CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần G

 

GÁC

Gác Quyển

Gác Tía Lầu Hồng

 

GAN

Gan Sắt Dạ Đồng

Gan Tấc

 

GÁNH

Gánh Vác

 

GẮNG

Gắng Ghi

 

GÂY

Gây Hờn Chứa Giận

Gây Oán Chác Hờn

 

GALILÉE

Galilée

 

GHE

Ghe Phen

Ghét Ngõ Ghen Hiền

 

GIA

Gia Ân

Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần

Gia Công

Gia Đạo

Gia Đình

Gia Long

Gia Nghiệp Thiêng Liêng

Gia Nhân Quẻ Phong Hoả Gia Nhân

Gia Phả

Gia Phong

Gia Quyến

Gia Tế Phước

Gia Thất

Gia Tiên

Gia-Tô Giáo Chủ (Da-Tô Giáo Chủ)

Gia Tộc

Gia Vô Bế Hộ, Lộ Bất Thập Di

 

GIÁ

Giá Ngự

Giá Trị Tình Thương

Giá Trị Thiêng Liêng

 

GIẢ

Giả

Giả Bộ Siêng Lo

Giả Cuộc

Giả Luật

Giả Nương Cửa Phật

Giả Tạm

Giả Thân

Giả Trá

Giã Xay

 

GIÁC

Giác

Giác Hải

Giác Mê

Giác Ngộ

Giác Tánh

Giác Thân

Giác Thế

 

GIAI

Giai Cấp Vô Sản

Giai Miễn Lễ

Giai Ngẫu

Giai Quì

 

GIẢI

Giải

Giải Quẻ Quẻ Lôi Thuỷ Giải

Giải Căn

Giải Chức

Giải Khổ

Giải Kiết

Giải Khổ Kiều

Giải Mộng Trần Gian

Giải Nạn

Giải Nghiệt

Giải Oan

Giải Pháp Hòa Bình

Giải Phần Hữu Sanh

Giải Quả

Giải Quả Trừ Căn

Giải Quyền Nhập Tịnh

Giải Tán

Giải Tán Nghịch Thù

Giải Thi

Giải Thân Định Trí

Giải Thể Về Thiêng Liêng Vị

Giải Thoát

Giải Thoát Cho Cửu Huyền Thất Tổ

Giải Thoát Mê Đồ

Giải Trái Oan

Giải Trí

Giải Xong Xác Tục

Giải Vây

 

GIÁM

Giám Ðạo

Giám Đạo Phan Hữu Phước

Giám Đạo Nguyễn Huợt Hải

Giám Khảo

 

GIẢM

Giảm Thâu

 

GIAN

Gian Dâm

Gian Giảo

Gian Mưu

Gian Phi

Gian Tham

Gian Trá

Gian Truân

 

GIÁN

Gián Can

 

GIANG

Giang San

 

GIÁNG

Giáng Bút

Giáng Cấp

Giáng Cơ

Giáng Đàn

Giáng Hạ

Giáng Lâm

Giáng Linh

Giáng Ma Xử

Giáng Sanh (Giáng Sinh)

Giáng Sinh (Đức Hộ Pháp Giáng Sinh)

Giáng Tâm

Giáng Thân

Giáng Thế

Giáng Trần

 

GIẢNG

Giảng Lê Văn Giảng

Giảng Đài

 

GIÀNH

Giành Giựt

 

GIAO

Giao Hảo

Giao Hòa

Giao Kết

Giao Phó

Giao Tiếp

Giao Thiệp

 

GIÁO

Giáo (Dương Văn Giáo)

Giáo Chủ

Giáo Dân

Giáo Dân Hành Thiện

Giáo Dục

Giáo Điều

Giáo Hóa

Giáo Hóa Chúng Sanh

Giáo Hóa Nhơn Sanh

Giáo Hội

Giáo Huấn

Giáo Hữu

Giáo Lý

Giáo Lý Chơn Truyền

Giáo Lý Đại Đạo

Giáo Đạo Nam Phương

Giáo Đạo Tha Phương

Giáo Ngoại Biệt Truyền

Giáo Nhi

Giáo Nhơn Qui Thiện

Giáo Phẩm

Giáo Sĩ

Giáo Sư

Giáo Sư Hương Phụng

Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh

Giáo Tông

Giáo Tông Đường

Giáo Thiện

Giáo Truyền

Giáo Viên Ðạo Ðức Học Ðường

Giáo Xiển Hư Linh

 

GIÁP

Giáp

 

GIÀU

Giàu Sang

 

GIÀY

Giày Gai Áo Bả

Giày Vô Ưu

 

GIẶC

Giặc Thất Tình

 

GIẤC

Giấc Hồ Điệp

Giấc Huỳnh Lương

Giấc Nam Kha

 

GIỀNG

Giềng Ba

Giềng Nhơn Luân

 

GIỎ

Giỏ Hoa Lam

 

GIÒI

Giòi Tửa

 

GIỎI

Giỏi Giáo Hữu Thượng Giỏi Thanh

Giỏi Lễ Sanh

 

GIỌNG

Giọng Đờn Tiếng Quyển

 

GIỌT

Giot Lụy

Giọt Máu Mủ

Giọt Nhành Dương

Giọt Từ Bi

 

GIỐNG

Giống Lạc Hồng

 

GIỚI

Giới Cấm

Giới - Định - Huệ

Giới Tâm Kinh

Giới Tửu

 

GIỜ

Giờ Đại Xá Của Thượng Đế Đã Điểm

 

GIU

Giu-Da (Juda)

 

GIỤC

Giục Loạn

Giục Nghịch

 

GÓA

Góa Thân

 

GỘI

Gội Nhuần

 

GÔNG

Gông Với Tróng

Gông Kềm Khảo Kẹp

 

GỒNG

Gồng Gánh Hai Vai

 

GỞI

Gởi Thánh Cốt Tại Đất Thánh Địa

 

GƯƠM

Gươm Đao

Gươm Huệ

Gươm Thư Gươm Hùng

 

GƯƠNG

Gương

Gương Chúa Jésus

Gương Đạo

Gương Hạnh

Gương Hiền Đức Của Nữ Phái

Gương Mẫu

Gương Vỡ Lại Lành

Gương Nhựt Nguyệt

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

 

 

 

GÁC QUYỂN

Ông Quí Cao giáng hoà nguyên vận bài thi của Bà Bát Nương Hớn-Liên-Bạch:

Ình-ình trống giục thảm Trường-đình,
Đau nỗi chia phôi một chữ tình,
Hồng-nhạn đưa tin trông vắng dạng.
Phụng lầu gác quyển đợi hòa thinh.

 

 

GÁC TÍA LẦU HỒNG

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Nghi dung chớ mượn màu son phấn,
Để trong gương mà hứng non sông.
Coi như gác tía lầu hồng,
Chẳng phen giữa trận tên đồng không nao.

 

 

GAN SẮT DẠ ĐỒNG

Đức Hộ-Pháp nói: “Hai phía xung đột nhau mà bắt Ðạo ở trung gian làm nơi chiến địa thì kẻ cầm quyền trong Ðạo tránh sao khỏi những nỗi khó khăn, vì vậy mà Anh Cả của chúng tôi chịu nhiều đau đớn. Ôi! Một Ðấng anh hùng như thế, một tay kiện tướng của Ðạo như thế, nay đã ra người thiên cổ. Dẫu phải gan sắt dạ đồng cũng phải rơi châu mà thương tiếc”.

 

 

GAN TẤC

Gan tấc hay tấc gan, chỉ tấc ý chí mạnh mẽ.

Kinh Cầu Tổ Phụ đã qui liễu có câu:

“Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,
“Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.”

 

 

GÁNH VÁC

Đức Hộ-Pháp nói: “Bần Đạo quên nói cái tiên tri của Ngài rất ngộ nghĩnh, thời buổi ấy Ngài đến dạy biểu Bần Đạo nghe lời, nếu Hiền Hữu không nghe lời, ngày kia cái tai họa ấy tiêu diệt hay đoạt Đạo thì Hiền Hữu gánh trách nhiệm ấy nặng nề trước cả. Bần Đạo buổi nọ không hiểu gì cả. Bần Đạo nói toàn Thánh Thể Đức Chí Tôn cả triệu con người cớ sao một mình Bần Đạo gánh vác. Nói tiên tri ấy là thời giờ Ngài giao quyền Giáo Tông nầy cho Bần Đạo Chưởng quản luôn Cửu Trùng Đài, nếu không nghe lời thì Bần Đạo gánh hết. Nếu không nghe lời Ngài buổi nọ thì gánh nầy giao lại cho ai? Như giờ phút nầy có nên bỏ, chớ không thể sống với Đạo”.

 

 

GẮNG GHI

Bài Kinh Niệm Hương có câu:

“Lòng sở vọng gắng ghi đảo-cáo,
“Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.”

 

 

GÂY HỜN CHỨA GIẬN

Gây hờn là tạo ra điều hờn để rồi chất chứa sự giận trong lòng. Việc làm này trước nhứt tự mình làm tổn thương trong lòng, người xưa nói là một hình thức đau khổ và độc hại như nuốt sâu trong bụng. Người tu là xòa bỏ đi cho nhẹ nhàng.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nguyện hết sức đỡ nâng nền Đạo,
Trọn tấc niềm ngay thảo thời vui.
Hơi đâu tranh cạnh việc đời,
Gây hờn chứa giận với đời làm chi?

 

 

GÂY OÁN CHÁC HỜN

Đức Hộ-Pháp nói: “Khi trở về Thánh Địa Bần Đạo gượng làm vui, chớ kỳ thật riêng về Đức Ngài Khai Pháp và Bần Đạo không giờ phút nào quên cảnh tù đày lao khổ. Bần Đạo chỉ thấy con cái Đức Chí Tôn rất chú ý về việc đó, nên Bần Đạo ôm lòng nén chịu căn dặn Ngài dằn lòng không thốt ra lời nói nào cả, Bần Đạo sợ nói ra đây, gây oán chác hờn thêm cho Đạo. Nếu Bần Đạo nói ra, không có bút mực nào tỏ cho hết, lại thêm xung đột.”

 

 

GALILÉE (Tên)

Ông Galilée là nhà toán pháp (Mathématicien) cách vật (Physicien) và Thiên văn (Astronome) của Ý Đại Lợi (Italy) sanh tại thành Pise, người đã khai sáng cách trí học tại Ý, khi vô chầu lễ trong Đền thờ Pise, người ngó thấy cây đèn treo trong Đền thờ đòng đưa đúng theo trường canh nhịp nhàng quá đỗi nên mới bày ra cái quả lắc đồng hồ; người tạo đặng Hàn thử biểu (Thermomètre) và cân thủy khí (Balance hydrostatique), kiếm đặng cái hấp lực của địa cầu đặng định cân mọi vật (Loi de la pesanteur), tuyên bố cơ thể lực cân (Dynamique). Qua năm 1609, người tạo đặng một ống thiên lý, nhờ đấy mà người xem đặng sự vận hành nguyệt tượng. Từ ấy người nhìn theo thuyết lý Copernic đã định quyết rằng Địa cầu nầy có hai phần luân chuyển: tự chuyển là xây tròn một mình nó và nhựt chuyển là chạy chung quanh mặt trời, nên định cho rằng mặt trời là trung tim, nghĩa là rún của thế giới, chớ không phải trái đất nầy là trung tim của thế giới và trái đất cũng phải chịu hấp thụ ánh sáng quang minh của nó, cũng như các địa cầu khác mà làm ra ngày và đêm.

Lý thuyết ấy tuyên bố ra làm cho kinh động đảng Kinh học (Scolastiques) (Thần học Kinh viện của Thiên Chúa giáo La Mã] và triều đình thành Rome. Tòa Thánh Gia Tô giáo muốn buộc người cho đặng bèn định rằng lý thuyết Copernic định thế giới Càn khôn là Tà giáo và đòi người đến mà cấm tuyệt không cho truyền bá lý thuyết ấy ra nữa. Người chịu hứa mọi điều, nhưng khi về đến thành Florence lại viết một bộ sách mà trực thuật cái lý thuyết chơn thật ấy ra nữa. Bộ sách bị giải nạp ra Tòa đạo (Inquisition), năm ấy người đã 70 tuổi rồi mà cũng bị bắt giải ra Tòa đạo. Tòa buộc người phải quì mà thề và khai rằng lý thuyết của người là Tà giáo, đặng tránh cho khỏi án thiêu mình. Khi người cầm viết ký tờ khai thì dậm cẳng xuống đất mà than rằng: “Nhưng mà ta quả nhiên nghe nó hẳn hòi vận động”. Từ ấy người bị Tòa đạo gìn giữ một cách nhặt nhiệm, dường như người bị tù lỏng kia vậy. Người bị mù và chết năm 1642, hưởng thọ đặng 78 tuổi.

Ôi! Một vị hiền triết dường ấy mà còn bị đè nén vì tư tưởng thế nầy, là bởi cơ quan thế giới quá trí của người đời, nên không cớ không bằng, vô phương đối chứng. Cái sự thật đã về ai? Ông Galilée hay Tòa đạo? Chư Đạo hữu cũng thầm nghĩ bên chơn thật bị thảm khổ là dường nào mà xét suy giùm lẽ đạo. Cái tai nạn của ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ ngày nay cũng như ông Galilée, khó trưng bằng cớ buổi nọ đó vậy. Đấng vô hình quyền năng đã tạo thế nầy, từ tạo Thiên lập Địa chưa có một người nào đặng gặp. Sự gặp đặng Người và chung ở cùng Người là một phần thưởng quí trọng không cùng, dầu cho các Đấng Chí Tiên Chí Phật đi nữa cũng hằng ngưỡng vọng.

 

 

GHE PHEN

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân LÊ VĂN DUYỆT nhập bàn cho bài thi như sau:

Ðã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc-địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép tây tà.

 

 

GHÉT NGÕ GHEN HIỀN

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Vậy nên mới sanh ra đố kỵ,
Tưởng rằng đây mến vị tham quyền!
Đem lòng ghét ngõ ghen hiền,
Đồn ra ngưng chức ngưng quyền làm reo.

 

 

GIA ÂN

加恩
E: To grant of favour.
F: Accorder une faveur.

Gia: Thêm, cho thêm. Ân: ơn. Gia ân là ban thêm ơn huệ.

Đức Chí-Tôn cho Thi:

Bố hóa người đời gây mối đạo
Gia ân đồ đệ dựng nền nhân
Chừng nào đất dậy trời thay xác,
Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần.

 

 

GIA BẦN TRI HIẾU TỬ, QUỐC LOẠN THỨC TRUNG THẦN

Trong Bài Điếu văn của Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, đọc trước liên đài của Ngài Hiến Pháp, trước khi nhập Bửu tháp, có một đoạn quan trọng, xin trích ra sau: “Nhớ buổi xưa, lúc cơ Đạo chinh nghiêng, Đức Phạm Hộ Pháp đang bị bao vây trong Hộ Pháp Đường, cả Chức sắc lưỡng phái lưỡng Đài đang hoang mang, nhơn tâm bất nhứt, tâm lý bất đồng, sống trong hoàn cảnh hồi hộp lo âu sợ sệt, đột nhiên thấy Anh (Hiến Pháp) đơn độc xách gói về Tòa-Thánh. Anh Bảo Thế và các Anh khác hỏi Anh về Tòa-Thánh làm gì trong lúc khó khăn rối rắm như vầy? Khi ấy, lần đầu tiên Em gặp Anh và cũng lần đầu tiên Em nghe Anh thốt ra một câu trả lời bất hủ, mà Em vẫn còn ghi mãi trong ký ức, lấy làm gương sáng cho bước hành đạo và hôm nay, Em xin nhắc lại cho toàn thể các bạn Đạo hiện diện nơi đây đặng biết và ghi nhớ để làm phương châm hành đạo.

Anh nói rằng: “Sách xưa có dạy: “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần”. Trong Đạo cũng vậy, lúc cơ Đạo thạnh hành, ai cũng làm đặng. Hôm nay gặp buổi chinh nghiêng, nền Đại Đạo đang cơn bối rối, ĐỨC nầy mới xin về để cùng chia sớt phần nào cảnh lo âu khó nhọc với Anh Em” Lời nói bất hủ nầy cho ta thấy tinh thần hy sinh phục vụ của Anh cao cả là dường nào và có mãnh lực nhắc cho chúng ta cả thảy nhớ câu Minh Thệ: Hiệp đồng chư Môn đệ..., để mỗi khi cơ Đạo gặp cảnh khó khăn, thì chúng ta phải nhứt tâm nhứt trí siết chặt hàng ngũ, trụ vững đức tin, chia đau sớt khổ với nhau, để phục vụ cho Đạo pháp và cho nhơn sanh, chớ không lý do gì lánh né phận sự, để miệng thế bia danh muôn thuở.”

Thầy dạy:

Gia bần tri hiếu tử, nhớ nghe con!
Quốc loạn trung thần, nhớ nghe con!

 

 

GIA CÔNG

Gia công là cố gắng tăng thêm sức lực để làm một công việc gì ngoài việc bình thường, đôi khi vì miễn cưỡng mà làm.

Đức Lý dạy: Ngày 18-1-Đinh Mão (dl: 19-2-1927):

“Chẳng vì Thánh Thất, Như Nhãn phản ngôn mà trễ phổ thông Thánh giáo. Cười…Đã hiểu đời còn mê muội, chẳng phân đặng chơn giả thế nào, thảm thay! Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn (phái Thái) dám cả gan nghịch Thiên mà phải đọa trầm luân muôn kiếp, xét đến công tu, khó ngăn giọt lụy. Chí Tôn đau đớn bao nhiêu, Lão càng giận bấy nhiêu. Biết bao phen, Lão cầm viết toan bôi xóa cho rồi trọn phái oan nghiệt mà Chí Tôn nằn nằn xin Lão để cho Người gia công độ rỗi”.

 

 

GIA ĐẠO

Thầy dạy tại Chợ Lớn, ngày 05-01-Mậu Thìn (dl: 27-01-1928) rằng: “Kỳ Vía tới đây, đứa nào phải gia đạo hàn vi không thể đến đặng thì niệm danh Thầy, dâng một tấm lòng thành thật cũng đủ là quí trọng. Nếu phần nhiều đến được thì làm cho cuộc lễ ra vẻ long trọng, hầu làm cho hưng vượng Tòa Thánh và thêm lòng ngưỡng mộ của chúng sanh”.

 

 

GIA ĐÌNH

Đây là điều chót trong 10 điều Khuyến tu của Chí-Tôn:

Ðiều chót hết: Mười ghi trăm nhớ,
Phật - Pháp - Tăng con chớ quên ơn;
Gia đình nghĩa trọng nhiều hơn,
Tình thương xã hội trong cơn thiết cần.
Ơn Tổ Tiên dành phần con cháu,
Do những lời dạy bảo Thầy mong:
Con ơi! Hãy khá ghi lòng,
Bấy nhiêu tâm huyết mấy dòng thi văn.

Đức Hộ-Pháp nói: “Trong phép an ninh trật tự đối với Tạo-đoan Càn Khôn Vũ-Trụ không ngoài khuôn khổ gia đình, chúng ta quan sát hình tướng phép an ninh trật tự đối với cơ Tạo đoan trong gia đình thế nào thì cơ Tạo-đoan Càn-Khôn Vũ trụ cũng ở trong khuôn khổ ấy mà thôi. "

 

 

GIA LONG (Vua Nhà Nguyễn)

THẾ TỔ Cao-Hoàng Gia-Long (1802-1819)

 
   

1- Thế Tổ xưng đế hiệu:

Thế tổ khởi binh chống nhau với Tây Sơn ở đất Gia Định từ năm Mậu Tuất (1778), kể vừa 24 năm, mới dứt được nhà Tây Sơn, thu phục được giang sơn cũ của Chúa Nguyễn khi xưa và họp cả Nam Bắc lại làm một mối. Khi việc đánh dẹp xong rồi, Ngài xưng Đế hiệu, đặt quốc hiệu là VIỆT NAM, đóng Kinh đô ở Phú Xuân, tức là thành Huế bây giờ.

Khi vua Thế Tổ lấy được đất Bắc Hà rồi, Ngài xuống chỉ tha cho dân một vụ thuế và thăng thưởng cho các tướng sĩ. Ngài lại phong tước cho con cháu nhà Lê, nhà Trịnh, cấp cho ruộng đất và trừ phong dịch cho dòng dõi hai họ ấy để giữ việc thờ phụng tổ tiên.

Đoạn rồi, Ngài đổi Bắc Hà là Bắc Thành, đặt quan Tổng trấn, triệu Nguyễn Văn Thành ở Qui-Nhơn ra sung chức ấy, để coi mọi việc. Lại đặt ra tam tào là tào Hộ, tào Binh, tào Hình, sai Nguyễn Văn Khiêm, Đặng Trần Thường và Phạm Văn Đăng ra coi các tào ấy, để giúp Nguyễn Văn Thành.

Đến tháng bảy năm Nhâm Tuất (1802), Thế Tổ về Kinh, đem vua tôi nhà Tây Sơn về làm lễ hiến phù ở đền Thái Miếu, rồi đem ra tận pháp trường xử trị. Lại sai quật mả vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và vua Thái Tổ Nguyễn Huệ lên, đem vứt thây đi, còn đầu thì đem bỏ giam ở trong ngục tối. Những bọn văn thần nhà Tây Sơn như Ngô Thì Nhiệm, Phan Huy Ích ra hàng, đem nọc ra đánh ở trước Văn Miếu, rồi tha cho về. Lúc bấy giờ có Ngô Thì Nhiệm vì trước có hiềm với Đặng Trần Thường, cho nên đến khi đánh ở Văn Miếu, Đặng Trần Thường sai người đánh chết. Vua Thế Tổ định tội, thưởng công xong rồi, lo sửa sang mọi việc; làm đền Cần Chính để lập thường triều, đền Thái Hòa để lập đại triều; lại sai quân dân xây thành Kinh Đô và Hoàng Thành cùng các thành trì ở ngoài các doanh trấn.

Tuy rằng Ngài đã đặt niên hiệu, lên ngôi từ năm Nhâm Tuất (1802), nhưng mà đến năm Giáp Tý (1804), tức là Gia Long tam niên, vua nhà Thanh mới sai sứ sang phong Vương và đến năm Bính Dần (1806), Ngài mới làm lễ xưng Đế hiệu ở đền Thái Hòa. Định triều nghi, cứ ngày rằm và ngày mồng một thiết đại triều; ngày mồng 5, mồng 10, 20 và 25 thì thiết tiểu triều.

Lúc Ngài đánh xong Tây Sơn, thì chính trị trong nước đổ nát, phong tục hủy hoại, việc gì cũng cần sửa sang lại. Bởi vậy ở trong thì Ngài chỉnh đốn pháp luật, và mọi việc cai trị cùng là sửa sang phong tục, cấm dân gian không cho lấy việc thần phật mà bày ra rượu chè ăn uống, nghiêm dụ quan lại không được sinh sự nhiễu dân. Ở ngoài thì Ngài lo sự giao hiếu với nước Tàu, nước Tiêm, nước Chân Lạp, khiến cho nước Việt Nam lúc bấy giờ trong ngoài đều được yên trị.

2. Việc Triều Chính:

Ở trong cung, nhà vua không đặt ngôi Hoàng hậu, chỉ có ngôi Hoàng phi và các cung tần. Sau khi vua mất, thì tự quân lên ngôi, mới tôn mẹ lên làm Hoàng Thái Hậu.

Quan lại trong Triều đại khái theo chế độ nhà Lê, nhưng bỏ chức Tham Tụng và Bồi Tụng tức là chức Tể tướng đời xưa. Mọi việc đều do Lục Bộ chủ trương hết cả. Mỗi bộ có quan Thượng Thư làm đầu, quan tả hữu tham tri, tả hữu thị lang, cùng các thuộc viên như là lang trung, viên ngoại lang, chủ sự và bát cửu phẩm thơ lại,.....

Bộ Lại: coi việc thuyên bổ quan văn, ban thưởng phẩm cấp, khảo xét công trạng, phong tặng tước ấm, thảo những tờ chiếu, sắc, cáo, mệnh và làm những sổ các hàng quan lại.

Bộ Hộ: coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc chuyển thông, kho tàng chứa chất, hóa vật đắt rẻ..

Bộ Lễ: coi việc triều hộ, khánh hạ, tế tự, tôn phong, cùng là cách thức học hành thi cử, tinh biểu cho người sống lâu, người có tiết nghĩa, phong thụy cho các thần nhân....

Bộ Binh: coi việc thuyên bổ võ chức, giảng duyệt quân lính, sai khiến quân đi thú hoặc đi đánh dẹp, kén chọn binh đinh, xét người có công người có lỗi về việc binh.

Bộ Hình: coi việc hình danh pháp luật, tra nghĩ dâng tấu, duyệt lại những tội nặng án ngờ, xét kỹ những tù giam ngục cấm.
Bộ Công: coi việc làm cung điện, dinh thự, xây thành, đào hào, tu tạo tàu bè, đặt làm kiểu mẫu, thuê thợ thuyền, mua vật liệu

Ngoài Lục bộ lại có Đô Sát Viện để giữ việc can gián vua, và đàn hạch các quan. Cấp sự trung các khoa và giám sát ngự sử các đạo, đều thống thuộc về viện ấy. Trong viện có tả hữu đô ngự sử và tả hữu phó đô ngự sử đứng đầu.

Bấy giờ vua Thế Tổ lại đặt ra Tào Chính để coi việc vận tải cùng là thuế má tàu bè. Có quan Tào Chính Sứ và Tào Phó Sứ làm đầu.

Các địa phương thì lúc bấy giờ từ nam chí bắc chia ra làm 23 trấn và 4 doanh. Từ Thanh Hóa ngoại (tức là Ninh bình bây giờ) trở ra, gọi là Bắc Thành, thống cả 11 trấn, chia ra làm 5 nội trấn: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc và Hải Dương; 6 ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên. Từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định Thành, thống cả 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường và Hà Tiên.

Còn ở quãng giữa nước, thì đặt Thanh Hóa Trấn (gồm cả Thanh Hóa nội, Thanh Hóa ngoại), Nghệ An trấn, Quảng Nghĩa trấn, Bình Định trấn, Phú Yên trấn, Bình Hòa trấn (tức là Khánh hòa) và Bình Thuận trấn. Đất kinh kỳ thống bốn doanh là: Trực Lệ Quảng Đức doanh (tức là Thừa Thiên bây giờ), Quảng Trị doanh, Quảng bình doanh, Quảng Nam doanh.

Ở Bắc Thành và Gia Định Thành đều đặt chức Tổng trấn, và Phó tổng trấn, để coi mọi việc. Ở các trấn thì đặt quan lưu trấn hay là quan trấn thủ, quan cai bạ và quan ký lục để coi việc cai trị trong trấn.

Trấn lại chia ra phủ, huyện, châu, đặt chức tri phủ, tri huyện, tri châu để coi việc cai trị.

Những trấn ở Nghệ An, Thanh Hóa và 5 nội trấn ở Bắc Thành, thì dùng những quan cựu thần nhà Lê làm quan cai trị. Còn 6 ngoại trấn ở Bắc Thành, thì giao quyền cai trị cho những thổ hào sở tại.

3. Binh Chế:

Khi vua Thế Tổ đánh được Tây Sơn rồi, Ngài ban thưởng cho các tướng sĩ, tặng phong và làm đền thờ những người tử trận. Còn những quân lính già nua thì cho về quê quán. Đặt ra phép giản binh: lệ định các trấn, tự Quảng Bình vào đến Bình Thuận thì cứ ba tên đinh kén lấy một tên lính; tự Biên Hòa trở vào thì cứ 5 tên đinh kén lấy một tên lính; tự Hà Tịnh trở ra đến 5 nội trấn ở Bắc Thành thì cứ 7 tên đinh kén lấy một tên lính. Còn 6 ngoại trấn là Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên thì cứ 10 tên đinh kén lấy một tên lính.

Ở chỗ Kinh thành thì đặt ra thân binh, cấm binh, tinh binh. Lính thân binh mỗi vệ có 500 người và có 50 người tập quân nhạc. Ở các trấn thì đặt ra lính cơ, lính mộ. Lại đặt biền binh ban lệ, nghĩa là các binh lính chia ra làm 3 phiên, 2 phiên về quán, còn một phiên ở tại ban luân lưu thay đổi cho nhau. Những binh khí thì dùng gươm giáo, mã tấu, và lại có súng lớn bằng đồng gọi là súng đại bác, súng nhỏ gọi là súng thạch cơ điểu thương, nghĩa là bắn thì mổ bằng máy đá lửa. Ở chỗ kinh thành lập ra ba sở xạ trường để quân lính tập bắn. Ở các cửa bể đều làm đồn đặt súng để phòng giữ và để xem xét những tàu bè ngoại quốc đi lại.

Nước Việt Nam ta có nhiều bể cần phải giữ gìn, bởi vậy vua Thế Tổ lưu tâm về việc chỉnh đốn binh thuyền: lấy người ở gần bể về doanh Quảng Đức và doanh Quảng Nam làm 6 vệ thủy quân đóng tại Kinh Thành. Còn ở các hải khẩu, mỗi nơi có một cơ lính thủy coi giữ. Nhà vua lại làm một thứ thuyền lớn ngoài bọc đồng, để đi lại tuần phòng ở miền bể.

4. Việc Tài Chính:

Thuế đinh, thuế điền đều định lại cả. Thuế điền thì chia ra làm 3 hạng: nhất đẳng điền mỗi mẫu đồng niên nộp thóc 20 thăng; nhị đẳng điền 15 thăng; tam đẳng điền 10 thăng. Còn thứ ruộng mùa đồng niên phải nộp 10 thăng.

Thuế đinh thì lệ định: từ Nghệ An ra đến nội ngoại Thanh Hóa, mỗi suất đồng niên phải chịu:

- Thuế thân 1 quan 2 tiền - Mân tiền 1 tiền - Cước mễ 2 bát

*5 nội trấn Bắc Thành và phủ Phụng Thiên, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu:

- Thuế thân 1 quan 2 tiền - Mân tiền 1 tiền

- Điệu tiền (tạp dịch) 6 tiền - Cước mễ 2 bát

*6 ngoại trấn Bắc Thành, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu:

- Thuế thân 6 tiền - Mân tiền 1 tiền

- Điệu tiền 3 tiền - Cước mễ 1 bát

Lệ giảm thuế: Thuế lệ tuy định như vậy, nhưng năm nào ở đâu mất mùa, như là bị hoàng trùng, đại hạn hay là nước lụt,... thì nhà nước chiếu theo sự thiệt hại nhiều ít mà giảm thuế cho dân. Lúa 10 phần thiệt hại tới 4 phần thì khoan giảm cho hai phần,; thiệt hại 5 phần thì giảm cho 3; thiệt hại 6 phần thì giảm cho 4; thiệt hại 7 phần thì giảm cho 5; thiệt hại 8 phần thì giảm cho 6; thiệt hại 9 phần thì giảm cho 7; thiệt hại hết cả thì giảm cả. Hoặc nhà nước có lấy dân đinh đi làm đường, đào sông, xây thành v.v... thì cũng được giảm thuế. Tức là phủ Hoài Đức bây giờ.

Vụ thuế: Nhà vua lại tùy từng địa phương mà định vụ thuế. Từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ mỗi năm một vụ thu thuế, khởi đầu từ tháng 4 đến tháng 7 thì hết. Từ Nghệ An ra đến Thanh Hóa ngoại, cùng các trấn ở Bắc thành mỗi năm thu thuế 2 vụ: mùa hạ thì khởi tự tháng 4 đến tháng 6 thì hết; mùa đông thì khởi sự tự tháng 10 đến tháng 11 thì hết.

Đinh bạ: Lệ định 5 năm một lần làm sổ đinh, trong làng từ chức sắc cho đến quân dân, đều phải vào sổ. Kể từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống, đều phải khai vào sổ.

Điền bạ: Các làng, hoặc ruộng mùa, hoặc ruộng chiêm, hoặc ruộng hai mùa, hoặc có đất hạng nào, bao nhiêu mẫu, sào, thước, tấc, tọa lạc tại đâu, đông tây tứ chí phải chua cho rõ ràng. Mỗi làng phải làm 3 quyển sổ, cứ 5 năm làm một lần đệ vào bộ đóng dấu kiềm, rồi một bản lưu lại bộ, để phòng khi xét đến; còn hai bản giao về tỉnh, tỉnh để một bản lưu chiểu, còn một bản gia trả dân xã lưu thủ.

Cấm bán ruộng công điền: Từ khi nhà Lê mất ngôi, dân xã có nơi thì đem công điền đổi ra tư điền, có nơi thì đem cố bán đi, bởi vậy năm Gia Long thứ hai (1803) nhà vua lập lệ cấm dân xã không được mua bán công điền, công thổ, chỉ trừ lúc nào xã thôn có công dụng điều gì, thì mới được phép cho điển cố, hạn hết 3 năm lại phải trả lại. Ai giữ quán hạn ấy thì phải tội.

Thuế các sản vật: Năm Gia Long thứ hai (1803), định lệ các quế hộ ở Nghệ An, đồng niên phải nộp các hạng quế 120 cân. Ở Thanh Hóa phải nộp 70 cân và đều được miễn trừ thuế thân cả. Những người tìm được cây quế, phải trình quan để cấp cho văn bằng mới được đẵn. Đẵn xong rồi một nửa nộp quan, một nửa cho người tìm được.

Năm Gia long thứ tư (1805), định lệ những người đi lấy yến sào ở các đảo về hạt Quảng Nam, mỗi người đồng niên phải nộp thuế yến 8 lạng và được tha việc binh lính. Còn những thuế hương, thuế sâm, thuế chiếu, thuế gỗ, đều có lệ riêng, định cho nộp bằng tiền hay là bằng sản vật.

- Vua Thế Tổ lại định lệ đánh thuế những thuyền các nước vào buôn bán, cứ do thuyền lớn nhỏ mà định số thuế phải nộp.

- Những mỏ đồng, mỏ thiếc, mỏ kẽm, cũng cho người Tàu khai để đánh thuế.

Đúc tiền: Năm Gia Long thứ hai (1803), mở sở đúc tiền ở Bắc Thành, để đúc tiền đồng và tiền kẽm; lại đúc ra nén vàng, nén bạc, lượng vàng, lượng bạc, để cho tiện sự giao thông buôn bán trong nước. Mỗi đồng tiền kẽm nặng 7 phân, một mặt in chữ "Gia Long Thông Bảo", một mặt in chữ "thất phân", mỗi quan tiền nặng 2 cân 10 lạng. Giá vàng ở Bắc Thành thì định cứ một lượng vàng đổi lấy 10 lượng bạc.

Về sau mở thêm lò đúc tiền ở Gia Định Thành và ở các trấn.

Thước đo: Vua Thế Tổ chế tạo ra kiểu thước đồng đo ruộng, một mặt khắc 7 chữ "Gia Long cửu niên thu bát nguyệt", một mặt khác 10 chữ "ban hành đạc điền xích, công bộ đường kính tạo". Chuẩn định lại các thước vuông đo ruộng khi trước, chế tạo ra thước đồng, một mặt khắc 7 chữ "Gia Long Cửu Niên Thu Bát Nguyệt", một mặt khắc 12 chữ "ban hành đạc điền cựu kinh xích, công bộ đường khâm tạo".

Phép cân: Năm Gia Long thứ 12 (1813), chế tạo ra cân thiên bình, cấp cho các doanh các trấn, để cân đồng, sắt, chì, thiếc và các sản vật. Còn vàng và bạc thì dùng cân trung bình.

5. Công Vụ:

Vua Thế Tổ lại sửa sang những đường sá, xoi đào các sông ngòi, đắp các đê điều, để cho việc làm ăn của dân gian được tiện lợi.

Đường Quan Lộ: Đường sá trong nưóc là sự khẩn yếu cho việc chính trị, vậy nên vua Thế Tổ mới định lệ sai quan ở các doanh, các trấn phải sửa sang đường quan lộ: bắt dân sở tại phải đắp đường làm cầu, lệ cứ 15.000 trượng đường thì phát cho dân 10.000 phương gạo.

Lại từ cửa Nam quan (thuộc Lạng Sơn) vào đến Bình Thuận, cứ độ 4.000 trượng phải làm một cái nhà trạm ở cạnh đường quan lộ, để cho quan khách đi lại nghỉ ngơi. Cả thảy 98 trạm. Còn từ Bình Thuận trở vào phía nam đến Hà Tiên thì đi đường thủy.

Sông ngòi và đê điều: Những sông ngòi và đê điều, đều là sự khẩn yếu cho việc canh nông, bởi vậy vua Thế Tổ truyền cho quan ở các trấn phải xoi đào sông ngòi và các cửa bể, nhất là ở Bắc thành phải giữ gìn đê điều cho cẩn thận: chỗ nào không có thì đắp thêm, chỗ nào hư hỏng thì phải sửa lại. Ở các trấn lại đặt ra kho chứa thóc gạo, để phòng khi mất mùa đói kém thì lấy mà phát cho dân.

6. Pháp Luật:

Nguyên khi trước vẫn theo luật nhà Lê, nhưng nay nhà Nguyễn đã nhất thống cả Nam Bắc, vua Thế Tổ bèn truyền cho đình thần lập ra pháp luật rõ ràng, để cho tiện sự cai trị. Năm Tân Mùi (1811) sai Nguyễn Văn Thành làm Tổng tài, coi việc soạn ra sách luật; lấy luật cũ của đời Hồng Đức nhà Lê, mà tham chước với luật nhà Thanh làm thành một bộ, cả thảy 22 quyển, có 398 điều.

Đến năm Ất Hợi (1815), thì in sách luật ấy phát ra mọi nơi. Bộ luật ấy tuy nói theo luật Hồng Đức nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều mà thôi.

7. Việc Học Hành:

Thời bấy giờ nhờ có võ công mới dựng nên cơ nghiệp, cho nên lúc ấy các quan đầu triều là quan ngũ quân đô thống và quan tổng trấn Nam Bắc hai thành đều là quan võ cả. Nhưng vua Thế Tổ cũng biết rằng sự trị nước cần phải có võ có văn, bởi vậy đêm ngày Ngài lưu ý về việc học hành thi cử trong nước. Ngài lập nhà Văn Miếu ở các doanh các trấn, thờ Đức Khổng tử, để tỏ lòng trọng Nho học. Đặt Quốc Tử Giám ở Kinh đô, để dạy con các quan và các sĩ tử. Mở khoa thi Hương để kén lấy những người có học hành ra là quan. Đặt thêm chức Đốc học ở các Trấn và dùng những người có khoa mục ở đời nhà Lê, để coi việc dạy dỗ.

Vua Thế Tổ lo cả đến địa dư và quốc sử, bởi vậy ngày sai quan Binh Bộ Thượng Thư là Lê Quang Định kê cứu ở trong các Trấn các doanh, tự Lạng Sơn đến Hà Tiên, xem sơn xuyên hiểm trở, đưòng sá xa gần, sông bể, cầu quán, chợ búa, phong tục, thổ sản, có những gì làm thành sách "Nhất Thống Địa Dư Chí" để dâng lên. Đến năm Bính Dần (1806), bộ sách ấy làm xong cả thảy được 10 quyển.

Năm Tân Mùi (1811), Ngài sai quan tìm những sách dã sử nói chuyện nhà Lê và nhà Nguyễn Tây Sơn để sửa lại quốc sử. Thời bấy giờ văn quốc âm cũng thịnh lắm. Một đôi khi nhà vua cũng dùng chữ Nôm mà làm văn tế. Bài Văn tế tướng sĩ khi quan Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Tổng trấn Bắc Thành ra chủ tế không rõ ai làm, nhưng thật là một bài văn chương đại bút. Lại có những chuyện như "Hoa Tiên" của ông Nguyễn Huy Tự, "Truyện Thúy Kiều" của quan Hữu Tham tri bộ Lễ là ông Nguyễn Du, cũng phát hiện ra thời bấy giờ. "Truyện Thúy Kiều" là một tập văn chương rất hay, diễn được đủ cả nhân tình thế cố, tả được cả mọi cảnh trong đời, mà chỗ nào văn chương cũng tao nhã, lời lẽ cũng lý thú. Nói theo tiếng đời nay thì "Truyện Thúy Kiều" thật là một tập văn chương đại trước tác của nước ta vậy.

8. Việc giao thiệp với nước Tàu:.

Khi vua Thế Tổ dứt được nhà Nguyễn Tây Sơn và lấy được đất Bắc Hà rồi, sai quan Thượng thư Binh Bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ sang Tàu cầu phong và xin đổi quốc hiệu là NAM-VIỆT, lấy lẽ rằng Nam là An Nam và Việt là Việt Thường. Nhưng vì đất Nam Việt đời nhà Triệu ngày trước gồm cả đất Lưỡng Quảng, cho nên Thanh Triều mới đổi chữ Việt lên trên, gọi là VIỆT-NAM để cho khỏi lầm với tên cũ.

Đến năm Giáp Tý (1804) Thanh Triều sai quan Án sát sứ tỉnh Quảng Tây là Tề Bố Sâm sang tuyên phong. Đoạn rồi, vua sai Lê Bá Phẩm làm chánh sứ đem đồ cống sang tạ và từ đó cứ chiếu lệ ba năm một lần sang cống.

Đồ cống phẩm là:

- Vàng 200 lượng, -Bạc 1000 lượng  - Lụa và cấp mỗi thứ 100 cây, - Sừng tê giác 2 bộ  - Ngà voi và quế mỗi thứ 100 cân

9. Việc giao thiệp với nước Chân Lạp và nước Tiêm La:

Nguyên lúc còn Lê Triều thì chúa Nguyễn vẫn giữ quyền bảo hộ nước Chân Lạp. Sau vua nước ấy là Nặc Ông Tôn bị anh em hiếp chế, phải chia quyền ra làm ba, để cho Nặc Ông Vinh làm vua đầu, mình làm vua thứ hai, em là Nặc Ông Thâm làm vua thứ ba. Được ít lâu Nặc Ông Vinh giết cả Nặc Ông Tôn và Nặc Ông Thâm giữ lấy quyền làm vua một mình. Lúc bấy giờ Nguyễn Vương còn ở Gia Định mới sai Đỗ Thanh Nhân sang đánh Nặc Ông Vinh và lập con Nặc Ông Tôn là Nặc Ông Ấn lên làm vua. Nặc Ông Ấn bấy giờ mới có 8 tuổi. Nguyễn Vương sai Hồ Văn Lân ở lại

Ông Nguyễn Du người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh bảo hộ. Nhưng đến khi đất Gia Định thất thủ quyền bảo hộ nước Chân Lạp thuộc về nước Tiêm La.

Năm Bính Thìn (1796), Nặc Ông Ấn mất, truyền ngôi lại cho con là Nặc Ông Chân. Vua Tiêm La sai sứ sang phong, như thế là vua Chân Lạp phải thần phục vua Tiêm La.

Đến năm Đinh Mão (1807) Nặc Ông Chân lại bỏ Tiêm La mà xin về thần phục vua Việt Nam ta, theo lệ cống tiến, cứ ba năm một lần; Đồ cống vật là:

- Voi đực cao 5 thước 2 con - Sừng tê giác 2 chiếc

- Ngà voi 2 cái - Hột sa nhân 50 cân – Đậu khấu 50 cân

- Hoàng lạp 50 cân - Cánh kiến 50 cân - Sơn đen 20 lọ

Nặc Ông Chân có ba người em tên là Nặc Ông Nguyên, Nặc Ông Lem, Nặc Ông Đôn, muốn tranh quyền của anh, mới sang cầu cứu nước Tiêm La. Tiêm La bắt Nặc Ông Chân phải chia đất cho các em. Nặc Ông Chân không chịu, quân Tiêm La bèn sang đánh thành La Bích. Nặc Ông Chân chạy sang Tân Châu, rồi dâng biểu cầu cứu.Quan tổng trấn Gia Định thành bấy giờ là Nguyễn Văn Nhân mới đem việc ấy tâu về Triều đình.

Năm Tân Mùi (1811), vua Thế Tổ cho sứ đưa thư sang trách nước Tiêm La sinh sự. Năm sau, vua Tiêm La sai sứ sang phúc thư lại rằng: việc ấy là muốn giảng hòa cho anh em Nặc Ông Chân, chứ không có ý gì cả. Vậy xin để Việt Nam xử trí thế nào, Tiêm La cũng xin thuận.

Qua năm Quí Dậu (1813) vua Thế Tổ sai quan tổng trấn Gia Định Thành là Lê Văn Duyệt đem hơn 10.000 quân, hội đồng với sứ nước Tiêm La, đưa Nặc Ông Chân về nước.

Nước Tiêm La tuy không dám kháng cự, nhưng vẫn lưu quân ở lại giữ tỉnh Bắc-tầm-bon (Battambang), nói rằng để đất ấy phong cho các em Nặc Ông Chân. Lê Văn Duyệt mới viết thư sang trách nước Tiêm La về điều ấy, quân Tiêm mới rút về. Tức là Thái Lan ngày nay

Lê Văn Duyệt dâng sớ xin xây thành Nam Vang (Phnom-Penh) và thành La-lêm. Khi những thành ấy xây xong, thì vua Thế Tổ sai Nguyễn Văn Thụy đem 1.000 quân ở lại bảo hộ Chân Lạp. Từ đó quyền bảo hộ Chân Lạp lại về nước ta.

10. Việc giao thiệp với nước Hồng Mao:

Năm Quí Hợi (1803), nước Hồng Mao (tức là Anh Cát Lợi) sai sứ là ông Robert đem đồ phương vật sang dâng và xin cho vào mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn, thuộc Quảng Nam. Vua Thế Tổ không nhận đồ và cũng không cho mở cửa hàng. Sau người Hồng Mao còn đưa thư sang hai ba lần nữa, nhưng Ngài vẫn một niềm từ chối không chịu.

11. Việc giao thiệp với nước Pháp Lan Tây:

Đối với nước Pháp thì vua Thế Tổ có biệt nhỡn hơn, là vì khi Ngài còn gian truân, Ngài có nhờ ông Bá-Đa-Lộc đem mấy người sang giúp Ngài. Đến khi xong việc đánh dẹp rồi, còn có Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, mà vua Thế Tổ cũng có lòng trọng đãi, cho mỗi người 50 lính hầu, và đến buổi chầu thì không bắt lạy.

Vả, trong khi vua Thế Tổ làm vua ở nước Việt Nam, thì Nã-Phá-Luân đệ nhất (Napoleon I) làm vua bên nước Pháp, đang còn phải đánh nhau với các nước, cho nên tàu Pháp cũng không hay đi lại ở phía Viễn Đông này. Đến khi Nã-Phá-Luân thất thế, dòng dõi nhà vua cũ lại trung hưng lên, bấy giờ chiến tranh đã yên, thì mới có tàu sang buôn bán ở phương Á Đông.

Năm Đinh Sửu (1817), có chiếc tàu "La Paix" của hiệu Balguerie, Sarget et Cie chở đồ hàng sang bán, nhưng mà những đồ hàng ấy, người Việt Nam ta không dùng được, lại phải chở về. Vua Thế Tổ tha không đánh thuế. Qua tháng sáu năm ấy, chiếc tàu binh tên là Cybèle của nước Pháp vào cửa Đà Nẵng. Quan thuyền trưởng là De Kergarion bá tước nói rằng Pháp Hoàng Louis XVIII sai sang xin thi hành những điều ước do Bá-Đa-Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn. Vua Thế Tổ sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa.

Năm Kỷ Mão (1819), có chiếc tàu buôn ba cột tên là "Rose" và "Le Henri" vào cửa Đà Nẵng. Lần này hàng hóa đem sang bán được, lại chở chè và lụa về. Năm ấy Chaigneau xin nghỉ ba năm, đem vợ con xuống tàu "Le Henri" về Pháp.

12. Sự giết hại công thần:

Những người công thần như Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường đều bị giết hại trong khi vua Thế Tổ còn đang trị vì.

Nguyễn Văn Thành, nguyên là người ở Thừa Thiên, nhưng vào ở Gia Định đã hai ba đời. Theo vua Thế Tổ từ khi Ngài mới khởi binh đánh Tây Sơn, chịu hết mọi đường khổ sở. Sau ra đánh Tây Sơn ở Qui-Nhơn, lập được công lớn, đứng đầu hàng công thần. Khi vua Thế Tổ ra lấy Bắc-hà, triệu ông ra làm Tổng Trấn, giao cho xếp đặt mọi việc, chỉ có mấy năm mà đất Bắc Hà được yên trị. Sau về Kinh làm chức Trung quân. Ông có học thức, cho nên triều đình cử làm Tổng tài việc làm sách luật và quốc sử. Nguyễn Văn Thành có người con tên là Nguyễn Văn Thuyên thi đậu Cử nhân, thường hay làm thơ để giao du với những kẻ văn sĩ. Bấy giờ nghe người ở Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ, Văn Thuyên làm bài thơ sai tên Nguyễn Trương Hiệu cầm đi mời vào chơi. Bài thơ rằng:

Văn đạo Ái châu đa tuấn kiệt
Hư hoài trắc tịch dục cầu ty
Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác
Thiện tường phương tri Ký bắc kỳ
U cốc hữu hương thiên lý viễn
Cao cương minh phượng cửu thiên tri
Thư hồi nhược đắc sơn trung tể
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky

Dịch nôm là:

Ái châu nghe nói lắm người hay
Ao ước cầu hiền đã bấy nay
Ngọc phác Kinh sơn tài sẵn đó
Ngựa kỳ Ký bắc biết lâu thay
Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
Sơn tể phen này dù gặp gỡ
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này

Tưởng bài thơ này chẳng qua là lời lẽ của người thiếu niên nói ngông mà thôi, không ngờ tên Hiệu đưa cho Nguyễn Hữu Nghi xem, Hữu Nghi xui tên Hiệu đi cáo với Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt vốn ghét Nguyễn Văn Thành, nay thấy bài thơ này, nắm lấy đem vào tâu vua, vua sai bắt Nguyễn Văn Thuyên đem bỏ ngục. Bấy giờ triều thần có nhiều người bẻ tội ông Thành. Một hôm bãi triều rồi, ông Thành chạy theo nắm lấy áo Vua mà kêu khóc rằng: "Thần theo Bệ Hạ từ thủa nhỏ đến bây giờ, nay không có tội gì mà bị người ta cấu xé, Bệ Hạ nỡ lòng nào ngồi nhìn để người ta giết thần mà không cứu?".

Vua Thế Tổ giật áo ra đi vào cung, rồi từ đó cấm không cho ông Thành vào chầu nữa và sai Lê Văn Duyệt đem con Nguyễn Văn Thành ra tra hỏi, bắt phải nhận tội. Nguyễn Văn Thành sợ tội, uống thuốc độc mà chết, còn Nguyễn Thuyên thì phải chém.

Đặng Trần Thường người ở Chương Đức (tức là huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông bây giờ) có tài văn học, trốn Tây Sơn vào Gia Định theo giúp vua Thế Tổ làm đến Binh Bộ Thượng Thư. Sau vì làm gian sắc phong thần cho Hoàng Ngũ Phúc là tướng nhà Trịnh vào bậc phúc thần, triều đình làm án phải tội chém. Nhưng rồi lại được tha. Đặng Trần Thường vốn có hiềm với Lê Chất, cho nên Lê Chất mới bới những việc như là khi ra coi tào binh ở Bắc Thành, có chiếm giữ đầm ao và ẩn lậu đinh điền... Lại bị bắt bỏ ngục và xử phải tội giảo.

Tương truyền rằng Đặng Trần Thường ở trong ngục có làm bài "Hàn Vương Tôn Phú" bằng quốc âm để ví mình như Hàn Tín đời Hán.

13. Xét công việc của vua Thế Tổ:

Vua Thể tổ là ông vua có tài trí, rất khôn ngoan, trong 25 năm trời chống nhau với Tây Sơn, trải bao nhiêu lần hoạn nạn, thế mà không bao giờ ngã lòng, cứ một niềm lo sự khôi phục. Ngài lại có cái đức tính rất tốt của những kẻ lập nghiệp lớn, là cái đức tính biết chọn người mà dùng, khiến cho những kẻ hào kiệt ai cũng nức lòng mà theo giúp. Bởi vậy cho nên không những là Ngài khôi phục được nghiệp cũ, mà lại thống nhất được sơn hà và sửa sang được mọi việc, làm cho nước ta lúc bấy giờ thành một nước cường đại, từ xưa đến nay chưa bao giờ từng thấy.

Công nghiệp của Ngài thì to thật, tài trí của Ngài thì cao thật, nhưng chỉ hiềm có một điều là khi công việc xong rồi, Ngài không bảo toàn cho những công thần, mà lại lấy những chuyện nhỏ nhặt đem giết hại những người có công với Ngài, khiến cho hậu thế ai xem đến những chuyện ấy, cũng nhớ đến vua Hán Cao và lại thở dài mà thương tiếc cho những người ham mê hai chữ công danh về đời áp chế ngày xưa.

Vua Thế Tổ mất năm Kỷ Mão (1819), trị vì được 18 năm, thọ 59 tuổi, miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng Đế.

Vua Gia Long có nhiều vợ, ba bà nổi tiếng nhất là:

- Tống thị Lan (Thừa Thiên Cao Hoàng-Hậu, mẹ của Hoàng Tử Cảnh)

- Trần thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, Mẹ của vua Minh Mạng)

- Lê thị Ngọc Bình (Đức Phi) con út của vua Lê Hiển Tông, nguyên là vợ của Quang Toản. Bà Đức Phi sanh được hai Hoàng Tử, hai Hoàng Nữ. Vua Gia Long có 13 Hoàng tử và 18 Hoàng Nữ. (Chín đời Chúa, 13 đời vua Nguyễn) - (Nguyễn đắc Xuân)

 

Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: “Nhưng vận mạng Việt Thường còn truân chuyên thống khổ, nên sau khi vua Gia Long tức vị thì nước Việt Nam bị Pháp tóm thâu làm thuộc địa. Một lần nữa, dòng châu kia chưa ráo, lệ thảm nọ lại tuôn, quân khí ta lẫy lừng định kế chống ngoại xâm. Ngặt nỗi sức yếu cô đơn, chư liệt Vương: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, lần lượt bị biếm và đồ lưu hải ngoại, rồi gởi xác nơi xứ lạ quê người.”

 

 

GIA NGHIỆP THIÊNG LIÊNG

Đức Hộ-Pháp có nói: “Vậy thì Đại-Từ-Phụ đến khai Tam-kỳ Phổ-độ có đem theo một gia nghiệp Thiêng liêng xuống thế, rồi nắm tay các Lương-sanh mà dắt đến một nơi vinh-diệu lại bảo rằng: Các con phải leo cho thấu trên chót Đài Cao này cùng Thầy đặng xem tòan thể của địa hòan, ngó cho chường, suy cho quyết, rồi chung tâm hiệp trí cùng Thầy lo liệu bề chuyển thế”.

 

 

GIA NHÂN Quẻ 37. Quẻ Phong Hoả Gia Nhân

 

 

Quẻ xx. Quẻ Phong Hoả Gia nhân 風火家人

 

 

Tượng: Quốc Đạo Nam phong

Quẻ này là Quẻ Phong Hoả Gia-nhân. Ly hạ là nội Ly. Tốn thượng là ngoại Tốn. Tốn là Phong, Ly là Hoả, nên đọc tên quẻ là Phong Hoả Gia nhân.

Về thứ tự: Ý sắp đặt thứ tự quẻ, sau quẻ Minh Di tiếp lấy quẻ Gia-nhân là vì sao?

Trước đấy là quẻ Minh-Di, Di nghĩa là bị thương, khi người bị thương tất phải trở lại nhà. Vậy nên sau quẻ Minh Di tiếp lấy quẻ Gia-nhân là có duyên cớ:

Gia-nhân là người ở trong nhà. Đạo nghĩa trong gia đình tất nhiên có những cảm tình ràng buộc, gắn bó, trong đó phải có một thứ tự, tôn-ti thượng hạ rõ-ràng: Cha con, chồng vợ, anh em, sống chung với nhau bằng những chân tình thân thiết nhất. Muốn xử cho đúng Đạo-lý tất phải có đức sáng ở bên trong và sự hoà-thuận ở bên ngoài.

Quẻ này nói Ly tượng Hoả là sáng, là minh, ngoài Tốn tượng là thuận. Nhờ sự sáng ở trong nên cách cư-xử được tốt đẹp, ở ngoài đã thuận thì biết trên kính dưới nhường. Như thế thì Đạo Tề gia đã hoàn-toàn. Khi gia được Tề rồi thì sẽ được quốc trị và Thiên-hạ bình không khó vậy. Mỗi người đều tuân theo định-luật mà Đức Thánh Khổng Phu-Tử đã dạy là Tu thân làm gốc, kế đến trị nhà, sau đó thì trị quốc và Bình thiên-hạ. Cho nên quẻ Gia-nhân đã diễn tả rõ nội Ly ngoại Tốn là vậy.

Dịch-lý bao hàm rất rộng: Người ở trong một nhà thì tình cảm nảy sinh từ ruột thịt. Suy ra người trong nước gọi là đồng-bào. Người trong thế giới thì gọi là đồng sanh, đồng chủng. Mai ngày này nền Đạo loan truyền khắp thế giới thì là tình đồng Đạo. Cái chữ Đồng 同 nó sẽ gắn liền tình người với người, chẳng những vậy mà đến các loài cầm thú cũng được người xem nó như em út chưa tiến hoá, thì thật là hạnh-phúc biết bao!

Ngày nay đã rõ rệt, nếu nhìn một nước chỉ là một người ở trong toà nhà thế giới.

Do đó mà mỗi một quẻ biểu thị một chân-lý tối đại, gồm mọi sự, mọi vật không đâu là không đúng. Nhưng nếu chỉ nhìn một quẻ là chỉ cái ý-nghĩa “gia-đình” nhỏ hẹp thì 64 quẻ sẽ diễn dịch được bao nhiêu việc?

Do đó nếu cái Gia-phong tốt đẹp thì sẽ loáng ra ngoài thành Quốc-phong. Cũng như nền Đạo hôm nay rồi sẽ có ngày thành Quốc Đạo như ý của Đức Chí-Tôn muốn.

Riêng về mặt chữ thì Gia 家 là nhà, nhân 人 là người, tức nhiên gồm những tình cảm thân thiết nhất của một gia-đình. Có câu:

An nữ khứ thỉ nhập vi gia 安 女 去豕入為 家 Đây là một lối chơi chữ. Có nghĩa là trong chữ An 安 có chữ Nữ 女 nếu lấy chữ Nữ ra và thêm chữ Thỉ 豕 (con heo) vào thì sẽ thành ra chữ Gia 家 Muốn nói rằng trong gia đình nếu có bàn tay nữ-phái thì mọi việc được ngăn nắp. Vì người Nữ vốn tính chịu khó, tiết kiệm, lo-lắng cuộc sống cho gia đình. Ngoài việc đồng áng ra còn giã gạo xay lúa, có cám dư ra để dành nuôi heo như hình thức “Bỏ ống” lâu ngày cũng được số tiền to. Ca dao có câu:

Đàn bà thì phải nuôi heo,
Thời vận còn nghèo nuôi chửa được trâu.

Thế nên nói đến gia đình là luôn luôn có hình ảnh người đàn bà trong đó.

Đạo Cao-Đài là Quốc Đạo:

Qua rồi là quẻ Minh-Di tượng cho thời kỳ Giải thể Hành-Chánh-Đạo. Sau hơn 30 năm cơ Đạo bị một cơn khảo nặng-nề, cũng là một thử thách Đức tin của toàn thể Tín-Đồ. Ngoài Đời là một sự xuống cấp trầm trọng về phong hoá của dân tộc, cũng là lúc Thượng-Đế chuẩn bị rửa ráy cho một Quốc gia Thiên định.

Ấy cũng là cơ khảo Đạo để:

Chọn lọc chiên lành cho đáng giá,
Hầu sau nối nghiệp Đạo ngàn thu.

- Nếu luận về Đạo-lý thì phong-hoá của gia-đình do cha mẹ nắm luật trị gia gọi là gia-nghiêm do ông vua nhà gìn giữ đó là người Cha.

- Kế đến là luật của xã-hội thì dưới quyền Hương đảng tùng theo “Lệ làng” đó là Ông vua làng.

- Sau cùng là phép nước thì dưới quyền-hành của Ông Vua nước. Cả ba ông vua này họp lại tạo thành nền Phong hoá riêng của dân-tộc. Nhất là dân-tộc Việt-Nam, cái phong-hoá đó đã thực hiện qua bao đời hết sức mẫu mực, luật làng nhiều khi lại nghiêm-khắc, có câu “Phép Vua thua lệ làng”. Buổi văn-minh có nhiều tiến-bộ cũng nên bổ sung cho hoàn-hảo hơn ở trong thời Đạo Trời đang khai mở, không ngoài sự phán truyền của Thượng-Đế:

QUỐC ĐẠO kim triêu thành Đại-Đạo,
NAM-PHONG thử nhựt biến Nhơn phong.

Đức Hộ-pháp thuyết ngày 30- 9 Đinh-Hợi rằng:

“Ngày nay ĐẠO CAO-ĐÀI đã đến khoảng đường kết-liễu danh-giá và hình tướng của nó, nên Bần-Đạo lấy đề hai chữ QUỐC-ĐẠO đem giảng-giải. Chí-Tôn ban sơ thuyết-minh đạo-lý hầu may ra những kẻ mơ hồ tỉnh mộng đặng hiểu biết mình đang đến lập-trường nào, phương sách nào, khoảng đường nào ấy là điều rất hay về tâm-lý toàn cả quốc-dân buổi này.

Hai chữ Quốc-Đạo lần đầu Chí-Tôn viết ra làm cho Bần-Đạo mờ-mịt, cũng vì hai chữ Quốc-Đạo ấy mà PHẠM-CÔNG-TẮC chết năm 35 tuổi, thí thân theo đuổi làm cho ra thiệt tướng.

Ôi! hai chữ Quốc-Đạo là một vật của Bần-Đạo tìm tàng rồi mới biết khôn, khởi điểm biết thương nòi giống, biết thương Tổ-quốc, đeo đuổi mất còn với cái điều muốn khát-khao từ buổi thanh-xuân đó vậy. Tự biết khôn dĩ chí gặp Đạo năm 35 tuổi, Bần-đạo thấy sao mà vẫn phải khao-khát thèm lạt, tại làm sao Chí-Tôn biết thiếu thốn nơi tinh-thần điều ấy mà cho Bần-đạo, Bần-đạo ban sơ nghi hoặc, có lẽ một Đấng có quyền-năng thiêng-liêng biết tâm lý đang nồng-nàn ao-ước, đương thèm-lạt khao khát, đương tìm-tàng mà đem ra cám-dỗ.

 

 

GIA PHẢ

家 譜
E: The genealogical register.
F: Le régistre généalogique.

Gia: Nhà, gia đình. Phả hay Phổ: quyển sách ghi chép có thứ tự. Gia phả hay Gia phổ là quyển sách ghi chép các thế hệ tổ tiên trong dòng họ và lai lịch của tổ tiên.

 

 

GIA PHONG

家風
E: The family habits.
F: Le mœurs familiales.

Gia: Nhà, gia đình. Phong: tạp quán, lề lối quen thuộc. Gia phong là nếp nhà, lề lối quen thuộc trong gia đình.

CHÚ Ý: Gia phong: 加封 (Gia là thêm, phong ban cho chức tước) Vua ban thêm chức tước cho bề tôi (thăng chức).

 

 

GIA QUYẾN

(Gia: nhà; Quyến: thân thuộc) chỉ những người trong họ hàng thân thuộc mà thôi, như: cha, mẹ, vợ chồng, con cái, anh em thân thích nhứt.

Thánh giáo Chí Tôn than: “Phần nhiều trong các con thờ Thầy trong nhà là chủ ý cầu một việc lợi riêng chi cho gia quyến vậy thôi, chớ chẳng hiểu là nguồn trong sạch để rửa các lỗi phàm tục của các con. Nhiều đứa lại còn mờ hồ, đã thờ Thầy mà chưa chắc ý rằng thờ đặng chi và mở Đạo có ích gì? Than ôi! Đã bước chân vào đường đạo hạnh mà chẳng để công tìm kiếm, học hỏi cho rõ ngọn nguồn, thì làm phận sự môn đệ như thế có ích chi cho nền Thánh giáo đâu?”.

 

 

GIA TẾ PHƯỚC

加 濟 福
E: To grant the favours.
F: Accorder les faveurs.

Thành kính trông mong Trời Phật cứu giúp và ban thêm phước lành (Gia: Thêm. Tế: Cứu giúp. Phước: Ðiều may mắn tốt lành). Nay, nhân sanh có điểm tựa cho tâm hồn, tức là biết được Đạo Trời là Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, nên khi nguyện cầu thì nguyện Đấng Chí-Tôn hoặc Đức Mẹ Diêu Trì ban bố ân lành và phước đức, trong niềm mong mỏi.

Bài Dâng Trà có câu:

“Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước,
“Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường."

 

 

GIA THẤT

家 室
E: The family.
F: La famille.

Gia: tiếng vợ gọi chồng. Sách Mạnh Tử: "Nữ tử sinh nhi nguyện vi chi hữu gia." Nghĩa là: Con gái sanh ra, cha mẹ mong cho con gái có chồng. Thất: tiếng chồng gọi vợ. Kinh Lễ: "Tam thập viết tráng hữu thất." Nghĩa là: Ba mươi tuổi là tráng niên có vợ. Do đó, gia thất là chỉ vợ chồng, việc lập gia đình.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Đối với xã hội, tổ phụ chúng ta biết con cái lớn lên phải lập gia thất.

 

 

GIA TIÊN

家 先
E: The ancestors.
F: Les ancêtres.

Gia: Nhà, gia đình. Tiên: trước, chỉ tổ tiên. Gia tiên là tổ tiên của gia đình.

 

 

GIA-TÔ GIÁO CHỦ (DA-TÔ GIÁO CHỦ)

耶 蘇 教 主

(Xin chỉnh lại cho đúng Thánh ý của Chúa. Xem vần D.)

Da Tô 耶 蘇 được người Tàu dịch âm từ Jésus, đầy đủ hơn là Jésus Christ, là Đấng Chúa Cứu Thế ở Do Thái. “Da-Tô Giáo Chủ” là danh của Đức Chúa Jésus-Christ, Giáo chủ Thiên Chúa giáo, còn gọi là Công giáo, hay Da-Tô-giáo. Long vị thờ Đấng Chúa Cứu Thế tại Đền Thánh được viết là Da-Tô Giáo-Chủ 耶 蘇 教 主, thay vì “Gia Tô Giáo Chủ” 嘉 蘇 教 主.

Đức Chúa có giáng cho bài Thánh thi theo lối khoán thủ: “Da-Tô Giáo Chủ Giáng Chứng Kỷ-Niệm”.

DA nồi thịt xáo hại lòng đau,
TÔ cả Năm Châu cũng máu đào.
GIÁO lý Chân như đồng bản tính,
CHỦ trung Thần trí hiệp chung màu.
GIÁNG đàn nhắc nhở lời kinh Thánh,
CHỨNG tỏ tiên tri chẳng khác nào.
KỶ thế hai mươi TA phục đáo,
NIỆM danh Thiên Chúa tại Đài Cao.

 

 

GIA TỘC

家 族

Gia là nhà, Tộc là họ. Gia tộc tức nhiên là một gia đình lớn, một đại gia đình. Gia đình nhỏ là chỉ một nhà trong đó có cha mẹ và con cái sống trong mái nhà. Nhiều nhà có cùng họ hàng huyết thống với nhau thì gọi là gia tộc.

Đức Hộ-Pháp nói: “Ttrọn cái gia đình từ Mẹ dĩ chí Bà đều thờ phượng một cách rất tôn-nghiêm, dám chắc phần nhiều không có ai thờ phượng được như cả gia-tộc của Bà đã thờ phượng Đức Thích-Ca.”

 

 

GIA VÔ BẾ HỘ

(Gia là nhà; Vô bế hộ: nhà không cần đóng cửa ban đêm). Ý nói thời thái bình, muôn dân được sống trong sự hạnh phúc, an lạc, không lo nghĩ đến bất cứ một việc xấu nào.

Tờ Khai Đạo đưa lên Soái phủ Nam Kỳ có câu: “Vốn từ trước, tại cõi Ðông Pháp có ba nền Tôn Giáo lớn là: Thích Giáo, Lão Giáo và Khổng Giáo. Tiên Nhơn chúng tôi sùng bái cả ba Ðạo ấy, lại nhờ do theo Tôn chỉ quý báu của các Chưởng Giáo truyền lại mới được an cư lạc nghiệp. Trong sử còn ghi câu: "Gia vô bế hộ, lộ bất thập di", chỉ nghĩa là con người thuở ấy an nhàn cho đến đổi ban đêm ngủ không đóng cửa nhà, còn ngoài đường thấy của rơi không ai thèm lượm. Nhưng buồn thay cho đời thái bình phải mất vì mấy duyên cớ nầy”.

Đức Lý giáng Cơ ngày 15-8-Ất Sửu (1925)

Đức Di Lạc cầm cân cứu thế,
Hội Long Hoa tên để phong Thần.
Thượng nguơn đời lập Tân Dân,
Dựng nền dân quốc, xa lần chủ quân.

Quê hương hiện cảnh xuân thơ thới,
Đạo nhà Nam vạn đại lưu truyền.
Gia vô bế hộ êm đềm,
Phật, Tiên, Thần, Thánh giáng miền trần gian.

 

 

GIA VÔ BẾ HỘ LỘ BẤT THẬP DI

Gia vô bế hộ

(Gia là nhà; Vô bế hộ: nhà không cần đóng cửa ban đêm). Ý nói thời thái bình, muôn dân được sống trong sự hạnh phúc, an lạc, không lo nghĩ đến bất cứ một việc xấu nào.

Đức Lý giáng Cơ ngày 15-8-Ất Sửu (1925)

Đức Di Lạc cầm cân cứu thế,
Hội Long Hoa tên để phong Thần.
Thượng nguơn đời lập Tân Dân,
Dựng nền dân quốc, xa lần chủ quân.

Quê hương hiện cảnh xuân thơ thới,
Đạo nhà Nam vạn đại lưu truyền.
Gia vô bế hộ êm đềm,
Phật, Tiên, Thần, Thánh giáng miền trần gian.

Gia vô bế hộ, lộ bất thập di

Nghĩa là nhà ban đêm không đóng cửa, ngoài đường có của rơi cũng không người lượm. Chỉ đời thái bình, Thánh đức.

“Cái đời thái bình thịnh trị đó là đời Thánh đức của nhà Châu dưới quyền thống trị của vua Văn Vương ở vào năm 1120 trước Tây lịch. Nhơn dân được vui hưởng hạnh phúc “ gia vô bế hộ, lộ bất thập di” Trong nước không có nhà tù, vì không có tội nhơn. Nếu vạn bất đắc dĩ phải răn phạt người sái phép, thì nhà cầm quyền chỉ vẽ một vòng tròn nơi một khoảng đất nào, rồi bắt người phạm tội vào ngồi trong đó một hay là nhiều ngày, gọi là cách giam phạt tội nhơn. Mặc dù không cắt người canh giữ, nhưng tội nhơn không khi nào dám bước ra khỏi cái vòng vẽ đó và đợi đến mãn giờ phạt, có lịnh cho mới dám đi”.

Đức Quyền Giáo Tông viết trong Tờ Khai Đạo gởi Thống-Đốc Nam-kỳ Sài Gòn: “Vốn từ trước tại cõi Đông Pháp có ba nền Tôn-giáo là: Thích-giáo, Lão-giáo và Khổng-giáo. Tiên-nhơn chúng tôi sùng bái cả ba Đạo ấy, lại nhờ do theo Tôn-chỉ quí-báu của các Chưởng giáo truyền lại mới được an cư lạc-nghiệp. Trong sử còn ghi câu “Gia vô bế hộ, lộ bất thập di” nghĩa là con người thuở ấy an-nhàn cho đến đỗi ban đêm ngủ không đóng cửa nhà, còn ngoài đường thấy của rơi không ai thèm lượm. Nhưng buồn thay cho đời Thái-bình phải mất”.

 

 

GIÁ NGỰ

駕 御
E: The descent of God.
F: La descente de Dieu.

(Giá là xe của vua đi, cũng gọi là xa giá; ngự: ngồi lên trên, ngự trị; là ở lại đó). Giá ngự là vua lên xe đi. Theo nghĩa ở đây, ý nói là Ðức Chí Tôn dùng xe Tiên đến cõi phàm trần trong những giờ Cúng nhân sanh trọng kỉnh mời Đức Ngài đến. Hoặc vả trong thời Tam-Kỳ Phổ-Độ này Đức Chí-Tôn đã ở lại với con cái của Ngài. Ví như:

Bài Dâng Hoa, là một trong Tam bửu có câu:

“Từ bi giá ngự rạng môn thiền,
“Ðệ tử mừng nay hữu huệ duyên”…

Trong Thánh Ngôn Hiệp tuyển Đức Chí-Tôn có ban cho  bài thi, xác nhận rằng chính nhân loại ngày nay hân hạnh được Đức “Ngọc-Đế ngự trần gian”. Thi rằng:

Hảo Nam bang! hảo Nam bang!
Tiểu quốc tảo khai Hội Niết bàn.
Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
Hảo phùng NGỌC ĐẾ NGỰ TRẦN GIAN.
Thi ân tế chúng Thiên tai tận,
Nhược thiệt nhược hư vạn đại an,
Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban

 

 

GIÁ TRỊ TÌNH THƯƠNG

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo ngày 30-5 Kỷ Tỵ (1953)

Bần Đạo nói: “Nếu ta làm cho người chí thân ta, trong thân ta, máu thịt ta thương ta được, giá trị nó là đồng; làm chi những kẻ không phải trong thân ta, người ngoại nhân kia thương ta được, giá trị nó là bạc; làm cho những kẻ thù địch ta thương được ta, giá trị nó là vàng. Ba món báu ấy mà tạo đặng thì cái kiếp sanh nầy dầu cho Cửu Phẩm Liên Hoa ở Cực Lạc Thế Giới vô cũng đặng.”

 

 

GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG

Đức Thượng Sanh có lời Huấn dụ: “Đức Chí-Tôn có nói và tôi cũng thường nhắc nhở chư Đạo hữu về mặt Đạo, không có công quả nào cao, công quả nào thấp. Kẻ chịu lao tâm, người chịu lao lực, lao tâm hay lao lực đều hướng về một mục tiêu là giúp ích cho Đạo, làm nên cho Đạo. Thế thì sự phục vụ dầu về phương diện nào và dưới hình thức nào, đều có cái giá trị Thiêng liêng duy nhứt của nó. Cao hay là thấp là do nơi cái tâm của ta, do nơi có sự thành thật hay không mà thôi. Ấy vậy, hướng về tiền đồ đại nghiệp của Đạo, tôi xin toàn thể Chức sắc và nhơn viên Bộ Nhạc và Bộ Lễ lấy hết chí thành thi hành phận sự đắc lực để phục vụ Đức Chí Tôn và phụng sự cho nền Chánh giáo, hầu ngày sau để tên tuổi nơi sử Đạo và lập vị xứng đáng ngày công viên quả mãn”.

 

 

GIẢ

- Đức Hộ-Pháp nói: “Ở đời, mọi sự đều giả, cho đến mảnh thân của chúng ta cũng không được tồn tại. Nếu ai đã mê theo đường danh bể hoạn hiện thời thì tất nhiên họ sẽ chuốc lấy sự mất ở ngày mai; chỉ những kẻ đi tìm sự mất ở đời và sớm dắt mình vào khuôn khổ vị tha, bản tâm luôn luôn sẵn sàng phụng sự cho người đời, kẻ nghèo, kẻ đau, kẻ yếu, mới được còn mảy may mà thôi”.

 

 

GIẢ BỘ SIÊNG LO

Kinh Sám hối có câu:

“Trước người giả bộ siêng lo,
“Sau lưng gian-trá so-đo tấc lòng.”

 

 

GIẢ CUỘC

(Giả là không thật, trong việc làm như vậy là bất chánh, làm cho người khác bị lầm; Cuộc là sự thể, cuộc diện). Giả cuộc là bày trò giả dối cốt cho người khác hoang mang, nghi ngờ.

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 22-06-Mậu Dần (1938) như sau:“Do Tam giáo thất chơn truyền: Nho- Thích- Đạo hiện nay đã trở nên phàm giáo. Chư Đệ tử trong ba nhà Đạo không giữ y luật pháp qui điều, lại canh cải chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc làm cho Tam Giáo biến thành dị đoan.

- Đệ tử nhà Đạo chẳng tùng giáo pháp của Đức Thái Thượng Lão Quân, tuy ở trong nhà Đạo mà dị đoan mê tín.

- Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca thì đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.

- Đệ tử nhà Nho chẳng thật hành điều mục của Đức Văn Tuyên Khổng Thánh thì đệ tử nhà Nho dị đoan bất chánh”.

 

 

GIẢ LUẬT

假 律

(Giả là không thật. Luật là luật lệ dành cho người tu hành. Trái lại là Chơn là thật.). Giả luật là ý nói luật tu không đưa đến sự đắc đạo. Trái với Giả luật là Chơn luật.

Thầy dạy: “Chư Tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn. Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy”.

Phật Thích Ca dạy: “Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà TA rất đau lòng. TA đến chẳng phải cứu một mình chư Tăng mà thôi, vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, phải đọa hồng trần, TA đương lo cứu vớt. Chư Tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư Sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn”.

 

 

GIẢ NƯƠNG CỬA PHẬT

Kinh Sám Hối có câu:

“Thêm những sãi giả nương cửa Phật,
“Của thập phương châu cấp thê nhi."

 

 

GIẢ TẠM

Đức Huệ Mạng Kim Tiên: “Nhân lúc Việt chủng lâm nàn, Bần đạo khuyên mấy em nên nhớ danh đề trên bóng cờ cứu khổ, chớ xao lãng. Nên nhìn đời giả tạm, chỉ tưởng mảnh hình hài là của Chí Linh cho Vạn linh, rồi nhớ đến con đường Hằng sống. Cười.. Bần Đạo nói tiếng Việt coi không suông, nhưng không sao.... Cười..”

 

 

GIẢ THÂN

假 身
E: Untrue body.
F: Corps irréel.

Giả: Không thật, làm giống y như thật để lừa gạt người. Thân: xác thân. Giả thân là cái xác thân giả tạm, không thiệt nên không bền vững với thời gian. Đó là cái xác thân phàm, bằng xương bằng thịt. Nó chỉ tồn tại một thời gian rồi phải chết và tan rã.

Linh hồn đầu kiếp xuống trần, phải mượn xác thân giả tạm nầy một thời gian để trả quả, học hỏi và tiến hóa. Nhờ có xác thân phàm mới có được TINH, nhờ có TINH mới có thể luyện đạo: Luyện TINH hóa KHÍ, luyện KHÍ hiệp THẦN, và luyện THẦN huờn HƯ, đắc đạo tại thế. Khi linh hồn xuất ra khỏi xác thân giả tạm thì cái giả thân phải chết, xác thịt thúi rửa và tan rã, rồi mục nát biến thành đất.

Đối với Giả thân là Chơn thân, là cái xác thân chơn thật, tồn tại vĩnh viễn với thời gian. Đó là Xác thân thiêng liêng, còn gọi là Chơn thần. (Xem: Chơn thân, vần Ch).

 

 

GIẢ TRÁ

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Phải cẩn thận biết phân vàng đá
Thiếu chi phường giả trá theo kề
Lỗi mình chưa trọn giác mê
Hoặc dìu bước Đạo cho bề yêu ma.

 

 

GIẢ XAY

Kinh Khi Ăn Cơm Rồi có câu:

“Nguyện nhớ ơn Nông Canh nhằn-nhọc,
“Nguyện ơn người lúa thóc giã xay."

 

 

GIÁC (Phật Học)

Giác (S, P: bodhi; C: xué; J: kaku) cũng được dịch âm là Bồ-đề 菩 提 Danh từ dịch ý từ chữ (bodhi) của Phạn ngữ (sanskrit), có nghĩa là tỉnh thức, thường được gọi chung với chữ “ngộ” là Giác ngộ.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

GIÁC HẢI

(xem Hòa Thượng Giác Hải)

Trong Thánh ngôn ghi: “Trung bạch về sự Giác Hải và Thánh Thất.” - Thầy chẳng qua yêu mến đạo Thiền, quyết gom tóm các con lại làm một nên giữ Thánh Thất đến ngày nay, đặng qui tụ các em con đến cho đủ mặt. Như Thiên Cơ phải y như lời xin của Phổ Hiền Bồ Tát thì chẳng ép lòng bỏ chết phái ấy. Thầy sẽ coi ngày Như Nhãn đòi Thánh Thất lại thế nào, rồi mới trả. Phần nhiều trong các con chẳng vừa lòng Thánh Thất, nguyện xin trả. Thầy sẽ dạy Thơ. Thái Bạch sẽ lập Thánh Thất theo kiểu vở Thiên đình. Thầy ban ơn cho các con”.

 

 

GIÁC MÊ

覺 迷
E: To awake the blinding.
F: Réveiller l’aveuglement.

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. : tối tăm, lầm lạc. Trái với Mê là Giác.Giác mê là làm cho những người mê muội giác ngộ để họ biết rõ đạo lý.

Thánh huấn giác mê: Lời dạy của các Đấng thiêng liêng giúp cho người đời tỉnh ngộ, không còn mê lầm nữa.

Tiếng trống Giác mê: Đánh lên tiếng trống, âm thanh vang rền, để người đang mê muội nghe được giựt mình thức tỉnh, quay về con đường đạo đức, tức là bỏ mê tìm giác.

 

 

GIÁC NGỘ

覺 悟
E: To awake.
F: Réveiller.

(Giác là biết. Ngộ là tỉnh, không còn mê muội). Giác ngộ là Biết được điều mình lầm lỗi và tìm được chân lý.

Giác ngộ có 3 trình độ, tức là có ba bực:

- Người phàm tỉnh ra mà nhận biết thân nầy là cội khổ, cõi trần là cõi tạm, nên lo tu hành, đạt được sự Tự giác thì đắc thành bực Thánh.

- Khi đã đạt được Tự giác rồi, thì đi giác ngộ người khác để họ tự giác như mình. Đó là Giác tha. Hễ đạt được Tự giác và Giác tha thì đắc thành bực Tiên hay Bồ Tát.

- Đến bực Phật thì có: Tự giác, Giác tha, và Giác hạnh viên mãn, gọi là Chánh giác.

Cái tánh giác ngộ vẫn thường có nơi mỗi chúng sanh, song con người chẳng tự biết mình, chẳng phân chơn giả, cứ mãi say mê đường vật chất, lấy giả làm chơn, nên phải đắm chìm trong biển khổ luân hồi. Đó là vô minh. Nếu bỏ được vô minh thì cái tánh giác ngộ hiện ra ngay.

Giác ngộ là Tỉnh thức mà hiểu được chân lý. Giác ngộ còn gọi là chứng ngộ, tức hiểu biết thấu triệt mọi sự vật như thật, thấy biết mọi chân lý Vũ trụ và nhân sinh. Thấy rõ nguyên nhân và nguồn gốc của khổ đau, sanh tử và biết chọn lựa con đường để giải thoát sanh tử. Giác ngộ không phải là cái hiểu biết bằng lý luận hoặc phân tích, mà Giác ngộ cốt ở cái thấy biết như thực các sự vật, không vướng ngờ vực, không kẹt kiến thức hoặc kiến chấp.

Câu đối ở Trí Giác: “Giác ngộ siêu phàm Đạo pháp thông”.

Đức Hộ-Pháp dạy cho biết: “Ngày nào toàn cả quần chúng, đồng bào biết giác ngộ, tu tỉnh hiệp nhứt tâm thực hành chủ nghĩa Từ-bi Bác-ái cho ra chơn tướng, thì nhơn sanh sẽ đặng chung hưởng mọi điều hạnh phúc, chẳng luận quốc dân nào, xã hội nào mà toàn cầu thế giới cũng được thọ hưởng cái hạnh phúc ấy”.

Kinh Khi Thức Dậy có câu:

“Xin Từ Phụ ra ơn cứu độ,
“Tăng huyền linh giác ngộ chí thành."

 

 

GIÁC TÁNH

覺 性
E: The nature of the sensation.
F: La nature de sensation.

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Tánh: cái tính chất biểu hiện ra ngoài. Giác tánh là cái tánh hiểu biết.

Giác tánh có được là do Giác hồn: Bên trong là Giác hồn, biểu hiện ra ngoài là Giác tánh. (Xem: Tam hồn, vần T)

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Giác tánh là trí não thô sơ, nó chỉ biết sống như con vật. Tỷ như con thú kia, mới sanh ra chưa biết gì, mà đã biết tìm vú mẹ đặng bảo trọng sanh mạng của mình. Luật bảo sanh biểu nó tìm bao nhiêu đó để sống mà thôi.

 

 

GIÁC THÂN

覺 身
F: Le corps spirituel.

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Thân: xác thân. Con người có hai xác thân, một là nhục thể tức là cái xác phàm, hai là chơn thần tức là giác thân thiêng liêng của ngừơi tu mới có. Giác thân là cái thân thiêng-liêng, chớ không phải cái xác thân phàm tục bằng xương bằng thịt này.

Kinh Đệ Nhị Cửu có câu:

"Đã thấy đủ Thiên-đình huyền pháp,
"Cổi giác thân lên đạp Ngân-Kiều
"Đẩu-Tinh chiếu thấu Nguyên-Tiêu,
"Kim-Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc-Hư."

 

 

GIÁC THẾ

覺 世
E: To awake the mankind.
F: Réveiller l’humanité.

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Thế: đời, người đời. Giác thế là giác ngộ người đời, làm cho người đời giác ngộ. Đây là Giác tha, nhưng phạm vi rộng lớn, toàn cả cõi trần.

Thi văn dạy đạo có câu:

Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.

 

 

GIAI CẤP VÔ SẢN

階 級 無 產

Đức Hộ-Pháp nói: “Cộng-Sản xúi giục giai cấp vô sản chống chọi giai cấp Tư bản, chủ trương tiêu hủy những sự bất công xã hội và hứa hẹn quân phân lại tài sản, nhưng vì có tánh cách độc tài và vô thần nên đã trở thành quá khắc khe.”

 

 

GIAI MIỄN LỄ

皆 勉 禮

Vui vẻ hân hoan cung kính cúi đầu lạy xuống, đều gắng sức làm lễ, lạy xuống để tỏ lòng kính trọng (Giai: Ðều, cùng. Miễn: Gắng sức, cố gắng. Lễ: Làm lễ, kỉnh lễ, dâng hiến lễ).

Bài Dâng Rượu có câu:

“Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,
“Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh.”

 

 

GIAI NGẪU

皆偶
E: The well assorted couple.
F: Le couple bien assorti.

Giai: đẹp, tốt đẹp. Ngẫu: một đôi, một cặp. Giai ngẫu là đẹp đôi, chỉ cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa.

Tân Luật: Thế luật, Điều 6:

Phải chọn hôn trong người đồng đạo, trừ ra khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới được kết làm giai ngẫu.

 

 

GIAI QUÌ

皆 跪
E: To kneel down together.
F: S’agenouiller ensemble.

Giai: đều, cùng. Quì: tức là Quị: quì xuống. Giai quì tức là Giai quị: tất cả đều quì xuống.

Đây là một câu xướng của Lễ sĩ trong nghi thức cúng Đại đàn. Khi Lễ sĩ xướng câu nầy thì tất cả mọi người trong đàn cúng đều quì xuống.

 

 

GIẢI

Là một hình thức mổ xẻ ra với một mục đích riêng. Như một con trâu chẳng hạn, người ta muốn lấy sừng riêng ra, goị là giải phẫu. Phân tích chữ Giải sẽ thấy: Sừng là Giác 角 nằm bên trái của chữ, người ta dùng con dao (Đao:刀) nằm trên của chữ bên phải, bổ cái đầu con trâu ra (trâu là ngưu 牛) Công việc giải phẫu phải như thế. Tương tự có các từ như: giải lý, giải thoát, giải căn, giải thể, giải trừ nghiệt oan…

 

 

GIẢI Quẻ 40. Quẻ Lôi Thuỷ Giải

 

 

Quẻ 40. Quẻ Lôi Thuỷ Giải 雷 水 解

 

 

Tượng: Giải pháp Cứu thế của Đạo Cao-Đài

Quẻ này là quẻ Lôi Thuỷ Giải. Khảm hạ là nội Khảm, Chấn thượng là ngoại Chấn. Chấn là Lôi, Khảm là Thuỷ, nên tên quẻ đặt là Lôi Thuỷ Giải.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ: Sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải là nghĩa làm sao? - Qua rồi là thời Kiển. Kiển nghĩa là nạn, là khó, các vật không thể khó-khăn đến cùng, cho nên tiếp đến quẻ Giải. Giải có nghĩa là hoãn vậy. Giải hoãn dã 解 緩 也.

Giải là chậm, vì trên có Chấn, dưới có Khảm, tức là trong nguy hiểm mà ngoài động, cho nên phải huy động để giải lần lần từ trong ra ngoài mới được hanh thông.

Phân tích chữ Giải 解 thấy có 3 phần: bên trái là chữ Giác 角 là cái sừng. Bên phải là chữ đao 刀 là con dao ở trên, chữ ngưu 牛 là con trâu ở dưới. Tức nhiên muốn giải quyết cái sừng ra khỏi đầu con trâu thì phải dùng con dao mà mổ lấy ra. Trong cách mổ như vậy gọi là giải phẫu. Cách giải phải cẩn thận, kỹ lưỡng, không vội vã, không hấp tấp thì sẽ thành công.
Theo lý mà nói: Sấm động bên ngoài là sự hãm hiểm, bên trong là sư oi bức làm người khó chịu, là động. Nhưng khi đã đủ yếu tố thì tiếp theo đó trời mưa, mưa tức là đã giải quyết được cơn oi-bức hiểm nghèo, nên mới đặt tên cho quẻ là Lôi Thuỷ Giải.

Theo tượng quẻ mà nói: Chấn trên tượng là sấm, là động. Khảm dưới có nghĩa là hãm, là hiểm nguy. Chấn vi lôi, Khảm vi thuỷ là hiện tượng có sấm chớp, có mưa rào để làm tan đi cơn nóng là Giải sự nóng bức của những ngày vào Hạ, nên đặt tên quẻ là Lôi Thuỷ Giải. Giải còn có nghĩa là làm cho tan đi vậy, như giải tán, giải ách, giải bệnh, giải khổ.…

Từ đó suy ra thì cách giải quyết nào cũng phải đủ ba yếu tố: Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà là vậy.

Trong đời: Những sự khó-khăn đến cùng cực ắt có cách cởi mở dần dần, cho nên sau cuộc Kiển là Giải. Hoãn nghĩa là chậm chậm, dần dần. Phàm những bệnh tật hay những sự rối ren trong gia-đình ắt cần phải sửa-chữa lại cho được hoàn-hảo, mà làm cho cuộc giải bớt khó khăn. Thế nên phải nghĩ-suy cho cùng kỳ lý để giải từ-từ một vấn đề, thì cuộc giải mới hanh thông được.

Trở lại với con người như chúng ta có điều gì cần phải giải quyết? Thuyết nhà Phật đã để lại cho nhân-loại thấy rằng con người phải chịu thúc-phược trong Tứ-diệu-đề Khổ. Biết bao nhiêu nhà Tôn-giáo tìm kiếm một phương thế nào để giải thoát kiếp luân-hồi sanh tử, nhưng mãi từ ngàn xưa cho đến ngàn sau vẫn chưa có một giải-pháp nào hữu hiệu.

Nay, Đạo Cao-Đài, Đức Thượng-Đế đến ngự hầu chia khổ não cho con cái của Ngài. Ngài có phương pháp gì hữu hiệu để giải khổ cho nhân loại về vật chất và giải thoát cho cả linh hồn không?

Đất nước Việt-Nam vào thời buổi này dân tình quá đau khổ, hầu như từ bao nhiêu đời ông cha chúng ta phải gánh chịu nạn nô lệ của ngoại bang, vừa hết Tàu đến Tây, trên ngàn năm bị đô hộ rồi, những ý chí bất khuất luôn chống đỡ mong cứu nguy cho dân tộc, nhưng sức yếu thế cô, lòng chỉ hướng về Trời để mong được sự cứu tinh của Thượng-Đế công bằng mà thôi: “Thiên tùng nhơn nguyện” thật. Thời điểm ấy Đức Thượng-Đế mở ra một mối Đại Đạo là Tam-Kỳ Phổ-Độ Tam Giáo Qui nguyên Ngũ chi phục nhứt. Chính là:

Giải-pháp Cứu thế của Đạo Cao-Đài:

Đức Quyền Giáo-Tông có nói: “Chúng tôi trân-trọng và thành-kính thông-báo cùng quí Ngài, Đấng tối cao tức là Đấng Thương-đế toàn năng mà cũng là Đại-Từ-Phụ của tất cả nhơn loại, đã giáng lập trên một góc của nước Việt-Nam thuộc tỉnh Tây Ninh, một nền Tân Tôn-giáo. Nền Tôn-giáo này có thể canh-tân toàn thể thế-giới bằng một lý-tưởng cao-quí đó là TÌNH THƯƠNG VẠN-VẬT. Rồi đây, bởi sự chuyển xây của Tạo hóa, các sắc dân sẽ đồng tâm hiệp lực kết tình anh em với nhau và chừng ấy nền Hòa-bình Thế-giới sẽ phát hiện.

Chiến-tranh! Cuộc chiến-tranh tội-lỗi giữa huynh đệ giết nhau một cách ghê-tởm, sự ghê-tởm của thế-kỷ 20 được mệnh-danh là tiến-bộ văn-minh, vẫn có thể tránh được. Sở-dĩ chúng tôi nói đến “tội huynh-đệ giết nhau” là vì dầu cho chủng tộc nào có phân chia nòi giống, nhưng tất cả đang sống trên quả địa-cầu này đều là con cái cùng tùy thuộc dưới quyền-năng ngự trị của một Đấng Cha chung là Thượng-Đế, hay nói rõ hơn là Đấng Chủ-tể cầm vận-mạng của họ. Một khi các dân-tộc gây hấn chiến tranh với nhau, điều đó có khác nào anh em một Cha đã tự diệt nhau đó vậy”.

 

 

GIẢI CĂN

解 根
E: To deliver the cause.
F: Délivrer la cause.

Giải căn (Căn 根: gốc rễ) là cởi bỏ tất cả các oan khiên nghiệt chướng của kiếp trước. Đó là hành vi thiện ác mà kiếp sống hiện tại con người phải thọ lãnh cái nghiệp, nếu kiếp trước làm những điều thiện, thì tạo căn lành cho kiếp sống hiện tại, nếu bây giờ ta làm những việc ác, thì tạo ác căn cho kiếp lai sinh. Như vậy, căn hay cái gốc rễ tạo thành cái nghiệp cho con người, vì thế người ta thường gọi căn quả hay căn nghiệp. Muốn giải căn nghiệp xấu thì phải tu, tu là cổi bỏ vậy.

Kinh Khi Về có câu:

“Lòn thân dưới phép sầu than,
“Tìm phương cứu khổ mở đàng giải căn."

Kinh Tiểu-Tường có câu:

"Ao Thất-Bửu gội mình sạch tục,
"Ngôi liên-đài quả phúc Dà-Lam.
"Vạn-Linh trổi tiếng mầng thầm,
"Thiên-thơ Phật tạo độ phàm giải căn."

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

“Dìu đường thoát tục nắm phan,
“Trông Kinh Bạch-Ngọc định thần giải căn."

 

 

GIẢI CHỨC

Để chức tước qua một một bên, không dùng đến trong một giai đoạn thời gian nào đó. Mục đích là muốn hòa đồng.

Đức Hộ Pháp nói: Trí Huệ Cung, 26 -12-Canh Dần (1950)

“Các Bạn, ngày nay Bần Đạo tạm giải chức Hộ Pháp; giờ phút nầy là người Bạn tu của các Bạn mà thôi. Bần Đạo tạm giải chức Hộ Pháp đặng đến với các con cái của Ngài, với một tình nồng nàn, Hộ Pháp cũng là người Bạn Thiêng Liêng về phần hồn với con cái của Ngài.”

 

 

GIẢI KHỔ

解 苦
E: To deliver from misfortune.
F: Délivrer d’un malheur.

Phương giải khổ của Đạo Cao-Đài

Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn.

Đức Hộ-Pháp nói: “Ngài đến bồng nhơn-loại vào tay ru rằng: Khối đau khổ tâm-hồn của các con là tại các con đào-tạo chớ không phải của Thầy! Khổ là do quả kiếp mỗi đứa dục khổ cho nhau. Muốn giải khổ không gì khác hơn là: Đập đổ các đẳng cấp tâm-hồn. Thống nhất nhơn-loại. Nhìn nhau là anh em máu thịt, cùng một căn-bổn cội nguồn hầu chia vui sớt nhọc, biết tôn ti nhau; kẻ trên không áp-chế người dưới, trí không hiếp ngu, hèn sang không biệt, mực thước tâm-hồn nhơn-loại phải đồng phẩm-giá, đồng quyền-năng.”

Đức Hộ-Pháp nói; “Chúng ta thấy các nền Tôn Giáo đương nhiên bây giờ có nền Tôn Giáo nào phụng sự cho chúng sanh không? Có nền Tôn Giáo nào làm tôi tớ cho chúng sanh đặng giải khổ cho chúng sanh hay chăng? Quan sát coi. - Chưa có! Chúng ta ngó thấy chúng ta có một điều tức cười hơn hết là họ ngồi gõ mõ đánh chuông mà họ nói giải khổ cho chúng sanh. Sanh trước cái đã, là mực thước đi từ khuôn khổ của nó nếu nói phi lý không quan sát được, không thể công nhận được, nhưng đương nhiên chúng ta đã thấy gì?”

 

 

GIẢI KIẾT

Đức Hộ-Pháp nói: “Từ khi Bần Ðạo về qui tụ các con cái của Ngài, thì Bần Ðạo đã giải kiết cho Ðạo nhiều rồi. Chúng ta cầu nguyện thêm đôi tháng nữa mà thôi và lo tròn phận sự phú thác thì ngày đoạt vọng không lâu, và chúng ta sẽ thấy có huyền diệu hay không về quyền năng ấy”.

 

 

GIẢI KHỔ KIỀU

解 苦 橋

Giải Khổ Kiều tên một cái cầu bắt qua suối, nối liền Tri Huệ Cung và Ao Thất-Bửu).

 

 

GIẢI MỘNG TRẦN GIAN

解 懵 塵 間

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

“Rắp nhập cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống,
“Chốn quê xưa giải mộng trần-gian.”

 

 

GIẢI NẠN

解 難
E: To deliver from calamity.
F: Délivrer de la calamité.

Giải: Cởi bỏ ra, thoát khỏi, cắt nghĩa cho rõ, làm cho chia lìa ra, cái để thưởng. Nạn: tai nạn. Giải nạn là giải thoát khỏi các tai nạn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chớ chi thất tại Tà quyền thì có mấy em trừ khử, nhưng tại nơi đồng tử thì mấy em không phương giải nạn cho mấy người mê tín.

 

 

GIẢI NGHIỆT

解 孽

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Trường-Canh chói rạng lòa Kim-Khuyết,
"Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.
"Tề-Thiên Đại-Thánh để lời,
"Thiện nam, tín nữ nghe thời phải vưng."

 

 

GIẢI OAN

 解 冤
E: Baptism of expiation.
F: Baptême de l’expiation.

Giải oan 解 冤 là cổi bỏ hết nỗi oan khiên nghiệt chướng: Dù trong tiền kiếp hoặc hiện kiếp, chính nó là một sự lôi kéo vô hình làm trở ngại cho việc tu hành. Nay, là thời kỳ Đại-Ân-xá của Chí-Tôn nên người Môn đệ của Thầy mới được hưởng nhiều Bí pháp trong đó có Phép Giải Oan, tức là dùng Ma-Ha Thủy nên có câu: “Ma-Ha-Thủy năng hủy oan khiên giải trừ nghiệt chướng chi đọa”.

Người mới Nhập môn vào Đạo Cao-Đài lập Minh thệ thì đặng hưởng hồng-ân là thọ phép Giải Oan. Phép này rửa sạch tội tiền khiên của mình từ trước. Phép này cũng là một Đại Ân xá những tội tình, nhưng từ ngày Nhập môn về sau thì phải gìn giữ đừng gây thêm tội mới cho đến ngày chết tức là ngày trở về với Đức Chí-Tôn (Đại-Từ-Phụ) thì được nhẹ nhàng rất nhiều. Ngoài Bí-Pháp Giải-Oan này Đức Chí-Tôn còn ban cho Pháp Tắm Thánh, phép làm Hôn phối và đặc biệt nhứt là Phép Xác và Phép Độ thăng.

Đức Hộ-Pháp nói về Chúa nhận phép Giải Oan:

“Ðến năm 30 tuổi nghe Saint Jean Baptiste truyền giáo tại bờ sông Jourdain, cũng trong lúc đó, Ðức Chúa đến gặp ông đang Giải Oan cho thiên hạ. Khi vừa thấy Ðức Chúa ở xa xa đi đến thì Ông đã biết là Ðấng Chúa Cứu Thế, mới nói: "Từ sáng đến giờ Tôi chỉ chờ có một người nầy thôi”.

Ðức Chúa đếnThọ Phép Giải Oan và thọ giáo nơi ông Thánh Saint Jean Baptiste. Trong buổi vừa hành pháp xong, Ðức Chúa ở bờ sông Jourdain vừa bước lên thì trên không trung hiện ra hào quang sáng suốt, hiện ra giống như chim bồ câu trắng (Colombe) sa giữa đầu Chúa, ngay giữa thinh không có tiếng nói: "Nầy con yêu dấu của TA, cả ân đức của TA để cho Ngươi đó". Từ đó, Ngài khởi sự giảng Thánh Kinh ngay trong xứ Galilée và Jérusalem, lập nên đạo Thánh ở Do-Thái, rồi truyền bá mạnh mẽ sang Châu Âu.

Nay, may duyên gặp được thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn mở ra một thời kỳ Đại Ân Xá cho toàn thể chúng sanh và các đẳng chơn hồn, nên những oan khiên, nghiệp báo chất chồng từ muôn đời ngàn kiếp được Chí Tôn Ân xá tất cả những tội lỗi tiền khiên.

Bài Kinh Giải Oan do Đức Hộ Pháp viết ra, có cầu Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ chỉnh văn lại.

Kinh này được đồng nhi tụng trong buổi lễ Cúng Chí Tôn, trước khi vị Chức sắc hành pháp giải oan cho tín đồ:

KINH GIẢI OAN

Vòng xây chuyển vong hồn tấn hóa,
Nương xác thân hiệp ngã Càn Khôn.
Bước đường sanh tử đã chồn,
Oan oan nghiệt nghiệt dập dồn trái căn.

Luật Nhơn quả để răn Thánh đức,
Cửa Luân hồi nhắc bực cao siêu.
Dầu chăng phải mực Thiên điều,
Cũng quyền tự chủ dắt dìu thiên lương.

Dòng khổ hải hễ thường chìm đắm,
Mùi đau thương đã thấm Chơn linh.
Dây oan xe chặt buộc mình,
Nhớp nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

Chịu ô-trược Chơn Thần nặng trịu,
Mảnh hình hài biếng hiểu lương tâm,
Phong trần quen thú cung âm,
Cảnh thăng ngơ ngẩn lạc lầm Phong đô.

Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,
Mới gầy nên nhân quả nợ đời.
Rảnh mình đâu đặng thảnh thơi,
Thiên cung lỡ lối chơi vơi cõi trần.

May đặng gặp hồng ân chan rưới,
Giải trái oan sạch tội tiền khiên.
Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực lạc, dẫn miền Tây phương.

Nhập Thánh thể dò đường cựu vị,
Noi Chơn truyền khử quỉ trừ ma.
Huệ quang chiếu thấu chánh tà,
Chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh.

Cứ nương bóng CHÍ LINH soi bước,
Gội mê đồ tắm nước MA HA.
Liên đài may nở thêm hoa,
LÃO ĐAM cũng biết, THÍCH GIÀ cũng quen.

(Phạm Hộ-Pháp)

 

 

GIẢI PHÁP HÒA BÌNH

Đức Hộ Pháp giáng cơ ngày 8-3-1965 dạy rằng:

Giải pháp Hòa Bình còn chớ giá đắc ấy cũng do tai nạn ách nước. Đã vậy buổi đầu chia đôi quốc thể, vì bổn phận Giáo Chủ một nền Quốc Đạo Cao Đài nên đứng ra trương cương lĩnh gọi hòa bình hầu thống nhứt sơn hà ngăn giòng hồng lệ. Nhưng nhà cầm quyền hai miền cố tranh quyền lấn thế, ỷ sức ngoại bang, dục tấn lửa binh, chiến sĩ tiếp tục ăn gan uống huyết lẫn nhau vì mối danh lợi ảo huyền. Ấy là Thiên Cơ đã định, dầu Bần Đạo cố gắng cách nào cũng không qua Thiên Điều dĩ định mới nhận là: “Ta muốn vậy mà Trời chẳng vậy”.

 

 

GIẢI PHẦN HỮU SANH

解 份 有 生

Giải phần hữu sanh là giải về phần có sự sống, nghĩa là Giáo lý của Đấng Chúa Cứu Thế dạy về Thế đạo, tức về phần đời của nhơn loại: Trên núi Ô-Li-Vê ở Do Thái, là nơi đặt dấu chân của Đức Chúa Jésus Christ. Ấy là Đức Gia-Tô Giáo Chủ giải về phần đời sống của con người, tức là giải về lý của kiếp sanh, đồng thời tìm phương cứu khổ cho nhân loại.

Kinh Khi Về có câu:

“Núi Ô Li Vê để dấu chân,
“Gia Tô Giáo Chủ giải phần hữu sanh."

 

 

GIẢI QUẢ

解 果

Giải quả 解 果 Cởi bỏ cái quả kiếp.

Kinh Đệ Bát Cửu có câu:

“Cung Tận Thức thần thông biến hóa,
“Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng.”

 

 

GIẢI QUẢ TRỪ CĂN

解 果 除 根

Giải: Cởi bỏ ra, thoát khỏi, cắt nghĩa cho rõ, làm cho chia lìa ra, cái để thưởng. Quả: kết quả. Trừ: làm cho mất đi. Căn: gốc rễ, chỉ những việc thiếu đạo đức trong kiếp sống trước. Giải quả trừ căn tức là giải trừ căn quả, là cởi bỏ hết và làm cho mất đi các kết quả xấu báo đáp lại của các việc làm thiếu đạo đức trong kiếp sống trước.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

“Trung khổ-hải độ thuyền Bát-Nhã,
“Phước Từ-bi giải quả trừ căn.”

(Nhờ phước đức và lòng từ bi của Đức Phật Mẫu mà giải trừ được các căn quả của chúng sanh)

 

 

GIẢI QUYỀN NHẬP TỊNH

Đức Hộ-Pháp nói: “Anh Cả chúng tôi chẳng hề nao núng, thậm chí có người lo sợ dùm, nên đến khuyên Người giải quyền nhập tịnh cho yên, mà Người nói rằng: “Dầu phải thời tử Ðạo, Người cũng vui lòng, chớ Người không vì sợ chết mà bỏ phận sự”. Xem đó thì đủ thấy cái đại chí của Người, vì Người thấu mục đích tối cao của Ðạo. Mà Tôn chỉ của Ðạo có cái ý nghĩa “không dữ mà hùng, hòa mà không nhược”.

 

 

GIẢI TÁN

解 散

Giải tán 解 散 là làm cho tiêu tan hết, không còn vướng bận, là Cởi bỏ thi thể, hình hài.

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

“Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,
“Bộ Lôi Công giải tán trược quang.”

 

 

GIẢI TÁN NGHỊCH THÙ

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện giải tán nghịch thù,
Lấy câu hòa thuận vận trù lập công.
Phước Thiện nay chuyển Đại Đồng,
Phá tan giặc giã giao thông hoàn cầu.

 

 

GIẢI THI

解 尸
E: To deliver from the material body.
F: Délivrer du corps matériel.

(Giải 解: cổi mở ra, Thi 尸: xác thây phàm). Giải thi 解 尸: Cởi bỏ hình hài thi thể.

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
"Phách anh-linh ắt phải anh-linh
"Quản bao thập ác lục hình
"Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn."

Kinh Hạ Huyệt có câu:

"Thức giấc mộng Huỳnh lương vừa mãn,
"Tiếng phồn ba hết thoáng bên tai.
"Giải thi lánh chốn đọa đày,
"Chơn Linh trong sạch ra ngoài Càn Khôn."

 

 

GIẢI THÂN ĐỊNH TRÍ

解 申 定 智

Giải thân định trí là cỗi bỏ thể xác, định tỉnh trí não tinh thần. (Giải là cởi bỏ, định là giữ cho yên).

Bát Nương Diêu Trì Cung giải thích về Âm quang:

“Vậy thì chính lời nhiều Tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn Giải thân định trí (một nơi trung gian giữa Thiên đường và Ðịa ngục hay là mờ mờ mịt mịt). Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó.”

 

 

GIẢI THỂ VỀ THIÊNG-LIÊNG-VỊ

Đức Hộ-Pháp nói về việc “Sau khi ban hành Thánh Lịnh thành lập Khảo Cứu vụ được 75 ngày, đúng đêm mùng 5 tháng 2 năm Mậu Tý (1948) thì Đức Ngài đã than như sau:

“Tội nghiệp thay Thánh thể của Đức Chí Tôn, mấy anh lớn, chị lớn già yếu, một phần được giải thể về Thiêng liêng vị, không được hưởng một đặc ân gì hết. Ngoài ra thiệt thòi phần ấy chẳng nói chi, hiện thời cái Bí pháp có ảnh hưởng đến tương lai của nền Đạo, ta đã có việc nào trong trăm việc chưa? Thí dụ: Nơi Hiệp-Thiên-Đài, phải lấy Bí pháp tạo Huyền-Linh Đài để dùng cho Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài tương liên với quyền năng vô hình của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và Chí Tôn. Ngoài ra còn quan sát Giáo lý của các Tôn giáo khác đặng tạo Tân Sấm Truyền của Đại Đạo.”

 

 

GIẢI THOÁT

解 脫

Theo tinh thần của Cao-Đài giáo:

Giải thoát cũng có nghĩa là thoát kiếp luân hồi sanh tử.

Hãy nghe Đức Hộ-Pháp nói: “Có Thể pháp thì có Bí pháp! Các vị Giáo-chủ cũng phải tùng theo khuôn luật đó, một nền Tôn giáo có: Thể-pháp là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tức nhiên phải có Bí-Pháp đặng làm cơ-quan giải thoát cho chúng sanh. Hễ độ phần xác tức nhiên phải độ phần hồn cho toàn vẹn. Một nền Tôn giáo đã xuất hiện tại thế gian này dầu Thể-pháp cao siêu bao nhiêu đi nữa, nếu không có Bí pháp làm tướng diện căn bản thì nền Tôn giáo ấy chỉ là Bàng môn tả đạo mà thôi….Từ ngày Đạo bị bế họ có lắm công tu mà thành thì không thành. Tội nghiệp thay, vì 92 ức nguyên nhân ấy mà chính mình Đức Chí Tôn phải giáng trần mà lập nền chơn giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy cái Thánh ân, đặc biệt hơn hết là Đức Chí-Tôn đã thấy rõ rằng: Các nguyên nhân ấy không phương gì tự giải thoát đặng vì quá tội tình, quá mê luyến hồng trần hoặc đào tạo quả kiếp nặng nề quá đỗi, vì cớ cho nên tu thì có tu mà thành thì không có thành, tức nhiên từ ngày Đạo bế thì cơ siêu thoát đã mất tại mặt thế này, chính mình Đức Chí Tôn biết rằng không thế gì các nguyên nhân tự mình đạt cơ giải thoát đặng. Hôm nay, Ngài đến lập nền chơn giáo của Ngài chúng ta đã ngó thấy lòng yêu ái vô tận của Ngài là thế nào!

Hôm nay là ngày Phật Mẫu đem Bí Pháp đặng giải thoát chúng sanh, tận độ toàn vạn linh sanh chúng. Ngài để tại mặt thế này trong cửa Ðạo này mà thôi. Hôm nay là ngày Lễ của Ngài mà cũng là ngày trọng hệ trong cửa Ðạo, xin toàn cả con cái của Ngài nhớ và để nơi tâm mình, bởi thế năm nào Bần Ðạo cũng để ý đến Lễ của Ngài hơn hết; từ tạo Thiên lập Ðịa đến giờ chưa có ai hưởng được thời kỳ nầy. Ngài đến tại mặt địa cầu 68 nầy đặng tận độ con cái của Ngài. Chúng ta phải chiêm ngưỡng ơn vô biên vô tận của Ngài, chúng ta phải chiêm nghiệm Lễ nầy để làm mật niệm cám ơn Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu, ấy là Bí Pháp của chúng ta đó vậy”.

Theo tinh thần Phật Học:

Giải thoát (S: vimukti; P: vimutti; J: gedatsu) là Giải phóng ra khỏi Khổ bằng cách tri kiến nguyên nhân của khổ và tận diệt nó, tức là thực hiện Tứ Diệu Đế và đoạn diệt Ô nhiễm (s: āśrava). Giải thoát tức là thoát khỏi ảo tưởng và khổ, thoát khỏi sự tái sinh trong Luân hồi (s: saṃsāra) và đạt Niết-Bàn (s: nirvāṇa). Danh từ Giải thoát được dùng đồng nghĩa với Giác ngộ hay là Ngộ.

 

 

GIẢI THOÁT CHO CỬU HUYỀN THẤT TỔ

Đức Hộ-Pháp nói: “Nay là cơ Ân-xá của Chí-Tôn, Ngài có cho biết rõ: buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, Đức Chí Tôn Ngài đến đề hai chữ “ÂN-XÁ” thì chúng ta đoán hiểu rằng “Ngài đã đến rồi” và Ngài biết con cái của Ngài đã chịu khổ nhiều rồi, đã có nhiều phương-pháp giải khổ của Ngài đến giao nơi mặt điạ-cầu này. Từ thử đến giờ cái thống khổ tâm-hồn của nhân-loại bao nhiêu thì Ngài thống khổ bấy nhiêu. Ngài đến đem Long-Hoa-Hội cốt để bảo thủ hai chữ “Ân-Xá”. Trong bao nhiêu đó, chúng ta cũng đủ thấy lòng thương yêu vô tận của Ngài thế nào. Bần-Đạo nói thật, thời buổi này chúng-ta không tìm phương giải thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ thì không thời buổi nào có năng lực độ rỗi Cửu-Huyền Thất-Tổ của mình cho đặng, không có buổi nào đặng hạnh-phúc làm đặng như vậy. Bởi thế cho nên toàn thể con cái của Đức Chí-Tôn nam nữ cũng vậy, có tấm lòng hoài vọng giọt máu mảnh thân mình, giờ phút này là giờ phút nên để trọn tâm cho thanh tịnh đặng cầu nguyện siêu-thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ..Bần-Đạo dám nói giờ phút này mấy người không có thể không nhỏng-nhẻo với Đức Chí Tôn được, Ngài sẵn-sàng để hai chữ “Ân-Xá” thì mấy người xin cái gì Ổng cũng cho”.

 

 

GIẢI THOÁT MÊ ĐỒ

解 脫 迷 圖

Thất Nương nói: “Em xin nhắc nhở điều nầy: Ngày hội Ngọc Hư đặng lo phương tiếp pháp của Tây Phương Cực Lạc qua, Em đã đặng nghe thấy những lời của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát than thở rằng: Ngài là Phật nên khó gần gũi các hồn Nữ phái mà khuyến giáo cơ giải thoát mê đồ. Bởi cớ, nơi Âm quang, Nữ hồn còn bị luyện tội nhiều hơn Nam phái bội phần. Em lại nghe Người ước rằng: Chớ chi có một Ðấng Nữ Tiên dám đảm đương đến phổ tế mới mong tận độ chư vong của Phong đô thoát kiếp.”

 

 

GIẢI TRÁI OAN

解 債 冤

Giải trái oan 解 債 冤 là cởi bỏ những món nợ oan khiên đã gây ra từ kiếp trước. mục đích làm cho sạch hết tội lỗi.

Kinh Giải Oan có câu

"May đăng gặp hồng ân chan rưới,
"Giải trái oan sạch tội tiền khiên."

 

 

GIẢI TRÍ

解 致

Đạo-sử của Bà Hương-Hiếu viết: “Trước thời kỳ Chức Sắc Hiệp-Thiên-Ðài được lịnh dùng Ðại-Ngọc-Cơ trong việc truyền giáo thì chỉ là một giai đoạn chơi giải trí của ba vị, cùng nhau kết bạn đồng tâm để vui thú cầm thi trong khi nhàn rỗi. Cuộc chơi giải trí đó là việc “Xây Bàn” và ba vị nói trên chính là các Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang (sau đắc phong là Thượng Phẩm, Hộ Pháp, Thượng Sanh).

 

 

GIẢI XONG XÁC TỤC

Kinh Tẫn Liệm có câu:

“Càn khôn bước Thánh thượng trình,
Giải xong xác tục mượn hình Chí-Tôn.”

 

 

GIẢI VÂY (GIẢI VI)

解 圍

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cương tỏa đương thời đã giải vây,
Ðừng mơ căn nghiệt một đời nầy.

 

 

GIÁM ĐẠO (Phẩm)

監 道
E: Juridical Inspector
F: Ia Juridicairenspecteur

Giám Đạo đối phẩm với Giáo-Sư Cửu Trùng Đài.

Hiến Pháp Hiệp-Thiên-Đài qui định phẩm Giám Ðạo có phận sự:

- Ðược đi thanh tra về mặt Luật Pháp trong các cơ quan Chánh Trị Ðạo từ trung ương đến địa phương khi có thượng lịnh.

- Ðược quyền thay mặt Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài -Giao tiếp với các Tôn Giáo khi có lịnh của Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, hay của Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài.

- Ðược quyền thay mặt Bộ Pháp Chánh bảo thủ Luật Pháp nơi các phiên Ðại Hội Hội-Thánh Cửu Trùng Ðài và Ðại Hội Hội Thánh Phước Thiện.

- Ðược cầm quyền Pháp Chánh một Trấn Ðạo khi có thượng lịnh.

- Có quyền điều tra lại các vụ án khiếu nại.

- Ðược quyền làm giảng viên các khóa huấn luyện Chức Sắc về mặt Luật Pháp khi có sự yêu cầu của Hội Thánh Cửu Trùng Ðài và khi có lịnh của Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài. Ðược làm Tổng Quản Văn Phòng cho chư vị Thời Quân.

Mặc dầu quyền hành và trách nhiệm của mỗi cấp bậc qui định như trên, tuy nhiên trong trường hợp thiếu Chức Sắc mà cấp dưới có khả năng, thì có thể được bổ dụng lãnh phận sự cấp trên với địa vị của mình đương có, tùy ý định của Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài.

Ðạo phục của Giám Ðạo có hai bộ: Ðại và Tiểu phục.

- Ðại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên Mạo, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình và hai chữ “GÍAM ÐẠO” bằng quốc tự.

 

 

GIÁM ĐẠO PHAN HỮU PHƯỚC (1908-1957)

Ông Phước sanh năm 1908 và mất năm 1957 hưởng thọ 48 tuổi. Quê ông tại làng Ngũ Lạc huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Ông là người thứ 3 trong gia đình 10 anh em, mà người thứ hai là Giáo Sư Hương Cau. Ông về Thánh Địa dạy học ở Đạo Đức Học Đường.

Khi Đức Hộ Pháp bị Pháp bắt bị đày Madagascar, ông cùng Truyền Trạng Nhơn phản đối nên bị đày Sơn La. Khi Đức Ngài hồi loan, ông được đặc cách phong Truyền Trạng, kế đó được bổ Pháp Chánh Miền Tây. Vì muốn kiểm soát tài chính của Quân đội Cao Đài nên đụng với Trung Tướng Nguyễn Thành Phương. Đức Hộ Pháp muốn dung hòa, nên phạt giáng cấp 1 phẩm là giảm cấp còn Sĩ Tải. Lối 6 tháng sau được phục chức Truyền Trạng lại và được bổ làm Trưởng Văn Phòng Bộ Pháp Chánh. Khi ông Phương lập Ban Thanh Trừng, ông lập “Đoàn Trung Kiên” dưới tay có Bảy Mẩu cùng nhiều anh em phản đối lại, nên bị quân đội bắt giam. Tánh ông cương nghị thẳng thắn, nên bề trên không mấy thích, nhưng phải nễ con người dám ăn dám nói, không sợ mất lòng. Nhân Lễ vía Đức Chí Tôn năm Đinh Dậu, 1957, ông làm Trưởng ban Tổ chức; vì cuộc lễ có tính chất chống chính quyền, nên ông bị bắt giam tại Nhàn Du khách sạn, rồi chuyển đến Sàigòn. Ông thổ huyết mà chết nơi khám đường, được chở về ngã Năm chôn cất tử tế. Đức Hộ Pháp nghĩ công trung thành, thăng ông lên chức Giám Đạo. Ông có giáng cơ đa tạ ơn Ngài và tâm sự cùng Chức Sắc lưu vong tại Kim Biên, sao y nguyên văn:

Phò Loan: Bảo Đạo, Sĩ Tải Bùi Quang Cao
Hầu đàn: Sĩ Tải Trân, Giao-hữu Hương Nhàn

Giám Đạo Phan Hữu Phước

...Em rất đỗi đội ơn của Đức Hộ Pháp thương tình mà phong, tăng thưởng cho Em, song em cảm thấy còn kém nên không mạnh dạn nhận lãnh trách nhiệm quá cao cả ấy.

Hai kép nhỏ Hiệp Thiên! Nhờ hai em thưa cùng Đức Ngài rằng: Qua chẳng buổi nào quên ân sâu ấy, dầu rằng phải thịt nát xương tan đi nữa. Nói thì nói vậy, chứ Qua chưa có gì xứng phận và đáng trách vụ của Qua. Chỉ vì giữ Đạo và bảo trọng danh tánh của Đạo nên buổi chung qui được nhẹ nhàng về Tiên cảnh do Thiên Tôn đưa rước. Hai em cũng biết rằng Qua nóng tánh vì thương nghiệp Đạo đã gầy dựng nên, do biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt, vì thương đó mà đôi khi Qua phạm thượng, song nhờ lượng từ bi của các Đấng Trọn Lành thấy Qua nóng vì nghiệp Đạo mà tha thứ ân giảm một phần nào rồi, và do đó mà được rảnh rỗi để chờ ngày tiếp lãnh phận sự đặng thêm công quả cho xứng đáng với phẩm vị đó.

Hai em! Sự hy sinh của Qua có thấm gì đâu, so với các bậc khác hiện đang được Đức Chí Tôn giành cho ngôi vị Thiêng Liêng cao cả hơn nữa. Qua rất mừng vì buổi chung qui Qua còn được ở nơi cửa Đạo. Qua không sợ sệt gì hơn là rủi trong một phút nóng giận nông nỗi, Qua có thể xóa bỏ mọi lương tri lương năng của Qua để rồi phải ân hận suốt cả đời nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Giờ đây nghĩ đến đó Qua vẫn giật mình mãi mãi.

Em Trân! Các em nhỏ Hiệp Thiên! Một phần lớn đi trên con đường gồ ghề, song có hy vọng tới mục tiêu mong ước. Còn lại thì giờ phút này hoang mang cả rồi. Tội nghiệp mang thi hài nhục thể, đâu thấy đặng sự nghiệp ngày mai nơi cõi vô hình.

Em Cao! Đừng thắc mắc gì các bạn đã chịu khổ hiện thời. Nếu các bạn ấy đủ nhẫn nại chịu đựng với hòan cảnh thì sẽ được địa vị xứng đáng một ngày gần đây. Thì dù sao cũng phải hao tổn chớ muốn hưởng trọn vẹn cả hai bên làm sao cho dễ được?

Cô Gíao Hữu Hương Nhàn! Đứng dậy mà! Tội nghiệp thân gái chịu lưu lạc vì do đâu? Cười...cô em gái ôi! Đừng bi lụy. Phước không chết cũng không nghèo, không túng nữa, nhàn lắm cô em à! Nhàn hơn cô nữa, nhàn đến nỗi đi chẳng chống ba ton nữa đó. Cô vui lên đi có gì đâu mà tự khổ. Đời vẫn vậy, mình cứ xem đời bằng cặp mắt khách quan là đã an phận rồi, chớ ai bảo mình nhìn đời bằng cách chủ quan cho nó thêm rắc rối phận mình.

Thưa Ông Sáu! Phước giờ đây nhẹ nhàng, không còn khổ cực như khi còn mang nặng thi phàm; trí óc của Phước đã hưởng nhiều sự tạo thêm âm chất cho xứng phận thôi, chớ việc Đạo thì ôi thôi không còn trông mong gì mà tạm gọi là giúp nữa. Sự ấy ngòai phạm vi của Phước. Nó quá cao trọng hơn tít mù so sánh với Phước đảm đương mà thôi. Phước chỉ biết chờ ai kia réo đến rồi mới có dịp phụ vào chia chút ít công quả. Ông Sáu cứ vui đi, việc làm có lúc vầy lúc khác, chứ không lẽ như lúc này mãi.

Em Cao! Nỗi thắc mắc của em thì anh không thể dám bàn đến. Anh đã nói rõ là anh còn dự vào một chút nào về đại nghiệp của Đạo.

Em Bạch! Anh cũng mừng cho chí hy sinh cao cả của em, đừng quá bi quan mà ơ-hờ với sự việc hiện thời.

Thôi nhờ Ông Sáu thưa lại với Đức Hộ Pháp rằng: “Em kính lạy Đức Ngài ba lạy để gọi là đền đáp chút ân sâu và chúc Đức Ngài khương kiện thể xác và đặng dồi dào sức khỏe để dìu đồ nghiệp Đạo.”

Thôi! em kính chúc Ông Sáu thành công rực rỡ. Em xin chào chung các bạn Hiệp Thiên. Nơi đây không quên ông Giám Đạo Báo Ân Đường. Em xin lui kẻo quá trễ giờ.”

Ông Phước nhập môn năm 1936, đến 1938 thì đỗ Luật Sự Hiệp Thiên Đài. Ông làm Giáo viên Đạo Đức Học Đường thời gian rất lâu, sau làm phận sự bảo vệ Luật pháp, cho đến khi Đức Hộ Pháp bị đồ lưu. Năm 1947 ông trở lại Đạo Đức Học Đường giúp ban quản trị, sọan bài vở cho Giáo viên dạy về văn chương, nhứt là Giáo Lý. Thời gian lối một năm, ông vào chiến khu của Quân Đội Quốc Gia Liên Minh để chống Pháp. Tánh ông công bình, cương trực. Có lần Quân đội mua chuộc ông bằng cách ban đêm để trước nhà ông một bao gạo và một bao thơ tiền. Sáng ông phát giác ra và đem tất cả vào Bộ Pháp Chánh trình tự sự với Ngài Khai Pháp, mặc dù lúc đó ông rất túng quẩn. Thà xin gạo của Hội Thánh ăn chớ không chịu hưởng của khuất lấp.

Đức Hộ Pháp từ Kim Biên gởi về Thánh Lịnh tổ chức ngày Đạo Hận 20-8 để cầu siêu cho những người trung thành bỏ mình vì cường quyền Ngô Đình Diệm. Những chức sắc cầm quyền do dự không muốn thi hành. Ông ra Hội có những lời cương quyết: “Quí ông khôn hơn Đức Hộ Pháp hay Đức Hộ Pháp khôn hơn mấy ông, trước khi ra Thánh Lịnh, Đức Ngài đã tiên đoán ảnh hưởng của nó, chúng ta chỉ biết thi hành lệnh, chứ không nên bàn về sự nên hay không nên thi hành”. Rốt cuộc Ngài Hiến Pháp chấp thuận triệt để thi hành Thánh Lịnh ấy.

Hay tin ông Phước lìa đời Quang Minh có bài thi điếu:

Kiếp sanh lẩn quẩn chốn lao tù
Để hiểu chơn hồn cõi Ngọc Hư.
Phản kháng bất công là phép chánh
San bằng bạo ngược ấy đường tu.
Tâm minh ai dễ đi làm ngốc
Mắt sáng đâu ai chịu phận mù.
Thương Đạo mến đời nên một thác,
Gương trong Thanh Sử vẫn còn lưu.

Về sự nghiệp văn chương ông có sáng tác nhiều bài thi, chúng tôi xin cống hiến một phần như sau:

VỀ ĐÔNG LÁ RỤNG

Sương mờ phủ trắng phau rừng trước
Giòng suối trong mặt nước long lanh.
Hoa mai đua nở trên cành,
Chồi ngô vừa nảy, non xanh bạc đầu.
Thương chiếc nhạn kêu sầu tiết lạnh
Nhìn lá vàng thêm chạnh lòng thương.
Nghìn xưa trải mấy phong sương,
Kiếp sanh chi khác bên tường hoa rơi.

Đường nhơn sự khóc cười lắm lúc
Nọ cỏ cây đổ lụy thay hồng.
Vãng lai xuân, hạ, thu, đông,
Giữ bền tiết tháo bá tòng kiên tâm.

Sương đọng cỏ như đầm giọt thảm,
Gió lay cành tợ cảm tình nồng.
Thương người lữ thứ sương phong,
Thương người giẫm bước long đong não nùng.

Thương những bậc anh hùng liệt sĩ
Trải gian lao vận bĩ đeo đai.
Gìn lòng thanh bạch như mai,
Trở cành lá rụng sương mai dãi dầu.

Bởi tiết lạnh non sầu đảnh trí,
Dưới lá vàng dế rĩ non than.
Tiết đông rồi cũng phai tàn,
Xuân về xuân có phụ phàng chi ai?

Mùa đông Canh Dần 1950
HUỆ TỈNH

KHAI LOAN TẠI NHÀ LUẬT SỰ HƯỞNG

Vui xuân cảnh trí ấy vui thiền
Hưởng đặng cao ân kiếp hữu duyên.
Đuốc huệ sáng soi lau nét tục
Bút Thần chan rưới bủa ân Thiên.
Đông qua vẫn nhớ lời son sắc
Xuân lại còn ghi lý diệu huyền.
Bước Đạo hẳn nhờ công giáo hóa,
Lòng thành kính gởi đến chư Tiên.

HUỆ TỈNH

ĐỨC CAO THƯỢNG PHẨM HỌA

Bến tục thuyền sen dựa đảnh thuyền,
Cỡi lưng hạc trắng hiệp vầy duyên.
Cửa Quỳnh trao nét kề oai Phật,
Động Bích lui chơn tiếp lịnh Thiên.
Bỉ Ngạn song đưa cơn bĩ cực
Cầu Ngân bờ rước lúc linh huyền
Khai Thần để bước lên Bồng Đảo,
Trỏ nẽo tay đưa gậy trúc Tiên.

KÍNH GỞI ĐỨC HỘ PHÁP

Dù ai cũng nặng nợ Quân vương
Cởi gánh thương yêu tách dậm đường.
Bể khổ xa chừng qua bước tục
Đường Tiên gấm ghé bận tình thương.
Non sông đang thiếu người lương đống
Đất nước còn trông cảnh thái bường.
Thần huệ gươm linh thân bảy thước
Ráng sao cho trọn Đạo cang thường.

6-1 Mậu Tý (1947)

TIỄN BẠN LÊN ĐƯỜNG HÀNH SỰ

Cuộc đời gió bụi có rồi không
Mây tỏa ven trời điểm cánh hồng.
Thân thế con người vui lẫn khổ
Kiếp sanh bóng thỏ ghét rồi thương.
Nhành dương gội mát khuây niềm tục,
Tình ái đượm nồng lắm đoạn trường.
Đã mở mang đầy lòng ái tích,
Giữ sao cho trọn Đạo luân thường.

Tòa Thánh ngày 6-1 Mậu Tý (1947)

CẢM HỨNG THI

Đường dài nào nệ bước gai chông,
Gắn bó lần dò đến cõi tòng.
Ngựa Ký ruổi dong, làn bụi cuốn
Hạc đồng thẳng cánh trận mây lồng.
Buổi đời lăn lóc miền nhơn sự
Một kiếp thìn lòng chốn cửa Không.
Lập đức trau tria lìa nghiệp trái,
Xong đời khổ hạnh, đến Non Bồng.

Thu 1937, viết tại Văn Phòng Nội Chánh

Năm 1943, ngồi trong Ngục đường Sơn La, nhớ quê hương cảm xúc, nhớ khi còn ở Thánh Địa và nhớ Đức Hộ Pháp ở Madagascar nên viết ra bài thi tứ tuyệt sau đây:

Bấm tay tính đã mấy thu rồi
Đau xót lòng ta nghĩa Chúa tôi
Mỏi mắt trông chờ ngày tái hiệp
Mây vàng mấy cụm dạ bồi hồi.

Tặng ông Trần Văn Quế Khâm Mạng Đạo Bắc Tông:

Chim hồng chấp cánh dặm trời không,
Để mắt xem qua khắp núi sông.
Cõi Bắc mệch-mờ màn khói lửa,
Trời Nam u-ám trận mây giông.
Đạo Trời khai mở nơi đường huệ
Đất Việt trùng hưng sạch bụi hồng.
Thiển bạc đôi vần xin kính gởi
Chúc Ngài bước Đạo đắc hanh thông.

Tòa Thánh ngày 21-10 Tân Mão (1951)
Đầu Phòng Bộ Pháp Chánh Truyền Trạng Phan Hữu Phước.

KHÓC THỪA SỬ PHẠM NGỌC TRẤN

Nhớ lại người xưa để vết thương
Bể trần lướt sóng cánh buồm trương.
Linh tâm một điểm gương kim cổ
Trần thế trăm năm kiếp hậu trường
Nghĩa dõng nêu danh trang tuấn kiệt,
Trung cang để tiếng bậc phi thường.
Gươm linh ngàn thuở còn uy khí
Khử ngụy, trừ gian, lọai bất tường.

Ngày 6-7 Nhâm Thìn (1952)
Huệ Tỉnh

THI GỞI KHIẾT LỰC Ở GIANG TÂN

Gió táp mưa sa đã khổ rồi
Tuồng đời cứ diễn mãi đi thôi
Phất trần thử hỏi tay ai nắm
Cứ để nhơn sanh khổ rối nùi.

Rối nùi linh cách nước non sầu
Nghĩ cũng vì quên lẽ đạo mầu
Gươm huệ sẵn kìa tay khéo nắm
Phúc Trời ban thưởng mặc ta thâu.

Ta thâu ta nắm ngọn Linh Phan
Dìu dẫn cùng nhau xuống cảnh nhàn
Đại Đạo huy hòang ngôi Thánh Vức
Hào quang rọi chiếu cụm mây tan.

Mây tan rỡ rỡ ánh hào quang
Chiếu diệu nhơn sanh rõ nẻo đàng
Cửa Phật êm đềm thanh thả đến
Đường trần rối rắm bộn bề mang.
Chuông Thần trổi giọng tan mùi tục,
Kệ Thánh đưa hơi thoát khổ nàn.
Tua khá noi theo chơn Đức Phật,
Cam Lồ đem rưới khắp nhân gian.

Tòa Thánh ngày 8-2 Nhâm Thìn
KIẾN TÂM Phan Hữu Phước.

Di bút của Giám Đạo Phan Hữu Phước:

Năm 1943 ngồi trong ngục trường Sơn La, nhớ quê hương xúc cảm, nhớ khi còn ở Thánh Địa và nhớ Đức Hộ Pháp ở bên Madagascar, nên viết ra bài thi tứ tuyệt sau đây:

Bấm tay tính đã mấy thu rồi,
Đau xót lòng ta nghĩa chúa tôi.
Mõi mắt trông chờ ngày tái hiệp,
Mây vàng mấy cụm dạ bồi hồi.

Huệ Tỉnh

THƠ GỞI ĐỨC HỘ PHÁP

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Năm thứ 23
Tòa Thánh Tây Ninh

Hiện giờ xin phép kính dâng lên Thầy mấy bài thi mà con làm trong khi buồn cảm, để gọi chút lòng kính mến và biết ơn, may ra Thầy bắt cười cho là kẻ thiển bạc của một tâm hồn đa cảm, đa sầu, nó kính dâng một tấc dạ trung thành, một tình thương đời thiết tha nồng nàn, chớ ngoài ra nó không có gì nữa để tỏ lòng của nó. Kính chúc Thầy muôn tuổi thọ.

Truyền Trạng Phan Hữu Phước
(ký tên và đóng dấu)

ẨM TỬU THẬP THỦ LIÊN HUỜN CẢM HỨNG THI

[Viết tại văn phòng Khâm Châu Đạo Trà Vinh ngày 4-2 Mậu Tý (1948)]

Cùng nhau nâng chén tẩy trần ai
Thử hỏi người đời ai tỉnh say?
Mắt Huệ biết xem đời mạt kiếp
Khuyên nên đứng dưới bóng Cao Đài.

Cao Đài giá ngự cõi Nam Bang
Độ kẻ chơn thành đến cảnh nhàn.
Lừa lọc người đời phân thiện ác,
Gây nền Thánh Đức ở nhơn gian.

Nhơn gian cõi tạm cảnh sầu vương,
Liếc mắt trông đời dạ xót thương.
Cửa Phạm thung dung không kẻ đến
Đường trần lắm lúc bước phong sương.

Phong sương tô điểm khách thương đời
Nặng nợ tang bồng, dễ thảnh thơi.
Chung rượu tỉnh trần nâng cạn chén,
Nhìn xem thế sự lắm đầy vơi.

Đầy vơi chung rượu buổi hôm nay
Quên cả trần gian cảnh đọa đày
Quên cả nỗi lòng sầu thế sự
Người đời không rượu thế mà say.

Say đi để nhắc buổi Trường đình,
Nâng chén san hà nặng chén tình
Một bước ngập ngừng trăm đọa thảm
Thành sầu lắc lở buổi hành trình.

Hành trình để trả nợ tang bồng
Giẫm bước giang hồ lắm não nồng.
Một quyết dời non hay lấp bể,
Sao cho rõ mặt phận Tiên Rồng.

Tiên Rồng một cảnh trấn Nam Thiên
Lỡ lối xa thơ thất mối giềng
Sông núi ngậm sầu chờ tao khách
Đưa tay Thánh đức đỡ thành nghiêng.

Thành nghiêng cỏ loáng Miếu đường xưa
Bát Nhã Thuyền Tiên chực đón đưa
Rước kẻ yêu đời xa bến khổ
Bao nài nắng sớm lại chiều mưa.

Chiều mưa quạnh quẽ cảnh hoàng hôn
Chiu chit đoàn chim trổi dập dồn.
Rừng bá đổ về cơn gió thảm
Rặng mai vỗ cánh tận Càn Khôn.

HUỆ TỈNH

VIẾNG CẦN THƠ CẢM TÁC

Cần Thơ tỉnh lớn tiếng Tây Đô
Bến nước tàu bè đậu nhấp nhô
Xe ngựa dập dìu đầy những chú
Phấn son lơ lẳng thiếu gì cô.
Dẫu xưa mỹ tục tìm không thấy,
Trò mới tinh ma nhẩy dật dờ.
Một quyết nương nhờ thanh Huệ Kiếm
Đọan trừ cho sạch những tham ô.

Cần Thơ ngày 11-2 Mậu Tý.

HÀNH ĐẠO CẢM TÁC THI

Đạo đời một gánh để trên vai
Đi trấn phương xa, cảnh trí nầy.
Trách vụ khó khăn nào phải dễ
Kinh luân mấy chút có chi tài.
Đất Trời chứng chiếu lòng son sắc,
Tiên Phật thương dùm dạ thảo ngay.
Một quyết trọn gìn nền Đạo trọng
Truân chuyên cam chịu có chi nài.

Huệ Tỉnh
Cần Thơ ngày 12-2 Mậu Tý
Phan Hữu Phước tự Minh Thiều.

HOÀI CẢM CẢNH MƯA ĐÊM

Trời hôm lả tả giọt mưa tuôn
Mờ mệch đèn khuya đượm vẻ buồn
Cảnh vật âu sầu ngây ngất nhớ,
Hơi cầm réo rắc ngẩn ngơ buông.
Hồn thơ Đỗ Phủ giao nghìn tứ
Giọng nước Tương Giang rẽ mấy nguồn.
Lai láng khung Trời tình ái khuất,
Giựt mình tai lắng mấy hồi chuông.

Đêm 16-6-Canh Dần, nhà ngụ ở Tòa Thánh.

HUỆ TỈNH HỌA THI ÔNG GIÁO HỮU NGỌC CHỨC THANH

Tự thuật cảnh trời chiều

Ác tà bóng nhợt cảnh buồn hiu
Khí nhiệt hơi còn nóng tợ thiêu.
Ve hạ mỏi mòn sầu cố sự,
Lá ngô lả tả não kim triều.
Gió vàng thanh thoảng, thi nghìn tứ
Trăng bạc long lanh, bóng một chiều.
Cửa Thánh non Thần chi để bận
Đường trần vẫn hẳn lắm nghê khiêu.

Đêm khuya vắng vẻ não nuột canh trường

Chong ngọn đèn khuya cảnh lặng tờ,
Chạnh niềm thế sự dạ nào ngơ.
Trà bôi thắm giọng say mùi Đạo,
Cầm nguyệt so dây thoảng tiếng tơ.
Gợi nhớ nguyên căn nơi cõi tịnh
Khêu sầu hiện kiếp nẻo trần dơ
Một lòng ước nguyện chầu Kim Khuyết
Chi ngại vầng trăng lúc tỏ mờ.

Viết tại Tòa Thánh Tây Ninh ngày đầu thu

Phan Hữu Phước.

HỌA THI CỦA BÁT NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

5-8 Canh Dần (1950)

Bài Xướng:

Mặt nước long lanh rọi bóng thuyền,
Ánh trăng lố dạng bóng nghiêng nghiêng
Buông cần trúc ngấm theo dòng nước
Hứng gió thu đưa khép mọi miền
Sông Vỵ Kình Ngư khi có nhớ,
Lưỡi câu Khương Tử sử còn biên.
Nào ai muốn biết trần gian sự
Trông mấy đường câu cũng rõ liền.

Bài Họa:

Mênh mang mặt nước đỡ con thuyền,
Lượn sóng lô nhô mặt ngửa nghiêng
Gió lướt đầu gành chim dấu bóng,
Trăng soi đáy nước cá về miền.
Buông cần những tưởng bờ sông Vỵ,
Cập bến buồn trông chốn hải biên.
Lẳng lặng nhìn trời xanh nước biếc,
Vầng mây lơ lửng thoáng qua liền.

HUỆ TỈNH

Trước khi lìa đời lối 2 tháng Ông Phước có viết tại khám đường tức Trung Tâm Cải Huấn Thủ Đức một bài thi như vầy:

“Thân tặng anh em”

Tôi biết anh em đã khổ nhiều
Xuân đường khi đã bóng về chiều
Mây tầng tựa cửa trông thăm thẳm
Vợ yếu con thơ phận hẩm hiu.

Tôi biết anh em đã khổ đau!
Nhưng lòng thiết thạch chẳng hề nao.
Bá tòng chi nại cơn sương tuyết,
Cành lá xanh xanh vẫn một màu.

Tôi biết anh em lắm bận lo!
Quyết sao cho trọn nghĩa Thầy Trò,
Tao phùng ngày ấy gần rồi đấy
Kim Bản đề danh nghĩ xứng cho.

Tôi biết anh em lắm bận lòng!
Lo sao đại nghiệp phải thành công
Hòa Bình Chung Sống nên đường lối
Thống nhứt non sông cứu giống dòng.

Tôi biết anh em đã khổ đau!
Nhưng xem thường cảnh sống tù lao.
Vì Thầy, vì Đạo vì dân tộc!
Đạo đức đề cao dựng Việt trào.

Nhận thấy anh em khổ lắm đường!
Thành tâm chia sớt nỗi đau thương.
Vui đi để kính Thầy ta đó!
Giữ vẹn tình trung, vẹn Đạo thường.

Trung Tâm Cải Huấn Thủ Đức
10-3- 1957 (11-3 Đinh Dậu) Phan Hữu Phước

 

 

GIÁM ĐẠO NGUYỄN HUỢT HẢI

(Qui ngày 26-2 Canh Dần 1950)

Ông Hải là một vị Cai Tổng ở tỉnh Preyvay Cao Miên, giàu có, ruộng đất cò bay thẳng cánh. Nhưng khi gặp Đạo phế cả sự nghiệp, chỉ xách một cái giỏ mây đựng vài bộ đồ cũ đi về Tòa Thánh để hành Đạo. Ông nhập môn với ông Lễ Sanh Thượng Biện Thanh ở Nam Vang, nhơn khi Đức Hộ Pháp đi Nam Vang ông được ông Biện giới thiệu với Đức Ngài và được phong chức Sĩ Tãi. Năm 1945 ông về Tòa Thánh hành Đạo, hợp với ông Giáo Sư Thái Khí Thanh chống chỏi với Pháp. Ông bị ông Nguyễn Văn Thành bắt vào rừng vì nghi rằng ông theo Tây. Khi nghe tin Đức Hộ Pháp hồi loan, ông băng rừng trở về Tòa Thánh. Ông có làm hai bài thi sau đây dâng Đức Ngài để tỏ lòng trung nghĩa:

Đường Tiên mở lối dễ gì đâu?
Thế giới mênh mông ngát một bầu
Tiếp đẩy Xa thơ qua khúc quẹo,
Phụ chèo Bát Nhã đến sông sâu
Lo đời đủ phận khi xanh tóc
Dìu chúng may duyên lúc bạc đầu.
Ân huệ chờ khi cơn rưới giọt
Thỏa lòng cất bút vịnh đôi câu.

Người bị tù lao kẻ bị đày,
Thầy trò đâu tưởng gặp hôm nay
Tỏ lòng chúc tụng lòng thêm cảm
Bưng chén rượu nồng dạ đã say.
Mượn cửa Từ Bi dìu chủng tộc,
Nương câu Công Lý đỡ Cao Đài.
Âm thầm mãi tiến trên đường Đạo
Mặc khách hùng anh múa trổ tài.

(Nam Dương)

Khi Hội Thánh Ngoại Giáo được tái lập 1947, ông được bổ Pháp Chánh Kim-Biên Tông Đạo với Thừa Sử Huỳnh Hữu Lợi cầm luật pháp xứ Chùa Tháp. Hành sự được vài năm có sự phản khắc Đạo quyền của Đốc Phủ Trần Văn Tấn, Khâm mạng Đạo Tần Quốc, nên ông buồn trở về Châu Đốc an dưỡng. Nhưng vì có tài làm đơn bằng Pháp văn để lãnh những Đạo Hữu bị Pháp tình nghi Việt Minh nên quân đội Pháp ở Châu Đốc yêu cầu ông làm việc với họ. Ông từ chối và trở về Tòa Thánh xin tái thủ phận sự nơi phòng thẩm vấn Bộ Pháp Chánh.

Theo sự tường thuật từ người bạn đời của ông thì gần Tết ông về thăm nhà, vừa để vali xuống là khóc liền: Bà ơi! tôi được bà Bát Nương cho một bài thi hay quá, rồi đọc lên:

Biển rộng thuyền lan khá bớt lèo
Thênh thang mặt nước thuận lòng theo
Tay Tiên nhe nhẽ nương chiều lái
Gần đến Đào Nguyên nhặt mái chèo.

(Bát Nương Diêu-Trì-Cung)

Có lẽ ông nghĩ gần đến Đào Nguyên là gần ngày thành Đạo, nên ông vui mừng khoe với vợ, nào dè đâu là ngày gần về với Phật Mẫu dự Hội Bàn Đào, tức là gần ngày thóat xác. Ông mất ngày 20-12-Canh Dần (1950) chôn tại đất Thánh-Tây Châu Đốc, có làm mã đá tử tế. Sau này chính quyền giải tỏa khu đó, chư đồng Đạo mới chung nhau di dời ông về núi Sam.

Thi của ông không nhiều lắm nhưng trọng về phẩm; chúng tôi có chép được tập thi ngoài bìa có 4 câu như vầy:

Con Truyện,

Gia tài Ba để lại cho con!
Chẳng phải lầu đài, cửa phết son
Chẳng phải bạc vàng hay cửa ruộng,
Cho con những món chẳng hay mòn.

Tòa Thánh ngày 14-9-Kỷ Sửu (4 Novembre 1949)
(Nam Dương)

Bài thơ sau làm lúc Đức Hộ Pháp bị đồ lưu nơi hải ngoại Phi Châu

1- Madagascar.

Tiếng trống phu canh đã điểm ba,
Một mình thơ thẩn dưới trăng tà
Nghe quyên như nhắc niềm non nước
Thấy cảnh thêm phiền chuyện quốc gia.
Nhớ bạn đưa tình theo gió thoảng
Thương Thầy mắt ngóng đám mây xa
Trời Phi đất Việt bao nhiêu dặm?
Biết cậy ai mà tỏ dạ ta.?

(Nam Dương.)

2- Vịnh Ông Câu

Dòng là vui thú một cần câu
Lấy bóng thuyền lan thế bóng tàu.
Bầu rượu vài chung cơn vịnh vắn
Câu hò thiên cổ khúc sông sâu.
Khi ngồi nghiêng ngửa xem trăng mọc,
Lúc dựa mơ màng ngắm gió thu
Trời đất riêng gìn làm của báu.
Ngoài tai ghét hết chuyện Công hầu.

(Nam Dương)

3- Vịnh ông Tiều

Cơm tẻ ngày hai khỏi đói lòng
Màng chi chức Bá với quyền Công
Sớm mang búa đến ruồng rừng rậm
Trưa gánh củi về bán xóm đông
Mệt dựa cội tòng xem đỉnh núi
Khỏe leo bàn thạch ngó vòng mong
Mặc người thế sự lo chen lấn
Dẫu chẳng sang giàu cũng gọi ông.

(Nam Dương)

4- Vịnh Người Mù nói thơ

Càn Khôn để bước gậy tay dò
Gác hết sự đời chẳng nhọc lo
No dạ tháng ngày cơm bá tánh
Đầy lòng kim cổ sách trăm pho
Đầu làng mò lối đường đôi dặm
Góc chợ nghỉ an chiếu một mo.
Thế cuộc vui gì đưa mắt ngó?
Thà cam ọ-ẹ với cây cò.!

(Nam Dương)

5-Vịnh Trời mưa

Giọt mưa tầm tã cả ngày trường
Khí lạnh ngoài trời ép khí dương
Trước ngõ bôn ba chơn lữ thứ
Ngoài phòng inh-ỏi giọng oan-ương.
Trên đường lẻ-tẻ vài phu kéo
Góc chợ chòm-nhom ít khách thương
Tiếng sấm gọi hồn dân đất Việt
Làm cho tỉnh thức giấc Huỳnh lương.

(Nam Dương)

9- Mừng Cô Sáu Cúc được thăng Hành Thiện

Nhờ gió đưa tin chuyện đáng mừng
Đường Tiên bóng ngọc vẹn đưa chưn
Phước điều Cổ Phật thăng Hành Thiện
Khổ nạn bần dân sẽ chấn hưng
Hồng Cúc xa giao hương vị đượm
Hải Đường cận giạo nhụy thêm bưng
Đông qua Thu lại bao nhiêu bận?
Lắm lúc tưởng ai mắt ngó chừng.

(Nam Dương)

10- Nằm mộng thấy về Diêu Trì Cung thăm Bạn cũ

Tỉnh giấc còn mơ buổi mộng trường
Đào Nguyên lạc lối gặp Tiên Nương
Mặt hoa phơi phới gương còn kém
Mày liễu thanh thanh tuyết cũng nhường
Trong trướng ngẩn ngơ khi hiệp mặt
Ngoài hiên khắn khít lúc thừa lương
Xuân xanh hai tám người bô vải
Dường lạ dường quen khách để thương.

(Nam Dương)

11- Khi bị Ông Thành bắt vào rừng chở bằng xe trâu

Xe trâu khập khểnh nhắm Nam tiền
Ngoảnh lại Điện Sơn mắt láu liên
Thân phận chưa hay còn hoặc mất
Tâm hồn luôn nhớ nợ cùng duyên
Thương sanh đâu tưởng mình chịu họa
Ái chúng nào ngờ phải thọ khiên
Cơ Tạo trớ trêu đâu hiểu thấu
Khó dò nẻo Phật với đường Tiên.

(Nam Dương)

12- Khi ở rừng Bù Lu:

Ôm thân vì nước giữa rừng xanh
Dân khổ không phai tấc dạ thành
Quần áo biết bao loài chí rận,
Tay chân đầy dẫy ghẻ hôi tanh
Thức ăn: cơm muối ngày ba bữa
Chỗ ngủ: phong sương đệm một manh
Đời sống khác chi người thượng cổ,
Cũng vì lẽ Đạo chịu hy sinh.!

(Nam Dương)

13- Thỉnh Giáo Đức Quyền Giáo Tông;

Anh Cả cho em hỏi ít lời:
Lòng em hành Đạo chẳng hề lơi.
Làm lành lánh dữ không gian trá,
Thọ khổ sao em khổ suốt đời?

(Nam Dương)

Đức Quyền Giáo Tông giáng cơ trả lời:

Có khổ mới nên kiếp Đạo người
Gương trông soi mặt kẻ thanh tươi
Sổ vàng ghi chép khi duyên mãn,
Ngàn thuở lưu tên mãi với đời.

(Thượng Trung Nhựt)

Ông Thành bắt ông Hải vào Bù Lu là cố ý muốn giết vì cho rằng ông Hải theo Tây. Ông Thoại muốn cứu bậc nhân tài nên đề nghị Đại Tá Tô Văn Bá đến năn nỉ ông Thành cho ông lãnh ông Hải về Trung lập. Ông Thành buộc ông Bá phải bảo lãnh nếu ông Hải trốn ông Bá phải thế tội. Ông Bá đồng ý mới dẫn ông Hải về Trung lập, bồi dưỡng sức khỏe lại, lại được khỏe trí ở chung với hạng trí thức luận việc nên hư của đời của Đạo, lại được Phò Cơ với ông Thoại để học hỏi bí mật của các Đấng, những bí mật huyền linh.

Có một giai thoại khó quên là Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ bằng Pháp văn dạy thời cuộc. Ông Thọai nghi là ông Hải viết, ông Hải thanh minh cách mấy cũng không được. Khi tái cầu Bát Nương giáng, ông Thọai rị Cơ thử, (rị là níu trở lại) bị phạt treo hỏng giò lối 5 tấc. Ông Hải đứng lên giơ tay thẳng, cầm một phía giò của ông Thoại bị treo tòn ten trên cây Cơ, bước ra không được.

Hầu Đàn có ông Lý Văn Vinh, Tổng Tư Lịnh Đệ Tứ Sư Đoàn cùng tùy tùng đều quì lạy và tin huyền diệu của Thiêng Liêng. Một hồi Cơ viết lại dạy rằng: Đức Hộ Pháp sắp về nước (lúc ấy Ngài bị đày ở Madagascar) xin nhắn mấy lời:

1. Pháp không tốt gì cho Ngài về là tá nhơn chi thủ.
2. Đám quân đội ỷ đông khi lịnh.
3. Kháng chiến lên án.
4. Quốc gia lên án.

Nhưng kháng sao, các em sẽ thấy tài của Đức Hộ Pháp

…Nhờ có ông Hải vào rừng mà trụ vững được đức tin của các chiến sĩ Đạo và biết được Thánh Chúa sẽ hồi loan, Thầy trò sẽ gặp hội rồng mây, mặc sức trổ tài thao lược. Còn đời họ hiểu được cái hay của mình, ngòai trí khôn ngoan cá nhân, còn một sự giúp đỡ về mặt vô hình, đoán được việc sẽ tới để tiên thủ vi cường. Ông Hải có họa bài thi vận cò của Bát Nương như vầy:

Cuộc thế bôn chôn lắm tướng trò
Hai bên tài mạng lắm so đo
Mắt mong thượng đảnh hùm xa hố
Cẳng bước đường quanh điểu vướng giò
Lớn bụng vì ưa bơ vị béo
Tỏ bày nhớ nhậu rượu hồng nho
Cân đai tử tước đâu là quí
Theo mãi chồn chân ắt phải cò.

(Nam Dương)

Huỳnh Văn Hưởng Ai điếu ông Thừa Sử Nguyễn Huợt Hải Tháng giêng năm Tân Mão:

Nhẹ gót đài mây rũ bụi trần
Hạc về cung cũ bước êm chân
Vui sen Tây vức lìa oan trái,
Xủ áo phồn hoa rảnh nợ nần.
Cõi thọ say sưa chung rượu Thánh
Đàn cơ quạnh quẽ bóng thi nhân
Hồn linh phảng phất hơi hương tỏa
Gặp gỡ may trong ngọn bút Thần.

.Nguyễn Huợt Hải giáng Cơ:

Phò Loan: Truyền Trạng Phước, Luật Sự Nhung.Mùng 8 tháng Giêng Tân Mão (1951)

Nguyễn Huợt Hải

Ha! Ha! Bonjour mes chers!

De bonne matinée au bon printemps des nouvelles du Thiên Đình vous paraissent pleines de joies, n’est-ce pas? (*)

Moi về trển coi mòi vui hơn hôm còn ở dưới này đó!

Mấy toi có lòng buồn vì chẳng được chung buồn với gia quyến moi. Vậy bây giờ đừng buồn nữa nghe! Đó là phân định trấn cửa nơi Châu Đốc, để giữ gìn chơn pháp nơi đó chớ chẳng có chi lạ. Moi đã tìm đường nâng đỡ cho mấy toi, thì may quá, đã được Đức Chí Tôn phê chuẩn.

Eh! cher Khỏe ráng lên nghe!

Thôi để bữa khác nói chuyện nhiều và ngâm thi…Au Revoir.

(*) Tạm dịch: Ha ha (cười). Chào các bạn! Những tin từ Thiên Đình, trong buổi sáng đẹp trời mùa Xuân mang đến tràn ngập niềm vui cho các bạn phải không?

- Toi (Mày), Moi (Tao): cách nói “Mày Tao” thân mật của Tây.

 

Phò Loan: Thừa Sử Hội, Luật Sự Nhung.

Nguyễn Huợt Hải

Bonsoir Mes Frères (Chào các Bạn). Cười……

Moi đã được lịnh của Đức Cao Thượng Phẩm giữ gìn mấy toi, chẳng cho tà pháp đến quấy rối, vậy mấy toi có chịu không?
-Thừa Sử Hội bạch…

- Cười …. C’est certainement. (Dĩ nhiên). Cười….

Moi vẫn biết như vậy, nhưng moi thử chơi, chứ thằng mù được gậy sao mà chẳng khoái chớ, ha! ha!.....

Em Trường, moi cám ơn đó. Mặc dầu em không thể tiếp xúc với gia đình của Qua, nhưng những ân hận của em cũng đủ để cho Qua thông cảm đó.

Eh! Hội-Alors, ne ralentis pas mon cher, j’ai vu ton devoir divin, lien notre Thượng Phẩm le félicite. (Ê, Hội. Vậy thì đừng chần-chờ nghe bạn, tôi thấy phận sự thiêng liêng của bạn rồi, hãy tuân theo sự khuyến khích của Đức Thượng Phẩm chúng ta). Thôi để “toi” nào có chút chi thì đem bày ra coi thử.

-Thừa Sử Hội đọc bài thi điếu…..

- “Toi” muốn chơi “moi” sao chớ?

Họa

Hiệp Thiên nhớ lúc trí tâm chuyên
Nay được an nơi chửa phỉ nguyền.
Pháp Chánh thiếu người ai đỡ đức
Trùng Thiên lắm Đấng khổ nâng hiên?
Hội chàng lại chẳng đành quên thú,
Phước Lão càng thêm sợ mất yên
Thiên vị nhơn sanh còn lỏng lẻo
Hư Vô luống thảm nhắc trì huyên.

- Còn nữa không?

- Luật Sự Hưởng đọc bài thi điếu của Luật Sự Nhung.

- Ha, Ha! cũng muốn chơi nữa.

Họa

Lắc lẻo làm gì hỡi Bạn ôi?
Kiếp sanh chẳng toại có đâu thôi!
Nghiệp đời chẳng phỉ lòng toan hết
Bóng Đạo chi phi chí quyết rồi
Tuyết phủ non sông kìa một gánh
Sương pha nhơn thế nạ bao nồi
Vì chưng hết nợ nên về đó,
Nhưng mắt nhìn đời trí vẫn sôi.!

- Nữa! Thừa Sử Hội bạch xin hoãn lại khi khác

- Oh! các em cứ vui, vì cơ đời sẽ biến chuyển thì cơ Đạo cũng sắp đổi thay. Mấy em cũng được bớt gánh đôi chút, miễn mấy em làm tròn phận sự là đủ. Việc gia đình không có chi đáng nói. A, có thằng con nuôi “moi” nơi Văn Phòng Ngoại Giáo, nhờ mấy “toi” khuyên nhủ dùm kẻo tội nghiệp nó.

Thôi xin kiếu, đã đến giờ rồi rán đi mau đi. Thăng.!

 

Phò Loan: Báo Ân Từ, 2giờ sáng 18-01-Tân Mão (1951)
Thừa Sử Hội, Luật Sự Nhung

Giám Đạo Nguyễn Huợt Hải

Xin chào các bạn nam nữ. Nhờ quí bạn chuyển lời tôi kính mừng Thập Nhị Thời Quân. Đặc ân truy thăng mà Đức Hộ Pháp đã ban cho, khiến cho cõi Hư Linh tôi rất thậm cảm, chỉ biết đê đầu hướng bái Ngài mà thôi. Còn cuộc Lễ hôm nay rất long trọng, tôi xin quí bạn chuyển lời cảm ơn tất cả. Công khó nhọc của bạn trao, tôi xin đội ơn. Từ hôm vắng bóng, tôi được lệnh của Ngọc Hư Cung cho theo giúp mấy bạn thêm vững tinh thần hầu trấn tỉnh nỗi cơ lọc lừa trong những ngày sắp đến.

Mấy bạn Hiệp Thiên ngày 22 lập đàn riêng, tôi có việc muốn nói…Có Đức Cao Thượng Phẩm đến, xin kiếu lỗi mấy bạn hết thảy. Thăng

Tái Cầu 2h20:

Cao Thượng Phẩm

Bần Đạo chào các em nam nữ. Cuộc lễ truy thăng cho vị Giám Đạo Nguyễn Huợt Hải vừa rồi, Bần Đạo rất hài lòng. Xin nhắc lời Ngài Bảo Thế, Khai Pháp, Khai Đạo, Tiếp Pháp và Tiếp Đạo. Nêu gương người xưa, Bần Đạo xin các em tất cả phải đặt trọn đức tin nơi cửa Từ Bi, thì rồi đây sự ứng chuyển các em sẽ thấy nó hữu dụng dường bao. Đời đã đến lúc thay cũ đổi mới, khiến cho nhơn sanh phải trải qua một cuộc khảo duợt dữ dội, Đạo sẽ nhìn thấy một cuộc biến chuyển lớn lao mà tự mình các em phải ra tay gánh lấy. Nhưng thử hỏi Đạo đức hiền lương chưa vững, tinh thần chưa được tinh khiết thì làm sao chống vững cơ trào. Kể từ nay các em khá chuyên tâm mà tu chỉnh cho lắm mới xứng vị trong cơn lọc lừa đó nghe!

Thôi Bần Đạo xin kiếu.

 

Phò loan: Thừa Sử Hội, Luật Sự Nhung 22-1-Tân Mão (1951)

Giám Đạo Nguyễn Huợt Hải

Xin chào quí bạn. Tôi có được một tin quan trọng cho quí bạn, nhưng hôm 18 rồi nói ra bất tiện nên lại để đêm nay.

Nơi Ngọc Hư Cung đã quyết định lập đủ oai quyền cho quí bạn hầu nắm giữ chơn truyền trong cơn biến chuyển sắp đến mà chính tôi phải chịu phần đảm đương. Có một điều rất hay là từ đây chư vị Thời Quân đã hiểu ra chân giá trị của Chức Sắc tiểu cấp Hiệp Thiên Đài là dường bao. Điều ấy chính tôi đã giúp cho quí bạn. Nói về địa phương, từ đây chẳng còn sợ điều khó dễ như trước nữa. Quí bạn sẽ thưởng thức được nhiều điều hay trong hành trình sắp tới. Sau thời gian Đức Hộ Pháp nhập Trí Huệ Cung, quí bạn sẽ được hưởng trọn Thiên ân….

Cher Trường, toi về dưới nhà moi thì nói moi đã được nhẹ nhàng thân thể. Biểu ma femme vui chứ. Chứ khóc chẳng ích chi. Việc nhà thì cứ tính theo như trước, rất cám ơn đó.

Quí bạn thưa với Ngài Khai Đạo rằng sự thật quả y như vậy, vì cùng chung máu mủ lúc trước. Ngài Khai Đạo là Anh cả, đến ông Phối Sư Khí, đến tôi, đến ông Lợi, còn cô Nhâm là em út. Tiền kiếp đã tạo nên Phật Vị, song vì ông Lợi và bà Nhâm còn bị mắc thệ cùng nhau nên kiếp này tái sanh làm vợ chồng.

- Trân bạch: Phải người Việt không?

- Không, kiếp trước của chúng tôi là người Ấn Độ……

Đó là do sự thay đổi hình xác, thọ bẩm khí Hậu Thiên của cha mẹ hữu hình nên Phật tánh đã bị lu mờ đi, chỉ có linh tâm đôi khi còn nhớ chút ít thôi. Quí bạn cũng đều có nguyên căn rực rỡ, nhưng chẳng dám lộ Thiên Cơ.

Bạn Hưởng, Khỏe, Du chúng ta là học trò của Đức

Nhàn Âm. Tôi xin nói cho quí bạn được rõ, ở trong mỗi Cung, mỗi Động đều có đủ các đẳng Chơn Linh đến học hỏi, chỉ trừ chư Tiên Trưởng là nhất định mà thôi.

- Thừa Sử Hội bạch…..

- Học trò Nhàn Âm Động là: Hưởng, Khỏe, Du, Thêm tức Chương.

Bạch Vân Động: Thừa Sử Hội, Trân, Nhung, Vân, Khen, Trường, Đôi.

Hiệp Thiên Đài Hóa: Tô, Hội (Luật Sự), Đúng, Cẫm. Còn Tiếp ở Lôi Âm Tự, Tỷ là đồng tử Bạch Vân.

Ở Phổ Hiền Cung: Giảm, Nguyên, Nên, Tú, Tất, Ngời. Bạn Phước nhờ bạn vui nhắc Ngời với nghe.

Khoe là nhơn viên của Cửu Nương.

Các Cung các Động là nơi thâu học trò. Mỗi lần họ tái kiếp để lập công, nhưng tùy phận sự mà chia ra.

Thừa Sử Phước bạch: Do nơi Tiên Trưởng chia?

- Chư vị Tiên Trưởng chia ra tùy theo sự lập vị của mỗi chơn linh. Xin kiếu.

Tái Cầu: Phò Loan : Nhung, Nguyên

Lúc nãy Ngài Khai-Đạo trông tin trả lời mà mấy toi không nói dùm luôn đây, moi nói cho hết chuyện, vì lúc nãy Nhung mệt nên yếu thần, mất điển. Còn sót Thơ và Cao là chơn linh ở Huyền Không Động, Phước ở Bạch Vân Động. Mấy toi thấy toàn là những chơn linh theo lãnh trọng trách, vì cớ nên ở vào Đài Hiệp Thiên đây làm bộ máy giữ gìn chơn truyền của Đức Chí Tôn, đặng cho nhơn sanh được trọn đường đi trên bước Đạo. Nhiệm vụ ấy coi nên trọng thể. Vì thế nếu tròn phận sự là đắc vị liền, còn đi sái ngã là bị trọng tội. Ở nơi cảnh vô hình, những gương phản chiếu hành vi của tụi mình rõ hơn hết. Nếu biết rằng trong mỗi thời Cúng, cổ pháp mà chúng mình đeo trên Nê-huờn-cung nó tố giác hay xưng công của mình. Vậy nên mỗi hành động đều ghi liền tại Bát Quái Đài, xin mấy toi rằng làm cho rỡ danh mới khỏi thẹn.

Còn việc Ngài Khai Đạo hỏi thì tên của ông Khí và của moi ổng đã biết. Tên của ông Lợi là Brahma Hitch nhơn vào lúc năm 752, đệ tử của dòng Brahma Darwa. Trong kiến họ tại đây không còn ai nữa. Nhung định thần chút nữa để họa thi.

Cảnh tục tay chia luống nhớ rầu
Tình huynh nghĩa đệ mấy trăng thâu.
Đêm khuya nhìn ngọn hoa đăng cạn
Trống nhặt nhớ hình nhạn bút sâu
Một thuở tương rau nên hiệp mặt.
Đôi khi muối tuyết đã chung đầu
Hữu vô hai ngã đành ly biệt
Đệ trở Thiên Cung bởi lịnh chầu.

Nam Dương.

Bài xướng của Ngài Khai Đạo:

Hiền đệ qui Thiên để mối sầu
Tiền căn dan-díu khóc canh thâu
Nhớ lời mấy lúc cùng vui hứng
Nhắn gọi bao lần chỗ thảm sầu
Khuất bóng thông truyền vì cảnh giới
Xót xa tiếng luận phải đương đầu
Lòng ai đoái tưởng xin phò hộ
Giám Đạo họa cùng mấy giọt châu.

Ngày 13-8-Kỷ Sửu (1949) ông Nguyễn An Ninh cho thi:

Than thản trong veo tiếng hạc cầm,
Đêm thanh ngồi hứng giọng cao ngâm
Ngàn sương sắc điểm màu non bạc
Lằn giới hơi đưa khúc nhạc trần
Cheo chéo cụm tòng oanh giỡn bạn
Líu lo rừng trước điểu hòa âm
Mãi vui cảnh vật quên trưa trệt
Nương mái huyền cơ tháo ruột tầm.

Ông Phước họa:

Văng vẳng tai nghe tiếng nguyệt cầm
Đêm khuya rượu nhấm với thi ngâm
Đường Tiên hạc trổi hơi cao thấp
Cửa Phật chuông ngân tiếng bổng trầm
Bước tục dẫm qua làn các bụi
Non Thần tưởng lại bạn thinh âm
Nhớ ai đã trải nhiều mưa gió
Những muốn nương mây để bước tầm.

Ông Hải họa:

Vườn trước gió lay trổi khúc cầm
Bên khe rỏn-rẻn giống ai ngâm
Đầu non mái đỡ vầng trăng mọc
Mặt nước sóng chan bóng áo trầm
Huyền hạc đằng phong trương thẳng cánh
Huỳnh oanh hối tổ chẳng ngôi âm
Tình kia cảnh nọ lòng lai láng
Ngảnh bước đừng qua để trí tầm.

Ông Hải có làm bài tặng cụ Nguyễn An Ninh:

Người mất tiếng còn để lại xa
Mùi hương ái quốc thắng mùi hoa
Mang tài tám đấu nưng Thành Lỗ
Quyết chí năm xe lắp Ải Hà.
Chương phủ mình thay đồ giả phục
Sanh nhai tay xách túi cù là
Côn Lôn mấy độ nên hồn Thánh
Danh Nguyễn An Ninh mãi chẳng già.

Luận về tài năng ông Hải là bậc phi thường.

Khi ở Kim Biên Chức Sắc luân phiên thuyết Đạo. Có những người Đường Nhơn kêu nài rằng: Mấy ông nói tiếng Việt chúng tôi không hiểu gì hết. Ông đứng lên nói tiếng Quảng Đông cho họ nghe. Một số thỏa mãn còn một số người Triều Châu nói: chúng tôi không nghe tiếng Quảng được. Ông lại đứng lên nói tiếng Triều Châu giải thích Đạo lý, làm cho họ phục thêm nữa. Còn tiếng Miên chẳng những ông biết nói rành rẽ mà còn biết đọc, biết viết những chữ ngoằn ngoèo của họ nữa. Có lần ban vệ sinh đến Thánh Địa Hiệp Thiên làm biên bản phạt vì Đạo cất nhà không xin phép. Ban đầu ông nói tiếng Pháp với họ, họ nhứt định phạt, ông châm tiếng Miên với họ đại ý nói xứ Miên là xứ Phật, chúng tôi ở Việt Nam bị giặc giã phải tản cư lên xứ Phật để tá túc. Đáng lẽ nhà nước phải cất nhà cho chúng tôi trú ngụ mới đúng với lòng từ bi của Đức Phật dạy. Nay chúng tôi tự cất lấy mà mấy ông phạt thì không đúng với lòng thương bác ái của Phật rồi. Họ gật đầu khen phải rồi ôm cập ra về. Khi mới đến Nam Vang, chúng tôi phải lên sở biên phòng Đông Dương làm thủ tục nhập cảnh. Bước đầu ông Thừa Sử Lợi dẫn đi. Bữa sau ông Hải dẫn đi lối 20 người. Có một công an nói: “Mấy ông đi đâu đông quá vậy; bộ Cao Đài muốn làm giặc hay sao mà lên rần rần vậy?”

Ông Hải không trả lời, đi vào phòng trong thưa với Chánh mật thám người Pháp rằng: “Nhơn viên ông vô lễ quá, chúng chỉ làm phận sự của chúng thôi, không được mỉa mai chúng tôi”. Ông sếp Tây buộc người công an phải xin lỗi ông Hải mọi việc mới êm thắm. Khi ông về Châu Đốc có cứu được ông Chánh Trị Sự Dược nhờ biết nhiều ngoại ngữ. Ông Dược về thăm nhà ở kinh Sáng bị trong vòng bố ráp. Tây bắt về đem ra trước thành, cột vào trụ bịt mắt, có lính Miên giằn súng định bắn vì cho là Việt Minh. Có người cho ông Hải hay. Ông chạy xuống xin ông quan Ba Pháp cho ông bảo lãnh. Ông quan Ba đổ thừa cho lính Miên bắt, nếu người Miên chịu tha thì ông tha. Ông lại nói chuyện với ông Đội Miên, ông này nói “nếu toán lính tôi chịu tha thì tôi tha”. Ông day lại nói tiếng Miên đại ý gợi lòng từ bi hỷ xả của Đức Phật; trong 20 phút sau cả châu vi Châu Đốc đều vui mừng thấy ông Hải dắt ông Chánh-Trị-sự Dược về một cách an toàn. Thật là một nhà biện thuyết cải tử huờn sanh đáng khâm phục. Ông còn là một kế toán trưởng tài năng. Khi ông còn ngòai đời làm việc ở kho bạc Nam Vang. Không biết kho bạc Prey-Veng làm sổ sách thế nào mà số thâu xuất không ăn nhau, tìm hoài không ra. Ông được cử xuống Prey-Veng xem lại sổ sách trong vòng một tuần lễ thì đâu ra đấy. Cả kế toán trưởng người Pháp đều phải phục tài.

Khi về Thiêng Liêng ông có tiết lộ là tiền kiếp ông đoạt Phật vị, kiếp này ông lập công thêm. Ông là con ông vua Ấn Độ có năm anh em ruột: Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi, Ông Giáo Sư Thái Khí Thanh, Ông Thừa Sử Huỳnh Hữu Lợi, Bà Đạo Nhơn Hương Nhâm và ông là năm anh em ruột. Vì ông Lợi và bà Nhâm thất hẹn với nhau sao đó nên nay phải tái kiếp làm vợ chồng.

 

 

GIÁM KHẢO

鑑 考

Thầy dạy: “Cuộc đời khó khăn tỉ như bài thi, nếu dễ thì ai cũng đặng, cuộc thi có ý vị gì đâu. Hễ bài càng khó thì đậu càng cao, đậu cao mới ra có giá. Thầy tưởng như nơi thế gian nầy có đứa con nào Thầy cưng trọng hơn hết thì là các con, nhưng mà chẳng lẽ Thầy làm giám khảo lại cấp nấp bài thi lén cho mỗi đứa thì cái đậu của các con có ra chi”.

Thầy dạy: “Thầy chưa hề biết hành phạt các con bao giờ. Từ khai Thiên Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một ông Cha nhân từ thế quá lẽ làm cho đến đỗi con cái khinh khi, phản nghịch lại cũng như Kim Quan Sứ là A-Tu-La, Thánh-giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên Cung. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn-nàn trách cứ Thầy thay! Tình trạng của các Đẳng Chơn-Linh đã đoạt-vị trong Càn Khôn Vũ Trụ chịu nạn khảo-thí do nơi Kim-Quan-Sứ. Kim-Quan Sứ đã đặng Đức Chí-Tôn cho làm Giám Khảo kỳ thi Hạ Nguơn Tam-Chuyển qua Thượng Nguơn Tứ-Chuyển này”.

Ngày giờ này, Đại-Tiên Kim-Quan-Sứ đã đặng Ân xá, cũng như các Đẳng Chơn-Linh được Ân xá, bởi vì trong Quỉ-Vị cũng được hưởng Hồng-Ân Đức Chí Tôn ân xá, cũng như toàn thể các Chơn-Hồn trong Càn-Khôn Vũ Trụ. Vì cớ cho nên, người Quỉ Chúa đàng ấy còn lãnh một phận-sự tối trọng, tối yếu là làm Giám-Khảo duợt Chư Tiên đoạt phẩm-vị Phật”.

 

 

GIẢM THÂU

減 輸

Kinh Sám Hối có câu:

“Làm lành đặng hưởng phước duyên,
“Trong lòng nham hiểm lộc quyền giảm thâu.”

 

 

GIAN DÂM

奸 淫

Kinh Sám Hối có câu:

“Còn một nỗi gian-dâm đại tội,
“Lấy vợ người làm lỗi tiết-trinh.”

 

 

GIAN GIẢO

奸 狡
E: Cheating.
F: Fourbe.

Gian: Giả dối, lương lẹo, núp lén. Giảo: quỉ quyệt. Gian giảo là dối trá và quỉ quyệt (gian trá xảo quyệt).

Kinh Sám Hối có câu:

“Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,
“Tra tội nhơn, gian giảo ngược-ngang."

 

 

GIAN MƯU

奸 謀

Kinh Sám Hối có câu:

“Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại
“Đừng gian mưu hãm-hại người hiền.”

 

 

GIAN PHI

奸 非

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Bề xử thế trước sau trọn phận,
Cuộc gia đình cẩn thận hành vi.
Đường quanh ngõ tắt khó đi,
Chông gai chớ lội, gian phi chớ làm.

 

 

GIAN THAM

奸 貪
F: Malhonnête et ambitieux.

(Gian là lòng không ngay thẳng, thế nên chữ gian thường đi đôi với từ ngữ: gian dối, gian xảo, gian tà. Tham là muốn thâu đoạt của người làm của mình trong việc bất chánh). Vậy gian tham là một tính xấu, không nên có trong mỗi người.

Thầy hỏi: “Các con có hiểu vì sao mà cả nhơn sanh gian tham chăng? -Thì cũng muốn cho nhiều sanh mạng chịu phục dưới quyền thế lợi lộc đó. Vậy sự yếu trọng của con người là nạn cơm áo. Nắm chặt quyền phân phát cơm áo thì chưa ai đã chịu thọ sanh nơi thế nầy lánh khỏi. Muốn cho đặng quyền hành ấy thì làm thế nào? - Dùng hết mưu chước quỉ quyệt thâu đoạt cho đặng lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh tranh đấu đấu, giựt giựt giành giành, gây nên mối loạn, nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép Tà quyền, mạnh hơn, yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng Tạo hóa. Cái trường thảm khổ của thế gian cũng do nơi đó mà ra. Vậy:

Gian tham đã thâm nhập vào lòng thì lòng hết đạo đức.

Tham gian nhập vào nhà thì nhà không chánh giáo.

Tham gian đã nhập vào nước thì nước hết chơn trị.

Tham gian đã lộng toàn thế giới thì thế giới hết Thánh, Thần. Thầy không cần nói, sự gian tham có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy mà bị lắm điều tội lỗi. Ấy vậy, gian tham là trọng tội”.

 

 

GIAN TRÁ

奸 詐

Kinh Sám Hối có câu:

“Trước người giả bộ siêng lo,
“Sau lưng gian-trá so-đo tấc lòng,”

 

 

GIAN TRUÂN

奸 屯
F: adversite’.

Kinh Sám Hối có câu:

“Dầu khi gặp lúc gian-truân,
“Cũng đồng giúp ích chớ đừng mặt ngơ."

 

 

GIÁN CAN

间 干

“Thảng như Chức Sắc bề trên cầm quyền hành chánh của Ðạo rủi có làm việc chi ngộ bất cập lượng, sai siễn một đôi điều không phù hạp với Luật Thương Yêu và Quyền Công Chánh thì bổn phận của đàn em được phép gián can với lễ độ của tình huynh đệ nhứt gia”.

 

 

GIANG SAN

江 山

Ðức Tả Quân LÊ CÔNG cũng nhập bàn cho tiếp bài thi

Ðường dài chớ nệ ngàn công gắng,
Bước nhọc đừng nao một dạ thình.
Ðồ sộ giang san xưa phủi sạch,
Trông vào tua vẹn nỗi đinh ninh.

 

 

GIÁNG BÚT

降 筆

Pháp Chánh-Truyền Đức Lý Giáo-Tông có dạy:

…Nhờ Ngài và Hội-Thánh cầu khẩn, Thầy mới giáng bút truyền các Bí-pháp ấy cho Hộ-Pháp: “Mừng thay cho nhân loại chút ít rồi. Hội-Thánh chơn truyền Tân Pháp đã đạt đặng như phép “Giải-oan”, phép “Khai sanh môn”, Ban Kim quan…lại còn nhiều Bí Pháp nữa mà Hộ-Pháp chưa có lịnh truyền và lại bị chúng sanh và Hội-Thánh còn mờ hồ không nạp dụng. Ngày nay chẳng biết các Đấng Thiêng-liêng và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại Bát-Quái-Đài đã thọ lịnh của Thầy mà hành Pháp vì thuộc về quyền hành của các Đấng ấy; ngày nay mới tính sao? Trong các Bí-pháp có mầu nhiệm đắc Đạo, bây giờ các Đấng ấy cho hay là không? Thảm!...Cười. Nếu Lão có phương chỉnh đốn nền Đạo lại thì đặng, bằng chẳng vậy, thì không có một người đắc Pháp, Cửu Trùng Đài cũng đã yểm quyền Bát Quái-Đài mà chớ! Thật vậy đó chút”

 

 

GIÁNG CẤP

降 級
E: To retrograde.
F: Rétrograder.

Giáng: Rơi xuống, từ trên Trời đi xuống. Cấp: phẩm bực Chức sắc. Giáng cấp là phạt cho xuống phẩm thấp hơn vì có tội, do quyết định của Tòa Tam Giáo.

Tân Luật: Điều 31:

Tòa nầy (Tòa Tam Giáo) có quyền xử giáng cấp hay là trục xuất.

Thập hình của Đức Lý Giáo Tông:

“Ðệ Nhị Hình: Chư Chức Sắc Thiên Phong không tùng mạng lịnh của Hội Thánh: - Thuyên bổ không đi. - Không trọn phế Ðời, hành Ðạo - Bỏ bê phận sự. Ðịnh Án: Giáng cấp tới Tín Ðồ hay buộc hành Ðạo ngoại quốc”.

"Ðệ Tam Hình: - Làm nhơ danh Ðạo. - Mượn danh Ðạo, tạo danh Ðời.- Lợi dụng danh Ðạo làm điều bất chánh. Ðịnh án: Giáng cấp từ phẩm đương quyền xuống đến hai hay là một cấp."

 

 

GIÁNG CƠ

降 乩
E: To be manifested itself by the Corbeille à bec.
F: S’être manifestée par la Corbeille à bec.

Giáng: Rơi xuống, từ trên Trời đi xuống. Bút: cây viết, chỉ cây Ngọc cơ mà nơi cán có gắn một cọng mây làm như cây viết để viết ra chữ bóng. : cây Ngọc cơ, một dụng cụ để thông công với các Đấng thiêng liêng.

Giáng bút đồng nghĩa Giáng cơ.

Giáng bút là Đấng thiêng liêng giáng điển vào cây Ngọc cơ để Ngọc cơ chuyển động viết ra chữ bóng trên mặt bàn, tạo thành một bài văn dạy Đạo.

“Kỳ Hạ-nguơn này Đức Chí-Tôn giáng cơ dạy Đạo không có chơn-linh giáng sanh nguyên hình như các vị Giáo-chủ trước nữa. Nếu sự thờ phượng riêng một vị Giáo-chủ như buổi trước thì không đủ thống nhất đặng tín ngưỡng của nhơn-sanh trong hoàn-cầu thế-giới. Cho nên thờ Thiiên Nhãn là cơ-quan hiệp cả chơn-thần của toàn vạn linh và hiệp Tam Bửu: Tinh- Khí- Thần vi nhứt. Ấy là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Từ khi các Tôn giáo bị bế: Âm thạnh Dương suy, nên Thần chẳng hiệp cùng Tinh Khí được, vì vậy nên người tu hữu công mà không đắc quả.”

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: Đây xin nhắc lời của Đức Lý Giáo Tông giáng bút giải nghĩa chức Chánh Trị Sự và nài Hộ Pháp ban quyền luật lệ Hiệp Thiên Ðài cho Chức sắc ấy.

 

 

GIÁNG ĐÀN

降 壇
E: To come down into the esplanade of ceremony.
F: Descendre à l’esplanade de cérémonie .

Giáng: Rơi xuống, từ trên Trời đi xuống. Đàn: nơi tổ chức nghi lễ cúng tế Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng. Giáng đàn là các Đấng thiêng liêng từ cõi Trời đi xuống cõi trần, đến đàn cúng tế để chứng kiến lòng thành tín của các tín đồ hiến lễ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Ngã Thái Thượng Lão Quân giáng đàn.

 

 

GIÁNG HẠ

降 下

Đức Quyền Giáo Tông nói: “Nhận lãnh nơi Đức Thượng Đế, bậc Từ-Phụ của toàn nhân-loại, chúng tôi có sứ mạng truyền-bá nền Chánh-giáo của Người đến khắp hoàn cầu. Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về sự giáng hạ của Người trên đất nước này. Nhiều phép lạ đã xảy ra giống như thời Chúa Jésus ngự đến ban phép lạ xưa kia ở Lourdes và các nơi khác.”

 

 

GIÁNG LÂM

降 臨
E: To descend.
F: Descendre.

Giáng: Rơi xuống, từ trên Trời đi xuống. Lâm: tới, đến. Giáng lâm là đi xuống tới nơi (Nói về Thần Tiên xuống chốn nhân gian).

Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần:

"Địa Kỳ Thần Tướng đàn tiền giáng lâm."

 

 

GIÁNG LINH

降 靈

Giáng linh 降 靈 là chiết Chơn linh giáng xuống cõi trần. Ví như Đức Quan Âm Bồ Tát là do Từ Hàng Bồ Tát giáng Chơn linh xuống phàm rồi tu hành đắc quả.

Đêm 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947) Đức Hộ-Pháp Thuyết rằng: khi “Đức Jésus vô Ðền Thờ, buổi nọ chơn linh Ðấng Christna giáng hạ, các vị Giáo Chủ trong Ðạo toàn là những bác sĩ nghe tiếng đồn danh thần đồng của Chúa Jésus nên khi vô Ðền Thờ, họ xúm nhau lại vấn Ðạo, Ðức Christna giáng linh, ngồi giữa các vị Giáo Chủ ấy, thuyết đạo làm cho thiên hạ ngạc nhiên sự lạ.

Hai vợ chồng buổi nọ đi chầu lễ Sablat vô Ðền Thánh cúng rồi về, dòm lại Ðức Chúa đâu mất, hỏi ai nấy có thấy Jésus không? Hai ông bà tìm kiếm mãi cũng không thấy con, sợ sệt, hơ hãi chạy trở lại Ðền Thờ, thấy Jésus ngồi giữa, các bác sĩ, Giáo Chủ đó ngồi chung quanh đương vấn Ðạo. Bữa nọ vì tình cờ, tuy vân lúc còn ở trong Ðền Thánh Bà có được truyền tin rằng: Bà sẽ cho loài người nơi mặt thế nầy, bởi nơi lòng Bà xuất hiện ra Ðấng Chúa Cứu Thế.”

Kinh Đại Tường có câu:

"Hội Long-Hoa tuyển phong Phật vị,
"Cõi Tây-phang đuổi quỉ trừ ma.
"Giáng linh Hộ-Pháp Di-Đà,
"Chuyển cây Ma-Xử đuổi tà trục tinh."

 

 

GIÁNG MA XỬ

Giáng Ma Xử là Cái chày để hàng phục quỉ ma. Ðây là bửu pháp của Vi Hộ thời Phong Thần. Sau Vi Hộ trở về núi tu luyện đắc quả Phật Hộ Pháp, nên gọi là Vi Hộ Pháp. Bửu pháp nầy được Ðức Hộ Pháp đem trấn nơi Cực-Lạc Thế-Giới nơi cõi thiêng liêng.

Đức Quyền Giáo Tông giáng ngày: 17-09-Kỷ Sửu (dl: 07-11-1949) dạy rằng: “Lẽ thì Đức Lý Giáo-Tông giáng dạy các em, nhưng vì cặp loan mới tập, Ngài không thể giáng được. Anh vưng lịnh Đức Lý đến tỏ cơ Đạo ngày hôm nay cho các em được rõ. Nền Chánh giáo của Chí Tôn hoằng khai kỳ Phổ Độ thứ ba nầy gọi là Quốc Đạo, thì các em cũng đủ hiểu ý nghĩa ra sao. Nếu đời không loạn lạc thì Đạo khai chẳng ích chi. Xem đời Châu - Thương chiến đấu thì đạo Lão mới ra bình phục, bởi do nơi lịnh Ngọc Hư, Khương Tử Nha lên núi 40 năm phải thừa mạng xuống trần lãnh roi Đả-Thần-Tiên trị loạn. Đó là do Đạo của Đời. Ngày nay Hộ Pháp cũng lãnh cây Giáng Ma Xử để cầm quyền trị thế thì các em cũng biết rằng cây roi Đả Thần-Tiên là linh nghiệm thế nào, thì cây Giáng Ma Xử còn huyền năng gấp mấy. Vậy các em khá tuân mạng Người cùng Đức Lý Giáo Tông, hai quyền ấy hiệp một là quyền Chí Linh tại thế. Các em đã mang trọng trách nơi mình trong cơ chuyển thế, thì đã có ký hứa buổi hạ trần, cũng như các Tướng nhà Châu lãnh lịnh nơi Côn Lôn khi trước. Vậy mọi việc hành trình khá nhớ căn tu là gốc, làm điều chi phải thuận theo Thiên mạng là toàn thắng với danh nghĩa “Vì Đạo cứu Đời” thì có Đức Lý cùng Qua thị chứng. Các em cứ tiến hành.

Ê, kỳ hội ngày mai, các em được chấp thuận nhiều lẽ phải. Các em nên nhớ rằng: Mọi việc chi, dầu Đạo hay đời, mà đắc thắng là do nơi lẽ phải. Vậy anh đến tỏ bày đại lược bấy nhiêu lời, các em do theo đó mà hiểu xa thêm nữa. Khi khác anh sẽ chỉ giáo nhiều việc hữu ích về tương lai”.

 

 

GIÁNG SANH (GIÁNG SINH)

降 生

Thầy dạy: “Từ trước TA giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật Đạo chánh truyền gần thay đổi. TA hằng nghe chúng sanh nói Phật giả vô ngôn. Nay nhất định lấy huyền diệu mà giáo Đạo, chớ không giáng sanh nữa đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn.” - (Trang 19-Q.1)

Tấtc nhiên “Kỳ Hạ-nguơn này Đức Chí-Tôn giáng cơ dạy Đạo không có chơn-linh giáng sanh nguyên hình như các vị Giáo-chủ trước nữa. Nếu sự thờ phượng riêng một vị Giáo chủ như buổi trước thì không đủ thống nhất đặng tín ngưỡng của nhơn-sanh trong hoàn-cầu thế giới. Cho nên thờ Thiiên Nhãn là cơ-quan hiệp cả chơn-thần của toàn vạn linh và hiệp Tam Bửu: Tinh Khí Thần vi nhứt. Ấy là cơ mầu-nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Thờ Thiên-Nhãn là một phương mầu nhiệm cho mọi người biết tùng thiên-lý.”

 

Ngày Chúa Cứu Thế ra đời

(Giáng là xuống, sanh là được ra đời) tức nhiên là ngày người con được mẹ sanh ra. Đây là chỉ ngày Chúa Cứu Thế ra đời, là một Đấng tối cao của nhân loại xuống thế gian làm Thiên mạng. Chữ Giáng có nghĩa là việc đến trần trong sự yêu cầu, làm Thiên mệnh; còn người thường thì gọi là hạ sanh. Trong lẽ hạ sanh có khi tự nguyện, có khi vì bắt buộc mà đến.

Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Ðền Thánh đêm 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947) nói rằng: “Bần Ðạo xin thuyết cái nguyên căn của Ðức Chúa Jésus Christ là gì? Ðức Chúa Jésus Christ là ai?

-Nếu chúng ta thấy chơn truyền của dân tộc Hébreux tức dân Do Thái bây giờ để lại, theo luật pháp của Thánh Moise đã tiên tri nói về Ðấng Cứu Thế giáng sanh, nếu chúng ta tìm tòi, lật từ tờ trong Kinh Thánh Gia Tô chẳng hề thấy tên Christ và chẳng có tên Christ, mà nơi cõi thiêng liêng Bần Ðạo dám chắc Ðức Chúa Jésus Christ là Chơn linh Christna là Tam Thế Tôn đó vậy. Ðức Phật Christna không phải xa lạ với chúng ta, bởi vậy cho nên Ngài đã đến mà lại đến với chức trách nhỏ nhen hèn hạ, bởi loài người quá tự kiêu, tự đắc, dùng phương pháp nhỏ nhen, Ngài hạ mình hèn hạ ấy hầu đem tâm hồn chí Thánh của Ngài thức tỉnh các sắc dân Âu Châu.”

Qua 24-12-1949 (Âl:. Kỷ Sửu) Đức Hộ Pháp nói tiếp:

“Đêm nay một đêm kỷ niệm Jésus Christ tức nhiên là Phật Christna giáng sanh bên Âu Châu mở Đạo. Thường năm hễ đến lễ Giáng Sanh này thì Đạo Cao Đài chúng ta vẫn tôn sùng Giáo Chủ Gia Tô cũng như Vị Phật của chúng ta vậy, chúng ta coi Ngài cũng như một Vị Giáo Chủ của một nền Tôn Giáo đương nhiên đã để tại mặt thế này”.

Trong nền Đại-Đạo hằng năm đến ngày 25 tháng 12 Dương lịch là ngày Vía Đức Chúa Jésus Christ, nơi Tòa Thánh Tây Ninh thiết lễ Đại Đàn, còn các Thánh Thất địa phương thì Cúng Tiểu Đàn.

Ngày Giáng sanh của Chúa Cứu Thế

Đức Hộ-Pháp Thuyết ngày 14-11-Ðinh Hợi (1947): “Hôm nay là ngày sanh của Ðức Jésus Christ còn để lại dấu tích cho chúng ta thật đáng để ý hơn hết. Ðêm lễ Noel trong Ðền Thánh làm lễ long trọng như chúng ta làm lễ hôm nay vậy, hai vợ chồng đi lại từ làng Nazareth vô Ðền Thánh làm lễ. Khi đó bà đã có thai gần ngày sanh, nghĩ mình đã có căn tu, đến ngày Ðại Lễ không thể ở nhà được, bụng mang dạ chửa, cũng rán đi đến chầu lễ thường lệ. Ở Châu Thành nhà cửa bị thiên hạ mướn chật hết, kiếm không ra chỗ ngụ, không lẽ ở ngoài trời, mới vô năn nỉ chúng cho ở trong chuồng chiên tạm trú. Trời đang tiết Ðông thiên, như ngày nay chúng ta nghe cũng hơi lạnh; lạnh lẽo lạ lùng nhứt là đối với hai người tâm Ðạo nầy vô ngủ trong chuồng chiên rất khổ sở. Ðúng 12 giờ khuya đêm ấy bà chuyển bụng sanh ra Ðức Chúa Jésus Christ.

Trong sách nói, ngày Chúa Giáng Sanh, có vì sao gọi là sao chổi mọc không gì khác lạ, đó là Comete de Halley, mỗi 75 năm mọc trở lại một lần. Các vị Vương tiên tri rằng: "Ngày nào sao chổi ấy mọc là ngày Chúa giáng sanh nên nhớ để dạ tìm người". Có nhiều huyền diệu ta không thể tưởng tượng được như đám chăn chiên đóng trại ngoài trời, bỗng nghe giữa thinh không có nhiều Thiên Thần kêu nói có Chúa Cứu Thế giáng sanh, nên Vua của dân Maures và các người chăn chiên ấy vô đảnh lễ Chúa đầu tiên hơn hết. Tai hại thay! Thời buổi đó nước của dân Juifs bị Ðế quốc Romains chiếm làm thuộc địa, ở Palestine thì để một vị Chánh Soái là Hérode Antivas hằng để tâm mưu sát Ðấng Chúa Cứu Thế, vì có tiên tri nói đến làm Vua nước Do Thái, nên ngay từ buổi đến trấn nhậm Palestine chính Hérode đã giết ông Thánh Saint Jean Baptiste. Buổi ấy các nhà tiên tri cho biết Ðức Chúa Cứu Thế sanh ngày đó mà không biết Ðấng Chúa Cứu Thế là ai? Muốn giết, mà không biết ở đâu? Nên bắt tất cả con nít sanh trong đêm ấy ra giết hết, đinh ninh rằng: Trong đám đó có lẽ có Ðấng Chúa Cứu Thế. Ai dè may thay! Ông Joseph đêm mệt mỏi nằm mộng thấy Thiên Thần mách bảo, liền bồng đứa trẻ trốn qua Egypte. Hai vợ chồng đào tẩu kịp chớ không thì Chúa cũng đã bị giết rồi. Qua Egypte một thời gian, đứa con lên được lên 5, 6 tuổi, nghe tin bên nước mình đặng yên và có lịnh thiêng liêng truyền dạy hai vợ chồng trở lại Palestine, chồng làm thợ mộc theo nghề cũ, vợ may vá nuôi con, lại sanh thêm ba bốn người con trai, gái nữa, thành thử cách sống rất nghèo hèn khổ não”.

 

 

GIÁNG SINH (Đức Hộ Pháp Giáng Sinh)

 

Văn phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Chưởng quản

(Ngũ Thập niên)

Hiệp-Thiên-Đài

Tòa Thánh - Tây Ninh



HIẾN PHÁP
Chưởng quản Hiệp-Thiên-Đài

Chiếu y Tân luật và Pháp Chánh Truyền.

Chiếu Hiến Pháp và Nội-luật Hiệp-Thiên-Đài ngày rằm tháng 02 năm Nhâm Thân.(dl: 21-03-1932)

Chiếu Hiến Pháp Hiệp-Thiên-Đài ngày 08 tháng Giêng, Giáp Thìn (dl: 20-02-1964) và Hiến Pháp Hiệp-Thiên-Đài bổ túc ngày 27-02-Ất Tỵ (dl: 29-03-1965)

Chiếu Thánh giáo tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 16 và 17 tháng 04-Quí Sửu (18 và 19-05-1973) Đức Lý Đại Tiên Nhứt Trấn Oai nghiêm đồng ý với Đức Hộ-Pháp ban đặc quyền cho Hiến Pháp Trương Hữu Đức Chưởng quản Hiệp-Thiên-Đài.

Chiếu Thánh lịnh số 21/TL ngày 09-04-Ất Mão (19-5-1976) chấp nhận cho toàn Đạo thiết lễ MỪNG NGÀY GIÁNG SINH ĐỨC HỘ-PHÁP.

Chiếu Vi bằng số 09/VB ngày 18-04-Ất Mão (28-05-1975) Hội Thánh Lưỡng Đài quyết nghị: Kể từ nay Hội-Thánh thiết Lễ cúng ĐẠI ĐÀN mừng ngày Giáng sinh Đức Hộ Pháp tại Tòa Thánh - Tây Ninh, thay vì cúng Tiểu Đàn. Nên:

THÁNH LỊNH

Điều Thứ Nhứt: kể từ nay Hội-Thánh sẽ thiết Lễ Cúng Đại Đàn “Mừng ngày Giáng sinh Đức Phạm Hộ-Pháp” đêm mùng 4 rạng mùng 5 tháng 5 Âm-lịch hằng niên tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Điều Thứ nhì: Thánh lịnh số 21/TL ngày 9 tháng 4 Ất Mão (19-5-1976) dẫn thượng và các văn kiện khác trái với Thánh Lịnh này không còn hiệu lực.

Điều Thứ ba: Hội Thánh Hiệp-Thiên-đài, Cửu Trùng Đài và Hội-Thánh Phước thiện nam nữ tùy nhiệm vụ thi hành và ban hành Thánh lịnh này.

Tòa Thánh, ngày 22 tháng 04 năm Ất Mão (dl: 01-06-1976)
Hiến Pháp
Trương Hữu Đức (Ấn ký)

 

 

GIÁNG TÂM

降 心

Năm Đinh Mão (1927) Đức Lý báo cho biết rằng: “Đức Chí Tôn sẽ giáng tâm cho Đạo hữu Thượng Trung Nhựt mà dạy các cử chỉ phải thi hành việc Đạo. Vậy Đạo hữu an tâm”.

Thầy dạy: “Đức! Cái công quả của con là Chấp Cơ truyền Đạo. Nghe Thầy dạy điều thiếu sót. Như trước khi muốn Thủ Cơ thì phải lo diệt trần, là đừng để vào trí của con một ý muốn riêng chi hết. Cầm Cơ thì trí não thanh tịnh, đừng sắm sửa vào trí chi hết, vì là phần riêng của con thì Thầy lấy chi mà ứng vào đó cho đặng. Con phải giữ trí tỉnh táo, khi Cơ lên thì Thầy ứng câu gì vào trí, con viết ra câu ấy. Thầy giáng tâm của con. Như trí con choán hết ý tứ Thầy thì đâu đặng linh nghiệm”.

Ngày 10-5-1927 (âl 10-4-Đinh Mão). Khi Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu cầu hỏi Đức Chí Tôn về những cuốn sách Đạo do Ngài viết ra. Đức Chí Tôn giáng cơ đáp:

- Hậu, sách con làm ra đều có giá trị là nhờ có Thầy giáng tâm con. Con sợ sai lầm cũng phải, nhưng về sự sai siển, dầu bậc Thánh xưa làm sách cũng còn nhiều chỗ khuyết điểm. Vậy con cứ an lòng mà làm ích thêm nữa. Thầy hằng ở bên con mà dìu dắt cho trí hóa rộng thêm, nghe con.!”

 

 

GIÁNG THÂN

降 身

Giáng thân là đến với thế giới này bằng xác thân, do cha mẹ phàm phối hợp mà tạo ra xác thân hữu hình này. Đồng nghĩa với giáng sanh.

Đức Hộ-Pháp nói: "Tam Trấn tức là ba Trấn. Ba Trấn cũng có nghĩa là Tam giáo. Như Nhứt kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ các Đấng ấy giáng thân lập Đạo kêu là Tam giáo. Nay, Chí-Tôn lấy huyền diệu lập Đạo mà chấn hưng Tam giáo, lại phải có ba vị thay thế cho: Phật, Tiên, Thánh nên kêu là Tam Trấn có nghĩa là trấn nhậm. Đó là tuỳ thì mà biến đổi vậy".

Đức Hộ-Pháp nói: “Ngày nay Đức Chí-Tôn đến, Ngài không giáng thân như các lần trước, mà giáng linh bằng HUYỀN DIỆU CƠ BÚT. Vì lẽ đó Ngài phải lập Hội-Thánh để làm Thánh Thể cho Ngài.”

 

 

GIÁNG THẾ

降 世

Là đến với cõi trần này. Xưa nay Đấng Giáo chủ là người đứng đầu trong một Tôn Giáo. Riêng với Đạo Cao-Đài luôn thể hiện tinh thần Thiên Nhơn tương hợp, nên Đức Hộ Pháp cũng là Giáo Chủ, nhưng về mặt hữu hình, còn quyền Thiêng Liêng thì Giáo Chủ vô vi vẫn là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tá danh “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương”.

Đức Thượng Đế giáng Cơ xưng danh qua bài thi khoán thủ: NGỌC HOÀNG GIÁNG THÊ GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG:

NGỌC ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,
HOÀNG thiên bất phụ chí anh hào.
GÍANG ban phúc hạnh nhơn đồng lạc,
THẾ tạo lương phương thế cộng giao.
GÍAO hóa nhơn sanh cầu triết lý,
ÐẠO truyền thiên hạ ái đồng bào.
NAM nhơn tỉnh cảm sanh cao khí,
PHƯƠNG tiện tu tâm kế diệt lao.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Bay đến Hồ Dương phụng gáy chiều,
Thần Tiên giáng thế biết bao nhiêu.

 

 

GIÁNG TRẦN

降 塵
E: To descend into the world.
F: Descendre en ce monde.

(Từ trên cõi cao đến gọi là Giáng, là đi xuống; Trần là cõi thế gian nhiều đau khổ này). Một chơn linh cao trọng đến thế này để làm Thiên mạng thì gọi là giáng trần. Nếu gọi Hạ trần (là tiếng tự khiêm) thực ra đây là đến trong sự bắt buộc.

Chùa Giác Hải: ngày 21-9-1926 (âl 15-8-Bính Dần)

Thánh Ngôn dạy: “Như Nhãn, con nghe Thầy: Khi giáng trần Chí Tôn Phật Tổ, Thầy duy đặng có bốn môn đệ, chúng nó đều chối Thầy. Khi giáng lập đạo Tiên, Thầy có một trò là Nguơn Thỉ. Khi lập Đạo Thánh thì đặng mười hai Môn đệ, song đến khi bị bắt và hành hình thì chúng nó đều trốn hết, lại còn bán xác Thầy nữa. Còn nay, Thầy đã sắm sẵn Môn đệ cho con cũng đã nhiều, con đừng thối chí. Thầy thường than rằng: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh, nên Thầy nôn nóng nhưng Thiên cơ chẳng nghịch đặng. Ma quỉ hằng phá Chánh mà giữ Tà, chư Tiên Phật trước chưa hề tránh khỏi. Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ. Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy. Nếu Thầy dùng quyền pháp Chí Tôn thì mất lẽ công bình thiêng liêng Tạo hóa. Con cứ lo lập Luật, để công phổ độ cho chư Đạo hữu con hưởng chút ít.”

Đức Hộ-Pháp nói: “Đời quá ư bạo-tàn, cho nên Đức Chí Tôn mới giáng trần mở Đạo cho con cái biết: các ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật đều tình nguyện hạ thế cứu đời, xuống bao nhiêu lại càng mất bấy nhiêu. Trong thời-kỳ ấy Bần Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo”.

 

 

GIẢNG (LÊ VĂN GIẢNG) (Tên)

Thọ phong Lễ Sanh ngày 14-05-Bính Dần. Ông là một trong số 247 người ký tên trong TỜ KHAI ĐẠO.

Ngày 30-12-Ất Sửu (dl: 12-2-1926) hiệp với ông Ngô văn Chiêu, là trong số 12 Môn đệ đầu tiên của Đấng Chí Tôn, kỷ niệm qua bài thi, câu “BẢN, đạo khai SANG, QUÍ, GIẢNG thành”. Cách đây ít ngày, Đức Thượng Đế giáng cơ dạy mấy ông: Trung, Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức phải hiệp với ông Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo. Ngài lại dạy rằng, mỗi mỗi phải do nơi ông Chiêu là Anh Cả.

Lúc nầy (1926) trong Đạo kể được 13 người:

1-Ngô Văn Chiêu

 

2-Lê Văn Trung

 

3-Vương Quan Kỳ

4-Nguyễn Văn Hoài

 

5-Đoàn Văn Bản

 

6-Võ Văn Sang

7-Lê Văn Giảng

 

8-Lý Trọng Quí

 

9-Cao Quỳnh Cư

10-Phạm Công Tắc

 

11-Cao Hoài Sang

 

 

12-Nguyễn Trung Hậu

 

13-Trương Hữu Đức.

 

 

Đến đêm 30 tháng chạp năm Ất Sửu (dl: 12-2-1926), Đấng Thượng Đế giáng cơ cho mỗi người một bài thi. Đêm nay, hai ông Trương Hữu Đức và Cao Hoài Sang vắng mặt, thế nên hai vị này Đức Thượng Đế không cho Thi.

- Bài thi cho ông Lê Văn Giảng:

“Trần tục là nơi chỗ biển buồn,
“Nghe nơi Đại Đạo ráng nghe luôn.
“Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó,
“Ách nạn chi chi cũng chảy luôn.”

 

 

GIẢNG ĐÀI

講 臺
E: The pulpit of the preachment.
F: La chaire de la prêcherie.

 

 

 

Giảng Đài là cái Đài cao dùng làm nơi Thuyết đạo của các Chức sắc Đại Thiên Phong sau mỗi lần Cúng Đàn, thường lên đây để thuyết giảng về Giáo Lý đạo. Sau này là nơi Tuyên Dương công nghiệp một chức sắc qui Thiên. Trong nội tâm Đền Thánh, thuộc về Cửu Trùng Đài. Hai bên có hai cái Đài Thuyết Đạo Đây có nghĩa là tích Vua Phò Dư lập Đài tế cáo trời đất. Khi Đức Khổng Tử đi truyền Giáo (Đạo Nho) qua nước của Vua Phò Dư, gặp phải ông vua tánh tình tàn bạo, không ưa Tôn Giáo, không thích tu hành. Vua ra lệnh bắt Đức Khổng Tử giam vào ngục thất ngoài hai năm mới phóng xá và cấm trong nước nếu ai theo đạo của Ngài thì bị tru di. Vua lại ra 6 điều:

1- Mắt ta không muốn trông thấy Khổng Phu Tử.

2- Tai ta không thèm nghe những lời của Khổng Phu Tử

3- Mũi ta không chịu hơi hôi tanh của Khổng Phu Tử.

4- Lưỡi ta không thích nói chuyện với Khổng Phu Tử.

5- Thân ta không muốn gần, thân mật với Khổng Phu Tử.

6- Ý ta không cho Khổng Phu Tử qua nước ta lần hai.

 
   

Nếu cãi lệnh ta sẽ gia hình không dung thứ. Ấy là tượng 6 cái tia trong miệng Rồng phun ra tức là lục căn: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý.

-Đời vua Phò Dư vô đạo, tánh chất bạo tàn, nên Trời phạt trong nước bị thiên tai, hạn hán. Vua thấy trong nước nguy biến bèn ra giữa trời lập cái Đài mà cầu nguyện (tướng tinh vua Phò Dư là con Thanh Đẩu Long- Rồng Xanh). Vua Phò Dư quỳ dưới Đài mà cầu nguyện thấu đến Ngọc Hư Cung, Đức Ngọc Đế sai ông Hứa Chơn Quân xuống đứng trên đài kêu, cho biết rằng:

- Ấy là tại nhà vua vô đạo, không kể Thánh Hiền nên Trời phạt như vậy. Nếu nhà vua muốn trong nước được mưa thuận gió hoà, dân chúng an cư lạc nghiệp thì qua nước Lỗ tìm Đức Khổng Phu Tử rước về mà mở Đạo dạy dân thì trong nước hết tai nạn. Ngài nói rồi đằng vân bay mất. Vua nghe lời qua Nước Lỗ cầu Đức Khổng Phu Tử về mở trường giáo đạo dạy dân. Không bao lâu trong nước được mưa thuận gió hòa, dân chúng lạc nghiệp âu ca, vua thấy vậy truyền lịnh trong nước: nếu ai không theo đạo của Đức Khổng Phu Tử thì bị gia hình trọng trị.

 

 

GIÀNH GIỰT

Thầy phân bày: “Thầy tưởng để cho các con lo liệu giành giựt đương cự với chúng nó, nhưng dòm Thiên Thơ thì tám phần mười đã sa ngay vào chơn của Quỉ vương vày đạp, mà lại phần đông các con là bậc phẩm cao, chức trách trọng hậu.”

 

 

GIAO HẢO

交 好

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: “Tình giao hảo giữa người thi ân và kẻ thọ ân bắt buộc như thế, cho nên, để lưu niệm thành tích của nhiều Đấng Tiên Vương trong hiện kim thời đại, Ðức Hộ Pháp xây cất ngôi Báo-Quốc-Từ nầy thành hột kim cương chói rạng miền Nam Việt-Nam, lại đặt vị trí nơi trung tâm Châu Thành Thánh Ðịa, thật là một may duyên hy hữu.”

 

 

GIAO HÒA

Đức Hộ-Pháp nói về Kim Quan Sứ: “Người có giáng Cơ buổi Đạo đương bình tịnh, cả Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn đương hòa ái với nhau, không có tâm-tánh gì phản động, chưa có một mảy may gì gọi là loạn, họ còn giữ theo nề-nếp chơn truyền của Đức Chí-Tôn mà thinh không Kim-Quan-Sứ giáng-cơ cho một bài thi chẳng khác nào như tìm đến Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn mà liệng một tối hậu thơ, bài thơ ấy như vầy:

Cửu phẩm Thần-Tiên nễ mặt ta,
Thích-Ca dầu trọng khó giao hòa.
Cửa Kinh Bạch-Ngọc năng lui tới,
Đường Đạo Tây-Phương thử chánh tà".

 

 

GIAO KẾT

交 結

Là một hình thức đặt điều kiện thế nào cho có lợi về phần mình. Với người tu hành ngày nay khi Đấng Thượng đế đến ban cho mối đạo nhà, những mong cứu vớt nhân sanh đang bên bờ vực thẵm, nhưng người đời cứ hẹn lần hẹn lựa, đòi hỏi phải chờ giàu có mới tu, chờ cho con cái trưởng thành mới tu, nhưng… nên nhớ sự tu hành là lợi cho bản thân mỗi người chứ không phải tu cho Trời Phật, nên sự giao kết là một điều bất lợi, dịp may không đến hai lần.

Đức Quan Thánh để lời rằng: “Than ôi! Trời cao minh soi xét mà người vẫn mê muội ám mờ, đem mảnh trí cỏn con kia chống kình với khuôn linh Tạo hóa. Muốn học mùi Ðạo mà lại kèo nài giao kết thì dầu cho bậc phẩm nào đi nữa, cái ân đức từ bi cũng khó chiều theo được. Các Ðấng thiêng liêng xưa kia khổ hạnh, công cán thế nào mới được về ngôi cao phẩm quí, há chẳng phải là gương tín thành đáng noi dấu hay sao?”

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Trên TỪ-PHỤ chứng minh soi xét,
Con ký tên giao kiết tại Toà.
Sau đây xảy chuyện chi ra,
Tội đành thế tội vậy mà cũng cam.

 

 

GIAO PHÓ

交 付

Đức Hộ-Pháp nói: “Hội Thánh Phước Thiện tức nhiên là Hội Thánh của Hiệp Thiên Đài. Trước, chưa xuất hiện Hội Thánh Phước Thiện mà Hiệp Thiên Đài vẫn có ít người làm, sau lập thành Hội Thánh được Chí Tôn định đâu sẵn rồi nên giao phó trách nhậm ấy cho Qua, tức là chính mình Hộ Pháp là người làm đầu trong Hiệp Thiên Đài, trách nhậm đó nặng nề làm sao đâu. Khi ấy chỉ có ba người Hiệp Thiên Đài lãnh phận sự Thầy”.

 

 

GIAO TIẾP

交 接

Đức Quyền Giáo Tông dạy: “Ở đời người ta cần phải giao tiếp với nhau. Ðối với chư Ðạo Hữu sự giao tiếp ta lại có cái tình kiên lạc chí thành, cái nghĩa tương thân chí thiết. Giao tiếp mà chi? Là để dìu dắt nhau, nâng đỡ nhau trong đường Ðạo và đường Ðời. Anh lớn chỉ biểu cho em nhỏ, người rõ Ðạo bày vẽ cho kẻ chưa thông. Người nầy lầm lỗi kẻ kia chỉ dùm, dưới vui tuân lời trên dạy, trên không hổ cho dưới bày, lấy lễ hòa nhau, trên khuyên dưới kỉnh vui vẻ chung nhau, buồn thảm sớt nhau, giao lưng đâu cật mà bồi đắp mối Ðạo Trời cho rõ là con một cha, chung thờ một chủ nghĩa.

Ðấng Chí Tôn có giáng cơ dạy như vầy:

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Ðạo tức một cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.

 

 

GIAO THIỆP

交 涉

Đức Quyền Giáo Tông dạy: “Trong đường giao thiệp ta cần phải lấy hết tấm lòng bác ái, đem hết dạ chí thành mà đối đãi nhau thì Ðạo tâm ta mới biểu lộ ra tới gương chơn chánh. Ðồng Ðạo mà chẳng biết thương nhau, chẳng vãng lai thù tạc với nhau, cứ nhà ai nấy ở, ai khôn dại mặc ai, ai hoạn nạn thây ai, bo bo cứ giữ câu "Ðộc thiện kỳ thân" thì trái hẳn với chủ nghĩa Ðại Ðồng của Ðạo Trời lắm đó”.

 

 

GIÁO (Dương Văn Giáo) (Tên)

Giáo! Con đặng phong vào chánh vị Bảo Cô Quân. Thầy cậy con một điều là để hết dạ yêu thương, binh kẻ hèn, giúp người khổ. Con nắm lưỡi gươm huệ kiếm đặng dẹp lối chông gai cho Đạo êm đềm bước tục. Ấy là trách nhậm khó khăn nhưng cũng là phương làm con nên vinh diệu.

 

 

GIÁO CHỦ

教 主
E: The founder of a religion.
F: La fondateur d’une religion.

Giáo chủ là Người đứng đầu một Tôn-giáo. Từ xưa đến giờ, mỗi kỳ khai Đạo là có một vị Giáo chủ cầm đầu Tam giáo:

- Phật - Nhứt kỳ Phổ Độ- Nhiên Đăng Cổ Phật, Giáo chủ

- Phật –Nhị kỳ Phổ Độ- Thích Ca Mâu Ni - Giáo chủ.

- Phật- Tam Kỳ Phổ Độ- Quan Âm, thay quyền Giáo chủ.

Ấy là: “Chí-Tôn sai các vị GÍAO-CHỦ đại-diện Ngài đến lập Đạo do danh thể Ngài, vâng mạng lịnh nơi Ngài, đến thay thế giáo-hóa con cái của Ngài, chưa vị nào an-ủi được sự đau thảm cho trọn vẹn cái khổ của đời, khối đau thảm ấy từ buổi có loài người chất-chồng vô số kể.”

Vậy xưa nay Giáo chủ duy chỉ một người đứng đầu trong một Tôn-Giáo. Riêng với Đạo Cao-Đài luôn thể hiện tinh thần Thiên - Nhơn tương hợp, nên Đức Hộ Pháp chỉ là Giáo Chủ về mặt hữu hình, còn quyền Thiêng Liêng thì Giáo Chủ vô vi vẫn là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tá danh “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát giáo Đạo Nam phương”.

Đức Hộ-Pháp, Ngài nói rằng: “Thọ lãnh thiên mạng với chơn lý chánh đáng là một GIÁO-CHỦ hướng dẫn con cái Đức Chí-Tôn với một tinh thần đạo-đức trong phạm vi đạo giáo mà thôi. Lấy một thiên tài, phận sự một công dân tạo hạnh phúc cho giống nòi Việt-Nam, gây dựng lập trường vững chắc và mới mẻ, chờ tiếp rước bậc hiền nhân, chí sĩ do giọt máu con Hồng cháu Lạc tức là dòng dõi của tiền đồ lưu lại, thành lập quốc gia công bình, chơn chánh, vị tha, không ham danh, chẳng màng lợi, mới có thể thuần túy được…Bần-Đạo dám tự xưng là GIÁO CHỦ, vị Giáo Chủ tức nhiên người thay thế hình-ảnh cho Đức Chí Tôn đặng làm Chúa phần hồn toàn mặt điạ cầu này, nhưng Bần Đạo chỉ biết làm phận sự, làm tôi con Đức Chí Tôn thay thế hình ảnh của Ngài đặng làm Bạn, làm anh em với con cái của Ngài nơi mặt điạ-cầu này mà thôi, chớ chưa hề biết làm chủ. Cả Hội-Thánh cũng vậy, chỉ làm Bạn, làm Anh em dìu-dắt con cái của Ngài về phần hồn đặng đoạt cơ giải thoát mà thôi”.

“Kỳ Hạ-nguơn này Đức Chí-Tôn giáng cơ dạy Đạo không có chơn-linh giáng sanh nguyên hình như các vị Giáo chủ trước nữa. Nếu sự thờ phượng riêng một vị Giáo chủ như buổi trước thì không đủ thống nhất đặng tín ngưỡng của nhơn sanh trong hoàn-cầu thế-giới. Cho nên thờ Thiên-Nhãn là cơ quan hiệp cả Chơn-thần của toàn vạn linh và hiệp Tam Bửu: Tinh – Khí - Thần vi nhứt. Ấy là cơ mầu-nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Từ khi các Tôn giáo bị bế: Âm thạnh Dương suy, nên Thần chẳng hiệp cùng Tinh Khí được, vì vậy nên người tu hữu công mà không đắc quả.

Kinh Đại Tường có câu:

"Hỗn-Nguơn-Thiên dưới quyền Giáo-chủ,
"Di-Lặc đương thâu thủ phổ duyên.
"Tái sanh sửa đổi chơn truyền,
"Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.”

 

 

GIÁO DÂN

教 民
E: To educate the people.
F: Eduquer le peuple.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Một chức giáo dân tua lãnh lịnh,
Làm cho đời tệ hóa ra hay.

 

 

GIÁO DÂN HÀNH THIỆN

Hỏi: Giáo-Sư ở luôn Tòa-Thánh 5 năm như Giáo Sư ở Y-Viện không đắc-lực phải định sao?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: “Ở Y-Viện nếu đủ tài nghề cứu-mạng nhơn-sanh, thay thế công-trình phổ-độ giáo dân hành-thiện là đặng thăng vị nhưng phải đủ tài, đủ đức, đủ hạnh-kiểm mới đặng, trái lại là để cho quyền Chí-Tôn định”.

 

 

GIÁO DỤC

教 育

Pháp Chánh Truyền Cửu-Trùng-Đài “Thầy định-quyết cho Người (Giáo-Tông) có quyền dạy-dỗ mà thôi, song quyền-hành có rộng thêm đôi chút là dạy-dỗ trọn cả đường Đạo và đường Đời. Nghĩ cũng chẳng chi làm lạ, vì cả Chức-sắc Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài của Thầy lập, phải tùy theo tôn chỉ Đạo, nghĩa là xu hướng về phần giáo-dục mà thôi. Thầy đã xưng là Thầy đặng dạy-dỗ, còn tên của Chức-sắc đủ chỉ rõ-ràng phận-sự giáo-hóa, là chánh vai của mỗi người, như Giáo Hữu, Giáo-Sư, Phối-Sư, Đầu sư, Giáo Tông…Xem rõ lại thì tên mỗi vị chẳng mất chữ “Giáo” hay chữ “Sư”. Cơ Đạo từ cổ chí kim vẫn vậy, lại hiệp lời này “Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị Đạo, tu Đạo chi vị giáo”. Thầy chỉ cậy Hội Thánh Thầy đã đến lập, thay quyền cho Thầy mà dạy-dỗ cả con cái của Thầy, nghĩa là chúng sanh đặng lành, ấy là phận-sự cần nhứt của Hội-Thánh đó”.

 

 

GIÁO ĐIỀU

教 條
E: Riligious commendment.
F: Commendements religieux.

Giáo: Dạy, truyền dạy, tôn giáo. Điều: điều mục, điều khoản. Giáo điều là những điều giảng dạy của Đấng Giáo chủ, trở thành những điều luật bất di bất dịch của tôn giáo.

Chủ nghĩa Giáo điều: (E: Dogmatism. F: Dogmatisme)

Trong Triết học, Chủ nghĩa Giáo điều là phương pháp tư duy căn cứ trên những công thức bất biến, không biết uyển chuyển theo các điều kiện cụ thể mới, cho thích hợp với hoàn cảnh mới, về không gian và thời gian.

Chủ nghĩa Giáo điều xuất hiện gắn liền với sự phát triển của những quan niệm tôn giáo, của những yêu cầu phải tin vào những tín điều khắc khe của tôn giáo được khẳng định là chân lý bất di bất dịch, không thể phê phán và có tính cách bắt buộc đối với các tín đồ.

 

 

GIÁO HÓA

教 化
E: Teaching.
F: Enseignement.

Giáo hóa là dạy dỗ, dẫn dắt từ xấu trở nên tốt, từ hung dữ trở thành hiền lương. Mục đích của sự giáo hóa là dạy dỗ để nâng trình độ cho người được tiến hóa hơn, hiểu biết hơn, cao thượng hơn. Giáo hóa là sự rất cần thiết cho người đến thế này.

Đức Quyền Giáo-Tông nói: “Trong phương diện hành đạo, có ba điều nên chú ý như sau nầy, các em khá nhớ: -Một là Quyền. -Hai là Luật, -Ba là Pháp, đều của Đức Chí Tôn vậy.

Quyền là giáo hóa, dìu dẫn chúng sanh vào khuôn linh của Đạo. Luật là thương yêu, rộng dung, tha thứ cho kẻ lỗi biết ăn năn. Pháp là giữ công bình chánh trực. Nếu có kẻ không nghe lời giáo hóa, cố tâm phạm luật, thì người cầm quyền cai trị lấy Thánh đức mà định hình phạt là cốt yếu cạo gọt cho nên hình người, chớ không phải kẻ cầm quyền mà để phạm vào tội ác bất nhơn, bởi Đạo quyền là Thánh trị, chớ không phải Phàm trị, các em nên nhớ. Còn Cơ đời sẽ biến chuyển cho đến ngày liễu kết cuộc chiến tranh hầu có lập lại đời Thánh đức”

Cửu-Trùng-Đài là cơ-quan giáo-hoá, hiệp thành Hội Thánh Cửu-Trùng-Đài xem như phần thừa hành giảng viên hội các môn, các khoa do Cơ Bút giáng truyền để giáo-huấn người đời nên gọi là Thể Thiên hành-hoá. Bởi do theo Tôn-chỉ Đạo, nghĩa là xu-hướng về phần giáo dục mà thôi.

Pháp-Chánh-Truyền dạy: “Thầy đã xưng là Thầy đặng dạy-dỗ, còn tên các Chức sắc đủ chỉ rõ-ràng phận-sự giáo-hoá là chánh vai của mỗi người, như: Giáo Hữu, Giáo-Sư, Phối-Sư, Đầu-Sư, Giáo Tông. Xem rõ lại thì tên mỗi vị chẳng mất chữ “Giáo” hay là chữ “ Sư”.

Thầy dạy rằng:

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,
Cái công giáo hóa cũng đồng sinh.
Ðạo đời tua biết đời rằng trọng,
Một điểm quang minh một điểm linh.

Nghĩa là sắp nhỏ của con dạy, sau cũng nên người ở đời, ấy là đời nếu biết trọng đời thì gắng dạy nó nên hiền.

Một điểm quang minh là một hồn người, là vật tối linh của Thầy trân trọng. Nếu con muốn làm lành thì gắng dạy mấy hồn ấy đặng hiền.

Nhận xét: Thầy xem việc nhơn luân là hệ trọng, nên rất chú ý từ những việc thật tế vi, hầu như không một điều gì mà Thầy không dạy.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

“Phục nguyên-nhơn huờn tồn Phật tánh,
Giáo-hóa hồn hữu hạnh hữu duyên.”

 

 

GIÁO HÓA CHÚNG SANH

Những Chức sắc là phải suất sư tức là phải đi các địa phương để truyền lý Đạo, dạy dỗ nhơn sanh cho hiểu thông lý Đạo và gieo niềm tin về đạo pháp đến cho mọi người.

Thỉnh-Giáo của Hội-Thánh v/v Chức-Sắc hành-sự đủ 5 năm mà không đi hành-quyền Hành-Chánh các Châu-Tộc, nhưng có công-nghiệp xứng-đáng có được thăng một lượt với Chức-Sắc đi hành-đạo địa-phương không?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: Những vị đủ hạnh-đức, đủ công-nghiệp mà chỉ hành-đạo nơi Tòa-Thánh thì chỉ kể như người giữ nhà vì không giáo-hóa và Phổ-Độ chúng-sanh, là phận-sự chính Thiêng-Liêng của một phần-tử của Thánh-Thể là Hội Thánh. Chí-Tôn đến phổ-hóa và cứu-độ (chúng-sanh) chớ không phải đến giữ nhà, hay cày ruộng, nấu ăn, dầu đủ công nghiệp mà vì Hạnh-Kiểm hay bất-lực, Hội-Thánh không đủ tín nhiệm cho cầm quyền Giáo-Hóa chúng-sanh, thì công-nghiệp ấy bao nhiêu cũng kể cho rằng không xứng-đáng. Đủ hạnh-đức, đủ tài-tình lãnh sứ-mạng ta-bà giáo-hóa là nguy-hiểm và khó khăn hơn ngồi nhà, giữ nhà cùng nồi cơm hủ gạo, phận-sự ấy của phái nữ mới phải, mà Nữ-Phái còn cho là vô-giá-trị huống lựa là Nam, nếu có công-nghiệp phi-thường, hạnh-đức đầy đủ đặng thăng đi nữa cũng phải đứng sau người cầm quyền hành đạo và giáo-hóa tha-phương.”

Đức CHÍ TÔN nương theo đạo đức truyền thống của người Việt Nam, phổ hóa một mối Chơn truyền uyên thâm, khai sáng một đường tấn hóa thiên nhiên từ Nhơn luân đến Thiên lý.”

 

 

GIÁO HÓA NHƠN SANH

教 化 人 生

Ngày 14-12-1926 (âl 10-11-Bính Dần)

Thanh nhàn muốn vẹn buổi chung qui,
Giáo hóa nhân sanh đức phải vì.
Bước thế chịu đày khơi bạch phát,
Nguồn Tiên rán lướt rạng thanh mi.
Nâu sồng tánh gội dành trăm tuổi,
Chung đỉnh đường qua trót một thì.
Gương sáng phước Trời soi hậu tấn,
Chờ xuân khải chiết đắc mai chi.

Từ đây, Thầy là Ðứng cầm quyền thế giới, đã vì con mà độ dẫn con lại cảnh thanh nhàn cực lạc. Vậy rán giồi Thánh đức, lấy đạo hạnh mà giáo hóa đám dân sanh, phần nhiều đã mơ màng trong giấc mộng. Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn.”

 

 

GIÁO HỘI

敎 會
E: The Church.
F: L’église.

Giáo: Dạy, truyền dạy, tôn giáo. Hội: họp lại nhiều người. Giáo Hội là đoàn thể lãnh đạo cao nhất của một tôn giáo. Trong nghĩa nầy, Giáo Hội cũng là Hội Thánh.

Đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành phân ra: Giáo Hội Trung Ương và các Giáo Hội địa phương.

 

 

GIÁO HUẤN

教 訓

Diễn văn của Đức Hộ-Pháp rằng: “Làm cha mẹ ở thế, khi con khôn lớn thì hằng lo giáo huấn làm đầu, vì có học mới có khôn, có hành mới có biết, mong sao cho con nó hay hơn mình, nên phải lo lắng kiếm trường, lựa chọn thầy dạy dỗ. Hễ thấy con hơn mình thì đủ cho là phước hạnh. Cái trường Càn Khôn tạo hóa vốn của Đức Chí Tôn lập đặng dạy các đẳng linh hồn thêm học thức, học đặng biết mình trước đã, sau mới mong tìm tòi biết người, tấn hóa cùng cơ thể luân hồi, rộng học thức nhờ bởi chịu nhọc nhằn đau thảm”.

 

 

GIÁO HỮU (Phẩm)

教 友
E: The Priest.
F: Le Prêtre.

(Giáo: dạy; Hữu: bạn). Giáo Hữu là một phẩm còn cấp dưới thuộc Cửu Trùng Đài, đối phẩm với Thiên Thần.

Đức Thượng Đế giáng tại Từ Lâm Tự (Gò Kén- Tây Ninh) Thứ Bảy: 20-11-1926 (âl: 16-10-Bính Dần) lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái, lần lượt đến phẩm:

GIÁO HỮU là người để phổ thông Chơn đạo Thầy. Chúng nó đặng quyền xin chế giảm luật lệ Ðạo. 3000 Giáo Hữu chia ra đều, mỗi phái là 1000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt. Chúng nó đặng phép hành lễ khi làm chủ các chùa trong mấy tỉnh nhỏ.”

Giáo Hữu muốn lên Giáo Sư thì nhờ 3000 vị kia xúm nhau công cử.

Giáo Hữu (Prêtre) Giáo-hữu 3.000 vị là Tam Thiên Đồ đệ. Lãnh phận sự phổ thông Chơn Đạo. Giáo Hữu là người chỉ có bổn phận dạy Bạn thôi, đối phẩm Địa Thánh. Giáo Hữu cầm quyền cai trị của Ðạo trong một Châu hay rộng hơn, sau nầy trong một nước nhỏ, được quyền thân cận với Nhơn sanh đặng phổ thông Chơn Ðạo của Thầy, thay mặt Giáo Sư khai đàn cho chư Ðạo hữu. Cả thảy có 3.000 Giáo Hữu, không đặng tăng thêm hay giảm bớt, chia ra mỗi Phái là 1.000 người. Giáo Hữu cũng có quyền xin chế giảm luật lệ như Giáo Sư, nhưng phải đi theo đẳng cấp.

Đức Hộ-Pháp nhấn mạnh: “Ngài nói những kẻ nào dám chết về Đời, sống vì Đạo, những kẻ ấy mới đáng làm Thánh Thể của ta nơi mặt thế gian này. Cả toàn Thánh Thể đã hiểu lắm, tới phẩm Giáo-Hữu phải chết, chết vì Đời rồi sống lại sống vì Đạo. Tức nhiên Đức Chúa Jésus Christ nói cao sâu rằng: Nếu ai đã biết ai, đã biết cái sống của chúng ta đã ban cho mà dám hy sinh cái kiếp chết của họ, là cái xác thịt này thì mới đạt đặng cái sống trường tồn vĩnh cửu, tức nhiên Thiêng Liêng Hằng Sống của Cha ta đã dành để. Bần Đạo thuyết điều ấy cốt yếu nói cả toàn thể con cái của Đức Chí Tôn, dầu cho hàng Tín đồ nam nữ dĩ chí Đại-Thiên-Phong cũng vậy, mỗi phần tử Thánh-Thể của Ngài phải biết cái mạnh của mình là cái sống thật, cái yếu của mình là cái sống giả, phải có can đảm hy sinh cái chết: cái thi hài thúi tha của ta đây đặng mà đạt cho đặng cái danh Hằng sống và chúng ta đặng ngôi vị Thiêng Liêng Hằng Sống “.

Giáo-Hữu qui định phải có 3.000 vị gọi là Tam Thiên Đồ đệ: chia đều mỗi phái một ngàn (1000) chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt; lãnh phận sự phổ thông Chơn Đạo. Giáo Hữu là người chỉ có bổn phận dạy Bạn thôi, đối phẩm Địa Thánh.

Giáo-Hữu là Chức sắc Cửu-Trùng-Đài, ứng hợp với hào sơ của quẻ Kiền là hào đầu tiên của quẻ. Hình ảnh ấy là một Giáo-Hữu vừa mới bước vào ngưỡng cửa Thánh-Thể Đức Chí Tôn, đối phẩm với hàng Địa Thánh. Đây là phẩm Nhơn-tước mà Chí-Tôn cho mượn để lập công, nếu hành đúng như Pháp Chánh Truyền qui định thì cũng phù hạp với Thiên-tước nơi cõi Thiêng-liêng. Giáo-hữu 教 友 nghĩa chính là dạy bạn.

Dịch nói Rồng ẩn là thế nào đối với bậc Giáo-hữu?

Giáo-Hữu là phẩm cấp đầu tiên trong hàng Thánh Thể Đức Chí-Tôn, vừa từ Lễ-Sanh mới thăng lên, là phẩm nhỏ nhứt trong hàng Chức-sắc Thiên phong như một hào dương non-nớt nằm ở phần dưới cùng của quẻ Kiền.

Giáo-Hữu chỉ có một quyền hạn khiêm-tốn là “dạy bạn” mà thôi. Tuy nhiên cái Dương nhỏ nhoi, non-nớt ấy mà rất nên yếu-trọng, vì dương có tính năng động, phát tán và đi lên, thế nên: “Giáo hữu là một phẩm-vị rất trọng yếu” là nền tảng của Thánh-Thể Đức Chí-Tôn.

Vì sự yếu-trọng đó nên trong thời-kỳ khởi đầu, khi mới manh-nha, nên chưa thể thi thố ra các quyền rộng rãi được. Dịch bảo “chớ dùng”.

Pháp-Chánh truyền qui định cho quyền hành “Giáo-hữu là người để phổ-thông chơn Đạo của Thầy” nhưng Thầy buộc:

- Phải học cho lảu thông chơn Đạo của Thầy.

- Phải có khoa-mục mới đặng.

- Phải thể Đạo cho xứng đáng Tôn-chỉ của Đạo.

Vì sợ e rằng còn khiếm-khuyết, chưa đầy đủ nên mới “buộc”. Ở vào thời-kỳ còn buộc tức là còn nghi ngờ, chờ sự kiểm-điểm, khảo-dượt, lừa-lọc nên ứng với lời chiếm là “vật dụng” tức là chớ dùng. “Chớ dùng” đây là vì vấn-đề trọng-yếu chớ không phải không dùng được, vì tính cách hào Sơ Cửu quẻ Kiền là Dương cương ở vào vị Dương được đắc chính, cho nên phẩm Giáo-hữu ở vào thời “Chớ dùng” để:

- Tích-luỹ tài năng, đức độ cho được cao dày, sáng chói hơn, vững-vàng hơn.

- Chờ sử dụng cho đúng với địa vị và quyền hành thích đáng hơn.

- Chờ đúng thời-gian, đúng lúc, vì mỗi phẩm cấp phải đủ năm năm công quả mới được thăng lên phẩm kế tiếp, với điều kiện công nghiệp không gián đoạn, vì Pháp Chánh-Truyền chú giải dạy rõ:

-“Cái phận-sự phổ-thông là một phận sự lớn-lao quí trọng”.

-“Nếu chẳng biết Tôn-chỉ của Đạo cho thông suốt, lại đem xuống truyền-bá cho nhơn sanh những tư tưởng nghịch cùng chơn-lý của Đạo là hại Đạo.”

-“Huống chi Thầy đã nói: Giáo-hữu là người thân cận của nhơn-sanh hơn hết, nếu chẳng lựa chọn kẻ hạnh đức, tâm tu, có đủ tư cách mà bày gương Đạo cho rõ ràng, nhơn-sanh chỉ để mắt vào đó mà khen, hay là chê Đạo”.

-“Vì sự chơn thật hay là giả dối, nhơn-sanh chỉ coi đó mà quyết đoán: Trò phải như Thầy mà Thầy thế nào trò phải thế nấy, nhơn-sanh xem trò mà đoán Thầy.

-“Cái thể-thống của Đạo Thầy gọi là chơn thật, thì phải hành đạo thể nào cho ra chơn thật y như Thầy sở định”.

-“Bậc trí-thức, muốn quan-sát một nền Đạo nào, thì chẳng cần biết hết Chức sắc, chỉ lựa một phẩm-vị yếu trọng hơn hết là bực Hạ-thừa, mà so sánh tư cách, hạnh đức đặng quyết đoán Tôn chỉ nội dung của Tôn giáo ấy”.

Vì lẽ đó:

-“Giáo-hữu là một phẩm-vị rất yếu-trọng”.

-“Ấy vậy: buộc Giáo-hữu phải thể Đạo cho xứng đáng với Tôn chỉ cao thượng của Đạo. Muốn cho xứng đáng thì phải thông suốt cả các chơn-lý Đạo”.

Những lời dạy Đạo trên đây là Pháp Chánh Truyền qui định cho phẩm Giáo-Hữu.

Tuy nhiên với Nam-phái thì phẩm Giáo-hữu được giới hạn trong số 3.000 mà thôi. Có nghĩa rằng Giáo-hữu chia làm ba phái Đạo: Thái, Thượng, Ngọc. Mỗi phái là 1.000 chẳng tăng thêm hay là giảm bớt.

Quyền-hành NỮ GIÁO-HỮU

Đối với Nữ Giáo-Hữu về quyền-hành cũng:

“Y như quyền-hành Nam-phái, song Chưởng quản về phần Nữ-phái mà thôi”.

Giáo-hữu mặc Đạo-phục như Giáo-sư, nhưng không đội mão, giắt một bông sen, trên bông sen có Thiên Nhãn Thầy”.
Chú Giải: “Giáo-hữu mặc Đạo-phục y như Giáo-sư, song trên đầu không đặng đội mão Ni-kim-cô, chỉ giắt một bông sen trên đầu tóc mà thôi, giữa bông sen có Thiên Nhãn Thầy”.

Về Chức-sắc Nữ-phái bất cứ phẩm-cấp nào cũng không giới hạn, nghĩa là bao nhiêu cũng được, chỉ do quyền Thiêng liêng định đoạt khi đủ điều-kiện được tuyển chọn thì thôi.

Thầy có dạy: “Trên Bạch-Ngọc-Kinh có đủ Nam và Nữ; các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Có các đấng Nữ-Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền thế hơn Nam nhiều”.

“Thầy để lời cho các con biết rằng, phần nhiều các Giáo Hữu không xét biết trách nhậm của mình. Con phải nhắc cho chúng nó hiểu. Mỗi Giáo Hữu ít nữa phải thông cội rễ nền Ðạo, chúng nó phải năng tìm biết Thánh Ngôn của Thầy đã dạy, và thay phiên nhau mà nói Đạo cho chư thiện nam tín nữ hiểu. Nhiều Giáo Hữu không biết một nét chi về việc Đạo, chư tín đồ không trông học hỏi đến đặng, thì Chức sắc còn có bổ ích chi. Con phải nhắc cho chúng nó và Hội Thánh phải hội một tháng một kỳ mà chỉ dẫn cho nhau về việc thuyết đạo trong mỗi đàn, nghe!” Các Giáo Hữu phải lo lắng về phần thuyết đạo cho kịp mỗi đàn lệ, phải trích ra một bài Thánh Ngôn dạy về đạo đức và đọc cho chúng sanh nghe. Như vậy thì lời Thánh giáo như còn vẳng bên tai các môn đệ, để giục bước đường của chúng nó chẳng sụt sè vậy.

Th...và L... T... ái nữ cũng do theo đó mà hành sự, nghe!

Tr... bạch: Con có ra đề hồi hôm nơi Ðàn Cầu Kho cho các Giáo Hữu làm bài thuyết đạo.

- Phải, như các Giáo Hữu nào bê trễ về phận sự và không quản đến lời Thầy thì con hội chư Thánh dâng sớ lên cho Lý Bạch phán đoán, nghe!

Đức Hộ-Pháp nói: “Đạo giáo Cao-Đài Đức Chí Tôn để bí pháp ấy trong Thánh-Thể của Ngài. Ngài nói những kẻ nào dám chết về đời, sống vì Đạo, những kẻ ấy mới đáng làm Thánh-Thể của ta nơi mặt thế gian này. Cả toàn Thánh Thể đã hiểu lắm, tới phẩm Giáo-Hữu phải chết, chết vì đời rồi sống lại sống vì Đạo”. Là một chức sắc phải tỏ ra đạo hạnh để người ngoại Đạo trông vào mà yêu mến chơn Đạo của Đức Chí-Tôn khai dựng. Mỗi vị Giáo-Hữu cho đặng các điều này:

1- Một là phải thông việc Đạo.
2- Hai là phải thạo việc Đời.
3- Ba là trau-giồi đức hạnh.
4- Bốn là giữ chánh dạy người.

Muốn đặng bốn điều ấy phải tìm-tòi hỏi-han cho mở rộng thêm ra chỗ học thức của mình, phải năng đọc Thánh ngôn cùng năng xem sách Đạo”.

Bằng cớ khi nọ có một người đàn bà, Bần-Đạo không nên nói tên ra làm chi, đội sớ quì mãi đến bãi đàn, Tôi không biết xin điều gì, quì đến bãi đàn, đội sớ quì như vậy từ đàn này đến đàn khác, theo đuổi giỏi-dắn siêng năng lắm. Ngày nọ, đến cái đàn chót Đức Chí-Tôn kêu tên người đó rồi hỏi:

- Con muốn lắm sao con?

Người kia thầm vái cái gì không biết, Đức Chí Tôn nói:

- Thôi, phong cho con chức Giáo-hữu đó!

Thành thử ta ngó thấy rằng: Giá-trị của chức Giáo Hữu chẳng có gì hết! Bất kỳ ai cũng cầu được, đem vô cái thể của Ổng với những phần tử vô-giá-trị, làm cho Đức Lý buổi nọ cầm quyền Thiêng-liêng mối Đạo Ngài khổ-não không biết sao luận được"

Đức Lý dạy: “Hộ Pháp, Hiền hữu nhớ kỹ lại, hàng Giáo Hữu là Thánh thể, luật định phải phế đời hành đạo, do nơi Hiền hữu ban phép giải thể. Những vị Lễ Sanh như: Ấn, Bắc, Lương thì Hiền hữu xem coi có cắt ái ly gia không mà cầu phong Giáo Hữu?”

Do tờ của Nữ Chánh Phối-Sư Lại-Viện xin phép cho Lễ-Sanh Hương-Tình từ-chức đặng sanh.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: “Phê cho nghỉ phép đặng sanh, may là còn phẩm Lễ-Sanh thì còn dễ giải quyết, còn nếu đã lên hàng Giáo Hữu thì đem ra Toà Pháp-Chánh. Xin nhớ hễ còn vợ chồng con cái thì Hội-Thánh đừng cho thăng Giáo-Hữu.  [(HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

 

 

GIÁO LÝ

教 理
E: Doctrine.
F: Dogme.

Thầy dạy cho người Pháp hầu Đàn: “Nhân-loại phải chịu đau khổ vì sự biến thể của các Thánh Tông-Ðồ. Chiếc Ngai quí báu nhứt trên thế gian nầy hiện là chiếc Ngai của vị Đệ nhứt Cao-đồ của Người. Giáo-lý ấy đáng lẽ phải đem lại Hòa bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẻ và chiến tranh.Bởi thế, nên nay chính Thầy phải đến để đem lại cho các con nền Hoà-bình đã từng hứa hẹn”.

Đức Cao Thượng Phẩm nói: “Các em cũng dư hiểu rằng các GIÁO LÝ từ xưa đã bị thất kỳ truyền là tại Môn đồ của họ không chịu đặt mình trong khuôn viên luật pháp của giáo lý ấy.

Nếu một thời kỳ mà một giáo lý đã thất chơn truyền thì đem đến cho nhơn sanh biết bao tang thương biến đổi! Cũng vì lẽ ấy mà nay Đức Chí Tôn giáng trần lập Đạo, lại chia hình thể của Ngài ra hai phần để có phương kềm thúc nhau trên bước đường lập vị.

- Phần Cửu Trùng Đài chuyên về mặt giáo hóa nhơn sanh,

- Còn phần của Hiệp Thiên Đài thì lo về mặt Luật Pháp để bảo thủ chơn truyền của Đạo.

Nhờ đó nền Thánh giáo của Đức Chí Tôn khỏi phải qui thành phàm giáo. Cũng vì lẽ quyền hành riêng biệt ấy mà khiến cho hai bên thường có phản khắc Đạo quyền, bởi tánh phàm thường hay có phạm những lỗi lầm mà chẳng chịu phục thiện, đặng cải sửa cho trở nên tận thiện. Các Em đâu hiểu rằng, Chí Tôn giao quyền sửa trị Chức sắc, Chức việc và toàn Đạo nam nữ cho bên Hiệp Thiên Đài là Thánh-ý của Đức Chí Tôn muốn dùng hình phàm đặng làm cho giảm bớt tội vô hình. Nếu ai chẳng thận trọng để cho phạm vào Luật Pháp mà chẳng chịu pháp sửa trị của Hiệp Thiên Đài thì rất uổng cho một kiếp tu mà không trọn phận và đến khi rời bỏ xác phàm rồi làm sao có cơ hội lập công nữa! Mà một khi không lập công quả được nữa thì tội án đã phạm làm sao chuộc được. Rồi mãi bị trầm luân khổ hải đời đời kiếp kiếp. Vậy các em khá nhớ lời Bần Đạo dặn mà giữ mình cho trọn phận trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ nầy. Thêm nữa, các Em nên nhớ :

Hễ khi các Em đã vô tình hay cố ý mà phạm vào Luật Pháp thì hãy vui vẻ để cho luật pháp sửa trị đặng khỏi vướng tội vô hình. Còn những người được lịnh Hiệp Thiên Đài để sửa trị các Em là những người ơn của các Em, chớ không phải người thù theo tánh phàm của nhơn sanh đã tưởng. Thôi, có bấy nhiêu lời Bần Đạo căn dặn thêm, các Em ráng lập tâm mà ghi nhớ mỗi ngày đa nghe!”.

Ngài Bảo Thế nói: “Đại Đạo Tam Kỳ xuất thế với một yếu lý Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi, thành thử những tu sĩ của nền Tân Tôn Giáo nầy không còn phân biệt Giáo phái, tức là coi nhau như bạn thân, đồng theo một khuynh hướng “Cứu nhơn độ thế”. Lẽ dĩ nhiên, ĐẠO CAO ĐÀI phải có một Giáo lý phù hạp với trình độ của nhơn sanh hiện tại đặng chuyển đọa vi thăng, tiêu trừ nghiệp chướng”.

Hiện, Giáo-lý của Đại-Đạo là chuyên về tín ngưỡng và tu trì, dìu dẫn quần-sanh trên con đường xuất thế.”

NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

Giáo lý của Đạo Cao Đài không chỉ nhằm mục đích hoà hợp các tín ngưỡng tôn giáo, mà còn thích nghi với tất cả mức độ tiến hóa của tâm linh.

1. Về phương diện đạo đức: Giáo lý Đạo Cao Đài nhắc nhở con người có bổn phận đối với chính mình, đối với gia đình, đối với xã hội, ấy là một gia đình mở rộng, kế đó đối với nhơn loại, gia đình thế giới;

2. Về phương diện Triết học: Giáo lý Đạo Cao Đài truyền dạy sự khinh thường danh vọng, sự giàu có, sự xa hoa, tắt một lời là sự giải thoát khỏi những nô lệ vật chất, để tìm tòi trong tâm linh sự yên tĩnh của tâm hồn;

3. Về phương diện văn hóa: Giáo lý Đạo Cao Đài khuyên nhủ sùng bái Thượng Đế, Đại Từ Phụ của tất cả chúng ta, tôn thờ các Đấng chơn linh thượng đẳng vốn tạo nên hệ thống trật tự oai nghiêm trong thế giới huyền bí. Chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên theo truyền thống dân tộc, bài trừ việc cúng bằng các thứ thịt thú vật, cũng như giấy vàng mã;

4. Về phương diện tâm linh: Giáo lý Đạo Cao Đài xác nhận sự đồng ý với các tôn giáo khác về các hệ thống triết học tâm linh và tâm lý, sự hiện hữu của linh hồn và sự tồn sinh của nó nơi thể xác, sự tiến hóa của linh hồn bởi sự đầu thai chuyển kiếp liên tiếp, cái kết quả sau khi chết của các hành vi của con người định bởi luật Nhân quả.

5. Về phương diện truyền giáo: Đạo Cao Đài truyền đạo cho các tín đồ xứng đáng những giáo huấn mặc khải mà nó cho phép các tín đồ, bởi quá trình tiến hóa tâm linh, đạt đến sự hưởng thụ toàn phúc.

 

 

GIÁO LÝ CHƠN TRUYỀN

教 理 眞 傳

Đức Thượng-Sanh nói rằng: “Khi Qua ở Sài-Gòn, nghe khách bàng-quan trích điểm về Giáo-lý Cao-Đài nhiều lắm. Bởi lẽ người trong Đạo chưa viết được một quyển sách đúng với Giáo lý Chơn truyền; hầu hết các sách viết trước do hạn-chế và lý luận về nguồn gốc Đạo Tam-Kỳ nên họ chỉ viết cái mà họ biết được: Người gốc theo Đạo Phật, thì họ cho Đạo Cao-Đài là Phật Giáo chấn-hưng. Người gốc theo Đạo Khổng, thì họ cho Đạo mới là Nho Tông Chuyển-thế. Người gốc theo Đạo Lão, thì cho là Thiên-khai Huỳnh Đạo. Thật ra là ĐẠO CAO-ĐÀI!

Muốn hiểu bổn-nguyên tư-tưởng phải lấy Thánh ngôn, Kinh sách Kỳ ba Phổ-Độ mà giải-thích. Đạo Cao-Đài như một bức khảm xà-cừ:

- Nhìn thẳng thấy màu trắng,

- Nhìn nghiêng bên phải thấy màu xanh phơn-phớt,

- Nhìn xuống phía dưới thấy màu vàng nhạt.

Các màu xanh, đỏ, vàng chỉ là những cách thể hiện các giai-đoạn ban sơ của Đạo. Thật sự ĐẠO CAO-ĐÀI là MÀU TRẮNG. Phải hiểu Đạo Cao-Đài là tinh-hoa bổn-nguyên triết-lý của chính nền Đạo mới này”.

 

 

GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO (Sách)

教 理 大 道

Lời giới thiệu khi tái bản lần III của Đức Thượng Sanh

Tặng quyển “GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO” của Ông Tiếp Pháp Trương Văn Tràng

Giáo lý” Đạo Trời thất ức niên,
Trương Quân biên soạn để lưu truyền.
Tồn tâm chỉ rõ đường mê giác,
Dưỡng tánh phân rành nẻo tục Tiên.
Vẹt ngút mây mù nâng đuốc huệ,
Gắng công học hỏi đáng tài hiền.
Noi theo chánh thuyết bền trau luyện,
Mới đạt chân tu phép diệu huyền.

Tòa Thánh ngày 14-8 Kỷ Hợi (26-9-1959)

 

Lời của Giáo Sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC

Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Sài Gòn

Đề tựa quyển “Giáo lý Đại-Đạo”

“Sự xuất hiện của Đại-Đạo Cao-Đài ở miền Nam Việt Nam cách đây chưa đầy nửa thế kỷ, mà sức cảm hóa lan tràn mau lẹ. Tín đồ Nam, Trung, Bắc lên tới hàng triệu, thực là một hiện tượng tâm lý xã hội hết sức lạ kỳ. Đấy chẳng phải nhờ tài truyền giáo của người mà là một năng lực huyền diệu tâm linh như là ba động, gọi ba động theo định luật Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu vậy.

Một Đạo sĩ danh tiếng Ấn Độ bảo: Nếu ai ngồi trong hang núi hẻo lánh ngày đêm tâm tâm niệm niệm một ý niệm, ý niệm ấy sẽ tập trung hết năng lực tinh thần trở nên một ý tưởng lực xuyên sơn quá hải, như một điện lực để tràn vào xã hội, tìm nhập vào tâm hồn đồng điệu như tia chớp bắt vào ngọn thu lôi mà ảnh hưởng khắp cả. Đạo Cao Đài ngày nay mà giáo-lý cơ bản là tinh thần tổng hợp “Tam Giáo Đồng nguyên” vốn đồng điệu với tâm hồn nhân dân nông nghiệp Việt-Nam. Cái điệu nhạc tinh thần ấy vốn gốc rễ sâu xa trong tinh thần truyền thống dân tộc, cho nên một giáo sư Pháp trường Viễn Đông Bác Cổ, Mr. Durand đã nhận xét về tâm hồn Việt Nam rằng: “Nói rằng tâm hồn Việt Nam do một tổng hợp ảnh hưởng của ba hệ thống: Nho, Phật, Lão, chi phối thực là một điều đã trở nên điển hình vậy”. Maurice Durand Bulletin Etudes Indochinoises - Saigon 1953.

Nhưng sự thật Tín đồ Cao Đài đại đa số là nông dân mà nông dân thì không có học, cho nên họ bảo họ chịu ảnh hưởng của ba hệ-thống tư tưởng bác-học chính yếu Á Đông thì cũng khó hiểu. Xét kỹ, trước khi có ba hệ thống trên du nhập vào đất cố đô của nòi giống Việt là đất Giao Châu (Bắc Việt) thì ở đấy như các nhà khảo cổ đã khai quật tại Thanh-Hóa và Bắc-Ninh hai di tích văn minh là văn minh Đông Cổ và văn minh Cổ Mộ. Đông Cổ tượng trưng cho tín ngưỡng Hồn nước linh thiêng và Cổ Mộ đại diện cho sùng bái Hang động thiên nhiên. Cả hai khuynh hướng đã sẵn chung một cơ sở “Linh” từ Tổ Tiên cho đến Thần Tiên. Do đấy mà nhân dân Việt Nam “Sống trong siêu nhiên” (Vit dans le surnaturel) (1) như Linh Mục Leopold Cadière đã kết luận hay là như Alfred Meynard đã nhận định: “Người Đông phương đã đem vô hình vào đời sống hằng ngày của họ”. (L'Oriental a fait entrer l'invisible dans son existence quotidienne). (2)

Chính đấy là nguồn gốc sâu sa của tín ngưỡng Cao Đài

hợp Đời với Đạo vào một nguồn tâm linh:
Đời, Đạo nên lo nối bước theo,
Đời không Đạo Đức chịu mang nghèo.
Đạo, Đời tương ứng thành an trị,
Đời, Đạo thấp cao cũng rán trèo.

Đại Thừa Chơn Giáo.

Nhưng tín ngưỡng Cao Đài sau khi thâu hóa ba hệ thống Giáo lý căn bản Đông Phương và thống nhứt vào tín ngưỡng Tâm linh truyền thông dân tộc, đã luôn luôn trung thành với tinh thần Đạo học Đông phương là Giác mà Tin, chẳng phải mê tín như lời Thầy cảnh tỉnh:

Tiếng chuông khải ngộ thức hồn mê,
Trống đổ kêu mau kíp trở về.
Giác thế hồi tâm hành hướng thiện,
Mê nơi cõi tục khổ trăm bề.

Tiếng Trống Giác Mê

Cũng vì mục đích Giác Mê mà Cụ Tiếp Pháp Trương văn Tràng đã cố công soạn ra tập sách “GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO” nầy rất công phu, có mạch lạc thứ tự, đã giản dị lại thâm thúy, hơn nữa tất cả giá trị không ở tại công trình nghiên cứu mà còn là kinh nghiệm bản thân tu luyện suốt một đời của tác giả, thực đáng là những bài học Đạo đức sống, linh động cho kẻ học Đạo vậy. Cụ đã quá yếu, có nhã ý cho phép tôi đề tựa. Tựa thì tôi đâu dám, bất quá có vài lời phụ họa để khỏi phụ lòng tri ngộ của một bậc lão thành vậy”.

NGUYỄN ĐĂNG THỤC
(Gia Định, ngày 5-9-1964)

 

 

GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

教 道 南 方
E: To teach the true doctrine in Việt Nam.
F: Enseigner la vraie doctrine en Việt Nam.

Giáo: Dạy, truyền dạy, tôn giáo. Đạo: giáo lý chơn thật của một tôn giáo. Nam: hướng Nam. Phương: nơi chốn, vùng đất. Nam phương là chỉ nước Việt Nam.

Giáo đạo Nam phương là giảng dạy một nền giáo lý chơn thật cho nhơn sanh ở nước Việt Nam.

Đức Chí Tôn đã chọn nước VN, dân tộc VN để gieo truyền nền Đại Đạo, và chọn Tây Ninh làm Thánh Địa để cất Tòa Thánh Trung Ương, rồi từ nơi đây mới khởi truyền bá nền Đại Đạo ra các nước trên toàn thế giới.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Vốn Thầy lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu.

Thầy đã lập Đạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thử đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo Thiên lập Địa, chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 nầy đặng vậy."

Khi Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo, Đức Chí Tôn luôn luôn mở đầu bằng câu: "NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG." (Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế gọi là Đấng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, giảng dạy Đạo lý tại nước VN.)

 

 

GIÁO ĐẠO THA PHƯƠNG

教 道 他 方
E: To teach the true doctrine in the foreign countries.
F: Enseigner la vraie doctrine dans les pays étrangers.

Giáo: Dạy, truyền dạy, tôn giáo. Đạo: giáo lý chơn thật của một tôn giáo. Nam: hướng Nam. Phương: nơi chốn, vùng đất. Nam phương là chỉ nước Việt Nam.

Giáo đạo Nam phương là giảng dạy một nền giáo lý chơn thật cho nhơn sanh ở nước Việt Nam.

Đức Chí Tôn đã chọn nước VN, dân tộc VN để gieo truyền nền Đại Đạo, và chọn Tây Ninh làm Thánh Địa để cất Tòa Thánh Trung Ương, rồi từ nơi đây mới khởi truyền bá nền Đại Đạo ra các nước trên toàn thế giới.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Vốn Thầy lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu.

Thầy đã lập Đạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thử đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo Thiên lập Địa, chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 nầy đặng vậy."

Khi Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo, Đức Chí Tôn luôn luôn mở đầu bằng câu: "NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG." (Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế gọi là Đấng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, giảng dạy Đạo lý tại nước VN.)

 

 

GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN (Phật Học)

教 外 別 傳

Giáo ngoại biệt truyền (J: Kyōge-betsuden) Tức là giáo pháp truyền đặc biệt ngoài kinh điển, không thể theo văn tự, lý thuyết mà đạt yếu chỉ được. Câu này thường được các vị Thiền sư sử dụng chỉ tông phái mình, Thiền tông.

 

 

GIÁO NHI

教 兒

Giáo nhi xem như phẩm tước của Nữ phái có mặt trong ba ban: Lễ, Nhạc, Đồng Nhi. Mà Giáo nhi là người đứng ra dạy cho các đồng nhi ấy thuộc Kinh kệ và nghi thức cúng kính trong tất cả các đàn lệ và đám tiệc: hôn, tang, tế sự trong Đạo.

Giáo Nhi, do nơi Sắc Lịnh số 21 đề ngày 9 tháng 11 năm Bính Tý (dl: 22-12-1936) năm thứ 10, thì Giáo Nhi và Lễ Sĩ trọn hiến thân và có cấp bằng của Hội Thánh, cứ đủ 5 năm công nghiệp thì đặng thăng thưởng Lễ Sanh, khỏi phải đem ra quyền Vạn Linh công nhận. Còn những Giáo Nhi nào theo mặt thế, nghĩa là có chồng con mà còn hành sự tại làng của mình, thì buộc mỗi năm dạy cho được 36 Ðồng Nhi, Chức Việc sở tại, mới được đem vào sổ cầu phong.

 

Văn phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Nội chánh

(Ngũ Thập lục niên)


Tòa Thánh - Tây Ninh

Số 21/SL


SẮC LỊNH

Nghĩ vì Tân Kinh là Kinh tận độ đã ra, nên cần nhứt là phải có Lễ Sĩ và Giáo Nhi dạy mấy em Đồng nhi cho thành thuộc, phải độ rỗi phần hồn của toàn con cái Chí-Tôn khắp cả các nơi mà bước Đạo đã dụng huyền linh che chở.

Nghĩ vì Hội-Thánh mong mỏi mở rộng con đường Thánh Đức cho đoàn hậu tấn bước vào con đường Thánh Thể của Chí-Tôn đặng lập vị:

Nghĩ vì trẻ em Đồng nhi từ 11 năm mở Đạo đến nay đã trưởng thành nên buộc Hội-Thánh định phần phong thưởng công nghiệp. Nên:

SẮC LỊNH

Từ đây mở khoa mục mỗi năm cho Lễ Sĩ và Giáo-nhi thi cử.

- GIÁO NHI thì phải thuộc làu Tân Kinh và cũng phải thuộc một món Âm Nhạc như Lễ Sĩ.

Những Đồng Nhi nam nữ có giấy chứng Tòa-Thánh, lớn trên 20 tuổi mới đặng thi LỄ SĨ và GIÁO NHI, phải biết viết với đọc chữ Quốc ngữ.

Mỗi năm mở khoa mục, đầu tháng 10 tại Tòa Thánh.

Hội-Thánh chia ra hai thứ Lễ sĩ và Giáo Nhi:

- Thứ nhứt thì những hạng Lễ sĩ và Giáo Nhi trọn hiến thân cho Hội-Thánh, nhứt là Giáo nhi đã tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì sẽ đặng thuyên bổ hành chánh trong các Thánh Thất bất cứ nơi nào.

LỄ SĨ 05 năm công nghiệp thì thăng vị Lễ Sanh khỏi cầu phong lại nữa. Hạng Lễ Sĩ và Giáo-nhi này trên quyền Chánh Trị-sự và dưới quyền Lễ Sanh nhưng về mặt Lễ nhạc: Quan, Hôn, Tang, Tế mà thôi, chứ không đặng dự vào Chánh trị hay là Luật pháp của Tòa Đạo.

- Thứ nhì là hạng Lễ sĩ và Giáo Nhi còn ở lại gia đình, nhứt là Giáo nhi có chồng con theo Thế, thì không đặng vào nơi Thánh Thất nào mà hành chánh hết, duy hành Đạo nơi xóm làng của mình mà thôi, lại buộc mỗi năm phải dạy ít nữa 12 trên 36 đứa Đồng nhi. Lễ sĩ thì dạy Nam, Giáo nhi thì dạy nữ, chứ không đặng dạy lộn xộn nam nữ chung nhau.

Cấm nhặc Lễ Sĩ không đặng phép dạy Đồng nhi Nữ. Nếu mỗi năm có mặt phái Chức sắc, Chức Việc sở tại nói rằng dạy thiếu và không đi hành Đạo thì bị ngưng chức liền, Hội Thánh không cần minh tra lại nữa.

Hạng này tùng quyền Chánh Trị Sự và ngang quyền Phó-Trị-sự và Thông Sự về mặt Lễ Nhạc: Quan, Hôn, Tang, Tế mà thôi, chứ không đặng dự vào Chánh trị hay là Pháp Luật của Tòa Đạo. Đủ năm năm công nghiệp đổ lên mới đặng cầu phong vào hàng Lễ Sanh, nhưng do nơi tổ yêu cầu Chức sắc, Chức việc sở tại mới đặng.

GIÁO NHI mặc như lễ Sanh nữ phái, nhưng không đặng giắt bông sen trên đầu tóc, còn Tiểu phục cũng vậy nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.. Kiểu này phải do nơi tiệm Linh Đức.

Kỳ dư mấy vị Lễ sĩ và Giáo Nhi đương thời hành đạo trong Hội-Thánh, vì có giấy tờ Hội-Thánh công nhận chánh thể rồi: Hội Thánh nhứt định cấm nhặc không ai được xưng danh hiệu Lễ sĩ và Giáo Nhi mà không có khoa mục và cấp bằng của Tòa Thánh ban cho đủ lẽ.

Khai Pháp, Tiếp Thế, Tiếp Đạo Hiệp-Thiên-Đài.

Quyền: Thái, Thượng và Ngọc Chánh Phối Sư và Chủ trưởng Hội-Thánh ngoại giáo, mỗi vị tùy phận sự thi hành Sắc lịnh này.

Lập tại Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 9 tháng 11-Bính Tý.
(Le 26 Décembre 1936)

HỘ-PHÁP

Chưởng quản Nhị Hữu hình Đài
Hiệp thiên và Cửu Trùng
Ký tên: PHẠM CÔNG TẮC

 

 

GIÁO NHƠN QUI THIỆN

教 人 歸 善

Ngài Bảo Thế nói: “Từ xưa đến nay, đã có nhiều Tôn giáo xướng xuất nhiều phương hướng dìu dẫn nhơn sanh trong trường xử sự tiếp vật theo Đức háo sanh của Trời. Song le, văn minh vật chất càng ngày càng tiến triển như hiện giờ, khoa học gần như muốn chiếm đoạt cơ mầu nhiệm của Tạo đoan, thì trái lại, tinh thần Đạo Đức của nhơn sanh ngày càng lu mờ. Mặc dầu, các Tôn giáo kia đã tận lực giáo nhơn qui thiện.”

 

 

GIÁO PHẨM

教 品
E: Hierachy.
F: Hiérachie.

Giáo: Dạy, truyền dạy, tôn giáo. Phẩm: bực phẩm Chức sắc. Giáo phẩm là các phẩm cấp Chức sắc trong Giáo hội của một tôn giáo.

 

 

GIÁO SĨ

教 士

Hỏi: Những vị Lễ-Sanh Hội Nhơn-Sanh công-nhận rồi, kế xin tình-nguyện qua ngạch Giáo-sĩ, nay có lịnh giải-tán?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

“Nếu có hành-quyền Giáo-sĩ là tính công-nghiệp, còn chưa thì kể là hành-phẩm ở tại Tòa-Thánh mà thôi.”

 

 

GIÁO SƯ (Phẩm)

教 師
E: Bishop.
F: Evêque.

Đức Thượng Đế giáng tại Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh) Thứ bảy: 20-11-1926 (âl: 16-10-Bính Dần) lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái, lần lượt là:

GIÁO SƯ có 72 người, trong mỗi phái là 24 người. Giáo Sư là người để dạy dỗ chư môn đệ trong đường Ðạo với đường Ðời. Buộc chúng nó lo lắng cho các con như anh ruột lo cho em. Chúng nó cầm sổ bộ của cả tín đồ. Chúng nó phải chăm nom về sự tang, hôn của mỗi đứa. Như tại Châu thành lớn thì mỗi đứa đặng quyền cai quản cúng tế Thầy như thể Ðầu Sư và Phối Sư. Chúng nó đặng quyền dâng sớ cầu nài về luật lệ làm hại nhơn sanh, hay là cầu xin chế giảm luật lệ ấy. Chúng nó phải thân cận với mỗi môn đệ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ, nghe à! Chư môn đệ tuân mạng”

Giáo Sư muốn lên Phối Sư thì nhờ 72 vị kia xúm nhau công cử.

GIÁO SƯ (Evêque): Giáo-sư 72 vị là Thất thập nhị Hiền. Có phận sự dạy dỗ Đạo-hữu trong đường Đạo và đường Đời. Được quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại Nhơn Sanh hay là cầu xin chế giảm Luật lệ ấy. Giáo-sư là Thầy có bổn phận giáo-hoá nhơn sanh, đối phẩm với Nhơn-Thánh.

Giáo Sư cầm quyền cai trị của Ðạo trong một Trấn, hay một nước. Toàn thể Ðạo có 72 vị Giáo Sư chia làm 3 Phái: Thái, Thượng, Ngọc, mỗi Phái 24 vị, chẳng đặng tăng thêm hay giảm bớt. Giáo Sư được rộng quyền dạy dỗ Nhơn sanh trọn vẹn đường Ðạo và đường Ðời. Có quyền xin chế giảm luật lệ cho hạp với trình độ trí thức, hay sanh hoạt của Nhơn sanh.

Giáo Sư (Phái Thượng)

Kỳ

 

Thượng Kỳ Thanh
Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Ðạo Giáo Sư
( Rằm tháng 3 Bính Dần).

 

Ngày 14 tháng 5 Bính Dần.

Kim

 

Thượng Kim Thanh

 

Ngày 17 tháng 5 Bính Dần.

Chức

 

Thượng Chức Thanh

 

Ngày 19 tháng 8 Bính Dần.

Hành

 

Thượng Hành Thanh

 

Ngày 29 tháng 8 Bính Dần.

Vinh

 

Thượng Vinh Thanh

 

Ngày 09 -09 Bính Dần.

Ðịnh

 

Thượng Ðịnh Thanh

 

Ngày 28 tháng 9 Bính Dần.

Hoài

 

Thượng Hoài Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần.

Lai

 

Thượng Lai Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần.

Son

 

Thượng Châu Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần.

Búp

 

Thượng Búp Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần.

Viễn

 

Thượng Viễn Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần.

Tín

 

Thượng Tín Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần.

Nhơn

 

Thượng Nhơn Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần.

Rút một đoạn Thánh giáo ngày Rằm tháng 10 Bính Dần (Vendredi Novembre 1926):

- Các con cứ lấy tên mình mà lót giữa và để chữ Thượng trước, duy có Son tên chữ Nôm, Thầy sửa lại là Châu...

Giáo Sư (Phái Thái)

Nhung

 

Thái Nhung Thanh

 

Rằm tháng 7 Bính Dần.

Luật

 

Thái Luật Thanh

 

22 tháng 7 Bính Dần.

Bính

 

Thái Bính Thanh

 

07 tháng 8 Bính Dần.

Giáo Hữu (Phái Thượng)

Giỏi

 

Thượng Giỏi Thanh

 

23-8-Bính Dần.

Bản

 

Thượng Bản Thanh
(Tiên Ðạo Công Thần Thuyết Ðạo Sư,
Rằm tháng 3 Bính Dần).

 

25-8-Bính Dần

Giảng

 

Thượng Giảng Thanh

 

25 tháng chạp Bính Dần.

Phạm Văn Thấp

 

Thượng Thấp Thanh

 

17-09-Bính Dần.

Huỳnh Văn Sơn

 

Thượng Sơn Thanh

 

17-09-Bính Dần.

Lê Văn Cúc

 

Thượng Cúc Thanh

 

17-09-Bính Dần.

Nguyễn Văn Phương

 

Thượng Phương Thanh

 

17-09-Bính Dần.

Võ Văn Kinh

 

Thượng Kinh Thanh

 

17-09-Bính Dần.

Bùi Văn Thiên

 

Thượng Thiên Thanh

 

17-09-Bính Dần.

Nguyễn Văn Cúc

 

Thượng Cúc Thanh

 

17-09-Bính Dần.

Nhơn

 

Thượng Nhơn Thanh

 

27-09-Bính Dần.

Nghi

 

Thượng Nghi Thanh

 

27-09-Bính Dần
(Rạch Giá).

Lân

 

Thượng Lân Thanh

 

02 tháng 09 Bính Dần
(Vũng Liêm).

Bích

 

Thượng Bích Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần
(Cần Thơ).

Huỳnh Văn Tuất

 

Thượng Tuất Thanh

 

Rằm tháng 10 Bính Dần
(SàiGòn).

Trịnh Văn Kỳ

 

Thượng Kỳ Thanh

 

21-10-Bính Dần
(Tây Ninh).

Sâm

 

Thượng Sâm Thanh

 

26-10-Bính Dần
(Chợ Lớn).

Tu

 

Thượng Tu Thanh

 

26-10-Bính Dần
(SàiGòn).

Ty

 

Thượng Ty Thanh

 

26-10-Bính Dần
(Cần Giuộc).

Tiếp

 

Thượng Tiếp Thanh

 

26-10-Bính Dần
(SàiGòn).

Tường

 

Thượng Tường Thanh

 

26-10-Bính Dần
(SàiGòn).

Bùi Văn Dứa

 

Thượng Dứa Thanh

 

28-10-Bính Dần
(Tây Ninh).

Kiệt

 

Thượng Kiệt Thanh

 

30-10-Bính Dần.

 

 

GIÁO SƯ HƯƠNG PHỤNG (Tên)

Giáo Sư Trần Hương Phụng, nguơn linh là Khổng Minh đời Tam Quốc Trung Hoa: Bà Giáo Sư Trần Hương Phụng, tức Kim Phụng, Ðạo hiệu Ưng Quân, Chưởng Quản Nữ Phái Hội Thánh Ngoại Giáo, Thánh Thất Kim Biên - Phnom-Pênh. Bà là bậc Nữ lưu có tài giỏi về thi thơ cũng làm cho Nam giới kính nễ. Bà đảm đang, nhiều trực tính nên cương quyết. Chồng Bà là người Pháp tên Batrya. Bà Hương Phụng cùng một thời với Bà Hương Thanh. Hai Bà có xướng hoạ thơ văn rất tâm đắc.

 

 

GIÁO SƯ NGỌC KINH THANH (1890-1945)

Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh tên thật là Nguyễn Văn Kinh. Ông Kinh, sanh năm 1890 ở Bình Lý Thôn, Gia Ðịnh, tu theo Minh Sư, học trò của Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang. Ông Kinh có cất một cái am nhỏ ở làng Hữu Ðạo thuộc Cai Lậy để tu học với Ngài Nguyễn Văn Tương (sau thọ phong Thượng Chưởng Pháp (Chi phái). Khi Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương qui Tiên thì Ngài Trần Ðạo Quang được phong Quyền Thượng Chưởng Pháp. Về sau nữa, khi Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên thì Ngài Trần Ðạo Quang được ân phong chánh vị là Ngọc Chưởng Pháp (Chi phái).

Ông Kinh ban đầu thọ Thiên ân Giáo Sư phái Ngọc tại Tòa-Thánh Tây Ninh, vào ngày mùng 8-6-Bính Dần, có viết hai quyển sách về Giáo Lý Ðạo Cao Ðài là: Giảng Ðạo Yếu Ngôn và Hội Lý Xiển Chơn Luận, còn được lưu truyền đến ngày nay.

Giáo Sư Kinh có học thức uyên thâm, nên được Ðức Chí Tôn bổ đi thuyết đạo phổ độ nhơn sanh ở các Tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1945, do máy bay Ðồng Minh oanh tạc đánh Nhựt Bổn, Ông bị thương nặng lúc đi trên sông Vàm Cỏ, được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy ở Sài Gòn thì qui liễu, hưởng 56 tuổi. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

Phải chăng Thầy biết trước ông Kinh tuy là Chức sắc được ân phong nhưng đức tin không vững, Thầy mới để lời khuyên như sau. Nhưng rốt rồi ông cũng tách ra theo Chi Phái.

Thánh ngôn ngày 05-7-1926 (âl :26-5-Bính Dần)

Đức CAO ÐÀI giáng cơ dạy như vầy:

“K... nghe Thầy dạy con. Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng, tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Thầy nói cho con ngh:, K... ôi! Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

K... con ôi! Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy. Thầy đã hiểu lòng con ăn năn sám hối, nên Thầy đã tha tội trước cho con rồi. Phận sự con rất lớn, tại Ngọc Ðàn con sẽ thọ lịnh”.

 

 

GIÁO TÔNG (Phẩm)

教 宗
E: Pope.
F: Pape.

I. Quyền Hành GIÁO TÔNG (Cửu Trùng Đài)

II. GIÁO-TÔNG CHƯỞNG-QUẢN CỬU TRÙNG-ĐÀI

A- Giáo-Tông hữu-hình Quyền Giáo-Tông Thượng-Trung Nhựt

B- Giáo-Tông vô-vi Đức Lý Đại-Tiên

C- Luận về quyền-hành của Giáo-Tông

1- Cửu-Trùng-Đài là cơ-quan quản-trị Càn Khôn thế-giới
2- Bát-quái Đồ Thiên hay Bát-quái Cao-Đài
3- Giáo-Tông làm chủ Bát-Quái Đồ-Thiên:
4- Đức Quyền Giáo-Tông thi-hành Thể-pháp Đại-Đạo
5- Ngôi vị Giáo-Tông ứng vào quẻ Chấn trong phương-vị Bát-quái


I. Quyền Hành GIÁO TÔNG (Cửu Trùng Đài)

Pháp Chánh Truyền: GIÁO TÔNG là Anh cả các con.

Chú giải: Giáo Tông thay mặt cho Thầy, đặng bảo tồn chơn Ðạo của Thầy tại thế, thì Anh Cả nhơn sanh đặng dìu dắt các con cái của Thầy, dầu lớn tuổi hay là nhỏ tuổi, quyền Thiêng Liêng đã định vậy. Tuy trong Hội Thánh có chia ra hai phần hữu hình là "Cửu Trùng Ðài" và "Hiệp Thiên Ðài" mà nơi Hiệp Thiên Ðài, dầu cho Hộ Pháp cũng phải là em của Giáo Tông, song Hộ Pháp phải nhỏ về phần hữu hình đã nói trên đây, chớ phần Thiêng Liêng thì đồng vị.

Pháp Chánh Truyền: Có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu dắt các con trong đường Ðạo và đường Ðời.

Chú Giải: Giáo Tông đặng đồng quyền cùng Thầy mà dạy dỗ cả chư Môn Ðệ của Thầy trong đường Ðạo Ðức, dìu bước từ người, chăm nom săn sóc cho khỏi phạm Thiên Ðiều, thì là buộc tuân y Tân-Luật. Ấy vậy dầu cho phẩm vị nào phạm tội; thì Giáo Tông cũng chẳng vì tình riêng gọi là tha thứ khoan dung. Ðể lòng che chở, làm cho kẻ phạm phải mất Thiên Vị, lại gây điều đố kỵ của nhơn sanh, làm cho nhẹ giá trị của nền Chánh Giáo. Những sự đau thảm khó khăn của Tín Ðồ tức là chúng sanh, những sự khổ hạnh của Hội Thánh, nghĩa là hàng Chức Sắc Thiên Phong, thì Giáo Tông phải liệu phương che chở an ủi làm cho đời khổ não hóa ra đời hạnh phước; người nắm trọn quyền thể Thiên hành hóa, ấy là phận sự tối cao tối trọng của Ðức Giáo Tông đó.

Pháp Chánh Truyền: Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn.

Chú Giải: Hễ nói về phần xác là nói phần hữu hình, mà nói về phần hữu hình của chúng sanh tức là nói về phần Ðời. Còn như nói về phần hồn tức là phần Thiêng Liêng ấy là phần Ðạo. Trên đây Thầy đã nói rằng: Có quyền dìu dắt trong đường Ðạo và đường Ðời, thì Thầy đã chỉ rõ rằng, có quyền dìu dắt cả các con cái của Thầy trên con đường Ðạo Ðức của chính mình Thầy khai tạo và trên con đường Ðời cơ Ðạo gầy nên; chớ chẳng phải nói trọn quyền về phần Ðạo và phần Ðời, nghĩa lý phân biệt nhau duy có chữ ÐƯỜNG và chữ PHẦN, xin rán hiểu đừng lầm hai chữ ấy. Ðây là lời Thánh giáo của Thầy đã dạy Hộ Pháp khi Người hỏi Thầy về quyền của Giáo Tông.

Hộ Pháp hỏi: "Thưa Thầy theo như luật lệ Thánh Giáo Gia Tô Thầy truyền tại thế, thì Thầy cho Giáo Tông trọn quyền về phần hồn và phần xác. Người nhờ nương quyền hành cao trọng đó, Ðạo Thánh mới có thế lực hữu hình như vậy. Ðến ngày nay, Thầy giảm quyền Giáo Tông của mấy con về phần hồn đi, thì con sợ e cho Người không đủ quyền lực mà độ rỗi chúng sanh chăng?"

Thầy đáp: "Cười! Ấy là một điều lầm lạc của Thầy, vì nặng mang phàm thể mà ra. Thầy cho một người phàm đồng quyền cùng Thầy về phần hồn thì nó lên ngai Thầy mà ngồi, lại nắm quyền hành CHÍ TÔN ấy, đặng buộc nhơn sanh phải chịu lòn cúi trong vòng tôi tớ của xác thịt hơn nữa. Cái quyền hành quí hóa ấy, Thầy tưởng vì thương mà cho các con, nào dè nó là một cây gươm hai lưỡi để giục loạn cho các con. Nay Thầy đến chẳng phải lấy nó lại, mà Thầy chỉ đến làm cho tiêu diệt cái hại của nó; nếu muốn trừ cái hại ấy thì chẳng chi hay hơn là chia đôi nó ra, không cho một người nhứt thống. Kẻ nào đã nắm trọn phần hữu hình và phần Thiêng Liêng, thì là độc chiếm quyền chánh trị và luật lệ, mà hễ độc chiếm quyền chánh trị và luật lệ vào tay, thì nhơn sanh chẳng phương nào thoát khỏi vòng áp chế. Như Thầy để cho Giáo Tông trọn quyền về phần xác và phần hồn (nghĩa là Ðạo và Ðời) thì "HIỆP THIÊN ÐÀI" lập ra chẳng là vô ích lắm sao con? "CỬU TRÙNG ÐÀI" là Ðời "HIỆP THIÊN ÐÀI" là Ðạo, Ðạo không Ðời không sức, Ðời không Ðạo không quyền: Sức quyền tương đắc mới mong tạo thời cải thế, ấy là phương hay cho các con liên hiệp cùng nhau, chăm nom săn sóc lẫn nhau, mà giữ vẹn Thánh Giáo của Thầy cho khỏi trở nên phàm giáo".

Pháp Chánh Truyền: Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Ðịa Cầu và Thập Ðiện Diêm Cung, đặng cầu rỗi cho các con.

Chú Giải: Thầy đã nói, đặng cầu rỗi cho các con thì Thầy đã chỉ rõ rằng, Giáo Tông có phần cầu rỗi mà thôi, chớ phần siêu rỗi là về quyền của Bát Quái Ðài Chưởng quản.

Ðức Giáo Tông làm thế nào mà thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Ðịa Cầu và Thập Ðiện Diêm Cung mà cầu rỗi cho các Tín Ðồ? - Người phải đến Hiệp Thiên Ðài cầu huyền diệu Cơ Bút mới đặng. Xin trích lục ra đây, đoạn Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Ðài nói về việc ấy: "Lại nữa Hiệp Thiên Ðài là nơi của Giáo Tông thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Ðịa Cầu, Thập Ðiện Diêm Cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại". Ấy vậy về phần Thiêng Liêng là phần Ðạo, thì Ngài chẳng có quyền hành chi hết, dầu cho dâng sớ cầu điều chi cùng Bát Quái Ðài, thì cũng phải do nơi Hiệp Thiên Ðài cả. Hiệp Thiên Ðài là trung gian để liên hiệp Giáo Tông cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thầy dạy:“..Trước, Thầy lại giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh giáo mà làm ra Phàm giáo. Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ. Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng đảo.

Vì sao Thánh giáo nói: Giáo Tông, nghĩa là Anh Cả, ba phẩm Ðầu Sư, nghĩa là Giáo Hữu?

 
   

Thầy nói: “Vì vậy, Thầy mới lập ra có một phẩm Giáo Tông, nghĩa là Anh Cả ba phẩm Ðầu Sư, nghĩa là Giáo Hữu. Chẳng một ai dưới thế nầy còn đặng phép nói rằng thế quyền cho Thầy mà trị phần hồn của nhơn loại. Còn cả Môn đệ, ai cũng như ai, không đặng gây phe lập đảng, nhược kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngoài cho khỏi điều rối loạn.”

Tại sao Thầy nói “lập ra có một phẩm Giáo Tông, nghĩa là Anh Cả ba phẩm Ðầu Sư, nghĩa là Giáo Hữu”?

–Nếu tính hàng Tiên-vị có 3 phẩm: Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu-Sư và Thánh-vị có 3 phẩm: Phối Sư, Giáo Sư, Giáo Hữu. Hai cấp bên Cửu Trùng Đài có 6 phẩm mà Giáo Tông là Anh Cả, như vậy thì ba phẩm hàng Tiên vị nằm vị trí của Tam Dương tức là tam giác có đỉnh quay lên. Ba cấp hàng Thánh-vị thuộc Âm, có đỉnh quay xuống. Như vậy thì Giáo Tông và Giáo Hữu cùng nằm trên trục đứng của vòng tròn ngoại tiếp, tạo thành Tam Âm tam dương hòa hợp.

Pháp-Chánh-Truyền dạy:“Ðiều chi chúng nó (Giáo Hữu) xin, thì buộc Giáo Tông phải cần mẫn hơn hết.

Chú Giải: “Ðã nói Giáo Hữu là người thân mật với nhơn sanh hơn hết, mà kể từ phẩm Giáo Hữu đổ lên cho tới Giáo Tông thì xa lắm; ấy vậy, Giáo Hữu thì gần với nhơn sanh, còn Giáo Tông thì xa nhơn sanh, nếu Giáo Tông muốn gần với nhơn sanh thì phải cần mẫn giao thân cùng Giáo Hữu. Giáo Hữu là người biết nhơn sanh hơn hết, nếu Giáo Tông muốn biết nhơn sanh, thì phải nghe lời Giáo Hữu. Thánh ý muốn cho Giáo Tông đặng gần nhơn sanh cũng như Giáo Hữu, cho nên dặn Giáo Tông phải để ý cần mẫn, xét nét mỗi điều của Giáo Hữu cầu xin hơn hết song mỗi điều chi Giáo Hữu cũng không đặng phép loạn đẳng cấp, nghĩa là phải nương theo các phẩm cấp trên mình mà dâng sớ”.

GIÁO TÔNG là người thay mặt cho Ðức CHÍ TÔN tại thế, giáo hóa dìu dắt toàn thể con cái CHÍ TÔN cho đến tột bực ngang hàng cùng Thầy, trọn quyền dung nạp tâm lý của toàn thể nhơn loại đặng tạo thành một cơ quan Chánh Trị Thiên Triều, trọn cả đường Ðạo và đường Ðời cho trọn câu Thể Thiên Hành Hóa. Ngôi Giáo Tông là tột bực của loài người, mà chỉ truyền Hiền, chớ không truyền tử. Như thế mới có thể lập đời Thánh Ðức trường tồn được.

Tại sao quyền CHÍ TÔN lại chia làm hai?

“Trước kia Ðạo Thánh, CHÍ TÔN vì quá thương Nhơn sanh, đã giao phần hồn và phần xác cho Ðức Chúa Giê-Giu (Jésus Christ) đủ quyền năng lập Ðạo. Trái lại, Nhơn sanh lợi dụng lẽ thương yêu ấy, nhứt là những kẻ kế vị cho Chúa, vì mang phàm thân nhục thể, thành ra quá lạm dụng quyền tối cao ấy như ngọn gươm bén mà sát phạt con cái của CHÍ TÔN. Chính Chí Tôn đã nói: "Vì quá thương mà ban cho". Ngày nay Chí Tôn cũng không phải đến lấy lại, mà chỉ chia đôi quyền hành ấy ra cho Giáo Tông và Hộ Pháp, Giáo Tông chỉ có quyền dìu dẫn con cái của CHÍ TÔN về phương châm giáo hóa, chánh trị cho thuần phong mỹ tục, thay quyền cho CHÍ TÔN trong đường Ðạo và đường Ðời mà thôi. Còn Hộ Pháp có đặc quyền gìn giữ luật pháp, bảo thủ chơn truyền, gìn giữ ngôi vị cho con cái CHÍ TÔN, không cho loạn hàng thất thứ.

Phương pháp ấy CHÍ TÔN rất công bằng và chia đôi cho lưỡng quyền không thể chuyên chế để áp dụng mà hà hiếp con cái của người.(Trích Chánh Trị Đạo của Ngài Khai Pháp)

II. GIÁO-TÔNG CHƯỞNG-QUẢN CỬU TRÙNG-ĐÀI

Trong cửa Đạo ngày nay thì ngôi-vị:

- “Giáo-Tông Đạo Cao-Đài do Đức Lý cầm quyền gìn giữ Thánh-chất dung-hòa nửa Thánh nửa phàm.

- “Còn tạo ngôi-vị tại thế là Thượng-Trung Nhựt đó. Ấy vậy, Thượng-Trung-Nhựt tạo ngôi-vị Giáo-Tông cho Đạo Cao-Đài như ông Thánh Pière tạo ngôi Thánh Hoàng cho Phapha tại Rome vậy”.

Đạo có GIÁO và TÔNG:

- Giáo là những phương-tiện mượn để biểu thị một cách gián tiếp. Tông là chơn-lý nội tại.

- Giáo là hình tượng kinh sách, chữ nghĩa, lời nói. Tông là tâm, là hình.

A- Giáo-Tông hữu-hình
Quyền Giáo-Tông Thượng-Trung Nhựt.

 
   

Duyên khởi: Những ngày tiền khai Đại-Đạo: vào ngày 5 tháng 12 Ất-Sửu (dl: 28-1-1926) Đức Lê-Văn Trung được Đấng Thượng-Đế tá danh AĂÂ ban cho nhiều bài Thi trong thời kỳ còn Xây bàn để xướng hoạ Thi văn do ba Ông: CƯ, TẮC, SANG tiếp điển. Sau quí Ngài đắc phong là Thượng Phẩm, Hộ-Pháp, Thượng-Sanh trong cơ quan Hiệp-Thiên Đài của nền Đại Đạo. Riêng Đức Lê Văn-Trung lần lượt được Thiên phong vào phẩm Thượng Đầu-Sư Thánh danh là Thượng Trung-Nhựt cùng với hai vị Đầu-Sư nữa là Thái Minh Tinh và Ngọc-Lịch-Nguyệt. Sau đó Ngài được nhận lãnh phẩm Quyền Giáo Tông nữa, tức là đứng đầu Cơ-quan Cửu-Trùng-Đài, là một trong hai Cơ-quan hữu hình để giáo-hoá nhơn sanh. Thầy lại dạy: “TRUNG, nhứt tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thác cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng sủa của con mà suy lấy”. Thầy cho thi:

Một Trời, một Đất, một nhà riêng.
Dạy-dỗ nhơn-sanh đặng dạ hiền,
Cầm mối Thiên-Thơ lo cứu chúng.
Đạo người vẹn-vẻ mới thành Tiên.
(AĂÂ)

1- Quyền hành của Quyền Giáo-Tông Thượng Trung-Nhựt

Xét kỹ ra mới thấy quyền-hành Giáo-Tông quá ư quan-trọng. Nhất là khi Thầy dạy làm bảy cái Ngai cho Chức-sắc Cửu-Trùng-Đài, việc thực hiện Thầy giao cho ông Kiệt, ngày 12 tháng 8 năm Bính-Dần, như sau: “Kiệt, con phải giúp Thơ trong việc lập Thánh Thất, Thầy giao cho con phải săn-sóc mướn thợ làm7 cái Ngai

- Một cái trọng hơn cho Giáo-Tông.

- Ba cái cho ba vị Chưởng-Pháp.

- Ba cái cho ba vị Đầu-Sư.

*Nhất là cái Ngai của Giáo-Tông phải làm cho kỹ lưỡng, chạm trổ Tứ linh, nhưng chỗ hai tay dựa phải chạm hai con Rồng.

*Còn của Chưởng pháp chạm hai con phụng.

*Của Đầu-sư chạm hai con Lân, nghe à!”(TNI/44)

Khi Hộ-Pháp có hỏi Thầy về sự sắp đặt bảy cái ngai.

Thầy dạy: “Toà-Thánh day mặt ngay hướng Tây, tức là chánh cung Đoài, ấy là Cung Đạo, còn bên tay trái Thầy là cung CÀN, bên tay mặt Thầy là cung KHÔN, đáng lẽ phải để bảy cái Ngai của phái Nam bên tay trái Thầy tức cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn-Đạo cho đủ Ngũ Chi cho nên Thầy buộc phải để vào CUNG ĐẠO là CUNG ĐOÀI cho đủ số. Ấy vậy, cái Ngai của Đầu-sư Nữ-phái phải để vào bên cung Khôn, tức là bên tay mặt Thầy. Hộ-Pháp hỏi cái Ngai ấy ra sao? Thì Thầy dạy:

“Giống y như cái Ngai của Quan-Âm Bồ Tát, nghĩa là một cái Cẩm-đôn để trong vườn Trước-Tử trên Nam-Hải, dưới chơn đạp hai bông sen nở nhụy”.

Lại nữa Thầy còn dạy: Trong buổi Tam-Kỳ Phổ Độ, Thầy giáng thế chọn đến: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền,Tam thiên Đồ đệ. Các con coi đó mà hiểu rằng: Các con có sự mà thiên-hạ từ tạo thế đến chừ, chưa hề có chăng”?

Giáo-Tông là người đứng đầu của những Chức-sắc vào hàng Thánh Thể Đức Chí-Tôn bên Cửu-Trùng-Đài: vào hàng Tiên-vị và Thánh-vị, gồm các phẩm như sau: Các hàng phẩm từ Chưởng-Pháp đến Giáo Hữu đều có đủ ba phái: Thái-Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh, chia đều các con số trên, không được tăng thêm hay là giảm bớt. Con số này tính cho Chức-sắc Nam-phái mà thôi, còn Nữ-phái thì không có hạn định, nghĩa là con số bao nhiêu cũng được. Đó là những Chức-sắc vào hàng Thánh-Thể của Chí-Tôn. Ông Mỹ Ngọc tức Bảo Văn Pháp-Quân có lời thỉnh-giáo:

 
   

- Bạch Thầy về bảy cái Ngai Nhơn-Đạo, Chưởng Pháp và Đầu-sư ngồi đặng chăng?

- Thầy cười…Bảy ngai ấy, Thầy lập ra là để cho mỗi Chức-sắc lớn biết ngôi-vị của mình nơi Bửu-điện. Kế theo Thầy, Tam-Trấn cùng chư Tiên, Thánh, nhập về Tam-Kỳ Phổ-Độ mà thôi. Lúc hành lễ, nếu chúng nó ngồi đối diện với các Môn-đệ khác của Thầy mà khứng chịu sự thành kỉnh của nhơn-sanh đối với các phẩm-vị lớn cao kia thì mất vẻ thành kính của chúng nó. Chức-sắc đặng ngồi Ngai riêng của mỗi đứa là lúc nào có Hội Tòa Tam-giáo phân-xử các Đạo-hữu của chúng nó mà thôi”. Đối với nền Đại-Đạo đã thể hiện rõ lý Âm Dương nên lúc nào cũng có hai phần vô-vi và hữu hình tương-đắc cùng nhau, như:

- Đức Lý-Thái-Bạch cầm quyền Giáo-Tông vô-vi gìn-giữ Thánh-chất dung-hòa nửa Thánh nửa phàm”.

- Còn tạo ngôi vị tại thế là Thượng-Trung Nhựt đó”. Người có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu dắt con cái của Thầy trong đường Đạo và đường Đời.

Thuở Đức Quyền Giáo-Tông còn sinh tiền Ngài có thuyết về phương-diện Chánh-Thể Đạo, có nói rõ quyền hạn của Ngài rằng: “Tệ-Huynh có thọ lãnh chỉ rõ phương diện Chánh thể của Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ của Thầy trong cuối Hạ nguơn chuyển thế đây. Xin chư Hiền-Hữu lưỡng phái ráng nhớ và lo phận-sự, đừng sai luật Đạo mà bị tội và mình tuân trọn luật Đạo của Thầy là món binh khí diệt tà-quyền giả mị đó. Tệ-Huynh xin nhắc lời tuyên ngôn của Đại-Từ-Phụ nói buổi ban sơ. Thầy có nói: Thầy lập Đạo kỳ này là lập một cái trường công-quả, nếu các con đi ngoài trường công-quả ấy thì không trông mong gì về cùng Thầy đặng. Trường công-quả của Thầy có đôi bên:

- Một bên vô hình là các Đấng ThiêngLiêng (Phật, Tiên, Thánh, Thần) cùng lập công-quả trong buổi chuyển thế này, các Đấng Thiêng-liêng thường theo một bên chúng ta đặng ám-trợ chúng ta về phần vô-vi.

- Các việc hữu-hình tại thế là các việc phải có thi hành như chúng ta giờ đây mới làm đặng, thì về phần chúng ta phải lo làm rồi có các Đấng Thiêng-liêng ám-trợ.

Thí-dụ như đi độ rỗi nhơn-sanh phải nói Đạo cho người nghe, như phải lập phương để giúp thế đang nguy nan, như nhà trường dạy kẻ cô độc-học, nhà thương, nhà dưỡng-lão cùng các nghề-nghiệp cho Đạo-hữu có phương làm ăn đặng cơm tẻ ngày hai, có áo quần đặng che thân ấm cật …thì chúng ta phải lo hết, rồi các Đấng Thiêng liêng ám-trợ cho thành-tựu. Nếu chúng ta làm biếng không làm công quả chi cho Đạo bên hữu-hình thì các Đấng Thiêng-liêng theo mình không lập công-quả được thì tội trọng về phần mình chịu lấy. Từ hồi tạo thiên lập địa tới ngày nay, trong mỗi thời kỳ khai Đạo không có thời-kỳ nào mà chính mình Thầy là Chủ-tể Càn-khôn thế giới xuống mà lập ra, không có một Tôn-giáo nào đặng một vị Đại-Tiên là Đức Lý Thái-Bạch lãnh làm Giáo Tông như ngày nay.Tệ-Huynh đây là lãnh về phần xác thay thế cho Ngài đặng lo làm các việc hữu-hình tại thế cho Ngài, rồi ở trong có Người ám-trợ. Tệ-Huynh xin chỉ rõ quyền hành lớn-lao của Đức Lý Đại-Tiên Thái-Bạch Kim-Tinh cho mấy em rõ:

B- Giáo-Tông vô-vi Đức Lý Đại-Tiên.

Ngài giáng cơ ban cho:

THI

Ánh Thái-Cực biến sanh Thái-Bạch.
Hiện Kim-Tinh trọng trách Linh-Tiêu
Quyền-năng vâng thuở Thiên-triều.
Càn-khôn thế-giới dắt-dìu Tinh-quân.

Tinh-quân thọ sắc thuở Phong-thần,
Cho đến Đường-triều mới biến thân.
Thái-Bạch Kim-Tinh đương trị thế.
Trường-Canh Trích-Tử đến thăm trần,
Động-Đình thơ rượu đong muôn đấu,
Bồng-Đảo câu Tiên nắm một cần.
Vâng lịnh Ngọc-Hư nay xuống thế,
Tam-kỳ độ rỗi các nguyên-nhân.

Đức Lý, Ngài dạy rằng: “Hễ Đạo trọng tức nhiên chư Hiền-hữu trọng, vậy thì chư Hiền-Hữu biết mình trọng mà lo sửa vẹn người Đời. Từ đây LÃO hằng gìn-giữ cho chư Hiền-Hữu hơn nữa. Nếu thoảng ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là cố ý muốn giá-trị chư Hiền-Hữu thêm cao-trọng hơn nữa. Vậy Lão xin đừng để dạ phiền-hà nghe!”

Đức Hộ-Pháp có giải-nghĩa Thơ của Đức Lý Đại Tiên. Người nói như sau: “Trong Thánh-ngôn Hiệp tuyển có bốn câu thi của Ngài rất ngộ-nghĩnh:

Cửu tử kim triêu đắc phục huờn,
Hạnh phùng Thiên-mạng đáo khai nguơn.
Thế trung kỵ tử hà tri tử?
Tử giả hà tồn chủ “Tịch Hương”.

久 死 今 朝 得 復 還
幸 逢 天 命 到 開 元
世 中 忌 死 何 知 死
死 者 何 存 主 藉 香

Cửu tử kim triêu đắc phục huờn là cảnh trần Ta chết đã lâu mà hôm nay TA được phục sanh lại trong Thánh Thể của Đức Chí-Tôn.

Hạnh phùng Thiên-mạng đáo khai nguơn là còn hạnh-phúc đặng Thiên-mạng đến khai nguơn. Tại sao Ngài nói đến? (Xin sửa lại “đáo” là đến. Không phải Đạo).

Bần-Đạo đã thuyết: Cuối Hạ-nguơn Tam chuyển khởi Thượng-nguơn Tứ chuyển, Ngài đến khai nguơn là có duyên cớ. Bần-Đạo dám chắc rằng Đấng nào khác hơn Ngài thì không thi-hành được. Ngài đến đặng mở Thượng Nguơn Tứ chuyển.

Thế trung kỵ tử hà tri tử? Thế-gian sợ chết mà không biết cái chết là gì! Chính Ngài hỏi rồi nói:

Tử giả hà tồn chủ tịch Huơng: Tịch Hương là tịch của Nữ-phái. Nữ-phái là nguồn sống của nhơn-loại, nếu nói nó chết thì Ngài đến làm chủ của Nữ-phái nghĩa gì? Cầm cái giống của thế-gian này chi?

Bây giờ nói đến quyền-hành của Ngài:

Chính Ngài cầm bút viết bài thơ trên cũng được Đức Hộ-Pháp thuyết giải rành:

Ánh Thái-Cực biến sanh Thái-Bạch là buổi Thái-Cực vừa nổ hiện ra ánh-sáng Thái-Cực chính là Ngài, duy Đức Chí-Tôn cầm pháp; xin cả thảy nhớ nghe! Khi Đức Chí Tôn cầm pháp hiện ra hai lằn Hạo-Nhiên-Khí đụng lại với nhau nổ, tức nhiên trái khối lửa đó tạo Càn-Khôn vũ-trụ, ánh-sáng Thái-Cực đó là Ngài.

Hiện Kim-Tinh trọng-trách Linh-Tiêu là các cung đẩu trên mặt địa-cầu này đều hưởng ánh-sáng ấy, mà chính ánh-sáng duy chủ và điều khiển là Ngài.

Quyền-năng vâng thuở Thiên-triều là quyền-năng vâng lịnh của Thiên-điều.

Càn khôn thế-giới dắt-dìu Tinh-quân là các cung đẩu trong càn khôn thế-giới này, có Ngài duy chủ hết thảy.

Giải bài thơ kế tiếp:

Tinh-quân thọ sắc thuở Phong-thần là Ngài đoạt ngôi vị cùng quyền-hành của Ngài có sắc phong thiệt hiện hồi đời Phong-Thần.

Cho đến Đường-triều mới biến thân là đến đời Đường Ngài mới biến thân.

Thái-Bạch Kim-Tinh đương trị thế là vì nguyên-linh ấy cầm quyền trị thế.

Trường-Canh Trích-Tử đến thăm trần.

Động-Đình thi rượu đong muôn đấu là nơi Động Đình, hỏi đến Ngài thì thiên-hạ đều biết danh Ngài.

Bồng-Đảo câu Tiên nắm một cần là nơi Bồng-Đảo Ngài cầm Thiên-Thai cho Khổng-Giáo.

Vâng lịnh Ngọc-Hư nay xuống thế là buổi Đại-Đạo Tam-Kỳ khai mở đây, Ngài thọ lịnh Ngọc-Hư đến trị Đạo.

Tam-kỳ độ-rỗi các nguyên-nhân là chín mươi hai ức nguyên-nhân thì Tam-Kỳ này Ngài độ-rỗi.”

Quyền-hành của Ngài như thế, chính THẦY cũng đến nhắc-nhở:

“CƯ, con phải nhớ lời Thầy dặn rằng: Phải sợ Thái Bạch cho lắm, khi Thầy giao quyền thưởng phạt cho Người. Chỉ sợ cho ba đứa con mà xin bớt tính nghiêm khắc; song Thần, Thánh, Tiên, Phật kia mà Người còn chẳng vị, huống lựa là các con.”

Đức Quyền Giáo-Tông Thượng-Trung Nhựt xác nhận rằng: “Cái năng-lực của Đạo hôm nay được như thế là nhờ Đức Lý Đại-Tiên cầm quyền Thiêng liêng vô đối, nhờ người Anh Cả của ta là Đức Lý Giáo-Tông điều-khiển quyền-năng vô-hình của Ngài.”

*Đức Hộ-pháp nói về Đức Lý Giáo-Tông:

“Bần-Đạo quên nói cái Tiên-tri của Ngài rất ngộ nghĩnh, thời buổi ấy Ngài đến dạy, biểu Bần Đạo nghe lời, nếu không nghe lời, ngày kia cái tai hại ấy tiêu-diệt hay đạt Đạo thì Hiền-hữu gánh trách-nhiệm ấy nặng-nề trước. Bần-Đạo buổi nọ không hiểu gì cả, Bần-Đạo nói toàn Thánh-thể Đức Chí-Tôn cả triệu con người, cớ sao một mình Bần-Đạo gánh vác? Nói tiên-tri ấy là thời giờ Ngài giao quyền GIÁO-TÔNG này cho Bần-Đạo, Chưởng-Quản luôn Cửu-Trùng-Đài, nếu không nghe thì Bần-Đạo gánh hết. Nếu không nghe lời Ngài buổi nọ, thì gánh này giao lại cho ai? Nếu giờ phút này có muốn bỏ chớ không thể sống với Đạo. Bần-Đạo xin nói, thế-gian này cầm quyền cơ-quan Chánh-Trị-Đạo hay định-luật trước, dưới tám Đạo Nghị-Định lập nên Chánh-trị của nước như Ngài, Bần Đạo chưa ngó thấy. Đức Lý ra tám Đạo-nghị-định mà Ngài lập trọn vẹn hết, chúng ta cũng nên tôn-sùng đáng kính, đáng sợ quá đỗi. Đấng cứu Đạo như thế Bần-Đạo đáng khen, kính Người cho đến tận thế. Nếu nền Đạo Cao Đài còn mãi mãi thì công-nghiệp của Đức Lý Giáo-Tông còn tồn-tại trong tâm-trí nhơn sanh luôn luôn” (18-8 Kỷ-Sửu)

C- Luận về quyền-hành của Giáo-Tông

1- Cửu-Trùng-Đài là cơ-quan quản-trị Càn Khôn thế-giới

Những lời thuyết giảng trên đây về ngôi vị Giáo Tông nếu vẽ bằng hình sẽ thấy rõ:

Vòng tròn tượng-trưng cho cơ-quan Cửu Trùng-Đài.

Tâm 0 là ngôi-vị Giáo-Tông (giữa vòng tròn).

Thầy dạy: “Giáo-Tông là Anh Cả các con”.

Thầy mở Đạo kỳ này chọn: nhứt Phật, Tam Tiên đó là hàng Tiên-vị.

Tiên-vị là 1 Giáo-Tông, 3 Chưởng-Pháp, 3 Đầu-sư.

Thế nên dưới quyền Giáo-Tông có hai con số 3: tượng tam Âm tam Dương. Tam Âm tam Dương là gì?

Như trên đã nói Tam âm tam Dương sẽ vẽ nên hình sao sáu cánh, tức là do hai hình tam giác đều gát chồng lên nhau, đặt nghịch chiều mà thành ngôi sao sáu cánh. Biểu tượng bằng 3 ngôi Chưởng-Pháp và 3 ngôi Đầu-sư:

 
   

- 3 ngôi Chưởng-Pháp (là người của Hiệp Thiên Đài, tượng Dương) đỉnh tam giác quay lên.

- 3 ngôi Đầu-Sư (Chức-sắc Cửu-Trùng-Đài, tượng cơ Âm) đỉnh tam giác quay xuống dưới.

Tức là trong Âm có Dương; âm dương tương hiệp, tương đắc, tương-hòa. Từ đó mới biến hằng hà sa số.

Mỗi phẩm có ba phái, trừ ngôi Giáo-Tông chỉ có 1 và Ngài mặc sắc phục trắng.

(Hình ảnh Ngài khi mặc phẩm-phục xanh là còn ở ngôi vị Thượng Đầu-sư, là phẩm được thọ phong trước. Sau đó Ngài mới được ân-phong thêm một phẩm mới nữa là Quyền Giáo-Tông tức là Giáo-Tông chưa vào chánh vị. Giáo-Tông mặc phẩm-phục màu trắng.)

*Trên hình vẽ làm biểu-tượng:

- Chữ A, tượng ngôi Thượng Chưởng-Pháp.

- Chữ B, tượng ngôi Thái Chưởng-Pháp.

- Chữ C, tượng ngôi Ngọc Chưởng-Pháp

Như vậy, ngôi Chưởng-Pháp thuộc về Đạo, nên đỉnh Tam-giác quay lên trên.

Ba ngôi Đầu-Sư là Đời trong Đạo nên đỉnh tam giác quay xuống phía dưới, do đó:

- A’ là tượng cho ngôi Thượng Đầu-sư.

- B’ là tượng cho ngôi Thái Đầu-sư.

- C’ là tượng cho ngôi Ngọc Đầu-sư.

Ba phái: Thái, Thượng, Ngọc tức là đại diện cho Tam-giáo Phật, Tiên, Thánh.

- Chưởng-Pháp thế quyền cho Hộ-Pháp nơi Cửu Trùng-Đài thuộc về Đạo.

- Đầu-sư đặng quyền thay mặt cho Giáo-Tông và Hộ-Pháp trước mặt nhơn-sanh thuộc về Đời trong Đạo.

Hai hình tam-giác này là tam-giác đều nội tiếp trong vòng tròn, gát chồng lên nhau, tượng trưng lý Âm dương, Đạo Đời tương-hiệp.

*Tại sao lại đặt chữ Thượng trên đỉnh của tam giác?

Bởi Đạo lúc nào cũng lấy trung, chánh làm điểm yếu-trọng, mà ba phái theo thứ tự thì (Thái chỉ về Phật, bên trái; Thượng chỉ về Tiên ở giữa; Ngọc chỉ về Thánh, bên phải. Nhìn đối diện) Mỗi hình tam-giác được thành hình là do 1 sanh ba, 3 sanh vạn-vật, thuộc về cơ-quan Chưởng-Quản; do đó mà ngôi Giáo-Tông ở vào tâm của vòng tròn, mà vòng tròn chỉ Càn Khôn vũ trụ, cho nên Cửu-Trùng-Đài là cơ-quan quản trị Càn-khôn vũ-trụ thuộc về trời là vậy.

Mỗi phẩm có 3 ngôi mà “pháp-luật Tam giáo tuy phân biệt nhau, song trước mặt Thầy vẫn coi như một.” Vốn cũng đồng quyền, đồng đẳng nhau nên “Một thành ba, mà ba cũng như một.”

Số 3 là hình ảnh của Tam-giác đều có ba cạnh bằng nhau và ba góc bằng nhau, bằng 600. Tam giác đều nội tiếp trong vòng tròn và đồng tâm với vòng tròn.

Ngôi Giáo-Tông ở vào vị-trí tâm của vòng tròn. Thầy qui-định:

“Giáo-Tông là Anh Cả các con. Có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu-dắt các con trong đường Đạo và đường Đời. Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn.

“Nó đặng phép thông-công cùng Tam thập lục thiên, Tam thiên thế-giái, Lục thập thất Địa cầu và Thập điện Diêm-cung đặng cầu rỗi cho các con” (Pháp Chánh Truyền)

*Lý Tam Âm Tam Dương:

 
   

Do vậy mà hai tam giác gát chồng lên nhau tạo thành ngôi sao sáu cánh là lý tam Âm, tam Dương điều hòa vũ-trụ, thể Dương tượng Trời; nên hình sao sáu cánh trên nội-tiếp trong vòng tròn ứng với “Một Trời” trong câu thơ mà Đức Chí-Tôn cho buổi ban đầu: “Một trời, một đất, một nhà riêng.”(xem lại bài thơ trên trang 118)

Giáo-Tông là làm chủ con số 3, tức nhiên là tam Tiên, là gồm 3 phẩm Chưởng Pháp và 3 phẩm Đầu-Sư.

Như trên, hình tam-giác có ba cạnh biểu tượng cơ Dương mà chính nó cũng có Âm Dương của nó nữa, vì thế nên mới có Tam Âm, Tam Dương.

Luật vũ-trụ khi nói đến Âm tất có Dương, hay nói khác đi ngoài ra còn có Tứ Âm Tứ Dương nữa.

*Tứ âm tứ dương là gì?

Âm Dương không lìa nhau, thế nên hình vuông là biểu tượng cơ Âm, cũng có tứ âm, tứ dương. Hai hình này nội tiếp trong vòng tròn tạo thành một hình có tám cạnh, Dịch gọi đó là Bát-Quái.

Ngôi Giáo-Tông vẫn ngự trị ở giữa hình vuông là ý chỉ “Một Đất” trong câu thơ trước đây “Một trời, một đất, một nhà riêng” (xem bài thơ trang 118)

*Tại sao lại có con số 4 này?

Bởi Pháp-Chánh-Truyền định phần Tiên-vị cho Cửu-Trùng-Đài là ngoài ngôi Giáo-Tông ra, còn lại thì mỗi phẩm có ba vị, là:

3 Chưởng-Pháp, 3 Đầu-Sư. Nhưng thực tế mỗi phẩm lại có 4 vị (tức là 4 Chưởng-Pháp, 4 Đầu Sư) cho nên số 4 thuộc Âm phải có mặt.

- Hiện tại đã có 4 Chưởng-Pháp:

*Thái Chưởng-Pháp Nguyễn-văn-Tường (1864-1939). Đó là Hòa-Thượng Như Nhãn, về sau bỏ Đạo.

*Thượng Chưởng-Pháp Nguyễn-văn Tương (1897-1927).

* Ngọc Chưởng-Pháp có hai vị:

1-Trần-văn-Thụ (1857-1927)
2-Trần-Đạo-Quang (1870-1946)

- 4 Đầu-sư:

- Thái Đầu-Sư có hai vị:

1- Thái-Minh-Tinh (mất năm 1927) bị Đức Lý cách chức.

2- Thái-Nương-Tinh (1870-1929)

3-Thượng Đầu-sư Thượng-Trung-Nhựt (1876-1934) thế danh Lê-văn-Trung.

4-Ngọc Đầu-sư Ngọc-Lịch-Nguyệt (1890-1947) Thế danh Lê-văn-Lịch.

Xem thế, con số 3 ở trên là con số Thiên định, nhưng khi hành sự thì đây là sự biến dịch bởi con người, dù biến đổi thế nào cũng trong vòng luật định mà thôi. Vì vậy hình vuông ứng với cơ Âm.

Điều này cũng cho ta thấy rằng:

Trong hình ngôi sao, thực-tế là sáu cánh, nhưng có tâm ở giữa, cộng chung là 7 điểm.

Đồ hình có hai hình vuông họp lại tuy có 8 mà có 1 tâm, thành ra 9 điểm. Đây cũng trở lại số 7, số 9 tức là nằm trong lý “thất phản cửu hoàn” vậy. (7+9=15) là trở về con số Ma phương của Bát Quái Đồ Thiên (sẽ bàn sau).

Bởi Pháp-Chánh-Truyền dạy: “Giáo-Tông thay mặt cho Thầy mà dìu-dắt các con trong đường Đạo và đường Đời. Có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn.”

Do vậy mà chữ “phần xác và phần hồn” đã ứng với hai hình ảnh Âm Dương trên đây. Đó là do chính quyền hành của Giáo-Tông phải đảm trách một nhà riêng đó!

Toàn bộ ứng với câu thơ trên.

*Bát-quái thành hình:

Bây giờ hai hình tam-giác và hai hình vuông phối hợp vào nhau sẽ thành hình thứ 3, là một hình toàn diện, đó là Bát-Quái Đồ Thiên mà ngày nay chính Đức Chí Tôn sử dụng trong Cao-Đài Đại-Đạo, mà chỉ riêng Đạo Cao-Đài mới dùng Bát-Quái này nên cũng còn gọi là Bát Quái Cao Đài. Người nắm Bát-Quái này vào tay chính là Giáo-Tông. Hình số 3 này cũng ứng vào chữ “Một nhà riêng” trong câu thơ “Một Trời, Một đất, Một nhà riêng.”

Do vậy mà câu thơ trên đã nói lên đầy-đủ cho một BÁT-QUÁI thành hình.

Khi đã có một Bát-Quái toàn diện như vậy, chúng ta có quyền đặt tên các quẻ vào các góc cạnh tương-ứng, ta sẽ được hình dưới đây là do lời dạy của Thầy khi Thánh-ý Chí-Tôn dạy sắp 7 cái ngai:

Thầy dạy: “Tòa-Thánh day mặt ngay hướng Tây là chánh cung Đoài ấy là Cung Đạo. Bên mặt Thầy là cung Khôn, bên trái Thầy là cung Càn. Đáng lẽ phải để 7 cái ngai của phái Nam bên trái Thầy là cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn-đạo cho đủ Ngũ chi nên Thầy buộc phải để Cung Đạo là cung Đoài cho đủ số”.

2- Bát-quái Đồ Thiên hay Bát-quái Cao-Đài

 
   

Nhìn vào Bát-Quái trên đây, tức nhiên các Cung được xác-định qua trục đứng là Đông Tây, trục nằm là hướng Nam Bắc, tức là hướng của Đền Thánh Toà-Thánh Tây Ninh hiện giờ:

Đoài chánh Tây (cung Đạo, ở chính giữa và là mặt tiền của Đền-Thánh).

Càn Tây Nam (trong Đền nhìn ra bên tay trái của Thầy)

Khôn Tây Bắc (trong Đền nhìn ra bên phải của Thầy)

Khi ba Cung đã được định hướng rồi thì những Cung còn lại của Bát-Quái Đồ Thiên cứ theo thứ-tự của Bát-Quái Hậu-Thiên mà xếp các quẻ còn lại vào vị-trí.

*Thứ-tự Bát-quái Hậu-thiên là:

Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, vận hành theo chiều thuận với kim đồng-hồ.

Chỉ riêng Bát-quái Đồ Thiên đi nghịch với chiều kim đồng-hồ, gọi là nghịch chuyển.

Về số, lấy theo số của Bát-Quái Hậu-Thiên: Nhứt Khảm, nhì Khôn, tam Chấn, tứ Tốn, ngũ Trung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly. Như vậy phương hướng của Bát-Quái Đồ Thiên được định-vị là theo hướng Đền Thánh hiện nay theo Thánh-ý của Thầy, 4 phương chánh:

Đoài

 

 

Chánh Tây

Chấn

 

 

Chánh Đông

Ly

 

 

Chánh Bắc

Khảm

 

 

Chánh Nam

Phương hướng của Bát-Quái Đồ Thiên đặt nghịch chuyển với Bát-Quái Hậu-Thiên và lật ngược lại, cho nên bấy giờ khác hẳn với Bát-Quái Hậu-Thiên là Ly ở Bắc, Khảm ở Nam.

*Tại sao Bát-Quái Cao-Đài phải đặt nghịch chuyển với Bát-Quái Hậu thiên?

- Thứ nhứt là đường Đạo phải đi nghịch lại như vậy mới gọi là trở về nguồn, Thầy cũng dạy “Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh thiêng liêng”.

- Thứ hai là chính Thầy đã “chiết Khảm điền Ly phản vị Càn” như trên đây chúng ta có bàn đến, vì trước đây Bát-Quái Hậu-Thiên là còn ở thời-kỳ bó-buộc nên Ly   Nam, Khảm   Bắc, người Tu phải gắng công phu luyện tập riêng mỗi cá-nhân. Nay là Thế-giới Đại Đồng, lại nhằm cơ Đại-Ân-Xá của Chí-Tôn nên có rộng rãi hơn nhiều mới độ tận 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị.

Thầy đến chuyển đổi lại là: Khảm   ở Nam, Ly  ở Bắc.

Do đó vị-trí của các Cung Bát-Quái Đồ-Thiên nằm vào các hướng sau đây:

CÀN là hướng khởi ở Tây Nam (thay vì Tây Bắc của Bát-quái Hậu-thiên).

Càn

 

 

Tây Nam,

 

Tốn

 

 

Đông Bắc

Khảm

 

 

chánh Nam

 

Ly

 

 

chánh Bắc

Cấn

 

 

Đông Nam,

 

Khôn

 

 

Tây Bắc

Chấn

 

 

chánh Đông,

 

Đoài

 

 

Đoài chánh Tây

Như vậy, Bát-Quái mà Giáo-Tông làm chủ đây là Bát-Quái Đồ-Thiên, chỉ riêng Đạo Cao-Đài mới có; đó là tổng hợp của hai cái Âm Dương hợp lại, tức là âm-dương hỗn-hợp trong cơ sanh biến của Vạn-linh. Vậy có phải kỳ khai Đại-Đạo này Ngài đã đặt Ly lên Khảm và đặt Khảm lên Ly để tất cả thành quẻ CÀN ☰ hay không?

Có nghĩa là lần này trong nguơn hội mới của Đạo Cao-Đài người tu đúng nghĩa là phụng sự cho nhơn-sanh tức PHỤNG SỰ CHÍ-LINH. Phụng sự Chí-linh là phụng sự Trời đó vậy.

Một người đứng đầu của nhơn-sanh để giáo-hóa nhơn-sanh là Giáo-Tông, cho nên “Giáo-Tông có quyền thay thế cho Thầy mà dìu-dắt con cái của Thầy trong đường Đạo và đường Đời.”

Trách-nhiệm Thiêng-liêng của ông Lê-Văn Trung là một sự được đặt để trước, giờ đến đây để làm sứ-mạng, vì vậy bài thơ đầu tiên Chí-Tôn ban cho, xem như là một bản-đồ được để trước mắt cho Người để nhắc-nhớ, đồng thời nhơn-loại nhìn vào đó để do theo cử-chỉ, lời dạy của Người làm “bài học tắt” trong việc tu-hành:

Người chính là một trong những lương sanh được chọn để cứu vớt quần-sanh:

- Câu 1 “Một trời, một đất, một nhà riêng” đó là đầy-đủ ý-tứ trong các hình vẽ về Bát-Quái Cao-Đài rồi.

- Câu 2 “Dạy-dỗ nhơn-sanh đặng dạ hiền” đó là trách nhiệm giáo-hóa nhơn-sanh trong con đường hành thiện của kỳ ba chuyển thế và cứu thế của Cao-Đài mà Giáo Tông là Anh Cả của nhơn-sanh.

- Câu 3 “Cầm mối Thiên-Thơ lo cứu chúng”. Thiên-Thơ chính là quyển sách trời. Hiện nay trong cửa Đạo này là hai quyển “Thánh-Ngôn Hiệp Tuyển”, trong đó xuất phát những yếu-lý của Đạo là Tân-Luật, Pháp-Chánh Truyền làm thước khuôn cho người tu-hành để thành Tiên tác Phật. Vì tính cách quan-trọng đó nếu ai sửa đổi chơn truyền phải đắc tội là vậy.

Quyển sách nơi tay Ngài là hình ảnh của Ngài đặt trên bức Tượng ở mặt tiền Đền-Thánh (nơi lầu chuông tức Bạch-Ngọc Chung-Đài) là cuốn Thiên-Thơ đó vậy. Vai trò của Ngài là chuyển thế và cứu thế.

- Câu 4 “Đạo người vẹn-vẻ mới thành Tiên”. Bổn-phận của Giáo-Tông là giáo-hóa nhơn-sanh do theo Thánh-ý của Thầy, chỉ làm theo Đạo Trời mà thôi.

3- Giáo-Tông làm chủ Bát-Quái Đồ-Thiên:

Pháp-Chánh-Truyền Chú-giải có dạy rõ về quyền hành của Giáo-Tông:

“Trên đây Thầy đã nói rằng: có quyền dìu-dắt trong đường Đạo và đường Đời, thì Thầy đã chỉ cho rằng có quyền dìu-dắt các con cái Thầy trên con đường Đạo đức của chính mình Thầy khai tạo và trên con đường Đời cơ Đạo gầy nên chớ chẳng phải nói trọn về phần Đạo và phần Đời, nghĩa-lý phân biệt nhau duy chỉ có chữ ĐƯỜNG và chữ PHẦN, xin ráng hiểu đừng lầm hai chữ ấy.”

Điều này đã báo cho biết Đạo Cao-Đài có đến 4 Bát-Quái mà trách-nhiệm của Giáo-Tông là chỉ đảm nhiệm hai Bát-Quái Cao-Đài nói về Thiên-Đạo mà thôi, có nghĩa là Đức Chí-Tôn mở Đạo kỳ này có thêm hai Bát Quái nữa tức là tạo con đường trở về, là con đường cho nhân-loại được thành Tiên tác Phật trong nguơn hội mới. Nói rõ hơn đó là Chơn-pháp, Chơn-truyền của Đức Chí Tôn đó vậy.

Vậy phần ĐẠO là Bí-Pháp của Thế-Đạo, phần Đời là Thể-pháp của Thế-Đạo đó.

Nay Thầy nhấn mạnh “Nghĩa lý phân biệt nhau duy chỉ có chữ “Đường” và chữ “phần”.

- Bởi phần Đời tức nhiên là Thể-pháp có Bát Quái Hậu-Thiên.

- Phần Đạo của Đời là Bí-Pháp có Bát-Quái Tiên Thiên (cả hai thuộc về Thế-đạo)

Hai Bát-quái này đã có cách nay 6.000 năm do Vua Phục-Hi sáng tạo, rồi đến Văn-Vương, Châu-Công, Khổng Tử tiếp tục bổ cứu thêm, còn lưu lại đến ngày nay. Giờ phút này Đức Chí-Tôn đến ban cho nền Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ Tam-giáo Qui nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt, không phải Ngài hủy bỏ các Bát-Quái ấy, mà chính là do theo các Bát-Quái trước đây rồi mở thêm hai Bát Quái nữa, tức là tạo cho nhân-loại một con đường trở về trong cảnh an-nhàn tự toại cho linh-hồn. Nay, nhiệm-vụ của Giáo-Tông là đảm nhiệm hai Bát-Quái Cao-Đài này, chính là thực hiện cho được con đường “Thiên-đạo”.

-Đường Đạo tức là Bí-pháp của Thiên-Đạo là Bát-Quái Hư-vô.

-Đường Đời là Thể-Pháp của Thiên đạo là Bát-Quái Đồ thiên.

Hơn nữa, Pháp Chánh-Truyền đã qui-định: Giáo-Tông thay mặt cho Thầy đặng bảo-tồn chơn đạo của Thầy tại thế thì Anh Cả nhơn-sanh đặng dìu-dắt con cái của Thầy, dầu lớn tuổi hay là nhỏ tuổi quyền Thiêng liêng đã định vậy”.

Trong Hội-Thánh có chia ra hai phần hữu hình là Cửu Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài: Đây là hệ-thống tổ-chức của Cửu-Trùng-Đài từ trên xuống dưới là:

Cửu-Trùng-Đài là cơ-quan giáo-hóa nhơn sanh, là môi trường học-hỏi, tiến-hóa theo ba bực, mỗi bực có ba phẩm-cấp. Như trên đã nói là hàng Tiên-vị tượng-trưng bằng 7 cái Ngai, mà Ngai của Giáo-Tông ở giữa, đặt trên hết và lớn hơn hết. Các phẩm cấp lần-lượt là Tiên-vị, Thánh-vị rồi đến Thần-vị theo hình-thức dưới đây.Như vậy trường Đại-Đạo theo như Đức Hộ Pháp dạy về đường Đạo và đường Đời rằng:

-“Thể-pháp của Đạo Cao-Đài là một trường công quả của chúng ta, trường công-quả ấy để cho chúng ta lập đức, lập công, lập ngôn.

- Bí-pháp chơn-truyền của Đức Chí-Tôn tức nhiên cơ-quan huyền-bí để cho con cái của Ngài giải-thoát.”

Lần-lượt tìm biết qua Cửu phẩm Thần Tiên là: Thể-pháp của Đạo Cao-Đài

 
   

Đức Hộ-Pháp nói:“Nói về Thể-Pháp chúng ta hân-hạnh làm sao, muốn cho chúng ta lập đức chính mình Đức Chí-Tôn đã cho chúng ta mượn danh thể của Ngài, chúng ta đã làm Thánh-thể của Ngài nơi mặt thế của Ngài.

Ôi! Quyền-lực về phương-pháp lập đức đối lại với cảnh thiêng-liêng là mua ngôi-vị của chúng ta đó vậy.

Lập công là Ngài đã tạo hình thể của Ngài, tức nhiên Đền-Thánh đó là Đền Thờ hữu-hình của Ngài để tại mặt thế này. Chúng ta phải lập công với sanh-chúng tức nhiên lập công cùng con cái của Ngài. Ngài để cho chúng ta lập công chớ không phải làm nô-lệ cho ai tất cả. Chúng ta thấy Ngài phụng-sự cho con cái của Ngài, chúng ta lập công là tạo danh thể của Ngài, do lập công mà ra.

Bây giờ tới lập ngôn. Chính mình Ngài, Ngài phải làm, cầm cây Cơ, Bút, viết dạy chúng ta từ lời nói, việc làm; từ tánh đức, từ đạo-lý. Còn ngôn, có ngôn gì hơn Ngài nữa, để cả thảy các thể-pháp đặng chúng ta định vị chúng ta, chính tay Ngài cho chúng ta mượn cả thảy”.

4- Đức Quyền Giáo-Tông thi-hành Thể-pháp Đại-Đạo

Nơi Cửu-Trùng-Đài “Thầy định-quyết cho Người (Giáo-Tông) có quyền dạy-dỗ mà thôi, song quyền-hành có rộng thêm đôi chút là dạy-dỗ trọn cả đường Đạo và đường Đời. Nghĩ cũng chẳng chi làm lạ, vì cả Chức-sắc Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài của Thầy lập, phải tùy theo tôn-chỉ Đạo, nghĩa là xu-hướng về phần giáo-dục mà thôi. Thầy đã xưng là Thầy đặng dạy-dỗ, còn tên của Chức-sắc đủ chỉ rõ-ràng phận-sự giáo-hóa, là chánh vai của mỗi người, như Giáo Hữu, Giáo-Sư, Phối-Sư, Đầu sư, Giáo-Tông…Xem rõ lại thì tên mỗi vị chẳng mất chữ “Giáo” hay chữ “Sư”. Cơ Đạo từ cổ chí kim vẫn vậy, lại hiệp lời này “Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị Đạo, tu Đạo chi vị giáo”. Thầy chỉ cậy Hội Thánh Thầy đã đến lập, thay quyền cho Thầy mà dạy-dỗ cả con cái của Thầy, nghĩa là chúng-sanh đặng lành, ấy là phận-sự cần nhứt của Hội-Thánh đó ”. (Pháp Chánh Truyền)

Thế nên, trong buổi Cao-Đài Đại-Đạo:

Đức Quyền Giáo-Tông có bổn-phận “Cầm mối Thiên-Thơ lo cứu chúng”.

Quyển Thiên-Thơ Ngài đã nắm trọn vào tay.

Đức Hộ Pháp xác nhận: “Từ khi Đức Chí-Tôn đến độ Đức Quyền Giáo Tông rồi mới xuất-hiện Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài đó vậy. Sự vinh-dự này chính Đức Quyền Giáo-Tông đã được hưởng một cách xứng đáng. Bởi vì chính mình Đức Chí-Tôn đến thâu Ngài, biểu Ngài lập thành Hội-Thánh. Ngài đi đến đâu Hộ-Pháp cùng Đức Cao Thượng-Phẩm theo phò-loan để Đức Chí-Tôn thâu Môn-đệ, thâu được bao nhiêu thì giao cho Đức Quyền Giáo-Tông Thượng-Trung-Nhựt giáo hóa, chính do nơi Ngài cầu-khẩn Đức Chí-Tôn thâu Môn đệ, Ngài luôn luôn đi các nơi để Phổ-độ chúng-sanh, nhứt là trước ngày mở Đạo, Đức Chí-Tôn sai hết các Chức-sắc Hiệp-Thiên-Đài tức Thập-Nhị Thời Quân đi phò-loan cùng hết, không có chỗ nào không có Cơ Bút. Người thì xuống miền Tây, người đi miền Trung, đi cùng hết. Thâu Môn-đệ xong, Thầy dạy chúng tôi về Tây Ninh mở Đạo. Với hai bàn tay trắng không có một miếng đất cắm dùi làm sao mở Đạo?” Vạn sự khởi đầu nan là thế! Nhưng sự kiên-nhẫn đã giúp các Ngài thành công là thế! Sau cùng, Ngài đã lập vị một cách vẻ-vang, một cách xứng đáng, tám năm tròn, không dư không thiếu một ngày. Phải chăng Ngài đã thực hiện trọn hai Bát-Quái vào tay mà dìu-dắt nhơn-sanh trên con đường hành-thiện? Hằng năm toàn Đạo đều ghi nhớ ngày 13-10 âm lịch là ngày qui Thiên của Đức Ngài:

Từ ngày 14-10 Bính-Dần dl 19-11-1926 là ngày nhập vào Đại-Đạo Tam-kỳ này, hành Đạo suốt.

Ngày qui 13-10 Giáp-Tuất dl 19-11-1934.

Tính ra là tám năm (8) tròn không dư không thiếu một ngày.

Đức Hộ-Pháp thường nhắc-nhớ đến: “Cái ngôi của Ngài đã tạo dựng, cái ngôi Giáo Tông-Đường của Ngài ngồi trên ấy, đầu tiên hết cái ngôi ấy nó sẽ để nơi đất nước Việt-Nam này một cái báu-vật quí-giá vô cùng. Từ thử tới giờ chưa hề có. Bần-Đạo ngó qua Vatican, cái Ngai của Đức Giáo-Hoàng Saint Pierre thế nào, thì nay Bần-Đạo có lẽ nói và có thể mơ-ước rằng cái ngôi của Thượng-Trung-Nhựt lưu lại nơi thế này nó sẽ trở nên thế ấy.

*Các con số biến-hóa đối với Ngôi vị Đức Quyền Giáo-Tông

Thực-tế Ngài đã làm chủ con số 7, con số 7 là con số chỉ Thất tình đó vậy: Bởi hàng Tiên-vị là gồm:

1 Giáo-Tông + 3 Chưởng-Pháp + 3 Đầu-Sư = 7 vị.

Nhìn vào Bát-Quái Đồ Thiên thì số 7 là quẻ Đoài, Đoài ở chánh Tây, tượng hình là cái miệng; trong thời buổi này là thực hiện Cơ Phổ-độ chúng sanh, thì mới hoằng khai Đại-Đạo được.

Số 7 là số ngưng kết: 1+2+4=7 tức là Thái cực cọng Lưỡng-Nghi và Tứ Tượng. Thái-cực là dương, Lưỡng nghi là cơ biến tướng, Tứ tượng là cơ sanh-hóa. Nhưng cơ biến tướng và sanh-hóa chạm nhau lại khắc nên số 7 trở thành số riêng biệt không có biến động, có nghĩa là trạng-thái yên-tịnh ngừng nghỉ, nên nó cũng ám chỉ vào thể Âm.

Số 7 cũng chỉ vạn-vật hữu tướng thành hình, trong thân người nó là Thất khiếu ở trên đầu.

Số 7 ấy là do 3 ngôi cọng 4 biến hay là 1+2+1+2+1 nên Vô-cực vi-chủ.

Nhưng, Giáo-Tông Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài tức là đứng đầu Cửu-phẩm Thần Tiên là con số 9. Hai con số: số 7 và số 9 trong trường hợp này gọi là “Thất phản Cửu hòan”. Thất phản là cứ chu-kỳ đi đến 7 là trở lại (như một tuần-lễ 7 ngày, giáp một vòng lại trở lại), cửu hoàn là sự luân-lưu của sự biến dịch không ngừng dứt. Cho nên nói “thất phản cửu hòan” là điểm mấu chốt: cùng cực cái động để trở về trạng-thái tịnh nguyên-thủy.

Ngôi số 1 là chỉ trời, là Thái-cực. Từ 1 sanh 3, ba sanh vạn-vật. Như vậy một mà ba, ba cũng là một.

Nhìn vào Bát-quái Đồ Thiên thấy quẻ CHẤN mang số 3, chánh Đông, đó là biểu tượng ngôi trời mà Giáo Tông đang thay Trời tạo thế.

Ta thử làm một việc so-sánh quyền-hành của Giáo Tông có những điểm tương-đồng nào với lời chiêm-đoán về Quẻ CHẤN mà tiền Thánh đã để lại cách đây hàng sáu ngàn năm coi có trùng khớp với nhau không?

5- Ngôi vị Giáo-Tông ứng vào quẻ Chấn trong phương-vị Bát-quái

a/-Tính chất của quẻ Chấn

Quẻ CHẤN tượng là con Cả của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Đế, do câu “Đế xúât hồ Chấn”.

Theo Văn-Vương Bát-Quái tức là Bát-Quái Hậu Thiên có đủ lý lẽ của mỗi ngôi trong các quẻ thì quẻ CHẤN   là quẻ ở phương Đông, là quẻ có một hào Dương ở dưới bị hai hào Âm đè lên trên. Hào Dương tượng sự bắt đầu sinh ra, vạn-vật cũng theo cái lý đó mà khởi, nên Dịch cũng nói là: Thượng-Đế ra ở cung Chấn. Điểm dương nhỏ bé ấy chính là nguyên-động-lực bắt đầu buổi sơ khai, nên quẻ CHẤN là quẻ khởi thủy.

Trong một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, mà mùa Xuân là mùa Dương khí thịnh nên muôn vật vui tươi sinh nở. Mùa Xuân ở vào 3 tháng: Dần, Mão, Thìn tức là tháng giêng, tháng hai, tháng ba. Tháng Mão là giữa mùa Xuân, ứng vào cung CHẤN . Trong giờ Mão dương mới sanh, chính là lúc mặt trời mọc trong một ngày, nói rộng ra cho đến thế, vận, hội cũng đều đi theo luật tuần-huờn ấy.

CHẤN   tức là cái vi Dương bắt đầu huy động lấy hướng mặt trời nên gọi là “Nhật xuất ư Đông” hướng bắt đầu cho một khí Dương hiện ra, nên tượng quẻ Chấn ở phương Đông.

Với Đạo-pháp cũng cùng một định-luật. Nay đã giáp một chu-kỳ nên Đức Chí-Tôn mở Đạo ở phương Đông.

Trước đây Đạo Phật mở ra ở Ấn-độ, Trung hoa là nơi phát xuất Đạo Thánh, có các Thánh như: Khổng, Mạnh, Lão, Trang; kế đến truyền qua Tây Phương, Chúa Jésus Christ khai Đạo Thánh ở phương Tây làm ông Thánh-Tây.

Nay đã giáp một vòng rồi lại trở về Đông: Chí-Tôn khai mối Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ này tại Việt Nam là miền Đông Nam Châu-Á đối với bản-đồ thế-giới, Tây Ninh là nơi phát xuất Đạo Trời được chọn làm Thánh-Địa là miền Đông của Nam-phần Việt-Nam.

 
   

Đạo-pháp gọi đó là “Thiên địa tuần hoàn châu nhi phục thủy”. Hình ảnh này đã biểu tượng bằng hình con Long-Mã Phụ Hà-Đồ đặt trên nóc Nghinh-Phong-Đài Đền-Thánh, Long-Mã chạy từ Đông sang Tây rồi lại ngó ngoáy về Đông.

b/- Tình thế Việt-Nam ứng vào quẻ CHẤN:

Chính buổi khai Đạo tại chùa Gò-kén thật vô cùng khó-khăn bởi hai sức ép của Đời và Đạo đối với Việt-Nam thuở ấy:

- Đời lâm vào cảnh đô-hộ của Pháp.

- Đạo thì dân-chúng tín-ngưỡng thập tàng, đa-thần giáo, vì vậy phải cần có một sự đổi mới để đáp ứng nguyện-vọng của toàn nhân-sanh. Sự việc này có khác nào hai hào Âm đang đè nặng lên quẻ CHẤN không?

Bấy giờ, chính là lúc Đức Chí-Tôn ban cho một mối Đạo nhà, Thầy đã nói:

Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà,
Nay Ta gầy dựng lập nên ra…

c/- Nhiệm-vụ đến với Đức Quyền Giáo-Tông:

Nền Đại-Đạo Cao-Đài ra đời năm Bính Dần (1926) với mục-đích:

“Vì muốn độ 92 ức nguyên-nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa-đọa hồng-trần. Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng trần bằng xác thân mà chỉ giáng bằng Huyền-diệu Cơ Bút mới qui đặng cả Đại-Đồng Thế Giới.”

Hơn nữa Ngài không có nhân thân phàm ngữ làm sao độ dẫn chúng sanh cả toàn cầu cho đặng nên Ngài phải giao quyền cho “Con Cả” của Ngài để lập thành Chánh-thể tức là Hội-Thánh làm Thánh-Thể của Ngài vậy. Người con Cả của Thượng-Đế đây ứng vào quẻ CHẤN, nằm vào chính Đông trên bản-đồ, mang số 3 thuộc về Mộc, tức nhiên hình ảnh của ngôi vị Giáo-Tông đó.

Tất cả các yếu-tố sau đây là đặc tính của quẻ CHẤN làm biểu tượng mà Dịch đã xác định, thử đem đối-chiếu lời chiêm-đoán của quẻ với cuộc đời của một người mang sứ-mạng thể thiên hành-hóa xem có trùng khớp với nhau chăng? Nếu trùng khớp với nhau được thì quả thật Đạo ta là Chánh Đạo, ngược bằng không thì có thể kết-luận rằng đây là giả Đạo. Tại sao mua vàng thì mọi người cần phải thử mà nền Đại-Đạo lớn-lao như vầy mọi người dám gởi cả đức tin của cuộc đời mình không chịu thử-thách để tìm hiểu cho thật chính-chắn, tìm hiểu để tin và niềm tin đó mới thật là chánh-tín.

 

Xem thêm: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Vần Đ (Phần: C- Nghiên cứu về Chánh-Trị của ĐẠO theo TÂN LUẬT & PHÁP CHÁNH TRUYỀN - LẬP HỘI-THÁNH - Hội-Thánh Cửu Trùng Đài)

 

 

GIÁO TÔNG ĐƯỜNG

教 宗 堂
E: The office of the Pope.
F: L’office du Pape.

 
   

Giáo-Tông-Đường là tòa dinh thự dùng làm nơi làm việc của Đức Giáo-Tông (Giáo Tông là một phẩm cao tột, đứng đầu Cửu Trùng Đài, thay mặt cho Thầy mà giáo hóa nhơn sanh. Đường là cái nhà).

Nơi này xưa Đức Quyền Giáo-Tông Lê văn Trung đã từng làm việc. Sở dĩ gọi là “Quyền Giáo Tông” vì Đức Ngài chưa phải là Giáo Tông chánh vị. Quyền hành Giáo-Tông chánh vị thuộc về vô vi do Đức Lý Thái Bạch Kim Tinh kiêm nhiệm. Đây là điểm đặc biệt của Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ ngày nay, ấy là thể theo tinh thần Trời – Người đồng trị: Người trị xác, Trời trị hồn.

Bước vào tòa GIÁO TÔNG ĐƯỜNG này du khách sẽ thấy nơi cổng vào có đôi liễn đối. Giá trị liễn đối là lời tôn tặng một bậc đại công của nền Đại-Đạo đã dành trọn cuộc đời cho Đạo pháp. Đây là đôi liễn đối đặt ngay cổng vào Giáo Tông Đường, nhưng hạnh phúc nhứt là ngay ngày Lễ Đại Tường của Đức Ngài, được đồng Đạo ngưỡng mộ công đức cao dày của Đức Ngài đã tám năm khó mỏi với việc Đạo mới hoằng khai. Thế mà Ngài đủ phương chước điều đình những kẻ phá rối cốt làm lọan Đạo; kẻ trong người ngoài không thiếu. Đấy cũng là phương thử gan kiên trì thiết thạch của bậc Anh Cả nhơn sanh mà Đức Chí Tôn đã lựa chọn, nhất định không lầm.

Đôi liễn này do ông Giáo Sư Thượng Hoài Thanh giáng cơ đặt ra, được Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung chấp nhận trong đàn Cơ tại Giáo Tông Đường ngày 16-10-Ất Hợi (dl: 11-11-1935). Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo.

-

GÍÁO hóa nhơn sanh nhựt nhựt trung tâm qui thiện quả.

-

TÔNG khai tăng chúng thời thời trọng Đạo hiệp chơn truyền.

 

敎 化 人 生 日 日 中 心 歸 善 果

 

宗 開 僧 眾 時 時 重 道 合 眞 傳

Giải thích: Câu 1: Việc giáo hóa nhơn sanh mỗi ngày mỗi giữ được cái tâm trung để được trở về ngôi vị nơi cõi thiêng liêng. (Giáo hóa: dạy bảo để biến đổi con người từ xấu thành tốt. Nhựt nhựt: ngày ngày, ý nói mỗi ngày mỗi... Trung: ở giữa, không thiên lệch, là đạo Trung Dung của Đức Khổng Tử. Tâm: lòng dạ, cái tâm của con người. Qui: trở về. Thiện quả: trái lành, ý nói ngôi vị thiêng liêng của người đắc đạo đạt được).

Câu 2: Đạo mở ra cho dân chúng tu hành, luôn luôn tôn trọng đạo đức cùng với chơn truyền. (Tông: tôn giáo, đạo. Khai: mở ra. Tăng chúng: những người tu hành. Thời thời: luôn luôn. Trọng đạo: tôn trọng đạo đức. Hiệp: hợp với. Chơn truyền: giáo lý chơn thật được truyền lại).

Hãy nghe lời tường thuật về đám Đại Tường của Đức Ngài vào ngày 13-10-Âm lịch (1937) do Tạp chí Ðại Ðạo số 5 Janvier 1937 tường thuật:

“Tới Tòa Thánh đã thấy được một cái cửa vô đồ sộ, kế ở bên trong hai nhà kỷ niệm Nam Nữ rất ngộ nghĩnh. Từ cửa vô tới Ðại Ðồng Xã, tới Giáo Tông Ðường, Hộ Pháp Ðường, Báo Ân Từ.. thì cờ Ðạo phất phới xem rất vui mắt. Công cuộc sắp đặt tại Ðại Ðồng Xã có trật tự và oai nghiêm lắm. Ngang qua cái hầm Bát Quái trước Tòa Thánh có bắc một cái cầu rộng lớn mà Ðạo Hữu đều gọi là Ngân Hà Kiều. Qua cầu rồi tới một cái cửa Tam Quan bề cao trên bảy thước, bề dài 12 thước, trên hết có vẽ thật lớn mấy chữ "Ðại Ðồng Xã” và “Place de la Fraternité universelle". Trên đầu cửa giữa có đề năm “1925 – 1936” hai bên là hai câu liễn Giáo Tông như trên.

Hai cửa vô hai bên là cửa "Nữ Phái" và "Nam Phái" trên có vẽ nhành Nho có lá, trái, thể Tinh- Khí-Thần hiệp nhứt. Hai bên cửa giữa có treo những hình của Ðức Quyền Giáo Tông một bên về phần đời, một bên về phần Ðạo của Ngài. Hai bên cửa Nam Nữ thì treo hình lễ an táng của Ngài. Cả lịch sử vẻ vang của Ngài đều bày giải rõ tại đó cho mỗi người đều được biết. Vào khỏi cửa Ðại Ðồng Xã rồi thì thấy chính giữa sân một cây cờ Ðạo rất lớn, cờ màu trắng có ba vòng: xanh, vàng, đỏ kết tréo ngang thể Tam Giáo qui nhứt. Ở mút đầu sân Ðại Ðồng là đài Cửu Trùng Thiên bề cao 9 thước, bề dài 20 thước, chính giữa có một chữ VẠN màu vàng thật lớn, trên hết là bức chơn dung của Ðức Quyền Giáo Tông vuông vức mỗi bề tám thước. Hai bên Cửu Trùng Thiên từ hai góc bức chơn dung, hơn 16 thước bề cao, có giăng qua hai bên rừng Thiên Nhiên hai hàng cờ Pháp Quốc và Vạn Quốc.

Đức Hộ-Pháp nói: “Thưa cùng chư Chức-sắc Thiên Phong Cửu Trùng Đài Nam Nữ! Cái ngôi của Ngài tạo dựng, cái ngôi Giáo Tông-Đường của Ngài đã ngồi trên ấy, đầu tiên hết, cái ngôi ấy nó sẽ để nơi đất Việt-Nam này một cái báu vật quí giá vô cùng, từ thử tới giờ chưa hề có. Bần-Đạo ngó qua Vatican, cái Ngai của Đức Giáo-Hoàng Saint Pière thế nào, thì Bần-Đạo có lẽ nói rằng và cũng có thể mơ-ước: cái ngôi của Thượng-Trung Nhựt lưu lại nơi thế này nó sẽ trở nên thế ấy.”

Tại Giáo Tông Đường: 16-10-Ất Hợi (dl: 11-11-1935) Đức Quyền Giáo-Tông giáng cơ. Phò loan: Hộ Pháp -Tiếp Đạo.

Qua chào mấy em, chào hết thảy.

Cười.. Qua để lời cảm tạ mấy em. Xin đứng dậy hết.

- Ngọc Trọng Thanh! Qua tưởng khi em còn nhớ câu liễn đối cho Giáo Tông Đường buổi nọ há? Đọc nghe chơi.

(Ông Ngọc Trọng Thanh đọc đôi liễn của ông Giáo Sư Hoài giáng cơ).

GIÁO hóa nhơn sanh nhựt nhựt trung tâm qui thiện quả,
TÔNG khai tăng chúng thì thì trọng đạo hiệp chơn truyền.

- Cười... Qui thiện quả tức là qui vị.

Chẳng có một điều chi dầu nhỏ mọn thế nào mà Chí Tôn không cho biết trước. Qua đã thấy phàm trí của mình chưa hề đủ nghị lực thay đổi Thiên thơ đặng bao giờ.

Ngày nay Qua lại càng đặng thấu đáo, lại càng ghê sợ hơn nữa. Ôi! Thiên cơ mầu nhiệm, chỉn có một đường chỉ do bởi biến đổi của nhơn tâm mà phải tùng quyền day trở, nhưng chơn tướng vẫn chẳng thể đổi dời. Hại thay cho những số mạng căn kiếp nào mà tiền định cho phải chịu làm màu cho Thiên thơ biến tướng.

Qua nhớ lại buổi tại thế, Qua đã bị nhục nhã, Qua đã bị phản phúc, Qua đã bị khổ hạnh, Qua đã bị áp bức…là do tại màu Đạo biến thiên hầu lưu lại cho thế gian một diệu pháp thiêng liêng tương đối, nghĩa là Qua phải bị nhục cho Đạo đặng cao trọng; Qua đã bị phản cho Đạo đặng trung thành, Qua đã bị khổ cho Đạo đặng sang trọng… là tại số căn của Qua bất phước.

Hộ Pháp! Qua thấy nơi Thiên thơ em khỏi ách nạn ấy nên mới can đảm xúi em cầm quyền thống nhứt. Thoảng có điều chi ngăn trở mảy mún gì là do nơi căn sanh của nhơn loại và Qua lại thấy đặng quyền lực vô biên của em nơi Hỗn-Nguơn-Thiên cảnh, nên vững dạ an lòng giúp em cầm giềng mối Đạo.

Cười…Vĩnh, em nhớ câu thi:

“Thị thị Đế Quân đáo địa đình”.

Vụ đó từ đây xuất tướng.

Ê Tép! Hồi mơi mầy hát hay quá, tao khoái dữ.

Thạnh! nói với má con rằng: Ba gởi lời bắt sua.

 

 

GIÁO THIỆN (Phẩm)

教 善

Đức Cao Thượng Phẩm dạy tại Hộ Pháp Đường, 17-10-Đinh Sửu (dl: 19-11-1937).

- “Mấy em Giáo Thiện nam nữ nghe Qua: Nơi khổ hải nầy nó đã chất chứa bao nhiêu đau thảm thương tâm thì lại cần dùng biết bao giọt nhành dương Cam lộ. Mấy em đã gánh một trọng trách nơi mình, giúp đời giải khổ, thì tức nhiên mấy em làm thầy sự khổ. Ấy vậy, cái khổ là nghiệp của mấy em thì còn chi rằng lạ với tánh bạc ác tuồng đời. Mấy em đã may duyên có Thầy gần bên nâng đỡ, mấy em có biết giá trị hạnh phúc ấy là ngằn nào không? Biết bao Đấng Thiêng liêng từ trước muốn đặng vậy mà không đặng vậy. Qua chỉ khuyên là mỗi khi bị áp bức tâm thần, mấy em nhớ rằng mấy em còn Thầy của mấy em, thì tự nhiên an ủi. Ôi! Gia nghiệp Thiêng liêng vĩ đại của mấy em! Qua đã thấy và quyết chắc rằng: dầu cho một vị Chơn Tiên cũng còn ước vọng. Khá nhớ nghe!”.

 

 

GIÁO TRUYỀN

教 傳

Đức Hộ-Pháp nói: “Đạo chẳng phải nơi lời nói, mà lại nơi kết quả sự thật mình làm; chẳng phải nói câu kệ, câu kinh, mà lại buộc hành-vi người giữ Đạo. Cái khó-khăn của Ðạo chẳng ở nơi sự giảng dạy mà ở tại sự thành-thật. Cái hay của Đạo chẳng phải ở tại nơi yếu-lý mà ở nơi cuộc kết quả sự giáo truyền.”

 

 

GIÁO VIÊN ĐẠO ĐỨC HỌC ĐƯỜNG

Đây muốn chỉ riêng các thầy, cô giáo dạy nơi các trường Đạo như: Đạo Đức Học Đường, Lê văn Trung. Đây là những ngôi trường đầu tiên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh –Tây Ninh. Đặc biệt các Giáo viên này cũng chỉ dạy công quả mà thôi, cũng hưởng những qui chế cầu phong, cầu thăng như các ban ngành khác vậy, nghĩa là phải đủ năm năm công nghiệp thì vào phẩm Lễ Sanh.

Chiếu theo Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938) về khoản cầu phong của Hành Chánh thì mọi người đều phải chịu điều kiện 5 năm công nghiệp đầy đủ và tròn trách nhiệm ở phẩm Chánh Trị Sự, mới được đem tên vào sổ cầu phong Lễ Sanh. Song cũng có nhiều trường hợp cầu phong vào hàng Lễ Sanh qua khỏi mặt luật ấy, do nơi quyền thống nhứt Chánh Trị Ðạo ban cho: Giáo viên nam, nữ Ðạo Ðức Học Ðường hành sự đúng 5 năm công nghiệp được ân phong vào hàng Lễ Sanh có Tờ Hiến Thân trọn đời cho Hội Thánh.

 

 

GIÁO XIỂN HƯ LINH

敎 闡 虛 靈

(Giáo: Dạy. Xiển: Mở rộng ra, làm sáng tỏ thêm. Hư Linh là trống không, là Thiêng liêng mầu nhiệm. Giáo xiển là dạy con người hiểu được lẽ Hư vô mầu nhiệm của Đạo pháp. Đạo Cao-Đài Thầy dạy rộng ra cho biết rõ thêm về cõi Hư linh đồng thời Ngài cũng cho biết luật “hữu hình hữu hoại” Thầy dạy Ngài Thái-Thơ-Thanh là:“Thời kỳ mạt pháp này, khiến mới có Tam-Kỳ Phổ-Độ, các sự hữu hình phải phá tiêu diệt. Thầy đến chuyển Đạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý: hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thế nào diệt đặng. Th…Thầy đã khiến con đi “Đế Thiên Đế Thích” đặng xem cho tạng mặt hữu hình, nội thế gian này, ngày nay ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng đạo đức con Thầy đã thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến, Thầy không muốn cho con hao tài tốn của mà gìn-giữ sự giả dối. Chẳng cần con lo lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên BẢO SANH là bổn nguyên Thánh chất của Thầy. Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi..”

Thầy dạy cho biết, nay là thời mạt pháp, tức là thời kỳ cùng cuối của Tam-giáo, mà giáo lý phần nhiều bị sai lạc, gần như mất hẳn chơn truyền. Theo Phật giáo, giáo lý của Ðức Phật Thích Ca đã trải qua ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.

-Chánh pháp 正 法 là thời kỳ đầu, kể từ lúc Phật nhập diệt cho đến 500 năm sau. Giáo pháp của Phật được các Đệ tử giữ gìn còn nguyên vẹn, nên số người tu đắc đạo rất nhiều.

-Tượng pháp 象 法 là thời kỳ tiếp theo, kéo dài 1000 năm. Giáo pháp của Phật bị các Đệ tử sửa đổi chút ít nhưng vẫn còn giống với giáo-pháp ban đầu, người tu đắc Đạo khá nhiều, nhưng ít hơn thời Chánh pháp.(Tượng 象 giống,mường tượng).

-Mạt pháp 末 法 là thời kỳ sau cùng, kéo dài khoảng 1000 năm. Giáo pháp của Phật bị các Đệ-tử lần lần sửa cải, sai lạc gần hết, người tu bị lầm lạc, tu nhiều mà đắc đạo rất ít. (Mạt 末 là hết, cuối).

Trước cảnh đổi thay của đất trời như thế, mà điều dễ thấy trước mắt là ngôi Chùa Ðế Thiên Ðế Thích của xứ Cao Miên: có hai khu Đền đài vĩ đại Angkor Thom và Angkor Wat ở tỉnh Siem-Reap của nước Cao Miên, về phía Tây, gần biên giới Thái Lan. Ðây là những Đền đài vô cùng vĩ đại, lớn vào bực nhứt thế giới, được xây dựng toàn bằng những tảng đá xanh rất kiên cố. Người Cao Miên rất hãnh diện đối với khu đền đài nầy, vì nó chứng tỏ dân tộc Miên có một thời văn minh rất rực rỡ. Ðế Thiên Ðế Thích được các vị vua Miên xây dựng cách nay khoảng 1000 năm, đến bây giờ thì bị hư hoại rất nhiều, nhưng chưa được trùng tu lại, gọi là Sùng tu Phật tượng là tỏ một lòng tôn kính sửa sang các tượng Phật..Bởi Đạo Phật là gốc, là Bổn nguyên (Bổn là gốc, nguyên là cái nguồn) là cái nguồn gốc từ đó phát xuất ra. Bảo sanh là bảo vệ sự sống. Ðức Chí Tôn sanh ra vạn vật và bảo vệ sự sống của vạn vật, vì Ðức Chí Tôn là Cha của sự sống. Bổn nguyên Bảo sanh là Thánh chất của Ðức Chí Tôn. Cho nên Giới cấm đầu tiên là Cấm Sát sanh (Cấm giết hại sanh vật).

 

 

GIÁP

Lọai áo của chiến sĩ mặc ra trận, bằng một lọai đặc biệt, có khi bằng sắt, mục đích để bảo vệ thân thể cho an tòan trên trận mạc. Ở đây; Giáp là một thứ đạo phục của Hộ-Pháp khi mặc vào là đủ sức “trừ tà diệt mỵ” để bảo hộ chơn truyền của Đức Chí-Tôn.

Thầy dạy: “Thầy đã nói: Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con, nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Thầy lại khuyên các con gìn giữ bộ thiết giáp cho đến ngày hội hiệp cùng Thầy. Ðạo là vật rất hữu ích, như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lổ, còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép tà thần”...

 

 

GIÀU SANG

F: riche et noble.

Kinh Sám Hối có câu:

“Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,
”Không kiên chồng khi dễ công-cô.”

 

 

GIÀY GAI ÁO BẢ

Thầy dạy: “Ôi! Lốt Ðạo, lốt Ðạo, Thầy buồn cho trẻ ngây, chẳng còn biết làm sao đem Thánh giáo vào tai chúng nó được. Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo, chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình; giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giạu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ chánh giáo. Thầy hỏi: Ai chứng cho?

 

 

GIÀY VÔ ƯU

E: The shoes without-worry.
F: Les soulier sans-souci.

Giày: Đồ dùng để mang vào chân lúc đi đứng để bảo vệ chân. : không. Ưu: lo nghĩ. Giày vô ưu là đôi giày của người tu. Khi mang đôi giày nầy thì phải nhớ giữ cái tâm cho trong sạch, không lo phiền.

Giày vô ưu được làm bằng vải, có hình dáng như giày của các quan văn thời xưa.

Các Chức sắc từ phẩm Phối Sư hay tương đương trở lên, mới được phép mang giày vô ưu khi mặc Đạo phục vào bái lễ Đức Chí Tôn.

▪ Đức Giáo Tông mang giày vô ưu màu trắng, trước mũi giày có đề chữ tịch đạo nam nữ: Thanh Hương 清香.

▪ Thái Chuởng Pháp mang giày vô ưu màu vàng, trước mũi giày có đề chữ Thích 釋.

▪ Thượng Chưởng Pháp mang giày vô ưu màu trắng, trước mũi giày có đề chữ Đạo 道.

▪ Ngọc Chưởng Pháp mang giày vô ưu màu hồng, trước mũi giày có đề chữ Nho 儒.

▪ Ba vị Đầu Sư nam phái đều mang giày vô ưu màu đen, trước mũi giày của Thái Đầu Sư có chữ Thái 太, trước mũi giày của Thượng Đầu Sư có chữ Thượng 上, trước mũi giày của Ngọc Đầu Sư có chữ Ngọc 玉.

▪ Ba vị Chánh Phối Sư và các Phối Sư nam phái đều mang giày vô ưu màu đen,trước mũi giày không có chữ chi hết.

▪ Nữ Đầu Sư, Nữ Chánh Phối Sư và các Nữ Phối Sư đều mang giày vô ưu màu trắng, trước mũi giày có để chữ Hương 香 là tịch đạo của nữ phái.

▪ Thượng Phẩm và Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân, Thập nhị Bảo Quân đều mang giày vô ưu màu trắng, nhưng đặc biệt giày vô ưu trắng của Thượng Phẩm, trước mũi có chữ Đạo 道; và của Thượng Sanh trước mũi chữ Thế 世.

 

 

GIẶC THẤT TÌNH

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Khói nghịch lẫn mịt-mù trời đất,
Giặc thất tình nổi trận Ma Vương.
Ôi thôi! Làm việc phi thường,
Khiến cho tan nát Đạo trường mới ưng.

 

 

GIẤC HỒ ĐIỆP

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Giấc Hồ điệp chiêm bao sực tỉnh,
Lòng buồn lòng khó nín cho khuây.

 

 

GIẤC HUỲNH LƯƠNG

Giấc huỳnh lương hay là Giấc kê vàng. Do điển tích nói về giấc mộng của Lữ Đồng Tân. Khi Đại Tiên Hớn Chung Ly muốn độ Lữ Đồng Tân tu Tiên. Cả hai mới vào quán nghỉ thì chủ quán đang lúc nấu nồi kê (bắp vàng). Ðồng Tân vừa nằm xuống nghỉ giây lát, liền chiêm bao thấy đi thi đậu Trạng nguyên, cưới vợ đẹp, vua bổ làm quan, 50 năm lên chức Thừa Tướng, con cháu đông đảo, giàu sang tột bực, vẻ vang hiển hách. Sau đó bị gian thần hãm hại, vua bắt tội, tịch thu tài sản, đày ra Lãng Biển, khổ sở vô cùng. Ðồng Tân giựt mình thức dậy, thấy nồi bắp vàng nấu vẫn chưa chín. Ðồng Tân suy nghĩ mà chán ngán sự đời, liền nhờ Hớn Chung Ly truyền đạo tu hành. Giấc huỳnh lương là nói công danh phú quí ở đời hãy xem như giấc mộng; chính nó ngắn ngủi, không thật, không đem vào cõi Hư linh là nơi cảnh thật của Linh hồn.

Thầy dạy: ngày 12-12-1926 (âl: 8-11-Bính Dần)

“Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương. Thầy có thế dùng hai con đặng đắp vun nền Ðạo, cứu vớt sanh linh, nhưng đức tín ngưỡng biết có đặng tròn, sự dày công chịu khó vì nhơn sanh biết có đặng bền bĩ chăng?”

 

 

GIẤC NAM KHA

Năm Ðinh Mão (1927).

“THẦY- Các con, Thầy lau giọt nước mắt mừng lòng tâm Ðạo của các con, vậy các con ôi! Ðạo Thánh ba lượt khai, quỉ mị muôn lần phá, Thầy đau lòng biết mấy! Nhưng Thầy hằng dựa cửa trông hoài, trông cho các con thoát được tục trần, dứt dây oan trái mà nhẹ bước về cùng Thầy, thời gẫm âu điều hân hạnh ấy. Thầy hằng sợ là một giấc Nam Kha chăng? Rán nghe các con!”

Lời rằng:

 

“Giấc Nam Kha khéo bất bình,
“Bừng con mắt dậy thấy mình tay không."

 

 

GIỀNG BA

Kinh Sám Hối có câu:

“Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
“Kính anh mến chị thì là phận em.”

 

 

GIỀNG NHƠN LUÂN

Kinh Hôn Phối có câu:

“Con người nắm vững chủ-quyền,
“Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn-luân.”

 

 

GIỎ HOA LAM

Bài Thài tế điện cho bà Lâm Hương Thanh có câu:

Đầy giỏ Hoa Lam chất ái tình,
Y theo mặt luật của khuôn linh.
Thử căn linh thể nơi phàm tục,
Mới hưởng hồng ân chốn Ngọc đình.

 

 

GIÒI TỬA

Kinh Sám Hối có câu:

“Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,
“Hơi tanh hôi thường bữa lẫy-lừng."

 

 

GIỎI Giáo Hữu Thượng Giỏi Thanh (Danh)

 

Xem Giáo Hữu Thượng Giỏi Thanh (Huỳnh Văn Giỏi).

 

 

GIỎI Lễ Sanh

Thọ phong ngày 14-05-Bính Dần, Ông là một trong số 247 người ký tên trong TỜ KHAI ĐẠO.

 

 

GIỌNG ĐỜN TIẾNG QUYỂN

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,
"Thói dâm phong rù quyến nguyệt hoa.
"Có ngày hư nát cửa nhà,
"Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng."

 

 

GIỌT LỤY

E: The teardrop.
F: Le larmes.

Kinh Khai Cửu có câu:

"Giot lụy của Cửu-huyền dầu đổ
"Chớ đau lòng thuận nợ trầm luân."

 

 

GIỌT MÁU MỦ

(Máu mủ là Con người bởi tinh cha huyết mẹ tạo nên hình hài, do vậy con cháu cũng từ huyết thống (máu mủ) của Tổ tiên lưu truyền lại. Chỉ huyết thống của dòng họ).

Giọt máu mủ: Chỉ người con kế truyền của dòng họ cùng huyết thống.

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

Giọt máu mủ lưu truyền tại thế,
“Con nhẫng mong truyền kế lửa hương”.

 

 

GIỌT NHÀNH DƯƠNG

E: The drop of Holy-water.
F: La gontte de L’Eau bénite.

Kinh Ðệ Tam Cửu có câu:

"Cam-Lồ rưới giọt nhành dương,
"Thất tình lục-dục như dường tiêu tan."

 

 

GIỌT TỪ BI

Lời Thánh giáo của Bát Nương Diêu-Trì-Cung:

Lời đã dặn có Trời nối gót,
Lập ngôi Thiên rưới giọt từ bi.

 

 

GIỐNG LẠC HỒNG

Thi văn dạy Đạo:

Nợ nước hai vai nặng gánh gồng,
Thần dân phận sự phải lo xong.
Gắng công đạo đức trau hằng bữa,
Chiu chít đừng quên giống Lạc Hồng.

 

 

GIỚI CẤM

戒 禁
E: Interdiction.
F: Interdiction.

Giới: Răn cấm. Cấm: không cho phép làm. Giới cấm là những điều răn cấm, không cho làm.

Trong sách Khóa Hư Lục, vua Trần Thái Tông có giải thích chữ Giới như sau:

"Giới như đất bằng, vạn điều lành từ đây mà sanh ra. Giới như lương y, có thể cứu chữa mọi bệnh. Giới như hạt châu sáng, có thể phá tan mọi u ám. Giới như thuyền bè, có thể đi qua biển khổ."

Tân Luật của Đạo Cao Đài có 5 Giới cấm quan trọng làm căn bản cho người tu, gọi là Ngũ Giới cấm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Phải giữ giới cấm ấy cho lắm.

 

 

GIỚI - ĐỊNH - HUỆ

E: Prohibition – Contemplation – Wisdom.
F: Prohibition – Contemplation – Sagesse.

Thường nói: Trí huệ. Trí và Huệ là hai chữ đồng nghĩa, nhưng có khác chút ít: người ta dùng chữ Trí mà nói về thế gian, về sự hữu vi; còn chữ Huệ thì dùng để nói về việc xuất thế gian, việc đạo đức, về lý vô vi mà thôi.

▪ Huệ có nhiều bậc: Những ai năng tụng kinh điển, nghe thầy giảng giải đạo lý, ăn ở tinh sạch, bỏ những vui sướng theo thế thường, vừa suy xét tham thiền, thì đã thấy Huệ phát hiện ra nơi mình rồi. Cao hơn nữa, có những bực Huệ của La Hán, Duyên giác, Bồ Tát. Huệ hoàn toàn là cái Huệ của Phật, to lớn và sáng suốt hơn Huệ của các vị đắc đạo. Cái Huệ của Phật, viết theo Phạn: Tát Bà Nhã (Sarvajna), cũng gọi: Nhứt thiết Trí, là Trí Huệ biết tất cả sự vật, hữu vi, vô vi, quá khứ, hiện tại, vị lai.

▪ Huệ là một sự học trong Tam Học. Ba sự tu học là: Giới, Định, Huệ đều quan hệ mật thiết với nhau. Có tu Giới mới sanh Định, nhờ Định mới phát Huệ. Phát Huệ rồi thì dứt mê hoặc, đắc chơn lý.

▪ Huệ là một nền hạnh lớn, hạnh thứ sáu trong Lục Độ. Bồ Tát cần phải trải qua các đời tu cho đủ Lục Độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí Huệ. Lục Độ đầy đủ thì đưa Bồ Tát lên quả vị Phật.

▪ Huệ là một môn trong nhị môn mà Bồ Tát cần phải tu hành: Phước môn và Huệ môn. Bồ Tát, chẳng những phải tu phước là đem lòng từ mà tế thế độ sanh, lại phải tu Huệ là đọc tụng kinh điển và tham thiền thì mới mau thành Phật. Ấy gọi là Phước Huệ Song Tu.

▪ Có Tam Huệ, tức là ba cách phát Huệ: Văn Huệ: Nhờ nghe kinh, đọc kinh mà phát Huệ; nhờ nghe thầy, bạn chỉ dạy mà phát Huệ.

 

 

GIỚI TÂM KINH

E: The prayer of preservation.
F: La prière de préservation du cœur.

 

GIỚI TÂM KINH (1)

(Giọng Nam-Xuân)

(1) Năng tụng bài nầy mà sửa tánh răn lòng.

Vọng Thượng-Đế chứng lòng thành-tín,
Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn-nguyền.
Nguyền cho trăm họ bình yên,
Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.

Nguyền Khổng-Thánh bảo toàn Nho-Giáo,
Lấy nghĩa nhơn Đại-Đạo truyền ra.
Tây-phương Phật-Tổ Di-Đà,
Nam-Hải Phổ-Đà cứu khổ Quan-Âm.

Lẽ báo ứng cao thâm huyền-diệu,
Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.
Đạo-Quân đức hóa háo sinh,
Rộng quyền máy nhiệm an-linh cứu đời.

Xin xót thương con người ngây dại,
Phép huyền-hư truyền dạy thế-gian.
Mong nhờ lịnh Đức Thánh-Quan,
Ra oai tiêu-diệt cho tàn ác ma.

Trường-Canh chói rạng lòa Kim-Khuyết,
Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.
Tề-Thiên Đại-Thánh để lời,
Thiện nam, tín nữ nghe thời phải vưng.

Chớ tự phụ, cũng đừng khinh ngạo,
Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.
Lời khuyên già trẻ gái trai,
Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành.

Đấng Tạo-Hóa hóa sanh muôn vật,
Phú cho người tánh rất linh thông.
Đặt ra có họ, có dòng,
Vua, thầy, cha, mẹ, vợ, chồng, cháu, con.

Tình huynh-đệ tày non tợ biển,
Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.
Cang tam, thường ngũ phải gìn,
Chứa đức, làm lành, làm phước, làm doan.

Gặp người đói rách khốn nàn,
Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhơn.

Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,
Thói dâm phong rù quyến nguyệt hoa.
Có ngày hư nát cửa nhà,
Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng.

Trường đổ bác cũng đừng léo tới,
Phường trăng hoa hát bội khá từ.
Những điều nhơ-nhuốc phải chừa,
Hỗn-hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.

Nơi địa ngục gông kềm sẵn đủ,
Để răn loài dâm phụ gian phu.
Ai ai bền chí mà tu,
Phước đem đổi tội cho phu dễ gì?

Có thơ rằng :

Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,
May đặng làm người chớ dể-duôi.
Lành dữ hai đường vừa ý chọn,
Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.

Hoa tươi, tòng bá, khác nhau xa,
Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.
Gặp tiết đông-thiên sương tuyết bủa,
Chỉ còn tòng bá, chẳng còn hoa.

Còn hoa mà lại ích chi đâu,
Đẹp dáng tươi màu đặng mấy lâu.
Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,
Gió lay đèn tắt, nguyệt làu-làu.

Làu-làu một tấm tợ đài gương,
Trung, hiếu, tiết, trinh vẹn mọi đường.
Sang cả mặc người đừng bợ-đỡ,
Hoạnh tài trơ mắt khỏi tai-ương.

Tai ương hoạn họa luống ưu sầu,
Vì bởi hay bày chước hiểm sâu.
Lập kế đồ mưu âm hại chúng,
Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.

Heo trâu thân thể mạt hèn thay,
Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.
Lộng lộng lưới Trời tuy sếu-sáo,
Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.

Mày râu đứng giữa cõi trần-gian,
Gắng sức chống cho vững miếu đàng.
Phận gái tam tùng cùng tứ-đức,
Tề-gia nội trợ vẹn là ngoan.

Ngoan-ngùy chơn-chánh Phật Thần thương,
Chơn-chánh liên-hòa với thiện lương.
Thần-Thánh thành, do người chánh thiện,
Thiện-lương chơn-chánh đức không lường.

Không lường kẻ thiện với người hung,
Bợ đỡ giàu-sang phụ khốn cùng.
Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa,

Trong lòng dối kết chút tình chung.
Tình chung đặng cậy thế người sang,
Mượn tiếng khua môi với xóm làng,
Lời dạy Thần Tiên không kể đến,
Đạo mầu chẳng cứ, cứ khoe-khoang.

 

 

GIỚI TỬU

戒 酒
E: The forbidance of wine.
F: L’abstention de vin.

Giới: Răn cấm. Tửu: rượu. Giới tửu là cấm uống rượu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Vì sao phải Giới tửu?.......

Vậy Thầy cấm các con uống rượu, nghe à!

Thánh giáo ngày 29-11-Bính Dần (dl 2-1-1927), Đức Lý Giáo Tông dạy ông Lê Châu Trì không được uống rượu:

Trì! Nghe dạy. Sơn! Phải lấy một ly rượu nhỏ, một ly rượu lớn, rót ly nhỏ vào ly lớn, đem lại đây, đưa cho nó cầm, đội ngay trán, thề rằng: "Tôi tên là Lê Châu Trì, thề uống Tiên tửu một phen nầy với Lý Đại Tiên, từ đây không uống nữa, như ngày sau phạm giới, Ngũ Lôi đả tử,"

Như quỉ giục thì Hiền hữu niệm câu nầy:

"Tửu nhập tâm di, hại tổn bình sanh chi đức, tánh thiên đạo diệt, dục tranh thế sự chi oan."

Giải nghĩa: Rượu vào lòng đổi, hại hao đức bình sanh, tánh dời đạo hủy, dục tranh oan nghiệt thế tình.

Trì! Nhớ nghe. Đợi hầu Thầy.

 

 

GIỜ ĐẠI XÁ CỦA THƯỢNG ĐẾ ĐÃ ĐIỂM

“Đức Quyền Giáo Tông nói “Đức Thượng-Đế đã giáng dạy chúng tôi hoằng-hóa Chánh đạo của Người đến khắp hoàn-cầu. Chúng tôi quả quyết không có gì lầm-lẫn trong sứ-mạng ấy. Đặt mình vào bổn-phận, chúng tôi khẩn-thiết yêu-cầu quí Ngài thông-truyền cho toàn thể nhân-loại thế-giới hiểu biết việc làm của chúng tôi, để mọi người hiểu rằng:

- Giờ ĐẠI-XÁ của Thượng-Đế đã điểm và sự thống hiệp của con cái Đấng Tạo-hóa là để Phụng-sự cho Hòa bình hơn là tiếp tục tìm kiếm kế-hoạch thống trị thế giới. Muốn được vậy, chỉ cần sao cho tất cả người đời biết Thương-yêu đồng chủng và giữ-gìn hạnh đức đúng theo đường lối mà Chí-Tôn đã vạch. Chúng tôi chắc rằng: hơn ai hết, quí vị Đế-Vương, Quốc-Vương, Quốc trưởng, Giáo chủ…đều muốn cho thần-dân và thuộc hạ đang sống dưới quyền uy của quí vị đều được sống mà không bị ám-ảnh bởi một sự sợ-hãi triền-miên và một trận chiến-tranh tương-lai mà các vũ khí tối-tân sẽ gây nên những sự tàn phá và những sự ghê tởm không tả xiết”.

 

 

GIU-ĐA (Juda)

Juda là một trong 12 môn đồ của Đức chúa Cứu Thế. Sử chép rằng Ông là người đã phản bội, đã bán Chúa.

Đức Hộ-pháp nói: “Khổ thay cho những kẻ không duyên chối Thánh giáo nghịch chơn-truyền, làm cho chơn thần của Chí-Tôn phải ô-uế đê-hèn muốn toan bỏ xác. Đau-đớn thay cho những người ấy! Thê thảm thay cho những kẻ ấy! Dám để tay vào mà làm hại Chí-Tôn; cái tội-tình ấy lớn-lao bao nã. Coi lại gương Juda bán Đức Chúa Jésus-Christ còn nhẹ, vì Juda ham ba chục nguơn bạc đặng nuôi Môn-đệ của Người, còn những kẻ này đây duy háo danh mà phản đạo”.

Chí-Tôn đã đến thế, hạ mình đặng làm Thầy dạy-dỗ chúng ta, hằng trông mong giờ nào chúng ta biết hòa-hiệp nơi lòng Bác-ái từ-tâm của Người, là hiệp làm một cùng Người mới có đủ quyền-hành đặng tận độ chúng sanh qui hồi cựu vị; mà đã sáu năm chầy rồi, thân-thể hỡi còn rời rã ngất-ngơ, Chơn-Thần hỡi còn dật-dờ mê muội, thì thế nào các Đấng Thiêng-liêng hiệp một cùng đời cho đặng, hầu mong sửa cải Thiên-thơ, tụ hội các nguyên-nhân đem vào cửa Đạo” (Pháp Chánh Truyền)

 

 

GIỤC LOẠN

Giục loạn là làm cho loạn lên. Đây là lời Đức Lý Giáo Tông nói với Ngài (Th... Tr... Nh.) Thượng Trung Nhựt- Ðầu Sư, nay được Ðức Lý Giáo Tông thăng lên là Quyền Giáo Tông vào ngày 3-10- Canh Ngọ (1930) theo Ðạo Nghị Ðịnh thứ hai.

Chỉ riêng Đạo Cao Đài là áp dụng lý Âm Dương ở mọi nơi mọi chỗ. Như đây thì ngôi Giáo Tông vô vi là Đức Lý Đại Tiên còn Giáo Tông hữu hình thì Ngài nhượng cho Đức Lê văn Trung “một nửa quyền” tức là Ngài Lê văn Trung là “Quyền Giáo Tông” là chỉ đảm trách về hữu hình mà thôi.

Đức Lý Giáo Tông nói: 1-8-1931 (âl: 18-6-Tân Mùi)

“Th... Tr... Nh... Ngày nay Lão đã nhượng nửa quyền hành cho đó là có ý để mắt coi Hiền Hữu đúng phận cùng chăng? Lão hạ mình bỏ quyền Nhứt Trấn lãnh việc Giáo Tông mà lập vị cho đoàn em bước tới. Lão đã lắm phen thấy điều khó khăn mắc mỏ của phần ấy, nên ra tay giục loạn đặng phân rõ Chánh Tà, hầu giúp phương cho Hội Thánh trừ khử.”

 

 

GIỤC NGHỊCH

Thầy dạy: “Thầy vẫn đã thường nói với các con rằng: Thầy đến lập cho các con một nền Chơn Đạo, tức là mỗi sự chi dối trá là chẳng phải của Thầy. Thầy đến là chủ ý để dạy cả nhơn sanh đặng Hòa-bình chớ chẳng phải đến đặng giục nghịch lẫn nhau. Thầy lại thường nói sự sang trọng vinh hiển của các con chẳng phải nơi thế giới này.”

 

 

GÓA THÂN

Góa thân là Thân góa bụa. Từ Hán Việt gọi người đàn ông vợ chết gọi là Quan 鰥, người đàn bà chồng chết ở vậy gọi là quả 寡. Từ chung chỉ cảnh đàn ông mất vợ, đàn bà mất chồng là “Quan quả” trong câu “Thương người quan quả cô đơn”.

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

“Ngồi quạnh quẽ đèn tàn một bóng,
“Chịu góa thân tuyết đóng song thu.”

 

 

GỘI NHUẦN

Đức Lý dạy: qua bài thi rằng:

Công danh đất Việt tay đành nắm,
Mưa móc dân sanh gắng gội nhuần.

 

 

GÔNG VỚI TRÓNG

E: The cang and shackle.
F: La cangue et le cep.

Gông: cái khung gỗ nặng có then gài để đóng mở, dùng tròng vào cổ tội nhân bị án nặng. Tróng: Cái cùm để giam chân tội nhân vào một chỗ, gồm hai miếng gỗ hay sắt, ghép lại có lỗ vừa cái cổ chân. Gông với tróng là chỉ những hình phạt khổ sở để trừng trị các tội nhân thời xưa.

Thầy nói: “Quyền hành Chí-Tôn của Thầy, các con nếu hiểu thấu thì các con sẽ thấy nó là một hình phạt rất nặng nề, chẳng khác nào như gông với tróng.”

 

 

GÔNG KỀM KHẢO KẸP

Kinh Sám Hối có câu:

Gông kềm khảo kẹp lăng-xăng,
“Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.”

 

 

GỒNG GÁNH HAI VAI

Thi văn dạy Đạo:

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần,
Có thân âu hẳn khổ cho thân.
Chưa no buổi sớm, lo nồi tối,
Cái kiếp oan kia khá dứt lần.

 

 

GỞI THÁNH CỐT TẠI ĐẤT THÁNH ĐỊA

Đức Hộ-Pháp hành pháp độ-thăng cho Giáo Hữu Thượng-Sang-Thanh tại Đền-Thánh ngày 19 tháng 7 năm Canh-Dần, hồi 9 giờ sáng. Đức Ngài có lời dạy về tầm quan trọng của đất Thánh địa khi gởi Thánh cốt về đây.

Đức Hộ-Pháp căn-dặn một điều là nên để ý là làm sao ngày qui-liễu gởi Thánh-Cốt tại đất Thánh-Địa. Vì trái địa cầu 68 nầy không còn có chổ đất nào quí-hóa bằng đất Thánh Địa, nếu để được cốt-hài nơi đây rồi thì rất hạnh phúc cho tương-lai con cháu. Dù nơi Cực-Lạc cũ hay đất mới, cùng là nghĩa-địa đất 50 mẫu ở Long-Thành cũng vậy. Bần-Đạo đã biết bên nước Tàu hễ Cha-Mẹ họ có qui, họ quàn lại để chọn ngày hoặc chọn chỗ đất tốt có hàm rồng, dầu phải 5, 3 năm họ cũng đợi kiếm được mới làm lễ an-táng, vì bên nước Tàu có nhiều nhà biết Thiên-Văn hay khoa coi bói họ giỏi. Phần nhiều là các nhà giàu có hay chọn lựa, ngày nay dân tộc Việt-Nam có phước Chí-Tôn đã tiền-định cho giòng-giống Lạc-Hồng hưởng điều phúc-hậu tương-lai, ai có duyên mà về đây gởi cốt-hài là có phước lắm vậy. [ HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

Về việc Xin mở rộng đất Cực-Lạc mới (do Phước-Thiện)

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

“Đất Thánh là nơi tạm gởi Thánh-Cốt con cái Đức Chí Tôn cho đến ngày mãn một đời Giáo-Tông, là thiêu cốt lấy tro làm nên một khối lớn đem vô để nơi hầm Bát-Quái-Đài, tro đầu tiên Hạ Đơn-Điền, tay chơn là đem vô khối ấy, có dư bao nhiêu thì có lễ long-trọng đem xuống sông Cẩm-Giang đổ. Cẩm Giang tức là Thánh Giang như sông Gange vậy. [ HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

 

 

GƯƠM ĐAO

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Dầu lời thốt dặt dè từ chuyện,
Mượn đoan trang thay miếng đỉnh chung.
Làm cho sấn chí anh hùng,
Non sông trổi bước ngàn trùng gươm đao.

 

 

GƯƠM HUỆ

E: The sabre of wisdom
F: Le sabre du sage.

Gươm huệ là Cây gươm hay cây kiếm trí huệ.

Trí huệ được ví như một lưỡi gươm (lưỡi kiếm) sắc bén, có thể chiến thắng được giặc thất tình lục dục và có thể cắt đứt hết mọi phiền não trói buộc vào con người.

Kinh Xuất Hội có câu:

“Cứ nương dưới máy linh cơ Tạo,
Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà."

 

 

GƯƠM THƯ GƯƠM HÙNG

Thường nói là Gươm thư hùng hay Thư hùng kiếm. (Gươm thư là cây gươm mái, chỉ người vợ; gươm hùng là cây gươm trống, chỉ người chồng). Cặp gươm thư hùng có đủ âm dương, nếu dùng một cây thì tác dụng của nó bình thường, nhưng nếu dùng hai cây thư và hùng phối hợp thì tác dụng của nó tăng lên gấp bội, vì có đủ âm dương. Gươm Thư Hùng là chỉ một cặp vợ chồng đồng tâm nhứt trí, vợ tài giỏi giúp chồng làm nên sự nghiệp vẻ vang.

Lấy theo điển tích xưa là tên một thanh bửu kiếm có đặc tính chém sắt như chém vào bùn. Tên của vị kiếm sư là Can Tương thời Chiến quốc ở nước Ngô cùng với Âu Dã Tử nổi tiếng rèn gươm báu.

Nguyễn Công Trứ cũng đề cao con người chí khí trong bài Kẻ Sĩ rằng:

“Trong lăng miếu ra tài lương đống
“Ngoài biên thùy rạch mũi CAN-TƯƠNG”

Vua Ngô thời bấy giờ là Hạp Lư truyền cho Can Tương phải rèn cho báu kiếm trấn quốc. Can-Tương luyện kiếm, nhưng nấu sắt mãi mà không chảy. Người vợ là Mạc-Da liền ăn chay, tắm gội sạch sẽ nhảy vào lò luyện kim, sắt liền chảy ra. Can-Tương rèn được hai thanh báu kiếm: Cây trống đặt tên là Can-Tương, cây mái đặt tên là Mạc-Da cũng gọi là Âm Dương Kiếm (tức là cây mái và cây trống)

Tương truyền Can-Tương đem gươm Mạc-Da dâng cho Hạp-Lư liền được trọng thưởng. Về sau, Hạp-Lư truyền cho Can-Tương phải đem nộp luôn cây gươm trống cho đủ cặp. Can Tương sợ mang tội khi quân, vì đã dấu bớt một thanh gươm này, về nhà dở lấy thanh Can-Tương định bỏ trốn, gươm báu liền biến thành con rồng chở Can-Tương đi mất.

Trong thời buổi Cao-Đài Đại-Đạo này các bậc đại thiên phong đứng đầu của hai cơ quan Đại-Đạo là thiên sứ đến làm thiên mạng trong buổi chuyển thế và cứu thế thì các Ngài cũng dùng đến bửu-pháp như: HỘ PHÁP nắm quyền chưởng quản Hiệp Thiên Đài cũng là Giáo chủ của nền Đại-Đạo có bửu pháp là Kim Tiên tức là cây roi vàng “hiệp với ba vòng vô vi là diệu quang Tam Giáo hay là hình trạng của Càn Khôn Vũ-Trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ quang khiếu của chúng ta đó vậy”. Hộ Pháp đến kỳ này cây Giáng-Ma-Xử của Người còn để lại cõi vô hình đặng trấn giữ Tây Phương Cực Lạc. Chính cặp Kim Tiên của Đức Cảm-Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên-Tôn, tức Thái Sư Văn Trọng, Ngài giao cho Hộ Pháp một và Ngài còn giữ một. Cho nên đối với người tu là tự mình phải rèn cho được sự sáng suốt, một tâm linh nhạy bén mới thông hiểu được chơn truyền của nền Đại-Đạo. (xem thêm Thư Hùng Kiếm. Vần TH.)

 

 

GƯƠNG

“Phép Tu chẳng phải luyện nội tinh thần mình theo đạo hạnh mà thôi, mà cái thân-thể mình đây phải tùy-tùng phù hạp với Đạo-Tâm, thể đạo chơn-chánh bởi gương mình, hễ chúng sanh ngó Đạo nói mình, xem mình cho là Đạo mới phải.”

 

 

GƯƠNG CHÚA JÉSUS

Đức Hộ Pháp Thuyết: 13-03-Kỷ Sửu (1949):

Trong quyển gương Chúa Jésus có đoạn nói rằng: “Bạn cần được coi như những người đã chết, đối với những người thân; bạn càng đến gần Chúa thì phải rút khỏi sự an ủi, khen ngợi, ca tụng của người đời, vì tất cả sự an ủi, ca tụng, khuyến khích của thế gian, thì chỉ làm tăng cái bản ngã của bạn, mà bản ngã của bạn càng tăng, thì bạn càng xa Chúa nhiều hơn”. (Theo Wisdom Bliss and Common Sense / nguyên tác Darshani Deane / Bản dịch Nguyên Phong).

 

 

GƯƠNG ĐẠO

E: The good example.
F: The bon exemple.

Gương: Tấm kiếng tráng thủy để soi mặt. Cái mẫu mực tốt để mọi người noi theo. Đạo: đạo đức. Gương đạo là tấm gương tốt về đạo đức, tức là những mẫu mực tốt đẹp về đạo đức để người sau noi theo.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Gương đạo noi theo đời Thuấn Đế.

Thi văn dạy Đạo có câu

Gương đạo noi theo đời Thuấn Ðế,
Ðế dân vẹn giữ lối Văn Vương.

 

 

GƯƠNG HẠNH

E: The example of virtue.
F: L’exemple de la vertu.

Gương: Tấm kiếng tráng thủy để soi mặt. Cái mẫu mực tốt để mọi người noi theo. Hạnh: đức hạnh, tánh nết tốt đẹp. Gương hạnh là tấm gương tốt về đức hạnh.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Làu soi gương hạnh rạng Nam hoa.

 

 

GƯƠNG HIỀN ĐỨC CỦA NỮ PHÁI

Bát-Nương Diêu-Trì-Cung có lời rằng: “Trong cửa Đạo Chí Tôn đã lập, cốt yếu để lập quyền cho mỗi con cái của người tu độ lấy mình. Của thiêng liêng vốn không phải là vật để dục tư tình tư nghĩa, mà lại là cơ quan độ mỗi mặt nguyên nhân diệt căn trừ nghiệt. Phải hiểu giá trị của Thiên phong, chẳng phải để khoe màu đạo đức, mà vốn là phương cứu độ sanh linh. Nếu đã mang chức trách ấy nơi mình mà không trọn nghĩa vụ thì tự nhiên phải phạm Thiên điều. Cái gương hiền đức của Nữ phái là vật của Chí Tôn để lòng tìm kiếm và cũng vì nó mà Chí Tôn mới định lập pháp ban quyền cho Nữ phái đối phẩm cùng nam. Thoảng như gương hiền đức ấy đã ra vô giá trị, điêu tàn thì công nghiệp nương đâu mà bền vững? Chị nói thiệt rằng: Dầu cho Phật Mẫu tái sanh mà thất bề hiền đức thì Ngọc Hư Cung cũng định tội qui phàm. Vậy thì các em phải giữ lấy phận mình. Chị nghĩ cũng chưa kham, đừng thày lay cầu tội giùm cho kẻ khác. Chị rất cám cảnh, nhưng Thiên điều định vậy, biết liệu làm sao? Tự nơi chị Ứng Quân tự mình giải thoát.”.

 

 

GƯƠNG MẪU

F: Exemple, modèle.

(Gương còn gọi là gương soi, tức cái kiến (kinh thủy) dùng để soi mặt vào đó, nhìn ngắm, xét nét và chỉnh sửa; các bà các cô thường nhìn vào gương để mà trang điểm hầu cho đẹp đẽ hơn lên. Mẫu làm mực thước chung cho mọi người) Gương mẫu là vật làm biểu tượng chung cho tất cả sự hay đẹp.

Đức Hộ-Pháp nói: “Theo Thánh ý của Đức Chí Tôn là muốn dùng dân tộc Việt Nam làm gương mẫu cho toàn cầu, là chỗ mà thiên hạ cho là thấp hèn, bạc nhược, lại được Đức Chí Tôn đem lên ngang hàng cùng vạn bang mà còn cho trổi hơn mặt tinh thần, do đó mới kêu là QUỐC ÐẠO”.

…“Năm ngàn năm trở lại đây biết bao nhiêu Đấng xuống trần dạy Đạo, khuyên nhủ cho người ta biết làm lành lánh dữ, nhưng tánh nào tật ấy, dữ cũng vẫn dữ mà thôi. Họ không có hiền bảo người ta hiền làm sao cho được? Trước khi dạy người, ta phải hiền trước để làm gương mẫu: hiền lành trước đi, thì người khác mới noi theo, nên Đức Chí Tôn mới mở Đạo, lấy Thương yêu làm gốc và Công bình, Bác ái. Ngày nào cả nhân loại trên mặt địa cầu này biết nhìn nhận Đức Chí-Tôn là Đấng Cha chung thì ngày ấy mới được Hòa bình vĩnh cữu. Tóm lại, ai hành ác mặc họ, Tín đồ Cao Đài rán lo tu, chay lạt, đi Cúng hằng ngày, phải nhiều thời, nhiều pháp, nhiều Kinh cầu xin Đức Chí-Tôn giảm tội cho họ. Nếu họ biết ăn năn hối cải mà làm lành lánh dữ bằng không phải trả giá rất đắc”.

Quyền Giáo Tông giáng: “Các em cần lo trau giồi cho đáng giá, để làm gương mẫu hướng dẫn quần chúng noi bước theo con đường đạo đức và lập quốc buổi tương lai đã đến đây”.

 

 

GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH

Gương hay kiến dùng soi mặt. Đó là vật khi đã vỡ rồi thì không bao giờ làm cho dính liền lại được. Đây là nói một trường hợp hy hữu

Điển tích: Lạc Xương Công Chúa là em của Trần Hậu Chủ, vợ của Từ Đức Ngôn. Gặp lúc Trần Hậu Chủ bị Tùy Dương Đế đánh sắp thua tới nơi, Từ Đức Ngôn lúc đó nghĩ rằng chắc vợ chồng chàng khó được trọn vẹn cùng nhau, nên bảo vợ là Lạc Xương Công Chúa rằng: Công Chúa sắc tài gồm đủ, hễ nước mất ắt bị nhà Tùy chiếm lấy, còn mong gì sum họp nhau lâu dài. Nếu nàng chưa dứt hẳn mối tình với tôi thì đây là tấm gương đã bể làm hai mảnh, nàng giữ một mảnh, tôi giữ một mảnh, hẹn rằng về sau, cứ đến rằm tháng giêng mỗi năm thì nàng đem mảnh gương ra bán ở chợ Kinh đô, tôi sẽ tìm đến mà gặp nhau. Đến khi nhà Trần mất, Lạc Xương Công Chúa lọt vào tay danh tướng nhà Tùy là Dương Tố; còn Từ Đức Ngôn lưu lạc gian nan. Khi yên giặc, chàng lần về kinh đô. Chàng y hẹn, ra chợ kinh đô vào ngày rằm tháng giêng, tìm thấy một người ăn mặc theo dáng đầy tớ, đem ra chợ bán một mảnh gương, nói giá thật cao, ai cũng cho là điên khùng. Từ Đức Ngôn đến mời người ấy ra chỗ vắng, đem mảnh gương của mình ra ghép với mảnh gương kia thì ăn khớp nhau. Chàng hỏi thì biết được Lạc Xương Công Chúa đang ở trong dinh của Dương Tố. Chàng viết bức thơ bảo người bán gương đem về cho Công Chúa. Công Chúa nhận thơ biết chồng mình còn sống, nên khóc lóc thảm thiết, tỏ hết sự tình cho Dương Tố rõ. Dương Tố là người anh hùng quảng đại, mời Từ Đức Ngôn đến, đem Công Chúa trả lại, còn tặng cho nhiều tiền bạc.

Thành ngữ: Gương vỡ lại lành, ý nói vợ chồng sau thời gian lạc xa nhau vì hoàn cảnh, nay được đoàn viên hạnh phúc.

Bà Đoàn viết Nữ Trung Tùng Phận có câu:

Lỡ lối cũ động đào lạc bước,
Khó cầm duyên đợi ngọc cầu Lam,
Thân Tiên dầu lỡ gót phàm,
Gương xưa lỗi ráp, ai cầm làm chi?

 

 

GƯƠNG NHỰT NGUYỆT

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Ấy Tôn chỉ Đạo Thầy truyền bá,
Lấy tinh-thần Hoằng-hóa nhơn sanh.
Đạo ra ngày tháng đành rành,
Mảnh gương nhựt nguyệt quang minh rõ ràng.

 

 

HẾT VẦN G

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

GA | | | GHE | GI | GO | | |

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GÁC

Gác Quyển

Gác Tía Lầu Hồng

 

GAN

Gan Sắt Dạ Đồng

Gan Tấc

 

GÁNH

Gánh Vác

 

GẮNG

Gắng Ghi

 

GÂY

Gây Hờn Chứa Giận

Gây Oán Chác Hờn

 

GALILÉE

Galilée

 

GHE

Ghe Phen

Ghét Ngõ Ghen Hiền

 

GIA

Gia Ân

Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần

Gia Công

Gia Đạo

Gia Đình

Gia Long

Gia Nghiệp Thiêng Liêng

Gia Nhân Quẻ Phong Hoả Gia Nhân

Gia Phả

Gia Phong

Gia Quyến

Gia Tế Phước

Gia Thất

Gia Tiên

Gia-Tô Giáo Chủ (Da-Tô Giáo Chủ)

Gia Tộc

Gia Vô Bế Hộ, Lộ Bất Thập Di

 

GIÁ

Giá Ngự

Giá Trị Tình Thương

Giá Trị Thiêng Liêng

 

GIẢ

Giả

Giả Bộ Siêng Lo

Giả Cuộc

Giả Luật

Giả Nương Cửa Phật

Giả Tạm

Giả Thân

Giả Trá

Giã Xay

 

GIÁC

Giác

Giác Hải

Giác Mê

Giác Ngộ

Giác Tánh

Giác Thân

Giác Thế

 

GIAI

Giai Cấp Vô Sản

Giai Miễn Lễ

Giai Ngẫu

Giai Quì

 

GIẢI

Giải

Giải Quẻ Quẻ Lôi Thuỷ Giải

Giải Căn

Giải Chức

Giải Khổ

Giải Kiết

Giải Khổ Kiều

Giải Mộng Trần Gian

Giải Nạn

Giải Nghiệt

Giải Oan

Giải Pháp Hòa Bình

Giải Phần Hữu Sanh

Giải Quả

Giải Quả Trừ Căn

Giải Quyền Nhập Tịnh

Giải Tán

Giải Tán Nghịch Thù

Giải Thi

Giải Thân Định Trí

Giải Thể Về Thiêng Liêng Vị

Giải Thoát

Giải Thoát Cho Cửu Huyền Thất Tổ

Giải Thoát Mê Đồ

Giải Trái Oan

Giải Trí

Giải Xong Xác Tục

Giải Vây

 

GIÁM

Giám Ðạo

Giám Đạo Phan Hữu Phước

Giám Đạo Nguyễn Huợt Hải

Giám Khảo

 

GIẢM

Giảm Thâu

 

GIAN

Gian Dâm

Gian Giảo

Gian Mưu

Gian Phi

Gian Tham

Gian Trá

Gian Truân

 

GIÁN

Gián Can

 

GIANG

Giang San

 

GIÁNG

Giáng Bút

Giáng Cấp

Giáng Cơ

Giáng Đàn

Giáng Hạ

Giáng Lâm

Giáng Linh

Giáng Ma Xử

Giáng Sanh (Giáng Sinh)

Giáng Sinh (Đức Hộ Pháp Giáng Sinh)

Giáng Tâm

Giáng Thân

Giáng Thế

Giáng Trần

 

GIẢNG

Giảng Lê Văn Giảng

Giảng Đài

 

GIÀNH

Giành Giựt

 

GIAO

Giao Hảo

Giao Hòa

Giao Kết

Giao Phó

Giao Tiếp

Giao Thiệp

 

GIÁO

Giáo (Dương Văn Giáo)

Giáo Chủ

Giáo Dân

Giáo Dân Hành Thiện

Giáo Dục

Giáo Điều

Giáo Hóa

Giáo Hóa Chúng Sanh

Giáo Hóa Nhơn Sanh

Giáo Hội

Giáo Huấn

Giáo Hữu

Giáo Lý

Giáo Lý Chơn Truyền

Giáo Lý Đại Đạo

Giáo Đạo Nam Phương

Giáo Đạo Tha Phương

Giáo Ngoại Biệt Truyền

Giáo Nhi

Giáo Nhơn Qui Thiện

Giáo Phẩm

Giáo Sĩ

Giáo Sư

Giáo Sư Hương Phụng

Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh

Giáo Tông

Giáo Tông Đường

Giáo Thiện

Giáo Truyền

Giáo Viên Ðạo Ðức Học Ðường

Giáo Xiển Hư Linh

 

GIÁP

Giáp

 

GIÀU

Giàu Sang

 

GIÀY

Giày Gai Áo Bả

Giày Vô Ưu

 

GIẶC

Giặc Thất Tình

 

GIẤC

Giấc Hồ Điệp

Giấc Huỳnh Lương

Giấc Nam Kha

 

GIỀNG

Giềng Ba

Giềng Nhơn Luân

 

GIỎ

Giỏ Hoa Lam

 

GIÒI

Giòi Tửa

 

GIỎI

Giỏi Giáo Hữu Thượng Giỏi Thanh

Giỏi Lễ Sanh

 

GIỌNG

Giọng Đờn Tiếng Quyển

 

GIỌT

Giot Lụy

Giọt Máu Mủ

Giọt Nhành Dương

Giọt Từ Bi

 

GIỐNG

Giống Lạc Hồng

 

GIỚI

Giới Cấm

Giới - Định - Huệ

Giới Tâm Kinh

Giới Tửu

 

GIỜ

Giờ Đại Xá Của Thượng Đế Đã Điểm

 

GIU

Giu-Da (Juda)

 

GIỤC

Giục Loạn

Giục Nghịch

 

GÓA

Góa Thân

 

GỘI

Gội Nhuần

 

GÔNG

Gông Với Tróng

Gông Kềm Khảo Kẹp

 

GỒNG

Gồng Gánh Hai Vai

 

GỞI

Gởi Thánh Cốt Tại Đất Thánh Địa

 

GƯƠM

Gươm Đao

Gươm Huệ

Gươm Thư Gươm Hùng

 

GƯƠNG

Gương

Gương Chúa Jésus

Gương Đạo

Gương Hạnh

Gương Hiền Đức Của Nữ Phái

Gương Mẫu

Gương Vỡ Lại Lành

Gương Nhựt Nguyệt

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

GA | | | GHE | GI | GO | | |


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF