CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần L

 

LA

La-Hán

La-Hầu-La

Latapie

 

Lá Bùa Để Trừ Diệt Chi Phái

Là Những Kẻ Chạy Non

 

LẠC

Lạc

Lạc Cực Sanh Bi

Lạc Dương

Lạc Hậu

Lạc Hứng

Lạc Lầm

Lạc Long Quân

Lạc Quyên

Lạc Thú

Lạc Thư

 

LAI

Lai (Giáo Sư Thượng Lai Thanh)

Lai Sinh

 

LẠI

Lại Viện

Lại Văn Hành

 

LAM

Lam-Tì-Ni

Lam Thể Hòa

 

LÀM

Làm Chủ Tinh Thần Thiên Hạ

Làm Chúa Về Phần Hồn

Làm Cho Thau Nọ Nên Vàng

Làm Đàn Bà Thay Các Sắc Dân Đặng Chuyển Chế

Làm Lành

Làm Lành Lánh Dữ

Làm Lễ Đăng Điện Cho Đức Lý Giáo Tông

Làm Giàu

Làm Nô Lệ

Làm Người

Làm Phải Làm Lành

Làm Phước

Làm Phước Làm Doan

Làm Tôi

Làm Tuần Cửu

 

LẠM

Lạm Quyền

 

LANG

Lang Sa

 

LÀNG

Làng Long Thành

 

LÃNG

Lãng Phí

Lãng Tử

 

LÁNH

Lánh Dữ Làm Lành

 

LÀNH

Lành Dữ

Lành Như Tòng, Dữ Tợ Hoa Tươi

Lành Siêu Dữ Đọa

 

LÃNH

Lãnh Đạo

Lãnh Hội

Lãnh Kim Sa

Lãnh Mệnh

Lãnh Thổ

Lãnh Tụ

 

LÃU

Lãu Thông

 

LAO

Lao Công Hạn Mã

Lao Lung

Lao Lý

Lao Tâm Tiêu Tứ

Lao Trần

 

LÃO

Lão Đam

Lão Giáo

Lão Quân

Lão Tô

Lão Thành

Lão Trang

Lão Tử

 

LẠT

Lạt Lẽo

Lạt Ma

 

LÀU

Làu Làu

 

LẠY

Lạy

 

LĂNG

Lăng Loàn

Lăng Mạ Danh Thể Chí Tôn

Lăng Xăng Xạo Xự

 

LÂM

Lâm Quẻ Địa Trạch Lâm

Lâm Chung

Lâm Nàn (Lâm Nạn)

Lâm Nàn Tai Ách

Lâm Nguy

Lâm Quang Bính

Lâm Thị (Lâm Ngọc Thanh)

Lâm Thị Ái Nữ

 

LẦM

Lầm Lạc

 

LÂN

Lân

Lân Bang Nam Quốc

Lân Mẫn

 

LẤN

Lấn Lướt Hồ Đồ

 

LẨN

Lẩn Bẩn

Lẩn Quẩn

 

LẤP

Lấp Ngõ Tài Hiền

 

LẬP

Lập Công Bồi Đức

Lập Công Chuộc Tội

Lập Công Trừ Quả

Lập Đạo Khó, Trị Đạo Khó Hơn

Lập Đức

Lập Giáo

Lập Họ

Lập Hồng Thệ Vào Phạm Môn & Cân Thần

Lập Kế Đồ Mưu

Lập Khổ Hình

Lập Luận

Lập Luật

Lập Nền Đạo Khó, Trị Đạo Lại Khó Nữa

Lập Pháp

Lập Pháp Chánh Truyền

Lập Thánh Lịnh

Lập Thân Hành Đạo Dương Sanh Ư Phụ Mẫu

Lập Thệ

Lập Triều Trị Dân

Lập Trường

Lập Quốc

Lập Vị

Lập Vị Với Công Nghiệp Vẫn Dễ

Lập Vị Thần-Thánh-Tiên-Phật

 

LẦU

Lầu Thượng Uyển

Lầu Bát Quái

Lầu Yên

 

LẤY

Lấy Của Lấn Nhân, Mượn Quyền Xua Đức

Lấy Tánh Đức Phạm Công Tắc Mà Lập Giáo

Lấy Xâu Ăn Đầu

 

LẪY

Lẫy Lừng

 

LẼ

Lẽ Báo Ứng

 

Lê Bá Trang

Lê Hoát

Lénine

Lê Phủ Từ

Lê Quý Đôn

Lê Thánh Tông

Lê Thế Vĩnh

Lê Thiện Phước

Lê Thứ

Lê Văn Duyệt

Lê Văn Giảng

Lê Văn Lịch

Lê Văn Thoại

Lê Văn Tiểng

Lê Văn Trung

 

LỄ

Lễ

Lễ Dĩ Hòa Nhi Quí

Lễ Độ

Lễ Đạo Triều

Lễ Đưa Chư Thánh Triều Thiên

Lễ Giả Thiên Chi Tự

Lễ Bái

Lễ Giáo

Lễ Hạ Nguơn

Lễ Hội Yến Diêu Trì Kim Mẫu

Lễ Nghi Phong Hóa

Lễ Nghĩa

Lễ Nhạc

Lễ Nhạc Của Trời Đất

Lễ Nhạc Đường

Lễ Nhạc Viện

Lễ Khai Đạo

Lễ Pháp

Lễ Phép

Lễ Sanh

Lễ Sĩ

Lễ Nghi

Lễ Tấn Phong

Lễ Thượng Ngươn

Lễ Triều Chí Linh

Lễ Trung Ngươn

Lễ Vật

Lễ Viện

 

LỆ

Lệ Ái Ân

Lệ Châu

Lệ Sa

Lệ Thuộc

 

LỊCH

Lịch Đại Tiên Vong

Lịch Sự

Lịch Sử

 

LIÊM

Liêm Sỉ

 

LIÊN

Liên Đài

Liễn Đối

Liên Đới (Liên Đái)

Liên Hiệp

Liên Hoa

Liên Hòa

Liên Hòa Tông Phái

Liên Ngâm

 

LIỆT

Liệt Nữ

Liệt Thánh

Liệt Sĩ

Liệt Vị

 

LIỀU

Liều Mình Tự Vận

 

LIỄU

Liễu Đào Yếu Ớt

Liễu Đạo

Liễu Nhứt Chơn Nhơn Tôn Tẫn

Liễu - Oanh

Liễu Yếu

 

LIỆU

Liệu Biện

 

LINH

Linh Bút

Linh Cảm

Linh Chứng

Linh Diệu

Linh Dược

Linh Đài

Linh Đinh

Linh Hiển

Linh Hồn

Linh Khí

Linh Miêu

Linh Phan

Linh Quang

Linh Sàng

Linh Số 12

Linh Tánh

Linh Tâm

Linh Thiêng

Linh Thông

Linh Tiêu Điện

Linh Vị

Linh Xa

 

LỊNH

Lịnh Bài

Lịnh Mẫu Hậu

Lịnh Ngự Ban

 

Lò Hóa Công

 

LOÀI

Loài Ong Tay Áo

 

LOAN

Loan Phụng Hòa Minh

 

LOẠN

Loạn Hàng Thất Thứ

Loạn Ly

Loạn Luân

Loạn Ngôn

Loạn Pháp

 

LONG

Long (1)

Long (2)

Long Cung

Long Đong

Long Đấu

Long Đầu Xà Vỹ

Long Hoa Đại Hội

Long Hoa Thị

Long Hưng

Long Mã Phụ Hà Đồ

Long Mã Quì

Long Mạch

Long Nữ

Long Phụng

Long Trọng

Long Tu Phiến

Long Tuyền Kiếm

Long Vân

Long Vị

 

LÒNG

Lòng Bác Ái

Lòng Tần Dạ Sở

Lòng Tham Không Đái

Lòng Trần

Lòng Lang Độc

Lòng Mộ Đạo

Lòng Thành

Lòng Thiện Niệm

 

LỌNG

Lọng

 

LỖ

Lỗ Ban

Lỗ Bộ

 

LỘ

Lộ

Lộ Bất Thập Di

Lộ Diện

Lộ Thiên Cơ

Lộ Trình

 

LỘC

Lộc Quyền

 

LÔI

Lôi Âm

Lôi Âm Cổ

Lôi Âm Cổ Đài

Lôi Âm Cổ Khởi

Lôi Âm Tự

Lôi Âm Tự Phá Cổ

Lôi Công - Bộ Lôi Công

 

LỖI

Lỗi Đạo

Lỗi Lầm Chịu Phạt

Lỗi Thệ

 

LỘN

Lộn Liếp

 

LÔNG

Lông Rùa Sừng Thỏ

 

LỘNG

Lộng

Lộng Chương - Lộng Ngõa

Lộng Giả Thành Chơn

Lộng Quyền

 

LỐT

Lốt Heo Trâu

 

LỜI

Lời Châu Ngọc

Lời Chỉ Trích

Lời Chúa Thánh Dạy Khuyên

Lời Điều Trần

Lời Kệ Sám

Lời Than Của Chúa

Lời Thế Sự

Lời Trăn Trối

Lời Trối

Lời Tựa

Lời Tuyên Bố

 

LỢI

Lợi

Lợi Danh

Lợi Danh Đã Đọa Biết Bao Người

Lợi - Danh - Quyền

Lợi Dụng

Lợi Khí

Lợi Sanh

 

LỜN

Lờn Oai

 

Lũ Hổ Lang

Lũ Truyền Bửu Kinh Dĩ Giác Thế

 

LUÂN

Luân

Luân Chuyển

Luân Hồi (1)

Luân Hồi (2)

Luân Hồi Chuyển Kiếp

Luân Lạc

Luân Lý

Luân Lý Học

Luân Thường

 

LUẬN

Luận (1)

Luận (2)

Luận Bác

Luận Bàn

Luận Biện

Luận Ý

Luận Thuyết

 

LUẬT

Luật

Luật (Giáo Sư Thái Luật Thanh)

Luật Điều Cổ Phật

Luật Định

Luật Định Thiên Nhiên

Luật Hình

Luật Hội Thánh

Luật Lệ Cao Đài

Luật Lịnh

Luật Nhân Quả

Luật Nhơn Quả Pháp Định

Luật Pháp

Luật Pháp Chơn Truyền

Luật Quả Kiếp

Luật Sự

Luật Sự Hiệp Thiên Đài Bùi Cung Kỉnh

Luật Tam Giáo

Luật Tấn Hóa Tạo Đoan

Luật Phong Thưởng

Luật Thiên Đình

Luật Thương Yêu

Luật Thương Yêu Tạo Vật

Luật Tuơng Đối

 

LỤC

Lục

Lục Bát - Song Thất Lục Bát

Lục Cá Nguyệt

Lục Căn

Lục Chuyển

Lục Dục

Lục Dục Thất Tình

Lục Đạo

Lục Độ

Lục Long

Lục Long Phò Ấn

Lục Nghệ

Lục Nương Diêu Trì Cung

Lục Phủ Ngũ Tạng

Lục Thân Quyến Thuộc

Lục Thập Thất Ðịa Cầu

Lục Thông

Lục Thức

Lục Tổ Huệ Năng

Lục Thư

Lục Trần

Lục Trai

Lục Tuần

Lục Xứ

 

LUNG

Lung Lăng

 

LUỐNG

Luống Công

 

LUY

Luy Tiết

 

LỤY

Lụy

Lụy Sa

 

LUYẾN

Luyến Ái

Luyến Trần

 

LUYỆN

Luyện

Luyện Đạo

Luyện Đan

Luyện Tập

Luyện Tội

 

Lư Ngọc

 

LỮ

Lữ Đồng Tân

Lữ Khách

Lữ Tổ

Lữ Vọng

 

LỪA

Lừa Đảo

Lừa Lọc

 

LỬA

Lửa Lòng

Lửa Tam Muội

Lửa Thử Vàng, Gian Nan Thử Đạo

 

LƯỚI

Lưới Nghiệp Dây Oan

Lưới Trời

 

LƯỠI

Lưỡi Liềm

 

LƯƠNG

Lương

Lương Dân

Lương Điền - Công Nghệ - Thương Mãi

Lương Hữu Khánh

Lương Phu Nhân

Lương Hướng

Lương Sanh

Lương Tâm

Lương Tể

Lương Thần

Lương Thiện

Lương Tri - Lương Năng

Lương Vật

Lương Viện

Lương Vụ

Lương Vương

Lương Y

 

LƯỜNG

Lường Cân Tráo Đấu

 

LƯỢNG

Lượng Thánh

 

LƯỠNG

Lưỡng

Lưỡng Long Tranh Châu

Lưỡng Long Triều Nguyệt

Lưỡng Nghi

Lưỡng Nghi Quang

Lưỡng Phái

Lưỡng Thiệt

Lưỡng Toàn

 

LƯU

Lưu

Lưu Bị (Hớn Chiêu Liệt) Đến Với Cao Đài

Lưu Bình - Dương Lễ

Lưu Chiếu

Lưu Danh

Lưu Đày

Lưu Hại

Lưu Hồng

Lưu Luyến

Lưu Lạc

Lưu Niệm

Lưu Nhiệm

Lưu Oan

Lưu Phương Bách Thế

Lưu Sa Tây Độ Pháp Hóa Tướng Tông

Lưu Tồn Vạn Đại

Lưu Truyền

Lưu Trữ

Lưu Vong

Lưu Xú Vạn Niên

 

LY

Ly

Ly Quẻ Bát Thuần Ly

Ly Biệt

Ly Bôi

Ly Cung

Ly Gia Cắt Ái

Ly Hận

Ly Hương

Ly Kinh Phản Đạo

Ly Loạn

Ly Tán

Ly Tiết

Ly Tình

Ly Trần

 

Lý Quẻ Thiên Trạch Lý

Lý Sâu

Lý Tài

Lý Bạch - Đỗ Phủ

Lý Đại Tiên

Lý Lão Quân

Lý Thái Bạch

Lý Thái Tổ

Lý Thái Tông

Lý Thánh Tông

Lý Thiết Quả (Lý Ngưng Dương)

Lý Đại Tiên Trưởng

Lý Trọng Quí

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 27-07-2017

 

 

 

 

LA-HÁN (Phật Học)

La-Hán (S: arhat; C: luóhàn; J: rakan) là một Thánh nhân; cần phân biệt A-La-Hán (Arhat) của Phật giáo nguyên thủy và La-Hán của Phật giáo Trung Quốc. Thật ra thì La-hán xuất phát từ A-La-Hán, nhưng đến Trung Quốc, ý nghĩa của A La-Hán đã biến đổi. La-Hán đóng một vai trò quan trọng tại đây, nhất là khi trở thành một khái niệm của Ðại thừa. Khái niệm La-Hán đã du nhập Trung Quốc khoảng thế kỷ thứ 7, nhưng qua thế kỷ thứ 10, La-hán mới được Thiền Tông phổ biến rộng rãi. Chính Thiền Tông tìm thấy nơi La-Hán tính người và sự từ chối mọi Tha lực, dùng Tự lực để đạt Đạo nên La-Hán rất phù hợp tinh thần Thiền.

Người ta cho rằng, nhờ trí huệ siêu việt, La-Hán đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong nhiều tranh tượng, người ta hay vẽ các vị mặt mày dữ tợn, hình dạng siêu nhiên; tuy thế cũng có nhiều vị mặt mày hiền hậu. Trong nhiều chùa ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, ta tìm thấy tượng của năm trăm La-Hán, hay nhóm 16 hoặc 18 vị, được vẽ trên vách tường của chính điện. Mỗi vị thường thường có một hình dáng và khuôn mặt đặc biệt.

Tượng 500 La-Hán được sáng tạo là để nhớ lại lần Kết tập thứ nhất với sự có mặt của 500 vị Thánh. Lần kết tập thứ tư tại Kashmir cũng có 500 vị A-La-Hán tham dự. Có nhiều tương truyền về 500 vị La-Hán này: đó là các vị sống trong 500 hang động của núi Côn Luân, là các vị được Phật đưa về đó theo lời mời của Long Vương. Tại nhiều nơi ở Trung Quốc, người ta còn dựng lại hang động của 500 vị La-Hán đó. Trong nhiều chùa, người ta hay xếp các vị La-Hán thành từng nhóm 16 hay 18 vị. Ðiều này được truyền tụng như sau: Vị A-La Hán Nan-đề Mật-đà (s: nandimitra), 800 năm sau khi Phật nhập diệt, cho hay Phật đã truyền pháp lại cho 16 vị A-la-hán. Các vị này bất tử và sống với học trò tại nhiều miền trên thế giới, nơi các Thánh địa và giữ gìn giáo pháp. Tới thời mạt pháp, lúc mà Phật pháp bị tiêu diệt hoàn toàn, các vị đó sẽ họp nhau lại, góp xương cốt Phật vào trong một Tháp, rồi nhập Niết-bàn, còn Tháp sẽ chìm dưới đại dương.

Trong thế kỷ thứ 10, số lượng 16 vị được nâng lên thành 18. Người ta kể tên cụ thể các vị đó nhưng các danh tự không đóng vai trò gì. Người ta chỉ nhớ đến các vị với những cử chỉ đặc biệt như: La Hán với hình Phật nơi trái tim, La-hán mi dài, La-hán gãi tai, La-hán hàng phục rồng, hổ. (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Kinh Cao-Đài: Bài Kinh Cứu khổ có câu:.. "Ma kheo ma kheo thanh tịnh tỳ kheo, quan sự đắc tán tụng sự đắc hưu, chư Đại Bồ-tát, ngũ bá A-La-Hán, cứu hộ đệ tử…"

 

 

LA-HẦU-LA (Phật Học)

La-hầu-la ( S, P: rāhula) Hán dịch là Phú Chướng; Tên người con trai của Phật Tất-Đạt-Đa. Mẹ của La-hầu-la là Hoàng hậu Da-du Ða-la (s: yaśodharā). Tôn giả vừa được sinh ra thì Đức Phật quyết định rời bỏ gia đình và đi tìm Đạo Giác ngộ. La-hầu-la được Xá-lị-phất (s: śāriputra) đưa vào Tăng-già từ lúc bảy tuổi và mất trước Phật, có lẽ còn rất trẻ. Tôn giả được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

LATAPIE

LATAPIE, tên một người Pháp theo Ðạo Cao Ðài. Bài Thánh Ngôn nầy có chép trong tập Thánh Ngôn chép tay của Ngài Ðầu Sư Thái Thơ Thanh, trang 511.Vào ngày thứ bảy: 25-12-1926, Ðức Lý Thái Bạch phong Ông LATAPIE làm Giáo Sư phái Thượng: Thánh danh Thượng Latapie Thanh. (ÐS. II. 120)

Chúa nhựt, 28-11-1926 (âl 24-10-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương

DIEU TOUT-PUISSANT qui vient sous le nom de CAO ÐÀI pour dire la Vérité en Annam

Nguyên văn là tiếng Pháp:

DIEU TOUT-PUISSANT qui vient sous le nom de CAO ÐÀI pour dire la Vérité en Annam

L....Une séance spéciale n'est donnée que rarement aux gens pour un voeu de quelque importance que ce soit; mais à toi dont Je connais les sentiments d'humanité et l'esprit charitable, à toi Je donne entière satisfaction.

En dehors de tes volontés religieuses, tu as l'intention de t'informer de cette Nouvelle Doctrine qui t'a été travestie par quelques-uns de tes compa-triotes sous une forme quelque peu malicieuse.

Sur cette terre dont le peuple est si doux et paisible, Je viens comme le Christ était venu parmi vous pour combattre l'hérésie et évangéliser le monde.

Quelque soit la race dont vous faites partie, enfants de la terre, vous avez tous un même Père, c'est Dieu qui préside à vos destinées. Pourquoi vous séparez-vous à cause de divergences d'opinions religieuses, alors que tous, vous êtes appelés à souffrir et faire votre Purgatoire en ce monde?

Tu as déjà mis pied dans ce chemin qui conduit tout humain vers l'heureux séjour qu'est le Nirvana. Tâche de continuer cette voie pour arriver à ton but. De Bons Esprits guideront tes pas. Tous tes voeux seront exaucés. C'est assez pour toi. Au revoir."

Chúa nhựt, 28-11-1926 (âl 24-10-Bính Dần)

Bài dịch Việt văn của Hội Thánh:

Ngọc-Hoàng Thượng-Đế viết
Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát
giáo đạo Nam phương

Đấng Chủ tể toàn năng giáng thế tá danh CAO ÐÀI truyền Chơn Lý tại Việt Nam

"L....Một đàn cơ riêng biệt ít khi được thiết lập cho ai, mặc dầu lời thỉnh nguyện có quan hệ cách mấy đi nữa cũng không đặng. Nhưng đối với con, Thầy được hiểu lòng nhân đức, tánh từ thiện của con, nên Thầy cho con được thỏa nguyện. Ngoài ý chí đạo đức của con, con còn có ý tìm hiểu Giáo lý mới mẻ nầy, giáo lý mà một vài đồng bào của con đã giải thích xuyên tạc dưới một hình thức tinh ranh. Nơi xứ nầy, dân tình rất thuần hậu và ôn hòa, nên Thầy đến cũng như Chúa Cứu Thế đã đến với chúng con để bài trừ Tà thuyết và truyền bá Chơn đạo trên toàn cầu. Người sống trên thế gian nầy, dầu thuộc giống dân nào, cũng chỉ có một Cha chung mà thôi., ấy là Trời đang chế ngự số mạng của các con. Tại sao các con lại chia rẽ nhau vì sự bất đồng Ðạo lý, mà chính tất cả các con đều phải chung chịu đau khổ để rửa tội của các con ở cõi thế gian nầy?

Con để chơn vào con đường đưa đến cảnh an nhàn, hưởng những chuỗi ngày hạnh phúc nơi cõi Niết Bàn. Con rán tiếp tục đi trên con đường vạch sẵn ấy để theo đuổi đến mức cuối cùng. Nhiều Ðấng Anh linh sẽ dìu bước cho con. Các lời cầu nguyện của con sẽ được chuẩn nhận. Bấy nhiêu đây đủ rồi. Từ giã con".

 

 

LÁ BÙA ĐỂ TRỪ DIỆT CHI PHÁI

Ông Hồ-Bảo Đạo nắm quyền Chưởng-Quản Hiệp Thiên Đài có dâng sớ mật xin Đức Lý hủy bỏ Đạo Nghị-định thứ tám.

Đức Lý giải-thích là: "Không thể hủy được, vì cái gì của Ngài và Hộ-Pháp ký là Thiên-điều, nó phải tồn-tại đến Thất ức niên. Hơn nữa nó là lá bùa để trừ diệt chi-phái lồng vào nội bộ của Đạo. Ngài nói Đạo Thiên-Chúa có một trăm mấy chục Chi-phái, Đức Giáo-Hòang không biết làm sao mà thống nhất được. Đạo Phật có hơn 300 Chi-phái cũng không một quyền lực nào đem lại sự thống-nhứt được làm một mối. Nếu hủy bỏ Đạo Nghị-định thứ tám, Đạo Cao-Đài bị Chi phái lồng vào Hội-Thánh rồi làm sao đuổi nó ra? Nên nó là lá bùa trừ sự chia rẻ. Để họ tự-do lập phái rồi họ tự tiêu-tàn với thời-gian dài hay ngắn".

 

 

LÀ NHỮNG KẺ CHẠY NON

Đức Hộ-Pháp nói: "Buổi ban sơ Đạo hèn hạ bị ép bức hiếp đáp, đời kiếm thế ra trước luật hình nên mới có tấn tuồng Chi phái nổi lên đủ thứ hết,mấy người biết Chi phái ấy là gì không?

- Là những kẻ chạy non! Bần Đạo muốn nói những kẻ đó, đã chạy, mình cầm lại sao đặng, chạy đi đâu thì chạy. Họ tạo ra Chi phái, họ nói quả quyết Ông Trời ở đây không phải ông Trời của họ. Họ nhứt định tạo ra một ông Trời riêng rồi sau đến mình phải chịu đóng cửa đặng cho thiên hạ quên thị nhục chưởi mắng, đóng cửa đặng đào tạo những em út có tâm hồn nhẫn nại, ngày nay nghiệp Đạo ra thế nầy. Ngó lại 24 năm mấy em làm xong chuyện đó, nghiệp Đạo giờ phút nầy đã cao trọng rồi đa! Đã quá lằn mực thiên hạ khi rẻ, dường như đã đến đài vinh quang. Đài vinh quang ấy tưởng lập ra vững chắc rồi không còn sợ ai nữa, chẳng những không sợ mà thôi mà có thể làm chủ của Đời và Đạo nữa."

 

 

LẠC


F: Joie, plaisir.

Chữ Lạc là Vui: Sự vui vẻ hân hoan khoái chí, sự vui vẻ phải có chừng mực, thì mới tránh khỏi các điều tai hại biến sanh.

Lạc là một trong thất tình của con người. Còn một âm nữa là NHẠC. Nhạc cũng là một thú vui của những tâm hồn tao nhã. Nhưng Đức Hộ-Pháp căn dặn: "Vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc vui buồn thấm vào chân tánh".

 

 

LẠC CỰC SANH BI

Đức Hộ-Pháp nói: câu: "Cực lạc sanh bi". Hễ sự vui thích đến quá mức thì trở nên buồn thảm, điều ấy vẫn hiển nhiên. Ví như Trụ Vương Ân Thọ, đắm mê nàng Đắc Kỷ, vui say tửu sắc, đến nỗi mất nước, tiêu nhà hại mạng. Sự vui chơi của ông có lắm điều tàn ác, nào là chế bào lạc hại quan trung thần, nào là lập sái bồn, tửu trì, nhục lâm, sát hại cung nga thê nữ, vui cho đến mất cả sự nghiệp Thành Thang, làm cho bá tánh điêu tàn, sanh linh đồ thán. Ấy là sự vui chơi mà mắc tội với Thiên đình".

 

 

LẠC DƯƠNG (Phật Học)

Lạc Dương là Một trung tâm Phật giáo quan trọng của Trung Quốc trong thế kỷ thứ 1-2. Lạc Dương nằm ở phía Bắc, là kinh đô nhà Hán. Vua Hán Minh Ðế là người cho sứ giả qua Ấn Ðộ thỉnh kinh Tứ thập nhị chương về và Kinh này được dịch tại đây. Ðây là Kinh đầu tiên được dịch qua chữ Hán và Phật giáo bắt đầu du nhập qua Trung Quốc tại đây.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

LẠC HẬU

落 後
E: To be in the back.
F: Être en arrière.

Đức Hộ-Pháp nói: "vì Phật đã biết con đường đi trước kia, dầu ai phàm, dầu ai lạc hậu cũng tới sau, họ chỉ biết một điều là chỉ từ nẻo quanh co, vui vẻ chỉ cho Bạn đi cùng đường đạt lên Phật vị. Họ không dám chê ai, chẳng phải đối với loài người mà thôi mà đối với tất cả vạn loại, chúng sinh chỉ là anh em còn lạc hậu đó vậy. Con vật mà ta thấy bị giết được là vì nó vô cô không phương bảo vệ, ngày nay giết nó mà ăn thịt, biết đâu sau nầy các Bạn lạc hậu ấy tiến hóa đến phẩm người trở lên, rồi chúng ta sẽ gặp nó bên mình, khi ấy nó ngó ta mà cười và hỏi: "Xưa kia Ðức Phật có ăn tôi một lần". Nghĩ tưởng chẳng gì sỉ-hổ thẹn-thuồng bằng. Thế nên ta phải ăn chay. Chưa có ai nhẫn tâm giết người đặng ăn thịt, cũng không có ai đặng quyền giết các Bạn lạc hậu ấy để ăn. Ta đến đây làm Bạn cùng vạn vật chúng sanh, vạn vật giúp ta học cho thấu đáo huyền vi cơ Ðạo, tạo chí linh nối nghiệp Ðức Chí Tôn. Thầy có nói: Thầy dành sẵn gia nghiệp phẩm vị cho chúng ta, Thầy không khi nào lấy lại, trừ ra kẻ nào từ bỏ"

 

 

LẠC HỨNG

Lạc hứng là trong lòng thấy phấn chấn, vui vẻ. (Lạc là Vui vẻ. Hứng: Cảm thấy phấn chấn, hân hoan)

Bài Dâng Rượu có câu:

"Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ.
"Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh."

 

 

LẠC LẦM

Kinh Sám Hối có câu:

"Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,
"Biết lạc-lầm sám-hối tội căn."

 

 

LẠC LONG QUÂN (Sử)

Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương. Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng), là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa ra, đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai khí Âm Dương cả. Kinh Dịch nói: "Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh". Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. Nhưng Thánh hiền sinh ra, tất có khác thường, đó là do mệnh trời. Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu, đều là ghi sự thực như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông Giám Ngoại kỷ nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như thế chăng?

 

 

LẠC QUYÊN

樂 捐
E: The voluntary cotisation.
F: La cotisation volontaire.

Lạc: Vui. Quyên: vận động nhiều người đóng góp tiền bạc hay của cải để làm việc từ thiện. Lạc quyên là tổ chức vận động để mọi người vui vẻ đóng góp tiền bạc hay của cải, tùy khả năng, để dùng vào việc từ thiện hay công ích (đóng góp tùy lòng hảo tâm).

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Ty Giáo Huấn nên lập một cuốn sổ lạc quyên dưới quyền Thượng Chánh Phối Sư để nhờ nơi lòng từ thiện của nhơn sanh trợ giúp cho các trẻ em mồ côi ăn học.

 

 

LẠC THÚ


F: Plaisir.

Lạc thú: Cái thú vui vẻ.

"Các lạc thú hiện thời trên cõi tạm nầy làm cho con người mê mẩn; rồi đua chen nhau tranh giành phúc lộc; lăng-xăng xạo-xự trên chốn võ-đài; mạnh đặng, yếu thua khôn còn, dại mất".

 

 

LẠC THƯ

來 書
E: The book of the Lạc river.
F: La livre du fleuve Lạc.

 

 

 

Lạc Thư lấy theo hình tượng của con Rùa, nên số của nó: trên là 9, dưới là 1, bên trái là số 3, bên phải là số 7, số 2 và 4 ở trên vai, số 6 và 8 ở dưới chân.

Lạc Thư là thời vua Võ trị thuỷ có thần qui phụ văn ở trên lưng có đến số 9 (từ 1 đến 9). Vua Võ toại lòng nhân thế mà đặt ra Cửu trù.

Thật là hai Kinh này, tức là Hà Đồ để nói cái chính, Lạc Thư để nói cái biến. Sự cần yếu trong trời đất chỉ một Âm, một Dương làm đôi một, biến hoá đến vô cùng "Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo".

Trên đã nói Hà-Đồ tức là cái nguyên nhân của Phục Hi Bát Quái sau này có ghi rằng: "Trời 1 biến thành nước mà đất số 6 biến thành nó. Đất 2 hoá thành Hoả mà trời số 7 hoá thành nó." Trời đất và Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ ở đây tức là chỉ tượng cái nguyên hình của vòm trời hiện tại mà trái đất ta ở và Ngũ hành vật chất vậy. Có thể nói Dịch của Phục-Hi tóm thâu tất cả cái nguyên hình và căn bản của những vật hữu và vô tri.

Tuy Phục-Hi Bát Quái có một quan điểm rất đúng với cõi thứ hai này là Quẻ Càn ở cung Ngọ cũng như theo Thiên văn thì gọi là cõi kiến tạo liên lạc với thời kỳ sương mù lửa. Dịch của Phục-Hi còn hình tượng cõi kiến tạo các cơ thể và Ngũ quan nữa vậy.

Nếu lấy hình Hà Đồ theo hình vòng tròn thì ta thấy đường đi của các số liên tiếp nhau giống như bộ máy trong người. Nếu lấy sự phân biệt Lưỡng nghi, Tứ Tượng thì đều thấy cái vi Dương bắt đầu từ trong phát ra ngoài và dần dần lớn lên. Đó là sự tượng trưng cái nguyên hình của sự vận chuyển của muôn vật hữu hình sau này và trước khi sanh ra thành Ngũ quan của con người và vật như ngày nay thì những nguyên hình của nó đã sinh ra theo những cõi vô hình ở trong Tiên Thiên đã sinh ra trước vậy.

Trong những Tôn giáo Công truyền cũng như trong Triết học Tâm truyền những hình thể chất là lửa, Nước và Khí tượng trưng nguyên nhân của các quan năng vật chất của chúng ta và có sự liên quan trực tiếp với các quan năng một cách bí mật thiêng liêng. Phàm những ngũ quan cho biết là kiến tạo thứ hai. Như vậy muốn hiểu rõ Hậu Thiên Bát-Quái, tất nhiên phải hiểu rõ-ràng Tiên Thiên Bát Quái.

 

 

LAI (Giáo Sư Thượng Lai Thanh)

Thọ phong Giáo Sư phái Thượng. Thánh danh Thượng Lai Thanh vào ngày Rằm tháng 10 Bính Dần.

Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo

 

 

LAI SINH


E: Future life.
F: La vie future.

Lai: Tới, đến. Sinh: kiếp sống. Lai sinh là kiếp sau.

 

 

LẠI VIỆN

吏 院
E: The institute of interior.
F: Institut de l’intérieur.

Lại viện có nhiệm vụ bổ nhiệm, thuyên chuyển các Chức sắc. Tất cả mọi giấy tờ, hồ sơ, thư tín và Hành chánh Đạo từ trung-ương gởi đi địa phương đều do Lại-viện chuyển đi cũng như từ địa phương gởi về Tòa-Thánh đều do Lại Viện tiếp nhận và chuyển đến các cơ quan liên hệ.

Ngọc Chánh Phối-sư nắm quyền tạp tụng, cầm quyền Chủ Trưởng Chức Sắc, lo việc văn từ, chưởng quản 3 Viện:

*Hòa Viện (Affaires intérieures et extéreures) lo về nội, ngoại giao, gìn giữ trật tự và bảo an toàn Ðạo.

*Lại Viện (Service du personnel) lo về công văn, Bộ Ðạo, Bộ Khai Sanh, Bộ Khai Tử, Bộ Hôn Thú, Bộ Chức Sắc Hành Chánh, thuyên bổ Chức sắc trấn nhậm các nơi.

*Lễ Viện (Service des Rites) lo về nghi tiết, cúng kiến, quan, hôn, tang, tế.

 

 

LẠI VĂN HÀNH (1878-1939) (Tên)

 

 

 

 

Hương Cả Chợ-lớn. Là một trong số 28 người ký tên vào TỜ KHAI ĐẠO và có tên trong 247 vị nữa. Ông nhập môn vào Đạo Cao-Đài ngày 29-8-Bính Dần tại Đàn Tân Kim, lúc ấy ông đang làm Hương Cả. Ông có vợ là bà Trần thị Chốt (1885-1968). Năm 1930, ông có hiến một mẫu đất tại ấp xóm Cống (Bến Lức) để xây dựng nên Thánh Thất Long Phú. Sau cùng, rồi ông cũng rời Toà Thánh Tây Ninh hiệp vào Chi phái Bến Tre (nay thuộc ban Chỉnh Đạo). Ông Lại Văn Hành qui vị vào năm 1939, an táng tại Thánh Thất Long Phú.

 

 

LAM-TÌ-NI (Phật Học)

()

Lam-Tì-Ni ( S, P: lumbinī) Một trong bốn Thánh tích Đạo Phật, nơi sinh của Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu-Ni. Lam-tì-ni ở gần kinh đô Ca-tì-la-vệ, thuộc tiểu quốc dòng họ Thích-ca, ngày nay thuộc nước Nepāl. Các Thánh tích khác là Lộc uyển (s: mṛgadāva) ở Tiên uyển (s: ṛṣipatana) bây giờ được đổi tên là Sār-nāth, nơi Phật bắt đầu giáo hóa, Giác Thành (bodhgayā), nơi Phật đắc đạo, và Câu-thi-na (kuṣinagara), nơi Phật nhập Niết-bàn.

Tại Lam-tì-ni còn một trụ đá của vua A-dục, được dựng lên lúc ông đi hành hương năm 249 trước Công nguyên. Trên trụ đá này được ghi "20 năm sau ngày lên ngôi, Thiên Ái Thiện Kiến vương (devānapiya piyadasi, tức vua A-dục) đã đến đây và tỏ bày lòng tôn kính, vì Phật, con người minh triết dòng họ Thích-ca đã được sinh nơi đây. Nhà vua cho xây một trụ đá để nhớ rằng bậc giác ngộ đã được sinh tại đây. Làng Lam-tì-ni được miễn đóng thuế và phần triều cống nông lâm sản được giảm xuống còn một phần tám" (từ một phần tư).

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

LAM THỂ HÒA (Bát Tiên)

Là Nguơn linh của ông Lâm Quang Bính (1873-1931) Phối Sư Thái Bính Thanh.

 

 

 

Lam Thể Hòa là ông Tiên bị đày đọa làm khách trần. Tính tình thuần hậu nhất trong Bát Tiên. Ông thích mặc áo rộng màu xanh, buộc dây lưng đen thật to, một chân đi đất, một chân đi giày. Mùa hạ mặc áo lót bông, mùa đông nằm trên tuyết. Thường ngày, ông cầm cặp sanh dài 3 thước ta, vừa đi, vừa nhịp ca ngoài chợ mà kiếm tiền bố thí cho người nghèo.

Đạp ca Lam Thể Hòa
Thế giới năng kỷ hà?
Hồng nhân nhất Xuân Thu
Lưu quang nhất trịch thoa
Cổ nhân hổn hển khứ bất phản
Kim nhân phân lai cánh đa
Triệu kỵ loan phụng cáo bích lạc
Mộ kiến tang điền sinh bạch ba
Trường cảnh minh huy tại không tế
Kim ngân cung khuyết cao ta nga

Dịch ca:

Nhịp chân ca Thái Hòa
Thế giới được bao lâu?
Nhan sắc như xuân cội
Thời hạn tựa thoi đưa
Người xưa không trở lại
Người mới đến quá thừa
Sáng cưỡi loan trời thẵm
Chiều dâng thành sóng xa
Không trung lâu đài sáng
Cung điện cao nguy nga

Về sau, trong lúc uống rượu với Lý Thiết Quả nơi Hào Lương, bỗng trên mây có xe hạc, tiếng tiêu thanh thoát đưa hai ông bay bổng, trở về Tiên vị, tay ông cầm Giỏ Hoa Lam.

Lam Thể Hoà giáng Cơ:

"Hỉ chư Đạo-hữu, Đạo gặp kỳ Phổ-độ, khá biết cải thế thì. Đạo khả trọng, đức năng trau.

Đời dời đổi, Đạo chờ người.
Khách tục nương thuyền độ,
Non Tiên tiếng khánh đưa,
Gắng nhọc thế lọc-lừa,
Tìm đường ngay thẳng-rẳng.
Nguồn rửa bợn nhiều đường cay đắng,
Bước nâu sồng dặm lắm gay go.
Liệu sao khỏi trễ con đò,
Mới thoát vòng khổ hải.
Gắng sức vì sanh mạng,
Lao tâm chớ sợ bởi căn xưa.
Đường quanh co, bước khá ngừa;
Nẻo hiểm trở, chơn nên lánh.
                        Hậu tái ngộ. Thăng

THI

Từng vào non Thánh lại Đền vàng,
Mãn quả sớm nhờ sắc ngọc ban.
Lần hạc tu tâm thìn nét Đạo,
Biển trần độ chúng vững con thoàn.
Cuộc cờ chung hứng nơi rừng thắm,
Bầu rượu riêng vui với cội tàng.
Gặp lúc dìu đời qua bến tục,
Để công phải nhọc đến phàm gian.

Hậu thân là Phối Sư THÁI BÍNH THANH, tên thật Lâm Quang Bính, người Rạch Giá, là nguơn linh của Lam Thể Hòa. Hai vị giống nhau ở tánh tình thuần hậu, ý tứ từ hòa, thương người nghèo. Ông được phong Giáo Sư phái Thái ngay từ buổi đầu. Ông chưa rõ tự sự bạch rằng: "Thưa Thầy, Lam Thể Hòa mặc áo xanh, sao Thầy ban cho phái Thái (áo vàng).

Đức Chí Tôn chuyển cơ viết:

- "Đó là bí pháp, con biết sao được".

Vai trò của ông Bính trong việc xây dựng Toà Thánh cũng rất quan trọng:

Thầy dạy: "Hộ Pháp, Thượng phẩm, nội trưa nầy phải cắm một cây viết vào đầu cơ, lấy một miếng giấy lớn, vào Điện phò loan cho Lão vẽ ( khuôn viên Toà Thánh). Bính Thanh phải có mặt, còn kỳ dư không cho ai vào Điện hết, nghe à!"

Nhất là việc thiết kế Quả Càn Khôn có Thiên Nhãn để thờ. Thầy dạy ngày 12-8 Bính Dần (17-9-1926):

Bính – "Thầy giao cho con lo một trái Càn Khôn; con hiểu nghĩa gì không?... Cười... Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm ba thước ba tấc, nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hóa trong ấy!…"

 

 

LÀM CHỦ TINH THẦN THIÊN HẠ

Đức Hộ Pháp thuyết ngày 9-11-Mậu Tý (dl: 9-12-1048)

"Hitler đảo lộn tòan nhơn loại nhờ năng lực của ngọn gươm, mũi súng. Cộng-sản làm đảo lộn tinh thần nhơn loại với lý thuyết cộng sản của nó; người đào tạo lý thuyết ấy là Karl Marx. Chỉ có một người mà thôi. Cái năng lực tinh thần của một người còn có thể làm cho nhơn loại an tòan hạnh phúc hay tự diệt lấy mình đặng, huống hồ chi Thánh Thể Chí Tôn tự Ngài đến chọn không tận độ thiên hạ đặng?...Bần Đạo quyết đoán phải đặng, hoặc lâu hay mau, hoặc chầy hoặc kíp,Thánh Thể của Ngài tức là Hội Thánh sẽ làm chủ tinh thần thiên hạ".

Nếu Stalin biết địa điểm của mình thì không cần chiến đấu với Marshall, với Truman. Cầm chắc, nếu Hitler biết đặc điểm, địa vị chơn linh của mình thật đứng nơi nào, chưa hề nghịch với Churchill, Reynaud đến đỗi có trận giặc thế giới chiến tranh thứ nhì.

 

 

LÀM CHÚA VỀ PHẦN HỒN

Đức Hộ-Pháp nói: "Làm Chúa về phần hồn duy có đức Chí-Tôn mà thôi. Ngày giờ này Bần-Đạo đứng tại nơi đây xin thú thật với con cái của Ngài; người thay thế phần xác cho Ngài là Hội-Thánh. Hội Thánh là phần xác Đức Chí-Tôn tại thế này đó vậy."

 

 

LÀM CHO THAU NỌ NÊN VÀNG

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Làm cho thau nọ nên vàng,
Chì kia lộn bạc lại mang tiếng đời.
Càng xa càng lánh đạo Trời,
Đem thân vùi lấp vào nơi bụi trần.

 

 

LÀM ĐÀN BÀ THAY CÁC SẮC DÂN ĐẶNG CHUYỂN THẾ

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng liêng Hằng Sống:

"Có các Đấng cao siêu đến Nguơn Tứ Chuyển này đặng tạo hình các chơn-hồn, họ xuống tại thế đặng chuyển thế, dầu Nam Nữ ở các Cung cũng đến tại thế gian này, làm đàn bà đặng thay các sắc dân ấy để chuyển thế, chơn thật nơi cõi Hư-Linh kia không phân biệt Nam Nữ, Đức Chí-Tôn nói: Nam không được lấn quyền hành hơn Nữ, Nam Nữ đều con của Đức Chí Tôn hết, nói như thế ta biết không có gì lạ."

 

 

LÀM LÀNH

Thi văn dạy Đạo rằng:

Làm lành cho trọn Phật Trời thương,
Hai chữ hơn thua chớ liệu lường.
Mầng thiệt là khi nương cảnh tịnh,
Khen khen giận ghét kẻ đời thường.

 

 

LÀM LÀNH LÁNH DỮ

Đức Quyền Giáo-Tông dạy: "Có người thuở nay không làm điều chi bất nhơn thất đức, cứ một lòng ăn thật ở ngay; như vậy có đủ gọi là "làm lành lánh dữ" không? - Không đâu! Người ấy chỉ có biết lánh dữ mà thôi, nghĩa là chỉ có biết giữ mực công-bình của nhân-loại vậy thôi; chớ chưa có chi gọi là làm lành. Muốn trọn hai chữ "làm lành" phải cứu nhơn độ thế. Kinh Phật dạy Cứu nhơn độ thế mà không giải rành là sao, thành ra nhiều vị tu-hành không để ý đến, chỉ biết có một phép Từ-bi thanh tịnh là gốc.

Sao gọi là cứu nhơn độ thế? -Cứu nhơn độ thế là cứu cấp những người đang hồi khốn cùng, hoạn-nạn; ai đói mình cho ăn, ai khát mình cho uống, ai đau mình giúp thuốc, ai thác mình thí hòm, ai lạc nẻo mình chỉ đường, ai buồn rầu mình an ủi, ai kiện thưa tranh chấp mình kiếm chước giải hòa; bắc cầu bồi lộ cho hành khách tiện bề qua lại; in thí kinh-điển, thiên-thơ cho mọi người coi theo hầu cải tà qui chánh.…Vậy mới gọi là cứu nhơn độ thế, song chẳng nên bất cập mà cũng đừng cho thái-quá. Bất cập là khi nào mình giúp cho người không trọn, có trước không sau, làm cho người sau rồi cũng phải khốn cùng, hoạn-nạn như trước vậy. Thái-quá là đụng ai giúp nấy, không xét coi kẻ ấy đáng giúp hay chăng? Vì ở đời lắm người giả dối, quanh năm chỉ ỷ lại người nhơn-thiện mà no cơm ấm áo; giúp-đỡ cho những kẻ ấy là giúp cho họ dễ bề làm biếng, tiện thế ở không, tức là chưởng ác cho họ vậy. Vả lại cứu nhơn độ thế, phải tùy duyên tùy sức mới đặng: giàu cứu độ theo phận giàu, nghèo cứu độ theo phận nghèo. Theo lời giải trước kia; Cứu nhơn độ thế có nhiều cách: có của thí của, không của thí công, của công ví đặng thiệt lòng, cân lại cũng đồng âm chất".

 

 

LÀM LỄ ĐĂNG ĐIỆN CHO ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG

1- Đức Lý từ chức không làm Giáo-Tông:

Đức Hộ-Pháp kể lại: "Giờ phút này Bần Đạo đứng tại Tòa giảng đây tưởng tượng nhớ đến tâm tình ấy thắm thiết biết bao nhiêu! Nồng-nàn mà nói không có một điều gì sơ-sót, chỉ đủ mọi hành tàng, rành-rẽ chi tiết hết. Bần Đạo vừa biết rồi Đức Lý liền từ chức không làm Giáo-Tông của Đạo trọn ba năm vậy! Khi Bần Đạo ở Thủ Đức về: Đức Lý một đàng Ngài biểu theo Ngài chỉnh đốn Hội Thánh lại. Một đàng Đức Chí Tôn nói: Đừng nghe Lý Thái Bạch đa nghe Phạm-Công-Tắc! Một đàng kéo, một đàng trì làm cho Bần Đạo không biết đường đi chút nào! Thất thơ, thất thưởng mất linh hồn, muốn nửa tỉnh nửa say. Ngài đến 11 giờ, Ngài viết đến bốn giờ sáng, chỉ rành rẽ thế nào, nhất là Ngài biểu Bần-Đạo hiệp cùng Ngài cho có quyền Chí-Tôn hữu hình tại thế này. Hiền Hữu muốn cho Đạo Cao-Đài còn hay nghe lời Đức Chí-Tôn để cho Đạo phải mất?

2- Đức Lý Giáo-Tông cầm quyền:

Bần Đạo cứ nghĩ nghị, đó rồi Đức Chí-Tôn đến, thật sự Ông Già hơi buồn thật! Ngài nói: "Tắc! Con sửa-soạn đặng làm lễ Đăng Điện cho Đức Lý Giáo-Tông nghe!" Rồi đó Ổng ở, Ổng nghe Đức Lý Giáo Tông cầm quyền. Đức Lý, Ngài biểu Thiên-phong Chức-sắc cả Cửu Trùng-Đài, Hiệp-Thiên-Đài lập Cửu Trùng Thiên để Ngài đăng Điện, khi Ngài đăng Điện rồi. Ngài cầm cây viết, Ngài viết bài Diễn văn đăng Điện cho tới tận thế sẽ không có vị Giáo-Tông nào làm một bài Diễn-văn hay như vậy." (Đức Hộ-Pháp thuyết 17-8 Nhâm-Thìn)

 

 

LÀM GIÀU

Kinh Sám Hối có câu:

"Lo danh vọng hao mòn thân-thể,
"Ham làm giàu của để bằng non."

 

 

LÀM NÔ LỆ

Ở đời, làm nô lệ là chịu mọi sự sai khiến của ngưởi bỏ tiền ra thuê mướn. Trong cửa Đạo người Tín đồ cũng làm tôi mọi, làm nô lệ cho Đức Chí-Tôn tức là một sự dâng công đổi vị. Đức Chí-Tôn đổi lại cho ngôi Thần- Thánh -Tiên -Phật tùy theo công quả của mỗi người: Phụng sự cho Vạn linh là phụng sự cho Chí-Linh, cũng là phụng sự cho Đức Chí-Tôn đó vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo xin thú thật rằng không có cái nạn làm nô lệ nào một cách vô lối như Bần-Đạo đã làm. Hỏi ra không phải phận-sự của Bần-Đạo mà Bần Đạo phải làm, nhiều khi ngồi buồn muốn phế hủy, ngặt dòm lại thấy con cái của Đức Chí Tôn không người dìu dắt, muốn phế bỏ mà không phế bỏ được. Mặt đời là kiếp sanh tức nhiên phần xác còn chịu nhọc nhằn không lẽ phần hồn mà phế bỏ."

"Mấy em thấy từ thử Thầy mấy em làm nô-lệ cho Ðạo, tạo ra bao nhiêu của cải, mà vẫn cúi đầu trước Hội Thánh. Bởi quyền Hội-Thánh là quyền thiêng-liêng của Chí Tôn để tại mặt thế. Nếu phân chia thì bị tiêu diệt, mà còn bị Phong-đô dòm ngó nữa.!"

 

 

LÀM NGƯỜI

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm người nhơn nghĩa giữ tròn
"Muôn năm bóng khuất, tiếng còn bay xa."

 

 

LÀM PHẢI LÀM LÀNH

Kinh Sám Hối có câu:

"Thấy ai làm phải làm lành,
"Xiểm-gièm cho đặng khoe danh của mình."

 

 

LÀM PHƯỚC

Kinh Sám Hối có câu:

"Người làm phước có khi mắc nạn,
"Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang."

 

 

LÀM PHƯỚC LÀM DOAN

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Tình huynh-đệ tày non tợ biển,
"Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.
"Cang tam, thường ngũ phải gìn,
"Chứa đức, làm lành, làm phước, làm doan."

 

 

LÀM TÔI

Làm tôi, tức là làm tôi tớ, nghĩa là phụng sự cho vạn linh ấy là phụng sự cho Chí linh đó vậy. Người Tín hữu Cao Đài theo Thánh ý Thầy dạy là "làm nô lệ" cho Chí-Tôn mà thôi

Đức Hộ Pháp giảng Đạo ngày 5-6-Kỷ Sửu (1949):

"Đức Chí Tôn đến cậy nhơn sanh làm Thánh Thể của Ngài, Ngài phải bồi thường, phải trả mắc cho người, người ta mới phụng sự cho Ngài. Trả bằng cách đến ký Hòa-ước với loài người, nhứt là với dân tộc Việt-Nam nầy trước đã. Nếu các Người thay thế cho Tôi phụng sự con cái Tôi, Tôi có phận sự lập vị Thần, Thánh, Tiên, Phật cho các người chịu không? Nếu các người chịu làm tôi cho con cái của Tôi cho vừa sức Tôi muốn, cho vừa sở ý Tôi định, thì Tôi sẽ trả mắc cho mấy người. Mấy người đoạt được nơi thế nầy thế nào, nơi cõi Hư Linh Tôi cũng không chối cải.".Làm tôi, làm tớ cũng đồng nghĩa: tôi tớ.

Kinh Sám Hối có câu:

"Phận làm tớ thật-thà trung-tín,
"Với chủ nhà trọn kính trọn ngay."

 

 

LÀM TUẦN CỬU

Nghi thức của Đạo Cao-Đài là làm Tuần Cửu cho người chết. Có nghĩa là người chết ngày thứ nhứt kể là 1, tính đến ngày thứ chín thì thân nhân đem bài vị đến Thánh Thất để tụng kinh cầu nguyện cho hồn người được siêu thoát. Mỗi lần tụng như vậy gọi là "Tụng Cửu" cũng là hồn lên được một từng Trời. Qua 9 lần như vậy thì gọi là "Hiệp Cửu" hay "Chung Cửu" tức là hồn đã qua 9 từng trời rồi.

"Từ Nhứt-cửu tới Cửu-cửu, kỳ nào cũng phải cúng Thầy trước (cúng Tiểu đàn) có dâng Tam-Bửu và Thượng sớ, song không có lễ-nhạc. Khi cúng Thầy rồi, thỉnh linh-vị đến trước Điện-tiền, tụng bài kinh Khai-cửu, rồi tiếp tụng Kinh Nhứt hoặc Nhị-cửu (tụng như vậy cho đủ ba hiệp). Đến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy.

Mỗi Tuần cửu phải quì tụng DI-LẶC CHƠN-KINH nơi trước Bửu-Điện. Hễ dứt hiệp thì niệm mỗi vị Phật và lạy một lạy. Sau rốt hết niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy. Tụng nhiều chừng nào tốt chừng nấy, song mỗi hiệp tụng từ ba người đến 6 người cho ăn rập nhau".

 

 

LẠM QUYỀN


E: To abuse one’s power.
F: Abuser de son pouvoir.

Lạm: Lấn vào, làm quá giới hạn. Quyền: quyền hành. Lạm quyền là dùng quyền hành một cách quá đáng, vượt ra ngoài giới hạn (Sử dụng quyền lực vượt quá giới hạn).

 

 

LANG-SA

E: The French.
F: Le France.

Tiếng Pháp gọi là "Le France" tức nhiên là chỉ nước Pháp bấy giờ đang đô hộ nước ta. Tiền nhân dịch là "Lang-Sa"

Thầy dạy:"Trong Đạo duy có một điều làm cho Chánh phủ không vừa lòng, là mỗi nước muốn cho phân cách nhau mà Đạo thì hiệp, thì các con cũng nên làm ơn nói với người Lang sa rằng: Nhờ Đạo mà các sắc dân được yêu nhau, mến nhau, phải lấy sự yêu mến mà buộc tình người thì quyền hành kia mới bền vững."

Đức Cao-Đài dạy: 16-8 Bính-Dần (Thứ Tư 22-9-1.926)

"Các con xin Chánh-phủ Lang-sa đặng Khai Đạo, thì cực chẳng bằng Thầy đã ép lòng mà chịu vậy cho tùng nơi Thiên-cơ. Thầy rất đau lòng mà phải chịu vậy chớ biết sao!"

 

 

LÀNG LONG THÀNH

Đức Chí Tôn giáng dạy tại Chùa Gò Kén, ngày 20-01-Đinh Mão (dl: 21-2-1927) như sau: "Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh Địa. Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh dạy dỗ dân vô đạo, Thầy ban đặng quyền thưởng phạt, đặng răn làng ấy cho đến ngày chúng nó biết ăn năn cải hóa. Vậy thì Làng Long Thành, các con khá an lòng. Còn Tòa Thánh thì muốn để cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước. Từ Thầy đến lập Đạo cho đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. Các con lựa chọn nơi nào mà Hội Thánh vừa lòng thì là đẹp lòng Thầy. Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi. Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm mỗi sự chi về phương tiện mà thôi.

THƠ! Thầy giao cho con góp tư bổn trong một tháng cho rồi, dặn các em con rằng: "Danh thể Đạo nơi Tòa Thánh, nghe à!" Sau Thái Bạch sẽ dạy con kiểu vở.’

Đây, Tòa Thánh Tây Ninh, còn được gọi là Đền Thánh, hay Tổ Đình, là Tòa Thánh Trung-Ương của Đạo Cao Đài, hiện nay tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách Thị Xã Tây Ninh khoảng 5 km về hướng Đông Nam, thuộc Miền Nam nước Việt Nam. Đây là một ngôi Đền đồ sộ, nguy nga, đặc sắc, là nơi thờ phượng Đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, các vị Giáo chủ Tam Giáo và Ngũ Chi Đại Đạo, cùng các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

 

 

LÃNG PHÍ


E: To dissipate.
F: Dissiper.

Lãng: Buông thả, phóng túng. Phí: tiêu dùng, xài phí. Lãng phí là tiêu xài một cách quá mức về những việc không cần thiết (Hao phí vô ích).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Như sự lãng phí se sua ở đời nầy, Thầy cũng cho là một việc tổn đức vậy.

 

 

LÃNG TỬ

浪 子
E: Vagabond.
F: Vagabond.

Lãng: Buông thả, phóng túng. Tử: người.

Lãng tử là người sống lang bạt, rày đây mai đó, không ở chỗ nào nhứt định. Người du-đảng vô nghề nghiệp.

Lãng tử đồng nghĩa: Lãng nhân, Lãng sĩ.

Câu 13 trong bài U-Minh-Chung:

"Lãng tử cô nhi tảo hồi hương lý".

 

 

LÁNH DỮ LÀM LÀNH

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Lời Thầy dạy Thánh-ngôn ghi chữ,
Biểu chúng ta lánh dữ làm lành.
Phải lo khử ám tựu minh,
Cải tà qui chánh lập thành chơn tu.

 

 

LÀNH DỮ

Thi văn dạy Đạo có câu:

Lành dữ nơi mình chiêu phước họa,
Thành tâm ắt thấy hết thần minh.

 

 

LÀNH NHƯ TÒNG, DỮ TỢ HOA TƯƠI

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,
"May đặng làm người chớ dể-duôi.
"Lành dữ hai đường vừa ý chọn,
"Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi."

 

 

LÀNH SIÊU DỮ ĐỌA

Lành siêu dữ đọa: Làm điều thiện thì sẽ được siêu thăng. Làm điều ác thì sẽ bị đọa trầm luân.

Kinh Sám Hối có câu:

"Hóa-công xem xét đền bồi,
"Lành siêu dữ đọa thêm nhồi tội căn."

 

 

LÃNH ĐẠO

Đức Thượng Phẩm nói: "Đời là một sân khấu hí trường, mọi sự đều phải thay đổi, chớ nên lấy đó làm mục phiêu chính để noi theo, vì đã nói rằng: một sân-khấu hí-trường thì trong đó đủ đào kép và ông bầu, dầu hay dầu dở thì bổn phận họ phải làm cho rồi để cho kẻ khác lên thay thế, đặc-sắc hơn và hay-ho hơn. Hiện các Em đã thấy biết bao nhiêu màn đời thay đổi liên tiếp mà những màn ấy cũng chẳng làm cho dân Việt-Nam được hưởng cảnh thái-bình. Càng thay đổi càng làm cho dân chúng Việt-Nam thêm hoang-mang, hồi-hộp và cảnh tương-tàn, tương-sát của Việt-Nam cũng chưa thấy giảm bớt chút nào mà lại càng tăng thêm cực độ. Các Em biết tại sao vậy không? Nói nghe thử!...

- Trúng! Nhưng còn thiếu một chút là dân Việt Nam chưa được mãn nguyện cho sự lãnh-đạo của những bậc giả thương dân chúng đó vậy."

 

 

LÃNH HỘI

领 會
E: To understand.
F: Comprendre.

Lãnh: Nhận lấy, quản lý, hiểu rõ, cổ áo. Hội: hiểu biết. Lãnh hội là hiểu biết rõ (lý hội mà hiểu biết được).

 

 

LÃNH KIM SA

Kinh Đệ Lục Cửu có câu:

"Cung Lập-khuyết tìm duyên định ngự,
"Lãnh Kim-sa đặng dự Như-Lai.
"Minh-Vương Khổng-Tước cao bay,
"Đem chơn-thần đến tận đài Huệ-Hương."

 

 

LÃNH MỆNH

領 命
E: To get an order.
F: Recevoir un ordre.

Lãnh: Nhận lấy, quản lý, hiểu rõ, cổ áo. Mệnh: Mạng: lịnh của cấp trên. Lãnh mệnh hay Lãnh mạng là nhận lãnh mệnh lệnh của cấp trên truyền xuống (nhận lãnh sứ mệnh).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Lão mang nặng tình nghĩa cùng một bạn thiêng liêng vì đời lãnh mạng, tạo Đạo cứu chúng sanh.

 

 

LÃNH THỔ

Lãnh thổ : Đất đai thuộc quyền thống trị của một nước, theo luật quốc tế, nước khác không được xâm phạm đến.

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Nối theo có nhiều anh hùng liệt nữ như Hưng Đạo Vương, Nữ Trưng Vương…đuổi quân Minh ra khỏi biên thuỳ, tự ta lấy lại chủ quyền lãnh thổ."

 

 

LÃNH TỤ

领 袖
E: Leader.
F: Leader.

Lãnh: Nhận lấy, quản lý, hiểu rõ, cổ áo. Tụ: cái tay áo. Lãnh tụ, nghĩa đen là cổ áo và tay áo, ý nói người cầm đầu hướng dẫn quần chúng (người cầm đầu).

 

 

LÃU THÔNG

Lãu thông: thông suốt mọi vật

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Cơ huyền linh vô phương thấu đáo
Phật Như Lai còn bảo nan phân
Mựa tin lời Lão tố trần
Lão chưa dám chắc mọi phần lãu thông.

 

 

LAO CÔNG HẠN MÃ

勞 工 汗 馬
E: The merit of the battle field.
F: Le mérite au champ de bataille.

Lao: Cực khổ, khó nhọc. Công: công khó nhọc. Hạn: còn đọc là Hãn: mồ hôi. : ngựa. Hạn mã: ngựa đổ mồ hôi, ý nói đánh giặc nơi chiến trường. Lao công hạn mã là công lao đánh giặc nơi chiến trường người đã đóng góp nhiều công sức với…).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

(Hớn Bái Công) Nào tật đố hiền tài, hữu thỉ vô chung, nghe lời sàm tấu, giết người lao công hạn mã.

 

 

LAO LUNG


E: The jail.
F: La prison.

Lao: Nhà tù. Lung: cái chuồng để nhốt gà. Lao lung là cái chuồng và cái lồng để nhốt súc vật. Nghĩa bóng chỉ sự giam cầm tù tội, sự mất tự do.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Thượng Hoàng sánh đức Chí Công,
"Mặc phò lê thứ khỏi vòng lao lung.

 

 

LAO LÝ

牢 理
E: To imprison.
F: Emprisonner.

Lao: Nhà tù. : lo buồn. Lao lý là bị giam cầm và lo buồn (tù tội, giam cầm).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mấy lần lao lý, mấy lúc văng mày, nuôi nấng các con hầu lập nên nền Đạo.

 

 

LAO TÂM TIÊU TỨ

E: To tire oneself the heart and thought.
F: Se fatiguer le cœur et la pensée.

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

"Khi Ðức Thích Ca mở Ðạo Phật thì nhơn sanh buổi ấy còn Thánh Ðức nhiều; cá nhơn đều ngán sự khổ não truân chuyên ở thế nên Thiên Ðình phú cho Ngài lấy tôn chỉ tiêu cực diệt Tứ Khổ (Sanh, Lão, Bịnh, Tử) mà độ chúng. Ngài cũng bị lắm điều truân chuyên khổ não, lao thân tiêu tứ với đời, mà chừng thành Ðạo cũng bị quỉ phá một hồi dữ dội, rồi mới thành Ðạo".

 

 

LAO TRẦN

Thầy dạy: Thứ hai, 6-12-1926 (âl 2-11-Bính Dần)

"Than ôi! Ðiều vui sướng lao trần chẳng ai buộc mà nhiều kẻ tìm tới, mối đạo đức trau thân là phương châm thoát tục mà lắm kẻ trốn lánh, bài bác mối Ðạo Trời, khua môi uốn lưỡi, mà tưởng cho mình hơn đặng các phẩm nhơn sanh, chớ chẳng dè là một hình phạt rất nặng nề đã chực chúng nó nơi chốn A Tỳ".

 

 

LÃO ĐAM (Lão Tử)

Lão Đam 老聃 là tên thụy của Đức Lão Tử.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử là người nước Sở , huyện Khổ , làng Lệ , xóm Khúc nhân , ở tỉnh Hồ Nam bây giờ. Ngài họ Lý , tên là Nhĩ , tự là Bá Dương , thụy là Đam . Ngài làm quan giữ Tàng thất (Kho sách) ở Kinh đô Lạc Dương của nhà Châu.

Về gia thế thì sử sách không có nói đến, nhưng theo truyền thuyết thì nói rằng Mẹ của Lão Tử mang thai Ngài đến 80 tuổi mới sinh, Ngài ra do hông bên trái, dưới cội cây Lý. Khi Ngài được sinh ra thì râu tóc dài và bạc trắng, mới gọi Ngài là Lão Tử. Lão Tử chỉ cây Lý mà bảo rằng đó là họ của Ngài.

Khi đến Kinh Đô nhà Châu, gặp Lão Tử hỏi lễ, lúc về Khổng Tử bảo với các đệ tử rằng: Chim ta biết nó bay như thế nào, cá ta biết nó lội làm sao, thú ta biết nó chạy cách nào. Thú chạy, thì ta có thể lưới bắt nó, cá lội, thì ta có dây câu ví nó, chim bay, thì ta có bẫy gài nó. Chí như con Rồng, thì ta không biết nó theo mây theo gió mà bay liệng như thế nào. Nay ta thấy Lão Tử như con Rồng! "Ngô kim kiến Lão Tử kỳ do Long da!" 吾今見老子其猶龍耶.

Ở tại Lạc Dương phía đông nhà Châu một thời gian lâu, sau thấy nhà Châu suy, nên Lão Tử cỡi trâu đi về hướng Tây, khi đi đến cửa ải Hàm Cốc, quan lệnh là Doãn Hỷ 尹喜. Biết Lão Tử là một Thánh nhân nên quan Doãn tôn Ngài là Thầy để xin theo học Đạo.

Lão Tử ở lại Hàm Cốc dạy Đạo cho Doãn Hỷ và soạn ra bộ sách nói về Đạo Đức, sách phân làm hai thiên, gồm có trên 5000 chữ. Sau này, quyển sách đó được gọi là "Đạo Đức Kinh". Rồi từ đó, Lão Tử cỡi trâu đi về hướng Tây mất dạng, người ta không biết Ngài đi về đâu. Đức Lão Tử được vua Đường Cao Tông nhìn là thủy tổ, nên truy phong cho Ngài "Huyền Nguyên Hoàng Đế".

Lão Tử là chơn linh của Đức Thái Thượng Đạo Quân hóa sinh ra, là giáo chủ của Đạo Tiên.

Đức Hộ-Pháp dạy: "Đức Lý Lão-Đam (Lão-Tử hay là Thái Thượng Lão Quân) vì lòng nhơn phổ hóa thế gian, tìm đặng chơn lý tinh thần vi chủ, trừ khử phương vị vật lụy hình, định tự chủ kỳ tâm là diệu pháp, lại lấy phước an nhàn làm cơ thoát tục. Ây đời là cảnh sầu thảm khó khăn mà Ngài đến bày phép chơi hay cho giải trí, chẳng khác nào Ngài thấy người đương ngậm đắng trêu cay, Ngài cho nếm mùi ngon vị ngọt. Ngài nhờ quyền hành vật dục trong trường công danh, phú quí của Lục quốc phân tranh, tạo ác đã vô ngằn, nó thức minh "bổn thiện" của Ngài, nên hoài ái dân sinh, mới truyền phương thoát khổ" (Ðức Hộ Pháp: trích Khuê bài Thiêng liêng vị)

Kinh Giải Oan có câu:

"Cứ noi bóng CHÍ-LINH soi bước,
"Gội mê-đồ tắm nước MA-HA.
"Liên-đài may nở thêm hoa,
"LÃO-ĐAM cũng biết, THÍCH-GIÀ cũng quen."

 

 

LÃO GIÁO


E: Taoism.
F: Taoisme.

Lão-giáo thì cho vạn-vật đều gốc ở Đạo, Đời là một cuộc phù-vân, hơi đâu mà để trí lo-nghĩ, người ta chỉ nên cùng với Đạo mà vui chơi cùng Tạo hóa, không cần chi đến Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí; không thiết gì đến pháp luật, chế độ, miễn là được thảnh-thơi vô-vi thì thôi.

Lão giáo, từ hai quyển "Đạo Đức Kinh" của Lão Tử và "Nam Hoa Kinh" của Trang Tử làm cơ sở cho triết lý "Vô vi", đến thời nhà Tống các nhà Nho đem lý thuyết Vô vi của Lão Trang phối hợp với Dịch Lý của Nho mà tạo thành một phong trào "Huyền học" hay "Lý học". Phong trào nầy có công lớn trong việc phát triển học thuyết Lão Trang đến chỗ phồn thịnh nhứt vào đời Ngụy, Tấn, Lục Triều... Lão giáo hướng con người về với Đạo là thuận lẽ thiên nhiên vô vi tự tại. Vì vậy, thuyết Vô vi của phái Đạo Gia đã ảnh hưởng không nhỏ về Vũ trụ quan và Nhân sinh quan qua con người Việt Nam ta từ ngày xưa cho đến bây giờ.

 

 

LÃO QUÂN


E: Lao Tze.
F: Lao Tseu.

Lão Quân tức Thái Thượng Đạo Tổ.

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cung Như-Ý Lão-Quân tiếp khách,
"Hội Thánh-minh giao sách Trường-xuân."

 

 

LÃO TÔ

(Xem Tô Đông Pha. Vần T.)

Lão Tô tức là Ông Tô Ðông Pha (1037-1101), một nhà Nho nổi tiếng vào thời nhà Tống bên Tàu.

Thi văn dạy Đạo rằng:

Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
Giữa biển ai từng gặp Lão Tô?
Mượn thế đặng toan phương giác thế,
Cũng như nương viết của chàng Hồ.

 

 

LÃO THÀNH

老 成
E: The experienced man.
F: L’homme expérimenté.

Lão: Già, ông già. Thành: nên, trọn vẹn. Lão thành là người già từng trải có nhiều kinh nghiệm (thành thạo lịch duyệt).

 

 

LÃO TRANG

老 莊
E: Lao Tze and Tchang-Tze.
F: Lao Tseu et Tchang-Tseu

Lão Trang 老莊: Lão-Tử và Trang-Tử.

 

 

LÃO TỬ (Tiên Đạo)

老 子
E: Lao Tze.
F: Lao Tseu.

 

 

 

Theo Phật học: Lão Tử (C: lǎozǐ; tk. 6 (?) trước Công nguyên, cũng được gọi là Lão Ðam. Một trong hai vị hiền triết nổi danh nhất của Ðạo giáo song song với Trang Tử. Sử ký viết rằng: Lão Tử người nước Sở, huyện Khổ, làng Lệ, xóm Khúc Nhân (Hồ Nam bây giờ). Ông họ Lý, tên Nhĩ, tự Ðam. Trong tất cả những tác phẩm triết học người ta đều gọi ông là Lão Tử hoặc Lão Ðam.

Theo nguồn tài liệu trên thì Lão Ðam giữ kho sách của nhà Châu và trong thời gian này ông có dịp gặp Khổng Tử. Cuộc gặp gỡ này thường được nhắc lại nhưng không thể xem là một sự kiện lịch sử. Thấy nước Châu suy, ông bỏ ra đi. Ðến cửa quan phía Tây, vị quan coi cửa là Doãn Hỉ biết ông sắp ẩn tích bèn cầu xin chỉ dạy. Thế là ông viết một quyển sách với khoảng 5.000 chữ nói về Ðạo và Đức, sau được gọi là ÐẠO ĐỨC KINH và sau đó ông đi mất tích.

Theo truyền thống thì Lão Tử là tác giả của Ðạo Đức Kinh, nhưng các nhà nghiên cứu sau này đều nhất trí rằng, quyển sách này không thể ra đời trước thế kỷ thứ 4, 3 trước Công nguyên và vì vậy không phải là tác phẩm từ tay Lão Tử.

Theo Tư Mã Thiên, tác giả của Sử ký, thì Lão Tử trau giồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ dấu mình, ẩn danh. Quan niệm này được nêu rõ trong cuộc gặp gỡ giữa ông và Khổng Tử (bản dịch của Nguyễn Duy Cần) "Khổng Tử đến Châu, hỏi Lễ. Lão Tử nói: Lời nói của ông là lời nói của những kẻ xương tàn cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vòn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng, kẻ buôn giỏi khéo giữ của quí như không có gì, người quân tử đức thạnh, dung mạo dường như kẻ ngu. Họ khác với cái kiêu khí và đa dục của ông, sắc thái và dâm chi ấy không ích gì cho thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo cho ông biết có bấy nhiêu thôi. Khổng Tử về bảo đệ tử: Chim, ta biết nó bay thế nào; cá, ta biết nó lội làm sao; thú ta biết nó chạy cách nào. Thú chạy thì ta có lưới bắt nó; cá lội thì ta có dây câu ví nó; chim bay thì ta có bẫy gài nó. Chí như con Rồng, thì ta không biết nó theo mây theo gió mà bay lượn như thế nào. Nay ta thấy Lão Tử như con Rồng! "

Các Lão gia sau này đã tôn thờ Lão Tử, gọi ông là Thái Thượng Lão Quân, Ðạo Ðức Thiên Tôn. Ông được xem là người sáng lập Ðạo giáo. Nhiều huyền thoại về ông cũng được lưu lại. Việc mất tích của ông được các Lão gia giảng rằng, ông sang Ấn Ðộ gặp Đức Phật và thâu nhận Phật làm đệ tử. Thuyết này được các Lão gia nêu ra trong những cuộc tranh luận với các vị Tăng nhà Phật sau này". (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Theo truyền thuyết: Mãi đến đời nhà Thương bên Tàu, Đức Lý Lão-Tử, Ngài mới đầu thai xuống trần. Việc đầu thai của Ngài cũng rất kỳ diệu: Ðời vua Bàn Canh nhà Thương (1401 trước Tây lịch), có một nàng con gái gọi là Ngọc Nữ 玉女, mới vừa 8 tuổi (theo sách Ðông Du Bát Tiên), con của một gia đình đạo đức, ra chơi sau vườn, thấy cây Lý có một trái to chín đỏ, cô liền hái ăn. Ăn xong, nàng cảm thấy mỏi mệt và có thai. Người cha thấy sự lạ, bèn toán quẻ Âm Dương, biết là có một vị Ðại Tiên giáng sanh, nên không phiền hà gì cả và nuôi con gái rất kỹ. Nhưng nàng chịu mang thai như vậy cho đến già. Ðến năm nàng được 80 tuổi, trở thành bà già, tức là nàng đã mang thai ngót 72 năm, lúc đó là đời vua Võ Ðinh (1324 trước Tây lịch) nhà Thương, nàng Ngọc Nữ thấy trăng tỏ, bèn đi dạo sau vườn. Khi đi ngang qua cây Lý khi xưa thì đứa con từ trong bụng theo nách mẹ ra ngoài. Bà Ngọc Nữ kinh hãi, coi thấy nách mình liền lại như thường, không đau đớn chi cả. Ðứa con ra đời, nhưng đã phải ở trong bụng mẹ 72 năm, nên đầu tóc bạc trắng, do đó mới gọi là Lão Tử (con già). Lúc đó là giờ Sửu, ngày Rằm tháng 2 năm Canh Thìn, đời vua Võ Ðinh. Lão Tử chỉ cây Lý bảo rằng đó là họ của Ngài, lại xưng hiệu là Lão Ðam, tự là Bá Ðương, lại mỗi tai có 3 lỗ ở bên trong nên còn gọi là Lý Nhĩ. Cội Lý, nơi giáng sanh của Lão Tử, ở tại xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở. Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đình cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao như chẻ hai, trên trán có chỉ như 3 chữ Tam Thiên.

Đức LÃO TỬ dưới mắt Cao-Đài-Giáo:

 

 

 

"Thánh ngôn Thầy dạy "Người gọi Lão Tử là Tiên Tổ giáo, thì Lão Tử cũng sanh ra đời nhà Châu".

Lão Tử tức là Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ giáng trần thời nhà Châu bên Tàu, gọi là Lão Tử. Ðức Khổng Tử giáng sanh năm 551 trước Chúa giáng sinh, có đến hỏi Ðức Lão Tử về Lễ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Đức Lão-Tử thấy loài người không biết điểm tinh thần mình, không biết chơn-tướng tinh-thần mình để nơi nào định vị cho có giá trị. Ngài sanh tại Trung-hoa, tâm-lý nhơn-sanh không biết phẩm-giá tinh-thần của con người là gì, đến đỗi tâm lý loài người buổi ấy sa-đoạ, không biết phẩm-vị mình nơi nào, không biết tôn-trọng phẩm-vị đó nên đọa xuống thú-chất vật loại, nếu không vì Bác-ái, Từ-bi thức tỉnh nhơn loại, cho biết phẩm-vị tối cao của họ, đừng làm con vật nữa. Nếu không phải vì tâm Bác-ái, Công-bình thì không hề Ngài lập Giáo dường ấy. Ngày nay không phải nơi dân Á Đông này thôi, mà cả Âu-châu cũng vậy, biết rõ triết-lý đạo đức cao siêu của Ngài, người ta theo chẳng biết bao nhiêu. Các Ngài xét định về mặt tinh-thần, lấy cả tinh thần siêu thoát của các Ngài Lão tử cỡi Thanh ngưu coi có phải tinh-thần luật pháp của Tiên-giáo chỉ do Bác ái, Công bình mà lập đặng chăng? Phương-pháp tạo ra có hình tướng ấy cốt yếu nâng-đỡ tinh thần nhơn-loại đến mục-đích cao-thượng là Bác-ái, Công-bình vậy"

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

Ðức Lão Tử khai Ðạo Tiên thì dùng huyền diệu pháp làm tôn chỉ cao thượng, vì đương buổi ấy thì nhơn sanh ưa huyền diệu phép tắc. Ngài cũng bị nhơn sanh cho là Lão già mê hoặc chúng. Ðệ tử của Ngài cũng lần lần xa Ngài cho đến đổi khi Ngài đi qua Hàm Cốc Quan vô Nha môn của Doãn Hỉ đặng độ ông nầy là chơn linh Ngươn Thỉ thì Từ Giáp là học trò hầu cận Ngài vì mê sắc mà sa ngã rồi cũng xa Ngài. Mà Ðạo Tiên cũng thành tựu và cũng truyền bá tứ phương vậy".

 

 

LẠT LẼO

Đức Quyền Giáo Tông giáng họa thi của Hộ-Pháp:

Đủ hiểu tâm phàm lòng lạt lẽo,
Dư xem bước tục chí cao sâu.

 

 

LẠT-MA (Phật Học)

Lạt-Ma (T: lama [bla-ma]; S: guru). Theo Phật giáo Tây Tạng, Lạt-Ma là hiện thân của giáo pháp. Danh từ Lạt-Ma cũng gần giống như guru, Ðạo sư của Ấn Ðộ, nhưng tại đây, Lạt-Ma mang thêm nhiều ý nghĩa khác. Trong Kim cương thừa, Lạt-Ma không phải chỉ là người giảng dạy giáo pháp mà còn là người thực hành các nghi lễ. Vị này thường là người lãnh đạo các đạo trường và được xem thuộc về các dòng tái sinh Chu-cô (t: tulku). Những vị Lạt-Ma uyên thâm, danh tiếng thường được mang danh hiệu Rinpoche (quí báu phi thường). Ngày nay, danh từ Lạt-Ma hay được dùng để gọi các vị Cao tăng Tây Tạng, không kể trình độ chứng đạo của các vị đó.

Vì Lạt-Ma đóng một vai trò quan trọng như thế nên có khi nền Phật giáo này cũng được gọi là Lạt-Ma-Giáo. Người ta cũng không nên xem Lạt-Ma như Tăng sĩ bình thường, vì Lạt Ma đươc xem là hiện thân của Phật trong lúc Tăng sĩ chỉ là người tu học trong chùa chiền hay tu viện. Trong Kim cương thừa, muốn theo học, hành giả phải được sự Quán đỉnh của một hay nhiều vị Lạt-Ma. Trong các giáo pháp cao tột như Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) hay Ðại cứu kính (t: dzogchen) thì ngay từ đầu, mọi phép Thiền quán đã phải tập trung lên một vị Lạt-Ma dù cho vị đó không hiện diện. Một khi vị đó có mặt, thì thái độ của học trò lại càng tuân thủ theo nguyên tắc, nhất là sự vâng lời tuyệt đối. Vai trò gạch nối giữa Phật và tín đồ của Lạt-Ma cho phép các vị này không những hướng dẫn học trò mà còn giáo hóa Phật pháp cho quần chúng, cũng như giúp Phật tử trừ tà hay cầu an cầu siêu. Các Lạt-Ma có những thuật riêng để thực hiện nhiệm vụ đó, mà người ta hay nhắc đến nhất là những điệu múa đặc biệt và tụng niệm Tử thư.

Thời gian tu học của các vị Lạt-Ma rất gian nan. Trước hết các vị học tập Kinh điển giáo pháp và thực hành Thiền định. Sau khi sống viễn ly (nhập thất) ít nhất ba năm mới được mang danh Lạt-Ma và giảng dạy.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

LÀU LÀU

Thi văn dạy Đạo có câu:

Một Tòa Thiên các ngọc làu làu,
Liền bắc cầu qua nhấp nhóa sao.

 

 

LẠY

 

Lạy là gì?

Giải-thích Cách Lạy.

Cách lạy qua ba thời kỳ.

Giải thích ý nghĩa cách lạy bắt Ấn Tý.

Tham khảo tài liệu của Đức Quyền Giáo-Tông dạy từ buổi đầu.

_________________________________

  

Lạy là cúi mình xuống tỏ vẻ tôn kính, là một hình thức Lễ bái. Bất cứ một Tôn-giáo nào: dù là Đạo thờ cúng Ông bà cũng vậy, dân-tộc Á-Đông này coi sự Lễ bái là đứng hàng đầu trong các nghi thức. Ngoài ra sự lễ bái ha28g ngày là một hình thức để ph1t triển đạo tâm và lòng tín ngưỡng Phật Trời.

- Lễ bái để tỏ lòng trân trọng, ngưỡng mộ, sùng thượng với bậc đáng kính, tức là để phát khởi Đạo tâm. Có câu "Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi".

Nay, buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ Đức Chí-Tôn giáng dạy những nghi-thức về việc bái lạy ấy.

Thầy dạy: Ngày 25-2-1926 (âl 13-1-Bính Dần)

"Khi bái lễ, hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.

"Lạy là gì? Là tỏ ra bề ngoài lễ kỉnh trong lòng.

Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là Nhựt, hữu là Nguyệt, vị chi Âm Dương. Âm Dương hiệp nhứt phát khởi Càn Khôn, sanh sanh hóa hóa, tức là Ðạo.

Lạy kẻ sống 2 lạy là tại sao? - Là nguồn cội của nhơn sanh lưỡng hiệp Âm Dương mà ra. Ấy là Ðạo.

Vong phàm lạy 4 lạy là tại sao? - Là vì hai lạy của phần người, còn một lạy Thiên, một lạy Ðịa.

Lạy Thần, lạy Thánh 3 lạy là tại sao?- Là lạy Ðấng vào hàng thứ ba của Trời và cũng chỉ rằng lạy Tinh- Khí- Thần hiệp nhứt. Ấy là Ðạo.

Lạy Tiên, lạy Phật 9 lạy là tại sao? - Là tại chín Ðấng Cửu Thiên Khai Hóa.

Còn lạy Thầy 12 lạy là tại sao?

- Các con không hiểu đâu: Thập nhị Khai Thiên là Thầy, chúa cả Càn khôn Thế giới, nắm trọn Thập nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy."

A- Giải-thích Cách Lạy:

Ðức Chí Tôn dạy năm cách lạy:

1-Lạy người sống: 2 lạy đứng, tức là một lạy Dương, một lạy Âm. Lạy đứng là đứng lên rồi lạy xuống, rồi đứng lên và lạy xuống, hai lần là hai lạy.

2-Lạy vong phàm: Vong phàm là người chết mà không có Đạo. Lạy vong phàm 4 lạy gồm hai lạy quì và hai lạy đứng. Hai lạy quì là một lạy kỉnh Thiên, một lạy kỉnh Ðịa. Hai lạy đứng là về phần người: một lạy Dương, một lạy Âm.

3-Lạy Thần, lạy Thánh: 3 lạy quì (không có gật)

4-Lạy Tiên, lạy Phật: 9 lạy. Cách lạy: Quì lạy ba lạy, mỗi lạy gật đầu ba gật, tổng cộng chín gật thế cho chín lạy. Mỗi gật niệm danh hiệu của vị Tiên hay vị Phật đó.

5-Lạy Ðức Chí Tôn: 12 lạy quì. Cách lạy: Quì lạy ba lạy, mỗi lạy bốn gật, tổng cộng là mười hai gật thế cho mười hai lạy, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy.

Trong năm cách lạy nầy, hai bàn tay đều bắt Ấn Tý.

Ấn Tý là ấn đặc biệt của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

B- Cách lạy qua ba thời kỳ:

*Nhứt Kỳ Phổ Ðộ: Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ giáng thế mở Ðạo Tiên, dạy chắp hai tay kiết nhị, như bông sen búp, hai bàn tay chấp nắm lại, Khi lạy thì xoè ra, hai tay úp xuống đất, cúi đầu xuống ba lạy kêu là khể thủ.

*Nhị Kỳ Phổ Ðộ: Ðức Phật Thích Ca giáng sanh mở Ðạo Phật, thì dạy chắp tay hiệp chưởng hoa khai: hai bàn tay xòe thẳng ra rồi úp lại, khi lạy xuống, hai bàn tay mở ra để ngửa, như cái hoa nở. Khi lạy thì ngửa hai bàn tay để xuống đất mà cúi đầu xuống, kêu là hòa nam.

Khi Đức Khổng Tử giáng sanh mở Đạo Thánh, cách lạy là cung tay đến mày mà lạy kêu là phủ phục.

*Tam Kỳ Phổ Ðộ: Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài dạy chắp hai tay bắt Ấn Tý. Hiệp đủ Phật- Tiên -Thánh là thời kỳ kết quả độ đủ chín mươi hai ức nguyên nhân về nơi nguyên vị. Có câu:"Thiên Địa tuần hoàn châu nhi phục thỉ Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục nhứt" chắp tay như hoa sen đã thành trái cây, có cái hột bên trong, tức là kết quả, khi lạy xuống thì hai bàn tay xòe ra và úp xuống, hai ngón cái gác tréo nhau, tượng trưng việc gieo hột giống xuống đất.

Nay Đấng Chí Tôn giáng cơ tiếp điển mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Như vậy, Tam Kỳ Phổ Ðộ là thời kỳ chót trong một chu trình: Trổ hoa, kế đến hoa còn búp, sau hết là hoa tàn rồi kết thành trái và lấy hột gieo xuống đất để sau đó cây mọc lên và tạo một chu trình kế tiếp tiến hóa hơn.

C- Giải thích ý nghĩa cách lạy bắt Ấn Tý:

Khi lạy, đưa tay đã bắt Ấn Tý (Ấn kiết-quả) lên trán, rồi đưa xuống ngực mới xá. Khi lạy xòe bàn hai tay ra mà úp xuống đất, ngón tay cái của bàn tay mặt đặt lên ngón cái của bàn tay trái. Tức là Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, tức nhiên là 4, cộng với 8 ngón còn lại là 12 (4+8 =12) Tượng cho Thập Nhị Địa chi.

Hai bàn tay có cả thảy 10 ngón tức là thập Thiên can.

Thập Thiên can phối hợp với Thập Nhị Địa chi thành ra một cặp Âm Dương làm nên vũ-trụ Càn khôn thế giới này.

Kinh Phật-Mẫu có dạy:

"Thập Thiên Can bao hàm vạn Tượng,
"Tùng Địa Chi hóa trưởng Càn Khôn."

Mười Thiên Can là: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí, hiệp với 12 Địa Chi là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi,Thân, Dậu,Tuất,Hợi mới biến hóa ra

Lời trong Thánh Ngôn II /62 rằng:

"Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn Khôn thế giới thì Khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.

Thầy phân Thái cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, bát Quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn Khôn Thế giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sinh ra vạn vật là: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh".

Buổi Tam-kỳ Phổ-Độ, trước khi lạy phải bắt Ấn Tý, gọi là Ấn Kiết quả, nghĩa là thời-kỳ này đã thành trái. Tu thì thành, dữ thì đọa. Thưởng phạt phân minh.

 

 

 

Nơi người: Mỗi bàn tay có 5 ngón:

- Ngón cái gọi là mẫu chỉ (ngón mẹ của các ngón)

- Ngón trỏ gọi là thực chỉ (chỉ đúng sự thực)

- Ngón giữa gọi là trung chỉ (ngón ở chính giữa)

- Ngón áp út là vô danh chỉ (ngón tay không tên)

- Ngón út gọi là tiểu chỉ (ngón tay nhỏ nhứt)

Bàn tay trái thuộc Dương, bàn tay hữu thuộc Âm.

 

 

 

Đây là Ấn của Chí-Tôn. Khởi đầu dùng ngón cái của bàn tay trái ấn lên góc ngón Vô danh của bàn tay này, xong nắm lại, đó gọi là Ấn Tý (bấm vào cung Tý) như một trái cây đã thành hạt. Đoạn bàn tay phải đỡ bàn tay trái ôm tròn lại và đầu ngón cái của bàn tay phải bấm vào cung Dần của bàn tay trái, như hình một trái cây đầy đặn.

Nay qua hội Nhơn Sanh Ư Dần, tức là qua Tam-Kỳ Phổ-Độ- Kiết quả - là nguơn hội mà Chí-Tôn đến mở một nền Đại-Đạo, độ hết cả quần linh về cõi Niết-bàn, chẳng để cho một điểm chơn-linh nào ở nơi Đông-Độ.

Khi ngón tay cái của bàn tay trái ấn vào cung Tý, còn lại bốn ngón của bàn tay trái này là Tứ Dương, ngón tay cái của bàn tay mặt bấm vào tay tả ở cung Dần, bốn ngón bao ngoài là Tứ Âm, hiệp chung nhau lại là Bát Quái tức là tám ngón tay biểu thị cho Bát-phẩm Chơn hồn.

- Tức nhiên bốn ngón thuộc Âm là: Vật chất hồn, Thảo mộc-hồn, Thú cầm-hồn, Nhơn hồn.

- Bốn ngón thuộc Dương là chỉ về Thần-hồn, Thánh hồn, Tiên-hồn, Phật hồn.

Ấy là buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ này Đức Chí Tôn độ hết nhơn vật quần linh tận qui nguyên vị. Cộng chung hai lần 4 ngón tay trên lại tức là Tứ Tượng biến Bát-Quái. Bát Quái biến hóa vô cùng mới thành ra Càn khôn thế giái.

Tay trái (Dương) mà có ngón tay cái ở trong; đồng thời tay trái lại có ngón tay cái của bàn mặt là Âm chỉ vào, đó là trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Âm Dương luôn hòa quyện nhau không bao giờ xa lìa. Một Âm một Dương gọi là Đạo "nhứt Âm nhứt Dương chi vị Đạo". Âm Dương hiệp nhứt mới phát khởi Càn Khôn.

Sách có câu: "Vô danh Thiên Địa chi thủy" là trước khi Trời Đất chưa khai, thì một khí không không, sau định hội Tý mới mở Trời, nên chữ Tý ở tại góc ngón tay vô danh. Khi mở Trời rồi mới có hữu danh vạn vật chi mẫu. Muôn vật có hình chất đều thọ nơi mẫu mới hóa sanh.

Như cách lạy nầy là thời kỳ dạy Đạo, còn người luyện Đạo cách lạy cũng hai tay kiết quả, nhưng mà khi lạy chí đất phải để hai bàn tay ngửa mới cúi đầu. Cách lạy mầu nhiệm, nghĩa lý sâu xa, chưa đến kỳ Tịnh Thất nên không dám giải diệu mầu, e lậu Thiên cơ chẳng dễ". (Lời dạy của Đức Quyền Giáo-Tông)

Đức Chí-Tôn lập Đạo trong buổi Hạ-nguơn này thể hiện cơ tuần-huờn châu nhi phục thủy, Tôn-chỉ lấy Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt để đưa nhân-loại đến Đại Đồng. Lấy theo nguyên-lý của vũ-trụ thì:

- Thiên khai ư Tý, trời khai vào hội Tý

- Địa tịch ư Sửu, đất thành hình ở hội Sửu

- Nhơn sanh ư Dần, có nhơn-loại vào hội Dần.

Nay là buổi "Nhơn sanh ư Dần" nên đây là phần hành của Đức Di-Lạc. Do vậy mà hình ảnh của Ngài ngự ở mặt tiền Đền Thánh, cỡi cọp để làm biểu tượng là năm Dần

*Thiên khai ư Tý: Vì trước khi trời đất chưa khai thì chỉ là một khí không không mờ mịt. Sau khi định hội Tý mới mở trời, nên chữ Tý đặt ở ngón Vô danh (ngón tay không tên, gần bên ngón út, nên gọi là áp út). Có câu "Vô danh Thiên địa chi thủy" 無名天地之始 (không tên là trước khi có trời đất)

*Địa tịch ư sửu: là khi mở trời rồi, đất mới được thành hình, do khí nhẹ bay lên làm trời, khí nặng lắng xuống thành đất. Cơ biến hóa này do Mẫu (mẹ) tượng trưng ngón tay cái trên bàn tay gọi là Mẫu chỉ. Vạn-vật hữu hình trong trời đất này đều do Mẹ tạo thành, có câu "Hữu danh vạn-vật chi mẫu" 有名萬物之母. Đạo Cao-Đài xác nhận trong vũ-trụ bao la đều do Phật Mẫu điều hành, Phật-Mẫu nắm cơ hữu tướng. Chí Tôn nắm phần vô tướng.

*Nhơn sanh ư Dần: Tức là nay qua Hội Dần là thời kỳ của nhơn-loại, là người. Bây giờ đủ cả "Cha- Mẹ- Con" Tam Tài thống hiệp. Người đứng vào ngôi cùng với trời đất tức là Thiên- Địa- Nhân. Đạo-pháp đã đúng hội Tam-Kỳ kiết quả. Cao-Đài xuất thế là hiệp với Thiên thơ đã định:

"Tam kỳ khai hiệp Thiên thi,
"Khoa môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên".

Do vậy mà Ấn Tý của thời kỳ thứ ba Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ là thời kỳ Thiên Địa hoằng khai.

Đã qua ba thời kỳ mở Đạo:

- Nhứt kỳ Phổ-độ là tượng bông sen búp, nên hai bàn tay đưa thẳng ra đặt úp vào nhau.

- Nhị Kỳ Phổ-độ là tượng cái bông tàn đi, để chuyển tiếp thành trái, hai bàn tay nắm lại với nhau.

- Tam kỳ Phổ-Độ này thật sự đã thành hình, kết quả, có nghĩa là tu thì thành: Hiền thăng, dữ đọa. Nhưng khi đạt kết quả rồi không phép hưởng riêng một mình, mà phải gieo trồng lại, tiếp tục cho nhơn sanh hưởng nhờ, luân-lưu cho khắp cả Đại Đồng thế giới cùng chung hưởng mới gọi là Phổ-Độ. Xem thế là chỉ hai bàn tay mà nắm cả Càn Khôn vũ trụ. Kinh nói là"Ốc trần hoàn ư song thủ chi nội"

Đức Quyền Giáo-Tông chỉ-dẫn thêm:

Lạy Thầy ba lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Lạy Phật, lạy Tiên, lạy Thánh 3 lạy, mỗi lạy 3 gật. Mỗi bài kinh đều có chỉ câu niệm rồi, không cần nhắc lại (Xem câu niệm cuối mỗi bài Kinh)

Còn xá bàn Hộ Pháp là tại Tòa Thánh và các Thánh Thất. Các nhà tư như có tuần tự, có vọng bàn Hộ Pháp mới xá. Còn nơi nào không có bàn Hộ Pháp thì không buộc phải xá. Có nhiều khi nhà tư, hoặc Lễ,Vía hiến các Đấng cũng xá,là sái phép

Từ Đầu Sư đổ lên có qui vị, hoặc tuần tự, thì lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, niệm danh hiệu và tước phẩm của vị ấy.(2)

Từ Chánh Phối Sư đổ xuống Lễ Sanh thì lạy 3 lạy, không có gật.

Từ Chánh Trị Sự đổ xuống Tín đồ, lạy 4 lạy, là vì có thêm 2 lạy kỉnh Thiên và kỉnh Địa, nên mới có sự phân biệt là:

Hai lạy đầu phải quì để chỉ rõ rằng: kỉnh Thiên Địa;

Hai lạy sau thì đứng để chỉ nghĩa lạy vong phàm cho phân biệt. Còn lạy người sống thì 2 lạy.

Nên nhớ: lấy dấu Phật, Pháp, Tăng duy chỉ có làm Lễ

Đức Chí Tôn mà thôi. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật thì không có lấy dấu chi hết.

(1) Khi nào có Nam Nữ sắp hàng hai bên thì mới xá Đàn, còn ngoài ra thì không xá Đàn.

Phụ luc: Phần giảng dạy của Hội Thánh Cửu Trùng Đài. Châu tri số 61 đề ngày 18 tháng 8 năm Mậu Dần (Dl 10-10-1938).

(2) Như lạy Đức Quyền Giáo Tông, thì niệm Nam Mô Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt.

Lạy Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh, thì niệm Nam Mô Đức Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh.

D-Tham khảo tài liệu của Đức Quyền Giáo-Tông dạy từ buổi đầu

1/. Cách lạy thường cúng Tứ thời:

"Trước khi phải đánh ba tiếng chuông rồi, thì sửa soạn khăn áo, đèn nhang cho đủ. Như có nhiều vị cúng Đấng Từ Bi, thì phải vào Điện Thờ mà sắp bài ban, đứng ngay hàng hai bên.

Nghe ba tiếng chuông lần thứ nhì, thì hai bên chắp tay kiết quả, đưa chí trán mình, xá xuống chí gối (1) rồi hai bên đều khởi chơn phía trong điện mà bước vào chỗ quì, mỗi hàng ba vị. Rồi ngước lên Điện, mới đưa tay kiết quả đến trán mình, xá đến gối ba xá, phổ Thiên áp Địa gọi là Tam Tài, mới khởi chơn trái bước tới một chút, quì chơn mặt xuống trước, chơn trái quì theo cho ngay thẳng cái mình, mắt thì ngó ngay Thiên Nhãn:

- Đưa tay kiết quả lên trán chính giữa mà lấy dấu, niệm: Nam Mô Phật

- Đưa qua bên tả gần lỗ tai niệm: Nam Mô Pháp

- Đưa qua bên hữu gần lỗ tai niệm: Nam Mô Tăng

Xong rồi mới để tay kiết quả nơi ngực mình, chỗ trái tim, chớ rời ra.

- Cúi đầu lần thứ nhứt niệm: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

- Cúi đầu lần thứ nhì niệm: Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

- Cúi đầu lần thứ ba niệm: Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

- Cúi đầu lần thứ tư niệm: Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

- Cúi đầu lần thứ năm niệm: Nam Mô Chư Phật, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần.

Dứt rồi, đọc bài Niệm Hương.

Dứt, lạy ba lạy (Mỗi lạy 4 gật là 12 lạy)

Khi lạy rồi, khi ngước dậy thì đưa tay kiết quả lên trán rồi mới chắp xuống ngực. Khi mãn lễ cúng đứng dậy, cũng đứng chơn trái trước, cũng xá ba xá như trước, mới day ra bàn Hộ Pháp xá một xá, rút từ hàng đi thứ tự mà ra.

2/-Khi lạy hai tay xòe ra đặt úp xuống, hai ngón tay cái gác tréo nhau thành hình chữ thập, tạo thành con số 4. Ngón cái của bàn tay mặt đặt trên ngón cái của bàn tay trái tức là Âm trên Dương, có nghĩa là Âm bao Dương, vì Dương thì tán Âm thì tụ nên Âm phải giữ Dương, đó là ý nghĩa của Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng.

Tóm lại: trong cách lạy buổi Tam-Kỳ Phổ Độ này là gồm đủ các con số chỉ về Lý Dịch rất cao siêu, mầu nhiệm: hiệp đủ Âm Dương, Tam Tài, Tứ Tượng, Bát Quái, Ngũ hành. Kinh dạy rằng: "Hỗn độn Tôn sư. Càn Khôn chủ tể. Qui thế giới ư nhứt khí chi trung. Ốc trần huờn ư song thủ chi nội".

 

 

LĂNG LOÀN

Kinh Sám Hối có câu:

"Người làm phước có khi mắc nạn,
"Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang."

 

 

LĂNG MẠ DANH THỂ CHÍ TÔN

Theo Húân lịnh 638 của Đức Hộ-Pháp ngày 4-6-Đinh Hợi (1947) nói rằng: "Dầu tòan Hội Thánh hay là một phần tử của Hội Thánh tức là một Chức sắc Thiên phong nào cũng vậy,phải đáng mặt lương sanh đặng vào Thánh Thể của Người chẳng phải là dễ. Vì vậy mà Chí-Tôn phải đem lương sanh ấy vào bậc Thiên phong cho đồng thể cùng Thần, Thánh, Tiên, Phật mới đáng làm hình thể của Người. nếu để phàm phong thì quả nhiên nhân lọai đã lăng mạ danh thể của Người. ấy là tội Thiên điều chẳng hề dung thứ. Mà Thiên phong chánh vị còn giữ phàm tánh thì lại lăng mạ danh thể của Người hơn thập bội".

 

 

LĂNG XĂNG XẠO XỰ

"Các lạc thú hiện thời trên cõi tạm nầy làm cho con người mê mẩn; rồi đua chen nhau tranh giành phúc lộc; lăng xăng xạo-xự trên chốn võ-đài; mạnh đặng, yếu thua khôn còn, dại mất."

 

 

LÂM Quẻ 19. Quẻ Địa Trạch Lâm

 

 

Quẻ 19. Quẻ Địa Trạch Lâm

 

 

Tượng: Cơ quan Hiệp-Thiên Đài

Quẻ này là quẻ Địa Trạch Lâm. Đoài hạ là nội Đoài, Khôn thượng là ngoại Khôn. Khôn vi Địa, Đoài vi Trạch, nên tên quẻ đặt là Địa Trạch Lâm. Biệt số 82

Chữ Lâm có nghĩa là trên soi xuống. Nếu lấy theo tượng quẻ thì trên trầm có đất, tức là có bờ đất chung quanh nên có cái nghĩa đất soi xuống nước.

Về thứ tự quẻ, sau quẻ Cổ tiếp lấy quẻ Lâm là cớ vì sao?

Cổ nghĩa là việc, hễ đã có công việc thì sau mới làm đến lớn được, thế nên sau quẻ Cổ tiếp đến quẻ Lâm là vậy. Lâm nghĩa là lớn "Lâm giả đại dã"

Về thể quẻ, lúc đầu là quẻ Khôn, vì đem lại hai nét Dương thay vào hào Sơ và hào Nhị, thế là Dương cương tiệm trưởng, mà tới ngày thịnh lớn nên đặt tên là Lâm Lại trên Đoài trạch có Khôn địa, tượng là bờ đất bức cận với nước, cũng gọi là Lâm nghĩa là bức gần.

Nhìn chung thì Khôn tượng đất, Đoài tượng đầm (ao, hồ) tức nhiên trong ao, hồ có nước,có nghĩa là đất soi xuống nước. Khi đất ở trên hồ, là đất và nước gần nhau, nhờ đất mới giữ được nước nên cũng ngụ ý là tới gần.

Đối với các vật không gì gần gũi bằng đất với nước, thường ví biên cương bờ cõi là "đất nước" (nghĩa bóng nói là quốc gia lãnh thổ).

Buổi này, văn minh khoa học cũng cho biết sự ghi chép của Nam-Tào Bắc-đẩu đều ghi chép hành vi cử chỉ của người không khác máy Camara ghi nhận. Về đạo pháp là cơ quan bảo thủ chơn truyền, chính là Hiệp Thiên Đài.

Vậy thì:

Quẻ Lâm là tượng cho Hiệp-Thiên-Đài:

Nay, Trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí-Tôn mở cơ tận độ tức là Đại Ân xá lần ba, đứng về hữu hình thì có hai Đài thay trời lo cứu thế và chuyển thế tức nhiên là Trời người đồng trị: Người trị xác, Trời trị hồn.

Cửu Trùng Đài thì lo về giáo hoá nhơn sanh, dưới quyền hành của Giáo Tông Chưởng quản.

Hiệp Thiên Đài thì lo bảo hộ luật pháp chơn truyền dưới quyền hành của Hộ Pháp Chưởng quản.

Khi nào hai ông chủ của hai cơ quan này hiệp một là quyền Chí-Tôn tại thế.

Nay Đạo Cao-Đài thành hình là có đèn Trời soi xét lập đủ cơ quan Lập pháp và Hành pháp.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có 3 Đài:
Là hình thể Đạo tại thế:

1- Bát Quái Đài: Thể hiện Linh Hồn, thuộc Thần.

2 - Hiệp Thiên Đài: Thể hiện Chơn Thần, thuộc Khí.

3 - Cửu Trùng Đài: Thể hiện xác thân, thuộc Tinh.

I- Bát Quái Đài:

Bát-Quái-Đài là ngôi thờ phượng Đức Thượng Đế tá danh: Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma Ha-Tát và các Đấng Giáo-Chủ Tam Giáo cùng các Đấng Thiêng Liêng trong Ngũ Chi Đại-Đạo là Nhơn-Đạo, Thần Đạo Thánh-Đạo, Tiên-Đạo, Phật-Đạo.
Bát-Quái-Đài dưới quyền Đức Chí-Tôn, Ngài là Chúa của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cùng vạn-linh, chính ông chủ Bát-Quái-Đài là Đức Chí-Tôn.

Ngày nay Đấng Thượng-Đế đã đến với nhân loại, xác định rõ ràng:

"Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn Khôn Thế Giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.

Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn Khôn Thế Giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh."

2- Hiệp Thiên Đài

Hiệp-Thiên-Đài là cơ quan lập pháp của Đạo, là nơi để thông công cùng Đức Thượng-Đế và các Đấng Thiêng liêng bằng Cơ Bút do chức sắc Hiệp-Thiên-Đài phò loan để tiếp các Thánh ngôn và Luật Pháp Đại-Đạo của các Đấng Thiêng Liêng giảng dạy.

Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền Hộ-pháp làm chủ. - Hiệp-Thiên-Đài là quyền Hộ-pháp làm chủ.

Hội Thánh Hiệp Thiên Đài gồm các chức sắc Thiên Phong theo phẩm trật sau đây:

-Hộ-Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và bảo hộ Luật Đời cùng Luật Đạo.

-Thượng-Phẩm lo về mấy Thánh Thất và Tịnh Thất.

-Thượng-Sanh lo về phần Đời của Đạo.

-12 Vị Thời Quân thuộc 3 Chi: Pháp, Đạo, Thế đặt dưới quyền hành sự của Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh.

Vậy thời Lâm là nói sự to lớn của Hiệp-Thiên Đài tức là CƠ SANH BIẾN VẠN LINH đó vậy.

 

 

LÂM CHUNG

臨 終
F: Agoniser, Agonie

Lâm: tới, sắp sửa. Chung: dứt, hết, chết. Lâm chung là sắp chết, đồng nghĩa: Hấp hối (Đến lúc hết, hấp hối).

Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng trước khi đi đầu thai có gặp Mẹ một lần để nói lên lỗi lầm của mình: "Mẹ ơi! Một lời nói sai với Ngự-Mã cũng bị đọa, huống chi sửa cải chơn truyền tội trọng dường nào! Sự lỗi lầm của con nay việc đem Em về tước quyền Thiên-Quân nên gánh lấy tội-lỗi. Tưởng lúc lâm chung đày đọa xác thân vậy thôi. Nào dè, linh hồn chịu án Thiên-Điều! May nhờ ơn Đức Ngự-Mã đầy lòng Từ-bi Bác-ái vị tha đến thức tỉnh và an-ủi con. Nhứt là Đức Ngài không nói đưa Giáng-Ma-xử. Hai nữa nhờ Đức Thượng-Phẩm và Lục Nương dìu độ."

 

 

LÂM NÀN (LÂM NẠN)

Kinh Sám Hối có câu:

"Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,
"Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa."

 

 

LÂM NÀN TAI ÁCH

Thầy dạy: Năm Bính Dần (1926)

"Các con ôi! Các con sầu một, Thầy đây lại thương mười. Thương thương ghét ghét, các con đặng biết, trong khi các con lâm nàn tai ách, các con vì Đạo mà phải buộc ràng tay chân trong quan lại."

 

 

LÂM NGUY

F: Être en danger.

Kinh Sám Hối có câu:

"Lâm nguy miệng vái làm lành,
"Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong."

 

 

LÂM QUANG BÍNH (Tên)

Ông là một trong số 247 người ký tên vào Tờ Khai Đạo.

 

 

LÂM THỊ (Lâm Ngọc Thanh)

(Xem Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh. Vần L.)

Thông thường ngày xưa khi gọi người nữ phái thường gọi chữ Họ (như Lâm) và kèm theo chữ Thị (chỉ đàn bà con gái) chứ ít khi gọi tên tộc. Như trường hợp này Đức Chí-Tôn gọi Lâm Thị hoặc Lâm Thị Ái-nữ để tỏ tình thương yêu của vị cha già với con gái. Chính Bà là Lâm Ngọc Thanh, một nghiệp chủ ở Vũng Liêm vừa giàu sản nghiệp và cũng vừa giàu lòng đạo đức. Bà đã để ra một số tiền lớn mua đất làm Đền Thánh 140 mẫu, đồng thời những gì cần thiết cho Đạo nghiệp Bà sẵn sàng cung ứng, như việc xây chùa Từ lâm (Gò Kén ) vào thời Hòa Thượng Như Nhãn, cho đến lúc mượn nơi này để làm Lễ Khai Đạo, Bà cũng hỉ hiến tiền bạc để đúc tượng, làm Đông lang, Tây lang… Đây là những Bài Thánh Giáo Thầy dạy riêng:

Ngày 1-10-1926 (âl 25-8-Bính Dần).

THẦY: Các con, Lâm thị con ôi! Thầy chẳng có phương chi để vào lòng con sự thương yêu con và cũng không thế nào làm cho con hiểu rõ quyền Chí Tôn của Thầy đặng.

Con trông cậy nơi Thầy, phú thác thân con cho Thầy. Nầy con ôi, nếu mắt phàm thấy rõ thì con sẽ kinh khủng quyền hành Thầy thế nào. Ngay giữa điện kìa, trên đầu các con, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chầu chực kìa, họ đều cúi đầu lặng lẽ đặng nghe Thầy nói với con. Kìa, Quan Âm Bồ Tát đang châu mày đổ lụy mà cầu nguyện cho con, cầm sẵn tờ hịch chiếu cầu rỗi cho mẹ con, con thấy đâu các Đấng ấy, vì vậy nên Thầy không chấp. Con nên thật lòng trông cậy nơi Thầy. Con ôi! Bao nhiêu của thế gian con đã đổ đặng cầu siêu rỗi cho mẹ con mà chẳng đặng, duy nhờ từ ngày con biết thờ phượng Thầy mà mẹ con đã vào Bạch Thiên Cung Án, con đâu thấy điều ấy cho đặng, tự nơi con, bởi công con mà Cửu Huyền Thất Tổ con đặng rỗi. Con phải hiểu biết, vì hiếu của con mà Thầy càng thêm luyến ái. Thầy khuyên con một điều là phải bỏ phận vinh hoa mà cam nâu sồng khổ hạnh. Ngày vinh hiển thiệt của con chẳng phải nơi chốn hồng trần vô vị nầy. Con thương Thầy, con tưởng lấy con, lo độ rỗi cho Thầy lập thành Nữ phái.

Thầy trông cậy nơi con, cũng như con trông cậy nơi Thầy. Cha con hiệp đồng thì đủ quyền thế mà cải số Nam Tào chánh thức, con hiểu à! Con an tâm. Thầy đủ quyền hành đặng làm cho con đắc thành chánh quả đặng độ rỗi Cửu Huyền Thất Tổ con, con tưởng chắc vậy chăng? Thầy đã nói nó vào Bạch Thiên Cung Án, mà còn tội lỗi gì con. Con có chức, Thầy sẽ ban, ráng đợi con nghe. Con cứ đi phổ độ, chừng nào Nữ phái đặng đúng 200 người thì Thầy ban Tịch và phong sắc con nghe.

Có Thánh kinh đó, con phải đọc Thánh kinh cho thường cho chị con nghe, mỗi tuần phải đọc riêng cho chị con ba lần như vậy. Nghe và tuân theo. Thầy ban ơn cho các con.

 

 

LÂM THỊ ÁI-NỮ

Lâm Thị đây là theo cách gọi ngày xưa: gọi người phái Nữ thì gọi Họ (Lâm) trước kế đến là Thị (người ấy, chính là, chỉ phái nữ) như Đường-Thị là người đàn bà họ Đường, Ca-Thị là người đàn bà họ Ca. Ái-Nữ là con gái yêu, cưng. Đây là tiếng gọi thân thương của Đấng Đại-Từ-Phụ đối với bà Lâm Ngọc Thanh. Trước, Bà được phong chức Nữ Chánh Phối Sư, Thánh danh Hương-Thanh. Năm 1937, Bà qui liễu, được truy phong là Nữ Ðầu Sư. Tượng của Bà đặt nơi mặt tiền Đền-Thánh, trước Lôi Âm Cổ Ðài, ngang tượng Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung. Bà là người có đại công đối với nền Đại-Đạo này, ngay buổi khởi đầu mối Đạo cho đến khi kết thúc cuộc đời Bà.

Chùa Giác Hải: ngày 21-9-1926 (âl 15-8-Bính Dần)

Thầy dạy: "Lâm thị Ái Nữ, nếu Thầy phải đổ tội cho ai thì Thầy phải nói vì con Phổ Độ trễ, con nêu ra sự ngăn cản ấy, con hiểu tại sao chăng? Tại lời dèm pha của phái phụ nữ mà ra nỗi ấy! Các con phải gắng sức, Thầy hằng ở bên các con, chẳng hề bỏ các con buổi nào, thì tưởng chưa ai phá Đạo đặng."

 

 

LẦM LẠC

(Lầm là còn mê muội, không phân biệt chơn giả. Lạc là sai đường lối ban đầu) Kẻ lầm lạc về việc đời còn nguy khốn, nếu như tu mà bị lầm lạc e mất cả chơn linh. Thế nên người tu phải nhận định cho rõ biết đâu là chánh mà theo, đường tà thì tránh. Phải đạo chánh, Giáo chủ cũng như giáo pháp phải chánh

Thầy dạy ngày 21-8-Bính Dần (Thứ hai: 27-9-1926):

"Các con, Thầy dặn các con, từ đây ai nói chi tùy ý, cứ nghe một Thầy thì khỏi lầm lạc. Con Trung cứ lo khai Đạo, món binh khí tà quái vì đó mà tiêu diệt. Nước Nam có một chủ mà thôi là Thầy. Từ trước vì nhiều Đạo trong nước mà chẳng một Đạo nào chơn chánh, làm mạnh quốc dân nên nước phải yếu, dân phải hèn. Dân tộc các con duy biết làm tớ chớ chưa biết làm chủ. Thầy vì thất lẽ công bình thiêng liêng ấy mới giáng trần lập Đạo tại Nam phương, tức là thay mặt Càn Khôn Thế giới mà qui chánh truyền nhơn loại. Trong mối Đạo Thầy đã lập thì hằng nói tiên tri rằng : Ngày kia có một nước đương trong vòng nô lệ, vì Ta mà làm chủ nhơn loại, các con hiểu à! Đừng nghe, vì nếu chẳng vậy, ngôi Giáo Tông chẳng ai dám ngồi. Tất cả sáu ngôi kia, hễ các con đến dựa thì quỉ giết chết, nghe à! Lập Nhơn phẩm làm Thiên phẩm chẳng dễ chi mà không dùng huyền diệu."

 

 

LÂN


E: The unicorn.
F: La licorne.

Lân là một giống thú linh trong hàng Tứ Linh (Long, Lân, Qui, Phụng).

Lân là con cái, còn con đực gọi là Kỳ, gọi chung là Kỳ Lân. Kỳ Lân thuộc loài nai, hình dáng giống như con hưu, mình vằn, đuôi giống như đuôi trâu, vú giống như vú ngựa, có một sừng trên đầu, tánh rất hiền lành, không ăn thịt con vật khác, chỉ ăn cỏ, nên gọi nó là Nhân thú (con thú có lòng nhân từ).

Mỗi khi nơi nào có Kỳ Lân xuất hiện thì có Thánh nhân ra đời cứu giúp dân chúng. Do đó, Kỳ Lân báo hiệu điềm lành, sắp có thái bình thịnh vượng.

Câu chuyện về Lân: Trước khi bà Nhan Thị sanh ra Đức Khổng Tử, Bà nằm mộng thấy một con Kỳ Lân đến trước mặt bà nhả ra một tờ ngọc thư có đề chữ: "Thủy Tinh chi tử, kế suy Châu vi Tố Vương" nghĩa là Con của Thủy Tinh, nối nhà Châu suy làm vua không ngôi.

Năm Đức Khổng Tử 71 tuổi, người nước Lỗ đi săn, bắt được một con Kỳ Lân nhỏ và què chân trái. Đức Khổng Tử hay được, đến xem thì Ngài biết rằng Ngài sắp trở về cõi thiêng liêng. Hai năm sau, Đức Khổng Tử mất, thọ 73 tuổi.

Theo phong tục cổ truyền của người Tàu và Việt Nam, trong những ngày Tết, thường rước Lân và Rồng đến múa, bởi vì người ta tin tưởng rằng, con Lân, con Rồng sẽ đem lại điềm lành và điều may mắn cho gia đình.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Xem mai trông gặp trổ hai lần,
Như Ðức Khổng xưa muốn thấy Lân.
Hờn gió, giận mưa hoài trí tính,
Thâu niên chẳng đoái chút tinh thần.

Đức Lý dạy: qua bài thi rằng:

Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,
Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.

 

 

LÂN BANG NAM QUỐC


E: The neighbouring countries of Việt Nam.
F: Les pays voisins de Việt Nam.

Lân: gần, chỗ láng giềng. Bang: một nước. Nam quốc: nước Nam, tức là nước Việt Nam. Lân bang Nam quốc là những nước láng giềng của Việt Nam. Đó là: Miên, Lào, Trung quốc.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Bần đạo xin nghiêng mình chào các nước lân bang đã có tình thân hữu cho các vị lãnh sự sứ thần đến tham dự cuộc lễ nầy.

 

 

LÂN MẪN

Lân mẫn 憐愍 là thương xót và lo lắng giúp đỡ.

Thường chúng sanh hay cầu xin Đức Phật Quan Thế Âm thương xót ân cần lo lắng và cứu vớt cho dân chúng đang bị đày đọa khổ sở nơi cõi trần này.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,
"Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc."

 

 

LẤN LƯỚT HỒ ĐỒ

Kinh Sám Hối có câu:

"Phải cho biết kỉnh vì trên trước,
"Đừng buông lời lấn lướt hồ-đồ."

 

 

LẨN BẨN

Lẩn bẩn: quấn quít.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Lẩn bẩn cứ theo toan cám dỗ,
Làm cho nên nỗi Ðạo xa Thầy.

 

 

LẨN QUẨN

Thi văn dạy Đạo có câu:

Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa,
Một kiếp đeo đai mối nợ tình.

 

 

LẤP NGÕ TÀI HIỀN

E: To hide the talented man.
F: Cacher les hommes de talent.

Lấp: Bít lại, che khuất. Ngõ: nẻo, đường. Tài: có tài. Hiền: người vừa có tài năng vừa có đạo đức.

Lấp ngõ tài hiền là bít đường chận lối, không cho người hiền tài có đường tiến thân để đem tài năng ra giúp đời giúp đạo.

Kinh Sám Hối có câu:

"Hãy có dạ kỉnh già thương khó,
"Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền."

 

 

LẬP CÔNG BỒI ĐỨC

"Ấy vậy cơ quan Phước Thiện Phạm Môn là trường thi công quả của Đức Chí Tôn đã đến lập sẵn nơi làng nào, ấp nào cũng có một cơ sở Phước Thiện cho toàn Đạo hữu ở thôn quê đến đó để thi thố lập công bồi đức hầu đoạt thủ phẩm vị Thiêng Liêng của Chí Tôn đã dành sẵn cho con cái của Ngài."

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Vì xác thịt còn chưa thoát tục,
Nên tạm đành một lúc trần gian.
Rày thời kíp phải liệu toan,
Lập Công bồi đức cứu an linh hồn.

 

 

LẬP CÔNG CHUỘC TỘI

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện huyền diệu cao sâu,
Lập công chuộc tội mới hầu khỏi oan.
Phước Thiện cứu kẻ ngỗ ngang,
Độ Chi Phái nghịch dễ dàng cảnh tu.

 

 

LẬP CÔNG TRỪ QUẢ

Đức Thượng Phẩm dạy: "Qua thời-kỳ thứ nhì (của Thể Pháp Thiên đạo) là đem ĐỨC TIN đã thụ được đặng tập luyện tâm tánh và khởi lập công trừ quả đặng tự giải khổ cho mình và giúp phương cứu khổ cho toàn nhân loại. Ấy là phương tập luyện tánh thành, tâm niệm đó vậy."

 

 

LẬP ĐẠO KHÓ, TRỊ ĐẠO KHÓ HƠN

Lời Thầy: "Thầy thường nói với các con: Lập một nước thì dễ mà trị một nước thì khó. Về mặt tinh thần, lập một nền Đạo lại khó mà trị một nền Đạo lại khó nữa. Vì phải hàng phục nhơn tâm thành hay bại là do nơi đó."

 

 

LẬP ĐỨC


E: The establishment of the virtue.
F: L’établissement de la vertu.

Lập đức 立德 là làm những việc có công đức. Đây là một trong Tam lập: Lập đức, Lập công, Lập ngôn

Lập đức là gì? Là dùng sự Thương-yêu để cứu độ chúng-sanh mà Đức Chí-Tôn đã có nói "Sự Thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch-Ngọc-Kinh" là vậy đó. Các Đẳng chơn-hồn tái kiếp đang chơi-vơi trong "Tứ diệu đề khổ". Muốn thoát khổ họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ. Người đi theo Thập-Nhị Đẳng cấp Thiêng-liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ trước hết thì mình phải thọ khổ đã, muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng đức Thương yêu. Cho nên bậc thứ nhất của Thập Dhị Đẳng cấp Thiêng liêng là Minh-đức đó vậy. Có Thương yêu mới thọ khổ được, ta thương Cha Mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng Cha Mẹ lúc tuổi già, ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn, ta thương những người cô thế tật nguyền ta mới tầm phương giúp-đỡ họ, mà tầm phương giúp họ là thọ khổ đó vậy.

Thọ khổ rồi mới thắng khổ, thọ khổ không phải một ngày, một bữa, mà phải thọ khổ cho đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi Cha Mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ khi còn bé cho đến lúc nó tự lo cho nó được. Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên hạ hết khổ mới khó, vì khi lo người này, hết người này đến người khác và cứ như vậy trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ, có thắng khổ mới về được với Đức Chí-Tôn bằng con đường Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng liêng."

Phải thấy rõ: ĐỨC là chìa khóa mở đại nghịêp thiêng liêng, hữu hình hay vô-vi cũng vậy.

Lấy Đức làm nền tảng THƯƠNG-YÊU. Cái kho Thương-yêu có tài đức mới mong-mỏi đặng. Kho vô tận ấy hiển-nhiên trước mặt, thì kẻ nào đi trái con đường ấy chẳng hề lập nghiệp cho vững được.

Chí-Tôn nhủ rằng: "Các con muốn đọat cái đại nghiệp Thiêng liêng của các con duy tu lập Đức.

Yêu ái Đức thân sinh, hai tiếng đó hầu qui tụ cả đại nghiệp của mình, từ thuở, bao lần triết-lý các Tôn-giáo đều dạy TU và ĐỨC thì ngôi-vị đã sẵn, không hề kẻ làm tội ác kia tranh giành đặng. Ấy đó, Bần-Đạo xin nhắn-nhủ tòan Đạo trụ cả khối tinh-thần cứ mài-miệt Đức-tin cho vững, thỏang có thất-bại Bần-Đạo lãnh cả tội-tình cho.! Tin thì nghiệm xem ra thế nào, tin quả-quyết như Bần-Đạo đã tin, chúng ta đồng tiến nữa, bao nhiêu năng lực cá nhân góp tăng trăm ngàn nhiệt độ tổng số lại thì không có lực-lượng nào ngăn cản được.

"CHÍ-TÔN hứa với chúng ta đủ điều, thì không hề thất hứa bao giờ, duy tại chúng ta còn khiếm Đức-tin nên sự đọat thành hy-vọng của chúng ta còn chậm trễ đến ngày nay, mau hay chậm cũng tại chúng ta: muốn tin hay không tin mà thôi. Vậy Bần-Đạo xin khuyên tòan Đạo cố gắng trụ Đức-tin thêm nữa. Cần phải TU LẬP ĐỨC làm căn-bản, thì ắt hẳn đọat nguyện hiển-nhiên. Cái sự nghiệp của Trời và Người muốn làm chủ nó mà hưởng, thì chỉ có TU và LẬP ĐỨC" (Ðức Hộ Pháp 14-7-Đinh-Hợi 1947)

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Thong dong cõi thọ nương hồn,
"Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa."

 

 

LẬP GIÁO

Đức Hộ-Pháp khi thuyết về Phật Thích Ca, Ngài nói: "Nếu không phải vì tâm Bác-ái, Công-bình thì không hề Ngài lập giáo dường ấy. Ngày nay không phải nơi dân Á-Đông này thôi, mà cả Âu-châu cũng vậy, biết rõ triết-lý đạo-đức cao siêu của Ngài, người ta theo chẳng biết bao nhiêu."

 

 

LẬP HỌ

Tân Luật- Chương III: Về việc lập Họ:

- Ðiều Thứ Mười Sáu: "Nơi nào có đông tín đồ được chừng 500 người sắp lên, thì được lập riêng một Họ đặt riêng một Thánh Thất, có một Chức Sắc làm đầu cai trị.

- Ðiều Thứ Mười Bảy: Sự lập Họ phải có phép Ðức Giáo Tông và phải do nơi quyền người.

- Ðiều Thứ Mười Tám: Bổn đạo trong Họ phải tuân mạng lịnh của Chức Sắc làm đầu trong Họ, nhứt nhứt phải do nơi người, chẳng đặng tự chuyên mà trái Ðạo.

- Ðiều Thứ Mười Chín: Một tháng hai ngày Sóc Vọng, bổn đạo phải tựu lại Thánh Thất sở tại mà làm lễ và nghe dạy. Trừ ra ai có việc được chế.

- Ðiều Thứ Hai Mươi: Chức Sắc giữ Thánh Thất mỗi ngày phải làm Tiểu lễ bốn lần theo Tứ Thời: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Mỗi Thời phải cúng đúng 6 giờ sáng, 12 giờ trưa, 6 giờ tối và 12 giờ khuya. Ðổ một hồi chuông trước khi hành lễ. Trong mấy Thời này, bổn đạo muốn đến tụng kinh tùy ý.

 

 

LẬP HỒNG THỆ VÀO PHẠM MÔN & CÂN THẦN

Bấy giờ, nhân sự nghe theo Đức Hộ-Pháp vào Phạm môn ngày càng đông nên cần phải mở Lương điền ra các Tỉnh khác nữa. Ngày 03-01 năm Nhâm Thân (Thứ Hai:8-2-1932) Tất cả người Phạm Môn lập Hồng thệ "Đào Viên Pháp" quì trước Thiên bàn Đức Chí-Tôn mà thề rằng:

"Tôi, (Họ, Tên, Tuổi) thề rằng từ nay coi Phạm Môn như ruột thịt, sanh tử bất ly, thoảng có điều chi hoạn nạn thì tôi liều mình với anh em tôi. Nếu ngày sau tôi thất nguyện, quyền Thiêng liêng sẽ hành pháp Tận đoạ Tam đồ bất năng thoát tục và Thầy tôi không nhìn nhận tôi nữa".

Thoạt đầu, nhóm thực dân Pháp nghi rằng Đức Hộ Pháp sẽ lập ra Chi Phái Cao-Đài mới, để đối kháng với ba ông Quyền Đầu Sư: Trang, Tương và Thơ đúng như ý đồ của Pháp hoạch định, do đó chúng mới để yên cho Minh Thiện Đàn phát triển. Đến khi thấy thành lập Phạm Môn, ban qui điều. Phân nhiệm tổ chức; phát triển hậu cần. Bấy giờ thực dân Pháp sinh lo ngại nên quyết dẹp Phạm Môn. Chúng xúi giục những thân nhân của nhóm người theo Phạm Môn kiện Đức Hộ-Pháp ra Toà về tội: dụ dỗ con em họ bỏ quên tộc họ của mình mà tôn thờ họ Phạm, phá hoại phong hoá Việt-Nam, xúc phạm Tông đường của họ.

Đức Hộ-Pháp ra Toà trả lời về Phạm Môn:

Trước Toà, Đức Hộ-Pháp giải thích rằng:

Câu 1: Chữ Phạm có nhiều nghĩa trong lối viết chữ Nho, mà chữ Phạm đây là Phật, gồm có lâm trên và phàm dưới. Tóm lại: Phạm Môn là cửa Phật, chứ không phải là tộc họ Phạm của Ngài (là Phạm Công Tắc).

Câu 2: Khi vào Phạm Môn có buộc mỗi người phải làm Tờ hiến thân, có cha mẹ, vợ chồng đồng ý ký tên mới nhận, thì không có lý do gì ai dụ dỗ ai được.

Câu 3: Điều thứ nhì trong "Thập điều giới răn" của Phạm Môn có qui định rõ "Phải trọn hiếu với Tông đường, phụ mẫu. Trọn nghĩa vợ chồng, vẹn phận làm cha mẹ, thì không thể bảo rằng phá hoại luân lý, xúc phạm Tông đường được.

Toà không buộc tội về những lý do trên, lại xoay qua vấn đề "Lập Hội đoàn" không xin phép. Đức Hộ-Pháp chống án lên Toà Thượng Thẩm Sài gòn. Toà Thượng Thẩm Sài gòn xử chung quyết "Y án Toà Sơ Thẩm". Đức Ngài liền chống án lên Tối Cao pháp viện ở Thủ đô Paris (Pháp). Đức Ngài uỷ quyền cho Ngài Bảo-Cô-Quân là Luật-sư Dương văn-Giáo thay mặt Đức Ngài lo việc chống án. Kết quả: Tối cao pháp viện phán quyết: Trắng án! Bấy giờ, Đức Ngài vẫn lo hoạt động Phạm Môn: một mặt bổ nhiệm 21 vị Phạm môn đi 21 Tỉnh (Thuở ấy miền Nam Việt-Nam chỉ có 21 Tỉnh mà thôi). Một mặt Ngài trở về Tây Ninh lập Phạm Nghiệp.

Lập Hồng thệ: Trước khi lập hồng thệ phải được Cân Thần trước. Xin nói rõ cách lập hồng thệ là dùng rượu đỏ (vin rouge) đổ vào một ly lớn, mỗi người nhúng ngón tay giữa của bàn tay mặt vào rượu mà nói rằng: "Đây là huyết thệ của tôi" rồi uống mỗi người một hớp. Cha mẹ, vợ con của người chánh danh cũng phải uống mỗi người một hớp. Người chánh danh Phạm Môn được Hồng thệ quì trước Thiên Bàn nguyện như trên. Đức Hộ Pháp nói đáng lẻ mỗi người phải cắt tay mình lấy máu đựng chung, rồi mỗi người uống một hớp, nhưng mấy em làm người Đạo, mỗi người đều giữ trường trai, không thể làm như vậy được, nên phải dùng rượu chát đỏ để thay thế.

Cân Thần: Đức Hộ Pháp nói : Cân Thần có 12 điều kiện:

1- Là Hạnh

 

2- Là Đức

 

3- Là Trí

 

4- Là Lực

5- Là Tinh

 

6- Là Thần

 

7- Là Thân

 

8- Là Tình

9- Là Mạng

 

10- Là Căn

 

11- Là Kiếp

 

12- Là Số

Ngài chỉ xài 4 điều kiện đầu là: Hạnh, Đức, Trí, Lực.

Cũng như Hạnh được 5 điểm, Đức được 4 điểm, Trí được 6 điểm, Lực được 7 điểm; cộng 6 + 4 + 6 + 7 = 22 điểm chia lại cho 4 thì được 5,5 điểm. Người đủ trung bình là 5 điểm thì được đậu. Ai dưới trung bình thì lập công đức thêm, sẽ thâu nhận sau. Trước khi lập hồng thệ phải được Cân Thần trước, nếu đậu mới được thọ "Đào Viên Pháp" tức là làm lễ hồng thệ. Lập hồng thệ thì mới là người chánh thức của Phạm Môn.

Đức Lý Giáo Tông có giáng cơ tại Thảo Xá Hiền Cung cho bài Thánh Giáo như vầy:

Gặp cảnh khó tùy cơ xoay chuyển
Lập minh từ trước diễn thi văn.
Tả biên có tạo Dịch Đình,
Hữu biên tạo Phong Vân Kinh Thơ Viện
Sau sẽ tạo Thảo Đường Bửu Điện,
Có Thích Ca Bạch Mã hiện thân
Lão khuyên vậy khá lo lần.

 

 

LẬP KẾ ĐỒ MƯU

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Tai ương hoạn họa luống ưu sầu,
"Vì bởi hay bày chước hiểm sâu.
"Lập kế đồ mưu âm hại chúng,
"Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu."

 

 

LẬP KHỔ HÌNH

Thầy dạy: ngày 11-11-1926 (âl 7-10-Bính Dần)

"Than ôi! Thầy đã là Ðấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo hóa, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó, thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẽ bỏ phép công vì sanh chúng".

 

 

LẬP LUẬN

:
E: To discuss.
F: Raisonner.

Lập: Tạo ra, dựng nên, đứng thẳng. Luận: bàn luận. Lập luận là sắp đặt ý tứ và lý lẽ lập thành lời nghị luận để người nghe nhận thấy vấn đề đưa ra là hợp lý.

 

 

LẬP LUẬT

"Như Tân-Luật ngày nọ thì Lý Giáo-Tông hội cùng chư Thánh mà lập thành, chớ Thầy chưa hề biết đến, chỉ ngày nào đã dâng lên cho Thầy thì nó thành Thiên-luật mà thôi.

Hễ Thiên luật thì phải vô tư, tỉ như Thiên điều, dầu cho chính mình Thầy là Chí-Tôn cũng chẳng vị tình. Bởi cớ ấy mà khi lập Pháp-Chánh-Truyền, Thầy không lập Hiệp-Thiên-Đài một lượt với Cửu-Trùng Đài, e cho cả Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài ra ngoại luật. Thầy lại để cho các Chức-sắc ấy dự hội lập Luật cùng chư Chức sắc Cửu Trùng Đài thì phàm thân của họ cũng phải dưới quyền luật lệ như mọi người vậy"

Thứ bảy, 18-12-1926 (âl 14-11-Bính Dần)

THÁI BẠCH: "Thượng Trung Nhựt, hiền hữu nghe dạy: Phải viết thơ cho các Thánh nói rằng: Buổi lập Luật phải ngưng sự phổ độ lại đôi chút. Lo cho xong Tân Luật thì mới truyền bá Chơn đạo rõ lý hơn. Vậy ngày Đại lễ Thánh giáo Giáng sinh, phải có mặt tại đây cho đủ và nạp Luật cho kịp ngày ấy. Làm lễ xong, qua ngày kế thì chư Thánh mặc Đại phục, vào Đại điện bái, rồi Hiền hữu biểu sắp ghế vòng theo Đại điện. Hiền hữu và Ngọc Lịch Nguyệt lên tọa bửu vị, rồi theo chức phận chư Thánh mà ngồi vòng hai bên như lúc Hiền hữu còn tại Thượng Nghị Viện, đặng cãi luật đó vậy. Hiền hữu chưởng quản làm chủ Hội, mỗi vị Thánh đều đặng quyền cãi lẽ, nghe à! Phải giữ phép, kẻ trước người sau, tùy phiên nhau cho có lễ : phái Thái trước, phái Thượng giữa, phái Ngọc chót. Phải viết thơ cho Tương và Trang nạp Luật cho kịp một lượt với Thơ, nghe à!. (ĐS. II. 104).

 

 

LẬP NỀN ĐẠO KHÓ, TRỊ ĐẠO LẠI KHÓ NỮA

Thầy dạy: "Các con, Thầy thường nói với các con: Lập một nước thì dễ mà trị một nước thì khó. Về mặt tinh thần, lập một nền Đạo lại khó mà trị một nền Đạo lại khó nữa. Vì phải hàng phục nhơn tâm thành hay bại là do nơi đó.

 

 

LẬP PHÁP


E: To legislate.
F: L’égiférer.

Ngày 15-7-Bính Dần (Chúa nhựt: 22-8-1926)

Thầy dạy: "Buổi Bạch Ngọc Kinh và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Ðộ, Quỉ Vương đã khởi phá khuấy chơn đạo, đến danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi mà thôi. Lại còn hiểu rõ rằng Ta đến với huyền diệu nầy, mượn cơ mầu nhiệm, hiệp Tam thập lục Ðộng đổi gọi Tam thập lục Thiên. Các tên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật bị mạo nhận mà lập nên Tả đạo. Ngươi đâu hiểu rõ làm ra lẽ Trời Phật vốn con buôn. Tội tình ấy lớn là thế nào? Ngươi hiểu chăng? Tam đồ tội khổ bất năng thoát tục là tội ngươi. Phải ăn năn sám hối, sau Ta sẽ trọng dụng, độ rỗi nhơn sanh, lấy công chuộc tội. Nghe à!"

 

 

LẬP PHÁP CHÁNH TRUYỀN

1-Lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài (Nam)

Ngay sau Ðại Lễ Khai Ðạo ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926) tại Thánh Thất tạm đặt tại Từ Lâm Tự Gò Kén, Tây Ninh, Ðức Chí Tôn liền lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Ðài Nam phái ngày 16-10-Bính Dần (dl: 20-11-1926). Cửu-Trùng-Ðài là cơ quan rất quan trọng của Ðạo Cao Ðài vì Cửu-Trùng-Ðài tượng trưng thể xác của Ðạo. Nếu không có thể xác là hình ảnh của Cửu Trùng-Ðài thì không làm được việc chi nơi cõi trần hữu hình nầy, tức là không thi hành được Bí-pháp đó vậy

2- Lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài (Nữ)

Tiếp theo, qua Tết Ðinh Mão, ngày Vía Ðức Chí Tôn mùng 9 tháng Giêng năm Ðinh Mão (1927) Ðức Lý Thái Bạch Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Ðài Nữ phái.

3 -Lập Pháp Chánh Truyền Hiệp-Thiên-Đài:

Ngày 12 tháng Giêng năm Ðinh Mão (1927), Ðức Chí Tôn giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Ðài.

Thế là trọn vẹn, tạo thành Hiến Pháp tổ chức điều hành toàn bộ Hội Thánh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Pháp Chánh Truyền là văn bản tổng quát tổ chức nền Ðạo Cao Ðài. Ðó là Hiến Pháp của Ðạo, cho nên Ðức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, ra lịnh cho Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc chú giải tỉ mỉ từng chi tiết để cho Chức sắc trong hai Ðài, Hiệp Thiên và Cửu Trùng dễ thi hành, có Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ hiệu đính, gọi là Pháp Chánh Truyền Chú Giải, tạo thành Hiến Pháp bất di bất dịch của Ðạo Cao Ðài.

Ðức Lý Giáo Tông nói rõ trong Ðạo Nghị Ðịnh thứ 06, ngày 03-10-Canh Ngọ (1930) trích ra sau đây:

NGHỊ ÐỊNH: "Hai vị Thiên phong Giáo Tông và Hộ Pháp phải điều đình Hiến Pháp, sửa trị Ðài mình cho hiệp Pháp Chánh Truyền, nên đồng ký tờ nầy mà ước hẹn."

 

 

LẬP THÁNH LỊNH

Tờ xin cho Giáo-Hữu Chia làm Khâm-Trấn Tần Nhơn, Lễ-Sanh Mau làm Quyền-Khâm-Châu-Đạo Tần Nhơn, Lễ-Sanh Inh làm Đầu-Tộc Thái Bình và Lễ-Sanh Mau làm Đầu-Tộc-Đạo Tần-Nhơn Thánh-Địa.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"Thì cũng cho mang râu đội mũ hát chém chằng thử coi hay-ho gì chăng cho biết. Y-phê và tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối-Sư lập Thánh-Lịnh." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

LẬP THÂN HÀNH ĐẠO DƯƠNG DANH Ư PHỤ MẪU

Nghĩa là đem thân ra làm việc đạo-đức nhân nghĩa chính là làm cho hiển danh ông bà Tổ phụ mình vậy.

Xưa, chữ "hành Đạo" thường đóng khung trong cái tư tưởng "Đạo nhân-luân" mà thôi. Nhưng nay, trong nguơn hội Cao-Đài có thêm một vấn-đề này rất nên trọng đại, tức nhiên thêm phần Thiên Đạo nữa, thì mới gọi là "lập thân".

Tại sao gọi là lập thân? - Trên mặt chữ: lập là đứng (tức nhiên trái với nằm) thân là cái thân-thể hữu hình này đây. Bởi khi con người mới lọt lòng mẹ thì cái đầu quay xuống gọi là sanh thuận, trái lại là sanh nghịch. Phải là thuận như vậy mới hợp cái lẽ của đất trời, vì con người tiến-hóa trong định luật của bát hồn, có các nghĩa như sau:

1-Trước nhứt, đầu là quẻ CÀN thì phải cúi xuống để hợp với đất là KHÔN tức nhiên là Âm Dương hợp đức. Dù tạo thành quẻ kép là Thiên-Địa BĨ (tức là thời tối tăm, yếu đuối mọi việc phải nhờ đến tay mẹ săn-sóc),

2-Hình ảnh này thuận với định luật của Bát hồn: đứa bé mới sanh giống như một cái cây đầu cắm xuống đất. Kế đó, bé đặt nằm ngang là tiến lên một mức nữa ấy hình ảnh của con vật có đầu và mình ngang nhau. Sau hết, khi đã đứng thẳng người lên và muốn vượt lên những điều thường thức để làm một người lớn, tức là lúc "thành nhơn" rồi vậy. Thời kỳ này phải phấn-đấu lắm mới được.

Bấy giờ, trên mặt là hình ảnh quẻ KHÔN (khôn là đất). Bởi phần trên mặt có: hai tai, hai mắt, hai mũi (hình của quẻ Khôn như trên; Khôn vi địa).Tiếp theo là cái một cái miệng và hai khiếu âm nữa ở hạ bộ; mỗi cái đều có một, đó là quẻ CÀN bấy giờ là quẻ đảo ngược lại với quẻ trên; tức là quẻ Địa-Thiên THÁI (chỉ thời kỳ hanh thông)

Thời kỳ "lập thân" chính là đây. Con người phải học hỏi để tiến-hóa về phương-diện trí-thức và cả tri-thức nữa:

- Học để có tài-năng ứng xử với đời tức là tu Nhơn-đạo.

- Học để tạo cho mình đạt được cái hiểu biết về vũ trụ, siêu-hình là tu Thiên-đạo hầu hưởng cơ Ân Xá của Chí-Tôn.

Nay là cơ Ân-xá của Chí-Tôn, Đức Hộ-Pháp có cho biết rõ: "Buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, Đức Chí Tôn Ngài đến đề hai chữ "Ân-Xá" thì chúng ta đoán hiểu rằng "Ngài đã đến rồi" và Ngài biết con cái của Ngài đã chịu khổ nhiều rồi, đã có nhiều phương-pháp giải khổ của Ngài đến giao nơi mặt điạ-cầu này. Từ thử đến giờ cái thống khổ tâm-hồn của nhân-loại bao nhiêu thì Ngài thống khổ bấy nhiêu. Ngài đến đem Long-Hoa Hội cốt để bảo thủ hai chữ "Ân-Xá".Trong bao nhiêu đó, chúng ta cũng đủ thấy lòng thương yêu vô tận của Ngài thế nào.Bần Đạo nói thật, thời buổi này chúng-ta không tìm phương giải thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ thì không thời buổi nào có năng lực độ rỗi Cửu-Huyền Thất-Tổ của mình cho đặng, không có buổi nào đặng hạnh-phúc làm đặng như vậy. Bởi thế cho nên toàn thể con cái của Đức Chí-Tôn nam nữ cũng vậy, có tấm lòng hoài vọng giọt máu mảnh thân mình, giờ phút này là giờ phút nên để trọn tâm cho thanh tịnh đặng cầu nguyện siêu-thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ.Bần-Đạo dám nói giờ phút này mấy người không có thể không nhỏng-nhẻo với Đức Chí-Tôn được, Ngài sẵn-sàng để hai chữ Ân-Xá thì mấy người xin cái gì Ổng cũng cho".

Vì sao vậy? -Bởi Đức Hộ-Pháp cho biết rằng không có một gia đình nào mà không có người thân của mình ở chốn Phong Đô, hằng giờ, hằng phút chờ cho cháu con "lập đức giúp huờn ngôi xưa".

 

 

LẬP THỆ

立 誓
E: To take one oath of faithfulness.
F: Faire son serment de fidélite.

Lập Thệ tức là lập lời thề của người Tín hữu Cao-Đài trước khi được nhận làm Môn-Đệ của Đấng Chí-Tôn (Ông Thầy Trời). Tức nhiên vào cửa Đạo phải có lời tuyên hứa nguyện trung thành với Đạo pháp, gọi là lời Minh thệ. Câu Minh Thệ như sau:

Họ gì? Tên gì? "Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao-Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn-đệ, gìn luật lệ Cao-Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru địa lục" (36 chữ). Chỉ với 36 chữ này cũng đủ quyền-năng cho người tu hành đến cảnh thăng tiến trong con đường tâm linh rạng-rỡ.

Đức Phật Mẫu: Báo Ân Từ,15-8-Kỷ Sửu (dl 6-10-1949)

"Khi Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo thì Người đã tìm phương giải kiếp, buộc các con hành Đạo phế đời. Thử hỏi các con có tùng pháp y lời Minh Thệ của các con chăng?

Lấy thanh tâm đoán xét thì phép Ngũ Lôi đã đúng Thiên điều. Mụ lấy làm xốn xang áo não khi rước mấy đứa qui hồi với tràn trề giọt lụy, vì chúng đã tạo nghiệt, chớ không đoạt quả chút nào hết. Cái đau thảm ly tình của các con nó làm cho nao-nư lòng Mụ.

Các con Nữ phái, Nếu Mụ than rằng, cái họa tương tàn chủng tộc của các con là do bởi lỗi tu của các con là sự thật. Đại Từ Phụ của các con yêu ái các con bao nhiêu thì vì cái khổ của các con mà đổ lụy bấy nhiêu.

Các con là nguồn sống của đời mà các con lại tạo ra cái chết thì lẽ dĩ nhiên các con phải thất đạo. Các con lỗi cùng Đại Từ Phụ của các con, chớ Người chưa hề lỗi hẹn. Điều ấy Mụ làm chứng chắc. Cứu vãn tình thế nước nhà nguy hiểm của các con là do nơi tay của các con. Xin nhớ mà cố gắng chuộc tội".

 

 

LẬP TRIỀU TRỊ DÂN

Lập triều trị dân là xây dựng triều nghi để cai trị toàn thể Càn Khôn Thế Giới và tất cả chúng sanh. Bởi nơi Cung Ngọc Hư, các Đấng Thiêng Liêng họp triều đình để nắm quyền điều khiển Càn Khôn Thế Giới.

Kinh Nhập Hội có câu:

"Trên Bạch Ngọc Chí-Tôn cao ngự,
"Giữa Tây phương nắm gữ Thiên điều.
"Dưới Ngọc-Hư kể bao nhiêu,
"Thiêng liêng các Đấng lập triều trị dân."

 

 

LẬP TRƯỜNG

立塲
E: The standpoint.
F: Le point de vue.

Lập trường 立塲: chỗ đứng; địa vị để đứng chân.

Đức Hộ-Pháp nói: "Tưởng khi dầu cho nhà chánh trị đại tài nào bôn-xu trên đường vật-chất mong-mỏi thiên hạ hòa-bình thì tỷ chẳng khác đem cung trăng thay mặt đất, chẳng qua lập trường lừa dối lẫn nhau, mượn chước khéo đặng tranh quyền giữ thế. Ngày nào cả nhơn-sanh biết rằng: cả con người chẳng phải sanh ra để vụ tất lấy cái sống theo con vật gọi là phúc-hạnh khéo-khôn. Trái lại phải coi mạng sanh là báu trọng, biết kính nể nhau, biết thương yêu nhau, biết binh vực nhau."

 

 

LẬP QUỐC

(Lập là đứng, là xây dựng, làm nên, Quốc là nước). Lập quốc là xây dựng đất nước, làm cho đất nước được phú cường. Trong việc lập quốc phải kể cả Đạo lẫn Đời, tức nhiên là xây dựng vật chất lẫn tinh thần thì mới toàn vẹn. Sau thời dựng nước thì phải tới vai trò giữ nước nữa.

*Trong một Đàn cơ Đức Cao Thượng Phẩm giáng, ngày 22-12-Kỷ Sửu (dl: 08-02-1950), nói chuyện với Ngài Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch, về nhiệm vụ của Bảo Sanh Quân trong Hàn Lâm Viện, như sau đây:

"Bảo Sanh Quân là một phần trọng yếu với danh từ của Đức Chí Tôn đặt để. Vậy Hiền Hữu khá trọn tâm làm thế nào cho được sự hạnh phúc cho dân, thì các Đấng sẽ sẵn sàng ám trợ mỗi việc đều thành công. Vai tuồng của Hiền Hữu còn dài, nhơn sanh còn đương mong mỏi thì phải để một chí hướng cao siêu, tầm phương hay làm cho đời thoát khổ và bảo tồn sự sống của nhơn loại. Ấy là sở định trách nhiệm của Hiền Hữu đó. Một điều cần lưu ý là lấy đạo đức thắng hung bạo, dùng nghĩa nhân qui phục lòng dân, ấy là phương lập quốc trường cửu đó."

*Ông Tạ Thu Thâu khi nhập xác tại thành Tarascon (Pháp Quốc) năm 1946 giữa 1.000 chiến sĩ Việt Nam có lời: "Ta nói cho các chiến sĩ rõ biết: Nếu vị nào có óc lập quốc thì phải về Tòa Thánh Tây Ninh mà hành sự, sau nầy mới được thành công. Còn đi nơi nào khác hơn chỉ làm cho chết, hay là đến chết mà thôi chớ không khi nào thành công được".

 

 

LẬP VỊ


E: To establish the situation.
F: Établir la situation.

(Lập : đứng, có vị thế trong xã hội. Vị : ngôi thứ). Lập vị là phải tự tạo cho chính mình một chỗ đứng; hoặc trong xã hội, hoặc trong cửa Đạo hay ngoài Đời. Chính đây sẽ là nghề rồi dẫn tới nghiệp, nó sẽ có tầm ảnh hưởng trong đời.

Đức Lý dạy: "Lão mừng cho đó! Chư Hiền Hữu khá biết rằng: lập vị với công nghiệp vẫn dễ, tạo phẩm với tâm đức vốn khó, vì công nghiệp là thể, tâm đức là hình, cõi Thiên xa cảnh tục. Lão ước sao cho chư Hiền Hữu nương nơi chức trách cho đủ tài hay phòng lập cao Thiên tước. Lão nói thật rằng, chỉ do tâm đức mới mong cho Lão chấm phong thưởng.

Đức Hộ-Pháp cũng nói: "Con đường thiêng liêng lập vị của Đạo cũng do nơi Bí Pháp ấy. Thử hỏi từ ngàn xưa, biết bao vị đắc Đạo mà không nhờ trong khuôn khổ nào chăng?"

Này là lời của Đức Thượng Phẩm rằng: Lại có câu: "Lửa thử vàng, gian nan thử Đạo" là cũng trong một ý niệm ấy. Nếu thoảng như đi trên con đường lập vị thiêng liêng được sung sướng hoặc dễ dàng hoặc không cần chi phải mệt xác mệt trí, hoặc không có chịu sự khảo duợt nào về tinh thần hay hình thể, thì nhơn loại trên mặt địa cầu nầy sẽ thành Phật hết. Như thế, các em nghiệm coi phẩm trật ấy có phân biệt và quí trọng không? Hẳn là không phân biệt rồi! Vậy các em nên hiểu điều đó để lướt qua mọi trở ngại thử thách đặng kíp sớm cho các em đoạt được sở hành phi phàm đó vậy. Các em khá lưu tâm."

 

 

LẬP VỊ VỚI CÔNG NGHIỆP VẪN DỄ

Đức Lý giáng dạy: "Lão mừng cho đó! Chư hiền hữu khá biết rằng: lập vị với công nghiệp vẫn dễ, tạo phẩm với tâm đức vốn khó, vì công nghiệp là thể, tâm đức là hình, cõi Thiên xa cảnh tục. Lão ước sao cho chư Hiền hữu nương nơi chức trách cho đủ tài hay phòng lập cao Thiên tước. Lão nói thật rằng, chỉ do tâm đức mới mong cho Lão chấm phong thưởng."

 

 

LẬP VỊ THẦN-THÁNH-TIÊN-PHẬT

Đức Hộ Pháp giảng Đạo ngày 5-6-Kỷ Sửu (1949):

"Đức Chí Tôn đến cậy nhơn sanh làm Thánh Thể của Ngài, Ngài phải bồi thường, phải trả mắc cho người, người ta mới phụng sự cho Ngài. Trả bằng cách đến ký Hòa-ước với loài người, nhứt là với dân tộc Việt-Nam nầy trước đã. Nếu các Người thay thế cho Tôi phụng sự con cái Tôi, Tôi có phận sự lập vị Thần, Thánh, Tiên, Phật cho các người chịu không? Nếu các người chịu làm tôi cho con cái của Tôi cho vừa sức Tôi muốn, cho vừa sở ý Tôi định, thì Tôi sẽ trả mắc cho mấy người. Mấy người đoạt được nơi thế nầy thế nào, nơi cõi Hư Linh Tôi cũng không chối cải."

 

 

LẦU THƯỢNG-UYỂN

Huỳnh Hoa Tiên Nương giáng đêm 28-7 Mậu Tuất (11-9-1958) có câu:

Cao khiết đề danh lầu Thượng Uyển,
Tinh anh thọ sắc Đấng Hồng Quân.
Cảm tình ngưỡng vọng không e-lệ,
Đáp tạ xin lưu tạm mấy vần.

 

 

LẦU BÁT QUÁI

Lầu Bát Quái hay Bát Quái Lâu 八卦樓 là một cái lầu hình Bát Quái nơi cõi Thiêng liêng. Đến tầng Trời này Chơn hồn phải đi ngang qua cửa lầu Bát Quái nơi cõi Thiêng Liêng, nhờ vậy các Đấng Thiêng Liêng mới dùng lửa Tam Muội để đốt tiêu hết các oan gia nghiệp chướng.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Cửa lầu Bát Quái chun ngang,
"Hỏa Tinh Tam Muội thiêu tàn oan gia."

 

 

LẦU YÊN

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thanh cao là biết ngon dưa muối,
Hơn ngự lầu Yên ngó đảnh Tần.

 

 

LẤY CỦA LẤN NHÂN, MƯỢN QUYỀN XUA ĐỨC

Thầy dạy: "Ôi! Lốt Ðạo, lốt Ðạo, Thầy buồn cho trẻ ngây, chẳng còn biết làm sao đem Thánh giáo vào tai chúng nó được. Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo, chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình; giày gai áo bã, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giạu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ chánh giáo. Thầy hỏi: Ai chứng cho?"

 

 

LẤY TÁNH ĐỨC PHẠM CÔNG-TẮC MÀ LẬP GIÁO

Đức Hộ-Pháp nói: "Ngày CHÍ-TÔN tình-cờ đến, vì ham thi-văn nên ban sơ DIÊU-TRÌ-CUNG đến dụ bằng thi văn tuyệt bút làm cho mê-mẩn tinh-thần. Hại thay! nếu chẳng phải là nhà thi-sĩ ắt chưa bị bắt một cách dễ-dàng như thế, vì ham văn chương thi-phú nên Ngài ráng dạy. CHÍ-TÔN đến ban đầu làm bạn thân yêu, sau xưng thiệt danh Ngài, biểu Bần-Đạo phế đời theo THẦY lập ĐẠO. Khi ấy Bần-Đạo chưa tín-ngưỡng, bởi lẽ nòi-giống nước Nam còn tín-ngưỡng thập tàng lắm; không hiểu đúng, không căn-bản, nói rõ là không tín-ngưỡng gì hết. Bần Đạo mới trả lời với ĐỨC CHÍ-TÔN; ngày nay Bần-Đạo nghĩ lại rất nên sợ sệt. Nếu không phải gặp đặng Đấng Đại-Từ Đại-Bi thì tội tình biết chừng nào mà kể.

- Thưa Thầy, Thầy biểu con làm Lão-Tử hay chúa JÉSUS con làm cũng không đặng, Thích-Ca con làm cũng không đặng, con chỉ làm đặng PHẠM CÔNG-TẮC mà thôi, con lại nghĩ bất tài vô-đạo-đức này quyết theo Thầy không bỏ nhưng tưởng cũng chẳng ích chi cho Thầy.

Đấng ấy trả lời: - TẮC! thoảng Thầy lấy tánh đức PHẠM CÔNG-TẮC mà lập giáo con mới nghĩ làm sao?

Bần Đạo liền trả lời: - Nếu đặng vậy!

Ngài liền nói: - THẦY đến lập cho nước VIỆT-NAM này một nền QUỐC-ĐẠO! Nghe xong, Bần-Đạo từ đấy hình như phiêu-phiêu lên giữa không trung mơ-màng như giấc mộng. Được nghe nói cái điều mà mình thèm ước, nên Bần-Đạo không từ chối đặng. Ôi! QUỐC-ĐẠO là thế nào? Quốc là nưóc, vậy nòi giống tín-ngưỡng lập Quốc Đạo; Bần-Đạo theo tới cùng coi lập nó ra thế nào, hình tướng nào cho biết; vì đó mà lần mò theo đuổi đến ngày nay, thấy hiện-hữu cái hình trạng là ĐẠO CAO-ĐÀI rồi lại đoán xét coi nó biến thành QUỐC-ĐẠO VIỆT-NAM ra sao? Ngài có một bài thi dám chắc không ai thấu-đáo nỗi; người coi cái gốc thì không thấy ngọn, người coi cái ngọn thì không thấy gốc, tứ văn thiệt-thà hay ho cho tới các đảng-phái quốc sự ngày nay cũng là lợi-dụng.

Từ đây nòi giống chẳng chia ba: tức nhiên không chia ba ĐẠO, chớ không phải ba kỳ à!

Thầy hiệp các con lại một nhà: Thầy nắm chủ-quyền hiệp TAM GIÁO, nếu nói riêng nòi giống hiệp Nam-Trung-Bắc thì vô-vị lắm!

Nam Bắc cùng rồi ra ngoại-quốc: tức nhiên nền chơn giáo QUỐC ĐẠO, không phải của ta thôi, mà lại của toàn nhơn loại, là truyền giáo Nam Bắc thành tướng rồi ra ngoại-quốc, tức là Tôn-giáo toàn-cầu vậy.

Chủ quyền chơn đạo một mình TA: Tam-giáo Ngài vi chủ năm châu hiệp tín-ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi. Nắm cả tín-ngưỡng của loài người, chính Chí-Tôn là Chúa-Tể Càn Khôn Thế-Giới, làm CHÚA nền chánh-giáo tại nước VIỆT NAM, vi-chủ tinh-thần loài người tức đủ quyền-năng lập QUỐC-ĐẠO. Ngài đến đem đại-nghiệp cho quốc dân này, hình thể lựa chọn ai?- Chọn tạo đoan vạn-vật tức là PHẬT-MẪU.

Tinh thần của CHÍ-TÔN, hình thể của PHẬT-MẪU; trí não của CHA, hình hài của MẸ; cả thảy đều thấy: Hễ vô đại điện ĐỨC ĐẠI-TỪ-PHỤ nào chức này, chức kia, mão cao áo rộng; còn vô ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU đều trắng hết, không ai hơn ai cả. Nếu hiểu biết, thấy bí-pháp CHÍ-TÔN cao kỳ quá lẽ. CHÍ-TÔN nói rằng: "QUỐC-ĐẠO này Ngài qui-tụ tinh-thần đạo đức, trí-thức toàn nhơn-loại cho đặc biệt: có cao, có thấp, có hàng ngũ, có phẩm giá; còn về phần xác thịt của người đời, mạng sống trước mặt Ngài không ai hơn ai, cả thảy sống đồng sống, chết đồng chết đặng đem QUỐC-ĐẠO làm mô-giới cả Đại-Đồng đặng tạo tương-lai loài người cho có địa-vị oai quyền, cao-thượng. Nếu thoảng hiểu đặng thì Thánh-thể cũng vậy, Hội-Thánh, chư chức sắc Thiên-phong nam, nữ hay toàn thể tín-đồ cũng vậy, lãnh thiên-mạng đảm-nhiệm trách-vụ thiêng-liêng CHÍ-TÔN phú-thác lập giáo tức-nhiên phải có phẩm-giá, trật-tự, đẳng cấp. Nếu hiểu thêm ý của Ngài; khi cởi áo này ra khỏi đại điện rồi, hết thảy đồng là anh em, không ai hơn ai, không ai thua ai, không khinh, không trọng, đầy-đủ tình yêu-ái trong lòng MẸ đem ra mà thôi; nam nữ cũng thế. Ngày nào nhơn-loại cả thế-gian ở mặt địa-cầu này hiểu được lý lẽ chí hướng cao-thượng ấy là ngày ĐẠO CAO-ĐÀI sẽ ra thiệt tướng".

 

 

LẤY XÂU ĂN ĐẦU

Kinh Sám Hối có câu:

"Cũng đừng bài bạc lận nhau,
"Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu."

 

 

LẪY LỪNG

Kinh Sám Hối có câu:

"Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,
"Hơi tanh hôi thường bữa lẫy-lừng."

 

 

LẼ BÁO ỨNG

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Lẽ báo ứng cao thâm huyền-diệu,
"Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.
"Đạo-Quân đức hóa háo sinh,
"Rộng quyền máy nhiệm an-linh cứu đời."

 

 

LÊ BÁ TRANG (1879-1936) (Tên)

(Xem Quyền Ngọc Đầu-sư Ngọc Trang Thanh)

 

 

 

Lê Bá Trang: Phối sư Ngọc Trang Thanh, thọ phong ngày 03-7-Bính Dần (dl: Thứ ba, 10-08-1926). Sau khi tạm ngưng việc Phổ độ, thì vào ngày 12-10-Bính Dần (dl: 16-11-1926), Đức Chí Tôn phong: Phối Sư Ngọc Trang Thanh là Ngọc Chánh Phối Sư, cùng với hai vị nữa là:

- Phối Sư Thái Thơ Thanh là Thái Chánh Phối Sư

- Phối Sư Thượng Tương Thanh là Thượng Chánh Phối Sư

Ông là Đốc Phủ-Sứ Chợ-lớn. Ông là một trong 28 vị tiền khai, ký tên vào TỜ KHAI ĐẠO. Ông Lê Bá Trang thọ phong Quyền Đầu sư phái Ngọc. Thánh danh: Ngọc Trang Thanh vào ngày mùng 03 tháng 07 Bính-Dần. Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ tiết lộ cho biết: Ngài Lê Bá Trang là chơn linh Quan Vân Trường thời Tam Quốc tái kiếp. Người phản Đạo là hai Ông Tương và Trang. Cả hai tách rời Toà Thánh năm Giáp-Tuất (dl: 05-03-1934)

Khi ông Trang qui ngày 30-05 Bính-Tý (dl: 17-7-1936) ông Tương mất đi người cộng sự đắc lực, nên tuyên-bố rằng: "Chi phái lập thành do Cơ Bút bình thường dẫn dắt, nay Chi phái đã hết phận sự thì Cơ Bút bình thường không còn hiệu lực. Chương trình hiệp nhứt gốc Đạo về Tổ Đình Tây Ninh phải lo…".

Khi đưa xác Ông Trang về Thánh Địa do Chi phái nài xin. Ông Tương thừa dịp đưa đám táng ông Trang, ông mặc áo mão Giáo-Tông tự phong, bị Đức Hộ Pháp ra lịnh: "Nếu Ông Tương muốn Liên-đài ông Trang vào Nội-ô để an táng phải mặc đồ thường phục, bằng không thì chẳng được vào Toà Thánh hành Lễ Đức Chí Tôn".

Tội phản loạn của ông Trang bị Đức Hộ-Pháp đánh Ma Xử vào Liên đài ba cái mà linh hồn ông bị đoạ vào Lạc-Hồn-Trì nằm mê suốt ba tháng trường do Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông giáng dạy. Sau ba tháng tỉnh hồn rồi trốn chạy nhập vào xác một người, rồi chạy vào Hộ Pháp-Đường để cầu xin Đức Hộ-Pháp xá tội. Nhưng khi gặp Phật, hồn ông Trang nói không nên lời chỉ ú-ớ, Đức Ngài đánh cho một tát tay chạy mất dạng.

Đức Quyền Giáo-Tông yêu cầu: "Nhờ Hộ Pháp gặp bắt giữ giùm chờ Ngài đến độ dẫn kẻo tội nghiệp".

Còn Ông Tương tuy còn tại thế nhưng Thánh giáo của Đức Quyền Giáo-Tông nói:"Rồi đây Nguyễn Ngọc Tương cũng phải chịu hình phạt như thế. Vì ông Tương là chánh phạm dụ dỗ một số người bỏ Chánh Đạo chạy theo để lập Chi-phái mà Bát-Đạo Nghị Định của Đức Lý ghép vào Tả Đạo Bàn-Môn".

Tại sao dám nói hai vị Chức sắc này là phản Đạo?

Đây chỉ lập lại lời nói của Ngài Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh. Ông Lê-Thế Vĩnh gởi Chức-sắc và bổn Đạo nói về ông Lê-Bá Trang vào năm Đạo thứ tám (Đệ Bát niên) tại Toà-Thánh Tây Ninh: 29-8-Quí Dậu (le 10 Novembre 1933). Nguyên văn như:

Kính gởi cùng Chư Chức sắc Thiên-phong Nam Nữ và Chư Đạo-Hữu Nam Nữ lưỡng phái,

Kính cùng chư Hiền huynh và chư Hiền Tỷ.

Ngày 12 Septembre 1933, Đạo-hữu Lê Bá-Trang là Cựu Quyền Đầu-Sư Cửu-Trùng Đài bị ngưng quyền.

Ngày 26 Juillet 1933, có ra Châu-tri số 146 nói là can dự đến Tệ Đệ và toàn nền Chánh-trị Đạo.

Tệ Đệ chỉ buồn cười cũng bỏ qua cho Người biết xét mình mà ăn-năn tự hối, dè đâu ngày 20 Septembre 1933, Người lại ra thêm một tờ Châu-tri số 147 cố ý nhục mạ Đức Quyền Giáo-Tông và nhiều vị Chức-sắc đương hành Đạo.

Tệ Đệ vẫn điềm nhiên xem coi trong trí lực thường tình của Người sau này được nảy nở được nhiều chi đặc biệt nữa.

Thật vậy cách vài hôm sau, quả có kẻ phụ sự của Người đến Giáo-Tông-đường giựt máy đánh chữ và vu vạ, rồi thì càng ngày càng lộng, nào là nhóm ngày nhóm đêm, nào là xúi giục kiện thưa, nào là hăm doạ bỏ tù Đạo hữu, nào là kỳ cho một tháng nữa là đuổi hết cả Quyền Giáo Tông và Hộ-Pháp ra khỏi Thánh-Địa, nào là hiêu hiêu tự đắc khoe rằng: Chấp ba ngựa cũng thắng… Đầu-sư gì mà luật Đạo không thông, trách nhiệm không biết, thậm chí kinh Cúng Tứ Thời cũng không thuộc, Tu-hành gì mà còn giả dối, còn mưu-mô, còn quyền quyền thế thế. Than ôi! Nếu Tệ Đệ không có phận-sự đặc biệt trong Hội-Thánh, thì Tệ Đệ đã thối bước lâu rồi, để cho họ tự quyền diệt Đạo. Cả bằng cớ Tệ Đệ đều nắm sẵn nơi tay đặng đợi ngày giải kẻ phạm ra Toà Tam giáo, sẽ cho toàn Đạo biết rõ rằng: "Hai Đạo-Hữu Lê-Bá-Trang và Nguyễn Ngọc Tương là người phản Đạo".

Tệ Đệ xin chư Đạo-Hữu cứ giữ phận-sự tu-hành, đừng lầm nghe mà sau này ăn-năn rất muộn. Tệ Đệ vì phận-sự quyết xin Đức Hộ-Pháp giữ nghiêm pháp luật và từ đây ngày nào còn Đức Hộ-Pháp và Tệ Đệ thì bọn Tà Thần đừng mong gì đến cửa Đạo mà dụng Tà quyền để áp bức và hăm doạ đạo-hữu…"

Ông Trang qui liễu tại Bến Tre ngày 30-5-Bính Tý (dl 17-7-1936), liên đài xin được đưa về Tòa Thánh Tây Ninh ngày 21-7-1936, nhập bửu tháp ở phẩm Ngọc Ðầu Sư.

Ðàn cơ tại Phạm Nghiệp ngày 11-6-Bính Tý (dl: 28-7-1936), Phò loan: Ðức Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo. Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ nói về chơn linh của ông Lê Bá Trang bị đọa nơi Lạc-Hồn-Trì, ghi lại như sau:

Thượng Trung Nhựt: "Chào mấy em. Thượng Phẩm nói với Qua mấy em đợi. Ôi! Qua nghĩ lại bắt tức mình, mấy em nghĩ lại mà coi, một kiếp sanh đâu mấy lát, cái giả cuộc trần hoàn tuy xem nháy mắt mà ảnh hưởng nó sâu sắc biết là bao, nào là danh, nào là vị, nào là tước, nào là quyền, nào là vinh, nào là trọng, rốt sự rồi cũng không còn mảy mún giá trị chút gì nơi cõi Hư linh Hằng sống, bất quá như còn vui dự đặng một tiệc ngọt ngon của khách phong trần say sưa một lát mà đòi phen chịu thảm cả đời. Qua đến viếng TRANG nơi Lạc Hồn Trì, nó nằm mê sảng sốt, đau lòng hết sức, như lời Thất Nương và Bát Nương làm chứng, thì dầu cho Qua có đến gần nó lúc nầy cũng không bổ ích chút nào cả, phải đợi cho nó từ từ định tỉnh, may ra có tay Thất Nương giải mộng thì thỉnh thoảng định tỉnh tinh thần. Nếu Qua cượng cầu thì chẳng khác nào hầu chuyện với người điên, chọc thêm loạn tánh.

TÁM, Em nên phò loan đặng Qua truyền tin TRANG cho Em hiểu. Khi nãy, Qua thấy Em có khách nhiều thì phải, thôi Qua đi." Thăng.

(Ghi Chú: Trang: Ông Lê Bá Trang. Ðức Quyền Giáo Tông gọi Ðức Hộ Pháp là Em TÁM vì Ðức Hộ Pháp thứ tám)

Ðàn cơ tại Hộ Pháp Ðường ngày 17-10-Bính Tý (dl: 30-11-1936), phò loan: Ðức Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo.

Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ nói về chơn linh của ông Trang và ông Tương:

"Thượng Trung Nhựt: TRANG khóc quá bây ơi! Vừa hiểu hiểu chớ còn khi tỉnh khi say, nhưng Qua theo bên mình ủng hộ, không sao phòng ngại. Em TÁM làm ơn nói với con Hai cho nó biết, kẻo lo rầu tội nghiệp.

Hộ Pháp bạch: - Biết nó nghe không?

- Em cứ nói giùm. Cha chả! Va oán Em đánh va hôm nọ lắm. Qua an ủi mà hễ tỉnh thì cằn-rằn hoài. Em nên viết cho va một cái thơ an ủi, cậy Qua đưa giùm, đặng Qua thừa dịp thức tánh va một chút. Em làm ơn giùm.

- Ôi! Thây kệ, đừng giận làm gì nữa. Nếu Em thấy va lúc nầy thế nào Em cũng tội nghiệp. Em làm phước làm giùm cái tháp cho va, hễ tỉnh thì hỏi có bao nhiêu đó hơn hết.

Ôi! TƯƠNG là cục nợ báo đời của TRANG, do căn kiếp phải vậy, dầu khi chết cũng còn theo báo hại.

- Em biết TƯƠNG là ai chăng?

- Ðứa nào nói trúng, Qua thưởng một củ mì.

Nguyên căn của ông Lê Bá Trang:

Ông Lê Bá Trang được Đức Chí Tôn phong vào hàng phẩm Chánh Phối Sư phái Ngọc; Thánh danh Ngọc Trang Thanh. Sau đó vì nghe lời ông Nguyễn Ngọc Tương (Chánh Phối Sư phái Thượng- Thượng Tương Thanh) tách rời Tòa Thánh Tây-Ninh để lập Chi phái. Sau ngày đó, Bà Bát Nương giáng cơ cho một bài thi nhắc lại kiếp căn đồng thời cũng để nhắc nhở ông:.

Sút lưỡi Thanh Long mới sợ câu
Hỏi ai có biết buổi không đầu?
Đã từng kết tóc chê ngôi Chúa
Nhướn mắt phun râu trợn lũ Tào
Sáu tướng lụy mình vì đảnh Hớn
Lữ Mông bặt tích tại Xuân Thu
Lầm mưu ví để sau nên họa,
Đừng đến Bát Nương để khẩn cầu

Qua bài thi trên hiểu rằng: Ông Lê Bá Trang là người được Đức Quan Thánh Đế Quân chiết chơn linh. Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cơ gọi ông Lê Bá Trang là Linh Tử.

 

 

LÊ HOÁT

Lê hoát là hai thứ rau mà chốn thôn quê nhà nông thường dùng. Vấn đề chọn lựa thức ăn đã bàn cãi rất nhiều. Đạo học nói: dùng lê hoát thích hợp vệ sinh. Khoa học nói ăn thịt bổ nhiều. Nhờ bàn qua, cãi lại, chúng ta hiểu rõ rằng: Ăn uống cốt để nuôi mạng sống, cho nên ngạn ngữ nói: "Ăn để sống". Vậy, chúng ta nên chọn những thức ăn uống nào dễ tiêu hóa và có đủ khí chất bồi bổ tạng phủ, thanh nhuận khí huyết là được.

Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu viết rằng:

Miếng cao lâu phong lưu nhưng lượm,
Mùi lê hoát thanh đạm mà ngon.

 

 

LÉNINE & LÉNINE (1870-1924) (Giáng Cơ)

Vladimir Lénine là một chánh khách Nga, sanh năm 1870. Qua năm 1917 ông cầm đầu cuộc Cách mạng lật đổ chế độ Quân chủ ở Nga, sáng lập Liên Bang Sô-Viết năm 1922, Ông là một trong các lý-thuyết-gia của Chủ-nghĩa Kark-Max tức là Chủ Nghĩa Cộng-Sản. Ông mất năm 1924.

Đàn Cơ tại Giáo-Tông Đường, Toà Thánh Tây Ninh, ngày 25-02-1934 (Âm lịch: 12 Giêng Giáp Tuất) có chơn linh Lénine giáng nói chuyện với Đức Quyền Giáo-Tông.

Hầu Đàn: Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung Nhựt, Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng, vài Chức sắc Đại Thiên phong.

Bài giáng Cơ viết bằng "Pháp văn" dịch Việt văn:

Phò-loan: Đức Hộ-Pháp và Ngài Tiếp Thế

LÉNINE (Giáng Cơ)

Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung Nhựt hỏi:

Phải thật vị Lãnh tụ của nước Nga không?

- Phải! Xin chào chư Tôn thân mến. Thế thì con đường được vạch sẵn. Cần phải đoàn kết các lực lượng rời rạc. Nhiều Đấng Thiêng liêng cao trọng đã đến giúp Quí Ngài. Tôi có chuẩn bị được ở Âu-châu một Đại Công đồng nhơn loại gọi là "Chủ nghĩa Cộng-Sản", nhưng tinh túy xuất phát từ Phật giáo, nhờ đó Quí Ngài sẽ tìm được sau này tất cả yếu tố cần thiết cho hành vi cứu vớt thế giới của Quí Ngài. Ôi! Còn nhiều thế lực chống đối, nhưng hành vi nói trên sẽ không ngăn chặn được trào lưu tâm linh vĩ đại lôi cuốn nó.

Ngài Tiếp Đạo hỏi: phải chăng nền Giáo lý mới?

- Phải! Tôn giáo mới sẽ được nghinh tiếp tuyệt diệu. Tôi đặt lòng kính trọng của Tổ Quốc tôi dưới chân Quí Ngài.

Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung Nhựt hỏi: Nước Pháp sẽ liên kết cùng chúng tôi chăng?

-Pháp Quốc sẽ qui phục một quyền năng vô địch. Thăng

 

 

LÊ PHỦ TỪ

 

 

 

 

 

 

LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784)

Ông tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, quê làng Diên Hà,

trấn Sơn Nam Hạ. Ông làm quan đời Hậu Lê, lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng. Tác phẩm rất nhiều, riêng khảo về đạo Nho có: Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Âm chất văn chú, Vân đài loại ngữ, Xuân thu lược luận, Dịch kinh phu thuyết, Thư kinh diễn nghĩa …

Trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục, quyển IX: Thiền dật, Lê Quý Đôn đã bày tỏ lòng tôn kính Tam giáo bình đẳng và khuyến cáo một số nhà nho thiển cận như sau: "Đạo giáo của họ Phật, họ Lão thanh tĩnh hư vô, cao siêu tịch diệt, không hệ lụy đến sự vật, đấy cũng là đạo giáo của bậc cao minh dùng để tu dưỡng bản thân; đến những lời bàn luận sâu rộng về đạo đức, về hình thần, không điều gì là không có ý nghĩa mầu nhiệm. Nhà Nho chúng ta, cứ giữ thành kiến kia khác, thường thường bác bẻ, như thế có nên không?"

 

 

LÊ THÁNH TÔNG (Vua Triều Lê)

Người chinh phụ trong đêm quạnh hiu dỗ con bằng cách chỉ cho con bóng mình, bảo đấy là cha. Ai có ngờ đâu hành động vô tư, trinh bạch ấy rồi sẽ khiến nàng hàm oan, đến đỗi phải quyên sinh, và nỗi khuất tất chỉ được cởi bỏ sau cái chết đau xót của nàng. Câu chuyện thương tâm ấy của người thiếu phụ Nam Xương chép trong Truyền Kỳ Mạn Lục Về sau, người ta thương Vũ-thị trinh tiết mà phải thác oan, lập miếu ở bên sông để thờ.

Đời Lê, vua Thánh-Tông ngự du qua sông Hoàng-giang có đề miếu Vũ-thị một bài thơ THIẾU PHỤ NAM XƯƠNG

Nghi-ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.

 

 

LÊ THẾ VĨNH (1903- ?)

(Xem Tiếp Thế Hiệp-Thiên-Đài)

Năm Ất Sửu (1925) Ðức Chí Tôn tá danh AĂÂ thu phục ông Nguyễn Trung Hậu (Bảo Pháp) và ông Lê Thế Vĩnh (Tiếp Thế). Bữa nọ ông Kiên và ông Vĩnh làm việc nhà báo vào năm Ất Sửu 1925, Đức AĂÂ cho hai ông một bài thi dưới đây:

Một viết với thân giữa diễn đàn,
Bằng xua trước giặc vạn binh lang.
Nước nhà ví biết thân là trọng,
Dạy dỗ sao cho đặng mở mang.
                        (12-11-1925)

Ông sanh năm Quí Mão (1903) tại Sài Gòn là Em ruột (Bào đệ) của Ngài Lê Thiện Phước (Bảo Thế Hiệp Thiên Ðài). Thân phụ là Cụ Đốc học Lê Văn Dương. Thân mẫu là Bà Trần Thị Chọn, Bà thọ Thiên phong Nữ Giáo Hữu Thánh danh Hương-Chọn ngày 14 tháng Giêng Đinh-Mão (dl:15-2-1927). Ngày qui không có, vì Ngài Tiếp Thế bị đối phương bắt đang trên đường hành Đạo năm 1945 rồi mất tích luôn, nên không biết ngày qui thiên là ngày nào! Ngài từ Sài gòn lên Đà Lạt bỗng nhiên bị mất tích. Hiền nội là Bà Nguyễn Thị Thơm, đắc phong Lễ Sanh. Thánh danh Hương Thơm. Trước năm Bính Dần (1926), Ngài là ký giả nổi tiếng tại Sài Gòn. Năm Ất Sửu (1925) Ngài nghe nhóm Xây bàn thỉnh Tiên về cho thi hay, Ngài tò mò muốn biết nên ngày 12-11-1925, Ngài cùng với ông Phạm Minh Kiên, đến nhà ông Cư để quan sát. Ngài được Đức Thượng Đế giáng Cơ cho thi. Sau đó nhập môn vào Đạo thọ phong phẩm Tiếp Thế Hiệp Thiên-Đài.

 

 

LÊ THIỆN PHƯỚC (1895-1975) (Tên)

(Xem thêm Bảo-Thế Lê Thiện Phước. Vần B.)

Ông Lê Thiện Phước.sanh năm Ất-Mùi (dl: 04-06-1895) tại Sài gòn. Qui lúc 6giờ 30 sáng 17-3 Ất-Mão (dl: 28-04-1975) ngay vào lúc đất nước thay đổi (ngày 30-4-1975). Thọ 81 tuổi. Em là Ngài Lê Thế Vĩnh (Tiếp thế Hiệp Thiên Ðài). Xuất thân nơi gia đình mô phạm. Thân phụ là Lê văn Dương. Thân mẫu là Trần thị Chọn. Có bằng Thành Chung trường bổn quốc Chasseloup-Laubat Sài gòn năm 1912. Cấp bằng trường Luật Đông Dương năm 1915. Đậu ngạch Thơ Ký Thượng Thơ (Dinh Hiệp Lý Sài gòn. Năm 1927 ra giúp xã hội, đắc cử Hộ Trưởng Quận Tân Định và Hòa Hưng (Đô Thành Sài-gòn). Huyện danh dự năm 1944. Ngày kia, khi nghe có Cơ Bút tại nhà Ông Nguyễn Ngọc Thơ ở Tân Định, tức Thái Đầu Sư liền đến xem cho biết. Đức Chí Tôn giáng Cơ cho thi. Sau đắc phong Bảo Thế Hiệp Thiên Đài. Ngài là một vị Thời quân giúp cho Đạo rất là đắc lực. (Xem 12 Thời quân cùng Soạn giả)

Ông là người ký tên Tờ khai Đạo trong số 247 vị đồng thời cũng đứng tên trong số 28 vị tiền khai Đại-Đạo nữa.

Cuối tháng 6 Âm-lịch năm Bính Dần, Thầy thâu ông Lê-Thiện-Phước làm Môn đệ. Mỗi người hầu đàn được phép biên tên họ mình để lên bàn thờ rồi chờ Ơn Trên giáng Cơ định phận.Ông Lê-Thiện-Phước được Đức Chí-Tôn ban cho bài Thi:

Cang nhu tình thế lắm đua tranh,
Danh lợi là bia kẻ giựt giành.
Mượn thú điền viên vui tuế nguyệt,
Phồn hoa âu cũng bỏ cho đành.

Đức Chí-Tôn dạy ông Lê Thiện-Phước ăn chay mỗi tháng 10 ngày và thượng Thánh Tượng thờ Thầy. Tuân lịnh dạy, ông Phước mời Ngài Lê Văn Trung, Ngài Cao Quỳnh Cư và Ngài Phạm Công Tắc đến nhà chứng thị cho ông Lê-Thiện-Phước nhập môn cầu Đạo. Lập Đàn xong, Đức Chí-Tôn giáng dạy:

Vạn thế vô tri tiếp sắc Thiên,
Khả quang chi hậu kiến nhi tiền.
Hậu lai hữu phúc Tam-Kỳ Hôi,
Chỉ tín tâm thành đắc vị Tiên.

 

 

LÊ THỨ

( là đen, thứ là nhiều, đông). Lê thứ chỉ dân đen, dân chúng. Đồng nghĩa với lê dân.

Hãy nghe Thần Hoàng Mỹ Lộc vâng lịnh Đức Chí-Tôn truyền cho nhơn sanh rằng: "Từ thuở TA vưng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, Ta một tấm lòng lo cho lê thứ đặng an cư lạc nghiệp, thạnh vượng mùa màng; mỗi mỗi đều hằng lo lắng cho chúng sanh nơi phần trách nhiệm. Nay có lịnh Ngọc Hoàng chiếu chỉ cho phép Ta giáng cơ mầu nhiệm mà tỏ nền Ðạo là quí trọng cho lê thứ hiểu. Lê thứ đâu rõ thấu việc Trời đã định hơn mấy chục ngàn năm nay. Lê thứ nghe: Kỳ Hạ Nguơn hầu mãn nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tan, mười phần còn lại có một mà thôi. Than ôi! Buồn thôi! Nghĩ vì Thiên cơ đã định vậy, thế nào mà cải cho đặng, duy có mở tấm lòng từ thiện ăn năn sám hối, lo việc tu hành; đồng với nhau cả quốc dân mà quì lụy khẩn cầu coi Trời đoái tưởng đến chăng? Bởi thế nên Ngọc Ðế và chư Phật, chư Tiên, chư Thánh mới lập hội Tam Kỳ Phổ Ðộ đặng có cứu vớt chúng sanh, đương linh đinh nơi biển khổ. Nếu gặp thuyền Bát Nhã mà không xuống, không theo thì chắc thế nào cũng chơi vơi mé biển.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Vương hầu lê thứ, ai là chí,
Chí quyết làm cho thế khác thường.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,
"Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc."

 

 

LÊ VĂN DUYỆT

Cái đêm mà ba ông ngậm ngùi và xúc động hơn hết là đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân LÊ VĂN DUYỆT nhập bàn cho bài thi như sau:

Ðã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép tây tà.
Xa thơ biến gảy rời vương thất,
Nam đảnh hầu thay sáng quốc gia.
Ách nước nạn dân gần muốn mãn,
Hết hồi áp chế tới khi hòa.

Cách mấy hôm sau, Ðức Tả Quân LÊ CÔNG cũng nhập bàn cho tiếp bài thi thứ nhì:

Khi hòa tùy có chí đồng thinh,
Vận nước nên hư cũng bởi mình.
Tôi giặc lắm người xô võ trụ,
Lòng trung mấy kẻ xót sanh linh.
Ðường dài chớ nệ ngàn công gắng,
Bước nhọc đừng nao một dạ thình.
Ðồ sộ giang san xưa phủi sạch,
Trông vào tua vẹn nỗi đinh ninh.

Ông Cao Hoài Sang bạch với Ðức Ngài: "Trong tình thế hiện tại, các nhóm Cần Vương đất Việt có nên họp nhau đứng dậy làm cách mạng để thoát ách nô lệ chăng?"

Ðức Ngài trả lời bằng bài thi:

Mạnh yếu đôi đàng đã hiển nhiên,
Ðôi mươi năm nữa nước nhà yên.
Dằn lòng ẩn nhẫn xem thời thế,
Ðừng vội gây nên cuộc đảo huyền.

 

 

LÊ VĂN GIẢNG (Tên)

Thơ ký kế toán hãng Ippolito, Sai-gòn.

Ông là một trong số 28 người ký tên vào TỜ KHAI ĐẠO và có tên trong 247 vị nữa.

Ông Lê văn Giảng thọ phong Giáo Hữu phái Thượng. Thánh danh Thượng Giảng Thanh

THẦY cho ông Lê Văn Giảng:

Trần tục là nơi chỗ biển buồn,
Nghe nơi Ðại Ðạo rán nghe luôn.
Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó,
Ách nạn chi chi cũng chảy tuôn.

 

 

LÊ VĂN LỊCH (Tên)

(Xem thêm: Ngọc Đầu sư Ngọc Lịch Nguyêt. Vần NG.)

Thầy Tu tại làng Long-an, Chợ-lớn.

Lịch là Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt (Lê Văn Lịch).

Môn đệ Minh đường: Những vị tu theo pháp môn của Ngài Lê Văn Tiểng tại Vĩnh Nguyên Tự (Ngài Lê Văn Tiểng, pháp danh là Lê Ðạo Long, được Ðức Di-Minh-Tử Ngô Ðạo Chánh truyền đạo. Ngài Lê Văn Lịch là con trai của Ngài Lê Văn Tiểng). Những vị nầy vâng lời Ðức Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn, nhập môn tùng giáo Ðức Chí Tôn. Ðức Chí Tôn gọi những vị tu nơi Vĩnh Nguyên Tự là Minh Ðường.

Ngày 13-03-Bính Dần (dl: 22-04-1926) Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Đầu Sư phái Ngọc Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt (Cửu-Trùng Đài). Đạo hiệu là Thạch Ẩn Tử, sanh ngày mùng 01 tháng 09 năm Canh-Dần (dl: 14-10-1890) tại làng Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Thân sinh của Ngài là Cụ Lê văn Tiểng, tu theo Đạo Minh Sư đến bực Thái Lão Sư, hiệu Lê Đạo Long, là người sáng lập ngôi chùa Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc. Cụ Tiểng tu đắc đạo, sau khi qui liễu, đắc quả Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn. Cụ có lời di chúc: "Lập Vĩnh Nguyên Tự để sau nầy có Thập nhị Khai Thiên đến mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ". Thân mẫu là Bà Trần thị Đắc, hiền nội của Ngài là Bà Trần thị Khá (con gái của Ngài Trần văn Thụ - Ngọc Chưởng Pháp). Ngài có người con gái là Cô Lê Ngọc Trang, Đạo hiệu Bạch Tuyết. Ngài Lịch cũng được Đức Chí Tôn giao cho trách nhiệm lo TỜ KHAI ĐẠO cùng Ngài Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung)

Trong quyển "Tiểu Sử Ðức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt" do Hội Thánh ấn hành năm Quí Sửu (1973), nơi trang 61, bài Thánh Ngôn nói về Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, như sau:

Vĩnh Nguyên Tự: 21-8-1926 (âl 14-7-Bính Dần)

"Lịch! Mời cả chư môn đệ Minh Ðường của Thầy ra nghe dạy. Cười.... Các con đừng tưởng quấy rằng: vì chia phái mà riêng đạo. Thầy rán cắt nghĩa cho các con nghe: Nguyên từ buổi bế đạo, tuy Chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc đạo cùng chăng. Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít. Vì vậy cho nên các con coi thử lại, từ hai ngàn năm nay, bên Á Ðông nầy đã đặng bao nhiêu Tiên, Phật. Các con duy biết có một mình Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi.

"Mạng đổi chớ luật lệ chưa hề đổi. Vì vậy Thầy buộc các con tùng Cựu Luật đặng qui phục Tam Giáo làm một. Các con nghĩ sự tu hành khổ hạnh dường nào. Ðời mạt kiếp nầy dữ nhiều lành ít. Nếu Thầy không chuyển pháp lại thì chưa ai tu đặng trọn đạo, nên Thầy lựa Ngọc Ðầu Sư trong hạng thiếu niên mới có đủ công phổ độ. Trong phần nhiều các con chưa vừa lòng cho Lịch ngồi địa vị ấy, cho nên có điều cản trở trong sự truyền đạo. Thầy cũng nhìn như vậy, song vì tiền kiếp Lịch và nhơn đức Tiểng, nên Thầy mới phú thác cái trách nhiệm tối đại ấy cho nó.

Các con đều có Chức sắc chẳng lớn thì nhỏ, đều thọ Thiên phong nơi Thầy. Cứ giữ phẩm vị các con, nhưng Thầy có một điều yếu thiết là cầu các con lập nhiều công quả nơi trường Thầy sáng tạo cho khỏi phế hủy nửa chừng. Các con khá gìn luật lệ cho tới ngày Thầy lập thành Tân Luật. Thành cùng chẳng thành cũng do nơi Thầy. Ðương lúc đầu Thầy khai đạo thì luật pháp rẻ rúng đặng dụ kẻ biếng nhác. Các con đừng phế phận. Thầy ban ơn cho các con. Thăng."

 

 

LÊ VĂN THOẠI (Tên)

LÊ VĂN THOẠI (Hữu Phan Quân) là nguơn linh của Nhan Hồi.

(Xem Hữu Phan Quân. Vần H.)

 

 

LÊ VĂN TIỂNG (1843-1913) (Tên)

Lê Văn Tiểng lập ra Vĩnh Nguyên Tự làm nơi tu hành. Ngài tu theo đạo Minh Sư đến bực Thái Lão Sư, đạo hiệu là Lê Đạo Long. Khi Ngài qui Tiên, Đức Chí Tôn cho biết Ngài đắc quả Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn. Ngài giáng cơ dạy các môn đệ của Ngài chuyển nhập qua Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Con ruột của Ngài là ông Lê Văn Lịch, được Đức Chí Tôn phong là Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.

Học trò của Ngài là ông Trần Văn Thụ, đạo hiệu Trần Đạo Minh, được Đức Chí Tôn phong là Ngọc Chưởng Pháp.

 

 

LÊ VĂN TRUNG (1875-1934) (Tên)

Khai đàn cho M. Trung ngày 31-01-1926

THẦY

Một Trời một Ðất một nhà riêng,
Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.
Cầm mối Thiên Thơ lo cứu chúng,
Ðạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

Ông Lê-văn-Trung Cựu Thượng-Nghị-Viên thọ Ngũ Đẳng Bửu-tinh (Chợ-lớn). Ông là người đứng vào số 2 trong số 28 người ký tên vào Tờ khai Đạo ngày 23-8 Bính-Dần, nhằm Thứ Tư: 29-9-1926)

(Xem thêm:     1- Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt &
                        2- Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung)

Ngài Lê Văn Trung sanh năm Bính Tý (1876) tại làng Phước-Lâm tổng Phước Điền Trung (Chợ Lớn). Thuở Ngài được 3 tuổi thì thân phụ là ông Lê Văn Thanh (1845-1878) đau bịnh từ trần, thân mẫu là bà Văn Thị Xuân (1849-1912) lúc đó mới 30 tuổi, cư tang thờ chồng, thủ phận ở vậy nuôi con cho đến ngày khôn lớn. Ngài Lê Văn Trung lớn lên có hình dáng đẹp đẽ, cân đối, tánh tình hòa nhã nhưng rất cương quyết, phụng sự mẫu thân rất có hiếu, cư xử tốt đẹp với bà con anh em, Ngài rất ái mộ Nho học. Ngài thi vào học tại trường Lycée Chasseloup Laubat - SàiGòn và tốt nghiệp trường nầy vào năm 1894, lúc đó Ngài được 19 tuổi. (Tuổi tây là 18 tuổi).

Cũng trong năm nầy, ngày 14-7-1894, Ngài Lê Văn Trung được thâu nhận vào làm Thơ Ký tại Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Ngài làm việc Thơ Ký cho đến năm 1906, tổng cộng được 12 năm. Sau đó, Ngài xin thôi việc và được chấp thuận ngày 6-3-1906. Ngài Lê Văn Trung ra ứng cử và được dân chúng bầu vào Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ (Conseil Colonial de Cochinchine) đại diện cho các tỉnh: Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Gò Công, Tây Ninh, được liên tiếp 2 khóa, tổng cộng 8 năm. (Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ có 10 Hội Viên người Pháp và 6 Hội Viên người Việt. Hội-Viên người Việt do đại diện các Hương chức Nam Kỳ bầu lên). Lúc làm Hội Viên Hội Đồng Quản Hạt, mỗi khi nhóm họp nơi Soái Phủ Nam Kỳ, Ngài Lê Văn Trung thẳng thắng bàn cãi những sự ích nước lợi dân. Ngài rất lưu tâm đến việc mở mang các trường dạy học và công việc thương mãi. Trong những sự bàn cãi, đôi khi làm trái ý quan trên, nhưng Ngài vẫn thẳng thắng vì nhiệm vụ đại biểu của dân, chẳng đoái đến phận mình bị thiệt thòi, cho nên xa gần, quan dân đều ngợi khen Ngài là người khẳng khái cương trực. Điển hình là vụ Lục Hạng điền, Chánh phủ Pháp phân 6 hạng ruộng để đánh thuế. Ông Outrey, quyền Thống Đốc Nam Kỳ dự thảo luật thuế về Lục Hạng điền, trình ra cho Hội Đồng Quản Hạt thừa nhận để đem ra áp dụng thi hành. Ngài Lê Văn Trung cùng với ông Diệp Văn Cương, Hội Đồng Quản Hạt Bến Tre đứng ra làm đầu 6 vị Hội Đồng Quản Hạt người Việt, đồng phản kháng dự thảo luật nói trên, nhưng khi biểu quyết, số thăm của Hội Đồng người Việt chỉ có 6, còn người Pháp thì 10, nên bị thua thăm và như thế thì dự luật được thông qua với đa số 10/6. Dù thua thăm, nhưng 6 ông cương quyết chống lại luật thuế Lục Hạng điền, nên tất cả 6 ông đều gởi đơn từ chức để phản đối. Dưới thời Pháp thuộc mà 6 ông làm được một việc như thế phải kể là một hành động táo bạo và rất can đảm. Từ chức xong, 6 ông đều ứng cử trở lại, năm ông được tái đắc cử, chỉ có ông Hội Đồng Hoài là bị thất cử, do ông Bùi Quang Chiêu theo phe ông Outrey phá. Nhờ vụ Lục Hạng điền mà tiếng tăm và uy tín của Ngài Lê Văn Trung lên rất cao, khiến cho người Pháp rất chú ý Ngài, chẳng dám xem thường.

Năm 1911, Ngài Lê Văn Trung đề xuất một việc làm rất mới mẻ tại Sài Gòn, nơi đang chịu sự thống trị nặng nề của Pháp, là việc xây dựng một Nữ Học Đường để giáo dục con gái, thực hiện Nam Nữ bình quyền. Chánh phủ Pháp ngoài mặt không dám phản đối, nhưng không ủng hộ việc mở mang dân trí nầy. Ngài Lê Văn Trung vận động với bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương và một số trí thức ủng hộ, quyên góp tiền bạc, xây dựng được một ngôi trường Nữ-học đầu tiên tại Sài Gòn, gọi là Collège des Jeunes filles (có tên là Trướng Áo Tím) về sau đặt tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long. Hiện nay, trường nầy vẫn còn tấm bia kỹ niệm ghi tên hai vị sáng lập là bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương và Hội Đồng Quản Hạt Lê Văn Trung.

Ngày 18-5-1912, Ngài Lê Văn Trung được Chánh phủ Pháp thưởng cho Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ Ngũ Đẳng (Chevalier de la Légion d' Honneur). Mấy năm đó, Ngài có mở cửa hàng Hạnh Hoa Thôn, giúp đỡ người Việt Nam bổn xứ có nề nếp hưởng nhờ bề thạnh lợi, sanh ý ngày càng phấn chấn, dần dần nên cuộc đại thương, không nhượng ngoại quốc.

Ngày 10-12-1914, Ngài Lê Văn Trung được Pháp cử lên làm Nghị viên Hội Đồng Soái Phủ Đông Dương (Conseil du Gouvernement de l'Indochine), thường gọi là Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương. Nhà cầm quyền Pháp mở hội Thượng Nghị Viện tại Bắc Kỳ, Ngài đi với Nguyên Soái Gourbeil ra bàn việc nước. Quan Thống Soái Bắc Kỳ, Trung Kỳ, với quan Đại Thần An Nam là ông Hoàng Cao Khải, ông Trương Như Cường, đều ngợi khen Ngài là người có khoa ngôn ngữ và rất lễ nghĩa. Em của Ngài Lê Văn Trung là Lê Văn Diêu, thuở trước làm Giáo Thọ chữ Pháp, sau được ban chức Huyện Hàm, tánh tình hiếu thuận, nối theo đường hướng của Ngài, mà gầy dựng được cuộc buôn bán phát đạt. Phu nhân của Ngài Lê Văn Trung là bà Đãi thị Huệ, cũng người tỉnh Chợ Lớn, hiền đức, trọng nghĩa, siêng năng buôn bán, lại khéo bề nội trợ tề gia, giúp thêm tiếng tốt cho Ngài. (Sau nầy, bà Đãi Thị Huệ nhập môn vào Đạo Cao Đài, được Đức Chí Tôn phong chức Nữ Giáo Sư, Thánh danh Hương Huệ, trong kỳ Phong Thánh Nữ phái kỳ I ngày 14-1-Đinh Mão, dl 15-2-1927, tại Chùa Gò Kén.

Thi rằng:

Ra tài Quản Hạt bấy thu chầy,
Quan chuộng dân yêu hội hiệp vầy.
Lòng dạ thẳng ngay, gương vặc vặc,
Tiếng tăm khen ngợi, tiết hây hây.
Thương trường mở cuộc buồm xuôi gió,
Thượng Viện gặp thời chí lướt mây.
Nhờ đức thung huyên vun quén sẵn,
Lộc Trời ơn nước, phước gồm may.

(Viết theo tài liệu trong quyển Điếu Cổ Hạ Kim Thi Tập của ông Nguyễn Liên Phong soạn, Sài Gòn, năm 1915)

Kể từ năm 1920 trở đi, công việc kinh doanh của Ngài Trung gặp khó khăn, đến cuối năm 1924 thì bế tắc hoàn toàn, bị lỗ lã. Ngài đau buồn, sanh ra hút thuốc phiện và sau đó, thị lực của đôi mắt yếu đi rất nhiều, chỉ thấy mọi vật lờ mờ.

- Đức Thượng-Đế thâu-phục Ông Cựu Thượng Nghị-viện Lê Văn Trung

Một hôm, có ông Hội đồng thành-phố Nguyễn Hữu Đắc, người bà con với Ngài, tu theo Minh Lý, gặp ông Lê-văn Trung đương đi dạo mát, ông Đắc bèn rủ ông Trung lên Chợ Lớn hầu đàn. Ông Đắc hướng dẫn ông Trung đến hầu đàn nầy. nơi Chợ Gạo.Vào khoảng tháng tư nhuần năm Ất-Sửu (Juin 1.925) trong Chợ Gạo (Chợ-lớn) thường đêm có thiết đàn thỉnh Tiên. Nguyên mấy tháng trước đây, tại nhà ông Nguyễn Bá Vạn ở ngã ba Bà Kế thuộc Chợ Gạo, Chợ Lớn, nay là Bến Phú Lâm, Quận 6 Chợ Lớn, có lập một đàn thỉnh Tiên rất linh hiển, thường cho thuốc trị bịnh rất hay. Biết chỗ rồi, từ đây mỗi lần bên Chợ Gạo có cầu Cơ thì ông Trung đều đến. Đức Lý Thái Bạch giáng khuyên Ngài Lê Văn Trung nên tỉnh giấc mộng trần mà lo việc tu hành. Ngài Lê Văn Trung tỉnh ngộ, bắt đầu ăn chay, bỏ hút thuốc phiện và lần lần đôi mắt của Ngài hết lòa, sáng trở lại. Sau khi đàn Chợ Gạo độ được Ngài Lê Văn Trung rồi thì chư Tiên dạy bế, làm cho nhiều người hầu đàn ngạc nhiên, không rõ cớ chi. Mãi đến ngày mùng 5 tháng chạp năm Ất-Sửu, ở Sài Gòn Đức Thượng-Đế giáng cơ dạy hai ông Cư, Tắc đem Cơ vô nhà ông Trung ở tại Chợ Lớn (Quai Testard) cho Ngài dạy việc. Hai ông này lấy làm bợ-ngợ vì thuở nay chưa hề quen biết ông TRUNG, nhưng lịnh trên đã dạy dưới phải tuân theo. Hỏi thăm tìm đến nhà ông Trung, ông CƯ thuật rõ đầu đuôi thì ông Trung lòng rất hoan nghinh, lật đật sắm sửa thiết Đàn. Thượng Đế giáng cơ dạy Đạo và khuyên việc tu hành. Ngài đã phân rằng: Ngài đã sai Lý-Bạch dìu dắt ông Trung nơi đàn Chợ-gạo đã lâu rồi.

Đức Hộ-Pháp kể lại: "Một buổi nọ chúng tôi phò-loan học hỏi như thường ngày. Đức Chí-Tôn kêu chúng tôi và Đức Cao Thượng Phẩm phải đi vô trong Chợ Lớn, đến tại nhà của Đức Quyền Giáo-Tông của chúng ta bây giờ là Ông Lê-Văn Trung. Buổi nọ, Ông Lê-Văn-Trung đang làm Thượng Nghị Viện. Hội Đồng Thượng-Nghị-Viện chẳng khác bây giờ là một vị Tổng Thống đời Pháp-thuộc. Chức Nghị Viện lớn lắm! Ông là người Nam làm đến bực đó thôi; mà nghe ra Ông là người quá sức đời, Tôi với Đức Cao Thượng-Phẩm không hạp chút nào! Nhứt định không làm điều đó được, nghe danh quá đời, chơi bời phóng túng không thể tả hết; buổi chúng tôi ôm Cơ đến nhà Ngài đặng Đức Chí-Tôn độ Ngài. Khi vô tới nhà, thú thật với Ngài rằng: "Chúng tôi được lịnh của Đức Chí-Tôn dạy Đạo, Anh tính sao Anh tính!" Ngộ quá chừng quá đỗi. Ông biết Đấng đó hơn chúng tôi biết: lo sắp đặt bàn ghế, sửa-soạn buổi phò loan; rồi thì chúng tôi tiếp rước Ông, độ Ông, bắt Ông Nhập-môn đủ hết; chúng tôi không hiểu Ông có tin nơi Đức Chí-Tôn hay không? Có khi tưởng Ông không tin nơi Đức Chí Tôn nữa chớ!".Ngài Lê Văn Trung là một trong 12 môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn, đã có đại công khai mở, xây dựng và truyền bá Đạo Cao Đài. Khi ở ngoài đời, Ngài là một nhân vật chánh trị nổi tiếng binh vực quyền lợi cho dân chúng, làm đến chức Nghị Viên Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương

Ngày 18-5-1912, Ngài Lê Văn Trung được Chánh phủ Pháp thưởng cho Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ Ngũ Đẳng (Chevalier de la Légion d'Honneur). Mấy năm đó, Ngài có mở cửa hàng Hạnh Hoa Thôn, giúp đỡ người Việt Nam bổn xứ có nề nếp hưởng nhờ bề thạnh lợi, sanh ý ngày càng phấn tấn, dần dần nên cuộc đại thương, không nhượng ngoại quốc. Để ghi nhớ công nghiệp lớn lao của Ngài, ngôi trường Trung Học do Hội Thánh lập ra ở gần Cửa số 7 ngoại ô được đặt tên là Trường Trung Học Lê Văn Trung.

*(Le 11 Janvier 1926) là ngày ông Lê Văn Trung đến nhà Cao Quỳnh Cư hầu Ðức Chí Tôn để nhập môn cầu Ðạo ở Sài Gòn. Thầy giáng dạy:

Già trí đừng lo trí chẳng già,
Lương tâm mình biết hỏi chi xa.
Thềm đầu Trời ngó lòng Nhơn Ðạo,
Hư thiệt rồi đây cũng biết mà.

***

Đã thấy ven mây lố mặt dương,
Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.
Đạo Cao phó có tay cao độ,
Gần gũi sau ra vạn dặm trường.
                        (12-2-1926)

Đức Lý Thái Bạch giáng cho Thi:

Có công phải biết gắng nên công,
Tu tánh đã xong tới luyện lòng.
Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,
Đơn tâm khó định lấy chi mong.
                        (27-1-1926)

* Cũng trong ngày nầy (27-1-1926), có Thất Nương Diêu-Trì-Cung giáng cơ. Đức Quyền Giáo Tông hỏi:

- Có duyên luyện đạo cùng chăng, xin Em mách giùm.

- Đã gặp Đạo ắt có duyên phần. Ráng tu luyện, siêng thì thành, biếng thì đọa, liệu lấy mà răn mình. Phải sớm tính, một ngày qua là một ngày chết. Đừng dụ dự. Em xin kiếu.

*Trong một Đàn cơ khác, nhân có Bát Nương Diêu Trì Cung giáng đàn, Đức Quyền Giáo Tông hỏi thăm Bát Nương về linh hồn của thân phụ và thân mẫu của Ngài có được siêu thăng cùng chăng? Giờ đây đang ở đâu?

Bát Nương giáng cơ đáp: Em chỉ nói bằng thơ, nếu Anh giảng trúng thì nói nữa, trật thì lui.

Đức Quyền Giáo Tông năn nỉ: Nếu Qua nói trật thì nhờ Em thương tình mà chỉ dẫn để cho Qua học thêm với.

"Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc.
"Bá phụ cùng Bá mẫu đặng an!"

Như vậy là thân phụ và thân mẫu của Qua trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở nơi cõi Cực Lạc?

- Đúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của Anh nên Bá phụ và Bá mẫu được siêu thăng nơi Cực Lạc.

Đêm 30-12-Ất Sửu (dl: 12-2-1926) quan phủ Ngô văn Chiêu đi với hai Ngài Cư, Tắc đến nhà mỗi vị đặng mừng xuân. Đến nhà ai thì cặp cơ Cư -Tắc phò loan, trước hết là nhà ông phán Võ Văn Sang, sau cùng là Ngài Lê Văn Trung. Mỗi người đều được một bài Tứ tuyệt, đây là bài của Ngài Cao Quỳnh Cư:

Sắp út thương hơn cũng thế thường
Cái yêu cái dạy ấy là thương
Thương không nghiêm trị là thương dối
Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.

 

 

LỄ

Chữ Lễ, trước tiên dùng với ý nghĩa là các hình thức cúng tế, cầu Thần linh ban phước và cúng tế Tổ Tiên. Sau đó, chữ Lễ được dùng rộng ra bao gồm những phép tắc phù hạp với phong tục và tập quán của dân chúng trong việc quan, hôn, tang, tế. Sau nữa, chữ Lễ có nghĩa thật rộng, gồm cả quyền bính của vua và cách tiết chế các hành vi của dân chúng cho thích hợp lẽ tự nhiên của Trời Đất.

Lễ chi ư chánh quốc giả, do hành chi ư khinh trọng giã, thằng mạc chi ư khúc trực giã, qui củ chi ư phương viên dã. Lễ đối với việc sửa nước trị dân, chẳng khác nào như cây cân để đối với vật nặng vật nhẹ, cũng như sợi dây để đối với vật thẳng vật cong, cũng như cái quy cái củ để đối với vật tròn vật vuông vậy. Nếu con người từ ấu chí trưởng mà biết trọng lễ nghĩa khiêm cung, thì khỏi chịu dưới luật hình trừng trị, mà đời sẽ trở nên thái-bình an-cư lạc-nghiệp. Sánh với đời Nghiêu-Thuấn, Võ-Thang, Văn-Võ, Châu-Công, Khổng-Tử, Mạnh-Tử, Nghiêu-Thuấn không lập luật hình, Võ-Thang không tạo khám đường ngục thất, đời vô-vi nhi trị thiên-hạ thái-bình là nhờ dân-tộc thời kỳ ấy biết giữ LỄ.

Thánh-Giáo của Ðức TÔN-SƠN dạy:

Lễ nơi mình là khuôn viên trọng thể,
Lễ nơi nước là phép trị an,
Lễ nơi toàn cầu là đại-đồng thế-giới.
Nếu không có lễ thì chẳng làm việc gì mà nên đặng.

THI CHỮ LỄ

LỄ là trật-tự của Thần-Tiên,
LỄ dạy nhơn-sanh giữ tánh hiền.
LỄ đối toàn cầu điều yếu trọng,
LỄ qui Tam-Giáo thuận cơ Thiên.

 

 

LỄ DĨ HÒA NHI QUÍ

Trong Kinh Lễ có câu: "Lễ dĩ hòa vi quí". Nghĩa là Lễ nghi phải lấy chữ hòa làm quí, vì ngoài mặt có hòa nhã, thì trong tâm mới có thành kỉnh, lễ nghi mới ra vẻ trang nghiêm long trọng. Nếu hành lễ mà không hòa, thì dầu lễ nghi to lớn Thánh Thần cũng không chứng hưởng. Thầy Mạnh-Tử nói: Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn hòa. Nghĩa là: Thời Trời chẳng bằng đất lợi, đất lợi cũng không bằng người hòa. Người có hòa mới cảm tình liên-lạc kết dây đoàn thể với nhau, tương thân tương ái đồng tâm hiệp lực cùng nhau thì mới thật hành mọi điều kết-quả. Ðời Tam-Quốc ông Lưu Tiên Chúa, duy lấy hai chữ "nhơn hòa" mà thắng cả thiên thời địa lợi, làm cho Tào Mạnh-Ðức lắm trận kinh hồn, Ngô Tôn-Quyền nhiều phen mất vía. Xem như thế đủ biết chữ hòa mạnh-mẽ là dường nào. Nhớ lại tích xưa ba vị anh hùng LƯU, QUANG, TRƯƠNG hiệp đồng nhứt tâm, vụ tất có một chữ hòa mà lập nên giang san Hớn-Thất. SÀI- TRIỆU- TRỊNH cũng dùng chữ hòa mà dựng nên cơ nghiệp Tống-Triều. Quốc-dân Việt-Nam trên 25 triệu đồng bào, chung cả tín-đồ Ðạo Cao-Ðài, nếu biết hiệp lực đồng tâm, thương yêu liên-lạc thuận-hòa cùng nhau mới có thể phục hồi an-ninh trật-tự, chấn hưng nền luân-lý, (mối cang-thường) trở nên tận-thiện tận-mỹ.

 

 

LỄ ĐỘ

Lễ độ là hành vi, cử chỉ theo đúng khuôn phép để tỏ lòng cung kính đối với mọi người.

Lòng Sớ dâng về Đức Chí-Tôn có câu:

"Lễ độ khiêm cung, phục hồi Thượng nguơn Thánh đức, Nghiêu Thuấn lương dân"
, ,

 

 

LỄ ĐẠO TRIỀU

Lễ Ðạo Triều là Lễ Kỷ niệm ngày Khai Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ hằng năm vào ngày 15 tháng 10 âm lịch.

Hộ Pháp Ðường, 18-10-Ất Hợi (dl: 13-11-1935):

Đức Lý nói: "Lão chào Hộ Pháp, chư Chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Hội Thánh Ngoại Giáo.

Ðợi Lão biểu Cao Thượng Phẩm nâng loan. (buông cơ) Lão đến tư đường của Hộ Pháp nên cho miễn lễ, đứng hết.

Hộ Pháp, hèn lâu Lão không đến chuyện vãn cùng nhau đặng, một là vì không Cơ Bút, hai là vì Thiên thơ biến chuyển, Lão có đến cũng chẳng ích gì. Nay vì Lễ Ðạo Triều, nên đến chúc mừng chư Hiền Hữu. Lão để lời cám ơn Hộ Pháp đã chịu lắm phen nhọc nhằn khổ não làm cho Ðạo ngày nay đặng ra thiệt tướng. Lão chỉn thẹn có một điều là Lão chưa giúp hay vào đó. Lão đa tạ, đa tạ!

Hộ Pháp bạch:..- Cười.... Lão chẳng nói rõ, Hiền Hữu cũng thấy hiển nhiên rằng từ thử, thảng Lão có muốn nên cho Ðạo đi nữa thì cũng không thi thố chi đặng với một Hội Thánh hữu hư vô thiệt, như vậy có phải? May thay! Thiên thơ do một mặt chẳng chi dời đổi trở ngăn, nên may ra nữa, từ đây Lão có phương cầm quyền trị thế.

(Hộ Pháp bạch: Thiên thơ đã đổi, Đệ tử xin giao quyền hành của Quyền Giáo Tông lại cho Ngài đặng Ngài đủ oai cầm Thiên thơ vững chặt).

- Cười.... Lão e cho, một là Lão đã cho, không lẽ lấy lại, hai là hành pháp thì dễ, hành hình thì khó, không có nửa quyền trị thế của Lão nơi tay Hộ Pháp, có thế nào điều hành Hội Thánh cho đặng. Ấy vậy, cứ để y. Nghe thi nầy và kiếm hiểu:

Bát Nhã từ đây vững lái thuyền,
Tuông pha khổ hải độ nhơn duyên.
Gay chèo thoát khổ đầy linh cảm,
Rạch nước trừ oan đủ diệu huyền.
Thổi thẳng cánh buồm thì Lão thủ,
Nâng an lòng bản cậy Thần, Tiên.
Phong ba mấy độ đà qua khỏi,
Ném thử Giáng Ma đóng Cửu tuyền.

 

 

LỄ ĐƯA CHƯ THÁNH TRIỀU THIÊN

Theo thói quen của người Việt Nam nói riêng và người Á Châu nói chung, cho rằng ngày 23 tháng chạp là "Lễ đưa Ông Táo về Trời". Nhưng ngày nay Đức Chí-Tôn mở nền Tân Tôn giáo Cao Đài thì xác định ngày này là "Lễ đưa chư Thần Thánh Tiên Phật triều Thiên" tinh thần từ trước vẫn vậy.

Ðền Thánh, đêm 24 tháng chạp năm Ðinh Hợi (1948):

Đức Hộ-Pháp nói: "Bảy ngày nghỉ cúng, chúng ta thành tâm cầu nguyện Chí Tôn cùng Thần, Thánh, Tiên, Phật. Chơn truyền buổi Ðức Chí Tôn tạo Càn Khôn Thế Giái, Ngài nắm Thập Thiên Can, Thập Nhị Ðịa Chi trong tay, để định Pháp Chánh Càn Khôn Vũ trụ. Trong thời buổi định Pháp Chánh ấn định vào khoảng từ ngày 23 đến 30 sáng mồng 1, họp tại Ngọc Hư Cung đặng định luật giới hạn vi diệu cho trái địa cầu, chạy theo khuôn khổ hữu định trong năm cho chí Tân niên là 12 giờ đêm 30, khởi điểm 1 giờ sáng ngày 1 tháng Giêng năm sau. Luật Thiên Ðiều trị thế, trị nơi địa cầu nầy là hình luật thiêng liêng là ngày giờ nầy nơi Ngọc Hư Cung kiểm soát định tội phước đó vậy. Càn Khôn Vũ Trụ, đều có Ðại Hội lập Luật, trong một năm giáp vòng bửu giới. Nếu trái địa cầu nào chưa được êm đềm, luật Thiên Ðiều thay đổi khác mỗi năm, chiếu theo tấn hóa và tâm lý của nhơn sanh. Nơi Ngọc Hư Cung định Pháp Chánh cũng như trong Càn Khôn Vũ Trụ là: 12 tháng một niên, 12 niên một giáp, 120 năm một thế kỷ (tất cả đều cho rằng 100 năm là một thế kỷ, như vậy không đúng), 1.200 năm là một giáp, 12.000 năm là một nguơn, 36.000 năm là một chuyển. Mỗi phen đáo đến sở hành ngày giờ ấy, có Hội Giác Tiên là thường tại, từ thử đến giờ chúng ta chưa nghe nói, vì 1.200 năm có một vị Giáo Chủ giáng thế chỉnh Ðạo, bảo thủ tinh thần đạo đức của loài người. Cứ độ 1.200 năm có xuất hiện một nền Tôn Giáo để hóa chuyển thay đời, tính lại địa cầu chúng ta từ buổi phôi thai, có vạn linh nơi mặt thế đến nay được ba chuyển. Nay qua Hạ Nguơn Tam Chuyển, khởi đầu Thượng Nguơn Tứ Chuyển chẳng khác gì đêm 30 sáng mùng 1 Tết của chúng ta vậy. Tới mức giữa không gian thì nhơn loại tới hồi khổ não đủ điều, người ta nói là tận thế, cái thuyết ấy không có đâu, nếu chúng ta dùng lời đặng nói chẳng qua là một Giáp đó thôi, tức nhiên là một nền văn minh Tôn Giáo chớ không phải tận thế. Kiếp số địa cầu nầy còn vĩnh cửu, chỉ thay đổi hình thể, vạn loại mà thôi, nó vẫn còn tăng tiến mãi. Chúng ta đã ngó thấy qua chừng một trăm năm trước, văn minh con người không đạt đến mức hiện tượng như bây giờ. Cơ tấn bộ tinh thần vật chất dữ dội nhất là trong vòng 50 năm sau. Theo đó mà tính toán lại coi, trong 500 năm nữa, nhơn loại sẽ ra sao?

Phật Giáo nói: Qua sắc dân da trắng, tinh thần vi chủ tới sắc dân Thần Thông Nhơn, qua khỏi dân Thần Thông, thì có sắc dân Chí Linh, lúc đó người là Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế. Như vậy còn hai sắc dân nữa cho 500 năm sau.

Mỗi sắc dân vi chủ một nguơn niên, kể hai sắc dân nữa chưa xuất hiện, ta cũng kể là 30.000 năm nữa đời sẽ thay đổi khác hơn. Nhơn vật và địa cầu cứ tăng tiến mãi, trên con đường tận thiện mỹ, vật xinh, người đẹp, vật bỏ ngu đến khôn, người khôn đến Chí Linh, đến ngày cùng chót toàn là Thần, Thánh, Tiên, Phật xuống ở cõi trần nầy. Lời Chí Tôn tiên tri và quyết định hẳn hòi:

"Chừng nào đất dậy Trời thay xác,
"Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần".

Ta lấy lớn suy nhỏ, lấy nhỏ so lớn, Càn Khôn tấn triển thế nào? Bần Ðạo ước mong Càn Khôn Vũ Trụ phát triển cách nào trong mỗi Nguơn niên Thánh Thể của Ðức Chí Tôn tăng tiến theo luật định Thiên Ðiều, phải đi theo y khuôn luật của con đường Chí Tôn định, tấn triển tới trong năm khai Nguơn nầy vậy. Bần Ðạo ước mơ sự tăng tiến của Chí Tôn được gia bội, gấp đôi ba bây giờ mà chớ. Muốn đạt vọng ấy, Bần Ðạo để cả tín nhiệm nơi tâm lý của toàn cả con cái của Chí Tôn. Tưởng cả thảy đều mơ ước, mà làm đặng chăng là nhờ huyền năng vô tận của Ðại Từ Phụ mà thoát đặng.

Chúng ta hãy cầu nguyện, để trọn tâm đức chắc chắn nơi Ðức Chí Tôn thì Chí Tôn chẳng hề khi nào hẹp lượng. Chúng ta quyết định xin mà làm nên cho toàn cả con cái của Người, thì Người cho, chắc hẳn vậy."

Đây là Sớ chung niên như sau:

"Ngưỡng nguyện: Các Đấng Thiêng Liêng từ bi minh tấu Đức CHÍ TÔN bố hóa hồng ân, chuyển họa vi phước, tập kiết nghinh tường, xây cuộc thế giới chiến tranh tảo đắc hòa bình, độ tận Chúng sanh, giải thoát tai nạn đao binh thống khổ, phục hưng Quốc Đạo tiến hóa thạnh hành phổ độ Nhơn sanh, nhập vi Môn đệ, vĩnh sùng Chánh Giáo, vạn loại hòa bình, an cư lạc nghiệp, thống nhứt Tam Kỳ, lập thành Minh Đức, Tân Dân, cộng hưởng Nghiêu thiên Thuấn nhựt" Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái, cẩn sớ thượng tấu. Dĩ văn.

Viết thành Hán văn:

: , , , , , , , , , , , , , , , . , ,

 

 

LỄ GIẢ THIÊN CHI TỰ

Kinh Lễ của Nho-giáo viết rằng: "Lễ giả, Thiên chi tự" Nghĩa là: Lễ là cái trật tự của Trời. Do đó, Nho giáo rất chú trọng về Lễ và dùng Lễ vào 4 mục đích sau đây:

1- Dùng Lễ để hàm dưỡng tánh tình:

Dùng Lễ để tạo thành một không khí đạo đức trang nghiêm, dần dần biến thành một tập-quán tốt, khiến người ta làm điều phải một cách tự nhiên mà không cần suy nghĩ. Vào nơi đền chùa, thấy khung cảnh cúng bái trang nghiêm, tự nhiên sanh lòng tôn kính.Vào chỗ đám tang, thấy cái không khí ảm đạm thê lương, tự nhiên sanh lòng bi ai. Vậy nhờ Lễ mà con người được khơi dậy những tình cảm tốt đẹp cao thượng.

2- Dùng Lễ để giữ tình cảm thích hợp đạo Trung dung:

Dùng Lễ để giữ tình cảm của mình không cho thái quá mà cũng không cho bất cập, theo đúng đạo Trung Dung. Nhờ vậy, thể xác và tinh thần của con người được quân bình, hành động lúc nào cũng được sáng suốt và chừng mực.

3- Dùng Lễ để định rõ lẽ phải trái:

Tình thân sơ và trật tự trên dưới phân minh. Nhờ Lễ mà ta phân biệt được kẻ thân người sơ, kẻ nhỏ người lớn, vì Lễ qui định sự đối xử khác nhau rõ rệt. Do đó không còn chỗ hiềm nghi, định rõ lẽ phải trái. Nhờ Lễ mà định được Chính danh, có Chánh danh mới định phận cho thích hợp. Do đó có tôn ti trật tự, phép tắc luân lý từ gia đình đến xã hội, tạo nên một xã hội trật tự thái bình.

4- Dùng Lễ để tiết chế lòng dục:

Dục vọng của con người thì không cùng và lúc nào nó cũng đòi hỏi phải làm cho nó thỏa mãn. Nếu không dùng Lễ để chế giảm, tất dục vọng sẽ làm con người hư hỏng. Dùng Lễ để chế giảm mà còn hướng dẫn dục vọng vào chỗ cao thượng nữa. Lễ và Pháp luật đều có mục đích ngăn chận sự hư hỏng và tội lỗi của con người. Nhưng Lễ có ưu điểm là nó có thể ngăn cản những việc lầm lỗi chưa xảy ra, còn dùng pháp luật là để trừng trị những việc tội lỗi đã xảy ra rồi. Do đó, Thánh nhân trọng Lễ hơn trọng hình phạt. Pháp luật tuy phải đặt ra, nhưng dùng sự giáo hóa về Lễ mà ngăn chận trước sự phạm tội mới là ưu việt.

Tóm lại: chữ Lễ trong nghĩa rộng có bao hàm tính chất pháp luật. Nhưng Lễ chú trọng về mặt giáo hóa và ngăn ngừa sự hư hỏng, phạm tội; còn Luật pháp thì chú trọng trừng phạt những hư hỏng và phạm tội đã xảy ra.

Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì, không nên làm điều gì và tại sao như thế. Còn Luật pháp thì cấm không cho làm việc nầy, việc nọ, hễ vi phạm thì bị trừng phạt.

Người làm trái Lễ thì bị chê cười, có tính cách trừng phạt về mặt tinh thần, người làm trái pháp luật thì bị trừng phạt về thể xác.

Thánh giáo:

Lễ là hạnh nết của Thần Tiên,
Phải giữ lễ nghi thật vững bền.
Trước mắt phàm tuy trông chẳng thấy,
Chín từng lồng lộng Đấng bề trên.

 

 

LỄ BÁI

E: The cult.
F: Le culte.

(Xem bái lễ)

Chung qui sự lễ bái là để phát khởi Đạo tâm. Có câu "Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi".

 

 

LỄ GIÁO


E: Educated.
F: Éduqué.

Lễ: -Cách bày tỏ kính ý bằng cử chỉ hay bằng cúng tế, -cuộc lễ có nghi tiết. Giáo: dạy, có giáo dục. Lễ giáo là có giáo dục về lễ nghĩa.

 

 

LỄ HẠ NGUƠN

Hạ nguơn là nguơn cuối cùng trong ba nguơn của một năm: Thượng nguơn từ tháng giêng, 2,3, 4; Trung nguơn từ tháng 5,6,7,8; Hạ nguơn từ tháng 9,10,11,12. Lễ Hạ nguơn trong cửa Đại-Đạo chính là ngày khai Đạo rằm tháng 10 năm Bính Dần (dl:19-11-1926). Ngày qui thiên của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung cũng vào Hạ nguơn: ngày 13-10-Giáp Tuất (dl:19-11-1934). Tức nhiên Đức Ngài hành Đạo đúng 8 năm tròn không dư không thiếu một ngày. Ngoài nguơn niên như nói trên, còn những nguơn lớn hơn nữa của Thế, Vận, Hội.

Đức Quyền Giáo Tông giáng Cơ nói: "Mừng các em: Mỗi năm đến kỳ Lễ Hạ Nguơn, kỷ niệm Khai Đạo, thì các em không quên ngày Thánh đán của Anh và mỗi em đều để tâm lo lắng, nhứt là Hộ Pháp cư xử trọn nghĩa đệ huynh, đến như thi hài của anh đối về phần Đạo thì cũng chẳng trọng hệ chi, nhưng đó là một phần trong Thánh Thể của Chí Tôn, các em lo cho anh được châu toàn, anh có lời cảm ơn trước là Hộ Pháp, sau là tất cả các em. Một điều anh ước mong sao hành trình của mỗi em làm thế nào cho đoàn hậu tấn để tâm kính mến lo cho các em, cũng như các em lo cho anh từ thử. Còn cơ Đạo của Chí Tôn, bước qua năm 26 sẽ phát triển lên cao thượng một cách phi thường, làm cho dân tộc Việt-Nam đều ngạc nhiên và chủ tâm hưởng ứng. Nền Đạo cao lên bao nhiêu thì danh thể của các em tăng tiến lên; trọng yếu và trách nhậm phải thế nào? Các em cần lo trau giồi cho đáng giá, để làm gương mẫu hướng dẫn quần chúng noi bước theo con đường đạo đức và lập quốc buổi tương lai đã đến đây. Trong phương diện hành đạo, có ba điều nên chú ý như sau nầy, các em khá nhớ: - Một là Quyền. - Hai là Luật, - Ba là Pháp, đều của Đức Chí Tôn vậy:

-Quyền là giáo hóa,dìu dẫn chúng sanh vào khuôn linh của Đạo -Luật là thương yêu, rộng dung, tha thứ cho kẻ lỗi biết ăn năn. -Pháp là giữ công bình chánh trực.

Nếu có kẻ không nghe lời giáo hóa, cố tâm phạm luật, thì người cầm quyền cai trị lấy Thánh đức mà định hình phạt là cốt yếu cạo gọt cho nên hình người, chớ không phải kẻ cầm quyền mà để phạm vào tội ác bất nhơn, bởi Đạo quyền là Thánh trị, chớ không phải Phàm trị, các em nên nhớ. Còn Cơ đời sẽ biến chuyển cho đến ngày liễu kết cuộc chiến tranh hầu có lập lại đời Thánh đức. Đạo và Đời, Quốc và Cộng.

 

 

LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ KIM MẪU

Do Kỹ-niệm Vọng Thiên Cầu Ðạo ngày 27-10-Ất Sửu.Thể theo Thánh-lệnh của Ðức Phật Mẫu lễ Hội-Yến Diêu Trì-Kim-Mẫu:

Đức Hộ-pháp thuyết: "Hôm nay là ngày kỹ-niệm Bí Pháp: Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì, Ðức Chí Tôn đã lập trong nền Chơn Giáo của Ngài. Bần Ðạo thừa dịp nên thuyết minh cho toàn cả con cái Ðức Chí Tôn hiểu rõ cái huyền vi bí mật ấy, bởi có ảnh hưởng với cơ quan đạt Ðạo chúng ta tại mặt thế gian nầy. Hơn nữa Bần Ðạo có phương tiện tỏ ra một đức tin dị thường của một Ðấng yêu ái, một Ðấng tạo Càn Khôn Võ Trụ, Ðấng tự hữu hằng hữu, Ðấng quyền năng vô tận vô biên, cốt để cho con cái của Ngài thấu đáo cái thâm tình của Ngài đối với ta và ta đối với Ngài dường nào.

Ðạt đặng đức tin phi thường ấy, năm Ất-Sửu tức nhiên năm 1925 Ðức Chí Tôn đến với chúng ta, nhưng Ngài đến với một tình Bạn mà thôi, đến với một danh hiệu, giờ phút này Bần Ðạo không dám nói, Ngài đến cũng làm Bạn Thượng Phẩm và Hộ Pháp. Tháng 6 năm ấy Ngài dùng Cơ Bút huyền diệu của Ngài, Ngài dạy Vọng Thiên Cầu Ðạo (điều mà chúng ta không thể tưởng tượng đây là một cử chỉ) ai cũng lấy làm lạ, nhiều người muốn tầm Ðạo phải để một dấu hỏi, hỏi tại sao buổi ấy Thượng Phẩm và Hộ Pháp có một đức tin vững vàng nghe theo lời Ngài vọng Thiên Bàn Cầu Ðạo. Ðiều mà chúng ta không thể tưởng tượng, đây là một cử chỉ chung chớ không phải cá nhân Thượng Phẩm hay Hộ Pháp, mà lời giáo huấn của Ngài cốt yếu để cho toàn thể nhân loại nơi mặt địa cầu này nhứt hơn hết là nòi giống Việt Nam chúng ta.

Bần Ðạo nói đây: Còn có Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu là người bạn Cao Thượng Phẩm và Bần Ðạo buổi ban sơ thấu hiểu điều ấy, Ngài đến với một tình cảm đáo để, một đức tin vững vàng làm sao đâu? Không thể sợ đặng, không còn biết vị-kỷ nhục-nhã chi hết: giữa khoảng đường nơi Châu Thành Sài-Gòn thiên hạ tấp nập, mà Ðức Chí Tôn buộc phải quì ngoài đường dựa bên lề ấy, quì đặng cầu nguyện xin Ðạo cho chúng sanh, tội nghiệp thay! Ngài thử thách cho đến nước, thảng như mình quì đó mà thiên hạ không hiểu mình quì làm gì thì cũng ít mắc cở chút mà cũng có thể quì, còn làm mà người biết thì nhột nhạt khó chịu lắm, nhưng sợ Ðức Chí Tôn phải rán mà làm.

Ngoài ra có ông Bạn ai cũng đều biết là nhà thi sĩ danh tiếng, Bần Ðạo dám chắc nội trong Nam Bộ chúng ta đây chưa có ai bằng, nổi danh thi sĩ đứng đầu hết thảy là người ấy, không biết chứng cớ gì mà người mê thi phú của Ðức Chí Tôn quá chừng quá đỗi, đến nước người thuộc lòng thi phú của Ðức Chí Tôn, rồi người họa lại với Ðức Chí Tôn, người làm như mê man vậy. Bần Ðạo thì nhột-nhạt duy có sợ mà vâng mạng lịnh thi hành quyền giáo hóa của Ðức Chí-Tôn, còn người thi sĩ Bồng Dinh họa theo đó mà ngâm, thiên hạ thấy tấn tuồng dị hợm tụ lại đông lắm. Trước để một cái bàn Vọng Thiên Cầu Ðạo ngay chính giữa coi dị hợm lắm, Bần Ðạo mới gát hai tay lên cho đỡ mắc cở vừa gát lên thì cái bàn quây gõ nói chuyện. Các Ðấng Thiêng Liêng đến không biết bao nhiêu, đến các vị Giáo Chủ cũng xuống giảng dạy chúng ta và làm nhiều kiểu lạ lắm; cũng lúc nầy Ðức Chí Tôn đã giáo hóa khá lâu các Ðấng Thiêng-liêng cũng đến cùng Thượng Phẩm và Hộ Pháp, tuy mới mà đủ đầu óc có một đức tin vững vàng, đức tin ấy có thể nói rằng: Tuy buổi ban sơ mà dường như khối óc đã thâm hiểu nhiều rồi, nên Ðức Chí Tôn mới ra lịnh biểu làm một cái tiệc. Ngài dạy sắp đặt cái tiệc ấy để đãi Ðấng vô hình, đãi 10 người: Ðức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Phần hữu hình có ba người: Thượng Sanh, Thượng Phẩm và Hộ Pháp. Sắp tiệc ấy do tay Bà Nữ Chánh-Phối-Sư Hương-Hiếu vâng mạng lịnh tạo thành một tiệc, trên bàn thờ Phật-Mẫu, ở dưới sắp 9 cái ghế cũng như có người ngồi vậy. Chén, đũa, muỗng, dĩa, bất kỳ cái gì cũng giống như đãi người hữu hình vậy; duy có ba người xác thịt là Thượng Sanh, Thượng Phẩm, Hộ Pháp. Bần Ðạo mới hỏi tiệc này là tiệc gì? Ngài nói là Hội Yến Diêu Trì. Bần Ðạo nghe nói vậy thì hay vậy, chớ không biết giá trị Hội Yến là gì cả. Nghĩ chắc cũng có ảnh hưởng gì cần yếu đến tương lai của Ðạo mà vâng lịnh thôi, chớ không hiểu nghĩa lý cho cùng cạn gì hết.

Ba người sống đồng ngồi ăn, còn Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu gắp đồ ăn để vào chén cho 9 vị và trên bàn thờ cho Ðức Phật Mẫu cũng như người sống kia vậy.

Bần Ðạo còn nhớ một chuyện lạ lùng, lúc đó lấy làm kỳ quái không hiểu gì hết, giờ biết Ðạo mới hiểu Ðức Chí Tôn buổi nọ lấy một tên riêng đối với Bần Ðạo. Bây giờ Bần Ðạo không dám nói lại, Ngài đến làm Bạn cùng Thượng Phẩm và Hộ Pháp.

Chừng Hội-Yến Diêu-Trì rồi, các Ðấng Thiêng-liêng và các vị Giáo Chủ ra từ giã (thăng) kế Ðức Chí-Tôn đến nhập cơ.

Thượng Phẩm và Bần Ðạo tọc mạch hỏi:

- Khi nãy Diêu-Trì-Cung đến có Ngài đến ở đó không?

Ðức Chí Tôn trả lời:

- Có chớ, Ta ở đây từ khi ban sơ đến giờ.

- Ngài có thấy Diêu Trì Cung đến không?

- Có chớ, chính mình ta tiếp đãi!

Cao Thượng Phẩm hỏi: - Diêu Trì Cung ngó thấy Ngài không?

- Không ngó thấy.

Cao Thượng Phẩm hỏi: - Sao vậy?

Ngài trả lời: - Ngài dùng phép ẩn thân.

Bần Ðạo tọc mạch hỏi tiếp:

- Như đứa em của tôi là Thất Nương Diêu Trì có thể đạt Ðạo chăng?

- Ðạt đặng chớ.

Cao Thượng Phẩm hỏi: - Phải làm sao?

Ngài nói: - Phải tu, bằng không tu thì chẳng đạt đặng.

Bần Ðạo hỏi: - Tu chừng bao lâu mới đạt đặng?

Cái đó Ngài làm thinh.

Bần Ðạo hỏi: - Một năm? Năm năm? Một ngàn năm? Mười ngàn năm? Một trăm ngàn năm?

Ngài cũng làm thinh, rồi thôi không hơi sức nào hỏi nữa, không biết chừng nào mới đạt đặng, nghe vậy hay vậy. Các vị Nữ phái rán nhớ, Diêu Trì Cung, Bần Ðạo có giải nghĩa Hội Yến Diêu Trì là gì rồi đó.

Toàn Thánh Thể Ðức Chí Tôn là con cái của Ngài rán để ý cho lắm: Từ khi Ðạo bị bế Ngọc Hư Cung bác luật, Cực Lạc Thế Giới thì đóng cửa nên chúng sanh toàn cả Càn Khôn Vũ Trụ có tu mà thành thì rất ít, bởi phương pháp khó khăn lắm, muốn đạt pháp thì không phải dễ. Cổ pháp định cho Chơn hồn về nơi Diêu Trì Cung, hưởng được Hội Yến Bàn Ðào tức nhiên hưởng được Hội Yến Diêu Trì, ăn được quả đào Tiên, uống được Tiên tửu mới nhập vô cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống gọi là nhập tịch. Ôi thôi! Từ thử đến giờ có ai đặng hưởng nếu có đặng hưởng cũng một phần rất ít. Giờ phút này Ðức Chí Tôn quyết định tận độ con cái của Ngài, thay vì Bí Pháp ấy độ con cái của Ngài về nơi Kim Bàn Phật Mẫu đặng hưởng đặc ân thiêng liêng của Ðức Chí Tôn. Ðức Chí Tôn buộc Phật Mẫu phải đến tại thế gian nầy để Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì tại cửa Ðạo nầy cho con cái của Ngài giải thoát, ấy là một Bí Pháp Thiêng-liêng duy có tay Ngài định pháp ấy mới đặng.

Hôm nay là ngày Phật Mẫu đem Bí Pháp đặng giải thoát chúng sanh, tận độ toàn vạn linh sanh chúng. Ngài để tại mặt thế này trong cửa Ðạo này mà thôi. Hôm nay là ngày lễ của Ngài mà cũng là ngày trọng hệ trong cửa Ðạo, xin toàn cả con cái của Ngài nhớ và để nơi tâm mình, bởi thế năm nào Bần Ðạo cũng để ý đến lễ của Ngài hơn hết; từ tạo Thiên lập Ðịa đến giờ chưa có ai hưởng được thời kỳ nầy. Ngài đến tại mặt địa cầu 68 nầy đặng tận độ con cái của Ngài. Chúng ta phải chiêm ngưỡng ơn vô biên vô tận của Ngài, chúng ta phải chiêm nghiệm lễ nầy để làm mật niệm cám ơn Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu, ấy là Bí Pháp của chúng ta đó vậy.

 

 

LỄ NGHI PHONG HÓA

禮 儀 風 化
E: Ceremony and manners.
F: Cérémonie et moeurs.

Lễ: -Cách bày tỏ kính ý bằng cử chỉ hay bằng cúng tế, -cuộc lễ có nghi tiết. Nghi: cách thức bày ra. Phong: thói, nếp có từ lâu đời. Hóa: thay đổi, giáo hóa. Lễ nghi là những nghi thức làm lễ. Phong hóa là phong tục và giáo hóa.

Lễ nghi phong hóa là cách thức bày ra trong sự cúng tế cho được trật tự, trang nghiêm, kính cẩn và các phong tục tạp quán của một dân tộc.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Tuy vẫn đã biết, lúc Thầy lập Pháp Chánh Truyền thì Thầy dạy hành lễ dường ấy mặc dầu, là bởi lễ nghi phong hóa nhà Nam ta buộc phải vậy.

 

 

LỄ NGHĨA

禮 義
E: The politeness.
F: La politesse.

Lễ: -Cách bày tỏ kính ý bằng cử chỉ hay bằng cúng tế, -cuộc lễ có nghi tiết. Nghĩa: việc làm đúng theo lẽ phải và đạo lý. Lễ nghĩa là những phép tắc phải theo để cho việc cư xử tỏ ra được sự tôn kính và đúng theo lẽ phải.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Còn hỏi về lễ nghĩa giao thiệp về phần đời thì Ngài dạy Giáo Hữu nam phái cũng phải chịu dưới quyền của Giáo Sư nữ phái.

 

 

LỄ NHẠC


E: The rites and music.
F: Les rites et la musique.

 

Lễ và Nhạc.

Lễ Nhạc  là phần trọng yếu của Khổng Giáo.

Lời Thỉnh giáo.

Chỉnh đốn thức lệ Cúng kiến.

Ngài Bảo-Văn Pháp-Quân nói về Lễ Nhạc.

Đức Hộ-Pháp giảng "Nhạc là Lễ, Lễ là Nhạc".

Lễ Nhạc  luận.

Thiểu học lý tích cơ nhạc.

          a/- Lục-Luật.

          b/- Về ngũ thanh.

          c/- Về lục căn, lục lữ.

Nguồn gốc Đạo học của Lễ Nhạc.

Đức Chí-Tôn mở Đạo dùng cả Âm, thinh, sắc, tướng, để cảm hóa nhân-tâm không gì bằng Âm-nhạc.

Hai câu liễn về Lễ Nhạc.

Những âm-thanh trong vũ-trụ tạo thành Tam-bửu của Nhạc.

Nguồn gốc Thần bí của Lễ Nhạc.

Sự tương quan giữa Lễ và Nhạc.

Nghi thức chỉnh đốn lòng người trước đã.

_________________________________

   

Lễ Nhạc là Lễ nghi và Âm nhạc (Lễ là cách bày tỏ sự tôn kính bằng cử chỉ hay bằng sự cúng tế, cuộc lễ có nghi tiết. Nhạc: âm nhạc).

Lễ và Nhạc trong Đạo Cao Đài được Đức Chí-Tôn xem rất quan trọng, cho nên ngay từ khi mở Đạo, Đức Chí Tôn đã nhiều lần giáng cơ dạy về Lễ và Nhạc. Lễ Nhạc còn có địa vị trọng yếu trong phép trị nước và được đặt ngang hàng với Hành chánh và Hình pháp. Lễ để chỉ đạo ý chí, Nhạc để điều hòa thanh âm, Hành chánh để thống nhứt hành động, Hình pháp để ngăn ngừa tội ác. Lễ Nhạc, Hành chánh, Hình pháp có mục đích cuối cùng là một, tức là thống nhứt lòng dân để thực hiện nền thạnh trị".

Lễ và Nhạc do Đức Chí Tôn lập ra, trên nền tảng cái cũ là Cổ lễ và Cổ nhạc của Nho giáo, để làm ra cái mới, khiến cho cũ và mới hoàn toàn dung hợp nhau, làm cho Lễ Nhạc trong Đạo Cao Đài có những nét độc đáo, sử dụng có hiệu quả nhứt, để đưa nhơn loại trở về con đường đạo đức chơn chánh.

Thầy dạy: "Lễ Nhạc chẳng hoàn toàn, nhiều đứa cậy tài học giỏi lượm lặt sách xả rác hủ nho; mong bài bác đặng vinh mặt. Thầy bây giờ chỉnh để phú Thiên điều hành luật, ai biết nguồn cội, vội sửa mình; mới mong tránh khỏi lũ tà ma mà đi cho cùng bước Ðạo. Uổng thay! Nền Ðạo chẳng phải hư, ngày nay không phương tái lập. Thầy giao cho mấy đứa, vì Ðạo vì Ðời khá hiệp trí chung lo, họa may mới vớt người đặng muôn một. Thầy cho các con hay rằng: Ðại Lễ Tòa Thánh chẳng hoàn toàn theo cách thức dạy trước đây thì khá biết rằng, có tà quái chứng mà thôi nghe! "

1- LỄ NHẠC là phần trọng-yếu của Khổng-Giáo:

LỄ NHẠC quan hệ đến luân-lý, phong-tục và chính-trị mật-thiết lắm, cho nên các Nho gia tìm cái căn nguyên ở trong đạo tự-nhiên của trời đất: LỄ là trật tự của Trời Đất.NHẠC là cái điều-hòa của Trời Đất. Hai bên dung-hòa nhau thì mới hòan-toàn được. Nếu có LỄ mà không có NHẠC thì nhân quần ở với nhau thành ra phân biệt thái-quá, nhân tình bất thông; có NHẠC mà không có LỄ thì thành lưu đãng, khinh nhờn.Vậy nên có LỄ phải có NHẠC, để cái nọ chế cái kia thành điều-hòa. Vì một đường thì khiến tâm-tình ở trong, một đường thì khiến sự hành-vi ở ngoài, cốt cho trong HOÀ ngoài THUẬN. Cái cùng-cực của NHẠC là HÒA. Cái cùng-cực của LỄ là THUẬN. Nếu trong lòng mà tính-tình điều-hòa và ở ngoài mà hành-vi thuận hợp nghĩa-lý thì cái tà-tâm vọng niệm còn vào thế nào được lòng người ta nữa.Vậy nên Thánh Nhân dạy người cốt lấy LỄ-NHẠC làm trọng (Ðức Hộ Pháp)

2- Lời Thỉnh giáo:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Tam thập bát niên)

TOÀ THÁNH TÂY NINH

_____________________________+

 

Kính Đại-Huynh Tiếp-Pháp Hiệp-Thiên-Đài.

Tệ-sĩ Tiếp Lễ Nhạc-Quân trân trọng giải đáp 3 câu hỏi của Đại-Huynh sau đây.

- Dàn-Trống-Quan nghĩa là gì?

- Tại sao từ Phối sư trở xuống đưa linh-cữu có Dàn Bắc?

- Tại sao có khác nhau?

Xin giải đáp:

I-Dàn-Trống-Quan là môn Võ-Quốc-Thiên tối cổ của Việt Nam.

1- Đời thì từ Đế vương trở xuống Tam-Công, Đạo thì từ Đầu-Sư trở lên đến Giáo-Tông và Hộ Pháp được ngự hưởng bài Trống Quan

2- Định nghĩa của Dàn-trống-Quan dùng trong nghi lễ đưa và rước.vv

II- Từ Phối-Sư đổ xuống khi qui vị phải còn hành nghi lễ chèo-hầu và chèo đưa.

Khi chèo đưa, những tổng-trạo và Dàn-đờn trên thuyền Bát-Nhã thay cho Dàn-Nam, đó vậy. Dàn-Bắc là tiền phong hướng đạo.

III- Chỗ khác nhau là từ Đầu-Sư trở lên khi qui vị kỵ Long-Mã, không chèo hầu, không chèo-đưa phải có dàn Nam thay cho Tổng Trạo… Từ Phối-sư trở xuống còn chèo-đưa nên không được dùng Dàn-Nam, để tránh sự gây rối thinh âm giữa Dàn-nam và Dàn đờn trên thuyền Bát-Nhã.

Thưa Đại huynh: Lời Lẽ Tệ sĩ biện minh trên đây là chính mình Đức Hộ-Pháp khi xưa đã dạy Tệ-sĩ với khẩu lịnh. Bởi, từ ấy đến nay tuân theo khẩu lịnh Đức Ngài mà thi hành chớ không có Văn chỉ truyền ký.

Thành thật kính đệ Ngài ngự lãm.

Nay Kính, Toà-Thánh, ngày 20-09-63
TIẾP LỄ NHẠC QUÂN
(Ký tên đóng dấu)

3- Chỉnh đốn thức lệ Cúng kiến:

Đạo Sử của Bà Hương-Hiếu có ghi:

Chú Giải: Ngoài các thức-lệ chỉnh đàn hành-lễ phải cho y một kiểu vở, phải định thêm lễ-nghi về Quan, Hôn, Tang,Tế, buộc các nơi phải tùng theo một luật-lệ, pháp giải-oan, phép tắm-thánh cũng vậy.Về NHẠC cũng phải chỉnh-đốn, nhứt là giọng đọc kinh của đồng-nhi phải phân biệt ba giọng: Ai, Xuân và Đảo Ngũ Cung. Hơi đọc kinh có ảnh-hưởng nhiều về sự HOÀ-BÌNH êm tịnh và phát thạnh của THÁNH-THẤT sở tại, cứ tụng một hơi ai-oán thì không khác nào cầu sự khổ não cho THÁNH-THẤT mình (Đạo sử II).

Thầy dạy:"LỄ NHẠC chẳng hoàn-toàn, nhiều đứa cậy tài học giỏi lượm-lặt sách xả rác hủ Nho, mong bài bác đặng vinh mặt. Thầy bây giờ chỉnh để phú Thiên-Điều hành luật, ai biết nguồn cội vội sửa mình mới mong thoát khỏi tà ma, mà đi cho cùng bước Đạo. Uổng thay! Nền Đạo chẳng phải hư, ngày nay không phương tái lập, THẦY giao cho mấy đứa, vì Đạo vì đời khá hiệp trí chung lo, họa may mới vớt người đặng muôn một. Con được phép cho mấy anh coi Thánh giáo của THẦY. Thầy cho các con hay rằng: Đại-Lễ TÒA-THÁNH chẳng hoàn toàn theo cách thức dạy trước đây thì khá biết rằng: có tà-quái chứng mà thôi nghe! (9-1 Canh Ngọ)

Bảo-Văn-Pháp Quân bạch: Được! nhưng còn sơ sót, món nào liệu chẳng có ích, thì nên chế giảm, trừ ra NHẠC phải giữ cho toàn, đi LỄ cho có vẻ nghiêm-nghị, ấy là hai món đại khái đó. NHẠC còn chưa đủ thể cách, đờn để rước chư TIÊN THÁNH không phải vậy là đủ, người Nhạc-công phải ăn mặc tinh-khiết. Sắp đặt vào khởi NHẠC phải có thứ lớp phân minh, chớ chẳng phải muốn đờn bài chi cũng đặng, ấy là trái Thánh-ý đó. Phải sắp đặt lại nghe à! Nơi Đàn nào mà khác hơn Thánh-giáo và bày biện nhiều trái cách thì Đạo hữu không phép tham dự. (TNHH 18-7-1928)

"Từ thử đến giờ, trên mặt địa cầu này có nước Tàu là Đức KHỔNG PHU TỬ chỉnh-đốn hoàn bị nên LỄ NHẠC có phương thế làm môi giới, làm khí cụ cho toàn vạn quốc đương buổi này" (Ðức Hộ Pháp)

"NHẠC LỄ là phép nhà NAM, THẦY muốn giữ gìn sao cho trọn vẹn, các con hiểu?" ( 21-8 Bính Dần Đức Chí Tôn)

"LỄ NHẠC là hai điều trọng hệ của ĐỨC CHÍ TÔN, khi Ngài đến vẫn chú ý hai điều ấy. (Ðức Hộ Pháp)

Nhứt là Đức CAO THƯỢNG PHẨM sanh tiền buổi nọ, lấy con Đờn mà làm bạn thiết, hết thảy ngôn ngữ thường tình đều khinh rẻ. LỄ NHẠC sản xuất do nơi HUỲNH ĐẾ với CHÂU CÔNG. Chính cái tác-dụng mãnh-liệt của NHẠC đó mà cổ nhân đã giáo dục con người bằng cách chế ra "NHẠC". NHẠC là cái vui của Thánh-Nhân mà khiến cho lòng dân trở nên tốt lành; có thể cảm lòng người rất sâu và di phong dịch tục được, cho nên Tiên-Vương mới đặt ra dạy NHẠC.

"Từ hàng CHƯỞNG-PHÁP đổ lên mới đặng "NHẠC CÔNG KHỞI NHẠC", còn từ Đầu Sư đổ xuống, lễ xướng "CHỨC SẮC TỰU VỊ", lễ xướng "giai quì" thì nhạc khởi.

NHẠC SĨ là một chức phẩm của Bộ Nhạc trong nền ĐẠO CAO-ĐÀI, NHẠC SĨ là phẩm cấp sau cùng về nhạc, đối phẩm với CHÁNH-TRỊ SỰ bên CỬU TRÙNG-ĐÀI"

NHẠC là hưởng ứng của cả khối sanh quang của càn khôn vạn-vật đồng thinh. Nơi Á-Đông có câu: Biều, thổ, cách, mộc, thạch, kim, dữ ty, trước nãi Bát âm". Các vật vô năng mà nói đặng, có trật-tự niêm luật hòa nhau là đoạt ĐẠO, hiệp lại với tiếng Kinh mình đọc là âm thinh nghĩa là con người cùng vạn-vật đồng thinh hiến lễ". Mấy Em phải biết cái tinh túy mà người ta có thể đo lường NHẠC cao thấp mà hiểu được.

Mình biết tinh-túy của mình, trọng hay khinh là do nơi mình; nếu mình biết trọng thì họ trọng, nếu mình khinh thì họ khinh". (Ðức Hộ Pháp)

"Ta nói cho chúng sanh biết: gặp TAM-KỲ PHỔ ĐỘ này mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.

Tại đây là một nơi ta khởi chế sự TẾ LỄ THỜ PHƯỢNG lại". (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

-

LỄ dĩ địa trần minh định nhơn gian tôn trật tự.

-

NHẠC do Thiên tác tuyên thông thế giới chủ điều hoà.

調

(Hai Câu liễn đặt trước cổng Bộ Nhạc trung ương Toà-Thánh)

Nói về LỄ NHẠC là đã minh định tôn chỉ và lập trường đến một mức độ thật quan trọng vô cùng:

- LỄ xuất phát từ nơi cõi trần này để làm sáng tỏ đức độ của con người phải biết tôn trọng sự trật tự, lớn nhỏ phân minh.

- NHẠC do thiên nhiên tác động để truyền bá rộng rãi khắp toàn cầu với mục đích duy nhất là sự điều hòa.

Ngày nay Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài lấy NHO TÔNG chuyển thế mà Đạo Nho lấy LỄ NHẠC làm trọng. LỄ NHẠC Là HỒN Đạo phải được xem là yếu trọng vậy.

4- Ngài Bảo-Văn Pháp-Quân nói về Lễ Nhạc:

Năm Đinh-Mão (1927) Ngài Cao Quỳnh Diêu thọ phong Tiếp Lễ Nhạc Quân, có phận sự sắp đặt Lễ nghi và Âm Nhạc lo về việc cúng tế trong Đạo. Đầu năm 1929, Ngài Tiếp Lễ Nhạc-Quân Cao Quỳnh Diêu vâng lịnh Hội-Thánh, đặt ra 3 Bài Dâng Tam Bửu (Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà), có dâng lên Bát Nương Diêu-Trì-Cung giáng cơ chỉnh văn lại, để thay thế 3 bài Dâng Tam Bửu cũ đã dùng lúc mới mở Đạo. Đồng thời Ngài cũng vâng lịnh Đức Hộ Pháp viết bài Tán tụng công đức Diêu-Trì Kim-Mẫu. Năm này, trong lúc Ngài Cao Quỳnh-Diêu còn ở phẩm Tiếp-Lễ Nhạc-Quân, Ngài viết quyển "NGHI TIẾT ĐẠI ĐÀN & TIỂU ĐÀN" với mục đích chỉnh đốn Lễ Nhạc trong các Đàn Cúng Vía Đức Chí-Tôn và các Đấng Thiêng liêng cho đúng theo qui cách tốt đẹp, đạt được sự trang nghiêm để áp dụng thống nhứt trong Đạo Cao-Đài, dâng lên Đức Hộ Pháp duyệt xét rồi chuyển qua Hội Thánh. Hội-Thánh xem xét đồng ý và Đức Quyền Giáo Tông ban hành, kể từ ngày 17-6 Canh-Ngọ (dl:12-7-1930) áp dụng thống nhứt cho tất cả các Thánh-Thất. Trong quyển "Nghi Tiết Đại Đàn & Tiểu Đàn" nầy, Ngài Tiếp-Lễ Nhạc-Quân Cao Quỳnh Diêu hiệu là Mỹ Ngọc, có viết Lời tựa như sau:

"LỄ là một việc rất trọng hệ, vì là cái hình thể của nền Đạo phô bày ra trước mặt người. Chư Đạo-hữu cần phải để công xem sóc nhắc nhở nhau mà gìn giữ tư cách trong mỗi khi hành Lễ cho trang hoàng, hầu tỏ tấc lòng thành kỉnh của mình cùng Đức Chí Tôn và chư Tiên Phật Thánh Thần, lại cũng là một phương châm về đường Phổ-độ nữa. Mỗi khi chúng ta hành Lễ, thì người ngoại Đạo sẵn ý xem vào mà phân biệt Tà Chánh một ít của nền Đạo trong đó, vì Đạo là việc nhiệm mầu huyền bí rất sâu xa, người ngoài nào thấu đặng? Duy có chăm nom cách cử chỉ của chúng ta trọng kỉnh các Đấng thế nào, thì đủ cho người vẽ ảnh Đạo ra thế nấy mà thôi.

NHẠC cũng là một việc cần yếu, vì là phương làm cho đầm ấm tao nhã cốt để dìu dẫn giúp cho thành Lễ ra vẻ long trọng, vì đã che lấp các việc xao động trong cơn hành Lễ, trên thì hiến cái vẻ tiêu tao phù trầm cho các Đấng, dưới là làm cho chúng ta, vì nghe đặng cái giọng tao nhã, nhặt khoan, hoặc có lúc vì tiếng nhạc trổi mà lòng ta vẫn hân hoan mà quên bẵng cái mỏi mệt trong cơn hành Lễ hoặc có khoản vì cái thức phù ba của giọng đờn mà làm cho ta yên tịnh, mới có thể thiền tâm vọng cầu các Đấng cho thấu đáo. Có câu phương ngôn của bậc hiền triết miền Âu châu rằng: "La musique adoucit les moeurs" lại có nói: Nếu muốn biết sự tấn hóa của một sắc dân, sau sẽ trở nên thế nào, thì duy có xem trong nét văn chương và nghe giọng Nhạc của sắc dân ấy cũng đủ hiểu trước. Huống chi Đấng Chí-Tôn ra công khó nhọc khai sáng cho ta một nền Đại-Đạo như vầy, lại dìu dẫn ta từ bước, mà ta lại chẳng để hết tâm chí chấn-chỉnh nghề Nhạc cho hoàn toàn hầu gìn giữ đường tấn hóa cho nền Đạo sao?

Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 20-4-Kỷ Tỵ (1929)
Tiếp Lễ Nhạc Quân Mỹ Ngọc

____________

Ghi chú: Đầu năm Canh Ngọ (1930), Ngài Cao Quỳnh Diêu được thăng phẩm Bảo Văn Pháp Quân chánh vị đặng chỉnh đốn Lễ Nhạc cho hoàn toàn, cho tới ngày thành Đạo.

 

5- Đức Hộ-Pháp giảng "Nhạc là Lễ, Lễ là Nhạc"

"Qua thường nói với mấy em rằng: Nếu một nền Tôn giáo mà không có LỄ, không có NHẠC thì cả cái mỹ pháp của nó, dầu Thể Pháp, Bí Pháp cũng vậy, chẳng hề khi nào đặng tốt đẹp hoàn mỹ. Qua có giảng cho mấy em biết, vì cớ nào Nhạc là Lễ, mấy em biết khuôn khổ của Nhạc do tinh thần xuất hiện, Qua chỉ rõ một bằng chứng, dầu cho cả thảy mấy em trong Nhạc-Sĩ cho tới chức lớn của Bộ Nhạc là Tiếp Lễ Nhạc Quân, mấy em cầm một cây đờn mà đờn thì không có đứa nào giống đứa nào hết, bởi cả tinh thần ra trong ngón đờn của mấy em, đó là cá nhân của mấy em đó vậy. Ấy vậy, Nhạc nó sản xuất trong tinh thần, mà tinh thần là gì? Tinh thần mới thiệt là Ðạo.

Tại sao Nhạc là Lễ? -LỄ ngoài đời mấy em ngó thấy một bằng cớ hiển nhiên, là khi mấy em đờn hòa cùng nhau, tuy ngón đờn của mấy em mỗi đứa đều khác, hay dở đặc biệt mỗi đứa đều không giống nhau, nhưng mà cái nhịp trường canh mấy Em phải theo nó mà thôi, nếu không tùng nó thì mấy Em chẳng hề khi nào hòa NHẠC cùng kẻ khác được. Ấy vậy trong khuôn khổ HÒA với nhau, ấy là LỄ. Vì cớ cho nên Qua giảng tiếp cho mấy Em hiểu, LỄ NHẠC do âm thinh đó vậy. Ngộ nghĩnh thay! Giờ phút nầy Qua cho mấy Em biết, chỉ có dân tộc Việt-Nam về văn hóa Nho-Tông của chúng ta mới có đặng một cái NHẠC là đều do nơi âm thinh và điều Qua đương nói với mấy Em, cái kinh dinh của các sắc dân trên mặt địa cầu nầy, cả các quốc dân xã hội đều nhận điều đó. Nước Trung Hoa hay các sắc dân chịu ảnh hưởng cái văn minh tối cổ của Nho-Tông chúng ta mới có NHẠC, âm thinh ấy là LỄ.

Bằng cớ hiển nhiên, chính Qua đọc một tờ nghị luận tại nơi Liên-Hiệp-Quốc, họ luận rằng: Nếu cả thảy các dân tộc nơi mặt địa cầu nầy mà đặng gìn giữ cho còn LỄ cũng như nước Tàu đã được LỄ tối cổ của họ, cả những điều nghịch hẳn cùng nhau, khởi hấn cùng nhau giữa hội nghị của Liên Hiệp Quốc chẳng hề khi nào xảy ra, nếu có xảy ra là tại họ vô lễ cùng nhau mà chớ.! Do nơi vô lễ ấy mà nhơn loại chịu thống khổ hai phen Đại-chiến hoàn cầu. Mấy Em nghĩ, họ vô lễ cùng nhau cho đến nước họ đập bàn ghế ra khỏi Hội-nghị của Quốc-tế là tại họ thiếu LỄ, mà LỄ là NHẠC. Qua lấy một bằng cớ rõ ràng, người Pháp đã nói:"La Musique Adoucit les Moeurs". NHẠC làm cho phong hóa luân lý tốt đẹp dịu dàng, mà không phải một mình nước Pháp mà thôi, cả các liệt quốc Âu Châu đều cũng nói.

Ấy vậy, giờ phút nầy Qua ký Thánh Lịnh cho mấy Em đi các nơi, cốt yếu đặng mấy Em đem cái ngôn ngữ điều hòa, lấy một ống tiêu mà Trương-Lương đã làm cho tan vỡ một đạo binh hùng tráng của Hạng Võ, đánh tan nát cơ nghiệp của Sở, thâu đạt cơ nghiệp ấy đem lại cho nhà Hớn duy có ống tiêu Trương-Lương mà thôi.Giờ phút nầy Qua giao cho mấy Em một sứ mạng làm sao cho thiên hạ nghe ống tiêu Thiêng Liêng của mấy Em đặng tinh thần nòi giống mấy Em đứng dậy định tương lai vinh-quang cho mình với cái giọng ngọt dịu của mấy Em, làm cho thiên hạ thức tỉnh, diệt tiêu bớt hung hăng bạo ngược, trái lại đem đến một con đường hòa hưỡn, cao quí, tốt đẹp, êm dịu, đem lại cái đạo đức tinh thần chiến thắng để cứu vãn sanh mạng loài người. Bởi giờ phút nầy họ đang đi đến con đường diệt vong mà chớ".

Mỗi Chức sắc và mỗi vị đều rõ biết, LỄ NHẠC là rất quan hệ và trọng yếu cho đời và cho con người, cũng chẳng khác chi món ăn và thức mặc vậy. Các Đấng Thánh nhân thời cổ tìm cái căn nguyên cao xa và tôn quí của LỄ NHẠC ở trong đạo tự nhiên của Trời Đất và cho rằng: LỄ là cái trật tự của Trời Đất, NHẠC là cái điều hòa của Trời Đất.Võ trụ nhờ có LỄ NHẠC mà tồn tại, vạn vật trong Trời Đất nhờ có LỄ NHẠC mới có trật tự phân minh, thời tiết thuận lợi, Âm Dương luân chuyển, khí tính điều hòa mà giúp cho cơ sanh hóa. Nói cách khác, LỄ NHẠC của Trời Đất tức là cách sắp đặt của Đấng Tạo hóa, làm cho vạn vật được có vị trí phân minh không sai đường, không đổi hướng: hết Xuân qua Hạ, Thu mãn kế Đông về, mưa nắng tùy theo mùa, gió sương tùy theo tiết, hết ngày tới đêm, hết tối tới sáng, nhựt nguyệt tuần tự chuyển luân, phân phối Âm Dương điều hòa, ấm lạnh thế nào cho cỏ cây được sởn sơ, mùa màng được kết quả.Cơ quan sanh hóa của người và vật nhờ đó mà tồn tại và tiếp diễn mãi. Cái trật tự và cái điều hòa làm cho vạn vật sanh tồn. Đó tức là LỄ NHẠC của Trời Đất vậy.

Thánh nhơn mới nhơn đó chế ra LỄ NHẠC để làm căn bản trong sự dạy người và trị thiên hạ, khiến người ta cư xử hành động sao cho hợp Nhơn đạo, tức là hợp với Thiên lý.Vì lẽ đó, đối với các bậc Đế Vương đời trước, LỄ và NHẠC có cái địa vị rất là trọng yếu về đường chánh trị. "LỄ tiết dân tâm, NHẠC hòa dân thạnh", là dùng Lễ để tiết chế lòng dân, dùng Nhạc để hòa thanh âm của dân.Cái hay của LỄ là làm cho có sự cung kính, giữ trật tự phân minh. Cái hay của NHẠC là tạo sự điều hòa khiến cho tâm tánh tao nhã. Nhạc và LỄ phải dung hòa với nhau thì mới được hoàn toàn, vì nếu có LỄ mà không có NHẠC thì người ta đối xử với nhau phân biệt, mất tình thân ái; còn có NHẠC mà không có LỄ thì thành ra thiếu trật tự, khinh lờn nhau.Vậy có LỄ tức phải có NHẠC để kềm chế nhau cho có điều hòa và phân biệt. Đức Khổng-Tử tin sự dùng Lễ Nhạc có công hiệu rất lớn, nên Ngài nói rằng: "Quân tử minh ư Lễ Nhạc, cử nhi thố chi nhi dĩ" có nghĩa là: người quân tử biết rõ Lễ Nhạc, chỉ đem thi thố ra là đủ. Vì Lễ thì khiến sự hành vi bên ngoài, Nhạc thì khiến tâm tình bên trong. Cái cực điểm của Nhạc là hòa, cái cực điểm của Lễ là thuận. Nếu bên trong mà tính tình điều hòa, bên ngoài sự hành vi thuận hợp nghĩa lý, thì cái tà tâm vọng niệm thế nào còn chen vào được lòng người ta nữa. Trái lại, nếu Lễ mà không kính, Nhạc mà không hòa, thì dầu bề ngoài có giữ đủ các lề lối thì cũng không có ích lợi cho sự tiến hóa của con người.

Lập nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ lúc ban sơ, Đức Chí-Tôn lấy Lễ Nhạc làm gốc. Đức Chí Tôn chỉ dạy từ bước chơn đi LỄ phải thế nào, cho tới hòa tấu những bản Nhạc nào mà thường nhắc nhở Chức sắc nếu Cúng Đàn mà Lễ Nhạc không nghiêm thì chỉ để cho tà quái xung nhập, chứ các Đấng thiêng liêng không chứng.Vậy các Chức sắc và nhơn viên trong Bộ Nhạc cũng như Bộ Lễ, nên hết lòng sốt sắng với nhiệm vụ, gắng lo trau giồi nghệ thuật cho tới chỗ tận thiện tận mỹ, để nâng cao tinh thần của nền Đạo.Nơi một Đàn cúng mà Lễ Nhạc được trang nghiêm thì Đàn cúng được bao trùm, có thể nói là một bầu quang tuyến thiêng liêng huyền diệu, khiến cho chúng ta tưởng tượng là có Đức Chí Tôn và các Đấng Tiên Phật giáng đàn để chứng kiến lòng thành của chúng ta và ban ơn cho chúng ta. Trái lại, nếu LỄ không nghiêm, NHẠC không hòa, thì Đàn cúng dường như có cái tâm trạng hỗn loạn, nô đùa, khiến người quì cúng có cái tâm trạng xao xuyến, bần thần, bất mãn. Lập Đàn cúng như vậy, chúng ta chẳng những thất lễ mà còn đắc tội với Đức Chí Tôn.

6- LỄ NHẠC LUẬN

LỄ: Trong việc lập đàn thiết Lễ, muốn tỏ lòng thành kính nên phải thiết lễ lập đàn, lập Lễ tất phải có Nhạc.

Cái sở dụng của NHẠC, LỄ là thế nào?

Lập LỄ thì phải có người Lễ Sĩ, áo mão chỉnh tề, hết lòng thành kính, hai tay nâng cúng vật lên ngang mày theo nhịp-nhàng của Âm-nhạc, từ từ điện lễ đi lên, tỏ vẻ rất là tề chỉnh, đi bộ trang nghiêm, ấy để khiến người bàng quan sanh lòng tôn kính, cho nên tinh thần LỄ là tôn kính.

NHẠC: trống, chuông, đờn, kèn, ống tiêu và nhiều thứ âm thanh khác nhau.Trống dẫn đầu khai NHẠC, trống có hai cái âm dương khởi động văn vũ, sấm động thấu suốt cùng trời đất.

Trống là sấm: Sấm CHẤN ở phương đông (là mặt nhựt) kế đến là đờn nguyệt ở phương Tây, theo nhịp sống mà khải hòa đông tây, âm dương hòa thuân).

Kế đến đờn Nhị (đàn cò), gáo, chờ ba nhịp mà cùng hòa, tức là Thủy Hỏa đồng Ký-tế, rồi đó các khí cụ khác đồng hòa theo một loạt do trống điều khiển cho đúng nhạc lý thành thuận, đồng thời dấy lên một lượt (tức đều đủ) rất là êm dịu, hòa thuận buổi lễ chen lẫn tiếng lớn, tiếng nhỏ, giọng phù trầm nghe như nhường nhịn lẫn nhau rất là hòa điệu, để cho mỗi nhạc khí thung dung phô diễn sở năng của nó, cho nên tinh thần nhạc là HÒA.

LỄ NHẠC: Nguyên ngày xưa tiền nhân đã quan sát vũ trụ nhận thức được luật vũ trụ, nhận thức được luật trật-tự và điều hòa của TRỜI, ĐẤT rồi theo đó mà chế ra LỄ NHẠC cho nên nói rằng :

- LỄ giả thiên địa chi tự

- NHẠC giả thiên địa chi hòa.

Tiền Thánh đã dụng ý chế ra LỄ NHẠC rất là hay mà cái sức mạnh tinh thần ấy có thể uyển-chuyển kích động lòng người đến chỗ cao xa, lòng Tín-ngưỡng xúc động mà hoài bão đến sự siêu thoát của tinh-thần. Cũng như sức mạnh của tinh thần ấy LỄ NHẠC có thể cảm hóa được lòng người về đường đạo đức. Kính là vâng thuận, có vâng thuận mới có hòa thuận.

Vậy LỄ NHẠC thường phải đi đôi với nhau mới có kết quả mỹ mãn.

LỄ mà không có NHẠC hay có NHẠC mà không có LỄ thì buổi lễ ấy mất tôn nghiêm hòa kính. Kính và hòa là nhơn tâm và thế sự luôn luôn phải hòa mình với nhau cùng trời đất Càn khôn vũ trụ. Nếu Kính mà không hòa phải ly tán, Hòa mà không kính thì lòng người phải loạn: như hội họp nhiều người mà không có điều lễ, biết kỉnh nhường để làm cho có trật tự trên dưới lớn nhỏ. Người lớn mà khinh thường kẻ nhỏ, hành động nói năng không lễ độ. Kẻ nhỏ mà hỗn ẩu, không kiêng nễ người lớn. Trật tự không có thì chung qui phải giải tán.

- HOÀ mà không KÍNH tức là loạn

- KÍNH mà không HÒA là phản nghịch

Than ôi! Gia đình ly tán, xã hội loạn lạc thì làm thế nào quần tụ để giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống của con người. Xem đó cũng đủ hiểu LỄ và NHẠC rất là tương quan mật thiết của người trong việc hàm dưỡng tánh lành trong đời sống của con người ở trên mặt thế này.Vậy có LỄ phải có NGHĨA mà có NGHĨA cũng phải có LỄ là trật-tự và hòa bình để dâng hiến mà hiệp cùng vũ trụ: Thiên- Địa- Nhơn nên vạn vật hóa Thuần.

7- THIỂU HỌC LÝ TÍCH CƠ NHẠC

Về cơ-nhạc xuất hiện cũng tại lý Âm Dương của trời đất mà tác thành CƠ-NHẠC, vì kể từ hỗn độn sơ khai thì nhứt Thái-Cực sanh Lưỡng-Nghi, phân Tứ-Tượng rồi biến thành Bát-Quái mà tạo thành Càn-Khôn vũ-trụ, rồi có NGŨ-HÀNH hầu hóa sanh nhơn-loại và vạn-vật. Nên vì đó mà các Đấng Tiên-Vương, kể từ Đức Phục-Hy, Thần-Nông, Huỳnh-Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, rồi tiếp nối vua Thang, vua Võ, chánh thức mở mang là Châu-Công, Khổng-Tử. Đức Phục-Hy là bậc chí Thánh, Tiền-Vương thông thiên văn, định địa-lý, tiếp xem Bát Quái Hà Đồ mà rõ việc nhiệm mầu của Đấng Tạo-Hóa, đặng thống danh chánh đạo về Bát âm, Ngũ thanh và Lục Luật cho CƠ NHẠC cổ thời sơ khai. Về Bát-Âm là Cơ-Năng của Bát Quái: CÀN, KHẢM, CẤN, CHẤN, TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI.

Ngũ thanh là cơ-năng của ngũ-hành là: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ.

a/- Lục-Luật là cơ năng của con số 12 của sanh quang khí, bậc Tiên-Vương minh định Bát âm là: Bào, Thổ, Cách, Mộc, Thạch, Kim, Ty, Trước. Thế nên các Đấng mới tạo ra ống Luật, ống Lữ, Ngọc thạch, Tỳ bà và đờn cầm, đờn sắc, các loại NHẠC này đều lượng theo thể thiên pháp địa, bốn mùa tám tiết, ngũ hành lục hiệp, quân thần tá sứ chi nghĩa, văn võ đẳng cấp chi nhân, chúng sanh hiếu hòa trung tiết đễ. Ấy là giữ phong hóa nhơn-luân cho chánh nghĩa, khai thông pháp tam-tài vậy là: THIÊN -ĐỊA - NHƠN.

Còn hiện nay Văn Bát âm là: Tam, Tiêu, Tranh, Đản, Kiềm, Tỳ, Cò, Độc.

Bát âm võ là: Bồng, trống, kèn, chiêng, tum, mỏ, đẩu, bạc. Vì có trống sơ khai nên có câu chú: "Úm ma ni bát ri hồng"

Còn câu kinh Phật-Mẫu rõ hơn:

"Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh."

Nhớ hồi Đạo Cao-Đài sơ khai, Đức Chí-Tôn dạy bậc Thiên-phong phải học NHẠC-LỄ thì Đức Hộ Pháp có ý thắc mắc bạch với ĐỨC CHÍ TÔN: Đời đã chê Âm-thanh sắc tướng sao ĐỨC CHÍ TÔN còn buộc Chức sắc học NHẠC-LỄ làm chi?

ĐỨC CHÍ TÔN dạy rằng: Trên Bạch-Ngọc-Kinh có đôi câu liễn, đặt hai bên tả, hữu:

" BÁT HỒN TƯ MẬT CA HUỲNH LÃO
" VẠN VẬT ĐỒNG THINH NIỆM CHÍ TÔN"

Từ đây về sau Đức Hộ-Pháp không còn thắc mắc nữa.

b/- Về NGŨ THANH:

Cung Thanh-Cung làm chủ cho bốn mùa: Trung ương, Mồ, Kỷ. Thổ.

Cung Thanh-Thương làm chủ ba tháng về mùa thu Tây phương: Canh, Tân, Kim.

Cung Thanh-Giốc làm chủ ba tháng về mùa xuân: Đông-phương, giáp, ất, mộc.

Cung Thanh-Chủy làm chủ ba tháng về mùa Hạ: Nam-phương, Bính, Đinh, Hỏa.

Cung Thanh-vũ làm chủ ba tháng về mùa Đông: Bắc-phương, Nhâm, Quí, Thủy.

Trong mỗi cung có một Tiên-Hoàng làm chủ:

- GIỐC Long MỘC Tiên hiệu Hoàng Bá
- CHỦY Long HỎA Tiên hiệu Hoàng-Trọng.
- THƯƠNG Long KIM Tiên hiệu Hoàng-Thúc.
- VÕ Long THỔ Tiên hiệu Hoàng-Thiếu.

Đây là NGŨ-CUNG và NGŨ-HÀNH gắn liền với Thập-Thiên-can và Thập-Nhị địa chi.

Thập-nhị Địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Kinh Phật-Mẫu hằng ngày tụng đọc rằng:

"Thập thiên can bao hàm vạn-tượng,
"Tùng địa chi hóa trưởng càn-khôn."

Ấy là tạo hóa có 10 thiên can và 12 địa chi cùng tương liên với Lục Luật và Lục Lữ mà lưu hành trong một năm được điều-hòa, nhơn-loại và vạn vật tồn sinh, tiến hóa theo luật thiên nhiên của trời đất.

c/- Về Lục căn, Lục Lữ:

Nguyên vì ống Luật và ống Lữ có 6 bậc Âm và 6 bậc Dương:

- Lục Luật về dương là: Huỳnh chung, Thái thốc, Cổ tẩy, Nhuy tân, Duy tắc, Vô dịch.

- Lục-Lữ về âm là: Đại lữ, Giáp chung, Trung lữ, Lâm chung, Nam lữ, Ưng chung.

Thành số định là 12 vì trong một năm có 12 tháng, 6 tháng thuộc Dương là lục Luật, 6 tháng Âm thuộc về lục Lữ để huân bố các khí hậu trong càn khôn vũ trụ mà trưởng-dưỡng vạn vật cho tiến-hóa lên.

Buổi cổ thời Đức Hiên-Viên dạy ông Linh-Quản đến phía Tây Chấn (đại hạ) sau núi Côn-Lôn lấy tre nơi hang Giải cốc, lấy ba lóng chia làm hai ống.

Đức Ngài dạy phân bậc, dùi lỗ rồi dạy thổi hầu khải tấu cung Huỳnh chung. Về sau các bậc Thánh Đế, kế tiếp chế ngự ra 6 ống, 12 ống và 36 ống, có ống dài, ống ngắn cắm vào trái bầu để hòa với tiếng chim phụng trống, kêu là Hoàng, thuộc dương Lục Luật, chim mái kêu là Phụng thuộc âm Lục Lữ, hầu sánh tấu cung Huỳnh chung để cầu được sự an-lành, sanh sanh hóa hóa và nhơn-tâm chẳng cho phóng-túng mà sai việc cang thường, luân-lý, đạo đức, nghĩa nhân là bẳng căn Luật Lữ, làm cho vạn pháp do theo điều hòa vạn loại trong càn khôn vũ trụ.

Trong Thánh giáo ĐỨC CHÍ TÔN dùng nhạc-lý mà dạy ĐẠO rằng:

Trong tám tiếng phân tường giai cấp,
Vọng CUNG THƯƠNG cao thấp tùy nhau.
GIỐC CHỦY võ hiệp thanh-tao,
Lục-căn Lục Lữ phân sao cho đều.

Xét lại Cơ Nhạc có căn nguyên tông tích lịch sử từ thuở sơ khai, càn khôn phân định, nguyên thủy khai hóa dục tấn nhơn-loại giữ đạo đức nghĩa nhân ghi ân-thâm từ đời Tam Hoàng Ngũ-Đế. Tuy có khoản thạnh suy nhưng không thất chánh, đến đời Châu-Công, Khổng-Tử gia tâm chỉnh-đốn hoàn bị đủ Ngũ-Kinh Tứ Truyện, đến đời Tần Thỉ-Hoàng "khanh sĩ phần-thơ" tức là đốt sách, chôn học trò nên KINH NHẠC bị mất chỉ sót còn một thiên ghép vào kinh LỄ cũng có phần giảng-giải các kinh truyện như trong bộ khai-tịch diễn nghĩa, thiên Nhạc-ký và tự-điển giải-nghĩa, thì NHẠC có lắm điều mật thiết sâu xa, đối với nhân loại và cơ nhiệm mầu của tạo hóa.

Cũng vì thời-kỳ quá ư văn-minh cực điểm, đem nhiều điều dễ theo cho nhơn loại khiến sai chơn truyền đạo nghĩa của Thánh trước Hiền xưa. Để rồi chuyên chế, khinh khi, ganh ghét, hiếp lẫn, thù hằn, chiến tranh làm cho phong di tục diệt, kinh kệ xem thường, nghĩa-nhân che lấp đạo đức, lễ-nghi âm nhạc lần lần coi là loại tình thường lệ tục. Hôm nay ĐỨC CHÍ-TÔN hoằng khai Đại-Đạo Tam kỳ Phổ-Độ là NHO TÔNG chuyển thế, Phật giáo chấn hưng, như vậy BỘ NHẠC HỘI-THÁNH rất cần, về tinh thần, hình thức, bản bài của nghệ thuật; nhạc khí, nhạc lý, nhạc điệu phải được ra vẻ là thuần-túy, hầu đáp ứng với nhơn sanh trong nền Đại-Đạo.

Nên nhớ lại lời phổ hóa của Đức Hộ-Pháp rằng: "THI THƠ, LỄ NHẠC là căn-bản chơn truyền pháp NHO TÔNG, BỘ NHẠC là của chính mình Đức Chí-Tôn đã lập với BỘ LỄ, dầu dở hay Bần-Đạo không quyền luận biện, chỉ làm theo ý muốn của Đức Chí-Tôn mà thôi". Và Ngài nói: "Dầu nước nào có văn minh cực điểm tới đâu nữa, cũng không thể cải bỏ NHẠC được. Nên có câu: "HƯNG Ư THƯ, TÁC Ư LỄ, THÀNH Ư NHẠC" ấy là lời trong NHO GIÁO vậy".

Thiểu học lý tích cơ nhạc xin vắn tắt trên đây.

Bộ nhạc, ngày 6 tháng 7 năm Quí Sửu
Chưởng quản Bộ Nhạc Trung-ương (dl: 4-8-1976)
Phó Chưởng quản Bộ Nhạc Trung ương
Nhạc sư
TRẦN-VĂN-NIỆM

_____________
Phê kiến:
Nhạc Sư: VÕ THÀNH TƯƠI

 

Tóm lại: Dầu nước văn minh nào ở trên mặt địa cầu này cũng không thể bãi bỏ NHẠC được". (Ðức Hộ Pháp)

Ấy vậy, mình phải biết NHẠC. Khi nào cầm cây đờn, năm mười cây hòa lại có một giọng thì tức nhiên CHỮ HÒA do nơi NHẠC mà sanh ra vậy". (Ðức Hộ Pháp)

 

8- Nguồn gốc Đạo học của Lễ Nhạc:

LỄ NHẠC sản-xuất do nơi Huỳnh-Đế với Châu Công. Thế nên Đạo Cao-Đài ngày nay Đức Chí-Tôn lập ba ban: Lễ, Nhạc, Đồng-nhi cốt lấy chữ hòa làm gốc, cũng là pháp qui Tam-bửu qua hình-thức:

- Lễ thuộc về TINH để thể hiện chữ tâm.

- Đồng-nhi đọc kinh hòa giọng là KHÍ.

- Nhạc là THẦN. Nói chung đây là hồn Đạo. Do vậy mà Thể-pháp là tượng hình của Bí-pháp, phải chỉnh-đốn các thức lệ cúng kính, không được chế cải.

9- Đức Chí-Tôn mở Đạo dùng cả Âm, thinh, sắc, tướng, để cảm hóa nhân-tâm không gì bằng Âm-nhạc

Ngày nay, Đức Chí-Tôn mở Đạo dùng cả Âm, thinh, sắc, tướng, để cảm hóa nhân-tâm không gì bằng Âm-nhạc. Lại nữa linh-hồn của Đạo phải kể đến: Nhạc, Lễ và Đồng-nhi, tức là hồn của thi thơ đó vậy. Lời tựa trong kinh Thi đã diễn-tả được tinh-thần ấy: "Khi hoài-bão còn ở trong tâm của người là Chí, phát ra lời là Thi. Tình động ở trong mà diễn ra bằng lời, lời thấy chưa đủ thì ta ta-thán. Ta-thán thấy chưa đủ, thì ta ca vịnh. Ca vịnh thấy chưa đủ, thì bất-giác tay ta múa, chơn ta nhảy. Tình cũng phát-động ở trong mà diễn ra bằng âm thanh. Âm-thanh thành bài gọi là âm-nhạc: Nước trị thì âm-nhạc yên và vui, chánh-trị được điều-hòa. Nước loạn thì âm-nhạc oán và nộ, chánh-trị bị ngang trái, Nước mất thì âm-nhạc buồn và rầu, dân-tình khốn đốn. Bởi vậy, chính-đính còn hay mất, làm động đến thiên địa, cảm đến quỉ thần, không gì bằng Kinh Thi".

Từ khi mới mở Đạo, Đức Hộ-Pháp đã chú-ý đào luyện cho bộ Nhạc về môn Âm-nhạc cổ-truyền, Đức Ngài ban Thánh lịnh cho Chức-sắc Bộ Nhạc để đi hành Đạo địa-phương và giải thích về giá-trị cần-thiết của Nhạc.

"Qua lấy một bằng cớ rõ-ràng, người Pháp đã nói: "La Musique adoucit les Moeurs". Nhạc làm cho phong-hóa, luân lý tốt đẹp dịu-dàng, mà không phải một mình nước Pháp mà thôi, mà các liệt quốc Âu-Châu đều cũng nói.

Nhạc là cái gì đặt bên trên âm-thanh.

Thanh là một tiếng kêu nào bất cứ. Khi tiếng kêu đó có văn-vẻ, tiết-điệu thì gọi là Âm . Khi âm đó đưa tới Đức gọi là Nhạc."Thanh văn chi vị âm, đức âm chi vị nhạc" .

Con vật mới biết thanh mà chưa biết âm (tạm nói theo thông lệ). Người thường chỉ biết âm mà chưa biết nhạc. Chỉ có bậc quân-tử mới biết được Nhạc tức là cái đức của âm-thanh. Cái Đức đó là Hoà."Nhạc dữ thiên địa đồng hoà" 樂與天地同和 Cái chính cốt của Nhạc là ở chỗ Hoà với thiên-điạ. Muốn cho "chí đức" "chí Hoà" thì phải thấu triệt cả cái hoà hàng ngang cũng như hoà hàng dọc. Chính là chữ thập đó vậy.

10- Hai câu liễn về Lễ Nhạc:

Hai câu liễn về LỄ NHẠC đã minh định tôn chỉ và lập trường của LỄ NHẠC quan trọng đến mức độ nào rồi.!

LỄ xuất phát từ nơi cõi trần này để làm sáng tỏ đức độ của con người phải biết tôn trọng sự trật tự, lớn nhỏ phân minh.

NHẠC do thiên nhiên tác động để truyền bá rộng rải khắp toàn cầu với mục đích duy nhất là sự điều hòa.

-

LỄ dĩ Địa trần minh định nhơn gian tôn trật tự.

-

NHẠC do Thiên tác tuyên thông thế giới chủ Điều Hoà.

調

Ngày nay Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài lấy NHO TÔNG chuyển thế mà Đạo Nho lấy LỄ NHẠC làm trọng yếu.Thế nên ba ban LỄ, NHẠC, ĐỒNG NHI là bộ phận chủ yếu của NHẠC Đại-Đạo ngày nay.

11- Những âm-thanh trong vũ-trụ tạo thành Tam-bửu của Nhạc:

Cái vi-diệu của Nhạc là HÒA. Cái gốc hòa phát nguyên từ trời, đất và người, gọi là Thiên, địa, nhân làm cái gốc của vạn-vật: Trời sinh ra vạn-vật, Đất nuôi vạn-vật, Người làm thành vạn-vật.Người cảm-thông cái nghĩa của đất trời mà lý hội:

* Trời sinh ra vạn-vật bằng hiếu đễ.
* Đất nuôi vạn-vật dưới hình-thức ăn uống.
* Người hoàn-thành bằng LỄ NHẠC.

Tuy nhiên làm sao thấy được nhạc? - Vì nó từ trong lòng vũ-trụ, Từ trong lòng vạn-vật, Từ trong lòng mọi người. Nếu cả tiếng côn-trùng không tấu lên làm sao nghe được âm-thanh rộn rã. Tiếng gió không khua động cành lá làm sao nghe được rì rào? Lòng người không cảm hoài, vui buồn ai-oán thì làm sao có được khúc nhạc lòng. Tất cả hòa thành Nhạc của vũ-trụ vạn vật. Nếu được tinh-ba chắc lọc hòa-đồng với vũ-trụ sẽ thành Thiên thiều. Sự tinh-ba đó là điều-hòa nên mới sinh ra Lễ tức là trật-tự, ngăn-nắp, khiêm-cung, hòa-ái.

LỄ NHẠC là hai điều trọng-hệ của Đức Chí-Tôn. Khi Ngài đến vẫn chú-ý đến hai điều ấy. Thầy nhấn mạnh: "Nhạc Lễ là pháp nhà Nam. Thầy muốn giữ-gìn sao cho được trọn vẹn, các con hiểu?"

12- NGUỒN GỐC Thần bí của LỄ NHẠC:

Theo quan-niệm cổ-nhân dù ĐÔNG hay TÂY thì NHẠC cũng có một nguồn gốc rất thần-bí. Người Ấn-Độ cho rằng NHẠC do vị Nữ Thần Saraswati, con gái của thần sáng tạo vũ trụ Brahmâ chế tạo ra, còn các raga (điệu nhạc) chánh thì do thần Mahadev và vợ là Nữ-Thần Parviti sáng tạo. Người Ấn-Độ lại còn tin rằng điệu raga megh là điệu nhạc thuộc hành thủy khi nào hát lên thì trời mưa nên trong những năm hạn hán, họ thường thỉnh cầu các ca sĩ danh tiếng đàn hát lên điệu nhạc ấy để cầu mưa. Đối với dân Trung Hoa thì NHẠC do các vị Thánh vương chế tạo ra khi nghe tiếng chim phụng, chim loan, tiếng sấm. Người đầu tiên làm việc ấy chính là vua Phục Hi, nghe tiếng chim phụng kêu Ngài đã làm ống tiêu bằng trúc theo hình chim phụng. Khi thổi lên, ống tiêu phát ra những âm thanh giống như tiếng hót của chim phụng. Đến đời Hoàng Đế, nhà vua đã chế ra một loại ống thổi gọi là kèn dốc mà khi âm thanh phát ra thì tạo thành thanh "GIỐC" giống như tiếng hai con chim phụng cùng kêu lên hay hai con rồng cùng ngâm lên. Theo Đức KHỔNG TỬ thì NHẠC do âm sinh ra "Nhạc giả âm chi sở do sinh dã". Mà ÂM có năm bậc: CUNG, THƯƠNG, GIỐC, CHỦY, VŨ. Vả lại NHẠC có một nghĩa rất rộng gồm cả đàn, hát, văn thơ, chuông trống.

13- SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA LỄ VÀ NHẠC

Như vậy chủ đích của NHẠC cũng tương tự như chủ đích của LỄ là vừa tiết-chế tánh-tình mà cũng vừa hàm-dưỡng nó, nghĩa là vừa bắt buộc tính-tình phải tuân theo qui-luật vừa bồi dưỡng để nhân-tính càng ngày càng phát triển hầu tiến đến chỗ chí-thiện. Trong thiên NHẠC-KÝ (sách Lễ ký) chép rằng:

"Người ta sinh ra vốn tĩnh, đó là tính Trời, cảm với vật ở ngoài mà động là cái muốn của tính. Vật đến thì cái biết của mình biết, nhiên-hậu cái ưa, cái ghét mới hình ra. Cái ưa cái ghét mà không được tiết-chế ở trong, cái biết của mình bị ngoại vật dẫn dụ, cứ thế mà không nghĩ lại thì thiên-lý tiêu-diệt vậy."

Xem thế, ngoại vật có thể làm mất cái thiên-tính của người ta đi, bởi vì: Cái thường tình của hạng người trung-nhân hễ có thừa thì xa-xỉ, không đủ thì bỏn xẻn, không ngăn cấm thì dâm đảng, không theo tiết độ thì sai lầm, buông thả lòng dục thì hư-hỏng. Cho nên ăn uống phải có hạn-lượng, y phục phải có tiết chế, cửa nhà phải có pháp độ, súc tụ phải có số thường, xe cộ và đồ dùng phải có hạn-chế, đó là đề phòng cái nguồn loạn vậy", vì lẽ đó nên mới "theo thường tình của người ta mà đặt ra LỄ để ngăn giữ người ta khỏi làm bậy". Như vậy thì "LỄ tiết chế cái tình, cấm sự loạn sinh ra cũng như bờ đê giữ nước khỏi tràn và nếu nói rằng đê cũ không dùng chi mà phá nó đi thì sẽ bị nước tràn ngập, nói LỄ cũ không dùng đi mà bỏ nó đi thì ắt có rối loạn."

Nếu LỄ đã đủ cái chủ-đích như thế nào thì NHẠC cũng được cổ-nhân đặt ra với chủ-đích như thế ấy hay nói khác đi LỄ-NHẠC được các Thánh-Nhân tạo ra là để chế ngự-tình người mà nếu bỏ đi thì lấy gì đè-nén dục-vọng xấu-xa nữa. Sách LỄ-KÝ viết rằng:"Ngoại vật khiến người cảm-xúc không cùng, vậy thì cái ưa cái ghét của người mà không được tiết chế thì khi vật đến người bị cảm mà hóa theo giống như điều mình ưa muốn. Người mà hóa theo giống như vật mình ưa muốn thì thiên-lý Trời phú cho sẽ bị tiêu diệt và có thể thực hành tất-cả những cái dục-vọng xấu xa. Đã như thế ắt có cái tâm bội nghịch, trá ngụy, có những hành vi dâm dật, tác loạn. Vì đó mới sinh ra những việc kẻ mạnh hiếp người yếu, số đông tàn-bạo với số ít, kẻ có trí thì lừa dối người ngu, kẻ can đảm làm khổ kẻ nhát gan rồi kẻ đau ốm không được nuôi dưỡng, người già, con trẻ, kẻ cô độc không được an thân, ấy là cái đường đi tới đại-loạn vậy. Vì thế mà Tiên-Vương chế ra LỄ NHẠC để tiết chế cái tình của người: "Dây rơm, mũ mấn, khóc lóc là để điều chỉnh lễ tang, chiêng trống, đồ dùng, ca vũ là để định cái giới-hạn cho sự biểu-lộ cái tình trong những lúc vui-vẻ; lễ cưới, lễ quan (lễ đội mũ), lễ cài trâm là để phân biệt con trai, con gái, tiệc liên hoan, giỗ chạp là để làm cho sự giao tiếp giữa các hạng người được thích đáng, đứng đắn.

14- NGHI THỨC CHỈNH ĐỐN LÒNG NGƯỜI TRƯỚC ĐÃ

LỄ là những phép tắc qui củ được đặt ra hay là tập quán của xã hội. Nghĩa rộng Lễ còn là quyền chính của nhà vua cùng cách tiết chế của nhân dân và cả những việc thích-hợp với cái lẽ công chính-đính của đạo-lý và lẽ thích-nghi của sự-lý.

LỄ còn là cái thực của Nghĩa. Lễ tự đối với từng người là những qui củ đặt ra buộc thân-xác phải theo để tới mục-đích chính-đính và bền-bĩ của mình. Lễ còn là những cái tự khắc phục chính thân mình để khỏi ra ngoài tập-quán của cái Lễ thi hành, để hàm-dưỡng cái tính-tình của đồng-loại, giữ mực trung mà xử-kỷ tiếp-vật, tức là tự xử với mình và tiếp người vậy. Thế nên, Thánh-nhân mới đặt ra Lễ để ngăn giữ cái tình cảm của người ta cho có chừng mực, không nên có lúc thái-quá, lại có khi bất-cập. Khổng-Tử nói rằng: "Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tứ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo." Nghĩa là: Cung kính không có Lễ thì nhọc, cẩn thận không có lễ thì khiếp sợ, Dũng mà không có lễ thì loạn. Tính thẳng mà không Lễ thì ngang-ngạnh, nên kẻ vũ-dũng mà không có Lễ ắt là kẻ vũ-phu mà làm loạn. Trong cuộc mạnh lớn mà không có Lễ thì ắt lắm điều càn bậy nên người Quân-tử coi cuộc mạnh mẽ to lớn mà không phải Lễ thì không bước chân vào vậy.

Phu-Tử lại nói rằng: "Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động.".Tức nhiên: không phải Lễ chớ trông, không phải Lễ chớ nghe, không phải Lễ chớ nói, không phải Lễ chớ động. Như ở đây nói rõ là: Không phải Lễ chớ bước vào. Người Quân-tử trong lúc thời mình đang mạnh-mẽ lớn-lao như vậy, tài đức lớn lao thì tới đâu hay thi-hành gì ai mà chẳng phục, chẳng hanh-thông? Những nơi không phải Lễ thì không bước chân vào. Trong cuộc Đời, người Quân-tử xử kỷ, tiếp-vật như vậy tỏ rõ là có một nghị-lực tự-chủ mạnh-mẽ to lớn biết là dường nào! Có thể ngăn-cản ép mình theo ý muốn của mình mà không bao giờ phóng đãng theo vật-dục. Như những kẻ vũ-phu có cái lực năng cử đỉnh, sức đánh muôn người, ra trận thì bách chiến bách thắng mà tâm mình vẫn chưa được chính. Như Nã-phá-Luân cứng mạnh thế mà cũng thành mềm-yếu bên cạnh nàng Joséphine. Trụ-vương sức địch muôn người mà cái trí chỉ xiêu về với nàng Đắc-Kỷ. Thử hỏi lỗi ấy do ai? Do nàng Joséphine chăng? Do nàng Đắc-Kỷ chăng? Ngẫm cũng buồn cười: Người ta đẹp, người ta quyến rũ với sắc nước hương trời ấy thì mặc người ta, can chi tới mình, mà đắm, mà lụy rồi đổ cho tại "Đàn bà"! Chỉ có thắng mình không được mà tự làm lụy cho mình, mà làm cho "Ngửa nghiệng chín bệ, gập-ghình ba châu" là tại các Ông chứ sao lại đổ là tại Đàn bà đẹp? Cái vũ-dũng của những đấng nhân-quân đó cũng chỉ là những sức mạnh đè-ép được người mà chưa có thể tự đè ép được mình, cho nên mới bị cái nạn vong-quốc. Cái sức mạnh to lớn không chính-đính có thể mất được mà cái trí óc của đứa thất-phu khó lòng cướp nỗi. Cho nên cái trí của đấng Quân-tử to-lớn mạnh-mẽ lắm thay, không cần trị người mà tự trị mình được thì ắt người phải trị được. Ôi! những lời răn của Thánh nhân cao xa lắm thay! Khổng-tử nói rằng: "Tam quân khả đoạt Suý dã, xất-phu bất khả đoạt trí dã" Luận-ngữ: Tử-hãn IV. Nghĩa là có thể bắt được Tướng suý trong đám ba quân, mà không thể cướp được cái trí của đứa thất-phu. Ở đời chẳng gì mạnh mà to bằng cái Trí, chẳng gì giàu-có hơn cái Trí. Người biết luyện cái Trí có thể tự khắc kỷ, đó là bậc Đại tướng đại-tài mạnh mẽ như Trời-đất, giàu có hơn bốn bể.

Đạo Cao-Đài chỉ một câu là đủ: "Ngũ nguyện Thánh Thất an ninh" tức nhiên chính mình phải tự an cái tâm của mình làm Chủ cái tánh của mình.

 

 

LỄ NHẠC CỦA TRỜI ĐẤT

Đức Thượng Sanh ban Huấn dụ: "Các Đấng Thánh nhân thời cổ tìm cái căn nguyên cao xa và tôn quí của LỄ NHẠC ở trong đạo tự nhiên của Trời Đất và cho rằng: LỄ là cái trật tự của Trời Đất, NHẠC là cái điều hòa của Trời Đất. Võ trụ nhờ có LỄ NHẠC mà tồn tại, vạn vật trong Trời Đất nhờ có LỄ NHẠC mới có trật tự phân minh, thời tiết thuận lợi, Âm Dương luân chuyển, khí tính điều hòa mà giúp cho cơ sanh hóa.

Nói cách khác, LỄ NHẠC của Trời Đất tức là cách sắp đặt của Đấng Tạo hóa, làm cho vạn vật được có vị trí phân minh không sai đường, không đổi hướng: hết Xuân qua Hạ, Thu mãn kế Đông về, mưa nắng tùy theo mùa, gió sương tùy theo tiết, hết ngày tới đêm, hết tối tới sáng, nhựt nguyệt tuần tự chuyển luân, phân phối Âm Dương điều hòa, ấm lạnh thế nào cho cỏ cây được sởn sơ, mùa màng được kết quả.

Cơ quan sanh hóa của người và vật nhờ đó mà tồn tại và tiếp diễn mãi. Cái trật tự và cái điều hòa làm cho vạn vật sanh tồn. Đó tức là LỄ NHẠC của Trời Đất vậy."

 

 

LỄ NHẠC ĐƯỜNG

Ông Cao Quỳnh Diêu nói: 01-8-Nhâm Thìn (dl 19-9-1952)

"Trong khi ra ngoài tương tiếp với nhơn quần xã hội, đáng mặt một học sinh nơi Lễ Nhạc Đường của Đại Đạo, vì Lễ Nhạc là hai quan điểm đặc sắc của Nho Tông để đoạt phép điều hòa nâng cao hồn nước. Chư vị phải để ý cẩn thận về đó cho lắm mới khỏi hổ lòng với lời Thánh giáo của các Đấng thiêng liêng đã dạy câu: Nho tông chuyển thế nơi cửa Đại Đạo".

 

 

LỄ NHẠC VIỆN

Điều thứ 3: Tiếp Lễ Nhạc Quân được phép giữ tài chánh của Lễ Nhạc Viện và cầm sổ sách thâu xuất cho phân minh mọi khoản. Sổ nầy mỗi cuối tháng phải có Phụ Thống Lễ Viện Hành Chánh và Lễ Viện Phước Thiện chấp thuận và ký tên mới đủ lẽ.

 

 

LỄ KHAI ĐẠO

Đến ngày 14 tháng 10 Bính Dần, nhằm ngày 18-11-1926, Ðức Chí Tôn dạy thiết Ðại Lễ Khai Ðạo chánh thức tại Từ-Lâm-Tự tỉnh Tây-Ninh, đồng thời Ðức Chí-Tôn lập Pháp Chánh-Truyền phong vị cho Chức-Sắc Hiệp-Thiên Ðài, Cửu Trùng-Ðài và Ðức Chí-Tôn dạy nhóm Hội Thánh lập Luật, vậy sau ba tháng Ðại-Hội, Ðạo đã có Pháp, có Luật thì nghiễm nhiên Ðạo thành một nền Tôn Giáo danh gọi là Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ.

 

 

LỄ PHÁP

"Theo Lễ pháp thì Lễ sĩ phải thấu hiểu rằng: Lễ đã dạy kỹ, bước bằng chữ Tâm tức là giữ trọn tấm lòng thành, đi đứng có mực thước, tùy theo nhạc chầu 7 lá phách mới bước vào một bước, ấy là trạng thái bước LỄ đi đứng có vẻ tề chỉnh, còn hiến dâng Tam bửu: Bông, Rượu, Trà, tức là tạm dùng ba món để thể hình: Tinh- Khí- Thần, nghĩa là chúng ta hiến lễ cho Đấng Chí-Tôn với tấm lòng chí thành thường chứa ba tôn chỉ của Tam giáo là: Bác ái, Công bình và Điều hòa, tương tự như nơi cơ bí truyền có thể hình Tam giác đóng khuôn bao quanh lương tâm (huệ nhãn). Tóm tắt cả ý nghĩa là trong mỗi cuộc Lễ hiến cho Đức Chí-Tôn hoặc các Đấng thiêng-liêng hay là các bậc Tiền Hiền đã quá vãng, cả hành vi của mấy em Lễ sĩ và Nhạc sĩ biểu diễn vốn để tượng trưng cái phép cư xử theo LỄ cho nhơn loại dõi chước. Nếu muốn yên vui với nhau nơi cõi tạm nầy, nhơn loại cần phải cộng sự với nhau bằng tấm lòng thành thật, tâm hằng giữ vững ba món báu là: 1-Yêu đương với nhau. 2- Đoan chánh với nhau. 3- Hòa nhã với nhau; hầu được tránh khỏi mọi nỗi sai lầm với nhau trong bước đường đời. Ấy là đúng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn, vì Chí Tôn đã có dạy chúng ta nhiều lần với câu Thánh giáo nầy: "Chẳng cần chi hơn là Thầy thấy các con để tâm hòa nhã với nhau. Đó mới thật là Lễ long trọng các con hiến cho Thầy". Mà đó cũng là ba tôn chỉ của Nho- Thích - Đạo".

 

 

LỄ PHÉP

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

Người phải thương nhau như con một cha. Cả hoàn cầu là đại chánh chung cả nhơn loại, không hại lẫn nhau, lấy lễ phép mà giao thiệp cùng nhau, lấy công bình mà đối đãi cùng nhau. Lo cho Ðạo hữu trong nền Ðạo có cơ sở làm ăn, biết làm lành là quí.

Que l'humanité soit une, une comme race, une comme religion, une comme penseé (nhân loại chỉ có Một: một nòi giống, một tôn giáo, một tư tưởng)

Ấy là cuộc sửa đời lập Tân Thế Giái (Ere nouvelle) của Ðại Từ Phụ đã tuyên ngôn từ buổi khai Ðạo.

Thầy dạy: "Thầy khuyên kẻ cầu Đạo hầu đàn ngày mai. Bữa nay, Thầy phạt chẳng cho ai xin chi hết đặng cho biết lễ phép chút đỉnh."

 

 

LỄ SANH (Phẩm)

Đức Thượng Đế giáng tại Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh) Thứ bảy: 20-11-1926 (âl: 16-10-Bính Dần) lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái, lần lượt các phẩm, là:

Pháp Chánh Truyền: "LỄ SANH là người có hạnh, lựa chọn trong chư Môn đệ mà hành lễ". - Chú Giải: "Thầy đã nói Lễ Sanh thì phải lựa chọn người có hạnh hơn hết trong chư Môn Ðệ của Thầy, ắt buộc phải hạnh nết hoàn toàn, huống chi phải vào bực Lễ Sanh mới mong bước qua hàng Chức Sắc, thì Lễ Sanh tất phải là người xứng đáng, có đủ tư cách, học thức mà làm một vị Chức Sắc Thiên Phong ngày sau. Tuy vẫn đã biết, lúc Thầy lập Pháp Chánh Truyền, thì Thầy dạy hành lễ dường ấy mặc dầu, là bởi lễ nghi phong hóa nhà Nam ta buộc phải vậy, chớ Lễ Sanh mà đối chức "Anh" ( Frère) của Thánh Giáo, thì phận sự cao trọng của Chức Sắc ấy là dường nào! Sau đây buộc Lễ Sanh phải có cấp bằng nơi trường Ðạo, mới mong dự cử vào địa vị ấy. Vậy thì Lễ Sanh là người thay mặt cho Giáo Hữu, khi Giáo Hữu vắng mặt, mà hành lễ cúng tế Thầy, song phải tùng quyền Giáo Hữu mà hành sự (1).

Pháp Chánh Truyền: "Chúng nó đặng đi khai đàn cho mỗi Tín Ðồ". - Chú Giải: Lễ Sanh phải đi thăm viếng các nhà Ðạo Hữu, thượng tượng khai đàn; dạy cho biết lễ nghi cúng tế Thầy, thay quyền cho Giáo Hữu. Như ngày kia Ðạo đã xuất dương ra ngoại quốc thì sẽ có nhiều dân tộc chẳng có thể thờ phượng như Nam, phận sự của Lễ Sanh đây mới ra sao? Tưởng chẳng chi khác hơn là đổi ra phần thăm viếng Tín Ðồ, an ủi, dạy dỗ chăm nom dìu dắt trong đường Ðạo cũng như đường Ðời, thay quyền cho Giáo Hữu.

Pháp Chánh Truyền: "Thầy dặn các con rằng: Lễ Sanh là người Thầy yêu mến, chẳng nên hiếp đáp chúng nó". - Chú Giải: Thấy lòng bác ái của Thầy bắt động lòng, vì Thầy đã biết rằng Lễ Sanh phải chịu tùng phục dưới quyền người sai khiến, nên phải có hạnh đức, mới biết an phận mình, mà chịu phần lòn cúi, quật hạ đặng. Thầy lại để lời dặn rằng: "Lễ Sanh là người yêu mến của Thầy", ấy là Thánh ý muốn không cho kẻ bề trên lấy quyền hiếp em dưới.

Pháp Chánh Truyền: "Như đặng hàng Lễ Sanh mới mong bước qua được hàng Chức Sắc". - Chú Giải: Câu nầy trên đã giải rõ, nên chẳng cần lập lại, nhưng phải nhắc rằng Lễ Sanh, hoặc đặng đắc cử hay là có khoa mục mới đạt vị.

Pháp Chánh Truyền: Kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới qua khỏi ngã ấy mà thôi, "nghe à!" -Chú Giải: Phải có cấp bằng Lễ Sanh mới vào hàng Giáo Hữu đặng, kỳ dư Thầy giáng cơ phong thưởng riêng, mới qua đặng Pháp Chánh Truyền, Thầy quyết định với tiếng "nghe à!" xin khá để ý (2).

Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ cả Lễ Sanh xúm nhau công cử.

LỄ SANH (Elève Prêtre) Thánh Giáo của Ðức CHÍ TÔN nói rằng: "Lễ Sanh là đứa có hạnh trong con cái của Thầy lựa chọn, để hiến lễ trọng cho Thầy". Lễ Sanh là người có hạnh kiểm tốt, được quyền đi khai đàn cho mỗi Tín Đồ, đứng vào hàng Thiên Thần. Nhờ ơn Ðức LÝ GIÁO TÔNG định cho, theo Ðạo Nghị Ðịnh thứ ba, điều thứ hai cho Lễ Sanh được cầm quyền Hành Chánh một Tộc Ðạo. Số Lễ Sanh không có giới định, bao nhiêu cũng được. Phải vào hàng Lễ Sanh mới mong nhập vào Thánh Thể của Ðức CHÍ TÔN được.

Phẩm Lễ Sanh chưa được vào hàng Chức sắc, chỉ là người có hạnh đức dùng vào việc Lễ nghi. Ngày xưa dùng phẩm Lễ sanh này là người dâng Lễ (nay đổi ra là Lễ Sĩ). Tôn chỉ của Đại Đạo Tam Kỳ là Phổ Độ, thế nên quyền Chí Tôn hữu hình tại thế là khi nào Giáo Tông hiệp cùng Hộ-Pháp làm một. Từ khi Đức Lý Giáo Tông hiệp với Đức Hộ-Pháp mới lập thêm Bàn Trị sự gọi là Hội Thánh Em, do vậy mà phẩm Lễ Sanh mới được nâng lên hàng Chức sắc, có trách nhiệm thuyên bổ, đảm trách vụ đặc sứ, sau này Cai quản Tộc Đạo nên còn là Đầu-Tộc Đạo.

Số Lễ Sanh thì hằng hà, bao nhiêu cũng đặng, cũng chia ra 3 Phái: Thái, Thượng, Ngọc. Thảng như có một vị Giáo Hữu Phái Thái qui liễu, tất cả Lễ Sanh xúm nhau công cử một vị Phái Thái đặng thay thế, mà chỉ chọn một người của Phái Thái thôi, còn hai Phái kia còn chờ đợi.

Đức Lý dạy: "Những vị Lễ Sanh tân phong, ta cũng nên rộng ân phong thưởng, nhưng mà ra lịnh cho ba vị Quyền Chánh Phối Sư xem xét lại hồ sở kỹ lưỡng đặng bôi xóa những vị mới phạm tội, còn những vị không phổ tế, không giáo đạo thì nên đình đãi lại. Khi chỉnh đốn xong, cầu Lão đến định phái".

"Hộ Pháp, hiền hữu nghe Lão: Hiền hữu nhớ rằng Chí Tôn chỉ có lập Hội Thánh chớ không có lập Thế đạo. Hiền hữu nhớ rằng Lễ Sanh là tín đồ để hành lễ mà thôi. Bởi chúng ta muốn nền Đạo đủ Thiên đạo và Thế đạo, nên Lão xin cùng Hiền hữu, buổi nọ lập nên Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự, rồi lại đem phẩm Lễ Sanh vào hàng Chức sắc làm đầu nhơn sanh trong Quyền Vạn Linh đã lập.

Hiền hữu có nghĩ vì tại sao Lão phải dâng quyền Giáo Tông cho Hiền hữu, đặng có trọn quyền Chí Tôn hữu hình tại thế chăng?

Hộ Pháp: Xin Ngài dạy rõ.

- Cười!... Thì cũng do lòng từ bi vô tận của Đại Từ Phụ lo cho con cái của Người, chỉ sợ cái oai của Lão, vì còn cầm quyền thiêng liêng mối Đạo quá chấp nê, tánh không dung thứ tội tình con cái của Người nên phú giao cho Hiền hữu, là bạn đồng sanh biết đau đớn, biết khổ cực với mảnh thi phàm mà rộng dung cho họ.

Cười!... Quyền Chí Tôn trong tay Hiền hữu thì cứ tự dụng đặng định vị cho Thánh thể của Người, Lão chẳng nên can thiệp vào đó. Nầy hiền hữu, Lão nói thử: Hiền hữu nghĩ coi có lẽ nào Lão cầm cơ thăng vị cho những người như: Kiên, Chẩn, Thạch, Dược.

Cười... Hiền hữu tự mình định liệu lấy. Nếu cần, phò loan nơi Giáo Tông Đường, Lão sẽ đến bàn luận".

_______________________

Chú thích (1) Luật cầu phong áp dụng từ hàng Lễ Sanh, những người dự sổ cầu phong phải là Chánh Trị Sự có 5 năm công nghiệp đầy đủ và tròn trách nhiệm. Một đôi khi có lịnh ân xá cho những Phó Trị Sự hoặc Thông Sự lâu năm được đem tên vào sổ cầu phong. Ðạo hữu có công nghiệp phi thường cũng được dự sổ cầu phong. Và Chức Sắc Ban Thế Ðạo từ phẩm Hiền Tài được cầu ân phong vào phẩm Giáo Hữu đổ lên. Ngoài ra mọi người đều phải đi qua mặt luật Chánh Trị Sự 5 năm cả.

(2) Quyền CHÍ TÔN ân tứ cho các Chi Phái gia nhập về Hội Thánh và do theo công nghiệp phi thường của họ.

Cho nên theo Thể Pháp, phẩm vị tại thế nầy đối với phẩm vị Thiêng Liêng trong Cửu Phẩm Thần Tiên.

(1) Nhiều khi chư Hiền Hữu lạm dụng danh Lễ Sanh mà cho kẻ hiến lễ làm cho mất thể diện của vị Thiên phong. Vậy Lão đặt tên cho kẻ hiến lễ ấy là Lễ Sĩ.

 

 

LỄ SĨ


E: Student priest.
F: Elève prêtre.

Lễ Sĩ (Elève Prêtre) thường gọi là học trò Lễ.

Vào buổi đầu khai Đạo thì Lễ Sanh là người giữ phận sự điện lễ. Ðiện lễ là hai tay cung lên, bưng phẩm vật đem từ ngoại nghi vào nội nghi, bước đi theo hình chữ Tâm trao cho Chức sắc quì tại Nội nghi hiến lễ lên Ðức Chí Tôn. Lễ sanh, ở đây không phải là phẩm vị Chức sắc, mà là người xướng lễ và điện lễ, nên sau nầy, Đức Lý Thái Bạch đổi lại gọi các vị ấy là Lễ sĩ cho phân biệt. Ngài nói: "Nhiều khi chư Hiền Hữu lạm dụng danh Lễ Sanh mà cho kẻ hiến lễ làm cho mất thể diện của vị Thiên phong. Vậy Lão đặt tên cho kẻ hiến lễ ấy là Lễ Sĩ".

Lễ Sĩ: do nơi Sắc Lịnh số 51 đề ngày 9 tháng 11 năm Bính Tý (22 12 1936) năm thứ 10 (*), Lễ Sĩ trọn hiến thân và có cấp bằng của Hội Thánh, cứ đủ 5 năm công nghiệp thì đặng thăng thưởng Lễ Sanh, khỏi phải đem ra quyền Vạn Linh công nhận.

Đức Cao-Đài dạy: 16-6-Bính Dần (Dimanche 25 Juillet 1926)

"Mấy đứa Lễ Sanh cốt để sắp đặt sự nghiêm trang trong đàn cầu Thầy, chớ chẳng phải duy để đi Lễ mà thôi, mỗi Đại Đàn phải đủ mặt; chúng nó phải ăn mặc trang hoàng: hai đứa trước, hai đứa sau xem sắp đặt sự thanh tịnh. Thầy dặn các con như đàn nội chẳng nghiêm Thầy không giáng, ba con nhớ nghe!". Nay phân biệt:

- Lễ sĩ là người hiến lễ, học trò lễ.

- Lễ Sanh là phẩm vị Chức sắc dưới Giáo Hữu.

Thầy dạy buổi đầu: "Lịch, hiểu à! Khi hành Đại lễ cho Thầy rồi thì Lễ sanh (1) xướng: "Thiên phong quán tẩy". Cả thảy đều ra rửa mặt mày cho tinh sạch. Chừng xướng: "Chỉnh túc y quan" thì cả thảy phải thay Thiên phục.

Lễ sanh xướng: "Lập vị" thì đứng theo hàng ngũ cũ như trước. Hành lễ y như tại chùa Vĩnh Nguyên Tự nghe Lịch".

 

Văn phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Nội Chánh

(Ngũ Thập lục niên)

____

Tòa Thánh - Tây Ninh

Số 21/SL

_________________________

SẮC LỊNH

 

Nghĩ vì Tân Kinh là Kinh tận độ đã ra, nên cần nhứt là phải có Lễ Sĩ và Giáo Nhi dạy mấy em Đồng nhi cho thành thuộc, phải độ rỗi phần hồn của toàn con cái Chí-Tôn khắp cả các nơi mà bước Đạo đã dụng huyền linh che chở.

Nghĩ vì Hội-Thánh mong mỏi mở rộng con đường ThánhĐức cho đoàn hậu tấn bước vào con đường Thánh Thể của Chí-Tôn đặng lập vị:

Nghĩ vì trẻ em Đồng nhi từ 11 năm mở Đạo đến nay đã trưởng thành nên buộc Hội-Thánh định phần phong thưởng công nghiệp. Nên:

SẮC LỊNH

Từ đây mở khoa mục mỗi năm cho Lễ Sĩ và Giáo-nhi thi cử. – LỄ SĨ thì thi theo mặt Kinh Luật của Đạo về Quan, hôn, Tang, Tế, nhứt là về Lễ Nhạc. Buộc Lễ Sĩ phải cần cho hay một món đờn trong mấy thứ Âm nhạc: Tam, Tiêu, Tranh, Kìm, tỳ, Cò, Độc…

- GIÁO NHI thì phải thuộc làu Tân Kinh và cũng phải thuộc một món Âm Nhạc như Lễ Sĩ.

Những Đồng Nhi nam nữ có giấy chứng Tòa-Thánh, lớn trên 20 tuổi mới đặng thi LỄ SĨ và GIÁO NHI, phải biết viết với đọc chữ Quốc ngữ..

Mỗi năm mở khoa mục, đầu tháng 10 tại Tòa Thánh.

Hội-Thánh chia ra hai thứ Lễ sĩ và Giáo Nhi:

- Thứ nhứt thì những hạng Lễ sĩ và Giáo Nhi trọn hiến thân cho Hội-Thánh, nhứt là Giáo nhi đã tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì sẽ đặng thuyên bổ hành chánh trong các Thánh Thất bất cứ nơi nào.

LỄ SĨ 05 năm công nghiệp thì thăng vị Lễ Sanh khỏi cầu phong lại nữa. Hạng Lễ Sĩ và Giáo-nhi này trên quyền Chánh Trị-sự và dưới quyền Lễ Sanh nhưng về mặt Lễ nhạc: Quan, Hôn, Tang, Tế mà thôi, chứ không đặng dự vào Chánh trị hay là Luật pháp của Tòa Đạo.

- Thứ nhì là hạng Lễ sĩ và Giáo Nhi còn ở lại gia đình, nhứt là Giáo nhi có chồng con theo Thế, thì không đặng vào nơi Thánh Thất nào mà hành chánh hết, duy hành Đạo nơi xóm làng của mình mà thôi, lại buộc mỗi năm phải dạy ít nữa 12 trên 36 đứa Đồng nhi. Lễ sĩ thì dạy Nam, Giáo nhi thì dạy nữ, chứ không đặng dạy lộn xộn nam nữ chung nhau.

Cấm nhặc Lễ Sĩ không đặng phép dạy Đồng nhi Nữ.

nếu mỗi năm có mặt phái Chức sắc, Chức Việc sở tại nói rằng dạy thiếu và không đi hành Đạo thì bị ngưng chức liền, Hội Thánh không cần minh tra lại nữa.

Hạng này tùng quyền Chánh Trị Sự và ngang quyền Phó-Trị-sự và Thông Sự về mặt Lễ Nhạc: Quan, Hôn, Tang, Tế mà thôi, chứ không đặng dự vào Chánh trị hay là Pháp Luật của Tòa Đạo. Đủ năm năm công nghiệp đổ lên mới đặng cầu phong vào hàng Lễ Sanh, nhưng do nơi tổ yêu cầu Chức sắc, Chức việc sở tại mới đặng.

LỄ SĨ mặc như Lễ Sanh nam phái, nhưng trên mão ngang trán có Tam sắc Đạo và Cổ Pháp của Giáo Tông là: Thư Hùng Kiếm, Long Tu Phiến và cây Phất chủ thêu trên.

GIÁO NHI mặc như lễ Sanh nữ phái, nhưng không đặng giắt bông sen trên đầu tóc, còn Tiểu phục cũng vậy nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.. Kiểu này phải do nơi tiệm Linh Đức.

Kỳ dư mấy vị Lễ sĩ và Giáo Nhi đương thời hành đạo trong Hội-Thánh, vì có giấy tờ Hội-Thánh công nhận chánh thể rồi: Hội Thánh nhứt định cấm nhặc không ai được xưng danh hiệu Lễ sĩ và Giáo Nhi mà không có khoa mục và cấp bằng của Tòa Thánh ban cho đủ lẽ.

Khai Pháp, Tiếp Thế, Tiếp Đạo Hiệp-Thiên-Đài.

Quyền: Thái, Thượng và Ngọc Chánh Phối Sư và Chủ trưởng Hội-Thánh ngoại giáo, mỗi vị tùy phận sự thi hành Sắc lịnh này.

Lập tại Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 9 tháng 11-Bính Tý.
(Le 26 Décembre 1936)
HỘ-PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng
Ký tên: PHẠM CÔNG TẮC

 

Vâng lịnh ban hành

Tòa Thánh ngày 12 tháng 11 năm Bính Tý
(Le 26-12-1936)

Q.Thái Chánh Phối Sư
(Thái Tu Thanh)

Q.Thượng Chánh Phối Sư
(Thượng Tình Thanh)

Q.Ngọc Chánh Phối Sư
(Ngọc Trọng Thanh)

Nữ Chánh Phối Sư
(Hương Thanh)

 

 

LỄ NGHI

Kinh Sám Hối có câu:

"Con người có trí khôn-ngoan,
"Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi."

 

 

LỄ TẤN PHONG

Huấn từ của Đức Thượng-Sanh đọc tại Đền Thánh ngày 18 tháng 11 Mậu Thân (1968) nhơn cuộc Lễ Tấn Phong Đức Bà lên phẩm Nữ-Đầu-Sư chánh vị

"Hôm nay là ngày Lễ Tấn Phong Bà Nữ Đầu Sư Nguyễn Hương Hiếu, thọ Thiên ân Đầu Sư Chánh vị Nữ phái do Thánh giáo của Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm tại Cung Đạo đêm 20 tháng 10 Mậu Thân (dl 9-12-1968). Lễ lập thệ đã cử hành xong. Từ đây Chức sắc Nữ phái Cửu-Trùng-Đài đã có vị Đầu Sư cầm quyền điều khiển dìu dắt trên đườngThánh đức".

 

 

LỄ THƯỢNG NGUƠN

Ngưỡng vọng: VÔ TRUNG TỪ PHỤ phát hạ hồng ân, háo sanh đại đức, tùy nguơn vận hội ân xá chư linh hữu công hành Đạo, tế độ nhơn sanh. Cập Tiền vãng Thất tổ, Hậu vãng Cửu Huyền do tử tôn lập thân hành Đạo, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu nghĩa vi tiên. Chư chiến sĩ trung thành dõng cảm, vị quốc vong thân, dĩ chí toàn thể lê dân thống khổ chiến tranh đồng thời tử nạn. Nguyện cầu các đẳng vong hồn tảo đắc siêu thăng Tịnh độ. Chư Đệ tử đồng thành tâm khấu bái, cẩn sớ thượng tấu. Dĩ văn.

: , , , , . , , , .

, . . , . .

 

 

LỄ TRIỀU CHÍ LINH

Lễ triều Chí Linh 禮朝至靈 là Chầu lễ Đấng Chí Linh.Vào chầu lạy Đức Chí Tôn nơi Bạch Ngọc Kinh.

Kinh Khi Ðã Chết Rồi có câu:

"Tiên phong Phật cốt mỹ miều,
"Vào Kinh Bạch Ngọc lễ triều Chí Linh."

 

 

LỄ TRUNG NGUƠN

Ngưỡng vọng: VÔ TRUNG TỪ PHỤ phát hạ hồng ân háo sanh Đại Đức, tùy nguơn vận hội Ân xá Chư Thánh hữu công hành Đạo, tế độ Nhơn sanh, cập tiền vãng Thất tổ, hậu vãng Cửu Huyền do tử tôn lập thân hành Đạo, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu nghĩa vi tiên. Chư Chiến sĩ trung thành dõng cảm vị quốc vong thân, dĩ chí toàn thể Lê dân thống khổ chiến tranh đồng thời tử nạn. Nguyện cầu các Đẳng vong hồn tảo đắc siêu thăng tịnh độ. Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái, cẩn sớ thượng tấu".

: , , , , , .

, . . ,

 

 

LỄ VẬT


E: The offering thing.
F: L’offrande.

Lễ: -Cách bày tỏ kính ý bằng cử chỉ hay bằng cúng tế, -cuộc lễ có nghi tiết. Vật: phẩm vật. Lễ vật là các phẩm vật dâng cúng.

Trong Đạo Cao Đài, lễ vật dâng cúng Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng là Hoa, Rượu, Trà. Ba món nầy tượng trưng Tam bửu của con người là: Tinh, Khí, Thần. Tinh là thể xác, Khí là chơn thần, Thần là chơn linh.

Ở ngoài đời, lễ vật là những phẩm vật có giá trị lớn đem biếu người trên để xin ra mắt hay cầu cạnh một điều gì.

 

 

LỄ VIỆN


E: Institute of rites.
F: Institut des rites.

LỄ VIỆN là một trong chín Viện (Cửu viện) lo sắp đặt, tổ chức tất cả các cuộc tế lễ ở Đền-Thánh và Thánh Thất. Lễ Viện còn có nhiệm vụ đảm trách mọi cuộc lễ của Hội-Thánh, nghĩa là các vấn đề Quan, Hôn, Tang, Tế.

Ngọc Chánh Phối-sư nắm quyền tạp tụng, cầm quyền Chủ Trưởng Chức Sắc, lo việc văn từ, chưởng quản 3 Viện:

*Hòa Viện (Affaires intérieures et extéreures) lo về nội, ngoại giao, gìn giữ trật tự và bảo an toàn Ðạo.

*Lại Viện (Service du personnel) lo về công văn, Bộ Ðạo, Bộ Khai Sanh, Bộ Khai Tử, Bộ Hôn Thú, Bộ Chức Sắc Hành Chánh, thuyên bổ Chức sắc trấn nhậm các nơi.

*Lễ Viện (Service des Rites) lo về nghi tiết, cúng kiến, Quan, Hôn, Tang, Tế.

Đôi liễn nơi Văn phòng Lễ Viện Cửu-Trùng-Đài:

Đôi liễn nầy đặt trước Văn phòng Lễ Viện Cửu Trùng Đài. Lễ Viện là một Viện trong Cửu Viện, có nhiệm vụ coi về nghi lễ của đạo.

-

LỄ giáo pháp điều bác ái đại đồng hòa thiện tâm năng độ chúng.

-

VIỆN tùng Thiên đạo từ bi vạn loại hiệp nhứt trí hộ nhơn sanh.

Giải thích:

Câu 1: Lễ nghi, giáo dục, pháp luật, bác ái, đại đồng, cùng với tấm lòng lành, có khả năng cứu độ nhơn sanh (Lễ giáo: lễ nghi và giáo dục. Pháp điều: những điều khoản pháp luật. Bác ái: lòng thuơng yêu bao la, thương khắp chúng sanh. Đại đồng: không phân biệt giai cấp, chủng tộc, quốc gia, mọi người đều sống bình đẳng, tự do, hạnh phúc như nhau. Hòa: cùng ăn nhịp với. Thiện tâm: lòng lành. Năng: có khả năng làm được. Độ chúng: cứu giúp nhơn sanh)

Câu 2: Lễ viện tùng theo đạo Trời, lòng từ bi thương yêu vạn loại, hợp với sự hiểu biết thống nhứt, che chở giúp đỡ nhơn sanh.(Viện: cơ quan lớn. Tùng: theo. Thiên đạo: Đạo Trời, Đạo Cao Đài. Từ bi: lòng thương yêu chúng sanh và muốn giúp chúng sanh thoát khổ. Vạn loại: muôn loài vật. Hiệp: Hợp, hòa hợp. Nhứt trí: sự hiểu biết thống nhứt, tức là đồng một ý kiến. Hộ: che chở giúp đỡ.)

 

 

 

Lễ Viện là một trong Cửu Viện, có nhiệm vụ hướng dẫn thực hành các nghi thức cúng tế, việc thờ phượng theo đúng luật đạo, thống nhất từ trung ương xuống địa phương

(Lễ: -Cách bày tỏ kính ý bằng cử chỉ hay bằng cúng tế, cuộc lễ có nghi tiết. Viện: tòa sở lớn.)

Lễ Viện Cửu-Trùng-Đài phụ trách nghi lễ tại Tòa Thánh và các Thánh Thất, tổ chức các kỳ lễ trong Đạo.

Đứng đầu Lễ Viện Cửu-Trùng-Đài là một Thượng Thống, phẩm Ngọc Phối Sư, có các Phụ Thống, Quản Văn phòng và Thư ký giúp việc. Lễ Viện chịu hệ thống trực tiếp của Ngọc Chánh Phối Sư.

Ngoài ra còn có Lễ Viện Phước Thiện phụ trách nghi lễ nơi Báo Ân Từ và các Điện Thờ Phật Mẫu.

 

 

LỆ ÁI ÂN

Lệ ái ân nói cho đúng là Ái-ân lệ 愛恩淚 là chỉ giọt nước mắt khi tưởng nhớ đến lúc vợ chồng yêu thương nhau. (Lệ: nước mắt; Ái-ân là thứ tình cảm thân thiết của vợ chồng). Giờ đây phải sa nước mắt là chỉ lúc xa vắng hoặc cao độ hơn là cảnh biệt ly.

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

"Dâng mảnh tâm gọi là của lễ,
"Chén ly tình là lệ ái ân."

 

 

LỆ CHÂU

Lệ châu 淚珠 là nước mắt như giọt châu dầm dề rơi xuống. Giọt châu hay châu sa đều chỉ giọt nước mắt rơi xuống long lanh như hạt ngọc. Truyện Kiều có câu:

Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.

Do tích như sau: Nguyên thời xưa có loài giao long hóa thành người, gọi là giao nhân 蛟人 sống trên thế gian lấy vợ, lấy chồng và buôn bán với loài người. Nhưng đến cuối năm lại phải về thủy phủ để chầu vua. Lúc từ biệt gia đình, họ khóc rất thảm thiết, mà khóc bao nhiêu thì nước mắt hóa thành những hạt châu bấy nhiêu. Nên có câu: "Sái giao nhân chi châu lệ" 洒蛟人之珠淚 nghĩa là người giao nhân khóc, nước mắt sa xuống thành hạt châu.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu:

"Cha ở đâu, mẹ nơi đâu?
"Tâm tang kính gởi một bầu lệ châu."

 

 

LỆ SA

Lệ là nước mắt. Lệ sa là rơi nước mắt.

Người ta thường rơi nước mắt, cảm động, khóc, vì: Nơi ven trời xa xôi gợi đến mối tình thương yêu sâu đậm khi họ bị mất mát. Lòng cảm thấy nhớ thương nên nước mắt tuôn rơi dầm dề. Đó là hiện tượng của mối từ tâm, tiếng gọi thiêng liêng nơi lòng.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu

"Ven Trời gởi chút tình thâm,
"Động lòng thương nhớ tuôn dầm lệ sa."

 

 

LỆ THUỘC


E: Dependent.
F: Dépendant.

Lệ: phụ thuộc. Thuộc: phụ thuộc. Lệ thuộc là phụ thuộc hoàn toàn, mất quyền tự chủ, chịu sự sai khiến của người khác (phụ thuộc không tự chủ.).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Mặc dầu xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày tạo lập đến giờ.

 

 

LỊCH ĐẠI TIÊN VƯƠNG (Lịch Đại Tiên Vong)

Câu 19 trong bài U-Minh-Chung có câu: "Lịch đại tiên vong đồng đăng giác ngạn."

 

 

LỊCH SỰ

歷 事
E: Gentleman, polite.
F: Politesse.

Lịch: Trải qua, từng trải. Sự: việc. Lịch sự, nghĩa đen là trải qua nhiều việc, từng trải việc đời; nghĩa thường dùng là: cách giao thiệp tốt đẹp làm vừa lòng mọi người; đẹp và sang trọng (trải việc đời, việc gì cũng biết).

 

 

LỊCH SỬ