CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần D

 

DA

Da Mồi Tóc Bạc

 

Dà Lam

 

DẠ

Dạ Đài

Dạ Xoa

 

Dã Tràng

 

DẠI

Dại

Dải (thẻ) sau lưng

Dải Đồng Tâm

 

DÀN

Dàn Bát Bửu

 

DANH

Danh Hiệu Cao Ðài

Danh Lợi

Danh - Lợi - Quyền

Danh Nhân Đại Đạo

Danh Quyền

Danh Ta Còn Mượn

Danh Thể

Danh Vọng

 

DẠY

Dạy Dỗ

 

DẶM

Dặm Gió Gày Sương

 

DÂM

Dâm Phong

Dâm Phụ Gian Phu

 

DÂN

Dân Chủ

Dân Sanh

Dân Tộc

Dân Trí

 

DÂNG

Dâng Công Đổi Vị

Dâng Tam Bửu

 

DẪN

Dẫn Độ

Dẫn Giải

 

DẤP

Dấp Dính

Dập Dìu

Dập Dồn

 

DÂY

Dây Oan Nghiệt

Dây Sắc Lịnh

 

DẤY

Dấy Động

 

DẪY

Dẫy Xe Trâu

 

DE

De Lagarde

 

DÈM

Dèm Pha

 

DÉP

Dép Cỏ

 

DỄ

Dễ Duôi

 

DI

Di Quẻ Sơn Lôi Di

Di Đà Phật

Di Hài

Di - Hi - Vi

Di Lạc (Lặc)

Di Lạc (Ðôi Liễn Di Lạc)

Di Lặc Chơn Kinh

Di Lạc-Thích Ca (Ðôi Liễn Di Lạc-Thích Ca)

Di Luân

Di Mẫu

Di Ngôn

Di Quan

Di Truyền

 

Dĩ Đức Phục Nhân

Dĩ Hòa Vi Tiên

Dĩ Lễ Hóa Dân

Dĩ Sổ Bôi Tên

Dĩ Vãng

Dĩ Văn

 

DỊ

Dị Chủng

Dị Hợm

Dị Đoan

Dị Đồng

Dị Nghị

Dị Thường

 

DỊCH

Dịch

Dịch Học

Dịch Lý

Dịch Sử

 

DIÊM

Diêm Cung

Diêm Đế

Diêm Đình

Diêm Vương

 

DIỄM

Diễm Phước

 

DIÊN

Diên Trì

Diên Niên Ích Thọ

 

DIỆN

Diện Bích

 

DIỆT

Diệt

Diệt Chủng

Diệt Dị Đoan Trừ Mê Tín

Diệt Độ

Diệt Hình

Diệt Hóa

Diệt Phàm

Diệt Tận Phàm Tâm

Diệt Tục Kiếp

Diệt Tục Xủ Phàm

Diệt Trần

Diệt Trần Tình

Diệt Trí Phàm

Diệt Phạt

Diệt Vong

 

DIÊU

Diêu

Diêu Cung

Diêu Động

Diêu Trì Cung

Diêu Trì Cửu Nương

Diêu Trì Kim Mẫu

 

DIỆU

Diệu Huyền

Diệu Huyền Chí Tôn

Diệu Pháp

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Diệu Pháp Thiêng Liêng

Diệu Quang

Diệu Võ Tiên Ông

 

DINH

Dinh Hư Tiêu Trưởng

 

DÌU

Dìu Dắt

 

DO

Do Thái

 

Dò Đon

 

DÒNG

Dòng Bích

Dòng Ngân

 

DỐI

Dối - Thiệt

Dối Trá

Dối Người Nào Khác Dối Trời

 

DỒN

Dồn Dập

 

DỜI

Dời Đổi

 

DU

Du Dạo

Du Đãng

Du Hành Bất Tức

Du Già

 

DỤ

Dụ

 

DỤC

Dục

Dục Tấn

Dục Tấn Trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống

Dục Tình

Dục Tu Kỳ Thân Tiên Chánh Kỳ Tâm

Dục Tu Thiên Đạo Tiên Tu Nhơn Đạo, Nhơn Đạo Bất Tu Thiên Đạo Viễn Hỉ

Dục Vọng

 

DUNG

Dung Hòa

Dung Hợp

Dung Nạp

Dung Thứ

 

DUY

Duy Lý

Duy Tâm

Duy Tâm - Duy Vật

Duy Tân (Vua Nhà Nguyễn)

Duy Trì

Duy Truyền

Duy Vật

 

DUYÊN

Duyên Phần

 

Dư Luận

 

DỰ

Dự

Dự Quẻ Lôi Địa Dự

Dự Khuyết

Dự Thính

 

DỮ

Dữ Tận Hiền Thăng

Dữ Tợn

 

DƯA

Dưa Muối

 

DỰC

Dực Tông

 

DƯỚI

Dưới Bộc Trong Dâu

 

DƯƠNG

Dương Bạn

Dương Gian

Dương Minh Châu

Dương Quang

Dương Thạnh

Dương Thạnh Tắc Sanh, Âm Thạnh Tắc Tử

Dương Thế

Dương Trần

Dương Văn Giáo

 

DUỢT

Duợt Chư Tiên

Duợt Kiếp Khiên

 

DƯỠNG

Dưỡng Dục

Dưỡng Lão Viện

Dưỡng Mẫu

Dưỡng Nhơn Chi Ác

Dưỡng Nuôi

Dưỡng Phụ

Dưỡng Sanh

Dưỡng Tánh Tu Chơn

Dưỡng Tử Phương Tri Phụ Mẫu Ân

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

 

 

 

DA MỒI TÓC BẠC

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Trên Huyền-Mẫu da mồi tóc bạc,
Thụ cửu tuần qui hạc ngày cao.
Dưới màn ấm lạnh âm hao,
Sớm thăm tối viếng biết bao dám rời.

 

 

DÀ LAM

伽 藍

Dà-Lam 伽 藍 hay Già-Lam là phiên âm từ tiếng Phạn: Asharam nghĩa là khu vườn ngoạn cảnh, hay chỉ Tịnh xá. Từ này để chỉ chung chùa chiền, trung tâm tu học, thiền định.

Ngoài ra, Dà-Lam còn dùng để chỉ ngôi vị Phật, gọi là Phật Dà Lam, có nhiệm vụ dìu dắt các Chơn linh đắc Đạo đến cõi Cực Lạc Thế Giới.

Đức Hộ Pháp thuyết tại Đền Thánh ngày 23-7-1938 nói Nói về Đức Quan Thánh Đế Quân đắc quả vị Phật Dà-Lam tức là vào hàng Phật vị gọi là Cái Thiên Cổ Phật hay còn gọi là Dà Lam Chơn Tể. Ngôi vị Phật, ngôi vị Dà Lam là một phúc quả do những hành vi phước đức của Chơn hồn nơi thế gian.

"Ngài giữ trọn Tam cang: Trung, Nghĩa, Chánh trực Công bình. Đến buổi Ngài qui vị thì đặng hiển Thánh, nhờ Phổ Tịnh Thiền Sư đến khai linh nên đặng phi thăng yết kiến Thượng Đế mới đắc hàng phẩm Phật Dà-Lam.

Do những hành vi thiện lành ở thế gian đã tạo nên phước quả cho Chơn linh được vào cõi Cực Lạc Thế Giới.

Trong Kinh Di Đà, Phật có thuyết: "Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc Quốc độ, hữu Thất bửu trì, bát công đức thủy sung mãn kỳ trung. Trì để thuần dĩ kim sa bố địa": nghĩa là Lại này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao Thất Bửu (bảy báu) nước tám công đức đầy ắp trong đó. Đáy ao thuần dùng cát vàng để phủ. Nước trong ao Thất Bửu có đủ tám công đức: Trừng tịnh (lắng trong, tinh khiết), Thanh lãnh (trong trẻo, mát lạnh), Cam mỹ (ngon ngọt), Khinh nhuyễn (nhẹ nhàng, mềm mại), Nhuận trạch (tươi tắn, thắm nhuần), An hòa (êm ả, không chảy xiết, kêu gầm), Trừ cơ khát (uống hết đói khát), Trưởng dưỡng thiện căn (tăng trưởng, nẩy nở căn lành). Do có tám công đức, nước trong cõi Cực Lạc được xưng tụng là Công đức thủy.

Vì nước trong ao Thất Bửu có công đức trừng tịnh, trưởng dưỡng thiện căn nên Chơn hồn nào có ân huệ tắm gội nơi ao ấy, uế trược sẽ được tẩy trừ, thiện căn sẽ được tăng trưởng, nẩy nở.

Kinh Tiểu Tường có câu:

"Ao Thất Bửu gội mình sạch tục.
"Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam."

 

 

DẠ ĐÀI

夜 臺
E: The palace of the hell
F: Le palais de l’enfer.

Dạ đài 夜 臺 là Chỉ lâu đài, cung điện ở Âm phủ, đồng nghĩa với Diêm đài, hay Diêm cung, Âm cung.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,
"Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết."

Buổi tiền khai Đại Đạo có Đấng Nữ Tiên giáng bàn cho thi, các ông (Cư, Tắc, Sang) đều ca ngợi rằng thi hay. Ông Phạm-Công-Tắc hết lời khen lời châu ngọc về điệu thơ Tiên của Thất Nương xong hoạ lại ngay:

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
Trời xanh vội lấp Nữ-anh-tài
Tình thâm một gánh còn dương-thế,
Oan nặng ngàn thu xuống Dạ-đài.

 

 

DẠ XOA (Phật Học)

夜 叉
F: Génie noctune malfaisant.

Dạ-xoa (S: yakṣa; P: yakkha) cũng được gọi là Dược-xoa Là một loại thần. Kinh sách có khi nhắc nhở đến loài này, gồm hai loại chính:

1- Loài thần, có nhiều năng lực gần giống như chư thiên;

2- Một loài ma quỉ hay phá các người tu hành bằng cách gây tiếng động ồn ào trong lúc họ thiền định.

 

 

DÃ TRÀNG

F: Crabe qui charrie le sable.

Ngày 15-12-1925 Thi Sĩ Bồng-Dinh còn gọi Lão Bồng là người rất ham thi văn của Đức AĂÂ, vị này thuộc rất nhiều thơ của Đức Ông, có xướng bài thơ vịnh Dã tràng:

Dã-tràng ai dễ xét công đâu?
Bãi biển thường xe cát lấp đầu.
Xúc cát trải bao cơn sóng lượn,
Nhăn mày cười bỡn khúc sông sâu.
Biết không nên việc nơi Trời nước,
Nào có nao lòng cuộc bể dâu,
Nhiều ít có danh trên võ trụ,
Kẻo mà thẹn với mấy bầy trâu.

Lục Nương Diêu-Trì-Cung giáng Hoạ thơ của Bồng Dinh:

Công-Dã- tràng công cán để đâu?
Muốn ngăn sóng cả khoả ngang đầu
Đất vò nên lọn xây thành lỡ
Nước dập tuông bờ lỡ giạu dâu.
Đấp biển vì lo bờ biển lỡ,
Moi sông bởi muốn ngọn sông sâu.
Nên hư trối mặc đời phi thị,
Lam lụ buồn cười bấy lũ trâu.

 

 

DẠI

F: Inexpérimenté, ignorant.

Một sự khờ-khạo, yếu kém đức tin. Trong tiếng "dại" mà Đức Chí-Tôn dùng sau đây đã chứng tỏ một tình yêu mến nồng nàn. Trong một bài thơ Ngài than như vầy:

Cười khan mà khóc bởi thương bây,
Chẳng mất một con nghiệt cả bầy.
Biết phận già không chờ chống gậy.
Nương theo con dại mới ra vầy.

Thật vậy, Ngài quá thương con cái mới ra nông nỗi đó, tưởng lòng thương yêu vô tận ấy không thể gì ta tưởng tượng đặng, không thể gì chúng ta biết đặng cái giá trị nồng nàn yêu ái vô biên vô tận ấy, chỉ vì "Nương theo con dại mới ra vầy" câu ấy nồng nàn thấm thúy đau đớn làm sao, câu nói đó là vì thương con dại của Ngài, mà toàn thể anh em chúng ta có hiểu cái tiếng "dại" ấy là thế nào không? Bần-Đạo xin nhắc lại lời nói của Đức Chúa Jésus Christ đã nói: Hạnh phúc thay cho những kẻ khờ khạo! Vì nó được quyền năng của ông Cha của Thiêng Liêng kia binh vực nó, hồi nó sống đây nó dại khờ, nhưng không phải cái dại ấy mà nó cô độc, bởi vì nó còn ông Cha oai quyền vô tận vô biên, Ổng thay thế cái khôn cho nó.

- Hạnh phúc thay cho những kẻ yếu hèn! Những kẻ yếu hèn với những người sang cả, khi trở về cùng Cha của họ nơi nước Hằng Sống của Đức Chí-Tôn đã dành để cho con cái đau khổ của Ngài, cái giá trị vẫn khác.

- Khốn khổ thay những kẻ miệt sát kẻ yếu hèn. Khốn khổ thay cho những kẻ áp bức, hiếp đáp những người cô thế, trẻ con, góa bụa, tật nguyền, bởi vì nó miệt sát nhục mạ con cái của Ngài tức là nhục mạ Đấng Tạo-đoan, như vậy là còn tội tình nào lớn hơn điều ấy. Nếu quả nhiên sắp con của Ngài phải chịu hèn hạ khổ não, ngu khờ là tại Ngài muốn vậy, Ngài muốn dành để cái oai quyền binh vực của Ngài cho chúng nó".

 

 

DÀI (thẻ) sau lưng

Dải (thẻ) sau lưng

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP

Phần thứ nhứt: Chỉ "Dải sau lưng": Chí-Tôn muốn định phận mình là Tam-Thừa.

Phó-Trị-Sự hành quyền về Hạ-thừa chớ chưa vào Thánh-Thể nên mang một thẻ nơi lưng.

Còn Phối-Sư là bậc Thượng-Thừa nên có ba thẻ. Trung-Thừa Chí-Tôn không cần định để cho mỗi người cố-gắng lập vị mình mau chóng tới bậc Thượng-Thừa. Nếu qua khỏi ba thẻ lên chín (thẻ) tức là vào hàng phẩm Cửu-Thiên Khai-Hóa. Cách nhau có một mức Phối-Sư với Chánh-Phối Sư mà xa nhau một Trời một vực. Hễ đủ tài đức cầm quyền Đạo có quyền Vạn-Linh và quyền Chí-Tôn ủy nhiệm ân-tứ quyền-hành thì là vào ngay Cửu-Thiên Khai Hóa qua khỏi Tam-Thừa.

Phần thứ hai: Ai cho Luật Sự mang giày vào Điện? - Điều ấy là quá phép, đặng mang giày vào Điện là Chánh Phối-Sư thì hàng Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn mới đặng mang giày vào Điện.

Phần thứ ba: Khi nào đã có mang Sắc-Lịnh của HỘ-PHÁP nơi mình và hành-lễ thay hình thay xác cho HỘ PHÁP mới đặng đứng ngay giữa thế cho hình-ảnh HỘ PHÁP, còn ngoài ra thì đứng một bên phía Thế-Đạo tức phía Thượng-sanh.

Khi thay hình-ảnh là khi có lịnh đặc-biệt của HỘ PHÁP phú cho và có mang Sắc-Lịnh nơi mình.

Phần thứ tư: Chỉ kêu là vị Luật-Sự. Đối với Lễ Sanh thì gọi là ông Luật-Sự Pháp-Chánh. Tới bậc Chưởng Ấn trở lên mới gọi là Ngài." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

Đầu-sư Nữ phái mặc một bộ Đạo phục toàn là hàng trắng có thêu bông sen, y như Đạo phục Đầu sư Nam phái, áo chín dải."

 

 

DẢI ĐỒNG TÂM

Dải đồng là chỉ sự thương yêu khắn khít giữa vợ chồng.

Theo Tùy thư, vua Tùy Dượng Đế sai lấy lụa ngũ sắc kết thành nút gọi là đồng tâm kết (dải đồng tâm) để ban cho quí phi, tỏ lòng yêu đương khắn khít. Nắm chặt dải đồng: Ý nói giữ chặt lòng thương yêu khắn khít giữa vợ chồng.

Bài hoạ của Ông Cao-Hoài Sang qua bài "Thác vì Tình" của Thất Nương Vương thị Lễ có câu:

Những ngờ duyên thắm trao phòng Bích!
Hay nỗi xương tàn xủ giậu mai.
Một dải đồng-tâm bao thuở nối,
Nửa chừng Xuân gãy tủi thân ai?

 

 

DÀN BÁT BỬU

E: The assortment of eight precious things.
F: L’assortiment de huit object précieux.

Bát: Tám, thứ tám Bửu: còn đọc là Bảo, nghĩa là quí báu. Bát bửu là tám món quí báu.

Xem thêm: BÁT BỬU - DÀN BÁT BỬU (Vần B)

 

 

DANH HIỆU CAO ĐÀI

名 號 高 薹
F: Signification à CAO ĐÀI.

Thầy dạy người Pháp hầu đàn: "Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy, thì trên qủa địa-cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả. Lại có lắm kẻ đáng thương hại lại tự-phụ rằng họ hiểu thấu cả lẽ mầu-nhiệm của Ðấng Tạo-Hóa. Nhưng Thầy không bao giờ cho một kẻ nào dưới cõi trần nầy tiết lậu Thiên-cơ cả. Muốn đến Thầy thì phải cầu nguyện. Thầy không bao giờ không cảm ứng với những lời cầu nguyện chơn-thành. Như thế đủ chứng tỏ cho các con tin rằng Thầy là Ðức Jéhovah của dân Hébreux vị chủ tể của quân-lực dân Israel, vị Thánh vô danh của dân Do-Thái, Ðức Ðại-Từ-phụ của chúa Jésus Cứu Thế. Con chỉ cần cầu-nguyện Thầy với danh hiệu Cao-Ðài thì sẽ có sự cảm ứng chấp-thuận."

 

 

DANH LỢI

名 利
F: Honneurs et richesses.

Do đơn xin nghỉ một năm đặng lo trả nợ trần-ai, tờ đề ngày 4 tháng 9 năm Tân-Mão của Lễ-Sanh Thượng-Đẩu Thanh.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Hễ càng chạy theo danh-lợi thì lại càng chìm đắm trong vòng khổ của danh lợi, cái sống đơn-sơ thì ai lại không sống đặng. Gương của các Người Chức-Sắc khi vào cửa Đạo họ nghèo xơ nghèo xác mà họ trọn Đạo cho tới khi về cùng Đức Chí-Tôn, nghĩa là ngày chết của họ, chết mà họ không phải chết đói đa, mà họ lại đặng mồ là khác nữa. Còn Đẩu đây không biết tương-lai ra sao, để cho sắp hậu-tấn là sắp-nhỏ của Đạo nó xem một kiểu vở, hay cho đặng thấy một người đã đến tận bờ Bỉ-Ngạn mà còn chết đắm. Tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối-Sư lập Thánh-Lịnh thâu chức Lễ-Sanh của Đẩu và ngày nào xin phục-chức là do đặc-ân Hội-Thánh sở-định khi nợ-nần của Đẩu đã trả xong. [ HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

Kinh Sám Hối có câu:

"Cuộc danh lợi là phần thưởng quí,
"Đấng Hóa công xét kỹ ban ơn."

 

 

DANH - LỢI - QUYỀN

名 利 權
E: Honour, riches, power
F: Honneur, richesse, pouvoir.

Danh: Tên gọi, tiếng tăm, nổi tiếng. Lợi: lợi lộc. Quyền: quyền hành. Danh lợi quyền là danh dự, lợi lộc, quyền hành.

Đó là ba món mà con người nơi cõi trần rất ham thích, luôn luôn muốn thâu đoạt cho mình càng nhiều càng tốt. Có tiếng tăm, danh dự để được vẻ vang vinh hạnh với đời, thỏa mãn lòng tự ái; có lợi lộc để có đời sống vật chất đầy đủ sung sướng mà hưởng thụ; có quyền thế để có kẻ hầu người hạ, kẻ đưa người đón, ngồi không mà sai khiến người.

Nhưng đối với người tu hành, ba thứ danh lợi quyền là ba cái chướng ngại to lớn cản trở bước đường tu, nên cần phải dứt bỏ hẳn thì mới mong đạt đến cứu cánh của việc tu hành.

Còn ai danh vọng hơn Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta, có ai quyền thế hơn Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta? Thế mà khi Ngài quyết tâm đi tu tìm phương giải khổ cho chúng sanh thì Ngài can đảm vứt bỏ tất cả, chỉ một thân một mình, đi vào núi rừng thanh vắng, thiền định tu hành. Nhờ vậy mà Ngài đắc đạo vô thượng bồ đề với ngôi vị Chánh Đẳng Chánh Giác.

▪ Đức Chí Tôn dạy rằng: "Dùng hết mưu chước quỉ quyệt thâu đặng lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh tranh đấu đấu, giựt giựt giành giành, gây nên mối loạn, nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép Tà quyền, mạnh hơn yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng tạo hóa. Cái trường thảm khổ của thế gian cũng do nơi đó mà ra."

▪ Thánh Ngôn Pháp văn, Đức Chí Tôn dạy về danh lợi quyền, Hội Thánh dịch ra như sau:

"Phẩm tước là gì? Của cải danh vọng là gì?

Phẩm tước là sự tổng hợp các chức tước đã bày ra để quyến rũ người hoặc ít hoặc nhiều. Những chức tước ấy do người đời tạo ra để phong thưởng kẻ khác.

- Giá trị của các chức tước ấy ra sao?

Giá trị của những chức tước ấy tùy theo người đã tạo nó ra. Việc chi do người đều phàm cả, nó không bền, thường bị hư hỏng và tiêu tan ngay sau khi người đã được nó tặng bị cướp mất sự sống.

Các con hãy tìm phẩm tước nơi cõi thiêng liêng, tước phẩm ấy mới là vĩnh viễn.

Còn tài sản là tổng quát các vật quí của con người đã thu nhặt trên thế gian nầy. - Của cải ấy gồm những gì?

Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường. Hồng là một chất màu, còn lụa là chất do loài vật cấu thành ra.

- Các con xem của ấy là quí giá thật sao?

Xét từ nơi sản xuất, các vật ấy đều không đáng kể.

Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quí ấy không ai cướp đặng cả.

Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ sự gian trá.

Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt, và danh quyền ấy mới chịu đựng nổi bao thử thách.

TRUNG bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng phẩm tước, của cải và danh vọng của Trời?

Thầy trả lời: Tu."

▪ Đức Chí Tôn (29-3-1933)

Danh lợi đem đường xuống hố sâu,
Lợi danh tráo chác lắm cơ cầu.
Mua danh cột buộc lằn mưa đạn,
Chác lợi là phăng mối chỉ sầu.

▪ Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ cũng có dạy về Danh Lợi Quyền, chép ra như sau:

"Nếu kể danh và quyền thì trong cửa Đạo có danh và quyền gì? Đạo chỉ có danh là biết thương người, quyền là phục vụ người, sau mới được cái danh quyền bất diệt của Chí Tôn ban cho nơi cõi thiêng liêng.

Nên hiểu: Danh, quyền, lợi lộc, theo thế gian thì đó là con đường tìm tội tình.

Vậy, Bần đạo khuyên nên lưu tâm, ngoài ra phải phân biệt tiểu tiết và đại sự. Để hỏng đại sự là bất trí, giữ danh cá nhân mà để thất danh Đạo là thấp hơn thường tình."

▪ Tại Minh Thiện Đàn, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ngày 1-4-Quí Dậu (dl 25-4-1933) dạy về Danh Lợi Quyền:

"Ôi thôi! Nói thì nói vậy,
Chớ cuộc thế trò đời biết bao nhiêu kẻ,
Dùng thế lực mà bỏ khoan dung,
Lấy quyền hành quên bác ái.
Lấy danh dự ép tài tình,
Cuộc trò đời thấy vậy càng kinh,
Giảng tận lý nói binh nói hiếp.
Dầu dạy đến buổi đời mạt kiếp,
Cũng không trừ dứt nghiệp quyền danh.
Xúm đầu nhau thế lực giựt giành,
Để ngàn thuở ô danh thanh sử!
Lão khuyên hãy hồi tâm cư xử,
Để lòng công mới dự Thần Tiên.
Ở đời đây là chỗ ưu phiền,
Vui chi đó, thế quyền danh lợi!
Thấy lẽ phải thì mình khen ngợi,
Việc trái thời toan gởi ngoài tai.
Dẫu phải người mình lại khoe hay,
Hay như thế thật tài ai phục?
Dầu lẽo mép đưa qua một lúc,
Chớ tai đời trong đục đều thông,
Vậy Lão khuyên công lý cân đồng,
Bỏ tánh tục noi lòng Tiên Thánh.

Nầy chư nhu! Từ đây chẳng thật hành còn để dùng quyền hay là thế lực mà tới trước trở ngoái ra sau thì sẽ coi Lão có đủ quyền hành mà phạt răn trừng trị hay không cho biết nghe. Lão từ giã chư nhu."

 

 

DANH NHÂN ĐẠI ĐẠO

名 人 大 道
E: The celebritie of E: Caodaism.
F: Les célébrités du Caodaïme.

Danh: Tên gọi, tiếng tăm, nổi tiếng. Nhân: người. Đại Đạo: nền Đạo lớn, đó là ĐĐTKPĐ, tức là Đạo Cao Đài.

Danh nhân Đại Đạo là các Chức sắc có phẩm tước lớn, có tiếng tăm lớn, có đức hạnh lớn và có công nghiệp lớn đối với Đạo Cao Đài.

Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là hai vị đứng đầu các Danh nhân Đại Đạo.

 

 

DANH QUYỀN

名 權

Thầy dạy: "Các con nên tìm sự giàu đức-tính của Trời. Chỉ có cách đó, mới gọi là vĩnh-cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả. Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ sự gian trá. Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt. Và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách."

 

 

DANH TA CÒN MƯỢN

Danh 名 là tên, là uy tín. Tức nhiên khi Đạo Thầy khai mở ra thì phía Tà quái, hay còn gọi là Quỉ Vương cũng xướng xuất lên một cơ giả Đạo mượn lấy danh Thầy để dối nhơn gạt chúng, mượn uy tín lớn lao ấy hòng phá hủy Đạo Trời.

Thầy dạy: 15-7-Bính Dần (Chúa nhựt: 22-8-1926):

"Buổi Bạch Ngọc Kinh và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Ðộ, Quỉ Vương đã khởi phá khuấy chơn đạo, đến danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi. Lại còn hiểu rõ rằng Ta đến với huyền diệu nầy, mượn cơ mầu nhiệm, hiệp Tam thập Lục Ðộng đổi gọi Tam thập Lục Thiên. Các tên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật bị mạo nhận mà lập nên Tả đạo. Ngươi đâu hiểu rõ làm ra lẽ Trời Phật vốn con buôn. Tội tình ấy lớn là thế nào? Ngươi hiểu chăng? Tam đồ tội khổ bất năng thoát tục là tội ngươi. Phải ăn năn sám hối, sau Ta sẽ trọng dụng, độ rỗi nhơn sanh, lấy công chuộc tội. Nghe à!"

Trong đàn Cơ tại Phạm-Nghiệp ngày 20-9-Quí Dậu (dl: 07-11-1933) xin trích đọan nói về Ngài Ngô văn Chiêu:

Hộ-Pháp bạch Thầy: Dạ thưa Thầy, con không biết tại sao khắp nơi đều có Cơ Bút mà mỗi lần đều xưng danh Thầy, không lẽ Thầy lại đến với Cơ Bút ấy? (Ý nói về Cơ Bút của những người đã tách khỏi Tòa-Thánh ra mà lập Chi phái. Cầu Cơ thì các Đấng giáng, có thật không?)

Thầy đã nói rằng: "Duy có cái ngôi của Thầy chúng nó không dám dựa, chớ danh Đạo Thầy nó có phép dùng, nên dặn rằng: Đừng nghe Cao-Đài nơi này, Cao Đài nơi khác mà tin cho ra thất thệ. Đến đỗi hồn ma thằng Chiêu, chúng nó còn lợi dụng, lừa gạt các con thay! Thì còn danh ai mà nó từ bỏ?.. Cười! Tắc, Con tối trí quá!"

 

 

DANH THỂ

名 體
E: Honour and face.
F: Honneur et face.

Bát Nương Diêu-Trì-Cung giáng nói:

- Nhị Ca! Cả Diêu Trì Cung đều mừng cho danh thể Hiệp Thiên Đài, nhứt là Phật Mẫu thì hơn hết, nên vội vàng tư mật ý qua Thái Thượng Lão Quân cám ơn Người đã đệ ý chí vào Ngọc Hư Cung lúc trước. Em nên dặn Anh nhớ bài thi của Lịnh Mẫu gởi cho Anh buổi nọ đa nghe! Anh cứ do nơi Đức Lý Giáo Tông mà cầm quyền trị thế thì sẽ đắc thắng, chẳng chi phòng ngại. Nghe bài thi nầy và giữ y nguyên sở vọng của anh thì nên việc cả. Nghe Thi:

Cầm mối Thiên thơ đã phải hồi,
Định an hoàn võ một mình thôi.
Xô non tuy chẳng tài ông Bá,
Dựng núi đã hay phép chú Hồi.
Thẳm thẳm ngàn trùng kìa Ngọc các,
Vơi vơi muôn dặm ấy Thiên lôi.
Chuyển luân cơ tạo quyền dự trữ,
Nương phép thiêng liêng gánh nghiệp Trời.

 

Đức Hộ-Pháp nói: Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo Ổng nói "Tròi trọi mình không mới thiệt bần". Ông đến cho ta một danh thể là lập Hội-Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được."

 

 

DANH VỌNG

名 望
F: Réputation.

Thầy dạy khi một người Pháp đến hầu Đàn, có câu: "Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá. Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách. (Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm phẩm tước của cải và danh vọng của Trời?).

- Thấy trả lời: "TU".

Tu là chi?

Thầy dạy: "Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh Thiêng-liêng".

Kinh Sám Hối rằng:

"Lo danh vọng hao mòn thân thể,
"Ham làm giàu của để bằng non.
"Một mai nhắm mắt đâu còn,
"Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng?"

 

 

DẠY DỖ

F: Donner des instructions, instruire.

Pháp Chánh Truyền: "Thầy đã nói Ngũ chi Đại-Đạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh-giáo cho tay phàm càng ngày càng xa Thánh-giáo mà lập ra phàm-giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy-dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh-giáo cho tay phàm nữa".

(Pháp Chánh Truyền) Nơi Cửu-Trùng-Đài "Thầy định-quyết cho Người (Giáo-Tông) có quyền dạy-dỗ mà thôi, song quyền-hành có rộng thêm đôi chút là dạy-dỗ trọn cả đường Đạo và đường Đời. Nghĩ cũng chẳng chi làm lạ, vì cả Chức-sắc Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài của Thầy lập, phải tùy theo tôn chỉ Đạo, nghĩa là xu hướng về phần giáo-dục mà thôi. Thầy đã xưng là Thầy đặng dạy-dỗ, còn tên của Chức-sắc đủ chỉ rõ-ràng phận-sự giáo-hóa, là chánh vai của mỗi người, như Giáo Hữu, Giáo-Sư, Phối-Sư, Đầu sư, Giáo Tông…Xem rõ lại thì tên mỗi vị chẳng mất chữ "Giáo" hay chữ "Sư". Cơ Đạo từ cổ chí kim vẫn vậy, lại hiệp lời này "Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị Đạo, tu Đạo chi vị giáo". Thầy chỉ cậy Hội Thánh Thầy đã đến lập, thay quyền cho Thầy mà dạy-dỗ cả con cái của Thầy, nghĩa là chúng sanh đặng lành, ấy là phận-sự cần nhứt của Hội-Thánh đó"

 

 

DẶM GIÓ DÀY SƯƠNG

Thầy dạy:

Làm người dặm gió dày sương,
Có thân con phải đoạn trường vì thân.

 

 

DÂM PHONG

淫 風
F: Moeurs obscènes.

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,
"Thói dâm phong rù quyến nguyệt hoa.
'Có ngày hư nát cửa nhà,
"Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng."

 

 

DÂM PHỤ GIAN PHU

淫 婦 姦 夫

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Nơi địa ngục gông kềm sẵn đủ,
"Để răn loài dâm phụ gian phu.
"Ai ai bền chí mà tu,
"Phước đem đổi tội cho phu dễ gì?"

 

 

DÂN CHỦ

民 主
F: Démocratie.

Đức Hộ-Pháp nói: "Một bên mệnh danh là Dân chủ thì tán dương sự Quốc-gia tương trợ và tôn trọng giá trị con người cùng bảo tồn cái gì hay và đẹp. Thuyết ấy cao cả biết bao, nhưng lại thiếu thành thật mà những điều khoản ghi trong tập Nhân Quyền đã được Liên Hiệp-Quốc tán dương gần đây vẫn chưa được thực hiện. Thuyết thứ hai mệnh danh là Cộng-Sản xúi giục giai cấp vô sản chống chọi giai cấp Tư bản, chủ trương tiêu hủy những sự bất công xã hội và hứa hẹn quân phân lại tài sản, nhưng vì có tánh cách độc tài và vô thần nên đã trở thành quá khắc khe."

 

 

DÂN SANH

民 生
F: Vie de la Nation.

(Dân là người sống trong một đất nước. Sanh là sự sống). Dân sanh là người sống trong đất nước có chủ quyền, có đủ quyền sống như tự do ngôn luận, tự do ăn ở và lập nghiệp, nhất là tự do tư tưởng.

Đức Hộ-Pháp giải rằng: "Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ chiếu theo luật Thiên đình, Hội Tam-giáo mở rộng mối Đạo Trời, ấy cốt để dìu dắt nhơn sanh bước lên con đường Cực-Lạc tránh khỏi đoạ luân-hồi và dụng Thánh-tâm mà dẫn dân-sanh, làm cho hoàn-toàn trách nhiệm nặng-nề của Đấng làm người, về bực nhơn-phẩm ở cõi trần-ai khốn-đốn này".

Đức Lý dạy: qua bài thi rằng:

Công danh đất Việt tay đành nắm,
Mưa móc dân sanh gắng gội nhuần.

 

 

DÂN TỘC

民 族
F: peuple, la nation, Race.

Thầy dạy: "Thầy lại đến lập trong nước các con một nền Chánh giáo đủ tư cách độ rỗi chúng sanh. Các con và cả dân tộc các con vì nơi Đạo mà đặng đoạt đến phẩm-vị cao thượng; cái phẩm-vị ấy do đâu mà có? -Là bởi đạo-đức các con, đạo-đức thắng hung bạo là thường tình".

 

 

DÂN TRÍ

民 智
F: Niveau intellectuel du peuple.

(Dân là người sống một nước đó, họ có quốc tịch, đủ tư cách pháp nhân. Ví như dân Việt, dân Lào, dân Tây...Trí là sự hiểu biết do học hỏi mà biết sự văn minh về mọi thứ). Dân trí là trình độ tiến hóa của dân tộc. Trong một nước cần đến sự mở mang dân trí thì nước mới giàu, dân mới mạnh. Khác với chủ trương đối lập là "chánh sách ngu dân, bần cùng hóa nhân dân" mục đích là làm cho dân ngu khờ, dân nghèo đói đặng nhà cầm quyền dễ cai trị, dễ thao túng, bóc lột. Họ nghĩ rằng làm như thế để củng cố địa vị; nhưng họ đã lầm, một sự sai lầm lớn!

Đức Hộ-Pháp nói: "Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vì Giáo Chủ ngày xưa. Chỉ có hai phương diện:

1- Là do Tam Giáo thất kỳ truyền,

2- Là chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả Tinh Thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA chung là thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ quyền Thương yêu, chung thờ một Tôn-giáo Đại-Đồng thì nhơn loại mới gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong thì vạn loại mới chung hưởng cơ Hòa-Bình, phục hồi Thượng cổ là do Thiên Thơ tiền định buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu duy tân." Đức Hộ Pháp xướng: Nhắn Bạn Quyền Giáo Tông:

Nhơn tài nẩy nở tuy trăm bụng,
Dân trí biến sanh bởi một đầu.
Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận,
Cuộc cờ thắng bại tận phao câu.

(11-9-Bính Tuất 1946)

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934):

"551 năm sau Khổng Phu Tử mới có khai Ðạo bên Thái Tây, nên Thầy cho Ðức Chúa Jésus Christ giáng sanh khai Ðạo Thánh cho phù hạp với dân trí Âu Châu. Ðức Chúa Jésus cũng bị cường quyền Israel áp bức cho đến đổi, hồi ban sơ thì có 12 vị Thánh Tông Ðồ theo Ngài, mà sau còn có một Thánh Pierre mà thôi.... Nhưng Người cũng phải chối Chúa ba phen đặng tránh cường quyền bắt buộc".

 

 

DÂNG CÔNG ĐỔI VỊ

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn nói: "Nước Thiên đường thì ít kẻ, cửa Ðịa ngục vẫn nhiều người, chưa từng thấy hạng nhơn sanh nào mà tự trọng thân hình, chẳng hữu ích chi cho cả cơ Tạo, mà đoạt vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Ngôi vị thiêng liêng chẳng phải do nơi sự cầu may mà đoạt đặng. Bần Đạo khi đắc lịnh làm Chưởng Ðạo lập Hội Thánh giáo đạo tha phương thì tùng lòng bác ái của Chí Tôn, mở rộng thế cho nhơn sanh dâng công đổi vị. Bần Đạo chẳng kể là Nguyên nhân, Hóa nhân hay là Quỉ nhân, ví biết lập công thì thành Ðạo. Bần Đạo để cho mỗi người tự do định phận, lại tùy thế khó khăn mà gầy thành công quả. Ấy vậy, nếu lấy phép công bình thì tự nhiên nên thì thâu, hư thì bỏ. Bần Đạo đã chán thấy kẻ bất lực rất nhiều. Vậy Bần Đạo để lịnh cho mỗi vị Thiên phong xét mình, khai tội cùng Giáo Tông và Hộ Pháp, rồi sau mới định rõ điều thưởng phạt."

 

 

DÂNG TAM BỬU

Đức Hộ-Pháp nói: "Cái chết của Jésus Christ là gì? - Là Ngài đem xác Thánh trọng quí dâng cho Chí Tôn làm tế vật, xác Thánh chết trên Thánh Giá là Lễ Tế đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cùng Ðức Chí Tôn ngày nay đó. Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng. Thật ra Ðấng Cứu Thế ấy là Tam Thế Chí Tôn giáng linh tức Christna tái thế."

 

 

Dâng Tam-bửu tức là lễ dâng: Bông- Rượu- Trà cho Chí Tôn và Phật Mẫu trong mỗi kỳ Đàn hoặc cúng Tứ thời.

1. Nguyên lý:

Trời đất tạo nên vạn vật hữu hình đều do ba thể: Vật thể, Khí thể và Thần (Linh) thể. Ba thể này là ba món quí báu nhất trong đời, nên gọi là Tam bửu.

-Trời có Tam bửu: Nhựt (Mặt Trời), Nguyệt (Trăng), Tinh (sao)

-Đất có Tam bửu là Thủy- Hỏa- Phong

-Người có Tam Bửu: Tinh- Khí- Thần, tức là Thể xác, Chơn thần và Chơn linh (Linh hồn). Đây bàn về Tam bửu của người:

*TINH là một chất nước rất tinh anh của nhục thể. Nhờ có Tinh con người mới có sức lực, tạo ra nòi giống và nhứt là người tu phải biết bảo Tinh thì mới có thể tạo ra Đệ Nhị xác thân hay là tượng hình Linh thể, thì việc tu mới mong đắc Đạo. Thể xác, tức là hình hài xác thịt của con người, được tượng trưng bằng Hoa (Bông), vì Ðức Chí Tôn muốn cho hình thể con cái của Ngài tốt đẹp như mắt nhìn thấy cái hoa vậy.

*KHÍ là chất sinh để bảo tồn sự sống, gọi là sinh khí, cũng là nguồn sinh lực của con người. Nguyên do: khí này nếu ở ngoài là thanh khí, thuộc Khí Tiên Thiên từ Khí Hư vô của trời đất, qua sự hô hấp đi vào phổi để lưu thông huyết mạch, khí này bị nhiễm lấy vật chất xác phàm mà hóa ra trược khí, hay gọi là Khí Hậu Thiên. Hễ khí này mạnh thì thân thể cường tráng, hễ khí này yếu thì thân thể suy nhược. KHÍ là Chơn thần, tức là xác thân thiêng liêng, được tượng trưng bằng RƯỢU, vì Ðức Chí Tôn muốn cho Chơn thần các con cái của Ngài cường liệt như rượu mạnh vậy.

*THẦN là phần chủ tể của con người, là điểm linh của Trời đã phú cho mà Đạo Cao-Đài gọi là Tiểu Linh Quang hay Thiên tánh. Thần là một phần rất Thiêng liêng, cai quản phần trí não, là Linh hồn của con người, mà Phật giáo gọi là Bản lai diện mục, Chơn Như, Phật tánh. Thần thường ở Mắt "Thần cư tại Nhãn". Chính vì thế mà người Tu luyện cao thâm, đôi mắt rất tinh anh và sáng quắc. Chơn linh hay Linh hồn, là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho mỗi người, được tượng trưng bằng TRÀ, vì Ðức Chí Tôn muốn cho Chơn linh con cái của Ngài điều hòa thơm tho như hương vị của Trà vậy.

2. Nguồn gốc 3 bài Dâng Tam Bửu:

Ðầu năm Bính Dần (1926), Ðức Chí Tôn dạy ba vị: Lê văn Trung, Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư đến nhà của Quan Phủ Ngô văn Chiêu ở gần chợ Sài gòn để Quan Phủ chỉ cho vẽ Thiên Nhãn thờ Ðức Chí Tôn và cách thức thờ phượng. (Quan Phủ Ngô văn Chiêu là Môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn được thấy hình Thiên Nhãn ba lần do Ðức Chí Tôn dùng huyền diệu cho hiện ra ở tại đảo Phú Quốc, để Quan Phủ vẽ Thiên Nhãn theo hình đã thấy mà thờ Ðức Chí Tôn). Quan Phủ chỉ cho ba vị cách thờ Thiên Nhãn, rồi trao cho ba bài Kinh: Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà để cúng Ðức Chí Tôn và bài Kinh Cầu Cơ "Trời còn". Ba bài Kinh Dâng Tam Bửu nầy có in trong quyển "Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh" xuất bản năm 1928 của nhị vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, trang 38, 39, 40:

* DÂNG TIÊN HOA:

Hoa tươi năm sắc, sắc thiên nhiên,
Ðầu cúi xin dâng lễ kỉnh thiền.
Cảm đức Cao Ðài lòng đoái tưởng,
Từ bi cứu thế giáng đàn tiền.

* DÂNG TIÊN TỬU:

Tửu vị hương hề, tửu vị hương,
Khấu đầu cung hiến chước hồ tương.
Cao Ðài hứng cảnh nhàn quan nhã (1)
Ðệ tử cung trần mỹ vị hương.

* DÂNG TIÊN TRÀ:

Ðông thổ (2) thanh trà mỹ vị hương,
Khấu đầu cung hiến chước hồ trường.
Cao Ðài hứng cảnh nhàn quan nhã (1)
Ðệ tử cung trần mỹ vị hương.

[Có bản chép khác: (1) nhàn hoan nhã. (2) Đông độ thanh trà]

Sau đó được vài tháng, đến ngày 14-3-Bính Dần (dl 24-04-1926), Quan Phủ Ngô văn Chiêu tách riêng ra để tu đơn, không cộng tác với nhóm của Ngài Lê-văn-Trung nữa (ông Chiêu rớt ngôi Giáo Tông vì bị quỉ khảo) nhưng ba bài Dâng Tam Bửu của Quan Phủ đưa qua vẫn được dùng để dâng cúng Ðức Chí Tôn. Ðến đầu năm Kỷ Tỵ (1929) Ðức Hộ Pháp có xin với Bát Nương ban cho ba bài Kinh Dâng Tam Bửu mới để thế cho ba bài cũ của Ngài Ngô văn Chiêu, nhưng Ðức Hộ Pháp được trả lời là nên để cho Hội Thánh đặt ra để Dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn thì mới hợp lẽ "Thiên Nhơn tương hợp". Do dó, Ðức Hộ Pháp chỉ định Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu (tức Cao Mỹ Ngọc) đặt ra ba bài nầy, rồi cầu Bát Nương chỉnh văn lại, xong dâng lên Ðức Chí-Tôn duyệt, rồi chuyển qua cho Ðức Quyền Giáo-Tông Lê văn Trung bên Cửu Trùng Ðài ban hành ra cho toàn đạo.

Đầu năm 1929, Ngài Tiếp-Lễ Nhạc-Quân Cao Quỳnh Diêu vâng lịnh Hội-Thánh, đặt ra 3 Bài Dâng Tam Bửu (Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà), có dâng lên Bát Nương Diêu-Trì Cung giáng cơ chỉnh văn lại, để thay thế 3 bài Dâng Tam Bửu cũ đã dùng lúc mới mở Đạo. Đồng thời Ngài cũng vâng lịnh Đức Hộ Pháp viết bài Tán tụng công đức Diêu-Trì Kim-Mẫu. Ngày 17-06-Canh Ngọ (dl: 12-07-1930) Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung (lúc còn là Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt) ban hành quyển "Nghi Tiết Ðại Ðàn & Tiểu Ðàn tại Tòa Thánh và Thánh Thất các nơi", trong đó có ban hành ba bài Dâng Tam Bửu mới mà chúng ta đang sử dụng hằng ngày đây.

 

BÀI DÂNG HOA

(Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung)

Từ bi giá ngự rạng môn thiền,
Ðệ tử mừng nay hữu huệ duyên
Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ,
Cúi mong Thượng Ðế rưới ân Thiên.

 

(Bài thi này có nhiều chữ Nôm

không viết chữ Hán được)

(Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).

 

BÀI DÂNG RƯỢU

(Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung)

Thiên ân huệ chiếu giáng thiền minh,
Thành kỉnh Trường Xuân chước tửu quỳnh.
Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,
Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh.

 

天 恩 惠 照 降 禪 明
誠 敬 長 春 酌 酒 瓊
樂 興 叩 恭 皆 勉 禮
脫 災 百 姓 仰 恩 生

(Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).

 

BÀI DÂNG TRÀ

(Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung)

Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,
Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.
Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước,
Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường.

 

梅 春 月 菊 味 茶 香
敬 禮 成 心 獻 寶 漿
仰 望 慈 悲 加 濟 福
開 明 大 道 護 清 平

(Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).

 

3. Lược dịch: Đại ý của mỗi Bài Dâng Tam bửu:

- Bài Dâng Hoa: Đức Chí-Tôn giáng trần, hào quang tỏa sáng ngời nơi ngôi Đền, Điện. Chư Đệ tử của Ngài may mắn hưởng được nhiều ân phước bởi có duyên lành mới được Ngài ban cho. Lòng thành của nhơn sanh ngưỡng vọng dâng năm sắc Hoa tươi gọi là Kỉnh lễ.Cúi xin Đức Chí-Tôn chan rưới ân lành.

-Bài Dâng Rượu: Ơn huệ của Đức Chí Tôn sáng ngời. Lòng thành khẩn xin rót chung rượu Lễ dâng lên Đức Chí-Tôn và các Đấng Thiêng liêng. Chúng con nguyện Dâng cả tấc lòng thành trong niềm hân hoan. Cầu xin Đấng Cha lành ban cho Bá tánh vạn dân biết hồi đầu hướng thiện hầu hưởng nhiều ân phước và thoát khỏi tai ách nguy nàn trong buổi đời tàn này..

-Bài Dâng Trà: Trà có mặt trong từ hoa mùa Xuân cho đến cúc mùa Thu tỏa ngát hương thơm ngào ngạt. Kính Dâng Cha mẹ chung Trà thơm quí với tấm lòng chân thành xin làm Lễ hiến. Kính mong lượng cao minh soi xét cho nhân sanh được hưởng nhiều phước báu. Trọng Ơn thầy mẹ đã ban cho mối Đạo Chánh truyền cho vạn quốc được phước lành tiêu tai thoát ách trong lần Khai mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ này.

4. Cầu nguyện khi Dâng Tam Bửu:

"Trọng giá của TAM-BỬU mà CHÍ-TÔN ưa chuộng để dâng Đại Lễ cho Ngài là nguyên-nhân chấm dứt cái hoạ tranh thù đã gây nên trường oan-nghiệt cho toàn thế giới".

Đức Hộ-Pháp thuyết tại Ðền Thánh, 01-12-Ðinh Hợi (1948): "Bần-Ðạo xin nhắc lại một phen nữa, khi nào hành lễ lúc dâng Tam Bửu:

-Hễ dâng Bông lên là dâng cái thể hình của chúng ta đó, ta cúi đầu cầu nguyện Chí Tôn: "Con xin dâng mảnh hình hài của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng".

-Khi dâng Rượu cầu nguyện: "Con xin dâng cả trí thức tinh thần của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng".

-Khi dâng Trà cầu nguyện: "Con xin dâng cả linh hồn con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng".

Câu chót nếu ta khôn ngoan nguyện như vầy: "Cả linh hồn, cả trí não, cả hình hài con, Thầy đào tạo đó là của Thầy thì do nơi quyền hành độc đoán của Thầy định". Ðó, ta cầu nguyện như vậy với Chí Tôn.

Bần Ðạo đã giảng Tam Bửu, tại sao Chí Tôn lấy Bông tượng trưng hình hài, là Ngài muốn nhìn con cái của Ngài bằng cái giá trị tốt đẹp như con mắt ngó thấy cái Bông. Ngài lấy Rượu là muốn tinh thần của loài người cường liệt như rượu mạnh vậy. Ngài lấy Trà là muốn chơn linh ra điều hòa như trà vậy. Ngài lựa ba món đó cốt yếu là như thế."

Khi dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn, hễ dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, dâng xong một Bửu thì lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy: "Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát".

Khi dâng Tam Bửu cúng Ðức Phật Mẫu thì cầu nguyện với Ðức Phật Mẫu, dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, lời cầu nguyện thì giống y như lời cầu nguyện đối với Ðức Chí Tôn, nhưng thay chữ Chí Tôn bằng chữ "Phật Mẫu", xong mỗi Bửu thì lạy Phật Mẫu 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: "Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn".

Đức Hộ-Pháp nhắc nhở: "Trong một thời Cúng, Bần Ðạo đã căn dặn nhiều phen trọng hệ hơn hết, là khi Dâng Tam Bửu, dầu cho tinh thần suốt buổi Cúng có nhiều lúc lo ra đi nữa, đến khi Dâng Tam Bửu, khuyên cả thảy định thần đặng mật niệm, dâng ba bửu trọng hệ cho Chí Tôn, tức là giúp sức Bần Ðạo hành pháp dễ dàng một chút đó." [ĐHP: 14-02- Mậu Tý (dl: 24-03-1943)

5. Bí Pháp Dâng Tam Bửu:

Tại sao Ðức Chí Tôn buộc tín đồ dâng Tam Bửu trong mỗi thời cúng Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu? Ðiều nầy có phải vì lợi ích cho Chí Tôn hay cho Phật Mẫu không? -Không, mà trái lại là hoàn toàn vì lợi ích cho Tín đồ, bởi vì đây là Bí Pháp giải thoát cho mỗi Tín đồ. Nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ nầy là Cơ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn, nếu: "Gặp Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi được". Bí Pháp đó là Ðức Chí Tôn biểu chúng ta dâng Tam Bửu: Thể xác- Chơn thần- Chơn Linh lên cho Ðức Ngài để lấy đó làm phương tiện PHỤNG SỰ VẠN LINH. Phụng sự vạn linh tức là phụng sự Trời.

Tại sao gọi đó là Bí Pháp? Bởi vì chính nó là phương cách giải thoát cho khỏi vòng Luân hồi để Linh hồn sau khi thoát xác được trở về hiệp nhứt cùng Ðức Chí Tôn nơi cõi thiêng liêng, tức là đắc Đạo vậy. Ðức Hộ Pháp thuyết đạo có giải thích như sau: "Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều; từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Ðền Thánh kêu Ðức Chí Tôn, kêu Tam Giáo và các Ðấng Thiêng liêng mà phân chứng trước: Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến cho Ðức Chí Tôn, làm tôi tớ cho Vạn linh, thay thế cho Ðức Chí Tôn. Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội mà chúng ta không làm điều gì thêm nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thế gì định tội được. Ðức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát". Tuy nhiên sự tu hành phải hiểu rõ lời Ðức Chí Tôn dạy: "Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Ðạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả, thì chỉ có một điều PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 101)

Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn cấm hẳn lối tu "Ðộc thiện kỳ thân". Vì lối tu này đã qua thời kỳ rồi, không thể lo riêng cho mình nữa. Vì Đạo Cao Đài là Đại-Đồng nhơn loại. Thể pháp và Bí pháp của Ðạo Cao Ðài đều đặt việc PHỤNG SỰ VẠN LINH là trên hết. Do đó, Bí pháp Luyện đạo trong Tịnh Thất chỉ là phần đặc biệt dành cho những Tín đồ đã đầy đủ công quả Phụng Sự Vạn Linh mà còn sức khỏe mới Tịnh luyện.

Tóm lại, Ðức Chí Tôn buộc chúng ta dâng Tam Bửu cho Ngài là vì Ngài muốn chúng ta thay thế Ngài mà lo "Hoằng khai Ðại Ðạo, Phổ Ðộ chúng sanh", tức là lo Phụng Sự Vạn Linh, bởi vì đó là Bí pháp đắc đạo để chúng ta trở về hội hiệp cùng Ðức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

6. Nghi thức và Tinh thần Tam bửu:

Nay, trong cửa Đại-Đạo chỉ dùng ba bài dâng Tam bửu mới được soạn do Ngài Bảo Văn Pháp Quân và ghi rõ: Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung.

Mỗi khi cúng Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng Thiêng liêng, chúng ta phải dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu, dâng Bửu nào thì thài bài Kinh của Bửu ấy theo giọng Ðảo Ngũ Cung và cầu nguyện cũng theo Bửu đó.

*Khi dâng HOA thì thài bài dâng Hoa, nguyện dâng Thể xác.

*Khi dâng Rượu, thài bài Dâng Rượu, nguyện dâng Chơn thần.

*Khi dâng Trà, thài bài Dâng Trà, nguyện dâng Linh hồn.

Thài là gì? - là ngâm từng chữ của bài Kinh với giọng ngân thật dài theo giọng của điệu Cổ nhạc Ðảo Ngũ Cung. Khi cúng Ðại đàn Ðức Chí Tôn tại Thánh Thất hay khi cúng Ðại đàn Ðức Phật Mẫu tại Ðiện Thờ, đồng nhi thài ba bài Dâng Tam Bửu, thì Lễ sĩ lần lượt điện dâng lễ phẩm, bước đi theo hình chữ Tâm [心] từ Ngoại nghi vào Nội nghi: Lần thứ nhứt: dâng Hoa và Quả; lần thứ nhì: dâng Rượu và Bình rượu; lần thứ ba: dâng Trà và Bình trà. Ðảo Ngũ Cung: là điệu nhạc cổ, nhịp đi rất chậm, để đồng nhi cất giọng thài theo.

6.1. Dâng Tam Bửu lên Đức Chí-Tôn:

Người Tín hữu sùng thượng Đức Thượng-Đế bằng cách dâng Tam-Bửu cho Người, đó là dùng các vật làm biểu tượng:

- Bông tượng trưng cho xác thân, ấy là TINH

- Rượu tượng trưng cho Trí não, ấy là KHÍ

- Trà tượng trưng cho linh hồn, ấy là THẦN.

TINH- KHÍ- THẦN gọi là Tam bửu, tức là ba món quí báu nhứt của con người.

Còn ở thời Tiền khai Đại-Đạo thì Đức Chí-Tôn chọn "lương sanh để cứu vớt quần sanh" ấy là ba vị: CƯ, TẮC, SANG tiêu biểu cho "Tý- Sửu- Dần" ấy cũng là "Tam ngôi nhứt thể" là Tam bửu đó vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Trọng giá của TAM-BỬU mà CHÍ TÔN ưa chuộng để dâng Đại Lễ cho Ngài là nguyên-nhân chấm dứt cái hoạ tranh thù đã gây nên trường oan-nghiệt cho toàn thế giới". Ngày hôm nay Đức Chí-Tôn đến, Ngài biểu chúng ta dâng cho Ngài ba món gọi là Tam bửu là: Tinh- Khí - Thần. Ngài thể nó là Bông, là Rượu, là Trà".

Bên cạnh chung Trà còn có chung nước Trắng tượng Nhị Khí Âm Dương.

Rượu là Khí phải đủ ba ly. Ba ly rượu cùng một nguyên lý giữa con người với trời đất thể hiện cơ định vị là ba Nguơn Khí của Thiên- Địa- Nhơn.

Vậy các số 3, 2 cũng là Càn Khôn định vị. Càn ☰ 3 nét liền, khôn ☷ 6 nét đứt, tức nhiên Khôn gấp 2 lần Càn, gọi đó là Tam Thiên Lưỡng địa. Nói đúng hơn là "Tham Thiên lưỡng địa". Vì chỉ có con người mới dự vào chuyện của trời đất mà thôi (Tam là có thể chia lìa. Tham là không thể chia lìa được. Cũng như nhị nghĩa là hai có thể chia lìa; còn Lưỡng cũng là hai, nhưng không thể chia lìa, như Lưỡng mục, lưỡng địa…).

Lễ dâng Rượu phải đúng Tý và Ngọ, bởi hai thời đó là nguơn Khí của trời đất hưng vượng.

Trà dâng phải thời Mẹo và thời Dậu, bởi hai thời đó là nguơn Thần của trời đất hưng vượng.

Như vậy Trời Đất cũng có đủ Tinh- Khí- Thần.

Ba nguơn khí của Phật- Pháp -Tăng ở ba ngôi: nhứt là Thái Cực, nhì Lưỡng Nghi, tam là Tam Tài.

Rượu cúng 3 ly, mỗi ly 3 phân, cộng lại cũng là 9. Trừ khi Lễ điện 9 phân vì có một ly.

Trà cúng mỗi chung 8 phân, tượng thể con số Bát Quái hai ngôi ở lý âm dương lưỡng hiệp tức là Thần. Hay nói rõ hơn Đạo Cao-Đài ngày nay Đức Chí-Tôn ban cho hai Bát Quái nữa là mở ra con đường Thiên Đạo, tức là đường về Trời: ấy là Bát Quái Đồ Thiên (Thể pháp Thiên Đạo) và Bát Quái Hư vô (Bí pháp Thiên Đạo). Bởi Chí Tôn có Bát Quái, Phật Mẫu có Bát Cảnh Cung. Người tùng theo Đại Đạo thể hiện Bát Chánh Đạo.

Phần Hoa tiêu biểu cho nguơn Tinh, tức hình thể của phẩm tối linh, phải tốt đẹp thơm tho mới đem ra hiến lễ cho hai Đấng Tạo Đoan. Vì con người ảnh hưởng pháp giới tạo đoan trong tiểu thể thiên địa cũng giống như đại thể, do Ngũ khí biến Ngũ hành, cõi đất sanh Ngũ sắc, dầu nơi mặt thế, người hay vật cũng chia ra có 5 màu, nên sự hiến lễ thể hiện phần nguơn Tinh của chúng sinh, với lý đạo thài năm sắc hoa tươi là vậy. Ngũ quả cũng như thế, ấy là tượng cho Tiên Thiên Ngũ Khí và Hậu Thiên Ngũ hành.

Hay nói rõ hơn ba ly Rượu trên Thiên bàn ghi là 6-7- 8 tức nhiên Rượu tượng Khí, cũng như Diêu-Trì Cung vậy: Đấng đến trước trong cơ Đạo là Thất Nương, Bát Nương, Lục nương. Cũng là ba con số 6-7-8. Nếu cộng lại sẽ là 21 chia đều cho 3 là 7. Như vậy số 7 là chánh trung, nên Thất Nương đến trước nhất để "Khêu đuốc Đạo đầu" Số 7 hợp với lý Thái cực sẽ thành 8 là hình ảnh của "Bát Nương thật Đấng Chí-linh" đó vậy. Nên "Bát Nương thật Đấng Chí Linh" Hai Tiên Nương này đều ở Đông phương. Bây giờ thêm "Lục Nương phất phướn truy hồn". Bởi Lục Nương gốc là người nước Pháp, là Tây phương, là Thánh Nữ Janne d’Arc. Để trong nguơn hội này thể hiện Đông Tây hoà hiệp trong tinh thần Tôn giáo Đại-Đồng.

Loài người là phẩm tối linh để đại diện cho chúng sanh, nên trong giờ hiến lễ, coi như nguơn Khí của Vạn linh được hiệp cùng Đấng Chí linh. Đạo Cao Đài rất chú trọng lễ dâng Tam Bửu.

Dâng Tam Bửu mỗi Bửu 3 lạy, mỗi lạy 4 gật cộng thành 12 mỗi lần lạy, như vậy tính chung ba lần là 36 (12x3=36), tổng hai chữ số là 9 (3+6=9), đó để làm con số định vị của ngôi Dương, Từ khởi thỉ đến chung kết phải giữ đúng lý số của cơ huyền nhiệm, nên sự hành lễ của Tôn Giáo Cao Đài biểu tượng pháp-giới tạo đoan có liên quan cùng pháp giới chúng sanh trong Tứ thời hành lễ.

Khi cúng Tứ thời: về niệm danh Đức Cao Đài trong bốn bài: 1-Niệm hương, 2-Ngọc Hoàng Kinh, 3- Dâng một Bửu, 4-Ngũ nguyện. Mỗi bài lạy ba lạy, mỗi lạy 4 gật, tổng số là: 4 (bài) x 3 (lạy) x 4 (gật) = 48 (4+8=12) tổng hai chữ số là 12, con số Khai Thiên.

Như vậy, khởi thỉ bằng bài Niệm hương 3 lạy, 4 gật (12), chung kết cũng con số 12 thì mới đúng pháp. Danh Thầy có 12 chữ, mỗi lạy 4 gật thành 48 chữ, tổng hai chữ số cũng 12.

Về Lễ Cúng Đại Đàn, niệm danh Thầy trong 7 lần như:

1 Niệm hương, 1 Bài Ngọc Hoàng Kinh, 3 bài Dâng Tam Bửu 1 Thượng sớ, 1 bài Ngũ nguyện. Mỗi lần lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, tổng số là: 7 (lần) x 3 (lạy) x 4 (gật) = 84 tổng hai chữ số vẫn là 12, đó là con số "Nhứt bổn tán vạn thù, Vạn thù qui nhứt bổn", mới là lý số của đạo pháp biến dịch, chớ dâng đủ Tam Bửu mà mỗi Bửu có 4 lạy (kể cả lạy và gật) thì mất hết 24 lạy chỉ còn có 60 lạy, tức nhiên con số chung kết không trở lại chỗ khởi thỉ là số 12.

Luận về triết ta phải có cái nhìn quán triệt hai chiều. Triết có nghĩa là triệt cùng một vấn đề nếu triệt thượng luận về vũ trụ, còn triệt hạ thì diễn tả ở sự vật. Nhưng cũng đồng nhất cái lý tạo đoan chỗ khởi thỉ.

Khí Hư vô còn trong thời hỗn độn mới biến ra ngôi Thái Cực, nên phần tượng lý Âm trước dương, có nghĩa là "Đạo sanh nhứt, Nhứt sanh nhị, Nhị sanh tam" là Âm sanh Dương, đó là khối sanh khí của nguơn vô thỉ, chừng khởi thỉ tạo Càn Khôn Thế Giới rồi do cơ định vị của tạo đoan biến ra pháp giới chúng sanh mới định danh thì Thiên trước Địa.

Bởi "Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch" là nguơn Tinh, nên buổi Tam Kỳ Đức Lý Đại-Tiên kiêm nhiệm Giáo Tông, cầm quyền chuyển thế vừa sửa trị, vừa định vị cho Thánh Thể của Đức Chí Tôn. Trong nguơn bảo tồn dầu ở chơn trời gốc bể cũng có Bàn-Trị-sự là Hội Thánh Em thay hình thể cơ tận độ của Thầy. Đạo tượng Lý Thái cực do cung Càn biến suất dưới một vạch ngang hai vạch chỏi lên thành hình tam giác mọi vật thể cực lớn từ hữu hình lẫn vô hình chẳng lọt ra ngoài, còn cực nhỏ ví như hạt nguyên tử cũng khó ẩn được bên trong. Với cái không không là Vô cực, giữa thái cực và vô cực Đức Thái Thượng và Đức Hộ Pháp là đầu mối trung hòa lưỡng cực, nhờ đó mà tạo thành khối điển lực sanh quang cho Càn Khôn Thế Giới, vì thế mà Tôn giáo vẫn quí ba ngôi báu của trời đất là vậy:

Người tu theo Phật hằng niệm Phật- Pháp- Tăng:

- Tâm biết thọ giáo là qui y Phật,.

- Tánh biết giữ giới trì trai là qui y Pháp.

- Thân biết hành thiện là qui y Tăng.

Triết lý của Đức Chí Tôn đối với con người từ thể xác đến linh hồn, thì Phật là tượng lý, Pháp là định vị, Tăng là phát huy chơn tướng của Đạo, nhờ đó mà xây dựng nên nền chánh giáo phổ truyền.

6.2. Giữa Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát quái:

Kỉnh Phật hay các Đấng đều xá ba xá là bởi chúng ta ngưỡng vọng cái lý Tam Tài: Thiên- Địa- Nhân.

Kỉnh Pháp xá một xá là chân lý vạn pháp qui nhứt.

Kỉnh Tăng cũng xá một xá bởi nhứt thiết chúng sanh nhứt điểm linh.

- Khi xá chí trán kỉnh Thiên

- Xá chí đơn điền kỉnh Địa.

- Xá chí ngực kỉnh Nhân.

Nhân tức tâm, tâm tức thiên, "thiên giả ngã dã", còn xá với phép định vị là Thiên- Địa- Nhân hay Tinh, Khí, Thần.

- TăngTinh, phần sanh hóa.

- PhápKhí, lý trưởng dưỡng.

- PhậtThần, tức là cơ an định.

Đối với người tu hằng niệm Phật- Pháp- Tăng coi như hằng kỉnh trọng các Đấng Thiêng liêng vậy.

- Hễ kỉnh Phật thì xá vô.

- Kỉnh Pháp thì xá ra.

- Kỉnh Tăng thì xá ngang tức mỗi người chúng ta tạo nơi đàn nội một pháp Tứ Tượng: "nhứt âm nhứt dương chi vị Đạo"đối cùng trời đất, nhờ đó mà biến sanh vạn vật.

Xá Tăng là xá cái nguyên lý về cơ sáng tạo ở cõi vô hình trước kia, cũng như ở mặt hữu vi, nhờ sự khởi thỉ mới có chỗ để cho chúng ta sùng bái, tức nhiên phải kỉnh Tăng, trước cũng như sau: vô thì chào, ra thì kiếu, chớ không phải xá đối tượng giữa Nam và Nữ.

Còn luận về Phật pháp, từ vô thỉ đến khởi thỉ: Tăng là nguyên lý phát khởi Càn Khôn đó là cơ mầu Nhơn đạo của Đức Chí Tôn, vừa phân hóa vừa phân quyền định vị mỗi vật thể, mỗi chơn hồn với bản năng sanh tồn tự hữu, nhờ Tăng mà phát huy cơ tạo đoan cùng chân lý đạo, nên người tu đắc Pháp rồi mới đắc Phật.

Ý nghĩa lạy tiêu biểu lý phục nguyên:

Thiên- Nhân- Địa, thấy rõ con người chúng ta là pháp trung hoà giữa Thiên và Địa, nên khởi lạy trước đem cái điểm Dương của Thiên vào Tâm. Chừng ngước dậy đem cái điểm âm của địa lên, tức hệ thống dương của bản tâm đã đắc nhứt hình thành pháp Tứ Tượng ở con người, cũng như nơi đàn nội, lúc cất lên để lạy tiếp thể hiện Địa- Nhân- Thiên của mỗi Thừa trong chín phẩm với pháp Dục Tấn là Địa- Nhân-Thiên.

Riêng sự bái lễ Đức Phật Mẫu không lấy dấu Phật- Pháp- Tăng nhưng thể hiện trong câu niệm:

- Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu, là Phật,

- Nam mô Cửu Vị Tiên Nương, là Pháp,

- Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh, là Tăng.

Ngọc Hư là Thiên điều, còn Cung Diêu Trì là pháp giới, do nguyên lý đó nên Tôn giáo Cao Đài đem luật áp dụng ở mặt điều hành về pháp cốt yếu để giữ thăng bằng cho cơ Đạo. Dầu Tín đồ dĩ chí Thiên phong muốn tạo công lập vị phải đi trong khuôn luật Cửu Trùng Đài, còn Hiệp Thiên Đài lẽ đương nhiên là pháp định vị.

Đạo giáo lập ra: có Phật rồi mới có Pháp. Phật Pháp hiệp lại mới sanh Tăng. Do đó ngôi luật của Đức Chí Tôn nắm quyền là Phật, chủ cả Pháp và Tăng.

Kinh Di-Lạc rằng:

"…Tùng lịnh Nhiên đăng Cổ Phật, dẫn độ chơn linh đắc pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị,…"

Tức nhiên, người tu biết tùng khuôn luật của Đạo do sự tìm tàng, cốt đạt cho được chơn lý là đắc Pháp, rồi gắng trau dồi thân tâm, trụ được chơn tánh là đắc Phật, lúc nhập định xuất thần được gần gũi với các Đấng để học hỏi gọi là đắc Duyên, nhờ đó mở đươc con mắt thứ ba, giữa nơi trán là cái cửa của tâm linh. Với cái nhìn quán thông căn cơ của mình chỗ bản lai diện mục là đắc Vị.

Ở cơ Tạo đoan có Phật, Pháp rồi mới có Tăng. Dầu những Đấng thay trời lập giáo cũng không ngoài chân lý:

Khổng Thánh dạy chúng sanh tu thân giữ điều nhân với phép tồn tâm, "Trung Dung Khổng Thánh chỉ rành".

Thái Thượng dạy lập đức để tu mệnh làm phương dưỡng tánh. "Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh".

Thích Ca dạy về linh hồn có luân hồi quả báo. "Từ bi Phật dặn lòng thành, lòng nhơn".

Trong Tam Giáo: Phật là Thần, Tiên là Khí, Thánh là Tinh. Con người phải đủ Tinh - Khí -Thần. Đó là triết lý của Tam Giáo. Trong con người chúng ta phải có đủ ba giáo: Phật là linh hồn, Tiên là chơn thần, Thánh là xác thân.

"Trong Tam giáo có lời khuyến dạy:
"Gốc bởi lòng làm phải làm lành"

6.3. Tại sao Hành Chánh, Phước Thiện hai bên thực hiện nghi lễ cúng đàn dâng Tam Bửu cho Đức Chí Tôn cùng ĐứcPhật Mẫu, sự bái lễ không giống nhau?

Trước kia Đức Hộ Pháp đã dạy Lễ viện Đền Thánh cũng như Báo Ân Từ đều bái lễ như nhau khi dâng Tam Bửu. Về sau, đàn anh chúng ta, có thỉnh ý Hội Thánh xin sửa đổi về cách lạy, có khác ở pháp số.

Đầu năm Đinh Hợi (1947) ông Giáo sư Ngọc Ninh Thanh người thâm Nho-học được bổ nhiệm nắm quyền Thượng Thống Lễ Viện Cửu Trùng Đài, mới đề nghị cùng Hội Thánh về cách bái lễ khi dâng Tam Bửu như sau: trường hợp dâng một Bửu thì lạy ba lạy (mỗi lạy bốn gật), còn dâng đủ ba Bửu thì mỗi Bửu lạy một lạy, mỗi lạy bốn gật, để khi dâng một Bửu hay ba Bửu thì cũng giữ đủ mười hai lạy cho đúng số 12 của Thầy, đề nghị này được Hội Thánh đồng ý ra Châu tri ban hành nhưng tài liệu đó đã bị thất lạc.

Tương tự, ngày 18-8-Mậu Dần (dl:10-10-1938), Hội Thánh ra Châu Tri số 61, do ba vị cầm quyền Chánh Phối Sư ký, là:

1- Giáo sư Thái Phấn Thanh
2- Giáo sư Thượng Chữ Thanh
3- Phối sư Ngọc Trọng Thanh.

trong đó điều 5 qui định về lạy từ Bàn Trị Sự đổ xuống:

"Chánh Trị Sự đổ xuống Tín đố lạy bốn lạy".

Như vậy kể như mất hết hai phẩm Nhơn Thần (Bàn Trị Sự) và Địa Thần (Tín đồ giữ đủ trai giới 10 ngày đổ lên) trong Cửu phẩm Thần Tiên, theo Thánh ngôn của Thầy đã dạy:

"Lạy Thần, Thánh ba lạy, lạy vong phàm bốn lạy". Vong phàm là thân nhân chúng ta chưa biết Đạo hoặc những tín đồ bị Hội Thánh trục xuất, hay không giữ đủ trai giới... Cả hai Châu Tri đều được Đức Hộ Pháp phê chuẩn. Nhưng thiết nghĩ do Đức Ngài vẫn trọng cái chủ quyền của Hội Thánh là hình thể Đức Chí Tôn nên chấp thuận vì đủ ba ấn ký. Kể hai văn bản đó có đủ quyền Chí Linh, nếu có quyền Vạn linh cầu xin thì quyền Chí Linh sẽ cứu xét cho. Bởi vị Chánh Trị Sự là Đầu Sư em, Phó Trị Sự là Giáo Tông em, Thông Sự là Hộ Pháp em, xem đó là vong phàm thì làm sao điều hành phận sự của Hội Thánh Em đặng, vì hai phẩm chót của Hạ thừa: Chức việc là Thần của người (nhơn Thần), Tín đồ là thần của đất (địa Thần) phải cúng triêu tịch không điện Tam bửu chớ nơi bàn linh có đủ để biểu tượng Tinh- Khí - Thần cho người tu.

Với lý Đạo có Tinh - Khí mà thiếu Thần mất cơ an định, có Thần mà không Tinh -Khí khó huờn được đệ nhị xác thân. Về phép tu phải hiệp đủ Tam Bửu mới đắc vị.

Nên lạy Tam tài thể hiện nguyên lý của ba ngôi:

- Trời có Nhựt - Nguyệt - Tinh,

- Đất có Thủy- Hỏa- Phong,

- Người có Tinh- Khí- Thần ý nghĩa là vậy.

Trường hợp trong thời cúng thường ngày, nếu hiến lễ Thầy một bửu thì lạy ba lạy, còn ba bửu thì lạy mỗi bửu một lạy để giữ đươc con số 12 của lý Khai Thiên như Ông Giáo sư Ngọc Ninh Thanh hướng dẫn. Nhưng như thế sẽ mất con số biến dịch của đạo pháp về Tam Thập Lục Thiên.

Trong Tứ Thời Xưng Tụng Tam Giáo Tâm Kinh: khi dứt mỗi bài kinh, lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật. Lạy mỗi vị 9 lạy (kể cả lạy và gật), ba bài kinh có 27 lạy, cộng hai chữ số là 9. Danh mỗi vị trong Tam Giáo gồm 12 chữ. Mỗi lạy 3 gật, mỗi lần niệm 12 chữ, ba lần niệm 36 chữ, 3 với 6 là 9, đó là pháp định vị cho 3 ngôi Tinh-Khí-Thần.

- Phật là Thần,

- Tiên là Khí,

- Thánh là Tinh.

Khi cúng Tứ thời nơi Báo Ân Từ, về niệm danh Đức Diêu Trì Kim Mẫu trong 5 bài: Niệm hương, Phật Mẫu Chơn Kinh, Tán Tụng Công Đức Diêu-Trì Kim-Mẫu, dâng một Bửu, Ngũ nguyện, mỗi bài lạy ba lạy, mỗi lạy 3 gật, tổng số là: 5 (bài) x 3 (lạy) x 3 (gật) = 45, tổng hai chữ số là 9, biểu tượng cho Cửu Thiên Khai Hóa.

Trường hợp cúng Đàn thì dâng đủ Tam Bửu, có thượng sớ, bớt bài Tán Tụng Công Đức Đức Diêu-Trì Kim-Mẫu, tính ra là 7 bài (bớt một bài, thêm ba bài). Mỗi bài lạy 9 lạy (kể cả lạy và gật), 7 bài 63 lạy, tổng hai chữ số là 9. Đó là pháp định vị cho Càn Khôn ở con số Cửu, Nên: Cơ khởi thỉ tạo nhơn loại cũng thế, Đức Thượng Đế là Chúa Trời lấy đất nặn hình rồi hà sanh khí vào liền có sự sống đó là ông ADAM. Chúa Trời bèn lấy cọng sườn của ông A-Dông, là hệ thống ngang thuộc Âm của ngôi dương là xương sống ở hệ dọc, lấy đó mà tạo ra bà Ê-Va thì nữ phải tùng nam, nam nữ thể hiện lý âm dương của chí linh ở trong vạn linh để bảo tồn cơ sanh hóa.

Vì đó mà đạo vợ chồng kể như một xác thịt, một linh hồn. Nên kỳ ba Đức Chúa Trời đến cũng nhắc lại, đó là Đức Chí Tôn nói lên trong giờ hành Pháp Hôn Phối trong bài thi tứ hôn ở câu "Mãn thế bất ly thể dữ hồn", có nghĩa là đôi vợ chồng trọn đời xác thịt với linh hồn chẳng rời nhau, thảng như sự để, bỏ, không có điều kiện thích đáng, coi như mình phạm Thiên điều vậy.

 

 

DẪN ĐỘ

引渡
E: To guide and to help
F: Guider et secourir.

Dìu dắt để đưa một nơi thanh thản hơn, tốt đẹp hơn.

Đức Hộ-Pháp nói: "Chính thời kỳ này Đức Cao-Đài giáng thế mở Đạo mà quyền hữu hình thì giao cho Phật-Mẫu dẫn độ: Giờ phút này Đức Chí-Tôn quyết định tận độ con cái của Ngài thay vì Bí-pháp ấy độ con cái của Ngài về nơi Kim Bàn Phật-Mẫu đặng hưởng đặc ân thiêng liêng của Đức Chí Tôn. Đức Chí-Tôn buộc Phật-Mẫu phải đến tại thế gian này để Bí pháp Hội-Yến Diêu-Trì tại cửa Đạo này cho con cái của Ngài giải thoát ấy là một Bí-pháp thiêng liêng duy có tay Ngài định pháp ấy mới đặng. Hôm nay là ngày Phật-Mẫu đem Bí pháp đặng giải thoát cho chúng sanh, tận độ toàn vạn linh sanh chúng. Ngài để tại mặt thế này trong cửa Đạo Cao-Đài này mà thôi".

 

 

DẪN GIẢI

解 引
E: To explain and to comment.
F: Expliquer et commenter.

Dẫn: Đưa đường, chỉ bảo cho biết. Giải: cắt nghĩa cho rõ ra. Dẫn giải là dẫn dắt và cắt nghĩa cho biết rõ.

 

 

DẤP DÍNH

Kinh Sám Hối có câu:

"Sống dương-thế hành thì căn bịnh,
"Xui tai-nàn dấp-dính theo mình."

 

 

DẬP DÌU

F: être en foule

Thi văn dạy Đạo có câu:

Trở chơn ít kẻ lo đi ngược,
Bước đọa xem qua dấu dập dìu.

 

 

DẬP DỒN

Kinh Sám Hối có câu:

"Việc sanh tử như đường chớp nhoáng,
"Bóng quang âm ngày tháng dập dồn."

 

 

DÂY OAN NGHIỆT

E: The bond of animosity.
F: Les liens karmiques.

Dây oan nghiệt: Dây oan cũng chính là sợi dây oan nghiệt do oán thù và những mầm ác mà con người sống ở thế gian đã gây ra, tạo thành những sợi dây vô hình ràng buộc lẫn nhau, trở thành oan gia trái chủ.

Những hành động hung tàn bạo ngược và những việc làm ác đức của con người nơi thế gian này sẽ tạo thành những sợi dây oan nghiệt, có khả năng lôi kéo các Chơn linh phải chìm đắm vào luân hồi sinh tử. Như vậy, tức là con người luôn tự mình se dây để tự trói chặt vào mình mà không hay. Sợi dây oan nghiệt đó xây chuyển từ muôn đời ngàn kiếp trong cái vòng lẩn quẩn không bao giờ thoát ra nỗi. Chúng sanh may duyên gặp thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn và Phật Mẫu khai nền Đại Đạo hầu mở Cơ Tận độ, nên trao cho "Bí Pháp Giải Oan" để giải thoát con người khỏi những sợi dây oan nghiệt đó.

Kinh Tẫn liệm có câu:

"Dây oan-nghiệt dứt rời trái-chủ,
"Nương huyền-linh sạch giũ thất-tình."

 

 

DÂY SẮC LỊNH

E: A three coloured sash of commander.
F: Une écharpe tricolore de commandement.

Sắc: Chiếu chỉ của vua ban ra. Lịnh: Mệnh lệnh. Dây Sắc lịnh là một cái băng vải có 3 màu đạo (vàng, xanh, đỏ) theo chiều dọc, buộc ngang bụng của chư Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài khi mặc Đạo phục chầu lễ Đức Chí Tôn hay khi cầm quyền hành chánh.

Dây Sắc lịnh nầy do Đức Lý Giáo Tông ban cho Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài từ Thập nhị Thời Quân đổ lên để tỏ cho biết là đang hành chánh với trách nhiệm lớn và quyền hành lớn.

Đức Lý Giáo Tông buộc cả Chức sắc Thiên phong và tín đồ, hễ mỗi khi Chức sắc Hiệp Thiên Ðài mang Dây Sắc lịnh vào mình mà hành chánh nơi nào thì cả thảy đều phải tuân mạng, dầu lỗi hay phải gì cũng phải tùng theo, chỉ có Hội Thánh mới có quyền định đoạt mà thôi.

Dây Sắc lịnh may bằng vải gồm 3 màu vàng, xanh, đỏ kết lại theo chiều dọc làm như 3 sọc, tượng trưng quyền chưởng quản Tam giáo, nắm Thể pháp và Bí pháp trong tay.

Chức sắc Thời Quân chi Pháp thì mối cột Dây Sắc lịnh đặt giữa bụng, Thời Quân chi Đạo thì mối cột đặt bên hông mặt, Thời Quân chi Thế thì mối cột đặt bên hông trái.

Khi một Chức sắc Hiệp Thiên Ðài hay Cửu Trùng Ðài dưới Thập Nhị Thời Quân lãnh lịnh Hiệp Thiên Ðài thi hành một công việc Đạo quan trọng thì được Đức Hộ Pháp ban cho Dây Sắc lịnh để ủy nhiệm toàn quyền hành sự trong phạm vi trách nhiệm, buộc phải minh thệ chí công vô tư, và buộc toàn cả Chức sắc và tín đồ phải tùng mạng lịnh vị đó, xem vị đó là Đại diện của Hiệp Thiên Ðài. Khi thi hành nhiệm vụ xong, Chức sắc đó phải trả Dây Sắc lịnh lại Hiệp Thiên Ðài.

Trong quyển sách Chánh Trị Đạo của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa xuất bản năm Giáp Dần (1974), trang 68, Ngài có giải về quyền năng của Dây Sắc lịnh, chép ra như sau đây:

Trong Pháp Chánh Truyền, Đức Chí Tôn có nói: "Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành đạo. Thầy cho các con biết trước rằng: Hễ trọng quyền thì ắt có trọng phạt.

Vì lời khuyên ấy mà Đức Lý Giáo Tông buộc cả Chức sắc Hiệp Thiên Ðài phải minh thệ giữa Hội Thánh: Giữ dạ vô tư mà hành sự. Lại muốn tỏ ra rằng: Chức sắc Hiệp Thiên Ðài thật trọng quyền, Ngài mới ban cho Dây Sắc lịnh."

Dưới đây là sao lục lại lời của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa giải đáp về Dây Sắc lịnh (thơ số 1421/PC) đáp hồi thơ số 47 ngày 23-9-Mậu Tý (dl 25-10-1948) của Thừa Sử Nguyễn Huợt Hải, Pháp Chánh Kim Biên:

1. Về quyền năng thiêng liêng: Người được Hiệp Thiên Ðài ban Dây Sắc lịnh là người đại diện của Đức Hộ Pháp trong khi hành sự, quyền hành y như Hộ Pháp khi thi hành mạng lịnh của Hộ Pháp. Dây Sắc lịnh là tướng diện của luật pháp, chẳng một quyền nào tương đối lại đặng. Khi hành pháp, thảng như quá quyền thì người đại diện đó mang trọng tội là lợi dụng hay là phỉ nhục Hộ Pháp.

2. Quyền hành hữu hình: Cả cơ quan hữu vi của Đạo, dầu trọng dầu khinh, đều phải cúi đầu vâng phục người thay mặt cho Thiên điều tại thế, tổng hợp cả quyền Tam giáo nơi mình đặng thi hành luật pháp.

Vì quyền hạn của Chức sắc Hiệp Thiên Ðài, dầu thượng cấp, dầu hạ cấp, hễ Hộ Pháp ban cho tới đâu, hành quyền tới đó, nó không có giới hạn định chắc cao hay thấp.

▪ Chúng ta cũng cần lưu ý rằng trong bộ Đạo phục của Chức sắc Cơ Quan Phước Thiện, cái băng vải có một màu: đỏ, xanh hoặc vàng, choàng từ vai trái xuống hông mặt cũng được gọi là Dây Sắc lịnh. Trên Dây Sắc lịnh có gắn khuê bài mang phẩm cấp của Chức sắc đó.

Trường hợp nầy, Dây Sắc lịnh của Chức sắc Cơ Quan Phước Thiện không mang ý nghĩa như Dây Sắc lịnh của Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài như vừa trình bày bên trên.

(Thiết nghĩ cái băng màu đỏ, xanh, hoặc vàng trong Đạo phục của Chức sắc Cơ Quan Phước Thiện, không nên gọi là Dây Sắc lịnh, để tránh trùng tên với Dây Sắc Lịnh của Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài, mà nên gọi bằng một danh từ khác, thí dụ như gọi là: Dây Đạo lịnh).

 

 

DẤY ĐỘNG

F: se lever.

Ngày 06 tháng Giêng Đinh Hợi (1947) lễ rước Quả Càn Khôn tạm thờ nơi Báo Ân Từ về Đền Thánh. Đức Hộ Pháp hành pháp trấn Thần An Vị. Khi đến Ngai Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, Đức Ngài thuyết minh tiên tri ngày về của người đứng đầu chi Thế:

"E sau nầy Hộ Pháp xuất ngoại, Thượng Sanh về ngự nơi đuôi (ngôi Thượng Sanh trên đuôi Thất đầu xà), thì thất tình lục dục tự do dấy động, cái loạn không phương kềm chế. Ngày Hộ Pháp trấn lại trên Ngai, mới êm tịnh Đạo Đời, lập lại tháng Thuấn ngày Nghiêu, hưởng thuần phong mỹ tục".

 

 

DẪY XE TRÂU

E: The starting of the buffalo drawn carriage.
F: Le départ de la voiture à buffle.

Dẫy: cất lên, chồm mình khởi đi về phía trước. Xe trâu: chiếc xe có con trâu kéo đi. Dẫy xe trâu là chiếc xe trâu khởi bánh đi tới.

Đây là nói về sự tích Đức Lão Tử ngồi trên xe trâu, có Từ Giáp đánh xe, đi về phía Tây nước Tàu, đến ải Hàm Cốc thì gặp quan Doãn giữ ải tên Hỷ đón lại xin học đạo. Đức Lão Tử ở lại Hàm Cốc truyền đạo cho Doãn Hỷ, rồi lấy sách Đạo Đức Kinh tặng cho Doãn Hỷ, dặn tu theo đó thì đắc đạo. Sau đó, Đức Lão Tử tiếp tục đi về phía Tây, đến núi Côn Lôn.

Kinh khi về

"Dẫy xe trâu Côn-lôn trỗi bánh
"Lý Lão-quân mong lánh phong trần."

 

 

DE LAGARDE (Người Pháp)

Thượng Đế chữa sáng mắt cho ông De Lagarde một người Pháp chánh tông đang bị mù. Vào năm 1932 ông De Lagarde là Chánh sở Bưu điện ở Vientiane Thủ đô nước Lào (Laos) rất thích đi săn bắn. Một đêm nọ đi săn thú trong rừng chẳng may bị một nhánh cây quẹt vào đôi mắt khiến ông bị mù cả đôi mắt. Từ đây ông phải nghỉ việc làm trong ba năm chạy đủ Bác sĩ hay của các nước từ Lào, Cao Miên, Thái Lan, Bắc Việt và Nam Việt-Nam, nhưng bịnh mù vẫn không thuyên giảm. Ông De Lagarde có vợ là người miền Nam Việt Nam, vợ ông nghe đồn rằng tại Toà Thánh Cao-Đài Tây-Ninh có cầu Cơ được nhiều Đấng giáng Cơ cho thuốc trị bịnh rất huyền diệu. Ông De Lagarde được vợ ông đưa về Toà-Thánh để điều trị. Nhờ vào một sự tin tưởng tuyệt đối mà ông được Đức Thượng Đế trị cho ông khỏi được chứng mù loà. Nhờ đó mà ông tiếp tục công việc với chức Chánh Sở Bưu điện Hà Nội.

Buổi thuyết trình về Đạo Cao-Đài tại rạp hát Majestic có trên một ngàn khán giả trong chánh quyền Pháp– Việt tại Hà-Nội tham dự. Khai mạc buổi thuyết trình ông Abadie - Chánh-Lục-Sự Toà án Hà-nội lại mặc Đạo phục phẩm Giáo Hữu Thái-Abadie-Thanh của Hội Thánh Cao-Đài Toà-Thánh Tây-Ninh lên diễn đàn giới thiệu, Ngài Giáo-sư Thượng Bảy Thanh đại diện Hội Thánh Cao-Đài Toà-Thánh Tây-Ninh tại Thủ đô Hà nội. Đồng thời ông Giáo Hữu Abadie tiếp lời:

Tôi xin giới thiệu ông De Lagarde, người bị mù mắt nhờ ơn Đức Cao-Đài Thượng Đế chỉ dẫn cách điều trị và ông De Lagarde được sáng đôi mắt lại như xưa và ông đã tiếp tục làm việc lại tại sở Bưu điện Hà-Nội bây giờ.

Ông Gabriel Abadie liền nói tiếp: Tôi xin giới thiệu Ông De Lagarde với quí ông và quí bà để Ông De Lagarde lên xác nhận câu chuyện bị mù mắt của ông mà tôi vừa kể. Ông Gabriel Abadie liền mời ông De Lagarde lên diễn đàn và đưa tay ra dấu hiệu mời ông De Lagarde đang ngồi dưới hàng ghế với khán giả Pháp. Ông Gabriel Abadie long trọng mời ông De Lagarde, ông De Lagarde liền đứng dậy rời khỏi ghế từ từ lên diễn đàn với tràng pháo tay ầm-ĩ cả mấy phút mới trở lại yên lặng. Hình tướng ông De Lagarde không cao lắm, mảnh khảnh, đôi mắt sáng, nghiêng đầu chào quan khách Pháp, Việt với nụ cười hồn nhiên và dõng dạc qua giọng nói thâm trầm:

-Thưa quí Bà, quí ông, tôi là De Lagarde Chánh sở Bưu điện Vientian Lào (Laos). Trước kia, tôi xin long trọng xác nhận câu chuyện của Bạn tôi là ông Gabriel Abadie vừa kể là hoàn toàn đúng sự thật.

Tiếng vỗ tay hoan nghinh muốn vỡ rạp hát Majestic và hoan hô ông De Lagarde vừa chấm dứt thì ông tiếp tục trình bày thêm, bởi khán giả còn đang nôn nóng để nghe rõ câu chuyện điều trị về đôi mắt của ông khỏi bị mù loà mà sau ba năm chạy chữa khắp nơi.

Ông De Lagarde nói tiếp: Vả lại trong số cử toạ đang hiện diện hôm nay còn có nhiều người bạn thân của tôi nhứt là trong ngành Bưu điện Đông-Dương đã biết rõ về tai nạn xảy ra cho tôi trước đây ba năm và đã làm cho tôi phải nghỉ việc vì đôi mắt bị mù loà hoàn toàn. Hôm nay tôi được trở lại làm việc tại sở Bưu điện Hà-Nội vì đôi mắt tôi đã hết mù, nhờ đặc ân của Đức Chí-Tôn Cao Đài Thượng Đế đã cứu chữa cho tôi bằng một ít tro nhang hoà với nước Thánh.

Tiếng vỗ tay hoan hô tiếp tục nổi lên. Ông De Lagarde ngõ lời cám ơn và chào quí khán giả rồi rời khỏi diễn đàn trở về chỗ ngồi. Kế tiếp là ông Giáo Hữu Thái-Abadie-Thanh giới thiệu Ngài Giáo-sư Thượng Bảy Thanh một Chức sắc của Hội Thánh Cao-Đài Toà-Thánh Tây-Ninh vừa mới tới Hà Nội đảm nhận trách nhiệm truyền bá Đạo Cao Đài cách đây hai tháng. Ngài Giáo-Sư Thượng Bảy Thanh nói tiếng Pháp lưu loát, với giọng điệu người Pháp chánh tông từng ở tại Paris thu hút cả khán giả người Pháp Việt, nhứt là các bà Đầm (Pháp) hết lời khen ngợi người Việt nói tiếng Pháp hay quá! Ngài Giáo-sư Thượng-Bảy-Thanh xin cáo lỗi với quan khách xin được phép trình bày về Tôn giáo Cao-Đài bằng tiếng Việt, đã từng hành Đạo ở xứ Cao Miên (Cambodge) nhiều năm và hôm nay được Hội-Thánh Cao-Đài thuyên bổ ra Hà-Nội truyền giáo nên Ngài Giáo sư Thượng Bảy Thanh thuyết trình về Giáo lý Cao Đài rất thông suốt và có lớp lan, khán giả nghe rất dễ tiếp thu, nhất là chủ trương Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi để đưa nhân loại đến Đại Đồng Thế giới, biết nhìn nhau là con chung của Đức Thượng Đế, không phân biệt màu da sắc tóc, gây nhiều thiện cảm với Tôn giáo bạn. Vừa chấm dứt lời trình bày bằng tiếng Việt, Ngài Giáo sư Thượng Bảy Thanh liền tóm lược lời thuyết trình về Đạo Cao-Đài bằng tiếng Pháp với giọng nói người Pháp tại Paris. Cả quan khách hiện diện tại Hội trường đều thầm khen một người Việt là Chức sắc Cao-Đài nói tiếng Pháp chẳng kém người Pháp chánh cống đang thuyết trình về Đạo Cao-Đài. Cả quan khách Pháp Việt ngồi chật cả rạp hát Majestic vô cùng hân hoan theo dõi suốt buổi thuyết trình về Giáo lý Cao-Đài, một nền Tôn giáo vừa khai sáng trên đất nước Việt Nam vào năm 1926 và đây cũng là lần đầu tiên trên một ngàn khán giả Pháp Việt, thân hào nhân sĩ Bắc Hà được nghe tường tận về tôn chỉ Đạo Cao-Đài, một Tôn giáo do người Việt Nam làm chủ, không phải du nhập. Buổi thuyết trình về Giáo lý Cao-Đài do Ngài Giáo Sư Thượng-Bảy-Thánh làm chủ toạ tại rạp Majestic đêm 16-05-1937 (Đinh-Sửu) làm vang dội khắp cả Bắc Hà, tiếng đồn khắp cả các tỉnh gây sự chiếu cố của đồng bào miền Bắc Việt-Nam không ít. Vì thế đồng bào Bắc-Hà tự động đến Thánh Thất Cao-Đài xin nhập môn cầu Đạo càng ngày càng thêm đông đảo (Viết theo lời phỏng vấn của ông Phạm Cao Công Khánh từ Oregon về Việt Nam).

 

 

DÈM PHA (Gièm Pha)

F: DÉBINER, DÉNIGRER, MÉDIRE.

Đức Hộ-Pháp nói: "Tôi nhớ có một phen kẻ nghịch Đạo để lời dèm pha biếm-nhẻ rằng văn-từ của Thầy xem rất thường tình. Tôi chấp bút phân-phiền cùng Thầy. Thầy dạy rằng: "Con ôi! Trong anh em của con phần dốt nhiều hơn phần hay chữ, đứa ám-muội đông hơn đứa thông minh, Thầy đến chăm-nom dạy-dỗ đứa ngu-dốt hơn là đứa hay giỏi; thà là đứa sáng khôn quá hiểu mà chê Thầy hơn là đứa dốt nghe Đạo Thầy không rõ lý".

 

 

DÉP CỎ

E: The straw sandal.
F: La sandale en paille.

(Dép hay giày, guốc..là vật mang vào chân cho được sạch sẽ, nhưng ngày càng văn minh thì giày dép trở nên là món trang sức để tỏ rõ nét giàu sang phú quí, thanh lịch. Dép cỏ: Chữ Hán gọi Thảo hài, dịch là là giày hay dép cỏ, tức là giày dép làm bằng cỏ, loại rẻ tiền). Người tu hành chỉ nhắm vào mục đích giản dị, khiêm tốn, để tránh sự xa-hoa, lãng phí, chỉ cầu cho tâm thanh tịnh, nhàn lạc.

Thứ tư: 24-11-1926 (âl: 20-10-Bính Dần)

Thầy dạy: "Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế. Bởi bước Ðạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đỗi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quí, mê chữ vinh sang mà ngán Đạo. Các con hiểu, Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi. Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn".

 

 

DỄ DUÔI

E: To scorn, to disdain.
F: Mépriser, dédaigner.

Dể: Coi thường, khinh rẻ. Duôi: tiếng đệm. Dể duôi là khinh rẻ, coi thường.

Giới Tâm Kinh:

"May đặng làm người chớ dể duôi."

Kinh Sám Hối có câu:

"Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,
"Mà dể-duôi sanh biến lăng-loàn."

 

 

DI Quẻ 27. Quẻ Sơn Lôi Di

 

 

Quẻ 27. Quẻ Sơn Lôi Di 山 雷 頤

 

 

Tượng: Đức Thượng Phẩm Chi Đạo

Quẻ này là quẻ Sơn Lôi Di. Cấn thượng là ngoại Cấn, Chấn hạ là nội Chấn. Cấn vi Sơn, Chấn vi Lôi, nên tên quẻ đọc là Sơn Lôi DI.

Vì sao sao quẻ Đại-súc lại tiếp đến quẻ Di?

Vật đã súc tụ, chứa nhóm cho nhiều (Đại-súc) rồi sau mới có chỗ đi nuôi dưỡng, cho nên sau quẻ Đại-súc tiếp lấy quẻ Di. Chữ Di có hai nghĩa: Một nghĩa là nuôi, hay dưỡng; như dưỡng tâm dưỡng đức, dưỡng sinh. Lại một nghĩa là toàn bộ cằm miệng. Cấn tượng hàm trên là ngưng chỉ, Chấn là hàm dưới động để nghiến thức ăn nát ra, giữa là 4 hào Âm. Trên chỉ dưới động in như bộ miệng mép của người, nên thủ tượng là Di là miệng môi. Con ngưười dùng miệng để ăn mà nuôi sống thân mình, nên Di có nghĩa là nuôi dưỡng vậy.

Miệng là cái cửa xuất nhập đồ ăn để nuôi dưỡng thân xác được khoẻ mạnh cũng như mắt là cửa sổ của Linh-hồn, để ngắm nhìn, quan sát và học hỏi để nuôi dưỡng tinh-thần.Cả hai mắt và miệng là cặp âm dương không thể rời nhau được vì: "Một linh-hồn minh-mẫn ở trong một thể xác tráng kiện".

 

 

DI ĐÀ PHẬT

Đức Hộ Pháp giải Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống.

Bài 35. đêm 30 tháng 03 năm Kỷ-Sửu (27-04-1949):

"Bần-Đạo xin cả thảy đều để ý buổi thuyết-giảng hôm nay cho lắm, vì nó có Bí-Pháp đoạt Đạo trong ấy, phải để tâm hạng nhứt là nghe và nhớ, trụ cả đức-tin mình nơi Đức Chí-Tôn đặng đoạt cơ giải-thoát. Chúng ta tu chỉ mong có bao nhiêu đó, cần yếu tu là chắc đoạt được cơ quan giải-thoát mà thôi. Đêm nay Bần-Đạo rủ cả thảy: Vô Lôi-Âm-Tự cũng như Bần-Đạo đã đến trình diện với Đức Di-Đà: Bởi Đức Di-Đà đã giao quyền lại cho Đức Di-Lạc, giao quyền Chưởng-Quản Càn-Khôn Vũ Trụ, Đức Di-Lạc ngồi ngự nơi Kim-Tự-Tháp, còn Đức Di-Đà trở vào ngự nơi Lôi-Âm-Tự. Khi đến đó chỉ học các triết lý Phật-Giáo từ tạo thiên lập địa đến giờ. Cả triết lý ấy để tại mặt thế-gian này, duy nhơn sanh không có tu nên không có đoạt Pháp, không có điều gì bí ẩn cả. Phật-Giáo, cơ giải-thoát cũng để tại mặt thế gian này, từ Thượng-Cổ đến giờ chỉ có nền Phật Giáo tối cổ nhứt, một nền Tôn Giáo mẹ của các nền Tôn-Giáo khác, vào đây Bần-Đạo được nghe thấy thuyết-pháp của Đức Di-Đà nơi đó là nền Tôn-Giáo tối cổ của nhà Phật."

Kinh Tiểu Tường có câu:

"Vào Lôi Âm kiến A-Di,
"Bộ Công Di-Lạc Tam Kỳ độ sanh."

 

 

DI HÀI

遺 骸
E: The mortal remains.
F: Les dépouilles mortelles.

Đức Hộ Pháp tuyên bố tại phi trường Tân Sơn Nhứt ngày 12-10-1954 (năm Giáp Ngọ): "Đây là di hài của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, quí danh là Nguyễn Phúc Vân, Ngài là đích tôn của Đức Đông Cung Cảnh tức là Tông Chi Hoàng Tộc. Cả toàn thể Quốc Dân đều biết dĩ vãng của Ngài. Ngài đã hy sinh một đời sống lưu vong nơi đất khách, cốt theo đuổi một mục đích, là làm thế nào phục hồi vận mạng Tổ Quốc, độc lập thiệt hiện….Hôm nay, di hài của Ngài đã được đem về nước: Do đó khối anh linh của Ngài cũng cùng về hiệp với khối Quốc hồn của bốn ngàn năm lập quốc".

 

 

DI - HI - VI

夷 希 微

Ðây là một nguyên lý cố định. Theo Ðạo giáo thì tỉnh thức, Giác ngộ chính là trực chứng được sự trở về Ðạo của vạn vật. Ðạo cũng được mô tả là không thể xem bằng mắt, nghe bằng tai...là hình trạng của cái không hình trạng. Có điều nên lưu-ý là: tuy nói ĐẠO là vô-danh, vô hình, vô sắc, tức cái bản thể "không" nhưng cái bản thể "không" ấy chẳng phải trống rỗng, mà nó lại là "có" tức là cái "diệu-hữu" là năng-lực sanh hóa. Đạo-đức-kinh chương 14 nói rằng:

"Đạo có ba trạng thái là: Di, Hi, Vi.

- Xem mà không thấy, nên tên gọi là "DI" 夷.

- Lóng mà không nghe, nên tên gọi là "HI" 希

- Bắt mà không nắm bắt được, nên gọi là "VI" 微

DI, HI, VI là ba trạng-thái hỗn-hợp thành một bản thể. Cái bản thể ấy phía trên không phản chiếu ánh sáng, phía dưới không ẩn khuất bóng tối, vằng-vặc mà chẳng có tên rồi lại trở về chỗ không vật. Ba cái ấy không thể phân ra được, vì nó hỗn hợp làm Một. Ấy gọi là cái hình trạng không hình trạng, cái hình trạng của cái không có vật.... Giữ cái Đạo xưa để mà trị cái có của hiện nay. Biết được cái đầu mối của xưa, ấy gọi là nắm được giềng mối của Ðạo. Ðạo hiện hành một cách tự nhiên, hành động của Ðạo được diễn tả bằng "VÔ VI", là không làm nhưng cũng vì thế mà không có một việc gì bị bỏ qua "Bất hành nhi hành". Trong thế giới hiện hữu này thì người ta có thể suy ra được cái "thể" 體 của Ðạo qua cái "dụng" 用, cái "lực" 力 của nó, được gọi là Ðức 德. Ðạt được sự thống nhất với Ðạo là mục đích tối cao của các Ðạo gia. Trí hiểu biết thông thường không đủ để tiếp cận được Ðạo; hành giả phải tự trở thành một đơn vị với Ðức.

Thật ĐẠO là hình-trạng của cái vô-hình, là TƯỢNG của cái vô vật "Thị chi bất kiến, danh viết: Di; Thính chi bất văn, danh viết:Hi; Bác chi bất đắc, danh viết: Vi, thử tam giả bất khả trí cật, cố hỗn chi vi nhứt, Kỳ thượng bất kiếu, Kỳ hạ bất muội, thằng thằng bất khả danh, Phục qui ư vô vật, Thị vị trạng chi vô trạng".

Tóm lại, nay như nói ĐẠO là "không" thì chẳng phải, còn nói ĐẠO là "có" thì lại lầm, cho nên nói ĐẠO dường như có, dường như không, "nhược thiệt nhược hư" tức trong cái "không" có cái "diệu-hữu" là năng-lực hay hóa-sanh, sanh-hóa.

Vì ngôn-ngữ xưa khó hiểu, giảng-giải mông-lung thành người sau đọc chẳng rõ rồi hoặc phủ-nhận, hoặc tin đại, tin càng, truyền y theo sách như vẹt, thế chẳng ích gì cho ai cả.

Các nhà truyền-giáo xưa khó mà giải rõ như ĐỨC CHÍ TÔN ngày nay. Cứ nói "vô danh", "Vô cực", "chơn-như" là những cái mơ hồ; rồi sanh ra Thái-cực cũng là cái mơ hồ hơn.

-Khí Hư-vô mơ hồ nhưng xác-định là vật-chất vì là khí chất, chỉ một danh-từ "KHÍ" mà là phát-minh vĩ-đại.

-Thay vì xưa chỉ nói "vô cực nhi Thái-cực" 無 極 而太極 "Vô cực mà Thái-cực" chẳng hiểu gì cả!

ĐỨC CHÍ-TÔN nói: "Vô cực" (Khí Hư-Vô sanh có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái-cực).

Thái-cực chỉ là cái ngôi vị, còn Thầy là con người có vật-chất và ý-thức, Thầy giáng bút chứng tỏ Thầy có ý thức. Nói cách khác: Ý-thức đầu tiên đó là Thầy.

Ý-thức đó (Thầy) có sau vật-chất (Khí Hư-Vô).

 

 

DI-LẠC (LẶC) (Phật)

E: Maitreya Buddha.
F: Maitreya Bouddha.

 
   

Đức Hộ-Pháp nói về Đức Di-Lạc ra đời mở Hội Long Hoa lập một kỷ nguyên mới: "Đạo Cao-Đài tức là ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘ khai sáng vào thời-kỳ này là do Thiên-cơ tiền định và cũng hợp với lời tiên-tri của các Đấng Giáo-Chủ đã khai mở các Đạo giáo trên thế-giới. Theo Phật-giáo, Lão giáo và Khổng-giáo thì đều dạy rằng: thời-kỳ này là thời-kỳ Hạ nguơn khiến đời tận diệt để chuyển xây trở lại Thượng nguơn Thánh-đức với một kỷ nguyên mới. Đặc biệt Đức Thích-Ca Mâu-Ni khi lập giáo có cho biết đến năm 2.500 kỷ nguyên Phật giáo, là thời-kỳ để cho Đức Di Lạc ra đời mở Hội Long Hoa lập một kỷ nguyên mới đó vậy. Nơi Cung Hỗn Nguơn-Thiên chúng ta thấy đương giờ này đang trong Đệ Tứ chuyển. Thượng nguơn Tứ chuyển giờ này giao quyền Chưởng quản trị phần hồn và phần xác của Càn-khôn Vũ-trụ do nơi tay của Đức Di Lạc Vương-Phật, mà trong Cung ấy là Cung chúng ta thấy mặt Đức Chí-Tôn, tức nhiên gần Đức Đại-Từ-Phụ hơn hết".

"Chơn-lý của Đạo Cao-Đài đã tỏ rõ cho toàn thể nhơn sanh đều hiểu lời tiên-tri của Phật-giáo đã nói: Qua cuối Hạ nguơn Đức Chí-Tôn đến để mở Hội-Long Hoa đặng lập-vị cho Đức Di-Lạc Vương Phật".

"Sứ-mạng thiêng-liêng của Hộ-Pháp là vì Đức Chí Tôn không đi nên mới có Hộ-Pháp của Ngài đến. Hộ Pháp của Ngài đến cốt yếu thay-thế cho Ngài đặng lập vị cho Đức Di-Lạc Vương-Phật mở Hội Long-Hoa, tức nhiên sứ mạng của Hộ Pháp là cầm cây cân Công-bình Thiêng liêng của Đức Chí-Tôn giao-phó, nắm cả tâm-lý tinh-thần nơi mặt địa-cầu này đặng hoà-giải, hầu sửa đương tâm đức của nhân loại tức nhiên là Ngài đến trước khi mở Hội Long Hoa tạo Tiên, Phật. Tâm đức từ trong cửa Thánh, đặng họ từ-từ bước đến cửa Thánh của họ, đến phẩm vị của họ tại mặt thế này".

"Ngày giờ nào khi nhơn-sanh đã tiến bước, Bần Đạo chỉ nói một người mà thôi đoạt được Phật-vị thì ngày ấy Hội-Long Hoa mới mở, mà Hội-Long Hoa chưa có mở thì Đức Di-Lạc chưa có đến".

Bài Kệ U-Minh-chung Câu thứ 34 rằng:

"Nam-mô Tam Hội Long-Hoa Bạch-Vương Đại Hội, Di-Lạc Cổ-Phật Chưởng-giáo Thiên-Tôn".

       

 

1- Di-Lạc-Vương chủ thuyền Bát-Nhã:

"Quan sát nơi Hỗn Nguơn Thượng Thiên, ngày nay Ðức Phật Di Lặc ở nơi Hỗn Nguơn Thượng Thiên cầm cả hành tàng Càn Khôn Vũ Trụ, giờ Ngài đương cầm quyền cả vật loại".

Ðôi liễn về Đức DI-LẠC này đây do Ðức Chí Tôn ban cho để viết treo lên trong Ðại lễ Khai Ðạo Cao Ðài ngày 15-10 Bính-Dần (dl: 19-11-1926), tại Thánh Thất tạm đặt tại chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự) Tây Ninh.

-

DI-LẠC thất bá thiên niên khởi khai Ðại Ðạo.

-

THÍCH-CA nhị thập ngũ thế chung lập Thiền môn.

 

彌 勒 七 百 千 年 起 開 大 道

 

釋 迦 二 十 五 世 終 立 禪 門

Giải thích:

Câu 1 - Đức Phật Di-Lạc, Giáo chủ Hội Long Hoa sẽ khởi khai mối Cao-Đài Đại-Đạo đến Thất bá thiên niên, là bảy trăm ngàn năm (700.000) tức là thời Tam-Kỳ Phổ Độ.

Câu 2 - Riêng Đức Phật Thích Ca, Giáo chủ Phật giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ đã chấm dứt mối Đạo Thiền trong 25 thế kỷ "Nhị thập ngũ thế" nghĩa là hai ngàn năm trăm năm (25 thế kỷx100 = 2500 năm). Gọi Đạo Phật là Thiền môn hay cửa Thiền cũng đồng một nghĩa

Hai câu liễn trên của Đức Chí Tôn cho nhân loại biết rằng, Đức Phật Thích Ca mở Phật giáo cứu độ nhơn sanh trong vòng 2.500 năm thì chấm dứt, Phật giáo bị thất chơn truyền nên Đạo bị bế lại. Như vậy mối Đạo Trời của Đức Chí-Tôn ngày nay do Đức Di-Lạc-Vương chấp chưởng, tức là người khởi khai mối Đạo này cho đến bảy trăm ngàn năm. Còn Đạo Phật do Đức Thích-Ca qua hai ngàn năm trăm năm (hai mươi lăm thế kỷ) đã kết thúc mối Đạo Thiền.

2- Nhiệm-vụ của Đức Di-Lạc:

Đức Hộ-Pháp thuyết: "Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo Tam kỳ Phổ Độ tức là Đạo Cao-Đài đặng mở một kỷ-nguyên mới, Qui Tam-Giáo Hiệp Ngũ Chi, lập thành một nền Tôn-giáo Đại Đồng cho hiệp với trình-độ tiến-hóa của nhơn-loại và của quả địa cầu 68 của chúng ta, dọn đường cho Đức Di-Lạc ra đời".

"Vì muốn độ 92 ức nguyên-nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa-đọa cõi hồng-trần. Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng trần bằng xác thân mà chỉ giáng bằng Huyền-diệu Cơ-bút mới qui đặng cả Đại-Đồng Thế-giới".

"Ngài lập giáo rồi còn một nỗi là kêu nó không đến. Ngài dạy mà không biết chi, chính mình Ngài đã nhiều lần hạ trần lập Đạo mà 92 ức nguyên nhân vẫn đui và điếc mà thôi, không biết để chun vào lòng yêu ái vô tận của Ngài, đặng hưởng cái hạnh phúc vô biên của Ngài đã đào tạo".

Nay là buổi Cao-Đài Đại-Đạo tức nhiên Thầy giao sứ mạng "Tam Hội Long-Hoa Bạch Vương Đại Hội Di Lạc Cổ Phật Chưởng giáo Thiên Tôn". Đức Ngài chủ thuyền Bát-Nhã để rước các bậc nguyên nhân từ Thập-điện Diêm Cung, Thất Thập Nhị Địa Giới hay là U-Minh-giới Đại-địa ngục.

Đức Phật ngự nơi thuyền mà kêu gọi tòan linh căn chơn tánh Cửu Nhị Ức Nguyên Nhân hãy mau tỉnh mộng về cửa này, nương nơi Bát-Nhã-thuyền trở về Lôi-Âm-Tự, vào Bạch-Ngọc Kinh mà hội ngộ cùng Thầy.

Nay Hạ Nguơn Tam chuyển hầu mãn, khởi Thựơng Nguơn Tứ chuyển, địa cầu chúng ta lạc hậu nhiều lắm vậy. Đã ba ngàn năm xa xuôi, đã thua Thủy đức, Kim đức và Mộc đức Tinh quân. Người ta đã bảy chuyển, mình mới tới đệ Tứ chuyển. Vì vậy nên Chí-Tôn mới mượn các đẳng chơn linh ở các địa cầu kia đến làm bạn với chúng ta. Không biết số bao nhiêu. Theo Phật pháp thì được:

- 24 chuyến thuyền Bát-Nhã chở họ đến,

- Không chừng có đến 100 ức Nguyên nhân.

Phật-Tổ độ được 6 ức, Lão-Tử độ 2 ức, còn lại 92 ức Nguyên nhân đến Hạ Nguơn này chưa thoát khổ nên Chí Tôn mới đến khai Đạo Cao-Đài.

3- Vai trò của Tân-Tôn- giáo Cao-Đài:

Mỗi thời kỳ hay là mỗi nguơn hội thì có mở một kỷ nguyên mới để cho nhơn loại bước lên một bước cao hơn trên con đường tấn hoá. Nguơn hội này sẽ mở một kỷ nguyên mới cho hạng Thần Thông Nhơn ra đời. Nhiệm kỳ của Đạo Cao-Đài định thất ức niên kể ra quá lâu dài đối với nhiệm kỳ của Phật giáo và Thiên Chúa giáo.

Do đâu mà Đạo Cao-Đài lại được một nhiệm kỳ quá lâu như vậy? Vì Đạo Cao-Đài lập ra với chủ trương nền Đạo biến chuyển theo mức tiến hoá của nhơn sanh, chứ không đặt một giáo điều bất di bất dịch, vì làm như vậy sau một thời gian những giáo điều ấy không theo kịp trình độ tiến hoá của nhơn sanh, vì trong lúc người ta đi tới mà mình đứng một chỗ không đi, thì mình hoá ra lùi và lạc hậu. Khi ấy nền Đạo không thể đủ năng lực cung cấp những món ăn tinh thần, đủ sức thoả mãn nhu cầu đòi hỏi của trí lự tinh thần của nhơn loại và từ đó Tôn giáo hoá ra lạc hậu làm cho nhơn sanh phải xa lần để đi tìm một món ăn tinh thần khác có thể thoả mãn nhu cầu đòi hỏi của họ."

4- Nhiệm-vụ của Đức Thích-Ca đã mãn:

"Hồi Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Phật Thích-Ca Mâu Ni làm chủ Cực Lạc Thế giới, ngự tại Hỗn-Nguơn-Thiên tức là từng thứ mười hay là phương thứ mười.

Từng Hỗn-Nguơn-Thiên có một từng ngánh gọi là Hội Nguơn Thiên kể chung là mười từng tất cả: (1-Thanh thiên, 2-Huỳnh Thiên 3-Xích Thiên 4-Kim Thiên 5-Hạo Nhiên-Thiên 6-Phi-Tưởng-Thiên 7-Tạo Hoá Thiên 8-Hư Vô thiên 9-Hỗn Ngươn-Thiên gọi là Cửu Thiên khai hoá và một tầng ngánh là Hội Ngươn thiên số 1. Tầng cao nhất là Hỗn nguơn Thiên cũng gọi là Niết Bàn hay là Cực Lạc Thế giới, thật tế ờ từng thứ mười, nên Phật giáo nói là Thập phương chư Phật là vậy. Có kẻ nói Trời có chín phương mà Phật có mười phương. Vậy là Phật lớn hơn Trời qua câu "chín phương Trời mười phương Phật". Ngày nay Đức Chí-Tôn xác nhận:

Chín Trời mười Phật cũmg là TA,
Truyền Đạo chia ra nhánh nhóc ba.
Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ,
Thánh Tiên Phật-Đạo vốn như nhà.

Tóm lại: Trời là quyền-uy tối thượng, dẫu vị Phật nào cũng là con của Trời mà thôi.

5- Lý do nào có các con số trên?

Đạo là lý, nên phải suy từ lý, khởi đoan khi Càn Khôn định vị thì Đức Chí-Tôn giao quyền cho Phật Mẫu quản khí Hư vô, do đó mà nền Đại- Đạo có đủ Âm Dương để bảo tồn cơ sanh hóa.

Căn cứ theo bài kinh Di-Lạc chơn kinh, thì:

- Cung Hạo Nhiên là Phật.
- Hỗn nguơn là Pháp.
- Hư-vô là Tăng.

 
   

Vốn số Tam có đủ cơ năng phát sinh tiếng nổ, Đạo sanh từ Thái-cực. Đạo là tự hữu, Pháp là tự hữu, Tăng là hằng hữu.

- Chí-Tôn chủ Ngũ khí.
- Phật-Mẫu chủ Ngũ hành.
- Hộ-Pháp chủ Ngũ lôi.

Khí Ngũ hành phân hóa đụng với Ngũ khí trong không gian phát tiếng nổ là chỗ Hộ-Pháp làm quân bình khí sanh quang cho vạn vật nơi cõi đất có sự sống. Do vậy:

- Chí-Tôn hoàn thành ở Bát-quái.
- Phật-Mẫu thành lập Bát cảnh cung.
- Biến tạo ra Bát phẩm chơn-hồn.

Chính 3 con số bát đó hiệp thành 24 (3x8). Đó là 24 ánh linh quang của ba ngôi, nói là 24 chiếc thuyền Bác-Nhã.

Sau rồi Đức Chí-Tôn phân tánh để lập Đạo cứu đời.Từ nhứt kỳ độ được 6 ức. Số 6 chỉ sự thành do thiên nhứt sanh thủy, địa lục thành chi.Vạn vật khởi đầu đều do nước, hóa trưởng cũng do nước. Nước là nguồn sanh lực đầu tiên để tạo nên nhứt điểm Tinh của người ấy là Đạo sanh nhứt, thành ở Lục là vậy.

Tiên độ 2 ức. Với pháp tu chuyển Tinh hóa Khí thì trên nguyên lý về được cùng hai Đấng tạo đoan chỉ có chơn-thần và linh-hồn mà thôi, nên lấy lý tượng cho số:

Các nguyên nhân đã xuống trần phải chuyển hóa trong Bát phẩm chơn hồn.

Về được với Đức Chí-Tôn và Phật-Mẫu nhờ còn giữ Bát-bửu-nang (6+2=8) của Đức Mẹ giao cho khi xuống thế. Chừng về với pháp thân bằng thần của vạn linh kết thành.Còn 92 ức nguyên nhân là chỉ số lượng cho số cửu (9) là pháp định vị cho thuyết nhị nguyên về Âm Dương đó.

6- Tượng ảnh DI LẠC:

Nay, trong thời Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, ảnh tượng Đức Di-Lạc được đặt trên nóc Phi-Tưởng-Đài, tượng Ngài ngồi trên lưng cọp là ý-nghĩa Đạo khai năm Bính-Dần (1926). Chính Đức Hộ-Pháp trấn thần Đền Thánh ngày 6 tháng giêng năm Đinh-Hợi (1947) Khi trấn Thần đến bức Tượng Di-Lạc Ngài giải thích rằng:

"Đức Phật DI-LẠC đã ngự vào tượng, ngồi thị chứng cho nhân loại thập phương Thế giới đang hướng về Đền-Thánh mà cầu nguyện Ngài ban ân huệ cho toàn sanh chúng".

Đồng thời, cũng kể từ ngày 23 tháng 7 đến ngày 4 tháng 8 năm Ất-Hợi (dl từ 21 đến 31-8-1935) thì các Đấng vô hình mới giáng Cơ cho Tân Kinh, trong số đó có bài Di-Lạc Chơn kinh do Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni giáng Cơ ban cho và trong bài kinh ấy nhìn nhận là Đức Phật Di Lạc làm chủ tầng Hỗn Ngươn-Thiên và Hội-Nguơn-Thiên, tức là Cực Lạc Thế giới hay là cõi Niết Bàn, thành ra bổn DI-LẠC CHƠN KINH chẳng khác nào bảng Vi bằng giao lãnh giữa Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni và Đức Di-Lạc Vương-Phật.Kể từ năm Ất-Hợi (1935) Đức Di-Lạc Vương-Phật đã ngự nơi Cực-Lạc Thế giới rồi.

Hôm nay bài Kinh Di-Lạc mà Tín hữu tụng đọc thường ngày chính là bản Vi bằng giao ước giữa Đức Phât Thích-Ca và Đức Phật Di-Lạc đó vậy.

Kinh Đại Tường có câu:

"Hỗn-Nguơn-Thiên dưới quyền Giáo-chủ,
"Di-Lặc đương thâu thủ phổ duyên.
"Tái sanh sửa đổi chơn-truyền,
"Khai cơ tận độ cửu-tuyền diệt vong."

 

 

DI-LẠC (Ðôi Liễn Di-Lạc)

彌 勒

Ðôi liễn về Đức DI-LẠC này đây do Ðức Chí Tôn ban cho để viết treo lên trong Ðại lễ Khai Ðạo Cao Ðài ngày 15-10 Bính-Dần (1926), tại Thánh Thất tạm đặt tại chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự) Tây Ninh.

-

DI-LẠC thất bá thiên niên khởi khai Ðại Ðạo.

-

THÍCH-CA nhị thập ngũ thế chung lập Thiền môn.

 

彌 勒 七 百 千 年 起 開 大 道

 

釋 迦 二 十 五 世 終 立 禪 門

 Xem thêm: DI-LẠC Phật

 

 

DI-LẶC CHƠN KINH

勒 貽 眞 經

BÀI KHAI KINH
(Giọng Nam-Xuân)

KHAI KINH KỆ:
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.
Ngã kim thính văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Tân-kinh chơn thiệt nghĩa.

THÍCH-CA MÂU-NI VĂN PHẬT thuyết DI-LẶC CHƠN KINH

Thượng Thiên Hỗn-nguơn hữu: Brahma Phật, Çiva Phật, Christna Phật, Thanh-Tịnh Trí Phật, Diệu Minh-Lý Phật, Phục-Tưởng Thị Phật, Diệt-Thể Thắng Phật, Phục-Linh Tánh Phật, nhứt thiết chư Phật, hữu giác, hữu cảm, hữu sanh, hữu tử, tri khổ nghiệp-chướng luân-chuyển hóa sanh, năng du ta bà thế giái độ tận Vạn-Linh đắc qui Phật-vị.

Hội Nguơn-Thiên hữu: Trụ-Thiện Phật, Đa-Ái Sanh Phật, Giải-Thoát Khổ Phật, Diệu-Chơn-Hành Phật, Thắng-Giái Ác Phật, nhứt thiết chư Phật tùng lịnh DI-LẶC-VƯƠNG PHẬT, năng chiếu diệu-quang tiêu trừ nghiệt chướng.

Nhược hữu chúng-sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng tùng thị Pháp-điều Tam-Kỳ Phổ-Độ, tất đắc giải-thoát luân hồi, đắc-lộ Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề thị chi chứng quả Cực-Lạc Niết-Bàn.

Nhược nhơn đương sanh, nhược nhơn vị sanh nhược nhơn hữu kiếp, nhược nhơn vô kiếp, nhược nhơn hữu tội, nhược nhơn vô tội, nhược nhơn hữu niệm, nhược nhơn vô niệm, thính đắc ngã ngôn, phát tâm thiện niệm, tất đắc A-Nậu Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề tất đắc giải thoát.

Nhược hữu nhơn thọ-trì khủng kinh ma-chướng, nhứt tâm thiện niệm: Nam-mô DI-LẶC VƯƠNG BỒ-TÁT, năng cứu khổ ách, năng cứu tam-tai, năng cứu tật-bịnh, năng độ-dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt-chướng tất đắc giải-thoát.

Hư-Vô Cao-Thiên hữu: Tiếp-Dẫn Phật, Phổ-Tế Phật, Tây-Qui Phật, Tuyển-Kinh Phật, Tế-Pháp Phật, Chiếu-Duyên Phật, Phong-Vị Phật, Hội-Chơn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật tùng lịnh NHIÊN-ĐĂNG CỔ-PHẬT, dẫn-độ CHƠN-LINH đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị, đắc A-NẬU ĐA-LA TAM-DIỆU TAM-BỒ-ĐỀ chứng quả nhập CỰC-LẠC Quốc, hiệp chúng đẳng chư Phật tạo-định Thiên-Thi tận-độ Chúng Sanh đắc qui Phật-vị.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân tu trì thính ngã dục đắc Chơn-Truyền niệm thử NHIÊN-ĐĂNG CỔ-PHẬT thường du ta bà Thế Giái, giáo-hóa Chơn-Truyền phổ tế Chúng Sanh giải-thoát lục-dục thất tình thoát đọa luân hồi tất đắc giải thoát.

Tạo-Hóa HuyềnThiên hữu: Quảng-Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng-Hậu Phật, Thủ-Luân Phật, dữ Cữu-vị Nữ Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh KIM-BÀN PHẬT-MẪU năng tạo, năng hóa VẠN-LINH, năng du ta bà thế-giái dưỡng-dục quần sanh qui nguyên Phật-vị.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân thính ngã dục tu phát nguyện: Nam-mô KIM-BÀN PHẬT-MẪU dưỡng-dục quần linh, nhược hữu sanh, nhược vị sanh, nhược hữu kiếp, nhược vô kiếp, nhược hữu tội, nhược vô tội, nhược hữu niệm, nhược vô niệm, hườn hư thi hình đắc A-NẬU ĐA-LA Tam-Diệu Tam Bồ-Đề Xá-Lợi-Tử qui-nguyên Phật-vị tất đắc giải-thoát.

Phi-Tưởng Diệu Thiên hữu: Đa-Pháp Phật, Tịnh Thiện-Giáo Phật, Kiến-Thăng Vị Phật, Hiển-Hóa-Sanh Phật, Trục Tà-Tinh Phật, Luyện-Đắc Pháp Phật, Hộ-Trì Niệm Phật, Khai-Huyền-Cơ Phật, Hoán-Trược-Tánh Phật, Đa Phúc-Đức Phật, như thị đẳng hằng-hà sa số chư Phật, tùng lịnh TỪ-HÀNG BỒ-TÁT, năng du Ta-Bà Thế-Giái thi pháp hộ-trì Vạn Linh Sanh-Chúng.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân tín ngã ưng đương phát nguyện Nam-mô TỪ-HÀNG BỒ-TÁT, năng cứu tật bịnh, năng cứu tam tai, năng độ tận Chúng-Sanh thoát ư tứ khổ, năng trừ tà ma, năng trừ nghiệt-chướng, tất đắc giải-thoát.

Hạo-Nhiên Pháp Thiên hữu: Diệt-Tướng Phật, Đệ Pháp Phật, Diệt-Oan Phật, Sát-Quái Phật, Định-Quả Phật, Thành-Tâm Phật, Diệt-Khổ Phật, Kiên-Trì Phật, Cứu-Khổ Phật, Xá-Tội Phật, Giải-Thể Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật tùng lịnh CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT, PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT thường du ta-bà thế-giái độ-tận Vạn-linh.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân tín ngã ưng đương phát nguyện Nam-mô CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT, PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT, năng trừ ma-chướng quỉ tai, năng cứu khổ-ách nghiệt-chướng, năng độ chúng sanh qui ư Cực-Lạc, tất đắc giải thoát.

(1) Tụng đến đây rồi niệm danh chư Phật, hễ niệm danh mỗi vị lạy 1 lạy.

Nam-Mô: DI-LẶC VƯƠNG PHẬT
Nam-Mô: Brahma Phật
Nam-Mô: Civa Phật
Nam-Mô: Christna Phật
Nam-Mô: Thanh-Tịnh Trí Phật
Nam-Mô: Diệu-Minh-Lý Phật
Nam-Mô: Phục-Tưởng Thị Phật
Nam-Mô: Diệt-Thể Thắng Phật
Nam-Mô: Phục-Linh Tánh Phật
Nam-Mô: Trụ-Thiện Phật
Nam-Mô: Đa-Ái-Sanh Phật
Nam-Mô: Giải-Thoát Khổ Phật
Nam-Mô: Diệu-Chơn Hành Phật
Nam-Mô: Thắng-Giái Ác Phật

Nam-Mô: NHIÊN-ĐĂNG CỔ-PHẬT
Nam-Mô: Tiếp-Dẫn Phật
Nam-Mô: Phổ-Tế Phật
Nam-Mô: Tây-Qui Phật
Nam-Mô: Tuyển-Kinh Phật
Nam-Mô: Tế-Pháp Phật
Nam-Mô: Chiếu-Duyên Phật
Nam-Mô: Phong-Vị Phật
Nam-Mô: Hội-Chơn Phật

Nam-Mô: KIM-BÀN PHẬT-MẪU
Nam-Mô: Quảng-Sanh Phật
Nam-Mô: Dưỡng-Dục Phật
Nam-Mô: Chưởng-Hậu Phật
Nam-Mô: Thủ-Luân Phật
Nam-Mô: Cửu Vị Nữ Phật

Nam-Mô: TỪ-HÀNG BỒ-TÁT
Nam-Mô: Đa-Pháp Phật
Nam-Mô: Tịnh-Thiện-Giáo Phật
Nam-Mô: Kiến-Thăng Vị Phật
Nam-Mô: Hiển-Hóa Sanh Phật
Nam-Mô: Trục-Tà-Tinh Phật
Nam-Mô: Luyện-Đắc-Pháp Phật
Nam-Mô: Hộ-Trì Niệm Phật
Nam-Mô: Khai-Huyền-Cơ Phật
Nam-Mô: Hoán-Trược-Tánh Phật
Nam-Mô: Đa-Phúc-Đức Phật

Nam-Mô: CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT
Nam-Mô: PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT
Nam-Mô: Diệt-Tướng Phật
Nam-Mô: Đệ-Pháp Phật
Nam-Mô: Diệt-Oan Phật
Nam-Mô: Sát-Quái Phật
Nam-Mô: Định-Quả Phật
Nam-Mô: Thành-Tâm Phật
Nam-Mô: Diệt-Khổ Phật
Nam-Mô: Kiên-Trì Phật
Nam-Mô: Cứu-Khổ Phật
Nam-Mô: Xá-Tội Phật
Nam-Mô: Giải-Thể Phật (1)

(1) Tụng đến đây, niệm câu chú của Thầy (3 lần và lạy 12 lạy)

 

 

DI LẠC-THÍCH CA (Ðôi Liễn Di Lạc-Thích Ca)

勒 貽 - 釋迦
F: Maitreya – Sakyamuni.

-

DI-LẠC thất bá thiên niên khởi khai Ðại Ðạo.

-

THÍCH-CA nhị thập ngũ thế chung lập Thiền môn.

 

彌 勒 七 百 千 年 起 開 大 道

 

釋 迦 二 十 五 世 終 立 禪 門

Thầy giáng ban cho đôi câu đối trên trong ngày Lễ khai Đạo: rằm tháng 10 năm Bính Dần (dl 19-11-1926) tại Từ Lâm Tự (Chùa Gò Kén –Tây Ninh) chính là để xác nhận rằng: nguơn hội này của Đức Di-Lạc đến để khai mối Đại-Đạo Tam kỳ. Còn Đức Thích Ca thì qua 2.500 năm (25 thế kỷ) kết thúc mối đạo Thiền.

Xem thêm: DI-LẠC Phật

 

 

DI LUÂN

移 倫
F: Loi naturelle.:

Di là đạo thường, luân là nhân luân, di luân cũng nghĩa như luân-thường.

Kể chi kẻ đạt người cùng,
Lọt lòng ai trốn khỏi vòng di luân.

Lý văn Phức (24 chuyện Hiếu)

 

 

DI MẪU

姨 母

Đức Hộ-Pháp nói trong bài phú của Thầy cho Bà cụ di mẫu của Chị Phối-Sư Hương-Thanh có câu: "Thầy dùng lương sanh mà cứu vớt quần sanh"

Hội-Thánh tức là đám Lương sanh của Thầy tom góp lại làm một. Cả Lương sanh ấy, Thầy đã dùng quyền Thiêng liêng dạy dỗ, trước un-đúc nơi lòng một khiếu Từ bi cho tâm-địa có mảy mún tình ái-vật ưu sanh theo Thánh-đức háo sanh của Thầy, dùng làm lợi khí phàm tục để độ rỗi người phàm tục.

 

 

DI NGÔN

 貽言
F: Dernières paroles.

BẢN DI NGÔN
GỞI HOÀNG THÂN NORODOM SIHANOUK

Thưa Điện Hạ,

Bần Đạo gởi những dòng chữ nầy đến Điện Hạ trên giường bịnh của Bần Đạo (bịnh viện Calmette). Sức khỏe của Bần Đạo càng ngày càng suy giảm và Bần Đạo nghĩ không còn sống bao lâu nữa. Vậy Bần Đạo gởi lời cuối cùng đến Điện Hạ và Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên tất cả lời cảm tạ chân thành về sự khoản đãi rộng rãi của Điện Hạ và Chánh Phủ Hoàng Gia dành cho Bần Đạo với đoàn tùy tùng và cho tất cả Tín Đồ của Bần Đạo.

Bần-Đạo thành tâm cầu nguyện Thượng Đế Cao-Đài và Phật Tổ ban hồng ân che chở Vương Quốc Cao Miên và cho Điện Hạ để chóng thực hiện và nhất là thành công vẻ vang Chánh Sách Hòa Bình Trung Lập và Chung Sống Hòa Bình, chánh sách đặc biệt ưu-ái của Bần Đạo và vì nó mà Bần Đạo phải hao tổn sức khỏe và cuộc đời của Bần Đạo mà không thể thực hiện được.

Bần Đạo thành tâm ước mong rằng Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi, nước Việt Nam, có thể đeo đuổi Chánh Sách ấy trong một ngày gần đây, tay bắt tay cùng đi với nước Cao Miên trong đường lối Thương yêu và cộng đồng giữa các sắc dân và nhất là giữa hai Dân Tộc Miên- Việt. Bần Đạo sẽ hoàn toàn sung sướng được yết kiến lần cuối cùng với Điện Hạ để tỏ bày tất cả những lời cám ơn của Bần Đạo, nhưng Bần Đạo không biết sức khỏe của Bần Đạo còn chờ được hay không ngày về của Điện Hạ. Dầu sao tình thân hữu thâm niên của chúng ta, nhơn danh lòng yêu thương và tình Huynh Đệ giữa hai Dân Tộc Cao Miên và Việt Nam và nhứt là nhơn danh tương lai bất khả phân ly của hai nước chúng ta, Cao Miên và Việt Nam, Bần Đạo cung kính xin Điện Hạ như một ân huệ đặc biệt và cuối cùng cho Thánh Thất chúng tôi khỏi chịu dưới lịnh phá hủy, để giữ kỷ niệm độc nhất của Bần Đạo nơi đất Miên.

Để giúp Điện Hạ có một ý niệm đúng đắn về tình hình qua, Bần Đạo trân trọng gởi đến Điện Hạ một bản sao đơn khẩn cầu của Bần Đạo vừa chuyển đến Hoàng Thượng. Bần Đạo phải thoát kiếp nơi đây, Bần Đạo xin thỉnh cầu Điện Hạ cho phép Bần Đạo tạm gởi thi hài ở nơi đất Miên dưới sự bảo vệ tối cao của Hoàng Gia Cao Miên. Ngày nào Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi là nước Việt Nam đã thống nhứt, [hoặc] sẽ theo Chánh Sách Hòa Bình Trung Lập, mục phiêu đời sống của Bần Đạo, Tín Đồ của chúng tôi sẽ di thi hài về Tòa Thánh Tây Ninh.

Bần Đạo khẩn cầu Điện Hạ và Chính Phủ Hoàng Gia, sau khi Bần Đạo thoát xác, dành cho Đoàn tùy tùng và cả Thiện Nam Tín Nữ của Bần Đạo, sự khoản đãi rộng rãi và các sự dễ dãi như trước để Tu Hành theo Tôn Giáo của chúng tôi.

Biết rằng Điện Hạ sẽ chiếu cố đến đơn thỉnh cầu này, Bần Đạo sẽ thanh thản nhắm mắt đem theo cái kỷ niệm dịu dàng nhất trong đời của Bần Đạo, cung kính xin Điện Hạ chấp thuận lòng tri ân vĩnh viễn của Bần Đạo.

Nam-Vang, ngày 14- 5- 1959
HỘ PHÁP
PHẠM CÔNG TẮC


 

HỘ PHÁP ĐƯỜNG

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ



Số: 57/HP

3èmeAMNISTIE DE DIEU D’ORIENT

 

SAINT SIÈGE CAODAIQUE DE TAY NINH

HO PHAP PHAM CONG TAC, SUPÉRIEUR DU. CAODAISME

À SON ALTESSE ROYALE NORODOM SIHANOUK SAMDACH UPAYUVAREACH

Altesse,

C’est sur mon lit d’hopital (hopital Calmette) que j’adresse ces lignes à votre Altesse Royale. Mes forces s’épuisent chaque jour davantage et je ne pense pas pouvoir vivre encore longtemps.

Aussi, je tiens à adresser, pour la dernìere fois, à Votre Altesse Royale et au Gouverment Royal Khmer, tous mes sincères remerciements pour la large hospitalité que Votre Altesse Royale et la Gouvernement Royal ont daigné réserver à ma personne, à ma suite et à tous mes fidèles.

Je formule des prìeres ferventes à Notre MAITRE DIVIN CAO DAI et au GRAND BOUDDHA et implore Leurs Grace et Protection sur le Royaume Khmer et sur Votre Auguste Personne en vue d’un prompt rétablissement et surtout d’une réalisation triomphale de Votre Politique de PAIX, de NEUTRALITE et de COEXISTENCE PACIFIQUE, politique qui m’est particulìerement chère et pour laquelle j’ai payé de mes forces, de ma santé et de ma vie sans pouvoir la réaliser.

Je souhaite de tout coeur que notre chère Patrie, le Việt Nam puisse, dans un jour proche, poursuivre cette même politique et marcher la main dans la main avec le Cambodge dans la Voie de l’AMOUR et de la CONCORDE entre tous les Peuples et plus particulìerement entre les deux Peuples Khmer et Việt Nam.Je serai infiniment heureux de pouvoir obtenir, une dernìere fois, une entrevue avec Votre Altesse Royale pour me permettre de vous adresser de vive voix toute ma reconnalassance …, mais je ne sais pas si mes forces me permettant encore d’attendre votre retour.

Dans tous les cas, au nom de notre vieille amitíe, au nom de l’Amour et de la Fraternité entre les deux Peuples Khmer et Việt Nam et surtout au nom de l’Avenir inséparable de nos deux pays (Cambodge et Việt Nam ), je viens très respectueuscment solliciter de Votre Altesse Royale comme dernìere et ultime faveur, une mesure de Grâce particulìere concernant notre Pagode don’t l’ordre de démolition a été prononcé pour permettre de conserver l’unique souvenir de mon séjour au Cambodge.

Pour permettre à Votre Altesse Royale d’avoir une idée exacte de ce qui s’était passé, j’ai l’honneur de vous faire parvenir une copie de la supplique que je viens de formuler à Sa Majesté Le Roi.Par ailleurs, si je dois me désincarner ici,je solliciterai respectueusement de Votre Altesse Royale la permission de confier provisoirement mes restes mortels à la terre Khmère, sous la haute protection de Sa Majesté le Roi, de celle de Votre Altesse Royale et du Gouvernement Royal du Cambodge.

Le jour òu notre chère Patrie le Việt Nam sera unifíe ou poursuivra la même politique de Paix et de Neutralité,objet de ma vie, nos fidèles les ramèneront au Saint Sìege de Tây Ninh.Je sollicite aussi très respectueusement de Votre Altesse Royale et du Gouvernement Royal, après ma désincarnation, pour ma suite et pour tous mes fidèles la même large hospitalité et les mêmes facilités pour la pratique de notre Religion.

En sachant que Votre Altesse Royale daigne bien réserver une suite favorable à ma presente demande, je fermeral paisiblement mes yeux et emporteral avec moi le plus doux souvenir de ma vie, tout en priant très respectueusement Votre Altesse Royale de daigner agréer l’assurance de ma reconnaissance éternalle.

Phnom Penh, le 14 Mai 1959.
HỘ PHÁP Pham Cong Tac
No.226 Phlauv Preah Bat Norodom à Phnom Penh

Trời đã định mà sao dám cãi?

Mặc dầu Đức Hộ-Pháp có lời gởi gắm rõ ràng như vậy, mà khi phe Lonnol đứng lên lật đổ Chánh phủ Sihanouk: cảnh thê lương máu đổ bao trùm khắp nơi. Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa được Đức Hộ-Pháp chỉ định ở lại, nhưng Ngài không đủ đức tin, nên có ý định trở về Tòa Thánh, nhưng trước khi đi Ngài dạy phải di Liên Đài của Đức Hộ-Pháp cùng về theo. Dụng ý Ngài Bảo Đạo đã sắp đặt sẵn, nên về thủ tục giấy tờ Ngài đã lo xong với chánh phủ Miên, còn về mặt Đạo Ngài đã điện về cho Đức Thượng Sanh hay trước. Nói chung là rất sẵn sàng, chỉ chờ Cò-mi của chính quyền Miên đến chứng kiến là khui Liên-Đài liền, nhưng một số tín đồ phản đối, nhứt là ông Tổng Giám Võ văn Khuê, ông căn cứ theo lời Di-ngôn: "Ngày nào Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi là nước Việt Nam đã thống nhứt, hoặc sẽ theo Chánh Sách Hòa Bình Trung Lập, mục phiêu đời sống của Bần Đạo, Tín Đồ của chúng tôi sẽ di thi hài về Tòa Thánh Tây Ninh". Đàn Cơ của Ngài Bảo Đạo và Sĩ Tải Bùi Quang Cao phò loan: Đức Hộ-Pháp giáng:

"Thật là ngộ! Người chạy giặc là phải rồi, còn Liên Đài cũng chạy giặc nữa sao? Chú Đốc! Mỗi ngày bàn luận với hai chú nhỏ (ý của Cao và Bạch) cái đường lối của Tôi nó thành công chú Đốc à! Nhưng vì nó thành công vì lẽ khác".

Cơ gõ mạnh, đầu Cơ gãy và văng ra (có lẽ đây là sự đại nộ của Đức Hộ-Pháp?). Day qua ông Tổng Giám, Đức Hộ-Pháp nói: "Thằng Hai Tổng Giám: con tuổi đã lớn rồi, liệu sức con cũng nên tìm hiểu, tốt hơn là về giữ nhà. Thầy còn dành cho con một hạnh phúc bất ngờ".

Ngài Tổng Giám cho biết chương trình Di Liên Đài Thầy về Tòa Thánh thì Ngài Bảo Đạo định giấy tờ lo xong vào ngày thứ Bảy, Thứ Hai khui Liên Đài. Nhưng 10 giờ trưa Chủ nhựt có nhân viên của Ty Bưu điện mang bức thư của Đức Thượng Sanh nơi Tòa Thánh gởi đến có đính kèm Thánh Giáo của Đức Hộ-Pháp, Ngài cho biết rằng Ngài đã thiết đàn cầu cơ có 4 cơ quan Đạo thỉnh ý Đức Hộ-Pháp về việc Di Liên Đài.

Đức Thượng Sanh bạch: "Theo lời Di ngôn của Đức Ngài, chừng nào nước nhà được độc lập mới di Liên Đài về Tòa Thánh. Nay Ngài Bảo Đạo gởi Thánh giáo của Đức Ngài từ Nam Vang về dạy phải đem Liên Đài của Ngài về nước, xin Ngài định rõ". Đức Hộ-Pháp cười… Bạn Thượng Sanh phải biết rằng Cơ Bút là hư hư thiệt thiệt. Bần Đạo nào có đổi ý đột ngột như vậy!" Liên Đài vẫn giữ nguyên, chỉ đoàn tùy tùng về nước.

 

 

DI QUAN

移 棺
E: To displace the coffin
F: Déplacer le cercueil.

Di: Dời đi, chuyển đi, đổi đi. Quan: cái áo quan trong đó có liệm xác người chết, thường gọi là quan tài. Khi di chuyển thì gọi là Linh cữu. Di quan là di chuyển cái quan tài đem đi chôn.

 

 

DI TRUYỀN

移 傳
F: Transmettre.

Kinh Sám Hối có câu:

"Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,
"Câu văn từ luận biện thật-thà."

 

 

DĨ ĐỨC PHỤC NHÂN

以 德 伏 人

Đức Thượng Phẩm nói: "Có câu "Dĩ Đức phục nhân" tức nhiên lập Hòa-bình bằng nhân đức; mà chính các vị Lãnh-tụ không thực-hành được mảy-may nào cả thì đừng trông chi họ đem hạnh-phúc và đem nguyện-vọng chân-chánh đến cho dân chúng được. Dầu cho phải thay màn như vậy nữa, dân chúng Việt-Nam chắc chắn không bao giờ đạt vọng được, cũng vì sự bất lực của quyền đời như vậy. Mọi sự biến-chuyển đều do Đức Chí-Tôn, còn sự lập đời cũng do Đức Chí-Tôn định phận cho các Thiên mạng rồi thì còn chi mà khó nữa; chỉ đi đúng Chơn truyền của Đạo và trọn tuân lịnh của Đức Hộ-Pháp thì xong mọi việc, các Em cũng đã hiểu rồi!"

 

 

DĨ HÒA VI TIÊN

以 化 為 先

Lấy chữ Hòa làm trước.

Đức Phật Quan Âm nói: "Các em thử nghĩ, cái phẩm giá của kẻ ấy cao hèn là thế nào. Người chẳng có Hòa là thế đó. Còn gia đình chẳng hòa thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán. Còn trong luân lý chẳng hòa thì dân cư bất mục. Nước chẳng hòa thì sanh ly loạn. Còn cả thế giới bất hòa thì nhơn loại đấu tranh. Vì vậy, Thiếp khuyên các em dĩ hòa vi tiên."

 

 

DĨ LỄ HÓA DÂN

以 禮 化 民

Các Thánh xưa lấy lễ cảm hóa lòng dân được hữu hiệu.

Trải đến thời Trung cổ có vua Văn-Vương "dĩ LỄ hóa dân", nghĩa là Ngài dùng LỄ-NGHI pháp độ cảm hóa lòng dân. Hễ khi nào người dân có phạm lỗi thì Ngài vẽ vòng mà phạt cho biết cải-hóa ăn năn tự mình giác ngộ, trau giồi trở nên Hiền Thánh. Nhờ ảnh hưởng của Lễ Nghi mà tự nhiên nhà không đóng cửa, ngoài đường chẳng lượm của rơi. Nhận xét cho chí lý thấy vua Thuấn-Đế và vua Văn Vương chỉ dùng NHẠC-LỄ để cảm hóa lòng dân là chủ tâm cầu khẩn cho dân mình đều trở nên Hiền-Thánh. Nay đến thời kỳ chuyển thế tái tạo qui cổ, may duyên được Đấng Chí-Tôn đến khai Đạo lập Giáo, dùng phương pháp dung hòa hiệp nhứt cả NHẠC-LỄ của Thuấn-Đế và Văn-Vương đặng cảm hóa toàn thể chúng sanh đều trở nên đời Thánh đức cộng hưởng thuần phong mỹ tục thạnh-trị thái bình.Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển về khoản thi văn dạy Đạo:

THI

Đời hiếp lẫn nhau nỡ chẳng thương,
Thương Đời nên mới đến đem đường,
Đường dài vó ngựa tua bền sức,
Sức yếu lòng người khéo để gương,
Gương Đạo noi theo đời Thuấn-Đế.
Đế dân vẹn giữ lối Văn-Vương.

Vương hầu lê thứ ai là chí?
Chí quyết làm cho thế khác thường.

 

 

DĨ SỔ BÔI TÊN

Thầy nói với ông Cư: tháng 4-1928 (âl tháng 3-Mậu Thìn)

"Nhiều đứa đã bị Thái Bạch dĩ sổ bôi tên nơi chốn Thiên Thơ mà Thầy không phương chi giải cứu cho đặng, phải chi Thầy không sợ mất phép công bình thưởng phạt thiêng liêng, dầu cho chúng nó phải chết đi nữa, Thầy cũng mừng thầm, song chẳng đặng vậy."

 

 

DĨ VÃNG

已 往:
E: The past.
F: Le passé.

: Thôi, quá, sự đã qua. Vãng: đã qua. Dĩ vãng là thời gian đã qua (quá khứ).

 

 

DĨ VĂN

以 聞
E: To report respectfully.
F: Rapporter respectueusement.

: Lấy, dùng, cho đến, nhân vì. Văn: truyền đạt, báo cho biết. Dĩ văn là dùng để báo cho biết.

Trong các Sớ Văn thượng tấu, cuối bài Sớ thường có hai chữ "Dĩ Văn", có nghĩa là: Kính trình với thượng cấp, tức là kính cẩn tâu bày lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.

 

 

DỊ CHỦNG

異 種
E: The different race.
F: La race différente.

Dị: Khác, lạ. Chủng: loài, giống nòi, chủng tộc. Dị chủng là những người thuộc chủng tộc khác, ý nói người ngoại quốc.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chi cần dị chủng đến dâng công.

 

 

DỊ HỢM

Đức Hộ-Pháp nói, chính là do: "Tôn-giáo thất-kỳ truyền: Nho- Thích- Đạo, hiện nay đã trở nên phàm-giáo, chư Đệ-tử trong ba nhà Đạo không giữ giới-luật qui điều, canh-cải chơn-truyền, bày ra các điều giả cuộc làm cho Tam-giáo biến thành dị hợm."

 

 

DỊ ĐOAN

異 端:
E: The superstition
F: La supperstition.

(Dị là lạ thường, thay đổi luôn về phần kiểu cách ban đầu. Đoan là đầu mối). Dị đoan là không giữ đúng cái kiểu mẫu ban đầu, làm cho sai lệch chơn truyền, làm khác lạ không đúng.

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 22-06-Mậu Dần (1938) như sau: "Do Tam giáo thất chơn truyền: Nho- Thích- Đạo hiện nay đã trở nên phàm giáo. Chư Đệ tử trong ba nhà Đạo không giữ y luật pháp qui điều, lại canh cải chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc làm cho Tam Giáo biến thành dị đoan.

- Đệ tử nhà Đạo chẳng tùng giáo pháp của Đức Thái Thượng Lão Quân, tuy ở trong nhà Đạo mà dị đoan mê tín.

- Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca thì đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.

- Đệ tử nhà Nho chẳng thật hành điều mục của Đức Văn Tuyên Khổng Thánh thì đệ tử nhà Nho dị đoan bất chánh.

Tóm lại, hai chữ "dị đoan" nghĩa là đồ theo không trúng kiểu cái qui giới thể lệ chơn truyền của Tam giáo".

"Ấy vậy mê tín dị đoan trong cửa Đạo Cao Đài không có và không cần có, quả quyết hẳn vậy, nên đình lại Bí pháp chơn truyền, nếu thuyết ra là lấy cái quyền năng mê tín dị đoan mà thắng thiên hạ là một điều hèn nhát nên Bần Đạo không dùng, để khi nào dùng được Bần-Đạo sẽ dùng. Bần Đạo hứa chắc sẽ giáo hóa cho con cái Đức Chí Tôn mà thôi".

 

 

DỊ ĐỒNG

異 同
E: Different and similar.
F: Différent et semblable - Différence et ressemblance.

Dị: Khác, lạ. Đồng: cùng, giống nhau. Dị đồng là khác nhau và giống nhau.

Những điểm dị đồng là những điểm khác nhau và những điểm giống nhau.

Đức Hộ Pháp trả lời đài Pháp Á ngày 20-06-1953 về tâm linh: "Chúng tôi là Cao Đài và danh hiệu Cao Đài cũng như danh hiệu Thông Thần và Giáng Thần; vậy con người phải luân hồi: sanh, thác, tái sinh và tiến hóa là "Luật Trời". Tâm Linh không có Tổ Quốc, Tâm Linh phổ biến ở nơi nào cần, Tâm Linh tu ở nơi nào phù hạp, không phân biệt màu da, tôn giáo, tổ quốc. Tất cả những trở lực chia rẽ loài người đối với Tâm Linh không bao giờ có; vì Tâm Linh là một vị Chúa tể, Chúa tể ở ngôi ba tức là Thánh Thần. Tất cả người Cao Đài không bao giờ nghĩ đến những sự dị đồng về chủng tộc đang chia rẽ nhơn loại hiện giờ. Tổ Quốc thật của tinh thần ở trong vũ trụ."

 

 

DỊ NGHỊ

E: To contest.
F: Contredire.

Dị: Khác, lạ. Nghị: bàn cãi. Dị nghị là bàn cãi khác đi, có ý bài bác, phản đối.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy cấm không cho dị nghị việc người.

 

 

DỊ THƯỜNG

異 常
F: Extraordinaire.

Là điều lạ thường, xưa nay ít thấy trong xã hội loài người. Như Thần, Tiên, Thánh, Phật, đến trần là một điều dị thường, mà đến để dạy dỗ là một điều dị thường nữa. Thế mà buổi Hạ nguơn này tất cả đều hiện thực trong cửa Đạo này:

Ngày 30-10 Nhâm Thân (Dl 27-10-1932)

BÁT NƯƠNG DIÊU-TRÌ CUNG giáng cơ dạy Đạo:

Cười! Em chào mấy anh và mấy chị. Cười.. Ai đời mà thấy một chuyện dị thường vầy bao giờ, tiếc cho thiếp chẳng hình thể mà dạy dỗ cho đặng sắp cháu thơ. Phải mượn lấy ngòi Cơ làm xác tục. Cô hỏi mấy con gắng trả lời cho Cô dạy: Cô khác hơn các con là gì? Cái gì? … Phải đó nói cho lớn "Con Tranh".

Tranh bạch:...

- Có hình thể là tại sao? Vì linh hồn muốn đến thế đặng thân mật cùng đời, nghĩa là thân mật cùng các con đặng yêu thương dạy dỗ các con đó. Con Tranh? Các con đặng có hình thể thì hơn Cô hay là thua Cô?

Tranh bạch:…

- Không con, hơn chớ. Hơn là vì đâu kiếm hiểu coi? Hơn là vì các con có đủ phương thế tỏ sự yêu thương của các con cùng đời, còn Cô dù có đau đớn thương xót bao nhiêu cũng không phương tả ra cho trọn đặng. Này các con ơi! Cái trường thảm khổ của đời, Chí Tôn đã đào tạo ra đây vốn là cơ thể gây nên phương cách cho các con giồi đúc lòng thương. Các con khởi thương ai trước đã?

Tranh bạch…Thương cha mẹ.

- Phải đó con! Thương cha, thương mẹ, thương cô bác ông bà, thương anh em bạn tác. Chừng lớn khôn các con mới tiếp thương ai?

Tranh bạch…

- Chưa con, thương chồng, thương con, thương gia, thương thất chớ con! Bây thẹn miệng nên không nói, rồi tiếp nữa thương ai?

Tranh bạch…

- Chưa con, thương mình chớ con, vì thương mình trước đặng mới biết thương người, thương người rồi mới biết thương đời. Thương đời đặng mới biết thương tạo hoá, nghĩa là Đại Từ-phụ đó các con! Thương Đại-Từ-Phụ là vì tại sao?.

- Không phải có bấy nhiêu là đủ đó con! Các con không kiếm hiểu, ấy là triết học đó, chưa đủ con! Cười…Để Cô giải cho. Anh Cao văn Sĩ, Hiền huynh giải sao? - Ừ, Vì công sanh dục lấy mình, rồi còn cảm hoá linh tâm trên vạn vật đặng làm chúa thay thế cho người. Vậy nhơn loại là trưởng nam của Đại Từ Phụ, trong cả con cái của người, vạn linh sanh chúng.

- Hỏi kế cái ơn ấy là ơn gì nữa?

Tranh bạch…

- Chưa con, ơn sắp đặt hàng phẩm của các vạn linh chớ! Vì vậy mà có phàm thì mới có Thánh. Các con đứng địa vị cao trọng cùng thấp hèn cũng do ơn Người định trước. Hỏi vậy thì địa vị hiện hữu về thi hài các con gọi ai là chủ?

- Diêu-Trì là lò tạo còn Bạch-Ngọc là khuôn viên, còn chủ lò là ai đó? Thưa là Thầy!

- Phải đó! Có một mình Chí-Tôn độc quyền vi chủ thôi.

- Làm chủ xứng đáng tại nơi nào? Công bình trước đã. Là vì bởi công bình thì mới định đặng cho kẻ dở, khó trộn lộn với người hay, kẻ tà không phương giành ngôi kẻ chánh, kẻ ngu khó lấn bước người trí, kẻ hèn phân biệt người trọng, kẻ thiểu căn khó sánh bực cao siêu. Vậy thử nghĩ chẳng công bình của Chí Tôn thì mới ra sao nói cho Cô nghe thử? Phải loạn lạc trước đã, nhưng vì loạn lạc thì đời phải nạn tiêu diệt lẫn nhau gọi là tận thế. Ấy vậy ơn Cứu thế của Chí-Tôn là gì?

Phải là ơn Người tạo Đạo cho có công bình thiêng liêng nơi hình thể, nghĩa là: người ấy công bình tinh thần mà sửa cải trật tự của vật chất loạn lạc.

- Cô hỏi các con lời này: Đại-Đạo Chí-Tôn phải ra thế nào mới nên Chánh giáo?

Cười…Các con không biết đặng đâu. Lý Trưởng huynh nói thử? Ôi! Phải làm thế nào cho các sắc nhân sanh biết tùng thiên mạng mà an giữ phận mình đừng giựt giành tranh đấu.

- Hỏi cái hại của Đời đương nhiên vốn tại nơi nào? Phải tại tâm lý tự cao ỷ mình hiếp chúng phải vậy không?

THI

Không đáng phận xôn xao làm quá phận.
Không tài ba lại trổ mặt trí mưu
Hèn ganh sang gây lẽ nghịch thù.
Dở làm giỏi đồ mưu phản phúc
Gây oan nghiệt bởi lòng tư dục.
Kết oán thù vì chút đỉnh chung
Ngoài mặt đời ít kẻ vẫy vùng,
Ra tuồng thế những phồn phản loạn
Kìa từ trước phế vua phản bạn
Gẫm bởi đâu tên chán sử danh
Cũng là do kế giựt mưu giành
Giành quyền thế, giành danh, giành lợi.
Gương xấu để mặt đời chê ngợi.
Đều cũng do khôn với ngu mưu
Hễ đồ Vương thiên hạ mến ưa.
Còn trộm cướp cũng chưa chi lạ
Có thế lực thì nên nghiệp cả,
Không quyền hành dối trá nghèo hèn.
Cái cơ đời lắm kẻ từng quen,
Biết bụng thế lại khen vắng khách.
Vì vậy mà đời đã đóng thành tuồng thành sách
Dạy cho nên hắc bạch màu thương.
Thương cho đời khổ não đoạn trường
Chẳng khác kẻ oan ương biển thẳm.

Các con, Cô chỉ trông cậy cho các con biết thương đặng nối chí giùm Cô, còn ngoài thế mặc trò giả trá. Các con ra nghỉ rồi đọc cho hiểu lại bài Cô dạy đây, rồi Cô cho vô từ đứa mà nói tương lai cho. Cười… Mấy đứa lớn mà thôi, mấy đứa nhỏ thây kệ nó. Cười!

 

 

DỊCH

Thay đổi, biến đổi.

 

 

DỊCH HỌC

易 學

"Dịch học là một khoa Triết-học uyên thâm rất cao xa, là một lâu đài tráng lệ huyền bí cao siêu bao hàm cả một cõi vô biên vô giới mà dân tộc Á-Châu được hưởng cái gia tài quí báu ấy. DỊCH phát nguyên từ hồi Vua Phục-Hi (4480-4365 trước Tây lịch kỷ nguyên) tức là có hơn 6000 năm nay mà hầu như những lý do trong Kinh Dịch còn ở trong thời kỳ u-muội.

Kinh DỊCH là quyển Kinh tối cổ của Á-Đông mà bốn vị Đại Thánh chuyên làm từ Phục-Hi đến Văn-Vương (1144 TTL) Châu Công Đán rồi đến Đức Khổng Phu-Tử (551 TTL) trải qua hơn 6000 năm mới được một quyển Kinh mà trong đó còn rất nhiều sự bí-mật và mờ tối.

Đức Khổng Tử học Dịch rất công phu: Ngài khi già học Dịch đọc đến ba lần đứt lề sách mới làm ra các Thiên truyện. "Khổng Tử vãn nhi học Dịch, độc chi vi biên tam tuyệt chi nhi vi chi truyện" 孔子晚而學易, 讀之韋編三絕之而為之傳.

Thế mà Ngài còn nói rằng: Giá cho ta thêm ít năm nữa để ta học Dịch cho trọn thì khả dĩ không có lỗi lớn vậy. "Gia ngã sổ niên tất dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá dã" 加我數年卒 以學易, 可以無大過也 (Luận ngữ: Học nhi vi)

Một quyển Kinh mà Thánh nhân đã phải dụng tâm đến như thế và cho là khó hiểu như thế tất là có bao nhiêu cái tư tưởng kỳ diệu mà hậu thế nghiên cứu cho tường tận không nên khinh thường vậy.

Cụ Phan Bội Châu nhận định: "Nay nếu chiết trung ở trong các nhà Triết-học Đông phương vừa tinh-vi, vừa thiết thực, vừa thấu lý, vừa thích dụng thời chẳng gì bằng Dịch-học. Vì lòng ưu thời mẫn thế gốc ở tấm lòng Từ-bi thời DỊCH chẳng khác gì Phật, tùy thì thức thế dù trăm đường biến hóa, thời Dịch có lẽ hay hơn Lão. Nếu nghiên-cứu về Dịch-học thì Phật-học và Lão-học cũng quán thông, gần gũi cùng thiên-lý, Âm Dương lý số thông cùng vạn vật".

 

 

DỊCH LÝ

易 理
E: The philosophy of the Yi King.
F: La philosophie du Yi King.

Đức Hộ-Pháp tha-thiết đến nền Dịch-học nên nhấn mạnh rằng: "Nếu ta lấy cái học-thuyết hiện tại của Âu Mỹ hoà với DỊCH-LÝ để giải cho rõ, ta cảm thấy cái lý học Á Đông đã đến chỗ tuyệt-đối huy-hoàng. Hiện tại biết bao nhà Bác-học Âu-Mỹ tận tụy tìm kíếm học-thuyết về Dịch-lý của Á-đông…

Bần-Đạo cảm thấy một làn sóng mới trong thời đại nguyên-tử này có thể giúp chúng ta không những về khoa học mà còn về Lý-học nữa.

- Người Âu-Tây còn quí DICH-HỌC là như vậy.

- Người Nhựt cũng biết quí DỊCH-LÝ như vậy.

Chúng ta dòng dõi con Rồng cháu Tiên trên một dãy đất ngàn năm văn-vật đã hấp thụ được hai cái văn hóa Đông Tây không lẽ lại để cho cái Triết-học Đông phương một ngày càng tàn-tạ, thật là "túi mình có ngọc báu mà không biết lại ngửa tay đi xin người từng hột gạo".May sao, cũng là tiền duyên Bần-Đạo lại gặp Tác giả Dịch Kinh Tân khảo trong lúc nước biến gia vong, sự tồn vong của nước VIỆT-NAM đang như trứng để đầu giàn. Bần-Đạo cảm thấy Kinh này là cả một Triết học Á Đông độc nhứt vô nhị, mà chính là những Bí-pháp Cổ truyền của Đạo CAO-ĐÀI, một Đạo-giáo VIỆT-NAM hoàn-toàn nảy sanh ở cái Triết lý hoàn-toàn Á-đông mà KINH này gồm hết những lý thuyết cao siêu mà ông Nguyễn-Mạnh-Bảo đã nêu cao tinh-thần ĐẠI-ĐẠO. Trong lúc nhân tình xáo trộn, đạo-lý suy đồi ai ai cũng nhìn về danh với lợi, một chân trời xa thẵm u ám sau một cơn ác-mộng ghê hồn, Bần-Đạo thấy giờ đã điểm phải phổ-thông nền ĐẠI-ĐẠO, gieo rắc cho khắp cả nhân loại một nhân-chính êm-dịu để tồn-tại nhân-sinh"…

 

 

DỊCH SỬ

易 使
E: To command.
F: Donner un ordre.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng-Đế

"Vô-vi nhi dịch sử quần linh
"Thời thừa lục long du hành bất tức."

 

 

DIÊM CUNG

閻 宮

Diêm cung là Cõi Âm phủ, cõi Địa ngục.

Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu có câu:

"Chốn Tây phương đường đi thong thả,
"Cõi Diêm cung tha quả vong căn."

Thi văn dạy Đạo rằng:

Ðồng phồn đưa rước viếng Diêm Cung,
Ai đã trước đi hỏi nhắn cùng.
Trời với Diêm Ðình đôi ngõ trở,
Muốn toan thoát tục liệu mà dùng.

 

 

DIÊM ĐẾ

閻 帝

Kinh Sám Hối có câu:

"Nhờ Diêm-Đế đức cao ân nặng,
"Tìm lúa khoai người đặng no lòng."

 

 

DIÊM ĐÌNH

閻 廷

Bát Nương Diêu Trì Cung giải về Âm quang:

"Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm Đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu."

Thất Nương Diêu-Trì-Cung trả lời duyên cớ nào mà thác:

Trời già đành đoạn nợ ba sinh
Bèo nước xẻ hai một gánh tình
Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỉ,
Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình.

Kinh Sám Hối có câu:

"Lòng lang độc vui cười hớn-hở,
"Chốn Diêm-Đình phạt quở trừng răn."

 

 

DIÊM VƯƠNG (Phật Học)

閻 王
F: Roi des enfers.

Diêm Vương gọi trọn âm là Diêm-Ma-Vương hoặc Diêm-La. Trong huyền thoại Phật giáo, thì Diêm Vương là chúa tể của Ðịa ngục. Theo truyền thuyết, Diêm Vương nguyên là vua của xứ Vệ-xá-li. Trong một trận chiến tranh đẫm máu, ông ước nguyện làm vua Địa ngục và quả nhiên được tái sinh làm Diêm Vương. Diêm Vương có 8 tướng quân và 80.000 binh sĩ. Mỗi ngày ba lần Diêm Vương và các tướng sĩ phải chịu hình phạt bị đổ đồng sôi vào miệng cho đến khi tội ác của họ được tha thứ. Diêm Vương là người phái cái già, cái chết đến cho con người, nhắc nhở họ đừng làm gì trái với đạo lý. Diêm Vương có người em gái là Yami, nữ chúa cai trị nữ nhân ở Địa ngục. (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

Kinh Cao-Đài. Bài Sám Hối có câu:

"Ăn gian xới bớt cho mình,
"Dầu qua dương pháp, luật hành Diêm-Vương."

 

 

DIỄM PHƯỚC

豔 福
F: Bonheur absolu, bonheur rare.

Hạnh phúc rất đẹp, hạnh phuc hiếm có.

Thầy dạy cho người Pháp hầu Đàn: "Hỡi nầy dân tộc có diễm phước, Thầy sẽ làm thỏa mãn tánh hiếu kỳ của con. Là loài người, các con có biết tự đâu các con đến chăng? Trong vạn vật hiện hữu trên quả địa cầu nầy, các con là kẻ được ban ân huệ nhiều hơn cả; Thầy đem các con đến tận Thầy bằng cả tinh thần lẫn trí huệ. Các con có đủ bằng chứng để tự biết mình do sự thăng phẩm vị thiêng liêng".

Chính Đức Hộ-Pháp cũng xác nhận: "Bần-Đạo có nói, nhờ hồng-ân đặc-biệt của Đức Chí-Tôn, Bần-Đạo được diễm phúc hội-hiệp cùng Ngài và trước khi hội-hiệp cùng Ngài, Bần Đạo cũng đã được hội-kiến cùng các Đấng Thiêng-Liêng nơi cõi Thiêng-Liêng Hằng-Sống."

 

 

DIÊN TRÌ

延 持
F: Retarder, ajourner.

Thầy dạy: ".. Chư chúng sanh khá lưu ý mà lo hành Đạo cho khỏi bị lạc nơi con đường tội lỗi. Phải ráng tìm con đường chánh đáng mà dìu chơn tục, chớ để diên trì ngày tháng rồi sau ăn năn rất muộn."

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Cả kêu thức tỉnh hỡi ai,
Thành tâm hối ngộ Cao Đài cứu nguy.
Nếu mà dụ dự diên trì,
Phải cam chịu lấy nạn nguy buổi nầy.

 

 

DIÊN NIÊN ÍCH THỌ

延年益 壽
E: To lengthen life
F: Prolonger la vie.

Diên: Lâu dài, kéo dài. Niên: năm, tuổi. Ích: thêm lên. Thọ: sống lâu. Diên niên ích thọ là kéo dài tuổi tác cho được sống lâu.

 

 

DIỆN BÍCH (Phật Học)

面 壁

Diện bích (J: menpeki) là "quay mặt nhìn tường". Danh từ chỉ Bồ-đề Ðạt-ma ngồi thiền đối tường chín năm tại chùa Thiếu Lâm. Vì vậy mà danh từ Diện bích trở thành đồng nghĩa với Tọa thiền. Trong tông Tào Ðộng tại Nhật, các Thiền sinh thường xoay mặt vào tường ngồi thiền trong khi các vị thuộc tông Lâm Tế lại xoay mặt vào khu chính giữa của thiền đường. Trong nhiều bức tranh trình bày Bồ-đề Ðạt-ma, người ta thường vẽ Ngài xoay mặt vào một bức tường đá tọa thiền.

 "Diện bích" không chỉ là yếu tố, điều kiện bên ngoài của việc tu tập thiền định – trong một ý nghĩa thâm sâu khác thì nó mô tả tâm trạng của một hành giả tham thiền. Vị này một mặt muốn tiến bước trên con đường tu tập để đạt giác ngộ, mặt khác lại bị đoạt hết những phương pháp hỗ trợ, những khái niệm về đường đi và mục đích trong khi tu thiền và vì vậy phải đứng trước một tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", không thể tiến lên một bước như đứng trước một bức tường vĩ đại. Tâm trạng này và sự tuyệt vọng phát sinh từ đây có thể là một yếu tố để Thiền sinh xả bỏ tất cả những ý nghĩ, nguyện vọng, khái niệm và mục đích, hoát nhiên nhảy một bước phá vỡ bức tường nhị nguyên – phá vỡ ở đây có nghĩa là sự trực nhận rằng, bức tường này xưa nay chưa hề có.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

DIỆT

Diệt 滅: Làm mất đi, trừ bỏ.

Kinh Phật-Mẫu có câu:

"Kỳ khai tạo nhứt linh đài
"Diệt hình tà pháp cường khai đại-đồng
"Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch
"Qui thiên-lương quyết sách vận-trù
"Xuân-thu Phất-chủ, Bát-du
"Hiệp qui tam giáo hữu cầu chi chơn."

 

 

DIỆT CHỦNG

滅 種
F: Exterminer une race.

Đức Hộ-Pháp nói: "Các con nhớ rằng: dữ tận hiền thăng, mạnh thua yếu được, nhu nhược trường tồn, Xỉ cương tắc chiết. Nhơn loại trả quả với nhau các con chịu cái nạn chung, trả từ đời Hồng Bàng tới giờ. Tổ phụ của chúng ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn quả ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong."

 

 

DIỆT DỊ ĐOAN TRỪ MÊ TÍN

滅 異 端 除 迷 信

"Đức Jésus de Nazareth (gọi Christ) bởi lòng Nhơn Cứu thế lập nên Thánh Giáo Gia-Tô; Ngài mượn bác ái nhân sanh đặng thế mặt Chí-Tôn khai hóa, xem phổ tế chúng sanh rằng trọng, nên chuyên lo giúp khó trợ nghèo: dỗ kẻ dữ, dạy người ngu, ngó chơn thật mạng sanh hành thiện đạo, diệt dị đoan, trừ mê tín, dụng Chơn lý để răn đời, nhìn lương tâm là hình ảnh của Trời, lấy trí tuệ vẽ tươi Thiên cảnh."

 

 

DIỆT ĐỘ

滅 渡
E: To enter Nirvana.
F: Entrer au Nirvana.

Diệt: Trừ bỏ, mất đi, tiêu diệt. Độ: cứu giúp qua sông.

Đây là từ ngữ của Phật giáo có nghĩa là tiêu trừ nhân quả của vòng sanh tử luân hồi, qua khỏi biển khổ đến bờ giác.

Như thế, diệt độ là chỉ sự chết của thể xác, linh hồn thoát ra nhập vào cõi Niết Bàn (cõi Thiêng Liêng Hằng Sống).

Kinh Niết Bàn: Do diệt sinh tử nên gọi là diệt độ. Thuật ngữ "Diệt độ" thường dùng để chỉ cái chết của các vị Tổ Sư Phật giáo, hay các cao tăng đắc đạo.

Đạo Cao Đài thì dùng các từ ngữ: Qui Thiên: Trở về Trời, chỉ cái chết của Đức Giáo Tông hay Đức Hộ Pháp.

Đăng Tiên: Lên cõi Tiên, chỉ cái chết của các Chức sắc hàng Tiên vị.

 

 

DIỆT HÌNH

滅 形
E: To detroy the material form.
F: Détruire la forme matérielle.

(Diệt 滅: làm cho tiêu hủy; Hình 形: hình dáng, sắc tướng). Diệt hình là tiêu diệt hình thể sắc tướng, âm thanh hoặc những gì hữu thể có thể làm cho vương vấn lòng người tu.

Với tôn giáo thì: Sắc tướng là cái hữu hình, mà hữu hình là hữu hoại. Như vậy sắc tướng, hình thể thì bị hư hoại, có thể diệt được. Trái lại với sắc tướng là vô tướng, vô sắc hay vô hình là thể thường tồn, bất diệt. Thân xác là sắc tướng nên dễ bị diệt, linh hồn là thể vô tướng nên thường còn, sống mãi.

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Quản bao thập ác lục hình
"Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn."

 

 

DIỆT HÓA

滅 化

Có thể định nghĩa Tà Chánh như sau:

- Chánh là những việc nào giúp cho sự tiến hóa của người và vạn vật được tốt đẹp, hay bảo tồn sự tiến hóa ấy. Những việc ấy cũng được gọi là Thiện.

- Tà là những việc làm trái lại, tức là những việc làm nào có hại cho sự tiến hóa hay đi ngược lại sự tiến hóa của người và vật trong Càn Khôn Vũ Trụ: đó là sự diệt hóa. Những việc làm diệt hóa được gọi là Ác. Ðó là quan niệm triết lý về Tà Chánh và Thiện Ác của Ðạo Cao Ðài.

 

 

DIỆT PHÀM

滅 凡
E: To detroy the mediocrity.
F: Détruire la médiocrité.

Diệt: Trừ bỏ, mất đi, tiêu diệt. Phàm: tầm thường thấp kém. Diệt phàm là trừ bỏ những cái tầm thường thấp kém của mình để vươn mình lên chỗ cao thượng.

Cái phàm của con người tâm phàm, tánh phàm, trí phàm.

Diệt phàm để cho tâm phàm mất đi, tâm Thánh hiện ra (diệt cái tâm phàm tục).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Diệt phàm gắng chí thoát mê tân.

 

 

DIỆT TẬN PHÀM TÂM

滅 儘 凡 心

Thầy dạy Phối sư Thơ::"Cái trách nhậm của ba con rất quan hệ trong việc Đạo, nhứt là Thơ, con đã hưởng chán mùi trần, con đã đủ biết điều hay điều dở ở đời nầy ra làm sao. Con phải riêng nghĩ lại tiền căn mà đừng mến hồng trần, vì là chốn khổ hải đó con ôi! Thơ, như con không chê việc phò cơ thì Thầy cho chấp cơ với Hậu những lúc có đàn tại nhà con. Còn bạn phò loan của Hậu còn lâu gặp. Thầy đã cho phép nó kiếm tập rồi. Con khá nghe lời Thầy, việc Bút Cơ là việc lớn trong Đạo, nên khi nào phò cơ chấp bút, phải diệt tận phàm tâm, đừng lo lượng điều chi trong trí của con. Phải biết dùng cái chí Thánh chí Phật của con mà làm cho xứng đáng cái vai tuồng mà Thầy đã định. Con ôi! Cái bả vinh hoa, con đã thấy tường tận rồi, nào có ra chi, chi bằng biết Đạo hết lòng độ vớt chúng sanh, trẻ thơ trông cậy nơi con nhiều đó con à! Cái công quả ấy, nếu con làm được thì con hưởng nhãn tiền, vì con làm nghĩa cho nhơn sanh thì con được toại chí, rồi cái đạo tâm của con nó nở như tòa sen. Con sẽ thấy ấn chứng nhãn tiền, chớ không phải đợi sau mới thấy đâu. Con đã hiểu ý Thầy chưa? Tự ý con muốn định sao, Thầy cho vậy."

 

 

DIỆT TỤC KIẾP

滅 俗 刧

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Diệt tục kiếp trần-duyên oan trái,
"Chưởng đào tiên thủ giải trường-tồn."

Nhờ Phật Mẫu định cho ta trả nợ oan trái, Phật Mẫu có quyền sửa cải kiếp luân hồi định cho ta lập công mà trả quả.

 

 

DIỆT TỤC XỦ PHÀM

Thầy dạy: "Thầy thấy nhiều đứa xả thân cầu Ðạo, diệt tục xủ phàm để mình làm hướng đạo. Hỏi vậy có ai xứng đáng chưa? Ôi! Thầy vì mấy chục ức nguyên nhân, không nỡ để cho ngôi phẩm tan tành, chớ lấy luật Thiên Thơ thì không một ai dự vào Kim Bảng."

 

 

DIỆT TRẦN

滅 塵

Thầy dạy: "- ĐỨC! Cái công quả của con là Chấp Cơ truyền Đạo. Nghe Thầy dạy điều thiếu sót. Như trước khi muốn Thủ Cơ thì phải lo diệt trần, là đừng để vào trí của con một ý muốn riêng chi hết. Cầm Cơ thì trí não thanh tịnh, đừng sắm sửa vào trí chi hết, vì là phần riêng của con thì Thầy lấy chi mà ứng vào đó cho đặng. Con phải giữ trí tỉnh táo, khi Cơ lên thì Thầy ứng câu gì vào trí, con viết ra câu ấy. Thầy giáng tâm của con. Như trí con choán hết ý tứ Thầy thì đâu đặng linh nghiệm".

 

 

DIỆT TRẦN TÌNH

滅 塵 情

Diệt trần tình 滅 塵 情 là Diệt những tình cảm xấu xa của con người nơi cõi trần.

Theo Phật, trần gian là cõi uế-trược, nên những thứ tình cảm của con người đối xử với nhau nơi cõi ấy cũng xấu xa ô trược. Người ta chia tình cảm của con người ra làm bảy thứ, gọi là thất tình. Đó là: Hỷ (mừng), Ái (Yêu) Lạc (vui), DỤC (muốn), Ai (buồn), Ố (ghét), Nộ (giận). Ngay khi còn sống đã phải tu tâm luyện tánh hằng ngày, đến lúc chết mới có thể nhớ lại những điều phải làm trên đường về.

Trong Kinh Tận độ của Cao Đài, nội dung thường hay nhắc nhở các Chơn linh người quá cố, khi thoát khỏi được thân phàm xác thịt này rồi thì phải siêu thoát lên một cõi giới cao hơn, nhẹ nhàng hơn, chứ đừng luyến tiếc cõi trần lao tục lụy đầy những khổ đau phiền não này. Qua lời Kinh dặn:

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối viết:

"Cảnh thăng trổi gót cho mau,
"Xa vòng tục lự đặng chầu Chí Linh."

Kinh Khi Đã Chết rồi viết:

"Cửa Tây phương khá bay đến chốn,
"Diệt trần tình vui hưởng tiêu diêu."

Kinh Tẫn Liệm viết:

"Từ từ Cực Lạc an vui,
"Lánh nơi trược khí hưởng mùi siêu thăng."

Kinh Hạ Huyệt viết:

"Giải thi lánh chốn đọa đày,
"Chơn linh trong sạch ra ngoài Càn Khôn."

Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu nhắc nhở:

"Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,
"Diệt trần tình Cam Lộ tẩy nhơ."

 

 

DIỆT TRÍ PHÀM

滅 智 凡

(Diệt: Tiêu diệt, làm cho mất đi. Trí phàm: hay phàm trí) Trí của người phàm phu, tức là trí tầm thường của kẻ chưa dứt phiền não, còn luyến ái tham dục, chìm đắm trong đường danh nẻo lợi, chưa giác ngộ.

Kinh Nhập Hội có câu:

"Đại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn,
"Diệt trí phàm: Hờn, giận, ghét, ganh"

 

 

DIỆT PHẠT

滅 罰

Thầy dạy: Ngày 11-12-1926 (âl 7-11-Bính Dần)

"Ngày vui vẻ của sanh linh đã mòn, họa Thiên điều đã cận, Càn khôn Thế giới còn đeo đuổi, dụng thất đức vô nhân mà gieo thảm chất sầu trong nhân loại. Họa Âu tai Á sẽ lần lần thay phiên nhau, dụng luật Thiên đình mà diệt phạt người vô đạo. Càn khôn cũng vì đó mà phải điên đảo. Thầy lấy đức háo sanh mở Ðạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần, tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt. Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị Tà yêu cám dỗ."

 

 

DIỆT VONG

滅 亡
E: To be extinction.
F: Être extinctif.

Diệt vong 滅 亡 là làm cho mất hết.

Thầy dạy: "Tu hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh thiêng liêng. Thầy thấy nhiều, tu cũng muốn tu mà thế tục cũng không muốn chừa bỏ. Thế tục là nét dìu dắt cho mất tánh thiêng liêng, phải lấy nghị lực cang tâm mà kềm chế, thì cái lối diệt vong mới chẳng làm uổng công phu hành đạo cho".

Đức Hộ-Pháp nhấn mạnh: "Trái lại, nhân loại vẫn cứ bị qua phân và còn phải đau khổ nhiều vì cuộc xung đột cứ kéo dài không có lối thoát. Chúng ta đều lo lắng tự hỏi rằng Thế giới sẽ đi tới đâu, nếu không phải đi đến chỗ diệt vong?"

Kinh Đại Tường có câu:

"Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,
"Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong."

 

 

DIÊU (Xem Cao Quỳnh Diêu)

Thầy dạy: "Diêu! Con chưa đặng định thần khi Thầy giáng há? Những lời Thầy dạy con, phải sắp đặt phần nhơn đạo, rồi lấy hồn xác con mà dùng về việc Đạo, nghĩa là con phải cho xong phận sự làm người rồi lo hành Đạo mà thôi, con à!Thầy còn dạy con nhiều nữa, Diêu!

 

 

DIÊU CUNG (Xem Diêu-Trì-Cung)

Đức Phật-Mẫu ban cho Thi:

Diêu Cung Phật Mẫu rất hân hoan,
Vội ngự Thanh Loan đến địa hòan.
Xưa bồi tâm Thánh nơi Hớn Đế,
Nay thối linh đô chốn Nậm Bàng (?).
Biển trần lấm khách còn mê luyến,
Đường Đạo vì con phải luận bàn.
Sắc chỉ Tam Kỳ chầu Hội Yến,
Phái vàng mẹ lãnh ngự trần gian.

 

 

DIÊU ĐỘNG

搖 動

Diêu động 搖動 hay dao động là lung lay, đưa qua đưa lại, tức là làm cho lay động, nhất là trong tâm hồn người tu rất dễ xúc động. Diêu động tâm tu 搖動心修 là làm cho thức tỉnh tâm tu hành.

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Cảm quang diêu động tâm tu,
"Khai cơ giải thoát mở tù Phong Đô."

 

 

DIÊU TRÌ CUNG

瑤 池 宮
E: Palace at the lake of jade.
F: Palais de Bouddha – Mère.

Diêu Trì Cung 瑤 池 宮: Diêu Trì hay Dao Trì là một cái ao được làm bằng ngọc Dao. Ao Dao Trì nằm nơi cung ngự của Đức Phật Mẫu, nên cung này được gọi là Diêu Trì Cung, Phật Mẫu được gọi là Diêu Trì Phật Mẫu hay Diêu Trì Kim Mẫu.

Dưới quyền Phật-Mẫu có Cửu vị Tiên Nương trông nom về cơ giáo hóa Vạn linh.

DIÊU-TRÌ-CUNG là gì? - Là Cung Điện bằng Ngọc Diêu ở bên ao Thất Bửu. Nơi Ao có một Đài phát hiện Âm quang. Đài ấy thâu lằn sanh quang của ngôi Thái cực rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên Chơn thần cho Vạn linh trong Càn khôn vũ trụ. Phật Mẫu là Đấng nắm cơ sanh hóa, thay quyền Chí-Tôn đứng ra thâu cả Thập Thiên Can đem hiệp với Địa Chi mà tạo ra vạn vật. Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai, khi Chí-Tôn chưa tạo hóa, lằn Âm khí ấy là Diêu Trì-Cung chứa để tinh vi vạn vật, tỷ như cái Âm quang phụ nữ có trứng cho loài người. Khi Chí-Tôn đem dương quang ấm áp mà làm cho hóa sanh thì cái khoảng Âm quang phải thối trầm làm tinh đẩu, là cơ quan sanh hóa vạn linh. Song lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Thượng Đế chưa chiếu giám đến thì phải còn tối-tăm mịt mờ chẳng sanh, chẳng hóa. Vậy thì nơi khiếm ánh Thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay Địa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu. Có nhiều hồn còn ở lại đấy trót ngàn năm chưa thoát qua đặng. Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ các chơn hồn, dầu sa đọa, linh hồn cũng có người giúp đỡ".

Đức Hộ-Pháp tả lại DIÊU TRÌ CUNG nơi Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống ngày 19-09-Mậu Tý (dl. 21-10-1948).

 
   

Chúng ta thấy xa xa kia phất phới một cây phướn theo chiều gió phất phơ, màu chiếu diệu, đầy hào quang, mà cây phướn ấy lại quen, phướn ấy là tình cố hữu với chúng ta nữa. Bần-Đạo dám nói chắc rằng những kẻ nào gốc-gác ở Tây-Ninh này đã lìa khỏi xứ sở lâu rồi, đến khi về tới Trảng-Bàng trực lên ngó thấy hình dạng Núi Bà xanh ngắt kia, bắt nhớ lại mọi cảnh đáo-để. Bần-Đạo nói cái tình của mình đối với cây phướn trước mặt kia, có muôn triệu sự mến yêu. Bởi vậy nên chúng ta ngó thấy, thấy rồi dường như kẻ ấy muốn chạy sao cho mau đến Tây-Ninh, đến đặng thấy Tòa lầu nguy-nga chớn chở đẹp đẽ vô cùng. Tại đó cũng biến hóa vô biên nào nhà nghề, nào nhà kiến trúc, làm cho cả tinh-thần phải gẫm nghĩ xem mê man, không có họa đồ nào vẽ được hết. Chúng ta thấy bước qua nền bên kia chúng ta đi đó chẳng phải cát đất, nó là hào-quang chiếu diệu, chúng ta vô Tòa lầu các ấy đủ các hạng người chúng ta quen thuộc hồi trước. Bần-Đạo chẳng cần nói cả thảy cũng đều biết, nội bao nhiêu đó chúng ta sẽ biết cảnh đó thế nào, chúng ta được gặp bạn thân yêu không còn e lệ Nam Nữ. Kìa bạn ôi, bạn thân mến, không có gì ngần ngại nữa, tình thương chúng ta sống lại, ân-ái chập chồng, anh em xác thịt đối với cảnh ấy nó không nghĩa lý gì hết. Bần-Đạo nói rằng cái Luật Thương yêu ấy nó hiện tượng ra không phải vô nhơn-đạo, nó hiện tượng tình hạnh phúc lớn lao làm cả mấy người dòm thấy hiểu hạnh phúc, vui hưởng cái tình ấy, họ để cái thâm tình nơi cảnh ấy, có một điều quyền-năng vô tận mà chúng ta không hưởng được, chúng ta không thể hưởng được cảnh ấy nơi thế gian này. Ngộ nghĩnh thay! Tỷ như chúng ta đã lưu-lạc cõi xa; khi Bần-Đạo về đến thấy cảnh ấy, thấy nó nồng nàn thâm-thúy biết bao nhiêu, họ mừng rỡ tiếp rước. Bần-Đạo nói, nơi cảnh ấy chúng ta muốn gì đều có trước mắt, nên giờ khắc này, chúng ta vừa tưởng muốn người bạn nào thì sẽ có người bạn ấy ngay. Bần Đạo căn dặn một điều, đặng ngày sau về cõi Thiêng-Liêng khỏi ân-hận là: vợ chồng với nhau, Bần Đạo nói đồng ý-kiến hay không, là về tâm lý để về đến cõi ấy rồi ân-hận! Bần-Đạo khó tả được vì sự thương yêu của họ còn mặn nồng yêu ái hơn nữa, những hạnh-phúc đã qua họ rớt giọt nước mắt đau thương, trong thế-gian làm người một trăm năm, còn cảnh kia đời đời kiếp kiếp. Chúng ta đi tới, vô cửa, họ sẽ dắt chúng ta đi tới nữa thấy vui hớn-hở vào thân ta, không biết vui hưởng thế nào có phải chăng là nhờ nơi cửa Đạo."

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu:

"Vùng thoại-khí bát hồn vận-chuyển,
"Tạo-Hóa-Thiên sanh biến vô cùng.
"Hội Bàn-Đào Diêu-Trì-Cung,
"Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban."

 

 

DIÊU TRÌ CỬU NƯƠNG

E: The nine Muses in the palace of jade.
F: Les neuf Muses dans les palais de jade.

Ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (dl 24-9-1942).

Phò loan: Khai Đạo - Hiến Đạo.

DIÊU TRÌ KIM MẪU

Mừng các con nam nữ. MẸ vui được thấy các con biết lo cho chúng sanh tức là lo cho mình vậy. Mình tu cho chúng sanh, mình lập vị cho chúng sanh, tức là mình lập vị cho mình. Phải hiểu cho rõ, nếu chúng sanh chưa ai đắc đạo thì ta phải cầu nguyện cho người đắc đạo trước ta.

Nếu mình cứ mong cho mình cao phẩm giá, tức là trái với Thiên ý, mình phải hằng ngày trau giồi tánh đức, lo chung cho thiên hạ, ấy là phương pháp tu tắt đó.

Thường ngày công phu mà mình chất chứa tánh tự kiêu thì cũng không mong đắc Chánh quả được, bất quá đắc một vị Địa Tiên mà thôi.

Vậy muốn cho hoàn toàn thì ráng tập cho biết trừ các điều xấu xa, tập thường ngày tầm Chơn lý, kiếm hiểu huyền vi, răn mình hằng bữa, đó là đường chánh sáng láng cứ lo bước tới.

Đạo chia ra ba Chi: Thế, Pháp, Đạo.

Mình tu cho đúng theo Luật, hành theo Pháp, thì chúng sanh nơi thế ca tụng công đức mình, trọng kính mình, ấy là mình đắc Thế. Hễ đắc Thế thì phải tầm Pháp đặng cứu chữa, dạy bảo theo Pháp. Nếu mình hành Pháp hiển linh, chúng sanh ứng mộ thì mình đắc Pháp. Nếu đắc Pháp thì phải tầm Đạo. Đạo là vô vi, muốn tầm không phải dễ, mà dễ khó là do nơi mình. Nếu đi được hai khoản thì khoản sau nầy phải ráng, nếu đắc Đạo thì nhập cõi Niết Bàn. MẸ ban ơn cho các con Nam Nữ.

(Tiếp theo, Cửu vị Tiên Nương lần lượt giáng cơ cho thi:

Kính tặng).

Nhứt khí tạo đoan cả Địa cầu,
Nương theo Mẹ cả giảng vài câu.
Kính dâng Tam bửu hằng năm vẹn,
Tặng lễ mừng thầm đắc chẳng lâu.

***

Nhị châu Chơn võ nhớ cùng không,
Nương cõi Thiên cung gởi bóng hồng.
Kính tặng vài câu mừng bạn cũ,
Tặng người hiếu hạnh chịu phòng không.

***

Tam Kỳ khai mở Đạo lần ba,
Nương náu ít lâu rõ báu hòa.
Kính lượng bề trên ban đức tánh,
Tặng người tài trí hứng Đài Cao.

***

Tứ đức vẹn toàn mới xứng danh,
Nương hơi nhang khói chỉ điềm lành.
Kính mừng quí vị ân cần tịnh,
Tặng khách nâu sồng diệt quới khanh.

***

Ngũ hành vận chuyển đoạt Huyền Thiên,
Nương níu đôi năm khỏe tự nhiên.
Kính có công tu nay gặp hội,
Tặng mình hữu hạnh phục qui nguyên.

***

Lục lạc khua rân cả ngũ châu,
Nương chi vật chất phải âu sầu.
Kính xin tỉnh giấc lo tu sớm,
Tặng quyết cầu ân cổi ách sầu.

***

Thất thế náu nương chớ tưởng lâu,
Nương cùng quí vị chỉ đường cầu.
Kính đem đến tận bờ dương liễu,
Tặng nghĩa đài sơn kẻ chực chầu.

***

Bát vu hành khất bữa mơi chiều,
Nương tưởng mình to giống kẻ thiêu.
Kính đến Tây phương tầm Xá lợi,
Tặng tình đồng đạo phải đồng yêu.

***

Cửu Thiên mở cửa rước người hiền,
Nương chí dắt dìu khách hữu duyên.
Kính lập công to qui cựu vị,
Tặng tiền phát khởi lập căn nguyên.

***

Thu cúc hứng sương khách kiếm mùi,
Chín Cô cùng MẸ đến chung vui.
Thương nhau tầm kiếm chừng nào gặp,
Công đức vẹn toàn sẽ hiệp ngôi.

THĂNG.

 

 

DIÊU TRÌ KIM MẪU

珧 池金母
E: Buddha-Mother.
F: Bouddha-Mère.

Câu 21 trong bài U-Minh-Chung có câu: "Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô cực Thiên Tôn".

Năm Đinh Sửu (1937).

DIÊU TRÌ KIM MẪU

MẸ mừng các con ái nữ.

Lành thay! Lành thay! Ngày nay MẸ rất hân hạnh vui mừng thấy các con níu nhau hồi về với MẸ, chạnh nhớ nỗi niềm từ lúc nọ, nung lò bảo sanh, đùm bọc các con cho đến nay đã sáu triệu niên dư, có lúc MẸ chi xiết nỗi mừng, MẸ tưởng nhớ rằng các con thân mến đã dắt nhau hồi về với MẸ. Nào hay đâu MẸ mắc mưu với đàn con. MẸ hồi tưởng khi các con vắng MẸ trửng giỡn trước ao sen, gió thổi lắc lơ cành sen nghiêng qua lắc lại. Ôi! Đau thảm cho già chống gậy ngóng trông, mà các con đành lìa MẸ, xa khơi nơi vòng thế tục mà quên cả cội căn. Nay nhờ Đại Đạo hoằng khai ân xá, nên chi MẸ mới tầm đặng các con. Vậy các con hãy hiểu rằng: Trong kiếp chót cuối cùng nầy mà lo tu niệm, bồi công lập đức, hầu có trở về với MẸ. MẸ ban ơn cho các con. Tòa sen ngôi báu rực rỡ chói ngời, hạnh hưởng tiêu diêu, đời đời khoái lạc. Chớ các con ở chi trần thế mà bụi tục vấn vương cho tấm thân đày đọa. Vậy MẸ cho các con phép cơ tạo Thiên.

MẸ dạy: THI BÀI

Nơi Diêu Điện, lưỡng ban chầu chực,
Nhớ đến con bứt rứt lòng già.
Gậy nâng chẳng quản đường xa,
Gậy châm mây bạc đưa già đến đây.

Nơi đàn nội sum vầy đông đủ,
Nhìn các con ủ rủ tấm lòng.
Thương con khổ não chập chồng,
Đau lòng MẸ xuống quyết bồng con lên.

Con ôi! Khá tâm bền sức gắng,
Những lời vàng MẸ dặn ngày xưa.
Khiêm cung, nhẫn nại, lọc lừa,
Giúp đời nào nại sớm trưa tháng ngày.

Cõi trần tục trưng bày đủ cách,
Nhủ các con xa vách tứ tường.
Thảm cho con dại lầm đường,
Nay Thầy mở Đạo, buồm trương rước về.

Đem con trẻ trở về Tiên cảnh,
Chọn linh căn tánh hạnh thuần lương.
Long Hoa sắp soạn khai trường,
Thi tài chọn đức, con bương kịp giờ.

Nhìn kỹ lại con thơ MẸ thảm,
Ruột chín chiều đòi đoạn thắt đau.
Thấy con lòng Mẹ xót xao,
Con ơi con hỡi! Con nào thấu chăng?

Nhắc đến đây khó dằn giọt lệ,
Thương con khờ chẳng kể thân già.
Nước non chớn chở bao la,
Quyết tìm một gậy mệt già viếng con.

Đối với trẻ cho tròn phận MẸ,
Mượn vần thơ thỏ thẻ đêm khuya.
MẸ khuyên em chị chớ lìa,
Học gương Diệu Thiện danh bia lưu truyền.

MẸ dành để đào Tiên cho trẻ,
Rượu bồ đào tay lẹ con nâng.
Mây vàng sẵn chực bên chân,
Đưa đường Tiên cảnh, Chín từng hồi nguyên.

MẸ từ giã:

Từ giã các con ở lại trần,
MẸ về Tiên cảnh dạ bâng khuâng.
Khuyên con gắng chí lo tu niệm,
Dứt điển MẸ mau tách dặm lần.

Thăng

 

 

DIỆU HUYỀN

妙 玄
E: Mysterious.
F: Mystérieux.

Diệu huyền 妙 玄 hay huyền diệu, nghĩa là sâu kín khéo léo, mà phàm trí không thể nghĩ bàn được

Kinh Đưa Linh Cữu có câu:

"Nam Mô Tam Giáo diệu huyền,
"Tuyệt luân Bát Nhã đưa thuyền độ vong."

Đức Lý nói: Nghe thi nầy và kiếm hiểu:

Gay chèo thoát khổ đầy linh cảm,
Rạch nước trừ oan đủ diệu huyền.

 

 

DIỆU HUYỀN CHÍ TÔN

妙 玄至 尊

Kinh Đại Tường có câu:

"Tạo Đời cải dữ ra hiền,
"Bảo-sanh nắm giữ diệu huyền CHÍ-TÔN."

 

 

DIỆU PHÁP

妙 法

Đức Chí-Tôn đến "Lập Pháp-Chánh-Truyền giao cho Hiệp Thiên Đài gìn-giữ trong đó có diệu-pháp của Chí Tôn đến lập vị cho con cái của Người tại thế-gian này. Ngài mượn xác thịt của con cái Ngài tổng hợp lại cho có trật-tự, có đẳng cấp tức nhiên là lập Thánh-Thể của Ngài; các phẩm-trật có liên quan với các phần-tử, tức nhiên Hội-Thánh tổng hợp lại là Thánh Thể của Ngài, mà hễ đạt quyền được tức nhiên về với Ngài được. Ấy vậy, Pháp-Chánh Hiệp-Thiên là phương định vị, lập quyền đặng hiệp một con cái của Chí Tôn cùng Chí-Tôn vậy".

Bà Đoàn thị Điểm giáng cho Thi:

Đường chiến thắng hỡi còn quyết trận,
Cầm gươm linh giỏi trấn sơn hà.
Dụng diệu pháp dẹp can qua,
Trị an thế giới mới là Chơn Quân.

 

 

DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH

妙 法 蓮 華 經

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (S: saddharmapuṇḍarīka-sūtra) cũng được gọi ngắn là kinh Pháp Hoa; Một trong những bộ kinh Ðại thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Tông Thiên Thai lấy Kinh này làm căn bản giáo pháp. Nội dung kinh này chứa đựng quan điểm chủ yếu của Ðại thừa, đó là giáo pháp về sự chuyển hóa của Phật tính và khả năng giải thoát. Kinh này do Đức Phật giảng trong cuối đời Ngài, được kết tập trong khoảng năm 200 (Tây lịch).

Kinh này do Phật giảng trên đỉnh Linh Thứu cho vô số người nghe gồm có nhiều loài khác nhau. Trong Kinh này, Phật chỉ rõ, tuy có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thật tế chúng chỉ là một. Các phương tiện khác nhau như Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa hay Bồ Tát thừa thật ra chỉ khác nhau vì phải cần phù hợp vào căn cơ của hành giả. Phật chỉ tùy cơ duyên, sử dụng các Phương tiện (s: upāya) mà nói Ba thừa nhưng thật chất chỉ có Phật thừa (s: buddhayāna) – nó dẫn đến Giác ngộ và bao trùm cả Ðại thừa lẫn Tiểu thừa. Quan điểm này được làm sáng tỏ bằng ẩn dụ, trong đó một người cha muốn cứu những đứa con ra khỏi một cái nhà đang cháy. Vì những đứa trẻ không chịu nghe lời chạy ra khỏi nhà, người cha đành phải hứa với mỗi đứa cho một món quà tùy theo ý thích của chúng, đứa thì được con nai, con dê, xe trâu... để chúng chịu ra ngoài.

Kinh này còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Tín tâm (s: śraddhā) trên bước đường giải thoát. Sau khi Phật giảng tới đó thì các vị Phật và Bồ Tát tuyên bố hỗ trợ kẻ tu hành để tăng phần tín tâm. Một phẩm quan trọng của kinh này với tên Phổ môn 普門品 được dành cho Quán Thế Âm, trong đó vị Bồ Tát này nói rất rõ sự hộ trì của mình đối với người tu học kinh Pháp Hoa. Phẩm Phổ môn này được Phật tử Trung Quốc và Việt Nam đặc biệt ưa thích và tụng đọc.

Trong kinh này, Đức Phật không còn được xem là vị Phật lịch sử nữa mà Ngài là dạng xuất hiện của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân), là thể tính đích thật của muôn loài. Mỗi chúng sinh đều xuất phát từ dạng chuyển hóa này của Phật tính và vì vậy đều có thể trở về với chân tính của mình, trở thành một vị Phật.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

DIỆU PHÁP THIÊNG LIÊNG

Đức Quyền Giáo Tông giáng ngày 16-10 Ất Hợi (1935)

"... Qua nói lại buổi tại thế Qua đã bị nhục nhã, Qua đã bị phản phúc, Qua đã bị khổ hạnh, Qua đã bị áp bức…. là do tại màn Đạo biến thiên, hầu tựu lại cho thế gian một diệu pháp Thiêng-liêng tương đối, nghĩa là Qua phải bị nhục cho Đạo đặng cao trọng …là tại số căn quả bất phước.

Hộ Pháp! Qua thấy nơi Thiên Thơ em khỏi ách ấy nên mới can đảm xúi em cầm quyền thống nhứt. Thoảng có điều chi ngăn trở mảy mún gì là do nơi căn sanh của nhân loại và Qua lại thấy đặng quyền lực vô biên của em nơi Hỗn-Nguơn-Tiên Cảnh nên vững dạ an lòng giúp em cầm giềng mối Đạo.

 

 

DIỆU QUANG

妙 光
E: Mysterious light
F: La lumière mystérieuse.

Diệu: Còn đọc là Diểu, Miểu: xa tít mù. Quang: ánh sáng. Diệu quang là ánh sáng huyền diệu.

Di Lạc Chơn Kinh:

"Năng chiếu diệu quang tiêu trừ nghiệt chướng."

 

 

DIỆU VÕ TIÊN ÔNG

Đức Hộ-Pháp nói: "Sau nầy mấy em có xin việc gì thì cầu nguyện Đức Diệu Võ Tiên Ông, Ngài đắc lịnh trấn nhậm núi nầy (núi Bà Đen), cai quản các vị Sơn Thần, thay cho Bà Lê Sơn Thánh Mẫu đến trấn nhậm vùng thổ địa".

 

 

DINH HƯ TIÊU TRƯỞNG

贏 虛 憔 長
E: Full and empty, decadent and prosperious.
F: Plein et vide,Décadent et prospère.

Dinh: Đầy đủ. : trống không. Dinh hư là khi đầy khi vơi, ý nói thịnh suy bất thường. Tiêu: mòn đi. Trưởng: lớn lên. Tiêu trưởng là khi xuống khi lên, biến đổi luôn luôn.

Dinh hư tiêu trưởng là chỉ những trạng thái biến đổi bất thường của cuộc đời, khi suy khi thịnh, khi vui khi buồn, vv... không bao giờ thịnh mãi hay suy mãi, luôn luôn biến đổi, cứ hết thịnh tới suy và hết suy tới thịnh.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Biết thế biết thời, biết dinh hư, biết tồn vong ưu liệt, rồi mới biết hổ mặt thẹn lòng.

 

 

DÌU DẮT

F: Conduire, soutenir, mener.

Nền Đạo Cao-Đài vốn là cơ-quan để nắm tay của đời dìu dắt vào trường học của trời mà chớ!. Đức Hộ-Pháp nói: "Duy có Tu mới có thể dìu dắt nhơn loại đi đến mục đích Đại-đồng Thế-giới, đem hòa bình toàn thiên hạ."

 

 

DO THÁI

F: Hébreux, juif, Israélite.

Lời Thầy dạy: "Nói đến Jésus Christ giờ phút này Do Thái vẫn chờ Chúa Cứu Thế. Họ không nhìn nhận Đức Jésus Christ là Chúa Cứu Thế, vì lý do gì? Vì lý do không theo đúng trong tiên tri đã định. Dân Do Thái vẫn chờ Chúa Cứu Thế mà thôi."

 

 

DÒ ĐON

E: To inform, doubtful.
F: S'informer, douteux.

: thử cho biết. Đon: hỏi thăm, thăm chừng. Dò đon là tìm tòi thăm hỏi cho biết. Ý nói: Việc chưa biết, còn ngờ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thông minh miệng thế mặc dò đon.
Vẻ tươi bợn thế nét dò đon.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Dò đon cho rõ nẻo Thiên thai,
Cái tiếng tài khen chẳng phải tài.
Mình Thánh, mình Hiền, mình biết lấy,
Tặng phong quá tiếng chớ nhờ ai.

 

 

DÒNG BÍCH

E: The current of greenish water.
F: Le courant de l’eau verdâtre.

Dòng: Dòng nước, đường nước chảy. Bích: màu xanh biếc. Dòng bích là dòng nước xanh biếc của biển khổ. Ý nói: Bích Hải, tức là biển khổ.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống.

"Đài ấy có 8 góc, kêu là Bát Quái Ðài, không thế gì chúng ta tả ra với lời nói đặng, bởi đài ấy huyền bí biến hóa vô cùng. Nó có 8 cửa, trong 8 cửa, chúng ta ngó thấy cả vạn linh và vật loại, các hình thể vạn linh đều xuất hiện, hình ảnh sáng suốt, hiện ra hào quang chiếu diệu. Trong 8 góc có 8 cái cầu, lạ thay, cầu ấy không phải bằng cây ván mà nó là 8 đạo hào quang. Cầu ấy bắc ngang bờ. Dưới cầu ấy, chúng ta ngó thấy dường như một Bích Hải, nước xao sóng dợn như biển sôi nổi đó vậy.

Lạ thay! Cầu ấy rất huyền diệu, ai đứng lên đó được mới biết mình nhập vô Bát Quái Ðài. Lúc để bước lên cầu, cầu ấy chuyển đi làm chúng ta phải yếu, đi không đặng, chúng ta muốn thối bộ. Khi chơn vừa bước tới, chính mình ta ngó thấy dường như mình yếu đi, nhưng người nào bước tới cũng đặng.

Đi được nửa chừng, nếu không đủ Thiên vị, hay vì tội tình oan gia nghiệt chướng chi mà chúng ta đã đào tạo nơi mặt thế nầy, chúng ta đi tới nửa cầu sẽ bị lọt xuống Bích Hải. Lọt xuống đó rồi, ta thấy hồi lúc đi, còn ở trên cầu, hình ảnh còn đẹp đẽ tốt tươi, hễ lọt xuống Bích Hải rồi chúng ta thấy hình thù đen thui, dị hợm lắm, ta không thể tưởng tượng, còn hơn loài mọi kia tối đen như vậy...

Chúng ta dòm phía dưới thấy đại hải mênh mông, nước cuộn xanh biếc, sóng dợn ba đào, mỗi làn sóng đề chữ KHỔ, chúng ta chia ra đi trên ấy, chúng ta thấy dợn hào quang nổi lên dữ tợn lắm, mấy chữ lớn là SANH, LÃO, BỊNH, TỬ, làn sóng dợn lên rồi hạ xuống, mỗi làn đều có đề một chữ KHỔ.

Bên kia bờ sông có một chiếc thuyền, thuyền ấy của Đức Quan Âm Bồ Tát vâng lịnh Đức Phật Di-Lạc đi độ sanh. Thuyền ấy qua qua lại lại..."

Vậy, Bích Hải là biển khổ. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật chèo thuyền Bát Nhã qua lại trên biển khổ để rước những người đầy đủ phước đức đem lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Dòng Bích chính là Bích Hải, là biển khổ đó vậy.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Dòng bích thuyền từ còn đợi bến.

 

 

DÒNG NGÂN

E: The milky way.
F: La voie lactée.

Dòng: Đường nước chảy. Ngân: màu sáng bạc. Dòng ngân là dòng sông Ngân Hà mà chúng ta thấy nằm vắt ngang bầu Trời.

Theo truyện Ngưu Lang và Chức Nữ, dòng sông Ngân Hà chia cắt tình yêu của đôi vợ chồng Ngưu Lang và Chức Nữ, nên nó là dòng sông đau khổ.

Ngân Hà nối liền với biển khổ. Cho nên, dòng Ngân là chỉ Biển khổ. (Xem chi tiết nơi chữ: Ngân Hà, vần Ng).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thuyền khơi đợi gió lướt dòng ngân,
Dẫn khách Nam qua khỏi bến trần.

 

 

DỐI - THIỆT

F: Faux, mentir – vrai.

Dối - Thiệt là hai hành động tương phản nhau. Kẻ nói dối là dụng ý xấu, làm cho người khác bị mắc lừa với một thủ đoạn gian mưu nào đó. Còn người thiệt là sự hành sử bằng một tấm chân tình, thành thật, với một ý tốt.

Thầy dạy ngày 29-01-Bính Dần (dl: 13-03-1926) rằng:

"Thầy cho các con biết trước đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả Môn đệ. Các con đủ hiểu rằng, phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối. Nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt. Cười."

 

 

DỐI TRÁ

F: Fait à la hâte, mal faconné, mal fait.

Thầy dạy:"Thầy vẫn đã thường nói với các con rằng: Thầy đến lập cho các con một nền Chơn Đạo, tức là mỗi sự chi dối trá là chẳng phải của Thầy. Thầy đến là chủ ý để dạy cả nhơn sanh đặng Hòa-bình chớ chẳng phải đến đặng giục nghịch lẫn nhau. Thầy lại thường nói sự sang trọng vinh hiển của các con chẳng phải nơi thế giới này."

 

 

DỐI NGƯỜI NÀO KHÁC DỐI TRỜI

Kinh Sám Hối có câu:

"Dối người nào khác dối Trời,
"Trời đâu dám dối ra đời ngỗ-ngang."

 

 

DỒN DẬP

F: Se précipiter.

Tiên Cô Thất-Nương Vương thị Lễ chính danh là Nữ Tiên ở Diêu-Trì-Cung, còn tên Đoàn Ngọc Quế cho thi:

Dồn-dập tương-tư oằn một gánh
Nỗi niềm tâm-sự tỏ cùng ai?

 

 

DỜI ĐỔI

Thi văn dạy Đạo có câu:

Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,
Vững bền vạn kiếp chẳng hề xao.

 

 

DU ĐẠO

游 盜
E: To rob and to pirate.
F: Voler et piller.

Trộm cướp.

 

 

DU ĐÃNG

盜 黨
F: Flâner, vagabonder.

Kinh Sám Hối có câu:

"Gái xướng-kỵ, trai thì du-đãng,
"Phá tan hoang gia sản suy-vi."

 

 

DU HÀNH BẤT TỨC

遊 行 不 息
E: To circulate without cease.
F: Circuler sans cesse.

Du: Đi rong chơi, đi chơi đó đây. Hành: đi. Bất: không. Tức: ngừng nghỉ. Du hành bất tức là đi đó đây khắp nơi không ngừng nghỉ.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế:

"Thời thừa lục long, du hành bất tức."

 

 

DU-GIÀ (JUDA) (Tên)

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

"551 năm sau Khổng Phu Tử mới có khai Ðạo bên Thái Tây, nên Thầy cho Ðức Chúa Jésus Christ giáng sanh khai Ðạo Thánh cho phù hạp với dân trí Âu Châu. Ðức Chúa Jésus cũng bị cường quyền Israel áp bức cho đến đổi, hồi ban sơ thì có 12 vị Thánh Tông Ðồ theo Ngài, mà sau còn có một Thánh Pierre mà thôi.... Nhưng Người cũng phải chối Chúa ba phen đặng tránh cường quyền bắt buộc. Chừng Ðạo thành thì có Du Già bắt Ngài mà nạp cho Chánh Phủ hành hình, đóng đinh trên cây Thánh Giá; hành xác Ngài gớm ghiếc như thế đặng cho nhơn sanh kinh khủng mà bỏ Ðạo, mà Ðạo Thánh cũng gieo truyền khắp cả hoàn cầu. Lúc Ðạo Gia Tô truyền qua Ðông Pháp thì vua An Nam cũng nhặt cấm, bắt mấy người theo Ðạo Gia Tô quá Thập Tự, ai không bước ngang qua thì bị tử hình. Hình phạt gớm ghê như thế mà cũng có người chí Thánh, thọ tử mà thôi chớ không chịu chối Ðạo. Xét kỹ lại, thiệt người xưa là Thánh Ðức, ít ai bì kịp, cứ giữ chánh tâm làm trọng, thủy chung như nhứt mà thôi".

 

 

DỤ


F: racolage.

(Dụ: Dỗ dành) dùng lời nói khéo khuyên người ta nghe theo mình, lấy đạo nghĩa khuyên người ta làm thiện.

Dùng phương pháp hay khéo để làm người khác nghe theo, hoặc chiều theo sở thích riêng mà hướng đến mục đích.

Đức Hộ-Pháp nói: "Ngày CHÍ-TÔN tình-cờ đến, vì ham thi-văn nên ban sơ DIÊU-TRÌ-CUNG đến DỤ bằng thi-văn tuyệt bút làm cho mê-mẩn tinh-thần. Hại thay! Nếu chẳng phải là nhà Thi sĩ ắt chưa bị bắt một cách dễ-dàng như thế. Vì ham văn chương thi-phú nên Ngài ráng dạy. CHÍ-TÔN đến ban đầu làm Bạn thân yêu, sau xưng thiệt danh Ngài, biểu Bần-Đạo phế đời theo THẦY lập ĐẠO. Khi ấy Bần-Đạo chưa tín-ngưỡng, bởi lẽ nòi-giống nước Nam còn tín-ngưỡng thập tàng lắm; không hiểu đúng, không căn-bản, nói rõ là không tín-ngưỡng gì hết".

 

 

DỤC

1) DỤC 欲 - 慾 (Phật Học)

Dục (S, P: kāma) Một trong những đặc trưng quan trọng của đời sống trong dục giới, thế giới thấp nhất của Ba thế giới (s: triloka). Dục là sự tham ái, một đối tượng thuộc về giác quan và sự thỏa mãn nơi đối tượng đó. Theo Đạo Phật, dục là một trong những chướng ngại lớn nhất của sự tu học. Người ta phân biệt năm thứ dục dựa trên năm giác quan: sự tham ái về sắc, về thanh âm, về hương, về mùi vị, về thân thể. Dục là một trong Ba độc (Ái, tham, ham muốn), Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) và một trong những Ô nhiễm (s: āśrava). (Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

2) DỤC
F: Vouloir, désirer.

Dục là ham muốn. Dục là một trong thất tình của con người.

Đức Hộ-Pháp nói: Chữ Dục là Tham muốn. Người có trăm muốn, ngàn muốn, muốn hoài không đủ, nào là muốn nhà cao lầu rộng, áo đẹp vợ xinh, đồ ăn mỹ vị, muốn thế nào cho được giàu sang trên thiên hạ. Các điều muốn ấy là về sự ích kỷ. Nếu được tấm lòng tham muốn về đạo đức nhơn nghĩa, ích nước lợi dân, ấy là sự muốn trở nên cao thượng. Tóm tắt lại, sự dục vọng của con người rất bao la quảng đại, đến khi còn một hơi thở cuối cùng mà mọi điều ham muốn cũng chưa đầy đủ".

 

3) DỤC
F: Élever et éducquer un enfant.

Dục là nuôi dưỡng, như dưỡng dục, cúc dục.

Đức Hộ-Pháp nói: "Chúng ta nói chữ DỤC tức nhiên chúng ta có thể nói rằng dưỡng dục. Ba món (Thể dục, Trí dục, Đức dục) ấy có ba chủ quyền của nó đặc biệt: Thân thể chúng ta đã nên người đây, đương sống đây chúng ta thọ ân vô biên vô tận trong kiếp sinh của ta là cha là mẹ. Nếu hai Đấng ấy không có dưỡng dục ta, thì ta đã chết, đã tiêu xác hồi nào rồi. Điều ấy Bần Đạo không cần phải minh biện rõ rệt cho lắm, cả toàn thể con cái Đức Chí Tôn Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy có con có hiểu điều ấy. Bởi thế Tiên Nho chúng ta đã có nói "Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân". Chúng ta có nuôi con mới biết được ơn cha mẹ đã sanh thành dưỡng dục".

 

 

DỤC TẤN

慾 晉
E: The desire of advancement.
F: Le désir de l’avancement.

Dục: Muốn, tham muốn. Tấn: tiến tới, tiến hóa. Dục tấn là mong muốn tiến tới, mong muốn tiến hóa.

 

 

DỤC TẤN TRÊN CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG HẰNG SỐNG

Đây là đề tài "Con đường Thiêng liêng hằng Sống" của Đức Hộ-Pháp thuyết về con đường trở về của kiếp người sau khi bỏ xác trần. Dục tấn là ý muốn đi nhanh, đi gấp cho mau tới đích. Vì sao phải dục tấn.? Đức Hộ-Pháp nói:

Đền-Thánh, đêm 13 tháng 8 năm Mậu-Tý (16-9-1948)

"Đêm nay Bần-Đạo thuyết Đạo có hơi dài chút rán ngồi nghe. Kể từ đêm nay Bần-Đạo bắt đầu thuyết một đề-tài trọng yếu, đề-tài này phải thuyết nhiều đêm mới hết, bởi thế cho nên cứ mỗi bốn đêm thì thuyết một lần. Bần-Đạo rán thúc nhặt cho con cái Đức Chí-Tôn có một bửu-bối nơi tay, để ngày kia tìm đường đoạt Đạo. Đề tài đêm nay là "Con đường Thiêng-Liêng Hằng Sống".

Trích bài 23. Đêm 26-01 năm Kỷ-Sửu (23-02-1949)

"Đêm nay Bần-Đạo giảng tiếp Dục-tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống. Từ hôm nào tới nay đình đãi đã lâu, có nhiều điều thúc-giục Bần-Đạo phải thuyết, thuyết cho gấp, thuyết đặng cho biết, bởi vì thấy họ cuốn gói trở về nhiều lắm, Nam-Nữ cũng vậy, cần đi cho hiểu cho quen Đường về của họ..

Đề-tài Dục tấn trên con đường Thiêng-liêng Hằng sống: Như hồi nãy Bần-Đạo có nói, nhờ hồng-ân đặc-biệt của Đức Chí-Tôn, Bần-Đạo được diễm-phúc hội-hiệp cùng Ngài và trước khi hội-hiệp cùng Ngài, Bần-Đạo cũng đã được hội-kiến cùng các Đấng Thiêng-Liêng nơi cõi Thiêng-Liêng Hằng-Sống.

Kể từ đêm nay, Bần-Đạo không Thuyết Đạo, mà Bần Đạo chỉ nói lại, thuật lại những gì Bần-Đạo đã thấy, đã nghe, đã biết, khi gặp các Đấng nơi cảnh Thiêng-Liêng kia, âu cũng là phương-pháp giúp cho toàn-thể con cái Đức Chí-Tôn biết trước cảnh đó như thế nào, để nữa có về thì không bỡ-ngỡ.

Bần-Đạo nói, con cái Đức Chí-Tôn nghe, rồi tưởng tượng như mình có một người hướng-dẫn và đi đến đâu thì người hướng-dẫn giải-thích đến đó, tỷ-dụ như người ngoại quốc đến nước Việt-Nam được một người hướng dẫn và giới thiệu các thắng cảnh tại Việt-Nam đó vậy.

Bần-Đạo khi giảng Dục-tấn trên Con đường Thiêng liêng Hằng-sống, cốt ý giảng cho mấy Anh mấy Chị để vào cân não. Từ hôm nào tới nay láp-giáp, nói nhiều quá cho Anh Chị được mở tinh-thần, dám chắc rằng sự nguy-ngập chưa đến nước đó. Bần-Đạo chỉ có nắm tay các người dẫn đi vào cảnh ấy cho mấy người quan-sát, tự mình hiểu lấy mình dễ hơn, Thuyết giáo e sợ mấy người không trọn thấu được, mình thấy để nhớ, nhập trong cảnh ấy rồi mới có sự thật mà Đức Chí-Tôn muốn cả con cái của Ngài thấy cả sự thật mà thôi, không muốn cho thấy ảo ảnh. Chơn-Truyền của Đức Chí Tôn đại kỵ điều ấy. Nếu thoảng như nhà Tịnh-thất chưa mở ra đặng, lỗi ấy không phải nơi Bần Đạo, lo nội Thể pháp mà 24 năm trường nhọc-nhằn không biết bao nhiêu: khổ tâm, khổ trí, từ tuổi xanh đến bạc đầu mà chưa rồi sáu bảy phần mười.

 

 

DỤC TÌNH

欲 情
F: Convoitise, appétit.

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cung Đẩu-Tốt nhặt khoan tiếng nhạc,
"Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.
"Tiêu thiều lấp tiếng dục-tình,
"Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân."

 

 

DỤC TU KỲ THÂN TIÊN CHÁNH KỲ TÂM

欲 修 其 申 先 正 其 心

Muốn tu cái thân thì phải chính cái tâm làm trước. Mà tu hành thì phải làm sao?

Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh thuyết đạo: "Tu-hành chẳng phải dâng hoa đảnh lễ, gõ mõ rung chuông là đủ, mà cũng không phải niệm kệ đọc kinh, ăn chay ăn lạt là rồi. Bởi vậy việc đó là cái sự chớ chưa phải cái lý. Cái lý với cái gốc vốn ở trong tâm người "Dục tu kỳ thân tiên chánh kỳ tâm". Giữ toà lương tâm cho thanh-tịnh, chánh đáng rồi sai khiến ra tứ chi, thân thể dò theo Đạo luật mà làm, sự tu không phải nội trong lúc tới chùa hay là đương lúc cúng kiến ăn chay. Phải cẩn thận dầu trong khi ngày thường ăn ở đối đãi với nhau, trong cuộc đời cũng phải cho nhớ rằng: thiện nam tín nữ thì mình phải liệu làm sao, giữ làm sao lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành vi cho khỏi phải phụ một phần trách nhiệm, chứ nếu như đã thọ lãnh tiếng Nhập môn cầu Đạo mà còn tranh cạnh việc thị phi ác cảm bên trường đời, lửa tam bành nổi dậy rần rần, ma lục tặc hoành hành thất sá. Kinh cũng đọc, kệ cũng đọc, mà lời phàm tiếng tục cũng không chừa. Tiên cũng cầu, Phật cũng cầu mà tánh quỉ nết yêu cũng không bỏ. Ngoài so-se đeo mảnh gương Thiên Nhãn, lần chuỗi hột bồ đề mà trong lòng thì mối nghiệt dây oan vấn vương nơi trái tim lá phổi.

Vậy thì sự tu-hành chính là một cuộc cầu danh giả dối, biết mấy đời cho thoát đặng bể khổ sông mê. Ôi! Ăn chay một tháng có mấy ngày còn bao nhiêu thì hại vật sát sanh không chừng đỗi. Kinh Sám hối đọc sơ qua chút ít, còn bao nhiêu thì vọng ngôn ác ngữ cả luôn năm, vậy rồi lâm vô vòng ác đạo trầm luân, lại thán oán rằng: Tôi có niệm kệ ăn chay sao không thấy Phật rước Tiên đưa, Thánh Thần hỉ xả? Ôi! Thầy Mạnh có nói: Dùng một chén mà chữa lửa cháy một xe thì sao cho được?

Vậy nên Tôi khuyên những người đã hiến thân hành Đạo thì phải dùng chữ chơn thật làm đầu. Đã nói rằng tu thì tu khẩu, tu tâm, tự thuỷ chí chung đúng đắn vào khuôn pháp Đạo. Dầu cho người ta không nghe thấy mà mình đối với lương tâm mình cũng phải giữ nhứt niệm tín thành. Câu đầu bài Kinh "Nhựt tụng" có dạy: "Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp" Thành là lòng không giả dối, Tín là không sai ngoa. Hiệp là không lìa tan chia rẻ. Xin phải dùng câu đó làm mảnh gương trong tỉnh kỷ, cây thước trì thân. Nhưng ấy là luận sự tu và đối đãi với người đồng Đạo, chớ còn giao thiệp với người dị Đạo phải dùng tư cách thế nào, chớ ý Tôi tưởng thì cũng có Đạo nào là khác! Chỉ có Bàn môn tả đạo, quái thuật yêu phương thì đành là khác, chớ còn chánh Đạo thì không có thể khác đặng".

 

 

DỤC TU THIÊN ĐẠO TIÊN TU NHƠN ĐẠO,
NHƠN ĐẠO BẤT TU THIÊN ĐẠO VIỄN HỈ

Tức nhiên muốn tu Thiên Đạo, trước nhứt phải tu Nhơn đạo, nếu Nhơn đạo không tu thì con đường đến Thiên đạo vẫn còn xa vậy.

Thánh ngôn dạy:"Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ Nam và Nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Có các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền thế hơn Nam nhiều."

Hỏi: Vì sao từ xưa Nữ phái không được tu hành, không được học hỏi có trí thức, không được tiếp xúc với bên ngoài, thậm chí muốn tu phải cải Nam trang, vậy thì làm sao có được "các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền thế hơn Nam
nhiều"? - Ấy là nhờ huấn ngôn của Mẹ đã truyền dạy từ lúc còn thơ: Nữ công, nữ hạnh, tức là Tứ đức Tam tùng; ngay từ bé người con gái đã được rèn luyện trong cái khuôn sáo Nho phong đẹp đẽ ấy, dù không tu mà đã thực sự tu sửa tánh tình, tu tâm dưỡng tánh. Ra lễ vào phép đoan trang. Cái nền luân lý tốt đẹp ấy theo suốt cuộc đời người con gái, cho đến khi làm vợ, làm mẹ, làm dâu thì đã quá thuần thục rồi. Tức nhiên người Nữ đã tu Nhơn đạo một cách thiết thực, chính chắn, đoan trang Vậy khi thoát xác lìa đời thì gần ngôi Tiên phẩm Phật, ấy là xem như đã bước qua tu Thiên Đạo rồi vậy. Đúng với câu: "Dục tu Thiên đạo, tiên tu Nhơn đạo. Nhơn đạo bất tu Thiên đạo viễn hỉ!".

Nho giáo đã dạy rõ: muốn tu Thiên đạo trước phải lo phần Nhơn Đạo, nếu Nhơn đạo không rành thì Thiên đạo không thành. Ấy là do câu "Dục tu Thiên đạo, tiên tu Nhơn đạo, Nhơn đạo bất tu Thiên đạo viễn hĩ". Quả thật vậy, tu Nhơn đạo là chỉnh sửa tâm tánh mình cho ngay thật, ra ngoài kẻ ưa người chuộng. Trong nhà hiếu thảo với ông bà cha mẹ: đó là đạo làm người phải có căn bản trước đã. Dầu cho mình có lập gia thất hay không cũng không quan trọng. Phải có thành ý, chánh tâm, tu thân trước hơn hết. Nhơn Đạo là nền móng để chuẩn bị xây tòa lâu đài đạo pháp đó.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Lo tắm rửa đặng về cảnh tịnh,
Vậy mau mau bước đến tu-hành.
Muốn tu Thiên Đạo cho thành,
Trước lo Nhơn Đạo giữ-gìn mới hay.

 

 

DỤC VỌNG

欲 望
E: Ambition.
F: Ambition.

Dục: Lòng ham muốn. Vọng: trông mong. Dục vọng là lòng ham muốn mong ước.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thánh đạo của Chúa Cứu Thế làm tăng dục vọng của kẻ mạnh đối với người yếu.

 

 

DUNG HÒA

熔 化

"Thánh Ý của Chí Tôn khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt là muốn dung hòa tâm lý toàn cả con cái của Người để cứu vãn trọn 92 ức nguyên nhân, vì thế mà phải bị sa đoạ nơi đây. Chí Tôn đã đại từ đại bi chỉ rõ căn nguyên và ban ơn cho ta, dạy dỗ cho ta để đạt ngôi vị là phải trau luyện cho Tinh hiệp với Khí, Tinh Khí huờn Thần là cơ huyền bí để mà đắc Ðạo vậy".

Đức Hộ-Pháp nói: "Hỏi, đã có nảy sanh ra một Giáo chủ nào đủ đức tánh, đủ quyền-năng, đủ phép mầu, đủ trí-hụê làm cho hai đảng ấy dung-hòa mới mong-mỏi Đại-Đồng Thế Giới hay chăng?

 

 

DUNG HỢP

容 合
E: To fuse.
F: Fusioner.

"Lễ và Nhạc do Đức Chí Tôn lập ra, trên nền tảng cái cũ là Cổ lễ và Cổ nhạc của Nho giáo, để làm ra cái mới, khiến cho cũ và mới hoàn toàn dung hợp nhau, làm cho Lễ Nhạc trong Đạo Cao Đài có những nét độc đáo, sử dụng có hiệu quả nhứt, để đưa nhơn loại trở về con đường đạo đức chơn chánh".

 

 

DUNG NẠP

容 納
F: Recevoir, accepter.

Ngày 08-01-Tân Mão Đức Lý giáng cơ nói: "Thầy vì lòng Từ-bi can-gián Lão, bằng chẳng Lão đã dụng hình-phạt mà răn những kẻ giả dối ấy và nay là ngày Vía của Chí-Tôn, nhiều kẻ cầu Đạo không đáng dung-nạp, nhưng mà Từ-Bi biểu Lão ân-xá, nên toàn thâu không đuổi ai hết. Ban phước cho cả chư Đạo-hữu, chư Đạo Muội. Chư Đạo-muội khá hội đủ mặt ngày nạp Luật đặng Lão ban "Thiên-phục".

 

 

DUNG THỨ

容 恕
E: To tolerate.
F: Tolérer.

Đức Thượng Sanh nhắc đến công nghiệp của Đức Hộ-Pháp có lời rằng: "Nếu vì một lẽ nào, vì một tham vọng hoặc vì tranh giành quyền lợi, người chức sắc hay tín hữu có manh tâm làm cho nền Ðạo phải mang tai tiếng, danh giá Ðạo bị tổn thương thì chính đó là hành động cố ý xô ngã công phu gầy dựng của Ðức Ngài. Cái tội đó Ðức Ngài và các Ðấng Thiêng liêng không thể dung thứ được".

 

 

DUY LÝ

維 理
E: Rationalism.
F: Rationalisme.

Duy: Chỉ có, hướng về. : lẽ phải, cái lý lẽ trước sau, gốc ngọn. Duy lý là chỉ thiên về lẽ phải, về sự suy nghĩ và luận lý theo trí não.

 

 

DUY TÂM

維 心
E: Idealism.
F: Spiritualisme.

Đức Hộ-pháp khóc Anh Cả Quyền Giáo Tông rằng:

"Theo thời đại khoa học đương nỗ lực phát dương này, nếu đem cái thuyết Duy-tâm cực đoan mà phổ hóa chúng sanh không khỏi bĩ-lậu, còn nếu chuyên một mặt Duy vật mà tiến hành thì xã hội phải có ngày tiêu diệt về nạn cạnh tranh phấn đấu. Vậy phải chiết trung hai thuyết mà dung hòa thì đời mới đặng vừa tấn hóa theo văn minh khoa học, vừa duy trì đặng tâm hồn đạo đức. Nhờ hiểu ý nghĩa cao thâm như vậy mà Anh Cả chúng tôi không vì hoàn cảnh mà phải quá ư thiên lệch về một mặt nào"…

 

 

DUY TÂM - DUY VẬT

維 心 - 維 物

Đức Hộ-Pháp thuyết: đêm 14-02-Nhâm-Thìn (1952)

"Bần-Đạo xin lấy cái tinh túy của nó giải rõ ra mà thôi. Duy Tâm thế nào? Duy Vật thế nào? Tầm nguyên lý coi nó do ở đâu xuất hiện hai lý thuyết ấy. Theo Kinh nhà Phật ta đã nghe rõ rằng loài người có nơi mặt địa-cầu này một trăm tám mươi ba triệu năm. Duy luận định nguyên-lý của nó, có trong năm chục triệu năm mà thôi, bổn căn của loài người nó có tánh vật của nó sanh trong vạn vật, cũng như con vật kia vậy, duy trong tánh vật của nó có Đức Chí-Tôn đến định Thiên-mạng của nó, nó có hai phần, hai đặc tánh. Tánh thú và tánh Trời.

Bây giờ luận về tánh thú của nó thì nó cũng như con thú kia vậy. Tánh của nó buộc nó đói phải cần kiếm ăn, lạnh rách phải kiếm mặc, nó khổ nó phải kiếm phương làm cho nó hạnh-phúc, nó khó khăn nó phải làm cho nó sung sướng cái phàm nghiệp của nó, thích cái gì phải kiếm phương thế nào làm cho nó thỏa thích, thỏa thích ấy là cái tánh thú dục nó vậy. Huống chi nó sanh nơi thế gian này chịu trong luật định của nó là tứ khổ, thì bây giờ nó phải tìm phương kiếm thế thoát khổ cho đặng; thoát khổ và tìm hạnh phúc với hình thể thì chẳng hề buổi nào tìm đặng, chẳng khi nào thấy hưởng được hạnh phúc do nơi hình thể mà nó chịu khổ, tức nhiên tánh thú của nó cốt yếu đến đặng chịu khổ, mà nó muốn thoát khổ, ấy là nó nghịch lại tánh đức luật định thiêng liêng của nó.

Ấy vậy, khi nó còn tánh thú, nó muốn làm sao thỏa mãn, hể thỏa mãn thú tánh của nó, thì nhân cách của nó bị hủy diệt, nhân cách không thể bảo thủ được cho lâu, thiên mạng nó không có phương bảo thủ, tâm linh của nó không có phương làm chủ nó đặng thì nó phải trở nên con vật mà thôi. Vì cớ cho nên các Đạo Giáo, các triết lý cốt yếu tìm phương nào dung hòa tánh thú của nó cho phù hạp với chơn mạng của nó, tức nhiên làm phương nào bảo trọng sống thú của nó, phù hạp với nhân cách đó vậy. Muốn cho đặng thế ấy, phải giải quyết cái khổ của nó, nó muốn thoát khổ có một đường tồn tâm mà thôi, tồn tâm tức nhiên một thiện pháp giữ Thiên mạng đó vậy.

Ấy vậy làm chủ cái tánh thú đặng bảo trọng Thiên mạng, tức nhiên phải dồi mài sửa đổi luyện cả tinh thần và hình chất của mình thoát khỏi tánh thú, đặng bảo tồn nhân cách, tức nhiên bảo tồn Thiên mạng của mình gọi là Tu. Chữ Tu cốt yếu là để trau dồi cho đặng thoát cái tánh thú, bảo vệ nhân cách của mình đó vậy.

Theo cách vật trí tri, bây giờ luận về siêu hình thì chúng ta đã ngó thấy, hễ khi nó thức, con vật nầy khi nó thức nó tìm sống trong vạn vật, nó cùng lẽ sống trong vạn vật. Luật của vạn vật buộc nó phải đi kiếm ăn, kiếm sống đặng bảo trọng sanh mạng của nó. Theo trong thể pháp về cái thú tánh của nó muốn thoát được tánh thú ấy, bởi vì nó hung hăng bạo ngược, mạnh mẽ, cừ-khôi phản trắc vô cùng vô lối. Có nhiều khi thiên tánh, tức nhiên thiên mạng không thế gì điều khiển nó được, người ta thấy có nhiều khi không thế gì người ta thắng nỗi thú tánh của nó, nên tìm con đường siêu hình. Nó thức thì nó rất hăm hở dữ tợn, hung hăng đủ thứ hết thảy đặng bảo vệ sanh mạng. Khi nó ngủ, tức nhiên khi nó nằm ra bình-tĩnh hết dữ, nó bình định được cả tánh chất nó bớt dữ, tức nhiên cũng như chúng ta khi còn thức, lo tìm muôn phương ngàn kế đặng bảo thủ sanh mạng của chúng ta, bảo thủ hạnh phúc của chúng ta nơi thế gian này; mà thật ra kiếm hạnh phúc ấy trong giấc chiêm bao của chúng ta mà thôi. Khi chúng ta ngủ mới được an ủi, ta thức bao giờ tinh thần cũng khổ não, vì thức ấy trong thuyết siêu hình mới xuất hiện ra hai lý thuyết tương đương ấy.

Từ Thượng Cổ đến giờ có thuyết nào giải rõ nó chưa? Chúng ta đã ngó thấy rất ít, chúng ta định trước, chúng ta đã thấy cái thuyết "Tánh mạng song tu" rõ rệt, ta có thể nói hai cái thuyết ấy như lý thuyết Pythagore và Đức Chí-Tôn. Pythagore lấy cách vật trí tri làm căn bản đặng đi đến siêu hình, văn từ cách vật trí tri đến siêu hình; còn Đức Phật Thích-Ca lấy siêu hình làm căn bản dìu dắt cách vật. Hai lý thuyết ấy đương đầu với nhau, mà đã thấy thật sự thì Pythagore không khi nào cầm lấy nó, nó không có vật, nó không có hình, nó cho rằng cái sống của vạn vật nơi mặt thế gian này do nơi vô hình xuất hiện, tức nhiên siêu hình kia làm căn bản của cách vật trí tri; mà nếu không có cách vật trí tri đứng chung đó, chẳng hề khi nào chúng ta thấy hai bên tương hội cùng nhau, vì vậy Ngài để chữ Dyade, hồi trưa Bần-Đạo đã triết lý hai chữ ấy mà hầu hết người Việt-Nam dịch chưa rõ. Bần-Đạo nghe chữ Dyade tưởng rằng chúng ta có dịp đem cái siêu hình tả ra, tức nhiên đem chữ Dyade đến cùng Ngài, chữ đó giải không ra. Ấy vậy, cái lời của Chí-Tôn để trên mặt thế gian này có hai phương pháp, siêu hình cũng trong đây, mà siêu vật cũng trong cửa Đạo này. Tại sao? Tại vì có một Đạo Giáo Ngài đến một thân Ngài mà thôi. Cả con cái của Ngài đã cho đầu kiếp dưới thế gian này trước, rồi Ngài mới đến sau, Ngài chung hiệp lại làm Thánh Thể của Ngài, Ngài biểu nó dâng Tam-Bửu là dâng xác thịt, trí não, dâng cả tâm hồn tức nhiên dâng cả sanh mạng của nó cho Ngài để làm chữ Khí, rồi Ngài trả chữ Khí của Càn Khôn Vũ Trụ, tức nhiên cái sống của nhơn loại đi đến mục đích chữ Tu, Ngài biểu cả toàn thể dâng xác thịt cho Ngài, Ngài trả lộn lại cái sống của Càn Khôn Vũ Trụ, trong mình nó sống dậy mà làm Thánh Thể của Ngài. Chúng ta tưởng tượng một ngày kia, toàn cả nhơn sanh đứng làm phần tử Thánh Thể của Ngài phụng sự cho Vạn Linh, tức nhiên phụng sự cho nhơn loại, hiệp trí não tâm hồn dâng cho Ngài hết, còn trở lực nào ngăn cản nữa, nhơn loại sẽ đến một cái tối trọng và thiên hạ nhứt gia như Đức Chí-Tôn đã muốn.

 

 

DUY TÂN (Vua Nhà Nguyễn)

 

 
   

Vua Duy Tân, huý là Vĩnh Sang 永珊 con thứ của Đức Thành Thái lên ngôi kế vị Vua Cha năm 1907, khi Ngài mới lên 8 tuổi. Lập Ấu chúa, dụng tâm của thực dân là để thực hành tại Trung Kỳ chánh sách đồng hoá (Assimilation) mà họ đang áp dụng tại Nam kỳ. Họ chăm sóc châu đáo việc giáo dục Âu-hoá Ngài. Bên cạnh vị Phụ đạo chánh thức của triều đình, họ đặt một nhà thông thái Pháp, cùng với một Chức vị Phụ đạo (Thầy dạy vua) chuyên dạy tiếng Pháp và văn hoá Âu châu. Ngài học rất siêng năng và thông minh lạ thường. Lúc 13, 14 tuổi, trí suy luận của Ngài đã phát triển nhiều. Từ đó mối liên hệ giữa Ngài và quan phụ đạo người Pháp lần lần trở nên gay cấn. Một hôm, hai thầy trò hoàn toàn bất đồng ý kiến về một điểm triết lý. Không bao lâu ông Thầy người Pháp phải từ chức. Thể vóc Ngài gầy gầy, hơi cao, bề ngoài hiền lành, có vẻ nhút nhát. Tuy còn nhỏ tuổi, khi lâm Triều, ngôn ngữ cử chỉ của Ngài rất tề chỉnh nghiêm trang. Mặc dầu vậy, người Pháp đã để ý dò xét tư tưởng của Ngài. Trận Thế chiến thứ nhất bùng nổ giữa Pháp và Đức, thực dân mộ binh đưa qua Âu Châu trợ chiến. Tại Trung Kỳ, thứ lính họ mộ phần nhiều là Tượng binh (lính thợ O.N.S). Đức Duy Tân năm ấy đã 15 tuổi (1914-1915). Ngài đã lý hội được nỗi đau buồn của dân tộc dưới ách đô hộ của ngoại bang, một đôi khi Ngài lộ vẻ bâng khuâng trước biến chuyển của thời cuộc. Tuy trong hàng triều thần và cận thần, phần lớn là những người của thực dân lựa chọn và bổ dụng, song cái óc "Làm giặc" cũng vốn có trong đầu của một số ít. Quản lý Thị vệ Tôn Thất Để, vị cận thần chầu hầu bên cạnh Vua là một trong số ít người có nhiệt huyết ấy. Ông trộm biết Thánh ý, biết được những tư tưởng gì đang nảy nở trong khối óc Đức Vua. Vốn là một người trong Hoàng Tộc, ông được Vua tin cẩn và đền đáp lại với một tấm trung trinh tuyệt đối. Để phụng sự tâm trường, ý chí của Đức Vua, ông liên kết với Đảng Cách Mạng Việt-Nam Quang Phục Hội, hằng ngày đem tin tức bên ngoài và hoạt động của Đảng cho Ngài rõ. Một hôm Ngài vi hành ngự ra thừa lương tại cửa Tùng (Quảng Trị). Một đảng viên then chốt của Quang Phục Hội, ông Khoá Bảo (người Tỉnh Quảng Trị) thay mặt cho Đảng bí mật bệ kiến. Trong một phiên họp tại Huế, các lãnh tụ Đảng cách mạng đồng thanh quyết định "Phụng Kim Thượng vi an dân cơ sở" (rước Đức Vua đứng ra lãnh đạo Cách mạng) và uỷ nhiệm hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên liên lạc với Ngài. Một cán bộ của Đảng, ông Phạm Hữu Khánh được đưa vào đại nội, làm Tài xế cho Vua, phụ trách thông tin, đưa đón.

Ông Trần Cao Vân lúc ấy 50 tuổi, là một nhà Hán học uyên thâm, rất có uy tín trong các hàng văn thần Nam, Nghĩa. Có óc Cách mạng từ hồi còn nhỏ, ông từng bị kết án ba năm tù "Yêu thơ yêu ngôn" (xúi dân làm loạn) vì ông viết một quyển sách nhan đề "Trung Thiên Dịch" bị đày ra Côn Đảo và bị liên can phong trào "xin xâu" năm 1908.

Trong năm 1915, nhận thấy cơ hội đã đến trong đảng mình thực hiện, mục đích ôm ấp từ lâu: đánh đuổi quân thù, thu hồi độc lập (Đảng Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập tại Quảng Nam từ năm 1903) ông và các đồng chí hoạt động ráo riết, đi khắp các Tỉnh, nhứt là từ Nghệ An trở về Phú Yên, tuyên truyền Cách mạng, kết nạp đảng viên. Tin tức chiến tranh Âu Châu càng thất lợi cho Pháp, sự hoạt động của Việt Nam Quang Phục Hội lại càng tiến mạnh. Đảng liên lạc với hai nhà đại cách mạng Hải ngoại: ông Nguyễn Hải Thần và Phan Bội Châu, ước hẹn đến ngày động binh, hai ông kéo quân từ Quảng Đông về chiếm đất Bắc, lại liên kết với các hàng Quản, đội, lính mộ và lính tập khố xanh của thực dân, ước hẹn có hiệu lịnh. Các trại lính mộ tại Huế sẽ tiến chiếm Kinh thành và các đồn lính tập tại các Tỉnh sẽ chiếm cứ các Tỉnh thành. Những lực lượng Nghĩa Quân trong dân chúng được tổ chức tuỳ theo địa phương, thành những đơn vị xung phong hoặc trợ chiến. Khắp nơi, việc sách động quần chúng để phô trương thanh thế được chuẩn bị châu đáo. Đảng lại trù liệu những công việc lớn phải làm sao, khi Cách mạng thành công, như chỉ định các cấp chỉ huy để thu chánh quyền; xin Vua cấp Ấn-tín cho những cơ quan trọng yếu, dự phòng hành động kịp kỳ. Kế hoạch khởi nghĩa được ấn định xong, ông Trần Cao Vân dâng thơ xin bệ kiến, Đức Vua chuẩn tấu. Lúc ấy vào khoản tháng 2 đến tháng 3 năm 1916. Giả làm người đi câu, hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên, theo chân Thị vệ Tôn Thất Để vào hồ Tịnh Tâm trong kinh thành, Đức Vua đã chờ sẵn đó. Kế hoạch tấn công được duyệt lại. Lực lượng xung kích chính, để chiếm Kinh thành sẽ là 3.000 lính mộ. Thực dân sẽ tập trung tại Huế để luyện tập, chờ ngày đưa vào Đà-Nẵng xuống tàu sang Pháp. Theo tin tình báo thì mộ binh từ Quảng Bình, Quảng Trị sẽ được đưa vào Huế, vào trung tuần tháng 4 dương lịch. Và tàu vận tải nhà binh Pháp sẽ cập bến vào thượng tuần tháng 5 dương lịch. Ước lượng theo hai yếu tố đó, ngày khởi binh được ấn định vào đêm 3 tháng 5 năm 1916. Hiệu lịnh động binh sẽ được phát ra từ trường Quốc học, bằng cách đốt hai dãy nhà tranh của trường ấy.

"Mưu sự tại nhân thành sự tại Thiên" mà bại sự chắc chắn cũng là tại nhơn…Công việc dự bị được xúc tiến trong vòng bí mật cho đến giờ phút chót. Cơ mưu bị bại lộ ngay trước giờ xuất quân, vừa tối trời ngày 3 tháng 5 dương lịch Tôn Thất Để và Nguyễn Văn Siêu phò Đức Vua đi ra khỏi Hoàng thành, tại đây ông Trần Cao Vân và Thái Phiên đã chực sẵn trong một chiếc thuyền. Thế là Đức Vua vĩnh biệt ngai vàng, từ đây quyết hy sinh cuộc đời vàng ngọc cho Tổ quốc. Có sách chép, khi Ngài cải trang ra đến bờ sông Hồng giang định cùng hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên đi vào Quảng Nam, thì có một đảng viên bình nhựt có tiếp xúc với Ngài trông thấy và chính đảng viên này đi tố cáo với thực dân. Dầu thế nào trong ba ngày lùng kiếm khắp nơi, mật thám Pháp vẫn không dò ra tung tích. Mãi đến chiều ngày thứ ba, chúng nó mới tìm thấy Ngài trong một ngôi chùa trên núi Ngũ Phong. Thực dân sai một đám triều thần lên đó tâu xin Ngài hồi loan, có kẻ dùng lời nói quỉ mị ứa hai hàng nước mắt mà năn nỉ, nhưng Ngài nhứt định không nghe, thà để cho thực dân bắt. Đức Vua bị bắt và bị cầm giữ tại đồn Mang Cá của quân Pháp.

Lúc bấy giờ, thực dân rất bối rối vì nhiều lẽ: nước nhà của chúng đang lâm nguy, quân Đức đã chiếm cứ vùng Đông Bắc. Khẩu hiệu Cách mạng đã lan tràn trong đại chúng Việt Nam. Đức Vua được thần dân vô cùng ngưỡng mộ. Toà Khâm sứ Trung Việt sợ, nếu không liệu thế thu hẹp câu chuyện lại thì hoá ra cơ quan mật thám của chúng bất lực, trong khi công việc chính của chúng thám thính động tịnh. Cho nên chúng nó đấu dịu với Ngài. Mặt khác ông Trần Cao Vân lo sợ Ngài có mệnh hệ nào dưới độc thủ của bọn thám tử Pháp. Trong lời cung khai, ông nhận hết tội lỗi, không khai ra một lời gì để cho thực dân có thể dựa vào đó mà buộc tội Đức Vua. Nhưng khi thực dân hỏi đến Đức Ngài, thì Ngài lại không đổ lỗi cho ai khác, mà lại dụng ý che chở cho những kẻ cộng sự, tự nhận tất cả âm mưu đánh đuổi ngoại xâm khôi phục đất nước. Do đó Ngài bị đồ lưu qua Đảo Réunion. Các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội đều bị kết án tử hình và bị hành quyết tại An Hoà, gần Kinh thành. Một số người khác có liên can đều bị tù đày.

Vua DUY TÂN năm ấy 17 tuổi trị vì được mười năm. Ngài là một thanh niên ưu tú, Ngài không thể ăn không ngồi rồi, nên phải đi học thêm và 28 năm sống thừa, phải hoạt động theo sở thích của mình: nào nghiên cứu khoa học, khảo lự Âm nhạc cổ kim, nào vui say theo nghề Phi công cho qua ngày tháng. Đức DUY TÂN tử thương trong một tai nạn máy bay, trong khi tấm thân còn trong vòng ly tiết, nơi đất khách quê người, hưởng thọ 45 tuổi. Cả một cuộc đời hy sinh cho tự do độc lập mà từ khi lên bảy cho đến khi chết, Ngài không được hưởng một ngày tự do độc lập. Nỗi căm hờn buồn tủi của Ngài nơi tuyền đài kể làm sao xiết!

Nhưng anh linh của Ngài mà toàn thể Tín đồ Đại Đạo Cao Đài và những khách hành hương khác, hiện diện trong buổi Lễ ngày 16 tháng 8 vừa qua, đều thành kỉnh tưởng niệm đến, sẽ đời đời phưởng phất trong tâm trí của thần dân, luôn luôn nhắc nhở cho chúng ta tinh thần bất khuất của dân tộc.(Trích Báo Quốc Từ của Ô. Hiển Trung)

Nhìn lại quá khứ: Hoàng Tử Vĩnh San. Ông Vua ấy lại sinh vào một hoàn cảnh xã hội đến lúc điêu tàn, đen tối nhứt trong lịch sử. Bao nhiêu nỗi bầm gan, tím ruột, tủi nhục, ích kỷ, bất công bao trùm đầy nghẹt chẳng những riêng cho nhà Vua mà cả một dân tộc bấy giờ. Nào những biến cố trong hoàng triều: từ Vua Tự Đức nhắm mắt lìa trần, triều đình ngày một khuynh đảo, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn văn Tường tự quyền phế lập, bỏ Vua Dục Đức lại còn bắt hạ ngục bỏ đói cho chết. Vua Hiệp Hoà lên nối ngôi được bốn tháng rồi cũng bị hạ ngục, ép phải uống thuốc độc mà chết. Vua Hàm Nghi phải bỏ ngôi! Đến Đức Phụ-Hoàng (vua Thành Thái) của nhà vua cũng bị đày.

Trước bao tấn thảm kịch thê lương đã diễn ra tưởng trong lịch sử của Hoàng tộc chưa bao giờ có, thì bảo sao vì Vua trẻ tuổi không đau khổ đến ngần ấy cho được!

 
   

Lớn lên Vua DUY TÂN tỏ ra là một thanh niên tuấn tú, hiên ngang, lỗi lạc và cũng như Vua Cha có ý bài Pháp. Tất nhiên lúc đó đã có người bí mật liên lạc với Ngài để trình bày nông nỗi Vua Cha bị người Pháp đày và áp bức, triều thần phản bội và sự khổ nhục của quốc dân từ ngày mất nước, do đó mà tâm trạng của Ngài bị kích thích, rồi Ngài hay đòi ra ngoài lấy cớ chốn Cung điện quá tù túng. Người Pháp cho làm nhà thừa lương ngoài cửa Tùng (Quảng Trị) để Ngài ra nghỉ mát và tiêu khiển. Thực ra, Ngài ra ngoài xem xét dân tình và để bắt liên lạc với nhân sĩ trong nước. Ngài đã gặp Khoá Bảo là một nhà Cách mạng và một số nhân sĩ ái quốc tại địa phương này.

Một hôm Ngài chơi cát ngoài bãi biển, một cận thần lấy nước cho Ngài rửa tay. Vừa rửa tay, Ngài hỏi:

- Tay bẩn lấy gì mà rửa?

- Tay bẩn lấy nước mà rửa.

- Thế nước bẩn lấy gì mà rửa?

- Nước bẩn lấy máu mà rửa!

Được biết Ngài khảng khái và yêu nước thương dân, nhiều lãnh tụ phong trào Hậu Văn Thân bí mật tìm đến Ngài để cùng gây phong trào cứu quốc nối tiếp sự nghiệp của Vua Hàm Nghi và Thành Thái.

Thế là nhiều cuộc phản động nổi lên nhưng không được toại ý. Sau cùng vào một đêm rạng ngày 2 tháng 4 năm Duy Tân thứ 10 (dl: 03-05-1916) Ngài định lẻn ra khỏi Hoàng thành, không may lại gặp tên mật thám Nguyễn Văn Trứ làm Thông Phán toà Khâm. Liền đó, Vua bị lính đuổi theo. Túng thế, nhà Vua phải gói Ấn bỏ lại trên cầu Tràng Tiền rồi đánh lừa quân lính mà theo Thái Phiên và Trần Cao Vân lẫn trốn. Toà Khâm phái Phan Đình Khôi mang quân đi tầm nã, bắt được Thái Phiên ở Chùa Thiên Mụ, đưa về Huế và nhốt vào đồn Mang cá. Trần Cao Vân cũng bị bắt ở làng Hà Trung thuộc huyện Phú Lộc (Huế).

Ngày 17 tháng 5 năm 1916, các Ông Trần Cao Vân, Thái Phiên và hai tên thị vệ bị đem ra chém tại An Hoà, còn Vua Duy Tân sau 10 ngày bị bắt nhốt ở Đồn Mang cá, Pháp liền đưa Ngài sang Đảo Réunion ở Phi Châu.

Cuộc Cách Mạng của phong kiến lại một phen nữa đổ nhiều xương máu và vô cùng uổng phí. Rồi từ đó gọng kìm Đế quốc siết chặt hơn bao giờ hết vào giới quan liêu và trí thức Việt Nam. Vua Duy Tân rời khỏi nước thì Ông Hoàng Bửu Đảo con Vua Đồng Khánh lên ngôi lấy hiệu là Khải Định vào năm 1916. Vua Khải Định trị vì đến năm 1926 thì mất.

CUỘC KHỞI NGHĨA DUY TÂN

(Phỏng theo tài liệu Trung Thiên Dịch &Trung Thiên Đồ của Cụ Trần Công Định)

Sau cuộc khởi nghĩa Duy Tân (ngày 4-5-1916) là một cuộc Cách mạng có đông đủ quần chúng tham gia tích cực, quân dân hợp tác, binh sĩ một lòng, tất cả đều nhiệt liệt hưởng ứng cuộc khởi nghĩa ngày 3-5-1916 nhằm lật đổ chế độ thống trị của thực dân Pháp để giành lại quyền độc lập tự chủ cho quốc gia tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Vì vận nước thời dân, cuộc khởi nghĩa Duy Tân hoàn toàn thất bại. Cụ trần Cao Vân và bao nhiêu chiến sĩ Cách mạng đã đi vào lịch sử gây ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần yêu nước của đồng bào ta và dư luận khắp trên Thế giới.

A- Đối với đồng bào trong nước:

Cuộc khởi nghĩa Duy Tân là một tiếng súng vang trời thức tỉnh đồng bào ta lên đường chống thực dân pháp, nói lên tinh thần quân dân hợp tác, binh sĩ một lòng. Bởi thế các tỉnh miền Trung đã nhất tề hưởng ứng cuộc khởi nghĩa này, làm cho thực dân Pháp khiếp vía kinh hồn. Vụ binh biến của Đại Tá Harmandes hưởng ứng theo phong trào khởi nghĩa đã làm cho quân sĩ Pháp bỏ mạng rất nhiều trong cuộc biến động tại Trấn Bình Đài (Mang Cá) vào ngày 02-0-1916.

Sau cuộc khởi nghĩa Duy Tân đã gây cho dân ta một sự căm thù, phẫn uất trước những hành động dã man của thực dân Pháp; càng căm thù chán ghét càng siết chặc thêm hàng ngũ, nung nấu thêm tim gan, học tập thêm kinh nghiệm quyết chiến thắng thực dân để khôi phục nền tự chủ cho Tổ quốc, để rửa thù cho tiên liệt và xây dựng cho thế hệ tương lai. Bởi thế cuộc khởi nghĩa của Đội Cấn tại Thái Nguyên (1917) tiếp diễn để trả lời cho chính sách phi nhân vô đạo của thực dân Pháp cùng với những lời nguyền rũa khóc than ai oán trong dân chúng. Trước thảm cảnh con mất cha, vợ mất chồng với bao thảm hoạ tím ruột bầm gan vì hành động bạo tàn chém giết tra tấn, lưu đày của thực dân Pháp đối với dân ta thời đó.
Đọc bài "Khuê Phụ thán" sau đây ai lại không xúc cảm trước những lời ai oán xót thương trong cảnh biệt ly của một người vợ mất chồng, người mẹ mất con, mà cả chồng và con đều bị lưu đày biệt xứ. Đấy là lời than vãn của một Bà Hoàng Hậu, vợ Vua Thành Thái, mẹ Vua Duy Tân, cả hai vị anh quân nhiệt tâm thương dân yêu nước, quyết khôi phục giang san cho Tổ quốc, đem lại tự do hạnh phúc cho toàn dân. Nhưng đại sự bất thành, đành phải xa lìa xứ sở, sống nơi chân trời góc biển:

Chồng hỡi chồng! Con hỡi con!
Cùng nhau xa cách mấy năm tròn.
Bên trời góc biển thân chim cá,
Dạn gió dầy sương tủi nước non.

Càng buồn tủi cho nước non càng căm thù bọn thực dân vô đạo, rồi chỉ biết đem tâm sự ấy hỏi Trời. Tại sao tạo hoá gây chi cảnh bất bình tang thương như thế?

…Bớ bớ Xanh kia sao chẳng đoái?
Tấm lòng uất tức một canh thâu,

Canh thâu chưa ngủ hãy còn ngồi.
Gan ruột như dầu sục sục sôi!
Non nước xanh xanh trời một góc,
Chồng hỡi chồng! Con hỡi con ơi!

Con ôi! Ruột mẹ bấn như tương,
Bảy nổi ba chìm rất thảm thương!
Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự,
Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương…!

Cũng chính vì cuộc khởi nghĩa Duy Tân đã nói lên lòng nhiệt thành yêu nước của dân tộc Việt Nam từ vua, quan đến các bậc sĩ phu, trí thức, binh lính, nông dân, cả đến các chiến sĩ hữu danh hay vô danh đều đoàn kết quyết tâm, nguyện chiến đấu và hy sinh cho Tổ quốc. Để tưởng nhớ đến các vị anh hùng dân tộc đã hy sinh vì sự nghiệp Cách mạng quốc gia, mà trong Thi Tù Tùng thoại của Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã ghi lại những bài thơ sau đây, nêu rõ từng nhân vật trong công cuộc khởi nghĩa Duy Tân (ngày 04-05-1916).

Đây là Vua Duy Tân, một nhà vua trẻ tuổi, nhưng Người có chí khí phi thường, biết qui tụ những bậc anh hùng yêu nước để mưu đồ đại sự, quyết tâm cứu vãn nước nhà thoát vòng nô lệ của thực dân Pháp. Chính Ngài đã cầm đầu và hạ lịnh tổng khởi nghĩa Duy Tân (dl: 03-05-1916):

Nhục thực dinh đình nhãn để không,
Ám trung thảo dã kiết anh hùng.
Sổ hàng y đới tùng thiên hạ,
Thần quỉ tiềm hào vạn hác phong.

 

肉 食 盈 庭 眼 底 空
暗 中 草 野 結 英 雄
數 行 衣 帶 從 天 下
神 鬼 潛 號 萬 壑 風

Dịch nghĩa:

Đầy nhà chung đỉnh mặc ai,
Đồng quê thầm kết những tay anh hùng.
Chiếu Trời ban xuống đôi hàng,
Thần reo quỉ khóc muôn hang gió lồng.

Tuy đại sự bất thành, nhưng chí khí phi thường, mưu lược và hùng tâm Cách mạng của Vua Duy Tân không kém gì những bậc anh hùng nổi danh như Williams (Ý) và Minh Trị Thiên Hoàng (Nhựt) nhưng khác nhau chỉ ở sự thành công hay không mà thôi:

Càn tuyền Khôn chuyển thử hà thần,
Minh Trị, Duy Liêm nhất bối nhân.
Sự nghiệp bất thành hùng đoán tại,
Vô tầm niên hiệu hoán Duy Tân.

 

乾 旋 坤 轉 此 何 神
明 治 維 廉 一 輩 人
事 業 不 成 雄 斷 在
無 漸 年 號 喚 維 新

Dịch nghĩa:

Xoay trời chuyển đất ra tay,
Duy Liêm, Minh Trị bậc này nhường ai?
Việc hư hùng đoán còn hoài,
Duy Tân niên hiệu mấy ai sánh bằng?

Khi cuộc khởi nghĩa Duy Tân thất bại mang theo sự đổ vỡ công nghiệp của nhà Vua. Gần 10 năm ở ngôi mà ngày nay coi như không còn nữa. Khi nước nhà gặp cảnh ly loạn lâm nguy, mới thấy được ai là người trung nghĩa thuỷ chung vì dân, vì nước như Cụ Trần Cao Vân, cụ Thái Phiên đã quyết cùng Vua sống chết. Khi Vua Duy Tân xuống tàu từ Long Hải (Ô Cấp – Vũng Tàu) đưa sang đảo Réunion, lần này là lần cuối cùng sẽ từ biệt quê hương yêu dấu, sống nơi hoang đảo thê lương. Tuy người ra đi nhưng hùng khí Cách mạng của dân tộc Việt Nam vẫn còn mãi mãi như gào thét phải quyết chiến và quyết thắng thực dân Pháp để sống còn.

Một phần anh em trong hàng ngũ quân đội Pháp cũng quyết tâm hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Duy-Tân. Tất cả đều sẵn sàng lau gươm lắp súng và đợi lệnh là xung phong diệt địch đã làm cho thực dân Pháp khiếp vía. Cuộc khởi nghĩa Duy Tân dân chúng tham gia đông đảo, phần lớn là những người đã từng đấu tranh quyết liệt qua các phong trào khất sưu, kháng thuế tại các Tỉnh miền Trung. Rồi tiếp tục tham gia vào cuộc Duy Tân khởi nghĩa (03-05-1916) đa số là người thiện chiến anh dũng phi thường, quyết tâm phục vụ cho quốc gia dân tộc. Cuộc khởi nghĩa Duy Tân là một cuộc Cách mạng biểu hiện tinh thần bất khuất của dân tộc ta, quyết tâm đoàn kết chống Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc, đem lại tự do hạnh phúc cho toàn dân. Nhưng vì vận nước thời dân, cuộc khởi nghĩa Duy Tân thất bại, tiền nhân ta đành phải đem cái chết để đền bồi cho nợ non sông tổ quốc. Điều đó là một bài học "kinh nghiệm xương máu" vô cùng cao quí đáng cho chúng ta quan tâm suy nghĩ về tiền đồ tương lai của dân tộc.

B- Đối với dư luận thế giới:

Sau cuộc khởi nghĩa Duy Tân, thực dân Pháp cố ý che đậy dã tâm xâm lược và tội ác tày trời của chúng tại Việt Nam. Chúng còn âm mưu cấu kết với bọn gian manh, chủ trương làm tay sai xuyên tạc sự thật của quân dân ta với sự thiệt hại của chúng để đánh lừa dư luận Thế giới. Chúng cho rằng "Cuộc khởi nghĩa Duy Tân ngày 04-05-1916 chỉ là cuộc mưu đồ của nhà vua trẻ tuổi, chưa trị vì, còn đương ở dưới sự bảo trợ của Hội dồng nhiếp chánh. Ngài trốn khỏi Cung điện để gặp nhóm phiến loạn.Cuộc khởi nghĩa của Ngài đã bị thất bại một cách thảm hại. Dân chúng An Nam từ 30 năm nay đã ưa chuộng nền bảo hộ tốt lành, nhân đức của nước Pháp, nên họ trung thành với chánh quốc, không đáp lại lời kêu gọi của nhà vua". Cả đến bọn quan lại tư bản thực dân Pháp tại Đông dương cũng đồng loã và cố tình che dấu sự thật, tuyên truyền lấp liếm bằng cách khoa trương cuộc thanh bình giả tạo ở Đông Dương. Chúng cho rằng "Cuộc khởi nghĩa Duy Tân chỉ là việc làm của một vị ấu vương An nam, thấy trong nước mênh mông rộng rãi của mình chỉ có 180 người lính Pháp canh giữ, nghe những lời bàn nhảm định khôi phục lại nước nhà tưởng là điều dễ lắm. Nhưng quần thần đều từ chối cho nên vị ấu vương bị mất ngai vàng."

Thực ra cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916) làm cho thực dân Pháp tại Đông dương phải núng thế, càng lo sợ hơn là phong trào xin xâu, chống thuế (1908) tại các tỉnh miền Trung. Vì đây là một cuộc Cách mạng có chủ trương đường lối rõ rệt và đông đảo quần chúng tham gia trong tinh thần quân dân hợp tác, để chống thực dân Pháp giành lại quyền tự chủ cho quốc gia, đem lại hạnh phúc tự do cho dân tộc. Bởi vậy sau cuộc khởi nghĩa Duy Tân, chánh phủ Pháp đã phái Toàn quyền M.Albert Sarraut sang Đông dương (ngày 22-11-1927) để thực thi một cuộc cải cách đứng đắn của chánh phủ Pháp tại Việt Nam. Chính nhà Sử học Thế giới Philippe viết về Việt Nam đã nhận định:

"Cuộc khởi nghĩa Duy Tân do chủ trương của một Hội kín: Việt Nam Quang Phục Hội, khắp trên toàn quốc. Đoàn thể này từ đây sẽ điều động các lực lượng của các hội kín, nhất là ở miền Nam Việt Nam, đang trong thời kỳ hoạt động mạnh mẽ, nhiều cuộc phá rối, khởi loạn. Cũng có những cuộc nội loạn thực sự vào năm 1913-1916.

Ở Bắc Việt, tướng du kích thời 1892-1896 là Đề Thám đã tiếp tục chiến đấu trở lại vào năm 1909 và bị hạ vào năm 1913. Cuộc biến động lan tràn đến Huế. Vua Duy Tân trẻ tuổi có một tinh thần hăng hái, đã được các đoàn thể quốc gia thuyết phục tháng 05-1916. Nhà Vua trốn Cung điện cầm đầu một cuộc khởi nghĩa không lớn lắm, đó là hội kín gây nên. Bị bắt, nhà vua bị truất ngôi và đày ở cạnh Cha gần Alger. Và chính cũng vì cuộc khởi nghĩa Duy Tân mà một Giáo sư Sirdar Ikbal Ali nghiên cứu về Triết học văn học viễn đông đã cho rằng: Cuộc khởi nghĩa Duy Tân là một cuộc Cách mạng. Sirdar Ikbal

Ali đã nói: "Hoàng Tử Vĩnh San niên hiệu Duy Tân, nhà Vua trẻ tuổi, khi đầy đủ trí thông minh sáng suốt, đã nhận thức rõ, dưới quyền cai trị của người Pháp, dân Việt không có hạnh phúc gì cả. Sự thành tín giao hảo với văn hoá cổ truyền tốt đẹp từ xưa của người Việt Nam đã được minh chứng qua những hành động của thực dân Pháp đối với việc khai quật lăng vua Tự Đức để tìm vàng và châu báu. Người Pháp không còn chạy chối được hành động này. Bất thình lình cuộc đại chiến thứ I bùng nổ. Nhà vua trẻ tuổi cầm đầu một cuộc Cách mạng, nhưng vì thế yếu, bị đày sang đảo Réunion Island với Phụ Hoàng 1916."

"The lad of eight years of age Prince Vinh san was given the royal name of Duy Tân. This youth was sufficiently mature in mind to see that his people were not happy under French ascendancy. He was too, enraged, according to Vietnamese historians, to discover that the grave of Tự Đức was dug up by the French not for any archaeological interest but for the sake of the gold and jewels that were to be found in it. The French of course denied this fact. Matters took a sudden turn on the outbreak of the first world war, when the young ruler managed to raise a revolt, but the effort failed and he was exiled to Réunion Island like his father 1916".

Tóm lại: Tất cả các yếu tố thực tế và hiển nhiên như thế, dù cho thực dân Pháp cố tình che dấu cũng chỉ là vô ích. Đó là ảnh hưởng sau cuộc khởi nghĩa Duy Tân đối với đồng bào ta, là một bài học kinh nghiệm vô cùng quí giá trong công cuộc chống ngoại xâm. Và cũng làm cho thế giới biết rõ chánh sách đô hộ bạo tàn của thực dân Pháp đối với dân ta trên 30 năm đô hộ. Cuộc khởi nghĩa Duy Tân (04-05-1916) là cuộc cách mạng chủ trương lật đổ một chế độ thống trị thối nát lỗi thời, để lập nên một chế độ văn minh và nhân bản. Than ôi, dù có Kế hoạch khởi nghĩa nhưng không thành:

 
   

1-Tổng phát động khởi nghĩa toàn diện, đúng giờ Tý ngày mùng 02 tháng 04 năm Bính-Thìn. Khởi điểm tại Kinh Đô Huế, sẽ bắn súng thần công báo hiệu lịnh cho hai tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình đồng thời ở đèo Hải Vân cũng nổi hiệu cho hai Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.

2- Huy động các đạo quân Thừa Thiên, hưởng ứng trợ oai cho các đội binh sĩ chiếm lấy kinh đô Huế.

3-Thu cả toàn lực Quảng Nam, Quảng ngãi, dân chúng hợp lực với binh sĩ chiếm giữ cửa Đà Nẵng để mở đường giao thông với Đức. Ngoài ra các tỉnh khác cũng theo kế hoạch bạo động cướp chánh quyền như thế.

4-Vạn nhất tấn công không thắng lợi, thì đạo quân Quảng Nam rút về phía Tây chiếm vùng rừng núi Bà-Nà, đạo quân Quảng Ngãi kéo lên miền Gió Rứt, là những địa điểm hiểm trở làm hậu thuẫn cho những cuộc phản công. Do sự uỷ nhiệm của Việt-Nam quân chánh phủ, các yếu nhân Cách mạng mỗi người đều có công tác phụ trách điều khiển mỗi Tỉnh do Cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên điều động chiếm thủ Kinh đô và phụ trách rước Vua Duy Tân ra khỏi Hoàng thành, chờ cuộc hỗn loạn bình định và chánh quyền vãn hồi sẽ tôn nhà vua trở lại ngôi. Kế hoạch đã quyết định và phân phối hoàn bị, chỉ còn chờ ngày thi hành…Nhưng …Cơ mưu bại lộ…

Đạo Cao-Đài đối với Vua Duy Tân:

Duy Tân là ông vua muốn quật khởi, không chịu ách thực dân Pháp đè nặng dân tộc mình. Ông vận động các nhà ái quốc lập đảng Cần Vương bị thất bại nên bị bắt đày ra đảo La Réunion (Phi Châu) rồi bỏ mình ở viễn xứ cũng là lúc Âu Châu có cuộc đại chiến. Thế là Việt Nam bấy giờ có ba ông vua bị đày: Hàm Nghi sang Algérie, Thành Thái, Duy Tân ở đảo Réunion.

Đức Hộ Pháp đã cho xây dựng tại Long Hoa Thị ngôi "BÁO QUỐC-TỪ" để thờ những vị có công với Tổ quốc Việt Nam. Hiện đang thờ có 4 vua và một Tướng:

1- Hàm Nghi. 2- Thành Thái 3- Cường Để 4- Duy Tân
5- Thiếu Tướng Trình Minh Thế, được phong là Quốc Sĩ (phẩm của Ban Thế Đạo ngang với Giáo Sư tức Nhơn Thánh).

Đêm 11-08-Ất Mùi (1955) ông Duy Tân có giáng cơ cho bài thi để Đồng Nhi thài lúc hành lễ khánh thành tại Báo Quốc Từ, như sau::

Mở lối nghĩa nhân quét hận thù,
Qua dòng tân khổ quốc gia thu.
Cái gia khô cổ, nay nhờ Ðạo,
Về cõi Hư linh cũng vận trù.

(Cái gia là con đa đa)

Mặc dầu hồi ở thế không gặp Đạo, nhưng về Thiêng Liêng cũng vận trù ủng hộ nền Chánh giáo về mặt chánh trị cũng như phổ hóa nhơn sanh, nâng cao hồn nước.

 

 

DUY TRÌ

褫 持
E: To maintain.
F: Mainternir.

Duy: Tóm buộc, liên kết. Trì: cầm giữ, giữ lại. Duy trì là gìn giữ cho tiếp tục tồn tại như cũ những thứ mà nó đang có chiều hướng giảm sút sắp mất.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chỉ có xứ Việt Nam còn duy trì được sự tôn sùng tổ phụ theo tục lệ cổ truyền.

 

 

DUY TRUYỀN

褫 傳
E: To transmit solely.
F: Transmettre seulement.

Duy: Chỉ có, hướng về. Truyền: trao lại cho người sau. Duy truyền là chỉ trao cho lớp người sau với mục đích nhứt định.

Kinh Sám Hối:

"Lời kệ sám duy truyền khuyến thiện."

 

 

DUY VẬT

褫 物
E: Materialism
F: Matérialisme.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bây giờ xin luận về duy vật nó nói loài người là một giống khỉ tiến hóa lên chớ không phải Trời sanh ra, Bần Đạo dòm lụng lại sắc dân của Ấn Độ chính mình Phật Thích Ca là dân của Ấn Độ, dân da đen gọi Hắc Chủng, Ngài sanh ra ở đó, da thay vì đen nó hơi hồng hồng, rồi người Đời tặng Ngài màu hồng, họ gọi Ngài là Kim Thân, vì cớ cho nên các tượng hình của Ngài đều phết vàng, bởi tại hai chữ Kim Thân ấy, chính Ngài là sắc dân da đen mà sắc dân da đen là một Chủng tộc đến mặt địa cầu nầy sớm hơn hết. Chúng ta thử xét đoán nếu quả nhiên là loài khỉ tấn hóa lên cho tới sắc dân hắc chủng ấy có đâu đầu óc của họ đâu có quá chừng quá đỗi, tâm thần quán thế như thế đó, nhứt là đặc biệt hơn hết các triết lý cao siêu về mặt vô hình dân Ấn Độ đứng đầu hơn hết các chủng tộc. Nó trái ngược lụng lại những tộc chủng đã noi theo luật tiến hóa, nhứt là chót hết bây giờ là Bạch chủng tôi thấy họ đã tiến hóa nhiều từ Hắc chủng lên Thanh chủng tới Xích chủng đến Huỳnh chủng, rồi tới Bạch chủng đường tiến hóa của nhơn loại nhiều quá, sâu xa lắm, tời chừng dòm lụng lại sắc dân Bạch chủng kia cũng không phải hơn gì sắc dân Hắc chủng, vì Hắc chủng người đã đến mặt địa cầu nầy hồi ban sơ hết, hay nói là Mẹ của các giống người hết thảy nơi thế gian nầy, mà người ta cao siêu như thế đó thì chính mình Bần Đạo không tin loài khỉ tiến hóa lên được, cái lý thuyết ấy vô lối, nếu không nói là quái dị, hay đặt cho nó cái tiếng là quái gỡ. Cái triết lý của nhà Phật từ thử tới giờ chưa có một vị Giáo chủ nào đã đọat Pháp mà biết cái bí ẩn Thiêng Liêng của luật Thiên nhiên kia một cách chánh đáng như thế, chơn thật như thế, có một điều chính mình trong sự luân hồi quả kiếp ấy

Đức Hộ-Pháp khóc Đức Quyền Giáo Tông: "Anh Cả chúng tôi đây, trước khi vào Ðạo vẫn là Người duy vật cũng như mọi người khác, ngoài đời vì đường danh lợi, Người cũng chẳng nhượng chi ai, kịp khi Ðạo mở Ðức Thượng-Ðế kêu đích danh Người mà phú thác Ðạo Trời. Phong-trào duy vật đang sôi nổi, người lại đương thời phấn đấu, mà Người cũng vui lòng phế hết việc đời để hiến thân cho Ðạo…"

Đức Thượng Sanh thuyết ngày 23-1 Mậu Thân (1969)

"Con người của thời mới, con người của duy vật, sau khi vứt bỏ hết mọi tiêu chuẩn, mọi căn bản nghĩa nhân đã chơi vơi luân lạc trong chỗ mờ mịt đen tối, không tín ngưỡng, không chủ hướng, không từ bỏ một thủ đọan tàn nhẫn đê hèn nào, miễn được thỏa thích trong nhứt thời rồi để mặt cho thân thể lẫn linh hồn đắm chìm nơi hang sâu, vực thẵm."

 

 

DUYÊN PHẦN

緣 分
E: The fate.
F: Le sort.

Duyên: mối dây ràng buộc từ kiếp trước. Phần: số phận. Duyên phần là cái số phận của mỗi người được định sẵn từ kiếp trước, thể hiện trong kiếp sống hiện tại.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ai biết đạo đức tức có duyên phần.

 

 

DƯ LUẬN

輿 論
E: Public opinion.
F: Opinion publique.

: công chúng, đám đông. Luận: bàn luận. Dư luận là lời bàn luận của dân chúng về một việc gì.

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Dư luận chê bai mặc tiếng đời,
Miễn con biết đặng gặp Thầy Trời.
Nắng mưa kia vốn chưa vừa kẻ,
Phàm tục nhiều tay quá lỗi lời.

 

 

DỰ

Bộ thỉ 豕 cũng đọc là dự hay tạ. Nghĩa là Yên vui.

- Hạ dự 暇豫 rồi nhàn. Sớm: như "phàm sự dự tắc lập" 凡事豫則立 phàm sự gì liệu sớm đi thì nên.

- Châu Dự, nay thuộc vào cõi đất phía tây tỉnh Hà Nam, tỉnh Sơn Đông, và phía bắc Hồ Bắc nước Tàu, vì thế nên mới gọi tỉnh Hà Nam là tỉnh Dự.

- Do dự 猶豫 tên hai con thú, tính đa nghi. Vì thế nên người nào làm việc không quả quyết cũng gọi là do dự.

- Tham dự. Một âm là tạ, cùng nghĩa với chữ tạ 榭.

 

 

DỰ Quẻ 16. Quẻ Lôi Địa Dự

 

 

Quẻ 16. Quẻ Lôi Địa Dự 雷 地 豫

 

 

Tượng: DI-LẠC VƯƠNG PHẬT

Quẻ này là quẻ Lôi Địa Dự. Khôn hạ là nội Khôn, Chấn thượng là ngoại Chấn. Chấn vi Lôi, Khôn vi Địa, tên quẻ đọc là Lôi Địa Dự. Biệt số 48

Chấn trên, Khôn dưới là quẻ DỰ. Chấn tượng sấm sét trên trời, Khôn tượng đất dầy, tính thuận, là trên đất có sấm động dưới thuận theo vui-vẻ, cho nên đặt tên là DỰ.

Vì sao sau quẻ Khiêm tiếp đến quẻ DỰ?

- Dự đến sau Khiêm vì trước đó đã có nhiều (Đại hữu) mà không kiêu, kế đến là có đức khiêm tốn (Khiêm) ắt được vui vẻ (Dự). Đó là một trạng thái khoan khoái trong tâm hồn, thuận với đạo-lý Trời đất và mọi người. Như khi con người mà thân tâm mạnh khỏe, sảng khoái, yên-tĩnh, đó là điều kiện cần thiết để đến cuộc DỰ.

Dự là vui sướng. Chữ Dự có hai phần, đủ Âm Dương. Bên trái là chữ Dư 予 là tôi (c’est-à-moi) là chính mình và bên phải là chữ tượng 象 là ảnh. Khi con người được hiện thực, xứng đáng là Tiểu Thiên địa.

Kinh Tắm Thánh rằng:

"Con người đứng phẩm tối linh,
"Nửa người, nửa Phật nơi mình anh nhi.
"Đại-Từ-Phụ Từ-bi tạo hoá,
"TƯỢNG mảnh THÂN giống cả Càn khôn,
"Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
"Xây cơ chuyển thế bảo tồn Vạn linh."

Đức Lão Tử nói: Cái nặng là gốc của cái nhẹ, sự yên tĩnh là gốc của sự táo bạo "Trọng vi khinh căn, tĩnh vi táo căn" hoặc cũng nói: Quí lấy tiện làm gốc, cao lấy thấp làm nền.

Về tượng hình thì Chấn là hình tam giác, đầu quay xuống.Chấn quẻ Dương, Khôn là Âm.Chấn trên tượng cái trí, Khôn dưới tượng thân xác. Trên chỉ tiếng động và ánh sáng chớp, có sấm là lúc Âm Dương gặp nhau, nhưng là thể vô hình mắt không thấy được. Khôn tượng hình vuông, là vật chất, cõi hữu hình. Khi hai hình họp nhau thành số 7, là con số luân-chuyển của đời. Có xác phải có hồn, có tiếng động thì có sáng, trong tĩnh ngoài động, tượng Dự. Người do bốn thứ kết hợp là: đất, nước, lửa, gió gọi là Tứ đại giả hợp: hình tam giác tượng cho tam hồn là Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn. Tôn giáo nói là Tam Bửu: Tinh, Khí, Thần. Đệ Nhị xác thân của người cấu tạo bởi Thất tình cũng khởi từ con số 7, là con số ngưng kết là do 1+2+4=7 tức là Thái cực Dương, cộng Lưỡng nghi là cơ biến tướng và Tứ tượng là cơ sanh hoá. Nhưng cơ biến tướng và sanh hoá chạm nhau lại khắc nên số 7 trở thành con số riêng biệt không có biến động, có nghĩa là trạng thái yên tịnh, ngừng nghỉ, nên nó cũng ám chỉ vào thể Âm. Số 7 cũng chỉ vạn vật hữu tướng thành hình, trong thân người nó là thất khiếu ở trên đầu: hai tai, hai mũi, hai mắt, một miệng. Số 7 cũng đúng vào cái miệng. 7 ấy là do 3 ngôi cộng 4 biến vậy. Số 7 chỉ cung Đoài ở Hậu Thiên. Đoài là cái miệng phát ra lời nói, nói để phổ độ trong Kỳ ba. Lời nói tức là lập ngôn 言 7 nét Thánh nhân dạy "đánh lưỡi 7 lần trước khi nói" chính là chỉ vào chữ ngôn này.

Lời Kinh trên Đức Thượng-Đế công nhận con người là một Tiểu linh quang chiết từ trong khối Đại linh quang của Ngài, nên Người phải làm sao cho xứng đáng với sự uỷ thác ấy là phải làm cho được công việc "Xây cơ chuyển thế bảo tồn Vạn linh" Có được vậy thì lo gì đời này không hưởng được sự vui vẻ của tháng Thuấn ngày Nghiêu, để đến thời Dự của Di-Lạc Vương Phật!.

Như trên đã nói: theo thứ tự quẻ thì vừa qua là:

- Thời Đại Hữu là tượng cho Chánh sách Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ-Pháp.

- Kế đến quẻ Khiêm là tượng cho Tam Thánh ký Đệ Tam Thiên nhơn Hoà ước với Đức Thượng Đế.

Tất cả cốt yếu là đưa nhân loại đến chỗ biết yêu thương nhau để cùng sống trong Thế giới Đại Đồng. Tiếp:

Dự là thời của Đức Di Lạc Vương-Phật:

Đức Hộ-pháp nói buổi Cao-Đài Đại-Đạo, Thầy mở:

"Tam hội Long-hoa Bạch Vương Đại hội Di Lạc Cổ-Phật Chưởng giáo Thiên Tôn" Đức Ngài chủ thuyền Bát-Nhã để rước các bậc nguyên nhân từ Thập-điện Diêm cung, thất thập nhị địa giới hay là U-minh-giới đại-địa ngục.

Đức Phật ngự nơi thuyền mà kêu gọi tòan linh căn chơn tánh Cửu nhị ức nguyên nhân hãy mau tỉnh mộng về cửa này, nương nơi Bát-nhã thuyền trở về Lôi-Âm-Tự, vào Bạch-Ngọc-Kinh mà hội ngộ cùng Thầy.

Nay Hạ nguơn tam chuyển hầu mãn khởi Thựơng nguơn Tứ chuyển địa cầu chúng ta lạc hậu nhiều lắm vậy. Đã ba ngàn năm xa xuôi, đã thua Thủy đức, Kim đức và Mộc đức tinh quân. Người ta đã bảy chuyển, mình mới tới đệ tứ chuyển. Vì vậy nên Chí-Tôn mới mượn các đẳng chơn linh ở các địa cầu kia đến làm bạn với chúng ta. Không biết số bao nhiêu. Theo Phật pháp thì được:

- 24 chuyến thuyền Bát nhã chở họ đến,

- Không chừng có đến 100 ức nguyên nhân.

Phật Tổ độ được 6 ức, LãoTử độ 2 ức, còn lại 92 ức nguyên nhân đến Hạ nguơn này chưa thóat khổ nên Chí Tôn mới đến khai Đạo Cao-Đài.

 

 

DỰ KHUYẾT

預 阕
E: Alternate.
F: Suppléant.

Dự: Tham gia vào, sắp đặt trước khi xảy ra. Khuyết: thiếu, không đủ. Dự khuyết là dự bị sẵn người để thay thế người chánh thức khi người nầy vắng mặt.

 

 

DỰ THÍNH

聽 預
E: To attend a comference.
F: Assister à une audience.

Dự: Tham gia vào, sắp đặt trước khi xảy ra. Thính: nghe. Dự thính là tham dự vào để nghe chớ không quyền bàn cãi.

 

 

DỮ TẬN HIỀN THĂNG

Đức Hộ-Pháp nói: "Các con nhớ rằng: dữ tận hiền thăng, mạnh thua yếu được, nhu nhược trường tồn, Xỉ cương tắc chiết. Nhơn loại trả quả với nhau các con chịu cái nạn chung, trả từ đời Hồng Bàng tới giờ. Tổ phụ của chúng ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn quả ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong."

 

 

DỮ TỢN

F: Violent, meschant, cruel.

Kinh Sám Hối có câu:

"Nhiều thứ rắn mặt mày dữ-tợn,
"Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người."

 

 

DƯA MUỐI

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thanh cao là biết ngon dưa muối,
Hơn ngự lầu Yên ngó đảnh Tần.

 

 

DỰC TÔNG (1847-1883) Niên hiệu: Tự Đức

Đức độ vua Dực Tông: Vua Hiến Tổ mất, truyền ngôi lại cho Hoàng tử thứ hai húy là Hồng Nhậm. Bấy giờ Hoàng tử mới có 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái. Đến tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), thì Ngài lên ngôi Hoàng-Đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Tự Đức, lấy năm sau là năm Mậu Thân làm Tự Đức nguyên niên.

Vua Dực Tông đối với vận hội nước Nam ta thật là quan hệ, vì là đến đời Ngài thì nước Pháp sang bảo hộ, đổi xã hội mình ra một cảnh tượng khác. Bởi vậy cho nên ta cần phải biết rõ Ngài là người thế nào, để xét đoán những công việc thời bấy giờ cho khỏi sai lầm. Quan Tổng Đốc Thân Trọng Huề đã được trông thấy dung nhan của Ngài và đã tả rõ chân tướng của Ngài ra như sau này: "Ngài hình dung như một người Nho sĩ, không cao, không thấp, trạc người bậc trung, không gầy không béo, có một phần hơi gầy một tí. Da không trắng không đen. Mặt hơi dài; cằm hơi nhỏ, trán rộng mà thẳng, mũi cao mà tròn, hai con mắt tinh mà lành. Tính ngài thật là hiền lành.

Ngài thờ Đức Từ Dụ rất có hiếu. Lệ thường cứ ngày chẵn thì chầu cung, ngày lẽ thì ngự triều: trong một tháng chầu cung 15 lần, ngự triều 15 lần, trừ khi đi vắng và khi se yếu Trong 36 năm, thường vẫn như thế, không sai chút nào. Khi Ngài chầu Cung thì Ngài tâu chuyện này chuyện kia, việc nhà việc nước, việc xưa việc nay. Đức Từ Dụ thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng. Khi Đức Từ Dụ ban câu chi hay, thì Ngài biên ngay vào một quyển giấy gọi là Từ Huấn Lục.

 

 

DƯỚI BỘC TRONG DÂU

Dưới bộc trong dâu là chỉ sự hẹn hò tình tự lén lút, bất chánh giữa trai và gái.

Điển tích: Theo Hán thư, con trai và con gái của nước Trịnh và nước Vệ thường hẹn hò nhau ra bãi sông Bộc, núp trong các ruộng dâu để tình tự và làm chuyện dâm ô. (Sông Bộc là con sông chảy qua hai nước Trịnh và Vệ).

Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn có câu:

Nào khi đứng giữa đàng trông ngọc,
Nào khi ngồi dưới bộc trong dâu.
Chừ sao phụ nghĩa sơ giao,
Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

 

 

DƯƠNG BẠN

昜 畔

Dương bạn: là bờ Dương, là nền đạo-đức.

Thất Nương còn giải nghĩa câu: "Phụng hàm đơn chiếu đề dương bạn" Là phụng ngậm tờ chiếu về bờ Dương, Dương là đại thọ. Đạo đức chơn kinh có câu: "Dương vô trần nhiễm, đạo giả như Dương".

Kinh Phật có câu: "Dương thuỷ năng huỷ tam đồ khổ chi tội".

 

 

DƯƠNG GIAN

陽 間
E: The world of the livings
F: Séjour de la lumière, monde des vivants.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Không thoát khỏi luân hồi chuyển kiếp,
Cảnh dương gian tội nghiệp xác thân.
Lòng Thầy đau xót muôn phần,
Muốn kêu con lại về lần nhà xưa.

Kinh Sám Hối có câu:

"Dương-gian ngỗ-nghịch lăng-loàn,
"Liều mình tự-vận không màng thảo ngay."

 

 

DƯƠNG MINH CHÂU (Tên)

Đức Hộ-Pháp, Ngài cũng bí mật tiếp xúc với các Uỷ viên kháng chiến Nam Bộ. Ngài cho người đến chiến khu rước Dương Minh Châu về Hộ-Pháp-Đường gặp Ngài để bàn tính nhiều việc cần yếu và luôn tiện cho hay Pháp sắp tấn công căn cứ của ông Dương Minh Châu.

Đây, Ngài Hồ Bảo Đạo xin tường thuật về cái chết của ông Dương Minh Châu trong trận tấn công của Pháp, theo như lời trình bày của Cụ với Mặt trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh trong buổi hợp ngày 6-3-Nhâm Tuất (dl: 30-3-1982) tại giảng đường Toà Thánh Tây Ninh:

"Hồi trước tôi quen biết anh Dương Minh Châu, mà anh Dương Minh Châu lại là con của ông Thầy dạy học của Đức Hộ Pháp ở Tây Ninh. Khi nghe tin Pháp sắp tấn công chiến khu của anh Dương Minh Châu, Đức Hộ Pháp nhờ tôi đến tận chiến khu gặp Dương Minh Châu cho hay Pháp sắp tấn công, nếu có đủ lực lượng cự nỗi thì đánh, còn không thì phải rút để bảo toàn lực lượng. Đức Hộ Pháp còn biểu tôi phải rước anh về gặp Đức Hộ Pháp tại Toà Thánh. Anh Dương Minh Châu có về gặp Đức Hộ Pháp một đêm tại Hộ Pháp Đường, nhưng nội dung câu chuyện giữa hai người tôi không biết. Bữa sau Đức Hộ Pháp cho tôi đưa anh Dương Minh Châu về tới chiến khu và khi tôi trở về Toà Thánh chừng vài bữa thì lại cũng rủi cho anh Dương Minh Châu là vợ của anh ở Tây Ninh ẵm đứa con nhỏ đến tận chiến khu thăm anh. Cũng bữa đó mới 3 giờ khuya, quân Pháp tấn công đến thì chiến khu đã thu dọn, chỉ còn kẹt vợ con anh và anh ở dưới hầm bí mật. Khi Pháp thấy dọn dẹp trống hết, nó tức tối dậm chân la hét, thì thằng nhỏ ở dưới hầm phát khóc. Pháp nghe được nên mới kéo anh Dương Minh Châu lên bắn chết tại chỗ, cũng may cho tôi là tôi đã cho hay trước vụ Pháp đến, bằng không chắc tôi cũng bị nghi oan là làm mật thám cho Pháp."

Đức Hộ Pháp nói: "Ngài đưa quân đội Cao Đài làm trái độn giữa Việt Minh và Pháp để cứu vãn sanh mạng và tài sản cho đồng bào được phần nào hay phần nấy." Nơi nào có đồn Quân đội Cao Đài thì được an ninh, Pháp không ruồng bố bắn giết bừa bãi như trước nữa. Ở các nơi, từ Nam ra Trung Việt, Chức sắc địa phương can thiệp với nhà đương cuộc sở tại, bảo lãnh những người có liên hệ với Việt Minh bị bắt, những người bị tình nghi, những người chịu hàm oan. Nhiều trường hợp Việt Minh chánh thức cũng được thả.

Nhưng với Việt Minh trước cũng như sau đều lên án Cao Đài là phản động. Bộ đội Hoàng Thọ bất ngờ tấn công vô Toà Thánh gây thương vong cho bảy tín hữu trong nội-ô vào chiều tối 30 tết năm Bính Tuất (đầu năm 1947).

Lúc nào Đạo cũng tìm cách dàn xếp ổn thỏa với Việt Minh như vào năm 1948, cuộc hợp mặt giữa Cao Minh Căng (Đại diện Việt Minh) và Trình Minh Thế (đại diện Cao Đài) trên sông Vàm Cỏ Đông, rốt cuộc Trình Minh Thế bị Cao Minh Căng bắn phải lặn xuống sông thoát chết.

Ngày nay tên của Người được đặt tên cho "Chiến khu Dương Minh Châu" và cũng là Huyện Dương minh Châu.

 

 

DƯƠNG QUANG

陽 光
F: La lumière de l’élément constitutif mâle.
E: The light of the male constitutive element.

Pháp Chánh Truyền dạy: "Thiên Địa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn khôn thế giới nhờ Dương thạnh mới bền vững, cả chúng sanh sống bởi Dương quang, ngày nào mà Dương-quang đã tuyệt, Âm-khí lẫy lừng, ấy là ngày Càn Khôn thế giới sẽ chịu trong hắc ám, mà bị tiêu diệt…"

 

 

DƯƠNG THẠNH

陽 盛

Thi văn dạy Đạo có câu:

Dương thạnh thì hay đời mạt kiếp,
Nêu thân ở giữa cuộc tang thương.

 

 

DƯƠNG THẠNH TẮC SANH, ÂM THẠNH TẮC TỬ

Thầy dạy: Thiên địa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn Khôn thế giới nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương-quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy-lừng, ấy là ngày càn khôn thế giới phải chịu trong hắc-ám, mà bị tiêu diệt. Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ phái cầm quyền Giáo Tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Đạo ắt bị tiêu tàn ám-muội."

 

 

DƯƠNG THẾ

陽 世
F: Séjour de la lumière, monde des vivant.

Dương thế 陽 世 là chỉ cõi của người đang sống, tức chỉ cõi trần gian hay cõi thế gian thuộc Địa cầu 68 này, còn được gọi nhiều tên: dương thế, trần gian, trần hoàn…

Con người sinh ra ở trên cõi đời này, chưa ai sống quá trăm tuổi, không kể tai nạn, bệnh tật xảy đến thì bất luận già trẻ cũng có thể chết một cách đột ngột, bất ngờ.

Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Ðã Qui Liễu có câu:

"Khi dương thế không phân phải quấy,
"Nay Hư linh đã thấy hành tàng."

Buổi đầu được thơ Tiên, Ông Phạm-Công-Tắc hết lời khen lời thơ châu ngọc về điệu thơ Tiên của Thất Nương xong hoạ lại ngay:

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
Trời xanh vội lấp Nữ-anh-tài
Tình thâm một gánh còn dương-thế,
Oan nặng ngàn thu xuống dạ-đài.

 

 

DƯƠNG TRẦN

陽 塵
F: Monde des vivants.

Kinh Sám Hối có câu:

"Miền âm-cảnh nhiều thay hình lạ,
"Cõi dương-trần tội quá dẫy đầy."

 

 

DƯƠNG VĂN GIÁO (Tên)

Luật Sư Dương Văn Giáo, được Đức Chí Tôn phong chức Bảo Cô Quân chánh vị của Thập nhị Bảo Quân, tức là Hàn Lâm Viện Đạo Cao Đài.

Thầy dạy: "Giáo! Con đặng phong vào chánh vị Bảo Cô Quân. Thầy cậy con một điều là để hết dạ yêu thương, binh kẻ hèn, giúp người khổ. Con nắm lưỡi gươm huệ kiếm đặng dẹp lối chông gai cho Đạo êm đềm bước tục. Ấy là trách nhậm khó khăn nhưng cũng là phương làm con nên vinh diệu.

Tắc! Con phải tuyên bố lịnh Thầy cho nhơn sanh đều biết nghe. Con đã cầu xin, lần lượt Thầy sẽ ban chức phẩm."

 

 

DUỢT CHƯ TIÊN

"Ngày giờ này, Đại-Tiên Kim-Quan-Sứ đã đặng Ân xá, cũng như các Đẳng Chơn-Linh được Ân xá, bởi vì trong Quỉ-Vị cũng được hưởng Hồng-Ân Đức Chí Tôn ân xá, cũng như toàn thể các Chơn-Hồn trong Càn-Khôn Vũ Trụ. Vì cớ cho nên, người Quỉ Chúa đàng ấy còn lãnh một phận-sự tối trọng, tối yếu là làm Giám-Khảo duợt Chư Tiên đoạt phẩm-vị Phật."

 

 

DUỢT KIẾP KHIÊN

閱 劫 愆
E: To examine the fault in a life.
F: Examiner les fautes dans une vie.

Duợt: Duyệt: xem xét để đánh giá trị hơn kém. Kiếp: một kiếp sống nơi cõi trần. Khiên: tội lỗi.

Duợt kiếp khiên tức là Duyệt kiếp khiên, là xem xét các tội lỗi mà một người đã gây ra trong suốt một kiếp sống nơi cõi trần để đánh giá trị và định kết quả: Thăng hay đọa.

Nếu tội ít mà phước đức nhiều thì được siêu thăng. Nếu tội nhiều mà phước đức ít thì bị đọa luân hồi.

Kinh Ðại Tường:

"Trường thi Tiên, Phật, duợt kiếp khiên."

 

 

DƯỠNG DỤC

養 育
E: To nurse and to bring up.
F: Nourir et élever.

(Dưỡng là nuôi nấng phần thể xác cho được lớn lên và khỏe mạnh, đó là về phần Thể. Dục là dạy dỗ về phần hiểu biết, là đạo đức tinh thần, tức là trí dục và đức dục) nói chung là con người có ba thể nên việc học hỏi để tiến hóa cũng qua ba phần: Thể dục, trí dục và đức dục.

Đức Hộ-Pháp chỉ rõ: "Chúng ta nói chữ DỤC tức nhiên chúng ta có thể nói rằng dưỡng dục. Ba món ấy có ba chủ quyền của nó đặc biệt: Thân thể chúng ta đã nên người đây, đương sống đây chúng ta thọ ân vô biên vô tận trong kiếp sinh của ta là cha là mẹ. Nếu hai Đấng ấy không có dưỡng dục ta, thì ta đã chết, đã tiêu xác hồi nào rồi. Điều ấy Bần Đạo không cần phải minh biện rõ rệt cho lắm, cả toàn thể con cái Đức Chí Tôn Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy có con mới hiểu rõ điều ấy. Bởi thế Tiên Nho chúng ta đã có nói "Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân". Chúng ta có nuôi con mới biết được ơn cha mẹ đã sanh thành dưỡng dục".

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Sanh quang dưỡng-dục quần-nhi,
"Chơn-linh phối nhứt thân vi Thánh hình."

 

 

DƯỠNG LÃO VIỆN

養 老 院
E: Hospice for the aged.
F: Hospice des vieillards.

Dưỡng: Nuôi nấng. Lão: người già cả. Viện: toà nhà lớn. Dưỡng lão viện là nhà nuôi dưỡng những người già cả không có con cháu phụng dưỡng.

Cơ Quan Phước Thiện có nhiệm vụ lập ra các Viện Dưỡng lão để nuôi dưỡng các người già yếu không con cháu, những Chức sắc và tín đồ già yếu không nơi nương tựa.

Dưỡng lão viện cũng được gọi là Dưỡng lão đường, hay Nhà dưỡng lão.

 

 

DƯỠNG MẪU

養 母
E: Foster mother.
F: Mère adoptive.

Dưỡng mẫu là mẹ nuôi, không phải mẹ đẻ.

 

 

DƯỠNG NHƠN CHI ÁC

養 因 之 惡

Đức Hộ-Pháp nói trong bài Diễn văn ngày 15-07-Nhâm Thân (dl: 16-08-1932) rằng: "Muốn khoe khoang mình thì phải chê bai người, có chê bai người mới có thể khoe khoang mình, khoe khoang mình đặng mưu đoạt công danh quyền lợi là thường tình thế sự. Hễ mình dưỡng nhơn chi ác thì tự nhiên mình muốn khoe mình, đôi khi lại khỏa lấp chỗ phải của người đi nữa".

 

 

DƯỠNG NUÔI

Kinh Vào Ăn Cơm có câu:

"Từ-bi ngũ cốc đã ban,
"Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân".

 

 

DƯỠNG PHỤ

養 父
E: Foster father.
F: Père adoptif.

Dưỡng: Nuôi nấng. Dưỡng phụ là cha nuôi, không phải cha ruột.

 

 

DƯỠNG SANH

養 生
E: To nourish.
F: Nourrir.

Tiên Cô Thất-Nương Vương thị Lễ chính danh là Nữ Tiên ở Diêu-Trì-Cung, còn tên Đoàn Ngọc Quế cho thi:

Dưỡng sanh cam lỗi tình sông núi
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai
Dồn-dập tương-tư oằn một gánh
Nỗi niềm tâm-sự tỏ cùng ai?

 

 

DƯỠNG TÁNH TU CHƠN

養 性 修 眞

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Còn sau nữa cũng nhờ lượng Thánh,
Độ thân này dưỡng tánh tu chơn.
May cho rửa bớt tội trần,
Nợ mang kiếp trước trả lần kiếp nay.

 

 

DƯỠNG TỬ PHƯƠNG TRI PHỤ MẪU ÂN

養 子 方 知 父 母 恩

Đức Hộ-Pháp nói: Khi "Chúng ta nói chữ dục tức nhiên chúng ta có thể nói rằng dưỡng dục. Ba món ấy (Thể dục- Đức dục- Trí dục) có ba chủ quyền của nó đặc biệt: Thân thể chúng ta đã nên người đây, đương sống đây chúng ta thọ ân vô biên vô tận trong kiếp sinh của ta là cha là mẹ. Nếu hai Đấng ấy không có dưỡng dục ta, thì ta đã chết, đã tiêu xác hồi nào rồi. Điều ấy Bần Đạo không cần phải minh biện rõ rệt cho lắm, cả toàn thể con cái Đức Chí Tôn Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy có con có hiểu điều ấy. Bởi thế Tiên Nho chúng ta đã có nói "Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân". Chúng ta có nuôi con mới biết được ơn cha mẹ đã sanh thành dưỡng dục".

 

 

HẾT VẦN D

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

DA | | | DE | | DI | DO | DU |

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Danh mục vần D

 

DA

Da Mồi Tóc Bạc

 

Dà Lam

 

DẠ

Dạ Đài

Dạ Xoa

 

Dã Tràng

 

DẠI

Dại

Dải (thẻ) sau lưng

Dải Đồng Tâm

 

DÀN

Dàn Bát Bửu

 

DANH

Danh Hiệu Cao Ðài

Danh Lợi

Danh - Lợi - Quyền

Danh Nhân Đại Đạo

Danh Quyền

Danh Ta Còn Mượn

Danh Thể

Danh Vọng

 

DẠY

Dạy Dỗ

 

DẶM

Dặm Gió Gày Sương

 

DÂM

Dâm Phong

Dâm Phụ Gian Phu

 

DÂN

Dân Chủ

Dân Sanh

Dân Tộc

Dân Trí

 

DÂNG

Dâng Công Đổi Vị

Dâng Tam Bửu

 

DẪN

Dẫn Độ

Dẫn Giải

 

DẤP

Dấp Dính

Dập Dìu

Dập Dồn

 

DÂY

Dây Oan Nghiệt

Dây Sắc Lịnh

 

DẤY

Dấy Động

 

DẪY

Dẫy Xe Trâu

 

DE

De Lagarde

 

DÈM

Dèm Pha

 

DÉP

Dép Cỏ

 

DỄ

Dễ Duôi

 

DI

Di Quẻ Sơn Lôi Di

Di Đà Phật

Di Hài

Di - Hi - Vi

Di Lạc (Lặc)

Di Lạc (Ðôi Liễn Di Lạc)

Di Lặc Chơn Kinh

Di Lạc-Thích Ca (Ðôi Liễn Di Lạc-Thích Ca)

Di Luân

Di Mẫu

Di Ngôn

Di Quan

Di Truyền

 

Dĩ Đức Phục Nhân

Dĩ Hòa Vi Tiên

Dĩ Lễ Hóa Dân

Dĩ Sổ Bôi Tên

Dĩ Vãng

Dĩ Văn

 

DỊ

Dị Chủng

Dị Hợm

Dị Đoan

Dị Đồng

Dị Nghị

Dị Thường

 

DỊCH

Dịch

Dịch Học

Dịch Lý

Dịch Sử

 

DIÊM

Diêm Cung

Diêm Đế

Diêm Đình

Diêm Vương

 

DIỄM

Diễm Phước

 

DIÊN

Diên Trì

Diên Niên Ích Thọ

 

DIỆN

Diện Bích

 

DIỆT

Diệt

Diệt Chủng

Diệt Dị Đoan Trừ Mê Tín

Diệt Độ

Diệt Hình

Diệt Hóa

Diệt Phàm

Diệt Tận Phàm Tâm

Diệt Tục Kiếp

Diệt Tục Xủ Phàm

Diệt Trần

Diệt Trần Tình

Diệt Trí Phàm

Diệt Phạt

Diệt Vong

 

DIÊU

Diêu

Diêu Cung

Diêu Động

Diêu Trì Cung

Diêu Trì Cửu Nương

Diêu Trì Kim Mẫu

 

DIỆU

Diệu Huyền

Diệu Huyền Chí Tôn

Diệu Pháp

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Diệu Pháp Thiêng Liêng

Diệu Quang

Diệu Võ Tiên Ông

 

DINH

Dinh Hư Tiêu Trưởng

 

DÌU

Dìu Dắt

 

DO

Do Thái

 

Dò Đon

 

DÒNG

Dòng Bích

Dòng Ngân

 

DỐI

Dối - Thiệt

Dối Trá

Dối Người Nào Khác Dối Trời

 

DỒN

Dồn Dập

 

DỜI

Dời Đổi

 

DU

Du Dạo

Du Đãng

Du Hành Bất Tức

Du Già

 

DỤ

Dụ

 

DỤC

Dục

Dục Tấn

Dục Tấn Trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống

Dục Tình

Dục Tu Kỳ Thân Tiên Chánh Kỳ Tâm

Dục Tu Thiên Đạo Tiên Tu Nhơn Đạo, Nhơn Đạo Bất Tu Thiên Đạo Viễn Hỉ

Dục Vọng

 

DUNG

Dung Hòa

Dung Hợp

Dung Nạp

Dung Thứ

 

DUY

Duy Lý

Duy Tâm

Duy Tâm - Duy Vật

Duy Tân (Vua Nhà Nguyễn)

Duy Trì

Duy Truyền

Duy Vật

 

DUYÊN

Duyên Phần

 

Dư Luận

 

DỰ

Dự

Dự Quẻ Lôi Địa Dự

Dự Khuyết

Dự Thính

 

DỮ

Dữ Tận Hiền Thăng

Dữ Tợn

 

DƯA

Dưa Muối

 

DỰC

Dực Tông

 

DƯỚI

Dưới Bộc Trong Dâu

 

DƯƠNG

Dương Bạn

Dương Gian

Dương Minh Châu

Dương Quang

Dương Thạnh

Dương Thạnh Tắc Sanh, Âm Thạnh Tắc Tử

Dương Thế

Dương Trần

Dương Văn Giáo

 

DUỢT

Duợt Chư Tiên

Duợt Kiếp Khiên

 

DƯỠNG

Dưỡng Dục

Dưỡng Lão Viện

Dưỡng Mẫu

Dưỡng Nhơn Chi Ác

Dưỡng Nuôi

Dưỡng Phụ

Dưỡng Sanh

Dưỡng Tánh Tu Chơn

Dưỡng Tử Phương Tri Phụ Mẫu Ân

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

DA | | | DE | | DI | DO | DU |


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF