CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần H

 

Hà Binh Giải Tướng

Hà Bôi

Hà Châu

Hà Chính

Hà Đồ

Hà Đồ Lý Số

Hà Đông Sư Tử

Hà Ngân

Hà Tiên Cô

Hà Thủ Tạo

Hà Văn Thuần

 

HẠ

Hạ

Hạ Chỉ

Hạ Cơ

Hạ Giới

Hạ Huyệt

Hạ Mình

Hạ Nguơn

Hạ Nguơn Mạt Kiếp

Hạ Nguơn Tam Chuyển

Hạ Tầng Thế Giái

Hạ Thế

Hạ Thọ - Trung Thọ - Thượng Thọ

Hạ Thừa - Thượng Thừa

Hạ Tiện

Hạ Trần

Hạ Truyền

Hạ Võ Trị Thủy

 

HẠC

Hạc

 

HAI

Hai Mối Nợ

 

HÃI

Hãi Kinh

 

HÁM

Hám Vọng

 

HÀM

Hàm Quẻ Trạch Sơn Hàm

Hàm Nghi

Hàm Phẩm

Hàm Phong

 

HÃM

Hãm Hại

 

HÀN

Hàn Trương Tử

 

HANG

Hang Sâu Vực Thẳm

 

HẠNG

Hạng Thác

Hạng Trọng Sơn

 

HÀNH

Hành

Hành (Giáo Sư Thượng Hành Thanh)

Hành Ác

Hành Chánh

Hành Chánh Ðạo

Hành Chánh Ðạo Cửu Trùng Ðài

Hành Chánh Giáo

Hành Đạo

Hành Giả

Hành Hạ

Hành Hương

Hành Lễ

Hành Lý

Hành Pháp

Hành Pháp Đoạn Căn

Hành Pháp Giải Thể

Hành Pháp Khi Cúng Đàn & Dâng Tam Bửu

Hành Pháp Lạ

Hành Pháp Tại Kim Biên

Hành Quyền Chưởng Lễ

Hành Sự

Hành Tàng

Hành Thiện

Hành Thiện Chi Nhân

Hành Trình

Hành Vi

Hành Vi Mầu Nhiệm

 

HẠNH

Hạnh Đức

Hạnh Đường

Hạnh Huỳnh Kỳ

Hạnh Lâm

Hạnh Ngộ

Hạnh Phúc

 

HAO

Hao Mòn Thân Thể

 

HÁO

Háo Danh

Háo Sanh

 

HÀO

Hào Quang

 

HẢO

Hảo Nam Bang! Hảo Nam Bang!

Hảo Phùng

Hảo Ý

 

HẠO

Hạo Nhiên Thiên

 

HÁT

Hát Bội

 

HẮC

Hắc Ám

Hắc Chủng

Hắc Phong Xuy Châu Phiêu Nhập Chi Khổ Hải

 

HẰNG

Hằng Quẻ Lôi Phong Hằng

Hằng Hà Sa Số

Hằng Sanh

 

HẦM

Hầm Bát Quái

 

HÂN

Hân Hoan

 

HẤP

Hấp Hối

 

HẦU

Hầu Đàn

Hầu Hạ

Hầu Mãn

 

HẬU

Hậu (Nguyễn Trung Hậu)

Hậu Điện và Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ Nơi Báo Ân Từ

Hậu Lai

Hậu Nhựt

Hậu Sự

Hậu Tấn

Hậu Thế

Hậu Thiên Bát Quái

Hậu Thổ

Hậu Ý

 

HI

Hi - Vi

 

HỈ

Hỉ

 

HIỀM

Hiềm Nghi

Hiên Viên Huỳnh Đế

 

HIẾN

Hiến Bửu Tương

Hiến Chương

Hiến Ðạo

Hiến Ðạo Chơn Quân Phạm Văn Tươi

Hiến Lễ

Hiến Mình Cho Đạo

Hiến Pháp Đại Đạo (Pháp Chánh Truyền)

Hiến Pháp Hiệp Thiên Ðài

Hiến Pháp

Hiến Pháp Chơn Quân Trương Hữu Đức

Hiến Thân

Hiến Thế

Hiến Thế Chơn Quân Nguyễn Văn Mạnh

Hiến Tổ (Niên Hiệu: Thiệu Trị)

 

HIỀN

Hiền

Hiền Ðệ

Hiền Đồ

Hiền Đức

Hiền Huynh

Hiền Hữu

Hiền Lương

Hiền Nhơn

Hiền Nhơn Lê Văn Trung

Hiền Ngõ

Hiền Sĩ

Hiền Tài

 

HIỆN

Hiện Kim Thời Đại

Hiện Tướng

Hiện Xuất

 

HIỂN

Hiển Hách

Hiển Linh

Hiển Nhiên

Hiển Thánh

 

HIỆP

Hiệp Âm Dương

Hiệp Chủng Đại Đồng

Hiệp Chưởng Mạo

Hiệp Đạo

Hiệp Đồng

Hiệp Đồng Chư Môn Đệ

Hiệp Hòa Vạn Bang

Hiệp Nhứt

Hiệp Tam Bửu: Tinh-Khí-Thần

Hiệp Tuyển

Hiệp Thiên Đài

Hiệp Thiên Đại Đế

Hiệp Qui Tam Giáo

Hiệp Vạn Chủng

 

HIẾU

Hiếu Đạo

Hiếu Đễ

Hiếu Nghĩa Vi Tiên

Hiếu Tâm

Hiếu Thân

Hiếu Tử Chi Sự Thân

Hiếu Vi Bách Hạnh Chi Tiên

 

HÌNH

Hình Bào Lạc

Hình Chất

Hình Chí Tôn

Hình Hài

Hình Khổ

Hình Nhi Hạ Học

Hình Nhi Thượng Học

Hình Phạt

Hình Thể Hữu Vi

Hình Thức Càn Khôn Vũ Trụ

 

HỌ

Họ Đạo

 

HOA

Hoa

Hoa Quả

 

HÓA

Hóa (Phối Sư Hóa Thanh)

Hóa Công

Hóa Dân

Hóa Nhân

Hóa Nhi

Hóa Sanh

Hóa Thân

Hóa Trưởng Càn Khôn

 

HÒA

Hòa

Hòa Ái

Hòa Ái Tương Thân

Hòa Âm

Hòa Căn

Hòa Bình

Hòa Bình Tâm Lý

Hòa Bình Thế Giới

Hòa Đồng

Hòa Giả Thiên Hạ Chi Đạt Ðạo Dã

Hòa Giải

Hòa Hảo

Hoà Hiệp (Hòa Hợp)

Hòa Huỡn

Hòa Ki (Hòa Cơ)

Hòa Nam Khể Thủ

Hòa Nhã

Hòa Thi

Hòa Thượng

Hòa Ước Thứ Ba

Hòa Viện

 

HỎA

Hỏa Táng

Hỏa Tinh Tam Muội

 

HỌA

Họa Âu Tai Á

Họa Đồ

Họa Phước Vô Môn Duy Nhơn Tự Triệu, Thiện Ác Chi Báo Như Ảnh Tùy Hình

Họa Tai Báo Ứng

Họa Thiên Điều

 

HOẠCH

Hoạch (Bác Sĩ Lê Văn Hoạch)

Hoạch Tội Ư Thiên Vô Sở Đảo Dã

 

HOÀI

Hoài (Nguyễn Văn Hoài)

Hoài (Giáo Sư Thượng Hoài Thanh)

Hoài Vọng

Hoài Trông Giả Luật

 

HOAN

Hoan Nghinh

 

HOÁN

Hoán Cựu Nghinh Tân

Hoán Đàn

 

HOÀN

Hoàn Cảnh

Hoàn Cầu - Hoàn Vũ

Hoàn Nguyên

Hoàn Toàn

Hoàn Tục

 

HOẠN

Hoạn Lộ

 

HOANG

Hoang Đàng

 

HOÀNG

Hoàng Địa

Hoàng Gia

Hoàng Thiên

Hoàng Thiên Hữu Nhãn

Hoàng Thiên Hậu Thổ

Hoàng Tử Cảnh

 

HOÀNH

Hoành Phi

Hoành Sơn

Hoành Sơn Thần Tướng Cử Đa

 

HOẠNH

Hoạnh Tài

 

HOẠT

Hoạt Phật

 

HOẰNG

Hoằng Đạo

Hoằng Hóa Chánh Đạo

Hoằng Khai

Hoằng Khai Đại Đạo

Hoằng Nhẫn

 

HỌC

Học Giả

Học Lễ Học Văn

Học Viện

 

HOI

Hoi Hóp

 

HÒN

Hòn Ngọc

 

HỒ

Hồ Chí Minh

Hồ Dương

Hồ Đồ

Hồ Hớn Liên Bạch

Hồ Lô

Hồ Phủ Từ

Hồ Nhựt Nguyệt

Hồ Xuân Hương

Hồ Tiên

 

HỔ

Hổ Lang

Hổ Ngươi

 

HỘ

Hộ Đàn Pháp Quân Trần Quang Tạ

Hộ Pháp

Hộ Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài

Hộ Pháp Di Đà

Hộ Pháp Đường

Hộ Pháp Em

Hộ Pháp Phạm Công Tắc

Hộ Pháp Không Làm Thượng Tôn Quản Thế

Hộ Trì

Hộ Viện

Hộ Vụ

 

HỐI

Hối Cải

Hối Ngộ

 

HỒI

Hồi Dương

Hồi Đầu

Hồi Đầu Hướng Thiện

Hồi Giáo

Hồi Hưu Dưỡng Lão

Hồi Môn

Hồi Phục

Hồi Quang Phản Chiếu

Hồi Thế Tục

Hồi Tưởng

 

HỘI

Hội Bàn Đào

Hội Công Đồng

Hội Chôn Thây

Hội Chư Thánh Mà Khai Ðạo

Hội Đàm

Hội Hiệp

Hội Kiến

Hội Long Hoa

Hội Niết Bàn

Hội Nghị Hòa Bình Thế Giới

Hội Ngộ

Hội Nguơn

Hội Phước Tự

Hội Thánh

Hội Thánh Cửu Trùng Đài

Hội Thánh Đường Nhơn

Hội Thánh Em

Hội Thánh Hàm Phong

Hội Thánh Hiệp Thiên Đài

Hội Thánh Minh

Hội Thánh Ngoại Giáo

Hội Thánh Phước Thiện

Hội Thánh Tam Quan

Hội Yến Diêu Trì Cung

 

HÔN

Hôn Lễ

Hôn Nhơn

Hôn Phối - Hành Pháp Hôn Phối

Hôn Trầm

 

HỒN

Hồn

Hồn Hài

Hồn Phách

Hồn Qui Thiên Ngoại

 

HỖN

Hỗn Ðộn

Hỗn Ðộn Sơ Khai

Hỗn Loạn

Hỗn Nguơn

Hỗn Nguơn Khí

Hỗn Nguơn Thiên

Hỗn Nguơn Thiên Cảnh

 

HỒNG

Hồng Ân

Hồng Bàng

Hồng Cấu Hồng Trần

Hồng Chung

Hồng Hoang

Hồng Nhạn

Hồng Phước

Hồng Quân

Hồng Quần

Hồng Oai - Hồng Từ

Hồng Thệ Thủ Trinh

Hồng Thị Đỏ

Hồng Trần

 

HỔ

Hổ Tranh

 

HỚN

Hớn Chung Ly

Hớn Bái Công

Hớn Chiêu Liệt Đến Với Cao Đài

Hớn Liên Bạch

Hớn Lưu Bang

Hớn Ngôn

Hớn Rước Diêu Trì

 

HỢP

Hợp Bão Chi Mộc, Sinh Ư Hào Mạt. Cửu Tằng Chi Đài, Khởi Ư Lũy Thổ. Thiên Lý Chi Hành Thủy Ư Túc Hạ

 

HỦ

Hủ Nho

 

HUẤN

Huấn Chúng

Huấn Dụ

Huấn Đạo Bất Nghiêm Sư Chi Đọa

Huấn Giáo

Huấn Hôn

Huấn Lịnh

Huấn Luyện Chức Sắc - Chức Việc

Huấn Ngôn

Huấn Thị

Huấn Từ

 

HUỆ

Huệ (1)

Huệ (2)

Huệ Ân

Huệ Chiếu

Huệ Duyên

Huệ Đăng

Huệ Hương

Huệ Khiếu

Huệ Kiếm

Huệ Lan

Huệ Lương Trần Văn Quế

Huệ Mạng Trường Phan

Huệ Nhãn

Huệ Quang

Huệ Mạng Kim Tiên (Huệ Mạng Trường Phan)

Huệ Năng

Huệ Trạch

 

HUNG

Hung Bạo

Hung Đồ

Hung Hăng Đạo Đức

Hung Hoang

 

HÙNG

Hùng Biện

Hùng Oai

Hùng Vương

 

HUỜN

Hườn (Hoàn)

Huờn Hồn

Huờn Hư

Huờn Nguyên

Huờn Thuốc Phục Sinh

Huờn Tồn Phật Tánh

Huờn Xá Lợi

 

HUY

Huy Hoàng

 

HỦY

Hủy Bỏ Án Tử Hình

Hủy Mình

Hủy Hoại

 

HUYÊN

Huyên Đường

 

HUYỀN

Huyền Cơ

Huyền Diệu

Huyền Diệu Cơ Bút

Huyền Diệu Pháp

Huyền Diệu Phép Tắc

Huyền Diệu Về Thuốc Trị Bịnh

Huyền Diệu Tiên Thiên

Huyền Huyền Hạo Hạo

Huyền Khung Cao

Huyền Linh

Huyền Linh Đài

Huyền Linh Pháp

Huyền Mẫu

Huyền Phạm

Huyền Pháp

Huyền Thiên

Huyền Thiên Quân

Huyền Trang

Huyền Vi

Huyền Vi Cảnh - Hữu Hình Cảnh

Huyền Vi Máy Tạo

Huyền Vi Mầu Nhiệm

Huyền Vi Bí Mật Thiêng Liêng

 

HUYỄN

Huyễn Hoặc

 

HUYẾT

Huyết Chiến

Huyết Lệ

Huyết Thệ

 

HUYNH

Huynh Đệ

Huynh Đệ Mãn Phần

Huynh Đệ Nhứt Gia

Huynh Trưởng

 

HUỲNH

Huỳnh Chủng

Huỳnh Đạo

Huỳnh Hoa Tiên Nữ

Huỳnh Kim Bố Điạ

Huỳnh Kim Khuyết

Huỳnh Lương

Huỳnh Phủ Từ

Huỳnh Thiên

Huỳnh Văn Giỏi

Huỳnh Tộc

Huỳnh Trung Tuất

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Tuyền

 

Hư Hoại

Hư Không

Hư Linh

Hư Thực

Hư Vinh

Hư Vô

Hư Vô Bát Quái

Hư Vô Chi Khí

Hư Vô Tịch Diệt

Hư Vô Thiên

 

HƯNG

Hưng Đạo Vương

Hưng Nho

Hưng Quốc Khánh Niệm

Hưng Suy

Hưng Ư Thi, Tác Ư Lễ, Thành Ư Nhạc

Hưng Vượng

 

HƯƠNG

Hương Án

Hương Đạo

Hương Hồn

Hương Hỏa

Hương Hỏa Ba Sinh

Hương Nguyền

Hương Tâm

Hương Thanh (Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh)

Hương Thề

 

HƯỚNG

Hướng Đạo

Hướng Đạo Sinh Cao Đài

Hướng Thiện

Hưởng Lộc Vua

Hưởng Thọ

 

HỮU

Hữu

Hữu Căn Hữu Kiếp

Hữu Chung Hữu Thỉ

Hữu Duyên

Hữu Duyên Đắc Ngộ

Hữu Đạo - Hữu Công

Hữu Định

Hữu Đức

Hữu Giác

Hữu Hạnh

Hữu Hạnh Hữu Duyên

Hữu Hình

Hữu Hình Hữu Hoại

Hữu Hình - Vô Vi

Hữu Hư Vô Thực

Hữu Sanh

Hữu Ích

Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại

Hữu Phước

Hữu Thành Tất Hữu Thần

Hữu Thỉ Siêu Quần Chơn Chi Thượng

Hữu Tướng - Vô Vi

Hữu Tử Thiên - Vô Tử Thiên

Hữu Văn - Hữu Võ - Hữu Phong Ba

Hữu Vi - Hữu Hủy

Hữu Vi - Vô Vi

 

HỰU

Hựu Tội

 

HY

Hy

Hy Bá Lai

Hy Hoàng Thượng Nhân

Hy Hữu

Hy Lạp

Hy Lạp Chính Giáo

Hy Lạp Chủ Nghĩa

Hy Lạp Giáo Hội

Hy Lạp Văn Hóa

Hy Sinh

Hy Sinh Cái Chết Để Đạt Cái Sống

Hy Thánh - Hy Hiến

Hy Vọng

 

HỶ

Hỷ

Hỷ Xả

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 27-07-2017

 

 

 

• HÀ chữ dùng để hỏi: Làm sao? Thế nào? Đâu?

• HÀ sông

• HÀ Cái vết của hòn ngọc. Điều lỗi.

• HÀ Sắc đỏ

• HÀ Nhỏ nhen, khắc bạc.

• HÀ Cây sen. Chịu ơn huệ của người. Đội. Vác trên vai.

• HÀ Con tôm

• HÀ Xa.

• HÀ Ráng: là hơi mây có ánh mặt trời chiếu vào có sắc đỏ.

 

 

HÀ BINH GIẢI TƯỚNG

(Hà: con tôm, Binh: là lính; Giải: con cua; Tướng: chỉ huy, đứng đầu) Cả câu này nghĩa đen là Binh tôm tướng cua, tướng cá. Ý nói binh tướng nhiều vô cùng vô tận, nhưng là binh lính ô-hợp, không có trật tự tề chỉnh, kỷ luật không nghiêm.

Trong thơ ca có câu:

Không cần bàn chuyện nông sâu,
Hà binh giải tướng nghĩ lâu nực cười

 

 

HÀ BÔI

(: ráng, là hơi mây có ánh mặt trời chiếu vào có sắc đỏ; Bôi: chén uống rượu). Chén rượu làm bằng ngọc màu đỏ như ráng mặt trời chiều.

Trong thơ ca có câu:

Hà bôi tiễn bạn ngập ngừng,
Chim kia thôi hót, mây ngừng ngừng bay.

 

 

HÀ CHÂU

(Hà: sông; Châu: bãi). Bãi cát ở bên sông.

Kinh Thi có câu: "Quan quan thư cưu. Tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ. Quân tử hảo cầu." nghĩa là: ríu-rít như chim Thư cưu kêu ngòai bãi sông. Người con gái dịu dàng đoan chính sánh đôi cùng chàng quân tử. Câu này dùng để khen một Cung phi của Vua Văn-Vương có phẩm hạnh đoan chính.

Thi sĩ Tản Đà viết ra theo lối Song Thất lục bát như sau:

Quan quan cái con Thư cưu,
Con trống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu-dàng thục nữ như ai,
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.

Giống chim Thư cưu thường ở dưới nước hay các bãi sông, giống chim này đẻ ra từng đôi một: con trống con mái và chỉ đi từng đôi mà thôi, không bao giờ đi lẻ. Đặc biệt nhất là đôi này không bao giờ đi với đôi khác, cũng không bao giờ hai cặp chim mà đậu chung một cành. Đức tính ấy ví như đôi trai tài gái sắc thủy chung, đạo đức, sống một đời sống cao thượng.

Đại Nam quốc sử diễn ca có câu:

Ra vào nương bãi Hà châu,
Phong trần đã trải mấy thu cùng Nàng.

 

 

HÀ CHÍNH


F: politique tyrannique.

(Hà: khắc bạc, phiền não; Chính: chánh sách, phương pháp cai trị, chế độ). Là một chính sách cai trị khắc nghiệt, thường là những kẻ cướp nước, đặt nền đô hộ, thống trị lên một nước khác thường đặt một chánh sách hà khắc gọi là Hà chính.

Câu chuyện Đức Khổng Tử được học trò đẩy xe đi, khi ngang qua một cánh rừng thì nghe tiếng khóc thảm thiết của người đàn bà ngồi bên cạnh mấy nấm mồ. Đức Khổng cho hỏi thăm duyên cớ thì người đàn bà vừa khóc vừa nói rằng: Trước đây một năm chồng tôi bị cọp giết chết, nấm mồ còn đây. Năm nay con tôi cũng bị hổ giết, nấm mồ chưa ráo! Nghe lạ, Đức Khổng xuống xe và nói: Tại sao bà không đến một nơi khác có đông đúc người mà ở? – Thưa Ngài, mặc dù ở đây nó có khổ như vậy mà tâm hồn được thanh thản, còn hơn ở chốn đông đúc mà chế độ hà khắc quá, tôi sống không nỗi.

Đức Khổng Tử buồn bã như cùng cảm thông và bảo học trò ghi nhớ lấy: "Hà chính như mãnh hổ" tức là chế độ hà khắc như sống cùng hổ dữ.

 

 

HÀ ĐỒ (Tiên Thiên Bát Quái)


E: The drawing comes from the Hoang Ha river.
F: La dessin sort du fleuve Hoàng Hà.

 

Phương vị các số trong Hà Đồ

Hệ Từ Thượng trong Kinh Dịch

Dịch với Cao-Đài

Với Kinh Dịch

Tứ Tượng biến Bát Quái lấy Tượng làm gốc

Cơ sanh biến vạn-linh là gì?

Việt-Nam là một Thái-cực-đồ hình chữ CHỦ


 

 

 

 

Xưa truyền rằng đời Vua Phục Hy, trong sông Hòang Hà có con Long Mã xúât hiện, trên lưng có hiện những chấm đen trắng từ 1 đến 10, bố trí như một bức đồ. Phục Hy mới theo đó mà vạch ra Bát Quái, để làm nền tảng cho Tiên Thiên Bát Quái sau này đó vậy.

Hà Đồ xuất phát từ đời Vua Phục Hy, Ngài sanh về đời tối cổ bên xứ Trung Hoa. Thời đại ấy, Thần linh học phát triển đến tột độ cao siêu. Ngài là một vị Minh Quân, Thánh trí tài cao, đức rộng; tinh thần minh mẫn, hàm dưỡng được trọn vẹn trí huệ của Trời ban cho. Huệ nhãn của Ngài xem suốt cõi vô hình. Khi dạo trên bờ sông Hà (ngày nay gọi là Hoàng-Hà). Ngài trông thấy một con thú mình ngựa đầu rồng, mang danh là Long Mã. Theo sách Nho, Long Mã bề cao 8 thước năm tấc (thước Tàu), xương cổ dài, chưn ngựa đầu rồng, trên mình có vảy như rồng.

Kinh Dịch chép rằng: Long Mã là vật linh kết hợp bởi 8 tinh túy của Thái Dương hệ biến hiện dưới tầm mắt của vua Phục Hy. Nhờ tâm chí Thánh, Ngài xem được các vật trong cõi vô hình, thấy rõ Linh vật của Trời Đất, mang chở những cái tinh anh của Thái Dương Hệ. Rồng là một Linh vật trong số Tứ Linh "Long, Lân, Qui, Phụng", có đủ nơi mình tinh túy của Vũ Trụ. Ngựa là vật chở người và đồ vật đi mau lẹ. Tóm lại, Long Mã tượng trưng Âm Dương tương hiệp, tức thời gian trôi qua mau lẹ cùng với không gian vô tận, mang theo những tinh túy của Trời Đất để chan rưới sự sống cho muôn loài vạn vật. Trên lưng có năm mươi lăm chấm. Vua Phục Hy do đó mà chế ra bản đồ "Tiên Thiên Bát Quái", đời thường gọi là Phục Hy Bát Quái. Do vậy mà Kinh Dịch xuất hiện từ đời vua Phục Hy cách đây trên 6.000 năm (4.480 trước Công nguyên).

1- Phương vị các số trong Hà Đồ:

Bản đồ trên lưng con Long-Mã có 25 điểm trắng (tượng Dương) và 30 điểm đen (tượng Âm), tổng cộng là 55 điểm, nằm trên các vị trí:

- Điểm 1 và điểm 6 ở phía Bắc
- Điểm 2 và điểm 7 ở phía Nam
- Điểm 3 và điểm 8 ở phía Đông
- Điểm 4 và điểm 9 ở phía Tây.
- Điểm 5 và điểm 10 ở giữa, tức Trung-ương.

Hà Đồ gồm có 10 số: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,10.

- Năm số lẻ, số Dương, là số Trời: 1,3,5,7,9.
- Năm số chẵn, số Âm, là số đất: 2,4,6,8,10.

Cộng riêng các số Âm Dương sẽ có kết quả là:

1+3+5+7+9 = 25
2+4+6+8+10 = 30

Vậy: Tổng số Âm Dương trong Hà Đồ là: 25 + 30 = 55. Đây cũng gọi là Cơ Nhị Ngũ, Tức là hai con số ngũ đứng liền nhau

Luận Ngũ hành trong Hà Đồ tức là nói sự biến hóa các số sinh thành trong Hà Đồ:

- Thiên nhất sanh Thủy,
- Địa nhị sinh Hỏa,
- Thiên tam sanh Mộc,
- Địa tứ sanh Kim,
- Thiên ngũ sanh Thổ,

 

Thủy, Địa lục thành chi.
Thiên thất thành chi.
Địa bát thành chi.
Thiên cửu thành chi.
Thổ, Địa thập thành chi..

Nghĩa là:

- Trời số 1 sanh nước,
- Đất số 2 sanh Hỏa,
- Trời số 3 sanh Mộc,
- Đất số 4 sanh Kim,
- Trời số 5 sanh Thổ,

 

Đất số 6 thành nước,
Trời số 7 thành Hỏa
Đất số 8 thành mộc.
Trời số 9 thành Kim.
Đất số 10 thành Thổ.

Số 5 là số đặc biệt nếu đem nó cộng với số sinh sẽ được số thành. Tức nhiên số sinh ra nước là 1 (1+5 = 6) là số thành của nước. Tương tự như vậy sẽ có các kết quả như trên. Khi sanh bởi Dương số thì thành ra Âm số và ngược lại; Như trên đã nói là Âm Dương phối hợp có công dụng sinh thành. Bởi vậy, nếu không có số 5 làm trụ cột; bất di bất dịch ở trung cung thì không có sinh cũng chẳng có thành, vạn vật do đó mà phát sinh và chung qui cũng trở về đó.Số 5 nằm ở vị trí trung ương của Hà-Đồ. Vạn vật không có nó không sanh và cũng không thành được vì đó là Thái cực, là nguyên lý của Âm Dương.

Số 5 và số 10 (Ngũ, thập tại trung cung) là huyền cơ của trời đất. Chính nó là ngôi Thái cực, căn bản của tạo hóa. Đó là số bất dịch của Dịch-học.

- Kể số thời Nhất, Tam, Ngũ, Thất, Cửu là số CƠ là thuộc về Dương gọi bằng thiên-số (1,3,5,7,9 là số Dương)

- Nhị, Tứ, Lục, Bát, Thập là số NGẪU thuộc về Âm gọi là địa-số (2,4, 6, 8, 10 là số Âm).

Thiên số Ngũ, Địa số Thập, hai số ấy hiệp nhau mà thành Thổ, tạo nên vạn-vật là nhờ có số ấy. Sở dĩ Ngũ, Thập, THỔ ở chính giữa Đồ là vì Ngũ, Thập, THỔ là trung-tâm điểm của công dụng tạo-hoá.

Nhìn trên Hà Đồ cho thấy rõ lẽ Âm Dương tiến hóa và Tiên Thiên Bát Quái một cách rõ nét:

Phân nửa bên trái thì Âm hàm Dương (Tiên Thiên), còn nửa phần bên mặt (Hậu Thiên) thì Dương hàm Âm. Bởi Dương ở trong thì tụ, Dương ra ngoài thì tán. Tụ thì mạnh, tán thì yếu.

Số 5 rất quan trọng trong Hà Đồ:

Hà Đồ có những đặc điểm cần lưu ý:

- Hễ trong Dương thì ngoài Âm, trong Âm thì ngoài Dương, tức trong Dương có Âm và trong Âm có Dương

- Âm căn là: 2, 4. Dương căn là 1, 3.

- Tổng số Âm là 30, Tổng số Dương là 25, tức là Âm phải bao bọc che chở cho Dương. Dương tụ bên trong

- Phía bên phải (hướng Tây) các số Dương tản ra (số 7,9) các số Âm lại ở bên trong (2,4). Dương tán ra ngoài.

Như thế HÀ ĐỒ chủ trương Âm Dương nội ngoại tương ứng, biến thiên đều đặn, đổi thay ngôi vị Đông Tây

2- Hệ Từ Thượng trong Kinh Dịch cho biết:

Khi luận về Thái cực và Lưỡng nghi, cốt tủy Kinh Dịch nằm trong câu "Dịch hữu Thái cực thị sinh Lưỡng Nghi; Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái; Bát quái sinh vạn vật" nghĩa là Dịch có ngôi Thái cực, Thái cực sanh Lưỡng nghi (tức là Âm Dương), Lưỡng nghi sinh Tứ Tượng (là Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm). Tứ Tượng sanh Bát Quái (CÀN nhất, ĐOÀI nhị, LY tam, CHẤN tứ, TỐN ngũ, KHẢM lục, CẤN thất, KHÔN bát). Bát Quái sinh ra vạn vật ấy là

Tiên Thiên Bát Quái:

 

 

 

Xưa, nhân lúc Vua Phục Hy ngẩng lên trông Tượng trời, cúi xuống nhìn hình đất, giữa xem người và vạn vật mà vạch ra Tám Quẻ (gọi là Bát Quái). Dưới đây là sự biến hóa từ Thái cực đến khi thành hình một Bát Quái đầu tiên đó là Bát Quái Tiên Thiên đặt nằm ngang:

Mỗi Quẻ có ba Hào, hào giao nhau với nghĩa giao dịch, theo lý Âm Dương, cương nhu, nghĩa là cương có hiệu lực với cương, nhu có hiệu lực với nhu. Nhân đó mà chồng lên nhau thành ra 64 Quẻ để cảm thông đức của Thần minh, để phân biệt vật tình của vạn loại

Tám quẻ trên lần lượt gồm có:

CÀN

 

 

Càn tam liên (tức là ba vạch liền)

ĐOÀI

 

 

Đoài thượng khuyết (trên lõm vào)

LY

 

 

Ly trung hư (ở giữa trống không)

CHẤN

 

 

Chấn ngưỡng bồn (giống như chậu ngửa)

TỐN

 

 

Tốn hạ đoạn (ngang dưới đứt ra)

KHẢM

 

 

Khảm trung mãn (ở giữa đầy)

CẤN

 

 

Cấn phúc uyển (như cái bát úp xuống)

KHÔN

 

 

Khôn lục đoạn (Khôn sáu nét đứt ngang)

Nói Sinh đây là biến hóa bất diệt và vô cùng huyền diệu.

Dịch với Cao-Đài:

Đạo Cao Đài ra đời Đức Chí-Tôn xác định điều ấy: "Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn Khôn thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra:

- Có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực,

- Thầy phân Thái cực ra Lưỡng Nghi,

- Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng,

- Tứ Tượng biến Bát Quái,

- Bát Quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn Khôn Thế giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sinh ra vạn vật là: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh" (TN II /62)

Thầy nói tiếp: "Một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con".

Với Kinh Dịch

Với Kinh Dịch thì Thánh nhân đã chỉ rõ rằng: đầu tiên ngôi Thái cực phân hóa thành hai, gọi là Âm Dương. Ví như hột giống khi nứt mầm thì có hai lá đầu tiên, gọi là song-tử-diệp, tức là Âm Dương đó. Nhưng khi biểu tượng là dùng: nét liền  tượng Dương, nét đứt  tượng Âm. Với 1 nét như vậy thì gọi Nghi (nghi Dương và nghi Âm hay Lưỡng nghi).

Khi sanh biến thì hai nghi Âm Dương sẽ sanh ra Tứ Tượng. Khi gọi là Tượng thì biểu hiệu bằng hai nét, có bốn Tượng là: Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm.

Gọi là sinh tức là làm tăng thêm, luôn luôn nghi ban đầu vẫn làm gốc, có nghĩa là hai nét Âm Dương vẫn đặt nằm dưới cùng, vì đó là gốc mới sinh ra vạn vật; là khởi điểm để từ đó tiếp diễn sinh ra

Khi thành Tượng thì lấy Nghi dương làm gốc, đặt nét Dương lên nghi dương thành hai Dương là Thái Dương , lần biến thứ nhì thì đặt nét Âm lên nghi dương sẽ là Thiếu Âm . Đến nghi Âm cũng qua hai lần biến hóa thành ra Thái Âm  và Thiếu Dương .

Tứ Tượng biến Bát Quái lấy Tượng làm gốc:

- Thái Dương  lần biến thứ nhất là thêm một nét Dương lên trên thành ra CÀN  lần biến thứ nhì ra ĐOÀI .

- Thiếu Âm  lần biến thứ nhứt là thêm một nét Dương lên trên thành LY  lần biến thứ nhì sinh ra CHẤN .

- Thiếu Dương  lần biến thứ nhứt là thêm một nét Dương lên trên thành TỐN  lần biến thứ nhì sinh ra KHẢM .

- Thái Âm  lần biến thứ nhứt là thêm một nét Dương lên là CẤN  lần biến thứ nhì sinh ra KHÔN .

Thành phần mới sinh có 3 nét gọi là Quẻ. Chỉ có 8 quẻ căn bản này mà thôi, từ đó biến hóa vô cùng, gọi đây là BÁT QUÁI, tức là 8 hiện tượng quái dị, lạ lùng. Thầy cũng có nói lẽ ra phải gọi là Bát Tượng hay Bát Tướng, nhưng vì quen gọi nên không sửa,vẫn gọi là BÁT QUÁI.

Điều nên lưu ý:

- Thứ nhứt là phần gốc bao giờ cũng đặt dưới hết, nét mới sinh sẽ đặt lên trên, tức nhiên vẽ từ dưới lên trên.

- Thứ hai là Âm Dương luôn đi liền nhau, không bao giờ sai lệch.

Tuy nhiên ông Nguyễn Duy Cần luận nghịch lại với ý của Thánh nhân nên Thiếu Âm Thiếu Dương . Do vậy, khi lập thành Bát quái sẽ mất đi sự liên tục.

Trên nguyên tắc thì vẽ quẻ từ dưới lên, khi đọc quẻ từ trên đọc xuống, cũng là thể hiện vòng Âm Dương, thuận nghịch đó vậy.

Sách viết: "HÀ xuất Đồ, LẠC xuất Thư, Thánh nhân tắcchi" 河出圖洛 出書聖人則之 tức nhiên sông Hà xuất hiện Đồ, sông Lạc xuất hiện Thư, bậc Thánh-nhân coi đó mà bắt chước.

Từ đó:

 

 

 

TIÊN THIÊN BÁT QUÁI ĐỔ được một số nhà Toán học sau Đức Khổng-Tử vào đời Hán đã tìm ra công thức Toán cao cấp để giải thích về sự thành hình của vũ-trụ. Họ đã cố gắng thu gọn lại thành công thức tổng quát bằng Đồ hình gồm nhiều con số. Thêm nữa, nếu đọc lại giai đoạn lịch sử từ Tần đến Hán, thì tư tưởng của các Môn đệ thường đặt ở đầu câu hai tiếng "Tử viết" để làm tăng giá trị hơn

Hà đồ và Lạc Thư cũng ở vào trường hợp trên, cũng là làm tăng niềm tin cho kẻ hậu học, tức là tin vào "Công thức toán" của mình. Vì vậy có sự nhân-cách-hoá rằng: "Đời Vua Phục-Hy có con Long-Mã xuất hiện trên sông Hà. Nhà vua bèn bắt chước theo những vết vằn của nó để vạch ra Bát-Quái gọi là Hà đồ". Thiết nghĩ rằng vấn đề chủ yếu không phải là những chấm đen, trắng trên lưng con Long-Mã. Cho dù có đi nữa, đó cũng cho ta thấy các nhà toán học đã đưa nó vào ứng dụng như thế nào trong suốt mấy ngàn năm từ Phục-Hy đến đời Hán. Nhưng chỉ có vào đời Hán nó mới được ứng dụng nhất là trong lãnh vực Y-học một cách tuyệt vời. Song song là những nhà Tôn giáo cũng đã dựng thành một triết lý siêu nhiên.

Nay, quan trọng nhất là ĐẠO CAO-ĐÀI mới được thành hình một cách rõ rệt. Bấy giờ người Cao-Đài mới dám nhìn nhận rằng: Dịch như một tấm vải, mà Tôn giáo là một thực dụng, như cái áo cắt ra từ tấm vải ấy. Thế nên Dịch là Đạo hay nói khác đi: Đạo là Dịch.

Kết luận:

Toàn bộ DỊCH là một bộ sách nói về Số-học. Nguyên lúc đầu Thánh Phục-Hy vạch ra tám Quẻ là bắt chước ở Hà-Đồ. HÀ-ĐỒ chỉ là một bức hình ghi về Số học, tổng cộng 55 điểm, ấy là bày thành số: Cơ, Ngẫu - Âm, Dương: Cơ là số lẻ thuộc Dương. Ngẫu là số chẵn thuộc Âm. Vậy nên ở trong đồ các vòng tròn trắng là thuộc số Dương, các vòng tròn đen thuộc số Âm. Thánh Phục Hy sở dĩ vạch Bát-Quái chỉ nhân ở lý số ấy mà vạch ra. Vậy nên chúng ta muốn hiểu được nguyên-lý của Bát Quái, trước phải tham khảo ở số Hà Đồ.

 

 

 

Phải thấy rằng: số trời có năm số, số đất có năm số. năm ngôi cùng tương đắc mà điều hợp nhau. Số Trời có 25, số đất có 30. Tổng số của số Trời đất là 55. Các số ấy tạo nên sự biến hóa và điều hành quỉ thần.

Bởi Dịch nói rằng: "Thiên số ngũ, Địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hạp. Thiên số nhị thập ngũ, Địa số tam thập. Thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, thử sở dĩ thành biến hóa nhi hành quỉ thần"; Phương vị của HÀ-ĐỒ chia làm năm hướng: Bắc, Nam, Đông, Tây, Trung-ương.

- Phương Bắc: là nhất lục thuỷ (1+5=6). Vì lúc đầu ở trong trời đất có thuỷ trước hết, lấy số nhất làm số thiên sinh thuỷ gọi là Nhất, Lục Thủy.

- Khi đã có Thuỷ rồi thời bao nhiêu sức nóng trong địa cầu cũng đồng phát hiện, tức là Hoả. Vậy nên trong đồ số về phía Nam gọi là Nhị, Thất Hoả (2, 7 thuộc Hỏa)

- Đã có Thuỷ Hoả rồi, đồng thời cũng có Mộc, tức là loại thực vật sinh ở trên địa cầu. Vậy nên trong đồ số, vị phía Đông là Tam, Bát Mộc (3, 8 thuộc Mộc).

- Trong lúc ấy bao nhiêu những chất liên kết kiên cố cũng ở trong địa cầu nảy-nở ra tức là loài Kim, khoáng chất, nên đồ số phía Tây là Tứ, Cửu Kim (4,9 thuộc Kim)

Tất cả các thứ: Thuỷ, Hoả, Mộc, Kim, đều phải dựa vào địa cầu mới phát sinh được mà tiếp tục cho đến vô tận, nên bốn giống kia lại phải tuỳ thuộc vào THỔ, mà lại là thiên số Ngũ, địa số Ngũ phối hợp với nhau mới thành Thập. Vậy nên số vị trong đồ đặt là Ngũ, Thập THỔ ở trung ương (5, 10 thuộc Thổ ở chính giữa).

Thực hành: Số 5 điểm là số sinh THỔ, số 10 điểm là số thành THỔ. Muốn biết rõ công dụng của Thổ, thời tất phải lấy số Ngũ mà phối hợp với 4 số kia, như số:

- Nhất là số sinh Thuỷ. Nhất phối hợp với Ngũ ở giữa mà thành Lục (1+5=6) tức là số Lục thành Thuỷ.

- Số Nhị là số sinh Hoả, Nhị phối với Ngũ ở giữa thành Thất (2+5=7) tức là số Thất thành Hoả.

- Số Tam là số sinh Mộc, Tam phối hợp với Ngũ ở giữa thành Bát (3+5=8), tức là số Bát thành Mộc.

- Số Tứ là số sinh Kim, Tứ phối hợp với Ngũ ở giữa thành Cửu (4+5=9), là số Cửu thành Kim.

Nói tóm lại nguyên-lý của trời đất, hoá sanh vạn vật, đồng thời chỉ có nhất Âm, nhất Dương. Trước mắt là 12 cửa Nội-ô Tòa-Thánh không có cửa số 5. Vì số 5 thuộc Trung ương, thay vào cổng Chánh môn nên cũng đủ cho số 12 là con số riêng của Thầy là vậy.

Nguyên lý: Một sanh hai, hai sanh bốn, bốn nhân đôi thành tám, tám nhân tám thành 64 "Nhất sinh Lưỡng, Lưỡng sanh Tứ, Tứ gia Tứ thành Bát, bát gia bát thành bát bát lục thập tứ". Ấy là tinh ý của Thánh-nhân mượn số mà làm cho rõ lý, nhưng lại phải mượn Tượng làm cho rõ Số. Vậy nên trong Dịch lại phải xét đến Tượng .

Cơ sanh biến vạn-linh là gì?

 

 

 

Đây là hình ảnh nói về cơ sanh biến vạn linh. Qua đồ hình bên đây là Lưỡng Nghi biến Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, rồi Bát-Quái sẽ biến hóa vô cùng mà Đạo gia thường gọi.

Lưỡng-Nghi là cơ Âm Dương phối hợp thì bất cứ vật chi chi trong trời đất này cũng đều do Âm Dương sản xuất, mà cũng gọi là lý Nhị nguyên đó vậy. Âm với Dương vốn là cơ động tĩnh, mâu thuẫn nhau, tương khắc mà lại tương hòa. Hai cái lý đối nghịch nhau để hỗ trợ lẫn nhau chớ không phải để tiêu diệt nhau.

Trời có sáng tối, người có Nữ Nam, vật có cứng mềm, đất có nắng mưa, vạn loại có trống mái, cho chí đến loài cỏ cây, sắt đá cũng có cái lý của Âm Dương. Một cái cây mới nẩy chồi thì ra hai lá đầu tiên ấy là hình tượng của Âm Dương đó. Âm Dương vốn là cơ sản-xuất, nhưng trong Dương có Âm và trong Âm cũng có Dương. Nho gia gọi "vạn-vật phụ âm nhi bão dương, trung chí dĩ nhi Hòa" 萬物負陰而保陽中至以而和 là vậy. Tức là vạn vật ôm ấp Âm Dương, đến mực trung-dung thì gọi là hòa. Cơ HÒA là cơ sanh-hóa:

- Trong phần Dương lớn gọi là Thái Dương  có phần Âm nhỏ gọi là Thiếu Âm .

- Trong phần Âm lớn gọi là Thái Âm  có phần Dương nhỏ gọi là Thiếu Dương .

- Hai cái lý ấy gát chồng lên nhau gọi là Tứ Tượng

- Tứ Tượng thành hình mới biến ra Bát-Quái là căn bản của nhân-loại và vạn-vật.

Tứ Tượng là căn-bản của các Bát Quái thành hình.

Việt-Nam là một Thái-cực-đồ hình chữ CHỦ

 

 

 

Qua bản-đồ của nước Việt-Nam cho ta hình ảnh một Thái-cực-đồ, tức nhiên đất thể cương, nhu.

- Khi nhìn vào bên tay trái là một dãy đất liền, ấy là Thái-dương.

- Bên tay phải là biển mênh-mông, ấy là Thái-âm

- Trong biển còn có đảo Hải-nam, tức là trong nước có đất ấy là Thiếu dương.

- Trong đất lại có nước là Biển Hồ là Thiếu âm.

Như thế, Việt-Nam đủ hình ảnh của một Đồ hình có Thái cực, Lưỡng nghi (tức Thái dương, Thái âm)

Rồi từ đó biến sanh Tứ tượng là thêm vào Thiếu dương và Thiếu âm nữa.

Nếu ta đặt compas ngay điểm Ngũ hành sơn quay một vòng tròn thì đỉnh trên sẽ qua Ải Nam quan và điểm dưới sẽ qua Mũi Cà mau, tạo thành một Thái cực-đồ trọn vẹn.

 

 

HÀ ĐÔNG SƯ TỬ

(Hà Đông: tên một tỉnh của miền Bắc- Việt Nam. Một miền đất trong Tỉnh Sơn Tây, ở phía Đông sông Hòang Hà. Sư tử: là lòai thú rất dữ, người ta gọi nó là vua của lòai thú, cũng có tên là thú vương) tức là giống sư tử ở đất Hà đông.

Nghĩa bóng là nói người đàn bà hay ghen chồng. Nguyên có câu thơ của Tô Đông Pha đời Tống làm tiễn Trần Qui Thường có vợ là Liễu Thị hay ghen chồng rằng: "Hốt văn Hà đông sư tử hống, Trụ trượng lạc thủ tâm mang mang" nghĩa là bỗng nghe Sư tử Hà đông thét, Tay run gậy rớt lòng sợ hãi.

 

 

HÀ LẠC LÝ SỐ

Hà Lạc: đây là chỉ Hà đồ và Lạc Thư, tức nhiên là chỉ vào hai Bát Quái là Tiên Thiên và Hậu Thiên làm nền tảng cho nền văn minh hóa học cho nhân lọai hưởng nhờ, gần trót 6.000 năm do bốn vị TiềnThánh ra công truy cứu là Phục Hy, Văn Vương, Châu Công, Khổng Tử hoàn tất bộ Kinh Dịch qúi báu này. Lý số: Lý là lý thuyết, lý giải, lý luận để đến chỗ rốt ráo, Số là số học, toán số, ngày nay thêm một mức nữa là Kỹ thuật số.

Bộ Kinh Dịch ngày xưa chỉ xem như bộ sách bói tóan số mệnh, tức là chưa khai thác hết tiềm năng của nó, nên giá trị của Dịch chưa cao. Tương truyền rằng của Trần Đoàn làm ra, gốc theo Hà đồ và Lạc Thư. Nhờ vậy mà thời Tần Thủy Hòang Đế đốt sách chôn học trò "Phần thư khanh nho" mới chừa lại bộ Kinh Dịch đến ngày nay nhân lọai hưởng nhờ, cũng là nền tảng cho nền Tôn giáo Cao Đài này về phần Thế Đạo.

Khi Chí-Tôn đến ban cho hai Bát Quái nữa để làm con đường trở về tức là Thiên Đạo đó vậy.

 

 

HÀ NGÂN


E: The milky way.
F: La voie lactée.

: Sông. Ngân: bạc, trắng như bạc. Hà Ngân, tức Ngân Hà, là dòng sông bạc nằm vắt ngang trên bầu trời. (Xem: Dòng Ngân, vần D)

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thiềm cung rộng mở cửa Hà Ngân.

 

 

HÀ TIÊN CÔ

Là Ngươn linh của Bà Giáo sư Hương Hồ

 

 

 

Hà Tiên Cô là người con gái mang họ Hà ở huyện Linh Lăng, tỉnh Hồ Nam, tên là Tố Nữ, sinh vào đời Đường. Thuở nhỏ, trên đầu có 6 xoáy, mọi người lấy làm kỳ. Năm 15 tuổi, cô xin cha mẹ đến ở khe Vân Mẫu. Đêm nằm mộng thấy Tiên dạy ăn hột Vân Mẫu sẽ nhẹ mình và trường thọ. Cô vội đi tìm hạt Vân Mẫu thì gặp Lý Thiết Quả và Lữ Đồng Tân đang hái thuốc. Thấy cô gần thành Tiên, Lữ Đồng Tân cho cô một quả Đào. Cô ăn mới nửa trái thì thấy không đói nữa, biết được mọi sự họa phước, lành dữ trên đời. Mọi người cho cô là Thần Tiên, cất lầu cho cô ở và gọi cô là Hà Tiên Cô. Bà Võ Hậu nghe tiếng, cho người đến rước, đi được nửa đường, cô biến mất. Sau Lý Thiết Quả độ dẫn hai mẹ con cô đều thành Tiên. Tay Hà Tiên Cô cầm bông sen.

Trong cửa Đạo Cao-Đài ngày nay: Bà Giáo sư Hương Hồ (Huỳnh Thị Hồ) nguơn linh là Hà Tiên Cô, con gái của Bà Lâm Thị Thanh (Đầu sư Hương Thanh). Một hôm, Đức Chí Tôn giáng đàn gọi đến Bà Hương Hồ. Hôm ấy Bà đang hành kinh (kinh nguyệt) không dám lên lầu để trình diện, nên được Bà Bát Nương Diêu-Trì-Cung giáng đàn cho thi:

Thân phận phàm nhơn trược đã đành,
Chẳng vì nguyệt huyết kỵ anh linh.
Âm dương Nam Nữ hoa trêu bướm,
Hòa ái tương sanh thủy nhập bình.
Tạo hóa ví tay xây đảnh trí,
Chúng sanh nên mặt tạo khuôn hình.
Thợ trời đâu dễ chê đồ Tạo,
Tốt xấu sạch dơ tại miệng mình.

Đó là một quan niệm tiến bộ của nền Tân Tôn giáo.

 

 

HÀ THỦ TẠO

Thi văn dạy đạo có câu:

Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?
Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

 

 

HÀ VĂN THUẦN (Tên)

Vị số 52 (nơi bản viết tay 49bis) trong bản danh sách 247 vị ký tên vào Tờ Khai Đạo, là Hà văn Thuần đứng đầu danh sách bên Nam phái. Đây là tên mượn đứng bộ của Thái Lão-sư Trần Đạo Quang, mà hôm ấy không có mặt. Riêng tên ông Nguyễn văn Trò (số 155) được bổ sung thêm theo Thánh giáo ngày 3-10-1926. Ông là người được mượn tên Hà văn Thuần đứng tên vào Tờ Khai Đạo.

Đức Quyền Giáo-Tông Lê văn Trung nói: "Tôi có nạp tên mấy vị ấy tại Chánh phủ, khi tôi dâng Tờ Khai Đạo, là ngày 6 Octobre 1926. Khi ấy tôi có bạch với Ðấng Chí-Tôn rằng tôi không có thì giờ đủ mà đệ Tờ Khai Đạo cho ông Thái Lão Trần Ðạo Quang ký tên, Ðấng Chí-Tôn có dạy tôi cứ việc đem tên Trần-Ðạo-Quang vô Tờ Khai Đạo. Ðấng Chí-Tôn có phán rằng: "Con cứ đem tên nó vô Tờ Khai Đạo, Ðạo Quang nó không chối cãi đâu mà con phòng ngại". Thiệt từ ngày ấy, Anh Cả chúng ta là Trần Ðạo Quang hết lòng sốt sắng vì Ðạo nên Ðấng Chí-Tôn phong cho chức Chưởng Pháp trong Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ. (xem Chưởng Pháp Trần Đạo Quang)

 

 

HẠ

• HẠ Ở dưới. Rơi xuống, Hàng phục. Nhún nhường. HẠ

• HẠ Mùa thứ hai trong một năm. Một triều vua đời xưa của nước Tàu

• HẠ Nhà ở.

• HẠ Thong thả.

• HẠ Đem lễ vật mừng cho người ta. Chúc tụng.

 

 

HẠ CHỈ


E: Toissue an edit.
F: Publier un édit.

Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu:

"Kể từ hỗn độn sơ khai,
"Chí-Tôn hạ chỉ trước Đài Linh Tiêu."

 

 

HẠ CƠ TRỤC XUẤT

Đức Lý Giáo Tông nói: "Lão để mắt coi cái công bình phàm của chư Hiền Hữu giữa Tòa Tam Giáo là dường nào. Lão lại còn lấy công bình thiêng liêng mà để phương cho mỗi vị tội nhơn cải lỗi lấy mình. Ấy là thể lòng từ bi của Ðức Chí Tôn, bằng chẳng thì Lão đã hạ cơ trục xuất cả thảy."

 

 

HẠ GIỚI


E: Here-below.
F: Ici-bas.

(Hạ là thấp, là phần dưới, trái lại là Thượng giới; Giới là một cõi). Hạ giới là chỉ cõi trần này mà nhân loại đang sống.

Ngài Bảo Pháp có nói: "Sự kính thành Trời, Phật mà không biết lấy chi tỏ ra bề ngoài, nên mới dùng sự cúng kiếng. Trời, Phật có chứng là chứng tấc lòng thành, chớ không vì lễ mễ. Sách có câu: "Thiên Địa chí công, Thần minh ám sát, bất vị tế hưởng nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng họa". Tôi lại nhớ Thượng Đế có giáng cơ cho một bài như vầy:

Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,
Không cần hạ giái vọng cao ngôi.
Sang bần trối mặc, tâm là quí,
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi.

Xem đó thì biết sự thành kỉnh là quí nơi lòng chớ không quí nơi cúng kiếng".

 

 

HẠ HUYỆT


E: To set down the coffin into the grave.
F: Descendre le cercueil dans la fosse.

(Hạ là dưới, còn có nghĩa là đặt ở dưới, Huyệt là cái lỗ). Hạ Huyệt là đặt cái quan tài có xác người chết xuống một cái lỗ đã đào sẵn, gọi là huyệt) tức nhiên là chôn người chết vào đáy huyệt. Người dân gian còn quen nói là lễ "hạ rộng, động quan".

Nghi thức Tôn giáo: "Khi ra tới huyệt thì vị chứng Đàn và Đồng nhi đứng trước đầu huyệt tụng kinh Hạ-Huyệt (3 hiệp), mỗi hiệp cúi đầu, mãn hiệp thứ ba liền tụng ba biến Vãng-Sanh Thần-Chú. Hễ dứt thì "Niệm câu chú của Thầy" (3 lần).

KINH HẠ HUYỆT
(Giọng Nam-Ai)

Thức giấc mộng huỳnh-lương vừa mãn,
Tiếng phồn-ba hết thoáng bên tai.
Giải thi lánh chốn đọa-đày,
Chơn linh trong sạch ra ngoài Càn-Khôn.

Phép giải-oan độ hồn khỏi tội,
Phướn tiêu-diêu nắm mối trường-sanh.
Ơn nhờ hồng-phước Chí-Linh,
Lôi-Âm tự-toại, Bồng-Dinh hưởng nhàn.

Nhờ Hậu-Thổ xương tàn gìn-giữ,
Nghĩa CHÍ-TÔN tha thứ tiền-khiên.
Đưa tay vịn phép diệu-huyền,
Ngọc-Hư lập vị cửu tuyền lánh chơn.

Ngó Cực Lạc theo huờn Xá-lợi,
Cửu-Trùng-Thiên mở lối qui-nguyên.
Rỡ-ràng Phật cốt Tiên duyên,
Nước Cam-Lồ rửa sạch thuyền độ nhân.

(tụng 3 lần)
Thường Cư Nam Hải Quan-Âm Như-Lai

(Tụng kinh nầy rồi tụng tiếp Chú Vãng-Sanh)

 

 

HẠ MÌNH

Hạ mình là một hình thức nhượng bộ, khiêm nhường. Hạ mình không có nghĩa là nịnh hót, bợ đỡ làm mất nhân cách.

Người trên biết hạ mình là để độ rỗi, người dưới biết hạ mình là để được người trưởng thượng giáo hóa cho.

Nay buổi Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: danh xưng "Cao Đài Tiên-Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" là gồm cả Tam-giáo, gọi là Tam Giáo Qui Nguyên:

- Cao-Đài là tượng-trưng cho Nho-Giáo.
- Tiên-Ông là chỉ Tiên-Giáo.
- Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ Phật Giáo.

Chính Đấng Thượng-Đế đã nói về việc xưng danh ấy, tức nhiên quyền Chưởng quản Càn Khôn vũ trụ là "một mà ba, mà ba cũng như một" đầy đủ đức tính khiêm nhường.

Thầy dạy: "Các con coi bậc Chí-Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ-rỗi nhơn-sanh là thế nào, phải xưng là môt vị Tiên-Ông và Bồ-Tát là hai phẩm chót của Tiên Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối-cao tối trọng, còn Thầy thì khiêm-nhượng là thế nào. Vì vậy mà nhiều kẻ Môn-đệ cho Thầy là nhỏ. Cười..!. Hạnh khiêm-nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi Thiên-hạ đặng. Các con phải khiêm-nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói buổi lập Thánh-Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội-lỗi, đâu đến nhọc công Thầy. Ấy vậy, các con ráng độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui lòng hơn hết."

Tuy nhiên, khi khai Đạo phải xin phép chính phủ, Thầy than: "Các con nghe, Thầy chẳng buổi nào mà đành lòng cho các con hạ mình trước mặt ai hết, song ngày nay buộc phải vậy. Các con tức cấp lo phổ độ".

Đức Hộ-Pháp nói:"Cái khôn ngoan của mình là quỉ, nếu nó dìu đường mình đi theo nó thì mong gì đoạt được ngôi vị cao trọng đối phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật mà Chí-Tôn đã hứa: "Nếu các con có thể hơn Thầy, thì Thầy cũng hạ mình cho các con đoạt được ngôi vị", ấy là hàng phẩm của Đức Chí Tôn đối cả Chơn-Thần. Hại thay, họ không muốn nghe và không muốn biết, bởi không dám biết mình sợ e cho họ không biết, nên Quỉ tánh họ dục theo con đường thú, thành thử ra cái tấn tuồng tương-tàn, tương-sát nhau tại thế-gian này."

Đức Lý Giáo Tông nói: 18-6-Tân Mùi (dl: 01-8-1931)

"Thượng Trung Nhựt, Ngày nay Lão đã nhượng nửa quyền hành cho đó là có ý để mắt coi Hiền Hữu đúng phận cùng chăng? Lão hạ mình bỏ quyền Nhứt Trấn lãnh việc Giáo Tông mà lập vị cho đoàn em bước tới. Lão đã lắm phen thấy điều khó khăn mắc mỏ của phần ấy, nên ra tay giục loạn đặng phân rõ Chánh Tà, hầu giúp phương cho Hội Thánh trừ khử."

Pháp Chánh Truyền: "Chí Tôn đã đến thế, hạ mình đặng làm Thầy dạy dỗ chúng ta, hằng trông mong giờ nào chúng ta biết hòa hiệp nơi lòng bác ái từ tâm của Người, là hiệp làm một cùng Người, mới có đủ quyền hành độ tận chúng sanh qui hồi cựu vị; mà đã sáu năm chầy rồi, thân thể hỡi còn rời rã ngất ngơ, Chơn thần hỡi còn dật dờ mê muội, thì thế nào các Ðấng Thiêng Liêng hiệp một cùng đời cho đặng, hầu mong sửa cải Thiên Thơ, tụ hội các nguyên nhân đem vào cửa Ðạo".

 

 

HẠ NGUƠN

(Hạ là dưới, cũng là cuối cùng. Nguơn còn đọc là nguyên. Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài. Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim thì một nguơn là 12 Hội, một Hội = 30 Vận, một Vận = 12 Thế, một Thế = 30 năm). Hạ nguơn là phần cuối của một chu kỳ thời gian ấy.

Thánh Giáo ngày 13-10-Đinh Mùi (1967) của Đức Lý Đại Tiên giáng Cơ: "Trận đại họa này không riêng cho Thánh Điạ tại Việt-Nam-Quốc mà chung cho cả đia cầu, Thảm! Thảm! Thảm! Hạ Nguơn là Nguơn mạt kiếp, Nguơn điêu tàn, phải hiểu lý Đạo ẩn tàng trong hai chữ Hạ Nguơn: Hạ là dưới thấp, sau cùng là chữ Hạ gồm ý nghĩa: Tệ, Suy, Tàn, Hoại, là diệt chủng đó. Hạ Nguơn là Nguơn tiêu diệt. Vậy chư Đạo Hữu cố tâm tìm hiểu những lời dạy dỗ tiên tri của Thầy và Lão cùng các Đấng đã giáng dạy từ ngày khai Đạo tới giờ, những lời tiên tri đó ngày giờ tới sẽ ứng hiện từ từ, nạn tiêu diệt đã tới …Họa! …Thảm!. Cả Thế giới ngày nay còn trong vòng mê mệt, cả vinh hoa phù phiếm trong Đạo trở lại chuộng hư danh, lấy thế làm cứu cánh nên mới bày ra trò mị sanh chúng. Ôi! Tu thành hay không là nhờ tâm Đạo, chơn tâm, chơn tánh Thầy ban cho không lo trau-luyện, lại ham lợi chác quyền mến phẩm tước đến đỗi làm nhẹ thể Thánh-danh Thầy, nạn cân đai áo mão, đời cũng như Đạo đang là trường mộng ảo gạt người xa lần cội phước là cái nguơn thỉ chơn tâm. Thầy hằng thương con dại mới mở Đạo Kỳ Ba mà vớt chúng sanh. Hại thay! Thảm thay! Đám sanh linh vẫn ngơ ngơ, ngạnh ngạnh, dám đem tên tuổi Đạo Thầy mà đổi chác lợi quyền. Họa..Họa! Thảm..Thảm! Ôi! Lão vì lòng Từ-bi giáng dạy khuyên răn đủ lẽ, mà chúng sanh vẫn còn mê muội, theo Đạo mà chẳng tầm lý Đạo, lại chuộng hư danh, nên Đạo Thầy mới ra nông nỗi. Ngày giờ nhặt thúc, buổi Hạ nguơn cận kề cái chết, tâm thần mê mệt thì làm sao khai khiếu linh quang được mà mong sống sót. Ôi! Đời Đạo phải chịu nạn tai. Khổ! Khổ! Khổ! Nhơn sanh nào hay biết, cả một đám lố nhố lao nhao, ham vui thích lạ, nào hay đâu họa sầu đeo đẳng bên lưng, bước Đạo đã ngập ngừng, cánh hồng toan trở bước. Đại khảo… Khảo……Khảo"

"Đường Đạo mỗi ngày một bước tới, lòng thiện niệm của chúng sanh càng bữa càng dồi thêm. Lối Hạ nguơn nầy, nếu Đấng Chí Tôn chẳng lấy đức háo sanh mà gieo lần hạnh Đạo cho sanh linh thì mối Thiên tai chẳng chừa sót nhơn loại nơi cõi trần u-ám nầy. Buổi Hạ ngươn Tam Kỳ Phổ Độ là thời kỳ Ân xá tội tình cho toàn cả chúng sanh; lại nhơn buổi văn minh, nhơn loại thông đồng, càn khôn dĩ tận thức, cho nên Đức Chí Tôn dùng Huyền diệu Cơ bút giáng Cơ khai Đại Đạo, chủ nghĩa là độ tận 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa đoạ cõi hồng trần nên gọi là cơ quan cứu thế. Nếu Đức Chí-Tôn chiết chơn linh giáng thế như các vì Giáo chủ trước thì phải tá mẫu đầu thai, mang phàm thể hữu vi, lại nữa là Đạo khai trong nước Việt-Nam thì phải thọ sanh hình hài người Nam Việt thì có thể nào chuyển ba mối Đạo khắp Ngũ châu và toàn cầu thế giới đặng. Lại nữa các dân tộc trong Vạn quốc không thể hiệp đồng sự Tín ngưỡng làm một thì khó mà độ tận chúng sanh, cho nên Đức Chí-Tôn giáng bằng Huyền diệu Cơ Bút đặng làm cho các nước để trọn đức tin rằng một Đấng Chí-linh giáng thế cứu đời qui tụ cả khối tinh thần của nhơn loại duy nhất. Chỉ rõ bằng cớ như kỳ các Tôn giáo tại Luân đôn thì các nước đều công nhận Đạo Cao-Đài là chơn thật có thể qui nguyên Đại Đồng Tôn giáo và tại Toà Nội-các năm 1933 Hạ Nghị Viện có 424 vị thân sĩ cùng đồng bỏ thăm toàn công nhận Đạo Cao-Đài.

Đức Chí-Tôn chẳng giáng bằng xác thân mà lại dụng tánh đức lương sanh lập quyền Hội-Thánh thay hình thể hữu vi cho Đức Chí-Tôn, thay thế và lập Vạn linh đối phó cùng quyền Chí linh, ấy là cơ mầu nhiệm cứu vớt quần sanh giải thoát khỏi chốn sông mê bể khổ. Kỳ Hạ nguơn này dầu chúng sanh có tàn bạo hung ác thế nào cũng không làm hại xác thân của Đức Chí Tôn như các vì Giáo chủ buổi trước vậy. Bởi quyền Vạn linh có đủ nghị lực tinh thần lập khuôn viên Luật pháp xây chuyển cơ Đạo và cơ Đời cho thuận theo lẽ tuần hoàn của tạo hoá. Đức Chí-Tôn khai Đạo kỳ ba này giáng bằng Huyền diệu Cơ Bút là do nơi Thiên Thơ tiền định chuyển Đạo vô vi hiệp Tam giáo Ngũ chi làm một" (ĐHP: 1-7 Mậu-Dần – 1938)

Thánh ngôn thầy có báo trước: "Kỳ Hạ Nguơn hầu mãn, nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tan, mười phần chỉ còn lại một mà thôi.Than ôi! Buồn thôi! Nghĩ vì Thiên cơ đã định như vậy, thế nào mà cải cho đặng, duy có mở tấm lòng từ thiện, ăn năn sám hối, lo việc tu hành, đồng với nhau, cả quốc dân mà quì lụy khẩn cầu coi Trời có đoái tưởng đến chăng? Bởi thế nên Đức Ngọc Đế và chư Phật, chư Tiên, chư Thánh mới lập Hội Tam Kỳ Phổ Độ đặng cứu vớt chúng sanh đương linh đinh nơi bể khổ. Nếu gặp thuyền Bát Nhã mà không xuống không theo thì chắc thế nào cũng chơi vơi mé biển."

Theo Phật-giáo, Lão-giáo và Khổng-giáo thì đều dạy rằng: thời-kỳ này là thời-kỳ HẠ NGUƠN khiến đời tận diệt để chuyển xây trở lại Thượng-nguơn Thánh-đức với một kỷ nguyên mới. Đặc biệt Đức Thích-Ca Mâu-Ni khi lập giáo có cho biết đến năm 2.500 kỷ-nguyên Phật-giáo, là thời-kỳ để cho Đức Di-Lạc ra đời mở Hội-Long-Hoa lập một kỷ-nguyên mới đó vậy…Nơi Cung Hỗn-nguơn-Thiên chúng ta thấy đương giờ này đang trong Đệ Tứ chuyển. Thượng-nguơn Tứ chuyển giờ này giao quyền Chưởng-quản trị phần hồn và phần xác của Càn khôn vũ-trụ do nơi tay của Đức Di-Lạc Vương-Phật, mà trong Cung ấy là Cung chúng ta thấy mặt Đức Chí-Tôn, tức nhiên gần Đức Đại-Từ-Phụ hơn hết".

"Chơn-lý của Đạo Cao-Đài đã tỏ rõ cho toàn thể nhơn sanh đều hiểu lời tiên-tri của Phật-giáo đã nói: Qua cuối Hạ nguơn Đức Chí-Tôn đến để mở Hội-Long-Hoa đặng lập-vị cho Đức Di-Lạc Vương-Phật".

"Sứ-mạng thiêng-liêng của Hộ-Pháp là vì: Đức Chí-Tôn không đi nên mới có Hộ-Pháp của Ngài đến. Hộ-Pháp của Ngài đến cốt yếu thay-thế cho Ngài đặng lập vị cho Đức Di-Lạc Vương-Phật mở Hội-Long-Hoa, tức nhiên sứ-mạng của Hộ-Pháp là cầm cây cân Công-bình thiêng-liêng của Đức Chí-Tôn giao-phó, nắm cả tâm-lý tinh-thần nơi mặt địa-cầu này đặng hòa-giải, hầu sửa đương tâm đức của nhân-loại tức nhiên là Ngài đến trước khi mở Hội-Long-Hoa tạo Tiên, Phật. Tâm đức từ trong cửa Thánh của họ đặng họ từ-từ bước đến cửa Thánh của họ, đến phẩm-vị của họ tại mặt thế này".

Ngày giờ nào khi nhơn-sanh đã tiến bước, Bần-Đạo chỉ nói một người mà thôi đoạt được Phật-vị thì ngày ấy Hội-Long-Hoa mới mở, mà Hội-Long-Hoa chưa có mở thì Đức Di-Lạc chưa có đến".

Riêng Đức Hộ-Pháp thuyết về "luật nhân quả" tại Đền Thánh ngày 15 tháng 6 năm Mậu-Tý (dl: 21-7-1948)

"Hôm nay Bần Đạo giảng về Luật Nhân quả vay trả của nhân loại trong thời kỳ Hạ nguơn hầu mãn bước sang thời kỳ Thượng nguơn Thánh Đức. Các con rán ẩn nhẫn để Ông Trời hát từ màn cho các con coi; các con trông cho đời mau tới, tới chừng tới các con khóc mẹ khóc cha luôn. Bần Đạo nói thật cái quyền năng vô đối của Đức Chí-Tôn một nháy mắt không còn một sanh mạng ở quả địa cầu này, không cần một tích tắc đồng hồ, những nhân nào quả ấy trả cho rồi đặng lập đời Thánh Đức mà thôi."

 

 

HẠ NGUƠN MẠT KIẾP

Đức Hộ-Pháp nói: "Tam trấn Oai-nghiêm thay quyền cho Tam giáo lập Đạo vô-vi, không có hình thể như trước. Bởi nay là thời-kỳ Hạ-nguơn mạt kiếp tức là thời qui cổ, chính mình Đức Chí Tôn giáng trần dùng Huyền-diệu Cơ Bút mới biết đây: các nguyên nhân đắc Đạo trong hai kỳ trước đều tình nguyện nơi Ngọc-Hư-Cung, giáng trần chịu mạng lịnh nơi Đức Di-Lạc Vương-Phật lo cứu-rỗi 92 ức nguyên-nhân còn say đắm mùi trần. Do vậy, Tam Trấn Oai-Nghiêm là ba vị trấn-nhậm với một quyền-hành oai nghiêm. Ba vị này thay thế cho các vị Giáo-chủ của Nho, Thích, Đạo để phổ-độ chúng-sanh trong kỳ ba Ân-xá của Đức Chí Tôn".

 

 

HẠ NGUƠN TAM CHUYỂN


E: The last Cycle of the Third Manvantara.
F: Le dernier Cycle du Troisième Manvantara.

Hạ: Dưới, thấp, đem xuống, truyền xuống. NguơnChuyển: chỉ những khoảng thời gian rất dài, hằng vạn năm. Tam: thứ ba.

Theo lời thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp thì:

• Một Chuyển có 36 000 năm.

Một Chuyển có ba Nguơn: Thượng, Trung, Hạ.

• Mỗi Nguơn có 12 000 năm.

Địa cầu 68 của nhơn loại đã trải qua ba Chuyển:

• Chuyển thứ nhứt gọi là Nhứt Chuyển,
• Chuyển thứ nhì gọi là Nhị Chuyển,
• Chuyển thứ ba gọi là Tam Chuyển.

Mỗi Chuyển chia làm ba Nguơn (Nguyên): Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn.

Hạ nguơn Tam Chuyển là ở vào thời kỳ Hạ nguơn thuộc Chuyển thứ ba của Địa cầu 68 của nhơn loại.

Hết Hạ nguơn Tam chuyển thì bắt qua Thượng nguơn Tứ Chuyển. (Xem chi tiết: Tam nguơn, vần T)

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Nay là Hạ nguơn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.

 

 

HẠ TẦNG THẾ GIÁI

Đức Chí-Tôn dạy: "Rồi tới Hạ tầng Thế-giái, Tam Thiên thế giái, Ba ngàn quả tinh-cầu phân làm Tứ đại bộ châu rồi nối theo Thất thập nhị điạ, tức là Đệ nhứt cầu cho đến địa-cầu các con ở là địa-cầu 68."

 

 

HẠ THẾ

Hạ thế là xuống trần, tức là đầu thai làm người trong cõi trần này. Trong nền Đại-Đạo này Đức Hộ-Pháp là người nắm pháp Thiên Điều, nắm cơ mầu nhiệm của Đạo. Làm sao biết được? Chính Đức Hộ-Pháp thuật lại rằng: "Đời quá ư bạo-tàn, cho nên Đức Chí-Tôn mới giáng trần mở Đạo cho con cái biết: các ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật đều tình nguyện hạ thế cứu đời, xuống bao nhiêu lại càng mất bấy nhiêu. Trong thời-kỳ ấy Bần Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo".

Thầy dạy: "Nơi Bạch-Ngọc-Kinh hơn sáu chục năm trước chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thấy đại nộ Thầy, nên ra tình nguyện hạ thế cứu đời. Thầy coi bọn ấy lại còn làm tội lỗi hơn kẻ phàm xa lắm. Vậy vì cớ chi các con biết chăng? Các con có cả Ba Chánh Ðạo là Tam-Giáo các con biết tôn trọng; ngày nay lại thêm Chánh đạo nữa, các con biết ít nước nào đặng vậy".

 

 

HẠ THỌ - TRUNG THỌ - THƯỢNG THỌ

- - 上壽
E: First longevity – Second longevity – Third longevity.
F: Première longévité (61 ans) – Second longévité (70 ans) – Troisième longévité (80 ans).

Hạ: Dưới, thấp, đem xuống, truyền xuống. Thọ: sống lâu.

Tuổi thọ của con người được phân làm ba bực: Hạ thọ, Trung thọ và Thượng thọ. Thông thường, sự phân chia tuổi của ba bực như sau:

• Hạ thọ: từ 61 tuổi đến 69 tuổi.
• Trung thọ: từ 70 tuổi đến 79 tuổi.
• Thượng thọ: từ 80 tuổi đến 100 tuổi.

• Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh thì:

• 60 tuổi gọi là Hạ thọ.
• 70 tuổi gọi là Trung thọ.
• 80 tuổi gọi là Thượng thọ.

• Nhưng theo sách Ấu Học Quỳnh Lâm thì:

"Bá tuế viết Thượng thọ, bát thập viết Trung thọ, lục thập viết Hạ thọ; bát thập viết Điệt, cửu thập viết Mạo, bá tuế viết Kỳ hy."

Nghĩa là: Trăm tuổi gọi là Thượng thọ, 80 gọi là Trung thọ, 60 gọi là Hạ thọ; người 80 tuổi gọi là Điệt, 90 tuổi gọi là Mạo, 100 tuổi gọi là Kỳ Hy.

 

 

HẠ THỪA - THƯỢNG THỪA

-
E: The inferios category – The superios category.
F: La catégorie inférieur – La catégorie supérieure.

Hạ: Dưới, thấp, đem xuống, truyền xuống. Thừa: bực. Thượng: trên. Hạ thừa là bực thấp, Thượng thừa là bực cao.

Đạo Cao Đài chia các tín đồ làm hai bực: Hạ thừa và Thượng thừa. Không có Trung thừa.

Tân Luật: Chương II: Về người giữ đạo.

Điều thứ 12: Nhập môn rồi gọi là Tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực:

1. Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ hoặc 6 hoặc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giới Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Đại Đạo truyền bá. Bực nầy gọi là người giữ đạo mà thôi, vào phẩm Hạ thừa.

2. Một bực đã giữ trường trai, giới sát và Tứ Đại Điều Qui, gọi là vào phẩm Thượng thừa.

Điều thứ 13: Trong hàng Hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên được thọ truyền Bửu pháp, vào Tịnh Thất có người chỉ luyện đạo.

Điều thứ 14: Chức sắc cai trị trong Đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên, phải chọn trong bực người Thượng thừa mà thôi.

 

 

HẠ TIỆN

Đức Lý Giáo Tông dạy: "Ngày mai nầy, chiến sĩ Pháp hồi đã mãn học, Hiền Hữu làm ơn nói với họ rằng: Lão lấy làm cảm xúc tâm đạo của họ. Lại dặn thêm rằng: Tinh thần cao thượng, dầu hạ mình thế nào thì cao thượng vẫn là cao thượng; còn tinh thần hạ tiện, dầu tự tôn thế nào, hạ tiện vẫn là hạ tiện. Nói rằng Lão xin họ làm thế nào cho Đạo trở nên thanh bai tinh khiết. Ấy mới là người nghĩa của Lão".

 

 

HẠ TRẦN

Đức Hộ-Pháp nói: "Ngài lập giáo rồi còn một nỗi là kêu nó không đến. Ngài dạy mà không biết chi, chính mình Ngài đã nhiều lần hạ trần lập Đạo mà 92 ức nguyên nhân vẫn đui và điếc mà thôi, không biết để chun vào lòng yêu ái vô tận của Ngài, đặng hưởng cái hạnh phúc vô biên của Ngài đã đào tạo. Vì cớ cho nên Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật Mẫu và Bần Đạo đã thuyết minh là nắm quyền tạo hóa của Càn Khôn Vũ Trụ hữu hình trong tay Đức Phật-Mẫu. Có thể nói vào xác thịt chúng ta, để cho chúng ta nghe lời nói tinh thần thiêng liêng của Đức Chí Tôn, lời nói mà từ trước đến giờ chúng ta không thế gì nghe được, nhưng Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật Mẫu cơ quan siêu thoát ấy, phải làm thế nào đặng tận độ 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị. Muốn cho đạt đặng bí pháp siêu thoát ấy, chúng ta ngó thấy Đức Phật Mẫu đã làm gì? Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật-Mẫu nắm quyền hành để rước hết những cái chơn hồn khi đã đạt pháp tức nhiên đạt cơ siêu thoát, lập vị mình đặng vào cái địa vị Thiêng-liêng, đạt đặng thì phải về Hội-Yến cùng Đức Phật-Mẫu, lễ Diêu-Trì-Cung Hội Yến mà người ta gọi là Hội, nhưng thật ra chúng ta về hội hiệp vui cùng Mẹ sanh của chúng ta đó vậy. Đạo Pháp gọi là "Hội Yến Diêu Trì" tức nhiên chúng ta đã đạt đặng cơ siêu thoát nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống kia".

Đức Chí-Tôn đã phải than rằng: "Mỗi phen Thầy đau thảm khóc-lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Đạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẽ, xua đuổi, bắt buộc đến nỗi phải chịu cho các con giết chết."

 

 

HẠ TRUYỀN

Thầy dạy: "Quyền hành Chí Tôn của Thầy duy có quyền hành Vạn linh đối phó mà thôi.

Thái Bạch hằng giận các con rằng, mọi điều chi nó đã hiệp đồng cùng Hộ Pháp mà ban hành thì các con lại còn khi lịnh mà xem rẻ rúng. Vậy thì từ đây, hễ có mạng lịnh chi đã đủ hai đứa nó hạ truyền thì các con phải hội đủ Nhơn sanh, Hội Thánh và Thượng Hội mà xét nét cho cặn kẽ phân minh, đặng thi hành phận sự".

 

 

HẠ VÕ TRỊ THỦY (Tích)

Ông Hạ Võ được vua Thuấn sai đi xẻ núi đào sông, làm cho nước chảy thông ra biển, tránh lụt ngập cho dân, giúp cho nghề nông phát triển mau lẹ. Hạ Võ là con Ông Cổn. Ông Cổn làm quan dưới triều vua Nghiêu. Vua Nghiêu sai ông Cổn trị thủy, ông Cổn làm việc trong 9 năm nhưng không thành công được điều gì. Sau, Ông Thuấn lên nối ngôi vua Nghiêu, lại sai con Ông Cổn là Hạ Võ tiếp tục công việc trị thủy. Hạ Võ vất vả làm việc trong 10 năm, làm rất khẩn trương. Ông đã khai thông được các sông ngòi, đào thêm các kinh rạch, nhờ vậy, nước lụt thuận dòng chảy ra biển. Đất đai không còn bị ngập lụt nên dân chúng cày cấy trồng trọt được, làm cho Nông nghiệp phát triển mau lẹ. Nhờ công nghiệp to lớn nầy, Ông Hạ Võ được vua Thuấn phong làm chức Tư Không, điều khiển các quan. Vua Thuấn ở ngôi được 33 năm, lúc đó đã được 93 tuổi, nhận thấy con là Thương Quân bất tài, không phải là người hiền, nên vua Thuấn bắt chước vua Nghiêu, truyền ngôi cho người hiền là Ông Hạ Võ.

Vua Thuấn phủ dụ Ông Hạ Võ:

- Trời ra tai họa nước lụt, có ý răn ta, cũng là một cách phạt mà người đứng đầu của nước có trách nhiệm "tội qui ư trưởng".Nay bậc chăn dân phải biết:

- Tin giữ được lời nói, làm được thành công, chăm chỉ việc nước, tiết kiệm việc nhà, bụng không tự mãn, ấy là đức tốt. Không khoe tài, không khoe công, thiên hạ không ai cùng ngươi tranh công. Ta quí các đức tốt ấy. Lịch số của Trời nay đến lượt ngươi, ngươi đáng lên ngôi vua. Lòng người dễ thiên về vật dục, rất nguy! Lòng mến đạo thì rất nhỏ. Cần phải xét cho tinh, giữ một mực, tin theo đạo Trung Dung, không thái quá, không bất cập. Những lời nói vu vơ, không bằng cứ vào đâu, chớ nghe. Không mưu kế độc chuyên, phải hỏi ý kiến công chúng, Sáng ngày mùng 1 tháng Giêng, Ông Võ chịu mệnh ở miếu thờ vua Nghiêu, tổng xuất trăm quan, lên ngôi vua, nối đời vua Thuấn. Năm ấy là năm 2205 trước Tây lịch.

 

 

HẠC

Hạc là giống chim lớn, chân cao, cổ dài, da đỏ, lông trắng, bay rất nhanh, dáng thanh nhã, Hạc là loại chim sống lâu, có thể sống ngoài ngàn năm., thường được các vị Tiên dùng làm phương tiện để du hành đây đó.

 

 

 

Theo Hàn Thi ngoại truyện, thì loại hạc vàng có thể bay rất xa, mỗi lần cất cánh thì có thể bay hàng muôn dặm, vì thế những Linh hạc được các vị Thần Tiên dùng để cỡi hay kéo xe vân du trong các cõi giới. Đối với các thi nhân, Hạc cũng được làm xe để cỡi, Bạch Cư Dị viết: "Tằng bồi hạc ngự lưỡng tam Tiên" 曾陪鶴馭兩三仙 nghĩa là đã từng ngồi xe Hạc cùng với ba vị Tiên. Đời Đường thi sĩ La Ẩn cũng viết: "Thả bằng hạc giá tầm thương hải" 且憑鶴駕尋蒼海 nghĩa là nương theo xe hạc để đi tìm biển xanh.

Chuyện đắp Hạc trên Đoạn Trần Kiều:

Khi xây dựng Đoạn Trần Kiều thuộc Tỉnh Tây Ninh thì Đức Hộ Pháp dạy Tá Lý Lành đắp một con chim Hạc lớn, trên lưng chở hai thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Chim Hạc nầy, Đức Ngài dạy đắp ở nóc nhà mát nằm trên Đoạn Trần Kiều, đầu phải ngó về Thiên Hỷ Động (Trí Huệ Cung). Tá Lý Lành quên lời dặn của Đức Ngài, nên đắp chim hạc quay đầu ngược lại. Đến khi Đức Hộ Pháp đi Nhựt trở về, thấy vậy than rằng: Đây là thể pháp, Thầy dặn đầu chim hạc quay về Trí Huệ Cung là tuợng trưng "rước khách phàm nhập Thánh". Còn đắp hạc trở đầu ra, như vậy là "chở Thánh lâm phàm".

Đức Hộ Pháp kể chuyện thầy trò Tân Dân Tử rằng: Xưa kia Tân Dân Tử dạy Tôn Võ Tử học Đạo Tiên. Ngày nọ, hai Thầy trò cỡi Hạc vân du, Tân Dân Tử dặn Tôn Võ Tử: Thầy dặn con một điều, nếu lòng con còn mến tiếc việc phàm, nhứt là khi Hạc bay qua chợ Thiên Vương là quê hương của con, nếu lòng con tưởng trần thì chim bay không nổi, sẽ đáp xuống, con phải ở lại cõi trần, không về cùng Thầy được.

Tôn Võ Tử đã đạt phẩm Nhơn Tiên, mà tránh không khỏi nét phàm, nên khi Hạc bay ngang chợ Thiên Vương, thấy quê cũ lòng bắt ngậm ngùi, chim Hạc liền đáp xuống. Tôn Võ Tử ở lại chợ Thiên Vương, lòng buồn bã, tìm lại người vợ xưa thì đã quá 70 tuổi rồi. Ông nghĩ muốn tạo lại sự nghiệp thì đã muộn, muốn tái lập đạo nhơn luân thì vợ đã già, bèn than rằng: Ta đã theo Thầy học đạo Tiên trên 30 năm, nếu bây giờ ở luôn lại đây thì uổng công tu luyện, muốn theo Thầy thì chim Hạc không cất cánh nổi. Ôi!Lỡ Đạo lỡ Đời, ấy cũng vì ta không nghe lời Thầy, mà không nên Đạo.

Hạc còn đặt nơi tôn nghiêm, quí trọng:

Ngoài ra chim Hạc còn được đắp hình đứng trên lưng con Qui (rùa) để thờ nơi đình miếu. Có câu:

Thương thay thân phận con rùa,
Nơi đình đội Hạc, nơi chùa đội bia.

Chim Hạc còn được ví với sự phóng khoáng tự do như câu

"Hạc nội mây ngàn".

Thánh ngôn Hiệp Tuyển II. Đức Lý có dạy:.

"Lung kê hữu mễ than oa cận,
"Dã Hạc vô lương thiên địa khoan."


Nghĩa là: Gà lồng có lúa ăn hằng ngày, mà nồi nước sôi cận kề, không biết phải bị giết lúc nào. Chim Hạc ở đồng nội, tuy bữa đói bữa no, nhưng trời đất bao la mặc tình bay lượn.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ở nhà mượn đám mây xanh kịt,
Ðỡ gót nhờ con hạc trắng ngần.

 

 

HAI MỐI NỢ

Do tờ thỉnh-giáo của Giám-Đốc Đạo-Đức Học Đường Nguyễn-Hữu-Lương và Hồ-Thái-Bạch đề ngày 3-11-Tân-Mão.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"Đã rủi sanh đứng làm người ta đành chịu mang hai mối nợ: Nợ tâm-hồn là nợ ta thiếu Đức Chí-Tôn và nợ xác-thịt là nợ non-sông Tổ-Quốc của Phụ-Mẫu ta đồng sống đặng thọ bẩm vào nuôi dưỡng lấy ta. Hai mối nợ ấy không phương trốn tránh và cũng không mượn cái nầy đặng trừ cái nọ đặng. Thoảng như phải đi làm tôi-mọi nô lệ cho ai thì còn có phương thối-thoát và có lý binh-vực, trái lại người ta đưa quân-khí đặng bảo-thủ giang-sơn Tổ Quốc và giống-nòi thì mình phải cúi đầu vâng-lịnh. Biết đâu đường-lối người ta buộc mình sẽ là ngõ giải-thoát cho mình, cứ tuân và cứ đi, tiến tới đừng để ai trước mình mà uổng." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

 

 

HÃI KINH

Hãi kinh Hay kinh hãi là sợ sệt, sợ hãi.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,
"Đừng hãi kinh cầu đảo Chí-Tôn."

 

 

HÁM VỌNG

Thầy dạy: "Ừ, nhưng mà Liêm, Thầy phải bỏ phế cho CA thay thế nó, nhưng hạnh đức chẳng hoàn toàn vì lo hám vọng. Thái Bạch chưa định, nghe Thầy. Con, nếu biết thương nó, cũng nên gần gũi dạy dỗ cho nó đặng đôi chút đạo đức của con, rồi sau sẽ liệu".

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Biết bao kẻ gọi là thương Đạo,
Cận bên mình lừa đảo phản tâm.
Chờ khi trở giáo hại thầm,
Ghét ganh hám vọng chớ lầm kẻ ngoa.

 

 

HÀM Quẻ 31. Quẻ Trạch Sơn Hàm

 

 

 

Quẻ 31. Quẻ Quẻ Trạch Sơn Hàm

 

 

Tượng: Môn đệ của Chí-Tôn

Quẻ này là quẻ Trạch Sơn Hàm: Cấn hạ là nội Cấn. Đoài thượng là ngoại Đoài. Đoài là Trạch, Cấn là Sơn, nên tên quẻ đọc là Trạch Sơn Hàm.

Thứ-tự quẻ: Về thứ-tự quẻ thì 30 quẻ vừa qua là hết phần Thượng Kinh tức nhiên nói về phần Thiên-Đạo. Đây là khởi đầu Hạ Kinh nói về phần Thế Đạo trong số 34 quẻ còn lại: Cộng chung toàn bộ là 64 quẻ, diễn dịch đủ 64 vấn đề trong cái bao quát của Càn khôn vũ trụ và vạn-vật được giới hạn trong vấn đề Triết lý Cao-Đài.

Cụ Phan Bội-Châu chú-trọng về vấn-đề chính trị.

Ông Nguyễn-Mạnh-Bảo chuyên về nguyên tử học.

Riêng chúng tôi muốn khai triển cái chương-trình rộng lớn của Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ này không đâu là không có hình ảnh của Đạo Dịch để làm thành một Luận án DỊCH-LÝ CAO-ĐÀI hầu dâng lên những tâm hồn ái mộ Dịch học mà nơi đây đầy đủ cả: Chánh văn của Tiền Thánh để lại là kho tàng văn-hóa do Cụ Phan Bội Châu truyền lại qua Bộ Chu Dịch (2 quyển) và Bộ Dịch Kinh Tân khảo của ông Nguyễn Mạnh-Bảo (7 quyển). Riêng Bộ sách này được Đức Hộ Pháp Giáo Chủ Đạo Cao-Đài khen tặng rằng:

"Bần-Đạo cảm thấy Kinh này là cả một Triết học Á-đông độc nhứt vô nhị, mà chính là những Bí-pháp Cổ truyền của Đạo Cao-Đài, một Đạo giáo Việt-Nam hoàn toàn nảy sanh ở cái Triết lý hoàn toàn Á-Đông mà Kinh này gồm hết những lý thuyết cao siêu mà ông Nguyễn Mạnh Bảo đã nêu cao tinh thần Đại-Đạo".

Bởi trong hiện tại thì người Tôn-giáo rất am tường Giáo-lý, Giáo-pháp Đại-Đạo, còn trong đại chúng rất nhiều bậc tài hoa nắm vững Lý Dịch của Tiền Thánh đã để lại trên 6.000 năm nay là hai Bát-Quái Tiên-Thiên và Hậu Thiên. Duy kẻ hậu học vì tinh thần đam mê thấy được chỗ tương đồng giữa DỊCH và ĐẠO nên cố gắng kết liên hai nền Triết lý này lại, hầu mong được giới thiệu với các bậc cao minh để được nhận phần chỉ giáo thêm những chỗ còn thiếu sót, vì ai cũng nhận rằng đề tài DỊCH LÝ CAO ĐÀI không mới nhưng có vẻ lạ, vì xưa nay chưa ai đề cập đến, tức nhiên duy chỉ có Đạo Cao-Đài mới xuất hiện hai Bát Quái nữa là Trung Thiên Bát-Quái (hay Bát-Quái Đồ thiên) và Bát-Quái Hư-vô, là để vẽ nên con đường về với Thương-đế, mà chính nhờ Đức Chí-Tôn đến, Ngài ban thêm hai Bát-quái này. Cộng chung là bốn Bát-Quái (xem thêm Dịch-lý Cao-Đài Quyển I có nói rõ).

Vậy thì trong Quẻ Trạch Sơn Hàm này là do:

- Luật tự nhiên thì khởi đầu có trời đất rồi sau có vạn vật. Đã có vạn-vật rồi sau mới có trai gái. Có trai gái sau mới có Âm Dương giao kết mà thành phu phụ tức là vợ chồng, sau mới có công sinh dục mà thành cha con. Có cha con, sau có trật tự ở loài người mới nảy ra quân thần. Đã có quân thần sau mới nảy ra chế-độ làm thượng hạ. Đã có thượng hạ sau mới có chốn mà sắp đặt nên Lễ nghĩa.Thiên địa là nguyên-tố của vạn-vật, phu phụ là nguyên thuỷ của loài người. Do đó mà quẻ Càn, quẻ Khôn đặt ở đầu của Thượng Kinh, là đầu mối của Đạo Dịch.

Hạ Kinh lấy quẻ Hàm, quẻ Hằng làm khởi đầu.

Thế nên sau quẻ Hàm thì tiếp theo là quẻ Hằng để chỉ rõ Đạo Nhân-luân là trọng. Thiên Địa là nhị thể nên chia ra làm hai quẻ để hình dung cái Đạo của Trời Đất. Trai gái thời hợp nhau mà thành phu phụ nên quẻ Hàm với quẻ Hằng thảy là hai thể hợp lại làm một quẻ để chỉ rõ cái nghĩa của phu phụ.

Ca dao Việt-Nam cũng từng ví-von:

Thân Em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Em ngồi cành trúc, Em tựa cành mai,
Đông đào Tây liễu lấy ai bạn cùng?

Tức nhiên quẻ Hàm là do Đoài ở trên hợp với Cấn ở dưới là do cái cảm tình ban đầu của họ là Thiếu-Nữ: Đoài   với Thiếu Nam là Cấn   cảm nhau, lấy ý-nghĩa Nhị Thiếu cảm nhau mà đặt tên là quẻ Hàm, tức nhiên Cấn ở dưới có sự dừng chỉ mà trên là sự đẹp lòng.

Hàm tốc dã 含速也 (Hàm là nhanh chóng). Có cảm thì có ứng nên là nhanh chóng, điều này chứng tỏ cảm tình của người ta đi rất nhanh, đó là tính cách cảm kích của người. Người có tình cảm là nhờ ngũ quan tiếp dẫn những sự vật nhờ những quan năng của tâm trí mà tỏ vẻ đẹp lòng, cho nên gọi là cảm tình. Phàm cảm tình của người có sự liên hoà rất nhanh chóng như thể điện khí vậy. Ta có thể ví như những luồng cảm giác của người như luồng điện của vô tuyến rất nhanh chóng nên nói Hàm là nhanh chóng. Trong đời không chi nhạy bén bằng Nam Nữ cảm nhau.

Thánh nhân khi chế ra chữ thì ghép liền hai chữ Nữ (gái) Tử (trai) thành ra chữ Hiếu hay Hảo là thích. Do vậy mà đầu của Hạ kinh khởi bằng hai quẻ Hàm (cảm) và Hằng (lâu dài) tức nhiên là nhứt Nam, nhứt Nữ. Hàm thời thiếu nam phải ở dưới thiếu nữ, tức là Đoài trên mà Cấn dưới, vì mới bắt đầu Nam Nữ tương cảm, có như thế mới thành phu phụ. Nếu trái lại, bắt thiếu nữ cầu với thiếu nam và nữ phải hạ nam, mà nam không cảm làm sao nên được đạo Hàm? Đến như quẻ Hằng thời sau khi phu phụ đã thành rồi, nghĩa là vợ thừa thuận chồng, nến bấy giờ coi như họ đã trưởng thành thì trưởng nam ở trên, trưởng nữ ở dưới. Nếu trái lại trưởng nữ ở trên, trưởng nam ở dưới như ở quẻ Hàm là trái nghĩa phu phụ làm sao hằng cữu được?

Ý sắp quẻ với cách đặt tên quẻ của Thánh nhân là lý do như thế. Thượng kinh thủ Càn Khôn là nói chung nguyên lý của toàn vũ trụ. Hạ kinh thủ Hàm Hằng là bàn riêng về phần nhân sự. Nhưng nếu không có nhân sự thì lấy gì làm vũ-trụ? Bốn quẻ trên được Thánh nhân đặt định đều có ý nghĩa.

Tuy nhiên ngày nay Đạo Cao-Đài rộng mở là vạch sáng con đường tâm linh cho người noi bước trở về. Ngày xưa thì người xuống thế để học bài học Khổ cứ lẩn quẩn trong vòng Sanh, Lão, Bịnh, Tử mà thôi. Nay ngoài cái gánh cang thường là trọng, người còn phải biết cõi đời này là giả tạm, phải lo nong-nã hành trang để chuẩn bị cho bước hồi quê. Thế nên phải biết tìm một điểm tựa cho tâm hồn nữa. Vì vậy mà ở đây mới nói "tìm Đạo cũng như tìm người yêu".Tìm người phối ngẫu với mình chỉ trăm năm là mãn cuộc, còn tìm Đạo làm điểm tựa cho linh hồn là bất diệt với thời gian. Vậy người phải mau tiến bước mà làm "Học trò của ông Thầy Trời" hay là học trò Tiên, vì thế gian này chỉ có một: đó là làm Môn đệ của Đức Chí-Tôn.

Buổi này Đức Chí-Tôn đã ban cho Việt-Nam một mối Đạo nhà. Thế nên trong mỗi nhà đều có thờ Thầy biểu tượng bằng Thánh tượng Thiên nhãn vừa qua của Thời Ly, tức nhiên Đức Thượng-Đế đến nhận từng đứa con của Người khi biết đến Nhập môn làm Môn đệ. Vì vậy vấn đề Tìm Đạo trước đây ta cũng thấy tìm Đạo cũng như tìm người yêu.

Khi người Thanh niên Thiếu-nữ ở cái thời trong trắng trinh nguyên họ tìm nhau cốt để tìm một bóng hạnh phúc trao thân gởi phận cho nhau suốt cả cuộc đời, họ sẽ nương nhau trọn cuộc sống trăm năm nên duyên chồng vợ.

Tương-tự, khi tuổi đời đã hiểu, họ cũng tìm một nơi để nương tựa tâm hồn đó là Tìm Đạo. Vì chính cái nguồn cội Đạo này sẽ đưa họ về với Chân, Thiện, Mỹ; nhưng nếu chọn không đúng con đường Chánh Đạo mà lầm phải Tà đạo thì nguy cho một kiếp sanh bị lạc lối. Rồi đây sẽ bị mất cả chơn-linh, đời đời ăn-năn hối tiếc cũng không được. Thế nên phải biết biệt phân chánh tà, chơn giả.

Cũng như cuộc sống làm đôi nếu chọn không đúng đối tượng, thì cũng phải chịu một đời oan nghiệt, tuy nhiên cái "oan nghiệt" nó chỉ đeo đai trong kiếp sống hữu hình hữu hoại này thôi. Còn nếu chọn lầm về đường tu thì cái nguy hại gấp nhiều lần, vì cái oan nghiệt mà linh hồn phải chịu, nó khổ sở vô cùng, đời đời kiếp kiếp.

Thế nên quẻ Trạch sơn Hàm mới được chọn làm đề-tài cho sự tượng-trưng là Môn-Đệ của Đức Chí-Tôn:

Chính Thầy cũng đã nói ngày 13 Mars 1926:

"Muốn xứng đáng làm Môn-đệ Thầy là khổ hạnh lắm".

"Thầy cho các con biết trước, đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả Môn đệ..."

 

 

HÀM NGHI (Vua nhà Nguyễn)

 

 

 

 

Tiểu sử: Vua Hàm Nghi tức là Chánh Mông, em Vua Kiến Phúc đã mất, ông lên thay, huý là Ưng Lịch, con thứ của Kiến Thái Vương, cháu năm đời của Vua Gia Long, lên ngôi Hoàng Đế, kế vị cho Vua Kiến Phúc ngày 27-6 năm Giáp Thân (1884) đặt niên hiệu là HÀM NGHI, lúc ấy Ngài mới lên 12 tuổi. Trong triều đình thì bọn gian thần chuyên quyền, loạn chánh. Ngoài biên cương quân Pháp đã chiếm cứ khắp nơi từ Nam chí Bắc. Triều cương nghiêng ngửa, xã tắc nguy vong. Bấy giờ Khâm sứ Pháp là Rheinart trách cứ rằng việc đặt Vua Hàm Nghi lên ngôi không có xin phép nước Pháp và Đại tá Guerrier đem 600 quân cùng một đội pháo binh từ Bắc vào Huế để thị uy. Sau đó Rheinart và Guerrier sang làm Lễ phong Vương cho Vua Hàm Nghi rồi mới rút binh sĩ trở về Hà nội. Pháp liền dốc toàn lực để tiêu diệt quân kháng chiến của CẦN VƯƠNG mà thái độ giờ phút đó rất khả nghi và quan ngại. Thống Tướng Pháp là De Courcy vừa sang tới Bắc kỳ liền đem 1.000 quân vào Huế bàn việc giao thiệp giữa Ông và Nam triều, đòi các quan phụ chính Đại thần phải sang tận Sứ quán Pháp để Hội thương. Viên Tướng Pháp còn bắt Nam triều ra lịnh cho sĩ phu và dân chúng tùng phục hoàn toàn Chính thể Bảo hộ của Pháp. Y lại có ý nhân dịp này bắt ông Tôn Thất Thuyết ngay giữa cuộc đàm phán vì ông này là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp. THUYẾT biết mưu này liền cáo bịnh không sang chỉ để cho Nguyễn văn Tường và các vị quan khác đến dự, còn Ông thì đi kiểm soát các đồn trại và kho thuốc súng. Pháp khao thưởng quân đội và định sáng hôm sau vây bộ binh bắt Thuyết, thì vào giờ đêm Thuyết cho bắn một phát đại bác làm hiệu lệnh để tấn công vào Đồn Mang Cá và Sứ quán Pháp. Cuộc náo loạn vô cùng, ông Nguyễn văn Tường thấy thế nguy liền vào triều nội yêu cầu Vua Hàm Nghi xuất Cung. Dù thế trận phía ta bị thiệt hại nặng về mọi mặt nhưng một Tướng Pháp tham gia trận đánh này vẫn khen quân ta thiện nghệ phòng thủ vì các đường giao thông có đào hầm hố hoặc chẹn bằng các chướng ngại vật.

"Đêm 22-5-Ất Dậu (1885) quan quân đánh nhau với quân Pháp lần cuối cùng tại Thuận Hoá. Kinh thành thất thủ, Vua lìa cung Cấm, thoát tay quân thù. Những triều thần trung nghĩa phò xa giá chạy ra Quảng Trị lên Tân Sở sơn phòng rồi lần ra Quảng Bình, lên xứ Mọi. Hịch Cần Vương ban khắp các Tỉnh. Sĩ dân toàn quốc khởi nghĩa Cần Vương, kháng cự ngoại xâm từ năm Ất Dậu, thề nguyền sống chết thâu hồi lãnh thổ, khôi phục hoàng đồ.

Than ôi! Vận nước suy vi, anh hùng thất thủ.! Tình đời đen bạc, đã có những bậc trung thần liệt sĩ cứu nước phò Vua, ắt cũng có những phường gian manh phản nghịch, hại Vua bán nước. Khi Vua Hàm Nghi chạy khỏi Kinh thành, quân Pháp sai bọn gian thần đuổi theo rước Ngài trở về, nhưng xa giá mỗi ngày đi xa hơn. Biết nhà Vua không hồi loan, quân Pháp bèn chia đường rượt bắt. Từ đó Ngài trải qua một đoạn đường vô cùng gian truân, dãi nắng dầm mưa nằm gai nếm mật. Nghe tin quân thù gần đến, Vua tôi bỏ Tân Sở, chạy qua Báo Đài, chạy trở về Tân Sở. Nhưng chạy đi đâu, tung tích nhà Vua cũng bị bọn gian phản dò biết. Quân Pháp lại càng đuổi theo ráo riết. Từ Tân Sở vượt ngọn Mai Lĩnh chạy lên Lao Bảo lại băng đường núi ra Hàm Thao, định thẳng ra Sơn Phòng Hà Tịnh, liên lạc với lực lượng Cần Vương của ông Phan Đình Phùng, nhưng lại có tin báo động, Vua lại phải chạy qua xứ Mọi Voi Tân, một nơi hiểm hóc độc địa, giáp giới nước Lào. Tới Voi Tân, trú tại làng Khê Tả Bảo, trong một mái nhà tranh, kiểm điểm lại tả hữu tùng vong, Vua chỉ thấy vỏn vẹn mười người trong số hơn một trăm người khi ra đi. Các kiện tướng đều chia đường đóng giữ những nơi hiểm yếu, để đoạn hậu cho Vua chạy, Đề đốc Lê Trực trấn mạn Thanh Thuỷ, quân của ông Tôn Thất Đạm trấn ở Kỳ Anh, thuộc Tỉnh Hà Tịnh để chận đường quân thù từ miền Bắc kéo vào. Ông Nguyễn Phạm Tuân ngày đêm tuần tiễu vùng kế cận xứ Mọi Voi Tân. Ông Tôn Thất Thiệp thì phò Vua, chầu hầu bên cạnh. Các văn thần, võ tướng khác thì đều phân tán các nơi, chiêu tập binh mã, một số tùng vong khác không chịu nỗi cảnh cơ cực lên thác xuống ghềnh, phải nửa đường bỏ cuộc, lánh thân vào chốn thôn quê. Lại một sồ nữa, ham mồi phú quí bỏ về thành thị đầu giặc cầu vinh. Ẩn náo tại làng Khê Tả Bảo, vua tôi được yên một thời gian, nhưng sơn lâm chướng khí, nước độc lao lư, Đức Vua lâm bịnh thương hàn, cơ hồ không tránh khỏi tay tử thần, không thuốc thang điều dưỡng, luôn luôn sống trong ảo mộng, nỗi thê thảm của Ngài lại càng gấp bội. Quân Pháp nhứt diện đuổi bắt nhà Vua, nhứt diện buộc triều đình khuyến dụ Ngài trở về. Hoàng Kế Viêm lãnh ấn Kinh lược Đại sứ, đem quân ra thủ tại Tỉnh Quảng Bình. Nhơn danh triều đình, hứa nếu Ngài thôi kháng chiến sẽ được phong chức Tổng trấn ba Tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và được cấp bổng lộc theo Tước Vương. Các cựu Thần đều được phục nguyên chức. Nhưng sau tám tháng dùng hết mưu kế quỉ quyệt để thành công nhưng Hoàng Kế Viêm thất bại hoàn toàn: Vua tôi quyết tâm kháng chiến. Đánh nhau với các lực lượng Cần Vương, quân địch hao binh tốn tướng, bèn thay đổi chiến lược. Chúng án binh tại giữa Tỉnh Quảng bình, lập Đồn Minh Cầm, chống chế hệ thống liên lạc giữa các Tướng và "Dĩ giặc đãi lao" thừa cơ đánh úp những cánh quân núng thế. Ngày tháng qua, lực lượng Cần Vương các nơi đều lần hồi tiêu hao. Đồn Thanh Thuỷ đã bị phá vỡ, ông Lê Trực phải rút quân vào rừng sâu. Ông Tôn Thất Đạm tuy vẫn cầm cự nhưng thế lực mỗi ngày mỗi suy vi. Ông Nguyễn Phạm Tuân đã không giữ nỗi trận thế và trong trận cuối cùng đã đền ơn Vua nợ nước.

Nhưng mặc dầu tin tức bất lợi nặng nề, mặc dầu bịnh hoạn liên miên, mặc dầu ăn sương uống gió lo sợ trăm bề, chí phục thù của Đức Vua vẫn không nao núng. Trái lại, phút cuối cùng của khoản đời tự do ngắn ngủi của Ngài biểu lộ một khí phách, một tinh thần hy sinh vô cùng xứng đáng để cho thần dân tưởng nhớ, để cho hậu thế tôn sùng. Năm ấy là năm Mậu Tý (1888) Một tên suất đội hầu cận nhà Vua, thông đồng với tên tù trưởng xứ Mọi Voi Tân, lén ra Đồn Minh Cầm, đem đường chỉ lối cho quân thù đi lọt vào làng Khê Tả Bảo. Đêm 26-9 Âm lịch, quân nghịch vây kín túp lều tranh, trong khi Vua tôi đang ngủ. Hoảng dậy thấy tên tù trưởng, biết chính nó đã phản bội, bèn rút thanh bảo kiếm đưa cho nó và bảo: "Mày giết Tao đi, còn hơn đưa Tao về nạp cho Tây". Trong khi ấy ông Tôn Thất Thiệp bị Việt gian đâm sau lưng, chết tại trận (Có sách chép: Ông Tôn Thất Thiệp vùng dậy tuốt gươm, định giết Vua rồi tự sát như kế hoạch đã định trước, để Vua khỏi lọt vào tay của địch, nhưng viên Chỉ huy quân Pháp lanh mắt bắn hạ ông trước). Vua liền bị ôm choàng và bắt sống.

Từ khi bị bắt, Ngài không nói năng gì nữa cả. Quân Pháp đồ lưu Ngài qua xứ Algérie một thuộc địa Pháp lúc bấy giờ tại Bắc Phi châu. Mặc dầu người Pháp tỏ lòng cung kính lấy Vương lễ mà tiếp đãi, Ngài cũng một mực làm thinh. Nước mất nhà tan, tấm thân đày đoạ kể làm sao xiết nỗi âm thầm tủi nhục của vì Vương hào kiệt. Từ đó về sau, suốt 58 năm, cho đến năm 1947, Ngài thăng hà tại nơi đất khách quê người,ngậm hờn nơi chín suối.

Ngày nay, trong khi nước nhà lại phải cam go tranh đấu cho chủ quyền tự do, Đại-Đạo Cao-Đài trùng tu BÁO QUỐC TỪ mười phần tráng lệ, phụng thờ anh linh Ngài, để treo cao bức gương thiên cổ của khí phách dân tộc, thật là môt cử chỉ có ý nghĩa sâu xa. Trong những chiến sĩ tùng vong, hai anh em: Tôn Thất Thiệp (bị giặc giết lén) và ông Tôn Thất Đạm (tự tử khi nghe tin Đức hàm Nghi bị bắt), được sử sách ghi chép trung liệt vô song, cam phần lao khó, phò Vua cho đến bước đường cùng, lấy cái chết mà đền Ơn Vua nợ nước. Sử cũng liệt vào hàng trung kiên báo quốc. Các tướng lãnh Cần Vương khác, khắp nơi như ông Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân, Trần xuân Soạn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Hoa Thám, không kể gian truân nguy hiểm, không ham tước lộc của quân thù mà quên đại nghĩa, không vì thế cùng lực kiệt mà nản chí, người tử nạn trước đã dành phần, người sống sót vẫn bền gan kháng chiến…hoặc tìm chốn thâm sơn mai danh ẩn tích, hoặc đem tàn quân qua tàu quyết không khuất phục quân thù." (tài liệu của Ưng An, Thúc Dật Thị).

Trong khi đó, ông THUYẾT đem Vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị) người Pháp treo giải 2.000 lạng bạc cái đầu của Ông Thuyết và ai bắt được Vua Hàm Nghi thì được thưởng 500 lạng. Cuộc bôn đào của Vua Hàm Nghi vô cùng nguy nan. Còn Ông Thuyết thì sang Trung Hoa để cầu viện nhà Thanh nhưng không may cho Ông phải trút hơi thở cuối cùng nơi đất khách Long Châu.

Còn Vua Hàm Nghi dù được quan tướng trung can gìn giữ, bảo mật hoàn toàn nhưng không trừ được kẻ gian, ham lợi danh bổng lộc là Tướng Trương Quang Ngọc. Khi vua Hàm Nghi nhận ra được Ngọc, giận uất vô cùng, nhưng rồi Ngài cũng bị hắn bắt đem về nộp cho Đại Uý Pháp Boulangier, ngay lúc đó hắn đưa Ngài về đồn Thuận-bài gần Chợ Đồn bên Tả ngạn sông Gianh. Rồi Ngài bị đưa xuống tàu về Thuận An và sau đó bị đày đi Algérie, mỗi năm Pháp cấp cho 2.000 Phật lăng (tiền Pháp). Bấy giờ Ngài mới 16 tuổi (hiện giờ Ngài được thờ nơi Báo-Quốc-Từ thuộc Tỉnh Tây Ninh)

Vua Hàm-Nghi giáng cơ:

Việt Nam Ðại Quốc HÀM NGHI

"Cô nhân thiệt cảm đội ơn sâu của Ngự Mã Thiên Quân, quí Thiên Sứ và Hội Thánh. Nhân nhìn lại xã tắc mà đau lòng, tuy trước đã chẳng nên trò, nay vẫn vậy.Thật là tang thương quá đỗi! cho Thi:

Nhìn ra xe ngựa cõi phồn ba,
Gióng trống trời Nam hiệp nước nhà.
Ðem mối cựu thù tô xã tắc,
Ðịnh giềng tân thế cứu san hà.
Vì do quyền lợi nên đành vậy,
Ấy bởi hư danh mới thế à!
Cứu khổ từ đây nhờ Ðạo pháp,
An dân lập quốc tại Kỳ ba.

Cô-nhân xin cảm ơn và xin được phép lui gót."

 

 

HÀM PHẨM


E: The honorary title.
F: Le titre honoraire.

Hàm: Có phẩm tước mà không có quyền hành. Phẩm: phẩm tước. Hàm phẩm là phẩm tước danh dự nhưng không có quyền hành.

Những Chức sắc lớn tuổi, không còn đủ sức khỏe đi hành đạo để cầm quyền hành chánh, phổ độ nhơn sanh thì được phong vào Hàm phẩm.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938): Những vị nào đủ công nghiệp mà quá lục tuần thì cũng đặng dự vào sổ cầu phong hàm phẩm, nhưng cũng phải chịu y theo điều kiện thuộc về hạng ân phong vậy.

 

 

HÀM PHONG


E: The honorary dignitaries.
F: Les dignitaires honoraires.

Hàm: Có phẩm tước mà không có quyền hành. Phong: vua ban phẩm tước cho bề tôi.

Chức sắc Hàm phong là những Chức sắc có phẩm vị nhưng vì tuổi già sức yếu nên xin hồi hưu dưỡng lão.

Hội Thánh Hàm phong là một tổ chức của Đạo gồm tất cả các Chức sắc Hàm phong nam nữ.

 

 

HÃM HẠI

Hãm: Mưu hại, mắc vào. Hại: làm hao tổn. Hãm hại là đặt mưu kế để làm hại người.

Kinh Sám Hối có câu:

"Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại
"Đừng gian mưu hãm-hại người hiền."

 

 

HÀN TRƯƠNG TỬ (hay Tương Tử Bát Tiên)

Là Nguơn linh của ông Vương Quan Kỳ (1880 - 1940) Giáo sư Thượng Kỳ Thanh

 

 

 

Hàn Trương Tử sinh vào đời Đường, người huyện Nam Dương kêu Hàn Dũ (Xương Lê) bằng chú.

Thuở nhỏ, theo Lữ Đồng Tân học đạo Tiên. Sau về quê gặp ngày sinh nhật Hàn Dũ. Hàn Dũ có ý trách Hàn Trương bỏ nhà đi lưu lạc. Hàn Trương liền thưa rằng:

"Xin chú đừng giận, cháu có nghề nầy xin kính mừng sinh nhựt". Nói xong, Hàn Trương nhóm đất rồi trùm lại, giây lát dở ra nhiều hoa nở, mỗi cánh đều có chữ Vàng:

"Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại
"Tuyết ửng Lam quan mã bất tiền"

Xương Lê không hiểu gì cả. Sau vì can vua sùng Đạo Phật mà bị đày ra Triều Châu. Khi đến Tần Lĩnh, Lam quan, Hàn Dũ được Hàn Trương ra đón. Hàn Dũ nhờ đó biết được ý hai câu thơ của Hàn Trương bèn tiếp:

Nhứt phong triêu tấu Cửu Trùng Thiên
Tịch phiến Triều Câu lộ bát thiên
Dục vị Thánh Triều trừ tệ sự
Khảm tương suy hũ tích tàn niên
Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại
Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền

Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
Hảo thu ngô cốt chướng giang biên

Dịch thơ :

Buổi sớm dâng vua một bức thư
Triều Châu chiều đến bị đày lưu
Muốn vì Thánh Chúa trừ tệ nạn
Đâu tiếc cuối đời vận đã suy
Tần Lĩnh mây che nhà chốn ấy
Ải Lam tuyết phủ ngựa không đi
Biết mi hảo ý từ xa đến
Thu nhặt cốt ta ở bến ni!

Thấy Hàn Trương đoán không sai, từ đó Hàn Dũ mới trọng Đạo. Rạng ngày, Hàn Trương dâng cho chú một bầu thuốc nói: Chú uống thuốc nầy khỏi bịnh và không bao lâu nữa được phục chức nhờ bài "Văn Tế cá sấu". Nói rồi, Hàn Trương từ biệt chú. Về sau, nhờ vua Tề đuổi được cá sấu, Hàn Dũ được phục chức cũ.

Hàn Trương thành Tiên, người đời gọi là Hàn Trương Tử hay Tương Tử, tay cầm ống tiêu. Bản tính của Hàn Tương Tử là thích phóng túng tiêu dao.

Hậu thân là: Ông VƯƠNG QUAN KỲ người tỉnh Chợ Lớn, cháu nội của Thống Chế Vương Quan Hạc, ông ngoại là nhà Nho yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt. Ông là tri phủ Sở Thuế Thân Sài gòn. Song thân ông Kỳ là Vương Quan Để và Bà Huỳnh Thị Bảy. Ông học Lycée Chasseloup đậu Diplôme, cùng làm việc với ông Ngô Văn Chiêu ở Dinh Thống đốc Nam Kỳ. Ông theo Đạo được Đức Chí Tôn phong phẩm Giáo sư (26-4-1926) và cho bài thi:

Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân,
Niên đáo tân hề đạo khả tân.
Vô lao công quả tri đương tác,
Niên hóa niên hề đạo tối tân.

Ông Kỳ là bào đệ của Ông Vương Quan Trân - thân sinh cô Vương Thị Lễ (tức Thất Nương Diêu Trì Cung) hướng dẫn Tam vị Thiên sứ học Đạo buổi đầu. Trong "Con đường Thiêng Liêng hằng sống" Đức Phạm Hộ Pháp nói về ông:

"Bần Đạo nói rõ người ấy là Vương Quan Kỳ chú ruột của Thất Nương. Người mở Đạo mà chẳng biết Đạo là gì hết và cả hành tàng nếu chúng ta thấy sẽ lên án là Tả Đạo Bàn Môn chắc hẳn vậy.

Người đó bận Thiên phục giống hình đội Mão Giáo sư, áo tốt lại vắt vai, mão cầm nơi tay, bận quần cụt ở trần đi ngật ngờ, ngật ngưởng cười một mình không biết cười cái gì, đi ngang qua Bát Quái Đài, như không vậy."

Đó là nguơn linh Hàn Trương Tử thích phóng túng tiêu dao. Nay: Ông Kỳ thọ phong Giáo-Sư ngày 26-4-1926. Ông là Chú của cô Vương Thị Lễ. Cô Lễ đến với Tam Kỳ Phổ Độ trong buổi đầu tiên, tá danh là Đoàn Ngọc Quế tức Thất Nương Diêu-Trì-Cung hướng dẫn các ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư và Cao-Hoài-Sang học Đạo buổi đầu.

Ngày 15-3 Bính-Dần, ông Vương Quan-Kỳ được phong chức "Tiên đắc Lang quân nhậm Thuyết Đạo Giáo sư". Rồi ông được Thiên-phong Giáo-sư phái Thượng, tức là Thượng-Kỳ Thanh ngày 14-5 Bính-Dần.

Đến rằm tháng 10 Bính Dần (dl 19-11-1926) lại xảy ra việc thử thách: Cô Vương Thanh Chi là ái nữ Ngài Vương Quan Kỳ bị "nhập xác" tạo nên chuyện biến trong ngày Lễ khai Đạo này tại Thánh Thất Gò-Kén. Có lẽ vì vậy thêm một lý do nữa khiến Ngài Vương Quan Kỳ chán nản và lơi dần việc Đạo sự mới ra đến nỗi. Nhưng đến ngày 14-11 Bính-Dần (18-12-1926) thì Đức Lý giáng dạy: "Thượng-Kỳ-Thanh bị sụt chức làm Giáo Hữu. Như không tuân lịnh xuất ngoại".

Đến ngày 18-11 Bính-Dần (22-12-1926)

Đức Lý dạy: "Thượng-Trung-Nhựt, Hiền-hữu viết thơ cho mấy Thánh Thất lục tỉnh nói Thượng-Kỳ Thanh bị trục xuất ra khỏi hàng Môn-đệ chẳng quyền-hành truyền Đạo nữa. Như nó chẳng tin nghe lời bị phạt Tả đạo bàng môn thì chịu, nghe à! Đã Lập Pháp mà nó muốn làm chi thì làm như buổi trước vậy hoài, thì bị phạm Thiên-điều tránh sao cho khỏi tội. Hộ-Pháp Hiền-hữu khá an lòng".

Qua ngày 28-11 Bính-Dần (1-1-1927) thì:

Đức Lý giáng dạy:

"Thượng-Trung-Nhựt, Hiền-Hữu từ đây coi Thượng Kỳ Thanh như một Môn Đệ vậy thôi, chứ chức Giáo-Hữu cũng cất luôn nữa. Thầy để lời xin tha mà Pháp-luật đã phạm tha sao cho được. Năm 1930, Giáo-Sư Thượng Kỳ-Thanh tức là Vương Quan-Kỳ, không tuân lịnh Toà Thánh Tây-Ninh áp dụng nghi lễ mới, nên tách ra lập Chi phái, lập tại Thánh Thất Cầu-Kho".

Hàn Tương Tử:

Đêm 17 tháng 12 năm Tân Mùi (1931).

HÀN mặc sẵn dành Đạo để thông,
TƯƠNG giang rõ ngọn phải nhiều công.
TỬ tôn noi dấu nền tu niệm,
Đắc thất nên hư cũng tại lòng.
Chỉ dạy người phàm trau tánh sáng,
Giáng khuyên kẻ tục sửa mình trong.
Đàn qua Khứu lãnh bao nhiêu dặm,
Khuyên thế tu hành học chữ không.

Phàm làm người tại thế gian là chốn đua tranh danh lợi, hễ có danh có lợi thì có buồn, có vui, làm quan tổn đức, làøm giàu bất nhơn, ít ai đặng thanh liêm chưởng đức. Hễ đắm vào 2 đường ấy thì buộc sự oan gia trái chủ. Khi giàu thiếu chi thê thiếp, thân bằng cố hữu; khi sang chẳng dứt kẻ hầu người hạ; khi nghèo thê thiếp vắng hoe, bà con biếng ngó; buổi công danh lỡ vận, hầu hạ lánh xa, xe tàn biếng chực.

Xét lại cuộc giàu sang ở thế như huỳnh lương chi mộng, khuyên thế xét cho kỹ càng, lo tu cho sớm mà hưởng phước thanh nhàn, khỏi lo luân hồi vay trả.

THI

Giàu sang danh lợi có ra chi,
Khuyên thế lo tu mới kịp thì.
Gặp lúc mưa thu vui ngã ngớn,
Nhằm hồi nắng hạ não sầu bi.
Tiền muôn lúa lẫm nhiều thê thiếp,
Ruộng mất vườn hư hết thị tỳ.
Mê chốn phồn ba chưa tỉnh giấc,
Ăn năn nào kịp buổi chung qui.

(Trích trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, trang 73)

 

 

HANG SÂU VỰC THẴM

Thầy dạy: "Công Thầy bố hóa, bị lũ học trò tham lam ngu xuẩn, dục lợi cầu danh làm cho tà quái lẫn vào, dìu dắt vào chốn hang sâu vực thẳm; thế mà hồn Ðạo phải chịu ngàn năm phưởng phất."

 

 

HẠNG THÁC (Tên)

Hạng Thác là tên của một cậu bé siêu phàm mà một lần Đức Khổng Tử gặp qua cũng phải khen và ngạc nhiên rằng: "Hậu sinh khả úy" tức nhiên kẻ hậu sinh đáng sợ thật!

Ông sợ ở Hạng Thác điều gì? Truyền thuyết nói rằng một hôm Đức Khổng Tử dạo chơi, được học trò đẩy xe cho Ngài, khi đến một nơi gặp một cậu bé đang ngồi chơi giữa đường và cắm cúi đắp một bức thành bằng cát. Các học trò của Đức Khổng Tử bảo cậu bé tráhh xa ra để xe đi, cậu bé nhìn đoàn người và hỏi: Xe tránh thành hay thành phải tránh xe? Đức Khổng Tử nghe lời nói hay hay của cậu bé liền xuống xe hỏi tên của cậu: được biết tên là Hạng Thác mới lên 5 tuổi. Đức Khổng Tử mời lên xe cùng Ngài đi dạo chơi.

Cậu ta từ chối: Tôi còn cha mẹ phải phụng dưỡng, không thể đi chơi được.

Đức Khổng mời cậu bé cùng đánh cờ với Ngài, cậu nói:

- Tôi nghe xưa nay dầu bậc Thiên-Tử đến thứ dân mà đam mê cờ bạc đều có hại. Vua ham cờ thì bỏ bê việc nước, quan mê cờ lãng việc dân, dân mê cờ lãng việc gia đình. Vậy thì việc cờ bạc tôi không thể hầu với ông được.

Đức Khổng ôn tồn hơn: vậy cậu hãy cùng ta bàn việc chánh trị. - Việc chánh trị thì đã có vua hiền tôi sáng lo liệu rồi hà tất gì phải đợi đến tôi!

Vậy cậu hãy cùng ta luận kim suy cổ?

- Việc kim cổ thì đã có nhiều nhà làm sử trung thành ghi chép như Đổng Hồ với ngọn bút trung thực chép cả rồi!

Cậu còn bé mà đã thông minh như vậy ắt phải được xuất thân từ trong gia đình có giáo dục tốt.

- Thưa ông, con ong có lớn là bao mà nó còn biết xây tổ, kết đoàn, nó sống có hệ thống, tôn ti trật tự có chúa có tôi thành một tổ chức xã hội loài ong hết sức tốt đẹp.

Cậu hẳn cũng biết thiên văn địa lý một cách thông làu : vậy ta cùng bàn cho vui.?

- Thưa ông, tôi muốn nói chuyện trước mắt, vậy ông có biết trên mắt có mấy lông mày, có mấy lông mi không?

- Chuyện ấy nhỏ có gì phải nói!

Vậy ông hãy nhìn vào làng mạc trước mắt xem có bao nhiêu cái nhà? bao nhiêu cái cối?

Đức Khổng Tử nói: chuyện ấy cũng có sổ bộ của làng ghi chép rồi. Ông vội lên xe đi và buột miệng nói rằng. Thật là "Hậu sinh khả úy" nghĩa là kẻ sinh sau đáng sợ thật!"

 

 

HẠNG TRỌNG SƠN (Tên)

Thầy dạy: "Nước Hạng, người Trọng-Sơn, sạch mình cho đến đỗi cho ngựa uống nước rồi vãi tiền xuống sông mà trả; trong sạch đến đỗi của trời đất cũng không nhơ bợn, con hiểu à! Con hiểu ý bài thi này chăng?

Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng-Sơn,
Chung-qui hữu phước hạnh tao-phùng.
Hậu lai mạt tín đa phi-thị.
Hữu ngoại thành tâm tái vận cung.

Sao? Nói cho Thầy nghe.

Chư Nhu đặng tọa vị hầu Thầy.

(M…N..cắt nghĩa trái Thánh-ý).

- Không đâu con! Con có hiểu hai câu này chăng?

Hớn Lưu-Khoan trách dân Bồ-Tiên thị nhục,
Hạng Trọng-Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.

Nghĩa là đời Hớn, người Lưu-Khoan làm quan, hễ dân có tội thì đánh bằng roi lát cho biết nhục vậy thôi. Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia-quyến con cho chánh-đáng, phải lấy lòng trong sạch đối-đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy. Con khá đọc Thánh ngôn và cắt nghĩa Thánh-ý Thầy cho mọi người biết. Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe!" (TN II/10)

 

 

HÀNH

Phân tích chữ HÀNH có hai phần; bên trái là bộ xích có nghĩa là bước chân trái, bên phải là bộ xúc là bước chân phải. Nghĩa là khi đi thì hai bước chân phải theo nhau. Chữ hành là đi. Còn đọc là HẠNH là chỉ nết na.

Lời Thầy rằng: "Thầy nói cho các con hiểu rằng, muốn xứng đáng làm môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm môn đệ Thầy thì là Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước; còn ngã thì cửa Ðịa Ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét, ai thấu đáo vậy ôi!"

Chữ Hành ở câu trên đây là làm cho cực khổ vất vả. Càng hành bấy nhiêu là ý Ðức Chí Tôn muốn con cái của Ngài chịu nhiều nỗi khó khăn vất vả để trau giồi tâm đức và lập được nhiều công quả hầu sớm trở về cùng Ðức Chí Tôn.

 

 

HÀNH (Giáo Sư Thượng Hành Thanh)

Ông Lại văn Hành, thọ phong Giáo Sư phái Thượng Thánh danh Thượng Hành Thanh, vào ngày 29 tháng 8 Bính Dần. Ông là một trong số 247 đứng tên vào Tờ Khai Đạo và cũng có ký tên cùng với 28 vị tiền khai Đại Đạo nữa.

 

 

HÀNH ÁC

Hành ác là làm việc ác, trái lại là hành thiện. Luân lý đạo đức của bất cứ nước nào cũng luôn khuyên người hành thiện mà không bao giờ hành ác để cho loài người bớt khổ. Nhưng thế giới vẫn khổ là vì ít người hành thiện.

Đức Hộ-Pháp cũng có lời tiên tri về đất nước và dân tộc Cambodge như sau: "Một ngày kia Trung-Cộng với Cambodge (Căm bốt) chết không còn một con đỏ, bởi vì Cambodge nghe lời xúi giục của người ta thành ra phải chết hết. Các con biết sau này sắc tộc, sắc tộc đánh nhau; Tôn giáo, Tôn giáo đánh nhau. Đài-loan từ Hồng Kông tản cư qua Việt-Nam trước, bởi vậy người hành ác mà mình theo họ, mình ôm eo-ếch họ rồi họ trật chân, sút tay, họ té chết thì mình cũng chết theo họ mà thôi, thành ra người Miên (Campuchia) còn có bao nhiêu giống bên Việt Nam đó thôi, các con rán thương giùm họ".

 

 

HÀNH CHÁNH

Đức Thượng Phẩm nói: "Anh giải rõ quyền Hành Chánh cho được am hiểu mà thi thố cho chu đáo bổn phận một vị Chức sắc của nền Đại Đạo.

Hành Chánh là gì? Hai chữ ấy không lấy chi làm mắc mỏ, nên hiểu lý thường thức như vầy:

Hành Chánh là một việc công chánh, mà nói là làm việc chung cho tất cả Tôn giáo hay là làm việc chung cho quốc gia, chớ không phải làm những việc cho phần cá nhân của mình, xem như công chức ngoài đời. Một vị quan trường đến trấn nhậm nơi nào mà dân chúng kính mến thương yêu, quan trên đủ lòng tín nhiệm giao phó nhiều trách nhiệm trọng yếu mà thật hành phận sự được vẹn toàn, ấy là làm việc chánh đó.

Còn một vị nào đến lãnh phần cai trị trong địa phận nào mà không cảm hóa được dân chúng, trái lại làm mất tín nhiệm đối với dân, lại khi mạng lịnh của bề trên phó thác thì trái với hai chữ Hành Chánh.

Hỏi dân tình có làm gì để cho các em hiểu lấy Đức Chí Tôn đã lắm nhọc nhằn mỗi khi giáng trần khai Đạo, là một phen đời tàn diệt nên mới có biến thân hạ thế cứu đời? Các em tự hiểu mình là một bực thiêng liêng tại phàm đặng thêm cao địa vị. Hôm nay, các em cũng có ý vui mừng cho bổn phận của mình đã được đi trên con đường dị tục thì mọi sự hành trình phải làm thế nào cho ra vẻ phi thường, ấy mới cao hơn thiên hạ.

Vậy các em nên lưu tâm, từ đây bước hành vi của Đạo sẽ tiến lên gấp bội, các em gắng để tâm thêm nữa".

Trong cửa Đạo ngày nay thì: Hành chánh là một trong bốn cơ quan Chánh Trị Đạo là Hành Chánh, Phước Thiện, Tòa Đạo, Phổ Tế.

Hành chánh: là cơ quan để thi hành các luật lịnh của Hội Thánh hoặc của Chúng sanh dâng lên mà đã có Quyền Chí Tôn phê chuẩn, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y Luật Pháp mà đi trên con đường đạo đức cho đặng thong dong, hòa bình, trật tự, hạnh phúc, an nhàn, tức là thật hành cả khuôn viên Luật Pháp cho ra thiệt tướng.

Đức Lý Giáo Tông nói với ông Thượng Tương Thanh: "Ngày nay đã hành chánh thì cũng nên lập mình cho đủ tư cách của một người cầm sanh mạng của nhơn loại. Chưa có ngôi vị Ðế Vương nào mà sánh với phẩm vị thiêng liêng đặng. Khá phân biệt trượng khinh mà giữ gìn, kẻo bị tà tâm rối loạn. Hiểu à! Lão chưa hề thấy ai để trọn tấc lòng mà làm nên danh thể cho Ðạo, mà kẻ phá Ðạo hư rất nhiều. Hiền Hữu rán mà trừ tà diệt mị cùng Lão, kẻo ngày sau tránh không qua lời tiên tri của Lão đa nghe! Phải hiệp đồng cùng cả Chức sắc Ðại Thiên phong mà khử loạn, bằng chẳng vậy, thì Lão nhứt định không cho ai thăng cấp một người."

 

 

HÀNH CHÁNH ĐẠO


E: The body of the religious administration.
F: Le corps de l’aministration religieuse.

Hành Chánh Ðạo là một trong bốn cơ quan Chánh Trị Ðạo của Ðạo Cao Ðài. Sau cuộc biến, được tổ chức lại nền Ðạo thành bốn cơ quan theo Ðạo luật Mậu Dần (1938), là:

Hành Chánh Đạo - PhổTế - Phước Thiện - Tòa Đạo.

"Hành Chánh Ðạo là cơ quan để thi hành các luật lịnh của Hội Thánh, hoặc của chúng sanh dâng lên mà đã có Quyền Chí Tôn phê chuẩn, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y luật pháp mà đi trên con đường đạo đức cho đặng thong dong, hòa bình, trật tự, hạnh phúc, tức là thực hành cả khuôn viên luật pháp cho ra thiệt tướng. Cầm đầu cơ quan Hành Chánh Ðạo là ba vị Ðầu Sư Nam và vị Nữ Ðầu Sư thuộc Cửu-Trùng-Ðài".

Chức Sắc Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài hợp lại thành Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Hội Thánh Cao Đài.

Về Hành chánh: Hội Thánh Cao Đài gồm các bậc phẩm: từ Phối Sư trở lên hành Đạo ở tại Tòa Thánh Từ Giáo Hữu (bên Cửu Trùng Đài) trở xuống. (các bậc phẩm ở Hiệp Thiên Đài hay các cơ quan khác, thì đối phẩm tương đương với phẩm Giáo Hữu). Vậy từ Lễ Sanh đến Giáo Hữu hành đạo ở địa phương. (Tộc, Châu, Trấn). Hội Thánh ở trung ương được gọi là Hội Thánh Anh.

Bàn Trị Sự tại Hương Đạo được gọi là Hội Thánh Em, gồm 3 vị: Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự. Đạo Luật qui định: Dù là một phẩm nhỏ nhất (Phó Trị Sự hoặc Thông Sự) nơi ấp Đạo cũng phải trường trai và phải từ bỏ quyền Đời đặng để trọn tâm lo tròn trách nhậm Đạo.

Đạo Luật Mậu Dần (1938) bố trí bốn cơ quan trong Hành Chánh Đạo (4 cơ quan trong chánh trị đạo).

1-Hành Chánh: là cơ quan để thi hành các luật lịnh của Hội Thánh hoặc của chúng sanh dâng lên mà đã có Quyền Chí Tôn phê chuẩn, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y Luật Pháp mà đi trên con đường Đạo Đức cho đặng thong dong, hòa bình, trật tự, hạnh phúc, an nhàn, tức là thật hành cả khuôn viên luật pháp cho ra thiệt tướng. Thống quản cả các hoạt động của nền Chánh Trị Đạo. (Chương hành chánh có 17 điều).

2-Phước Thiện: là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát, ít oi, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành Luật Pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn. (Phước Thiện lấy điều 10 và 11 của Hành Chánh tạo thành).

3-Phổ Tế: là cơ quan để cứu vớt hoặc độ rỗi những người lạc bước thối tâm, cùng an ủi khuyên lơn những kẻ đã bị luật pháp buộc ràng mà phế vong phận sự, hay là độ rỗi những kẻ hữu tâm tầm Đạo (thuộc điều 14 của chương Hành Chánh).

4-Tòa Đạo: là cơ quan bảo thủ Chơn Truyền, gìn giữ Luật Pháp, chăm nom chư Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu thi hành phận sự, chở che những kẻ yếu tha già thãi, bênh vực những người cô thế, hoặc tiếp cả sự uất ức bất công của toàn sanh chúng, tức là giữ nét công bình trên mặt Đạo; lại cũng là một cơ quan giúp cho Hành Chánh, Phước Thiện và Phổ Tế thêm oai quyền mạnh-mẽ, tôn nghiêm đặc sắc. (thuộc điều 15 của chương Hành Chánh). Tùy theo phân cấp hành chánh mà bố trí nhân sự và tổ chức các cơ quan.

Phân cấp hành chánh:

Đạo Cao Đài có Trung ương và Địa phương: Cấp Trung ương đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh.

-Hội Thánh Cao Đài có các cơ quan như: Cửu Viện, Phước Thiện, Phổ Tế, Bộ Pháp Chánh, Hàn Lâm Viện, Ban Thế Đạo, Đại Đạo Thanh Niên Hội….

Tổ chức Hành Chánh Đạo tại Châu Thành Thánh Địa (trung ương) với 1 vị Giáo Sư là Khâm Thành.

Trong Châu Thành Thánh Địa có các Phận Đạo. Đầu Phận Đạo là vị Lễ Sanh. Phận Đạo có nhiều Hương Đạo.

Ở cấp địa phương:

Trấn Đạo: gồm nhiều Châu Đạo (Giáo Sư phụ trách Khâm Trấn).

Châu Đạo: Gồm nhiều Tộc Đạo. (Giáo Hữu phụ trách Khâm Châu).

Tộc Đạo: Gồm nhiều Hương Đạo (Lễ Sanh phụ trách Đầu Tộc Đạo).

Hương Đạo: Gồm nhiều ấp Đạo (Chánh Trị Sự phụ trách Đầu Hương Đạo.

Ấp Đạo có Phó Trị Sự và Thông Sự đứng đầu.

Những tính chất khác

Khi xưng hô với nhau, Tín đồ Cao Đài sử dụng các từ "Huynh", "Đệ", Tỷ", "Muội" (tức là anh chị em một nhà), tuỳ theo Thiên chức (Giáo phẩm), tuổi tác, giới tính. Khi kính cẩn, họ còn thêm "Hiền" phía trước những đại từ nhân xưng trên "Hiền huynh", "Hiền Tỷ"....

Một cơ sở Tôn giáo Cao Đài được gọi là "Thánh Thất"

hoặc "Thánh Tịnh". Mỗi cơ sở đều có chương trình truyền bá Giáo lý.

Một Tín đồ Cao Đài nếu thường tham gia các hoạt động của Đạo và có năng lực thích hợp sẽ được giữ chức vụ tương ứng như Thủ quỹ, Thư ký… Nếu tình nguyện dành trọn cuộc đời cho Đạo thì sẽ bước vào hàng Chức Việc hay Chức Sắc. Lúc đó sẽ được đề cử vào các phẩm vị như Phó Trị Sự, Chánh Trị Sự, Lễ Sanh… Đạo Cao Đài nhấn mạnh sự bình đẳng giữa Nam và Nữ trong xã hội.

Tuy nhiên, trong phạm vi Tôn giáo, Nữ giới không được phép bước lên ngôi vị Chưởng Pháp, Giáo Tông. Toà Thánh khẳng định rằng đây là lệnh của Thượng Đế, người đã tuyên bố rằng Nam tượng trưng Dương, Nữ tượng trưng Âm. Nếu Âm thịnh Dương suy, nền Đạo sẽ đi vào sự hủy diệt.

Đức Hộ-Pháp nói: "Khi mở Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, Đức Chí-Tôn đã lập ngay một Pháp Chánh-Truyền và Tân-luật để điều-hành guồng máy hành-chánh-đạo hầu bảo-thủ chơn truyền và Công bình Thiên đạo, kèm theo Pháp-luật còn có Thánh-ngôn và giáo-điều dạy bảo.

 

 

HÀNH CHÁNH-ÐẠO CỬU TRÙNG ĐÀI

 

Nam Phái
1-Hội-Thánh EM
2-Hội-Thánh Trung-ương - Hội-Thánh ANH

Hành Chánh Ðạo Cửu-Trùng-Ðài NỮ PHÁI

Cơ quan Phổ Tế


I- Nam Phái:

1-Hội-Thánh EM.

Ðơn vị Hành Chánh Ðạo nhỏ nhứt là Hương Ðạo gọi là Hội-Thánh Em.Hiện nay số tín đồ của Ðạo Cao Ðài còn ít nên lấy số tín đồ ở trong một xã làm Hương Ðạo. Khi số tín đồ đông hơn thì sẽ lấy số tín đồ trong một Ấp làm Hương Ðạo.

*Ðứng đầu Hương Ðạo là vị Ðầu Hương Ðạo, phẩm Chánh Trị Sự. Mỗi Hương Ðạo được chia ra làm nhiều Ấp Ðạo. Ðứng đầu mỗi Ấp Ðạo là 2 vị: 1 Phó Trị Sự và 1 Thông Sự. Phó Trị Sự coi về hành chánh và Thông Sự coi về luật pháp.

Nếu Hương Ðạo ấy có 4 Ấp Ðạo thì số Chức Việc Bàn Trị Sự của Hương Ðạo ấy có 9 vị, kể ra:

- 1 Chánh Trị Sự
- 4 Phó Trị Sự
- 4 Thông Sự.

Ðứng đầu một Tộc Ðạo (Họ Ðạo) là một vị Ðầu Tộc Ðạo, phẩm Lễ Sanh, do Hội Thánh bổ nhiệm.

2-Hội-Thánh Trung-ương: Hội-Thánh ANH

Ðứng đầu một Châu Ðạo là một vị Khâm Châu Ðạo, phẩm Giáo Hữu, do Hội Thánh bổ nhiệm.

Ðứng đầu một Trấn Ðạo là một vị Khâm Trấn Ðạo, phẩm Giáo Sư, cũng do Hội Thánh bổ nhiệm.

Các Khâm Trấn Ðạo nhận lệnh trực tiếp từ Cửu Viện Trung Ương Tòa Thánh, do 3 vị Chánh Phối Sư cầm quyền.

Cửu Viện là 9 Viện gồm: Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện, Học Viện, Y Viện, Nông Viện, Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện.

Mỗi Viện có nhiệm vụ chuyên môn đặc biệt.

Ðứng đầu mỗi Viện là một vị Thượng Thống, phẩm Phối Sư, có một hay hai vị Phụ Thống giúp việc.

Cửu-Trùng-Đài Nam phái có 3 Chánh Phối Sư nên mỗi vị điều khiển 3 Viện:

- Ngọc Chánh Phối Sư điều khiển 3 Viện: Hòa, Lại, Lễ (Hòa viện, Lại-viện, Lễ viện)

- Thượng Chánh Phối-Sư điều khiển 3 Viện: Học, Y, Nông (Học-viện, Y-viện, Nông-viện).

- Thái Chánh Phối-Sư điều khiển 3 Viện: Hộ, Lương, Công (Hộ-viện, Lương-viện, Công-viện).

Ba vị Chánh Phối Sư tùng quyền Ba vị Ðầu Sư.

Ba vị Ðầu Sư tùng quyền 3 vị Chưởng Pháp và Ðức Giáo Tông. Ðức Giáo Tông chưởng quản Cửu-Trùng-Ðài cả Nam và Nữ phái.

II- Hành Chánh Ðạo Cửu-Trùng-Ðài NỮ PHÁI:

Tổ chức Hành Chánh Ðạo Cửu-Trùng-Đài Nữ phái giống hệt và song song với Hành Chánh Ðạo Nam phái, từ cấp địa phương cho đến cấp trung ương, nhưng chỉ hoạt động về bên Nữ phái mà thôi.

Cấp cao nhất của Hành Chánh Ðạo Nữ phái chỉ có 1 Nữ Ðầu Sư và 1 Nữ Chánh Phối Sư cai quản Cửu Viện Nữ phái.

Nữ Chánh Phối Sư tùng quyền Nữ Ðầu Sư và Nữ Ðầu Sư thì tùng quyền ba vị Chưởng Pháp và Ðức Giáo Tông.

Sự tổ chức các cơ quan Hành Chánh Ðạo riêng biệt cho Nam phái và Nữ phái thể hiện sự phân quyền rõ rệt và sự bình đẳng giữa Nam phái và Nữ phái. Ðây là một nét đặc biệt của Ðạo Cao Ðài mà các tôn giáo khác không có.

III-. Cơ quan Phổ Tế:

Hành Chánh Ðạo Cửu-Trùng-Đài có tổ chức một cơ quan đặc biệt có nhiệm vụ truyền Ðạo ở trong nước, gọi là Cơ quan Phổ Tế. Cơ quan Phổ Tế được thành lập theo Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938), được Hội Thánh ban hành vào ngày 16-Giêng-Mậu Dần (dl 16-2-1938).

 

 

HÀNH CHÁNH GIÁO

Đức Lý dạy: "Những Đạo hữu nào không vì hạnh đức mà chung hiệp nhau lo hành Chánh giáo thì đã có Thần, Thánh lãnh lịnh biên ghi vào Sổ Công Quả, đợi ngày chung qui đặng đem vào cân Thiên điều mà phán đoán".

 

 

HÀNH ĐẠO


E: To preach.
F: Aller prêcher.

Đức Hộ-Pháp thuyết tại Ðền Thánh, thời Tý mồng 1 tháng giêng năm Mậu Tý (dl. 10-02-1948): "Chúng ta thử ôn lại đã có 23 năm hành đạo, chúng ta đã chịu bao nhiêu khổ hạnh để bảo vệ con cái của Chí Tôn. Ngày nay cái kết quả nầy có đáng giá trừ cái khổ hạnh trong 23 năm ấy chăng? Bần Ðạo xin nói quả quyết rằng: Từ tạo thiên lập địa đến giờ chưa có nền Tôn giáo nào được mau chóng như Tôn Giáo của Chí Tôn đến tạo nơi xứ Việt Nam chúng ta. Chúng ta ôn thử lại trong buổi thành Ðạo cuối cùng trong hai năm nay, ta thấy gì? Nếu chúng ta có đủ tinh thần tìm hiểu Thánh ý của Chí Tôn trong 22 năm, để cho chủng tộc Việt Nam chịu đau khổ, chịu trong cảnh tương tàn, tương sát, thống khổ, cảnh tượng nguy ngập có nghĩa gì? Ý vị gì? Ấy là Ðức Chí Tôn xây chuyển cho con cái của Ngài thấy rằng: Hung bạo ở thế gian, không phải năng lực độc đoán mà thắng được và trị thế được."

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Bước hành Đạo gay-go quá đỗi,
Khiến nhơn-sanh sôi nổi vì ai?
Thở ra một tiếng than dài!
Ơn Trên huệ Nhãn xét coi thế nào!

------------------

Hỏi: Chức-Sắc từ trước giờ ở Tòa-Thánh mới được bổ đi cầm quyền sau khi Hội Nhơn-Sanh công nhận được kể vào hàng Chức-Sắc có hành quyền đặng công nhận không?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Kể từ ngày bổ đi hành đạo tha-phương là đáng kể công-nghiệp. Nếu đủ tài, đủ đức, đủ công nghiệp phi thường và đủ lệ 5 năm là cho thăng vị đặng, song để vào hàng Chức-Sắc mới Suất-sư khỏi Tòa-Thánh mà thôi."

 

 

HÀNH GIẢ


E: The initiate.
F: L’initié.

Hành: Làm, đem làm, đi. Giả: người. Hành giả là người đang hành công tu luyện, tức là người đã thọ bí pháp tâm truyền và đang thực hành việc luyện đạo.

 

 

HÀNH HẠ

Hành hạ là một sự trừng phạt làm cho mất đi phẩm giá, nhân cách của người nào đó chẳng hạn. Làm giảm uy tín đi.

Thầy dạy: ngày 23-9-Bính Dần (dl: 29-10-1926):

Hỉ chư Môn đệ, chư Nhu, chư Ái nữ. Các con nghe:

"Thầy buộc phải nói rõ cho các con đừng lầm mà trách Thầy. Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ. Thầy đã đến mà dìu dắt từ đứa thì lẽ nào lại đành lòng xô đuổi. Thầy thấy các con bị phép thử thất Ba Trấn lập thành thì đã hiểu nhiều đứa bị hành. Thầy ngậm đau nuốt thảm ngồi nhìn. Thầy chẳng để thử thất, Ba Trấn trách Thầy vì yêu mến quá lẽ mà làm mất hết công bình, nhứt là Lý Thái Bạch kêu nài hơn hết.

 

 

HÀNH HƯƠNG


E: To go on a piligrimage.
F: Aller en pélerimage.

Hành: Làm, đem làm, đi. Hương: cây nhang đốt lên để cúng tế. Hành hương là đi đến chùa đốt nhang lễ bái.

Hằng năm, các ngày trong tháng Giêng, những người sùng đạo nam nữ già trẻ khắp nơi tổ chức đi hành hương ở Tòa Thánh Tây Ninh và ở núi Bà Đen rất đông đảo, vì ở Tòa Thánh Tây Ninh có Đại Lễ Vía Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế vào ngày mùng 9 tháng giêng, và ở Chùa Bà trên núi, Lễ Vía Bà Lê Sơn Thánh Mẫu được tổ chức từ ngày mùng 10 đến rằm tháng giêng.

Tiền hành hương: là số tiền mà những người đến cúng bái đóng góp để chi phí cho việc cúng tế. Thông thường, số tiền nầy dùng để mua: hương, đăng, hoa, trà, tửu, quả.

Tủ hành hương: Cái tủ dùng để đựng tiền hành hương. Tủ nầy được khóa cẩn thận, có dán niêm, trên mặt tủ có một cái khe nhỏ để khách hành hương bỏ tiền vào.

 

 

HÀNH LỄ


E: To celebrate a ritual ceremony.
F: Célébrer une cérémony rituelle.

Hành: Làm, đem làm, đi. Lễ: nghi thức cúng tế. Hành lễ là thực hành các nghi thức cúng tế.

Pháp Chánh Truyền: Chúng nó đặng phép hành lễ khi làm chủ các chùa trong mấy tỉnh nhỏ.

(Chúng nó: Đức Chí Tôn gọi các Giáo Hữu. Chùa: Thánh Thất. Trước ngày khai đạo chưa có Thánh Thất, nên Đức Chí Tôn tạm gọi là chùa.)

----------------------

Ngài Tiếp Lể Nhạc Quân nói: "LỄ là một việc rất trọng hệ, vì là cái hình thể của nền Đạo phô bày ra trước mặt người. Chư Đạo-hữu cần phải để công xem sóc nhắc-nhở nhau mà gìn giữ tư cách trong mỗi khi hành Lễ cho trang hoàng, hầu tỏ tấc lòng thành kỉnh của mình cùng Đức Chí Tôn và chư Tiên Phật Thánh Thần, lại cũng là một phương châm về đường Phổ-độ nữa. Mỗi khi chúng ta hành Lễ, thì người ngoại Đạo sẵn ý xem vào mà phân biệt Tà Chánh một ít của nền Đạo trong đó, vì Đạo là việc nhiệm mầu huyền bí rất sâu xa, người ngoài nào thấu đặng? Duy có chăm nom cách cử chỉ của chúng ta trọng kỉnh các Đấng thế nào, thì đủ cho người vẽ ảnh Đạo ra thế nấy mà thôi".

 

 

HÀNH LÝ

Vĩnh Sơn Ðạo-Sĩ giáng dạy (Le 29 Juillet 1927):

"Chư vị đã trả lời câu hỏi của Bần Ðạo chưa? Có hiệp ý Chư vị không? Tỷ như Chư vị hành lộ lỡ đường tìm quán đỗ nhờ, thì tự nhiên gia chủ tùy phẩm hàng của Chư vị mà tiếp đãi.

Chư vị là khách sang trọng thì được trọng đãi, còn như thường nhơn thì tiếp đãi đơn sơ, ấy là thường tình trong cõi tạm phù sanh. Mà đây cũng vẫn thế, bỏ hết chức phẩm cùng các cuộc giàu sang của Chư vị tạm hưởng, đến ngày chung cuộc hành lý của Chư vị đem theo được nghĩ rất hiếm hoi là phước đức hay là tội lỗi. Phước đức là sự nghiệp của Chư vị sẵn dành để bước chung vào địa vị cao sang trọng hưởng thanh nhàn đời đời kiếp kiếp. Còn tội lỗi cũng là sự nghiệp của Chư vị đem theo vào Nghiệt Cảnh Ðài.

 

 

HÀNH PHÁP


E: The Administrer a sacrament.
F: Administrer en sacrement.

(Hành pháp là thi hành pháp luật, tức là chiếu theo pháp luật mà làm. Hành hình: Thi hành hình phạt).

- Hộ Pháp bạch: Thiên thơ đã đổi, đệ tử xin giao quyền hành của Quyền Giáo Tông lại cho Ngài đặng Ngài đủ oai cầm Thiên thơ vững chặt.

Đức Lý: "Cười...Lão e cho, một là Lão đã cho, không lẽ lấy lại, hai là hành pháp thì dễ, hành hình thì khó, không có nửa quyền trị thế của Lão nơi tay Hộ Pháp, có thế nào điều hành Hội Thánh cho đặng. Ấy vậy, cứ để y."

Đức Hộ Pháp triệu tập chức việc và tín đồ để vào Đền Thánh cho Ngài hành pháp. Một hôm Đức Hộ Pháp ra lịnh triệu tập Chức việc và tín đồ tập trung vào Đền Thánh. Đức Ngài dạy Chức việc và Tín đồ ba ngày liền cách thức sắp xếp vào ra đứng ngay vị trí cho nhuần nhuyễn, thuần thục để khi Ngài có lịnh là phải thực hiện cho y và thật nghiêm.

Đúng ngày, Đức Hộ Pháp triệu tập Chức việc và Tín đồ. Đức Ngài dặn ông Truyền Trạng Ngọ dẫn đầu nhóm Chức việc và Tín đồ từ ngoài đi vào cửa Hiệp Thiên Đài để vào Bát Quái Đài. Còn Đức Ngài ở Lư hương Bát Quái Đài ngó ra Hiệp Thiên Đài. Đức Ngài dặn ông Ngọ thêm khi vào khỏi cửa Hiệp Thiên Đài ông Ngọ phải ra dấu hiệu (signal) cho Ngài biết rồi mới được vào tiếp. Khi ông Ngọ đến vị trí 7 cái Ngai, nghe Đức Ngài nói:

- "Sao lâu quá không thấy vô"?.

Đức Hộ Pháp vừa dứt thì ông Ngọ tới nơi rồi. Đức Ngài hỏi: Sao vô lại không ra hiệu. Ông Ngọ lặng thinh có vẻ buồn vì lời trách, vì ông đã làm y lời dạy không dám trái, thế mà không hiểu sao Ngài lại không thấy ông Ngọ đi vào, đến khi sát một bên thì Ngài mới hay biết..Đức Hộ Pháp hành Pháp xong. Khi trở ra, ông Ngọ trình bày tự sự. Đức Hộ Pháp trấn an, chẳng qua là Thiên ý, Thiên cơ. Đức Chí Tôn không cho Qua thấy; Đức Ngài nói thêm: "E cho sau này tín đồ quá quyền Chức sắc".

 

 

HÀNH PHÁP ĐOẠN CĂN

Ông Phối Thánh Phạm văn Màng giáng than cùng Đức Hộ-Pháp về việc Chức sắc hành pháp Đoạn căn như vầy:

"Ôi! Con chỉnh than rằng: Hồng ân của Đại Từ phụ chứa chan, rưới khắp cùng cho những kẻ đau đớn thảm sầu đủ điều an ủi. Thưa Sư Phụ: Con xin nơi lòng Bác ái Từ-bi Sư Phụ ngó đến đôi muôn kẻ lạc đường, cho người độ rỗi kẻo tội nghiệp: Xin Sư Phụ dặn lại giùm mấy vị Hành phép xác, biểu khi trục Chơn Thần vào 9 cây nhang gọi là Cửu Tiêu rồi thì nán đợi cho Chơn Thần, thăng cho đủ Tam giới nghĩa là ba bực, thăng rồi lại cầm vững cho Tam bửu nhập định đủ ba lần. Mấy vị ấy không đợi đủ lại định Thần thành thử bửu pháp ấy không hiệu nghiệm vào đâu hết."

Tóm lại, làm phép độ hồn cho một người chết là lấy quyền năng điển lực vô hình luyện Ma Ha thủy để tẩy trừ những mối oan khiên, ô trược, kế tiếp dùng kéo thiêng liêng đoạn lìa bảy mối oan nghiệt cho Chơn Thần được nhẹ nhàng lên cõi Hư Linh.

Ấy vậy, làm phép xác cốt yếu là tắm gội xác tục và hồn với giọt nước Cam Lồ, cắt đứt bảy dây oan nghiệt cho Chơn thần lìa khỏi xác rồi đưa Chơn thần vào cõi Hư linh, nghĩa là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, Tứ Đại Bộ Châu và Tam Thập Lục Thiên.

 

 

HÀNH PHÁP GIẢI THỂ

Đức Hộ Pháp hành pháp Giải Thể: Ông Chơn Nhơn Phạm Duy Hoai kể: Lúc ông là Chí Thiện, được Đức Hộ Pháp cho thọ Pháp giải thể cùng với một số đông Chức sắc khác tại Đền Thánh.

Đức Hộ Pháp đứng tại giảng đài, truyền cho mọi người nằm sấp xuống, mắt nhắm lại; đầu hướng vào Bát-Quái chớ không úp mặt; hai tay duỗi lên thẳng nằm theo hướng vào Bát Quái Đài. Đức Ngài cho đồng nhi đọc kinh "Khi đã chết rồi". Ngài hành Pháp xong, kế tiếp Ngài cho đồng nhi đọc "Đại Tường Kinh", buổi lễ kết thúc. Mọi người nghe nhẹ nhàng khoan khoái khôn lường. Cũng tương như vậy, có một lần thời Ngọ tại Đền Thánh mọi người đang ngồi cúng, tự nhiên nghe trên khoảng không ngay trên đầu một âm thanh rần rần. Ngay tức thì, mọi người nghe Đức Hộ Pháp (lúc đó Ngài cũng đang Cúng) bảo nằm xuống tất cả, nhắm mắt lại, đầu hướng vào Bát Quá Đài, không úp mặt, hai tay duỗi sát thẳng bàn tay hướng vào Bát Quái Đài. Mọi người liền làm theo lời Đức Ngài mà không hiểu gì. Sau đó Đức Ngài bảo mở mắt ra ngồi dậy, vị trí nào ở ngay vị trí đó. Lúc bấy giờ mọi người rất đỗi ngạc nhiên và sợ sệt, chỉ biết là rất hồi hộp mà thôi. Mọi người cùng suy nghĩ: Chẳng biết Đức Hộ Pháp hành Pháp gì mà điều gì đã xảy ra lúc mọi người nhắm mắt. Họ không biết gì hết, nhưng có một điều là tất cả sau khi ra khỏi Đền Thánh thấy nhẹ nhàng, khoan khoái thoải mái khôn lường, họ cảm nhận một cái gì đó Thiêng liêng đến với mình.

 

 

HÀNH PHÁP KHI CÚNG ĐÀN & DÂNG TAM BỬU

Đức Hộ-Pháp nói: "Mỗi phen nhập đàn, hễ trống chuông rồi, thì tất cả đi vô, cả thảy đi vô thong thả, chỉ có Bần Ðạo thật bối rối, bước lên Ngai rồi, trụ pháp lại, vẽ bùa niệm chú. Câu chú mà khi thượng sớ, chúng ta thường nghe đọc "TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ PHÁP THIÊN TÔN". Thật sự thì như vầy "TAM THIÊN THẾ GIÁI HỘ PHÁP GIÁNG LÂM". Từ trước đến giờ, các bậc tiền bối của chúng ta đã để như nói trên, nên không thể sửa cải được, phải để y như vậy. Khi bái đàn rồi cả thảy quì tụng kinh, còn Bần Ðạo tịnh niệm, mỗi câu kinh mấy em đọc vẫn dễ, vì thuộc mà đọc thôi, riêng Bần Ðạo mỗi câu kinh phải mật niệm, tụ hết cả nghĩa lý của nó dâng lên Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng. Rồi còn điều nầy rắc rối hơn hết, hễ khi nào cả thảy tụng rồi bài kinh Chí Tôn hoặc kinh Tam Giáo, khi Bần Ðạo thấy nín hết, buổi đó đem hết tinh thần trụ lại, dâng lời mặc niệm ấy vào Bát Quái Ðài. Ðến khi tất cả niệm Ngũ nguyện cũng vậy, Bần Ðạo định tâm, dồn cả đức tin biến thành một huệ quang chiếu diệu đem vào Bát Quái Ðài, rồi đợi cho Bát Quái Ðài trả lời khi ấy ở trong đó ánh sáng tủa ra, Bần Ðạo cúi đầu niệm thế cho cả thảy. Còn dâng Tam Bửu, Bần Ðạo hiểu cả nghĩa lý của nó:

Khi dâng bông: cả thảy hình thể con cái của Chí Tôn tức là Thánh Thể của Ngài, trụ hết xác Thánh đó dâng cho Ngài đặng Ngài làm phương cứu thế. Ðó là dâng bông.

Tới dâng rượu: cả thảy khi dứt câu kinh, nín lặng hết, Bần Ðạo vận dụng cả trí não tinh thần, đem đức tin của cả thảy dâng vào Bát Quái Ðài.

Tới dâng trà: là dâng cả linh hồn cho Chí Tôn. Bần Ðạo để cả tinh thần trụ lại, đem linh hồn của cả con cái Chí Tôn dâng cho Ngài. Khi các người cầu nguyện, buổi cầu nguyện biết vậy thì nguyện như vậy thôi, còn Bần Ðạo phải trụ hết tinh thần định trở lại, đem cả những lời cầu nguyện ấy đặng dâng cho Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng. Khi Chí Tôn truyền cho pháp ấy, Bần Ðạo nghĩ rằng: Ðó là chiếu theo cổ pháp của nhà Phật buổi trước, nhứt là Thiền Môn mỗi khi làm chay, thí của, cầu siêu, hay tuần tự chi đều rước một vị Hòa Thượng trụ trì đến. Không gì khác hơn là bí pháp của Chí Tôn trụ thần, Bần Ðạo dám chắc rằng không ai biết, họ tụng kinh như hát mà thôi, không ai để hết tinh thần vào câu kinh, nên mấy thầy chùa gõ mõ tụng kinh có ăn thua gì, trọng hệ là vị Hòa Thượng trụ trì ngồi hành pháp, nhưng không hiểu họ có biết mà làm y theo đó hay không? Cái trọng hệ ấy, nếu ai làm cho y, thì là trúng với bí pháp. Tiểu Ðàn thì vậy.

Còn Ðại Ðàn lại còn rối cho Hộ Pháp hơn nữa, là có ba ấn: Thượng Nguơn, Trung Nguơn, Hạ Nguơn, ấn ấy không phải do tay Hộ Pháp không! Khi đứng lên Ngai rồi bắt ấn Hộ Pháp, lấy cả Tam bộ Thiêng Liêng tức là sanh khí mà ta thấy trước mắt tỏa ra cùng khắp. Rồi đến trụ thần lại bao trùm cả trái đất nầy như vòng bao một trái cây gì vậy, để cái cuống lên trên, đem dâng cho Chí Tôn ngự. Kế dâng bông, bắt ấn Thượng Nguơn dưới đạp Ngưu Ðẩu, tay đưa Giáng Ma Xử lên hiệp với chữ Khí, đem khí ấy đưa ra cả Càn Khôn thế giới. Ấn Thượng Nguơn làm chủ chữ Khí, đem khí ấy hiệp hết cả Nguơn Khí đặng bao trùm vũ trụ. Ðến Trung Nguơn bắt ấn Hiệp Chưởng biến hóa, Gián Ma Xử để nằm ngang, đuôi bên Thế, cán bên Ðạo, ý nghĩa Ðạo cầm cán đặng trị Ðời. Bắt ấn Hiệp Chưởng, cầm cả cơ Pháp của vạn vật biến sanh đặng bảo tồn không cho tương tranh, tự diệt nhau. Tới Hạ Nguơn, tay tả thuộc Dương để trên, tay hữu thuộc Âm để dưới, rồi để Giáng Ma Xử chúi xuống, trụ thần đem cả càn khôn hiệp cả vạn vật. Bắt ba ấn phải trụ thần, làm sao cho ấn ấy đừng thất pháp. Cho nên ban sơ, buổi Chí Tôn mới giao cho Bần Ðạo tại Từ Lâm Tự, cái khó là trí óc vẫn lo ra, vì không quen, không phải mình làm thầy phù, thầy pháp gì ổng giao cho học mãi làm không trúng. Vì cớ nên mới có quỉ lộng tại Từ Lâm Tự buổi nọ, các Ấn khác của Hộ Pháp có linh hay không mà quỉ lộng? Ấy là Thiên Cơ khiến vậy. Chí Tôn mở Tam Thập Lục Ðộng coi có phá nổi Ngài không? Có thể làm cho tiêu diệt nền Chánh Giáo không? Ðể cho chúng sanh thí nghiệm mà thay quyền năng vô tận của Ngài. Buổi nọ vì thời gian ngắn ngủi, nên công việc chưa rành rẽ, vì không đủ thì giờ để chuyên luyện, hoặc cho là chưa trọng hệ cho lắm, nên có điều sơ lược. Ðó là Thánh ý của Ðức Chí Tôn muốn như vậy. Trong một thời Cúng, Bần Ðạo đã căn dặn nhiều phen trọng hệ hơn hết, là khi Dâng Tam Bửu, dầu cho tinh thần suốt buổi Cúng có nhiều lúc lo ra đi nữa, đến khi Dâng Tam Bửu, khuyên cả thảy định thần đặng mật niệm, dâng ba bửu trọng hệ cho Chí Tôn, tức là giúp sức Bần Ðạo hành pháp dễ dàng một chút đó."

 

 

HÀNH PHÁP LẠ

Đức Hộ-Pháp nói về Đức Chúa: "Thời buổi đó nước của dân Juifs bị Ðế quốc Romains chiếm làm thuộc địa, ở Palestine thì để một vị Chánh Soái là Hérode Antivas hằng để tâm mưu sát Ðấng Chúa Cứu Thế, vì có tiên tri nói đến làm Vua nước Do Thái, nên ngay từ buổi đến trấn nhậm Palestine chính Hérode đã giết ông Thánh Saint Jean Baptiste. Buổi ấy các nhà tiên tri cho biết Ðức Chúa Cứu Thế sanh ngày đó mà không biết Ðấng Chúa Cứu Thế là ai? Muốn giết, mà không biết ở đâu? Nên bắt tất cả con nít sanh trong đêm ấy ra giết hết, đinh ninh rằng: Trong đám đó có lẽ có Ðấng Chúa Cứu Thế. Ai dè may thay! Ông Joseph đêm mệt mỏi nằm mộng thấy Thiên Thần mách bảo, liền bồng đứa trẻ trốn qua Egypte. Hai vợ chồng đào tẩu kịp chớ không thì Chúa cũng đã bị giết rồi. Qua Egypte một thời gian, đứa con lên được lên 5, 6 tuổi, nghe tin bên nước mình đặng yên và có lịnh thiêng liêng truyền dạy hai vợ chồng trở lại Palestine, chồng làm thợ mộc theo nghề cũ, vợ may vá nuôi con, lại sanh thêm ba bốn người con trai, gái nữa, thành thử cách sống rất nghèo hèn khổ não, từ cái đường sông Jourdain Ðức Chúa để bước đội nước mỗi ngày giúp Mẹ cùng kiếm công một hai cắc. Buổi nọ là lúc đã trộng rồi, được 12, 13 tuổi, theo cha học làm thợ mộc, ông chỉ đâu làm đó. Khi đó ông Joseph lãnh làm nhà của người ta, rủi cắt làm sao mấy cây cột lỡ cụt hết người chủ bắt đền không biết liệu làm sao? Nhà nghèo tiền đâu mua cột khác đặng bồi thường. Ông ngồi khóc ròng, đoạn Chúa mới cầu nguyện rồi cha một đầu con một đầu nắm kéo nhẵng ra cho đủ thước đặng bồi thường cho chủ, bằng không thì chỉ có ở đợ mà trừ. Thiệt lạ lùng thay và huyền diệu thay! Đó là Ðấng Christ hành pháp lạ lần thứ nhứt trong năm 12 tuổi là năm kéo cột đó".

 

 

HÀNH PHÁP TẠI KIM BIÊN

(Đức Chí-Tôn hành pháp tại Kim biên)

Đức Hộ-Pháp thuyết tại Ðền Thánh, thời Tý đêm 24 tháng 5 năm Mậu Tý (dl. 30-06-1948)

"Bần Ðạo nhớ khi lên mở Hội Thánh Ngoại Giáo trên Kim Biên năm 1927, đặng truyền giáo, Ðức Chí Tôn cho vị Phối Sư Hương Lự của chúng ta đây được thông công cùng Ngài, nhờ nghe, nhờ thấy, truyền pháp cho Bần Ðạo. Khi nọ, Chí Tôn biểu Bần Ðạo lại kệ "bàn viết" có sắp một dãy nhựt trình đặng rút ra hai tờ. Ngài lại dạy Chị chúng ta là Bà Phối Sư Bảy đứng bắt ấn, kế Bần Ðạo trải hai tờ nhựt trình sau lưng mà bà Chị vẫn không biết. Tới lúc bắt Ấn rồi, Bần Ðạo thưa "Ðã trải rồi". Tức thì bà Chị nhảy ngược lại, đạp hai tờ nhựt trình. Bần Ðạo không hiểu nghĩa gì. Ðức Chí Tôn biểu coi hai chơn đạp cái gì? Bần Ðạo coi chơn trước giở lên là hình Tưởng Giới Thạch, đạp ngay trên đầu, còn chơn sau Bần Ðạo biểu giở nhón lên, coi thấy hình Roosevelt, quan Tổng Thống của nước Mỹ đạp ngay ngực và miệng. Ðức Chí Tôn nói với Bần Ðạo rằng:

- "Một ngày kia Trung Hoa sẽ thờ phụng Ðạo đáo để, còn nước Mỹ sẽ lãnh trách nhậm đi truyền giáo toàn cầu".

Ngày nay, chúng ta đã thấy tưởng chừng như Chí Tôn đã khiến mấy vị phóng viên bên Mỹ đến lấy hình trọn vẹn của Ðạo, đủ cả chi tiết, Kinh Luật đem về xứ để truyền bá, thì mấy vị nầy chẳng khác như Ðức Tam Tạng ngày xưa đến Ấn Ðộ thỉnh Kinh. Bần Ðạo dám chắc sự bí mật mà Bần Ðạo thấy Chí Tôn Hành pháp buổi nọ, đã kết liễu ngày hôm nay. Ấy vậy, chúng ta phải chịu nhọc một chút đặng nghinh tiếp họ, trong buổi lễ nầy. Bần Ðạo tưởng khi những người có mặt ngồi tại đây hầu lễ nầy, biết chừng đâu, cũng sẽ được hạnh phúc như đi truyền giáo bên Mỹ sau này mà chớ! Bần Ðạo để lời cám ơn toàn cả nam nữ và các BÍ PHÁP ấy chúng ta sẽ thấy Chí Tôn làm thành tướng trong thời gian ngắn ngủi sau đây."

 

 

HÀNH QUYỀN CHƯỞNG LỄ

Do tờ dâng lên xin cho một vị Giáo-Sư Phái Thượng đứng xướng trên Giảng-Đài Đền-Thánh khi Tiểu và Đại-Đàn.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Đặng, song trong Huấn Lịnh để thay-mặt cho vị Giáo Sư phái Ngọc chủ Lễ, khi có một vị Giáo-Sư phái Ngọc phải thay thế liền vì vị Giáo-Sư ấy ngang hàng với Hộ-Đàn Pháp Quân hành quyền Chưởng-Lễ. Khi trước Giáo-Sư Mười được ban cho một cây Giản-Lịnh đặng làm phận-sự này chẳng khác nào cây Giản Uất-Trì, tiền đả Hôn-quân, hậu đả loạn-thần đặng ngăn-ngừa phản-Đạo đột-nhập vào Đền-Thánh." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

HÀNH SỰ

Thầy dạy: ngày 18-5-Đinh Mão (dl: 17-6-1927)

"Hành sự cho là đủ, chớ nên chấp lẫn nhau mà mất niềm đồng Đạo chẳng tốt. Nhiều đứa cũng lắm cầu danh vì mối Đạo, chúng nó phải bị truất phần công quả về sau. Lý Bạch hằng phàn nàn về đức Từ-bi của Thầy, nhưng con cũng đồng con, Thầy đã độ rỗi các con, há để cho hành phạt các con đến điều hay sao? Những đứa nào chẳng biết tự cải thì sau cũng khó mong nơi lượng Từ bi của Thầy nữa đặng".

 

 

HÀNH TÀNG


E: The visible and hidden acts.
F: Les actes visibles et cachés.

(Hành là làm, Tàng là chứa trữ lại) Hành tàng là những hành vi hiển hiện hay ẩn kín được gọi là hành tàng. do câu "Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng". 用之則行舍之則藏 nghĩa là khi cần dùng tới thì đem ra, khi không cần nữa thì cất vào. Hành tàng của mình (tất cả những việc làm thấy rõ, hoặc giấu kín), dù hư dù thực tự nơi nhà mình biết, cái họa phước bởi đâu mà ra, thì phải hỏi làm chi? Hễ lành dữ rốt lại cũng có trả, chỉ trả kíp hay chầy mà thôi:

Hành tàng hư thực tự gia tri,
Họa phúc nhân do cánh vấn thùy?
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì.

,
?
,

Khi còn sống nơi dương thế, vì còn vô minh nên không biết được phải quấy. Ngày nay, hồn lìa khỏi xác, trở về cõi hư linh mới thấy được mọi hành tàng.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo may duyên đặng thấy hình trạng ấy, chúng ta không thể gì định hành-tàng người này hay, người kia dở, người này nên, người kia hư, nhiều điều ta ngó thấy trong cảnh này khác hẳn với khuôn luật vô hình, chúng ta chẳng thể nào đoán trước được"

 

 

HÀNH THIỆN (Phẩm)

行 善
E: To do a got deed.
F: Faire le bien.

Hành: Làm, đem làm, đi. Thiện: lành, tốt.

1. Hành thiện là làm điều lành điều tốt, ích lợi cho người khác, thí dụ như: Cứu đói trợ nghèo, bắc cầu sửa đường,...

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Mỗi đẳng cấp (Cơ Quan Phước Thiện) phải có đủ 3 năm hành thiện mới mong bước qua đẳng cấp khác.

Sách Minh Tâm Bửu Giám:

Hành thiện chi nhơn như xuân viên chi thảo,
Bất kiến kỳ trưởng, nhựt hữu sở tăng;
Hành ác chi nhơn như ma đao chi thạch,
Bất kiến kỳ tổn, nhựt hữu sở khuy.

Nghĩa là:

Người làm lành như cỏ trong vườn xuân,
Không thấy lớn mà mỗi ngày vẫn tăng;
Kẻ làm ác như đá mài dao,
Không thấy mòn mà mỗi ngày vẫn khuyết.

2. Hành Thiện là một phẩm Chức sắc trong Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của Cơ Quan Phước Thiện.

Hành Thiện là người đã nghe đã biết việc lành rồi, bây giờ phải đi làm lành, làm thế nào cho kẻ bịnh hoạn, tật nguyền, già cả, góa bụa, được hưởng điều lành, được an ủi cõi lòng, hết than thân tủi phận dở dang, bớt điều khổ não, mới xứng đáng gọi là Hành Thiện.

Hành Thiện đối phẩm Chánh Trị Sự bên Cửu Trùng Ðài.

Đạo phục của Hành Thiện khi chầu lễ Đức Chí Tôn:

Hành Thiện mặc áo tràng trắng, choàng ngang vai một Dây Sắc Lịnh màu đỏ, bỏ mối qua tay mặt, trên Dây Sắc Lịnh có gắn khuê bài đề chữ Hành Thiện bằng quốc tự, đầu đội khăn đóng đen 7 lớp chữ Nhơn.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp về phẩm Hành Thiện:

"Chơn pháp bên Phước Thiện có điều nầy trọng yếu hơn hết, từ bực Hành Thiện muốn lên Giáo Thiện, phải tạo nghiệp cho đủ 12 gia đình theo chơn pháp.

Nếu thiếu một người trong số 12 người ấy thì phải dừng lại ở bực Hành Thiện mà thôi, chớ không thăng lên Giáo Thiện. Tạo nghiệp cho 12 gia đình, không phải đem bà con vào đó mà được, tạo nghiệp cho mỗi gia đình phải có bằng chứng là ngoại nhân, còn đem bà con cật ruột thì truất bỏ, chẳng kể công nghe chưa? Bởi vì bậc Hành Thiện là phải làm thiện, nhưng nếu làm cho thân nhân mình, anh em của mình, làm cho gia đình mình, thì không kể là hành thiện."

Lời phê của Đức Phạm Hộ Pháp về phẩm Hành Thiện:

"Chiếu theo chơn pháp thì cả Sở Lương điền Công nghệ chỉ có hàng Chức sắc phẩm Hành Thiện mới được lập mà thôi, vì họ phải nuôi sống và bảo vệ lập nghiệp cho 12 gia đình; còn hạng Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện thì làm công quả trong các cơ sở của Hội Thánh, đặng nhơn thời gian tùng sự với một Chức sắc Thiên phong hàng Giáo Thiện mà học đạo lý và tu tâm dưỡng tánh, kiên cố tâm đạo.

Vậy, hễ trọn hiến thân vào Đạo thì họ không còn gia đình nữa, hay là gia đình của họ cũng thuộc về Đạo, dưới quyền của một vị Giáo Thiện giáo huấn, bảo bọc, là cơ sở của Hội Thánh. Do đó, chư vị Giáo Thiện là riêng biệt, nạp trọn huê lợi công ích cho Hội Thánh.

Còn các cơ sở của Hành Thiện là thuộc quyền của gia tộc của họ đào tạo, phải tùng khuôn luật đặng sửa đương.

Hội Thánh Phước Thiện, trong kỳ Đại Hội nầy, Bần đạo nhứt định không cho qua khỏi mặt luật ấy nữa." (Ngày 5 tháng 9 năm Tân Mão, 1951)

Theo Đạo luật Mậu-Dần (1938) thì phẩm Hành Thiện muốn thăng Giáo Thiện ngoài 3 năm công nghiệp còn phải nuôi đủ 12 gia tộc mới đặng. Tuy nhiên, Bộ Pháp Chánh cũng nhận thấy vì hoàn cảnh mà chư vị Hành Thiện chưa làm tròn nhiệm vụ ấy đặng, nên cũng còn cứu xét lại và sẽ yêu cầu Hội Thánh Hiệp-Thiên-Đài, thỉnh giáo Đức Hộ-Pháp vì Thánh Giáo Đức Ngài đêm 16 tháng 11 Ất-Tỵ dạy như vầy:

"Bần Đạo vì thương tình của các Chức Sắc nhỏ ở vào hoàn cảnh phức tạp không thể nuôi 12 gia tộc nên mới chế giảm cho luật lệ ấy. Nhưng nếu cứ thi hành thế mãi, thì vấn đề Phước Thiện sẽ mất ý nghĩa của nó. Nên Bần Đạo buộc phải trở về chế độ cũ là phải nuôi 12 gia tộc rồi mới xứng đáng làm anh của chúng sanh. Vậy phải đình việc cầu thăng Hành Thiện lên Giáo Thiện và phải chờ Bần Đạo định phận sau".

Vì lẽ ấy mà chúng ta còn ước mong Đức Ngài từ bi quá cố đến các vị Hành Thiện mà định phận cho họ càng sớm càng tốt.

Đức Hộ Pháp giáng dạy ngày 14-12-1968 dạy rằng: "Thật là một việc khó cho Bần Đạo vì Bà Cố Phối Sư Hương Nhiều đã có lời cầu khẩn thiết tha cho sắp nhỏ Hành Thiện nhất là Nữ Phái, nhược chất liễu bồ, không thể nuôi 12 gia tộc nên xin miễn thể lệ nầy cho Hành Thiện, Bần Đạo không thể từ chối đặng nên chấp thuận cho tất cả. Nữ Hành Thiện được thăng phẩm Giáo Thiện nếu hội đủ thâm niên công nghiệp và hợp lệ. Còn Hành-Thiện Nam-Phái chờ hội đủ điều kiện mới được cầu thăng. Về các Chức Sắc nhỏ từ Minh Đức, đến Hành Thiện nếu hội đủ thâm niên và điều kiện thì được thăng nhứt cấp đến phẩm Hành Thiện mà thôi".

 

 

HÀNH THIỆN CHI NHÂN

Đức Hộ-pháp nói: "Nòi giống Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho phong 4.000 năm đã để cho chúng ta hai câu đích đáng, nếu chúng ta biết dùng từ thử nước Việt Nam không có cảnh tượng ngày nay:

"Hành thiện chi nhơn như xuân viên chi thảo, bất kiến kỳ trưởng nhựt hữu sở tăng. Hành ác chi nhơn như ma đao chi thạch, bất kiến kỳ tổn nhựt hữu sở khuy".


Câu trước có nghĩa là: Người làm lành như vườn cỏ mùa xuân không thấy lớn, mà càng ngày càng tăng thêm.

Câu sau: Người làm ác như cục đá mài dao, tuy không thấy hao mà càng ngày càng mòn khuyết. Lấy nhơn nghĩa đối với bạo tàn, lấy tâm ưu ái trả thù hận, ấy là tâm Phật, phải tâm chí Thánh mới làm đặng. Bần Ðạo làm đặng, đặng chi? Ðặng nêu cao tinh thần Ðạo Cao Ðài nầy lên như Chí Tôn muốn.

 

 

HÀNH TRÌNH

行 裎
F: Itinéraire, voyage.

Đức Quyền Giáo-tông nói: "Một điều Anh ước mong sao hành trình của mỗi em làm thế nào cho đoàn hậu tấn để tâm kính mến lo cho các em, cũng như các em lo cho Anh từ thử."

 

 

HÀNH VI

Hành vi là việc làm của mỗi người trong xã hội.

Sách Minh-Tâm Bửu-Giám, Từ Thần Ông có nhắc nhở: khi nhàn nhã nên kiểm điểm lại những công việc lúc bình sinh đã làm; lúc yên vắng hãy xét kỹ lại những việc đã qua trong ngày. Một lòng nắm giữ cho tâm ngay chính, thì tự nhiên Trời đất sẽ soi xét đến cho. "Nhàn trung kiểm điểm bình sanh sự, tĩnh lý tư lương nhựt sở vi. Thường bả nhứt tâm hành chánh đạo, tự nhiên thiên địa bất tương khuy" 閒中檢點平生事, 靜裏思量 日所為, 常把一心行正道, 然天地不相虧.

Thánh giáo Thầy có dạy: "Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức. Làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật".

Ngoài ra, trong bài "Khen Ngợi Kinh Sám Hối" cũng có nhắc nhở và dạy như sau "Ngày ngày tập sửa tánh thành, Đêm đêm tự tỉnh tu hành ăn năn". Ấy là hằng ngày, con người dù phải mưu sinh, song tánh tình phải giữ cho thành thật và mỗi đêm phải tự tỉnh 自省, tức là tự xét mình xem thế nào, nếu có lầm lỗi thì sám hối ăn năn:

Thầy dạy:.."Nay tuy các con chẳng thấy đặng hành vi mầu nhiệm, mà chính mình Thầy đã đến nói, các con cũng nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chơn thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy cơ mầu nhiệm đặng, thì chừng ấy đã muộn rồi. Vậy các con khá tuân lịnh dạy."

Thánh Ngôn rằng: "Đạo chẳng phải nơi lời nói, mà lại nơi kết quả sự thật mình làm; chẳng phải nói câu kệ, câu kinh, mà lại buộc hành vi người giữ Đạo."

Kinh Khi Ði Ngủ có câu:

"Các vật dục xảy qua một buổi,
"Cả hành vi lầm lỗi khôn ngừa."

 

 

HÀNH VI MẦU NHIỆM

Thầy dạy: "Con duy có TU mà đắc Đạo, phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn-sanh còn phải trầm luân nơi khổ hải chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng Từ-bi mà độ rỗi. Nay tuy các con chưa thấy đặng hành-vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chân thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy cơ mầu nhiệm đặng thì chừng ấy đã muộn rồi. Vậy các con khá tuân lịnh dạy".

 

 

HẠNH ĐỨC

Hạnh đức: Tánh nết, đức hạnh.

Đây là điều 3 trong 10 điều Khuyến tu của Chí-Tôn:

Ðiều thứ ba: Vẹn tròn hạnh đức,
Tuy bán buôn cực khổ tảo tần;
Ðủ công nuôi nấng tấm thân,
Ðừng ham những chuyện phi nhân gạt lường.
Dầu tiền bạc đầy rương tràn tủ,
Cuộc trần nầy chưa đủ con ơi!
Ác gian cũng chỉ một đời,
Thà nghèo trong sạch thảnh thơi linh hồn.

Thầy dạy: ngày 11-11-1926 (âl 7-10-Bính Dần)

Thầy dạy: "Hai con đã có lòng vun nền đạo đức, phải khổ tâm thêm nữa mà giữ cho tròn phận sự. Mùi chung đỉnh, bả vinh hoa có khác chi ngọn cỏ phơi sương, vừng mây giữa gió. Nét hạnh đức là phương hay để dìu dắt các con bước lên con đường Cực Lạc, tránh khỏi đọa tam đồ".

 

 

HẠNH ĐƯỜNG

幸 堂
E: School of trainning of dignitaries.
F: École de l’entrainement des dignitaires.

Hạnh: Tánh nết, đức hạnh. Đường: nhà, trường học. Hạnh Đường có nghĩa đen là trường huấn luyện về đức hạnh, nhưng nghĩa thông thường là trường huấn luyện Chức sắc và Chức việc cho có đủ đức độ và tài ba để đi hành đạo.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938): "Phải lập Hạnh Đường nơi Tòa Thánh và Văn phòng Đầu Tỉnh Đạo đặng giáo hóa Chức sắc Thiên phong và Chức việc."

"Thiên phong Chức sắc phải vào Hạnh Đường học thêm Đạo lý, Luật Đạo và Luật đời, đặng dễ bề thân thiện cùng đời mà độ đời cho biết Đạo. Phải giữ phẩm giá của mình cho đặng thanh cao đạo đức."

Hạnh Đường nơi Tòa Thánh Trung ương huấn luyện 3 cấp Chức sắc: Giáo Hữu, Lễ Sanh và Chức việc Bàn Trị Sự.

Khóa Hạnh Đường huấn luyện Giáo Hữu được gọi là Cao Đẳng Hạnh Đường. Các môn được đem ra huấn luyện nơi Hạnh Đường gồm:

Giáo lý.
Hành Chánh Đạo.
Luật pháp Đạo.
Lễ nghi Tế tự.
Ngoại giao và xã giao.

1. Môn Giáo lý Đại Đạo: giúp thấm nhuần chủ nghĩa và triết lý cao siêu của Đạo Cao Đài, hấp thụ một ý thức hệ mới, xây dựng cho mình một lập trường chánh nghĩa, một quan niệm tiến bộ trong việc khắc kỷ tu thân và phục vụ nhơn loại.

2. Môn Hành Chánh Đạo: sẽ hướng dẫn thông suốt phương pháp tổ chức, lề lối làm việc khoa học, hầu làm phương châm giáo hóa và hướng dẫn nhơn sanh đi đúng qui điều chơn pháp của Đức Chí Tôn trong nhiệm vụ thể Thiên hành hóa.

3. Môn Luật Pháp Đạo: là môn rất quan trọng, vì nó là khuôn vàng thước ngọc điều hành guồng máy Hành Chánh, hầu bảo thủ chơn truyền và công bình Thiên đạo, bắt buộc mọi người tùng Đạo, cũng như chư Thiên phong trong hàng Thánh Thể đều phải triệt để tuân hành mới mong đoạt được phẩm vị.

4. Môn Nghi lễ Tế tự: chỉ rõ cách thức thờ phượng, cũng như nghi tiết hành lễ cho chu đáo nghiêm trang, phô diễn một cách chí kỉnh chí thành, vì có lễ nghi pháp mục oai nghiêm mới ra vẻ tôn giáo và mới cảm ứng được chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

5. Môn Ngoại giao và Xã giao: giúp thông thạo cách đối nhân xử thế, sự giao hảo giữa người với người và với nhơn quần xã hội, để càng ngày càng thấu tình đạt lý hơn.

Ngày 6-5-Nhâm Tý (dl 16-6-1972), Hội Thánh khai giảng khóa Cao Đẳng Hạnh Đường, Ngài Giám Đốc Hạnh Đường là Giáo Sư Thái Tác Thanh có đọc một bài diễn văn nói về mục đích của Hạnh đường, xin trích ra một đoạn sau đây:

"Trong buổi Hạ nguơn kỳ ba khai Đạo, Đức Chí Tôn không lâm phàm như buổi trước, Đức Ngài chỉ dùng huyền diệu cơ bút để mở Đại Đạo, Đức Chí Tôn lập thành Hội Thánh để làm tai mắt cho Ngài mà lèo lái, hướng dẫn nhơn sanh giải thoát nơi trầm luân khổ hải, Đức Ngài mượn tài đức Chức sắc mang tin lành Đại Đạo truyền bá cho toàn cả chúng sanh nhập môn cầu Đạo để được cứu rỗi buổi Hạ nguơn nầy.

Như vậy, Chức sắc mặc nhiên đã lãnh một sứ mạng hết sức cao trọng do Đức Chí Tôn giao phó. Mà muốn thực thi đúng mức sứ mạng thể Thiên hành hóa, ta cần có những yếu tố nào?

Người hữu tài kém đức khó làm nên việc cả.

Người dư đức thiếu tài cũng không mong xây thế cuộc.

Hạnh Đường sẽ đáp ứng cho Chức sắc hai yếu tố trên được kết quả mỹ mãn. Bởi thế, Hạnh Đường không nhứt thiết để rèn luyện đức tin mà còn hàm súc bao ý nghĩa. Một Chức sắc đầy đủ đức hạnh chưa làm tròn sứ mạng của Đức Chí Tôn giao phó khi biết rằng mình còn thiếu tài năng. Vì lẽ đó mà Chức sắc cần bồi bổ tinh thần học rộng nghĩ xa trong các môn học tối thiểu cần thiết.

Trái lại, một Chức sắc tài ba lỗi lạc cũng khó làm tròn sứ mạng thiêng liêng, nếu nói kỳ tài mà chưa thấm nhuần Giáo lý, Tân pháp, Triết lý Đại Đạo thì sợ e trong bước hành đạo không đủ năng lực cảm hóa người.

Ấy vậy, Hạnh Đường là lò đào tạo Chức sắc khuôn mẫu, phổ biến đúng Chơn truyền Tân pháp. Chức sắc làm cây kim chỉ nam đưa đường dẫn lối cho sanh chúng, theo dõi bước đường tu đến nơi giải thoát để hội hiệp với Đức Chí Tôn ngày công viên quả mãn."

Trong Khóa Hạnh Đường huấn luyện Chức việc Bàn Trị Sự Nam Nữ năm Canh Tuất (1970), Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang ban Huấn từ, xin trích ra một đoạn sau đây:

"Thiết tưởng dầu cho trong giới nào, từ cổ chí kim, ai cũng lấy sự học tập làm phương pháp đào tạo nhân tài, nhứt là trong các tôn giáo, sự học hỏi lại càng cần thiết cho người tu sĩ, do câu: Tự giác nhi giác tha. Phải đủ sáng suốt mới có thể dìu đường cho kẻ khác. Nếu mình không sáng suốt, hoặc thông hiểu một cách mù mờ, tức nhiên tránh không khỏi sự lạc đường sai hướng và trên bước lầm lạc của mình, mình sẽ kéo theo cả một đoàn người do mình làm hướng đạo.

Đức Chí Tôn có dạy: "Dầu làm vua, làm thầy, làm công nghệ, làm đạo sĩ, cũng phải có cái chí lớn mới mong thành tựu đặng." Chúng ta nên quan niệm rằng, trước khi lập chí, chúng ta cần phải lo học hỏi để trở nên sáng suốt, tức là đem trí não ra khỏi vòng mờ tối vậy.

Hội Thánh hằng để tâm lo lắng, muốn cho quí vị trở nên những nhơn vật xứng đáng đối với mặt Đạo, cũng như mặt Đời, vì quí vị là những cộng sự viên cần yếu của Hội Thánh, đại diện cho Hội Thánh nơi địa phận mình trấn nhậm. Tuy ở vào địa vị hạ cấp của guồng máy Hành Chánh Đạo, nhưng quí vị có nhiệm vụ trọng yếu không kém gì các Chức sắc cao cấp của Hội Thánh. Hơn nữa, quí vị là những người thân cận hằng ngày với tín đồ, hòa mình với nhơn sanh, chia vui sớt nhọc với bổn đạo trong mọi trường hợp, thì quí vị chẳng nên khinh thường cái trách vụ cao đẹp của mình.

Cũng như ngoài mặt đời, nền tảng Chánh Trị quốc gia ở nơi Ấp Xã; trong Đạo Cao Đài, nền tảng Chánh Trị Đạo ở nơi Ấp và Hương Đạo, rồi kế đến là Tộc Đạo hay là Phận Đạo.

Mặc dầu ở vào hạ từng cơ sở, nhưng nếu trong Ấp hoặc Hương Đạo có điều xáo trộn, trên dưới thiếu sự êm ấm điều hòa, tín hữu có điều bất mãn, nhơn tâm ly tán, mất hẳn tình đoàn kết tương thân thì ở nơi cấp trên, Hội Thánh cũng chịu ảnh hưởng không hay, khó giữ vững uy tín đối với mặt đời và bổn đạo. Bởi thế, đem thắng lợi vẻ vang về cho Đạo hay làm Đạo thất bại, mang tai tiếng, cũng đều do nơi hành vi của quí vị.

Đã mang danh là Hội Thánh Em, quí vị nên thận trọng, giữ gìn tư cách đứng đắn, làm cho người đời kính nể, người Đạo tin cậy, đối đãi với toàn thể tín hữu nơi địa phận mình như tình huynh đệ trong gia đình, đem tình thương chan rưới khắpcả bổn đạo, giúp đỡ nương nhờ lẫn nhau, thực hành câu: Nhứt gia hữu sự bá gia ưu. Được vậy, dù cuộc đời chua cay bi đát đến mức nào, quí vị cũng không đến nỗi lâm vào cảnh khó khăn nan giải.

Điều cần nhứt là phải giữ trọn hiếu với Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ, giữ trọn trung thành với Hội Thánh, ngoài ra gắng công học hỏi, noi gương Thánh trước Hiền xưa mà rèn luyện đức tốt tánh lành.

Tiền tài châu báu có nhiều giá trị ở đời, nhưng đức tốt tánh lành có giá trị hơn nữa. Tiền tài châu báu có thể bị chúng cướp giựt, chớ đức tốt tánh lành không thể nào mất được, và khi xác thân trở về với cát bụi, những đức tốt tánh lành sẽ theo linh hồn ta để nâng cao địa vị ta nơi cõi thiêng liêng.

Đức Chí Tôn có bài thi dạy rằng:

Được vàng chớ khá gọi là may,
Vàng hết tội kia chất dẫy đầy.
Bỏ đức bỏ nhân bao kiếp đọa,
Khuyên con giữ Đạo đến cùng Thầy.

Phân biệt được lẽ cao thấp giữa tinh thần và vật chất, quí vị nên quí trọng cái Thiên chức của mình và gắng công làm tròn Thiên chức ấy. Muốn làm tròn Thiên chức, quí vị nên thực thi mấy điều sau đây:

1. Thực hành trọn vẹn Tứ Đại Điều Qui, ấn định nơi Chương 5 Tân Luật.

2. Phải giữ dạ vô tư mà cư xử với bổn đạo, không vì ai giàu mà trọng đãi, ai nghèo mà khinh khi.

3. Chỉ thi hành những việc do Hội Thánh ra lịnh bằng văn kiện chánh thức, không nên chia phe phân nhóm làm mất sự đoàn kết thân mật trong bổn đạo và gây khó khăn cho Hội Thánh.

4. Nếu có điều khó khăn không giải quyết được, phải thỉnh giáo bề trên, không nên phán định sơ suất.

5. Trong trường hợp nào cũng phải giữ uy tín của mình và nâng cao uy quyền của Hội Thánh.

Nếu quí vị tuân hành đúng theo lề lối ghi trên đây, tôi tin chắc quí vị sẽ thành công mỹ mãn và sẽ được người Đạo cũng như người đời kính phục.

Đã dấn thân vào Trường thi Công quả, quí vị phải chịu khó nhọc làm cho cái vốn đạo đức của mình ngày càng tăng lên mãi. Phải biết ưa thích công việc mình làm thì việc làm mới có thành quả tốt đẹp và sẽ đem hạnh phúc đến cho mình, vì hạnh phúc không cốt làm việc gì ta thích mà thích việc gì ta làm.

Cái vốn đạo đức mà quí vị cố gắng góp nhặt và dành dụm, ngày sau sẽ giúp quí vị được mãn nguyện, vì quí vị sẽ đạt đến địa vị trọng yếu trong hàng Thánh Thể Đức Chí Tôn và ngày đó, quí vị sẽ không tiếc công học hỏi cần cù nơi Hạnh Đường mà quí vị đang hiện diện trong cuộc lễ khai giảng hôm nay."

 

 

HẠNH HUỲNH KỲ

Hạnh Huỳnh Kỳ là cây cờ vàng do Đức Nguơn Thủy ban cho Ngài Khương Thượng Tử Nha. Trong lá cờ có thẻ mà không có chữ. Khi gặp việc nguy biến, chữ sẽ hiện ra trên thẻ, chỉ cho cách đối phó và giải quyết. Khi xổ cờ ra che thân thì có hàng ngàn bông sen vàng rủ xuống bảo vệ khắp thân thể không cho bất cứ vật gì xâm phạm vào thân thể.

Trên Thánh Tượng Ngũ Chi thờ tại Thiên bàn, Đức Khương Thượng Tử Nha là Đấng ngồi dưới chót hết ở hàng giữa, tượng trưng Thần Đạo. Ngài mặc áo vàng có thêu Bát Quái, tay mặt cầm cây roi gọi là Đả Thần tiên, tay trái cầm một cây cờ vàng gọi là Hạnh Huỳnh Kỳ.

 

 

HẠNH LÂM

Hạnh lâm là rừng trồng tòan cây hạnh.

Tích xưa: ông Đổng Phụng nước Tàu, trị bịnh không lấy tiền. Để tỏ lòng biết ơn ông thầy thuốc, mỗi người bịnh đem đến một cây hạnh trồng quanh nhà ông, dần dần tạo thành một rừng hạnh. Do đó, chữ Hạnh lâm dùng để kính xưng ông thầy thuốc nhơn đức và tài giỏi

Đôi liễn đặt trước cổng Y-Viện Tòa-Thánh:

-

Y nghiệp thuật Kỳ Hiên diệu dược hạnh lâm trừ vạn bệnh,

-

VIỆN đường thâm võ lộ tế nhơn công đức phục hồi xuân.

 

 

HẠNH NGỘ

Hạnh: May mắn, có phước. Ngộ: Gặp. Hạnh ngộ: May mắn gặp được.

Khánh thờ đóng bằng gỗ, làm Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn tại tư gia, hai bên có chạm đôi liễn:

幸遇高臺傳大道

好逢玉帝御塵間

-

Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,

-

Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.

Nghĩa là

May mắn gặp được Đức Chí Tôn truyền bá nền ĐĐTKPĐ,

Tốt đẹp gặp được Đấng Thượng Đế ngự xuống cõi trần.

Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo: May mắn gặp được Đức Chí Tôn truyền bá nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Hai câu liễn trên là cặp trạng rút ra từ bài thi Hán văn của Đức Chí Tôn, có in trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, mà hai câu đầu là:

Hảo Nam bang! Hảo Nam bang!
Tiểu quốc tảo khai hội Niết Bàn

 

DUYÊN HẠNH NGỘ

Nhân xuống thăm mộ Cửu Nương Cao Thị Khiết, (trên nắp mộ ghi bằng chữ Hán Cao-Thoại Kiết) các thiên sứ không hẹn mà đã gặp ở từ đường họ Cao liên ngâm, toát lên khẩu khí của bậc lãnh đạo, tiên đoán được thiên chức mai sau của mỗi vị một: ông Ngọc Lịch Nguyệt xướng đầu tiên:

1- Ông Ngọc Lịch Nguyệt:

Nâng chén trà thơm mời Đạo Muội
Đề câu không sắc gởi tri âm
Sắc không hai lẽ huyền thâm,
Chí tâm mới biết được tâm ta người

2- Ông Ngô Minh Chiêu

Ta thấu rõ máy trời cơ tạo
Trời cùng Ta một Đạo chí linh
Vô vi sẵn có hữu hình,
Hữu hình trong lại vô hình vô danh

Danh có đó mà danh không thiệt
Nhờ không danh mới biết đặng danh
Cổ kim mấy bực chí thành,
Không danh mà lại để danh muôn đời

3- Ông Thượng Trung Nhựt:

Cùng chung một bầu trời lồng lộng
Không thiên gì cuộc sống cho ai
Chí tâm sẵn có đủ đầy,
Muốn thành Tiên, Phật đạo đày phải cam

4- Đức Phạm Hộ Pháp:

Cơ phục thủy biết làm sao tả?
Mảnh thân này chi sá gian lao.
Quyết tâm xây đắp ĐÀI CAO,
Muôn dân chung hưởng nước giàu, nhà yên.

5- Đức Cao Thượng Phẩm:

Đạo vốn tật căn nguyên diện hữu,
Phật Tiên xưa thành tựu nhờ đây.
Chỉ so một cái tâm này,
Không thiên, không lệch, không sai không lầm.

Cùng tắc biến cao thâm máy tạo,
Biến tắc thông là Đạo trưởng thành.
Hỡi người sứ mạng lương sanh,
Giảm suy diệu lý tạo thành tương lai.

6- Ông Cao Triều Phát:

Mang một kiếm râu mày nam tử,
Nợ vi nhơn phải xử cho tròn.
Sá gì chức nghiệp cỏn con,
Sao không xây dựng nước non thanh bình (?)

Đọc xong sáu bài thi của sáu cao đồ toả lên chí tiến thủ của 6 vị:

- Ông Ngọc Lịch Nguyệt sẽ trở về với Đạo Phật ở Vĩnh Nguyên Tự.

- Ông Ngô Minh Chiêu tu theo lối vô vi.

- Ông Thượng Trung Nhựt muốn thành Tiên (Giáo Tông) sẽ bị nhân sanh khảo đảo.

- Đức Hộ Pháp hoàn thành xây dựng Toà Thánh (Đài Cao).

- Đức Cao Thượng Phẩm xả thân vì Đạo trước tiên.

- Ông Cao Triều Phát lập Cao Đài cứu quốc (1945) giúp đất nước hòa bình.

Cao Triều Phát (1889-1956) người Bạc Liêu. Thân sinh là Đốc phủ sứ Cao Minh Thạnh, thân mẫu là bà Tào Thị Súc, gia đình có 6 trai và hai gái. Người em gái thứ chín của ông là Cao Thoại Khiết tức Cửu Nương Diêu Trì Cung. Ông Phát theo Đạo qua đàn Minh Thiện (Thủ Dầu Một) của bác sĩ Trương Kế An tức Bảo Y quân Toà Thánh Tây Ninh.

Năm 1941 ông là chủ tịch Cao Đài mười hai phái thống nhất ở Hậu Giang. Năm 1945, ông được bầu làm chủ tịch Cao Đài mười một phái hiệp nhất (không có Toà Thánh Tây-Ninh) tại chùa Minh Tân. Ông lập Thanh Niên Đạo Đức Đoàn tại đây. Năm 1947 ông được bầu làm Hội Trưởng Cao Đài Cứu quốc mười một phái hiệp nhứt. Sau hiệp định Genève (1954), gia đình ông tập kết ra Bắc. Tháng 1 năm 1955, ông đảm nhiệm vai trò anh cả toàn Đạo miền Bắc, thành lập Cao Đài Cứu Quốc mười hai phái hiệp nhất.

 

 

HẠNH PHÚC

幸 福
F: Bonheur.

Đức Hộ-Pháp nói: "Ngày giờ này cái hạnh-phúc thiệt tướng là bởi khối thương yêu vô tận đối với con cái của Đức Chí-Tôn, tức nhiên là trong đạo-đức đó vậy. Hạnh-phúc nó làm cho Bần-Đạo sống một cách mạnh mẽ, sống một cách oai quyền, cả thảy đoán xét lại, khi chúng ta tạo dựng được một cái đại-nghiệp, hay gầy dựng một công nghiệp nào mà đặng hưởng đặc-ân của nó, thì công-nghiệp ấy vẫn còn giá-trị. Còn chúng ta có thể tạo công-nghiệp cũng không phải là một thời gian, một thời gian không thể gì đặng. Nếu cả triệu con người tin tưởng đặng, dầu công nghiệp ấy đem mạng sống của mình đặng ký thác cho nó đi nữa cũng phải làm. Giá-trị gì một mạng sanh, đem đổi hạnh phúc cho cả triệu người mà sao không đổi, cái hạnh-phúc chơn thật. Bần-Đạo cho hay, nếu Đạo Cao-Đài sẽ hưởng được cái hạnh-phúc vô ngàn của Đức Chí-Tôn ban bố ngày nay đã thiệt-tướng vì vinh-hạnh đó, Bần-Đạo đã lập được đại công đối với toàn cả con cái của Đức Chí-Tôn, Bần-Đạo đã lập được là nhờ cái quyền-năng vô đối của hạnh-phúc ấy".

Thi văn dạy Đạo:

Những là khổ cực chịu cơ đời,
Hạnh-phúc thử nhìn đặng mấy mươi?

 

 

HAO MÒN THÂN THỂ

Kinh Sám Hối có câu:

"Lo danh vọng hao mòn thân-thể,
"Ham làm giàu của để bằng non."

 

 

HÁO DANH

(Háo hay hiếu là ham thích, Danh là tên tuổi). Háo danh là người thích được người ta khen tặng, muốn nổi danh trong khi chính mình không có danh. Trong đời những hạng người này rất nhiều, chính đó mà nhiều mối nguy hại nảy sanh dù đời hay Đạo cũng thường hay gặp phải.

Pháp Chánh Truyền dạy: "Ðau đớn thay cho những người ấy! Thê thảm thay cho những kẻ ấy! Dám cả gan để tay vào mà tàn hại Chí Tôn; cái tội tình ấy lớn lao bao nã. Coi gương lại Juda bán Ðức Chúa Jésus Christ còn nhẹ, vì Juda ham ba chục nguơn bạc đặng nuôi môn đệ của Người mà bán Người, còn những kẻ nầy đây duy háo danh mà phản Ðạo".

 

 

HÁO SANH


E: To love the life.
F: Aimer la vie.

(Háo hay Hiếu là ưa thích, yêu mến: Sanh : sự sống). Đức hiếu sinh là đức to lớn như trời, là đức thương yêu sự sống cả muôn loài vạn vật, còn nói là Háo sanh đại đức 好生大德

Thầy dạy: "Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi chơn linh Thầy mà ra, hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống, vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng sanh Thầy phân phát khắp Càn Khôn Thế Giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm; nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hóa. Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa sanh cũng vậy, đến thế nầy lâu mau đều định trước, nếu ai giết mạng sống đều chịu quả báo không sai; biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ, các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy."

-"Thầy vì đức háo sanh nên chẳng kể bực Chí Tôn cầm quyền thế giái, đến lập Ðại Ðạo Tam Kỳ trong lúc Hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải. Ai biết Ðạo tức là có duyên phần, ai vô Ðạo tức là số chịu hình khổ luân hồi; phải mau chơn, bằng luyến ái sự thế, thì sau ăn năn rất muộn".

Kinh Sám Hối có câu:

"Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,
"Đức háo-sanh Tiên, Phật một màu."

 

 

HÀO QUANG


F: Auréole.

Hào quang là Ánh sáng rực rỡ được tỏa ra từ thân thể của các Đấng Tiên Phật hoặc các nơi Thiêng Liêng. Ánh hào quang chiếu sáng rực rỡ mở ra một con đường bay lên cao.

Con người cũng có hào quang, tuy nhiên còn tùy ở Chơn Thần thanh trược mà có nhiều ít khác nhau và màu sắc khác nhau. Với bậc chân tu thì phát ra nhiều và có màu trắng trong rất đẹp. Ma Quỉ, như Kim Quang Sứ thì hào quang đen, tím; Khi chiến đấu với Đức Lý Ngưng Dương (Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung) sau cùng thua, bị Đức Lý Ngưng Dương đập cho một gậy thì văng ra hào quang tím đen như mực văng ra trong lọ rồi đằng vân biến mất.

Đức Hộ-Pháp kể rằng: "Bần-Đạo nói, họ đương nói chuyện mà trên đầu họ muôn ánh hào-quang xẹt tứ tung ở không trung, họ đương nói chuyện ở đây mà họ điều-đình tới địa-giới khác, cả Càn-Khôn Vũ-trụ huyền-bí vô biên không tả đặng. Ấy là một phẩm-vị Thể Thiên Hành-hóa cầm quyền Tạo đoan, không có điều gì họ không làm đặng."

Kinh Đệ Thất Cửu có câu:

"Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,
"Hào quang chiếu diệu khai đàng thăng thiên."

Kinh Tán Tụng Thần Thánh Tiên Phật có câu:

"Hào-quang chiếu chín từng mây bạc,
"Thần, Thánh, Tiên thừa hạc cỡi rồng."

 

 

HẢO NAM BANG! HẢO NAM BANG!

!

Bài thơ này được Đức Chí-Tôn giáng ban cho Việt Nam:

 

Hảo Nam bang! Hảo Nam bang!

 

好 南 邦 好 南 邦!

Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn.

 

小 國 早 開 會 涅 槃

Hạnh ngộ Cao Ðài truyền Ðại Ðạo,

 

幸 遇 高 臺 傳 大 道

Hảo phùng Ngọc Ðế ngự trần gian.

 

好 逢 玉 帝 御 塵 間

Thi ân, tế chúng thiên tai tận,

 

施 恩 濟 眾 千 災 盡

Nhược thiệt, nhược hư vạn đại an.

 

若 實 若 虛 萬 代 安

Chí bửu nhơn sanh vô giá định,

 

至 寶 人 生 無 價 定

Năng tri giác thế sắc cao ban.

 

能 知 覺 世 敕 高 頒

Giải nghĩa:

Tốt đẹp thay nước Việt Nam! Tốt đẹp thay nước Việt Nam!
Một nước nhỏ mà sớm khai Hội Long Hoa.
May mắn gặp Ðấng Cao Ðài truyền cho nền Ðại Ðạo,
Hạnh phúc là gặp Ðấng Thượng Ðế ngự xuống cõi trần.
Ngài ban ơn, cứu giúp dân chúng, ngàn tai nạn tiêu mất hết,
Như là thực, như là hư nhưng muôn đời đều an ổn.
Rất quí báu cho nhơn sanh, không thể định giá trị được,
Nên biết giác ngộ người đời thì được Ðức Chí Tôn ban thưởng.

(Cặp trạng của bài thi nầy, tức là câu 3, 4 được dùng làm đôi liễn viết vào hai bên Thiên Bàn thờ tại tư gia).

Bài thơ trên đặc biệt là có 55 chữ ấy là cơ Nhị Ngũ, tức là hai con số 5 đi liền nhau. Hơn nữa câu đầu có 6 chữ "Hảo Nam bang! Hảo Nam-bang!" tức Tam Âm, Tam Dương, tượng Càn Khôn vũ trụ mà chính Đấng Thượng đế vi chủ. Còn nhiều điều mầu nhiệm về lẽ biến hóa của Đạo

 

 

HẢO PHÙNG

Thi văn dạy đạo có câu:

Hạnh ngộ Cao Ðài truyền Ðại Ðạo,
Hảo phùng Ngọc Ðế ngự trần gian.

 

 

HẢO Ý

Hảo là tốt (còn đọc là hiếu nghĩa là thích) Ý là sự suy nghĩ, ý tưởng. Hảo ý là có ý tốt. Sự chấp nhận, bằng lòng.

Ngài Thượng Trung Nhựt đọc tại Tòa Thánh: 01-12-1931 nói về nền Tân-Tôn-giáo Cao Đài: "Đối với sự kính trọng của chúng tôi, tiếc thay, các vị đại-diện của nhà cầm quyền thuộc-địa Pháp vẫn không có hảo ý đáp ứng. Một số ít tỏ ra thông cảm, khoan-dung; một số khác lại áp-dụng đủ mọi cách, cốt để ngăn chặn sự truyền-bá này".

 

 

HẠO NHIÊN THIÊN

Hạo Nhiên Thiên 浩然天 là Tầng Trời Hạo Nhiên (từng trời thứ 7) do Đức Chuẩn-Đề Bồ-Tát và Phổ Hiền Bồ-Tát Chưởng quản, nơi đây có Cung Chưởng Pháp nắm về pháp luật, vì vậy trong Di Lặc Chơn Kinh gọi tầng Trời này là Hạo Nhiên Pháp Thiên 浩然法天.Đến từng Hạo Nhiên Thiên, Chơn hồn nhìn thấy cảnh vật rừng núi chập chồng rất nên xinh đẹp.

Kinh Đệ Thất Cửu có câu:

"Nhẹ phơ phới dồi dào không khí,
"Hạo Nhiên Thiên đã chí môn quan."

 

 

HÁT BỘI

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Trường đổ bác cũng đừng léo tới,
"Phường trăng hoa hát bội khá từ.
"Những điều nhơ-nhuốc phải chừa,
"Hỗn-hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm."

 

 

HẮC ÁM


F: Obscur.

Hắc ám: Đen tối, không dáng tỏ.

Hắc ám là chỉ sự tối tăm, lạnh lẽo, u-ám nhìn bằng con mắt phàm, nhưng sự thật đó là cảnh đọa, cảnh của tội hồn vô căn vô kiếp, vì trong kiếp sống quá ham mê vật chất, không biết kỉnh Trời kỉnh Phật, tâm hồn quá nặng nề, giờ này khi hồn thác đi phải chịu theo luật "đồng thanh tương ứng" nghĩa là nặng thì chìm. Đến khi nào được nghe tiếng kinh tiếng kệ, tiếng chuông thức tỉnh thì được thăng tiến lên tùy theo trình độ giác ngộ.

Đàn Cơ này Thầy nói chuyện với người Pháp hầu đàn, bản dịch là: "Các con sẽ không còn chối cãi nữa được trước Tòa phán-xét chung rằng Thầy không cứu vớt nhơn-loại bằng những phương-pháp công hiệu. Dầu Thầy có khoan dung cách mấy đi nữa Thầy cũng không thể bôi xóa được những tội lỗi của các con đã làm từ lúc tạo thành nhơn-loại. Từ nay thế-giới phải chịu trong vòng hắc ám. Tinh-thần đạo-đức đã tiêu mất, sự thù hận tràn ngập khắp hoàn cầu"...Và tiếp theo đây:

Thầy dạy các bậc tiền bối rõ về nỗi hắc ám ấy rằng:

"Ðạo tuy cao, song nên biết sức Quỉ cũng chẳng hèn. Nếu không ngăn ngừa, dằn lửa nóng trong tâm thì lửa Tam muội của Quỉ Vương đốt cháy. Con khá hiểu lời Thầy và nên biết rằng, nếu con chẳng dụng quyền lực của Thầy ban cho con mà đương cự, dìu dắt các em thì một ngày kia, nó dẫn đi lần hồi hết, rồi còn một mình như chim lẻ bạn, như phụng lạc bầy, gặp cơn giông tố kia, cũng chẳng sức gì đởm đương cho khỏi sa nơi hắc ám. Chừng ấy thì thế giới phải tạo lập lại, sụt các con cho đến Ðịa cầu 72, đặng chờ lúc thiên niên đày vào Nghiệt Cảnh. Nên biết trách nhậm rất nặng nề, nếu chẳng kham thì con đường thiêng liêng kia đâu an vị được."

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Xem chất ngất ngàn hơi hắc ám,
Trông đìu hiu lặng lẽ phi phàm.
Lạnh lùng nào rõ Bắc Nam,
Một vùng âm khí bao hàm xung quanh.

Đức Quyền Giáo-Tông nói: "Than ôi! Nếu nhân-loại như thế sao khỏi động lòng Trời! Đấng CHÍ-TÔN vì háo sanh, Đại từ Đại-bi, thấy nhân-loại đang mờ-mịt trong vòng hắc ám, lầm đường lạc nẻo mới khai ĐẠI ĐẠO để độ dẫn chúng sanh thoát khỏi bến trầm-luân khổ hải này. Tôi chỉ rõ cho thiện nam tín nữ biết rằng: Người Nam không ĐẠO nhà, mà nay Đấng CHÍ TÔN thương tâm-đạo chúng ta nên khai ĐẠO tại đây".

 

 

HẮC CHỦNG

(Hắc là màu đen, Chủng là giống), giống người có màu da đen. Bởi trên thế giới có cả thảy năm giống dân: đỏ, đen, xanh, trắng, vàng. Đối lại về đất nước thì có năm Châu: Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc, ấy là cũng ứng vào con số Ngũ hành Âm và Ngũ hành Dương đó vậy. Mà giống dân da đen có mặt trước hết, đó là dân Ấn Độ, vì thế nhà Phật đến trước tiên ở Ấn độ mà khai hóa cho dân này.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bây giờ xin luận về duy vật nó nói loài người là một giống khỉ tiến hóa lên chớ không phải Trời sanh ra, Bần Đạo dòm lụng lại sắc dân của Ấn Độ chính mình Phật Thích Ca là dân của Ấn Độ, dân da đen gọi Hắc Chủng, Ngài sanh ra ở đó, da thay vì đen nó hơi hồng hồng, rồi người Đời tặng Ngài màu hồng, họ gọi Ngài là Kim Thân, vì cớ cho nên các tượng hình của Ngài đều phết vàng, bởi tại hai chữ Kim Thân ấy, chính Ngài là sắc dân da đen mà sắc dân da đen là một Chủng tộc đến mặt địa cầu nầy sớm hơn hết".

 

 

HẮC PHONG XUY CHÂU PHIÊU NHẬP CHI KHỔ HẢI

Có tích xưa: Ông Quách-Tử-Nghi, đời nhà Ðường khi còn nhỏ đang đi học, một hôm ông xem kinh Phật thấy câu "Hắc phong xuy châu phiêu nhập chi khổ hải". Nghĩa là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào trong biển khổ. Ông không hiểu ý câu ấy ra sao, bèn đến hỏi một Hòa-Thượng, vị Hòa-Thượng thấy hỏi như vậy, thì thịnh nộ mắng ông Quách Tử-Nghi rằng mầy còn con nít biết gì mà dám hỏi những câu đó. Ông Quách-Tử-Nghi thấy vị Hòa-Thượng trả lời như vậy thì nổi giận hầm-hầm tím mặt. Lúc ấy vị Hòa-Thượng bèn ung dung day lại cười mà cắt nghĩa cho ông Quách-Tử-Nghi biết rằng: Sự thịnh nộ của công-tử từ nãy đến giờ tức là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào biển khổ đó.... Ông Quách-Tử Nghi hồi tâm tỉnh ngộ, bèn chấp tay tạ ơn vị Hòa-Thượng, đã dùng một cách gián-tiếp mà chỉ giáo cho mình.

Ôi! Ở đời biết bao nhiêu luồng gió đen, hằng ngày lẩn-quẩn xung quanh mình của chúng ta, nếu chúng ta không hết sức lấy tấm lòng kiên nhẫn ra chống chỏi, thì cơ hồ thân thể của chúng ta như một chiếc thuyền nhỏ kia, có ngày chìm đắm vào trong bể khổ.

 

 

HẰNG Quẻ 32. Quẻ Lôi Phong Hằng

 

 

Quẻ 32. Quẻ Lôi Phong Hằng

 

 

Tượng: TAM LẬP

Quẻ này là quẻ Lôi Phong Hằng. Tốn hạ là nội Tốn. Chấn thượng là ngoại Chấn. Chấn là Lôi, Tốn là Phong, nên tên quẻ đặt là Lôi Phong Hằng.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ, sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là vì sao?

Sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là để nói về đạo vợ chồng. Trước đã nói về sự giao-cảm nhau giữa Nam và Nữ, nam nữ có cảm nhau thì mới thành được vợ chồng, vợ chồng cũng là cặp Âm Dương của cơ Tạo-hóa vạn-linh sanh chúng, là đầu mối, là kỷ-cương của cuôc sống hữu hình nầy. Bởi nam nữ có hòa hợp nhau thì mới thành chồng-vợ, phu phụ. Khi đã thành phu-phụ rồi tất phải có tính cách lâu dài; lâu dài mà không đổi thay nên mới gọi là đạo Hằng, còn gọi là Thường-đạo, do vậy mà sau quẻ Hàm thì đến quẻ Hằng.

Quẻ Hàm là thời mà quẻ Cấn ợng thiếu nam đặt ở dưới của quẻ Đoài ợng thiếu nữ, là chỉ hai người trai gái còn đương trẻ tuổi mà cảm mến với nhau. Đã cảm mến nhau tất sẽ thành phu-phụ. Khi đã thành phu-phụ rồi, thời đôi trai gái kia đã phải bắt đầu một cuộc sống tự-lập tự cường của mình. Sở dĩ quẻ Hằng đặt Chấn tượng trai lớn ở ngoài mà quẻ Tốn tượng gái lớn ở trong là có dụng ý phân chia trách nhiệm để cho cuộc sống vợ chồng được hạnh-phúc lâu dài. Chúng ta là những người đi tìm chân-lý tức là học ĐẠO, nên quán-xét cho tinh tường nghĩa-lý của sự đặt để quẻ trên, dưới, trong, ngoài, nội, ngoại, trước sau…thì mới thấy đươc cái huyền-diệu của Đạo. Hai quẻ Hàm Hằng là đầu mối cho phần Nhân-đạo do theo đó mà Thánh-nhân mới có câu răn:"Dục tu Thiên đạo, tiên tu Nhân-đạo, nhân-đạo bất tu Thiên đạo viễn hỹ".

Kinh Hôn-Phối Cao-Đài nói về Đạo vợ chồng ấy:

Cơ sanh-hóa Càn-Khôn đào tạo,
Do âm-dương hiệp đạo biến thiên,
Con người nắm vững chủ quyền,
Thay trời tạo thế giữ giềng nhân-luân.

Nay là buổi Cao Đài phương tu là nhập thế, tức là dù bước vào con đường tu hành nhưng vẫn có cuộc sống riêng như tất cả mọi người, vẫn vừa lo tu tâm dưỡng tánh vừa lo cho việc đạo pháp như một công chức vậy. Duy có một điều là phải hướng cuộc đời mình vào con đường Thánh thiện. phải biết giữ qui điều giới luật: Ngũ giới cấm Tứ đại điều qui. Nếu công chuyện sinh sống mà phạm vào việc sát sanh, phạm đến đạo lý luân thường…phải tự ý thức mà chuyển đổi nghề nghiệp hầu cho tinh thần mình được đến gần chân thiện mỹ, ấy là hoàn thành trách nhiệm của người làm Môn-đệ của Đấng Chí-Tôn, cũng song hành với công việc gia đình của mỗi người vậy.

Trước, quẻ Hàm tượng là Môn đệ của Đức Chí Tôn. Những thiện nam tín nữ trước khi vào Đạo thì cũng phải tìm tòi, đắn đo, tìm hiểu nguồn Đạo phát xuất từ đâu, cách tu hành, sự tín ngưỡng như thế nào, là cả một sự nghiên cứu, lọc lừa lắm mới Nhập môn vào Đạo ấy. Trừ ra là truyền thống của gia đình thì sự xét đoán ấy có phần dễ dàng, ta chỉ cần nghiên cứu giáo lý, giáo pháp ấy cho tinh tường mà thôi. Vì sự học hỏi đó đối với Đạo Cao Đài là con đường tu hành quá rõ-ràng là thi hành TAM LẬP. Việc hành Tam lập này không phải một ngày, một bữa,hay một giai đoạn, mà nó là công việc thường hằng như cơm ăm nước uống hằng ngày vậy. Thế nên Quẻ Hằng tượng cho vấn đề Tam lập chính là: lập đức, lập công, lập ngôn. Ấy là phương của Cao-Đài Đại-Đạo này vậy.

Đức Hộ-pháp dạy về Tam lập là Lập đức, lập công, lập ngôn:

"Một kiếp Tu chưa chắc đã về được với Đức Chí Tôn, muôn năm ngàn kiếp mà nếu thiếu Tu, cũng không khi nào về được với Đức Chí-Tôn, mấy Anh mấy Chị rán nhớ điều đó, mà Tu thì sao? Trong cửa Đạo Cao-Đài này đã dạy Tu rồi, nhứt là Bần-Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn đó vậy.

 

 

HẰNG HÀ SA SỐ


E: Inumerable.
F: Innombable.

(Hằng: tên con sông linh thiêng ở Ấn độ, gọi là sông Gange, : sông, Sa: cát; Số: con số; nhiều không đếm hết). Hằng Hà sa số là nói về số nhiều như cát trong sông Hằng vậy. Sông Hằng (Gange) là nơi mà Đức Phật xuống tắm rồi mới biết mình đã đắc Đạo. Khi tắm thì Ngài cầm chiếc bình bát trên tay, khấn nguyện rằng: nếu như quả thật tôi được chứng ngộ thì cho chiếc bình này trôi ngược dòng sông. Quả được như nguyện! Từ đó về sau sông Gange được coi như một linh giang. Tại tỉnh Tây Ninh đây Đức Hộ-Pháp cũng cho biết sông Cẩm Giang là linh giang cũng như sông Gange bên Ấn Độ vậy. Ngài truyền cho sau này khi qua một thời Giáo Tông thì lấy hết hài cốt ở đất Nghĩa Địa Thái bình thiêu, lấy tro phần đầu cho vào lọ nhỏ để thờ trong hầm Bát Quái. Số tro thừa thì đem đổ xuống Cẩm Giang. Phải chăng linh giang cũng lả "Bảo giang" mà trong Sấm Trạng Trình có câu "Bảo giang Thiên tử xúât"?

Đức Chí-Tôn dạy: "Cõi Niết-Bàn là chư Phật ngự: Phật Tổ ngự nơi hướng Tây, Quan-Âm ngự nơi hướng Nam, mỗi từng đều có sơn xuyên hà hải, tứ phương bát hướng, liên đài hằng hà sa-số Phật."

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào?

CƠ của Đức Nguyệt Tâm giáng trả lời:

Tùy theo luật cân phân tấn hóa,
Trong một bầu võ trụ nào xa.
Tính năm kể tháng hằng hà,
Từ trong vật chất sang qua phẩm người.

 

 

HẰNG SANH


E: Immortal
F: Immortel

Hằng: Tên một quẻ trong Kinh Dịch, ý nói: thường có, giữ được lâu dài. Sanh: sống. Hằng sanh là hằng sống, sống hoài không chết. Hằng sanh đồng nghĩa: Trường sanh, bất tử.

Cõi thiêng liêng hằng sống: Cõi của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Con đường hằng sanh: Con đường đi lên cõi thiêng liêng hằng sống.

Kinh Phật-Mẫu có câu:

"Ngồi trông con đặng phi thường,
"Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh."

 

 

HẦM BÁT QUÁI

Phần dưới của 12 cấp Bát Quái Đài, tức là thuộc phần nền của Bát Quái Đài, có đào một cái hầm lớn, được xây cất kiên cố theo hình Bát Quái, có thông hơi và có nắp đậy chắc chắn, có cầu thang đi xuống, gọi là Hầm Bát Quái. Hầm Bát Quái được dùng làm nơi cất giữ tro thiêu hài cốt của các Chức sắc Đại Thiên Phong từ hàng Tiên vị trở lên, tức là từ phẩm Đầu Sư hay tương đương trở lên. Hài cốt nầy đặt trong liên đài, được lấy ra từ các bửu tháp, đem làm lễ hỏa thiêu tại Cửu Trùng Thiên nơi Đại Đồng Xã trước Tòa Thánh, lấy tro đựng vào thố, bên ngoài có ghi rõ phẩm tước, Thánh danh, năm sanh năm tử, và ngày hỏa thiêu, để lưu truyền kỷ niệm về sau.

Trong đám tang Ngài Bảo Đạo Ca Minh Chương (đăng Tiên ngày 19-10-Đinh Mão, dl 13-11-1927), Đức Chí Tôn dạy Đức Phạm Hộ Pháp như sau:

"Thầy cũng nhắc lại với con rằng: Đủ 3 năm phải thiêu hài cốt, lên tượng, đặng đem nó vào Bát Quái Đài nghe! Nơi mộ nó phải để quan tài khỏi mặt đất một tấc mà xây tháp y như lời Thầy đã dặn. Trên mặt tháp để chữ vàng "Bảo Đạo Chơn Quân", nhớ à! " (Trích trong Đạo Sử II trang 314 của Bà Nữ Đầu Sư Nguyễn Hương Hiếu).

Trong Hầm Bát Quái hiện nay có đặt 6 cái thố đựng tro thiêu hài cốt của 6 vị Chức sắc Đại Thiên phong đã đăng Tiên:

1- Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.
2- Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh.
3- Thái Đầu Sư Thái Thơ Thanh.
4- Ngọc Đầu Sư Ngọc Trang Thanh.
5- Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.
6- Bảo Đạo Ca minh Chương.

 

 

HÂN HOAN

欣 歡
F: Joyeux, heureux.

Đức Phật-Mẫu ban cho Thi:

Diêu Cung Phật Mẫu rất hân hoan,
Vội ngự Thanh Loan đến địa hòan.
Xưa bồi tâm Thánh nơi Hớn Đế,
Nay thối linh đô chốn Nậm Bàng (?).
Biển trần lắm khách còn mê luyến,
Đường Đạo vì con phải luận bàn.
Sắc chỉ Tam Kỳ chầu Hội Yến,
Phái vàng mẹ lãnh ngự trần gian.

 

 

HẤP HỐI

E: To be in the agony.
F: Être à l’agonie.

Hấp hối là giai đoạn chuyển mình của một người trước khi chết, họ thường xảy ra nhiều hiện tượng, đến khi nào dứt hết điển quang là lúc trút hơi lìa mạng sống.

Vì con người đều phải chịu trong sự luân hồi sinh tử, cho đến khi giải thoát. Nhưng thường, trước buổi lâm chung phải nhớ cầu xin với Chí Tôn, Phật Mẫu và chư Phật, Tiên, bởi vì trong giai đoạn đó gọi là cận tử nghiệp 業.

Bí pháp Cầu Hồn Khi Hấp Hối của Đạo Cao Đài nhằm nhắc nhở, đánh thức tâm thần người sắp lâm chung phải định thần định tánh mà thành tâm cầu nguyện "Người ta chết là khi sợi từ khí cột dính vật thể và khí thể bị bứt đi, thế là Khí phách và Thần hồn lìa xác thịt" nên tất cả đều đau đớn.

Phải Niệm danh Thầy để được giải thoát…

Đức Hộ-Pháp giải trong Con đường Thiêng-liêng hằng sống: "Hỏi thử tội tình của chúng ta đã làm trong kiếp sanh, Đức Chí-Tôn để trong phương-pháp nói rằng "Tội tình các con đầy dẫy nơi mặt địa cầu này mà đến giờ chót, các con biết kêu danh Thầy thì Thầy đến cứu, Thầy đem Bí-pháp giải thoát để trong tay các con đặng các con đoạt chơn pháp giải thoát đó vậy. Kêu danh Thầy là "Nam-Mô Cao-Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma-Ha-Tát".

Bài Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho chúng sanh để tụng đọc, cầu xin cho người đang cơn hấp hối.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối
(Giọng Nam-Ai)

Rắp nhập cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống,
Chốn quê xưa giải mộng trần gian.
Dìu đường thoát tục nắm phan,
Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải căn.

Diêu Trì Cung sai nàng Tiên Nữ,
Phép Lục Nương gìn giữ Chơn hồn.
Tây phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,
Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi Âm.

Ớ (tên họ kẻ qui vị) thành tâm cầu nguyện,
Nguyện Chí Tôn linh hiển độ sanh.
Ăn năn sám hối tội tình,
Xét câu minh thệ gửi mình cõi thăng.

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,
Đừng hãi kinh, cầu đảo Chí Tôn.
Cửa Địa ngục, khá lánh chơn,
Ngọc Hư Cực Lạc, đon đường ruổi dong.

Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,
Dầu oan gia tội báo buộc ràng.
Chí Tôn xá tội giải oan,
Thánh, Thần, Tiên, Phật, cứu nàn độ vong.

Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc Đẩu,
Kìa im lìm phúc hậu Nam Tào.
Cảnh thăng trổi gót cho mau,
Xa vòng tục lự đặng chầu Chí Linh.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn)

 

 

HẦU ĐÀN

E: To assist at a ceremony.
F: Assister à une cérémonie.

Hầu: Đứng chầu chực kế một bên. Đàn: một đàn cúng nơi Thánh Thất hay Điện Thờ. Có Tiểu Đàn và Đại Đàn. Hầu đàn là khoanh tay đứng hầu trong một đàn cúng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Vì vậy mà Lý Thái Bạch định cho làm đại lễ nơi Thánh Thất Cầu Kho cho các môn đệ có thể hầu đàn đủ mặt.

 

 

HẦU HẠ

Vendredi, 15 Octobre 1926 (09-9-Bính Dần).

THẦY- Các con nghe:"Thầy hằng nói với các con rằng: Thà là các con lỗi với Thầy thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ chớ chẳng nên động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì họ chẳng tha thứ bao giờ. Thầy cũng đã nói mỗi khi chơn linh Thầy giáng Ðàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ. Các con nếu mắt phàm thấy đặng phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng, nhưng thấy chẳng đặng nên tội cũng giảm nhẹ đó chút."

 

 

HẦU MÃN

E: On the point of end.
F: Sur le point de fin.

Hầu: Đứng chầu chực kế một bên. Mãn: hết. Hầu mãn là gần hết. Hạ nguơn hầu mãn là thời kỳ Hạ nguơn sắp hết.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Đạo Trời mở ra cho một nước tất là ách nạn của nước ấy hầu mãn.

 

 

HẬU (Nguyễn Trung Hậu Tự Thuần Đức) (Tên)

BẢO PHÁP Hiệp Thiên Đài

Ngày 30-12-Ất Sửu (dl: 12-2-1926) hiệp với ông Ngô văn Chiêu, là trong số 12 Môn đệ đầu tiên của Đấng Chí Tôn, kỷ niệm qua bài thi, có câu "HẬU, ĐỨC, TẮC, CƯ thiên địa cảnh". Cách đây ít ngày, Đức Thượng Đế giáng cơ dạy mấy ông: Trung, Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức phải hiệp với ông Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo.

Ngài lại dạy rằng, mỗi mỗi phải do nơi ông Chiêu là Anh Cả. Lúc nầy trong Đạo kể được 13 người:

1-Ngô Văn Chiêu

 

2-Lê Văn Trung

 

3-Vương Quan Kỳ

4-Nguyễn Văn Hoài

 

5-Đoàn Văn Bản

 

6-Võ Văn Sang

7-Lê Văn Giảng

 

8-Lý Trọng Quí

 

9-Cao Quỳnh Cư

10-Phạm Công Tắc

 

11-Cao Hoài Sang

 

 

12-Nguyễn Trung Hậu

 

13-Trương Hữu Đức.

 

 

Đến đêm 30 tháng chạp năm Ất Sửu (dl 12-2-1926), Đấng Thượng Đế giáng cơ cho mỗi người một bài thi Đêm nay, hai ông Trương Hữu Đức và Cao Hoài Sang vắng mặt, thế nên hai vị này Đức Thượng Đế không cho Thi.

- Bài cho ông Nguyễn Trung Hậu tự Thuần Đức:

THUẦN phong mỹ tục giáo nhơn sanh,
ĐỨC hóa thường lao mạc vị danh.
HẬU thế lưu truyền gia pháp quí,
GÍAO dân bất lậu tán thời manh.

 

 

HẬU ĐIỆN và BÀN THỜ CỬU HUYỀN THẤT TỔ Nơi Báo Ân Từ

殿

 HẬU ĐIỆN và BÀN THỜ CỬU HUYỀN THẤT TỔ Nơi Báo-Ân-Từ.

 

 

HẬU LAI

後 來
E: Future.
F: Futur.

Kinh Sám Hối rằng:

"Giữ cho trong sạch linh hồn,
"Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai."

 

 

HẬU NHỰT

Thi văn dạy Đạo có câu:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm môn,
Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.

 

 

HẬU SỰ

後 事
E: The funeral.
F: Le funérailles.

Hậu: Sau, đời sau, phía sau. Sự: việc. Hậu sự là công việc sau khi chết. Ý nói: Đám tang.

 

 

HẬU TẤN

後 晉
E: Young generation.
F: Postérité.

Quyền Giáo Tông giáng: "Một điều Anh ước mong sao hành trình của mỗi em làm thế nào cho đoàn hậu tấn để tâm kính mến lo cho các em, cũng như các em lo cho Anh từ thử".

 

 

HẬU THẾ

後 世
E: Future generation.
F: Générations futures.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Lập Ðạo dầu nên ngàn thuở để,
Nêu danh hậu thế tiếng bền dai.

 

 

HẬU THIÊN BÁT QUÁI

* Thứ-tự Bát-quái Hậu-Thiên là: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, vận hành theo chiều thuận với kim đồng-hồ. Chỉ riêng Bát-quái Đồ Thiên đi nghịch với chiều kim đồng-hồ, gọi là nghịch chuyển.

Về số, lấy theo số của Bát-Quái Hậu-Thiên: Nhứt Khảm, nhì Khôn, tam Chấn, tứ Tốn, ngũ Trung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly. Như vậy phương hướng của Bát-Quái Đồ Thiên được định-vị là theo hướng Đền Thánh hiện nay theo Thánh-ý của Thầy, 4 phương chánh:

 

 

 

Phương hướng của Bát Quái Đồ Thiên đặt nghịch chuyển với Bát-Quái Hậu Thiên và lật ngược lại, cho nên bấy giờ khác hẳn với Bát-Quái Hậu-Thiên là Ly ở Bắc, Khảm ở Nam

Tại sao Bát-Quái Cao-Đài phải đặt nghịch chuyển với Bát-Quái Hậu Thiên?

- Thứ nhứt là đường Đạo phải đi nghịch lại như vậy mới gọi là trở về nguồn, Thầy cũng dạy "Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh thiêng liêng".

- Thứ hai là chính Thầy đã "chiết Khảm điền Ly phản vị Càn" như chúng ta có bàn đến, vì trước đây Bát Quái Hậu Thiên là còn ở thời-kỳ bó-buộc nên Ly Nam, Khảm Bắc, người Tu phải gắng công phu luyện tập riêng mỗi cá-nhân. Nay là Thế-giới Đại Đồng, lại nhằm cơ Đại-Ân-Xá của Chí-Tôn nên có rộng rãi hơn nhiều mới độ tận 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị. Thầy đến chuyển đổi lại là Khảm ở Nam, Ly ở Bắc. Do đó vị-trí của các Cung Bát-Quái Đồ Thiên nằm vào các hướng sau đây:

CÀN là hướng khởi ở Tây Nam
(thay vì Tây Bắc của Bát-Quái Hậu-thiên).

 

 

 

Như vậy, Bát-Quái mà Giáo-Tông làm chủ đây là Bát Quái Đồ-Thiên, chỉ riêng Đạo Cao Đài mới có; đó là tổng hợp của hai cái Âm Dương hợp lại, tức là âm dương hỗn-hợp trong cơ sanh biến của Vạn-linh. Vậy là kỳ khai Đại-Đạo này Ngài đã đặt Ly lên Khảm và đặt Khảm lên Ly để tất cả thành quẻ CÀN Gọi là "Chiết Khảm điền Ly phản vị CÀN".Có nghĩa là lần này trong nguơn hội mới của Đạo Cao-Đài người tu đúng nghĩa là phụng sự cho nhơn-sanh tức PHỤNG SỰ CHÍ-LINH. Phụng sự Chí-linh là phụng sự Trời đó vậy.

Một người đứng đầu của nhơn-sanh để giáo-hóa nhơn sanh là Giáo-Tông, cho nên "Giáo-Tông có quyền thay thế cho Thầy mà dìu-dắt con cái của Thầy trong đường Đạo và đường Đời." Trách-nhiệm Thiêng-liêng của ông Lê-Văn Trung là một sự được đặt để trước, giờ đến đây để làm sứ-mạng, vì vậy bài thơ đầu tiên Chí-Tôn ban cho, xem như là một bản-đồ được để trước mắt cho Người để nhắc-nhớ, đồng thời nhơn-loại nhìn vào đó để do theo cử-chỉ, lời dạy của Người mà làm "bài học tắt" trong việc tu-hành: Người chính là một trong những "Lương sanh" được chọn để "cứu vớt quần-sanh":

- Câu 1 "Một trời, một đất, một nhà riêng" đó là đầy-đủ ý-tứ trong các hình vẽ về Bát-Quái Cao-Đài rồi.

- Câu 2 "Dạy-dỗ nhơn-sanh đặng dạ hiền" đó là trách nhiệm giáo-hóa nhơn-sanh trong con đường hành thiện của kỳ ba chuyển thế và cứu thế của Cao-Đài mà Giáo Tông là Anh Cả của nhơn-sanh.

- Câu 3 "Cầm mối Thiên-Thơ lo cứu chúng". Thiên-Thơ chính là quyển sách trời. Hiện nay trong cửa Đạo này là hai quyển "Thánh-Ngôn Hiệp Tuyển", trong đó xuất phát những yếu-lý của Đạo là Tân-Luật, Pháp-Chánh Truyền làm thước khuôn cho người tu-hành để thành Tiên tác Phật. Vì tính cách quan-trọng đó nếu ai sửa đổi chơn truyền phải đắc tội.

Quyển sách nơi tay Ngài là hình ảnh của Ngài đặt trên bức Tượng ở mặt tiền Đền-Thánh (nơi lầu chuông tức Bạch-Ngọc Chung-Đài) là cuốn THIÊN-THƠ đó vậy. Vai trò của Ngài là chuyển thế và cứu thế.

- Câu 4 "Đạo người vẹn-vẻ mới thành Tiên".

Bổn-phận của Giáo-Tông là giáo-hóa nhơn-sanh do theo Thánh-ý của Thầy, chỉ làm theo Đạo Trời mà thôi.

Giáo-Tông làm chủ Bát-Quái Đồ-Thiên:

Pháp-Chánh-Truyền Chú-giải có dạy rõ về quyền hành của Giáo-Tông:

"Trên đây Thầy đã nói rằng: có quyền dìu-dắt trong đường Đạo và đường Đời, thì Thầy đã chỉ cho rằng: có quyền dìu-dắt các con cái Thầy trên con đường Đạo đức của chính mình Thầy khai tạo và trên con đường Đời cơ Đạo gầy nên chớ chẳng phải nói trọn về phần Đạo và phần Đời, nghĩa-lý phân biệt nhau duy chỉ có chữ ĐƯỜNG và chữ PHẦN, xin ráng hiểu đừng lầm hai chữ ấy

Điều này đã báo cho biết Đạo Cao-Đài có đến 4 Bát-Quái mà trách-nhiệm của Giáo-Tông là chỉ đảm nhiệm hai Bát-Quái Cao-Đài nói về Thiên-Đạo mà thôi, có nghĩa là Đức Chí-Tôn mở Đạo kỳ này có thêm hai Bát Quái nữa tức là tạo con đường trở về, là con đường cho nhân-loại được thành Tiên tác Phật trong nguơn hội mới. Nói rõ hơn đó là Chơn-pháp, Chơn-truyền của Đức Chí Tôn đó vậy.

- Vậy phần ĐẠO là Bí-Pháp của Thế-Đạo, có Bát Quái Tiên Thiên

- Phần Đời là Thể-pháp của Thế-Đạo có Bát Quái Hậu-Thiên (cả hai thuộc về Thế-đạo)

Hai Bát-Quái này đã có cách nay 6.000 năm do Vua Phục-Hi sáng tạo, rồi đến Văn-Vương, Châu-Công, Khổng Tử tiếp tục bổ cứu thêm, còn lưu lại đến bây giờ..

Nay Thầy nhấn mạnh "Nghĩa lý phân biệt nhau duy chỉ có chữ "Đường" và chữ "phần".

Giờ phút này Đức Chí-Tôn đến ban cho nền Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ Tam-giáo Qui nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt, không phải Ngài hủy bỏ các Bát-Quái ấy, mà chính là do theo các Bát-Quái trước đây rồi mở thêm hai Bát Quái nữa, tức là tạo cho nhân-loại một con đường trở về trong cảnh an-nhàn tự toại cho linh-hồn.

Nay, nhiệm-vụ của Giáo-Tông là đảm nhiệm hai Bát-Quái Cao-Đài này, chính là thực hiện cho được con đường "Thiên-đạo".

- Đường Đạo tức nhiên Bí-pháp của Thiên-Đạo là Bát-Quái Hư-vô.

- Đường Đời tức nhiên Thể-Pháp của Thiên Đạo là Bát-Quái Đồ Thiên.

Hơn nữa, Pháp Chánh-Truyền đã qui-định:

"Giáo-Tông thay mặt cho Thầy đặng bảo-tồn chơn đạo của Thầy tại thế thì Anh Cả nhơn-sanh đặng dìu-dắt con cái của Thầy, dầu lớn tuổi hay là nhỏ tuổi quyền Thiêng liêng đã định vậy".

Trong Hội-Thánh có chia ra hai phần hữu hình là Cửu Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài:

Đây là hệ-thống tổ-chức của Cửu-Trùng-Đài từ trên xuống dưới là:

 

 

 

HẬU THỔ


E: Genius of earth.
F: Génie du sol.

Hậu thổ Là vị Thần cai quản đất đai một vùng lớn. Thổ địa là vị Thần cai quản một khu vực nhỏ. Khi đưa xác người vào chôn trong đất nghĩa địa rồi thì tất cả đều xin cho gửi lại đây nắm xương tàn của người qui liễu, nhờ Hậu Thổ gìn giữ dùm dù nắm xương tàn cốt rụi.

Kinh Hạ Huyệt có câu:

"Nhờ Hậu Thổ xương tàn gìn giữ,
"Nghĩa Chí Tôn tha thứ tiền khiên."

 

 

HẬU Ý

厚 意
E: Good intent.
F: Intention généreuse.

Hậu: Dày dặn, tốt. Ý: ý kiến. Hậu ý là ý kiến tốt.

 

 

HI - VI

Đạo của Đức Khổng Tử, chẳng những không tên mà còn vô hình, vô sắc, vô hương, vô xú nữa. Nói như thế thì Đạo là cái "Không". Nhưng rồi Ngài sợ người ta hiểu lầm Đạo là trống rỗng; cho nên Ngài nói: Đạo dường như "Không" mà cũng dường như "Có". Ngài mô tả cái "Có" rằng:

Đạo có ba trạng thái DI, HI và VI:

- Xem mà chẳng thấy nên gọi là DI,
- Lóng mà chẳng nghe nên gọi là HI,
- Bắt mà chẳng nắm được gọi là VI".

DI, HI, VI là ba trạng thái hỗn hợp thành một thể. Cái thể ấy: trên, không phản chiếu ánh sáng; dưới, không ẩn khuất bóng tối, vằng-vặc không tên lại lui về chỗ vô vật, thật Đạo là trạng của cái vô trạng. Lại nữa, nó dường có, dường không và lưu hành không ngừng. Đón xem phía trước thì không thấy đầu mối, chận xem phía sau thì không thấy chỗ cuối cùng.

Thị chi bất kiến danh viết DI,
Thính chi bất văn danh viết HI
Bác chi bất đắc danh viết VI
Thi văn dạy Đạo có lời rằng:
Khỏe thân chẳng kẻ học Hi Vi,
Biết luận theo khi biết tính thì.
Mơi ngủ, tối cờ, khuya lại rượu,
Cân đai mang mến lắm điều khi.

 

 

HỈ

Chữ Hỉ là Mừng: Con người khi gặp việc đáng vui mừng thì cũng phải trầm tĩnh như thường, chẳng nên mừng thái quá mà biến thành sự hại. Ví như ông Trình Giảo Kim, nghe tin dòng họ Tiết, Tiết Giao, Tiết Quỳ, phò Lý Đáng, đem binh về phục nghiệp Đường trào, trừ Võ Hậu, thì ông ta mừng quá độ, phát thinh đại tiếu, cười ngất cho đến tắt hơi. Ấy là mừng quá mà chết. Đời nay có kẻ trúng số độc đắc mà chết.

 

 

HIỀM NGHI

嫌 疑
E: The suspicion.
F: Le soupçon.

Hiềm: Có điều không bằng lòng nhau đến mức ghét nhau. Nghi: ngờ vực. Hiềm nghi, khi xưa nói là Hềm nghi, là ngờ vực vì ghen ghét nhau.

Thầy dạy: "T..T..C.. Từ đây nên liệu chừng nhau mà điều đình gánh Đạo, điều nào mà theo Tân-luật, do Thánh-ý, hiệp lòng chư đạo-hữu, bổ-ích cho nền Đạo thì các con nên thung-dung liệu nhau mà thi-hành, chẳng cần phải cầu hỏi. Các con được tin cậy nhau, dìu-dắt nhau, nâng-đỡ nhau mà phủi hết sự hiềm-nghi nhau theo thế tình, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui-vẻ lớn-lao hơn hết đó. Còn kẻ phản bạn trở lòng, luật thiên-điều cũng có buổi trừng răn cách xứng đáng vậy".

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Nhà thờ Đạo mới mừng có chỗ,
Lời thị phi chưa tỏ với đời.
Om-sòm nghị luận khắp nơi,
Người thời kích bác, kẻ thời hiềm nghi.

 

 

HIÊN VIÊN HUỲNH ĐẾ

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Từ Hiên Viên Huỳnh Ðế chí dĩ Hạ Nguơn, biết bao nhiêu cuộc tuần hoàn thạnh suy bĩ thới. Xem lắm nghiệp bá đồ vương dựng nền Võ trụ mà rốt cuộc lòng tham tràn nhẫy, tánh bạo ngược lẫy lừng, làm cho nhơn sanh đồ thán. Ðấng Chí Tôn (Hóa công) đòi phen đổ lụy phải lập cuộc tang thương trừng trị, vì câu "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo".

Cả một nguồn cội của phép điều hòa đã tìm được mà tin dùng văn từ buổi cổ thời do nơi Đức Hiên Viên Huỳnh Đế. Khi Ngài ngự chế ra Lễ Nhạc, Ngài để ý nghe thấy sự hỗn hợp của Bát hồn: Bào, Thổ, Cách, Mộc, Thạch, Kim, Ty, Trúc, tuy là khác giống nhau mà có thể tỏ ra vẻ hòa âm. Từ ấy, Ngài cứ bình tâm định trí để tìm hiểu lẽ nhiệm mầu của luật thiên nhiên. Chừng rõ thấu cơ mầu của Trời Đất, Ngài mới tùy nơi hình thể của thức hồ cầm (tục gọi là đờn tỳ bà) có vẻ trạng thái Thiên triều: đôi bên tả hữu có dây văn dây võ, trên có Tứ Thiên Vương, dưới có Thập Điện Quân. Ngài nương theo kiểu mẫu ấy gầy nên quốc vận, như Ngài đã thành lập một quốc gia.

Về nội dung: nơi triều đình có văn biền để bỉnh chánh, nơi biên cương có võ bị để ngừa loàn, xây dựng nên một quốc thể đủ vẻ nghiêm trang, thuần túy.

Về ngoại dung: Ngài đào tạo nên tổng, làng, hương đảng có đủ tánh tình ôn hậu để giáo hóa lê dân với tư cách điều hòa. Toàn trong nước, cả quan dân đều cộng hưởng thái bình, thành thử trong buổi nọ, nhờ nơi đó mà Kinh Lễ và Kinh Nhạc xuất hiện, mà hễ hai bộ Kinh Lễ và Kinh Nhạc được ra mặt dìu đời tức là Nho-Tông đã sáng lập. Tiếp theo là phép an dân của Đức Hiên Viên Huỳnh Đế, về sau có vua Nghiêu vua Thuấn là hai bậc Thánh Đế đều noi theo gương ấy mà làm cho cuộc thế rất nên điều hòa, cả lê thứ thảy đều được an cư lạc nghiệp. Từ ấy đến nay, thời gian đã trải qua trên bốn ngàn năm mà nhơn vật trong thế kỷ 20 nầy vẫn còn để tâm hoài vọng cho thời cơ điều hòa của phép Lễ Nhạc buổi nọ được tái vãng…. hầu gây nên Quốc Đạo theo mấy câu văn của Đức Chí Tôn đã dạy:

QUỐC ĐẠO kim triêu thành Đại Đạo,
NAM-PHONG thử nhựt biến Nhơn phong.
An dân liệt Thánh tùng Nghiêu Thuấn,
Văn hóa tương lai lập Đại đồng.

 

 

HIẾN BỬU TƯƠNG

漿

Lòng thành thật kính dâng lễ vật là chung trà quí. Đây là những vật mà người trân trọng, tôn quí nhất mới làm lễ phẩm dâng Cúng Phật Trời để tỏ tấm lòng thành, chứ thật ra Thần, Thánh, Tiên, Phật không hưởng của Lễ ấy và chẳng đòi hỏi bao giờ. (Hiến là Dâng lên; Bửu là vật quí báu; Tương là chất nước để uống. Bửu tương là Nước trà quí).

Đây là lời phân trần của vị Thần Hoàng Bổn Cảnh làng Mỹ Lộc giáng Cơ, do lịnh Đức Thượng Đế, để giải bày về việc Cúng tế, ngày: 15-11- Bính Dần (dl: 18-1-1927), rằng:

"Còn việc Tế Lễ Cúng, Ta muốn dùng đồ chay hay là cây trái, chớ sát sanh. Ta cũng tỏ cho chư Chức sắc hiểu rằng: Tế tự là tại sao? - Phàm có lòng tin mới cúng chớ, cúng là lấy có lễ đó, gọi là kỉnh trọng. Chớ Thần, Thánh nào ăn của ai. Bởi thế nên ai dùng vật thực mà cúng, tốt hơn nên dùng trái cây. Ai có lòng thì tế lễ chi chi Ta cũng chẳng trách đặng, vì cựu lệ bày đến ngày nay. Nay ta muốn theo Thánh ý của Ngọc Ðế. Vậy chức sắc liệu làm sao."

Bài Dâng TRÀ có câu:

"Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,
"Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương."

 

 

HIẾN CHƯƠNG


E: The constitutional charter.
F: La charte constitutionelle.

Hiến Chương Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ
(Hội-Thánh Cao-Đài)

CHƯƠNG 1: Danh Hiệu - Huy Hiệu - Đạo Kỳ

Điều thứ 1: Danh hiệu là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ, nói tắt là (Đạo Cao Đài).

Điều thứ 2: Hội Thánh Cao Đài đặt địa điểm Trung Ương tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Điều thứ 3: Huy hiệu tượng trưng cho Đại-Đại Tam-Kỳ Phổ-Độ là hình 3 Cổ Pháp.

1- Bình Bát Du (biểu tượng Thích Giáo)
2- Cây Phất Chủ (biểu tượng Lão Giáo)
3- Quyển Xuân Thu (biểu tượng Nho Giáo)

Điều thứ 4: Đạo kỳ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Tam Thanh:

1- Màu vàng

 

biểu hiệu Thái Thanh,
tượng trưng Phật Giáo

2- Màu xanh

 

(xanh da trời) biểu hiệu Thượng Thanh,
Tượng trưng Tiên Giáo.

3- Màu đỏ

 

biểu tượng Ngọc Thanh,
tượng trưng Thánh Giáo.

Điều thứ 5: Cách Thờ Phượng và Cúng Kiến.

Thờ THIÊN NHÃN

- Cúng Bông chỉ về Tinh,
- Rượu chỉ về Khí,
- Trà chỉ về Thần.

Tinh, Khí, Thần là Tam Bửu của các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

CHƯƠNG II: Giáo Lý - Tôn Chỉ & Mục Đích

Điều thứ 6:

a/- Giáo lý của Đại Đạo là tinh ba của Giáo lý Tam Giáo (Thích, Đạo, Nho) và của Ngũ Chi (Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo) để hoằng dương Chánh Pháp.

b/- Tôn chỉ là cầu xin cứu rỗi các chơn linh khỏi sa đọa hồng trần.

c/- Mục đích là giáo hóa nhơn sanh, lập đại đồng huynh đệ

CHƯƠNG III: Hệ Thống Tổ Chức Hội-Thánh

Điều thứ 7: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gồm có 3 Đài tượng trưng hình thể Đạo tại thế.

1- Hiệp Thiên Đài: Thể hiện Chơn Thần thuộc Khí,
2- Cửu Trùng Đài : Thể hiện Cơ Thể thuộc Tinh,
3- Bát Quái Đài : Thể hiện Linh Hồn thuộc Thần.

Điều thứ 8: Hiệp Thiên Đài.

Hiệp Thiên Đài là cơ quan lập pháp của Đạo, là nơi để thông công cùng Đức Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng bằng cơ bút do chức sắc Hiệp Thiên Đài phò loan để tiếp các Thánh ngôn và Luật Pháp Đạo của các Đấng Thiêng Liêng giảng dạy.

Hội Thánh Hiệp Thiên Đài gồm các chức sắc Thiên Phong theo phẩm trật sau đây:

1/- Phẩm Hộ-Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và bảo hộ Luật Đời cùng Luật Đạo.

2/- Vị Thượng-Phẩm lo về mấy Thánh Thất và Tịnh Thất.

3/- Vị Thượng-Sanh lo về phần Đời.

12 Vị Thời Quân thuộc 3 Chi: Pháp, Đạo, Thế đặt dưới quyền hành sự của Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm và Thượng-Sanh.

Điều thứ 9: Cửu Trùng Đài

Cửu Trùng Đài là cơ quan Hành Pháp của Đạo.

Hội Thánh Cửu Trùng Đài gồm chức sắc Thiên phong theo các phẩm trật sau đây.

Nam Phái:

-1 Phẩm Giáo Tông: Lãnh đạo tối cao toàn Đạo có phận sự dìu dắt đạo hữu trong đường Đạo và đường Đời.

-3 Vị Chưởng Pháp : Lãnh nhiệm vụ nghiên cứu Luật Pháp Đạo trước khi ban hành cho toàn Đạo. trước khi ban hành cho toàn Đạo.

-3 Vị Đầu Sư : Cầm quyền Chánh Trị Đạo ban hành Luật Pháp Đạo.

- 36 Vị Phối Sư: Có 3 vị Chánh Phối Sư làm đầu, dưới quyền 3 vị Đầu Sư cai trị Đạo.

- 72 Vị Giáo Sư: Có phận sự dạy dỗ Đạo hữu trong đường Đạo và đường Đời. Được quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại Nhơn Sanh hay là cầu xin chế giảm Luật Lệ ấy.

- 3.000 Vị Giáo Hữu: Chia đều mỗi phái 1.000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt. Lãnh phận sự phổ thông Chơn Đạo.

Lễ Sanh: Không hạn định số. Lễ Sanh là người có hạnh kiểm tốt, được quyền đi khai đàn cho mỗi Tín Đồ.

Nữ Phái:

Chức Sắc Nữ Phái khởi từ phẩm Đầu Sư trở xuống Lễ Sanh.

Điều thứ 10.- Bàn Trị Sự.

Bàn Trị Sự là cơ quan hành đạo trong thôn xã gồm những chức việc sau đây:

- 1 Chánh Trị Sự
- 1 Phó Trị Sự
- 1 Thông Sự

Có nhiệm vụ giúp đỡ các sinh hoạt của Đạo và săn sóc các Đạo hữu như anh lớn trong gia tộc.

Điều thứ 11: Bát Quái Đài:

Bát Quái Đài là ngôi thờ phụng Đức Thượng Đế tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát và các Đấng Giáo Chủ Tam Giáo cùng các Đấng Thiêng Liêng trong Ngũ Chi Đại Đạo: Nhơn Đạo Thần Đạo Thánh Đạo Tiên Đạo Phật Đạo.

CHƯƠNG IV: Chức Sắc và Tín Đồ

Điều thứ 12: Đạo hữu thọ phong các phẩm từ Giáo Hữu sắp lên tới Giáo Tông đều là chức sắc, lựa chọn trong hàng Thượng Thừa mà thôi.

Điều thứ 13: Những người Nam hay Nữ, không phân biệt quốc tịch, màu da, tuổi tác, giai cấp nghề nghiệp đảng phái đã thọ Lễ nhập môn đều được nhìn nhận là Tín đồ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

CHƯƠNG V: Đạo Phục

Điều thứ 14: Đạo Phục của Hội Thánh Nam phái Cửu Trùng Đài là.

1- Màu vàng của Chức sắc thuộc Thái Thanh.
2- Màu xanh da trời của Chức sắc thuộc Thượng Thanh.
3- Màu đỏ của Chức sắc thuộc Ngọc Thanh.

Có mão riêng từng cấp bậc.

Điều thứ 15: Đạo phục Chức sắc Nữ Phái Cửu Trùng Đài là toàn trắng. ( có Ni Cô riêng từng cấp bậc ).

Điều thứ 16: Đạo phục của Chức sắc Hiệp Thiên Đài là toàn trắng ( có mão riêng từng cấp bậc).

Điều thứ 17: Đạo phục của Thiện Nam Tín Nữ là áo dài trắng khăn đóng đen.

CHƯƠNG VI: Họ Đạo

Điều thứ 18: Nơi nào có trên 500 tín đồ thì được lập riêng một Họ Đạo hay Tộc Đạo, đặt riêng một Thánh thất, có một Chức sắc làm đầu cai trị. Các Họ Đạo hay Tộc Đạo trong Tỉnh hiệp lại thành một Châu Đạo có một vị Chức sắc cao cấp hơn cai quản.

CHƯƠNG VII: Tòa Thánh - Thánh Thất - Tịnh Thất

Điều thứ 19:- TÒA THÁNH Trung Ương (Tây Ninh) là nguồn gốc khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Điều thứ 20: Các Ngôi thờ phượng Đức CHÍ TÔN ở các địa phương trong nước hay ngoài nước đều gọi là Thánh Thất và Tịnh Thất.

CHƯƠNG VIII: Phước Thiện

Điều thứ 21: Phước Thiện là một cơ quan lo về xã hội, tế độ người tật nguyền cô độc, kẻ gặp tai ương thống khổ.

Điều thứ 22: Trong cơ quan Phước Thiện cũng có chức sắc làm âm chất thuộc Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng, không dự vào Hành Chánh Đạo.

Được lập Cơ sở lương điền, công nghệ, thâu huê lợi tạo nền nhân cội nghĩa.

CHƯƠNG IX: Hội Quyền Vạn Linh

Điều thứ 23: Đại Hội Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Hội Quyền Vạn Linh mỗi năm họp một lần tại Tòa Thánh Tây Ninh.

CHƯƠNG X: Tài Sản

Điều thứ 24: Tài sản của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gồm có: Động sản và bất động sản do Nhơn sanh hiến cúng hoặc chuyển nhượng. Động sản và bất động sản do Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Hội-Thánh) tự tạo.

CHƯƠNG XI: Phương Pháp Áp Dụng

Điều thứ 25: Để áp dụng Hiến Chương nầy, bản Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ được coi là quy chế có tánh cách Nội Qui.

Điều thứ 26: Hiến Chương nầy có thể sửa đổi do Hội Thánh lập Hiến Chương nầy bằng đa số 2/3 tổng số Chức sắc Hội Thánh và sau khi được Đức CHÍ TÔN phê chuẩn.

CHƯƠNG XII: Thống Nhất

Điều thứ 27: Hiến Chương nầy sẽ là Luật căn bản thống nhứt đối với tất cả Chi Phái Cao Đài nào ngày sau chấp nhận và ký tên.

Lập tại TÒA THÁNH Trung Ương
Ngày 19 tháng 12 Giáp Thìn
( 21.1.1965 dl )
T.M: Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh

Quyền Chưởng Quản
HIỆP THIÊN ĐÀI
BẢO THẾ
Ấn Ký:
Lê Thiện Phước


CỬU TRÙNG ĐÀI
ĐẦU SƯ
Ấn Ký:
Thượng Sáng Thanh

 

Duyệt Y

Đính theo Sắc Luật số 003/65
ngày 12 tháng 7 năm 1965
Sài gòn, ngày 12 tháng 7 năm 1965
CHỦ TỊCH UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA
Ấn Ký:
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu

Phụ Bản

Ðổng Lý Văn Phòng
Ký Tên
Ðỗ Văn Chước

 

Bản Sao

Phó Ðổng Lý Văn Phòng Phủ Chủ Tĩch
Uỷ Ban hành Pháp Trung Ương
Ấn Ký
Ðào Xuân Dung

 

 

HIẾN ĐẠO (Phẩm)

E: Religions Renovator.
F: Rénovateur Religieux.

Hiến Đạo là một trong Tứ vị Thời Quân dưới quyền Chưởng quản của Thượng Phẩm.

Pháp Chánh Truyền: "Thượng Phẩm thì quyền về Ðạo, dưới quyền có:

1- Tiếp Ðạo

 

2- Khai Ðạo

 

3-Hiến Ðạo

 

4-Bảo Ðạo

Lo về phần Tịnh Thất, mấy Thánh Thất đều xem sóc chư Môn Ðệ Thầy, binh vực chẳng cho ai phạm luật đến khổ khắc cho đặng.

Bốn vị Thời Quân của chi ÐẠO, đồng quyền cùng Thượng Phẩm khi người ban quyền hành chánh, song mỗi vị có phận sự riêng, quyền hành riêng là:

Hiến Ðạo khi đặng tờ chi của Khai Ðạo dâng lên, tức cấp phải tìm biết căn nguyên cho rõ ràng, cấm không cho Hiến Ðạo thông đồng cùng Hiến Pháp và Hiến Thế. Sự chi đã vào tay Hiến Ðạo rồi thì đã ra bí mật, dầu cho Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài cũng không đặng biết tới nữa. Hiến Ðạo phải dâng nội vụ lên cho Bảo Ðạo. …Thượng Phẩm và tứ vị Thời Quân của chi ÐẠO, phải thề giữ dạ vô tư mà hành chánh".

 

 

HIẾN ĐẠO CHƠN QUÂN PHẠM VĂN TƯƠI

 

 

 

 

 

 

HIẾN LỄ


E: To offer a present.
F: Offrir un présent.

Hiến: Dâng lên. Lễ: cách bày tỏ lòng kính trọng. Hiến lễ là dâng phẩm vật lên để cúng tế, tỏ lòng thành kính, như dâng bông, dâng rượu và dâng trà.

Trong nghi thức cúng tế hàng vong thường trong Tang lễ, phần hiến tửu (Dâng rượu) chia làm 3 lần:

Sơ hiến lễ: Hiến lễ lần đầu.
Á hiến lễ: Hiến lễ lần thứ nhì.
Chung hiến lễ: Hiến lễ lần chót.

Người hiến lễ được gọi là Lễ Sĩ.

 

 

HIẾN MÌNH CHO ĐẠO

Đức Lý dạy: "Hộ-Pháp ráng suy xét lời của Bần Đạo, sau có chi chi trắc trở thì có Thượng Phẩm giúp lời, đừng nao núng nghe! Từ đây chớ khiếp nhược nữa, chư Đạo Hữu sanh chỉ để hiến mình cho Đạo. Đạo đã nắm nơi tay, há để cho lũ tà tâm nhiễu loạn sao?"

 

 

HIẾN PHÁP ĐẠI-ĐẠO (Pháp Chánh Truyền)

Hiến pháp của Đạo (Législation reigieuse) là Tân Luật và Pháp Chánh Truyền, thì không ai đặng phép canh cải thêm bớt mà Cơ Pháp không biết nhứt là không có Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài công đồng nhìn nhận, cũng như buổi lập luật, Thánh ý đã muốn cho cả Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài phải công đồng nhận chịu.

- Ngay sau Ðại lễ Khai Ðạo (ngày 15-10-Bính Dần) tại Thánh Thất tạm đặt tại Từ Lâm Tự Gò Kén, Tây Ninh, Ðức Chí Tôn liền lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Ðài Nam phái ngày 16-10-Bính Dần (1926). Cửu Trùng Ðài là cơ quan rất quan trọng của Ðạo Cao Ðài vì Cửu Trùng Ðài tượng trưng thể xác của Ðạo. Nếu không có thể xác làCửu Trùng Ðài, thì không làm được việc chi nơi cõi trần hữu hình nầy.

- Qua Tết Ðinh Mão, ngày Vía Ðức Chí Tôn mùng 9 tháng Giêng năm Ðinh-Mão (1927), Ðức Lý Thái Bạch Nhứt Trấn Oai Nghiêm giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Ðài Nữ phái.

-Ngày 12 tháng Giêng năm Ðinh-Mão (1927), Ðức Chí Tôn giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Ðài.

Thế là trọn vẹn, tạo thành Hiến Pháp tổ chức điều hành toàn bộ Hội Thánh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Pháp Chánh Truyền là văn bản tổng quát tổ chức nền Ðạo Cao Ðài. Ðó là Hiến Pháp của Ðạo, cho nên Ðức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm Giáo Tông Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, ra lịnh cho Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc chú giải tỉ mỉ từng chi tiết để cho Chức sắc trong hai Ðài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng dễ thi hành, có Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ hiệu đính, gọi là Pháp Chánh Truyền Chú Giải, tạo thành Hiến Pháp bất di bất dịch của Ðạo Cao Ðài.

Ðức Lý Giáo Tông nói rõ trong Ðạo Nghị Ðịnh thứ 6, ngày 3-10-Canh Ngọ (1930), ghi lại như sau:

NGHỊ ÐỊNH: "Hai vị Thiên phong: Giáo Tông và Hộ Pháp phải điều đình Hiến Pháp, sửa trị Ðài mình cho hiệp Pháp Chánh Truyền, nên đồng ký tờ nầy mà ước hẹn."

"Điều cần biết là khi đến lập giáo, trước tiên Đức Chí Tôn lập Pháp-Chánh Truyền tức Hiến-Pháp của Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ rồi mới tạo Hội-Thánh lưỡng đài, nhứt thiết đều do Cơ phong Thánh. Cơ phong Thánh của Hiệp-Thiên-Đài do Đức Hộ Pháp và Đức Cao Thượng-Phẩm phò loan là "Cơ Đạo Pháp" trong khi đó cũng có nhiều cặp Cơ Phổ độ, dạy Đạo của chư vị Thập Nhị Thời quân. Nhưng "Đức Hộ-pháp là một Chơn linh siêu việt mới đủ năng lực xây dựng nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, tạo tác Tổ Đình đồ sộ với nhiều sự nghiệp bất hủ không còn ai phủ nhận được. Việc Cơ Bút trong Đạo, Người đáng kể là bậc Sư Tổ"

Như vậy: Thành văn HIẾN PHÁP do Chí-Tôn giáng lập là Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài và Hiệp-Thiên-Đài.

Hiến Pháp là gì? Theo nghĩa thông thường: Hiến Pháp là bản văn kiện ghi chép những Luật lệ căn bản qui định sự tổ chức quyền chánh trị trong một nước và bảo vệ các công quyền của toàn thể công dân.

PHÁP CHÁNH TRUYỀN của Ðạo là một bản văn kiện do Huyền Diệu Cơ Bút của Ðức CHÍ TÔN truyền dạy, qui định sự tổ chức của nền Ðại Ðạo, sắc phục của chư Thiên Phong đẳng cấp, quyền hạn của chư Chức sắc cầm quyền chánh trị, hầu giữ vững chơn truyền của nền Chánh giáo, không cho có sự xâm phạm, giữ gìn cho cơ Ðạo khỏi qui phàm.

A- HIẾN PHÁP CÓ HAI LOẠI:

1- Bất thành văn Hiến Pháp: Ngày trước không có Hiến Pháp, chỉ có các điều lệ do phong tục, tập quán, vì thời gian mà biến thành. Bởi nguyên căn của nguồn gốc do sự biến thiên của tập tục và không văn kiện làm bằng chứng cho nên thường bị xâm phạm. Vì thế về sau, muốn cho nó được tôn trọng, cần phải biên chép thành Hiến Chương gọi là Hiến Pháp.

2- Thành văn Hiến Pháp là thứ Hiến Pháp lấy từ chương làm căn bản, được thông dụng trong các nước, vì nó ấn định một cách minh bạch quyền hạn của chánh phủ, công nhận và bảo đảm các quyền tự do chánh trị cùng tự do dân sự của nhân dân. Hiến Pháp thành văn lập thành do nhiều cách:

- Do Vua ban.
- Do sự cam kết giữa Vua và dân.
- Do Quốc Hội Lập Hiến làm ra.

Pháp Chánh Truyền thuộc về loại Hiến Pháp thành văn và lập thành theo cách thứ nhứt, song có điều khác nhau với Ðời là Hiến Pháp do Vua ban hành, còn Pháp Chánh Truyền do Ðấng CHÍ TÔN dụng quyền năng Thiêng Liêng của Huyền Diệu Cơ Bút mà truyền thế.

B- SO SÁNH CÁC TÁNH CHẤT CỦA HIẾN PHÁP VÀ PHÁP CHÁNH TRUYỀN

1- Hiến Pháp khác với Pháp luật thường: Thường trong một nước, sau khi lập quốc: lập tức Chánh Phủ triệu tập một Quốc Hội Lập Hiến, để lập Hiến Pháp, do theo dân nguyện. Xong rồi, Quốc Hội Lập Hiến giải tán, để triệu tập Quốc Hội Lập Pháp, chỉ có quyền hạn lập thành các pháp luật thường để thi hành Hiến Pháp mà thôi. Trong nền Ðạo, có ba Nghị Hội hiệp lại làm cơ quan cho quyền Vạn Linh, ba Hội ấy, quyền hạn tương đồng như Nghị Hội Lập Pháp, chỉ lập Pháp Luật thường do nguyện ước của Nhơn sanh, đặng thi hành chơn truyền chánh giáo là Pháp Chánh Truyền.

2- Cang tánh Hiến Pháp và nhu tánh Hiến Pháp: Khi Nghị Hội Lập Pháp không có quyền sửa đổi Hiến Pháp thì Hiến Pháp ấy gọi là cang tánh Hiến Pháp (Constitution rigide). Trái lại, khi Nghị Hội Lập Pháp sửa đổi Hiến Pháp đặng, như các pháp luật thường thì Hiến Pháp ấy gọi là nhu tánh Hiến Pháp (Constitution souple). Pháp Chánh Truyền thuộc về loại cang tánh Hiến Pháp, bởi nó bất di, bất dịch, bất khả xâm phạm và ba Hội lập quyền Vạn Linh không có quyền sửa cải.

3- Hiến Pháp đại yếu và Hiến Pháp chi tiết: Những bản Hiến Pháp nào nói tỉ mỉ về sự tổ chức các cơ quan, các ty, các sở, như Hành Chánh, Tư Pháp.. gọi là Hiến Pháp chi tiết. Thứ Hiến Pháp nầy rất bất tiện, vì phải sửa đổi luôn, mà sửa đổi Hiến Pháp là một điều phiền phức. Còn Hiến Pháp đại yếu, chỉ nói những điều thật bao quát. Các điều lệ chi tiết để cho Nghị Hội Lập Pháp tùy nghi ấn định cho hợp thời. Pháp Chánh Truyền thuộc loại Hiến Pháp đại yếu.

(Trích Chánh Trị Đạo của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa)

 

 

HIẾN PHÁP HIỆP THIÊN ÐÀI

HIẾN PHÁP VÀ NỘI LUẬT
Năm Nhâm Thân (1932)

A- HIẾN PHÁP

Ðiều Thứ Nhứt:

Phẩm trật Hiệp Thiên Ðài trên hết có Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân, phân đẳng cấp như dưới đây:

Thượng Phẩm

 

Hộ Pháp

 

Thượng Sanh

Bảo Ðạo

 

Bảo Pháp

 

Bảo Thế

Hiến Ðạo

 

Hiến Pháp

 

Hiến Thế

Khai Ðạo

 

Khai Pháp

 

Khai Thế

Tiếp Ðạo

 

Tiếp Pháp

 

Tiếp Thế

Ðiều Thứ Nhì:

- Quyền hành của Hộ Pháp là Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài kiêm Chưởng Quản Chi Pháp.

- Quyền hành của Thượng Phẩm là Chưởng Quản Chi Ðạo.

- Quyền hành của Thượng Sanh là Chưởng Quản Chi Thế.

Ðiều Thứ Ba:

Phẩm trật của Thập Nhị Thời Quân khi hành chánh thì đối phẩm như sau:

- Bảo Pháp, Bảo Ðạo, Bảo Thế: đều đồng thể.
- Hiến Pháp,Hiến Ðạo, Hiến Thế: đều đồng thể
- Khai Pháp, Khai Ðạo, Khai Thế: đều đồng thể
- Tiếp Pháp, Tiếp Ðạo, Tiếp Thế: đều đồng thể

Ðiều Thứ Tư:

- Trách nhậm của Bảo Pháp là bảo tồn Luật Pháp, bảo hộ không cho ai phạm đến những điều lệ nào đã thành mặt luật.

- Trách nhậm của Bảo Ðạo là bảo tồn Luật Ðạo, bảo hộ những điều cần ích cho Ðạo mà đã ra mặt luật rồi.

- Trách nhậm của Bảo Thế là bảo tồn Luật Thế, bảo hộ những điều lệ cần ích cho Ðạo đã ra mặt luật rồi.

Ðiều Thứ Năm:

- Trách nhậm của Hiến Pháp là phải tìm những phương hay để hiến cho Luật Pháp tiện việc thi hành, và truyền bá những tư tưởng cần ích cho Ðạo về phương diện Hành Pháp.

- Trách nhậm của Hiến Ðạo là lo tìm kiếm những phương hay để hiến cho Ðạo, và truyền bá những tư tưởng cần ích cho Ðạo.

- Trách nhậm của Hiến Thế là lo tìm những phương hay để hiến cho Ðời và truyền bá những tư tưởng cần ích cho Ðạo.

Ðiều Thứ Sáu:

- Trách nhậm của Khai Pháp là lo nghiên cứu những điều cần ích cho chúng sanh mà thêm vào Pháp Luật, tức là mở lần Pháp Luật ra thế nào cho chúng sanh có thể tuân theo mà tu hành cho khỏi điều hà khắc.

- Trách nhậm của Khai Ðạo là lo nghiên cứu những điều cần ích cho chúng sanh trong đường Ðạo và tìm phương giúp cho những điều cần ích ấy thành ra Luật Ðạo, tức là mở rộng đường Ðạo ra cho chúng sanh hưởng.

- Trách nhậm của Khai Thế là lo nghiên cứu những điều cần ích cho chúng sanh trong đường Ðời, và tìm phương giúp cho những điều cần ích ấy thành ra Luật Ðời, tức là mở rộng đường Ðời ra cho chúng sanh hưởng.

Ðiều Thứ Bảy:

- Trách nhậm của Tiếp Pháp là giúp cho sự ban hành Ðạo Pháp, và yêu cầu sửa đổi những điều lệ nào bó buộc quá lẽ và khổ khắc nhơn sanh trước mặt Luật Pháp.

- Trách nhậm của Tiếp Ðạo là giúp chư Ðạo Hữu trong đường Ðạo tránh những nỗi bất bình, những sự bất công, những điều hà khắc có thể làm trở ngại bước đường Ðạo của Ðạo Hữu lưỡng phái.

- Trách nhậm của Tiếp Thế là giúp cho nhơn sanh trong đường sanh hoạt, trong chỗ giao tiếp lẫn nhau, và lo dẹp những nỗi bất bình, những sự bất công, những điều hà khắc có thể làm trở ngại bước đường Ðời của cả chư Ðạo Hữu lưỡng phái.

Ðiều Thứ Tám:

Cửu Trùng Ðài có Tòa Tam Giáo thành lập, cũng như Bát Quái Ðài có Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng. Khi nào có Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Ðài xử đoán rồi mà người bị cáo còn uất ức điều chi, thì được quyền kêu nài đến Tòa Hiệp Thiên Ðài. Thảng như Tòa Hiệp Thiên Ðài phán đoán rồi mà người bị cáo uất ức nữa, thì mới kêu nài lên Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng là quyền đặc biệt của Bát Quái Ðài Chưởng Quản. Dầu cho lập Tòa Tam Giáo dưới Cửu Trùng Ðài, hay là đệ lên Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng là Bát Quái Ðài, cũng đều phải do nơi Hộ Pháp.

Ðiều Thứ Chín:

Muốn kêu nài lên Tòa Hiệp Thiên Ðài, thì người bị cáo phải nạp đơn lên Hiệp Thiên Ðài, trong khoảng 10 ngày, sau ngày xử hiện diện (Jugement contradictoire). Như xử khiếm diện (Jugement par défaut) thì người bị cáo phải nạp đơn lên Hiệp Thiên Ðài trong khoảng 10 ngày, sau ngày được án (Jour de la notification du jugement). Quá hạn 10 ngày ấy, thì Hiệp Thiên Ðài không thâu đơn.

Ðiều Thứ Mười:

Nghị Viên của Hiệp Thiên Ðài ở Thượng Hội là Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh. Ba vị đều có quyền bàn cải (voix délibérative) và bỏ thăm (droit de vote), số thăm của ba vị có giá trị riêng, không tính chung về số thăm của Nghị Viên bên Cửu Trùng Ðài (Vote séparé). Mỗi lần bỏ thăm phải được hơn phân nửa số thăm bên Cửu Trùng Ðài và hơn phân nửa số thăm của Hiệp Thiên Ðài cọng chung lại, mới có đại đa số (majorité).

Ðiều Thứ Mười Một:

Nghị Viên của Hiệp Thiên Ðài ở Hội Thánh là Thập Nhị Thời Quân. Quyền của 12 vị cũng như quyền của Nghị Viên Hiệp Thiên Ðài ở Thượng Hội. Cách bỏ thăm và tính thăm cũng vậy.

Ðiều Thứ Mười Hai:

Ở Hội Nhơn Sanh, Hiệp Thiên Ðài sẽ có Phái Viên đến dự thính, hoặc tỏ bày ý kiến (voix consultative), chớ không có quyền bỏ thăm.

NỘI LUẬT

Ðiều Thứ Nhứt: Hộ Pháp là người Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, thay mặt cho các Chức Sắc đặng đối phó với Cửu Trùng Ðài, nhưng phải do theo đại đa số (majorité) của Chức Sắc Cửu Trùng Ðài.

Ðiều Thứ Nhì: Ðức Chí Tôn không có phỏng định việc công cử Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài, thì Chức Sắc mỗi Chi đặng quyền thế mặt cho nhau, tỷ như: Thượng Phẩm vắng mặt, duy có:

-Bảo Ðạo đặng thế quyền mà thôi.
-Bảo Ðạo vắng mặt thì có Hiến Ðạo;
-Hiến Ðạo vắng mặt thì có Khai Ðạo v.v...

Phải ở cùng một Chi mới đặng thế quyền cho nhau.

Ðiều Thứ Ba: Nếu Hộ Pháp chuyên quyền không do theo phần đông (majorité) thì phần ấy đặng phép không tuân lịnh của Hộ Pháp và công bố cho Hội Thánh Cửu Trùng Ðài biết, đặng đợi ngày cầu xin Ðức Chí Tôn phân xét.

Ðiều Thứ Tư: Nếu Thượng Phẩm chuyên quyền và phạm đến quyền đặc biệt của Chức Sắc Chi Ðạo, thì Chi nầy đặng quyền xin Hộ Pháp ngưng quyền của Thượng Phẩm, hầu đợi ngày đem việc ấy ra Ban Kỷ Luật của Hiệp Thiên Ðài phán xét.

Ðiều Thứ Năm: Nếu Thượng Sanh chuyên quyền và phạm đến quyền của Chức Sắc Chi Thế, thì Chi nầy đặng quyền xin Hộ Pháp ngưng quyền của Thượng Sanh, hầu đợi ngày đem việc ấy ra Ban Kỷ Luật phán xét.

Ðiều Thứ Sáu: Trong Thập Nhị Thời Quân, nếu vị nào phạm Nội Luật thì Hộ Pháp, hoặc Thượng Phẩm, Thượng Sanh (tùy theo Chi) sẽ đem ra Ban Kỷ Luật phán đoán.

Ðiều Thứ Bảy: Hiệp Thiên Ðài có một Ban Kỷ Luật (Conseil de discipline) để khuyên răn những Chức Sắc không hành phận sự theo chương trình hành Ðạo lập tại Tòa Thánh ngày 24-1-1932, là phạm Nội Luật của Hiệp Thiên Ðài. Ban Kỷ Luật không có tính cách thường xuyên. Khi phải cần đến mới lập ra và chư Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài sẽ hiệp nhau công cử làm năm vị Nghị Viên.

Ðiều Thứ Tám: Trước khi muốn đem Chức Sắc nào ra Ban Kỷ Luật về việc không lo hành sự, Hộ Pháp nên viết thơ cho vị ấy biết việc mình, và kỳ trong hai tháng phải lo tái thủ trách nhiệm. Hết hai tháng mà không có tin tức của vị ấy, thì Hộ Pháp nên kỳ cho 1 tháng nữa. Qua kỳ hạn thứ nhì, Ban Kỷ Luật đặng quyền phân xử.

Ðiều Thứ Chín: Chức Sắc đã bị Ban Kỷ Luật xử rồi mà còn tái phạm, sẽ bị đệ ra Tòa Tam Giáo.

Ðiều Thứ Mười: Không một Chức Sắc ở Hiệp Thiên Ðài đặng phép đứng tên vào những Châu Tri cho chư vị Thiên Phong, Chức Việc, Ðầu Họ Ðạo, Chủ Thánh Thất và chư Ðạo Hữu Nam Nữ, vì Hiệp Thiên Ðài chỉ có quyền Lập Pháp (Pouvoir législatif), chớ không có quyền Hành Pháp (Pouvoir exécutif).

Ðiều Thứ Mười Một: Ðối phó với Cửu Trùng Ðài thì đã có Hộ Pháp, nhưng khi có định phái vị nào đặng giao thiệp với Cửu Trùng Ðài, thì vị ấy không được bàn định việc chi ngoài các trách nhậm của mình, nghĩa là ngoài những vấn đề mà vị ấy được quyền bàn đến.

Ðiều Thứ Mười Hai: Kể từ ngày lập Luật nầy, cả Chức Sắc hãy tuân theo Pháp Chánh Truyền, Tân Luật, nhứt là điều lệ Ngũ Giới Cấm và Tứ Ðại Ðiều Qui.


 

HIỆP THIÊN ÐÀI

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Tứ Thập Nhị Niên)

Thượng Sanh

TÒA THÁNH TÂY NINH



Số: 002/TL

 

THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ĐÀI

Chiếu Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu Hiến Pháp và Nội Luật Hiệp Thiên Ðài ngày Rằm tháng 2 Nhâm Thân (1932);

Chiếu Hiến Pháp Hiệp Thiên Ðài ngày mùng 8 tháng Giêng Giáp Thìn (dl: 20-2-1964) và Hiến Pháp Hiệp Thiên Ðài bổ túc ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ (dl: 29-3-1965);

Chiếu Thánh Giáo Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn đêm 16 tháng 2 năm Ất Hợi (dl: 20-3-1935), chỉ giáo về phẩm vị Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài từ hàng Sĩ Tải lên Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn;

Chiếu Sắc Lịnh số 34/SL ngày 23 tháng 5 Bính Tý (dl: 11-7-1936) của Ðức Hộ Pháp mở khoa mục cho phẩm Luật Sự dưới phẩm Sĩ Tải.

Chiếu Vi Bằng số 009/VB ngày 30 tháng 4 Bính Ngọ (dl: 18-6-1966), Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài đã nghiên cứu và thành lập bản "HIẾN PHÁP CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ÐÀI";

Chiếu Thánh Giáo Ðức Hộ Pháp đêm Rằm tháng 11 Bính Ngọ (dl: 26-12-1966), chấp thuận toàn diện bản Hiến Pháp nói trên, nên:

THÁNH LỊNH

ÐIỀU THỨ NHỨT: - Nay ban hành bản "HIẾN PHÁP CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ÐÀI" đính theo đây, kể từ ngày ký tên Thánh Lịnh nầy.

ÐIỀU THỨ NHÌ: - Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, Hội Thánh Cửu Trùng Ðài và Hội Thánh Phước Thiện Nam Nữ tùy nhiệm vụ ban hành và thi hành Thánh Lịnh nầy.

Tòa Thánh, ngày 16 tháng 11 Bính Ngọ.
(27-12-1966)
THƯỢNG SANH
(ấn ký)
CAO HOÀI SANG

 

 

HIẾN PHÁP (Phẩm)

E: Juridical Renovator.
F: Rénovateur Juridique.

Hiến Pháp là một trong Tứ vị Thời Quân dưới quyền Chưởng Quản của Hộ-Pháp

Dưới quyền Hộ Pháp có bốn vị:

1- Tiếp Pháp

 

2- Khai Pháp

 

3-Hiến Pháp

 

4-Bảo Pháp

Bốn vị ấy đồng quyền cùng Hộ Pháp; khi đặng lịnh người sai đi hành chánh, song mỗi vị có mỗi phận sự riêng, quyền hành riêng.

Hiến Pháp khi tiếp đặng luật lệ đơn trạng, thì phải mở đường tra vấn cho minh lẽ nên hư, phải trái, đủ chứng cớ rõ ràng, rồi dâng lên cho Bảo Pháp cho đủ nội vụ, cấm Hiến Pháp không đặng thông đồng cùng Hiến Ðạo và Hiến Thế. Ấy vậy kể từ việc chi đã giao vào tay Hiến Pháp rồi, thì đã ra bí mật, dầu cho Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài cũng không đặng biết tới nữa.

Hộ-Pháp "Lo Bảo hộ luật Ðời và luật Ðạo, chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên Ðài chẳng biết".

Nói tóm lại, Hộ Pháp là người bảo hộ, luật Ðời và luật Ðạo, gìn giữ cho Ðạo khỏi qui phàm, nâng đỡ cho đời vào Thánh vị, chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên Ðài chẳng biết, dầu toàn Cửu Trùng Ðài hay là Hiệp Thiên Ðài sái luật thì Hộ Pháp phải phân xử cho phân minh, vì vậy mà Thầy buộc cả chi "PHÁP" phải thề giữ dạ vô tư mà hành chánh."

 

 

HIẾN PHÁP CHƠN QUÂN TRƯƠNG HỮU ĐỨC

 

 

 

 

HIẾN-PHÁP CHƠN QUÂN
TRƯƠNG HỮU ĐỨC (1890-1975)

Nguơn linh là Từ Hàng Đạo Nhơn.

Ngài Hiến Pháp lấy Đạo Hiệu là Thân Dân.

Ông sanh ngày 02-02-Canh Dần (1890).

Qui Tiên lúc 20g15 ngày 15-12-Ất Mão (dl: 15-01-1975).

Quê quán: Cầu An Thượng, Hiệp Hòa, Chợ-Lớn. Đức Chí Tôn có cho biết nguơn linh của Ngài Hiến Pháp là Từ Hàng Đạo Nhơn. Ngày 03-07- Đinh Mão (dl: 31-07-1927) may được Quỉ Cốc Đại Tiên giáng đàn, Ngài mới xin cho mỗi người một bài thi kỹ niệm:

Thập Nhị Tiên gia nhứt tánh TỪ,
HÀNG phong Vương mãn thọ hàn thư.
Trung niên thế cuộc tao vân mộng,
Quản thị Càn Khôn thủ Phật thư.

"Trương Hữu Đức, sanh ngày mùng 02 tháng 02 năm Canh-Dần (1890) (trên giấy tờ sanh năm 1892), con ông Trương Văn Tựu (chết) cựu Cai Tổng Cầu An Thượng, làng Hiệp Hòa (Chợ Lớn), Giáo Sư phái Ngọc và bà Lê Thị Nhụy tức Sót (chết). Hiền nội của Ngài Trương Hữu Đức là Bà Nguyễn Thị Sanh, nhập môn vào Đạo Cao Đài rất sớm, được Đức Chí Tôn phong phẩm Nữ Lễ Sanh, do kỳ Phong Thánh Nữ phái lần thứ nhứt ngày 14-Giêng-Đinh Mão (dl: 15-2-1927).

Ngài Nhập môn vào Đạo Cao Đài từ năm Ất Sửu (1925) lúc mới còn Xây bàn, vì lúc ban sơ, những người theo Đạo đều do lịnh Đức Chí Tôn chỉ định, nên không có Sớ Cầu Đạo. Trong số 12 Môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn nêu tên trên bài thi tứ tuyệt trong quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển thứ I có tên ĐỨC (sau thọ phong Hiến Pháp Hiệp Thiên-Đài), hiệp với Ông HẬU thành cặp phò loan truyền Đạo, Ông Hậu sau thọ phong Bảo Pháp Hiệp-Thiên-Đài. Ngài Hiến-pháp là một trong những Tướng-Soái của Đức Chí-Tôn, lúc qui thiên Ngài cũng giáng đàn cho Bài Thi để thài hiến lễ:

HỮU-ĐỨC mừng nay đã gặp Thầy,
Chẳng còn mong ước cái không hay.
Mừng nay gặp Đạo lòng mong muốn,
Chí quyêt cùng nhau để hiệp vầy.
(Hiến-pháp Chơn Quân)

Trong khi Ngài nhập môn vào Đạo Cao-Đài ngày 09-01-Bính Dần (dl: 21-02-1926) Qua bữa sau, lúc đúng Ngọ, trong khi thanh tịnh, Ngài bắt chước Đức Hộ-Pháp ngồi chấp bút một mình và cầu nguyện xin thi, có vị Minh-Nghĩa Tiên Ông giáng bút cho bài thi:

Minh Đức mừng nay đã gặp Thầy,
Chẳng còn mong ước cái không hay
Mừng cầu Âu Á càng thêm mặt,
Mừng nậu côn đồ đã chịu chay!

Ông Hữu Đức chỉ chấp bút được một lần ấy thôi. Chính Ngài Hiến-Pháp Trương-Hữu-Đức được Đức Chí Tôn cho biết rằng "Đức cứu Đạo". Sau quả thật như vậy.

 

 

HIẾN THÂN

獻 身
E: To lay down one’s life for one’s religion.
F: Se donner sa vie à sa religion.

Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng nói: "Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cắt ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào, thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc. Ấy là cử chỉ của các bậc Thánh trước tìm mối Chơn đạo như thế. Chư đạo hữu nên ghi."

Ngài Tiếp Thế bày tỏ tâm thành của Ngài khi đứng trước nguy cơ của những người toan phá Đạo: "Tệ Đệ đâu có dám cho là toàn vẹn, nhưng từ ngày Tệ Đệ nhứt định phế Đời đặng trọn hiến thân cho Đạo từ ngày về Toà-Thánh hành Đạo cho đến nay thì Tệ Đệ hằng nguyện đem hết tâm trí để giúp ích cho Đạo và hằng giữ trọn lành trung can thanh bạch, hầu quan sát cho việc Đạo một cách chơn thật chánh đáng"

 

 

HIẾN THẾ (Phẩm)

E: Temporal Renevator.
F: Rénovateur temporel.

Hiến Thế là một trong Tứ vị Thời Quân thuộc Chi Thế, dưới quyền Chưởng Quản của Thượng Sanh

Pháp Chánh Truyền: "Dưới quyền của Thượng Sanh có bốn vị Thời Quân là: - Tiếp Thế - Khai Thế - Hiến Thế - Bảo Thế

Bốn vị Thời Quân chi THẾ đặng cùng quyền cùng Thượng Sanh, khi người ban lịnh hành chánh; song mỗi vị có mỗi phận sự riêng, quyền hành riêng.

Hiến Thế khi tiếp đặng nội vụ của Khai Thế dâng qua, thì tức cấp phải đi tra xét cho đủ chứng cớ rõ ràng rồi dâng lên cho Bảo Thế. Cấm nhặt không cho Hiến Thế thông đồng cùng Hiến Pháp và Hiến Ðạo.

Mỗi việc chi hễ vào tay Hiến Thế rồi thì đã ra bí mật, dầu cho Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài cũng không biết tới nữa.

Thượng Sanh và tứ vị Thời Quân về chi Thế, cũng phải thề giữ dạ vô tư mà hành chánh."

 

 

HIẾN THẾ CHƠN QUÂN NGUYỄN VĂN MẠNH

 

 

 

 

HIẾN THẾ CHƠN QUÂN
Nguyễn-văn-Mạnh (1894-1970)

Sinh năm: Giáp-Ngọ (dl 19-12-1894). Qui thiên: 15-01-Canh Tuất (1970). Quê-quán: Tân Niên-Trung. Tỉnh Gò Công

Bài Thài Hiến Lễ

HIẾN mình cho Đạo buổi sơ khai
THẾ cuộc càng xây dạ chẳng nài,
CHƠN chánh quyết tâm lo lập Đức.
QUÂN Thần vẹn nghĩa cảm bi-ai.

Thuở mới khai Đại-Đạo, vào ngày rằm tháng 03 Bính Dần, cùng một lượt có các ông được Đức Chí-Tôn phong vào các Phẩm này để phò cơ:

- Ông Phạm-Công-Tắc là "Hộ giá Tiên Đồng Tá cơ Đạo-Sĩ."

- Ông Cao-Quỳnh-Cư là "Tá cơ Tiên hạc Đạo-sĩ".

- Các vị: Đức, Hậu, Nghĩa, Tràng, Tươi, Chương, Kim, Đãi, Mai, Nguyên, Phước, Mạnh, đồng được Đức Chí Tôn ban cho là "Tiên Đạo phò Cơ Đạo-Sĩ". Sau, tất cả các vị này đều được phong vào Thập Nhị Thời Quân. Duy chỉ có hai vị: Mai và Nguyên không đến, do đó Đức Chí-Tôn thay thế người khác vào là Lê Thế-Vĩnh và Cao-Đức-Trọng.

 

 

HIẾN TỔ (Niên Hiệu: Thiệu Trị)

HIẾN TỔ (1841-1847)

Đức Độ Vua Hiến Tổ: Tháng giêng năm Tân Sửu (1841) Hoàng Thái Tử húy là Miên Tông lên ngôi ở điện Thái Hòa đặt niên hiệu là Thiệu Trị. Tính vua Hiến Tổ thuần hòa, không hay bày ra nhiều việc và cũng không được quả cảm như Thánh Tổ. Trong đời Ngài làm vua, học hiệu, chế độ, thuế mà, điều gì cũng theo như triều vua Thánh Tổ cả. Bầy tôi lúc bấy giờ có Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Tiếp trong ngoài ra sức giúp vua. Nhưng mà đất Nam Kỳ có giặc giã, dân Chân Lạp nổi loạn, quân Tiêm La sang đánh phá, nhà vua phải dùng binh đánh dẹp mãi mới xong.

 

 

HIỀN

Hiền Có 3 nghĩa tùy trường hợp:

HIỀN: Người có tài năng và đức hạnh hơn người.
Td: Hiền nhơn, Hiền sĩ, Hiền triết.

HIỀN: Tiếng dùng với ý tôn trọng trong xã giao, hoặc với ý yêu mến thân thiết.
Td: Hiền đồ, Hiền hữu, Hiền huynh.

HIỀN: Lành, có đức tốt.
Td: Hiền đức, Hiền ngõ.

 

 

HIỀN ĐỆ

Hiền Đệ là tiếng gọi một người nhỏ hơn mình về tuổi tác hoặc là Chức phẩm, thuộc về nam giới. Nếu là Nữ thì gọi là Hiền Muội. Đây là điểm đặc biệt của Đạo Cao Đài, xem người đồng Đạo như một gia đình Tôn giáo. Trên hết là Cha mẹ Thiêng liêng, kế đến chỉ có anh chị em mà thôi, gọi là "Huynh, Tỷ, Đệ, Muội" và có thêm chữ "Hiền" phía trước.

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934):

"Trong 8 năm qua rồi, Tệ Huynh đây và Hiền Ðệ Phạm Công Tắc là Hộ Pháp của Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ, hiệp cùng nhiều Thiên Phong đã để hết tâm thành trí vẹn đặng thi hành cho hoàn tất mấy điều của Thầy và Ðức Lý Giáo Tông đã dạy bảo. Ôi, biết bao phen bị đánh đổ, lắm người trong Ðạo không hiểu tôn chỉ Ðại Ðạo, lại còn biếm nhẻ nói Tệ Huynh lo việc hữu hình chớ không lo vô-vi tịnh luyện. Bởi vậy mới rồi đây, Tệ Huynh có đắc lịnh dạy bảo phải chỉ rõ phương diện chánh thể của Ðạo".

 

 

HIỀN ĐỒ

賢 徒
E: Dear disciple.
F: Cher disciple.

Hiền: Tiếng dùng với ý tôn trọng trong xã giao, hoặc với ý yêu mến thân thiết. Đồ: học trò. Hiền đồ là học trò thân mến.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Trung, hiền đồ, trương Thiên phục lên cho Thầy trấn Thần, con đặng phép mặc hầu Thầy.

Ngày 16-7-Bính Dần (dl: 23-8-1926 )

THÍCH CA MÂU NI PHẬT tá danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT Giáo Đạo Nam phương

Như Nhãn Hiền Đồ, nghe dạy: "Vốn từ ĐẠO BỊ BẾ lại thì phần nhiều hữu công tu mà thành thì ít thành, TA rất yêu thương. Hiền Đồ có lòng giữ gìn Phật Tông Chánh pháp, cái địa vị cao thượng của TA ban cho Hiền Đồ từ thử là cốt để đợi cho tới ngày khởi định lập pháp TAM KỲ PHỔ ĐỘ cho Hiền Đồ có đủ quyền thế mà hành chánh với TA."

 

 

HIỀN ĐỨC


E: Kind and virtuous
F: Bon et vertueux

(Hiền là nhu thuận, đoan trang; đức là nhân từ, có đạo hạnh). Người hiền đức là người có hạnh kiểm tốt, đảm đương, thuần thục, trái hẳn với hạng người nhu nhược, bất tài.

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở: Cái gương hiền đức của Nữ phái là vật của Chí Tôn để lòng tìm kiếm và cũng vì nó mà Chí Tôn mới định lập pháp ban quyền cho Nữ phái đối phẩm cùng nam. Thoảng như gương hiền đức ấy đã ra vô giá trị, điêu tàn thì công nghiệp nương đâu mà bền vững?

Chị nói thiệt rằng: Dầu cho Phật Mẫu tái sanh mà thất bề Hiền đức thì Ngọc Hư Cung cũng định tội qui phàm. Vậy thì các em phải giữ lấy phận mình. Chị nghĩ cũng chưa kham, đừng thày lay cầu tội giùm cho kẻ khác. Chị rất cám cảnh, nhưng Thiên điều định vậy, biết liệu làm sao? Tự nơi chị Ứng Quân tự mình giải thoát.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Trăm năm chưa hẳn nên hiền đức,
Tấn nẻo chông gai khá lựa dèo.

 

 

HIỀN HUYNH - HIỀN TỶ - HIỀN ĐỆ - HIỀN MUỘI

- 賢姊 - -  

Hiền: Tiếng dùng với ý tôn trọng trong xã giao, hoặc với ý yêu mến thân thiết. Huynh: anh. Tỷ: chị. Đệ: em trai. Muội: em gái.

Hiền huynh ( E: Reverend brother. F: Révérend frère.)
là tiếng gọi người anh với ý kính trọng.

Hiền tỷ là tiếng gọi người chị với ý kính trọng.

Hiền đệ là tiếng gọi em trai với ý thân mật.

Hiền muội là tiếng gọi em gái với ý thân mật.

 

 

HIỀN HỮU

賢 友
E: Good friend
F: Bon ami

Hiền hữu là tiếng gọi người bạn với lòng quí trọng.

Đức Lý, Ngài dạy rằng: "Hễ Đạo trọng tức nhiên chư Hiền-Hữu trọng, vậy thì chư Hiền-Hữu biết mình trọng mà lo sửa vẹn người Đời. Từ đây LÃO hằng gìn-giữ cho chư Hiền Hữu hơn nữa. Nếu thoảng ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là cố ý muốn giá-trị chư Hiền-Hữu thêm cao-trọng hơn nữa. Vậy Lão xin đừng để dạ phiền-hà nghe!"

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Mường tượng cảnh Trước Lâm đầm ấm,
Càn Khôn ta có lắm nơi bằng.
Địa cầu này đặng cao thăng,
Về sau Hiền Hữu thấu căn trọn lành.

 

 

HIỀN LƯƠNG

賢 良
E: Talented and virtuous.
F: Talentueux et vertueux.

Hiền: Người có tài năng và đức hạnh hơn người. Lương: tốt, lành. Hiền lương là tài giỏi và tốt lành.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nhỏ dại Thầy nuôi mùi đạo hạnh,
Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.

Thi văn dạy Đạo rằng:

Nghe nghe thì lắm tiếng hiền lương,
Ðạo đức con tua giữ một đường.
Biển đổi, non dời đời phải tuyệt,
Ðức cao bền vững khó cân lường.

 

 

HIỀN NHƠN (Phẩm)

賢 人
E: Virtuous and talented man.
F: Homme vertueux et talentueux.

Hiền: Người có tài năng và đức hạnh hơn người. Nhơn: người.

Hiền Nhơn có 2 nghĩa sau đây:

1. Nghĩa thông thường: Hiền nhơn là người hiền, tức là người có tài năng và đạo đức hơn người. Thường nói: Hiền nhân quân tử.

2. Bên Cơ Quan Phước Thiện: Hiền Nhơn là một phẩm Chức sắc cao cấp trong Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của Cơ Quan Phước Thiện.

Hiền Nhơn ở dưới phẩm Thánh Nhơn và trên phẩm Chơn Nhơn, đối phẩm với Phối Sư của Cửu Trùng Ðài.

Chức sắc của Cơ Quan Phước Thiện từ phẩm Hiền Nhơn đổ lên, phải rời Cơ Quan Phước Thiện để qua Hiệp Thiên Ðài, có nhiệm vụ bảo tồn Chơn pháp. Do đó, phẩm Hiền Nhơn phải do cơ bút của Đức Hộ Pháp giáng phong mới đặng.

Đạo phục của Hiền Nhơn:

Khi đi chầu lễ Đức Chí Tôn tại Tòa Thánh: Hiền Nhơn mặc áo tràng trắng, choàng ngang vai một Dây Sắc Lịnh màu vàng, bỏ mối qua tay mặt (thể Đạo), trên Dây Sắc Lịnh có gắn khuê bài đề chữ Hiền Nhơn bằng quốc tự, đầu đội khăn đóng màu vàng 9 lớp chữ nhứt, chơn đi giày bố trắng.

Trong Đàn cơ tại Cung Đạo Tòa Thánh đêm 1-12-Nhâm Tý (dl 4-1-1973), hồi 20 giờ, Đức Phạm Hộ Pháp giáng cơ phong cho hai vị Chơn Nhơn: Nguyễn Văn Phú và Lê Văn Trung, có đủ công nghiệp thăng lên phẩm Hiền Nhơn.

Trước đó, Đức Phạm Hộ Pháp cũng có truy thăng Chơn Nhơn Trịnh Phong Cương tử nạn vì Đạo ngày 12-5-Đinh Dậu (dl 9-6-1957) lên phẩm Hiền Nhơn.

Vậy, Cơ Quan Phước Thiện có 3 vị Hiền Nhơn đầu tiên là:

Hiền Nhơn Trịnh Phong Cương (1882-1957).

Hiền Nhơn Nguyễn Văn Phú (1890-1976): Ngài sanh tại Đông Hòa Hiệp, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, qui vị ngày 10-10-Bính Thìn (dl 30-11-1976) tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Hiền Nhơn Lê Văn Trung (1902-1976) (Xem tiểu sử ngay kế dưới)

 

 

HIỀN NHƠN LÊ VĂN TRUNG (1902-1976)

Sau đây, xin chép lại Bản Tuyên Dương Công Nghiệp của Ngài Hiền Nhơn Lê Văn Trung để làm Tiểu sử của Ngài.

BẢN TUYÊN DƯƠNG CÔNG NGHIỆP

của Ngài Hiền Nhơn Lê văn Trung được Ngài Hiến Đạo Hiệp Thiên Ðài, Thống Quản Phước Thiện, đọc tại Giảng Đài Đền Thánh lúc 9 giờ ngày 20-1-Bính Thìn (dl 19-2-1976) sau khi hành pháp Độ Thăng.

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,

Kính chư Chức sắc Thiên phong, Chức việc, các Ban Bộ và toàn Đạo Nam Nữ,

Tôi nhơn danh Hiến Đạo Hiệp Thiên Ðài, Thống quản Hội Thánh Phước Thiện, tuyên dương công nghiệp của Hiền Nhơn Lê Văn Trung, khi sanh tiền, Ông hành đạo, ngày hôm nay đã quá cố.

Lai lịch: Ông Lê Văn Trung sanh năm Nhâm Dần (1902), nguyên quán tại Hương Đạo Phú Mỹ, Tộc Đạo Bến Tranh, Châu Đạo Mỹ Tho, hiện cư ngụ tại Hương Đạo Thái Hiệp Thạnh, Tộc Đạo Phú Khương, Châu Thành Tây Ninh, nơi nhà lễ giáo Nho phong, thật hành Nhơn đạo, học lực Việt ngữ được thông minh trí tuệ.

Phần Công nghiệp: Sớm nghe Đại Đạo hoằng khai, nhập môn ngày 26-5-Đinh Mão (1927) tại Thánh Thất Phú Mỹ, Mỹ Tho, tùng luật pháp Chơn truyền Đại Đạo lo tu hành, làm lành lánh dữ, được sự tín nhiệm của toàn đạo nơi Hương, đồng công cử Ông lên chức Phó Trị Sự, lo tròn trách nhiệm.

• Năm Mậu Thìn (1928), ngày 15 tháng Giêng, giữ trai giới trường trai. Ngày 15 tháng 7 nhập Minh Thiện Đàn. Đàn nầy do Đức Lý Giáo Tông giáng cơ lập ra dạy đạo, Ông Đinh Công Trứ làm chủ đàn, Ông xin nghỉ chức Phó Trị Sự.

• Năm Kỷ Tỵ (1929), ngày 3 tháng Giêng, Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cơ lập Đồng Nghĩa Đường tại nhà Ông để nhơn sanh đến lập thệ vào Minh Thiện Đàn, đặng lập cơ sở giúp Đạo. Đến ngày 15 tháng 2, nhơn sanh nhập Minh Thiện Đàn đặng 3400 người, lập 36 Ty, mỗi Ty có 3 Sở Lương điền hoặc Công nghệ, trong 5 tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Vĩnh Long, Long Xuyên, và Châu Đốc.

Ngày 22 tháng 2, Đức Hộ Pháp ở Thủ Đức xuống tại Thánh Thất Phú Mỹ. Đức Lý giáng cơ giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp điều khiển. Đức Ngài cho lịnh mời đêm 28 đặng Đức Ngài hành pháp cân thần, hiện diện được 93 vị.

Trưa ngày 29, lúc 11 giờ, đặng tin nhà Bưu Điện cho hay Đức Cao Thượng Phẩm đau nặng, Đức Ngài tuyển chọn trong 93 vị cân thần đặng 24 vị, dạy mời 24 vị 7 giờ tối phải có mặt cả gia đình đặng thọ "Đào Viên Pháp", trong 24 vị có ông Trung, còn lại bao nhiêu, Đức Ngài hẹn khi khác sẽ hành pháp. Sáng ngày 30, Đức Ngài ra xe về Tòa Thánh.

Ngày 10 tháng 6, Đức Ngài và Đức Quyền Giáo Tông cùng đi xuống Thánh Thất Phú Mỹ, cân thần thêm những người Minh Thiện Đàn, kỳ nầy ở 7 ngày, cân thần 647 người, chỉ lựa đặng 48 người.

Sáng ngày 18, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp trở về Tòa Thánh.

Soạn lại hai kỳ cân thần, tuyển đặng 72 người.

Khi cúng Lễ Trung Nguơn xong, Đức Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông chứng giấy cho đi hành thiện, đặng cho toàn đạo ở Miền Tây hay biết, mấy vị Chức sắc cao cấp tách ra lập Chi phái, nếu vị Đạo hữu nào muốn hành đạo nơi Tòa Thánh thì biên tên vào danh sách.

Riêng Ông với Ông Đinh Công Trứ đi hai tỉnh Rạch Giá và Long Xuyên, còn hai tỉnh Mỹ Tho và Tân An cứ lưu hành.

Trong thời gian đi hành thiện, 72 người, ai hành đạo theo địa phương nấy, cho đến cuối năm Kỷ Tỵ (1929), làm sổ thống kê tất cả đặng 17.400 người.

• Năm Canh Ngọ (1930), đắc lịnh trở về lo vận động hành lý và gạo lúa cho anh em ở Tòa Thánh đi làm 1000 công ruộng tại núi Sập, Long Xuyên. Sau khi về lo việc làm ruộng xong, cứ thay phiên nhau đi trong hai tỉnh Mỹ Tho và Tân An.

• Năm Tân Mùi (1931), đắc lịnh Đức Phạm Hộ Pháp bổ trách nhiệm Chủ Sở Giang Tân, đặng lo kiến tạo cơ sở.

• Năm Nhâm Thân (1932), đời Pháp thuộc, chánh phủ làm khó dễ ngăn đón đủ mọi phương, nhưng Ông vẫn tận tâm len lỏi lo giúp đạo.

• Năm Ất Hợi (1935), ngày 15 tháng 10, đắc phong Lễ Sanh Giáo Thiện.

• Năm Đinh Sửu (1937),lãnh trách nhiệm Đầu Họ Phước Thiện Gia Định, Đạo Nghị Định số 48/NĐ ngày 16 tháng giêng.

• Năm Mậu Dần (1938), được bổ Đầu Họ Phước Thiện Tây Ninh, Nghị Định số 181/NĐ ngày 2 tháng 7.

• Năm Kỷ Mão (1939), ngày mùng 4 tháng 10, kiêm nhiệm Thủ Bổn Hiệp Thiên Ðài.

• Năm Canh Thìn (1940), lãnh trách nhiệm đi quan sát các Họ Đạo Phước Thiện, Nghị Định số 284/NĐ ngày mùng 8 tháng 11.

• Năm Tân Tỵ (1941), lãnh trách nhiệm Đầu Họ Phước Thiện Mỹ Tho, Nghị Định số 04/NĐ ngày 20 tháng Giêng. Đến tháng 6 Đức Phạm Hộ Pháp bị đồ lưu, tháng 10 nhà cầm quyền Pháp ra lịnh cấm, những người đứng bộ tỉnh nào thì về tỉnh đó ở, không đặng ở Tây Ninh nữa. Vì tình thế khó khăn, Ông trở về Sài gòn ở, lâu lâu đi xuống Họ Đạo một lần.

• Năm Quí Mùi (1943), Ông hợp tác hãng tàu Nittinan, cộng sự chung với quí Chức sắc lo cơ chuyển thế. Lúc nầy nhà binh Pháp chiếm Tòa Thánh làm trại lính.

• Năm Ất Dậu (1945), ngày 25 tháng Giêng (dl 9-3-1945), cuộc đảo chánh Pháp thành công, tháng 8 rước Đức Phạm Hộ Pháp về Tòa Thánh.

• Năm Bính Tuất (1946), Đại Hội Phước Thiện cầu thăng được vào phẩm Chí Thiện, toàn hội dâng tờ xin thăng cho Ông lên phẩm Đạo Nhơn, Ông không dám nhận. Kế đắc lịnh bổ nhiệm làm Khâm Châu Phước Thiện tại Sài gòn, Thánh Lịnh số 28/TL ngày 18 tháng Giêng.

• Năm Đinh Hợi (1947), lãnh trách nhiệm Cai quản Trường Qui Thiện, Thánh Lịnh số 84/TL ngày 18 tháng 5.

• Năm Mậu Tý (1948), lãnh trách nhiệm Trưởng ban Kinh Tế Lý Tài, sắc tứ số 606/ST ngày 8 tháng 7.

• Năm Canh Dần (1950), đắc lịnh kiêm ban Trấn định nhơn tâm toàn đạo do Ngài Tiếp Pháp làm Trưởng ban, Thánh Lịnh số 347/TL ngày 27 tháng 6.

• Năm Tân Mão (1951), lãnh trách nhiệm Hội viên Hội Đồng Tối Cao, Thánh Lịnh số 416/TL ngày 4 tháng 7.

• Năm Giáp Ngọ (1954), lãnh thêm trách nhiệm Hội Viên Hội Đồng miễn dịch thanh niên Cao Đài, do Ngài Tiếp Pháp làm Trưởng Ban.

• Năm Bính Thân (1956), Hội Thánh xét vì Ông đã dày công với Đạo, đủ điều kiện xứng đáng thăng thưởng vào phẩm Đạo Nhơn, Thánh Lịnh số 15/TL ngày 25 tháng 11.

• Năm Đinh Dậu (1957), đắc lịnh Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài thuyên bổ trách nhiệm Chưởng quản CQPT, Đạo Lịnh số 09/ĐL ngày 7 tháng 6.

• Năm Canh Tý (1960), được thăng lên phẩm Chơn Nhơn, Đạo Lịnh số 03/ĐL ngày 13 tháng 11.

• Năm Tân Sửu (1961), lãnh phận sự Cố Vấn Phước Thiện, kiêm Quản Văn phòng Khai Đạo Hiệp Thiên Ðài, Huấn Lịnh số 30/HL ngày 10 tháng 3 (dl 24-4-1961).

• Năm Nhâm Dần (1962), lãnh trách nhiệm Tổng quản Văn phòng Tiếp Pháp, Thống quản Tam Vụ: Hòa, Lại, Lễ.

• Năm Giáp Thìn (1964), trách nhiệm Chưởng quản Phước Thiện, thay thế Chơn Nhơn Nguyễn Văn Phú.

• Năm Nhâm Tý (1972), chiếu Thánh Giáo tại Cung Đạo Đền Thánh đêm mùng 1 tháng Chạp (dl 4-1-1973), Đức Phạm Hộ Pháp thăng thưởng vị Chơn Nhơn Lê Văn Trung lên phẩm Hiền Nhơn, Thánh Lịnh số 07/TL ngày 8 tháng chạp năm Nhâm Tý (dl 11-1-1973).

• Năm Quí Sửu (1973), lãnh trách nhiệm Cố Vấn Hiệp Thiên Ðài, kiêm nhiệm Chưởng quản Hội Thánh Phước Thiện Nam phái, Sắc Lịnh số 04/SL ngày 11-6 (dl 10-7-1973) cho đến nay.

Ôi! Người sanh nơi thế nầy đều phải thọ Tứ khổ là Sanh, Lão, Bệnh, Tử.

Ngày Ông ngọa bịnh cũng thông thường, nhưng vì tuổi cao sức kém, biến chứng nội thương, có đi bệnh viện Sài gòn, bác sĩ chuyên khoa điều trị có trên tháng trường, nhưng không thuyên giảm, như khuôn thuyền chở khẳm, cả gia đình đều lo sợ, xin chở về nhà.

Nào hay đâu, Thiên số nan đào, Ông trút hơi thở cuối cùng lúc 19 giờ 15 phút ngày 17 tháng Giêng năm Bính Thìn (dl 16-2-1976) tại tư gia.

Tuy sự mất còn là do định mệnh của Đức Chí Tôn, nhưng đối với kiếp sanh của con người có giới hạn, sao khỏi đau lòng lúc tử biệt sanh ly, dầu bậc nào đi nữa, cũng không khỏi rơi châu đổ lụy.

Thánh xưa có câu: Sanh ký tử qui, sống gởi thác về, là lẽ dĩ nhiên Thiên định.

Trước khi dứt lời Tuyên dương, kính chư Chức sắc, chư Chức việc, các Ban Bộ và toàn đạo Nam Nữ, đồng hướng về BQĐ, thành tâm cầu nguyện cho linh hồn Ông Hiền Nhơn Lê Văn Trung được hưởng pháp siêu thăng về Thiên cảnh, an nhàn nơi cõi thọ.

Nay kính.
HIẾN ĐẠO Hiệp Thiên Ðài
Thống Quản Phước Thiện
(ấn ký)
PHẠM VĂN TƯƠI

Sau đây xin trích vài đoạn trong các bài Điếu văn, nhắc lại công nghiệp của Ngài Hiền Nhơn Lê Văn Trung.

* Trích Điếu văn của Hội Thánh Phước Thiện:

"Có lẽ toàn đạo còn nhớ, năm Kỷ Tỵ (1929), tại Tòa Thánh Tây Ninh lúc bấy giờ, cơ đạo chinh nghiêng chia phe phân phái, thì tại Thánh Thất Khổ Hiền Trang, Phú Mỹ, Đức Phạm Hộ Pháp điều khiển Minh Thiện Đàn, giao phó cho Đại huynh cùng Ông Cố Đốc Trường Đinh Công Trứ, với 72 người trong Minh Thiện Đàn, có sứ mạng, Đức Hộ Pháp bổ nhiệm cho đi hành thiện khắp trong Lục tỉnh Nam Kỳ, để trấn tỉnh nhơn tâm bổn Đạo và đem được một số tín hữu trở về Tòa Thánh, tổng số thống kê cuối năm Kỷ Tỵ đặng 17.400 người.

Năm Ất Hợi (1935), ngày Rằm tháng 10, Đại huynh được Đức Lý Giáo Tông chấm phong Lễ Sanh Giáo Thiện, được Đức Phạm Hộ Pháp thuyên bổ trách nhiệm Đầu Họ Đạo Phước Thiện các tỉnh Gia Định, Tây Ninh, Mỹ Tho, để lo khai mở CQPT, hầu đem huê lợi về tạo tác Tòa Thánh và các dinh thự trong Nội Ô Thánh địa, ngày nay được nguy nga đồ sộ, ấy cũng một phần công cán của Đại huynh đáng kể.

Qua năm Đinh Dậu (1957), cầm quyền Chưởng quản PT, lo phổ hóa nhơn sanh, khuếch trương các cơ sở địa phương, cùng kiến tạo nghiệp đạo Phước Thiện tại Trung Ương Tòa Thánh được tốt đẹp, dìu dắt anh chị em tiến bước trên trường thi công quả của Đức Chí Tôn, hầu thực hành cơ cứu khổ.

Trải qua nhiều giai đoạn gay go thử thách, nhưng Đại huynh tâm không đổi, chí chẳng dời, một lòng nhất quyết giữ lập trường Phước Thiện, hầu dìu dắt đàn em đến nơi bỉ ngạn."