CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần Đ

 

ĐA

Đa Đoan

 

ĐÁ

Đá Tạc Danh Bia

 

ĐẢ

Đả Đảo

Đả Phá

 

ĐÃ

Đã Chết Rồi

 

ĐAI

Đai Cân

 

ĐÁI

Đái Thị Huệ

 

ĐÀI

Đài

Đài Chiếu Giám

Đài Gương

Đài Huệ Hương

Đài Linh Tiêu

Đài Nghiệt Cảnh

Đài Vân

 

ĐẠI

Đại Ân Xá

Ðại Bát Niết Bàn Kinh

Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

Đại Diện

Đại Đa Số

Đại Đàn

Đại Đạo

Đại Đạo Hoằng Khai

Đại Đạo Tam Kỳ

Đại Đạo Bế Lại

Đại Đạo Cao Đài

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Đại Điện

Đại Đồng

Đại Đồng Huynh Đệ

Ðại Đồng Thế Giới

Đại Gia Đình

Đại Hại

Đại Hải

Đại Hòa

Đại Hội

Đại Hồi - Tiểu Hồi

Đại Hồn

Đại Huynh

Đại Hữu Quẻ Hoả Thiên Đại Hữu

Đại Ích

Đại Kỵ

Đại Khảo

Ðại La Thiên Ðế, Thái Cực Thánh Hoàng

Đại Lễ

Ðại Lễ Tòa Thánh

Đại Liệm

Đại Linh Quang

Đại Long Hoa

Đại Lộ Phạm Hộ Pháp

Đại Lụy

Ðại Nam Việt Quốc

Đại Nạn

Đại Nộ

Đại Nghiệp

Đại Nghiệp Thiêng Liêng

Đại Ngoạt

Ðại Ngọc Cơ

Đại Ngôn

Đại Nguyện

Đại Nhạc Hội

Đại Nhân

Đại Nhất Thể

Đại Phục

Đại Quá Quẻ Trạch Phong Đại Quá

Đại Súc Quẻ Sơn Thiên Đại Súc

Đại Tạng

Đại Tập Kinh

Đại Thánh

Ðại Thần Ðại Thánh Chí Cực Chí Tôn

Ðại Thế Chí

Đại Thiên Địa

Đại Thiên Phong

Đại Thiên Thế Giới Dương Tụng Từ Ân

Đại Thừa

Đại Thừa Chơn Giáo

Đại Tịnh

Đại Tiên

Ðại Tôn Giáo

Đại Tráng Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng

Đại Từ Đại Bi

Đại Từ Phụ

Đại Tử

Đại Tường

 

ĐÀM

Đàm Đạo

 

ĐẠM

Đạm Bạc

 

ĐẢM

Đảm Bảo

 

ĐÀN

Đàn Cơ

Đàn Kinh

Đàn Lệ

Đàn Nội

Đàn Tràng

 

ĐÀNG

Đàng Nghĩa Nhân

Đàng Thổ

 

ĐẢNG

Đảng Phái

 

ĐÁNH

Đánh Dây Thép

Đánh Đòn Khảo Kẹp

 

ĐẢNH

Đảnh Nghiệp

Đảnh Tần

Đảnh Thần - Đào Nguyên

 

ĐÀO

Đào Hạnh

Đào Tạo

Đào Tiên

 

ĐÁO

Đáo Đầu

Ðáo Để

Đáo Tuế

 

ĐẢO

Ðảo Cáo

Đảo Điên

Đảo Huyền

 

ĐẠO

Đạo (1)

Đạo (2)

Đạo Bất Viễn Nhân

Đạo Bế

Đạo Cả

Ðạo Cao

Đạo Cao Đài

Đạo Cao Giá Trọng

Đạo Cao Ma Khảo

Ðạo Cao Nhứt Khí Diệu Hóa Tam Thanh

Đạo Cao Nhứt Xích Ma Cao Nhứt Trượng

Đạo Cao Thâm, Đạo Cao Thâm

Đạo Cao Vô Cực

Ðạo Chánh

Ðạo Chích

Đạo Cứu Đời Trong Cơn Khói Lửa

Đạo Dâu (Đạo Làm Dâu)

Đạo Dịch

Đạo Đức

Đạo Đức Học Đường

Ðạo Đức Kinh

Ðạo Đức Tinh Thần

Đạo Đức Truyền Thống

Đạo Đức Văn Đàn

Đạo Giáo

Đạo Hạnh

Đạo Huynh

Đạo Hư Vô Sư Hư Vô

Đạo Hữu

Đạo Kinh Hạo Kiếp

Đạo Kỳ

Ðạo Kỳ Ba

Đạo Khai Tà Khởi

Đạo Khổng

Đạo Lý

Đạo Lịch

Đạo Luật

Ðạo Mạch

Đạo Nghị Định

Ðạo Người

Đạo Nhà

Đạo Nhơn Luân

Ðạo Như Hà?

Đạo Nên Đời Rạng

Đạo Núi

Đạo Pháp (1)

Đạo Pháp (2)

Đạo Pháp Trường Hưng

Ðạo Pháp Trường Lưu

Đạo Phát Trễ Một Ngày Là Hại Cho Nhơn Sanh

Ðạo Phục

Ðạo Quang (Trần Ðạo Quang)

Đạo Quân Vương

Đạo Sanh Nhứt, Nhứt Sanh Nhị, Nhị Sanh Tam, Tam Sanh Vạn Vật

Đạo Quân

Đạo Sĩ

Đạo Sử

Ðạo Sử Xây Bàn

Đạo Tam Thanh

Đạo Táng

Đạo Tào Khương

Đạo Tâm

Đạo Tiên

Đạo Thánh Gia-Tô

Đạo Thầy

Đạo Trường

Đạo Triều

Đạo Trời

Đạo Tổ Phụ

Đạo Tùy (Đô Tùy)

Đạo Vô Vi

Đạo Vợ Chồng

Đạo Xuất Ư Đông

Đạo Y

 

ÐẠT

Đạt (Giáo Sư Ngọc Đạt Thanh)

Đạt Ðạo

Đạt Vị

 

ĐẮC

Đắc Đạo

Đắc Kỳ Sở Nguyện

Đắc Lịnh

Đắc Pháp

Đắc Phong

Ðắc Thất

Đắc Thế

Đắc Thiêng Liêng Vị

Đắc Văn Sách

Đắc Vị Kim Tiên

 

ĐẶC

Đặc Điểm

Đăng Điện

Đăng Tiên

 

ĐẰNG

Ðằng Cát

 

ĐẶNG

Đặng Bữa Cày Buông Bữa Giỗ

Ðặng Chim Quên Ná

Đặng Phủ Từ

Đặng Thị Kề

 

ĐẲNG

Đẳng Cấp

 

ĐẮP

Đắp Chung Mền

 

ĐẤNG

Đấng Hồng Quân

Đấng Chí Thiên

Ðấng Hóa Công

Đấng Tiên Vương

Đấng Tạo Hóa

 

ĐẤT

Đất Dậy Trời Thay Xác

Đất Việt

 

ĐÂU

Ðâu Suất

 

ĐẦU

Ðầu Đà

Đầu Kiếp

Ðầu Phòng Văn

Đầu Sư

Đầu Sư Đường (Nam Phái)

Đầu Sư Nam Phái: Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, Đầu Sư Thái Bộ Thanh, Đầu Sư Thượng Sáng Thanh, Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh

Đầu Sư Nữ Phái: Đầu Sư Nguyễn Hương Hiếu, Đầu Sư Hồ Hương Lự, Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Đầu Thai

Đầu Tộc Đạo

 

ĐẨU

Đẩu Suất

Đẩu Tinh

Đẩu Vân

 

ĐẬU

Ðậu Yên Sơn

 

ĐEM

Đem Vàng Chuộc Mạng

 

ĐÈN

Đèn Lưỡng Nghi

Đèn Thái Cực

Đèn Tàn Một Bóng

Đèn Trời Soi Xét

 

ĐỀN

Ðền Điện Lương Vương

Đền Thánh

Đền Thánh Tạm Hiện Thời

Đền Thờ

 

ĐEO

Đeo Đai

 

ĐẾ

Ðế Dân

Đế Thiên Đế Thích - Đền Ăng-kor Watt

Đế Vương

Đế Vương Chi Nghiệp

Đế Xuất Hồ Chấn

 

ĐỀ

Đề Phòng

 

ĐỆ

Đệ Huynh

Đệ Huynh Bất Mục

Đệ Lịnh Bài

Đệ Nhị Xác Thân

Đệ Nhứt Cao Đồ

Đệ Nhứt Sợ

Đệ Trình

Đệ Tử

Để Trọn Quyền Cho Vạn Linh Định Vị

Để Tóc Râu

 

ĐI

Đi Chữ Tâm

Đi Ngược

Đi Quanh Kiếm Quất

Đi Với Cả Linh Hồn Và Thể Phách

 

ĐỊA

Địa Cầu 68

Địa Cầu 72

Địa Cửu Thiên Trường

Địa Chi

Địa Đầu

Địa Giới - Địa Hoàn (Địa Giái - Địa Hoàn)

Ðịa Ngục (1)

Ðịa Ngục (2)

Ðiạ Ngục - Thiên Ðàng

Địa Phận

Ðịa Tạng

Địa Tạng Vương Bồ Tát

Địa Thánh

Địa Vị

Địa Vị Cao Trọng

 

ĐÍCH

Đích Tôn

 

ĐỊCH

Địch Thủ

 

ĐIỀM

Điềm Nhiên Tọa Thị

 

ĐIỂM

Điểm Linh Quang

Điểm Quang Minh

 

ĐIÊN

Điên Đảo

 

ĐIỂN

Điển Chiếu

Điển Lực

Ðiển Quang

 

ĐIỆN

Điện Thờ Phật Mẫu

Điện Tiên Hoa - Tiên Tửu

Điện Tiền

Ðiện Trà

 

ĐIÊU

Điêu Tàn

 

ĐIẾU

Điếu Văn

 

ĐIỀU

Điều Đình

Điều Hành

 

ĐIỂU

Điểu Thú - Côn Trùng

 

ĐINH

Ðinh Mão (Mẹo)

Ðinh Ninh

Đinh Nhọn Chông Gai

Ðinh Tiên Hoàng

 

ĐỊNH

Ðịnh

Định Giáo Sư Thượng Định Thanh

Định Bá Đồ Vương

Định Luật

Định Phẩm

Định Phận

Định Thần

Định Thần Định Tánh

Định Thần Giải Căn

Định Tánh

Định Tâm

Định Tâm Thần

Định Tỉnh

Định Tỉnh Quốc Hồn

Định Vị

 

ĐỈNH

Đỉnh Chung

 

ĐOAN

Đoan Dương

Đoan Trang

 

ĐOANH

Đoanh

 

ĐOÀN

Đoàn Ngọc Quế

Đoàn Thị Điểm

Đoàn Văn Bản

 

ĐOÁI

Đoái Công Chuộc Tội

Đoái Hoài

 

ĐOẠN

Đoạn Căn

Đoạn Ly

Đoạn Tình

Đoạn Trần Kiều

Đoạn Trường

 

ĐOẠT

Đoạt Căn

Đoạt Cơ Thoát Tục

Đọat Kiếp

Đoạt Quyền Vĩnh Sanh

Đọat Thủ Địa Vị

Đoạt Vị

 

ĐỌA

Đọa

Đọa Hồng Trần (Đọa Trần)

Đọa Lạc

Đọa Sa A-Tỳ

Đọa Tam Đồ Bất Năng Thoát Tục

Đọa Tam Pháp

Đọa Thăng

Đọa Trần

 

ĐỌC

Ðọc Kinh Cầu Lý

Ðọc Kinh Vào Học

Đọc Thánh Ngôn

Ðọc Thư Cầu Lý

 

ĐÒI

Đòi Đoạn

Đòi Phen

 

ĐON

Đon Đường

 

ĐÓNG

Đóng Cửa Phong Ðô

Đóng Địa Ngục Mở Tầng Thiên

 

ĐỐ

Đố Kỵ

 

ĐỒ

Đồ Đệ

Đồ Lưu

Đồ Lưu Hải Ngoại

Đồ Ngang

Đồ Nghiệp

Đồ Thơ (Hà Đồ và Lạc Thư)

Ðồ Sộ

 

ĐỘ

Độ

Độ Anh Nhi Nam Bắc Đông Tây

Độ Các Chi Phái

Độ Căn

Độ Chín Phần (Mười)

Độ Chơn Thần

Độ Chúng Dân

Độ Hồn

Độ Kẻ Vô Đạo

Độ Ông Nghị Viên Lê Văn Trung

Độ Phái Thái

Độ Rỗi

Độ Sanh

Độ Tận

Độ Thăng

Độ Thế

Độ Thuyền Bát Nhã

Độ Tử

Độ Vong

 

ĐỔ

Đổ Lụy Rơi Châu

Đổ Nước Nghiêng Thành

 

ĐỐC

Ðốc Trường

Đốc Phủ Sứ

 

ĐỘC

Độc Ác

Độc Chiếm

Độc Đoán

Độc Huyền Nghiên

Độc Lập Thiệt Hiện

Độc Sâu

Độc Tâm

Ðộc Thiện Kỳ Thân

 

ĐỐI

Đối (Câu Đối)

Đối Phẩm

Đối Tượng

 

ĐỘI

Đội Mang Lông Sừng

Đội Nguyệt Mang Sao

 

ĐỔI

Đổi Chác Lợi Quyền

 

ĐỐN

Ðốn Ngộ

 

ĐỘN

Độn Quẻ Thiên Sơn Độn

 

ĐÔNG

Đông

Đông Đại Bộ Châu

Đông Hiên - Tây Hiên

Đông Nhạc Đế Quân

Đông Hải

Đông Lang - Tây Lang

Đông Pháp

Ðông Phương Sóc

 

ĐỒNG

Đồng Bệnh Tương Thân

Đồng Cốt

Đồng Công Cọng Sự

Đồng Đạo

Đồng Hình

Đồng Khánh (Vua Nhà Nguyễn)

Đồng Khổ

Đồng Loại

Đồng Mạch

Đồng Môn

Đồng Nhân Quẻ Thiên Hoả Đồng Nhân

Đồng Nhi

Đồng Quyền

Đồng Sanh Đồng Tịch

Đồng Quan (Quách)

Đồng Qui Nhi Thù Đồ

Đồng Song

Đồng Khí Tương Cầu

Đồng Thanh Tương Ứng

Đồng Thinh

Đồng Tông

Đồng Trị

Đồng Tử

Đồng Tử Mê

Đồng Vị

 

ĐỘNG

Động Bích

Động Đào

Động Thiên Thai

Động Phổ Hiền

Động Tịnh

 

ĐỜI

Đời

Đời - Đạo

 

ĐỢI

Đợi Các Sắc Con Cái Của Thầy

 

ĐỞM

Đởm Đương (Đảm)

 

ĐƠN

Đơn Kỵ Bình Man

Đơn Hùng Tín

Đơn Nhứt Thái Cực

Đơn Tâm (Đan Tâm)

Ðơn Tích Vi Mang

 

ĐỜN

Đờn Cầm (Đàn)

 

ĐUỐC

Đuốc Huệ

 

ĐUỔI

Đuổi Quỉ Trừ Ma

Đuổi Tà Trục Tinh

 

ĐÚT

Đút Cơm Sửa Dải

 

ĐƯA

Đưa Linh Cữu

 

ĐỨC

Đức

Đức (Trương Hữu Đức)

Ðức Chí Thành

Đức Chí Tôn Hành Pháp Tại Kim Biên

Ðức Chúa Trời

Đức Dục

Ðức Giả Bổn Dã, Tài Giã Mạt Dã

Đức Hạnh

Đức Háo Sanh

Ðức Hoán Hư Linh

Đức Hộ Pháp Xuất Vía Về Bạch Ngọc Kinh

Ðức Tánh

Đức - Tài

Đức Tin

Đức Tin Phi Thường

Đức Thánh Quan

Ðức Thắng Tài Vi Quân Tử

 

ĐỰC

Đực Rựa

 

ĐỪNG

Đừng Có Ỷ Công Khi Lịnh

Đừng Phê Bình Công Kích

 

ĐƯƠNG

Đương Cự

Đương Thâu Thủ

 

ĐƯỜNG

Đường Chánh

Đường Danh Bể Hoạn

Đường Đạo - Đường Đời

Đường Mây

Đường Nhơn

Đường Quanh Ngõ Tắt

Đường Sanh Tử

Đường Tây Vức

Ðường Tiên

Đường Thánh

Ðường Thị

Đường Trào

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

 

 

 

ĐA ĐOAN

多端
F: Ingénieux, astucieux.

Đa đoan: nhiều mối lôi thôi.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Nhưng hiềm nỗi vận thời ngăn trở,
Trong gia đình cảnh ngộ đa đoan.
Nợ trần nhiều nỗi vương mang,
Trở day chưa kịp tính toan chưa rồi.

 

 

ĐÁ TẠC DANH BIA

Thầy dạy:

Cực thân ấy, trẻ đừng ái ngại,
Muôn việc con Thầy lại sớt chia,
Chẳng phải cần đá tạc danh bia,
Tên tuổi trẻ nước kia còn khép mặt.

 

 

ĐẢ ĐẢO

打 倒
F: Renverser, mettre à bas.

(Đả là đánh cho ngã, đảo là làm nghịch trở lại). Tức nhiên đánh cho ngã cái tư tưởng từ trước đến giờ để thay vào đó một cái gì mới mẻ hơn, tân kỳ hơn. Nhưng trên thực tế nhiều cuộc đả đảo biểu tình đều do theo xu hướng của một số đông người mà làm áp lực này nọ chớ chưa chắc đúng nghĩa của nó.

Đức Hộ-Pháp nói: "Có phen các Bạn thân-ái tưởng đến tương-lai quốc dân, lo phương binh-vực mở rộng tự-do thêm, tức có kẻ phản-đối đả-đảo lại. Bần-Đạo không nhớ ở Hạ-nghị viện Pháp năm nào, những người binh-vực chúng ta bị đả-đảo:

- Nưóc VIỆT-NAM không tinh-thần đạo-giáo nên khó lập chánh-giới lắm! Vì không có căn-bản tinh-thần đạo-đức mà chúng ta không thể chối, chịu thiệt thòi theo lời vu cáo. Vì cớ Bần-Đạo đau thảm khổ-não tinh-thần tìm hiểu coi sắc dân ta có Đạo hay chăng? Hại thay! Ở trước mắt ta nào là bóng, chàng, đồng cốt, ông tà, ông địa, đủ thứ làm cho nhơ-nhuốt cái tinh thần Đạo-giáo, Bần-Đạo uất ức!"

 

 

ĐẢ PHÁ

打 破
F: Battre, briser.

Đả phá là đánh cho tiêu những gì mà người khác muốn tàn hại làm cho tiêu diệt đi.

Thầy dạy: "C.. Thầy cấm từ đây, chẳng nên lấp-lửng cầu cơ hay chấp bút chi, vì là một sự hại lớn lao cho Đạo, đả phá đức Tín-ngưỡng của chúng sanh, lại làm cho nhơn-sanh bị nhơ trược".

 

 

ĐÃ CHẾT RỒI

Sanh tử tức nhiên nói về sự Sống và sự chết của con người cũng như toàn cả vạn linh sanh chúng. Đó là định luật bất di bất dịch, không ai thoát ra ngoài luật định này cả: "Việc sanh tử như dường chớp nháng".

Khi hồn người dứt hơi lìa mạng, dây từ khí không còn ràng buôc trong người nữa gọi là chết, tức nhiên chỉ còn lại cái xác vô hồn ấy là TỬ (là đã chết rồi). Hạnh phúc cho người biết Đạo Trời trong kỳ Ba này là đến phút cuối cùng vẫn được quyền Thiêng liêng cứu vớt, có đủ kinh Kệ

Hội Thánh sợ e cho vong hồn hoặc người không tu mới được độ hồn, hoặc Đạo Hữu phạm thệ mà đi xuống cõi Phong đô, nên trước phải tụng Bài Kinh Cầu Siêu, hầu cho vong hồn hồi dương đặng rồi, thì tụng tiếp Bài Kinh Khi Đã Chết Rồi đặng vong hồn hưởng phép siêu thăng tịnh độ. Tụng ba lần như vậy.

Kinh "Khi Đã Chết Rồi" do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, dùng để tụng khi một vị Chức sắc hay Tín đồ đã qui liễu. Bài Kinh này còn tụng kèm sau Bài Kinh Cầu Siêu để cầu siêu cho vong hồn người chết.

Kinh Khi Đã Chết Rồi

Ba mươi sáu cõi Thiên Tào,
Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư.
Quê xưa trở, cõi đọa từ,
Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân.

Dưới chín lớp liên thần đưa bước,
Trên hồng quang phủ phước tiêu diêu.
Linh Tiêu Điện, bảng danh nêu,
Nguyên căn đẹp vẻ mỹ miều cao thăng.

Kinh Bạch Ngọc muôn lằn điễn chiếu,
Kêu Chơn hồn vịn níu Chơn linh.
Năng lai năng khứ khinh khinh,
Mau như điển chiếu nhẹ thành bóng mây.

Cửa Tây Phương khá bay đến chốn,
Diệt trần tình vui hưởng tiêu diêu,
Tiên phong Phật cốt mỹ miều,
Vào Kinh Bạch Ngọc lễ triều Chí Linh.

Nguyệt Tâm Chơn Nhơn

 

 

ĐAI CÂN

帶巾
F: Bonnet et ceinture, indices du mandarin.

Ðai cân là cái đai lưng và cái mão trong phẩm phục của các quan nơi triều đình, chỉ việc làm quan lớn.

Thầy dạy: "Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương".

 

 

ĐÁI THỊ HUỆ

(Xem Đường Thị)

 
   

 

 

ĐÀI


E: Palace.
F: Palais.

Đài:Toà nhà cao, chỗ xây cao, cái giá đỡ.

Thí dụ: Đài Chiếu Giám, Đài liên, Đài Vân.

 

 

ĐÀI CHIẾU GIÁM

臺 照 鑑

Đài chiếu giám hay Chiếu Giám Đài 照 鑑臺 là Cái đài có đặt một tấm gương để soi rọi tội phước. Tấm gương đó gọi là Minh kính (cảnh) 明鏡 nghĩa là gương sáng, dùng để soi rọi các Chơn hồn khi thác xuống thấy đặng những hành vi thiện ác trong kiếp sống nơi cõi thế gian. Đài này còn gọi là Minh cảnh đài 明 鏡 臺.

Đức Hộ Pháp nói về Minh Cảnh Đài trong Thiêng Liêng Hằng Sống, như sau: "Trước mặt chúng ta, chúng ta thấy khi trước chúng ta làm những việc gì, nay nó sẽ chiếu lại cho xem chẳng khác gì mình xem tuồng hát bóng vậy. Mỗi khi mình hành động gì trong kiếp sanh khi xưa, hôm nay đều ngó thấy trước mặt và cây cân công bình ấy tùy theo nên hư, tội phước mà hiện tượng ra hết thảy, quyết đoán một cách công bình, không sai chút nào hết. Phải chăng đó là huyền bí của Toà Thiêng Liêng ấy".

Nay là hiện tượng của Máy Camara có thể xem rõ ràng tội phước: Những phước đức và tội lỗi của một con người tạo ra ở nơi thế gian sẽ được lập lại khi Chơn hồn đứng soi trước Minh cảnh đài một cách rõ ràng, y hệt cuốn phim quay lại các sự việc.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,
"Xem rõ ràng tội phước căn sinh."

 

 

ĐÀI GƯƠNG

E: The mirroir on the support.
F: Le miroir sur le support.

Đài: Toà nhà cao, chỗ xây cao, cái giá đỡ. Gương: tấm kiếng có tráng thủy để soi mặt. Đài gương là tấm gương sáng đặt trên giá gỗ để soi mặt.

Giới Tâm Kinh:

"Làu làu một tấm tợ đài gương."

 

 

ĐÀI HUỆ HƯƠNG

臺 慧 香

Đài Huệ Hương hay Huệ Hương Đài 慧香臺 là một ngôi đài ngát thơm ở Tầng Kim Thiên, tầng trời thứ 6, Nơi đây có các chim linh như Minh Vương Khổng Tước đến chở Chơn thần bay cao và đưa tận nơi. Vào Đài Huệ Hương, mùi ngào ngọt làm thơm luôn Thánh Thể (tức Chơn thần). Chính mùi thơm đó tiêu trừ hết được mùi ô uế trong khí sinh quang.

Kinh Đệ Lục Cửu có câu:

"Minh Vương Khổng Tước cao bay.
"Đem Chơn thần đến tận đài Huệ Hương."

 

 

ĐÀI LINH TIÊU

臺 靈 宵

Đài: Toà nhà cao, chỗ xây cao, cái giá đỡ. Linh: thiêng liêng. Tiêu: khoảng Trời không. Đài Linh Tiêu là cái đài cao nơi Linh Tiêu Điện trong Ngọc Hư Cung ở từng Trời Hư Vô Thiên.

Mỗi khi có Đại hội Quần Tiên, Đức Chí Tôn Thượng Đế ngự trên cái đài cao ấy để chủ tọa Đại hội Ngự triều.

Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Đài,
Đại hội Quần Tiên thử ngọc giai.
Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,
Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.

(Cần Thơ, 1927)

Nghĩa là: Nơi Điện Linh Tiêu có một cái tháp cao gọi là Cao Đài, Đại hội các vị Tiên nhóm tại bệ ngọc ấy. Muôn trượng hào quang từ nơi đó chiếu ra, Tên xưa, cảnh quí báu đó là Lạc Thiên Thai.

Kinh Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu:

"Kể từ hỗn độn sơ khai,
"Chí-Tôn hạ chỉ trước Đài Linh Tiêu."

 

 

ĐÀI NGHIỆT CẢNH

Đài Nghiệt Cảnh là nơi rọi sáng các việc lỗi lầm. (Đài: Toà nhà cao, chỗ xây cao, cái giá đỡ. Nghiệt: mầm ác, nghiệp ác. Cảnh: còn một âm nữa là Kính, nghĩa là tấm gương soi).

Đài Nghiệt Cảnh hay Nghiệt Cảnh Đài chính là Minh Cảnh Đài hay Đài Chiếu Giám, đặt trong Tòa Tam Giáo thiêng liêng, để diễn lại các hành vi tội lỗi của mỗi chơn hồn khi đến đứng trước Đài ấy, để cây Cân công bình thiêng liêng xác định có bao nhiêu tội phước đặng Tòa Tam Giáo định phận cho chơn hồn: Thăng hay đọa. (Xem Đài Chiếu Giám).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đài Nghiệt Cảnh rọi chẳng biết bao nhiêu tội tình mà chốn tội tình lắm người đưa chơn tìm đến.

 

 

ĐÀI VÂN

臺 雲
E: The hight tower
F: La tour élevée jusqu’aux nuages.

Đài: Toà nhà cao, chỗ xây cao, cái giá đỡ. Vân: mây. Đài vân hay Vân đài, dịch ra là: Đài mây, Gác mây, là cái đài cất lên rất cao, ngó lên thấy dường như cao tới mây.

Đài nầy do vua Hán Minh Đế (57-75) nhà Hậu Hán xây dựng lên để treo hình 28 vị Đại công thần của nhà Hán, ghi nhớ công đức của các vị để lưu truyền cho đời sau về những tấm gương trung nghĩa phò vua giúp nước.

Được treo hình nơi Vân Đài là một danh dự cao quí nhứt của kẻ bề tôi, là đỉnh cao nhứt của sự nghiệp công danh.

Trong văn chương, từ ngữ Đài Vân, Vân đài, Gác mây, dùng để chỉ những bực trung thần có đại công với đất nước, ghi đậm nét son trong lịch sử của triều đại.

Trong tôn giáo, Vân đài dùng để chỉ người đắc đạo, đạt được phẩm vị cao quí nơi cõi thiêng liêng.

Thi văn dạy Đạo:

Ðài vân Quan Võ để phong Thần,
Còn của Thầy đây để nhắc cân.
Muôn đức ngàn lành không sót một,
Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần.

 

 

ĐẠI ÂN XÁ

大 恩 舍
E: General amnisty of God.
F: Amnistie générale de Dieu.

Việt Nam hân-hạnh được đón nhận nền Đại-Đạo trước tiên để rồi thông truyền cho cả thế giới một nền Tân Tôn giáo với chủ-nghĩa Đại-Đồng để hưởng Cơ Đại-Ân-Xá lần ba của Đức Thượng-Đế. Tức là mọi sự khổ não, mọi hình luật khó khăn từ xưa đến giờ, nay được Đức Chí-Tôn mở ra nền Đại Đạo là được giảm nhẹ hoặc tha thứ cho tất cả.

Đại-Ân-xá là gì?

Tức là một cuộc Ân-xá lớn (tiếng Pháp gọi là Troisième Amnistie de Dieu en Orient). Mỗi nguơn hội Đức Chí-Tôn với lòng Từ-bi tha-thiết thương con cái của Người không nỡ để chìm đắm nơi sông mê bể khổ, nên mỗi nguơn hội Đức Chí-Tôn có mở một kỳ Phổ-Độ để cứu vớt nhơn-sanh và rước các Nguyên-nhân tức là nguyên linh đã xuống trần nay đem trở về ngôi vị cũ. Như thế thì mỗi Kỳ Phổ Độ đều có mở một cuộc Ân-xá, mở cửa dễ dàng cho các đẳng chơn hồn có đủ phương lập vị. Nền Đạo này là Cơ Đại-Ân-Xá tận độ chúng sanh nên Cao-Đài xưng là Đại-Đạo. Vì chủ-nghĩa tối cao của Đại-Đạo chẳng những là QUI TAM-GIÁO HIỆP NGŨ CHI mà thôi, mà phải làm thế nào dầu bậc Đế Vương ngoài thế cũng phải bái phục, phải tùng Đạo, phải dò theo các cơ thể của Đạo, phải nhờ Đạo mới mong trị an thiên hạ đặng.

Vậy mới gọi là HIỆP NHỨT! Vậy mới gọi là ĐẠI-ĐẠO!

Đại-Đạo ngày nay cũng là Phật-Đạo vì gồm hết Tam giáo Nho- Thích- Đạo và Thích-Ca cũng là Thầy, Thầy là Thích-Ca".

Đạo mở tức Cơ Đại-Ân-xá của Đức Chí-Tôn:

Ngài Bảo-Đạo Hồ-Tấn-Khoa có nói: "Người mới Nhập môn vào Đạo Cao-Đài lập Minh thệ thì đặng hưởng hồng-ân là thọ phép Giải oan. Phép này rửa sạch tội tiền khiên của mình từ trước. Phép này cũng là một Đại Ân xá những tội tình, nhưng từ ngày Nhập môn về sau thì phải gìn giữ đừng gây thêm tội mới cho đến ngày chết tức là ngày trở về với Đức Chí-Tôn (Đại-Từ-Phụ) thì được nhẹ nhàng rất nhiều. Ngoài Bí-Pháp giải-oan này Đức Chí-Tôn còn ban cho Pháp Tắm Thánh, pháp làm Hôn phối và đặc biệt nhứt là phép xác và phép độ thăng. Người Tín-hữu Cao-Đài nào giữ được 10 ngày chay trong mỗi tháng đổ lên được thọ truyền bửu pháp tức là hưởng được phép xác, cắt hết 7 dây oan-nghiệt. Linh hồn không còn bị ràng buộc với thi hài bởi 7 dây oan nghiệt nữa nên được xuất ra nhẹ nhàng về cõi Thiêng liêng hằng sống. Còn phép Độ thăng là để giúp cho linh hồn những Chức-sắc được nhập vào Bát-Quái-Đài dễ dàng hơn".

Riêng Đức Quyền.Giáo Tông nói cùng Thế giới rằng: "Chúng tôi quả quyết không có gì lầm-lẫn trong sứ mạng ấy. Đặt mình vào bổn-phận, chúng tôi khẩn-thiết yêu-cầu quí Ngài thông truyền cho toàn thể nhân-loại thế-giới hiểu biết việc làm của chúng tôi, để mọi người hiểu rằng:

Giờ ĐẠI-XÁ của Thượng-Đế đã điểm và sự thống hiệp của con cái Đấng Tạo-hóa là để Phụng-sự cho Hòa bình hơn là tiếp-tục tìm kiếm kế-hoạch thống trị thế giới. Muốn được vậy, chỉ cần sao cho tất cả người đời biết Thương-yêu đồng chủng và giữ-gìn hạnh-đức đúng theo đường lối mà Chí Tôn đã vạch. Chúng tôi chắc rằng: hơn ai hết, quí vị Đế Vương, Quốc-vương, Quốc trưởng, Giáo-chủ…đều muốn cho thần-dân và thuộc hạ đang sống dưới quyền uy của quí vị đều được sống mà không bị ám-ảnh bởi một sự sợ-hãi triền-miên và một trận chiến-tranh tương-lai mà các vũ khí tối-tân sẽ gây nên những sự tàn phá và những sự ghê tởm không tả xiết".

Kinh Phật-Mẫu xác nhận rằng:

"Vô Địa ngục, vô quỉ quan,
"Chí-Tôn ĐẠI XÁ nhứt trường qui nguyên."
至 尊 大 舍 一 場 歸 元

Nay là buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ cũng gọi là Đại-Ân-xá lần ba của Đức Thượng-Đế. Chí-Tôn Ân-xá tội tình đem cả con cái về hiệp một cùng Ngài. Thử hỏi vậy từ xưa tới giờ có cuộc Ân xá nào không? Tất nhiên là có; tuy nhiên những lần trước nhân lọai không được hạnh-phúc như lần này. Chỉ trong hai tiếng Phổ-Độ cũng đủ cho thấy rõ ý nghĩa ấy: phổ là phô-trương, bày tỏ ra cho mọi người đều biết, còn độ là độ rỗi, cứu vớt sanh chúng khỏi chốn u-ám, tối-tăm sa đọa để đem về cảnh thanh nhàn hạnh-phúc. Vì thế nên mỗi nguơn hội đều có mở một kỳ Phổ độ tức là một kỳ Ân-xá.

- Thượng-nguơn Tam chuyển mở Nhứt kỳ Phổ-độ.

- Qua Trung-nguơn thì mở Nhị-kỳ Phổ-độ.

- Nay Hạ nguơn tam chuyển thì mở Tam-kỳ Phổ-Độ.

Như vậy thì mỗi kỳ Phổ-độ đều có mở một cuộc ân xá; nhưng tại sao trong Tam-kỳ Phổ-Độ lại gọi là Đại-Ân xá? Tức là một cuộc Ân-xá lớn. Bởi vì nay Đức Chí-Tôn mở Đạo kỳ ba này còn cho Kinh tận độ người sống và độ luôn cả linh-hồn người chết. Đức Chí-Tôn còn mở rộng cửa cho các đẳng linh hồn dầu cho nguyên-nhân, hóa-nhân hay quỉ-nhân cũng đều được cứu độ hết. Để thiệt thi cuộc Ân-xá này, Đức chí-Tôn có ban cho các môn Bí-pháp: Tắm Thánh, giải oan, phép Hôn phối và cắt bảy dây oan nghiệt cùng phép Độ thăng cho hàng Chức sắc Nam cũng như Nữ. Để thực thi cuộc Đại-Ân-xá này Đức Chí-Tôn còn dạy Đức Hộ-Pháp tạo Bát-Nhã-thuyền và sắp đặt nghi-lễ chèo thuyền (chèo hầu và chèo đưa). Với lòng từ-bi vô biên, vô lượng Đức Chí-Tôn còn cho đóng cửa Địa-ngục và bãi bỏ hết những khổ hình đã đặt để từ xưa đến giờ nơi cửa Thập Điện Diêm cung để cho các chơn hồn kể từ nay chiếu luật vay trả ở tại mặt thế này cho đến khi nào sạch hết oan khiên thì sẽ đặng ân-thưởng. Đức Chí-Tôn còn quyết:

"Khai cơ tận-độ Cửu Tuyền diệt vong"

Nghĩa là đối với nhân-lọai kể từ ngày hôm nay tức nhiên từ ngày mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ cho mãi mãi tới tận thế cái Địa-ngục dưới kia đã bị tiêu diệt rồi, Thập điện Diêm cung đến rước người nó đã bị vong-phế rồi, người không còn sa xuống cửa địa-ngục, không còn chịu dưới quyền cửa Thập Điện Diêm cung, cái đó là trọng hệ hơn hết".

Đức Hộ-Pháp cũng cho biết tiếp: "Mỗi nguơn niên, theo ta hiểu biết cái đại nghiệp của càn khôn vũ-trụ với triết lý nhà Phật, thì cả tinh-thần lẫn vật-chất của vạn linh đều thay đổi mới. Theo cái triết lý ấy thì ngày nay là ngày các chơn hồn đặng quyền Tôn Ân-xá nếu không nói rằng hưởng được một sự tấn hóa đặc ân hơn nữa! Bần-Đạo không cần nói, buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, Đức Chí-Tôn Ngài đến để hai chữ ÂN XÁ thì chúng ta đóan hiểu rằng: "Ngài đã đến rồi!" và Ngài biết con cái của Ngài đã chịu khổ nhiều rồi, đã có nhiều phương pháp giải khổ của Ngài đến giao nơi mặt địa cầu này. Từ thử đến giờ cái thống khổ tâm hồn nhơn lọai bao nhiêu thì Ngài thống khổ bấy nhiêu, Ngài đến đem Long-Hoa-Hội cốt để bảo-thủ hai chữ Ân-xá. Trong bao nhiêu đó, chúng ta cũng đủ thấy lòng thương-yêu vô tận của Ngài thế nào! Bần-Đạo nói thật thời buổi này chúng ta không tìm phương giải thóat cho Cửu-Huyền Thất Tổ thì không thời buổi nào có năng lực độ rỗi Cửu-Huyền Thất Tổ của mình cho đặng, không có buổi nào đặng hạnh-phúc làm đặng như vậy. Bởi thế nên tòan cả con cái của Đức Chí-Tôn có lòng yêu ái nồng-nàn hòai vọng gịot máu mảnh thân mình giờ phút này là giờ phút nên để trọn tâm thanh tịnh đặng cầu-nguyện siêu thóat cho Cửu-Huyền Thất Tổ. Bần-Đạo dám nói giờ phút này, mấy người không có thể không nhỏng-nhẻo với Đức Chí-Tôn được. Ngài sẵn-sàng để hai chữ ÂN-XÁ thì mấy người xin cái gì thì ổng cũng cho cái nấy".

Dân Do-Thái được hưởng Ân xá của Chí-Tôn:

"Bên xứ Jérusalem là dân bất động "Juif" tức nhiên dân Do Thái giết Đức Chúa Jésus Christ đã phân định tội tình, nước người phái chịu điêu tàn, nòi giống người phải chịu lưu xứ. Quốc Thể các người không còn. Ngày giờ nào các người lập lại Tổ Quốc các người là ngày tận thế. Tiếng tận thế của Thiên Chúa Giáo, ngộ nghĩnh thay sự tình cờ mà chúng ta nên để ý. Ngày nay Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài thì dân Do Thái phục quốc lại, dân bất động đặng huờn nguyên ấy là ngày ân xá của Đức Chí Tôn cho đám tội nhơn đứng đầu của nhơn loại là dân Do Thái là dân bất động. Chúng ta suy nghĩ bao nhiêu đó, chúng ta thấy Đức Chí Tôn lập nền Tôn Giáo của Ngài đặng độ tận chúng sanh, quả nhiên có hiển hiện trước mắt chúng ta đã thấy đó. Bần Đạo nói tiên tri rằng: Làm như thế dân Do Thái lập quốc mình cũng như dân "Intouchable" nó sẽ qui nguyên của nó lại, vì nó đã đặng Ân-xá của Đức Chí Tôn, cả hình phạt ấy do Đức Phật Thích Ca định nó cũng như dân Do Thái bị Đức Chúa Jésus Christ định án nó mà nó đã được ân xá, coi lời nói của Ngài hứa, đã thi hành đó, nếu ai còn mơ hồ nữa chết không còn hồn vậy. Vì cơ quan tận độ chúng sanh Đức Chí Tôn đến lập thành quả nhiên cơ quan ấy hiện hữu hiển nhiên, nếu chúng ta không tưởng tới, ngày kia về Bạch Ngọc Kinh không còn hồn, chừng đó người ta vạch ra không thế mình gian lận được. Hạnh phúc thay cho nhơn loại! Hạnh phúc thay cho các đẳng chơn hồn có duyên phần mộ Đạo, gặp buổi Đức Chí Tôn đến ở chung cùng mình, nếu không giải thoát được, Bần Đạo chưa dám chắc trái Địa-cầu nầy phải chuyển kiếp lần thứ ba nữa cho thoát khỏi nghiệp chướng đặng qui hồi cựu vị!"

Ân xá cho tất cả các thú cầm nữa:

Theo Giáo-lý của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ thì lần Ân xá này Đức Chí-Tôn không những Ân xá cho tất cả nhân sanh dưới mặt đất này mà còn ân xá cho tất cả các thú cầm nữa. Vì vậy trong ngôi Đền Thánh có tạc hình bốn loại linh thú: Long, Lân, Qui, Phụng. Các loại thú này tuy dưới hình thức trang trí, mỹ thuật, nhưng cũng là được phép chầu Chí-Tôn trước, rồi những loại thú nào biết hồi đầu hướng thiện sẽ được một trong bốn loài đại diện đó dẫn vào Bạch Ngọc-Kinh.

 

 

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH (Phật Học)

大 般 涅 槃 經

Ðại Bát Niết Nàn Kinh (1) (S: mahāparinirvāṇa-sūtra; J: daihatsu nehangyō) Một bộ kinh Ðại thừa viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), gồm nhiều tập, đã được dịch ra chữ Hán. Kinh này nói về Phật tính, là thể tính tồn tại trong tất cả chúng sinh (Hữu tình). Ngoài ra, Kinh này cũng giảng các đề tài quan trọng khác của Phật giáo Ðại thừa. Trong cách phân chia của Tam Tạng Trung Quốc thì Kinh này được xếp vào hệ Kinh Phương đẳng (s: vaipulya-sūtra). Ðừng nhầm lẫn với Ðại Bát Niết-Bàn Kinh (p: mahāparinibbāna-sutta), viết bằng văn hệ Pā-li, nói về những năm cuối cùng của Đức Phật và lúc Ngài nhập diệt.

Ðại Bát Niết Bàn Kinh (2) 大 般 涅 槃 經 (P: mahāparinibbāna-sutta) Một bài kinh nằm trong Trường bộ kinh. Kinh này được viết bằng văn hệ Pā-li, trình bày những năm cuối cùng của Đức Phật, về thời điểm nhập Niết-bàn của Ngài cũng như việc hỏa thiêu xác thân và việc phân chia Xá-lị. Kinh này được nhiều tác giả tham gia ghi lại khoảng 480 trước Công nguyên. Ðừng nhầm lẫn với Ðại Bát-niết-bàn kinh (mahāparinirvāṇa-sūtra), viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), nói về Phật tính. (Xem thêm: Ma-Ha-Bát-Nhã Ba-La-Mật Đa Tâm kinh hoặc Bát-Nhã Ba-La-Mật Đa Kinh)

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

大 菩 薩 摩 訶 薩

Đại Bồ-Tát là vị Bồ-Tát lớn. Bồ-Tát là do từ Bodhisattva hay Bồ-Đề-Tát-đóa. Bodhi là giác ngộ, Sattva là chúng sanh. Bồ Tát là con người tỉnh thức và đang giúp ngưới khác tỉnh thức.

Ma-Ha-Tát tiếng Phạn là Mahasattva dịch là Ma-Ha-Tát-Đóa. Ma-Ha là đại (lớn), Tát tức là Bồ-Tát. Nói cách khác Ma-ha Tát là vị Đại Bồ-Tát, là bậc phát đại tâm Bồ Đề cứu độ chúng sanh. Những từ này luôn đi theo một danh Phật để tán tụng công đức của các Ngài mà hiện chúng sanh đang ngưỡng vọng, như:

- Câu chú của Thầy: "Nam-Mô Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát".

- Câu niệm Thích giáo "Nam Mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát".

 

 

ĐẠI DIỆN

代 面
F: Grande salle d’audience.

Đức Qu.Giáo Tông nói: "Đối với sự kính trọng của chúng tôi, tiếc thay, các vị đại-diện của nhà cầm quyền thuộc địa Pháp vẫn không có hảo-ý đáp ứng. Một số ít tỏ ra thông cảm, khoan-dung; một số khác lại áp-dụng đủ mọi cách, cốt để ngăn chặn sự truyền-bá này."

 

 

ĐẠI ĐA SỐ

大 多 數

(Đại là lớn, đa số là con số lớn, chiếm phần đông) Nếu tính ra thì trên mức trung bình rất nhiều,là phần lớn, phần đông.

Đức Quyền giáo Tông dạy: "Ấy vậy, nếu rủi trong Ðạo mà có đại đa số người không chí thành dầu cho tôn chỉ Ðạo cao thượng đến đâu đi nữa, nền Ðạo bất quá cũng để một trò cười cho thiên hạ".

 

 

ĐẠI ĐÀN

大 壇
E: The great ceremony.
F: La grande cérémonie.

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Đàn: nghĩa đen là cái nền đất đắp cao lên để làm chỗ tế lễ, ở đây Đàn là chỉ sự cúng tế. Đại đàn là sự cúng tế lớn, với đầy đủ nghi tiết long trọng. Do đó, Đại đàn còn được gọi là Đại lễ.

 

 

ĐẠI ĐẠO

大 道
E: The great way.
F: La grande voie.

Đại-Đạo là một nền Đạo lớn, nhưng khi đã nói lớn thì không còn một nền Đạo nào lớn hơn nữa.. Hỏi vì sao Đức Chí-Tôn lấy danh ĐẠI ĐẠO?

Thầy cắt nghĩa: "Thầy là các con, các con là Thầy. Có Thầy rồi mới có các con, mà có các con rồi mới có chư Phật, Tiên, thánh, Thần. Nên chi yếu điểm chữ ĐẠI 大 là chữ NHƠN 人 nhơn là người.

Bắt đầu viết chữ nhơn là phết một nét bên trái 丿ấy là chơn dương, kế một phết bên mặt 丶ấy là chơn âm, thành thử con người là bán dương bán âm nên mới đứng vào hàng tam tài: Thiên, địa, nhân ☰ 才 天 地 人

Nhưng thử hỏi vì sao lại tạo ra chữ viết, tượng chữ nhân chỉ có "hai chân"? Ấy, muốn nhắc-nhở loài người phải luôn luôn biết mình vốn đã sinh ra từ trong cái "chân"chứ không phải "giả". Thật vậy, trên thực-tế nếu người mà đi bằng "chân giả" thì khó-khăn và khổ sở đến dường nào. Như vậy, chắc-chắn rằng chúng ta phải đi bằng "hai chân thật" và giữ cho còn suốt quãng đường đời này. Con người nếu biết tu-hành tức nhiên được đắc vào hàng Tiên, Phật, bởi nhơn 人 cướp đặng chữ nhất 一 là "nhân đắc nhứt" thành chữ đại 大. Nhất là chi? Là cái tâm mật pháp, mật truyền của Đại-Đạo, có một không hai, thời là lớn; đã là lớn thì không vật gì lớn hơn nữa. Nó bao trùm hết cả vũ-trụ càn-khôn, ấy mới gọi là ĐẠI 大 thì được vĩnh kiếp trường tồn, diên niên bất họai.

Còn chữ ĐẠO 道 bắt đầu chấm hai điểm là âm dương nhị khí, kế dưới một nét ngang là âm dương hiệp nhứt, nên chi một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật, cùng quay về hiệp một. Kế dưới là chữ TỰ 自 nghĩa là tự nhiên mà có, nên chi đạo dạy phải tự lập, tức là lo tu-hành để đạt được huyền bí đạo-mầu thì trí lự mới phát minh. Chữ Tự là tự tri, tự giác, chớ chẳng ai làm cho người khác gíac-ngộ giùm hay là minh huệ giùm được.

Trên dưới ráp lại thành chữ THỦ 首 chữ thủ nghĩa là ban sơ, ban đầu, khởi thủy, tức là đầu mối của càn khôn vũ trụ. Kế là bộ Tẩu 廴tẩu nghĩa là chạy, nên kêu là "pháp luân thường chuyển". Chính nghĩa của hai chữ ĐẠI-ĐẠO.

Nhưng nếu nói về căn bản của chữ Đạo phải nói đến chữ Mục 目 bởi chữ mục thêm một phết bên trái ấy là tượng trưng cho ánh sáng lóe lên từ mắt. Mục là con mắt nhìn ra ngòai, mắt có nhìn, tâm mới đủ sức nhận định. Mắt cũng chính là Tâm của người, bởi Dịch nói Ly vi mục hay Ly vi hỏa, cho nên bất cứ về phương diện nào cũng có duyên khởi từ tâm.Tây-phương có câu "con mắt là cửa sổ của linh-hồn".

Khi còn là bào thai, con mắt trái cũng được hình tượng có trước nhất. Ngày nay trong nền Đại-Đạo lấy biểu tượng Thiên-Nhãn thờ Thầy cũng không ngòai cái lý "thiên nhất sanh thủy, địa lục thành chi " là vậy!

Nhưng mắt trời tượng trưng chữ mục 目 mà con người muốn đạt được ánh sáng thần diệu phải thường xuyên nhìn vào "Thiên-nhãn" ấy để nhận "Thần" thì người mới được "Nhãn" gọi là huệ nhãn, thần nhãn, tâm nhãn … là vậy. Bởi sự luyện nhãn ấy là để cho mắt nhìn chăm chú vào một điểm, điểm để mắt dừng lại như vách núi tượng chữ CẤN 艮 cấn là núi, cho nên chữ mục 目họp với chữ cấn 艮 thành ra chữ NHÃN 眼 Xưa, Đạo Tiên nói là "cửu niên diện bích" cũng không ngòai nghĩa ấy! Nay Cao-Đài Đại-Đạo, cúng Tứ thời tức là luyện Thiên-nhãn.

Thầy dạy: Năm 1926 (Bính Dần). Chư Môn đệ nghe:

Kể từ thuở Ta khai Đại Đạo,
Chẳng một ai nào mạo danh Ta.
Những bấy lâu hội hiệp một nhà,
Nền Đạo hạnh, các con tua khá giữ.
Đừng có lòng mà lo tư lự,
Bảo đến tên, chừ bự chẳng muốn đi.
Khuyên các con biết Đạo là gì,
Phải khó nhọc mới tri là đạo đức.
Việc chi chi tại nơi Thánh vức,
Chớ tưởng lầm tổn đức bình sanh.
Công lao khổ nhờ có mấy Anh,
Sao chẳng hiểu lại tranh giành lớn nhỏ.
Nguồn Đạo thể như là cây cỏ,
Hễ gặp sương phới phở đâm chồi,
Đạo vì nơi đó các con ôi!
Chớ tưởng vậy thôi rồi bỏ Đạo.
Trên có Thầy chỉ bảo hằng ngày,
Sao lại sợ đưa chơn bước trái.
Các con làm chúng sanh ái ngại,
Bởi các con còn dại còn khờ,
Thầy mới đến nhắc nhơ nhiêu đó.
Gắng một lòng thì rõ việc ngày sau.

Chư môn đệ khá tuân theo, nghe à!

 

 

ĐẠI ĐẠO HOẰNG KHAI

大 道 弘 開

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Bề báo ứng huyền cơ rất hẳn,
Đạo truyền Đời tỏ rạng gương soi,
Chúc mừng ĐẠI-ĐẠO HOẰNG KHAI.

 

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ

大 道 三 期

Tức là nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ.

Đức Thượng Đế phán:- "Thầy vì đức háo sanh nên chẳng kể bực Chí Tôn cầm quyền thế giái, đến lập Ðại Ðạo Tam Kỳ trong lúc Hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải. Ai biết Ðạo tức là có duyên phần, ai vô Ðạo tức là số chịu hình khổ luân hồi; phải mau chơn, bằng luyến ái sự thế, thì sau ăn năn rất muộn. Than ôi! Thầy đã là Ðấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo hóa, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẽ bỏ phép công vì sanh chúng. Ấy vậy Ðại Ðạo Tam Kỳ chẳng khác chi một trường thi công quả; nếu biết ăn năn trở bước lại nơi đường sáng sủa, giồi tâm, trau đức, đặng đến hội diện cùng Thầy, thì mới đạt đặng địa vị thanh cao trong buổi chung qui cho. Chúng sanh khá nghe và xét mình cho lắm." (7-10 Bính Dần -11 Novembre 1926)

 

 

ĐẠI ĐẠO BẾ LẠI

[Sài gòn, Thứ bảy, 14-8-1926 (âl 7-7-Bính Dần)]

Lời Thầy: Các con nghe dạy: "Vẫn từ ngày Đại Đạo bế lại, Chánh quyền đều vào một tay Chúa Quỉ. Cười! Khi Ngọc Hư Cung và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Độ, Chúa Quỉ biết cơ mầu nhiệm ấy và hiểu rõ rằng Tà quyền đã dứt, nên trước khi Thầy chưa đến, nó đã hiểu rõ rằng bề nào Thầy cũng phải chiếu y Thánh ý: Tam Giáo Qui Nhứt mà dùng danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, nên chúng đã dùng chữ CAO ĐÀI trước Thầy mà lập Tả Đạo Bàng Môn. Thầy hỏi các con: Vậy chớ Tà quái nhận tên ấy là chủ gì? Lại làm cho ra rẻ rúng danh ấy, để cho các con nghi ngờ mà lánh xa Thánh giáo như đàn Cái Khế vậy. Nhưng có một điều là nó không dám ngự nơi ngai Thầy, tiện dụng làm một vị Tiên Ông mà thôi. Cười… Vậy, các con khi nghe nói Cao Đài nơi nầy, Cao Đài nơi kia, đừng vội tin mà lầm mưu Tà mị. Các con nghe và tuân theo. (TNCT. TTT. 263) (ĐS. II. 236)

 

 

ĐẠI ĐẠO CAO-ĐÀI

大 道 高 臺

Đức Hộ-Pháp nói: "Nhơn-loại đang bị thống khổ và sẽ lăn vào cảnh tang-thương vì tinh thần ly-tán nên ĐẠI-ĐẠO CAO-ĐÀI xuất hiện đặng phục-hưng Khổng-giáo, áp dụng Nho-Tông làm khuôn luật tổ-chức xã-hội cho tận-thiện, tận-mỹ. Các dân tộc sẽ đối đãi nhau như anh em một Cha, ở chung một nhà, cộng hưởng Đại Đồng hạnh-phúc. Đó là về mặt xã-hội, còn mặt Đạo là mặt tinh-thần thì Đại-Đạo giữ-gìn tinh-ba giáo lý nhà Thiền và Lão giáo đặng độ tận linh-hồn về Thượng-giới. ĐẠI-ĐẠO tiên khởi lập thành tại nước Việt-Nam, nhiên hậu sẽ hoằng khai các miền Đông-Á, qui hợp cả Huỳnh-chủng làm đà sang Bạch-chủng Âu châu dìu-dẫn khắp thiên-hạ trên con đường Cộng-Đồng".

 

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

大 道 三期 普 度
E: The Great way of the Third Universal Salvation.
F: Troisième Amnistie de Dieu en Orient.

 

A- KHÁI QUÁT

B- SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

1- Tìm hiểu Cao-Đài là gì? Lý do nào khai Đạo?

2- Tại sao gọi là CAO-ĐÀI?

3- Hiện-tượng Đức Chí-Tôn mở Đạo Cao-Đài

4- Đạo Cao-Đài dạy phải lập cho được 3.000 công quả nghĩa là gì?

5- Triết-lý của Đạo-Giáo

6- Tôn chỉ cao thượng của Đạo Cao-Đài là gì?

7- CAO-ĐÀI là Phật Giáo chấn hưng

8- Đạo Cao-Đài là Tôn giáo toàn cầu

9- Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà

10- Đức Chí-Tôn đến chuyển Quốc-Đạo

C- Nghiên cứu về Chánh-Trị của ĐẠO theo TÂN LUẬT & PHÁP CHÁNH TRUYỀN

1- Dùng huyền diệu Cơ Bút Chí-Tôn dụng tánh đức lương sanh lập Hội-Thánh

2- Nước Nam có một CHỦ mà thôi: là Thầy

3- LẬP PHÁP CHÁNH TRUYỀN CỬU TRÙNG ĐÀI

4- LẬP PHÁP CHÁNH TRUYỀN HIỆP-THIÊN-ĐÀI

5- LẬP PHÁP CHÁNH TRUYỀN NỮ PHÁI

LẬP HỘI-THÁNH - Hội-Thánh Cửu Trùng Đài

1- Hội-Thánh Cửu Trùng Đài Nam phái

2- Trường hợp ngoại lệ:

3- Hành tàng của các Giáo-Tông

3-1/- Ông Ngô văn Chiêu

3-2/- Đức Lý Giáo Tông ban "Quyền Giáo Tông" cho Ngài Thượng Trung Nhựt

3-3/- Thầy giao Đức Lý Thái Bạch kiêm nhiệm Giáo Tông Đại-Đạo

3-4/- Đức Quyền Giáo-Tông thi-hành Thể-pháp Đại-Đạo

4- Người Nữ rất nhiều quyền lợi: là Chức sắc cũng như sự bình quyền, bình đẳng trong cửa Đạo

CỬU TRÙNG ĐÀI: CƠ QUAN QUẢN TRỊ CÀN KHÔN THẾ GIỚI

5- Vậy hiện tại đã có 4 Chưởng-Pháp:

6- Tại sao lại có con số 4 này?

7- Bát-Quái thành hình:

8- Bát-Quái Đồ Thiên hay Bát-Quái Cao-Đài

 

Tìm về Tiểu sử của bốn Chưởng Pháp, 4 Đầu sư đầu tiên

Hệ thống tổ chức của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

 


A- KHÁI QUÁT:

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một nền Đạo lớn mở ra vào thời kỳ thứ ba để cứu giúp toàn cả chúng sanh nơi cõi trần này, hầu thoát khỏi cảnh khổ của luân hồi mà trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, chính là Niết Bàn đó vậy..(Đại Đạo là một nền Đạo lớn, nhưng khi nói lớn thì không còn gì lớn hơn nữa, nên nói là Đại Đạo. Tam Kỳ là thời kỳ thứ ba. Phổ Độ là cứu giúp chúng sanh rộng khắp). Khi mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ Đức Chí Tôn xưng danh hiệu là:"CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT" nên nền Đại-Đạo này còn được gọi theo danh xưng của Đấng Thượng-Đế là ĐẠO CAO ĐÀI. Gọi là Đại Đạo bởi vì Đạo Cao Đài là một nền Đạo lớn do Đức Thượng Đế sáng lập. Mục đích của Đại Đạo là Qui Tam giáo: Nho - Thích - Lão và hiệp nhứt Ngũ Chi là Nhơn đạo - Thần đạo - Thánh đạo - Tiên đạo - Phật đạo.

"Đức Chí-Tôn mở Tam-Kỳ Phổ Độ này gọi là mở Cơ quan tận độ chúng sanh tức nhiên là lập một khoa thi sang Tam chuyển tái phục Thiêng-liêng vị nơi cảnh vô hình, mỗi chuyển tức nhiên mỗi khoa mục của các Đẳngchơn hồn cần phải thi đoạt vị: thăng hay đoạ. Bởi cớ cho nên Đức Chí-Tôn gọi là trường thi công quả là vậy. Đức Chí-Tôn cho Hộ-pháp và Thập Nhị Thời Quân đến cốt yếu để mở cửa Bí pháp ấy đặng cho vạn linh đoạt vị. Cả thảy đều hiểu rằng Đức Chí-Tôn buổi mới sơ khai, chưa tạo thiên lập địa, Ngài muốn cho vạn linh đặng hiệp cùng Nhứt linh của Ngài do quyền năng sở hữu của quyền hạn Thần linh.

Gọi là Tam Kỳ Phổ Độ vì trước đây đã có hai thời kỳ Phổ Độ rồi:

▪ Nhứt Kỳ Phổ Độ khai thời thượng cổ có các Tôn giáo:

- Phật giáo do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật khai mở.
- Tiên giáo do Đức Thái Thượng Đạo Tổ khai mở.
- Nho giáo do Đức Văn Tuyên Đế Quân khai mở.

Đồng thời:

+ Đức Brahma-Phật mở Đạo Bà La Môn.
+ Đức Moïse mở Thánh giáo ở nước Do Thái gọi là . Do Thái giáo

▪ Nhị Kỳ Phổ Độ khai thời Trung cổ có các Tôn giáo:

- Đức Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Độ.
- Đức Lão Tử mở Tiên giáo ở Trung hoa.
- Đức Khổng Tử mở Nho giáo ở Trung hoa.
- Đức Chúa Jésus mở Thánh giáo ở nước Do Thái.
+ Đức Mahomét mở Hồi giáo ở nước Á Rập,
+ Đức Khương Thượng cầm Bảng Phong Thần mở ra Thần đạo ở Trung hoa...

Nay, thời Tam-Kỳ Phổ-Độ nhằm cuối Hạ nguơn Tam chuyển bước qua Thượng nguơn Tứ Chuyển, Đức Chí Tôn đến "Qui nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi" vì ngày nay Càn khôn dĩ tận thức, năm châu chung chợ, bốn biển chung nhà, nên Đức Ngài đến mở ra một nền Đại Đạo tại nước Việt Nam, thống nhứt thành một mối, để nhơn loại không còn bị chia rẽ nhau vì khác Tôn giáo, hầu tiến đến một THẾ GIỚI ĐẠI-ĐỒNG.

Vì lẽ đó Đức Chí-Tôn lập Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Tam giáo mới trấn phục nỗi hoàn cầu, gồm có:

-Phật Quan Âm thay quyền Phật giáo: Nhị trấn Oai Nghiêm.

-Đức Lý Đại Tiên Thái Bạch Kim Tinh thay quyền Tiên giáo, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

-Đức Quan Thánh Đế Quân thay quyền Thánh giáo, là Tam Trấn Oai Nghiêm, lập Nho Tông Chuyển thế.

Tóm tắt ba thời kỳ Phổ Độ:

 
 
   

Đức Chí Tôn cho biết đây là kỳ Phổ Độ chót, trước khi mở Đại Hội Long Hoa là có cuộc Phán Xét cuối cùng, tận độ toàn cả chúng sanh, cứu giúp không để sót một ai.Đức Chí Tôn khẳng định"Gặp TAM KỲ PHỔ ĐỘ" nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi". Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ chánh thức mở ra vào ngày 15 tháng 10 năm Bính-Dần (dl: 19-11-1926) và Đức Chí Tôn chọn dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam để Khai Đạo, dùng Tây-Ninh làm Thánh Địa xây dựng các cơ quan trung ương, để từ nơi đây truyền bá khắp hoàn cầu.

Thầy dạy: "Chi chi cũng tại TÂY-NINH mà thôi".

- Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vị Giáo chủ ngày xưa. Chỉ có phương diện là do nơi Tam giáo thất chơn truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hạp theo dân trí buổi nầy, mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh. Hiệp cả tinh thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA Chung, mà thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ một nền Tôn Giáo Đại Đồng, thì nhơn loại mới đặng gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn loại mới chung hưởng hòa bình, phục lại đời thượng cổ, là do nơi Thiên Thơ tiền định, buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu nghinh tân.

B- SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ:

Đức Hộ-Pháp nói:"Có nhiều người viết Đạo-sử và đã nói cho người ngoại-quốc hiểu Đạo. Trong ấy có nhiều điều không đúng sự thật, nhứt là trong các bài Cơ. Đạo ban sơ thế nào? - Nhiều người đã nói đến, đã giảng lịch-sử Đạo, nhưng không đúng lịch-sử chút nào hết. Sự thật như thế này: Trong năm Ất-Sửu: các Thầy, các Ông, từ hàng Thẩm-phán, Phủ, Huyện, muốn tìm một sự thật mà thiên hạ đã làm đảo-lộn trong giới trí-thức đương thời là "Con người có thể thông-công cùng các Đấng thiêng-liêng vô hình được" nhứt là thuyết này đã làm cho cả Âu-Châu sôi nổi, nhiều sách vở đã tung ra cả hoàn-cầu do các Hội Thần linh-học và Thông-thiên-học đã khảo-cứu một cách rõ-rệt. "Loài người có thể sống với cảnh thiêng-liêng kia như chúng ta đang sống đây vậy". Cái triết-lý ấy làm cho nhiều người, nhứt là người học thức muốn tìm tàng thấu đáo. Nơi hạng học-thức ấy có một người cố tâm hơn hết là Đức Cao Thượng-Phẩm. Ban sơ chưa biết gì, chỉ làm theo phương-pháp bên Âu-Châu hay bên Pháp là Xây bàn. Cái duyên ngộ Đạo của chúng tôi lúc đó chưa có quyền-năng thiêng-liêng xúi biểu hay xô đẩy. Chúng tôi muốn tìm hiểu huyền-vi bí-mật thiêng-liêng của Đức Chí Tôn đã tạo ra Càn Khôn Vũ trụ. Sách vở để lại cũng nhiều, nhưng thật ra lý-thuyết ấy làm cho chúng tôi chưa quyết định về tín-ngưỡng cách nào mà đức-tin đã có thật vậy. Khi Đức Chí-Tôn đến với chúng tôi, Đức Chí Tôn mở ĐẠI ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ chớ không phải mở Đạo CAO-ĐÀI. Tới chừng Ngài biểu chúng tôi cầm một cây Cơ và một ngọn bút đi các nơi thâu Môn-Đệ. Trọng-yếu của Ngài là thâu mấy vị Tông-đồ có sứ-mạng trong Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ này làm môi-giới độ ĐẠO sau này. Đức Chí-Tôn biểu chúng tôi phò loan đặng Ngài dùng quyền-năng Thiêng-liêng kêu gọi mấy vị Tông-đồ đó. Quả nhiên chẳng bao lâu, có đủ Thập Nhị Thời Quân hiển hiện ra, trong số các vị Thời-quân ấy có Cao Tiếp Đạo ở tại Kim-Biên chớ không phải ở Sài-Gòn. Đi thâu Thập Nhị Thời-Quân rồi, Đức Chí Tôn mới mở Đạo. Chừng đó Ngài mới chỉ cho chúng tôi biết rằng có một người thờ Ngài là ông Ngô-văn-Chiêu, tức nhiên Đức Chí-Tôn muốn thâu Ông làm Giáo-Tông đầu tiên đó. Có một điều lạ-lùng suy-nghĩ không ra nguyên-cớ là Đức Chí-Tôn biểu Bà Nữ Chánh-Phối-Sư Hương Hiếu may sắc-phục Giáo-Tông cho Người, kỳ hạn trong mười ngày Người sẽ được lên làm Giáo Tông. Trong thời-gian mười ngày, chỉ có mười ngày mà thôi! Chúng tôi không hiểu nguyên cớ nào Ông Ngô-văn Chiêu không hưởng được điạ vị ấy. Ông Ngô văn-Chiêu là một vị Phủ, Đốc Phủ-sứ buổi nọ, ở tại Hà Tiên, do nơi Cơ bút, Đức Chí-Tôn đến với Ngài và thâu Ngài làm Môn-Đệ đầu tiên hết, là Người được Đức Chí Tôn xưng là "CAO ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT." Trong khi đó Đức Chí-Tôn đến với chúng tôi mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ. Đức Chí-Tôn chỉ nhà của Ông Ngô-văn-Chiêu cho chúng tôi và nói: Ngô-văn-Chiêu thờ Thầy lâu rồi, các con đến đó kết Bạn cùng nó, vì cớ cho nên chúng tôi mới đến Ông Ngô văn-Chiêu. Một buổi nọ chúng tôi phò-loan học hỏi như thường ngày. Đức Chí-Tôn kêu chúng tôi và Đức Cao Thượng Phẩm phải đi vô trong Chợ Lớn, đến tại nhà của Đức Quyền Giáo Tông của chúng ta bây giờ là Ông Lê Văn Trung. Buổi nọ Ông Lê-Văn-Trung đang làm Thượng Nghị Viện. Hội đồng Thượng Nghị-Viện chẳng khác bây giờ là một vị Tổng-Thống đời Pháp thuộc. Chức Nghị Viện lớn lắm! Ông là người Nam làm đến bực đó thôi; mà nghe ra Ông là người quá sức đời, Tôi với Đức Cao Thượng-Phẩm không hạp chút nào! Nhứt định không làm điều đó được, nghe danh quá đời, chơi bời phóng túng không thể tả hết; buổi chúng tôi ôm Cơ đến nhà Ngài đặng Đức Chí Tôn độ Ngài. Khi vô tới nhà, thú thật với Ngài rằng: "Chúng tôi được lịnh của Đức Chí-Tôn dạy Đạo, Anh tính sao Anh tính!" Ngộ quá chừng quá đỗi. Ông biết Đấng đó hơn chúng tôi biết: lo sắp đặt bàn ghế, sửa soạn buổi phò loan; rồi thì chúng tôi tiếp rước Ông, độ Ông, bắt Ông Nhập-môn đủ hết; chúng tôi không hiểu Ông có tin nơi Đức Chí-Tôn hay không? Có khi tưởng Ông không tin nơi Đức Chí Tôn nữa chớ! Trong nhà Ông có nuôi một người con nuôi tên là Thạnh còn nhỏ độ 12, 13 tuổi gì đó. Hai Cha con kiếm đâu ra được một cây Cơ không biết. Vái Đức Chí-Tôn rồi cầu Cơ. Khi phò-loan, thằng nhỏ kia cầm đến cây Cơ thì ngủ, ông thì thức, Cơ thì chạy hoài. Đức Chí-Tôn dạy Ông nhiều lắm, không biết dạy những gì. Ông hỏi thì Đức Chí Tôn trả lời, chỉ có hai người biết với nhau mà thôi. Từ đó Ông mới tin nơi Đức Chí Tôn. Từ khi Đức Chí-Tôn đến độ Đức Quyền Giáo Tông rồi mới xuất hiện ra Hội-Thánh. Nếu chúng tôi làm chứng thì chúng tôi có thể nói rằng: Do nơi Đức Quyền Giáo Tông mới xuất hiện ra Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài đó vậy. Ngôi vị của Ông Saint-Pière, Giáo-Hoàng của Thiên Chúa-Giáo ở La-Mã như thế nào thì ngôi vị của Đức Quyền Giáo-Tông ngày nay cũng thế. Bởi vì chính mình Đức Chí-Tôn đến thâu Ngài, biểu Ngài lập thành Hội Thánh. Ngài đi đến đâu, Tôi và Đức Cao Thượng Phẩm theo phò-loan để Đức Chí-Tôn thâu Môn-Đệ, thâu được bao nhiêu thì giao cho Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung-Nhựt giáo-hóa, chính do nơi Ngài cầu khẩn Đức Chí-Tôn thâu Môn-Đệ. Ngài luôn luôn đi các nơi để Phổ độ chúng sanh, nhứt là trước ngày mở Đạo. Đức Chí-Tôn sai hết chúng tôi, tức Thập-Nhị Thời-Quân đi phò-loan cùng hết, không chỗ nào không có Cơ Bút: Người thì xuống miền Tây, người đi miền Trung, đi cùng hết. Thâu Môn đệ xong, Thầy dạy chúng tôi về Tây Ninh mở Đạo. Với hai bàn tay trắng, không có một miếng đất cắm dùi làm sao mở Đạo?

Khi đó Đức Chí-Tôn thâu Ông Nguyễn-Ngọc Thơ tức là Phối-Sư Thái-Thơ Thanh làm Môn-Đệ, Thái Thơ Thanh tức là bạn chí-thân, tức là chồng của Bà Lâm Ngọc Thanh (Nữ Đầu Sư Hương-Thanh). Thành thử mỗi người đều có Thiên mạng nơi mình mà không ai biết, chính Bà là người cầm đầu Nữ-phái đó vậy. Đức Chí Tôn thâu rồi mới biểu hai vợ chồng Ông Thái Thơ Thanh vào mượn Từ Lâm Tự ở Gò kén đặng mở Đạo; Chùa Từ-Lâm chưa xong gì hết: có Chánh điện, còn Đông-lang, Tây-lang thì chưa có, đằng này mấy Anh lớn họp nhau xuất tiền ra làm cho xong. Đến ngày rằm tháng mười năm Bính-Dần thì mở Đạo, chúng tôi gởi Đơn lên Chánh-phủ Pháp xin mở Đạo công khai, trong đơn có kể tên những người Môn-Đệ đầu tiên. Sau khi mở Đạo nơi Chùa Gò-kén, tức là Chùa: Từ Lâm Tự. Người cầu Đạo càng ngày càng đông. Người Pháp buổi nọ sợ chúng tôi làm loạn, nên xúi-giục Hoà Thượng Giác-Hải đòi chùa ấy lại, đuổi chúng tôi đi cho hết mở Đạo; đồng thời người Pháp bắt đầu làm khó Đạo, hăm he các Chức-sắc, họ lập hồ-sơ đen để trừng-trị những người theo Đạo. Riêng phần Bần-Đạo là Công-chức, khi vâng lịnh Đức Chí-Tôn đến Chùa Gò-kén mở Đạo, Bần-Đạo có xin phép nghỉ sáu tháng, đến chừng trở lại làm việc người ta không cho Bần Đạo ở Nam-Việt nữa, đổi Bần-Đạo lên Kim Biên, tức Nam-Vang (xứ Cam-Bốt bây giờ). Nơi đó Bần-Đạo vừa làm việc vừa lo mở Đạo, mục đích là làm thế nào cho Đạo chóng thành-tựu. Riêng phần mấy Anh lớn trong hàng phủ, huyện, đã có chức phận làm quan triều Pháp bị người doạ nạt đủ điều. Nếu theo Đạo Cao Đài người ta sẽ bắt bỏ tù, người ta còn hăm-he con cái Đức Chí-Tôn sẽ bị Chánh quyền Pháp triệt-để bắt bớ nữa, vì cớ cho nên mấy Anh phải sợ, một cái sợ rất nên phi-lý. Nhưng người Pháp buổi nọ cầm quyền sanh-sát trong tay, hễ thuận thì còn, nghịch thì chết, không còn ai lạ gì việc đó nữa. Cả toàn con cái Đức Chí-Tôn buổi nọ chỉ còn lại có ba người. Ba người ấy thiên-hạ gọi là ba người lỳ. Ba người ấy là:

- Đức Quyền Giáo-Tông,

- Đức Cao Thượng-Phẩm và Bần-Đạo đây.

Chúng tôi nhứt trí quyết làm cho thành Đạo, cho vừa lòng Đức Chí-Tôn, bởi vì không biết duyên cớ nào chúng tôi hiểu rằng: chúng tôi phải báo hiếu cho Đức Chí Tôn và tự nhiên quyền-năng Thiêng-liêng giúp chúng tôi biết Đạo Cao-Đài này tương-lai sẽ cứu quốc, cứu chủng tộc và giống-nòi, chúng tôi hiểu rõ-rệt như thế, nên ba Anh em chúng tôi nhứt định hy-sinh kiếp sống mình, hy sinh cả hạnh-phúc để tạo cho nên tướng, nhứt quyết như thế nào, bất kể sống chết. Cả ba chúng tôi, nhứt định phải làm cho Đạo Cao-Đài thành, thành đặng cứu khổ, cứu chủng tộc chúng tôi. Sự quyết chí về tương-lai như thế, nên phải bỏ Chùa Gò-kén, tức là Từ-Lâm Tự để về đây, về làng Long-Thành Tây-Ninh để lập nên Toà-Thánh bây giờ. Trong lúc chinh-nghiêng như vậy, tiếc thay Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Cao Thượng Phẩm phải về cảnh Thiêng-liêng trước, còn lại có một mình Bần-Đạo, Bần Đạo thấy rằng nạn nước nguy vong, thân nô-lệ ra với hai bàn tay trắng, bắt gió nắn hình, muôn điều khổ-não, lập nghiệp Đạo cho thành, cho con cái Đức Chí-Tôn. Hôm nay Đạo là máu, là xương của con cái Chí-hiếu của Ngài dựng thành đó vậy. Ba mươi năm khổ não, toàn con cái Đức Chí-Tôn lập nghiệp cho Đạo hôm nay đặng thành tựu. Ngó dĩ-vãng, ngó đương nhiên bây giờ xa cách như Trời với vực. Yếu buổi nọ, so-sánh mạnh hôm nay. Nhục buổi nọ so sánh vinh-hiển hôm nay, giá-trị xa nhau thiên lý. Cả toàn con cái Đức Chí-Tôn từ khi lập Đạo chịu khổ hạnh truân-chuyên, chịu nhục-nhã, chịu mọi điều thống khổ, thì hôm nay được vinh hiển như thế. Bây giờ Đạo nên hình là cả một khối tâm-đức vô biên của con cái Đức Chí-Tôn tạo nên tướng." (ĐHP:13-10-Giáp-Ngọ 1954)

1-Tìm hiểu Cao-Đài là gì? Lý do nào khai Đạo?

Đức Hộ-Pháp nói về Tân Tôn giáo Cao-Đài: "Đạo Cao-Đài tức là ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘ khai sáng vào thời-kỳ này là do Thiên cơ tiền định và cũng hợp với lời tiên-tri của các Đấng Giáo Chủ đã khai mở các Đạo-giáo trên thế-giới: Theo Phật-giáo, Lão-giáo và Khổng-giáo thì đều dạy rằng: thời-kỳ này là thời-kỳ Hạ nguơn khiến đời tận diệt để chuyển xây trở lại Thượng nguơn Thánh-đức với một kỷ nguyên mới. Đặc biệt Đức Thích-Ca Mâu-Ni khi lập giáo có cho biết đến năm 2.500 kỷ-nguyên Phật giáo, là thời-kỳ để cho Đức Di-Lạc ra đời mở Hội-Long Hoa lập một kỷ nguyên mới đó vậy".

Cao-Đài là gì? Nho-Giáo nói rằng trên đỉnh đầu là Đấng Cao-Đài. Đã nói là Cao thì không còn chi cao hơn nữa để tôn tặng Đức Thượng-Đế là Đấng tối cao, tối đại. Ngày nay chính Đấng Thượng-Đế mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ xưng danh là Ngọc-Hoàng Thượng-Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát Giáo Đạo Nam phương. CAO-ĐÀI là cái Đài cao, xưa muốn cầu Thần Tiên thì cất một cái Đài cao bằng tranh lá rồi lên đó để cầu-đảo gọi là thảo-đài. Nay chính Đấng Thượng-Đế đến với nhân loại mở Đại-Đạo nơi đất nước Việt Nam chính là mở cơ Đại-Ân-Xá lần ba để độ dẫn 92 ức nguyên-nhân còn mê đắm hồng-trần. Danh xưng "Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ Tát Ma Ha Tát" là gồm cả Tam-giáo, gọi là Tam Giáo Qui Nguyên:

- Cao-Đài là tượng-trưng cho Nho-Giáo.
- Tiên-Ông là chỉ Tiên-Giáo.
- Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ Phật Giáo.

Chính Đấng Thượng-Đế đã nói về việc xưng danh ấy, tức nhiên quyền Chưởng quản Càn Khôn vũ trụ là "một mà ba, mà ba cũng như một" đầy đủ đức tính khiêm nhường.

Thầy dạy: "Các con coi bậc Chí-Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ-rỗi nhơn-sanh là thế nào, phải xưng là môt vị Tiên-Ông và Bồ-Tát là hai phẩm chót của Tiên Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối-cao tối trọng, còn Thầy thì khiêm-nhượng là thế nào. Vì vậy mà nhiều kẻ Môn-đệ cho Thầy là nhỏ. Cười..!. Hạnh khiêm-nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi Thiên-hạ đặng. Các con phải khiêm-nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói buổi lập Thánh-Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội-lỗi, đâu đến nhọc công Thầy. Ấy vậy, các con ráng độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui lòng hơn hết.

2- Tại sao gọi là CAO-ĐÀI?

Có nhiều Hội-giáo đã lập thành có trót trăm năm trước khi mở Đạo đặng dạy lần cho Vạn-quốc rõ thấu chánh-truyền.

"Ngày nay Thầy mới đến lập một cái CAO-ĐÀI 高臺 nghĩa là Đền thờ cao trọng hay là Đức-tin lớn tại thế này (La haute Église ou plus grande foi du Monde) làm nên nền Đạo; lại mượn một sắc dân hèn-hạ nhỏ-nhít của hướng Á-Đông là An-Nam ta, đặng cho trọn lời tiên tri "Đạo xuất ư Đông" 道出於東 và cho trúng Thánh-ý chìu lụy hạ mình của Thầy lập thành Hội-Thánh, làm hình thể Thiêng-liêng của Thầy hầu cầm cho đặng dùi trống Lôi Âm giục giọng truy hồn, nắm cho chặt chày chuông Bạch Ngọc đặng trổi hơi định-tánh làm cho cả con cái của Thầy thức tỉnh, nhìn Thầy mà trở về quê cũ".  (Pháp Chánh Truyền)

3- Hiện-tượng Đức Chí-Tôn mở Đạo Cao-Đài

Chí-Tôn lập Cao Đài để làm Tòa ngự của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến hồng-trần này làm BẠN cùng người, hiệp cả loài người làm một.

Đức Hộ-Pháp cũng xác nhận rằng:

Nếu giờ phút này thiên-hạ đừng cho ta dị-đoan, chúng ta có thể nói Đức Chí-Tôn biết tình trạng nhơn-loại đã đến mức tự diệt nhau nên Ngài đến tạo nền Chơn-giáo của Ngài, tức nhiên ĐẠO CAO-ĐÀI, cho nhơn-loại gìn giữ phần hồn đặng định chuẩn-thằng cái sống của họ, đừng cho nó đến cảnh điên của nó, mà họ đến cảnh điên tức đến cảnh tự diệt. Đức Chí-Tôn đến đặng cho huờn thuốc phục sinh đặng cho nhơn-loại sống lại là Đạo-đức tinh thần của Đức Chí-Tôn tạo cho họ, ĐẠO CAO-ĐÀI chính là cái sống linh-hồn nhơn-loại, bảo vệ tánh mạng tức nhiên Chơn-thần của họ, đặng họ tránh cái nạn tiêu-diệt.

Lời tiên-tri trong sách "Ấu-học Tầm nguyên" về sự xuất hiện của Đạo Cao-Đài: trong quyển "Giác mê ca" mà tác-giả là một Đạo-gia có ghi lại đoạn văn sau:

Hữu duyên mới gặp Tam-kỳ Phổ-độ
Muôn đời còn tử-phủ nêu danh,
Ba ngàn công-quả đặng viên thành,
Mới đặng Thiên-thơ chiếu-triệu.

Đây có mục-đích báo cho nhân-loại biết trước rằng chỉ có người hữu-duyên mới gặp được Tam Kỳ Phổ Độ, hầu do theo chơn-lý Chánh-truyền ấy mà làm phương thoát tục mới mong trở về ngôi xưa vị cũ. Bởi Đạo Cao Đài là Tu nhập thế nên phải lập công bằng cách Phụng sự Vạn linh, mà phụng sự Vạn linh tức nhiên phụng sự Trời. Điểm tới đích là Niết-bàn.Đạo Cao-Đài nói là cảnh Thiêng liêng Hằng sống. Niềm tin hứa-hẹn của Tam-Kỳ Phổ-Độ đã đến, đã ứng hiệp,nhất định không có gạt gẫm, nguỵ tạo.

Phải lập cho được Ba ngàn công quả chính là phải tu chơn thực theo phương thức sau, mà sách Trang Tử nói:

 
   

Chí nhân vô kỷ.Thần nhân vô công.Thánh nhân vô danh.

- Quên mình làm nên cho người, đạt (một số 0)

- Làm mà không tính công đạt (hai số 0)

- Làm mà không ham danh đạt (ba số 0)

Đây là nói lý: phải hiểu rằng: Đặt số 3 trước ba số (000)

thành 3.000 công quả.

4- Đạo Cao-Đài dạy phải lập cho được 3.000 công quả nghĩa là gì?

 
   

Đúng như lời tiên-tri. Nay người tu theo Cao-Đài phải lập cho được "Ba ngàn công-quả" ấy là cơ đắc Đạo tại thế đó vậy. Bởi:

*Chí-nhân vô kỷ: người có lòng nhân thì quên mình mà lo cho người. Không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến người,đến chúng-sanh, đến mối Đạo phải được sớm hoằng khai, sớm được Phổ-độ. Hằng ngày ta cầu nguyện gì?

"Nam mô nhứt nguyện Đại-đạo hoằng khai,

"Nhì nguyện Phổ độ chúng sanh"...

*Thần-nhân vô công: đứng bậc Thần, làm mà không tính công. Người làm Đạo phải hết mình lo cho lý tưởng Đạo-pháp, làm cho hết việc chớ chẳng phải đợi hết giờ.

*Thánh-nhân vô danh: vào bậc Thánh thì làm mà không kể đến danh. Không tham công, chẳng mến danh mới đạt được cái chơn lý phụng sự. Một người tu hành thật sự là phải thể-hiện cho được các yếu lý ấy, mà cũng là lúc được Đức Phật-Mẫu ban cho Quả Đào Tiên. Chính là người TU phải nắm vững đầu mối hai quẻ Càn Khôn, là am tường về Bát Quái. Nếu nói như vậy thì tại sao các Chức-sắc ngày hôm nay theo luật công-cử phải có đủ thời-gian công-quả?

- Đó chỉ là cái lằn mức để được thăng phẩm-vị hầu tiếp-tục con đường Phụng sự, còn đã là công-quả thật sự thì phải đo bằng "cây thước lương-tâm"chứ không phải là cây thước thời gian. Dù cho nói rằng năm năm, ba năm, nhưng chính thực mỗi người phải "tự biết xét mình" là điều trọng-hệ nhứt.

Đạo là lý, muốn cho thấu-lý Đạo phải luận, từ đó mới có lý-luận, thuyết-luận, giảng-luận, luận đạo.

Lẽ ra phải nói là "Tam vô" nhưng từ này, nó sẽ trùng hợp với những gì đã có trong cơ hữu hình rồi.

Truyền thuyết cho rằng vườn Đào của Đức Phật Mẫu

 
   

Phải 3.000 năm đào mới trổ bông, 3.000 năm đào mới sanh trái, 3.000 năm đào mới chín. Như vậy muốn ăn một trái đào chín như vậy phải qua 9.000 năm. Nếu thật như thế thì chắc không một ai hưởng được.

Nhưng người Đạo Cao-Đài vẫn được "ăn Đào" mỗi năm. Vì sao? Đây là lý Đạo nhiệm mầu để tượng trưng: Nếu lấy Cửu Trùng Đài làm chuẩn, cùng các đối phẩm, thì Cửu Trùng Đài có 3 cấp, mỗi cấp có 3 phẩm. Mỗi phẩm như vậy là phải đạt cho được 3.000 công quả như nói trên (vô kỷ, vô công, vô danh). Khi đạt đến bực Thiên Tiên tức nhiên hoàn thành con số 9 (Ấy là lúc Đào Chín: "Tây Vương Mẫu vườn đào ướm chín" (Cửu II) để thưởng công cho người đắc Đạo.

"Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ chiếu theo luật Thiên đình, Hội Tam-giáo mở rộng mối Đạo Trời, ấy cốt để dìu dắt nhơn sanh bước lên con đường Cực-Lạc tránh khỏi đoạ luân-hồi và dụng Thánh-tâm mà dẫn dân-sanh, làm cho hoàn-toàn trách nhiệm nặng-nề của Đấng làm người, về bực nhơn-phẩm ở cõi trần-ai khốn-đốn này".

5- Triết-lý của Đạo-Giáo

Đức Hộ-Pháp nói:

"Các vị Giáo-Chủ, lập giáo đều nương nơi một tinh thần của họ, tinh-thần hữu-định ấy có căn-nguyên trong tinh-thần của toàn nhơn-loại. Họ chỉ lấy một thuyết trọng yếu đặng làm triết-lý Đạo-Giáo của họ, tỷ như:

- Thánh-Giáo Gia-Tô lấy TÂM làm căn bản,
- Lão-Giáo lấy THÂN làm căn bản,
- Hồi-Giáo lấy TÍN-NGƯỠNG làm căn bản.

Mỗi Giáo-lý đều có sở-năng làm trung-tâm-điểm đặng vi-chủ tinh-thần của con người trong chỗ khuyết điểm của họ".

"Có một điều Bần-Đạo xét đoán lấy làm sợ sệt hơn hết là nền Tôn-Giáo của Đức Chí-Tôn lấy Tinh Thần làm căn-bản. Hỏi vậy, tinh-thần của nhơn-loại hiện ở dưới quyền áp bức của văn-minh vật-chất, tinh-thần ấy có đủ quyền-năng tự-vệ lấy họ chăng?

Tinh-thần họ có đủ lực-lượng chiến thắng chăng? Nếu thoảng tinh-thần của nhơn-loại không quật khởi lên, tự-quyết, tự-chủ, tự định-phận đặng mà phải chịu làm nô lệ cho văn-minh vật-chất, thì tương-lai của Đạo Cao-Đài sẽ ra sao? Mà chẳng những phải tự bảo vệ chiến thắng mà thôi, mà còn phải bảo vệ chơn tướng của đạo đức tinh thần của loài người trở mặt ra đối với tinh-thần cường liệt của Chí-Tôn, thì tương-lai nơi mặt thế này sẽ như thế nào? Chúng ta cũng nên để có một câu hỏi. Có một điều ta nên để mắt nhìn coi Chí-Tôn tạo hình thể nào đặng bảo trọng tinh-thần đạo-đức ấy. Ấy là một phương pháp ta nương theo đó đặng tạo dựng khối đức tin vững chắc bền-bĩ vậy."

 
   

Qua hình vẽ tượng trưng trên đây thì Lão giáo do Đức Lão Tử làm Chưởng Giáo, chủ trương rằng chính con người khổ đây là vì có THÂN này, nếu không có thân thì đâu có khổ. "Hữu THÂN hữu khổ". Thế nên Lão Giáo 老 教 thì cho vạn vật đều gốc ở Đạo, Đời là một cuộc phù vân, hơi đâu mà để trí lo-nghĩ, người ta chỉ nên cùng với Đạo mà vui chơi cùng Tạo hóa, không cần chi đến Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí; không thiết gì đến pháp luật, chế độ, miễn là được thảnh thơi vô-vi thì thôi. Vì THÂN đây chính là cái gốc làm ra Tứ khổ của con người, là lý do đó.

Thánh Giáo Gia Tô, Đức Chúa đã chịu chết trên cây Thánh giá để chịu tội cho nhân loại, phải chịu một mũi kiếm đâm vào trái tim Ngài, là tinh thần phụng sự cao độ.

Hồi-Giáo thì lấy Tín ngưỡng làm căn bản: Tín ngưỡng cũng có hai: Chánh tín và Mê tín. Nếu là chánh tín thì Tôn giáo ấy bền bĩ, lâu dài với thời gian.

Ngày nay ĐẠO CAO ĐÀI chủ trương tu nhập thế là phải Tu thân, Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tập sửa tánh thành cho ngoài trong trọn vẹn, lập ba ngàn công quả như đã nói trên, theo phương Luyện kỷ của Đức Hộ-Pháp đặng vào Con đường thứ ba Đại-Đạo. Hay nói khác đi là TÁNH MẠNG SONG TU: tức là phải tu cả Tâm và Thân.

Ấy là lấy cả TINH THẦN triết lý của các Tôn giáo trên Thế giới từ xưa đến giờ đó vậy.

6-Tôn chỉ cao thượng của Đạo Cao-Đài là gì?

Đức Hộ-Pháp nói: "Cái Tôn-chỉ của Đại-Đạo ngày nay là gồm cả ba nhà Đạo Chánh là Nho - Thích - Đạo. Chuyển cả ba Đạo ấy mà hiệp lại làm một, nên chi chúng ta tu Đại Đạo thì phải noi theo Tôn-chỉ của Tam Giáo mà tập rèn tâm tánh. Nghĩa là phải nắm trọn:

- Tam cang Ngũ Thường (Nho-giáo)
- Vẹn giữ Tam qui Ngũ giới (Phật-giáo)
- Luyện Tam bửu Ngũ hành (Tiên-giáo)

Người mà gồm được cả ba thì là gần Thần, Thánh, Tiên, Phật vậy".

Đạo Cao-Đài là "Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi" cho nên có Tôn chỉ rõ rệt:

- Tín-ngưỡng thì thờ Trời và thờ Người.

- Về Luật-pháp thì Bác-ái và Công-Bình.

- Mục-đích là đưa nhân-loại tấn-hoá trên con đường Chân- Thiện- Mỹ. Chung qui dầu ở nơi Tôn-giáo nào cũng lấy TÂM làm gốc:

Tìm hiểu các nhà Tôn-giáo đã dạy đời những gì, đó chính là Tôn-chỉ của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ ngày nay.

-Thích-giáo Phật Thích-Ca làm Chưởng-giáo, dạy:

. Tam qui Ngũ giới
. Minh tâm kiến tánh.
. Thật hành Bác-ái, Từ bi

-Tiên-giáo Đức Thái Thượng làm Chưởng-giáo, dạy ;

. Tam bửu Ngũ hành.
. Tu tâm luyện tánh.
. Thủ cảm ứng chứng minh.

- Thánh-giáo Khổng-Tử làm Chưởng-giáo, dạy:

. Tam cang Ngũ thường.
. Tồn tâm dưỡng tánh.
. Lấy Nhân-Nghĩa làm hành tàng.

TÓM LẠI:

Nho nói: Tồn tâm dưỡng tánh.
Tiên nói: Tu Tâm luyện tánh.
Thích nói: Minh tâm kiến tánh.

Thích nói: TỪ BI,
Nho nói: TRUNG THỨ
Tiên nói: CẢM ỨNG

Tiên nói: Bảo nguơn thủ nhất.
Thích nói: Vạn pháp qui nhứt.
Nho nói: Chấp trung quán nhứt

Cứ đôi câu đại khái đó thì hiểu biết nghĩa lý nào có khác chi? Nên Đức Thể Hà Tiên có bài thi rằng:

Tam giáo nguyên lai nhứt lý đồng,
Hà tu phân biệt các Tây Đông?
Tam hoa, Tam bửu, Tam tài lý.
Ngũ đức, Ngũ hành, Ngũ giới trung.

Nghĩa là: Tam giáo nguyên lai đồng một lẽ, không tất phân biệt khác nhau làm chi, xem như lời: Tam hoa, tam bửu, tam tài; Ngũ đức, ngũ hành, ngũ giới đều dùng chữ TAM, chữ NGŨ mà dạy đời. Vậy thì từ thuở xưa các Đấng Giáo chủ của Tam giáo đã công nhận Tam giáo y nhau như một mới có thuyết Tam Giáo đồng nguyên..

Bài Khai Kinh (Trong Kinh Tứ thời nhựt tụng) nầy do Đức Lữ Tổ (Đại Tiên Lữ-Đồng-Tân) giáng cơ ban cho Minh Lý Đạo (Tam Tông Miếu). Đây chỉ là bài diễn nôm của bài Khai Kinh Kệ Hán-văn trong Kinh Huyền Môn Nhựt Tụng, từ bên Tàu truyền sang nước Ta.

Hội Thánh vâng lịnh Đức Chí Tôn đến Minh Lý Đạo thỉnh bài Khai Kinh nầy về làm Kinh Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ. Nguyên văn bài Khai Kinh bằng Hán văn:

Trần hải man man thủy nhựt Đông,
Vãn hồi toàn trượng Chủ Nhân Công.
Yếu tri Tam giáo TÂM nguyên hiệp,
Trung Thứ, Từ Bi, Cảm Ứng, đồng.

 

塵 海 茫 茫 水 日 東
挽 回 全 仗 主 人 公
要 知 三 教 心 源 合
忠 恕 慈 悲 感 應 同

Giải câu 1: Biển trần bát ngát mênh mông nước, mặt Trời mọc ở phương Đông. Đạo cũng phát khởi từ phương Đông.

Câu 2: Đạo được trải qua nhiều thời kỳ, cũng nhờ vào Đức Phật Tổ (Tổ Sư), Đức Thái Thượng Lão Quân, Đức Khổng Thánh, Giáo Chủ của Tam Giáo duy trì đến nay.

Câu 3: Tôn giáo quan trọng nhất là Tâm. Chính cái Tâm này mà Tam giáo làm gốc cho sự qui hợp.

Câu 4: Nho dạy Trung thứ, Phật dạy Từ bi, Lão dạy Cảm ứng (Kinh Cảm Ứng), tất cả đều có bộ TÂM 心.

Bài Khai Kinh được dịch ra như sau:

"Biển trần khổ vơi vơi Trời nước,
Ánh Thái Dương giọi trước phương Đông..
Tổ Sư, Thái Thượng, Đức Ông,
Ra tay dẫn độ, dày công giúp Đời.
Trong Tam giáo có lời khuyến dạy,
Gốc bởi lòng làm phải làm lành,
Trung Dung Khổng Thánh chỉ rành,
TỪ BI Phật dặn: Lòng thành, lòng nhơn.
Phép Tiên Đạo: Tu chơn dưỡng tánh,
Một cội sanh ba nhánh in nhau,
Làm người rõ thấu lý sâu,
Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh."

Bốn câu Hán văn trên được Đức Lữ Tổ giáng cơ diễn nôm thành bài Khai Kinh mà chúng ta thường tụng: Đặc biệt là câu cuối dùng cách chơi chữ rất tuyệt; tức nhiên mỗi chữ trong các từ này đều có bộ TÂM đặt ở dưới

Trung thứ 忠 恕 hết lòng thật của mình là Trung, đem lòng mình nghĩ đến người là Thứ. Trung thứ chính là đạo Nhân Nghĩa của Đức Khổng Tử.

Từ bi 慈悲 là lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh và muốn giúp chúng sanh thoát khổ. Từ bi là hạnh đặc trưng của Phật.

Cảm ứng 感應 lấy tinh thần mà cảm với Thần linh: Cảm là nhân, ứng là quả; cảm là nguyên động lực, ứng là bị động lực; tỷ như thiện cảm thì phước báo ứng, ác cảm thì họa báo ứng.

Ngày nay, Đạo Cao-Đài Qui Tam Hiệp Ngũ, bởi vì:

"Tam giáo là ba nền Đạo Chánh thuở nay, song bị tay phàm canh cải càng ngày càng xa Thánh-giáo mà hóa ra phàm giáo. Thượng-Đế lấy làm đau đớn, hằng thấy nhơn sanh phải bị sa đoạ tội lỗi, mạt kiếp chốn A-tỳ, nên nhứt định chuyển "Tam-giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt", chấn hưng Tôn-giáo lại cho hoàn toàn rồi khêu sáng ngọn đèn thiêng-liêng lên để dìu dắt bước đường cho kẻ có công TU- HÀNH mà khỏi xảy chân, lạc lối. Ấy vậy, tất cả các yếu chỉ này làm tiêu-chuẩn cho mọi hành-vi. Cả Luật-Pháp khuôn viên điều-mục của ba nền Tôn giáo ấy từ buổi sơ khai có đủ phương diện, quyền năng dìu đời thống khổ. Nhơn sanh trong thời kỳ Thượng cổ còn tính đức, biết giữ chơn truyền, chuẩn thằng, qui củ của ba nhà: Thích- Đạo- Nho tức là Phật, Tiên, Thánh; nghĩa là phải làm lành lánh dữ,dưỡng tánh tu tâm, mới chung hưởng thái-bình, hạnh phúc".

7- CAO-ĐÀI là Phật Giáo chấn hưng:

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển I trang 14, chúng ta nhận thấy Đức Phật Thích Ca giáng cơ dạy về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ lần đầu tiên vào ngày 26-2-Bính Dần (dl: 8-4-1926) tại đàn Vĩnh Nguyên Tự (Cần Giuộc).Bài Thánh ngôn do Đức Thích Ca Mâu Ni giáng

THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chuyển Phật Đạo,

Chuyển Phật Pháp,

Chuyển Phật Tăng,

Qui nguyên Đại Đạo.

Tri hồ chư chúng sanh?

Khánh hỷ! Khánh hỷ! Hội đắc Tam Kỳ Phổ Độ.

Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đại hỷ phát đại tiếu.

Ngã vô lự tam đồ chi khổ.

Khả tùng giáo Ngọc Đế viết Cao Đài Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

(Thích nghĩa: Qui nguyên Đại Đạo: Trở về nguồn gốc là nền Đại Đạo. Tri hồ chư chúng sanh? Chư chúng sanh có biết chăng? Khánh hỷ: Vui mừng. Hội đắc Tam Kỳ Phổ Độ: Hợp được vào Tam Kỳ Phổ Độ. Đại hỷ phát đại tiếu: Mừng lớn, phát cười lớn tiếng. Ngã vô lự tam đồ chi khổ: Ta không lo cái khổ của ba đường luân hồi đày đọa. Khả tùng giáo Ngọc Đế: Khá nghe theo lời dạy của Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế.)

Cũng trong đàn cơ nầy, khi tái cầu, Đức Chí Tôn giáng dạy như sau đây:

CAO ĐÀI

Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa?

- Tam Kỳ Phổ Độ là gì? - Là Phổ Độ lần thứ ba.

Sao gọi là Phổ độ? Phổ độ nghĩa là gì?

- Phổ là bày ra. Độ là gì? - Là cứu Chúng sanh.

Muốn trọn hai chữ Phổ Độ phải làm thế nào? Chúng sanh là gì?

- Chúng sanh là toàn cả nhơn loại, chớ không phải là lựa chọn một phần người, như ý phàm các con tính rối. Muốn trọn hai chữ Phổ Độ phải làm thế nào? Thầy hỏi? - Phải bày bửu pháp chớ không đặng giấu nữa."

8- Đạo Cao-Đài là Tôn giáo toàn cầu

Đức Hộ-Pháp nói: Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp Tín ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi. Nắm cả Tín-ngưỡng của loài người lại, chính CHÍ TÔN là CHÚA TỂ Càn Khôn Thế Giái, làm CHÚA nền chính trị tại nước NAM, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập QUỐC ĐẠO.

Kỳ khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ tạo một linh-đài qui Tín ngưỡng của toàn nhơn-loại, đủ quyền năng tiêu-diệt Tà pháp đặng đem nhơn-loại đến ĐẠI-ĐỒNG.

Nay Đức Chí-Tôn khai Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vì GIÁO CHỦ ngày xưa.

Chỉ có hai phương diện:

1- Là do TAM GIÁO thất kỳ truyền,

2-Là chính mình ĐỨC CHÍ TÔN giáng cơ lập ĐẠO đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng TAM GIÁO lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả TINH THẦN của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA chung là thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ quyền THƯƠNG-YÊU, chung thờ một Tôn-giáo ĐẠI ĐỒNG thì nhơn loại mới gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời MỸ TỤC THUẦN PHONG thì vạn loại mới chung hưởng cơ HÒA-BÌNH, phục hồi THƯỢNG CỔ là do THIÊN THƠ tiền định buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu duy tân.

Tóm lại: ĐỨC CHÍ TÔN khai ĐẠO kỳ thứ ba này là thuận theo "Lẽ tuần-hoàn châu nhi phục thủy".

"ĐẠO CAO ĐÀI là nền CHÁNH GIÁO tức là nền ĐẠO CAO ĐÀI này để thay thế tất cả Tôn Giáo đã có từ trước. Vì lẽ các Tôn Giáo ấy ngày nay không phù hợp với lương tri, lương năng của loài người nữa. Hay nói một cách khác là các nền Tôn Giáo ấy ngày nay đã bị BẾ. Những điều bí yếu bí trọng trong nền ĐẠO CAO ĐÀI, những triết lý cao siêu mà chỉ ĐẠO CAO ĐÀI mới có, tuy nhiên âu cũng là một đặc ân của ĐỨC CHÍ TÔN dành cho ĐẠO CAO ĐÀI là HỘ PHÁP thay lời ĐỨC CHÍ TÔN nói ĐẠO cho toàn thể con cái của Ngài nghe, quí hay chăng là chỗ đó" (ĐHP).

9- Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà:

Đức Chí-Tôn đã xác nhận qua bài thơ:

Từ thử nước Nam chẳng Đạo Nhà,
Nay TA gầy dựng lập nên ra.
Ví bằng ai hỏi sao bao nã?
Rằng trẻ noi sau biến hoá già!

Đức Quyền Gíáo-Tông cũng nói rõ lý-do là Việt Nam từ trước đến giờ không có Đạo nhà:

"Quả thật vậy! "Người nước Nam từ cổ chí kim thật không có ĐẠO trong nưóc nhà, mà người Nam ta có tâm đạo, người Nam trổi danh khắp địa-cầu về bề tín-ngưỡng: đạo PHẬT, đạo TIÊN, đạo NHO tuy khai bên ẤN-ĐỘ và TRUNG HOA, sau người Nam biết đặng cũng hết lòng sùng bái.Đạo GIA-TÔ của mấy vị Linh-mục bên Thái-Tây đem truyền bá bên nước ta thì người Nam cũng kính trọng. Phần nhiều trong người Nam thì hay đi chùa, đi miễu, đi nhà thờ cầu-khẩn, vọng tưởng hết lòng, ngưỡng-mộ trời Phật. Người không đi chùa, đi miễu, không đi nhà thờ thì trong nhà cũng thờ cha mẹ quá vãng ấy là đạo NHO.Mấy bằng cớ trên đây chỉ rõ-ràng người Nam-Việt tin-tưởng Trời, Phật, Thánh, Thần; tin-tưởng chắc rằng người chết thì cái xác phàm này chết, tiêu diệt, chớ linh hồn bất tiêu bất-diệt. Vì Đạo-Tâm ấy mà trong thời-kỳ chuyển Đạo này ĐẤNG CHÍ-TÔN thương lòng thành-thật của nhơn sanh nơi đây mà khai TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ (Ân-xá lần thứ ba).

10- Đức Chí-Tôn đến chuyển Quốc-Đạo:

(Đức Hộ-Pháp thuyết ngày 14-10-Quí-Tỵ)

"Thật ra, nếu không phải cái huyền linh vô đối của Đức Chí-Tôn đến đặng chuyển Quốc Đạo thì trong một thời gian ngắn ngủi nền Đạo chưa rõ đến địa vị cao trọng và qúi hóa như thế này.! ĐẠO CAO-ĐÀI tức Đạo Tổ-Phụ của chúng ta chỉ mới có hai mươi mấy năm thôi; nếu chúng ta kể từ ngày Chuyển thế của nó. Nhưng Thánh-thể Đức Chí-Tôn và toàn thể con cái Nam Nữ của Ngài nên nhớ rằng: Đạo Tổ Phụ mấy người đã 2.500 tuổi. Phải nhớ điều đó.

Đức Chí-Tôn muốn rửa-ráy nó.

Để nói rõ Thánh ý của Đức Chí-Tôn đến mức nào và Ngài muốn gì? Giờ phút này cả toàn con cái của Ngài chắc có lẽ thắc-mắc. Vì vậy: Nội tình của Đạo gặp nhiều nỗi khó khăn, nếu chúng ta không nói rằng nó đã chịu một khó khăn về mọi phương diện.

Nhưng đối với Bần-Đạo, Bần-Đạo thấy mỗi phen Đạo chịu khổ nhục, chịu khó khăn hay bị chê rẻ khinh khi thì Bần-Đạo lại vui mừng mới chướng cho chớ! Bởi mỗi phen như thế là mỗi phen Đức Chí-Tôn muốn rửa-ráy nó, tô điểm nó đến một địa vị cao trọng thêm nữa chớ chẳng chi khác. Cả con cái Đức Chí-Tôn đều tin nơi Bần-Đạo để con mắt quan sát coi có quả như vậy hay không?

Cái khó đảm-đương đương-nhiên bây giờ là không làm cho thêm nhục cơ-thể Đạo là sửa soạn tô điểm đặng một Đài vinh diệu vô đối. Trong thời gian ngắn ngủi tới đây, nếu cả con cái Đức Chí-Tôn có Đức-tin thì hiểu rõ điều ấy."

C- Nghiên cứu về Chánh-Trị của ĐẠO theo TÂN LUẬT & PHÁP CHÁNH TRUYỀN

Theo lời Đức Hộ-Pháp giảng giải trên cho biết là:

- Đạo Cao Đài thành hình là do HUYỀN DIỆU CƠ BÚT.
- Đức Thượng Phẩm là chi Đạo, tức mở đường xuất Thánh
- Danh "ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ" ra đời.
- Thập nhị Thời Quân xuất hiện tức Thập Nhị Thời Thần.
- Trước đó đã có ông Ngô văn Chiêu biết Đạo Thầy.
- Từ khi Đức Chí-Tôn đến độ Đức Quyền Giáo Tông rồi mới xuất hiện ra Hội-Thánh Cửu Trùng Đài.

Xem thế thì Đức Chí-Tôn đã "Khai Đạo muôn năm trước định giờ" nhưng khi mở Đạo tại thế gian này thì mở Thể pháp trước.Việt Nam hân hạnh đón nhận nền Đạo mới

1- Dùng huyền diệu Cơ Bút Chí-Tôn dụng tánh đức lương sanh lập Hội-Thánh

"Buổi Hạ nguơn Tam Kỳ Phổ độ là thời kỳ Ân xá tội tình cho toàn cả chúng sanh; lại nhơn buổi văn minh, nhơn loại thông đồng, càn khôn dĩ tận thức, cho nên Đức Chí-Tôn dùng Huyền diệu Cơ bút giáng Cơ khai Đại Đạo, chủ nghĩa là độ tận 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa đoạ cõi hồng trần nên gọi là cơ quan cứu thế.

Nếu Đức Chí-Tôn chiết chơn linh giáng thế như các vì Giáo chủ trước thì phải tá mẫu đầu thai, mang phàm thể hữu vi, lại nữa là Đạo khai trong nước Việt-Nam thì phải thọ sanh hình hài người Nam Việt thì có thể nào chuyển ba mối Đạo khắp Ngũ châu và toàn cầu thế giới đặng. Lại nữa các dân tộc trong Vạn quốc không thể hiệp đồng sự Tín ngưỡng làm một thì khó mà độ tận chúng sanh, cho nên Đức Chí-Tôn giáng bằng Huyền diệu Cơ Bút đặng làm cho các nước để trọn đức tin rằng một Đấng Chí-linh giáng thế cứu đời qui tụ cả khối tinh thần của nhơn loại duy nhất. Chỉ rõ bằng cớ như kỳ các Tôn giáo tại Luân đôn thì các nước đều công nhận Đạo Cao-Đài là chơn thật có thể qui nguyên Đại-Đồng Tôn giáo và tại Toà Nội các năm 1933 Hạ Nghị Viện có 424 vị thân sĩ cùng đồng bỏ thăm toàn công nhận Đạo Cao-Đài.

Đức Chí-Tôn chẳng giáng bằng xác thân mà lại dụng tánh đức lương sanh lập quyền Hội-Thánh thay hình thể hữu vi cho Đức Chí-Tôn, thay thế và lập Vạn linh đối phó cùng quyền Chí linh, ấy là cơ mầu nhiệm cứu vớt quần sanh giải thoát khỏi chốn sông mê bể khổ.

Kỳ Hạ nguơn này dầu chúng sanh có tàn bạo hung ác thế nào cũng không làm hại xác thân của Đức Chí-Tôn như các vì Giáo chủ buổi trước vậy.

Bởi quyền Vạn linh có đủ nghị lực tinh thần lập khuôn viên Luật pháp xây chuyển cơ Đạo và cơ Đời cho thuận theo lẽ tuần hoàn của tạo hoá. Đức Chí-Tôn khai Đạo kỳ ba này giáng bằng Huyền diệu Cơ Bút là do nơi Thiên thơ tiền định chuyển Đạo vô vi hiệp Tam giáo Ngũ chi làm một" (ĐHP: 1-7 Mậu-Dần-1938)

2- Nước Nam có một CHỦ mà thôi: là Thầy

Thầy dạy: ngày 21-8-Bính Dần (Thứ hai, 27-9-1926)

"Các con. Thầy dặn các con, từ đây ai nói chi tùy ý, cứ nghe một Thầy thì khỏi lầm lạc.

Con TRUNG cứ lo khai Đạo, món binh khí tà quái vì đó mà tiêu diệt. Nước Nam có một chủ mà thôi:là Thầy. Từ trước vì nhiều Đạo trong nước mà chẳng một Đạo nào chơn chánh, làm mạnh quốc dân, nên nước phải yếu, dân phải hèn. Dân tộc các con duy biết làm tớ chớ chưa biết làm Chủ. Thầy vì thất lẽ công bình thiêng liêng ấy mới giáng trần lập Đạo tại Nam phương, tức là thay mặt Càn Khôn Thế giới mà qui chánh truyền nhơn loại.

Trong mối Đạo Thầy đã lập thì hằng nói tiên tri rằng: Ngày kia có một nước đương trong vòng nô lệ, vì Ta mà làm Chủ nhơn loại, các con hiểu à!"

Đừng nghe, vì nếu chẳng vậy, ngôi Giáo Tông chẳng ai dám ngồi. Tất cả sáu ngôi kia, hễ các con đến dựa thì quỉ giết chết, nghe à!

Lập Nhơn phẩm làm Thiên phẩm chẳng dễ chi mà không dùng huyền diệu.

Còn Nhạc Lễ là phép nhà Nam, Thầy muốn giữ gìn sao cho trọn vẹn, các con hiểu?

Các con hơi nào nghe lời thế sự, một điều nào cũng chưa quyết đoán cho cùng phải quấy.

- Khi Thích Ca truyền Đạo, dân Brahma cho là Bàng môn vì khác Thánh giáo Phật đạo.

- Khi Lão Tử truyền Đạo thì đời cho là phép mê hoặc.

- Khi Chúa Jésus truyền Đạo thì nhà Israel gọi là cải Chánh đạo, đến đỗi bắt giết.

Các con muốn vừa lòng Thiên hạ thì là giỏi hơn Thầy rồi. Thầy khuyên đừng nao núng, các con ngó Thầy trước, các con coi bước Thầy đi trước, các con cứ đi theo sau Thầy là đủ. Cười!"

3- LẬP PHÁP CHÁNH TRUYỀN CỬU TRÙNG ĐÀI

Pháp Chánh Truyền của Đạo Cao Đài là thành văn Hiến pháp Thiêng Liêng, do Đức Chí-Tôn giáng cơ lập thành sau ngày Khai Đạo (là 15-10-Bính Dần) một ngày

Qua ngày 16-10-Bính Dần (dl 20-11-1926) Đức Chí Tôn giáng Cơ lập Pháp Chánh Truyền tại Thánh Thất Gò Kén (Từ Lâm Tự) Tây Ninh.

Trước tiên là lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài phân định rõ phẩm cấp và chức năng của mỗi phẩm từ Giáo Tông đến Lễ Sanh. Mỗi phẩm đều có chữ GIÁO hay chữ SƯ. Đến phẩm Đầu Sư là Thầy của các Thầy; nghĩa là từ Giáo Hữu trở lên mới đứng vào hàng Chức Sắc, Thánh Thể của Chí-Tôn.

Phẩm Lễ Sanh chưa được vào hàng Chức sắc, chỉ là người có hạnh đức dùng vào việc lễ nghi. Ngày xưa dùng phẩm Lễ sanh này là người dâng Lễ (nay đổi ra là Lễ Sĩ)

Tôn chỉ của Đại Đạo Tam Kỳ là Phổ Độ, thế nên quyền Chí Tôn hữu hình tại thế là khi nào Giáo Tông hiệp cùng Hộ-Pháp làm một.Từ khi Đức Lý Giáo Tông hiệp với Đức Hộ-Pháp mới lập thêm Bàn Trị sự gọi là Hội Thánh Em, do vậy mà phẩm Lễ Sanh mới được nâng lên hàng Chức sắc, có trách nhiệm thuyên bổ, đảm trách vụ đặc sứ, sau này Cai quản Tộc Đạo nên còn là Đầu-Tộc Đạo.

Hội-Thánh Cửu Trùng Đài là cơ quan Hành pháp, nắm quyền hành-chánh-đạo, phổ thông chơn đạo đến khắp chúng sanh, nên Luật ghi: nếu có vị nào nói rằng không thông lý Đạo thì Chức việc Bàn Trị Sự phải chịu trách nhiệm thiếu giáo hoá mà cấp lãnh đạo là Lễ Sanh và Giáo Hữu (Đầu Tộc đạo, Khâm Châu Đạo).

Ấy phần Thế Đạo tượng trưng xác thể của Chí-Tôn.

4- LẬP PHÁP CHÁNH TRUYỀN HIỆP-THIÊN-ĐÀI:

Hiệp-Thiên-Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền Thiêng liêng mối Đạo. Đạo còn thì Hiệp-Thiên-Đài còn. Hiệp Thiên Đài là Chơn thần trung gian giữa xác và hồn. Cửu Trùng Đài muốn thông công cùng Bát Quái Đài, phải nhờ Hiệp-Thiên-Đài làm trung gian, ấy là nơi của Giáo Tông đến để thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Địa cầu mà cầu siêu-rỗi cho nhơn loại. Thế nên Pháp Chánh Hiệp-Thiên-Đài phải lập riêng, đó là cơ quan TƯ PHÁP, bảo thủ chơn truyền.

Ngày 12-01-Đinh Mão (dl 13-02-1927) Đức Chí Tôn giáng Cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp-Thiên-Đài. Từ đây Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền Chưởng Quản của Hộ Pháp,Tả có Thượng Sanh, hữu có Thượng Phẩm. Thầy lại chọn Thập nhị Thời Quân chia làm ba Chi: Pháp,Đạo, Thế

5- LẬP PHÁP CHÁNH TRUYỀN NỮ PHÁI:

Qua tháng Giêng năm Đinh Mão. Đức Lý dạy:

Trước khi bàn đến việc lập Pháp-Chánh-Truyền Nữ phái, nên nói qua lý-do vì sao Đức Chí-Tôn không lập mà để cho Đức Lý đứng ra lập?

(Trích y Thánh-ngôn của Giáo-Tông Lý Thái-Bạch)

"Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục Nữ phái:

Pháp Chánh Truyền: Nữ-phái phải tùng Đầu-sư Nữ-phái, songĐầu sư lại phải tùng quyền của Giáo-Tông và Chưởng Pháp.

Chú-giải: Hội-Thánh Nữ-phái phải tùng quyền Đầu-sư Nữ-phái, song cả thảy đều phải tùng quyền Giáo-Tông và Chưởng-Pháp. Nữ-Đầu-sư quyền như Nam-phái, song điều đình bên Nữ-phái mà thôi, chẳng đặng xen lộn qua Nam, cũng như Nam chẳng đặng xen lộn qua Nữ. Mỗi điều chi thuộc về Nữ-phái thì Giáo-Tông và Hộ-Pháp chỉ do nơi Nữ-Đầu-sư.

Pháp Chánh Truyền: "Đầu sư Nữ phái chịu công cử theo luật Hội Thánh ban hành, theo luật Hội-Thánh phân xử đường Đời và đường Đạo".

Chú-giải: Đầu Sư Nữ-phái phải tuân y Tân-Luật của Hội Thánh về đường Đạo và đường Đời, phải chịu dưới quyền Hội-Thánh xử trị cũng như Nam-phái vậy, dầu cho sự công cử lên các phẩm vị cũng phải tùng y như luật Hội Thánh ban hành; nhứt nhứt y quyền Nam-phái, không điều chi cải sửa, dầu cho sự hành chánh cũng vậy. Quyền hành sự cũng về nơi Chánh Phối-sư. Đầu-sư không đặng phép lấn quyền; hễ lấn quyền thì phạm Pháp Chánh Truyền, cũng như Đầu sư Nam-phái vậy.

Pháp Chánh Truyền: Đầu-sư Nữ-phái mặc một bộ Đạo phục y như Đạo phục Đầu sư Nam phái, phải đội một Ni-Kim-Cô như các Vãi Chùa, toàn hàng trắng, áo chín dải có thêu bông sen. Trên Kim Cô có choàng từ đầu tới gót. Đội Mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngay đầu tóc có Thiên Nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, đi giày vô ưu màu trắng, trên chót có đề chữ "Hương" nghe à!".

Chú-giải: Đầu-sư Nữ phái mặc một bộ Đạo phục toàn là hàng trắng có thêu bông sen, y như Đạo phục Đầu sư Nam phái, áo chín dải, đội một cái Ni-kim-cô; nghĩa là cái Ni kim Cô bằng hàng trắng, y như của các vãi chùa, có thêu bông sen, bao quanh đầu một cái Kim-Cô bằng vàng. Trên Ni-kim-cô ấy phải choàng một cái Mão Phương Thiên, nghĩa là: cái choàng bằng hàng cho thiêt mỏng, trên chót thêm một cái Mũ bằng vàng chụp trọn đầu tóc, chính giữa ngay trước mặt có chạm Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí. Cái choàng của Mão Phương Thiên phải cho thiệt dài, ba thước ba tấc ba phân, vì mỗi phen lên ngự trên Ngai; thì phải có hai vị Lễ Sanh Nữ phái theo sau, nâng đỡ chẳng cho phết dưới đất, chơn đi giày vô ưu toàn bằng hàng trắng, trên chót mũi giày có chữ "HƯƠNG" là Tịch Đạo."

Nhận thấy qua ba thời điểm lập Pháp Chánh Truyền:

* Ngày 16-10-Bính Dần (dl:20-11-1926) lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài.Cửu Trùng Đài tượng quẻ Khảm ☵  (xem Dịch Lý Cao Đài I cùng Soạn giả có giải rõ)

- Ngày 12-01-Đinh Mão (dl: 13-02-1927) lập Pháp Chánh Truyền Hiệp-Thiên-Đài. Hiệp Thiên Đài tượng quẻ Ly ☲.

-Tháng 1 năm Đinh Mão lập Pháp Chánh Truyền Nữ-phái. Vậy là đủ Âm Dương rồi. Bấy giờ lập Pháp Chánh Truyền Nữ phái nữa là hoàn thành con số 3 là Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân.

"Như vậy số 3 gọi là Tam, mà Tam là Càn khôn vũ trụ định thể. Số 3 là con số thiêng-liêng tạo-đoan vạn-vật là vậy".

Thấy ra con "SỐ 3" này là con số huyền diệu, là con số căn bản nhất.

Hơn nữa: Thầy lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài trước rồi mới lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài sau, tức là mở Thể pháp trước, mở Bí pháp sau. Tất cả đều đi vào nhất quán. Lý Đạo nhiệm mầu là thế!

Pháp Chánh Truyền tức là cơ quan truyền Chánh Pháp thì do quyền năng của Thượng Đế giáng Cơ lập thành. Song song với thời gian này Đức Chí-Tôn dạy nhơn sanh lập Luật để tu, tức là Tân Luật. Như vậy thì Tân Luật này uyển chuyển hơn, tức là có thể thay đổi tùy theo trình độ tiến hóa của nhơn sanh.

Nếu Tân Luật là Âm, thì Pháp Chánh Truyền là Dương. Âm Dương tương hiệp thì từ đó mới biến hóa và mãi mãi trường tồn. Đạo Cao Đài thất ức niên là bởi đó. Lại nữa

- LẬP HỘI-THÁNH

Hội Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ gồm ba Đài: Hiệp-Thiên, Cửu Trùng và Bát Quái.

"Thể Ðạo của Chí Tôn cũng phải nương theo chữ HÒA mới toan thành lập, Chí Tôn định thành Hội Thánh, đặng thay thế hình thể của Người, thì cũng tùng theo phép Tạo Hóa cá nhân mà gây nên ảnh tượng:

- Cửu Trùng Ðài là thi hài, ấy là TINH.
- Hiệp Thiên Ðài là chơn thần, ấy là KHÍ.
- Bát Quái Ðài là linh hồn, ấy là THẦN.

Nếu cả ba mà không tương hiệp, thì khó mong thành Ðạo cho đặng. Nếu có một quyền hành nào tại thế nầy mà làm cho thân thể Chí Tôn phải chia phui manh mún ra đặng, thì là Ðạo ta là giả Ðạo, tất nó phải tiêu diệt trong một lúc ngắn ngủi chi đây.

Còn như quả là Chí Tôn vì thương yêu con cái của Người, chính mình đến lập Ðạo đặng giải thoát cho chúng sanh, thì những mưu chước của tà quyền ngăn cản bước Ðạo của Thầy khó mong nghịch mạng với Chí Tôn, ắt là không mong bền vững" (PCT).

Hai Đài Hiệp-Thiên và Cửu Trùng thuộc hữu vi, dưới quyền Chưởng quản của Giáo-Tông và Hộ-Pháp. Âm Dương tương đắc, tương điều hòa nhau. Riêng Bát Quái Đài thuộc vô vi, dưới quyền Đức Chí-Tôn Chưởng Quản, gồm các Đấng Trọn lành (biểu tượng phần trên nóc Tòa Thánh từ Tam Thế Phật đến tượng Đức Di Lạc Vương Phật trên nóc Phi Tưởng Đài) cũng hoàn thành số 3 tam tài

Hội-Thánh Cửu Trùng Đài

Lần nầy Thầy chọn đến: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam Thập Lục Thánh, Thất Thập Nhị hiền, Tam Thiên Đồ Đệ.

Thầy dạy: "Giáo-Tông là Anh Cả các con" (Pháp Chánh Truyền)

Chú giải: "Giáo Tông thay mặt cho Thầy, đặng bảo tồn chơn Ðạo của Thầy tại thế, thì Anh Cả nhơn sanh đặng dìu dắt các con cái của Thầy, dầu lớn tuổi hay là nhỏ tuổi, quyền Thiêng Liêng đã định vậy.

Tuy trong Hội Thánh có chia ra hai phần hữu hình là: "Cửu Trùng Ðài" và "Hiệp Thiên Ðài" mà nơi Hiệp Thiên Ðài, dầu cho Hộ Pháp cũng phải là em của Giáo Tông, song Hộ Pháp phải nhỏ về phần hữu hình đã nói trên đây, chớ phần Thiêng Liêng thì đồng vị."

Thầy mở Đạo kỳ này chọn: nhứt Phật, Tam Tiên, đó là hàng Tiên-vị. Cái siêu tuyệt của Đạo Cao-Đài ở chỗ là quyền Giáo Tông so với Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican (La Mã) nhưng nhơn sanh chỉ xem Ngài là "Anh Cả". Tiếng Anh Cả này tức là "Quyền Huynh thế ngôn" hay là "Quyền Huynh thế phụ" mà thôi. Nghĩa là nền Đại Đạo này là một đại gia đình Tôn giáo. Chữ Huynh 兄 là ANH tự nó đã nói lên: Anh là người chỉ dùng miệng (khẩu 口) để khuyên dạy em mà thôi, chứ không được đánh đập hành hạ. Bởi "Giáo-Tông là Anh Cả các con". Suốt hệ thống tổ chức Cửu Trùng Đài có tính nhất quán như thế:

1- Hội-Thánh Cửu Trùng Đài Nam phái gồm:

- 1 Phẩm Giáo Tông (Nhứt Phật) Lãnh đạo tối cao toàn Đạo có phận-sự dìu dắt Đạo-hữu trong đường Đạo và đường Đời. Pháp Chánh Truyền qui định:

"Giáo-Tông là Anh Cả các con. Có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu-dắt các con trong đường Đạo và đường Đời. Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn. Nó đặng phép thông-công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên thế-giái, Lục thập thất Địa cầu và Thập điện Diêm-cung đặng cầu rỗi cho các con" (Pháp Chánh Truyền)

- 3 Chưởng Pháp (Tam Tiên) Lãnh nhiệm vụ nghiên cứu Luật Pháp Đạo trước khi ban hành cho toàn Đạo.

- 3 Đầu Sư (Tam Tiên): Cầm quyền Chánh Trị Đạo ban hành Luật Pháp Đạo.

- 36 Phối Sư (Tam Thập lục Thánh): Mỗi phái 12 vị. Trong số này có 3 vị Chánh Phối Sư làm đầu, dưới quyền ba vị Đầu Sư cai trị Đạo.

- 72 Giáo Sư (Thất thập nhị Hiền): Mỗi phái 24 vị. Có phận sự dạy dỗ Đạo Hữu trong đường Đạo và đường Đời. Được quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại Nhơn Sanh hay là cầu xin chế giảm Luật lệ ấy.

- 3.000 Giáo Hữu (Tam thiên Đồ đệ): Chia đều mỗi phái 1.000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt. Lãnh phận sự phổ thông Chơn Đạo.

- Lễ Sanh: Không hạn định số. Lễ Sanh là người có hạnh kiểm tốt, được quyền đi khai đàn cho mỗi Tín Đồ.

Nam Phái chia làm 3 phái: Phái Thái (màu vàng), Phái Thượng (màu xanh da trời), Phái Ngọc (màu đỏ). Như vậy các bậc phẩm gồm có: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư, Chưởng Pháp với các con số chia đều nhau, lấy số 3 làm ước số. Trừ Giáo Tông có một.mà thôi. Tức nhiên dù hiện tại hay mãi mãi về sau cũng vậy:

GIÁO TÔNG CHỈ CÓ MỘT.

Vì là người thay mặt cho Đức Chí-Tôn, chữ "thay mặt" phải là một người chứ không thể nhiều người được?. Ông Trời chỉ có một, người thay mặt chỉ có một. Không thể nào có ông Trời nơi này, ông Trời nơi khác. Cũng như mặt Trời chỉ có MỘT mà thôi vậy.

Tuy nhiên lý đạo cao siêu mầu nhiệm quá!

Cửu-Trùng-Đài là cơ-quan giáo-hóa nhơn sanh, là môi-trường học-hỏi, tiến-hóa theo ba bực, mỗi bực có ba phẩm-cấp. Như trên đã nói là hàng Tiên-vị tượng-trưng bằng 7 cái Ngai, mà Ngai của Giáo-Tông ở giữa, đặt trên hết và lớn hơn hết. Các phẩm cấp lần-lượt là Tiên-vị, Thánh vị rồi đến Thần-vị. Vậy trường Đại-Đạo theo như Đức Hộ-Pháp dạy:

-"Thể-pháp của Đạo Cao-Đài là một trường công quả của chúng ta, trường công-quả ấy để cho chúng ta lập đức, lập công, lập ngôn.

- Bí-pháp chơn-truyền của Đức Chí-Tôn tức nhiên cơ-quan huyền-bí để cho con cái của Ngài giải-thoát."

2- Trường hợp ngoại lệ:
- Thực tế ngôi Giáo Tông có ba:

Hình vẽ sau đây biểu hiện rõ 7 phẩm tước của hàng Tiên vị, Giáo Tông vẫn làm Chủ Cửu Trùng Đài. Đồ hình có 7 vòng tròn nhỏ có đường kính bằng nhau. Một vòng giữa định cái tâm, 6 vòng xoay chung quanh là vai trò của mỗi vị gọi là "Các hữu thái cực". Pháp chánh Truyền qui định ngôi Giáo Tông chỉ có một, nhưng thực tế có ba:

 
   

-Ban đầu Đức Chí-Tôn định phong phẩm Giáo Tông cho Ông Ngô văn Chiêu, nhưng trong 10 ngày ông không vượt qua được sự thử thách của Quỉ khảo, nên rớt, ông lập Chi phái Chiếu Minh Vô vi rồi đến Chiếu Minh Tam Thanh...

- Đối với nền Đại Đạo hiện giờ thì Đức Lê Văn Trung là Quyền Giáo Tông để điều hành Hội-Thánh Cửu Trùng Đài hữu hình (Quyền tức là chưa chánh vị).

- Đức Lý Đại Tiên Trưởng Thái Bạch Kim Tinh giờ này kiêm thêm chức Giáo Tông Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức là Giáo Tông vô vi.

Xem như ba vị Giáo-Tông đứng vào ba đỉnh của Tam giác nội tiếp trong vòng tròn giữa, là hình ảnh của KHÍ mà ba ly rượu trên Thiên bàn (6-7-8) làm biểu tượng.

Vậy:

- Đức Lý tượng cho Thần (số 8).

- Đức Quyền Giáo Tông tượng cho Khí (số 7)

- Ngài Ngô văn Chiêu tượng cho Tinh (Ngài tượng cho số 6 như nói trên, tức là còn chịu ảnh hưởng của Lục dục, do đó Ngài không thắng nỗi Tà quái khảo. Sau Ngài lập phái Chiếu Minh và khi Ngài qui thì liệm xác hài trong tháp hình Lục giác) (số 6)

Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên nhập bửu tháp hình Bát giác. Tuy số 7 tượng Thất tình nhưng Ngài đã biến nó thành Thất bửu, tức là thăng hoa vào hàng Tiên vị.

Số 8 là thuần thành, là đạt LÝ vậy (Lý Đại Tiên)

"Một mà ba, tuy ba mà một" là vậy.

3- Hành tàng của các Giáo-Tông:

Pháp chánh Truyền dạy: "Giáo Tông chỉ có một" nhưng thực tế thì có đến ba Giáo Tông:

3-1/- Ông Ngô Văn Chiêu: Đức Hộ-Pháp xác nhận:

"Đi thâu Thập-Nhị Thời-quân rồi, Đức Chí Tôn mới mở Đạo. Chừng đó Ngài mới chỉ cho chúng tôi biết rằng có một người thờ Ngài là ông Ngô-văn-Chiêu, tức nhiên Đức Chí-Tôn muốn thâu Ông làm Giáo-Tông đầu tiên đó. Có một điều lạ-lùng suy-nghĩ không ra nguyên-cớ là Đức Chí-Tôn biểu Bà Nữ Chánh Phối-Sư Hương-Hiếu may sắc-phục Giáo-Tông cho Người, kỳ hạn trong mười ngày Người sẽ được lên làm Giáo Tông. Trong thời-gian mười ngày, chỉ có mười ngày mà thôi! Chúng tôi không hiểu nguyên-cớ nào Ông Ngô Văn Chiêu không hưởng được điạ vị ấy. Ông Ngô-Văn Chiêu là một vị Phủ, Đốc Phủ-sứ buổi nọ, ở tại Hà-Tiên, do nơi Cơ bút, Đức Chí Tôn đến với Ngài và thâu Ngài làm Môn-Đệ đầu tiên hết, là Người được Đức Chí Tôn xưng là "CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT".

Đàn Ngày 25-6-Bính Dần (dl: 3-8-1926) có giải rõ:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
Giáo Đạo Nam Phương

"Chư môn đệ nghe dạy:

Vốn từ trước trong Thiên thơ Tam Kỳ Phổ Độ nầy, nền Chánh giáo phải có: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên đồ đệ, Chưởng quản thâu Tam giáo hiệp nhứt.

CHIÊU, thiệt là Nhứt Phật đó. Vậy, trước ngày định lập Thiên phong đặng tôn chức Giáo Tông cho nó, thì Chúa Quỉ sai Tam thập lục động địa giái kêu nài với Ta rằng: Cựu phẩm nó chẳng xứng ngôi ấy và kiện rằng Nó chẳng nhứt tâm thờ phượng TA. Ta có cãi lẽ, Quan Thánh Đế và Quan Âm giúp lời, Ta nhứt định phong chức Giáo Tông cho nó. Chúa Quỉ xin lịnh Ta mà khảo nó và phải để cho Tam thập lục động hành xác nó. Ta không nỡ nên cho khảo mà không cho hành xác.

Rủi thay! Đau đớn thay! Buổi khảo nó phải bị Tà quái áp chế nên phải mất ngôi, song Ta cũng còn thương yêu chẳng nỡ, nhưng mà có mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thì khó bề bào chữa đặng.

Đại lụy! Ta phải dùng quyền Chí Tôn mà tha thứ, song buộc nó phải Tịnh thất.

Ta vừa muốn tha nó, lại bị Tam thập lục động khảo nữa thì mới liệu sao? Ta phải giáng cơ biểu nó.

Con Thơ! con phải tuân nơi lịnh Thầy đã dạy khi Thầy giáng cơ mà thôi, còn mọi sự khác thì đừng nghe. Kẻ bị tù còn có thế rỗi ai chăng?

Chư Môn đệ khá nghe lịnh dạy, từ đây, ai còn phạm đến thì Thầy buộc trục xuất cho khỏi rối loạn nền Đạo của Thầy." Thầy thăng. (Trích trong tập Thánh Ngôn chép tay của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh, trang 237)

Ngày 9-1 Bính-Dần (dl 21-2-1926)

Đức Chí-Tôn giáng Cơ ban cho Ông Chiêu bài thơ:

Bao năm dạy-dỗ quá dày công (1).
Lời hứa năm xưa gắng giữ lòng.
Siêu đọa đôi đường tua chọn lấy.
Lơi chơn một bước sẽ hoàn không!

(Cao Đài)

(1) có bản chép "Ba năm" thì hợp với thời gian trường trai mà Thầy đến dạy dỗ ông.

3-2/- Đức Lý Giáo Tông ban "Quyền Giáo Tông" cho Ngài Thượng Trung Nhựt

Theo Đạo Nghị Định thứ hai. Điều thứ nhứt:

"Ban quyền hành cho Thượng Đầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Giáo-Tông về phần xác, còn phần Thiêng Liêng có Lão.

Làm tại Toà Thánh Tây Ninh, ngày mồng 3 tháng 10 năm Canh Ngọ. Ký tên Hộ-Pháp Phạm Công Tắc và Giáo Tông Lý Thái Bạch".

Đức Hộ Pháp xác nhận:

"Từ khi Đức Chí-Tôn đến độ Đức Quyền Giáo Tông rồi mới xuất-hiện Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài đó vậy. Sự vinh-dự này chính Đức Quyền Giáo-Tông đã được hưởng một cách xứng đáng. Bởi vì chính mình Đức Chí-Tôn đến thâu Ngài, biểu Ngài lập thành Hội-Thánh. Ngài đi đến đâu Hộ-Pháp cùng Đức Cao Thượng-Phẩm theo phò-loan để Đức Chí-Tôn thâu Môn-đệ, thâu được bao nhiêu thì giao cho Đức Quyền Giáo-Tông Thượng-Trung-Nhựt giáo hóa, chính do nơi Ngài cầu-khẩn Đức Chí-Tôn thâu Môn đệ, Ngài luôn luôn đi các nơi để Phổ-độ chúng-sanh, nhứt là trước ngày mở Đạo, Đức Chí-Tôn sai hết các Chức-sắc Hiệp-Thiên-Đài tức Thập-Nhị Thời Quân đi phò-loan cùng hết, không có chỗ nào không có Cơ Bút. Người thì xuống miền Tây, người đi miền Trung, đi cùng hết.

Thâu Môn-đệ xong, Thầy dạy chúng tôi về Tây Ninh mở Đạo. Với hai bàn tay trắng không có một miếng đất cắm dùi làm sao mở Đạo!"

Khi Đức quyền Giáo-tông qui Tiên, Ngài ngậm ngùi:

- "Vì sao Ðức Thượng-Ðế không chọn người nào khác, lại đem mối Ðạo lớn lao mà trao lại cho Người lúc ban sơ? Mà những người có công tu luyện theo Ðạo này, Ðạo khác cũng chẳng hiếm gì, mà sao Ðấng Chí-Tôn không dùng ai trước? Có ai dám nói Ðấng Chí-Tôn dùng lầm! Vậy thì, Tôn-chỉ của Ðại-Ðạo đã biểu lộ ra rõ-ràng, bí quyết đoạt Ðạo chẳng phải do một mặt yểm thế để tịnh dưỡng tinh thần, mà lại phải lịch-lãm nhơn sự và phải siêu quần xuất chúng, rồi lấy đạo đức mà cứu vớt nhơn quần. xã hội, phải tùy sở nhu của chúng sanh mà lập phương phổ hóa, thì cái công tu luyện kia mới bổ ích cho. Vì vậy mà Anh Cả chúng tôi mới đắc dụng trong Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ.

Anh Cả chúng tôi là người gồm có nhiều điều kiện hạp với tân thời, mà cũng không nghịch với phong hóa cũ. Vậy nên, Ðấng Chí-Tôn mới dùng Người để làm mô phạm cho anh em Ðạo Hữu và cho Đời thấy rõ một phần chơn lý trong Tôn chỉ Ðại-Ðạo. Theo thời đại khoa học đương nỗ lực phát dương này, nếu đem cái thuyết Duy tâm cực đoan mà phổ hóa chúng sanh không khỏi bĩ-lậu, còn nếu chuyên một mặt Duy vật mà tiến hành thì xã hội phải có ngày tiêu diệt về nạn cạnh tranh phấn đấu. Vậy phải chiết trung hai thuyết mà dung hòa thì đời mới đặng vừa tấn hóa theo văn minh khoa học, vừa duy trì đặng tâm hồn đạo đức. Nhờ hiểu ý nghĩa cao thâm như vậy mà Anh Cả chúng tôi không vì hoàn cảnh mà phải quá ư thiên lệch về một mặt nào.

Chúng tôi còn nhớ lời tuyên bố rất thành thật của Anh Cả chúng tôi như vầy: "Ngày nào nhơn sanh còn khốn khổ, thì chưa phải ngày Anh tọa hưởng an nhàn. Dầu Anh đắc quả mà qui Tiên đặng sớm, Anh cũng nguyện tái kiếp để độ tận chúng sanh".

3-3/- Thầy giao Đức Lý Thái Bạch kiêm nhiệm Giáo Tông Đại-Đạo:

Từ khi Thầy định ban chức Giáo Tông cho Ngài Ngô Văn Chiêu, thì Quỉ Vương xin thử thách ông Chiêu. Ông Chiêu không vượt qua nỗi các thử thách này nên đành chịu mất ngôi Giáo Tông. Kể từ đó ngôi Giáo Tông để trống. Nay cần phải có phẩm vị Giáo Tông để điều hành nền Đạo nên Đức Chí Tôn giao quyền cho Đức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để điều khiển nền Đạo này. Do Thánh ngôn sau đây:

Ðại Ðàn Chợ Lớn [tại Nhà Ngài Lê văn Trung]
Ngày 23-9-Bính Dần (dl: 29-10-1926)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
Giáo Đạo Nam phương

Hỉ chư Môn đệ, chư Nhu, chư Ái nữ. Các con nghe:

"Thầy buộc phải nói rõ cho các con đừng lầm mà trách Thầy. Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ. Thầy đã đến mà dìu dắt từ đứa thì lẽ nào lại đành lòng xô đuổi. Thầy thấy các con bị phép thử thất Ba Trấn lập thành thì đã hiểu nhiều đứa bị hành. Thầy ngậm đau nuốt thảm ngồi nhìn. Thầy chẳng để thử thất, Ba Trấn trách Thầy vì yêu mến quá lẽ mà làm mất hết công bình, nhứt là Lý Thái Bạch kêu nài hơn hết.

Dầu Quan Âm và Quan Thánh xin cũng chẳng đặng. Nhứt là buổi thử thất ấy, lại nhằm ngày khai Thánh Thất thì các con đủ hiểu là hại dường nào, song phải dằn lòng chịu vậy. Các con ngã thì tại nơi Thầy. Nếu Thầy biết các con nhẹ tính thì thế nào cũng chẳng chịu. Lại để lời tiên tri mà dặn trước, nào dè Thánh Ngôn các con không đọc, lời Thầy nói cũng như không, mới ra tội lỗi các con phạm thượng thế ấy.

Vậy từ đây, quyền thưởng phạt đã giao vào tay Lý Thái Bạch. Các con liệu mình mà cầu rỗi nơi Người. Thầy dạy dỗ, các con không nghe, đợi có hình phạt thì các con chịu lấy.

(Ð.Q... thượng sớ). Cười.!...

Ð.Q: Cả môn đệ Thầy duy có biết một chớ không biết hai. Kẻ nào cưu tâm chia phe phân phái là đứa thù nghịch của Thầy. Con hiểu à!

Tái cầu:

LÝ THÁI BẠCH

Hỉ chư Đạo hữu. Thiên phong bình thân.

Từ đây Thầy đã giao quyền thưởng phạt về nơi tay Bần Đạo. Vậy các Đạo hữu khá hết lòng lo lắng vun đắp nền Đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.

Mở một mối Đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối Đạo cũng chẳng phải dễ. Muốn lập thành tất phải có điều nghiêm chánh thưởng phạt. Có thưởng mới giục lòng kẻ có công, có phạt mới răn đặng lòng tà vạy. Thưởng phạt tuy chẳng phải hữu hình, nhưng là một sự mừng vui, chưa có bậc cao thượng ở thế nào bằng và một sự buồn bã nào sánh đặng. Dầu có ăn năn hối hận mấy kiếp, ngày giờ cũng đã qua rồi. Ngôi Cực Lạc vẫn có người choán hết. Phần nhiều các Đạo hữu dày công mà xây đắp nền Đạo, nhưng sự ham muốn còn bôn chôn theo tình thế. Công đã nhiều mà bước tới nữa, dường như ngán bước, gặp sự gay go đã mỏn lòng. Than thay! Tiếc thay!

Ðặng bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới dìu dắt, rửa lỗi, mà chẳng bươn chải cho kịp thì, để đua nhau nghĩ tính về miếng đỉnh chung, nếu Thầy chẳng Đại từ Đại bi thì công quả đã chảy theo dòng nước. Từ đây Bần Đạo phải để ý dìu dắt bước đường cho các Đạo Hữu, phải gắng công thêm nữa cho hiệp với cơ Trời. Ai hữu phước thì địa vị đặng cao thêm, ai vô phần thì bị đọa Tam pháp. Phước phần cũng khó lựa người, rủi rủi may may đừng trách nơi Bần Đạo.

Bần Đạo xin chào các Đạo hữu. Bần Đạo kiếu".

Xem thế:

Từ nay: ngày 29-10-1926, Ðức Chí Tôn giao quyền thưởng phạt Chức sắc cho Ðức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Phép thử thất Ba Trấn lập thành, tức là Cách thử thất do Tam Trấn Oai Nghiêm lập ra để chọn lọc Chức sắc làm cho giá trị thêm cao. Thử thất là bày ra cuộc thi khả năng đạo đức, thử xem ai chịu nỗi thì đậu, ai không chịu nỗi thì rớt..Ba Trấn là Tam Trấn gồm: Lý Thái Bạch, Quan Âm Bồ Tát, Quan Thánh Ðế Quân.

Ð.Q. là Ngài Trần Ðạo Quang, Quyền Thượng Chưởng Pháp. Sau rồi Ngài cũng bỏ Đạo lập Chi Phái.

Ðọa Tam Pháp là nếu "tội phạm Thiên điều" thì bị đọa Tam đồ bất năng thoát tục. Nếu phạm các tội nặng khác như thập ác, ngũ nghịch thì bị đọa vào ba đường khổ trong Lục đạo luân hồi. Ba đường khổ nầy theo Phật giáo là: Ðịa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.

Nhân sanh niệm danh Ngài là:"Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ".

Như vậy Giáo Tông có 3 người tức nhiên hiệp đủ TINH- KHÍ-THẦN rồi.

- Ông Ngô Văn Chiêu là TINH
- Ông Lê Văn Trung thuộc về KHÍ
- Đức Lý thuộc về THẦN

"Ba mà một, một mà ba là vậy".

3-4/- Đức Quyền Giáo-Tông thi-hành Thể-pháp Đại-Đạo

Nơi Cửu-Trùng-Đài "Thầy định-quyết cho Người (Giáo-Tông) có quyền dạy-dỗ mà thôi, song quyền-hành có rộng thêm đôi chút là dạy-dỗ trọn cả đường Đạo và đường Đời. Nghĩ cũng chẳng chi làm lạ, vì cả Chức-sắc Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài của Thầy lập, phải tùy theo tôn chỉ Đạo, nghĩa là xu-hướng về phần giáo-dục mà thôi. Thầy đã xưng là Thầy đặng dạy-dỗ, còn tên của Chức-sắc đủ chỉ rõ-ràng phận-sự giáo-hóa, là chánh vai của mỗi người, như Giáo Hữu, Giáo-Sư, Phối-Sư, Đầu sư, Giáo Tông… Xem rõ lại thì tên mỗi vị chẳng mất chữ "Giáo" hay chữ "Sư". Cơ Đạo từ cổ chí kim vẫn vậy, lại hiệp lời này "Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị Đạo, tu Đạo chi vị giáo". Thầy chỉ cậy Hội Thánh Thầy đã đến lập, thay quyền cho Thầy mà dạy-dỗ cả con cái của Thầy, nghĩa là chúng sanh đặng lành, ấy là phận-sự cần nhứt của Hội-Thánh đó" (Pháp Chánh Truyền)

Thế nên, trong buổi Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này:

Đức Quyền Giáo-Tông có bổn-phận "Cầm mối Thiên-Thơ lo cứu chúng".

Quyển Thiên-Thơ Ngài đã nắm trọn vào tay.

Vạn sự khởi đầu nan là thế! Nhưng sự kiên-nhẫn đã giúp các Ngài thành công là thế! Sau cùng, Ngài đã lập vị một cách vẻ-vang, một cách xứng đáng, tám năm tròn, không dư không thiếu một ngày. Phải chăng Ngài đã thực hiện trọn hai Bát-Quái vào tay mà dìu-dắt nhơn-sanh trên con đường hành-thiện?

Hằng năm toàn Đạo đều ghi nhớ ngày 13-10 âm lịch là ngày qui Thiên của Đức Ngài. Nếu tính:

Từ ngày 14-10 Bính-Dần dl 19-11-1.926 là ngày nhập vào Đại-Đạo Tam-Kỳ này, Ngài hành Đạo suốt đến:

Ngày qui 13-10 Giáp-Tuất dl 19-11-1.934

Tính ra là tám năm tròn không dư không thiếu một ngày.

Đức Hộ-Pháp thường nhắc-nhớ đến:

"Cái ngôi của Ngài đã tạo dựng, cái ngôi Giáo Tông-Đường của Ngài ngồi trên ấy, đầu tiên hết cái ngôi ấy nó sẽ để nơi đất nước Việt-Nam này một cái báu-vật quí-giá vô cùng. Từ thử tới giờ chưa hề có. Bần-Đạo ngó qua Vatican, cái Ngai của Đức Giáo-Hoàng Saint Pierre thế nào, thì nay Bần-Đạo có lẽ nói và có thể mơ-ước rằng cái ngôi của Thượng-Trung-Nhựt lưu lại nơi thế này nó sẽ trở nên thế ấy."

 
   

Về Đạo phục thì "Nơi mão Ðại phục của Ðức Giáo Tông thì lại có ba Cổ Pháp khác nữa, nghĩa là:

- Long Tu Phiến. - Thư Hùng Kiếm - Phất Chủ.

Ấy là Cổ Pháp của Thượng Phẩm cùng Thượng Sanh.

Mỗi Chưởng Pháp phải có ấn riêng:

Ba ấn phải có trên mỗi luật mới đặng thi hành".

- Thái Chưởng Pháp thì bình Bát Vu,

- Thượng Chưởng Pháp thì cây Phất Chủ,

- Ngọc Chưởng Pháp thì bộ Xuân Thu.

Hiệp một gọi là Cổ Pháp. Ba cái Cổ Pháp ấy vốn của Hộ Pháp hằng kỉnh trọng. Nơi mão Tiểu phục của Người phải có ba Cổ Pháp ấy.

Thầy dạy: "Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Ðài".Phải nói rằng sự tuyệt diệu về chánh trị của Đạo theo Tân Luật và Pháp Chánh Truyền quá cao siêu. Âm Dương luôn hòa quyện vào nhau như mắc lưới, ấy Lưới Trời: Pháp luật Thiên điều không còn một kẽ hở!

Tóm lại: Ðây là lời Thánh giáo của Thầy đã dạy Hộ Pháp khi Người hỏi Thầy về quyền của Giáo Tông.

Hộ Pháp hỏi:

"Thưa Thầy theo như luật lệ Thánh Giáo Gia Tô Thầy truyền tại thế, thì Thầy cho Giáo Tông trọn quyền về phần hồn và phần xác; Người nhờ nương quyền hành cao trọng đó, Ðạo Thánh mới có thế lực hữu hình như vậy. Ðến ngày nay, Thầy giảm quyền Giáo Tông của mấy con về phần hồn đi, thì con sợ e cho Người không đủ quyền lực mà độ rỗi chúng sanh chăng?"

Thầy đáp: "Cười! Ấy là một điều lầm lạc của Thầy, vì nặng mang phàm thể mà ra. Thầy cho một người phàm đồng quyền cùng Thầy về phần hồn thì nó lên ngai Thầy mà ngồi, lại nắm quyền hành CHÍ TÔN ấy, đặng buộc nhơn sanh phải chịu lòn cúi trong vòng tôi tớ của xác thịt hơn nữa. Cái quyền hành quí hóa ấy, Thầy tưởng vì thương mà cho các con, nào dè nó là một cây gươm hai lưỡi để giục loạn cho các con.

Nay Thầy đến chẳng phải lấy nó lại, mà Thầy chỉ đến làm cho tiêu diệt cái hại của nó; nếu muốn trừ cái hại ấy thì chẳng chi hay hơn là chia đôi nó ra, không cho một người nhứt thống.

Kẻ nào đã nắm trọn phần hữu hình và phần Thiêng Liêng, thì là độc chiếm quyền chánh trị và luật lệ, mà hễ độc chiếm quyền chánh trị và luật lệ vào tay, thì nhơn sanh chẳng phương nào thoát khỏi vòng áp chế.

4- Người Nữ rất nhiều quyền lợi: là Chức sắc cũng như sự bình quyền, bình đẳng trong cửa Đạo

*Là Chức sắc: Nữ phái không chia phái và có Đạo phục màu trắng. Quyền hành Nữ Chức sắc Cửu Trùng-Đài cũng y như Nam Phái, song chỉ trông coi phái Nữ mà thôi. Chức Sắc Nữ Phái khởi từ phẩm Đầu Sư trở xuống Lễ Sanh, quyền hành y như Nam. Nhưng tất cả tùng lịnh của Giáo Tông và Hộ-Pháp. Về Nữ chức sắc thì số lượng vô hạn định. Riêng về Nữ Đầu sư (1 vị) Nữ chánh Phối sư (1vị).

Đây là một trường hợp hi hữu từ xưa đến giờ là Nữ phái được tham dự vào việc tu hành: bình đẳng, bình quyền với Nam phái. Nhưng khi hành sự thì Nam chánh, Nữ phó, trong một trật tự nghiêm trang. Chính đây là thể hiện "Cơ Đại Ân Xá của Chí-Tôn" mà Thầy đã cho biết:

"Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ Nam và Nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Có các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền thế hơn Nam nhiều."

Hỏi: Vì sao từ xưa Nữ phái không được tu hành, không được học hỏi có trí thức, không được tiếp xúc với bên ngoài, thậm chí muốn tu phải cải Nam trang, vậy thì làm sao có được "các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền thế hơn Nam nhiều"?

- Ấy là nhờ huấn ngôn của Mẹ đã truyền dạy từ lúc còn thơ: Nữ công, nữ hạnh, tức là Tứ đức Tam tùng; ngay từ bé người con gái đã được rèn luyện trong cái khuôn sáo Nho phong đẹp đẽ ấy, dù không tu mà đã thực sự tu sửa tánh tình, tu tâm dưỡng tánh. Ra lễ vào phép đoan trang. Cái nền luân lý tốt đẹp ấy theo suốt cuộc đời người con gái, cho đến khi làm vợ, làm mẹ, làm dâu thì đã quá thuần thục rồi. Tức nhiên người Nữ đã tu Nhơn đạo một cách rất mực, chính chắn, đoan trang Vậy khi thoát xác lìa đời thì gần ngôi Tiên phẩm Phật, ấy là xem như đã bước qua tu Thiên Đạo rồi vậy. Đúng với câu: "Dục tu Thiên đạo, tiên tu Nhơn đạo. Nhơn đạo bất tu Thiên đạo viễn hỉ!"

Hiện nay: các bậc phẩm của Nữ phái bao gồm: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư (không có phẩm Chưởng Pháp và Giáo Tông).

"Xem rõ lại thì Pháp Chánh Truyền truất quyền Nữ Phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông.

Hộ Pháp để lời phân phiền cùng Thầy như vầy:

- "Thưa Thầy, Thầy đã nói con cũng đồng con, Nam Nữ vốn như nhau mà Thầy truất quyền của Nữ Phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông, thì con e mất lẽ công bình chăng?

Thầy dạy: Thiên Ðịa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn Khôn Thế Giái nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy lừng, ấy là ngày Càn Khôn Thế Giái phải chịu trong hắc ám, mà bị tiêu diệt. Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ Phái cầm quyền Giáo Tông làm chủ nền Ðạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Ðạo ắt bị tiêu tàn ám muội.

Hộ Pháp lại kêu nài nữa rằng: Thầy truất quyền Giáo Tông Nữ Phái thì đã đành, song quyền Chưởng Pháp thì tưởng dầu ban cho cũng chẳng hại.

Thầy dạy: "Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Ðài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa vị Giáo Tông, thì lẽ nào cho ngồi địa vị Hộ Pháp con! Bởi chịu phận rủi sanh, nên cam phận thiệt thòi, lẽ Thiên Cơ đã định, Thầy chỉ cậy con để dạ thương yêu binh vực thay Thầy kẻo tội nghiệp!"

*Vinh diệu của người đàn bà:

Tuy nhiên người Nữ-phái nếu biết làm trách nhiệm của mình cho xứng phận là dạy dỗ con cái cho nên người, thì sau này con nên danh phận, khi về Thiêng liêng thì hình ảnh của Mẹ sẽ là hình ảnh của Đức Phật Mẫu đó. Đức Hộ-Pháp nói về "Huyền-bí vô biên của Phật-Mẫu":

"Bần-Đạo nói sơ lược huyền-năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Ngài, ta ngó trên mặt Ngài ta thấy mặt Bà Mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về, Bần-Đạo tưởng ngó thấy Bà Mẹ sanh Bần Đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy người Mẹ của họ vậy. Nếu lấy theo cái trí học tưởng-tượng không biết con mắt Thiêng-Liêng có chiếu hình Mẹ ta chiếu diệu ra không? Hay là huyền-diệu vô biên của Phật-Mẫu cho chúng ta thấy như vậy. Bà Mẹ hình hài chúng ta đây, là nhơn-viên của Đức Phật-Mẫu bên phái Nữ đó.

Phái Nữ rán để tâm nghe điều ấy, là nhân-viên mật thiết của Đức Phật-Mẫu, trước khi đã để tại thế-gian này một hình-hài vào lòng mình sản-xuất, tức nhiên là Phật Mẫu đã giao quyền năng Tạo Đoan trong tay mình đó vậy. Chẳng cần nói cái vinh-diệu của người đàn bà khi người con ấy nên người, biết dục tấn trên con đường Thiêng Liêng Hằng-Sống. Mình về tại Cung Diêu-Trì dòm lên thấy tượng ảnh của mình, không vinh-diệu nào bằng, cái vinh-diệu ấy, có điều trọng hệ là dầu Nam, Nữ cũng vậy rán giữ một điều này: coi chừng đừng thất hiếu với cha mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh của Đức Phật-Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền-hậu vô cùng, hạnh-phúc mình được hưởng đó, còn trái ngược lụng lại nếu ta thất hiếu, ta dòm vào hình ảnh của Phật-Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó"

*Đạo vợ chồng: tương kính như tân

Một điều tuyệt diệu là chỉ Đạo Cao Đài ngày nay mới có là: Thầy đã cho Nam Nữ bình quyền, không cần đòi hỏi, xuống đường biểu tình hay hô hào chi cả. Luật của Đạo Cao-Đài là vợ chồng phải biết tôn trọng nhau: "tương kính như tân" tức nhiên là xem nhau như khách.

Đức Hộ Pháp nhắc nhở qua Con đường Hằng Sống:

"Đạo vợ chồng ở trên thế gian này chúng ta nên cẩn thận để ngày kia về đến Bát-Quái-Đài khỏi thất lỗi với vợ, nếu người vợ đối tròn bổn-phận với mình thì họ được hóa Nam, chừng ấy là người bạn mật thiết với chúng ta; thoảng như chúng ta làm sai với Bạn chúng ta, thì ngày kia Bạn ta trách ta rằng: Tôi xuống trần chung sống với Bạn, những cảnh khổ Bạn không dìu dắt tôi, Bạn còn hân hủi tôi nữa, câu trách ấy ta phải chịu không thể gì trả lời được. Vì cớ cho nên Phật-Giáo cho Nữ đồng quyền Nam, Bần-Đạo nói quả quyết rằng: Chừng nào chúng ta thấy nơi mặt thế này đoàn em Nữ phái mình biết sợ, kiêng nể Pháp Luật thì nó cũng như Nam vậy. Nếu bạc đãi nó, hủy bỏ nó không dìu-dắt đồng sống nhau, ngày giờ đến Bát Quái-Đài nó hóa Nam dòm lại nó là người Bạn quí nhứt của mình, cũng chịu đau khổ trọn kiếp sanh, chúng ta tưởng lấy làm đau đớn không giúp được, trái lại còn khi rẻ gớm ghiết. Chúng ta đến sẽ thấy chỗ đó không còn Nam Nữ nữa. Hư-Linh kia quả quyết rằng: Có nhiều bạn Nam ta quen biết, đầu kiếp Nữ tại thế-gian này, không biết là bao nhiêu, nhiều lắm."

*Đặc biệt là tự vận thác vì tình, là một đại tội:

"Là những người trước kia đã có tình thương yêu với nhau mà những khi có sự trắc trở nhơn tình nên họ bị quả kiếp mà họ phải tự sát lấy họ. Người đàn bà nào tự vận hay người đàn ông nào tự sát, rồi người nào có thiệt lòng thương yêu chơn thật ấy, trước đã xuống Uổng-Tử Thành để đầu kiếp mà trở lại căn quả, vì không trọn căn số của mình còn niên kỷ bao nhiêu cũng phải trở lại đầu kiếp. Vừa đến tuổi cập kê Nam Nữ đôi bên vừa có tình-dục đã phát động ra thì là chết, làm cho chết, dầu hai đàng đứng trước mặt nhau cũng không khi nào làm chồng vợ với nhau đặng. Chừng ấy người trọn lòng thương yêu chơn thật thì Đức Phật-Mẫu siêu độ cầu rỗi với Đức Chí Tôn đem vào cảnh Thiêng-Liêng Hằng Sống, còn người nào không biết tình thương, thương bằng tình giả dối xảo trá phải đầu kiếp trao lại từ người."

*Tam Cang Ngũ thường- Tam Tùng Tứ đức trong nguơn hội Cao-Đài có nên giữ lại không? Nếu giữ lại có bị xem là hủ lậu không? Tại sao?

Đây là tất cả giềng mối nhân-luân đạo trọng của dân-tộc Á-Đông luôn có nền-nếp văn minh tinh-thần bất khuất, dù ngày nay lượn sóng văn-minh vật-chất có lôi cuốn nhân-lọai vào cơn xáo-trộn kinh-hòang! Chắc-chắn những cái gì hay đẹp truyền thống không bao giờ mất được. Chính Đức Chí-Tôn đến để lập lại cán cân công bình ấy để được sống lại thuần-phong mỹ tục cho Việt-Nam làm khởi điểm mà cũng làm gương cho cả nhân loại; tức là làm người thật xứng đáng với đạo làm người!

Đức Chí-Tôn đã quyết-định cho:

"Quốc Đạo kim triêu thành Đại-Đạo.
"Nam-phong thử nhựt biến Nhơn-phong."

Vì lẽ đó nên Đức Hộ-Pháp quả-quyết:

"Tân-luật Đức Chí-Tôn cốt-yếu muốn cho ta làm, đặng ta bảo vệ Tam cang Ngũ thường của nhân lọai. Nói về phương Đông này dầu cho luận tới các quốc-gia, xã-hội đến đâu đi nữa, họ tự trọng, họ văn-minh thế nào họ chưa ra khỏi đường lối ấy, niêm-luật ấy bao giờ. Nếu họ ra khỏi là muốn tự bỏ cả xã-hội của họ, thì họ sẽ thành cái gì chớ không thành xã-hội!"

"Trong Tân-luật ấy Đức Chí-Tôn định cho Ngũ giới-cấm, Tứ đại điều-qui và trong ấy cốt-yếu bảo-vệ Tam cang Ngũ thường cho tòan thể con cái của Ngài. Thật ra cái Thiên luật của Ngài mà Ngài đã để trong tâm não con cái của Ngài".

Thánh-ngôn: Đàn tại An-hóa, ngày 19-12 Bính-Dần (dl: 22-1-1927). Thầy dạy:

"Chư Ái-Nữ. Thầy vì Tam-Kỳ Phổ-Ðộ chẳng phân cao thấp, sang hèn, Thầy chỉ khuyên một điều là Ðạo hạnh các con phải giữ hàng ngày cho nhằm phương pháp Nhơn đạo, tức là Tứ-Ðức đó vậy, các con hiểu à! Nền nhơn luân của con nhà Nam-Việt chẳng lầm, mà tại các con hay nhiễm thường tình mà hư hoại, nên chi Thầy phải nhắc lại cho các con đừng lầm nữa, nghe các con!

Nam phái vào. Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con có biết vì tại sao chăng? Như kẻ làm quan ỷ quyền ức hiếp dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao chăng?... Tại vô Ðạo..."

Đàn cơ tại Phước-Long-Tự, 1 Mars 1927

Thầy có dạy như vầy: "Chúng nó lại tưởng rằng kiếp người là kiếp sống chỉ có giây giờ rồi tiêu mất, nên tìm những chước sâu kế độc cho đặng của nhiều, no lòng sướng dạ, trối kệ luân hồi. Thầy hỏi: Vậy chớ cái trí khôn của con người biết thương ghét, vui buồn mà toàn nhơn loại đều có, khi rốt cuộc thì trí khôn ấy đi đâu? Không lẽ cái trí khôn ngoan dường ấy mà cũng mất đi đặng sao các con? Thầy hỏi như vậy đặng cho các con mỗi đứa về suy nghĩ mà trả lời cho mình. Hễ trả lời phù hạp thì dễ biết Ðạo, còn ngu xuẩn thì cũng huờn ngu xuẩn...

Thầy dạy Nữ-Phái biết trọng Tam Tùng, Tứ Ðức, Nam-Phái Tam-Cang Ngũ-Thường. Hễ Nhơn-đạo thành thì phù hạp Thiên-đạo, nghe!"

Những lời giảng dạy trên chắc chắn rằng đã có những kết quả thỏa đáng mà từ xưa đến giờ cái qui luật này khiến nhân sanh hoang mang. Nhất là phía Nữ phái rất ngán, nếu chưa nói là "chán ghét". Phải thật lòng mà nói không chán ghét sao được, vì Nữ phái chịu một áp lực quá khắt khe, đến độ bị hành hạ, áp bức quá đỗi, gần như biến thành nô lệ, bị lợi dụng đủ điều– đây chỉ nói chung chung- chứ cũng còn một số ngoại lệ, là tốt đẹp, hạnh phúc.

Chính Đạo Nho đã có câu: "Nhất Âm, nhất Dương chi vị Đạo" tức là dù triết lý nhân sinh hay vũ trụ cũng vậy: chỉ một Âm, một Dương mà cấu tạo thành, mới đúng nghĩa của Đạo.

Hãy xem: Mặt trời (chữ nhật 日) chỉ có một, mặt trăng (chữ nguyệt 月) chỉ có một, kết hợp hai ánh sáng này lại thành ra chữ Minh 明 Nghĩa lý rõ rệt như vậy, mà các nhà làm Luật ngày xưa chỉ độc quyền là Nam, cho nên các ông muốn bảo thủ, muốn lợi cho riêng mình mà sẵn sàng đàn áp Nữ phái. Hỏi những thành kiến này do ai bày ra, mà chính đó là những luật tồn tại đến bao ngàn năm rồi? "Nhứt nam viết hữu thập nữ viết vô" (một trai cũng xem là có, mười gái cũng kể như không) hoặc "Nữ sanh ngoại tộc" (ca dao đã thành hình: Con gái là con người ta. Con dâu mới thật mẹ cha mua về). Hơn thế nữa câu "Trai năm thê bảy thiếp. Gái chính chuyên một chồng". Thật là bọn hủ nho đã bôi lọ cái nền văn hóa Nho phong tốt đẹp, cái nền văn minh tinh thần cao đẹp mà chính các bậc Tiền Thánh tiền Hiền đã dày công xây dựng, giờ đây chỉ vì "Sự đam mê" mà bôi xóa đi những gì tốt đẹp để di hận đến ngày nay. Hậu quả là Nữ giới chịu dốt nát, bị lợi dụng, thậm chí bán nô lệ, nạn mãi dâm…Hỡi những người kém đạo đức, chính các người đã gây nên những lý do làm lệch lạc đi cái khuôn luật tốt lành này, chính các người đã bẻ méo vo tròn cái Thiên luật ngàn đời của Đức Chí-Tôn. Ngày nay chính ĐẤNG ấy đã đến ban cho đầy đủ tất cả, Ngài đã cầm vững cán Cân Công bình Tạo hóa.

Khởi điểm là Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung thực hiện trước nhất, trong chương trình mở trường Nữ học mà nhà báo Diệp văn Kỳ viết:

"Tôi muốn nói về việc lập Nữ Học Ðường: Ðương giữa buổi mà sự giáo dục của con trai, đàn ông, hãy còn phôi thai, cậu nào đậu được bằng cấp Thành chung là đã tự Thánh, tự Thần, xách đi cùng Lục tỉnh đặng kiếm vợ giàu; đương giữa buổi mà những anh chàng du học đem về được cái bằng cấp Tú Tài, thì đã hô lớn lên một cách rất vinh diệu, tự đắc rằng mình quên hết tiếng An Nam; đương giữa buổi mà khắp cả cha mẹ trong nước đều công nhận rằng: Cho con gái có nhiều ít học thức là một mối hại lớn cho gia đình, cho xã hội; đương giữa buổi như thế mà đứng ra đề xướng Nữ học, xin lập trường Nữ học để dạy bên gái bằng như bên trai, có phải là một việc quá bạo gan chăng? Những người đề xướng có phải là những bực tiên kiến chăng?

Bạo gan thật, tiên kiến thật, vì Chánh phủ lúc bấy giờ, như tuồng cũng cho việc ấy là một việc chưa hợp thời, lại trái với phong tục cũ kỹ của An-Nam, nên chi tuy là không ngăn cấm, song cũng chẳng chịu xuất công nho ra làm chi phí, mà chỉ để cho những người xướng xuất mở cuộc lạc quyên, góp của công chúng, cất lên được mấy tòa nhà đồ sộ mà chúng ta còn thấy ở đường Le Grand de la Liraye; tòa nhà ấy đã đào tạo ra biết bao nhiêu nhơn tài trong Nữ giới. Vậy mà nếu ai chịu khó lật cuốn sổ lạc quyên năm nọ ra xem, thì sẽ thấy ở dưới mấy lời tuyên bố có tên của ông Lê Văn Trung là người khởi xướng đứng kế phương danh Bà cụ Tổng-Ðốc Ðỗ-Hữu. Trong một cái phạm vi chánh trị eo hẹp, dưới chế độ chẳng phải khinh thường mà đã làm được những việc tôi vừa nhắc lại trên đây, thời tuy nó chưa phải là những sự nghiệp của anh hùng, vĩ nhơn, song thế cũng đủ gọi rằng khỏi mang tiếng "quì quì, dạ dạ" là cái danh hiệu của phần đông trong mấy ông Hội Ðồng, từ xưa đến nay, ở xứ này. Ðó là sự nghiệp"

Trở lại vấn đề "Tam cang Ngũ thường, Tam Tùng Tứ đức" này hỏi bắt nguồn từ đâu? Nếu quả thật xuất phát từ văn hóa Nho phong thì nó sẽ bất diệt cũng là tất nhiên. Bởi Đạo Cao-Đài ngày nay lấy Nho-Tông để Chuyển thế. Tức là nó bắt nguồn từ các Quẻ Dịch mà ra vậy. Hãy xem:

Tính chất Âm Dương của quẻ:

Điều đáng chú-ý là quẻ có quẻ ÂM, có quẻ DƯƠNG.

Gọi là Quẻ khi có đủ ba Hào ấy là một quẻ đơn. Ví như:

Quẻ Càn

 

 

có 3 vạch liền:quẻ Dương (vạch gọi là Hào)

Quẻ Khôn

 

 

có ba vạch đứt: quẻ Âm (có 3 hào Âm)

Hào có hào Âm, hào Dương

Hai quẻ Càn Khôn là quẻ chủ trong 8 quẻ (gọi là Bát-Quái) tượng trưng cha, mẹ. Còn lại là 6 con, 3 nam (Dương), 3 nữ (Âm).

*Gọi là Quẻ Âm là quẻ trong đó chỉ có 1 hào Âm, như:

Tốn

 

 

có một Âm dưới cùng gọi là Trưởng-nữ.

Ly

 

 

có một Âm ở giữa gọi là trung-nữ.

Đòai

 

 

có một Âm trên cùng gọi là thiếu-nữ.

*Gọi Quẻ Dương là quẻ chỉ có một hào Dương, như:

Chấn

 

 

có 1 dương dưới cùng, gọi là trưởng-nam.

Khảm

 

 

có một dương ở giữa gọi là trung-nam.

Cấn

 

 

có 1 dương mới sinh ở trên, là thiếu nam.

Sở dĩ gọi là Trưởng là vì hào dưới cùng là gốc, biến hóa sau hết trong ba hào (trưởng nữ, trưởng nam)

Gọi là Trung vì hào này biến-hóa ở giai-đọan thứ nhì (trung nữ, trung nam)

Gọi là Thiếu vì hào này biến-hóa trước nhất, nên còn trẻ nhất (thiếu nữ, thiếu nam).

Nhận định:

Gọi là hào Dương vì chỉ có một vạch liền.

Gọi là hào Âm vì hào này là một vạch đứt.

*Nhìn vào 3 quẻ Âm (mỗi quẻ đều có 3 hào, 4 vạch).Đó là: Tốn, Ly, Đòai  ☴ ☲ ☱

*Ba quẻ Dương (mỗi quẻ có 3 hào, 5 vạch) Là: Chấn, Khảm, Cấn ☳ ☵ ☶

Đây là lý-do vì sao Thánh-nhân dạy trai Tam cang Ngũ thường, Gái Tam tùng Tứ đức, là khởi điểm từ nguyên nhân Lý DỊCH này đây.

Tam Cang Ngũ Thường khởi từ lý Dịch:

*Bởi những quẻ tượng Dương thì mỗi quẻ có 3 hào và 5 vạch; tức nhiên Dương tượng cho Nam-Phái, mỗi quẻ có ba hào không bao giờ thay đổi, lấy tính-chất vững bền đó làm qui-luật, giềng mối gọi là Tam Cang. Các quẻ Dương dù ở hình thức nào cũng vẫn có 5 vạch. Sự cố định ấy lấy làm thường-đạo cho Nam làm Ngũ thường là vậy. Thế nên, Nam thì lấy Tam cang Ngũ thường làm giềng mối.

*Những quẻ tượng Âm thì mỗi quẻ có 3 hào 4 vạch:

Cũng tương-tự như trên: quẻ Âm tượng cho Nữ giới, mỗi quẻ đơn Âm cũng chỉ có ba hào không đổi, lấy làm tính-chất căn-bản cho phái-nữ là đạo Tam Tùng, quẻ Âm vẫn luôn luôn có 4 vạch, với tính cách vững-chắc như vậy dùng làm Tứ Đức cho giới nữ-lưu. Thế nên lấy đạo nhơn luân làm trọng thì Nữ giữ lấy Tam Tùng Tứ đức.

Vậy bất cứ hình thức nào trong cửa Đại-Đạo mà Đức Thượng Đế đặt định ra cũng đều có nguyên cớ. Nhưng phương thức áp dụng chắc chắn rằng phải đi vào khuôn viên: BÁC ÁI, CÔNG BÌNH, THƯƠNG YÊU.

 
   

Ngày nay những điều lệ này đã thành LUẬT và chính TAM THÁNH đã ký Hòa ước với Đức Chí-Tôn thành văn bản đó là: "Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa ước" vậy.

CỬU TRÙNG ĐÀI: CƠ QUAN QUẢN TRỊ CÀN KHÔN THẾ GIỚI

Ngôi vị Giáo Tông nếu vẽ bằng hình sẽ thấy:

Vòng tròn tượng-trưng cho cơ-quan Cửu Trùng-Đài.

Tâm 0 là ngôi-vị Giáo-Tông (giữa vòng tròn).

Dưới quyền Giáo-Tông, hàng Tiên vị có hai con số 3: tượng tam Âm tam Dương. Tam Âm tam Dương là gì?

 
   

Như đã nói Tam âm tam Dương sẽ vẽ nên hình sao sáu cánh, tức là do hai hình tam giác đều gát chồng lên nhau, đặt nghịch chiều mà thành. Biểu tượng bằng 3 ngôi Chưởng-Pháp và 3 ngôi Đầu-sư:

- 3 ngôi Chưởng-Pháp (là người của Hiệp Thiên Đài, tượng Dương) đỉnh tam giác quay lên.

- 3 ngôi Đầu-Sư (Chức-sắc Cửu-Trùng-Đài, tượng cơ Âm) đỉnh tam giác quay xuống dưới.

Tức là trong Âm có Dương; âm dương tương hiệp, tương đắc, tương-hòa. Từ đó mới biến hằng hà sa số.

Mỗi phẩm có ba phái, trừ ngôi Giáo-Tông chỉ có 1 và Ngài mặc sắc phục trắng. (Hình ảnh Ngài khi mặc phẩm-phục xanh là còn ở ngôi vị Thượng Đầu-sư, là phẩm được thọ phong trước. Sau đó Ngài mới được ân-phong thêm một phẩm mới nữa là Quyền Giáo-Tông tức là Giáo Tông chưa vào chánh vị. Giáo-Tông mặc phẩm-phục trắng.Trên hình vẽ làm biểu-tượng cho thấy:

- Chữ A, tượng ngôi Thượng Chưởng-Pháp.
- Chữ B, tượng ngôi Thái Chưởng-Pháp.
- Chữ C, tượng ngôi Ngọc Chưởng-Pháp.

Như vậy, ngôi Chưởng-Pháp thuộc về Đạo, nên đỉnh Tam-giác quay lên trên.

Ba ngôi Đầu-sư là Đời trong Đạo nên đỉnh tam giác quay xuống phía dưới, do đó:

- A’ là tượng cho ngôi Thượng Đầu-Sư.
- B’ là tượng cho ngôi Thái Đầu-Sư.
- C’ là tượng cho ngôi Ngọc Đầu-Sư.

Ba phái: Thái, Thượng, Ngọc tức là đại diện cho Tam-giáo Phật, Tiên, Thánh trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ..

- Chưởng-Pháp thế quyền cho Hộ-Pháp nơi Cửu Trùng-Đài thuộc về Đạo.

- Đầu-sư đặng quyền thay mặt cho Giáo-Tông và Hộ-Pháp trước mặt nhơn-sanh thuộc về Đời trong Đạo.

Hai hình tam-giác này là tam-giác đều nội tiếp trong trong vòng tròn, gát chồng lên nhau, tượng trưng lý Âm Dương, Đạo Đời tương-đắc. Đây là hình ảnh "Một Trời"

Thầy dạy: "Ðạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy" không ngoài ý nghĩa Vạn linh hiệp Chí linh.

 
   

Quyền Trời là Chí linh, toàn cả nhơn loại và vạn vật ấy là Vạn linh. Thế nên Vạn linh đối quyền Chí Linh. Qua hình vẽ, hai tam giác đặt thuận nghịch đã nói lên lý Đạo nhiệm mầu ấy là: Trời người đồng trị: Người trị xác, trời trị hồn. Ấy cũng là một Đại Ân xá trong cửa Đạo Cao-Đài ngày nay, nên lúc nào "Mắt Trời"cũng luôn luôn soi xét đến mọi hành tàng của người mà luôn giúp đỡ và bố hóa.

- Tại sao lại đặt chữ Thượng trên đỉnh của tam giác?

- Bởi Đạo lúc nào cũng lấy trung, chánh làm điểm yếu-trọng, mà ba phái theo thứ tự thì (Thái chỉ về Phật, bên trái; Thượng chỉ về Tiên ở giữa; Ngọc chỉ về Thánh, bên phải: nhìn đối diện). Nếu làm lệch đi Chơn truyền thì gọi là loạn pháp rồi dẫn theo là loạn Đạo, sau hết là thất pháp và kẻ làm thất pháp bị thất đạo. Mỗi hình tam-giác được thành hình là do 1 sanh ba, 3 sanh vạn-vật, thuộc về cơ-quan Chưởng Quản; do đó mà ngôi Giáo Tông ở vào tâm của vòng tròn, mà vòng tròn chỉ Càn Khôn vũ trụ, cho nên Cửu-Trùng Đài là cơ-quan quản trị Càn Khôn Vũ-trụ thuộc về Trời là vậy. Mỗi phẩm có 3 ngôi mà "pháp-luật Tam giáo tuy phân biệt nhau, song trước mặt Thầy vẫn coi như một." Vốn cũng đồng quyền, đồng đẳng nhau. Thế nên ba cạnh của Tam giác cũng chỉ vào Tam giáo: Phật-Tiên- Thánh, nên dưới mắt Thầy, Tam giáo đồng nguyên là vậy.

- Số 3 là hình ảnh của Tam-giác đều có ba cạnh bằng nhau và ba góc bằng nhau, bằng 600. Tam giác đều nội tiếp trong vòng tròn và đồng tâm với vòng tròn. Đặc biệt là ba đường phân giác gặp nhau ở tâm của vòng tròn, mà Đạo Cao-Đài biểu tượng bằng "Thiên Nhãn Thầy". Thầy cũng dạy rằng: Nếu đến ngã ba không biết đường đi nữa thì đứng đó chờ Thầy. Phải chăng thời buổi này nhơn sanh đang chơi vơi, lạc lỏng không biết sẽ đi đường nào? Phải bước tới? Bước lui hay bước ngang? – Mà thực ra phải đứng tại ngã ba; tức là nhìn vào tâm của Tam giác này tức là phải nhớ câu "Thầy khuyên các con nên nhớ hoài rằng: Thầy của các con là Ông Thầy Trời, nên biết một Ổng mà thôi thì đủ, nghe à!".

 
   

Biết một ổng chính là "Trung với Đạo, hiếu với Chí-Tôn và Phật Mẫu". Là lúc nào cũng phải nhớ lời Đức Hộ Pháp dạy về phương luyện kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại-Đạo (xem câu 5, câu sau cùng trong tập sách) Tổng quát hơn thì Tam giác này do hình ảnh của quẻ CÀN ☰ KHÔN ☷ dựng lên mà thành. Là cánh cửa của Đạo Dịch luôn mở rộng.

Huyền vi của Đạo là luôn có Âm Dương, sáng tối đi liền nhau không bao giờ dứt. Hai lý này để hỗ trợ nhau Dù Pháp Chánh Truyền qui định phần Tiên-vị cho Cửu Trùng Đài là ngoài ngôi Giáo Tông ra, còn lại thì mỗi phẩm có ba vị, là: 3 Chưởng-Pháp, 3 Đầu-Sư (Dịch gọi là Tam Âm tam Dương) Nhưng thực tế mỗi phẩm lại có 4 vị (tức là 4 Chưởng-Pháp, 4 Đầu Sư)

5- Vậy hiện tại đã có 4 Chưởng-Pháp:

1-Thái Chưởng Pháp Nguyễn-văn-Tường (1864-1939) Tức là Hòa-Thượng Như Nhãn, được phong Thái Chưởng Pháp ngày 24-7-Bính Dần. Về sau bỏ Đạo.

2-Thượng Chưởng-Pháp Nguyễn-văn Tương (1897-1927) được phong Thượng Chưởng Pháp ngày 24-7-Bính Dần

* Ngọc Chưởng-Pháp có hai vị:

3-Ngọc Chưởng Pháp Trần-văn-Thụ (1857-1927) phái Minh sư, được phong Chưởng Pháp ngày 10-9-Bính Dần.

4-Ngọc Chưởng Pháp Trần-Đạo-Quang (1870-1946). Về sau cũng bỏ Đạo.

- Hiện tại có 4 Đầu-sư:

- Thái Đầu-Sư có hai vị:

1-Hòa Thượng Thiện Minh, Thiên phong Đầu sư phái Thái, Thánh danh là Thái-Minh-Tinh, ngày 13-10-Bính Dần (mất năm 1927) sau bị Đức Lý ngưng quyền, chức.

2-Thái-Nương-Tinh (1870-1929)

3-Thượng Đầu-sư Thượng-Trung-Nhựt (1876-1934) thế danh Lê-văn-Trung. Thiên phong Đầu Sư phái Thượng, ngày 12-03-Bính Dần (dl 23-04-1926)

4-Ngọc Đầu-sư Ngọc-Lịch-Nguyệt (1890-1947) Thế danh Lê-văn-Lịch. Thiên phong Đầu Sư phái Ngọc, ngày 13-10-Bính Dần (Sau lập Chi phái)

Số 4 thuộc Âm phải có mặt (đó là tứ Âm tứ Dương)

Tức nhiên là chỉ "Một đất" mà bài thơ Đức Chí-Tôn đã cho thật là ứng hợp. "Một Trời, một đất, một nhà riêng"

Đức Lý dạy: "Chư Chưởng Pháp, Đầu Sư phải sắm ấn tín theo Tam Kỳ Phổ Độ: Tỷ như mấy vị Chưởng Pháp thì ấn lớn hơn ấn của Đầu Sư một thí, phải làm tròn như con dấu thường, để chung quanh vòng ngoài chữ Lang sa: 3è AMNISTIE DE DIEU EN ORIENT, vòng trong để chung quanh chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, bằng chữ Nho: 大 道 三 期 普 渡

- Phái Thiền thì khắc ngay giữa một cái hình Bình BÁT VU, Đạo thì cây PHẤT CHỦ, Nho thì Bộ XUÂN THU. - Ấn của Đầu Sư cũng in vậy, song chính giữa để chữ Thái 太 Thượng 上 Ngọc 玉 (chữ Nho) đem vào Tòa Luật đời cầu chứng cho khỏi mạo nhận. Khá làm các điều ấy, sau Lão dạy thêm nữa". THĂNG. (ĐS. II. 222)

6- Tại sao lại có con số 4 này?

 
   

Xem ra: con số 3 ở trên là con số Thiên định, nhưng khi hành sự thì đây là sự biến dịch bởi con người, dù biến đổi thế nào cũng trong vòng luật định mà thôi. Vì vậy hình vuông ứng với cơ Âm. Điều này cũng cho ta thấy rằng: Trong hình ngôi sao, thực-tế là sáu cánh, nhưng có tâm ở giữa, cộng chung là 7 điểm.

Đồ hình tiếp theo có hai hình vuông họp lại tuy có 8 góc mà có 1 tâm, thành ra 9 điểm. Đây cũng trở lại số 7, số 9 tức là nằm trong lý "thất phản cửu hoàn" vậy (7+9=16) là hình thành nên hai Bát Quái Cao Đài. Ấy là Bát Quái Đồ Thiên và Bát Quái Hư vô (sẽ bàn sau).

Số 7 này là ứng với 7 khiếu dương ở trên mặt. Thêm hai khiếu Âm ở hạ bộ thành ra 9 khiếu. Đây cũng là định luật "thất phản cửu hoàn" ở con người. Thế nên vạn vật đồng nhất thể là như thế. Cũng như đã chứng minh Tòa Thánh có bảy chữ SƠN 山 Nhìn ra phía Đại Đồng xã có Cửu Trùng Thiên, đó cũng là mang con số "Thất phản Cửu hoàn" vậy.

Pháp-Chánh-Truyền dạy:

"Giáo-Tông thay mặt cho Thầy mà dìu-dắt các con trong đường Đạo và đường Đời. Có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn."

 
   

Do vậy mà chữ "phần xác và phần hồn" là chỉ về Đời trong Đạo, là Thiên Đạo đó vậy. Hay nói khác đi là Thể pháp và Bí pháp của Thiên Đạo đã ứng với hai hình ảnh Âm Dương trên đây: Chính phần hành của Giáo-Tông phải đảm trách.

Thời tiền khai Đại-Đạo Thầy cũng có ban cho Ngài Lê văn Trung bài thơ ứng với những lời lẽ trên, đồng thời là ban quyền hành cho Ngài đó vậy.

THI

Một Trời, một Đất, một nhà riêng,
Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.
Cầm mối Thiên Thơ lo cứu chúng,
Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

(Xem Dịch Lý Cao Đài I cùng Soạn giả, có giải đầy đủ)

7- Bát-Quái thành hình:

Bây giờ hai hình tam-giác và hai hình vuông phối hợp vào nhau sẽ thành hình thứ 3, là một hình toàn diện, đó là Bát-Quái Đồ Thiên mà ngày nay chính Đức Chí Tôn sử dụng trong Đạo Cao-Đài, mà chỉ riêng Đạo Cao Đài mới dùng Bát-Quái này, nên cũng còn gọi là Bát Quái Cao Đài. Người nắm Bát-Quái này vào tay chính là Giáo Tông. Hình thứ 3 cũng ứng vào chữ "Một nhà riêng" trong câu thơ "Một Trời, Một đất, Một nhà riêng."

Do vậy mà câu thơ này đã nói lên đầy-đủ cho một BÁT-QUÁI thành hình. Khi đã có một Bát-Quái toàn diện như vậy, chúng ta có quyền đặt tên các quẻ vào các góc cạnh tương-ứng, ta sẽ được hình dưới đây là do lời dạy của Thầy khi Thánh-ý Chí-Tôn dạy sắp 7 cái ngai:

Thầy dạy: "Tòa-Thánh day mặt ngay hướng Tây là chánh cung Đoài ấy là Cung Đạo. Bên mặt Thầy là cung KHÔN, bên trái Thầy là cung CÀN. Đáng lẽ phải để 7 cái ngai của phái Nam bên trái Thầy là cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn-đạo cho đủ Ngũ chi nên Thầy buộc phải để Cung Đạo là cung Đoài cho đủ số".

8- Đây: Bát-Quái Đồ Thiên hay Bát-Quái Cao-Đài

Nhìn vào Bát-Quái dưới đây, tức nhiên các Cung được xác-định qua trục đứng là Đông Tây, trục nằm là hướng Nam Bắc, tức là hướng của Đền Thánh Toà-Thánh Tây Ninh hiện giờ:

Đoài ☱  chánh Tây (cung Đạo, ở chính giữa và là mặt tiền của Đền-Thánh).

Càn ☰  Tây Nam (trong Đền nhìn ra bên tay trái của Thầy)

Khôn ☷  Tây Bắc (trong Đền nhìn ra bên phải của Thầy) Khi ba Cung đã được định hướng rồi thì những Cung còn lại của Bát-Quái Đồ Thiên cứ theo thứ tự của Bát Quái Hậu-Thiên mà xếp các quẻ còn lại vào vị-trí.

CÀN là hướng khởi ở Tây Nam (thay vì Tây Bắc của Bát-Quái Hậu-thiên).

Như vậy, Bát-Quái mà Giáo-Tông làm chủ đây là Bát-Quái Đồ-Thiên, chỉ riêng Đạo Cao-Đài mới có; đó là tổng hợp của hai khối Âm Dương hợp lại, tức là âm-dương hỗn-hợp trong cơ sanh biến của Vạn-linh. Vậy là kỳ khai Đại-Đạo này Ngài đã đặt Ly lên Khảm và đặt Khảm lên Ly để tất cả thành quẻ CÀN ☰ Gọi là "Chiết Khảm điền Ly phản vị CÀN"

Đồ hình dưới đây là kết quả của hai hình tam giác và hai hình vuông phối hợp vào nhau mà thành, cũng chính do Đức Giáo-Tông làm chủ ứng với chữ "Một nhà riêng" ấy. Như vậy câu thơ trên mà Đức Chí-Tôn ban cho Ngài trong buổi đầu chính là phân định quyền hành cho Ngài rồi. Làm sao mà có tên các quẻ đặt vào đồ hình?

Trước đây đã có Bát quái Tiên Thiên (Bí pháp) và Hậu Thiên (Thể pháp), chính đó là của Thế Đạo, mà các tiền Thánh đã tìm ra cho nhân loại hằng 6.000 năm nay rồi. Giờ đây Đức Chí-Tôn đến ban cho nhân loại hai Bát Quái nữa, tức là mở ra con đường Thiên Đạo cũng có Thể Pháp và Bí pháp. Chính Bát quái Đồ Thiên mà chúng ta sắp nói tới đây là Thể pháp của Thiên Đạo. Còn một Bát Quái Hư vô là Bí Pháp Thiên đạo (sẽ bàn sau hoặc xin xem quyển I Dịch lý Cao-Đài cùng soạn giả).

Hân hạnh cho dân tộc Việt Nam được đón nhận trước nhất. Cũng vì sự xướng xuất ra Bát Quái này mà Cụ Trần Cao Vân phải bị án tử hình qua đề tài "Trung Thiên Dịch – Trung Thiên đạo".

Đây, Bát Quái Đồ Thiên lấy theo thứ tự quẻ của Hậu Thiên là "nhứt Khảm, Nhì Khôn, tam Chấn, Tứ Tốn, ngũ trung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, Cửu Ly", nhưng với Bát Quái Hậu thiên thì các quẻ xếp trên vòng tròn, thuận chiều với kim đồng hồ; Riêng Bát Quái Cao Đài xếp nghịch chiều với kim đồng hồ. Tại sao vậy?

 
   

Vì thời gian qua là nhân loại hướng về Thế đạo để làm nên nền văn minh vật chất, hay còn gọi là văn minh hóa học. Bát quái Hậu Thiên thuận chiều kim đồng hồ, giống như nước xuôi dòng đổ ra biển cả, nếu cứ thế thì biết bao giờ mới trở lại quê xưa vị cũ? Nay là thời Thượng nguơn tứ chuyển, tức là cơ qui nhứt, thế nên Bát Quái phải chuyển nghịch chiều với kim đồng hồ, tức là Đức Thượng Đế mở cho nhân loại một nền văn minh tinh thần, là con đường Thiên đạo, các quẻ được định vị theo các phương hướng sau đây:

Vì vậy người tu theo Đạo Cao Đài cần nhất là phải đủ Tam Lập là lập đức, lập công, lập ngôn, tức nhiên là Thầy mở ra con đường phụng sự:

Đức Chí Tôn ngày giờ này đến lập Đạo muốn phụng sự cho cả toàn nhơn sanh mặt địa cầu 68 này, Ngài phải làm thế nào? Ngài cũng phải mượn loài người phụng sự cho Ngài. Ngài phải dùng loài người đặng làm Thánh Thể cho Ngài là lập triều chính của Ngài.

Chúng ta ngó thấy Đức Chí Tôn đến lập Đạo, lập Đạo phải lập Hội Thánh đặng phụng sự cho Vạn Linh trên mặt địa cầu 68 này. Chúng ta ngó thấy cái quyền rồi, ban cho cái quyền luật định phụng sự, vì phụng sự ấy mới làm chúa như con ong kia, con mối kia, vì phụng sự mới làm chúa. Ông Vua cũng vì phụng sự cho dân mới làm Vua, bây giờ Đức Chí Tôn vì phụng sự cho Vạn Linh mới làm Trời. Ngài phải lập Hội Thánh tức nhiên Ngài lập Thánh Thể của Ngài. Triều chính tức nhiên Thánh Thể của Ngài chớ không có gì lạ. Muốn cho Hội Thánh cầm quyền thống trị đặng phụng sự cho Vạn Linh, Ngài phải lập triều chính, triều chính là ngôi Thần, Tiên, Thánh, Phật đó vậy. Ngài lập Thánh Thể cũng như thế ấy; vì cớ cho nên chúng ta ngó thấy Thánh Thể Đức Chí Tôn tức nhiên Hội Thánh có đủ các phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế này.

   

 

Tìm về Tiểu sử của bốn Chưởng Pháp

1. Thái Chưởng Pháp
Hòa Thượng Như Nhãn (1864-1939)

 
   

Hòa Thượng Như Nhãn, thế danh là Nguyễn Văn Tường, sanh năm 1864, con của ông Nguyễn Văn Bầu và bà Ðoàn Diệu Hoa, quê quán ở Ðức Hòa (Long An), đi tu từ năm 17 tuổi, qui y với Hòa Thượng Thích Trí Lượng (Minh Ðạt) trụ trì ở chùa Thiền Lâm Cổ Tự (xóm Chùa, tỉnh Tây Ninh) thọ Pháp danh là Thích Từ Phong.

Nguyên vào năm Mậu Tý (1888), tại vùng Phú Lâm Chợ Lớn, (đường Bà Kế, khu vực Chợ Gạo, nay là Bến Phú Lâm, Quận 6), bà Hồ Thị Lộc có xây một ngôi chùa lớn, đặt tên là Chùa Giác Hải, bà giao cho ông Thủ Tọa Nguyễn Minh Sự coi sóc. Ông Sự mất năm 1908.

Sư Thích Từ Phong về đây kế nghiệp, trụ trì Chùa Giác Hải. Năm 1912, Ngài Thích Từ Phong giữ chức Yết Ma và năm 1924, Ngài được phong chức Hòa Thượng, nên các Phật tử tại vùng nầy thường gọi Ngài là Hòa Thượng Giác Hải. Trong lúc trụ trì ở chùa Giác Hải, Hòa Thượng Giác Hải có quyên góp tiền bạc trong bổn đạo để mua đất và lập một cảnh chùa tại vùng Gò Kén, Tây Ninh, lấy tên là Từ Lâm Tự (sau đổi lại là Thiền Lâm Tự). Chùa được xây dựng trên một khu đất gò rộng 4 mẫu, dựa quốc lộ Sài Gòn Tây Ninh, cách quốc lộ khoảng 200 mét và cách thị xã Tây Ninh chừng 5 cây số, phía trước cất chùa, phía sau làm nghĩa địa. Trong số bổn đạo đóng góp tiền mua đất và xây chùa Từ Lâm ở Gò Kén, ông bà Huyện Nguyễn Ngọc Thơ và Lâm Ngọc Thanh đóng góp tiền bạc nhiều hơn cả. Chùa mới vừa xây dựng xong phần chánh, chưa trang trí, chưa làm đường lớn từ quốc lộ vào chùa. Lúc đó là vào năm 1925.

Vào giữa năm Bính Dần (1926), ông bà Nguyễn Ngọc Thơ được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ, nhập vào Ðạo Cao Ðài. Hai ông bà cũng muốn Ðức Chí Tôn thâu phục Hòa Thượng Như Nhãn, nên ông bà thuyết phục Hòa Thượng đến dự một đàn cơ cầu Ðức Chí Tôn tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ ở Tân Ðịnh. Ðức Chí Tôn giáng cơ thâu phục được Hòa Thượng Như Nhãn.

Giữa tháng 7 năm Bính Dần (1926), Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ. Sau đó, do sự yêu cầu của ông bà Thơ, Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm (Gò Kén) cho Ðạo Cao Ðài dùng làm Thánh Thất tổ chức Lễ Khai Ðạo.(Có lẽ trong thời gian xây dựng chùa Từ Lâm ở Gò Kén, Hòa thượng Giác Hải lấy hiệu là Như Nhãn).

Ngày 29-7-Bính Dần (dl: 5-9-1926), Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí Tôn giáng cơ ân phong là: Quảng Pháp Thiền Sư Thích Ðạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Thái.

Ngày 15-10-Bính Dần (dl: 11-11-1926), Ðại Lễ Khai Ðạo Cao Ðài được tổ chức long trọng tại Thánh Thất Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh), có hằng vạn Tín đồ Cao Ðài dự lễ, số quan khách người đời đến dự rất đông.

Ðêm 14 rạng 15 tháng 10 âm-lịch, tổ chức đàn cơ trong Thánh Thất, Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt trấn pháp sót một cửa, nên thừa dịp nầy, quỉ nhập vào đàn, một quỉ nhập vào ông Lê Thế Vĩnh xưng là Tề Thiên Ðại Thánh, một quỉ khác nhập vào cô Vương Thanh Chi xưng là Lê Sơn Thánh Mẫu, nói năng lộn xộn, rồi nắm tay nhau nhảy múa, khiến cho nhiều người mới vào Ðạo Cao Ðài mất đức tin. Hòa Thượng Như Nhãn cũng bị mất đức tin luôn. Mặc khác, số đệ tử của Hòa Thượng Như Nhãn yêu cầu Ngài bỏ Ðạo Cao Ðài và đòi chùa lại. Hòa Thượng Như Nhãn nghe theo và quyết định đòi chùa Từ Lâm, không hiến cho Ðạo Cao Ðài nữa, hẹn trong 3 tháng Ðạo Cao Ðài phải dời đi.

Ngày 19-11-Bính Dần, Hòa Thượng Như Nhãn bị thiêng liêng phạt làm cho đau nặng.

Ngày 01-12-Bính Dần, Ðức Chí Tôn giáng cơ quở phái Thái và Hòa Thượng Như Nhãn, tỏ ý muốn phế bỏ phái Thái. Ðức Phổ Hiền Bồ Tát cầu xin Chí Tôn tha thứ phái Thái và đừng truất bỏ phái Thái (phái Phật).

Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ trục xuất Hòa Thượng Như Nhãn ra khỏi Ðạo Cao Ðài.

Tháng 2 năm Ðinh Mão, Ðức Lý Giáo Tông quyết định trả chùa Từ Lâm cho Hòa Thượng Như Nhãn và chỉ dẫn Hội Thánh tìm mua được 96 mẫu đất tại làng Long Thành (Tây Ninh) để dời các cơ sở của Ðạo về nơi đây, lập thành Tòa Thánh Trung ương của Ðạo Cao Ðài.

Hòa Thượng Như Nhãn qui liễu vào ngày 5-12-Mậu Dần (dl: 24-1-1939) hưởng thọ 75 tuổi. Tháp của Ngài được xây ngay trước chùa Từ Lâm Tự (nay là Thiền Lâm Tự) Gò Kén (Tây Ninh)

Trên bia mộ có đề chữ Hán, dịch ra như sau đây: Ngài là Ðại Lão Hòa Thượng Thiền Tông Lâm Tế đời thứ 39. Ngày sanh: 15-3-Giáp Tý (1864). Ngày qui: 5-12-Mậu Dần (1939), thọ 75 tuổi. Tháp của Hòa Thượng Như Nhãn xây ở chính giữa, hai tháp hai bên là của hai vị - Hoà Thượng Minh Ðạt, thầy của Ngài Như Nhãn - Hòa Thượng Hồng Tằng, học trò của Ngài Như Nhãn.

Thầy có dạy riêng Hoà Thượng Như Nhãn

Chùa Giác Hải, Sài gòn,Ngày 21-9-1926 (âl 15-8-Bính Dần)

THÍCH CA MÂU NI PHẬT viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
chuyển Phật giáo Nam phương

"Như Nhãn, con nghe Thầy: Khi giáng trần Chí Tôn Phật Tổ, Thầy duy đặng có bốn Môn đệ, chúng nó đều chối Thầy. Khi giáng lập Đạo Tiên, Thầy có một trò là Nguơn Thỉ. Khi lập Đạo Thánh thì đặng mười hai môn đệ, song đến khi bị bắt và hành hình thì chúng nó đều trốn hết, lại còn bán xác Thầy nữa. Còn nay, Thầy đã sắm sẵn Môn đệ cho con cũng đã nhiều, con đừng thối chí.

Thầy thường than rằng: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh, nên Thầy nôn nóng nhưng Thiên cơ chẳng nghịch đặng. Ma quỉ hằng phá Chánh mà giữ Tà, chư Tiên Phật trước chưa hề tránh khỏi. Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ. Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Nếu Thầy dùng quyền pháp Chí Tôn thì mất lẽ công bình thiêng liêng Tạo hóa. Con cứ lo lập Luật, để công phổ độ cho chư Đạo hữu con hưởng chút ít.

…Như Nhãn, con nhớ lời tiên tri của Thầy, đọc Thánh Ngôn lại. Thăng."

Thứ ba, 4-1-1927 (âl 1-12-Bính Dần).

Trung bạch về sự Giác Hải và Thánh Thất.

-"Thầy chẳng qua yêu mến đạo Thiền, quyết gom tóm các con lại làm một nên giữ ThánhThất đến ngày nay, đặng qui tụ các em con đến cho đủ mặt. Như Thiên Cơ phải y như lời xin của Phổ Hiền Bồ Tát thì chẳng ép lòng bỏ chết phái ấy. Thầy sẽ coi ngày Như Nhãn đòi Thánh Thất lại thế nào, rồi mới trả."

Đức Lý dạy: Ngày 19-2-1927 (âl 18-1-Đinh Mão).

"Chẳng vì Thánh Thất, Như Nhãn phản ngôn mà trễ phổ thông Thánh giáo. Cười… Đã hiểu đời còn mê muội, chẳng phân đặng chơn giả thế nào, thảm thay!

Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn (phái Thái) dám cả gan nghịch Thiên mà phải đọa trầm luân muôn kiếp, xét đến công tu, khó ngăn giọt lụy. Chí Tôn đau đớn bấy nhiêu, Lão càng giận bấy nhiêu. Biết bao phen, Lão cầm viết toan bôi xóa cho rồi trọn phái oan nghiệt mà Chí Tôn nằn nằn xin Lão để cho Người gia công độ rỗi. Ngày nay, Lão nhứt định trả lại chùa nầy. Song, trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng ở tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh Địa, vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Chí Tôn không chịu"

2. Thượng Chưởng Pháp
Lão Sư Nguyễn Văn Tương (1879-1926)

 
   

Ngài Nguyễn Văn Tương sanh năm Kỷ Mão (1879) tại làng Hữu Ðạo, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, con của ông Nguyễn Văn Tỵ và bà Cao Thị Huề.

Nhờ có học thức, Ngài được cử làm Hương Bộ trong làng, nên người ta gọi Ngài là ông Bộ Tương. Khoảng năm 30 tuổi, Ngài Nguyễn Văn Tương tu theo Ðạo Minh Sư, thọ giáo với Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang. Ngài Nguyễn Văn Tương theo Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang về hành đạo nơi chùa Linh Quang Tự ở làng Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Gia Ðịnh. Ngài tu đến bậc Lão Sư. Ngài Nguyễn Văn Tương được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ trước Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang. Do đó, Ngài Tương cùng với đệ tử của Ngài là Nguyễn Văn Kinh xin với Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang lập đàn cơ tại Linh Quang Tự - Gò Vấp để Ðức Chí Tôn độ Thái Lão Sư, và được kết quả tốt đẹp.

Trong Phổ Cáo Chúng Sanh có ghi một đoạn như sau "Có hai Ðạo hữu: Tương, Kinh, vẫn trước khi nhập môn thì đã thọ nghĩa thầy trò cùng vị Lão thành pháp danh là Ðạo Quang nơi chùa Minh Ðường (Hạnh Thông Tây).

Nhằm ngày 21 tháng 8 năm Bính Dần, Đức Ngọc Hoàng Thượng Ðế giáng cơ tại chùa ấy dạy việc, luôn dịp có để lời rằng: "Tương, Kinh, hai con phải lạy Ðạo Quang trước mặt Thầy, rồi từ đây gọi là Anh mà thôi, còn Thầy duy có một Thầy".

Ngày 24-7-Bính Dần (dl: 31-8-1926), Ðức Chí Tôn ân phong cho Ngài Nguyễn Văn Tương là: Thuyết Pháp Ðạo Sư Chưởng Quản Oai Linh Ðạo Sĩ- Chưởng Pháp phái Thượng.

Ngài Nguyễn Văn Tương có người vợ là Bà Võ Thị Tước (1880-1947) và con gái thứ hai là Nguyễn Thị Quyền (1900-1987) cũng đều tùng giáo Cao Ðài. Trong kỳ phong Thánh Nữ phái lần đầu tiên vào ngày 14-1-Ðinh Mão (dl:15-2-1927) Ðức Chí Tôn ân phong:

- Bà Võ Thị Tước: Lễ Sanh.
- Cô Nguyễn Thị Quyền: Giáo Hữu. (Trích Ðạo Sử Q.2 của Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu, tr.218)

Ngày 5-11-Bính Dần (dl: 11-12-1926), Ngài Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương thọ bệnh và đăng Tiên, chỉ hưởng được 48 tuổi tại tư gia ở làng Hữu Ðạo. Các Chức sắc cao cấp của Ðạo Cao Ðài đến làm lễ tang cho Ngài rất long trọng. Lúc đó, mới khai Đạo được khoảng 20 ngày, còn tạm tại Chùa Gò Kén, nên thi hài được an táng nơi quê nhà là làng Hữu Ðạo (gần Chợ Thuộc Nhiêu) quận Cai Lậy, Mỹ Tho. Sau những năm chiến tranh, ngôi mộ của Ngài hoàn toàn bị hư hại. Năm 1997, nhân dịp Thanh Minh, một vài vị Ðạo tâm tìm tòi biết được vị trí ngôi mộ của Ngài, nên kết hợp với người cháu nội của Ngài là ông Nguyễn Văn Bá, xây dựng lại trên nền mộ cũ một cái tháp nhỏ cao 3 thước 6 tấc.

(Chúng ta lưu ý trong các Chức sắc cao cấp của Ðạo Cao Ðài thuở đầu tiên có 2 vị tên TƯƠNG: - một là Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương, - hai là Thượng Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương, sau được thăng phẩm Quyền Thượng Ðầu Sư, và sau đó tách khỏi Hội Thánh Tòa-Thánh Tây-Ninh để lập ra Ban Chỉnh Ðạo ở Bến Tre và trở thành Giáo Tông chi phái Bến Tre. Ngay sau khi Ngài Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương đăng Tiên, ngày 7-11-Bính Dần, Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy hai Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt:

"Thầy, các con. Trung, Lịch! Hai con phải dụng Ðại lễ mà an táng cho Tương nghe. Thầy ngặt một lẽ chẳng thế nào đem Tương vào Tam thập lục Thiên, phải để nó đợi nơi Ðông Ðại Bộ Châu mà chờ Tòa Tam Giáo phát lạc. Thầy có để lời cho Thái Bạch Kim Tinh cầu rỗi, nhưng Người giận Tương không công quả, dâng Bộ Công Thiên thơ ra trống trải lắm, tại nơi Tòa mới cãi chối nỗi gì. Người nhứt định không dự đến. Các con nghe à!

Vậy trong hịch văn Sớ tấu, các con phải thượng nơi Tòa Tam Giáo mà cầu rỗi cho nó thiệt hết lòng, rồi Thầy sẽ rỗi cho nó. Các con hiểu.

Lịch bạch Thầy về sự Ðại lễ.......

- Không con!.Ðại lễ là làm theo một lễ với sự an táng bậc Thái Lão nghe!.." (trích trong Ðạo Sử II tr. 86)

Ngay Tết Ðinh Mão, ngày 1-1-Ðinh Mão (dl 1-2-1927), Ngài Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương giáng cơ:

Thượng Chưởng Pháp TƯƠNG

"Hỷ chư Ðạo hữu, chư Ðạo muội.

Mừng... Mừng... Mừng... Vui... Vui... Vui...

Ðại phước cho cả nhơn sanh, đại hạnh cho Ðịa cầu 68 nầy! Em còn phải công quả phổ độ mới vào đặng Tam thập lục Thiên, nhờ Ðại Từ Phụ cứu độ Em, khuyên nhủ cùng chư Huynh khá coi Thiên vị mình là trọng, vì là của quí báu vô giá, còn sụt sè đường Ðạo, xin nhớ lấy danh Em cự chống cùng tà ma quỉ mị cám dỗ. Tương đây, công cán chẳng chi mà còn đặng địa vị nầy, huống lựa là mấy anh độ rỗi toàn cả Cửu nhị Nguyên nhơn thì phẩm cựu sẽ đặng trổi thêm thế nào! Xét lấy đủ vui lòng hành đạo." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. tr 92).

3. Ngọc Chưởng Pháp
Thái Lão Sư Trần Văn Thụ (1857-1927)

 
   

Ngài Trần Văn Thụ sanh năm Ðinh Tỵ (1857), tại làng Ðức Hưng, tổng Dương Hòa Hạ, tỉnh Gia Ðịnh.

Thuở nhỏ Ngài học chữ Nho, lớn lên làm nghề dạy học. Năm Ðinh Mùi (1907), Ngài đến chùa Vĩnh Nguyên Tự tại làng Long An, quận Cần Giuộc, thọ giáo với Thái Lão Sư Lê Ðạo Long, thế danh là Lê Văn Tiểng (1843-1913) để học Ðạo Minh Sư. Ngài được Sư phụ Lê Ðạo Long thâu nhận và ban cho pháp danh là Trần Ðạo Minh. Ngài là đệ tử lớn nhứt trong các đệ tử của Thái Lão Sư Lê Ðạo Long nơi Vĩnh Nguyên Tự. Ðến năm Bính Dần (1926), tức là sau khi Thái Lão Sư Lê Ðạo Long liễu đạo 12 năm, Thái Lão Sư giáng cơ cho biết là Ngài đã đắc quả Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn, và khuyên các đệ tử nay tùng giáo theo Ðức Cao Ðài Ngọc Ðế.

Các đệ tử vâng theo lời Ngài và do đó, Vĩnh Nguyên Tự trở thành cơ quan của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ thuở đầu tiên và sau nầy trở thành Thánh Thất của Ðạo Cao Ðài gọi là Thánh Thất Vĩnh Nguyên Tự.

Ngài Trần Ðạo Minh lúc đó đã tu lên đến bực Thái Lão Sư và con trai Ngài Lê Ðạo Long là Lê Văn Lịch tu tới bực Dẫn Ân, đạo hiệu Lê Xương Tịnh, cùng các đệ tử khác tại Vĩnh Nguyên Tự, đều vâng lịnh Ðức Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn, tùng giáo Ðấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

- Ngài Trần Văn Thụ (pháp danh Trần Ðạo Minh) được Ðức Chí Tôn giáng cơ ân phong là: Nho Tông Chưởng Giáo Tuyên Ðạo Thiền Sư Ðại Ðức Ðại Hòa Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Ngọc, trong đàn cơ tại Vĩnh Nguyên Tự đêm mùng 10-9-Bính Dần (dl: 16-10-1926).

Kể từ khi Ngài Trần Văn Thụ thọ phong Ngọc Chưởng Pháp, Ngài vâng lịnh Ðức Chí Tôn, cùng với các vị Chức sắc Thiên phong khác lo đi hành đạo, phổ độ nhơn sanh. Khi làm lễ Khai Ðạo tại Thánh Thất tạm ở Chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh), ngày 15-10-Bính Dần (1926) thì Ngài Ngọc Chưởng Pháp thường xuyên hành đạo tại đó, để cùng quí Chức sắc cao cấp khác soạn thảo Tân Luật theo lịnh dạy của Ðức Chí Tôn.

Qua năm sau, tức là năm Ðinh Mão (1927), Ngài Ngọc Chưởng Pháp lâm bịnh, Ngài trở về nhà an dưỡng tại làng Trường Bình, quận Cần Giuộc. Sau đó Ngài đăng Tiên vào ngày 14-5-Ðinh Mão (dl: 13-6-1927), hưởng thọ 71 tuổi. Tất cả các Ngài: Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh, Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh, Phối Sư Thái Ca Thanh, cùng nhiều Chức sắc khác đến thọ tang và phúng điếu. Bởi cơ Ðạo còn sơ khai, đang tạm ở Từ Lâm Tự, nên gia đình Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đưa linh cữu của Ngài an táng nơi quê nhà ở làng Thới Hiệp, cạnh ngôi chùa cũ của Ngài, nay là Ấp 1 Xã Hiệp Phước, quận Nhà Bè. Năm 1996 (Bính Tý), Ban Cai Quản Thánh Thất Vĩnh Nguyên Tự đã lấy cốt của Ngài Ngọc Chưởng Pháp đem cải táng về đất phía sau Vĩnh Nguyên Tự, nằm cạnh ngôi mộ của Ngài Thái Lão Sư Lê Ðạo Long. Di ảnh của Ngài Ngọc Chưởng Pháp được thờ nơi Hậu Ðiện Vĩnh Nguyên Tự, cùng với di ảnh của Ðức Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn và của Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt. Ðức Ngọc Chưởng Pháp thường giáng cơ dạy đạo tại Vĩnh Nguyên Tự, xưng hiệu là: Thiết Quang Chơn Nhơn. Trong quyển sách ÐẠO NGUYÊN CHÁNH NGHĨA do Vĩnh Nguyên Tự in năm 1939, có in hình Ðức Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ, đề là: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Minh Thiết Quang Chơn Nhơn, Ngọc Chiếu, với hai câu liễn đặt ở hai bên ảnh là:

- CHƯỞNG khai Nho phái Tam Kỳ Ðạo,
- PHÁP hóa Thiền Tông Tứ giáo truyền

4. Ngọc Chưởng Pháp
Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang (1870-1946)

 
   

Ngài Trần Ðạo Quang, thế danh là Trần Văn Quang (có tài liệu chép là Trần Thanh Nhàn) sanh ngày 10-11-Canh Ngọ (dl: 31-12-1870) tại Ban Dầy, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Ngài là con trai duy nhứt của ông Trần Chí Hiếu và bà Dương Mỹ Hậu. Hai ông bà làm nghề nông và tu theo đạo Minh Sư, tông Phổ Tế. Ngài có lòng mộ đạo từ nhỏ. Năm 12 tuổi, Ngài noi theo cha mẹ, tu theo đạo Minh Sư. Năm 16 tuổi, Ngài bắt đầu ăn chay trường. Thái Lão Sư Trần Ðạo Cửu nhận làm thầy đứng ra khai thị cho Ngài. Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia tu hành, bắt đầu tu Nhứt Thừa: Nhứt bộ rồi Nhị bộ và Tam bộ, sau tiến lên tu Nhị Thừa qua bốn bậc: Thiên Ân, Chứng Ân, Dẫn Ân, Bảo Ân; rồi Ngài tiếp tục tu lên Tam Thừa, qua hai bậc: Ðảnh Hàng, lấy đạo hiệu Trần Vận Quang. Thập Ðịa là Thái Lão Sư: lấy đạo hiệu là Trần Ðạo Quang. Năm nầy Ngài được 45 tuổi.

Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang được sự tín nhiệm của 12 vị Lão Sư Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam, nên Ngài về trụ trì chùa Linh Quang Tự là Tổ đình của Tông Phổ Tế ở Việt Nam..Tổ Sư của Tông Phổ Tế đạo Minh Sư bên Tàu là Thái Lão Sư Trần Ðạo Khánh dự định phong cho Ngài Trần Ðạo Quang làm "Việt Nam Ðệ Nhứt Tổ" của Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

Trong lúc đó thì Lão Sư Nguyễn Văn Tương và Nguyễn Văn Kinh đã được Ðức Chí Tôn độ theo Ðạo Cao Ðài, nên hai Ngài xin lập đàn cơ tại Linh Quang Tự để Ðức Chí Tôn độ Ngài Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang luôn thể và Ngài Trần Ðạo Quang được Ðức Chí Tôn độ nên bằng lòng qui hiệp vào Ðạo Cao Ðài.

Khi Ngài Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương đăng Tiên tại làng Hữu Ðạo quận Cai Lậy thì khoảng hơn một tháng sau, Ðức Chí Tôn phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Quyền Thượng Chưởng Pháp ngày 12-12-Bính Dần (dl: 15-1-1927). (Theo Ðạo Sử của Bà NÐS Hương Hiếu Q.2 trang 172 và 192).

Phải chăng vì Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương qui Thiên sớm, nên phải phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Quyền Thượng Chưởng Pháp để dâng Luật lên cho có đủ số chăng? Rồi sau đó mới ân phong Ngọc Chưởng Pháp. Khi Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên ngày 14-5-Ðinh Mão, thì sau đó ít lâu, Ðức Chí Tôn ân phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Ngọc Chưởng Pháp chánh vị. Nhưng Ngài vẫn xuất ra lập Chi phái. Ấy là từ trong cơ Ðạo phân chia ra mới gọi là Chi phái Cao-Đài.

Năm 1931 Phối Sư Thái Ca Thanh rút khỏi Tòa Thánh Tây Ninh về Mỹ Tho lập phái Minh Chơn Lý, Ngài Ngọc Chưởng Pháp hợp tác với Minh Chơn Lý, sau đó thấy ông Ca và ông Phùng sửa đổi hết cách thờ phượng, nên Ngài rút khỏi Minh Chơn Lý, xuống Bạc Liêu hợp với ông Cao Triều Phát mở ra phái Minh Chơn Ðạo năm 1935.

Năm 1937, Ngài Ngọc Chưởng ra hành đạo ở Ðà Nẵng. Lúc đi ra Trung, Ngài Ngọc Chưởng Pháp không có giấy thuế thân, nên Ngài lấy giấy thuế thân của người trong làng tên là Hà Văn Thuần để xin làm căn cước thì mới được phép ra Trung. Cho nên khi hành đạo ở Ðà Nẵng Ngài lấy tên là Hà Văn Thuần. Ngài ủng hộ bổn đạo nơi đây xây dựng được Thánh Thất Trung Thành, để làm cơ sở hoạt động của Cơ Quan Truyền Giáo Trung Việt.

Ngày 17-2-Bính Tuất (dl: 20-3-1946), Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang qui thiên tại chùa Linh Quang Tự ở Gò Vấp, Gia Ðịnh, hưởng thọ 77 tuổi. Thi hài của Ngài được an táng tại nghĩa trang Minh Sư gần Linh Quang Tự. Sau nầy, do nhu cầu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhứt, Linh Quang Tự và nghĩa trang đều bị giải tỏa, bổn đạo cải táng Ngài về phần đất ở phía sau Thánh Tịnh Minh Kiến Ðài vào ngày 15-8-Kỷ Mùi (1956) thuộc xã Thông Tây Hội, cũng thuộc quận Gò Vấp.

Tiểu sử bốn vị Nam Đầu Sư đầu tiên

Trong năm Khai Đạo, Đức Chí Tôn Thiên phong ba vị sau đây vào phẩm Đầu Sư đầu tiên của Đạo Cao Đài, đặc biệt lấy ba chữ Tam Bửu của trời ban cho Cửu Trùng Đài. Ngoài ra thì tất cả đều lấy chữ tịch đạo là "Thanh"

▪ Đầu Sư phái Ngọc: Ngài Lê Văn Lịch, Thánh danh là Ngọc Lịch Nguyệt.

▪ Đầu Sư phái Thượng: Ngài Lê Văn Trung, Thánh danh Thượng Trung Nhựt, sau được thăng Quyền Giáo Tông.

▪ Đầu Sư phái Thái: Hòa Thượng Thiện Minh, Thánh danh là Thái Minh Tinh.

Ngài Thiện Minh là học trò của Hòa Thượng Như Nhãn, được Thiên phong ngày 13-10-Bính Dần, nhưng Ngài không hành Đạo, nên ngày 12-12-Bính Dần (dl 15-1-1927), Đức Lý Giáo Tông cất chức Thái Đầu Sư của Ngài Thiện Minh.

Cũng trong ngày nầy: 12-12-Bính Dần, Đức Chí Tôn phong Ngài Dương Văn Nương chức Thái Đầu Sư, Thánh danh Thái Nương Tinh. Ngài Thái Nương Tinh cũng không hành đạo.

1- Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt (1890-1947)

 
   

Ngọc Lịch Nguyệt là Thánh danh của Ngài Lê Văn Lịch, khi Đức Chí Tôn phong Ngài làm Đầu Sư phái Ngọc. Ngài Ngọc Lịch Nguyệt, cùng một lượt với Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, trong cuộc Thiên phong đầu tiên tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, vào đêm 12-3-Bính Dần (dl: 23-4-1926). Đạo hiệu là Thạch Ẩn Tử, sanh ngày mùng 1 tháng 9 năm Canh Dần (dl: 14-10-1890) tại làng Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Thân sinh của Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng, tu theo Đạo Minh Sư đến bực Thái Lão Sư, hiệu Lê Đạo Long, là người sáng lập ngôi chùa Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc. Cụ Tiểng tu đắc đạo, sau khi qui liễu, đắc quả Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn. Cụ có lời di chúc: "Lập Vĩnh Nguyên Tự để sau nầy có Thập nhị Khai Thiên đến mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ."

Thân mẫu của Ngài Lê Văn Lịch là Cụ Bà Trần Thị Đắc. Ở đây có sự liên hệ gia đình với Ngài Trần Văn Thụ (Ngọc Chưởng Pháp). Ngài Trần văn Thụ có người con gái quí danh là Trần Thị Khá, được gả cho Ngài Lê Văn Lịch. Ông Bà Lê Văn Lịch hạ sanh một người con gái là Cô Lê Ngọc Trang, Đạo hiệu Bạch Tuyết.

Ngài Lê Văn Lịch thọ nhận từ phụ thân bí thuật huyền môn của Đạo Lão (Tiên giáo) và Y thuật. Sau khi nhập môn vào Đạo Cao Đài, Ngài không dùng bí thuật huyền môn nữa, chỉ truyền lại cho con gái Lê Ngọc Trang về Y học cổ truyền.

Đầu năm Bính Dần 1926, quí Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc được lịnh Cơ Bút dạy xuống Vĩnh Nguyên Tự lập đàn cầu cơ, Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn (Cụ Lê Văn Tiểng, đạo hiệu Lê Đạo Long, thân sinh của Ngài Lịch) giáng cơ dạy Ngài Lịch, lúc bấy giờ đã tu tới bực Dẫn Ân (Minh Đường), phải hiệp với quí Ngài Cư, Tắc để mở Đạo Cao Đài.

Trong thời gian nầy, Ngài Đốc phủ Nguyễn Ngọc Tương đang làm Chủ quận Cần Giuộc đã gia nhập Đạo Cao Đài, nên cũng khuyên Ngài Lê Văn Lịch nhập môn vào Đạo. Đêm 12-3-Bính Dần (dl: 23-4-1926), Ngài Lê Văn Lịch được Đức Chí Tôn giáng cơ ân phong Ngọc Đầu Sư, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt, cùng một lượt với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, trong cuộc Lễ Thiên phong đầu tiên tổ chức tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn. Trong Thánh ngôn, Đức Chí Tôn có giáng cơ dạy Ngài Ngọc Lịch Nguyệt như sau:

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I.14:

 "CAO ĐÀI. Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa? Tam Kỳ Phổ Độ là gì? Là phổ độ lần thứ ba. Sao gọi là phổ độ? Phổ độ nghĩa là gì?

-Phổ là bày ra, độ là cứu chúng sanh.

Muốn trọn hai chữ Phổ độ, phải làm thế nào?

Chúng sanh là gì?

-Chúng sanh là toàn cả nhơn loại, chớ không phải là lựa chọn một phần người, như ý phàm các con tính rối.

Muốn trọn hai chữ Phổ độ, phải làm thế nào? Thầy hỏi? Phải bày bửu pháp chớ không đặng giấu nữa. Con phải luyện lại cho thành, nội trong tháng năm nầy về theo Trung đi truyền đạo. Nghe và tuân theo...

Phải mặc y phục như Trung, mà màu hồng."

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 22:

"Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Đài Đại Bồ Tát. Nhữ tri hồ?

Hữu Ngã đồ Thái Đầu Sư tại thử, nhĩ vô thức luyện đạo, Ngã phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp.Tam thập tứ vị chúng sơn bất tri Chơn lý luyện thành. Ngã vi Chủ khảo giáo hóa. Khả tuân Ngã mạng.

Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai!"

Diễn nôm:

Thích Ca Như Lai là Thầy (Ta), muốn cứu chúng sanh, mượn danh Cao Đài Đại Bồ Tát. Con biết không? Có học trò của Thầy là Thái Đầu Sư tại đây, nó không biết luyện đạo. Thầy phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp. 34 vị tăng không biết Chơn lý luyện thành. Thầy là Chủ khảo giáo hóa. Khá tuân lịnh Thầy. Các con tu thọ pháp, tu thọ pháp. Kính vậy thay!

Những ngày đầu Khai Đạo, Ngài Ngọc Lịch Nguyệt đóng vai trò quan trọng không kém Ngài Thượng Trung Nhựt. Ngài được lịnh Đức Chí Tôn sưu tập 3 bài Kinh Tam giáo trong Kinh Tam Thánh Đại Động để làm Kinh của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Ngài cùng với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt phụng soạn và ban hành quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH", trong đó các bài Kinh Nhựt Tụng của Đạo Cao Đài được viết bằng chữ Nho, chữ Nôm và chữ quốc ngữ, cùng là giải thích ý nghĩa tổng quát của mỗi câu kinh, có phần phụ thêm giải về Nghi tiết phụng thờ của Đạo Cao Đài, in và ban hành vào năm Mậu Thìn (1928).

Khi hai Ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang rút khỏi Tòa Thánh Tây Ninh lập Ban Chỉnh Đạo ở Bến Tre, thì Ngài Ngọc Lịch Nguyệt cũng rời Tòa Thánh, trở về Vĩnh Nguyên Tự tu hành theo lối "độc thiện kỳ thân".

Năm 1943, trong công cuộc nhà cầm quyền Pháp khủng bố Đạo Cao Đài, Ngài bị họ bắt đày đi Côn Đảo, đến năm 1945 Ngài mới được trả tự do trở về. Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt bị sát hại trong cuộc chiến chống Pháp xâm lược của phong trào Việt Minh, Ngài qui thiên tại Chợ Lớn ngày 2-9-Đinh Hợi (dl: 15-10-1947) thọ 58 tuổi. Mộ của Ngài đặt tại phần đất phía sau Vĩnh Nguyên Tự, gần mộ của thân phụ Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng.

Ngài Ngọc Lịch Nguyệt thỉnh thoảng có giáng cơ tại đàn cơ ở Vĩnh Nguyên Tự. Ngày 7-1-Ất Tỵ (1965), Ngài Ngọc Lịch Nguyệt giáng cơ, xin trích lục ra sau đây:

THI:

NGỌC chiếu khai xuân đã vẹn tròn,
LỊCH trình quí giá đáng vàng son.
NGUYỆT lai sẽ rõ cơ mầu nhiệm,
Mừng thấy đệ huynh chí chẳng mòn.

Hỡi chư Hiền đệ, Hiền muội!

THI

Bần Đạo thấy khắp trong huynh đệ,
Gối đã dùn, chẳng nệ mỏi xương.
Bạc màu tóc đã điểm sương,
Mà không nệ nhọc trên đường quả công.

Thiệt quí giá phúc hồng hiếm có,
Bước dặm trường đi đó đi đây.
Phổ thông giáo lý Đạo Thầy,
Thiêng liêng nương đó giải bày thiệt hơn.

Dầu nóng bức chẳng sờn cực nhọc,
Dẫu ngày đêm lăn lóc phụng hành.
Hiệp hòa lớn nhỏ em anh,
Rày đây mai đó chẳng canh cải lời.

Bần Đạo thấy nghĩ thôi quá tiếc!
Mảnh thân phàm bị diệt tiêu tan.
Lấy đâu làm một con thoàn,
Để cùng huynh đệ một đàng thi đua.

Còn ở tục dễ thừa hành đạo,
Nương cõi đời giả, tạo cái Chân.
Có nhiều phương tiện xa gần,
Để mà khuyến thiện dìu nhân trở về.

Như Bần Đạo lỡ bề thoát tục,
Cõi vô hình mấy lúc tiếc thương.
Tùng chung Tiên Phật một đường,
Muốn dìu sanh chúng phải nương cơ huyền.

Vì lẽ đó lời khuyên hơn thiệt,
Để đệ huynh nghiệm biết gần xa.
Ráng mà khắc kỷ xông pha,
Ráng mà giữ tánh để ra giúp đời.

Đừng bê trễ than ôi uổng bấy!
Đời mỏi mòn chẳng phải còn xa.
Trước tiên gìn giữ chữ HÒA,
Tuy rằng số ít mà ra muôn phần.

Đến chùa, Thất, rửa lần tội lỗi,
Nghe kệ kinh tắm gội linh hồn.
Mau chân mà tiến bước dồn,
Quả đầy công đủ bảo tồn nguyên căn.

THI

Căn lành gìn giữ chớ buông lơi,
Dù mấy năm qua cũng một đời.
Mải miết mặc, ăn cùng chỗ ở,
Hơi tàn vạn sự thảy buông trôi.

2.Thái Đầu Sư Thái Nương Tinh (1870-1929)

 
   

Ngài Thái Nương Tinh, thế danh là Dương Văn Nương, làm Tri Huyện Hàm tại Sa-Đéc, sanh năm Canh Ngọ (1870) tại Sa-đéc và mất ngày 25-10-Kỷ Tỵ (dl 25-11-1929) tại Sa-đéc, hưởng thọ 60 tuổi. Mộ của Ngài hiện ở phần đất dành làm nghĩa trang gia đình của hai họ Dương và Phạm, tại đường Đinh Tiên Hoàng (Tạ Thu Thâu cũ), Thị xã Sa-đéc, cách chợ chừng hơn 1000 thước.

Được biết, trước kia, mộ của Ngài ở Chợ Cồn xã Tân Qui Đông, Sa-đéc, bên bờ sông Tiền Giang. Vì bờ sông bị đất lở, nên con cháu trong gia đình cải táng về đây ngày 21-8-1959. Kế bên mộ của Ngài là mộ của Bà Huyện Dương Văn Nương, nhũ danh Nguyễn Thị Quế (1876-1951) cũng được cải táng về đây ngày 24-4-1960.

Sau đây là Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn liên quan đến quí Ngài: Đầu Sư Thái Minh Tinh, Đầu Sư Thái Nương Tinh và Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh. (Trích trong Đạo Sử quyển II của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, trang 172 và 177).

Ngày 12-12-Bính Dần (dl 15-1-1927)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

Các con: Nhị Chưởng Pháp, Nhị Đầu Sư tọa vị.

Đạo Quang! Con phải quyền Chưởng Pháp.

Nương! Thầy dặn con, con chẳng hề nghe đến. Thầy muốn bỏ, song vì cựu vị nên chẳng đành. Từ đây phải lo Đạo nghe. Thầy phong cho con chức Thái Đầu Sư. Phải hành Đạo mà hiệp sức phổ độ phái Thái. Thái Minh Tinh bị Thái Bạch cách chức...

Ngày 14-12-Bính Dần (dl 17-1-1927).

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

Thơ! con đừng lo lắng về chơn thần con lắm vậy nghe! Nhiều phen Thầy nghe con vái, nhưng mà ngày chưa đến, nên Thầy chưa nói, ngày nay Thầy tỏ thiệt cho con hiểu. Con là một chơn linh cùng Quan Âm Bồ Tát, con đã hiểu rồi, vậy từ đây phải biết mình trân trọng mà trau giồi tánh hạnh nghe. Thầy chẳng nói căn cội của Nương, e con giận. Vậy Thầy nói luôn để cho anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành Đạo cho tới ngày hai con đắc quả đặng trở về cùng Thầy."

3- Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt:
Thế danh Lê Văn Trung (1876- 1934)

 
   

Ngày 11-3-Bính Dần (dl: 22-4-1926) Đức Chí Tôn phong Ngài Lê văn Trung làm Đầu Sư phái Thượng, Thánh danh Thượng Trung Nhựt.

Ngày 03-10-Canh Ngọ (dl: 22-11-1930) Đức Lý Giáo Tông giáng cơ hiệp với Đức Phạm Hộ Pháp ra Đạo Nghị Định thứ hai, ban Quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, còn quyền Giáo Tông thiêng liêng vẫn do Đức Lý nắm giữ. Kể từ ngày đó, Hội Thánh gọi Ngài là Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung. Như vậy, bấy giờ trong Đạo Cao Đài, quyền hành của Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp có hai phần: phần hữu hình và phần vô hình.

Đức Lý Giáo Tông nhường phân nửa quyền hành Giáo Tông cho Ngài Lê Văn Trung điều khiển phần hữu hình, còn quyền hành Giáo Tông thiêng liêng vẫn do Đức Lý nắm giữ. Khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên, Đức Lý đem nửa quyền hành Giáo Tông hữu hình ấy giao cho Đức Hộ Pháp, nên Đức Phạm Hộ Pháp lúc đó làm "Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài" Hiệp Thiên và Cửu Trùng. Ngài Lê Văn Trung là một trong 12 Môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn, đã có đại công khai mở, xây dựng và truyền bá Đạo Cao Đài. Khi còn ở ngoài đời, Ngài là một nhân vật chánh trị nổi tiếng binh vực quyền lợi cho dân chúng, làm đến chức Nghị Viên Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương. Để ghi nhớ công nghiệp lớn lao của Ngài, ngôi trường Trung Học do Hội Thánh lập ra ở gần Cửa số 7 ngoại-ô Tòa-Thánh được đặt tên là Trường Trung Học Lê Văn Trung; còn con đường cặp hông Giáo Tông Đường trong Nội Ô Tòa Thánh được Hội Thánh đặt tên là đường Thượng Trung Nhựt.

Đây là Tiểu Sử của Đức Quyền Giáo Tông:

Ngài Lê Văn Trung sanh năm Bính Tý (1876) tại làng Phước Lâm tổng Phước Điền Trung (Chợ Lớn).Thuở Ngài được 3 tuổi thì thân phụ là ông Lê Văn Thanh (1845-1878) đau bịnh từ trần, thân mẫu là bà Văn Thị Xuân (1849- 1912) lúc đó mới 30 tuổi, cư tang thờ chồng, thủ phận ở vậy nuôi con cho đến ngày khôn lớn. Ngài Lê Văn Trung lớn lên có hình dáng đẹp đẽ, cân đối, tánh tình hòa nhã nhưng rất cương quyết, phụng sự mẫu thân rất có hiếu, cư xử tốt đẹp với bà con anh em, Ngài rất ái mộ Nho học. Ngài thi vào học tại trường Lycée Chasseloup Laubat -SàiGòn và tốt nghiệp trường nầy vào năm 1894, lúc đó Ngài được 19 tuổi. (Tuổi tây là 18 tuổi).

Cũng trong năm nầy, ngày 14-7-1894, Ngài Lê Văn Trung được thâu nhận vào làm Thơ Ký tại Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Ngài làm việc Thơ Ký cho đến năm 1906, tổng cộng được 12 năm. Sau đó, Ngài xin thôi việc và được chấp thuận ngày 6-3-1906. Ngài Lê Văn Trung ra ứng cử và được dân chúng bầu vào Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ (Conseil Colonial de Cochinchine) đại diện cho các tỉnh: Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Gò Công, Tây Ninh, được liên tiếp 2 khóa, tổng cộng 8 năm. (Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ có 10 Hội Viên người Pháp và 6 Hội Viên người Việt. Hội-Viên người Việt do đại diện các Hương chức Nam Kỳ bầu lên). Lúc làm Hội Viên Hội Đồng Quản Hạt, mỗi khi nhóm họp nơi Soái Phủ Nam Kỳ, Ngài Lê Văn Trung thẳng thắng bàn cãi những sự ích nước lợi dân. Ngài rất lưu tâm đến việc mở mang các trường dạy học và công việc thương mãi. Trong những sự bàn cãi, đôi khi làm trái ý quan trên, nhưng Ngài vẫn thẳng thắng vì nhiệm vụ đại biểu của dân, chẳng đoái đến phận mình bị thiệt thòi, cho nên, xa gần, quan dân đều ngợi khen Ngài là người khẳng khái cương trực. Điển hình là vụ Lục Hạng điền, Chánh phủ Pháp phân 6 hạng ruộng để đánh thuế. Ông Outrey, quyền Thống Đốc Nam Kỳ dự thảo luật thuế về Lục Hạng điền, trình ra cho Hội Đồng Quản Hạt thừa nhận để đem ra áp dụng thi hành. Ngài Lê Văn Trung cùng với ông Diệp Văn Cương, Hội Đồng Quản Hạt Bến Tre đứng ra làm đầu 6 vị Hội Đồng Quản Hạt người Việt, đồng phản kháng dự thảo luật nói trên, nhưng khi biểu quyết, số thăm của Hội Đồng người Việt chỉ có 6, còn người Pháp thì 10, nên bị thua thăm và như thế thì dự luật được thông qua với đa số 10/6. Dù thua thăm, nhưng 6 ông cương quyết chống lại luật thuế Lục Hạng điền, nên tất cả 6 ông đều gởi đơn từ chức để phản đối. Dưới thời Pháp thuộc mà 6 ông làm được một việc như thế phải kể là một hành động táo bạo và rất can đảm. Từ chức xong, 6 ông đều ứng cử trở lại, năm ông được tái đắc cử, chỉ có ông Hội Đồng Hoài là bị thất cử, do ông Bùi Quang Chiêu theo phe ông Outrey phá. Nhờ vụ Lục Hạng điền mà tiếng tăm và uy tín của Ngài Lê Văn Trung lên rất cao, khiến cho người Pháp rất chú ý Ngài, chẳng dám xem thường.

Năm 1911, Ngài Lê Văn Trung đề xuất một việc làm rất mới mẻ tại Sài Gòn, nơi đang chịu sự thống trị nặng nề của Pháp, là việc xây dựng một Nữ Học Đường để giáo dục con gái, thực hiện Nam Nữ bình quyền. Chánh phủ Pháp ngoài mặt không dám phản đối, nhưng không ủng hộ việc mở mang dân trí nầy. Ngài Lê Văn Trung vận động với bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương và một số trí thức ủng hộ, quyên góp tiền bạc, xây dựng được một ngôi trường Nữ đầu tiên tại Sài Gòn, gọi là Collège des Jeunes filles (có tên là Trướng Áo Tím) về sau đặt tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long. Hiện nay, trường nầy vẫn còn tấm bia kỷ niệm ghi tên hai vị sáng lập là bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương và Hội Đồng Quản Hạt Lê Văn Trung.

Ngày 18-5-1912, Ngài Lê Văn Trung được Chánh phủ Pháp thưởng cho Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ Ngũ Đẳng (Chevalier de la Légion d'Honneur).

Mấy năm đó, Ngài có mở cửa hàng Hạnh Hoa Thôn, giúp đỡ người Việt Nam bổn xứ có nề nếp hưởng nhờ bề thạnh lợi, sanh ý ngày càng phấn chấn, dần dần nên cuộc đại thương, không nhượng ngoại quốc.

Ngày 10-12-1914, Ngài Lê Văn Trung được Pháp cử lên làm Nghị viên Hội Đồng Soái Phủ Đông Dương (Conseil du Gouvernement de l'Indochine), thường gọi là Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương. Nhà cầm quyền Pháp mở hội Thượng Nghị Viện tại Bắc Kỳ, Ngài đi với Nguyên Soái Gourbeil ra bàn việc nước. Quan Thống Soái Bắc Kỳ, Trung Kỳ, với quan Đại Thần An Nam là ông Hoàng Cao Khải, ông Trương Như Cường, đều ngợi khen Ngài là người có khoa ngôn ngữ và rất lễ nghĩa.

Em của Ngài Lê Văn Trung là Lê Văn Diêu, thuở trước làm Giáo Thọ chữ Pháp, sau được ban chức Huyện Hàm, tánh tình hiếu thuận, nối theo đường hướng của Ngài, mà gầy dựng được cuộc buôn bán phát đạt.

Phu nhân của Ngài Lê Văn Trung là bà Đãi thị Huệ, cũng người tỉnh Chợ Lớn, hiền đức, trọng nghĩa, siêng năng buôn bán, lại khéo bề nội trợ tề gia, giúp thêm tiếng tốt cho Ngài. (Sau nầy, bà Đãi Thị Huệ nhập môn vào Đạo Cao Đài, được Đức Chí Tôn phong chức Nữ Giáo Sư, Thánh danh Hương Huệ, trong kỳ Phong Thánh Nữ phái kỳ I ngày 14-1-Đinh Mão, dl 15-2-1927, tại Chùa Gò Kén.

Thi rằng:

Ra tài Quản Hạt bấy thu chầy,
Quan chuộng dân yêu hội hiệp vầy.
Lòng dạ thẳng ngay, gương vặc vặc,
Tiếng tăm khen ngợi, tiết hây hây.
Thương trường mở cuộc buồm xuôi gió,
Thượng Viện gặp thời chí lướt mây.
Nhờ đức thung huyên vun quén sẵn,
Lộc Trời ơn nước, phước gồm may.

(Viết theo tài liệu trong quyển Điếu Cổ Hạ Kim Thi Tập của ông Nguyễn Liên Phong soạn, Sài Gòn, năm 1915)

Kể từ năm 1920 trở đi, công việc kinh doanh của Ngài Trung gặp khó khăn, đến cuối năm 1924 thì bế tắc, hoàn toàn bị lỗ lã. Ngài đau buồn, sanh ra hút thuốc phiện và sau đó, thị lực của đôi mắt yếu đi rất nhiều, chỉ thấy mọi vật lờ mờ. Người bà con với Ngài là ông Hội Đồng Nguyễn Hữu Đắc, tu theo Minh Lý, thường vào hầu đàn nơi Chợ Gạo. Nguyên mấy tháng trước đây, tại nhà ông Nguyễn Bá Vạn ở ngã ba Bà Kế thuộc Chợ Gạo, Chợ Lớn, nay là Bến Phú Lâm, Quận 6 Chợ Lớn, có lập một đàn thỉnh Tiên rất linh hiển, thường cho thuốc trị bịnh rất hay. Ông Đắc hướng dẫn ông Trung đến hầu đàn nầy. Tại đây, Đức Lý Thái Bạch giáng khuyên Ngài Lê Văn Trung nên tỉnh giấc mộng trần mà lo việc tu hành. Ngài Lê Văn Trung tỉnh ngộ, bắt đầu ăn chay, bỏ hút thuốc phiện và lần lần đôi mắt của Ngài hết lòa, sáng trở lại. Sau khi đàn Chợ Gạo độ được Ngài Lê văn Trung rồi thì chư Tiên dạy bế, làm cho nhiều người hầu đàn ngạc nhiên, không rõ cớ chi.

Tóm lược tài liệu của Ban Đạo Sử:

- Ngày 23-11-Ất Sửu (dl 7-1-1926) Đức Cao Đài Thượng Đế dạy quí ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc đem Đại Ngọc cơ đến nhà ông Lê văn Trung ở Chợ Lớn cho Đức Chí Tôn dạy việc. Quí ông ngần ngại nhưng không dám cải lịnh. Khi đến nhà ông Trung, quí ông trình bày tự sự. Ông Trung vui vẻ chấp thuận và cùng nhau thiết lập đàn cơ. Trong lúc chuẩn bị cầu cơ, nhiều phép lạ hiện ra. Trong đàn cơ nầy, Đức Thượng Đế dạy ông Trung phải hiệp với hai ông Cư và Tắc lo việc mở Đạo.

Đức Cao-Đài Thượng Đế dạy:

"Trung! Nhứt tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thác cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng mắt của con mà suy lấy.

Một Trời một Đất một nhà riêng,
Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.
Cầm mối Thiên thơ lo cứu chúng,
Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

Từ đây, ông Trung được Đức Chí Tôn thâu làm Môn đệ. Ông vâng Thánh ý, thu xếp việc nhà, xả thân hành đạo cho đến ngày cỗi xác trần về với Hư vô..

- Ngày 27-11-Ất Sửu (dl 11-1-1926) ông Lê Văn Trung đến viếng ba ông: Cư, Tắc, Sang. Bốn ông hiệp lại cầu cơ. Đức Chí Tôn giáng dạy ông Trung nhiều việc.

- Ngày 14-12-Ất Sửu (dl 27-1-1926), quí ông bạch hỏi Đức Thượng Đế về cách thờ phượng. Đức Thượng Đế dạy các ông đến gặp ông Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu để xem cách thức, vì ông Chiêu đã được Đức Thượng Đế dạy đạo từ lâu và bảo xem ông Chiêu là Anh Cả.

- Ngày 15-12-Ất Sửu (dl 28-1-1926), cuộc họp mặt và dự tiệc do ông Lê Văn Trung tổ chức gồm 12 vị môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn và 14 vị khác đã có hầu đàn cơ nhiều lần nhưng chưa được chính thức nhận làm môn đệ.

- Ngày 17-12-Ất Sửu (dl 30-1-1926), ông Lê Văn Trung thượng tượng thờ Thầy rất trọng thể. Đức Thượng Đế giáng cơ dạy và chỉ cách đặt vị trí thờ Đức Quan Thánh, Đức Quan Âm Bồ Tát và Đức Lý Thái Bạch.

- Đêm 12-3-Bính Dần (dl 23-4-1926), Đức Chí Tôn sắp đặt cuộc Thiên phong tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, ân phong cho Ngài là Thượng Đầu Sư, Thánh danh Thượng Trung Nhựt, cùng một lượt với Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.

Sau đây cũng đã thể hiện được tinh thần "Tam Hội lập quyền" ngay buổi đầu:

- Ngày 23-8-Bính Dần (dl 29-9-1926) Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt vâng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn, hiệp cùng chư Chức sắc Thiên phong và chư Đạo hữu, tổng cộng 247 người, họp tại nhà ông Nguyễn Văn Tường ở đường Galiéni, nay là đường Trần Hưng Đạo, quận 1 Sài Gòn, để thảo ra TỜ KHAI ĐẠO, chờ Đức Chí Tôn xem xét trước mới gởi lên Chánh phủ Pháp: Xem như đây là cuộc Đại Hội nhơn sanh

- Ngày 1-9-Bính Dần (dl 7-10-1926), Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đích thân đem TỜ KHAI ĐẠO đến gởi cho quan Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol, được ông vui vẻ tiếp nhận. Ông khen rằng vì chữ "Thiện"lo cho nhơn sanh.Trong đơn chỉ có 28 người đại diện, là những người có danh vị, sau là những Chức sắc: đây Đại hội Hội Thánh.

- Chính sự quyết định thời gian gởi đơn lên cho Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol và chỉnh sửa của Thầy là quyền quyết định tối thượng: đây là Thượng Hội vậy.

- Ngày 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926), ngày rằm Hạ nguơn năm Bính Dần, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt hiệp cùng Đức Hộ Pháp và chư Chức sắc Đại Thiên phong, vâng lịnh Đức Chí Tôn mượn chùa Từ Lâm Tự ở Gò Kén Tây Ninh làm Thánh Thất tạm để tổ chức Đại lễ Khai Đạo Cao Đài, đủ các quan chức các cấp của Chánh quyền Pháp thời đó và đại diện các Tôn giáo khác đến dự.

- Ngày 3-10-Canh Ngọ (dl 22-11-1930) Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt được Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban Quyền Giáo Tông hữu hình, do Đạo Nghị Định thứ 2

Nguyên văn Đạo Nghị Định thứ nhì:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Đệ ngũ niên)

Chiếu theo Pháp Chánh Truyền ban quyền hành cho Giáo Tông và Hộ Pháp,

Nghĩ vì chư Chức sắc Thiên phong có quyền đặc biệt ngoài luật đã định, còn quyền hành Hội Thánh nữa.

Nghĩ vì thiếu luật Hội Thánh nên quyền hành chánh chẳng đặng vẹn toàn,

NGHỊ ĐỊNH

Điều thứ nhứt: Ban quyền hành cho Thượng Đầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Giáo Tông về phần xác, còn phần thiêng liêng có Lão.

Điều thứ nhì: Chức sắc Cửu Trùng Đài, duy bậc Chánh Phối Sư phải tùng quyền mà hành chánh về phần Chánh trị của Đạo, song đặng thế mặt cho Đầu Sư, đương buổi Người cầm quyền Giáo Tông của Lão.

Điều thứ ba: Mọi việc chi thuộc về quyền Chánh trị đều giao cho Chánh Phối Sư.

Điều thứ tư: Chánh Phối Sư đặng trọn quyền thông công cùng Chánh phủ và nhơn sanh, nhưng buộc phải có Hội viên Nhơn sanh và Hội Thánh chăm nom cơ hành động.

Điều thứ năm: Nghị Định nầy sẽ ban hành vào ngày 15-10-Canh Ngọ.

Làm tại Tòa Thánh Tây Ninh ngày 03-10-Canh Ngọ.

GIÁO TÔNG
Lý Thái Bạch

HỘ PHÁP
Phạm công Tắc

Một số ít Chức sắc Thiên phong sanh lòng đố kỵ Đức Quyền Giáo Tông, nên tìm đủ cách để công kích và buộc tội Ngài. Nào thiết lập Hội Vạn Linh để kết án Ngài, viết Tờ Châu Tri để mạ lỵ, xúi giục tín đồ đem nhiều việc phi lý kiện Ngài nơi Tòa Án tỉnh Tây Ninh, đồng thời vu cáo Ngài làm cách mạng chống Chánh quyền Pháp. Không ngày nào mà Đức Quyền Giáo Tông không bị các viên Thẩm phán Tòa Án đòi ra hỏi cung.

Đang lúc bị khủng bố nguy nan như thế, Đức Ngài vẫn điềm tỉnh đối phó, một mặt hiệp với Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh lo sắp đặt Nữ phái trong Đạo.

Đức Ngài nói: "Lúc trước tôi đã giúp bà Cụ Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương lập trường Nữ học, bây giờ tôi hiệp với Bà Nữ Chánh Phối Sư tổ chức các Nữ Viện, cũng đồng một nghĩa. Tôi chỉ ao ước cho Nam Nữ bất bình đẳng ở ngoài Đời chẳng còn trong Đạo nữa."

Kết cuộc các vụ thưa kiện Đức Ngài ở Tòa Án tỉnh Tây Ninh, họ kết tội Ngài: trường hợp công quả đánh xe bò ban đêm không thắp đèn hiệu, bò thiếu dây buộc ách, 34 người Đạo công quả thiếu thuế, họ phạt Ngài 2 ngày tù.

Thật là khôi hài đối với một vị Cựu Thượng Nghị viên thưởng thọ Bắc Đẩu Bội Tinh của Chánh phủ Pháp. Họ biết Ngài vô tội, nhưng cũng cố buộc tội để làm nhục Ngài

Bọn lính sen đầm đem hai án tòa vào Giáo Tông Đường đặng bắt Ngài ra ngồi tù ở khám đường Tây Ninh. Ngài chậm rãi khăn áo chỉnh tề, mang Bắc Đẩu Bội Tinh vào, rồi đi theo sai nha. Đó là buổi sáng ngày mùng 7-Giêng-Giáp Tuất (dl: 20-2-1934), trước lễ Vía Đức Chí Tôn hai ngày. Đức Ngài ngồi tù tại khám đường Tây Ninh hai ngày rưỡi mới được thả về.

Sau khi cúng vía Đức Chí Tôn và lễ rằm Thượng nguơn xong, Đức Ngài liền viết một văn thư đề ngày 4-3-1934 (âl 19-1-Giáp Tuất), gởi cho Chánh phủ Pháp giao trả Bắc Đẩu Bội Tinh, vì nó không còn ý nghĩa gì nữa. Bức văn thư nầy viết bằng Pháp ngữ, trong đó có nhiều chi tiết lịch sử quan trọng, xin ghi lại nguyên văn ra đây và có bài dịch ra Việt văn.

THƠ CỦA ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG
Gởi cho Giám Quốc Pháp trả Bắc Đẩu Bội Tinh

Bản phiên dịch Việt văn.

Thưa Ông,

Tôi xin hoàn lại nơi tay ông cái Médaille điều của Chánh-phủ Pháp ban thưởng cho Tôi hồi năm 1912.

Ra làm việc quan trong 12 năm, ai ai cũng đều mến yêu và khen ngợi, làm Hội đồng Quản Hạt trong 8 năm, lại có chưn trong ban Hội đồng Thượng Thơ Ðông Dương được 12 năm cả thảy là 32 năm trời. Tôi lấy lòng trung thành lo việc cho Quốc Pháp nên mới có một cái vinh diệu xứng đáng như thế.

Nhiệm vụ của Tôi đối với đời đã mãn hạn, Tôi sắp sửa về nghỉ an dưỡng lão. Bỗng chốc Ðức Chí Tôn gọi Tôi ra gánh vác nền Ðạo-đức để dung hợp cái Giáo lý với thế gian, hầu gieo khắp trên võ trụ, sự ham muốn điều qui thiện và lòng yêu thương đồng loại, sự nhiệt thành đạo đức đặng cho loài người biết công lý và quả báo tương lai. Trót 8 năm nay, Tôi nhiệt tâm mưu kết sự Thương-yêu tình nhân loại trong các chủng tộc, vì Tôi đây nhận chắc Giáo lý tân khai nầy để làm tài liệu cho chúng sanh bước lên Hòa-bình Thế-giới. Ðạo Cao-Ðài ngày nay tính ra trên một triệu Tín đồ, phần nhiều là người Việt-Nam, còn bao nhiêu người Langsa, người Cao-Miên, người Lào, người Sơn-cước và người Tàu; có lẽ Chánh phủ thuộc địa chưa có hiểu tâm lý của chúng tôi, cho nên Tín-đồ của Ðức Chí Tôn thường thường bị người bạc đãi áp chế một cách vô lý, mỗi lần chúng tôi yêu cầu xin xỏ điều chi, thì mỗi lần Chánh phủ lấy võ lực can thiệp khuấy rối người hành đạo.

Trong thời buổi nầy Chánh phủ lại dùng đủ phương sách để đánh đổ người đứng ra sáng lập nền Giáo lý của Ðức Chí Tôn. Tôi xin trích lục nhiều đoạn tôi đã viết một cái thơ gởi cho Tham Biện Vilmont ở Tây Ninh: Ông đã làm ăng-kết (enquête) rồi, vậy xin ông cho chúng tôi biết chừng nào mãn cái qui định cúng tế đã tổ chức ra đây. Còn những chuyện lôi thôi mà ông đã lược thuật cho Tôi biết trong thơ của ông, Tôi xin lỗi, chớ phải chi ông cố cập đến Tôi một chút ít, nghĩa là: Nếu ông không nhìn nhận Tôi là Giáo-Tông, thì ít nữa cũng nhìn nhận Tôi là chủ Thánh Thất Long-Thành, thì đâu có xảy ra mấy vụ lôi thôi như thế! Vả lại chúng tôi đây, không phải là người tổ chức các vụ ấy, cuộc hội nghị tại Thánh Thất, rồi ông có lòng khinh khi miệt thị một người tôi tớ trung thành lão nhược của Chánh-phủ Pháp, người tớ ấy tức là Tôi đây, mà ngặt nỗi Tôi đây có cái hân hạnh được Chánh-phủ Pháp ban thưởng Médaille điều, Tôi vì mạng lịnh của Ðức Chí-Tôn mà tận tâm mưu công ích cho hai nước Pháp Việt, cho dân tộc được đề huề một cách chơn thật, cùng sống mà hưởng lợi quyền như nhau, mà ngày nay lại thấy thân giam hãm vào trong nghịch cảnh nầy, thì thật là khổ tâm cho Tôi là dường nào? Tôi viết thơ phân trần mọi lẽ mà Chánh phủ đáp lại bằng cách bạo ngược. Mới rồi đây, hôm ngày 22 tháng 2, có 34 người Ðạo của Tôi thiếu thuế mà Chánh phủ lại bắt bỏ tù Tôi, một ông già 60 tuổi có mày-đai điều, vô cớ ngồi tù hai ngày giữa mặt Chánh phủ thuộc địa.

Vậy cái Médaille quí báu kia có giá trị gì?

Vậy lỗi ấy do bởi Chánh phủ Pháp Quốc không biết chọn người cho xứng đáng. Kể từ đây Tôi không muốn theo cái danh vị gì nữa, danh vị dầu cao trọng thế mấy, Chánh phủ thuộc địa coi cũng không ra gì, mà lại không thể chứng cái lòng trìu mến của Tôi đối với nước Pháp.

Tuy nhiên, Tôi cũng vẫn còn hy vọng đến ông Thần công lý của Pháp Quốc mà bấy lâu thiên chức của Tôi, hầu có ngày tự biết điều quấy của mình và rõ thấy Ðạo Cao Ðài không ngoài cái mục đích đem Thế-giới lên con đường Hòa-bình và thân ái.

Kính chào ông.

LÊ VĂN TRUNG


Bản chánh Pháp văn.

Tây Ninh, le 4 Mars 1934.

A Monsieur le Président de la République Francaise PARIS

Monsieur le Président de la République,

J'ai l'honneur de venir très respectueusement remettre entre vos mains la Décoration de Chevalier de l'Ordre National de Légion d'honneur que ma conférée la République Francaise par Décret du 18 Mai 1912.

Fonctionnaire apprécié et estimé pendant douze ans, Conseiller Colonial ensuite pendant huit ans, enfin Membre du Conseil du Gouverment de l'Indochine pendant douze ans, telles sont les trente-deux années de vie mises loyalement au service de la France, qui m'ont valu cette haute récompense de la République.

Après ma vie publique, je m'apprêtais à finir mes vieux jours dans un coin oublié de terre en Cochinchine, quand soudain (1926) je fus appelé par l'invisible à reprendre ma tâche pour l'unification de toutes les religions existantes, pour "semer parmi les peuples l'amour du bien et des créatures de Dieu, la pratique de la vertu, apprendre à aimer la justice et la résignation: révéler aux humains les conséquences posthumes de leurs actes, tout en assainissant leur âme".

Depuis huit ans je me consacre entièrement à cette oeuvre de fraternisation des races, convaincu que la nouvelle religion constitue un des puissants facteurs indispensables à la réalisation d'une collaboration loyale et sincère de tous les peuples, d'une paix mondiale durable.

Le Caodaisme comprend aujourd'hui plus d'un million de fidèles composé d'Annamites en très grande partie et de Francais, Combodgiens, Laotiens, Mois et Chinois.

Nous ne sommes pas compris peut-être par le gouvernement Colonial?

Toujours est-il que le Caodaisme est sans cesse injustement frappé.

À nos doléances et à nos réclamations, on répond par des actes arbitraires et des persécutions religieuses.

À l'heure qu'il est en fait tout pour atteindre le promoteur de cette nouvelle église dans son honneur.

Dans de nombreux documents, je me permets d'extraire les passages édifiants ci-après d'une lettre que j'ai écrite récemment à Monsieur l'Administrateur Vilmont, chef de la Province de Tây Ninh Cochinchine.

"En ce qui concerne vos récentes instructions, je vous serais très obligé de bien vouloir me faire connaitre jusqu'à quand est applicable cette nouvelle règlementation des cultes.

Quant aux évènements dont vous avez fait allusion dans votre lettre, je me permets de vous faire remarquer que si vous aviez bien voulu tenir compte de mes requêtes et de mes droits sinon de chef du Sacerdoce Caodaisme, du moins de chef du Temple de Long Thanh (Tây Ninh) ces "désordres" n'auraient jamais au lieu. Mieux que tout autre vous saviez que les désordres que vous signalez aujourd'hui ne venaient pas de nous.

Le réunion du 24 Novembre dernier, autorisée par vous à se tenir dans mon Temple, à des personnes tout à fait étrangères à la religion et malgré ma lettre No 394 du 22 Novembre 1933, est un véritable défi, sinon une insulte, jeté sans motif à la face qu'un vieux et loyal serviteur de la France doublé d'un décoré de la Légion d'honneur. Il m'est vraiment pénible de constater ces choses à l'heure où tous mes efforts et tout mon dévouement sont mis sincèrement au service de la cause commune des deux peuples, c'est-à-dire à l'entente cordiale et sincère les deux races applelées par la volonté du tout puissant à vivre en communauté de vie et l'interêts."

Naturellement ces doléances sont restées sans réponse, par contre les persécutions se sont de plus belle.

La dernière en date fut mon emprisonnement, le 22 Février dernier, pour dette due au fisc par trente-quatre de mes coreligionnaires, prétexte tout à fait falicieux.

Le Chevalier de Légion d'Honneur, à l'aurore de sa soixantième d'année, fut jeté en prison sans qu'aucune formalité prescrite par la loi ne fut observée.

J'ai séjourné deux jours et demi dans une cellule de la prison de Tây Ninh avec mon ruban arboré et la carte de Chevalier sur moi.

Ainsi aux yeux du Gouvernement Colonial, la Légion d'honneur ne signifie rien, l'infâmie peut atteindre.

Tout le tort revient-il à la République qui ne devait pas conférer cet insigne honneur à un pauvre indigène?

J'accomplis mon geste avec d'amers regrets, mais je préfère ne plus porter une très haute distinction à laquelle le Gouvernement Colonial n'a aucun égard et qui ne peut même plus devenir un éclatant témoignage de mon attachement à la France.

Cependant, confiant en la justice de cette France douce et généreuse que j'ai toujours aimée, je poursuivrai jusqu'au bout ma tâche sans passion et sans haine, espérant qu'on voudra bien un jour se rendre compte des erreurs commises et rendre justice à une religion qui n'a d'autre prétention que celle d'apporter au monde la paix et la concorde.

Veuillez agréer, Monsieur le Président de la République, l'expression de mon plus profond respect.

LÊ VĂN TRUNG

LÊ VĂN TRUNG Pâpe Intérimaire
du Bouddhisme rénové ou Caodaisme,
Ancien Conseiller Colonial,
Ancien Membre du Conseil de Gouvernement de l'Indochine.
Long Thành Tây Ninh (Cochinchine).
Pièce jointe: Un certificat de Monsieur le Grand Chancelier de l'Ordre National de la Légion d'Honneur.


Ý nghĩ của Đức Quyền Giáo-Tông khi trả Bắc-Đẩu Bội Tinh?

Sau khi Quan Toàn Quyền ROBIN qua trấn nhậm, Ông đã có vào diện yết Ngài và hai đàng cũng đã điều đình công việc "Tự do tín ngưỡng" của Ðạo. Nhà báo Diệp văn Kỳ nói rằng không muốn nhắc lại chuyện cũ sợ e có hại đến hòa khí của Ông đã đào tạo ra, mà chỉ muốn thêm rằng trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh là một "việc làm" sau hết của cái đời sống của ông và nhắc lại lời của ông đã cắt nghĩa "việc làm" ấy. Ngài nói:

- "Ðừng tưởng tôi trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh mà còn có ý chi phiền Chánh phủ, trách những nhà đương quyền lúc bấy giờ. Danh giá thể thống của Viện Bửu Tinh buộc tôi phải làm như vậy. Tôi mà nói đây chẳng phải vì nghi sợ điều chi mà chỉ vì ước ao ai nấy đều hiểu rằng tôn chỉ, mục đích của Ðạo chúng tôi là Hòa bình, thân ái khắp cả chúng sanh "nhứt thị đồng nhơn" thì chúng tôi đâu được phép phiền trách hờn giận. Huống chi, theo thiển kiến của tôi đối với vấn đề thực dân, thì dầu cho lúc ban sơ nó là "việc làm do ở cường quyền" song dần dần bên cai trị và bên bị cai trị cùng nhau tiếp xúc, rồi biết rõ nhau mà yêu nhau, thì chúng ta lại có thể hy vọng rằng cái "việc làm do ở cường quyền" kia sẽ thành ra một mối dây đoàn thể, thân thiện của dân tộc nầy đối với dân tộc khác".

Sau khi đối với Ðạo, Ðạo biết Ông vô tội; đối với Tòa, Tòa biết Ông vô tội; cái danh hành đạo của Ông được trắng như tuyết. (Nhà báo Diệp-văn-Kỳ)

-Ngày 13-10-GiápTuất (dl 19-11-1934) Đức Quyền Giáo Tông lâm bịnh và nhẹ nhàng thoát xác qui Tiên tại Giáo Tông Đường, lúc 3 giờ chiều, hưởng thọ 59 tuổi.

Hội Thánh thông báo cho toàn đạo để tang: Chức sắc Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài từ phẩm Giáo Hữu hay tương đương đổ lên, để tang một năm, còn Lễ Sanh và tín đồ thì tùy ý. Thi hài của Đức Quyền Giáo Tông được liệm vào Liên đài, mỗi khi di chuyển thì đặt lên lưng Long mã, gọi là Liên đài kỵ Long mã. Tang lễ được cử hành rất long trọng với chương trình:

- Ngày 15-10-Giáp Tuất: Lễ Thành phục.

- Ngày 15 đến 24-10-Giáp Tuất: Liên đài quàn tại Giáo Tông đường.

- Ngày 24-10 Giáp Tuất: Di Liên đài đến Tòa Thánh.

- Ngày 25-10-Giáp Tuất: Di Liên đài ra Cửu Trùng Thiên tại Đại Đồng Xã trước Tòa Thánh.

- Ngày 26-10-Giáp Tuất: Liên đài nhập bửu tháp.

Bửu tháp của Đức Ngài được xây ngay phía sau Bát-Quái Đài của Đền Thánh - Tòa Thánh. Tây ninh.

Mượn lời của ký giả Diệp Văn Kỳ nhận xét về cái chết của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, được đăng lên báo lúc bấy giờ để làm phần kết:

"Chúng tôi chỉ biết rằng, từ hôm ông chết đến nay, ở Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, số người mỗi ngày đến chịu tang, lấy muôn mà kể: Già trẻ, bé lớn, đàn ông, đàn bà ở Lục tỉnh, ở Nam Vang, ở Lào, thảy đều thương tiếc khóc than, chẳng khác nào như con mất cha mẹ. Nếu có thể lấy những Chuông vải trắng bịt trên đầu để làm thước đặng đo sự nghiệp, công đức của người quá vãng, thì ta có thể nói rằng: sự nghiệp, công đức của Ông Lê Văn Trung là lớn nhất ở Nam Kỳ nầy vậy."

Nếu kể từ ngày Khai Đạo tại Thánh Thất Từ Lâm Tự Gò Kén 14-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926) cho đến ngày qui là 13-10-Giáp Tuất (dl: 19-11-1934) thì đúng 8 năm tròn. Nếu tính từ ngày Đức Chí Tôn thâu nhận Ngài làm Môn đệ 23-11-Ất Sửu (dl 7-1-1926), thì Đức Ngài hành đạo được 9 năm. Đức Hộ Pháp lấy bài thi sau đây của Đức Quyền Giáo Tông làm bài thài hiến lễ Đức Ngài

Càn khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm riêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo xủ phướn Tiêu Diêu.
Bầu linh khổ hải đưa thiêu cạn,
Gậy sắt nhơn sanh chống dắt dìu.
Muôn dặm cửa Tiên chờ bước tục,
Cỡi lau trở gót ruột trăm chiều.

Nguyên căn của Đức Lê Văn Trung:

Nguyên căn của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung là Đại Tiên Lý Thiết Quả, tức là Lý Ngưng Dương, đứng đầu Bát Tiên.Trong con đường Thiêng-Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có mô tả trận đánh giữa Đức Quyền Giáo Tông trong pháp thân Lý Thiết Quả với Kim Quang Sứ để mở đường đi từ Ngọc Hư Cung đến Cực Lạc Thế Giới:

 
     

"Buổi ấy, Bần Đạo đi với cái pháp bửu bằng vân xa, đi ngang qua từ Ngọc Hư Cung đến Cực Lạc Thế Giới. Khi vân xa đi qua đó, bị Kim Quang Sứ đón đường không cho đi. Bần Đạo đương bối rối không biết tính làm sao, liền khi ấy ngó thấy Đức Lý Ngưng Dương trong pháp thân của Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt cầm cây gậy cà thọt nhảy ra chiến đấu với Kim Quang Sứ. Bần Đạo ngó thấy cà ạch cà đuội, chơn cụt chơn dài, nhảy cà quơ cà quơ. Bần Đạo ngồi trên vân xa suy nghĩ, Đức Lý Ngưng Dương có một mình làm sao đánh lại người ta, thấy ban đầu có một mình Đức Quyền Giáo Tông, bên kia Kim Quang Sứ, hai đàng đánh nhau không phân thắng bại, bửu bối không biết bao nhiêu mà bất phân thắng bại. Hồi lâu ngó thấy Đức Lý Ngưng Dương đập Kim Quang Sứ một gậy, đập văng hào quang ra như lọ nồi, như đập vào bình mực văng túa xua ra vậy. Đập thấy biến ra người thứ nhì nữa. Đàng nầy cả trong Thánh Thể của Đức Chí Tôn có một vị Chức sắc Thiên phong mà Bần Đạo không nói tên ra, cản, đánh người thứ nhì đó. Kim Quang Sứ biến ra bao nhiêu thì bên nây cũng hiện ra bấy nhiêu. Một trận đại chiến náo nhiệt. Bần Đạo ngồi trên vân xa cũng như người ta ngồi trên máy bay mà khán trận vậy. Dòm riết mỏi mòn buồn ngủ, ngủ đã rồi thức dậy thấy cũng còn đánh, ngồi lâu lắm gục xuống ngủ nữa, làm 3 lần như vậy, tới chừng lần thứ ba tỉnh lại thấy mặt trận đầy Càn Khôn vũ trụ, lớn quá, bên mình không biết làm thế nào chiến đấu cho lại, không lẽ ngồi trên vân xa nầy hoài, phải có phương pháp gì giúp tay mới đặng....Đến chừng bay giữa không trung, thấy minh mông không biết làm sao gom lại được, để vậy khó đánh lắm, ai ngờ Bần Đạo cầm cây Kim Tiên, định vẽ vòng gom lại, thì chẳng khác nào vãi cái chài vậy. Bần Đạo cầm cây Kim Tiên định gom lại, vừa gom thì nó thúc nhặt mặt trận ấy lại nhỏ lần lần, thấy đàng ta đã thắng Kim Quang Sứ. Bên Đạo của ta là Đức Lý Ngưng Dương đã diệt được bên Kim Quang Sứ, tới chừng rốt cuộc chỉ còn Đức Lý Ngưng Dương đánh với Kim Quang Sứ mà thôi. Đánh nhau một hồi, Đức Lý Ngưng Dương đập Kim Quang Sứ một gậy thì Kim Quang Sứ hóa hào quang đằng vân bay mất (Thiêng Liêng Hằng Sống trang 145-146)

Chuyện liên quan đến Đức Quyền Giáo Tông

* Thuở Đạo còn sơ khai, Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho Đức Quyền Giáo Tông các bài thi sau:

Già trí đừng lo trí chẳng già,
Lương tâm mình biết, hỏi chi xa.
Thềm đầu Trời ngó lòng nhơn đạo,
Hư thiệt rồi đây cũng biết mà.!

(11-1-1926)

Đã thấy ven mây lố mặt dương,
Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.
Đạo Cao phó có tay cao độ,
Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

(12-2-1926)

Đức Lý Thái Bạch giáng cho Thi:

Có công phải biết gắng nên công,
Tu tánh đã xong tới luyện lòng.
Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,
Đơn tâm khó định lấy chi mong.

(27-1-1926)

* Cũng trong ngày nầy (27-1-1926), có Thất Nương Diêu-Trì-Cung giáng cơ. Đức Quyền Giáo Tông hỏi:

- Có duyên luyện đạo cùng chăng, xin Em mách giùm.

- Đã gặp Đạo ắt có duyên phần. Ráng tu luyện, siêng thì thành, biếng thì đọa, liệu lấy mà răn mình. Phải sớm tính, một ngày qua là một ngày chết. Đừng dụ dự. Em xin kiếu.

*Trong một đàn cơ khác, nhân có Bát Nương Diêu Trì-Cung giáng đàn, Đức Quyền Giáo Tông hỏi thăm Bát Nương về linh hồn của thân phụ và thân mẫu của Ngài có được siêu thăng cùng chăng? Giờ đây đang ở đâu?

Bát Nương giáng cơ đáp: Em chỉ nói bằng thơ, nếu Anh giảng trúng thì nói nữa, trật thì lui.

Đức Quyền Giáo Tông năn nỉ: Nếu Qua nói trật thì nhờ Em thương tình mà chỉ dẫn để cho Qua học thêm với.

"Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc.
"Bá phụ cùng Bá mẫu đặng an!"

Như vậy là thân phụ và thân mẫu của Qua trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở nơi cõi Cực Lạc?

- Đúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của Anh nên Bá phụ và Bá mẫu được siêu thăng nơi Cực Lạc.

Thi văn của Đức Quyền Gíao Tông:

Đức Hộ Pháp xướng: Nhắn Bạn Quyền Giáo Tông

Hồ lô ai để ở nơi đâu?
Ái quốc Việt Nam nhét bể bầu.
Cứu thế hồng ân chưa rải khắp,
Nâng thuyền lòng nước vốn còn sâu.
Nhơn tài nẩy nở tuy trăm bụng,
Dân trí biến sanh bởi một đầu.
Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận,
Cuộc cờ thắng bại tận phao câu.

(11-9-Bính Tuất 1946)

1. Đức Quyền Giáo Tông giáng họa, ngày 19-9-Bính.Tuất 1946:

Tách trần tính lại đã là đâu!
Thế giới vân du chỉn một bầu.
Nguồn đạo bấy chừ bao sức lớn,
Tinh thần từ trước đã gần sâu.
Nhơn tâm gầy khối đều nên mặt,
Tình thế trau nên kiểu vở đầu.
Lừa lọc nên hư do phép Tạo,
Hưng suy chỉ định bởi đôi câu.

2. Đức Quyền Giáo Tông giáng cơ họa tiếp, ngày 28-4-Mậu Tý (1948):

Đường trần hạnh phúc đã là đâu?
Chi bẵng Càn khôn quảy một bầu.
Đủ hiểu tâm phàm lòng lạt lẽo,
Dư xem bước tục chí cao sâu.
Thiên Quân ví chẳng ra tiền đạo,
Tướng soái khó toan chiếm địa đầu.
Vạn pháp đem khoe tài Hộ Pháp,
Cũng như đực rựa sánh kim câu.

3. Đêm mùng 10 tháng 10 Canh Dần (dl 19-11-1950). Đức Quyền Giáo Tông giáng:

Mừng các em,

Mỗi năm đến kỳ Lễ Hạ Nguơn, kỷ niệm Khai Đạo, thì các em không quên ngày Thánh đán của Anh, và mỗi em đều để tâm lo lắng, nhứt là Hộ Pháp cư xử trọn nghĩa đệ huynh, đến như thi hài của anh đối về phần Đạo thì cũng chẳng trọng hệ chi, nhưng đó là một phần trong Thánh Thể của Chí Tôn, các em lo cho anh được châu toàn, anh có lời cảm ơn trước là Hộ Pháp, sau là tất cả các em. Một điều anh ước mong sao hành trình của mỗi em làm thế nào cho đoàn hậu tấn để tâm kính mến lo cho các em, cũng như các em lo cho anh từ thử. Còn cơ Đạo của Chí Tôn, bước qua năm 26 sẽ phát triển lên cao thượng một cách phi thường, làm cho dân tộc Việt-Nam đều ngạc nhiên và chủ tâm hưởng ứng. Nền Đạo cao lên bao nhiêu thì danh thể của các em tăng tiến lên; trọng yếu và trách nhậm phải thế nào? Các em cần lo trau giồi cho đáng giá, để làm gương mẫu hướng dẫn quần chúng noi bước theo con đường đạo đức và lập quốc buổi tương lai đã đến đây.

Trong phương diện hành đạo, có ba điều nên chú ý như sau nầy, các em khá nhớ: - Một là Quyền. - Hai là Luật, - Ba là Pháp, đều của Đức Chí Tôn vậy.

- Quyền là giáo hóa, dìu dẫn chúng sanh vào khuôn linh của Đạo.

- Luật là thương yêu, rộng dung, tha thứ cho kẻ lỗi biết ăn năn.

- Pháp là giữ công bình chánh trực.

Nếu có kẻ không nghe lời giáo hóa, cố tâm phạm luật, thì người cầm quyền cai trị lấy Thánh đức mà định hình phạt là cốt yếu cạo gọt cho nên hình người, chớ không phải kẻ cầm quyền mà để phạm vào tội ác bất nhơn, bởi Đạo.

Đức Hộ-Pháp nói ngày 13-10-Giáp-Ngọ 1954)

"Khi Đức Chí-Tôn đến với chúng tôi, Đức Chí Tôn mở ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ chớ không phải mở Đạo CAO ĐÀI. Tới chừng Ngài biểu chúng tôi cầm một cây Cơ và một ngọn bút đi các nơi thâu Môn-Đệ. Trọng-yếu của Ngài là thâu mấy vị Tông-đồ có sứ-mạng trong Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ này làm môi-giới độ ĐẠO sau này."

"Đạo Cao-Đài tức là ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘ khai sáng vào thời-kỳ này là do Thiên-cơ tiền định và cũng hợp với lời tiên-tri của các Đấng Giáo-Chủ đã khai mở các Đạo-giáo trên thế-giới.

"Theo Phật-giáo, Lão-giáo và Khổng-giáo thì đều dạy rằng: thời-kỳ này là thời-kỳ Hạ nguơn khiến đời tận diệt để chuyển xây trở lại Thượng nguơn Thánh-đức với một kỷ nguyên mới. Đặc biệt Đức Thích-Ca Mâu-Ni khi lập giáo có cho biết đến năm 2.500 kỷ-nguyên Phật giáo, là thời-kỳ để cho Đức Di Lạc ra đời mở Hội-Long Hoa lập một kỷ nguyên mới đó vậy".

ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ do Đức Cao-Đài Thượng-Đế dùng Huyền-diệu Cơ bút khai sáng tại nước Việt-Nam vào ngày 15-10-năm Bính Dần (dl: 19-11-1926) đến nay đã 30 năm, độ dân được một số thiện-nam tín-nữ hơn hai triệu người, Tổ Đình thờ Đức Chí Tôn và Đền thờ Đức Phật Mẫu lập thành tại Thánh-địa Tây Ninh. Hội-Thánh hành-đạo dưới quyền Đức Tiên-Trưởng Lý Thái-Bạch kiêm Giáo-Tông về mặt vô-vi, còn về mặt hữu-vi thì dưới quyền Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung-Nhựt, nay đã qui thiên. Hiện giờ Đức Hộ-Pháp chấp-chưởng quyền tối cao trong cửa Đạo cho tới ngày có Giáo-Tông hữu-hình chánh-vị.

Luật-pháp của Đại-Đạo là Tân-luật và Pháp Chánh-Truyền do Đức Cao-Đài Thượng-Đế dùng Huyền-diệu Cơ bút giảng dạy để làm qui-củ chuẩn-thằng cho Hội-Thánh truyền giáo.

Diệt trừ mê-tín dị đoan, bất nạp bóng chàng, phù thủy, bổn Đạo dung-hoà mọi tín-ngưỡng và tùy khả năng tiến-hoá của mỗi hạng người và phong-tục của mỗi điạ phương mà phổ-độ.

Tôn-chỉ của Đại-Đạo là dìu-dẫn quần sanh trên con đường xử thế, lấy luân-lý và triết-lý làm yếu-tố.

Luân-lý thì dạy con người giữ Đạo nhân luân, làm tròn bổn phận mình, đối với mình, đối với gia đình, đối với xã-hội là gia-đình rộng lớn, đối với toàn cả thiên-hạ là Đại-Đồng huynh-đệ.

Triết-lý thì cấm xa-hoa phung-phí, tránh bã lợi mồi danh, trọng duy tâm hơn duy vật và xả phú cầu bần, xả thân cầu Đạo đặng giữ cho tâm thần được thơ thới nhẹ-nhàng.

Giáo-lý của Đại-Đạo là chuyên về tín ngưỡng và tu-trì, dìu dẫn quần-sanh trên con đường xuất thế.

Tín-ngưỡng thì dạy thờ Đấng Tạo đoan là Trời, là Ngọc Hoàng Thượng-Đế, Chúa tể Càn khôn vũ-trụ, sùng thượng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đã dày công giáng trần độ thế. Đại-Đạo cũng như các Tôn giáo nhìn nhận linh-hồn bất tiêu bất diệt và tồn-tại mãi theo định-luật quả báo, có vay có trả, phải chuyển kiếp luân-hồi đền nợ tiền-khiên đặng lần bước trên con đường sáng suốt cho tới cõi Hư linh hằng sống.

Tu-trì: thì dạy lập công bồi đức, thủ giới trì trai, trau-giồi đạo hạnh, tịnh-dưỡng tinh-thần, tu tâm luyện tánh đặng đoạt vị thiêng liêng. Cửa Đạo vẫn luôn luôn mở rộng, tiếp rước bá-tánh thập phương không phân biệt sang hèn, nghèo giàu, hữu học, thông-minh hay dốt nát ngu đần, mạnh yếu như nhau, cả thảy đồng như thế: Đại nghiệp của Đạo Cao-Đài là của chung toàn thể sanh-linh, chẳng dành riêng cho một ai cả. Dầu người trong Đạo hay ngoài đời, dầu người bổn xứ hay khách ngoại-bang, hễ nhìn Đạo là làm chủ cái Đại-nghiệp ấy". Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp Tín ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi. Nắm cả Tín-ngưỡng của loài người lại, chính CHÍ TÔN là CHÚA TỂ Càn Khôn Thế Giái, làm CHÚA nền chính trị tại nước NAM, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập QUỐC ĐẠO.

Kỳ khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ tạo một linh-đài qui Tín ngưỡng của toàn nhơn-loại, đủ quyền năng tiêu-diệt Tà pháp đặng đem nhơn-loại đến ĐẠI-ĐỒNG.

Nay Đức Chí-Tôn khai Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời sấm truyền của các vì GIÁO CHỦ ngày xưa.

Chỉ có hai phương diện:

1- Là do TAM GIÁO thất kỳ truyền

2-Là chính mình ĐỨC CHÍ TÔN giáng cơ lập ĐẠO đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng TAM GIÁO lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả TINH THẦN của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA chung là thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ quyền THƯƠNG-YÊU, chung thờ một Tôn-giáo ĐẠI ĐỒNG thì nhơn loại mới gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời MỸ TỤC THUẦN PHONG thì vạn loại mới chung hưởng cơ HÒA-BÌNH, phục hồi THƯỢNG CỔ là do THIÊN THƠ tiền định buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu duy tân.

Tóm lại, ĐỨC CHÍ TÔN khai ĐẠO KỲ thứ ba này là thuận theo "Lẽ tuần-hoàn châu nhi phục thủy".

   

 

Hệ thống tổ chức của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Có ba Đài:

1- Bát Quái Đài: Thể hiện Linh Hồn, thuộc THẦN.
2- Hiệp Thiên Đài: Thể hiện Chơn Thần, thuộc KHÍ.
3- Cửu Trùng Đài: Thể hiện xác thân, thuộc TINH.

1- Bát Quái Đài:

Bát-Quái-Đài là ngôi thờ phượng Đức Thượng Đế tá danh:"Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" và các Đấng Giáo-Chủ Tam Giáo cùng các Đấng Thiêng Liêng trong Ngũ Chi Đại-Đạo là Nhơn-Đạo, Thần-Đạo Thánh Đạo, Tiên-Đạo, Phật-Đạo.

Bát-Quái-Đài dưới quyền Đức Chí-Tôn, Ngài là Chúa của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cùng Vạn-linh, chính ông chủ Bát-Quái-Đài là Đức Chí-Tôn.

2- Hiệp Thiên Đài:

Hiệp-Thiên-Đài là cơ quan Lập Pháp của Đạo, là nơi để thông công cùng Đức Thượng-Đế và các Đấng Thiêng liêng bằng Cơ Bút do Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài phò loan để tiếp các Thánh ngôn và Luật Pháp Đại-Đạo của các Đấng Thiêng Liêng giảng dạy.

Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền Hộ-Pháp làm chủ. - Hiệp-Thiên-Đài là quyền Hộ-Pháp làm chủ.

Hội Thánh Hiệp Thiên Đài gồm các Chức sắc Thiên Phong theo phẩm trật sau đây:

- Hộ-Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và bảo hộ Luật Đời cùng Luật Đạo.

-Thượng-Phẩm lo về mấy Thánh Thất và Tịnh Thất.

- Thượng-Sanh lo về phần Đời của Đạo.

- 12 Vị Thời Quân thuộc 3 Chi: Pháp- Đạo- Thế đặt dưới quyền hành sự của Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh.

3- Cửu Trùng Đài:

Cửu-Trùng-Đài 九重臺 Tiếng Pháp là Corps Exécutif. Cửu-Trùng-Đài là cơ quan Hành Pháp của Đạo. Cửu-Trùng-Đài do Giáo-Tông làm chủ Hội-Thánh. Ba ông chủ ấy, có hai ông này: Cửu-Trùng-Đài và Hiệp Thiên Đài nếu riêng ra thì không có thế gì dâng sớ cho Bát Quái-Đài, tức nhiên quyền Chí-Tôn ở nơi Bát Quái Đài.

Cửu-Trùng-Đài là cơ-quan giáo-hoá, hiệp thành Hội Thánh Cửu-Trùng-Đài xem như phần thừa hành giảng viên hội các môn, các khoa do Cơ Bút giáng truyền để giáo-huấn người đời nên gọi là Thể Thiên hành-hoá. Bởi do theo Tôn-chỉ Đạo, nghĩa là xu-hướng về phần giáo dục mà thôi.

Pháp-ChánhTruyền dạy:

"Thầy đã xưng là Thầy đặng dạy-dỗ, còn tên các Chức sắc đủ chỉ rõ-ràng phận-sự giáo-hoá là chánh vai của mỗi người, như: Giáo hữu, Giáo-sư, Phối-sư, Đầu-sư, Giáo Tông. Xem rõ lại thì tên mỗi vị chẳng mất chữ "Giáo" hay là chữ "".

Thế nên:

Giáo-Tông (1vị) là người đứng đầu Tôn-giáo có trách nhiệm hữu hình là "Anh Cả của con cái Đức Chí Tôn". Lãnh đạo tối cao toàn Đạo, có phận-sự dìu dắt Đạo Hữu trong đường Đạo và đường Đời.

Phẩm này chỉ có một mà thôi đứng vào hàng Nhứt Phật. Đối phẩm với Thiên Tiên.

Riêng ngôi Chưởng-Pháp (3 vị) là Chức-sắc Hiệp Thiên-Đài hành quyền bên Cửu-Trùng-Đài. Bởi Cửu Trùng-Đài vẫn là chánh-trị mà Chưởng-Pháp lại thuộc về luật lệ. Vậy thì Chưởng-Pháp là người thay mặt Hiệp Thiên-Đài nơi Cửu Trùng-Đài. Lãnh nhiệm vụ nghiên cứu Luật Pháp Đạo trước khi ban hành cho toàn Đạo. Ấy là cơ Đạo cổ kim hãn hữu".

Đầu-Sư (3 vị là Tam Tiên) người đứng đầu của các vị Thầy, Cầm quyền Chánh-Trị-Đạo ban hành Luật Pháp Đạo, đối phẩm với Địa Tiên.

Phối-Sư (36 vị là Tam Thập Lục Thánh): Có 3 vị Chánh-Phối-Sư làm đầu, dưới quyền 3 vị Đầu-Sư cai trị Đạo. Phối Sư là người phối-hợp với các vị Thầy đối phẩm với Thiên Thánh.

Giáo-sư (72 vị là Thất thập nhị Hiền): Có phận sự dạy dỗ Đạo-hữu trong đường Đạo và đường Đời. Được quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại Nhơn Sanh hay là cầu xin chế giảm Luật lệ ấy. Giáo-sư là Thầy có bổn phận giáo-hoá nhơn sanh, đối phẩm với Nhơn-Thánh.

Giáo-hữu (3.000 vị là Tam Thiên Đồ đệ): Chia đều mỗi phái một ngàn (1000) chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt. Lãnh phận sự phổ thông Chơn Đạo. Giáo Hữu là người chỉ có bổn phận dạy Bạn thôi, đối phẩm Địa Thánh.

Lễ Sanh: Không hạn định số. Lễ Sanh là người có hạnh kiểm tốt, được quyền đi khai Đàn cho mỗi Tín Đồ. Còn đứng vào hàng Thiên Thần.

Như vậy Cửu-Trùng-Đài là một Hội-Đồng Giáo-sư dạy dỗ nhơn-sanh cả Đời lẫn Đạo, chính:

- Đức Chí-Tôn là Viện-Trưởng.

- Các giáo-khoa là Triết-lý của Đức Phật Thích Ca, Đức Lão-Tử, Đức Khổng-Tử, Đức Chúa Jésus Christ.

- Các phụ-tá khoa trưởng là Tam-Trấn và hằng hà sa số chư Phật là Giáo-Sư chuyên khoa.

Về Chức-sắc Nữ phái:

Chức-Sắc Nữ-Phái khởi từ phẩm Đầu Sư trở xuống Lễ Sanh, quyền hành y như Nam phái, song chỉ điều hành về Nữ Phái mà thôi. Tất cả tùng lịnh của Giáo-Tông và Hộ-Pháp. Về Nữ-phái thì vô hạn định.

Duy Nữ Đầu sư: một vị

Nữ Chánh Phối Sư: một vị.

Bàn Trị Sự (Hội-Thánh Em)

Bàn Trị Sự là cơ quan hành Đạo trong thôn xã, gồm những Chức-việc sau đây:

- 1 Chánh Trị Sự - 1 Phó Trị Sự - 1 Thông Sự

Có nhiệm vụ giúp đỡ các sinh hoạt của Đạo và săn sóc các Đạo hữu như anh lớn trong gia tộc. Bàn Trị Sự còn được xem như là một Hội-Thánh-Em.

Hai Đài Cửu-Trùng và Hiệp-Thiên hiệp nhứt là quyền Chí-Tôn tại thế này, không có một quyền cai-quản nào cải qua quyền của Bát-Quái-Đài được. Hội Thánh Cửu Trùng Đài gồm Chức sắc Thiên phong theo các phẩm trật sau đây.

(ĐHP 18-8 Kỷ- Sửu)

 

Bảng tóm lược

 

4- Ba Đài liên quan mật thiết cùng nhau:

- Bát-Quái-Đài là Linh-hồn.
- Cửu-Trùng-Đài là Xác thịt.
- Hiệp-Thiên-Đài là Chơn-thần.

Hồn đặng tương-hiệp cùng xác phải nhờ Chơn-thần. Chơn-thần lại là bán hữu-hình tiếp vô-vi mà hiệp cùng hình thể, cũng như Đạo tiếp Thánh-Đức của các Đấng Thiêng-liêng mà rưới chan cho nhơn-loại.

Đức Hộ-Pháp nói:

Phước-Thiện là thay cho Hiệp-Thiên-Đài gánh vác nhiệm-vụ cứu khổ nên Hội-Thánh Phước-Thiện do nơi Qua cùng Đức Lý-Giáo-Tông đã đồng-ý tạo nên hình tướng. Ngài rất vui lòng. Tại sao vậy?

Nhiệm-vụ của Hộ-Pháp phải có Giáo-Tông.Bởi Giáo Tông Chí-Tôn định có quyền cai trị đường Đạo và đường Đời, mà hễ Giáo-Tông và Hộ-Pháp hiệp một là quyền Chí-Tôn tại thế..

Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài là phổ thông nền chơn giáo, lo về mặt giáo-hóa, bảo-tồn nền văn-hiến cho tồn tại.

Cửu-Trùng-Đài là cái Đài thể theo Cửu Trùng Thiên mà kiến trúc, có chín nấc cao thấp khác nhau.

Cửu Phẩm Thần Tiên vâng lịnh Ngọc-Hư Cung trị thế giới vô hình cũng như Cửu-Trùng-Đài vâng lịnh Bát Quái-Đài mà Chưởng-Quản mối Đại-Đạo tại thế gian về mặt hữu vi. Vậy tất cả chơn linh trong Càn Khôn vũ trụ đều phải vào Cửu Trùng-Đài và tuần tự theo đẳng cấp thấp cao để đoạt vị Thiêng liêng của mình.

Cửu Trùng Đài do Hội-Thánh quản trị, mạng danh Hội Thánh Cửu Trùng Đài gồm có một phái Nam và một phái Nữ. Đức Chí-Tôn lập Pháp-Chánh-Truyền cho cả hai phái

(Theo Đàn Cơ 16-10 Bình-Dần – 1926)

Như vậy: trường Đại-Đạo theo như Đức Hộ-Pháp dạy về đường Đạo và đường Đời rằng:

-"Thể-pháp của Đạo Cao-Đài là một trường công quả của chúng ta, trường công-quả ấy để cho chúng ta lập đức, lập công, lập ngôn.

- Bí-pháp chơn-truyền của Đức Chí-Tôn tức nhiên cơ quan huyền-bí để cho con cái của Ngài giải-thoát."

5- Quyền hành của ba Đài:

-"Trong Bát-Quái-Đài: kể từ Tiên vị đổ lên cho tới Thầy thì đã vào địa vị các Đấng Trọn lành "Classe des Parfait ou des Purs".

Từ Thánh-vị trở xuống Nhơn vị thì vào hàng Thánh "Class des Épures". Từ thú cầm xuống vật chất thì hàng phàm tục "Classe des Impurs" ấy vậy trong Bát Quái-Đài từ bậc Thánh hồn thì còn phận sự điều đình Càn Khôn thế giới, giao thiệp cùng các chơn hồn, còn ở trong vòng vật chất nâng đỡ, dạy dỗ cho phàm phẩm tấn hoá lên cho tới Thánh vị. Hễ vào đặng Thánh-vị rồi thì tự nhiên mình biết lấy mình, dầu phải bị đoạ trần đi nữa cũng còn giữ vẹn Thánh đức mà tu hành đặng đạt đến địa vị trọn lành. Lên địa vị Trọn lành rồi thì mới đồng quyền cùng Tạo-Hóa, Từ bi, tự tại, bất tiêu, bất diệt." (Pháp Chánh Truyền)

-"Trong Hiệp-Thiên-Đài: thì có Hộ-Pháp thay quyền cho các Đấng Thiêng-Liêng và Thầy mà gìn giữ công bình Tạo hóa, bảo hộ nhơn loại và vạn vật lên cho tới địa vị tận thiện, tận mỹ. Người thì tận thiện, còn vật thì tận mỹ. Chẳng cần lấy sức mình mà lập, chỉ bảo hộ cho sự tấn hóa tự nhiên khỏi điều trở ngại, nếu nói có quyền bảo hộ thì phải có Luật Pháp, lấy Luật Pháp mà kềm chế nhơn sanh, cũng như các Đấng Trọn Lành lấy Thiên điều mà sửa trị Càn khôn Thế giới.

Hộ-Pháp là thể các Đấng Trọn lành. Người lại giao quyền cho Thượng-Phẩm lập Đạo, đặng dìu dắt các chơn hồn lên tột phẩm vị của mình, tức là nâng đỡ binh vực cả Tín-đồ và Chức-sắc Thiên-phong ngồi an địa vị, cũng như chư Thần Thánh Tiên Phật điều đình Càn Khôn thế giới cho an tịnh, hòa bình mà giúp sức cho Vạn linh sanh sanh hóa hóa.

Thượng-Phẩm tiếp các chơn hồn của Thượng Sanh giao vào cửa Đạo. Thượng-Phẩm là người thể Đạo đối với hàng Thánh, ấy là người cầm đầu các Thánh.

Thượng-Sanh về Thế độ, đem các chơn hồn vào cửa Đạo, dầu Nguyên nhân hay là Hóa nhân cũng vậy, phải nhờ Người độ rỗi. Thượng Sanh đặng mạng lịnh chuyển thế, điều độ nhơn sanh ra khỏi trầm luân khổ hải, buộc Thượng-Sanh phải gần gũi kẻ vô Đạo đặng an-ủi dạy-dỗ. Mà kể từ hạng vô Đạo trở xuống cho tới vật chất thuộc về phàm, ấy vậy Thượng-Sanh là thể Đời, người đứng đầu của phẩm phàm tục." (Pháp Chánh Truyền)

6- Cửu-Trùng-Đài đối phẩm với Cửu Thiên Khai hoá

. Đầu-Sư thì đối với phẩm Địa Tiên

. Chưởng-Pháp thì đối với phẩm Nhơn Tiên

. Giáo-Tông thì đối với phẩm Thiên Tiên

TAM TRẤN OAI NGHIÊM thay quyền Phật-vị tại thế này. Ấy vậy các Đấng ấy đối phẩm cùng các Đấng Trọn lành của Bát-Quái-Đài.

Giáo-Tông giao quyền cho Đầu-sư. Đầu sư lại phân quyền cho Chánh-Phối-Sư lập Đạo đặng độ rỗi nhơn sanh cũng như Hộ-Pháp giao quyền cho Thượng Sanh và Thượng Phẩm.

.Chánh-Phối-sư và Phối-sư đối phẩm Thiên Thánh.

.Giáo-sư đối phẩm Nhơn Thánh.

. Giáo-hữu đối phẩm Địa Thánh.

- Lễ Sanh đối phẩm Thiên Thần.

- Chánh Trị sự, Phó trị sự và Thông sự đối phẩm Nhơn Thần.

- Chư Tín đồ đối phẩm Địa Thần

 

Bảng tóm tắt

 

 

 

ĐẠI ĐIỆN

大 殿

Đức Hộ-Pháp nói: "Hễ vô Đại điện ĐỨC ĐẠI TỪ PHỤ nào chức này, chức kia, mão cao áo rộng; còn vô ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU đều trắng hết, không ai hơn ai cả. Nếu hiểu biết, thấy bí-pháp CHÍ-TÔN cao kỳ quá lẽ. CHÍ-TÔN nói rằng: "QUỐC-ĐẠO này Ngài qui-tụ tinh-thần đạo-đức, trí-thức toàn nhơn-loại cho đặc biệt: có cao, có thấp, có hàng ngũ, có phẩm giá; còn về phần xác thịt của người đời, mạng sống trước mặt Ngài không ai hơn ai, cả thảy sống đồng sống, chết đồng chết đặng đem QUỐC-ĐẠO làm mô-giới cả ĐẠI-ĐỒNG đặng tạo tương-lai loài người cho có địa vị oai quyền, cao-thượng. Nếu thoảng hiểu đặng thì Thánh-Thể cũng vậy, Hội Thánh, chư chức sắc Thiên-phong Nam, Nữ hay toàn thể Tín-đồ cũng vậy, lãnh Thiên-mạng đảm-nhiệm trách-vụ thiêng-liêng CHÍ-TÔN phú-thác lập giáo tức-nhiên phải có phẩm-giá, trật-tự,đẳng cấp"

 

 

ĐẠI ĐỒNG

大 同
F: Concorde universelle.

"Bởi Chủ-nghĩa và Giáo-lý của Đạo Cao-Đài là ĐẠI ĐỒNG: Qui nguyên Tam-giáo hiệp nhứt Ngũ Chi, thâu-thập tất cả những bài học của các Tôn-giáo đã ra đời từ trước đến giờ gom về một mối trở lại nguồn gốc, nhất là thờ Đấng Chúa-tể Càn-Khôn vũ-trụ tức là chủ-trương của Đấng Cha lành đã hóa sanh muôn loài vạn-vật và tôn-kính tất cả các vị Giáo-chủ đã lãnh lịnh Đức Chí-Tôn và Ngọc Hư-Cung giáng trần dạy Đạo, ngang hàng nhau như những vị Tôn sư đến làm Thầy của nhân loại. Chủ-nghĩa của Cao-Đài là ĐẠI-ĐỒNG đi từ: Đại Đồng nhân-chủng. Đại-Đồng Tôn-giáo. Đại-đồng xã hội. Như Đức Chí-Tôn đã hứa "Que l’humanité soit une: une comme race, une comme religion, une comme pensée".

Trong Kinh Lễ, thiên Lễ-vận chép rằng Khổng Tử buồn bã, thở dài: Ở thời Đại Đạo thực hành thì thiên hạ là của chung, người ta chọn kẻ hiền năng, giảng điều tín thực, sửa điều hòa mục, cho nên người ta không riêng thân cha mẹ mình, không riêng yêu con mình, kẻ già được nuôi dưỡng trọn đời, trai tráng có chỗ dùng, trẻ con được săn sóc đến trưởng thành; người ta thương kẻ góa, con côi, người già cô độc; người tàn tật được chu cấp, con trai có phận, con gái có nơi chốn để nương cậy. Người ta ghét của bỏ phế trên đất mà lượm lên, chứ không chủ ý lo lợi riêng cho mình. Vì vậy những ngón cơ mưu không thi thố được, kẻ trộm cắp, người làm loạn, làm giặc không nổi lên, nên cửa ngõ không cần đóng. Đó là thời Đại Đồng.

"Đại-Đạo hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục. Cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trưởng, căn quả cô độc phế tật giả giai hữu sở dưỡng, nam hữu phận, nữ hữu quy. Hóa ố kỳ khí vu địa dã, bất tất tàng vu kỷ; lực ố kỳ bất xuất ư thân dã, bất tất vị kỷ. Thị cố mưu bế nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc nhi bất tác, cố ngoại hộ nhi bất bế. Thị vị Đại Đồng".

大 道 之 行 也, 與 三 代 之 英, 丘 未 之 逮 也, 而 有 志 焉. 大 道 之 行 也, 天 下 為 公, 選 賢 與 能, 講 信 修. 睦. 故 人 不 獨 親 其 親, 不 獨 子 其 子, 使 老 有 所 終, 壯 有 所 用, 幼 有 所 長, 矜 寡 孤 獨 廢 疾 者 皆 有 所 養, 男 有 分, 女 有 歸. 貨 惡 其 棄 于 地 也, 不 必 藏 于 己, 力 惡 其 不 出 於 身 也, 不 必 為 己. 是 故 謀 閉 而 不 興, 盜 竊 亂 賊 而 不 作, 故 外 戶 而 不 閉, 是 謂 大 同).

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Muốn cho thiên hạ Đại-Đồng,
"Lấy câu cứu khổ dụ lòng thương sanh."

 

 

ĐẠI ĐỒNG HUYNH ĐỆ

大 同 兄 弟

"Luân-lý thì dạy con người giữ Đạo nhân-luân, làm tròn bổn phận mình, đối với mình, đối với gia-đình, đối với xã hội là gia-đình rộng lớn, đối với toàn cả thiên hạ là Đại-Đồng Huynh-đệ."

 

 

ĐẠI ĐỒNG THẾ GIỚI

大 同 世 界
F: Fraternité universelle.

Đức Hộ-Pháp nói: "Hôm nay Bần Ðạo xin thuyết minh vấn đề đương sở dụng hiện thời là vấn đề Ðại đồng Thế giới (Fraternité universelle). Tại sao nước nào, dân tộc nào trong thế giới hiện chừ đương mơ mộng tìm phương pháp Đại-Đồng Thế Giới? Nói thật ra kể từ có Thánh Giáo Gia Tô, vấn đề ấy chấm một câu hỏi nguyên vẹn và thúc nhặt hơn hết. Thuyết Đại-Đồng Phật Giáo đeo đuổi mãi mới lập thành giáo, rồi mới lập cả tâm lý Đại-Đồng.

Loài người từ tạo thiên lập địa đồng một nguyên do một tánh chất, đồng một nguyên linh, thúc kết triết lý ấy hơn hết là từ Ðức Chúa Jésus tạo nên Thánh Giáo Gia Tô. Ngày nay Ðạo Cao Ðài cũng theo đuổi mục đích ấy. Trên mặt địa cầu, người ta tìm hiểu loài người được hai ngàn bảy trăm triệu (2.700.000.000) vì nguyên căn tinh thần hình thể, chủng tộc loài người là một nguyên do, một căn bản. Rồi đến thế nầy biến cải sắc da đen, lên xám, lên xanh, lên đỏ, lên vàng, cuối cùng là da trắng. Ðương nhiên là mãn Hạ Nguơn Tam Chuyển, lên Thượng Nguơn Tứ Chuyển (1er cycle du 4e manvantara) vì chuyển tiến nên loài người phải chịu khảo-đảo đặng vào trường thi hầu thoát khỏi mặt địa cầu nầy để đến thế giới cao trọng hơn, còn rủi rớt thì ở lại địa cầu nầy mà làm Thần Thông Nhơn (Race lucidé) do hai sắc da vàng và trắng hiệp lại xuất hiện.

Ấy vậy, thuyết Ðại Đồng Thế Giới trong buổi nầy, Chí Tôn lập Ðạo Cao Ðài cốt yếu để làm cho loài người biết mình do một nguyên căn linh hoạt sản xuất chung nhau, biết nhìn nhau là anh em đồng một căn nguyên mà đến. Từ cổ chí kim các Tôn Giáo tìm đủ mọi phương làm cho loài người thức tỉnh tinh thần, biết nhìn nhau là cốt nhục. Hại thay! Loài người chẳng biết nhìn Chơn lý của Ðạo, những luống mờ hồ nên Chí Tôn buộc lòng phải đến tạo nền Ðạo Cao Ðài, chủ trương cho loài người một đại nghiệp, hiệp một hoàn cảnh, chung sống nhau một tinh thần, một căn bản, qui tựu cho toàn sắc dân, hầu bảo trọng cái sống của nhau, sớt ngọt chia bùi, bảo tồn nhau cho qua sự khảo đảo đau đớn nơi khổ cảnh nầy từ trước.

Luận xét đến các nước ở Âu Châu, ở Á Châu, đồng tìm chánh sách vạch triết lý ấy và đương hoạt động loài người hiệp nhau làm một. Bởi lý do đó các nhà thượng đẳng nhơn sanh chia nền chánh trị ra mỗi quốc gia, dụng tâm lý chia đều quyền lợi, cố ý tìm cách thống nhứt cả loài người làm một trong đường sanh hoạt mà thôi, ấy là nước Mỹ đương thi thố hiện thời, còn nước Nga lại chia phân tài sản, dung hòa tâm lý tạo cho loài người một phẩm giá, một quyền lực đồng nhau. Phương pháp ấy khó đoạt thành nguyện vọng. Chúng ta sẽ thấy những cái tư tưởng rẻ rúng ấy chẳng còn hiệu lực cao siêu trong thời gian ngắn ngủi, sau đây vì cái quyền lực muốn hiệp tâm lý cần phải yêu ái, kỉnh trọng nhau, tôn trọng sanh mạng cho nhau, chia buồn rầu khổ não, nhìn một Ðạo với nhau, lấy tình cốt nhục đối đãi với nhau, thì mới đầm ấm cả đại gia đình xã hội, tức là toàn cầu thiên hạ vậy.
Muốn đoạt cho được mục đích ấy, duy lấy đạo đức tinh thần, muốn kỉnh nhau, hòa nhau, nhìn nhau là ruột thịt, mà thấy nhà bạn mình có của nhiều lại ganh ghét, đứa nầy giành của đứa kia, hỏi vậy hòa được chăng? Nếu còn giành ăn, ở, mặc, sang, giàu, cao trọng thì không thể nào đi đến Đại Đồng tâm lý được. Cái hiện tượng của chúng ta đã thấy trước mắt, nước nào tìm phương pháp Đại Đồng Thế Giới mà chẳng biết hiệp tâm lý làm một, thì chỉ là chánh sách vô hiệu nghiệm mà thôi.

Vì cớ, Chí Tôn đến tạo một gia đình nầy có một ý nghĩa tối cao tối trọng, là muốn thế nào, dầu nam hay nữ thương yêu mực thước hiệp tâm lý cả loài người mà tạo thành khuôn mẫu, một thế hệ mà gây tình anh em cốt nhục, vừa thi hài, vừa trí thức tinh thần mà chung sống cùng nhau.

Thoảng ngày kia toàn Ðạo biết thương yêu nhau như ruột thịt, toàn quốc dân Việt Nam hiệp một, thì hột giống Đại Đồng Thế Giới mới mong gieo rắc khắp nơi, gầy dựng tạo thành nền móng vĩnh cửu, bằng chẳng thì các phương pháp khác chỉ sẽ là vô ý thức mà thôi".

Đức Hộ-Pháp nói: "Cái tư-tưởng vô cùng chiều theo thời thế của đời đặng nâng-đỡ trí-thức của nhơn-sanh tạo thời cải thế. Nếu hiểu rằng nghĩa lý của Đạo là đường duy nhất của tâm-lý nhơn sanh ắt phải nhìn-nhận rằng: phải để cho tinh-thần đặng tự-do tín-ngưỡng, miễn là làm thế nào cho Đạo thuận cùng đời, đời không nghịch Đạo, mới gọi là lý-thuyết cao-siêu làm cho thái-bình tâm-lý. Thái-bình tâm-lý đặng mới làm cho thái-bình thiên-hạ đặng, thái-bình thiên-hạ đặng mới Đại Đồng Thế Giới đặng".

 

 

ĐẠI GIA ĐÌNH

大 家 廷

(Đại: lớn; gia: nhà, đình: sân; gia đình là chỉ một tổ ấm trong đó có cha mẹ và con cái sống chung với nhau). Đại gia đình là một gia đình lớn, sự lớn này không giới hạn: có thể là một tộc họ, một xã hội, một nước hay nói rộng ra là một thế giới mà tình cảm đối đãi nhau như một tiểu gia đình vậy.

"Càn Khôn là đại gia đình, cửa Ðạo cũng vậy, xã hội cũng vậy, là một gia đình có cha mẹ, bà con, anh em như một Tông tộc. Lớn hơn gia-đình là một quốc-gia, là một gia đình lớn, gồm cả các gia đình tổng hợp lại, chiều theo một khuôn luật do quyền năng của Ðạo-giáo tức Ðại gia đình. Ta lần lượt đi đến Ðại-gia-đình của toàn nhơn loại hiệp lại cũng từ đó. Con người sanh ra phải biết trách vụ của mình, trong tiểu gia đình hay đại gia đình cũng vậy. Người ở gia đình chỉ xưng mình là con, vì cớ Đức Chúa Jésus Christ chỉ xưng mình là con của Đức Chúa Trời" (le fils de l'homme).

"Đấng Chí-Tôn tạo ra vạn-vật chỉ xin có một điều là THƯƠNG-YÊU với nhau, đặng qui tòan con cái của Ngài cố gắng lập Đại-gia-đình làm một. Có con mắt mà thiếu Đức-tin không cố gắng có trễ hay chăng?"

Đức Hộ-Pháp nói: "Chúng ta đã ngó thấy ở nơi mặt điạ cầu này không màu da, nước tóc nào khác nhau, trong hàng phẩm nhơn-loại kia là anh em đồng sanh của ta, cả thảy nhơn loại trên mặt địa-cầu này là Đại-gia-đình, là anh em cốt nhục của ta. Chúng ta không có quyền làm Chúa họ, chỉ biết làm tôi, làm tớ họ theo Thánh-ý của Đức Chí-Tôn muốn mà thôi."

 

 

ĐẠI HẠI

大 害
F: Grande nocivité, nuisible.

Đại hại là điều hại to, điều tổn thất rất lớn.

Thánh giáo của Ðức Chí Tôn dạy về sự lợi hại của Cơ bút như sau: "Các con đừng thầm tính rằng nên cầu Thầy cùng chư Phật, Thánh, Tiên mà nghe Thánh giáo dạy bảo cho rõ Thiên cơ. Ấy là ở trong đó có một cái lẽ đại hại ẩn vi, nó dìu dắt các con đi sai đường lạc ngõ. Có phải vậy không các con? Vì Cơ Bút là cơ quan rất tối cao tối trọng, vả lại Cơ Bút là cơ vận chuyển theo thời thế mà tấn hóa, dìu dắt các con chung hòa như một sợi dây để buộc đàng liên ái, đúng với luật thiên nhiên đó thôi. Nền Ðạo sáng khai, Thầy tạm dùng Cơ Bút làm khuôn mẫu. Các con phải lãnh ảnh hưởng bên Hiệp Thiên Ðài mà hành đạo. Những sự lợi hại của Cơ bút có hai đàng là:

1- Chánh đại quang minh giáo đạo, ấy là Thầy các con, Tiên cơ đó.

2- Là chỗ mê muội hữu vi hữu tướng, để cho ác quỉ hung thần truyền thinh giáo đạo cho những đứa không đủ đạo đức, tức là Tà cơ và Nhơn cơ vậy".

 

 

ĐẠI HẢI

大 海

(Đại là lớn; Hải là biển). Đại hải là biển lớn, nhưng ở đây Đức Hộ-Pháp đang nói về cảnh Thiêng Liêng Hằng sống: "Chúng ta ngó lên thấy như Đại-hải minh mông, nhưng thật ra không phải Đại-hải mà là vòm trời của Càn Khôn Vũ Trụ.

Đức Ngài nói: "Khi chúng ta qua khỏi Cửu-Trùng Đài bước vào Cung Đạo, trực ngó lên trên, không thấy Bát Quái Đài nữa mà thấy Đại-hải minh mông, thấy mờ-mờ mịt mịt. Càn khôn vũ-trụ bao la không thể gì tưởng tượng được, bắt đầu từ lúc này chúng ta bước vào Con đường Thiêng-liêng Hằng-sống rồi đó. Nếu đi theo con đường Cửu-Thiên Khai-hóa và con đường Thập Nhị đẳng-cấp Thiêng-liêng thì khác. Vì đi hai con đường đó là khi ta mãn kiếp về với Đức Chí-Tôn, ta đi với cả Linh-hồn và Thể-phách. Còn hôm nay chúng ta về với Đức Chí-Tôn bằng Chơn-Thần, vì Bần-Đạo may duyên được đặc ân của Đức Chí-Tôn cho phép nên mới đi riêng cũng như đi tắt vậy. Chúng ta ngó lên thấy như Đại-hải minh mông, nhưng thật ra không phải Đại-hải mà là vòm trời của Càn Khôn Vũ Trụ. Nơi xa xa khi ẩn khi hiện trong mây, một tòa nhà nguy nga đồ sộ, thoạt ẩn thoạt hiện mập-mờ, vừa ngó thấy thì ta muốn đến ngay, không biết làm sao đến, vừa lúc đó pháp-thân ta như có một sức mạnh hút đi, không đi mà đến, đến mau như đi bằng máy bay vậy."

 

 

ĐẠI HÒA

F: Grand concert de musique.

"Tôn-giáo ở địa-cầu tuy nhiều như thế và dường phản-khắc nhau nhưng sự thật vẫn hoà-hợp lẫn nhau. Nếu không có sáo, không trống, không kèn, không đàn, không nhịp phách, không dễ chi tạo bản Đại-hòa."

 

 

ĐẠI HỘI

F: Grande fête.

Kinh Tiểu-Tường có câu:

"Tịnh niệm phép Nhiên-Đăng tưởng tín,
"Hư-Vô-Thiên đến thính Phật-điều.
"Ngọc-Hư đại hội ngự triều,
"Thiều quang nhị bá Thiên-Kiều để chơn."

 

 

ĐẠI HỒI - TIỂU HỒI

Đức Hộ-Pháp nói: "Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài tượng trưng cho linh hồn chúng ta, phải chăng chúng ta sanh ở thế gian này đương mang nặng thi hài xác thịt này, cả toàn nhơn loại trên mặt địa cầu có mặt nơi đây, phải chăng do quả kiếp của họ, Bần Đạo không nói trọn hết thảy bị quả kiếp, cũng có những Đấng lãnh sứ mạng của Đức Chí Tôn đến giáo Đạo dìu dắt Vạn linh. Hại thay! Chín mươi hai ức nguyên nhân cũng vì sứ mạng tối yếu tối trọng ấy thay vì lãnh sứ mạng của mình trọn vẹn, lại quá ham sống, gây nên tội tình phải bị sa đoạ. Thành ra một ông Thầy đến giáo Đạo lại trở thành một học trò quá tệ hơn trò nữa.! Chín mươi hai ức nguyên nhân, giờ phút này có một điều thắc mắc hơn hết, chúng ta thấy trong Vạn linh, con người tối linh hơn vạn vật, mà ta ngó thấy có thứ người không phải người, họ đã mang xác thịt làm như người mình, họ tàn ác dối trá gian ngược, làm cho các Đấng Thiêng Liêng hay là người đạt Đạo ở thế gian này cũng vậy để dấu hỏi, đến phẩm người mà vậy, hỏi họ có đáng làm người không? Họ có đáng ngồi trong phẩm vị Đại-hồi này hay Tiểu-hồi vật loại? Nếu chúng ta để nhóm người đó ở trong Tiểu-hồi vật loại thì bất công, chính mình người ta đã đạt tới nhân phẩm, nếu để trong Đại-hồi, trong nhân phẩm thì không đáng vị, bởi vì cớ cho nên Đạo giáo để phẩm Maya, tức nhiên quỉ vị, phẩm riêng biệt là quỉ vị."

 

 

ĐẠI HỒN

大 魂
E: The universal soul.
F: L’âme universell.

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Hồn: linh hồn.

Đại hồn là Thái Cực, Đại Linh quang của Thượng Đế, là trung tâm ban phát sự sống và sự sáng tạo của toàn thể Càn Khôn Vũ Trụ.

Tiểu hồn là Tiểu Linh quang, hay là điểm Linh quang được Đấng Thượng Đế chiết ra từ Đại Linh quang của Ngài để ban cho mỗi người làm linh hồn, chủ nhơn ông của thể xác.

Thượng Đế là Đại hồn, cũng gọi là Thiên hồn; con người là Tiểu hồn. Như vậy, con người chính là một Tiểu Thượng Đế, hay nói nôm na là một "Ông Trời Con". Thượng Đế cho các Tiểu hồn đầu kiếp xuống cõi trần, vì thể theo Luật Tiến hóa của Càn khôn, để Tiểu hồn học hỏi và tiến hóa, dần dần lên các phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật, và cuối cùng sẽ tiến hoá lên hiệp nhứt vào Thượng Đế, tức là Tiểu hồn đi giáp một chu kỳ tiến hóa, và sau cùng thì trở về nguồn cội ban đầu.

 

 

ĐẠI HUYNH

大 兄
F: Frère ainé.

Đại huynh: Anh cả

TÂN_LUẬT: Điều thứ nhứt: Trên hết có một phẩm GIÁO TÔNG là anh cả có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu dắt cả tín đồ trong đường Ðạo và đường Ðời. Ðức Giáo Tông có quyền về phần xác, chớ không có quyền về phần hồn.

Ðức Giáo Tông đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Ðịa Giái mà cầu rỗi cho cả tín đồ.

Chư tín đồ phải tuân mạng lịnh phẩm ấy.

 

 

ĐẠI HỮU Quẻ 14. Quẻ Hoả Thiên Đại Hữu

 

 

 

Quẻ 14. Quẻ Hoả Thiên Đại Hữu 火 天 大 有

 

 

Tượng: Chánh Sách Hòa-bình Chung Sống

Quẻ này là quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu. Càn hạ là nội Càn, Ly thượng là ngoại Ly. Ly vi Hỏa, Càn vi Thiên nên tên quẻ đọc là Hỏa Thiên Đại Hữu. Biệt số: 31

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đồng Nhân tiếp lấy quẻ Đại hữu là nghĩa làm sao?

Đồng Nhân là cộng đồng với người, tượng là Thế giới Đại-Đồng. Chính là thời-kỳ kết hợp lại với nhau giữa người và người trên toàn thế giới. Khi đã làm nên những việc cộng đồng thời tất thảy mọi người sẽ về với mình.

Vậy nên sau quẻ Đồng-nhân tiếp lấy quẻ Đại-Hữu. Đại-Hữu nghĩa là sở hữu rất lớn, rất nhiều.

Theo về Thể và đức quẻ thì Ly tượng sự văn minh, sáng sủa, đẹp-đẽ ở trên; dưới thì có quẻ Kiền là Trời, là những nguyên-tử căn-nguyên của muôn loài. Trên có sự sáng láng chiếu xuống, dưới cũng có được ánh sáng bao la hòa hợp, thì cái vẻ đẹp lại được tăng thêm. Trong khi đó có ánh lửa thiên chiếu khắp cho các nguyên-tử, thì các nguyên-tử mới huy động theo qui luật riêng của nó mà Trời đã phú cho, nên mới có tượng là Đại Hữu.

Đại hữu 大有 là có nhiều. Phân tích chữ Đại 大 thì gồm có chữ nhơn 人 là người và nét nhứt 一 Tức nhiên khi nhơn cướp được chữ nhứt thì thành Đại. Một khi nói là đại là lớn thì không còn chi lớn hơn nữa. Tuy nhiên chỉ có người mới đoạt được chữ đại ấy mà thôi. Hữu là có.

Quẻ nầy Ly tượng là lửa. Càn tượng là Trời. Mặt trời với lửa ở tận trên trời, tia sáng đã tột mức cao, thời chiếu rọi cũng tột mức xa, nên có tượng là Đại Hữu là báo trước cho nền Hòa-bình Thế giới sẽ xuất hiện. Thế nên:

Quẻ Đồng nhân tượng
Chánh sách Hoà Bình Chung sống:

Trong cuộc Đồng-nhân là cùng người mà không riêng tư thì có thể được cả thiên-hạ. Ngoài ra phải thực hiện cho được Chánh sách HOÀ BÌNH CHUNG SỐNG như chương trình Đức Hộ-pháp đã hoạch định.

Chính Đức Quyền Giáo-Tông là Anh Cả của nhân loại đã tuyên bố với thế giới một cách quả quyết rằng:

"Chúng tôi trân-trọng và thành-kính thông-báo cùng quí Ngài, Đấng tối cao tức là Đấng Thương-đế toàn năng mà cũng là Đại-Từ-Phụ của tất cả nhơn-loại, đã giáng lập trên một góc của nước Việt-Nam thuộc tỉnh Tây ninh, một nền Tân Tôn-giáo. Nền Tôn-giáo này có thể canh-tân toàn thể thế-giới bằng một lý-tưởng cao-quí đó là TÌNH THƯƠNG VẠN-VẬT. Rồi đây, bởi sự chuyển xây của Tạo-hóa, các sắc dân sẽ đồng tâm hiệp lực kết tình anh em với nhau và chừng ấy nền Hòa-bình thế giới sẽ phát hiện."

Phải thực hiện Chánh-Sách Hoà-bình Chung-sống của Hộ Pháp đã thông báo rồi. Dù trải qua một giá rất đắc.

 

 

ĐẠI ÍCH

大 益

Đại ích là một sự ích lợi lớn lao cho riêng mình hưởng.

Thánh ngôn Ðức Chí Tôn dạy rằng: "Các con phải biết Ðạo gốc bởi lòng bác ái và chí thành. Bác ái là lòng đại từ bi thương xót sanh linh hơn thân mình. Cho nên kẻ có lòng bác ái coi mình nhẹ hơn mảy lông mà coi thiên hạ trọng bằng Trời Ðất. Còn chí thành là mỗi việc đều lấy lòng thành thật mà đối đãi trong Ðời và trong Ðạo. Dầu kẻ phú quí bực nào đi nữa mà không có lòng bác ái và chí thành thì không làm chi nên việc. Vậy nên Thầy khuyên các con trước hết phải ở sao cho ra vẻ đạo đức, đừng để ý gì việc công quả mà nêu danh nơi cõi tạm nầy. Các con phải mở rộng tâm chí ra mà hành Ðạo mới nên cho, chớ đừng mờ hồ rằng Ðạo thành thì mình được làm một vị xứng đáng và đại ích trong Ðạo".

 

 

ĐẠI KỴ

大 忌.

Đức Hộ-Pháp nói: "Đức Chí-Tôn muốn cả con cái của Ngài thấy cả sự thật mà thôi, không muốn cho thấy ảo-ảnh. Chơn Truyền của Đức Chí Tôn đại kỵ điều ấy. Nếu thoảng như nhà Tịnh-thất chưa mở ra đặng, lỗi ấy không phải nơi Bần-Đạo, lo nội Thể pháp mà 24 năm trường nhọc-nhằn không biết bao nhiêu: khổ tâm, khổ trí, từ tuổi xanh đến bạc đầu mà chưa rồi sáu bảy phần mười."

 

 

ĐẠI KHẢO

大 考

(Đại là lớn, khảo là duợt, là thử thách). Đại khảo là một cuộc thử thách nặng nề. Người Đạo mà thiếu đức tin, thiếu tinh thần đạo đức, không nắm vững giáo lý, giáo pháp của Đạo Thầy thì rất dễ bị lung lạc, sa ngã, rồi khủng khiếp hơn nữa là phá Đạo, hại Đạo, phản Đạo… làm mất danh thể Đạo. Nhưng Đại Khảo cũng là một sự thanh lọc Thánh Thể của Chí-Tôn: Thánh ra Thánh, phàm ra phàm không cho lẫn lộn. Mục đích để lập lại đời Minh đức, Tân Dân hầu nền Đại-Đạo mới phổ truyền

Ra khắp toàn cầu Thế giới như lời Thầy đã dạy:

"Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc.
"Chủ quyền Chơn Đạo một mình TA."

Sau đây là Thánh Giáo ngày 13-10-Đinh Mùi của Đức Lý Đại Tiên giáng Cơ:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Tòa Thánh- Tây-Ninh
---O0O---

Đức Lý Thái Bạch

Cơ Đạo ngày nay sắp đến ngày quyết liệt, cả thảy Nam Nữ phải để tâm cho lắm. Cầu nguyện Thầy và các Đấng ban ơn lành cho mới giữ vững đức tin trong kỳ đại khảo này: Chư Đạo Hữu phải giữ trai giới cho được 10 ngày đổ lên y như Tân Luật, thì mới mong sống sót. Trận đại họa này không riêng cho Thánh-Điạ tại Việt-Nam-Quốc mà chung cho cả đia cầu, Thảm! Thảm! Thảm! Hạ-Nguơn là Nguơn mạt kiếp, Nguơn điêu tàn, phải hiểu lý Đạo ẩn tàng trong hai chữ Hạ Nguơn: Hạ là dưới thấp, sau cùng là chữ Hạ gồm ý nghĩa: Tệ, Suy, Tàn, Hoại, là diệt chủng đó. Hạ Nguơn là Nguơn tiêu diệt. Vậy chư Đạo Hữu cố tâm tìm hiểu những lời dạy dỗ tiên tri của Thầy và Lão cùng các Đấng đã giáng dạy từ ngày khai Đạo tới giờ, những lời tiên tri đó ngày giờ tới sẽ ứng hiện từ từ, nạn tiêu diệt đã tới …Họa …thảm! Cả Thế giới ngày nay còn trong vòng mê mệt, cả vinh hoa phù phiếm trong Đạo trở lại chuộng hư danh, lấy thế làm cứu cánh nên mới bày ra trò mị sanh chúng. Ôi! Tu thành hay không là nhờ tâm Đạo, chơn tâm, chơn tánh Thầy ban cho không lo trau-luyện, lại ham lợi chác quyền mến phẩm tước đến đỗi làm nhẹ thể Thánh danh Thầy, nạn cân đai áo mão, đời cũng như Đạo đang là trường mộng ảo gạt người xa lần cội phước là cái nguơn thỉ chơn tâm.

Thầy hằng thương con dại mới mở Đạo Kỳ Ba mà vớt chúng sanh. Hại thay! Thảm thay! Đám sanh linh vẫn ngơ ngơ, ngạnh ngạnh, dám đem tên tuổi Đạo Thầy mà đổi chác lợi quyền. Họa, Họa! Thảm. Thảm …Ôi! Lão vì lòng Từ-bi giáng dạy khuyên răn đủ lẽ, mà chúng sanh vẫn còn mê muội, theo Đạo mà chẳng tầm lý Đạo, lại chuộng hư danh, nên Đạo Thầy mới ra nông nỗi. Ngày giờ nhặt thúc, buổi Hạ nguơn cận kề cái chết, tâm thần mê mệt thì làm sao khai khiếu linh quang được mà mong sống sót. Ôi! Đời Đạo phải chịu nạn tai. Khổ! Khổ! Khổ! Nhơn sanh nào hay biết, cả một đám lố nhố lao nhao, ham vui thích lạ, nào hay đâu họa sầu đeo đẳng bên lưng, bước Đạo đã ngập ngừng, cánh hồng toan trở bước. Đại khảo… Khảo……Khảo…(Thăng)

 

 

ĐẠI LA THIÊN ĐẾ, THÁI CỰC THÁNH HOÀNG

Đây là câu Kinh đầu tiên của bài xưng tụng Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế "Ðại La Thiên Ðế, Thái Cực Thánh Hoàng".

Nghĩa là:

 

Vua Trời trên cõi Ðại la,
Vốn ngôi Thái cực ngự tòa Tiên Thiên

"Vì Thượng Ðế đức cao rộng lớn minh mông như giềng lưới lớn, bao trùm cả võ trụ, là một đấng Thánh Hoàng trước ngôi Thái Cực trong khi Trời Ðất chưa chia đến khi Trời Ðất an ngôi rồi có nhơn loại, thì vị Thiên Ðế hóa nuôi những kẻ chúng sanh, Ngài lại phú cho mỗi người đều có tánh hư linh bất muội là: Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín".

Thánh ngôn: "Thầy nói cho các con biết: Dầu một vị Ðại-La-Thiên Ðế xuống phàm mà không tu, cũng khó trở lại địa vị đặng". (27-8-Bính Dần 1926).

Võ trụ sở dĩ có, là nhờ một Đấng Chí Tôn sáng tạo. Lấy nghĩa cùng tột, thì gọi Đấng ấy là Thái Cực. Lấy nghĩa bao quát khắp thế gian thì gọi là Thiên; lấy nghĩa là Chúa vạn loại thì gọi là Đế. Cho nên Đạo Cao Đài xưng tụng Trời là "Đại La Thiên Đế, Thái Cực Thánh Hoàng". Song xét vì Trời là Đấng Chí Tôn siêu việt vô cùng, trí phàm không thể tưởng tượng cái tịnh thể ra sao, nhưng chúng ta tin tưởng có Trời, thì chủ lấy cái động thể của Trời mà căn cứ cho sự tin tưởng. Ấy là Đạo, Đạo tuy vô hình, nhưng tượng ra hữu vật để lập pháp trứ danh, phô bày cái thể mà thiệt hành cái dụng. Về hình thức, bức tượng ấy chẳng qua là một biểu hiệu tôn kính, một tượng trưng về tôn giáo (symbole religieux), mà thôi. Nhưng xét về tinh thần, thì lại có nhiều ý nghĩa cao xa, nhờ mặc khải mà biết, hoặc trực giác mới xướng minh ra được.

 

 

ĐẠI LỄ

大 禮
F: Grande cérémonie.

Đại Lễ là một ngày Lễ lớn có tính cách trọng đại cả về hình thức lẫn nội dung. Riêng Cao-Đài-giáo thì về nội dung là hoàn toàn đúng theo nghi thức Tôn giáo. Nghi thức này cũng chính Đức Chí-Tôn giáng Cơ chỉ dạy: do theo Tôn chỉ Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi. Mục đích làm sống lại tinh thần đạo đức hầu đạt được giá trị siêu rỗi của kỳ ba chuyển thế và Cứu thế. Ví như: Đại Lễ Đức Chí-Tôn là thể hiện Cơ Đại Ân xá lần ba của Đại-Đạo. Đại lễ Hội-Yến Diêu-Trì-Cung là thực hiện cơ giải thoát linh hồn cho Vạn linh sanh chúng.

Đức Hộ-Pháp nói "Luận tới đây Tôi nghĩ ngày này đáng lẽ nếu nói rằng nước Việt-Nam chủng tộc ta có thể thờ Đức Phật Thích-Ca nhiều hơn hết, nhưng đến Đại Lễ này nếu không tưởng niệm đến Đức Thích-Ca đi nữa là cũng còn đoái đến tình của Bà Nữ Đầu-Sư mà dòm lại Phái Nữ trong Đại Lễ thấy lơ thơ, có phải vô tình chăng? Hay là Đạo của Phật Thích-Ca và công nghiệp của Bà Nữ Đầu-Sư bị có cơn mưa rồi lạnh ngắt, đã lạnh trước rồi bị trận mưa nữa nó lạnh luôn. Bần-Đạo xin nói thật, Đức Phật Thích-Ca, dầu sự trị thế của Ngài đã hết, chúng ta chỉ nói là hết thôi. Hai ngàn năm trăm năm (2.500) lập Đạo trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống kia, Môn-đệ của Ngài nhiều lắm, các người đừng tưởng Ông già ăn mày ấy không đủ quyền năng, mà các người khi dễ. Nội cái Bình-Bát-Vu của Ông đựng cả chơn hồn trong Càn Khôn Vũ Trụ, Ông ăn mày tại thế này vậy mà ngôi vị Cực Lạc Thế Giới của Ông các người xin một phẩm Liên Hoa, Ông có thể cho, là một người không nên khi dễ, không nên nguội lạnh với người đó, bởi vì Môn đệ của Ngài trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống nhiều lắm."

 

 

ĐẠI LỄ TÒA THÁNH

Thầy dạy: "Lễ Nhạc chẳng hoàn toàn, nhiều đứa cậy tài học giỏi lượm lặt sách xả rác hủ nho; mong bài bác đặng vinh mặt. Thầy bây giờ chỉnh để phú Thiên điều hành luật, ai biết nguồn cội, vội sửa mình; mới mong tránh khỏi lũ tà ma mà đi cho cùng bước Ðạo. Uổng thay! Nền Ðạo chẳng phải hư, ngày nay không phương tái lập. Thầy giao cho mấy đứa, vì Ðạo vì Ðời khá hiệp trí chung lo, họa may mới vớt người đặng muôn một. Thầy cho các con hay rằng: Ðại Lễ Tòa Thánh chẳng hoàn toàn theo cách thức dạy trước đây thì khá biết rằng, có tà quái chứng mà thôi nghe! "

 

 

ĐẠI LIỆM

大 殮
E:
To wrap a corpse in two shrouds and to put into the coffin.
F: Enverlopper le mort de deux suaires et le mettre en bière.

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Liệm: mặc quần áo và bọc xác người chết bằng các lớp vải trắng rồi đem đặt vào áo quan.

Việc liệm xác người chết vào áo quan, có hai cách:

Tiểu liệm là bọc xác người chết bằng một lớp vải.

Đại liệm là bọc xác người chết bằng hai lớp vải.

Sách Quan Hôn Tang Lễ của Hội Thánh ấn hành có giải rõ về Tiểu liệm và Đại liệm. (Xem chi tiết nơi chữ: Tẫn liệm, vần T, quyển 3).

 

 

ĐẠI LINH QUANG

大 靈 光
E: The Macro-Divine light.
F: La lumière divine du Macrocosme.

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Linh: thiêng liêng. Quang: ánh sáng. Đại Linh quang là Đại hồn.
Tiểu Linh quang là Tiểu hồn. (Xem: Đại hồn - Tiểu hồn).

 

 

ĐẠI LONG HOA

大 龍 花

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Hội nguơn hữu Chí-Linh huấn chúng,
"Đại Long-Hoa nhơn chủng hòa Ki." (là cơ)

"Ðại Long Hoa đã tiên tri là: Hội ân xá cho các đẳng chơn hồn, không phân chia chủng tộc, nòi giống, hiệp nhau làm một". (Xem chữ Hội-Long Hoa.Vần H)

 

 

ĐẠI LỘ PHẠM HỘ PHÁP

 

 
     

 

 

ĐẠI LỤY

Thầy giáng ngày 19-10 Mậu-Thìn (30-11-1928):

"Đại lụy! Cái thảm trạng chia lìa may ra có thể làm cho các con đau đớn mà biết thương yêu nhau chăng? Thảm! Từ thử chỉ có một mình Bảo-Đạo là niên cao kỷ trưởng hơn các con hết mà buộc Thầy phải đem về, thì tưởng các con đã biết mình côi cút về đường Đời, không ai đủ trí thức hoàn toàn mà binh vực các con nữa, thì mới biết lập mình cho có đủ khôn ngoan, tài tình, đạo đức thì địa vị các con mới trở nên cao đặng. Thầy đòi phen phải buộc lấy hình phạt mà làm ra phần thưởng, các con đã hiểu Đạo đặng chút ít, Thầy tưởng chẳng cần phải cạn lời. Thầy khuyên các con lấy CHƯƠNG làm dây thân ái mà buộc với nhau mới đặng hòa nhã nơi Hiệp-Thiên-Đài…"

Thầy cũng đã dạy (TNII/48): "Các con đã từng nghe lời Thầy khuyên nhủ về chuyện ngừa Cơ bút, thế mà một phần chẳng chịu sửa cải đường ngay cho khỏi lâm vào nẻo Tà-mị đã vi-lịnh Thầy mà dìu-dắt các con lạc bước. Thầy cũng đại lụy mà ngó xem một phần Môn-đệ xứng đáng của Thầy phải sa vào vực thẵm. Các con nên ghi nhớ mà coi chừng đường lối sau này. Thầy đã chỉ rõ nẻo quanh co, thì khá liệu chừng mà bước tới, tâm bền dạ vững, kính mến Thầy là yêu dấu Thầy đó, nên nghe à!"

Đàn Tân Định, tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ: ngày 25-6-Bính Dần (dl: 3-8-1926)

Chư môn đệ nghe dạy: "Vốn từ trước trong Thiên thơ Tam Kỳ Phổ Độ nầy, nền Chánh giáo phải có: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên Đồ đệ, Chưởng quản thâu Tam Giáo hiệp nhứt.

Chiêu, thiệt là Nhứt Phật đó. Vậy, trước ngày định lập Thiên phong đặng tôn chức Giáo Tông cho nó thì Chúa Quỉ sai Tam thập lục Động Địa giái kêu nài với Ta rằng: Cựu phẩm nó chẳng xứng ngôi ấy và kiện rằng: Nó chẳng nhứt tâm thờ phượng TA. TA có cãi lẽ, Quan Thánh Đế và Quan Âm giúp lời, TA nhứt định phong chức Giáo Tông cho nó. Chúa Quỉ xin lịnh TA mà khảo nó, mà phải để cho Tam thập lục Động hành xác nó. TA không nỡ nên cho khảo mà không cho hành xác.

Rủi thay! Đau đớn thay! Buổi khảo nó phải bị tà quái áp chế nên phải mất ngôi, song Ta cũng còn thương yêu chẳng nỡ, nhưng mà có mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, thì khó bề bào chữa đặng.

Đại lụy! Ta phải dùng quyền Chí Tôn mà tha thứ, song buộc nó phải Tịnh thất. Ta vừa muốn tha nó, lại bị Tam thập lục Động khảo nữa thì mới liệu sao?

Ta phải giáng cơ biểu nó. Con Thơ, con phải tuân nơi lịnh Thầy đã dạy khi Thầy giáng cơ mà thôi, còn mọi sự khác thì đừng nghe đến. Kẻ bị tù còn có thế rỗi ai chăng?

Chư Môn đệ khá nghe lịnh dạy, từ đây, ai còn phạm đến thì Thầy buộc trục xuất cho khỏi rối loạn nền Đạo của Thầy.

 

 

ĐẠI NAM VIỆT QUỐC

大 南 越 國

Đại Nam Việt quốc là nói về đất nước Việt Nam. Quốc hiệu Đại Nam của nước Việt Nam có từ thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn.

Thánh ngôn: Nay Thầy cho biết: "Thầy có hội chư Tiên, Phật lại mà thương nghị về sự lập Ðạo tại Ðại Nam Việt quốc. Các con khá nghe lời Thầy dặn, chớ khá nghịch lẫn nhau, phải đồng một lòng một dạ mà lo chấn hưng đạo đức. Tuy bây giờ phân chia nhiều nhánh, nhiều chi, chớ ngày sau cũng có một mà thôi. Các con, dầu bên nào cũng thương nhau như con một nhà, chớ khá ganh gổ chê bai nhau."

 

 

ĐẠI NẠN

大 難
F: Grand désastre.

Đại nạn là một tai nạn lớn. Có nhiều trường hợp: một là nạn của cá nhân, hai là nạn của quốc dân, của nhân loại.

Về cá nhân: "Thầy, các con. Trung, con ôi! Thầy không biết còn lời gì mà nói với con nữa. Cái đại nạn của các em con tránh đà không khỏi rồi, thì cũng là tại con đó chút, chẳng biết gìn giữ lấy em nên ra đến đỗi. Đại lụy! (Anh Trung bạch Thầy có phải những Thiên phong chăng?) -Phải, những đứa con đã biết rồi, Thầy không nên nói trước mặt. TRUNG! Con biết trị chúng nó thì chúng nó đâu đến đỗi mắc tội Ngọc Hư Cung. Con sợ hại nhỏ mà con để gây nên hại lớn. Thầy thương tâm vì tánh chiều lòn của con lắm, song biết lòng từ bi, con nên cam phiền, chớ Thầy không nỡ giận. Từ đây, con buộc mình dùng quyền mà trị lấy em mới được nghe! Nhớ lời Thầy.

Hai là thảm họa toàn cầu mà cả thế giới phải gánh chịu:

Ngày 14 tháng 11 năm Ðinh-Mão, Ðức Lý Giáo Tông mới giáng cơ thì xem hình như Ngài có đại nộ, mà chẳng hiểu Ngài giận việc chi, Ngài mới cho một bài Thánh Giáo như vầy:

"Hỉ chư Ðạo-Hữu, chư Ðạo-Muội, chư chúng sanh, hảo hội hiệp. Thảm cho nhơn loại! Khổ cho nhơn loại! Ðời quá dữ, tội tình ấy, hình phạt kia cũng đáng đó chút. Lão vì thương yêu nhơn sanh hội 10 ngày nơi Bạch Ngọc Kinh cải cho qua nạn nhơn loại, nhưng luật Thiên Ðình chẳng dễ chi sửa đặng. Nạn tiêu diệt hầu gần, hết chém giết lẫn nhau, đến buổi bịnh chướng sát hại. Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng rán chịu, lạy lục khẩn cầu; chư Ðạo Hữu đâu rõ thấu, ngơ ngơ ngáo ngáo như trẻ không hồn, thấy càng thảm thiết. Lão tưởng chẳng cần nói chi một nước nhỏ nhen đã đặng danh Thánh-Ðịa là Nước Nam nầy, mà Lão xin không đặng tội cho Thành Sài Gòn, Chợ-Lớn, Gia Ðịnh, Huế, Hải Phòng, Hà Nội... Thảm! Thảm! Thảm!"

Thần Hoàng Mỹ Lộc được lịnh Chí-Tôn đến báo ngày 15-11-Bính Dần (dl: 18-1-1927) "Lê thứ nghe: Kỳ Hạ Nguơn hầu mãn nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tan, mười phần còn lại có một mà thôi. Than ôi! Buồn thôi! Nghĩ vì Thiên cơ đã định vậy, thế nào mà cải cho đặng, duy có mở tấm lòng từ thiện ăn năn sám hối, lo việc tu hành; đồng với nhau cả quốc dân mà quì lụy khẩn cầu coi Trời đoái tưởng đến chăng?"

 

 

ĐẠI NỘ

大 怒
F: Grande colère.

Đại là lớn, Nộ là giận. Đại nộ là một sự giận dữ, bực bội.

Thầy dạy: "Nơi Bạch-Ngọc-Kinh hơn sáu chục năm trước chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thấy đại nộ Thầy, nên ra tình nguyện hạ thế cứu đời. Thầy coi bọn ấy lại còn làm tội lỗi hơn kẻ phàm xa lắm. Vậy vì cớ chi các con biết chăng? Các con có cả ba Chánh Ðạo là Tam-Giáo các con biết tôn trọng; ngày nay lại thêm Chánh Ðạo nữa, các con biết ít nước nào đặng vậy."

Thuyết đạo tại Báo Ân Từ, đêm rằm tháng 9 năm Bính Tuất (1946)

Trong năm Bính Dần (1926) Ðức Chí Tôn giáng trần khai Ðạo phổ hóa chúng sanh làm lành, lánh dữ, tức là Cơ Quan Cứu Thế. Khi mà Ðạo đã truyền bá khắp các Tỉnh rồi, qua đến ngày Rằm tháng 6 năm Ðinh Mão (1927) Ðức Lý Giáo Tông cấm cơ bút, thì chư vị Chức Sắc Ðại Thiên Phong không rõ tại sao, nhứt là Ðức Quyền Giáo Tông có lòng sở mộ về cơ bút đã trải qua một thời gian lắng nghe lời Thánh Giáo, nên Ðức Quyền Giáo Tông định cầu Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương đặng học hỏi về Ðạo đức.

Ðến ngày 14 tháng 11 năm Ðinh Mão, Ðức Lý Giáo Tông mới giáng cơ thì xem hình như Ngài có đại nộ, mà chẳng hiểu Ngài giận việc chi, Ngài mới cho một bài Thánh Giáo như vầy:

"Hỉ chư Ðạo Hữu, chư Ðạo Muội, chư chúng sanh, hảo hội hiệp. Thảm cho nhơn loại, khổ cho nhơn loại! Ðời quá dữ, tội tình ấy, hình phạt kia cũng đáng đó chút. Lão vì thương yêu nhơn sanh hội 10 ngày nơi Bạch Ngọc Kinh cải cho qua nạn nhơn loại, nhưng luật Thiên Ðình chẳng dễ chi sửa đặng. Nạn tiêu diệt hầu gần, hết chém giết lẫn nhau, đến buổi bịnh chướng sát hại. Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng rán chịu, lạy lục khẩn cầu; chư Ðạo Hữu đâu rõ thấu, ngơ ngơ ngáo ngáo như trẻ không hồn, thấy càng thảm thiết.

Lão tưởng chẳng cần nói chi một nước nhỏ nhen đã đặng danh Thánh Ðịa là Nước Nam nầy, mà Lão xin không đặng tội cho Thành Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh, Huế, Hải Phòng, Hà Nội... Thảm! Thảm! Thảm!"

Ðây là lời tiên tri đã trải qua 20 năm trường đến ngày nay kết quả vẹn toàn trước mắt nhơn sanh đều thấy rõ.

Ðức Lý Giáo Tông, Ngài định phạt Ðức Quyền Giáo Tông 10 hương, Hộ Pháp 5 hương, ông Phối Sư Bính 5 hương, xét kỹ ra là Ðức Ngài giận ai chớ chẳng phải giận anh em tôi đâu. Tiếc thay cho nhơn sanh, chớ chi trong thời kỳ Ðại Ðạo hoằng khai, mà để tâm tín ngưỡng chung thờ một Tôn Giáo, tròn giữ theo Luật Pháp của Ðạo, lo trau giồi đức hạnh, làm phải làm lành, liên lạc thương yêu, thuận hòa cùng chung, thì nay đâu có lâm nạn đao binh như thế.

Trái lại, Chức Sắc Thiên Phong là người cầm phướn chiêu hồn dìu dắt chúng sanh thoát khổ, mà đi đến đâu đều bị họ chê bai, biếm nhẻ, kích bác, hân hủi đủ thứ, Chức Sắc Hội Thánh đem hồng ân của Ðức Chí Tôn rải khắp các nơi cho nhơn sanh chung hưởng, mà họ coi như vật thường, không có giá trị gì, họ đã mài miệt chạy theo khoa học, chú trọng về văn minh vật chất, chớ không hấp thụ được đạo đức tinh thần, họ đeo đuổi theo nguồn tranh đấu là cơ tự diệt, chớ nào rõ biết cơ bảo tồn qui cổ là gì, mãi đến ngày nay mà họ cũng chưa tỉnh.

Còn nói về phần chư Môn Ðệ của Ðức Chí Tôn, từ buổi đem thân vào cửa Ðạo trong lúc nhập môn đã quì trước Bửu Ðiện có bàn Ngũ Lôi, mà lập minh thệ rằng: "Từ đây tôi biết một Ðạo Cao Ðài Ngọc Ðế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn Ðệ, gìn Luật lệ Cao Ðài, như sau có lòng hai thì thiên tru địa lục". Than ôi! Cho những người thề như vậy, mà cũng không để trọn đức tin nơi Chí Tôn lại thối bước ngã lòng, cổi áo Ðạo, dẹp khăn tu, mong mãi xu hướng theo con đường tục lụy, cho nên mới gây tạo ra con đường lằn súng mũi đạn ngày nay.

Vậy, ai là người thất thệ với Chí Tôn thì phải sớm thức tỉnh tâm hồn, ăn năn sám hối, cầu xin Ðại Từ Phụ cùng các Ðấng Thiêng Liêng, từ bi ân xá tội lỗi tiền khiên, họa may đặng chung hưởng ân huệ của Ðức Chí Tôn ban cho sau nầy.

Ngày nào toàn thể nhơn sanh đều biết hồi đầu hướng thiện, nhìn Ðạo Trời là một Cơ Quan Cứu Thế, thật hành chủ nghĩa thương yêu cho ra thiệt tướng thì ngày ấy mới đặng hưởng hòa bình đại đồng thế giới.

 

 

ĐẠI NGHIỆP

大 業
F: Grande entreprise.

(Đại là lớn. Nghiệp là sự sản của cải làm ra, tích lũy nhiều thời gian mới được). Đại nghiệp là một cơ ngiệp to lớn, đồ sộ, người được hưởng nó phải lấy làm hãnh diện lắm.

Đại nghiệp là một sự nghiệp lớn, là sự nghiệp về mặt vô hình nơi cõi Thiêng liêng Hằng Sống, là ngôi vị của mỗi người đã dành để nơi đó trong nhiều kiếp sanh, phải giữ cho còn. Có nghĩa rằng người xuống thế gian là mục đích tấn hóa, mà khi đã vào cõi trần rồi bị nhiễm luyến quá nhiều mà tự mình đánh mất ngôi vị Thiêng Liêng, giống như một người đang mang số tiền lớn đi làm ăn: Nếu biết theo con đường sanh hoạt chánh đáng thì được lợi nhuận thêm lên; còn bê tha vào sòng bài thì đã mất hết vốn còn nguy hiểm cho tánh mạng là khác. Việc đến trần này cũng như vậy, ví như người đi buôn. Thế thôi!

Thế nên người xưa mới có câu này "Bất hiếu hữu Tam vô hậu nhi kế đại" có nghĩa là trong ba điều mà gọi là "bất hiếu" đó là không biết gìn giữ về sau cho còn cái "đại nghiệp" Thiêng liêng, là cái ngôi vị của mình đã dành sẵn nơi đó.

Đức Hộ-Pháp nói: "Mỗi phần tử Thánh-Thể của Ngài phải biết cái mạnh của mình là cái sống thật, cái yếu của mình là cái sống giả, phải có can đảm hy sinh cái chết, cái thi hài thúi tha của ta đây đặng mà đạt cho đặng cái danh hằng sống và chúng ta đặng ngôi vị Thiêng Liêng Hằng Sống nơi cửa Thiêng Liêng kia của Ngài đã dành để, tức nhiên là đại nghiệp của Ngài đã chia chung cho mỗi đứa con. Đức Chí Tôn nói rằng: Thầy đành để đại nghiệp cho các con, Thầy không có quyền đem cho kẻ khác duy có kẻ nào từ bỏ, thì Thầy mới có quyền đem cho kẻ khác mà thôi. Cái sống đó mới sống thật, sống trường tồn, sống vĩnh cửu. Sống Thiêng Liêng Hằng Sống của Đức Chí Tôn mới thật sống đó."

Ngài nhấn mạnh rằng: "Thật ra chúng ta chỉ làm cho nhơn loại, nhất là trong đám nhơn sanh đau khổ ngoài đời đang bị bạc đãi, hất hủi kia. Họ có thể nhìn vào đại nghiệp, tôn vinh của Đạo làm nguồn an ủi cho họ. Họ nghèo mà đại nghĩa của họ giàu, họ bị bạc đãi mà đặng đại gia đình nầy của họ thương yêu, an ủi họ. Bằng cớ là một đàn em công quả, chúng nó không chịu làm mướn cho người đời, thà chịu đói, chịu khổ để làm công quả cho Chí Tôn; là tại nó tự biết cái giàu của nó kia mà. Chừng nào đám ăn xin thất thểu ngoài đường kia họ nói: "Đại nghiệp nầy là của họ" thì giá trị cứu khổ của Đạo mới xuất hiện trọn vẹn chơn tướng của nó. Bần Đạo tha thiết biết điều ấy".

 

 

ĐẠI NGHIỆP THIÊNG LIÊNG

Đức Hộ-Pháp nói: "Với cái đại nghiệp Thiêng Liêng dường ấy, một cái cơ quan trọng yếu đã độ được toàn thể quốc dân, về phần xác và phần hồn, mà đổi chuộc cái khổ hạnh của chúng ta thì không có nghĩa lý gì hết. Chúng ta xem lại, lấy công tâm suy đoán, những khổ hạnh của các vị Giáo Chủ từ trước, vâng mạng lịnh của Ðức Chí Tôn, đến tạo Ðạo cứu Ðời chẳng phải chịu khổ não về phần hồn mà thôi, về phần xác của họ cũng bị đọa đày thảm thiết. Còn nói về nhục thì thôi: Không vị nào không khổ nhục Chơn linh."

 

 

ĐẠI NGOẠT (Nguyệt)

大 月
E: The full lunar month.
F: Le mois lunaire plein.

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Ngoạt: tức là Nguyệt: tháng âm lịch.

Đại ngoạt là tháng âm lịch đủ, có 30 ngày. (Xem: Âm lịch)

 

 

ĐẠI NGỌC CƠ

E: Billed-Basket.
F: Corbeille à bec.

Đạo-sử của Bà Hương-Hiếu viết: "Trước thời kỳ Chức Sắc Hiệp-Thiên-Ðài được lịnh dùng Ðại-Ngọc-Cơ trong việc truyền giáo thì chỉ là một giai đoạn chơi giải trí của ba vị, cùng nhau kết bạn đồng tâm để vui thú cầm thi trong khi nhàn rỗi. Cuộc chơi giải trí đó là việc "Xây Bàn" và ba vị nói trên chính là các Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang (sau đắc phong là Thượng Phẩm, Hộ Pháp, Thượng Sanh).

 

 

ĐẠI NGÔN

大 言

Đại là lớn, ngôn là lời nói. Đại ngôn là lời nói xác thực, không sợ sai lầm, lời nói có sự bảo kê trong đó.

Đức Hộ-Pháp nói: "Đức Chí-Tôn đã định, dầu Bần-Đạo còn ở đây hay về cõi Hư Linh: Cung ấy an lạc đi nữa, cũng nhớ đến đại nghiệp con cái của Ngài và Bần-Đạo dám đại ngôn với Ngài rằng: Con cái của Ngài giữ tâm chí hiếu với Ngài và đối với Phật Mẫu cũng vậy".

 

 

ĐẠI NGUYỆN

大 願

Nguyện: Lời thề hứa chắc với bản thân mình để tự mình cố gắng thực hiện cho kỳ được. Ðại nguyện là lời nguyện lớn.

Phật vì thương xót chúng sanh, nên mỗi vị Phật đều có phát ra lời Ðại nguyện: Bởi sách Dưỡng Tử có câu: "Phật ái chúng sanh như mẫu ái tử." Nghĩa là: Phật thương chúng sanh như mẹ thương con.

- Ðức Phật A-Di-Ðà có phát ra 48 lời Ðại nguyện. Nếu có lời đại nguyện nào không thành tựu thì Ngài không chịu thành Phật.

Ðại Thánh: Ðức Thánh lớn. Từ: Lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới, lòng thương yêu của Phật đối với chúng sanh. Ðại từ là Ðức từ lớn.

- Đức Phổ Hiền Bồ Tát có 10 điều nguyện, gọi là Phổ Hiền thập nguyện, là:

1- Lễ kính chư Phật. 禮敬諸佛

2- Xưng tán Như Lai 稱讚茹萊 Tức là khen ngợi Đức Như Lai.

3- Quảng tu cúng dường 廣修供餳 là rộng mở sự cúng dường.

4- Sám hối nghiệp chướng 懺悔業障 là Sám hối các điều nghiệp chướng.

5- Tùy hỉ công đức tùy 喜功德 là vui mừng mà thuận theo công đức của chư Phật và chư Bồ-Tát.

6- Thỉnh chuyển pháp luân 請轉法輪 là xin quay xe Pháp để cho chúng sanh hiểu biết.

7- Thỉnh Phật trụ thế 請佛住世là xin Phật ở lại thế gian.

8- Thường tùy Phật học 常 tùy 佛 學 là xin thường theo Phật để học Đạo.

9- Hằng thuận chúng sanh 恆順眾生là thường làm cho chúng sanh yên vui sung sướng.

10- Giai hồi hướng 皆回向 là đem công đức hồi hướng về chúng sanh.

Mười điều nguyện trên đây rộng như biển cả nên được gọi là Phổ-hiền nguyện hải 普賢願海

- Địa Tạng Vương Bồ-Tát chỉ có một lời nguyện lớn lao là độ hết các vong linh nơi cõi Diêm Cung thì mới thành Phật "Địa ngục vị không thệ bất thành Phật" 地獄未空誓不成佛 Vậy thì Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát có phát ra một lời Ðại nguyện là: Cứu độ hết các chơn hồn tội lỗi nơi cõi U Minh.

- Ðức Quan Âm Bồ Tát có phát ra 12 lời nguyện, gọi là Thập nhị đại nguyện.十二大願 Ngài là vị Bồ Tát có lòng Đại từ Đại bi, thường hay cứu khổ cứu nạn, lúc nào Ngài cũng lắng nghe âm thanh ở thế gian, chỗ nào, nơi nào có tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài liền đến cứu giúp, hóa độ. Trong Kinh Pháp Hoa có câu: Chúng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ-Tát, tức thì Ngài nghe âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát: "Khổ não chúng sanh nhứt tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát". 苦惱眾生一心稱名菩薩即時觀其音聲皆得解脫

Kinh Thích Giáo có câu:

"Ðại bi, Ðại nguyện, Ðại Thánh, Ðại từ".
大 悲 大 願 大 聖 大 慈

 

 

ĐẠI NHẠC HỘI

Thầy dạy: "Tôn-giáo ở địa-cầu tuy nhiều như thế và dường phản-khắc nhau nhưng sự thật vẫn hoà-hợp lẫn nhau. Nếu không có sáo, không trống, không kèn, không đàn, không nhịp phách, không dễ chi tạo bản Đại-hòa. Nhiều chơn linh tấn-hóa không đồng đều thì có nhiều Tôn-giáo mở ra để thích hợp cho trình-độ của họ, Thầy cho mở Đạo cùng khắp các nơi không khác nào Thầy cho nhiều trẻ đi học từng phần, từng cách xử-dụng nhạc cụ, để một ngày nào đó họp lẫn nhau lập thành một phiên Đại-nhạc hội.

- Phiên Đại-hội ấy ngày nay chính là Hội Long-Hoa.

- Bản Hoà-tấu ấy là bản Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ.

- Nơi Đại-hòa-tấu ấy là Tòa-Thánh Tây-ninh tại nước Việt-Nam của các con".

Ngày nay, Đức Chí-Tôn mở Đạo dùng cả Âm, thinh, sắc, tướng, để cảm hóa nhân-tâm không gì bằng Âm-nhạc. Lại nữa linh-hồn của Đạo phải kể đến: Nhạc, Lễ và Đồng-nhi, tức là hồn của thi thơ đó vậy.

 

 

ĐẠI NHÂN

大 人

Là người lớn. Đại nhân 大人 tức là con người đứng vào số một trong tất cả mọi người. Người đắc nhất là người được biết cơ mầu của tạo hóa cùng trời đất tồn tại mãi mãi, đó là đại nhân. Bởi chữ Đại 大 gồm chữ nhất 一 và chữ nhân 人họp lại "nhất nhân viết đại".

Đại nhân là con người thông minh giác ngộ, thánh thiện, tài đức hơn người, nên hợp đức với trời đất, hợp sự sáng suốt với mặt trời, mặt trăng, hợp thứ tự với bốn mùa, hợp lành dữ với quỉ thần; đi trước trời mà trời không trái, đi sau trời mà vâng thời trời. Trời còn không trái phương chi là người, là quỉ thần. Như thế đại nhân sống hòa hợp trong đại vận của trời đất không một lúc nào nhàn, không một phút ngừng nghỉ, giống như bánh xe lớn quay mãi thể theo đạo trời mà hành động, quyết bắt chước cái tính "hành kiện" của trời, không để cho nhân dục phương hại đến thiên lý nên "tự cường" mãi mãi. Do câu "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức". Ấy là trời hành động cương quyết, người quân tử tự cường mãi không ngừng. Đại nhân đã đạt đến bực Thánh nhân, tức là người có đức lớn "tham thiên hóa dục, dữ thiên đồng đức".Người đó chính là người đứng số một trong hàng "đại nhân". Tương đồng với Phật, Thánh, Tiên, Thần vậy.

"Nhất đại vị thiên"一大謂天 vì chữ thiên 天 gồm chữ nhất 一 và chữ đại 大. Chỉ có người có tu mới tiến hóa, nghĩa là từ hàng đẳng con người biết tu thân, tiến đức, cách vật trí tri, đắc ngộ được cơ mầu nhiệm của hóa công, đạt được phép huyền vi của vũ trụ để tiến lên hàng đẳng Thần, Thánh, Tiên, Phật, đồng với trời đất gọi là "Dữ đồng thiên địa" là vậy.

 

 

ĐẠI NHẤT THỂ

Đức Quyền Giáo Tông viết trong Tờ Khai Đạo gởi Thống-Đốc Nam-kỳ Sài Gòn: "Đạo Cao Đài là thể hiện một nền văn minh tinh thần triết lý, gồm cả bí quyết của trời đất và vạn vật. Tam Giáo và Ngũ Chi để phát huy cơ huyền nhiệm của vũ trụ, là một "Đại nhứt thể".

 

 

ĐẠI PHỤC

大 服
E: The great ceremony dress.
F: La grande tenue de cérémonie.

Đại phục là áo mão Chức sắc phải mặc trong dịp Đại lễ cúng Đại đàn tại Tòa Thánh hay tại Thánh Thất.

Tiểu phục là áo mão Chức sắc phải mặc trong các ngày Tiểu lễ cúng Tiểu đàn nơi Tòa Thánh hay Thánh Thất, hoặc khi thi hành Đạo sự.

Đại phục và Tiểu phục, gọi chung là Đạo phục, là y phục của người Đạo. Từ phẩm Giáo Sư đổ lên, Đạo phục mới có 2 bộ: Đại phục và Tiểu phục. Các phẩm Chức sắc: Giáo Hữu, Lễ Sanh và Chức việc Bàn Trị Sự, Đạo phục chỉ có một bộ mà thôi.

 

 

ĐẠI QUÁ Quẻ 28. Quẻ Trạch Phong Đại Quá

 

 

Quẻ 28. Quẻ Quẻ Trạch Phong Đại Quá 澤 風 大 過

 

 

Tượng: Con đường Thiêng liêng Hằng sống

Quẻ này là quẻ Trạch Phong Đại Quá. Tốn hạ là nội Tốn, Đoài Thượng là ngoại Đoài. Đoài là Trạch, Tốn là Phong, nên tên quẻ đặt là Trạch Phong Đại Quá.

Quá nghĩa là vượt qua mức bình-thường. Đại-quá nghĩa là nhiều quá lắm, nói rộng ra là một cách lớn-lao. Phàm muôn vật trên cõi đất cũng giúp thêm được cái đức bảo dưỡng của cha mẹ sinh ra và nuôi-nấng. Trời đất ban cho những linh khí để nuôi dưỡng thân xác, đã được nuôi dưỡng thì muôn vật lần lần lớn lên, có sự khôn lớn thì Thần và xác đều được đầy đủ, có lực, có khí mà hành động, nếu động mà không biết ngăn giữ ắt là quá lắm. Phàm sự gì quá tức là vượt qua hạn định của nó, vì sự ham-muốn phát-triển mạnh-mẽ lắm vậy.

Sau quẻ Di tiếp lấy quẻ Đại Quá là vì sao?

Bởi Di là nuôi dưỡng tinh-thần cho được lớn mạnh thêm, cao thượng hơn. Người có hai phần: Xác và hồn, người có tâm hồn hướng thượng thì lo về phần tâm linh.

Xét về vạch, hào thì trong sáu hào có hai hào âm ở trên và dưới, ở giữa có bốn hào dương.

Dương có tính động và số Dương nhiều, tức là 4 Dương mà 2 âm, là cái nguyên số ở đây gấp hai lần âm, sự cứng mạnh quá nhiều nên có tượng là ĐẠI QUÁ. Thuyết quái truyện nói "Tốn vi Mộc", Tốn tượng cây. Trong quẻ Đại quá trên có quẻ Đoài tượng là trầm (đầm, ao, hồ) dưới có quẻ Tốn. Nếu về hữu hình thì nước hồ ao tưới cho cây tươi tốt, nhưng đầm ở trên cây ắt là nước làm ngập cây nhiều quá ắt nguy cho cây nên gọi là ĐẠI QUÁ Luận về vô vi thì hơi nước từ Đoài hoá sương thì làm cho cây mát mẻ tốt tươi cũng là Đại quá.

Phàm ở đời làm việc gì quá lẽ thường thì gọi Đại quá, nhưng luôn có hai chiều thuận nghịch. Làm việc tốt ắt là quá tốt, nhưng làm việc không tốt thì vào thời Đại quá sẽ quá hại. Mà cái quá thì không còn gọi là thường được.

ĐẠI QUÁ tức là trong quẻ Dương nhiều quá (vượt mức bình thường đều gọi là "Quá". Đạo không có chỗ nào là không trúng, không có chỗ nào là bất thường, chỉ vì thế nhân không thường thấy cho nên nói rằng quá, tức là quá cái lẽ thường vậy). Việc trong trời đất mà làm cho quá sức người tưởng tượng hoặc là muốn nghiệm xét cũng không ra. Xưa nay việc sống chết, thăng đoạ của con người chưa ai khám phá ra được. Nhưng cần cần yếu là muốn tìm đến cõi thăng là cõi Niết bàn, cõi Hằng sống như thế nào để làm nấc thang tiến hoá của hồn linh mới là cần thiết. Đây, người lo nuôi dưỡng phần Dương tức chi Đạo là một trong ba Chi của Hiệp-Thiên-Đài, là dưới quyền Chưởng-quản của Đức Thượng-Phẩm. Chính Đức Thượng Phẩm là người về trước để độ phần hồn cho nhân sanh. Người Tín Hữu Cao-Đài ý thức được việc sống tâm linh quan trọng là ngần nào. Giờ đây phải phát-huy cái tinh thần đó cho mọi người được hưởng ở trong cái Thế giới hữu hình này, đó chính là tinh thần là con đường trở về, người Đạo Cao-Đài nói là "Con đường Thiêng-Liêng Hằng Sống", người Đạo Phật cho là cảnh Niết bàn, người Công giáo gọi là nước Thiên Đàng của Chúa.

Thử tìm đến một Bí-pháp của Đạo Cao-Đài, mà từ xưa đến giờ nhân loại hằng mong ước được biết qua con đường thăng tiến của chơn linh, vì nó quá sức hiểu biết của con người.

Lời Huấn-giáo của Đức Hộ-Pháp:

(Đền-Thánh, 13 tháng 8 năm Mậu-Tý –dl 16-9-1948)

"Đêm nay Bần-Đạo thuyết Đạo có hơi dài chút rán ngồi nghe. Kể từ đêm nay Bần-Đạo bắt đầu thuyết một đề-tài trọng-yếu, đề-tài này phải thuyết nhiều đêm mới hết, bởi thế cho nên cứ mỗi bốn đêm thì thuyết một lần. Bần-Đạo rán thúc nhặt cho con cái Đức Chí-Tôn có một bửu-bối nơi tay, để ngày kia tìm đường đoạt Đạo. Đề tài đêm nay là "Con đường Thiêng-Liêng Hằng Sống".

Con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là gì?

- Nếu hiểu theo Chơn-Pháp của Đức Chí-Tôn thì con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là Con đường dành cho các Chơn-hồn khi thoát xác rồi quay về với Đức Chí-Tôn để được định vị thăng hay đọa. Nhưng nếu hiểu theo Triết lý nhà Phật, thì con đường Thiêng-liêng Hằng-sống là con đường của Luân-hồi.

Như vậy, Con đường Thiêng-liêng Hằng-sống là một đề-tài Thuyết-pháp khó khăn, muốn cho toàn-thể con cái Đức Chí-Tôn thấu-đáo, lãnh-hội đầy-đủ nghĩa-lý sâu xa của đề-tài đó, ít ra phải viết thành sách, mà sách ấy tới mấy ngàn trang là ít.

 

 

ĐẠI SÚC Quẻ 26. Quẻ Sơn Thiên Đại Súc

 

 

Quẻ 26. Quẻ Sơn Thiên Đại Súc 山 天 大 畜

 

 

Tượng: Đền Thánh Toà-Thánh Tây Ninh

Quẻ này là quẻ Sơn Thiên Đại-Súc. Súc có nghĩa là gom tụ, tích trữ, chất chứa lại. Đại-súc là chứa nhiều, vì lẽ đó mà sau cuộc Vô vọng tức nhiên không càn-bậy mới tiếp đến cuộc Đại-súc. Trên là Cấn thượng là ngoại Cấn, dưới là Càn hạ là nội Càn. Cấn là Sơn, Càn là Thiên, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Thiên Đại súc.

Phân tích chữ Đại 大 là lớn. Chữ Đại là kết hợp bởi nhứt nhân 一人 tức nhiên nhứt nhân viết Đại 一人 曰 大 chỉ có người mới xứng đáng được hưởng điểm linh quang sáng-suốt chiết từ trong khối Đại-linh-quang của Đức Chí-Tôn mà thôi. Cũng chính con người có tinh thần vững chắc mới hoằng dương chánh pháp của Đức Chí-Tôn và làm rõ mối đạo Trời, ấy Nhứt đại viết Thiên 一 大 曰 天 Súc 畜 tức là chứa trữ,do chữ huyền 玄 và Điền 田 tức là ruộng bí mật, đó là ruộng tâm. Ruộng là nơi gieo trồng lúa để nuôi sống muôn loài. Nhưng, đây là ruộng tâm cũng để gieo trồng những lý đạo cao siêu mầu nhiệm làm món ăn tinh thần cho mọi người, để phát triển tâm linh mà tầm Tiên noi Phật, hầu đưa con người tiến đến chân, thiện, mỹ.

Quẻ Đại-súc: trong có quẻ Kiền ☰ tượng là Trời có ba nét Dương như những nguyên-tử lưu-động để tạo thành muôn vật, ngoài có quẻ Cấn ☶ tượng là núi, là sự dừng lại, ngừng chỉ, tức là không đi nữa. Trong có Kiền cứng mạnh, ngoài có Cấn ngừng chỉ là tượng hình của cuộc Đại-súc.

Người ta lập chí tu-thân thì trước hết phải lấy sự không càn-bậy làm yếu-chỉ để sửa mình cho trong-sạch thì mới được thăng tiến trên con đường Đạo, con đường đại quang-minh, đó là hàm ý của Thánh-nhân làm nên quẻ Đại-súc.

Quẻ Sơn Thiên Đại-súc là một quẻ có ngụ ý rằng: Ông Trời ở dưới núi. Xưa nay Trời là Đấng cao cả bao la, vừa ngụ về quyền năng cũng vừa nói về phần hữu thể, nhưng chưa ai nói rằng ông Trời ở dưới núi, chỉ có nghe Thánh nhân nói trong Dịch mà thôi! Nhưng chắc có lẽ đến ngươn hội CAO-ĐÀI này nhân loại mới thật sự thấy Ông Trời "Ở dưới núi".

Khi nhìn vào hình thể của ngôi Đền Thánh tức là Đền ngự của Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế thì quả thật "Ông Trời ở dưới núi".

Trước đây quẻ Tiểu súc (Phong Thiên Tiểu súc) là chứa ít, tuy dù chứa ít mà giá trị tuyệt cao, tượng là thời HUYỀN DIỆU CƠ BÚT. Hôm nay chứa nhiều (Đại súc) phải từ trong khối huyền năng to lớn của Đức Thượng-Đế phát xuất ra, thì nơi khởi phát ấy chính là Đền Thánh Toà Thánh Tây-ninh vậy.

Tại sao Đền Thánh lại là biểu tượng của quẻ Đại Súc?

Lời tiên tri của Đức Chúa Jésus-Christ rằng:

"Trong hai ngàn năm thì có Chúa sẽ đến nơi chốn Sơn Lâm, nhưng Ngài đến thế như kẻ trộm đi đêm…"

Chúa đến như kẻ trộm là thế nào? Tức nhiên Ngài đến trước mặt mọi người mà không ai nhận ra Ngài. Chính Toà-Thánh là hình ảnh của SƠN LÂM ấy. Đền Thánh này có đến 7 chữ SƠN 山:

1- Lầu chuông và lầu Trống là hai ngạnh hiệp với đỉnh của Nghinh-Phong Đài, thành chữ Sơn 山 thứ nhứt.

2- Cũng lầu chuông và lầu trống hợp với đỉnh của Bát quái-Đài tạo thành chữ Sơn 山 thứ hai.

3-Toàn cả Đền Thánh xem như đỉnh giữa họp với Đông lang, Tây lang bao bọc tạo thành chữ Sơn 山 thứ ba.

4- Tháp Đức Quyền Giáo-Tông ở giữa, hai bên có Đông lang và Tây lang bao bọc, thành chữ Sơn 山 thứ tư

5- Ba tháp của ba vị Hiệp-Thiên-Đài: Hộ-pháp, Thượng Phẩm, Thượng-Sanh ở mặt tiền Đền Thánh tạo thành chữ Sơn 山 thứ năm.

6- Đứng từ bên hông Đền-Thánh phía bên Nam phái nhìn vào thì ba đỉnh của: Bát-quái, Cửu-Trùng và Hiệp Thiên, sẽ có hình ảnh một chữ Sơn 山 thứ 6.

7- Đứng từ bên hông Đền-Thánh phía Nữ-phái nhìn lại thì ba đỉnh của: Bát-quái, Cửu-Trùng và Hiệp Thiên sẽ có hình ảnh một chữ Sơn 山 thứ 7.

Như vậy là có đến 7 chữ Sơn gọi là Thất sơn. Đây là Thất sơn vô vi, còn ở Châu Đốc là Thất sơn hữu hình của nước Việt Nam. Sám Trạng Trình có câu: "Thất Sơn dấy động Thất Sơn dời".

Người tu theo Đạo Cao-Đài là tu Tiên. Bởi Đền Thánh có hình chữ Sơn 山 mà người là chữ nhân人đứng bên cạnh chữ sơn, tạo thành chữ Tiên 仙.

Hai khu rừng thiên nhiên phía trước Đền Thánh, mỗi khu rừng tượng một chữ Mộc 木 là cây, hai khu rừng là hai chữ mộc đặt liền nhau thành ra chữ LÂM 林 lâm là rừng.Vậy Sơn Lâm 山 林 chính là rừng núi. Nay, Chúa đã đến chốn sơn lâm này. Chúa là ai? Là hiện thân của Đức Hộ Pháp qua câu:

"Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo.
"Hữu duyên Đông Á nắm Thiên Thơ".

Nơi Đại-Đồng-Xã cũng gọi là cảnh phàm 凡 được, nếu họp với chữ lâm 林 trên phàm 凡dưới kết hợp thành chữ Phạm 梵. là Phật. Nhìn ra vòng rào Nội-ô Toà-Thánh có cả thảy 12 cửa, mà cửa gọi là Môn 門 Vậy Toà Thánh Tây ninh đây chính là Phạm môn 梵 門 là đất Phât vậy.

Đôi liễn khởi đầu hai chữ PHẠM MÔN đặt phía sau ba cái Ngai của Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh tại Đền-Thánh Tòa Thánh Tây ninh, đồng thời đặt tại cổng Hộ Pháp Đường gọi là đôi liễn Phạm Môn:

PHẠM giáo tùy nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp.
MÔN quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền

梵 敎 隨 元 救 世 度 人 行 正 法
門 權 定 會 除 邪 滅 魅 護 眞 傳

 

 

ĐẠI TẠNG (Phật Học)

大 藏

Danh từ chỉ tất cả những kinh sách, luận giải về Đạo Phật trong và ngoài Tam Tạng. Ðại Tạng đầy đủ và bao gồm nhất hiện nay của Phật giáo Bắc truyền là Ðại Tạng Trung Quốc và Tây Tạng (Cam-châu-nhĩ/ Ðan-châu-nhĩ). Ðầy đủ nhất của Phật giáo Nam truyền là Ðại Tạng của Thượng tọa bộ của Tích Lan, được ghi lại bằng văn hệ Pā-li (Ðại chính tân tu đại tạng kinh).

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

ĐẠI TẬP KINH (Phật Học)

大 集 經

Ðại tập kinh (S: mahāsaṃnipāta-sūtra) Một trong những kinh Phương đẳng của Phật giáo Ðại thừa, thuộc Tam Tạng của Trung Quốc. Bộ Kinh này xuất phát từ thứ kỷ thứ 6 sau Công nguyên, nội dung không đồng đều và nói nhiều về tính Không. Kinh này chịu nhiều ảnh hưởng của Tan-tra và chứa nhiều Ðà-la-ni và Man-tra.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

ĐẠI THÁNH

大 聖

Đại Thánh 大 聖 Vị Thánh lớn.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát.
"Bố từ bi tế bạt vong hồn."

 

 

ĐẠI THẦN ĐẠI THÁNH CHÍ CỰC CHÍ TÔN

大 神 大 聖 至 極 至 尊

(Đây là câu kinh trong bài Kinh Tiên Giáo)

(Ðại: Lớn. Thần: Bực Thần. Thánh: Bực Thánh. Chí: Rất. Cực: Cái đầu cùng. Tôn: Kính trọng. Ðại Thần: Bực Thần lớn. Ðại Thánh: Bực Thánh lớn. Chí cực: Rất cao, cao tột. Chí tôn: Rất được tôn kính).

Bực Thần lớn, bực Thánh lớn, cao tột, rất được tôn kính.

 

 

ĐẠI THẾ CHÍ (Phật Học)

大 勢 至

Ðại Thế Chí (S: mahāsthāmaprāpta) Một vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Ðại thừa, là vị dạy dỗ cho con người "biết mình cần được giải thoát". Tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, Ðại Thế Chí hay được vẽ tạc bên mặt của Quán Thế Âm, bên cạnh Đức Phật A-Di-Đà, đại diện cho trí huệ của Ngài. Tranh tượng hay trình bày một ngôi chùa trên đỉnh đầu của Ðại Thế Chí.

 

 

ĐẠI THIÊN ĐỊA

E: Macrocosm.
F: Macrocosme,

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Thiên Địa: Trời Đất. Đại Thiên Địa là Đại vũ trụ, chỉ Đấng Thượng Đế.

Tiểu Thiên Địa là Tiểu vũ trụ, chỉ con người.

Đấng Thượng Đế tạo nên con người theo luật tạo hóa CKVT, cho nên hễ Trời Đất có gì thì con người có nấy.

Trời có Tam bửu: Nhựt, Nguyệt, Tinh; Đất có Tam bửu: Thủy, Hỏa, Phong, con người có Tam bửu: Tinh, Khí, Thần.

Trời có Ngũ Khí, Đất có Ngũ Hành, con người có Ngũ tạng, v.v...

Con người là Tiểu Thiên Địa, Tiểu hồn, Tiểu Linh quang, hay nói vắn tắt, con người là một Tiểu Thượng Đế. Cho nên, con người nếu biết tu hành thì sẽ trở nên Thần, Thánh, Tiên, Phật, và cuối cùng thì sẽ trở thành Thượng Đế, để hiệp nhứt vào Thượng Đế. (Xem: Tiểu Thiên Địa, vần T).

 

 

ĐẠI THIÊN PHONG

大 天 封
E: The great dignity.
F: Le grand dignitaire.

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Thiên: Trời. Phong: phong chức.

Đại Thiên phong là những Chức sắc cao cấp trong Đạo do Đức Chí Tôn hay Đức Đại Tiên Trưởng Lý Thái Bạch thay mặt Đức Chí Tôn phong chức.

Chức sắc vào hàng Tiên vị trở lên: bên Cửu Trùng Ðài, Chức sắc từ phẩm Đầu Sư trở lên; bên Hiệp Thiên Ðài, Chức sắc từ phẩm Thời Quân trở lên, đều được gọi là Chức sắc Đại Thiên phong. Còn các Chức sắc ở các phẩm thấp hơn thì chỉ gọi là Chức sắc Thiên phong.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần Đạo thuyết điều này cốt yếu nói cho cả toàn thể con cái của Đức Chí Tôn, dầu cho hàng TÍN ĐỒ nam nữ dĩ chí Đại Thiên-Phong cũng vậy, mỗi phần tử Thánh-Thể của Ngài phải biết cái mạnh của mình là cái sống thật, cái yếu của mình là cái sống giả, phải có can đảm hy sinh cái chết, cái thi hài thúi tha của ta đây đặng mà đạt cho đặng cái danh Hằng sống và chúng ta đặng ngôi vị Thiêng Liêng Hằng Sống nơi cửa Thiêng Liêng kia của Ngài đã dành để, tức nhiên là đại nghiệp của Ngài đã chia chung cho mỗi đứa con.

 

 

ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI DƯƠNG TỤNG TỪ ÂN

大 千 世 界 陽 頌 慈 恩

(Đây là câu kinh trong bài Kinh Tiên Giáo)

Ðại: Lớn. Thiên: Ngàn (1000). Thế giới: Những quả địa cầu trong Càn Khôn Vũ-Trụ. Theo Vũ-Trụ-quan của Ðạo Cao Ðài thì Vũ trụ của Ðức Chí Tôn gồm Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu). Ðại thiên Thế giới, nghĩa đen là một ngàn lớn Thế giới, ý nói 3000 Thế giới trong Vũ trụ của Ðức Chí Tôn. Dương: Ðưa lên cao cho mọi người thấy và biết. Tụng: Khen ngợi, ca ngợi. Từ: Lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới, lòng thương yêu chúng sanh. Ân: Ơn huệ). Vây cả ba ngàn Thế giới, mọi người đều ca tụng đề cao lòng từ bi và ơn đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

 

 

ĐẠI THỪA (Phật Học)

大 乘

Ðại Thừa (S: mahāyāna) dịch âm Hán Việt là Ma-ha-diễn-na, Ma-ha-diễn, tức là "cỗ xe lớn".

Một trong hai trường phái lớn của Đạo Phật, phái kia là Tiểu Thừa, "cỗ xe nhỏ" (s: hīnayāna). Xuất hiện trong thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, phái này tự nhận là cỗ xe lớn, nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo pháp để mở đường cho một số lớn chúng sinh có thể giác ngộ.

Cả hai, Tiểu Thừa và Ðại Thừa đều bắt nguồn từ Ðức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, nhưng khác nhau nơi sự quan tâm về thực hành giáo pháp. Nếu Tiểu Thừa quan tâm đến sự giác ngộ của chính mình thì đại biểu của Ðại Thừa mong muốn được giải thoát để cứu độ chúng sinh. Hình tượng tiêu biểu của Ðại Thừa là Bồ Tát (s: bodhisattva) mà đặc tính vượt trội là lòng Bi (s, p: karuṇā).

Ðại Thừa xuất phát (phần lớn) từ hai nhánh của Tiểu Thừa là Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda), lấy từ đó những yếu tố căn bản của giáo pháp mình: từ Ðại chúng bộ, Ðại Thừa xem Phật là hóa thân của một thật thể, lấy hình ảnh xả thân của các vị Bồ Tát và quan điểm tính Không (s: śūnya). Từ Nhất thiết hữu bộ, Ðại Thừa, thừa nhận quan điểm Ba thân (s: trikāya).

Ngược lại với quan điểm nguyên thủy, Ðại Thừa không quá nhấn mạnh đến đời sống xuất gia, cho rằng Cư sĩ tại gia cũng có thể đạt Niết-Bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ Tát. Trong quan điểm Ðại Thừa, Niết-Bàn không phải chỉ là giải thoát khỏi Luân hồi – mà hơn thế nữa, hành giả giác ngộ về Chân tâm và an trụ trong đó. Mỗi chúng sinh đều mang Phật tính (s: buddhatā) và nhận ra điều đó là điều tuyệt đối quan trọng.

Ðại Thừa lại được chia ra nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ Ấn Ðộ và truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Tại Ấn Ðộ, Ðại Thừa đã chia ra Trung quán tông (s: mādhyamika) do Long Thụ (s: nāgārjuna) đề xuất và Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) do Vô Trước (s: asaṅga) và Thế Thân (vasubandhu) sáng lập. Song song với Tan-tra (Mật tông) của Ấn Ðộ giáo, Đạo Phật cũng sản sinh ra một trường phái là Kim cương thừa (s: vajrayāna), rất thịnh hành tại Tây Tạng. Thuộc về Ðại Thừa tại Trung Quốc và Nhật Bản, người ta có thể kể đến Thiền Tông, Hoa nghiêm Tông, Thiên Thai Tông, Tịnh độ Tông. Giáo lý căn bản của Ðại Thừa được chứa đựng trong những bộ Kinh (s: sūtra) và Luận (s: śāstra) với nhiều luận văn hết sức sâu sắc.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

ĐẠI THỪA CHƠN GIÁO (Sách)

Đại thừa Chơn giáo tác giả là ông Liên Hoai. Ông này hiện còn sống ở chùa Tam Tông Miếu, tuổi nay cũng gần một trăm, ông gom các Thánh giáo cầu cơ mới lập thành quyển Đại thừa. (Thừa Sử Lê Quang Tấn trả lời với phái đoàn nghiên cứu Tôn giáo của chánh phủ Trung ương tại đô thành ngày 03-4-Giáp Tuất (dl13-5-1994).

 

 

ĐẠI TỊNH

大 淨
E: Perfectly pure.
F: Parfaitement pur.

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Tịnh: trong sạch. Đại tịnh là hoàn toàn trong sạch.

Muốn được hoàn toàn trong sạch thì phải giữ cho Tâm được trong sạch, và Thân Khẩu Ý phải cho trong sạch.

Tâm trong sạch khi không vọng động, lặng yên, không không. Thân trong sạch khi được tắm rửa sạch sẽ và xông hương khử trược. Khẩu trong sạch khi nói lời đạo đức, khuyến nhơn tu hành. Ý trong sạch khi không mơ tưởng việc quấy, giữ ý tưởng trong những điều cao thượng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thơ! Con ngồi đại tịnh đặng tối nay nghe Thầy dạy việc.

 

 

ĐẠI TIÊN

Đức Hộ-Pháp nói:: "Ngộ nghĩnh thay! Ðức Chí Tôn làm thế nào mà chư vị Ðại Tiên ấy ra đảm nhiệm sứ mạng Thiêng Liêng đến đặng tạo dựng cái nền Tôn Giáo của Ngài. Ðức Hớn Chung Ly tức nhiên cái nguơn linh của Ðức Cao Thượng Phẩm đó vậy".

Kim-Quan-Sứ là ai? Bên Thánh-Giáo Gia Tô gọi là Quỉ-Vương đó vậy. Kim-Quan-Sứ là một vị Đại-Tiên có quyền hành đem ánh sáng Thiêng-Liêng Đức Chí-Tôn chiếu diệu trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, vị Đại-Tiên ấy đã gấm-ghé bước vào Phật-Vị, cái quyền-năng của Ngài đã đoạt đặng tưởng không thua kém Đức Chí-Tôn là bao nhiêu, do cái tự-kiêu tự đại, còn một bước đường nữa mà đoạt không đặng, nếu người nhường là nhường Đức Chí-Tôn mà thôi. Vì người hám vọng, tự-tôn, tự-đại, gọi cả quyền-năng Đức Chí-Tôn người không nhường, tức nhiên người đủ quyền năng hơn Đức Chí-Tôn mà chớ! Vì cớ cho nên Ngài dành quyền trọng đại muốn cầm quyền một quyền-lực để điều khiển Càn-Khôn Vũ-Trụ, chưa đoạt đặng mà Ngọc-Hư Cung đã biết tinh-thần Kim Quan-Sứ muốn phản phúc".

 

 

ĐẠI TÔN GIÁO

Đức Qu. Giáo-Tông nói: "Bên Âu-Châu nhiều sách tiên tri rằng: Trên một góc Trời kia sẽ phát hiện ra một Ðại Tôn giáo bao gồm tất cả các Tôn-giáo khác, tồn lại trên quả địa cầu nầy, cốt gây ra một thời đại mới mẻ, chúng ta cũng thấy các tiên ngôn ấy trong Kinh Phật Annam và Cao Miên."

 

 

ĐẠI TRÁNG Quẻ 34. Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng

 

 

Quẻ 34. Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng 雷天 大 壯

 

 

Tượng: Việt Nam Thánh Địa

Quẻ này là quẻ Đại-tráng. Kiền hạ là nội Kiền, Chấn thượng là ngoại Chấn. Chấn là Lôi, Kiền là Thiên, nên tên quẻ đọc là Lôi Thiên Đại Tráng.

Thứ tự quái, sau quẻ Độn tiếp lấy quẻ Đại Tráng là nghĩa làm sao?

Qua rồi là quẻ Độn. Độn nghĩa là lui. Vật lý không một vật gì mà cứ lui hoài. Cứ hết vận xấu thì thời hanh thông phải đến, tức là có sự lớn mạnh lên.

Vậy nên sau quẻ Độn tiếp lấy quẻ Đại-Tráng.

Theo thông lệ trong Dịch: Tiểu là Âm, Đại là Dương. Quẻ này Dương sinh ra đến 4 hào, Âm tiêu chỉ còn lại hai. Thế là Dương tráng thịnh lắm rồi, nên tên quẻ đặt bằng Đại tráng. Đại-tráng nghĩa là Dương đã tráng thịnh nhiều.

Bởi thời Độn là cuộc Âm thịnh Dương suy là đạo Tiểu nhân bắt đầu lớn lên mà đoạt lấy Đạo của quân-tử, giờ là đạo Quân-tử mạnh thì Tiểu-nhân tiêu, là Đại-Tráng.Trong 12 tháng của 12 Thiên-tử quái thì Đại-Tráng nằm vào tháng 2 nhằm Cung Mẹo (hay Mão) nên gọi là tháng Kiến Mão cho nên Tiểu-nhân phải lui đi, trốn tránh đi vậy. Nhưng khi đã trốn tránh cùng cực thì có lúc hiện ra và lớn lên. Bởi Bĩ cực Thái lai, Âm cực thì Dương sinh. Khi Dương đã sinh thì ngày càng lớn mạnh lên soi tỏ muôn vật và lấn át cả hào Âm đến lúc chỉ còn toàn hào Dương.

Đó là sự tuần-hoàn của trời đất để nuôi lớn muôn loài, do đó sau quẻ Độn tiếp lấy quẻ Đại-Tráng là ý nghĩa ấy vậy.Theo vạch của quẻ Đại-Tráng thì dưới có 4 Dương, trên có hai Âm, tức là tượng tháng kiến Mão, vào tháng 2 Âm-lịch, tức là giữa mùa Xuân, vạn-vật được hấp thụ cái Dương-khí mà lớn lên. Dương đã lớn lên quá mực thường mà còn sáng soi cả hào âm nữa, mới đặt tên là Đại Tráng.

Dịch gọi Âm là Tiểu-nhân, Dương là Quân-tử.

Quẻ Đại-Tráng thuộc tháng 2 trong chu-kỳ 12 tháng.của một năm.

Đại-tráng là quẻ đảo của quẻ Độn

Tức là một cặp Âm Dương của nhau. Nếu Độn là quẻ chỉ ban ngày thì Đại-Tráng sẽ là ban đêm.

Tức nhiên Đại-tráng có 4 hào Dương ở dưới đẩy lần 2 hào Âm ở trên ngày càng ra xa, cho nên nói quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu. là vậy.

Trái lại, quẻ Độn dù có 2 Âm ở dưới nhưng sẽ đẩy lùi 4 Dương càng xa dần để chiếm toàn bộ là Âm. Đây là tiểu nhân đạo trưởng, quân-tử đạo tiêu. Thế nên người biết được lẽ tiến thoái, tồn vong, dinh hư tiêu trưởng mà không buồn trước sự biến đổi của đất trời mà con người luôn chịu chi phối trong định luật ấy. Đó là luật định của Càn khôn vũ-trụ mà người hiểu biết có khác hơn người không biết là chỗ đó. Sự thuận thiên an mệnh chính là chỗ hiểu biết của con người để tâm thân lúc nào cũng nhàn lạc.

Trong thời của Độn thì nói về Cơ Đạo phải xử dụng Quân-Đội Cao-Đài cốt-yếu để bảo an cho bao triệu nhơn sanh trong buổi Đạo còn non nớt, yếu đuối chưa đủ sức chống đỡ bao khó-khăn của nhiều thế lực uy hiếp. Nay, tinh thần người Cao-Đài đã trưởng thành đủ sức để bình tâm lo tu-hành, sớm kệ chiều kinh lo tu tâm dưỡng tánh. Thế nên, chỉ sau một thời gian thì Đức Hộ-Pháp cho giải tán Quân-Đội Cao-Đài, vì đất nước Việt-Nam đã được an bình mà vươn lên sau một thời gian chiến tranh tàn khốc và Người Tín-hữu Đạo Cao-Đài được sống ổn định.

Nhắc lại thời kỳ khởi khai Đại-Đạo, về phần Thể pháp khó nhọc biết bao. Nhưng ngoài những thứ khó khăn ấy ra còn một nỗi hoạ Thiên điều khó mong tránh nỗi

Lời Tiên tri của Ðức Lý Giáo Tông.

Đức Hộ-Pháp thuyết đạo tại Báo Ân Từ, đêm rằm tháng 9 năm Bính Tuất (1946)

Trong năm Bính Dần (1926) Ðức Chí-Tôn giáng trần khai Ðạo phổ hóa chúng sanh làm lành, lánh dữ, tức là Cơ Quan Cứu Thế. Khi mà Ðạo đã truyền bá khắp các Tỉnh rồi, qua đến ngày Rằm tháng 6 năm Ðinh-Mão (1927) Ðức Lý Giáo Tông cấm Cơ Bút, thì chư vị Chức Sắc Ðại Thiên Phong không rõ tại sao, nhứt là Ðức Quyền Giáo-Tông có lòng sở mộ về Cơ Bút đã trải qua một thời gian lắng nghe lời Thánh Giáo, nên Ðức Quyền Giáo Tông định cầu Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương đặng học hỏi về Ðạo đức.

 

 

ĐẠI TỪ ĐẠI BI

大 慈 大 悲

Đại từ Đại bi là lòng từ bi tối thượng, chỉ đạt được khi đã đạt được trí huệ tối thượng, tức là tâm từ bi tuyệt đối, vô điều kiện, chỉ có được nhờ sự giác ngộ rốt ráo về chân lý. Đó là lòng Từ Bi của Đức Thượng Đế và chư Phật, chư Tiên.

Thầy dạy: "Ta vì lòng Đại từ Đại bi, lấy đức háo sanh mở ra một mối Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tôn chỉ để cứu vớt cả chúng sanh khỏi trầm luân khổ hải, độ rỗi khắp thế giới, để rước những kẻ duyên phần vào nơi tịnh lạc u nhàn, khỏi lạc lối vào nơi tăm tối, là chỗ những khách tội lỗi lạc vào."

[Ngày 1-3-1927 (âl 28-1-Đinh Mão)]

Đức Quyền Giáo Tông xác nhận: "Qua cũng dư hiểu buổi tạo đời bước đầu tiên thì các vị nguyên nhân lãnh lịnh phải chịu muôn sầu ngàn thảm là cố nhiên, nếu ai đủ nghị lực làm xong phận sự thì quả vị thiêng liêng không nhỏ vậy. Mấy em nên cắt nghĩa cho nhau hầu vẹn đền lòng Đại từ Đại bi của Chí Tôn quá thương chúng sanh nên giáng trần lập Đạo. Mấy em là người để thúc giục tâm chí cương quyết và can đảm với những hoàn cảnh khó khăn luôn, nghe à!"

 

 

ĐẠI TỪ PHỤ

大 慈 父
E: The great Holy-Father.
F: Le Père Divin Suprême.

Đại Từ Phụ 大 慈 父 là chỉ Đấng cha lành trọng đại.

Vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn giáng cơ mở Đạo dìu dắt chúng sanh vào đường đạo đức, Ngài xưng là Cha chung của toàn nhân loại, vì thế chúng sanh mới gọi Ngài là Đại Từ Phụ. Ngài là Đấng cha lành, sinh hóa ra vạn linh, có lòng Đại-từ Đại-bi Thương yêu con cái của Người là chúng sanh: đó là Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Ðại Từ Phụ là người Cha Thiêng liêng. Người Môn đệ Cao Đài ngày nay có quyền tự hào rằng ngoài cha mẹ phàm trần còn có Cha Mẹ Thiêng liêng nữa, tức là Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu đó vậy. Mỗi người nơi cõi phàm trần đều có xác thân phàm do cha mẹ phàm sanh hoá và được nuôi dưỡng bằng các vật chất phàm trần. Người còn có Chơn thần tức là Thể Trí do Ðức Phật Mẫu tạo ra và Linh hồn do Ðức Chí Tôn ban cho. Do đó, Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu là hai Ðấng Cha Mẹ Thiêng liêng của toàn nhơn loại, nên gọi Ðức Chí Tôn là Ðại Từ Phụ và Ðức Phật Mẫu là Ðại Từ Mẫu.

Quyền năng của Đức Đại-Từ-Phụ:

- Đấng đã cầm quyền cả Càn Khôn Vũ Trụ nơi tay, làm Chúa cả cái sống và cái chết của Càn Khôn Vũ Trụ.

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Chúng tôi trân-trọng và thành-kính thông-báo cùng quí Ngài, Đấng tối cao tức là Đấng Thương-Đế toàn năng mà cũng là Đại-Từ-Phụ của tất cả nhơn loại, đã giáng lập trên một góc của nước Việt-Nam thuộc Tỉnh Tây-Ninh, một nền Tân-Tôn-giáo. Nền Tôn-giáo này có thể canh-tân toàn thể thế-giới bằng một lý-tưởng cao-quí đó là TÌNH THƯƠNG VẠN-VẬT. Rồi đây, bởi sự chuyển xây của Tạo hóa, các sắc dân sẽ đồng tâm hiệp lực kết tình anh em với nhau và chừng ấy nền Hòa-bình Thế giới sẽ phát hiện".

Đức Hộ Pháp tả hình ảnh Đức Chí Tôn trong quyển Thiêng Liêng Hằng Sống:

"Khi Bần Đạo vô trong Từ Phụ, muốn biết Ổng là ai? Ông nầy có phải Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, mà Ổng có phải là một người không? Làm sao cho tôi được biết Ổng với. Tôi vừa tưởng thì xa lắm thấy cái gì bao phủ như tấm màn che vậy, vô gặp rồi biết Ổng ở trỏng, có cái màn che, ý muốn cái màn nầy vạch ra đặng thấy Ổng. Vừa muốn thì cái màn ấy vạch ra, dường như có từng có nấc xa lắm không thề gì tả đặng; kế đó thấy Ổng bước ra mặc áo trắng, bịt khăn trắng, giống như bộ tiểu phục của Giáo Hữu mặc, cũng có một hai miếng vải lòng thòng sau lưng, râu bạc trắng coi đẹp lắm, thấy thương làm sao đâu! Trong bụng nói Ổng ngồi tại Linh Tiêu Điện, mình thấy Ổng mặc đồ khác, không lẽ hai người, chắc không phải vậy. Vừa nói rồi thì thấy Ổng bước ra đứng ngay chánh giữa ngó ngay Bần Đạo, dường như thể biểu con coi đây. Ngó ngay lên Ổng, thấy Đạo hào quang chiếu diệu ra, tay cầm cây gậy coi đẹp lắm. Cây gậy của Ổng quảy cái bầu, bên mình Ổng mang một cái bị, mặc bộ đồ Ngọc Hoàng Thượng Đế, nắm ngang cây gậy trên tay thành cây đòn cân, Ổng kéo cái bầu ra thành cái giá cân, Ổng kéo cái bị ra thành cái trái cân. Ba món ấy hiệp lại thành cây cân Thiêng Liêng mà chính mình đã thấy Ổng tại nơi Linh Tiêu Điện. Không có ai xa lạ nữa, cũng Đại Từ Phụ nhưng Thiên biến vạn hóa của Ổng mà tạo ra Càn Khôn vũ trụ vậy".

Kinh Vào Học có câu:

"Đại Từ Phụ xin thương khai khiếu,
"Giúp trẻ thơ học hiểu văn từ."

Hoặc:

"Đại-Từ-Phụ Từ bi Tạo hoá,
"Tượng mảnh thân giống cả Càn khôn.
"Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
"Xây Cơ chuyển thế bảo tồn Vạn linh."

 

 

ĐẠI TỬ (Phật Học)

大 死

Ðại tử (J: daishi) là "Cái chết lớn". Một dụng ngữ của Thiền tông, chỉ cái chết lớn của Ngã, yếu tố chính của "một sự tái sinh lớn" mới. Con đường dẫn từ "cái chết lớn" này đến một cuộc sống mới đầy an lạc chính là con đường của Tọa thiền (j: zazen). Các Thiền gia thường sử dụng câu sau: "Các ngươi phải một lần chết trên tọa cụ" và cái chết này chính là cái chết của ảo tưởng ngã, cái chết của quan niệm cho rằng ngã là có thật.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

ĐẠI TƯỜNG

大 詳
E: The great ceremony in the end mourning.
F: La grande cérémonie à la fin de deuil.

(Đại là lớn, Tường là điềm lành, trong chữ kiết tường) đây là một ngày vui trọng đại của hồn người chết khi đến lễ này, vì hồn vượt qua hết những nỗi khó khăn từ ngày chết cho đến nay tính ra là 581 ngày (tuần cửu 81ngày + 200 TT + 300 ĐT)

Nghi thức: ĐẠI-TƯỜNG (300 ngày). Đếm đủ 300 ngày kể từ ngày làm Tiểu Tường rồi mới làm Đại-Tường. Nghi lễ cách làm cũng y như Tiểu-Tường vậy, nhưng trước hết phải tụng Kinh Khai Đại Tường rồi tiếp tụng Kinh Đại-Tường (tụng như vậy cho đủ 3 hiệp) đến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy. Tụng DI-LẶC CHƠN-KINH. Đại-Tường mãn tang, lễ Trừ-phục, cúng vong làm lễ NHO.

Đức Hộ Pháp thuyết: 12-08-Ất Mùi (1955):

"Hôm nay là ngày Lễ Đại Tường Đức Khai Pháp Chơn Quân, Bần Đạo không cần minh tả, tưởng lại toàn thể con cái Đức Chí Tôn cũng hiểu Đức Ngài là một vị Chơn Quân nơi Hiệp Thiên Đài là một Chơn-linh nguyên nhân Đức Chí Tôn đã định. Nhắc lại công nghiệp của Ngài Bần Đạo lấy làm ngậm ngùi cảm xúc vô cùng, sự cảm xúc của Bần Đạo đối với Đức Ngài không giờ phút nào Bần Đạo quên cái công cực khổ đáo để của Ngài đối với Đạo. Bần Đạo chắc chắn rằng, trong Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, Bần Đạo chỉ nhờ Đức Ngài Khai Pháp nhiều hơn hết, đó là bằng chứng hiển nhiên ngày nay Đức Ngài đã qui Tiên, thì Bần Đạo đã bớt một cánh tay gánh vác sự nghiệp Thiêng Liêng vĩ đại của Đức Chí Tôn tại mặt thế nầy. Bần Đạo đã thấy cái sống ở đời của Đức Ngài Khai Pháp trong buổi sanh tiền chưa có hưởng hạnh phúc hay thú vị gì cả, vì sự nghiệp giàu sang vinh hiển của Ngài mà Ngài cũng không màng, chỉ nguyện đem cái xác thân nầy hiến trọn vẹn với cửa Đạo. Đức Chí Tôn đã định sẵn đâu hồi nào mà chính mình Đức Chí Tôn lựa thật là xứng đáng. Trong buổi lập Hiệp Thiên Đài Đức Chí Tôn dạy con muốn ra gánh vác sự nghiệp Thiêng Liêng lập nên nền Đạo. Trước hết con phải lập Pháp cho xong thì Đạo mới vững bền được."

 

 

ĐÀM ĐẠO

談 道
E: To conserve.
F: Causer.

Đức Hộ-Pháp nói về Đức thành Thái: "Thật khi Ngài về được nước nhà chính mình Đức Thượng-Hoàng Thành-Thái và Tôi có gặp mặt nhau một phen ở Saigon, Tôi còn nhớ một cái chí khí già rồi mà vẫn còn mãi mãi, khi đàm đạo với nhau, luận về tương lai của Tổ Quốc nòi giống, khi hai Tôi lìa nhau, rồi Ngài đưa ra ngoài cửa, đi nửa đường ra cửa Đức Thượng Hoàng day lại nói với Tôi một cách quả quyết cứng cỏi rằng: Ngài đừng tưởng Tôi già mà Ngài bỏ, Ngài cho Tôi con ngựa cây gươm Tôi chiến Ngài coi!"

 

 

ĐẠM BẠC

淡 泊
E: Frugal.
F: Frugal.

Đạm: vị lạt lẽo. Bạc: mỏng. Đạm bạc là sơ sài, đơn giản, nghèo nàn.

Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu:

"Nén hương đạm bạc xin thương chứng lòng."

 

 

ĐẢM BẢO

擔 保
F: Garantir.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Lịnh Mẫu-Hậu khai Tông định Đạo,
"Ân dưỡng sanh đảm-bảo hồn-hài."

 

 

ĐÀN CƠ

壇 幾
E: A spiritual séance.
F: Une séance spirituel.

Đàn: Chỗ cao ráo sạch sẽ dùng làm nơi cúng tế, chỉ một cuộc cúng tế cầu nguyện. : máy, dụng cụ dùng để thông công với các Đấng thiêng liêng. Đàn cơ là một buổi cúng cầu nguyện có tổ chức cầu cơ. (Xem: Cơ bút, vần C)

 

 

ĐÀN KINH (Phật Học)

壇 經

Ðàn kinh (J: dangyō) Tên gọi ngắn của Lục Tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

ĐÀN LỆ

壇 例
E: The ordinary ceremony.
F: La cérémonie ordinaire.

Đàn: Chỗ cao ráo sạch sẽ dùng làm nơi cúng tế, chỉ một cuộc cúng tế cầu nguyện. Lệ: cách thức đã quen làm từ trước. Đàn lệ là đàn cúng theo lệ thường, mỗi tháng hai lần vào ngày Sóc (mùng 1) và ngày Vọng (ngày 15: Rằm) âm lịch.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Hiền hữu, mỗi đàn lệ, cần phải buộc nữ phái tới nghe thuyết đạo chung với nam phái.

 

 

ĐÀN NỘI

壇 内
E: The interior of the esplanade of ceremony.
F: L’interieur de l’esplanade de cérémonie.

Trong một thời Cúng (Đại Đàn, hoặc Tiểu Đàn hay là Đàn thường) Thầy buộc phải trang nghiêm và Trật tự.

Dimanche 25 Juillet 1926 (16-6-Bính Dần)

Thầy dạy: "Mấy đứa Lễ Sanh cốt để sắp đặt sự nghiêm trang trong đàn cầu Thầy, chớ chẳng phải duy để đi lễ mà thôi, mỗi Đại đàn phải đủ mặt; chúng nó phải ăn mặc trang hoàng: hai đứa trước, hai đứa sau xem sắp đặt sự thanh tịnh. Thầy dặn các con như Đàn nội chẳng nghiêm Thầy không giáng, ba con nhớ nghe!"

 

 

ĐÀN TRÀNG

壇 場
E: The esplanade of ceremony.
F: L’esplanade cérémony.

 

 

ĐÀNG NGHĨA NHÂN

Đàng nghĩa nhân là Con đường đạo đức nhân nghĩa, tức là con đường Thiên đạo đó vậy.

- Xin nhờ vào trí huệ để làm chiếc thuyền đưa qua bên kia bờ giác ngộ cho yên ổn.

- Và dìu dẫn cho con cháu vào con đường nhân nghĩa đạo đức.

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu có câu:

"Nương thuyền Bát Nhã cho an,
"Dìu chừng con cháu vào đàng nghĩa nhân."

 

 

ĐÀNG THỔ

Đàn thổ: chỉ người dân tộc vốn ở tại địa phương trước đó. Khác với Đàn thổ, người miền Nam gọi người Khmer (người Miên) là Đàng thổ.

Chữ Đàn thổ trong nguyên văn của Ngài Thượng Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh nêu trên phải viết là Đàng thổ. Vì người Miên rất mộ Đạo và góp công rất lớn trong việc phá rừng, đánh gốc, bứng chồi để dựng lên ngôi Đền Thánh tạm.

Người Miên (Đàng thổ) tại Tây Ninh sống tập trung ở Khe-đon (Kêdol), Tà-dong, Miễu Ông Tà (Chữ Tà tiếng Miên nghĩa là Ông, bậc hiền đức được họ tôn kính và thờ cúng).

Người Miên gọi người Việt Nam là juôn (Duôn)

Tại sao trước đây người Việt miền Nam gọi người Khmer là Đàn Thổ?

Kiến Thức Ngày nay: số 124, ngày 01-11-1993. An chi. Chuyện đông chuyện tây. Tr.38,39

Trả lời:

"Không phải là "Đàn thổ" mà là "Đàng thổ" nói Đàng Thổ là để phân biệt với Đàng Trong, cũng như nói Đàng Trong là để phân biệt với Đàng Ngoài và Đàng Trên (xưa gọi là đàng Tlên). Đàng Trên chính là đất mà trong những trang ghi chép của mình A.de Rhodes đã gọi là Vương quốc Cao Bằng, tức là vùng cát cứ của con cháu nhà Mạc từ 1592-1677. Còn Đàng Thổ là phần đất của Thổ dân, tức dân bản Thổ đã sinh sống tại đó từ xưa, trước khi người Việt từ Đàng Ngoài vào lập nghiệp ở Đàng Trong. Khi người Việt miền Nam, tức người Việt ở Đàng Trong gọi người Khmer là dân Đàng Thổ, là họ đã công bằng và khách quan thừa nhận một sự kiện lịch sử. Sự thật đó là khi họ vào đến Đàng Trong, nói rõ hơn là đất Nam Bộ thì họ đã gặp người Đàng Thổ đang sinh sống tại đó trước rồi.

Sử Đạo gọi người Đàng Thổ là Thổ Nhơn.

Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch giáng cơ cho biết: người Thổ Nhơn gốc con cái nhà Tần.

Trích: "Người Thổ Nhơn gốc con cái nhà Tần, biết Đạo Phật, chẳng biết Đạo Nho, một phen lầm lỡ, phải đọa muôn đời.

Nước gần tiêu diệt. May thay! Thầy đã đến mà chúng nó cũng là con yêu dấu của Thầy hay đặng tự nhiên đến. Cười...

Vì vậy mà Thầy hằng nói với Lão rằng: khi Môn đệ Ta đến đâu thì cây cờ hiệu của Ta cặm nơi đó. Các con Ta trong các nước, hễ thấy thì đến, trừ ra loài tà thần tinh quái. Cười …

Thật quả vậy, Chư sơn Thổ nhơn cần phải chịu dạy dỗ nhiều lắm đó.

Chư Đạo hữu thấy đức tin của người Thổ lớn là dường nào chưa? Chẳng phải như người Nam vậy." (Đạo sử II. Nữ Đầu Sư Hương Hiếu. Tr.176 Thánh giáo của Đức Lý Giáo Tông ngày 13.12.Bính Dần (dl: Chủ Nhật, 16-01-1927)

Do đó, trong Đạo gọi người Miên là Tần nhơn: Miên quốc được gọi là Tần quốc, còn người Miên theo Đạo thì thuộc vào Tông đạo Tần Nhơn.

Tông Đạo Tần Nhơn có lập một văn phòng thường trực trong nội-ô Tòa Thánh, Lễ Khánh thành vào ngày 17-03-Mậu Thân (dl: Chúa Nhựt, 14-04-1968), trước cổng có khắc đôi liễn:

-

Tông Đạo đồng môn tích nhứt khai lâm thành Thánh vức

-

Tần Nhơn hiệp chủng kim triêu hướng thiện hưởng Thiên ân

Nghĩa là

Những Tín đồ Đạo Cao Đài trong Tông Đạo Tần Nhơn, ngày xưa đã khai phá rừng thành vùng Thánh địa.

Người Miên hợp cùng chủng tộc của họ, ngày nay hướng về điều lành sẽ được hưởng ân huệ của Đức Chí Tôn.

 

 

ĐẢNG PHÁI

F: Partis.

Đức Hộ-Pháp nói: "Khi đó rất đáo để cho Bần Đạo nếu không nghe lời Ngài, để vậy mãi, thì tiêu diệt không thể tránh khỏi, nhứt là nội loạn, còn ngoài thì Đảng Phái phá rối nền chơn pháp của Đức Chí Tôn, Ngài đến chỉ cho Bần Đạo thấy cái cảnh nguy biến của nền Đạo như thế đó. Cảnh tượng của mỗi người như thế đó. Ngài biểu Bần Đạo phải nghe lời Ngài thì mới cứu vãn tình thế, bằng không thì tiêu diệt nền chánh trị Đạo buổi đó, không có sự mạnh mẽ duy nhứt nào cả, bên nầy là lời giáo huấn của Đức Chí Tôn, bên kia là lời dạy của Anh Cả, hai bên không biết đường nào mà đi, làm cho Bần Đạo ngơ ngẩn trong sáu tháng trường, cứ thơ thẩn đi tới đi lui nơi rừng thiên nhiên mà suy nghĩ, làm cho Bần Đạo bối rối cả đầu óc."

Đức Ngài thuyết đêm 18 tháng 06 Năm Kỷ Sửu (dl 13-07-1949): "Giờ phút này ngó thấy tấn tuồng hỗn độn, con người họ tưởng Đạo Cao Đài như Thầy Chùa, Thầy Pháp, Bóng Chàng, nói cái nào cũng được, vì cớ mới có Đảng phái dám cả gan bày ra Tả Đạo Bàng Môn. Nếu biết đâu dám làm, vì họ lầm tướng diện của họ, cho nên ngày nay mới có cái cảnh tương tàn đánh giết họ kia kìa, bằng đi tới nữa thì không còn chơn tướng nào tồn tại được".

 

 

ĐÁNH DÂY THÉP

F: Télégraphier, câbler.

Thầy dạy: "Trung, con phải tức cấp lên thuyết đạo với người Lang sa De La Brosse nghe, nói một phen nữa, nhưng nó chẳng nghĩ tình thì phải đánh dây thép cho Chánh phủ bên Tây mà kêu nài, sau Thầy sẽ dạy".

 

 

ĐÁNH ĐÒN KHẢO KẸP

Kinh Sám Hối có câu:

"Đánh đòn khảo kẹp gớm-ghê,
"Hành hình khổ-não chẳng hề nới tay."

 

 

ĐẢNH NGHIỆP

鼎 業

(Đỉnh là cái vạc có ba chân, nghiệp là sự nghiệp). Đảnh nghiệp hay Đỉnh nghiệp là cơ nghiệp to lớn, cơ nghiệp của nhà vua.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Trụ tâm nâng đỡ quốc hồn,
"Giữ bền đảnh nghiệp vĩnh tồn hậu lai."

 

 

ĐẢNH TẦN

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thanh cao là biết ngon dưa muối,
Hơn ngự lầu Yên ngó đảnh Tần.

 

 

ĐẢNH THẦN - ĐÀO NGUYÊN

頂 神 - 桃 源
E: The fairy land.
F: Le séjour des immortels.

Đảnh: còn đọc là Đỉnh hay Đính: Chỗ cao nhất, chỉ đỉnh đầu, đỉnh núi. Thần: Thần Tiên, thiêng liêng. Đảnh Thần là chỉ cõi Tiên, cõi Bồng lai.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đưa chiếc thuyền sen dựa đảnh Thần.

 

 

ĐÀO HẠNH

桃 杏

Đào hạnh 桃 杏: Trái đào và trái hạnh.

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu

"Vùng thoại-khí bát hồn vận-chuyển,
"Tạo-Hóa-Thiên sanh biến vô cùng.
"Hội Bàn-Đào Diêu-Trì-Cung,
"Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban."

 

 

ĐÀO TẠO

陶 造
F: Créer, former.

Kinh Hôn Phối có câu:

"Cơ sanh-hóa Càn-Khôn đào-tạo,
"Do Âm-Dương hiệp đạo biến-thiên."

 

 

ĐÀO TIÊN

桃 仙
E: The fairy peach
F: Le pêche féerique.

Lời Đức Phật Mẫu dạy:

MẸ khuyên em chị chớ lìa,
Học gương Diệu Thiện danh bia lưu truyền.
MẸ dành để Đào Tiên cho trẻ,
Rượu Bồ đào tay lẹ con nâng.
Mây vàng sẵn chực bên chân,
Đưa đường Tiên cảnh chín từng hồi nguyên.

 

 

ĐÁO ĐẦU

E: To arrive to the end.
F: Arriver à la fin.

Đáo: Tới, đến. Đầu: cái đầu cùng. Đáo đầu là đến đầu cùng, ý nói việc đến lúc kết thúc.

Sách Nho có câu rằng: "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu giả nan tàng." Nghĩa là: Lành dữ đến lúc cuối cùng thì có quả báo, cao bay xa chạy khó ẩn trốn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Đáo đầu mới rõ Đạo là cao.

 

 

ĐÁO ĐỂ

Thi văn dạy đạo có câu:

Ly kỳ cảnh vật cao nhơn thưởng,
Ðáo để san hà thượng khách ca.

 

 

ĐÁO TUẾ

到 歲
E: To arrive at the birth year.
F: Arriver à l’année de naissance.

Lễ đáo tuế là kỷ niệm tuổi Lục tuần, tức nhiên bắt đầu vào năm 61 tuổi Âm lịch, tức là giáp một chu-kỳ 60 năm, đó là Hạ thọ. Nhân dịp đáo tuế của Bà Phối sư Hương Hiếu có Bát Nương Diêu Trì Cung đến chúc mừng.

Bát Nương muốn nói chuyện với Phối Sư Hương Hiếu: "Thôi, Em có mấy lời chúc tụng Đại tỷ để làm kỷ niệm với các bậc thi hào, lại cũng là kỷ niệm lễ Lục tuần của Đại tỷ.

Bát-Nương Diêu-Trì-Cung. Chào các Anh, các Em nam nữ.

Nơi Diêu Trì Cung rất vui vẻ được thấy Đại tỷ hưởng trọn hạnh phúc buổi sanh tiền. Tiếc gì em không được dự cuộc vui trong lúc nọ. Vậy cũng chúc tặng một bài thi nguội:

THI

Kỷ niệm đề thi chúc Tỷ-Nương,
Vui say Lễ thọ rất phi thường.
Tinh thần một thuở đầy hoan lạc,
Hình thể trăm năm đủ thái bường.
Đáo tuế mấy ai so-sánh kịp,
Lục tuần nào kẻ dám phô trương.
Tặng cho bốn chữ: trường sanh bất...
Kỷ-niệm đề thi chúc Tỷ-Nương.

*

Tỷ Nương khá khai đường tỏ rạng,
Phòng dắt dìu các bạn Nữ nhi.
Chờ ngày mở Hội khoa thi,
Ắt là chiếm đặng một kỳ công cao.
Khuyên Nữ phái khá mau sửa tánh,
Trau tria sao như ánh trăng trong.
Mới không hổ phận quần hồng,
Để làm khuôn mẫu Đại Đồng soi gương.
Đừng xem tánh đức coi thường….

 

 

ĐẢO CÁO

禱 誥
E: To spray the Espirits, to implore
F: Prier les Esprits, implorer.

Ðiều quan trọng mà lòng mình hằng mong ước, cố gắng ghi nhớ để cúng tế cầu nguyện và tấu trình lên các Ðấng Thiêng liêng. Ðảo cáo là cúng tế cầu nguyện và tấu trình các việc (Ðảo: Cúng tế cầu nguyện. Cáo: Tấu trình, báo cáo).

Bài Niệm Hương có câu:

"Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo,
"Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành."

 

 

ĐẢO ĐIÊN

F: sens desus-dessous.

Kinh Sám Hối có câu:

"Chừa thói xấu đảo-điên trong dạ,
"Muôn việc chi chẳng khá sai lời."

 

 

ĐẢO HUYỀN

倒 懸

Ông Cao-Hoài-Sang bạch với Ðức Lê văn Duyệt: "Trong tình thế hiện tại, các nhóm Cần-Vương đất Việt có nên họp nhau đứng dậy làm cách mạng để thoát ách nô lệ chăng?"

Ông giáng dạy bằng một bài thi:

Mạnh yếu đôi đàng đã hiển nhiên,
Ðôi mươi năm nữa nước nhà yên.
Dằn lòng ẩn-nhẫn xem thời thế,
Ðừng vội gây nên cuộc đảo huyền.

 

 

ĐẠO (1) (Cao Đài)


E: The religion.
F: Le principe absolu.

Thánh-Ngôn II /3 Thầy dạy về chữ ĐẠO:

"Đạo là gì? Sao gọi Đạo? -"ĐẠO, tức là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đoạ trần do theo mà hồi cựu vị. Đạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Đạo, thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Đạo, nghĩa lý rất sâu xa, nhưng phải hiểu trước bao nhiêu đó, rồi mới học các nghĩa huyền-bí khác cho đích xác đặng. Đời cũng thế, Đạo cũng thế, chẳng Đạo chẳng nên Đời. Đời Đạo chẳng trọn, lấy Đạo trau Đời, mượn Đời giồi Đạo, Đạo nên Đời rạng, giũ áo phồn hoa, nương bóng khổ trăm năm mãn cuộc, tự thanh cao, nếm mùi tự toại, dưỡng chí thanh nhàn thì có chi hơn. Vậy là mầu! Vậy là trí!".

Thầy dạy: "ĐẠO là chi? ĐẠO rất cao thâm mầu nhiệm, Đạo trùm Càn Khôn Thế giới, không có vật chi, không có việc chi ra khỏi ĐẠO, xin diễn tắt rằng hễ có Đời tức nhiên có ĐẠO"

*Phân tích chữ ĐẠO 道

Chữ ĐẠO cho thấy rõ không một việc gì mà ngoài nguyên lý của vũ trụ, quyền hành của Đức Chí-Tôn. Chữ ĐẠO 道 (12 nét). Trên: hai nét phết là Âm Dương của trời đất hoá sanh, nói gần hơn là do cha mẹ phàm thể sanh ra người, chỉ Âm Dương tương-hiệp. Nét nhứt đặt nằm ngang ở dưới là chỉ người đứng đầu Vạn linh, hiệp chung lại là đủ Tam Tài: Thiên- Địa- Nhân. Giữa là chữ Mục là con mắt, có 5 nét, tượng lý Ngũ hành thuộc Thổ, Thổ ở trung-ương, tính chất thuộc màu vàng, sắc dân là châu Á, Việt Nam ở vào Á-châu, là Thánh Địa, mà Tây Ninh là Thánh Địa của Việt Nam.

Trên chữ mục có nét phết biến thành chữ Tự là chính mình. Thế nên người tu cũng vậy là tự tu, tự giác chứ không đợi ai giác ngộ cho mình. Hai phần trên dưới ráp lại thành ra chữ Thủ (9 nét) là đầu, tức là mối dây liên hệ trước nhất của đời là Mẹ Diêu Trì- Phật Mẫu tạo ra Chơn Thần (cung Tạo Hóa thứ 9). Bên trái thêm một bộ Sước (3 nét) nghĩa là con đường, cộng chung là 12 nét là số riêng của Đức Chí-Tôn.

ĐẠO nay thành hình hai chữ CAO-ĐÀI được làm thành câu đối đặt trước cổng vào Tòa Thánh cũng như các Thánh Thất đã nói lên ý nghĩa của nền Đại-Đạo.

Câu liễn thứ nhứt ở cổng Toà Thánh như vầy:

CAO thượng Chí-Tôn Đại-Đạo hoà-bình dân chủ MỤC

Câu liễn đối thứ nhì ở Toà-Thánh là:

ĐÀI tiền sùng bái Tam-Kỳ cọng hưởng TỰ do quyền

Xem ra câu trên lấy Chữ Mục (5 nét: ngũ hành)

Câu dưới lấy chữ Tự (6 nét).

Chữ ĐẠO (9 nét + 3nét =12 nét). Số 12 là con số của Thầy, tức nhiên người tu hành đi vào Cửu phẩm Thần Tiên mà phải hành đủ Tam Lập là Lập đức, Lập công, Lập Ngôn. Chính là con đường Thiêng-liêng Hằng sống, là về bến ước mơ của linh hồn. Là cõi Niết Bàn đó.

Chữ Mục phải thêm chữ Cấn nữa mới thành chữ NHÃN . Tuỳ theo trình độ tu tiến mà có được Tâm Nhãn, Thần Nhãn, Thánh Nhãn…đến Thiên Nhãn.

Nay, Đạo Cao Đài Thờ Thiên Nhãn để cho nhân loại thấy rằng chính đây là Đạo Trời, người Việt cũng như đất Việt được may mắn đón nhận, có trách nhiệm trong sứ mạng khai Đạo cứu Đời trong Cơ Chuyển Thế và Cứu Thế này. Đức Chí Tôn mới mở nền ĐẠI-ĐẠO.

Vậy nên biết qua chữ Đại 大 để tìm hiểu giá trị và phân tích chữ ấy: Chữ Đại là lớn. Đã rằng lớn thì có chi lớn hơn nữa! Nó có thể bao quát cả Càn Khôn vũ trụ, nó cao thượng vô hình, không chi ở ngoài nó đặng. Đã vậy nó còn có một cái nghĩa riêng về lẽ Đạo nữa. Nghĩa riêng ấy là: Chữ Đại là hợp bởi chữ Nhơn 人 là người và chữ Nhứt 一 là một. Nhơn 人 viết hai phết là chỉ Âm dương hiệp nhứt, là phát khởi Càn Khôn hoá sanh vạn vật. Vì nhơn là người, mà người biết tu luyện thì đoạt đặng cơ mầu nhiệm Hoá công thì là đắc nhứt. Nhơn mà đắc nhứt nữa (chữ Nhơn thêm chữ nhứt thành chữ Đại) thì vĩnh kiếp trường tồn, diên niên bất hoại. Đắc Nhứt là gì? – Nghĩa là đặng Một. "Một" tức là cái pháp độc nhứt vô nhị, cái pháp kín nhiệm huyền vi của Tiên Phật, khẩu truyền tâm thọ, để cỗi xác phi thăng, siêu phàm nhập Thánh. Có câu "Thiên đắc Nhứt: Thanh, Địa đắc Nhứt: Ninh; Nhơn đắc Nhứt: Thành." Có nghĩa là Trời đặng một ấy là Khinh thanh, đất đặng một ấy mà bền vững, người đặng một ấy mà trường tồn. Thế nên chỉ có NGƯỜI  tu mới đắc Đạo mà thôi.

Bà Đầu Sư Hương Thanh xướng bài chữ "ĐẠO":

ĐẠO nguyên một gốc nảy sanh ra
ĐẠO mở kỳ này ấy thứ ba
ĐẠO giáo rộng quyền do bút Thánh
ĐẠO căn vun đắp tự lòng ta
ĐẠO lo trổi bước lên đường Chánh
ĐẠO chớ lầm chơn tới nẻo tà
ĐẠO Lão, Đạo Nho và Đạo Phật
ĐẠO nguyên một gốc nảy sanh ra

Nữ Thi-sĩ Trần-Kim-Phụng cũng nổi tiếng trong cửa Đạo lúc bấy giờ. Bà thuộc Họ Đạo Kim Biên (Nam Vang). Hoạ nguyên vận bài thơ trên:

ĐẠO vẫn một nguồn bũa khắp ra
ĐẠO qui Tam giáo độ kỳ ba
ĐẠO mầu chống vững tinh thần nước.
ĐẠO pháp bao đồng thế giới ta
ĐẠO chỉ nhiệt tâm vì nghĩa vụ
ĐẠO do chơn lý khử gian tà,
ĐẠO tầm cội đức mà tu tỉnh
ĐẠO vẫn một nguồn bũa khắp ra

Trương Tử Dương giải về chữ Đạo như sau:

Đạo thị Hư-vô sinh nhứt khí,
Tiện tòng nhứt khí sản Âm Dương
Âm Dương giả hợp thành Tam thể,
Tam thể trùng sinh vạn vật xương.

 

道 是 虛 無 生 一 氣
便 從 一 氣 產 陰 陽
陰 陽 者 合 成 三 體
三 體 重 生 萬 物 昌.

Dịch nghĩa do Nhân Tử, Nguyễn Văn Thọ dịch:

Đạo tự Hư vô sanh một Khí,
Một Khí sanh ra được Âm Dương,
Âm Dương hợp lại thành Tam thể,
Tam thể trùng sinh vạn vật xương.

Mỗi người đều có Đạo, đó là sự tự nhiên trong vũ trụ, Đạo là sự sống, Đạo là trật tự sống vui sống mạnh: Đạo phải có luôn luôn trong lòng, chẳng khá lìa ra bất cứ trong một thời gian ngắn ngủi nào, nếu lìa xa thì không là Đạo vậy Do câu "Đạo giả dã, bất khả tu du ly dã, khả ly phi Đạo dã" 道者也 不可須臾離也可離非道也.

Đức Phật Thích Ca có nói:

Mạc đãi lão lai phương học Đạo
Cô phần tận thị thiếu niên nhơn

莫 待 老 來 方 學 道
孤 墳 盡 是 少 年 人

 

 

ĐẠO (2) (Phật Học)

Đạo (C: dào; J: dō) Nguyên nghĩa là "Con đường". Một biểu thị quan trọng của Ðạo giáo, một giáo phái vốn bắt nguồn từ chữ Ðạo này. Ðạo được nêu ra và trình bày cặn kẽ trong hai quyển sách trứ danh của triết học Trung Quốc: Ðạo Đức Kinh của Lão Tử và Trang Tử Nam Hoa chân kinh. Mặc dù theo nguyên nghĩa thì Ðạo là con đường đi, nhưng Ðạo cũng được hiểu là "Giáo lý", "chân lý". Danh từ này được sử dụng rất sớm theo ý nghĩa "nhân đạo". Con đường mà nhân loại phải đi, nên đi. Các triết gia theo Nho giáo đều hiểu Ðạo dưới nghĩa này.

Trong Ðạo Đức Kinh, từ này lần đầu tiên mang một đặc tính siêu nhiên, là cái thâu nhiếp tất cả, là cơ sở của vạn vật hiện hữu, là nguyên lý tuyệt đối. Ðạo là sự thật duy nhất, là nơi xuất phát của thế giới hiện hữu. "Sự thật cuối cùng" này được Lão Tử – vì không thể tìm được một tên tương ưng – tạm gọi là Ðạo: 道可道非常道。名可名非常名 "Ðạo khả đạo phi thường đạo Danh khả danh phi thường danh" (Ðạo mà ta có thể gọi được không phải là đạo thường còn; cái Danh mà ta có thể gọi được không phải là Danh thường còn. Ðạo là "Mẹ nhiệm mầu" 玄牝 huyền tẫn của vạn vật, là nguồn gốc của tất cả hiện hữu (ÐÐK VI). Nhưng Ðạo cũng là nơi vạn vật qui tụ. Ðây là một nguyên lý cố định. Theo Ðạo giáo thì tỉnh thức, Giác ngộ chính là trực chứng được sự trở về Ðạo của vạn vật. Trong chương thứ 14 của Ðạo Đức Kinh, Ðạo cũng được mô tả là không thể xem bằng mắt, nghe bằng tai...là hình trạng của cái không hình trạng (Nguyễn Duy Cần dịch):

- Xem mà không thấy, nên tên gọi là "DI" 夷.

- Lóng mà không nghe, nên tên gọi là "HI" 希

- Bắt mà không nắm bắt được, nên gọi là "VI" 微

Ba cái ấy không thể phân ra được, vì nó hỗn hợp làm Một. Trên nó thì không sáng, dưới nó thì không tối. Dài dằng dặc mà không có tên, rồi lại trở về chỗ không có. Ấy gọi là cái hình trạng không hình trạng, cái hình trạng của cái không có vật.... Giữ cái Đạo xưa để mà trị cái có của hiện nay. Biết được cái đầu mối của xưa, ấy gọi là nắm được giềng mối của Ðạo. Ðạo hiện hành một cách tự nhiên, hành động của Ðạo được diễn tả bằng "VÔ VI", là không làm nhưng cũng vì thế mà không có một việc gì bị bỏ qua "Bất hành nhi hành". Trong thế giới hiện hữu này thì người ta có thể suy ra được cái "thể" 體 của Ðạo qua cái "dụng" 用, cái "lực" 力 của nó, được gọi là Ðức 德. Ðạt được sự thống nhất với Ðạo là mục đích tối cao của các Ðạo gia. Trí hiểu biết thông thường không đủ để tiếp cận được Ðạo; hành giả phải tự trở thành một đơn vị với Ðạo, phải đạt được sự giản đơn, sự trống rỗng diệu dụng của Ðạo. "Ðắc Ðạo" chỉ có thể là một bước nhảy vượt qua mọi kinh nghiệm nhận thức thông thường, là một sự trực nhận siêu phàm. Trong thời kỳ Phật giáo được truyền qua Trung Quốc lần đầu, các Cao tăng tại đây chưa tìm được những thuật ngữ tương ứng nên thường sử dụng thuật ngữ của Ðạo giáo để trình bày Phật pháp và Ðạo được xem là đồng nghĩa với Phật pháp, là con đường đưa chúng sinh đến Niết-bàn.

Tại Nhật, chữ Ðạo thường được hiểu là việc kế thừa Đức Phật trên con đường tu tập đạt Niết-bàn, giải thoát và Thiền Tông tại đây cũng hiểu chữ Ðạo dưới nghĩa này. Nương theo ý nghĩa này, người cũng gọi tất cả những phương pháp tu tập, thực hành thấm nhuần vị Thiền là Ðạo, như Kiếm đạo 劍道 (j: kendō), Trà đạo 荼道(j: chadō), Hoa đạo...

Dần dần, chữ Ðạo được tín đồ của tất cả các Tôn giáo tại Ðông, Ðông Nam Á hiểu như là chân lý tuyệt đối, là "nguyên lý cuối cùng" của vũ trụ. "Ðắc Ðạo", "Ðạt Ðạo" là những danh từ đồng nghĩa với Giải thoát, chứng Niết-bàn, Giác ngộ của Phật giáo.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

ĐẠO BẤT VIỄN NHÂN

道 不 遠 人

Theo Nho giáo, Trời phú tính cho con người có một cái đức sáng để hiếu biết nhơn nghĩa, đạo lý, ta cố gắng rèn luyện sao cho sáng cái đức sáng ấy để đạt đến chí thiện. Sách Trung Dung có nói rằng: Trời phú cho gọi là tính, theo tính gọi là Đạo, sửa Đạo gọi là giáo "Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo 天命之謂性,率性之謂道, 道之謂教.

Như vậy, Đạo là theo Thiên lý, mà Thiên lý với cái bản tính của người ta vốn là một, vậy thì Đạo là cốt sửa cái tính của người cho hợp Thiên lý, cho nên trong Trung Dung, Khổng Tử nói rằng: Đạo không xa cái bản tính của người ta, nếu theo Đạo để cho xa cái bản tính của người ta thì không phải là Đạo "Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi Đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo 道不遠人,人之為道而 遠人, 不可以為道. Như thế Đạo không phút giây nào xa lìa con người được, nếu xa lìa ra được không phải là Đạo: "Đạo giả dã, bất khả tu du ly dã, khả ly phi Đạo dã" 道者 也, 不可須臾離也, 可離非道也.

Đức Chí Tôn cũng mong muốn các môn đồ dầu là chức sắc hay tín đồ đều phải giữ cho Đạo không xa rời bản tính của con người, cho nên mới ban cho những bài kinh Thế đạo, hầu nhắc nhở mọi người trong sự sinh hoạt hằng ngày, những bài Kinh đó là:

- Kinh Đi Ra Đường

 

- Kinh Khi Về.

- Kinh Khi Đi Ngủ

 

- Kinh Khi Thức Dậy

- Kinh Vào Học

 

- Kinh Vào Ăn Cơm

- Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.

 

 

Những bài Kinh này đều là do Đức Hộ Pháp viết, được Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ chỉnh văn.

Những bài kinh Thế Đạo này thường bị lãng quên hay nếu có gần như chỉ áp dụng cho các em đồng nhi hoặc các trẻ nhỏ mà thôi (Ví dụ như đồng nhi phải đọc kinh khi ăn cơm, khi ăn cơm rồi, học sinh phải đọc bài kinh Khi Vào Học...). Điều nầy thực là lầm lẫn, vì Đức Hộ Pháp có dạy rằng: "Không có một điều gì mà Chí Tôn định trong chơn giáo của Ngài, dầu Bí pháp, dầu Thể pháp mà vô ích đâu. Đấng ấy là Đấng tưng tiu, yêu ái con cái của Ngài lắm, thảng có điều gì không cần ích mà con của Ngài nói rằng không muốn, Ngài cũng bỏ nữa đa. Từ ngày khai Đạo, Kinh kệ, lễ bái, sự chi sắp đặt về đạo đức cũng chính Chí Tôn tạo thành, không phải do các Đấng khác. Ngài buộc mình làm, tức có cần yếu, hữu ích chi chi đó, Ngài mới bó buộc".

Trang Tử nói: Nếu một ngày mà chẳng tưởng đến việc lành thì mọi sự dữ sẽ dấy lên "Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi 一日不念善, 諸惡皆自起.

 

 

ĐẠO BẾ

道 閉

Đạo như dòng nước đổ từ trăm sông ra biển cả. Nếu Đạo hanh thông như dòng nước luân lưu, nhưng khi có một vật cản làm cho dòng nước chảy vòng vèo, ấy là thời Đạo bế.

Ngày 07-07-Bính Dần (dl:14-08-1926). Vì tà quái mượn danh Tiên Phật mà phá khuấy, thế nên Thầy dạy:

"Các con nghe dạy: Vẫn từ ngày nay Đại Đạo bị bế lại, chánh quyền đều vào một tay Chúa Quỉ. Cười! Khi Ngọc Hư Cung và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Độ, Chúa Quỉ biết cơ mầu nhiệm ấy và hiểu rõ rằng Tà quyền đã dứt; nên trước khi Thầy chưa đến, nó đã hiểu rõ rằng bề nào Thầy cũng phải chiếu y Thánh ý Tam Giáo qui Nhứt mà dùng danh "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát", nên chúng đã dùng chữ "CAO ĐÀI" trước Thầy mà lập tả đạo bàng môn. Thầy hỏi các con: vậy chớ Tà quái nhận tên ấy là chủ ý gì? Lại làm cho ra rẻ-rúng danh ấy để cho các con nghi-ngờ mà lánh xa Thánh giáo như Đàn Cái Khế vậy. Nhưng có một điều là nó không dám ngự nơi ngai Thầy, tiện dụng làm một vị Tiên Ông mà thôi. Cười! Vậy các con khi nghe nói Cao-Đài nơi này, Cao Đài nơi kia đừng vội tin mà lầm mưu Tà quái. Các con nghe và tuân theo".

 

 

ĐẠO CẢ (Đại Đạo)

Đức Chí-Tôn - Thầy dạy:

Đạo Trời cao lắm đó con ôi!
Đạo vốn gay go khó cạn lời
Đạo ví dòng sông luồng gió bạt,
Đạo như thuyền bách giữa dòng khơi.
Đạo đưa người tục về Tiên cảnh
Đạo giúp đứa ngu rõ cuộc đời,
Đạo quí đem đường Tiên, Thánh, Phật,
Đạo mầu gắng chí trẻ hôm nay.

Kinh Sám Hối có câu:

"Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
"Kính anh mến chị thì là phận em."

 

 

ĐẠO CAO

道 高

"Ðạo cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng,
"Ðạo cao nhứt trượng, ma thượng đầu nhơn".

Nghĩa là Ðạo cao một thước, thì ma cao một trượng, Ðạo cao một trượng, thì ma cao khỏi đầu người.

 

 

ĐẠO CAO ĐÀI

道 高 臺

 

1- Tôn chỉ cao thượng của Đạo Cao-Đài là gì?

2- Đạo Cao-Đài là Tôn giáo toàn cầu

3- Triết lý cao thượng của Đạo Cao-Đài

4- Đức Chí-Tôn đến chuyển Quốc-Đạo

5- Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà

6- Những bước thăng trầm của Đạo Cao-Đài

7- Đạo Cao Đài là màu trắng


1- Tôn chỉ cao thượng của Đạo Cao-Đài là gì?

- Tôn chỉ của Đạo Cao Đài là "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt".

- Tôn-chỉ của Đại-Đạo là dìu-dẫn quần sanh trên con đường xử thế, lấy luân-lý và triết-lý làm yếu-tố.

-"Cái Tôn-chỉ của Đại-Đạo đã biểu-lộ rõ ràng: Đạo có bí quyết đắc Đạo. Chẳng phải do một mặt yếm thế: đã tịnh dưỡng tinh-thần mà phải lịch-lãm phần nhơn sự siêu-phàm bạt chúng rồi lấy đạo-đức mà cứu nhơn quần xã-hội, phải tùng sở hữu của chúng-sanh mà lập phương phổ hóa thì cái công tu luyện kia mới có bổ-ích cho".

-"Cái Tôn-chỉ của Đại-Đạo ngày nay là gồm cả ba nhà Đạo Chánh là Nho- Thích- Đạo. Chuyển cả ba Đạo ấy mà hiệp lại làm một, nên chi chúng ta tu Đại Đạo thì phải noi theo Tôn chỉ của Tam Giáo mà tập rèn tâm tánh. Nghĩa là phải nắm trọn: Tam cang Ngũ thường (Nho-giáo)

- Vẹn giữ Tam qui Ngũ giới (Phật-giáo)

- Luyện Tam bửu Ngũ hành (Tiên-giáo)

Người mà gồm được cả ba thì là gần Thần, Thánh, Tiên, Phật vậy".

Đạo Cao-Đài là "Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi" cho nên có Tôn chỉ rõ rệt:

- Tín-ngưỡng thì thờ Trời và thờ Người.

- Về Luật-pháp thì Bác-Áii và Công-Bình.

- Mục-đích là đưa nhân-loại tấn-hoá trên con đường Chân- Thiện- Mỹ. Chung qui dầu ở nơi Tôn-giáo nào cũng lấy TÂM 心 làm gốc:

Tìm hiểu các nhà Tôn-giáo đã dạy đời những gì, đó chính là Tôn-chỉ của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ ngày nay.

-Thích-giáo: Phật Thích-Ca làm Chưởng-giáo, dạy:

. Tam qui Ngũ giới
. Minh tâm kiến tánh.
. Thật hành Bác-ái, Từ bi

-Tiên-giáo: Đức Thái-Thượng làm Chưởng-giáo, dạy:

. Tam bửu Ngũ hành.
. Tu tâm luyện tánh.
. Thủ cảm ứng chứng minh.

- Thánh-giáo: Khổng-Tử làm Chưởng-giáo, dạy:

. Tam cang Ngũ thường.
. Tồn tâm dưỡng tánh.
. Lấy Nhân-Nghĩa làm hành tàng.

TÓM LẠI:

Nho nói: Tồn tâm dưỡng tánh.
Tiên nói: Tu Tâm luyện tánh.
Thích nói: Minh tâm kiến tánh.

Thích nói: TỪ BI,
Nho nói: TRUNG THỨ
Tiên nói: CẢM ỨNG

Tiên nói: Bảo nguơn thủ nhất.
Thích nói: Vạn pháp qui nhứt.
Nho nói: Chấp trung quán nhứt

Cứ đôi câu đại khái đó thì hiểu biết nghĩa lý nào có khác chi? Nên Đức Thể Hà Tiên có bài thi rằng:

Tam giáo nguyên lai nhứt lý đồng,
Hà tu phân biệt các Tây Đông.
Tam hoa, Tam bửu, Tam tài lý.
Ngũ đức, Ngũ hành, Ngũ giới trung.

Nghĩa là: Tam giáo nguyên lai đồng một lẽ, không tất phân biệt khác nhau làm chi, xem như lời: Tam hoa, Tam bửu, Tam tài; Ngũ đức, Ngũ hành, Ngũ giới đều dùng chữ TAM, chữ NGŨ mà dạy đời. Vậy thì từ thuở xưa các Đấng Giáo chủ của Tam giáo đã công nhận Tam giáo y nhau như một.

2- Đạo Cao-Đài là Tôn giáo toàn cầu:

Đức Hộ-Pháp nói: "Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp Tín ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi. Nắm cả Tín-ngưỡng của loài người lại, chính CHÍ TÔN là CHÚA TỂ Càn Khôn Thế Giái, làm CHÚA nền chính trị tại nước NAM, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập QUỐC ĐẠO. Kỳ khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ tạo một linh-đài qui Tín ngưỡng của toàn nhơn-loại, đủ quyền năng tiêu-diệt Tà pháp đặng đem nhơn-loại đến ĐẠI ĐỒNG. Nay Đức Chí-Tôn khai Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời sấm truyền của các vì GIÁO CHỦ ngày xưa.

Chỉ có hai phương diện là:

1- Là do TAM GIÁO thất kỳ truyền

2- Là chính mình ĐỨC CHÍ TÔN giáng cơ lập ĐẠO đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng TAM GIÁO lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả TINH THẦN của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA chung là thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ quyền THƯƠNG-YÊU, chung thờ một Tôn-giáo ĐẠI ĐỒNG thì nhơn loại mới gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời MỸ TỤC THUẦN PHONG thì vạn loại mới chung hưởng cơ HÒA-BÌNH, phục hồi THƯỢNG CỔ là do THIÊN THƠ tiền định buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu duy tân. Tóm lại, ĐỨC CHÍ TÔN khai ĐẠO kỳ thứ ba này là thuận theo "Lẽ tuần-hoàn châu nhi phục thủy".

"ĐẠO CAO ĐÀI là nền CHÁNH GIÁO tức là nền ĐẠO CAO ĐÀI này để thay thế tất cả Tôn Giáo đã có từ trước. Vì lẽ các Tôn Giáo ấy ngày nay không phù hợp với lương tri, lương năng của loài người nữa. Hay nói một cách khác là các nền Tôn Giáo ấy ngày nay đã bị bế. Những điều bí yếu bí trọng trong nền ĐẠO CAO ĐÀI, những triết lý cao siêu mà chỉ ĐẠO CAO ĐÀI mới có, tuy nhiên âu cũng là một đặc ân của ĐỨC CHÍ TÔN dành cho ĐẠO CAO ĐÀI là HỘ PHÁP thay lời ĐỨC CHÍ TÔN nói ĐẠO cho toàn thể con cái của Ngài nghe, quí hay chăng là chỗ đó" (ĐHP).

3- Triết lý cao thượng của Đạo Cao-Đài:

"Cả con cái Đức Chí-Tôn nên hiểu rằng: triết lý cao thượng của Đạo Cao-Đài lấy tính chất nó ở buổi sơ khởi khai thiên lập địa của Đức Chí-Tôn sanh hóa vạn loại nơi mặt địa cầu nầy. Trong tạo đoan, Đạo Cao Đài chỉ thờ kỉnh có hai quan niệm mà thôi.

- Trên là thờ Thiên Thượng là Đức Chí Tôn,

- Dưới là thờ Vạn vật, mà tối linh của Vạn vật là nhơn loại ấy là thờ thiên hạ.

Ngoài ra Đức Hộ-Pháp cũng cho biết thêm:

 
   

"Các vị Giáo-Chủ, lập giáo đều nương nơi một tinh thần của họ, tinh-thần hữu-định ấy có căn-nguyên trong tinh thần của toàn nhơn-loại. Họ chỉ lấy một thuyết trọng yếu đặng làm triết-lý Đạo-Giáo của họ, tỷ như:

- Thánh-Giáo Gia-Tô lấy TÂM làm căn bản,

- Lão-Giáo lấy THÂN làm căn bản,

- Hồi-Giáo lấy TÍN-NGƯỠNG làm căn bản,

Mỗi Giáo-lý đều có sở-năng làm trung-tâm-điểm đặng vi-chủ tinh-thần của con người trong chỗ khuyết điểm của họ".

"Có một điều Bần-Đạo xét đoán lấy làm sợ sệt hơn hết là nền Tôn-Giáo của Đức Chí-Tôn lấy Tinh Thần làm căn-bản. Hỏi vậy, tinh-thần của nhơn-loại hiện ở dưới quyền áp bức của văn-minh vật-chất, tinh-thần ấy có đủ quyền-năng tự-vệ lấy họ chăng?

Tinh-thần họ có đủ lực lượng chiến thắng chăng?

Nếu thoảng tinh-thần của nhơn-loại không quật khởi lên, tự-quyết, tự-chủ, tự định-phận đặng mà phải chịu làm nô lệ cho văn-minh vật-chất, thì tương-lai của Đạo Cao-Đài sẽ ra sao? Mà chẳng những phải tự bảo vệ chiến thắng mà thôi, mà còn phải bảo vệ chơn tướng của đạo đức tinh thần của loài người trở mặt ra đối với tinh-thần cường liệt của Chí-Tôn, thì tương-lai nơi mặt thế này sẽ như thế nào? Chúng ta cũng nên để có một câu hỏi. Có một điều ta nên để mắt nhìn coi Chí-Tôn tạo hình thể nào đặng bảo trọng tinh-thần đạo-đức ấy. Ấy là một phương pháp ta nương theo đó đặng tạo dựng khối đức tin vững chắc bền-bĩ vậy."

4- Đức Chí-Tôn đến chuyển Quốc-Đạo:

(Đức Hộ-Pháp thuyết ngày 14-10-Quí-Tỵ)

"Thật ra, nếu không phải cái huyền linh vô đối của Đức Chí-Tôn đến đặng chuyển Quốc Đạo thì trong một thời gian ngắn ngủi nền Đạo chưa rõ đến địa vị cao trọng và qúi hóa như thế này. ĐẠO CAO-ĐÀI tức Đạo Tổ-Phụ của chúng ta chỉ mới có hai mươi mấy năm thôi; nếu chúng ta kể từ ngày Chuyển thế của nó. Nhưng Thánh-thể Đức Chí-Tôn và toàn thể con cái Nam Nữ của Ngài nên nhớ rằng: Đạo Tổ Phụ mấy người đã 2.500 tuổi. Phải nhớ điều đó! Đức Chí-Tôn muốn rửa-ráy nó. Để nói rõ Thánh ý của Đức Chí-Tôn đến mức nào và Ngài muốn gì? Giờ phút này cả toàn con cái của Ngài chắc có lẽ thắc-mắc. Vì vậy: Nội tình của Đạo gặp nhiều nỗi khó khăn, nếu chúng ta không nói rằng nó đã chịu một khó khăn về mọi phương diện. Nhưng đối với Bần-Đạo, Bần-Đạo thấy mỗi phen Đạo chịu khổ nhục, chịu khó khăn hay bị chê rẻ khinh khi thì Bần-Đạo lại vui mừng mới chướng cho chớ! Bởi mỗi phen như thế là mỗi phen Đức Chí-Tôn muốn rửa-ráy nó, tô điểm nó đến một địa vị cao trọng thêm nữa chớ chẳng chi khác. Cả con cái Đức Chí-Tôn đều tin nơi Bần-Đạo để con mắt quan sát coi có quả như vậy hay không? Cái khó đảm-đương đương-nhiên bây giờ là không làm cho thêm nhục cơ-thể Đạo là sửa soạn tô điểm đặng một Đài vinh diệu vô đối. Trong thời gian ngắn ngủi tới đây, nếu cả con cái Đức Chí-Tôn có Đức-tin thì hiểu rõ điều ấy.

5- Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà:

Đức Chí-Tôn xác nhận Việt Nam chưa có Đạo Nhà:

Từ thử nước Nam chẳng Đạo Nhà,
Nay TA gầy dựng lập nên ra.
Ví bằng ai hỏi sao bao nã?
Rằng trẻ noi sau biến hoá già!

Đức Quyền Gíáo-Tông cũng nói rõ lý-do là Việt-Nam từ trước đến giờ không có Đạo nhà.. Quả thật vậy!

"Người nước Nam từ cổ chí kim thật không có ĐẠO trong nưóc nhà, mà người Nam ta có tâm đạo, người Nam trổi danh khắp địa-cầu về bề tín-ngưỡng: đạo PHẬT, đạo TIÊN, đạo NHO tuy khai bên ẤN-ĐỘ và TRUNG HOA, sau người Nam biết đặng cũng hết lòng sùng bái. Đạo GIA-TÔ của mấy vị Linh-mục bên Thái-Tây đem truyền bá bên nước ta thì người Nam cũng kính trọng. Phần nhiều trong người Nam thì hay đi chùa, đi miễu, đi nhà thờ cầu-khẩn, vọng tưởng hết lòng, ngưỡng-mộ trời Phật. Người không đi chùa, đi miễu, không đi nhà thờ thì trong nhà cũng thờ cha mẹ quá vãng ấy là đạo NHO. Mấy bằng cớ trên đây chỉ rõ-ràng người Nam-Việt tin tưởng Trời, Phật, Thánh, Thần; tin-tưởng chắc rằng người chết thì cái xác phàm này chết, tiêu diệt, chớ linh hồn bất tiêu bất diệt. Vì Đạo-Tâm ấy mà trong thời-kỳ chuyển Đạo này ĐẤNG CHÍ-TÔN thương lòng thành-thật của nhơn sanh nơi đây mà khai TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ (Ân-xá lần thứ ba).

6- Những bước thăng trầm của Đạo Cao-Đài

"Đạo không Đời không sức,

"Đời không Đạo không quyền.

"Sức Quyền tương đắc mới mong tạo thời cải thế" (Pháp Chánh Truyền)

- Tôn giáo Cao-Đài có mặt ở nước Việt Nam từ năm 1925, 1926 đến nay đã 85 năm, trải qua bao thế lực của Pháp, Nhựt, Mỹ và chế độ Xã hội chủ nghĩa hiện nay, Tôn giáo và Tín đồ Cao Đài đã chịu không biết bao nhiêu lần thử thách gian nan, nhưng vẫn cam lòng kiên nhẫn để chịu đựng như:

- Người Pháp cho Đạo Cao-Đài làm quốc sự, nên bắt Đức Hộ Pháp và các Chức sắc Đại Thiên Phong đày đi Phi châu.

- Kế tiếp Việt Minh Cộng Sản cho Đạo Cao-Đài thân Nhựt, thân Pháp nên có một số Chức sắc và Tín đồ cũng bị tiêu diệt.

- Qua tới thời Mỹ thì Mỹ cũng cho Đạo Cao Đài thân Cộng Sản làm khó dễ Hội Thánh, nên Đức Hộ-Pháp phải lưu vong sang Miên Quốc.

- Rồi ngày nay tới Nhà nước chế độ xã hội chủ nghĩa thì qui trách là một Hội đoàn đội lốt Tôn giáo để làm chánh trị. Nhưng cuối cùng thì tất cả đã thấy Đạo Cao Đài có một Tôn chỉ đặc biệt, do Đức CAO ĐÀI NGỌC ĐẾ chủ xướng, lấy sự Thương yêu và công bằng làm tiêu chuẩn để giáo dân qui thiện trên tất cả cho xu hướng chánh trị trên thế giới, không thân ai cũng không bỏ ai, nên cả Đạo Cao-Đài mới bị uy-hiếp nhiều như thế.

- ĐẠO CAO-ĐÀI chính là cái sống linh-hồn nhơn-loại, bảo vệ tánh mạng tức nhiên Chơn-thần của họ, đặng họ tránh cái nạn tiêu-diệt.

7- Đạo Cao Đài là màu trắng:

Đức Thượng Sanh nói rằng: "Khi Qua ở Sài-Gòn, nghe khách bàng-quan trích điểm về Giáo-lý Cao-Đài nhiều lắm. Bởi lẽ người trong Đạo chưa viết được một quyển sách đúng với Giáo lý Chơn-truyền; hầu hết các sách viết trước do hạn-chế và lý luận về nguồn gốc Đạo Tam-Kỳ nên họ chỉ viết cái mà họ biết được:

*Người gốc theo Đạo Phật, thì họ cho Đạo Cao-Đài là Phật-Giáo chấn-hưng.

*Người gốc theo Đạo Khổng, thì họ cho Đạo mới là Nho Tông Chuyển-thế.

*Người gốc theo Đạo Lão, thì cho là Thiên-khai Huỳnh Đạo.

Thật ra là ĐẠO CAO-ĐÀI!

Muốn hiểu bổn-nguyên tư-tưởng phải lấy Thánh ngôn, Kinh sách Kỳ ba Phổ-Độ mà giải-thích.

Đạo Cao-Đài như một bức khảm xà-cừ:

- Nhìn thẳng thấy màu trắng,

- Nhìn nghiêng bên phải thấy màu xanh phơn-phớt,

- Nhìn xuống phía dưới thấy màu vàng nhạt.

Các màu xanh, đỏ, vàng chỉ là những cách thể hiện các giai-đoạn ban sơ của Đạo.

Thật sự ĐẠO CAO-ĐÀI là MÀU TRẮNG.

Phải hiểu Đạo Cao-Đài là tinh-hoa bổn-nguyên triết-lý của chính nền Đạo mới này" (Lời của Đức Thượng-Sanh)

Thi văn dạy Đạo:

Thiệt vàng gặp lửa tuổi càng cao,
Dầu gọi mình khờ cũng chẳng nao.
Theo Ðạo Cao Ðài ơn cứu độ,
Muôn năm hưởng phước trở về sau.

 

 

ĐẠO CAO GIÁ TRỌNG

道 高 價 重

Thầy dạy:"Chúng sanh rất nên trễ nãi, vì số vô phần, đến ngày nay là ngày cuối cùng mới rõ Đạo cao giá trọng là dường nào. Thầy càng tủi cho các con. Thầy cho các con hay trước rằng: Đại Đạo tại Nam Kỳ gần đủ số rồi, hễ đủ số rồi thì phải bế lại mà hành Đạo, còn một phần thì đi ngoại quốc Phổ thông nền Chánh đạo". (Năm Bính Dần – 1926)

 

 

ĐẠO CAO MA KHẢO

Bà Lâm Hương Thanh giáng Cơ nói: "Đạo có khảo mới cao. Chức sắc bị khảo mà chịu nỗi mới có giá trị. Học trò chịu khảo thí mới lãnh cấp bằng. Nếu từ chối thì rớt. Thế thường học nhiều đậu ít. Còn nơi đây là Trường Công Quả, vậy vị nào muốn xứng đáng Môn-đệ của Đức Chí-Tôn thì chẳng bao giờ ngần ngại các việc công quả, cho chung Thánh-Thể Đức Chí Tôn, cũng do nơi mấy em đào tạo về mặt ngoại giao.

Đây hết buổi phong ba, đến hồi an tịnh. Vậy mà không sao. Mình muốn cho yên, trước phải loạn, sau mới yên được. Muốn nước đang đục lóng trong thì phải quậy trộn cho dữ mới lóng bùn được.

 

 

ÐẠO CAO NHỨT KHÍ DIỆU HÓA TAM THANH

道 高 一 氣 妙 化 三 清

(Ðạo cao: Ðạo pháp cao siêu. Nhứt khí: Một chất khí. Ðó là chất khí Tiên Thiên, cũng gọi là Nguơn khí hay Nguyên khí (chất khí đầu tiên), khí nầy biến hóa rất huyền diệu. Diệu hóa: Biến hóa rất huyền diệu. Tam Thanh: là ba ngôi phẩm gồm: Thái Thanh, Thượng Thanh và Ngọc Thanh. Tam Thanh ấy tượng trưng Tam Bửu (Tinh -Khí -Thần) của con người: Ngọc Thanh là Tinh, Thượng Thanh là Khí, Thái Thanh là Thần. Một biến thành Ba, Ba hiệp lại thành Một.

Đạo Cao-Đài dùng Tam Thanh để đối với Tam giáo và Tam Sắc Đạo, thế nên lá cờ của Đạo (Đạo kỳ) gọi là cờ Tam Thanh: gồm đủ ba màu: vàng ở trên (Thái), xanh ở giữa (Thượng), đỏ ở dưới (Ngọc). Đạo Phật cầm cán tức nhiên Đạo Cao-Đài là "Phật Giáo chấn hưng".

Ðạo pháp của Ðức Thái Thượng rất cao siêu. Ngài có thể lấy một Nguơn khí của Ngài biến hóa thành ba người khác rất huyền diệu, gọi là Tam Thanh.

Theo Truyện Phong Thần, Ðức Lão Tử giúp cho Khương Thượng Tử Nha (học trò của Ðức Nguơn Thỉ) phá trận Tru Tiên, do Thông Thiên Giáo chủ Triệt giáo lập ra để đánh các Tiên Xiển giáo. Trong trận nầy, Thông Thiên Giáo chủ bố trí phép thuật rất ác liệt, hung dữ và cao cường đến nỗi các vị Tiên cấp dưới không thể phá được. Ðức Lão Tử một mình đi vào trận ở cửa Tây. Ngài xuất Tam Hoa che phủ trên đầu, lại còn hóa Linh Lung Tháp, hào quang chiếu diệu, đánh phép cùng các Ðịa Tiên trong trận. Thấy thế trận chưa núng, vì chỉ đánh vào một cửa, Ðức Lão Tử liền dùng một Nguyên Khí huyền diệu của Ngài hóa ra Tam Thanh, tức là hóa ra ba người nữa để xông vào đánh ba cửa trận còn lại.

*Xảy đâu có một vị Ðại Tiên, đội mão Ðạo, mặc áo hồng bào, xưng là Ngọc Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào cửa trận phía Nam, vừa đánh vừa ca bài kệ:

Trời Ðất sanh thành đã có Ta,
Theo Thầy học đạo kể hằng hà.
Thấy điều nghịch lý ra tay giúp,
Cho rõ hai bên lẽ Chánh Tà.

*Xảy nghe bên Ðông có một vị Ðại Tiên nữa, đầu đội mão vàng, mặc áo Bát Quái, xưng là Thượng Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào trận ở cửa Ðông, vừa ca bài kệ:

Hồng Quân Lão Tổ dạy vuông tròn,
Bố hóa Côn Lôn rõ mực son.
Trời Ðất tuy già, Ta chẳng thác,
Nước non dầu đổi, tánh hằng còn.

*Rồi bên phía Bắc, cũng có một vị Ðại Tiên, xưng là Thái Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào cửa trận phía Bắc, vừa ca:

Từ thuở sanh Ta lúc Hỗn Mang,
Tính năm kể tháng biết muôn ngàn.
Một bầu Tạo hóa dầu ngang dọc.
Những kẻ Bàng môn khá tỏ tàng.

Như thế, Ðức Lão Tử đã dùng Nguyên Khí huyền diệu của Ngài hóa ra ba vị Ðại Tiên gọi là Tam Thanh, để hợp với Ngài nữa là bốn, cùng xông vào đánh bốn cửa của trận Tru Tiên. Khi ấy, bốn vị vây Thông Thiên Giáo chủ đánh vùi một trận. Thông Thiên Giáo chủ đánh không lại, chỉ lo đỡ gạt thôi.

Ba vị Tam Thanh vừa tiếp sức với Ðức Lão Tử đánh Thông Thiên Giáo chủ, là do Ðức Lão Tử làm phép dùng Nguyên Khí biến hóa ra, chỉ trong một giờ là tan mất. Ðức Lão Tử chỉ muốn làm cho Thông Thiên Giáo chủ rối trí và cảm thấy yếu thế để sau nầy dễ đánh mà thôi.Thấy phép gần mãn, Ðức Lão Tử ngâm bài kệ:

Hồng Quân truyền phép đạo đa thành,
Làm chủ Thần Tiên, độ chúng sanh.
Biến thử ba hình, ai dễ biết,
Cho hay Nguyên Khí hóa Tam Thanh.

Lão Tử ngâm kệ vừa dứt, nghe tiếng chuông inh ỏi, ba vị Tam Thanh đồng biến mất, chỉ còn lại một mình Lão Tử. Thông Thiên Giáo chủ thất kinh nhìn sửng sốt, bị Lão Tử đập cho một gậy đổ hào quang, hoảng sợ, đằng vân bay mất. Ðó là sự tích chép ra từ Truyện Phong Thần để hiểu về ý nghĩa của câu Kinh: "Ðạo cao nhứt khí, diệu hóa Tam Thanh" là vậy.

 

 

ĐẠO CAO NHỨT XÍCH MA CAO NHỨT TRƯỢNG

道 高 一 尺 厤 高 一 杖

Một câu nói đầy đủ của Thánh Nhân là "Đạo cao nhứt xích ma cao nhứt trượng. Đạo cao nhứt trượng ma thượng đầu nhân" có nghĩa là khi Đạo có chiều cao tỷ như được một thước (xích là thước) thì ma đã cao đến một trượng (10 thước). Nhưng khi Đạo cao được một trượng (10 m) thì ma nó đã leo lên đầu mà ngồi rồi. Câu này muốn nói lên sự tinh ranh của loài ma quái luôn muốn vượt lên để phủ đầu người mà toan hãm hại. Nhưng không phải là Thiêng liêng không đủ sức trừng trị, nhưng vì luật công bình Thiêng Liêng Tạo hóa, nên không đàn áp chúng đó thôi. Đấy cũng là cách Thầy dạy cho nhân sanh phải lấy đạo đức mà chế ngự tà ma đó vậy, cũng là một cách lập công quả.

MÙA PHÁP NẠN (1928-1929)

Đời hành Đạo của Đức Cao Thượng Phẩm tuy có kham khổ nhọc nhằn vì phải xây dựng nền tảng đầu tiên cho nền Đại Đạo, nhưng cũng được an ủi tinh thần vì hầu hết Tín đồ cũng như toàn nhân sanh đều cảm phục công lao tạo tác của ngày ngay từ lúc đốn gốc phá rừng lập nên một Thánh Địa như vầy. Bỗng đâu đất bằng sóng dậy. Vào tháng 03 năm Mậu Thìn một nhóm người từ Thủ Đức do ông Tư Mắt tức Nguyễn Phát Trước dẫn về Tòa Thánh, đặt điều nước lã khuấy nên hồ. Họ đuổi Đức Ngài ra khỏi Tòa Thánh trong 24 giờ, nếu không đi cột trong rừng mà bắn chết. Ngài quá uất ức nhưng không thể giải bày cho những người bạo hành rõ được nỗi oan khiên của mình. Đức Ngài quá buồn, kẻ lo đạo không mấy người, phá đạo lại đông, thật đúng câu "Đạo cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng". Đức Ngài ngọa bịnh phải về Thảo Xá Hiền cung (tức Thánh Thất Tây Ninh ngày nay). Nhớ ngày nào, Đức Ngài nguyện làm con tế vật cho Đức Chí Tôn sai khiến, mà trò đời quá cay nghiệt để lỡ bước đường hành đạo. Đức Ngài thống khổ mà nảy ra bài tự thán:

THI

Công trình gầy dựng Thất Tây Ninh,
Bằng địa sóng xao khiến rập rình
Tà mị phàm rung rinh chất Thánh
Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh
Xưa Tòa Thánh dập dìu lai vãng
Nay Bửu đình hiu quạnh lụy nhìn
Thương Đạo mến Thầy xin sớm liệu
Cộng tâm chung trí chớ làm thinh.

Thông cảm được nỗi oan khiên của Đức Ngài, Đức Cao Thượng Sanh đã họa bài thi trên:

HỌA VẬN

Dập dìu nào buổi Thất Tây Ninh,
Hiu quạnh hôm nay gió rập rình
Trước ngõ lơ thơ vài đạo hữu
Sau hiên meo mốc mấy pho kinh
Rừng xơ vẻ thắm chim không đỗ
Cảnh lợt màu tươi khách biếng nhìn
Xây dựng là ai, ai phá hoại?
Sụt sùi để bước khó làm thinh.

Thất Nương Diêu Trì Cung giáng cho Ngài bài thi an ủi:

THI

Nghĩ giận mà ra bắt nực cười
Nhờ ai an vị lại an nơi?
Trăm năm chưa giữ bền thân sống,
Một kiếp đã gây lắm tội đời,
Phẩm Phật ngôi Tiên ai dẫn nẻo?
Ngai Thần vị Thánh kẻ toan dời?
Nhắn lời nói với phường đen bạc,
Đến cửa thiêng liêng ngó mặt trời.

Nỗi oan tình đó, không những Diêu Trì Cung rõ thấu mà thi phàm mắt thịt của toàn đạo bấy giờ ai cũng biết. Mọi việc là do bà Nguyễn Thị Hiếu (do Bà kể lại lúc sanh tiền).

1- Bà bổ thuốc bán cho người làm công quả bị chói nước.

2- Nơi Thảo xá Hiền Cung bà để một số hàng bông rau cải bán kiếm tiều tiêu. Người xấu cho là Bà lấy của chùa.

3- Việc thứ ba, bà có lấy một số chai nước tương rỗng đem về Thảo xá Hiền cung để đựng nước cho Đức Cao Thượng Phẩm uống vì sợ chói nước (Tây Ninh thuở trước nước rất độc). Người ta cho bà lấy chai nước tương nguyên của chùa.

Ba việc ấy khiến cho kẻ kém vị tha làm đơn thưa lên Hội Thánh. Việc này chưa ngã ngũ thì một vài người đưa tin này về Sài Gòn, thêu dệt thêm này nọ. Rồi họ kéo lên Thủ Đức xúm lập Vi bằng. Trong đó có ông Nguyễn Phát Trước tính nóng nảy, nhứt quyết đưa một số người về Tòa Thánh vấn nạn. Hậu quả của việc bạo hành đó, ông Trước sau khi về Sài gòn, một thời gian bị đèn Manchon phựt xăng cháy, người ông bị thiêu.

 

 

ĐẠO CAO THÂM, ĐẠO CAO THÂM

Thi văn dạy Đạo:

Đạo cao thâm, Đạo cao thâm.
Cao bất cao, thâm bất thâm.
Cao khả xạ hề thâm khả điếu.
Cao thâm vạn sự tại nhân tâm"

道 高 深 道 高 深
高 不 高 深 不 深
高 可 射 兮 深 可 釣
高 深 萬 事 在 人 心.

Thầy dạy: Đạo thì rất cao sâu! Đạo rất cao sâu! Phải, nhưng nếu sự cao mà mắt người thấy được thì cũng có thể dùng phương này cách nọ mà bắn tới, cũng như cái độ sâu mà người thấy được thì cũng có thể câu lên được. Nhưng cái cao sâu của đạo mầu có khác, phải tùy tâm linh của mỗi người mới nhận biết được mà thôi.

 

 

ĐẠO CAO VÔ CỰC

道 高 無 極

(Chữ Đạo như trước đã nói. Cao: Ở trên cao. : Không. Cực: điểm đầu hoặc điểm cuối cùng. Vô cực: Không có đầu mối, tức là không tận). Ấy là Ðạo pháp cao siêu, nói không cùng.

Nói chung là đạo lý thì cao thâm vô cùng tận.

 

 

ĐẠO CHÁNH

道 政

Thi văn dạy Đạo:

Ai ôi! Tự nghĩ biết lo xa,
Xa bốn phương trời cũng kiếm ra.
Ra mối manh thì tua liệu lấy,
Lấy nền Ðạo chánh dẫn truyền ra.

 

 

ĐẠO CHÍCH

盜 摘
F: Voleur, voler.

Thi văn dạy Đạo rằng:

Bư như Ðạo chích thế khen khôn,
Khôn giống ông Nhan gọi chẳng hồn.
Lời lẽ đố con phân thiệt giả,
Khôn khôn, dại dại cũng đồng phồn.

 

 

ĐẠO CỨU ĐỜI TRONG CƠN KHÓI LỬA

Huấn từ của Ngài Bảo Thế ngày 19-1 Tân Sửu (1960):

"Nếu hiểu rằng cứ thuộc về phần chơn; Cái đức về phần thể và cái tánh về phần dụng. Muốn tạo đức phải nhờ tánh và phải sửa tánh mới tạo được đức. Đức là hình dung của Đạo và trong đức gồm có công ái là khuôn luật thực hành cứu khổ. Mở sáng cái đức là Minh Đức. Và cho đặng cứu người qua khỏi chốn mê đồ, ắt phải sống lộn với người, ra sức đỡ nâng cho người qua cơn bĩ cực, ấy là Tân Dân. Rồi đem lời giáo hóa cho khỏi lâm vấp tội tình, ấy là đem dân đến chỗ Chí Thiện, Chí Mỹ thì không còn thảm trạng tàn sát đấu tranh nữa. Ấy là Đạo cứu Đời trong cơn khói lửa mà vai tuồng chánh yếu là phần Chức sắc Cửu Trùng Đài nặng gánh".

 

 

ĐẠO DÂU (Đạo Làm Dâu)

Tức nhiên là đạo làm dâu. Người con gái khi có chồng, về làm vợ với bổn phận và trách nhiệm thì gọi là đạo làm vợ. Bên cạnh đó còn phải lo cho cha mẹ chồng, thì gọi là "đạo dâu" hay đạo làm dâu.Trách nhiệm ấy là gánh giang san nhà chồng, sanh con cái để nối giòng, tông tổ, tức là bảo tồn nòi giống.

Kinh Sám Hối có câu:

"Ở sao đáng phận đạo dâu,
"Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan."

 

 

ĐẠO DỊCH

道 易

Những điều trọng yếu về Dịch:

"Thánh nhân cảm thấy cái tình cảm thấm thía của nhân vật do Thiên-lý mà đặt ra Dịch. Đạo Dịch đặt ra để rõ cõi vô hình: từ sự việc đã qua, hiện tại và vị lai, tức là Đạo Dịch gồm tóm tất cả những trạng thái của sự vật trong đầu óc người làm ra Dịch, khi trông thấy sự vật vận chuyển theo Thiên lý, tức là theo luật tương đối với Thiên lý.

Người ta phần nhiều có điều ưu lự cho cái sắp tới, tức là lo buồn vì sợ cái thời vị lai sẽ đến. Thời vị lai là cái quả của quá khứ, vì khi một cái nhân đã gieo xuống ắt phải chờ ngày hái quả. Khi có sự lo buồn làm cho người ta phát huy cái trí thông minh, suốt được Thiên lý mà hiểu được cả huyền vi của Tạo hoá, lấy những cái cần thiết đối với mình làm căn bản để suy xét, nghiên cứu vượt được những nỗi khó khăn đó là Đạo Dịch vậy. Hiểu được DỊCH tức là hiểu được cả Thiên lý, tóm thâu được cả vũ trụ trong bàn tay. Đây là tỏ cái sức thông minh của Thánh nhân, tiền nhân: cũng vì những sự lo buồn về những lẽ huyền bí, những màn bí mật che lấp không thấy rõ cho nên mới có vui buồn; vì sự lo buồn mà đặt ra DỊCH để vén mở cái màn bí mật cho thấy sự sắp tới mà theo lành lánh dữ. Sự ưu tư là nguyên nhân làm ra Đạo DỊCH" vậy.

Thánh nhân nói: Người mà thông Đạo Dịch tức là thông hiểu cả Nho,Y, Lý, Số. Dù không ra khỏi cửa ngõ nhà mà biết cả việc trong thiên hạ, không dòm qua khe cửa sổ mà thấy được cả lý Đạo Trời. Do câu:

-

Bất xuất hộ nhi tri thiên hạ,

-

Bất khuy dũ nhi kiến Thiên Đạo.

 

不 出 戶 而 知 天 下