CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần CH

 

CHA

Cha - Thầy

Cha Mẹ Đã Qui Liễu

 

CHÁC

Chác

Chác Buộc

Chác Tiếng Bua Danh

 

CHÁNH

Chánh

Chánh Bản Thanh Nguyên

Chánh Cung Đoài

Chánh Chủ Khảo

Chánh Danh (Chính Danh)

Chánh Đại Quang Minh

Chánh Đạo

Chánh Đáng

Chánh Đẳng Chánh Giác

Chánh Điện

Chánh Đức (Đạo hiệu)

Chánh Giáo

Chánh Giới

Chánh Lịnh

Chánh Lý

Chánh Môn

Chánh Mông

Chánh Ngọ

Chánh Ngoạt

Chánh Nhứt

Chánh Niệm

Chánh Pháp

Chánh Phối Sư

Chánh Phủ

Chánh Quả

Chánh Sách Hòa-Bình Chung Sống

Chánh Tà

Chánh Tâm

Chánh Tế - Phụ Tế

Chánh Thể

Chánh Thiện

Chánh Tín

Chánh Tôn

Chánh Trị

Chánh Trị Ðạo

Chánh Trị Sự - Phó Trị Sự - Thông Sự

Chánh Truyền

Chánh Tự

Chánh Tý

Chánh Văn

Chánh Vị

 

CHAY

Chay Lạt

 

CHÀY

Chày Kình

 

CHÂM

Châm

Châm Chế

Châm Chước

Châm Tửu

Chấm Phái

 

CHÂN

Chân Như

Chân Tâm

Chân Thật

 

CHẤN

Chấn (quẻ Chấn)

Chấn Chỉnh Đạo Quyền

Chấn Động

Chấn Hưng

 

CHẨN

Chẩn Bần

Chẩn Cứu

 

CHẤP

Chấp

Chấp Bút

Chấp Cơ

Chấp Chánh Ðạo Quyền

Chấp Kinh Tùng Quyền

Chấp Mê

Chấp Ngã

Chấp Sự Giả Các Tư Kỳ Sự

Chấp Thủ

Chấp Trách

Chấp Trung Quán Nhứt

 

CHẤT

Chất Sanh

 

CHÂU

Châu

Châu Cấp

Châu Công

Châu Ðạo

Châu Hoàn Hợp Phố

Châu Mãi Thần

Châu Nhi Phục Thỉ

Châu Thành Thánh Ðịa

Châu Toàn

Châu Tri - Thông Tri

Châu Tri Về Cơ Bút

 

CHE

Che Chở

 

CHÉN

Chén Rượu Đồng Tâm

Chén Trường Sanh

 

CHẾ

Chế Biến

Chế Cải

Chế Ngự

Chế Ngự Những Dục Vọng Bất Chánh

 

CHẾT

Chết - Sống

 

CHI

Chi

Chi Chi Hữu Sanh

Chi Chi Tam Thập Niên Dư Xích Huyện Hồng Châu Kim Thượng Tại, Tại Tại Sổ Thiên Lý Ngoại, Đào Hoa, Lưu Thủy Tử Hà Chi?

Chi Lan

Chi Phái

 

CHÍ

Chí

Chí Anh Hào

Chí Anh Hùng

Chí Bất Khuất

Chí Bửu

Chí Chơn

Chí Công

Chí Cực Chí Tôn

Chí Đức

Chí Hiếu

Chí Khí

Chí Linh

Chí Ôn Nhu

Chí Phàm

Chí Quyết

Chí Quyết Thắng

Chí Sĩ

Chí Tâm Qui Mạng Lễ

Chí Thánh

Chí Thành

Chí Thiện (1)

Chí Thiện (2)

Chí Tôn

Chí Tôn Cao Đài

Chí Tôn Phật Tổ

 

CHIA

Chia Phe Phân Phái

Chia Phôi

 

CHÌA

Chìa Khóa

 

CHÍCH

Chích

Chích Cánh

Chích Lẻ

Chiếc Xa Thơ

 

CHIÊM

Chiêm Bái

Chiêm Nghiệm

Chiêm Ngưỡng

 

CHIẾN

Chiến Sĩ Pháp Hồi

Chiến Sĩ Trận Vong

Chiến Tranh

Chiến Tranh Tàn Khốc

 

CHIẾT

Chiết

Chiết Khảm Điền Ly

Chiết Trung

Chiết Tự

 

CHIÊU

Chiêu

Chiêu An

Chiêu Dụ

Chiêu Hàng

Chiêu Hiền Đãi Sĩ

Chiêu Hồn

Chiêu Phước Họa

Chiêu Tài Tấn Bảo

Chiêu Tân

 

CHIẾU

Chiếu

Chiếu Chỉ

Chiếu Diệu

Chiếu Giám

Chiếu Minh Đàn

Chiếu Y

Chiếu Nhũ Lịnh

 

CHIM

Chim Kết Cánh Cây Liền Cành

Chim Thanh Loan

 

CHÌM

Chìm Đắm

 

CHÍN

Chín Cô

Chín Chữ Cù Lao

Chín Hành Tinh

Chín Lớp

Chín Mươi Hai Ức Nguyên Nhân

Chín Từng Trời Đất

Chín Trời Mười Phật

 

CHINH

Chinh Lòng

Chinh Nghiêng

Chinh Phụ

 

CHÍNH

Chính Chuyên

Chính Sách Hòa Bình Chung Sống

Chính Thức Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

 

CHỈNH

Chỉnh

Chỉnh Đốn

Chỉnh Nghi

Chỉnh Nghiêm Pháp Quân

Chỉnh Sát Cúng Phẩm

Chỉnh Tiên Hoa

Chỉnh Túc Y Quan

Chỉnh Ý - Chỉnh Lý

 

CHO

Cho Roi Cho Vọt

 

CHỐN

Chốn Đọa Đày

Chốn Hư Linh

Chốn Tây Phương

Chống Ngoại Xâm

 

CHỚ

Chớ Cượng Cầu Mà Nghịch Thánh Ý

Chờ Con Lập Đức Giúp Huờn Ngôi Xưa

 

CHƠN

Chơn

Chơn Chánh

Chơn Danh

Chơn Ðạo

Chơn - Giả

Chơn Giáo

Chơn Hạnh Phúc

Chơn Hồn

Chơn Kinh

Chơn Linh

Chơn Linh Christna

Chơn Linh Thầy

Chơn Lý

Chơn Mạng

Chơn Mây

Chơn Ngã

Chơn Ngôn

Chơn Nhơn

Chơn Nữ

Chơn Pháp

Chơn Pháp Bí Truyền

Chơn Pháp Cao Đài

Chơn Phật

Chơn Quân

Chơn Tánh

Chơn Tâm

Chơn Thánh

Chơn Thành

Chơn Thân

Chơn Thần

Chơn Thần Của Chí Linh

Chơn Thần Ô Trược

Chơn Thật

Chơn Thiệt Nghĩa

Chơn Trị

Chơn Truyền

Chơn Truyền Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ

Chơn Truyền Đức Chí Tôn

Chơn Truyền Luật Pháp

Chơn Truyền Luật Pháp Bất Di Bất Dịch

Chơn Truyền Phước Thiện

Chơn Tu

Chơn Tục

Chơn Tướng

 

CHỚP

Chớp Giăng

Chớp Nhoáng

 

CHÚ

Chú Giải

 

CHỦ

Chủ

Chủ - Chúa

Chủ Đích

Chủ Nghĩa

Chủ Nghĩa Đại Đồng

Chủ Nghĩa Mark-Lénine

Chủ Nghĩa Thương Yêu

Chủ Quan - Khách Quan

Chủ Quản

Chủ Quyền

Chủ Tể

Chủ Tọa

Chủ Trung

Chủ Trương

Chủ Trương Thuyết Đại Đồng

Chủ Trưởng Chức Sắc

Chủ Trưởng Bàn Cai Quản Phước Thiện

Chủ Tướng

Chủ Ý

 

CHÚA

Chúa (Chủ)

Chúa Cả Càn Khôn Thế Giái

Chúa Cứu Thế (Chúa Jésus Christ)

Chúa Giáng Sinh (Jésus Chirst)

Chúa Phạt

Chúa Quỉ

Chúa Sự Vô Vi

Chúa Thánh Tôi Hiền

Chúa Tể

 

CHÙA

Chùa

Chùa Chiền

Chùa Rách Phật Vàng

Chùa Tranh

 

CHUẨN

Chuẩn

Chuẩn Đề Bồ Tát

Chuẩn Nhận

Chuẩn Phê

Chuẩn Thằng

Chuẩn Y

 

CHÚC

Chúc Thọ

 

CHUNG

Chung

Chung Cuộc

Chung Cửu

Chung Ðỉnh

Chung Hiến Lễ

Chung Ly Biệt - Chung Ly Hận

Chung Niên

Chung Phong

Chung Qui

Chung Tâm Hòa Trí

Chung Thân

Chung Tình

 

CHÚNG

Chúng

Chúng Nam

Chúng Sanh

Chúng Sơn

 

CHỦNG

Chủng Tử

 

CHUỘC

Chuộc Tội Cho Loài Người

 

CHUÔNG

Chuông Trống

 

CHUỒNG

Chuồng Chiên Thiêng Liêng

 

CHUỘNG

Chuộng Đạo

 

CHUYÊN

Chuyên Cải

Chuyên Luyện

Chuyên Quyền

 

CHUYỆN

Chuyện Vãn

 

CHUYỂN

Chuyển

Chuyển Đọa Vi Thăng

Chuyển Động

Chuyển Kiếp

Chuyển Luân

Chuyển Pháp

Chuyển: Phật-Pháp-Tăng

Chuyển Thân Tái Thế

Chuyển Thế

 

CHƯ

Chư

Chư Ác Mạc

Chư Đạo Hữu

Chư Hiền

Chư Hiền Hữu

Chư Linh

Chư Nhu

Chư Sơn

Chư Tăng

Chư Tiên Vương

Chư Thần

Chư Vị Nữ Đầu Sư

 

CHỮ

Chữ Bần

Chữ Chù

Chữ Đồng

Chữ Khí

Chữ Hòa

Chữ Nhàn

Chữ Thứ

Chữ Thời

Chữ Tu

Chữ Vạn

 

CHỨC

Chức

Chức Cẩm Hồi Văn

Chức Đại Quyền Cao

Chức Sắc

Chức Sắc Bộ Nhạc

Chức Sắc Hàm Phong

Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài

Chức Sắc Nữ Phái

Chức Sắc Phải Có Cấp Bằng

Chức Sắc Phế Phận

Chức Sắc Tiểu Cấp Hiệp Thiên Đài

Chức Sắc Thiên Phong

Chức Trách Trọng Hậu

Chức Việc Bàn Trị Sự

 

CHƯNG

Chưng

 

CHỨNG

Chứng

Chứng Chiếu

Chứng Ðàn

Chứng Hôn

Chứng Kiến

Chứng Minh

Chứng Quả

Chứng Sự

Chứng Thật - Chứng Kiến - Vi Chứng

Chứng Thư

Chứng Tri

 

CHƯỚC

Chước

Chước Hiểm Sâu

Chước Mầu

Chước Sâu Kế Độc

Chước Tửu

Chước Tửu Quỳnh

 

CHƯỞNG

Chưởng

Chưởng Âm

Chưởng Ấn

Chưởng Đào Tiên

Chưởng Đạo Hội Thánh Ngoại Giáo

Chưởng Ðạo Kim Biên

Chưởng Ðạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo)

Chưởng Đức

Chưởng Giáo

Chưởng Pháp

Chưởng Qua Đắc Qua, Chưởng Đậu Đắc Đậu

Chưởng Quản

Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài

Chưởng Thiện Quả Ư Thi Thơ Chi Phố

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

 

 

 

CHA - THẦY

E: Divine Father - Supreme Master.
F: Père Divin - Maitre Suprême.

CHA và THẦY là hai tiếng rất thân thiết mà các Tín đồ Ðạo Cao Ðài thường dùng để gọi Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

Bởi: Mỗi người chúng ta đều có Tam thể xác thân:

- Thể xác bằng xương thịt do cha mẹ phàm trần sanh ra.

- Chơn Thần tức là xác thân thiêng liêng do Ðức Phật Mẫu tạo ra. Do đó, chúng ta gọi Ðức Phật Mẫu là Ðại Từ Mẫu, tức là Ðức Mẹ thiêng liêng.

- Chơn Linh hay Linh hồn là điểm linh quang do Ðức Chí Tôn chiết ra từ khối Ðại Linh quang ban cho mỗi người để điều khiển Chơn thần và thể xác. Do đó, chúng ta gọi Ðức Chí Tôn là Ðại Từ Phụ, là Ðấng Cha thiêng liêng. Vậy, mỗi người chúng ta, ngoài cha mẹ phàm trần, chúng ta còn có hai Ðấng CHA MẸ chung, thiêng liêng là Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu. Khi Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy Ðạo, mở Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, Ðức Chí Tôn xưng mình là THẦY và gọi các Tín đồ là chư Môn đệ. Như vậy, Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế, vừa là CHA, vừa là THẦY của chúng ta và của toàn nhơn loại. Ðức Hộ Pháp rất thắc mắc về điều nầy, nên mới đem ra hỏi Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo):

- Le PÈRE et le MAÎTRE sont différents. Pourquoi notre PÈRE prend-il aussi le titre de MAÎTRE? (CHA và THẦY khác nhau. Tại sao Ðại Từ Phụ của chúng ta lấy danh xưng là Thầy?)

Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ trả lời bằng thơ Pháp văn, như sau đây:

Il est en même temps Père et Maître,
Parce que c'est de LUI, vient tout notre être.
Il nourrit notre corps de ce qui est sain,
Et fabrique notre esprit de ce qui est divin.
En LUI, tout est Science et Sagesse,
Le progrès de l'âme est son oeuvre sans cesse.
Les viles matières sont joyaux à ses yeux,
De vils esprits, Il en fait des Dieux.
Sa loi est Amour, sa puissance est Justice.
Il ne connait que la vertu et non le vice.
PÈRE: Il donne à ses enfants sa Vitalité,
MAÎTRE: Il leur lègue sa propre Divinité.

Dịch nghĩa:

Ngài, trong cùng một lúc vừa là CHA vừa là THẦY. Bởi vì chính Ngài sanh ra tất cả con người chúng ta. Ngài nuôi dưỡng thân thể chúng ta bằng vật lành mạnh,

Và tạo ra linh hồn chúng ta bằng phép thiêng liêng. Nơi Ngài, tất cả là thông thái và trí huệ. Sự tiến hóa của linh hồn là công nghiệp của Ngài không ngừng: Những vật chất hèn mọn là châu báu trước mắt Ngài. Những linh hồn hèn hạ, Ngài biến chúng thành Thần, Thánh. Luật của Ngài là Bác ái, quyền của Ngài là Công chánh. Ngài chỉ biết đạo đức và không biết thói xấu.

CHA: Ngài ban cho các con Sanh khí của Ngài.

THẦY: Ngài di tặng cho họ cái Thiên tánh riêng của Ngài.

Ðức Hộ Pháp diễn dịch ra thơ như sau:

Người cũng vẫn Cha, Thầy luôn một,
Cả Chơn linh, hài cốt tay Người.
Nuôi hình dùng vật thanh tươi,
Tạo hồn lấy phép tột vời Chí Linh.
Nơi Người vốn quang minh cách trí,
Tấn hóa hồn phép quí không ngừng.
Vật hèn trước mắt thành trân,
Hồn hèn Người lại dành phần Phật, Tiên.
Luật Thương yêu, quyền là Công chánh,
Gần thiện căn, xa lánh phàm tâm.
Làm Cha nuôi nấng âm-thầm,
Làm Thầy lại nhượng phẩm Thần ngôi Tiên.

Do vậy mà trong Bài Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu "Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Tích phước hựu tội Đại Thiên Tôn".

 

 

CHA MẸ ĐÃ QUI LIỄU

Qui liễu là sau khi làm xong trách nhiệm thì trở về cõi Thiêng liêng Hằng sống. Trong số những bài Kinh Tụng thì chỉ có 4 bài đề là Qui liễu là: Kinh cầu Tổ phụ, Kinh tụng cha mẹ, Kinh cầu bà con thân bằng cố hữu, Kinh Tụng khi vợ qui liễu.

Bất cứ một Tôn giáo nào cũng đều dạy con người phải hiếu thảo với cha mẹ, ông bà. Nho giáo được xem như là một Đạo dạy về nhơn luân đạo đức, hay nói cách khác, là một đạo thờ cúng Tổ tiên ông bà, lấy hiếu làm đầu trong trăm nết. Do vậy mà sự hiếu đạo đã thể hiện rõ nét khi cha mẹ qua đời, lễ tang đầy đủ màu sắc Tôn giáo.

Khi cha mẹ mất, người tín đồ Cao Đài nên giữ chay lạt và thành tâm để lo cúng tế, không bày biện hình thức phí phạm, hao tốn, chỉ chú trọng ai bi mà cư tang, thành kỉnh mà tế tự, ấy là căn bản của lễ nghi vậy. Điều cần nhứt trong tang lễ của Đạo là hiếu quyến phải thành tâm cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, các Đấng Thiêng Liêng: Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thất Nương Diêu Trì Cung cứu độ cho Chơn linh phụ mẫu được siêu thăng thoát hóa.

Bài Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu do Bà Đoàn Thị Điểm, một nữ sĩ nổi danh trên văn đàn Việt Nam và cũng là một vị Tiên Nương nơi Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho chúng sanh Đạo Cao Đài dùng tụng đọc khi tế lễ:

KINH TỤNG CHA MẸ ĐÃ QUI-LIỄU

(Giọng Nam-Ai)

Ơn cúc dục cù-lao mang nặng,
Lỡ thân côi mưa nắng khôn ngừa.
Âm-Dương cách bóng sớm trưa,
Thon-von phận bạc không vừa hiếu thân.

Đầu cúi lạy... (1)... linh-hiển,
Lễ muối dưa làm miếng hiếu-tâm.
Ven Trời gởi chút tình thâm,
Động lòng thương nhớ tuôn dầm lệ sa.

Xin có tưởng ruột rà máu mủ,
Cõi Hư-linh bao phủ ân-hồng.
Cảnh Thiên noi bước Hóa-Công,
Nắm phan Tiếp-Dẫn vào vòng Như-Lai.

Chốn Hư-Linh chờ ngày hội-hiệp,
Dầu căn xưa quả kiếp dường bao.
Thà cam vui chốn động Đào,
Đừng vì nhớ trẻ trở vào phàm gian.

Nuốt tiếng than đôi hàng lả-chả,
Tưởng đến điều nhơn quả mà đau.
Xem thân tuổi hạc càng cao,
E ra tử biệt Thiên-Tào định phân.

Nối hương-lửa nhơn-luân đạo trọng,
Con gìn câu chết sống trọn nghì.
Sấp mình cúi lạy Từ-Bi,
Tiền khiên phụ-mẫu Tam-Kỳ xá ân.

Xin... (2)... định thần định tánh,
Noi khuôn linh nẻo Thánh đưa chơn.
Thong-dong cõi thọ nương hồn,
Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

Chung ly-biệt con đưa tay rót,
Mối thương tâm chưa ngớt đeo sầu.
Cha ở đâu, mẹ nơi đâu? (3)
Tâm tang kính gởi một bầu lệ châu.

(ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM)

(1) Song thân, hoặc phụ-thân hay mẫu-thân đã qui-liễu.

(2) Cha mẹ hay lịnh mẹ hoặc lịnh cha đã qui-liễu.

(3) Cha mẹ mà người nào còn sống thì đọc: cha ở đây hoặc mẹ ở đây. Nếu chết hết thì đọc nguyên văn.

 

 

CHÁC

Chuốc lấy, rước lấy.

Thí dụ: Chác buộc, Chác tiếng.

 

 

CHÁC BUỘC

E: To search for.
F: S'attirer.

(Chác: Chuốc lấy, rước lấy. Buộc: cột cho chặt vào) Chác buộc là mang lấy đem cột vào người, nên luôn luôn bị ràng buộc, không còn được ung dung thơ thới.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sanh không mấy lát,...

 

 

CHÁC TIẾNG BUA DANH

E: To seek glory.
F: Convoiter la gloire.

(Chác: Chuốc lấy, rước lấy. Tiếng: tiếng tăm. Bua: đồng nghĩa với Chác. Danh: danh tiếng). Chác tiếng bua danh là cầu lấy danh, dầu là danh hảo, chứ không thật.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp:

Làm gương xấu cho kẻ chác tiếng bua danh, gây phe đảng, lập riêng tư làm nên thế lực.

 

 

CHÁNH

Chánh nghĩa là ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy (Thí dụ: Chánh danh, Chánh đạo). Ðứng đầu, lớn nhứt (Thí dụ: Chánh điện, Chánh môn)

Chánh 正 nghĩa là ngay thẳng, không thiên lệch. Điều này Đức Chí-Tôn đã dạy rằng "Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động". Phân tích chữ chánh 正 thấy có hai chữ Thượng 上 và Hạ 下 đặt nghịch nhau, giờ hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng "Thượng đội Hạ đạp". Hoặc cũng nói rằng Chỉ 止 (dừng lại) nhứt 一(là một) tức nhiên là gồm về một, cũng một ý khi ghép chữ lại với nhau. Trong vấn đề tu-hành dù ở phương diện nào điều cần-yếu là phải giữ cái tâm cho chánh đáng "Vì tâm trung chánh đáng thì là làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của tà-quái xung nhập".

Lời Bà Lâm Hương-Thanh nói rằng: Sự tu-hành chẳng phải dâng hoa đảnh lễ, khỏ mõ rung chuông là đủ; mà cũng không phải niệm đọc kinh, ăn chay ăn lạt là rồi. Bởi đó là cái SỰ chớ chưa phải cái LÝ, cái ngọn chớ chưa phải cái gốc; cái lý với cái gốc vốn ở trong TÂM người.

CHÁNH Việc chánh trị, việc tổ chức trị an trong nước.Thí dụ: Chánh trị.

 

 

CHÁNH BẢN THANH NGUYÊN

正本清源

Sửa gốc cho thẳng thì ngọn tất thẳng, làm nguồn cho trong thì dòng nước tất trong.

 

 

CHÁNH CUNG ĐOÀI

正宮兌

Cung Đoài thuộc về hướng Tây (đối lại là hướng Đông thuộc cung Chấn nằm trong Bát Quái Cao-Đài mà phương hướng chính của Tòa Thánh Tây Ninh hiện giờ. Đây là Bát Quái Đồ Thiên chỉ riêng Đạo Cao-Đài mới có tức là từ ngày Đức Chí-Tôn ban cho mối Đạo này.

Đức Hộ Pháp nói: "Toà-Thánh day mặt ngay hướng Tây, tức là chánh cung ĐOÀI, ấy là Cung Đạo, còn bên tay trái Thầy là cung CÀN, tay mặt Thầy là Cung KHÔN, đáng lẽ Thầy phải để bảy cái Ngai của phái Nam bên tay trái Thầy, tức bên Cung CÀN mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn Đạo cho đủ Ngũ Chi, cho nên Thầy buộc phải để vào Cung Đạo là Cung ĐOÀI cho đủ số. Ấy vậy cái Ngai của Đầu-Sư Nữ phái phải để bên Cung KHÔN, tức là bên tay mặt Thầy."

 

 

CHÁNH CHỦ KHẢO

正 主 考
E: The principal examiner.
F: L'examinateur principal.

(Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Chủ: người có nhiệm vụ cốt yếu. Khảo: cuộc thi tuyển chọn người tài giỏi). Chánh Chủ khảo là người đứng đầu trong công cuộc tổ chức thi tuyển và chấm thi đậu rớt để tuyển chọn người tài giỏi.

Thời Ðại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, Ðức Chí Tôn lập ra một Trường thi công quả cho chúng sanh đắc Đạo. Ðức Chí Tôn giao cho Ðức Phật Di-Lạc làm Chánh Chủ khảo, tuyển đức lọc công, chấm phong người xứng đáng vào những phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Cuộc thi lớn lao nầy dành cho toàn cả nhơn loại, gọi là cuộc Phán Xét Cuối Cùng hay Ðại Hội Long Hoa, để sau đó lập đời Thượng nguơn Thánh đức "Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị". Ðây là cuộc thi chung kết trong suốt một chặn đường tiến hóa dài của nhơn loại, để rồi 700 ngàn năm sau nữa mới có một kỳ thi tương tự, chấm dứt nhiệm vụ Phổ độ của Ðại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Tại sao Ðức Chí Tôn không làm Chánh Chủ khảo mà lại giao cho Ðức Di-Lạc Vương Phật?

- Bởi vì Ðức Chí Tôn đã làm Thầy, làm Cha, mở Ðạo lo việc giáo hóa nhơn sanh, rèn luyện Môn đệ chờ đến ngày thi cử để chứng tỏ tài năng. Nếu Thầy mà lại làm Giám khảo chấm thi học trò của mình thì người ta sẽ nghi ngờ ông Thầy tư vị học trò mình, làm mất lẽ công bình chăng? Vì Thầy bao giờ cũng muốn học trò mình thi đậu càng nhiều càng tốt. Cho nên để khỏi ai dị nghị và đúng lẽ công bình thì Thầy không làm Giám khảo mà giao nhiệm vụ nầy cho một vị khác, đó là Ðức Phật Di-Lạc.

Cũng như thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Phật Thích Ca mở đạo Phật giáo hóa các môn đồ, thì Ðức Phật A-Di-Ðà làm Chánh Chủ khảo chấm thi đậu rớt. Hai môn thi chánh của cuộc thi thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ là Công quả và Luyện đạo. Phải thi đậu cả hai môn nầy thì mới đắc thành Tiên, Phật. Nhưng đến thời Ðại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, Ðức Chí Tôn khai Đại-Ân-xá, nên Ðức Chí Tôn miễn cho môn thi Luyện đạo, chỉ còn một môn thi Công quả. Thí sinh nào có đầy đủ công quả thì đắc đạo. Do đó, Ðức Phật Di-Lạc phải thiết lập Bộ Công quả để căn cứ vào đó mà chấm thi đậu rớt, qua hai đề tài cho nguơn hội này:

"Bác ái là đề thi tiến hóa,
"Nghĩa Nhân ấy định phép duy tân."

 

 

CHÁNH DANH (Chính Danh)

正 名
E: The true name.
F: Le vrai nom.

(Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Danh: tên gọi). Chánh danh hay Chính danh là một nguyên tắc chánh trị, gốc ở Đức Khổng Tử: Ví như gọi là vua thì đúng đạo vua; gọi là quan thì phải đúng đạo quan. Trái lại như làm Hàn Lâm mà không biết chữ; làm Thừa phát mà không biết việc quan, là bất chính danh. Tất nhiên là cái tên gọi phải đúng theo cái nghĩa của nó. Chính danh là một phần quan trọng trong học thuyết của Nho giáo do Ðức Khổng Tử đề ra. Ðó là một nguyên tắc về chánh trị có mục đích ổn định trật tự xã hội, làm cho đời loạn trở nên đời bình trị. Có câu:

"Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành" nghĩa là: Danh không chánh thì lời nói không xuôi thuận, lời nói không xuôi thuận thì việc không kết quả. Cho nên, người quân tử danh có chánh thì khá nói được, nói được thì ắt làm được. Bởi vậy người quân tử không bao giờ dám cẩu thả trong lời nói. Tôn chỉ Chánh danh của Ðức Khổng Tử được Ngài phô diễn rõ rệt trong sách Xuân Thu của Ngài. Ngài làm sách Xuân Thu là để bày tỏ cái ý nghĩa của sự Chánh danh định phận, khiến cho sự ngôn luận có tiêu chuẩn rõ ràng, chỉ rõ kẻ gian người ngay, kẻ nịnh người trung. Danh đã chánh thì việc gì đều có nghĩa của việc ấy, những tà thuyết không làm mờ tối chơn lý. Danh phận đã được định rõ thì người nào có địa vị và bổn phận chánh đáng của người ấy: Trên ra trên, dưới rằng dưới, trật tự phân minh, vua ra vua, tôi ra tôi, vua lấy lễ sai khiến bề tôi, bề tôi lấy lòng trung mà thờ vua. Trong sách Luận Ngữ có chép như sau:

Một hôm Tử Lộ hỏi Ðức Khổng Tử:

- Nếu vua nước Vệ nhờ thầy sửa việc chánh trị thì thầy làm việc gì trước?

Ðức Khổng Tử đáp: Tất phải sửa danh cho chánh trước hết.

- Sửa danh cho chánh để làm gì? Anh quê mùa lắm! Người quân tử chưa biết điều gì thì đừng vội nói. Danh không chánh thì nói không xuôi, nói không xuôi thì việc không thành, việc không thành thì Lễ Nhạc không hưng, Lễ Nhạc không hưng thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết xử trí ra sao cho khỏi bị hình phạt. Cho nên, người quân tử, danh mà chánh thì tất nói được, nói được tất làm được. Về sau, Tuân Tử cũng cho sự Chính danh là cần thiết. Tuân Tử có viết một chương về "Chính danh" phát huy được nhiều điều mới, nhưng ông thiên về mặt hình pháp, còn Ðức Khổng Tử thì thiên về mặt đạo đức.

Một nước thạnh trị thì trong nước: vua phải ra vua, quan phải ra quan, cha phải ra cha, con phải ra con, thầy phải ra thầy. Làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ trong gia đình phải tròn trách nhiệm của mình thì con cái mới cảm phục và vâng lời, gia đình mới có trật tự và nề nếp, mới thuận hòa và hạnh phúc. Gia đình là căn bản của xã hội. Nếu giữ được gia đình yên ổn thì xã hội mới trật tự phân minh. Như vậy, Chính danh là căn bản trong việc chánh trị của người xưa. Người nay phải theo phương pháp ấy mà lo phần: TU- TỀ- TRỊ- BÌNH thì mới lập lại đường lối đạo đức cho bản thân, rồi mới trị gia, trị quốc và bình thiên hạ. Nếu chưa chánh danh thì chỉ là một phương lừa gạt có nghệ thuật mà thôi. Hậu quả là nước suy, dân yếu. Văn hóa ngày càng lạc hậu và sau cùng nước mất nhà tan, không tránh khỏi được. Nhà làm chánh trị phải biết!

 

 

CHÁNH ĐẠI QUANG MINH

正 大 光 明
E: Upright and clear.
F: Droit et clair.

Chánh đại quang minh là ngay thẳng, rộng lớn, sáng tỏ (Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Ðại: lớn. Quang: sáng. Minh: sáng tỏ). Đây là chỉ đức tánh căn bản của người tu, mọi việc đều phải sáng tỏ, không làm điều gì mờ ám hay khuất lấp, mà trái với đạo lý.

 

 

CHÁNH ĐẠO

正 道
E: Right way, Orthodoxy.
F: Bonne voie, Orthodoxie.

(Chánh: Ngay thẳng, không tà vạy. Ðạo là "con đường để cho các bậc Thánh Tiên bị đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Ðạo cũng là đường để cho các bậc nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi.".

Như vậy Chánh đạo đồng nghĩa với Chánh giáo tức là con đường hay Tôn giáo chơn chánh, dẫn dắt con người đến chỗ chân - thiện - mỹ. Quyền lực của Chánh đạo do các Đấng Tiên, Phật cầm giữ, có mục đích giúp đỡ nhơn loại phát triển ba phương diện: xác thân, trí não, tinh thần. Lẽ đương nhiên, quyền lực của Chánh đạo đem đến cho nhơn sanh sự thanh bình, thạnh vượng và hạnh phúc

Thầy dạy: "Nơi Bạch-Ngọc-Kinh hơn sáu chục năm trước chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thấy đại nộ Thầy, nên ra tình nguyện hạ thế cứu đời. Thầy coi bọn ấy lại còn làm tội lỗi hơn kẻ phàm xa lắm. Vậy vì cớ chi các con biết chăng? Các con có cả ba Chánh Ðạo là Tam-Giáo các con biết tôn trọng; ngày nay lại thêm Chánh Ðạo nữa, các con biết ít nước nào đặng vậy?"

Hôm nay: Thầy mầng lũ con yêu dấu của Thầy: Căn đày của các con hầu mãn. Thầy đã đến lập một nền Chánh Đạo nầy tại cõi Đông Dương là cốt làm cho kẻ bị hiếp đáp đặng mạnh mẽ, kẻ hiền lương làm thầy kẻ hung bạo. Ấy là lẽ công bình thiêng liêng của Tạo Hóa. Hết phạt tới thưởng là thường lệ. Các con thoát đặng khỏi nơi u-ám là bởi đạo đức, các con sẽ đặng trọng kỉnh cũng bởi đạo đức. Thầy bồi đắp một sự ghét bỏ của các con gần trên một trăm thế kỷ. Vậy các con phải chung hiệp cùng nhau. Nam Thổ chẳng còn phân chia nòi giống, nghe à!"

Nếu có kẻ hỏi: Hiện đã có Đạo Lão, Đạo Da-Tô, Đạo Thích là ba chánh Đạo, thế thì Tam giáo đã có rồi hà tất phải cần lập Đạo khác mà làm gì?

- "Nếu nói Đạo thì đã có sẵn từ tạo thiên lập địa. Hễ có Đời tức nhiên có Đạo. Hư-vô là Đạo, Âm Dương là Đạo, trời đất là Đạo, nhơn vật là Đạo. Tam giáo là Đạo chánh thuở nay, song bị tay phàm canh cải, càng ngày càng xa Thánh-giáo mà hoá ra phàm giáo. Thượng-Đế lấy làm đau-đớn, hằng thấy nhơn sanh phải bị sa vào tội lỗi, mạt kiếp chốn A-Tỳ, nên nhứt định chuyển Tam giáo Qui nguyên Phục nhứt, chấn hưng Tôn giáo lại cho hoàn-toàn, rồi khêu sáng ngọn đèn Thiêng liêng lên để dìu-dắt bước đường cho kẻ có công tu hành mà khỏi phải sa chân lạc bước".

 

 

CHÁNH ĐÁNG

正 當

Điều chân chánh phải được tôn trọng, tức là phải đúng theo chân lý chánh truyền đối với một người tu.

Trong vấn đề tu-hành dù ở phương diện nào, điều cần-yếu là phải giữ cái tâm cho chánh đáng " Vì tâm trung chánh đáng thì là làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của tà-quái xung nhập".

Lời Bà Lâm Hương-Thanh nói rằng: Sự tu-hành chẳng phải dâng hoa đảnh lễ, khỏ mõ rung chuông là đủ; mà cũng không phải niệm đọc kinh, ăn chay ăn lạt là rồi. Bởi đó là cái SỰ chớ chưa phải cái LÝ, cái ngọn chớ chưa phải cái gốc; cái lý với cái gốc vốn ở trong TÂM người. "Giữ tòa lương-tâm cho thanh tịnh, chánh đáng, rồi sai khiến ra tứ chi, thân thể, dò theo đạo luật mà làm. Sự tu không phải nội trong lúc tới chùa hay là đương lúc cúng kiến ăn chay. Phải cẩn-thận dầu trong khi ngày thường, ăn ở đối-đãi với nhau trong cuộc đời cũng phải cho nhớ rằng: thiện nam tín nữ, thì mình phải liệu làm sao, giữ làm sao cho lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành-vi cho khỏi phải phụ một phần trách nhiệm, chớ nếu như đã thọ lãnh tiếng "nhập môn cầu Đạo" mà còn tranh cạnh chuyện thị-phi ác cảm bên trường đời, lửa tam bành nổi dậy rần rần, ma lục tặc hoành-hành thất sá. Kinh cũng đọc, kệ cũng đọc, mà lời phàm tiếng tục cũng không chừa. Tiên cũng cầu, Phật cũng cầu mà tánh quỉ nết yêu cũng không bỏ. Ngoài so-se đeo mảnh gương Thiên-nhãn, lần chuỗi hột bồ-đề mà trong lòng thì mối nghiệt dây oan vấn vương nơi trái tim lá phổi. Vậy thì sự tu-hành chính là một cuộc cầu danh giả dối, biết mấy đời cho thoát đặng cảnh khổ sông mê.

Ôi! Ăn chay một tháng có mấy ngày, còn bao nhiêu thì hại vật sát sanh không chừng đỗi, kinh sám-hối đọc sơ qua chút ít, còn bao nhiêu thì vọng ngôn ác ngữ cả luôn năm, vậy rồi lâm vô vòng ác-đạo trầm luân lại thán oán rằng: Tôi có niệm kệ, ăn chay, sao không thấy Phật rước Tiên đưa, Thánh Thần hỉ xả?"

 

 

CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC

正 等 正 覺
E: State of one who have the knowledge of all.
F: État de celui qui a la connaissance de tout.

Chánh đẳng là bực chơn chánh. Chánh giác là giác ngộ chơn chánh, giác ngộ hoàn toàn.(Ðẳng: thứ bực. Giác: biết rõ chơn lý).

Chánh đẳng Chánh giác là tiếng dịch nghĩa câu tiếng Phạn: Samyak Sambodhi, phiên âm ra là: "Tam-diệu Tam-bồ-đề" nghĩa là ngôi vị cao nhất của bậc giác ngộ, sáng suốt hoàn toàn, đó là ngôi vị Phật.

 

 

CHÁNH ĐIỆN

正 殿
E: The principal palace.
F: Le palais principal.

Chánh điện là tòa nhà lớn, đẹp đẽ và trang nghiêm, để làm nơi thờ Ðức Chí Tôn và các Ðấng thiêng liêng. (Ðiện: toà nhà lớn). Nơi Tòa Thánh hay Thánh Thất, Chánh điện còn được gọi là Bửu điện, tức là Bát Quái Ðài, có đặt Thiên Nhãn và Long vị của các Ðấng thiêng liêng để thờ phượng. Phần trước của Chánh điện được gọi là Ðiện tiền.

 

 

CHÁNH ĐỨC (Đạo Hiệu)

Chánh Đức là Đạo Hiệu của Ngài Cao-Đức-Trọng (1897-1985).Ngài là Tiếp Đạo Chơn Quân của Hiệp Thiên Đài. Ông sinh ngày 20 tháng 04 Đinh-Dậu (1897) và qui thiên ngày 23-05-Mậu Tuất (1958). Ông có hai Đạo hiệu: 1-là Chánh Đức và 2- là Huyền Hạo Đạo-nhơn. Ông được Đức Tiêu Diêu Đạo-sĩ giáng tặng cho Đạo hiệu này:

- CHÁNH khí tà gian khủng.
- ĐỨC trọng quỉ thần kinh.

Ông rất có tài về thi văn và buổi sanh thời thường xướng họa với các bậc tiền bối, đồng thời với Ngài

Ngài có làm bài thi "Lục điệu, nhị thập vận" rất tài tình. Phép làm thơ này còn gọi là Lục chuyển. tức nhiên lấy một bài làm căn bản (bài 1) rồi từ đó đọc từ dưới lên trên (cách 2). Bỏ hai chữ đầu cũng thuận nghịch (3,4). Sau cùng là bỏ hai chữ cuối của bài chuẩn, thuận nghịch (5, 6)

1- Bài chuẩn: Cách đọc xuôi (thuận)

Đài Cao núp bóng gội thiên ân,
Thoát nạn mầng qua lối khổ trần.
Mai mỉa dục đưa chào thoại khí,
Thướt tha dường rước hỏi phong vân.
Tài nhân đúc ngọc giồi dân kiệt,
Trí Thánh trau tâm đổi nghiệp Tần.
Hoài cảm khúc ca nêu ái chủng,
Khai nguơn phục thế rỗi nhơn quần.

2- Cách đọc ngược (từ dưới đọc lên)

Quần nhơn rỗi thế phục nguơn khai
Chủng ái nêu ca khúc cảm hoài
Tần nghiệp đối tâm trau Thánh trí.
Kiệt dân giồi ngọc đúc nhân tài.
Vân phong hỏi rước dường tha thướt,
Khí thoại chào đưa dục mỉa mai,
Trần khổ lối qua mầng nạn thoát,
Ân thiên gội bóng núp Cao-Đài

3- Đọc thuận (bỏ hai chữ đầu)

Núp bóng gội thiên ân,
Mầng qua lối khổ trần.
Dục đưa chào thoại khí,
Dường rước hỏi phong vân.
Đúc ngọc giồi dân kiệt,
Trau tâm đổi nghiệp Tần.
Khúc ca nêu ái chủng,
Phục thế rỗi nhơn quần.

4- Đọc ngược (bỏ hai chữ đầu)

Quần nhơn rỗi thế phục
Chủng ái nêu ca khúc
Tần nghiệp đối tâm trau
Kiệt dân giồi ngọc đúc
Vân phong hỏi rước dường
Khí thoại chào đưa dục
Trần khổ lối qua mầng
Ân thiên gội bóng núp

5- Đọc xuôi (bỏ hai chữ cuối)

Đài Cao núp bóng gội
Thoát nạn mầng qua lối
Mai mỉa dục đưa chào
Thướt tha dường rước hỏi
Tài nhân đúc ngọc giồi
Trí Thánh trau tâm đổi
Hoài cảm khúc ca nêu
Khai nguơn phục thế rỗi

6- Đọc ngược (bỏ hai chữ cuối);

Rỗi thế phục nguơn khai
Nêu ca khúc cảm hoài
Đối tâm trau Thánh trí.
Giồi ngọc đúc nhân tài.
Hỏi rước dường tha thướt,
Chào đưa dục mỉa mai,
Lối qua mầng nạn thoát,
Gội bóng núp Cao-Đài.

 

 

CHÁNH GIÁO

正 教
E: Right way, Orthodoxy.
F: Bonne voie, Orthodoxie.

Là nói đến một nền Đạo chơn chánh, tức nhiên phải gồm đủ yếu tố: một giáo lý mới mẻ có khả năng độ xác và độ hồn. Phải có một vì Giáo chủ anh minh, lỗi lạc. Vì là một nền Tôn giáo chơn chánh, dẫn dắt người tu đến chỗ cao thượng, đắc đạo. Chánh giáo cùng nghĩa như Chánh đạo, đối lại là Tà đạo hay Tà giáo. Chính những sự đối kháng này dẫn dắt người tu vào nẻo quanh co, đưa đến chỗ sai lầm hư hỏng Dầu phải khổ công tu hành cũng không đắc Đạo được..

Thầy dạy tại Ðàn Chợ Lớn (Nhà của Ngài Lê văn Trung) ngày 13-12-1926 (âl 9-11-Bính Dần):

"Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Ðạo là quí thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Vậy Thầy khuyên các con rán thành tâm hành đạo, mà Ðạo không phải giữ bằng lỗ miệng không đâu.

Thầy thấy nhiều đứa trong các con có ý theo Ðạo đặng toan kế làm nhiều việc chẳng lành. Thầy vì thương nhơn loại, muốn cứu hết nên thường thâu thập nhiều đứa vô tâm, cũng muốn cho chúng nó ăn năn chừa lỗi, ngõ hầu hưởng phước, mà chúng nó không biết tự hối thì làm sao mong rỗi đặng. Ðến buổi chung qui mới thấy Thiên đàng, Ðịa ngục thì đã muộn rồi. Các con phải xét mình cho lắm nghe!

Thầy dạy: "Trước, Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà làm ra phàm giáo. Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa".

Diêu Trì Nương Nương giáng tại Thảo Xá Hiền Cung, đêm 6-5-Ất Dậu (dl: 15-6-1945): "Thiếp được hân hoan trông thấy nền Chánh giáo được dựng lại và dìu dắt cả con cái hiệp làm một để tạo lại đời tàn buổi sau nầy. Nhờ Chí Tôn trợ giúp thêm vào sức hiệp chơn thành của các bậc anh tuấn của Đạo, nên non sông đất Việt ngày nay mới được mở mang trên màu cờ độc lập. Đó là kết quả xứng đáng của sự lập Đạo của Đức Chí Tôn. Thiếp ước mong cho Hiệp Thiên Đài để hết công tâm mà lo lắng chủ nghĩa chung là lập nền tảng chắc chắn để độ sanh linh đi đến con đường giải thoát. Đó là dâng cho Chí Tôn một lễ trọng hậu và gặp dịp may để lập ngôi vị cho mình. Nên lưu tâm. Các con Nữ phái gắng công độ rỗi và làm cho Nữ phái được đạo đức dồi dào, đông đủ mới hiệp Thiên thơ. Bước đường trước, nếu chẳng đặng hay, thì con đường sau nên dè dặt và thận trọng lấy trách nhiệm, đặng đi đến kết quả tốt đẹp. Thiếp trông mong nơi đó."

Đức Hộ-Pháp cũng nói về trách-vụ của Ngài: "Bần Đạo may duyên đựợc Đức Chí-Tôn chọn làm Ngự Mã-Quân của Ngài để thay Ngài, lập nền Chánh giáo, tức là nền Đạo Cao-Đài này để thay thế tất cả Tôn giáo đã có từ trước. Vì lẽ các Tôn-giáo ấy ngày nay không phù hợp với lương-tri, lương-năng của loài người nữa. Hay nói một cách khác là các nền Tôn-giáo ấy ngày nay đã bị bế."

"Làm sao để nhận biết được một Tôn-giáo nào là một nền Chánh-giáo? Tất nhiên phải đủ yếu-điểm tạo nên người chủ của nó đặng dẫn dắt nhân-sanh của Đạo ấy: đủ hạnh-kiểm, đủ quyền-năng, phải cao-thượng hơn sự thường tình, đi cho vững trên con đường hằng-sống mới xứng-đáng là Chủ của đại-gia-đình Càn khôn vũ-trụ. Nếu cả phương-pháp không mực thước, quyền-hành, để đoạt đến địa-vị Chúa một Tôn-giáo thì không phải là một Chánh-đạo

Ta đã thấy gì? Đạo Cao-Đài có không?

-Ta suy xét coi? – Có hẳn.

Nếu con đường ấy kẻ nào cố-gắng thì nên người làm Chúa. Nền Tôn-giáo của Chí-Tôn đã tạo sẵn có mực thước, chuẩn thằng, phép tắc, để cho người ấy lập nên địa vị".

"Trong nền Đạo của Đức Chí-Tôn nếu ngày giờ nào con cái của Ngài biết:

-Lấy hiếu đối với Ngài,

-Nuôi nhơn-loại về tinh-thần và vật-chất, đó là cơ-quan đoạt Đạo. Nghĩa là chúng ta cho vay mà không thiếu ấy là ta tự giải thoát.

Thử hỏi bí-pháp Đạo Cao-Đài có như vậy chăng?

-Có chứ!

Kià cái Cửu-Trùng-Thiên Chí-Tôn đem phô-bày nơi mặt thế này đối với Cửu-Phẩm Thần Tiên không còn ai chối đặng, ai đi trọn thì được giải-thoát.

- Đạo là trường học đoạt đại-gia-đình,

- Đạo là trường thi lập vị.

Tôn-giáo nào không đoạt được Cửu-phẩm Thần Tiên dưới thế này thì trên Cửu thiên kia không hề đoạt-vị được. Ấy vậy về mặt bí-pháp ĐẠO CAO-ĐÀI rõ-ràng là một nền Chánh-giáo của Đức Chí-Tôn.

Làm Chúa về phần hồn duy có Đức Chí-Tôn mà thôi. Ngày giờ này Bần-Đạo đứng tại nơi đây xin thú thật với con cái của Ngài; người thay thế phần xác cho ngài là Hội-Thánh. Hội-Thánh là phần xác Đức Chí-Tôn tại thế này đó vậy. Bần-đạo dám tự xưng là Giáo-chủ, vị Giáo-chủ tức nhiên người thay thế hình-ảnh cho Đức Chí-Tôn đặng làm Chúa phần hồn toàn mặt điạ cầu này, nhưng Bần-Đạo chỉ biết làm phận sự, làm tôi con Đức Chí-Tôn thay-thế hình ảnh của Ngài đặng làm bạn, làm anh em với con cái của Ngài nơi mặt điạ-cầu này mà thôi, chớ chưa hề biết làm chủ. Cả Hội-Thánh cũng vậy, chỉ làm bạn, làm anh em dìu-dắt con cái của Ngài về phần hồn đặng đoạt cơ giải thoát mà thôi".

 

 

CHÁNH GIỚI

政 界

Đức Hộ-Pháp nói: "Có phen các Bạn thân-ái tưởng đến tương-lai quốc dân, lo phương binh-vực mở rộng tự do thêm, tức có kẻ phản-đối đả-đảo lại. Bần-Đạo không nhớ ở Hạ-nghị-viện Pháp năm nào, những người binh-vực chúng ta bị đả-đảo: "Nưóc VIỆT-NAM không tinh-thần đạo-giáo nên khó lập chánh-giới lắm! Vì không có căn bản tinh-thần đạo-đức mà chúng ta không thể chối, chịu thiệt thòi theo lời vu cáo. Vì cớ Bần-Đạo đau thảm khổ não tinh-thần tìm hiểu coi sắc dân ta có Đạo hay chăng? Hại thay! Ở trước mắt ta nào là bóng, chàng, đồng cốt, ông tà, ông địa, đủ thứ làm cho nhơ-nhuốt cái tinh thần Đạo-giáo, Bần-Đạo uất ức!"

 

 

CHÁNH LỊNH

正 令

Chánh lịnh hay chánh lệnh 正 令 là đúng vào thời tiết, ngay thời tiết.

Lòng Sớ dâng về Đức Chí-Tôn có câu:

"Kim vì Dương Xuân chánh lịnh thời tự điều hòa"
今 為 陽 春 正 令 時 序 調 和.

 

 

CHÁNH LÝ

正 理
E: The reason.
F: La raison.

Chánh lý là lẽ phải đúng đắn. (: lẽ phải)

Thánh ngôn Thầy dạy: "Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Ðộ các sự hữu hình phải hủy phá tiêu diệt. Thầy đến chuyển Ðạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi, chẳng thế nào diệt đặng".

Đức Hộ-Pháp nói rõ hơn về con người: Nếu luận cho chánh lý mình có đầu óc, tay chơn, thì cả toàn thể ai kia cũng vậy, chẳng có hơn ai, cũng chẳng kém ai, chỉ là một phần tử trong vạn linh đó vậy mà thôi, nếu không có ân Thiêng Liêng dành để đặc biệt thì Bần Đạo bất quá cũng như một người đó vậy thôi, nó có khác chăng là cái tình ái nồng nàn. Tình ái ấy làm cho Đức Chí Tôn biết đặng, hiểu đặng, mà Ngài tuyển chọn làm một phần tử trọng yếu của Ngài mà thôi.

Tuy nhiên, Ngài Đầu-sư Thượng-Trung-Nhựt nói: "Đạo là chánh lý, mà chánh lý thì có một nên cách hành Lễ của Đạo phải y nhau như một mà thôi. Ai canh cải bày biện coi cho huê mỹ thì tội trọng. Từ đây nếu còn Đạo Hữu nào không biết hành Lễ thì lỗi về Giáo-Hữu, Lễ Sanh, Chánh, Phó Trị-sự và Thông-sự, họ nào theo họ nấy.

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Chọn lựa cho nên một sở làm,
Ðạo thì cũng muốn bạc thì ham.
Thầy phân chánh lý cho con hiểu,
Kẻ vụ thâu đa chẳng thoát phàm.

 

 

CHÁNH MÔN

正 門
E: The portal.
F: Le portail.

Chánh: Ðứng đầu, lớn nhứt. Môn: cửa. Chánh môn là cửa lớn nhứt so với 12 cửa ra vào Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh.

Chánh môn ở ngay hướng phía trước Tòa Thánh, nơi khởi đầu của một đại lộ bề ngang 60 thước chạy thẳng về hướng Tây, nên cũng gọi là đại lộ Chánh môn.

Khi trước, Ðức Phạm Hộ Pháp có chỉ dẫn Ban Kiến Trúc của Ðạo vẽ họa đồ Chánh môn: Bề cao 36 thước, bề ngang 60 thước, cổng cổ kính tam quan, trên nóc đắp mái ngói có để cổ pháp Tam giáo.

Khi Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước làm Quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, Ngài hợp tác với Tỉnh Trưởng tỉnh Tây Ninh lúc đó là Thiếu Tướng Lê Văn Tất để lo xây cất Chánh môn. Một số vị cho rằng họa đồ Chánh môn của Ban Kiến Trúc vẽ theo lịnh của Ðức Hộ Pháp thì Chánh môn cao tới 36 thước, như vậy thì cao quá, không thích hợp nên đề nghị Ty Kiến Thiết Tây Ninh vẽ họa đồ khác. Ty Kiến Thiết vẽ họa đồ Chánh môn chỉ cao 9 thước, ngang 54 thước, trên nóc đắp 2 rồng phò cổ pháp. Họa đồ nầy được Ngài Bảo Thế chấp thuận.

Ngài Bảo Thế ra lịnh cho Ban Kiến Trúc bổ công thợ đến xây dựng, nhưng ông Tổng Giám Ban Kiến Trúc lúc đó là ông Lê Văn Thế không đồng ý xây dựng theo họa đồ do Ty Kiến Thiết Tây Ninh vẽ, vì không đúng theo lời dạy của Ðức Phạm Hộ Pháp, nên không chịu bổ công thợ đến làm. Ngài Bảo Thế bắt lỗi, ra lịnh cho ông Chưởng quản CQPT thâu quyền chức Tổng Giám của ông Lê Văn Thế và cử ông Phó Tổng Giám Trần Văn Lành lên thay, làm Tổng Giám cai quản Ban Kiến Trúc, vì ông Lành chịu phục lịnh của Ngài Bảo Thế. (Xem tiếp vụ nầy nơi chữ: Kiến Trúc, vần K, Q,2)

Ngày 10-7-1965 (âl 12-6-Ất Tỵ), Ngài Bảo Thế ra lịnh tổ chức lễ đặt viên gạch đầu tiên xây Chánh môn theo họa đồ của Ty Kiến Thiết Tây Ninh.

Ông Tân Tổng Giám Ban Kiến Trúc Trần Văn Lành bổ công thợ đến xây dựng Chánh môn cho đến khi hoàn tất.

Ðại lộ Chánh môn: là con đường lớn khởi đầu từ Chánh môn đi thẳng về hướng Tây, mở ra đến khi gặp quốc lộ. Ðại lộ nầy có bề ngang 60 thước, bằng bề ngang Chánh môn.

Lễ khởi công mở Ðại lộ Chánh môn ngày 25-3-Giáp Dần (dl 17-4-1974), Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức nhắc lại bài thi của Ðức Phạm Hộ Pháp sáng tác hồi năm Mậu Tý (1948) nói về Ðại lộ Chánh môn:

Ðại đồng thiên hạ đó đi đây,
Tiện mối lưu thông mở lộ nầy.
Trước mặt Cao Ðài xuyên đất Việt,
Sau lưng tháp ngọc tận Trời Tây.
Ngang bằng mặt rộng hai bên rảnh,
Lưng thẳng thân to một lối ngay.
Trên lộ dưới thuyền du khách ngoạn,
Ðường về tầm Ðạo, động Thiên Thai.

PHẠM HỘ PHÁP.

 

 

CHÁNH MÔNG (Hiệu của Vua)

Vua Kiến Phúc mất, đáng lẽ ra con thứ hai của vua Dục Đức là Chánh Mông lên nối ngôi thì phải. Nhưng Tường và Thuyết không muốn lập người lớn tuổi, sợ mình mất quyền, bèn chọn người em ông Chánh Mông là ông Ưng Lịch mới 12 tuổi, lập lên làm vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi. Theo Việt-Nam Sử lược của Trần Trọng Kim, Q 11 trang 313, thì Chánh Mông là vua Đồng Khánh, ông này theo học ở Chánh-Mông-đường nên thường gọi là Chánh Mông.

 

 

CHÁNH NGỌ

正 午
E: Midday
F: Plein midi

Chánh Ngọ là chánh giờ Ngọ. Giờ Ngọ khởi từ 11 giờ đến 13 giờ. Chánh Ngọ là đúng 12 giờ trưa (giữa giờ Ngọ). Đạo Đạo Đài luôn dùng chữ chánh và chữ trung.

Thế nên cúng Tứ thời cũng dùng tương tự là: chánh Tý (12 giờ đêm), chánh Ngọ (12 giờ trưa), chánh Mẹo (6 giờ sáng), chánh Dậu (6 giờ chiều).

 

 

CHÁNH NGOẠT

正 月
E: The first month of the lunar year.
F: Le premier mois de l'année lunaire.

(Chánh là Ðứng đầu, lớn nhứt. Ngoạt còn đọc là nguyệt là tháng). Chánh ngoạt hay Chính nguyệt là tháng đầu năm Âm lịch, gọi là tháng Giêng.

 

 

CHÁNH NHỨT

正 一
E: The first man.
F: Le premier homme.

(Chánh là Ðứng đầu, lớn nhứt. Nhứt là một). Chánh nhứt là người số một đứng đầu.

Kinh Tiên-Giáo có câu:

"Tiên Thiên Chánh Nhứt, Thái Thượng Ðạo Quân.Chưởng Giáo Thiên Tôn."

 

 

CHÁNH NIỆM

正念
E: The true thought.
F: La vraie pensée.

Chánh: ngay thẳng. Niệm:tưởng nghĩ.Khi ta đã biết Chánh niệm, thì dù ta không mong cầu, nhưng sự phò hộ cứu giúp của các Đấng lại hiệu quả hơn, bởi vì người Vọng niệm thì trí tuệ không sáng bằng người Chánh niệm, linh hồn người Vọng niệm yếu đuối, kém tiến hóa, chỉ biết hướng tới tha lực, chỉ thấy sức mạnh bên ngoài mà không thấy sức mạnh bên trong sẵn có của chính mình để biết vận dụng sức mạnh đó.y là chúng ta biết tự cứu, tự phò hộ, nhờ hiểu được Chánh niệm và biết tận dụng sức mạnh tiềm ẩn trong bản thể Tiểu Thiên Địa của chúng ta.

Dĩ nhiên, khi mong cầu sự phò hộ của các Đấng thiêng liêng (Vọng niệm) thì các Đấng cũng ban rải xuống chút ít điển lành, nhưng không bằng Chánh niệm.Tóm lại, Chánh niệm là khi niệm danh Đức Chí Tôn, ta phải thấy rằng mình là một Tiểu Thượng Đế, để điển lực của ta hòa nhập vào điển lực của Thượng Đế.

Sự Chánh niệm giúp ta mau tiến hóa trên đường Đạo, mau sáng suốt và lại được sự phù hộ và bảo vệ hữu hiệu hơn khi Vọng niệm.

 

 

CHÁNH PHÁP

正 法

Thánh giáo của Phật Thích Ca giáng Cơ tại Hội Phước Tự (Cần Giuộc). Ngày 05-04-Bính Dần (Samedi 5 Juin 1926) "Chư sơn nghe dạy: Vốn từ LỤC TỔ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh Pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, lập riêng pháp luật buộc mối Ðạo Thiền. TA vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật Tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. "

 

 

CHÁNH PHỐI SƯ (Phẩm)

正 配 師
E: The Principal Archbishop.
F: L'Archevêque Principal.

(Chánh là đứng đầu, lớn nhứt. Phối Sư là phẩm Chức sắc Cửu-Trùng-Ðài đối phẩm với Thiên Thánh của Bát-Quái Đài). Chánh Phối Sư là người đứng đầu các vị Phối Sư. Theo Pháp Chánh Truyền, phẩm Chánh Phối Sư không do công cử, mà do Ðức Giáo Tông lựa chọn một vị trong 12 Phối Sư của mỗi phái lên làm Chánh Phối Sư cầm đầu 11 vị Phối Sư còn lại. Cửu-Trùng-Đài có 3 phái: Thái, Thượng, Ngọc, nên có ba Chánh Phối Sư: Thái Chánh Phối Sư, Thượng Chánh Phối Sư, Ngọc Chánh Phối Sư. Quyền hành và Ðạo phục của ba Chánh Phối Sư được ghi rõ trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải

THÁI CHÁNH PHỐI SƯ: Lo về mặt Tài Chánh, gìn giữ sản nghiệp của Ðạo, làm Chủ Tọa Hội Thánh.

Dưới quyền Thái Chánh Phối Sư có ba Viện:

- Hộ Viện: Lo việc thâu xuất tài chánh, phân phát lương hướng, phụ cấp cho Chức sắc (Trésorerie).

- Lương Viện: Bảo đảm sự sanh nhai, tìm phương nuôi sống toàn Ðạo về mặt vật thực (Intendence).

- Công Viện: Lo việc tạo tác dinh thự, đường giao thông, gìn giữ sản nghiệp của Ðạo (Travaux puplics).

THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ: Lo về mặt ngoại giao với Chánh Phủ, giữ quyền ba Viện:

- Học Viện: (Instruction publique) lo bảo toàn: Thể, Trí, Ðức dục của toàn thể Chức sắc, Ðạo hữu và Nhi đồng.

- Y Viện: (Santé publique) chuyên môn khoa cứu tế, lo trị các chứng bịnh của toàn Ðạo.

- Nông Viện: (Agriculture) lo khai phá mở mang đồn điền, chuyên về trồng tỉa.

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ: Nắm quyền tạp tụng, cầm quyền Chủ Trưởng Chức Sắc, lo việc văn từ, chưởng quản 3 Viện:

- Hòa Viện: (Affaires intérieures et extéreures) lo về nội, ngoại giao, gìn giữ trật tự và bảo an toàn Ðạo.

- Lại Viện: (Service du personnel) lo về công văn, Bộ Ðạo, Bộ Khai Sanh, Bộ Khai Tử, Bộ Hôn Thú, Bộ Chức Sắc Hành Chánh, thuyên bổ Chức sắc trấn nhậm các nơi.

- Lễ Viện: (Service des Rites) lo về nghi tiết, cúng kiến, quan, hôn, tang, tế.

Cả 9 Viện trên đây họp lại gọi là Cửu Viện Nội Chánh, tức là Nội Các của Ðạo vậy.

Sau khi tạm ngưng việc Phổ độ, thì vào ngày 12-10-Bính Dần (dl: 16-11-1926), Đức Chí Tôn phong:

- Phối Sư Thái Thơ Thanh:

 

Thái Chánh Phối Sư

- Phối Sư Thượng Tương Thanh:

 

Thượng Chánh Phối Sư

- Phối Sư Ngọc Trang Thanh:

 

Ngọc Chánh Phối Sư

Sao lại giao cho Chánh-Phối-Sư chỉnh-đốn Tân-Luật, ngày sau có phải giao cho Chánh Phối-Sư như vậy nữa chăng?

Trên kia đã nói: Chánh-Phối-sư là người thay mặt cho cả nhơn-sanh giữa Hội-Thánh, ấy là người làm chủ nhơn-sanh trong nền Đạo (1), hễ gọi là chủ nhơn-sanh ấy là nhơn-sanh vậy. Đức Lý dạy tiếp "Đạo đã thành, Đạo đã mạnh, cho đến đỗi Trái Càn-Khôn này dở hổng lên khỏi ngất mấy từng.

______________________________
Chú thích:

(1) Đây cũng nên giải vì cớ nào kể từ phẩm Chánh-Phối Sư trở xuống thuộc về Thế, nghĩa là Đời và từ phẩm Đầu Sư đổ lên thuộc về Thánh, nghĩa là Đạo, bên Hiệp-Thiên Đài cũng có Đời và Đạo, mà Bát-Quái-Đài cũng phải có vậy, mới nhằm cơ hiệp một Đời cùng Đạo. Tức là trong Đạo có Đời, mà trong Đời cũng có Đạo.

 

 

CHÁNH PHỦ

政 府

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Trên Chánh-phủ sẵn lòng nhơn đức,
Nhưng buộc vì pháp luật Quốc gia.
Ra tờ đòi tới Công Toà,
Cam đoan ký giấy vậy mà mới nghe!

 

 

CHÁNH QUẢ

正 果
E: The highest result.
F: Le résultat plus élevé.

(Chánh: đứng đầu, lớn nhứt. Quả: thành công, kết quả). Chánh quả là cái kết quả cao nhất của sự tu hành mà người tu chứng đắc được. Ðó là ngôi vị Phật.

Thầy dạy: ngày 12-12-1926 (âl: 8-11-Bính Dần)

"Nơi trần khổ nầy, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quí báu vô giá. Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên Chánh quả."

Thánh giáo của Phật Thích Ca giáng: "Chư Sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành Đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến "Tả Ðạo Bàng Môn". Kỳ truyền đã thất, chư Sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. TA đã đến với huyền diệu nầy thì từ đây, TA cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa".

Lời Thầy dạy Nữ phái: Huệ con, Lâm thị con, khá nghe lời dạy. Con ôi!

Thầy không định vì lòng tự quá,
Mới khởi đem chánh quả một đường,
Tam Kỳ mong độ chúng tai ương,
Lại quyết mở Tây phương khai Đại Đạo.

 

 

CHÁNH SÁCH HÒA BÌNH CHUNG SỐNG

正 筴 和 平 鍾

Đức Hộ-Pháp đã đề xướng thuyết "HÒA BÌNH CHUNG SỐNG" đặng mong gây hòa bình hạnh phúc cho thiên hạ để tránh thảm họa chiến tranh càng ghê tởm thì việc Chung Sống Hòa bình giữa các dân tộc lại càng cần thiết lắm.

Xem: CHÍNH SÁCH HÒA-BÌNH CHUNG SỐNG Của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

 

 

CHÁNH TÀ

正 邪
E: True and false, Orthodoxy and Heresy.
F: Vrai et faux, Orthodoxie et Hérésie.

(Chánh 正: ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. : cong quẹo, không ngay). Chánh tà 正邪 là hai con đường mà người tu phải chọn lựa. Chánh là ngay thẳng, chơn thật, đúng đắn, hợp với luân lý đạo đức. Tà là cong queo, tà vạy, không hợp với luân thường đạo lý. Chánh tà luôn luôn lúc nào cũng xung khắc nhau, đối chọi nhau. Nhưng vì luật đối đãi nơi thế gian hễ có chánh tự nhiên có tà, có thiện là phải có ác, cũng như có ngày thì phải có đêm. Đây là hai lý đối kháng nhau như nước với lửa, như Âm với Dương, như Ðịa ngục với Thiên đàng, như Phật với Ma, luôn luôn hiện hữu trong Càn Khôn Vũ Trụ này tạo thành hai thế lực lôi cuốn theo hai chiều ngược nhau để thúc đẩy sự tiến hóa của vạn linh.

Ðức Chí Tôn giải thích chánh tà trong 4 câu thi sau:

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,
Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra?
Sao ra Tiên Phật, người trần tục,
Trần tục muốn thành phải đến TA.

Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ dạy về Tà Chánh như sau:

"Tà Chánh, Cười.... Bần Đạo nói thiệt, cũng chưa dám định đoạt. Trong cái rủi thường có sự may, trong cái may vẫn khép cầm sự rủi, khó lường được, điều cần là nên làm mà thôi. Nếu luận Tà Chánh thì chưa một ai dám còn mang mắt phàm xưng tụng mình là Chánh. Cái Tà vì Thiên thơ sử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Tòa, Tà vì những quỉ xác ma hồn lẫn lộn của Quỉ vương để làm cho công phu lở dở. Mỗi cái Tà có duyên cớ ấy, ngày sau đều có sự biến đổi thiêng liêng hoặc có một kết quả. Ngày chung qui chỉ đem về Thầy một chữ TÂM và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng. Tà Chánh là do cái Tâm của mình mà thôi. Người theo một mối đạo Chánh mà tâm Tà thì cũng là Tà. Ngược lại, nếu rủi lầm theo đạo Tà mà tâm Chánh thì vẫn là Chánh."

Đức Hộ-Pháp cũng nói rõ: "Triết lý nào giúp cho nhơn loại bảo trọng cơ quan tạo đoan bền bĩ vững chắc thì nó là Chánh. Triết lý nào xúi giục làm cho vạn vật tàn sát nhau, diệt hóa, tức nhiên Triết lý ấy là Tà."

Tóm lại, có thể định nghĩa Tà Chánh như sau:

- Chánh là những việc nào giúp cho sự tiến hóa của người và vạn vật được tốt đẹp, hay bảo tồn sự tiến hóa ấy. Những việc ấy cũng được gọi là Thiện.

- Tà là những việc làm trái lại, tức là những việc làm nào có hại cho sự tiến hóa hay đi ngược lại sự tiến hóa của người và vật trong Càn Khôn Vũ Trụ: đó là sự diệt hóa. Những việc làm diệt hóa được gọi là Ác. Ðó là quan niệm triết lý về Tà Chánh và Thiện Ác của Ðạo Cao Ðài.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

Tờ Thanh-Minh số 2 đề ngày 08-12-1954 của Phái Thiêng-Liêng, đang do Ông Bạch-Pháp xưng rằng vâng mạng lịnh Thiêng-Liêng để Qui-nhứt Cao-Đài 12 phái.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"Tư cho các Cơ-Quan xem: Cả mọi sự chánh tà thì Bần-Đạo đã thấu-đáo mọi điều, song vì thương nên để cho ai cũng đủ phương-pháp tự-tu, chớ thử hỏi các Đấng Thiêng Liêng nào đã lập đó, đáng nên công hay đã gây nên tội chia rẻ loạn Đạo. Lấy Trí phàm suy-nghĩ cũng đủ hiểu, các con cái Đức Chí-Tôn ráng đề phòng cho lắm.’" HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)

 

 

CHÁNH TÂM

正 心
E: The true heart.
F: Le vrai coeur.

Chánh tâm là cái tâm ngay thẳng, không tà vạy, đó cũng chính là cái tâm chơn thật, nên thường nói là Tâm chơn chánh. Cho nên, Chánh tâm đồng nghĩa Chơn tâm (Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Tâm: cái tâm của người nghĩa thông thường là lòng dạ. Chơn: thật).

Chánh tâm là một trong Bát điều mục của Nho giáo, dạy về cách tu thân để trở thành người quân tử. Bát điều mục là: Cách vật, Trí tri, Thành ý, Chánh tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.

Trong sách Ðại Học, chương Chánh tâm có viết: "Tâm có điều tức giận thì không thể chánh, có điều sợ hãi thì không thể chánh, có điều ham mê thì không thể chánh, có điều lo buồn thì không thể chánh." Như vậy, muốn Chánh tâm thì phải giữ cho tâm được quân bình, yên ổn, trong sạch. Nếu tâm không chánh thì sẽ muốn những điều không đáng muốn, ưa những điều không đáng ưa, yêu và ghét không đúng đối tượng, không hợp cách thức, không theo độ lượng. Con người như thế là hư hỏng sai lầm. Vì thế, ta cần phải giữ cái tâm cho chơn chánh luôn luôn, để cho ngôn ngữ và hành vi được đúng đắn, hợp đạo lý".

Đức Hộ-Pháp dạy: "Hễ quyết tâm phụng sự tức nhiên họ phải lấy chánh tâm làm căn bản, do chánh tâm ấy họ bước vô khuôn khổ của Đạo, tương liên với Đạo, chánh tâm ấy để giá trị cho Quốc dân. Thiên hạ bước vô đường chánh tâm rồi tức nhiên có liên hệ với Đạo, họ phụng sự cho thiên hạ là chỗ liên hệ sự đạo đức tinh thần của toàn nhơn sanh đó vậy. Chúng ta đã thấy rằng lời của Đức Chí Tôn đã nói "Đạo không Đời không sức mà Đời không Đạo không quyền" cả hai tinh thần ấy phải tương liên mật thiết cùng nhau không thể gì rời rã với nhau đặng.

 

 

CHÁNH TẾ - PHỤ TẾ

正 祭 - 附 祭
E: Principal funeral ceremony. - Secondary funeral ceremony.
F: Principale cérémonie funèbre. - Secondaire cérémonie funèbre.

Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Tế: dâng cúng phẩm vật cho người chết. Phụ: phụ thuộc, không phải phần chánh.

Chánh tế là phần tế lễ chánh thức trong Tang lễ, long trọng với đầy đủ nghi tiết.

Phụ tế là phần tế lễ phụ thuộc trong Tang lễ, không quan trọng bằng Chánh tế, nối tiếp theo phần Chánh tế, với nghi thức châm chế cho đơn giản.

Phần Chánh tế do Tang chủ đứng tế, có lễ sĩ đăng điện dâng cúng phẩm. Phần phụ tế để cho những bà con thân tộc đứng tế, không có lễ sĩ đăng điện.

 

 

CHÁNH THỂ

政 體
E: Form of government.
F: Forme de gouvernement.

(Chánh: việc chánh trị, việc tổ chức trị an trong nước. Thể: hình thể, hình thức tổ chức. Chánh thể của Ðạo là hình thức tổ chức các cơ quan cầm quyền nền Ðạo; được xác định bởi Pháp Chánh Truyền và Tân Luật của Ðạo.

Chánh thể là hình thức tổ chức các cơ quan điều hành việc Đạo, theo một thể chế chánh trị cho có trật tự hầu cùng dẫn dắt nhau trên con đường Phụng sự Vạn linh.

Thầy nói:" Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng đảo. Vì vậy, Thầy mới lập ra có một phẩm Giáo Tông, nghĩa là Anh Cả, ba phẩm Ðầu Sư, nghĩa là Giáo Hữu. Chẳng một ai dưới thế nầy còn đặng phép nói rằng thế quyền cho Thầy mà trị phần hồn của nhơn loại. Còn cả Môn-đệ, ai cũng như ai, không đặng gây phe lập đảng, nhược kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngoài cho khỏi điều rối loạn".

 
   

Tại sao "Thầy mới lập ra có một phẩm Giáo Tông, nghĩa là Anh Cả ba phẩm Ðầu Sư, nghĩa là Giáo Hữu"?

Cửu Trùng Đài trên là Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư (xem như Tam Dương). Kế đến là Phối sư, Giáo Sư, Giáo Hữu (xem như là Tam Âm). Hai hình tam giác này nội tiếp trong vòng tròn. Qua hình vẽ cho thấy Giáo Tông nằm ở đỉnh Tam giác trên. Giáo Hữu nằm ở đỉnh tam giác ngược lại, nhưng cùng chung một đường thẳng đứng, có liên hệ nhau.

Pháp-Chánh-Truyền dạy: "Ðiều chi chúng nó xin, thì buộc Giáo Tông phải cần mẫn hơn hết.

Chú Giải: "Ðã nói Giáo Hữu là người thân mật với nhơn sanh hơn hết, mà kể từ phẩm Giáo Hữu đổ lên cho tới Giáo Tông thì xa lắm; ấy vậy, Giáo Hữu thì gần với nhơn sanh, còn Giáo Tông thì xa nhơn sanh, nếu Giáo Tông muốn gần với nhơn sanh thì phải cần mẫn giao thân cùng Giáo Hữu. Giáo Hữu là người biết nhơn sanh hơn hết, nếu Giáo Tông muốn biết nhơn sanh, thì phải nghe lời Giáo Hữu". Thánh ý muốn cho Giáo Tông đặng gần nhơn sanh cũng như Giáo Hữu, cho nên dặn Giáo Tông phải để ý cần mẫn, xét nét mỗi điều của Giáo Hữu cầu xin hơn hết song mỗi điều chi Giáo Hữu cũng không đặng phép loạn đẳng cấp, nghĩa là phải nương theo các phẩm cấp trên mình mà dâng sớ."

 

 

CHÁNH THIỆN

正 善

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Ngoan-ngùy chơn-chánh Phật Thần thương,
"Chơn-chánh liên-hòa với thiện lương.
"Thần-Thánh thành, do người chánh thiện,
"Thiện-lương chơn-chánh đức không lường."

 

 

CHÁNH TÍN

正 信
E: The true belief.
F: La vraie croyance.

Chánh tín là sự tin tưởng đúng đắn, chơn chánh.Do đó, người có Chánh tín thì giữ đức tin được bền vững, còn người mê tín thì dễ mất đức tin. (xem mê tín vần M).

 

 

CHÁNH TÔN

正 尊

Thi văn dạy Đạo có câu:

Vô lao bất phục hồi chơn mạng,
Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn.

 

 

CHÁNH TRỊ

政 治

(Chánh: Việc chánh trị, việc tổ chức trị an trong nước. Trị: sắp đặt, sửa sang công việc). Chánh trị là sắp đặt và sửa sang các công việc trong một tổ chức lớn cho được ổn định và tiến triển tốt đẹp. Quốc gia nào cũng có hai phần: Ðời và Ðạo, cho nên có Chánh trị Ðời và Chánh trị Ðạo. Nhưng thông thường khi nói đến Chánh trị là nói Chánh trị Ðời.
Vậy Chánh trị Ðời hay Chánh trị là gì? Có nhiều nghĩa:

▪ Chánh trị là những vấn đề tổ chức và điều khiển bộ máy cai trị của nhà nước.

▪ Chánh trị là những hoạt động của một tầng lớp dân chúng hay của một nhóm người, của một đảng phái, nhằm đấu tranh với chánh quyền đang cai trị để giành lấy quyền lãnh đạo và cai trị quốc gia.

▪ Chánh trị là những hoạt động đấu tranh có tính cách quần chúng để chống lại đường lối cai trị của chánh quyền bằng những phương thức hợp pháp, dựa vào cơ quan dân cử. Người làm chánh trị thì chỉ biết mục tiêu tranh đấu và cứu cánh là then chốt. Họ chỉ biết trung thành với đường lối và quyền lợi của đảng phái hay phe nhóm của họ. Tất cả phương tiện để đạt được mục tiêu cứu cánh đó đều tốt và cần thiết, dù những phương tiện đó chánh đáng hay tà mị cũng đều được sử dụng triệt để. Bởi vậy, chánh trị và đạo đức (tức là tôn giáo chơn chánh) không bao giờ đi đôi với nhau. Người ta thường nói: Người làm chánh trị phải có mặt dầy, lòng đen.

Ðức Chí Tôn giáng cơ nhiều lần dạy về sự khác biệt giữa Chánh trị và Ðạo, lời trong Thánh Ngôn: "Trung, mặc kệ nó. Chúng nghi các con lo quốc sự (chánh trị). Thầy vì các con xin lắm, mới ép lòng chịu vậy, chớ Chánh trị với Ðạo chẳng buổi nào liên hiệp cùng nhau. Thầy nói ít, các con hiểu nhiều."

- "Thầy tưởng các con đã hiểu vì cớ nào Chánh phủ Lang sa (Pháp) nghi ngờ như vậy, vì các con chẳng tỏ ra rằng: Ðạo là Ðạo, còn Chánh trị là Chánh trị, các con chỉ vì Ðạo là phận sự của các con, các con cũng chỉ biết Ðạo mà thôi. Các con cũng nên bạo gan mà nói trước mặt Vạn quốc cùng chánh phủ rằng: Các con là người Ðạo, chỉ biết giúp đỡ nhơn sanh, dạy dỗ nhơn sanh, chớ chẳng biết Chánh trị là gì, dầu ai buộc các con cam đoan thì Thầy tưởng các con cũng không ái ngại."

- "Trong Ðạo, duy có một điều làm cho chánh phủ không vừa lòng là mỗi nước muốn cho phân cách nhau, mà Ðạo thì lại hiệp, các con cũng nên nói với người Lang sa rằng: Nhờ Ðạo mà các sắc dân được yêu nhau, mến nhau, lấy sự yêu mến mà buộc tình người thì quyền hành kia mới bền vững."

Ðức Thượng Sanh Cao Hoài Sang có phát biểu:

"Trị nước thì có nhà cầm quyền quốc gia, trị Ðạo thì có các nhà bỉnh cán Tôn giáo. Tôn giáo không trị nước được, cũng như Chánh quyền không thể điều khiển Ðạo giáo được. Thế thì hô hào làm gì! Không thể xen Chánh trị vào Tôn giáo, cũng như không thể xen Tôn giáo vào Chánh trị. Nếu đi sai nguyên tắc đó thì chắc chắn là nắm thất bại trong tay và có hô hào hoặc không chịu lên tiếng đều do ý niệm riêng biệt của Ðạo giáo, người thức thời vụ phải biết rõ." (Nguyệt san ThôngTin số 112, trang 16)

Chức sắc Cao Ðài được tham gia làm Chánh trị không? Trả lời: Không, dứt khoát là không, vì luật pháp của Ðạo Cao Ðài tuy không ghi rõ là nghiêm cấm Chức sắc làm chánh trị, nhưng lại nói rõ rằng:

- Buộc Chức sắc phải phế đời hành Ðạo,

- Nghiêm cấm Chức sắc mượn danh Ðạo tạo danh đời,

- Nghiêm cấm Chức sắc lợi dụng danh Ðạo làm điều bất chánh. Như thế là rõ ràng là luật pháp của Ðạo Cao Ðài cấm hẳn Chức sắc làm chánh trị.

Những điều luật trên, xin chép rõ ra sau đây:

1- Theo Ðạo Nghị Ðịnh thứ 5 của Ðức Lý Giáo Tông và Ðức Phạm Hộ Pháp: Ðiều thứ nhứt: Buộc cả Chức sắc đã thọ phong phải phế đời hành Ðạo. (Ðã phế bỏ việc đời rồi thì đâu còn làm chánh trị được).

2- Theo Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938): Nếu như một ai còn đương quyền đời mà muốn vào hàng phẩm Chức việc thì phải từ bỏ quyền đời đặng để trọn tâm lo tròn trách nhiệm Ðạo.

3- Trong Thập hình của Ðức Lý Giáo Tông:

*Ðệ nhị hình: Chư Chức sắc Thiên phong không tùng mạng lịnh của Hội Thánh:

- Thuyên bổ không đi.

- Không trọn phế đời hành đạo.

- Bỏ bê phận sự.

Những vị nào phạm vào các điều trên đây thì bị khép vào tội thứ hai trong Thập hình của Ðức Lý Giáo Tông, nghĩa là giáng cấp tới hàng tín đồ hay là buộc hành đạo ngoại quốc, trừ ra các xứ lân bang Nam quốc như Ai Lao, Tần quốc.

* Ðệ tam hình:

- Làm nhơ danh Ðạo.

- Mượn danh Ðạo tạo danh đời.

- Lợi dụng danh Ðạo làm điều bất chánh.

Những vị nào phạm vào các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ ba trong Thập hình của Ðức Lý Giáo Tông, nghĩa là giáng cấp từ đương quyền xuống tới hai hay là một cấp. Do đó, một vị Chức sắc của Ðạo Cao Ðài, nếu lấy danh nghĩa Chức sắc mà đi làm chánh trị, dù dưới bất cứ hình thức nào, đều là một trọng tội đối với luật pháp của Ðạo. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, nếu một Chức sắc muốn làm chánh trị, như tham gia vào các chức vụ trong chánh quyền đời hay ở cơ quan dân cử lập pháp, buộc vị Chức sắc ấy phải làm đơn xin giao phẩm tước Chức sắc lại cho Hội Thánh, rồi mới được tham gia vào chánh quyền đời với tư cách là một tín đồ bình thường và là một công dân của quốc gia. Sau khi hết hoạt động chánh trị, muốn trở lại tu hành, vị đó phải làm đơn xin Hội Thánh cho phục hồi phẩm vị Chức sắc cũ và lúc đó Hội Thánh sẽ định đoạt.

Tôn giáo là siêu chánh trị: Những người trong cửa Ðạo từ lâu không dám bàn đến hai tiếng CHÁNH TRỊ, vì quan niệm rằng chánh trị là có lập phe đảng, có tranh bá đồ vương, có giựt giành quyền thế. Tại hiểu như vậy nên không dám nghĩ và bàn đến hai tiếng ấy. Thật nghĩa của nó là cao cả biết bao!

Ðịnh nghĩa: CHÁNH là chánh trực, quang minh, ngay thẳng, đúng đắn, có nhân nghĩa đạo đức và háo sinh. TRỊ là an ninh, bảo tồn trật tự, hòa thuận dưới trên.

Do đó mà hiện tại mới nói chánh trị đời và chánh trị đạo. Chánh trị đời như trên đã luận rồi.

Giờ này trong cửa Đạo Cao Đài về việc tổ chức hành chánh có hai phần: Đời là cơ quan Cửu Trùng Đài lo giáo hóa nhơn sanh trên con đường hành thiện.

Đạo là cơ quan Hiệp Thiên Đài lo bảo thủ chơn truyền Luật pháp Đạo khỏi bị qui phàm. Phân biệt rõ rệt như vậy để khi nói đến chánh trị đạo là nói về Tôn giáo thuần túy. Vì nơi thế gian nầy, nhơn loại vì còn những quốc gia trong vòng loạn lạc triền miên, danh từ Chánh trị bị lạm dụng vì người chấp hành không đúng nghĩa của nó. Bởi đó mà danh từ ấy không được đề cập trong cửa tôn giáo hay đạo giáo. Pháp chánh Truyền có dạy: "Đạo không Đời không sức, Đời không Đạo không quyền. Sức Quyền tương đắc mới mong tạo thời cải thế".

Ngày nay cũng như từ bao giờ, những phần tử tốt, tu hành chơn chánh trong cửa Ðạo, hằng hoàn thiện hóa từ nội tâm đến ngoại thể con người cho đúng với hai chữ đạo đức. Ðó là phần vụ Tu Thân. Còn phần lập công bồi đức là việc tế nhơn độ thế. Làm những công việc xã hội từ thiện, lấy lý Ðạo lồng vào việc làm để tỉnh thức kẻ tội lỗi hung ác trở lại đường thiện lương thuần mỹ, giáo dân qui thiện. Ðộ được một người vào cửa thiện là giảm đi một phần tử xấu của quốc gia. Ðộ được một người biết làm công việc giáo dân vi thiện là đã bớt đi hằng trăm phần tử xấu của quốc gia. Nếu độ được trăm ngàn muôn triệu người như vậy thì một quốc gia sẽ giảm đi rất nhiều khám đường và sẽ chuyển những cơ sở ấy lại thành Giáo Ðường. Như vậy, không phải Ðạo đức là Siêu Chánh trị hay sao? Nếu mỗi người thương nhau trong tình Ðạo hữu, trong tình anh chị em cùng một Cha chung Thượng Ðế, lo dìu dẫn nhau, bảo trợ nhau, dạy dỗ nhau như người cùng ruột thịt thì xã hội quốc gia đương nhiên an bình, dân tình được lạc nghiệp. Việc làm ấy trong quyền pháp Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ đã ấn định rõ ràng từ buổi sơ khai Ðại Ðạo. Nếu cấp thừa hành đứng đắn nghiêm chỉnh phổ độ chúng sanh càng đông thì quốc gia xã hội sớm thanh bình thạnh trị. Ðược thạnh trị nhờ chữ CHÁNH: Chánh tâm, Chánh trực, Chánh tín, từ lớn chí nhỏ, từ quan chí dân, từ kẻ sĩ phu tới hàng cùng đinh mà được Chánh thì lo gì không thạnh trị an ninh, quốc gia cường thịnh, xã hội thanh bình. Ðó không phải Ðạo đức là Siêu Chánh trị hay sao? Người làm đạo đức là làm Chánh trị trong tình thương yêu, giáo dục và bảo tồn. Dầu mang sắc thái riêng biệt của mỗi Tôn giáo, mỗi tổ chức hành đạo có khác nhau, nhưng cái cứu cánh căn bản của nó là tế nhân lợi vật, giáo dân vi thiện, để đem lại xã hội thanh bình, quốc gia thạnh trị trong tình thương. Người lãnh đạo xem dân như con đẻ, dân xem người lãnh đạo như cha sanh. Bổn phận, nhiệm vụ và quyền lợi tương thân tương trợ trong đường lối Chánh tâm, Chánh trực. Ðó là đạo làm người ở thế gian. Ðừng hiểu rằng vào Ðạo là trốn tất cả sự đời, mà phải hiểu vào đạo có hai phần: Một phần về tâm linh, một phần về nhơn sanh thế đạo. Nếu đóng cửa độc thiện kỳ thân thì Thượng Ðế cũng không mở Ðạo mà làm gì. Giữa thời buổi loạn ly cũng là giữa lúc phân Chánh biệt Tà, phân thanh lóng trược, cũng là buổi sàng sảy thanh lọc. Bao nhiêu căn duyên nghiệp quả mới hưởng được buổi lập đời Thượng nguơn Thánh đức. Ðừng vì ngoại cảnh để mất phong độ cốt cách của người tu hành. Nếu đạo đức không đem lại sự an bình thạnh trị thì Thượng Ðế cũng không mở Ðạo làm chi!" (Trích trong Thánh giáo Sưu tập)

 

 

CHÁNH TRỊ ĐẠO

政 治 道
E: The religious politics.
F: La politique religieuse.

Chánh trị Ðạo là một tổ chức cầm quyền cai trị trong Ðạo, có nhiệm vụ hướng dẫn các tín đồ đi đúng theo con đường đạo đức để đạt đến hạnh phúc và bảo tồn sanh chúng. Chánh trị Ðạo khác hẳn Chánh trị Ðời, tức là khác hẳn Chánh trị của xã hội quốc gia, vì Chánh trị Ðạo chỉ thuần túy về đạo đức tu hành. (Chánh: Việc chánh trị, việc tổ chức trị an trong Đạo. Trị: sắp đặt và sửa sang công việc cho tiến triển tốt đẹp. Ðạo chỉ về phạm vi Tôn giáo).

Đức Hộ-Pháp nói:: "Bần đạo nói quyết một điều là Chánh trị Ðạo mà có dính một chút quyền đời thì dị hợm xấu xa lắm vậy! Bởi tinh thần không chịu vật chất, vật chất không hề hòa thuận với tinh thần. Trường quan lại của nền Chánh giáo của Ðức Chí Tôn khác hơn đời, chúng ta chỉ lấy đạo đức Nhơn Nghĩa làm quyền, còn ngoài kia họ lấy quyền lực cưỡng bức, hai cái so nhau khác hẳn. Trong cửa Ðạo, nếu chẳng biết quyền mình là gì, lại bắt chước đồ theo tâm lý thiên hạ, cưỡng bức vô đạo đức, vô nhơn tình, thì quả nhiên sái hẳn. Quyền của chúng ta là chỉ lấy đạo đức tinh thần của Tổ phụ ta để lại trong 4000 năm làm huệ kiếm để bảo trọng quốc hồn của nòi giống mới trúng, còn ngoài ra dùng phương pháp khác là sai lầm."

Khi Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên vào năm 1934, do lịnh Ngọc Hư Cung, Ðức Lý Giáo Tông giao quyền Giáo Tông tại thế cho Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Ngài nắm quyền Thống nhứt, Chưởng quản Nhị Hữu Hình Ðài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng, Ðức Ngài lo củng cố nền Ðạo đang rã rời vì sự phá khuấy của Ban Chỉnh Ðạo Bến-Tre, bằng cách tổ chức lại nền Ðạo thành 4 cơ quan theo Ðạo luật Mậu Dần (1938), gọi là 4 cơ quan Chánh Trị Ðạo của Ðạo Cao Ðài, đó là:

         

- Hành Chánh Ðạo

- Phổ Tế

   

CỬU TRÙNG ĐÀI

         

- Phước Thiện

- Tòa Ðạo

   

HIỆP THIÊN ĐÀI

Nhiệm vụ 4 cơ quan Chánh Trị đạo:

1- Hành Chánh Ðạo: Hành Chánh Ðạo là cơ quan để thi hành các luật lịnh của Hội Thánh, hoặc của chúng sanh dâng lên mà đã có Quyền Chí Tôn phê chuẩn, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y luật pháp mà đi trên con đường đạo đức cho đặng thong dong, hòa bình, trật tự, hạnh phúc, tức là thực hành cả khuôn viên luật pháp cho ra thiệt tướng. Cầm đầu cơ quan Hành Chánh Ðạo là ba vị Ðầu Sư Nam và vị Nữ Ðầu Sư thuộc Cửu-Trùng-Ðài.

2. Phổ Tế: Phổ Tế là cơ quan để cứu vớt hoặc độ rỗi những người lạc bước thối tâm, cùng an ủi khuyên lơn những kẻ đã bị luật pháp buộc ràng mà phế vong phận sự, hay là độ rỗi những kẻ hữu tâm tầm Ðạo. Cầm đầu cơ quan Phổ Tế là một Chức sắc Cửu-Trùng-Ðài làm Chủ Trưởng.

3. Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn. Cầm đầu Chưởng Quản Phước Thiện là hai vị Chưởng quản Phước Thiện Nam và Nữ phái.

4. Tòa Ðạo (Bộ Pháp Chánh) là cơ quan bảo thủ chơn truyền, giữ gìn luật pháp Ðạo, chăm nom chư Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu thi hành phận sự, che chở kẻ yếu tha, binh vực những người cô thế, hoặc tiếp cả sự uất ức bất công của toàn sanh chúng, tức là giữ nét công bình trên mặt Ðạo, lại cũng là một cơ quan giúp cho Hành Chánh, Phước Thiện và Phổ Tế thêm oai quyền mạnh mẽ tôn nghiêm đặc sắc. Tóm lại là lập phương bảo toàn sanh chúng khỏi điều thống thiết đau khổ với nét oai nghiêm của Chức sắc đương quyền hành chánh.

Cầm đầu Bộ Pháp Chánh là một vị Thời Quân chi Pháp, Chưởng quản Bộ Pháp Chánh. Mỗi năm vào ngày Lễ Vía Ðức Chí Tôn, mùng 9 tháng Giêng, tất cả các Chức sắc Thiên phong Nam Nữ có trách nhiệm trong nền Chánh Trị Ðạo phải hội nhóm tại Tòa Thánh đặng chia ra quan sát Tờ Vi bằng của Quyền Vạn Linh ước vọng, cùng tầm phương pháp thực hành cho nên mặt Ðạo.

Sau khi 4 cơ-quan của nền Chánh-Trị-Ðạo hiệp nhau lập Luật và quyết định phương pháp thực thành thì buộc Hội-Thánh phải thi hành y theo, tức nhiên nó sẽ thành Luật, bởi vì theo Thiên-ý của Ðức Chí Tôn là để trọn quyền cho chúng sanh tự lập Luật mà tu, nên các nguyện ước của Quyền Vạn-linh cầu nài và Quyền Chí Tôn công nhận nhập thành với Tân-Luật gọi là Luật Hội Thánh. Trong kỳ hạn 6 tháng, Hội Thánh sẽ phái một Ban Thanh Tra đi xem xét các hành động của 4 cơ quan Chánh Trị Ðạo cho đặng am hiểu để tầm phương hay giúp Hội Thánh chấn chỉnh lại cho đặc sắc. (Trích Ðạo Luật Mậu Dần 1938)

Thầy dạy: Tòa Thánh:10-01-Ất Hợi (dl:13-2-1935)

Thầy chào các con "Thầy đã hết lòng cầu khẩn Lý Thái Bạch cho các con, song chánh trị đạo là quyền đặc biệt của Thầy đã ban cho nó, lại gặp buổi khó khăn, chinh nghiêng, rối rắm, nên nó phải giữ nghiêm Luật Pháp, khó nỗi tuân vì. Thầy đã sai Trung đến yết kiến nó đặng cầu rỗi cho toàn Hội Thánh, nhưng đặng hứa có một điều là thâu nạp cả sớ cầu phong, nhưng dặn buộc những kẻ ấy phải trọn hiến thân cho Đạo. Hộ Pháp dẫn đến trước mặt nó từ người đặng cho nó định phân phẩm tước."

"Một nền Chánh-trị-Đạo, không khác gì chánh trị hiện ở các nước Âu-châu. Ở Á-Đông này có nhiều nước phát-triển như: Nhựt, Tàu, Miến, Xiêm cũng có một khuôn-khổ nhất định như vậy. Dầu Quân-chủ lập-hiến hay Dân-chủ Pháp chánh cũng một mực như nhau đều chia ra hai phần:

- Phòng Dân-chủ.

- Phòng định luật.

* Phòng Dân-chủ là phòng tấn-bộ.

* Phòng định luật là phòng bảo thủ.

Phòng Dân-chủ của Pháp dưới thời dân quyền "La Chambre des Députés", còn phòng định-luật hay quân luật thật ra không có Chúa, nhưng muốn biết phòng quân luật hẳn-hoi, xem như nước Anh có "Chambre des Lords" tức là Sénat của Pháp vậy. Đời chia ra hai phòng đặc biệt, Đạo lại khác hẳn.

Chơn-pháp của Chí-Tôn để hai phòng hiệp một là Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài:

- Hiệp-Thiên-Đài là phòng Quân-luật.

- Cửu-Trùng-Đài là phòng Dân-chủ.

Biểu sao khỏi xích-mích nhau! Một đàng bảo-thủ, một đàng dục tấn; nếu hai đàng không hòa nhau; đem chơn-lý hiển nhiên thì hòa được, còn không lấy chơn-lý thì đụng tại chỗ, phản-khắc không thể đệ lên Thượng quyền mà còn nhơ bợn được. Đó là các bàn sàng, sàng mãi cũng phải lọt xuống". (TĐI/126)

Buổi nọ Đức Lý Giáo-Tông dạy lập Pháp trước; sau Ngài sẽ giáng cơ chấn-chỉnh, lập cho có đủ hữu vi, đặng có đủ phương-pháp Hội-Thánh làm hình thể cho Chí-Tôn mới xứng phận cho Ngài. Đức Chí-Tôn đã dạy hồi mới khai Đạo:

"Thầy đã chán biết thế gian này là phàm, Thầy đến lấy cái phàm hiệp cùng cái Thánh, làm sao tránh đặng cái phàm không lẫn-lộn trong cái Thánh, nếu còn vướng chút phàm thì không còn là Thánh-thể, các con nên hiểu phẩm vị cao trọng ấy mà trau lòng cho ra Thánh-Thể mới đáng giá"! Đối với các triết-lý Bí-pháp buổi nọ, bây giờ nhân loại tăng tiến quá lẽ thành thử các vị Giáo-chủ đã lập luật-pháp, nhưng luật-pháp đơn sơ ấy ngày nay không có đủ quyền-năng trị tâm thiên-hạ nữa.

Riêng về Ngài Khai Pháp thì năm 1934 nền Đạo chinh nghiêng một mặt quyền Đời áp chế, một mặt các Chức Sắc lớn của Trùng Đài buổi ấy chia rẽ con cái Đức Chí Tôn, phá rối Chơn Truyền. Ngài vâng lệnh Đức Hộ Pháp qua nắm quyền Ngọc Chánh Phối-Sư giữa lúc tinh thần Thiên Phong lay chuyển, đem hết trí lực trung thành cùng Hội Thánh đặt lại được một nền triết lý chánh trị vững chắc. Cả Chức Sắc Thiên Phong đầy đủ chí hy sinh, phế Đời hành Đạo, tuân y Đạo Nghị Định thứ năm của Đức Lý Gíao-Tông. Nói rõ ra, thì nền móng Chánh trị Đạo được xây dựng đầu tiên là nhờ bàn tay của Ngài vậy.

Chánh trị với Ðạo chẳng buổi nào liên hiệp cùng nhau: Từ trước tới nay, nhiều vị lãnh đạo tôn giáo lợi dụng uy thế của đông đảo tín đồ, đứng ra tranh giành quyền lực với chánh quyền quốc gia, khiến cho nhà đương quyền luôn luôn nghi ngờ tôn giáo làm chánh trị. Trong giáo lý của Ðạo Cao Ðài do Ðức Chí Tôn lập ra, không có khoản nào cho phép Chức sắc làm chánh trị. Bởi vì mục đích của tôn giáo là làm lành, còn Chánh trị thì làm lợi. Nếu nhà cầm quyền hoàn toàn vì nước vì dân đúng nghĩa thì tôn giáo là cơ quan rất đắc lực hộ trợ nhà nước về phước thiện, về an sinh xã hội, giáo dục đạo đức, củng cố và phát triển thuần phong mỹ tục, ngăn ngừa tội ác tội phạm. Một xã hội không đạo đức thì dễ đưa đến hỗn loạn và đồi trụy. Chỉ có tôn giáo mới có thể cải tạo tệ nạn xã hội một cách hữu hiệu đến tận gốc rễ.

 

 

CHÁNH TRỊ SỰ - PHÓ TRỊ SỰ - THÔNG SỰ

正 治 事 - 副 治 事 - 通 事

(Chánh: Việc chánh trị, việc tổ chức trị an trong Đạo, cũng có nghĩa là trưởng, lớn. Dưới một bực gọi là Phó. Phó: bực thứ, tiếp lo, trợ lực cho người chánh để mọi việc được chu toàn. Sự: việc. Thông: suốt qua, truyền đạt). Chánh Trị Sự là phẩm Chức việc do Ðức Lý Giáo Tông lập ra để làm đầu một Hương đạo, gọi là Ðầu Hương đạo, có phận sự coi về hành chánh và luật pháp trong một Hương đạo. Hương đạo là một tập thể các tín đồ cư ngụ trong một xã hay một làng. Một Hương đạo được chia làm nhiều Ấp đạo.

Phó Trị Sự là phẩm Chức việc do Ðức Lý Giáo Tông lập ra để giúp việc cho Chánh Trị Sự và làm đầu một Ấp đạo về phương diện hành chánh.

Thông Sự là phẩm Chức việc do Ðức Phạm Hộ Pháp lập ra để coi về Luật pháp trong một Ấp đạo.

Với nhiệm vụ đặc biệt của mỗi vị Chức việc trong Hương đạo, nên Pháp-Chánh-Truyền gọi:

▪ Chánh Trị Sự là Ðầu Sư Em, vì nắm cả hai quyền: Hành Chánh và Luật pháp trong một Hương đạo. Cũng như Ðầu Sư thì nắm cả hai quyền Hành chánh và Luật pháp của cả Cửu-Trùng-Đài (là Hội-Thánh Anh).

▪ Phó Trị Sự là Giáo Tông Em, vì chỉ nắm quyền Hành chánh trong một Ấp đạo. Còn Ðức Giáo Tông thì nắm quyền Hành chánh của cả nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ. Nhiệm vụ của Phó Trị Sự và Ðức Giáo Tông thì giống nhau nhưng phạm vi quyền hạn lớn nhỏ thì khác nhau xa.

▪ Thông Sự là Hộ Pháp Em, vì chỉ nắm quyền về Luật pháp trong một Ấp đạo. Còn Ðức Hộ Pháp thì nắm quyền về Luật pháp của cả nền Ðạo của Ðức Chí Tôn. Nhiệm vụ thì giống nhau, nhưng phạm vi quyền hạn lớn nhỏ thì khác nhau rất nhiều.

Trong một Hương đạo, chỉ có một vị Chánh Trị Sự làm Ðầu Hương đạo, nhưng có nhiều Phó Trị Sự và nhiều Thông Sự tùy theo Hương đạo ấy có bao nhiêu Ấp đạo. Các vị Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự trong một Hương đạo được gọi chung là Chức việc Bàn Trị Sự Hương đạo.

Ðối với Hội Thánh ở Trung ương thì gọi là Hội Thánh Anh, còn các Chức việc Bàn Trị Sự ở Hương đạo được gọi là Hội Thánh Em. Hội Thánh Anh cai quản toàn đạo, còn Hội Thánh Em chỉ cai quản một Hương đạo thôi.

Hội Thánh Anh chỉ có một ở trung ương, nhưng Hội Thánh Em thì có rất nhiều, hằng vạn hằng ức ở khắp các địa phương trong nước và cả thế giới. Hội Thánh Em làm nền tảng cho Hội Thánh Anh ở Trung ương. Cho nên, dầu Hội Thánh Anh có bị hoàn cảnh làm cho mất đi mà Hội Thánh Em ở các địa phương còn thì nền Ðạo vẫn còn.

Quyền hành, Bổn phận, Luật công cử, quyền sửa trị của Chánh Phó Trị Sự và Thông Sự: Xem: Bàn Trị Sự, vần B.

Ðạo phục của Nam Nữ Chức việc Bàn Trị Sự: Xem Pháp Chánh Truyền Chú giải.

Luật Cầu phong: Chiếu theo Thánh giáo của Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, Chánh Trị Sự có 5 năm công nghiệp đầy đủ với chức trách của mình, có Tờ Kiết chứng công nghiệp, Tờ Tánh hạnh, trường trai, đạo đức, đủ tư cách và phải độ đặng 300 người nhập môn (chẳng kể số Ðạo hữu của Cựu Chánh Trị Sự đã độ đặng) thì mới đem vào sổ cầu phong thăng thưởng lên phẩm Lễ Sanh. Việc Cầu phong nầy phải đưa ra Quyền Vạn linh định đoạt. Khi đắc phong rồi, phải học Ðạo nơi Hạnh Ðường Tòa Thánh, và phải đi tập sự một thời gian, chừng nào đủ tài đức cầm quyền hành chánh thì mới đặng bổ làm Ðầu Tộc Ðạo.

 

 

CHÁNH TRUYỀN

正 傳
E: The true doctrine.
F: La vraie doctrine.

Chánh truyền là Giáo lý chơn chánh được truyền lại (Truyền: trao lại).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

"Từ trước Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi".

 

 

CHÁNH TỰ

正 字
E: The official writing.
F: L'écriture officielle.

(Chánh là sự yếu trọng, Tự: chữ viết). Chánh tự là dùng chữ viết chánh thức để chép kinh sách và dạy Ðạo, cùng là dùng để truyền Đạo ra các nước nước khác. Xem đó là "Văn dĩ tải đạo". Tức nhiên trong tương lai tiếng Quốc ngữ sẽ trở thành Quốc tế ngữ hay Thế giới ngữ để dùng truyền bá Đạo Cao-Đài khắp thế giới.

Phật giáo dùng chữ Phạn để chép Tam Tạng Kinh của Phật giáo, nên chữ Phạn là chánh tự của Phật giáo.

Ngày nay, Ðức Chí Tôn chọn đất nước Việt-Nam để mở Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, nên Ðức Chí Tôn chọn chữ Quốc ngữ của Việt-Nam làm chánh tự để truyền đạo, chép các kinh sách của Ðạo và giảng giải đạo lý. Vả lại, chữ Việt-Nam có một ưu điểm mà không một thứ chữ viết nào trên thế giới có thể so sánh được, bởi lẽ nó là tiếng đơn âm và viết theo mẫu tự La-tinh, nên rất dễ học và thật rất tiện dụng. Nó thể hiện sự hòa hợp tuyệt diệu giữa hai nền văn hóa Ðông – Tây, nên rất đáng được Ðức Chí Tôn chọn làm Chánh tự để mở Ðạo Cao Ðài cho toàn thế giới.

Thánh giáo của Ðức Chí Tôn ngày 29-7-Bính Dần (1926), chép trong Ðạo Sử của Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu, Ðức Chí Tôn nói với Hòa Thượng Như Nhãn rằng: "Như Nhãn Hiền đồ! Thầy không muốn nói với con bằng Hớn ngôn, vì tiếng An Nam từ đây Thầy cho là Chánh tự đặng lập Ðạo của Thầy nên buộc phải nói rõ với con."

 

 

CHÁNH TÝ

正 子
E: Midnight.
F: Plein minuit.

Tý là giờ Tý, tức là từ 23 giờ đến 1 giờ khuya.

Chánh Tý là giữa giờ Tý, tức là lúc 0 giờ (24 giờ) thường nói là lúc 12 giờ khuya. Trong một ngày một đêm có 24 giờ: 12 giờ ban ngày, 12 giờ ban đêm. Chia ra làm 12 khoảnh khắc gọi là canh giờ. Mỗi canh giờ như vậy là 2 tiếng đồng hồ. Thế nên giờ Tý tính từ 23 giờ đến 1 giờ: (23- 24-1). Giờ chánh Tý là giờ ở giữa, tức là 24 giờ. Vì là giao điểm giữa ngày và đêm nên còn gọi là 0 giờ là vậy. Đặc biệt đối với Tôn giáo Cao Đài là dùng giờ chánh là giờ giữa của khoảng thời gian ấy. Ví như:

- Giờ Tý

 

(23

 -  

24

 -  

1 )

 

Chánh Tý là 24 giờ

- Chánh Ngọ

 

(11

 -  

12

 -  

13)

 

Chánh Ngọ là 12 giờ trưa

- Chánh Mẹo

 

(5  

 -  

6

 -  

7)

 

Chánh Mẹo là 6 giờ sáng

- Chánh Dậu

 

(17

 -  

18

 -  

 19)

 

Chánh Dậu là 18 giờ (6g chiều)

Đạo phải dùng chữ chánh và trung là vậy. Nếu lấy đầu giờ Tý là 11 giờ thì không đúng, mà lấy cuối giờ (1 giờ) cũng không được, tức nhiên là không thiên lệch.

 

 

CHÁNH VĂN

正 文
E: The legitimate literature.
F: La littérature légitime

(Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Văn: văn chương). Chánh văn là văn chương chánh đáng, đúng cách, thật thà, đạo đức, cao thượng. nghĩa lý ngay thẳng, chơn thật. Chính thời buổi Cao Đài xuất hiện nơi đất nước Việt Nam này là lúc Đức Thượng Đế muốn giao cho Việt Nam làm một nhiệm vụ vô cùng yếu trọng là Thầy dùng "Tiếng An-Nam làm chánh tự" tức là loại chánh văn đó.

Thiền Lâm Tự: 5-9-1926 (âl 29-7-Bính Dần):

Thầy nói với Hòa Thượng: "Như Nhãn Hiền Đồ! Thầy không muốn nói với con bằng tiếng Hớn ngôn, vì tiếng An Nam từ đây Thầy cho là Chánh tự đặng lập Đạo của Thầy, nên buộc phải nói rõ ràng với con.Thời kỳ dấu diếm Thiên cơ đã qua rồi, Thầy phong cho con là: Quản Pháp Thiền Sư Thích Đạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Đạo Sĩ, con vừa lòng chăng? Con đã giúp Thầy gìn giữ Thích đạo nguyên luật từ thử, nay mới còn đặng như vầy, không thì đã ra Bàng Môn Tả Đạo rồi".

Mục đích của văn chương đối với cổ nhân là "văn dĩ tải Đạo" 文以載道 là Lấy văn chở Đạo. Vì thế, tất cả các sách của Thánh hiền xưa đều viết ra một cách ngay thẳng, chơn thật, không ngoài việc giáo hóa cho con người trở nên chơn chất hiền lương.

Kinh Nhập Hội có câu:

"Để tâm dưới ánh Chí linh,
"Soi tường chơn lý chỉ rành chánh văn."

 

 

CHÁNH VỊ

正 位
E: The official dignity.
F: La dignité officielle.

(Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Vị: phẩm vị, địa vị). Chánh vị có hai nghĩa:

- Chánh vị là phẩm vị chánh thức được Hội Thánh nhìn nhận. Hiến pháp Hiệp-Thiên-Ðài qui định rằng: phẩm Luật Sự do khoa mục tuyển chọn, tức là phải trải qua một kỳ thi tuyển. Sau khi đậu rồi, phải học Ðạo và tập sự trong một thời gian là một năm thì Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài mới nhìn nhận vào hàng Luật Sự chánh vị.

- Chánh vị còn có nghĩa là phẩm vị thiệt thọ, không phải quyền tạm.

Các phẩm vị Chức sắc cao cấp Cửu-Trùng-Ðài như Chánh Phối Sư, Ðầu Sư, thường được Ðức Lý Giáo Tông phong làm Quyền, rồi sau khi hành sự được vài năm mới được đưa vào hàng chánh vị. Thí dụ như: Quyền Thượng Chánh Phối Sư, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, như vậy là chưa được vào chánh vị. Khi được vào chánh vị rồi thì không có chữ Quyền phía trước, chỉ gọi là Thượng Chánh Phối Sư hay Ngọc Chánh Phối Sư.

Trường hợp Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung:

Quyền hành Giáo Tông được phân ra làm hai: Quyền hành thiêng liêng và quyền hành tại thế. Quyền hành Giáo Tông thiêng liêng vẫn do Ðức Lý Thái Bạch nắm giữ, Ðức Lý giao quyền Giáo Tông tại thế cho Ngài Lê Văn Trung, nên toàn đạo gọi Ngài là Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.

 

 

CHAY LẠT

Bài thi của Đức Hộ-Pháp cho trước khi nhập tịnh tại Trí huệ Cung năm 1954.

THI

 

Gắng tu cho kịp Hội-Long-Hoa
Đạo đức không chuyên khổ lắm mà.
Chay lạt để ngừa loài khí độc.
Mê man bất tỉnh trận kỳ ba.
Người hiền cứu sống ra phò Chúa.
Kẻ dữ bạo tàn xác quạ tha,
Thân Dậu tới đây rồi sẽ biết.
Đinh ninh vẹn giữ mấy lời Ta.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

 

Nhơn đạo rày đã suy vi,
Chay lạt dời đổi còn chi tu hành.
Mang câu thất hiếu đã đành,
Bao nhiêu công quả biển gành rã tan.

 

 

CHÀY KÌNH

E: The bell-stick.
F: Le pilon gravé la forme de baleine.

(Chày: khúc gỗ dài dùng để dộng hay giã. Kình: cá kình, một loại với cá ông ở biển). Chày kình là cái chày bằng gỗ mà ở đầu có chạm hình con cá kình, dùng để dộng chuông nơi các chùa chiền ngày xưa. Nay buổi Đạo Cao Đài tôn chỉ là Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi, nên sử dụng cả Chuông và Trống, nên cũng nương theo tích cũ, mà làm chày dộng chuông, trống nơi các Thánh Thất hay Ðiện Thờ có hình dạng như thế, mà cũng là kỳ Ân xá của Chí-Tôn nên các vật cũng được về chầu Chí-Tôn là vậy.

Tương truyền, thuở xưa nơi bờ biển có một loại thú tên là con bồ lao, nó rất sợ cá kình, vì cá kình thường bơi vào bờ để đánh bắt bồ lao. Mỗi khi bồ lao bị cá kình đánh thì nó hét vang lên, tiếng kêu rất lớn. Vì thế, người xưa thường đúc đỉnh chuông có hình hai con bồ lao, tạo thành hai cái quai để treo chuông, còn cái chày gỗ thì chạm hình con cá kình. Người ta tin rằng khi chày kình dộng vào chuông bồ lao thì nó phát ra tiếng chuông thật to. Do đó, tiếng chày kình là chỉ tiếng chuông chùa, hay chỉ việc tụng kinh: gõ chuông gõ mõ tu hành.

Đức Quan Thánh căn dặn khá gắng nhớ bài nầy:

Khuôn đời chưa dễ tạo nên hình,
Tóc bạc còn mờ lối nhục vinh.
Hòn ngọc khó đem trau Thánh chất,
Cân vàng khôn lấy nện chày kình.

Thơ của Chu Mạnh Trinh:

"Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
"Khách tang hải giựt mình trong giấc mộng".

 

 

CHÂM

Rót rượu, thêm vào.

Thí dụ: Châm chế, Châm chước.

 

 

CHÂM CHẾ

斟 制
E: To attenuate, to tolerate.
F: Atténuer, tolérer.

(Châm: Rót rượu, thêm vào. Chế: ngăn cấm, bớt ra). Châm chế có nghĩa đen là thêm vô hay bớt ra cho vừa. Nghĩa thường dùng - Giảm nhẹ bớt yêu cầu. - Chiếu cố mà tha thứ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Còn sự tự hối của mỗi đứa, sau nầy ra sao thì tăng tội phước, cũng vì đó là châm chế.

 

 

CHÂM CHƯỚC

斟 酌
E: To simplify.
F: Simplifier.

(Châm: Rót rượu, thêm vào. Chước: rót rượu, liệu lường cho thỏa đáng). Châm chước là người nầy rót rượu mời người kia, người kia lại rót rượu mời lại người nầy. Như thế là điều hòa cho hai bên. Ðó là nghĩa đen. Nghĩa thường dùng là: Thêm bớt hai bên sao cho vừa phải với nhau.

Nghi châm chước: là nghi thức tế lễ có bớt đi một số lớn tiết mục để cho đơn giản và ít mất thời gian. Trong Tang lễ, khi phụ tế thì dùng nghi châm chước.

 

 

CHÂM TỬU

斟 酒
E: To pour the wine.
F: Verser de vin.

Châm: Rót vào, thêm vào.Tửu: rượu. Châm tửu là rót rượu.

Ðây là câu xướng của lễ sĩ trong nghi thức tế lễ. Khi lễ sĩ xướng: "Châm tửu" thì người chấp sự rót rượu vào ly trên bàn thờ, để làm lễ dâng rượu.

 

 

CHẤM PHÁI

Một hình thức ban thưởng và thăng phẩm cấp trong cửa Đạo Cao Đài, bước đầu tiên được "Chấm phái".

Hàng phẩm Chức việc Bàn Trị Sự cầu phong lên hàng Lễ Sanh, được Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ chấm phái. Khi đã được chấm phái rồi thì phải giữ sắc phái đó suốt đời, dù được thăng lên nhiều cấp hay thay đổi đời Giáo Tông khác.

Pháp Chánh Truyền: "Ba chi tuy khác chớ quyền lực như nhau".

▪ Các Chức sắc Cửu Trùng Đài được phân ra làm ba chi hay ba phái:

- Phái Thái, cũng gọi là phái Thích hay phái Phật: mặc đạo phục màu vàng, mão vàng, có Thánh danh khởi đầu bằng chữ Thái.

- Phái Thượng, cũng gọi là phái Lão hay phái Tiên: mặc đạo phục màu xanh, mão xanh, có Thánh danh khởi đầu bằng chữ Thượng.

- Phái Ngọc, cũng gọi là phái Nho hay phái Thánh: mặc đạo phục màu đỏ, mão đỏ, có Thánh danh khởi đầu bằng chữ Ngọc

Các Chức sắc đồng phẩm nhưng khác phái đều đồng quyền nhau, không ai lớn hay nhỏ hơn ai.

Khi đã được quyền Thiêng Liêng chấm phái rồi thì Chức sắc ấy mới được đứng vào Thiên phong, nhưng nếu là người phong tặng cho thì đó là nhơn phong hay phàm phong, không có giá trị và toàn Đạo không tín nhiệm.

 

 

CHÂN NHƯ

真 如

"Một khái niệm quan trọng của Ðại thừa Phật giáo, chỉ thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. Chân như chỉ thể tính bất động, thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức. Chân như nhằm chỉ cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân, thuộc tâm. Tri kiến được Chân-như tức là Giác ngộ, vượt ra khỏi thế giới Nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể. Chân như đồng nghĩa với Phật tính, Pháp thân".

 

 

CHÂN TÂM

真 心

"Trong đời sống hiện tại có hai lối sống khác nhau, một là sống cho bản ngã, hai là sống theo chân ngã, tức là sống theo chân tâm, thiện tánh của mình. Bởi vì phàm ngã hay chân ngã đều hiện hữu trong chính tự thể mỗi người, nếu chọn lối sống nào thì sẽ có ngay lối sống đó".

 

 

CHÂN THẬT

真 實

Thầy dạy: "Con duy có TU mà đắc Đạo, phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn-sanh còn phải trầm luân nơi khổ hải chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng Từ-bi mà độ rỗi. Nay tuy các con chưa thấy đặng hành-vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chân thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy cơ mầu nhiệm đặng thì chừng ấy đã muộn rồi. Vậy các con khá tuân lịnh dạy"

 

 

CHẤN (quẻ Chấn)

Lời chiêm-đoán về quẻ CHẤN

a/- Đoán Về Thiên-thời

Chấn tượng hướng Đông, hướng của mặt trời mọc. Mặt trời mọc ở hướng Đông vào giờ Mẹo (Mão) nên nói "Đế xuất hồ Chấn". Đế cũng chỉ muôn loài, theo thiên-thể thì lấy mặt Nhựt là mặt trời tượng Thượng-Đế, mang dưỡng khí nuôi khắp cùng vũ-trụ.

- Với Đạo-Pháp: Đức Lê-Văn-Trung được Đức Chí-Tôn ban cho Thánh-danh Thượng-Trung NHỰT. Ngài nhận phẩm Đầu-Sư đầu tiên cùng với hai vị nữa mang chữ NGUYỆT và TINH, đây là ba bửu của Trời: Nhựt, Nguyệt, Tinh là vậy.

- Về mặt đời: Ngài là ngôi sao sáng, là Nghị-viên Hội-Đồng Thượng-Nghị-viện, thưởng thọ Bắc-Đẩu Bội Tinh.

- Về mặt Đạo: Ngài là Giáo-Tông, Người thay trời tạo thế.Làm Anh Cả của nhân-loại trong buổi Tam-Kỳ này.

b/- Đoán về các Đặc-tính:

Chấn có năng-lực động, tượng là Sấm, muôn vật không có vật nào chấn-động nhanh bằng sấm (Chấn vi lôi, Chấn là sấm). Bởi quẻ Chấn ☳ là quẻ có một hào Dương chịu nén dưới hai hào Âm.

Quẻ này ứng với cuộc đời của Đức Lê-Văn Trung:

- Về phần Đời: buổi đó bị một sức ép của thời Pháp-thuộc, dân-tộc Việt chịu dưới nạn quốc phá gia vong vừa hết Tàu lại đến Tây, dù Ngài là một viên chức cao cấp của Hội-đồng Thượng-nghị-viện nhưng vẫn khổ đau vì dân-tộc chịu áp-bức, lệ nô của người Pháp.

- Về phần Đạo: Dân Việt-Nam bấy giờ tinh-thần tín ngưỡng theo thuyết đa thần, trong nước không có Đạo, dù nhiều Đạo nhưng chỉ là mượn Đạo, xin Đạo của người ta mà thôi; vì Đạo Phật du nhập từ Ấn-độ; Đạo Thánh, Đạo Tiên thì từ Trung-Hoa truyền sang, nhưng khi vào Việt Nam như một mảnh đất tốt để cấy mầm móng Đạo-giáo, người dân mình đều giữ lại mà tôn thờ, sùng kính. Chính cái lòng thiết-tha tôn-sùng Trời Phật của Việt-Nam ta mà Thượng-Đế mới đến trao cho một mối Đạo nhà, mà cũng là Quốc-Đạo. Vậy nên Thầy mới cho câu:

"QUỐC-ĐẠO kim triêu thành ĐẠI-ĐẠO
"NAM-PHONG thử nhựt biến NHƠN-PHONG"

Tức nhiên nền Đạo trong nước ta hôm nay đây một sớm sẽ trở thành Đại-Đạo. Nền phong hóa của nhà Nam một ngày gần đây sẽ biến thành phong hóa của nhân loại

c/- Đoán Về Động vật:

Chấn tượng Rồng (Chấn vi Long). Rồng là con vật linh, đứng đầu trong Tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phụng. Con vật linh ấy khi dấy lên để rồi sẽ được yên-tĩnh, nghỉ ngơi, từ dưới chỗ âm-u thì Rồng dậy.

- Đạo-Pháp: nhắc về khi làm 7 cái ngai cho các Chức-sắc Cửu-Trùng-Đài Thầy cũng bảo chạm Tứ Linh, nhưng ngai của Giáo-Tông "chỗ hai tay dựa phải chạm hai con Rồng" ấy là lý Âm Dương biến hóa vô cùng. Rồng là con vật đứng đầu hết, nên các giống thú cũng phải nương theo Tứ Linh này chuyển-hóa để thăng tiến. Nay Cao-Đài Đại-Đạo mở ra là để cho các chơn-hồn tiến hóa, tức là kể cả vật-chất, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại gọi chung là chúng-sanh và bốn phẩm-cấp cao hơn là Thần, Thánh, Tiên, Phật, gồm chung là Bát-Phẩm Chơn Hồn vậy. Theo lý vạn-vật xúât ra ở cung CHẤN, là nơi huy động đầu tiên sinh ra muôn vật. Từ đó người Á-Đông ta cảm nhận lý biến-hóa của vũ-trụ nên lấy vật Tổ là Rồng để biểu-dương một tinh-thần bất-khuất của dân-tộc-tính. Từ xưa đến giờ đều tự-hào là "con Rồng cháu Tiên". Ngay trong Đền-Thánh cũng đều trang-trí hình ảnh Tứ linh, nhiều nhất là Rồng đủ màu sắc và là Rồng hả miệng để nói lên thời kỳ Phổ-Độ chúng-sanh trong kỳ ba Đại-Ân-Xá, tận độ chúng-sanh qui nguyên-vị (Hình trên là "Cột Rồng ở Đền-Thánh Tây-Ninh)

d/- Đoán về Màu sắc:

Lấy màu huyền hoàng (huyền là sắc đen của trời; hoàng là sắc vàng của đất).

Về Đạo-Pháp: ngôi Thượng-Đế ở về phương Bắc (thuộc Khảm vi thủy, tức là tượng trưng màu đen). Màu đen, màu huyền là chỉ sự huyền-bí nhiệm-mầu, cao-thâm ấy là Đấng Huyền Khung Cao Thượng-Đế Ngọc-Hoàng Đại Thiên Tôn.

Màu vàng óng-ả là sắc vàng của kim-loại quí: vàng (or) chính là vua của kim-loại, thế nên tượng cho Phật Mẫu, vì vậy nhơn-sanh về đến ngôi của Phật-Mẫu thì đều mặc sắc phục trắng (kim-loại thường là màu trắng), nhưng riêng màu sắc dùng cho ngôi Phật-Mẫu lại là màu vàng "Phái vàng Mẹ lãnh dắt-dìu trẻ thơ".

Nếu luận về quẻ ở Bát-Quái Tiên-Thiên thì quẻ CHẤN ở giữa, hai bên là Khảm, Ly. Chấn thuộc Mộc theo lý Ngũ hành là màu xanh. Ly thuộc Hỏa màu đỏ, xanh đỏ có sự xê-dịch lên xuống lẫn-lộn nên mới thành màu huyền. Còn màu vàng vì Chấn gần Khôn thuộc Thổ nên là màu vàng.

e/- Đoán về Tịnh vật:

Theo hình vạch quẻ Chấn ☳ thì một hào Dương nằm dưới hai hào Âm. Khi Chấn sấm nổ lên thì tiếng dội vang xa. Lấy tượng cây cỏ, tượng là tre non, cây sậy.

Luận: Ngày xưa Pascal nói "người là cây sậy biết tư-tưởng" tức nhiên chỉ một tinh-thần bất-khuất, ý-chí quật cường của con người luôn muốn vươn lên, đạo-giáo nói là dục-tấn. Vì sự dục-tấn nên con người mới tìm đến con đường tu để được giải-thoát những gì gọi là ràng buộc, để cho tư-tưởng được thăng hoa. Người Việt-Nam được Thượng-Đế nắn đúc nhiều trong lò gian khổ nay đủ sức để cho Ngài đến giao cho một mối Đạo đủ quyền-năng "Xây cơ chuyển thế bảo tồn Vạn-linh."

* Đó mới là yếu-tố về NHÂN.

* Yếu-tố ĐỊA, thì đất nước Việt-Nam này là một Thái-Cực-Đồ uốn cong như con Rồng lượn: một bên là biển, một bên là đất liền là hai điểm Âm Dương tương-tiếp nhau gọi là Lưỡng-Nghi, cũng gọi là Thái-Âm, Thái Dương. Từ Lưỡng-Nghi sanh ra Tứ Tượng cho nên có thêm hai yếu-tố nữa đó là đảo Hải-Nam, tức nhiên đất trong nước đó là Thiếu-Dương; bên trong có Biển Hồ, tức là nước trong đất, gọi là Thiếu-Âm. Từ đó Tứ Tượng mới biến ra Bát-Quái.

Đất nước ta có núi Ngũ Hành là tâm điểm, nếu đặt compas quay một vòng tròn thì điểm trên sẽ qua ải Nam quan và điểm dưới sẽ đụng vào Mũi Cà-Mau tạo thành một vòng tròn đó là một Thái-Cực-Đồ trọn vẹn.

* Yếu-tố THIÊN, Thầy đã nói rõ: "Ta vì lòng Đại-từ đại-bi, vẫn lấy đức háo sanh mà dựng nên mối Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ; tôn-chỉ để vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa-vị cao-thượng, để tránh khỏi số mạng luân-hồi và nâng những kẻ tánh đức bước vào cõi nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở nơi trần thế này".

Yếu-tố Tam-Tài được thể hiện.

f/- Đoán Tật bịnh:

Người mang quẻ CHẤN thường có tật chân, bịnh gan thông thường.

- Ở Đức Quyền Giáo-Tông, Bà Bát-Nương thường trêu là "Anh Què" tức là nhắc đến nguơn linh của Ngài là Đại Tiên Lý-Ngưng-Dương, thuở Ngài còn tu Tiên ở tiền kiếp, đắc Đạo. Một hôm Ngài xuất chơn-thần, bỏ xác lại nhờ học-trò giữ xác, dặn đừng vội chôn. Nhưng cảnh đời thường trái nhau, khó xử cho anh học-trò, nhằm lúc mẹ anh cũng vừa chết, làm sao toan liệu cả hai, anh đành đốt xác Thầy để trở về còn lo chôn xác Mẹ. Thế là khi hồn của Đạo-sĩ trở về không còn xác để nhập vô, cùng lúc thấy có xác một người đi ăn mày chết gần đó, vị Đạo-sĩ mới nhập vô xác người ăn mày này. Nhờ đắc Đạo Tiên nên Ngài biến cây gậy và chiếc bị thành hai món bửu bối, sau này trở thành "Bầu linh gậy sắt" thế nên mới có thơ của Đức Hộ-Pháp viết về: "Thần Lý Ngưng-Dương du Nam":

Bầu linh gậy sắt quảy du Nam,
Nương bóng Từ-bi đến cõi phàm.
Độ thế so đồng cân Nhựt nguyệt,
Phục sinh đổ trọn giỏ Hoa lam.
Non Tiên lối cũ thân dầu toại.
Bợn tục đường xưa bước đã nhàm.
Bảy Bạn ai còn chơi cõi thế?
Đông-du xin nhắc chuyện Ông Lam.

g/- Đoán Về việc quan tụng:

Việc kiện cáo đứng về phía mạnh, sửa đổi để xét lại, có sự phản-phúc.

- Trong cuộc đời hành-đạo của Đức Quyền Giáo Tông đã bị ở tù. Ngài bị nhốt trong khám đường Tây-ninh mấy bữa vì nạn không tiền đóng thuế thân cho các bổn Đạo, Ngài đứng ra nhận, chúng bắt bỏ tù luôn Ngũ Đẳng Bội-Tinh mang trong mình Ngài, chứng tỏ rằng nó không có giá trị gì hết. Nếu có giá-trị thì người mang nó không bị thị-nhục dường ấy. Khi ra khám, Ngài gỡ trả mà người ta không dám nhận, phải năn-nỉ đưa lại cho Ngài. Tình trạng Anh Cả chúng ta như vậy.

h/- Đoán về phần mộ:

Lời đoán cho người mang quẻ CHẤN lợi về phần mộ đặt ở hướng Đông, giữa chốn Sơn Lâm.

- Ngày nay Tháp của Đức Quyền Giáo Tông Thượng-Trung-Nhựt đặt chính hướng Đông thuộc Cung CHẤN (xem hình Bát-Quái Đồ Thiên) Sau Bát-Quái-Đài của Đền-Thánh Tòa-Thánh Tây ninh. Hình ảnh Đền Thánh có dạng chữ sơn 山 mà là 7 chữ sơn, nên gọi là Thất Sơn.

 
   

Lý giải: trước Đền khi kiến-trúc Tòa Thánh, Đức Hộ-Pháp có chừa ra hai khu rừng nhỏ gọi là "rừng thiên nhiên" để kỹ-niệm nơi này khi xưa là rừng cấm, hoang-vu, rậm rạp. Nếu lấy biểu-tượng chữ mộc 木 làm tượng chỉ rừng thì hai khu rừng tượng là chữ lâm 林. Nhưng trước Đền còn có cội Bồ đề, thêm một chữ mộc 木 vào giữa chữ lâm thành ra chữ sâm 森 (sâm là rậm rạp). Ghép hai chữ Sâm lâm 森 林 là đủ rõ nghĩa nơi đây xưa kia là thế, còn nay là thế. Nhờ ánh-sáng đạo-mầu của Đức Thượng đế nhân-loại mới được hưởng như ngày nay. Cũng như tâm tánh người nhờ đạo-đức giồi tâm mà sáng-láng. Như vậy lời đoán về người mang quẻ Chấn có phần mộ đặt nơi chốn "sơn lâm" thì hoàn-tòan ứng hiệp vậy.

i/- Đoán tính tự (họ tên người):

Người mang quẻ Chấn có họ hoặc tên có chữ bộ mộc 木

- Đức Quyền Giáo-Tông có tên là Lê-Văn Trung, họ LÊ viết thành chữ Hán có dạng là 梨 tức nhiên cấu tạo bởi các phần sau: phía trên là Hòa 禾 (cây lúa) họp với Đao 刂 và dưới là bộ MỘC 木. Quả nhiên họ Lê của Ngài có bộ mộc vậy.

j/- Đoán số mục:

Người mang quẻ CHẤN có ảnh hưởng các con số: 4, 8, 3.

- Quẻ CHẤN số 3 là dương-số, lại là hướng cung Mão nên Chấn cũng là Càn; ba thành một, một mà ba. Vai trò này hết sức quan-trọng đứng vào Tam ngôi nhất thể. Số 3 cũng là Trời, "thay mặt Thầy mà dạy-dỗ nhơn-sanh" thế nên Giáo Tông là Anh Cả của nhơn-sanh.

Ngài hành-đạo vừa tròn 8 năm, không dư không thiếu một ngày. Phải chăng tất cả đều có quyền thiêng liêng đã đặt để trước.

 

 

CHẤN CHỈNH ĐẠO QUYỀN

振 整 道 權

Chấn chỉnh là sửa sang lại cho nghiêm trang giềng mối Đạo.

Đức Quyền Giáo-Tông nói: "Buổi khó khăn đã mãn, chỉn còn một đôi điều cực trí cùng kẻ tà tâm. Qua với Đức Lý Giáo Tông đương liệu phương day trở, trong ít lâu đây sẽ đặng thấy về cơ quan qui nhứt.

Hộ Pháp! Em cứ thi hành luật pháp, chấn chỉnh Đạo quyền, như vậy thì trúng Thiên thơ và chánh sách trừ tà khử mị. Tờ sớ của em mật đề, Đức Lý Giáo Tông trọn phê chuẩn, nhưng người có than rằng: Thánh thể của Chí Tôn sẽ còn lâu ngày mới nên tốt đẹp. Trong cuộc phong thưởng qua rồi, người nói rằng em thì chỉ coi công nghiệp, còn người thì dụng tài đức, mà hại thay! Hễ có công nghiệp thì phần đông lại vốn bất tài nên không giá trị chi cả. Vậy hai lần sau đây, em gắng để ý tuyển tài tuyển đức đa nghe.

Hộ Pháp: - Phần em thì tuyển công nghiệp được, chớ về phần tài đức thì em không thế định đặng.

- Đặng chớ, nếu mấy em muốn thì cho Qua dự tuyển với, trước khi trình diện cùng Đức Lý Giáo Tông."

 

 

CHẤN ĐỘNG

震 動
E: To shake.
F: Ébranler.

(Chấn: vang động cả lên. Ðộng: chuyển động). Chấn động là vang động lừng lẫy cả lên.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Những bậc Tiền Thánh báo tin ngày Giáng sinh chấn động của Chúa Cứu Thế Jésus.

 

 

CHẤN HƯNG

振 興
E: To ameliorate.
F: Améliorer.

(Chấn: sắp đặt lại cho hoàn chỉnh. Hưng: thịnh vượng). Chấn hưng là sắp đặt lại cho hoàn chỉnh và thịnh vượng hơn. Hoặc cũng nói Chấn hưng Phật Đạo 振 興 佛 道 vì Đạo Phật đã truyền bá lâu đời, nên càng ngày càng xa rời Chánh pháp. Vì vậy, phải chấn hưng, tức là tìm cách làm mạnh mẽ, thịnh vượng lên những gì còn yếu đuối, suy sụp trong giáo lý Phật giáo. Thánh ngôn dạy: "Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu chấn hưng nền Thánh giáo". Trong sự Chấn hưng này: Tân giáo Cao Đài sẽ Chấn-hưng Tam giáo lại cho hoàn toàn, nhất là Phật đạo là một Tôn Giáo nhiệm mầu, nên điều cần yếu là Chấn hưng lại Phật Giáo nên gọi Cao-Đài là "Phật giáo chấn hưng" là vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp Tín ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi. Nắm cả Tín ngưỡng của loài người lại, chính Chí-Tôn là Chúa Tể Càn Khôn Thế Giái, làm Chúa nền chính trị tại nước Nam, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập Quốc Đạo. Kỳ khai Đại-Đạo Tam-Kỳ tạo một linh đài qui Tín ngưỡng của toàn nhơn-loại, đủ quyền năng tiêu-diệt Tà pháp đặng đem nhơn-loại đến Đại-Đồng. Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vì Giáo-Chủ ngày xưa.

Chỉ có hai phương diện:

1- Là do Tam Giáo thất kỳ truyền,

2- Là chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả Tinh Thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA chung là thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ quyền Thương yêu, chung thờ một Tôn-giáo Đại-Đồng thì nhơn loại mới gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong thì vạn loại mới chung hưởng cơ Hòa-Bình, phục hồi Thượng cổ là do Thiên Thơ tiền định buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu duy tân.

Tóm lại: ĐỨC CHÍ TÔN khai ĐẠO kỳ thứ ba này là thuận theo "Lẽ tuần-hoàn châu nhi phục thủy".

"ĐẠO CAO ĐÀI là nền CHÁNH GIÁO tức là nền Đạo Cao-Đài này để thay thế tất cả Tôn Giáo đã có từ trước. Vì lẽ các Tôn Giáo ấy ngày nay không phù hợp với lương tri, lương năng của loài người nữa. Hay nói một cách khác là các nền Tôn Giáo ấy ngày nay đã bị BẾ. Những điều bí yếu bí trọng trong nền Đạo Cao-Đài, những triết lý cao siêu mà chỉ Đạo Cao-Đài mới có, tuy nhiên âu cũng là một đặc ân của Đức Chí-Tôn dành cho Đạo Cao Đài là Hộ-Pháp thay lời Đức Chí-Tôn nói Đạo cho toàn thể con cái của Ngài nghe, quí hay chăng là chỗ đó".

(Xem: Phật giáo chấn hưng. Vần PH.)

 

 

CHẨN BẦN

賑 貧
E: To relieve the poors.
F: Assister les pauvres.

(Chẩn: đem cho, cứu giúp. Bần: nghèo). Chẩn bần là đem tiền bạc, vật thực, thuốc men đến giúp đỡ người nghèo khổ.

Kinh Sám-Hối có câu:

"Thí tiền thí bạc chẩn bần,
"Người đau thí thuốc Thánh Thần phước ban."

 

 

CHẨN CỨU

賑 救

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Gặp người đói rách khốn nàn,
"Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhơn."

 

 

CHẤP

Có hai nghĩa tùy trường hợp:

1) CHẤP: Cầm giữ.
Thí dụ: Chấp bút, Chấp sự.

2) CHẤP: Câu nệ, để ý ghi nhớ lỗi lầm của người.
Thí dụ: Chấp ngã, Chấp trách.

 

 

CHẤP BÚT

執 筆
E: To hold pencil for realization of a spiritistic seance.
F: Tenir le crayon pour réaliser une séance spirite.

(Chấp: Cầm giữ. Bút: cây viết). Chấp bút là đồng tử tay cầm cây viết (thường là viết chì) đặt trên tờ giấy trắng, chờ Ðấng thiêng liêng giáng điển vào cánh tay cầm bút, để tự tay viết chữ ra trên giấy y như mình đặt để vậy.

Chấp bút là một hình thức thông công với các Ðấng thiêng liêng, nhưng chỉ cần một đồng tử mà thôi, nên thường được dùng trong trường hợp khẩn cấp và cần giữ bí mật. Ðồng tử chấp bút phải là người có đạo hạnh thanh cao, trường chay, tuyệt dục để Chơn thần được tinh tấn, thân thể và y phục phải sạch sẽ, nghiêm trang, tay cầm bút phải xông hương khử trược, tâm phải tịnh, ý tưởng phải trong sạch. Khi Chấp bút, phải ngồi ngay ngắn, nghiêm trang, không để cho tư tưởng của mình xen vào.

Thầy chọn Đức Hộ Pháp chấp bút: "Nhớ lại, từ khi Đức Chí-Tôn chọn Bần-Đạo làm Hộ-Pháp, dạy Bần-Đạo phò-loan và Chấp bút, đặc biệt hơn hết là chấp bút; vì nhờ chấp bút mà Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn dạy cách tham-thiền, khi biết tham thiền rồi mới nhập tịnh, nhưng nhập tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút, là có thể hỏng cả cuộc đời; nhập tịnh mà không tới thì bị hôn trầm là ngủ gục, còn nhập tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ!"

Ðức Chí Tôn dạy ông Thái-Thơ Thanh: 26-6-Bính Dần (dl: 04-08-1926) Đàn Tân Định như sau: "Con ráng tập Chấp Bút chờ Thầy chỉ vẽ cho. Thơ nghe! Khi con ngồi mà tập thì Thần con cho tỉnh, chẳng nhớ chi hết. Khi Thầy giáng thì làm cho con khó chịu một chút, rồi Thầy dạy con viết, mường tượng như con đặt ra vậy, mà không phải con đặt đâu. Thầy đưa Thần con theo Thầy lên không đặng Thầy dạy nó viết chữ chi thì nó cứ viết theo, chớ nó không biết gì hết. Khi ấy con có hơi khó chịu, như điển dính tay con vậy. Ấy là Thầy giáng, song con đừng có lòng sợ thì Thầy mới dễ giáng… Khi Thầy đến thì làm cho thần của con bất định một lát, cho thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết, ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt mới thấu đáo Càn Khôn, tinh thông vạn vật đặng. Kẻ phò cơ, chấp bút cũng như Tướng soái của Thầy để truyền Ðạo cho thiên hạ. Các con đừng tưởng việc Bút Cơ là việc tầm thường."

Hộ Pháp chấp bút: Sài gòn: 11-3-Bính Dần (22-4-1926)

Thầy. Cười: Tắc! Khí nộ xung lên, động lung lay Huỳnh Kim Khuyết của Thầy đa! Con hiểu, Khổng Phu Tử xưa truyền ra Nhơn đạo khó dễ là dường nào! Qua Tề bị Yến Anh, qua Yên bị phế, qua Triệu bị đuổi, biết bao phen bị người bắt, kẻ kia buộc, ăn vạc nằm sương, nhọc nhằn biết mấy, song chưa có một tiếng than cùng Thầy, còn con thì phiền.

Con biết Lão Tử khi truyền Đại Đạo là thế nào chăng? Người đời ấy chê Lão điên, còn con thì giận.

Con hiểu khi Thích Ca truyền Đạo, khổ hạnh là dường nào chăng? Còn con thì than.

Con biết Jésus de Nazareth truyền đạo Thánh ra cho các môn đệ bị tử đạo là dường nào chăng? Còn con thì sợ nhục. Cười… Thầy đã nói trước, Tắc, con ôi! Nếu kẻ nào khác hơn con, dầu đứng chín phẩm Thần Tiên, Thầy cũng cho bị đọa, còn con thì Thầy quá thương".

 

 

CHẤP CƠ

執 乩

Chấp: nắm lấy: : có Đại Ngọc Cơ và Tiểu Ngọc Cơ, phương tiện dùng thông công với các Đấng Thiêng liêng trong kỳ Ba Thầy mở Đạo qua huyền diệu Cơ Bút.

"Đức! Nghe dạy: ngày 29-1-Bính Dần (dl:13-3-1926)

Thiên đàng quí hóa đáng bao lăm,
Chẳng tốn bấy công, gắng chí tầm.
Đã biết vào vòng tua lấn bước,
Cái công kết quả chẳng bao lăm.

Đức! Cái công quả của con là chấp cơ truyền Đạo. Nghe Thầy dạy điều thiếu sót: Như trước khi muốn Thủ Cơ thì phải lo diệt trần, là đừng để vào trí của con một ý muốn riêng chi hết. Cầm Cơ thì trí não thanh tịnh, đừng sắm sửa vào trí chi hết, vì là phần riêng của con thì Thầy lấy chi mà ứng vào đó cho đặng. Con phải giữ trí tỉnh táo, khi Cơ lên thì Thầy ứng câu gì vào trí, con viết ra câu ấy. Thầy giáng tâm của con. Như trí con choán hết ý tứ Thầy thì đâu đặng linh nghiệm. Kỳ dư như Cư, Tắc, Sang, Quí, Giảng, Thạnh, thì Thầy giáng thủ, một đôi khi cũng giáng tâm. Phải nhớ đặng chấp cơ mới ứng nghiệm.

Nghe và tuân theo.

Đức Thượng Phẩm cùng với Đức Hộ Pháp họp thành cặp cơ phong Thánh lập Pháp Chánh Truyền và Tân-Luật để làm Hiến-chương cho nền Quốc Đạo. "Chúng ta phải nhìn-nhận đầu công khai Đạo của Đức Cao Thượng-Phẩm, vì nếu thiếu bàn tay xây dựng của Người để chấp Cơ cùng Hộ-Pháp thì:

- Đâu có Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

- Đâu có Chức-sắc Thiên-phong Nam Nữ.

- Đâu có Hội-Thánh và các cơ-quan trong Đạo.

- Đâu có Pháp-Chánh-Truyền và Tân-Luật.

- Đâu có đại-nghiệp hiện giờ cho nhơn-sanh thừa hưởng."

 

 

CHẤP CHÁNH ĐẠO QUYỀN

執 政 道 權

Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

"An đâu đặng mà tịnh, vui đâu đặng mà nhàn. Chúng sanh thì khóc, Hội Thánh thì than mà chẳng thấy một ai lo trọn Ðạo. Tệ Huynh xem lại những trang yếu trọng chấp chánh Ðạo quyền, thay vì chia đau sớt thảm, lo giải khổ cho chúng sanh, lại cố ý giựt giành quyền thế. Nhiều vị lại muốn cho Tệ Huynh ngồi đó điềm nhiên những thảm khổ ngơ tai bịt mắt; lại buộc Tệ Huynh phải an tịnh đặng đắc Ðạo thành Tiên, dầu mối Ðạo chinh nghiêng đừng ngó đến".

 

 

CHẤP KINH TÙNG QUYỀN

執 經 從 權

(Chấp: nắm giữ, Kinh 經 là đạo dùng khi thường, Tùng: theo; Quyền 權 đạo dùng khi biến, quyền cũng là tạm thay, tạm dùng đỡ). Nho giáo chủ trương làm việc phải chấp kinh tùng quyền 執 經 從 權 nghĩa là vẫn theo đạo thường, nhưng cũng có lúc cũng phải quyền biến.

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Dìu đời với sức không kham,
"Mượn quyền thuyết pháp đặng làm cơ quan."

 

 

CHẤP MÊ

執 迷
E: To be obstinate in blinding.
F: S'obstiner dans l'obscurcissement.

(Chấp: Câu nệ, để ý ghi nhớ lỗi lầm của người. : mê muội, không tỉnh). Chấp mê là cố chấp một cách mê muội, đã lầm lạc mà không biết lại cố chấp nữa.

"Chấp mê bất ngộ" tức nhiên là kẻ cố chấp trong sự mê muội thì không bao giờ có thể giác ngộ được.

 

 

CHẤP NGÃ

執 我
E: The egotism.
F: L'égotisme.

(Chấp: Câu nệ, để ý ghi nhớ lỗi lầm của người. Ngã: cái ta của mỗi người). Chấp ngã là cố chấp cái ta của mình, cho rằng chỉ có mình là hiểu biết đúng, cái hiểu của người khác thì sai, chỉ có mình là tài giỏi hơn hết.

Sự chấp ngã đưa đến Ngã mạn, kiêu căng, tự tôn tự đại. Vì chấp ngã nên không thấy được cái dở, cái xấu của mình để sửa đổi và tiến bộ; cũng không thấy được cái hay của người khác mà học hỏi bắt chước. Chấp ngã thì dễ bị mê muội, không tiến hóa và bị mọi người xa lánh, dễ đi đến chỗ thất bại trong mọi hoạt động, khó thành công.

 

 

CHẤP SỰ GIẢ CÁC TƯ KỲ SỰ

執 事 者 各 司 其 事
E: Each officer in charge according to one's affair.
F: Que ceux qui ont un rôle prennent place.

(Chấp: Cầm giữ. Sự: việc. Giả: người. Các: mỗi người. : riêng, coi giữ. Kỳ: cái ấy). Chấp sự giả: Người chấp sự, tức là người được phân công giữ một công việc trong một đàn cúng tế. Chấp sự giả các tư kỳ sự là người được phân công phần việc nào thì đến giữ phần việc ấy.

Ðây là câu xướng của Lễ-sĩ trong nghi tiết cúng đàn nơi Báo Ân Từ, Ðiện Thờ Phật Mẫu hay Thánh Thất. Khi Lễ sĩ xướng câu nầy, những vị có trách nhiệm trong Đàn cúng phải đứng tại vị trí làm phận sự của mình, dự bị sẵn sàng để thi hành nhiệm vụ, không được để cho sơ thất mà mang tội với các Ðấng thiêng liêng. Vì nếu Đàn không nghiêm thì Chí-Tôn không giáng. Với tính cách quan trọng như vậy mà có được sự nhắc nhở luôn luôn.

 

 

CHẤP THỦ

執 手

(Chấp: Cầm giữ. Thủ: tay, cầm bằng tay). Chấp thủ là nói tắt của thành ngữ "Thủ cơ chấp bút" nghĩa là phò cơ và chấp bút. Ðó là hai cách thông công với các Ðấng Thiêng liêng trong cửa Đạo Cao-Đài tức là Kỳ ba cứu thế và chuyển thế.

Thánh ngôn: 3 Janvier 1926

Ngọc-Hoàng Thượng Đế
viết Cao-Đài Tiên Ông Đại-Bồ Tát Ma-Ha-Tát
Giáo Đạo Nam phương

Thủ cơ - Chấp bút

Thủ cơ hay là chấp bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất Chơn Thần ra khỏi phách, đặng đến hầu Thầy nghe dạy. Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn Thần nói lại mà viết ra, mường tượng như con đặt để, con hiểu đặng vậy. Chơn Thần là gì?

- Là nhị xác thân (périsprit), là xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu. Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu, bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy. Như chấp cơ mà mê, thì Chơn Thần ra trọn vẹn khỏi xác. Thầy mới dạy nó viết chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra; người đọc trật chữ nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.

Còn chấp bút, khi Thầy đến thì làm cho Thần con bất định một lát, cho Thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết, ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn Khôn, tinh thông vạn vật đặng.

Trước khi thủ cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng, tắm gội cho tinh khiết, rồi mới đặng đến trước Bửu Ðiện mà hành sự; chớ nên thiếu sót mà thất lễ. Nếu chấp cơ thì phải để ý thanh bạch, không đặng tưởng đến việc phàm. Tay chấp cơ cũng phải xông hương khử trược, tịnh tâm một lát, rồi phải để tinh thần tinh tấn mà xuất ngoại xác đến hầu dạy việc. Phải có một Chơn Linh tinh tấn mới mầu nhiệm, huyền diệu, phải trường trai mới đặng Linh Hồn tinh tấn; phải tập tành chí Thánh, Tiên, Phật, mới phò cơ dạy đạo cả chúng sanh. Kẻ phò cơ, chấp bút cũng như tướng soái của Thầy để truyền đạo cho thiên hạ. Các con đừng tưởng việc bút cơ là việc tầm thường. Còn việc truyền thần lấy điển quang, thì ai ai cũng có điển trong mình, nó tiếp điển ngoài rồi Thần của nó viết ra, có khi trúng, có khi trật. Vậy khi nào chấp cơ thì phải đợi lịnh Thầy rồi sẽ thi hành.

 

 

CHẤP TRÁCH

執 責
E: To hold a grudge.
F: Garder rancune.

(Chấp: Câu nệ, để ý ghi nhớ lỗi lầm của người. Trách: quở phạt). Chấp trách là vịn vào một lý do về việc làm sai trái để trách phạt

Thánh Ngôn Thầy dạy: "Thầy chẳng buổi nào chấp trách các con, bởi lòng thương yêu hơn chấp trách rất nhiều. Sợ là sợ cho các con mất đức với chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Xem đó, thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm! Vì Thầy là bậc Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh hễ các con có lỗi, thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con nghe à!".

 

 

CHẤP TRUNG QUÁN NHỨT

執 中 貫一
E: To maintain the Happy-Medium and an enfilade alone.
F: Tenir le Juste-Milieu et une seule enfilade.

(Chấp: Cầm giữ. Trung: chính giữa, mức trung bình. Quán: một xâu xuyên suốt. Nhứt: một). Vậy chấp trung là giữ cái mức giữa, không thái quá mà cũng không bất cập. Ấy là cái đạo Trung Dung của Ðức Khổng Tử. Quán nhứt là một dây chuỗi mà xâu được nhiều thứ, ý nói chỉ lấy một lẽ mà suốt cả mọi việc. Thường nói: Chấp trung quán nhứt và Doãn chấp quyết trung.

▪ Chấp trung quán nhứt: là giữ đạo Trung Dung một xâu xuyên suốt từ đầu đến cuối. Ðức Khổng Tử nói: "Ngô đạo nhứt dĩ quán chi" nghĩa là: Ðạo của ta suốt từ đầu đến cuối chỉ có một lý mà thôi. Câu nói ấy tóm hết cái Ðạo của Ngài, làm cho cái thống hệ nhứt thể rất sáng tỏ. Ðạo Nhứt quán ấy còn được gọi là Trung Thứ hay Nhân Nghĩa, cũng do Ðạo Nhân mà ra cả.

▪ Doãn chấp quyết trung: là hãy tin giữ lấy cái đạo Trung. Ông Chu Hy viết: Xem trong kinh, Doãn chấp quyết trung là lời của vua Nghiêu dặn lại vua Thuấn. Sau đó, khi vua Thuấn truyền ngôi lại cho vua Võ, vua Thuấn dặn lại vua Võ: "Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhứt, doãn chấp quyết trung" nghĩa là: Cái tâm của người thì hiểm nghèo, cái tâm của đạo thì kín nhiệm, phải giữ cái tâm của mình cho tinh thuần và chuyên nhứt, thì mới giữ được cái đạo Trung.

Lời nói của vua Nghiêu rất mực thay! Ðến khi vua Thuấn dặn lại vua Võ lại thêm ba lời nữa để cho ý nghĩa càng thêm sáng tỏ, như thế là đầy đủ và tỏ rõ lắm vậy. Người ta thường nói cái hư linh tri giác của cái Tâm chỉ là một, thế mà lại chia ra: Nhân tâm và Ðạo tâm, hai cái đó khác nhau, ấy là vì muốn giữ cái công chánh của tính Trời phú bẩm. Do đó, Nhân tâm thì hiểm nghèo, không yên ổn và thường nghiêng về Nhân dục; còn Ðạo tâm thì kín nhiệm, khó thấy được, nhưng lúc nào cũng tồn tại. Cái Ðạo tâm đó khi hiển lộ thì nó là Phật tánh, tức là cái tánh bổn thiện của con người. Con người ai cũng có Nhân tâm và Ðạo tâm, hai cái ấy xen lẫn nhau chỉ trong gang tấc. Dầu bậc thượng trí hay bậc hạ trí đều có hai cái tâm ấy như nhau. Do đó, phải "tinh" để xét hai cái tâm ấy đừng cho lẫn lộn, phải "nhứt" để giữ cái công chánh của bổn tâm, đừng để nó xa lìa, rồi theo thế mà làm, không gián đoạn thì Ðạo tâm sẽ thường làm chủ được mình, buộc Nhân tâm phải tùng phục, ắt là hiểm nghèo trở thành yên ổn, mọi việc làm đều khỏi sai lầm vì thái quá hay vì bất cập, tức là giữ được đạo Trung.

Những điều của ông Chu Hy nêu ra như đã nói ở trên, không những là yếu chỉ của đạo Trung Dung, mà cũng là cái gốc trong phép tu dưỡng của con người muôn thuở. Ðây là chỗ gặp nhau của Tam Giáo. Chỉ có một lý mà mỗi tôn giáo đều dùng những từ ngữ riêng của tôn giáo mình mà diễn tả, nên khi thoạt thấy thì tưởng là khác nhau. Con người nơi cõi trần, dù ở bực thấp hay bực cao, mỗi người cũng đều có một Nhân tâm và Ðạo tâm (Thiên tâm). Trong Nhân tâm ấy có một điểm Ðạo tâm, nếu điểm Ðạo tâm ấy lu lờ thì Nhân tâm sẽ lấn lướt, con người ấy sẽ đi vào đường ác, chịu trong vòng vay trả mà phải luân hồi. Nếu điểm Ðạo tâm sáng tỏ, Nhân tâm phải phục tùng theo thì con người ấy sẽ càng lúc càng thiện lương chơn chánh, càng tiến hóa, sớm trở về cùng Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.

Ðôi liễn nầy đặt tại cổng vào Văn phòng Hội Thánh Hàm Phong có chữ "chấp Trung nhứt quán":

-

THÁNH HỘI niên cao cố vấn Cửu Trùng tâm bất quyện.

-

HÀM PHONG đức thiệu chấp trung nhứt quán vị hà ưu.

 

聖 會 年 高 顧 問 九 重 心 不 倦

 

銜 封 德 卲 執 中 一 貫 位 何 憂

 

 

CHẤT SANH

Chất sanh tức nhiên chỉ về những vật chất có sự sống, do hút không khí có trong vũ trụ mà tồn tại đuợc.

Thánh giáo của Đức Chí Tôn nói về "Bất Tà Dâm" (Giới cấm). Đề ngày 26-6-Bính Dần (dl: 30-6-1926)

"Phàm xác thân con người tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn một khối chất chứa vàn vàn, muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật, tỷ như: rau, cỏ, cây, trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh. Nếu không có chất sanh, thì thế nào tươi tắn đặng mà chứa sự sống, như nó khô rũ thì là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ. Còn như nhờ lửa mà nấu thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết".

 

 

CHÂU

1) CHÂU: Ðến nơi đến chốn, họ Châu (Chu).
Thí dụ: Châu cấp, Châu toàn, Châu Công.

2) CHÂU: Một khu vực hành chánh.
Thí dụ: Châu đạo, Châu thành.

3) CHÂU: Vòng quanh, đi vòng quanh.
Thí dụ: Châu tri.

 

 

CHÂU CẤP

周 給
E: To aid, help.
F: Aider, secourir.

(Châu: Ðến nơi đến chốn, vẹn toàn. Cấp: giúp cho, phát cho). Châu cấp hay Chu cấp là đem tiền bạc giúp cho đầy đủ, giúp tới nơi tới chốn để đủ sống.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Mở thêm giáo viên Nam Nữ và định phần châu cấp mỗi tháng.

 

 

CHÂU CÔNG (Tên)

周 公

Châu Công tức là Châu Công Ðán, con vua Văn Vương, chế ra Lễ Nhạc làm nghi thức nơi triều đình, trật tự trong gia tộc; Ông còn viết ra Hào Từ để chú giải mỗi hào trong 64 quẻ Kinh Dịch. Ông là một trong bốn bậc Thánh nhân tác ra Kinh Dịch để làm túi khôn cho loài người, đó là: Phục Hi, Văn Vương, Châu Công, Khổng Tử, hằng 6.000 năm nay mà vẫn còn giá trị với thời gian.

Ô Môn. Ngày 12-11-1926 (âl 8-10-Bính Dần)

Thầy dạy: Đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu. Chẳng khác nào khi trước, Nhơn đạo chưa mở thì đã có Châu Công truyền trước.

Thánh đạo Jésus chưa ra đời thì đã có Moise, Élie, Gérimie, Saint Jean Baptiste.

Ðạo Tiên Nguơn Thỉ chưa ra đời thì có Hồng Quân Lão Tổ, Lão Tử, Thông Thiên Giáo chủ truyền đạo.

Phật Thích Ca chưa ra đời thì đã có Nhiên Ðăng Cổ Phật và Brahma truyền Đạo".

(Châu: họ Châu (Chu). Công: tước Công, đứng đầu 5 tước của triều đình. Năm tước ấy là: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam). Châu Công hay Chu Công là Công tước họ Châu, là Ông Châu Công Ðán, con thứ ba của vua Châu Văn Vương, em ruột của Châu Võ Vương, chú ruột của Châu Thành Vương. Khi vua Văn Vương băng-hà, truyền ngôi lại cho Võ Vương thì Châu Công Ðán giúp anh sắp đặt các việc chánh trị, chiêu đãi người hiền, đặt ra Lễ Nhạc. Châu Công xem xét gương hưng vong của các đời trước như: Ðường, Ngu, Hạ, Thương, thấy rằng chỉ do chư Hầu bất phục mà ra. Do đó, Châu Công đem những đất đai đã chiếm được phong cấp cho các tù trưởng cũ, còn các nơi trọng yếu thì phong cho các công thần, hoặc phong cho người trong dòng họ để khống chế các chư Hầu cũ và cũng là làm hàng rào bảo vệ triều đình. Các chư Hầu mới, cũ đều theo đất phong lớn nhỏ mà hưởng các tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Ðất phong của Công và Hầu là 100 dặm vuông, đất phong của tước Bá là 70 dặm vuông, đất phong của tước Tử là 50 dặm vuông. Người được đất phong dưới 50 dặm vuông thì gọi là Phụ dung.

Châu Công đặt ra Lễ Nhạc, nghi thức nơi triều đình, trật tự trong gia tộc, các việc đều được qui định chặt chẽ. Nông nghiệp được đặt theo phép Tỉnh-điền. Một khoảng đất rộng chừng năm sáu trăm mẫu được chia thành 9 khu vực theo hình chữ Tỉnh (井), 8 gia đình chia nhau ở 8 khu chung quanh và phải chung sức nhau cày cấy khu trung tâm để lấy lúa nộp cho triều đình.

Châu Công chế ra xe chỉ Nam để đưa sứ giả nước Việt về nước, không bị lạc đường. Công Công có một công trình văn học lớn là tiếp nối vua cha (Châu Văn Vương) chuyên tâm nghiên cứu Kinh Dịch. Vua Văn Vương mới viết ra Thoán Từ để giải nghĩa 64 quẻ của Kinh Dịch do vua Phục Hy truyền lại, Ông Châu Công Ðán viết thêm Hào Từ để giải thích các hào trong mỗi quẻ của 64 quẻ. Tổng cộng có 384 hào = (6 hào x 64 quẻ).

Khi Võ Vương băng-hà, con là Tụng lên nối ngôi lấy hiệu là Thành Vương. Thành Vương còn nhỏ tuổi nên Châu Công giữ chức Nhiếp Chánh, trông coi mọi việc trong nước. Có bọn bầy tôi cũ của vua Trụ phao ngôn rằng Châu Công sẽ phế Thành Vương để cướp ngôi vua. Thành Vương nghe biết nhưng không trị tội kẻ phao ngôn ly gián phá hoại, mà Thành Vương lại có ý nghi ngờ. Châu Công liền xin trả chức Nhiếp Chánh rồi lui về sống ở ấp riêng, soạn tập thơ Xuy Hiền gởi lên vua Thành Vương bày tỏ lòng trung nghĩa. Vua Thành Vương cảm động, biết Châu Công là người trung nghĩa nên đi rước Châu Công trở lại triều đình làm Nhiếp Chánh như trước.

Châu Công Ðán nhiếp chính được 7 năm rồi giao chánh quyền lại cho vua Thành Vương, vì lúc đó Thành Vương đã trưởng thành tự mình quản lý được việc nước. Em của Châu Công là Quản Thúc có ý đồ không tốt, nhiều lần gièm siễm, nói xấu Châu Công với vua Thành Vương, sau đó liên kết với Võ Canh và Tam Giám, bề tôi cũ của vua Trụ, nổi lên làm phản. Một vài chư Hầu ở phía đông cũng hưởng ứng theo. Châu Công kéo binh đông chinh, bắt được Quản Thúc và Võ Canh giết đi, bình định được giặc, lại sai con là Bá Cầm đánh dẹp các chư Hầu làm phản như Hoài Di, Từ Nhung ở huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Ðông ngày nay. Sau khi dẹp xong loạn, nơi đây lập thành nước Lỗ và phong đất nầy cho Bá Cầm, con của Châu Công Ðán.

Châu Công là một nhà chánh trị tài giỏi, mà cũng là một nhà bác học, lại rất kính trọng hiền sĩ. Lúc tắm gội hay khi ăn cơm mà nghe hiền sĩ đến viếng thăm, liền nhả cơm ra, vội bới tóc sửa áo ra tiếp khách. Vợ của Châu Công là một mệnh phụ đứng bực nhứt của triều đình, nổi tiếng là người đức hạnh và gương mẫu, giúp đỡ chồng, lo lắng công việc gia đình hoàn hảo, lại lo việc canh cửi, làm gương tiết kiệm tốt cho dân. Châu Công Ðán là người có nhiều tài đức, làm cho nền văn hóa của xã hội thời đầu nhà Châu rất rực rỡ và phồn thịnh. Các chế độ, tộc chế, các Lễ Nhạc do Châu Công Ðán đặt ra có ảnh hưởng rất lớn lao đến chính trị và xã hội của Trung quốc, ảnh hưởng lên các nước lân bang theo văn hóa Trung quốc suốt hơn hai ngàn năm sau đó.

 

 

CHÂU ĐẠO

州 道
E: The religious province.
F: La province religieuse.

(Châu: Một khu vực hành chánh. Ðạo: tôn giáo). Châu đạo là một Tỉnh đạo, tức là gồm các tín đồ cư ngụ trong một Tỉnh. Như vậy, một Châu-đạo có nhiều Tộc đạo, và nhiều Châu-đạo họp thành một Trấn-đạo. Ðứng đầu Châu-đạo là một vị Khâm-Châu-đạo, phẩm Giáo Hữu, do Hội-Thánh bổ nhiệm đến hành đạo.

Ở cấp địa phương thì Châu Đạo gồm nhiều Tộc Đạo. (Giáo Hữu phụ trách Khâm Châu).

 

 

CHÂU HOÀN HỢP PHỐ

珠 還 合 浦

Châu 珠 là hột châu, loại đá quí; hoàn 還 là trở về; Hợp phố 合浦 là tên đất thuộc về quận Giao-chỉ của Việt Nam ta ngày xưa vào đời Hậu hán. Nơi đây có nhiều hạt châu. Nước ta bấy giờ là thuộc-điạ của Tàu, nhân thời ấy quan lại Tàu bắt dân ta phải tìm hạt châu để dâng lên cho họ, chế-độ hà-khắc quá, cho nên những người làm nghề lấy hạt châu bỏ đi nơi khác để tránh đi sự khổ cực. Về sau, khi quan Mạnh-Thường làm Thái-Thú, sửa bỏ lệ cũ đi, thì những người làm nghề lấy hạt châu mới trở lại quê làng, nên từ đó mới có câu "Châu hoàn Hợp-Phố".

Nghĩa bóng: ý nói sự đoàn tụ, hay là nói đến một sự việc lẽ ra đã mất đi, nhưng bây giờ kiếm lại được.

Nhìn lại đất nước Việt-Nam ta đã ngàn năm nô-lệ Tàu, trăm năm nô-lệ Tây, bao nhiêu năm nội chiến dằng dai, xem như "hột châu tự-do" đã mất hẳn trong lòng dân Việt-Nam tự lâu rồi. Nay, Đức Chí-Tôn đã đến mở cho dân tộc này một mối Đạo mầu quý gía cũng gọi là "châu hoàn hợp phố" đó vậy.

Ông Vương Hồng Sễn có thuật lại cuộc Xây bàn như vầy: "Cũng trong đêm 25 tháng 8, bàn lên, một hồn nhập vô xưng hiệu "Thanh Sơn 48 tuổi, người tỉnh Long Hồ", nhơn hỏi có điều chi dạy bảo, ông cho bài thi nầy:

Thanh Sơn Tự Thuật thế sự

Chim lồng bao thuở lại non xanh,
Ngóng mắt trông vơi chốn thoát mình.
Dựng nước không ai tài tướng lược,
Liều mình thiếu kẻ đáng hùng anh.
Vầy thuyền chi sợ cơn giông tố,
Hiệp chủng còn hơn cuộc chiến tranh.
Thìn dạ chờ Châu về Hiệp Phố,
Nỗi mình sự nghiệp mối tan tành.

(Thanh Sơn)

 

 

CHÂU MÃI THẦN (Tên)

周 買 臣

Nơi bao lơn trước Tòa Thánh có một bức tranh ghi lại sự tích của Châu Mãi Thần (hay Chu Mãi Thần), tượng trưng cho SĨ, một trong tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) thời trước.

Châu Mãi Thần, người đất Cối Kê, đời nhà Hán, nhà rất nghèo, nhưng rất ham đọc sách. Thuở hàn vi, chàng phải đi đốn củi trong rừng đem bán để sanh sống, thường treo sách nơi đầu gánh, vừa đi vừa đọc. Vợ của Châu Mãi Thần không thể chịu nỗi cảnh nghèo túng mãi như vậy được nên đòi thôi chồng, để đi lấy chồng khác khá giả hơn mà nương nhờ tấm thân.

Châu Mãi Thần khuyên vợ:

- Năm nay tôi 49 tuổi rồi, qua năm 50 tuổi, tôi biết tôi thế nào cũng lập được công danh. Bấy lâu nay, chúng ta sống trong cảnh cơ cực cũng đã quen rồi, nay nàng ráng chờ tôi một năm nữa thì nàng sẽ hưởng được phú quí.

Người vợ liền trả lời:

- Ðến chừng Ông làm quan thì tôi đã chết đói rồi. Thế là vợ của Châu Mãi Thần nhứt quyết bỏ chồng, nàng đi lấy một anh nông dân khá giả trong làng. Châu Mãi Thần rất đau buồn. Chàng lại càng quyết tâm học tập hơn nữa, bất luận ngày đêm, cuốn sách đều kế bên mình.

Năm sau, Châu Mãi Thần được Nghiêm Trợ tiến cử lên vua Hán Võ Ðế, được vua thâu dụng, phong chức Trung Ðại Phu. Lúc bấy giờ xảy ra giặc giã ở vùng Ðông Việt. Hán Võ Ðế sai Châu Mãi Thần lo chuẩn bị khí giới, thuyền bè, để cho binh sĩ đi dẹp giặc. Sau đó, Châu Mãi Thần được thăng chức làm Thái Thú Cối Kê. Đây là quê hương của họ Châu. Khi Châu Mãi Thần đến nhậm chức Thái Thú Cối Kê, quân dân địa phương phải ra nghênh đón. Tới nơi, bỗng thấy người vợ cũ chạy đến đón trước đầu ngựa, xin Châu Mãi Thần bỏ qua chuyện lầm lỗi xưa của nàng, cho nàng trở lại làm vợ chàng. Châu Mãi Thần bèn lấy một bát nước đầy, đổ xuống đất trước đầu ngựa, rồi bảo người vợ cũ:

- Nếu nàng hốt nước lại cho đầy bát như trước thì tôi sẽ đem nàng về với tôi như trước.

Bát nước đã đổ, làm sao hốt lại cho đầy. Bởi vậy, người vợ biết ý Châu Mãi Thần đã quyết, hổ thẹn bỏ đi.

Tuy vậy, để đáp đền tình nghĩa vợ chồng ngày trước, Mãi Thần cấp cho người vợ cũ và chàng nông dân một ngôi nhà và một số tiền đủ để sống suốt đời. Nhưng người vợ cũ cảm thấy quá xấu hổ, nên treo cổ tự tử. Người nông dân đem xác nàng táng bên bờ ao gần đường lộ. Người đời có khắc một bài thơ 4 câu trên cái bia đặt trước mộ nàng để làm gương cho phụ nữ đời sau:

Thanh thảo trì biên mộ nhứt khu,
Thiên niên mai cốt bất mai tu.
Ðinh ninh ký ngữ nhơn gian phụ,
Tự cổ tào khang đáo bạch đầu.

Tạm dịch:

Một nấm mộ xanh cạnh vũng bờ,
Ngàn năm chôn xác chẳng chôn nhơ.
Ðinh ninh nhắn gởi đoàn nhi nữ,
Từ cổ vợ chồng trọn tóc tơ.

Từ điển tích về Châu Mãi Thần, trong văn chương, người ta rút ra hai thành ngữ:

- Mã tiền bát thủy: Trước ngựa chén nước.
- Phúc thủy nan thu: Nước đổ khó hốt lại.

Hai thành ngữ nầy dùng để chỉ người vợ phụ bạc chồng lúc chồng còn hàn vi chưa gặp thời, và người chồng nhứt định không cho người vợ trở lại khi được vinh hiển.

 

 

CHÂU NHI PHỤC THỈ

週 而 復 始
E: To circulate and return to the beginning.
F: Circuler et retourner au début.

(Châu: Vòng quanh, giáp một vòng. Nhi: mà, tiếng dùng để chuyển ý. Phục: trở lại. Thỉ (thủy) : bắt đầu, điểm khởi đầu). Châu nhi phục thỉ là đi giáp một vòng thì trở lại mối đầu và cứ thế tiếp tục, đúng một chu kỳ thì trở lại. Ý nói: việc đời cứ biến chuyển xoay vần và luôn tái diễn.

Đức Hộ-Pháp nói: "Cái quyền-năng vô cực vô thượng của Ngài do những pháp vô-vi mầu-nhiệm mà có nên gọi là BÍ PHÁP. Đức Chí Tôn cũng dùng BÍ PHÁP mà lập Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ để ứng nghiệm cái quyền năng của Ngài nơi địa cầu 68 này để bảo-tồn cơ sanh-hóa, vì Ngài là Chúa sự Thương yêu, mà vì thương yêu mới có sanh sanh hóa hóa. Vậy nên Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ do BÍ PHÁP lập thành. Đền-Thánh là nơi Thầy ngự tại thế cũng do BÍ PHÁP mà biến tướng ra. Ấy vậy, Đền-Thánh này chứa tất cả BÍ PHÁP của Đấng Chúa-tể Càn khôn vậy. Đền-Thánh hoàn thành là cái triệu chứng "Châu nhi phục thỉ". Từ đây đến vô cùng Vạn linh sanh chúng sẽ hưởng được muôn điều hạnh phúc của quyền năng vô cực vô thượng của Đức Chí-Tôn ban cho tại thế này". Có câu "Thiên địa tuần hoàn châu nhi phục thỉ".

 

 

CHÂU THÀNH THÁNH ĐỊA

州 城 聖 地
E: The city of Holy land.
F: La ville de la Terre Sainte.

Châu Thành Thánh Ðịa là một vùng ngoại ô rộng lớn của Tòa Thánh Tây Ninh, rộng 20.383 mẫu, tức là 203 cây số vuông (theo tài liệu trong sách 40 năm lược sử Ðại Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ của Hoài Nhân), do các tín đồ Cao Ðài từ khắp nơi trong nước về Thánh Ðịa khai phá lập nghiệp sanh sống. Dân số vùng Thánh Ðịa càng ngày càng đông, do sự sanh sản gia tăng và nhứt là thu hút các nơi do sự phát triển kinh tế mau lẹ của vùng nầy.

Theo Bảng Thống Kê trước năm 1974, Châu Thành Thánh Ðịa có tất cả 18 Phận đạo, từ Phận đạo Ðệ nhứt đến Phận đạo Thập bát. Các Phận đạo nầy được phân ra làm 3 khu vực theo hướng Bắc Nam:

Châu Thành Bắc có 6 Phận đạo: 6, 10, 11, 12, 13, 18.

Châu Thành Nam có 6 Phận đạo: 5, 8, 9, 14, 15, 16.

Châu Thành Trung có 6 Phận đạo:1, 2, 3, 4, 7, 17.

Năm 1974 số Phận đạo là 19 và năm 1975 số Phận đạo 20.

Theo Bảng thống kê năm 1974 báo cáo Hội Nhơn sanh năm Giáp Dần (1974) Châu Thành Thánh Ðịa có:

- Số Phận đạo: 19 - Số Hương đạo: 198

- Số nóc gia: 29 874 - Nhân số: 170 000 người.

- Số lộ đất: 608 con đường.

Số Hương đạo và Phận đạo càng lúc càng tăng vì số tín đồ Cao Ðài qui tụ về Thánh Ðịa càng ngày càng đông. Mỗi Phận đạo có chừng 10 Hương đạo. Mỗi Hương đạo có 3 Ấp đạo, mỗi Ấp đạo có 36 nóc gia. Mỗi Ấp đạo chia ra làm 3 Liên gia, mỗi Liên gia có 12 nóc gia, lập thành Thập nhị Liên gia Bảo. Ðứng đầu Châu Thành Thánh Ðịa là một vị Khâm Thành, phẩm Giáo Sư, do Hội Thánh bổ nhiệm. Dưới vị Khâm Thành có 3 vị Phó Khâm Thành, phẩm Giáo Hữu, mỗi vị phụ trách một khu vực:

- Phó Khâm Thành Bắc.

- Phó Khâm Thành Trung.

- Phó Khâm Thành Nam.

Ðứng đầu Phận đạo là vị Ðầu Phận đạo, phẩm Lễ Sanh. Ðó là sự tổ chức về Hành Chánh Ðạo trong Châu Thành Thánh Ðịa bên Cửu-Trùng-Ðài. Ðối với Cơ Quan Phước Thiện, hệ thống tổ chức trong Châu Thành Thánh Ðịa cũng tương tự như trên, nhưng các chức vụ thì gọi khác đi một chút để tránh sự trùng lập giữa Hành Chánh và Phước Thiện: như gọi Quản Châu Thành Thánh Ðịa, Phó Quản Châu Thành Bắc... rồi Quản Phận đạo, với phẩm cấp Chức sắc tương đương đối phẩm với Cửu Trùng Đài.

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Tình giao hảo giữa người thi ân và kẻ thọ ân bắt buộc như thế, cho nên, để lưu niệm thành tích của nhiều Đấng Tiên Vương trong hiện kim thời đại, Ðức Hộ Pháp xây cất ngôi Báo Quốc-Từ nầy thành hột kim cương chói rạng miền Nam Việt-Nam, lại đặt vị trí nơi trung tâm Châu Thành Thánh Ðịa, thật là một may duyên hy hữu."

 

 

CHÂU TOÀN

周 全
E: To aid perfectly.
F: Aider complètement.

(Châu hay chu: đến nơi đến chốn, Toàn: trọn vẹn). Châu toàn hay Chu toàn là giúp đỡ một cách mỹ-mãn, vẹn khắp, không có sót hở chỗ nào; giúp đỡ người khổ. Vạn vật trong vũ trụ nhờ ơn Đức Thượng Đế đã ban cho con người năm thứ lương thực để nuôi dưỡng thân phàm cho được đầy đủ và vẹn khắp.

Chí Tôn sinh hóa ra con người là một thực thể hữu hình, có mặt trên cõi hồng trần này, không phải tạo nên hình rồi để tự sống, mà Ngài phải khiến các bậc Thánh nhân xuống trần để chỉ dạy con người làm tổ để tự bảo vệ lấy mình, làm lúa để có cơm mà ăn, tìm thuốc để được trị bệnh. Ngoài việc tìm ra lúa khoai để con người nuôi sống thây phàm, vua Thần Nông còn tìm ra các vị thuốc để trị bệnh cho dân, dạy dân hợp chợ búa để trao đổi hóa vật, dạy dân định cư, xây dựng gia đình tông tộc để tiến đến xã hội nông nghiệp. Ấy là lòng của Thánh nhân cũng noi theo lòng Từ Bi của Đức Thượng Đế. Người tu hành cũng phải trau luyện, giồi mài cho lòng của mình như bậc Thánh nhân, tức là phát huy tư tưởng phục vụ lợi ích cho sanh chúng, đó là tạo công quả trong thời Tam Kỳ Phổ Độ

Kinh Khi Vào Ăn Cơm có câu:

"Từ Bi ngũ cốc đã ban,
"Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân."

 

 

CHÂU TRI - THÔNG TRI

週 知 - 通 知
E: The circular.
F: La circulaire.

(Châu: Vòng quanh, đi vòng quanh. Thông: thông suốt, hiểu thấu. Tri: biết). Về từ ngữ, Châu tri và Thông tri đồng nghĩa, nhưng về phương diện Hành Chánh Ðạo, hai từ nầy khác nhau một chút:

▪ Châu tri là văn kiện có mục đích phổ biến rộng rãi một vấn đề của Đạo để cho toàn Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu nam nữ hiểu rõ, cấp Thượng Thống Cửu viện ký tên.

▪ Thông tri là văn kiện có mục đích giải thích pháp lý một vấn đề của Đạo để cho toàn Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu nam nữ hiểu, cấp Thượng Thống Cửu-Viện ký.

Châu Tri số 01 của Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt (1933).

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Ðệ Bát Niên)


 

Quyền Giáo-Tông Thượng-Trung-Nhựt

CHÂU TRI (Số 1)

Cho chư Thiên Phong,
Chư vị Ðầu Họ Ðạo,
Chư vị chủ Thánh Thất,
Và chư Ðạo Hữu Lưỡng Phái.

Chư Hiền Hữu, chư Hiền Tỷ, chư Hiền Muội,

Chiếu theo Thánh giáo của Ðức Chí Tôn ngày 4-2-1933.

Chiếu theo Thánh giáo của Ðức Lý Giáo Tông ngày 01-01-1933 và ngày 10-3-1933.

Chiếu theo những điều của Thượng Hội quyết định ngày 25-12-1932.

Việc chánh trị của nền Ðạo đã được sắp đặt lại từ 17-2-Quý Dậu (dl: 12-03-1933) như sau nầy:

Ðiều thứ Nhứt: Thượng Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt còn cầm Quyền Giáo Tông mà thôi.

Ðiều thứ Nhì: Trong lúc Chưởng Pháp chưa có chánh vị thì quyền hành Chưởng Pháp giao cho Hiệp Thiên Ðài cầm. Ba vị Thời Quân cầm quyền Chưởng Pháp là: vị Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, vị Bảo Thế Lê Thiện Phước và vị Hiến Ðạo Phạm Văn Tươi.

Ðiều thứ Ba: Ba vị Chánh Phối Sư: Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh còn cầm quyền: Quyền Ðầu Sư mà thôi.

Ðiều thứ Tư: Trong lúc Chánh Phối Sư chưa có chánh vị thì quyền hành giao cho Hiệp Thiên Ðài cầm. Ba vị Thời Quân cầm quyền Chánh Phối Sư là: Vị Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, vị Khai Ðạo Phạm Tấn Ðãi và vị Khai Thế Thái Văn Thâu.

- Vị Khai Pháp cầm quyền Ngọc Chánh Phối Sư.
- Vị Khai Ðạo cầm quyền Thái Chánh Phối Sư.
- Vị Khai Thế cầm quyền Thượng Chánh Phối Sư.

Ðiều thứ Năm: Ba vị Chánh Phối Sư tân được quyền lập Nội Chánh để cầm quyền Cửu Viện tại Tòa Thánh.

Tòa Nội Chánh được chia ra như vầy:

PHÁI THÁI:

- Lương Viện:

Quản Lý:

 

Phối Sư Thượng Tông Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thượng Hộ Thanh.

- Hộ Viện:

Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thái Như Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thái Bộ Thanh,
Lễ Sanh Thượng Chất Thanh.

- Công Viện:

Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thái Gấm Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Lễ Sanh Thượng Nguơn Thanh.

PHÁI THƯỢNG:

- Nội Viện:

Quản Lý:

 

Giáo Sư Thượng Thành Thanh,
Giáo Sư Thượng Latapie Thanh.

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thượng Trí Thanh,
Giáo Hữu Ngọc Non Thanh.

- Học Viện:

Quản Lý:

 

Giáo Sư Thượng Thành Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thượng Sáng Thanh.

- Nông Viện:

Quản Lý:

 

Giáo Hữu Ngọc Bổn Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thượng Ðứa Thanh.

PHÁI NGỌC:

- Lại Viện:

Quản Lý:

 

Giáo Sư Thượng Bảy Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thượng Tuy Thanh,
Giáo Hữu Thượng Thiện Thanh,
Giáo Hữu Thượng Áo Thanh.

- Lễ Viện:

Quản Lý:

 

Quản Lý: Giáo Sư Ngọc Trọng Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thượng Mía Thanh,
Giáo Hữu Thượng Lai Thanh.

- Hòa Viện:

Quản Lý:

 

Thượng Liêng Thanh,

Phó Quản Lý:

 

Giáo Hữu Thượng Tại Thanh,
Lễ Sanh Thượng Tài Thanh.

Lễ Ðăng Ðiện và ban quyền cho Quyền Giáo Tông, Quyền Ðầu Sư, Chánh Phối Sư và Nội Chánh đã thiết hành ngày 12-3-1933 tại Tòa Thánh Tây Ninh, nhằm ngày 17-2-Quý Dậu.

Ba vị Chánh Phối Sư và Nội Chánh đã bắt đầu hành chánh kể từ ngày 26-3-1933, nhằm ngày 1-3-Quý Dậu là ngày ba vị cựu Chánh Phối Sư thăng lên Quyền Ðầu Sư, đã giao trách nhậm cho ba Chánh Phối Sư tân là: Ba vị Khai Ðạo, Khai Pháp và Khai Thế.

Chiếu y Ðạo Nghị Ðịnh thứ nhì, thứ ba và thứ tư của Ðức Lý Giáo Tông thì mỗi việc chi thuộc quyền chánh trị đều giao cho Chánh Phối Sư như là quyền thay mặt cho toàn Ðạo mà giao thông cùng Chánh Phủ và cả Tín đồ, quyền giáo dục nhơn sanh, quyền xem xét các nơi, chăm nom Ðạo Hữu, quyền trị Chức Sắc phần Ðạo và phần Ðời, buộc Chức Sắc làm y phận sự, quyền tạp tụng, quyền điều đình sự phổ độ, tài liệu của Ðạo, quyền chủ trương Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh.

Vậy chúng tôi xin khuyên chư Thiên Phong phải hết lòng vì Ðạo, giúp cho ba vị và Hội Thánh có đủ sức thi hành cả chương trình hành Ðạo. Chương trình nầy có in theo sau đây cho chư Chức Sắc và chư Ðạo Hữu Lưỡng Phái biết.

Từ đây các việc truyền bá trong Ðạo phải có tờ của ba vị Chánh Phối Sư tân ký hay là Ban Nội Chánh thay mặt cho ba vị ký. Ai không được lịnh của ba vị ký mà tự chuyên đi giao thông với chư Chức Sắc và chư Ðạo Hữu là người muốn sanh việc rối loạn làm hư nền Ðạo.

Hiện thời, Hội Thánh rất cần việc hiến công quả, chư Ðạo Hữu có tài nghề chi cũng nên thừa lúc nầy đem ra hiến cho Ðạo nhờ, vì một năm nay phải lo khởi cất Bát Quái Ðài.

Năm rồi Thái và Ngọc Chánh Phối Sư có ra Châu Tri số 39 đề ngày 6-1-1932, xin chư vị Chức Sắc, Ðầu Họ Ðạo, chủ Thánh Thất cho trong Ðạo Hữu hay, ai có lòng bác ái hộ vật thực đến Tòa Thánh hỉ cúng đặng đủ nuôi Ðạo Hữu hiến thân làm công quả cho nền Ðạo.

Năm nay Tòa Thánh phải tạo tác nhiều việc lớn lao, nên cũng xin chư Ðạo Hữu hết lòng lo việc hộ vật thực như: lúa, gạo, nếp, bắp, khoai, muối…

Các vật thực và vật dụng hộ về Tòa Thánh đều có Chức Sắc Thiên Phong thâu nạp và chứng kiến công ơn của chư Ðạo Hữu hỉ cúng cho Ðạo.

Ngoài năm nay Hội Thánh còn phải lo việc phổ độ ngoại quốc (việc hiệp nhứt trong năm Quý Dậu, vì cả Thế Giới trông mong hai chữ Hòa Bình). Năm nay là năm lập thành đại công quả xin chư Chức Sắc và chư Ðạo Hữu Lưỡng Phái phải tận tâm chung lo chấn hưng nền Ðạo cho hoàn tất, y theo Thánh giáo của Ðức Chí Tôn hồi năm Bính Dần.

 

Tòa Thánh, ngày 07-3-Quý Dậu (dl: 01-04-1933)

Hộ-Pháp

PHẠM CÔNG TẮC

 

Qu.Giáo-Tông

THƯỢNG TRUNG NHỰT

 

 

CHÂU TRI VỀ CƠ BÚT

Châu tri số 32 của Thượng Chánh Phối Sư ngày 01-02-1932 nói về phận sự hiện thời của Cơ Bút cũng như Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, theo lời giải của Đức Hộ Pháp (15-5-Nhâm Thân 1932).

1- Cơ Lập Đạo (Guseiguement Religieux)
2- Cơ Pháp (Législation Sacendotale)
3- Cơ Phổ Độ (Propagande de la Foi)
4-Cơ Bí Pháp của Đạo (Enseiquements Esotêriques)

- Hộ Pháp và Thượng Phẩm là cơ Lập Đạo.
- Hậu và Đức là cơ Lập Pháp.
- Diêu và Sang là cơ Phổ Độ.
- Nghĩa và Tràng là cơ Bí Pháp của Đạo.

 

 

CHE CHỞ

Che chở là do Hán tự là phú tái 賦 載 Che và chở, tức là Trời che đất chở "Thiên phú địa tái" 天賦地載 chỉ ơn bảo dưỡng, ơn hộ trì của Trời đất.

Kinh Khi Thức Dậy có câu:

"Trên nhờ có Chí Tôn che chở,
"Thần, Thánh, Tiên, Phật hộ thân hèn."

 

 

CHÉN RƯỢU ĐỒNG TÂM

Xây bàn tiếp điển, Ông Hậu sẵn-sàng bút viết để ghi chép, một lát sau thì có chơn-linh của Quí-Cao giáng cho thi:

Âm dương tuy cách cũng chung trời,
Sanh tịch đời người có bấy thôi.
Chén rượu đồng tâm nghiêng-ngửa đổ.
Thương nhau nhắn-nhủ một đôi lời.

 

 

CHÉN TRƯỜNG SANH

Kinh Đệ Nhị Cửu có câu:

"Tây-Vương-Mẫu vườn Đào ướm chín,
"Chén trường-sanh có lịnh ngự ban
"Tiệc hồng đã dọn sẵn-sàng,
"Chơn-Thần khá đến hội hàng chư-linh."

 

 

CHẾ BIẾN

制 變
E: To transform.
F: Transformer.

Chế: làm ra, đặt ra. Biến: thay đổi. Chế biến là thay đổi để làm ra cái mới theo ý mình.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Chẳng đặng cải mạng lịnh, tự mình chế biến, nhứt nhứt đợi lịnh Ðầu Sư.

 

 

CHẾ CẢI

制 改

Chế cải 制 改 là Sửa đổi lại.

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại.
"Độ kẻ lành chế cải tai ương."

 

 

CHẾ NGỰ

制 御
E: To dominate.
F: Dominer.

Chế: ngăn chận. Ngự: cai trị. Chế ngự là ngăn chận và cai trị, bắt buộc phải tuân theo.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ấy là Trời đang chế ngự số mạng của các con.

 

 

CHẾ NGỰ DỤC VỌNG BẤT CHÁNH

Đức Hộ-Pháp nói: "Nghĩ vì cơ huyền vi mầu nhiệm của Đạo có Thiên điều cũng như cơ đời có luật-pháp chơn-truyền để chế ngự những dục-vọng bất chánh mà ở cõi nào và đời nào cũng có, nếu không có gì chế-ngự thì sự điều-hòa tốt đẹp của cơ tạo-hóa sắp đặt có thể mất đi mà chớ!"

 

 

CHẾT - SỐNG

Chết là chấm dứt một kiếp người; Sống là mở ra cho một kiếp người. Tùy theo tuổi đời đã thụ hưởng được. Tuổi đời thì không giới hạn. Bất cứ tuổi nào cũng có người chết. Nếu nói rằng "Chết là hết" là đúng về hai phương diện: về phương diện hữu hình thì chết tức là hết một kiếp hữu hình này rồi, phải để cho người ta chôn cái xác thân này vào lòng đất lạnh. Về phương diện chữ nghĩa thì CHẾT có phần cuối của chữ là HẾT, nhưng phía trước chữ này có chữ CH (đọc là chờ), tức nhiên dầu chết, nhưng còn chờ sự phán xét của luật Thiên điều: hoặc thăng, hoặc đọa tùy theo công quả trong kiếp sanh định vị.

"Tại thế này gọi là chết chớ không phải chết. Loài người không bao giờ chết cả, chết ấy là chúng ta thay một cái áo để ngoài, vào nhà tắm, tắm rồi ta mặc lại nữa, sự sống chết như thay đổi cái áo kia vậy thôi." (Xem thêm: Sống vần S).

Thầy dạy: 13-6-Bính Dần (Jeudi 22 Juillet 1926)

"Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết Đạo nên tưởng lầm. Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì.. Cười... Nếu Thầy không đến kịp, thì các con cũng vẫn bị trong vòng sự chết. Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi, thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái? Còn bậc chơn tu tỉ như một hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, trổ bông rồi sanh trái mà biến biến sanh sanh càng tăng số. Vì vậy mà các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa chơn thần, chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế Giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con. Như kẻ bên Phật Giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng Giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế.

Người gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương.

Người gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu.

Người gọi Lão Tử là Tiên Tổ Giáo, thì Lão Tử cũng sanh ra đời nhà Châu.

Người gọi Jésus là Thánh Ðạo Chưởng Giáo, thì Jésus lại sanh nhằm đời nhà Hớn.

Thầy hỏi vậy chớ ai sanh ra các Ðấng ấy?

Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó ai sanh? Ấy là Ðạo. Các con nên biết.

Nếu không Thầy, thì không có chi trong Càn Khôn Thế Giới nầy, mà nếu không có Hư Vô Chi Khí thì không có Thầy."

Thi văn dạy Đạo có câu:

Ngảnh lại hỏi người là chắc đó,
Trăm năm là tuổi chết rồi chôn.

 

 

CHI

1) CHI Ngành, nhánh.
Thí dụ: Chi phái.

2) CHI Một thứ cỏ thơm.
Thí dụ: Chi lan.

 

 

CHI CHI HỮU SANH

支 支 有 生
E: All the living beings.
F: Tous les êtres vivants.

(Chi chi: tất cả những thứ gì, Hữu sanh: có sự sống). Chi chi hữu sanh là tất cả những thứ gì có sự sống, tức là tất cả các loài sinh vật, kể cả thực vật và động vật cho tới loài người đều cần có sự sống cả.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

"Chi chi hữu sanh cũng do bởi chơn linh Thầy mà ra, hễ có sự sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống".

 

 

CHI CHI TAM THẬP NIÊN DƯ XÍCH HUYỆN HỒNG CHÂU KIM THƯỢNG TẠI,
TẠI TẠI SỞ THIÊN LÝ NGOẠI, ĐÀO HOA, LƯU THỦY TỬ HÀ CHI?

之 之 三 十 年 餘 赤 縣 洪 州 今 尚 在
在 在 數 天 里 外 桃 花 流 水 死 何 之

Giải nghĩa: Đây là câu liễn đối viếng người chết.

Câu 1 - Cách đây hơn ba mươi năm, Xích-huyện Hồng châu nay còn đó.

Câu 2 - Xa ngoài mấy dặm, đào hoa lưu thủy Bác vội về đâu?

Cái hay của đôi câu đối này là ý tứ thật chỉnh, khởi đầu là chữ "chi", kết là chữ "tại". Qua câu 2 thì chữ đầu là chữ "tại" kết lại là chữ "chi" nó xoay vòng thật là khít khao, êm-ái. Như cái vòng luân chuyển của đất trời mà định luật của hoá công không một ai ra ngoài được cái vòng sanh tử ấy. Một câu phúng điếu như thế thật có giá trị cao siêu vô cùng! Nhưng không hay bằng "nước mắt" của cụ già làm cháy lòng một Thần-đồng xuất thế! Thật không còn một hình phạt nào cay-đắng cho bằng tiếng khóc này!

Đây là câu chuyện của ông Thần đồng Việt-Nam Lê-Quí-đôn. Về tài trí của ông thật là thông-minh trác tuyệt. Ngày đau buồn nhất của Ông là ngày cha chết, có một cụ già đến cúng điếu, xưng là bạn thân của cha ông là Lê Phú-Thứ. Từ xa đến, muốn viếng đôi câu đối, nhưng mắt kém nhờ Lê-Quí-Đôn viết hộ. Bấy giờ, Lê-Quí-Đôn đã sẵn-sàng nghiên bút, chỉ còn chờ ông khách đọc lên, nhưng quái ác, ông chỉ đọc có mỗi một chữ "CHI" rồi ông ngưng hẳn; Lê-Quí-Đôn chờ lâu, sốt ruột mới thưa:

- Thưa cụ, chữ "chi" nào ạ? Ông khách thừa dịp ôm mặt khóc nức-nở và than trách đến não lòng: Anh ơi là anh ơi! Anh Phú-Thứ ơi! Sao Anh nỡ vội ra đi sớm thế, Anh mạng bạc vô-phúc mất đi, không kịp ở lại mà dạy cho con Anh còn khờ dại, đậu Bãng-Nhãn Thám-Hoa làm gì, chỉ mỗi một chữ "chi" là chưng mà cũng không biết viết, Anh ơi là Anh ơi!". Đúng là ngoắt ngoéo thật! Vì chữ "Chi" có rất nhiều chữ viết "Nhứt tự lục nghì" mà!

Sở dĩ có những câu chuyện trớ trêu đối với Thần đồng Lê Quí Đôn chỉ vì tuổi trẻ sớm có tài cao nên sinh ngạo mạn. Ông là thiên tài, nhưng chỉ tiếc có bấy nhiêu. (Xem thêm Lê quí Đôn. Vần L)

 

 

CHI LAN

芝 蘭
E: Lily and orchid.
F: Lys et orchidée.

(Chi: một thứ cỏ thơm. Lan: loài lan (loại thảo) có hoa đẹp và rất thơm). Chi Lan là Cỏ chi và cỏ lan, có hoa đẹp và tiết ra mùi thơm nhẹ nhàng, hương hoa hòa hợp nhau. Theo sách Khổng Tử Gia Ngữ có câu: "Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất" nghĩa là ở với người lành như vào nhà có cỏ chi cỏ lan. Do đó, chi lan là để chỉ người hiền đức, người tốt hay tình bạn cao quí.

Theo Tấn thư, Tạ An thường khuyên răn con cái trong nhà. Con là Tạ Huyền thưa rằng: "Tỷ như chi lan ngọc thụ, dục sử kỳ sinh ư đình giai nhĩ" nghĩa là: Cũng ước như cây chi cây lan là những cây quí được mọc trước thềm nhà. Do đó, chi lan cũng chỉ con hiền cháu quí.

Thế nên, nơi Đền Thánh có chạm nhiều cỏ chi cỏ lan trên nóc Đền cũng không ngoài ý nghĩa ấy.

Thánh ngôn:

Chi lan mọc lẫn cỏ hoa thường,
Chẳng để mùi gần chẳng biết hương.
Hiền ngõ rủi sanh thời bạo ngược,
Dầu cho Thánh Đức cũng ra thường.

 

 

CHI PHÁI

Phần Phụ: Tiểu Sử các vị lãnh đạo Chi phái:

1. Ngài Ngô Văn Chiêu:

(Xem chữ Ngô Văn Chiêu, vần Ng)

3. Phối Sư Thái Ca Thanh phái Minh Chơn Lý:

Sau đây, xin trích một đoạn trong quyển Lịch Sử Cao Ðài Quyển 2 của Ðồng Tân, trang 391-395:

"Thế là một phái nữa thành hình, ban đầu lấy tên là Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Độ Minh Lý Hội, sau đổi thành Minh Chơn Lý Hiệp Ngũ Chi. Những việc ông Ca làm buổi ban sơ xem cũng có mòi xây dựng, nhưng qua năm 1935, Chưởng quản Hiệp Thiên-Ðài (của Chi phái) là Thiên Sư Nguyễn Hữu Phùng chấp cơ sửa đổi hết cách thờ phượng, lễ bái, nghi tiết, đổi sự thờ Thiên Nhãn bằng Trái Tim và Thập ngũ Linh Ðăng. Vì lẽ ấy mà phần lớn Chức sắc, một số trở về Cầu Kho giữ nguyên gốc cũ làm thành nhóm bảo thủ, còn một số thì hợp tác với phái Tiên Thiên. Minh Chơn Ðạo cũng nảy sinh khi phái Minh Chơn Lý bắt đầu đi sâu vào Tà phái.

Việc ông Ca tách ra thành hình phái Minh Chơn Lý là cơ đại khảo trong đạo, nhưng cũng do nghiệp báo của ông, nên sự canh cải làm cho thất chơn truyền là một sự nguy hại cho ông và cho phái ông rất nhiều. Ðể chứng minh điều nầy, ta hãy xem bài Cơ bút sau đây đã giải thích huyền vi Thiên Nhãn một cách rất tà mị, dù người kém chữ nghĩa đến đâu cũng không thể hiểu như vậy được.

Bài trích trong tập Ðuốc Chơn Lý, do Tòa Thánh Ðịnh Tường (Minh Chơn Lý,Cầu Vỹ) xuất bản năm 1955:

" VÔ VI HIỆP THIÊN ÐÀI

Ngày 19 tháng 8 âm lịch 1938 (7 giờ tối)

- Ðược! Con nghe Thầy dặn, nay Thầy giải nghĩa câu: Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quan chủ tể, quan thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã dã.

Trước Thầy có hứa sau Thầy sẽ chỉ rành là đợi cho đến ngày nay là đúng Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thầy phải giải cho rành cho cả thảy đặng hay kẻo nhiều đứa nó ước ao trông đợi. Thêm vào sự canh cải đó, Minh Chơn Lý gọi Cửu Trùng Ðài và Hiệp Thiên Ðài là hai phẩm tước chớ không phải là hai cơ quan như trong Pháp Chánh Truyền, cho rằng hai chức nầy hiệp với Ðức Chí Tôn làm thành một cái gọi là Tam Thân Hiệp Nhứt. Những phẩm Chức sắc trên Chánh Phối Sư còn có Thiên Sư, Tứ Bửu, Ðầu Sư, Cửu Trùng Ðài, Tam Tôn. Kinh sách thì sửa đổi hầu hết, không theo như cũ, tuy giọng đọc na ná như trước.

Tệ hại hơn nữa là Minh Chơn Lý đã xóa bỏ nguồn cội nền Ðạo. Cơ bút của Minh Chơn Lý dạy như sau:

"Thầy xuống lập đạo có một mình Thầy hiệp với hai Chưởng quản, một là Lê Văn Ðược làm chức Hiệp Thiên Ðài (hồn) của Ðạo, là bậc Chơn như có Phật Hàng Long hiệp mới thành chánh vị Tam Tôn chủ tam hồn, đội áo Khai Thiên (12 thước vải trắng) đứng trên ngọc ỷ, phía trước mặt kế bên án có ông Cửu Trùng Ðài Nguyễn Văn Ca là xác của Ðạo. Ðạo có một xác một hồn mà thôi. Cửu Trùng Ðài nhờ chuyển kiếp 9 lần mới hiệp cùng Phật An Thiên nên Thánh danh kêu là Bửu An Thiên 18 năm, trong thời gian ấy chịu trả vay nhiều nỗi. Còn ai bày ra Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài là hồn ma xác quỉ, đó là giả dối." (Trích trong Ðuốc Chơn Lý số 51 trang 97)

Vì sự canh cải Chơn truyền Luật pháp nên Minh Chơn Lý tuy hấp dẫn được một số Chức sắc Ðại Thiên phong buổi đầu, nhưng sau nầy lại trở thành một tệ đoan lớn lao hơn hết trong sự phân tán nhà Ðạo. Do đó, có thể nói rằng, phái Minh Chơn Lý, ngay sau khi tự canh cải Chơn truyền, thờ phụng, đã không còn là Ðạo Cao Ðài nữa, như thế phái nầy không tránh khỏi bàn tay Tà Thần".

 

Theo lời các tiền bối kể lại, nguyên căn của Phối Sư Thái Ca Thanh là Ðộc Giác Thanh Ngưu của Ðức Lão Tử giáng phàm, Truyền Trạng Phạm Văn Ngọ là Từ Giáp giáng phàm. Thanh Ngưu ở với Ðức Lão Tử lâu năm nên có nhiều phép biến hóa huyền diệu, xem truyện Ðông Du Bát Tiên thì rõ. Nguyên khi Ðốc Phủ Ca làm Quận Trưởng Châu Ðốc, ông vâng lịnh Thực dân Pháp ruồng bố các nhóm Cách Mạng chống Pháp đang lập căn cứ trong Thất Sơn, giết chết ông Cử Ða và bắt học trò của Cử Ða là Bảy Do giao cho Pháp xử tử. Linh hồn Bảy Do lên kiện nơi Ngọc Hư Cung. Ngọc Hư Cung cho phép ông Bảy Do báo oán và giao phận sự giục loạn trong nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn để trục ngoại các thành phần phản đạo, rửa ráy hàng ngũ Chức Sắc cho trong sạch.

Ngày 21-7-1934, tại Phạm Nghiệp, Ðức Hộ Pháp cùng Ngài Cao Tiếp Ðạo phò loan, ông Bảy Do nhập cơ:

BẢY DO

Kính chào chư vị Ðại Ðức và chư Ðạo hữu,

- Xin cho biết phẩm vị.

- Thần. Thầy của Bần tăng mắc chuyển cơ đặng giáo hóa TRANG, TƯƠNG, nên đến không đặng, mới sai Bần tăng thưa lại cùng chư quí vị.

Thưa Ðức Hộ Pháp, Bần tăng lấy làm bất nguyện vì buổi nọ Ngọc Hư Cung ban lịnh cho trừ diệt Phủ CA đặng báo oán. Bần Tăng đã dụ nó vào Cấm Sơn và định đưa luôn vào ngục thất đặng sát hại, nào dè có lịnh Chí Tôn mật chỉ không cho sát mạng. Sau, Bần Tăng muốn nhập thể nó làm cho nó điên cuồng rồi bắt nó tự ải, nào dè Chí Tôn lại binh vực cấm ngăn thêm nữa, chỉ cho hành bịnh mà thôi. Nay nó bị điêu tàn cơ giả Ðạo nên mang bịnh thất tình, tưởng khi Bần Tăng cũng còn phương tẩy hận. Ngài nín nẩm lóng tin thì hiểu rõ hành tàng mọi lẽ. Còn hai người TRANG, TƯƠNG thì Ngọc Hư Cung cho khảo. Thần đặng phép thử, khử tà trừ trược đủ ba năm khảo án, rồi dạy dỗ cho nó trung tâm, rồi cho trở lại Hội Thánh.

- Không. Cười…Hạng Thiên Thánh mà vào phẩm Ðầu Sư sao đặng. Bần Tăng tưởng khi Ngài hiểu điều ấy chán chường, chẳng cần để luận. Họ chỉ lãnh Hàm phong là may mắn lắm đó." (Theo tài liệu sưu tập của Quang Minh)

4. Hai vị lãnh đạo phái Bến Tre:

1/- NGUYỄN NGỌC TƯƠNG (1881- 1951)

Ông Nguyễn Ngọc Tương sanh ngày 26-5-Tân Tỵ (dl 22-6-1881) tại làng An Hội, tỉnh Bến Tre, thuở nhỏ học tại Collège Mỹ Tho, rồi lên Sài Gòn học ở Lycée Chasseloup Laubat, đậu bằng Thành Chung năm 1902, xin làm Thơ ký phòng Thượng Thơ. Làm nơi đây được 1 năm thì xin về làm Thơ ký nơi Tòa Bố tỉnh Bến Tre suốt 17 năm liền.

2/. LÊ BÁ TRANG (1879-1936)

Ông Lê Bá Trang sanh năm 1879 tại làng An Qui, tổng An Trung, tỉnh Sađéc. Ông theo Tây học, thi đậu ngạch Tri Huyện, được bổ làm Chủ Quạân Thủ Ðức, rồi thi đậu Tri phủ, được bổ làm Chủ Quạân Chợ Lớn, được thăng Ðốc Phủ Sứ, làm Chủ Quạân Vũng Tàu.

Ông nhập môn vào Ðạo Cao Ðài vào tháng 5 năm 1926 (Bính Dần), được Thiên phong Ngọc Chánh Phối Sư vào ngày 3-7-Bính Dần (dl 10-8-1926). Năm 1929, Ngài Lê Bá Trang xin từ quan và phế đời về Tòa Thánh Tây Ninh hành Ðạo.

Năm 1930, Ngài Lê Bá Trang được thăng lên Quyền Ngọc Ðầu Sư, cùng một lượt với Ngài Nguyễn Ngọc Tương.

Ông Trang cùng với ông Tương rút về Bến Tre lập Ban Chỉnh Ðạo, sau đó biến thành Chi phái Bến Tre. Ông được Ðại Hội Vạn Linh của phái Bến Tre bầu làm Ngọc Chưởng Pháp.

Ông Trang qui liễu tại Bến Tre ngày 30-5-Bính Tý (dl 17-7-1936), liên đài được đưa về Tòa Thánh Tây Ninh ngày 21-7-1936, được đưa vào nhập bửu tháp ở phẩm Ngọc Ðầu Sư.

Ðàn cơ tại Phạm Nghiệp ngày 11-6-Bính Tý (dl 28-7-1936), phò loan: Ðức Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo, Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ nói về chơn linh của Ngài Lê Bá Trang bị đọa nơi Lạc Hồn Trì, chép ra như sau:

THƯỢNG TRUNG NHỰT

Chào mấy em. Thượng Phẩm nói với Qua mấy em đợi.

Ôi! Qua nghĩ lại bắt tức mình, mấy em nghĩ lại mà coi, một kiếp sanh đâu mấy lát, cái giả cuộc trần hoàn tuy xem nháy mắt mà ảnh hưởng nó sâu sắc biết là bao, nào là danh, nào là vị, nào là tước, nào là quyền, nào là vinh, nào là trọng, rốt sự rồi cũng không còn mảy mún giá trị chút gì nơi cõi Hư linh Hằng sống, bất quá như còn vui dự đặng một tiệc ngọt ngon của khách phong trần say sưa một lát mà đòi phen chịu thảm cả đời.

Qua đến viếng TRANG nơi Lạc Hồn Trì, nó nằm mê sảng sốt, đau lòng hết sức, như lời Thất Nương và Bát Nương làm chứng, thì dầu cho Qua có đến gần nó lúc nầy cũng không bổ ích chút nào cả, phải đợi cho nó từ từ định tỉnh, may ra có tay Thất Nương giải mộng thì thỉnh thoảng định tỉnh tinh thần. Nếu Qua cượng cầu thì chẳng khác nào hầu chuyện với người điên, chọc thêm loạn tánh.

TÁM, Em nên phò loan đặng Qua truyền tin TRANG cho Em hiểu. Khi nãy, Qua thấy em có khách nhiều thì phải, thôi Qua đi.

Thăng.

(GHI CHÚ: TRANG: Ông Lê Bá Trang. Ðức Quyền Giáo Tông gọi Ðức Hộ Pháp là Em TÁM vì Ðức Hộ Pháp thứ tám)

 

Ðàn cơ tại Hộ Pháp Ðường ngày 17-10-Bính Tý (dl 30-11-1936), phò loan: Ðức Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo. Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ nói về chơn linh của ông Trang và ông Tương:

THƯỢNG TRUNG NHỰT

.................

TRANG khóc quá bây ơi! Vừa hiểu hiểu chớ còn khi tỉnh khi say, nhưng Qua theo bên mình ủng hộ, không sao phòng ngại.

Em TÁM làm ơn nói với con Hai cho nó biết, kẻo lo rầu tội nghiệp.

Hộ Pháp bạch: - Biết nó nghe không?

- Em cứ nói giùm. Cha chả! Va oán Em đánh va hôm nọ lắm. Qua an ủi mà hễ tỉnh thì cằn rằn hoài. Em nên viết cho va một cái thơ an ủi, cậy Qua đưa giùm đặng Qua thừa dịp thức tánh va một chút. Em làm ơn giùm.

-...............

- Ôi! Thây kệ, đừng giận làm gì nữa. Nếu Em thấy va lúc nầy thế nào Em cũng tội nghiệp. Em làm phước làm giùm cái tháp cho va, hễ tỉnh thì hỏi có bao nhiêu đó hơn hết.

Ôi! TƯƠNG là cục nợ báo đời của TRANG, do căn kiếp phải vậy, dầu khi chết cũng còn theo báo hại.

Em biết TƯƠNG là ai chăng?

Ðứa nào nói trúng, Qua thưởng một củ mì.

Qua nói nhỏ: NGÔ TÔN QUỜN đó biết không?......

5. Ông Nguyễn Bửu Tài phái Tiên Thiên:

Ông Nguyễn Bửu Tài sanh năm 1882 tại làng Chẹt Sậy, sau đổi tên là làng Phú Hưng, tỉnh Bến Tre. Ngài theo tân học nhưng cũng rất giỏi Hán học, làm giáo viên tại Bến Tre, được thăng lên Thanh Tra Tiểu Học, sau bị đổi lên Biên Hòa.

Năm 1926, ông Nguyễn Bửu Tài lập một phái tu đơn tại Chẹt Sậy, Tịnh Thất được đặt tên là Tây Tông Vô Cực Cung.

Năm 1941, ông có liên lạc với Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể ở Nhựt, nên bị Pháp bắt đày đi Côn Ðảo 5 năm.

Ngày 25-8-1945, Chánh phủ Trần Trọng Kim ân xá, ông Tài được trả tự do, ông trở về quê nhà tiếp tục tu đơn.

Sau đó ông gia nhập phái Tiên Thiên, được cơ bút phái Tiên Thiên phong ông vào hàng Thất Thánh, sau được phong Thượng Ðầu Sư, trở thành Chức sắc lãnh đạo phái Tiên Thiên.

Một số lớn Chức sắc cao cấp của phái Tiên Thiên nhập qua các phong trào Thống Nhứt Chi phái, làm cho phái Tiên Thiên suy yếu. Do đó, ông Nguyễn Bửu Tài cùng một số Chức sắc Tiên Thiên cấp dưới qui hiệp về Tòa Thánh Tây Ninh, được Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ chấp thuận trong đàn cơ đêm 1-3-Mậu Tý (dl 9-4-1948), và Ðức Hộ Pháp ra Thánh Lịnh số 535 ngày 4-6-Kỷ Sửu (dl 29-6-1949) để thi hành quyết định của Ðức Lý Giáo Tông.

Ngày 27-5-Canh Dần (dl 11-7-1950), theo lời dạy của Ðức Lý Giáo Tông đêm 3-1-Canh Dần, Ðức Phạm Hộ Pháp ký Thánh Lịnh số 302, chư Chức sắc phái Tiên Thiên có danh sách trong Thông qui ngày 30-10-Kỷ Sửu, đã đệ trình lên Ðức Lý Giáo Tông xem xét, được Ðức Lý tạm phong vào hàng Chức sắc Tòa Thánh Tây Ninh, sụt bớt một cấp, như sau đây:

Phối Sư Thượng Tài Thanh (Nguyễn Bửu Tài)

Phối Sư Thượng Hiền Thanh (Phan Lương Hiền)

Giáo Sư Ngọc Thiệu Thanh (Phan Lương Thiệu)

Giáo Sư Ngọc Dừng Thanh (Ðinh Văn Dừng)

Giáo Sư Thượng Tấu Thanh (Trần Văn Tấu)

Phần tiếp theo là danh sách 26 Giáo Hữu và 35 Lễ Sanh.

Tổng cộng: 66 vị Chức sắc, không ai là Ðạo hữu cả.

Ngày 23-12-Canh Dần (dl 30-1-1951) Ðức Phạm Hộ Pháp lại ký Thánh Lịnh phong thêm 5 vị Giáo Sư, 3 Giáo Hữu và 17 Lễ Sanh.

Cả thảy Chức sắc phái Tiên Thiên được Ðức Lý Giáo Tông tạm phong do cơ bút tại Tòa Thánh Tây Ninh, phải hành sự tùng quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Chủ trưởng Chức sắc.

Giữa năm 1951, ông Nguyễn Ngọc Tương Giáo Tông phái Bến Tre qui liễu tại Thánh Thất An Hội Bến Tre.

Sau đó, ông Nguyễn Bửu Tài và số Chức sắc Tiên Thiên đã qui hiệp về TTTN trước đây, âm thầm tự ý rút lui khỏi Tây Ninh, trở về Sóc Sãi tỉnh Bến Tre tái lập phái Tiên Thiên, lập Tòa Thánh Châu Minh và Hội Thánh Tiên Thiên.

Ngày 13-8-1955, cơ bút phái Tiên Thiên phong ông Nguyễn Bửu Tài lên chức Thượng Chưởng Pháp.

Ngày 9-1-1957, ông Nguyễn Bửu Tài được tấn phong Quyền Giáo Tông phái Tiên Thiên.

Ngày 9-1-1958, tức là đúng 1 năm sau, cơ bút phong ông Nguyễn Bửu Tài lên chức Giáo Tông chánh vị phái Tiên Thiên.

Ngày 21-9-Mậu Tuất (dl 1-11-1958), ông Nguyễn Bửu Tài qui liễu, bửu tháp của được xây tại Tòa Thánh Châu Minh ở Sóc Sãi, Bến Tre.

Vậy ở Bến Tre, trước sau có hai vị Giáo Tông Chi phái: Nguyễn Ngọc Tương và Nguyễn Bửu Tài.

 

CUỘC THỬ CƠ của PHÁI TIÊN THIÊN

Phò loan: Thanh Trước Ðàn

LÝ GIÁO TÔNG

Chào con cái Chí Tôn.

Thượng Tài Thanh, Hiền hữu có biết chăng Ðạo Thầy có một? Khai Pháp Hiền hữu chấp bút nhang đuổi nó đi, vì đây trước mặt Lão lại còn cho Thần Cái trụ.

- Thượng Tài Thanh, hỏi một Hội Thánh có mấy Ðài Hiệp Thiên và mấy Ðài Cửu Trùng?

Chính tay Lão đã lập Ðạo Nghị Ðịnh thứ 8, có đâu Lão lại phá luật; còn Ðài Hiệp Thiên do Hộ Pháp nắm giữ, có đâu Lão lại quá quyền phạm pháp, phong tước Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, Hiền hữu vốn biết Lão đương quyền Giáo Tông đó chớ? Cơ chia phe phân phái cũng do đó có phải? Nè Lão cho hay rằng: Hội Nhơn Sanh sắp đến đó, thử hỏi Chức sắc và tín đồ về đặng bao nhiêu? Hiền hữu khá nhớ rằng: được phẩm thì dễ, chớ ngồi yên khó lắm, sự không qui thuận của Chức sắc và tín đồ Tiên Thiên là lỗi nơi Hiền hữu, chớ không phải nơi họ. Từ đây, Hiền hữu cứ ra nghiêm lịnh coi. Nên nhớ rằng: với tình thì Lão dung thứ được, chớ về luật pháp e khó dung tha được.

Cao Sĩ Tấn! Lão biết Hiền hữu có ý bất mãn, nhưng Lão khuyên Hiền hữu khá suy nghĩ sẽ thấy rõ đường đi. Ðức Chí Tôn khai Ðạo chẳng bó buộc một ai hết thảy, nếu ngoan là con của Thầy, còn dại thì mặc tình quỉ dẫn. Những cặp đồng tử của Hiền hữu, tuy vốn xuất thần, nhưng bị hồi điển do bổn thân. Hiền hữu khá đem họ nhờ sự trau luyện của Hiệp-Thiên-Ðài Chức sắc thì sẽ được ứng dụng ngày sau. Hiền hữu thử hỏi lại chúng nó coi: trước đêm mùng 4 vừa qua nó có suy nghĩ gì chăng?

Thượng Tài Thanh, Hiền hữu hiểu lời Lão rồi chớ?

Bảo Thế, Khai Pháp, Tiếp Ðạo, sáng ngày mai phải xuống Trí Huệ Cung tường thuật cặn kẽ cho Hộ Pháp nghe.
Còn hai em Hưởng và Nhung, Lão khen đó, hai em đã giúp Lão chỉnh đốn Cửu Trùng Ðài nhiều lắm đó, Lão mang ơn nơi cõi Hư linh, còn hữu hình Lão chẳng có quyền. Thăng.

Tái cầu: Lúc 23 giờ.

THƯỢNG TRUNG NHỰT

Qua chào mấy em. Cười......

Ông Già nộ khí dữ quá ta! Lúc nãy đồng tử của họ có một người tà tâm nên Ổng đánh nó đó.

Bạch:...........

- Không sao, tuy vậy chớ Thượng Tài Thanh và Cao Sĩ Tấn biết suy nghĩ lắm, họ bị quá mê tín mà nên nông nỗi.

Cười... Coi chừng đồng tử bị đánh, bịnh ta ơi!

Tội nghiệp, không phải tự họ muốn lên giả, nhưng tại Thần trược mà bị hồi điển. Những người đồng tử họ bất bình, họ nói mình xúm nhau mà làm ngưng nghề họ, chớ không phải là Ðức Lý. Cười.... Mặc dầu lúc nãy, Ông Già đã nói trước rồi.

Còn KHOA thì coi hình như đeo muốn rớt.

Em Trung Dõng nên gần gũi dẫn dụ họ, nếu họ có ức thì xin với Ðức Hộ Pháp, Ðức Hộ Pháp phò loan tại Trí Huệ Cung một lần nữa, nhưng không cho đồng tử theo vì có hại cho họ.

Cười... Cần cơ gãy... Cười...

Anh nói thiệt, nếu cơ không gãy thì e cho họ phát điên rồi mà chớ. Ðó cũng may cho họ vì đầu cơ không có điển, hành pháp không xuất được. Thôi cũng yên một phần, em Trung Dõng cười đi em.

Thăng.

(KHOA: Ngài Hồ Tấn Khoa, lúc đó chưa được phong chức Bảo Ðạo. TRUNG DÕNG: hiệu của Trung Tướng Nguyễn Văn Thành).

6. Nhóm Tịch Cốc tập bay:

Trong quyển Tây Ninh xưa và nay của Huỳnh Minh, soạn giả có thuật lại việc Nhóm Tịch Cốc lén lên ngồi 7 cái ngai trong Tòa Thánh, rồi sau đó lại tập bay theo lời kể của ông Huỳnh Hữu Lộc, cựu Tổng Thơ Ký Hội Ðồng tỉnh Tây Ninh.

Năm 1936, lúc bấy giờ, tôi (Huỳnh Hữu Lộc) còn trong hạng tuổi thiếu thời. Tôi về TTTN làm công quả, nơi đó tôi được biết câu chuyện chiếm 7 ngai xảy ra như sau:

Một buổi trưa sau giờ cúng Ngọ tại Bửu điện TòaThánh, các Chức sắc, Chức việc và đồng nhi đã về phòng nghỉ. Lúc bấy giờ chỉ có một vị Tuần quân ở lại canh gác Bửu điện mà thôi. Vị Tuần quân đó là anh Nghiêm. Thình lình anh Nghiêm nghe tiếng động rất to trong Bửu điện, anh Nghiêm chạy vào coi thì thấy một số người, lối 7 người, mặc áo màu dà, đầu trọc, tay cầm chuỗi bồ đề, đang xô các cốt Phật, Tiên, Thánh, Thần ngã rớt rầm rầm xuống đất.

Lúc đó, anh Nghiêm hoảng hốt tri hô lên, bổn đạo quanh đó chạy đến, thấy 7 cái ngai đều bị các vị Tả đạo ấy chiếm ngồi hết cả. Nên biết, Ðền thờ Ðức Chí Tôn có 7 cái ngai dành riêng cho 7 vị: 1 cho Ðức Giáo Tông, 3 cho 3 vị Chưởng Pháp, 3 cho 3 vị Ðầu Sư, nhưng đó chỉ là tượng trưng thôi, chớ chưa có ai dám lên đó ngồi. Các tu sĩ Tả đạo ấy lẻn vào Bửu điện làm việc đại náo. Ngoài số 7 vị chiếm 7 cái ngai trong Bửu điện, còn một vị khác ra trước Tòa Thánh chiếm con ngựa của Ðức Phật Tổ đang cỡi, vị nầy lên lưng ngựa và ra roi thúc ngựa.

Nên nói thêm, ngôi Bửu điện lúc đó bằng cây lợp ngói, các cửa đơn sơ không được chắc chắn như hiện nay, do đó các vị Tả đạo mới lẻn vào được dễ dàng.

Cũng nên nói thêm là các đạo sĩ ấy không có ăn cơm, chỉ ăn trái cây, rau hoặc bánh mà thôi, nên có người gọi là đạo Tuyệt Cốc.

Thật ra thì các vị ở non động cả, có nhiều vị chơn tu cũng tuyệt cốc. Vậy chúng tôi đề nghị gọi nhóm người nầy là gian đạo sĩ hoặc là nhóm Tả đạo. Các vị nầy có nhiều lần cho biết xâu chuỗi bồ đề của họ đã luyện thành bảo vật, đánh người và cả cây hay đá cũng đều tan ra tro bụi, còn nếu chỉ vào ngựa ván (ngày xưa gọi divan là bộ ngựa) thì ngựa ván bay lên cao.

Vì lẽ bổn đạo kiêng sợ bảo vật chuỗi bồ đề nên chưa ai dám xông vào kéo các vị Tả đạo xuống khỏi ghế.

Sau đó có một vị bổn đạo thử xông vào kéo vị chiếm ngai Giáo Tông xuống, và cuộc níu kéo ẩu đả bắt đầu, các xâu chuỗi được tung ra. Nhiều bổn đạo đứng bên ngoài thấy chuỗi phép không làm tan đối thủ ra tro bụi thì vững lòng nhào vô trợ chiến, xua đuổi nhóm người Tả đạo ra khỏi Chánh điện.

Cũng trong thời gian nầy, một vị Ðạo hữu hương khói tại Quan Âm Các (Quan Âm Các lúc bấy giờ ở tại Ngã tư gần nhà Ngài Chưởng Ấn Hợi bây giờ), chạy vô báo cho Hội Thánh hay có hai Nữ gian đạo sĩ lên lầu, nơi thờ Phật Bà Quan Âm, xô cốt Bà xuống và leo lên bàn thờ ngồi tự xưng mình là Phật Quan Âm giáng thế.

Bổn đạo nghe vậy chạy ra leo lên lầu xua đuổi hai Nữ Tả đạo. Lại một phen chuỗi phép được tung ra, chuỗi chẳng hại được ai cả, chỉ trì kéo làm đứt dây, hột chuỗi rơi đổ tứ tung.

Bị xô té xuống đất, hai Nữ Tả đạo cứ nằm vạ tại đó rất lâu, bổn đạo thấy vậy ra về, nhưng vẫn để ý xem động tịnh ra sao. Một lúc lâu thấy vắng người, hai Nữ Tả đạo đứng dậy đi theo đường Phước Ðức Cù về xóm Sân Cu.

Thu dọn chiến trường: Bổn đạo dựng các cốt Phật dậy và quét dọn, lượm được cả tô chuỗi hạt bồ đề của các nam nữ gian đạo sĩ bỏ rơi rớt lại.

Vào năm Mậu Dần (1938), nhóm gian đạo sĩ Tả đạo Bàng môn hành động ngông cuồng phá rối nhiều nơi. Lúc đó nhóm Tả đạo ở vùng Sân Cu (xã Long Thành) và vùng Sơn Ðình (chơn núi Bà Ðen) là đông hơn hết.

Nếu tôi nhớ không lầm thì vào lúc 15 giờ ngày 14 tháng Giêng năm Mậu Dần (1938), có một gian đạo sĩ đầu trọc, trang phục áo màu dà, tay cầm tấm bảng có viết chữ sẵn, đem cắm tại Cửa số 1 Tòa Thánh.

Lúc bấy giờ Cửa nầy tuy làm bằng gạch nhưng thô sơ, không phải kiến trúc như ngày nay, trên bảng có 4 câu kệ, đại ý nói 24 giờ khuya đêm 14 rạng rằm tháng Giêng sẽ có Ðế vương xuất thế.

Ông đạo đọc bài kệ 3 lần, đánh 3 hồi cồng, rồi đi về hướng sân bay, nơi nầy hiện là đồng ruộng lúa sau Tòa Thánh. Sân bay nầy của người Pháp lập ra, nhưng rất ít khi máy bay đáp xuống, vì vậy cỏ mọc rất nhiều, nhứt là loại cỏ cần câu.

Ngày 14 tháng Giêng nói trên, tại sân bay qui tụ hằng trăm vị nam nữ Tả đạo để làm lễ mừng Ðế vương xuất thế.

Tại đây, họ cất một lễ đài 9 từng cao độ 40 thước. Ðài cất bằng cây, hai bên đài là hai dãy nhà lá, mỗi dãy độ 5 hay 6 căn, phân ra Nam tả Nữ hữu, dưới chơn đài, họ cho đổ hằng trăm xe rơm để họ tập bay.

Mỗi người sắm một cặp cánh bằng cây và giấy bạch, cánh giống như cánh chim, to cở bằng cái sàng gạo.

Khi muốn bay, họ đút hai cán cánh vào hai ống tre cột sẵn hai bên hông người, và từ trên đài cao, họ phóng mình ra, hai tay nắm hai cánh mà quạt nhanh.

Kết quả 1: Họ không bay được đến đâu cả. Bay làm sao được khi khối thịt nặng 50, 60 ký mà hai cánh thì mỏng manh và dầu cho có quạt nhanh đến đâu cũng không đủ tốc độ để cất mình lên nổi. Rốt cuộc họ bị rơi xuống đống rơm dưới chơn đài, nhờ có rơm xốp nên không bị hại chi về nhơn mạng.

Kết quả 2: Ðế vương xuất hiện đâu chẳng thấy, chỉ thấy lúc 22 giờ, có 3 xe cam nhông lính mã tà chỉ huy bởi một viên đội Pháp đến bao vây sân bay, bắt hết tất cả nam nữ đạo sĩ Tả đạo Bàng môn.

Kết quả 3: Nhà binh Pháp phóng hỏa đốt cả hai dãy nhà, đài bay, luôn 100 xe rơm, ánh lửa sáng rực một góc Trời.

Không biết, chánh quyền Pháp đối xử với nhóm Tả đạo ấy ra sao, mà từ đó ở Tây Ninh không còn thấy họ xuất hiện nữa.

7. Ông Cao Triều Phát, phái Minh Chơn Ðạo:

Ông Cao Triều Phát, tự là Thuận Ðạt, sanh ngày 18-3-Kỷ Sửu (dl 17-4-1889) tại Vĩnh Hinh, làng Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hưng, tỉnh Bạc Liêu. Thân phụ là Cao Minh Thạnh và Thân mẫu là Tào Thị Xúc. Gia đình có 8 anh em: 6 trai và 2 gái, ông Phát thứ 5 và thứ út là Cô Cao Thị Khiết, Cửu Nương DTC.

1910, ông Cao Triều Phát tốt nghiệp Trung học.

1912, học xong hai lớp luật do Tòa Án Sàigòn tổ chức, làm thơ ký phiên dịch tại Tòa Án Bạc Liêu.

1914, đi Pháp làm thông ngôn cho toán lính thợ VN.

1922, trở về VN, hoạt động chánh trị, viết cho tờ báo La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ).

12-11-1926, ông Phát được bầu làm Ðảng trưởng đảng Ðông Dương Lao động, cơ quan ngôn luận của đảng là Nhựt Tân báo.

1930, đắc cử Hội Ðồng Quản Hạt Nam Kỳ.

1932, ông Cao Triều Phát gia nhập phái Minh Chơn Lý.

1939, thành lập Ðoàn Thanh niên Ðạo đức.

15-5-Ất Dậu (dl 24-6-1945), đại hội tại Tam Giáo điện của chi Minh Tân (221 Bến Vân Ðồn Sàigòn) thành lập Cao Ðài Hiệp Nhứt 11 Phái (không có TTTN), ông Phát được bầu làm Chủ tịch.

1941, Tỉnh Ủy Viên Bạc Liêu là Tào Văn Tỵ vận động ông Cao Triều Phát gia nhập Mặt Trận Việt Minh, làm Phó Chủ tịch Ủy Ban Giải phóng dân tộc tỉnh Bạc Liêu.

1945, làm Chủ tịch Ủy Ban giải phóng dân tộc Bạc Liêu.

23-9-1945, quân viễn chinh Pháp trở lại đánh chiếm Sài Gòn. Ðầu năm 1946, quân Pháp chiếm Bạc Liêu, ông Cao Triều Phát rút về Giồng Bướm huyện Giá Rai, lập chiến khu kháng chiến cứu quốc. Tại đây có Tòa Thánh Ngọc Minh của Minh Chơn Ðạo được dùng làm trụ sở Trung ương của Kháng chiến.

15-4-1946, Pháp đem đại quân cùng phi cơ ném bom đánh Giồng Bướm, Tòa Thánh Ngọc Minh bị trúng bom sụp đổ, Cao Triều Phát rút binh về Cái Nước. Khu Bộ trưởng Chiến khu 9 là Vũ Ðức (tức Hoàng Ðình Giong) mời ông Phát về Bộ Chỉ Huy Chiến khu 9.

1948, Hồ Chủ tịch ở Bắc gởi thư khen ngợi ông Cao Triều Phát, đồng thời tặng ảnh và áo để kỷ niệm.

Tháng 12-1946, thành lập Kỳ Bộ Việt Minh Nam Bộ tại chiến khu Ðồng Tháp Mười, do Hà Huy Giáp làm Chủ nhiệm, Cao Triều Phát được bầu làm Chủ nhiệm danh dự Kỳ Bộ.

15-2-1948, tại căn cứ Việt Bắc, Hồ Chủ tịch ký Sắc lịnh số 132/SL cử ông Cao Triều Phát và Nguyễn Bá Sang làm Cố Vấn Ủy Ban Kháng chiến Hành Chánh Nam Bộ.

14-10-1947, ông Cao Triều Phát trên cương vị Chủ tịch Cao Ðài 11 Phái Hiệp Nhứt triệu tập hội nghị đại biểu các Chi phái tại Ðồng Tháp Mười để thành lập Hội Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hợp Nhứt, với Ban Chấp hành gồm:

Chủ tịch: Cao Triều Phát (phái Minh Chơn Ðạo).

Hai Phó Chủ tịch:

- Nguyễn Ngọc Nhựt (Ban Chỉnh đạo)

- Nguyễn Văn Khảm (phái Tiên Thiên).

Tổng Thơ Ký: Phạm Thị Tư (Vạn Quốc Tự)

Ủy Viên Tài Chánh kiêm Thủ Quĩ: Trần Ðại Khái (phái Tây Ninh trung thành).

Ủy Viên Truyền Tin và Giao Thông: Hoàng Minh Viễn (phái Tây Ninh trung thành).

Chủ nhiệm Kỳ Bộ Việt Minh Nam Bộ Hà Huy Giáp tuyên bố thừa nhận Hội Cao Ðài Cứu Quốc là một tổ chức của Kỳ Bộ.

Hội Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hợp Nhứt thành lập Hội Thánh Duy Nhứt, gồm Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài và Cửu Viện.

Hiệp Thiên Ðài gồm 3 vị do quyền Thượng phẩm Cao Huệ Chương (phái Tây Ninh trung thành) làm chưởng quản.

Cửu Trùng Ðài gồm 3 vị do Phối Sư Nguyễn Văn Năm (Minh Chơn Lý) làm chưởng quản.

Cửu Viện gồm 9 vị, mỗi vị coi một viện.

Hội Cao Ðài Cứu Quốc thành lập thêm 2 đoàn thể: - Thanh niên Cao Ðài Cứu quốc, - Phụ nữ Cao Ðài Cứu quốc.

19-10-1948, Ðại Hội Nhơn Sanh Hội Thánh Duy Nhứt bầu hai vị chưởng quản hai Ðài:

Thái Chưởng Pháp Cao Triều Phát (Minh Chơn Ðạo) làm quyền Chưởng quản Cửu Trùng Ðài.

Tiếp Ðạo Phạm Hồng Tiên (Ban Chỉnh Ðạo) làm quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài.

Hiệp định Genève ký kết ngày 21-7-1954, VN tạm phân hai miền Nam Bắc, Cà Mau là một trong những khu vực tập trung cán bộ và bộ đội trong 200 ngày trước khi xuống tàu tập kết ra Bắc.

Ông Cao Triều Phát triệu tập Hội Thánh Duy Nhứt và Hội Cao Ðài Cứu Quốc tại Cà Mau để sắp đặt lại tổ chức:

- Giải thể Hội Thánh Duy Nhứt để các Chi phái tái lập Hội Thánh riêng của phái mình.

- Một số Chức sắc sẽ tập kết ra Bắc, gồm:

Chưởng quản Cao Triều Phát.

Ðầu Sư Nguyễn Hiền Ngô.

Phối Sư Nguyễn Văn Khoan

Giáo Sư Nguyễn Văn Khảm.

Ông Hoàng Minh Viễn, v.v...

Tết Ất Mùi (dl 24-1-1955), tại Thánh Thất Hà Nội (48 phố Hòa Mã, khu phố Hai Bà Trưng) làm lễ ra mắt Hội Thánh Cao Ðài tại Hà Nội mà đứng đầu là Giáo Tông Cao Triều Phát, có đại diện chánh quyền và Mặt trận Liên Việt đến dự.

8-9-1956, ông Cao Triều Phát mất tại Bệnh Viện B303 Hà Nội lúc 2 giờ chiều. Chánh phủ tổ chức lễ tang rất long trọng, thi hài được an táng tại nghĩa trang Nam Kỳ (số 32 đường Nguyễn Công Trứ, Hà Nội).

1983, gia đình bốc mộ, hỏa táng, đem tro hài cốt về Sài Gòn, thờ tại tư gia số 4 đường Ðặng Tất, phường Tân định, Quận 1.

21-5-2000, tiểu sành đựng hài cốt của ông Cao Triều Phát được đưa lên đặt tại Phòng số 2 của Nhà Lưu hài cốt tại nghĩa trang Thành phố. (Viết theo quyển: Cao Triều Phát, Nghĩa khí Nam bộ, của Phan Văn Hoàng, nhà xuất bản Trẻ)

8. Ông Huệ Lương Trần Văn Quế (CQPTGL)

Ông Trần Văn Quế, đạo hiệu Huệ Lương, sanh ngày 7-4-Nhâm Dần (dl 1-11-1902) tại làng Phước long, quận Long Thành, tỉnh Biên Hòa, Thân phụ là Trần Văn Ðược và thân mẫu là Nguyễn Thị Là. Thuở nhỏ, học chữ Hán với Đông y sĩ Trương Văn Thuần. Khi ông Thuần mất thì chuyển qua học Quốc ngữ và tiếng Pháp tại trường Tổng Phước long.

-1919, đậu bằng Tiểu học Pháp-Việt, rồi thi đậu vào trường Sư Phạm Sài Gòn.

-1923, tốt nghiệp trường Sư Phạm, đậu luôn bằng Thành Chung và bằng Trung học Pháp quốc.

-1925, đậu bằng Tú Tài bổn quốc, trúng tuyển vào trường Cao đẳng Sư phạm Ðông dương tại Hà Nội ban Toán Lý Hóa.

- 1928, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, được bổ về trường Pétrus Ký, và dạy học tại đây trong 16 năm liền.

-15-7-Kỷ Tỵ (dl 19-8-1929), nhập môn vào Ðạo Cao Ðài tại Thánh Thất Phú Hội ở quê nhà, thường đến sanh hoạt đạo sự ở Thánh Thất Cầu Kho Sài Gòn.

-1930, lên hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh, được Ơn Trên phong phẩm Giáo Hữu, được cử vào Hội đồng Nghị sự do Ngài Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh chủ tọa.

-1933, hợp với ông Nguyễn Văn Kiên lập Cao Ðài Ðại Ðạo Liên Ðoàn tại Thánh Thất Cầu Kho, ông Kiên làm chủ tịch, ông Quế làm Tổng Thơ Ký. Sau 1 năm làm việc không đem lại kết quả.

-1934, tại Trước Lý Minh Ðài thành lập Liên Hòa Tổng Hội với nhiệm vụ tổ chức 12 kỳ Long Vân Hội để vận động thống nhứt các chi phái, ông Nguyễn Phan Long làm Hội trưởng, ông Quế làm Tổng Thơ Ký.

- 1943, tham gia Liên Ðoàn Ái Quốc hội tranh thủ độc lập cho VN, bị Pháp bắt, kết án 20 năm lưu đày nơi Côn đảo.

- 1945, Chánh phủ Trần Trọng Kim ân xá, ông Quế trở về Sài Gòn, sau đó hoạt động trở lại, làm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành Chánh tỉnh Biên Hòa, chủ tịch là ông Hoàng Minh Châu.

-1949, ông Quế lên Tòa Thánh Tây Ninh, chiêu dụ đạo tâm tại Chiêu Hiền Viện, được Ðức Phạm Hộ Pháp phong chức Khâm Sai Bắc Tông Ðạo, đại diện Tòa Thánh Tây Ninh đi mở đạo tại Bắc Hà.

- 1952, trở về Sài Gòn, hợp tác với quí ông Phan Khắc Sửu và Nguyễn Bửu Tài, lập cơ quan Cao Ðài Qui Nhứt tại Tam Giáo điện Minh Tân, nối tiếp công cuộc vận động liên hòa Chi phái.

- 1953, ông Quế được mời giữ chức: Hội Trưởng Cơ quan Truyền giáo Cao Ðài.

- 1955, tháng 8, ông Quế hướng dẫn Phái đoàn Cơ quan Truyền giáo Cao Ðài đi dự Hội nghị Quốc tế Tôn giáo tại Kyoto Nhựt bổn.

- 1-6-Bính Thân (1956), cơ đạo Trung Việt khánh thành Trung Hưng Bửu Tòa tại Ðà Nẳng, nâng Cơ quan Truyền giáo lên thành Hội Thánh Truyền giáo Trung Việt, ông Quế được Ơn Trên ân ban phẩm Ngọc Phối Sư, làm Chủ trưởng Hội Thánh.

- 1962, tại Minh Tân, ông Quế và ông Chơn Tâm được Ðức Lý chỉ định làm Ðệ nhứt và Ðệ nhị Phó ban Phổ Thông Giáo Lý liên quan hành đạo, mà chính Ðức Lý làm Trưởng ban.

- 1965, Ơn Trên giao cho ông Quế lèo lái Cơ quan Phổ thông Giáo lý Cao Ðài giáo VN trong nhiệm vụ: Tổng Lý Minh Ðạo.

-1973, tại Hội Thánh Truyền giáo Trung Việt, Phối Sư Ngọc Quế Thanh được Ðức Lý thăng lên Chánh Phối Sư.

- 14-10-Canh Thân (dl 21-11-1980), ông Huệ Lương Trần Văn Quế qui vị, được an táng tại nghĩa trang của Thánh Thất Trung Minh thuộc Hội Thánh Truyền giáo Trung Việt.

Chi Phái Toan chiếm Tòa-Thánh

Khi cúng Đàn rằm tháng giêng Giáp-Tuất (1934) xong Hội Thánh được tin đến 21 tháng Giêng sẽ có Chi phái về Tòa Thánh đăng điện, tức là lên ngôi Giáo Tông và sẽ đuổi Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt ra khỏi Tòa Thánh. Đức Hộ Pháp nói: "Xin Anh Cả yên tâm, để mặc em lo liệu". Liền đó Ngài cho thủ bổn Phạm Môn là Nguyễn Văn Gia khẩn cấp kêu hết anh em Chủ sở nơi các sở Phạm Môn phải có mặt tại Tòa Thánh trước 5 giờ ngày 21-01-Giáp Tuất để Ngài dạy việc, mỗi Sở chỉ để lại một người giữ nhà mà thôi. Đúng hẹn, anh em đến đủ mặt tại Hiệp-Thiên-Đài. Đức Ngài giao cho ông Giáo Sư Thượng Minh Thanh trách nhậm điều động thống nhứt; ông liền phân ra giữ các cửa ra vào Nội-ô ở Tòa Thánh.

Đúng 7 giờ sáng ngày 20-01-Giáp Tuất nhóm người Chi Phái kéo về Tòa Thánh rất đông. Vừa đến cửa Hòa Viện thì ngừng lại, rồi phân ra: một nhóm vào cửa số 1, một nhóm vào cửa số 2 cùng đồng xông vào Nội-ô. Những người giữ cửa ngăn lại và nói rằng: "Các Hiền huynh nán đợi chúng tôi báo cáo với Đức Quyền Giáo Tông, chừng nào có lịnh Anh Cả cho phép vào thì chư Hiền huynh vô cũng không muộn". Nhưng họ không chịu chờ đợi và ngang nhiên xông đại vào. Bên trong cố cản lại, khiến kẻ lấn vào người xô ra. Cuộc ồn ào như thế khá lâu đến lúc dùng võ lực để tranh phần thắng và diễn tiến mãi cho đến 9 giờ mới kết thúc. Nhóm Chi Phái thất bại đành thui thủi trở về, trên vẻ mặt mỗi người đầy khí sắc căm hờn giận dữ.

Sau cuộc biến động nầy Đức Quyền Giáo Tông mời anh em Phạm Môn dự buổi tiệc. Đức Ngài nói: "Lúc trước Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn có một phần Chức Sắc lớn trong Hội Thánh đánh đổ, chớ ít ai nhìn nhận là đúng, vì ai nói sao Qua nghe vậy, chớ thật ra Qua cũng không biết Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn có ích lợi gì. Đến hôm nay Qua mới biết, nhờ có mấy em dám hy sinh để bảo tồn nghiệp Đạo. Ngài ngõ ý với Đức Thầy mượn người Phạm Môn để bổ đi các Tỉnh hầu trấn an tinh thần bổn Đạo.

Qua năm Ất Hợi (1935), Đức Hộ Pháp đưa anh em Phạm Môn ra cầu phong. Đức Lý giáng phong cho ông Trịnh Phong Cương làm Giáo Hữu, cùng 27 vị Lễ Sanh phái Thượng, 14 vị đắc Lễ Sanh Giáo Thiện:

Đức Lý cho chung một bài thi tứ tuyệt:

Một trường vinh hiển buổi sau đây,
Danh thể khá tua trả nghĩa Thầy.
Nắm giữ mối giềng nền Đạo cả,
Lão đương lừa lọc trận rồng mây.

11 CHI PHÁI CAO ĐÀI Histoire et Philosophie du Caodaïsme của Gabriel Gobron:

Ngài Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron kể ra 11 Chi phái vào năm 1948 sau đây: (trang 174)

1- Minh Chơn Lý, đứng đầu là ông Nguyễn Văn Ca (Phối Sư Thái Ca Thanh) ở Mỹ Tho.

2- Ban Chỉnh Ðạo, đứng đầu là Ông Nguyễn Ngọc Tương (Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh, đắc phong Quyền Thượng Ðầu Sư) lập Chi phái Bến Tre.

3- Tiên Thiên, đứng đầu là Ông Lê Kim Tỵ ở Phú Nhuận (Gia định), Ông Lê Kim Tỵ tự phong cho mình là Hội Trưởng Cao Ðài Hiệp Nhứt, ông mất tại Hải Phòng năm 1948.

4- Thông Thiên Ðài, đứng đầu là hai Ông Quách Văn Nghĩa và Lê Quang Hộ, ở Gò Công và Sài Gòn.

5- Liên Hòa Tông Phái, đứng đầu là hai Ông Nguyễn Phan Long và Trần Văn Quế, ở Thánh Thất Cầu Kho Sài Gòn.

6- Minh Chơn Ðạo hay Công Ðồng Hội Giáo, đứng đầu là Ông Cao Triều Phát ở Bạc Liêu.

7- Trung Hòa Học Phái, đứng đầu là Bác sĩ Trương Kế An, ở Thủ Dầu Một. Ông có mở phòng mạch tại Thủ Dầu Một.

8- Tây Tông Vô Cực Cung, đứng đầu là Ông Nguyễn Bửu Tài, ở Bến Tre. Ông Tài hiệp nhứt với Tòa Thánh Tây Ninh năm 1948, nhưng sau rồi cũng tách riêng.

9- Tuyệt Cốc, đứng đầu là hai Ông Nhuận và Ruộng, ở Tây Ninh, họ sống ẩn dật, rất ít người biết họ.

10- Chiếu Minh Ðàn, đứng đầu là Ông Tư Huỳnh, ở Cái Khế Cần Thơ, sáng lập là Cố Ðốc phủ Ngô Văn Chiêu.

11- Nữ Trung Hòa Phái, đứng đầu là Bà Ngọc Nhiên Hương và Lê Ngọc Trinh, ở tại Sài Gòn.

Theo tài liệu nầy thì Ông Gabriel Gobron không cho Tòa Thánh Tây Ninh là một Chi phái, vì đây là cái gốc của Ðạo, cái gốc thì sanh ra các nhánh, sanh Chi phái.

 

 

CHÍ

1) CHÍ Rất, lắm, tột bực.
Thí dụ: Chí công, Chí linh.

2) CHÍ 志 Cái ý muốn mạnh mẽ bền bỉ hướng dẫn hành động để đạt mục đích.
Thí dụ: Chí sĩ, Chí tâm.

 

 

CHÍ ANH HÀO

志 英 豪

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Đặng trí thức phải ngừa lòng khách,
Dìu dắt nhau chớ nghịch lòng nhau.
Biết tâm biết chí anh hào,
Nữ tâm làm mảnh nhung bào chở che.

 

 

CHÍ ANH HÙNG

志 英 雄

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Dầu lời thốt dặt dè từ chuyện,
Mượn đoan trang thay miếng đỉnh chung.
Làm cho sấn chí anh hùng,
Non sông trổi bước ngàn trùng gươm đao.

 

 

CHÍ BẤT KHUẤT

志 不 屈

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Thương thay! Chí cả của chư Tiên Vương tuy bị chôn lấp trong thất bại, nhưng hồn nước Việt-Nam nhờ chí cao cả ấy mà tăng phần hiển hách, giữ mãi còn dân khí bất khuất trước sự bất công và sức mạnh."

 

 

CHÍ BỬU

至 寶

Thi văn dạy đạo có câu:

Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.

 

 

CHÍ CHƠN

至 眞
E: Honest truth.
F: La honnête vérité.

(Chí: Rất, lắm, tột bực. Chơn: thật). Chí chơn là rất chơn thật.

Phật Mẫu Chơn Kinh:

"Hiệp qui Tam giáo hữu cầu chí chơn."

 

 

CHÍ CÔNG

至 公
E: Absolute justice.
F: La justice absolue.

(Chí: Rất, lắm, tột bực. Công: công bình). Chí công là rất mực công bình, tức là cái công bình tuyệt đối. Cái công bình nầy không có nơi cõi phàm, vì tất cả mọi thứ ở cõi nầy đều tương đối. Chỉ có Ðức Chí Tôn- Ngọc Hoàng Thượng Ðế mới có được cái công bình tuyệt đối nầy mà thôi. Do đó, Chí Công dùng để chỉ Ðức Chí Tôn.

Chỉ nơi cõi Thiêng Liêng mới công bình tuyệt đối. Chính vì thế, nơi Tòa Thánh Tây Ninh, vừa bước vào cửa có đấp một bàn tay sơn màu trắng nắm cán cân, tượng trưng bàn tay Chí Tôn cầm cân Công bình đo tội phước chúng sanh. Do vậy, Đức Chí Tôn được gọi là Đấng Chí Công. Nơi Thiên đình thi hành pháp luật rất nên công bình.

Nhiệm vụ thứ ba của các Đấng Thiêng Liêng nơi Ngọc Hư Cung là tạo cảnh thái bình thạnh trị ở thế gian.

Kinh Nhập Hội có câu:

"Một nuôi nấng tinh thần tinh khiết,
"Hai dạy răn cho biết tội tình.
"Ba lo trị thế thái bình.
"Cộng chung Pháp luật Thiên Đình chí công."

 

 

CHÍ CỰC CHÍ TÔN

至 極 至 尊
E: Very venerable.
F: Très vénérable.

(Chí: Rất, lắm, tột bực. Cực: cái đầu mối, sự cùng tột. Tôn: kính trọng). Chí cực chí tôn là cao tột bực và được kính trọng tột bực.

Ðây là một câu kinh trong bài Kinh Tiên-giáo, tán tụng công đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân, là Ðấng lớn nhứt, được tôn kính nhứt trong Ðạo Tiên. Có câu:

Đại Thần, Đại Thánh- Chí cực chí tôn,
Tiên Thiên chánh nhứt,
Thái Thượng Đạo Quân- Chưởng giáo Thiên Tôn.

 

 

CHÍ ĐỨC

至 德
E: Highest virtue.
F: La grande vertu.

(Chí là rất, lắm, tột bực. Ðức là đạo đức). Chí đức là lòng đạo đức cao cả

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Tòa Tam Giáo đã xin ngưng phổ độ nơi đây nhiều lần, song Thầy thấy lòng chí đức của các con mà chẳng nỡ.

 

 

CHÍ HIẾU

至 孝
F: Très pieux.

(Chí là rất mực. Hiếu là tấm lòng thảo ngay của con).

Tiên Nho chúng ta đã nói: "Vua Nghiêu tìm ông Thuấn đặng truyền ngôi, chẳng vì lẽ gì hơn là nghe danh ông Thuấn chí hiếu, mà một khi ta được chí hiếu rồi thì không gì sánh bằng. Có HIẾU rồi mới có Nghĩa, có Trung, có Cang, có Trí; nghĩa là hễ có Hiếu rồi thì có thể có đủ hết tính đức khác".

 

 

CHÍ KHÍ

志 氣
F: Caractère, volonté.

Đức Hộ-Pháp nói: "Cuộc tranh đấu của Cao Đài hôm nay chẳng khác nào như áo vá quàng, thật ra khi Ngài về được nước nhà chính mình Đức Thượng Hoàng Thành Thái và Tôi có gặp mặt nhau một phen ở Saigon, Tôi còn nhớ một cái chí khí già rồi mà vẫn còn mãi mãi, khi đàm đạo với nhau, luận về tương lai của Tổ Quốc nòi giống, khi hai Tôi lìa nhau, rồi Ngài đưa ra ngoài cửa, đi nửa đường ra cửa Đức Thượng Hoàng day lại nói với Tôi một cách quả quyết cứng cỏi rằng: Ngài đừng tưởng Tôi già mà Ngài bỏ, Ngài cho Tôi con ngựa cây gươm Tôi chiến Ngài coi. Dẫu cho một vị anh hùng hay anh quân cũng thế, tuổi đã già mà chí khí vẫn còn mãi chẳng hề khi nào thay đổi, có một điều ân hận hơn hết là tại sao đã gọi nước Việt Nam độc lập mà khi Đức Thượng Hoàng Thành Thái trở về, thiên hạ không cho Ngài trở về cũng cho đến nước chính mình Bần Đạo phải làm tờ xin cho Ngài về đặng tạm cầm quyền hành trở lại nhưng nghĩ cũng chưa có một quyền hành gì và cho đến khi Ngài chết mới đem về được."

 

 

CHÍ LINH

至 靈
F: Très sacré.

(Chí 至: đến, rất. Linh 靈 huyền diệu, linh hiển). Chí linh là phần rất linh diệu, nhiệm mầu đó là Đấng Thượng Đế. Ngày nay người Cao Đài xưng tụng Ngài là Đấng Chí-Tôn, là Đại Từ Phụ, là Đấng Cao Đài.

Đức Hộ-Pháp thuyết: Trí Huệ Cung, 26-12-Canh Dần (1950)

"Trí Huệ Cung là một cơ quan tận độ chúng sanh đã xuất hiện nơi cửa Đạo Cao Đài nầy. Bần Đạo nói rằng: nó không phải của ta, của đặc biệt của chúng ta, mà nó là của toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy; bởi nó tượng trưng hình ảnh Chí Linh Đức Chí Tôn nơi thế nầy, mà hễ tượng trưng hình ảnh Chí Linh tức nhiên không có quyền nào nắm nó được, vì nó là của đặc biệt của toàn thể nhơn loại, tức nhiên toàn thể con cái Đức Chí Tôn. Nó không có phép phân biệt đảng phái, Tôn giáo hay nòi giống nơi mặt địa cầu nầy".

Thi văn dạy Đạo có câu:

Nên hư cuộc thế gẫm thường tình,
Ðừng mỗi muôn điều đổ Chí linh.
Lành dữ nơi mình chiêu phước họa,
Thành tâm ắt thấy hết thần minh.

 

 

CHÍ ÔN NHU

志 溫 柔

Đức Thượng Tôn Quản Thế gởi cấp chỉ huy và chiến sĩ Cao Đài Xuân giáp ngọ (1954): "Chí ôn nhu của các con là khí cụ tinh anh, còn lòng Đạo đức của các con là lũy đồn kiên cố".

 

 

CHÍ PHÀM

志 凡
E: Profane will.
F: La volonté profane.

Chí phàm là cái ý chí thấp kém của người phàm. (Chí: Cái ý muốn mạnh mẽ bền bỉ hướng dẫn hành động để đạt mục đích. Phàm: thấp kém, chỉ con người nơi cõi trần). Cũng hiểu là quá phàm tục, quá tầm thường.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Nền Ðạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý cao sâu.

 

 

CHÍ QUYẾT

志 厥

Thi văn dạy Đạo có câu:

Vương hầu lê thứ, ai là chí,
Chí quyết làm cho thế khác thường.

 

 

CHÍ QUYẾT THẮNG

志 厥 勝

Đức Tôn Sơn giáng ngày 23-9-1934 nói về ý chí quyết thắng: "Một quốc gia nào dù cường liệt bao nhiêu mà đoạt đặng trọn vẹn phương hay, thâu toàn thiên hạ đi nữa thì cũng chưa chắc rằng xã hội ấy dầu sinh đủ ý chí quyết thắng, mà nhứt là nền chánh trị quốc dân ấy đã tỏ ra rằng không cung kính tín ngưỡng các sắc dân khác thì đủ bằng cớ quả quyết rằng: sắc dân ấy chẳng hiểu chí khí quyết thắng là gì? Nếu đem cả tinh thần khí cụ buộc kẻ khác phải dâng mình nơi vòng nô lệ đi nữa là vì quyền lộc, công danh theo bề sanh hoạt, thì chẳng khác nào kẻ đói sợ mất cơm nên liều mạng tranh giành cho khỏi chết, chớ nói cao kiến chẳng có mãi mai nào, lại còn giục cho những người chịu cương quyền áp bức sanh ra đặng chí phản kháng quyết thắng. Vậy thì nước nào may duyên đã đặng hưởng mùi tín ngưỡng, nghĩa là đặng một nền Tôn giáo lập thành, thì chí khí quyết thắng cũng thêm dữ dội. Ấy vậy quốc dân Nam có ngày quyết thắng đặng. Cười… xin chư vị đừng lo cường quyền. Càng áp bức thì chí quyết thắng lại càng nhiều có ý chí quyết thắng rồi mới có anh hùng hào kiệt".

 

 

CHÍ SĨ

志 士
E: Man of will.
F: Homme de volonté.

(Chí: Cái ý muốn mạnh-mẽ bền-bĩ, hướng dẫn hành động để đạt đến mục đích. : người học trò, người trí thức). Chí sĩ là người trí thức có ý chí cao cả.

Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước nói nơi Đền Báo Quốc-Từ này "Những kẻ chí sĩ lãnh trách nhiệm nghiêng vai gánh vác cả non sông, đều làm phận sự, công nghiệp nhiều ít ấy, tính lời vốn với Toà Thiêng Liêng, hoặc ghi tên tuổi vào Thanh sử thiên niên chớ chẳng phải để kể công trình với Chúa tể ấy. Nhưng cái khó mình lướt qua đặng mới có công, mới anh hùng, mới chí sĩ, mới đáng đạo sĩ".

 

 

CHÍ TÂM QUI MẠNG LỄ

志 心 皈 命 禮

(Chí là cái ý muốn mạnh mẽ bền bĩ hướng dẫn hành động để đạt đến mục đích. Tâm là lòng. Qui là đem mình về, nương theo. Mạng là mệnh lệnh. Lễ: là cúng lạy). Chí tâm qui mạng lễ là cúng lạy với tất cả ý chí và tấm lòng, đem mình về vâng chịu nương theo pháp Đạo.

Trong Tứ thời Nhựt Tụng, chỉ có ba bài Kinh Tam giáo là có câu "Chí tâm qui mạng lễ", như: Thích giáo (Nhiên Đăng Cổ Phật chí tâm qui mạng lễ). Tiên giáo (Thái Thượng chí tâm qui mạng lễ). Nho giáo (Khổng Thánh chí tâm qui mạng lễ). Đó là sự cúng lạy các Đấng Giáo chủ với tất cả ý chí và lòng thành, đem mình về vâng chịu nghe theo trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ Tam giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt của Ðức Chí Tôn.

 

 

CHÍ THÁNH

至 聖
F: Très saint.

(Chí 至 là rất mực, cao thượng; Thánh 聖 là bậc tu cao, đắc vào hàng Thánh). Chí Thánh 至 聖 là rất Thánh thiện.

Ấy là người biết nghe lời lành, nói phải, sửa ngay, là đứng vào hàng Thánh, tức "Tri Hành hiệp nhứt".

Nay, "Về việc Cơ Bút thì Đức Chí-Tôn lại có nói: Dầu bực Chí Thánh hạ trần mà Thiên thơ chẳng tiền định chấp Cơ cho Thầy, thì Thầy cũng chẳng giáng".

Đức Lý nói về địa thế cất Tòa Thánh: "Tỷ như Lão muốn lập Tòa Thánh gần bên thành binh, chư Hiền Hữu tưởng sao? -Trung bạch: Có hai làng cúng đất. - Mua thì đặng, khó gì! Một nơi chí Thánh trước mắt mà chư Hiền Hữu chẳng biết xem, ấy cũng còn hai phần phàm. Thái Thơ Thanh! Lão cậy Hiền Hữu một phen nữa, mai nầy đi lên đường trên gọi là đường dây thép, nhắm địa thế dài theo cho tới ngã ba Ao Hồ, coi Hiền Hữu thấy đặng chăng cho biết. Lão đã nói rằng: Mỗi sự chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết. Chư Hiền Hữu đừng sợ ai hết, hễ sợ thì chối quyền Thiêng Liêng của Chí Tôn thì còn gì Đạo! nghe à!" (Đạo-Sử. II./ 224)

Đức Hộ-Pháp nói về con người: "Chúng ta thử hỏi, một người tượng trưng tinh thần của một dân tộc, tinh thần đạo đức cho nước Việt Nam đã có sứ mạng đem tinh thần đạo-đức ấy cứu khổ cho thiên hạ, sửa lại cái hành tàng hung ác của người đời cho thành giọt nước Thiêng liêng của Đức Chí Tôn, nước Thiêng liêng đạo-đức của Ngài gội rửa con đường Thánh Đức cho sạch sẽ đừng cho nhơ bẩn, ấy là nước Chí Thánh của Ngài, cầm giọt Cam Lồ đem rưới khắp toàn thể con cái của Ngài tức là cả chúng sanh nơi mặt địa cầu nầy, người ấy còn phải làm thế nào hơn?".

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Khá tỉnh thức tiền-duyên nhớ lại,
"Đoạn cho rồi oan-trái buổi sanh.
"Đem mình nương bóng Chí-Linh,
"Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa."

 

 

CHÍ THÀNH

至 誠
E: Very sincere.
F: Très sincère.

(Chí: Rất, lắm, tột bực. Thành: thật) Lòng thành thật đến cực điểm. Chữ Thành 誠 có bộ ngôn 言 là lời nói, thêm chữ thành 成 là nên, tất nhiên thời kỳ khai phá đã qua, nay đến thời kỳ xây dựng thì sự nên của đạo pháp là phải dùng lời nói để Phổ độ chúng sanh). Chí thành là lòng rất thành thật mà lo phổ độ "Chí thành là mỗi việc lấy lòng thành thật mà đối đãi trong đời và trong Đạo. Dù kẻ phú quí đến bực nào đi nữa mà không có lòng Bác ái và Chí thành thì không làm chi nên việc".

Đức Chí Tôn giảng về Đức Chí Thành: "Đức Chí Thành là tánh chất thành thật chơn chánh mà mọi người cần phải có, hầu để đối đãi nhau cho ngay thẳng, thật thà trong đường Đời hay là đường Đạo. Đức Chí Thành là gốc năm thường và nguồn trăm nết. Có Chí Thành thì Đạo hạnh con người mới đặng rỡ-ràng sáng tỏ; không Chí Thành thì Đạo-hạnh con người phải bị tà khuất tối tăm. Cho nên con người ở đời mà không un-đúc đặng một khối Chí Thành là gốc rễ thì mong chi đến việc trau giồi đức hạnh là nhành lá vậy. Đức Chí Thành cũng như một khối vàng, dùng nó mà chế ra lắm đồ trang sức tốt xinh cao giá. Chí khối vàng ấy phải pha, phải trộn thì mất nguyên chất tự nhiên, rồi bảo sao những đồ trang sức làm ra không phải xấu hèn, thấp giá".

Mạnh Tử 孟子 nói về đức Chí thành: Thành thực là cái Đạo của Trời, luyện tập để nên thành thực là cái Đạo của người. Hễ Chí thành mà không cảm được thiên hạ, thì chưa hề có; không thành thực thì chẳng cảm động được ai cả. "Thành giả, thiên chi Đạo dã, tư thành giả, nhân chi Đạo dã. Chí thành nhi bất động giả, vị chi hữu dã; bất thành vị hữu năng động giả dã" 誠者, 天之道也,思誠者, 人之道也,至誠而不動者, 未之有也,不誠未有能動者 也.

Người có lòng chí thành là người có thái độ rất nghiêm cẩn, thành thật, không dối mình dối người. Điều gì mình không biết thì nhận rằng không biết: "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã" 知之為知之, 不知為不知, 是知也. Người chí thành luôn luôn phải sửa mình, không bỏ một giờ phút nào, lúc nào cũng lo sợ có điều dở mà không sửa đổi, làm việc công khai, không lén lút, không mờ ám.

Khổng Tử là người rất chí thành, lúc nào Ngài cũng giữ lễ: Vật không phải lễ thì không nhìn, việc phi lễ thì không nghe, Điều không phải lễ là không nói, việc không phải thì không làm "Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động 非禮勿視, 非禮勿聽, 非 禮勿言, 非禮勿動. Có câu "Chí Thành thông Thánh".

 

 

CHÍ THIỆN (1)

至善
F: Bien suprême.

(Chí là đến, là rất mực; Thiện là lành). Chí thiện là rất mực hiền lành, đạo đức và trung hậu.

"Phàm vạn vật hữu hình tại thế, đều sanh nơi nguyên do chí thiện của cơ tạo-đoan gầy dựng và luật thiên nhiên buộc phải tăng tiến trong đường chí thiện ấy cho đến cuối cùng".

 

 

CHÍ THIỆN (2) (Phẩm)

至 善
E: Perfect.
F: Parfait.

(Chí là rất; thiện là lành. Chí Thiện có hai nghĩa:

1-Chí thiện là rất lành, rất tốt, người có tinh thần đạo đức cao thượng, đáng tôn trọng, đáng quí.

2- Chí Thiện còn là một phẩm Chức sắc của Cơ Quan Phước-Thiện, trên phẩm Giáo Thiện, dưới Ðạo Nhơn, vào hàng Thập Nhị Đẳng cấp Thiêng liêng, đối phẩm Giáo Hữu bên Cửu-Trùng-Đài. Người đến phẩm Chí Thiện cũng phải nâng mình lên hàng rất lành mới đúng nghĩa của phẩm tước Thiên ban.

Ðạo phục của Chí Thiện: Khi đi chầu lễ Ðức Chí Tôn tại Tòa Thánh hay Thánh Thất, Chí Thiện mặc áo tràng trắng, choàng qua vai một Dây Sắc lịnh màu xanh, bỏ mối qua phía hông mặt (Thể Ðạo), trên Dây Sắc lịnh có gắn Khuê bài theo hàng phẩm, chữ "CHÍ THIỆN", đầu đội khăn đóng đen 7 lớp chữ Nhơn.人.

Đây là lời của Ngài Khai Pháp nói về trọng trách của phẩm Chí Thiện khi ông được lịnh của Đức Hộ Pháp trả lời việc cầu xin thăng phẩm của ông Võ văn Đợi.

"Kính cùng ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi: Tiếp thơ hồi âm của Hiền Hữu theo thơ số 219 của Bần Tăng đề ngày 17-11-Mậu Dần. Bần Tăng đắc lịnh của Đức Hộ Pháp để trả lời cho Hiền Hữu rõ về lẽ thăng phẩm Chí Thiện cho Hiền Hữu và giải rành rẽ vì cớ nào mà người chưa muốn để cho Hiền Hữu thọ lãnh tân phẩm Chí Thiện? Vốn Thập Nhị Đẳng cấp Thiêng liêng là chơn tướng bí truyền của Đạo, mỗi bậc thăng là một cơ quan giải khổ về phần hữu vi, hình thể của chúng sanh. Kể từ bậc Giáo Thiện đổ xuống, trách nhiệm đã nặng oằn khó khăn dường nào, thử nghĩ từ bậc Thính Thiện mà lần leo đến Giáo Thiện thì ôi thôi! Thật là tân khổ trăm bề. Hiện thời chúng sanh còn khổ thì lẽ cố nhiên, Hiền Hữu phải còn chịu nhọc nhằn, mà cái khổ ấy chúng ta đã thấy trước mắt dẫy đầy không còn ai chối cãi đặng. Hiền Hữu chẳng lẽ ngơ tai nhắm mắt mà đi ngang qua cái khổ cảnh của chúng sanh cho đặng. Huống chi bậc phẩm Chí-Thiện lại còn khó khăn phận sự hơn bội phần. Đức Hộ Pháp vì lòng yêu đương Hiền Hữu, không nỡ để chồng chất sự khó khăn thêm cho nặng oằn hai vai Hiền Hữu, sợ nỗi nặng gánh đổ nhiều, nên mới duy trì, không cho thăng vị Chí Thiện là vậy đó." (Khai-Pháp)

Qua Thánh ý nầy, hiểu được rằng: Đức Hộ Pháp đã tiên liệu về sứ mạng đi đến con đường Tu Chơn của ông Đợi, nên cố ý duy trì không thăng phẩm Chí Thiện là do đó.

 

 

CHÍ TÔN

至 尊
E: The Supreme, The Most High.
F: Le Suprême, Le Très Haut.

(Chí: Rất, lắm, tột bực. Tôn: kính). Chí Tôn là bậc đáng kính trọng đến tột bực, bậc phẩm cao tuyệt. Đức Chí Tôn: Hán-văn viết Ngọc-Hoàng Thượng Đế, người Việt Nam thường gọi là Ông Trời, Âu Mỹ gọi là Dieu, dân cổ Do-Thái (Hebreux) gọi Jéhovah,là Đấng Tạo-Đoan cả Càn Khôn Vũ-Trụ, làm chủ phần Dương, là Ngôi Thứ Nhứt (Premier Logos), Chúa Tể cả muôn loài vạn-vật. Quyền hành Đức Chí-Tôn đã tả trong bài "Ngọc Hoàng Kinh".

Ðức Chí Tôn hay Ðấng Chí Tôn là Ðấng được tôn kính nhứt trong Càn Khôn Vũ Trụ, là Ðấng lớn nhứt và cao cả nhứt. Ðấng ấy là Ngọc Hoàng Thượng Ðế, là vua của Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần, là chủ của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Ngày nay, Ðấng ấy giáng cơ lập Ðại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, lấy danh hiệu là "Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát", gọi tắt là Cao Ðài, dạy đạo đức cho nhơn sanh nước Việt-Nam trước hết để làm khởi điểm, xưng mình là Thầy và gọi các tín đồ là Môn đệ.

Ngày 05-8-Bính Dần (Samedi 11 Septembre 1926)

Thầy dạy: "Các con nghe. Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát, hai phẩm chót của Tiên, Phật. Ðáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao tối trọng; còn Thầy thì khiêm nhường là thế nào? Vì vậy mà nhiều kẻ môn đệ cho Thầy là nhỏ... Cười...Hạnh khiêm nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi thiên hạ đặng. Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói, buổi lập Thánh Ðạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu đến nhọc công Thầy. Ấy vậy các con rán độ kẻ tội lỗi, là công lớn làm cho Thầy vui lòng hơn hết".

"Rất đỗi Thầy là bậc Chí Tôn đây mà còn bị chúng nó mưu lén cho qua Thánh ý Thầy thay"....

Đêm 24 tháng 11 năm Mậu Tý (dl: 24-12-1948)

nhân ngày Vía Đức Chúa Jésus Christ Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Ðền Thánh cũng gọi Ngài là Chí-Tôn: "1948 năm trước, lúc nầy có một vị Chí Tôn giáng trần giáo Ðạo tại Tây Phương, vị Chí Tôn an bang tế thế mang xác phàm lập giáo để lại một nền văn minh vĩ đại cho nhơn loại, tính ra được 1948 năm".

Kinh Phật-Mẫu có câu:

"Chí Tôn Đại-xá nhứt trường qui nguyên"

"Vì chữ Đại-xá nên Ðạo Cao Ðài gọi là 3è Amnistie de Dieu en Orient. Chí Tôn ân xá tội tình đem cả con cái về hiệp một cùng Ngài".

 

 

CHÍ TÔN CAO ĐÀI

至 尊 高 臺

(Chí Tôn là bậc rất tôn quí, chỉ Đức Thượng Đế. Cao Đài là danh xưng của Đức Ngài trong buổi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này. Đồng thời Cao-Đài cũng là nơi ngự của Thượng Đế nữa. Ấy là một cái Đài cao ở Linh Tiêu Điện, Ngọc Hư Cung, là nơi ngự của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đức Chí Tôn ban cho bài thi để giải thích hai chữ Cao Đài như sau:

 

Linh Tiêu nhứt tháp thị Cao Đài
Đại hội quần Tiên thử ngọc giai.
Vạn trượng hào quang tùng thử xuất
Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.

 

靈 霄 一 塔 是 高 臺
大 會 群 仙 此 玉 階
萬 丈 毫 光 從 此 出
古 名 寶 境 樂 天 台

Nghĩa là

 

Linh Tiêu Điện có một tháp gọi Cao Đài.
Đại hội các Tiên họp tại nơi bệ ngọc nầy.
Muôn trượng hào quang từ nơi ấy mà chiếu ra.
Tên khi xưa, cảnh báu đó gọi Lạc Thiên Thai.

Trong buổi Kỳ ba Đại Ân Xá, Đức Chí-Tôn mở ra một nền Tân giáo Cao Đài, Đức Ngài lập một Tòa Bạch Ngọc Kinh tại thế làm Tòa ngự của Đức Ngài. Ấy là điển hình cho nhân loại thấy được Đấng Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế đang ngự trên Cao Đài như nơi Ngọc Hư Cung vậy. Ngài chan rưới ân huệ to lớn xuống cho dân chúng chung hưởng để cùng gìn giữ biên cương chặt chẽ.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu

"Kìa Chí Tôn Cao-Đài đương ngự,
"Rưới hồng ân chặt giữ biên cương."

 

 

CHÍ-TÔN PHẬT TỔ

至 尊 佛 祖

Chùa Giác Hải: 21-9-1926 (âl 15-8-Bính Dần)

Đức Thích Ca dạy: Như Nhãn, con nghe Thầy:

"Khi giáng trần Chí Tôn Phật Tổ, Thầy duy đặng có bốn môn đệ, chúng nó đều chối Thầy. Khi giáng lập đạo Tiên, Thầy có một trò là Nguơn Thỉ. Khi lập đạo Thánh thì đặng mười hai môn đệ, song đến khi bị bắt và hành hình thì chúng nó đều trốn hết, lại còn bán xác Thầy nữa.

Còn nay, Thầy đã sắm sẵn môn đệ cho con cũng đã nhiều, con đừng thối chí. Thầy thường than rằng: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh, nên Thầy nôn nóng nhưng Thiên cơ chẳng nghịch đặng. Ma quỉ hằng phá Chánh mà giữ Tà, chư Tiên Phật trước chưa hề tránh khỏi."

 

 

CHIA PHE PHÂN PHÁI

(Chia phe là phân làm nhiều phe nhóm, có ý chống đối nhau, tạo sự chia rẻ, mất đoàn kết; phân phái là cũng một hình thức bất phục tùng cấp lãnh đạo mà đứng ra tạo một tôn giáo riêng mà tín ngưỡng). Đây là buổi tiền khai Đại-Đạo mà Thầy có những lời răn, ngừa trước như vậy, để lưu ý những việc làm nghịch như thế sẽ là "Một đại tội trước mắt Thầy".Thế mà vẫn không lay chuyển lòng người luôn rẻ chia. Sau rốt Chi phái mọc lên cùng khắp rồi gán cho là ý của Thầy muốn lập ra nên tạo con số 12 Chi Chi phái. Vậy có phải chỉ mới "Tựa hồ"mà đã là "Một đại tội" không? Khi chia thật thì Tội đến dường nào?

Thứ Bảy, 18-9-1926 (âl 12-8-Bính Dần)

Thánh ngôn rằng: …"Thầy phải buộc các con hiệp chung trí mà lo vào đó, nghe à! Từ đây, các con sẽ cực nhọc hơn, vì Thầy phân phát phận sự cho mỗi đứa; vì chẳng vậy, các con sanh nạnh nhau, tựa hồ chia phe phân phái, là điều đại tội trước mắt Thầy vậy, nghe à! Các con phải ngưng mọi việc mà chung lo trong Ðại Hội."

Ngày 29-10-1926 (âl 23-9-Bính Dần)

"Thầy nói với Ð. Q..(Ngài Trần Ðạo Quang, Quyền Thượng Chưởng Pháp):

(Ð Q. thượng sớ). Cười..ÐQ.. cả môn đệ Thầy duy có biết một chớ không biết hai. Kẻ nào cưu tâm chia phe phân phái là đứa thù nghịch của Thầy. Con hiểu à!

Con biết rằng, Thầy hằng dặn cả Môn đệ, nhứt nhứt sự chi cũng phải đợi lịnh Thầy.

 

 

CHIA PHÔI

Ông Quí Cao giáng hoà nguyên vận bài thi của Bà Bát Nương Hớn-Liên-Bạch:

Ình-ình trống giục thảm Trường-đình,
Đau nỗi chia phôi một chữ tình,
Hồng-nhạn đưa tin trông vắng dạng.
Phụng lầu gác quyển đợi hòa thinh.

 

 

CHÌA KHÓA

"Thầy đã dạy: Thầy chỉ một lòng mơ-ước cho các con biết Thương-yêu nhau trong Thánh đức của Thầy, sự Thương-yêu là chìa khóa mở cửa Tam-Thập-lục-thiên, Cực-lạc thế-giới và Bạch-Ngọc-kinh. Kẻ nào ghét sự Thương-yêu thì chẳng hề qua khỏi cửa luân-hồi".

Có câu này nữa: "Mọi sự khó-khăn Thầy gánh vác, chỉ cậy các con Thương-yêu gắng công độ rỗi". (TNII/42)

Đức Hộ-Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh, đêm 26 tháng 05 năm Kỷ Sửu (dl: 22-06-1949) như sau:

"Kể từ hôm nay Bần Đạo giảng tiếp Thể Pháp và Bí Pháp của Thiên Đạo. Trước khi Bần Đạo giảng một cái triết lý trọng yếu ấy Bần Đạo muốn cho cả thảy chúng ta mỗi người đều để tinh thần trí não của mình tự xét lại coi đương nhiên chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào? Chúng ta làm gì nơi cõi thế này? Cái lập trường của kiếp sống ta đối với vạn vật hữu hình mà Đức Chí Tôn gọi là Vạn linh ấy thế nào? Mỗi người tự soát; tự soát đặng mới có thể hiểu đặng huyền vi bí mật của Thể-Pháp và Bí Pháp của Thiên Đạo, ấy là cái chìa khóa của chúng ta mỗi đứa mở lấy cái nguyên linh của chúng ta vậy".

 

 

CHÍCH

Chiếc, chỉ còn một.

Thí dụ: Chích cánh, Chích lẻ.

 

 

CHÍCH CÁNH

E: To break one wing.
F: Briser une aile.

(Chích: Chiếc, chỉ còn một. Cánh: cái cánh của con chim để bay). Chích cánh là gãy mất một cánh, chỉ còn một cánh. Nghĩa bóng nói về đôi vợ chồng được ví như: chim liền cánh, cây liền cành. Nay một người đã chết thì giống như là chim chích cánh, lẻ đôi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Chích cánh riêng vui con hạc lánh.

 

 

CHÍCH LẺ

E: Solitary.
F: Solitaire.

Chích: Chiếc, chỉ còn một. Lẻ: lẻ loi, chỉ có một mình. Chích lẻ là ý nói vợ chồng mà một người đã chết, chỉ còn lại một người lẻ loi trơ trọi.

Tân Luật - Thế Luật:

Rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối.

 

 

CHIẾC XA THƠ

Đức Hộ-Pháp nói: "Đại-Từ-Phụ có tiên-tri trước: Liên tiếp Đạo Cao-Đài còn có bổn-phận… Giờ phút này nó đến! Mà tuổi tác Bần-Đạo đã già, lại thân cô lẻ, sức yêú, hơi đã mòn, Đức Chí-Tôn ra lịnh "chiếc Xa thơ" đến ngày trổi bánh. Bần Đạo có bổn-phận công dân, mà trái ngược lại Đại-Từ-Phụ giao phải đẩy chiếc xa thơ mà còn phải "cậm cây cờ cứu khổ" trên "xa thơ" ấy, đi đôi một công hai việc, mới nghĩ sao đây? Vậy Hội-Thánh và các Bạn có thi-ân tiếp sức với Bần-Đạo phần nào không?

Có một vị thưa: -Bạch Ngài, có điều chi Ngài ra lịnh chúng tôi cũng phải giúp tiếp phần nào với Ngài, chớ có lẽ đâu dám ngó lơ!

Đức Ngài cười và nói: Hội-Thánh hứa thì không nên thất tín nghe! Nói thì nói, chớ đến khi Bần-Đạo ra lịnh đòi phen, chẳng thấy ai ngó-ngàng đến..Chừng "xa thơ" nó quạt cánh, "cây cờ cứu khổ" nó vung phát mạnh quá, cả thảy Chức-Sắc lưỡng-đài không ai dám lại gần mà đẩy.

Bần-Đạo dám quả-quyết: gió giông giục mạnh, nó quay quá mạnh không ai dám đẩy mà chớ! Khi Bần-Đạo ra lịnh lần chót cả đạo-hữu nam nữ, đám nhỏ út xung phong vào áp đẩy, chớ không biết phải quấy vào đâu hết. Cứ đẩy, đẩy mãi toát mồ hôi; đã cực khổ như vậy mà anh chị "bự" của nó còn ghét bỏ nó, lấy gậy móc: móc cổ, móc giò nó, mắng nhiếc nó nữa mà chớ, còn thêm moi móc cho người ngoài xài-xể, xúi giục đánh đập chúng nó mà cũng chưa vừa. Vậy mà chúng cứ lầm-lũi đến sau nên phận."

 

 

CHIÊM BÁI

怗 拜
F: Adorer, vísiter.

Khi Đức Hộ-Pháp trấn Thần Đền Thánh vào ngày 6 tháng giêng Đinh-Hợi (dl 27-1-1947), lúc trấn Thần đến hai bức tượng này, Ngài giải thích: "Nhị vị ngự thường xuyên trước Đền Thánh để tiếp rước nhơn sanh tiến bước vào đường Chánh giáo, năng lo dìu dắt con cái Chí-Tôn mỗi khi vào Cầu nguyện và chiêm bái Đức Chí-Tôn".

 

 

CHIÊM NGHIỆM

占 驗
E: To experiment.
F: Expérimenter.

Chiêm: xem xét. Nghiệm: có bằng cớ chứng thực. Chiêm nghiệm là xem xét suy nghĩ để hiểu rõ những điều bí ẩn bên trong bằng sự từng trải và kinh nghiệm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Vậy nên nhớ mấy lời Thầy, chẳng phải đọc sơ qua mà coi làm chơi, cần chiêm nghiệm kỹ lưỡng mà hiểu nghe.

 

 

CHIÊM NGƯỠNG

瞻 仰
E: To contemplate.
F: Contempler.

Chiêm: ngẩng mặt lên trông. Ngưỡng: kính mến. Chiêm ngưỡng là ngẩng mặt trông lên người trên với lòng kính mến.

 

 

CHIẾN SĨ PHÁP HỒI

Còn gọi là Lính Pháp hồi: tức là những Tín đồ Cao Đài vâng lịnh Hội Thánh tùng chinh làm lính công binh giúp Pháp khi nước Pháp bị quân Đức xâm lăng, để đáp ân nhà cầm quyền Pháp cho Tôn giáo Cao Đài được tự do truyền bá trên toàn cõi Đông Dương (có một số được đưa qua đảo Madagascar)

Trích dẫn: "Phối Sư cố vấn truyền ngôn lại chiến sĩ Pháp hồi khi đặng lịnh Đức Chưởng Đạo đi dự chiến nước Pháp thì tình nguyện hy-sinh cùng Ngài, nên Ngài hứa trước nếu còn sống trở về thì đặng ân tứ vào phẩm Lễ Sanh, còn chết thì về Thánh Tử Đạo, Bần Đạo phải tuân lịnh ấy thi hành. Còn về các chiến sĩ Cách mạng nơi Việt Nam, Bần Đạo chưa hề đặng lịnh chi hết nên không quyết định đặng. Phối Sư nên nói cho Trí (Vệ úy Nguyễn Hùng Trí, Thánh Vệ) biết rằng: không phải vì nó kháng chiến với Pháp mà Pháp đem Bần Đạo trả về, nên nói rõ cho cả thảy mấy đứa quân sĩ hiểu sự thật điều lầm của chúng".

(Lời phê của Đức Hộ Pháp. Trang 50)

Trường hợp khác: "Tư cho Bộ Pháp Chánh minh tra coi tại ai và do nơi đâu mà mấy vị chiến sĩ Pháp hồi mới nhập môn theo Đạo ở Pháp với Đại Tá Kiết mà thôi (Nguyễn Văn Kiết, giáo viên Đạo Đức Học Đường buổi đầu tiên), chớ không phải là người tình nguyện vì Đạo mà đặng cầu thăng vào phẩm Lễ Sanh, phẩm ấy vốn là một đặc ân ban cho người Đạo, vì Đạo tình nguyện hy-sinh chớ không phải để cho toàn những lính Pháp hồi" (Lời phê Đức Hộ Pháp trg 95)

Đức Lý Giáo-Tông giáng dạy: "Về những chiến sĩ Pháp hồi, lấy lẽ thì họ đã vào bực Lễ Sanh rồi, không cần ai công nhận nữa, nhưng hành pháp như Hiền Hữu là chánh đáng và danh dự cho họ. Cười, Cuộc dinh hư tiêu trưởng của thế gian là vậy đó, Hiền Hữu đã thấy chưa? Cuộc tấn hóa theo Pháp Luân Thường Chuyển của nhơn loại còn dài, không bờ không bến. Từ đây nòi giống Việt Thường cũng phải đồng đường cùng thiên hạ. Ta sẽ có dịp cười cùng nhau nơi cõi Thiêng liêng hằng sống.

À, mà chưa chắc cả các em nam nữ của chúng ta nó có biết thiệt phận tương lai của chúng sẽ ra thế nào chưa há? Cười...

Mời Thượng Vinh Thanh nhập nội.

Giáo Sư Thượng Vinh Thanh vào quì.

- Lão chào đó. Hiền Hữu làm ơn nói lại cho quân sĩ hay rằng: Lão để lời chào chúng nó. Nên nhắc thường rằng: Lão hằng ở bên cạnh chúng nó lo bảo mạng, nhưng tiếc có một điều là phần nhiều tánh tình háo thắng và ác hành. Lão lấy làm buồn quá lẽ! Nên nhắc chúng nó rằng: công nghiệp của chúng nó cốt để mua chuộc thiêng liêng vị chớ chẳng phải là món hàng chốn A-Tỳ. Nhớ thêm rằng: danh dự ấy làm nên cho quốc thể Việt Nam đời đời hậu tấn, chúng nó chẳng đặng phép khinh thường, nghe à!"

Cung Đạo Tòa Thánh: 22-4-Mậu Tý (dl :30-5-1948)

Đức Ngài tiếp: "Ngày mai nầy, chiến sĩ Pháp hồi đã mãn học, Hiền Hữu làm ơn nói với họ rằng: Lão lấy làm cảm xúc tâm đạo của họ. Lại dặn thêm rằng: Tinh thần cao thượng, dầu hạ mình thế nào thì cao thượng vẫn là cao thượng; còn tinh thần hạ tiện, dầu tự tôn thế nào, hạ tiện vẫn là hạ tiện. Nói rằng Lão xin họ làm thế nào cho Đạo trở nên thanh bai tinh khiết. Ấy mới là người nghĩa của Lão. Nên đọc lại Thánh giáo, rồi giải nghĩa cho toàn chư Chức sắc Thiên phong đều hiểu".

 

 

CHIẾN SĨ TRẬN VONG

戰 士 陣 亡
E: The war dead on the battle field.
F: Les combattants morts sur le champ de bataille.

Chiến sĩ trận vong là chỉ chung các sĩ quan và binh lính bị chết nơi chiến trường trong lúc hai bên đánh nhau. (Chiến: đánh nhau. Sĩ: người. Trận: cuộc đánh nhau. Vong: chết. Trận vong: chết nơi mặt trận).

Hằng năm, vào các ngày 15 hoặc 16 của tháng giêng, tháng 7 và tháng 10, tại Tòa Thánh và các Thánh Thất đều có tổ chức cúng tế và cầu siêu cho các Chiến sĩ trận vong.

Đức Hộ-Pháp nói: "Ngày nay là ngày kỹ-niệm các chiến-sĩ trận vong, các chiến-sĩ ấy hy-sinh cho quốc gia, vì nước nhà, vì nòi giống, vì nhơn loại họ không tiếc mạng sống, đứng lên để mưu hạnh phúc cho toàn cầu gầy dựng lại Quốc-gia. Ấy là các Thánh vô tội đã hy-sinh tạo hạnh phúc cho toàn thiên hạ, cho kẻ khác hưởng, bởi thế ngày nay chúng ta nên hội hiệp nhau lại làm lễ cho long-trọng mà cầu siêu cho các chiến-sĩ đã hy-sinh bảo vệ sanh mạng tồn tại của thiên-hạ. Ngày nay là ngày trọng yếu, mà lại là ngày lễ của Chính-phủ chọn lựa. Chúng ta nên để tâm cầu nguyện đặng tỏ rằng người sống không bao giờ quên kẻ chết và kẻ chết cùng người sống vẫn có một quan niệm chung thờ một chủ-nghĩa; duy có khác là cái chết và cái sống. Ngoài ra không ai phân biệt được, mà nếu không phân biệt được thì nhơn loại có một mà thôi. Tinh thần vẫn một, sự phân biệt đó là tại tâm lý phàm phân chia, chớ tinh thần không phân màu sắc dân tộc nào hết, chỉ có một quê hương chung là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, có một Ðấng Chúa Tể là Trời. Cả thảy chúng ta ngày nay chung hiệp lại để cầu-nguyện cho các Bạn ta hay người ân của ta để cho các Ðấng linh hồn đặng siêu thăng. Và chúng ta cũng hiến trọn cả thi hài nầy cho Chí-Tôn, thì bất kỳ cầu chuyện chi, ta làm sự gì tức là dâng cho Ngài cả."

Sau đây là bài Kinh tụng Tế Chiến sĩ Trận vong, do Trung Dõng (bút hiệu của Trung Tướng Nguyễn Văn Thành) đặt ra, có dâng lên Ðức Phạm Hộ Pháp chỉnh văn lại và cho phép Đồng nhi tụng trong nghi lễ cúng tế Chiến sĩ Trận vong:

 

Bài TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

(Giọng Nam-Ai)

Nợ cung kiếm, chiến chinh là nghiệp,
Giúp quốc dân sánh kịp tha bang.
Xông pha ra chốn chiến tràng,
Ðắng cay cam chịu, gian nan không sờn.

Nguyện lấy sức đền ơn cương thổ,
Dốc lòng lo báo bổ ơn nhà.
Trần hoàn gió bụi xông pha,
Dựng nên tổ nghiệp mấy tòa thiên nhiên.

Gầy việc cả truân chuyên lắm nỗi,
Lướt trận tiền mở lối chông gai.
Ngăn quân là bậc Thiên tài,
Ðỡ nâng quốc thể đến ngày hiển vinh.

Ðạp gió tuyết phận mình cam chịu,
Một kiếp sanh bận bịu giang sơn.
Muôn dân thất quốc căm hờn,
Ðịnh an nước cũ chi sờn lòng trai.

Ách nô lệ ngày nay hầu dứt,
Nước quật cường nhờ sức quốc dân.
Hồn thiêng rày đã tỉnh lần,
Muôn năm chung hưởng hồng ân của Trời.

Cờ Tiến Hóa đời đời chói rạng,
Giữ Nghĩa Nhân rọi sáng đạo mầu.
Bảo Sanh bủa khắp năm châu,
Toàn cầu chung hưởng phép mầu Chí Linh.

Mưu định quốc anh minh trị nước,
Giúp giống nòi bảo được tự do.
Hiển vinh là phước Trời cho,
An nguy vận nước chung lo mối giềng.

Nay nhân quả tiền khiên vừa mãn,
Cõi Hư linh cách biệt trần ai.
Hồn thiêng nương bóng Cao Ðài,
Theo vầng nhựt nguyệt ra ngoài Càn khôn.

Trọng nghĩa bạn, linh hồn nên nhớ,
Trợ cho nhau nâng đỡ nghiệp nhà.
Rượu nồng xin chớ bỏ qua,
Tình thân hưởng cạn mới là tri âm.

Công chinh chiến nay lần tỏ rạng,
Ðuốc từ bi rọi sáng tâm hồn.
Lọc lừa thế giới bôn chôn,
Lần theo đuốc huệ bảo tồn chúng sanh.

Công viên mãn đường mây nhẹ tách,
Lánh bến mê phủi sạch bợn trần.
Sống làm tướng, thác làm Thần,
Hiển linh xin chứng tấm lòng tiết trung.

(TRUNG DÕNG)

 

 

CHIẾN TRANH

戰 爭
F: Lutte, guerre.

Chiến là đánh nhau bằng vũ lực đơn sơ của thuở ban đầu, đến sau này những liệt cường chế ra vũ khí hạng nặng có khả năng giết người hàng loạt như bom nguyên tử, bom hạt nhân. Tranh là giành giựt với nhau để hưởng một lợi lộc gì mà họ nhắm tới. Vậy chiến tranh là một cuộc thảm họa gây ra cho loài người từ xưa đến giờ do bởi loài người không có tình thương, do dục vọng thấp hèn, chung qui cũng vì thiếu đạo đức trong con người mà ra.

Ðấng Thượng-Ðế Toàn Năng: "G...Có lẽ vợ chồng con lấy làm kỳ lạ mà thấy Thầy đến như thế nầy. Các con có biết chăng hiện nay vì thế gian rất hung bạo nên thời kỳ tận-diệt đã hầu kề. Nhơn loại tàn sát lẫn nhau, bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẽ và chiến tranh. Thánh-Ðạo của Chúa Cứu-thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục-vọng của kẻ mạnh đối với người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp dưới. Phải có một giáo-lý mới-mẻ đủ khả năng kềm chế nhơn-loại trong sự thương xót chúng sanh. Chỉ có xứ Việt-Nam còn duy trì được sự tôn-sùng Tổ-Phụ theo tục lệ cổ-truyền, mặc dầu xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày được tạo lập tới giờ. Ý Thầy muốn nó được giữ nguyên thể như vậy mãi..."

Đây là bài Diễn-văn của Ngài Thượng Trung Nhựt đọc tại Tòa Thánh: 01-12-1931 nói về nền Tân-Tôn-giáo Cao Đài có thể canh-tân toàn thể Thế-giới để đưa nhân-loại đến Đại-Đồng: "Chiến-tranh! Cuộc chiến-tranh tội-lỗi giữa huynh đệ giết nhau một cách ghê-tởm; sự ghê-tởm của thế-kỷ 20 được mệnh-danh là tiến-bộ văn-minh, vẫn có thể tránh được. Sở-dĩ chúng tôi nói đến "Tội huynh-đệ giết nhau" là vì dầu cho chủng-tộc nào có phân chia nòi giống, nhưng tất cả đang sống trên quả địa-cầu này đều là con cái cùng tùy thuộc dưới quyền-năng ngự trị của một Đấng CHA chung là Thượng-Đế, hay nói rõ hơn là Đấng Chủ-tể cầm vận-mạng của họ. Một khi các dân tộc gây hấn chiến tranh với nhau, điều đó có khác nào anh em một CHA đã tự diệt nhau đó vậy."

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Bình Dương lập trận sờ sờ,
Cả chư vạn quốc dựng cờ chiến tranh.
Đánh nhau đổ nước nghiêng thành,
Lưu hồng một trận tan tành nhân gian.

 

 

CHIẾN TRANH TÀN KHỐC

Đức Thượng Phẩm nói: "Vì sự tiền-định khéo-léo và cao trọng như thế mà Đạo Cao-Đài sẽ được vi-chủ về mặt tinh-thần để chấm dứt cuộc chiến-tranh tàn khốc của hoàn-cầu."

 

 

CHIẾT

Bẻ gãy.

Thí dụ.: Chiết tự, Chiết trung.

 

 

CHIẾT KHẢM ĐIỀN LY

(xem Bát Quái)

 

 

CHIẾT TRUNG

折 中
E: To take the middle.
F: Prendre le juste milieu.

Chiết trung là thâu nhận các ý kiến, rồi chọn lựa lấy những ý kiến hay và thích hợp để làm thành một ý kiến chung, dung hoà được tất cả ý kiến đóng góp (Chiết: Bẻ gãy. Trung: ngay giữa)

"Nay nếu chiết trung ở trong các nhà Triết-học Đông phương vừa tinh-vi, vừa thiết thực, vừa thấu lý, vừa thích dụng thời chẳng gì bằng Dịch-học. Vì lòng ưu thời mẫn thế gốc ở tấm lòng Từ-bi thời DỊCH chẳng khác gì Phật, tùy thì thức thế dù trăm đường biến hóa, thời Dịch có lẽ hay hơn Lão. Nếu nghiên-cứu về Dịch-học thì Phật học và Lão-học cũng quán thông, gần gũi cùng thiên-lý, Âm Dương lý số thông cùng vạn vật."

 

 

CHIẾT TỰ

折 字
E: To decompose the elements of a chinese character.
F: Décomposer les éléments d'un caractère chinois.

(Chiết: Bẻ gãy. Tự: chữ, ý nói chữ được phân tích ra). Chiết tự là phân tách một chữ Nho ra làm nhiều thành phần nhỏ, giải thích ý nghĩa của mỗi thành phần ấy và sau cùng thích nghĩa của toàn chữ. Ðây là điểm đặc biệt của chữ Nho là một Linh tự. Chữ Nho là loại chữ tượng hình.

Thí dụ: Giải thích chữ Ðại Ðạo 大 道 bằng cách chiết tự.

▪ Chữ ÐẠI 大 do chữ Nhơn 人 và chữ Nhứt 一 hiệp lại. Nhơn là người, viết hai nét tượng trưng Âm Dương. Do đó chữ Ðại là Âm Dương hiệp nhứt, mà Âm Dương hiệp nhứt thì phát khởi Càn Khôn, hóa sanh vạn vật. Nhơn là người, mà người biết tu luyện đoạt đặng cơ mầu nhiệm của Ðức Chí Tôn thì đắc nhứt. Nhơn mà đắc nhứt thì vĩnh kiếp trường tồn, diên niên bất hoại.

Ðắc nhứt là gì? nghĩa là đặng Một, tức là đặng cái pháp độc nhứt vô nhị, cái pháp huyền vi của Tiên, Phật, khẩu truyền tâm thọ, để cổi xác phi thăng, siêu phàm nhập Thánh. Thánh nhân có câu: "Thiên đắc nhứt linh, Ðịa đắc nhứt Ninh. Nhơn đắc nhứt Thành" nghĩa là Trời đặng một ấy là linh diệu. Ðất đặng một ấy là bền vững. Người đặng một ấy là trường tồn.

▪ Chữ ÐẠO: Viết chữ Ðạo 道 bắt đầu bằng 2 phết 丷 tượng trưng Âm Dương, gạch dưới một gạch 艹 là chữ Nhứt tượng trưng Âm Dương hiệp nhứt, là cơ sanh hóa Càn Khôn Vũ-trụ. Ngay trong tâm là chữ Mục 目(5 nét). Thêm một phết nữa trên chữ mục 目 thành ra chữ Tự 自 Tự nghĩa là chính mình, tự tri tự giác, tự giải thoát, chớ không ai làm giùm cho mình được. Trên và dưới ráp lại thành chữ Thủ 首 (9 nét) nghĩa là đứng đầu, là trên hết, là nguồn gốc của Càn Khôn và vạn vật. Tất nhiên đây là nơi sản xuất của Bát hồn từ Cung Diêu Trì của Mẹ. Bên hông có Bộ Sước 辶 nghĩa là chạy, tức là vận chuyển biến hóa. Vậy trong chữ Ðạo có hàm ý Âm Dương, động tịnh: động thì sanh hóa, tịnh thì qui hồi. Có câu: "Nhứt Âm nhứt Dương chi vị Ðạo". Âm Dương ấy chính là Lưỡng Nghi do Thái Cực hóa thành. Khi Âm Dương hiệp nhứt tức là trở về Thái Cực, vô hình vô ảnh. Nho gia nói rằng: "Vô Cực nhi Thái Cực", nghĩa là: Vô Cực mà Thái Cực, vì Thái Cực từ trong Vô Cực mà ra. Vô Cực chính là Ðạo. Kinh Dịch cũng viết rằng: "Nhứt hạp nhứt tịch vị chi biến, vãng lai bất cùng vị chi Ðạo" nghĩa là một đóng một mở gọi là biến, qua lại không cùng gọi là Ðạo. Một đóng một mở, đó là máy huyền vi, là nơi xuất sanh nhập tử của muôn loài sanh vật, ấy là Ðạo. Ðạo mầu nhiệm, sâu kín, cao siêu. Trước khi chưa có Trời Ðất thì đã có Ðạo. Ðạo là Hư Vô chi Khí. Ðạo tạo dựng Càn Khôn vũ trụ, hóa sanh vạn vật, muôn loài phải thọ bẩm Khí Hư Vô mà sanh ra..

Như trên đã nói trọng tâm chữ Đạo 道 là chữ Mục 目 là mắt. Nhờ có Mắt để nhìn, mới quán thông mọi vật. Chữ Mục có 5 nét, đứng vào trung ương (mồ, Kỷ, THÔ). Do vậy mà ngày nay Đấng Thượng-Đế đến ban cho một nền Đại-Đạo dùng "Con Mắt Trời" làm biểu tượng gọi là Thiên Nhãn mới thể hiện được Tôn chỉ Đại-Đạo là "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt". Có như thế mới đi đến Đại-Đồng Thế giới, trấn phục Ngũ châu. Điều này chứng tỏ rằng Thầy đã có dự định trước "Khai Đạo muôn năm trước định giờ" cho nên nay đã giáp vòng vận chuyển của vũ trụ, trong cái nghĩa "Thiên địa tuần hoàn châu nhi phục thủy- Đạo xuất ư Đông" là thế! Hơn nữa, Thầy mở Đạo trên đất nước Việt-Nam thuộc châu Á, đúng với màu vàng của Thổ, thể hiện mối đạo Trời "Thiên khai Huỳnh Đạo". Hạnh phúc cho dân-tộc Việt Nam! Hạnh phúc cho người biết Đạo! Hạnh phúc cho người đang hành Đạo!

Đó là ba điều hạnh phúc nhất mà chưa có một nước nào trên Thế giới sánh bằng.

Chữ Nho là linh tự: Câu chuyện một thầy chiết tự xem bói cho các sĩ tử sắp ra ứng thí muốn xem kiết hung thế nào. Anh Giáp tới xem thì ông thầy chiết tự bảo: anh viết cho tôi một chữ Nho, anh ấy liền viết ngay một chữ QUÁN 串 có nghĩa là thông suốt, thầy bảo là lần này anh sẽ có nhiều triển vọng, vì có hai chữ khẩu 口 liền nhau, tức nhiên nhờ đỗ đạt mà mọi người truyền ra cho biết, hơn nữa có nét sổ giữa là thông. Giáp vui vẻ ra về giữa đường gặp Ất liền thuật lại sự tình. Ất bèn đến tìm thầy bói xin xem thử về anh, Ất cũng viết y chữ Quán như lúc nãy, ngờ đâu ông thầy bảo rằng: rất tiếc anh sẽ không được như ý, nghĩa là sẽ trượt. Ất nản lòng nói rằng sao lúc nãy Giáp đến đây cũng viết chữ Quán mà ông nói thi đỗ, giờ này tôi cũng viết chữ này mà ông nói hỏng. Thầy bói giải thích: Bởi lúc nãy là tư tưởng tự xuất ra trong lòng nên vẫn nghĩa chữ QUÁN. Giờ này anh viết lên tư tưởng của người khác nên hiện lên cái Tâm của anh, thành ra là chữ HOẠN 患. Hoạn là chữ Quán có thêm bộ Tâm Ấy chứng chắc rằng chữ Nho là một linh tự, biến hóa vô cùng.

 

 

CHIÊU

Lấy tay vẫy gọi, mời, khiến đến với mình.

Thí dụ: Chiêu hồn, Chiêu tài.

 

CHIÊU AN

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Thây phơi chật đất đầy đàng,
Cao Đài xuất hiện cứu an dân Trời.
Kỳ Ba mở đạo cứu đời,
Chiêu an thế giới khắp nơi hòa bình.

 

 

CHIÊU DỤ

招 吁
F: Inviter, rassurer.

Mời và dụ

 

 

CHIÊU HÀNG

招 降:
F: Appeler à la soumission.

Dụ giặc về đầu hàng

 

 

CHIÊU HIỀN ĐÃI SĨ

招 賢待士
F: Fairre appel aux sages.

 

 

CHIÊU HỒN

招 魂
E: To evoke the dead's soul.
F: Évoquer l'âme du mort.

Chiêu: Lấy tay vẫy gọi, mời, khiến đến với mình. Hồn: linh hồn của người chết. Chiêu hồn là gọi linh hồn của người chết về nói chuyện.

Chiêu hồn thuật: (la nécromancie) là cách thức để gọi linh hồn người chết về.

 

 

CHIÊU PHƯỚC HỌA

招 福 禍
E: To attract the happiness or misfortune.
F: S'attirer le bonheur ou le malheur.

Chiêu: Lấy tay vẫy gọi, mời, khiến đến với mình. Phước: điều tốt lành. Họa: tai họa. Chiêu phước họa là mời cái phước hay cái họa tới.

Cái đó là do nơi mình, bởi vì nếu mình làm điều thiện thì y như là mình mời cái phước tới; còn nếu mình làm điều ác độc hại người thì y như là mình mời tai họa tới. Gieo lành thì phước đến, gieo dữ thì họa tới.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.:

Lành dữ nơi mình chiêu phước họa.

 

 

CHIÊU TÀI TẤN BẢO

招 財 進 寶

(Chiêu: Lấy tay vẫy gọi, mời, khiến đến với mình. Tài: tiền bạc.Tấn: dâng lên. Bảo: quí báu). Chiêu tài tấn bảo là mời gọi tiền bạc tới, dâng hiến đồ quí báu. 4 chữ Nho nầy thường thấy đề nơi bài vị thờ Thần Tài.

 

 

CHIÊU TÂN

Thi văn dạy Đạo có câu:

Mưa nắng thương thân chịu lắm lần,
Ðành đem đức gởi tại Chiêu Tân.

 

 

CHIẾU

1) CHIẾU Giấy viết lệnh của vua ban ra.
Thí dụ: Chiếu chỉ.

2) CHIẾU Rọi sáng, dựa theo.
Thí dụ: Chiếu diệu, Chiếu giám.

 

 

CHIẾU CHỈ

詔 旨
E: The royal edict.
F: L'édit royal.

(Chiếu 詔: Lệnh của vua ban ra. Chỉ 旨 là giấy). Chiếu chỉ là tờ giấy viết lệnh của vua ban ra để thi hành. Nay thì chiếu chỉ là mệnh lệnh của Đức Ngọc-Hoàng Thượng Đế, tức là Ông Vua Trời.

Thành Hoàng Mỹ Lộc giáng tại Ðàn tại Ðình Mỹ Lộc, ngày 15-11-Bính Dần (dl: 18-1-1927) nói: "Từ thuở Ta vưng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, Ta một tấm lòng lo cho lê thứ đặng an cư lạc nghiệp, thạnh vượng mùa màng; mỗi mỗi đều hằng lo lắng cho chúng sanh nơi phần trách nhiệm. Nay có lịnh Ngọc Hoàng chiếu chỉ cho phép Ta giáng cơ mầu nhiệm mà tỏ nền Ðạo là quí trọng cho lê thứ hiểu. Lê thứ đâu rõ thấu việc Trời đã định hơn mấy chục ngàn năm nay. Lê thứ nghe: Kỳ Hạ Nguơn hầu mãn nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tan, mười phần còn lại có một mà thôi. Than ôi! Buồn thôi! Nghĩ vì Thiên cơ đã định vậy, thế nào mà cải cho đặng, duy có mở tấm lòng từ thiện ăn năn sám hối, lo việc tu hành; đồng với nhau cả quốc dân mà quì lụy khẩn cầu coi Trời đoái tưởng đến chăng? Bởi thế nên Ngọc Ðế và chư Phật, chư Tiên, chư Thánh mới lập hội Tam Kỳ Phổ Ðộ đặng có cứu vớt chúng sanh, đương linh đinh nơi biển khổ. Nếu gặp thuyền Bát Nhã mà không xuống, không theo thì chắc thế nào cũng chơi vơi mé biển."

 

 

CHIẾU DIỆU

照 耀
E: Dazzling.
F: Éclatant.

Chiếu diệu 照 耀 Chiếu sáng chói lọi, chiếu rực rỡ. (Chiếu: Rọi sáng, dựa theo. Diệu: rực rỡ)

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc đẩu.
"Kìa im-đìm phúc hậu Nam-Tào."

 

 

CHIẾU GIÁM

照 鑑
E: To light up.
F: Éclairer.

Chiếu giám là soi rọi, phóng tia sáng tới. (Chiếu: Rọi sáng, dựa theo. Giám: cái gương chiếu ra để soi rọi).

Bát Nương Diêu Trì Cung Giải thích về Âm quang:

"Khi Chí Tôn đem Dương quang ấm áp mà làm cho hóa sanh, thì cái khoảnh Âm quang phải thối trầm làm tinh đẩu, là cơ quan sanh hóa vạn linh. Song lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hóa. Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang".

Đức Hộ-Pháp khi trấn Thần và giải thích các Thiên Nhãn chung quanh và bên ngoài Đền Thánh có nói rằng: "Thiên Nhãn ngó ra ngoài Đền thì để cho Thiện Nam Tín nữ quì ở ngoài sân lạy vào, còn Thiên Nhãn ngó vào Đền vì người Đạo quì ngang sợ ô-uế, không thể coi sóc cho tinh khiết được. Và từ đây dù ở chân trời góc bể nào mà nhân sanh biết hướng về Toà Thánh Cầu nguyện cũng sẽ được hồng ân của Đức Chí Tôn chiếu giám".

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,
"Xem rõ-ràng tội phước căn sinh."

 

 

CHIẾU MINH ĐÀN (Chi Phái)

照明壇

Chiếu Minh hiện giờ, ngoài phái Chiếu Minh vô vi lại còn có các phần khác nữa là: Chiếu Minh Long Châu và Cao Ðài Thượng Ðế Hội Giáo hay là Chiếu Minh Ðàn. Chiếu Minh Ðàn, đứng đầu là Ông Tư Huỳnh, ở Cái Khế Cần Thơ, sáng lập là Cố Ðốc phủ Ngô Văn Chiêu. Theo tài liệu nầy thì Ông Gabriel Gobron cho Tòa Thánh Tây Ninh là cái gốc của Ðạo, cái gốc thì sanh ra các nhánh, sanh Chi phái. Ngài Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron kể ra 11 Chi phái vào năm 1948 Theo ông Quế Chiếu Minh, với chư quí Ngài: Thiên, Quí.

 

 

CHIẾU Y

照 依
E: To conform to.
F: Se conformer à.

(Chiếu: Rọi sáng, dựa theo. Y: theo). Chiếu y là căn cứ theo. Từ ngữ Chiếu y thường được dùng đặt ở phần đầu của một Thánh Lịnh, Ðạo Lịnh hay Ðạo Nghị Ðịnh.

Thí dụ: Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền...

 

 

CHIẾU NHŨ LỊNH

照 乳 令

Kinh Phật Mẫu có câu:

"Chiếu nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc,
"Ðộ anh nhi Nam, Bắc, Ðông, Tây."

"Chiếu theo lịnh dạy của Ðức Chí Tôn, Từ Huyên là Mẹ sanh của chúng ta, thọ sắc độ rỗi vạn linh tứ hướng, tức là con cái của Ngài không bỏ sót một ai".

 

 

CHIM KẾT CÁNH CÂY LIỀN CÀNH

Chim kết cánh, cây liền cành: Ý nói vợ chồng gắn bó không rời nhau.

Điển tích: Theo sách Sơn Hải Kinh của Đông Phương Sóc, có loài chim, chỉ có một bên cánh và một con mắt, nên lúc nào con trống và con mái phải kết cánh lại thì mới bay được, gọi là "Tỵ dực điểu" (Tỵ dực là kết cánh lại).

Hàn Bằng làm quan Đại phu nước Tống đời Chiến quốc, có vợ là Hà thị rất đẹp. Vua Khang Vương thấy vậy liền cướp Hà thị về làm vợ và cầm tù Hàn Bằng. Bằng tự sát chết. Hà thị cự tuyệt Khang Vương và tự tử theo, để lại bức thơ xin được chôn cùng mộ với chồng là Hàn Bằng. Khang Vương căm giận, đem chôn riêng. Qua một đêm, bỗng nhiên người ta thấy có hai cây tử mọc lên ở nách hai ngôi mộ, thân cây và cành cây quấn vào nhau.

Trong bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị, đoạn nói vua Đường Minh Hoàng thề thốt với Dương Quí Phi, có hai câu: "Tại thiên nguyện tác tỵ dực điểu, Tại địa nguyện vi liên lý chi" là trên trời xin làm chim kết cánh, dưới đất xin làm cây liền cành.

Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn có câu:

Càng ngắm đến cỏ hoa vật loại,
Càng thẹn vì vắn vỏi tơ tình.
Chim kết cánh, cây liền cành,
Còn thân thiếp chịu một mình đơn cô.

 

 

CHIM THANH LOAN (Chim Linh)

 

 
   

Chim Thanh loan là một thứ chim linh, báo tin Đức Phật Mẫu ngự. Chim Thanh loan, được biểu tượng Sứ điệp của Cung Diêu Trì. Khi thấy có chim này bay đến thì quả quyết có Đức phật Mẫu đến. Dầu hôm nay cũng như xưa kia cũng vậy, nó đã đến đậu múa ở nóc đài trước triều đình nhà Hớn. Hớn Võ Đế thấy vậy hỏi Đông Phương Sóc điềm chi vậy, Sóc đáp: nó đến để báo tin lành có Đức Tây Vương Mẫu giáng lâm. Rồi nhà vua cùng Hoàng Hậu cho lập Kim Ngân Điện và trai giới ba ngày đặng thiết lễ để tiếp Người đúng như câu thơ phá thừa của Bát Nương Diêu Trì cho Đức Hộ Pháp như sau :

Dường đợi Thanh Loan đến Hớn đài,
Tửu Tiên chưa đủ tỉnh cùng say

Về triết lý Cao Đài hiện nay nơi nóc Báo-Ân-Từ Chim Thanh Loan được thể hiện với niềm tin Đức Mẹ Chơn-Thần đã đến cùng chúng ta trong đêm Đại Lễ Hội Yến Diêu-Trì-Cung gọi là Hội Bàn-Đào nơi cửa Đạo, còn ở cảnh Thiên cho đó là Quần Tiên Hội. Về mặt thế cho lễ Trung Thu là Tết Nhi-Đồng ý nghĩa tiêu biểu cho Chơn Thần như lời Chúa Cứu Thế phán: "Trên nước Thiên Đường của Cha ta toàn là đứa trẻ". Đó là một ân huệ thiêng liêng ở Đức Mẹ Chơn Thần của chúng sanh, nên tất cả con cái Mẹ không phân đẳng cấp đều thành tâm ngưỡng vọng trong đêm Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung vào rằm tháng tám mỗi năm thành lệ".

 

 

CHÌM ĐẮM

Chìm đắm: Do chữ trầm luân 沉 淪: Tức là chìm đắm vào nơi biển khổ.

Kinh Giải Oan có câu:

"Dòng khổ hải hễ thường chìm đắm,
"Mùi đau thương đã thấm Chơn linh."

 

 

CHÍN CÔ

E: Nine Muses.
F: Neuf Muses.

Chín Cô là ý nói Cửu vị Tiên Nương Diêu Trì Cung. (Xem chi tiết nơi chữ: Cửu vị Tiên Nương)

Kinh Táng Tụng Công Đức Diêu-Trì Kim Mẫu có câu:

"Chín Cô đã sẵn lòng thương,
"Mê tân độ chúng buồm trương thoát vòng.
"Lục-Nương phất phướn truy hồn,
"Tang-thương nay lúc bảo tồn chúng-sanh.
"Bát-Nương thật đấng chí-linh,
"Cùng chung giáo hóa chung cùng lo âu.
"Thất-Nương khêu đuốc Đạo đầu,
"Nhờ Người gọi ánh nhiệm-mầu huyền-vi.
"Môn sanh thiện niệm hằng ngày,
"Cúi xin Kim-Mẫu muôn loài cứu ương.
"Đê đầu khấu bái Nương-Nương,
"Nén hương đạm bạc xin thương chứng lòng."

Chín Vị Tiên Nương giáng:

Giáo Tông Đường, ngày 4-8-Ất Hợi (dl 1-9-1935)

Phò loan : Hộ Pháp - Tiếp Đạo.

HOA Tiên đổ đẹp xinh văn miếu,
Gót Tiên đưa yểu điệu nữ dung.
Cung Diêu ghé mắt thư hùng,
Reo tơ may gặp hội cùng tương tri.

NHỨT NƯƠNG DTC.

CẨM chức dệt câu biệt khách,
Bút Tiên vẽ nét tri hoan.
Xé mây lướt dặm trần hoàn,
Dòm theo nỗi khổ, đôi hàng lệ sa.

NHỊ NƯƠNG DTC.

TUYẾN kim đưa khách chưa hòa,
Mượn gưng bạch thố rọi nhà tri âm.
Ngân kiều cách bức bao lăm,
Ướm buông lời ngọc hỏi trần vui chưa?

TAM NƯƠNG DTC.

GẤM Tô Huệ ngày xưa đề thảm,
Nét Tiên hoa sầu đạm vân phong.
Kìa thương những khách má hồng,
Đẹp xinh tô đậm bụi nồng thế gian.

TỨ NƯƠNG DTC.

LIỄU yếu ớt những lo gió dội,
Có mảnh thân e nỗi khổ thân.
Riêng lo tài sắc hồng quần,
Không nhơ bợn tục nợ trần lánh chơn.

NGŨ NƯƠNG DTC.

HUỆ trí định Tiên phàm đôi lẽ,
Của không môn mới nhẹ tiền duyên.
Phất phơ đưa phướn diệu huyền,
Trông vơi thấy khách cửu tuyền rậm chơn.

LỤC NƯƠNG DTC.

LỄ kinh để mấy chương tiết nghĩa,
Vô tự đề cửa tía chứa hoan.
Trăm cay là phép tạo nhàn,
Có phong ba mới dựa hàng trượng phu.

THẤT NƯƠNG DTC.

SEN thì ở nơi HỒ hoán trược,
Công thì hay định phước vinh ba.
Non Thần nhắn bạn đường xa,
Đường tu khổ hạnh mới là cao siêu.

BÁT NƯƠNG DTC.

KHIẾT tính nết thanh liêm là trọng,
Phép tu thân nhớ bóng là hơn.
Chuông mai dập thức mê hồn,
Cung Tiên mới đặng rửa hờn kiếp sanh.

CỬU NƯƠNG DTC.

DTC: Diêu Trì Cung.

 

 

CHÍN CHỮ CÙ LAO

Cù lao là gì? (: siêng năng, nhọc nhằn; Lao: khó nhọc). Ý nói cha mẹ suốt đời đã chịu thương chịu khó để nuôi dưỡng chăm-chút con cái từ khi còn là trứng nước đến khi con khôn lớn trưởng thành, nhưng chưa phải như vậy là đủ, mà "Con một lớn mẹ thêm một khổ" cho nên thời gian lo-lắng cho con cái hầu như vô cùng tận và điểm sau cuối là cho con đến khi cha mẹ nhắm mắt lìa đời, cho nên tiền nhân dùng câu "chín chữ cù lao" để nói lên cái tình cao khiết ấy. Đạo Nho nói "Cửu tự cù lao" đều cùng một nghĩa, tức nhiên cha mẹ đã dày công lo-lắng cho con cái qua chín nỗi nhọc nhằn.

Chín chữ cù lao là:

1-Sinh: mang nặng đẻ đau, chín tháng cưu mang.

2-Cúc: nâng đỡ, nuôi nấng, ba năm bú mớm. Nói chung là "Thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ".

3-Phủ: Vuốt ve, có nghĩa bằng tất cả thâm tình trìu mến, chứ không nuôi như nuôi con vật, gia súc gia cầm.

4-Xúc: Cho bú có nghĩa là nuôi con bằng cả tâm huyết, chuyền cả sự sống của mình cho con.

5-Trưởng: nuôi con nhìn từng ngày, từng giờ, không một phút giây nào xa rời con trong tâm tưởng và chuẩn bị một nôi tình thương đầy hạnh phúc.

6-Dục: Dạy-dỗ, tất nhiên nuôi con bằng cả trái tim yêu ái còn phải dạy-dỗ cho nên người, những mong "Con hơn cha là nhà có phúc".

7-Cố: trông nom, dầu con có lớn đến tuổi nào, trong tâm tưởng lúc nào mẹ cũng nghĩ đến từng bước con đi.

8-Phục: săn sóc dạy bảo. Khi con đã nên bề gia thất cha mẹ vẫn không rời trách nhiệm nhắc nhở đạo đức: "Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài yên" Với con gái thì Bà Đoàn nhắc rằng:

Dụng văn hoá trau-tria Nữ-phách,
Lấy Kinh-luân thúc thách quần hồng
Gươm thư giúp sức gươm hùng,
Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

(Nữ Trung tùng phận - Câu 1- 4)

9-Phúc: Bảo-vệ. Lòng cha mẹ luôn luôn nghĩ đến con lúc nghèo giàu, sang hèn, vinh nhục, lúc nào cũng phải là một cố vấn cho con và sẵn sàng giúp đỡ an ủi.

Trong Kinh Thi cũng dạy rằng: "Phụ hề sinh ngã, Mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực" 父兮生我, 母兮鞠我, 哀哀 父 母生 我 劬 勞, 欲報深恩, 昊天罔極 tức là cha sinh ta, mẹ nuôi ta. Thương thay cha mẹ sinh ta khó nhọc, muốn báo ơn sâu, công ơn ấy như Trời cao mênh mông không thể nào trả hết được.

Kim-Vân-Kiều cũng có câu:

"Duyên hội ngộ đức cù-lao,
"Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?"

Luận Đạo:

Tại sao chỉ nói đến chín chữ cù lao mà không nói đến một số khác? Nhắc lại nguyên lý:

Số 9 là cơ huyền-diệu nhiệm mầu. Huyền-diệu hơn hết là số đó. Nó là cơ chuyển biến đến mực độ tận thiện tận mỹ, toàn năng, toàn tri.

Nó là 1 + 8 tức là cơ vận-hành trong trạng-thái tĩnh được lý Thái-cực thúc đẩy thêm cho nên năng-tri sáng suốt.

Nó cũng là 3+6. 3 và 6 là hai lý nhiệm-mầu và đều ở trong trạng-thái động.

Nó cũng có nghĩa là 3x3 hay 3 bình-phương là cấp bực tam ngôi biến-hóa, vận-hành suốt thông trời đất. Đến số 9 là đến chỗ tột cùng vận-động để hiệp về cơ qui nhứt. Phép toán học thử đến 9 rồi trở về 0 là vậy. Cùng cực cái động tức trở về trạng-thái tịnh nguyên-thủy.

Đức Hộ Pháp lập đàn cơ, Thất Nương giáng tỏ bày nỗi niềm hiếu đạo; vì hiếu mà xuống Địa ngục cứu cha:

THI

Hỏi ai có biết hiếu ra sao?
Chín chữ cù lao giá thế nào?
Hình vóc cảnh Tiên còn dính máu,
Chơn Thần nước Phật giữ thai bào.
Nỗi riêng chưa vẹn thân từ phụ,
Nghĩa nặng đeo đai phận má đào.
Thà xuống Âm Cung chia khổ tội,
Cha vầy, ai nỡ ngự đài cao!

Thi văn dạy Đạo:

Chín chữ cù lao,
Thì mộng nam giao.
Tịch sinh nan đào,
Phi thường một dự anh hào,
Đạo trăm hạnh cũng lần vảo cõi Thiên.
Đặng trọn quyền…

 

 

CHÍN HÀNH TINH

F: Neuf Planètes.

Con số 9 là số đặc biệt của Đức Cao Đài, khoa học không thể nào giải thích toàn vẹn được. Đức Chí Tôn biểu tượng quyền uy của mình bằng Mặt Trời mà không gọi tên gì khác. Có 9 hành tinh xoay quanh theo một trật tự như sắp đặt sẵn, không chênh không lệch, theo một quỹ đạo pháp qui. Từ gần tới xa của Cửu Tinh là:

1- Thủy tinh.

 

2- Kim tinh.

 

3- Địa cầu.

4- Hỏa tinh.

 

5- Mộc tinh.

 

6- Thổ tinh.

7- Thiên vương tinh.

 

8- Hải vương tinh.

 

9- Diêm vương tinh.

 

 

CHÍN LỚP

E: Nine celestial planes.
F: Neuf plans célestes.

Chín lớp là chín từng Trời, tức là Cửu Trùng Thiên.

Kinh Khi Đã Chết Rồi có câu:

"Dưới chín lớp liên thần đưa bước,
"Trên hồng quang phủ phước tiêu diêu.
"Linh-Tiêu-Điện, bảng danh nêu,
"Nguyên căn đẹp vẻ mỹ miều cao thăng."

 

 

CHÍN MƯƠI HAI ỨC NGUYÊN NHÂN (Cửu nhị ức nguyên nhân)

Đức Hộ-Pháp nói: "Phần người có Nguyên nhân, Hóa nhân, Quỉ nhân. Hại thay 100 ức nguyên nhân do Đức Chí Tôn đã để lại mặt thế này, đặng làm bạn với các đẳng chơn hồn trong Vạn Linh sanh chúng của Ngài đã đào tạo thì Phật vị có sáu ức, Tiên Vị có hai ức, còn chín mươi hai ức nguyên nhân bị đọa trần. Từ ngày Đạo bị bế họ có lắm công tu mà thành thì không thành. Tội nghiệp thay, vì 92 ức nguyên nhân ấy mà chính mình Đức Chí Tôn phải giáng trần mà lập nền chơn giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy cái Thánh ân, đặc biệt hơn hết là Đức Chí Tôn đã thấy rõ rằng: Các nguyên nhân ấy không phương gì tự giải thoát đặng vì quá tội tình, quá mê luyến hồng trần hoặc đào tạo quả kiếp nặng nề quá đỗi, vì cớ cho nên tu thì có tu mà thành thì không có thành, tức nhiên từ ngày Đạo bế thì cơ siêu thoát đã mất tại mặt thế này, chính mình Đức Chí Tôn biết rằng không thế gì các nguyên nhân tự mình đạt cơ giải thoát đặng. Hôm nay, Ngài đến lập nền chơn giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy lòng yêu ái vô tận của Ngài là thế nào? Chúng ta thử suy đoán không ai nói cho mình nghe hơn Mẹ của mình, không ai dạy dỗ mình có oai quyền hơn Mẹ của mình, cái tình trạng ấy đối với mặt thế chúng ta thế nào thì quyền năng nơi cõi Thiêng-liêng Hằng sống như in không có mảy-may chi khác. Ngài lập giáo rồi còn một nỗi là kêu nó không đến. Ngài dạy mà không biết chi, chính mình Ngài đã nhiều lần hạ trần lập Đạo mà 92 ức nguyên nhân vẫn đui và điếc mà thôi, không biết để chun vào lòng yêu ái vô tận của Ngài, đặng hưởng cái hạnh phúc vô biên của Ngài đã đào tạo. Vì cớ cho nên Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật Mẫu và Bần Đạo đã thuyết minh là nắm quyền tạo hóa của Càn Khôn Vũ Trụ hữu hình trong tay Đức Phật-Mẫu. Có thể nói vào xác thịt chúng ta, để cho chúng ta nghe lời nói tinh thần thiêng liêng của Đức Chí Tôn, lời nói mà từ trước đến giờ chúng ta không thế gì nghe được, nhưng Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật Mẫu cơ quan siêu thoát ấy, phải làm thế nào đặng tận độ 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị. Muốn cho đạt đặng bí pháp siêu thoát ấy, chúng ta ngó thấy Đức Phật Mẫu đã làm gì? Đức Chí-Tôn giao cho Đức Phật-Mẫu nắm quyền hành để rước hết những cái chơn hồn khi đã đạt pháp tức nhiên đạt cơ siêu thoát, lập vị mình đặng vào cái địa vị Thiêng-liêng, đạt đặng thì phải về Hội-Yến cùng Đức Phật-Mẫu, lễ Diêu-Trì-Cung Hội Yến mà người ta gọi là Hội, nhưng thật ra chúng ta về hội hiệp vui cùng Mẹ sanh của chúng ta đó vậy. Đạo Pháp gọi là "Hội Yến Diêu Trì" tức nhiên chúng ta đã đạt đặng cơ siêu thoát nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống kia, chưa biết nếu chúng ta không tu thì con đường ấy là gì mà chớ. Chính mình Đức Chí-Tôn biểu Đức Phật-Mẫu tức nhiên Mẹ sanh của chúng ta cầm cả quyền năng giải thoát trong tay đến lập Hội Yến Diêu Trì tại mặt thế này và cả con cái của Ngài, nhứt là 92 ức nguyên nhân ấy, nếu nhập vào cửa Đạo tùng theo chơn pháp thì đặng hồng ân của Đức Chí Tôn cho hưởng cái Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì tại thế này, cái cơ siêu thoát thiên hạ đã đạt trong tay họ sẵn, tức nhiên giờ phút cuối cùng này là giờ phút hứng thú, giờ phút chết của họ, thì họ đạt vị một cách dễ dàng, ngôi vị nào cơ quan siêu thoát Đức Chí Tôn đã cho không họ đó vậy. Nhờ đó mà cơ quan tận độ Vạn Linh của Đức Chí Tôn đã lập lại tại thế này, từ đây sẽ mở rộng cửa Thiêng Liêng Hằng Sống đặng đến gom góp cả con cái của Ngài, trở về hiệp một cùng Ngài, bí pháp Hội Yến Diêu Trì là vậy đó."

Đức Hộ-Pháp có lời kêu gọi: "Bần Đạo nói từ đây, kể từ ngày nay cửa Thiêng Liêng của Đạo đã mở rộng, Bần Đạo kêu toàn thể con cái Đức Chí Tôn, ai hiểu biết mình đứng trong hàng phẩm Cửu nhị ức Nguyên Nhân (92 Ức Nguyên Nhân) hãy tỉnh mộng lại đặng về cùng Đức Chí Tôn. Cửa nầy là cửa của các người đến đoạt Pháp đặng giải thoát lấy mình, đến trong lòng Đức Chí Tôn, vì Đức Chí Tôn đã đưa tay ra nâng đỡ mà chúng ta không đến, không tưởng nghĩ đến, thì sau nầy ắt sẽ bị đọa lạc nơi cõi Phong Đô. Giờ phút ấy không còn trách Đức Chí Tôn rằng: không thương yêu con cái của Người, không đem cơ quan tận độ chúng sanh để nơi mặt địa cầu nầy cứu vớt nữa. Bần Đạo để lời cám ơn toàn thể con cái Đức Chí Tôn một phen nữa…Ấy vậy, toàn thể con cái của Đức Chí Tôn, các Bạn đồng cùng Bần Đạo không phân biệt đảng phái hay nòi giống tư tưởng nào, Bần Đạo đã thọ mạng lịnh Đức Chí Tôn đến làm Bạn với các con cái của Ngài; nhứt là Cửu nhị ức Nguyên Nhân tỉnh mộng lại. Những hình thể của thiên hạ đã do nơi trí óc con người từ thử đến giờ, chưa có ai đặng quyền nắm cơ giải thoát, thì giờ phút nầy Cửu nhị ức Nguyên Nhân vẫn còn đọa lạc. Bần Đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn nhứt là Cửu nhị ức Nguyên Nhân tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung phải vào cửa ấy mới đoạt đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa Thiêng Liêng Hằng Sống mà Đức Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người."

Tìm hiểu nguyên lý:

Khi tạo Càn Khôn xong thì Đức Chí-Tôn giao quyền cho Đức Phật-Mẫu quản khí Hư vô. Vậy: Hạo nhiên là Phật, Hỗn-nguơn là Pháp, Hư-vô là Tăng. Vốn số Tam (3) có đủ cơ năng phát tiếng nổ gọi là Đạo sanh Thái Cực: ĐẠO thì tự hữu, PHÁP thì hằng hữu, THẾ thì hiện hữu. Nguơn vô thỉ phần tượng lý cho cơ khởi thỉ: chủ Ngũ khí là Đức Chí Tôn, chủ Ngũ hành là Đức Phật-Mẫu, chủ Ngũ lôi là Đức Hộ-Pháp. Khi ngũ hành tiết chất vào không gian đụng Ngũ khí phát lên tiếng nổ là chỗ Hộ Pháp quân bình sanh quang cho vạn vật nơi cõi đất có sự sống. Nhờ Đức Phật Mẫu hòa hợp Khí Hư Vô để biến tạo Chơn Thần cho Chúng sanh, nhưng lần đầu tiên Phật Mẫu chuyển Kim bàn phát xuất trăm ức tàng linh chưa có Pháp thân. Do Hoàng Cực Chủ Nhân là hiện thân của Phật Mẫu bởi chữ "Thiên huyền Địa hùynh" để đưa các Tàng Linh xuống thế với 24 thuyền Bát Nhã buổi mới khai nguơn, đây chỉ lấy số tượng cho lý đó là 24 ánh linh quang của 3 ngôi: Ngôi Phật, Chủ Bát quái là của Chí Tôn, ngôi Pháp giới là Bát cảnh Cung của Phật Mẫu, ngôi Tăng là Bát phẩm chơn hồn của vạn loại.

Sau rồi Đức Chí Tôn mới phân tánh lập Đạo để cứu đời, từ Nhứt Kỳ đến Nhị Kỳ: Phật độ được 6 ức, Tiên độ được 2 ức. Trước sau mới có 8 ức. Còn Thánh không kể vào. Phật là Linh hồn, Tiên là Chơn Thần, còn đạo Thánh biểu tượng cho xác thân. Phật là Thần, Tiên là Khí, Thánh là Tinh. Với phép tu chuyển Tinh để hóa Khí thì trên nguyên lý về được cùng hai Đấng tạo đoan chỉ có Linh hồn và Chơn Thần mà thôi. Nên lấy lý tượng cho số: các nguyên nhân đã xuống trần phải chuyển hóa trong Bát Phẩm chơn hồn. Về được với Đức Chí Tôn cùng Đức Phật Mẫu nhờ còn giữ Bát-Bửu-nang của Đức Mẹ giao cho khi xuống thế. Chừng về với pháp thân bằng Thần của vạn linh kết thành, còn 92 ức đây chỉ lấy số tượng cho lý: Cửu (số 9) là pháp định vị cho thuyết Nhị Nguyên (số 2) về âm dương.

 

 

CHÍN TỪNG TRỜI ĐẤT

Chín từng Trời: được gọi là Cửu Thiên 九天 hay Cửu Trùng Thiên 九重天.

Theo lời thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, ngày rằm tháng 8 năm Đinh-Hợi (1947), Đức Ngài giải thích bài "Phật Mẫu Chơn Kinh", Ngài có nói: "Từng Trời thứ chín gọi là cung Tạo-Hóa-Thiên, có vị cầm quyền năng tạo đoan gọi là Thiên Hậu...".

Nếu tầng Tạo Hóa Thiên là tầng Trời thứ 9 (Đệ Cửu Cửu), thì bài kinh Nhứt Cửu là tầng có vườn Ngạn Uyển là tầng Trời thứ nhứt của Cửu Trùng Thiên.

Do theo những bài Kinh Tuần Cửu, Tiểu Tường, Đại Tường và Di Lặc Chơn Kinh thì chín tầng Trời là kể từ tầng trời ở Nhứt Cửu cho đến Cửu Cửu:

Tầng Trời thứ 1: Tầng Trời có vườn Ngạn Uyển.

Tầng Trời thứ 2: Tầng Trời có Vườn Đào của Phật Mẫu.

Tầng Trời thứ 3: Tầng Trời Thanh Thiên.

Tầng Trời thứ 4: Tầng Trời Huỳnh Thiên.

Tầng Trời thứ 5: Tầng Trời Xích Thiên.

Tầng Trời thứ 6: Tầng Trời Kim Thiên.

Tầng Trời thứ 7: Tầng Trời Hạo Nhiên Thiên.

Tầng Trời thứ 8: Tầng Trời Phi Tưởng Thiên.

Tầng Trời thứ 9: Tầng Trời Tạo Hóa Thiên.

Kinh Niệm Hương có câu:

"Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền,
"Chín tầng Trời Đất thông truyền chứng tri."

Kinh Khai Cửu có câu:

"Đã quá chín tầng Trời đến vị,
"Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an
"Tầng Trời gắng bước lên thang,
"Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa."

 

 

CHÍN TRỜI MƯỜI PHẬT

Thầy dạy: "Dưới ba mươi sáu từng Trời còn có một từng nữa là nhứt mạch đẳng tinh-vi gọi là cảnh Niết Bàn. Chín từng nữa gọi là Cửu Thiên khai hóa tức là chín phương Trời cộng với Niết-Bàn là mười, gọi là Thập phương Chư Phật. Gọi "Chín phương Trời, mười phương Phật" là do đó.

"Kỳ này Ngài cầm quyền nữa, Ngài vào hàng Phật. Nếu nói Đức Thích-Ca đến thế này, đến trái Địa cầu 68 này. Hồi lúc nó chưa thoát xác tổng số kiếp sanh của Ngài nơi mặt địa cầu này lối chừng một ngàn năm trăm triệu năm, chớ không có bao nhiêu!

Hồi Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Phật Thích-Ca Mâu Ni làm chủ Cực Lạc Thế giới, ngự tại Hỗn Nguơn Thiên tức là từng thứ mười hay là phương thứ mười.

Từng Hỗn Nguơn-Thiên có một từng ngánh gọi là Hội-Nguơn Thiên kể chung là mười từng tất cả:

1-Thanh thiên

 

2-Huỳnh Thiên

 

3-Xích Thiên

4-Kim Thiên

 

5-Hạo-Nhiên-Thiên

 

6-Phi-Tưởng-Thiên

7-Tạo Hoá Thiên

 

8-Hư-Vô thiên

 

9-Hỗn-Nguơn-Thiên

gọi là Cửu Thiên khai hoá và một tầng ngánh là Hội Nguơn thiên, số 10.

Tầng cao nhất là Hỗn nguơn Thiên cũng gọi là Niết Bàn hay là Cực Lạc Thế giới, thật tế ở từng thứ mười, nên Phật giáo nói là "Thập phương chư Phật"là vậy. Có kẻ nói Trời có chín phương mà Phật có mười phương. Vậy là Phật lớn hơn Trời qua câu "chín phương Trời mười phương Phật". Ngày nay Đức Chí-Tôn xác nhận:

Chín Trời mười Phật cũmg là TA,
Truyền Đạo chia ra nhánh nhóc ba.
Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ,
Thánh Tiên Phật-Đạo vốn như nhà.

(03-01-1926)

Tóm lại: Trời là quyền-uy tối thượng, dẫu vị Phật nào cũng là con của Trời mà thôi.

Chín Trời là Chín từng Trời, tức Cửu Trùng Thiên, cũng có ý chỉ các Ðấng Cửu Thiên Khai Hóa. Mười Phật là chư Phật ở từng Trời thứ 10, tức là chư Phật ở cõi Cực Lạc Thế giới, vì cõi nầy ở từng Trời thứ 10. Chín Trời mười Phật là nói các Ðấng Tiên Phật trong Cửu Thiên Khai Hóa và chư Phật ở cõi Cực Lạc Thế giới.

 

 

CHINH LÒNG

E: To hurt, to vex.
F: Froisser, vexer.

Chinh lòng là làm cho lòng người bất bình với nhau. (Chinh: nghiêng, lệch qua một bên).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu:

Nếu trong môn đệ đồng tâm chí như mấy con đây thì đường đi của các con sẽ vui vẻ tươi cười, chẳng chi chinh lòng nhau đặng.

 

 

CHINH NGHIÊNG

Đức Lý Giáo Tông nói: "Chư Hiền Hữu đừng tưởng lầm rằng vì Ðạo chinh nghiêng mà buộc Lão tùng đời. Ấy là lời tuyên ngôn của Lão đã hứa quyết. Hiền Hữu làm thế nào cho vừa trách nhiệm thì làm cho Lão xem thử".

 

 

CHINH PHỤ

征 婦
E: Femme d’un soldat.

Vợ của người chiến sĩ tức là người đàn bà có chồng đang tòng quân dẹp giặc giữ nước. Riêng Chinh Phụ ở đây phải ngầm hiểu là tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc. Một dịch phẩm được diễn nôm từ một tác phẩm chữ Hán của ông Đặng Trần Côn. Nơi đây bà Đoàn Thị Điểm đã xác nhận chính Bà là dịch giả của khúc ngâm này mà xưa nay vẫn còn nhiều tranh chấp.

Chinh Phụ Ngâm Khúc (Diễn Nôm) 征 婦 吟 曲 (Femme de Guerrier).

 Đây là một áng văn nôm, một dịch phẩm tuyệt tác của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Chinh Phụ ngâm khúc ra đời đã nhiều lần, bằng nguyên tác chữ Hán cao diệu của tác giả Đặng Trần Côn, được diễn nôm với giọng văn điêu luyện của nữ sĩ họ Đoàn, bằng chữ Việt, của biết bao nhà học giả có thiệt tài, chân tài, bằng chữ Pháp thần tình của ông Hoàng-Xuân-Nhị và nhiều dịch giả trứ danh, cuối cùng Chinh Phụ Ngâm-Khúc cũng được chào đời bằng tiếng Anh là một thứ tiếng phổ thông rộng rãi trong thế giới hiện thời nhờ ngòi bút giản dị của ông Phạm Xuân Thái. Mỗi lần nó ra đời là muốn phổ thông trong nước hay là để tuyên truyền ra xứ ngoài. Hôm nay Chinh Phụ Ngâm Khúc được sống dậy dưới một sinh khí mới, một hoàn cảnh mới, một môi trường hoàn-toàn mới lạ, được lột xác sau khi đã vượt chín từng không.

Chinh Phụ Ngâm Khúc đã chiếm một địa vị tôn quí trên diễn đàn văn học Việt Nam ngót hai trăm năm với tuổi tên của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm: phiêu diêu với gió núi mây rừng, ngàn hoa nội cỏ. Chinh Phụ Ngâm Khúc ngày nay không lẻ loi, độc hành trên diễn đàn văn học nữa mà chính nó đã có bạn đồng hành, duyên dáng, đẹp đẽ, yêu kiều của khí thiêng un đúc: đúng là hương, là thơ huyền huyền diệu diệu. Tôi muốn giới thiệu một NỮ TRUNG TÙNG PHẬN, cũng lại là một "áng văn làm nhuệ khí cầu vinh" chính nhờ sự có mặt của "Nàng thơ" kiều mỵ này mới chứng minh được nguồn cội sản xuất của Chinh-Phụ Ngâm-Khúc diễn nôm, cộng chung là hai đóa "trà mi" kết thân Tiên tục mà ngót hơn hai thế kỷ nay, dịch phẩm Chinh Phụ Ngâm vẫn còn bị đặt trong vòng nghi vấn, là vấn đề tranh chấp, điển hình nhất là phái của ông Phan Huy Ích bảo là nhà họ Phan là dịch giả nhưng không chịu đưa bằng chứng cụ thể. Thực ra họ Phan cũng có bản dịch nhưng kém thua bà Đoàn xa.

Bây giờ Bà Đoàn đã đến với một chiếc ngai tôn quí ngự trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, một chiếc ngai độc tôn mà những ai là tín hữu Cao Đài đều thấu rõ, rõ biết danh tánh trước khi biết BÀ là nhà văn của thế kỷ xa xưa nữa kìa. Chẳng một ai là không biết, không thuộc qua các lời Thánh Kinh trong phần Kinh Thế Đạo. Lời kinh đậm đà lời châu ngọc: khi bi thương, khi não nùng, thâm tình đến nỗi người trong cuộc rơi lệ đầm đìa trước cảnh ai -bi mà người đến dự cũng sụt sùi nức nở.

Bà đã xác nhận rõ ràng như một triện son, dấu ấn đóng lên chữ ký rằng :

"Chinh Phụ trước treo trên giá quí"
"Áng văn làm nhuệ khí cầu vinh " (câu 9-10)

Tên tuổi Bà được sáng chói, giờ lại huy hoàng hơn, rực rỡ hơn trong vườn thơ văn học lẫn Tôn giáo Cao Đài

Chinh phụ ngâm đã dắt độc giả dạo khắp quê hương xứ sở của nữ sĩ tận bờ sông Vỵ thủy và chỉ hướng cho ta nhìn theo dấu Chinh phu quanh Động Đình Hồ ở bờ sông Dương tử. Chinh phụ cũng vẻ nên cảnh cúc tàn mai nở đã mấy độ rồi mà người chinh phu vẫn còn dung ruổi mà ngán ngẩm rằng xưa nay chinh chiến mấy ai về ( cổ lai chinh chiến kỷ nhân hổi)

Điều quan trọng là chinh phụ ngâm sẽ trình diện cho ta biết được lai lịch của chính nàng là trang đài các, trí thức ; còn chàng là một tướng lãnh chỉ huy ngoài trận mạc. Đôi trai tài gái sắc đã phải chia tay nhau vì tiếng gọi của non sông.

Ngoài ra, ta sẽ phân khảo về các quan niệm của chinh phụ ngâm đối với tình cảm, nghĩa vụ, tôn giáo ; sẽ khảo sát qua lối thơ lục bát là một lối thơ linh hoạt uyển chuyển thuần túy việt nam như một cây đàn muôn điệu.

Ta có dịp duyệt lại các lời bình-luận về chinh phụ ngâm khúc trong ngót hơn hai thế kỷ để rút lại một dư luận tương ứng với hiện tình thế cuộc.

Chính nguyên tác bằng chữ Hán của Ông Đặng Trần Côn đã viết theo thể " trường đoản cú nhạ phủ" câu dài, câu ngắn không đều; có câu chỉ có 3 chữ, có câu dài đến 11 chữ, có nhiều câu lại mượn trong Nhạc phủ của Trung Hoa và nhiều câu lại mượn của Thi Hào Lý Bạch

Về âm điệu, ai cũng phải thầm thán phục âm điệu thanh thoát trong thơ văn chinh phụ ngâm rất hay cả về nguyên tác lẫn dịch phẩm. Nhờ dùng thể cách phóng túng nên âm hưởng thật dồi dào, có những thay đổi bất ngờ. Chính ông Phan Huy Ích phải thán phục cái âm điệu lâm-ly và nhẹ nhàng mà thi sĩ Đặng Trần Côn đã đưa vào tác phẩm Chinh Phụ Ngâm. Để dung hòa hai thể thất ngôn, đường luật của Trung hoa và lục bát gián thất của ta mà nữ sĩ họ Đoàn đã dịch nên thể nôm. Tuy có chỗ âm điệu không được dồn dập như nguyên tác nhưng bà Đoàn đã thay đổi lối ngắt câu hoặc dùng những âm thanh có nhịp điệu, nhờ âm hưởng được uyển chuyển bổng trầm.

Trong nỗi bi thương, mong nhớ của người chinh phụ đã tỏ ra một tâm hồn cao đẹp đầy tính chất của người phụ nữ đoan trang, dịu dàng, nhiều tình cảm, rất yêu thương chồng mà phải buồn xa cách nhớ. Sống trong nỗi nhớ nhung bi thiết mà vẫn chịu đựng. Đó là tâm hồn khả kính của người phụ nữ việt nam nói riêng và người phụ nữ Á Đông đầy đức độ hy sinh cao quí.

Nếu ông Đặng Trần Côn đã hạ bút mở đầu cho tác phẩm Chinh Phụ Ngâm bằng bút lông uyển chuyển thắm đượm giấy hoa tiên bằng câu :

"Thiên địa phong trần 天 地風 塵
"Hồng Nhan đa truân" 紅顏多 truân

Thì nữ sĩ họ Đoàn cũng không kém tài tình vẫy tay tiên bằng nét yêu kiều đã gói ghém được cả tâm sự người chinh phụ lẫn bối cảnh xã hội lúc bấy giờ :

"Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
"Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên."

Bấy nhiêu nét chấm phá ấy đã vẽ lên bức tranh linh-động của toàn cảnh vậy.

Áng Văn: (Oeuvre Littérature)

Là áng văn chương. Đây là nói đến một tác phẩm văn chương được phô diễn bằng lối văn thơ hay văn vần có đủ tình tiết hoặc ký thác tâm sự, hoặc ngụ ý răn đời hoặc một phương án cải tổ xã hội.

Thì đây điển hình áng văn Chinh Phụ Ngâm Khúc diễn nôm của Bà Đoàn mang tính chất ký thác nhiều hơn để nói lên sự chiến tranh làm điêu đứng lòng người mà dân tộc việt Nam là dân tộc hiếu hòa, không muốn chứng kiến mãi cảnh điêu linh thống khổ của sự tương tàn nữa, cũng đồng thời xác định bản dịch nôm chinh phụ ngâm khúc là của chính bà Đoàn là dịch giả để xóa tan cái nghi án đã trót hơn hai thế kỷ chưa giải được.

Song song với thi phẩm chinh phụ thì có áng văn thi Nữ Trung Tùng Phận có tính cách, là một phương án tổ chức xã hội, phục hưng nền văn hóa của nho phong để dẫn đến nhơn phong mà ngươn hội này bà Đoàn đã viếng lại dân việt nam với một kỷ vật vô giá, sau hơn hai trăm năm vắng bóng trên quả địa cầu này, để giờ đây chúng ta mần mò từng đóa ngọc ấy.

 

 

CHÍNH CHUYÊN

正 專
E: Faithful, constant (woman).
F: Fidèle, constant (femme).

Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn, không tà vạy. Chuyên: chỉ chú ý một việc. Chánh chuyên hay Chính chuyên là chỉ người phụ nữ đức hạnh, lòng dạ cứng cỏi không thay đổi.

Bài thài hiến lễ Cửu Nương:

Chính chuyên buồn chẳng trọn đời,

 

 

CHÍNH SÁCH HÒA-BÌNH CHUNG SỐNG Của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

Trước khi xuất ngoại qua Cam Bốt, Đức Hộ Pháp có mời một số Chức Sắc Hội Thánh đến Hộ Pháp Đường để Ngài dạy việc vào ngày 24 tháng 12 năm Ất Mùi (1955). Ngài cho biết trước việc xuất ngoại sắp tới của Ngài là đưa ra một giải pháp mới cho Việt Nam. (theo tài liệu tốc ký của ông Thừa sử Phan Hữu Phước).

Mười hai ngày sau, đúng mùng 5 Tết Bính Thân (1956) Ngài sang Nam Vang (Cam Bốt), một nước Trung lập, để được tự do thi hành ý định là Ngài nhận thấy cuộc tổng tuyển cử bất thành thì nội chiến không tránh khỏi nên mới đề xướng "Chánh sách Hoà Bình Chung Sống" để trung gian hoà giải hai miền. Ý định này chẳng phải mới có khi Đức Hộ Pháp lên Nam Vang, mà Ngài đã thấu triệt sâu xa từ ngày khởi đi Paris để theo dõi Hội nghị Genève 1954. Trước khi sang Paris, đêm 15-4-Giáp Ngọ (1954), trong một buổi thuyết Đạo tại Đền Thánh, Ngài nói:"… Bần Đạo sẽ dìu dẫn Thánh thể Đức Chí-Tôn đến địa vị Trung lập, ngày nay Thánh thể Đức Chí-Tôn đến giai đoạn là một giáo sư hoà giải …". Như vậy là Ngài có ý định tạo một giải pháp hoà giải dân tộc khi hai bên Pháp-Việt chưa ký Hiệp định Genève 1954.

"Chánh sách Hoà Bình Chung Sống" ban hành ngày 26-3-1956 có cáo tri đến ông Chủ tịch Liên Hiệp Quốc, Tổng Thống và Thủ Tướng các cường quốc, Uỷ hội Quốc tế kiểm soát đình chiến, hai chánh phủ hai miền lúc bây giờ là Cụ Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm, mỗi nơi đều có điện văn hồi đáp tiếp nhận.

Riêng Cụ Hồ Chủ Tịch có gởi điện văn hồi đáp như sau:

Kính gởi Hộ Pháp Phạm Công Tắc,
135, Mr P.B Norodom P.Penh

"Tôi trân trọng cám ơn bức điện văn Cụ gởi cho tôi ngày 26-4-1956 và thành thật hoan nghinh Cụ đã tỏ ý muốn nước Việt Nam ta được Hoà Bình thống nhứt. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, toàn dân ta từ Bắc chí Nam trong nước và ngoài nước đều đang kiên quyết và bền bĩ đấu tranh để thực hiện nguyện vọng tha thiết của dân tộc, là làm cho nước Việt Nam ta được hoà bình thống nhứt, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Cuộc tranh đấu hiện nay của nhân dân ta tuy phải khó khăn và phức tạp, song toàn dân ta đoàn kết một lòng kiên quyết phấn đấu, cho nên nhứt định sẽ thắng lợi".

Tôi xin gởi Cụ lời chào trân trọng.

Hà Nội, ngày 26-6-1956
Hồ Chí Minh
Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Chánh sách Hoà Bình Chung Sống được trong Đạo từ Chức Sắc đến tín đồ nhiệt liệt hưởng ứng. Chánh phủ Ngô Đình Diệm phái Đặc sứ Nguyễn Ngọc Thơ lên Toà Thánh Tây Ninh cảnh giác và ngăn chặn, vì giải pháp này không thích hợp sách lược chiến tranh của Mỹ, làm suy yếu tinh thần binh sĩ. Đến năm 1957, Chánh quyền Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp, bắt bớ hàng ngàn người đày đi câu lưu trong các Trung tâm cải huấn, có một số bị chết trong ngục. Nhưng hết đợt này đến đợt khác, các Ban bộ vẫn nối tiếp hoạt động cho đến ngày Đức Hộ Pháp qui Thiên (1959) và liên tục cho đến ngày miền Nam được giải phóng (dl: 30-4-1975)

KẾT LUẬN: Chánh sách Hoà Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc phát sanh từ ngày đất nước Việt Nam bị qua phân do Hiệp định Genève 1954. Là một vị Giáo chủ của một nền Tôn giáo và cũng là công dân của nước Việt Nam, Ngài không muốn thấy chiến tranh anh em giết nhau như thời Chúa Trịnh và Nguyễn, và gần đây như ở Triều Tiên, nên mới đề ra một giải pháp chặn đứng chiến tranh, tiết kiệm xương máu cho nòi giống.

Mặc dầu tình thế nước nhà ngày nay đã ngã ngũ, nhưng lời tiên đoán của Ngài vẫn không sai."Chánh sách Hoà Bình Chung Sống" của Đức Hộ Pháp không giống 5 nguyên tắc sống chung Hoà Bình của thủ tướng Nehru tại Hội nghị Bandseng hoặc của Tổng Thống De Gaulle. Kế hoạch trung lập của tướng De Gaulle là một chiến thuật ngoại giao có lợi cho nước Pháp, còn đường lối Hoà Bình trung lập của Đức Hộ Pháp là đường lối dung hoà nội bộ Việt Nam. Cả hai đều khác nhau xa về mục đích cũng như chủ trương của nó.

Thế giới hưởng ứng theo chính Sách của Cao-Đài-giáo:

*Ngày 21-4-1956, chủ tịch Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm soát và đình chiến tại Cao-Miên (Intemational comission for Supervision and Control in Campodia) gởi văn thơ ký tên phúc đáp đồng tình chính sách Hoà Bình Chung Sống do Đức Hộ Pháp đề ra.

*Ngày 24-4-1956 Đức Hộ-Pháp nhận văn thơ phúc đáp đồng tình chính sách Hoà Bình Chung sống của Việt Nam

- Thủ Tướng Anh Quốc,

- Quốc Vương Norodom Sihanouk Npayavach du Campuchia

- Tổng Thống Pháp GuyMollet.

*Ngày 26-4-1956 Đức Hộ Pháp nhận văn thơ phúc đáp của ông Quốc Vụ Khanh Pháp Quốc Pierre Mendes đồng tình ủng hộ chính sách Hoà Bình Chung Sống của Việt-Nam.

*Ngày 27-4-1956 Đức Hộ-Pháp nhận văn thơ phúc đáp của Hội Đồng Bảo-An Liên-Hiệp-Quốc ấn ký (Chef de Section Departement des Affaires Polique et Du Conaeil de Securitérited Nation) ủng hộ Chính sách Hoà-Bình Chung Sống của Việt-Nam.

*Ngày 3-5-1956 Đức Hộ-Pháp nhận văn thơ phúc đáp của Đại-Sứ Pháp Quốc tại Cao-Miên ấn ký (Haut commissriat Republique France Au Cambodge) tỏ bày sự ủng hộ Chính sách Hoà-Bình Chung-Sống của Việt-Nam.

*Ngày 14-5-1956 Đức Hộ-Pháp nhận văn thơ phúc đáp của Uỷ Ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc ấn ký (Division Des Droits De Lhomme United Nation) bảo trợ và ủng hộ đề nghị Chính Sách Hoà Bình Chung Sống cho Việt-Nam.

*Ngày 16-5-1956 Đức Hộ Pháp nhận thơ phúc đáp lần thứ hai của Quốc Trưởng Cao-Miên ấn ký (Samdach Norodom Sihanouk Upayvareach) hoàn toàn ủng hộ và đồng tình Chính Sách Hoà-Bình Chung-Sống của Việt-Nam.

*Ngày 19-5-1956 Đức Hộ-Pháp nhận thơ phúc đáp của Tống-Thống Phi Luật Tân ấn ký (Office of President of the Philippines) ủng hộ và đồng tình Chính sách Hoà-Bình Chung Sống của Việt-Nam.

*Ngày 05-01-1957 Đức Hộ-Pháp nhận thơ phúc đáp của Hoàng-Đế Cao Miên (Samajesté preah Bat samdeach Pread Norodom Sumarit Roi du Cambodge) đồng tình và ủng hộ giải pháp Hoà Bình của Việt-Nam.

Đây là 5 câu trả lời của Đức Hộ-Pháp về
Chánh Sách Hòa-Bình Chung sống

Câu I: Ngài nhận xét thế nào về Chánh Sách Hòa bình Trung lập của Vương quốc? Theo Ngài, đường lối Trung lập của Thái-Tử đem lại lợi ích gì cho dân Khmer? Và đường lối ấy ảnh hưởng thế nào đối với nhân dân Việt Nam và Đạo Cao-Đài?

Đáp: Đạo Cao-Đài là một Tôn-giáo tượng trưng cho tinh thần quốc gia của một dân tộc có phong tục, có văn hiến với một nền văn-minh Khổng giáo tối cổ: lấy Từ Bi, Bác-Ái làm nền tảng. Đạo đã hằng hy sinh gian khổ để mưu cầu Hòa-bình hạnh phúc cho mọi người. Trong buổi cơ-năng lực nguyên-tử như ngày nay, thảm họa chiến tranh càng ghê tởm thì việc Chung Sống Hòa bình giữa các dân tộc lại càng cần thiết lắm. Vì cớ, Bần-Đạo đã đề xướng thuyết "Hòa Bình Chung Sống" đặng mong gây hòa bình hạnh phúc cho thiên hạ. Vả lại, Đạo Cao-Đài có tín ngưỡng là cả loài người đều là anh em do Đức Thượng Đế tạo đoan thì không một ai nơi thế gian này có quyền lực xúi giục loài người vào chỗ chết đặng thỏa mãn dục vọng làm bá chủ toàn cầu bằng võ lực. Nhân loại phải Chung Sống Hòa-bình cùng nhau mới gìn giữ được hạnh phúc.

Chánh sách Hòa Bình Chung Sống của Vương quốc Cao Miên cũng xuất phát từ giáo lý nhà Phật đã không hẹn mà nên, cùng với Đạo Cao-Đài gặp nhau trên lập trường Nhơn-đạo, Hòa-bình và Chung sống. Chánh sách Hòa bình Trung lập ấy, dưới sự lãnh đạo anh minh của Thái-tử Norodom-Sihanouk đã đem lại cảnh thái bình thạnh vượng cho dân Khmer, tạo hạnh phúc cho dân tộc, gây uy thế lớn lao cho Cao-Miên trên toàn cõi năm châu.

Vì cớ, toàn thể Tín đồ Cao-Đài chân thành ủng hộ và hoan nghinh những thành công của Thái tử và dân tộc Khmer. Chánh sách ấy còn ảnh hưởng tốt và sâu xa đến nền thống nhứt Việt-Nam và củng cố nền hòa bình ở Đông dương và Đông-Nam-Á, làm cho hễ ai là người Việt-Nam thiết tha với Tổ-quốc, với Hòa-bình, thì không sao không mang ơn vị lãnh tụ đã đề xướng ra nó.

Câu 2: Xin Ngài cho biết về tình hình hành Đạo của Tín đồ Cao-Đài ở hai miền nước Việt-Nam từ ngày Hòa-bình lập lại, nghĩa là từ khi Hiệp định Genève ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954?

Đáp: Từ ngày Hòa-bình lập lại ở Việt-Nam đến nay, ở miền Bắc có lối tám trăm ngàn (800.000) Tín đồ được hành Đạo dễ dàng, vì Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hưởng ứng thuyết "Hòa Bình Chung Sống" do Bần Đạo đề xướng; Thuyết này không trái ngược lại đường lối Tôn giáo của họ.

Ở miền Nam Chánh-phủ Cộng-Hòa, do ngoại bang điều khiển, lại nghịch hẳn cùng lý thuyết này, nên gần hai triệu Tín đồ và nền Đạo phải trải qua nhiều cơn khảo-đảo có thể nói chưa từng có từ khi hoằng khai Đại-Đạo đến nay, Tòa Thánh Cao-Đài bị chiếm, Chức sắc Đại Thiên phong cầm quyền của Đạo bị ràng buộc. Thánh đường, Tu viện không còn là chỗ trang nghiêm, uy-liệt như xưa. Đời sống của đạo hữu thật là khó khăn vô tận. Thậm chí, năm vị Chức sắc của Đạo phải bỏ mình nơi khám đường, 500 đạo hữu bị tù đày.

Câu 3: Tín đồ Cao-Đài ở hai miền nước Việt Nam đã làm gì suốt bốn năm qua để thống nhất đất nước?

Đáp: Những Tín đồ Cao-Đài ở miền Nam dầu phải khổ hạnh thế nào cũng theo đuổi Chánh Sách Hòa bình Thống Nhứt đất nước luôn luôn và họ luôn tâm niệm câu Thánh ngôn của Đức Chí-Tôn và Đức Lý Giáo Tông là "Ngày nào còn một lẽ bất công trên mặt thế này là Đạo Cao-Đài chưa thành Đạo".

Câu 4: Trong tình hình biến chuyển hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới, Ngài nghĩ phải làm gì để thống nhất nước Việt-Nam bằng phương pháp Hòa bình?

Đáp: Hiện nay trên Thế giới thì mặt trận dân tộc tự quyết thâu quyền dân tộc độc lập đã sôi nổi và phát triển mạnh mẽ không còn quyền lực nào ngăn cản lại được. Trong nước thì toàn dân đều hưởng ứng thuyết Thống nhất bằng phương pháp Hòa-Bình; cho nên Chánh sách hòa giải Nam- Bắc đặng thống nhất nước nhà và chủng tộc của Bần-Đạo để đi đến Hiệp thương Tổng tuyển cử y theo Hiệp-định Genève ký kết ngày 20-07-1954 đã định. Chắc chắn sẽ làm thỏa mãn nguyện vọng thiêng liêng của quần chúng hai miền, vì không bên nào cưỡng ép bên nào; mỗi miền đều giữ quyền tự trị của mình. Một Chánh phủ Trung ương duy nhứt do toàn dân đề cử sẽ qui định Hiến pháp chung. Thuyết hòa giải dân tộc tuy gặp nhiều trở ngại, song ngoài nó ra, không còn phương pháp nào để thống nhất đất nước và dân tộc. Đều kiện cần thiết để thuyết hòa giải dân tộc mau có kết quả Bần Đạo nghĩ là hai miền phải hoàn toàn tự chủ. Miền Nam hiện nay có nhiều khó-khăn cần có một chánh thể quốc gia dân chủ, nghĩa là quyền lợi của các tầng lớp dân chúng phải được chú trọng và cải thiện, các Tôn giáo phải được tự do hành Đạo và một Chánh Sách Hòa bình Trung lập trong việc bang giao với nước ngoài, nghĩa là không lệ thuộc ngoại bang, không liên thuộc các khối quân sự, Sống Chung Hòa bình với tất cả các nước nào thật tình tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ quốc gia của mình thì mới mong giải quyết đặng các vấn đề đối nội và đối ngoại.

Câu 5: Xin Ngài cho biết cảm tưởng đối với bức Công hàm đề ngày 22-12-1958 của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng-Hòa đã gới Chánh phủ Cộng Hòa Việt-Nam? Trong trường hợp Chánh Phủ Việt Nam vẫn cự tuyệt những đề nghị nêu ra trong bức Công-Hàm này, Ngài nghĩ thế nào?

Đáp: Như đã nói trên vì Bác-ái, Nhơn-đạo, Công- Bằng của giáo lý Đạo Cao-Đài, chớ không phải vì một nguyên tắc hay chủ nghĩa chánh trị nào mà thiên Nam hay theo Bắc, Bần-Đạo từ thử đến giờ chủ xướng hai miến thi đua Nhân-Nghĩa để tránh nạn nội chiến hay tương tàn cốt nhục và mau thống nhất tổ quốc và dân tộc, vì cớ đề nghị của bức Công-hàm ngày 22-12-1958 của Chánh phủ Việt-Nam Dân chủ Cộng-Hòa là một sáng kiến hay về các mặt Quân sự, thương mãi, văn hóa và tình cảm nhằm giải quyết sự chia cắt đất nước tạm thời hện nay và lấp bằng sự chia rẻ dân tộc chỉ có lợi cho ngoại bang.

Xưa nay Chánh phủ Cộng Hòa không trả lời cho những đề nghị của Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lần này Bần Đạo ước-ao Chánh phủ miền Nam nên nhân cơ hội này cùng chánh phủ miền Bắc bàn bạc để xem họ có dám thực thi lời tuyên bố của họ không và cũng để rõ ai trắng ai đen, ai lệ thuộc, ai độc lập? Im lặng mãi Bần Đạo e quốc dân sẽ cho rằng mình không đoái hoài đến ý nguyện của dân tộc, rằng mình không tự chủ.

Nhân dịp Xuân về, Bần Đạo xin gởi cả tâm tình yêu ái vô đối cho các em trong cửa Đạo và ban phép lành cho toàn cả con cái Đức Chí-Tôn y như Bí pháp của Ngài truyền dạy và cầu xin Đại-Từ-Phụ và Đại-Từ-Mẫu thường ngự tại tâm trí của mỗi người.

Bần Đạo xin nhắc nhở các em là ta phải đuổi đạt cho kỳ được chân lý chánh đáng của Đạo là: "Muốn nên mình trước hãy làm nên cho người, muốn tạo hạnh phúc cho mình trước phải tạo hạnh phúc cho người". Bần Đạo cũng xin gởi đến Việt kiều lời chúc mừng Tân niên đầy hạnh phúc và Đạo Đời tương đắc.

 

 

CHÍNH THỨC KHAI ĐẠI-ĐẠOTAM KỲ PHỔ ĐỘ

[Ấy là giờ Tý tức là khởi đầu của 1 giờ ngày 1 tháng 1 ăm Bính Dần (dl: 13-02-1926) Hiệp đủ ba con số 1]

Ngày chính thức Khai Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ chính là biểu hiện "Nhân sanh ư Dần" đó vậy. Đây là một ngày trọng đại hơn bất cứ một ngày nào. Quan trọng hơn cả ngày Khai Đạo Rằm tháng 10 hằng năm, hơn cả ngày Vía Đức Chí-Tôn 09 tháng Giêng hay ngày Hội Yến Diêu Trì Cung Rằm tháng 8 cũng không quan trọng bằng. Quyển "Đại Mạch truy nguyên" của Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu biên soạn, thì trong Tý thời ngày mùng Một tháng Giêng năm Bính-Dần, tức khuya mồng 01 Tết, Đấng Cao Đài giáng dạy:

"Hôm nay là ngày trọng đại Thầy chính thức khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cứu vớt 92 ức nguyên nhân đang bị đọa trầm luân, cho Thi:

Phụng gáy non Nam Đạo trổ mòi
Trổ mòi nhân vật bốn phương trời,
Trời Âu, biển Á chờ thay sắc,
Sắc trắng mây lành phủ khắp nơi.

Cao-Đài Thượng-Đế

Đó là ngày Khai Đạo Cao-Đài về cơ Phổ hóa. Qua đến mồng 9-01 nhằm Vía Đức Chí Tôn, ông Vương Quan Kỳ thiết đàn tại nhà riêng ở số 80 đường Lagrandière (nay là đường Gia Long). Đức Thượng Đế giáng cơ:

Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,
Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.
Chung hiệp rán vun nền đạo đức
Bền lòng son sắc đến cùng TA.

Quan phủ Ngô Văn Chiêu xin Đức Thượng Đế lấy tên mấy người đệ tử mà cho bài thi. Đức Thượng Đế cho:

CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành.
HẬU ĐỨC TẮC CƯ thiên địa cảnh,
Quờn Minh Mân đáo thủ đài danh.

12 chữ lớn trong ba câu đầu là tên của 13 vị môn đệ đầu tiên, vì hai ông Cao Hoài Sang và Võ Văn Sang điểm chung một tên. Tuy theo Đạo nhưng các ông còn ngỡ ngàng trước cách lễ bái, đạo phục, nhất là cách thờ Thiên Nhãn. Ngày 12-01-Bính Dần (dl: 04-02-1926) Đấng Cao Đài giáng dạy: "Thập Nhị khai thiên là Thầy, Chúa tể cả càn khôn thế giái, nắm trọn Thập nhị Thời Thần trong tay. Số 12 là số riêng của Thầy".

"Thầy cho các con hiểu rằng: buổi tạo thiên lập địa Thầy sanh loài người ra nhằm ngày Dần "Nhân sanh ư Dần". Vậy từ đây, Thầy dùng các con làm tay chơn mà gầy dựng nền Chánh giáo, lại cũng kể từ ngày nầy là ngày phát khởi nguồn Đại Đạo, lấy hiệu là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, còn Ngài thì tá danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" rồi Ngài giải rõ trong danh hiệu của Ngài gồm đủ Tam giáo: Nho- Đạo- Thích. Thế nên Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ khai nhằm giờ Tý, ngày mùng 1 tháng 1 năm Bính Dần là do nơi đó".

 

 

CHỈNH

1) Chỉnh: 整 Nguyên thể hoàn toàn.

2) Chỉnh: 整 Sửa sang cho ngay ngắn, tốt đẹp.
Thí dụ: Chỉnh đàn, Chỉnh sát.

 

 

CHỈNH ĐỐN

整 頓
F: Organiser, réorganiser.

Sửa sang, sắp đặt cho chỉnh tề.

Đức Hộ-Pháp nói:… "Thọ lịnh của Thầy mà hành pháp vì thuộc về quyền-hành của các Đấng ấy, ngày nay mới tính sao? Trong các Bí-pháp có cơ mầu nhiệm đắc Đạo, bây giờ các Đấng ấy có cho hay là không? Thảm! (cười!) nếu Lão có phương chỉnh đốn nền Đạo lại thì đặng, bằng chẳng vậy, thì không có một người đắc Pháp, Cửu-Trùng-Đài cũng đã yểm quyền Bát-Quái Đài mà chớ!. Thật vậy đó chút". Ấy là cơ vô vi: TINH –KHÍ- THẦN hiệp nhứt, chư Hiền-hữu có biết à! Ngọc là Tinh, Thượng là Khí, Thái là Thần, nếu cả ba không hiệp thì chẳng hề thành Đạo đặng mà chớ!".

 

 

CHỈNH NGHI

整 儀

Đức Lý dạy ngày Thứ hai: 14-12-1926 (âl 10-11-Bính Dần) "Đại hỉ! Thánh Thất đã an, chư Hiền-hữu lo chỉnh nghi cho tinh tấn. Thầy dạy Thượng Trung Nhựt, Hiền hữu lo sắp đặt thế nào cho ra nghi tiết thì sắp đặt. Sau lưng bàn thờ Hộ Pháp, phải để một miếng nỉ dài, ngang một thước rưỡi, cao ba thước, thêu chữ bùa Lão vẽ đây. (Bùa chữ KHÍ). Như có thế làm một cái bàn thờ ba nấc, giữa cao, hai bên bằng, cho Thượng Phẩm, Thượng Sanh đứng." Đây là lời Đức Lý Thái Bạch dạy lập Bàn thờ Hộ Pháp với lá bùa chữ Khí, chứ không phải thờ hình của Đức Hộ Pháp. Tất cả các Thánh Thất ngày nay đều thờ chung một kiểu vở như thế.

 

 

CHỈNH NGHIÊM PHÁP QUÂN (Phẩm)

Phú Nhuận ngày 16-12-Kỷ Mão (dl: 24-01-1940)

Tái cầu: Đức Lý giáng: "Bần Đạo hết sức yêu cầu các Chức Sắc rán đại tịnh, mới vừa qua thì tà quái xung vào khuấy rối các Hiền Hữu, cho cả tâm của mấy vị bất đồng ý kiến, nên Đức Chí Tôn không giáng, giao lại cho Bần Đạo…

Vậy, vưng lịnh Đức Chí-Tôn ngày 17-12-Kỷ Mão mời ba vị Tân phong Hiệp Thiên Đài thính lịnh:

1- Hiền Hữu NGUYÊN! Đức Chí-Tôn ban cho chức Bảo Công Quân.

2- Hiền Hữu NGỌC! Đức Chí-Tôn ban cho chức Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,

3- Đức Chí-Tôn ban cho Hiền Hữu NHÀN lãnh chức Chỉnh Nghiêm Pháp Quân, phái Thái. Đạo phục y như Thập Nhị Thời Quân, song trên mão hai bên có thêu Thiên Nhãn, lưng vấn một dây sắc lịnh ba màu, thêu trước sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ 大道三期普渡 bằng chữ Hán tự, phía sau thêu chữ Chỉnh Nghiêm Pháp Quân, thắc một tụi để bên tay mặt, theo Hiền Hữu Thượng Hóa Thanh giữ-gìn giùm nghe! Mỗi khi nào hành Đại Lễ thì mới xem xét lo liệu phương nào cho mỗi lần đều được yên tịnh, ổn thỏa và truyền điển cho các bệnh nhân mất trí khôn cùng loạn tâm thần. Cầm cờ Đạo đi trước. Còn khi Chức sắc Hiệp Thiên Đài nhóm hội hay là cầu hỏi các đấng Thiêng liêng nơi Hiệp Thiên Đài thì Hiền Hữu giữ trật tự, không cho một ai được phép lên Đài .

Các chức sắc Hiệp Thiên và Cửu Trùng giữ tâm khắn khít nhau như một khối, thì Bần Đạo yêu cầu Đức Chí-Tôn giáng Đàn phủ-ủy cho cả chúng sanh nhờ"

Phú Nhuận ngày 19-01-Canh Thìn (dl: 26-2-1940)

Thầy dạy: "Nhàn! Con đừng bần dùng, nên tạm lãnh phận sự Lý Bạch đã cầu xin nơi Thầy ban cho trong lúc này. Phẩm vị chánh thức sau Thầy sẽ định nghe! Cờ Đạo, Thầy tưởng các con Hiệp-Thiên-Đài đủ tứ đặng tạo ra nhưng tiện dịp Thầy cho kiểu mẫu luôn: Cán cờ bề dài hai thước bốn tấc (2m40), ở trên đuôi cờ chừa ba tấc (0m30) làm ngù cờ, kế đó chéo trên lá cờ. Lá cờ chia ra ba màu: mỗi màu ba tấc (0m30) cộng là chín tấc (0m90); từ chót dưới lá cờ cho tới chót dưới cán cờ phải còn một thước hai tấc (1m20), bề dài lá cờ de ra phải có chín tấc (0m90). Đó là dùng trong Thánh Thất và trong lúc này, còn về phần Tòa Thánh thì sau sẽ chỉ".

 

 

CHỈNH SÁT CÚNG PHẨM

整 察 供 品
E: To examine and to arrange the offerings.
F: Examiner et arranger les offrandes.

(Chỉnh: Sửa sang cho ngay ngắn, tốt đẹp. Sát: quan sát, xem xét. Cúng phẩm: phẩm vật dâng lên cúng). Chỉnh sát cúng phẩm là xem xét và sắp đặt cho ngay ngắn các phẩm vật dâng cúng Đức Chí-Tôn và các Đấng trong những kỳ Đại Đàn nơi Tòa Thánh trung ương.

Ðây là câu xướng của vị Chức sắc xướng lễ tại Giảng đài Tòa-Thánh trong nghi tiết Ðại đàn. Chỉ có Ðại đàn ở Tòa Thánh mới xướng câu nầy, còn nơi các Thánh Thất, Báo Ân Từ và Ðiện Thờ Phật Mẫu thì không có. Khi cúng Ðại đàn nơi Tòa Thánh, vị Giáo Sư phái Ngọc trên Giảng đài xướng "Chỉnh sát cúng phẩm" thì một vị Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài từ dưới đi lên lầu Hiệp-Thiên-Ðài, đến xông hương khử trược hai bàn tay và mặt, vừa niệm câu "Vạn trược tiêu tan, sanh khí phục hồi", rồi mở Tráp Tam bửu ra xem xét đủ Tam bửu (Hoa, Quả, Rượu, Trà), lấy từ món xông hương khử trược, nhớ niệm câu "Vạn trược tiêu tan, sanh khí phục hồi".

Tiếp theo, Lễ sĩ đem bó hương 12 cây trao cho, vị Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài kiểm lại có đủ 12 cây không, rồi cầm đốt cho cháy đầy đủ, đứng định thần, ngó lên Bửu điện, nhìn ngay Thiên Nhãn, tay mặt cầm bó nhang 12 cây đang cháy, mắt vẽ chữ (.) ngay con ngươi Thiên Nhãn, ngón cái của chơn trái vẽ dưới gạch chữ (.), chơn trái đứng lên chữ ấy, chơn mặt ký chữ Ðinh vào gót chơn trái, gọi là đạp Ðinh Giáp. Tay trái bắt ấn Hộ Pháp để ngay ngực, tay mặt cầm bó nhang, nín thở định thần vẽ chữ (.) trên Tráp Tam bửu, rồi xá và đậy nắp Tráp lại, trở xuống từng dưới, đứng tại vị trí cũ.

Khi thấy Nhạc Sư đứng trên Giảng đài bên Nữ phái đưa bông sen lên làm hiệu, vị Chức sắc Hiệp-Thiên Ðài ấy lên Cung Ðạo, xá Ðức Chí Tôn, thỉnh Năm cây nhang, đi trở xuống, đứng ngang vị Chức sắc quì Ngoại nghi, chờ. Khi Chức sắc đứng ở Giảng đài xướng "Quì" thì cùng quì xuống với 4 Lễ sĩ, trao bó hương cho vị Chức sắc quì Ngoại nghi, xong thì đứng dậy bày ban. Khi Lễ sĩ khởi điện hương thì vị Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài đi trở xuống, đứng tại vị trí cũ.

 

 

CHỈNH TIÊN HOA

整 仙 花
E: To arrange the fairy flowers.
F: Arranger les fleurs féeriques.

(Chỉnh: Sửa sang cho ngay ngắn, tốt đẹp. Tiên hoa: ý nói hoa quí). Chỉnh Tiên hoa là sửa sang bông hoa quí cho tốt đẹp. Ðây là câu xướng của Lễ sĩ. Khi xướng lên câu nầy, hai cặp Lễ-sĩ Đăng Đài quì xuống tại Ngoại nghi, trao hoa cho Chức sắc đang quì, để Chức sắc nầy sửa sang Bông hoa cho ngay ngắn tốt đẹp, rồi trao lại cho cặp Lễ sĩ Đài, điện vào Nội nghi.

 

 

CHỈNH TÚC Y QUAN

整 肅 衣 冠

Chỉnh: Sửa sang cho ngay ngắn, tốt đẹp. Túc: nghiêm khắc. Y: áo. Quan: mũ, mão. Chỉnh túc y quan là sửa sang nghiêm chỉnh áo và mão.

 

 

CHỈNH Y - CHỈNH LÝ

整 衣 - 整 理

"Qua điền bất năng chỉnh y, lý hạ bất chỉnh quan".

 

 

CHO ROI CHO VỌT

Đây là lời Thầy dạy qua câu ca dao Việt Nam là:

"Thương con cho roi cho vọt,
"Ghét con cho ngọt cho bùi".

Phép trị gia đối với con cái bằng Luật thương yêu, nhưng đôi khi cũng phải phạt để răn dạy, như lời Thầy dạy: "Các con đã chịu một trách-nhiệm nơi mình, nếu Thầy chẳng để cho các con học tập mà lập nên địa-vị mình trước mặt chúng-sanh cho xứng-đáng, thì Đạo cũng chưa ra vẻ Đạo. Vì vậy mà Thầy chịu ép lòng để cho các con hằng nhớ rằng: Chẳng giờ phút nào Thầy xa các con hết. Nghe à! Thầy cho Thi:

Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường.
Cho roi cho vọt mới là thương.
Nhơn-tình ví chẳng mưu thâu-phục,
Thế-giới mong chi phép độ lường.
Nhỏ dại Thầy nuôi mùi đạo-hạnh,
Lớn khôn bây xứng mặt hiền-lương,
Vinh-hoa phẩm cũ ngôi xưa đó,
Khổ cực các con chớ bỏ trường.

 

 

CHỐN ĐỌA ĐÀY

Chốn đọa đày: Còn gọi là đọa cảnh 墮 境: Nơi bị đọa. Ở đây chỉ cõi trần gian của con người, vì nơi này là cõi thấp kém, tối tăm, chứa nhiều tội lỗi, ô-trược và khổ não...Cõi đọa đày là nơi để trừng phạt các bậc Thánh, Tiên có lầm lỗi bị đọa xuống để lập công chuộc tội.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: "Trần là cõi khổ để đọa bậc Thánh, Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả phải mất cả Chơn linh là luân hồi".

Kinh Khi Thức Dậy có câu:

"Có thân giữa chốn đọa đày,
"Đếm ba vạn sáu ngàn ngày khó khăn."

 

 

CHỐN HƯ LINH

Chốn Hư-linh là Cõi Hư vô linh hiển, ấy là chỉ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống hay là Niết Bàn của Phật giáo.

Tất cả người có tu hành đều chờ ngày hội hiệp, tức là đợi chờ ngày đoàn tụ, chờ ngày hiệp mặt cùng nhau.

Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu có câu:

"Chốn Hư linh chờ ngày hội hiệp,
"Dầu căn xưa quả kiếp dường bao."

 

 

CHỐN TÂY PHƯƠNG

Chốn Tây phương là Cõi Tây phương Cực Lạc, tức Cực Lạc Thế Giới.

- Đường về cõi Tây phương Cực Lạc thì rất thong thả nhàn hạ.

- Chí Tôn Đại-Ân-Xá kỳ ba nên cõi Diêm cung các Chơn linh điều được tha thứ tất cả căn quả.

Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu có câu:

"Chốn Tây phương đường đi thong thả,
"Cõi Diêm cung tha quả vong căn."

 

 

CHỐNG NGOẠI XÂM

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Nhưng vận mạng Việt Thường còn truân chuyên thống khổ, nên sau khi vua Gia Long tức vị thì nước Việt Nam bị Pháp tóm thâu làm thuộc địa. Một lần nữa, dòng châu kia chưa ráo, lệ thảm nọ lại tuôn, quân khí ta lẫy lừng định kế chống ngoại xâm. Ngặt nỗi sức yếu cô đơn, chư liệt Vương: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, lần lượt bị biếm và đồ lưu hải ngoại, rồi gởi xác nơi xứ lạ quê người."

 

 

CHỚ CƯỢNG CẦU MÀ NGHỊCH THÁNH Ý

Bài Thánh Ngôn nầy do hai Ngài: Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu phò loan. Ðức Chí Tôn dạy Ngài Cao Quỳnh Diêu:

Sài gòn, ngày 12-9-1926 (âl 6-8-Bính Dần)

"Thầy mừng mấy con: Ðặng một việc chi chớ vội mừng, thất một việc chi chớ vội buồn, vì sự mừng vui và buồn tủi thường pha lẫn kế cận nhau. Còn sự gì phải đến cho con, ấy là tại nó phải vậy. Chớ cượng cầu mà nghịch Thánh ý Thầy. Hãy xem dò theo đây mà day trở trong bước đường Đạo:

Mối đạo từ đây rán vẹn gìn,
Tu là khổ hạnh khá đinh ninh.
Lòng thành một tấm Trời soi xét,
Gương rạng nghìn thu nguyệt chiếu minh.
Gai gốc lần đường công trước gắng,
Thảnh thơi có lúc buổi sau dành.
Vòng trần chìm nổi từ đây dứt,
Công quả tua bền độ chúng sinh.

Tiếp theo Thánh Ngôn nầy, Ðức Chí Tôn cho phép Ông Cao Quỳnh Tuân (Xuất Bộ Tinh Quân), thân sinh Ngài Cao Quỳnh Diêu và Ngài Cao Quỳnh Cư, giáng cơ dạy tiếp. (Xem chữ Xuất Bộ Tinh Quân. Vần X)

 

 

CHỜ CON LẬP ĐỨC GIÚP HUỜN NGÔI XƯA

Ông bà, Cha mẹ nếu trước đây qui liễu trước ngày Chí-Tôn mở Đạo, cũng có số người khiếm tu mà phải mắc tội nơi Phong Đô, ngày giờ này họ đang chờ con cháu biết tu mà cứu độ cho mà dâng công quả để được hưởng nhờ.

Thế nên bài Kinh Tụng Cha Mẹ Qui Liễu có câu:

"Thong dong cõi thọ nương hồn,
"Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa."

Một bằng chứng là trong gia đình Ngài Bảo Pháp Nguyễn-Trung Hậu, Ngài là người con hiếu thảo. Nhờ công quả của Ngài lập được trong Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ mà thân mẫu của Ngài được siêu thăng và tăng cao phẩm vị nơi cõi Thiêng liêng Hằng sống, đúng với hai câu kinh trên.

Thân mẫu của Ngài Bảo Pháp được Đức Chí Tôn cho phép giáng cơ bày tỏ với Ngài như sau:

Ngày 19-2-1929. Phò loan: Bảo Pháp - Khai Pháp.

"Mẹ mừng con, Mẹ cám ơn con đó. Con đâu rõ đặng ngày nay Mẹ nhờ công con mà đặng thăng cấp. Nay Mẹ đặng vào Đông Đại Bộ Châu. Ấy cũng nhờ ơn của Đức Chí Tôn rất thương mà cho Mẹ vào phẩm ấy. Mẹ chẳng biết lấy chi mà thông công cho hai con và các cháu, nên mới dụng huyền-diệu mà Mẹ đã cầu xin Chí-Tôn ban cho Mẹ đặng cho con cùng cháu hay rằng Đức Chí-Tôn đã giữ lời hứa cùng con. Nay Mẹ đến khuyên hai con khá lo sao cho tròn phận sự, ngày thêm vun đắp nền Đạo đặng báo đáp Ơn Trên đã hết lòng vì cả nhà ta. Nếu con có lòng ấy thì Mẹ rất vui lòng đó, con hiểu? Mẹ rất vui thấy lòng con, nên Mẹ mới xin phép Chí-Tôn đến đây tỏ ít lời cho con hiểu. Vậy con khá an lòng mà lo Đạo, chớ nên vì việc nhỏ mà nao chí nghe! Tôi chào Nhị vị Thánh (Nói với ông Khai-Pháp Trần-Duy-Nghĩa và Bác-vật Lưu-văn Lang). Tôi chẳng biết lấy chi cám cảnh cho bằng dùng vài lời nhắc đây: Xin Nhị vị khá hết lòng lo hiệp tác mà nâng cao địa vị mình càng ngày cho tột phẩm. Tôi đây chẳng chi xứng phận mà cũng nhờ ơn Chí-Tôn thương tưởng thay. Ấy cũng nhờ sức con mới đặng vậy, không thì biết sao mà kể xiết. Ấy đó, công của Nhị vị càng dầy thì Chí Tôn càng yêu dấu. Xin khá để hết tâm chí mà hành phận sự. Ấy là lời tôi xin Nhị vị khá để ý".

Bảo Pháp nói: (Hỏi về việc ông thân của tôi)

- Mẹ không dám nói. Thôi Mẹ lui."

 

 

CHƠN

1) CHƠN Cũng đọc CHÂN: Thật, không giả dối.
Thí dụ: Chơn hồn, Chơn lý.

2) CHƠN (Nôm) Cái cẳng, chỉ phần thấp nhứt.
Thí dụ: Chơn mây, Chơn tục.

 

 

CHƠN CHÁNH

眞 正

(Chơn là thật; chánh: ngay thẳng). Một nền Đạo tốt.

Tại Đền Thánh ngày 15-01 năm Tân Mão (1951)

Đức Hộ Pháp nói: "Bần-Đạo xin cho cả thảy con cái Đức Chí-Tôn biết rằng: Nền Đạo Cao Đài Đức CHÍ TÔN đến lập, do nơi chơn lý tối cao, chính mình Đức Chí Tôn đến để diệt mê tín dị đoan, Ngài chỉ đem đến nền Đạo chơn chánh này mà thôi".

Thầy dạy ngày 21-8-Bính Dần (Thứ hai: 27-9-1926):

"Từ trước vì nhiều Đạo trong nước mà chẳng một Đạo nào chơn chánh, làm mạnh quốc dân nên nước phải yếu, dân phải hèn. Dân tộc các con duy biết làm tớ chớ chưa biết làm chủ. Thầy vì thất lẽ công bình thiêng liêng ấy mới giáng trần lập Đạo tại Nam phương, tức là thay mặt Càn Khôn Thế giới mà qui chánh truyền nhơn loại. Trong mối Đạo Thầy đã lập thì hằng nói tiên tri rằng: Ngày kia có một nước đương trong vòng nô lệ, vì TA mà làm chủ nhơn loại, các con hiểu à!"

Đức Quyền Giáo Tông giải thích: "Phép Tu chẳng phải luyện nội tinh-thần theo đạo hạnh mà thôi, mà cái thân thể mình đây cũng phải tùy tùng phù hợp Đạo-tâm, thể Đạo chơn-chánh bởi gương mình, hễ chúng sanh ngó Đạo nói mình, xem mình cho là Đạo mới phải. Thế nên: Người Tu-hành mục-đích đem cái ân cho người chớ không phải đợi người làm ân cho mình; nghĩa là mình phải lo sự ấm no cho bá tánh tức là lo cho ta, bởi Đức Chí Tôn đã dành phần cho ta một nhiệm vụ đặc biệt là ta phải Phụng-sự cho vạn-linh để giải khổ cho loài người Trong lúc họ đang lâm nàn kêu cứu; khi ta làm xong phận sự thì không còn ai chối cải rằng ta không phải là ân-nhân của xã-hội, chừng ấy ta không muốn về Tây-phương họ cũng lập bàn hương-án để đưa ta đặng đền ơn cứu tử".

 

 

CHƠN DANH

眞 名

Cũng có nghĩa là chánh danh, gồm đủ ý-nghĩa danh chánh ngôn thuận.

Bài Thài hiến lễ Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh:

SÁNG đèn cánh bướm phải điêu tàn,
Phải biết gần quan mới hiểu quan.
Thinh thế mượn con tua trả lại,
Thử chơn danh mối Đạo tìm đàng.

Bài thi bốn câu nầy là của Đức Chí Tôn ban cho Ngài Đầu Sư vào năm Bính Dần khi Chí Tôn thâu nhận Ngài làm Môn đệ, nay lấy bài thi trên làm bài thài hiến lễ.

 

 

CHƠN ĐẠO

眞道

Với nền Đạo ngày nay phải nói là một tổng hợp các Tôn Giáo mới đúng nghĩa, vì đây là Đại Đạo, Tôn chỉ là "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt" thì nền Đạo do Chí-Tôn đến lập phải là một nền Chơn Đạo vậy.

Pháp Chánh Truyền. Chú giải: "Giáo Tông thay mặt cho Thầy, đặng bảo tồn chơn Ðạo của Thầy tại thế, thì Anh Cả nhơn sanh đặng dìu dắt các con cái của Thầy, dầu lớn tuổi hay là nhỏ tuổi, quyền Thiêng Liêng đã định vậy. Tuy trong Hội Thánh có chia ra hai phần hữu hình là: "Cửu Trùng Ðài" và "Hiệp Thiên Ðài" mà nơi Hiệp Thiên Ðài, dầu cho Hộ Pháp cũng phải là em của Giáo Tông, song Hộ Pháp phải nhỏ về phần hữu hình đã nói trên đây, chớ phần Thiêng Liêng thì đồng vị."

Thầy lại dạy: "Thầy vẫn đã thường nói với các con rằng: Thầy đến lập cho các con một nền Chơn Đạo, tức là mỗi sự chi dối trá là chẳng phải của Thầy. Thầy đến là chủ ý để dạy cả nhơn sanh đặng Hòa-bình chớ chẳng phải đến đặng giục nghịch lẫn nhau. Thầy lại thường nói sự sang trọng vinh hiển của các con chẳng phải nơi thế giới này."

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cương tỏa đương thời đã giải vây,
Ðừng mơ căn nghiệt một đời nầy.
Hữu duyên độ thấu nguồn Chơn Ðạo,
Tu niệm khuyên bền chí chớ lay.

 

 

CHƠN - GIẢ

眞 - 假

Chơn là thật, giả là dối. Hai hình ảnh tương phản nhau luôn luôn có trong cõi trần thế này. Hễ có thật thì có dối, nếu không có dối thì làm sao biết được thật. Người hiểu biết phải tự phân biệt hai lẽ ấy.

Đức Lý dạy: ngày 18-1-Đinh Mão (dl: 19-2-1927)

"Chẳng vì Thánh Thất, Như Nhãn phản ngôn mà trễ phổ thông Thánh giáo.Cười…Đã hiểu đời còn mê muội, chẳng phân đặng chơn - giả thế nào, thảm thay! Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn (phái Thái) dám cả gan nghịch Thiên mà phải đọa trầm luân muôn kiếp, xét đến công tu, khó ngăn giọt lụy. Chí Tôn đau đớn bao nhiêu, Lão càng giận bấy nhiêu. Biết bao phen, Lão cầm viết toan bôi xóa cho rồi trọn phái oan nghiệt mà Chí Tôn nằn nằn xin Lão để cho Người gia công độ rỗi".

 

 

CHƠN GIÁO

眞 教

Một nền Tôn giáo chơn thật có khả năng độ sanh tức là cứu khổ cho nhân loại và độ tử tức là giải thoát linh hồn cho khỏi các nghiệt chướng, luân hồi sanh tử..

Đức Hộ-Pháp nói: "Từ ngày Đạo bị bế, họ có lắm công tu mà thành thì không thành. Tội nghiệp thay, vì 92 ức nguyên nhân ấy mà chính mình Đức Chí-Tôn phải giáng trần mà lập nền chơn giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy cái Thánh ân, đặc biệt hơn hết là Đức Chí-Tôn đã thấy rõ rằng: Các nguyên nhân ấy không phương gì tự giải thoát đặng vì quá tội tình, quá mê luyến hồng trần hoặc đào tạo quả kiếp nặng nề quá đỗi, vì cớ cho nên tu thì có tu mà thành thì không có thành, tức nhiên từ ngày Đạo bế thì cơ siêu thoát đã mất tại mặt thế này, chính mình Đức Chí Tôn biết rằng không thế gì các nguyên nhân tự mình đạt cơ giải thoát đặng. Hôm nay, Ngài đến lập nền chơn giáo của Ngài chúng ta đã ngó thấy lòng yêu ái vô tận của Ngài là thế nào!" Vậy Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài là phổ thông nền chơn giáo lo về mặt giáo-hóa, bảo-tồn nền văn hiến cho tồn tại. Cửu Trùng-Đài là cái Đài thể theo Cửu Trùng Thiên mà kiến trúc, có chín nấc cao thấp khác nhau

Đức Ngài nói tiếp: Đức Chí-Tôn biết tình trạng nhơn loại đã đến mức tự diệt nhau nên Ngài đến tạo nền Chơn-giáo của Ngài, tức nhiên ĐẠO CAO-ĐÀI cho nhơn loại gìn-giữ phần hồn đặng định chuẩn thằng cái sống của họ, đừng cho nó đến cảnh điên của nó, mà họ đến cảnh điên tức đến cảnh tự diệt".

 

 

CHƠN HẠNH PHÚC

眞 幸 福?

…"Ấy vậy, chơn hạnh phúc của ta, ta có thể tìm nó được, tìm nó ở trong cái cười hạnh phúc của các bạn đồng sanh với ta nhưng họ ở trong cảnh khổ thì làm sao họ có cái cười hạnh phúc được? Chúng ta phải làm thế nào cho họ hưởng được hạnh phúc, mặc dầu hạnh phúc ấy mảy mún, chúng ta phải làm thế nào cho họ có cái cười hạnh phúc ấy, chúng ta lúc nào cũng muốn cho họ hưởng được mãi mãi hạnh phúc, tuy hạnh phúc ấy chỉ thoảng qua như gió thổi hay một đám sương sa, mà có hưởng, còn hơn không có chi hết. Khi chúng ta ngó thấy người bạn đồng khổ của chúng ta hưởng được điều chi của ta đã làm cho được hạnh phúc vui vẻ, cái đó phải chăng là cái hạnh phúc của ta đây".

 

 

CHƠN HỒN

眞 魂

Chơn hồn 真 魂 hay Chơn linh 真 靈 đều dùng để chỉ linh hồn của người đã chết. Chơn hồn ấy là hồn chơn thật của con người. Chơn hồn có hai nghĩa tùy trường hợp sau đây:

1- Nghĩa thường dùng: Chơn hồn là linh hồn, chơn linh. Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Hồng ân của Ðại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà."

2- Nghĩa đặc biệt: Chơn hồn là Chơn thần. Kinh Khi Ðã Chết Rồi: "Kêu chơn hồn vịn níu chơn linh".

Lưu ý là những bài Kinh do Ðức Nguyệt Tâm giáng cơ ban cho trong Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo, chữ Chơn hồn được Ngài dùng với nghĩa là Chơn Thần.

Lời Thầy dạy: "Mỗi Chơn-hồn nơi thế-gian này, khi thoát xác đều phải qui tựu tại Đền-Thánh này và đi từ trong Đền Thánh này đến các cảnh giới khác. Tại sao phải vào Đền Thánh này, mà không vào các Đền-Thánh khác? Tại vì Đền-Thánh này tỷ như một trường thi: Mỗi năm Chánh-Phủ mở một kỳ thi như thi Tú-Tài chẳng hạn, địa điểm đã ấn định rồi, chỉ có thi nơi đó mới có giá-trị: Tòa Thánh này cũng vậy, Đức Chí-Tôn lập ra để con cái của Ngài lập công, lập đức, lập ngôn mà về với Ngài."

Đức Hộ-Pháp nói: "Các phẩm chơn hồn trong Càn-khôn Vũ-trụ của Đức Chí Tôn đã lấy quyền cho Phật Mẫu đào tạo tám phẩm chơn hồn, tức là chơn hồn vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Trong tám phẩm chơn hồn ấy xuất hiện nơi Kim Bàn do theo luật Thiêng-liêng của Đức Chí-Tôn đã định, thì họ phải từ từ tăng tiến mãi, cái luật tăng tiến ấy nó buộc ta mỗi kiếp sanh đều kiếm phương tu, đặng chi? Đặng tạo Thiêng-liêng-vị cho chúng ta, các đẳng chơn hồn ấy khi đã đến nhơn phẩm rồi chia ra hai phẩm hồn đặc biệt:

- Ở trong vật loại tăng tiến lên đạt nhơn phẩm của mình gọi là Hóa nhân,

- Các chơn hồn ở trong Kim-Bàn đã xuất hiện với địa vị nhơn phẩm của mình là Nguyên-nhân.

Hai phẩm hồn ấy nếu không noi theo đạo đức đặng từ từ bước lên con đường Thánh Đức của mình, đặng đạt cho tới địa vị cuối cùng là Phật-vị lại làm tội lỗi thì phải sa vào Quỉ Vị."

Đức Ngài xác nhận: "Với hằng bao ân huệ ấy xác định rõ trong thời Tam-Kỳ Phổ-Độ này Đức Chí-Tôn đã cho "Đóng địa ngục mở tầng thiên". Các đẳng chơn hồn tùng nơi chơn pháp của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, một khi xuất lìa khỏi xác thì được pháp của Lục Nương Diêu Trì-Cung và Tiếp Dẫn Đạo nhơn đưa phướn linh dẫn đường đi, khỏi sợ lạc đường vào Bích-Du-Cung và Tam Thập Lục Động của Quỉ Vương để đi thẳng về với Chí Tôn và Phật-Mẫu".

Với người tu thì "Than ôi! Có hình thể xương thịt mà chơn hồn phưởng phất nơi xa, thì cái thân vô dụng ấy trơ trơ như khối đá dựa đường, như khúc cây bên trủng. Có đèn dầu đầy mà thiếu hơi lửa nhen lên, thì cũng phải mờ mịt thâm u, trông chi soi sáng. Ấy vậy, nên biết mà răn mình. Cái Tâm là vật người không thấy được, khá giồi trau nó trước. Nếu bỏ Tâm kia ra ngoài mà rèn hình thể thì chẳng khác chi quì đọc kinh, đèn đốt đỏ hừng, mà thiếu bức Thiên Nhãn trên điện vậy. Hồn ma bóng quế cũng lên ngồi, mà ngạ quỉ vô thường cũng xẩn bẩn, đó là phương đem đường cho Quỉ vương, chẳng một ai tránh được, nghe! Nên hiểu kỹ lời, bằng chẳng thấu thì tu có ích chi!"

Kinh Đưa Linh Cữu có câu:

"Cầu các Trấn thần linh trợ lịnh,
"Giữ Chơn hồn xa lánh xác trần.
"Nam-Mô Địa-Tạng thi ân,
"Đưa đường Thiên cảnh lánh gần Phong Đô."

 

 

CHƠN KINH

真 經

Kinh chơn hay chân kinh là Kinh ghi chép đúng theo chơn lý của chư Phật, Tiên. Chân kinh còn có nghĩa Chơn giáo, Chánh giáo.Ấy cũng nhờ Chí-Tôn khai mở ra con đường tích cực và oai nghiêm linh hiển, để từ đó nhơn sanh nhờ vào phương thức thuyết giảng về chơn lý, truyền bá mối Đạo Trời để độ nhơn sanh qui về chánh Đạo.

Đức Chí Tôn mở Đạo trong thời Hạ nguơn mạt Pháp này bằng huyền diệu cơ bút. Lúc đầu tiên, Ngài đến với các thiên sứ bằng văn chương thi phú, lần hồi Ngài dìu dắt vào đường đạo đức và dẫn đển khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ với tôn chỉ qui Tam giáo, hiệp Ngũ chi.

Đức Chí Tôn là cha chung của chúng sanh và chủ của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Vì vậy những giáo pháp của các Đấng, Ngài qui lại thành một mối để chính mình Ngài mở Đạo cứu đời trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, như lời Thánh giáo đã dạy: "Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con chẳng chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa và Qui Nguyên Phục Nhứt Ngũ Chi Đại Đạo là Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo".

Những Kinh Luật, Giáo lý của nền Đại Đạo đều do các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho:

- Luật Pháp: Có Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

- Thánh giáo của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng được tuyển tập thành Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

- Kinh: gồm Kinh Thiên Đạo và Kinh Thế Đạo.

Như vậy: Giáo pháp và Kinh luật của nền Đại Đạo này đều do Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho chúng sanh, đó thực là một nền Chơn giáo, có đầy đủ Chơn pháp và Chơn kinh.

Kinh Nhập Hội có câu:

"Mở đường tích cực oai linh,
"Cậy phương thuyết giáo vẽ thành kinh chơn."

 

 

CHƠN LINH

眞 靈
E: The soul
F: L'âme.

(Chơn là thật, Linh là một sự linh hiển, huyền diệu vô cùng, ý phàm không thể lường được). Chơn linh là linh hồn, là điểm linh quang do Ðức Chí Tôn chiết ra từ khối Ðại Linh quang của Ngài, ban cho mỗi người làm linh hồn để tạo nên sự sống và làm chủ toàn thể xác thân. Cũng gọi là Đệ Tam xác thân." Chơn linh của Chí Tôn cho ta hiệp với thi hài là thành thân hình, ta gọi là Phách hay Vía, khi thoát xác Chơn linh ấy xuất ngoại". Đấng Chơn Linh ở đây tức là Đấng Đại Chơn linh, chỉ Đức Chí Tôn.

Thánh ngôn: "Thầy đã nói, nơi thân phàm của các con, mỗi đứa Thầy đều có cho một Chơn linh theo gìn giữ chơn mạng sanh tồn. Thầy tưởng không cần nói các con cũng hiểu rằng: Chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Ðấng Trọn lành nơi Ngọc-Hư-Cung, nhứt nhứt việc lành việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa Phán Xét. Bởi vậy, một mảy không sai, dữ lành đều có trả. Lại nữa, Chơn linh ấy có tánh Thánh nơi mình, chẳng phải gìn giữ các con mà còn dạy dỗ nữa, thường nghe đời gọi lộn "Lương tâm" là đó.

Nay: "Cửu Phẩm Thần Tiên vâng lịnh Ngọc-Hư Cung trị thế giới vô hình cũng như Cửu-Trùng-Đài vâng lịnh Bát Quái Đài mà Chưởng-Quản mối Đại-Đạo tại thế gian về mặt hữu vi. Vậy tất cả Chơn linh trong Càn Khôn vũ trụ đều phải vào Cửu Trùng-Đài và tuần tự theo đẳng cấp thấp cao để đoạt vị Thiêng liêng của mình".

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Sanh quang dưỡng dục quần nhi,"
"Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình."

Kinh Khi Đã Chết Rồi có câu:

"Kinh Bạch Ngọc muôn lằn điển chiếu,
"Kêu Chơn hồn vịn níu Chơn Linh.
"Năng lai năng khứ khinh khinh,
"Mau như điển chiếu nhẹ thành bóng mây."

 

 

CHƠN LINH CHRISTNA

Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Ðền Thánh đêm 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947) nói rằng: "Bần Ðạo xin thuyết cái nguyên căn của Ðức Chúa Jésus Christ là gì? Ðức Chúa Jésus Christ là ai?

- Nếu chúng ta thấy chơn truyền của dân tộc Hébreux tức dân Do Thái bây giờ để lại, theo luật pháp của Thánh Moise đã tiên tri nói về Ðấng Cứu Thế giáng sanh, nếu chúng ta tìm tòi, lật từ tờ trong Kinh Thánh Gia Tô chẳng hề thấy tên Christ và chẳng có tên Christ, mà nơi cõi thiêng liêng Bần Ðạo dám chắc Ðức Chúa Jésus Christ là Chơn linh Christna là Tam Thế Tôn đó vậy. Ðức Phật Christna không phải xa lạ với chúng ta, bởi vậy cho nên Ngài đã đến mà lại đến với chức trách nhỏ nhen hèn hạ, bởi loài người quá tự kiêu, tự đắc, dùng phương pháp nhỏ nhen, hạ mình hèn hạ ấy hầu đem tâm hồn chí Thánh của Ngài thức tỉnh các sắc dân Âu Châu.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Chơn linh lắm chịu mê tân,
Sanh tiền khó hưởng phước lành Trời ban.
Rồi đây giặc giã khắp tràn,
Khiếm đường đạo đức chịu đàng Thiên tai.

 

 

CHƠN LINH THẦY

Thầy dạy: Vendredi, 15 Octobre 1926 (09-9-Bính Dần).

"Thầy hằng nói với các con rằng: Thà là các con lỗi với Thầy thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ chớ chẳng nên động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì họ chẳng tha thứ bao giờ. Thầy cũng đã nói mỗi khi Chơn linh Thầy giáng Ðàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ. Các con nếu mắt phàm thấy đặng phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng, nhưng thấy chẳng đặng nên tội cũng giảm nhẹ đó chút.

Thất lễ là đại tội trước mắt các Ðấng Chơn linh ấy, Thầy phải thăng cho các con khỏi hành phạt. Thầy chẳng buổi nào chấp trách các con, bởi lòng thương yêu hơn chấp trách rất nhiều. Sợ là sợ cho các con mất đức với chư Thần, Thánh, Tiên, Phật."

 

 

CHƠN LÝ

眞 理
E: The verity, the truth.
F: La vérité.

(Chơn: Thật, không giả dối. : lẽ phải). Chơn lý hay Chân lý là cái lẽ phải, chơn thật, hằng hữu, đời đời mà lương tri lương năng của con người đều nhận biết. Thế nên, Chơn lý phải có tính cách không phụ thuộc thời gian và không gian. Thông thường thì người ta hiểu Chơn lý là cái lẽ thật thấy rõ trước mắt, như: Cái nhà, cái bàn, xác thân của ta, vì ta thấy rõ nó, rờ nó được, cân đo được. Ðó là các thứ thuộc về vật chất hữu hình. Mặt khác, sự hạnh phúc mà ta đang thọ hưởng, sự đau khổ mà ta đang gánh chịu, sự thương yêu, giận ghét, các thứ đó được con người cảm nhận thực sự, thuộc về tình cảm. Tất cả những thứ ấy, thuộc vật chất hay tình cảm, tuy con người có cảm nhận thực sự, nhưng chúng không phải là Chơn lý, vì các thứ đó, dầu vật chất hay tình cảm đều bị biến đổi theo thời gian và không gian. Thời gian sẽ làm cái nhà cái bàn hư mục, làm cho xác thân ta già rồi bịnh hoạn, rồi chết, xác thân tan rã thành đất; thời gian cũng sẽ làm cho cái hạnh phúc hay đau khổ biến đổi, sự giận hờn thương ghét cũng tùy hoàn cảnh mà biến dời. Tất cả những thứ đó, nhà Phật đều cho là huyễn, là giả tạm, là "tứ đại giả hợp"đều không bền vững với thời gian, nên nó không phải là Chơn lý.

Câu nói của Ðức Khổng Tử: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân", câu nói của Ðức Chí Tôn "Thầy là các con, các con là Thầy", Luật Nhân Quả, Luật Tiến Hóa,... Ðó là những Chơn lý, vì các điều nầy luôn luôn đúng trong bất cứ trường hợp nào và trong bất cứ thời gian nào, nghĩa là không phụ thuộc vào thời gian và không gian.

Chơn lý tuyệt đối: Có một Chơn lý mà không có gì để so sánh ngang bằng hay là hơn Chơn lý ấy được, gọi là Chơn lý tuyệt đối. Nó bất biến và hằng hữu đời đời trong không gian và thời gian, từ vô thỉ đến vô chung, cái Chơn lý ấy là cái nguyên lý tạo dựng Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật, mà các tôn giáo thường gọi là: Ðấng Tạo Hóa, Ðấng Thượng Ðế, Ðức Chúa Trời. Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, thiên hạ đã tranh giành và gìn giữ độc quyền Chơn lý. Chỉ có mình, nhóm của mình, tôn giáo của mình mới là Chơn lý, còn những cái của ai khác hơn đều là giả, đều là hình thức bề ngoài, nên không phải là Chơn lý. Cho nên trên thế giới luôn luôn xảy ra bao cuộc chiến tranh tàn khốc để giựt giành Chơn lý, đưa đến tình trạng hỗn loạn nhơn tâm, xáo trộn tư tưởng, làm cho chơn giả khó phân.

Chính ngày nay là thời chiến tranh Tôn giáo, lời tiên tri của Đức Hộ-Pháp đã ứng hợp: Tôn giáo – Tôn giáo đánh nhau; Sắc tộc – Sắc tộc đánh nhau, thật thảm khốc. Người chết như rạ, chùa chiền, nhà thờ đổ nát theo tay của những phần tử quá khích, khủng bố mà chẳng tiếc thương.

Muốn nhận được Chơn lý, chỉ có cách là phản tỉnh với lòng, lắng đọng tâm tư, tạo cho mình một tâm đạo trọn vẹn và sáng suốt, không bị chi phối bởi bản ngã hay sắc tướng bên ngoài, để cho lương tri lương năng trổi dậy tìm hiểu và nhận định, chúng ta sẽ nhận định được cái Chơn lý tuyệt đối, cái nguyên lý của tất cả nguyên lý, đó là Thượng Ðế, Ðấng tuyệt đối theo đúng nghĩa của danh từ: Toàn tri, Toàn năng, Toàn thiện, Toàn mỹ, Toàn giác.

Tóm tắt một lời: mọi thứ, mọi cái nào mà có tính cách tương đối đều không phải là Chơn lý tuyệt đối. Chúng ta là những tín đồ của Ðạo Cao Ðài, chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ có Đạo của mình là Chơn lý, còn các Đạo khác đều không phải là Chơn lý. Nghĩ như thế thì rất hẹp hòi, phiến diện và không đúng. Ðạo Cao Ðài cũng như các Tôn giáo khác đều không phải là Chơn lý, mà chỉ là những con đường dẫn dắt nhơn sanh đi đến Chơn lý. Nhưng có điều là con đường mà Ðạo Cao Ðài vạch ra là con đường rộng rãi, thẳng tắp, bằng phẳng, để hướng dẫn nhơn sanh đi đến Chơn lý một cách chắc chắn, mau lẹ và dễ dàng nhất; bởi vì con đường nầy do Ðấng Thượng Ðế tạo ra và chính Ngài hướng dẫn chúng ta đi đến Chơn lý Tuyệt đối.

Kinh "Soi tường Chơn lý chỉ rành chánh văn".

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào?

Muốn tầm hiểu cho ra Chơn Lý
Dẹp các điều nghi kỵ hoang đàng
Chí Tôn truớc cũng tạo chàng
Phân thân từ chỗ Hỗn mang dắt dìu

 

 

CHƠN MẠNG

眞 命
E: The life, the existence.
F: La vie, l'existence.

Chơn mạng là cái mạng sống thực sự của con người.

Đức Hộ-Pháp nói: "Khi nó còn tánh thú, nó muốn làm sao thỏa mãn, hễ thỏa mãn thú tánh của nó, thì nhân cách của nó bị hủy diệt, nhân cách không thể bảo thủ được cho lâu, thiên mạng nó không có phương bảo thủ, tâm linh của nó không có phương làm chủ nó đặng thì nó phải trở nên con vật mà thôi. Vì cớ cho nên các Đạo Giáo, các triết lý cốt yếu tìm phương nào dung hòa tánh thú của nó cho phù hạp với chơn mạng của nó, tức nhiên làm phương nào bảo trọng sống thú của nó, phù hạp với nhân cách đó vậy. Muốn cho đặng thế ấy, phải giải quyết cái khổ của nó, nó muốn thoát khổ có một đường tồn tâm mà thôi, tồn tâm tức nhiên một thiện pháp giữ Thiên mạng đó vậy."

Thánh ngôn dạy rằng: "Nơi thân phàm các con, mỗi đứa Thầy đều có cho một chơn linh theo gìn giữ chơn mạng sanh tồn".

Thi văn dạy Đạo có câu:

"Vô lao bất phục hồi chơn mạng,
"Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn."

 

 

CHƠN MÂY

E: Under the cloud.
F: Sous le nuage.

(Chơn còn gọi là chân, chỉ phần thấp nhứt của một vật gì hay của thân người dùng để đi đứng. Với vật là chỉ phía dưới thấp: như chân mây, chân trời. Chơn mây là ở dưới chỗ thấp nhất, là phần dưới của đám mây mà nhãn giới của con người nhận thấy được.

Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu có câu::

"Tấc lòng đòi đoạn đau thương,
"Chơn mây vái với hương hồn hiển linh".

 

 

CHƠN NGÃ

眞 我
E: The true ego.
F: Le vrai égo, vrai moi.

(Chơn Ngã là cái ta chơn thật, hằng có, thường tồn, hằng sống, tức là cái Ta bất biến, hằng hữu đời đời). Chơn ngã chính là Chơn linh hay Linh hồn của ta, vì nó là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho ta, nên nó hằng hữu, bất biến, bất tiêu bất diệt. Còn Chơn Thần và Thể xác của chúng ta không phải là Chơn ngã, bởi vì Chơn thần và Thể xác biến đổi tùy theo mỗi kiếp sống nơi cõi trần. Mỗi lần Chơn linh đầu kiếp xuống trần là mỗi lần ta có một Thể xác mới và một Chơn Thần mới.

Trái với Chơn ngã là: Vọng ngã, Phàm ngã, giả ngã, là cái ta hư vọng, biến đổi theo không - thời gian.

 

 

CHƠN NGÔN

眞 言
E: The magical formulas.
F: Les formules magiques, l'incantation.

Chơn ngôn thường dùng với nghĩa là "Câu Thần chú" được phát âm theo tiếng Phạn, khi đọc lên nó tạo ra một âm ba (làn sóng âm thanh) vang động lên các từng Trời, được sự cảm ứng của các Ðấng Thiêng liêng, nhờ nhận biết mà các Đấng dùng huyền diệu hộ trì hay cứu giúp, do theo sự khẩn cầu của chúng sanh. Vậy Chơn Ngôn là lời nói có giá trị cao siêu vượt bực.

"Vãng Sanh Thần chú" cũng được gọi là Vãng Sanh Chơn ngôn. Phần cuối của bài Kinh Cứu Khổ là những câu Chơn ngôn đó gọi là Thần chú. Nhất là sau khi đọc Kinh Hạ Huyệt xong thì tiếp đọc "Vãng sanh Thần Chú" cầu cho hồn người quá vãng sớm được siêu thoát.

Đây là bài chú bằng tiếng Phạn, đọc lên để cầu nguyện cho hồn người quá vãng (Vãng: Đi lên, Vãng sanh: cầu mong hồn người chết được đi lên cõi cao. Thần: thiêng liêng huyền diệu. Chú: câu niệm đặc biệt thuộc mật ngữ, có tác dụng huyền diệu về vô hình)..Vãng sanh Thần chú là câu niệm bằng tiếng Phạn đặc biệt của Phật giáo để cầu nguyện với Đức Phật A-Di-Đà cứu độ linh hồn người chết được sanh về cõi Cực Lạc Thế Giới. Đạo Cao-Đài gọi là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống: Chú Vãng sanh như sau:

"Nam-mô A-Di-Đa Bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ, Đa Điệt Dạ Tha, A-Di Rị-Đô Bà-Tì, A-Di Rị-Đa Tất Đam Bà Tì, A-Di Rị-Đa, Tì-Ca Lan-Đế, A-Di Rị-Đa Tì-Ca-Lan Đa, Dà Di-Nị-Dà Dà-Na Chỉ-Đa Ca-Lệ Ta-Bà-Ha"(đọc 3 lần).

Những câu Chơn ngôn có ý nghĩa rất huyền bí, không thể giải thích được bằng văn từ, do chư vị Phật hay Bồ Tát đặt ra để các đệ tử trì tụng, giúp cho trí não mau phát sáng và được sự hộ trì của chư Phật. Tuy nhiên không vì lẽ gì mà không giải lược cho mọi người thấu hiểu. (xem Vãng Sanh Thần chú. Vần V)

 

 

CHƠN NHƠN (Phẩm)

眞 人
E: The Saint.
F: Le Saint.

Chơn nhơn tạm xem ra có hai nghĩa chánh:

1- Chơn Nhơn là chỉ bực Tiên - Thánh trong nguồn Đạo. Ví như các bậc đứng hàng Chơn Nhơn là:

-Tôn Tẫn là một vị Tiên, đạo hiệu Liễu Nhứt Chơn Nhơn.

-Tam Thánh đứng đầu BạchVân Ðộng đều là Chơn Nhơn.

-Trạng Trình Nguyễn Bỉnh.Khiêm:Thanh Sơn Chơn Nhơn.

*Cụ VICTOR HUGO: Nhà thi gia trứ danh của Pháp quốc, giáng cơ tự xưng là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức là đệ tử của Cụ Nguyễn-Bĩnh Khiêm ở Bạch-Vân Động.

*Cụ TÔN DẬT TIÊN: Đại-cách-mạng gia nước Trung-Hoa, nhũ danh là Tôn-Văn, giáng cơ tự xưng là Trung Sơn Chơn Nhơn, tức là đệ tử Cụ Nguyễn-Bĩnh Khiêm ở Bạch Vân Động.

2- Chơn Nhơn còn là phẩm vị Chức sắc trong Thập Nhị đẳng cấp thiêng liêng của Cơ Quan Phước Thiện, đứng trên Ðạo Nhơn và dưới bực Hiền Nhơn. Chơn Nhơn đối phẩm Giáo Sư bên Cửu Trùng Đài. Từ phẩm Chơn Nhơn trở xuống thì còn ở Cơ Quan Phước Thiện và lập công quả bên Cơ Quan Phước Thiện. Khi được thăng phẩm Hiền Nhơn thì phải qua Hiệp Thiên Đài để bảo tồn Chơn pháp. Ðạo phục của Chơn Nhơn: Khi chầu lễ Ðức Chí Tôn, Chơn Nhơn mặc Ðạo phục áo tràng trắng, mang Dây Sắc lịnh màu xanh bỏ mối qua phía hông bên mặt (thể Ðạo), trên Dây Sắc lịnh có gắn Khuê bài để chữ CHƠN NHƠN bằng quốc tự, đầu đội khăn đóng trắng 7 lớp chữ Nhơn (人).

 

 

CHƠN NỮ

眞 女
E: Honest woman.
F: La femme honnête.

(Chơn: Thật, không giả dối. Nữ: người phụ nữ). Chơn nữ là người phụ nữ chơn thật, tức là hiền lành và đạo đức.

Thánh ngôn dạy:

Thiện nam gắng giữ nền Nhơn nghĩa
Chơn nữ hằng ghi thuyết cộng hòa.

 

 

CHƠN PHÁP

眞 法
E: True doctrine.
F: Vraie doctrine.

(Chơn - chân 真 là thực, không giả dối, không hư ảo, chân chính, ngay thực; Pháp 法 là pháp luật, lễ giáo, đạo lý, phép nhiệm mầu, Pháp có rất nhiều nghĩa, ở đây phải hiểu Pháp là giáo lý của một Tôn giáo). Chơn pháp là Giáo pháp chơn chánh, ngay thực, bất di, bất dịch, là giáo lý chơn thật do một vị Giáo chủ truyền dạy. Nếu tu đúng theo chơn pháp thì nhứt định sẽ đắc đạo. Chơn pháp cũng có nghĩa là pháp luật chơn thật. Thế nên Chơn pháp đồng nghĩa với Chơn luật.

Theo Chơn-pháp của ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘ thì mọi cơ-cấu nơi cõi vô-hình đều có cơ-cấu hữu hình đối tượng của Đạo nơi mặt thế. Ở cõi Thiêng liêng có Cửu-Thiên Khai Hóa, thì trong cửa Đạo Cao-Đài có đối tượng hữu-vi là Cửu Trùng-Đài. Còn ở vô-hình có cơ-cấu tạo ra cung Trời là Thập Nhị Khai Thiên tức là Thập Nhị Thời Thần thì ở cửa Đạo Cao-Đài có đối tượng hữu-vi là Thập Nhị Thời Quân.

Ðức Hộ Pháp thuyết Đạo đêm 15-9-Mậu Dần về Chơn pháp và Chơn luật của Ðức Chí Tôn: "Ðức Chí Tôn đào tạo Chơn Pháp vô lượng vô biên để cho nhơn loại thi hành mà đoạt phẩm vị thiêng liêng: Thần, Thánh, Tiên, Phật. Chơn Pháp cũng có một như Chơn Luật vậy. Chơn Luật của Ðức Chí Tôn đã chỉ rõ là Thương yêu, còn Chơn pháp là Công bình. Luật Pháp của Chí Tôn đã chỉ rõ ra sau đây thì toàn cả nhơn sanh đều nghe hiểu biết và thường có nói: Chỉ có một điều là tại sao không thực hành? Nếu con người ở dưới thế nầy đồng thi hành y theo Chơn pháp Công bình thì đời sẽ trở nên tận thiện tận mỹ, mà cơ tận diệt sẽ tiêu tan, không còn thấy tấn tuồng bi ai thảm đạm như thế. Tóm lại, cái sở hành của Chơn pháp Công bình chỉ dùng một câu: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" nghĩa là: Những điều nào mình chẳng muốn ai làm cho mình phải buồn than đau đớn thì tức nhiên mình không nên làm mấy điều đó cho người khác. Pháp Công bình của Ðức Chí Tôn là một cây Cân Song bằng: Một đầu là Tiên, Phật, một đầu là Quỉ Ma, chánh tà phân biệt đôi bên, ấy là pháp Công bình: Lành thưởng dữ răn, lành siêu dữ đọa. Ðức Chí Tôn muốn cho con cái của Ngài đều đặng cao thăng phẩm vị thiêng liêng, chớ không bao giờ Ngài đào tạo Ðịa ngục để đày đọa hình phạt nhơn sanh, mà trái lại do nhơn sanh tạo thành cảnh khổ ấy.

Ngày nay "Chính mình Đức Chí-Tôn biểu Đức Phật-Mẫu tức nhiên Mẹ sanh của chúng ta cầm cả quyền năng giải thoát trong tay đến lập Hội Yến Diêu Trì tại mặt thế này và cả con cái của Ngài, nhứt là 92 ức nguyên nhân ấy, nếu nhập vào cửa Đạo tùng theo Chơn pháp thì đặng hồng ân của Đức Chí-Tôn cho hưởng cái Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì tại thế này, cái cơ siêu thoát thiên hạ đã đạt trong tay họ sẵn, tức nhiên giờ phút cuối cùng này là giờ phút hứng thú, giờ phút chết của họ thì họ đạt vị một cách dễ dàng, ngôi vị nào cơ quan siêu thoát Đức Chí Tôn đã cho không họ đó vậy. Nhờ đó mà cơ quan tận độ Vạn Linh của Đức Chí Tôn đã lập lại tại thế này, từ đây sẽ mở rộng cửa Thiêng Liêng Hằng Sống đặng đến gom góp cả con cái của Ngài, trở về hiệp một cùng Ngài, Bí pháp Hội Yến Diêu Trì là vậy đó."

 Kinh Xuất Hội có câu:

"Vẹn toàn phàm thể Thánh thân,
"Tùng theo Chơn pháp độ lần chúng sanh."

 

 

CHƠN PHÁP BÍ TRUYỀN

眞 法 秘 傳
E: The sacrament.
F: Le sacrement.

Chơn pháp bí truyền là những phương thức chơn thực có tác dụng rất mầu nhiệm được truyền lại cho người thọ lãnh một cách bí mật, không cho người ngoài biết. (Chơn: Thật, không giả dối. Pháp: cách thức, phương pháp. : kín nhiệm. Truyền: trao lại cho người khác).

Theo nghĩa nầy, Chơn pháp bí truyền là những Bí pháp, giống như các phép thuật của Ðạo Tiên.

Chơn pháp bí truyền trong Ðạo Cao Ðài được Ðức Chí Tôn truyền dạy Ðức Hộ Pháp để Ngài lựa chọn Chức sắc mà truyền tiếp để Chức sắc đi hành đạo phổ độ chúng sanh. Chơn pháp bí truyền của Ðạo Cao Ðài có 7 Bí pháp:

1. Phép Tắm Thánh.

 

2. Phép Giải Oan.

 

3. Phép Xác.

4. Phép Ðoạn căn.

 

5. Phép Ðộ thăng.

 

6. Phép Hôn phối.

7. Phép Giải bịnh.

 

     

Lưu ý là: Chơn pháp bí truyền khác với Tâm pháp bí truyền. (Tâm pháp bí truyền là pháp môn luyện đạo, luyện Tam Bửu Tinh- Khí- Thần hiệp nhứt, để đắc đạo tại thế).

 

 

CHƠN PHÁP CAO ĐÀI

眞 法 高 臺

Chơn pháp cao siêu, chân chánh của Tân Tôn giáo Cao Đài, nhất định phải là một nền Đạo chơn thật, vì đây chính do Đức Thượng Đế mở ra Kỳ ba đặng tận độ chúng sanh qui nguyên vị.

Đức Hộ-Pháp giải cho biết: "Theo Chơn-pháp của Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ thì mọi cơ-cấu nơi cõi vô hình đều có cơ-cấu hữu hình đối tượng của Đạo nơi mặt thế.

-Ở cõi thiêng-liêng có Cửu-Thiên Khai-hóa thì trong cửa Đạo Cao-Đài có đối tượng hữu-vi là Cửu Trùng Đài.

-Còn ở vô hình có cơ-cấu tạo ra cung Trời là Thập nhị Khai thiên, tức là Thập Nhị Thời Thần, thì ở cửa Đạo Cao-Đài có đối tượng hữu vi là Thập nhị Thời-quân.

Còn nói về Hội-Yến Bàn-Đào thì ở vô-hình Diêu Trì-Cung mỗi năm đến mùa đào chín, Đức Diêu-Trì Kim Mẫu tức là Đức Phật-Mẫu mở lễ Hội-Yến Bàn-Đào có tất cả chư Phật, chư Tiên ở các nơi đều về chầu Lễ, được ăn một quả đào Tiên sẽ đặng trường sanh bất tử; thì ở cửa Đạo Cao-Đài cũng có tổ-chức một cuộc lễ hữu-vi đối tượng tại Đền Thờ Phật-Mẫu ở Tòa-Thánh Tây-Ninh cho cả Chức-sắc Thiên-phong và toàn Đạo ở các nơi về dự; nhứt là Chức-sắc Hiệp-Thiên-Đài đều về chầu Lễ để hưởng hồng-ân điển-lực của Đức Phật-Mẫu ban cho".

 

 

CHƠN PHẬT

眞 佛
E: Superior Buddha.
F: Buddha supérieur.

(Chơn: Thật, không giả dối. Phật: Ðức Phật). Chơn Phật là vị Phật cao siêu, ở cấp bực cao hơn tất cả những vị Phật. Kinh Sách cũng cho biết Phật cũng có rất nhiều "Hằng hà sa số Phật" và cũng có nhiều cấp bực khác nhau "Vô lượng công đức Phật" Các Ðấng Thánh, Tiên, Phật mà có chữ CHƠN phía trước thì đó là những Ðấng ở bực cao siêu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy là bực Chí Tôn và các địa vị Chơn Phật xưa, nhiều lúc phải xuất chơn linh để mình vào trần thế đặng dìu dắt chúng sanh.

 

 

CHƠN QUÂN

眞 君
E: The Lord of Zodiac.
F: Le Seigneur Zodiacal.

Chơn Quân là những vị Thời Quân của Hiệp Thiên-Ðài. Có 12 vị Chơn Quân được gọi là Thập Nhị Thời Quân: Bảo Pháp Chơn Quân, Bảo Ðạo Chơn Quân....

Pháp Chánh Truyền Chú Giải:

Còn nhiều vị Chơn Quân khác, hoặc đã đến rồi, hoặc chưa đến.

Bà Đoàn Thị Điểm giáng cho Thi:

Đường chiến thắng hỡi còn quyết trận,
Cầm gươm linh giỏi trấn sơn hà.
Dụng diệu pháp dẹp can qua,
Trị an thế giới mới là Chơn Quân.

 

 

CHƠN TÁNH

眞 性

Chơn tánh: Một cái lẽ chân thật mà Trời bẫm phú cho người.

Chơn tánh chính là cái đức tánh chơn thật mà người tu phải tập cho được mới mong thành Tiên tác Phật.

Đức Hộ-Pháp nói: "Ðêm nay là nhờ hiển Thánh anh-linh của Ðấng Cứu Thế, Ðấng đã để lòng ưu ái vô tận mong cứu vãn tình thế nguy ngập, lấy cả tình ái ấy làm phương giải khổ cho nhơn loại. Chúng ta để tâm cầu nguyện cùng Ngài, để Ngài mở con mắt Thiêng Liêng cho chúng sanh đặng nhìn thấy cái chơn tánh của kiếp sống họ nơi nào, đừng mê muội, đừng ngu dốt, lấy tinh thần sáng suốt bỏ cái lục dục thất tình đầy tội ác nầy."

Bài thài hiến Lễ của Ngài Hiến Thế như vầy:

Hiến mình cho Đạo buổi sơ khai,
Thế cuộc vần xoay dạ chẳng nài.
Chơn tánh quyết tâm lo lập đức,
Quân thần vẹn giữ cảm bi ai.

 

 

CHƠN TÂM

眞 心
E: The true heart.
F: Le vrai coeur.

Chơn: Thật, không giả dối. Tâm: cái tâm của con người. Chơn tâm là cái tâm chơn thật, trong sạch, sáng suốt, đã cởi bỏ được các vọng tưởng, phục hồi được bổn tánh của nó.

Chơn tâm chính là Lương tâm, Thiện tâm. Trái với Chơn tâm là Vọng tâm, là cái Tâm luôn luôn vọng động, mơ tưởng hết điều nầy đến điều nọ, không ngừng phóng ra nhảy vào như con khỉ nên gọi là Tâm viên ý mã. Phép Tham Thiền Nhập Ðịnh là để gìn giữ cái tâm cho được trong sạch, yên lặng, tư tưởng không không, tức là đã diệt bỏ Vọng tâm để phát triển Chơn tâm.

Ngài Hiến Ðạo Chơn Quân Hiệp Thiên Ðài giải về Chơn tâm:

"Con người sanh ra có kẻ trí người ngu, kẻ hiền người dữ, kẻ sang người hèn, kẻ mạnh người yếu, ai ai cũng có sẵn một phần thiêng liêng sáng suốt để phân biệt phải trái, chánh tà, thiệt hư, thiện ác. Phần thiêng liêng sáng suốt ấy, Nho giáo gọi là Minh đức, hay là tánh bản nhiên; Phât giáo gọi là Tự tâm, Bổn tánh hay là Phật tánh, hay là Chơn như. Danh từ tuy khác mà nghĩa vẫn đồng. Ðây chúng tôi xin dùng danh từ CHƠN TÂM để gọi phần thiêng liêng sáng suốt ấy.

Chơn tâm sáng như ánh sáng mặt trời. Mặt trời tuy có bị mây che mờ, ánh sáng chưa hề bị mất, vẫn còn vằng vặc chói lọi trong chốn không gian.

Chơn tâm ví như hòn ngọc quí, đủ màu sắc, đầy vẻ đẹp. Ngọc dầu bị bụi cát bám vào nhưng chưa từng mất phần mỹ lệ. Ánh sáng mặt trời không thêm không bớt, chất quí của ngọc giữ nguyên vẹn không thay đổi, đó là bản thể của Chơn tâm. Cho nên mới nói rằng: Bản thể Chơn tâm vẫn bình đẳng và bất biến. Bình đẳng nghĩa là bằng nhau, không có cao thấp, không có lớn nhỏ, bất biến là không biến đổi.

Chơn tâm của người quân tử, Chơn tâm của kẻ tiểu nhơn cũng đồng một thể, không vì hành động của kẻ trí mà Chơn tâm thêm phần sáng suốt, không vì hành động của người ngu mà Chơn tâm bớt phần sáng suốt. Nhưng sự nghe thấy của người quân tử có khác hơn sự nghe thấy của kẻ tiểu nhơn, là vì quân tử hay trau giồi Chơn tâm, còn tiểu nhơn thì không thế, không biết trau giồi Chơn tâm, thành thử quân tử và tiểu nhân có chỗ sai biệt trong sự nghe thấy biết.

Chơn tâm của quân tử như ngọc đã trau, như gương đã sạch bụi. Chơn tâm của tiểu nhơn như ngọc chưa trau, như gương dính bụi. Chơn tâm không hình ảnh, không phương sở, không từ nơi nào đến, cũng không đi về đâu, không quá khứ, không vị lai mà vẫn thường tại. Chơn tâm rộng lớn, bao la như vũ trụ. Thời gian vô tận thì Chơn tâm cũng vô tận; không gian vô cùng thì Chơn tâm cũng vô cùng.

Những kẻ đã phạm tội lỗi, vì si mê hay nóng giận, sau rồi biết ăn năn tự hối, là vì khi họ phạm lỗi, họ quên mất Chơn tâm, đến khi họ tỉnh ngộ, biết nhìn nhận tội lỗi đã làm, dường như Chơn tâm họ trở lại, nên mới có câu nói: Người ấy đã hồi tâm. Kỳ thật, Chơn tâm không đi đâu cả, chỉ tại người hoặc nhớ hoặc quên đó thôi. Vì vậy, trong mọi hành động, mọi ý nghĩ, ta nên thận trọng. Làm việc gì, nghĩ việc gì, ta hãy chính chắn suy xét cho cùng, luôn luôn nghĩ nhớ đến Chơn tâm, phòng khi thi thố cho khỏi sai lầm.

Chơn tâm rất sáng suốt, linh diệu, không sự vật gì mà không hay biết, không ai che giấu được, không ai lừa dối được, mắt ta không trông thấy, tai ta không nghe tiếng mà ta vẫn biết rằng có, như ở bên ta. Ðức Phật Thích Ca nói: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tức là Phật và chúng sanh đồng một Chơn tâm như nhau, không hơn không kém. Thế là Phật và chúng sanh bình đẳng, bình đẳng ở chỗ đồng một bản thể Chơn tâm. Sỡ dĩ Phật được gọi là Phật vì Phật đã giác ngộ hoàn toàn, biết thuận dụng Chơn tâm; chúng sanh còn mê muội, không biết thuận dụng Chơn tâm nên chưa thành Phật.

Thế nào là thuận dụng Chơn tâm? Là phải biết trau giồi cái tâm mình cho được sáng suốt, trong sạch như gương, chẳng chút bụi trần, hễ vật gì dính vào Chơn tâm thì biết ngay, hiện hay bất hiện, phải hay chẳng phải, bỏ cái gốc ác thâm nhiễm từ lâu, trừ những bụng tham, sân giận, si mê làm nhẹ phẩm giá con người; hành động ngay chánh, nói năng ngay chánh, thành thật tiếp xúc với mọi người không chút gì giả dối, thành thật mưu sinh, không gian lận xảo trá, luôn luôn giữ một mực công bằng, hợp đạo, trúng tiết. Thuận dụng Chơn tâm là hành động theo Chơn lý đã tỏ ngộ, sáng suốt như Phật."

Nóng nảy làm chi hỡi các em!
Hạnh Tiên nết Thánh rán công rèn.
Tánh tình thô lổ khuyên chừa hẳn,
Có vậy chơn tâm mới chẳng hèn.

Cũng như sắt, sắt vô lửa phải mềm, chớ yếu lả như nước, nước bao giờ ai chặt đứt, bứt rời?

 

 

CHƠN THÁNH

眞 聖

Thánh ngôn dạy: "Thầy hằng nói cho các con biết, việc CƠ BÚT là việc tối trọng, nếu không có Chơn-linh quí trọng thì thường có Tà quái xung nhập mà khuấy rối làm cho thất nhơn tâm, lại còn một điều đáng quan phòng nữa là trong mấy đứa phò-loan cũng có đứa không dè-dặt, tưởng CƠ BÚT là việc khinh thường làm thế nào cũng đặng, rồi muốn lấy đó mà cầu hỏi những điều vô vi, nên cũng có nhiều khi vì đó mà sanh biến trong Đạo.

Thầy nói cho các con hiểu bậc Chơn Thánh mà phải đọa trần nếu không đủ tánh chất để dìu-dẫn nhơn sanh thì cũng chưa xứng đáng cầm bút cho Thầy truyền Đạo. Các con nghe à!"

 

 

CHƠN THÀNH

眞 誠

Thầy dạy: "Kẻ hữu đức buồn lòng thối bước, đứa chơn thành không vui nắm tay theo; ma hồn quỉ xác loán vào; kẻ đức thiếu níu đứa không nhân; thành ra nhơn kém đức suy, cứ thẳng một đường tà dung ruổi."

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Đầu Sư Hương Thanh có câu

Lòng phản Đạo làm chi quá lẽ?
Ngoài chơn thành trong để mưu sâu.
Con ma lục tặc ở đâu,
Cứ theo đeo đuổi mọt sâu Đạo trường.

 

 

CHƠN THÂN

眞 身
E: The real body.
F: Le corps réel.

(Chơn: Thật, không giả dối. Thân: xác thân con người). Chơn thân là cái xác thân trong sạch, không hư hoại, vĩnh viễn trường tồn. Ðó là cái xác thân thiêng liêng, tức là Nhị xác thân hay Chơn thần. Cái xác thân phàm bằng xương bằng thịt này chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian sống trăm năm, rồi nó phải chết và hư hoại, nên nó không phải là cái Chơn thân, mà phải gọi nó là cái Giả thân. Ðó là cái xác thân giả tạm mà linh hồn tạm mượn để sống một thời gian nơi cõi trần mà học hỏi và tiến hóa.

 

 

CHƠN THẦN

眞 神
E: The perisprit, the astral body.
F: Le périsprit, le corps astral.

(Xem thêm Đệ Nhị xác thân. Vần Đ.)

Chơn Thần chính là Đệ Nhị xác thân, là xác thân Thiêng liêng thuộc bán hữu hình, vì có thể trông thấy được mà nhiều khi không thấy được, huyền diệu vô cùng.

Con người có ba thể xác thân:

1- Là xác thân phàm này đây là do cha mẹ phàm phối hợp mà tạo ra, xác thân sống là nhờ vật chất, như ăn uống. 2-Là xác thân thứ nhì gọi là thể phách, đạo giáo gọi là Chơn Thần, chính cái Chơn Thần này cũng có lớp bao bọc, Chơn Thần là do Phật Mẫu ban cho, phải học hỏi mới có sự khôn ngoan, tinh tấn. 3- Là Xác thân thứ ba- hay là đệ tam xác thân- do Đức Chí-Tôn ban cho điểm linh quang, mới sáng suốt, còn gọi đây là linh hồn hay chơn linh. Người tu là cốt cho ba xác thân được hiệp một, tức là hiệp Tinh- Khí-Thần là vậy

Chơn Thần là xác thân Thiêng Liêng của mỗi người, do Ðức Phật Mẫu dùng nguyên khí nơi Diêu-Trì Cung để tạo thành: "Nơi Ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang. Ðài ấy thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên Chơn Thần cho Vạn linh trong Càn-Khôn Vũ-Trụ". Lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho. Ðức Phật Mẫu thâu điểm Linh quang nầy làm linh hồn, rồi dùng Âm quang phối hợp Dương quang để tạo Chơn Thần (tức là xác thân thiêng liêng) bao bọc điểm Linh quang ấy, tạo thành một con người nơi cõi thiêng liêng.

Chơn Thần là gì? - Là Nhị xác thân, là xác thân Thiêng Liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu. Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc Đạo có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.

Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một Thiêng Liêng gọi là Spirituel. Mà cái Thiêng Liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng, mà cũng có thể không thấy đặng. Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí- Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc Đạo mà có Tinh- Khí, không có Thần thì không thế nhập mà Hằng sống đặng. Còn có Thần mà không có Tinh- Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng.

Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn Thần ấy buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ nhàng hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

Cửa xuất nhập của Chơn Thần đối với thể xác là Nê Hoàn Cung, tức là nơi mỏ ác. Màu sắc của Chơn Thần:

- Người tu chơn chánh, trường chay, có Chơn Thần tỏa hào quang trong trắng sáng lòa.

- Người bình thường có Chơn Thần màu hồng.

- Người làm điều xấu xa độc ác có chơn thần màu tím.

Các Ðấng Thiêng liêng chỉ cần nhìn màu sắc của Chơn Thần thì biết tâm ý của người đó như thế nào. Vậy thì:

Chơn Thần ẩn trong xác phàm và có hình ảnh giống hệt xác thân phàm. Chơn thần làm trung gian giữa Chơn linh và xác phàm.

Cấu tạo một Chơn Thần như sau:

"Chơn Thần là đệ nhị xác thân tạo hình bằng nguơn khí của bảy từng thiên. Bỏ Tạo-Hóa-Thiên là từng thứ chín, linh hồn đến từng thứ 8 trụ thần quyết định đến thế gian nầy làm việc gì, kể từ từng thứ 7 mới tạo xác thân. Ta chia 7 từng làm 7 phách, Ðạo Giáo nói là 7 cái thi hài hữu tướng, 6 cái thuộc về khí chất, cái thứ 7 là xác thú nầy đây.

Bảy từng có liên quan lạ lùng với thất tình 七 情

 
   

- Từng thứ 7, 6, 5 là ba tình: Ái, Hỉ, Lạc 愛 喜 樂

- Từng thứ tư là Dục 欲

- Từng thứ ba là Ai 哀

-Từng thứ nhì là Ố 惡

-Từng nhứt là Nộ 怒

Tới từng chót, thì xác thịt là hiện tượng của Nộ giác. Ấy vậy, Bần-Ðạo chỉ rõ rằng ba tánh đức Trung, Hiếu, Nghĩa do ở tình ÁI phát hiện đó là cái tình độc nhứt có liên quan mật thiết với Chơn linh. Ta thấy con nít sơ sanh, thi hài chưa biết vi chủ, nó chỉ sống với Chơn-linh mà thôi. Khởi đoan nó chỉ biết Thương mến những kẻ gần gũi như cha mẹ; còn Chơn thần để gìn-giữ nó, cho nó biết tìm cái sống, bảo-tồn sanh mạng. Thật ra theo Ðạo pháp con nít từ 12 tuổi mới bị chịu ảnh hưởng của xác thịt, còn dưới 12 tuổi xác thịt chưa có quyền. "Cái Chơn Thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng?".Hồn đặng tương-hiệp cùng xác phải nhờ Chơn thần. Chơn-thần lại là bán hữu-hình tiếp vô-vi mà hiệp cùng hình thể, cũng như Đạo tiếp Thánh-Đức của các Đấng thiêng-liêng mà rưới chan cho nhơn-loại".

Thầy đã nói: 22-7-1926 (âl 13-6-Bính Dần):

"Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết đạo nên tưởng lầm. Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy, phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết, thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì. Cười... Nếu Thầy không đến kịp thì các con cũng vẫn bị trong vòng sự chết.

Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái. Còn bực chơn tu, tỉ như một hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, rồi sanh trái mà biến biến sanh sanh càng tăng số. Vì vậy mà các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn Thần, Chơn Thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo.

Theo giáo lý của Ðạo Cao Ðài thì:

Thánh ngôn I/31 dạy: "…Các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn thần, Chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo. Bởi vậy, một Chơn Thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con.

- Như kẻ bên Phật giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế.

- Người gọi Quan Âm là Nữ Phật tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương.

- Người gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu.

- Người gọi Lão Tử là Tiên Tổ giáo, thì Lão Tử cũng sanh ra đời nhà Châu.

- Người gọi Jésus là Thánh đạo Chưởng giáo, thì Jésus lại sanh nhằm đời nhà Hớn.

Thầy hỏi: Vậy chớ ai sanh ra các Ðấng ấy?

Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó ai sanh? Ấy là Ðạo. Các con nên biết: Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy.

Khi Đức Hộ-Pháp nói về Con Đường Thiêng liêng hằng sống thì rằng: "Còn hôm nay chúng ta về với Đức Chí-Tôn bằng Chơn-Thần, vì Bần-Đạo may duyên được đặc ân của Đức Chí-Tôn cho phép nên mới đi riêng cũng như đi tắt vậy".

Kinh Đệ Nhị Cửu có câu:

"Tây-Vương-Mẫu vườn Đào ướm chín,
"Chén trường-sanh có lịnh ngự ban
"Tiệc hồng đã dọn sẵn-sàng,
"Chơn-Thần khá đến hội hàng chư-linh."

 

 

CHƠN THẦN CỦA CHÍ LINH

Đức Hộ-Pháp nói: "Từ khi các Tôn giáo bị bế: Âm thạnh Dương suy, nên Thần chẳng hiệp cùng Tinh Khí được, vì vậy nên người tu hữu công mà không đắc quả. Nay Đức Chí Tôn khai ĐẠI-ĐẠO đem chơn Thần huờn nguyên cùng Tinh Khí là cơ mầu-nhiệm cho chúng sanh đắc Đạo. Ai biết noi theo chơn truyền luật pháp giữ trai kỳ 10 ngày trở lên đến ngày công viên quả mãn đặng thọ truyền bửu pháp, chơn Thần siêu thăng. Trong buổi Hạ-nguơn chuyển thế Đức Chí-Tôn khai Đạo dạy thờ Thiên-Nhãn là thờ Chơn-thần của Chí linh cho hiệp cùng Vạn-linh tức là thờ ngôi Thái Cực, là thờ Thầy vậy".

 

 

CHƠN THẦN Ô TRƯỢC

眞 神 汙 濁

Người có ba thể xác thân:

- 1 là xác thân phàm do cha mẹ sanh ra, sống bằng trái tim, sau cùng chết thì xác thân này chôn đi, gọi là "của thổ hoàn lại thổ".

- 2 là cái phách của con người, Đạo giáo gọi là Chơn Thần, Thông Thiên học gọi là Thể Trí. Phần này do Đức Phật-Mẫu tạo thành. Phải học hỏi mới khôn ngoan,

- 3 là Chơn linh do Đức Chí-Tôn bố hóa. Thông Thiên học gọi là Cái vía. Đây là phần linh diệu hơn hết, chính là chủ của con người, còn gọi là Linh hồn.

Chơn Thần là trung gian cho Chơn linh và Xác thân. Nếu xác thân còn ăn mặn (thực nhục) thì nhiều Âm điển sẽ nặng trì, khi xác thân chết thì Chơn Thần bị lôi kéo theo lằn Âm điển ấy mà không theo với Chơn linh được. Sự ô-trược của Chơn Thần là vậy. Thế nên khi thoát xác thì Chơn thần phải qua cái ải khổ sở là Âm quang, cũng là nơi Địa ngục, ngày xưa đặt hiệu.

Bát Nương Diêu Trì Cung (Giải thích về Âm quang): …"Lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hóa. Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu. Vậy thì chính lời nhiều Tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn Giải thân định trí (một nơi trung gian giữa Thiên đường và Ðịa ngục hay là mờ mờ mịt mịt). Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các Chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy Chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy. Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu, thì kinh khủng chẳng cùng. Nếu để cho Chơn thần ô trược thì khó mong trở lại cõi thiêng liêng và về cùng Thầy đặng. Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng. Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các Chơn hồn, dầu sa đọa luân hồi, cũng có người giúp đỡ. Nghe lại coi có phải vậy chăng?" [Thánh ngôn: 21-2-Bính Tuất (dl 24-3-1946)]

Kinh Giải Oan có câu:

"Chịu ô-trược Chơn Thần nặng trịu,
"Mảnh hình hài biếng hiểu lương tâm.
"Phong trần quen thú cung âm,
"Cảnh thăng ngơ ngẩn lạc lầm Phong Đô."

 

 

CHƠN THẬT

眞 實

Chơn thật là không giả dối. Người chơn thật là con người đạo đức, chơn chánh, hiền lương đáng làm gương mẫu trong cuộc đời. Lời chơn thật là lời nói ra đúng đắn, đủ uy-tín, đáng tin cậy.

Đức Chí Tôn đã nói: "... Ngày nay các con chẳng thấy đặng hành vi mầu nhiệm, mà chính mình Thầy đã đến nói, các con cũng nên tin nơi Thầy mà cho lời dạy của Thầy là chơn thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy đặng cơ mầu nhiệm, thì chừng ấy đã muộn rồi. Vậy các con khá tuân lịnh dạy."

Đức Quyền Giáo Tông nhắc nhở thêm: "Chức sắc cần phải trút thêm cả mồ hôi lẫn hoà giọt lệ, ái tuất thương sanh, hầu đi khắp non sông để bia tấm lòng chơn thật của Chí Tôn buổi Tam-Kỳ Đại-Đạo thì dầu cho sắt đá kia phải cảm giác thay hà tất là quần sanh!"

 

 

CHƠN THIỆT NGHĨA

眞 實 義

(Chơn:Thật, không giả dối.Thiệt: thật, thực. Nghĩa: ý nghĩa). Chơn thiệt nghĩa là cái ý nghĩa chơn thật.

Kinh Di-Lạc có câu:

"Nguyện giải Tân Kinh chơn thiệt nghĩa, Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết Di Lạc Chơn Kinh."

 

 

CHƠN TRỊ

眞 治
E: To administer with honesty.
F: Administrer avec l'honnêteté.

(Chơn: Thật, không giả dối. Trị: cai trị). Chơn trị là dùng sự chơn thật mà cai trị dân chúng, điều hành việc nước

Thầy dạy: "Sự yếu trọng của con người là nạn cơm áo. Nắm chặt quyền phân phát cơm áo thì chưa ai đã chịu thọ sanh nơi thế nầy lánh khỏi. Muốn cho đặng quyền hành ấy thì làm thế nào? Dùng hết mưu chước quỉ quyệt thâu đoạt cho đặng lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh tranh đấu đấu, giựt giựt giành giành, gây nên mối loạn, nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép Tà quyền, mạnh hơn, yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng Tạo hóa. Cái trường thảm khổ của thế gian cũng do nơi đó mà ra. Vậy:

Gian tham đã thâm nhập vào lòng thì lòng hết đạo đức.

Tham gian nhập vào nhà thì nhà không chánh giáo.

Tham gian đã nhập vào nước thì nước hết chơn trị.

Tham gian đã lộng toàn thế giới thì thế giới hết Thánh, Thần. Thầy không cần nói, sự gian tham có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy mà bị lắm điều tội lỗi. Ấy vậy, gian tham là trọng tội".

 

 

CHƠN TRUYỀN

眞 傳
E: The true doctrine.
F: La vraie doctrine.

(Chơn 真 là thật, không giả dối. Truyền 傳 là trao lại, ban ra). Chơn truyền 真傳 là Giáo pháp chơn thật của một nền Tôn giáo được các vị Giáo chủ hay Tổ sư truyền lại sau này cho chúng sanh một cách chính xác để hành giả tu theo đó thì nhứt định đắc Đạo.

Đức Hộ-Pháp cũng có nói: "Chí-Tôn đã dạy rằng: Phải tùy phong hóa của các sắc dân sanh mà truyền giáo, thì Người cũng tùy nhơn đạo lập chơn truyền, bởi ta tham trọng thế lớn quyền, Thầy mới tạo ngôi Tiên vị Phật. Đại Từ-Phụ một hôm kia than cùng Bần Đạo rằng: Thầy không phương nào đến cùng các con hơn là Cơ Bút. Thầy còn trụ tinh ba chơn-truyền của Ngũ Chi Đại-Đạo mà làm cho chúng sanh hiểu Đạo đặng dễ dàng, nên phải dụng Cơ Bút đặng giáo-hóa. Hễ mọi điều chi có hữu ích thì hữu hại. Sau này Thầy e-ngại cho Cơ Bút sẽ hại cho nhơn sanh mê tín dị đoan, cũng bởi vì ưa ham phẩm vị: Nào là thành Tiên, hiển Phật, nào là xưng Thánh, hô Thần, xúi giục tánh ham gần mộng mị. Lời tiên tri này ngày nay kết quả".

Kinh Đại Tường có câu:

"Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,
"Khai cơ tận độ Cửu Tuyền diệt vong."

 

 

CHƠN TRUYỀN ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ

眞 傳 大 道 三 期 普 渡

Nền Đại-Đạo này do chính Đức Chí-Tôn đến mở ra cho dân tộc Việt Nam làm khởi điểm, hầu truyền ra cho khắp nhơn loại trên toàn cầu, mục đích cho Thế Giới được hưởng một nền Tôn giáo Đại Đồng trong nhiều lãnh vực: Đại đồng xã hội, Đại đồng tư tưởng, Đại đồng Tôn giáo Thế nên Chơn truyền là giáo lý chơn thật được truyền lại một cách chính xác để hành giả tu theo đó thì nhứt định đắc đạo trong Kỳ ba Đại Ân xá này.

Đây là lời của Ngài Bảo Văn Pháp Quân viết tại Trung ương: 11giờ trưa ngày 13-07-Quí Tỵ (1929)

"Tiếp đây là cái thơ thứ III để tỏ bày về "Chơn truyền của Đại-Đạo Tam-Kỳ" do nơi tay của Bảo-Văn Pháp Quân đã đào tạo, hiện thời chưa phải buổi truyền bá, vì trình độ của nhơn sanh vẫn còn kém sút, dầu cả Đạo Hữu lẫn cả người đời đều do bởi sự thất chơn truyền trên hai ngàn năm. Đợi cho phần trách nhiệm của Đức Hộ Pháp kiến thiết nền móng của Đại-Đạo xong, trình độ của người đời kẻ Đạo tiến thêm nhiều ít mới có thể đem Chơn truyền mà gieo rắt cho nhơn loại. Trong Giáo lý Chơn truyền vốn có chứa cả nền Văn-hóa tức là chơn hồn của Việt chủng theo lẽ Đời gọi là "HỒN NƯỚC". Và Đại-Đạo tôn chỉ vẫn nguyên pháp của Tam Tông hiệp nhứt, tức là Chơn hồn của Đại-Đạo Tam-Kỳ. Cả vài mươi quyển "Thánh giáo", những Giáo lý ấy cần phải riêng giữ cho Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh và Văn-Pháp, vì lời lẽ dạy của Chí-Tôn, Đức Kim-Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng đều do nơi hai cặp Cơ Bút này phò loan, tức là lẽ nhiệm-mầu huyền-bí duy có bốn người tìm hiểu rõ mà thôi. Ngoài ra bốn vị này, dầu có xem đến cũng không có chi là bổ ích cho họ. Nếu cải Văn-Pháp mà ấn tống ra thì Thánh giáo sẽ trở thành phàm giáo mà hóa ra lẽ hư Đạo mà chớ! Vậy, nơi trong cái tủ thờ Diêu-Trì-Cung có chứa gần 20 quyển Thánh Giáo có nhỏ có lớn, ngoài các Thánh Giáo thì có những Truyện, Sử và các sách Roman Pháp. Đồ rất quí hóa là…(dừng ở đây)

 

 

CHƠN TRUYỀN ĐỨC CHÍ TÔN

 眞 傳 德 至 尊

Đức Hộ-Pháp nói: "Chúng ta đã thấu-đáo cả Chơn-truyền của Đức Chí Tôn, các huyền-vi bí-mật cơ Tạo-đoan Càn-khôn vũ trụ, nó có ba điều trọng-yếu là:

1- Cái kiếp sanh của chúng ta theo như chơn truyền Đức Chí-Tôn: các Chơn-linh đến tại mặt thế này hay là các địa-giới trong càn khôn vũ-trụ cốt để Trả quả kiếp của mình, hoặc mình đã tạo căn-quả vì trong con đường tấn hoá chơn-linh của mình không đủ mực thước để điều khiển khối chơn-linh yếu-ớt, không đủ quyền duy chủ mà phải phạm thêm điều oan nghiệt.

2- Đến đặng tìm-tàng cái học lực của mình, học lực của mình là điều mình muốn biết cả kiếp căn của mình nếu không biết cũng đeo đuổi theo, tìm-tàng cho biết cả cơ quan bí-mật tạo-đoan.

3- Là đến để lập vị cao thăng hơn nữa tức nhiên theo cơ Tạo-đoan càn-khôn vũ-trụ về hữu hình, cốt yếu để giúp cho các chơn-linh tấn triển trên con đường Thiêng liêng hằng sống.

Bần-Đạo có cho toàn thể chúng ta thấy căn sống của mình chẳng phải nơi trái địa-cầu 68 này mà thôi, mà các mặt địa-cầu khác trong Càn-khôn vũ-trụ cũng đều một khuôn luật ấy. Có nhiều trái địa-cầu tấn triển cao hơn khuôn khổ kiếp sống của con người, có thể giảm bớt tội, nhưng khuôn luật vẫn một mà thôi, không chi sửa đổi.

Chúng ta đã thấy mình sống, kiếp sống của mình như thế; Bần-Đạo đã cho toàn thể con cái Đức Chí-Tôn tự soát mình lại không có hạnh-phúc chút nào hết. Thật sự ra, đề-mục chúng ta phải đi trong khoá này của Đức Chí Tôn, đến đặng mở khoa-mục cho nhơn-loại buổi này, hay là mỗi lần các Đấng cao siêu hơn nữa đến tạo Đạo, cốt yếu mở khoa-mục cho các chơn-linh thì chúng ta đã ngó thấy khoá này là khoá đầu tiên hết thảy trong đề mục" (ĐHP: 29-5 Kỷ-Sửu)

 

 

CHƠN TRUYỀN LUẬT PHÁP

眞 傳 律 法

Thầy cũng có nhắc-nhở: "Trường đời có ấm lạnh, cũng như lẽ Đạo có thạnh suy, mà cùng cực cái thạnh ắt lại suy, cùng cực cái suy ắt lại thạnh. Mà cái thạnh của Đạo thì vô cùng người thường không phương thấu-đáo. Chơn-truyền Luật-pháp là bất di bất dịch, ai sửa cải Chơn truyền Luật-pháp ắt bị tội chẳng sai, dầu là địa-vị gì đi nữa. Thầy phong thưởng chúng nó đặng ắt thầy hình phạt chúng nó cũng đặng vậy".

Đức Hộ-Pháp đã nói: "Từ khi các Tôn giáo bị bế: Âm thạnh Dương suy, nên Thần chẳng hiệp cùng Tinh Khí được, vì vậy nên người tu hữu công mà không đắc quả. Nay Đức Chí Tôn khai ĐẠI-ĐẠO đem chơn Thần huờn nguyên cùng Tinh Khí là cơ mầu-nhiệm cho chúng sanh đắc Đạo. Ai biết noi theo chơn truyền luật pháp giữ trai kỳ 10 ngày trở lên đến ngày công viên quả mãn đặng thọ truyền bửu pháp, chơn Thần siêu thăng. Trong buổi Hạ-nguơn chuyển thế Đức Chí-Tôn khai Đạo dạy thờ Thiên-Nhãn là thờ Chơn-Thần của Chí Linh cho hiệp cùng Vạn-linh tức là thờ ngôi Thái Cực, là thờ THẦY vậy".

 

 

CHƠN TRUYỀN LUẬT PHÁP BẤT DI BẤT DỊCH

眞 傳 律 法不 移 不 易

Thầy dạy: "Trường đời có ấm lạnh, cũng như lẽ Đạo có thạnh suy; mà cùng-cực cái thạnh ắt lại suy, cùng cực cái suy ắt lại thạnh. Mà cái thạnh của Đạo thì vô-cùng, người thường không phương thấu-đáo.Chơn-truyền luật pháp là bất-di bất dịch, ai sửa cải chơn-truyền Luật-pháp ắt bị tội chẳng sai, dầu là địa-vị gì đi nữa. Thầy phong thưởng chúng nó đặng ắt Thầy hình phạt chúng nó cũng đặng vậy".

 

 

CHƠN TRUYỀN PHƯỚC THIỆN

眞 傳 福 善

Chơn truyền của Phước Thiện là thay thế Đức Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không vợ không chồng, trong sự THƯƠNG YÊU cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Có như vậy mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ của Đức Chí Tôn để mơi mặt thế nầy. Các có em hiểu chưa?

- Nếu các em đã nhận thức rõ rệt về Chơn truyền của Phước Thiện thì phải cố gắng tự đặt mình vào nơi khuôn khổ ấy, dâng trọn mảnh thân phàm nầy làm con tế vật cho Đức Chí Tôn để phụng sự cho con cái của Người, để Người khỏi mỏi lòng trông đợi.

Các em phải tự hỏi lấy mình hằng ngày rằng: Nhơn loại đã hết khổ chưa? Và nhơn loại đã hưởng được mảy may hạnh phúc gì chưa? Do nơi hành động của các em, nếu thấy rằng nhơn loại hết khổ và hưởng được một đôi điều hạnh phúc thì phận sự của các em mới xong. Có thể được không các em? (Trích Thánh giáo của Đức Cao Thượng Phẩm tại Qui Thiện Đường ngày 26-10-Canh Dần 1950)

 

 

CHƠN TU

眞 修
E: The real monk.
F: Le vrai religieux.

(Chơn: Thật, không giả dối. Tu: sửa mình cho tốt đẹp). Chơn tu là người tu hành chơn chánh, tu thiệt tình, chí quyết tu hành mong cầu giải thoát. Người Tu theo chánh pháp, không cầu lợi danh, biết diệt trừ mê tín dị đoan, không bị lầm theo tà quái. Có thể xảy ra hai trường hợp:

- Bậc chơn tu (có phẩm tước) thì trong lòng phải thật kỉnh thành đối với Trời Phật, tận tụy vì công việc, biết trọng phẩm tước của Thiêng Liêng ban cho. Phải biết biệt phân tà chánh.

- Bậc chơn tu (không phẩm tước) luôn giữ đạo đức cao thượng, dù không nhận chức phẩm nhưng không vì vậy mà không lo trau giồi kiến thức và tri thức cho mỗi ngày một tiến bộ hơn. Trái với Chơn tu là Giả tu, tu để mượn danh Đạo tạo danh đời,tạo thế lực để thỏa mãn ước vọng.

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện của chung chẳng riêng,
Phước Thiện để rước bậc hiền chơn tu.
Phước Thiện cải ác phá ngu,
Phước Thiện giải khổ tội tù Phong đô.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu khuyên làm lành lánh dữ:

Lời Thầy dạy Thánh-ngôn ghi chữ,
Biểu chúng ta lánh dữ làm lành.
Phải lo khử ám tựu minh,
Cải tà qui chánh lập thành chơn tu.

 

 

CHƠN TỤC

眞 俗
E: Steps of the profane.
F: Les pas du profane.

(Chơn là ròng một thứ, chỉ phần thấp nhứt. Tục: tầm thường thấp kém, chỉ cõi trần hay người nơi cõi trần). Chơn tục là bước chơn của người phàm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ðường trần dù muốn dừng chơn tục.

 

 

CHƠN TƯỚNG

眞 相

(Chơn là sự thành thật, điều tốt đáng noi theo. Tướng là diện mạo, là hình ảnh trước mắt) đấy là hình ảnh kiểu mẫu để trước mắt mọi người để làm gương chung.

Đức Hộ-Pháp nói: "Ðức Chí-Tôn đến dạy ta biết rằng tánh là chơn tướng của Chơn thần, còn tâm là chơn tướng của Chơn linh. Đức Ngài dạy:

- Hình thể thứ nhứt là Tâm tức là Chơn linh,

- Tánh của mỗi chúng ta là hình thể thứ nhì tức là Chơn thần.

- Thứ ba là xác phàm thú chất nầy.

"Ngày nào toàn cả quần chúng, đồng bào biết giác ngộ, tu tỉnh hiệp nhứt tâm thực hành chủ nghĩa Từ-bi Bác-ái cho ra chơn tướng, thì nhơn sanh sẽ đặng chung hưởng mọi điều hạnh phúc, chẳng luận quốc dân nào, xã hội nào mà toàn cầu thế giới cũng được thọ hưởng cái hạnh phúc ấy".

 

 

CHỚP GIĂNG

Thi văn dạy Đạo có câu:

Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,
Vững bền vạn kiếp chẳng hề xao.

 

 

CHỚP NHOÁNG

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,
"Bộ lôi Công giải tán trược quang.
"Cửa lầu Bát quái chun ngang,
"Hỏa Tinh Tam muội thiêu tàn oan gia."

 

 

CHÚ GIẢI

註 解
E: To explain and comment.
F: Expliquer et commenter.

Chú: biên chép ý nghĩa phụ vào bên dưới hay kế bên. Giải: phân tích cho rõ nghĩa ra. Chú giải là ghi chép thêm để làm rõ ý nghĩa của một câu văn hay của một đoạn văn.

Pháp Chánh Truyền do Ðức Chí Tôn lập ra. Ðức Hộ Pháp vâng lịnh Ðức Lý Giáo Tông chú giải, tức là giải nghĩa cho rõ ràng từng chi tiết một, để phân định quyền hạn của mỗi Chức sắc trong mỗi cơ quan cho minh bạch, phân định nhiệm vụ của mỗi người để việc điều hành nền Ðạo được trật tự, tốt đẹp, không có sự dẫm chân lên nhau, nhờ vậy nền Ðạo mới phát triển mau lẹ. Bản chú giải Pháp Chánh Truyền của Ðức Hộ Pháp được dâng lên Ðức Lý Giáo Tông xem xét và sửa chữa thêm, rồi mới được phép ban hành.

 

 

CHỦ

CHỦ có nhiều nghĩa tùy trường hợp:

1) CHỦ Người đứng đầu cai quản và quyết định mọi việc trong phạm vi quyền hạn.
Thí dụ: Chủ quản, Chủ quyền, Chủ tọa.

2) CHỦ Phần chánh, phần cốt yếu.
Thí dụ: Chủ nghĩa, Chủ ý.

3) CHỦ Tự mình.
Thí dụ: Chủ quan, Chủ trương.

 

 

CHỦ - CHÚA

Âm tuy khác nhưng nghĩa vẫn một. Gồm bộ Chủ丶 và chữ Vương 王. Ngày xưa Chúa xem như người đứng đầu một nước lớn gọi là Đế 帝 thống lãnh các vương hầu. Cũng như Ngôi Trời là Cha, mà Chúa là Con một của Trời. Đọc Chúa là danh của Đấng Chúa Cứu thế đã một lần đến với nhân loại, Ngài đã thọ khổ để chuộc tội cho loài người. Trên hai ngàn năm đã vắng mặt Người.

Qua "Đệ Nhị Hòa-Ước đã ký-kết với Đức Chí Tôn bị nhân-loại bội-ước nữa, vì bội-ước mà bảo sao nhân-loại không bị tội-tình mắc-mỏ cho được".

Lời Đức Chúa Jésus Christ trong Thánh KANT:

"Je reviens en ce monde avec un Nouveau Jésusalem" (Tôi trở lại thế-gian này với một TÒA THÁNH MỚI "

Hôm nay Ngài đã trở lại với Toà-Thánh Cao-Đài:

"Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo,
"Hữu duyên Đông Á nắm Thiên Thơ"

Thánh ngôn đã ghi rõ một đàn cơ do người pháp hầu đàn. Đức Chí-Tôn giáng dạy:

"Các con có biết chăng hiện nay vì thế gian rất hung bạo nên thời kỳ tận diệt đã hầu kề. Nhân loại tàn sát lẫn nhau, bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẻ và chiến tranh.

Thánh Đạo của Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp người dưới.

Phải có một giáo lý mới mẻ đủ khả năng kềm chế nhân loại trong sự thương xót chúng sanh.

Chỉ có xứ Việt-Nam còn duy trì được sự tôn sùng Tổ phụ theo tục lệ cổ truyền, mặc dù xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày được tạo lập đến giờ. Ý Thầy muốn nó được giữ nguyên như vậy mãi". (TNI/131).

Bởi: Ngày nay Người đã trở lại trong nguơn hội này để hoàn thành chương trình Qui nguyên Tam giáo Phục nhứt Ngũ chi, dưới danh hiệu: "Tam-Thiên Thế giới Hộ-Pháp Gíang Lâm".

 

 

CHỦ ĐÍCH

主 的
F: principal but.

Nhạc và Lễ đều có cái chủ đích chung là sửa đổi tâm tánh con người cho ngay chánh, bồi dưỡng tình cảm cho thuần hậu. Nhưng mỗi bên có cách thức riêng biệt.

-Lễ cốt ở sự cung kính để giữ cho trật tự phân minh,

-Nhạc cốt ở sự điều hòa khiến cho tâm tánh được tao nhã.

Do đó, Lễ và Nhạc cần phải phối hợp với nhau thì mới thành tựu mục đích tốt đẹp. Nếu có Lễ mà không có Nhạc, tức là có Kính mà không có Hòa, thì nhơn quần ở với nhau có sự phân biệt thái quá, nên chia rẽ xa cách. Nếu có Nhạc mà không có Lễ, tức là có Hòa mà không có Kính, thì thành ra dễ dãi khinh lờn. Vậy nên, có Lễ phải có Nhạc, có Nhạc phải có Lễ, để cho cái nầy bổ khuyết cái kia thì mới tạo được sự điều hòa tốt đẹp và một trật tự ổn định trong xã hội."

 

 

CHỦ NGHĨA

主 義
F: Doctrine.

(Chủ: Phần chánh, phần cốt yếu. Nghĩa: điều phải theo). Chủ nghĩa là cái cốt yếu của một học thuyết để làm đường lối phải theo. Thí dụ: Chủ nghĩa Duy Linh (Spiritualisme) là một quan điểm triết học duy tâm khách quan, coi linh hồn là nguyên lý cơ bản của hiện thực, là thực tế vô hình đặc biệt, tồn tại độc lập với vật chất và điều khiển vật chất. Trái với Chủ nghĩa Duy linh là Chủ nghĩa Duy Vật.

Chủ nghĩa của Ðạo Cao Ðài là: Bác ái và Công bình.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Thảng như Chức sắc nào chẳng vì chủ nghĩa hóa dân vị thiện, làm mất tín nhiệm của chúng sanh thì phải chiếu y Thập hình của Ðức Lý Giáo Tông mà định tội.

 

 

CHỦ NGHĨA ĐẠI ĐỒNG

- Chủ-nghĩa Đại-Đồng là dung nạp, dang tay đón nhận với sự không so-đọ lọc lừa.

- Chủ-thuyết Đại-Đồng tuyệt-đối không cưỡng bức, không chấp nhận lấy một bỏ một.

- Chủ-thuyết Đại-Đồng không chấp nhận có kẻ thù mà tất cả là đồng-sanh, đồng-hành, là huynh đệ.

 

 

CHỦ NGHĨA MARK-LÉNINE

"Chủ-nghĩa Mark-Lénine ra đời và phát-triển đường lối chiến-lược, sách-luợc đúng-đắn cho cuộc đấu tranh, xoá bỏ xã-hội cũ, xây dựng xã-hội mới và con người mới. Chủ-nghĩa Mark-Lénine đã giải-phóng khoa học khỏi ảnh hưởng của thế-giới-quan duy tâm và Tôn giáo, đem thế giới-quan duy-vật biện-chứng vũ-trang cho các nhà khoa học và làm cho họ thấy rõ trên thế-giới không có cái gì là không thể nhận-thức được mà chỉ có những cái chưa nhận-thức được mà thôi". đã đập tan mọị quan-điểm của chủ-nghĩa duy-tâm và phương pháp siêu-hình, tạo nên một cuộc cách-mạng trong lãnh vực khoa-học xã-hội. Nó giúp giai-cấp công nhân nhận thức được qui-luật phát-triển của xã-hội, đề ra.

 

 

CHỦ NGHĨA THƯƠNG YÊU

Đức Hộ-Pháp nói: "Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời Sấm truyền của các vị Giáo chủ ngày xưa. Chỉ có phương diện là do nơi Tam giáo thất chơn truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập Đạo đặng Qui Nguyên Phục Nhứt, gọi là chấn hưng Tam Giáo lại cho hoàn toàn, lập Luật Pháp khuôn viên cho phù hạp theo dân trí buổi nầy, mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh. Hiệp cả tinh thần của các dân tộc biết nhìn nhau một CHA Chung, mà thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ một nền Tôn Giáo Đại Đồng, thì nhơn loại mới đặng gội nhuần ân huệ và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn loại mới chung hưởng Hòa bình, phục lại đời thượng cổ, là do nơi Thiên Thơ tiền định, buổi Hạ nguơn chuyển thế hoán cựu nghinh tân".

 

 

CHỦ QUAN - KHÁCH QUAN

主 觀 - 客 觀
E: Subjective - Objective.
F: Subjectif - Objectif.

(Chủ: Tự mình.Quan: xem xét, quan niệm. Khách: ở ngoài, trái với Chủ). Chủ quan là chỉ dựa vào nhận thức riêng của cá nhân mình mà suy nghĩ và hành động, cho nên đôi khi không sát thực tế và có tánh cách phiến diện, dễ đi đến thất bại. Khách quan là căn cứ vào sự thật đang diễn tiến ở bên ngoài qua các hiện tượng mà quan sát, qua những ý kiến, suy nghĩ của nhiều người, rồi hợp với sự hiểu biết của mình quyết định mới thích hợp hơn.