CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần K

 

KẺ

Kẻ Chê Người Thị

Kẻ Gian Hùng

Kẻ Hớn Người Hồ

 

KẾ

Kế Chí Quân Tử

Kế Mẫu - Kế Phụ - Kế Thất

Kế Sanh Nhai

Kế Thừa

Kế Tự

Kế Vị

 

KỆ

Kệ (1)

Kệ (2)

Kệ Chuông

Kệ Sám

Kệ Trống

Kệ U Minh Chung

 

KẾT

Kết Cỏ Ngậm Vành

Kết Liễu

Kết Oán Thù Thâm

Kết Thúc

 

KÍCH

Kích Bác

 

KIÊM

Kiêm

Kiêm Nhiệm

 

KIẾM

Kiếm Diệu Huyền

 

KIỂM

Kiểm

Kiểm Duyệt - Ban Kiểm Duyệt

Kiểm Đàn

 

KIẾN

Kiến

Kiến Cơ Nhi Tác

Kiến Công Lập Vị

Kiến Diện

Kiến Lão Quân

Kiến Tính

Kiến Thức

Kiến Trúc - Ban Kiến Trúc

 

KIỀN

Kiền

 

KIỂN

Kiển Quẻ Thuỷ Sơn Kiển

 

KIẾP

Kiếp

Kiếp Căn

Kiếp Đọa

Kiếp Hồn

Kiếp Nợ

Kiếp Khiên

Kiếp Luân Hồi

Kiếp Phù Sinh

Kiếp Sanh

Kiếp Sống

Kiếp Thác

Kiếp Trái

Kiếp Trái Oan Khiên

Kiếp Trần

Kiếp Tu

 

KIẾT

Kiết Tường

 

KIÊU

Kiêu Căng

Kiêu Căng Tự Đại

Kiêu Hãnh

 

KIẾU

Kiếu Từ

 

KIM

Kim

Kim (Giáo Sư Thượng Kim Thanh)

Kim Bàn

Kim Bàn Chưởng Âm

Kim Bàn Phật Mẫu

Kim Bảng

Kim Biên

Kim Biên Tông Đạo

Kim Bồn

Kim Câu

Kim Cô

Kim Chung

Kim Đơn

Kim Khôi

Kim Khuyết

Kim Lan

Kim Mao Hẩu - Kim Hẩu

Kim Mã Ngọc Đàng

Kim Mẫu

Kim Quang

Kim Quang Sứ

Kim Sa

Kim Tiên

Kim Thân

Kim Thời

Kim Tuyến

Kim Tự Tháp

Kim Viết Cao Ðài

 

KINH

Kinh (1)

Kinh (Nguyễn Ngọc Kinh)

Kinh Bang Tế Thế

Kinh Bạch Ngọc

Kinh Cao Đài

Kinh Cúng Tứ Thời

Kinh Dịch

Kinh Dinh

Kinh Dương Vương

Kinh Điển

Kinh Đưa Linh Cửu

Kinh Giải Oan

Kinh Hôn Phối

Kinh Kệ

Kinh Khai Cửu

Kinh Khi Đã Chết Rồi

Kinh Luân

Kinh Luật

Kinh Nghiệm

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế

Kinh Phúc Âm

Kinh Sám Hối

Kinh Tam Giáo

Kinh Tắm Thánh

Kinh Tâm

Kinh Tận Độ

Kinh Thế Đạo
Kinh Đi Ra Đường,
Kinh Khi Về,
Kinh Khi Đi Ngủ,
Kinh Khi Thức Dậy,
Kinh Vào Học,
Kinh Vào Ăn Cơm,
Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.

Kinh Thánh

Kinh Tuần Cửu
Kinh Đệ Nhất Cửu,
Kinh Đệ Nhị Cửu,
Kinh Đệ Tam Cửu,
Kinh Đệ Tứ Cửu,
Kinh Đệ Ngũ Cửu,
Kinh Đệ Lục Cửu,
Kinh Đệ Thất Cửu,
Kinh Đệ Bát Cửu,
Kinh Đệ Cửu Cửu,
Kinh Tiểu Tường,
Kinh Đại Tường

Kinh Vô Tự

 

KÍNH

Kính Anh Mến Chị

Kính Cáo

Kính Lão Đắc Thọ

Kính Thành

 

KỈNH

Kỉnh Lễ

Kỉnh Già Thương Khó

Kỉnh Thờ Thần Thánh

Kỉnh Ngô

Kỉnh Vì Trên Trước

 

Ký Sinh

Ký Sự

Ký Tờ Hòa Ước

Ký Thác

 

KỲ

Kỳ An (Kỳ Yên)

Kỳ (Vương Quan Kỳ)

Kỳ Dư

Kỳ Ba

Kỳ Khai

Kỳ Lão

Kỳ Lân

Kỳ Lừa

Kỳ Mục

Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể

Kỳ Ngộ

Kỳ Phùng Địch Thủ

Kỳ Thị

Kỳ Truyền Đã Thất

Kỳ Trung

Kỳ Vọng

 

KỶ

Kỷ Cương

Kỷ Luật

Kỷ Niệm Thầy Giáng Sanh

Kỷ Nguyên

Kỷ Nguyên Thế Giới Hòa Bình

Kỷ Sở Bất Dục Vật Thi Ư Nhân

 

KỴ

Kỵ Húy

Kỵ Kim Quang

Kỵ Sen

Kỵ Thú

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 27-07-2017

 

 

 

KẺ CHÊ NGƯỜI THỊ

Kinh Sám Hối có câu:

"Hung-hoang tội báo nghiệt căn,
"Kẻ chê người thị không bằng cỏ cây."

 

 

KẺ GIAN HÙNG

Ông Cử Đa giáng cơ ngày 29-9 Giáp Tuất (1934) luận phương Tuyển Hiền: "Kẻ gian hùng làm màu mè, nhưng điều nội tâm của họ không có. Cười…chưa phải vậy mà dễ biết đặng cũng như TƯƠNG đó. Thiên hạ đều lầm, mà Quyền Giáo Tông cũng lầm một lúc đó. Cười…những Đấng Chí Hiền hằng tìm điều vĩ đại mà thật hành, tâm quảng thể bàng, rộng lòng dung hợp, chẳng hay coi mình trọng mà phụ người, khuất thể nặc hình không hơn không thiệt, dầu kiếp sanh cũng sống cho đời chớ không phải bua danh cầu lợi. Còn trái ngược lại là kẻ gian hùng. Một cơ quan đặc biệt dễ hiểu hơn hết là kẻ gian hùng thường khoe mình đặng chiêu phục bóng sắc của đám phu nhân. Ấy tỏ tâm hèn mạt, chỉnh thấy bấy nhiêu cũng đủ phân định rõ ràng, chẳng cần chi khác. Còn tâm tánh nhỏ nhen là khẩu hiệu của nhà nớ... Hại chăng là lầm rước đứa trộm vào nhà, ắt là mất quả. Nhị vị gắng để mắt tin đời xem thử thì chẳng lầm lộn bao giờ, nhứt là khi nhị vị quyết tâm tuyển Thánh".

 

 

KẺ HỚN NGƯỜI HỒ

(Kẻ Hớn là người Trung Hoa ở Trung nguyên, người Hồ là rợ Hồ hay rợ Hung Nô ở phía Bắc Trung nguyên). Kẻ Hớn người Hồ là chỉ sự xa cách nhau, cũng nói lên kẻ Bắc người Nam xa cách nhau vời vợi.

Vào thời nhà Tống, vua Hung Nô đem quân đánh vào Trung nguyên, buộc vua Tống phải đem nàng Chiêu Quân là ái-phi của vua Tống, nạp cho vua Hung Nô. Vua Tống nhu nhược, đánh thua quân Hồ nên phải ép lòng đưa Chiêu Quân đi cống Hồ. Từ ấy, vua và nàng Chiêu Quân xa cách nhau, kẻ Bắc người Nam, đau khổ vô cùng.

Bà Đoàn viết Nữ Trung Tùng Phận có câu:

Nào khi hỏi thăm hang Từ Thức,
Nào khi dò mấy bực cầu ô.
Chừ sao kẻ Hớn người Hồ?
Để cho phòng hạnh ra mồ quạt duyên.

 

 

KẾ CHÍ QUÂN TỬ


E: To continue the thought of the wise.
F: Continuer la pensée du sage.

Kế: Nối theo, tiếp theo. Chí: cái ý muốn mạnh mẽ làm nên việc lớn. Quân tử: người có tài đức hơn người. Kế chí quân tử là nối theo cái chí khí của người quân tử.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bảo.

 

 

KẾ MẪU - KẾ PHỤ - KẾ THẤT

- -
E: Stepmother – stepfather – second wife.
F: Belle Mère – Beaupère – second femme.

Kế: Nối theo, tiếp theo. Mẫu: mẹ. Phụ: cha. Thất: vợ.

Kế mẫu là mẹ kế, tức là người mẹ nối sau mẹ ruột vì mẹ ruột đã chết, tục gọi mẹ kế là mẹ ghẻ.

Kế phụ là cha kế, tức là người cha nối sau cha ruột vì cha ruột đã chết, tục gọi cha kế là cha ghẻ.

Kế thất là người vợ kế, tức là người vợ nối sau vợ chánh vì vợ chánh đã chết.

 

 

KẾ SANH NHAI


E: The means of subsistence.
F: Moyen d’existence.

Kế: Mưu mẹo. Sanh: sống. Nhai: cái bờ nước. Kế sanh nhai là phương cách làm việc cho có tiền bạc để mua sắm lương thực nuôi sống gia đình.

Kinh Khi Thức Dậy:

"Nhẫng đua chen kiếm kế sanh nhai."

 

 

KẾ THỪA


E: To inherit
F: Hériter.

Kế: Nối theo, tiếp theo. Thừa: vâng theo. Kế thừa là thừa hưởng tài sản và sự nghiệp của người trước đã qua đời để lại.

 

 

KẾ TỰ


E: To succeed to worship ancestor.
F: Succéder à honorer les ancêtres.

Kế: Nối theo, tiếp theo. Tự: thờ phụng. Kế tự là nối tiếp sự thờ phụng tổ tiên. Nối dòng dõi về sau.

 

 

KẾ VỊ


E: To succeed to the throne.
F: Succéder au trône.

Kế: Nối theo, tiếp theo. Vị: ngôi vị. Kế vị là nối ngôi.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: Tỷ như có Tân Giáo Tông sẽ lên kế vị cho Đức Lý Giáo Tông thì cả tín đồ nam nữ mới nhập môn đều phải lấy tịch ĐẠO TÂM.

Đức Hộ-Pháp thuyết tại Ðền Thánh, ngày 29 tháng 4 năm Ðinh Hợi (1947): "Trong buổi Tam Kỳ Phổ Ðộ, Bần Ðạo biết mở Ðạo Cao Ðài đặng tuyển chọn trong hàng Phật đạt kiếp từ tạo Càn Khôn Thế Giới đến kế vị Ngài. Trong buổi Ðại Từ Phụ mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ có treo bảng ở Ngọc Hư Cung, lập một ông Trời KẾ VỊ Ngài, nhưng chúng ta thấy trong hàng Phật có ba người:

1- Phật Thích Ca
2- Phật Di Lặc
3- Ðức Chúa Jésus-Christ

Thử hỏi ba người ai sẽ làm Trời? Ta tưởng ba người sẽ có một người làm được, mà người đó chúng ta biết chắc có, tuy không quyết đoán trước đặng, chúng ta mơ màng ngó thấy nhưng không dám nói. Hễ Ðấng nào đủ quyền năng trị thế, tinh thần cho cao trọng thâu phục cả tâm lý nhơn sanh vào khuôn Ðại Ðạo, gồm tinh thần tư tưởng loài người lại được, thì Ðấng ấy sẽ kế nghiệp Ðức Chí Tôn."

 

 

KỆ (1)

KỆ là những bài thơ ngắn hoặc dài để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một đoạn kinh, hoặc để ca ngợi công đức Phật, hoặc để cầu nguyện.

Đạo Cao Đài có bài kệ chuông, kệ trống, kệ U Minh chung, Bài kệ mở đầu cho bài Di Lạc Chơn Kinh.

- Kệ cũng là bài ca chứng đạo của các vị Thiền sư như bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng:

Bồ đề bổn vô thụ

 

Minh kính diệc phi đài.

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai?

Nghĩa là:

Bồ đề vốn không cội,
Gương sáng cũng chẳng đài,
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính trần ai?

KỆ còn là một bài thi nhằm dặn dò các đệ tử của chư vị Thiền sư để lại khi các Ngài sắp tịch diệt. Sau đây là một bài kệ thị chúng của Thiền sư Mãn Giác do Thích Thanh Từ dịch:

Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi!
Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua Xuân trước một cành mai.

Đây: Bài kệ mở đầu cho bài Di Lạc Chơn Kinh.

Khai Kinh Kệ
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim thính văn đắc thọ trì
Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa





Bên Phật Giáo, câu kệ cuối cùng này được viết: "Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa".Do vậy Bài Kệ "Khai Kinh" này được bên Phật Giáo dịch thành văn vần như:

Vòi vọi không trên pháp thẳm sâu,
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu.
Ta nay nghe đặng chuyên trì niệm,
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

 

 

KỆ (2) (Phật Học)

Kệ (S, P: gāthā) gọi đầy đủ là kệ-đà, cũng được gọi là kệ tụng, tụng. Là những bài ca, bài thơ chứng đạo của những Tỉ-khâu, những Thiền sư, những Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), thố lộ cảm giác sung sướng, nhẹ nhàng khi đã vượt qua ải trần lao, đã hoàn thành những công việc mà con người phải làm. Trong những tập công án như Bích nham lục và Vô môn quan, những bài kệ của những vị biên soạn chính là cái tinh hoa, là cái then cửa để thiền sinh có thể mở được những công án khó chinh phục. Những bài kệ này có thể xem là tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Quốc nói chung – không chỉ giới hạn trong Thiền đạo. Kệ tụng sau đây của Thiền sư Vô Môn Huệ Khai ghi lại trong tác phẩm Vô môn quan, công án 19, cho hậu thế nếm vị của tịch tịnh (Trần Tuấn Mẫn dịch):

Xuân hữu bách hoa, thu hữu nguyệt
Hạ hữu lương phong, đông hữu tuyết
Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu
Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.




便

Giải:

Xuân có trăm hoa, thu có trăng
Hạ về gió mát, tuyết đông giăng
Ví lòng thanh thản không lo nghĩ
Ấy buổi êm đềm chốn thế gian.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

KỆ CHUÔNG

E: The short prayer of the great bell.
F: La courte prière de la grande cloche.

(KỆ là đọc ngâm nga có vần có điệu một bài thi. Chuông: cái chuông lớn (hồng chung) treo nơi lầu chuông của Đền Thánh, Thánh Thất hay nơi Điện Thờ, mục đích là tóm lược đại ý bài thi nói về giá trị của tiếng chuông dùng thức tỉnh cả nhơn sanh lẫn tội hồn trong các cõi, hầu chúng sanh cầu nguyện cho Cửu Huyền Thất Tổ, mong được hưởng Cơ Đại-Ân-Xá của Chí-Tôn).

 

 

 

Kệ chuông là bài kệ để ngâm lớn lên, khi ngâm được một câu thì dộng một tiếng chuông lớn. Trước khi cúng đàn và sau khi cúng đàn hay cúng Tứ thời tại Thánh Thất, Điện Thờ đều có Kệ chuông.

Trong cửa Đạo Cao Đài, những bài kệ chuông dùng đọc lên khi khởi chuông trước giờ Cúng, mục đích là thỉnh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến chứng đàn.

Có hai loại Kệ chuông:

*- Kệ chuông cúng Từ thời có ba bài:

1- Kệ chuông nhứt.
2- Kệ chuông nhì.
3- Kệ chuông bãi đàn.

*- Kệ chuông Đại đàn và Tiểu đàn.

I- Kệ chuông cúng Tứ thời (đàn thường):

Trước khi Cúng Tứ thời nơi Thánh Thất hay Điện Thờ, thì kệ chuông hai lần. Khi nghe dứt 3 tiếng chuông kệ lần nhứt thì lo mặc Đạo phục chỉnh tề, đi vào đại điện đứng theo vị trí của mỗi người, chờ kệ chuông nhì.

A- Kệ chuông nhứt:

1. Văn chung khấu hướng huệ trưởng Càn Khôn,
2. Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
3. Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

Viết ra Hán văn:



(Câu 3 Mật chú bằng Phạn ngữ)

Giải nghĩa:

Câu 1: Nghe tiếng chuông, cúi mình xuống hướng về cái trí huệ lớn của Trời Đất. (Văn: nghe. Khấu: cúi xuống. Trí: trí huệ. Trưởng: lớn).

Câu 2: Nhơn sanh nơi các cõi trần cùng lên bờ giải thoát. (Pháp giới: các cõi trần. Chúng sanh: chỉ nhơn sanh. Bỉ ngạn: bờ bên kia. Bên nây là Bến mê, bờ bên kia là giác ngộ, từ đây đi vào cõi Thiêng-Liêng Hằng Sống, giải thoát khỏi luân hồi).

Câu 3: Câu mật chú bằng tiếng Phạn phiên âm ra, có ý nghĩa là: Cầu nguyện cho chúng sanh tiêu tai tăng phước, thành tựu Phật đạo, cầu chư Phật chứng minh

KHẢO DỊ:

Theo Tờ Phúc trình của Chí Thiện Huỳnh Văn Phuông gởi lên Đức Phạm Hộ Pháp 3 Bài Kệ chuông thì Câu 1 là: Văn chung khấu hướng huệ chưởng Càn Khôn. (Chưởng là nắm giữ)

B- Kệ chuông nhì:

1- Nhứt vi u ám tất giai văn,
2- Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác.
3- Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

Viết ra Hán văn:



(Câu 3 Mật chú bằng Phạn ngữ)

Giải nghĩa:

Câu 1: Nhứt vi u-ám tất giai văn: Tất cả trong phạm vi cõi Phong Đô ắt hẳn đều nghe biết. (Nhứt: tất cả. Vi: chu vi. U ám: tối tăm, chỉ cõi Phong Đô. Tất: ắt hẳn. Giai: đều. Văn: nghe.)

Câu 2: Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác: Tất cả nhơn sanh đều thành Phật. (Nhứt thiết: tất cả. Chúng sanh: chỉ nhơn sanh. Chánh giác: bậc giác ngộ chơn chánh, đó là Phật).

Câu 3: Mật chú, ý nghĩa giống như đã giải ở trên.

KHẢO DỊ:

Trong Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, trang 616 có bài kệ Nguyện Chung, ghi ra sau đây:

"Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tất giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác.

Nghĩa là:

Nguyện cho tiếng chuông nầy vượt qua toàn cõi pháp giới, Cho đến nơi u-ám là cõi Địa ngục sắt cũng được nghe, Nghe được thì thanh tịnh, chứng được cảnh trí viên thông,Tất cả chúng sanh đều thành Phật."

(Thiết: sắt. Vi: vây quanh. Thiết Vi là núi Thiết Vi tức là Thiết-Vi-sơn, núi có tường sắt vây quanh, trong đó có nhiều cõi Địa ngục, giam cầm và trừng phạt các tội hồn. Nhứt thiết: tất cả).

C. Kệ chuông bãi đàn:

Sau khi cúng xong, chờ kệ 3 câu nầy rồi mới bãi đàn.Trước khi kệ, dộng 3 tiếng chuông, rồi bắt đầu kệ, dứt một câu kệ thì dộng một tiếng chuông, ba câu kệ dộng 3 tiếng chuông. Dứt kệ chuông thì xá đàn một xá rồi bãi đàn, mọi người đi ra khỏi đàn cúng.

1- Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên, vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.
2- Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an, hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.
3- Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

Viết ra Hán văn:

滿 , 恩,風 調
, , 場,盡

Giải nghĩa:

Câu 1: Đàn cúng tế đã đầy đủ trọn vẹn, Chức sắc trở lại chỗ cũ, gội nhuần lâu dài ơn huệ của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, được mưa thuận gió hòa. (Đàn tràng tức là Đàn trường: chỉ đàn cúng tế. Qui nguyên: trở về chỗ khởi đầu. Vĩnh: lâu dài. Mộc: gội, gội nhuần. Từ: Từ bi, chỉ Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu.)

Câu 2: Trời ban cho dân chúng, nước thạnh dân yên, hồi hướng công đức nơi đàn cúng, thâu hết các cõi của pháp. (Hải chúng: biển người, chỉ dân chúng. Hồi hướng: ý nói hồi hướng công đức, chuyển công đức nầy hướng về một chỗ nào đã định. Tận: hết. Thâu: thu vào. Tận thâu: thu hết vào. Pháp giới: có rất nhiều nghĩa.

Câu 3: Câu mật chú bằng tiếng Phạn phiên âm ra, xem ý nghĩa đã giải ở trên.

II- Kệ chuông Đại đàn và Tiểu đàn:

Khi Lễ sĩ xướng "Bạch Ngọc Chung minh" thì người hầu chuông trên Bạch Ngọc Chung Đài (Lầu chuông) khởi sự dộng 3 tiếng chuông, rồi ngâm bài kệ bốn câu, dứt mỗi câu thì dôïng một tiếng chuông lớn.

Bài kệ chuông cúng Đại đàn hay Tiểu đàn:

1. Thần chung thinh hướng phóng Phong Đô,
2. Địa Tạng khai môn phóng xá cô
3. Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
4. Sám hối âm hồn xuất u đồ.

Viết ra Hán văn:




Nghĩa là:

- Tiếng chuông thiêng liêng hướng đến cõi Phong đô.

- Địa Tạng Vương Bồ Tát mở cửa phóng thích các tội hồn.

- Đại Đạo Tam Kỳ vận chuyển lằn kim quang hiện, xảy ra hai trường hợp:

. Nếu người có tâm hồn đạo đức thì sẽ hiện ra lằn Kim Quang Tiên (tốt)

. Nếu tư tưởng của người không tốt thì hiện ra Kim Quan Sứ, tạo nên con đường dẫn đến Phong đô.

- Các âm hồn ở cõi Phong đô sám hối các tội lỗi thì được đi ra cõi u tối này bằng con đường do lằn kim quang hiện ra ấy.

KHẢO DỊ:

Trong Quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh của hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt in năm 1928, nơi trang 42, bài Kệ trên gọi là: Chung Xướng, chép ra như sau:

Chung thinh khấu hướng triệt Phong Đô,
Địa Tạng khai ân phóng xá cô.
Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
Sám hối âm hồn xuất u đồ.

 

 

KỆ SÁM


E: The prayers of confession.
F: Les prières de confession.

(Kệ là những bài thi ngắn hay dài: hoặc để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một bài kinh, hoặc để răn dạy đệ tử, hoặc để cầu nguyện. Sám: sám hối, ăn năn vì biết được điều lầm lỗi của mình và quyết tâm sửa lỗi) 

Kệ sám 偈懺 là bài kệ sám hối. Đó là bài Kinh Sám Hối, cũng gọi là Kinh Nhơn Quả.

Kinh Sám Hối có câu:

"Lời kệ sám duy truyền khuyến thiện,
"Câu văn từ luận biện thiệt thà."

 

 

KỆ TRỐNG

E: The short prayer of drum.
F: La courte prière de tambour.

(Kệ là những bài thi ngắn để tóm lược ý của bài kệ đó Trống: cái trống lớn treo nơi Lôi Âm Cổ Đài (Lầu trống) của Tòa Thánh; của Thánh Thất, nên cái trống đó được gọi là Lôi Âm Cổ (Cổ là cái trống)

Kệ trống, tiếng Hán gọi là "Cổ xướng", là bài kệ ngắn để ngâm lên khi bắt đầu đánh trống.

Khi Lễ sĩ xướng "Lôi Âm Cổ khởi" vị hầu trống cầm dùi đánh 3 tiếng trống, rồi khởi ngâm bài kệ trống, dứt mỗi câu kệ thì đánh lớn lên một tiếng trống.

Bài kệ trống Lôi Âm:

1. Lôi Âm Thánh cổ triệt hư không,
2. Truyền tấu Càn Khôn thế giới thông
3. Đạo pháp đương kim dương chánh giáo,
4. Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.

Viết ra Hán văn:




耀

Giải nghĩa:

Câu 1: Tiếng trống Lôi Âm thiêng liêng thấu suốt các cõi Hư không. (Thánh: thiêng liêng. Cổ: cái trống. Triệt: thấu suốt. Hư không: cõi Hư Vô thiêng liêng).

Câu 2: Tiếng trống truyền đi để tỏ bày cho cả CKTG rõ. (Tấu: tỏ bày. Thông: biết rõ).

Câu 3: Giáo lý của Đạo Cao Đài hiện nay nêu cao cho mọi người biết đây là một nền tôn giáo chơn chánh. (Đạo pháp: giáo lý của Đạo. Đương kim: hiện nay. Dương: nêu cao).

Câu 4: Ánh sáng thiêng liêng chiếu sáng rực rỡ tòa Bạch Ngọc Kinh. (Linh: thiêng liêng. Chiếu diệu: chiếu sáng rực rỡ. Ngọc Kinh Cung: tòa nhà Bạch Ngọc Kinh, nơi thường ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

KỆ U-MINH CHUNG

(Xem U-minh-chung. Vần U.)

(Kệ là bài thi để tóm lược ý của bài. U: tối tăm. Minh: mờ mờ. Chung: tiếng chuông) Kệ U Minh chung 偈幽冥鍾 đây là một bài Kệ dài gồm 35 câu, với mục đích cho nhơn sanh cầu nguyện trong ba kỳ nguơn: tháng Giêng, tháng bảy, tháng mười, hầu cứu độ cho các đẳng vong hồn còn nơi Phong đô, Địa ngục. Đây là tiếng chuông dộng cho thấu đến cõi U-Minh là cõi tối tăm mờ mịt, khi xưa thường nói là U-Minh Địa-phủ, Âm phủ, Địa ngục, Phong Đô, là cõi của linh hồn người chết; ngày nay Đạo Cao Đài gọi là cõi Âm Quang, là nơi để các tội hồn đến đó để tự xét mình, xem xét các tội lỗi trong kiếp sanh vừa qua để ăn năn sám hối, cầu xin Đức Chí Tôn cứu rỗi..

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo nói thật, thời buổi này chúng-ta không tìm phương giải thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ thì không thời buổi nào có năng lực độ rỗi Cửu Huyền Thất-Tổ của mình cho đặng, không có buổi nào đặng hạnh-phúc làm đặng như vậy. Bởi thế cho nên toàn thể con cái của Đức Chí-Tôn nam nữ cũng vậy, có tấm lòng hoài vọng giọt máu mảnh thân mình, giờ phút này là giờ phút nên để trọn tâm cho thanh tịnh đặng cầu nguyện siêu-thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ…Bần-Đạo dám nói giờ phút này mấy người không có thể không nhỏng-nhẻo với Đức Chí Tôn được, Ngài sẵn-sàng để hai chữ "Ân Xá" thì mấy người xin cái gì Ổng cũng cho".

 

 

KẾT CỎ NGẬM VÀNH

Bài học thuộc lòng của thời thơ ấu viết rằng:

Đã không kết cỏ ngậm vành,
Lẽ nào phụ bạc cho đành trẻ ôi!
Tập chi thói bạc như vôi,
Sân Trình vừa khỏi đã bôi mặt mày.

 

 

KẾT LIỄU

結 了
E: To end.
F: Terminer.

Kết: Buộc lại, cuối cùng. Liễu: xong. Kết liễu là xong việc rồi.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Ðạo cốt yếu nhắc cho con cái Ðức Chí-Tôn để trong trí rằng: "Không giờ phút nào Chí Tôn nói gì, hứa gì với con cái của Ngài mà thất tín, thất hứa, thế nào cũng kết liễu mà thôi". Con cái của Ngài nếu đủ khôn ngoan chịu khó ôn lại Thánh-giáo của Ngài từ trước xem lại từ trương, từ lời Thánh-huấn thì hiểu ngay rằng không hề sai-suyển một mảy may nào cả". (Đêm 26- giêng năm Mậu Tý (dl. 06-03-1948)

 

 

KẾT OÁN THÙ THÂM

Đức Hộ-Pháp nói: "Nếu ta thấy được cõi Hư Linh kia, cái tình của vạn loại bị giết chóc một cách tàn nhẫn, bởi loài người kết oán thù thâm với nó, chực chờ thù ghét, vì vậy mà có vay trả luân hồi mãi mãi đọa đày, bất năng thoát tục. Mong sao chúng ta từ đây phải biết trọng lấy lẽ ấy mà luyện đệ nhị xác thân cho đủ đầy sự tinh khiết, là phải thương loài vật, phải thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt ấy mà truyền bá cái hườn thuốc linh đơn nầy là đạo đức của Chí Tôn, để cứu vớt quần sanh thoát vòng đọa lạc hoàn toàn."

 

 

KẾT THÚC


E: To conclude.
F: Conclure.

Kết: Buộc lại, cuối cùng. Thúc: gom lại. Kết thúc, nghĩa đen là buộc lại thành bó, nghĩa thường dùng là: công việc đã xong, tóm tắt lại (thắt lại, thu vén mọi việc).

 

 

KÍCH BÁC


E: To criticize.
F: Critiquer.

Kích bác : công kích, bài bác điều dở của người khác.

Đức Lý nói: "Than ôi! Hễ Đạo càng thạnh thì nghịch lại càng nhiều. Trên Chánh phủ hằng để mắt nghi nan, dưới bọn ma hồn quỉ xác theo kích bác. Chư Hiền hữu phải chịu và sẽ phải chịu hổ nhục trăm điều. Nếu Lão có lời căn dặn là thấy sự cực nhọc của chư Hiền hữu muốn toan cất bớt, nên phải dặn lấy sự cẩn thận nhịn nhục dè dặt mà hành đạo. Chánh phủ hằng dòm hành chư Hiền hữu. Nghĩ nỗi buồn cười. "Trị nhi vô giáo", nay đặng "hữu trị hữu giáo" mà lại nghi nan. Ấy cũng một lũ phàm".

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nhà thờ Đạo mới mừng có chỗ,
Lời thị phi chưa tỏ với đời.
Om-sòm nghị luận khắp nơi,
Người thời kích bác, kẻ thời hiềm nghi.

 

 

KIÊM

Kiêm : bao gồm, gồm cả

Thi văn dạy đạo có câu:

Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại,
Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.

 

 

KIÊM NHIỆM

兼 任
E: To charge several job.
F: Cumuler plusieurs charges.

Kiêm- nhiệm: một mình đảm nhiệm nhiều chức vụ.

Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên Trưởng là Nhứt Trấn Oai Nghiêm của Đạo Cao Đài, cầm quyền Tiên giáo thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Đức Chí Tôn lại giao thêm cho Đức Lý kiêm nhiệm chức Giáo Tông, nên khi cúng, chúng ta niệm: Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

 

 

KIẾM DIỆU HUYỀN

Kiếm diệu huyền là Cây kiếm huyền diệu, tức chỉ kiếm trí huệ hay gươm trí tuệ, là sự sáng suốt của người vượt bực.Nhờ trí nhạy bén có thể giải thoát luân hồi...

Đạo Phật thường ví trí tuệ như một lưỡi kiếm (hay gươm) sắc bén có thể chặt đứt tất cả những sợi dây phiền não và vô minh đã trói buộc con người tu hành.

Bài Kinh Tắm Thánh có câu:

"Đã gan dốc kiếm diệu huyền,
"Sanh sanh là phận, hiền hiền là công."

 

 

KIỂM

Kiểm Xem xét kỹ lưỡng có đúng không.

Thí dụ: Kiểm duyệt, Kiểm đàn.

 

 

KIỂM DUYỆT - BAN KIỂM DUYỆT

-
E: To censure - The censor 's office.
F: Censurer - Office de censeur.

(Kiểm: xem xét kỹ lưỡng trước khi thi hành. Duyệt: xem lại một lần nữa). Kiểm duyệt là tra xét kỹ lưỡng.

Trong nền Đại-Đạo có ban kiểm duyệt kinh sách là phải xem xét kỹ lưỡng về nội dung và hình thức các loại kinh sách, báo chí phổ biến có đúng theo luật pháp và giáo lý của Đạo không, sau đó mới cho phép ấn hành.

Ban Kiểm duyệt này được Hội Thánh bổ nhiệm, giao phó cho nhiệm vụ kiểm các Kinh sách của Đạo.

Theo Pháp Chánh Truyền qui định, quyền kiểm duyệt kinh sách là do ba vị Chưởng Pháp Cửu-Trùng-Đài.

Pháp Chánh Truyền: Vậy chúng nó (Đức Chí Tôn nói ba vị Chưởng Pháp) có quyền xem xét kinh điển trước lúc phổ thông, như thảng có Kinh luật làm cho hại phong hóa thì chúng nó phải trừ bỏ, chẳng cho xuất bản.

Chú Giải: Nói rằng có quyền xem xét kinh điển trước lúc phổ thông, thì tức phải kiểm duyệt các Kinh điển ấy trước khi xuất bản. Ấy vậy, tuy kiểm duyệt thì tự quyền Chưởng Pháp định đoạt, bất câu kinh sách nào mà làm cho hại phong hóa cùng là sái Đạo luật thì Ngài có quyền trừ bỏ, không cho xuất bản, song trước khi thị nhận cho xuất bản hay là không cho, thì buộc Chưởng Pháp phải đệ lên Hiệp Thiên Đài cầu xin phê chuẩn mới đặng. Chẳng phải nói kinh điển của người trong Đạo làm ra mà thôi, dầu cho người ngoại giáo làm ra đi nữa, nếu có thương phong bại tục thì buộc Hội Thánh phải vùa giúp Chưởng Pháp mà lo trừ diệt cho đặng.

Trong thời gian Cửu Trùng Đài chưa có Chưởng Pháp thì quyền kiểm duyệt các kinh sách Đạo được giao cho Hiệp Thiên Đài. Do đó, Đức Thượng Sanh, khi cầm quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, có ra Đạo Lịnh thành lập Ban Kiểm Duyệt hỗn hợp gồm các Chức sắc đại diện Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Chưởng Quản Phước Thiện để kiểm duyệt các kinh sách của Đạo.

Nguyên văn Đạo Lịnh nầy xin chép ra sau đây:

Hiệp Thiên Đài

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tam thập bát niên)

Thượng Sanh

Tòa Thánh - Tây Ninh


Số: 017/ĐL


THƯỢNG SANH và THẬP NHỊ THỜI QUÂN

Chiếu Tân Luật và Pháp Chánh Truyền,

Chiếu Vi Bằng ngày 10 tháng 3 Đinh Dậu (dl: 9-4-1957) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Chưởng Qủan Phước Thiện nam, nữ. Yêu cầu Ngài Thượng Sanh và chư vị Thời Quân về Tòa Thánh cầm giềng mối Đạo.

Nghĩ vì cần lập Ban kiểm duyệt những kinh, Thánh giáo và sách vở của Đạo trước khi ban hành để tránh điều sơ sót.

Chiếu Vi Bằng số 10/VB buổi nhóm ngày 8 tháng 4 nhuần Quí-Mão (dl: 30-5-1963), Hội Thánh Hiệp Thiên Đài quyết định thành lập Ban Kiểm duyệt để thi hành các đề mục chiếu thượng, nên:

ĐẠO LỊNH

Điều thứ nhứt: Kể từ đây, Hội Thánh Hiệp Thiên Đài đảm nhiệm sự kiểm duyệt những Kinh, Thánh ngôn của Đạo trước khi đem ra ban hành. Những Kinh hay Thánh ngôn nào không có sự kiểm duyệt của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài thì kể như bất hợp pháp, Chức sắc và Đạo hữu không nên tin dùng.

Điều thứ nhì: Thành lập một Ủy Ban hỗn hợp đảm đương sự kiểm duyệt có tánh cách thường xuyên các sách vở của Đạo trước khi cho phép ấn tống. Ủy Ban hỗn hợp nầy có:

- Hiệp Thiên Đài: Ông Hiến Pháp, Trưởng Ban.

- Cửu Trùng Đài: ba vị Chánh Phối Sư hay đại diện của mỗi vị, Hội viên.

- Phước Thiện: Vị Chưởng Quản Phước Thiện hay đại diện của Ông, Hội viên.

Điều thứ ba: Mặc dầu ba vị Chánh Phối Sư hay vị Chưởng Quản Phước Thiện, trong thành phần Ủy Ban hỗn hợp kể nơi điều thứ hai trên đây, có thể đề cử người đại diện cho mình, song sau khi kiểm duyệt xong xuôi, ba vị Chánh Phối Sư và vị Chưởng Quản Phước Thiện cũng phải đứng ký tên chịu trách nhiệm.

Điều thứ tư: Nếu trong quyển sách dự thảo đem ra kiểm duyệt mà có khoản nào hoặc câu nào không được xác nghĩa, cần thêm hay bớt, thì Ủy Ban ghi chú sẵn và mời tác giả đến giải thích cho minh xác. Khi kiểm duyệt hoàn tất, Ủy Ban sẽ đệ trình lên Hội Thánh Hiệp Thiên Đài kiểm xét lại mới cho ấn tống.

Điều thứ năm: Ông Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài, ba vị Chánh-Phối-Sư Cửu Trùng Đài và Chưởng Quản Phước Thiện thi hành; Ông Quyền Đầu Sư và Ông Khai Đạo điều khiển Phước Thiện tùy nhiệm vụ ra lịnh ban hành Đạo Lịnh nầy.

Tòa Thánh, ngày 10 tháng 4 nhuần Quí Mão.
(dl. 01-06-1963)

THƯỢNG SANH
(ấn ký)

 

Khai Đạo
(ấn ký)

 

Tiếp Pháp
(ấn ký)

 

Bảo Thế
(ấn ký)

 

 

KIỂM ĐÀN


E: Making order.
F: Contrôleur de la séance.

(Kiểm: Xem xét kỹ lưỡng. Đàn: đàn cúng tại Tòa Thánh hay Điện Thờ) Kiểm đàn là người có phận sự sắp đặt và giữ gìn trật tự trang nghiêm trong một đàn cúng tại Tòa Thánh, Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu.

Tất cả những vị kiểm đàn nam nữ ở trong một Ban do Hội Thánh lập ra gọi là Ban Kiểm Đàn, có một vị Chức sắc đứng đầu. Ban Kiểm Đàn đặt dưới quyền của Hộ Đàn Pháp Quân.

 

 

KIẾN

• Kiến : Dựng nên, gây dựng. Td: Kiến công, Kiến trúc.

• Kiến : Thấy, ý thức. Td: Kiến tánh.

• Kiến : Gặp, bái kiến.

 

 

KIẾN CƠ NHI TÁC

Đức Hộ-Pháp dâng Sớ chung niên về Thiêng liêng năm Ất-Mùi có đoạn như sau: "Cuộc tương tranh còn trong vòng bất phân thắng bại, thì hiện giờ lại lăm-le uy hiếp Đạo tại miền Đông, nhắm Thánh-Địa làm bia cho ngọn súng. Đệ-Tử vẫn bình tâm chờ xem động tịnh thế nào rồi sẽ kiến cơ nhi tác: Một là cứu nguy cho đại nghiệp Đạo; Hai là giải nạn cho toàn dân Việt Thường. Năng lực của Đệ Tử luôn cả con cái Đức Chí-Tôn vẫn hiếm hoi yếu đuối, Đệ-Tử chỉ nhờ hồng ân của Đại-Từ Phụ và Đức Phật Mẫu hộ trì cho đặng đạt thành ý nguyện. Ấy là phương sách cuối cùng của Đệ-Tử đã gian lao từ thử vì Đạo, vì nước, vì đồng bào và một khi tình hình được cứu vãn, Đạo mới có thể dễ dàng truyền bá khắp nơi, trước nhứt là trong bổn xứ với 25 triệu nhơn số mà chưa đầy một triệu Nhập môn cầu Đạo thì tội nghiệp thay cho số dân kia còn mơ mộng trong đám phù vân khói tỏa."

 

 

KIẾN CÔNG LẬP VỊ

(Kiến: Dựng nên, gây dựng. Công: công quả bằng sức lực của mình. Lập vị: tạo nên phẩm vị). Kiến công lập vị là gây dựng công quả để tạo nên phẩm vị cao trọng trong cửa Đạo cũng như khi về cõi thiêng liêng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Đường đời khúc mắc chông gai là lẽ Thiên cơ đã định vậy, cái nơi để cho cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến kiến công lập vị".

Tòa Thánh, năm Mậu Thìn (1928).

Thầy dạy:… "Ðường đời khúc mắc chông gai là lẽ Thiên cơ đã định vậy; cái nơi để cho cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến kiến công lập vị mình chẳng khác nào con buôn trong buổi chợ. Cả sức lực, cả trí não tinh thần đều bị tiêu tán nơi ấy, vì vậy nên mới mất chơn linh, thất ngôi diệt vị. Bởi vậy cho nên nhiều bực Thánh, Thần, Tiên, Phật cam lòng thủ phận chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đọa, nhưng mà chẳng tái kiếp thì như nhu sĩ trốn thi, thế nào mong mỏi địa vị ra cao thượng. Cuộc đời khó khăn tỉ như bài thi, nếu dễ thì ai cũng đặng, cuộc thi có ý vị gì đâu. Hễ bài càng khó thì đậu càng cao, đậu cao mới ra có giá. Thầy tưởng như nơi thế gian nầy có đứa con nào Thầy cưng trọng hơn hết thì là các con, nhưng mà chẳng lẽ Thầy làm Giám-khảo lại cấp nấp bài thi lén cho mỗi đứa thì cái đậu của các con có ra chi. Lại nữa, Thầy biết trước rằng: Không cần giúp các con cũng dư sức đậu đặng, thì dường ấy nếu Thầy giúp, tức hại thể diện các con, chớ không giờ phút nào Thầy xa các con. Các con chịu khổ hạnh là Thầy muốn vậy. Nhà nghèo hạnh tốt ấy là gương treo dạy đời, các con khá bền lòng son sắt; cái hạnh tốt là thang vạch ngút mây xanh; tâm thành là để giồi trau tánh tục; lòng đạo đức quí hơn là miếng đỉnh chung; tố bần hàn tùy mình mà hành Ðạo, thì công quả ấy trổi hơn hạng thượng lưu đó các con (Vì có người nghèo nên Thầy giáng cơ dạy).

 

 

KIẾN DIỆN

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống: "Bần-Đạo nói sơ lược huyền năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Ngài, ta ngó trên mặt Ngài ta thấy mặt Bà Mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về, Bần Đạo tưởng ngó thấy Bà Mẹ sanh Bần Đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy người Mẹ của họ vậy. Nếu lấy theo cái trí học tưởng-tượng không biết con mắt Thiêng-Liêng có chiếu hình Mẹ ta chiếu diệu ra không? Hay là huyền-diệu vô biên của Phật-Mẫu cho chúng ta thấy như vậy".

 

 

KIẾN LÃO QUÂN

(Kiến : thấy, trình diện. Lão : già, người già, quân : ông). Kiến Lão Quân là làm lễ bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Kỵ Kim quang kiến Lão Quân,
"Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng."

 

 

KIẾN TÍNH (Phật Học)

Kiến tính (C: jiànxìng; J: kenshō) Tức là trực nhận thấy tính; một danh từ chỉ sự trực nhận thấy chân lý. Như tất cả ngôn ngữ thì danh từ này cũng không chính xác và có thể tạo sự hiểu lầm vì kinh nghiệm kiến tính không có tính nhị nguyên, không có người nhìn (kiến) và không có "tính" được nhìn.

Kiến tính đồng nghĩa với Giác ngộ và cũng được sử dụng như nhau. Nhưng thông thường, danh từ Giác ngộ được dùng để chỉ sự giác ngộ của một vị Phật, vị Tổ và kiến tính để chỉ các kinh nghiệm nếm vị giác ngộ ban đầu, cần được tu tập rèn luyện thêm.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

KIẾN THỨC


F: Savoir.

(Kiến : thấy; Thức : biết) là những điều thấy và biết do từng trải, học tập, ý thức và kinh nghiệm (thấy và biết).

Lý do thờ Thiên Nhãn Đức Hộ-Pháp có giải rằng:

"Hễ có kiến thì có thức, kiến thức là căn bản của trí thức tinh thần. Muốn kiến thì nhờ NHÃN, muốn thức thì nhờ TRÍ. Ấy vậy, trong tâm (gọi là linh tâm hay chơn linh) là Thiên Nhãn của trí thức con người. Vì cớ mà Đại-Từ Phụ dạy thờ Thiên Nhãn. Thiên Nhãn là hình trạng của Lương tâm toàn thể, làm nền móng cho CAO-ĐÀI, nghĩa là Đền thờ cao trọng hay là Đức tin lớn của Đức Chí-Tôn tại thế này, y như hai câu thi của Đức chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor-Hugo)

"L`oeil mystique seul verra la Religion nouvelle.
"La grande foi git dans la conscience universelle".

Dịch nghĩa:

Có Thiên Nhãn mới tường Chánh giáo.
Tín Cao-Đài do Đạo Lương-tâm

Thờ Thiên Nhãn là thờ tánh mạng mình và Chí Tôn. Nghĩa là thờ Lương tâm của toàn thiên hạ (La culte de la conscience) Trong cửa Đạo đặt ra điều chi đều là hữu ích tất cả, mượn Thể pháp tượng trưng mới đoạt Bí-pháp. Huyền vi mầu nhiệm của Đạo có Bí-pháp cũng như Đời có Luật pháp." (Đức Hộ Pháp: Diễn văn 15-8 Quí-Dậu)

 

 

KIẾN TRÚC - BAN KIẾN TRÚC

-
E: The construction - Committee of construction.
F: La construction - Comité de construction.

(Kiến: tạo nên, gây dựng. Trúc: xây dựng nhà cửa. Kiến trúc là nói chung về việc xây dựng đền đài). Ban Kiến Trúc của nền Đại-Đạo là một bộ phận của Cơ quan Công thợ có nhiệm vụ chuyên môn, thiết kế, xây dựng, trang trí các Thánh Thất, các Điện Thờ Phật Mẫu, cùng các dinh thự khác của Đạo từ trung ương đến địa phương.

Cơ quan Công thợ được thành lập chánh thức do Thánh Lịnh của Đức Hộ Pháp số 231 ngày mùng 09-07-Canh-Dần (dl: 22-8-1950). Cơ quan Công thợ bao gồm các Ban: Ban Kiến Trúc, Ban Nhà Thuyền, Ban Mỹ Thuật....Đứng đầu Ban Kiến Trúc là một vị Tổng Giám, có các vị Phó Tổng Giám và Tá Lý giúp việc.

Nguyên văn Thánh Lịnh số 231 của Đức Hộ Pháp thành lập Cơ quan Công thợ, như sau:

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Nhị Thập Ngũ Niên)


Tòa Thánh - Tây Ninh

Số: 231/TL


HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền,

Chiếu y Đạo luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (dl: 15-02-1938) giao quyền thống nhứt Chánh-trị Đạo cho Hộ-Pháp nắm giữ cho đến ngày có Đầu-sư chánh vị.

Nghĩ vì Cơ quan Công thợ trong châu vi Tòa Thánh chưa có hàng phẩm tương đối với các cơ quan khác đặng mở đường lập vị cho họ, nên:

THÁNH LỊNH

Điều thứ nhứt: Đặt riêng Cơ Quan Công Thợ trong châu vi Tòa Thánh những danh từ và trách vụ như dưới đây:

- Tá Lý coi về một Sở.

- Phó Tổng Giám làm đầu một hay nhiều Sở, dưới quyền Tổng Giám.

- Tổng Giám kiểm soát toàn thể các Cơ Sở.

Điều thứ nhì: Những chức vụ kể trên đối hàm như vầy:

* Tá Lý đối hàm Chánh Trị Sự hay Hành Thiện.

* Phó Tổng Giám đối hàm Lễ Sanh.

* Tổng Giám đối hàm Giáo Hữu.

Điều thứ ba: Mỗi bậc kể trên cũng phải hành sự đủ 5 năm mới được thăng lên và tới bậc Tổng Giám thì được Hội Thánh đem ra Quyền Vạn Linh công nhận vào hàng Giáo Sư sau khi đầy đủ công nghiệp.

Điều thứ tư: Chư vị Bảo Thế, vị Khai Pháp chưởng quản Bộ Pháp Chánh, vị Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối Sư, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

Lập tại Tòa Thánh, ngày 9 tháng 7 Canh Dần.
(22-Août-1950)
HỘ PHÁP (ấn ký)

Theo Thánh Lịnh nầy:

- Cơ quan Công thợ không trực thuộc riêng một Đài nào cả mà chịu dưới quyền của Hội Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Khi Ngọc Hư Cung giao cho Hiệp Thiên-Đài cầm quyền nền Đạo thì Cơ quan Công thợ đương nhiên chịu dưới hệ thống của Hiệp-Thiên-Đài.

- Các phẩm: Tổng Giám, Phó Tổng Giám, Tá Lý không có Đạo phục riêng khi chầu lễ Đức Chí Tôn, nên các vị nầy phải mặc Đạo phục của Đạo hữu và đứng ở hàng Đạo hữu để chầu lễ Chí Tôn. Nhưng khi các vị trong ba phẩm nầy qui liễu thì được hành lễ tang theo các phẩm cấp tương đương, nghĩa là:

- Tổng Giám được hành lễ tang theo hàng Giáo Hữu.
- Phó Tổng Giám được hành lễ tang theo hàng Lễ Sanh.
- Tá Lý được hành lễ tang theo hàng Chánh Trị Sự.

Pháp lý về Ban Kiến Trúc:

Có một sự kiện xảy ra giữa Ban Kiến Trúc và Hội Thánh Phước-Thiện, xin nêu ra để chúng ta thấy pháp lý về Ban Kiến Trúc.

Trong việc xây dựng cửa Chánh Môn, Ngài Bảo Thế quyết định xây theo kiểu vở do Ty Kiến Thiết Tây Ninh vẽ, không dùng họa đồ của Ban Kiến Trúc vẽ theo sự chỉ dạy của Đức Hộ Pháp khi xưa. Tổng Giám Ban Kiến Trúc lúc đó là ông Lê Văn Thế phản đối việc nầy và tuyên bố: Nếu Ngài Bảo Thế quyết định xây dựng theo họa đồ của đời thì ông không dám bổ công thợ đến xây dựng. Để tiến hành xây cất Chánh môn, Ngài Bảo Thế ra lịnh cho ông Chưởng quản Cơ Quan Phước-Thiện ra văn thơ thâu hồi quyền chức Tổng Giám của ông Lê Văn Thế. Lúc đó Ngài Bảo Thế làm Quyền Chưởng quản Hiệp-Thiên-Đài kiêm Thống quản Cơ Quan Phước-Thiện

Ông Tổng Giám thấy việc làm của Ngài Bảo Thế có tính cách áp bức, nên đem tất cả nội vụ trình lên Đức Thượng Sanh. Đức Thượng Sanh yêu cầu Bộ Pháp Chánh minh tra và phúc trình cho Ngài rõ, rồi Ngài ra văn bản giải quyết như sau:

 

Hiệp-Thiên-Đài

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tứ thập niên)

Thượng Sanh

Tòa Thánh - Tây Ninh


Số: 072/TS


THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ĐÀI

 

Kính gởi:

- Hiền huynh Bảo Thế,
- Hiền huynh Đầu Sư.

 

Tham chiếu: V/v Chưởng quản Phước Thiện ra Huấn Lịnh thâu hồi nhiệm vụ của vị Tổng Giám Ban Kiến Trúc Lê Văn Thế.

Kính Quí Hiền huynh,

Theo Phúc Trình minh tra số 157/PC của Hiền huynh Hiến Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh thì vị Chưởng quản Phước Thiện không có thẩm quyền thâu hồi nhiệm vụ của vị Tổng Giám Ban Kiến Trúc Lê Văn Thế vì chức vụ Tổng Giám ngang hàng với Giáo Hữu Cửu Trùng Đài. Ngoài ra, chiếu theo Thánh Lịnh số 231/TL ngày 20-8-1950 của Đức Hộ Pháp, Ban Kiến Trúc là một Cơ quan Công thợ biệt lập chịu dưới quyền điều khiển của vị Tổng Giám và đặt dưới hệ thống của Cửu Trùng Đài và Phước Thiện đặng tạo tác hoặc tu bổ các cơ sở trong châu vị Tòa Thánh. Nếu Tổng Giám Cơ quan nầy không làm tròn phận sự hoặc không tuân lịnh thượng cấp, thì tùy trường hợp, bên Hành Chánh hay bên Phước Thiện phúc báo lên Hội Thánh Hiệp-Thiên-Đài để nội vụ được giao qua Bộ Pháp Chánh minh tra đủ lẽ rồi Hội Thánh Hiệp-Thiên-Đài mới quyết định sau. Vậy xin quí Hiền huynh ra lịnh cho các cơ quan dưới quyền trực thuộc của mình thi hành theo đề nghị của Bộ Pháp Chánh gồm hai khoản sau đây:

1- Quyền chức của vị Tổng Giám Lê Văn Thế vẫn giữ như cũ.

2- Ngưng công cuộc tạo tác những Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu trong các Phận Đạo chiếu theo lời phê của Đức Hộ Pháp và quyết nghị của Hội Nhơn Sanh năm Giáp Thìn. Những Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu cất lỡ rồi, Hội Thánh sẽ tùy nghi sửa đổi cho hợp thời và hợp lệ.

Nay kính.

Tòa Thánh, ngày 25-8- Ất Tỵ (dl: 20-9-1965).
THƯỢNG SANH
(Ấn ký)

 

Số 221/SL: Sao y Bổn chánh

Tư cho Q. Ngọc Chánh Phối Sư, lịnh cho Khâm Thành thi hành khoản 2 trong Chỉ thị nầy.

Tòa Thánh, ngày 28-8-Ất Tỵ.
ĐẦU SƯ
Thượng Sáng Thanh
(Ấn ký)

 

 

KIỀN (Quẻ Đầu Của Kinh Dịch)

Còn đọc là CÀN , là quẻ đầu trong bộ Kinh Dịch. Chiết tự sẽ thấy có hai phần, tức là đủ Âm Dương: bên trái phía trên là chữ Thập (tức Thập phương chư phật), kế dưới là chữ nhật (chỉ trái đất này), sau hết là chữ Thập (Thập điện Diêm cung).Bên phải là chữ Khí (viết đủ nét là ) tức nhiên khí sanh quang là sự sống. Thế nên Kiền hay Càn là nói nói về quyền năng của Thượng Đế bao trùm khắp cõi, nhưng nơi nào khiếm ánh Thiêng liêng của Thượng đế thì nơi đó đau khổ.

Dịch nói: KIỀN Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh là 4 đức của Trời. Thể theo lý tính này mà Thánh-nhân đặt ra 4 đức của người là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí.

Thời thượng-cổ Thánh-nhân bắt đầu vạch ra tám quẻ, đạo của ba tài đủ rồi, nhân đó lại trùng điệp lên cho đủ hết các sự biến đổi của trời đất. Thế nên sáu vạch thành một quẻ kép. Hai quẻ Kiền đơn họp lại thành Bát-Thuần Kiền. Kiền là Trời:

- Chữ "Trời" chỉ về hình thể của trời.

- Chữ "kiền" chỉ về tính-tình của trời. Kiền nghĩa là mạnh, mạnh mà không nghỉ gọi là Kiền.

Ôi! Trời gộp lại là Đạo, cái mà "trời không thể sai trái" đó vậy. Nếu nói tách ra thì:

- Về phần hình thể gọi là Trời.

- Về phần chủ-tể gọi là Đế.

- Về phần công dụng gọi là quỉ-thần, về phần diệu dụng gọi là Thiên Thần.

- Về phần tính tình gọi là Kiền. Kiền là đầu mối muôn vật, nên Kiền là Trời, là Dương, là Cha, là Vua…

Nguyên, Hanh, Lợi,Trinh là 4 đức tính củaTrời:

- Nguyên là muôn vật bắt đầu.
- Hanh là muôn vật lớn lên.
- Lợi là muôn vật được thoả.
- Trinh là muôn vật đã thành.

Toàn 64 quẻ chỉ có hai quẻ KIỀN KHÔN có đủ 4 đức ấy, các quẻ khác thì tuỳ việc mà thay đổi:

- Nguyên là chuyên làm những việc thiện lớn.

- Lợi là chủ về những sự chính bền.

- Thể của Hanh Trinh việc nào xứng với việc ấy. Nghĩa của 4 đức bao gồm hết cả vũ-trụ.

Nguyên là gì? Về mặt chữ: Nguyên họp bởi chữ ngột là cao chót vót, thêm vào nét nhứt ─ ở trên để chỉ cái lý duy nhất, cao cả như nước nguồn đổ ra trăm sông, ngàn mạch, như một chủng-tử lưu truyền theo mỗi loại. Nguyên là bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên.

Theo dạng chữ thì chữ ngột giống như một cái Đài cao mà từ xưa các bậc tiền bối thường lập nơi thanh vắng và tinh-khiết để cầu Thần, Thánh, Tiên, Phật. Nét nhứt ở trên chỉ sự chí diệu, chí linh, tối đại, tối cao, duy tinh, duy nhất. Nói rộng ra Nguyên bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên do đức háo-sanh của Đấng Tạo-đoan để mỗi loại được cái sống lưu truyền với cái giác, cái linh huyền-nhiệm mà lưu tồn.Nguyên tượng cho mùa Xuân, là một trong 4 đức của trời.Ở người là đức Nhân . Như vậy mới hợp với Trời.(Tất cả đều cấu tạo bằng chữ nhị và nhân , nhưng đặt khác vị trí, chứng tỏ cùng một gốc)

Hanh là gì? Hanh gồm có bộ đầu ở trên hết là chỉ sự khởi điểm, liễu ở phía dưới là chỉ sự kết cuộc, khẩu ở giữa hàm chứa điều lành. Vậy Hanh là sự thông suốt, thuận-tiện, sự lớn lên của vạn-vật, chính nhờ có đức Nguyên mà khi vạn vật bắt đầu sinh dục mới được nguyên-khí mà ngày càng phát triển, ví như có mây mới biến hoá mà làm ra mưa cho khắp nơi được nhuần thấm, loại nào theo loại nấy, thứ nào theo thứ nấy, tất thảy thành hình, thành sắc, trưởng dục mãi cho đến vô cùng. Hanh tượng cho mùa Hạ.

Lợi là gì? Lợi là sự có ích của mùa thu hoạch, gồm bộ đao là con dao, hoà là cây lúa. Chữ Lợi là chỉ về mùa gặt hái, như lúa tới mùa thu-hoạch thì thợ đem liềm hái ra ruộng cắt đem về. Mùa thu là mùa thu gặt nên có lợi. Nhờ đức tính hoá-dục được xuyên suốt mới hanh thông tức là có lợi cho nhau, vạn-vật theo nhau mà phát huy toàn diện, lại giữ được nguyên khí thái hoà như lúc đầu trời đã phú cho. Như vậy mọi vật khởi đầu bằng hành động đúng, đưa đến công dụng tốt. Lợi là sự hài-hoà của phẩm-vật. Lợi chỉ về mùa thu. Với người "Lợi là sự hài hoà của việc Nghĩa" (Lợi giả, nghĩa chi hoà dã).

Với trời đất Lợi ở chỗ ban thí ra cùng khắp mà không kể công, tức là Trời không thấy làm, mà không một việc gì không làm "Vô vi nhi vô bất vi".

Trinh là gì? Trinh là sự chính đính, bền chặc cho đến cùng. Hợp bởi chữ bốc là bói và bối là đồng tiền, tức là chỉ sự bói toán dùng tiền gieo quẻ, mong được ứng điều lành. Trinh, mang ý-nghĩa sự chính bền cũng là sự thành tựu, giai đoạn thành hình. Trinh ứng vào mùa Đông.

 

 

KIỂN Quẻ 39. Quẻ Thuỷ Sơn Kiển

 

 

Quẻ 39. Quẻ Quẻ Thuỷ Sơn Kiển

 

 

Tượng: Tam cung Cửu viện

Quẻ này là quẻ Thuỷ Sơn Kiển. Cấn hạ cũng là nội Cấn. Khảm thượng là ngoại Khảm. Khảm là Thuỷ. Cấn là Sơn nên tên quẻ đọc là Thuỷ Sơn Kiển.

Theo thứ-tự quẻ thì sau quẻ Khuê tiếp lấy quẻ Kiển là cớ vì sao?

Vì rằng hễ đương lúc Khuê là trái lìa. Trái lìa thì khó-khăn rồi tiếp theo Kiển nạn, nên sau quẻ Khuê tiếp lấy quẻ Kiển. Kiển nghĩa là gay-go. Theo như thể quẻ thì Khảm ở trên, Cấn ở dưới, trên thì hiểm mà dưới thì dừng chỉ. Cũng như trước mặt thì bị dòng sông trở ngại, sau lưng bị núi ngăn cách, việc đi lại thật là khó-khăn, đúng là cách núi ngăn sông vậy.

Trái đây là trái với Thiên-lý, nghịch với Đạo tức là nghịch với con đường thẳng để đi đến cái đích cân đối của vũ-trụ. Như người ta phải ăn mới sống, không ăn ắt phải chết. Ban ngày mặt trời ban cho ánh sáng để vạn-vật hoá sanh. Ban đêm mát dịu để cây cỏ hút lấy sương làm điều hoà sức sống.

Hỏi vậy những tai nạn bịnh hoạn do đâu mà ra?

. Tiền nhân đã dạy: Bịnh tòng khẩu nhập, hoạ tòng khẩu xuất Ngày nay nhân-loại phải hứng lấy hoạ ương cũng vì thức ăn nhiều chất hoá-học sinh biết bao thứ bịnh nan y. Sự trác táng đã làm hành thân hoại thể cũng chính do ở tự mình gây ra.

Theo quẻ Kiển thì lấy đức quẻ mà giải thì trên có Khảm tượng là nước, cũng là nguy-hiểm, dưới có Cấn là núi thì có sự dừng chỉ, tức là không thông.

Kiển còn chỉ chân đi khập-khểnh, vì thế nên những nỗi khốn ách đều gọi là Kiển. Xem chữ Kiển trên có bộ Miên nghĩa là mái nhà che trùm lên, phần chữ bên trong như hàng rào che chắn bao chữ Túc là cái chân, muốn tiến lui đều bị vướng chân.

Nhìn tượng cũng thấy nước đầy của Khảm nên bước tới không được, mà bước lui không được vì bị Cấn là núi chắn rồi. Tiến lui khó vậy.

 

 

KIẾP (Phật Học)

Kiếp ( S: kalpa; P: kappa) dịch trọn âm là Kiếp-ba; Một khái niệm Phật giáo nhằm chỉ một thời gian rất dài. Một thời kiếp được biểu diễn như sau: cứ trăm năm có người dùng một tấm khăn lụa chùi một khối đá lập phương mỗi bề một dặm (1,6 km = 1dặm), thì lúc khối đá mòn hết, đó là một kiếp.

Mỗi kiếp có bốn giai đoạn sinh, thành, hoại, diệt của các thế giới. Trong giai đoạn sinh thành của thế giới, sinh vật bắt đầu sinh sôi nẩy nở. Trong giai đoạn hai, các thiên thể (mặt trời, mặt trăng) được sinh ra, sinh vật phát triển và bắt đầu có dạng đời sống xã hội. Trong giai đoạn hoại diệt, các yếu tố lửa, nước và gió phá hủy toàn bộ thế giới. Bốn giai đoạn nói trên hình thành một đại kiếp (s: mahākalpa), mỗi đại kiếp gồm 20 tiểu kiếp hợp lại.

Mỗi tiểu kiếp lại được chia ra thành những thời kỳ sắt, đồng, bạc, vàng. Trong thời gian một tiểu kiếp thành hình, thọ mệnh của con người cứ kéo dài thêm, cứ mỗi trăm năm thêm một tuổi, cho đến lúc con người thọ 84000 năm. Thân thể con người cũng cao lớn đến 8400 bộ. Trong giai đoạn hoại diệt của một tiểu kiếp, đó là giai đoạn của chiến tranh, bệnh dịch, thiếu ăn lan tràn, thì thọ mệnh con người ngắn dần, chỉ còn 10 năm. Thân người lúc đó chỉ còn một bộ.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

KIẾP CĂN


E: Sort.
F: Sort.

Kiếp: Một đời sống kể từ lúc sanh ra cho đến lúc chết. Căn: gốc rễ.

Kiếp căn là chỉ đời sống hiện tại và những buồn vui trong cuộc sống do gốc rễ từ kiếp trước, tức là do những điều phước đức hay những oan nghiệt mà mình đã gây tạo trong kiếp trước. Nếu kiếp trước làm điều phước thiện thì kiếp nầy hưởng được giàu sang sung sướng.

Kiếp căn cũng gọi là căn kiếp, nghĩa là cái gốc rễ của kiếp sống, tức là do cái nguyên nhân của đời trước, gọi là tiền nhân thì sẽ có kết quả đời sau, gọi là hậu quả . Ấy là do căn trước mà hưởng quả sau vậy: nếu gieo thứ nào sẽ gặt giống ấy. Do vậy mà "Phật sợ nhân, chúng sanh sợ quả". Vì sợ nhân nên không gieo nhân xấu, chúng sanh vô minh nên khi làm không nghĩ, đến khi gặp quả xấu thì đau khổ thôi.

Trong Truyền Đăng Lục của nhà Phật nói: "Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị, dục tri lai sinh quả, kim sinh tác giả thị" 欲知前世因,今生受者是; 欲知來生果, 生作者是. Muốn biết nguyên nhân đời trước ta thế nào, thì cứ xem hưởng thụ của ta đời nay; muốn biết sự kết quả đời sau thế nào, ta cứ xem việc ta làm đời nay thì rõ.

Như vậy, kiếp căn là tất cả những hành vi thiện ác trong một hay nhiều kiếp sống trước tạo thành gốc rễ để báo ứng cho kiếp này hay kiếp sau. Nếu việc làm lành, gọi là thiện căn 善根 thì tạo phúc đức cho người làm hưởng, nếu việc làm hung dữ, gọi là ác căn thì gây quả báo cho người làm phải trả.

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị có câu:

"Gởi hồn phách cho chàng định số,
"Gởi kiếp căn chàng mở dây oan."

 

 

KIẾP ĐỌA

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Ôi! Cái nạn thâm nhập vào kiếp đọa để trừng phạt tội tình độc ác của chúng sanh. Vậy hiện nay Chức sắc cần phải trút thêm cả mồ hôi lẫn hòa giọt lệ ái tuất thương sanh, hầu đi khắp non sông để bia tấm lòng thương yêu chơn thật của Đức Chí Tôn buổi Tam Kỳ Đại Đạo thì dầu cho sắt đá kia còn phải cảm giác thay, hà tất là quần sanh".

 

 

KIẾP HỒN

Thi văn dạy Đạo có câu:

Vong xu trọn cả một Càn Khôn,
Hết kiếp thịt xương, tới kiếp hồn.

 

 

KIẾP NỢ

Thi văn dạy Đạo có câu:

Một kiếp muối dưa xong kiếp nợ,
Cuộc đời oan nghiệt thấy rồi chưa?

 

 

KIẾP KHIÊN

Kiếp khiên là những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống nơi cõi thế gian.

Kinh Đại Tường có câu:

"Thâu các Đạo hữu hình làm một,
"Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên."

 

 

KIẾP LUÂN HỒI

Thầy dạy: "Các con đã sanh ra tại thế này, ở tại thế này, chịu khổ-não tại thế này, rồi chết cũng tại thế này, Thầy hỏi: Các con chết rồi các con ra thế nào? Các con đi đâu? Chẳng một đứa hiểu đặng cơ mầu-nhiệm ấy. Thầy dạy: Cả kiếp luân-hồi thay đổi từ trong nơi vật-chất mà ra Thảo mộc, từ thảo-mộc đến thú cầm; loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa-vị nhơn-phẩm. Nhơn-phẩm nơi thế này lại còn chia ra phẩm giá mỗi hạng: đứng bậc Đế-Vương nơi trái địa-cầu này, chưa đặng vào bực chót của điạ-cầu 67. Trong điạ-cầu 67 nhơn-loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy; cái quí trọng của mỗi địa-cầu càng tăng thêm hoài cho tới đệ nhứt cầu, Tam Thiên Thế giới; qua khỏi Tam Thiên Thế-giới thì mới đến Tứ đại Bộ Châu; qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam thập lục thiên; Vào Tam thập lục thiên rồi phải chuyển kiếp tu-hành nữa, mới đặng lên đến Bạch-Ngọc Kinh, là nơi Đạo Phật gọi là Niết-Bàn đó vậy".

Ô Môn. Ngày 12-11-1926 (âl 8-10-Bính Dần)

Thầy cắt nghĩa:: "Nếu các con hiểu rõ cơ huyền diệu của kiếp luân-hồi con người, chẳng phải như thói thường tình định liệu, thì con không buồn và cũng không oán trách Thầy. Nơi Bạch Ngọc Kinh, cả thảy đều là con cái của Thầy, tức là anh em với nhau. Cái phẩm vị của các con phải buộc tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị tối thượng mình là nơi Niết Bàn. Một lời nói với nhau cũng đủ cả hai xuống thế mà khuyên giúp lẫn nhau. Con chẳng nên gọi oan nghiệt.

Còn Đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu. Chẳng khác nào khi trước, Nhơn đạo chưa mở thì đã có Châu Công truyền trước.

Thánh đạo Jésus chưa ra đời thì đã có Moise, Élie, Gérimie, Saint Jean Baptiste.

Ðạo Tiên Nguơn Thỉ chưa ra đời thì có Hồng Quân Lão Tổ, Lão Tử, Thông Thiên Giáo chủ truyền đạo.

Phật Thích Ca chưa ra đời thì đã có Nhiên Ðăng Cổ Phật và Brahma truyền đạo.

Thầy chưa giáng cơ lập đạo tại nước Nam, chớ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, dùng huyền diệu nầy mà truyền đạo cùng vạn quốc".

 

 

KIẾP PHÙ SINH


E: A tempory life.
F: La destinée éphémère.

Kiếp: Một đời sống kể từ lúc sanh ra cho đến lúc chết. Phù: nổi. Sinh: sống. Kiếp phù sinh là cái kiếp sống của con người ngắn ngủi như cái bọt nổi trên mặt nước.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sinh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao.

 

 

KIẾP SANH

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Nhưng theo ý hiệp đồng chỉ dẫn,
Về phần đông các Đấng Thiêng Liêng.
Chí Tôn ví đắc cơ huyền,
Kiếp sanh phải chịu trong miền chuyển luân.

 

 

KIẾP SỐNG

Kiếp sống là thời gian từ khi vừa mở mắt chào đời cho đến khi nhắm mắt lìa trần thì được gọi là "Kiếp sống" hay "Kiếp sanh" cũng vậy. Kiếp sống này dài hay ngắn tùy theo quả căn, duyên số của mỗi người do luật tạo hóa đặt định. Con người không thể muốn được. Duy nếu biết tu có thể cải số được mà thôi. Có thể vì phước mà tăng tuổi thọ, vì gian ác mà bị giảm thọ là vậy. Hãy nghe Đức Hộ-Pháp giải thích:

"Ôi! Không phải kiếp sanh dễ gì ngộ Đạo, Bần Đạo đã chán biết khó khăn kiếp sống của mình tại thế bao giờ cũng vậy, nó làm cho mình nặng nề khổ não về tinh thần, nhưng chúng ta đem lên mặt cân thiêng liêng, chúng ta lấy trí khôn ngoan để suy đoán cho cùng, chúng ta phải lấy trí khôn ngoan công chánh mà phán đoán, phần nào xác là xác, phần nào hồn là hồn, cái xác thịt nó không phải ở đây cho đến lúc tận thế đa nghe! Kiếp sống tại thế gian này của mấy người không mấy lát, cao trọng cần yếu hay chăng là phần hồn, đừng sa xuống Địa Ngục, đừng xuống đó là hơn hết. Xuống cửa đó rồi khó giải thoát lắm, khó giải thoát lắm đa nghe. Còn phần xác thì xác, hồn là hồn, mình lấy cái trí não của mình, lấy cái trung dung của mình làm sao cho Đạo có công chánh, hòa bình, xác cũng vậy, hồn cũng vậy. Chỉnh cầm cân giữ mực thước làm sao cho xác thế nào, thì phần hồn kia cũng vậy, đừng trọng bên này, phụ bên kia, là khôn ngoan hơn hết. Còn một cái trọng yếu hơn nữa là phải nhớ luôn luôn phụng sự Đức Chí-Tôn, công nghiệp ấy không bao giờ mất, bởi Ông già đó chẳng chịu thiếu nợ ai hết, trái lại nếu chúng ta có phương thế lập vị chúng ta rồi mà chúng ta còn dư thừa công nghiệp đối với Ngài. Nhớ lại trong Cửu Huyền Thất Tổ của ta chưa chắc họ đều siêu thoát đặng, để chút của cải ấy đặng độ họ, tội nghiệp biết đâu trong Cửu Huyền Thất Tổ của mỗi đứa ta lại không có người ở dưới Phong Đô, rán tiện tặn chút đỉnh cho có của cải Thiêng Liêng cho họ hưởng mới khỏi uổng kiếp sanh của mình.

"Bần-Đạo nói rằng không có ai thương yêu Đức Phật Thích-Ca trong kiếp sống của mình hơn là Bà Nữ Đầu-Sư, trong một đời của Bà, Bần-Đạo tưởng thiệt là một người giữ Đạo, Bà chỉ giữ Đạo của Đức Phật Thích Ca mà thôi. Khi Đức Chí-Tôn đến mở Đạo, Bà theo chân của Đức Chí-Tôn đã đành, không ai dại khờ gì khi người đã có tâm Đạo mà còn mơ hồ e lệ sự chọn lựa của mình, nhưng Đức Chí-Tôn là khác, mà kính trọng thờ phượng Đức Thích-Ca đối với Bà Nữ Đầu-Sư là khác, huống chi trọn cái gia đình từ Mẹ dĩ chí Bà đều thờ phượng một cách rất tôn-nghiêm, dám chắc phần nhiều không có ai thờ phượng được như cả gia-tộc của Bà đã thờ phượng Đức Thích-Ca."

 

 

KIẾP THÁC

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cứ mến vinh huê cùng lợi lộc,
Chẳng lo kiếp thác đến gần nơi.

 

 

KIẾP TRÁI

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nước mắt chưa lau cơn kiếp trái,
Có công phổ độ giải tiền khiên.

 

 

KIẾP TRÁI OAN KHIÊN

Qua lời xin tội của ông Võ Văn Đợi, 50 tuổi, về "tội cãi thầy, cãi bạn của con. Xin Sư Phụ xá tội cho con. Cúi bạch". [Võ Văn Đợi (ký tên)]

Lời Phê của Đức Hộ Pháp: "Làm thầy như ai thì khác, còn Qua đây vẫn khác. Với Qua, thầy chỉ biết thương trò, tha thứ là phận thầy. Em chẳng vì đời mà phạm, nếu có phạm là vì Đạo, mà chẳng hiểu rõ mầu nhiệm của Thầy. Em về trước rồi mấy Qua lục thục cũng về sau. Chúng ta sẽ hội hiệp vĩnh viễn nơi cõi Hư linh, là quê hương thiệt. Thầy trò sẽ thiệt, bạn hữu sẽ thiệt, cảnh nầy chẳng phải của chúng ta vì nó là cảnh dành để cho kiếp trái oan khiên. Em an lòng, Thầy chỉ thầm khen em chớ chưa biết em đã có tội gì hết.

Ngày 22 tháng 4 năm Đinh Hợi.
[HỘ PHÁP (ấn ký)]

 

 

KIẾP TRẦN


E: The life in the earth.
F: La vie dans le monde.

Kiếp: Một đời sống kể từ lúc sanh ra cho đến lúc chết. Trần: cõi trần, cõi của nhơn loại đang sống. Kiếp trần là kiếp sống nơi cõi trần.

Cõi trần là cõi đọa, tức là cõi để trả quả; cõi nầy có nhiều ác trược, nhưng nếu ai tu hành được thì rất mau đắc đạo, chỉ một kiếp giác ngộ tu hành đủ trở về cùng Đức Chí Tôn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Cái kiếp trần nầy trẻ chớ ham.

 

 

KIẾP TU

Đức Hộ-Pháp nói: "Một kiếp Tu chưa chắc đã về được với Đức Chí Tôn, muôn năm ngàn kiếp mà nếu thiếu Tu, cũng không khi nào về được với Đức Chí-Tôn, mấy Anh mấy Chị rán nhớ điều đó, mà Tu thì sao? Trong cửa Đạo Cao-Đài này đã dạy Tu rồi, nhứt là Bần-Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn đó vậy."

 

 

KIẾT TƯỜNG


E: A good presage.
F: Présage heureux.

Kiết: cũng đọc là Cát: Tốt lành. Tường: điều tốt lành. Kiết tường hay Cát tường là điều tốt lành, điềm lành.

Chữ VẠN vẽ nơi ngực của Đức Phật tiêu biểu cho sự kiết tường, nên chữ ấy được gọi là chữ Kiết tường. Khi gặp chữ ấy, như là gặp một điềm lành. (Xem chi tiết: Vạn, vần V)

 

 

KIÊU CĂNG


E: Haughty.
F: Orgueilleux.

Kiêu: Khoe mình, tự cho mình là tài giỏi nên có ý khinh người. Căng: khoe khoang. Kiêu căng là lên mặt tài giỏi, khinh người.

Kiêu căng trề nhún: Tự cho mình hay giỏi mà tỏ ra khinh rẻ chê bai mọi người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Hòn ngọc đẹp đẽ quí báu dường nầy, Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu căng trề nhún.

Kiêu căng tự đại: Tự cho mình tài giỏi hơn hết nên khinh thường mọi người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tánh kiêu căng tự đại là hang thẳm chôn lấp trọn thân hình hồn phách đó.

 

 

KIÊU CĂNG TỰ ĐẠI

Đức Quan Thánh để lời rằng: "Tánh kiêu căng tự đại là hang thẵm chôn lấp trọn thân hình hồn phách đó. Nên ghi nhớ mà lập tâm sửa mình. Khá gắng nhớ bài nầy:

Khuôn đời chưa dễ tạo nên hình,
Tóc bạc còn mờ lối nhục vinh.
Hòn ngọc khó đem trau Thánh chất,
Cân vàng khôn lấy nện chày Kình.
Phước Trời gieo sẵn còn giao kết,
Lợi thế chưa nên xúm giựt giành.
Thời cuộc tuần hoàn tai ách khởi,
Liệu mà xông lướt, liệu đua tranh.

Các Đạo hữu Thiên phong nên giảng bài nầy cho chúng sanh."

 

 

KIÊU HÃNH


E: To prondof.
F: Vaniteux.

Kiêu: Khoe mình, tự cho mình là tài giỏi nên có ý khinh người. Hãnh: sung sướng lộ ra ngoài nét mặt. Kiêu hãnh là kiêu căng và hãnh diện.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đừng lòng kiêu hãnh cậy mình tài,
Nên nhớ chữ tài cận chữ tai.

 

 

KIẾU TỪ


E: To say good bye.
F: S’excuser pour se retirer.

Kiếu: do chữ Cáo nói trại ra, nghĩa là lấy một cớ nào đó để xin ra về. Từ: xin lui, từ giã. Kiếu từ tức Cáo từ là nêu ra một lý do nào đó để từ giã.

 

 

KIM

Kim : Hôm nay, ngày nay.

 

 

KIM (Giáo Sư Thượng Kim Thanh) (Danh)

Ông Ngô văn Kim làm Đại Hương Cả. Tỉnh Cần Giuộc

Thọ phong Giáo Sư phái Thượng. Thánh danh Thượng Kim Thanh, vào ngày 17 tháng 5 Bính Dần.

Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo và cũng có ký tên cùng với 28 vị tiền khai Đại Đạo nữa.

 

 

KIM BÀN


E: The golden place of Buddha Mother.
F: Le Bassin en or de Bouddha Mère.

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống:

"Phải chăng nơi ấy Đạo-Giáo cho là Kim-Bàn đó vậy, tức nhiên là nơi các chơn-hồn hiện ra, còn các chơn hồn nữa, chúng ta ngó thấy trên đầu mỗi người có một đạo hào-quang, đặc sắc hơn nữa là trong ấy hiện ra một điểm linh-quang hiển hiện chơn-tánh kiếp sanh họ tức nhiên là vị Phật, chúng ta quan-sát tìm hiểu ngó thấy trong mỗi người chúng ta có ba món đặc-sắc mà Đức Chí-Tôn đã để vào hình ảnh con người là: TINH- KHÍ- THẦN, thật ra thì ba vật là Thú- Người - Phật. Thỉnh-thoảng có dịp Bần-Đạo sẽ giảng-giải điều ấy cho biết nguyên-căn của người xuất hiện nơi nào, đến đây để làm gì và chết rồi đi đâu?

Phải chăng cái cảnh của Đức Phật Kim-Cang đã đoạt vị "Vô thọ thường thức Diêu-Trì" chúng ta đến đó ngó thấy tinh thần tư-tưởng hiện-tượng, chúng ta thấy bất quá là tin-tưởng Đạo-Giáo. Bần-Đạo dám chắc người nào đi tìm Đạo mà có tâm định tưởng là thấy ngay, chớ nếu đi theo Đạo Chí-Tôn dìu-dắt tới đâu thì hay tới đó, thành ra không phải tin tưởng, thì cái thế-giái vô-hình là con đường đã mở để dìu-dắt cả toàn nhơn-loại trong Càn-Khôn Vũ Trụ, không thấy được. Chúng ta thiết nghĩ Đức Chí-Tôn mở Đạo cho chúng ta biết phân biệt Bí-Pháp chơn-truyền đặng đi theo Ngài hay là theo thú, vì thi-hài chúng ta là thú không thể gì chối cãi được.

 

 

KIM BÀN CHƯỞNG ÂM

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Bàn: Bồn: cái chậu, cái thau có hình tròn dẹt. Kim Bàn hay Kim Bồn là cái chậu bằng vàng của Đức Phật Mẫu đặt nơi Diêu Trì Cung dùng chứa các nguyên chất (nguơn chất) để tạo chơn thần cho các nguyên nhân giáng trần.

Kinh Ðệ Cửu cửu:

"Nơi Kim Bồn vàn vàn nguơn chất."

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Huờn hồn chuyển đọa vi thăng,
"Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn chưởng Âm."

 

 

KIM BÀN PHẬT MẪU

Kim Bàn Phật Mẫu tức là Diêu Trì Kim Mẫu, chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung, là nơi chứa các nguyên chất để tạo ra Chơn Thần cho các bậc Nguyên nhân.

Đức Diêu Trì Kim Mẫu nguồn gốc là do hóa thân đầu tiên của Đức Chí Tôn để làm chủ khí Âm Quang.Về vũ-trụ-quan của Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn giải rằng: "Khí Hư Vô sanh có một mình Thầy".

Khí Hư-vô còn gọi là Tiên-thiên chánh Khí hay Hạo Nhiên Chi Khí, là khí có trước khi có Trời Đất, tức là khi Trời Đất chưa có phân định, còn trong thời kỳ Hồng mông, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi. Khí Hư-vô nầy vô cùng nhẹ nhàng, tinh khiết, bàng bạc khắp vũ trụ càn khôn, kết tụ muôn đời nhiều kiếp, đến thời kỳ có một tiếng nổ lớn liền biến sanh ra một ngôi gọi là Thái Cực, một khối Đại-linh-quang toàn tri toàn năng, vô cùng vô tận, sáng lòa rực rỡ, chiếu tỏa khắp Càn Khôn vũ trụ. Đó là Thái cực là ngôi ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Đức Chí Tôn mới phân định Thái cực ra Lưỡng nghi là khí Dương quang và Âm quang. Đức Chí Tôn nắm quyền chưởng quản khí Dương quang, còn khí Âm quang thuộc quyền chưởng quản của Diêu Trì Kim Mẫu hay Kim Bàn Phật Mẫu. Khí Dương Quang của ngôi Thái Cực mới phối hợp với khí Âm Quang để tạo hóa ra vạn vật, vạn loại chúng sinh do Đức Mẹ hóa sanh gồm Bát hồn: Kim Thạch hồn, Thảo Mộc hồn, Thú Cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Càn Khôn sản xuẩt hữu hình,
Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh.
                        (Phật Mẫu Chơn Kinh)

 

 

KIM BẢNG

Thầy dạy: "Thầy thấy nhiều đứa xả thân cầu Ðạo, diệt tục xủ phàm để mình làm hướng đạo. Hỏi vậy có ai xứng đáng chưa? Ôi! Thầy vì mấy chục ức nguyên nhân, không nỡ để cho ngôi phẩm tan tành, chớ lấy luật Thiên thơ thì không một ai dự vào Kim Bảng".

 

 

KIM BIÊN (Địa Danh)

Đức Hộ-Pháp nói: "Riêng phần Bần-Đạo là Công chức, khi vâng lịnh Đức Chí-Tôn đến Chùa Gò-kén mở Đạo, Bần-Đạo có xin phép nghỉ sáu tháng, đến chừng trở lại làm việc người ta không cho Bần đạo ở Nam-Việt nữa, đổi Bần-Đạo lên Kim Biên, tức Nam-Vang ( xứ Cam-Bốt bây giờ ).

 

 

KIM BIÊN TÔNG ĐẠO

Nước Cao Miên (Campuchia) có thủ đô là Phnom Penh, phiên âm ra tiếng Việt là Nam Vang, nhưng trong Đạo Cao Đài thường gọi Nam Vang là Kim Biên và nước Cao Miên là Tần quốc (nước Tần) và người Cao Miên là Tần nhơn. Hội Thánh Ngoại Giáo đặt văn phòng tại Nam Vang. Khi Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn từ bỏ chức vụ Chưởng Đạo Hội Thánh Ngoại Giáo, Đức Phạm Hộ Pháp giải tán Hội Thánh Ngoại Giáo và thành lập Tông Đạo Kim Biên tại Nam Vang.

Tông Đạo Kim Biên có xây dựng một Văn phòng thường trực trong Nội-Ô Tòa-Thánh Tây-Ninh, ngày khởi công xây dựng là 4-7-Tân Hợi (dl: 24-8-1971) và ngày Khánh Thành là 02-04-Nhâm Tý (dl: 14-5-1972). Ngài Hiến Pháp Quyền Chưởng Quản Hiệp-Thiên-Đài đến dự và đọc bài Huấn Từ, trích một đoạn sau đây:

"Nhơn danh Hội Thánh Tòa-Thánh Tây-Ninh, tôi rất hài lòng nhận thấy sự thành quả tốt đẹp của ông Khâm Trấn (Giáo Sư Thái-Của-Thanh) về việc kiến tạo Văn phòng cho Tông Đạo Kim Biên rất mau chóng và mỹ mãn trong lúc thời cuộc hết sức khó khăn nầy. Ông chỉ nhứt thân nhứt mã, tạm rời nhiệm sở tại Kim-Biên để về Tổ đình tự vận động xây cất ngôi biệt thự nầy chỉ với sự ủng hộ tinh thần của Hội Thánh mà thôi. Công nghiệp của ông Khâm Trấn Kim-Biên rất đáng khen và đáng khích lệ. Từ đây, Tần nhơn và người Việt-Nam thuộc Tông Đạo Kim Biên nói chung sẽ có nơi tạm trú khi về Tòa Thánh chầu lễ Đức Chí Tôn hoặc khi có đạo sự khác. Nói đến bổn đạo Tần nhơn, tôi hồi tưởng lại lúc đầu mấy năm khai Đạo, đa số người Miên qui tụ về Tòa Thánh để hiến dâng công quả, phá rừng khai thác vùng Thánh địa nầy có chỗ trống để xây dựng ngôi Đền Thánh trước hết, vì trước kia vùng nầy là rừng già rậm rạp. Toàn Đạo đều tưởng niệm công lao đáng kể ấy, mặc dù sau khi bị chánh quyền Khơ-me cấm di chuyển, họ phải chịu vắng bóng nơi nầy, rất đáng thương và đáng kính thay lòng tín ngưỡng chơn thật của người đồng đạo Tần nhơn. Tôi tin chắc rằng: Đức Chí Tôn không bao giờ nỡ bỏ rơi đám con cái đáng thương nầy. Rồi đây, thế nào họ cũng sẽ tìm phương thế trở về với Đạo gốc mà họ đã thâm nhiễm từ lâu. Ngôi Văn phòng Tông Đạo Kim Biên kiến tạo lúc nầy rất hạp thời đó vậy."

Nơi cổng Văn phòng Kim Biên Tông Đạo có khắc đôi liễn:

-

Tần quốc lân bang phổ độ chúng sanh qui thiện giáo,

-

Kim Biên Tông Đạo ngoại giao dân tộc chánh nhơn tâm.

Nghĩa là:

-Nước Cao Miên láng giềng, cứu giúp nhơn sanh khắp nơi trở về nền Tôn giáo tốt lành,

- Tông Đạo Kim Biên, giáo hóa dân ngoại quốc làm cho chơn chánh lòng người.

Lưu ý: Theo đôi liễn nơi cổng Văn phòng Kim Biên Tông Đạo thì chúng ta lưu ý chữ Kim Biên nếu viết là Kiêm Biên thì sai chánh tả.

 

 

KIM BỒN (KIM BÀN)

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu

"Nơi Kim-Bồn vàn-vàn nguơn chất,
"Tạo hình-hài các bậc nguyên nhân.
"Cung Trí-Giác, trụ tinh thần,
"Huờn hư mầu-nhiệm thoát trần đăng Tiên."

 

 

KIM CÂU

Kim câu là một cái lịnh bài bằng vàng dùng để điều khiển chư Thiêng Liêng. Nếu một Chơn hồn được Kim câu bài thì có thể vào Thiên môn. Được thẻ lệnh gọi là Kim Câu Bài của Đức Thái Thượng Lão Quân cấp cho thì Chơn hồn mới đi đến cửa Trời một cách dễ dàng.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Đạp Thái Sơn nhảy qua Đẩu Suất,
"Vịn Kim Câu đến chực Thiên Môn."

Đức Quyền Giáo Tông họa lại bài thi của Đức Hộ Pháp, đảo vận:

Lưỡi liềm chi dễ sánh Kim câu!
Gây sự bởi ai tạo buổi đầu?
Đông Hải mênh mông còn phải cạn,
Tây Hồ chật hẹp độ bao sâu?

 

 

KIM CÔ

Kim Cô Cái vòng phép bằng vàng đặt lên đầu để kềm hãm bớt tà dục một khi nổi dậy trong vô thức.

Trong truyện Tây Du, Tam Tạng không thể sai khiến được học trò là Tề Thiên Đại Thánh. Sau nhờ Quan Âm Bồ Tát đặt chiếc vòng Kim Cô lên đầu của Tề Thiên, nên Tam Tạng mới phục được học trò, bởi nếu Tề Thiên chẳng tuân lịnh thì Tam Tạng sẽ niệm Kim-Cô-chú, khiến phải đau đớn mà nghe theo. Dở Kim-cô tức là tự giải thoát được nghiệt oan trong kiếp sống để Chơn linh nhẹ nhàng.

Kinh Đệ Thất Cửu có câu:

"Động Phổ Hiền Thần Tiên hội hiệp,
"Dở Kim Cô đưa tiếp linh quang."

 

 

KIM CHUNG

Kim chung Cái chuông vàng. Tiếng chuông vàng ngân lên, mở đường cho Chơn linh kịp bước để theo Tòa sen Thần đưa đi.

Kinh Đệ Thất Cửu có câu:

"Dà Lam dẫn nẻo Tây Qui,
"Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen."

 

 

KIM ĐƠN

金 丹
E: The medicine of long living.
F: Drogue d’immortalité.

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Đơn: Thuốc. Kim đơn hay Kim đan thường dịch là thuốc tiên, tức là thuốc uống vào thì thành Tiên.

Từ ngữ Kim đan hay Kim đơn dùng nói về cách luyện đạo để thành Tiên, chớ thật ra không có thuốc nào uống vào bụng mà được thành Tiên. Nếu thuốc Tiên có thật thì các vị vua chúa xưa nay đều thành Tiên hết, vì các vua chúa nầy có đủ oai quyền và tiền bạc để phái người đi tìm thuốc Tiên.

Phép luyện đạo của Tiên giáo là luyện Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần) hiệp nhứt, tạo thành Kim đơn, đắc đạo tại thế. Kim đơn ấy còn được gọi bằng nhiều danh từ khác như: Thánh thai, Xá lợi, Bổn lai diện mục, mà Đạo Cao Đài gọi là Chơn thần.

"Trời có Ngũ Khí, Đất có Ngũ phương, người có ngũ tạng. Người luyện đạo phải lấy Ngũ Hành ấy chế tạo mà luyện Kim đơn cho thành Xá lợi. Muốn thành xá lợi, cần vận chuyển pháp luân cho Ngũ Khí triều nguơn, Tam huê tụ đảnh.

Làm sao Ngũ Khí triều nguơn, Tam huê tụ đảnh đặng?

Muốn Tam huê tụ đảnh phải bảo Tinh, dưỡng Khí, tồn Thần, luyện chơn chưởng Thánh đô cho Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần huờn Hư, ba báu qui về tại kim đảnh là thành đạo.

Còn muốn cho Ngũ Khí triều nguơn, phải dụng công phu định cái Tâm, gìn cái Ý, bế Ngũ quan thì Ngũ Tạng hiệp về, Tam hồn thanh tịnh vô vi, thì: Nam phương Xích đế triều nguơn, Bắc phương Hắc đế triều nguơn, Đông phương Thanh đế triều nguơn, Tây phương Bạch đế triều nguơn, ấy là Tứ Tổ qui gia, hiệp với Huỳnh Lão trung ương, tức là Ngũ Khí triều nguơn." (Trích Ðại Thừa Chơn Giáo).

 

 

KIM KHÔI

Kim Khôi là Mão vàng, chiếc Mão này trên chóp có dạng như chỉa ba ngạnh, gọi là Tam Sơn, ý nghĩa là Chưởng Quản Tam Thiên Thế giới (Tam Thiên là cảnh giới ở Tây phương Cực Lạc)

Kim khôi cái mũ trụ bằng vàng trong bộ Đại phục của Đức Hộ Pháp.

Trên Kim khôi có thể Tam sơn, giống như cái chỉa ba ngạnh, tượng trưng chưởng quản Tam Thiên bên Cực Lạc Thế giới.

 

 

 

KIM KHUYẾT

金 闕
E: The golden gate.
F: La grande porte en or.

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Khuyết: cái cổng vào đền vua. Kim Khuyết tức Huỳnh Kim Khuyết là cái cổng lớn làm bằng vàng ròng đi vào Linh Tiêu Điện cõi thiêng liêng, là nơi họp Thiên triều của Đức Chí Tôn. (Xem: Huỳnh Kim Khuyết)

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Trường-Canh chói rạng lòa Kim-Khuyết,
"Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.
"Tề-Thiên Đại-Thánh để lời,
"Thiện nam, tín nữ nghe thời phải vưng."

 

 

KIM LAN

金 蘭
E: Good Friends.
F: Bons amis

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Lan: hoa lan, mùi rất thơm. Kim lan là vàng và hoa lan, chỉ bạn đồng tâm với nhau.

Kinh Dịch có câu: "Nhị nhân đồng tâm kỳ lợi đoạn kim, đồng tâm chi ngôn kỳ xú như lan." Nghĩa là: Hai người đồng tâm với nhau lợi có thể chặt đứt được vàng, lời nói đồng tâm thì mùi thơm như hoa lan.

Do câu nầy, người ta dùng 2 chữ cuối của mỗi phần câu là kim lan để chỉ người bạn tốt, đồng tâm đồng chí với nhau.

 

 

KIM MAO HẨU - KIM HẨU

金 毛 獄 -
E: The yellow holy lion.
F: Le lion sacré jaune.

(Kim: vàng, vua loài kim, màu vàng, quí báu như vàng, tiền bạc. Mao: lông. Hẩu: thú cùng loài với sư tử).

Kim Mao Hẩu là con sư tử lông vàng nơi cõi thiêng liêng. Kim Mao Hẩu, nói tắt là Kim Hẩu, là con vật nơi cõi trời chứ không có nơi cõi trần này.

- Phật giáo gọi Kim-Mao-Hẩu là Kim Mao Sư Tử. Kinh Phật nói: "Chỉ thấy trong áng mây ngũ sắc, Ngài Văn Thù Bồ Tát cỡi con sư tử lông vàng bay tới."

- Đức Từ Hàng Bồ Tát cũng cỡi Kim Mao Hẩu. Con Kim Mao Hẩu của Ngài là học trò của Thông Thiên Giáo chủ đã tu luyện thành người, xưng hiệu là Kim Hoa Tiên, bị Đức Từ Hàng thâu phục trong trận Vạn Tiên, cho hiện lại nguyên hình.

Với Đạo Cao-Đài:- Bốn cửa hai bên hông Đền Thánh mỗi cửa có hai con Kim Mao Hẫu, hình ảnh y như Bạch Ngọc Kinh, có những con Kim Mao Hẩu đón rước các chơn linh có công cùng Đạo đặng đưa lên Bát Quái Đài. Khi Đức Phạm Hộ Pháp trấn thần 8 con Kim Mao Hẩu nầy, Đức Ngài có nói: "Con Kim Mao Hẩu rất mạnh khỏe, tượng trưng cái năng lực tinh thần của người tu, nhờ nó mà qua các từng Trời và trở về cùng Đức Chí Tôn." Tám con linh vật này có phân đực, cái; tức là tượng cho lý Âm Dương hiệp nhứt, trong cửa Đạo này là nhất quán.

 

 

 

- Bốn con nơi hai cầu thang lên Bát-Quái-Đài đều là vật đực (chỉ sự thuần Dương)

- Hai con nơi cầu thang lên Cửu-Trùng-Đài phía nữ phái là hai vật đực. Phía bên Nam là hai vật cái, tượng cho lý Âm Dương hiệp nhứt.

Ý-nghĩa Kim Mao Hẫu ở cõi thiên là giữ cửa Bạch Ngọc Kinh đó là con linh vật chực rước những người khi trở về đã hoàn tất ba món nợ mới được chở vào triều kiến Đức Chí Tôn, nếu trả chưa xong thì nó chẳng cho vào:

- Nợ thứ nhứt: người là phẩm tối linh biết đem thân để phụng sự cho Vạn linh sẽ trả được món nợ về điểm Linh của Đức Thượng Đế,

- Nợ thứ hai: trong kiếp sanh ta dùng những vật hữu sanh của Đấng háo sanh. Nếu khéo tu hành luyện nó chuyển thành đệ nhị pháp thân mới trả được món nợ Chơn Thần cho Đức Phật Mẫu.

- Nợ thứ ba: con người có bản thân, phải có nhân duyên, đó là Thập nhị công nghệ, mối liên hệ giữa cuộc sống tức là cái ơn của xã hội. Nếu trong ba mà không trọn coi như đắc tội cùng Vạn Linh với Chí Linh.

Riêng về Đức Phạm Hộ Pháp, vào khoản 17 tuổi, Ngài có xuất chơn thần về Bạch Ngọc Kinh thấy 8 con Kim Mao Hẩu giữ cửa Bạch Ngọc Kinh, Ngài có hỏi xin Đức Chí Tôn cho đem về giữ nhà. Đức Chí Tôn hứa sẽ cho xuống sau. Do đó, sau nầy khi cất Đền-Thánh xong, Đức Hộ Pháp cho đắp hình 8 con Kim Mao Hẩu trấn giữ bốn cửa nơi Cửu Trùng Đài và Bát Quái Đài, để không cho ai có thể dùng bạo quyền mà phá hại Tòa Thánh, bởi vì Toà Thánh là Bạch Ngọc Kinh tại thế.

Kim Mao Hẫu giữ cửa Bạch Ngọc Kinh, nền Đại Đạo biểu tượng linh thể cảnh triều nghi để chực rước những chơn thần đoạt vị đặng vào triều kiến Đức Chí Tôn.

Kinh Đệ Bát Cửu có câu:

"Cỡi Kim Hẩu đến Tịch san,
"Đẩu Vân nương phép Niết Bàn đến xem."

 

 

KIM MÃ NGỌC ĐÀNG

Kim mã ngọc đàng là chỉ việc ra làm quan lớn vinh hiển.Chữ Kim mã ngọc đàng là nói Ngựa vàng nhà ngọc. (Kim mã là nơi các quan Ðại Học Sĩ vào làm việc. Vua Tống Thái Tổ ban cho quan Ðại Học Sĩ Tô Ðịch Gian bốn chữ: "Ngọc đường chi thự"

Thầy dạy: "Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương".

 

 

KIM MẪU


E: Buddha-Mother.
F: Bouddha-Mère.

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Mẫu: Mẹ. Kim Mẫu là nói tắt danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, là Đức Đại Từ Mẫu nơi cõi thiêng liêng. (Xem: Diêu Trì Kim Mẫu)

Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu:

"Riêng thương Kim Mẫu khóc thầm."

 

 

 

KIM QUANG

Kim Quang là lằn ánh sáng màu vàng, hay hào quang màu vàng. Chơn thần được cỡi lên hào quang màu vàng để đưa đi bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Kỵ kim quang kiến Lão Quân,
"Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng."

 

 

KIM QUANG SỨ (Chúa Quỉ)

Kim Quan Sứ là A-Tu-La, Thánh-giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên Cung. Tức là Quỉ Vương đó vậy.

Thầy dạy: "Thầy chưa hề biết hành phạt các con bao giờ. Từ khai Thiên Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một ông Cha nhân từ thế quá lẽ làm cho đến đỗi con cái khinh khi, phản nghịch lại cũng như Kim Quan Sứ là A-Tu-La, Thánh-giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên Cung. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn nàn trách cứ Thầy thay!...Các Đẳng Chơn-Linh đã đoạt-vị trong Càn Khôn Vũ Trụ chịu nạn khảo-thí do nơi Kim Quan-Sứ. Kim-Quan Sứ đã đặng Đức Chí-Tôn cho làm Giám Khảo kỳ thi Hạ Nguơn Tam-Chuyển qua Thượng Nguơn Tứ-Chuyển này.

Kim-Quan-Sứ là ai? Bên Thánh-Giáo Gia Tô gọi là Quỉ-Vương đó vậy. Kim-Quan-Sứ là một vị Đại Tiên có quyền hành đem ánh sáng Thiêng-Liêng Đức Chí Tôn chiếu diệu trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, vị Đại-Tiên ấy đã gấm-ghé bước vào Phật-Vị, cái quyền-năng của Ngài đã đoạt đặng tưởng không thua kém Đức Chí-Tôn là bao nhiêu, do cái tự-kiêu tự đại, còn một bước đường nữa mà đoạt không đặng, nếu người nhường là nhường Đức Chí Tôn mà thôi. Vì người hám vọng, tự-tôn, tự-đại, gọi cả quyền-năng Đức Chí-Tôn người không nhường, tức nhiên người đủ quyền năng hơn Đức Chí-Tôn mà chớ, vì cớ cho nên Ngài dành quyền trọng đại muốn cầm quyền một quyền-lực để điều khiển Càn-Khôn Vũ-Trụ, chưa đoạt đặng mà Ngọc-Hư Cung đã biết tinh-thần Kim Quan-Sứ muốn phản phúc.

Phản phúc dám đối diện cùng Đức Chí-Tôn mà Ngọc-Hư-Cung đã biết cho làm Thống-Đốc một thế giới của chúng ta đương thời bây giờ. Thế-giới địa hoàn này, nếu như người mà không có tự-kiêu, tự-đại, cái chức tước dù cho quả là làm Tổng Thống của một Càn-Khôn Vũ-Trụ cũng không phải là hèn gì. Người không vừa, phản lại mới bị đọa vào Quỉ-Vị. Nếu chúng ta muốn biết cái tình trạng của Ngài đoạt quyền Thiên-Cung buổi nọ thì coi trong Chơn-Truyền Thánh-Giáo Gia-Tô buổi nọ thì chúng ta thấy rõ. Ngày giờ này, Đại-Tiên Kim-Quan-Sứ đã đặng ân xá, cũng như các Đẳng Chơn-Linh được ân xá, bởi vì trong Quỉ-Vị cũng được hưởng Hồng-Ân Đức Chí Tôn ân xá, cũng như toàn-thể các Chơn-Hồn trong Càn-Khôn Vũ Trụ. Vì cớ cho nên, người Quỉ Chúa đàng ấy còn lãnh một phận-sự tối trọng, tối yếu là làm Giám-Khảo duợt Chư Tiên đoạt phẩm-vị Phật.

Vì cớ cho nên người có giáng-cơ buổi Đạo đương bình tịnh, cả Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn đương hòa ái với nhau, không có tâm-tánh gì phản động, chưa có một mảy may gì gọi là loạn, họ còn giữ theo nề-nếp chơn truyền của Đức Chí-Tôn mà thinh không Kim-Quan-Sứ giáng-cơ cho một bài thi chẳng khác nào như tìm đến Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn mà liệng một tối hậu thơ, bài thơ ấy như vầy:

"Cửu phẩm Thần-Tiên nễ mặt ta,
"Thích-Ca dầu trọng khó giao hòa.
"Cửa Kinh Bạch-Ngọc năng lui tới,
"Đường Đạo Tây-Phương thử chánh tà".

Ngó thấy quyền của người ta như thế đó.

Hại thay! Đường đi từ Ngọc-Hư-Cung qua Cực Lạc Thế-Giới buổi nọ bị người ta ngăn đường không cho người ta đi qua, bằng không thì trở lại. Theo chúng ta lấy tình thật thì Đạo-Giáo sẽ chỉ điều ấy, cũng không có lạ gì với Đức Chí-Tôn.

Đấng mà dám đưa tay cho kẻ thù định phận, quyền năng dường ấy để khảo duợt toàn con cái của Ngài, tức nhiên là khảo-duợt Người, mà Người không có nao, không có sợ. Chúng ta đủ biết quyền phép của Đức Chí Tôn hơn quyền phép Kim-Quan-Sứ thế nào? Hơn nhiều lắm! Đối với tinh-thần nhơn-loại đương nhiên bây giờ, đáng lẽ Đức Chí-Tôn gìn-giữ kỹ càng cho lắm, nhưng Ngài không cần để tâm giữ cho kỹ lưỡng điều đó mà chớ.

Bởi cớ cho nên khi mở Đạo tại Từ-Lâm-Tự Ngài đến, Ngài cầm cơ viết tên Ngài, rồi Ngài liền thăng. Ngài cho Quỉ đến đặng phá, khảo-duợt, phá cho tiêu nền chơn giáo của Ngài. Ngài đã cho phép làm, nó vẫn thi hành chớ không có sợ sệt, e-lệ gì không làm.

Kim-Quan-Sứ đã thi hành trong hai mươi mấy năm, cả Thánh-Thể Đức Chí-Tôn và toàn thể con cái của Ngài nam, nữ cũng thế, đang bị tay Người làm tàn hại, đủ mưu lược, đủ mưu chước đặng hại cho thất Đạo. Không một điều gì, không một mưu chước gì mà Người không dùng, không mưu chước gì Người không làm đặng tàn phá Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn, nhưng.... không phải dễ dầu, quyền lực Kim-Quan-Sứ bao nhiêu đi nữa cũng chưa qua khỏi cái mức của Đức Chí-Tôn đã gạch sẵn cho con cái của Ngài đi thì chúng ta ngó thấy đủ bằng cớ đoạt đặng. Ngộ-nghĩnh thay! Tuy biết hay là không biết, mình không chịu cho Kim-Quan-Sứ biết, Đức Chí-Tôn cho thử con cái của Ngài đặng bỏ cái phàm lấy cái Thánh.

Bần-Đạo đọc truyện sử còn nhớ buổi nọ, trước khi Hàn-Tín vào Quang-Trung, Trương-Tử-Phòng có đưa cho một giác-thư đặng được trọng dụng, Ngài đã đưa gươm Hùng-Kiếm tức nhiên là gươm Thư-Hùng có một cặp mà một cây thì Tiêu-Hà đã giữ, còn một cây đưa ra cho người đến Hớn-Bái-Công đặng nhìn Hàn-Tín thâu người cho làm Soái đăng đàn bái tướng. Hàn-Tín đã đặng giác thơ của Trương-Tử-Phòng lập thân danh mà không biết thế nào người lại yểm giác thơ ấy đi, quyết lấy tài mình thi thố, làm cho Hớn-Bái-Công trọng dụng không cần phải có người tiến dẫn bằng một giác thơ."

 

 

KIM SA

Kim sa Hạt cát vàng. Đây là phép của Đức Phật, tượng trưng cho hiệu lịnh mà mỗi Chơn hồn phải đến lãnh để được gặp Đức Như Lai hầu lãnh Kim sa lịnh của Phật để được dự hội nghị

Kinh Đệ Lục Cửu

"Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự,
"Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai."

 

 

KIM TIÊN

Đức Hộ-Pháp nói: "Hôm nay là ngày mở cửa thiêng liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên nhân ấy một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình hai món Bí pháp ấy là:

- Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm để lại.

- Kim Tiên của Bần Đạo.

- Hiệp với Ba vòng Vô vi, tức nhiên là Diệu Quang Tam Giáo, hay là hình trạng Càn khôn vũ trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang khiếu của chúng ta đó vậy.

Kim Tiên là gì? Là tượng hình ảnh điển lực điều khiển Càn Khôn vũ trụ, mà chính nơi đó là điển lực tức nhiên là sanh lực đó vậy. Với nó, mới có thể mở Đệ bát khiếu: Trong thân thể con người có Thất khiếu và còn có một khiếu vô hình là Huệ Quang khiếu, vì nó là điển lực nên nó mở khiếu ấy mới được. Nói rõ, con người có Ngũ quan hữu tướng và Lục quan vô hình, mà phải nhờ cây Kim Tiên ấy mới có đủ quyền năng mở Lục quan của mình đặng. (Lục quan là đệ lục giác quan, tức là giác quan thứ sáu).

Đức Hộ-Pháp sử dụng Kim Tiên: Ngài kể lại trận Đại chiến giữa Đức Quyền Giáo Tông với Kim Quang Sứ rằng: "....Đến chừng bay giữa không trung, thấy minh mông không biết làm sao gom lại được, để vậy khó đánh lắm, ai ngờ Bần Đạo cầm cây Kim Tiên, định vẽ vòng gom lại, thì chẳng khác nào vãi cái chài vậy. Bần Đạo cầm cây Kim Tiên định gom lại, vừa gom thì nó thúc nhặt mặt trận ấy lại nhỏ lần lần, thấy đàng ta đã thắng Kim Quang Sứ. Bên Đạo của ta là Đức Lý Ngưng Dương đã diệt được bên Kim Quang Sứ, tới chừng rốt cuộc chỉ còn Đức Lý Ngưng Dương đánh với Kim Quang Sứ mà thôi. Đánh nhau một hồi, Đức Lý Ngưng Dương đập Kim Quang Sứ một gậy thì Kim Quang Sứ hóa hào quang đằng vân bay mất".

 

 

KIM THÂN

(Kim là vàng, thân là xác thân bằng xương thịt). Kim thân là chỉ xác thân của người tu đắc đạo, thân của Phật quí hóa như vàng.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bây giờ xin luận về duy vật nó nói loài người là một giống khỉ tiến hóa lên chớ không phải Trời sanh ra, Bần Đạo dòm lụng lại sắc dân của Ấn Độ chính mình Phật Thích Ca là dân của Ấn Độ, dân da đen gọi Hắc Chủng, Ngài sanh ra ở đó, da thay vì đen nó hơi hồng hồng, rồi người Đời tặng Ngài màu hồng, họ gọi Ngài là Kim Thân, vì cớ cho nên các tượng hình của Ngài đều phết vàng, bởi tại hai chữ Kim Thân ấy, chính Ngài là sắc dân da đen mà sắc dân da đen là một Chủng tộc đến mặt địa cầu nầy sớm hơn hết. Chúng ta thử xét đoán nếu quả nhiên là loài khỉ tấn hóa lên cho tới sắc dân Hắc chủng ấy thì đầu óc của họ đâu có quá chừng quá đỗi, tâm thần quán-thế như thế đó, nhứt là đặc biệt hơn hết các triết lý cao siêu về mặt vô hình, dân Ấn Độ đứng đầu hơn hết các chủng tộc".

 

 

KIM THỜI


E: Nowadays.
F: Temps moderne.

Kim: Ngày nay, thời nay. Thời: thời kỳ. Kim thời là thời buổi ngày nay, thời kỳ mà tiền bạc được coi trọng hơn hết, đạo đức chỉ là thứ yếu.

Đó là thời kỳ cuối cùng của Hạ nguơn, nên gọi là Hạ nguơn mạt kiếp.

Lời tựa Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Bậu bạn lỗi câu tín nghĩa, vợ chồng quên đạo tào khương, mảng vụ chữ kim thời mà phong dời tục đổi.

 

 

KIM TUYẾN

金 綫
E: Metal thread.
F: Fil de metal.

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Tuyến: sợi dây. Kim tuyến là sợi dây có màu sáng bóng như kim loại. Kim tuyến có nhiều màu: vàng, trắng, xanh, hồng.

Các Đạo phục thường sử dụng hai loại kim tuyến: vàng và bạc. Đạo phục của Chánh Trị Sự có viền chỉ kim tuyến vàng; Đạo phục của Phó Trị Sự thì viền chỉ kim tuyến bạc.

 

 

KIM TỰ THÁP

Đây nói về trên Một đồng dola Mỹ có hình Thiên Nhãn qua sự trình bày như sau:

 

 

 

"Bên trái của con dấu có Kim-Tự-Tháp không đỉnh và Thiên Nhãn. Kim-Tự-Tháp đã được chọn để nhớ lại nền văn minh cực thịnh trong lịch sử Ai-Cập. Kim-Tự Tháp không đỉnh nói lên sức mạnh vật chất của một Quốc gia luôn luôn xây dựng và tiến triển không ngừng. "THIÊN NHÃN" trên Kim-Tự-Tháp tượng trưng cho Đấng Thượng Đế soi sáng cả muôn vật và cũng chỉ sức mạnh tâm linh luôn luôn ở trên sức mạnh vật chất. Ý nghĩa hàng chữ trên:

- ANNUIT COEPTIS có nghĩa "Ơn Trên phò hộ chúng ta".

- NOVUS ORDO SECLORUM (hàng dưới) có nghĩa là "Một kỷ nguyên mới trong nghìn năm". Bắt đầu từ năm 1776. Dưới chân của Kim-Tự-Tháp số 1776 được viết bằng số La-Mã MSCCLXXVI.

 

 

KIM VIẾT CAO ĐÀI

(Kim là ngày nay, viết là nói rằng; Cao Đài là chỉ Đấng Thượng Đế) Có nghĩa rằng tại chùa Vĩnh Nguyên Tự đã trở thành một trong những Thánh Thất đầu tiên của Ðạo Cao Ðài. Đức Thượng Đế giáng Cơ cho biết, trước đây có các Đấng như: Nhiên Ðăng Cổ Phật là Giáo chủ Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ. Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ Phật giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Thái Thượng Nguơn Thỉ là Giáo chủ Tiên giáo vào hai thời kỳ: Nhứt và Nhị kỳ. Nay gọi rằng Cao Ðài; tức nhiên Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

Vĩnh Nguyên Tự: 25-02-Bính Dần (dl: 07-04-1926)

Đức Thượng-Đế dạy:

- Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã,
- Thích Ca Mâu Ni thị Ngã,
- Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,
Kim viết Cao Ðài.

Trong tập Phổ cáo chúng sanh, đề ngày 13-10-1926, nơi trang 4, bài Thánh Ngôn trên có thêm một câu là: "Gia Tô Giáo Chủ thị Ngã", tức nhiên là::

- Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã,
- Thích Ca Mâu Ni Phật thị Ngã,
- Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,
- Gia Tô Giáo Chủ thị Ngã,

Kim viết Cao Ðài Bồ Tát Ma Ha Tát."

 

 

KINH (1)

Kinh có mấy nghĩa sau đây:

1- Kinh sách. Td: Kinh cúng tứ thời.
2- Sửa trị, hoạch định. Td: Kinh dinh, Kinh luân.
3- Đạo thường không biến đổi. Td: Kinh quyền.
4- Đường dọc, trải qua. Td: Kinh Thiên vĩ địa.

Kinh Là nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo. Ví như: Ngũ kinh trong Nho giáo, Đạo Đức kinh trong Lão giáo, Tam Tạng kinh trong Phật giáo và Kinh Thánh của Công giáo.

Trong một bài Kinh những lời chỉ dạy, những bài giảng hay thuyết pháp của các Đấng nói lên thật tướng của Chân lý (Pháp) để giáo hóa các đệ tử hay chúng sanh tu tập hầu đạt đến Chân Thiện Mỹ, hoặc giác ngộ giải thoát.

Kinh Chữ kinh đối với các bộ môn học thuật ngày xưa mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Ví dụ: kinh kỷ, kinh mạch, kinh huyệt, nội kinh, kinh tế.Chữ kinh thuộc bộ mịch có nghĩa là sợ tơ.

Kinh: Bài văn, bài thơ do các Ðấng Phật, Tiên, Thánh viết ra để xưng tụng công đức, mô tả nhiệm vụ của các Ðấng Thiêng liêng, hoặc để dạy đạo đức cho nhơn sanh và để cầu nguyện.

Kinh Sám Hối có câu:

"Bền công kinh sách xem coi,
"Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan."

 

 

KINH (Nguyễn Ngọc Kinh) (Tên)

- KINH (xem Nguyễn-Ngọc Kinh Giáo Sư Phái Ngọc)

- KINH Lễ Sanh Thọ phong ngày 17-05-Bính Dần. Ông là một trong số 247 người ký tên trong TỜ KHAI ĐẠO


 

KINH (Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh)

Thánh ngôn: "K... con ôi! Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy. Thầy đã hiểu lòng con ăn năn sám hối, nên Thầy đã tha tội trước cho con rồi. Phận sự con rất lớn, tại Ngọc Ðàn con sẽ thọ lịnh".

K...: Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh (Nguyễn Văn Kinh). Ông Kinh, sanh năm 1890 ở Bình Lý Thôn, Gia Ðịnh, tu theo Minh Sư, học trò của Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang. Ông Kinh có cất một cái am nhỏ ở làng Hữu Ðạo thuộc Cai Lậy để tu học với Ngài Nguyễn Văn Tương (sau thọ phong Thượng Chưởng Pháp. Khi Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương qui Tiên thì Ngài Trần Ðạo Quang được phong Quyền Thượng Chưởng Pháp. Về sau nữa, khi Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên thì Ngài Trần Ðạo Quang được ân phong chánh vị là Ngọc Chưởng Pháp).

Ông Kinh thọ Thiên ân Giáo Sư phái Ngọc vào ngày mùng 8-6-Bính Dần, có viết hai quyển sách về Giáo Lý Ðạo Cao Ðài là: Giảng Ðạo Yếu Ngôn và Hội Lý Xiển Chơn Luận. Giáo Sư Kinh có học thức uyên thâm, nên được Ðức Chí Tôn bổ đi thuyết đạo phổ độ nhơn sanh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1945, do máy bay Ðồng Minh oanh tạc đánh Nhựt Bổn, Ông bị thương nặng lúc đi trên sông Vàm Cỏ, được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy ở Sài Gòn thì qui liễu, hưởng 56 tuổi. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

 

 

KINH BANG TẾ THẾ


E: To rule a nation and help people.
F: Gouverner l’état et secourir le mond.

Kinh: Sửa trị, hoạch định. Bang: một nước. Tế: cứu giúp. Thế: đời. Kinh bang tế thế là trị nước cứu đời.

Người có tài kinh bang tế thế là người tài đức cao siêu, giúp nước giúp dân được yên ổn thịnh vượng, an cư lạc nghiệp.

 

 

KINH BẠCH NGỌC

Kinh : To lớn, trải qua, thủ đô một nước. Bạch Ngọc Kinh ở đây bên Phật Giáo gọi là cõi Niết-Bàn.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Dìu đường thoát tục nắm phan,
"Trông Kinh Bạch Ngọc định Thần giải căn."

 

 

KINH CAO ĐÀI

Kinh sách của Đạo Cao Đài khi mới khai còn dùng Kinh bên Phật giáo như Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý…kinh ấy như Phổ đà, Mộng sơn, Kim Cang …Đến năm 1935 Đức Hộ-Pháp, Đức Quyền Giáo Tông đã nhiều phen dâng sớ cầu xin Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng liêng đặng xin Kinh tận độ. Sự cầu xin từ ngày Khai Đạo 1925 đến năm 1935 Đức Chí-Tôn mới giáng Cơ cho Tân Kinh. Đó là một giọt nước Cam-lồ của Đấng Từ Bi chan rưới cho các Đẳng linh hồn của toàn thế giới. Kinh này có cả Thiên Đạo và Thế Đạo.

Khi đề cập đến Kinh Cao-Đài là nói đến phần chính yếu là "KINH THIÊN ĐẠO & THẾ ĐẠO" tức nhiên là gồm Kinh Tứ Thời Nhựt Tụng và các Kinh độ vong …. được chia làm hai phần:

Phần I thỉnh nơi Minh lý, Minh Tân trước ngày Khai Đạo, gồm 4 Bài:

- Kinh Cầu Siêu
- Kinh Sám Hối
- Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối
- Giới Tâm Kinh.

*Riêng các bài Kinh mà các Ðấng giáng cơ ban cho Minh Lý (Minh Lý Ðạo, Tam Tông Miếu) mà Hội Thánh vâng lịnh Ðức Chí Tôn thỉnh về làm Kinh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, thì có được quyển "KINH NHỰT TỤNG & KINH SÁM HỐI" của Minh Lý Ðạo Tam Tông Miếu ấn hành năm Quí Sửu (1973). Bốn bài Kinh nầy do các Ðấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho Chi Minh Lý và Minh Tân, là hai Chi trong Ngũ Chi Minh Ðạo của Việt Nam. Đến khi mở Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn dạy Hội Thánh đến hai Chi trên để thỉnh 4 bài Kinh ấy về làm Kinh tụng đọc trong nền Ðại Ðạo buổi phôi thai. Hầu như từ trước đến nay, Hội Thánh chưa có ban hành sách vở hay tài liệu giải thích tất cả các bài Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo, mà chỉ có một vài tài liệu giải thích tổng quát một số ít bài Kinh mà thôi, ấy là:

- Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (có Chú giải) của 2 vị Ðầu Sư: Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, có chữ Hán kèm theo và có chú giải các bài Kinh Cúng: "Tứ Thời Nhựt Tụng".

- Ðức Hộ Pháp thuyết đạo giải nghĩa Bài Phật Mẫu Chơn Kinh.

Phần II là có 8 bổn Kinh do Hội Thánh ấn hành vào 8 thời kỳ khác nhau, là:

*KINH CÚNG TỨ THỜI, in năm 1928, bản quốc ngữ, nhà in Ðức Lưu Phương, Sài gòn.

*TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH (có chú giải), in năm 1928, có viết kèm thêm chữ Hán, Chữ Nôm, của 2 vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt.

*ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ KINH, không để năm in, gồm chữ Hán và chữ Nôm, không có chữ quốc ngữ, của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh.

*KINH THIÊN-ÐẠO &THẾ-ÐẠO của Hội Thánh in năm 1936 (Bính Tý), nhà in Ðức Lưu Phương, Sài gòn.

*KINH LỄ, in bên Pháp năm 1952, khổ nhỏ, nhà xuất bản M. Garnier.

*KINH THIÊN ÐẠO và THẾ ÐẠO do Hội Thánh ấn hành vào các năm: 1968, 1974, 1975.

Khi so sánh các bản Kinh nầy, nhận thấy có một vài từ ngữ trong một số câu Kinh không đồng nhứt với nhau. Vậy xin phụ đính thêm phần chữ Hán cho các bài Kinh Hán Việt sau:

- Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
- Kinh Phật giáo.
- Kinh Tiên giáo.
- Kinh Nho giáo.
- Bài dâng Bông, Rượu, Trà.
- Ngũ Nguyện.
- Phật Mẫu Chơn Kinh.

Phần chữ Hán kèm theo các bài Kinh Hán Việt trên là căn cứ vào bản Kinh Hán văn in trong quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH" xuất bản năm 1928 của hai vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt. Muốn được sự chính xác chắc chẳn phải chờ đến Hàn Lâm Viện trong tương lai của nền Đại-Đạo bổ cứu thêm.

 

 

KINH CÚNG TỨ THỜI

E: The daily prayers.
F: Le prières quotidiennes à quatre temps.

Kinh Cúng Tứ Thời là những bài kinh xưng tụng trong bốn thời Cúng Ðức Chí Tôn và ba Ðấng Giáo chủ Tam giáo tại Tòa Thánh, Thánh Thất hay tư gia vào 4 thời trong một ngày.

Bốn thời đó là:

Tý (12 giờ khuya),
Ngọ (12 giờ trưa),
Mẹo (6 giờ sáng),
Dậu (6 giờ chiều).

Sở dĩ các Đấng Thiêng Liêng dạy các tín đồ chọn những thời điểm trên để dâng Lễ cho các Ngài là vì vào bốn thời điểm này là giao điểm đặc biệt của hai Khí Âm Dương trong càn khôn vũ trụ: Thời Tý là Khí Âm cực thịnh, khí Dương khởi sanh; thời Ngọ thì khí dương cực thịnh khí âm khởi sanh; thời Mẹo Dậu thì 2 khí Âm Dương giao hòa.

Kinh cúng Ðức Chí Tôn vào Tứ thời tại Tòa Thánh hay tại Thánh Thất gồm 8 bài kinh sau đây:

1- Niệm Hương.
2- Khai Kinh.
3- Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
4-Kinh Phật giáo.
5- Kinh Tiên giáo.
6- Kinh Nho giáo
7- Dâng Tam bửu (Hoa- Rượu- Trà)
8- Ngũ Nguyện.

Dâng đủ Tam bửu (Hoa- Rượu- Trà) dành cho thời cúng Tiểu đàn hay Đại đàn tại Tòa Thánh hay Thánh thất.

Kinh cúng Ðức Phật Mẫu vào Tứ thời tại Báo Ân Từ hay tại Ðiện Thờ Phật Mẫu gồm 6 Bài Kinh sau đây:

1- Niệm Hương.
2- Khai Kinh.
3- Phật Mẫu Chơn Kinh.
4-Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu.
5-Bài Dâng Rượu hoặc Dâng Trà.
6- Ngũ Nguyện.

Kinh Cúng Tứ Thời còn được gọi là Kinh Nhựt Tụng (Nhựt là ngày). Kinh Nhựt Tụng là kinh dùng để tụng mỗi ngày. Kinh thường được tụng theo hai giọng: Nam xuân và Nam ai. Chỉ có 3 Bài Dâng Tam Bửu là thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung. Giọng Nam ai là giọng ngâm theo điệu Cổ nhạc Nam ai, có tính cách buồn bã, bi ai, nên nhạc đi theo nhịp chậm rãi. Giọng Nam xuân là giọng ngâm theo điệu Cổ nhạc Nam xuân, có tính cách vui tươi, nên nhạc đi theo nhịp nhanh.

 

 

KINH DỊCH (Sách)

Kinh Dịch là một trong năm thứ kinh gọi là Ngũ Kinh là:Thi, Thư, Lễ Nhạc, Dịch,Xuân thu. Thông thường các học giả viết chữ Dịch : trên là nhựt, dưới là nguyệt biến thể, là gồm trọn lý Âm- Dương trong trời đất. Nhưng tham khảo chữ này nằm trên Cung Đạo Đền Thánh có hình ảnh của một chồng sách có chữ Kinh Dịch 經譯 với bốn cái gáy sách cột chung bằng một đường lụa, chứng tỏ nền Đại Đạo ngày nay Đức Chí-Tôn đến ban cho bốn Bát Quái đó là:

- Tiên Thiên Bát Quái là Thể pháp Thế đạo
- Hậu Thiên Bát Quái là Bí pháp Thế đạo
- Bát Quái Đồ Thiên là Thể pháp Thiên Đạo
- Bát Quái Hư vô là Bí pháp Thiên Đạo

Những Bát Quái này đã hòan thành con đường tu của người Cao Đài từ Thế đạo (Nhơn đạo) cho đến Thiên Đạo, là đã trọn đường đi lối về tức là Cơ Tận độ đó vậy.

Như thế: Kinh Dịch là bộ sách rộng lớn, hết thảy đều đầy đủ trong đó có đạo Trời, có đạo Người, có đạo Đất "Dịch chi vi thư dã, quảng đại tất bị: hữu Thiên đạo yên, hữu Nhân đạo yên, hữu Địa đạo yên" (Dịch Hệ từ hạ- chương X)

Nguồn gốc Kinh Dịch: khởi thủy từ CÀN- KHÔN, mà Càn là thủy tổ của Khôn. Nếu luận về vật thì muôn vật khởi từ Khôn (Mẹ) mà Khôn lại là gốc của Càn (Cha). CÀN chính là nguồn gốc vĩ đại đầu tiên vậy. Bởi Đức Chí-Tôn là Đấng Vô Trung Từ Phụ (Vô Trung là vượt lên mức trung, tức là "Đại", Từ phụ là Đấng Cha lành) là chỉ Đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Suy ra: Ngài là Đấng Chúa Tể Càn Khôn: Từ quẻ Càn có thể thay bằng ba dấu chấm  từ đó kéo thẳng xuống thành số  (một) tượng Thái cực. Quẻ Khôn thay vào bằng 6 chấm ta vẽ thành vòng tròn  tượng Vô cực. Dịch nói "Vô cực nhi Thái cực". Hiệp cả hai lại thành ra chữ Trung  Viết lâu dần thành ra . Đó là sự thành hình của hai quẻ Càn Khôn vậy. Hơn nữa:

- Danh xưng của Đấng Từ Phụ là "Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn" (10 chữ = Thập Thiên Can)

- Nhân sanh niệm danh Ngài "Nam-Mô Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát" (12 chữ= Thập Nhị Địa Chi)

"Chơn truyền buổi Ðức Chí Tôn tạo Càn Khôn Thế Giái, Ngài nắm Thập Thiên Can, Thập Nhị Ðịa Chi trong tay, để định Pháp Chánh Càn khôn Vũ trụ. Trong thời buổi định Pháp Chánh ấn định vào khoảng từ ngày 23 đến 30 sáng mồng 1, họp tại Ngọc-Hư-Cung đặng định luật giới hạn vi-diệu cho trái địa cầu, chạy theo khuôn khổ hữu định trong năm cho chí Tân niên là 12 giờ đêm 30, khởi điểm 1 giờ sáng ngày 1 tháng Giêng năm sau".

Sớ dâng về Chí-Tôn nơi Thánh Thất đàn Sóc Vọng có câu: "Ngưỡng Vọng: VÔ TRUNG TỪ PHỤ Phát hạ hồng ân Càn Nguơn Đại Đức bố hóa Chư Đệ tử Thánh thể tinh anh…."

"Kinh Dịch ảnh hưởng sâu rộng vào ý thức hệ Việt Nam trải qua nhiều thế kỷ và kết thúc với quan niệm tổng hợp Tam Giáo đồng nhất thể.. Kinh Dịch nhấn mạnh truyền thống đạo học Đông Á thuộc về nhất nguyên tâm linh, có mặt từ thời-đại đồ đồng cách đây gần 3.000 năm. Dịch không những ảnh hướng rất sớm đối với nền văn hóa Việt Nam mà còn ngấm sâu vào Tôn giáo và tầng lớp sĩ phu". Đạo Cao Đài đặt trên nền tảng Kinh Dịch:

Đức Cao-Ðài giáng dạy:

- Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa?

- Tam Kỳ Phổ Ðộ là gì? Là Phổ Ðộ lần thứ ba.

- Sao gọi là Phổ Ðộ? Phổ Ðộ nghĩa là gì?

Phổ là bày ra. Ðộ là gì? - Là cứu chúng sanh.

- Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào? Thầy hỏi? Phải bày Bửu pháp chớ không đặng giấu nữa. Quả thật "Thầy bày ra trước mắt, tại các con không tìm hiểu". Nếu tìm hiểu thì tìm hiểu nơi đâu?

- Tòa Thánh là Bạch Ngọc Kinh tại thế

- Cột rồng tượng trưng cho Dịch Lý,

- Các danh từ Bát Quái, Hiệp Thiên, Cửu Trùng… đều là những chữ nằm trong Kinh Dịch.

- Đây là một câu trong Kinh Dịch: "Thái Cực phân Lưỡng nghi, Lưỡng nghi phân ra Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng" (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, trang 62)

Vậy thì, khi Đạo Cao Đài xuất hiện thì Dịch học đã thành hình ngay lúc ấy. Bất cứ hình thức Lễ bái, Kinh Kệ, Nghi thức đâu đâu cũng áp dụng Kinh Dịch một cách nghiêm túc: khi Càn Khôn vừa thành hình thì có Dịch ngay trong đó. "Càn Khôn thành liệt nhi Dịch lập hồ kỳ trung hỉ" và chính Đức Khổng Tử san định và viết Thập Dực vì trong Ngũ Kinh thì Đạo Cao Đài chọn:

- Kinh Dịch làm Bí pháp (Thần)
- Kinh Xuân Thu làm Cổ Pháp (Khí)
- Kinh Lễ làm Thể pháp (ôn nhu, kính hòa) (Tinh)?

Vả lại ngày nay Đức Khổng Tử là một Đấng được Đức Chí-Tôn cho dự vào Tam giáo để chuyển hóa Đạo Nhơn luân nên gọi là Nho Tông Chuyển thế.. Cho nên nói: Dịch đến Văn Vương thì được tu sửa, đến Phu Tử thì được rạng rỡ.Lý Quá, Tây Khê Dịch thuyết, quyển I, trang 8).

Thật vậy, Kinh Dịch là bộ sách rộng lớn, hết thảy đều đầy đủ, trong đó:

- Đạo Trời thì dùng Âm Dương
- Đạo Đất thì Cương Nhu,
- Đạo Người thì dùng Nhân Nghĩa

"Dịch chi vi thư dã, quảng đạo tất bị": Như thế nghiên cứu Dịch, Tiên Thiên Bát Quái, chủ yếu là cái học Tiên Thiên, tức khởi thủy từ CÀN KHÔN mà Càn là thủy tổ của Khôn. Nếu nói vật thì muôn vật khởi từ Khôn (Mẹ) mà Khôn lại có gốc ở Càn (Cha), Càn chính là nguồn gốc vĩ đại đầu tiên vậy". (Chu Dịch Bản Nghĩa, chương X).

Kinh DỊCH có Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái.

- Tương truyền vua Phục-Hy mô phỏng Hà-Đồ để vạch ra tám quẻ Tiên-Thiên để diễn tả sự phát minh của vũ-trụ vạn hữu.

- Chu-Văn-Vương mô phỏng Lạc Thư vạch ra tám quẻ Hậu-Thiên hình dung hiện tượng xảy ra trên hành tinh của chúng ta.

 

 

 

Như vậy Tiên-Thiên và Hậu-Thiên Bát Quái là vũ trụ-quan. Nhưng xét kỹ vũ-trụ-quan và nhân-sinh-quan trong Kinh Dịch có sự tương quan rất mật thiết, không thể phân chia được: Đại-vũ-trụ (Macrocosme) Tiểu-vũ trụ (Microcosme) cùng một hòa điệu nhịp nhàng: Trời, Đất và Người liên hệ với nhau bằng cái Đạo nhất quán. Cái Đạo nhất quán đó là Trung-Thiên-Đạo bắt nguồn từ Trung-Thiên-Dịch. Kinh Dịch thì không nói đến Trung Thiên, vì khi nói đến Tiên Thiên và Hậu Thiên vì Trung Thiên đã có sẵn trong đó rồi. Cũng như khi nói đến Tam-Tài (Thiên- Nhân- Địa) thì ngôi Người ở giữa. Con người là trung tâm của vũ-trụ, là vật linh thiêng nhất trong vạn vật.

Kinh Tắm Thánh có câu rằng:

"Con người đứng phẩm tối linh,
"Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi."

Con người tự nhận thấy có một Thiên chức hết sức lớn lao, thành thử Thánh-nhân đã vì Người mà lập nên "nhân cực" là cái Đạo chí thiện của người. Theo ông Trần Cao Vân thì nó bắt đầu từ vũ-trụ-quan tiến tới nhân-sinh quan; tức là từ Trung Thiên Dịch tiến tới Trung Thiên Đạo. Nhưng đối với Đạo Cao-Đài ngày nay, khi Đức Thượng Đế đến mở cho một nền Đại-Đạo thì Ngài chỉ thẳng đây là BÁT-QUÁI ĐỒ THIÊN, chính là Trung Thiên Dịch và Trung Thiên Đạo, mà ông Trần Cao-Vân đã để hết thời gian nghiên cứu, nhưng cuối cùng rồi cũng bị chánh phủ lúc bấy giờ buộc tội và sau cùng lãnh án tử hình, thêm với tội làm Cách mạng yêu nước. Bởi vì hai Bát Quái này đã nói về Trời – Đất rồi. Dĩ nhiên kỳ khai Đạo này Đức Chí Tôn mở ra nhằm thời "Nhân sanh ư Dần" với ý nghĩa:

Thầy sanh loài người ra, nhằm ngày Dần "Nhân sanh ư Dần" Tức là ngày khởi khai Đại-Đao bắt đầu lúc Tý thời ngày mùng Một tháng Giêng năm Bính Dần, lấy hiệu là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ". Còn Ngài thì tá danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" rồi Ngài giải rõ trong danh hiệu của Ngài gồm đủ Tam giáo: Nho- Đạo- Thích. Thế nên Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ khai nhằm giờ Tý, ngày mùng 1 tháng 1 năm Bính Dần là do nơi đó".

Đạo Cao-Đài lấy giờ 01, ngày 01, tháng 01, năm Bính Dần (dl: 13-02-1926) làm Kỷ nguyên Đạo lịch của Đại-Đạo Như thế năm Bính-Dần (1926) là năm Đạo lịch thứ nhứt.

Hơn nữa năm Dần là năm thứ 3 (Tý- Sửu- Dần) là một sự tròn đầy. Nếu số 1 là số Trời "Thái Dương" thì số 3 là số của người "Thiếu Dương" Thiên nhơn tương hợp nên nói "một mà ba, mà ba cũng là một". Số 3 tượng là CÀN "Tam Dương khai thái" là hình tam giác đều, tượng Tam Giáo. Ngày giờ này Đức Chí Tôn khởi lập Đại Đạo, Tôn chỉ "Qui Tam Giáo" thì Thầy đứng chủ trung Qui Nguyên Hiệp Nhứt mà thôi.

Trước mặt ba vị: Cao Quỳnh Cư -Phạm Công Tắc – Cao Hoài Sang. Ngài hỏi rằng: "Thầy muốn dùng các con mà khai Đạo, các con có dám lãnh trọng-nhậm ấy chăng?". Đấy là những Tướng-Soái của Thầy mà cũng chính là những chơn linh cao trọng mà Thầy đã lựa chọn, tức là "Thầy dùng Lương sanh để cứu vớt quần sanh".

Ba Ngài có tuổi lần lượt là Tý-Sửu-Dần. Quan trọng là đây: Những ngày đầu Đấng AĂÂ gọi ba vị này là "Tam vị Đạo-hữu", một từ thân-mật là các Ông:

- Cao-Quỳnh-Cư, sau đắc phong là THƯỢNG PHẨM, tuổi Mậu-Tý (1888)

- Cao-Hoài-Sang, sau đắc phong là THƯỢNG SANH, tuổi Tân-Sửu (1901)

- Phạm-Công-Tắc, sau đắc phong là HỘ-PHÁP, tuổi Canh Dần (1890)

Đức Chí-Tôn lập Đạo trong buổi Hạ-nguơn này thể hiện cơ tuần-huờn châu nhi phục thủy, Tôn-chỉ dùng

"Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt" để đưa nhân loại đến Đại-Đồng. Lấy theo nguyên-lý của vũ trụ thì:

- Thiên khai ư Tý - Trời khai vào hội Tý

- Địa tịch ư Sửu - Đất thành hình ở hội Sửu

- Nhơn sanh ư Dần - Nhơn-loại sanh vào hội Dần. Nay là buổi "Nhơn sanh ư Dần" nên đây là phần hành của Đức DI-LẠC. Do vậy mà hình ảnh của Ngài ngự ở mặt tiền Đền-Thánh, cỡi CỌP để làm biểu tượng là năm Dần. Nhờ Kinh Dịch mà thấu hiểu được lẽ "Thiên địa đồng nhất thể" 天地同一體. Hoặc câu "Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản". Chính ngày nay Đấng Thượng Đế đến mở ra nền Đại-Đạo để định cái TÂM cho thiên hạ. Đó là Ngũ trung của Dịch vậy.

Việt-Nam xuất phát bằng một huyền thoại phi thường, tạo ra ý niệm phát khai về Triết học và Tôn giáo, một dân tộc có một nền văn hóa minh triết với lịch-sử trên bốn nghìn năm văn hiến. Đó là chuyện vua Lạc Long phối hợp với bà Âu-Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm con. muốn cho cuộc sống được lâu dài, ông bà mới chia ra 50 theo Cha xuống biển (vì cha gốc Rồng, mà rồng ở biển).50 con theo mẹ lên non (vì mẹ gốc Tiên, Tiên ở núi).

Với biểu tượng Rồng Tiên phối hợp sinh ra bọc trăm trứng (nở trăm con) chính là điểm đầu tiên xác định nền văn hóa Việt Nam có tính chất đặc biệt, hoàn toàn dựa trên nền tảng ÂM DƯƠNG, mà xưa nay khó có thể giải bằng lý Dịch cho mọi người bằng thuyết khoa học hay Dịch học cho thấu triệt, nên phải dùng một huyền thoại. Con số 100 này chính là tổng số của Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái mà ra.

- Dịch lý Tiên Thiên nói về nguyên lý của Trời đất trong lúc sơ sanh (Tám quẻ Tiên Thiên Hà-đồ diễn tả sự phát sinh của vũ trụ vạn hữu)

- Dịch lý Hậu-Thiên là nói mục đích sinh thành bảo tồn vạn vật (Tám quẻ Hậu Thiên Lạc Thư hình dung những hiện tượng xảy ra trên hành tinh chúng ta)

Định số của Tiên Thiên Bát Quái là 55:

Hà Đồ có 10 số, tính theo số Âm Dương chẵn lẻ thì:

-Số lẻ là Dương:

1,3 5,7,9

Tổng số là:

1+3+5+7+9

=25

-Số chẵn là Âm:

2,4,6,8,10

Tổng số là:

2+4+6+8+10

=30

 

____________________________________

Tổng số của Âm Dương là:

25+30

=55

Định số của Hậu Thiên Bát Quái là 45:

Lạc Thư chỉ có 9 số mà thôi.

-Số lẻ là Dương:

1,3 5,7,9

Tổng số là:

1+3+5+7+9

=25

-Số chẵn là Âm:

2,4,6,8

Tổng số là:

2+4+6+8

=20

 

____________________________________

Tổng số của Âm Dương là:

25+20

=45

Vậy hai Tổng số của Tiên Thiên và Hậu-Thiên là:

55 + 45 = 100

Bấy giờ nhân loại xuất hiện giữa hai ngôi Trời- Đất, đứng vào trung gian, nên con số này chia đôi sẽ có 100 : 2 = 50. Ấy là hình ảnh 50 con. Vây số 50 là số trung hòa giữa Tiên Thiên và Hậu Thiên:

Theo Cụ Trần Cao Vân gọi là Trung Thiên Dịch- Trung Thiên Đạo. Đạo Cao Đài xác định bằng Bát-Quái Đồ Thiên (hay là Bát Quái Cao-Đài) để mở ra một kỷ nguyên mới là Tân Tôn Giáo hoàn toàn thể hiện tinh thần DỊCH LÝ trên mọi mặt. Chính số 50 này là hình ảnh của 50 Thiên-Nhãn Thầy đặt khắp trong Đền Thánh là: 1 Thiên Nhãn trên Quả Càn Khôn, 1 trên Cung Đạo, 1 ở phía trước Đền (Thông Thiên Đài), 1 ở phía trong đặt trên Thiên Bàn. (23x2 =) 46 Thiên nhãn đặt trên các kung cửa sổ chung quanh Đền. Tính ra:

1+1+1+1+ (23x2) = 50 Thiên Nhãn Thầy cả thảy.

"Cường tai bất ỷ bất thiên,
"Năm mươi Hà- Lạc tự nhiên an bày"

Con số 50 này còn có một ý nghĩa uyên thâm huyền diệu, định cho nền Dịch-lý Cao-Đài một định số có đầy đủ Nhân sinh quan, Vũ trụ quan, chứ không phải lầm tưởng là Đạo Cao-Đài không có triết lý.

Ý nghĩa số 50:

- Hệ trọng đối với người: hạn kỳ tuổi tác là 100 năm, nhưng phải đến 50 "Ngũ thập tri Thiên mạng". Làm người nếu không biết "mệnh Trời" thì không thể là người có tài đức hoàn toàn được.

- Bát Quái Đồ Thiên là một chìa khóa mở được sự huyền nhiệm và phẩm giá con gười. Vì người là một Tiểu Vũ-trụ (Microcosme)

- Người là đứng đầu của chúng sanh, linh hơn vạn vật, có khả năng tham dự vào chuyện của trời đất và điều khiển vạn vật.

- Nho Giáo nói: Con người là đức lớn của Trời đất, sự giao hợp của Âm- Dương. Sự hội tụ linh khí thiêng liêng của non sông đất nước và tinh-túy của Năm chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

- Người được Trời đất cấu tạo thành quẻ THÁI, mà Thái là đạo người quân tử ngày đêm chăm chăm chú chú vào công việc ích lợi hầu giúp Đạo trợ Đời. Đạo quân tử là cao thượng, minh triết, đạo đức… thế mới lâu dài được.

- Từ ở con người mới có thể tu tiến lần lần đạt đến phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, sánh cùng Trời Đất, vào hàng Tam Tài.


 

Vì sao đặt tên bộ kinh là KINH DỊCH?

Chữ Dịch cũng là tượng thể Nhựt Nguyệt vì lúc mới bắt đầu chế tác văn tự, Thánh nhân dựa theo hình tượng mà sáng chế ra văn,. Chữ DỊCH viết là nhựt trên nguyệt dưới. Dịch là Âm Dương hiệp. Sau mới biến dạng là thay đổi nên Dịch nó biến dạng, chuyển biến vô cùng. Kinh Dịch có nói: đóng cửa gọi là Khôn, mở cửa gọi là Càn, một đóng một mở gọi là biến, qua lại không cùng gọi là thông. Do câu "Hạp hộ vị chi Khôn, tịch hộ vị chi Càn. Nhất hạp nhất tịch vị chi biến. Vãng lai bất cùng vị chi thông".

Tòa Thánh Tây Ninh ba Đài cao vọi:

- Hiệp Thiên Đài, chống đỡ bằng 28 cột rồng. Giáo lý Cao Đài gọi Đền Thánh là "Bạch Ngọc Kinh tại thế". Thánh Ngôn cũng dạy: "Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa" và Đức Hộ Pháp cũng giảng giải: "Thiên Đàng ở tại thế gian này", có nghĩa là Niết Bàn hay Địa ngục cũng tại cái TÂM ở mỗi người.

- Bạch Ngọc Kinh là kinh đô ngọc trắng, là Thánh địa của những môn đồ mặc sắc phục trắng. Các đài: Bát Quái, Hiệp Thiên, Cửu Trùng nhứt định rút từ trong Kinh Dịch và các cột rồng biểu tượng Dịch lý, không thể nói khác được. Mặt khác, "Dịch Khởi thủy từ Càn Khôn" (Chu Dịch Bản Nghĩa, chương X) mà Đạo Cao Đài thờ Quả Càn Khôn. Vậy Đạo và Dịch có cùng chung một gốc.

Thế nên, nói tư tưởng Đạo Cao Đài đặt trên nền tảng Kinh Dịch là có cơ sở thuận lý.

Nghĩa chữ DỊCH cốt ở tinh-thần. Trong chữ Dịch bao hàm ba ý-nghĩa: Bất dịch, Giao dịch, Biến dịch.

1- Bất dịch 不易 nghĩa là chẳng thay đổi. Ở trong trời đất: kể dọc là không gian, kể ngang là thời gian. Hễ đã có một vật gì, tất nhiên có một cái chất cố định của vật ấy, có một việc gì tất nhiên có một chất nhất định của việc ấy. Lệ như: CÀN là Thiên, là trời. Trời thì bao giờ cũng từ khí nhẹ bay lên trên, gọi là khinh thanh tại thượng. KHÔN là Địa, là đất; đất thì bao giờ cũng do chất nặng lắng xuống, gọi là trọng trược tại hạ.

Lại như: KHẢM là Thuỷ, là nước, nước thì bao giờ cũng có tính chất trôi chảy. LY là Hoả, hoả là lửa, lửa thì bao giờ cũng có tia sáng chói, phát tán ra. Vậy nên ở trong Kinh Dịch đã Kiền (Càn) thời nhất định ba nét Dương, đã Khôn thời nhất định ba nét Âm, đó là nghĩa Bất dịch, tức là không thay đổi.

2- Giao dịch 交易 nghĩa là trao đổi cho nhau, ở trong vạn sự, vạn vật: Bất dịch là nguyên thể, giao dịch là ứng dụng. Lệ như Âm điện giao hoán với Dương điện mà sinh điện khí. Nam tính giao hoán với Nữ tính mà thành được nhân-loại sinh dục. Lý ấy ở trong Dịch học lại càng rõ-rệt. Như ba nét Dương quẻ CÀN giao dịch với KHÔN thành Chấn Khảm Cấn .

Ba nét Âm quẻ KHÔN giao dịch với CÀN thành Tốn Ly Đoài Sự vật ở trong thiên địa cổ kim, muốn xét cho cùng tận đến gốc ngọn, từ việc xưa đến việc nay, nếu chỉ nói đến một phần giao dịch cũng chưa hết được chân lý tác dụng, phải đòi hỏi một nghĩa nữa là Biến dịch.

3- Biến dịch nghĩa là biến hoá, thay đổi. Sự vật gì theo về phần nguyên chất, hoặc phần thiên nhiên, thời vẫn Bất dịch và Giao dịch. Nhưng đã trải qua khi giao hoán, tác dụng rồi, thời tức nhiên có Biến dịch. Lệ như: Gang, chì vẫn là giống cố thể mà bỏ vào lò lửa nấu thì chảy ra nước hoá thành lưu chất. Tằm vẫn là giống nấp, nhưng khi đã vào kén làm nhộng hoá ra bướm thời thành giống bay. Nghiên cứu DỊCH HỌC, cốt-yếu là chữ Biến dịch. Như: Dương hào biến ra Âm-hào. Quẻ Càn biến ra được quẻ Khôn. Toàn một bộ sách không một vạch nào mà chẳng biến dịch được, ấy là một lẽ rất tinh thông ở trong KINH DỊCH đó vậy. Dịch sở dĩ thành sách, đó là cốt ở theo thì biến đổi cho đúng với ĐẠO mà thôi, tức là "Dịch chi vi thư, tuỳ thì biến dịch, dĩ tùng Đạo dã". Câu nói ấy chính là lấy nghĩa chữ Biến dịch mà thích chữ DỊCH..

Tóm lại: khi đã đủ ba nghĩa như trên, mới gồm hết được nghĩa chữ DỊCH, mà ba nghĩa ấy lại tiếp tục tuần hoàn sinh-sản ra nhau nữa. Ví như: bản chất người con trai hay con gái, thời trai nhất định là Dương, nữ nhất định là Âm. Là Bất dịch. Đến khi trai gái giao hợp với nhau mà sinh ra trai hoặc gái kế tiếp, thế là nhân sự Giao dịch mà ra Biến dịch. Nhưng đã Biến dịch rồi, thì nhất định trai là Dương, gái nhất định là Âm. Thế lại do Biến dịch mà hoàn lại Bất dịch. Cái vòng tròn lẩn quẩn không đầu mối ấy không dứt. Bây giờ một thí dụ: Con tằm hoá bướm là Biến dịch. Đến khi bướm đẻ trứng, trứng nở ra tằm, là do Biến dịch hoàn lại Bất dịch. Những ý-nghĩa như thế trong DỊCH chẳng cùng.

Ví như: ba nét Dương quẻ Càn vẫn là ba nét Dương nhưng vì lấy một một nét đầu đổi cho Khôn thành ra Chấn Lấy một nét giữa đổi cho Khôn thành ra Khảm Lấy một nét cuối đổi cho Khôn thành ra Cấn ến khi đã biến hết ba nét rồi thời quẻ CÀN thành quẻ KHÔN. Khi đã biến ra KHÔN rồi, thì Khôn thành Bất dịch.

 

 

KINH DINH


F: Organiser des affaires.

Kinh: Sửa trị, hoạch định. Dinh: Doanh, chỉ việc làm ăn mua bán. Kinh dinh hay Kinh doanh là sắp đặt việc làm ăn mua bán hay sản xuất để sinh ra lợi lộc.

Kinh Ði Ra Ðường có câu:

"Dòm thấy cuộc kinh dinh dưới mắt,
"E trở tâm tánh bắt đổi thay."

 

 

KINH DƯƠNG VƯƠNG (Sử)

Kinh Dương Vương Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.Nhâm Tuất, năm thứ 17. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc Thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.

Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).

 

 

KINH ĐIỂN

:
E: The prayings books.
F: Le livres canoniques.

Kinh điển là Kinh, Truyện và sách ghi chép các phép tắc và sự việc thời xưa, dùng làm khuôn mẫu cho đời sau học tập. Đặc biệt trong kinh sách này chép rõ về điển cố, lịch sử, luận về các nhân vật hầu làm gương soi kim cổ.

Thầy dạy tại Sài gòn (nhà Cao Thượng Phẩm), ngày 21-7-1926 (âl 12-6-Bính Dần): "Chư nhu, chư tín nữ khá nghe: Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên đình mà làm cho tiêu tai tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì Thiên đình cầm bộ Nam Tào cũng chẳng ích chi.

Tu là chi? Tu là trau giồi đức tính cho nên hiền, thuận theo ý Trời định trước. Nếu thế gian dữ thì thế nào đặng bảo toàn, còn mong mỏi gì đặng bền vững. Cá nhân dữ thì thế nào bảo toàn tánh mạng. Ðã bị tội cùng Thiên đình thì bị hành phạt. Nơi kiếp sống nầy, nếu không biết tu, buổi chung qui sẽ mắc tội nơi Thiên đình.

Phẩm vị Tiên, Phật để thưởng cho kẻ lành mới đáng phẩm vị, chớ chẳng phải của để treo tham cho thế gian phòng toan đạt đặng. Tuy luật lệ siêu phàm nhập Thánh thì vậy mặc dầu, chớ cũng do cơ thưởng phạt của Thiên đình mới đạt phẩm vị ấy đặng. Của vô vi chưa chắc ai muốn lấy thì lấy tùy ý. Nếu làm Tiên, Phật đặng dễ dàng thì cả thế gian, miễn có học chút ít thì đã đặng làm Tiên, Phật rồi, vì luân hồi đâu có phòng sanh sanh tử tử. Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh, chẳng khác chi đũa ăn cơm, chẳng có đũa, kẻ có cơm bốc tay ăn cũng đặng. Các con coi kinh điển lại, rồi thử nghĩ lại sự công bình thiêng liêng mà suy gẫm cho hay lẽ phải.

Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất, nghe à.!"

 

 

KINH HÔN PHỐI

 

KINH HÔN-PHỐI
(Giọng Nam-Xuân)

Cơ sanh-hóa Càn-Khôn đào-tạo,
Do Âm-Dương hiệp đạo biến-thiên.
Con người nắm vững chủ-quyền,
Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn-luân.

Ở trước mắt Hồng-Quân định phận,
Đạo vợ chồng đã xứng nợ duyên.
Trăm năm khá nhớ hương-nguyền,
Chồng hay trọn nghĩa, vợ hiền trọn trinh.

Đã cùng gánh chung tình hòa-ái,
Tua đút cơm, sửa dải làm duyên.
Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,
Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam.

Đường tổ-nghiệp nữ nam hương lửa,
Đốt cho nồng từ bữa ba sanh.
Giữa đền để một tấc thành,
Đồng sanh, đồng tịch đã đành nương nhau.

Nam-Mô Cao-Đài... (niệm 3 lần)

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

 

 

KINH KỆ

.
E: The prayers.
F: Les prières.

Kinh là Kinh điển, Kệ là một thể văn ngâm ở trong Kinh Phật, cứ mỗi thiên kinh thường có một bài Kệ, là lời tán tụng diễn dịch ý tứ trong Kinh ra.

Di-lạc chơn kinh có câu:

"Khai Kinh-kệ vô thượng thậm thâm vi diệu pháp".

 

 

KINH LUÂN

(Kinh: kéo tơ lấy trong mối tơ mà chia ra; kinh trước hết là những sợi tơ dệt theo chiều thẳng đứng, không đứt đoạn. Luân: so theo từng loại mà hiệp về một mối). Đây là nói công việc của người thợ dệt, chia các sợi tơ ra gọi là Kinh, so các sợi tơ lại cho bằng đầu thì gọi là Luân.

Kinh luân, dùng theo nghĩa bóng là sắp đặt, sửa sang các việc chánh trị trong nước một cách khéo léo tài giỏi như việc kéo tơ dệt lụa. Chữ Kinh trong y, trong đạo còn có nghĩa là một khuôn mẫu phải theo; theo phải đúng với sự vận hành giữa Trời- Đất- Người. Ý nói tài sắp đặt, sửa sang công việc, thường chỉ về tài chính trị hay việc hành chánh đạo nói theo danh từ Tôn-giáo Cao Đài.

Trong bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ có câu: "Kinh-luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung. Vũ trụ chi gian giai phận sự, nam nhi đáo thử thị hào hùng" nghĩa là tài sắp xếp việc nước ở trong lòng mà ra, khí giới đánh giặc chứa ở trong bụng, mọi việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự kẻ làm trai, người nam-nhi đến thế mới thật là hoàn-toàn.

*Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước được Đức Hộ Pháp giáng cơ khen:

BẢO trọng vạn linh hiệp Chí Linh,
THẾ nguy chuyển loạn lập hòa bình.
CỨU đời mở Đạo kinh luân sẵn,
NƯỚC Việt trông chờ sách cứu tinh.

 

 

KINH LUẬT


E: Religious books of laws.
F: Les livres canoniques et lois.

Kinh: Kinh sách. Luật: luật pháp. Kinh luật là kinh sách và luật pháp.

Pháp Chánh Truyền:

Như thảng có kinh luật nào làm cho hại phong hóa thì chúng nó phải trừ bỏ, chẳng cho xuất bản. (Chúng nó: Đức Chí Tôn gọi 3 vị Chưởng Pháp).

 

 

KINH NGHIỆM

:
F: Expérience.

Đức Thượng Phẩm dạy: "Hồi tưởng lại việc đã qua trong các thời xưa, nhứt là thời cận đại và lấy kinh nghiệm xét-đoán, chúng tôi nhận thấy hễ nơi nào sôi-nổi phong trào náo loạn lôi cuốn con người vào chốn diệt vong thì cập theo đó sản-xuất một mối Đạo mới để cứu vớt sanh linh khỏi cơn đồ thán."

 

 

KINH NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ

Đây là bài Kinh ca tụng Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, là một trong những bài Kinh tụng đọc trong "Tứ thời nhựt tụng"

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế, còn được gọi là Ngọc Hoàng Thiên-Tôn Bửu-Cáo, hay gọi vắn tắt là Ngọc Hoàng Bửu Cáo, do Ðại Tiên Lữ Đồng Tân, thường gọi là Lữ Tổ, tước hiệu Phu Hựu Ðế Quân, một vị trong Bát Tiên, giáng cơ ban cho ở Trung Hoa, sau đó mới truyền sang Việt-Nam.

Bài Ngọc-Hoàng Bửu-Cáo có in trong quyển Kinh: "Quan Thánh Ðế Quân Cứu Kiếp Vĩnh Mạng Kinh" và có cho biết xuất xứ của bài Kinh nầy như sau:

"Quang Tự Tân Mão, cửu ngoạt, sóc, Quan Ðế thỉnh Phu Hựu Ðế Quân giáng tác thử cáo, phú tụng dĩ kính Thiên Ðế" nghĩa là: Niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh) năm Tân Mão, tháng 9, ngày mùng 1 Ðức Quan-Thánh thỉnh mời Ðức Phu Hựu Ðế Quân giáng cơ viết ra lời cáo nầy, để cho người tụng Kinh biết mà tôn kính Ðấng Thượng Ðế.

Ðối chiếu niên lịch, năm giáng cơ ban cho Kinh Ngọc Hoàng Bửu Cáo là năm thứ 17 đời vua Ðức Tông nhà Thanh, niên hiệu Quang Tự, ngày 01-09-Tân Mão, tương ứng với dương lịch là ngày 03-10-1891.

Trong việc giải thích chi tiết bài Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế, có phần Hán văn kèm theo, căn cứ phần chánh bản Kinh Hán-văn in trong quyển "Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh" xuất bản năm 1928 của Nhị vị Ðầu Sư: Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt và có sự phối hợp đối chiếu với bản Hán văn in trong quyển 大道三期普度經 (Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ Kinh) của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh.

KINH NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ
(Giọng Nam-Xuân)

Đại-La Thiên-Đế
Thái-Cực Thánh-Hoàng
Hóa dục quần sanh
Thống-ngự vạn-vật.
Diệu-diệu "Huỳnh-Kim-Khuyết".
Nguy-nguy "Bạch-Ngọc-Kinh".
Nhược thiệt, nhược hư,
Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa.
Thị không, thị sắc,
Vô-vi nhi dịch sử quần-linh.
Thời thừa lục long,
Du hành bất tức.
Khí phân Tứ Tượng,
Hoát triền vô biên.
Càn kiện cao minh,
Vạn loại thiện ác tất kiến,
Huyền phạm quảng đại.
Nhứt toán họa phước lập phân.
Thượng chưởng Tam thập lục Thiên,
Tam Thiên Thế Giái.
Hạ ốc Thất thập nhị Địa,
Tứ Đại Bộ-Châu.
Tiên-Thiên Hậu-Thiên.
Tịnh dục Đại-Từ-Phụ.
Kim ngưỡng, cổ ngưỡng,
Phổ-Tế Tổng-Pháp-Tông.
Nãi Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần chi quân,
Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ.
Trạm tịch chơn Đạo,
Khôi mịch tôn nghiêm
Biến-hóa vô cùng,
Lũ truyền Bửu-Kinh dĩ giác thế,
Linh oai mạc trắc,
Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh.
Hồng oai, Hồng từ,
Vô cực, vô thượng.
Đại-Thánh, Đại-Nguyện, Đại-Tạo, Đại-Bi.
Huyền-Khung Cao Thượng-Đế, Ngọc-Hoàng tích phước hựu tội, Đại Thiên-Tôn.

Niệm: "Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" (12 lạy)

 

 

KINH PHÚC ÂM (Kinh Chúa)

Kinh Phúc Âm có lời: "Chúa Jésus Christ bảo: Nếu các con kính mến TA, các con hãy nhớ những lời TA dạy bảo: TA sẽ xin Cha Ta sai Đấng Cứu khổ giáng trần và ở luôn với các con đó là Thần Chơn-lý, mà hiện giờ các con chưa thể gặp đặng đó là ngôi ba, ngôi Thánh, Thần mà vì Ta, Cha Ta sẽ sai xuống thế. Đấng ấy sẽ dạy dỗ các con đủ điều mà Ta đã dạy các con rồi. Và Chúa cũng đã có giáng Cơ cho biết:

Vâng lịnh vua Cha xuống Thái ban,
Truyền ra Thánh giáo rất gian nan.
Ba mươi năm lẻ chưa toàn vẹn.
Ngàn chín năm dư thế muốn tàn.

Đức Chúa còn dạy các Môn Đồ của Ngài rằng: "Lòng các con đừng bối rối: Hãy tin nơi Đức Thượng-Đế, hãy tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy (Thượng Đế) có nhiều chỗ ở. Giả sử không có như vậy, tất Thầy đã bảo các con rồi, vì Thầy đi sửa-soạn chỗ ở cho các con. Và khi Thầy đã đi sửa soạn cho các con Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó. Còn như chỗ Thầy đến bây giờ, các con đã biết đường rồi (Gioan XVI)

*"Nếu các con yêu mến Thầy, các con phải giữ các giới răn Thầy. Phần Thầy, Thầy sẽ xin với Cha Thầy (Thượng Đế) để Thầy sẽ ban cho các con một Đấng phù trợ hay Đấng an ủi khác, Đấng ấy sẽ ở với các con liền mãi: Thần Chân lý này, thế gian không thể tiếp nhận được, vì thế gian không xem thấy Ngài và cũng không biết Ngài. Nhưng các con thì khác, các con đã biết Ngài rồi, vì Ngài từng ở cạnh các con và ở trong các con. Thầy sẽ không để các con mồ côi. Thầy sẽ trở lại cùng các con. Còn chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ chẳng xem thấy Thầy vì Thầy sẽ sống và cả các con cũng sẽ sống. Ngày ấy các con sẽ biết Thầy ở trong Cha Thầy (Thượng Đế) và các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Ai biết giới răn của Thầy mà giữ các điều đó chính là người yêu mến của Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, người đó sẽ được Cha Thầy yêu và cả Thầy đây cũng yêu người ấy (Gioan 1521.XVI)

*Những kẻ nào không yêu mến Thầy nó sẽ chẳng giữ giới răn của Thầy. Mà lời các con nghe đây không phải bởi Thầy, song bởi Cha Thầy là Đấng sai Thầy, Thầy nói những điều này với các con, bao lâu Thầy còn ở với các con. Song Đấng phù trợ hay là Đấng an ủi mà Cha Thầy sẽ nhân Thầy sai đến với các con, sẽ dạy các con biết mọi điều, sẽ nhắc nhở cho các con mọi điều mà Thầy đã từng dạy các con (Gioan).

Đấng Cao-Đài nói câu này:
Thầy là các con, các con là Thầy".

Đêm 17-12-1925: một Đàn Cơ do ba ông: Cao-Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang cầu. Đức AĂÂ phán:

"Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Muốn TA truyền Đạo, kể từ bây giờ phải gọi TA bằng Thầy và TA gọi lại là các con, nên mới có câu "Thầy là các con, các con là Thầy".

Ngày 9 tháng giêng năm Giáp Thân (dl 2-2-1944)

Thầy nói: "Kỳ nầy là chót, Thầy lập nơi đây một Trường thi công quả và cho các Đấng khảo đủ phương diện. Thầy đau đớn thấy các con còn đặt mình chung cùng danh lợi. Đây cũng đến kỳ Tận Thế, đổi cựu thay tân, tuyển bực đại hiền cứu thế. Các con cũng còn nhớ những lời Thầy dạy lúc mới lập Đạo, Thầy tưởng cũng nên lập lại một lần chót cho các con nhớ:"Thầy là các con, các con là Thầy. Chư Phật,Thánh, Tiên cũng là các con, các con là Phật, Thánh, Tiên tại thế.". Vậy các con hiểu Đạo thì các con tập tánh sao cho ra vẻ, cho đúng in như các Đấng vậy. Thầy đã cho các con biết trước: "Thầy cho các con đắc Đạo tại thế". Nay muốn tầm lên cao thì phải lập công cho cao, chí cho bền, đi cho vững, leo núi chớ than mệt, thuyền ra khơi đừng lo biển rộng, dầu sóng gió thế nào cũng vẫn tươi cười đặng lướt qua khỏi bể. Nghe cùng tuân lời các Đấng dạy răn. Thầy khuyên các con đừng sanh nạnh cùng nhau, co đầu cứng cổ, e phải bị tội lỗi đa nghe!."

 

 

KINH SÁM HỐI

Ăn năn tự thú tội ra để xin sữa đổi gọi là sám hối.

Nguồn gốc: Khi mở Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Ðạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Ðường) dâng Kinh cho Ðại-Ðạo. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm 4 vị: Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, Thượng Giáo Sư Vương quan Kỳ, đến Chi Minh-Lý thỉnh 6 Bài Kinh: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối, Kinh Cầu Siêu, Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần, làm Kinh dùng trong các thời cúng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

KINH SÁM-HỐI (1)
(Giọng Nam-Xuân)

(1) Kinh nầy tụng ngày Sóc Vọng, còn ngày thường lỡ có lầm-lỗi điều chi, phải tụng mà xin tội.

Cuộc danh lợi là phần thưởng quí,
Đấng Hóa-Công xét kỹ ban ơn.
Lòng đừng so thiệt tính hơn,
Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi.

Người sang cả là vì duyên trước,
Kẻ không phần luống ước cầu may.
Sang giàu chẳng khác như mây,
Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.

Việc sanh tử như đường chớp nhoáng,
Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.
Giữ cho trong sạch linh hồn,
Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

Điều họa phước không hay tìm tới,
Tại mình dời nên mới theo mình.
Cũng như bóng nọ tùy hình,
Dữ lành hai lẽ công bình thưởng răn.

Khi vận thới lung-lăng chẳng kể,
Lúc suy-vi bày lễ khẩn-cầu.
Sao bằng ở phải buổi đầu,
Thần-minh chánh-trực có đâu tư vì.

Người làm phước có khi mắc nạn,
Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.
Ấy là nợ trước còn mang,
Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.

Nếu vội trách người trên thì đọa,
Cũng có khi tai họa trả liền.
Đó là báo-ứng nhãn tiền,
Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.

Lo danh vọng hao mòn thân-thể,
Ham làm giàu của để bằng non.
Một mai nhắm mắt đâu còn.
Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng.

Trên đầu có bủa giăng Thần Thánh,
Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.
Làm lành đặng hưởng phước duyên,
Trong lòng nham hiểm lộc quyền giảm thâu.

Đừng tính kế độc sâu trong dạ,
Mà gổ-ganh oán chạ thù vơ.
Trái oan nào khác mối tơ,
Rối rồi không gỡ bao giờ cho ra.

Thấy hình khổ dạ ta đâu nỡ,
Khuyên làm lành trừ đỡ tội căn.
Quấy rồi phải biết ăn-năn,
Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.

Hãy có dạ kỉnh già thương khó,
Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.
Xót thương đến kẻ tật nguyền,
Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi.

Làm con phải trau-giồi hiếu-đạo,
Trước là lo trả thảo mẹ cha.
Lòng thành thương tưởng ông bà,
Nước nguồn cây cội mới là tu mi.

Giá trong sạch nữ-nhi trượng tiết,
Giữ cho tròn trinh-liệt mới mầu.
Ở sao đáng phận đạo dâu,
Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.

Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,
Không kiên chồng khi dể công-cô.
Ấy là những gái hung-đồ,
Xúi chồng tranh-cạnh hồ-đồ sân-si.

Tánh ngoan-ngạnh không vì cô bác,
Thói lăng-loàn bạn tác khinh-khi.
Ngày sau đọa chốn Âm-Ty,
Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

Người tai mắt đạo nhà khá giữ,
Nghĩa anh em cư xử thuận hòa.
Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
Kính anh mến chị thì là phận em.

Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,
Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.
Cũng là một gốc sanh ra,
Gồm bao nâng đỡ ruột-rà thương nhau.

Người trung-trực lo âu nợ nước,
Hưởng lộc vua tìm chước an bang.
Chớ làm con giặc tôi loàn,
Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà.

Phận làm tớ thật-thà trung-tín,
Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.
Áo cơm no ấm hằng ngày,
Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

Đừng gặp việc câu-mâu biếng nhác,
Mà quên lời phú-thác dặn dò.
Trước người giả bộ siêng lo,
Sau lưng gian-trá so-đo tấc lòng,

Phải chừa thói loài ong tay áo,
Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà,
Gìn lòng ngay thẳng thật-thà,
Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.

Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại
Đừng gian mưu hãm-hại người hiền.
Anh em bằng-hữu kết nguyền,
Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì.

Chẳng thấy khó mà khi mà thị,
Gặp người giàu mà vị mà nâng.
Dầu khi gặp lúc gian-truân,
Cũng đồng giúp ích chớ đừng mặt ngơ.

Làm người phải kỉnh thờ Thần, Thánh,
Giữ lời nguyền tâm-tánh tưởng tin.
Hễ là niệm Phật tụng kinh,
Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

Chừa thói xấu đảo-điên trong dạ,
Muôn việc chi chẳng khá sai lời.
Dối người nào khác dối Trời,
Trời đâu dám dối ra đời ngỗ-ngang.

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,
Mà dể-duôi sanh biến lăng-loàn.
Con người có trí khôn-ngoan,
Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi.

Phải cho biết kỉnh vì trên trước,
Đừng buông lời lấn lướt hồ-đồ.
Thuận cùng chú bác cậu cô,
Bà con chòm xóm ra vô khiêm-nhường.

Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh,
Đừng chỗ đông buông tánh quá vui.
Cợt người ra dạ dể-duôi,
Sanh điều xích-mích đâu nguôi dạ hờn.

Khi tế tự chớ lờn chớ dể,
Việc quan, hôn, thủ lễ nghiêm-trang.
Gìn lòng chẳng khá lăng-loàn,
Lễ-nghi vẹn giữ vững-vàng chớ quên.

Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức,
Phước ấm no túc thực túc y.
Thấy người gặp lúc tai nguy,
Ra tay tế độ ấy thì lòng nhơn.

Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,
Thấy trên đường miểng bát, miểng chai.
Hoặc là đinh nhọn, chông gai,
Mau tay lượm lấy đoái hoài kẻ sau.

Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn,
Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền.
Bắc cầu đắp sửa đường liền,
Kẻ qua người lại bước yên gọn-gàng.

Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,
Rán tập thành sửa tánh từ hòa.
Việc lành chẳng khá bỏ qua,
Tuy rằng nhỏ-nhít cũng là công phu.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,
Lâu ngày dồn tính đếm có dư.
Phước nhiều tội quá tiêu trừ,
Phép Trời thưởng phạt không tư chẳng vì.

Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,
Thường dạn làm tội lại hằng-hà.
Vì chưng tựu thiểu thành đa,
Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

Giữa bụi thế giữ sao khỏi vấy,
Biết ăn năn xét lấy sửa lòng.
Làm người nhơn-nghĩa xử xong,
Rủi cho gặp lúc long-đong chẳng sờn.

Hễ biết nghĩa thọ ơn chẳng bội,
Giúp cho người chớ vội khoe ra.
Việc chi cũng có chánh tà,
Làm điều phải nghĩa lánh xa vạy-vò.

Khi gặp chuyện khá dò xét cạn,
Liệu sức mình cho hẳn sẽ làm.
Chớ đừng thấy của dấy tham.
Giục người làm quấy ắt cam đồng hình.

Ở ngay thẳng Thần-minh bảo hộ,
Nết xéo-xiên gặp chỗ rạt tù.
Trong đời rất hiếm võ-phu,
Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.

Còn hoi-hóp tranh đua bay nhảy,
Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.
Lương-tâm thường xét cho rành,
Của không phải nghĩa chớ sanh lòng tà.

Người quân-tử chẳng thà chịu khổ,
Đâu làm điều nhục tổ hổ tông.
Đứa ngu thấy của thì mong,
Không gìn tội-lỗi phép công nước nhà.

Bày chước độc, xúi ra việc quấy,
Tổn cho người mà lấy lợi riêng.
Hễ nghe khua động đồng tiền,
Sửa ngay làm vạy không kiêng chút nào.

Người nghèo khổ biết sao than kể,
Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền.
Làm quan tính kế đảo điên,
Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

Thả tôi-tớ thôn lân húng hiếp,
Bức gái lành, ép thiếp đòi hầu.
Trong lòng mưu chước rất sâu,
Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi.

Gái xướng-kỵ, trai thì du-đãng,
Phá tan hoang gia sản suy-vi.
Làm người phải khá xét suy,
Của rơi chớ lượm, tham thì phải thâm.

Còn một nỗi gian-dâm đại tội,
Lấy vợ người làm lỗi tiết-trinh.
Tuy là Trời Đất rộng thinh,
Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.

Lương-tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,
Mới biệt phân sừng đội lông mang.
Việc lành, việc dữ đồn vang,
Tuy là khuất bóng xương tan tiếng còn. (*1)

Gái tiết-hạnh giữ tròn danh giá,
Chớ học đòi mèo mả gà đồng.
Làm điều nhục-nhã tổ-tông,
Tiếng nhơ giặt rửa biển sông đặng nào.

Trai trung hiếu sửa trau ba mối,
Đừng buông lung lầm-lỗi năm hằng.
Hung-hoang tội báo nghiệt căn,
Kẻ chê người thị không bằng cỏ cây.

Thà tiết-kiệm hằng ngày no đủ,
Tánh siêng-năng lam-lụ làm ăn.
Lòng chừa biếng nhác kiêu căng,
Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.

Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,
Đức háo-sanh Tiên, Phật một màu.
Thượng cầm hạ thú lao-xao,
Côn-trùng thảo-mộc loài nào chẳng linh.

Nó cũng muốn như mình đặng sống,
Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.
Bền công kinh sách xem coi,
Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.

Chớ kiếm thế gọi ngoan xảo-trá.
Lưới rập chim, thuốc cá, đốt rừng.
Thương thay phá noãn lẫy-lừng,
Tội căn báo-ứng biết chừng nào an.

Lại có kẻ hung-hoang ác-nghiệt,
Cướp giựt rồi chém giết mạng người,
Đoàn năm, lũ bảy dạo chơi,
Hiếp người lương-thiện, phá đời hại dân.

Tua khá tưởng thương lần nòi giống,
Hãy xét vì mạng sống khó cầu.
Cũng đừng bài bạc lận nhau,
Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.

Phải hiểu biết máy sâu họa kín,
Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua.
Thường ngày tuần khắp xét tra,
Phạt người hung-ác đọa sa A-Tỳ.

Sống dương-thế hành thì căn bịnh,
Xui tai-nàn dấp-dính theo mình.
Ăn-năn khử ám hồi minh,
Từ-bi Trời Phật rộng tình xét cho.

Đừng cố oán thầm lo gây họa,
Đem lòng thù hăm dọa rắp đường.
Đốt nhà, tháo cống, phá mương,
Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.

Thêm liều mạng đặng toan đổ tội,
Cho người hiền chịu lỗi vương mang.
Khi hồn lìa khỏi trần gian,
Hóa ra ngạ-quỷ cơ-hàn khổ thân.

Đời nhiều kẻ khi Thần thị Thánh,
Ám-muội lòng tánh hạnh gỗ-ganh.
Thấy ai làm phải làm lành,
Xiểm-gièm cho đặng khoe danh của mình.

Lại còn có tánh tình hiểm độc,
Xúi phân chia thân tộc ruột-rà.
Làm cho chồng vợ lìa xa,
Cả đời nghiệt-báo oan-gia chẳng rời.

Muốn tránh đặng khỏi nơi tội quá,
Lánh kẻ tà chẳng khá nên gần.
Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,
Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.

Đêm thanh vắng chớ toan mưu dối,
Xúi trẻ thơ lầm-lỗi ngỗ-ngang.
Âm đài gông tróng sẵn-sàng,
Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.

Các thơ truyện huê tình xé hủy,
Kẻo để đời làm lụy luân-thường.
Nói lời tục tĩu không nhường,
Tội hành cắt lưỡi trăm đường ghê thay!

Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy,
Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.
Ăn gian xới bớt cho mình,
Dầu qua dương pháp, luật hành Diêm-vương.

Thêm những sãi giả nương cửa Phật,
Của thập phương châu cấp thê nhi.
Ngày sau đọa lạc Âm-Ty,
Thường thường khảo kẹp chẳng khi nào rời.

Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,
Đốt ra tro bỏ chảy dòng sông.
Thủy-triều vận-tải biển đông,
Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.

Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,
Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong,
Làm ra lúa gạo dày công,
Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc-nhằn.

Nhờ Diêm-Đế đức cao ân nặng,
Tìm lúa khoai người đặng no lòng.
Ngày ngày vọng niệm chớ vong,
Chẳng nên hủy hoại mới phòng khỏi hoang.

Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa,
Nhơn thất mùa bế dựa gắt-gao.
Chờ khi lúa phát giá cao,
Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

Ơn trợ giúp khá lo đền báo,
Giữ vẹn tròn nghĩa đạo với đời.
Túng cùng vay mượn của người,
Vui lòng tính trả vốn lời cho kham.

Chớ oán-chạ tham-lam ngược-ngạo,
Bội nghĩa ân trở-tráo chước sâu.
Luân-hồi thưởng phạt rất mầu,
Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền.

Người phú túc vun nền âm đức,
Lấy lòng nhơn giúp sức trợ nghèo.
Chớ sanh chước hiểm hẹp eo,
Lời tăng quá vốn kẻ nghèo xiết than.

Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,
Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn.
Phật Trời nhơn vật đồng thương,
Có đâu hưởng của bất lương mà mời.

Phận làm chủ lấy lời nhỏ-nhẹ,
Mà nghiêm-trừng mấy kẻ tôi-đòi.
Đừng lòng nham hiểm hẹp hòi,
Buông lời chửi rủa đòn roi không từ.

Tánh độc-ác tội dư tích trữ,
Chốn Âm-Cung luật xử nặng-nề.
Đánh đòn khảo kẹp gớm-ghê,
Hành hình khổ-não chẳng hề nới tay.

Miền âm-cảnh nhiều thay hình lạ,
Cõi dương-trần tội quá dẫy đầy.
Thánh-hiền Kinh sách dạy bày,
Lòng người ám-muội lỗi gây ra hoài.

Kẻ lỗ-mãng chê bai khinh-dể,
Rằng thác rồi còn kể ra chi.
Nhãn tiền trả quả tức thì,
Tội dư con cháu một khi đền bồi.

Chớ quấy tưởng luân-hồi phi lý,
Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.
Thi-hài như gỗ biết gì,
Linh-hồn là chủ thông tri việc đời.

Lúc chung mạng dứt hơi, hồn xuất,
Quỉ vô-thường sẵn chực đem đi.
Dắt hồn đến chốn Âm-Ty,
Xét xem công quả chẳng ly mảy hào.

Người lương thiện ra vào thong-thả,
Kẻ tội nhiều đày-đọa rất minh,
Phật, Trời phép lạ hiển-linh,
Hành cho tan xác huờn hình như xưa. (*2)

Con bất hiếu xay cưa đốt giã,
Mổ bụng ra phanh rã tim gan.
Chuyển thân trở lại trần gian,
Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.

Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,
Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.
Vì chưng trinh-tiết chẳng gìn,
Có chồng còn lại ngoại tình với trai.

Kẻ tham lợi cột mai cột mối,
Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.
Dỗ-dành, rù quến gái non,
Làm hư hoại tiết cháu con nhà người.

Lòng lang độc vui cười hớn-hở,
Chốn Diêm-Đình phạt quở trừng răn.
Gông kềm khảo kẹp lăng-xăng,
Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,
Tánh gian-dâm hành phạt gớm ghê.
Giáo gươm bén nhọn tư bề,
Chém đâm máu chảy tràn-trề ngục môn.

Hành đến chết huờn hồn sống lại,
Cho đầu thai ở tại thanh-lâu.
Ngày đêm đưa rước chực-chầu,
Công-bình Thiên-Đạo phép mầu chí linh.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng-nhảnh,
Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.
Ấy là phạt kẻ lường cân,
Đo gian, đong thiếu, Thánh Thần chẳng kiêng.

Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,
Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.
Hình nầy phạt kẻ dại ngây,
Khinh khi Tam-giáo đọa-đày thế ni.

Ao nước nóng sôi thì sục sục,
Dầm cho người rã-rục thịt xương.
Cũng vì lòng dạ vô lương,
Đệ huynh bất mục chẳng thương đồng-bào.

Nhiều gộp núi như đao chơm-chởm,
Thấy dùn mình táng đỡm rất ghê,
Thây người máu chảy dầm-dề,
Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.

Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,
Tớ phản Thầy, tôi lại bất trung. (*3)
Hành rồi giam lại Âm-Cung,
Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.

Hình Bào-Lạc cột đồng vòi-vọi,
Đốt lửa hồng ánh giọi chói lòa.
Trói người vào đó xát chà,
Vì chưng hung-bạo đốt nhà bắn săn.

Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu,
Gặp tội-nhơn quào-quấu xé thây.
Ấy vì lòng dạ chẳng ngay,
Giết người lấy của bị nay hình nầy.

Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn,
Xô người vào, lội lặn nhờm thay!
Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,
Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

Để hành kẻ chứa sâu, lường của,
Trù ếm người, chửi rủa Tổ Tông.
Đồ dơ giặt đổ rạch sông,
Đương khi uế trược thẳng xông chỗ thờ.

Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,
Phơi áo quần chẳng nể Tam Quang.
Buông lời tục tĩu dâm loàn,
Lâu mau, nặng nhẹ, chịu mang tội nầy.

Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,
Hơi tanh hôi thường bữa lẫy-lừng.
Gạo cơm hủy hoại quen chừng,
Phạt ăn dơ-dáy mới ưng tội hình.

Cột trói ngược quá kinh rất lạ,
Quỉ Dạ-xoa đánh vả kẹp cưa.
Vì chưng chửi gió mắng mưa,
Kêu tên Thần, Thánh chẳng chừa chẳng kiêng.

Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,
Tra tội nhơn, gian giảo ngược-ngang.
Hành người bế dịch, trợ hoang, (*4)
Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo.

Thành Uổng-Tử cheo-leo gớm ghiếc,
Cầm hồn oan rên siết khóc than.
Dương-gian ngỗ-nghịch lăng-loàn,
Liều mình tự-vận không màng thảo ngay.

Xuống Địa-Ngục đọa-đày hành mãi,
Đúng số rồi còn phải luân-hồi.
Hóa-công xem xét đền bồi,
Lành siêu dữ đọa thêm nhồi tội căn.

Cầu Nại-Hà bắc giăng sông lớn,
Tội nhơn qua óc rởn dùn mình.
Hụt chơn ván lại gập-ghình,
Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.

Nhiều thứ rắn mặt mày dữ-tợn,
Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.
Gắp thây nuốt sống ăn tươi,
Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

Trong núi lửa bay hơi tanh khét,
Linh-hồn người đầy nghẹt trong ngoài!
Phạt răn quến gái, dụ trai,
Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.

Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,
Biết lạc-lầm sám-hối tội căn.
Tu tâm sửa tánh ăn-năn,
Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.

Ngặt có kẻ tưởng Trời tin Phật,
Mà trong lòng chẳng thật kính thành.
Lâm nguy miệng vái làm lành,
Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong.

Chớ thái-quá đừng lòng bất cập,
Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.
Làm lành, xem phải, nói ngay,
Giữ ba điều ấy thiệt rày phước duyên.

Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,
Câu văn từ luận biện thật-thà.
Chẳng dùng những tiếng sâu xa,
E không hiểu thấu diễn ra ích gì?

Chớ buông tiếng thị phi khinh dể,
Rán làm lành phước để cháu con.
Làm người nhơn nghĩa giữ tròn,
Muôn năm bóng khuất, tiếng còn bay xa.

 

 

KINH TAM GIÁO

Là Ba bài kinh trong số kinh Cúng Tứ thời là:

- Kinh Thích giáo.
- Kinh Tiên giáo.
- Kinh Nho giáo.

Nguồn gốc ba bài Kinh của Tam giáo đây là do các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ ban cho ở chùa Hàn Sơn, niên hiệu Gia Khánh (1796-1820) và đời vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Ðạo Quang (1821-1851). Như bài Kinh Tiên giáo, có in trong quyển sách: Huỳnh Ðình Nội Cảnh Tường Chú, do Hàm Hư Tử bình chú năm 1847.

Phật giáo: Hai chữ "Phật giáo" đồng nghĩa với Phật đạo, chỉ những Tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật như:

- Đức Nhiên Đăng Cổ Phật thời quá khứ, nguồn gốc xa xưa của Phật giáo.(thời Nhứt kỳ)

- Thích Ca Mâu Ni, vị Phật thời Nhị kỳ.

- Đức Di-Lạc-Vương là vị Phật thời Tam kỳ.

- Lão giáo là Tôn giáo do Ðức Lão Tử lập ra và Ðức Ngài làm Giáo chủ.

- Khổng giáo là Tôn giáo do Ðức Khổng Tử lập ra và cũng chính Ðức Ngài làm Giáo chủ.

Riêng Thích giáo: Thích là chỉ Ðức Phật Thích Ca, là Tôn giáo do Ðức Phật Thích Ca lập ra tại Ấn Ðộ và Ðức Ngài làm Giáo chủ. Từ ngữ Thích giáo tương ứng với các từ ngữ như: Lão giáo, Khổng giáo.

Thích giáo dạy tín đồ tu thành Phật, nên Thích giáo cũng là Phật giáo, nhưng từ ngữ Phật giáo có nghĩa rộng hơn, vì Thích giáo là chỉ riêng về Tôn giáo của Phật Thích Ca mà thôi, còn Phật giáo là nói chung các Tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật. Do đó: Bà La Môn giáo, Pythagore giáo, là thuộc về Phật giáo (hay Phật đạo), chớ không thuộc về Thích giáo. Cho nên, bài "Kinh Thích giáo" vì Đức Phật Thích Ca là Giáo chủ của Nhị kỳ, là người nối theo tôn chỉ của Phật giáo. Thế nên câu cuối của bài Kinh Thích giáo là "Tiên Thiên Chánh Ðạo, Nhiên Ðăng Cổ Phật, Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn" 先天正道燃 燈古佛無為闡敎天尊 Xong rồi thì "Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: "Nam mô Nhiên Ðăng Cổ Phật Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát" .

 

 

KINH TÂM

Thi văn dạy Đạo có câu:

Chư Thần chóa mắt màu thường đổi,
Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao.

 

 

KINH TẬN ĐỘ

Kinh Tận độ là những bài Kinh có tính cách độ tận các chơn hồn được thăng lên cảnh giới cao hơn cõi hiện hữu của mỗi hồn..Kinh này được Tụng đọc khi một người vừa quá vãng hay là cầu cho người đã chết lâu ngày mà họ hàng muốn độ rỗi. Chỉ riêng Kỳ Đại Ân Xá này nhân sanh mới hạnh hưởng phước duyên ấy trong cửa Đại Đạo này.

Lời Tựa Kinh Thiên Đạo và Thề Đạo dẫn rằng:

"Từ khi mở Đạo, Chí Tôn duy giáng cơ truyền cho Phật giáo, Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý dạy dâng Kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, song Kinh Tận Độ vong linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả.

Đức Quyền Giáo Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ Pháp, trót mười năm trường nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ Phụ và các Đấng Thiêng Liêng đặng xin Kinh Tận Độ, nhưng mà Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.

Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 Ất Hợi (dl: 21 đến 31-8-1935) mới giáng cho Tân Kinh. Ấy là một giọt nước Cam Lộ của Đức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh hồn của toàn Thế giới.

Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: đã trải qua mười năm Chí Tôn mới mở Cơ Tận độ. Cơ Tận độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân Kinh này mà thôi".

Kinh Tận Độ gồm các bài Kinh sau đây:

1- Kinh Giải Oan.

 

2- Kinh Tắm Thánh.

3- Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối.

 

4- Kinh Khi Đã Chết Rồi.

5- Kinh Tẫn Liệm.

 

6- Kinh Cầu Siêu.

7- Kinh Đưa Linh Cữu.

 

8- Kinh Hạ Huyệt.

9- Vãng Sanh Thần Chú.

 

10- Kinh Khai Cửu.

11- Kinh Đệ Nhứt Cửu.

 

12- Kinh Đệ Nhị Cửu.

13- Kinh Đệ Tam Cửu.

 

14- Kinh Đệ Tứ Cửu.

15- Kinh Đệ Ngũ Cửu.

 

16- Kinh Đệ Lục Cửu.

17- Kinh Đệ Thất Cửu.

 

18- Kinh Đệ Bát Cửu.

19- Kinh Đệ Cửu Cửu.

 

20- Kinh Tiểu Tường.

21- Kinh Đại Tường.

 

22- Di Lặc Chơn Kinh.

 

KINH GIẢI OAN

KINH GIẢI-OAN
(Giọng Nam-Xuân)

Vòng xây chuyển vong hồn tấn-hóa,
Nương xác thân hiệp ngã Càn-khôn.
Bước đường sanh tử đã chồn,
Oan-oan nghiệt-nghiệt dập-dồn trái căn.

Luật nhơn quả để răn Thánh-đức,
Cửa luân-hồi nhắc bực cao-siêu.
Dầu chăng phải mực Thiên-điều,
Cũng quyền tự chủ dắt-dìu thiên-lương.

Dòng khổ-hải hễ thường chìm đắm,
Mùi đau thương đã thấm chơn-linh.
Dây oan xe chặt buộc mình,
Nhớp-nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

Chịu ô-trược chơn-thần nặng trịu,
Mảnh hình hài biếng hiểu lương-tâm.
Phong-trần quen thú cung âm,
Cảnh thăng ngơ-ngẩn lạc-lầm phong-đô.

Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,
Mới gây nên nhân quả nợ đời.
Rảnh mình đâu đặng thảnh-thơi,
Thiên cung lỡ lối chơi-vơi cõi trần.

May đặng gặp hồng-ân chan rưới,
Giải trái-oan sạch tội tiền khiên.
Đóng địa-ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực-Lạc, dẫn miền Tây-Phương.

Nhập Thánh-thể dò đường cựu vị,
Noi Chơn-Truyền khử quỉ trừ ma.
Huệ-quang chiếu thấu chánh tà,
Chèo thuyền Bát-Nhã Ngân-hà độ sanh.

Cứ noi bóng CHÍ-LINH soi bước,
Gội mê-đồ tắm nước MA-HA.
Liên-đài may nở thêm hoa,
LÃO-ĐAM cũng biết, THÍCH-GIÀ cũng quen.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

PHẠM HỘ-PHÁP

KINH TẮM THÁNH

KINH TẮM-THÁNH
(Giọng Nam-Xuân)

Những vạn-vật Âm Dương Tạo-Hóa,
Dầu cỏ cây hoa quả biến sanh.
Con người đứng phẩm tối linh,
Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi.

Đại Từ-Phụ Từ-Bi tạo-hóa,
Tượng mảnh thân giống cả Càn-Khôn.
Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
Xây cơ chuyển thế bảo-tồn vạn-linh.

Xin gìn-giữ Thánh hình thanh-bạch,
Xin xá ân rửa sạch tiền khiên.
Căn xưa ví dữ cũng hiền,
Dầu ra cửa tội đủ quyền cao-siêu.

Công nuôi dưỡng nâng-niu khổ nhọc,
Phép thương yêu cũng học nơi Thầy.
Sanh nơi đây, ở nơi đây,
Trăm năm là tuổi đủ đầy mạng căn.

Chốn hồng-trần quen lằn gió bụi,
Cảnh phù-ba may rủi cũng duyên.
Đã gan dốc kiếm diệu-huyền,
Sanh sanh là phận, hiền hiền là công.

Đừng thối chí ngã lòng trở gót,
Để cho đời chua xót tình thương.
Trăm năm thọ khảo vĩnh-trường,
Thuận căn thuận mạng đôi đường cao thăng.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

KINH KHI ĐÃ CHẾT RỒI

KINH KHI ĐÃ CHẾT RỒI
(Giọng Nam-Ai)

Ba mươi sáu cõi Thiên-Tào,
Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc-Hư.
Quê xưa trở cõi đọa từ,
Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân.

Dưới chín lớp liên thần đưa rước,
Trên hồng quang phủ phước tiêu-diêu.
Linh-Tiêu-Điện, bảng danh nêu,
Nguyên-căn đẹp vẻ mỹ-miều cao thăng.

Kinh Bạch-Ngọc muôn lằn điễn chiếu,
Kêu chơn hồn vịn níu chơn-linh.
Năng lai năng khứ khinh khinh,
Mau như điễn chiếu nhẹ thành bóng mây.

Cửa Tây-Phương khá bay đến chốn,
Diệt trần tình vui hưởng tiêu-diêu.
Tiên-phong Phật-cốt mỹ-miều,
Vào kinh Bạch-Ngọc lễ triều CHÍ-LINH.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

KINH ĐƯA LINH CỮU

KINH ĐƯA LINH CỮU (1)
(Giọng Nam-Ai)

Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh,
Giữ chơn-hồn xa lánh xác trần.
Nam-Mô Địa-Tạng thi ân,
Đưa đường Thiên-cảnh, lánh gần Phong-Đô.

Nam-Mô Tam-Trấn hư-vô,
Oai-nghiêm độ rỗi Cao-Đồ qui-nguyên.
Nam-Mô Tam-Giáo diệu-huyền,
Tuyệt luân Bát-Nhã đưa thuyền độ vong.

Nam-Mô Bạch-Ngọc công cồng,
Thần, Tiên, Thánh, Phật mở vòng trái oan.
Nam-Mô Thượng-Đế Ngọc-Hoàng,
Mở cơ tận độ nhẹ-nhàng chơn-linh.

Cửa Cực-Lạc thinh thinh rộng mở,
Rước vong hồn lui trở ngôi xưa.
Tòa sen báu vật xin đưa,
Chơn-linh an ngự cho vừa quả duyên.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

(1) Đồng-nhi tụng tới chừng hạ-huyệt mới thôi.

 

 

KINH THẾ ĐẠO

Kinh là nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo, nên từ ngàn xưa, các vị Giáo chủ của Tam giáo đã đắc lệnh của Đức Chí Tôn, giáng cơ mở Đạo để tùy thời, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà truyền những kinh sách quí báu, hầu khai hóa đạo tâm cho con người, đưa con người đến sự giác ngộ.

- Đức Khổng Thánh đã để lại một kho kinh sách quí giá về Nho giáo như: Tứ Thư, Ngũ Kinh; sau này các hàng Đệ tử và hậu Nho tiếp tục xiển dương hệ thống triết lý đó làm nền tảng về nhân sinh, đạo đức và phong tục cho xã hội con người Á Đông, mà hơn hai nghìn năm nay con người vẫn còn sùng thượng.

- Về Lão giáo, từ hai quyển "Đạo Đức Kinh" của Lão Tử và "Nam Hoa Kinh" của Trang Tử làm cơ sở cho triết lý Vô vi, đến thời nhà Tống các nhà Nho đem lý thuyết Vô-vi của Lão- Trang phối hợp với Dịch Lý của Nho mà tạo thành một phong trào "Huyền học" hay "Lý học". Phong trào nầy có công lớn trong việc phát triển học thuyết Lão Trang đến chỗ phồn thịnh nhứt vào đời Ngụy, Tấn, Lục Triều...Lão-giáo được thành hình sau đó để hướng con người về với Đạo là thuận lẽ thiên nhiên vô vi tự tại. Vì vậy, thuyết Vô-vi của phái Đạo-gia đã ảnh hưởng không nhỏ về Vũ trụ quan và Nhân sinh quan qua con người Việt Nam ta từ ngày xưa cho đến bây giờ.

- Về Phật giáo, sau khi Đức Phật thành Đạo, Ngài đã đem điều chứng đắc để giác ngộ chúng sinh tìm về bản thể chơn như, hầu đưa chúng sanh theo con đường giải thoát. Đến khi Phật nhập diệt, các vị đệ tử mới đem những lời dạy của Ngài kết tập lại thành Tam-Tạng-Kinh. Từ đó, Kinh sách của Phật được phổ truyền theo muôn đường vạn nẻo để đem cái Giáo Pháp cao siêu của Đức Phật mà giác ngộ chúng sinh trong tam đồ, lục đạo.

- Qua Tam Kỳ Phổ Độ, nhơn loại ngày càng đánh mất điểm thiên lương, nên tập nhiễm lợi danh, vật chất, tranh đấu giành giựt lẫn nhau, tương tàn tương sát vì quyền tước lợi danh, khiến phải chịu nhiều nỗi điêu linh, thống khổ.

Qua hai lần Phổ-độ mà sanh chúng vẫn bị chìm sâu trong luân hồi biển khổ, nên lần này, Đức Chí Tôn không giáng Chơn linh, mà dùng huyền diệu Cơ bút khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, lập nên Chánh pháp Cao Đài, tôn chỉ "Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi", tức là nhìn nhận các Tôn giáo từ một nguồn gốc mà sinh ra: đó là Thượng Đế. Vì vậy, sau ngày khai Đại Đạo, Hội Thánh được lịnh Ơn Trên dạy thỉnh Kinh nơi Phật Giáo hay các chi Minh Sư, Minh Lý...về tụng niệm.

Mãi đến năm 1935, tức là gần mười năm khai Đạo, các Đấng Thiêng Liêng mới giáng cơ ban cho Tân Kinh. ấy là một giọt nước Cam Lộ của Đức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng Linh hồn của toàn thế giới.

Quyển Tân Kinh do Hội Thánh ban hành được chia làm hai phần: Kinh Thiên Đạo và Kinh Thế Đạo.

Những bài kinh Thiên Đạo được tụng trong các thời Cúng tại Thánh thất hay tư gia nhằm xưng tụng công đức của các Đấng Thiêng Liêng và các bài Kinh siêu độ các Chơn linh của những người quá cố.

Còn Kinh Thế Đạo là những bài Kinh như Thuyết pháp, Nhập hội, Hôn phối...ngoài ra còn các bài Kinh dạy về nhơn luân và đạo đức cho con người, tức là những bài Kinh có nội dung tỏ cái ơn nghĩa và tình cảm của chúng ta đối với người quá cố: Vua, thầy, tổ phụ, cha mẹ... đó là thể hiện tinh thần nhân luân chi đạo.

Tất cả Kinh Thế Đạo gồm 19 bài (trừ bài Kinh Cứu Khổ), trong đó có:

*Mười bài Kinh do Đức Hộ Pháp đặt ra, có cầu Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn chỉnh văn lại. Mười bài Kinh đó là:

1- Kinh Thuyết Pháp.
2.- Kinh Nhập Hội.
3- Kinh xuất Hội
4.- Kinh Đi Ra Đường.
5- Kinh Khi Về.
6-Kinh khi đi ngủ
7- Kinh Khi Thức Dậy.
8-Kinh vào học
9- Kinh Vào Ăn Cơm.
10- Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.

*Một bài do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho, đó là: bài

11.- Kinh Hôn Phối.

Và tám bài Kinh cúng tế trong tang lễ, do Bà Đoàn Thị Điểm giáng cơ ban cho và bài Kinh Cứu Khổ:

12- Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà.
13.- Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị.
14.- Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu.
15.- Kinh Cứu Khổ. (1)
16.- Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu.
17.- Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Đã Qui Liễu.
18.- Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần.
19.- Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị.
20.- Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu.

KINH THẾ ĐẠO_1

Kinh Đi Ra Đường

Kinh Khi Về

Kinh Khi Đi Ngủ

Kinh Khi Thức Dậy

Kinh Vào Học

Kinh Vào Ăn Cơm

Kinh Khi Ăn Cơm Rồi


 

KINH ĐI RA ĐƯỜNG

KINH ĐI RA ĐƯỜNG
(Giọng Nam-Xuân)

Thân vận-động trong trường thế-sự,
Đạo nhơn-luân cư xử cùng đời.
Đòi phen lúc biến khi dời,
Thân như bèo-bọt giữa vời linh-đinh.

Dòm thấy cuộc kinh-dinh dưới mắt,
E trở tâm tánh bắt đổi thay.
Con xin nương bóng Cao-Đài,
Bước ra một bước cảm hoài căn tu.

Gót chơn đưa rủi như sát mạng,
Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi.
Xin tha họa gởi tai rơi,
Hồn linh nhờ có ơn Trời chứng minh.

Đại-Từ-Phụ oai-linh bảo hộ,
Những chông gai quét ngõ ven đường,
Đi an-khương, về an-khương,
Cõi Thiên, cảnh tục cũng đường chung nhau.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 1 lần)

KINH KHI VỀ

KINH KHI VỀ
(Giọng Nam-Xuân)

Cảm tạ ơn trên đầu dìu đỡ,
Từ khi đi khi trở lộn về.
Đặng xong phận sự mọi bề,
Tâm tu lại vững chẳng hề lảng-xao.

Những nhớ bước động Đào buổi trước,
Những nhớ khi Hớn rước Diêu-Trì.
Găn-Ta-Ca, đỡ bước đi,
Ra thành Phật-Tổ gặp kỳ ly cung.

Dẩy xe trâu Côn-Lôn trổi bánh,
Lý Lão-Quân mong lánh phong-trần.
Núi Ô-Li-Vê để dấu chân,
Gia-Tô Giáo-chủ giải phần hữu sanh.

Con nguyện xin khuôn linh giúp sức,
Bước ta-bà giục thức huệ-quang.
Lòn thân dưới phép sầu than,
Tìm phương cứu khổ mở đàng giải căn.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 1 lần)

KINH KHI ĐI NGỦ

KINH KHI ĐI NGỦ
(Giọng Nam-Xuân)

Các vật-dục xảy ra một buổi,
Cả hành-vi lầm lỗi khôn ngừa.
Sấp mình cúi lạy xin thưa, (lạy)
Ơn trên Từ-Phụ cho chừa tội khiên.

Trong giấc mộng nghỉ yên hồn phách,
Đấng Thiêng-Liêng năng mách bảo giùm.
Bồng-Lai Cực-Lạc chỉ chừng,
Đẩy đưa xác-tục dựa gần cõi linh.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 1 lần)

KINH KHI THỨC DẬY

KINH KHI THỨC DẬY
(Giọng Nam-Xuân)

Vừa mở mắt giựt mình thức dậy,
Con mang ơn cúi lạy Từ-Bi. (lạy)
Tử sanh, sanh tử là chi?
Gẫm trong giấc mộng cũng bì như nhau.

Đây tới sáng xôn-xao với thế,
Nhẫng đua chen kiếm kế sanh nhai.
Có thân giữa chốn đọa-đày,
Đếm ba vạn sáu ngàn ngày khó-khăn.

Xin Từ-Phụ ra ân cứu-độ,
Tăng huyền-linh giác-ngộ chí thành.
Rõ phước đức biết tội tình,
Nắm tâm đắp vững mặt thành Càn-Khôn.

Trên nhờ có CHÍ-TÔN che-chở,
Thần, Thánh, Tiên, Phật hộ thân hèn.
Đường tu nối bước cho quen,
Xa trần tăm-tối cận đèn Thiêng-Liêng.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 1 lần)

KINH VÀO HỌC

KINH VÀO HỌC (1)
(Giọng Nam-Xuân)

Đại Từ-Phụ xin thương khai khiếu,
Giúp trẻ thơ học hiểu văn-từ.
Gần điều nên, lánh lẽ hư,
Nương gươm thần huệ đặng trừ nghiệt căn.

Dò đường Thánh khó khăn chẳng nại,
Tùng khuôn hồng nhỏ dại lớn khôn.
Buộc yêu thương bạn đồng môn,
Nghĩa nhân vẹn giữ xác hồn trăm năm.

Nguyện tam-cang gìn tâm trọn đạo,
Nguyện ngũ-thường hiếu thảo làm khuôn.
Nguyện nên hương hỏa tông đường,
Nguyện thương lê-thứ trong trường công danh.

Cầu khẩn đấng Chơn-linh nhập thể,
Đủ thông minh học lễ học văn.
May duyên gặp hội Long-Vân,
Thuyền thơ ngọn gió Các Đằng xuôi đưa.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 1 lần)

(1) Học trò đọc khi nhập học.

KINH VÀO ĂN CƠM

KINH VÀO ĂN CƠM
(Giọng Nam-Xuân)

Giữa vạn vật con người một giống,
Phải uống ăn nuôi sống thây phàm.
Từ-bi ngũ cốc đã ban,
Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân.

Công Thần-Nông hóa dân buổi trước,
Dạy khôn-ngoan học chước canh điền.
Nhớ ơn bảo mạng Huyền-Thiên,
Con mong mượn xác đoạt quyền vĩnh-sanh.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 1 lần)

KINH KHI ĂN CƠM RỒI

KINH KHI ĂN CƠM RỒI
(Giọng Nam-Xuân)

Nguyện nhớ ơn Nông-Canh nhằn-nhọc,
Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.
Ngậm cơm ơn ngậm hằng ngày,
Nên người con nguyện ra tài lợi sanh.

Con cầu xin mảnh hình tráng kiện,
Giúp nên công xây chuyển cơ Đời.
Trên theo pháp-luật Đạo Trời,
Dưới thương sanh chúng một lời đinh-ninh. (1)

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 1 lần)

(1) Mười bài kinh song thất lục bát nầy của Đức Hộ-Pháp đặt ra, có Đức Chưởng-Đạo Nguyệt-Tâm Chơn Nhơn chỉnh văn lại.

 

 

KINH THÁNH


F: Bible, livre Saint.

Kinh: Kinh sách. Thánh: bực Thánh.

Kinh Thánh hay Thánh kinh là quyển sách chép các lời dạy bảo của các bực Thánh, Tiên, Phật và Thượng Đế, làm căn bản cho Giáo lý, Triết lý và Nghi lễ của một tôn giáo.

• Đạo Do Thái có Kinh Thánh Cựu Ước, còn gọi là Sấm Truyền Cũ. Đây chính là Đệ nhứt Thiên Nhơn Hòa Ước giữa Trời và Người, mà Thánh Moðse công bố cho nhơn loại biết vào thời Nhứt Kỳ Phổ Độ.

• Đạo Thiên Chúa có Kinh Thánh Tân Ước. Đây chính là Đệ nhị Thiên Nhơn Hòa Ước giữa Trời và Người mà Đức Chúa Jésus công bố cho nhơnloại biết vào thời Nhị Kỳ Phổ Độ.

• Đạo Hồi (Hồi giáo) có Thánh Kinh Coran, chép lại các lời giảng dạy của Giáo chủ Mahomet.

• Đạo Cao Đài ngày nay có Thánh Kinh là quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Đây cũng chính là Thiên Nhơn Hòa Ước giữa Trời và Người vào thời Tam Kỳ Phổ Độ.

 

 

KINH TUẦN CỬU

 

Kinh Khai Cửu

Kinh Đệ Nhất Cửu

Kinh Đệ Nhị Cửu

Kinh Đệ Tam Cửu

Kinh Đệ Tứ Cửu

Kinh Đệ Ngũ Cửu

Kinh Đệ Lục Cửu

Kinh Đệ Thất Cửu

Kinh Đệ Bát Cửu

Kinh Đệ Cửu Cửu

Kinh Tiểu Tường

Kinh Đại Tường


 

KINH KHAI CỬU

KINH KHAI CỬU
Đại-Tường và Tiểu-Tường
(Giọng Nam-Xuân)

Đã quá chín tầng Trời đến vị,
Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.
Tầng Trời gắng bước lên thang,
Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi.
Quên trần-ai mong mỏi Động-Đào.
Ngó chi khổ-hải sóng xao,
Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi thiên.

Giọt lụy của Cửu-huyền dầu đổ,
Chớ đau lòng thuận nợ trầm-luân.
Nắm cây huệ-kiếm gươm thần,
Dứt tan sự thế nợ trần từ đây. (1)

THƯỜNG-CƯ NAM-HẢI QUAN-ÂM NHƯ-LAI

(1) Mỗi tuần cửu phải tụng bài kinh nầy trước rồi tiếp tụng bài Nhứt Cửu hay Nhị Cửu v.v..., hoặc Tiểu-Tường hay Đại-Tường (tụng 3 lần như vậy)

KINH ĐỆ NHẤT CỬU

KINH ĐỆ NHẤT CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Vườn Ngạn-Uyển sanh hoa đã héo,
Khối hình-hài đã chịu rã tan.
Bảy dây oan-nghiệt hết ràng,
Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.

Kìa Thiên-cảnh con đường vòi-vọi,
Ánh Hồng-Quân đương chói Ngọc-Lầu.
Cung Thiềm gắng bước cho mau,
Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam-Thiên.

Khá tỉnh thức tiền-duyên nhớ lại,
Đoạn cho rồi oan-trái buổi sanh.
Đem mình nương bóng Chí-Linh,
Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa.

Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
Phách anh-linh ắt phải anh-linh.
Quản bao thập ác lục hình,
Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

NHỨT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

KINH ĐỆ NHỊ CỬU

KINH ĐỆ NHỊ CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Tây-Vương-Mẫu vườn Đào ướm chín,
Chén trường-sanh có lịnh ngự ban.
Tiệc hồng đã dọn sẵn-sàng,
Chơn-Thần khá đến hội hàng chư-linh.

Đã thấy đủ Thiên-đình huyền pháp,
Cổi giác thân lên đạp Ngân-Kiều.
Đẩu-Tinh chiếu thấu Nguyên-Tiêu,
Kim-Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc-Hư.

Khí trong trẻo dường như băng tuyết,
Thần im-đìm dường nét thiều-quang.
Xa chừng thế-giái Địa-hoàn,
Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ-nhàng cao thăng.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

NHỊ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

KINH ĐỆ TAM CỬU

KINH ĐỆ TAM CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Cõi Thanh-Thiên lên miền Bồng-Đảo,
Động Thiên-Thai bảy lão đón đường.
Cam-Lồ rưới giọt nhành dương,
Thất tình lục-dục như dường tiêu-tan.

Cung Đẩu-Tốt (1) nhặt khoan tiếng nhạc,
Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.
Tiêu thiều lấp tiếng dục-tình,
Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.

Cung Như-Ý Lão-Quân tiếp khách,
Hội Thánh-minh giao sách Trường-xuân.
Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,
Chơn hồn khoái-lạc lên đàng vọng Thiên.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

TAM-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

CHÁNH VĂN Cung Đẩu-Suất

KINH ĐỆ TỨ CỬU

KINH ĐỆ TỨ CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,
Cõi Huỳnh-Thiên nhẹ thoát chơn Tiên.
Năm Rồng đỡ nổi đầu thuyền,
Vào cung Tuyệt-khổ kiến Huyền-Thiên-Quân.

Trừ quái khí roi thần chớp-nhoáng,
Bộ Lôi-Công giải tán trược-quang.
Cửa lầu Bát-Quái chun ngang,
Hỏa-Tinh Tam-muội thiêu tàn oan-gia.

Đạp Thái-Sơn nhảy qua Đẩu-Suất,
Định Kim-Câu đến chực Thiên-môn.
Chơn-thần đã nhập Càn-khôn,
Thâu quyền độ thế bảo-tồn chúng-sanh.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

TỨ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

KINH ĐỆ NGŨ CỬU

KINH ĐỆ NGŨ CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
Cõi Xích-Thiên vội mở ải-quan.
Thiên-Quân diêu động linh-phan,
Cả miền Thánh-vức nhộn-nhàng tiếp nghinh.

Đài Chiếu-giám cảnh minh nhẹ bước,
Xem rõ-ràng tội phước căn sinh.
Lần vào cung Ngọc diệt hình,
Khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên.

Đắc văn-sách thông Thiên định Địa,
Phép huyền-công trụ nghĩa hóa thân.
Kỵ kim-quang kiến Lão-Quân,
Dựa xe Như-Ý oai thần tiễn thăng.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

NGŨ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

KINH ĐỆ LỤC CỬU

KINH ĐỆ LỤC CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Bạch-Y-Quan mở đàng rước khách,
Cõi Kim-Thiên nhẹ tách Tiên xa.
Vào cung Vạn-Pháp xem qua,
Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên-nhiên.

Cung Lập-khuyết tìm duyên định ngự,
Lãnh Kim-sa đặng dự Như-Lai.
Minh-Vương Khổng-Tước cao bay,
Đem chơn-thần đến tận đài Huệ-Hương.

Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh-thể,
Trừ tiêu tàn ô-uế sinh-quang.
Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan,
Đưa linh thẳng đến Niết-Bàn mới thôi.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

LỤC-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

KINH ĐỆ THẤT CỬU

KINH ĐỆ THẤT CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Nhẹ phơi-phới dồi-dào không-khí,
Hạo-Nhiên-Thiên đã chí môn-quan.
Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,
Hào-quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.

Cung Chưởng-Pháp xây quyền Tạo-hóa,
Kiến Chuẩn-Đề thạch-xá giải thi.
Dà-Lam dẫn nẻo Tây-Qui,
Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen.

Động Phổ-Hiền Thần Tiên hội hiệp,
Dở Kim-Cô đưa tiếp linh-quang.
Im-lìm kìa cõi Niết-Bàn,
Lôi-Âm trống thúc lên đàng thượng Thiên.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

THẤT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

KINH ĐỆ BÁT CỬU

KINH ĐỆ BÁT CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Hơi Tiên-tửu nực-nồng thơm ngọt,
Phi Tưởng-Thiên để gót tới nơi.
Mùi trần khi đã xa khơi,
Say sưa bầu khí bồi-hồi chung phong.

Cung Tận-Thức thần-thông biến hóa,
Phổ-Đà-Sơn giải quả Từ-Hàng.
Cỡi Kim-Hẩu đến Tịch-San,
Đẩu-vân nương phép Niết-Bàn đến xem.

Cung Diệt-Bửu ngọc rèm đã xủ,
Nghiệp hữu-hình tượng đủ vô-vi.
Hồ Tiên vội rót tức thì,
Nước Cam-Lồ rửa ai bi kiếp người.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

BÁT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

KINH ĐỆ CỬU CỬU

KINH ĐỆ CỬU CỬU
(Giọng Nam-Xuân)

Vùng thoại-khí bát hồn vận-chuyển,
Tạo-Hóa-Thiên sanh biến vô cùng.
Hội Bàn-Đào Diêu-Trì-Cung,
Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban.

Cung Bắc-Đẩu xem căn quả số,
Học triều-nghi vào ở Linh-Tiêu.
Ngọc-Hư-Cung, sắc lịnh kêu,
Thưởng, phong, trừng trị, phân điều đọa thăng.

CỬU-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

Nơi Kim-Bồn vàn-vàn nguơn chất,
Tạo hình-hài các bậc nguyên nhân.
Cung Trí-Giác, trụ tinh thần,
Huờn hư mầu-nhiệm thoát trần đăng Tiên.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

DIÊU-TRÌ KIM-MẪU

KINH TIỂU TƯỜNG

KINH TIỂU-TƯỜNG (200 ngày) (1)
(Giọng Nam-Xuân)

Tịnh niệm phép Nhiên-Đăng tưởng tín,
Hư-Vô-Thiên đến thính Phật-điều.
Ngọc-Hư đại hội ngự triều,
Thiều quang nhị bá Thiên-Kiều để chơn.

Bồ-Đề-Dạ dẫn hồn thượng tấn,
Cực-Lạc-Quan đẹp phận Tây-Qui.
Vào Lôi-Âm, kiến A-Di,
Bộ Công Di-Lặc Tam-Kỳ độ sanh.

Ao Thất-Bửu gội mình sạch tục,
Ngôi liên-đài quả phúc Dà-Lam.
Vạn-Linh trổi tiếng mầng thầm,
Thiên-thơ Phật tạo độ phàm giải căn.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

DIÊU-TRÌ KIM-MẪU

(1) Nghĩa là khi làm tuần cửu cửu rồi, đếm đủ 200 ngày thì làm Tiểu-Tường.

KINH ĐẠI TƯỜNG

KINH ĐẠI-TƯỜNG (300 ngày) (1)
(Giọng Nam-Xuân)

Hỗn-Nguơn-Thiên dưới quyền Giáo-chủ,
Di-Lặc đương thâu thủ phổ duyên.
Tái sanh sửa đổi chơn-truyền,
Khai cơ tận độ cửu-tuyền diệt vong.

Hội Long-Hoa tuyển phong Phật vị,
Cõi Tây-phang đuổi quỉ trừ ma.
Giáng linh Hộ-Pháp Di-Đà,
Chuyển cây Ma-Xử đuổi tà trục tinh.

Thâu các Đạo hữu-hình làm một,
Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.
Tạo Đời cải dữ ra hiền,
Bảo-sanh nắm giữ diệu huyền CHÍ-TÔN.

Nam-Mô Cao-Đài... (Niệm 3 lần)

THÍCH-CA MÂU-NI VĂN-PHẬT

(1) Nghĩa là khi làm Tiểu-Tường rồi, đếm đủ 300 ngày thì làm Đại-Tường.

 

 

KINH VÔ TỰ


E: Bible without words.
F: Le livre divin sans caractères.

Kinh Vô Tự : là một quyển Kinh, trong ấy không có chữ viết. Khi Chơn hồn đến cõi này, đi vào trong Cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển Kinh Vô Tự ra xem thì chữ viết hiện ra ghi rõ lý lịch và những hành vi thiện ác của Chơn hồn trong kiếp đương sanh ở cõi trần.

Trong Thiêng Liêng Hằng Sống, đêm 26-1-Kỷ Sửu (dl: 23-2-1949), Đức Hộ Pháp nói về quyển Kinh Vô Tự như sau: "...chúng ta đến một Cung có một quyển sách là Thiên Thơ để trước mặt ta, dở ra xem thấy tên mình và kiếp sanh của mình đã làm gì thì trong quyển Thiên Thơ ấy nó hiện tượng ra hết; chúng ta tự xử chúng ta, mình làm tòa để xử mình, hoặc mình phải đầu kiếp hay là đoạt đến địa vị nào, mình đứng đến mức nào thì cũng do mình định đoạt lấy". Đến đây, Chơn hồn sẽ được một quyển sách Thiêng Liêng, trong đó dạy thông suốt và định đoạt về các việc Trời đất. Kinh Đệ Ngũ Cửu "Lần vào cung Ngọc Diệt Hình, "Khai kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên"

"Kinh Vô tự hay Vô-Tự-Kinh tức là Kinh không có chữ, không lời. Trong bài Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

Vô tự là một quyển Kinh ở Cung Ngọc Diệt Hình, trong quyển kinh ấy không có chữ viết. Khi Chơn hồn đối diện với quyển kinh thì sẽ hiện rõ ra tên họ; cùng với những hành vi thiện ác trong kiếp sanh của Chơn hồn nơi cõi thế gian đều được hiện rõ. Ở đây, Kinh Vô tự hiểu theo nghĩa bóng như là những lời thuyết giáo, thuyết pháp.

 

 

KÍNH ANH MẾN CHỊ

Kinh Sám Hối có câu:

"Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
"Kính anh mến chị thì là phận em."

 

 

KÍNH CÁO

E: Respectful notice.
F: Avis respectueurx.

Kính: Tôn trọng, cung kính. Cáo: báo cho biết. Kính cáo là báo cáo một cách kính cẩn.

 

 

KÍNH LÃO ĐẮC THỌ

:
E: Respect the old persons getting a long life.
F: Respectez les vieillards, vous avez d’une longue vie.

Kính: Tôn trọng, cung kính. Lão: người già. Đắc: được. Thọ: sống lâu. Kính lão đắc thọ là biết kính trọng người già thì sẽ được sống lâu.

Đây là câu nói thường dùng để khuyên nhủ các thanh thiếu niên phải kính trọng người lớn tuổi, nhường nhịn người già thì hưởng được phước và sẽ được sống lâu.

 

 

KÍNH THÀNH

Kinh Sám Hối có câu:

"Ngặt có kẻ tưởng Trời tin Phật,
"Mà trong lòng chẳng thật kính thành."

 

 

KỈNH LỄ


E: To offer respectfully.
F: Offrir respectueusement.

Kỉnh lễ: Dâng phẩm vật lên để tỏ lòng kính trọng.

Bài Dâng Trà có câu:

"Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,
"Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương."

 

 

KỈNH GIÀ THƯƠNG KHÓ

Kinh Sám Hối có câu:

"Hãy có dạ kỉnh già thương khó,
"Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền"

 

 

KỈNH THỜ THẦN THÁNH

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm người phải kỉnh thờ Thần, Thánh,
"Giữ lời nguyền tâm-tánh tưởng tin."

 

 

KỈNH NGÔ

Thi văn dạy đạo có câu:

Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?
Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

 

 

KỈNH VÌ TRÊN TRƯỚC

Kinh Sám Hối có câu:

"Phải cho biết kỉnh vì trên trước,
"Đừng buông lời lấn lướt hồ-đồ."

 

 

KÝ SINH

:
E: Parasite.
F: Parasite.

: Gởi. Sinh: sống. Ký sinh là sống gởi, tức là sống nhờ vào người khác. Một sinh vật này bám lấy một sinh vật khác mà hút lấy đồ tư dưỡng để nuôi sống mình, ăn bám.

Sinh ký tử qui: Sống gởi thác về.

 

 

KÝ SỰ


E: To note an event.
F: Noter un évément.

: Ghi chép, ghi nhớ. Sự: việc. Ký sự là ghi chép các việc.

Văn ký sự là lối văn chép lại các việc mắt thấy tai nghe.

 

 

KÝ TỜ HÒA ƯỚC

Đức Hộ-Pháp nói: "Căn-bản nhơn-luân chỉ sản xuất nơi tình-ái mà ra, ấy Luật Thương-Yêu Đức Chí-Tôn buộc phải theo, theo mới được ký Hòa-Ước với Ngài, phải thi-hành cái Luật ấy. Tờ Hòa-Ước này, ký với Ngài phải cho có hiệu nghiệm. Ngài buộc ký với Ngài, thi-hành theo Luật, cho chúng ta khỏi phải bội ước với Ngài, đã hai kỳ ký Hòa Ước với Ngài, đều hai kỳ bội ước. Nếu chúng ta xét đoán hai kỳ trước, Ngài có buộc Luật ấy hay chăng? Sao không có, có chớ! Mà tại Ngài không nói với nhơn loại, không nói tức không buộc, không buộc thì không làm, đã có định-luật mà không có buộc, không buộc thì không đặng. Kỳ này Đức Chí-Tôn không nói, mà Đức Chí-Tôn buộc, lại buộc phải thi-hành quyền Công Chánh, chúng ta không cần tìm Trời-Đất chi cả, cơ-quan dưới thế, nếu không có mặt công-bình về tâm-lý, không có mực thước công-lý tại mặt thế này, thì Bần-Đạo dám chắc rằng: Cả cơ-quan hiển nhiên bây giờ không còn tồn tại được".

 

 

KÝ THÁC


E: To confide.
F: Confier.

: Gởi. Thác: giao phó cho. Ký thác giao phó cho người khác trông nom giúp. (ủy thác, lời văn thì nói thế này mà ý thì ngụ thế khác).

 

 

KỲ AN ( KỲ YÊN)

E: To pray for peace.
F: Prier pour la paix.

Kỳ: Cầu xin. An: yên ổn. Kỳ an hay Kỳ yên là cầu an, cầu xin cho được bình yên.

Lễ Kỳ an là cuộc lễ cúng tế Thần linh để cầu nguyện cho dân cư trong vùng được bình an.

 

 

KỲ (VƯƠNG QUAN KỲ) (Tên)

Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh

Ông Vương Quan Kỳ. Tri phủ sở Thuế thân Sài Gòn. Thọ phong "Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Ðạo Giáo Sư vào ngày Rằm tháng 3 Bính Dần. Thọ phongGiáo sư phái Thượng. Thánh danh Thượng Kỳ Thanh vào ngày 14 tháng 5 Bính Dần.
Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo và cũng có ký tên cùng với 28 vị tiền khai Đại Đạo Ngày 30-12-Ất Sửu (dl: 12-2-1926) hiệp với ông Ngô văn Chiêu, là trong số 12 Môn đệ đầu tiên của Đấng Chí Tôn, kỷ niệm qua bài thi, có câu "CHIÊU, KỲ, TRUNG, độ dẫn HOÀI sanh". Cách đây ít ngày, Đức Thượng Đế giáng cơ dạy mấy ông: Trung, Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức phải hiệp với ông Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo.

Ngài lại dạy rằng, mỗi mỗi phải do nơi ông Chiêu là Anh Cả. Lúc nầy trong Đạo kể được 13 người:

1-Ngô Văn Chiêu

 

2-Lê Văn Trung

 

3-Vương Quan Kỳ

4-Nguyễn Văn Hoài

 

5-Đoàn Văn Bản

 

6-Võ Văn Sang

7-Lê Văn Giảng

 

8-Lý Trọng Quí

 

9-Cao Quỳnh Cư

10-Phạm Công Tắc

 

11-Cao Hoài Sang

 

 

12-Nguyễn Trung Hậu

 

13-Trương Hữu Đức.

 

 

Đến đêm 30 tháng chạp năm Ất Sửu (dl: 12-2-1926), Đấng Thượng Đế giáng cơ cho mỗi người một bài thi Đêm này, hai ông Trương Hữu Đức và Cao Hoài Sang vắng mặt, hai vị này Đức Thượng Đế không cho Thi.

- Bài thi cho ông Vương Quan Kỳ:

Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân,
Niên đáo tân hề đạo dữ tân.
Vô lao công quả tu đương tác,
Niên quá niên hề đạo tối tân.

 

 

KỲ DƯ

其 餘
E: The rest.
F: Le reste.

Kỳ dư: 其餘: còn những cái khác, ngoài ra còn.

 

 

KỲ BA

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Thây phơi chật đất đầy đàng,
Cao Đài xuất hiện cứu an dân Trời.
Kỳ Ba mở đạo cứu đời,
Chiêu an thế giới khắp nơi hòa bình.

 

 

KỲ KHAI

Kinh Phật-Mẫu có câu:

"Kỳ khai tạo nhứt Linh đài,
"Diệt hình tà pháp cường khai Đại Đồng."

Kỳ khai Ðại Ðạo Tam Kỳ tạo một Linh đài qui tụ tín ngưỡng của toàn nhơn loại, đủ quyền năng tiêu diệt tà pháp đặng đem nhơn loại đến Đại Đồng.

 

 

KỲ LÃO

耆老 :
E: The old persons.
F: Les vieillards.

Kỳ: Người già trên 60 tuổi. Lão: ông già. Kỳ lão là những người già trên 60 tuổi.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Niên cao kỷ trưởng thì vào hàng kỳ lão.

 

 

KỲ LÂN


E: Unicorn.
F: Licorne.

Kỳ Lân là tên một giống thú (Kỳ là con vật đực, Lân là con vật cái) một giống thú linh, giống như hươu, vóc to lớn hơn: đuôi trâu, vú ngựa, không ăn sinh vật, có tính rất lành. Người ta gọi Kỳ Lân" là "Nhân thú". Tương truyền khi nào có Thánh nhân ra đời thì có Kỳ lân xuất hiện để báo tin lành.

Nơi Bảo tàng viện Vĩnh Long vào ngày 15-06-1997 đã phát hiện "Lân mã ở Vĩnh Long", trong báo cáo có ghi rõ "Theo một số bô lão bà con trong vùng cho rằng cách nay trên dưới 80 năm, có cụ Đức Lợi là người chuyên về đúc đồng, có thể cụ là người đúc ra con Lân Mã này, mà thực tế cụ đã đúc ra nhiều con như vậy. Một số còn cho biết, hiện nay trong Tòa Thánh Tây Ninh cũng có một con tương tự, nhưng đã bị hỏng, sứt mẻ, còn lại ở đâu đó trong Thánh Địa… Lại có một tin nữa, cho rằng trong thời kỳ pháp thuộc, trong Tỉnh Vĩnh Long có Bà Hương Thanh, người có địa vị quan trọng giàu có nhứt trong vùng, là vị Nữ Đầu Sư của Tòa Thánh Tây Ninh, nên trong Thánh Thất Vũng Liêm, nơi Bà ở có để con Lân Mã này. Ngày nay có người nhận là chính con lân Mã hiện nay là con Lân Mã của Bà (báo cáo Bảo tàng viện Vĩnh Long- tr 23)

Trong "Đại Nam Quốc Âm Tự vị"của Huỳnh Tịnh Của giải thích chữ Kỳ Lân như sau: "Kỳ thú có nhơn, chính là con đực, Lân là con cái. Lân là con thú giống sư tử mà hiền lành, người ta gọi là linh vật, được đem vào Tứ linh là Long, Lân, Qui, Phụng. vua chúa có nhân đức mới thấy nó" (ĐNQÂ.Tập I- Sài gòn 1895, tr510 và 538)

Trong Hán Việt Từ điển" của Đào Duy Anh giải thích thêm "Kỳ Lân, con thú có tính lành giống con hươu mà lớn hơn, đuôi trâu, vút ngựa, không ăn sinh vật nên người ta gọi là "nhân thú" (Đào Duy Anh- Hán Việt Từ điển, Hà nội 1992, tr 435-436 và 334-513).

Năm 1919, L. Cadière công bố về "mỹ thuật ở Huế" trong tạp chí Bulletin des amis du vieux Huế (những người bạn cố đô Huế) giới thiệu về nhiều con Kỳ Lân, nếu đem đối chiếu với Lân đồng ở Vĩnh long thì chính là lư kỳ lân dùng để đốt trầm, lân mã này cao 1,36m, dài 1,48m, cân nặng 323 kg. Đó là vật cổ quí hiếm thuộc mỹ thuật thời Nguyễn có niên đại vào khoảng đầu thế kỷ XX (Tạp chí xưa và nay số 88 tháng 3 năm 2001, tr 37-38).

Nguyên vào năm 1936, Đức Hộ-Pháp tái xây dựng Tòa Thánh có đến Vũng Liêm xin bà Lâm Hương Thanh tài trợ vì Bà rất giàu, có nhờ thừa kế của người chồng Pháp là Perrier gốc Thụy Sĩ, Bà không đủ tiền mặt nên đưa châu báu như vàng, hột xoàn nhiều nhất cho Đức Hộ Pháp bảo đem lên Sài Gòn cầm để lấy tiền mà lo xây dựng. Ngài không nhận và nói "Sau khi tòa Thánh cất xong phải có Lư Lân Mã xông trầm". Vì thế mà Bà Hương Thanh mới đúc một con lân mã để tại Thánh Thất Vũng Liêm và một con Lân Mã bằng đồng đen nặng 3 kg để tại Đại Điện Tòa Thánh. Năm 1941, Pháp chiếm đóng Tòa Thánh thì con Lân Mã bị thất lạc. Ngày nay Hội Thánh làm con Ngọc Kỳ Lân thay thế (Ngọc đây là ám chỉ sự quí báu của đồng đen) để múa trong các dịp lễ.

Về Bí pháp của Lân Mã ta thấy

- Cao: 1,36m nếu cộng tất cả là (1+3+6=10) chỉ hà Đồ là Con Rồng.(Long).

- Dài: 1,48 m nếu cộng các số (1+4+8=13) giờ Ngọ chỉ con Ngựa (Mã).

- Nặng: 323 kg nếu cộng tất cả (3+2+3=8) chỉ Bát Quái Cao-Đài.

Nếu đem so bát Quái Cao Đài với hai Bát Quái trước, ta thấy những nét đặc thù sau:

- Bát Quái thứ nhứt: Tiên Thiên Bát Quái – Hà Đồ Long mã (cộng từ 1 đến 10)= 55.

- Bát Quái thứ nhì của Văn Vương –Hậu Thiên Lạc Thư (Linh Qui số 9 (từ 1-9) =45.

- Bát Quái thứ ba là Bát Quái Cao Đài (BQ Đồ Thiên) Lân Mã 8 (từ 1 đến 8)=36.

- Còn một Bát Quái thứ tư là Bát Quái Hư vô.

Số 36 là tượng cho Tam Thập Lục Thiên với không gian bốn chiều (4x9=36) là 36 từng Trời. Theo Dịch ly1thi2gia3m dần từ 10, 9, 8 đên 1 là Thái Cực, biểu hiện con người ngày nay đã đến tuyệt đỉnh của vật chất nên trở về với tinh thần" (Trích Ngôi thờ Đức Chí-Tôn của Trần văn Rạng- trang 63-64).

Mùa xuân năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481trước TL) người nước Lỗ đi săn bắt được một con Kỳ Lân què chân trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi bưng mặt khóc, khi trở về Ngài than rằng: Ngô Đạo cùng hĩ! ( Đạo của ta đến lúc cùng!)

Sách Xuân Thu chép đến chuyện này thì hết, nên đời sau gọi sách Xuân Thu là Lân kinh.

 

 

KỲ LỪA

Tên một trái núi ở Bắc Việt, thuộc Tỉnh Bình Định. Trên trái núi này có "Hòn Vọng phu". Nơi đây đã ghi lại một di tích "Vọng phu" là hình ảnh một người vợ ngày ngày trông tin chồng biền biệt, ôm con thơ đứng sừng sửng đợi trông chồng đến nỗi thời gian hóa thành đá. Người đàn ấy mãi khóc chồng, thương con. Lòng chung thủy của người đàn bà đối với chồng như khối đá kia thi gan cùng tuế nguyệt.

 

 

KỲ MỤC

耆 目
E: Notables of the village.
F: Notables du village.

Kỳ: người già. Mục: mắt, chỉ người nhiều hiểu biết. Kỳ mục là những người già có nhiều hiểu biết và uy tín trong làng.

 

 

KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ

(Xem chữ Cường Để. Vần C.)

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể cũng bôn ba ra khỏi nước, rồi khuất bóng ngàn thu nơi đất khách, song nắm tro được đem về đất nhà. Chính Ðức Hộ Pháp buổi nọ thân hành vượt đại hải trùng dương qua xứ Phù Tang, thỉnh tro về cho còn di tích công thần nhà Nguyễn và nơi Chánh điện nầy là bài vị của Tứ vị Tiên Ðế đó."

 

 

KỲ NGỘ

奇 遇
E: A special meeting.
F: Heureuse recontre

(Kỳ là một sự lạ lùng; ngộ là gặp gỡ). Kỳ ngộ là gặp gỡ bất ngờ một cách lạ lùng.

 

 

KỲ PHÙNG ĐỊCH THỦ


E: To be good at chess meeting each other.
F: Adversaire redoutable en jeu d’éches.

Kỳ: cờ tướng. Phùng: gặp. Địch: kẻ địch ngang tài. Thủ: tay. Địch thủ: kẻ địch đồng tài đồng sức. Kỳ phùng địch thủ là cuộc đánh cờ mà gặp kẻ địch tài sức ngang nhau.

 

 

KỲ THỊ


E: To hate each other.
F: Distinguer.

Kỳ: khác nhau. Thị: xem. Kỳ thị là xem khác nhau, tức là đối đãi phân biệt. Kỳ thị chủng tộc là đối đãi với người da trắng thì tôn trọng, đối với người da đen thì khinh rẻ. Nhìn nhau bằng mắt chia rẽ ghen ghét;

 

 

KỲ TRUYỀN ĐÃ THẤT

Kỳ truyền đã thất là cái Chơn truyền của buổi ban đầu ấy đã mất đi theo thời gian rồi. Chơn truyền là giáo lý chơn thật đúng đắn được Ðấng Giáo chủ truyền lại cho các môn đồ.

Phật Thích Ca giáng: "Kỳ truyền đã thất, chư Sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. TA đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây TA cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa".

 

 

KỲ TRUNG

其 中
E: Inside.
F: En dedans.

Kỳ: cái ấy. Trung: trong, ở trong. Kỳ trung là ở trong ấy, những cái trong ấy. Thật ra

Thánh giáo của Đức Chí Tôn nói về "Bất Tà Dâm" (Giới cấm). Đề ngày 26-6-Bính Dần (dl: 30-6-1926)

"Phàm xác thân con người tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn một khối chất chứa vàn vàn, muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật, tỷ như: rau, cỏ, cây, trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh."

 

 

KỲ VỌNG

期 望
E: To hope.
F: Espérer.

Kỳ: mong mỏi. Vọng: trông ngóng. Kỳ vọng là mong mỏi trông chờ.

 

 

KỶ CƯƠNG


E: The regulation.
F: Les règles.

Kỷ: Giềng mối, phép tắc, biên chép. Cương: giềng mối. Kỷ cương là phép tắc chánh yếu làm giềng mối cho mọi hoạt động, phép tắc từ các đời trước để lại.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Ngài còn sắp đặt một kỷ cương để cho tinh thần nó vi chủ hình hài nó.

 

 

KỶ LUẬT


E: The discipline.
F: L oi, discipline.

Kỷ: Giềng mối, phép tắc, biên chép. Luật: pháp luật. Kỷ luật là toàn thể những điều qui định cần phải theo để giữ gìn trật tự trong một cơ quan.hay tổ chức. Pháp lệnh, qui-luật, quân pháp

 

 

KỶ NIỆM THẦY GIÁNG SANH

Đêm kia, nhằm 24 Décembre 1925, mấy Ông cũng hiệp nhau lại, cầu Đức AĂÂ về mà học Đạo, nhưng Ngài không đến.Thất-Nương đến báo tin vui, vì: "Đêm nay là đêm kỹ niệm của Thầy giáng sanh, trong hai ngàn năm trước, ngày khai Thánh Giáo nơi Thái Tây, giờ nầy, Thầy đương hội chư Phật, Tiên, Thánh, Thần dự lễ, mà không đến đặng cùng mấy Anh. Vậy mấy Anh nên cầu nguyện cho cả bá tánh, trong đêm lành nầy, rồi nghỉ. Bữa khác, Thầy sẽ đến dạy việc cần yếu".

 

 

KỶ NGUYÊN


E: The year of a new era.
F: L’année d’une nouvelle ère.

Đức Hộ-Pháp nói về Tân giáo Cao-Đài như vầy:

"Đạo Cao-Đài tức là ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘ khai sáng vào thời-kỳ này là do Thiên-cơ tiền định và cũng hợp với lời tiên-tri của các Đấng Giáo-Chủ đã khai mở các Đạo-giáo trên thế-giới.Theo Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo thì đều dạy rằng: thời-kỳ này là thời-kỳ Hạ nguơn khiến đời tận diệt để chuyển xây trở lại Thượng nguơn Thánh-đức với một kỷ-nguyên mới. Đặc biệt Đức Thích Ca Mâu-Ni khi lập giáo có cho biết đến năm 2.500 kỷ nguyên Phật giáo, là thời-kỳ để cho Đức Di-Lạc ra đời mở Hội-Long Hoa lập một kỷ nguyên mới đó vậy".

 

 

KỶ NGUYÊN THẾ GIỚI HÒA BÌNH

Đây là lời kêu gọi của Liên-Hiệp-Quốc đến những nhà Tôn giáo đang lãnh-đạo tinh-thần trên Thế giới

"Trong suốt thập niên vừa qua, trên thế giới này đã có trên một trăm cuộc xung đột diễn ra ở hơn bảy mươi vùng khác nhau. Từ sau Đại-chiến thế-giới thứ hai đến nay hai mươi bảy triệu người (27.000.000) đã hy-sinh vì chiến tranh, mặc dù các nhà lãnh-đạo Tôn-giáo tiêu-biểu đã lên tiếng phản-đối và cố gắng ngăn chặn tình-trạng chiến-tranh đó, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa có nỗ-lực nào hoà-hợp được với nhau để liên-kết các tổ-chức Tôn giáo lớn của Thế-giới chung lưng Phụng-Sự cho Hòa-Bình hoặc phối-hợp làm việc chung Liên-Hiệp-Quốc.

Sự xung-đột toàn cầu và việc ứng-dụng khoa-học kỹ-thuật hiện-đại làm cho mối liên kết về kinh-tế của các nước trên thế giới ngày càng phát-triển. Nó đã tạo thành một ý-nghĩa quan-trọng của sự cảm-thông sâu-sắc nhất giữa con người và con người. Nhưng những tiến-bộ đó đã làm tăng thêm tai-họa chiến-tranh mà sự tàn-khốc của nó và nỗi thất vọng về tình-trạng nghèo khổ trở nên ngày càng thực-tế trong suốt thời-gian qua. Loài người sẽ đi đến mức không thể chịu đựng nỗi tương-lai đau-khổ đó. Để cứu-vãng nguy-cơ này, giờ đây, sự hợp-tác chặt-chẽ giữa Liên-Hiệp-Quốc và các Tôn-giáo, các Cộng-Đồng tín-ngưỡng đã trở nên cần thiết.

Với mục-tiêu trên, mục-tiêu vì HOÀ-BÌNH THẾ GIỚI mang tính-chất lịch-sử và cũng để đánh dấu khả ăng có thể có của thiên-niên-kỷ mới, các Tôn-giáo tiêu biểu trên thế-giới và các nhà lãnh-đạo tinh-thần sẽ họp mặt tại trụ-sở LIÊN-HIỆP-QUỐC từ ngày 28-8-2.000. Sự kiện này, nhân-dân toàn thế-giới sẽ được thông-tin qua hệ thống truyền hình từ trụ-sở Liên-Hiệp-Quốc, nơi mà các nhà lãnh-đạo Tôn-kính sẽ bày tỏ sự cam-kết liên-hiệp và quyết tâm cùng hành-động để loại trừ những nguyên-nhân gây ra bạo-lực, dẫn đến chiến-tranh:MỘT CUỘC HỢP TÁC MỚI MẺ GIỮA NHỮNG NHÀ LÃNH-ĐẠO TÔN GIÁO.

Trong khi bàn cải và thảo-luận, các nhà lãnh-đạo những Tôn-giáo lớn trên thế-giới sẽ cùng nhau ra sức để phân biệt phạm-vi, quyền-hạn của mình trong cuộc Hội nghị nhằm nỗ-lực quyết tâm ngăn-ngừa bạo-động".

BAWA JAIN
Tổng Thơ-ký đặc trách Hòa-bình Thế-giới

 


 

Tiếp theo là Ông KOFI A. ANNAN Tổng-thơ-ký Liên-Hiệp-Quốc

"Đưa giới lãnh đạo Tôn giáo vào tiến trình Hòa bình

Ngày nay, 83% dân-số trên Thế-giới đều có theo một Tôn giáo hay một ý-thức-hệ tư-tưởng nào đó. Mỗi một quốc gia đều có nhiều giáo-phái hoặc nhiều hệ tư-tưởng khác nhau. Chỉ riêng ở Bắc Mỹ đã có đến 1.200 Giáo-hội Cơ Đốc. Tôn-giáo có một tầm ảnh-hưởng mạnh-mẽ và hết sức đa dạng. Các nhà Tôn-giáo có thể gây ảnh-hưởng đến các Môn-đồ của họ, hưởng-ứng cho tính đa dạng này.

Ngày nay các Tôn-giáo khác nhau đã trở thành nguyên-nhân gây xung-đột ở nhiều nơi trên Thế-giới, bất chấp công sức mà các vị lãnh-đạo Tôn-giáo kêu gọi các Tín-đồ của họ phải có cách nhìn độ lượng và hợp-tác với nhau.

- Nếu nền Hoà-bình đạt được trong kỷ-nguyên mới này, Cộng-Đồng nhơn-loại chắc hẳn phải thừa-nhận tiềm năng của Tôn-giáo và phải công-nhận rằng nó có phạm-vi ảnh-hưởng nhằm hủy-diệt những hình ảnh xấu-xa của tính bất nhân, đó là chiến-tranh, mà cội nguồn của chiến-tranh là sự đói nghèo, khốn-khổ. Đã đến lúc các cấp lãnh-đạo tinh-thần Thế-giới phải cùng nhau chen vai sát cánh cùng Liên-Hiệp-Quốc; Trong nỗ-lực nhằm đáp-ứng những yêu cầu cấp thiết của nhân-loại.

-"Hội-nghị hòa-bình thế-giới" sẽ trở thành một việc làm mang tính lịch-sử. Nó sẽ trở thành khởi điểm cho một cuộc hội-họp của các nhà lãnh-đạo Tôn-giáo đầy uy-tín trên khắp tòan cầu sẽ gặp nhau ở Liên-Hiệp-Quốc, nhằm đề ra một nhiệm-vụ của thời-đại mới giữa các Cộng-đồng Tôn-giáo khác nhau và giữa các cấp lãnh-đạo và các giới lãnh-đạo tinh-thần. Các vị lãnh-đạo Tôn-giáo sẽ hướng về nhân-dân Thế-giới và làm sao để cho lòai người với nhiều tín-ngưỡng khác nhau có thể cùng chung-sống Hòa-bình.

Ngày nay có khá nhiều tấm gương điển hình của các Cộng-đồng Tôn-giáo họp nhau để giải-quyết sự xung đột và xây dựng lại xã-hội. Ví dụ như các vị lãnh-đạo Tôn-giáo ở SIERRA LÉONE đã cùng hợp-tác để giải quyết cuộc nội chiến kéo dài gần một thập niên. Tin rằng còn nhiều gương mẫu thiết-thực khác hơn nữa và phải trấn-tỉnh trước nạn kỳ-thị Tôn-giáo trong hoàn cảnh mâu thuẫn hiện tại. Các nhà lãnh-đạo Tôn-giáo giờ đây đã lên tiếng để phản ánh rằng chúng ta phải tích-cực tham-gia một cách có hệ-thống nhiều hơn nữa nhằm theo đuổi mục đích chung của sự hòa-hợp.

Qua những tình-hình gần đây của một số Tôn-giáo, nhiều nỗ-lực đã thực-hiện nhằm liên-kết sự hỗ-trợ của các nhà lãnh-đạo tinh-thần. Nhưng để tạo hiệu-quả hơn nữa nhiều nhà lãnh-đạo nhìn-nhận rằng cần phải có một mối quan-hệ chính-thức với tổ-chức Liên-Hiệp-Quốc.

Bởi lẽ trên, các vị đứng đầu Tôn-giáo sẽ hội họp tại Liên-Hiệp-Quốc từ ngày 28-8-2000 tới đây, chắc-chắn sẽ nắm được một số tiến-trình cụ-thể để công-bố chính-thức những điều cam-kết của mình để cùng làm việc chặt-chẽ hơn như là một Cộng-Đồng chung của các nhà lãnh-đạo với Cộng-Đồng ngoại-giao của Liên-Hiệp-quốc nhằm ngăn chặn nguy cơ chiến-tranh.

Họ sẽ tham-gia chính-thức, sẽ chung sức làm việc để có những cam-kết bày tỏ được sự hoà-hợp bằng một bản "TUYÊN NGÔN HOÀ-BÌNH THẾ-GIỚI."

Hơn thế nữa, một "Hội-Đồng cố vấn Quốc-tế" do các nhà Tôn-giáo và các nhà lãnh-đạo tinh-thần sẽ được hình thành để cùng làm việc với Liên-Hiệp-Quốc và Ông Tổng-Thơ-Ký Liên-Hiệp-Quốc trong các nỗ-lực kiến-tạo và bảo vệ Hoà-bình Thế-giới. Hội-Đồng này sẽ hoạt-động trên tinh-thần độc lập để giúp-đỡ giải-quyết những nhiệm vụ khó-khăn của Liên-Hiệp-Quốc là làm trung-gian hoà giải những cuộc xung-đột giữa các quốc-gia, các dân-tộc, các Tôn-giáo và các nhóm sắc tộc khác nhau.

Theo lời kêu gọi chung vì HOÀ-BÌNH, tình ĐOÀN-KẾT của các nhà lãnh-đạo tinh-thần và Tôn-giáo Thế-giới sẽ tạo thêm sức mạnh cho triển-vọng đầy hứa hẹn của sự hợp nhất khi tất cả chúng ta bước vào kỷ nguyên mới"

KOFI A. ANNAN
Tổng-thơ-ký Liên-Hiệp-Quốc

 


 

Liên-Hiệp-Quốc vẫn luôn kỳ vọng đến một nền Tôn-giáo lớn nơi đất nước Việt-Nam này, đặt trong Chánh-phủ này, có thể góp được tiếng nói chân thành trong tiến-trình Hoà Bình ấy. Thế nên Liên-hiệp Quốc có Thơ mời gởi đến các vị Chức-sắc Đại Thiên-phong đại-diện của Cao-Đài Giáo.

The Millennium world peace summit of Religious and Spiritual Leaders Opening at the United Nations, August 28, 2.000

HỘI-NGHỊ THƯỢNG-ĐỈNH THIÊN-NIÊN-KỶ VỀ HÒA-BÌNH THẾ-GIỚI Của các VỊ LÃNH-ĐẠO TÔN-GIÁO và TINH-THẦN Khai mạc tại Liên-Hiệp-Quốc,ngày 28 tháng 8 năm 2.000.

Bản dịch Việt-ngữ

Ngày 1 tháng 8 năm 2.000

Kính gởi: Ngài Phối-sư Thái-THẾ-Thanh.

(Cước chú: Thư mời của Ngài Phối-sư Thượng-Nhã Thanh và ThỪa-sử Lê-Quang-Tấn cũng giống như văn thư này)

Cơ-quan truyền-giáo Cao-Đài hải-ngoại
14611 Country Cicck Laue
North Potoinnac, MD,20878
USA.

Kính thưa Ngài Phối-sư,

Dù có sự cố-gắng hết sức mình của các vị Lãnh-đạo Tôn-giáo và Tinh-thần tại các nơi trên Thế-giới, gia-đình nhân-loại vẫn không thế nào tránh được sự nổi dậy của các hành-động ghê-tởm của chiến-tranh.

Ngay trong giờ phút này, những sự xung-đột khủng-khiếp đang đe doạ tánh mạng của rất đông đồng bào tại nhiều nơi trên điạ-cầu này. Một số ý-kiến đâm chồi tin-tưởng rằng cần phải có những giải-pháp mới-mẻ để ngăn-chặn những sự xung-đột này trong những năm sắp tới. Cũng vì lý-do trên – nghĩa là tìm những giải-pháp mới-mẻ để ngăn-chặn sự thù-nghịch và đem bảo-đảm đến cho Hoà-Bình và An-ninh mà tất cả những vị lãnh-tụ Tôn giáo và Tinh-thần nổi tiếng và quan-trọng trên Thế-giới hiện nay đều được yêu-cầu đến tham-dự một Hội-nghị Thượng-đỉnh về Hoà-bình Thế-giới dành cho quí vị lãnh tụ Tôn-giáo và tinh-thần được tổ-chức tại trụ sở Liên Hiệp-Quốc tại Nữu-ước bắt đầu từ ngày 28-8-2.000.

Nhân danh văn-phòng Tổng-Thơ-ký của Hội-nghị Thượng-đỉnh, tôi rất lấy làm hân-hạnh mong được sự hiện-diện của Ngài tại cuộc họp lịch-sử này và thành-thật mời Ngài chuyển đến cho chúng tôi một bài thuyết-trình vào khoảng 1.000 đến 1.500 chữ, cung hiến những đề nghị đặc-biệt liên-quan đến những phương-thức nào mà Quí vị Lãnh-đạo Tôn-giáo và Tinh-thần cần đóng góp để tạo sự Hoà-bình trên Thế-giới trong một hay nhiều lãnh-vực sau:

1-Giảm bớt tình-trạng căng thẳng của nhân-loại và xã-hội bằng cách diệt trừ nạn nghèo khổ.

2-Chương-trình và chính-sách hành-động chung trong mục-đích gìn-giữ và cải thiện môi sinh.

3-Phương-pháp chung để giải-quyết những hăm doạ nền Hoà-bình trong những vùng xung-đột. Ông Tổng Thơ-ký Liên-Hiệp-Quốc KOFI A. ANNAN sẽ nói chuyện với Hội-nghị trong buổi lễ khai-mạc trước phiên họp Đại Hội-Đồng của Hội-nghị Thượng đỉnh thiên-niên-kỷ gồm các vị lãnh-đạo quốc-gia và chánh-phủ. Ông Tổng thơ- ký đã giải-thích về cuộc họp này là: đây là lần đầu tiên những vị Lãnh-đạo các Tôn-giáo truyền-thống ngồi lại chung với nhau tại Liên-Hiệp-Quốc. Các Tôn-giáo truyền-thống và Liên-hiệp-Quốc chia xẻ một nhiệm-vụ chung: hoạt-động để cải-thiện đời sống con người và đi tìm một nền Hoà-Bình và an-ninh cho toàn thể nhân-loại trên địa-cầu. Hội-nghị Thượng đỉnh thiên-niên-kỷ sẽ tìm mọi cách làm sao cho quí vị lãnh-tụ Tôn-giáo và Tinh-thần và Liên-Hiệp-Quốc hợp tác với nhau một cách khẩn-thiết hơn để đạt được các mục-tiêu nói đây. Mục-đích của Hội-nghị được chia ra làm hai phần:

a/-Trước nhất là quí vị Lãnh-tụ Tôn-giáo ký tên trong một bản Quyết-nghị chung cho Hoà-bình khi bước sang thiên-niên-kỷ. Thế-kỷ vừa qua là một thế-kỷ rất tàn bạo trong lịch sử nhân-loại, nhưng ngày hôm nay có một hy-vọng tràn-trề là thế-giới được gắn liền với nhau rộng lớn. Sự liên-lạc giữa các Tôn-giáo được xảy ra nhiều hơn bao giờ hết và hiện đang lan rộng quan-niệm nhìn nhận cần có nhu-cầu họp sức lại nếu cần cho Hoà-bình được vãng-hồi. Sự dị biệt về sắc-tộc và Tôn-giáo lúc nào cũng vẫn là lý-do bào-chữa cho hành-động bạo-tàn và quí vị lãnh-đạo Tôn-giáo có thể đảm-nhận một vai trò quan trọng trong công-tác làm giảm bớt những sự dị biệt đó. Sự ký kết vào bản Tuyên-ngôn Hoà-bình sẽ cho thấy một sự quan-trọng thực-tế và tiêu-biểu và nhờ vậy sẽ tạo một khích lệ cho mọi người.

b/-Mục-đích thứ hai là tạo lấy những bước đầu để tiến đến sự thành hình của một Hội-Đồng Cố-vấn Quốc-tế của quí vị Lãnh-tụ Tôn-giáo và Tinh-thần, đây là một cơ-quan thường-trực lĩnh vai trò giúp đỡ Ông Tổng-Thơ-ký và Liên-Hiệp-Quốc trong nỗ-lực tạo một nền Hoà-bình vĩnh-cữu trên Thế-giới. Những Hội-đồng vùng cũng sẽ được thành lập để đối phó và cố-vấn cho những vấn-đề khó-khăn của địa-phương.

Sự tham-gia Hội-nghị Thượng-đỉnh chỉ dành cho những vị Lãnh-đạo Tôn-giáo và Tinh-thần cao cấp nhứt của các Tín-ngưỡng truyền-thống trên thế-giới. Chúng tôi dự định là những buổi họp cùng những bài diễn-thuyết sẽ được trực-tiếp truyền hình trên tòan Thế-giới qua hệ-thống của đài truyền-hình CNN- kể cả trên hệ-thống Internet- để cho những Thông-điệp tràn-trề hy-vọng này đến hàng triệu người vòng quanh Thế-giới, chúng tôi cũng dự trù sẽ xuất-bản những bài tham-luận chính cho Hội-nghị và những bài diễn-văn để có một sự phổ-biến rộng rãi trên toàn cầu. Những chi tiết thêm về Hội-nghị Thượng đỉnh, về chương-trình nghị-sự cùng những sự sắp xếp sẽ được gửi đến quí vị trong vài tuần tới.

Sự hiện-diện của Ngài Phối-sư tại Hội-nghị này là chìa khóa cho sự thành công của nó.

Xin Ngài Phối-sư nhận nơi đây lòng ngưỡng-mộ cao nhất của chúng tôi.

Trân trọng
(Ký tên)
BAWA. JAIN
Tổng-Thơ-ký
Hội-nghị Thượng đỉnh Hoà-bình

 


 

Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ được mệnh danh là một Tôn giáo Đại-Đồng đã có nhiều tiếng nói trong tinh-thần ấy: Chính cái chương-trình Đại-Đồng này do Đức Thượng-Đế đã lập ra trong cơ-quan của nền Tân-Tôn-giáo là ĐẠI ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ vào năm 1926.

Sứ-mạng của ĐẠO CAO-ĐÀI trong Thế kỷ XX

THÔNG ĐIỆP HOÀ BÌNH CỦA
ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG LÊ-VĂN-TRUNG

Năm 1931, Đức Quyền Giáo-Tông Lê-Văn-Trung nhân danh Giáo Tông Đạo Cao-Đài, thay lời Đức Thượng Đế, kêu gọi Hoà Bình các nước trên mặt địa cầu thông qua Hiệp hội báo chí Thế giới, nguyên văn như sau:

Tây Ninh, ngày 01-12-1931

Kính gởi Quí vị Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Báo Chí Thế Giới,

Kính Quí vị Chủ Tịch,

Chúng tôi rất hân-hạnh và kính cẩn yêu cầu quí Ngài khuyến nhủ tất cả các Giám-đốc nhựt báo, các tạp chí định kỳ, dành cho chúng tôi một chỗ để kêu gọi sự thống nhứt đức tin như bản kèm theo đây.

Đó là một đặc ân mà báo chí ban cho toàn thể nhơn loại. Sở dĩ nếu sự thống nhất đức tin được thực hiện, thì các chủng-tộc sẽ xem nhau như anh em và Hoà-Bình thế giới sẽ được giải thoát cơn ác mộng ghê gớm về một trận thế chiến sắp xảy đến mà sức phá hoại sẽ mười phần dữ dội hơn trận thế chiến (1914-1918).

Mong Quí vị Chủ-Tịch nhận nơi đây những cảm tình kính mến và biết ơn của chúng tôi.

THƯỢNG TRUNG NHỰT
Toà Thánh Tây Ninh, ngày 1-12-1931

 


 

BÀI DIỄN-VĂN Đức Quyền Giáo-Tông Thượng-Trung-Nhựt đọc diễn-văn tại Tòa-Thánh Tây-ninh ngày 01 tháng 12 năm 1931 nói về nền Tân-Tôn-giáo Cao-Đài có thể canh-tân toàn thể Thế-giới để đưa nhân-loại đến ĐẠI-ĐỒNG

Kính gởi Chư vị Hoàng-Đế, Quốc-Vương,
Chư vị Nguyên-thủ lãnh-đạo các nước,
Chư vị Giáo-lãnh các Tôn-giáo trên thế-giới.

Kính thưa quí Ngài,

Chúng tôi trân-trọng và thành-kính thông-báo cùng quí Ngài, Đấng tối cao tức là Đấng Thương-đế toàn-năng mà cũng là Đại-Từ-Phụ của tất cả nhơn-loại, đã giáng lập trên một góc của nước Việt-Nam thuộc tỉnh Tây-ninh, một nền Tân Tôn-giáo. Nền Tôn-giáo này có thể canh-tân toàn thể thế-giới bằng một lý-tưởng cao-quí đó là TÌNH THƯƠNG VẠN-VẬT. Rồi đây, bởi sự chuyển xây của Tạo hóa, các sắc dân sẽ đồng tâm hiệp lực kết tình anh em với nhau và chừng ấy nền Hòa-bình thế giới sẽ phát hiện.

Chiến-tranh! Cuộc chiến-tranh tội-lỗi giữa huynh đệ giết nhau một cách ghê-tởm, sự ghê-tởm của thế-kỷ 20 được mệnh-danh là tiến-bộ văn-minh, vẫn có thể tránh được.

Sở-dĩ chúng tôi nói đến "tội huynh-đệ giết nhau" là vì dầu cho chủng-tộc nào có phân chia nòi giống, nhưng tất cả đang sống trên quả địa-cầu này đều là con cái cùng tùy thuộc dưới quyền-năng ngự trị của một Đấng Cha chung là Thượng-Đế, hay nói rõ hơn là Đấng Chủ-tể cầm vận-mạng của họ. Một khi các dân-tộc gây hấn chiến-tranh với nhau, điều đó có khác nào anh em một Cha đã tự diệt nhau đó vậy.

Nhận lãnh nơi Đức Thượng-Đế, bậc Từ-phụ của toàn nhân-loại, chúng tôi có sứ-mạng truyền-bá nền Chánh-giáo của Người đến khắp hoàn-cầu.

Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về sự giáng hạ của Người trên đất nước này. Nhiều phép lạ đã xảy ra giống như thời Chúa Jésus ngự đến ban phép lạ xưa kia ở Lourdes và các nơi khác.

Tin-tưởng mãnh-liệt vào hiệu-năng của một nền Tân-giáo này và hoàn-toàn vững tin nơi thiện-ý của mình, chúng tôi đã trình lên nhà cầm quyền thuộc-địa Pháp một bản Minh-thệ (*) viết tay (kèm theo đây có một bản), mà nội dung chúng tôi cam-kết với lời hứa chịu tử-hình rằng: chỉ chăm lo về mặt Đạo-giáo chớ không mảy-may nào làm rối-loạn an-ninh trật-tự. Ngược lại, chúng tôi yêu-cầu được sự giúp-đỡ và hỗ-trợ của nước Pháp để thi-hành sứ-mạng truyền-bá nền Tân-giáo này khắp hoàn-cầu.

Đối với sự kính trọng của chúng tôi, tiếc thay, các vị đại-diện của nhà cầm quyền thuộc-địa Pháp vẫn không có hảo-ý đáp ứng. Một số ít tỏ ra thông-cảm, khoan-dung; một số khác lại áp-dụng đủ mọi cách, cốt để ngăn chặn sự truyền-bá này.

Đức Thượng-Đế đã giáng dạy chúng tôi hoằng-hóa Chánh-đạo của Người đến khắp hoàn-cầu. Chúng tôi quả-quyết không có gì lầm-lẫn trong sứ-mạng ấy. Đặt mình vào bổn-phận, chúng tôi khẩn-thiết yêu-cầu quí Ngài thông-truyền cho toàn thể nhân-loại thế-giới hiểu biết việc làm của chúng tôi, để mọi người hiểu rằng:

- Giờ ĐẠI-XÁ của Thượng-Đế đã điểm và sự thống-hiệp của con cái Đấng Tạo-hóa là để Phụng-sự cho Hòa-bình hơn là tiếp-tục tìm kiếm kế-hoạch thống trị thế giới. Muốn được vậy, chỉ cần sao cho tất cả người đời biết thương-yêu đồng chủng và giữ-gìn hạnh-đức đúng theo đường lối mà Chí-Tôn đã vạch. Chúng tôi chắc rằng: hơn ai hết, quí vị Đế-vương, Quốc-vương, Quốc-trưởng, Giáo chủ…đều muốn cho thần-dân và thuộc hạ đang sống dưới quyền-uy của quí vị đều được sống mà không bị ám-ảnh bởi một sự sợ-hãi triền-miên và một trận chiến-tranh tương-lai mà các vũ-khí tối-tân sẽ gây nên những sự tàn phá và những sự ghê-tởm không tả xiết".

 

(*) Đây là lời Minh-thệ của người muốn làm Môn-đệ của Đấng Thượng-Đế:

"Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao-Đài Ngọc-Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn-đệ, gìn luật-lệ Cao-Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru địa lục" (36 chữ).

Chỉ với 36 chữ này cũng đủ quyền-uy cho người tu đến cảnh thăng tiến trong con đường tâm-linh rạng-rỡ.

Thật ra, nếu để đến giờ phút chót mới kêu cứu, mà những người trong giới hữu-trách đến phút chót mới chuẩn-bị thì muộn qúa đi mất.!

Trái lại, người làm thiên-mạng mang lại Hòa-bình cho thế-giới đã chuẩn-bị từ lâu rồi, cũng như con bệnh mới phát sinh nhưng đã có thuốc sẵn từ lâu vậy. Món thuốc để giải-cứu cho cơn sốt của nhân-lọai nằm trong tay của các Thiên-soái-mạng Cao-Đài-giáo.

 


 

Chính Ngài Bảo-Thế Lê-Thiện-Phước là một Thời-quân của Hiệp-Thiên-Đài đã đưa ra giải-pháp cứu nguy, qua bài Diễn-văn đọc tại Hội-Nghị Tôn-giáo thế-giới ở Tokyo (Nhựt-bổn) vào ngày 1-6-Ất-Mùi (dl 19-Juillet 1955) làm điển hình.

 


 

THÔNG ĐIỆP

Kính gởi:

- Chư Vị Hoàng Đế Quốc Vương
- Quí Vị Nguyên Thủ Lãnh đạo các nước
- Chư Vị Giáo-Lãnh các Tôn-Giáo trên thế giới,

Kính thưa Quí Ngài,

Chúng tôi trân trọng và thành kính thông báo cùng quí Ngài, Đấng Tối Cao tức là Đấng Thượng-Đế toàn năng, mà cũng là Đại-Từ-Phụ của tất cả nhơn loại, đã giáng lập trên một góc của nước Việt-Nam thuộc tỉnh Tây-Ninh một nền Tân Tôn Giáo. Nền Tân-Tôn-Giáo này có thể canh tân toàn thể thế giới bằng một lý tưởng cao quí, đó là tình thương vạn-vật, rồi đây bởi sự chuyển xây của Tạo-Hoá, các sắc dân sẽ đồng tâm hiệp lực kết tình anh em với nhau và chừng ấy nền Hoà-Bình Thế Giới sẽ phát hiện.

Chiến tranh! Cuộc chiến tranh tội lỗi giữa huynh đệ giết nhau một cách ghê tởm của thế kỷ 20 được mệnh danh là tiến bộ văn-minh vẫn có thể tránh được.Sở dĩ chúng tôi nói đến "Tội huynh đệ giết nhau" là vì dầu cho chủng tộc nào có phân chia nòi giống, nhưng tất cả đang sống trên quả Địa cầu này đều là con cái cùng tuỳ thuộc dưới quyền năng ngự trị của Đấng Cha chung là Thượng Đế, hay nói rõ hơn là Đấng Chủ Tể cầm vận mạng của họ. Một khi các dân tộc gây hấn chiến tranh với nhau, điều đó có khác nào anh em một cha đã tự giết nhau đó vậy.

Nhận lãnh nơi Thượng Đế bậc Từ Phụ của toàn nhơn loại, chúng tôi có cái sứ mạng truyền bá nền Chánh giáo của Người đến khắp hoàn cầu.

Chúng tôi có đủ bằng chứng về sự giáng hạ của Người trên đất nước này với nhiều phép lạ đã xảy ra giống như thời Chúa Jesus ngự, đến ban phép lạ xưa kia ở Lourdes và các nơi khác.

Tin tưởng mãnh liệt vào hiệu năng của nền Tôn giáo này và hoàn toàn vững tin nơi thiện ý của mình, chúng tôi đã trình bày lên nhà cầm quyền thuộc địa Pháp một bản Minh Thệ viết tay (kèm theo đây có một bổn) mà nội dung chúng tôi cam kết với lời hứa chịu tử hình rằng chỉ chăm lo về mặt Đạo Giáo chớ không mảy may nào làm rối loạn an ninh trật tự.Ngược lại chúng tôi yêu cầu được sự giúp đỡ và hỗ trợ của nước Pháp để thi hành sứ mạng truyền bá nền Tôn giáo này khắp hoàn cầu.

Đối với sự kính trọng của chúng tôi, tiếc thay các vị đại diện của nhà cầm quyền thuộc địa Pháp vẫn không có hảo ý đáp ứng, một số ít tỏ ra thông cảm khoan dung, một số khác lại áp dụng đủ mọi cách cốt để ngăn chặn sự truyền bá này.

Đức Thượng Đế đã giáng dạy chúng tôi hoằng hoá Chánh Đạo của Người đến khắp hoàn cầu, chúng tôi quả quyết không có gì lầm lẫn trong sứ mạng ấy. Đặt mình vào bổn phận, chúng tôi khẩn thiết yêu cầu quí Ngài thông truyền cho toàn thể nhơn loại thế giới hiểu biết việc làm của chúng tôi, để mọi người hiểu rằng : "Giờ Đại Xá Đức Chí Tôn đã điểm "… cả sự thống hiệp của con cái Đấng Tạo Hoá là để phụng sự cho Hoà Bình hơn là tiếp tục tìm kế hoạch thống trị thế giới

Muốn được vậy, chỉ cần sao cho tất cả người đời biết thương yêu đồng chủng và giữ gìn hạnh đức đúng theo đường lối mà Đức Chí Tôn đã vạch.

Chúng tôi chắc rằng, hơn ai hết quí vị Đế Vương, Quốc Vương, Quốc Trưởng, Giáo Chủ v.v… đều muốn cho thần dân và thuộc hạ đang sống dưới quyền uy của quí vị đều được sống mà không bị ám ảnh bởi một sự sợ hãi triền miên về một trận chiến tranh tương lai, mà các vũ khí tối tân sẽ gây nên những sự tàn phá và những sự ghê tởm không tả xiết, hơn thế nữa quí Ngài mong muốn họ sống một đời sống an bình, hạnh phúc và vĩnh viễn thoát khỏi cơn ác mộng về một trận chiến tranh cận đại".

Chúng tôi yêu cầu quí Ngài phái sớm một số người đến với chúng tôi để họ có thể hiểu rõ hơn những gì mà chúng tôi đã gầy dựng nên. Đức Thượng Đế phán dạy chúng tôi như vầy:

"Các con, mối Đạo của Thầy nếu các con phát trễ một ngày thì mỗi ngày qua sẽ là dịp để cho hàng trăm ngàn linh hồn đoạ lạc nơi chốn trầm luân."

Giờ đây lời kêu gọi đã được truyền ra khắp chốn, chúng tôi nghĩ rằng : "Mình đã làm tròn bổn phận ". Tuy nhiên khi nào có đủ phương tiện chúng tôi sẽ đi khắp hoàn cầu để truyền đến mỗi dân tộc lời Thánh Giáo mới mẻ này.

Kính mong quí Liệt vị chiếu cố và thể nhận nơi đây lòng tôn kính sâu xa của chúng tôi.

QUYỀN GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Thượng Trung Nhựt

 


 

BỨC THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG được sự hưởng ứng của Giáo Hội bên Châu Âu như:

EGLISE GNOSTIQUE của Đức Quốc
P. FUTLINGEN, ngày 13-12-1931

Kính thưa: Đức Ngài cao cả, quyền năng và thánh thiện,

Thưa Đức Ngài,

Bức Thông điệp của Đức Ngài đã đến vùng Trung Âu chúng tôi! Tổng Giáo Hội Eglise Gnoslique Đức-Quốc, mà chúng tôi là Trưởng-Lão quyết định chuẩn bị liên hợp với Cao-Đài-Giáo…

Tôi được lãnh nhiệm vụ báo tin cho Đức Ngài biết sự quyết định này và kính xin Đức Ngài thông truyền cho chúng tôi về Lịch-sử, Hiến-chương, Giáo-lý và những nghi lễ nền Đại-Đạo của Ngài bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hoà Lan; để nhờ đó, chúng tôi tổ chức các Giáo-Hội Cao-Đài ở những quốc gia như Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hoà Lan, Bỉ, Lithuaniens, Lettens và Estheniens.

Để vững tin vào sự thật hiện điều mong ước đó, xin Đức Ngài hãy xem tôi như người thuộc hạ khiêm tốn của Đức Ngài vậy.

Ký tên H.Godwin
Thánh cha và Trưởng Lão của Giáo hội Eglise Gnostique Đức Quốc.
Địa chỉ : H. Godwin Stuertuets (GrenzMard).
Đức Quốc (Allemagne).

 


 

HIỆN TẠI NỀN TẢNG phong-hoá ĐÃ BỊ LUNG-LAY

Đức Thượng-đế mới chọn tay rường cột

Trong bài Điếu-văn Đức Hộ-pháp ngậm-ngùi tuyên dương tinh-thần đạo-đức của Đức Quyền Giáo-Tông LÊ-VĂN-TRUNG đã là một tay rường cột chống đỡ Đạo-quyền, giữa lúc quyền vật dục đang hồi ưu thế.

Đức Hộ-pháp nói rằng:

"Giữa thế kỷ hai mươi nầy, toàn địa-cầu nhơn sanh đều xu hướng về đường vật chất, đua tranh náo nhiệt, mạnh đặng yếu thua, khôn thì còn, dại thì thác, làm cho cả cá-nhơn hay là trọn xã-hội nào cũng vì sanh hoạt khó khăn, mà quên hẳn tinh thần vi chủ.

Hại thay! Cơ quan của đời hiện hữu lại do nơi quyền năng vật dục mà thành hình, đến đỗi trừ tinh-thần ra thì trí thức con người cũng lậm nhiễm lấy quyền duy vật, đạo-đức tinh thần xem ra càng ngày càng mòn-mỏi. Nếu chúng ta thấy cơ quan hành động của các Tôn-giáo còn mảy-may duy trì lại có đặng là nhờ khuôn viên tập tục, chớ chẳng phải nơi tâm lý chuẩn-thằng.

Qua trận sát khí Âu-Châu, những bậc ưu thế, mẫn thời để tâm nghiên cứu nguyên thủy sự bất hòa của toàn cầu do đâu mà sản xuất, thì đã thấy đặng hiển nhiên rằng:

- Tại dân quá khiếm phần đạo-đức,

- Những Tôn-giáo đương thời hoặc là bị buộc ràng vào tôn-chỉ hẹp hòi,

- Hay là bị triết-lý oai-nghiêm mà làm cho phân chia tâm lý, nên không thể dung hòa làm môi giới cho Đại-đồng thiên hạ. Thuyết giao tình các Tôn-giáo là thuyết trọng-yếu của nhà hiền triết Á-Âu buổi nầy.

Ôi! Hạng trí thức nhơn sanh ấy, khi xem đặng con đường nguy hiểm của văn minh duy-vật dong ruổi thẳng tới chừng nào thì lại càng âu lo khủng khiếp cho tương lai nhơn loại buổi sau kia chừng nấy.

Ðời chẳng khác nào như chiếc thuyền chịu sóng gió ba đào lênh đênh khổ hải. Những khách giang hồ của tạo công ai lại chẳng phập-phồng rơi châu đổ ngọc. Trong cơn khổ não tâm hồn ngẫu nhiên lại gặp cứu tinh giải nạn là Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ Ðộ của Thượng-Ðế chấn hưng Tôn-giáo.

Người đến đặng nhìn nhận các Ðạo là phương giáo-hóa của Người và dung hợp các triết-lý của đời dưới phép lương tâm làm chủ. Dầu ai để chút tâm nghiên cứu thì đủ hiểu cơ quan chuyển-thế rõ ràng nên không cần luận giải.

Từ năm Bính Dần (1926) là năm Ðạo mở tại Nam Kỳ, đến nay Anh Cả chúng tôi là Lê-Văn-Trung, Ðạo-tịch Thượng-Trung-Nhựt ra đảm nhiệm vai tuồng rất lớn lao, quan hệ là phổ-độ dìu dắt nhơn sanh vào đường Chánh-giáo.

Một mối Ðạo rất cao thâm mầu-nhiệm mà chính mình Ðức Thượng-Ðế đem gieo truyền trong nước nhỏ-nhen như Việt-Nam ta đây, thiết tưởng sự khó-khăn chẳng nhỏ, mà Anh Cả chúng tôi trọn chịu 9 năm trường, chẳng quản nhọc-nhằn, tay chống vững Ðạo thuyền, bền chí lướt qua khổ hải.

Ðạo mở vào buổi nhơn sanh đang khuynh hướng về đường vật-chất thì cái tôn chỉ Ðạo tất phải có thiệt lực gì cực-kỳ mãnh-liệt mới dung hòa nỗi hai thuyết duy-tâm và duy-vật và phải hạp thời thì nhơn sanh mới chịu hoan-nghinh mà bước vào cửa Ðạo. Nếu Ðạo mà không có cái Tôn-chỉ duy-tân cải cách theo trình-độ tiến hóa của nhơn sanh thì Ðức Thượng-Ðế chẳng cần nhọc công tái lập, vì Ðạo vẫn có từ tạo Thiên lập Ðịa mà trong nhân-gian cũng đã lập thành nhiều nền Tôn-giáo, để tùy thời mà tế độ quần linh.

Trong các Tôn-giáo ấy như Phật-giáo, Lão-giáo, Nho-giáo, Cơ-Ðốc-giáo, cũng có nhiều triết-lý cao siêu, có thể cứ do theo đó mà hành Ðạo cũng đặng tiến-hóa, nhưng mỗi Tôn-giáo ấy đều có một tôn-chỉ đặc biệt, có thể hạp với mỗi phong hóa tùy mỗi thời đại, chớ không đặng một tôn-chỉ thống nhứt hạp theo thời đại buổi bây giờ. Ðạo đã có những điều kiện tối tân như thế thì tất phải có người tài đức ra làm hướng đạo mới hiểu rõ tôn-chỉ của Ðạo mà truyền bá cho nhơn sanh, khỏi lầm đường lạc lối, và cũng phải có đại hùng đại lực mới gánh vác nỗi trách-nhiệm lớn lao của Ðại-Ðạo.

Anh Cả chúng tôi đây, trước khi vào Ðạo vẫn là người duy vật cũng như mọi người khác, ngoài đời vì đường danh lợi, Người cũng chẳng nhượng chi ai, kịp khi Ðạo mở Ðức Thượng-Ðế kêu đích danh Người mà phú thác Ðạo Trời.

Phong-trào duy vật đang sôi nổi, người lại đương thời phấn đấu, mà Người cũng vui lòng phế hết việc đời để hiến thân cho Ðạo. Buổi ban sơ mới có vài ba anh em trong Ðạo, cũng có kẻ trắng người đen, không đồng tâm chí, lẫn nghịch cùng nhau, rồi nào ai dám chắc sẽ ra làm sao đâu? Nhưng vì lòng háo đức của Người sẵn có, nên Người không chút ngại-ngùng bạo gan chí-sĩ mà hiến mình trọn vẹn lập Ðạo mới thành, công ấy, thưởng nầy làm Anh Cả chúng sanh cũng đáng.

Vào Ðạo rồi, khi thì lập Ðàn thỉnh giáo cùng các Ðấng Thiêng-Liêng, khi đi phổ-độ khắp Nam Kỳ, không nói ra ai ai cũng rõ, những nỗi khó khăn về sự hội hiệp ở xứ mình cho nên lúc khai Ðạo phải gặp nhiều nỗi tân khổ, lại còn nhiều nỗi cam go, đối với Ðạo-hữu các nơi. Khi Ðạo đã có mòi hoằng-hóa, sau lại Hội-Thánh Ngoại Giáo thành lập ở Kim-Biên, tuy gặp lắm nỗi truân-chuyên, mà Người cũng cứ nhứt tâm, nhứt đức do đường thẳng tiến hành, không bao giờ nản lòng thối chí.

Vì sao Ðức Thượng-Ðế không chọn người nào khác, lại đem mối Ðạo lớn lao mà trao lại cho Người lúc ban sơ? Mà những người có công tu luyện theo Ðạo này, Ðạo khác cũng chẳng hiếm gì, mà sao Ðấng Chí Tôn không dùng ai trước?

Có ai dám nói Ðấng Chí-Tôn dùng lầm.

Vậy thì, Tôn-chỉ của Ðại-Ðạo đã biểu lộ ra rõ-ràng, bí quyết đoạt Ðạo chẳng phải do một mặt yểm thế để tịnh dưỡng tinh thần, mà lại phải lịch-lãm nhơn sự và phải siêu-quần xuất chúng, rồi lấy đạo đức mà cứu vớt nhơn quần.

Xã hội phải tùy sở-nhu của chúng sanh mà lập phương phổ hóa, thì cái công tu luyện kia mới bổ ích cho. Vì vậy mà Anh Cả chúng tôi mới đắc dụng trong Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.

Anh Cả chúng tôi là người gồm có nhiều điều kiện hạp với tân thời, mà cũng không nghịch với phong hóa cũ.

Vậy nên, Ðấng Chí-Tôn mới dùng người để làm mô-phạm cho anh em Ðạo-hữu và cho đời thấy rõ một phần chơn lý trong Tôn-chỉ Ðại-Ðạo.

Theo thời-đại khoa-học đương nỗ lực phát dương này, nếu đem cái thuyết duy tâm cực-đoan mà phổ hóa chúng sanh không khỏi bĩ-lậu; còn nếu chuyên một mặt duy vật mà tiến hành thì xã hội phải có ngày tiêu diệt về nạn cạnh tranh phấn đấu. Vậy phải chiết trung hai thuyết mà dung hòa thì đời mới đặng vừa tấn hóa theo văn minh khoa học, vừa duy trì đặng tâm hồn đạo đức. Nhờ hiểu ý nghĩa cao thâm như vậy mà Anh Cả chúng tôi không vì hoàn cảnh mà phải quá ư thiên lệch về một mặt nào.

Chúng tôi còn nhớ lời tuyên bố rất thành thật của Anh Cả chúng tôi như vầy:

"Ngày nào nhơn sanh còn khốn khổ, thì chưa phải ngày anh tọa hưởng an nhàn. Dầu anh đắc quả mà qui Tiên đặng sớm, anh cũng nguyện tái kiếp để độ tận chúng sanh".

Hùng hồn thay! Bác ái thay là lời tuyên bố ấy! Không cần khoe khoan bằng văn chương tuyệt bút mà những lời chất phác trên kia cũng tỏa đặng tâm tình của một trang Đại đức.

Theo thế thường người nào đi tu cũng có cái hy vọng đắc Ðạo thành Tiên, chớ ít ai lẫn-lộn trong chốn trần-la vì sợ khổ tâm nhọc trí. Vậy mà Anh Cả chúng tôi chẳng hề nao núng, thậm chí có người lo sợ dùm, nên đến khuyên Người giải quyền nhập tịnh cho yên, mà Người nói rằng: "Dầu phải thời tử Ðạo, Người cũng vui lòng, chớ Người không vì sợ chết mà bỏ phận sự". Xem đó thì đủ thấy cái đại chí của Người vì Người thấu mục đích tối cao của Ðạo. Mà tôn chỉ của Ðạo có cái ý nghĩa "không dữ mà hùng, hòa mà không nhược".

Cái ý nghĩa đó Anh Cả chúng tôi hiểu thấu mà cũng đã thật hành rồi, nền Ðạo mới đứng vững đến ngày nay.

Anh Cả chúng tôi lại còn hiểu rộng cái nghĩa "từ bi, bác ái" mênh mông lai láng, nên phải gặp nhiều cái phản-động-lực của những người thiển kiến.

Bởi vì từ bi bác ái mà hiểu nghĩa hẹp hòi quanh quẩn trong hoàn cảnh của mình thì cũng còn là "ích kỷ". Anh Cả chúng tôi không vì sự thương thấp thỏi của thường tình mà bỏ cái thương Đại-đồng thế-giái, cho nên phải gặp nhiều nỗi tân toan. Tuy vậy mà Anh Cả chúng tôi vì công đức hơn là vì tư đức, dầu ai muốn nói sao thì nói, làm sao thì làm, Người cứ một mực tiến hành, miễn là trong tâm nhứt quyết đuổi theo một chủ nghĩa cao siêu của bề trên phú thác vì lòng tín-ngưỡng của Người rất là đặc biệt, ít ai sánh kịp.

Ngày nay Anh Cả chúng tôi đã vào cõi hư vô rồi, thiết tưởng những phản động lực kia cũng lần lần giảm bớt. Anh em trong Ðạo cũng đã rõ thấy mà nhận thức cái chơn lý sờ sờ kia vậy. Cái khó nhất là phải có đủ đức kiên-nhẫn để chống lại với các phản-động-lực ở trong Ðạo và ngoài Ðời.

Trong Ðạo cũng vậy, mà ngoài Ðời cũng vậy, có nhiều lý thuyết tương phản nhau vì trí độ phàm của con người không thể đồng nhau đặng. Kẻ thì ưa thuyết duy tâm, rồi cứ chuyên chú một mặt tiêu cực, còn người lại thích duy vật thì chuyên chú một mặt tích cực, mà mỗi phía đều cực đoan thì tránh sao khỏi xung đột. Hai phía xung đột nhau mà bắt Ðạo ở trung gian làm nơi chiến địa thì kẻ cầm quyền trong Ðạo tránh sao khỏi những nỗi khó khăn, vì vậy mà Anh Cả của chúng tôi chịu nhiều đau đớn. Ôi! Một Ðấng anh hùng như thế, một tay kiện tướng của Ðạo như thế, nay đã ra người thiên cổ.

Dẫu phải gan sắt dạ đồng cũng phải rơi châu mà thương tiếc"

Lòng thiết-tha phụng-sự cho nghiệp Đạo như thế làm sao khỏi động lòng Trời. Nhờ ơn Thượng-Đế mà Việt-Nam này mới cỗi ách oan-khiên đồng thời cả nhân-loại cũng nương nhờ nơi diệu-pháp".

(xem thêm Triết Lý Đại-Đồng của Nguyên Thủy)

 

 

KỶ SỞ BẤT DỤC VẬT THI Ư NHÂN

Là những việc ta chẳng muốn ai làm cho ta chịu đau khổ thảm sầu thì ta không nên đem việc ấy mà làm cho người khác mới là phải Nghĩa. Chữ NGHĨA là giữ phép công-bình, gìn lòng chánh-trực không một mảy gian tham, mới có câu nói trên.

Tóm lại, cái sở hành của Chơn pháp Công bình chỉ dùng một câu: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" nghĩa là: Những điều nào mình chẳng muốn ai làm cho mình phải buồn than đau đớn thì tức nhiên mình không nên làm mấy điều đó cho người khác. Pháp Công bình của Ðức Chí Tôn là một cây Cân song bằng: Một đầu là Tiên, Phật, một đầu là Quỉ Ma, chánh tà phân biệt đôi bên, ấy là pháp Công bình: Lành thưởng dữ răn, lành siêu dữ đọa. Ðức Chí Tôn muốn cho con cái của Ngài đều đặng cao thăng phẩm vị thiêng liêng, chớ không bao giờ Ngài đào tạo Ðịa ngục để đày đọa hình phạt nhơn sanh, mà trái lại do nhơn sanh tạo thành cảnh khổ ấy. Ví như một ông Cha trong gia đình, có khi nào lập ngục thất để cầm tù con cái bao giờ? Những điều khổ hạnh ấy là tự con người đào tạo nơi mặt thế nầy, cũng là một trường học để con người suy gẫm tự giác tâm hồn, hầu giải thoát bến mê mà tầm đến cảnh thiêng liêng an nhàn tự toại. Nếu con người muốn được an nhàn tự toại nơi cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống thì phải thực hành theo Chơn pháp của Chí Tôn. Ngày nào mà nhơn sanh trên mặt địa cầu nầy biết tôn trọng và thực hành y theo luật pháp của Chí Tôn cho ra chân tướng thì mới mong giải thoát cơ tự diệt, tức là ngày của nhơn sanh chung hưởng mọi điều hạnh phúc của Chí Tôn ân tứ."

 

 

KỴ HÚY


E: To abstain.
F: S’abstenir.

Kỵ: Ghen ghét, sợ, cấm, ngày giỗ. Húy: vì kiêng mà tránh, tên người đã chết. Kỵ húy là kiêng tránh, hay là kiêng tên người chết.

 

 

KỴ KIM QUANG

Kỵ Cỡi. Kim quang là lằn ánh sáng màu vàng, hay hào-quang màu vàng. Chơn thần được cỡi lên hào quang màu vàng để đưa đi bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Kỵ kim quang kiến Lão Quân,
"Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng."

 

 

KỴ SEN

(Kỵ : Cỡi lên, ngồi lên) Kỵ sen: Cỡi lên bông sen Thiêng liêng.Ngự lên bông sen, ý nói là đắc đạo.

Kinh Đệ Thất Cửu có câu:

"Dà Lam dẫn nẻo Tây Qui,
"Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen."

 

 

KỴ THÚ

(Ky: cỡi lên lưng, thú: con vật). Thường dùng cho các Tiên Phật cỡi lên lưng những vật này, ví như xác và hồn của kiếp nhân sanh hiện tại vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Có một điều là các Đấng ấy vẫn giữ Thể pháp của họ cho dễ nhìn: Như chúng ta gặp Bát Tiên y như trong tượng vẽ không thay đổi mấy, đặng thiên hạ nhận ra cho đặng. Bởi trong thâm-tâm cao-siêu ấy cho chúng ta tìm phương đoạt tánh". Trong Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ nầy, Bát Tiên lâm trần độ chúng sanh bằng thi phàm xác thịt là các ông:

1- Lê Văn Trung

2- Cao Quỳnh Cư

3- Cao Hoài Sang

4- Ca Minh Chương

5- Lâm Quang Bính

6- Huỳnh Hương Hồ

7- Vương Quan Kỳ

8- Ngô Văn Chiêu

Thi Bát Tiên:

Gậy Tiên cứu thế chẳng kiêng voi, (1)
Bầu Lý hòa bình rất mặn mòi. (2)
Sanh quốc dìu đời nghe tiếng trống, (3)
Tiên Hàn dẫn Đạo lóng hơi còi. (4)
Sen Hà Cửu-phẩm kinh lưu bút, (5)
Quạt Hớn bát hồn sử để roi. (6)
Gươm Lữ hiệp đồng tòan vẹn chủng, (7)
Hoa Lam thống nhứt nhẹ như thoi. (8)

Giải thích:

1- Trương Quả Lão cỡi lừa cầm gậy.
2- Lý Thiết Quài cỡi voi cầm bầu.
3- Tào Quốc Cựu cỡi nai cầm cặp sanh.
4- Hàn Tiên Tử cỡi công cầm ống tiêu.
5- Hà Tiên Cô cỡi phụng cầm bông sen.
6- Hớn Chung Ly cỡi cá ông cầm quạt.
7- Lữ Đồng Tân cỡi hạc cầm phất chủ, lưng dia gươm.
8- Lam Thế Hòa cỡi trĩ cầm giỏ hoa.

 

 

HẾT VẦN K

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

| KI | KY

 

 

 

Danh mục vần K

 

KẺ

Kẻ Chê Người Thị

Kẻ Gian Hùng

Kẻ Hớn Người Hồ

 

KẾ

Kế Chí Quân Tử

Kế Mẫu - Kế Phụ - Kế Thất

Kế Sanh Nhai

Kế Thừa

Kế Tự

Kế Vị

 

KỆ

Kệ (1)

Kệ (2)

Kệ Chuông

Kệ Sám

Kệ Trống

Kệ U Minh Chung

 

KẾT

Kết Cỏ Ngậm Vành

Kết Liễu

Kết Oán Thù Thâm

Kết Thúc

 

KÍCH

Kích Bác

 

KIÊM

Kiêm

Kiêm Nhiệm

 

KIẾM

Kiếm Diệu Huyền

 

KIỂM

Kiểm

Kiểm Duyệt - Ban Kiểm Duyệt

Kiểm Đàn

 

KIẾN

Kiến

Kiến Cơ Nhi Tác

Kiến Công Lập Vị

Kiến Diện

Kiến Lão Quân

Kiến Tính

Kiến Thức

Kiến Trúc - Ban Kiến Trúc

 

KIỀN

Kiền

 

KIỂN

Kiển Quẻ Thuỷ Sơn Kiển

 

KIẾP

Kiếp

Kiếp Căn

Kiếp Đọa

Kiếp Hồn

Kiếp Nợ

Kiếp Khiên

Kiếp Luân Hồi

Kiếp Phù Sinh

Kiếp Sanh

Kiếp Sống

Kiếp Thác

Kiếp Trái

Kiếp Trái Oan Khiên

Kiếp Trần

Kiếp Tu

 

KIẾT

Kiết Tường

 

KIÊU

Kiêu Căng

Kiêu Căng Tự Đại

Kiêu Hãnh

 

KIẾU

Kiếu Từ

 

KIM

Kim

Kim (Giáo Sư Thượng Kim Thanh)

Kim Bàn

Kim Bàn Chưởng Âm

Kim Bàn Phật Mẫu

Kim Bảng

Kim Biên

Kim Biên Tông Đạo

Kim Bồn

Kim Câu

Kim Cô

Kim Chung

Kim Đơn

Kim Khôi

Kim Khuyết

Kim Lan

Kim Mao Hẩu - Kim Hẩu

Kim Mã Ngọc Đàng

Kim Mẫu

Kim Quang

Kim Quang Sứ

Kim Sa

Kim Tiên

Kim Thân

Kim Thời

Kim Tuyến

Kim Tự Tháp

Kim Viết Cao Ðài

 

KINH

Kinh (1)

Kinh (Nguyễn Ngọc Kinh)

Kinh Bang Tế Thế

Kinh Bạch Ngọc

Kinh Cao Đài

Kinh Cúng Tứ Thời

Kinh Dịch

Kinh Dinh

Kinh Dương Vương

Kinh Điển

Kinh Đưa Linh Cửu

Kinh Giải Oan

Kinh Hôn Phối

Kinh Kệ

Kinh Khai Cửu

Kinh Khi Đã Chết Rồi

Kinh Luân

Kinh Luật

Kinh Nghiệm

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế

Kinh Phúc Âm

Kinh Sám Hối

Kinh Tam Giáo

Kinh Tắm Thánh

Kinh Tâm

Kinh Tận Độ

Kinh Thế Đạo
Kinh Đi Ra Đường,
Kinh Khi Về,
Kinh Khi Đi Ngủ,
Kinh Khi Thức Dậy,
Kinh Vào Học,
Kinh Vào Ăn Cơm,
Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.

Kinh Thánh

Kinh Tuần Cửu
Kinh Đệ Nhất Cửu,
Kinh Đệ Nhị Cửu,
Kinh Đệ Tam Cửu,
Kinh Đệ Tứ Cửu,
Kinh Đệ Ngũ Cửu,
Kinh Đệ Lục Cửu,
Kinh Đệ Thất Cửu,
Kinh Đệ Bát Cửu,
Kinh Đệ Cửu Cửu,
Kinh Tiểu Tường,
Kinh Đại Tường

Kinh Vô Tự

 

KÍNH

Kính Anh Mến Chị

Kính Cáo

Kính Lão Đắc Thọ

Kính Thành

 

KỈNH

Kỉnh Lễ

Kỉnh Già Thương Khó

Kỉnh Thờ Thần Thánh

Kỉnh Ngô

Kỉnh Vì Trên Trước