ Pháp được Chánh Phủ Pháp đem phi cơ rước về Sài Gòn và đưa đến tạm ngụ nơi nhà của ông Sĩ Tải Nguyễn Văn Hợi (Giám Đốc Đạo Đức Học Đường từ năm 1935-1941) gần chợ Thái Bình, Sài Gòn. Tới nơi lúc 17 giờ ngày 26-07-Bính Tuất [dl: Thứ năm, 22-08-1946] (còn 2 vị kia là Giáo Sư Thái Gấm Thanh và Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển đã chết trên đảo, Sỉ Tải Hiển đắc Thánh Phi Châu)

- Ngày 04-08-Bính Tuất (dl: Thứ Sáu, 30-08-1946) chánh phủ Pháp làm lễ đưa Đức Hộ Pháp cùng ba vị Chức sắc trên từ Sài Gòn về Tòa Thánh. Hội Thánh và rất đông đảo tín đồ tổ chức lễ nghinh tiếp vô cùng trọng thể và cảm động đến rơi lệ.

Sau 5 năm 2 tháng bị đồ lưu nơi Hải ngoại (tính từ ngày Đức Hộ Pháp bị đưa xuống tàu Compiège đày sang Hải đảo Madagascar đến ngày Đức Hộ Pháp trở về Tòa Thánh:

- Âm lịch: từ 04-06-nhuần Tân-Tỵ đến 04-08-Bính-Tuất là đúng 5 năm 2 tháng (dl: từ 27-07-1941 đến 30-08-1946 là 5 năm 1 tháng 3 ngày)

Nếu tính từ ngày Đức Hộ Pháp bị bắt tại Tòa Thánh:

- Âm lịch: từ 04-06-Tân Tỵ đến 04-08-Bính Tuất là đúng 5 năm 3 tháng vì phải cộng thêm tháng 6 nhuần (dl: Từ 28-06-1941 đến 30-08-1946 là 5 năm 2 tháng 3 ngày)

Khi trở về Tòa Thánh, Đức Hộ Pháp gặp rất nhiều việc khó khăn của Đạo:

- Tòa Thánh còn dang-dở ngổn-ngang vì việc xây dựng bị ngưng trệ hơn 5 năm cùng sự phá hoại của quân đội pháp lúc chiếm đóng.

- Hội Thánh và các cơ quan Đạo rã rời sau nhiều cuộc đàn áp và khủng bố của bạo quyền và chiến tranh.

- Về sự hiện diện của Quân Đội Cao Đài do Đức Lý Giáo Tông và Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt chỉ đạo thành lập, Đức Hộ Pháp chỉ thị phải thực thi chủ trương Bảo-Sanh Nhơn-Nghĩa Đại-Đồng, phải là một Quân đội nghĩa hiệp và gương mẫu, bảo tồn nền Đạo của Đức Chí Tôn và Tín đồ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Khi Qua bị đồ lưu nơi Hải ngoại đến lúc về, cả cơ nghiệp làm trước kia đều bị tiêu phá hết, duy còn Tòa Thánh, Báo Ân Từ, Khách Đình cũ, Hộ Pháp Đường, Giáo Tông Đường còn sót lại, còn bao nhiêu tiêu thảy hết" [Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 30-02-Quí Tỵ (dl: 13-04-1953)]

Đức Ngài không có thì giờ để nghỉ-ngơi, liền bắt tay ngay vào việc huy động công quả, công thợ trước đây gấp rút hoàn thành Đền Thánh, đồng thời Đức Ngài đã quan tâm cho tái thiết Đạo Đức Học Đường với sự đóng góp nhiệt thành của toàn Đạo về công, về của hầu kịp thời cho khóa 1946-1947.

2- Madagascar hòn đảo lạ lùng:

(Văn hóa và đời sống. Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh. 62.Xô viết Nghệ tĩnh. Q1. Số xuất bản: 142/64 – 20KHXB 91, trang 54,55,56 và 57)

"Đứng hàng thứ tư trên thế giới về diện tích sau Groenland, Tân Guinée và Bornéo. Đảo Madagascar có nhiều nét mới lạ. Mọi người thường nói đùa rằng đảo Madagascar đã tạo lạc nhầm đại dương. Nằm giữa Ấn độ Dương, ngoài khơi Châu Phi hay Ấn Độ, cả văn hóa và ngôn ngữ của đảo lại bắt nguồn từ các bờ biển Mã lai và Indonésia ở Thái Bình Dương.

Dài 1600km, rộng trung bình 600 km, có diện tích tương đương nước Pháp, từ xưa đảo vẫn như vừa khiêu khích vừa hấp dẫn với vẻ khó hiểu của mình. Ngày nay, sự cách biệt đã giảm phần nào vì chỉ độ chục giờ bay là có thể đến Paris

Từ ngoài nhìn vào, sau cuộc nổi dậy năm 1947 ta những tưởng giữa Madagascar và Pháp đã có hố sâu ngăn cách. Nhưng không, truyền thống 60 năm chung vai chung sức vẫn thắng thế và hiện nay tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ giao lưu với nước ngoài, đồng thời là ngôn ngữ văn hóa. Cả hai dân tộc này đã cùng biến đảo từ chế độ thuộc địa thành một nước độc lập thật êm thắm, thật nhanh chóng và thành công, một việc hiếm có trên thế giới. Khối Phi châu cũng như khối Á-Châu đã đôi phen toan lôi kéo Madagascar vào cuộc chiến tranh lạnh, nhưng vô ích. Tổng Thống đảo là Philibert Tsiranana đã tuyên bố:

- Chúng tôi không phải là người Châu Phi, chúng tôi không phải là người Châu Á. Chúng tôi là một cái gì khác biệt.

Đúng như thế, xưa nay đảo vẫn nuôi nhiều tính cách khác biệt, một cõi hoang vu với những loại chim chóc, thú bốn chân, bướm hoa, thảo mộc không nơi nào có. Chẳng hạn, chỉ riêng ở vùng biển quanh Madagascar, loại cá của thời nguyên thủy, mà gần đây thôi, người ta vẫn ngỡ là tuyệt chủng 60 triệu năm nay rồi. Hoặc chỉ ở Madagascar mới có chim Epiornis, loại chim khổng lồ không cánh, cao bằng con ngựa, nặng hơn đà điểu gấp 6 lần, đẻ trứng to bằng quả bóng cà-na. Chim mới tuyệt chủng gần đây. Chỉ cách Châu Phi có 400 km về phía Tây mà động vật thực vật trên đảo gần như hoàn toàn khác. Bờ biển Phi Châu nhung-nhúc những rắn độc, Madagascar lại không có, không có cả thú to như sư tử, beo, linh dương, voi.

Trong cuộc chạy đua thuộc-địa-hóa, nét đặc thù của thế kỷ XIX, hai nước Anh và Pháp tranh nhau quyền cai trị đảo. Đến năm 1890, theo thỏa thuận, Anh sẽ giữ ZanZibar còn Pháp giữ Madagascar. Năm 1895, Pháp chiếm đảo, đưa một nữ vương bù nhìn lên cai trị đảo trong hai năm,sau đó tướng Gallieni hạ bệ quân chủ

Madagascar có đủ mọi tài nguyên, chỉ trừ dầu hỏa. Đất đai dễ trồng trọt lại phì nhiêu, khoáng sản phong phú : Madagascar đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu Graphite. Ngoài mica, vật liệu rất cần cho ngành điện tử, đảo còn có các chất quý để sản xuất năng lượng nguyên tử như Beryllium, thorium, tantale, niobum và uranium. Rồi nickel, quặng sắt, than. Đảo xuất khẩu các nông sản như cà phê, gạo, sắn, thuốc lá, raphia (loại dừa) bố đay, hương liệu và 80% lượng vani của thế giới.

Tuy nhiên ta phải kể đến các nhân tố kìm hãm sự phát triển của đảo, mà nổi bật là sự thương yêu quá trớn của cư dân dành cho bò Zebu, giống bò Ấn Độ có sừng rộng lớn và một cục u trên gáy chứa nhiều mỡ. Số lượng Zébu ở đây khoảng 8 triệu con, đàn bò khổng lồ này không cung cấp thịt, không cho sữa. Trước kia người ta chỉ dùng chúng để tế lễ. Ngày nay, dân Madagascar dựa vào số lượng đàn bò để đánh giá chủ nhân của chúng trên bậc thang xã hội và mọi người cùng thi nhau nuôi chúng với một tinh thần không vụ lợi, rất ư là.. nghệ sĩ.

Một nhân tố cản trở sự tiến triển của đảo nữa là việc tôn sùng những tập tục do ông bà để lại. Chẳng hạn dân đảo không dám thay đổi cách canh tác nông nghiệp đã lỗi thời, không dám theo phương pháp tân tiến vì sợ ông bà giận. Ở đây, việc một người thân qua đời không phải là điều bất hạnh gì lớn lao cho lắm. Người thân ấy vẫn được xem là thành viên của gia đình, có điều đã dọn đi nơi khác ở và thỉnh thoảng ta có bổn phận viếng thăm. Đôi ba năm một lần, gia đình tổ chức buổi lễ lớn mời bạn bè tham dự, sau đó cả đoàn kéo nhau đến khu nghĩa trang riêng của gia đình, lôi xác của những người thân nào được yêu mến nhất, khiêng đi dạo một vòng, thay quần áo mới rồi đặt vào chỗ cũ. Không khí rất vui tươi, thân mật, quanh bàn nhậu tiếng nhạc vang vang

Vào ngày 26-06-1960 Madagascar đã hoàn toàn độc lập sau một vòng đàm phán thật êm xuôi với Pháp, êm xuôi và thông suốt đến nỗi nhiều người dân không nhớ ngày độc lập là ngày nào. Cho đến nay, đảo vẫn duy trì quan hệ tốt đẹp với Pháp và vẫn nhận viện trợ. Theo Tổng Thống Tsiranana, nếu ngày nào đó phải ngưng việc viện trợ thì sẽ ngưng một cách dần dà và hợp lý. Ông không muốn bước vào vết xe đổ của nước Congo – Léopoldville, ông muốn thấy một vụ "truyền máu" hơn là đổ máu.

- Lính Pháp hồi: còn gọi là chiến sĩ Pháp hồi. Tức là những Tín đồ Cao Đài vâng lịnh Hội Thánh tùng chinh làm lính công binh giúp Pháp khi nước Pháp bị quân Đức xâm lăng, để đáp ân nhà cầm quyền Pháp cho Tôn giáo Cao Đài được tự do truyền bá trên cõi Đông Dương (có một số được đưa qua đảo Madagascar).

Trích dẫn: "Phối Sư cố vấn truyền ngôn lại chiến sĩ Pháp hồi khi đặng lịnh Đức Chưởng Đạo đi dự chiến nước Pháp thì tình nguyện hi sinh cùng Ngài, nên Ngài hứa trước nếu còn sống trở về thì đặng ân tứ vào phẩm Lễ sanh, còn chết thì về Thánh Tử Đạo, Bần Đạo phải tuân lịnh ấy thi hành. Còn về các chiến sĩ Cách mạng nơi Việt Nam, Bần Đạo chưa hề đặng lịnh chi hết nên không quyết định đặng.

Phối sư nên nói cho Trí (Vệ úy Nguyễn Hùng Trí, Thánh Vệ) biết rằng: không phải vì nó kháng chiến với Pháp mà Pháp đem Bần Đạo trả về, nên nói rõ cho cả thảy mấy đứa quân sĩ hiểu sự thật điều lầm của chúng" (Lời phê của Đức Hộ Pháp. Trang 50)

"Tư cho Bộ Pháp Chánh minh tra coi tại ai và do nơi đâu mà mấy vị chiến sĩ Pháp hồi mới nhập môn theo Đạo ở Pháp với Đại Tá Kiết mà thôi (Nguyễn Văn Kiết, giáo viên Đạo Đức Học Đường buổi đầu tiên), chớ không phải là người tình nguyện vì Đạo mà đặng cầu thăng vào phẩm Lễ Sanh, phẩm ấy vốn là một đặc ân ban cho người Đạo vì Đạo tình nguyện hi sinh chớ không phải để cho toàn những lính Pháp hồi" (Lời phê của Đức Hộ Pháp trang 95)

Nhớ lại Đức Quyền Giáo Tông lập sở Lương Điền Công Nghệ thì Pháp bắt giam hai ngày. Đức Hộ Pháp trình Tờ Phúc, sơ giải bài Thiên Chúa độc quyền làm Phước Thiện thì Pháp phá Đạo đến đỗi đày Ngài đi Madagascar.

Tiêu Diêu Đạo Sĩ hay Bradaya La Hán giáng cơ lối 1941-1946 tại Madagascar, Ngài nói với Đức Hộ Pháp:

- Hiền hữu như một gái lấy hai chồng; nếu ở gần thì bị dụ dỗ, cũng nên xách gói mà ra đi, đợi hai anh hùng tranh đấu, ai đoạt đặng phao cầu, chừng ấy mới định duyên tơ tóc. Bởi vậy Chí Tôn dắt chư Hiền Hữu đi đây cũng như dục gái trốn mau. (Hai chồng ý nói Pháp và Nhựt)

 

 

 

Địa lý Madagascar:

Với diện tích 587.000 km², Madagascar là hải đảo lớn thứ tư trên thế giới và là quốc gia lớn thứ 46. Phía đông đảo quốc này là dải duyên hải hẹp, phủ bởi rừng nhiệt đới xen kẽ những ao đầm, kênh rạch kéo dài 460 km. Vượt triền dốc cao vào trong nội địa là vùng cao nguyên ở cao độ từ 750 đến 1350 m. Cao nguyên này bị cắt xẻ bởi những thung lũng sâu, thường đắp thành ruộng bậc thang trồng lúa, trong khi đồi trọc bị soi mòn đáng kể vì đất đai bị sa mạc hóa. Vùng đất này giàu chất sắt và nhôm tạo nên sắc đất màu đỏ tiêu biểu của đất Laterit. Vì lẽ đó Madagascar còn mệnh danh là "Đảo Đỏ".

Hai đỉnh Maromokotro (2.876m) và Tsiafajavona (2.643m) thuộc rặng núi Ankaratra nổi lên phía nam thủ đô Antananarivo là hai ngọn núi cao nhất Madagascar. Vì nằm ở cao độ đáng kể, vùng núi này thỉnh thoảng có tuyết rơi. Lui về phía Nam nữa là rặng Andringitra với mấy đỉnh núi hơn 2.400 m. Theo triền dốc thoai thoải sang phía Tây đảo là những cánh rừng thưa chủ yếu mọc cây thay lá (deciduous) và cỏ cao còn gọi là hệ sinh thái Savanna. Vùng nam và tây-nam vì nhiệt độ cao cùng vũ lượng thấp nên đất là sa mạc lác đác mọc cây bao báp. Ven biển phía tây thì có nhiều vũng kín gió nhưng vì nạn đất lở soi mòn trong nội địa nên vịnh biển thường bị đất cát bồi lấp. Madagascar có hai mùa chính: mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10. Bị chi phối bởi gió mậu dịch đông-nam, đảo quốc này đôi khi bị bão.

 

 

MA HA THỦY


E:The Holy water.
F: L’eau bénite.

1-Ý nghĩa của Ma Ha Thủy:

Ma Ha thủy, nghĩa đen là nước của con sông lớn linh thiêng ở Ấn Độ, đó là sông Gange, tức là Hằng hà. Đây là con sông mà Đức Phật Thích Ca xuống tắm, tẩy trần và đạt Đạo (Ma Ha: do tiếng Phạn phiên âm: lớn, đại. Thủy: nước). Nơi Tây Ninh Thánh Địa thì sông Cẩm giang tương lai cũng sẽ là huyền diệu như sông Gange vậy.

Trong Đạo Cao Đài, Ma Ha thủy là nước đã được làm phép, dùng trong hai Bí pháp: Tắm Thánh và Giải oan. Sách "Bí Truyền Chơn Pháp" các Ngài dẫn giải về Ma Ha thủy và cách luyện Ma Ha thủy để dùng trong Phép Tắm Thánh và Giải Oan. Nguyên văn như sau: "Khi Đức Phật Tổ từ ngôi báu, tầm Đạo, thì Người gặp phải manh sư truyền giáo, cố lấy phương ép xác đặng đạt huyền diệu thiêng liêng. Người tập tuyệt thực, ngồi tại hòn núi chịu khổ hạnh 6 năm, thân hình yếu ớt, sức lực hao mòn, đến đỗi ngày cùng tận của Ngài duy có ăn một hạt cơm mà thôi (theo lời kinh nói). Buổi ấy cái thảm tượng sắp chết của Ngài hầu đến, thoạt nhiên có một người tiều phu đến nơi núi của Người đang trì định; lần đến bên Người, ôm đờn, đờn một điệu rất nên hòa nhã thâm thúy không cùng, nhưng có một điều là lên dây đờn quá thẳng, làm cho đến khúc hay thì đứt dây loan. Đứt rồi nối, nối rồi lên thẳng, đờn lại đứt nữa, chẳng biết mấy lần, làm cho Phật đang nhập thiền trì định phải tỉnh hồn, day qua mà than với ông ấy rằng: Ông đờn thì hay mà lên dây chi cho cao quá, mỗi lần hay phải đứt dây, thì cái hay ấy phải mất đi sự tuyệt diệu, tôi rất nên thương tiếc.

Ông tiều ấy liền trả lời rằng: Tiếng Đờn của tôi hay cũng giống như sự tu của Phật. Dây đờn của tôi lên cao quá nó phải đứt thì cái hay của nó chẳng hữu ích chút nào; còn sự tu của Phật, nếu cái cao siêu huyền bí của nó mà đạt cơ bất diệt, cái cao của nó cũng phải chết theo Phật, còn chi cứu thế độ đời.

Thốt như thế rồi liền đứng dậy xách đờn mà đi (Kinh cho rằng ông ấy là Bồ Tát đến kiến tánh cho Phật). Mấy lời ấy làm cho Phật tỉnh giác, biết mình lầm theo Tà pháp Bàn môn, liền đứng dậy, vội vàng xuống núi, làm cho bốn vị Đệ tử theo bên Người, mong cho thấy Người đạt pháp. Khi thấy Phật xuống núi mông phàm thì ngã lòng thối chí, bỏ Phật không làm Môn đệ nữa. Trước khi Phật xuống núi, nơi xứ của Phật tu có một vị thiện nữ giàu có sang trọng, nuôi thú vật rất nhiều. Ban đêm nằm mộng thấy một vị Bồ Tát dặn rằng: Ngày ấy, giờ ấy, sẽ có Phật tại rừng Bồ đề, nàng phải bắt 72 con bò cho ăn bông mai mà thôi, vắt sữa 72 con bò ấy, cho 12 con uống, rồi vắt sữa 12 con cho một con uống, lấy sữa của con ấy đựng vào Bình Bát vàng đem dâng cho Phật. Khi Phật bộ hành đến mé rừng Bồ-đề thì mệt mỏi quá, thân hình rã rượi, thần sắc lờ mờ, sa vào một cội Bồ đề mà chết giấc, nhờ chết giấc ấy mới xuất Thần đặng hội diện cùng chư Phật, thấy rõ trước mắt Địa ngục, Niết Bàn. Ấy là giờ của Người đạt pháp. Duy lạ một điều cả cảnh tượng ấy mịt mịt mờ mờ, Người không gần đặng. Thoạt thấy một vị Bồ Tát dặn rằng: Thây phàm xác tục của Người và chơn thần của Người đã chịu nhiều quả kiếp cho nên ô trược nhớp nhơ, khi tái nhập thế trần, phải đến sông Ma-Ha tẩy trược. Trong cơn ấy, người đàn bà bưng bình bát sữa vừa đến rừng Bồ đề, tìm chẳng thấy ai khác hơn là một thầy tu nằm dựa gốc cây mà chết, sờ nơi ngực còn nghe hơi ấm của trái tim, vội vàng tất cả cùng ra tay hô hấp. Phật vừa tỉnh dậy thì nàng dâng bình bát sữa cho Người. Phật uống đặng bình bát sữa ấy rồi trụ Thần, định Khí, mạnh lại như xưa. Ấy là cơ hiệp Tam bửu: Tinh – Khí- Thần hiệp nhứt. Tinh là hình hài, Khí là chơn thần, Thần là chơn linh. Nhờ Tam bửu phối tế, người định giác lần lần, thấy đặng cõi Hư linh và cảnh phàm trần xa nhau không đầy một sợi tóc. Thăng thì đến cõi Hư linh, đọa thì sa vào phàm tục. Khi đã định tâm đạt Pháp rồi, Phật liền nhớ lời Bồ Tát dặn, nên lần hồi tới bãi sông Gange, nhưng có một điều lạ là chơn thần và xác thịt của Ngài chưa trọn tương liên hòa hiệp, nên người mờ hồ chưa biết chắc mình đã quả nhiên đạt Pháp. Xuống tắm sông Gange rồi lên khỏi bờ, cầm Bình Bát Vu nơi tay mà vái rằng: Nếu quả nhiên tôi đã đặng đạt Pháp, xin chư Phật cho cái Bình Bát Vu nầy trôi ngược dòng nước. Nói rồi, Người liệng Bình-Bát-Vu giữa dòng thì Bình-Bát-Vu từ từ trôi ngược dòng nước. Phật mừng quá, ngoắt nó vô bờ, cầm Bình Bát Vu mà nói rằng: Nước sông Gange sẽ rửa sạch oan nghiệt tội tình của kiếp sống "Ma Ha thủy năng hủy oan nghiệt tội chướng chi đọa". Kể từ ngày tắm nơi sông Gange rồi thì mỗi phen trì định xuất thần, Phật mới đến đặng gần chư Phật, nhập vào đặng Tây Phương Cực Lạc. Ấy là nhờ Phép Giải Oan mà đạt vị."

2- Cách luyện Ma Ha Thủy: Hành Phép Giải Oan (Baptême de l’eau)

"Múc một tô nước lạnh để tại Thiên bàn. Người hành pháp đứng, định thần ngó ngay lên Thiên Nhãn, vẽ bằng con mắt chữ (. ) trong con ngươi của Thiên Nhãn, rồi co chơn trái lên vẽ chữ (. ), đạp trên chữ (.) ấy, rút chân mặt ký chữ Đinh, gọi là đạp Đinh Giáp.

Khi hành pháp rồi tay trái bắt ấn Hộ Pháp để ngay ngực, tay mặt cũng bắt ấn Hộ Pháp để trên tô nước, buông ấn ra, co ngón tay giữa vẽ bùa (.) đoạn ngay tay ra truyền thần xuống nước, niệm câu chú: "Ma Ha thủy năng hủy oan nghiệt tội chướng chi đọa". Nhắm mắt định thần đợi thấy Thiên Nhãn giáng trên mặt nước thì xả Ấn liền rút tay ra ngay.

Cầm tô nước tay mặt, đến trước mặt người Giải oan biểu cúi đầu xuống, lấy con mắt vẽ chữ (.) ngay Nê Hoàn. Hễ vẽ vừa rồi liền chụp ngay ngón tay trái lên mỏ ác gọi là ẤN NGŨ-HÀNH SƠN, vừa chụp vừa niệm câu Chú này: "Úm Ma ni bát ri hồng". Đoạn cầm tô nước đổ xuống ngay mỏ ác mà niệm: Nam mô Phật; giọt thứ nhì: Nam-mô Pháp, rồi trút hết tô nước niệm: nam Mô Tăng. "Nam-Mô CAO-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát".

 

 

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

(S: mahāprajñāpāramitā-hṛdaya-sūtra) Kinh ngắn nhất chỉ gồm hơn hai trăm năm mươi chữ (bản tiếng Việt) và "trái tim" của bộ Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tâm kinh là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Ðại thừa, được lưu hành rộng khắp tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và được hầu hết các Tăng Ni tụng niệm nằm lòng. Tâm kinh đóng vai trò quan trọng trong Thiền Tông vì nói rõ về tính Không (s: śūnyatā) và sự trực nhận tính Không đó một cách rõ ràng, cô đọng chưa hề có. Câu kinh căn bản của Tâm kinh là "Sắc chính là Không, Không chính là Sắc" (tạm hiểu: hiện tượng chính là bản thể, bản thể chính là hiện tượng), một điều mà Thiền Tông luôn luôn nhắc nhở.

Toàn văn Tâm kinh:

般若波羅密多心 觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時照見五蘊皆空度一切苦厄舍利子色不異空空不異色色即是空 空即是色受想行識亦復如是舍利子是諸法空相不生不滅不垢不淨不增不減是故空中無色無受想行識無眼耳鼻舌身意無色聲香味觸法無眼界乃至無意識界無無明亦無無明盡乃至無老死亦無老死盡無苦集滅道無智亦無得以無所得故菩提薩埵依般若波羅蜜多故心無罣礙無罣礙故無有恐怖遠離顛倒夢想究竟涅槃三世諸佛依般若波羅蜜多故得阿耨多羅三藐三菩提故知般若波羅蜜多是大神咒是大明咒是無上咒是無等等咒能除一切苦真實不虛故說般若波羅蜜多咒即咒曰揭諦揭諦波羅揭諦波羅僧揭諦菩提薩婆訶

Phiên Âm: "Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát-Nhã Ba-La-Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Độ nhứt thiết khổ ách, Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, Không bất dị sắc! Sắc tức thị không, Không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp không tướng. Bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố: không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. Vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận. Nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ tập diệc đạo, vô trí, diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đỏa. Y bát-nhã Ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo, mộng tưởng cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật. Y Bát-Nhã Ba-la-mật cố đa. Đắc A-Nậu-Đa-la tam-Miệu Tam Bồ Đề, cố tri Bát-Nhã-Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú. Năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa chú. Tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát Ta bà ha.

Dịch nghĩa: "Bồ tát Quán Tự Tại, khi tu chứng đại trí huệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thảy khổ ách.

Này Xá-lị tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc chính là Không, Không chính là Sắc; thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Xá-lị tử! Tướng Không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong Không không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức; không nhãn, nhĩ, thiệt, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến ý thức giới; không vô minh cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí huệ, cũng không chứng đạt vì không có gì để chứng.

Bồ Tát nương trí huệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ sệt, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt Niết-bàn. Các Phật ba đời nương trí huệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, đúng đắn và cao nhất.

Vì thế nên biết rằng trí huệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí huệ siêu việt rút ra nghĩa tinh yếu như sau: Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn." (Dịch giả khuyết danh).

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

(Xem thêm: Đại Bát Niết Bàn Kinh hoặc Bát-Nhã Ba-La-Mật Đa Kinh)

 

 

MA KHẢO

Tháng 4 Bính Dần. (Tháng 5 năm 1926)

Thầy, Các con: Thiện Minh, con há! Mầng con.

Con ôi! Khi Thầy giáng sanh lập đạo Thánh, Thầy phải đổ máu mà rửa tội cho chúng sanh, đến đỗi phải lấy Thần làm của tế, mà cầu khẩn cho chúng sanh. Hai ngàn năm chưa qua, giọt máu Thầy đã trôi hết. Nay con vì ma khảo, phải đổ máu mà rửa tội cho phái Thái. Chưa vì sự vinh diệu con trước mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đã đặng so sánh cùng Thầy rồi. Cười. Con phải lấy hiệu Thiên ân là THÁI MINH TINH, làm Đầu Sư đạo Thiền. Con phải trông cậy pháp luật vô biên của Thầy.

Thiện Minh là Hòa Thượng Thích Thiện Minh, thế danh Nguyễn Văn Giáp (1883-1947), học trò của Hòa Thượng Như Nhãn (Thích Từ Phong).

Có câu "Vô ma khảo bất thành Đại Đạo".

 

 

MA KHEO

摩 丘
E:Superior monk.
F: Le moine supérieur.

Ma kheo là từ ngữ nói tắt của: Ma Ha Tỳ Kheo.

Ma Ha là lớn, đại. Tỳ Kheo là tiếng phiên âm chữ Phạn: BHIKSU. Chữ nầy còn được phiên âm là: Bật Sô, Tỳ Khưu, nghĩa là người xuất gia qui y theo Phật giáo, thọ giới cụ túc.

Tỳ Kheo còn được gọi là Khất Sĩ, trên thì Khất pháp (xin cái pháp) của Phật Như Lai để luyện thân, dưới thì khất thực (xin cái ăn) nơi các nhà thế tục để nuôi cái thân.

Còn người hành khất (ăn xin, ăn mày) bình thường thì họ chỉ xin cơm áo mà sống chớ không xin pháp, nên không thể gọi họ là Tỳ Kheo được.

Do đó, từ ngữ Tỳ Kheo gồm 4 nghĩa: - Tịnh khất thực. - Phá phiền não. - Tịnh trì giới. - Năng bố ma (có sức làm cho quỉ ma sợ sệt).

Ma Kheo là Ma Ha Tỳ Kheo, là Đại Tỳ Kheo, bực Tỳ Kheo lớn, tu hành nhiều năm, đức cao, đáng kính.

Kinh Cứu Khổ có câu:

"Ma kheo ma kheo, thanh tịnh tỳ kheo."

 

 

MA HỒN QUỈ XÁC

Đức Lý dạy: "Lão rất vui mừng thấy hạnh của chư Hiền Hữu công quả trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ lắm nỗi nặng nề. Mười phần nhơn sanh, chư Hiền Hữu phải độ tới chín. Than ôi! Hễ Đạo càng thạnh thì nghịch lại càng nhiều. Trên Chánh phủ hằng để mắt nghi nan, dưới bọn ma hồn quỉ xác theo kích bác. Chư Hiền Hữu phải chịu và sẽ phải chịu hổ nhục trăm điều. Nếu Lão có lời căn dặn là thấy sự cực nhọc của chư Hiền Hữu muốn toan cất bớt, nên phải dặn lấy sự cẩn thận nhịn nhục dè dặt mà hành đạo. Chánh phủ hằng dòm hành chư Hiền Hữu. Nghĩ nỗi buồn cười..Trị nhi vô giáo, nay đặng hữu trị hữu giáo mà lại nghi nan. Ấy cũng một lũ phàm".

 

 

MA LỤC TẶC

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Lòng phản Đạo làm chi quá lẽ?
Ngoài chơn thành trong để mưu sâu.
Con ma lục tặc ở đâu,
Cứ theo đeo đuổi mọt sâu Đạo trường.

 

 

MA NGHIỆT

Lời Đức Hộ Pháp thuyết đêm 13-03-Kỷ Sửu (1949): "Trong kiếp sanh chúng ta rủi có kẻ thù oán ta, kẻ ấy là ma nghiệt, chúng ta không nên sợ. Nếu ta khôn ngoan thì ta lấy tình yêu ái đối lại, đặng cho họ diệt tận oán cừu đi, ấy là bí pháp mà Bần Đạo vừa hé màn bí mật cho con cái Chí Tôn nhìn thấy để tìm cơ giải thoát."

 

 

MA PHƯƠNG SỐ

 

 

 

 

Nhìn vào Bát-Quái này ta thấy ngay một bảng ô số, đó là những con số ứng với các quẻ. Tỷ như số 1 là Khảm, 2 là Khôn, 3 là Chấn, 4 là Tốn, 5 ở chính giữa, 6 là Càn, 7 là Đoài, 8 là Cấn, 9 là Ly. Đây gọi là con số Ma-phương hay là Ma-phương-số. Có một bài thơ sau, cốt-yếu là cho dễ nhớ vị-trí các con số ấy, đọc theo hàng ngang của bản số, là:

Tứ hải, Tam sơn, hội Bát Tiên,
Cửu long ngũ hổ nhứt đoàn viên,
Nhị tướng thất trì phò lục quốc.

Nếu cộng những số này theo các chiều ngang dọc, sẽ có được tổng-số là 15. Nghĩa là có tất cả 8 lần tổng-số 15 như vậy:

 

Cộng hàng ngang:
4 + 3 + 8 = 15 8 + 1 + 6 = 15
9 + 5 + 1 = 15 3 + 5 + 7 = 15

Cộng hàng dọc:
2 + 7 + 6 = 15 4 + 9 + 2= 15

Cộng hai đường chéo:
8 + 5 + 2 = 15 4 + 5 + 6 =15

Cộng hai đường chéo:
8 + 5 + 2 = 15 4 + 5 + 6 =15

 

 

 

 

8 lần tổng-số 15 như vậy có nhiều ý-nghĩa, từ đó suy ra các việc về Đạo-pháp:

Sở dĩ có các con số tương ứng này là lấy theo số của Bát quái Hậu-Thiên mà các bậc tiền Thánh đã lập ra trước đây 6.000 năm, là nhứt Khảm, nhì Khôn, tam Chấn, tứ Tốn, Ngũ trung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly. Do vậy mà Bát quái Hậu thiên chỉ có 9 con số mà thôi.

Dịch quan-trọng ở Nho, Y, Lý, số.

 

 

MA XEO QUỈ BÀY

Ma quỉ là hình ảnh của nhiều sự cám dỗ trong đời, mỗi nơi bày ra một giả cuộc để lôi kéo con người sa ngã. Ấy ma quỉ hay là gì đi nữa cũng phát xuất từ tâm của mỗi người mà ra: Tâm còn thích đỏ đen cờ bạc thì không thắng nỗi phải đi tìm. Tâm còn đam mê thấy sắc dậy lòng tà.

Thầy có dạy: "các vật thực vào tỳ vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết, chẳng cần nói, các con cũng biết, cái chơn linh khí huyết là thế nào? Nó có thể huờn ra nhơn hình, mới có sanh sanh tử tử của kiếp nhơn loại. Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh, như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Đài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ giới cấm ấy cho lắm".

Thế giới ngày nay biến động cũng do con người không biết tu tâm mà thôi. Khi tâm đã chính rồi thì chắc chắn không một mãnh lực nào lôi cuốn cho được.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Đã vào Đạo phải chăm lo Đạo,
Việc thế tình trở tráo mặc ai.
Thiệt thà giữ tấm lòng ngay,
Ma xeo chớ ngã, quỉ bày đừng nghe.

 

 

MA VƯƠNG (Phật Học)


E:Prince of demon.
F: Prince de démon.

Ma vương (S, P: māra) nguyên nghĩa là "kẻ phá hủy".

Hiện thân của thần chết, tượng trưng cho kẻ ngăn cản con người muốn Giác ngộ, muốn tạo Thiện (s: kuśala) nghiệp, muốn tiến bộ trên đường giác ngộ. Ma Vương được xem là Vua của tầng trời thứ sáu của dục giới (Tha hóa tự tại thiên, Ba thế giới, Thiên). Hình tượng của Ma Vương được vẽ có trăm cánh tay, cưỡi voi. Tương truyền lúc Phật Thích-ca sắp thành đạo, Ma Vương tìm cách ngăn cản, không cho Ngài chuyển bánh xe pháp. Trước hết Ma Vương hiện hàng trăm ngàn ma quỉ để trấn áp, nhưng Ngài không sợ hãi, bất động. Sau đó Ma Vương cho các ái nữ đẹp nhất tìm cách khuyến dụ nhưng dưới mắt Phật các nàng đó biến thành các con người xấu ác. Cuối cùng Ma Vương đành khuất phục. (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Thời kỳ này là Hạ nguơn có câu tiên tri: "Ma Vương sát đại quỉ, Hoàng Thiên tru Ma Vương".

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Khói nghịch lẫn mịt-mù trời đất,
Giặc thất tình nổi trận Ma Vương.
Ôi thôi! Làm việc phi thường,
Khiến cho tan nát Đạo trường mới ưng.

 

 

MA XỬ (Giáng Ma Xử)

Nói đầy đủ phải là Giáng-Ma-Xử

Ma xử: Hay gọi Ma chử là viết tắt của Giáng ma xử hay Hàng ma xử, nghĩa là cái chày để hàng phục ma vương quỉ quái. Cây Giáng ma xử là một bửu bối của Vi Hộ, sau thành Hộ Pháp, trong truyện Phong Thần, hay Đức Hộ Pháp trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức Đạo Cao Đài.

Kinh Đại Tường có câu:

"Giáng linh Hộ Pháp Di Đà,
"Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh."

 

 

MÃ BÌ TUYẾT THỂ

Ngày 25-08 Ất-Sửu (dl: 18-10-1925) Có ông Thổ địa Tài Thần giáng bàn cho thi, trong đó có hai câu này nhờ Đức AĂÂ giải nghĩa giùm:

"Người trước nghĩ thương cơn tuyết nhuộm,
"Lũ sau buồn chạnh nỗi sương pha."

Đức AĂÂ giải nghĩa (Ông giải nghĩa cao kỳ lắm):

Có câu: Mã bì tuyết thể 皮雪 Nghĩa là da ngựa tuyết thân, là trang tài tướng chinh chiến một mình, chính là da ngựa bọc thân, tuyết sương đắp thể. Tỏ rõ đời ly loạn, có câu: "Gối vác nằm sương" chỉ tấm thân chịu nhọc nhằn cực khổ. Câu thi trên mà sửa lại như vầy thì nhằm điển văn hơn:

Đức AĂÂ sửa hai câu văn của Thổ Địa tài thần:

"Thân trẻ phải cơn sương gối ướt,
"Thương già gặp buổi tuyết thân pha".

Tuyết thân pha nghĩa là hoà lộn, chịu lạnh lùng đến đỗi thân với tuyết cũng lạnh như nhau.

 

 

MÃ VIỆN (Tên)

Chẳng có người Việt Nam nào mà không oán Mã Viện, kẻ đã đánh bại Hai Bà Trưng và đặt ách nô lệ trên đầu dân Nam trong suốt 502 năm (từ năm 42 đến 544 sau Tây lịch). Giờ đây,Mã Viện hối hận rằng mình thắng cuộc, lẽ thì phải khai hóa dân Nam cho dân trí phát triển mới phải lẽ, có đâu lại đày đọa họ lên non tìm vàng, xuống biển mò châu, vào rừng kiếm ngà voi, sừng tê giác; bao nhiêu lúa thóc báu vật của nhà Nam đều tập trung về Trung Quốc. Sao người không noi gương của Sĩ Nhiếp mà khai hóa giống Việt Thường để lưu ân nghĩa. Trái lại dân Nam ngàn năm sau vẫn oán hận cái tên Mã Viện thì rất xấu hổ cho kẻ tàn bạo xâm lăng, tài trai đất Bắc chỉ đánh thắng đàn bà, chỉ làm nhục quốc thể Mãn Thanh, chịu danh man rợ. Chơn linh tàn bạo ấy ngày nay cũng giác ngộ mà nhắc "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" là những hành động vô Đạo của mình.

Mã Viện đã cắm một cột đồng trên có khắc sáu chữ "Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt" có nghĩa là nếu cột đồng này ngã, thì dân Giao Chỉ phải bị tiêu diệt. Dân Nam quá hãi kinh nên mỗi người khi đi ngang qua lén ném vào chân trụ một hòn đá. Ném nhiều quá đến lấp cả trụ đồng!

Đây là những lời ân hận của của chơn linh Mã Viện nơi cõi Âm-quang bằng bài thi tự thán, do đàn cơ tại Phạm Nghiệp ngày 21-07-1934, phò loan bởi Hộ Pháp và Ngài Cao Tiếp Đạo.

Đồng trụ Hớn đề lưu hận oan,
Dục trì nhứt quốc Việt hành tàng.
Nam phân vương đảnh thân Trưng Trắc,
Bắc tận Hoàng triều phục Mãn man.
Thao lược vân đài bêu sĩ tiết,
Văn chương Thanh Hóa định qua can.
Hoài ân Sĩ Nhiếp truyền phong hóa,
Chỉ oán Mã gia hổ bất toàn.

 

 

MẠC ĐĨNH CHI (Tên)

Là nhà Lý Dịch đại tài: Ông Mạc Đỉnh-Chi là một danh sĩ đời Trần, tự là Tiết Phu, Người làng Lũng Động, huyện Chí-Linh (Nay là phủ Nam sách, tỉnh Hải Dương, Bắc Phần) Tướng mạo xấu xí, thân hình nhỏ bé, nhưng tài học xuất chúng, khoa Giáp Thìn (1304, đời Trần Anh Tôn) ông thi đỗ Trạng Nguyên, nhưng vua Trần Anh Tôn thấy tướng mạo như vậy không vừa lòng, không muốn gả công chúa cho, Ông phải làm bài "Ngọc Tỉnh Liên Hoa" để bày tỏ chí khí của mình tức là lời tự tình qua bài "Hoa sen trong giếng ngọc" để thuyết phục vua Trần. Ông là bậc thông kim bác cổ, biết rõ phong thủy, địa thế đất đai qua tài năng Dịch lý. Rõ việc…Ngũ-Hành-sơn còn là một địa thế đặc biệt, tóm thâu tú khí tinh hoa của cả non sông đất nước, chung đúc thành một đạo mạch chơn nhơn. Núi Ngũ hành này là một chi nhánh trong hệ Trường Sơn, do tính chất địa lý nhứt phục nhứt phát tạo nên. Chính đây là cái tâm của một đất nước được phát khai mối Đạo, một nền Tân Tôn giáo "Trung Thiên Đạo" để trung hoà Tứ giáo, nhất quán chơn truyền qui nguyên vạn giáo, đúng theo lời tiên tri của cụ Mạc Đĩnh Chi đời nhà Trần ứng đối với sứ nhà Nguyên từ thế kỷ 14 đã xác minh như vậy.

Việc ứng đối của sứ Tàu với Cụ Mạc Đĩnh Chi vào đời Trần:

Đây là giai thoại văn học nói về việc ứng đối của Cụ Mạc Đĩnh Chi đời Trần vào năm (1314-1329) thời vua Minh Tôn, đi sứ nhà Nguyên bên Tàu. Sứ Tàu có vẻ tự phụ, tự cao. Sau khi bàn về văn hoá giữa hai nước, sứ Tàu nói: Trung hoa là một nước đã có một nền văn hoá, văn minh ngay từ khi vua Phục-Hy nhìn con Long-Mã xuất hiện trên sông Hoàng-Hà mà vạch ra Tiên Thiên Bát Quái (Hà đồ) để khai minh nguyên lý của trời đất trong lúc sơ sanh. Tám quẻ Tiên Thiên diễn tả sự phát sinh của vũ trụ vạn hữu. Đến lúc con Thần Qui xuất hiện trong sông Lạc Thuỷ, Vua Đại-Võ nhân đó mà bài liệt Cửu trù. Sau vua Văn-Vương hệ thống lại thành Hậu-Thiên Bát-Quái, tám quẻ Hậu Thiên (Lạc Thư) hình dung những hiện tượng xảy ra trên trái đất. Từ đó nền văn hoá Trung-hoa đã có một nền triết học Dịch-lý bao hàm tất cả các nguyên lý về vũ trụ và nhân sinh, cả đến ba nền Đạo lớn nhất là Phật- Lão- Nho cũng hình thành từ đấy. Đó là lòng thành của người Trung Hoa nên mới cảm cách như thế, còn quí quốc có gì? Cụ Trạng Mạc Đĩnh-Chi liền trả lời: Trung hoa là một nước lớn, dĩ nhiên có cả trời đất núi sông cao rộng, nhân vật đông nhiều, còn Việt-Nam chúng tôi là một nước nhỏ nhưng không thiếu phần địa linh, nhân kiệt, danh lam thắng tích, tú thú kỳ sơn. Tiếp đó sứ Tàu ra câu đối:

- Lạc thuỷ Thần Qui linh ứng triệu, Thiên số Cửu, địa số Cửu, Cửu Cửu bát thập nhất số, số số hỗn thành tam Đại-Đạo, đạo hợp Trung hoa nhất thành hữu cảm.

兆。天 九。地 九。九 數。數 道。道

(Nghĩa là: Sông Lạc Thuỷ con Thần Qui dâng điềm linh ứng, trời có chín số, đất có chín số, 9 lần 9 là 81 số. Số này hỗn hợp số khác, tạo thành ba nền Đạo lớn. Đạo hợp với Trung hoa nhất thành hữu cảm)

Cụ Mạc Đĩnh Chi đối lại:

- Trường sơn Linh Phượng lưỡng trình tường, thư thanh Lục, hùng thanh Lục, Lục Lục tam thập lục thanh, thanh thanh minh triệt Cửu Trùng Thiên. Thiên tứ Việt Nam vạn giáo qui nguyên.

祥。雎 六。雄 六。六
聲。聲 天。
源。

(Nghĩa là: Núi Trường sơn đôi Linh Phượng bày tỏ điềm lành, con trống kêu sáu tiếng, con mái kêu sáu tiếng, 6 lần 6 là 36 tiếng, tiếng nọ hoà tấu tiếng kia thấu suốt chín từng trời cao. Trời cho nước Việt Nam vạn giáo Qui nguyên)

Thật vậy, châu Á là nơi phát tích ra một triết lý cao siêu, mà siêu khoa học nữa, bởi ngày nay nhân loại đều lấy theo những nguyên lý này mà tạo ra một nền văn minh hoá học tuyệt vời. Khi sứ Tàu hãnh diện đất nước này cha ông đã sáng tạo ra một phương thức toán học cao siêu, mầu nhiệm, nhưng tinh thần của nước mạnh bao giờ cũng muốn chinh phục các nước nhược tiểu, nhỏ nhen, vì thế mà Việt Nam cũng rơi vào tay liệt cường làm bá chủ. Thuở ấy dân Việt chúng ta cũng là một giống dân Bách Việt nằm dọc theo bờ Dương Tử, bên cạnh Động Đình Hồ, lần lần tiến xuống miền Nam lấy tên là Việt Nam. Việc ỷ mạnh hiếp yếu không phải là điều mong muốn của ông Cha Trời. Thế là ngày nay qua giáp một vòng trời đất rồi tất cả đều không có lòng nhân như Đức Chí-Tôn muốn. Nay Việt Nam là một nước nhỏ nhưng được sự tôi luyện vào "lò luyện thép" có lẽ cũng đủ cho số kiếp cùng nghiệp quả trả vay rồi qua ngàn năm nô lệ Tàu, 81 năm nô lệ Tây, nên Đức Thượng Đế mới ban cho một mối Đạo như vầy.Thầy có tiên tri:

"Một nước nhỏ nhoi trong vạn quốc,
"Ngày sau làm CHỦ mới là kỳ."

Lời đối đáp của Cụ Mạc Đĩnh Chi đúng theo Thánh ý như việc làm của Đức Chí-Tôn ngày nay đã sắp sẵn: Nếu nhìn vào bản đồ thì Việt Nam có dãy Trường sơn như cái xương sống của đất nước, mà Tây-ninh có núi Bà Đen là trái núi sau cùng đối với dãy Trương sơn ấy. Chim phượng thì có đôi gọi là Phượng Hoàng: Phượng là chim trống, Hoàng là chim mái. Cũng nói lên hai lý Âm Dương của trời, cũng chỉ hai Đấng quyền năng Tao hoá vậy. Nếu nói rằng Càn vi Thiên, Khôn vi Địa, nghĩa là Trời Dương đất Âm đây là nói về khí (thuộc Thiên). Nhưng khi nói về đất thì Cương Nhu: thì đất là cương (dương) nước là nhu (là Âm). Ở người thì Nhân nghĩa.

Có lần ông đi sứ sang Tàu, tương truyền rằng khi ấy có một nàng Công chúa của nước Tàu từ trần, các quan Tàu muốn thử tài ông, liền viết vào giấy 4 chữ "Nhất" nhờ ông đọc cho viết bài Văn tế. Ông liền đọc ngay:

Thanh Thiên NHẤT đoá vân
Hồng lô NHẤT điểm tuyết,
Thượng uyển NHẤT chi hoa,
Dao trì NHẤT phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tan,
Hoa tàn, nguyệt khuyết!

Nghĩa là:

Một đám mây xanh trên trời!
Một giọt tuyết trên lò trời!
Một cành hoa ở vườn Thượng Uyển,
Một vầng trăng ở trên ao Tiên!
Than ôi! mây rả, tuyết tan, hoa tàn trăng khuyết!

Nghe xong, các quan nước Tàu hết sức nễ phục họ Mạc và Được vua Nguyên khen tặng "Lưỡng quốc Trạng Nguyên"

Chuyện kể lại có lần ông đi sứ sang Tàu, đang trong buổi tiệc ông nhìn lên tường thấy bức tranh thủy mạc vẽ con chim sẻ đậu trên cành trúc, quá linh động, tưởng chim thật, ông đứng dậy toan bắt lấy. Mọi người đều cười lên chế giễu, ông vội vò nát bức tranh đi, làm cho những người khách ngạc nhiên vô cùng, ông biện luận rằng: bức tranh không đạt ý: chim sẻ là chỉ kẻ tiểu nhân mà trúc tượng trưng quân tử? Làm sao tiểu nhân đứng trên quân tử được? Nhưng thực tế ông chỉ là người rất giỏi tài biện luận, ứng xử kịp thời mà thôi.

 

 

MẠC TRẮC


E: Immeasurable.
F: Immesurable.

Mạc: chẳng, không, đừng. Trắc: đo lường. Mạc trắc là không đo lường để biết được.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế:

"Linh oai mạc trắc."

 

 

MÁCH BẢO

Thầy dạy: ngày 11-12-1926 (âl 7-11-Bính Dần)

"Con lấy làm hữu hạnh gặp đặng Thầy dìu bước trong nẻo Ðạo nhiệm mầu lúc non chiều bóng xế. Thầy đã có sai chư Thần mách bảo với con đã lâu, trí thiêng liêng đem đàng dắt bước con đặng độ dẫn sanh linh cho kịp thì giờ trong buổi chung cuộc của con. Vậy khá bền lòng son sắt đặng ngày về Thầy, một địa vị xứng đáng sẵn chờ con, khá lưu tâm nghe!"

 

 

MAI MỘT


E: To disapear.
F: Faire disparaitre.

Mai: Chôn xuống đất, giấu kín. Một: mất hẳn, không có. Mai một là chôn vùi mất hẳn (Bị vùi lấp, không được tỏ ra, dường như chôn cất dưới đất).

 

 

MAI TÁNG


E: To bury.
F: Enterrer.

Mai: Chôn xuống đất, giấu kín. Táng: chôn xác người chết. Mai táng là chôn xác người chết xuống đất.

 

 

MAI XUÂN

Mai: Cây mai, hoa mai. Xuân: mùa Xuân. Nguyệt: tháng. Cúc: hoa cúc. Vị: mùi vị. Trà hương: mùi thơm của trà. Mai Xuân: hoa mai vào mùa Xuân. Nguyệt cúc: Hoa cúc vào mùa Thu. Do chữ: Cúc nguyệt là tháng có hoa cúc nở, mà hoa cúc nở rộ vào tháng tám trung Thu, nên người ta dùng hoa cúc tượng trưng mùa Thu.

Đây là câu đầu trong bài thài Dâng Trà, có nghĩa là: Mùi vị của trà thơm như hoa mai mùa Xuân, hoa cúc mùa Thu.

Mỗi mùa trong năm có một thứ hoa đặc trưng: mùa Xuân có hoa mai, mùa Hạ có hoa sen, mùa Thu có hoa cúc, mùa Đông có hoa đào.

Mai xuân là Hoa mai trong mùa Xuân.

Bài dâng Trà có câu:

"Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,
"Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương."

 

 

MÃI MÃI ĐỌA ĐÀY, BẤT NĂNG THOÁT TỤC

Đức Hộ-Pháp đã nói "Nếu chúng ta biết được vậy thì toàn thể thế giới nầy những điều tinh ma quỉ quái sẽ tiêu diệt, thần tử không hề đến ta được. Nếu ta thấy được cõi Hư Linh kia, cái tình của vạn loại bị giết chóc một cách tàn nhẫn, bởi loài người kết oán thù thâm với nó, chực chờ thù ghét, vì vậy mà có vay trả luân hồi mãi mãi đọa đày, bất năng thoát tục".

 

 

MÃN KỊẾP - MÃN PHẦN

E: To die.
F: Mourir.

Mãn: Đầy đủ, đầy tràn, xong, hết. Kiếp: một kiếp sống. Mãn kiếp là hết một kiếp sống nơi cõi trần, ý nói: chết.

Giới Tâm Kinh:

"Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây."

 

 

MÃN KỲ

滿
E: Expiry.
F: Délai expiré.

Mãn: Đầy đủ, đầy tràn, xong, hết. Kỳ: thời hạn. Mãn kỳ là hết hạn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đã mãn kỳ, phải giao quyền lại cho Tòa Tam giáo.

 

 

MÃN PHẦN

Mãn phần nghĩa nôm na là chết. Danh Từ này nói chung là chỉ con người có phần số, kiếp căn mà họ phải đến. Nay xong công việc rồi, tức là "mãn" là hết, là dứt điểm, mà chính ra là dứt hơi thở thì họ phải ra đi về cảnh giới khác.

THẦY dạy: ngày l5-11-Bính Dần (dl: 09-12-1926): "Ngày nay đã mất hết một người Môn đệ của Thầy, lại là một Đạo-hữu của các con, đã cùng các con nghiêng vai gánh vác một trách nhậm trong Ðại-Ðạo Tam-Kỳ. TƯƠNG mãn phần cũng nơi số mạng tiền định. Nó có phước là vì đặng về Thầy trong mấy ngày rốt của kiếp trần ai của nó. Sự thác cũng có khi vui mà cũng có lúc buồn. Người thế nếu biết sống, nghĩa là biết dụng mình cho có ích vào xã hội, biết dưỡng tánh tu thân, thì sự thác chẳng qua là sự mong mỏi của kẻ hành trình đã xong trách nhậm, trở về phục sự đặng lãnh phần thưởng xứng đáng mà thôi. TƯƠNG tuy chưa đặng như mấy kẻ ấy, song lòng đạo đức đã ra vun đắp mối Ðạo Trời, thì địa vị cũng có khi khác thế thường đặng. Ðiểm Chơn-Thần của nó còn phải đến hầu trước Tòa Tam Giáo mà đợi lịnh phát lạc tùy theo công quả, tội tình của nó bấy nay. Ấy là Thánh ý của Thầy đã lập Luật riêng cho mỗi đứa trong các con đó. Chư Môn đệ cũng nên hiểu biết. Còn việc an táng nó, các con cũng nên lưu ý chung với nhau mà lo bề Nhơn đạo của các con cho toàn.

TRANG, con nói với TRUNG, THƠ, TƯƠNG, HÓA và các Thiên phong đều có mặt mà đưa nó lên đường, là chỗ an giấc ngàn năm, cũng để tiếng đặng một người đạo-hạnh vậy. Trừ ra đứa nào phải vắng mặt bận việc thì chế đặng. Còn về sự làm cho rỡ ràng trong Đạo hữu, các con nên liệu tính cho kíp. Sự cầu kinh thì do nơi đám táng của mẹ Hậu, đều khác hơn một thí."

 

 

MÃN TANG (Mãn Phục)

满 喪
E:The end of mourning.
F: La fin de deuil.

Mãn: Đầy đủ, đầy tràn, xong, hết. Phục: quần áo tang. Tang: để tang tỏ lòng thương nhớ người chết.

Mãn phục, đồng nghĩa Mãn tang, là hết thời kỳ để tang (sả tang).

Đạo Cao Đài qui định ngày làm Lễ Đại tường là mãn tang, nên sau khi làm Đại tường xong thì làm Lễ Trừ phục, tức là đốt hết quần áo tang, và khăn tang.

 

 

MANG MẾN (Mang Mến)

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Khỏe thân chẳng kẻ học Hi Vi,
Biết luận theo khi biết tính thì.
Mơi ngủ, tối cờ, khuya lại rượu,
Cân đai mang mến lắm điều khi.

 

 

MÃNG BÀO

蟒 袍
E: Cloak adorned with dragon.
F: Manteau orné de dragon. (áo giáp Hộ Pháp)

Mãng: loại rắn lớn giống hình con rồng. Bào: áo dài. Mãng bào là áo bào có thêu hình con mãng (Cái áo của quan to mặc, có thêu rồng bốn móng).

Trong triều đình, Mãng bào là áo bào của vua; Mãng y là áo lễ của các quan có thêu hình con mãng.

Bộ Đại phục của Đức Hộ Pháp, bên trong mặc giáp, ngoài giáp thì choàng mãng bào màu vàng, thế nào bên tả thì giáp, bên hữu thì mãng.

 

 

MẠNG DANH

命 名
F: Nommer.

Mạng danh 命名: Đặt tên.

"Cửu Trùng Đài do Hội-Thánh quản trị, mạng danh Hội Thánh Cửu Trùng Đài gồm có một phái Nam và một phái Nữ. Đức Chí-Tôn lập Pháp-Chánh-Truyền cho cả hai phái" (Theo Đàn Cơ 16-10 Bình-Dần – 1926)

Kinh Tụng khi Vua thăng hà có câu:

"Mạng danh Hội-Thánh đã đành,
"Nâng tay nhục thể xây hình Chí-Tôn."

 

 

MẠNG CĂN

Mạng căn 命根 là Căn bản của mạng sống con người.

Con người khi mới Sanh ra ở nơi này, sống cũng ở nơi này, trong trọn một kiếp sanh, may sống được một trăm năm là đầy đủ về mạng căn của mình rồi. Nghĩa là con người đều phải chịu dưới một định mệnh không cưỡng lại được.

Bài Kinh Tắm Thánh có câu

"Sanh nơi đây, ở nơi đây,
"Trăm năm là tuổi đủ đầy mạng căn."

 

 

MẠNG HỮU CAO ĐÀI MINH NGUYỆT CHIẾU

Minh-Thánh-Kinh Linh Sám có câu: "Mạng hữu Cao Đài Minh Nguyệt chiếu" Nghĩa là: tá-danh Cao-Đài, Đức Ngọc Đế giáng trần khai Đạo sáng tỏ như trăng rằm.

 

 

MẠNG LỊNH


F: Ordre.

Pháp chánh Truyền: "Thượng Sanh đặng mạng lịnh chuyển thế, điều độ nhơn sanh ra khỏi trầm luân khổ hải, buộc Thượng-Sanh phải gần gũi kẻ vô Đạo đặng an-ủi dạy-dỗ. Mà kể từ hạng vô Đạo trở xuống cho tới vật chất thuộc về phàm, ấy vậy Thượng-Sanh là thể Đời, người đứng đầu của phẩm phàm tục."

Thầy dạy: "Các con đã mang mạng lịnh Thầy thì làm thế nào Thầy không hổ thẹn. Thầy dặn các con một điều phải hằng nhớ rằng các con thay mặt cho Thầy, tức là Thầy. Ngày nào Thầy lấy phận sự lại thì là mới hết Thầy nữa. Cái xác thịt các con cũng nên kể ra: chẳng phải của các con nữa. Thầy đã nói trước rằng: Cái xe Thầy đẩy đi đến đâu thì hồng ân của Thầy rưới khắp đến đó. Thầy chỉ cậy các con kêu rước những kẻ hữu duyên đến chung hưởng cùng các con thôi."

 

 

MẠNG PHÁP

命 法
E: The order and law.
F: L’ordre et la loi.

Mạng: mệnh lệnh của cấp trên. Pháp: pháp luật. Mạng pháp là mệnh lệnh và pháp luật.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nếu mình trọn tin mạng pháp thì các Đấng cũng ghi công cho.

 

 

MẠNG TRỜI

E: The order of God.
F: L’ordre de Dieu.

Mạng: mệnh lệnh của cấp trên. Trời: Ông Trời, Đức Chí Tôn Thượng Đế. Mạng Trời là mệnh lệnh của Trời ban ra, hán văn gọi là Thiên mệnh.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mạng Trời đã định, nhưng có sức của các con mới đặng kết quả hoàn toàn.

 

 

MANH TÂM

Đức Thượng Sanh hết lời ca tụng một bậc vĩ nhân của nhân loại, là một bậc Giáo chủ đáng tôn kính như Đức Hộ-Pháp rằng: "Nếu vì một lẽ nào, vì một tham vọng hoặc vì tranh giành quyền lợi, người Chức sắc hay tín hữu có manh tâm làm cho nền Ðạo phải mang tai tiếng, danh giá Ðạo bị tổn thương thì chính đó là hành động cố ý xô ngã công phu gầy dựng của Ðức Ngài (Đức Hộ-Pháp). Cái tội đó Ðức Ngài và các Ðấng Thiêng Liêng không thể dung thứ được."

 

 

MẠNH - TRỌNG - QUÍ

- -
E: First (thứ 1), Second of a group of three.
F: Premier, Second (thứ 2 ), Troisième du groupe de trois.

Mạnh: Lớn, bắt đầu, họ Mạnh. Thứ nhứt, khởi đầu. Trọng: Thứ nhì, ở giữa. Quí: Thứ ba, ở cuối, út chót.

• Chỉ về thứ tự 3 tháng trong một mùa, thì: Mạnh là tháng đầu, Trọng là tháng giữa, Quí là tháng cuối.

Thí dụ: Mùa Xuân:

Tháng đầu mùa Xuân: Mạnh Xuân,tức là tháng giêng.
Tháng giữa mùa Xuân: Trọng Xuân, tức là tháng hai.
Tháng cuối mùa Xuân: Quí Xuân, tức là tháng ba.

Tương tự, mùa Hạ, Thu hay Đông cũng gọi y như thế.

• Chỉ về con cái trong gia đình thì dùng:

Quí nam là con trai út.
Quí nữ là con gái út.

 

 

MẠNH ĐẶNG YẾU THUA KHÔN CÒN DẠI MẤT

"Các lạc thú hiện thời trên cõi tạm nầy làm cho con người mê mẩn; rồi đua chen nhau tranh giành phúc lộc; lăng-xăng xạo-xự trên chốn võ-đài; mạnh đặng, yếu thua khôn còn, dại mất". Phần đông bực thông minh, lại đem trí khôn làm món binh khí hại người; kẻ tước trọng lại dùng thế quyền mà đè ép dân đen ra bạc trắng. Quanh năm chỉ lo xác thân hưởng điều khoái lạc, vợ ấm con no, được ngày nào vui ngày ấy; cho kiếp chết là kiếp mất; gọi Thiên-đường, Ðịa ngục là câu chuyện hoang-đàng. Bậu bạn lỗi câu tín-nghĩa, vợ chồng quên đạo tào-khương; mảng vụ chữ kim thời mà phong dời tục đổi."

 

 

MẠNH TỬ (372-289 TCN)

E: Mencius.
F: Mencius.

Đức Hộ-Pháp nói tại Báo Ân Từ, đêm 30 tháng 9 năm Bính-Tuất (1946) lúc 12 giờ khuya:

"Nhắc lại Thầy Mạnh-Tử khi qua yết kiến Vua nước Lương, ông Huệ-Vương hỏi Ðức Mạnh-Tử: Lão già chẳng nệ đường xa muôn dặm sang đến nước Quả nhân có chỉ giáo điều chi hữu lợi chăng? Thầy Mạnh Tử đáp rằng: Tôi chỉ biết nói đến Nhân-Nghĩa mà thôi, chớ không nói về lợi, nếu trong nước mà dục vọng về sở lợi, thì đình thần có trăm hộc lại muốn có thêm ngàn hộc, thượng hạ đại phu có ngàn hộc lại muốn có muôn hộc, còn vì Thiên Tử đã có dư muôn hộc, lại muốn có thêm triệu hộc. Nếu trong nước mà cầu lợi như thế, thì bá tánh phải chịu lao lung, muôn dân đồ thán, trong nước thế nào bình trị được? Còn như trong nước biết chú trọng đạo Nhơn Nghĩa, thì toàn thể quốc dân đặng chung hưởng mọi điều hạnh phúc, lạc nghiệp âu ca. Thầy Mạnh-Tử thuyết minh đủ mọi điều lợi, hại rồi thì Vua Huệ Vương chịu nạp dụng".

 

 

MẢNH NHUNG BÀO

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Đặng trí thức phải ngừa lòng khách,
Dìu dắt nhau chớ nghịch lòng nhau.
Biết tâm biết chí anh hào,
Nữ tâm làm mảnh nhung bào chở che.

 

 

MÃNH LỰC CỦA TÀ QUÁI

Thanh Tâm Tài Nữ nói: "Trong Đạo, nếu còn quyền hành áp chế thì là Đạo của Tà quái đó; mà những kẻ nào hay làm quyền riêng đó cũng chẳng tránh khỏi mãnh lực của Tà quái xung nhập. Chơn đạo chẳng dụng quyền áp chế bao giờ. Mấy anh cũng đủ rõ."

 

 

MÃO

E:The head-dress.
F: La coiffure – Les sortes de coiffures.

Thầy dạy may Mão Giáo Tông

Ngày 7-3-Bính Dần (dl: 18-4-1926)

Trung, Cư, Tắc, ba con lập tức lên Chiêu, biểu nó phải sắm sửa liền một bộ Thiên phục màu trắng, trên đầu chẳng phải bịt khăn mà đội Mão trắng có chữ CÀN thêu bằng chỉ vàng. Dặn nó mua thứ hàng thiệt tốt. Mão cũng vậy, áo cũng vậy.

Hiếu, lại phải nhọc công nữa. Thầy giao phần may sắm cho con, con liệu cho kịp, rằm phải có nghe con.

Hiếu, lấy chén nước lạnh, Thầy vẽ kiểu mão cho con coi.

Bà Hiếu bạch Thầy: Mỵtre.

- Mão nầy là Mão Giáo Tông. Trước ngực ngay trán phải để chữ cung Càn, chữ vàng, chữ Bát Quái, còn cái áo, con phải tái cầu Thầy trong lúc may đặng Thầy chỉ sắp mấy Cung kia trên áo.

Nghe và tuân theo nghe con.!

Trung, đêm nay đừng cầu Thầy nghe con.

TÁI CẦU :

Mừng sắp con.

Hiếu quì bạch Thầy chỉ dạy may áo Đức Giáo Tông, bề cao bao nhiêu và mang giày thứ nào?

- Thầy sẽ nhứt định mọi việc.

Thầy dạy: Mão bề cao 3 tấc 3 phân 3 ly thước lang sa, may giáp mối lại thì thế nào cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh, hiệp lại có một đường xếp, ấy là Âm Dương tương hiệp. Hiếu biết mà.

Sợi dây xếp hai lại, còn bên trái có 2 dải thòng xuống một mí dài, một mí vắn, mí dài 3 tấc.

Giáo Tông, thảo hài.

TÁI CẦU:

(Có tạo đỡ một cái mão bằng giấy dưng lên cho Thầy xem)

Cười!Đặng phải vậy, ba con bưng lên cho Thầy chỉ hai mí giáp mối, con coi theo cây viết mà làm theo.

Sợi dây viền ăn liền hai bên, đừng cắt rời ra, nghe con. Con giỏi lắm Hiếu! Hai dải thòng xuống vai 3 tấc bề dài, 3 phân bề ngang, phải vậy rồi.

Cư, để cho Hiếu nó làm (là để cho Hiếu may Mão Giáo Tông) Hiếu dâng Mão Giáo Tông may xong rồi cho Thầy xem.

- Trúng, mà ai đội con phòng lật đật.

(Đức Chí Tôn biết là Ông Chiêu không lãnh chức Giáo Tông nên mới có câu nầy) (ĐS. I. 106)

Thầy dạy: "Thơ! Vô quì nghe: Thầy dạy may Thiên phục: Khăn, áo màu vàng, mà cho thiệt tốt; khăn 9 lớp, áo gài 3 dải. Con Lâm thị Ái Nữ lo giùm cho Thầy 5 cái áo mão cho Lịch, Trung, Tương, Trang, Thơ, mão ấy Thầy sẽ vẽ, còn áo Thơ thì Ái Nữ thêu Con Mắt ở giữa, chung quanh có 6 chữ cổ tự đề Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ 大道三期普渡 ngay trước ngực và sau lưng, như miếng bố tử, chạy 2 vòng vô vi bao chung quanh nghe! Tái cầu Thầy chỉ làm mão".

 

 

MÃO HIỆP CHƯỞNG

Mão Hiệp Chưởng của Giáo-Tông

Thầy dạy: Trung, Cư, Tắc, ba con lập tức lên Chiêu, biểu nó phải sắm sửa liền một bộ Thiên phục màu trắng, trên đầu chẳng phải bịt khăn mà đội mão trắng, có chữ CÀN thêu bằng chỉ vàng, dặn nó mua thứ hàng thiệt tốt. Mão cũng vậy, áo cũng vậy. Hiếu lại phải nhọc công nữa, Thầy giao phần may sắm cho con, con liệu cho kịp, rằm phải có nghe con! Hiếu lấy chén nước lạnh, Thầy vẽ kiểu mão cho con coi.

Madame Cư bạch Thầy: Mitre (mão Giáo Tông).

"Trước ngực, ngay trán phải để chữ cung CÀN   chữ vàng, chữ Bát Quái, còn cái áo, con phải tái cầu Thầy trong lúc may đặng Thầy chỉ sắp mấy Cung kia trên áo. Nghe và tuân theo nghe con." (ĐS. I. 106)

Tái cầu: Mừng sắp con! Hiếu quì bạch Thầy dạy may áo mão Giáo-Tông bề cao bao nhiêu và mang giày thứ nào?

- Thầy sẽ nhứt định mọi việc.

Thầy dạy: Mão bề cao 3 tấc 3 phân thước Lang-sa, may giáp mối lại thế nào cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh, hiệp lại có một đường xếp, ấy là Âm Dương tương hiệp, Hiếu biết mà! Sợi dây xếp hai lại, còn bên trái có hai dải thòng xuống một mí dài, một mí vắn, mí dài 3 tấc. Giáo Tông: Thảo hài.

Tái cầu: Có tạo đỡ một cái Mão bằng giấy dựng lên cho Thầy xem. Cười! Đặng phải vậy, ba con bưng lên cho Thầy chỉ hai mí giáp mối, con coi theo cây viết mà làm theo. Sợi dây viền ăn liền hai bên, đừng cắt rời ra nghe con! Con giỏi lắm Hiếu! Hai dải thòng xuống vai 3 tấc bề dài, 3 phân bề ngang. Phải vậy rồi!. Cư, để cho Hiếu nó làm (là để cho Hiếu may Mão Giáo-Tông).

Ngày 11-3-Bính Dần (dl: 22-4-1926) tức là 5 ngày sau khi Đức Chí Tôn ra lịnh cho Bà Hương Hiếu (hiền thê của Ông Cư, nên gọi là Madame Cư) may Thiên phục Giáo Tông cho Ngài Ngô Văn Chiêu, Bà Hương Hiếu dâng mão Giáo Tông lên cho Đức Chí Tôn xem kiểu vở may như vậy có đúng không?.

Đức Chí Tôn giáng cơ nói: "Hiếu dâng mão Giáo Tông may xong rồi cho Thầy xem. Trúng! Mà ai đội, con phòng lật đật"? Đức Chí Tôn giáng cơ nói như thế, tức nhiên chúng ta ngầm hiểu là Ngài Ngô Văn Chiêu đã mất chức Giáo Tông từ đây..Tại sao chỉ trong vòng 5 ngày từ 17 đến 22-4-1926 mà lại có sự thay đổi nhanh chóng như vậy? Đức Chí Tôn không cho biết tại sao, làm cho nhiều người phân vân, nghĩ rằng Ngài Ngô Văn Chiêu cải lịnh Đức Chí Tôn, muốn ở nhà tu tịnh, không muốn tham gia vào cơ phổ độ đông người làm mất sự yên tịnh của Ngài, hay còn lý do nào khác nữa? (Xem Ngô văn Chiêu)

Pháp Chánh Truyền dạy:

Đại Phục Giáo Tông:

"Ðầu đội Mão vàng, năm từng hình Bát Quái (Thế Ngũ Chi Ðại Ðạo) ráp tròn lại bít chính giữa; trên chót mão có để chữ "VẠN" giữa chữ vạn có Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí; nơi ngạch Mão, phải chạm ba Cổ Pháp cho rõ ràng, y như hai bên cổ áo đã nói trên kia,... … …

Tiểu Phục Giáo Tông:

Ðầu đội Mão Hiệp Chưởng (Mitre) cũng toàn bằng hàng trắng, bề cao ba tấc ba phân ba ly (0m333) may giáp mối lại cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh hiệp lại có một đường xếp (ấy là Âm Dương tương hiệp) cột dây xếp hai lại, nơi bên tay trái có để hai dải thòng xuống, một mí dài một mí vắn (mí dài bề ngang 0m03, bề dài 0m30) trên mão ngay trước trán có thêu chữ cung Càn .

Đây là sắc phục áo mà Đức Quyền Giáo-Tông đang mặc có đủ các QUẺ trên màu áo trắng.

Đầu đội Mão Hiệp-Chưởng. Hai chữ Hiệp-Chưởng có nghĩa là hai bàn tay úp vào nhau. Mão Hiệp-Chưởng là cái Mão hình giống như hai bàn tay úp vào nhau vậy. Số đo 0m333; ba lần con số 3 (3x3=9).

 

 

MÃO BÁT QUÁI (BÀT QUÁI MẠO)

 

 

 

 

Cách may: Thầy dạy Bà Hương Hiếu "Đem nước phấn ra đây Thầy vẽ mão. Tám khía, ngó nghiêng thì vọng, ngó ngay thì như vầy: 8 khía, hai khía trước thêu chữ vàng Càn Khôn, còn sáu khía kia thì để thế nào cũng đặng, thêu chánh chữ cổ tự, nhung hay là hàng, tùy sắc phục mỗi đứa, cao 3 tấc 3 phân tây hai khía trước, còn mấy khía sau, làm sao cho lài lài trước cao sau thấp thì làm coi cho đặng. Giữa kín, phải cứng cho nó đứng, chớ con bồi bằng vải càng tốt hơn." THĂNG. (TNCT. TTT. 257-261)

 

 

MÃO (của Bảo Sanh Quân)

Đức Lý dạy: "Hoạch, nên may Thiên phục theo lời dạy sau đây: Áo trắng y theo của Thập Nhị Thời Quân và các Chức sắc khác nơi Hiệp Thiên Đài. Mão trắng theo của Mỹ Ngọc, nhưng không có bông sen, ngay giữa mão thêu một Thiên Nhãn, chí bìa dưới mão lên cho đủ chỗ thêu Thiên Nhãn, chừa 4 phân, hai bên tả hữu Mão, hai Thiên Nhãn, hết thảy là ba. Một sợi dây Tiên Thằng buộc vòng bìa mão, bề ngang 5 phân, bề dài 2 thước, buộc thế nào chừa Thiên Nhãn ngay giữa Mão ra, cho hai mối thòng xuống hai bên vai. May cho kịp đặng mùng 1 hoặc mùng 2 tới đây hầu Đức Từ Bi. Sẽ dâng cho Lão coi khi may rồi nghe.!"

 

 

MẠO MUỘI

冒 眛
F: Aveuglement.

Mạo: Làm giả, giả mạo. Muội: tối tăm, không hiểu việc. Mạo muội là không hiểu việc mà làm càn, nên sơ suất và lầm lẫn. Mạo muội cũng có nghĩa là liều lĩnh mà làm (không hỏi sự lý mà làm càng, lỗ mảng).

 

 

MẠO XƯNG

冒 稱
E: False declaration.
F: Fausse déclaration.

Mạo: Làm giả, giả mạo. Xưng: xưng hô. Mạo xưng là giả mạo danh hiệu của người khác mà xưng hô.

 

 

MẠT HÈN

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Heo trâu thân thể mạt hèn thay,
"Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.
"Lộng lộng lưới Trời tuy sếu-sáo,
"Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày."

 

 

MẠT KIẾP


E: The last existence.
F: La dernière existance.

(Mạt là ngọn của một thân cây, chỉ phần sau rốt, cuối cùng, Kiếp là một đời người, một chu kỳ của trái đất, của vũ trụ). Mạt kiếp là thời kỳ cùng cuối của quả địa cầu cần thay đổi.

Thầy dạy: "Mạng đổi chớ luật lệ chưa hề đổi. Vì vậy Thầy buộc các con tùng Cựu Luật đặng qui phục Tam Giáo làm một. Các con nghĩ sự tu hành khổ hạnh dường nào. Ðời mạt kiếp nầy dữ nhiều lành ít. Nếu Thầy không chuyển pháp lại thì chưa ai tu đặng trọn Đạo, nên Thầy lựa Ngọc Ðầu Sư trong hạng thiếu niên mới có đủ công Phổ độ. Trong phần nhiều các con chưa vừa lòng cho Lịch ngồi địa vị ấy, cho nên có điều cản trở trong sự truyền đạo. Thầy cũng nhìn như vậy, song vì tiền kiếp Lịch và nhơn đức Tiểng, nên Thầy mới phú thác cái trách nhiệm tối đại ấy cho nó".

Đức Hộ-Pháp xác nhận: "Nay đến đời Hạ nguơn cuối cùng, thế Đạo suy vi, nhơn tâm bất cố, đạo đức đổi dời, lòng người chẳng giống như xưa, luật Tam Cang chẳng giữ, phép Ngũ Thường không noi, Tam giáo thất chơn truyền, nhơn tâm biến đổi, bỏ phép công bình, tranh danh trục lợi, cướp giựt hiếp đáp, giết hại lẫn nhau, thành ra một trường náo nhiệt, nên gọi là đời mạt kiếp".

Thi văn dạy Đạo có câu:

Dương thạnh thì hay đời mạt kiếp,
Nêu thân ở giữa cuộc tang thương.

 

 

MẠT LỘ

末 路
F: Dernier chemin.

Mạt: Cái ngọn, cuối, hết, hèn mọn. Lộ: đường. Mạt lộ là cùng đường, hết lối thoát, không còn cách nào để tiến lên (lúc sắp hết, thời đã tàn).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thiên cơ mạt lộ chờ đôi lúc.

 

 

MẠT PHÁP


E: The last age of Buddhism.
F: Le dernier âge du Bouddhisme.

Theo Phật giáo, giáo lý của Ðức Phật Thích Ca đã trải qua ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.

- Chánh pháp là thời kỳ đầu, kể từ lúc Phật nhập diệt cho đến 500 năm sau. Giáo pháp của Phật được các Đệ tử giữ gìn còn nguyên vẹn, nên số người tu đắc đạo rất nhiều.

- Tượng pháp là thời kỳ tiếp theo, kéo dài 1000 năm. Giáo pháp của Phật bị các Đệ tử sửa đổi chút ít nhưng vẫn còn giống với giáo-pháp ban đầu, người tu đắc Đạo khá nhiều, nhưng ít hơn thời Chánh pháp. Tượng là giống như, mường tượng.

- Mạt pháp 末法 là thời kỳ sau cùng, kéo dài khoảng 1000 năm. Giáo pháp của Phật bị các Đệ-tử lần lần sửa cải, sai lạc gần hết, người tu bị lầm lạc, tu nhiều mà đắc đạo rất ít. (Mạt nghĩa chính là ngọn, là cuối cùng hết.

Đức Thượng đế phán: "Thầy muốn các con hội hiệp đặng nghe dạy. Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Ðộ, các sự hữu hình phải hủy phá tiêu diệt. Thầy đến chuyển Ðạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi, chẳng thế nào diệt đặng

Th.. Thầy đã khiến con đi Ðế Thiên Ðế Thích đặng xem cho tạng mặt hữu hình. Nội thế gian nầy ngày nay, ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng đạo đức con, Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến. Thầy không muốn cho con hao tài tốn của mà gìn giữ sự giả dối. Chẳng cần chi con lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên "Bảo Sanh" là bổn nguyên Thánh chất Thầy. Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi, phần hồn về Thầy. Con có biết sự chơn thật nơi nào mà phải khổ thân lo lắng. Con có phận sự rất lớn, Thánh danh con cũng lớn. Thầy dặn con, nhứt nhứt phải do mạng lịnh Thầy mà thôi."

 

 

MẠT THẾ


F: dernière âge.

Mạt: Cái ngọn, cuối, hết, hèn mọn. Thế: đời, thời đại. Mạt thế là thời đại cuối cùng, đời cuối (Cái thời-đại gần suy vong).

 

 

MẠT VẬN


E: Misfortune.
F: Adversité.

Mạt: Cái ngọn, cuối, hết, hèn mọn. Vận: số mạng. Mạt vận là lúc xui xẻo, khốn đốn (vận số đã hết).

 

 

MÀU TRẮNG

"Hễ vô đại điện Đức Đại-Từ-Phụ nào chức này, chức kia, mão cao áo rộng; còn vô Điện Thờ Phật-Mẫu đều trắng hết, không ai hơn ai cả. Nếu hiểu biết, thấy bí-pháp Chí-Tôn cao kỳ quá lẽ. Chí-Tôn nói rằng: "Quốc-Đạo này Ngài qui-tụ tinh-thần đạo-đức, trí-thức toàn nhơn-loại cho đặc biệt: có cao, có thấp, có hàng ngũ, có phẩm giá; còn về phần xác thịt của người đời, mạng sống trước mặt Ngài không ai hơn ai, cả thảy sống đồng sống, chết đồng chết đặng đem Quốc-Đạo làm mô-giới cả Đại Đồng đặng tạo tương-lai loài người cho có địa-vị oai quyền, cao-thượng. Nếu thoảng hiểu đặng thì Thánh-Thể cũng vậy, Hội Thánh, chư Chức sắc Thiên-phong nam, nữ hay toàn thể Tín-đồ cũng vậy, lãnh thiên-mạng đảm-nhiệm trách-vụ thiêng liêng Chí-Tôn phú-thác lập giáo tức-nhiên phải có phẩm-giá, trật-tự, đẳng cấp. Nếu hiểu thêm ý của Ngài; khi cởi áo này ra khỏi Đại Điện rồi, hết thảy đồng là anh em, không ai hơn ai, không ai thua ai, không khinh, không trọng, đầy-đủ tình yêu-ái trong lòng MẸ đem ra mà thôi; nam nữ cũng thế. Ngày nào nhơn-loại cả thế-gian ở mặt địa-cầu này hiểu được lý lẽ chí hướng cao-thượng ấy là ngày Đạo Cao-Đài sẽ thiệt tướng". (ĐHP 30-9-Đinh-Hợi)

Pháp Chánh Truyền: "Bộ Đại-phục Giáo-Tông thì toàn bằng hàng trắng, có thêu bông sen vàng từ trên tới dưới". Với cơ-quan Cửu-Trùng-Đài, đặc biệt chỉ có Giáo Tông và Thượng Chưởng Pháp mặc sắc phục trắng chầu lễ Chí-Tôn mà thôi, ngoài ra đều mặc theo sắc phái. Vì sao? - Màu trắng là màu tổng-hợp của 7 sắc cầu vồng, đó là màu Đại-Đồng, mục-đích của Cao-Đài là phải thực hiện ra cho đến Đại-Đồng Thế-Giới. Đó là cái Bí pháp, phần riêng biệt của Đức Chí-Tôn dùng trong cơ chuyển thế, chọn người thay thế hình thể cho Ngài cầm đầu cả nhơn loại. Việc này để giải rõ là loài người phải đi từ không trở về sắc-tướng đặng tạo nghiệp-vị, rồi trở lại Hư-vô.

Phái Tiên-Đạo là phái giữ phần lập trường thi công quả của sắc tướng. Bởi Đạo Cao-Đài là tinh-hoa bổn-nguyên triết lý của chính nền Tôn-giáo này.

Thêu bông Sen tượng-trưng sự thanh-khiết, sống nơi trần mà không nhiễm trần. Màu vàng tượng cho Đạo Cao Đài là Phật-giáo chấn hưng.

Tại sao Thượng Chưởng Pháp mặc áo trắng?

Thượng Chưởng Pháp có quyền thay thế cho Giáo Tông khi vắng mặt (Pour remplacer le Pape par intérim). Áo của Giáo Tông màu trắng tức là màu nguồn gốc của Ðạo. Ðạo không màu sắc, hay tượng trưng một màu rất trong sạch là trắng, là màu vô tội, trắng có thể biến ra các màu vàng, xanh, đỏ... Trái lại, các màu sắc khác không thể làm nên màu trắng. Màu trắng tức là qui hồi căn bổn vậy. Màu trắng là màu nguyên thủy- là Đạo.

-Đó là Bí-pháp riêng của Đức Chí-Tôn dùng trong cơ chuyển thế, chọn người thay thế hình thể cho Ngài cầm đầu nhơn-loại. Về việc ấy giải rõ là loài người phải đi từ không trở về sắc tướng đặng tạo nghiệp vị, rồi trở lại Hư Vô. Phái Tiên-Đạo là phái giữ lập trường thi công-quả của sắc tướng.

(Quyền hành và Ðạo phục của Chưởng Pháp, xin xem trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải). Ðạo phục của ba vị Chưởng Pháp có điểm đặc biệt là Thượng Chưởng Pháp mặc áo màu trắng (thay vì màu xanh của phái Thượng), còn hai vị Chưởng Pháp kia thì màu áo theo sắc phái của mình. Lời Thỉnh-Giáo của Tiếp-Lễ Nhạc-Quân qua vấn đề sau: Ba vị Chưởng-Pháp: Phái-Ngọc mặc Sắc Phục đỏ, Phái-Thái mặc Sắc-Phục vàng còn phái Thượng theo lẽ phải mặc Sắc-Phục xanh, nhưng không hiểu sao lại mặc Sắc-Phục toàn trắng?

Đạo phục là đồng phục của học sinh:

Trong Đạo Cao Đài, Đạo phục của thiện nam, tín nữ là: Áo và quần dài trắng, Nam đội khăn đóng đen.

Đạo phục màu trắng của Tín đồ như luôn nhắc nhở rằng: phải hành động quang minh chánh đại là lúc nào cũng giữ cái tâm cho trong sạch, tinh khiết như màu trắng.

Trích dẫn:

"Áo của Giáo Tông màu trắng tức là nguồn gốc của Đạo. Đạo không màu sắc, hay tượng trưng một màu rất trong sạch là trắng, là màu vô tội, trắng có thể biến ra các màu: Vàng, xanh, đỏ. Trở lại màu trắng tức là qui hồi căn bổn vậy" (Nền tản Chánh trị đạo. Khai Pháp Trần Duy Nghĩa)

Vào năm 1.672, nhà Bác học Newton thực hiện thí nghiệm về sự tán sắc của ánh sáng đã cho thấy: Chùm sáng trắng (Ánh sáng mặt trời là ánh sáng trắng), khi đi qua lăng kính không những bị khúc xạ về phía đáy lăng kính mà còn bị tách ra thành nhiều chùm sáng có màu sắc khác nhau. Dãi có màu cầu vồng này gọi là quang phổ của ánh sáng trắng. Trong quang phổ nầy không phải chỉ có 7 màu: Đỏ, Cam, Vàng, Lục, Lam, Chàm, Tím; mà có rất nhiều màu biến đổi dần từ màu nầy sang màu khác.

Ông Newton cũng thực hiện thí nghiệm về ánh sáng đơn sắc. Thí nghiệm này cho thấy: Chùm sáng các màu (do sự tán sắc của chùm sáng trắng). Sau khi đi qua lăng kính vẫn giữ y màu sắc, tức là nó không bị tán sắc. Do đó, các chùm sáng nầy được gọi là đơn sắc. Mỗi ánh sáng đơn sắc có một màu nhất định gọi là đơn sắc.

Ông Newton cũng đã thực hiện nhiều thí nghiệm về tổng hợp ánh sáng trắng. Thí nghiệm nầy cho biết, nếu tổng hợp các ánh sáng đơn sắc khác nhau, ta sẽ được ánh sáng trắng. Hay nói khác hơn ánh sáng trắng là tập hợp của vô số ánh sáng đơn sắc khác nhau có màu biến thiên từ đỏ đến tím.

 

 

MÁY CÀN KHÔN

E: The mysterious mechanism of the nature.
F: Le mécanisme mystérieux de la nature.

Máy: Chữ Hán là Cơ: bộ máy, chỉ tất cả hoạt động nào có tính cách tuần hoàn và liên tục. Càn khôn: Trời Đất, Âm Dương. Huyền vi: mầu nhiệm.

Máy Càn khôn là máy Âm Dương, bộ máy của Trời Đất, chỉ toàn thể bầu vũ trụ, trong đó các quả tinh cầu và địa cầu luôn luôn chuyển động quay tròn điều hòa liên tục, không bao giờ ngừng nghỉ.

Máy huyền vi là bộ máy mầu nhiệm của Thượng Đế.

Máy Càn khôn hay Máy huyền vi là chỉ Càn Khôn Vũ Trụ của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy nắm máy huyền vi, hằng lấy cân thiêng liêng mà day trở máy Càn khôn.

 

 

MÁY HUYỀN VI

Máy huyền vi tức Đạo biến hóa. Nguyên vạn vật do Đạo mà sanh ra thế gian, nên gọi là xuất sanh; vạn vật tử ở thế gian thì trở về với Đạo, nên gọi là nhập tử.

Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu có viết:

"Máy huyền vi mở đóng khôn lường."

 

 

MÁY LINH CƠ TẠO

E: The divine machanism of God.
F: Le mécanisme divin de Dieu.

Máy: Chữ Hán là Cơ: bộ máy, chỉ tất cả hoạt động nào có tính cách tuần hòan và liên tục. Linh: thiêng liêng, huyền diệu. Cơ tạo: bộ máy của Tạo hóa.

Máy linh cơ tạo là bộ máy thiêng liêng của Đấng Tạo hóa, tức là của Đấng Thượng Đế.

Kinh Xuất Hội:

"Cứ nương dưới máy linh cơ tạo."

 

 

MÁY NHIỆM

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Lẽ báo ứng cao thâm huyền-diệu,
"Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.
"Đạo-Quân đức hóa háo sinh,
"Rộng quyền máy nhiệm an-linh cứu đời."

 

 

MÁY SÂU HỌA KÍN

Máy: Chữ Hán là Cơ: bộ máy, chỉ tất cả hoạt động nào có tính cách tuần hòan và liên tục. Sâu: sâu xa huyền diệu. Họa: tai họa. Kín: không để lộ ra cho người thấy được.

Máy sâu là bộ máy huyền diệu của Trời. Họa kín là cái tai họa không để lộ ra cho thấy, tới chừng tai họa đến thì mới thấy, mới biết.

Ý nói máy Trời huyền diệu, con người không thể thấy biết hết được.

Kinh Sám Hối có câu:

"Phải hiểu biết máy sâu họa kín,
"Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua."

 

 

MÁY TÀ GIAN

Máy là do chữ Cơ là cái máy, đầu mối phát sinh ra mọi việc. Tà gian Tà là cong vạy, gian là dối trá. Tà gian là giả dối, không chính đáng, không thành thật). Máy tà gian: Cái mối sinh ra gian tà xảo trá trong đời này.

Tự điển Hán Việt có từ Cơ tâm là nói cái lòng biến trá khéo léo, giống như máy móc, tâm con người ẩn bên trong những mưu-mô xảo quyệt để đối xử nhau, giết hại lẫn nhau, không chút thương yêu, không lòng đạo đức. Đấy là bản tâm con người trong thời Hạ-nguơn mạt Pháp, trong thời xu hướng theo văn minh vật chất, mà quên đi luân thường đạo đức.

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Nguyện lời nói biến hình Bác ái,
"Nguyện chí thành sửa máy tà gian."

 

 

MÁY TRỜI

(Dịch ra từ chữ "Thiên cơ": thiên là trời; cơ là máy) cùng nghĩa với máy Tạo, máy linh. Là chỉ những việc của Trời đất đặt để trong vòng định luật cũng như những sự biến đổi của vũ trụ, con người không thể nghĩ bàn nỗi.

Thầy dạy:Thứ tư, 24-11-1926 (âl 20-10-Bính Dần)

"Thầy nghĩ lại việc hôm nọ tại Thánh Thất biến ra một trường Tà quái mà Thầy bắt đau lòng đó các con. Các con thiết nghĩ lẽ nào?.Ðó là bước Ðạo, đó là Thiên cơ. Các con hiểu sao được, nhưng Thầy buồn vì nỗi có nhiều đứa sàm biện về việc ấy. Thầy cũng muốn phạt chúng nó một cách nặng nề, nhưng Thầy nghĩ lại mà thương đó chút. Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế. Bởi bước Ðạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đỗi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quí, mê chữ vinh sang mà ngán đạo. Các con hiểu, Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi. Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn".

Thi văn dạy Đạo rằng:

Sách dầu muôn cuốn dạy câu lành,
Nào kẻ học cao thế gọi lanh.
Ðổi thử máy trời coi có được,
Thì Ta đổi tội dữ ra lành.

 

 

MÀY RÂU

Thi văn dạy Đạo có câu:

Mày râu đã đủ phận cùng người,
Biết đạo thì con chớ dễ ngươi.
Ăn mượn ở thừa đời gắt gổ,
Thì toan lo tránh chớ đua bơi.

 

 

MÀY TRUNG MẶT NỊNH

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934):

"Tệ Huynh ngồi nhớ lại đã cách mười năm, nghĩa là hạ tuần năm Sửu, Tệ Huynh còn làm Thượng Nghị vào lầu ra các; trong thì bạn ngoài thì quan, nẻo hoạn lộ hèn sang đã chán, lẽ nhục vinh đã ngán với tuồng đời, mùi cay đắng đã từng quen với mặt thế, nào là mày trung nào là mặt nịnh đã trông nom mỏi mắt mòn hơi, nên mới biết chê đời mến Ðạo".

 

 

MẢY HÀO

E: A tiny bit.
F: Un tantinet.

Mảy: một chút xíu, một phần rất nhỏ. Hào: sợi lông nhỏ. Mảy hào là một phần nhỏ xíu.

Thi văn dạy Đạo:

Tính chi những việc tới đâu đâu,
Ðâu cũng Trời cao ở khỏi đầu.
Ðầu nhà xem rõ cơ Trời Ðất,
Trời Ðất không sai một mảy hào.

Kinh Sám Hối có câu:

"Vì chưng tựu thiểu thành đa,
"Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào."

 

 

MẢY MAY

Một điểm nhỏ cũng không xảy ra. Không có chút nghi ngờ.

Đức Hộ-Pháp nói về Kim Quan Sứ: "Vì cớ cho nên người có giáng-cơ buổi Đạo đương bình tịnh, cả Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn đương hòa ái với nhau, không có tâm-tánh gì phản động, chưa có một mảy may gì gọi là loạn, họ còn giữ theo nề nếp chơn truyền của Đức Chí-Tôn mà thinh không Kim Quan Sứ giáng-cơ cho một bài thi chẳng khác nào như tìm đến Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn mà liệng một tối hậu thơ, bài thơ ấy như vầy:

Cửu phẩm Thần-Tiên nễ mặt ta,
Thích-Ca dầu trọng khó giao hòa.
Cửa Kinh Bạch-Ngọc năng lui tới,
Đường Đạo Tây-Phương thử chánh tà.

 

 

MẢY MÚN

E: A very small quanlity.
F: Un petit peu.

Mảy mún là những điều nhỏ nhít, vụn vặt, không đáng kể

Thầy dạy: ngày 27-4-Ðinh Mão (dl: 27-05-1927)

Thầy, các con! "Hội Thánh là vầy các con há? Áo não! Thảm thay! Thầy tưởng khi chẳng lẽ phải cần nói ra; đợi cho Thánh chất các con tăng thêm đặng chút nào, lại càng thấy đặng khổ não của Thầy vì các con mà đeo đuổi từ ngày khởi lập nhơn loại đến chừ, chẳng dè phàm chất các con nó mạnh mẽ thế nào đè khuất trọn vẹn chút mảy mún Thánh-chất Thầy để vào lòng các con, nên nay Thầy buộc mình phải nói rõ. Các con ôi! Thầy hỏi vậy chớ mỗi phen độ rỗi cho đặng các con, các con có biết Thầy chịu khổ não dường nào chăng? Quyền hành Chí Tôn của Thầy, các con nếu hiểu thấu thì các con sẽ thấy nó là một hình phạt rất nặng nề, chẳng khác nào như gông với tróng"

Đức Quyền Giáo-Tông giáng Cơ nói về ông Lê bá Trang bị đọa rằng: "Thượng Phẩm nói với Qua mấy em đợi. Ôi! Qua nghĩ lại bắt tức mình, mấy em nghĩ lại mà coi, một kiếp sanh đâu mấy lát, cái giả cuộc trần hoàn tuy xem nháy mắt mà ảnh hưởng nó sâu sắc biết là bao, nào là danh, nào là vị, nào là tước, nào là quyền, nào là vinh, nào là trọng, rốt sự rồi cũng không còn mảy mún giá trị chút gì nơi cõi Hư linh Hằng sống, bất quá như còn vui dự đặng một tiệc ngọt ngon của khách phong trần say sưa một lát mà đòi phen chịu thảm cả đời".

 

 

MẶC KHẢI (MẠC KHẢI)


E: The revelation.
F: La révélation.

Mặc: Lặng lẽ, nín lặng, không nói. nín lặng, không nói. Khải: mở ra.Mạc: yên lặng, thanh tịnh.

• Mặc khải là mở ra cho biết một điều thiêng liêng mầu nhiệm trong sự tĩnh lặng mà lý trí con người không thể giải thích được. Td: Sự mặc khải của Thượng Đế.

• Mạc khải là sự tác động trong yên lặng của Thượng Đế bộc lộ những điều vượt tầm hiểu biết của con người.

Hai từ ngữ: Mặc khải và Mạc khải đồng nghĩa, nhưng Thiên Chúa Giáo chỉ sử dụng từ ngữ "Mạc khải".

"Vì sao phải Mạc khải? Chính vì Thiên Chúa trổi vượt vô cùng trên tư tưởng và ngôn ngữ loài người. Ngài là Thiên Chúa giấu ẩn, không thể nào đến gần được, huống chi một khi tội lỗi đã làm con người không còn thân mật với Ngài nữa. Ý định của Ngài là một mầu nhiệm. Ngài hướng dẫn bước đi của con người mà chính họ lại không hiểu đường lối. Trong cuộc sống, con người gặp phải những bí nhiệm về cuộc đời không thể tự tìm thấy ánh sáng cần thiết. Con người phải quay về với Đấng làm chủ các điều bí ẩn, để Ngài tỏ bày những bí mật không thể hiểu thấu, để Ngài cho thấy vinh quang Ngài.

Nhưng trước khi con người quay về với Ngài, Thiên Chúa đã khởi xướng mà nói với họ rồi." (Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh)

Chỉ có những Đấng Giáo Chủ hay những Nguyên căn lớn có nhiệm vụ cứu đời mới có thể nhận được những Mặc khải của Thượng Đế.

 

 

MẶC NHIÊN (Phật Học)

Mặc nhiên là sự lặng thinh, không trả lời. Biểu thị này thường được thấy trong hai trường hợp:

1. Chỉ sự im lặng của Phật Thích-ca Mâu-ni trước những câu hỏi về những chủ đề siêu nhiên, vượt khỏi tầm nhìn, vô bổ. Các đệ tử của Ngài thường đặt những câu hỏi như "Có một Ngã hay không?" "Một Giác giả có tồn tại sau khi nhập Niết-bàn hay không", "Thế giới vĩnh hằng hay không". Ðức Phật giải thích sự im lặng của mình là những câu trả lời dành cho các câu hỏi này chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập – bởi vì chúng không trợ giúp khắc phục tham ái, thành đạt trí huệ. Ngài lo ngại các vị đệ tử chỉ chú tâm vào những nghi vấn này mà xao lãng công trình tu tập.

Ðức Phật trình bày quan điểm của mình qua một ẩn dụ nổi tiếng: một người bị trúng tên. Người này được đưa đến y sĩ, và vị y sĩ muốn rút mũi tên ra lập tức. Nhưng kẻ bị trúng tên lại bảo: "Mũi tên này không được rút ra cho đến khi nào ta biết được kẻ nào đã bắn trúng ta, hắn thuộc về gia đình nào, thân thể lớn, bé hay vừa, da trắng, nâu hay đen."

Và như người bị trúng tên chết trước khi nhận được những câu giải đáp – cũng như thế, các vị đệ tử sẽ bị những nỗi khổ thế gian đàn áp, sẽ chết trước khi nhận được những lời giải đáp về những vấn đề siêu nhiên, vô bổ nêu trên.

2. Chỉ sự im lặng như sấm sét "mặc như lôi" của Cư sĩ Duy-ma-cật dành cho Bồ Tát Văn-thù, được ghi lại trong kinh Duy-ma-cật sở thuyết.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

MẶC MỘT BỘ THIẾT GIÁP

Thầy dạy:"Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành. Thầy nói trước cho các con biết mà giữ mình. Chung quanh các con, dầu xa dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Ấy vậy, rán gìn giữ bộ thiết giáp ấy hoài cho tới ngày các con hội hiệp cùng Thầy. Nghe và rán tuân theo".

 

 

MẶC NIỆM

默 念
E: The silent meditation.
F: La méditation silencieuse.

Mặc: Lặng lẽ, nín lặng, không nói. nín lặng, không nói. Niệm: tưởng nghĩ tới. Mặc niệm là lời cầu nguyện bằng tư tưởng trong im lặng (Lặng lẽ hoài niệm đến người đã chết).

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Khi Bần đạo thấy nín hết, buổi đó, đem hết tinh thần trụ lại, dâng lời mặc niệm ấy vào Bát Quái Ðài.

 

 

MẶC PHÒ

Mặc phò hay mặc phù là im lặng mà giúp đỡ, âm thầm cứu giúp.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Thượng Hoàng sánh đức Chí Công,
"Mặc phò lê thứ khỏi vòng lao lung."

 

 

MẮT - Tư Mắt (Nguyễn Phát Trước) (Tên)

Lễ Sanh Thái Mục Thanh

(Ông Tư Mắt, chữ Hán là Mục, tên giấy tờ là Nguyễn Phát Trước, sau được Đức Chí Tôn phong là: Phụ Đạo Chưởng Nghiêm Pháp Quân vào ngày 26-10-Bính Dần)

Nguyễn Phát Trước tự Tư Mắt mà các tay giang hồ thời bấy giờ quen gọi là anh Tư Đại Ca. Khi ông được tin nhà ông Đốc học Đoàn Văn Bản có đàn cơ thỉnh Tiên, ông đến xem thực giả. Chính Đàn Cầu Kho này đã thâu nhận ông là môn đệ của Đức Cao Đài (1926). Một hôm ông viết một cái khải (sớ không ai được đọc) vái rồi đốt tại Thánh Thất Cầu Kho (nhà ông Bản). Thình lình có ông Trần Văn Tạ (sau đắc phong Hộ Đàn Pháp Quân) một nhân viên chính quyền bước vào. Ông Tư Mắt sợ Cơ về trả lời bức mật khải thì ông nguy tính mạng. Vì trong cái khải ấy ông xin giết De la Chevrotière, Thượng nghị viện đồng thời với ông Lê Văn Trung. Điều lo lắng của ông không xảy ra vì Cơ không đáp mà ông Trần Văn Tạ đã là Đạo hữu đến hầu đàn chớ không phải với tư cách Mật thám.

Tính khí ông ngang tàng, là trùm du đãng vùng Sài gòn - Chợ Lớn, chính quyền Pháp cũng nễ-vì ông. Có điều lạ là ông rất sợ Đức Chí Tôn, sau khi theo Đạo, ông lập Thánh Thất Chợ Lớn tại nhà ông, trên lầu thờ Thầy, dưới dùng làm nhà ở và tiếp khách. Đạo hữu đến cúng kiến tại Thánh Thất của ông rất đông, có lẽ họ dựa vào ông để được che chở khỏi bị các tên du đảng bắt nạt hay một lý do huyền nhiệm nào khác. Sau khi khai Đạo ở Gò-Kén ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926). Ông Mắt được ân phong Lễ sanh: Mục-Thanh (phái Thái). Ông vâng mệnh Ngài Thượng Đầu Sư lập Thánh Thất trước Lý Minh Đài. Tại đây, quyển "Đại Thừa Chơn Giáo" ra đời (1936) làm nền tảng cơ vô vi gốc từ Cao-Đài phổ độ mà ra. Vì tính khí ngang tảng mà nhiều lần ông đã đề nghị với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt với sự hậu thuẫn của Đạo nổi lên chống Pháp và chiếm phủ Toàn quyền. Vì là một bậc chân tu, Ngài Đầu Sư từ chối. Ông Tư Mắt tuyên bố hành động một mình, sẽ giết Toàn Quyền Alexandre Varenne (1925-1928). Với tính nóng nảy, thiếu kế hoạch và trì chí, rốt cuộc mọi lời tuyên bố của ông đều trôi qua.

Khi nghe tin đồn vu khống bà Cao Quỳnh Cư lạm dụng:

1- Bà bổ thuốc bán cho người làm công quả bị chói nước.

2- Nơi Thảo xá Hiền Cung, bà để một số hàng bông rau cải bán kiếm tiều tiêu. Người xấu cho là Bà lấy của chùa.

3- Việc thứ ba, bà có lấy một số chai nước tương rỗng đem về Thảo xá Hiền cung để đựng nước cho Đức Cao Thượng Phẩm uống vì sợ chói nước (Tây Ninh thuở trước nước rất độc). Người ta cho bà lấy chai nước tương nguyên của chùa.

Ba việc ấy khiến cho kẻ kém hiểu biết làm đơn thưa lên Hội Thánh. Việc này chưa ngã ngũ thì một vài người đưa tin này về Sài Gòn, thêu dệt thêm này nọ. Rồi họ kéo lên Thủ Đức xúm lập Vi bằng. Trong đó có ông Nguyễn Phát Trước tính vội vã, nhứt quyết đưa một số người về Tòa Thánh vấn nạn.

Ông vội về Tây Ninh bạo hành. Hậu quả của việc bồng bột đó cách không lâu ông qui thiên.. Cái chết của ông thật thê thảm. Lúc bấy giờ ở Chợ Lớn các nhà sang trọng dùng đèn Manchon treo giữa nhà, nhưng cái bơm hơi chuyền xuống đất, ông lại nằm gần cái bơm hơi này, quấn chăn. Không rõ vì lẽ nào, cái bơm phát nổ, đèn phựt cháy luồn xuống cái bơm bắt lửa qua cháy cái khăn. Hạ bộ của ông bị phỏng nặng, nên vừa đến Bệnh-viện thì ông chết (1929). Ngài Thượng Đầu Sư có đến phúng điếu và chia buồn cùng bà Nguyễn Phát Trước và có nói câu "Thầy đem em Tư về sớm là cái hay cho cơ Đạo". Ngay đêm hôm đó, đồng tử Trần Văn Hoằng (con ông Trần Văn Tạ) chấp bút: Thái Mục Thanh nhập đàn, tỏ vẻ hối tiếc những việc làm đã qua và ông khuyên gia đình nên tu niệm. Ông Mắt cũng được Thầy giáng dạy:

"Thầy giáng Cơ ngày 25-1-Bính Dần (dl: 9-3-1926)

Mắt! Nghe dạy:

Trước vốn Hỏa Thần ở Ngọc Cung,
Giúp Nam không đặng phận tôi cùng.
Nước đời lắm nỗi chua cay bấy,
Còn đợi chi mong thế vẫy vùng.

Ngươi muốn biết đặng Cha ngươi thế nào, hỏi nơi ngươi. Hễ TU thì cứu đặng Cửu Huyền Thất Tổ. Ngươi là hiếu hạnh, chẳng lẽ để cha mẹ chịu đọa A-Tỳ. Nghe mà ăn năn sám hối.

TÁI CẦU: THẦY: "Mắt! Ngươi muốn hiểu Cha ngươi thể nào, ấy là hiếu hạnh. Ta khen đó. Ngươi làm tội chớ Cha ngươi là trung hiếu lưỡng toàn, hay thương yêu đồng chủng, mà bị tội "giáo tử bất nghiêm", để đến đỗi hại sanh linh đã lắm lúc nên bị tội liên can đó mà thôi, phải ở tại ngục Nguơn Tiêu mà đợi ngươi đến. Ngươi phải ăn năn, khuyến thiện và tu tâm dưỡng tánh đặng độ nó và ngày sau đặng qui vị mà khỏi đọa luân hồi. Nghe và tuân lịnh dạy. Tâm thành của ngươi mới đặng mà thôi. Ngươi muốn vậy, làm lành lánh dữ. Ngày nào đặng vậy, Ta sẽ cho Cha ngươi về nói lại cho ngươi biết. (TNCT. TTT. 136)

Thầy dạy tiếp: Mắt, con nghe:

Chánh tà con đủ thấy con đường,
Biết ý rằng Thầy để dạ thương.
Làm lụng công trình ra sức trẻ,
Giữ gìn cho vẹn đạo tào khương.

Thầy biết lòng con, con hiểu dạ Thầy, gắng công hành Ðạo nghe. Mắt! Mời Mắt, Ái Nữ nghe (Vợ Tư Mắt):

Thầy dạy:

Nắm chặt trăm năm một chữ đồng,
Hễ chồng thì của vợ thì công.
Trợ nguy tế hiểm con ra sức,
Ðạo đức chung lo trọn tấc lòng.

Thầy cám Ái Nữ. Mắt! Vợ con nó lại bị khiếm huyết mà biến nhiều bịnh; mùa nầy chẳng nên uống thuốc Tàu, Thầy dặn con tuân theo toa Thầy mà cho nó uống Bilinne"

Thầy dạy: Bà Rịa, ngày 13-11-1927 (âl 19-10-Đinh Mão)

"Tương, con bảo Thái Mục Thanh ra con. Con khuyên nó chớ để dạ ưu phiền, phải tập tánh từ bi chi đức.

MỤC kiến Tam Thanh thế bất thành,
Tác quyền chuyên đảo đạt công danh.
Thiên cơ hà lộ khuynh tài chánh,
Nhứt nhựt dĩ nhàn nhứt nhựt thanh.

Con cũng bảo Ngọc Lịch Nguyệt đến trần tố với nó nghe. Muôn việc chi mà chẳng trông cậy nơi Thầy thì chẳng hề đặng, còn nó lầm tưởng rằng, mỗi mỗi đều do nơi Phàm giáo. Hễ có Phàm giáo mà chẳng có Thánh giáo thì làm sao Khai Đạo cho thông mối. Bảo chúng nó tập tánh yêu dấu của Thầy mà truyền Đạo cùng cư xử đường đời."

Trung! Con biểu Mắt phải chịu khó cúng Tứ thời và nhìn Thiên Nhãn cho thường. Mỗi lần cúng cho được lâu, lâu đặng cảm lòng giáng hỏa thì hết đau mắt. Luôn dịp, Thầy nói cho các con biết: Cúng Tứ thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy. Nếu cúng được thường thì lòng dạ nở nang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bịnh tiêu diệt. Các con nên biết việc cúng Tứ thời nghe.!"

Đàn cơ 26-2-Mậu Thìn (1928), Đức Chí Tôn giao cho Thượng Đầu Sư chưởng quản Tòa Thánh dàn xếp cơ khảo đạo vì Tư Mắt là người do Ngài Thượng phổ độ nên rất kính trọng Ngài.

 

 

MẶT DƯƠNG

Mặt trời được gọi dưới nhiều tên khác nhau, nhưng chính chữ Hán thì gọi là NHỰT hay gọi là "Mặt Dương" cho ánh nắng rõ ràng ban ngày, để phân biệt với "mặt Âm" là mặt Trăng cho ánh sáng dịu mát ban đêm. Ngoài ra trong bài thi mà Đức Thượng Đế đến ban cho ông Lê-văn-Trung bài thi sau đây có câu "Ðã thấy ven mây lố mặt dương" ngụ một ý nghĩa sâu xa, ngầm báo cho Người biết trước cái sứ mạng quan trọng mà Thiêng liêng sắp giao phó, đó là phẩm Đầu sư phái Thượng, Thánh danh là THƯỢNG TRUNG NHỰT. Chữ Nhựt này chính là một trong Tam bửu của Trời là: Nhựt- Nguyệt- Tinh, mà chỉ duy nhất một lần ba vị Đầu sư này có Thánh danh ấy là: - Thượng Đầu sư: Thượng Trung Nhựt (mặt trời có một)

- Ngọc Đầu sư: Ngọc Lịch Nguyệt (mặt trăng có một)

- Thái Đầu sư có hai: một là Thái Minh Tinh, hai là Thái Nương Tinh (vì Tinh tú có nhiều nên trong cửa Đạo có hai vị mang chữ Tinh). Ấy vậy Ngài Thượng Trung Nhựt đến với cửa Đại Đạo như một vầng Dương đang lên. Sau đó Ngài được thăng phẩm Quyền Giáo Tông, thật là xứng đáng một ANH CẢ của nhơn sanh ngưỡng mộ đến thất ức niên tuổi Đạo vậy.

Thầy cho thi, cho ông Lê Văn Trung buổi đầu:

Ðã thấy ven mây lố mặt dương,
Cùng nhau xúm xích dẫn lên đường.
Ðạo cao phó có tay cao độ,
Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

 

 

MẪN KHỔ


E: To pity the unhappy men.
F: Avoir pitié des malheureux.

Mẫn: thương xót. Khổ: khổ sở vì nghèo hay gặp nạn. Mẫn khổ là thương xót người khốn khổ.

Kinh Nho-Giáo có câu:

"Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ."
(Rủ lòng nhơn từ, thương người khổ nạn).

 

 

MẦNG (MỪNG)

Mầng là từ xưa thường dùng, nay thì tiếng mừng được thông dụng, phổ biến hơn. Mừng là một sự vui vẻ, hân hoan trong lòng, như mừng rỡ, mừng vui, mừng Tết.

Bát Nương giáng: 29-12-Quí Dậu (dl: 12-2-1934) cho Thi:

Mầng nhau vì thấy giúp nên nhau,
Mầng Ðạo từ đây đẹp vẻ màu.
Mầng xác Chí linh thêm mãnh lực,
Mầng thần Chơn lý đặng danh cao.
Mầng duyên nhân loại đường tu vững,
Mầng phước nguyên hồn chẳng chút hao.
Mầng Ðạo từ nay nâng thế giới,
Mầng nền Chánh giáo trở thanh cao.

Em an dạ, từ đây đã quan kiến sự kết cuộc của Chí Tôn đã định trước. Em nhớ lại, khi Ngọc Hư định cho Hiệp Thiên Ðài cầm số mạng nhơn sanh, lập thành Chánh giáo thì Ðại Từ Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu Trùng Ðài. Cả Ngọc Hư chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều ngạc nhiên sự lạ. Ðại Từ Phụ phổ giáo rằng: Hay! Hay! Không lẽ để phận hèn, ngày sau sẽ rõ Thánh ý Người quyết liệu."

 

 

MẬT CHỈ

密 旨:
E: The secret order of God.
F: L’ordre secret de Dieu.

Mệnh lệnh bí mật của Thượng đế ban ra.

Chữ mật : chỉ sự kín đáo, không tiết lộ ra ngoài. Chữ chỉ là chỉ dụ, lời vua ban bảo tôi dân gọi là "chỉ".

 

 

MẬT CHIẾU


E: A secret decree.
F: Le décret secret.

Mật chiếu là Mệnh lệnh bí mật của Ðức Chí Tôn.

Thánh ngôn, Đức Thích-Ca giáng Cơ nói: "Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật Tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi Tây Phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh.

Trong Phật Tông Nguyên Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi, tại Tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu".

 

 

MẬT CHÚ (Thần Chú)


F: Incantation.

Mật: Giữ kín, bí mật. Chú: chúc nguyện, thần chú. Ngữ: câu nói.

Mật chú là câu chúc nguyện huyền bí, có nghĩa bí mật, do chư Phật truyền lại. Khi niệm câu mật chú nầy thì được chư Phật hộ trì, thoát khỏi sự khảo đảo hay tai nạn.

Mật chú, tiếng Phạn là: Dhârani, phiên âm: Đà-la-ni.

 

 

MẬT NGỮ


F: confidence.

Mật ngữ là câu nói huyền bí, có nghĩa bí mật. Mật ngữ đồng nghĩa: Mật chú, Thần chú, Chơn ngôn (lời nói kín).

 

 

MẬT NGHĨA

密 義
E: Hidden sense.
F: Sens caché.

Mật: Giữ kín, bí mật. Nghĩa: ý nghĩa. Mật nghĩa là ý nghĩa kín đáo chứa đựng bên trong lời nói hay câu văn. Phải suy nghĩ tìm tòi mới thấu đáo được.

Những bài thuyết pháp của Tiên, Phật thường thì có hai nghĩa: Hiển nghĩa và Mật nghĩa.

Hiển nghĩa là ý nghĩa theo văn từ, căn cứ trên chữ nghĩa.

Mật nghĩa là ý nghĩa vượt trên văn tự dành cho bực tu thượng thừa, trình độ tâm linh cao.

 

 

MẬT NIỆM

密 念
E: Secret petition.
F: Pétition secrète.

Mật: Giữ kín, bí mật. Niệm: tưởng nghĩ tới. Mật niệm là cầu nguyện bí mật trong lòng (ý nghĩ thầm kín).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Khi Đức Chí Tôn giáng, chẳng nên mật niệm điều chi và chẳng nên chạy qua chạy lại.

 

 

MẬT YẾU

密 要
E: Secret and important affair.
F: Affaire secrète et importance.

Mật: Giữ kín, bí mật. Yếu: quan trọng, cốt yếu. Mật yếu là điều bí mật quan trọng (Kín đáo và thiết yếu).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chí Tôn đã sở cậy Bần đạo thố lộ chút ít điều mật yếu để dìu bước chư Đạo hữu trong buổi loạn lạc....

 

 

MÂU NI (Phật Học)

Mâu-ni (S, P: muni) nghĩa là Thánh nhân, Trí giả, người có trí huệ; Danh từ chỉ người đã đạt được Thánh quả, đã đắc đạo. Thời Đức Phật Thích-Ca, danh từ Mâu-ni cũng được sử dụng chỉ người tu hạnh không nói (tịnh khẩu).

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

MÂU THUẪN

矛盾
F: Contradiction.

Mâu: cây giáo, khí giới có cán dài, mũi nhọn, để đâm. Thuẫn: cái khiên, cái mộc để che đỡ. Mâu thuẫn là hai thứ khí giới của người lính đời xưa (Nói năng tự trái ngược nhau goị là " mâu thuẩn").

Sách Hàn Phi Tử viết: Nước Sở có người đem ra chợ bán hai thứ: mâu và thuẫn. Anh ta đưa cái mâu ra và khoe rằng: Cái mâu của tôi làm rất nhọn, nó có thể đâm thủng bất cứ vật gì. Rồi anh ta đưa ra cái thuẫn và quảng cáo rằng: Còn đây là cái thuẫn do tôi làm rất chắc chắn, có thể ngăn cản mọi thứ khí giới đâm vào.

Có người đứng nghe anh ta nói vậy thì hỏi: Nay nếu dùng cái mâu của anh mà đâm cái thuẫn của anh thì thế nào?

Người bán mâu và thuẫn không đáp lại được, bèn bỏ đi.

Do đó, mâu thuẫn là chỉ những điều trái ngược nhau.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Phương pháp giáo hóa nhơn sanh nơi mặt địa cầu nầy còn có nhiều điều mâu thuẫn.

 

 

MẦU NHIỆM

E: Mysterious.
F: Miraculeux.

Lời Thầy: "Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy, thì trên qủa địa-cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả. Lại có lắm kẻ đáng thương hại lại tự-phụ rằng họ hiểu thấu cả lẽ mầu-nhiệm của Ðấng Tạo-Hóa. Nhưng Thầy không bao giờ cho một kẻ nào dưới cõi trần nầy tiết lậu Thiên cơ cả. Muốn đến Thầy thì phải cầu nguyện. Thầy không bao giờ không cảm ứng với những lời cầu nguyện chơn-thành. Như thế đủ chứng tỏ cho các con tin rằng Thầy là Ðức Jéhovah của dân Hébreux vị chủ tể của quân-lực dân Israel, vị Thánh vô danh của dân Do-Thái, Ðức Ðại-Từ-phụ của chúa Jésus Cứu Thế. Con chỉ cần cầu nguyện Thầy với danh hiệu Cao-Ðài thì sẽ có sự cảm ứng chấp thuận."

Đức Hộ-Pháp xác nhận: Đạo "Là cơ mầu nhiệm, mà cơ mầu nhiệm ấy phải làm ra thế nào có hình thể như một con đường dẫn người ra khỏi chốn trầm luân khổ hải, lại đặng phước siêu phàm nhập Thánh. Ấy vậy: Giết người không phải tuyệt sanh mạng của loài người như đốn cây chẳng là giết chết cây, mà là làm cho nó sanh chồi nẩy tược, kẻ làm ác nó tưởng giết là hết, không thể như thế được, chúng ta sẽ còn thấy tấn tuồng nhơn quả.

 

 

MẪU HẬU (Phật Mẫu)

母 后
E: Buddha-Mother.
F: Bouddha-Mère.

Mẫu: Mẹ. Hậu: vua.

Nơi cõi thiêng liêng, các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật gọi Đức Diêu Trì Kim Mẫu là Mẫu Hậu hay Thiên Hậu.

Mẫu Hậu là Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Đức Phật Mẫu, Đại Từ Mẫu, bà Mẹ thiêngliêng của toàn cả Vạn linh và chúng sanh.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Lịnh Mẫu Hậu khai tông định Đạo."

 

 

MẪU THÂN

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Đầu cúi lạy Mẫu thân linh hiển,
"Lễ muối dưa làm miếng hiếu tâm."

 

 

MÂY KHỎA ĐẢNH THẦN

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Nương lấy bóng tòng quân mượn tiếng,
Đã đeo mang lấy miếng hồng quần.
Đừng ham mây khỏa đảnh Thần,
Nhớ cơn lỗi đạo tảo tần mai xưa.

 

 

MẸ

Đức Hộ-Pháp thuyết: "Buổi nọ, Đức Phật-Mẫu nói: Ngày nào Bà Thân của Đức Thượng-Phẩm qui vị là ngày ấy thành Đạo: trước ngày Vía ấy Đức Phật-Mẫu giảng Đạo có dùng tiếng "MẸ" CON xưng hô cùng ta tức là ngày thành Đạo nhằm Lễ Trung-Thu. Trước kia Đức Lý Giáo-Tông không nói rõ nhưng chúng ta cũng hiểu là: Cao-Đài đã thành QUỐC ĐẠO"! Trong giây phút đây Cao-Đài đã được đưa vào Đạo-sử, toàn nhân sanh đều thấy Phật-Mẫu đến in ấn thiêng-liêng định thành nền Quốc Đạo của chúng ta vậy…"Phật-Mẫu chẳng những là Mẹ của nhơn-loại mà thôi, mà còn là Mẹ của toàn vạn loại nữa: không có một vật-chất hữu hình nào sản xuất mà không do tay Phật Mẫu."

 

 

MÈO MẢ GÀ ĐỒNG

Mèo là con vật bốn chân, thường nuôi trong nhà để làm tranh cảnh, trang trí. Vì mèo hay làm dáng, nũng nịu, dễ thương hơn các con vật khác, nó thích lân la bên người và tương đối sạch sẽ hơn các giống thú khác. Nhưng khi đến thời động đực thì hay đến chỗ vắng vẻ như động mã chẳng hạn để gặp nhau mà lại còn kêu lên vang hồi. Còn gà là loại gia cầm, việc giao cấu thì bất kể lúc nào và ở đâu. Thành ngữ "Mèo mả gà đồng" là chỉ sự hoa nguyệt của con người bừa bải, cẩu thả, như con vật nhiều thú tính. Lời chê trách: là một thói xấu.

Kinh Sám Hối có câu:

"Gái tiết-hạnh giữ tròn danh giá,
"Chớ học đòi mèo mả gà đồng."

 

 

MÊ ĐỒ


E: The way of error.
F: La voie de l’erreur.

(: là không tỉnh. Phân tích chữ Mê thấy có hai phần: bên phải là chữ Mễ : gạo, là vật chất; bên trái là bộ Sước là con đường, vậy mê là chỉ biết duy nhất có con đường vật chất, như ăn uống mà thôi. Đồ: đường). Mê đồ 迷途 là Đường mê, tức là con đường u-mê, khiến người lầm lạc.

Con người vì vô minh bị thất tình lục dục xuôi khiến nên lầm lạc mà sa vào đường mê muội, là con đường dẫn đến luân hồi sanh tử. Muốn được giải thoát thì con người phải phá bức màn vô minh, tức là kềm chế lục dục thất tình, hầu vượt ra vòng phiền não, thoát khỏi mê đồ thì tâm tự nhiên sáng tỏ, gọi là giác ngộ.

Kinh Giải Oan có câu

"Cứ nương bóng CHÍ LINH soi bước,
"Gội mê đồ tắm nước MA HA."

 

 

MÊ HOẶC

E: To fascinate.
F: Fasciner.

Thầy than: "Ôi! Thảm thay! Thảm thay! Các mối Ðạo Thầy đã liều thân lập thành đều vào tay Chúa Quỉ hết, nó mê hoặc các con. Nhiều bậc Thiên-Tiên còn đọa; huống lựa là các chơn thần khác của Thầy đương nắn đúc thế nào thoát khỏi" Nhưng: "Cái nền Chơn Giáo của Đức Chí Tôn vẫn là đường đường ngay chánh, nhứt định về thể pháp Chơn truyền, không hề mê hoặc ai cả thảy". Và Bần Đạo cũng quả quyết rằng: Những phương pháp mê hoặc của thiên hạ về Đạo lý sẽ bị Chơn truyền của Đức Chí Tôn từ từ tiêu diệt hết".

 

 

MÊ HOẶC VỀ CƠ BÚT

Tờ phúc-sự của vị Phái-Viên Phổ-Tế Lê-Văn Ninh, về khoản Phối-Sư Tài và Phối-Sư Phấn lập Cơ Qui nhứt tại chùa Ninh-Tân Sài Gòn.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Ninh rất xứng-đáng đảm-nhiệm trách-vụ Phổ-tế, Bần Đạo tư cho Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài và Hiệp Thiên-Đài cho ý-định về sự yêu-cầu của Ninh, nhứt là sự quyết-định của vị Phối-Sư Phổ-tế Thượng-Trí Thanh. Một mặt khác Bần-Đạo ra lịnh cho Bộ Pháp-Chánh minh-tra hành-tàng của Phấn và của Tài đã dùng phương mê hoặc về Cơ-Bút mà tiếp-tục phương chước của Tả-đạo Bàn Môn, minh-tra đủ chứng cớ đặng Bần Đạo quyết-định. Tuy vẫn hành-tàng của họ đối với Đạo và đối với Bần Đạo không trọng hệ chi cả, nhưng các linh-hồn bị cám-dỗ sẽ bị đoạ-lạc rất thương-xót. Còn Phấn và Tài tại nơi số-mạng của họ cũng như Bảy và Chữ kia vậy, thì phương nào mình có đủ quyền-năng nơi cõi tục này mà cải hóa Thiên Điều cho đặng. Tội-nghiệp thay cho họ, tưởng họ sống hoài đặng đeo đuổi theo đảng-phái của họ hoài đặng. Cái chết của họ gần mà Thánh-ân đã cất mất là một kiếp sanh rất nên vô-phước. [ HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

MÊ MUỘI

 
E: Obscure.
F: Obscur.

Mê muội : tối tâm.

Đức Lý dạy: Ngày 18-1-Đinh Mão (dl: 19-2-1927)

"Chẳng vì Thánh Thất, Như Nhãn phản ngôn mà trễ phổ thông Thánh giáo. Cười…Đã hiểu đời còn mê muội, chẳng phân đặng chơn giả thế nào, thảm thay! Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn (phái Thái) dám cả gan nghịch Thiên mà phải đọa trầm luân muôn kiếp, xét đến công tu, khó ngăn giọt lụy."

 

 

MÊ NGỘ

迷 悟
E: Blindness and knowledge.
F: Aveuglement et connaissance.

: Lầm lạc. Ngộ: giác ngộ, hiểu biết rõ. Mê và Ngộ là hai trạng thái đối ngược nhau: Mê là tối tăm, lầm lạc; Ngộ là sáng suốt, hiểu biết rõ (còn tối tâm chưa hiểu biết rõ ràng. Trái với "mê ngộ" là tỏ ngộ).

Do đó, trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng có nói: "Cái Phật tánh của người ngu hay kẻ trí đều như nhau, chỉ khác nhau là người mê, kẻ ngộ, bởi vậy nên mới có người ngu, kẻ trí."

Kẻ mê thì đồ theo văn tự mà cầu lý, người ngộ thì do theo tâm mà biết ra. Kẻ mê thì tu tập nhơnduyên mà chờ phước quả, người ngộ thì thấy rõ tâm không tướng. Kẻ mê thì chấp sự vật, giữ lấy cái bổn ngã; người ngộ thì có đủ trí huệ ứng dụng, thấy ra từ trước. Kẻ ngu chấp không chấp có mà sanh ra bất thông; người trí thấy tánh, hiểu tướng mà linh thông.

Bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng:

"Mê, Phật là chúng sanh; Ngộ, chúng sanh là Phật.
Ngu, Phật là chúng sanh; Trí, chúng sanh là Phật.
Tâm lệch, Phật chúngsanh; Bình đẳng, chúng sanh Phật.
Một đời tâm mà lệch, Phật lấp trong chúng sanh.
Một niệm ngộ bình đẳng thì chúng sanh là Phật.
Tâm mình tự có Phật, Tự Phật là Chơn Phật.
Nếu mình không Phật tâm, biết cầu Phật ở đâu?"

 

 

MÊ TÂN

迷 津
E: The port of blindness.
F: Le port de l’aveuglement.

: Mê trái với Ngộ. Tân: cái bến sông. Mê tân là bến mê, nơi chúng sanh còn mê muội (Bến mê, chỗ làm cho người ta sai lầm). Trái với Mê tân là Giác ngạn (bờ giác).

Ở bến mê thì còn bị luân hồi, qua bờ giác thì được giải thoát. Người phước đức khi tới bến mê thì được thuyền Bát Nhã đưa qua bờ giác.

Thể xác con người do vật chất tạo thành, lại được cấu thành do cái lòng dục của nam nữ, do đó con người lớn lên rất ham thích vật chất. Sự vô minh và dục vọng khiến con người lầm lạc, gây ra nhiều phiền não khổ đau.

Do đó, Đức Phật ví cõi trần là sông mê bể khổ. Sông mê thì có bến mê. Nếu con người biết giác ngộ, lo tu hành, tự giác giác tha, phụng sự chúng sanh, thì khi thoát xác, linh hồn và chơn thần được chiếc thuyền Bát Nhã đưa từ bến mê rước sang bờ giác, nơi đây hoàn toàn an vui hạnh phúc, không còn phiền não, thoát khỏi luân hồi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thuyền kề gió lướt thoát mê tân.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Chơn linh lắm chịu mê tân,
Sanh tiền khó hưởng phước lành Trời ban.
Rồi đây giặc giã khắp tràn,
Khiếm đường đạo đức chịu đàng Thiên tai.

 

 

MÊ TÍN


E: The superstition.
F: La superstition.

( là không tỉnh, phân tích ra thấy một bên là mễ tức nhiên là gạo, Bộ Sước là con đường hướng tới, là người chỉ biết nhu cầu vật chất thôi; Tín là tin tưởng họp bởi nhân và ngôn, nghĩa là lời nói đủ sức làm cho người ta tin). Mê tín là một lòng tin chỉ hướng về đường vật chất như ăn uống, hưởng thụ mà quên đi phần tâm linh, tinh thần, tức nhiên chỉ biết có một chiều mà thôi, không hoàn toàn (Tin tưởng một cách mù quán).

Đức Hộ-Pháp dạy: "Bần Đạo duy muốn làm Bạn với con cái Ngài, nên phẩm vị PHẬT SỐNG của Đức Chí Tôn để cho Bần Đạo mà Bần Đạo chưa có ngồi. Ấy vậy mê tín dị đoan trong cửa Đạo Cao Đài không có và không cần có, quả quyết hẳn vậy, nên đình lại Bí pháp chơn truyền, nếu thuyết ra là lấy cái quyền năng mê tín dị đoan mà thắng thiên hạ là một điều hèn nhát nên Bần Đạo không dùng, để khi nào dùng được Bần-Đạo sẽ dùng. Bần Đạo hứa chắc sẽ giáo hóa cho con cái Đức Chí Tôn mà thôi".

Đức Hộ Pháp nói về Cơ Bút như vầy: "Đại Từ Phụ một hôm kia than cùng Bần Đạo rằng: Thầy không phương nào đến cùng các con khác hơn Cơ Bút. Thầy còn trụ tinh ba chơn truyền của Ngũ Chi Đại Đạo mà làm cho chúng sanh hiểu Đạo một cách dễ dàng, nên phải dụng Cơ Bút giáo hóa. Hễ mọi điều chi có hữu ích thì nó có hữu hại, sau nầy Thầy e Cơ Bút sẽ hại cho Nhơn sanh mê tín dị đoan, cũng bởi vì nó quá ham phẩm vị, nào là thành Tiên, hiển Phật, nào là xưng Thánh hô Thần, xúi dục tánh ham gần mộng mị. Lời tiên tri nầy ngày nay đã có kết quả".

Tại Đền Thánh ngày 15-01 năm Tân Mão (1951)

Kể từ ngày 16 tháng giêng năm Tân Mão, tức là ngày mai đây Bần Đạo nhập vào Trí Huệ Cung…Bần-Đạo xin cho cả thảy con cái Đức Chí-Tôn biết rằng: Nền Đạo Cao Đài Đức CHÍ TÔN đến lập, do nơi chơn lý tối cao, chính mình Đức Chí Tôn đến để diệt mê tín dị đoan, Ngài chỉ đem đến nền Đạo chơn chánh này mà thôi. Nó có hai quyền năng sở hữu của nó nơi mặt thế này, cả hành tàng sống chết của nó đều chịu dưới hệ thống của hai quyền năng. Sống về xác thịt của ta đây, có thời gian sống của nó, từ buổi sanh ra đến lớn lên, đến già rồi chết, luật thiên nhiên ấy không ai qua khỏi, luật thiên nhiên có giới hạn, có định luật chuẩn thằng cho kiếp sống của chúng ta, nơi mặt thế gian này là hình thể, còn về mặt chơn linh của chúng ta, tức nhiên hồn của chúng ta phải chịu hệ thống dưới quyền vi chủ của nó, mà người làm chủ của nó không ai khác hơn là Đại Từ Phụ tức nhiên Thượng Đế.

Nhơn loại mê tín dị đoan đã nhiều rồi, tinh thần loài người đã bị gạt gẫm nhiều rồi, bởi thế không gạt được nữa. Chỉ có hai quyền năng ấy, không còn có mặt luật nào khác hơn nữa, ta chỉ tùng hai quyền năng ấy mà thôi, ngoài ra là giả dối.

Bần Đạo vào Trí Huệ Cung tịnh luyện, điều ấy không nói được Đức Chí Tôn cho cùng không, chính Bần Đạo cũng không biết được. Ngài ban cho chúng ta cùng chăng là do hồng ân đặc biệt của Ngài mà thôi, ấy là lời Bần Đạo giải nghĩa về mê tín dị đoan cho toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu này vậy".

 

 

MỀ ĐAI (BẮC ĐẨU BỘI TINH)

F: Médaille.

Chính vì cái "Médaille điều" của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung cũng làm nổi bật một tinh thần luôn đấu tranh về mặt tư tưởng giữa người bị trị và một Chánh phủ cai trị của thời thực dân Pháp. Khi làm Lễ vía Trời vừa xong, thì Ông liền viết một bức thơ gởi cho Chánh phủ mà xin trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh lại.

Vì sao Đức Quyền Giáo-Tông trả Bắc-Đẩu bội tinh?

"Ông Lê Văn Trung, nguyên Thượng Nghị Viện thưởng thọ Bắc Ðẩu Bửu Tinh, Giáo Tông Đạo Cao Ðài, lại do hai cái án "tuần cảnh" phạt hai tên đánh xe bò của Tòa Thánh về tội không thắp đèn và bò thiếu dây buộc ách mà phải bị bắt vô chịu tù ở khám đường Tây-Ninh. Ngày Ông vô khám nhằm lễ Khai hạ, mồng bảy Tết năm Giáp Tuất (1934) trước Vía Trời vài ba bữa. Tôi còn nhớ khi sơn đầm đem hai bổn sao lục của hai cái án nói trên đây vô Giáo-Tông-Ðường đặng bắt Ông ra Tòa Bố Tây Ninh, thì ông chậm rãi, khăn áo chỉnh tề, mang Bắc-Ðẩu Bửu-Tinh và huy hiệu Giáo-Tông vào rồi đi theo sai nha không nói một tiếng chi khác hơn là dặn các Giáo Hữu, các Tín đồ hãy yên lặng mà lo việc cúng Vía. Mấy ngày Ông ngồi trong khám, ngoài Tòa Thánh từ các Chức Sắc cho đến Tín đồ họ đều nhịn đói mà chờ Ông. Mãn hạn ba ngày, Ông về Tòa Thánh, Chức Sắc, Tín đồ người thì khóc, kẻ ôm tay Ông hun, Ông xem cũng như tuồng có ý cảm động nhiều hơn trong những dịp khác.

THƠ CỦA ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG
Gởi cho Giám Quốc Pháp trả Bắc Đẩu Bội Tinh

Bản phiên dịch Việt văn.

Thưa Ông, Tôi xin hoàn lại nơi tay ông cái Médaille điều của Chánh-phủ Pháp ban thưởng cho Tôi hồi năm 1912.

Ra làm việc quan trong 12 năm, ai ai cũng đều mến yêu và khen ngợi, làm Hội đồng Quản Hạt trong 8 năm, lại có chưn trong ban Hội đồng Thượng Thơ Ðông Dương được 12 năm, cả thảy là 32 năm trời. Tôi lấy lòng trung thành lo việc cho Quốc Pháp nên mới có một cái vinh diệu xứng đáng như thế. Nhiệm vụ của Tôi đối với đời đã mãn hạn, Tôi sắp sửa về nghỉ an dưỡng lão. Bỗng chốc Ðức Chí Tôn gọi Tôi ra gánh vác nền Ðạo-đức để dung hợp cái Giáo lý với thế gian, hầu gieo khắp trên võ trụ, sự ham muốn điều qui thiện và lòng yêu thương đồng loại, sự nhiệt thành đạo đức đặng cho loài người biết công lý và quả báo tương lai. Trót 8 năm nay, Tôi nhiệt tâm mưu kết sự Thương-yêu, tình nhân loại trong các chủng tộc, vì Tôi đây nhận chắc Giáo lý tân khai nầy để làm tài liệu cho chúng sanh bước lên Hòa-bình Thế-giới. Ðạo Cao-Ðài ngày nay tính ra trên một triệu Tín đồ, phần nhiều là người Việt Nam, còn bao nhiêu người Langsa, người Cao-Miên, người Lào, người Sơn-cước và người Tàu; có lẽ Chánh phủ thuộc địa chưa có hiểu tâm lý của chúng tôi, cho nên Tín-đồ của Ðức Chí Tôn thường thường bị người bạc đãi áp chế một cách vô lý, mỗi lần chúng tôi yêu cầu xin xỏ điều chi, thì mỗi lần Chánh phủ lấy võ lực can thiệp khuấy rối người hành đạo. Trong thời buổi nầy Chánh phủ lại dùng đủ phương sách để đánh đổ người đứng ra sáng lập nền Giáo lý của Ðức Chí Tôn. Tôi xin trích lục nhiều đoạn tôi đã viết một cái thơ gởi cho Tham Biện Vilmont ở Tây Ninh: Ông đã làm ăng-kết (enquête) rồi, vậy xin ông cho chúng tôi biết chừng nào mãn cái qui định Cúng tế đã tổ chức ra đây. Còn những chuyện lôi thôi mà ông đã lược thuật cho tôi biết trong thơ của ông, tôi xin lỗi, chớ phải chi ông cố cập đến tôi một chút ít, nghĩa là: Nếu ông không nhìn nhận Tôi là Giáo-Tông, thì ít nữa cũng nhìn nhận Tôi là chủ Thánh Thất Long-Thành, thì đâu có xảy ra mấy vụ lôi thôi như thế.

Vả lại chúng tôi đây, không phải là người tổ chức các vụ ấy, cuộc hội nghị tại Thánh Thất, rồi ông có lòng khinh khi miệt thị một người tôi tớ trung thành lão nhược của Chánh-phủ Pháp, người tớ ấy tức là Tôi đây, mà ngặt nỗi Tôi đây có cái hân hạnh được Chánh-phủ Pháp ban thưởng Médaille điều, Tôi vì mạng lịnh của Ðức Chí-Tôn mà tận tâm mưu công ích cho hai nước Pháp Việt, cho dân tộc được đề huề một cách chơn thật, cùng sống mà hưởng lợi quyền như nhau, mà ngày nay lại thấy thân giam hãm vào trong nghịch cảnh nầy, thì thật là khổ tâm cho Tôi là dường nào? Tôi viết thơ phân trần mọi lẽ mà Chánh phủ đáp lại bằng cách bạo ngược. Mới rồi đây, hôm ngày 22 tháng 2, có 34 người Ðạo của Tôi thiếu thuế mà Chánh phủ lại bắt bỏ tù Tôi, một ông già 60 tuổi có mày-đai điều, vô cớ ngồi tù hai ngày giữa mặt Chánh phủ thuộc địa.

Vậy cái Médaille quí báu kia có giá trị gì?- Vậy lỗi ấy do bởi Chánh phủ Pháp Quốc không biết chọn người cho xứng đáng. Kể từ đây Tôi không muốn theo cái danh vị gì nữa, danh vị dầu cao trọng thế mấy, Chánh phủ thuộc địa coi cũng không ra gì, mà lại không thể chứng cái lòng trìu mến của Tôi đối với nước Pháp. Tuy nhiên, Tôi cũng vẫn còn hy vọng đến ông Thần công lý của Pháp Quốc mà bấy lâu thiên chức của Tôi, hầu có ngày tự biết điều quấy của mình và rõ thấy Ðạo Cao Ðài không ngoài cái mục đích đem Thế-giới lên con đường Hòa-bình và thân ái. Kính chào ông.

LÊ VĂN TRUNG

 

 

MẾN VỊ THAM QUYỀN

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Vậy nên mới sanh ra đố kỵ,
Tưởng rằng đây mến vị tham quyền!
Đem lòng ghét ngõ ghen hiền,
Đồn ra ngưng chức ngưng quyền làm reo.

 

 

MỄNH (MANG)

Con Mang hay còn gọi là con Mễnh là con vật đem điềm bất thường, báo hung tin đến cho người khi nó xuất hiện.

Nơi Toà Thánh Tây Ninh có xảy ra nhiều trường hợp có sự xuất hiện của con Mễnh:

- Trong năm Đinh Dậu (1957): Trước cuộc biến thiên, Chức Sắc bị thâu quyền chức, lúc đó có con Mễnh chạy vào Tòa Nội Chánh, đụng đầu vô cột chảy máu, rồi chạy ra Quốc Lộ số 13, bị dân bắt làm thịt Đức Hộ Pháp có Lời Phê như:

"Con Mang đem tin tại Nội Chánh đã tỏ ra rằng cơ khảo đảo do căn nguyên nơi Nội Chánh. Nếu ta tin nơi quyền năng Thiêng Liêng thì ta có thể nói rằng: Nếu không có quyền năng vô đối của Đức Chí Tôn thì cả Chức Sắc Cửu Trùng Đài nơi Nội Chánh bị nạn tiêu diệt mà chớ, chẳng phải như thế mà thôi! Vậy Bần-Đạo nói: Cơ khảo đảo ngưng cả quyền tước của Chức-Sắc Thiên-Phong là cốt trừ cái nạn diệt vong của Nội Chánh. Vậy Bần Đạo khuyên họ ráng chịu cho tới ngày Bần Đạo trở về nước" (Ngày 01-01-Đinh Dậu)

Quả nhiên đến năm Giáp Thìn (1964), 10 vị Đại Thiên Phong từ Phối Sư đến Giáo Hữu: năm ông hồi hưu dưỡng lão, 5 ông bị ngưng quyền chức ngày 15-4-Đinh Dậu (dl 26-5-1964). Nhưng theo câu chót thì Lời Phê nầy vẫn còn hiệu lực cho đến ngày Đức Hộ Pháp trở về nước nhà, các tai nạn mới chấm dứt.

Còn hai trường hợp nữa cũng do con Mễnh đem tin chẳng lành:

- Năm Mậu Tuất (1959), một con Mễnh chạy vào Nội Ô bị té giếng. Sau đó Ông Ngọc Hoài Thanh bị Giáng Ma Xử của Đức Hộ-Pháp chết.

- Một con Mễnh khác chạy vào Nội Ô năm Ất Mùi bị què chân, được Đức Hộ Pháp giải nạn đưa xuống Trí Huệ Cung bảo dưỡng, chờ đi được rồi phóng sanh, nên nạn tai được nhẹ.

Đó là sự biến trong cơ Đạo mà duyên khởi đều từ Tòa Nội Chánh nơi Toà-Thánh Tây-Ninh

 

 

MIỄN LỄ

免 禮
E: To dispense with formality.
F: Dispenser d’une formalité.

Miễn: khỏi, tha cho khỏi. Lễ: lễ nghi. Miễn lễ là cho phép khỏi phải giữ lễ nghi phép tắc (Khỏi giữ lễ).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Lão đến tư đường của Hộ Pháp, nên cho miễn lễ, đứng hết.

 

 

MIỀN BỒNG ĐẢO

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cõi Thanh-Thiên lên miền Bồng-Đảo,
"Động Thiên-Thai bảy lão đón đường.
"Cam-Lồ rưới giọt nhành dương
"Thất tình lục-dục như dường tiêu-tan."

 

 

MIỀN THÁNH VỨC

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
"Cõi Xích-Thiên vội mở ải-quan.
"Thiên-Quân diêu động linh-phan,
"Cả miền Thánh-vức nhộn-nhàng tiếp nghinh."

 

 

MIẾNG ĐỈNH CHUNG

(Xem thêm chữ Đỉnh Chung. Vần Đ.)

Miếng đỉnh chung là miếng mồi giàu sang. Ðỉnh chung là cái vạc và cái chuông. Mạnh Thường Quân ở nước Tề, giàu sang tột bực, có lòng chiêu hiền đãi sĩ, trong nhà luôn luôn có vài ngàn tân khách để lo bàn việc ích nước lợi dân, nên phải nấu cơm bằng vạc, khi mời ăn thì đánh chuông lên để báo hiệu.

Đức Lý dạy: "Ðặng bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới dìu dắt, rửa lỗi, mà chẳng bươn chải cho kịp thì, để đua nhau nghĩ tính về miếng đỉnh chung, nếu Thầy chẳng đại từ đại bi thì công quả đã chảy theo dòng nước. Từ đây Bần Đạo phải để ý dìu dắt bước đường cho các Đạo-hữu, phải gắng công thêm nữa cho hiệp với cơ Trời. Ai hữu phước thì địa vị đặng cao thêm, ai vô phần thì bị đọa Tam pháp. Phước phần cũng khó lựa người, rủi rủi may may đừng trách nơi Bần Đạo".

 

 

MIỆNG

Cái miệng con người dùng để ăn, để nói, một mình nó mà làm hai chức năng rất quan trọng. Chữ Hán gọi là Khẩu . Do đó khi ăn phải biết chọn thức ăn cho hợp vệ sinh, nếu không thì nó là con đường dẫn mầm bịnh vào gọi là "Bệnh tòng khẩu nhập".Nói phải cẩn ngôn, nếu không khéo thì cũng là con đường sinh ra mối họa, ấy là "Họa tòng khẩu xuất".

Đức Nguyệt Tâm than: "Sự hả! Cười…Linh tánh Chí Tôn đã cho nó hay trước rằng Bần Đạo sẽ phạt nó nên trốn mặt. Vì miệng nó mà Hộ Pháp chịu hàm oan, trốn tội sao cho khỏi. Những điều nghị luận vô trí của chư Đạo-hữu lúc nọ chẳng trúng vào đâu hết mà còn hại cho Thánh-Thất nơi đây bị truất bỏ, phần nhiều Đạo-hữu bị trục xuất là vì nhẹ tánh lầm nghe, nói đi nói lại mà ra đến đỗi ấy. Ôi! Hại thay cho cái miệng mà cũng giận thay cho phàm tánh đó chút. Nếu cả thế gian có đặng một người hiểu thấu cơ Trời thì Đạo không đến đỗi phải chịu bị bế lại gần mười ngàn năm nay nơi cõi Á Đông nầy vậy." Xem ra miệng cũng độc lắm vậy.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Suy thời dầu quí cũng ra hèn,
Nghiệp cả khuyên con lửa nhúm nhen.
Ðòi lúc phân vân đời vẫn thế,
Màng chi miệng độc để chê khen.

 

 

MIỂNG BÁT MIỂNG CHAI

Kinh Sám hối có câu:

"Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,
"Thấy trên đường miểng bát miểng chai."

 

 

MIÊU DUỆ

苖 裔
F: Descendants.

Miêu duệ 苖裔: Con cháu đời sau.

Đức Hộ Pháp giải thích: "Giáo chủ của Bạch Vân Động là Bạch-Vân Hòa Thượng, miêu duệ của Từ-Hàng Đạo-Nhơn, dòng dõi Đức Phật Quan Âm. Bạch Vân Hòa Thượng đã hai lần giáng trần ở Pháp và một lần ở Việt-Nam".

 

 

MIẾU BÀ TRƯƠNG (nhũ danh Võ thị Khiết) (Tên)

(Gương tiết liệt của người phụ nữ Việt Nam)

Đây là nói về cái Miếu bên đường dựng lên để thờ Bà Trương (chồng của Bà là họ Trương – theo tục lệ của người Việt Nam trước đây, thì phái nữ hoàn toàn lệ thuộc theo người chồng. Khi người con gái có chồng thì không còn gọi danh tánh của mình nữa, mà gọi theo Họ, Tên hoặc là theo thứ của người chồng mà thôi. Vì phái nữ thời ấy chịu nhiều luật buộc rất khó khăn, từ gia đình đến ngoài xã hội. Chỉ lo việc tề gia, nội trợ).

Tên thật của Bà là Võ Thị Khiết - chồng bà họ Trương nên gọi là Bà Trương- phải đi lính thú xa nhà. Bà ở nhà nuôi con dại một mình. Tối đến dỗ con ngủ thì chỉ bóng bà trên vách nói đó là cha của trẻ đã về và bảo con xá chào. Đến khi chàng Trương thực sự trở về, Bà lo đi chợ nấu nướng thức ăn đãi người đi xa mới về. Chàng Trương bồng con âu yếm, nói mình là cha thì đứa trẻ lắc đầu mà nói rằng "Ông không phải là cha tôi! Cha tôi đến tối mới về!". Chàng Trương uất lên vì nghi vợ mình phản bội, khi nàng về thì không tiếc lời trách mắng, dầu phân trần thế nào chàng cũng không nghe. Bà không còn biết làm sao tỏ nỗi oan ức nên đành nhảy xuống sông mà tự tử. Tối đến, khi thắp đèn lên thì cha nó mới đến, bấy giờ cha nó ngồi thì bóng ngồi, cha nó đi thì bóng đi theo. Đứa trẻ reo mừng "Á Cha tôi đã về kìa!" đứa trẻ chỉ bóng trên vách mà nói với chàng Trương. Chàng Trương mới rõ nguồn cơn, nhưng đã muộn rồi, ra mé sông chỗ vợ trầm mình lập một đàn chay, dựng Miếu lên để thờ, hầu giải oan cho vợ.

Một hôm, Vua Lê Thánh Tôn đi ngang qua đó, thấy Miếu thờ bà Trương, hỏi ra mới rõ sự tình, cảm kích gương tiết liệt của một người vợ chung tình chết oan.

Ông có đề bài thi "Miếu Bà Trương"

Nghi ngút đầu gành tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương?.
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng?
Chứng quả có đôi vừng nhựt nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương quá phụ phàng.

 

 

MIẾU ĐƯỜNG

Miếu đường cũng là Miếu đàng, đồng nghĩa với Thái miếu 太廟, Thế miếu 世廟, Tông miếu … tất cả đều chỉ nơi thờ tự Tổ tiên dòng họ của nhà vua.

Đức độ của vì Vua khi còn sống thì lo tính việc Vương Bá để giúp cho dân chúng và đất nước. Khi qui Thiên rồi về cõi Thiêng Liêng thì gầy dựng lại cái Tông miếu ấy về phần linh.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Sống thì định bá đồ vương,
"Qui Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa."

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Mày râu đứng giữa cõi trần-gian,
"Gắng sức chống cho vững miếu đàng.
"Phận gái Tam tùng cùng Tứ-đức,
"Tề-gia nội trợ vẹn là ngoan."

 

 

MINH (1)

(Minh là sự sáng, tức nhiên do hai chữ Nhật và Nguyệt hiệp lại gọi là Minh "Nhựt Nguyệt hiệp đồng Minh". Nhựt nguyệt đây là Tâm và Thận ta, Tâm là Ly, là hống. Thận là Khảm, là diên. Khảm Ly cũng là Huyền Tẩn tổng trì môn. Nếu hai thể được dung hòa, ký hiệp thì trí huệ tự khai. Con người khi Khảm (Thận) Ly (tâm) giao hòa thì sống, phân tán thì chết "Khảm Ly giao tắc sanh, phân tắc tử". Còn Huyền Tẩn ở đây là chỉ Âm Dương, Nhật Nguyệt (huyền là Dương, Tẩn là Âm), mà Nhựt nguyệt có hợp thì mới gọi là Minh. Muốn đắc Minh phải dùng tụ quang khai Thiên Nhãn. Khi hai con mắt duy nhất chú vào một điểm Thần quang thì chơn khí không còn phóng tán. Khi Thần được yên thì vọng thức khó sanh. Phép tụ quang là bước đầu của sơ cơ để hồi quang phản chiếu vào trung huỳnh đặt Nhãn tạng vào đấy thì hai khí: Tâm Thận triều viên, Khảm Ly giao hội, Thủy Hỏa Ký tế, Long Hổ qui triều.

Khi mà Nhựt nguyệt hiệp thành Minh thì khí Trung hòa huân kết thành ĐƠN. Đơn ở đây là thể hỗn nhất hồn dung không còn thấy được hình dáng của Nhựt nguyệt, đó là Minh đức, Minh linh, đạt đắc diệu lý vậy.

Chữ MINH ở đây là một bí quyết tối thượng, là chìa khóa mầu nhiệm mở cửa bí mật cho nguyên căn, sớm đặng nhập Thánh siêu phàm, tạo Tiên tác Phật"

(Trích Trung Thiên Dịch –Trần Cao Vân- Trang 374).

 

 

MINH (Hòa Thượng Thiện Minh) (Tên)

Hòa Thượng Thiện Minh, học trò của Hòa Thượng Như Nhãn. Ðức Chí Tôn phong Ngài Thiện Minh là Ðầu Sư Thái Minh Tinh (phái Thái). (Xem Hòa Thượng Thiện Minh)

 

 

MINH CẢNH ĐÀI (Minh Kính Đài)

Đức Hộ-Pháp nói: "Khi chúng ta đến hào quang chiếu diệu xông lên làm như ngọn lửa vậy. Lửa ấy chẳng phải là lửa thật, nó là hào quang, cho ta thấy trước rồi nó biến mất đi, kế thấy một cây Cân Công-Bình hiện ra trước mắt chúng ta rồi cũng từ từ biến mất. Chúng ta thấy mình chẳng khác nào như khán-giả đứng trước Đài kia coi cả kiếp sanh chúng ta từ trước nó sẽ có trước mắt chúng ta, không điều gì sót, phải chăng nơi ấy kinh Phật nói là Minh-Cảnh-Đài? Chớ không phải kiếng, trước mặt chúng ta, chúng ta thấy, khi trước chúng ta làm những việc gì nay nó sẽ chiếu lại cho xem chẳng khác gì như mình xem tuồng hát bóng vậy. Mỗi khi mình hành-động gì trong kiếp sanh khi xưa, hôm nay đều ngó thấy trước mặt và Cân ấy tùy theo nên, hư, tội phước mà hiện tượng ra hết thảy, quyết đoán một cách công-bình không sai chút nào hết, phải chăng đó là huyền-bí của Tòa Thiêng-Liêng ấy. Vậy hành tàng đã có trước mắt, luật Tam-Giáo chẳng hề sai chạy. Kiếp sanh đã làm gì Đời hay Đạo, mặt Luật Thiêng-Liêng không sót một điều, chúng ta muốn coi cái Bí-Pháp sửa trị ra sao, đi vô đó thì biết."

 

 

MINH CHÁNH


E: Clear and straigh.
F: Clair et droit.

Kinh Sám hối có câu:

"Gìn lòng ngay thẳng thật-thà,
"Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn."

 

 

MINH CHƠN LÝ - MỸ THO (Chi Phái)

Phái Minh Chơn Lý thành lập vào năm (1931) Minh Chơn Lý, đứng đầu là ông Nguyễn Văn Ca (Phối Sư Thái Ca Thanh) ở Mỹ Tho. Ngài Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron kể ra 11 Chi phái vào năm 1948 (trang 174). Theo tài liệu nầy thì Ông Gabriel Gobron nhận Tòa Thánh Tây Ninh là gốc và đây là cái gốc của Ðạo, cái gốc thì sanh ra các nhánh, từ nơi đây mà biến chất thành Chi phái. Theo ông Quế: Minh Chơn Lý, với chư quí Ngài: Ca, Phùng.

Đáng thương thay! Đạo Trời khai dạy rõ phương tu tắt như vậy mà vẫn chê, tìm cách tu bướng, thật là bức tranh "Thả mồi bắt bóng" mà thôi. Minh Chơn Lý Mỹ Tho ngày nay đã thu hẹp nhiều và gồm hai phân chi: Chi Chân lý Cầu Vỹ (Minh Chơn Lý cũ) và Tòa Thánh Cao Ðài Việt Nam tại Bến Tranh.

Phối Sư Thái-Ca-Thanh lập phái Minh Chơn Lý:

Sau đây, xin trích một đoạn trong quyển Lịch Sử Cao Ðài Quyển 2 của Ðồng Tân, trang 391-395:

"Thế là một phái nữa thành hình, ban đầu lấy tên là Ðại Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Độ Minh Lý Hội, sau đổi thành Minh Chơn Lý Hiệp Ngũ Chi. Những việc ông Ca làm buổi ban sơ xem cũng có mòi xây dựng, nhưng qua năm 1935, Chưởng quản Hiệp Thiên-Ðài (của Chi phái) là Thiên Sư Nguyễn Hữu Phùng chấp cơ sửa đổi hết cách thờ phượng, lễ bái, nghi tiết, đổi sự thờ Thiên Nhãn bằng Trái Tim và Thập ngũ Linh Ðăng. Vì lẽ ấy mà phần lớn Chức sắc, một số trở về Cầu Kho giữ nguyên gốc cũ làm thành nhóm bảo thủ, còn một số thì hợp tác với phái Tiên Thiên. Minh Chơn Ðạo cũng nảy sinh khi phái Minh Chơn Lý bắt đầu đi sâu vào Tà phái.

Việc ông Ca tách ra thành hình phái Minh Chơn Lý là cơ đại khảo trong đạo, nhưng cũng do nghiệp báo của ông, nên sự canh cải làm cho thất chơn truyền là một sự nguy hại cho ông và cho phái ông rất nhiều. Ðể chứng minh điều nầy, ta hãy xem bài Cơ bút sau đây đã giải thích huyền vi Thiên Nhãn một cách rất tà mị, dù người kém chữ nghĩa đến đâu cũng không thể hiểu như vậy được.

Bài trích trong tập Ðuốc Chơn Lý, do Tòa Thánh Ðịnh Tường (Minh Chơn Lý,Cầu Vỹ) xuất bản năm 1955:

" VÔ VI HIỆP THIÊN ÐÀI

Ngày 19 tháng 8 âm lịch 1938 (7 giờ tối)

- Ðược! Con nghe Thầy dặn, nay Thầy giải nghĩa câu: Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quan chủ tể, quan thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã dã.

Trước Thầy có hứa sau Thầy sẽ chỉ rành là đợi cho đến ngày nay là đúng Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thầy phải giải cho rành cho cả thảy đặng hay kẻo nhiều đứa nó ước ao trông đợi. Thêm vào sự canh cải đó, Minh Chơn Lý gọi Cửu Trùng Ðài và Hiệp Thiên Ðài là hai phẩm tước chớ không phải là hai cơ quan như trong Pháp Chánh Truyền, cho rằng hai chức nầy hiệp với Ðức Chí Tôn làm thành một cái gọi là Tam Thân Hiệp Nhứt. Những phẩm Chức sắc trên Chánh Phối Sư còn có Thiên Sư, Tứ Bửu, Ðầu Sư, Cửu Trùng Ðài, Tam Tôn. Kinh sách thì sửa đổi hầu hết, không theo như cũ, tuy giọng đọc na ná như trước.

Tệ hại hơn nữa là Minh Chơn Lý đã xóa bỏ nguồn cội nền Ðạo. Cơ bút của Minh Chơn Lý dạy như sau:

"Thầy xuống lập đạo có một mình Thầy hiệp với hai Chưởng quản, một là Lê Văn Ðược làm chức Hiệp Thiên Ðài (hồn) của Ðạo, là bậc Chơn như có Phật Hàng Long hiệp mới thành chánh vị Tam Tôn chủ tam hồn, đội áo Khai Thiên (12 thước vải trắng) đứng trên ngọc ỷ, phía trước mặt kế bên án có ông Cửu Trùng Ðài Nguyễn Văn Ca là xác của Ðạo. Ðạo có một xác một hồn mà thôi. Cửu Trùng Ðài nhờ chuyển kiếp 9 lần mới hiệp cùng Phật An Thiên nên Thánh danh kêu là Bửu An Thiên 18 năm, trong thời gian ấy chịu trả vay nhiều nỗi. Còn ai bày ra Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài là hồn ma xác quỉ, đó là giả dối." (Trích trong Ðuốc Chơn Lý số 51 trang 97)

Vì sự canh cải Chơn truyền Luật pháp nên Minh Chơn Lý tuy hấp dẫn được một số Chức sắc Ðại Thiên phong buổi đầu, nhưng sau nầy lại trở thành một tệ đoan lớn lao hơn hết trong sự phân tán nhà Ðạo. Do đó, có thể nói rằng, phái Minh Chơn Lý, ngay sau khi tự canh cải Chơn truyền, thờ phụng, đã không còn là Ðạo Cao Ðài nữa, như thế phái nầy không tránh khỏi bàn tay Tà Thần"

Theo lời các tiền bối kể lại, nguyên căn của Phối Sư Thái Ca Thanh là Ðộc Giác Thanh Ngưu của Ðức Lão Tử giáng phàm, Truyền Trạng Phạm Văn Ngọ là Từ Giáp giáng phàm. Thanh Ngưu ở với Ðức Lão Tử lâu năm nên có nhiều phép biến hóa huyền diệu, xem truyện Ðông Du Bát Tiên thì rõ. Nguyên khi Ðốc Phủ Ca làm Quận Trưởng Châu Ðốc, ông vâng lịnh Thực dân Pháp ruồng bố các nhóm Cách Mạng chống Pháp đang lập căn cứ trong Thất Sơn, giết chết ông Cử Ða và bắt học trò của Cử Ða là Bảy Do giao cho Pháp xử tử. Linh hồn Bảy Do lên kiện nơi Ngọc Hư Cung. Ngọc Hư Cung cho phép ông Bảy Do báo oán và giao phận sự giục loạn trong nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn để trục ngoại các thành phần phản đạo, rửa ráy hàng ngũ Chức Sắc cho trong sạch.

Ngày 21-7-1934, tại Phạm Nghiệp, Ðức Hộ Pháp cùng Ngài Cao Tiếp Ðạo phò loan, ông Bảy Do nhập cơ:

BẢY DO

Kính chào chư vị Ðại Ðức và chư Ðạo hữu,

- Xin cho biết phẩm vị.

- Thần. Thầy của Bần tăng mắc chuyển cơ đặng giáo hóa TRANG, TƯƠNG, nên đến không đặng, mới sai Bần tăng thưa lại cùng chư quí vị.

Thưa Ðức Hộ Pháp, Bần tăng lấy làm bất nguyện vì buổi nọ Ngọc Hư Cung ban lịnh cho trừ diệt Phủ CA đặng báo oán. Bần Tăng đã dụ nó vào Cấm Sơn và định đưa luôn vào ngục thất đặng sát hại, nào dè có lịnh Chí Tôn mật chỉ không cho sát mạng. Sau, Bần Tăng muốn nhập thể nó làm cho nó điên cuồng rồi bắt nó tự ải, nào dè Chí Tôn lại binh vực cấm ngăn thêm nữa, chỉ cho hành bịnh mà thôi. Nay nó bị điêu tàn cơ giả Ðạo nên mang bịnh thất tình, tưởng khi Bần Tăng cũng còn phương tẩy hận. Ngài nín nẩm lóng tin thì hiểu rõ hành tàng mọi lẽ. Còn hai người TRANG, TƯƠNG thì Ngọc Hư Cung cho khảo. Thần đặng phép thử, khử tà trừ trược đủ ba năm khảo án, rồi dạy dỗ cho nó trung tâm, rồi cho trở lại Hội Thánh.

- Không. Cười…Hạng Thiên Thánh mà vào phẩm Ðầu Sư sao đặng. Bần Tăng tưởng khi Ngài hiểu điều ấy chán chường, chẳng cần để luận. Họ chỉ lãnh Hàm phong là may mắn lắm đó." (Theo tài liệu sưu tập của Quang Minh)

Đức Hộ-Pháp viết trong bài Diễn văn ngày 15-07-Nhâm Thân (dl: 16-08-1932) vè các phái phản Đạo rằng:

"Họ còn vu oan cho Tệ Đệ rằng trai trên gái dưới cho đến có con đem về làng nuôi dưỡng. Không biết có vậy hay không, chư Đạo hữu ráng kiếm cho ra lẽ thiệt giùm cho Tệ Đệ. Hỏi họ dám vu oan dường ấy thì có chi hơn mà họ lại chối từ. Nhưng mà xin chư Đạo hữu cũng đừng phiền, vì mỗi người tu mỗi điệu, mình cũng không nên kiếm hiểu mà làm gì, anh em chúng ta xúm nhau xin họ điều nầy, thôi thì đành nhìn nhận rằng Ông Trời của họ là khác, còn Ông Trời mình vốn khác. Xúm nhau lạy lục đặng cầu nài, họ đã gọi rằng thờ "Thần Chơn Lý" thì bớt lời hồ mị mà cáo gian, vì sợ e người rõ hành tàng mà phải sửa tên là "Giả Lý". Chúng sanh trong thời kỳ tấn hóa nầy phải phấn đấu đua tranh, giựt giựt giành giành, gây thù kết oán cùng nhau khi cũng đã nhiều. Trong trường danh lợi chỉ biết sát phạt nghịch thù chớ lòng ái vật yêu nhân đã mất biệt. Lương tâm của mỗi người, trừ ra lúc chiến đấu, thì họ vốn quên mình, chớ khi nằm nghỉ đặng đôi chút hoặc khi mỏi mệt mà tự tỉnh, hoặc khi suy gẫm canh khuya, hoặc là ngộ cảnh bi ai mà nghĩ nghị, thì ai cũng biết rằng cái thời đại cạnh tranh nầy đã diệt tàn ái chủng. Vì cớ mà ngày Đại Từ Phụ đến thâu anh em ta thì Người chỉ dùng có bốn chữ của toàn cả nhơn sanh ngưỡng vọng là "TỪ BI - BÁC ÁÍ" của Người đặng làm phép nhiệm mầu thâu tâm thiên hạ. Cái mạnh của Đại Từ Phụ là cái lòng thương vô tận của Người. Bởi vậy cho nên chẳng bao lâu mà chúng sanh theo Người hằng hà sa số. Sao mà theo?

Tại khao khát cái tình thân ái liên lạc cùng nhau mà theo Thầy. Hại thay! Từ ngày "Minh Chơn Lý" thêm vô Hiệp Ngũ Chi ra mặt thì dùng phương phản loạn mà lập thế lực cho mình, nên làm cho chư Đạo hữu phản khắc lẫn nhau, đến đỗi đã bước chơn vào cửa Đạo mà hỡi còn gây thù kết oán hại nhau. Thật là họ đã phá tan cơ sở của Chí Tôn và đập nát công trình của Người mấy năm un đúc tâm lý con cái của Người. Cái tội tình ấy là thế nào, chư Đạo hữu để mắt xem tương lai sẽ thấy. Có làm mới biết tay thợ (à l’oeuvre on connaỵt l’artisan), xem trái mà định cây, (on connaỵt l’arbre par ses fruits), cái kết quả của họ sẽ hại cho nhơn sanh ra thế nào, chư Đạo hữu rồi đây thấy rõ."

Ông Quyền Đầu Sư Thượng Tương thanh có lời khuyến cáo Ông Thái Ca thuộc Minh Chơn lý rằng: "Sau khi kích bác nhục mạ Tây-Ninh rồi bố cáo mà dán khắp Lục Tỉnh mong Anh và các Chư vị giúp để cho Tà Thần xúi giục mà hăng-hái thọ lãnh gia phong lập riêng một Hội-Thánh Trung-ương tự mình làm chủ, làm cho ai trông vào cũng thấy cái Chủ nghĩa Minh Chơn-lý của Hậu-giang kết chung lại là một trường háo danh ham chức đó là "Tôi". Đạo ở nơi nào? Đức ở nơi nào?

 

 

MINH CHƠN ĐẠO (Chi Phái)

- Phái Minh Chơn Ðạo nầy do ba Ngài:

1- Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang,
2- Cao Triều Phát và
3- Nguyễn Ngọc Thiệu,

Sau khi tách khỏi phái Minh Chơn Lý (vì thấy hai ông Ca và Phùng biến cải theo Tà đạo), qui tụ về Giá Rai tỉnh Bạc Liêu, lập ra phái Minh Chơn Ðạo vào năm 1935. Lúc đầu trụ sở đặt tại Chùa Minh Sư của Ngài Trần Ðạo Quang tại Giá Rai, sau mới lập Tòa Thánh Ngọc Minh ở Giồng Bướm Giá Rai, cũng gọi là Tòa Thánh Hậu Giang. Gần Tòa Thánh nầy có Ngũ Hành Tòa để làm Hiệp-Thiên-Ðài. Phái nầy hoạt động khá mạnh, lên tới tỉnh Vĩnh Long. Phái Minh Chơn Ðạo giữ đúng theo Tân Luật, Pháp Chánh Truyền và lễ nghi của Ðạo buổi sơ khai. Phái nầy không luyện đạo, mặc dầu Ngài Trần Ðạo Quang, trước khi gia nhập Ðạo Cao Ðài, Ngài là Thái Lão Sư cầm đầu Chi Minh Sư ở Việt-Nam. Ngài Trần Ðạo Quang được phong chức Chưởng quản Vô Vi Chưởng quản Cửu-Trùng Ðài, Ngài Cao Triều Phát chức Thái Chưởng Pháp Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, Ngài Nguyễn Ngọc Thiệu chức Ðầu Sư Ngọc Thiệu Nhựt. Sau nầy, Ngài Cao Triều Phát lại tách ra, ông Nguyễn Văn Kiện tự Huân được phong chức Hộ Pháp Thiên Ấn Tinh Quân, chưởng quản Hiệp Thiên Ðài. Cơ bút của phái Minh Chơn Ðạo phong gần đủ các phẩm Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Đài, như: Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, 9 vị Thời Quân, 2 vị Chưởng Pháp, 7 vị Ðầu Sư, 3 Chánh Phối Sư (không có phẩm Giáo Tông, bên Cửu Trùng Đài thì chức Chưởng quản Vô Vi là cao nhứt). Sau cuộc đảo chánh của Nhựt Bổn, quân đội Pháp trở lại dùng phi cơ dội bom, trúng Tòa Thánh Ngọc Minh tan tành. Ngài Cao Triều Phát hợp tác với Việt Minh để bảo vệ tín đồ. Sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, Ngài Cao Triều Phát tập kết ra Bắc và qui liễu tại đó trong năm sau. Minh Chơn Ðạo hiện nay cũng hoạt động như trước và hình như đang trù tính xây Tòa Thánh ở Tắc-Vân. Minh Chơn Ðạo hay Công Ðồng Hội Giáo, đứng đầu là Ông Cao Triều Phát ở Bạc Liêu. Ngài Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron kể ra 11 Chi phái vào năm 1948 như vậy, nhưng theo tài liệu nầy thì Ông Gabriel Gobron cho Tòa Thánh Tây Ninh là cái gốc của Ðạo, cái gốc thì sanh ra các nhánh, sanh Chi phái. Theo ông Quế Minh Chơn Ðạo, với chư quí Ngài: Quang, Thiệu.

 

 

MINH DI Quẻ 36. Quẻ Địa Hoả Minh Di

 

 

Quẻ 36. Quẻ Địa Hoả Minh Di

 

 

Tượng: Hội Thánh Hàm phong

 

 

MINH ĐẠO (Tên)

Thầy dạy: "Minh Đạo vào, bỏ Thầy, quên bạn, phải hạnh kẻ chơn tu vậy chăng? Từ khi Ta tha ngươi, cho phục chức, ngươi làm gì? Phải công quả đủ ba tháng, chẳng cho về chùa, rồi sau Ta sẽ định. Lui." [Ngày 15-1-1927 (âl 12-12-Bính Dần)]

 

 

MINH ĐẾ (Phật Học)

Minh Ðế (C: míngdì) Hoàng Đế cai trị nhà Hán từ năm 58-75, còn gọi là Hán Minh Ðế. Theo truyền thuyết, Minh Ðế nằm mộng mà sau đó cho truyền Đạo Phật tại Trung Quốc. Ông nằm mơ thấy một vị Thần áo vàng lơ lửng trước Điện.

Hỏi các đại thần, có người cho hay có Thánh nhân xuất hiện ở Ấn Ðộ, là người giác ngộ đạt Phật quả. Người đó có "màu da vàng tuyền và biết bay". Sau đó Minh Ðế gởi một phái đoàn đi Ấn Ðộ. Phái đoàn về mang theo bộ Kinh Tứ Thập Nhị Chương. Minh Ðế cho xây hẳn một lâu đài để thờ Kinh đó.

Ðó là bộ Kinh đầu tiên được dịch ra chữ Hán và Đạo Phật được truyền vào Trung Quốc bắt đầu từ đây.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

MINH ĐỨC (1) (Phẩm)

Con đường tu thứ hai là đi theo Thập nhị Đẳng cấp thiêng liêng, tức là lập công trong Cơ quan Phước Thiện, đi lên dần từ phẩm Minh Đức (đối phẩm Địa Thần) lên tới Phật Tử (Phật vị). Con đường tu thứ hai rộng rãi thênh thang hơn con đường tu thứ nhứt là dành cho tất cả các hạng nhơn sanh, từ bực dốt nát đến bực trí thức thượng lưu và số lượng Chức sắc ở mỗi phẩm cấp không bị giới hạn như bên Cửu Trùng Đài (bao nhiêu cũng được).Có ba cách tu là Lập đức, lập Công, lập ngôn

Lập đức là gì? Là dùng sự Thương-yêu để cứu độ chúng-sanh mà Đức Chí-Tôn đã có nói "Sự Thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch-Ngọc-Kinh" là vậy đó. Các Đẳng chơn-hồn tái kiếp đang chơi-vơi trong "Tứ diệu đề khổ". Muốn thoát khổ họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ. Người đi theo Thập Nhị Đẳng cấp Thiêng-liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ trước hết thì mình phải thọ khổ đã, muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng đức Thương yêu. Cho nên bậc thứ nhất của Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng là Minh-đức đó vậy".

 

 

MINH ĐỨC (2)

Đạo ở Đại-học là làm sáng cái đức sáng, làm mới con người và dừng ở chỗ chí thiện. Câu "Đại-học chi Đạo Tại minh minh-đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư chí thiện". Khuôn luật của Đạo Cao-Đài là lo về phần Thế đạo tức là Nho-Tông chuyển thế. Mà Nho-Tông chuyển thế tức nhiên Đạo của Tổ phụ chúng ta từ ngàn xưa để lại. Ấy vậy những yếu-lý của Nho-Tông mới có thể làm mực thước mà định chuẩn thằng trong khuôn khổ cái sống đương nhiên của mình đặng, chúng ta đã ngó thấy Nho Tông của chúng ta là một nền Tôn-giáo xã-hội, đặc điểm của nó là Đức Chí-Tôn đến lập trường Nho-Tông trị thế.

Huấn từ của Ngài Bảo Thế ngày 19-1 Tân Sửu (1960):

"Nếu hiểu rằng cứ thuộc về phần chơn; Cái đức về phần thể và cái tánh về phần dụng. Muốn tạo đức phải nhờ tánh và phải sửa tánh mới tạo được đức. Đức là hình dung của Đạo và trong đức gồm có công ái là khuôn luật thực hành cứu khổ. Mở sáng cái đức là Minh Đức".

 

 

MINH ĐOÁN

明 斷
E: To judge clearly
F: Juger clairement.

Minh đoán 明斷: Phán quyết một cách rõ ràng.

Đức Phật Quan Âm dạy: "Bảo Đạo Chơn Quân! Thiếp tưởng bí pháp của Cựu luật vẫn yêm ẩn lắm điều khó minh đoán cho đặng, song sự chơn thật quả có hẳn trong ấy. Vậy cũng nên trích lục đặng phổ thông cho người, đặng phòng ngày sau minh lý đặng dễ dàng. Thiếp tưởng là điều rất hữu ích đó vậy".

 

 

MINH ĐƯỜNG

Minh Ðường là Phái tu nơi chùa Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc của Thái Lão Sư Lê Ðạo Long. Đây là một trong Ngũ Chi Minh Đạo, gồm: Minh Sư, Minh Ðường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân

Vĩnh Nguyên Tự, ngày 21-8-1926 (âl 14-7-Bính Dần)

Thầy dạy: "Lịch! Mời cả chư Môn-đệ Minh Ðường của Thầy ra nghe dạy. Cười.... Các con đừng tưởng quấy rằng: vì chia phái mà riêng đạo. Thầy rán cắt nghĩa cho các con nghe: Nguyên từ buổi bế đạo, tuy Chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ Đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc đạo cùng chăng. Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít. Vì vậy cho nên các con coi thử lại, từ hai ngàn năm nay, bên Á Ðông nầy đã đặng bao nhiêu Tiên, Phật. Các con duy biết có một mình Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi."

 

 

MINH HUỆ

明 慧
E: Brillant.
F: Brillant.

Minh: Sáng, rõ ràng, sáng suốt, ban ngày. Huệ: sáng suốt, thông hiểu sự lý. Minh huệ là sáng suốt và thông hiểu sự lý.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Khá biết thời thế, lần vào nương dựa bóng thái dương, để bước vào con đường minh huệ,....

 

 

MINH QUANG

Minh: Sáng, rõ ràng, sáng suốt, ban ngày. Quang: sáng. Minh quang là sáng sủa rõ ràng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chí ư đem họa cỏn con biến đổi trong gia đình mà so sánh trành tròn với đức háo sanh của Tạo Hóa, thì đường đạo đức minh quang thế nào trông chờ bước tới nữa.

 

 

MINH LÝ (Ngũ Chi Minh Đạo)

Minh Lý là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo gồm:

Minh Sư, Minh Ðường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân. Còn Ngũ chi Ðại Ðạo là Phật đạo, Tiên đạo, Thánh đạo, Thần đạo, Nhơn đạo. Chi Minh lý có trụ sở chánh hiện nay đặt tại Tam Tông Miếu ở đường Cao Thắng, Sàigòn. Thuở mới khai Đạo, Ðức Chí Tôn dạy Hội Thánh đến Tam Tông Miếu thỉnh các bài kinh: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Kinh Cầu Siêu, Kinh Táng Tụng Công Ðức Thần, Thánh, Tiên, Phật về làm Kinh tụng đọc trong Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ. Mười năm sau các Đấng mới giáng cho Kinh Tận độ. Chi phái tách ra sớm nên họ không có Kinh Tận độ.

Thầy dạy: "Trung! Con khá nhớ những lời Thầy đã dạy. Con phải nên trợ giúp Minh Lý cho nên việc, nghe há!

Có nhiều Đạo, cũng như cái nhà, phải có nhờ nào là cột cái, nào là cột con, đòn tay, kèo, rui. Rui là nhỏ, mỏng mảnh hơn hết, mà cũng phải nhờ nó. Tuy kể cho nhiều tên, chớ cất rồi thì có một chủ mà thôi...Bên Minh Lý đây là Séminaire (1) là chỗ các thầy tu, ngày sau độ về phần linh hồn đó con."

(1) [Séminaire: Tu viện đào tạo các tu sĩ.]

 

 

MINH MẠNG (Vua Nhà Nguyễn)

 

 

 

 

Nhà vua là con thứ tư của Gia Long và Bà Thuận Thiên Trần thị Đang. Ông có nhiều vợ, 142 người con: 78 Hòang Tử, 64 Hoàng Nữ.

Người đứng đầu trong 43 bà Hoàng ấy là Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa. Bà Hoa sinh Hoàng trưởng tử Miên Tông được 13 ngày thì mất (Miên Tông được Hoàng Thái Hậu Thuận Thiên (tức nhiên là Bà nội) nuôi dưỡng ông.

Bà Hoàng được vua Minh Mạng sủng ái nhất là Bà Hiền Phi Ngô Thị Chính. Bà Hiền Phi Ngô Thị Chính là con gái Đại Tư Mã Ngô văn Sở nổi tiếng thời Quang Trung- Về sau theo vua Gia-Long- (có 9 người con) 5 hoàng Tử và 4 Hoàng nữ.

Vì yêu bà họ Ngô, nên vua Minh Mạng định truyền ngôi cho con trai với Bà này. Bà Thái Hậu Thuận Thiên, mẹ ông, biết ý định đó nên can ngăn ngay "Ta nghe lập tự phải chọn con cả, nay bỏ trưởng lập thứ, sau này anh em thoán đoạt nhau thì làm sao?". Vì chữ hiếu, vua Minh Mạng đã vâng lời Mẹ lập Miên Tông nối nghiệp.

Vua Thiệu Trị tên thật Nguyễn Phước Miên Tông.

 

 

MINH NGUYỆT TIÊN ÔNG

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Ðạo tức một cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.
                                    (19-12-1925)

 

 

MINH SƯ

Đạo "MINH-SƯ" sáng lập từ đời nhà Thanh bên Tàu, truyền sang Bắc Việt, có hai câu sấm của các vị Tổ sư lưu lại, được nêu lên ở bìa Kinh điển của Đạo ấy. Hai câu nói tiên tri về Cao-Đài như sau:

- CAO như Bắc khuyết nhơn chiêm ngưỡng,
- ĐÀI tại Nam Phương Đạo thống truyền.

Nghĩa là Đạo cao như Bắc Khuyết, người ta trông lên mà chiêm-ngưỡng. Nền Đạo sẽ truyền bá khắp nơi không ngừng, mà nơi phát xuất ra mối Đạo là ở Nam phương (chỉ về miền Nam nước Việt Nam). Hai câu này cho biết Đạo Cao-Đài sẽ xuất hiện ở phương Nam mà Đức Cao-Đài làm chủ: Tức là Đấng Huyền Khung Cao Thượng-Đế Ngọc-Hoàng Đại Thiên Tôn, ngự tại phương Bắc gọi là Bắc Khuyết.

 

 

MINH THỆ


E: To take one’s oath of faithfulness.
F: Faire un serment de fidélité.

Minh thệ là gì?

Lập Minh thệ tức là làm Lễ nhập môn.

Ý nghĩa lời Minh thệ.

Thông tri của Ngọc Chánh Phối Sư.

Tính cách quan trọng của lời Minh thệ.

Đạo mở tức là Cơ Đại-Ân-xá của Đức Chí-Tôn.

Chưa lập Minh thệ, nên chư Thánh không muốn nhìn.

Phải độ cho đặng ít nữa là 12 người.

Khi được Thiên Ân.

_________________________________

1- Minh thệ là gì? Chính là nói tắt của thành-ngữ "Minh sơn thệ hải" tức là lời hẹn với núi, thề với biển hay còn nói là thề non hẹn biển. Là sự thề thốt đinh-ninh không dám sai lời. Nếu chỉ chính bản thân mình ước hứa e rằng có thể quên đi nên phải nhờ những chứng nhân khác làm chứng cho lời nguyện, lời hứa của mình. Ca dao Việt-Nam rằng:

Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.

Ở đây lời thề của người Tín hữu Cao-Đài trước khi được nhận làm Môn-Đệ của Đấng Chí-Tôn (Ông Thầy Trời). Tức nhiên vào cửa Đạo phải có lời tuyên hứa nguyện trung thành với Đạo pháp, gọi là lời Minh thệ. Câu Minh thệ như sau:

Họ gì? Tên gì? "Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao-Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn-đệ, gìn luật lệ Cao-Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru địa lục" (36 chữ). Chỉ với 36 chữ này cũng đủ quyền-năng cho người tu hành đến cảnh thăng tiến trong con đường tâm linh rạng-rỡ. Đức Quyền.Giáo Tông viết trong tờ Khai Đạo với người Pháp "Tin-tưởng mãnh-liệt vào hiệu-năng của một nền Tân-giáo này và hoàn toàn vững tin nơi thiện ý của mình, chúng tôi đã trình lên nhà cầm quyền thuộc địa Pháp một bản Minh-thệ viết tay (kèm theo đây có một bản), mà nội dung chúng tôi cam-kết với lời hứa chịu tử hình rằng: chỉ chăm lo về mặt Đạo giáo chớ không mảy-may nào làm rối loạn an-ninh trật-tự. Ngược lại, chúng tôi yêu cầu được sự giúp đỡ và hỗ-trợ của nước Pháp để thi-hành sứ mạng truyền-bá nền Tân giáo này khắp hoàn-cầu.

2- Lập Minh thệ tức là làm Lễ nhập môn:

Sở dĩ phải có lời Minh thệ là vì tâm lý của nhơn sanh hay thay đổi nên quyền Chí-Tôn phải buộc, cũng vì ích lợi của chúng sanh: Muốn được làm Môn-đệ phải:

1- Xét mình cho kỹ trước khi vào Đạo.
2- Khi vào Đạo rồi phải đủ Đức tin và Chí-thành.
3- Nâng mình vào đường lối cao-thượng.

Phải cao thượng hơn chốn trần gian hèn kém và đau khổ này. Sau cùng phải tu làm sao để đạt được ngôi Thần Thánh Tiên Phật và đạt cả ngôi Trời nữa, mà Đức Thượng Đế sẵn sàng giao cho người có tâm đức, nhơn nghĩa…Hồi lúc mới khai Đạo, Thầy dạy: "Các Môn đệ đi từ người đến trước bàn Ngũ Lôi mà thề". Hai chữ "Nhập môn" chính nghĩa là vào cửa. Nhập là vào, môn là cửa. Vào cửa Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ vậy. Muốn làm Môn-đệ của Đấng Cao-Đài trước nhứt phải làm Lễ Nhập môn. Tại sao sự tu-hành mà còn phải bắt buộc quá vậy?

Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ-pháp có giải rành: "Buổi Chí-Tôn đến tạo Quốc-Đạo cho nòi giống Rồng Tiên này chính Ngài cầm Cơ đi đến các Tỉnh, kêu từ nhà, gọi từ đứa con, cho không biết bao nhiêu bài khuyến dạy, tạo thành Tôn-giáo CAO ĐÀI là QUỐC ĐẠO. Tưởng chưa có người nào đem cả tinh thần, tâm đức mà thi ân cho ai dường ấy. Đức Chí Tôn đến độ rỗi, lập giáo rồi lại bắt Minh thệ. Hỏi tại sao Ngài lại bắt Minh thệ? Buộc con cái phải hiệp đồng cùng nhau, mỗi người có một chút Đức-tin. Thầy bảo qui Đức-tin ấy lại, phải có tâm đức, tin tưởng, yêu ái lẫn nhau, phải nhìn nhận có Thầy, có Đức-tin nơi Thầy" (TĐII/42)

Lại nữa vì tính cách quan trọng hơn là Thầy còn giao cho cả ngôi Trời nữa kìa!

Đức Hộ-Pháp thuyết 12-7 Mậu-Tý (1948): Phương ngôn Pháp có câu "Aide-toi le ciel t'aidera" và Tiên Nho chúng ta nói "Tận nhơn lực tri thiên mạng" điều nầy hiển nhiên chơn thật lạ lùng chúng ta rán cố gắng hết sức mình thì Chí Tôn mới ban cho cái huyền linh của Ngài, nếu không rán không thế gì hưởng được, mấy Em nhận biết điều ấy, chúng ta do Chí-Tôn kêu gọi đặng gầy dựng, ta phải cố gắng, vì lẽ không thăng tức ta phải đọa. Mấy Em nhớ, Ðạo của mấy Em chúng Qua đã tạo dựng cho mấy Em đặng ngày kia mấy Em tiếp theo Chơn Truyền Luật Pháp thay thế cho mấy Qua đặng truyền nghiệp cho hậu tấn. Pháp nói "Chaque soldat a un bâton de maréchal dans son sacoche" nghĩa là: Mỗi tên lính đều có cây giản của ông Thống Chế trong bị của họ, Qua nói rằng: Mỗi vị Tín đồ đều có cái mão của Giáo Tông và Hộ Pháp đội trước trên đầu, không lấy được là lỗi tại mấy Em, chẳng lẽ có một người mà người đó chết rồi là diệt tiêu nền Ðạo. Ngày kia không có gì vui hứng cho Qua hơn, khi thấy xuất hiện trong mấy Em, khi Qua đã già vô Tịnh thất an dưỡng tinh thần, mà thấy đặng mấy Em ở dưới bước lên ngồi địa vị cao trọng của Qua".

Tức nhiên, vì tầm mức quan trọng như thế: hôm nay là Tín hữu Cao-Đài thì mai ngày sẽ nắm cả sự nghiệp của Đạo là Giáo-Tông, là Hộ-Pháp mà điều hành cơ Đạo. Nếu không có luật buộc như vậy, thì những kẻ phản nghịch như Kim Quan-Sứ lộng hành bán cả đất trời, thì nghiệp Đạo này sẽ ra sao?

3- Ý nghĩa lời Minh thệ:

(Thông tri số 104/ CTĐ ngày 27-1 Tân-Mão (dl4-3-1951) của Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài do Lại viện ban hành số 171/ SL ngày 6-5 Canh-Tuất (dl 9-6-1970)

Ý-nghĩa lời Minh thệ trên đây là một lời tuân hứa nhứt quyết theo cùng Đấng Thượng-Đế, để trọn tâm thi hành Thiên Đạo và cam kết làm tròn phận sự theo lời Minh thệ.

- Điều thứ nhứt: "Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng". Là trọn nhìn một Đạo Cao-Đài của Đức Chí-Tôn, ngoài ra không đặng xu-hướng theo ngoại giáo, gây nên sự rắc rối chia ly và làm mất Đức-tin nơi cửa Đạo.

- Điều thứ nhì: Hiệp đồng chư Môn-đệ gìn luật lệ Cao Đài. Tín-đồ Nhập môn rồi phải tuân hành y Luật pháp chơn truyền của Đại-Đạo là: Tân luật, Đạo Luật, Pháp Chánh Truyền…và thi-hành các qui điều giáo huấn của Hội-Thánh để làm tròn phận sự mình. Ấy là phương hiệp đồng nhứt trí của toàn Đạo: Tín đồ, Chức việc, Chức sắc, Hội-Thánh để nhặc gìn luật lệ Cao-Đài của Đấng Chí-Tôn.

- Điều thứ ba: như sau có lòng hai thì Thiên tru địa lục. Ăn ở hai lòng bất trung, bất chánh, dối Thầy phản bạn và làm những việc trái với luật lệ của Đại-Đạo cùng hành động vô nhân, vô nghĩa, mất sự thương yêu, mất điều tín nhiệm, gieo rắc những điều ngờ vực, hiềm khích giữa tình đồng Đạo và manh tâm bội nghịch cùng Hội Thánh sẽ chịu luật công bình của trời đất tru diệt. (nghĩa là trời giết đất giết).

* Minh thệ đối với Luật vô vi:

Là Thiên điều của Chí Tôn cùng các Đấng thiêng liêng: Phật, Tiên, Thánh, Thần cầm quyền trị thế. Là một ân huệ được chọn làm Môn-đệ của Đấng Chí-Tôn. Khi giữ trọn lời Minh thệ sẽ được các Đấng hộ trì, ban ân lành, đạo tâm sáng suốt, trọn vẹn đức tin, đến ngày thành công đắc Đạo được ghi tên vào Tiên-tịch.

* Minh thệ đối với Luật hữu hình Hội-Thánh:

Là một giá trị uy-tín đối với Đạo và Hội-Thánh. Khi giữ trọn lời Minh thệ sẽ được tín nhiệm, kính nễ, bảo trợ, hưởng mọi đặc ân với Luật công bằng Hội-Thánh. Lời Minh thệ Nhập môn cầu Đạo là một điều rất quan hệ của người giữ Đạo và một lời hứa trọn vẹn tín thành với Hội-Thánh cùng các Đấng Thiêng liêng một kiếp sanh hiện tại và tương lai, phước hay tội cũng do nơi lời Minh thệ này. Vậy toàn Đạo Nam Nữ nên thận trọng tuân y theo lời Minh thệ. Chức sắc hữu quyền: các cơ quan, chư vị khâm châu, Đầu tộc Nam Nữ phải thông truyền lời dẫn giải Minh thệ này cho toàn Đạo tuân hành".

4- Thông tri của Ngọc Chánh Phối Sư:

Tiếp theo đây là Thông-tri của Ngọc Chánh-Phối sư Đề ngày 22-11 Bính-Ngọ (dl 2-1-1967): "Hội Thánh xin nhắc nhở chư Chức-sắc, Chức-việc cầm quyền Hành-Chánh-Đạo ở trung ương cũng như địa phương nên nhớ lời Minh thệ trước bửu pháp Ngũ-lôi và các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật cầm quyền trị thế và làm tròn Thiên Đạo mà dìu-dắt đoàn em đều là con cái của Đức Chí-Tôn tận con đường Thánh-Đức trong khuôn viên Luật pháp chơn truyền của nền Đại-Đạo. Lời Minh thệ đối với vô vi là Luật Thiên-điều rất quan hệ cho Chức-sắc Thiên phong, Chức Việc, Bàn-trị-sự cũng như lời Minh thệ của người mới nhập môn cầu Đạo là lời hứa trọn vẹn tín thành cùng các Đấng Thiêng-liêng và Hội-Thánh "không đổi dạ đổi lòng". Nếu giữ tròn lời Minh thệ cho đến ngày thành công đắc Đạo được ghi tên vào Tiên-tịch, nhược bằng trái lại thất thệ vì "lòng một dạ hai" thì rất uổng một kiếp sanh may duyên gặp Đạo".

5- Tính cách quan trọng của lời Minh thệ:

Vì tầm mức quan trọng của lời Minh thệ dường ấy nên Hội Thánh lúc nào cũng ân-cần nhắc nhở. Đến khi lâm chung bài Kinh Cầu Hồn Khi Hấp-Hối có câu này và chính đây là sự quyết-định do lời Minh-thệ:

Ớ! Tên họ … Thành tâm cầu nguyện,
Nguyện Chí-Tôn linh hiển độ sanh.
Ăn-năn sám hối tội tình,
Xét câu Minh thệ gởi mình cõi thăng.

Lời Thầy cũng dạy bảo trong buổi khai Đạo rằng: "Chư Môn đệ đã lập Minh Thệ rồi, ngày sau tùy Âm chất mỗi đứa mà thăng, hay là tội lỗi mà giáng, song buộc mỗi đứa phải độ cho đặng ít nữa mười hai người" (TNII/12) Bởi Cao-Đài Đại-Đạo ngày nay Đức Chí-Tôn có dạy rõ: trên có Tam thập lục Thiên (36 từng trời), dưới có Tam Thập Lục động (36 cõi đất) đó là tượng trưng hai cảnh đọa thăng của con người. Vì vậy mà lời Minh thệ có 36 chữ. Điều ấy chứng tỏ rằng ai giữ đúng chơn truyền của Đại-Đạo thì đường Tiên thong-thả: "Ba mươi sáu cõi Thiên-tào, Nhập trong Bát-quái mới vào Ngọc-Hư".Còn nếu người nào thất thệ với Đức Chí-Tôn thì cửa Tam thập Lục Động lại mời.

Đức Hộ-Pháp cũng nói: "Về phần Môn-đệ của Đức Chí Tôn từ buổi đem thân vào cửa Đạo, trong lúc Nhập môn đã quì trước Bửu điện có Bàn Ngũ-Lôi mà lập Minh thệ. Vậy mà: Than ôi! Cho những người thề như vậy mà cũng không để trọn Đức tin nơi Đức Chí-Tôn lại thối bước ngã lòng, cởi áo Đạo dẹp khăn tu, mong mỏi xu-hướng theo con đường tục lụy, cho nên mới gây ra con đường lằn súng mũi đạn ngày nay. Vậy thì ai là người thất thệ với Chí-Tôn thì phải sớm thức tỉnh tâm hồn, ăn-năn sám hối cầu xin Đại-Từ Phụ cùng các Đấng Thiêng Liêng Từ bi ân xá tội-lỗi tiền khiên thì họa may đặng chung hưởng ân huệ của Chí-Tôn ban cho sau này" (ĐHP: 15-9 Bính-Tuất 1946)

Do đó mà phải xét mình trước khi vào Đạo để chính mình nhận định cho kỹ, hầu tạo cho được Đức tin và sự chí thành. Kinh có dạy:"Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp".

6- Đạo mở tức là Cơ Đại-Ân-xá của Đức Chí-Tôn:

Ngài Bảo-Đạo Hồ-Tấn-Khoa có nói: "Người mới Nhập môn vào Đạo Cao-Đài lập Minh thệ thì đặng hưởng hồng-ân là thọ phép Giải Oan. Phép này rửa sạch tội tiền khiên của mình từ trước. Phép này cũng là một Đại Ân xá những tội tình, nhưng từ ngày Nhập môn về sau thì phải gìn giữ đừng gây thêm tội mới cho đến ngày chết tức là ngày trở về với Đức Chí-Tôn (Đại-Từ-Phụ) thì được nhẹ nhàng rất nhiều rồi.Ngoài Bí-Pháp giải-oan này Đức Chí-Tôn còn ban cho Pháp Tắm Thánh, pháp làm Hôn Phối và đặc biệt nhứt là phép xác và phép độ thăng. Người Tín-hữu Cao-Đài nào giữ được 10 ngày chay trong mỗi tháng đổ lên được thọ truyền bửu pháp tức là hưởng được phép xác, cắt hết 7 dây oan-nghiệt. Linh hồn không còn bị ràng buộc với thi hài bởi 7 dây oan nghiệt nữa nên được xuất ra nhẹ nhàng về cõi Thiêng liêng hằng sống. Còn phép độ thăng là để giúp cho linh hồn những Chức-sắc được nhập vào Bát-Quái-Đài dễ dàng hơn".

Trên là Đạo hữu Minh thệ. Nhưng Chức sắc khi nhậm chức vẫn phải Minh Thệ. Thế nên phật Quan Âm dạy: "Thiếp xin khuyên một điều là khi Minh Thệ Chức sắc đừng lòng tư vị. Những vị chẳng có Minh Thệ khá tỷ như Chức sắc hàm mà thôi, chẳng nên giao Pháp Chánh của Đạo, ấy là cơ thể để trừ tuyệt sự rối loạn của Đạo.Thiếp xin nên nghe lời Thiếp".

7- Chưa lập Minh thệ, nên chư Thánh không muốn nhìn:

Thầy dạy: Août 1926. 01-07-Bính Dần (Giờ Ngọ).

"Tương, con không hiểu ngày nay là thế nào? Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cả thảy đều náo động cũng vì các con. Quỉ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác; chúng nó hiệp Tam Thập Lục Ðộng toan hại các con; nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến giữ gìn các con, nhưng phần đông chưa lập Minh thệ, nên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận."

8- Phải độ cho đặng ít nữa là 12 người:

Thầy dạy: Thứ Sáu, 27-8-1926 (âl 20-7-Bính Dần)

"Còn chư Môn đệ đã lập Minh Thệ rồi, ngày sau tùy âm chất mỗi đứa mà thăng hay là tội lỗi mà giáng, song buộc mỗi đứa phải độ cho đặng ít nữa là 12 người".

9- Khi được Thiên Ân:

thì Chức sắc lại lập hồng thệ sau đây: "Tôi là (tên họ) tự thiên ân là ….

"Thề Hoàng thiên hậu thổ, trước bửu pháp Ngũ Lôi rằng làm tròn Thiên đạo mà dìu dắt cả mấy anh em chúng tôi đều là môn đệ của Cao Đài Ngọc Đế, nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định, chẳng dám chuyên quyền mà lập thành tả đạo; Như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ lôi tru diệt".

Đến bàn Vi Hộ Pháp cũng quì xuống vái y vậy, đều câu sau thì như vầy:

"Như ngày sau phạm Thiên điều, thề có Hộ Pháp đọa tam đồ bất năng thoát tục".

Ngày rằm tháng mười Nhâm Thân (12 Novembre 1932) Đức Chí Tôn cho biết việc phân chia dữ dội ngày nay, có đến buộc cả chức sắc Thiên Phong lập thệ sau đây:"Nay tôi là…

…"Thề trước Bửu điện Đức Chí Tôn rằng: Kể từ đây quyết một lòng một dạ tuân theo Thánh giáo của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chung tâm hiệp trí cùng nhau mà độ rỗi nhơn sanh, thiệt hành chủ nghĩa thương yêu vô tận mà làm cho rạng Đạo Thầy và không phản phúc nhau, nhược bằng lỗi thệ thì tận đọa tam đồ".

 

 

MINH THỆ CHỨC SẮC

Đức Phật Quan Âm giáng ngày 06-04-Mậu Thìn (dl: 23-05-1928) có lời rằng: "Chí Tôn không đến là có ý cho chư Ðạo Hữu điều đình thử coi có làm kham phận sự cùng chăng? Trước khác, nay thì khác, đã mang Thiên mạng nơi mình phải so quyền liệu sức mà hành chánh, cả chúng sanh đương lao nhao lố nhố trông cậy nơi chư Hiền Hữu, phải làm sao cho xứng phận thì làm. Thiếp xin khuyên một điều là khi minh thệ Chức Sắc đừng lòng tư vị; những vị chẳng có minh thệ khá tỷ như Chức Sắc Hàm mà thôi, chẳng nên giao Pháp Chánh của Ðạo ấy là cơ thể để trừ tuyệt sự rối loạn của Ðạo. Thiếp xin nên nghe lời Thiếp.

Lời Minh Thệ của Giáo-Tông:

Thánh ngôn dạy: "Cả thảy Môn đệ phân làm ba ban, đều quì xuống, biểu TẮC leo lên bàn, con chấp bút bằng nhang, đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới tới trước mặt Tắc, đặng Thầy trục xuất Chơn Thần nó ra, nhớ biểu Hậu, Ðức xông hương tay của chúng nó, như Em có giựt mình té thì đỡ. Rồi biểu hai vị Ðầu Sư xuống ngai, quì, đến trước mặt Ngũ Lôi, hai tay chấp trên đầu, quì ngay bùa Kim Quang Tiên mà thề như vầy: "Tôi là Lê Văn Trung tự Thiên Ân là Thượng Trung Nhựt và Lê Văn Lịch tự Thiên Ân là Ngọc Lịch Nguyệt, thề Hoàng Thiên, Hậu Thổ, trước Bửu Pháp Ngũ Lôi rằng làm trọn Thiên Ðạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là Môn đệ của Cao Ðài Ngọc Ðế; nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định chẳng dám chuyên quyền mà lập thành Tả đạo; như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt" (Lời thề trên có 60 chữ)

 

 

MINH THIỆN

*Ông Chí-Thiện Phạm-Mộc-Bổn xin về Qui-Thiện khi mãn phận-sự Khâm-Châu Tây-Ninh.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Minh-Thiện chưa chắc phải là Qui-Thiện, mà Minh Thiện một tên giống lúa để cấy vào ruộng Phước Thiện, Qui Thiện cũng một thứ giống, đổi giống cũng chẳng ích-lợi gì, nên chăng là do nơi bông-trái". HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)

 

 

MINH TRA (MINH XÉT)

E: To examine clearly.
F: Examiner clairement.

Minh: Sáng, rõ ràng, sáng suốt, ban ngày. Tra: xem xét kỹ lưỡng để có nhận định đúng. Minh tra là xem xét sự việc cho minh bạch, có chứng cớ rõ ràng, để có kết luận đánh giá chính xác.

Trong Hành Chánh Đạo thường có các cuộc minh tra công nghiệp của Chức sắc để xét việc thăng thưởng. Do đó, việc minh tra cần phải vô tư, công bình.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Nếu những vị nào dưới năm năm công nghiệp mà có lập đặng đại công, toàn công chúng đều hoan nghinh và Tòa Đạo minh tra đủ lẽ thì sẽ đặng đệ lên Quyền Chí Tôn cầu xin thăng thưởng.

 

 

MINH TRIẾT


E: Sagacity.
F: Sagacité.

Minh: Sáng, rõ ràng, sáng suốt, ban ngày. Triết: sáng suốt hiểu biết đến cái lẽ tận cùng của sự vật. Minh triết là luận giải một cách thấu suốt (sáng suốt, rõ thấu) những lý lẽ tận cùng liên quan đến sự vật hay con người.

Người minh triết là người thông suốt lý đạo và thời thế, lại biết dụng trí dụng tâm mà phân biệt điều phải điều quấy, luôn luôn giúp đời tiến hóa theo đạo lý tự nhiên.

Người minh triết dùng lý trí để suy nghĩ hiểu biết nhưng khi phán đoán thì dùng cái chơn tâm, vì cái chơn tâm luôn luôn thuận tùng Thiên lý. Do đó, người minh triết không bao giờ dang xa nẻo đạo.

 

 

MINH VƯƠNG & MINH VƯƠNG KHỔNG TƯỚC

Minh Vương là Chỉ các vị Tôn giả theo hầu Đức Phật.

Minh Vương Khổng Tước, vị sứ giả của Phật

Kinh Đệ Lục Cửu có câu:

"Cung Lập-khuyết tìm duyên định ngự,
"Lãnh Kim-sa đặng dự Như-Lai.
"Minh-Vương Khổng-Tước cao bay,
"Đem chơn-thần đến tận đài Huệ-Hương."

 

 

MÓC BƯƠI XÚI LỜI

Kinh Sám Hối có câu:

"Gắp thây nuốt sống ăn tươi,
"Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời."

 

 

MÒN VỐN THÂM TIỀN

Kinh Sám Hối có câu:

"Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn,
"Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền."

 

 

MÔ PHẠM

Mô phạm 模範: khuôn mẫu để noi theo.

Đức Hộ-Pháp nói: "Anh Cả chúng tôi là người gồm có nhiều điều kiện hạp với tân thời, mà cũng không nghịch với phong hóa cũ. Vậy nên, Ðấng Chí-Tôn mới dùng Người để làm mô phạm cho anh em Ðạo Hữu và cho Đời thấy rõ một phần chơn lý trong Tôn chỉ Ðại-Ðạo".

 

 

MỒ CÔI

Kinh Sám Hối có câu:

"Xót thương đến kẻ tật nguyền,
"Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi."

 

 

MỘ BIA


E: The tombstone.
F: La pierre tumulaire

Mộ bia 墓碑: bia ở mồ, có khắc chữ để ghi công đức,sự nghiệp người chết.

 

 

MỘ CHÍ


E: Epitaph.
F: Épitaphe.

Mộ chí 墓誌: Cái bia ghi những công đức sự nghiệp của người chết để truyền đời sau.

 

 

MỘ ĐẠO

慕 道
E: To love a religion.
F: Aimer une religion.

Mộ: Mến chuộng, ưa chuộng. Đạo: tôn giáo. Mộ Đạo là mến chuộng đạo đức, ưa thích cảnh tu hành (Mến chuộng đạo lý nhà Phật).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Vậy chư nhu phải truyền bá ra, như người nào mộ Đạo thì phải cầu Đạo sớm đi.

 

 

MỘ KHANG

暮 健
E: To ask the health of parents at evening.
F: Demander la santé des parents au soir.

Mộ khang 暮健: viếng thăm sức khỏe mỗi lúc chiều tà.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Càn Khôn Tạo-Hóa sánh tài,
"Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang."

 

 

MỘ PHẦN


E: The tomb.
F: Le tombeau.

Mộ: Cái mả. Phần: cái gò mả. Mộ phần là cái mả đắp cao lên (chỗ chôn xác chết).

Tân Luật: Thế Luật: Điều 15:

Người làm đầu trong Họ, khi tang chủ mời, phải đến hiệp với chư tín đồ trong Họ làm lễ Cầu siêu cho vong linh theo Tân Luật và đưa xác đến mộ phần.

 

 

MỘC ÂN


E: Loaded with favours.
F: Comblé de faveurs.

Mộc: Gội đầu. Ân: ơn huệ. Mộc ân là gội ơn, nhận được ơn huệ của bề trên (Vĩnh mộc từ ân: gội ân, đầy ân, chịu ơn của người trên).

Kệ Chung bãi đàn:

Đàn tràng viên mãn Chức sắc qui nguyên, vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.

 

 

MỘC DỤC


E: To wash.
F: Se baigner.

Mộc: Gội đầu. Dục: Tắm rửa. Mộc dục là tắm gội.

 

 

MÔI GIỚI


F: Intermédiaire.

Môi giới : Người trung gian.

"Cái nền Nhơn Nghĩa của chúng ta, nó có thể làm môi giới cho các chủng-tộc thế-giới. Đạo Nhơn Nghĩa của chúng ta là một căn-bản Quốc-thể của nước Việt-Nam và có thể thành QUỐC ĐẠO được". (Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:14-4-Mậu-Tý)

 

 

MỒI PHÚ QUÍ

Thi văn dạy Đạo:

Khờ ngây đã quá hội xuân rồi,
Rồi mới biết đời có bấy thôi.
Thôi chẳng tranh chi mồi phú quí,
Quí là đạo đức đó ai ôi!

 

 

MỔ BỤNG

Kinh Sám Hối có câu:

"Con bất hiếu, xay, cưa, đốt, giã,
"Mổ bụng ra phanh rã tim gan."

Theo khuynh hướng Triết lý này của nhà Phật là vẫn còn cảnh Ðịa Ngục và Thập Ðiện Diêm Vương với các hình phạt nặng nề trừng trị các tội hồn đã gây ra nhiều lỗi lầm trong kiếp sanh nơi cõi trần. Các hình phạt nặng nề nơi cõi Ðịa Ngục đó là: Nấu dầu, xay, cưa, đốt, giã, hình bào lạc, rắn ăn thịt, mổ bụng moi tim, móc mắt...Khuynh hướng Triết lý này thể hiện rõ Giáo lý của Phật giáo và của Thiên Chúa giáo thuộc thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, tức là thời kỳ trước khi mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ (tức là Ðạo Cao Ðài) vào năm Bính Dần (1926).

Qua hai Bài Kinh: Sám Hối và Giới Tâm Kinh có câu:

"Nơi Ðịa Ngục gông cùm sẵn đủ,
"Ðể răn loài dâm phụ gian phu."
                        (Giới tâm Kinh)

Nhưng nay là thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn trong buổi cuối Hạ Nguơn Tam Chuyển bước qua Thượng Nguơn Tứ Chuyển. Khuynh hướng Triết lý nầy thể hiện rõ tôn chỉ của Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ là Ðức Chí Tôn đã ra lịnh đóng cửa Ðịa Ngục, giải phóng tất cả các tội hồn để cho họ chuyển kiếp luân hồi, trả cho xong hết các oan khiên nghiệp chướng, đồng thời lo việc tu hành, để được Ðức Chí Tôn cứu vớt và Ðức Chí Tôn cũng ra lịnh mở cửa Cực Lạc Thế Giới để rước những Chơn linh có đầy đủ công đức đắc đạo trở về. Trong lời Tựa của Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có phân rõ: "Thương thay cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt thòi qui liễu trước ngày Tân Kinh chuyển pháp. Ấy cũng là quả kiếp của nhơn sanh do Thiên thơ tiền định".Chính bài Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Vô Ðịa Ngục, vô quỉ quan,
"Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên".

Hoặc Bài Kinh Giải Oan có câu:

"Ðóng Ðịa Ngục, mở tầng Thiên,
"Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương."

 

 

MỖI VỊ TÍN ĐỒ ĐỀU CÓ CÁI MÃO CỦA GIÁO TÔNG VÀ HỘ PHÁP ĐỘI TRƯỚC TRÊN ĐẦU

Pháp nói "Chaque soldat a un bâton de maréchal dans son sacoche", nghĩa là Mỗi tên lính đều có cây giản của ông Thống Chế trong bị của họ, Qua nói rằng: Mỗi vị Tín đồ đều có cái mão của Giáo Tông và Hộ Pháp đội trước trên đầu, không lấy được là lỗi tại mấy Em, chẳng lẽ có một người mà người đó chết rồi là diệt tiêu nền Ðạo".

 

 

MÔN ĐỆ - MÔN SINH

-
E: Disciple.
F: Disciple.

Là người học trò theo học với thầy về một ngành nghề hay một vấn đề chuyên môn nào. Ở đây chữ "Môn đệ" là chỉ người theo Tôn giáo Cao Đài, là học trò Tiên, thụ giáo với Đấng Cao Đài, hiện Ngài là Giáo chủ về phần vô vi. Nên nói đúng ra chỉ có một người Thầy duy nhất là ông Thầy Trời thôi.

Đức Chí-Tôn giáng ngày 13-03-1926 dạy rằng:

"Thầy cho các con biết trước, đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả Môn đệ. Các con đủ hiểu rằng: phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối; nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối, còn không có dối làm sao phân biệt có thiệt..Cười! Thầy nói cho các con hiểu rằng: Muốn xứng đáng làm Môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm Môn đệ Thầy thì Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước, còn ngã thì cửa Địa ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét ai thấu đáo vậy ôi! Bởi vậy cho nên Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành. Thầy nói trước cho các con biết mà giữ mình: chung quanh các con dầu xa dầu gần Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con; song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Vậy ráng gìn giữ bộ thiết giáp ấy hoài cho tới ngày các con hội hiệp cùng Thầy.

Đức Hộ Pháp nói: "Khi đó Đức Chí-Tôn thâu Ông Nguyễn-Ngọc Thơ tức là Phối-Sư Thái-Thơ-Thanh làm Môn Đệ, Thái Thơ Thanh tức là bạn chí-thân, tức là chồng của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh. Thành thử mỗi người đều có Thiên mạng nơi mình mà không ai biết, chính Bà là người cầm đầu Nữ-phái đó vậy. Đức Chí Tôn thâu rồi mới biểu hai vợ chồng Ông Thái-Thơ-Thanh vào mượn Từ Lâm Tự ở Gò kén đặng mở Đạo; Chùa Từ-Lâm chưa xong gì hết, có Chánh điện, còn Đông-lang, Tây-lang thì chưa có, đằng này mấy Anh lớn họp nhau xuất tiền ra làm cho xong. Đến ngày rằm tháng mười năm Bính-Dần thì mở Đạo, chúng tôi gởi Đơn lên Chánh-phủ Pháp xin mở Đạo công-khai, trong đơn có kể tên những người Môn-Đệ đầu tiên. Sau khi mở Đạo nơi Chùa Gò-kén, tức là Chùa Từ Lâm-Tự. Người cầu Đạo càng ngày càng đông. Người Pháp buổi nọ sợ chúng tôi làm loạn, nên xúi-giục Hoà Thượng Giác-Hải đòi chùa ấy lại, đuổi chúng tôi đi cho hết mở Đạo; đồng thời người Pháp bắt đầu làm khó Đạo, hăm he các Chức sắc, họ lập hồ-sơ đen để trừng-trị những người theo Đạo." (Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:13-10-Giáp-Ngọ 1954)

Pháp Chánh Truyền: "Môn đệ muốn lên Lễ Sanh thì nhờ cả môn đệ xúm nhau công cử".

Thầy dạy Bà Nữ Đầu-Sư Lâm Hương-Thanh:

Lợi danh khá để lòng sắp đặt,
Trên thuận hòa ắt dưới tùy tùng,
Môn đệ Thầy để dạ lo chung,
Thương nghèo khó lao lung con giúp đỡ.

 

 

MÔN ĐỆ CỦA TÀ THẦN TINH QUÁI

Là người tu mà lầm: đường chánh không theo tức nhiên phải theo tà thần tinh quái, có nghĩa là làm môn đệ của họ vậy

Thầy dạy: "Thầy đã hằng ngày nói với con rằng: Muôn việc chi Thầy đã bố hóa vào lòng con. Như con tính điều chi, tức Thầy đã định rồi. Con không cần nặng lòng lo lắng. Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm Môn đệ của "Tà Thần Tinh Quái" thì không thế gì làm Môn đệ Thầy đặng.

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,
Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra.
Sao ra Tiên Phật người trần tục,
Trần tục muốn thành phải đến Ta.

 

 

MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN CỦA THẦY (12 người)

F: Les premiers disciples.

Đức Chí-Tôn nhận 12 Môn-đệ trước nhất: qua bài thi bốn câu này có tên 12 Môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn. Theo Ðạo-Sử I./50 thì Ðức Chí Tôn giáng vào đêm mùng 8 rạng mùng 9 tháng Giêng năm Bính-Dần (dl: 21-02-1926) tại Đàn Cơ thiết lập nơi nhà Ông Vương-Quan-Kỳ, số 80 đường Lagrandière- Sài Gòn. Nhân Lễ Vía Ðức Chí Tôn, Ngài Ngô Văn Chiêu chứng đàn, Ðức Chí Tôn cho bài thi "Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa".

Khi ấy Ngài Ngô Văn Chiêu xin Ðức Chí Tôn cho bài thi có tên các Môn đệ đầu tiên làm kỷ niệm, như vầy:

CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành.
HẬU ÐỨC TẮC CƯ Thiên Ðịa cảnh,
HUỜN MINH MÂN đáo thủ đài danh.

(Mười hai chữ lớn trong ba câu trên là tên của 12 người Môn đệ trước hết của Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Còn ba chữ xiên lớn trong câu chót là tên của 3 vị hầu đàn).

Bài thi trên của Ðức Chí Tôn viết ra chữ Hán như sau:




Chú thích: 12 Môn đệ có tên trong bài thi kể ra sau đây:

CHIÊU:

Ngô Văn Chiêu (sau lập phái Chiếu Minh vô vi)

KỲ:

Vương Quan Kỳ, đắc phong Thượng Giáo Sư.

TRUNG:

Lê Văn Trung, đắc phong Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, sau thăng Quyền Giáo Tông ĐĐTKPĐ.

HOÀI:

Nguyễn Văn Hoài, tức là ông Phán Hoài.

BẢN:

Ðoàn Văn Bản, đắc phong Thượng Giáo Sư.

SANG:

Cao Hoài Sang, đắc phong Thượng Sanh.

QUÍ:

Lý Trọng Quí.

GIẢNG:

Lê Văn Giảng, đắc phong Thượng Giáo Hữu.

HẬU:

Nguyễn Trung Hậu, đắc phong Bảo Pháp (HTĐ).

ÐỨC:

Trương Hữu Ðức, đắc phong Hiến Pháp. (HTĐ).

TẮC:

Phạm Công Tắc, đắc phong Hộ Pháp. Giáo chủ Đạo Cao Đài về mặt hữu hình. Phần vô vi là Đức Thượng Đế.

CƯ:

Cao Quỳnh Cư, đắc phong Thượng Phẩm (HTĐ).

Tuy nhiên trong câu thứ nhì tên SANG có hai vị: Cao Hoài Sang và Võ văn Sang, thành ra 13 người, nhưng không bao lâu thì Ông Ngô văn Chiêu tách khỏi Toà Thánh lập Chi phái thành ra con số cũng trở lại 12.

Ngài Ngô Văn Chiêu tách khỏi nhóm Phổ độ của quí Ngài Lê Văn Trung và Phạm Công Tắc để chuyên bề tu đơn, sau đó Ngài Ngô văn Chiêu về Cần Thơ lập Phái Chiếu Minh.

Hai Ông Nguyễn Văn Hoài và Lý Trọng Quí theo Ngài Ngô Văn Chiêu tu theo phái Chiếu Minh. Về sau Ông Lý Trọng Quí (cũng có tên là Hồ Vinh Quí) lại tách riêng lập Chiếu Minh Ðàn Cần Thơ, có ra cuốn Kinh Tam Nguơn Giác Thế vào năm Tân Mùi (1931).

Ông Vương Quan Kỳ tách khỏi Toà-Thánh Tây-Ninh vào năm 1930, lập Chi phái Cầu Kho ở Sài Gòn.

Thích nghĩa Câu 1: "Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh" Bốn vị: Chiêu, Kỳ, Trung, Hoài có phận sự độ dẫn nhơn sanh. Cả câu này còn ngụ ý là phải độ cả thai nhi còn trong bụng mẹ, mới đúng nghĩa của "Cơ Tận độ".

Câu 2: "Bản đạo khai Sang Qúi Gỉang thành" Nền Ðạo do TA (Ðức Chí Tôn) mở ra phải giữ ở gốc mới mong thành tựu.(Bản là gốc, Sang có hai tức nhiên người giữ đạo được yên ổn (sang) về vật chất lẫn tinh thần. Quí là được tôn trọng. Giảng là tìm biết cho đến nơi đến chốn). Số Bốn đây là chỉ Tứ vị Thánh nhân đã làm chủ Tam giáo (Phật- Thánh- Tiên) mà nay Đức Chí Tôn đến để qui hiệp lại làm một.

Câu 3: "Hậu Ðức Tắc Cư Thiên Ðịa cảnh" Bốn vị: Hậu, Ðức, Tắc, Cư cùng ở nơi gọi là Thiên Ðịa cảnh. Tuy nhiên có nghĩa rộng ra là nền Đạo này rất thâm sâu, gắng chí tu hành thì được về nơi an nhàn tự toại, tức là về với "Con đường Thiêng liêng Hằng Sống".

Câu 4: "Huờn, Minh, Mân, đáo thủ đài danh" Ba vị: Huờn, Minh, Mân đến giữ cái Đài của TA. Ba vị chính là người hầu đàn, hiệp thành con số 3 là đủ cả Tam Tài: Thiên- Địa- Nhân.

Luận Đạo: Nếu nói về Số Dịch lý thì 12+3=15 là Số Ma phương, tức là tâm của Bát Quái Cao-Đài, là con số mầu nhiệm. Hoặc là 13 như đã nói trên cọng với 3 nữa thành 16 chia đôi ra thành 8 tức là nói về cơ bản: Bát Quái Cao-Đài có hai:

- Bát Quái Đồ Thiên là Thể Pháp của Thiên Đạo
- Bát Quái Hư Vô là Bí Pháp của Thiên Đạo

Trong số 12 chữ lớn là tên 12 Môn đệ đầu tiên của Thầy nhưng vì có trùng hai tên Sang, nên thực tế là 13. Qua ngày Khai Đạo rằm tháng 10 năm Bính-Dần thì ông Ngô văn Chiêu đã tách ra thì cũng còn lại đủ số 12.

Trong số 12 Môn-đệ đầu tiên thì có ba vị là:

- Ông Cao-Quỳnh-Cư (tuổi Mậu-Tý 1888)
- Ông Cao-Hoài-Sang (tuổi Tân-Sửu 1901)
- Ông Phạm-Công-Tắc (tuổi Canh-Dần 1890)

Tức nhiên có 3 vị đứng đầu 12 chi là - Sửu- Dần.

Như thế thì Số 12 là số đặc-biệt của Thầy, tức là 9+3=12; 9 là cơ vận-chuyển, 3 là ba ngôi. Lấy 3 ngôi hiệp vào cơ vận-chuyển tức là cơ qui nhứt, nắm cả các pháp trong tay, mà người nắm pháp ấy là chủ-tể Càn-Khôn vũ trụ, nên Thầy có nói "Số 12 là số riêng của Thầy" là vậy.

Số 12 nếu tính theo hàng ngang thì số 1 đứng trước số 2, tức là lý Thái-cực đứng trước luật Âm Dương thì thấy rõ quyền-năng Chưởng-quản trong đó. Thế nên Thầy nói chi chi cũng có luật-định hết thảy, không chi ngoài quyền sở định của tạo-hóa hết. Nhưng luật công bình có hai phần: một Âm, một Dương biến động, dù ngay trong luật định cũng có, hễ có mâu thuẫn tương-quan là có biến sanh. Hết vòng biến đổi mới trở lại trạng-thái đầu tiên là 1; rồi từ 1 lại trở lại trạng-thái Hư-vô, nên người tu đắc nhứt qui cơ là thành Đạo, nghĩa là hiệp cùng lý Thái-cực để trở lại trạng-thái tĩnh lặng nhiệm-mầu trong lý Hư vô. Trong lý Hư-vô phát sanh một Thái-cực. Thái-cực biến hóa ba ngôi. Mỗi 3 ngôi lại biến thành cửu chuyển. Ba ngôi ấy biến sanh là ĐẠO, PHÁP và THẾ (tức là ba ông CƯ, TẮC, SANG Chưởng quản cả ba Chi nói trên)

- Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc Chưởng quản chi PHÁP
- Thượng phẩm Cao Quỳnh Cư Chưởng Quản chi ĐẠO
- Thượng Sanh Cao Hoài Sang Chưởng quản Chi THẾ

Thầy còn cho biết 4 người đã vào tay Chúa quỉ,

Nhưng sau cùng còn lại 6 người làm nên cơ Đạo. Số 6 là do 3+3 tức là lý tam âm tam dương đó vậy.

Hiện nay trong cửa Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ Tòa Thánh Tây-Ninh chỉ thấy tên sáu vị được thường xuyên nhắc đến và cũng do bài Thánh giáo sau đây xác định, đó là:

1-Trung (Đức Quyền Giáo-Tông Lê-Văn-Trung)
2-Sang (Đức Thượng-Sanh Cao-Hoài-Sang)
3-Hậu (Ngài Bảo-Pháp Nguyễn-Trung-Hậu)
4-Đức (Ngài Hiến-Pháp Trương-Hữu-Đức)
5-Tắc (Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc)
6-Cư (Đức Thượng-Phẩm Cao-Quỳnh-Cư)

Ngày 01-01 Đinh-Mão (dl: 01-02-1927):

Thầy giáng cơ có để lời than: "Trung- Cư- Tắc, mấy con nhớ đêm nay năm rồi thế nào không, còn nay ra thế nào chăng?..Thầy lập Đạo năm rồi ngày này, thì Môn-đệ của Thầy chỉ có 12 đứa, mà bốn đứa đã vào tay Chúa Quỉ, chỉ còn lại 8. Trong tám đứa thì lại còn một đôi đứa biếng nhác mà không hành Đạo. Thầy hỏi nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dầu cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa cũng chưa có phương chi mà độ hơn bốn muôn sanh linh, nhờ tay có sáu đứa Môn-đệ trong một năm cho đặng bao giờ. Thầy vui mừng, Thầy khen tặng hết cả bốn muôn Môn-đệ của Thầy."

 

 

MÔN ĐỒ

門 徒
F: Élèvre.

Môn đồ 門徒: Học trò

Thầy dạy cho người Pháp hầu Đàn: "Chiếc ngai quí báu nhứt trên thế gian nầy hiện là chiếc ngai của vị đệ nhứt cao đồ của Người. Giáo lý ấy đáng lẽ phải đem lại hòa bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẽ và chiến tranh. Bởi thế nên nay chính Thầy phải đến để đem lại cho các con nền hòa bình đã từng hứa hẹn. Rồi đây, Chúa Cứu Thế sẽ trở xuống sau. Thầy giã từ các con.... Các con sẽ còn học hỏi nhiều việc khác nữa với mấy vị Môn đồ của Thầy."

Năm 1926, ông Nguyễn Tung Hậu vì làm ăn sa sút, ngày 23-6-1926 (14-5-Bính Dần) Người có cầu hỏi Đức Chí Tôn coi nên tiếp tục hay để cho sụp đổ, thì Thầy dạy :

Con muốn làm sao tự ý con,
Nhà nghèo nhơn nghĩa miễn vuông tròn
Thầy đâu nỡ để Môn đồ cực,
Mối đạo giữ cho ngàn thưở còn.
                        (Đức Chí-Tôn )

 

 

MÔN QUAN

Môn quan Cái cửa đi vào Hạo Nhiên Thiên, (của từng trời thứ 7). Đến cõi này, Chơn hồn nhẹ nhàng bay trong bầu Trời chứa đầy nguyên khí.

Kinh Đệ Thất Cửu có câu:

"Nhẹ phơ phới dồi dào không khí,
"Hạo Nhiên Thiên đã chí môn quan."

 

 

MÔN SANH (MÔN SINH)

Môn sanh (Môn sinh) là chỉ Học trò.cùng thầy, cùng lớp, nói rộng ra cùng một thế hệ.

Kinh Tụng Khi Thầy qui vị có câu:

"Cõi hư vô nay gần phước Thánh,
"Xin châu toàn đường hạnh môn sinh."

Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ giáng Cơ dạy:

Động mây đầm ấm hưởng an nhàn,
Nhớ đám môn sanh tại nước Nam.
Cứu chúng tuy hay duyên trọng hệ,
Nhưng thương thân khổ giữa trần gian.

 

 

MÔN PHÁI

門 派
E: The Sect.
F: La Secte.

Môn: Cửa, cái nhà, tông phái. Phái: ngành. Môn phái là một học phái do một thầy truyền xuống, nên có cùng chung một tư tưởng hay một đường lối triết học.

 

 

MÔN THIỀN (THIỀN MÔN)

-

Môn thiền hay Thiền môn là cửa Thiền, chỉ nơi chùa chiền thờ Phật, làm nơi tu hành theo các pháp môn của Phật. Ở đây, mượn từ Thiền môn để chỉ nơi thờ tự Đức Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, ấy là Thánh Thất. (Môn là cửa, Thiền là yên lặng suy tưởng cho thấu chánh lý chơn truyền). Vì lẽ đó mà Thánh Thất, Tòa Thánh cũng gọi là Thiền Môn được, thì người Đạo Cao Đài tu hành, khi Cúng Tứ thời vào các Đền Điện cũng đã là hình thức THIỀN rồi, vậy phải tìm pháp môn Thiền nơi nào nữa, mà chính đây là đầy đủ Bí pháp Thiền vậy.

Bài Dâng Hoa, là một trong Tam bửu, có câu:

"Từ Bi giá ngự rạng môn thiền,
"Ðệ tử mừng nay hữu huệ duyên."

 

 

MÔNG Quẻ 04. Quẻ Sơn Thuỷ Mông

 

 

Quẻ 04. Quẻ Sơn Thuỷ Mông

 

 

Tượng: Trời khai Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ

Quẻ này là quẻ Sơn Thuỷ Mông. Dưới là nội Khảm. Trên là ngoại Cấn. Cấn tượng Sơn. Khảm tượng Thuỷ, tên quẻ đọc là Sơn Thuỷ Mông.

Dịch nói "Mông tạp nhi trứ" là Mông hỗn-độn mà rõ-rệt. Mông là quẻ thứ 4 trong Thượng kinh.

Cấn là núi số 7, Khảm là nước số 6; biệt số của Sơn Thuỷ Mông là số 67.

Mông là quẻ đảo của Truân, là cặp Âm Dương đi liền nhau. Truân tượng là ban ngày thì Mông là ban đêm.

Quẻ Mông là Khảm gặp Cấn: Khảm dưới u-tối, Cấn là núi ở trên, tuy có sự ngăn chặn nhưng còn được sáng sủa. Hoặc nói rằng Truân để nói trước, Mông để nói sau.

Quẻ Mông nghĩa là non nớt tối-tăm. Đây ý nói cái vi dương, cái tinh khí của các giống đực bắn vào âm hộ giống cái, thời bắt đầu sinh ra với một sự non nớt, mông lung, hỗn-độn; nghĩa là lúc đó các nguyên-tử vô hình đối với con mắt thường đều bắt đầu làm việc, loại nào ra loại nấy. Tất cả phải tuân theo hành-vi loại đó. Một hài-nhi thì các nguyên-tử đi làm những tế-bào về xương, về thịt, về da mỗi thứ đều có nhiệm vụ thiêng liêng riêng. Thế nên Mông là còn non nớt, tuy là hỗn-độn, tạp nhạp mà rõ-rệt.

Tượng của Mông là Sơn hạ xuất tuyền 山下出 Ý nói dưới núi có nước chảy ra, tức là cái nguồn phát xuất của nước, là cái khởi nguyên, đầu mối của vạn-vật:

-Thánh-nhân thấy thế nghĩ ra việc giáo-dục nhi đồng.

-Người quân-tử dựa vào thể quẻ mà quyết-đoán trong việc làm nhằm mục-đích sửa cái đức của mình.

Đây chính là kỳ khai Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ Độ:

Thời Truân là hột giống mới gieo xuống đất. Thời Mông là cây đã mọc lên, tuy hai trạng thái khác nhau, nhưng cũng đều là non nớt. Đấy là lúc thật sự khởi khai nguồn Đại-Đạo, danh gọi là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ.

Đạo ví như nước, nước không lúc nào thiếu, cũng không dừng.Tại người làm cho nước không thông mà thôi!

Nước ví như Đạo:mênh mông vô cùng tận,tại người không biết tận hưởng mà thôi! Nhưng vì mạch nước mới khai, mạch Đạo mới chuyển nên ứng vào thời Mông. Chúng sanh bị Mông-trần nên lần này Đức Thượng-Đế ra tay cứu vớt bằng cách mở mối Đạo Trời, gọi là Đại Đạo cho người tu đạt cơ siêu thoát.

Đức Hộ-pháp nói:

…Ấy vậy, đạt siêu cơ thoát đặng chi?

Đặng đạt phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật và cả phẩm vị Trời nữa, có phải như vậy chăng? Hết thảy đều nhìn nhận là phải vậy. Mà giờ phút này Đấng cầm quyền cả Càn Khôn Vũ Trụ, làm Chúa cả Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, Ngài đến cùng ta đem cái địa vị của Ngài để trong mình của mỗi đứa, tức là Ngôi Chí Thánh của Ngài. Ngài đến lấy cả hình xác của chúng ta đặng làm phần tử Thánh Thể của Ngài. Phải chăng nếu chúng ta lấy cái triết lý chơn lý ấy tìm tòi, chúng ta thấy rằng: Ông Trời đến ở cùng ta, ta là ông Trời tại thế này, Cửu phẩm Thần Tiên ở trong Thánh Thể của Ngài; Thần, Thánh, Tiên, Phật Ngài đem để trong tay của chúng ta cả thảy…"

 

 

MỘNG TRẦN GIAN

E: Covered with dust.
F: Covert de poussière.

Mộng trần gian hay Trần gian mộng là ví cuộc sống con người ở trần gian như giấc mộng, không phải thực sự vĩnh viễn. Cuộc đời này chỉ là phù du, ngắn ngủi, dễ tan biến chẳng khác nào như một giấc chiêm bao. Đó chỉ là giấc mộng Nam Kha hay giấc mộng Huỳnh lương. Vậy thì: "Tử sinh, sinh tử là chi. Gẫm trong giấc mộng cũng bì như nhau". Làm người phải biết: tự giải mộng, chuẩn bị cuộc hành trình cho bước hồi quê, không lưu luyến mà phải mất kiếp, rất uổng.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Rắp nhập cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống,
"Chốn quê xưa giải mộng trần gian."

 

 

MỘNG ĐIỆP

夢 蹀
E: Nice dream.
F: Beau rêve.

Mộng: Chiêm bao. Điệp: con bươm bướm. Mộng điệp là giấc chiêm bao thấy mình hóa bướm.

Tích xưa: Trang-tử nằm mộng thấy mình hóa ra con bướm. Nay thường gọi ngủ mà thấy mộng gọi là mộng điệp.

Trong văn chương, mộng điệp chỉ giấc mộng đẹp, giấc ngủ say. Trong tôn giáo, mộng điệp cũng là mộng trần.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mở mắt tỉnh lần cơn mộng điệp.

 

 

MỘNG HỒN


F: Imagination.

Mộng: Chiêm bao. Hồn: chỉ cái tinh thần của con người. Mộng hồn là trong lòng có điều nghĩ ngợi vẩn vơ nên tinh thần như lạc vào trong cảnh mộng.

 

 

MỘNG MỴ


E: The dream.
F: La rêve.

Mộng: Chiêm bao. Mị: ngủ say. Mộng mị là chiêm bao trong giấc ngủ say (Ngủ mà thấy mộng gọi là mộng mỵ).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thế trần mộng mị có ra chi.

 

 

MỘNG NAM KHA

Mộng Nam kha hay Nam kha mộng 南柯夢 là Giấc mộng ở cành cây hướng Nam. Tên một bài ký của Lý Công Tá 李公佐 đời Đường chép rằng:

Thuần Vu Phần 淳于焚 chiêm bao thấy mình đi tới nước Hoè An 槐安 được vị Quốc Vương nước này cho làm Thái thú và lại gã Công-chúa cho, nên được hưởng mọi sự vinh hiển. Sau đó, Thuần Vu Phần được lệnh nhà vua đi dẹp giặc, bị thua trận, ở cung Công chúa cũng bị bệnh chết, khiến nhà vua nghi kỵ, đuổi đi. Chàng chán nản, buồn rầu, bèn giựt mình tỉnh giấc, thấy mình ngủ dưới gốc cây hoè, lại dưới cành cây phía Nam có một tổ kiến, mới chợt tỉnh ngộ là mình chiêm bao.

Về sau, người ta dùng điển "Giấc mộng Nam kha", "Giấc hoè" để chỉ cuộc đời như giấc mộng, công danh phú quí tỷ như giấc chiêm bao.

Người hiểu biết phải thấy rằng đã từng chịu đựng những nỗi khó khăn trong kiếp sống này rồi, cảnh thật không phải ở đây có gì mà ham mà luyến? Hãy định tỉnh tâm thần lại mà quán xét để hiểu rõ những mồi vinh hoa phú quí nơi thế gian này, chẳng qua chỉ là một giấc mộng Nam kha mà thôi.

Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Ðã Qui Liễu có câu:

"Đã tầng chịu khó khăn kiếp sống,
"Định tâm thần giải mộng Nam kha."

 

 

MỘT CHA

Thi văn dạy Đạo:

Sum vầy các sắc, các con nhà,
Dầu phải sang hèn cũng một Cha.
Nương dựa con tua vầy hiệp bạn,
Ðường đời cũng thế chẳng bao xa.

 

 

MỘT CÂU THẤT ĐỨC THIÊN NIÊN ĐỌA

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nho nhã con tua tập tánh tình,
Dưới đời đừng tưởng một mình lanh.
Một câu thất đức thiên niên đọa,
Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành

 

 

MỘT CỘI SANH BA NHÁNH IN NHAU

Một cội là một gốc, gốc đó là Thái Cực, tức là Ðức Chí Tôn Thượng Ðế. Ba nhánh là ba Tôn giáo lớn, tức là Tam giáo: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo. In nhau là giống hệt nhau không khác nhau ở điểm nào.

Trong bài Khai Kinh có câu:

Một cội sanh ba nhánh in nhau,
Làm người rõ thấu lý sâu,
Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh

Thánh ngôn. I Trang 14 Chí-Tôn dạy về "một cội"như:

- Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã,
- Thích Ca Mâu Ni thị Ngã,
- Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,

Kim viết CAO ÐÀI.

(Nhiên Ðăng Cổ Phật là TA, Thích Ca Mâu Ni là TA, Thái Thượng Nguơn Thỉ là TA, nay gọi là Ðấng Cao-Ðài)

Qua lời Thánh giáo trên của Ðức Chí Tôn, nhận thấy rằng, mỗi khi Ðức Chí Tôn thấy nhơn loại đi vào đường tà mị hắc ám thì Ngài mở lòng Ðại từ Ðại bi, sai các Ðấng Phật Tiên giáng trần mở Ðạo giáo-hóa nhơn sanh.

- Thời Thái cổ (Nhứt Kỳ Phổ Ðộ) Ðức Chí Tôn phái Ðức Phật Nhiên Ðăng mở Phật giáo;

- Thời Thượng cổ (Nhị Kỳ Phổ Ðộ), Ðức Chí Tôn lại phái:

- Ðức Phật Thích Ca mở Ðạo Phật ở Ấn Ðộ,
- Ðức Thái Thượng mở Ðạo Tiên ở Trung Hoa,
- Ðức Khổng Tử mở Nho giáo cũng ở Trung Hoa,
- Ðức Chúa Jésus mở Ðạo Thánh ở Do Thái.

Các Ðấng ấy đều vâng lịnh Ðức Chí Tôn giáng trần mở Ðạo cứu đời. Như vậy, tuy các Ðạo có giáo lý khác nhau vì nhơn sanh ở mỗi nơi có trình độ tiến hóa khác nhau, nhưng cùng giống nhau ở mục đích là dạy nhơn sanh tu hành, tiến hóa trên đường đạo đức chơn chánh, hầu đoạt vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng, thoát khỏi luân hồi. Vậy: Tam giáo đều có cùng một gốc mà ra, gốc đó là từ nơi Ðức Chí Tôn, mà ngày nay thời Tam Kỳ Phổ-Ðộ gọi là Ðấng Cao Ðài.

Ðức Khổng Tử giải cho biết:

Tam giáo từ xưa vốn một nhà,
Người sau lầm tưởng vọng chia ba.

 

 

MỘT DẠ THÌNH

Ðức Tả Quân LÊ CÔNG cũng nhập bàn cho thi:

Ðường dài chớ nệ ngàn công gắng,
Bước nhọc đừng nao một dạ thình.
Ðồ sộ giang san xưa phủi sạch,
Trông vào tua vẹn nỗi đinh ninh.

 

 

MỘT ĐIỂM QUANG MINH MỘT ĐIỂM LINH

Ðó là điểm Linh quang mà Ðức Chí Tôn chiết ra từ khối Ðại Linh quang của Thượng Đế ban cho mỗi người làm linh hồn, để gìn giữ sự sống và để điều khiển chơn thần và thể xác.

Đức Chí-Tôn ban cho Thi: 11-1-Bính Dần (dl: 23-2-1926)

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,
Cái công giáo hóa cũng đồng sinh.
Ðạo đời tua biết rằng đời trọng,
Một điểm quang minh một điểm linh.
                        (Thi hứa giáo tập)

"Nghĩa là sắp nhỏ của con dạy, sau cũng nên người ở đời. Ấy là đời. Nếu biết trọng đời thì gắng dạy nó nên hiền. Một điểm quang minh là một hồn người, là vật tối linh của Thầy trân trọng. Nếu con muốn làm lành thì gắng dạy mấy hồn ấy đặng hiền." (Lời giải 2 câu thi sau)

Thi hứa giáo tập là Ðức Chí Tôn ban thơ văn để dạy học. Thi là thơ văn, hứa là thuận cho, giáo tập là dạy cho học tập.

 

 

MỘT ĐỒNG MỸ KIM (ONE DOLA)

 

 

 

 

Đây là đồng tiền của Mỹ trị giá Một đồng. Một đồng này đặc biệt là có hình "Thiên Nhãn" đặt trên đỉnh tháp. Sau đây là ý nghĩa:

Ở nước Mỹ: Năm 1782, Thiên Nhãn được chọn là một phần trong biểu tượng khắc trên Quốc Ấn (con dấu quốc gia) của Hiệp-Chủng-Quốc Hoa-Kỳ. Người ta cho rằng Thiên Nhãn là đề nghị của Pierre Thiên Nhãn trên Một đồng Đô-La Mỹ Eugene du Simitiere, nhà tư vấn nghệ thuật cho các Tiểu bang thiết kế Quốc Ấn. Trên Quốc Ấn, Thiên Nhãn được vẽ phía trên một Kim Tự Tháp có 13 bậc, tượng trưng cho 13 Tiểu bang đầu tiên của Mỹ. Toàn bộ biểu tượng ngụ ý Thiên Nhãn hay Thượng Đế ban ân huệ cho một nước Mỹ thịnh vượng. Ngoài ra Thiên Nhãn còn được nhìn thấy khắc trên con dấu của Tiểu Bang Colorado. Đặc biệt là trên mặt sau của tờ giấy bạc 1 Đô-la của Mỹ cũng có biểu tượng này. Chính việc này làm cho nhiều người biết Thiên Nhãn, bởi vì đồng Đô-La của Mỹ rất phổ biến trên Thế giới. "Đại Ấn của Hiệp Chúng Quốc" trên giấy một đồng Mỹ Kim là con dấu duy nhất có hai mặt. Nó là kết quả của sự cố gắng tỉ mỉ của nhiều nhân vật từ năm 1776 đến năm 1782 trong đó có Benjamin Franklin, Tổng Thống Thomas Jefferson và John Adams. Bề mặt của con dấu cho thấy có con Ó trọc đầu ngậm trong miệng một biểu ngữ có hàng chữ La-Tinh "Epluribus UNUM" có nghĩa là "Từ cái nhiều ra cái duy nhứt". Trùng hợp thay! Một trong những nguyên lý căn bản của Đạo Cao-Đài là "Vạn thù qui nhứt bổn" cũng có cùng một nghĩa như trên. Điều này chứng tỏ sự đồng nhất vạn vật. Chúng ta tuy thấy nhiều nhưng chung qui có Một. Con Ó được chọn lựa là vì con Ó là một trong những huy hiệu của Ai-Cập. Vì Ai-Cập xưa kia là nước dẫn đầu về huy hiệu. Con Ó tượng trưng cho sức mạnh tối cao của Quốc gia. Trên đầu con Ó có một vầng hào quang biểu thị rằng: phần tâm linh ở trên phần vật chất. Trong vầng hào quang có 13 ngôi sao tượng trưng 13 Tiểu bang đầu tiên của Hoa-Kỳ:

- Đầu con Ó tượng trưng cho cơ quan Hành pháp.

- Trước ngực con Ó là một cái khiên (cái mộc) với 13 đường sọc, phần trên cái khiên màu xanh tượng trưng cho cơ quan Lập pháp.

- 9 cái lông đuôi là cơ quan Tư-pháp.

 

 

 

Cái sọc trắng và đỏ của cái khiên là ý nghĩa đầu tiên của một Hiệp-Chủng-Quốc. Theo phong tục Trung Đông nhành ô liu với 13 lá (13 Tiểu bang) và các hạt trong chân mặt của con Ó tượng trưng cho Hoà bình. Bên chân trái là 13 mũi tên tượng trưng cho chiến tranh lấy từ phong tục của người Mỹ bổn xứ (người da đỏ). Đầu Ó ngó qua nhành ô-liu bên phải gợi sự mong muốn Hoà bình. Mặt trái của con dấu có một Kim-Tự Tháp không đỉnh. Kim-Tự-Tháp đã được chọn để nhớ lại nền văn minh cực thịnh trong lịch sử Ai-Cập. Kim-Tự-Tháp không đỉnh này nói lên sức mạnh vật chất của một Quốc gia luôn luôn xây dựng và tiến triển không ngừng."Thiên Nhãn" trên Kim-Tự Tháp tượng trưng cho Đấng Thượng Đế soi sáng cả muôn vật và cũng chỉ sức mạnh tâm linh luôn ở trên sức mạnh vật chất.

ANNUIT COEPTIS có nghĩa "Ơn Trên phò hộ chúng ta".

NOVUS ORDO SECLORUM có nghĩa là "Một kỷ nguyên mới trong nghìn năm". Bắt đầu từ năm 1776.

Dưới chân của Kim-Tự-Tháp số 1776 được viết bằng số La-Mã MSCCLXXVI.

Sự trùng hợp của biểu tượng và tư tưởng trên thấy rằng muôn vật trên thế gian này dù muôn phần khác biệt nhưng lúc nào cũng có nhiều điểm giống nhau hay nói cách khác là "Vạn thù qui nhứt bổn" (Trích Tập san Đại Đạo phổ thông).

Tuy nhiên nếu nói cho đúng nghĩa về những nguyên nhân mà Đức Chí-Tôn mở Đạo tại Việt Nam phải xét về ba yếu tố: Thiên- Địa- Nhân thì mới thấy điều yếu trọng của Việt Nam là một quốc gia Thiên định.

 

 

MỘT GỐC SINH RA

Kinh Sám Hối có câu:

"Cũng là một gốc sanh ra,
"Gồm bao nâng đỡ ruột-rà thương nhau."

 

 

MỘT MAI

Kinh Sám Hối có câu:

"Một mai nhắm mắt đâu còn,
"Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng?"

 

 

MỘT NGÀY QUA LÀ MỘT NGÀY CHẾT

Ý nói thời gian làm cho tuổi trẻ lớn dần lên, đồng thời cũng làm tuổi già dần dần đến cõi chết, đó là định luật. Biết được qui luật của vũ trụ là như thế để tất cả phải lo cho chính bản thân mình: tu tâm dưỡng tánh, vun bồi đạo đức để làm hành trang cho bước trở về. Vì sau cùng chỉ nắm trong tay hai chữ Tội, Phước mà thôi. Còn nếu nói theo khoa học thì tế bào người già ngày càng chết đi, mòn dần, khô héo, nên thân hình gầy yếu, chứ không tăng trưởng như hồi còn trẻ nữa. Đây là câu chuyện đối đáp giữa Đức Quyền Giáo Tông và Thất Nương lúc Ngài còn sanh tiền:

Trong ngày nầy (27-1-1926), có Thất Nương Diêu-Trì Cung giáng cơ. Đức Quyền Giáo Tông hỏi:

- Có duyên luyện Đạo cùng chăng, xin Em mách giùm.

Đã gặp Đạo ắt có duyên phần. Ráng tu luyện, siêng thì thành, biếng thì đọa, liệu lấy mà răn mình. Phải sớm tính, một ngày qua là một ngày chết. Đừng dụ dự. Em xin kiếu".

 

 

MỘT PHEN LẦM LỠ LẼ NÀO BỎ NGHIỆP MUÔN NĂM

Nghĩa là Thầy định lập kỳ Phổ-Độ mười ngàn năm nay, không vì sự lỗi của Nữ-phái mà bỏ cho đành. Nhận xét lòng Bác-ái của Thầy vô tận, vô biên. Thầy quở mà Thầy thương, rồi lại ban thưởng nữa; nên Thầy kêu Bà Nữ Đầu-sư lập thông qui kêu Nữ-phái cho Thầy chấm phong. Nhờ Bà Nữ Đầu-sư, tất cả Nữ-phái có hầu đàn đêm 14 tháng giêng năm Đinh-Mão (15 Février 1927) đặng thọ phẩm tước hết". Như vậy Thiên phong Chức-sắc Nữ phái vào ngày này:11-12-Bính Dần (Vendredi 14-1-1927). Cả Hội-Thánh Nam phái tung hô mừng lớn rằng "Vinh-hạnh thay cho Nữ-phái!"

Thầy phân phiền với bà Lâm Hương Thanh về Nữ phái: "Thầy lập Đạo nơi cõi Nam này, là cốt để ban thưởng cho một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thịnh nộ của Thầy, Thầy lại tha-thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo thiên lập địa, chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 này đặng vậy, cốt để ban thưởng các con thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao! "

Ôi! Mà hại thay! Thảm thay! Đau-đớn thay! "Hòn ngọc" đẹp-đẽ quí báu dường này Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu-căng, trề nhún, Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành-đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ-phái mà làm gì. Nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ, Thầy lại thương con (3) nên đã lắm phen lấy khảo trừ công cho con trở lại phẩm cũ, bởi một lời đã hứa với Quan-Âm, Thầy mới nhứt định dành phần công quả ấy cho con. Con ôi! Thầy thấy con đau thảm bấy nhiêu, một phen lầm-lỡ lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm! Con coi đó mà coi, Thầy thương con là bao nhiêu, Thầy giữ Nữ phái lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến, Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành. Con là Chị, Thầy đến lập Tam Kỳ Phổ-Độ, chỉ vụ một chữ "HOÀ", con liệu đứa nên, dùng đẹp lòng con kêu tên cho Thầy phán-đoán. Tr…! Con giúp em con!" (TNII/26)

 

 

MỘT THIÊN ĐẠO ĐỒ

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Người thối chí bước qua Tịnh độ,
Kẻ buồn lòng lại mộ Tiên Thiên.
Thất thời nghe nói đi liền,
Về bên phái khác một thiên Đạo đồ.

 

 

MƠ MÀNG

Mơ màng: nửa thức nửa ngũ.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Mơ màng chưa khỏi lụy phồn hoa,
Chưa biết nên thân tính sắm nhà.

 

 

MƠ ƯỚC

F: Désirer.

Mơ ước: mong mỏi có ý tưởng tượng nhiều trong trí.

Thầy đến dạy Đạo cho ba vị Tiền bối có câu:

Một cuộc phồn hoa biếc sắc xưa,
Niên cao trở gót thảm khi vừa.
Công danh đã đủ còn mơ ước,
Một cuộc tang thương đã thấy chưa?

 

 

MỚM CƠM VÚ SỮA

Là chỉ một sự chăm sóc con khi còn bé. Lúc trẻ con vừa biết ăn người mẹ nhai cơm cho nát ra rồi mớm vào miệng cho con ăn, nên gọi là mớm cơm. Song song với việc tập cho con ăn như vậy, thì sự cho bú bằng sữa mẹ vẫn là thức ăn chính cho trẻ. Thật sự ra chính người mẹ nhai cơm cho con ăn, cơm hòa với nước bọt làm cho trẻ con ăn mau tiêu, ít bịnh bậy và con bú bằng sữa mẹ bằng một thứ sữa tinh khiết. Trẻ con ngày xưa được mẹ "Mớm cơm vú sữa" sẽ có một tình cảm tríu mến trong tình mẹ con hơn. Trẻ con được sưởi ấm bằng tình thương của mẹ mới thắm thía câu "Mẫu tử tình thâm" và thấy được "Lòng Mẹ bao la như biển Thái bình" và chắc chắn rằng không bao giờ vong bản.

Đức Hộ-Pháp có lời dạy: "Cái quyền năng dưỡng dục về thể dục ta đó thuộc chủ quyền cha và mẹ ta, nếu không có nhờ mớm cơm vú sữa thì thân ta ngày hôm nay không làm người được. Thử lãnh đạm đi, thi hài phàm tục đã bị tiêu hủy rồi, không tiêu hủy về phương diện này, cũng tiêu hủy về phương diện khác, đừng nói chi không có nuôi dưỡng chăm nom săn sóc thi phàm chúng ta, thử nghĩ coi chúng ta có thể sống được hay chăng. Điều ấy cả thảy đều ngó thấy dễ dàng không cần phải luận".

Kinh Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu có câu:

"Mớm cơm vú sữa cũng tay,
"Dưỡng sanh đùm bọc với tài chí công.
"Xét vì nhơn vật lẽ đồng,
"Chắt chiu hằng để trọn lòng chung thương."

 

 

MỜ HỒ

F: imprécis.

Mờ hồ: Không rõ ràng.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Phong thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
Giữa biển ai từng gặp Lão Tô?

 

 

MỞ CƠ-QUAN TẬN ĐỘ CHÚNG SANH

"Đức Chí-Tôn sai Hộ-Pháp giáng thế. Tại sao Ngài không dùng Cơ Bút để truyền Bí-pháp cho con cái của Ngài, Ngài chỉ giáng bút truyền cho Hộ-Pháp mà thôi?

Không có chi lạ, mở Cơ-quan tận độ chúng-sanh tức nhiên là lập một khoa thi sang Tam chuyển, tái phục thiêng liêng-vị nơi cảnh vô hình, mỗi chuyển tức nhiên mỗi khoa-mục của các đẳng chơn-hồn cần phải thi đặng đoạt vị, thăng hay đoạ.

Bởi cớ cho nên Đức Chí-Tôn gọi là Trường thi công-quả là vậy. Đức Chí-Tôn cho Hộ-Pháp và Thập Nhị Thời-Quân đến cốt-yếu để mở cửa Bí-Pháp cho Vạn-linh đoạt vị."

 

 

MỞ HUỆ QUANG KHIẾU

Đức Hộ-Pháp nói: "Nhập tịnh mà đúng rồi, cần phải chờ các Đấng thiêng-liêng mở huệ-quang-khiếu nữa mới xuất hồn ra được, con đường mà chơn-thần xuất ra rồi về với Đức Chí Tôn là Con đường Thiêng liêng Hằng sống đó vậy. Chính Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn mở Huệ-quang-khiếu nên mới được về hội-kiến với Đức Chí-Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí-Tôn nhiều điều bí-yếu, bí-trọng."

 

 

MỞ TÙ PHONG ĐÔ

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Cảm quang diêu động tâm tu,
"Khai cơ giải thoát mở tù Phong Đô."

 

 

MUA QUAN

Thường ngữ là "Mua quan bán chức". Quan chức là do tài năng chính bản thân của mỗi người phải có mới ra thi thố với đời và lo việc mưu cầu ích nước lợi dân. Nhưng ở vào thời mà đất nước kém mở mang, người dốt nhiều nhưng ham được đứng ngôi cao, nên phải dùng tiền sẵn có mà mua quan, thì tất nhiên phải có kẻ bán chức. Đó là chỉ sự hữu danh vô thực, chuẩn bị cho thời kỳ sụp đổ.

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Mua quan chưa rõ đặng nên quan,
Thà chịu cho xuôi với nghiệp làng.
Trên chẳng đặng nương vin khúc giữa,
Ðừng cho sụt giá bán nài hàng.

 

 

MÚA BÚT THẦN

Đức Lý dạy: qua bài thi rằng:

Chuyển luân thế sự đưa tay nắm,
Trừ diệt tà gian múa bút Thần.

 

 

MỤC ĐÍCH

目 的
E: But.
F: Cible.

Đức Hộ-Pháp nói: "Người Tu-hành mục-đích đem cái ân cho người chớ không phải đợi người làm ân cho mình; nghĩa là mình phải lo sự ấm no cho bá tánh tức là lo cho ta, bởi Đức Chí-Tôn đã dành phần cho ta một nhiệm vụ đặc biệt là ta phải Phụng-sự cho vạn-linh để giải khổ cho loài người trong lúc họ đang lâm nàn kêu cứu; khi ta làm xong phận sự thì không còn ai chối cải rằng ta không phải là ân-nhân của xã-hội, chừng ấy ta không muốn về Tây-phương họ cũng lập bàn hương-án để đưa ta đặng đền ơn cứu tử".

 

 

MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO CAO ĐÀI

Mục đích:

- Giáo hoá nhơn sanh lập Đại Đồng huynh đệ.

- Là đưa nhân-loại tấn-hoá trên con đường Chân- Thiện- Mỹ. Chung qui dầu ở nơi Tôn-giáo nào cũng lấy TÂM làm gốc:

 

 

MỤC-KIỀN-LIÊN (Phật Học)

Mục-kiền-liên (S: Mahāmaudgalyāyana; P: mahāmoggallāna) Một trong những đệ tử quan trọng của Phật Thích-ca. Mục-kiền-liên xuất thân từ một gia đình Bà-la môn, cùng gia nhập Tăng-già Phật giáo với bạn thân là Xá-lị phất (s: śāriputra) và sớm nổi danh là người đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong một số chùa, người ta thấy tượng của Tôn giả và Xá-lị-phất đứng bên tả và hữu đức Phật. Trước khi Phật nhập diệt, cả hai vị đều bị ngoại đạo giết chết. Mục-kiền liên được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

MÙI (Giáo Sư Ngọc Mùi Thanh)

Thọ phong Giáo-sư phái Ngọc vào mùng 8 tháng 6 Bính Dần. Thánh danh là Ngọc Mùi Thanh. Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo và cũng có ký tên cùng với 28 vị tiền khai Đại Đạo nữa. (Bản chép khác: Nguyễn Văn Muồi)

 

 

MÙI ĐỜI

Thi văn dạy Đạo có câu

Thơm tho chi cũng vốn mùi đời,
Chưa kẻ dùng nên của để chơi.
Mua bán chọn lừa như buổi chợ,
Về nhà chưa tối đã qua đời

 

 

MÙI HƯƠNG

Là mùi thơm, người ta thường dùng mùi thơm để tẩy trược khí. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Hương chiên đàn vừa đốt lên, tỏa ngát hương bốn mươi dặm". Vì thế, dùng hương chiên đàn tối thượng để sánh với Đức Phật đã thành tựu năm thứ diệu hương (Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Tri kiến hương)

Bài Kinh Niệm Hương có câu:

"Mùi hương lư ngọc bay xa,
"Kính thành cầu-nguyện Tiên-gia chứng lòng."

 

 

MÙI TRẦN

Mùi trần: Mùi vị cõi trần gian bây giờ đây đối với một hồn khi đã thoát xác rồi họ chỉ biết ngao ngán và không bao giờ còn lưu luyến nữa, tức nhiên Chơn hồn đã lánh xa rồi.

Thế nhân đã từng nếm qua mùi vị cõi trần hay mùi đời, mỗi người cảm nhận khác nhau: Có người cho là cay đắng, lại có kẻ cho là chua cay, người lại cho rằng uế trược, hôi tanh..Thế mà mấy ai biết ngán thật sự:

Trong Thánh Thi có bài viết:

Mùi đời biết đặng lắm chua cay,
Cay đắng kiếp người khổ ớ ai!
Ai dám xả thân hành chánh Đạo?
Đạo mầu theo dõi hết trần ai.

Hoặc:

Mùi đời đã nếm biết chua cay,
Giành giựt còn mong cậy sức tài.
Nếu chẳng định tâm lo xét quấy.
Nhãn tiền báo ứng dễ đâu sai.

Hoặc:

Thơm tho chi cũng vốn mùi đời,
Chưa kẻ dùng nên của để chơi.
Mua bán chọn lừa như buổi chợ,
Về nhà chưa tối đã qua đời.

Kinh Đệ Bát Cửu có câu:

"Mùi trần khi đã xa khơi,
"Say sưa bầu khí bồi hồi chung phong."

 

 

MUÔN KIẾP

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ðã từng muôn kiếp có tên Ta,
Ta bởi Ðạo Trời mở cửa ra.
Ra để rước người lành đến ở,
Ở chung một cõi lại chung nhà.

 

 

MUÔN SẦU NGÀN THẢM

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Qua cũng dư hiểu buổi tạo đời bước đầu tiên thì các vị nguyên nhân lãnh lịnh phải chịu muôn sầu ngàn thảm là cố nhiên, nếu ai đủ nghị lực làm xong phận sự thì quả vị thiêng liêng không nhỏ vậy. Mấy em nên cắt nghĩa cho nhau hầu vẹn đền lòng Đại từ Đại bi của Chí Tôn quá thương chúng sanh nên giáng trần lập Đạo. Mấy em là người để thúc giục tâm chí cương quyết và can đảm với những hoàn cảnh khó khăn luôn, nghe à!"

 

 

MUÔN TUỔI THỌ

Thi văn dạy Đạo có câu:

Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ,
Cửa Tiên xuất nhập cũng như nhà.

 

 

MUỘN

Muộn là chậm đi mất, nhưng chưa phải là trễ. Còn thì giờ.

Thầy dạy: "Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy cơ mầu nhiệm đặng, thì chừng ấy đã muộn rồi. Vậy các con khá tuân lịnh dạy" (TNI/35)

 

 

MƯA MAI NẮNG XẾ

Ngày 24-6-1926 Ðức Chí Tôn ban Thi cho ông Cao Hoài Sang (sau đắc phẩm Thượng Sanh HTĐ). Ông có thêm đạo hiệu là Thanh Thủy, nhưng Ngài ít dùng Đạo hiệu này, nên không được nhiều nhiều người biết.

Ðã có căn phần dựa cảnh Tiên,
Bước đời chớ quản bậc sang hèn.
Mưa mai nắng xế chờ qua khỏi,
Ðêm tối lần ra gặp ánh đèn.

 

 

MƯA MÓC

E: Rain and dew.
F: La faveur royal.

Mưa móc là mưa và sương rơi xuống. Ý nói: ơn huệ của vua ban xuống cho dân chúng nhiều như mưa và móc.

Thơ của Cao Thích: Thánh đại tức kim đa vũ lộ. Nghĩa là: đời vua Thánh cho đến nay, nhiều mưa móc ban xuống.

Trong Thánh Ngôn, mưa móc là ơn huệ của Đức Chí Tôn ban xuống cho nhơn sanh.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mưa móc dân sanh gắng gội nhuần.

 

 

MƯA NẮNG

Thi văn dạy Đạo có câu:

Mưa nắng thương thân chịu lắm lần,
Ðành đem đức gởi tại Chiêu Tân.

 

 

MỨC TRUNG TIM CỦA ĐỜI VÀ ĐẠO

Đức Hộ Pháp giảng Đạo ngày 15 năm Ất-Mùi (1955):

"Từ thuở nay, con người dầu sức lực mạnh mẽ thế nào, gánh một vai mà thôi, Đại Từ Phụ lại buộc cả Thánh Thể của Ngài phải gánh hai vai Đời và Đạo. Cái kiểu vở hai Tôn giáo trước mắt là: Ta ngó thấy Phật-giáo thì nghiêng cái gánh bên Đạo, Công giáo thì lại nghiêng cái gánh bên đời. Đời Đạo, phàm Thánh, Đức Chí Tôn đến lập Thánh Thể của Ngài. Ngài biểu phải đứng ngay chính giữa của nó. Luận ra cho cùng lý thì Hội Thánh của Ngài, buộc không đời mà cũng không Đạo, ở giữa cái mức trung tim của đời và Đạo".

 

 

MỪNG THAY

Thầy dạy: "Mừng thay" chớ! (Mỗi lần Thầy giáng thì đọc bài "Mừng thay", nay ba ông quên đọc Thầy nhắc).

 

 

MƯỜI ĐIỀU KHUYẾN TU CỦA ĐỨC CHÍ TÔN

Ðiều thứ nhứt: Thầy khuyên nên nhớ,
Lòng trung kiên muôn thuở còn nêu;
Dầu ai nặng nhẹ trăm điều,
Quyết không bỏ lý cao siêu của Thầỵ
Nhiều thử thách vây quanh con đó,
Nếu ngã lòng công khó tiêu tan;
Việc chi dầu ở trần gian,
Là điều huyễn hoặc chớ mang nơi lòng.

Ðiều thứ hai: Thầy trông đệ tử,
Tình bạn bè phải giữ thủy chung;
Luôn luôn tha thứ khoan dung,
Nói năng nhỏ nhẹ chớ dùng lời thô.
Dìu dắt nhau điểm tô công quả,
Phải thật hành với cả chung quanh;
Thiệt thòi cam chịu đã đành,
Vô vi phẩm vị Thầy dành cho con.

Ðiều thứ ba: Vẹn tròn hạnh đức,
Tuy bán buôn cực khổ tảo tần;
Ðủ công nuôi nấng tấm thân,
Ðừng ham những chuyện phi nhân gạt lường.
Dầu tiền bạc đầy rương tràn tủ,
Cuộc trần nầy chưa đủ con ơi!
Ác gian cũng chỉ một đời,
Thà nghèo trong sạch thảnh thơi linh hồn.

Ðiều thứ tư: Pháp môn qui luật,
Lục, thập trai cố sức trao giồi;
Thịt thì xương máu tanh hôi,
Cỏ cây rau cải cũng rồi bữa ăn.
Ðức từ bi thường hằng thể hiện,
Không sát sanh lòng thiện ta còn;
Lạt chay tuy chẳng ngọt ngon,
Còn hơn thú vị cơm chan máu hồng.

Ðiều thứ năm: Quyết không hờn giận,
Ghét ganh chi cho bận lòng mình;
Con xem vạn quyển Thiên Kinh,
Hiền nhân quân tử rộng tình ví câu.
Muôn việc xảy bắt đầu phẫn nộ,
Là nguyên nhân thống khổ ly tan;
Chơn truyền Pháp chánh Ðạo Vàng,
Tập xong chữ Nhẫn Niết Bàn không xa.

Ðiều thứ sáu: Thiết tha Thầy dặn,
Ngày hai thời lẳng lặng công phu;
Việc chi dầu quá cần cù,
Cũng nhơn vài khắc tập Tu nguyện cầu.
Khi rảnh việc đồng sâu chợ búa,
Ðem sấm, kinh, thi... của Thầy ban;
Học cho thông thuộc đôi hàng,
Ngâm nga trong lúc thanh nhàn bâng khuâng.

Ðiều thứ bảy: Quyết tăng công quả,
Ta cứu người già cả ốm đau;
Tùy duyên có thể giúp vào,
Lâm cơn hoạn nạn khi nào cần con.
Phước đức đó vẫn còn muôn thuở,
Tuy vô hình đừng ngỡ rằng không,
Con ôi! trong cõi trần hồng,
Mấy ai nghĩ đến tấm lòng thanh cao.

Ðiều thứ tám: lời nào Thầy dạy,
Dầu khổ đau chớ ngại công trình;
Biết rằng con phải hy sinh,
Phật Tiên đâu nỡ quên tình hay sao?
Ðừng chấp việc núi cao rừng thẵm,
Hãy dò đường muôn dặm xa trông;
Nếu con thề giữ trọn lòng,
Ðương nhiên đắc Đạo thoát vòng tử sanh.

Ðiều thứ chín: Ðạo hành cơ bản,
Giữ làm sao có bạn không thù;
Từ đây con nhớ rằng Tu,
Hạ mình nhận lỗi mặc dù là không.
Lời nói sao hòa trong hiệp ngoại,
Ðừng hơn người nếu phải ép lòng;
Không ham những chuyện mênh mông,
Trừ no đủ ấm ép lòng mà chi.

Ðiều chót hết: Mười ghi trăm nhớ,
Phật - Pháp - Tăng con chớ quên ơn;
Gia đình nghĩa trọng nhiều hơn,
Tình thương xã hội trong cơn thiết cần.
Ơn Tổ Tiên dành phần con cháu,
Do những lời dạy bảo Thầy mong;
Con ơi! Hãy khá ghi lòng,
Bấy nhiêu tâm huyết mấy dòng thi văn.

 

 

MƯỜI PHẦN CÒN LẠI CÓ MỘT

Đây là lời tiên tri của các Đấng: báo cho nhân loại biết rằng: Trong thời kỳ cùng cuối này đây nhân loại trong số mười người chỉ còn lại một người mà thôi. Qua các tài liệu sau:

Các Đấng Thiêng Liêng đã báo cho nhân loại biết từ lâu:

"Nhân vật mười phần hao tám, chín,
"Thần Tiên thấy vậy cũng chau mày."

Hay là câu mà nhân gian đều biết và cũng truyền tụng:

"Mười phần chết bảy còn ba,
"Hết hai còn một mới ra Thái bình."

Lần này Đức Chí-Tôn cho phép Thần Hoàng Bổn cảnh làng Mỹ Lộc đến nhắc nhở vào ngày 15-11-Bính Dần (dl: 18-1-1927) rằng: "Nay có lịnh Ngọc Hoàng chiếu chỉ cho phép Ta giáng cơ mầu nhiệm mà tỏ nền Ðạo là quí trọng cho lê thứ hiểu. Lê thứ đâu rõ thấu việc Trời đã định hơn mấy chục ngàn năm nay. Lê thứ nghe: Kỳ Hạ Nguơn hầu mãn nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tan, mười phần còn lại có một mà thôi. Than ôi! Buồn thôi! Nghĩ vì Thiên cơ đã định vậy, thế nào mà cải cho đặng, duy có mở tấm lòng từ thiện ăn năn sám hối, lo việc tu hành; đồng với nhau cả quốc dân mà quì lụy khẩn cầu coi Trời đoái tưởng đến chăng? Bởi thế nên Ngọc Ðế và chư Phật, chư Tiên, chư Thánh mới lập hội Tam Kỳ Phổ Ðộ đặng có cứu vớt chúng sanh, đương linh đinh nơi biển khổ. Nếu gặp thuyền Bát Nhã mà không xuống, không theo thì chắc thế nào cũng chơi vơi mé biển."

 

 

MƯỢN DANH ĐẠO TẠO DANH MÌNH

Lời-Phê của Đức Hộ-Pháp: "Gấm có tật hay độc-tài, từ trước Bần-Đạo quảng đại để rộng quyền cho mỗi đứa tự-do, tự chủ lấy mình, dầu cho Chưởng-Quản gia-nghiệp chung. Họ cũng đủ quyền làm chủ riêng của họ mấy em đều biết, còn nay thì Hội-Thánh Phước Thiện đã thành-lập, Đạo Cao-Đài thành Quốc-Đạo, thì khuôn luật buộc ràng không còn như trước đặng. Cả Chức-Sắc dầu Cửu-Trùng-Đài hay Phước-Thiện cũng là một vị Quan-Lại của Chánh-Trị-Đạo, hễ phạm tội thì án-luật định hình không ai khỏi đặng. Như thế mới trừ đặng cái hại: Mượn danh Đạo tạo danh mình, nương bóng Đạo-Đức lợi cho mình, Qua đã biết trước thế nào trong mấy em cũng có đứa ngồi ngục, Gấm bị trước, vì Phối Thánh Thoại muốn cho nó trả quả đối với Phối Thánh còn ở phàm. Đáng kiếp Gấm đã đụng đầu xe lửa cũng như mẹ con Út-Giáp đụng đầu xe lửa Màng buổi trước vậy. Mấy em ráng cẩn thận coi chừng ăn-hiếp mấy ông Thánh ẩn thân bất-ngờ mà phải ngồi cửa Phong-Đô mà khóc đa nghe." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

 

 

MƯỢN ĐẠO

Đức Hộ-Pháp nói: "Trước đây, cả toàn thiên hạ nói rằng: Nòi giống Việt Nam không có Đạo. Lạ-lùng thay! Chúng ta tự hỏi có thật vậy không? Thật quả có chứ! Có nhiều Đạo quá mà thành ra không Đạo, mượn Đạo, xin Đạo của thiên-hạ mà thôi! "

 

 

MƯỢN HÌNH CHÍ TÔN

Kinh Tẫn Liệm có câu:

"Càn khôn bước Thánh thượng trình,
"Giải xong xác tục mượn hình Chí-Tôn."

 

 

MƯỜNG TƯỢNG

Là giống như, tương tự như thế.

Thầy dạy ông Thái Thơ Thanh về việc Chấp bút rằng: "Con THƠ! Con ráng tập Chấp bút Thầy chỉ vẽ cho: Thơ nghe! Khi con ngồi mà tập thì Thần con cho tỉnh, chẳng nhớ chi hết. Khi Thầy giáng thì làm cho con khó chịu một chút, rồi Thầy dạy con viết, mường tượng như con đặt ra vậy, mà không phải con đặt đâu. Thầy đưa Thần con theo Thầy lên không đặng Thầy dạy nó viết chữ chi nó cứ viết theo, chứ nó không biết gì hết. Khi ấy con có hơi khó chịu, như điển dính tay con vậy. Ấy là Thầy giáng, song con đừng lấy lòng sợ thì Thầy mới dễ giáng. ĐÃI! Con lấy 9 cây nhang đặng Thầy làm phép trấn Thần cho nó" (26-6 Bính Dần- dl 4-8-1926)

 

 

MƯU BẤT KHẢ CHÚNG

(Mưu là tính kế bí mật Bất khả chúng là không thể cho nhiều người biết) Mưu chước để làm một việc gì thì không thể để lộ cho số đông người biết được.Có nhiều hiểm họa về sau.

Lời Thầy dạy tại Hộ-Pháp-Đường, ngày 21-9-Bính Tuất (Le 16 Octobre 1946) Thượng Sanh + Văn Pháp phò loan.

"Thầy, các con. Thầy đến hôm nay với các con cốt ý để mừng đứa con xa mới về và cũng luôn tiện đây dặn dò mấy con Hiệp-Thiên một ít điều cần yếu, nhứt là TẮC.

Hộ-Pháp! Đau khổ, chua cay, mặn nồng, ấm lạnh đã trải qua, có lẽ con cũng có dịp để chiêm nghiệm điều nên hư hay dở của bước Đạo là thế nào. Tuy vân, các con chưa kịp thấy chớ trị loạn hưng vong đời đều do đó. Việc mầu nhiệm của Thiên Thơ đã rõ ràng từ việc đi đến việc về của con đều do đó, con biết chăng con? Thầy mừng trông thấy Hiệp-Thiên-Đài đã nhập thành khối yêu đương khắn khít, Thầy chỉ khuyên nên giữ vẹn toàn Thánh Đức và biết đỡ nương giúp lẫn nhau, chia vui xẻ nhọc toan tính liệu lượng chung nhau thì các con chắc chắn sẽ đi trúng lối, các con nên biết đại khái là Đạo đương ở một tình thế khó khăn, các con lúc nào cũng phải dè dặt cẩn thận từng ly từng tí mới được và không vì một lẽ nào mà vượt khỏi giới hạn đạo-đức; vượt bỏ đạo đức ra ngoài là hành vi thất sách đó các con, nên nhớ. Thầy vì thương các con và muốn cho các con khỏi phải sai đường, nên Thầy cho phép Hộ-Pháp mỗi tháng làm Tờ phúc trình công việc Đạo cho Lý-Bạch và nếu có điều trở ngại thì cầu xin nó chỉ giáo cho, nhưng công việc ấy phải thi hành trong mật nhiệm, trừ Chức sắc lớn Hiệp-Thiên Đài không được ai dự hết. Thầy cũng nên nhắc các con: phàm trong việc hành động khá nhớ "Mưu bất khả chúng" nghe! Thầy ban ân các con nam nữ".

 

 

MƯU CHƯỚC

E: The ruse.
F: La ruse.

Đức Hộ-Pháp thuyết trong Con đường Thiêng liêng Hằng Sống rằng: "Kim-Quan-Sứ đã thi hành trong hai mươi mấy năm, cả Thánh-Thể Đức Chí-Tôn và toàn thể con cái của Ngài nam, nữ cũng thế, đang bị tay Người làm tàn hại, đủ mưu lược, đủ mưu chước đặng hại cho thất Đạo. Không một điều gì, không một mưu chước gì mà Người không dùng, không mưu chước gì Người không làm đặng tàn phá Thánh-Thể của Đức Chí Tôn, nhưng.... không phải dễ dầu, quyền lực Kim Quan-Sứ bao nhiêu đi nữa cũng chưa qua khỏi cái mức của Đức Chí-Tôn đã gạch sẵn cho con cái của Ngài đi thì chúng ta ngó thấy đủ bằng cớ đoạt đặng."

Kinh Sám Hối có câu:

"Trong lòng mưu chước rất sâu,
"Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi."

 

 

MƯU ĐỒ

E: To plan.
F: Projeter.

Mưu: Tính toán sắp đặt, kế hoạch, mưu kế. Đồ: toan tính. Mưu đồ là toan tính mưu kế nhằm thực hiện điều mong muốn cho được kết quả (Toan liệu, lo liệu).

 

 

MƯU SINH

 
E: To search for one’s living
F: Chercher à gagner sa vie

Mưu sinh : kiếm phương kế để làm sống.

 

 

MƯU SỰ TẠI NHÂN, THÀNH SỰ DO THIÊN

謀事在人,成事在天
E: The man proposes, God disposes.
F: L’homme propose, Dieu dispose.

Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên là mưu tính sắp đặt công việc là ở nơi người, thành công hay không là ở nơi Trời.

Gia Cát Lượng đời Tam Quốc viết:

Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.
Nhân nguyện như thử như thử....
Thiên lý vị nhiên vị nhiên....

Nghĩa là:

Mưu việc ở người, nên việc ở Trời.
Ý người như thế như thế....
Lẽ Trời chưa vậy chưa vậy....

Mọi việc đều có sự sắp đặt của Trời, mình cứ lo toan làm hết sức mình, còn việc thành công hay thất bại là do nơi số mạng Trời định. Nếu thành công thì chớ nên khoe khoang tài giỏi rồi tự kiêu ngã mạn; còn nếu thất bại thì cũng không nên quá tuyệt vọng, buồn rầu thất chí.

 

 

MƯU TOAN BỨC NGHÈO

Kinh Sám Hối có câu:

"Hành người bế địch trợ hoang,
"Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo."

 

 

MƯU TRÍ

E: Sagacity.
F: Sagacité.

Mưu: Tính toán sắp đặt, kế hoạch, mưu kế. Trí: sự khôn ngoan hiểu biết. Mưu trí là người làm việc có kế hoạch và có sự khôn ngoan hiểu biết.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ám muội thì nhiều mưu trí ít,
Ðường Tiên chẳng bước, đọa thì đành.

 

 

MỸ MIỀU

E: Good looking.
F: Beau et tendre.

Mỹ: Đẹp, tốt, khen ngợi. Miều: cái dáng mềm mại. Mỹ miều là xinh đẹp.

Kinh Khi Ðã Chết Rồi:

"Nguyên căn đẹp vẻ mỹ miều cao thăng."

 

 

MỸ NGỌC (Cao Quỳnh Diêu) (1884-1958)

Mỹ Ngọc là Đạo hiệu của Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu, là một trong Thập Nhị Bảo Quân, Hàn Lâm Viện của Đạo Cao Đài trong tương lai. Thánh Ngôn ghi tắt là: M... N. tức là Mỹ Ngọc, Ðức Chí Tôn ban cho Ngài 4 câu thi sau có ghi trong Thánh Ngôn I ngày 24-8-Bính Dần (dl 30-9-1926) ngụ ý dạy về sự thanh khiết:

"M... N...không chuyện chi cần, Thầy không muốn làm nhọc chư Tiên và chư Thần, mỗi vị đều có trách nhiệm riêng, con hiểu à? Xem đó thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm, vì Thầy là bực Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh, hễ các con có lỗi thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con, nghe à! Con hiểu ý bài thi nầy chăng?

Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng Sơn,
Chung qui hữu phúc hạnh tao phùng
Hậu lai mạc tín đa phi thị,
Hữu ngoại thành tâm tái vận cung




Sao? Nói Thầy nghe.

Chư Nhu đặng tọa vị hầu Thầy.

(M... N... cắt nghĩa sái Thánh ý).

Không đâu con! Con có hiểu hai câu nầy chăng?

Hớn Lưu Khoan trách dân bồ tiên thị nhục,
Hạng Trọng Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.


Nghĩa là: Ðời Hớn, ngươi Lưu Khoan làm quan, hễ dân có tội thì đánh bằng roi lát cho biết nhục vậy thôi; còn nước Hạng, ngươi Trọng Sơn sạch mình đến đỗi cho ngựa uống nước rồi vãi tiền xuống sông mà trả, trong sạch đến đỗi của Trời Ðất cũng không nhơ bợn, con hiểu à? Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia quyến con cho chánh đáng, phải lấy lòng trong sạch đối đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy. Con khá đọc Thánh Ngôn và cắt nghĩa Thánh ý Thầy cho mọi người biết. Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe! Thăng.

Bài thi trên có nghĩa rằng: Ông Hạng Trọng Sơn là người ở huyện An Lăng, nước Hạng. Ông cho ngựa uống nước thì ném tiền xuống sông mà trả. Chung qui thì gặp được hạnh phúc. Người đời sau không có chữ Tín thì sanh nhiều việc thị phi. Thế nên, đối với ngoài, giữ lòng chơn thật thì được kính trọng trở lại. Còn Ông Lưu Khoan đời nhà Hán (Hớn) làm quan Thái Thú huyện Nam Dương.

 

 

MỸ TỤC


E: Good customs.
F: Bonnes mœurs.

Mỹ tục 美俗: phong tục tốt đẹp

"Kỳ khai Đại-Đạo Tam-Kỳ tạo một linh đài qui Tín ngưỡng của toàn nhơn-loại, đủ quyền năng tiêu-diệt Tà pháp đặng đem nhơn-loại đến Đại-Đồng. Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vì Giáo-Chủ ngày xưa. Chỉ có hai phương diện:

1- Là do Tam Giáo thất kỳ truyền,

2- Là chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả Tinh Thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA chung là thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ quyền Thương yêu, chung thờ một Tôn-giáo Đại-Đồng thì nhơn loại mới gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong thì vạn loại mới chung hưởng cơ Hòa-Bình, phục hồi Thượng cổ là do Thiên Thơ tiền định buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu duy tân. Tóm lại: ĐỨC CHÍ TÔN khai ĐẠO kỳ thứ ba này là thuận theo "Lẽ tuần-hoàn châu nhi phục thủy".

 

 

MỸ VỊ


E: Well favoured.
F: Succulent.

Mỹ vị : thức ăn ngon miệng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có bài thơ:

Cao-lương mỹ vị hại thân phàm,
Hỏi thử thế đời mấy món tham?
Cao chức vợ nhiều ăn lớn đủa,
Thầm lo lự tứ với ưu tâm.

 

 

HẾT VẦN M

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MA | | | ME | | MI | MO | | | MU | | MY

 

 

 

Danh mục vần M

 

MA

Madagascar

Ma Ha Thủy

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

Ma Khảo

Ma Kheo

Ma Hồn Quỉ Xác

Ma Lục Tặc

Ma Nghiệt

Ma Phương Số

Ma Xeo Quỉ Bày

Ma Vương

Ma Xử (Giáng Ma Xử)

 

Mã Bì Tuyết Thể

Mã Viện

 

MẠC

Mạc Đỉnh Chi

Mạc Trắc

 

MÁCH

Mách Bảo

 

MAI

Mai Một

Mai Táng

Mai Xuân

 

MÃI

Mãi Mãi Đọa Đày, Bất Năng Thoát Tục

 

MÃN

Mãn Kiếp - Mãn Phần

Mãn Kỳ

Mãn Phần

Mãn Tang

 

MANG

Mang Mến

 

MÃNG

Mãng Bào

 

MẠNG

Mạng Danh

Mạng Căn

Mạng Hữu Cao Đài Minh Nguyệt Chiếu

Mạng Lịnh

Mạng Pháp

Mạng Trời

 

MANH

Manh Tâm

 

MẠNH

Mạnh - Trọng - Quí

Mạnh Đặng Yếu Thua Khôn Còn Dại Mất

Mạnh Tử

 

MẢNH

Mảnh Nhung Bào

 

MÃNH

Mãnh Lực Của Tà Quái

 

MÃO

Mão

Mão Hiệp Chưởng

Mão Bát Quái (Bát Quái Mạo)

Mão (của Bảo Sanh Quân)

 

MẠO

Mạo Muội

Mạo Xưng

 

MẠT

Mạt Hèn

Mạt Kiếp

Mạt Lộ

Mạt Pháp

Mạt Thế

Mạt Vận

 

MÀU

Màu Trắng

 

MÁY

Máy Càn Khôn

Máy Huyền Vi

Máy Linh Cơ Tạo

Máy Nhiệm

Máy Sâu Họa Kín

Máy Tà Gian

Máy Trời

 

MÀY

Mày Râu

Mày Trung Mặt Nịnh

 

MẢY

Mảy Hào

Mảy May

Mảy Mún

 

MẶC

Mặc Khải (Mạc Khải)

Mặc Nhiên

Mặc Một Bộ Thiết Giáp

Mặc Niệm

Mặc Phò

 

MẮT

Mắt - Tư Mắt (Nguyễn Phát Trước)

 

MẶT

Mặt Dương

 

MẪN

Mẫn Khổ

 

MẦNG

Mầng (Mừng)

 

MẬT

Mật Chỉ

Mật Chiếu

Mật Chú

Mật Ngữ

Mật Nghĩa

Mật Niệm

Mật Yếu

 

MÂU

Mâu Ni

Mâu Thuẫn

 

MẦU

Mầu Nhiệm

 

MẪU

Mẫu Hậu

Mẫu Thân

 

MÂY

Mây Khỏa Đảnh Thần

 

MẸ

Mẹ

 

MÈO

Mèo Mả Gà Đồng

 

Mê Đồ

Mê Hoặc

Mê Hoặc Về Cơ Bút

Mê Muội

Mê Ngộ

Mê Tân

Mê Tín

 

MỀ

Mề Đai (Bắc Ðẩu Bội Tinh)

 

MẾN

Mến Vị Tham Quyền

 

MỄNH

Mễnh (Mang)

 

MIỄN

Miễn Lễ

 

MIỀN

Miền Bồng Đảo

Miền Thánh Vức

 

MIẾNG

Miếng Đỉnh Chung

 

MIỆNG

Miệng

 

MIỂNG

Miểng Bát Miểng Chai

 

MIÊU

Miêu Duệ

 

MIẾU

Miếu Bà Trương

Miếu Đường

 

MINH

Minh

Minh (Hòa Thượng Thiện Minh)

Minh Cảnh Đài

Minh Chánh

Minh Chơn Lý

Minh Chơn Ðạo

Minh Di Quẻ Địa Hoả Minh Di

Minh Đạo

Minh Ðế

Minh Đức (1)

Minh Đức (2)

Minh Đoán

Minh Ðường

Minh Huệ

Minh Quang

Minh Lý

Minh Mạng

Minh Nguyệt Tiên Ông

Minh Sư

Minh Thệ

Minh Thệ Chức Sắc

Minh Thiện

Minh Tra (Minh Xét)

Minh Triết

Minh Vương - Minh Vương Khổng Tước

 

MÓC

Móc Bươi Xúi Lời

 

MÒN

Mòn Vốn Thâm Tiền

 

Mô Phạm

 

MỒ

Mồ Côi

 

MỘ

Mộ Bia

Mộ Chí

Mộ Đạo

Mộ Khang

Mộ Phần

 

MỘC

Mộc Ân

Mộc Dục

 

MÔI

Môi Giới

 

MỒI

Mồi Phú Quí

 

MỔ

Mổ Bụng

 

MỖI

Mỗi Vị Tín Đồ Đều Có Cái Mão Của Giáo Tông Và Hộ Pháp Đội Trước Trên Đầu

 

MÔN

Môn Đệ - Môn Sinh

Môn Đệ Của Tà Thần Tinh Quái

Môn Đệ Đầu Tiên Của Thầy

Môn Đồ

Môn Quan

Môn Sanh

Môn Phái

Môn Thiền

 

MÔNG

Mông Quẻ Sơn Thuỷ Mông

 

MỘNG

Mộng Trần Gian

Mộng Điệp

Mộng Hồn

Mộng Mỵ

Mộng Nam Kha

 

MỘT

Một Cha

Một Câu Thất Đức Thiên Niên Đọa

Một Cội Sanh Ba Nhánh In Nhau

Một Dạ Thình

Một Điểm Quang Minh Một Điểm Linh

Một Đồng Mỹ Kim (One Dola)

Một Gốc Sanh Ra

Một Mai

Một Ngày Qua Là Một Ngày Chết

Một Phen Lầm Lỡ Lẽ Nào Bỏ Nghiệp Muôn Năm

Một Thiên Đạo Đồ

 

Mơ Màng

Mơ Ước

 

MỚM

Mớm Cơm Vú Sữa

 

MỜ

Mờ Hồ

 

MỞ

Mở Cơ Quan Tận Độ Chúng Sanh

Mở Huệ Quang Khiếu

Mở Tù Phong Đô

 

MUA

Mua Quan

 

MÚA

Múa Bút Thần

 

MỤC

Mục Đích

Mục Đích Của Đạo Cao Đài

Mục Kiền Liên

 

MÙI

Mùi (Giáo Sư Ngọc Mùi Thanh)

Mùi Đời

Mùi Hương

Mùi Trần

 

MUÔN

Muôn Kiếp

Muôn Sầu Ngàn Thảm

Muôn Tuổi Thọ

 

MUỘN

Muộn

 

MƯA

Mưa Mai Nắng Xế

Mưa Móc

Mưa Nắng

 

MỨC

Mức Trung Tim Của Đời Và Đạo

 

MỪNG

Mừng Thay

 

MƯỜI

Mười Điều Khuyến Tu Của Đức Chí Tôn

Mười Phần Còn Lại Có Một

 

MƯỢN

Mượn Danh Đạo Tạo Danh Mình

Mượn Đạo

Mượn Hình Chí Tôn

 

MƯỜNG

Mường Tượng

 

MƯU

Mưu Bất Khả Chúng

Mưu Chước

Mưu Đồ

Mưu Sinh

Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Do Thiên

Mưu Toan Bức Nghèo

Mưu Trí

 

MỸ

Mỹ Miều

Mỹ Ngọc (Cao Quỳnh Diêu)

Mỹ Tục

Mỹ Vị

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 27-07-2017

MA | | | ME | | MI | MO | | | MU | | MY


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF