CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần C

 

CA

Ca (Ca Minh Chương)

Ca (Đốc Phủ Ca)

Ca-Diếp

Ca Tì La Vệ

Ca Thị Thế

 

Cá Thể

 

Cà Sa

 

CÁC

Các Con Là Thầy, Thầy Là Các Con

Các Đằng

Các Đấng Chơn Hồn

Các Đấng Chuyển

Các Đấng Thiêng Liêng

Các Đấng Trọn Lành

Các Tía Lầu Son

Các Tư Kỳ Phận

Các Tư Kỳ Sự

 

CÁCH

Cách Bức

Cách Thờ Phượng Và Cúng Kiếng

Cách Mạng

Cách Vật Trí Tri

 

CAI

Cai Trị

 

CÁI

Cái Bóng

 

CẢI

Cải Ác

Cải Ác Phá Ngu

Cải Ác Tùng Lương

Cải Dữ Ra Hiền

Cải Hạnh

Cải Kim

Cải Quá

Cải Tà

Cải Tà Qui Chánh

Cải Táng

Cải Trạng

Cải Trạng Võ Thành Quốc

 

CÃI

Cãi Lịnh

Cãi Luật

 

CAM

Camille Flammarion

Cambodge

Cam Đoan

Cam Lồ

 

CÁM

Cám Dỗ

 

CẢM

Cảm Giác

Cảm Hóa

Cảm Hoài

Cảm Quang

Cảm Tạ

Cảm Tình

Cảm Ứng

 

CAN

Can Đảm

Can Gián

Can Qua

 

CÀN

Càn (Kiền) Quẻ 01 Bát Thuần Kiền

Càn Khôn

Càn Khôn Chủ Tể

Càn Khôn Dĩ Tận Thức

Càn Khôn Đại Thống

Càn Khôn Oát Vận

Càn Khôn Tạo Hóa

Càn Khôn Thế Giái

Càn Khôn Vũ Trụ

Càn Khôn Vũ Trụ Định Thể

Càn Ngươn

Càn Vô Đắc Khán Khôn Vô Đắc Duyệt

 

CANG

Cang Kỷ (Kỷ Cương)

Can Thường (Cương Thường)

 

CANH

Canh Cải

Canh Chủng

Canh Điền

 

CẢNH

Cảnh Báo

Cành Minh

Cảnh Tịnh

Cảnh Thăng

Cảnh Thần

Cảnh Thiên

Cảnh Tục

 

CAO

Cao Chức

Cao Đài

Cao Đài Đôi Liễn CAO ĐÀI

Cao Đài Tiên Bút Thi Văn Tự

Cao Đài Tiên Ông

Cao Đạo Hữu

Cao Đồ

Cao Đức Trọng

Cao Hoài Ân

Cao Hoài Sang

Cao Hoàng Gia Long

Cao Lương Mỹ Vị

Cao Như Bắc Khuyết Nhơn Chiêm Ngưỡng, Đài Tại Nam Phương Đạo Thống Truyền

Cao Quí

Cao Quyền

Cao Ngôi

Cao Ngự

Cao Nhơn

Cao Hoan

Cao Khiết

Cao Quỳnh An

Cao Quỳnh Cư

Cao Quỳnh Diêu

Cao Quỳnh Tuân

Cao Sang

Cao Sắc

Cao Siêu

Cao Thăng

Cao Thăng Đạo Vị

Cao Thâm

Cao Thâm Huyền Diệu

Cao Thượng

Cao Thượng Bửu Tòa

Cao Triều Phát

 

CÁO

Cáo Phó

Cáo Từ Tổ

 

CĂN

Căn

Căn Cô Truất Quả Kỉnh Lão Hòa Ấu Côn Trùng Thảo Mộc Du Bất Khả Thương

Căn-Cứ Phổ Thông Chánh Giáo

Căn Duyên

Căn Kiếp

Căn Nghiệt

Căn Phần

Căn Quả Số

Căn Sanh & Căn Sinh

Căn-Ta-Ca

Căn Tu

Căn Xưa Quả Trước

 

CẮT

Cắt Ái Ly Gia

 

CẤM

Cấm Các Văn Phòng Lập Thiên Bàn Thờ Chí Tôn

Cấm Cơ Bút

Cấm Dị Nghị

Cấm Rước Ban Hát Về Thủ Lợi

 

CẦM

Cầm Cây Huệ Kiếm

 

CẨM

Cẩm Giang

 

CÂN

Cân Công Bình

Cân Công Bình Ở Phía Trước Đền Thánh

Cân Công Chánh

Cân Đai

Cân Đai Tuế Nguyệt

Cân Lường

 

CẦN

Cần Kiệm

Cần Vương (Phong Trào Cần Vương)

Cần Yếu

 

CẨN

Cẩn Chí

Cẩn Ngôn

Cẩn Tắc Vô Ưu

 

CẤP

Cấp Cô Ðộc

Cấp Tế

Cập Chư Hoa

 

CÂU

Câu Chú Của Thầy

Câu Cứu Khổ

Câu Đối

Câu Kinh Vô Tự

Câu Mâu Biếng Nhác

Câu Thời Câu Vận

 

CẤU

Cấu Quẻ Thiên Phong Cấu

 

CẦU

Cầu Cơ

Cầu Đạo

Cầu Đảo

Cầu Giải Bệnh

Cầu Hồn

Cầu Khẩn

Cầu Kho

Cầu Nại Hà

Cầu Ô

Cầu Nguyện

Cầu Phong

Cầu Thăng

Cầu Rỗi

Cầu Siêu

Cầu Siêu Hội

 

CÂY

Cây Bồ Đề

Cây Cân Công Bình

Cây Cội Nước Nguồn

Cây Kim Tiên

Cây Quạt (Long Tu Phiến)

Cây Ma Xử (Giáng Ma Xử)

Cây Phất Chủ

Cây Thánh Giá

Cây Trường Tráng Mộc

 

CẬY

Cậy Thế Ỷ Quyền

 

CÕI

Cõi Âm

Cõi Dương

Cõi Đọa

Cõi Huỳnh Thiên

Cõi Hư Linh

Cõi Hư Vô

Cõi Kim Thiên

Cõi Tây Phang

Cõi Thảm Khổ

Cõi Thanh Thiên

Cõi Thăng

Cõi Thiêng Liêng Hằng Sống

Cõi Thọ

Cõi Trần

Cõi Tục

Cõi Xích Thiên

 

CON

Con Chiên Chí Thánh

Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống

Con Giặc Tôi Loàn

Con Hồng Cháu Lạc (Con Rồng Cháu Tiên)

 

Cô Ba Đắc

Cô Hồn

Cô Nhi Viện

Cô Nhi Quả Phụ

Cô Phần

Cô Quả

 

CỐ

Cố Đất Cầm Vườn

Cố Hữu

 

CỔ

Cổ - Quẻ Sơn Phong Cổ

Cổ Kim Hãn Hữu

Cổ Lai Hy

Cổ Lễ

Cổ Luật

Cổ Mang Hành Hình

Cổ Nhạc

Cổ Pháp

Cổ Pháp Giáo Tông

Cổ Pháp Hộ Pháp

Cổ Phật

Cổ Vật

 

CỘ

Cộ Bông

Cộ Đèn

Cộ Hội Yến Phải Có

 

CỖI

Cỗi Ách Lệ Thuộc

 

CÔN

Côn Lôn

Côn Trùng Thảo Mộc

 

CÔNG

Công Án

Công Bất Khả Nghị

Công Bình

Công Bình Tạo Hóa

Công Bình Tâm Lý

Công Bình Thiên Đạo

Công Bình Thiêng Liêng

Công Chánh

Công Chức

Công Cô

Công Cử

Công Danh

Công Danh Phú Quí

Công Đồng

Công Đức

Công Giáo

Công Giáo Hóa

Công Hầu Vương Bá

Công Lý

Công Lý Giả

Công Nghiệp

Công Nhận

Công Phu

Công Quả

Công Quả Độ Sanh

Công Tham Thái Cực

Công Thợ Sở Hồ Và Mộc

Công Thưởng Tội Trừng

Công Tòa

Công Trình

Công Truyền

Công Viên Quả Mãn

Công Viện

 

CỘNG

Cộng Hưởng Hòa Bình

Cộng Nghiệp

Cộng Sản

Cộng Yêu Hòa Ái

Cộng Vật Loại

 

CỔNG

Cổng Chánh Môn

 

CỐT

Cốt Yếu

Cốt Nhục Đồng Bào

Cốt Nhục Thi Hài

Cốt Nhục Tương Tàn

Cốt Phật Tổ

 

CỘT

Cột Rồng

Cột Mai Cột Mối

Cột Trói Ngược

 

Cơ Bút

Cơ Bút Của Tà Quyền

Cơ Cầu

Cơ Đạo

Cơ Chuyển Thế

Cơ Đốc Giáo

Cơ Đời

Cơ Giải Thoát

Cơ Huyền Bí Để Mà Đắc Đạo

Cơ Huyền Diệu Pháp

Cơ Huyền Tạo Hóa

Cơ Khảo Thí

Cơ Lập Đạo

Cơ Nghiệp

Cơ Phong Thánh

Cơ Quan

Cơ Quan Chánh Trị Đạo

Cơ Quan Chuyển Thế

Cơ Quan Cứu Khổ

Cơ Quan Cứu Thế

Cơ Quan Đồng Tử

Cơ Quan Qui Thống

Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý

Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý

Cơ Quan Phước Thiện

Cơ Quan Phổ Tế

Cơ Quan Truyền Giáo Trung Việt

Cơ Quan Thuyền Bát Nhã

Cơ Quan Tận Độ Chúng Sanh

Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại

Cơ Sanh Hóa

Cơ Tấn Hóa

Cơ Tận Độ

Cơ Tự Diệt

Cơ Thánh Vệ

Cơ Tự Chuyển (Cây Cơ Tự Chuyển)

Cơ Vay Trả

 

CỜ

Cờ Cứu Khổ

Cờ Mao Búa Việt

 

CỠI

Cỡi Hạc Qui Tiên

Cỡi Hạc Thừa Long

 

CỤ

Cụ Pháp

Cụ Sanh Tịnh Độ

 

CUA

Cua Kình Rỉa Thây

 

CỦA

Của Để Bằng Non

Của Thổ Qui Hồi

Của Thiêng Liêng

 

CÚC

Cúc Dục Cù Lao

 

CỦI

Củi Mục

 

CUNG

Cung Âm

Cung Bắc Đẩu

Cung Cầm

Cung Chưởng Pháp

Cung Diệt Bửu

Cung Đạo

Cung Đẩu Tốt

Cung Hiến Tiên Hoa

Cung Hiệp Thiên Hành Hoá

Cung Lập Khuyết

Cung Ngọc Diệt Hình

Cung Như Ý

Cung Phần Sớ Văn

Cung Phụng

Cung Tận Thức

Cung Thánh

Cung Thừa Thiên Hành Hóa

Cung Thiềm

Cung Tiên

Cung Trí Giác

Cung Tuyệt Khổ

Cung Vạn Pháp

 

CÚNG

Cúng Đàn Mà Lễ Nhạc Không Nghiêm Thì Chỉ Để Cho Tà Quái Xung Nhập

Cúng Tế

Cúng Tứ Thời

Cúng Lễ Các Đấng Ngày Vía

 

CÙNG

Cùng Đồ

 

CUỘC

Cuộc Biến Đêm Đại Lễ Khai Đạo

 

Cư (Cao Quỳnh Cư)

Cư-Tắc-Sang

Cư Bất Cầu An

Cư Sĩ

Cư Tang

Cư Xử

 

CỬ

Cử Đa

 

CỬA

Cửa Cực Lạc

Cửa Hòa Viện

Cửa Không

Cửa Khổng Sân Trình

Cửa Luân Hồi

Cửa Phạm

Cửa Quyền

Cửa Số 7 Ngoại Ô

Cửa Tây Phương

Cửa Tiên

Cửa Thiêng Liêng

 

CỰC

Cực Lạc

Cực Lạc Cảnh

Cực-Lạc Quan

Cực Lạc Thế Giới

Cực Lạc Thái Bình

 

CƯƠNG

Cương Tỏa

 

CƯỜNG

Cường Bức

Cường Để

Cường Lực

 

CƯỠNG

Cưỡng Bách Giáo Dục

 

CƯỢNG

Cượng Cầu

 

CƯU

Cưu Cưu

 

CỨU

Cứu An

Cứu cánh

Cứu Cấp Cô Đơn (Cứu Cấp Đơn Cô)

Cứu Chúng

Cứu Chuộc

Cứu Độ

Cứu Khổ

Cứu Khổ Nàn

Cứu Khổ Tinh Thần

Cứu Nàn

Cứu Nàn Độ Vong

Cứu Nhơn Độ Thế

Cứu Quốc Công Thần Chiến Sĩ Trận Vong

Cứu Rỗi

Cứu Thế

Cứu Vớt

Cứu Vớt Sanh Linh

 

CỬU

Cửu

Cửu Bản Dương Trường

Cửu Bảo

Cửu Biểu

Cửu Chân

Cửu Châu

Cửu Chuyển Công Thành

Cửu Chưng Cửu Sái

Cửu Chương Toán Pháp

Cửu Cửu

Cửu Cửu Càn Khôn Dĩ Định

Cửu Đỉnh

Cửu Hạn Phùng Cam Vũ

Cửu Hiến

Cửu Hoàng Tĩ Tổ & Cửu Hoàng Tỹ Tổ

Cửu Huyền

Cửu Huyền Thất Tổ

Cửu Khách Tư Qui

Cửu Khanh

Cửu Khiếu

Cửu Khốn Danh Trường

Cửu Khổng

Cửu Kinh

Cửu Long Giang

Cửu Lưu (1)

Cửu Lưu (2)

Cửu Ngũ Chi Tôn

Cửu Ngưu Nhị Hổ

Cửu Nhật

Cửu Nhị Ức Nguyên Nhân

Cửu Như

Cửu Nương Diêu Trì Cung

Cửu Phẩm

Cửu Phẩm Thần Tiên

Cửu Qui

Cửu Tiên

Cửu Thập Cửu Phong

Cửu Thập Ngũ Hồi, Chưởng Thiện Quả Ư Thi Thơ Chi Phố

Cửu Thiên

Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên Tôn

Cửu Thiên Huyền Nữ

Cửu Thiên Khai Hóa

Cửu Trù

Cửu-Trùng-Đài & Cửu-Trùng-Đài Quyền Hành Chánh

Cửu Trùng Thiên

Cửu Tuần

Cửu Tuyền

Cửu U Thập Loại

Cửu Vị Tiên Nương - Cửu Vị Nữ Phật

Cửu Viện

 

CỰU

Cựu Luật

Cựu Phẩm

Cựu Nghiệp

Cựu Vị

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

 

 

 

CA (CA MINH CHƯƠNG) (Tên)

(Bảo Đạo HIệp Thiên Đài - họ Ca tên Minh Chương)

 
   

LÝ BẠCH giáng: Năm Đinh Mão (1927).

"CA, Bần Đạo để lời cho Đạo-hữu rõ rằng: Đạo đương lúc gặp bước hiểm trở, thuyền vừa phải buổi giông qua, vì vậy mà xảy ra nhiều sự bất bình. Trong chưa yên, ngoài khó tịnh. Dầu chuyện chi cũng nên hiệp trí chung lo cho hòa nhã thì mới có thế gỡ rối đặng. Phải kiếm hiểu rõ Thánh Ngôn của Đức Từ Bi đã dạy về hành động mà giữ cho khỏi sơ sẩy về sau. Đạo lập thành là nhờ có sức chung lo của cả thảy Thiên phong. Nếu mong nghe một bỏ mười thì đâu rộng thấy xa nghe, xác phàm cũng khó làm cho vẹn toàn được. Đạo Hữu đã để tấc thành vào nền Đạo, nhưng nên ngăn ngừa các tánh chất bất công của nhiều Đạo Hữu và phải năng xem Thánh Ngôn của Đức Từ Bi đã dạy trong lúc lập TÂN LUẬT, hầu day trở cho minh chánh trong đường Đạo. Đức Từ Bi hằng dạy về sự chung trí hiệp lòng mà làm cho an phận sự. Đạo Hữu khá vì đó mà giữ nét yên tịnh cho các Tín đồ và do nơi Tân Luật thì khỏi điều chi gay trở."

 

 

CA (ĐỐC PHỦ CA)

(Sau Ngài được phẩm Phối Sư: Thái Ca Thanh)

Thầy dạy ông Đốc Phủ Nguyễn văn Ca, ngày 25-03-Đinh Mão (dl: 26-04-1927): Thầy cho phép các con chung vui Diêu-Trì-Cung. CA! Thầy cho một lời dặn riêng con: Từ ngày con để ý vào đường Đạo, con chưa thấu đáo mùi Đạo nên còn mờ hồ, con phải tự con biết mà rằng, cái lòng đạo đức của con là vật quí báu trên đời, nếu con để cho lầm lạc thì sao cho biết cái chỗ hay của Đạo. Con phải suy nghĩ, mỗi lần con Cúng thì có Thầy, mà quí nhứt là con phải có lòng thành tín thì tự nhiên cảm ứng vào lòng con một cách rất rõ-ràng,. Con sẽ thấy huyền diệu rồi mới biết Chánh đạo khác tà đạo. Hết mơ hồ nghe con".

 

 

CA-DIẾP (Phật Học)

迦 葉

Ca-Diếp (S: kāśyapa; P: kassapa) dịch nghĩa là "Ẩm Quang" 飲光; "uống ánh sáng". Là tên người, Phật. Có nhiều vị mang tên này:

1- Vị Phật của thời kiếp trước thời kiếp này, xem Phật;

2. Ma-Ha Ca-Diếp (s: mahākāśyapa; p: mahākassapa), một đệ tử xuất sắc của Phật Thích-ca. Ca-Diếp nổi tiếng có hạnh Ðầu-đà (tu khổ hạnh) nghiêm túc nhất và là người đứng đầu Tăng-già sau khi Phật nhập diệt. Ca-Diếp là Sơ Tổ của Thiền Tông Ấn Ðộ, là người được Đức Phật Thích Ca truyền Tâm ấn (Niêm hoa vi tiếu).

3- Tên của ba anh em tu sĩ thời Đức Phật, ban đầu theo Đạo Bà-la-môn, thờ thần lửa, nước, được Đức Phật giáo hóa. Ba vị này là Ưu-lâu-tần-loa Ca-Diếp (p: uruvela-kassapa), Già-Da Ca-Diếp (p: gayā-kassapa) và Na-đề Ca-Diếp (p: nadī-kassapa).

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

CA-TÌ-LA-VỆ (Phật Học)

迦 毗 羅 衛

Ca-tì-la-vệ (S: kapilavastu; P: kapilavatthu) Thành phố sinh trưởng của Đức Phật lịch sử, Tất-Đạt Đa Cồ-Đàm (s: siddhārtha gautama), dưới chân Hi Mã-lạp sơn, ngày nay thuộc nước Nepal. Ca-tì-la-vệ ngày xưa là thủ đô của dòng họ Thích-ca (s: śākya). Ðức Phật được sinh ra tại Lam-tì-ni (s: lumbinī) gần đó và sống thời niên thiếu tại Ca-tì-la-vệ.

Năm 1898, người ta tìm thấy tại Ca-tì-la-vệ di cốt của Đức Phật. Trong một ngôi tháp, người ta tìm ra một cái hủ với một hộp đá gồm có năm bình nhỏ. Một trong năm bình có mang dòng chữ "Hộp này đựng di cốt của vị Phật dòng Thích-ca, là phẩm vật của Sukiti cũng như của toàn thể các anh chị em, con trai và các phu nhân."

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

CA THỊ THẾ (Tên)

Đức Chí-Tôn Phong làm Phó Giáo Sư, Thánh danh Hương Thế. Phó Giáo Sư tương đương phẩm Giáo Hữu. Chỉ duy nhất một lần có phẩm Phó Giáo sư này mà thôi, ở thời tiền khai Đại Đạo.

 

 

CÁ THỂ

個 體

Huấn từ nhân lễ bãi trường và phát thưởng cho học sinh trường Lê Văn Trung (1946). Đức Hộ-Pháp nói:

"Về nhiệm vụ của người con dân lúc quốc gia hữu sự, một điều quan trọng mà tất cả các thanh niên học sinh cần phải biết, đó là quốc thể của một nước, tức là sự tập hợp của một khối cá thể của những cá nhân nước ấy. Vậy thì, mỗi công dân một nước phải có một cá thể đã. Cá thể của một người tức là nhân cách và nhân phẩm của người đó vậy. Mà muốn cho cá thể xứng đáng thì ông cha chúng ta đã để lại cho hai chữ vô cùng quí báu ấy là TU THÂN vậy."

 

 

CÀ-SA

袈 裟

Tiếng Phạn là Kasaya, là màu xấu-xa; từ đó mới có từ "nâu sòng". Thứ áo cà-sa thường làm bằng gai thô nhuộm màu vàng để cho người tu theo Phật mặc. Chủ ý là người xuất gia, tu hành khổ hạnh thì không bao giờ dùng màu sắc sặc-sỡ, xem như lòng trần đã dứt hết nghiệp chướng. Ca-sa có ba thứ:

- Áo lớn (tiếng Phạn là Sanghati) để mặc trong khi thọ giới, thuyết pháp hoặc khất thực ngoài đường.

- Áo thường (tiếng Phạn là Uttarasangha) đồ mặc thường.

- Áo nhỏ (tiếng Phạn là Antarvâsaka) áo mặc trong.

Áo cà-sa bằng gai màu vàng của vị Sải Cả, hoặc Hòa thượng ban cho đệ tử đồng thời với cái Bát. Lễ trao Cà-sa và bổn Bát gọi là lễ "Y Bát chơn truyền".

Tục ngữ có câu: "Đi với Phật mặc Áo Cà-sa, đi với ma mặc áo giấy."

 

 

CÁC CON LÀ THẦY, THẦY LÀ CÁC CON

"Các con là Thầy, Thầy là các con" tức nhiên Thầy là Ðại Từ Phụ, là Ðấng Cha Trời, Ngài ban cho toàn thể các con cái của Ngài một sự sống bình đẳng. Toàn thể gọi Ngài là Cha vì được hưởng một điểm Linh quang từ Thượng Đế ban cho. Cả nhơn loại đều có một Ông Cha chung Thiêng Liêng duy nhất là Ðức Chí Tôn. Ðây là một triết lý đặc sắc của Ðạo Cao Ðài mà các Tôn giáo khác không có.

Thầy dạy: "Bởi vậy, một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con."

 

 

CÁC ĐẰNG

閣 滕
E: Đằng Vương Palace.
F: Palais de Đằng Vương.

Các Đằng là viết tắt của từ Đằng-Vương-Các 滕王閣 là một cái gác được xây tại Hàng Châu, một nơi danh lam thắng cảnh ở Trung Hoa. Gác này do Đằng-Vương Lý-Nguyên-Anh xây dựng, lấy hàm tước vua phong để đặt tên gác Đằng Vương.

Câu Kinh "Thuyền thơ ngọn gió Các Đằng xuôi đưa" trong bài "Kinh Vào Học" là do sự tích: Vương Bột 王勃 tự là Tử An 子安 mới 6 tuổi đã biết làm văn, lớn lên thi đậu cao, nhưng tính khí kiêu căng. Tương truyền, có một vị Đô-đốc tên là Diêm Bá Tự ở Hồng Châu đặt tiệc tại Đằng-Vương-Các, muốn khoe tài chàng rễ mình là Ngô Tử Chương, nên biểu làm trước một bài tự rồi mời hết các nhà quyền quí cùng văn sĩ xa gần lại dự yến và yêu cầu mỗi người làm cho một bài tự ngay trong buổi tiệc.

Vương-Bột lúc ấy mới 15 hay 16 tuổi, đang ở nơi xa Đằng Vương Các hơn mấy trăm dặm đường, được một ông cụ cho hay tin và khuyên chàng cứ sửa soạn buồm và chèo đi, tự nhiên sẽ có gió nổi dậy giúp cho. Quả nhiên, đêm đó có gió to, chàng cho thuyền khởi hành và hôm sau tới Đằng Vương Các, vừa kịp lúc vào yến tiệc. Đô đốc Diêm Bá Tự chê chàng là con nít, nhưng miễn cưỡng cấp giấy bút cho chàng làm bài tự, song sai người đứng bên cạnh chàng, hễ chàng viết được câu nào thì chép lại mang cho ông coi. Mới đọc mấy hàng đầu, ông đã ngạc nhiên vì lời văn già dặn của Vương, tới câu:

   

Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.

落 霞 與 孤 鶩 齊 飛
秋 水 共 長 天 一 色

Nghĩa là:

 

Ráng chiều với cò lẻ cùng bay,
Nước thu cùng trời dài một sắc.

Thì ra ông khâm phục thiên tài của vị thiếu niên ấy. Từ đó, danh của Vương-Bột vang dậy khắp nơi. Song tiếc thay, đương giữa tuổi xuân, trong khi đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ, chàng bị đắm thuyền, chết ở giữa biển. Do sự tích ngọn gió đưa chiếc thuyền của Vương Bột đến kịp lúc dự yến và làm bài tự nổi danh, nên có câu: "Thời lai, phong tống Đằng Vương Các" 時來, 風送滕王閣 nghĩa là: Thời tới thì gió đưa đến gác Đằng Vương, để chỉ sự may mắn của người gặp được thời.

Người Tín hữu Cao Đài: nay gặp Đạo Trời khai là duyên may mắn như gặp được hội Rồng mây, không phải để chọn kẻ anh tài như thường tình, mà là duyên phước được gặp Kỳ Ba Đức Thượng Đế đến khai Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức là Thầy đã chuyển thế và Cứu thế; thì người biết được Đạo Trời phải nguyện đem hết khả năng ra mà phụng sự cho Đạo nghiệp.

Kinh Nhập Học có câu:

"May duyên gặp hội Long Vân,
"Thuyền thơ ngọn gió Các Đằng xuôi đưa."

 

 

CÁC ĐẲNG CHƠN HỒN

各 等 眞 魂
E: All the ranks of souls.
F: Tous les grades des âmes.

Các đẳng 各 等: Các đấng, các bậc.

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Nguyện các Đấng đương chầu Bạch Ngọc
"Giúp thông minh lãu thuộc văn từ."

 

 

CÁC ĐẤNG CHUYỂN

Năm Giáp Thân (1944).
Phò loan : Khai Đạo - Hiến Đạo.

THẤT NƯƠNG

Em tỏ sơ, mỗi khi trong mình mấy anh có điều chi khác, hoặc đau lạ kỳ hơn kẻ khác, xin mấy anh không nên phiền phức. Ấy là các Đấng chuyển đa.! Sửa tâm luyện tánh, tắm sạch phách hồn cho tinh chuyên, trong mấy điều sửa đổi đó, phải chịu hành xác chút đỉnh. Ấy là phận sự của kẻ chỉ giáo, còn phải chịu cho các vị Giám khảo hạch hỏi nữa nghe. Trong Ban Khảo lại chia làm hai Ban khác nhau:

- Một Ban khảo thí về tinh thần,
- Một Ban khảo thí về vật chất.

Phải biết phân biệt hai Ban nầy có lộn Quỉ vương nữa đa, vì Chí Tôn cho lịnh chúng nó.

Bạch: Xin Cô giải nghĩa giùm tinh thần và vật chất.

- Khảo về tinh thần là làm cho trí não mờ mệt, biếng nhác, hay quên, quạu quọ, bị kẻ khác sỉ nhục tên tuổi mình.

- Khảo về xác thịt: thì đau té, có khi bị chúng giọi đầu, gia đình lộn xộn, xào xáo chẳng yên.

Đó là em kể sơ qua, chẳng phải dễ đâu? Hữu duyên đắc ngộ, vô duyên muôn kiếp bất tương phùng. Biết Đạo mầu, nhà triệu phú muốn đổi cũng chẳng thèm. Thanh thì bần, trược lại phú. Có phân cây mới tốt, mà phân vẫn là chất trược. Phép nầy dễ học hơn hết. Hễ mỗi lần xác phách muốn làm điều chi thì mấy anh tự hỏi cái điều nầy: Ông Trời có làm đặng không ? Rồi mấy anh suy nghĩ cho đáo để sẽ trả lời cho phách của mấy anh. Mỗi lần cứ thi hành theo phương pháp ấy thì ngày sau có kết quả mỹ mãn.

Bạch : - Xin Cô giải rõ.

Thí dụ thứ nhứt: Bạn chúng nói mình ỷ có quyền bảo nó đi cướp của, của kẻ khác đem về mình hưởng, thì mình hỏi Ông Trời làm việc đó đặng không? Nếu biết nó là Ác tâm thì mình trả lời rằng: Không được, điều đó ác lắm, không nên làm.!

Thí dụ thứ nhì: Mình xúi hai đàng kiện lộn với nhau, đặng mình thủ lợi, thì thử hỏi Ông Trời có xúi làm điều đó không? Đặng trả lời cho phách biết rằng: điều đó độc hiểm lắm, không nên làm.! Các anh hiểu chưa? Thường ngày nhớ mấy điều nầy, Thánh Thần đều biên chép những công chuyện của ta làm, nghe những tiếng của ta nói, cho đến ngày cùng vậy. Nên trước khi ta làm điều chi hay là nói tiếng chi cũng phải suy nghĩ coi có nên không? Chừng ấy sẽ làm hoặc nói chẳng muộn gì. Em mách sơ. THĂNG.

 

Tái cầu:

BÁT NƯƠNG

Em xin quí anh chị cần chuyên tập, ban đầu chịu khó, sau mới thành công. Từ đây, trước mỗi thời Cúng, em xin quí anh quí chị hãy nhớ:

- Trước hết rửa hai con mắt, trong lúc đang rửa, nói lầm thầm rằng: Con mắt thường ngó chỗ không tốt, rửa bỏ nó đi.

-Kể rửa hai bên tai, cũng nói như trên rằng: Tai hay nghe bậy.

-Kế rửa và súc miệng, nói rằng: Miệng hay thốt lời bất chánh.

-Kế hai bàn tay vuốt mặt, nói rằng: Ý đừng tưởng chuyện quấy.

- Kế rửa hai bàn tay, nói rằng: Tay hay cầm đồ dơ uế.

- Kế rửa hai chơn, nói rằng: Chơn hay bước vào chỗ ô trược.

Rửa cho sạch, đoạn mới tới Chánh điện hầu lễ.

Đó là bề ngoài quí anh quí chị. THĂNG.

 

 

CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Nhưng theo ý hiệp đồng chỉ dẫn,
Về phần đông các Đấng Thiêng Liêng.
Chí Tôn ví đắc cơ huyền,
Kiếp sanh phải chịu trong miền chuyển luân.

 

 

CÁC ĐẤNG TRỌN LÀNH

Pháp Chánh Truyền: "Trong Bát-Quái-Đài, kể từ Tiên vị đổ lên cho tới Thầy thì đã vào địa vị các Đấng Trọn lành "Classe des Parfait ou des Purs". Từ Thánh-vị trở xuống Nhơn vị thì vào hàng Thánh "Class des Épures". Từ thú cầm xuống vật chất thì hàng phàm tục "Classe des Impurs". Ấy vậy trong Bát Quái-Đài từ bậc Thánh hồn thì còn phận sự điều đình Càn Khôn thế giới, giao thiệp cùng các chơn hồn, còn ở trong vòng vật chất nâng đỡ, dạy dỗ cho phàm phẩm tấn hoá lên cho tới Thánh vị. Hễ vào đặng Thánh-vị rồi thì tự nhiên mình biết lấy mình, dầu phải bị đoạ trần đi nữa cũng còn giữ vẹn Thánh đức mà tu hành đặng đạt đến địa vị trọn lành. Lên địa vị Trọn lành rồi thì mới đồng quyền cùng Tạo-Hóa, Từ bi, tự tại, bất tiêu, bất diệt."

Hộ-Pháp là thể các Đấng Trọn lành. Người lại giao quyền cho Thượng-Phẩm lập Đạo, đặng dìu dắt các chơn hồn lên tột phẩm vị của mình, tức là nâng đỡ binh vực cả Tín-đồ và Chức-sắc Thiên-phong ngồi an địa vị, cũng như chư Thần Thánh Tiên Phật điều đình Càn Khôn thế giới cho an tịnh, hòa bình mà giúp sức cho Vạn linh sanh sanh hóa hóa.

 

 

CÁC TÍA LẦU SON

 

Thầy dạy:

 

Thấy đời đã vong ân bội nghĩa,
Thấy đời vì các tía lầu son.

 

 

CÁC TƯ KỲ PHẬN

E: Every for himself.
F: Chacun selon ses devoirs.

(Các: Mỗi người, mọi người. : Coi giữ. Kỳ: cái ấy, của người ấy. Phận: phận sự). Các tư kỳ phận là người nào giữ phận sự của người ấy mà làm. Thành ngữ này thường được đặt trong điều cuối của một Thánh Lịnh để các Chức sắc có trách nhiệm tùy theo phận sự của mỗi người mà thi hành Thánh lịnh

Thánh lịnh về cưỡng bức giáo dục của Đức Hộ-Pháp:

Điều thứ nhứt: Những gia đình nào trong toàn Đạo có con hoặc cháu bất luận nam nữ từ 6 tuổi trở lên phải cho vào trường học chữ và học Đạo. Cả thảy chư Đạo hữu có con hay cháu phải tuân y Thánh lịnh nầy, trái lại sẽ bị nghiêm huấn và Hội Thánh không nhìn nhận những trẻ con thất học

Điều thứ nhì: Quyền Ngọc Chánh Phối Sư và Phụ Thống Học Viện, các tư kỳ phận lãnh thi hành Thánh lịnh nầy.

Tòa Thánh, ngày 26 tháng 10 Mậu Tý
(dl: 26 November 1948)
Hộ Pháp (Ấn ký)

 

 

CÁC TƯ KỲ SỰ

各 司 其 事
E: Everyone according to one’s affairs.
F: Chacun selon ses affaires.

Các: Mỗi người, mọi người, mỗi cái, mọi cái. : coi giữ. Kỳ: của người ấy. Sự: việc.

Các tư kỳ sự là việc ai nấy làm, tức là người nào giữ công việc của người ấy mà làm.

Chấp sự giả các tư kỳ sự: Người chấp sự giữ công việc nào thì lo làm công việc của người ấy. Chấp sự giả là người chấp sự, là người được phân công làm một phận sự trong cuộc Tế lễ.

Ðây là câu xướng của lễ sĩ trong nghi thức cúng Ðại đàn Ðức Chí Tôn nơi Tòa Thánh hay nơi các Thánh Thất.

 

 

CÁCH BỨC

F:Séparés l’un de l’autre, distant.

Cách biệt và hình như có vật gì chắn, ngăn cản ở giữa.

 

 

CÁCH THỜ-PHƯỢNG VÀ CÚNG-KIẾNG

(Trích kinh Thiên Đạo & Thế Đạo)

Lập vị THƯỢNG ĐẾ thì phải lựa nơi nào cho tinh khiết, tốt hơn hết là giữa nhà, lập tran thờ cho cao và treo màn cho khuất chỗ thờ phượng.

 

 

 

1

 

 

 

 

3

 

2

 

4

 

5

 

6

7

8

 

9

 

 

10

11

12

 

 

1- Thánh-Tượng THIÊN-NHÃN
2- Đèn Thái-Cực
3- Trái cây 4- Bông
5- Nước trà (để bên hữu ấy là ÂM)
6- 7- và 8- Ba ly rượu
9- Nước trắng (để bên tả ấy là DƯƠNG)
10- và 12- Hai cây đèn
11- Lư hương

Bông chỉ về TINH, Rượu chỉ về KHÍ, Trà chỉ về THẦN.

TINH, KHÍ, THẦN là Tam-Bửu của các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

- Thời TÝ, NGỌ cúng rượu.

- Thời MẸO, DẬU cúng nước ÂM DƯƠNG.

Khi cúng THẦY phải đốt cho đủ 5 cây hương: cắm hàng trong ba cây gọi là ÁN TAM-TÀI, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là TƯỢNG NGŨ KHÍ. (hai cây ngoài ấy là Âm Dương)

Bàn thờ HỘ-PHÁP

 

 

 

1

 

 

 

 

2

 

 

 

3

 

4

 

5

6

7

 

8

 

10

 

9

 

11

 

1- Tượng thờ viết chữ KHÍ
2- Trái cây 3- Bông
4- Nước trà 5- 6- và 7- Ba ly rượu 8- Nước trắng
9- Lư hương 10- và 11- Hai cây đèn

Bàn thờ Hộ Pháp duy thờ nơi Thánh-Thất mà thôi. Mỗi khi cúng Tứ-Thời thì đốt ba cây hương.

CÁCH LẠY

Chấp hai tay lại như cách dưới đây:

Tay trái bắt ẤN TÝ (1) rồi nắm lại. Kế đó, bàn tay mặt áp ngoài, rồi ngón cái (tay mặt) xỏ vô giữa ngón cái và ngón trỏ bên tay trái. Để hai tay như vậy mà đưa lên trán, xá sâu ba xá rồi quì xuống đưa tay lên trán như trước mà niệm "Nam-mô Phật"; đưa qua bên trái niệm "Nam-mô Pháp", đưa qua bên mặt niệm "Nam-mô Tăng", rồi để ngay ngực mà niệm:

- Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát. (gật đầu)
- Nam-mô Quan-Thế-Âm Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.
- Nam-mô Lý Đại Tiên-Trưởng kiêm Giáo-Tông Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ.
- Nam-mô Hiệp-Thiên Đại-Đế Quan-Thánh Đế-Quân.
- Nam-mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần.

Mỗi lần lạy Trời thì lạy một lạy gật đầu bốn cái, làm như vậy cho đủ ba lạy là 12 gật (nhớ mỗi gật phải niệm "Nam-mô Cao Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát")

Còn lạy Phật và Tiên thì ba lạy, mỗi lạy gật đầu ba cái là 9 gật. Khi lạy thì hai bàn tay trải ra và hai ngón cái phải gát tréo nhau.

(1) Bắt Ấn Tý nghĩa là bấm đầu ngón tay cái vào gốc ngón tay áp út. Hai ngón cái gát tréo nhau thì ngón cái tay mặt đặt trên ngón cái tay trái (Âm trên dương)

CÚNG ĐÀN

Nơi Thánh-Thất nhằm kỳ Vía lớn hoặc ngày Sóc-Vọng mới cúng Đại-Đàn, còn kỳ dư thì thiết Tiểu-Đàn dầu cho có làm tuần-tự chi cũng vậy. Mỗi kỳ Đại-Đàn thì đánh 3 hiệp Lôi-Âm-Cổ và Bạch-Ngọc-Chung, mỗi hiệp 12 hồi, mỗi hồi 12 dùi, đánh Ngọc-Hoàng-Sấm, có nhạc lễ.

Tiểu-Đàn không có đánh trống, duy có kệ chuông mà thôi.

- Khi sửa-soạn cúng, đánh chuông nhất, kệ 3 câu, hễ dứt mỗi câu đánh một tiếng chuông lớn.

- Chừng nhập Đàn, đánh chuông nhì, kệ 3 câu, hễ dứt mỗi câu đánh một tiếng chuông lớn.

- Lúc cúng rồi, kệ 3 câu, dứt mỗi câu câu đánh một tiếng chuông lớn, kế xá bãi Đàn.

Nơi nhà Đạo-Hữu, trước khi sửa soạn cúng Tứ Thời thì đánh ba tiếng chuông, lúc cúng rồi cũng đánh ba tiếng là đủ, chớ không có kệ.

TRAI KỲ

Nhập-môn rồi phải tập trai-giới, ban đầu ít nữa phải giữ lục trai, tập lần đến thập-trai, như trường-trai được lại càng tốt.

Lục-trai: Là ăn chay ngày 1, 8, 14, 15, 23, và 30 (như tháng thiếu thì ăn ngày 29 thế cho bữa 30).

Thập-trai: Là ăn chay ngày mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, và 30 (tháng thiếu ăn thêm ngày 27).

Vị nào giữ được thập-trai đổ lên thì sau khi qui-liễu, được Hội-Thánh đến làm phép xác, y như lời Thầy đã tiên tri: "Ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên, được thọ-truyền bửu-pháp".

CÁCH THIẾT LỄ MỖI NGHI TIẾT

"Cầu hồn khi hấp-hối và cầu hồn khi đã chết rồi"

Dầu nhằm giờ cúng "Tứ-Thời" hay không cũng phải thiết-lễ cúng Thầy trước. Cúng rồi thì tịnh tâm vái Thầy đặng tụng KINH CẦU-HỒN cho Đạo-Hữu trong khi hấp-hối hay vừa qui liễu. Rồi vị chứng đàn đến đứng phía trước đầu bịnh nhơn, nếu có đồng-nhi thì sắp hàng hai bên từ phía trên sắp xuống.

Vị chứng đàn đứng giữa tịnh thần nghiêm-trang và kêu người bịnh hấp-hối, dầu dứt hơi rồi cũng vậy mà nói rằng:

"Tôi vâng lịnh Đức Chí-Tôn đến tụng kinh cho linh-hồn Đạo-Hữu (1) nhẹ nhàng siêu-thăng Tịnh-độ, vậy Đạo-Hữu phải tịnh Thần mà nghe và phải cầu nguyện nơi Đức Chí-Tôn ban ơn lành cho".Kế tụng kinh CẦU-HỒN KHI HẤP-HỐI (3 lần) mỗi khi dứt phải cúi đầu và niệm câu chú của Thầy (3 lần).

Còn như bệnh-nhơn vừa tắt hơi thì tụng kinh KHI ĐÃ CHẾT RỒI (ba lần).

(1) Lời dặn: Cầu hồn cho Chức-sắc thì kêu Thánh-danh hay là Hiền-Huynh.

TẨN-LIỆM

Cách thể nghi-tiết làm cũng như cầu hồn vậy, nghĩa là phải cúng Thầy trước, rồi đến chỗ người chết nằm, tụng kinh TẨN-LIỆM (3 lần). Tụng rồi thì Tang-chủ lạy vong-linh, nghĩa là lạy xác rồi mới tẩn-liệm.

CẦU-SIÊU

Đương lúc làm phép xác, phải tụng kinh:

"Đầu vọng bái Tây-Phương Phật-Tổ
"A-Di-Đà Phật độ chúng dân ..."

(Rồi tụng tiếp bài kinh "Khi Đã Chết Rồi")

"Ba mươi sáu cõi Thiên Tào
"Nhập trong Bát-Quái mới vào Ngọc-Hư..."

Tụng như vậy ba lần, mỗi lần dứt phải cúi đầu.

Sau rốt hết phải niệm câu chú của Thầy (3 lần). Tiếp tụng DI LẶC CHƠN-KINH.

Những nhà ở xa Thánh-Thất, không thể đến làm phép xác được, thì sau khi tẩn-liệm, lập một bàn thờ vong trước linh cữu, rồi vị chứng đàn cầu nguyện Thầy (1) đặng thỉnh vong đến trước Điện tiền (2) và cũng tụng như trên đây vậy.

(1) Lên nhang đèn tử-tế, không có đọc kinh cúng TỨ THỜI. Vị chứng đàn phải Chức-sắc Thiên-phong hay là Chức-Việc Chánh, Phó Trị-Sự hoặc Thông-Sự. Phải có 2 vị Chức-Sắc hay là Chức-Việc nhỏ hơn vị chứng đàn, cầm 2 cây đèn cầy đứng hai bên.

(2) Nơi Điện-tiền, sau chỗ vị chứng đàn phải để trống một chỗ, nghĩa là cho vong quì cúng Thầy và nghe tụng kinh.

Hành lễ nơi Thánh-Thất thượng sớ kêu Điện-tiền còn nơi tư-gia thì kêu Thiên Bàn.

THÀNH-PHỤC

Cúng Thầy trước, có thượng sớ, rồi cúng Thành-Phục (làm theo lễ Nho). Cúng Triêu, Tịch cũng làm lễ NHO.

ĐƯA LINH-CỮU

Cúng Thầy trước, rồi làm lễ cáo-từ Tổ. Khi làm lễ cáo-từ Tổ thì tụng KINH CẦU TỔ-PHỤ (3 lần) và tiếp tụng KINH CỨU-KHỔ (3 lần) hễ dứt thì niệm câu chú của thầy (3 lần). Kế làm lễ Khiển-Điện, làm lễ NHO.

Xong rồi cho Đao-Tỳ nhập bái quan (1). Hễ phát-hành Đồng-Nhi tụng bài KINH ĐƯA LINH CỮU ra tới huyệt.

Khi di linh-cữu ra ngoài đàng thì sắp đặt như sau nầy:

Bảng Đại-Đạo.

Hễ là Tín-Đồ tới Lễ-Sanh thì cây phướn của THƯỢNG-SANH đi trước, còn hàng Chức-sắc từ Giáo-Hữu đổ lên thì cây phướn THƯỢNG-PHẨM đi trước (hai cây phướn THƯỢNG-SANH THƯỢNG-PHẨM ấy thế cho tấm triệu).

- Bàn thờ vong.

- Đồng-nhi đi hai hàng (Nam tả, Nữ hữu).

- Linh-cữu.

- Tang-chủ đi kế sau linh-cữu.

- Nữ-phái.

- Nam-phái chót hết.

(1) Giảm bớt cách tập đi lộn hàng, móc ruột, chỉ sắp hàng đôi ở ngoài đi vô cho có hàng ngũ. Khi vào bái quan rồi, lạy bốn lạy như thường là đủ.

HẠ- HUYỆT

Khi ra tới huyệt thì vị chứng Đàn và Đồng-nhi đứng trước đầu huyệt tụng kinh Hạ-Huyệt (3 hiệp), mỗi hiệp cúi đầu, mãn hiệp thứ ba liền tụng ba biến Vãng-Sanh Thần-Chú. Hễ dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần).

LÀM TUẦN CỬU

Từ Nhứt-cửu tới Cửu-cửu, kỳ nào cũng phải cúng Thầy trước (cúng Tiểu đàn) có dâng Tam-Bửu và thượng sớ, song không có lễ-nhạc.

Khi cúng Thầy rồi, thỉnh linh-vị đến trước Điện-tiền, tụng bài kinh khai-cửu, rồi tiếp tụng kinh nhứt hoặc nhị-cửu (tụng như vậy cho đủ ba hiệp). Đến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy.

Mỗi tuần cửu phải quì tụng DI-LẶC CHƠN-KINH nơi trước Bửu-Điện. Hễ dứt hiệp thì niệm mỗi vị Phật và lạy một lạy.

Sau rốt hết niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy.

Tụng nhiều chừng nào tốt chừng nấy, song mỗi hiệp tụng ba người đến 6 người cho ăn rập nhau.

CÁCH NHẬP-ĐÀN HÀNH LỄ CÚNG PHẬT-MẪU

Khi nhập Đàn cúng Phật-Mẫu, thì cũng chấp tay bắt Ấn Tý xá 3 xá, quì xuống để tay lên trán niệm:

- Nam-mô Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Thiên-Tôn (cúi đầu).

- Nam-mô Cửu-Vị Tiên-Nương (cúi đầu).

- Nam-mô Bạch-Vân-Động Chư Thánh (cúi đầu).

(chớ không có lấy dấu Phật, Pháp, Tăng...)

Lúc lạy thì niệm "Nam-mô Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Thiên-Tôn" (3 lạy, mỗi lạy 3 gật / 9 lạy/).

 

 

CÁCH MẠNG

革 命
F: Révolution.

Sự thay đổi đột ngột xảy ra trong một xứ về phương diện chánh-trị, kinh tế hay văn học, nhưng thường hiểu là sự thay đổi đột ngột bởi những cuộc bạo động thay thế chế độ củ bằng một chế độ mới.

Ông Cao-Hoài-Sang bạch với Ðức Lê văn Duyệt: "Trong tình thế hiện tại, các nhóm Cần-Vương đất Việt có nên họp nhau đứng dậy làm cách mạng để thoát ách nô lệ chăng?"

Ông giáng dạy bằng một bài thi:

Mạnh yếu đôi đàng đã hiển nhiên,
Ðôi mươi năm nữa nước nhà yên.
Dằn lòng ẩn-nhẫn xem thời thế,
Ðừng vội gây nên cuộc đảo huyền.

 

 

CÁCH VẬT TRÍ TRI

格 物 致 知
F: Sciences naturelles.

Gọi tắt là cách- trí: là tìm cứu cái nguyên-lý của sự vật mà suy ra cái trí-thức cùng cực. Ngày nay gọi những môn vật-lý học, tự nhiên khoa-học là Cách-trí .

Đức Hộ-Pháp nói: "Theo cách vật trí tri, bây giờ luận về siêu hình thì chúng ta đã ngó thấy, hễ khi nó thức, con vật nầy khi nó thức nó tìm sống trong vạn vật, nó cùng lẽ sống trong vạn vật. Luật của vạn vật buộc nó phải đi kiếm ăn, kiếm sống đặng bảo trọng sanh mạng của nó. Theo trong thể pháp về cái thú tánh của nó muốn thoát được tánh thú ấy, bởi vì nó hung hăng bạo ngược, mạnh mẽ, cừ-khôi phản trắc vô cùng vô lối. Có nhiều khi thiên tánh, tức nhiên thiên mạng không thế gì điều khiển nó được, người ta thấy có nhiều khi không thế gì người ta thắng nỗi thú tánh của nó, nên tìm con đường siêu hình. Nó thức thì nó rất hăm hở dữ tợn, hung hăng đủ thứ hết thảy đặng bảo vệ sanh mạng. Khi nó ngủ, tức nhiên khi nó nằm ra bình tĩnh hết dữ, nó bình định được cả tánh chất nó bớt dữ, tức nhiên cũng như chúng ta khi còn thức, lo tìm muôn phương ngàn kế đặng bảo thủ sanh mạng của chúng ta, bảo thủ hạnh phúc của chúng ta nơi thế gian này; mà thật ra kiếm hạnh phúc ấy trong giấc chiêm bao của chúng ta mà thôi. Khi chúng ta ngủ mới được an ủi, ta thức bao giờ tinh thần cũng khổ não, vì thức ấy trong thuyết siêu hình mới xuất hiện ra hai lý thuyết tương đương ấy. Từ Thượng Cổ đến giờ có thuyết nào giải rõ nó chưa? Chúng ta đã ngó thấy rất ít, chúng ta định trước, chúng ta đã thấy cái thuyết "Tánh mạng song tu" rõ rệt, ta có thể nói hai cái thuyết ấy như lý thuyết Pythagore và Đức Chí-Tôn. Pythagore lấy cách vật trí tri làm căn bản đặng đi đến siêu hình, văn từ cách vật trí tri đến siêu hình; còn Đức Phật Thích-Ca lấy siêu hình làm căn bản dìu dắt cách vật. Hai lý thuyết ấy đương đầu với nhau, mà đã thấy thật sự thì Pythagore không khi nào cầm lấy nó, nó không có vật, nó không có hình, nó cho rằng cái sống của vạn vật nơi mặt thế gian này do nơi vô hình xuất hiện, tức nhiên siêu hình kia làm căn bản của cách vật trí tri; mà nếu không có cách vật trí tri đứng chung đó, chẳng hề khi nào chúng ta thấy hai bên tương hội cùng nhau, vì vậy Ngài để chữ Dyade".

 

 

CAI TRỊ

垓 治
E: To administer.
F: Administrer.

Cai: gồm cả, đứng đầu. Trị: sắp đặt cho yên, sửa sang cho tốt đẹp. Cai trị là sắp đặt sửa sang cho yên ổn và tốt đẹp các công việc trong phạm vị nhiệm vụ của mình.

Pháp Chánh Truyền: Ðầu Sư có quyền cai trị phần Ðạo và phần Ðời của chư môn đệ Chí Tôn.

 

 

CÁI BÓNG

Đức Tây-Phương Giáo Chủ tức nhiên là Phật Thích Ca dạy Đồng Tử "Medium" như vầy:

"Ta thấy chư Nhu là người lương thiện hết, nên ta giáo Đạo mà khuyến dạy. Chư Nhu hữu duyên lắm mới gần đặng yến sáng của Đại Tiên nầy. Chư Nhu hãy ngó xuống chơn và nhìn cho kỹ cái bóng của chư Nhu có phải đen sậm và đậm đó chăng ? Chư Nhu xa lần ánh sáng nầy thì cái bóng trở nên lợt lạt và yếu ớt, dài và quái dị chẳng còn giống hình người nữa. Cái bóng ấy là ai? - Là Chư Nhu đó. Vậy chư Nhu hãy tập thêm đồng (Médium) cần thỉnh Tiên gia đặng nghe dạy cho thường mới biết việc phước mà làm, điều tội mà tránh. Cũng như chư Nhu muốn tạo một món chi đó mà chẳng có sẵn đồ nghề thì làm sao khéo đặng? Cũng như chẳng có "Đồng thuộc thì Thần Tiên ít giáng".

 

 

CẢI ÁC

改 惡
E: To leave the evil.
F: Anbandoner le mal.

Cải: đổi, sửa đổi. Ác: dữ, hung dữ. Cải ác là sửa đổi để không làm điều hung dữ nữa.

Cải ác đồng nghĩa Cải dữ.

Cải ác tùng thiện: Ðổi điều ác theo điều lành.

Cải dữ ra hiền: Ðổi điều hung dữ ra điều hiền lành.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thanh thế con người toan cải ác,
Cải dữ đòi phen cổi mạch sầu.

 

 

CẢI ÁC PHÁ NGU

改 惡 破 虞

Thất Nương giáng ngày 3-2-Đinh Hợi (dl: 23-2-1947)

Phước Thiện của chung chẳng riêng,
Phước Thiện để rước bậc hiền chơn tu.
Phước Thiện cải ác phá ngu,
Phước Thiện giải khổ tội tù Phong đô.

 

 

CẢI ÁC TÙNG LƯƠNG

改 惡 從 良

"Trót một năm trường, chúng ta đã chẳng nài khó nhọc, ra công phổ độ khắp nơi, mong sao cả dân chúng cải ác tùng lương mà chung hưởng ngày Nghiêu tháng Thuấn."

 

 

CẢI DỮ RA HIỀN

Kinh Đại-Tường có câu:

"Tạo đời cải dữ ra hiền,
"Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí-Tôn."

 

 

CẢI HẠNH

改 行
E: To change the conduct.
P: Changer de la conduite.

Cải: đổi, sửa đổi. Hạnh: Tánh nết. Cải hạnh là sửa đổi tánh nết từ xấu ra tốt, từ dữ ra hiền.

Thi văn dạy Đạo có câu:

"Cải hạnh đố ngươi về tập thử,
"Tháng sau sẽ đến trước trình Ta."

 

 

CẢI KIM

F: Amour réciproque.

Cải kim: Hạt cải và cây kim.

Hạt cải và cây kim thì bị đá nam châm hút, cải thì bị hổ-phách hút, dùng nghĩa bóng để chỉ sự cùng một tính, một lòng.

Thi văn dạy Đạo có lời rằng:

Cải kim đã vẹn mảnh gương thề,
Chẳng biết trọng mình để chúng chê.
Ham quá sức ham, ham quá lẫn,
Hậu không nghĩ hậu, hậu nên bề.

 

 

CẢI QUÁ

改 過
F: Se corriger de sa faute.

Cải quá: Sửa điều lỗi

Thầy dạy: ngày 12-12-1926 (âl: 8-11-Bính Dần)

"Nơi trần khổ nầy, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quí báu vô giá. Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên Chánh quả."

 

 

CẢI TÀ

改 邪
F: S’amender.

Bỏ lòng bất chánh để trở về lòng đạo đức cao thương.

 

 

CẢI TÀ QUI CHÁNH

改 邪 歸 正
E: To give up the wrong and return to the right.
F: Quite la voie du mal pour s’engager dans celle du bien.

Cải tà là sửa đổi điều vạy tà, không ngay thẳng; Qui chánh là về với nẻo chánh, đường ngay. Đây là bỏ điều xấu để thay vào đó những điều tốt lành, đẹp đẽ hơn.

Ngày 27-10-Ất Sửu (dl:12-12-1925) Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáng dạy rằng: "Mùng 01 tháng 11 này Tam vị Đạo hữu Vọng Thiên Cầu Đạo. Bà thăng rồi, ba Ngài hội ý vẫn không hiểu cầu Đạo là thế nào. Thế nên hôm sau, ba Ngài mới cầu Thất Nương. hỏi: Thất Nương dạy dùm cầu đạo là gì?

Thất Nương đáp: - Không phải phận sự của em, xin hỏi ông AĂÂ. Đức AĂÂ giáng dạy: "Ngày 01 tháng 11 này (dl: 16-12-1925) Tam vị phải "Vọng Thiên Cầu Đạo". Tắm gội cho tinh khiết, ra quì giữa trời cầm chín cây nhang mà vái rằng: "Ba tôi là: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Vọng bái Cao Đài Ngọc Đế, ban ơn đủ phúc lành cho ba tôi cải tà qui chánh. Tịnh tâm quỳ đến tàn hết chín cây nhang mới vào, rồi đến nhà (ông) Tý mượn đại ngọc cơ, học cách dùng để Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng".

Lần khác Thầy dạy: Thứ tư, 24-11-1926 (âl 20-10-Bính Dần): "Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quí, mê chữ vinh sang mà ngán Đạo. Các con hiểu, Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi. Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn. Từ khai Thiên lập Ðịa, Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao nhiêu điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày, nuôi nấng các con hầu lập nền Ðạo, cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải tà qui chánh. Mấy lần vun đắp nền Ðạo, Thầy cũng đều bị các con mà hư giềng đạo cả. Thầy buồn đó các con."

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh

Lời Thầy dạy Thánh-ngôn ghi chữ,
Biểu chúng ta lánh dữ làm lành.
Phải lo khử ám tựu minh,
Cải tà qui chánh lập thành chơn tu.

 

 

CẢI TÁNG

改 葬
E: To exhume.
F: Exhumer.

Cải: đổi, sửa đổi. Táng: chôn, đem xác người chết đặt vào áo quan chôn xuống đất. Cải táng là bốc mộ lấy xương, bỏ vào cái quách, đem chôn nơi khác.

 

 

CẢI TRẠNG (Phẩm bên Hiệp Thiên Đài)

E: Advocate.
F: Avocat.

Cải-Trạng đối phẩm với Giáo-sư. Một chức sắc của Hiệp-Thiên Đài.

Chiếu Thánh Giáo Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn đêm 16 tháng 2 -Ất Hợi (dl: 20-3-1935) chỉ giáo về phẩm vị của Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài từ hàng Sĩ Tải lên Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn.

Quyền hành và trách nhiệm Phẩm Cải Trạng có phận sự:

- Biện hộ trong các phiên Tòa của Ðạo.

- Có quyền xin đình ngày xử các phiên Tòa nếu cần điều tra bổ túc.

- Ðược quyền làm Giảng-viên về Luật Pháp tại Hạnh Ðường nếu có sự yêu cầu của Hội Thánh Cửu Trùng Ðài và khi có lịnh của Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài.

- Ðược quyền thay mặt Bộ Pháp Chánh bảo thủ Luật Pháp trong các phiên Ðại Hội Hội Thánh và Ðại Hội Phước Thiện.

- Có quyền giao tiếp với các Tôn Giáo khi có thượng lịnh.

Mặc dầu quyền hành và trách nhiệm của mỗi cấp bậc qui định như trên, tuy nhiên trong trường hợp thiếu Chức Sắc mà cấp dưới có khả năng, thì có thể được bổ dụng lãnh phận sự cấp trên với địa vị của mình đương có, tùy ý định của Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài.

Ðạo phục của Cải Trạng có hai bộ: Ðại và Tiểu phục.

a/- Ðại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có Cân Công bình.

b/- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên Mạo, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình và hai chữ CẢI TRẠNG bằng quốc tự.

Việc cầu phong và thăng thưởng Phẩm Cải Trạng: Cải Trạng muốn thăng phẩm Chưởng Ấn phải có đầy đủ 3 năm công nghiệp với chức vụ và có sự minh tra đủ lẽ. Khi thọ mạng lịnh của Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài hay của Thập Nhị Thời Quân, từ phẩm Sĩ Tải đến phẩm Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn được buộc dây Sắc Lịnh nơi mình trong lúc hành sự, nhưng phải theo Chi của vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài hay của vị Thời Quân ra lịnh mà thả mối. Trường hợp mang dây Sắc Lịnh phải được ghi rõ trong Thánh Lịnh giao phó nhiệm vụ cho đương sự.

 

 

CẢI TRẠNG VÕ THÀNH QUỐC (Tên)

Ông Quốc thuộc khóa đàn anh, ông và bạn ông là cô giáo Thành đều có dạy ở Đạo Đức Học Đường, đào tạo lắm nhân tài cho Đạo. Nhưng vì sanh kế phải đến Cao Miên làm sở cao su ở Chúp làm Surveillant một thời gian khá dài. Trong lúc Đức Hộ Pháp lưu vong vì chế độ Ngô Đình Diệm chống Đạo, ông có giúp phái đòan theo Đức Ngài cơ sở làm ăn như là Sĩ Tải Trân, Khỏe.

Năm 1960 vợ chồng đều trở về Thánh Địa tái thủ phận sự Truyền Trạng rồi lần hồi thăng Cải Trạng. Bà bạn ông qua Hiền Tài được thăng Giáo Hữu. Ông về Thánh Địa còn dư dã mua được cái nhà trang trí theo tân thời, đi hành Đạo xem thanh nhàn lắm. Nhưng không hiểu quả kiếp thế nào mà mắc bệnh trầm kha, bán lần đồ đạc rồi bán cái nhà luôn mà vẫn chưa mạnh. Ông có xin một căn nơi văn phòng Hiệp Thiên làm nơi cư trú. Nhưng vì nhà nước Xã Hội Chủ-Nghĩa không cho ở Nội ô, ông phải ra ở tạm nhà của bà Phối Sư Hương Ngộ (bạn thiếu tướng Thành). Bịnh sưng vù hai chân, ông được nằm điều trị ở bệnh viện Tây Ninh, khi hấp hối ông được chở về Khách Đình và dứt hơi thở cuối cùng sau khi Đồng Nhi đọc dứt bài kinh cầu hồn. Tội nghiệp cho một nhân tài đến ngày lâm chung phải nghèo khó bần hàn. Quang Minh có làm bài thi điếu ông như:

Chừ cửa Hiệp Thiên vắng bạn hiền,
Trút bao khổ hạnh kiếp trần duyên.
Hết lo buổi tối lưng bì gạo,
Hết sợ ban mai cạn túi tiền.
Hết ngán không nơi cư trú tạm,
Còn mừng có chỗ ngự triền miên.
Cảnh trần nào bạn, nào con, vợ,
Đang ngóng huyền linh giải não phiền.

Khi làm Tòa Đạo Long Hồ (khoảng năm 1938), ông Quốc đến Sadec xã Tân Thuận Đông Huyện Cao Lãnh, có đụng với ông Cai Tổng Bùi Văn Vĩ, nếu không khéo giàn xếp thì có lẽ đi đến ra tòa như việc ông Đốc Phủ Quí ở Châu Đốc.

Cùng thời điểm này, ông cùng quí ông Giáo Hữu Thái Đến Thanh, Lễ Sanh Ngọc Chức Thanh, Lễ Sanh Ngọc Oai Thanh ra cồn Ngao để khai đàn. Giữa biển trời sóng gió các ông cảm hứng đặt thi, mỗi người 2 câu:

Đến đây quyết độ xứ Cồn Ngao,
Dầu phải tử sanh khá ngại nào.
Quốc Đạo truyền khai cùng góc bể,
Tam kỳ hoằng hóa tận non cao.
Oai Trời xoay chuyển đời qui cổ,
Đất Việt gồm thâu phục cựu trào.
Chức trước Thiên ban muôn thuở có,
Thuyền linh khách tục nổi như phao.

Tuy là bài thi tập thể nhưng ý không rời rạc, nghĩa lại thâm viễn thoát tục.

Năm 1976, Ngài Đầu Sư Thái Bộ Thanh đăng Tiên, ông Quốc có nhơn danh chức sắc Hiệp Thiên Đài đọc một bài điếu văn dài, kể công nghiệp của vị quá cố, trong ấy có bài thi điếu:

Kính điếu hồn thiêng gởi một bài,
Đầu Sư huynh đã thoát trần ai.
Tường Vân năm sắc đưa hồn phách,
Bửu Tháp ngàn thu gởi cốt hài.
Tự toại Bồng Lai vui vị cũ,
Thong dong cõi thọ ngự cao ngai.
Tám mươi sáu tuổi tròn Thiên chức,
Đắc quả siêu sanh đáo Phật Đài.

Phận sự chót của đời ông là Cố Vấn Bộ Pháp Chánh với phẩm Cải Trạng Hiệp Thiên Đài. Theo sự tường thuật của ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn Văn Hợi thì ông Quốc trước cầu phong Lễ Sanh. Khi dâng hồ sơ lên Đức Lý chấm phái thì "Hiệp Thiên Đài định vị".

Đức Hộ Pháp bạch xin Ngài định vị ở phẩm nào?

Đức Lý viết: Phẩm Sĩ Tải – Nên nhớ lúc trước không có khóa thi mà chỉ cầu phong. Vị nào có căn Hiệp Thiên Đài thì Đức Lý để Hiệp Thiên Đài định vị, nghĩa là Đức Ngài không phạm quyền của Đức Hộ Pháp. Khi Đức Hộ Pháp hỏi xin Ngài định phẩm thì ý nghĩa Đức Hộ Pháp đã giao sự định đoạt cho Đức Lý trọn quyền định phẩm. Chúng ta để ý, không bao giờ Cửu Trùng Đài phạm qua quyền Hiệp Thiên Đài như Đạo Nghị Định của hai vị đầu Đài đã thông với nhau.

Ông có công lập một cuốn sổ lý lịch Chức Sắc Hiệp Thiên, biên tên từng vị từ Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh đến 12 vị Thời Quân, cùng tất cả Chức Sắc tiểu cấp từ Tiếp Dẫn Đạo Nhơn đến Luật Sự. Mỗi người đều dán hình mặc Thiên Phục, có tên cha mẹ, ngày sinh, ngày tử, tên các con… công nghiệp hành Đạo của mỗi người, tác phẩm văn chương, nếu có, cũng ghi vào…. Rất tiếc quyển ấy bị chính quyền Việt Cộng xung công lối 1978.

Vì thời cuộc khó khăn Hội Thánh không thể xuất tiền lập mộ cho ông được. Có những bạn Đạo cảm tình với ông chung góp kẻ công người của xây mộ cho ông rất ấm cúng ở Thái Bình, Thánh Địa, nơi dành cho Chức Sắc Hiệp-Thiên-Đài khi mãn phần. Nơi đây đã có các bạn nằm trước là Luật Sự Phạm Văn Đúng, ông Truyền Trạng Phạm Văn Ngọ, Sĩ Tải Phạm Duy Nhung, Thừa Sử Phan Hữu Phước. Ông Quốc lúc sanh tiền có lãnh phận sự làm phép xác cho các Chức Sắc từ Giáo Hữu đến Giáo Sư tại Đền Thánh. Còn phẩm Phối Sư đổ lên thì Ngài Hồ Bảo-Đạo làm phép xác..Ông Quốc còn được Thánh Lịnh thuyên bổ Trưởng Nhiệm Ban Đạo Sử, nhưng vì thường bệnh hoạn chưa làm tờ giao lãnh thì ông đã từ trần.

 

 

CÃI LỊNH

E: To disobey an order.
F: Désobéir à un ordre.

Cãi: dùng lời lẽ chống lại. Lịnh: mệnh lệnh của cấp trên truyền xuống để thi hành. Cãi lịnh là chống lại lịnh của cấp trên.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Chánh Phối Sư đã là người thay mặt nhơn sanh, chỉ biết tuân lịnh mà thôi, chớ không phép cãi lịnh,...

 

 

CÃI LUẬT

E: To advocate.
F: Prendre la défense de quelqu’un.

Cãi: dùng lời lẽ để bào chữa. Luật: pháp luật. Cãi luật là dùng những khía cạnh của luật pháp để bênh vực, bào chữa cho một bị cáo trước tòa án.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Thượng Phẩm là Chủ phòng Cãi luật, làm trạng sư của tín đồ.

 

 

CAMILLE FLAMMARION (1842-1925)

Camille Flammarion Nhà Thiên văn theo Thần Linh Học, tiếp nối Allan Kardec truyền bá Thần Linh Học ở nước Pháp. Ông là nhà Thiên văn Pháp giữa thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, sáng lập Hội Thiên văn Pháp năm 1887.

 

 

CAMBODGE (Địa)

Cambodge hay còn gọi là Campuchia, nói nôm na là Miên Quốc, một nước láng giềng của Việt Nam.Về sau cũng có mối quan hệ thân thiết, hai bên thường giao hữu nhau mọi mặt.

"Đức Hộ-Pháp thuyết về "Luật nhân quả" tiên tri rằng:

"Một ngày kia Trung-Cộng với Cambodge (Căm bốt) chết không còn một con đỏ, bởi vì Cambodge nghe lời xúi giục của người ta thành ra phải chết hết. Các con biết sau này sắc tộc, sắc tộc đánh nhau; Tôn giáo, Tôn giáo đánh nhau. Đài-loan từ Hồng Kông tản cư qua Việt-Nam trước, bởi vậy người hành ác mà mình theo họ, mình ôm eo ếch họ rồi họ trật chân, sút tay, họ té chết thì mình cũng chết theo họ mà thôi, thành ra người Miên (Campuchia) còn có bao nhiêu giống bên Việt Nam đó thôi, các con rán thương giùm họ."

 

 

CAM ĐOAN

甘 端
F: Garantir, garantie.

Thầy nói: "Mỗi phen Thầy đến lập Ðạo thì là phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ.".

"Các con cũng nên bạo gan mà nói trước mặt Vạn quốc cùng Chánh phủ rằng: Các con là người Đạo, biết giúp đỡ nhơn sanh, dạy dỗ nhơn sanh, chớ chẳng biết Chánh trị là gì. Dầu ai buộc các con cam đoan thì Thầy tưởng các con cũng không ái ngại."

"Các con phải hiểu rằng; mỗi đứa có trách nhậm lớn lao về Ðạo. Trước khi lãnh mạng Tam Giáo Tòa xuống chịu mình với chúng sinh lúc Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, đều có cam đoan hứa làm tròn phận sự. Thầy là Ðấng Chí Tôn chủ trương khai sáng nền Ðạo, cũng buộc mình cam đoan mà lãnh các con, thế thì mỗi đứa đều mang nặng nơi mình một phần trách cứ chẳng nhỏ. Nếu Ðạo chẳng thành thì phần phạt thiêng liêng, vì cân tội phước mà định đoạt."

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh:

Trên Chánh-phủ sẵn lòng nhơn đức,
Nhưng buộc vì pháp luật Quốc gia.
Ra tờ đòi tới Công Toà,
Cam đoan ký giấy vậy mà mới nghe!

 

 

CAM LỒ

甘 露
E: The Holy-water.
F: L’eau bénite.

Cam-Lồ hay Cam lộ 甘露 là do từ Hán Việt Cam Lộ thủy 甘露水 Đây là một thứ nước thiêng liêng, huyền diệu, có vị ngọt, của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát luyện ra chứa trong Tịnh bình, dùng để tiêu trừ bệnh chướng, giải tỏa oan nghiệt, cải tử hoàn sanh. Khi rưới giọt Cam-Lồ là mục đích:

- Nhắc chơn hồn hãy nên từ bỏ và tránh xa nơi bể khổ.

- Diệt những thứ tình cảm xấu, nhờ nước Cam lộ tẩy vết nhơ.

Theo Thánh ý thì: Nơi Lôi Âm Tự có một cây Dương bao trùm cả Lôi Âm, mỗi chót lá của nhánh dương có một giọt sương. Một giọt sương là một sanh mạng của con người. Hễ giọt sương ấy rơi thì con người phải tuyệt. Vậy phải đến Lôi Âm Tự lấy nước Cam Lộ.

Nhưng may duyên thay! Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, nhờ Đại Ân xá của Đức Chí Tôn, Đạo Cao Đài cũng có được nước Cam Lộ để trừ bỏ trược kiếp, oan nghiệt tội chướng, do Bí pháp luyện Cam Lộ Thủy. Nhành dương liễu nhúng vào nước Cam Lộ của các Đấng Thiêng Liêng. Hành pháp là rải lên Chơn Thần từng giọt để làm tiêu tan thất tình lục dục.

Ý nghĩa hai câu Kinh Đệ Tam Cửu "Cam-Lồ rưới giọt nhành Dương, Thất tình lục-dục như dường tiêu-tan" này gợi một suy nghĩ: nhờ hưởng Bí pháp "Đoạn căn", tức là dùng nhánh Dương liễu nhúng vào nước Cam Lồ (do Chức sắc hành pháp) để rưới tắt dục tình của Chơn thần, nên Chơn linh mới đến đặng cõi Thanh Thiên.

Duyên khởi:

Khi Đức Chí Tôn mở Đạo có truyền nhiều Bí-pháp cho Đức Hộ-Pháp như phép Hôn phối, Cắt dây oan nghiệt (phép xác), Giải oan, Tắm Thánh, Giải bịnh, Trấn thần, Độ thăng, Ban phép lành.

Nhiều vị khác như: Đức Cao Thượng Phẩm cũng được truyền nhiều Bí-pháp như truyền thần, tẩy trược trị bịnh, giải thể. Có nhiều bí pháp không được truyền bá và nhiều bí pháp chưa được áp dụng trong giai đoạn này. Người thọ bí pháp phải là Chức sắc, hoặc người trường trai. Khi hành pháp thì được các Đấng Thiêng Liêng ám trợ, đưa đến những kết quả bất ngờ, ngay cả người hành pháp cũng không lường được. Chẳng hạn vào 1935 tại Campuchia tín đồ Duyên (nay là chức sắc) phát cơn đau bụng thuốc thang đều vô hiệu. Thân nhân đưa đến Thánh Thất Nam Vang, ông Cao Tiếp Đạo làm phép giải bịnh cho, bịnh nhân run rẩy và uống chung nước Thánh liền mửa ra bảy cây đinh, rõ ràng ông bị thư ếm từ lâu.

1. Ma-Ha-Thủy:

Tắm Thánh hay Giải oan phải có Ma-ha-Thủy. Tích ấy là nước sông Hằng nơi Đức Thích Ca tẩy trần đạt Đạo.

Muốn luyện nước Ma-Ha: trước hết lấy một tô nước để trên Thiên bàn. Người hành pháp Thần phải ngó ngay Thiên Nhãn và lấy mắt mà vẽ chữ Phật (佛) trong con ngươi của Thiên nhãn, co chơn trái lên vẽ chữ Pháp (法) đạp lên chữ ấy, rồi rút chơn mặt lên viết chữ Đinh (丁) gọi là Đinh giáp.

Hành pháp xong, tay trái bắt ấn Hộ pháp để ngay ngực, tay phải cũng bắt ấn Hộ pháp để trên tô nước, buông ấn ra rồi ngón tay giữa vẽ chữ bùa Tam Thiên. Đoạn xòe tay ra truyền thần xuống nước niệm chú "Ma Ha Thủy năng hủy oan nghiệt giải trừ tội chứng chi đọa".

Nhắm mắt, định thần đợi thấy Thiên-nhãn giáng trên mặt nước thì xả ấn. Như vậy là Ma-Ha-Thủy đã được luyện thành. Khi thực hành cầm chén Ma-Ha-Thủy rót lên đầu chảy xuống tô được hứng phía dưới để cho người giải oan hay đứa trẻ tắm Thánh rửa mặt.

2. Pháp luyện Cam Lồ Thủy:

Hành phép xác phải có Cam-Lồ-Thủy do tích Cây Dương nơi Lôi-Âm-Tự, mỗi chót lá đọng lại một giọt sương là một sinh mạng con người, nếu giọt sương rơi thì người phải chết. Muốn luyện nước Cam Lồ, ta đặt tô nước trước thiên bàn rồi lấy hai chung nước Âm Dương xáp lại cho Âm Dương Ký Tế vừa rót ngay xuống tô vừa niệm thần chú: "Cam Lồ thủy năng hủy oan khiên giải trừ tội chướng chi đoạ" hễ dứt câu niệm là dứt giọt nước. Đoạn tay trái bắt Ấn Hộ Pháp để ngay ngực, tay mặt cũng bắt Ấn Hộ Pháp chụp lên miệng tô, co ngón tay giữa vẽ chữ bùa Tam Thiên trên mặt nước, rồi xòe tay ra truyền thần xuống mặt nước. Đoạn nhắm hai mắt định thần, hễ thấy Thiên Nhãn giáng trên mặt nước thì giựt tay ra (xả ấn). Như vậy là Cam-Lộ-Thủy được luyện thành.

Khi làm phép hành xác, tay trái cầm chén Cam Lồ Thủy, tay mặt cầm nhành dương nhúng vào nước Cam-Lồ rồi vẫy xung quanh thi hài (định thần thấy thi hài chứ không chỉ thấy quan tài).

 

 

CÁM DỖ

F: S’éduire.

Ngày 07-08-1926- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển trang 32):

"Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: cả Môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa, còn lối nửa phần vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ. Cười… Đi bao nhiêu đều mất bấy nhiêu. Các con chớ buồn vì thiên cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít là lẽ hằng."

Đức Hộ-Pháp xác nhận: "Của cải này đủ thế lực cám-dỗ nhơn-sanh qui hồi bổn thiện. Thừa tánh tham của phù du thế tục, các con trao phẩm vị Thiêng-liêng. Do tâm dữ tranh quyền lộc công danh, các con đổi Chí-linh bổn thiện. Cơ-quan cứu khổ chúng sanh cũng do nơi đó."

Thi văn dạy Đạo có câu:

Lẩn bẩn cứ theo toan cám dỗ,
Làm cho nên nỗi Ðạo xa Thầy.

 

 

CẢM GIÁC

感 覺:
F:Sensation, sensitif.

Sự cảm biết, nhận biết qua một cơ quan nào trong thân thể.

Đức Quyền Giáo-Tông nói: "Chức sắc cần phải trút thêm cả mồ hôi lẫn hoà giọt lệ, ái tuất thương sanh, hầu đi khắp non sông để bia tấm lòng chơn thật của Chí Tôn buổi Tam-Kỳ Đại-Đạo thì dầu cho sắt đá kia phải cảm giác thay hà tất là quần sanh!"

"Sắt đá kia phải cảm giác" Lời này Đức Quyền Giáo Tông cũng đã học nơi Thầy lúc mới khai Đạo: "Tr... đã thọ mạng nơi Thầy, con đi đâu Thầy theo đó. Lời đạo đức trong miệng con nói ra, ấy là lời của Thầy bố hóa tập trí con đặng đi truyền Ðạo; tùy cơ mà dạy kẻ, một mình con đâu đủ sức phục người. Chẳng luận là Nam hay Nữ, bất kỳ là nước nào, nó muốn biết đạo lý, con phải độ, biểu chúng nó đến nghe Thầy dạy, mới có thế nó tu hành đặng, trước con không nên buộc chúng nó lắm. Thầy nói một lần từ đây nhớ lấy, dầu cho đá, sắt, cây cỏ, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy mà con nói ra, cũng hoan nghinh, huống lựa là người, con nhớ và an lòng.

Ðã thấy ven mây lố mặt dương,
Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.
Ðạo cao phó có tay cao độ,
Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

Thầy đã hằng ngày nói với con rằng: Muôn việc chi Thầy đã bố hóa vào lòng con. Như con tính điều chi, tức Thầy đã định rồi. Con không cần nặng lòng lo lắng. Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm môn đệ của "Tà Thần Tinh Quái" thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng."

 

 

CẢM HÓA

感 化
E: To convert.
F: Conversion.

Cảm: Rung động trong lòng, làm cho lòng người rung động. Hóa: thay đổi. Cảm hóa là làm cho người ta cảm động nhận thấy cái hay mà tự nguyện bỏ cái xấu theo cái tốt. Lấy cảm tình mà hóa người ta theo mình.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Cái tình cảm hóa của con người là tình thường ứng hiệp Trời Ðất.

 

 

CẢM HOÀI

感 懷
F: Souvenir ému.

Cảm hoài là trong lòng có điều cảm khái, tức cảm xúc nhớ nhung trong lòng.

Kinh Khi Đi Ra Đường có câu:

"Con xin nương bóng Cao Đài,
"Bước ra một bước cảm hoài căn tu."

 

 

CẢM QUANG

感 光
E: The light of induction.
F: La lumière de l'induction.

Cảm là mối cảm xúc trong lòng, quang là ánh sáng. Cảm quang là ánh sáng hào quang (điển quang) của chư Thiêng Liêng gây cảm xúc trong lòng người hay nói cách khác tác động vào con người trong cái nhịp điệu "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu".

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Cảm quang diêu động tâm tu,
"Khai cơ giải thoát mở tù Phong Đô."

 

 

CẢM TẠ

感 謝
F: remercier.

Cảm tạ là cảm kích và tạ ơn.( Có vẻ thành kính hơn).

Kinh Khi Về có câu:

"Cảm tạ ơn trên đầu dìu đỡ,
"Từ khi đi khi trở lộn về."

 

 

CẢM TÌNH

感 情
F: Émotivité, affectivité.

Lòng người cảm mến nhau mà sinh ra tình, đó gọi là tình cảm hay là cảm tình. Một thứ nghĩa tình khó quên. Dầu nơi thiêng Liêng tình cảm đó vẫn không thiếu.

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống: "Cảnh đó là cảnh vui hưởng hạnh-phúc chung với nhau, chúng ta thấy vật loại cũng có tình cảm với chúng ta, có một cảm-tình không thể gì tả đặng. Như loài chim chóc, thú cầm, cây cối, đều có để trong tinh-thần của chúng ta một thâm-tình quen biết nồng-nàn đặc-biệt với nhau".

Nơi cõi trần này cũng vậy: "Toàn dân đồng tranh đấu quật cường. Bần Đạo còn nhớ trong cảnh lưu đày nơi Hải ngoại một thân ở nơi xứ lạ quê người, cả nề nếp của Tổ Đường, cả nề nếp phong hóa của nền văn hiến, hai vị Đế Vương (Đức Thành Thái và Đức Duy Tân) chẳng hề khi nào bỏ, chẳng hề khi nào quên. Bần Đạo còn nhớ, khi Bần Đạo bị lưu đày đi trên chiếc tàu Combattant đi đến Đảo Ile de la Réunion cả thảy trên tàu người ta đều được thong thả đi lại, còn Bần Đạo bữa đó bị nhốt dưới tàu, Ngài hay tin Ngài gởi nhắn lời thăm Bần Đạo. Một cảm tình năm 1944 ở trong tù vừa ra thì tiếp được bức thơ của Đức Duy Tân gởi thăm, nhờ đó mà các thơ từ qua lại cùng Đức Thành Thái và Đức Duy Tân. Bần Đạo nói thật cả cái mơ vọng của hai Ngài là định vận mạng nước nhà chủng tộc mà thôi. Vì cớ mà Bần Đạo đã lưu một tình cảm với Đức Duy Tân lắm lắm... Hại thay! Trời chẳng chìu người cả một chương trình, cả một biện pháp đã thương lượng cùng nhau thì cái chết của Ngài làm cho tan rã tiêu hủy hết."

 

 

CẢM ỨNG

感 應
E: To be moved to respond to the implorings.
F: Être ému pour répondre aux implorations.

Cảm ứng là lấy tinh thần mà cảm với Thần linh. Cảm là nhân, ứng là quả; cảm là nguyên động lực, ứng là bị động lực; tỷ như thiện cảm thì phước báo ứng, ác cảm thì họa báo ứng.

Đức Hộ-Pháp nói: "Sự cầu nguyện có cảm ứng với chánh trị thiêng liêng tức là các Ðấng vô hình đều biết rõ mọi sự hành tàng nơi cõi thế, triết lý về hình thể của con người. Thọ tinh cha huyết mẹ sản xuất ra, thì có sự cảm giác thiêng liêng đối cùng nhau rất mật thiết, cho nên một người con lúc đi làm ăn xa nhà khi cha mẹ có bịnh hoạn hay xảy ra điều gì tai biến, thì thân thể của người con sẽ có điềm máy động như giựt thịt, máy mắt hoặc là ứng mộng thấy rụng răng và các điều khác .. đó là về phần Tinh Khí hình thức của con người. Còn về phần linh tánh thì do nơi Ðức Chí Tôn ban cho nhứt điểm lương tâm, nó có cảm giác cùng Chí linh, cho nên khi ta hữu sự thì thành tâm cầu nguyện. Nền Ðạo là một điều cảm ứng rất mầu nhiệm vô cùng, câu: "Nhơn tâm sanh nhứt niệm,Thiên Ðịa tất giai tri".

Do vậy mà Đức Hộ-Pháp nhắc nhở khi đi Cúng:

"Mấy Em đem cái hình xác vào Ðền-Thánh, nhưng là cái xác vô tội đặng hiến cho Chí-Tôn. Nếu không vậy, thì có vào Ðền-Thánh, kẻ ngồi chỗ nầy, kẻ ngồi chỗ kia mà trong óc không niệm, thì vô Ðền-Thánh có ích gì? Ði Cúng, điều trọng yếu nhứt là tinh-thần, cái huyền-vi Bí-pháp tinh thần ở đấy là Cửu-Trùng-Ðài rồi Bát-Quái-Ðài thuộc về Chơn-Linh, ấy là linh tâm xuất hiện, nếu mấy em có cảm mới có ứng, mà nếu có ứng, thì mấy Em mới hưởng được, thảng không hưởng được là lỗi tại mấy Em không trọn tâm thành kính."

Người hành đạo cần phải có đức chí thành, tôn chỉ Ðạo mới đặng quang minh chánh đại, rồi nhơn đó mới đặng lòng tín nhiệm của chúng sanh. Khi tụng kinh cầu nguyện, khẩn vái với Trời Phật, nếu đặng chí thành mới có cảm. Có cảm mới có ứng. Có ứng mới có nghiệm; cho nên có câu: "Hữu thành tất hữu Thần" là vậy đó.

Bài Khai Kinh nguyên Hán văn có câu:

"Yếu tri Tam giáo Tâm nguyên hiệp,
"Trung Thứ, Từ Bi, CẢM ỨNG, đồng".

 

 

CAN ĐẢM

肝 膽
F: Courage, bravoure.

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Qua trách một điều là chư Chức sắc dám hy sinh cùng đời mà không dám can đảm liều thân đó thôi. Cười... Khó thật, mấy em há! Ôi! Đã nặng mang nghĩa vụ với đời thì chất khí sanh phải mong đáp đền tròn nghĩa vụ, vì vậy mà các Đấng nguyên nhân, mỗi phen xuống thế là mỗi lần âu lo, nhưng mấy em hiểu rằng: Nếu không xuống cõi trần đây mà thi thố cả tài hùng biện để lập vị thiêng liêng thì mong mỏi gì đoạt phẩm".

 

 

CAN GIÁN

干 諫
F: Déconseiller.

Can gián: Khuyên ngăn đừng làm điều lỗi lầm.

Đức Lý dạy:"Thượng Trung Nhựt! Lão đã nói, mà Thầy cũng đã nói trước rằng: Khi thành đạo, nghĩa là khi TÂN LUẬT phát hành thì trong hàng Môn đệ, may lắm còn lại nửa phần trong đám Thiên phong, nhiều kẻ e còn bị trục xuất thay! Thầy vì lòng từ bi can gián Lão, bằng chẳng Lão đã dụng hình phạt mà răn những kẻ giả dối ấy. Nay là ngày Vía Đức Chí Tôn, nhiều kẻ cầu Đạo không đáng thâu nạp, nhưng mà Đức Từ Bi biểu Lão ÂN XÁ, nên toàn thâu, không đuổi ai hết."

 

 

CAN QUA

干 戈
F: Guerre.

Can là cái mộc hay cái khiên để ngăn đỡ, Qua là cái mác hay ngọn giáo dùng để đánh giặc. Can qua là hai món binh khí thời xưa. Danh từ này dùng để chỉ giặc giã, chiến tranh tàn khốc mà thời nào cũng không tránh khỏi.

Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

"Thiên Tào Thánh ngự an ngôi,
"Cầu cho dân chúng khỏi hồi can qua."

Đêm 10-11-1925, Ðức Thanh Sơn Đạo Sĩ giáng cho thi:

Ðã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc-địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép tây tà

Câu 10 trong bài U-Minh-Chung rằng:

"Can qua vĩnh tức giáp mã hưu chinh" có nghĩa là cầu cho chiến tranh ngưng dứt và giặc giã không còn nữa, tức là cầu nguyện được Hòa bình.

 

 

CÀN (KIỀN) Quẻ 01- Bát Thuần Kiền

Kiền  乾.
Quẻ 01 - Bát Thuần Kiền 八 純 乾

Tượng: ngôi Đức Chí-Tôn

Quẻ Bát Thuần Kiền. Dưới là Kiền nội.Trên là Kiền ngoại. Quẻ này 6 hào Dương, thể trời, thuộc tính cương kiện. Biệt số 11.

1- Ý nghĩa chữ Kiền:

Kiền là kiện, là tráng kiện, mạnh mẽ, tính Dương.

Chiết-tự Kiền 乾có hai phần: trái có hai chữ thập (mười) thập 十 ở trên "thập phương chư Phật" thập dưới 十 là "Thập điện Diêm cung" giữa là chữ nhựt 日(mặt trời) bên phải chữ Khí 气 .Khí là sự sống, đủ nét là 氣 cũng gọi là khí sanh-quang. Nguồn sống của Trời đất

Kiền là Trời, gồm cõi vô hình và hữu hình, nơi nào có khí sanh-quang của Thượng-Đế tức là có sự sống, mà sự sống là Đạo. Nơi nào khiếm ánh linh quang của Thượng-Đế ắt phải chịu u-ám, tối tăm, đó gọi là cõi Phong-Đô, Địa ngục hay Âm phủ là từ của nhà Phật.

Xưa Vua Phục-Hi ngẩng lên thì ngắm Thiên-văn, cúi xuống thì xét lý Âm Dương, chẵn lẻ, vì cớ đó mới vạch thành nét: Một nét liền tượng Dương một nét đứt tượng Âm (Đây cũng là do theo lý tính của người mà phân biệt Âm Dương, Nam Nữ. Chỉ một Âm, một Dương làm đầu mối cho muôn ngàn sự vật trong cõi đời này. Chính hai ngôi này làm khởi thuỷ, như Cha và Mẹ trong gia-đình; vạn-vật là đực cái, trống mái.

Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi (Lưỡng nghi tức là hai ngôi Âm, Dương) cũng gọi là Kiền Khôn.

Hai ngôi này tác-dụng lên nhau thì có biến-hoá. Như một tế-bào cứ tăng gấp đôi lên: một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám. Khoa-học gọi là theo luật song tiến-số.

Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát quái, Bát-quái biến hoá vô cùng mới thành ra Kiền Khôn Thế Giái.

2- Thành lập nên quẻ Kiền

Biến-hoá lần này là qua hai giai-đoạn lấy Dương làm gốc: thêm Dương, thêm Âm lên ngôi Dương thành ra:

- Hai nét Dương gọi là Thái-dương số 1.

- Một Âm đặt lên dương nữa sẽ có dạng là gọi Thiếu-âm số 2 (Vì Âm mới sinh nên gọi là thiếu, là trẻ).

Ngôi Âm biến-hoá cũng như trên, lấy Âm làm gốc:

-Thêm dương lên sẽ có một Dương trên một âm gọi là Thiếu-Dương số 3 (Dương mới sinh nên gọi là trẻ)

-Thêm âm sẽ có hai âm gọi là Thái Âm số 4.

Tóm lại: Lưỡng-nghi sanh Tứ-tượng là lần biến-hoá ở giai đoạn này, tức nhiên hai nghi sinh được 4 tượng là:

1- Thái dương

 

 

2- Thiếu-âm

 

3- Thiếu dương

 

 

4- Thái-âm

 

Gọi là Tượng, tức là tượng hình, mỗi tượng chỉ có hai vạch thôi.

Tứ tượng cũng biến-hoá theo qui-tắc như trên. Lần này Tứ tượng biến Bát-quái, gốc Tứ-tượng vẫn đặt ở dưới.

Ví như:

*Thái-dương qua hai lần thêm Dương, thêm Âm lên trên thành ra lần đầu có 3 nét dương tạo thành quẻ KIỀN Kiền vi Thiên (Kiền là trời) quẻ Kiền số 1.

Sau thêm lên nét âm thành ĐOÀI là có một Âm trên hai Dương. Đoài vi Trạch số 2. Trạch là hồ, đầm.

*Thiếu-âm cũng qua hai lần thêm dương, thêm âm thành ra quẻ LY vi hoả (ly là lửa). Ly số 3.

Tiếp theo là quẻ CHẤN là sấm. Chấn số 4.

*Thiếu-dương cũng qua hai lần biến, sẽ có quẻ số 5 là TỐN Tốn vi phong (Tốn là gió).Tốn số 5 .

Thêm một âm lên Thiếu dương sẽ có quẻ số 6 là Khảm vi thuỷ, KHẢM (Thuỷ là nước).Khảm số 6.

*Thái-âm qua hai lần biến-hoá như trên, sẽ cho ra hai quẻ là CẤN Cấn số 7.

Thêm âm lên Thái âm là KHÔN  Khôn số 8.

Bát-quái đã thành hình, theo thứ-tự là: Kiền 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8.

Lưu ý: Âm Dương luôn đi liền nhau, không bao giờ trùng âm hay trùng dương.

Bảng tóm tắt: Tứ tượng biến Bát-Quái:

 

Để ghi nhớ, đọc là

Càn tam liên (ba vạch liền)
Đoài thượng khuyết (trên khuyết một vạch)
Ly trung hư (chính giữa rỗng)
Chấn ngưỡng bồn (hình cái chậu ngửa)
Tốn hạ đoạn (đứt vạch dưới)
Khảm trung mãn (giữa đầy)
Cấn phúc uyển ( hình chậu úp)
Khôn lục đoạn (có sáu khúc)

 

3- Bát thuần 八 純 là gì?

Bát là tám, thuần là tinh ròng, là không có pha trộn. Bát thuần ở đây là chỉ tám quẻ ròng một thứ kết hợp với nhau. Trong giai-đoạn này là chỉ bàn qua các quẻ kép mà thôi, tức nhiên do hai quẻ đơn cùng tên đặt chồng lên nhau. Như:

Kiền đặt lên kiền thành ra

 

Thuần-Kiền

 

 

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tương tự là

 

Thuần-Đoài

 

 

Thuần-Ly

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuần-Chấn

 

 

Thuần-Tốn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuần-Khảm

 

 

Thuần-Cấn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuần-Khôn

 

 

 

 

 

Như vậy chỉ có 8 quẻ được gọi là Thuần nên gọi là Bát Thuần, tức là chính nó có đủ đức tính của quẻ mà nó mang tên và danh gọi không đổi. Ngoài ra đối với các quẻ khác là sự hợp quẻ, cho nên tên gọi của nó là do nghĩa của hai quẻ kia mà thành.

Thí-dụ: Kiền vi Thiên đặt lên Đoài vi Trạch sẽ có một tên mới là Thiên Trạch Lý tên này do Thánh nhân đặt ra.

Nhận xét:

Trong 8 quẻ đơn thì chỉ có Kiền là đứng đầu hết là số 1. Gọi là Kiền tam thiên tức nhiên là quẻ Kiền vi Thiên, (đứng vào Thiên Tiên, Thiên Thánh, Thiên Thần) có 3 vạch hay là Kiền tam liên, là Kiền có 3 nét liền.

Nếu là quẻ kép thì nhân lên 8 lần thành ra 64 quẻ (8 x 8) Bát-thuần Kiền vẫn đứng đầu là số 1.

4- Tính chất con số 1:

Số 1 là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến vi hữu tướng. Số 1 chỉ về Thái-cực tức Dương, có tính cách chuyên nhất và cầm quyền vi chủ, chỉ cơ động, thái quá. Do lý Thái-cực sanh ra nên nó nhiệm-mầu hiện biến. Nó thuộc về ngôi Phật, chủ quyền cai trị và giáo-hoá vạn-linh.

Số 1 thuộc bản thể Hư-linh sản xuất nên có quyền thống trị Càn-khôn. Quyền vi chủ có 1 mới hoàn-toàn.

Số 1 tượng ngôi Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế Giáo-chủ nền Đại-Đạo về phần vô-vi.

Trong Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ ngày nay
Quẻ KIỀN tượng ngôi Đức Chí-Tôn

Kiền tượng là: "Thầy tức là Cha của sự sống".

Thầy dạy rõ về quyền-uy tối thượng ấy (TNII. 62):

"Các con. Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế-giới thì Khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái cực. Thầy phân Thái cực ra Lưỡng nghi, Lưỡng-nghi phân ra Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát-quái, Bát-quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn-khôn thế-giái. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật-chất, Thảo-mộc, Côn trùng, Thú-cầm, gọi là chúng sanh.

Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn-Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận."

 

 

CÀN KHÔN

乾 坤
E: The celestral sphere.
F: Le ciel et la terre.

Càn Khôn 乾 坤 là Quẻ Càn và quẻ Khôn trong Bát Quái, tượng trưng cho Trời đất hay Âm Dương, mà nguyên lý Âm Dương là Đạo. Như vậy, hiệp với Càn khôn là hiệp với Âm Dương hay hiệp với Đạo vây. Trương Tử Dương nói về Đạo:

Đạo thị Hư vô sanh nhứt khí,
Tiện tòng nhứt khí sản Âm Dương.
Âm Dương giả hợp thành Tam Thể,
Tam Thể trùng sinh vạn vật xương.

 

道 是 虛 無 生 一 氣
便 從 一 氣 產 陰 陽
陰 陽 者 合 成 三 體
三 體 重 生 萬 物 昌

"Càn Khôn trước là không không. Phật Mẫu biến ra cả Vạn linh. Kinh Phật Mẫu dạy "Càn Khôn sản xuất hữu hình".

Càn Khôn là Thái Cực. Thái Cực là Càn Khôn: Dương Âm, Thái Cực là Chí Tôn, là Chí Cực.

Hệ từ thượng, chương XII viết: "Càn Khôn là cái sâu kín của Đạo Dịch. Càn Khôn thành hàng mà Đạo Dịch lập nên ở trong. Càn Khôn bị phá thì còn gì để thấy Đạo Dịch. Dịch không thể thấy thì hầu như Càn Khôn không thể thi hành được". Điều này đã nói rõ trong hệ từ thượng, chương VI "Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo" 一陰一陽之謂道 nghĩa là một Âm một Dương gọi là Đạo.

Càn Khôn là cửa của Đạo Dịch. Càn tiêu biểu vật thuộc Dương, Khôn tiêu biểu vật thuộc Âm. Âm Dương hợp với nhau mà cương nhu mới có thực thể, thể hiện công việc của trời đất và thông cảm cái đức của Thần Minh" Thần là Trời, Minh là trăng sao.

Hệ từ thượng, chương XI viết thêm: Đóng cửa gọi là Khôn, mở cửa gọi là Càn. Một lần đóng một lần mở gọi là biến. Đây nói đến sự biến hóa của muôn vật do Âm Dương đun đẩy lẫn nhau. Biểu hiện ra nó gọi là Tượng, hình thể nó gọi là đồ dùng, chế ra mà dùng nó gọi là pháp" (Chương XI) chương XII nói rõ hơn: "Hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí" nghĩa là Cái có trước khi có hình gọi là Đạo, cái có từ khi có hình gọi là Khí. Tất cả các Khí đó, Đức Lý Thái Bạch gom chung một chữ KHÍ ( ) gồm 1) chữ Khí ( 氣) là hơi vô hình, 2) chữ Khí (汽 ) hơi nước bán hữu hình, 3) chữ Khí (器 ) dụng cụ hữu hình, gọi là Tam tự nhất thể. ? (xem lại)

Tóm lại, Càn Khôn (dương âm) là hai tính chất của vũ trụ và vạn vật, trở thành một thế giới quan của Đạo Cao Đài. Thế giới quan này đã thâm nhập vào học thuật, tư tưởng, văn hóa của loài người.

Bởi lẽ, Càn Khôn (Dương Âm) không dùng để chỉ rõ hiện tượng hay sự vật đặc thù nào, mà là Đạo rộng lớn phổ biến. Nói một cách khác Đạo Cao Đài đồng nghĩa với tình huynh đệ Đại Đồng. Vào đêm rằm tháng 8 năm Ất Sửu (1925) ở Phú Quốc, Đức Quan Thánh và Đức Lý Bạch giáng cơ tiên tri về thời cuộc từ 1925 về sau:

QUAN là hiểu rộng LÝ cao quyền,
THÁNH Phật phân rành THÁI độ duyên.
ĐẾ sắc nêu cao nguồn BẠCH tự,
GIÁNG lâm đàn nội GIÁNG qui nguyên.

Lão vâng lịnh Tam Giáo Tòa lâm đàn để đôi lời tiên tri, lẽ tuần hoàn chuyển đổi…Ngài dạy rằng: "Kỳ này Thầy lập Đạo tá danh Cao Đài là cái triệu chứng để lại roi truyền trong Việt Nam, mà cũng là Năm châu loạn lạc, đao binh nổi dậy khắp nơi.Chúng sanh khá nhớ: "Cao vi CÀN ☰ Càn vi Thiên. Đài vi Khảm ☵ KHẢM vi thủy tức là quẻ Thiên Thủy Tụng   thì chạy đâu cho khỏi số trời định đoạt binh lửa bốn phương. Những kẻ không tu đành cam số phận…".

Nghĩa: Càn Khôn là Trời đất. Tư tưởng Đông phương luôn tôn trọng cái lý tuyệt đối trong gia đình là Cha mẹ, với Vũ trụ là Càn Khôn. Hai chữ "Nam Mô" là một triết lý quan yếu đối với trời đất cùng vạn vật, đó là Âm Dương Nhị Khí vậy. Thuở hỗn độn hồng mông, trong pháp sơ khai ấy chính là Đạo khởi thỉ của Trời Đất nên chữ "Nam vô" 南無 được niệm đầu tất cả các Thánh danh, nhưng đọc trại là Nam-mô. "NAM" là Phương Nam thuộc Bính Đinh, HỎA là lửa Thái-Cực ở lý nhứt nguyên biến cung Càn   thành ba vạch.."Vô" là không, là chỗ tách rời hình Khôn lục đoạn với khoảng không đó là vòng Vô Cực nơi phát xuất sanh quang cho Vũ Trụ. Đây là câu niệm của Cao-Đài: "Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát"

Thi văn dạy Đạo:

Trên vai gánh nặng cả Càn Khôn,
Khôn khéo rủ nhau xuống cả phồn.
Phồn tục theo hoài quên trở gót,
Gót son biết đặng mất hay còn.

 

 

CÀN KHÔN CHỦ TỂ

乾 坤 主 宰

(Càn Khôn là hai quẻ trong Bát Quái: Càn chỉ Trời, Khôn chỉ Ðất. Càn Khôn là Trời Ðất, chỉ toàn thể vũ trụ bao la, nên thường nói là Càn Khôn Vũ Trụ. Chủ là người đứng đầu cai quản và quyết định mọi việc trong phạm vi quyền hạn; Tể là đứng đầu. Chủ tể, còn đọc Chúa Tể là vị đứng đầu có quyền thống trị hết thảy). Đây là câu Kinh trong Thích giáo (Nhiên Ðăng Cổ Phật chí tâm qui mạng lễ 燃燈古佛志心皈命禮). Tức nhiên Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là Ðấng Chúa Tể Càn Khôn Vũ Trụ. Quyền hành nầy có được là do Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế giao phó cho Ngài. Ngài thay mặt Ðấng Thượng Ðế Chưởng quản cả Càn Khôn Vũ trụ.

Theo Kinh Phật, trong vũ trụ không biết bao nhiêu là Thế giới: Hiệp một ngàn thế giới thành một Tiểu Thiên Thế giới. Hiệp một ngàn Tiểu Thiên Thế giới thành Trung Thiên Thế giới. Hiệp một ngàn Trung Thiên thế giới thành một Đại Thiên Thế giới. Một Đại Thiên thế giới, thông thường còn được gọi là Tam Thiên Đại Thiên thế giới.

Mỗi một Đại Thiên Thế giới, có mười muôn vạn thế giới. Đây là cõi mà Đức Phật hiện ra để hóa độ chúng sanh. Trong vũ trụ có vô lượng vô số Đại Thiên thế giới, gọi là Thập phương vi trần thế giới hay là Thập phương hằng hà sa số thế giới (Mười phương thế giới nhiều như vi trần hay mười phương thế giới nhiều như cát sông Hằng)

Thế giới mà chúng ta đang sống thuộc về thế giới Ta bà hay Sa-bà thế giới. Danh từ Phật dùng như: hằng hà, vô biên, vô lượng để chỉ con số không thể ước lượng được. Do vậy mà trong Càn khôn thế giới là một cõi rộng lớn không thể nghĩ bàn được. Kinh có câu:

Hỗn Ðộn Tôn Sư, Càn Khôn Chủ Tể.
Qui Thế giới ư nhứt khí chi trung.

 

 

CÀN KHÔN DĨ TẬN THỨC

乾 坤 已 盡 識

Thầy dạy: "Nay thì nhơn-loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức thì lại bị phần nhiều Đạo ấy mà nhân-loại nghịch lẫn nhau; nên Thầy mới nhứt định QUI NGUYÊN PHỤC NHỨT".

Ấy cũng nhằm "Buổi Hạ nguơn Tam Kỳ Phổ độ là thời kỳ Ân xá tội tình cho toàn cả chúng sanh; lại nhơn buổi văn minh, nhơn loại thông đồng, càn khôn dĩ tận thức, cho nên Đức Chí-Tôn dùng Huyền diệu Cơ Bút giáng Cơ khai Đại Đạo, chủ nghĩa là độ tận 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa đoạ cõi hồng trần nên gọi là cơ quan cứu thế."

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Thần thông ấy dễ gì thấu đặng,
Học thiêng liêng chưa hẳn cao siêu.

Theo ý Lão:

Cảnh vô biên dấu lắm điều,
Ngoài vòng trời đất còn nhiều Càn Khôn.

 

 

CÀN KHÔN ĐẠI THỐNG

乾 坤 大 統

Câu 04 trong bài U-Minh-Chung có câu: "Càn Khôn đại thống phổ cập Ngũ châu".

 

 

CÀN KHÔN OÁT VẬN

乾 坤 斡 運

Đây là câu kinh trong bài Kinh Tiên Giáo.

Càn Khôn: là hai quẻ trong Bát Quái, quẻ Càn ☰ tượng trưng Trời, quẻ Khôn ☷ tượng trưng Ðất. Càn Khôn là Trời Ðất, là vũ trụ. Oát: Chuyển xoay đi. Vận: Xoay vần chuyển động. Ý nói Trời Ðất xoay chuyển vận hành luôn không lúc nào ngừng nghỉ.

Chú-ý: Chữ Hán [斡運] phiên âm ra viết là: OÁT VẬN, thì mới đúng chánh tả, theo Hán Việt Từ Ðiển của Ðào duy Anh, quyển II trang 87. Chỗ nầy cũng giống như Câu "Oát triền vô biên" vậy.

 

 

CÀN KHÔN TẠO HÓA

乾 坤 造 化

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Càn Khôn Tạo-Hóa sánh tài,
"Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang."

 

 

CÀN KHÔN THẾ GIÁI

乾 坤 世介

Thánh ngôn xác nhận: "Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn Khôn Thế giới thì Khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái-cực. Thầy phân Thái-cực ra Lưỡng-nghi, Lưỡng-nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ tượng biến Bát-Quái, Bát-quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn Khôn thế giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh. Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu-sanh cũng do bởi Chơn-linh Thầy mà ra, hễ có sống ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự sống, vì vậy mà lòng háo-sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng sanh Thầy phân phát khắp Càn-khôn thế-giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm; nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến-hóa. Mỗi mạng sống đều hữu căn, hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa-sanh cũng vậy, đến thế này lâu mau đều định trước, nếu ai giết mạng sống đều chịu quả báo không sai; biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân-hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ, các con gắng dạy nhơn-sanh điều ấy."

Đêm kia, nhằm 24 Décembre 1925, mấy Ông cũng hiệp nhau lại cầu Đức AĂÂ về mà học Đạo, nhưng Ngài không đến. Thất-Nương đến báo tin vui, vì: "Đêm nay là đêm kỹ niệm của Thầy giáng sanh, trong hai ngàn năm trước, ngày khai Thánh Giáo nơi Thái Tây, giờ nầy, Thầy đương hội chư Phật, Tiên, Thánh, Thần dự lễ, mà không đến đặng cùng mấy Anh. Vậy mấy Anh nên cầu nguyện cho cả bá tánh, trong đêm lành nầy, rồi nghỉ. Bữa khác, Thầy sẽ đến dạy việc cần yếu."

Nghe Thất-Nương thì các Ngài nửa mừng, nửa sợ, mừng là mừng vì đặng Chúa Thánh dạy khuyên, còn sợ là vì bấy lâu không biết Đức Ngài là Thượng-Đế, là Ông TRỜI, mà e ra thất lễ chăng! Qua đêm sau, các Ngài cũng lập hương-án, đủ Lễ nghi mà cầu Đức Thầy đến. Đức AĂÂ giáng Cơ dạy:

"Từ buổi Hồng Mông, nhứt Khí Hư-vô phân Lưỡng Nghi, sanh Tứ-Tượng, chia Bát-Quái, rồi mới biến hóa Nhựt, Nguyệt, Tinh-tú và 72 Địa cầu, mà tạo thành Càn Khôn Thế Giái". Ngài lại giải rằng: Lúc khí Hư-vô sanh Lưỡng Nghi: Dương-khí thăng lên, biến ra Ngài; Âm-khí hạ xuống, biến ra Kim-Mẫu Nương Nương". Đấng Huyền Khung Cao Thượng Đế đã tá phàm nhiều lần rồi mà dìu Đạo nơi Á-Đông, lại giáng sanh khai Thánh-Giáo miền Thái-Tây nữa. Nay vì đã rốt cuộc tuần huờn thì giờ đã cùng tận trong buổi Hạ-Nguơn nên Đức Ngài đến hoằng khai Đại-Đạo, chuyển các Tôn-Giáo lại thành một mối duy nhứt gọi là "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt" hầu dìu-dẫn nhân sanh, tức là mở cơ tận độ chúng sanh qui nguyên vị".

"Bính, Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn; con hiểu nghĩa gì không? Cười! Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm ba thước, ba tấc, nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu-nhiệm Tạo-hóa trong ấy, mà sơn màu xanh da trời, cung Bắc-Đẩu và Tinh-tú vẽ lên Càn Khôn ấy. Thầy kể Tam thập lục thiên, Tứ đại bộ châu ở không không trên không-khí; tức là không phải tinh-tú, còn lại Thất thập nhị địa và Tam thiên thế-giới thì đều là Tinh tú. Tính lại ba ngàn bảy mươi hai ngôi sao. Con phải biểu vẽ lên đó cho đủ. Con giở sách Thiên-văn Tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc-Đẩu con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc-Đẩu cho rõ-ràng. Trên vì sao Bắc-Đẩu vẽ CON MẮT THẦY, hiểu chăng? Đáng lẽ trái ấy phải bằng chai đúc trong một ngọn đèn cho nó thường sáng; ấy là lời Cầu nguyện rất quí-báu cho cả nhơn-loại Càn-Khôn thế giới đó; nhưng mà làm chẳng kịp, thì con tùy tiện làm thế nào cho kịp kỳ Đại-hội. Nghe à!"

 

 

CÀN KHÔN VŨ TRỤ

乾 坤 宇 宙

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống:

"Chúng ta ngó lên thấy như Đại-hải minh mông, nhưng thật ra không phải Đại-hải mà là vòm trời của Càn Khôn Vũ Trụ. Nơi xa xa khi ẩn khi hiện trong mây, một tòa nhà nguy nga đồ sộ, thoạt ẩn thoạt hiện mập-mờ, vừa ngó thấy thì ta muốn đến ngay, không biết làm sao đến, vừa lúc đó pháp-thân ta như có một sức mạnh hút đi, không đi mà đến, đến mau như đi bằng máy bay vậy. Đến rồi ngó thấy quần-sanh nhơn loại muôn trùng, lớp đến lớp đi không biết bao nhiêu mà nói, nhiều như vậy, mà dường như không có tiếng động nào, thứ-tự lớp lang có trật-tự lắm…Thử tưởng-tượng Càn Khôn Vũ-Trụ lớn vĩ-đại, lấy mặt Thiêng-Liêng mà thấy càng sợ-sệt, thì ngoài ra không thể nào chúng ta thấu đáo đặng những chơn hồn biến hóa ra Vạn-Linh". Nay, Đấng Chúa tể ấy có thật trong cơ Đạo này:

Đức Ngài nói tiếp: đêm 30-12-Tân-Mão (1952)

"Một ông cha thương yêu vô tận, hạnh-phúc cho chúng ta đã sanh ra lại ngộ Đạo. Đấng đã cầm quyền cả Càn Khôn Vũ Trụ nơi tay, làm Chúa cả cái sống cái chết của Càn Khôn Vũ Trụ đến chung ở với chúng ta, cái hạnh phúc ấy, cái vinh diệu ấy còn chi hơn nữa. Bởi thế cho nên khi Ngài đến cầm cây Linh bút đặng mở chơn-truyền của Ngài, những kẻ phàm tâm kia lấy làm lạ lùng và không có thể tưởng tượng đặng và không có thể tin đặng. Ôi! Một trường ngôn luận buổi nọ biết bao nhiêu kẻ chê bai, khinh rẽ là thế nào. Trong một bài thơ Ngài than:

Cười khan mà khóc bởi thương bây,
Chẳng mất một con nghiệt cả bầy.
Biết phận già không chờ chống gậy,
Nương theo con dại mới ra vầy."

 

 

CÀN KHÔN VŨ TRỤ ĐỊNH THỂ

乾 坤 宇 宙 定 體

Đức Cao Thượng-Phẩm có nói: "À, chịu tên Ông là AĂÂ rồi, vậy chớ Ông bao nhiêu tuổi? Ông viết mãi, không biết bao nhiêu tuổi mà nói; trăm rồi ngàn, rồi muôn, mà còn viết nữa, Đức Thượng Phẩm nói sao Ông cả triệu tuổi vậy? Chúng tôi thật không biết Ông AĂÂ là Đức Chí Tôn chút nào hết, bây giờ hiểu lại, Ngài xưng là Tam, mà Tam là Càn khôn vũ-trụ định thể, ba chấm nói rõ là số 3, số thiêng-liêng tạo đoan vạn-vật là vậy."

 

 

CÀN NGUƠN

乾 元

Càn Nguơn 乾元 hay Càn nguyên. (Càn ☰ là tên một quẻ trong Kinh Dịch tượng Trời. Nguyên 元 là đầu. Càn có 4 đức là: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, mà đức đầu tiên của quẻ Càn là Nguyên). Vậy Càn Nguyên là to lớn khởi đầu của đức Trời, chỉ Thượng Đế chủ tể Càn Khôn vũ trụ này.

Kinh Dịch có câu: "Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thủy 大哉 乾元萬物資始 có nghĩa là lớn thay Càn nguyên, vạn vật nhờ đó để bắt đầu phát sinh ra vô cùng tận.

Lòng Sớ dâng về Thiêng liêng có câu:

"Ngưỡng vọng vô Trung Từ phụ phát hạ hồng ân Càn Ngươn Đại Đức"
仰望無中慈父, 發下洪恩,乾元大德.

 

 

CÀN VÔ ĐẮC KHÁN KHÔN VÔ ĐẮC DUYỆT

乾 無 得 看 坤 無 得 說

Càn vô đắc khán: Không thấy hết được việc trong Trời.

Khôn vô đắc duyệt: Không xem hết được việc dưới Ðất.

Cả câu ý nói buổi trước đây, nhơn loại khắp trong Thế giới này chưa hiểu biết nhau, vì trên không có máy bay, dưới chưa có tàu lặn, trên đất thì phương tiện thô sơ nên việc truyền thông không được dễ dàng, do vậy mà các dân tộc không hiểu nhau.

Tức nhiên thời buổi này (khoản năm 1926) thì nước Việt Nam đang chịu sự đô hộ của Pháp gần trăm năm. Cũng là mới vừa qua chịu đô hộ Tàu ngàn năm, thế nên vì sự kém văn minh tinh thần, mà không được tiếp xúc với nhau qua các nước trên thế giới chỉ vào "Càn vô đắc khán" là nói phần không gian nghĩa là tinh thần kém. "Khôn vô đắc duyệt" là phần văn minh vật chất kém, không có tàu, bè, hay máy bay để qua lại nhau, Nền Đại Đạo khởi phát ngay từ thời điểm ấy. Lần lần khách bàng quan hiểu được chủ đích của Cao Đài giáo là Qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi, người ta trích điểm rằng lập thêm làm chi một nền Đạo mới cho thêm khó khăn phiền toái.

Thầy dạy: 13-03-Bính Dần [dl: 24-04-1926 - (TNII/18)]

"Vốn từ trước Thầy lập Ngũ chi Đại Đạo là: Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo. Tùy theo phong hóa của nhơn loại mà gầy chánh giáo, là trước càn vô đắc khán khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại chỉ có hành Đạo nơi tư phương mình mà thôi. Còn nay thì nhơn loại đã hợp đồng, càn khôn dĩ tận thức thì lại bị phần nhiều Đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau nên Thầy mới nhứt định Qui Nguyên Phục Nhứt. Lại nữa, Thầy giao Thánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Chánh giáo mà lập ra phàm giáo."

 

 

CANG KỶ (KỶ CƯƠNG)

綱 紀

Cang kỷ hay kỷ cương là giềng mối, khuôn phép, phép tắc.

 

 

CANG THƯỜNG (CƯƠNG THƯỜNG)

綱 常
E: Bonds and cardinal virtues.
F: Cordes et vertus cardinales.

Cang: cái giềng của tấm lưới, ý nói Tam cang (hay Tam cương). Thường: hằng có, ý nói Ngũ thường.

Cang thường là nói tắt của Tam cang và Ngũ thường.Tam cang và Ngũ thường là phần căn bản trong Nhơn đạo của người đàn ông.

Tam cang hay Tam cương dịch là Ba giềng hay Ba mối. Tam cang gồm: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang.

Ngũ thường được dịch là Năm hằng. Ngũ thường gồm: Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

(Xem chi tiết: Tam cang, Ngũ thường).

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Tình huynh-đệ tày non tợ biển,
"Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.
"Cang tam, thường ngũ phải gìn,
"Chứa đức, làm lành, làm phước, làm doan."

 

 

CANH CẢI

更 改
E: To change.
F: Changer.

Canh: thay đổi. Cải: sửa. Canh cải là sửa đổi cho khác đi.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Mọi điều canh cải là phạm Pháp Chánh Truyền ắt bị giải ra Tòa Tam giáo.

 

 

CANH CHƯỞNG (CHỦNG)

耕 種

(Canh là cày bừa, chủng là gieo trồng). Đây là chỉ công việc của nhà nông. Bởi dân tộc Việt Nam đa số sống về nông nghiệp để làm ra thóc gạo mà sống. Nhưng về phần tâm linh hay là tinh thần thì sự canh chủng cũng là cần thiết để cày mảnh ruộng tâm và cấy giống đạo đức, nhân nghĩa làm cho ngày càng thêm phát triển.

 

 

CANH ĐIỀN

耕 田

Canh: cày; Điền: ruộng. Canh điền là Cày ruộng.

Suy kỹ lại thì dân Việt Nam hầu hết là sống về Nông nghiệp, ấy cũng nhờ vào bậc Thánh nhân đến giáo hóa trước tiên. Nhờ vậy mà dân tộc tính mới hiền lành, đạo đức, thật thà. Từ một mảnh đất hoang vu biến thành ra lúa gạo làm thức ăn "nuôi sống thây phàm". Ngoài ra còn biết phát triển mảnh "Tâm điền" là ruộng tâm để phát huy tinh thần đạo đức cao độ. Qua bao thời gian trau luyện nghề nghiệp từ vật chất đến tâm hồn của bao lớp cha ông mà ngày nay con cháu mới hạnh hưởng duyên phước lớn lao thế này là Đức Thượng Đế đến ban cho mối Đạo Nhà, hầu "làm Chủ cả nhân loại".

Kinh Ăn Cơm có câu:

"Công Thần Nông hóa dân buổi trước,
"Dạy khôn ngoan học chước canh điền.
"Nhớ ơn bảo mạng Huyền Thiên,
"Con mong mượn xác đoạt quyền vĩnh sanh."

 

 

CẢNH BÁO

警 報

Đức Hộ Pháp giáng cơ dạy ngày 4-1-1973 rằng:

"Mầm tạo đoan nơi pháp luật là điều đáng tiếc, các em không làm gương Đạo hạnh lại dùng áp lực đối với bề trên. Bần Đạo cấm hẳn tự hậu không được làm như vậy, nếu tái phạm sẽ có hình phạt. Đó là lời cảnh báo của Bần Đạo. Nghe à!"

 

 

CẢNH MINH

境 明

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Đài Chiếu-giám cảnh minh nhẹ bước,
"Xem rõ-ràng tội phước căn sinh.
"Lần vào cung Ngọc diệt hình,
"Khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên."

 

 

CẢNH TỊNH

境 淨

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Lo tắm rửa đặng về cảnh tịnh,
Vậy mau mau bước đến tu-hành.
Muốn tu Thiên Đạo cho thành,
Trước lo Nhơn Đạo giữ-gìn mới hay.

 

 

CẢNH THĂNG

境 昇 境 升
E: The Paradise.
F: Le Paradis.

Cảnh: Cõi, cái bước người ta gặp trong đời. Thăng: bay lên Trời, siêu thăng.

Cảnh thăng: Hay thăng cảnh 升境 là Cảnh của các chơn linh được siêu thăng, ấy là Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống (mà Thiên Chúa giáo gọi là Thiên đường). Ý chỉ con đường đắc Đạo.

Thăng và đọa là hai đường đi của các Chơn linh. Nếu lần theo thăng cảnh thì được vào cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, là nơi Cực Lạc, Vĩnh hằng; còn rơi vào đường đọa thì bị cõi Phong đô, Địa ngục, A-Tỳ kềm thúc: Dù đã chỉ rõ:

Lành dữ hai đường đọa với siêu,
Đòn cân tội phước trả mai chiều.
Khôn lên bờ giác làm Tiên Phật,
Dại xuống mê đồ hóa quỉ yêu.

Kinh Giải Oan có câu:

"Phong trần quen thú cung âm,
"Cảnh thăng ngơ ngẩn lạc lầm Phong đô."

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Cảnh thăng trổi gót cho mau,
"Xa vòng tục lự đặng chầu Chí-Tôn."

 

 

CẢNH THẦN

境 神
E: The Paradise.
F: Le Paradis.

Cảnh: Cõi, cái bước người ta gặp trong đời. Thần: thiêng liêng, mầu nhiệm.Cảnh Thần là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, cõi của chư vị Thần Tiên.

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị:

"Chàng dầu vinh hiển cảnh Thần."

 

 

CẢNH THIÊN

境 天

Cảnh thiên hay Thiên cảnh 天境 là Cõi Trời, tức cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, Phật giáo cho rằng nơi đó là Niết bàn. Người tu phải noi bước đi theo mà tìm về nẻo chánh.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu có câu

"Cảnh Thiên noi bước Hóa Công,
"Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai."

 

 

CẢNH TỤC

境 俗
E: The world.
F: Le monde.

Cảnh: Cõi, cái bước người ta gặp trong đời. Tục: Tầm thường thấp kém, chỉ cõi trần. Cảnh tục là cõi trần, cõi của nhơn loại đang sống.

Kinh Ði Ra Ðường:

"Cõi Thiên cảnh tục cũng dường chung nhau."

 

 

CAO CHỨC

高 職

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cao chức vợ nhiều ăn lớn đũa,
Thầm lo lự tứ với ưu tâm.

 

 

CAO ĐÀI

高 臺
E: The supreme Palace.
F: Le Palais Très-Haut.

1. Cao-Đài là gì?

Nho-Giáo nói rằng trên đỉnh đầu là Đấng Cao-Đài. Đã nói là Cao thì không còn chi cao hơn nữa để tôn tặng Đức Thượng-Đế là Đấng tối cao, tối đại. Ngày nay chính Đấng Thượng-Đế mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ xưng danh là "Ngọc-Hoàng Thượng-Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát Giáo Đạo Nam phương".

CAO-ĐÀI là cái Đài cao, xưa muốn cầu Thần Tiên thì cất một cái Đài cao bằng tranh lá rồi lên đó để cầu-đảo gọi là thảo đài. Nay chính Đấng Thượng-Đế đến với nhân loại mở Đại Đạo nơi đất nước Việt-Nam là mở cơ Đại Ân xá lần ba để độ 92 ức nguyên nhân còn mê đắm hồng trần.

Danh xưng "Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma Ha Tát" là gồm cả Tam-giáo gọi là Tam Giáo Qui Nguyên:

- Cao-Đài là tượng-trưng cho Nho-Giáo.
- Tiên-Ông là chỉ Tiên-Giáo.
- Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ Phật Giáo.

Chính Đấng Thượng-Đế đã nói về việc xưng danh ấy, tức nhiên quyền Chưởng quản Càn Khôn Vũ trụ là một mà ba, mà ba cũng như một đầy đủ đức tính khiêm nhường.

Thầy dạy: "Các con coi bậc Chí-Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ-rỗi nhơn-sanh là thế nào, phải xưng là môt vị Tiên-Ông và Bồ-Tát là hai phẩm chót của Tiên Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối-cao tối trọng, còn Thầy thì khiêm-nhượng là thế nào. Vì vậy mà nhiều kẻ Môn-đệ cho Thầy là nhỏ. Cười!.Hạnh khiêm-nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi Thiên-hạ đặng. Các con phải khiêm-nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói buổi lập Thánh-Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội-lỗi, đâu đến nhọc công Thầy. Ấy vậy, các con ráng độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui lòng hơn hết."

2- Tại sao gọi là CAO-ĐÀI?

"Có nhiều Hội-giáo đã lập thành có trót trăm năm trước khi mở Đạo đặng dạy lần cho Vạn-quốc rõ thấu chánh-truyền. "Ngày nay Thầy mới đến lập một cái CAO-ĐÀI 高臺 nghĩa là Đền thờ cao trọng hay là Đức-tin lớn tại thế này (La haute Église ou plus grande foi du Monde) làm nên nền Đạo; lại mượn một sắc dân hèn-hạ nhỏ-nhít của hướng Á-Đông là An-nam ta, đặng cho trọn lời tiên tri "Đạo xuất ư Đông" 道出於東 và cho trúng Thánh-ý chìu lụy hạ mình của Thầy lập thành Hội-Thánh, làm hình thể Thiêng-liêng của Thầy hầu cầm cho đặng dùi trống Lôi Âm giục giọng truy hồn, nắm cho chặt chày chuông Bạch Ngọc đặng trổi hơi định-tánh làm cho cả con cái của Thầy thức tỉnh, nhìn Thầy mà trở về quê cũ." (Pháp Chánh Truyền)

Hai chữ Cao Đài:

CAO giả như Thượng dã
ĐÀI giả như Đế dã
CAO quảng đại chí thiện
ĐÀI bao la chi Đạo

 

高 者 如 上 也
臺 者 如 帝 也
高 廣 大 至 善
臺 包 羅 之 道

Tóm lại hai chữ CAO ĐÀI tức là Đức Thượng Đế.

3- Cao-Đài là Quốc Đạo:

Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ-Pháp có giải rành:

"Buổi Chí-Tôn đến tạo Quốc-Đạo cho nòi giống Rồng Tiên này chính Ngài cầm Cơ đi đến các Tỉnh, kêu từ nhà, gọi từ đứa con, cho không biết bao nhiêu bài khuyến dạy, tạo thành Tôn-giáo CAO ĐÀI là QUỐC ĐẠO."

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cao Ðài tá thế đến phàm gian,
Bạch Ngọc Huỳnh Kim cũng chẳng màng.
Chiều lụy đòi phen xem quá tục,
Nghĩ không đổ lụy phải cười khan.

Đừng vội tin mà lầm mưu Tà mị:

Thầy dạy: Sài gòn, Thứ bảy, 14-8-1926 (âl 7-7-Bính Dần)

"Các con nghe dạy, Vẫn từ ngày Đại Đạo bế lại, Chánh quyền đều vào một tay Chúa Quỉ. Cười...  Khi Ngọc Hư Cung và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Độ, Chúa Quỉ biết cơ mầu nhiệm ấy và hiểu rõ rằng Tà quyền đã dứt, nên trước khi Thầy chưa đến, nó đã hiểu rõ rằng bề nào Thầy cũng phải chiếu y Thánh ý, Tam Giáo Qui Nhứt mà dùng danh Cao-Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, nên chúng đã dùng chữ CAO ĐÀI trước Thầy mà lập Tả Đạo Bàng Môn. Thầy hỏi các con: Vậy chớ Tà quái nhận tên ấy là chủ ý gì? - Lại làm cho ra rẻ rúng danh ấy, để cho các con nghi ngờ mà lánh xa Thánh giáo như đàn Cái Khế vậy. Nhưng có một điều là nó không dám ngự nơi ngai Thầy, tiện dụng làm một vị Tiên Ông mà thôi. Cười . Vậy, các con khi nghe nói Cao Đài nơi nầy, Cao Đài nơi kia, đừng vội tin mà lầm mưu Tà mị. Các con nghe và tuân theo."

Vì "Đạo khai Tà khởi" nên Đức Lý có lời.

Trong đàn Cơ tại Phạm-Nghiệp ngày 20-9-Quí Dậu (dl:07-11-1933) trích đọan nói về Ngài Ngô văn Chiêu:

Hộ-Pháp bạch Thầy: Dạ thưa Thầy, con không biết tại sao khắp nơi đều có Cơ Bút mà mỗi lần đều xưng danh Thầy, không lẽ Thầy lại đến với Cơ Bút ấy? (Ý nói về Cơ Bút của những người đã tách khỏi Tòa-Thánh ra mà lập Chi phái. Cầu Cơ thì các Đấng giáng, có thật không?)

Thầy đã nói rằng: "Duy có cái ngôi của Thầy chúng nó không dám dựa, chớ danh Đạo Thầy nó có phép dùng, nên dặn rằng: Đừng nghe Cao-Đài nơi này, Cao Đài nơi khác mà tin cho ra thất thệ. Đến đỗi hồn ma thằng Chiêu, chúng nó còn lợi dụng, lừa gạt các con thay! Thì còn danh ai mà nó từ bỏ? ... Cười! Tắc, Con tối trí quá!"

Tam Trấn giáng Cơ dạy rằng: "Cao vi CÀN ☰ Càn vi thiên; Đài vi KHẢM 薹 Khảm vi Thủy; hiệp hai quẻ lại là Thiên Thủy Tụng   thì tránh đâu cho khỏi nạn binh đao.

Đức Thượng Phẩm giải thích: "Đạo Cao Đài khai rạng trong buổi Hạ nguơn là cốt yếu để lọc lược tâm lý của nhơn sanh, chọn phần đức hạnh đặng gầy tạo cuộc đời tàn, bảo tồn nhơn loại, nền luân thường của con người cho ra đời Thánh đức hiền lương. Vì vậy mới có cuộc chiến tranh, tức là cơ hỗn độn, rồi mới biệt phân chơn giả, trắng đen. Những người hữu phần thì được hồi tâm tỉnh ngộ, gặp mối Đạo Trời cứu thế thì đặng an thân; còn kẻ vô phần, trí não mờ hồ phải cam chịu trong vòng chuyển biến. Các Đấng cũng đã dạy bảo lắm điều mà lòng người chưa được giác ngộ, đến kẻ có phận sự sửa đời lại là kẻ tội lỗi với đời còn nhiều hơn thì bảo sao cho đời mau trở nên thuần phong mỹ tục? "

 

 

CAO ĐÀI Đôi Liễn CAO ĐÀI

高 臺

Đôi Liễn CAO ĐÀI đặt nơi cổng Thánh Thất và cửa vào Tòa Thánh Tây Ninh.

 

CAO Thượng Chí Tôn Ðại-Đạo Hòa bình dân chủ mục

 

ÐÀI tiền sùng bái Tam-Kỳ cộng hưởng Tự-do quyền

 

高 上 至 尊 大 道 和 平 民 主 目

 

臺 前 崇 拜 三 期 共 享 自 由 權

 

 
   

Đôi liễn nầy thường được chạm khắc nơi các cổng Tam quan đi vào nội ô Tòa Thánh, hay các cổng chánh của các Thánh Thất.

Đôi liễn Cao Đài do Đức Lý Giáo Tông ban cho để tượng trưng chủ nghĩa của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Nguyên trước đây, chữ chót của câu 1 là CHÁNH, đối với chữ QUYỀN của câu 2. Giáo Sư LaTapie (Thượng LaTapie Thanh) người Pháp sợ nhà cầm quyền Pháp đương thời hiểu lầm Đạo Cao-Đài chủ trương làm chánh trị, tranh giành chánh quyền, nên cầu xin Đức Lý chỉnh lại. Đức Lý liền giáng cơ sửa chữ CHÁNH thành chữ MỤC. Ngày trước chính Soạn giả cũng được vị Thầy là Hiền-Tài Mã Nguyên-Lương cũng có nói về việc này như Trường hợp trên.

Giải thích

Câu 1: Đấng Chí Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế là Đấng ở ngôi cao-thượng hơn hết. Kỳ ba này Ngài mở ra một nền Đại Đạo mục đích là lập lại Hòa-bình và Dân chủ.

Cao thượng 高上 ở điểm cao tận cùng, không có gì cao hơn. Chí Tôn 至尊 Bậc đáng kính trọng hơn hết, danh từ để gọi Đấng Ngọc-Hoàng Thượng-Đế. Đại-Đạo 大道 một nền Đạo lớn có tính cách Đại-Đồng. Mục 目 con mắt, hướng tới (Mục đích).

Câu 2: Một lòng kính phục và tôn thờ Đấng Cao Đài thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cùng chung hưởng quyền tự-do.

Đài 臺 cái đài cất cao lên, là nơi ngự của Đức Chí Tôn. Tiền 前: trước. Sùng bái 崇 拜 kính phục tôn thờ. Tam Kỳ 三 期 lần thứ ba,chỉ Đại-ĐạoTam-Kỳ Phổ-Độ. Cộng hưởng 共享 cùng chung hưởng.Tự do quyền 自由權 quyền tự do của con người.

1- Cao-Đài là gì?

Ngày nay Thầy mới đến lập một cái Cao-Đài nghĩa là Đền thờ cao hay là Đức-tin lớn tại thế này (La Haute Eglise ou la plus grande foi du monde) làm nên nền Đạo; lại mượn một sắc dân hèn-hạ nhỏ-nhít của hướng Á-Đông là An-nam ta, đặng cho trọn lời tiên-tri "Đạo xuất ư Đông" và cho trùng Thánh-ý chìu lụy hạ mình của Thầy lập thành Hội-Thánh làm hình thể thiêng-liêng của Thầy hầu cầm cho đặng dùi trống Lôi-Âm giục giọng truy hồn, nắm cho chặt chày chuông Bạch-Ngọc đặng trổi hơi định tánh làm cho cả con cái của Thầy thức tỉnh nhìn Thầy mà trở về quê cũ. (TNI/15)

2- Chủ-nghĩa và Giáo-lý của Đạo Cao-Đài là ĐẠI-ĐỒNG:

Vì năm Đạo phân chia làm cho nhân-tâm bất nhất, nhơn-lọai nghịch lẫn nhau. Chí-Tôn đến đặng hiệp lại một nhà, ước cho con cái của người biết Thương-yêu hòa thuận trong Thánh-đức háo sanh của Thầy để đưa nhân-lọai đến Đại-Đồng.

Giáo-lý của Cao-Đài cũng như các Tôn-giáo khác, xây dựng trên căn bản Từ-bi Bác-aí và thêm vào đó là Công-bình, Chánh-trực, Tự-do, Dân-chủ. Quan-niệm của người Đạo Cao Đài bao giờ cũng chỉ biết: trên có Trời tức là Thiên thượng, còn dưới có dân-chúng tức là Thiên-hạ. Bởi nguyên-lý ấy nên Tôn giáo Cao-Đài lúc nào cũng tôn-trọng quyền Vạn-linh đối với quyền Chí-linh hay nói khác hơn ý dân là ý Trời.

3- Mục đích của SỰ QUI HIỆP :

Tôn chỉ của Đạo Cao-Đài là Qui nguyên Tam giáo phục nhứt Ngũ chi. Thế nên con đường để thực hiện là từng bước:

Đức Hộ-Pháp nói:

"Từ ngày Đại-Từ-Phụ và Đại-Từ-Mẫu đến khai mở chơn-truyền giao phó ngọn cờ cứu khổ hầu dạy-dỗ con cái của hai Đấng vào con đường chí chơn, chí chánh. Cái khó-khăn cho sứ mạng thiêng-liêng là Đại-Từ-Phụ và Đại Từ-Mẫu buộc ta phải: Lấy căn-bản của nền văn-minh tối cổ của Tổ-phụ ta lưu lại trong triết-lý:

- Tam-giáo qui nguyên Ngũ Chi phục nhứt.

Nếu ta cạn xét ta ngó thấy với một Đạo-giáo mà bảo-thủ chơn-truyền rất khó-khăn quá sức của ta tưởng nghĩ. Huống chi cả triết-lý của các nền Đạo-giáo đương nhiên hiện hữu tại mặt thế này thì nó đã đành quá sức với trí khôn-ngoan tưởng-tượng; song ta phải xét đoán, nếu không như thế thì có phương chi khác mà tạo dựng ĐẠI ĐỒNG THIÊN-HẠ và thống nhất các tín-ngưỡng chơn lý lại làm một cho đặng, ấy là mục-phiêu trọng-yếu của hai Đấng phụ mẫu tạo-đoan muốn cho đoạt đến. Còn nếu ta xu-hướng theo một triết-lý đạo-giáo nào làm căn-bản thì nó sẽ trái hẳn với nghĩa-lý tận-độ của Đạo. Cái khó khăn của ta thi-hành sứ-mạng là do lẽ ấy.

- Sứ-mạng cao-trọng là phải dung-hòa các tư tưởng đạo-giáo.

- Thống nhất các triết-lý tinh-thần làm một, là một điều chưa hề có trí khôn-ngoan nào làm đặng. Nó là một ảo-vọng mà từ trước tới giờ chưa có một nhà triết-học nào nghĩ đến. Chính nơi yếu-điểm này Bần-Đạo vẫn ngồi xem quyền Chí Tôn vô-đối của Đại-Từ-phụ thiệt hiện nơi mặt thế này; vì thầm hiểu rằng chỉ có tay quyền-năng vô đối của Đức Chí-Tôn mới làm đặng mà thôi. Tương-lai của Đạo Cao-Đài sẽ vạch rõ cho toàn thể nhơn-sanh thấy đặng điều ấy."

4- Đấng Thượng-Đế đến Qui nguyên Tam giáo phục nhứt ngũ chi

Thầy đến Qui Tam giáo:

"Các con, Thầy đã lập thành Thánh-Thất; nơi ấy là nhà chung của các con; biết à.! Thầy lại qui Tam-Giáo lập thành Tân-Luật, trong rằm tháng mười có đại-hội cả Tam-Giáo nơi Thánh-Thất. Các con hay à! Sự tế tự sửa theo "Tam-Kỳ Phổ Ðộ" cũng nơi ấy mà xuất hiện ra; rõ à! Thầy nhập ba chi lại làm một là chủ ý quy tụ các con trong Ðạo Thầy lại một nhà, Thầy làm cha Chưởng-quản, hiểu à! Từ đây trong nước Nam duy có một Ðạo chơn-thật là Ðạo Thầy đã đến lập cho các con, gọi là "Quốc-Ðạo", hiểu à! Thầy phải bụộc các con hiệp chúng trí mà lo vào đó, nghe à! Từ đây các con sẽ cực nhọc hơn, vì Thầy phân phát phận sự cho mỗi đứa, vì chẳng vậy các con sanh nạnh nhau, tựa hồ chia phe, phân phái là điều đại tội trước mắt Thầy vậy, nghe à! Các con phải ngưng mọi việc mà chung lo trong đại-hội."

Đấng Thượng-Đế là Giáo-chủ Đại-Đạo là "Cao-Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma Ha Tát". Danh hiệu ấy ám chỉ rằng: Giáo lý Đại Đạo là Qui nguyên Tam Giáo phục nhứt Ngũ Chi mà chúng ta lần hồi giảng giải sau đây.

Ngài đến mở Đại-Đạo"Qui nguyên Tam-giáo phục nhứt Ngũ-Chi", thâu-thập tất cả những bài học của các Tôn giáo đã ra đời từ trước đến giờ gom về một mối trở lại nguồn gốc. Nhất là thờ Đấng Chúa-tể càn-khôn vũ trụ tức là chủ trương của Đấng Cha lành đã hóa sanh muôn loài vạn-vật. Tôn kính tất cả các vị Giáo-chủ đã lãnh lịnh Đức Chí-Tôn và Ngọc Hư-Cung giáng trần dạy Đạo ngang hàng nhau như những vị Tôn-sư đến làm Thầy của nhân-loại.

Bà Đầu-sư Lâm Hương-Thanh có thuyết rằng:

"Nay Tôi nói Tam giáoThích, Tiên, Nho.

Kinh Nhựt tụng nói rằng: "Một cội sanh ba nhánh in nhau". Vì sao vậy?

- Bởi nguồn cội Đạo từ khi vô thỉ, trời đất chưa an ngôi, Đạo đã bao hàm trong khí Thái-cực và Vô cực. Sau Khí Thái cực phân Âm Dương, Thiên, Địa Nhơn, tam tài định vị, lần lần có các Đấng Đại Thiêng liêng xuất thế truyền Đạo dạy đời: Đức Thích-Ca, Đức Lão-Tử, Đức Khổng-Tử đều bởi cội gốc đó mà lập ra Đạo thích, Đạo Tiên và Đạo Nho. Tuy mỗi nền Tôn giáo đều có danh hiệu riêng nhưng Tôn chỉ thì không hề khác."

Đức Hộ-Pháp nói đêm 9 tháng giêng - Ðinh Hợi (1947)

"Quốc dân Việt Nam có một phần người thiếu đức tin về Ðạo Cao Ðài, họ chẳng tin rằng Trời khai Ðạo để tạo Ðời, lập Minh Ðức Tân Dân, tức là một Cơ Quan Cứu Thế, làm cho vạn loại hòa bình càn khôn an tịnh, tránh khỏi sự cạnh tranh giết hại lẫn nhau. Hiện giờ cái họa chiến tranh, khói lửa lan tràn khắp nơi, nhơn sanh thống khổ, cốt nhục tương tàn là vì có một phần người không tin có Trời, chẳng noi theo luật công bình của Tạo Hóa, cho nên mới gây ra một trường náo nhiệt như thế. Ngày nào nhơn sanh biết nhận định Ðạo Trời là phương châm giải khổ lập thành Quốc Ðạo trong nước Việt Nam, đem lại sự an ninh trật tự cho nhơn loại cộng hưởng hòa bình, thì ngày ấy là ngày của Ðức Chí Tôn rưới giọt hồng ân cho nhơn loại gội nhuần hạnh phúc."

 

 

CAO ĐÀI TIÊN BÚT THI VĂN TỰ

高 臺 仙 筆 詩 文 字

Đây là lời tiên tri trong quyển Vạn pháp qui Tông: Kinh này được lưu truyền trong dân gian hơn mấy trăm năm nay, quyển Vạn pháp qui tông do các Đạo gia truyền lại có câu:

"Cao Đài Tiên bút thi văn tự" là chỉ rõ rằng Đạo Cao Đài mai sau này có thơ văn của chư Tiên do Thần cơ diệu bút chép ra. Quả thật vậy: "Trong năm Ất-Sửu (1925) các Thầy, các Ông từ hàng Thông phán, Phủ huyện muốn tìm một sự thật mà thiên hạ đã làm đảo lộn trong giới trí thức đương thời là: Con người có thể thông-công cùng các Đấng Thiêng liêng vô hình được". Nhứt là thuyết này đã làm cho cả Âu-châu sôi nổi, nhiều sách vở đã tung ra cả hoàn cầu do các Hội Thần linh học và Thông Thiên-học đã khảo cứu một cách rõ rệt "Loài người có thể sống với cảnh Thiêng liêng kia như chúng ta đang sống đây vậy". Cái triết lý ấy làm cho nhiều người – nhứt là hạng người học thức -muốn tìm tàng cho thấu đáo." (Ngày 13-10 Giáp-Ngọ - 1954)

Chính nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ này do Đức Cao Đài Thượng-Đế dùng HUYỀN DIỆU CƠ BÚT khai sáng tại miền Nam nước Việt-Nam từ năm Bính-Dần (1926) chứng tỏ rằng toàn bộ Kinh sách, Luật pháp chơn truyền đều do Cơ Bút mà ra, ứng với lời tiên tri của Đấng Thánh trước Hiền xưa:

Huyền-diệu Cơ bút giúp cơ Đạo thực hiện điều gì?

1- Mục-đích của Đạo Cao-Đài là tận-độ chúng sanh, độ 92 ức nguyên-nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa đọa hồng trần.

2- Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng bằng xác thân mà chỉ giáng bằng Huyền-diệu Cơ bút, là vì thời kỳ chuyển Đạo vô-vi hiệp Tam-thanh chấn-hưng Tam giáo Phục Nhứt Ngũ Chi nên Đức Chí-Tôn giáng bằng Huyền-diệu Cơ bút mới qui đặng cả Đại-Đồng Tam giáo.

3- Đức Chí-Tôn làm Giáo-chủ Đại-Đạo là Đấng vô hình, dùng HUYỀN DIỆU CƠ BÚT dạy Đạo thì dân tộc nào cũng có thể học trực tiếp với ông Thầy Trời được, nếu họ biết dùng phép "Thông-Thần-lực". Thế là sự bất đồng ngôn ngữ chẳng còn là một sự thắc mắc nữa."

 

 

CAO ĐÀI TIÊN ÔNG

高 臺 仙 翁

Đức Chí Tôn giáng tại Hộ Pháp Đường ngày 03-05-Ất Mùi (dl: 28-6-1955):

CAO thăng tuyệt đối khí Hư vô,
ĐÀI bóng nêu danh của tín đồ.
TIÊN dược phá mê trần mộng ảo,
ÔNG nào mất Đạo chết phơi khô.!

Thầy mừng các con, nầy các con: Hãy tu sao cho tinh thần được giác minh quang; quang minh thì phẩm vị Thần Tiên không khó… Một ngày kia con nào biết Đạo đức, ăn chay lạt, hiệp với khí Tiên Thiên, tới lúc Dương sanh thì mới có thể với khí ấy mà còn vững vàng sống đặng. Đứa nào vô Đạo đức thì bị khí Thiên ô-trược tới ngày âm tuyệt dương sanh, chúng nó không bao giờ hứng chịu nỗi chơn dương nên phải dứt hơi lìa mạng. Vậy thì ngày, tháng, giờ phải đúng luật tuần hoàn, Thầy sẽ đem các con vào một thế giới khác cho an nghỉ, hầu tầm nơi siêu thoát cảnh Thần Tiên. Các con chẳng nên khinh lời lẽ dị đoan, một ngày kia sẽ rõ.

 

 

CAO ĐẠO HỮU

高 道 友

Thành Hoàng Mỹ Lộc giáng tại Ðàn tại Ðình Mỹ Lộc, ngày 15-11-Bính Dần (dl: 18-1-1927):

"Từ đây ta hết dạ hết lòng mà lo lắng, săn sóc chăm nom hơn khi trước nữa, Ta tỏ cho chức sắc hiểu, tại sao mà Ta lo hết bổn phận. Ấy là từ đây Ngọc Ðế truyền lịnh cho Ta phải theo phò chư Cao đạo hữu, nên Ta lo lắng bội phần, hơn khi trước; mỗi khi có việc chi tai biến hay là có những bịnh truyền nhiễm, thì đến đây Ta sẽ dạy cho mà lánh những điều tai hại. Còn việc tế Lễ Cúng, Ta muốn dùng đồ chay hay là cây trái, chớ sát sanh. Ta cũng tỏ cho chư Chức sắc hiểu rằng: Tế tự là tại sao? Phàm có lòng tin mới cúng chớ, cúng là lấy có lễ đó, gọi là kỉnh trọng. Chớ Thần, Thánh nào ăn của ai. Bởi thế nên ai dùng vật thực mà cúng, tốt hơn nên dùng trái cây. Ai có lòng thì tế lễ chi chi Ta cũng chẳng trách đặng, vì cựu lệ bày đến ngày nay. Nay ta muốn theo Thánh ý của Ngọc Ðế. Vậy chức sắc liệu làm sao?... Trả lời thử? Cười…!"

 

 

CAO ĐỒ

高 徒
E: Caodaist adept.
F: Adepte Caodaïste.

Cao đồ 高 徒: trước đây là chỉ các Môn đệ thượng thặng của Đạo Thánh. Nay có thể nói là Môn đồ của Đấng Cao Đài, tức là "Những lương sanh dùng để cứu vớt quần sanh" của Đấng Cao Đài Ngọc Đế. Nói rộng ra: những người đã nhập môn vào Đạo Cao Đài và tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ đều là Môn đồ của Đức Chí Tôn.

Cao Đài hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn giáo phát sinh do Cơ Bút huyền diệu của Đức Chí Tôn, Ngài truyền mở Đạo tại miền Nam nước Việt, từ đầu thế kỷ hai mươi. Trung ương là một Hội Thánh nắm giáo quyền chặt chẽ trên khắp đất nước. Đó là Thể pháp của Đạo Cao Đài có nhiệm vụ tận độ chúng sanh trong thời Hạ nguơn mạt pháp.

Sở dĩ Đạo Cao Đài phải lập ra hình tướng là bởi Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Đức Hộ Pháp: "Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí pháp trước hay con mở Thể pháp trước?".

Đức Hộ Pháp trả lời: "Xin mở Bí pháp trước".

Chí Tôn dạy: "Nếu con mở Bí pháp trước thì phải khổ đa. Đang lúc đời cạnh tranh tàn bạo, nếu mở Bí pháp trước cả sự bí mật huyền vi của Đạo, đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại thì mối Đạo phải ra thế nào? Vì thế nên mở Thể pháp trước, dầu cho đời quá dữ có tranh giành phá hoại cơ thể hữu vi đi nữa thì cũng vô hại, xin miễn mặc Bí pháp còn là Đạo còn. Bí pháp là Hiệp Thiên Đài giữ...".

Và trong đàn cơ ngày 24-4-1926, Chí Tôn dạy tiếp: "Thầy nhứt định đến chính mình Thầy mà độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa, nhưng mà buộc phải lập Chánh thể có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng Đảo".

Kinh Đưa Linh-Cữu có câu:

"Nam-Mô Tam Trấn Hư-vô,
"Oai-nghiêm độ rỗi Cao đồ qui nguyên.
"Nam-Mô Tam-giáo diệu huyền,
"Tuyệt luân Bát-Nhã đưa thuyền độvong."

 

 

CAO ĐỨC TRỌNG (Tiếp Đạo Hiệp Thiên Đài)

Khi lập Pháp Chánh Truyền Hiệp-Thiên-Đài, ba vị Phò loan: Nguyễn Thiêng Kim, Huỳnh Văn Mai, Võ Văn Nguyên không đến dự, nên ba vị nầy không được vào Thập Nhị Thời Quân Hiệp-Thiên-Đài. Ðức Chí Tôn phong cho ba vị khác là: Thái Văn Thâu, Lê Thế Vĩnh, Cao Ðức Trọng.

Ngài Cao Ðức Trọng được Ðức Chí Tôn phong sau cùng khi Ðức Chí Tôn bảo Ðức Hộ Pháp lên Nam Vang mở đạo. Tại Nam vang, Ðức Hộ Pháp phò loan cùng Ngài Cao Ðức Trọng để Ðức Chí Tôn giáng Cơ thâu môn đệ.

Ngài Cao Ðức Trọng được Ðức Chí Tôn ân phong Tiếp Ðạo ngày 29-6-Ðinh Mão (dl 27-7-1927)

 

 

CAO HOÀI ÂN (Tên)

Là thân sinh của các ông Cao Đức Trọng (Tiếp-Đạo Hiệp Thiên-Đài) và Cao Hoài Sang (Thượng Sanh Hiệp Thiên-Đài).

Ông Cao Hoài Ân có giáng Cơ nói với Ngài Trọng rằng: "Con Trọng, Ba đến có điều cần kíp nói với con!

Một nhà đã hưởng trọn ân hồng,
Đổi của thiêng liêng gắng chút công.
Dặm cũ Ba đương chờ tiếng hạc,
Nhà xưa con khá để nêu dòng.
Lửa hương tuy thiếu chưa nên Đạo,
Thanh sử đã thừa đủ nghiệp Tông.
Kìa gánh non sông Nam Việt khổ,
Hỏi con (luỵ) có thấy nỗi đau lòng?

Con! Phải nhớ đứng anh hùng nơi võ trụ này mà tạo thời cải thế đặng là dùng phương hướng nào chăng?

- Tiếp Đạo bạch…

- Phải đó con: "Phải trần ai mới ra mặt công hầu". Nhớ nghe! - Thăng.

 

 

CAO HOÀI SANG (1901-1971)

(xem Thượng Sanh. Vần TH)

 

Năm sinh: Tân Sửu (1901)
Ngày qui: 26-03-Tân Hợi (1971)

 

Ông Cao Hoài Sang sanh ngày 29 tháng 7 Tân Sửu (dl 11-91901) tại làng Thái Bình tỉnh Tây Ninh.

Thân phụ của Ngài là Cao Hoài Ân (Huệ Chương trong Đại Đạo Truy Nguyên viết là Cao Hoằng Ân), lúc sanh tiền làm việc tại Tòa Án, là vị Thẩm phán Việt Nam đầu tiên. Thân mẫu là Bà Hồ Thị Lự (đắc phong Nữ Giáo Sư tại Kim-Biên năm1927, thăng Phối Sư năm 1935 và thăng Nữ Đầu Sư1968).

Ngài có ba anh em: Anh trưởng là Cao Đức Trọng đắc phong Tiếp-Đạo Hiệp Thiên Đài, người chị thứ ba là Cao Thị Cường đắc phong Nữ Giáo Sư, Ngài là thứ Tư).

Thuở nhỏ Ngài học trường Sư phạm, thi đậu bằng Thành chung, rồi ra làm việc ở sở Thương chánh, Sài Gòn, lần lần được thăng lên ngạch Tham tá.

Ngài lập gia đình với Bà Võ Thị Giáo, sanh đặng 9 người con, gồm 5 người trai và 4 người gái.

Việc xây bàn để cầu các vong linh lần đầu tiên được tổ chức tại nhà Ngài Cao Hoài Sang ở phổ Hàng dừa gần chợ Thái Bình, Sài Gòn.

Ông Cao Hoài Sang được Đức Chí Tôn phong cho Ngài chức Thượng Sanh, chưởng quản chi Thế Hiệp Thiên Đài.vào ngày 18 tháng 5 Bính Dần (dl: 27-6-1926).

Khi Đức Hộ Pháp phải lưu vong sang Miên quốc, không người lèo lái thuyền Đạo, nên Hội Thánh yêu cầu Đức Ngài về Tòa Thánh cầm giềng mối Đạo.Từ đó Đức Ngài về tái thủ phận sự nơi Tòa Thánh, cho đến ngày 26 tháng 3 năm Tân Hợi (dl 21-4-1971) Ngài ngọa bịnh và đăng Tiên vào lúc 17 giờ, hưỏng thọ 71 tuổi.

Ông Cao-Hoài-sang, Thơ-ký Sở Hoả-xa Sài-Gòn, là người đứng vào số 19 trong số 28 người ký tên vào Tờ khai Đạo ngày 23-8-Bính Dần, nhằm Thứ Tư: 29-9-1926).

 

 

CAO HOÀNG GIA-LONG (Vua nhà Nguyễn)

Đức Hộ-Pháp kể công nghiệp của Đức Gia-Long: "Ngoài ra cái công nghiệp, Ngài chẳng phải khôi phục Hoàng Đồ mà thôi, Đức Cao Hoàng Gia Long tức nhiên là Nguyễn Ánh, đã đem lại hai Tỉnh của Lào thêm vào bản đồ Việt Nam, một là Sơn La hai là Lai Châu, nếu chúng ta coi lịch sử thì người trước nhứt nước Pháp đã nói: Le Grand Législateur du Việt Nam, tặng một người đã cầm vận mạng nước Việt Nam về luật vĩ đại hơn hết. Cao trọng hơn hết là ngày (1802) Ngài đã chỉnh đốn từ nội bộ tới ngoại thuộc, Ngài lấy cả các Cựu Luật của Ngài, số của Ngài vĩ đại không thể tả đặng, chỉnh đốn duy tân, Ngài đã đem lại cho chúng ta một địa dư mới, Quan chức mới, Luật binh mới, Quân dụng mới, hình thức Chính trị mới, Bình dân mới, cả thảy đều được Ngài chỉnh đốn, nếu chúng ta không có bị bảo hộ từ thử thì Bần Đạo dám chắc rằng: Cái công nghiệp vĩ đại của Đức Gia Long Cao Hoàng đã trở thành đại công cùng Tổ Quốc, chúng ta hôm nay đến đây là cốt yếu để cả tâm đức của mình, trong tinh thần của Ngài".

 

 

CAO LƯƠNG MỸ VỊ

膏 良 美 味

Ngài Bảo-Pháp viết về Ăn chay có lời rằng: "Thú cầm đói biết kiếm ăn, khát biết kiếm uống, ấy là vật dục tự nhiên (instinct) của chúng nó. Con người linh hơn cầm thú, không những vì đói mà ăn, vì khát mà uống, lại còn vì ngon miệng mà ăn, thì biết chọn vật thực ngon béo, ngọt bùi. Vì vậy mới gọi món nầy là cao lương, vật kia là mỹ vị, nay cỗ bàn, mai yến tiệc. Song nếu vì cao lương mỹ vị mà không biết biệt phân vật nào bổ dưỡng, vật nào độc hại, thì nguy hiểm cho cơ thể chẳng biết chừng nào. Vậy mới đặt ra có vệ sinh ẩm thực phù hợp theo sanh lý học (physiologie) và hóa học (chimie) để bảo tồn sự sanh hoạt của nhơn thân.

Thi văn dạy Đạo:

Cao lương mỹ vị hại thân phàm,
Hỏi thử thế đời mấy món tham?
Cao chức vợ nhiều ăn lớn đũa,
Thầm lo lự tứ với ưu tâm.

 

 

CAO NHƯ BẮC KHUYẾT NHƠN CHIÊM NGƯỠNG,
ĐÀI TẠI NAM PHƯƠNG ĐẠO THỐNG TRUYỀN

高 如 北 闕 人 瞻 仰
臺 在 南 方 道 統 傳

Giải nghĩa:

Nghĩa là Đạo cao như Bắc Khuyết, người ta trông lên mà chiêm-ngưỡng.

Nền Đạo sẽ truyền bá khắp nơi không ngừng, mà nơi phát xuất ra mối Đạo là ở Nam phương (chỉ về miền Nam nước Việt Nam).

Hai câu này cho biết Đạo Cao-Đài sẽ xuất hiện ở phương Nam mà Đức Cao-Đài làm chủ: Tức là Đấng Huyền Khung Cao Thượng-Đế Ngọc-Hoàng Đại Thiên Tôn, ngự tại phương Bắc gọi là Bắc Khuyết (cửa Huỳnh Kim Khuyết). Hai câu này vốn từ Đạo "MINH-SƯ". Đạo này sáng lập từ đời nhà Thanh bên Tàu, truyền sang Bắc Việt, có hai câu sấm của các vị Tổ sư lưu lại, được nêu lên ở bìa Kinh điển của Đạo ấy. Chính là lời tiên tri về Đạo Cao-Đài xuất hiện.

 

 

CAO QUÍ

高 貴

Đức Hộ-Pháp nói: "Chơn truyền của Phước Thiện là thay thế Đức Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không vợ không chồng, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Có như vậy mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ của Đức Chí Tôn để mơi mặt thế nầy. Các em có hiểu chưa?

 

 

CAO QUYỀN

高 權

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cao quyền khó kiếm đặng cao ngôi,
Ðạo đức gầy nên đã phải hồi.
Mượn của trần gian lưu chất lại,
Thiên niên còn mặc đứng gầy Trời.

 

 

CAO NGÔI

高 嵬

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cao ngôi chưng đạo chẳng cao quyền,
Mở lối dắt người đến cảnh duyên.
Ham hết công danh mòn mỏi đức,
Cũng như ham chở khẳm khuôn thuyền.

 

 

CAO NGỰ

高 御
E: To be seated on the hight throne.
F: Être assis sur le haut trône.

Bài Kinh Nhập Hội có câu:

"Trên Bạch-Ngọc Chí-Tôn cao ngự,
"Giữa Tây phương nắm giữ Thiên điều.
"Dưới Ngọc-Hư kể bao nhiêu,
"Thiêng-liêng các Đấng lập triều trị dân."

 

 

CAO NHƠN

高 人

Thi văn dạy đạo có câu:

Thanh thanh nhựt nguyệt Cửu Trùng Thiên,
Hiện xuất cao nhơn tại nhãn tiền.

   

Ly kỳ cảnh vật cao nhơn thưởng,
Ðáo để san hà thượng khách ca.

 

 

CAO HOAN

膏 肓

Cao: Bộ phận dưới trái tim. Hoang: chỗ dưới tim, trên hoành cách mô. Cao hoang là bộ phận dưới tim, phía trên hoành cách mô, giữa hai lá phổi. Theo Ðông y thì chỗ nầy thuốc không đến, châm chích không tới, nên khi nói bịnh tới cao hoang thì không còn có thể chữa trị được, nhứt định phải chết.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy dạy: "Ðạo hiện thời cũng chẳng khác chi người bịnh mà lương y coi chưa ra chứng. Bề ngoài coi chẳng vẻ chi trầm trọng, nhưng một ngày kia nếu chẳng rõ mà chế cải thì xuất tại trong mà loán ra ngoài. Thế mạnh như núi đè cây, như biển tràn bờ, chẳng thế chi ngăn chống nổi. Ấy là lúc bịnh xung trong ngũ tạng lục phủ nhập đến cao hoan thì người bịnh dầu số Trời cứu vãn cũng không qua khỏi đặng. "

 

 

CAO KHIẾT

膏 潔

Huỳnh Hoa Tiên Nương giáng đêm 28-7 Mậu Tuất (11-9-1958) có câu:

Cao khiết đề danh lầu Thượng Uyển,
Tinh anh thọ sắc Đấng Hồng Quân.
Cảm tình ngưỡng vọng không e-lệ,
Đáp tạ xin lưu tạm mấy vần.

 

 

CAO QUỲNH AN

Cậu Cao Quỳnh An, ái nam của Đức Cao Thượng Phẩm du học ở Pháp qui vị lúc 20 tuổi giáng cơ: 3-8 Nhâm Thân (1952)

Sợ uổng xuân xanh muốn tái trần,
Tiếc xưa chưa thỏa chí phong vân.
Cố huyên thêm quạnh bao đầu tuyết,
Cây thọ non côi cỗi vỏ trần.
Nay thoát cảnh phàm vui nước trí,
Rủi lìa xứ sở nhớ từ thân.
Bóng chiều tin nhạn trời tây vắng,
Tưởng nghĩa cưu mang ruột tợ dần.

(Cao Quỳnh An)

 

 

CAO QUỲNH CƯ (1888-1929)

(Xem: Thượng Phẩm. Vần TH)

 

Năm sinh: Mậu-Tý (1888)
Ngày qui: 01-03-Kỷ Tỵ (1929)

 

Ông Cao-Quỳnh-Cư, Thơ-ký Sở hoả-xa Sài-gòn, là người đứng vào số 17 trong số 28 người ký tên vào Tờ khai Đạo ngày 23-8 Bính-Dần, nhằm Thứ Tư: 29-9-1926).

Ông Cao Quỳnh Cư sinh năm 1888 tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, tỉnh Tây Ninh trong một gia đình thế phiệt Nho phong. Đức Ngài là bào đệ của ông Cao Quỳnh Diêu (Bảo Văn Pháp Quân) và bạn đời của Bà Nguyễn thị Hiếu (Nữ Đầu Sư Hương Hiếu). Đạo hạnh nhu hòa và ngôn từ chúng ái. Đức Ngài đang làm Sở Tạo tác tại Saigon thì Đức Chí Tôn khai Đạo, Đức Ngài liền phế đời hành Đạo.

Đêm giao thừa năm Bính Dần (dl 12-02-1926) các Môn đệ của Đức Chí-Tôn đến thăm từng nhà của nhau. Mỗi nơi đến có thiết đàn thỉnh Đức Chí Tôn giáng dạy và mỗi người được một bài thi. Bài thơ Đức Chí-Tôn cho Ông Cao Quỳnh Cư:

Sắp út thương hơn cũng thế thường,
Cái yêu cái dại mới là thương.
Thương không nghiêm trị là thương dối,
Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.

Cư, Tắc, Sang! Trong năm mới này Thầy trông mong ba con rõ thấu đạo đức hơn nữa, gắng chí nghe!

Khổ tâm hành Đạo của Đức cao Thượng Phẩm:

"Kể từ Rằm tháng 10 Bính Dần (1926) tới Rằm tháng Giêng Ðinh Mão (1927) là đúng kỳ hứa trả chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén) là ba tháng, nhưng tới tháng hai năm Ðinh Mão, đã quá hạn kỳ một tháng mà Hội Thánh chưa trả chùa lại được, vì chưa kiếm được đất để mua, còn ông Hoà Thượng Giác Hải thì cứ đòi chùa lại hoài.

Vì sự đòi chùa ấy nên Ðức Lý Giáo Tông giáng dạy quí ông Hiệp Thiên, Cửu Trùng đi kiếm đất mua đặng dời chùa.

Ðức Lý dạy:

"Mai này chư Hiền Hữu lên đường trên gọi là đường dây thép (là đường từ Mít Một chạy tới cửa Hòa Viện bây giờ) nhắm địa thế dài theo cho tới ngã ba Ao Hồ, coi Hiền Hữu có thấy đặng chăng cho biết. Lão đã nói rằng mỗi sự chi chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết".

Qua ngày sau, quí ông đi tìm đất. Ông Thái Thơ Thanh cho mượn một chiếc xe, Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh cho mượn một chiếc.

Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng ngồi trên hai chiếc xe hơi có Ðức Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, Anh cả Thượng Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh, Ngọc Trang Thanh.

Khi xe chạy tới Cửa số hai hồi trước còn rừng rậm cạnh góc ngã ba có cây vừng, Ðức Cao Thượng Phẩm ngó thấy nơi cây vừng có tấm bảng treo đề tên Cao Văn Ðiện. Ông nầy là bạn học của Ðức Thượng Phẩm hồi thuở nhỏ.

Trong lúc bối rối kiếm đất không được, bất ngờ thấy tên bạn mình đứng tên trên miếng đất nầy nên Ðức Cao Thượng Phẩm nói với Hội Thánh rằng: Ðể tôi đi tìm ông Cao Văn Ðiện nhờ bạn tôi điềm chỉ giùm chủ đất nầy. Cũng nhờ ông Cao Văn Ðiện điềm chỉ mới biết ông chủ đất nầy là ông Kiểm lâm người Pháp tên Aspar.

Khi kiếm được đất rồi, tối lại quí ông cầu Ðức Lý về dạy coi Hội Thánh đi kiếm đất như vậy có trúng không. Ðức Lý giáng dạy như vầy:

"Lão khen Thái Thơ Thanh, phải đó đa! Tưởng chư Hiền Hữu không thấy nữa. Lão cắt nghĩa vì sao cuộc đất ấy là Thánh Ðịa. Sâu hơn ba trăm thước như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa sáu nguồn làm như 6 con Rồng đoanh nhau. Nguồn nước ấy trúng ngay đỉnh núi gọi là Lục Long Phò Ấn. Ngay miếng đất đó đặng ba đầu; một đầu ra Giếng Mạch Ao Hồ; hai đầu nữa bên cụm rừng bên kia. Người Lang Sa chỉ đòi có hai mươi lăm ngàn đồng".

Khi phá đám rừng nầy thì Ðàn Thổ (*1) xuống cả ngàn người để phá rừng, làm cho ông Chánh Tham Biện người Pháp nghi ngờ mời Ðức Cao Thượng Phẩm ra Tòa Bố. Ông hỏi Thượng-Phẩm chớ làm cái gì mà đông đảo như vậy. Ðức Thượng-Phẩm trả lời rằng: Tôi mua miếng đất đó đặng trồng cao su. Ông Tham Biện hỏi trồng mấy mẫu? Ðức Thượng Phẩm trả lời: Tôi trồng hết sở đất tôi mua, phá tới đâu tôi trồng tới đó, nên ngày nay trong Nội Ô có cây cao su là do nơi đó.

Khổ tâm hơn hết là Ðức Thượng-Phẩm bị người Pháp cật vấn đủ điều cho đến đỗi tới giờ Cúng cũng không vô Chánh Ðiện cúng được, buộc phải rào song ly ngăn lại. Trong Chánh Ðiện chỉ có một mình ông Lễ Sanh Thượng Xường Thanh cúng mà thôi, còn ở ngoài thì vài ba ông thợ mộc quì trên dăm bào lạy vô Bửu Ðiện; vì lúc nầy Chánh Phủ Pháp nghi ngờ bắt Ðạo và bó buộc không cho tụ họp đông, như vậy mà ông Tham Biện người Pháp còn mời Ðức Thượng Phẩm ra Tòa Bố ngày một."

Giai đoạn di cốt PHẬT TỔ

Cốt Phật Tổ vì nặng quá, bởi con ngựa Kiền Trắc của Ðức Phật Tổ cỡi lớn và dài nên Ðức Thượng Phẩm phải kết hai chiếc xe bò lại để thỉnh cốt Phật lên.

Trong lúc sửa soạn thỉnh cốt Phật thì ông Chánh Tham Biện người Pháp cho một toán lính mặc đồ thâm (đen) núp dưới đường mương, ngoài chong súng lên đặng bắn Ðức Thượng Phẩm. Tới chừng thấy rõ là thỉnh cốt Phật mới rút lui. Hội Thánh từ từ di cốt Phật về đất mới mua.

Ðức Thượng Phẩm đứng trên xe bò vịn Ðức Phật Tổ, thấy nghiêng bên nào thì hô lên để sửa lại ngay; đi từ 6 giờ chiều tới 2 giờ khuya mới đến Thánh Ðịa (ngay cửa Hòa Viện bây giờ). Trước cửa Hòa Viện có cây vên vên, đến đây di cốt Phật Tổ vào không được vì bị một cái đường mương lớn quá; Ðức Thượng Phẩm phải lập kế kiếm ván đặng lót xe vô mới được. Khi xe qua đường mương rồi thì tạm để cốt Phật Tổ nơi đây, vì Ðức Thượng Phẩm mệt đuối, nhào xuống đống lá khô trong rừng nằm nghỉ; tất cả Chức Sắc cũng nằm xuống đó nghỉ

Xin nhắc lại khi mua đất nầy thì chưa tạo được cái nhà nào hết, chỉ có cái nhà bò của ông Aspar bán đất để lại (dãy nhà chỗ chợ Từ Bi, gần nhà Ðức Quyền Giáo Tông bây giờ) nhờ đó mà tạm dùng nhà bò nầy để làm trù phòng cho công quả ăn phá rừng, nên khi Ðức Cao Thượng Phẩm thỉnh cốt Phật về tới đây mệt lả thì Bà Chánh Phối Sư Hương Hiếu đã chuẩn bị nấu cháo sẵn rồi. Nữ phái khiêng cháo và nước qua cụm rừng ăn đỡ dạ.

Nền Phật Tổ đã được Ðức Thượng Phẩm an vị giữa hai cụm rừng gần cây ba nhánh.

Lúc bấy giờ, Ðạo phải trải qua nhiều lối chông gai, nhiều đường khổ hạnh, nhưng người chủ trương việc Ðạo nhứt là ông Cao Quỳnh Cư đem hết dạ nhiệt thành, hết bầu tâm huyết mà sắp đặt trật tự bên trong và chống trả với phản động lực bên ngoài (thời Pháp thuộc).

Ðức Cao Thượng-Phẩm vâng lịnh Ðức Chí Tôn phá rừng xong, xây cất Tòa Thánh tạm, Hậu Ðiện, Ðông Lang, Tây Lang, Trường Học, Trù Phòng (đều bằng tranh) và đào giếng (mà hiện giờ còn di tích mấy cái giếng gần Tòa Nội Chánh đó).

Thảm thay! Trời đương thanh, Biển đương lặng, Gió đương êm.Bỗng đâu đất bằng sóng dậy, nước lã khuấy nên hồ đem đến gieo ác cảm cho Ðức Cao Thượng Phẩm, làm cho Ðức Ngài phải về Thảo Xá Hiền Cung. Ðức Ngài quá buồn, vì vâng lịnh Ðức Chí Tôn về Tây Ninh mở Ðạo, Ngài phải bỏ sở làm chưa hưu trí, con còn đang du học tại Paris.(Pháp).

Nhớ lại lúc bỏ sở làm thì anh em bạn nói rằng:

- Thầy Tư, sao Thầy quá tin dị đoan; con còn đang học bên Pháp mà Thầy đi như vậy thì việc học của con phải dở dang sao? Nhưng Ngài nhứt quyết nghe lời Ðức Chí Tôn dạy mà thôi, nên Ngài thu xếp gia đình, bỏ sở làm về Tây Ninh lo Ðạo, chịu biết bao nhiêu cảnh gian nguy vì xưa đến đây đầy những bụi cây, thú dữ phải ăn vác nằm sương mới tạo thành Tòa Thánh tạm và xây cất đủ mọi nơi thành khoảnh thì lại bị thiên hạ đuổi đi!

Ðức Ngài về Thảo Xá, vì buồn rầu, vì xấu hổ với anh em bạn, mặt mũi nào trở về sở làm được nữa, thế nên Ngài thất chí, ước nguyện của Ngài không thành.

Vì khi ra đi Ngài quyết chí đem thân này làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn sai khiến, nhưng cơ đời rất nên cay nghiệt, xảy đến nhiều nỗi tang thương cho gia đình Ngài. Ðức Ngài quá đau khổ có làm một Bài thi tự thán như vầy:

Công trình gầy dựng Thất Tây Ninh,
Bằng địa sóng xao khiến rập rình.
Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,
Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.
Xưa Tòa Thánh dập dìu lai vãng,
Nay Bửu Ðình hiu quạnh lụy nhìn.
Thương Ðạo mến Thầy xin sớm liệu,
Cộng tâm chung trí chớ làm thinh.

Thất Nương Diêu-Trì-Cung cho Ðức Thượng Phẩm một bài thi như dưới đây:

Nghĩ giận mà ra bắt nực cười,
Nhờ ai an vị lại an nơi.
Trăm năm chưa giữ bền thân sống,
Một kiếp đã gây lắm tội đời.
Phẩm Phật ngôi Tiên ai dẫn nẻo,
Ngai Thần vị Thánh kẻ toan dời.
Nhắn lời nói với phường đen bạc,
Ðến cửa Thiêng liêng ngó mặt Trời.

(Ðức Chí Tôn dạy Phép Tuyệt Thực trị bệnh cho Ðức Cao Thượng Phẩm. Xem chữ Huyền diệu-pháp)

TÌNH TRẠNG ÐỨC CAO THƯỢNG PHẨM

Ðức Cao Thượng Phẩm từ ngày về Thảo Xá Hiền Cung xem Ngài hình thể hao mòn, sức yếu thân gầy, sắc diện âu sầu buồn bã. Sự nhận thức có lẽ Ngài thọ bịnh thất chí, vì hành Ðạo không được y theo sở nguyện trong nền Ðạo buổi sơ khai lo truyền giáo phổ độ nhơn sanh, mà Ngài lại an ổn tại tư gia, nên Ngài bực tức, vì Ðạo vì Thầy mà bị họ ngăn trở bước đường hành Ðạo.

Thiết tưởng những người có đủ đức tin nơi Chí Tôn thì dầu có sản nghiệp triệu phú cũng không thể ngồi an hưởng riêng cho được, huống chi Ðức Thượng Phẩm là Môn Ðệ trọn tin tưởng nơi Ðức Chí-Tôn và Ðức Phật-Mẫu ngay từ buổi đầu.

Khi Ðức Chí Tôn giáng trần khai Ðạo, giáng Huyền diệu Cơ Bút thâu Môn Ðệ dạy thờ Thiên Nhãn trước hết cũng tại nhà của Ngài, nên lòng thành kính Ðạo thật là đầy đủ. Các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ dạy Ðạo, Ðức Thượng Phẩm cùng Ðức Hộ Pháp phò loan, hai Ngài lãnh hội giáo lý nhiều hơn hết.

Ðức Thượng Phẩm là người cương quyết thi hành trọn Ðạo phế Ðời, thu xếp gia đình nghỉ làm việc Cò Mi, không màng danh lợi, trọn tin theo lời Thánh giáo của Chí Tôn về ở chùa Gò Kén thường xuyên hành Ðạo. Khi dời về Tòa Thánh thì Ngài cũng trọn tâm lo xây dựng cơ nghiệp Ðạo.

Ðến khi gặp cơn khảo đảo, bị nhơn sanh bạc đãi buộc lòng lui về tư gia, thì dầu đủ nghị lực tinh thần cũng phải buồn lòng thất chí, nên lâm bịnh, lương y khó phương điều trị cho lành mạnh. Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài lo cuộc lễ tiếp rước Ðức Thượng Phẩm về Tòa Thánh và tạo lập Tịnh Thất cho Thượng Phẩm nhập tịnh. Cả Chức Sắc Hội Thánh đồng tâm tuân lịnh Ðức Chí Tôn tức cấp lo tạo Tịnh Thất tại nơi cụm rừng (chỗ Báo Ân Từ hiện nay).

Ngày 15 tháng 10 năm Mậu Thìn (1928) 7 giờ sáng, một đoàn xe hơi Chức Sắc Ðại Thiên Phong Hiệp-Thiên-Đài và Cửu-Trùng-Đài đến Thảo Xá Hiền Cung rước Ðức Thượng Phẩm, Ngài cũng vui lòng lên xe về Tòa Thánh nhập Tịnh Thất. Hội Thánh có chọn Chức Sắc phụng sự Ngài việc thường thức.

Ðức Thượng Phẩm nhập Tịnh Thất một thời gian, bịnh tình cũng chưa thuyên giảm, hằng ngày kém ăn thiếu ngủ, Thánh thể xem đã gầy mòn.

Ngày 26 tháng Chạp năm Mậu Thìn (1928) Ngài tỏ với người bạn đời là Bà Giáo Sư Hương Hiếu lo sắp đặt 6 giờ chiều trở về Thảo-Xá, Ngài không cho Chức Sắc hay trước.

6 giờ chiều, Giáo Hữu Thượng Trí Thanh kêu một cổ xe ngựa lót nệm để Ngài nằm, theo xe hộ vệ chỉ có bạn đời của Ngài và Giáo Hữu Thượng Trí Thanh, đưa Ngài về Thảo xá.

7 giờ rưỡi, tới nơi đỡ vào phòng nghỉ ngơi, xem được khỏe như lúc mới lên xe. Từ đây, ở yên nơi Thảo Xá. Ngày 01-03-Kỷ Tỵ (Dl 10-04-1929) Ðức Thượng Phẩm Ðăng Tiên.

ÐỨC THƯỢNG PHẨM ÐĂNG TIÊN

Ngày 01 tháng 03 Kỷ Tỵ (1929) 11 giờ trưa, Ðức Thượng Phẩm cho mời Ðức Hộ Pháp cùng ông Bảo Văn Pháp Quân, bà Giáo Sư Hương Hiếu, Giáo Hữu Thượng Trí Thanh, Giáo Hữu Thượng Kỳ Thanh, Lễ Sanh Thượng Nguơn Thanh.

Ðức Thượng Phẩm nhìn Ðức Hộ Pháp trối rằng: "Nay Qua về chầu Ðức Chí Tôn, em ở lại hiệp với Chức Sắc chung lo nền Ðạo của Thầy cho được vẹn toàn mọi sự. Anh dầu có nhắm mắt thì sự mất cũng như còn."

Nói rồi tuôn hai hàng nước mắt, kế day qua nói với bạn thân của Ngài căn dặn để trọn tâm lo tròn phận sự; nói dứt lời thì Ngài xuất linh hồn êm ái, gương mặt cũng như người đương ngủ. Có một điều phi thường là lời trối Ngài nói có hàng, có chấm, cũng như lúc mạnh khỏe. Cả Chức Sắc có mặt đều cảm động ngùi ngùi thương tiếc.

Khi Ngài dứt hơi thì đỡ ngồi dậy thúc xác ngồi kiết tường, trước mặt lập bàn hương án chưng bông hoa trà quả. Ðức Hộ Pháp ra kiểu cho thợ mộc đóng Liên Ðài hình Bát Quái; thời Tý 12 giờ đại liệm, rồi thành phục tế lễ theo nghi tiết. Hội Thánh thông tri cho toàn Ðạo các Tỉnh đều hay đặng hành lễ cầu nguyện cho Ðức Thượng Phẩm được tiêu diêu nơi miền Tiên cảnh.

Quàn tại Thảo Xá 3 ngày, Chức Sắc và Ðạo Hữu nam nữ điếu tế rất đông. Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài cầu Cơ bút, Ðức Thượng Phẩm giáng cơ tỏ vẻ vui mừng, được về bái mạng Ðức Chí Tôn cùng Phật Mẫu nơi Bạch Ngọc Kinh và Diêu Trì Cung, đều ban ơn công nghiệp buổi khai Ðạo tròn sứ mạng, Ngài tiếp cho một Bài thi tứ tuyệt:

CAO thanh miệng thế mặc chê khen,
THƯỢNG trí màng chi tiếng thấp hèn.
PHẨM cũ ngôi xưa dầu rõ giá,
Từ bi tập tánh được thường quen.

Ngài tỏ vẻ vui mừng nay đã thoát khỏi biển trần, về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống.

Thợ hồ lo xây Tháp cho Ngài, có gắn cẩm thạch mạ chữ vàng nơi Bửu Tháp Bát Giác; sau lưng có khắc bài kỹ niệm để tỏ dấu cảm hoài và roi truyền hậu thế.

Sau đấy, Ðức Cao Thượng Phẩm có giáng cho hai bài thi khi di Liên Ðài ra Bửu Tháp:

Xủ áo trần hoàn đã rảnh tay,
Thung dung nhờ núp bóng Cao Ðài.
Rừng tòng nhựt rọi khi mờ tỏ,
Sớm lạc trăng lồng kẻ tỉnh say.
Phi thị mặc đời nơi quán tục,
An nhàn rảnh dạ khách Thiên Thai.
Ngậm cười nêu quạt chờ sanh chúng,
Biển khổ ngày qua đếm một ngày.

***

Ngảnh lại mà đau cảnh đoạn tràng,
Cõi Thiên mừng đặng dứt giây oan.
Nợ trần đã phủi lòng son sắt,
Ngôi vị nay vinh nghĩa đá vàng.
Cỗi tấm chơn thành lòa nhựt nguyệt,
Phơi gan chí sĩ nhuộm giang san.
Bốn mươi hai tuổi sanh chưa phỉ,
Ðể mắt xanh coi nước khải hoàn.

Cao Thượng Phẩm

Thầy đã nói rõ rằng: Thượng Phẩm phải về Thầy trước

Tòa Thánh Tây Ninh, Le 16 Avril 1929
Ngày 7 tháng 3 Kỷ Tỵ (giờ Tý)

Thầy, Các con;

"Mỹ Ngọc! Kêu mấy anh con, kêu Nữ phái vì chúng nó vái ở dưới tội nghiệp.

Thầy đã nói rõ rằng: Thượng Phẩm phải về Thầy trước các con nhưng mà hại thay! vì biếng nhác các con không đọc Thánh ngôn của Thầy mà kiếm hiểu.

Tắc! Con có nhớ Thầy nói với các con rằng: Ðạo vốn vô vi, nếu Thượng Phẩm không trở lại Thiêng Liêng chi vị, thì ai đem các chơn hồn các con vào cửa Thiên giùm đó con, lại nữa các con vốn là kẻ dẫn đường cho cả chúng sanh thay mặt cho Thầy nơi thế nầy về phần Ðời còn phần Ðạo cũng có đôi đứa con mới đặng cho, cười....

Con đừng phiền mà trách mấy anh con, nhứt là đừng nói rằng: Chúng nó giết Thượng Phẩm nghe, vì Thiên cơ đã định các con biết chi mà hờn trách lẫn nhau.

Thơ! Con phải xây cái Tháp của Thượng Phẩm phía trước cây ba nhánh, phải day mặt về Ðông, giống như ngó vào Ðiện mà hầu Thầy vậy. Song, ba từng phải lợp ngói như nóc chùa của Ðường Nhơn vậy nghe.

Ðừng làm như cái Tháp của Bảo Ðạo, vì hai đứa phẩm vị khác nhau, chung quanh Bát Quái, phải làm như hình có cột tại chính giữa Tháp (1) phải có lỗ cho nhựt quang giọi tới Liên Ðài. Các con sẽ bị Thái Bạch quở phạt liệu lấy mà sửa mình, phải tùy theo lịnh dạy của nó, đặng nó giảm nộ chút ít nghe."

Tiểu Sử Đức Thượng-Phẩm Cao Quỳnh Cư:

Ðức Hộ-pháp thuyết trong lễ kỷ niệm Ðức Cao Thượng Phẩm, ngày mùng 1 tháng 3 năm Canh Ngọ (1930)

Mỗi một năm ngày Vía của Ðức Cao Thượng Phẩm, Bần Ðạo lấy làm vui thấy con cái của Chí Tôn Nam cũng vậy Nữ cũng vậy, trọn tâm yêu ái, nhứt là cái mừng của Bần Ðạo hơn hết là ngày Vía của Ngài, cả con cái của Chí Tôn còn gìn giữ và thương yêu ấy như buổi sanh tiền kia vậy.

Sự thật, từ cổ chí kim, Bần Ðạo tưởng không có nền Tôn Giáo nào mà được hưởng một đặc ân thiêng liêng của Ðức Chí Tôn như nền Ðạo Cao Ðài; Bần Ðạo đoán lại những sứ mạng thiêng liêng của Ngài, những đặc sứ sai đến thế nầy đặng thay thế hình ảnh của Ngài hầu chia đau sớt khổ cùng con cái khổ não của Ngài như thế nầy.

Chúng ta có thể nói, các Ðấng Thiêng Liêng đã làm bạn với các sắc dân, nhứt là Huỳnh tộc của chúng ta tưởng cả thảy con cái Ðức Chí Tôn đều biết danh giá của Bát Tiên là thế nào?

Ngộ nghĩnh thay! Ðức Chí Tôn làm thế nào mà chư vị Ðại Tiên ấy ra đảm nhiệm sứ mạng Thiêng Liêng đến đặng tạo dựng cái nền Tôn Giáo của Ngài. Ðức Hớn Chung Ly tức nhiên cái nguơn linh của Ðức Cao Thượng Phẩm đó vậy, nên giờ phút nầy Bần Ðạo nhớ đến có mảy may ân hận cơ huyền diệu của Ngài cầm trong tay tạo Ðạo không còn nữa, thành thử không có cây cơ thứ nhì.

Nói thật ra, cái cơ phong Thánh, cơ lập Thánh, cơ Truyền giáo Ngài đã đem theo, nên ngày giờ nầy thảng có cơ phong Thánh thì Ngài cậy mượn Cao Tiếp Ðạo nâng loan có Ngài trợ lực, chớ cây cơ phong Thánh hiển nhiên giờ phút nầy không còn tồn tại, cái tiếc của Bần Ðạo hay chăng là điều đó".

Ngài Tiếp Pháp thuyết đêm 30 rạng 1 tháng 3 Nhâm Dần (1962) trong dịp Vía Ðức Cao Thượng Phẩm.

"Hôm nay là ngày Vía của Ðức Cao Thượng Phẩm, chúng tôi xin nhắc Tiểu sử của Ngài, âu cũng là dịp xưng tụng công đức của Người quá cố và cũng ôn lại cái đại chí của người tu hành để làm gương cho đoàn hậu tấn.

Hồi tưởng lại, kể từ ngày mùng 6 tháng 6 Ất Sửu, nhằm ngày 26-7-1925 tại tư gia của Ngài ở Sài Gòn, thường có năm ba người bạn nhóm họp Xây bàn, thông công với các vong linh để xướng họa thi phú. Vì ham mộ văn chương mà những vị ấy tiếp tục Xây bàn, kế đến phò cơ chấp bút và sau rốt lập thành một nền Tôn-Giáo Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ. Ðức Thượng Phẩm là người có đức tin hơn hết.

Lịch trình tiến triển sự phò cơ kể đại lược như vầy:

Nguyên vào đêm 10 tháng 7 năm Ất Sửu (1925), tại tư gia của Ðức Cao Thượng Phẩm, các anh em cũng Xây bàn như thường lệ, thoạt nhiên có Ðức Chí Tôn đến, nhưng không xưng tên thiệt mà lại mượn chữ A.Ă. làm danh hiệu để xưng hô, có lẽ Ðức Chí Tôn mượn tên ấy để cho ba người dạn dĩ lân la học hỏi. Ðến ngày 1 tháng 11 Ất Sửu nhằm 16-12-1925 Ðức Chí Tôn dạy phải lập Ðàn Cầu Ðạo, Ðức Thượng Phẩm lập bàn Vọng Thiên tại tư gia của Người ở đường Bourdais Sài Gòn (nay là đường Bác sĩ Calmette). Cầu Ðạo rồi Ðức Chí Tôn dạy phải dùng Ngọc Cơ để tiếp xúc với Ðức Chí Tôn, thì cái giai đoạn xây bàn đến đây là cáo chung.

Từ đó, những vị đã theo xây bàn trước kia, lại dùng lối phò cơ để học hỏi, mãi đến đêm 24-12-1925 dương lịch lễ Chúa Giáng Sinh, thì Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy như vầy:

Ngọc Hoàng Thượng Ðế Viết Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Ðạo Nam Phương:

"Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên."

Ðêm nay 25-12 phải vui mừng, vì đó là ngày của Ta xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây. Ta rất vui lòng mà đặng thấy Ðệ Tử kính mến Ta như vầy. Nhà nầy sẽ đầy ân đức Ta.

Nhà nầy mà Ðức Chí Tôn nói là tư gia của Ðức Cao Thượng Phẩm, khi Ðức Chí Tôn thăng rồi, người người nhìn nhau với một vẻ ngạc nhiên vừa mừng vừa sợ.

Thì té ra sự Xây bàn phò cơ từ trước đến nay không phải là việc của người phàm tiêu khiển ngày giờ mà thật là việc của Trời khai Ðạo. Sự Phổ độ khởi đầu từ đó, người nhập môn càng ngày càng thêm đông.

Ðến ngày 14 tháng 10 Bính Dần, nhằm ngày 18-11-1926, Ðức Chí Tôn dạy thiết Ðại Lễ Khai Ðạo chánh thức tại Từ Lâm Tự tỉnh Tây Ninh, đồng thời Ðức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền phong vị cho Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài và Ðức Chí Tôn dạy nhóm Hội Thánh lập Luật, vậy sau ba tháng Ðại Hội, Ðạo đã có Pháp, có Luật thì nghiễm nhiên Ðạo thành một nền Tôn Giáo danh gọi là Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.

Từ đó Ðức Cao Thượng Phẩm xin nghỉ làm việc đời để có rộng ngày giờ hành Ðạo, thành thử khi Tòa Thánh dời vô làng Long Thành là Thánh Ðịa bây giờ, trong hàng Chức Sắc Hiệp-.Thiên-Ðài duy có Ðức Cao Thượng Phẩm phế đời trước hết, Ngài thay mặt cho tất cả anh em Ðài Hiệp-Thiên cộng tác với Cửu-Trùng-Ðài phá rừng cất Tòa Thánh tạm.

Trong trường công quả, Ðức Thượng Phẩm rất tận tâm, Ngài quyết chí góp công vào sự kiến tạo một nền Ðại Ðạo tại xứ Việt Nam, nhưng trong thời gian phục vụ, Ðức Ngài phải chịu nhiều phen thử thách, lắm khi Ngài muốn ngã lòng, nhưng nhờ tinh thần vững chắc rồi cũng vượt qua, thật đúng lời cổ nhơn nói:

"Ðạo cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng,
"Ðạo cao nhứt trượng, ma thượng đầu nhơn".

Nghĩa là Ðạo cao một thước, thì ma cao một trượng, Ðạo cao một trượng, thì ma cao khỏi đầu người.

Nhưng than ôi! Thiên số nan đào, rồi Ngài lâm bịnh mãi đến ngày mùng 1 tháng 3 Kỷ-Tỵ (1929) thì Ngài qui Tiên, năm ấy Ngài được 42 tuổi.

Nói tóm lại, đời của Ðức Cao Thượng-Phẩm lúc tuổi xuân là một vị công chức của Chánh Phủ Pháp, khi vào Ðạo là một vị Ðại Thiên Phong nơi Ðài Hiệp-Thiên, ngày công viên quả mãn đắc vị "Kim Tiên" thật công trình cần lao khó nhọc không uổng.

Nay Ðức Thượng Phẩm thuộc về người Thiêng Liêng thì Ngài lại có nhiệm vụ "cứu rỗi phần hồn của chúng sanh". Trong tay Ngài sẵn có hai món Cổ Pháp là "Long Tu Phiến" và "Phất Chủ". Thiết tưởng chúng ta nên bàn qua cái sở dụng của hai món Cổ Pháp ấy cho rõ.Long Tu Phiến: - Về Pháp thể thì dùng 36 lông cò trắng kết thành một cây quạt; còn về Pháp linh thì Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy như vầy:

"Long Tu Phiến là cây quạt do điển khí của Tam Thập Lục Thiên kết thành, quạt ấy tiết ra một điển lực có ảnh hưởng đến cuộc tấn hóa của quần linh. Chơn thần nào trong sạch thì nương theo đó mà siêu nhập Cực Lạc Thế Giới.

Trái lại, chơn thần nào luyến ái tà mị thì lánh xa mà đi lần đến U Minh cảnh giới. Cả cơ "thu" và "đẩy" của Long Tu Phiến với Chơn thần đều do luật "đồng khí tương cầu" mà thành tựu. Nghĩa là chơn thần đạo đức thì Long Tu Phiến hấp dẫn đến gần và đưa vào Cực Lạc Thế Giới; còn chơn thần trọng trược thì Long Tu Phiến đẩy ra xa và lần hồi đi đến cảnh U Minh đen tối."

Phất Chủ: Phất Chủ là điển khí của Thất Bửu Diêu Trì kết hợp dùng để trau rửa chơn thần trở nên thanh khiết."

Ðó là tiểu sử của Ðức Cao Thượng Phẩm, chúng ta là đoàn em cũng nên noi gương của người Anh mà lần bước trên đường hành Ðạo. (TIẾP PHÁP)

Khai đàn Cao Quỳnh Cư

THẦY

Ðã để vào tòa một sắc hoa,
Từ đây đàn nội tỷ như nhà.
Trung thành một dạ thờ Cao sắc,
Sống có Ta thác cũng có Ta.
Ðài sen vui nhánh trổ thêm hoa,
Một Ðạo như con ở một nhà.
Hiếu nghĩa tương lai sau tụ hội,
Chủ trung Từ Phụ vốn là Ta.

(27-1-1926)

 

 

CAO QUỲNH DIÊU (1884-1958)

Cao Quỳnh Diêu: Đức Chí Tôn chưa phong. Năm Đinh Mão 1927, thọ phong Tiếp Lễ Nhạc Quân. Đến năm Canh Ngọ 1930, thăng phẩm Bảo Văn Pháp Quân.

Cao-Quỳnh Diêu Phẩm Bảo Văn Pháp Quân. Ngài Cao Quỳnh Diêu hiệu là Mỹ Ngọc, gọi là Cao Mỹ Ngọc, Đạo hiệu là Cao Liên Tử, sanh năm Giáp Thân (1884) tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, tỉnh Tây Ninh, trong một gia đình Nho phong thế phiệt. Thân phụ là Ông Cao Quỳnh Tuân làm Cai Tổng Hàm Ninh Thượng. Cụ Ông mất lúc Ông Diêu được 14 tuổi. Đức Chí Tôn cho biết Ông Cao Quỳnh Tuân là Xuất Bộ Tinh Quân ở Thượng giới giáng trần. Thân mẫu của Ngài Cao Quỳnh Diêu là Bà Trịnh Thị Huệ, đắc phong Nữ Giáo Sư ngày 14-Giêng-Đinh Mão (dl 15-2-1927) Ngài là anh ruột của Ngài Cao Quỳnh Cư. Ngài Cao Quỳnh Diêu đắc phong Bảo Văn Pháp Quân trong Thập Nhị Bảo Quân, Hàn Lâm Viện của Đạo Cao Đài. Ngài Cao quỳnh Cư là anh ruột đắc phong Thượng Phẩm HTĐ. Hiền nội của Ngài Cao Quỳnh Diêu là Bà Trần Thị Lựu, đắc phong Nữ Giáo Hữu trong kỳ Đức Chí Tôn phong Thánh Nữ phái lần đầu tiên. Ngài Cao Quỳnh Diêu là 1 trong 4 vị (Cư, Tắc, Sang, Diêu) khởi sự xây bàn đầu tiên tại nhà Ông Cao Hoài Sang để tiếp xúc với các vong linh nơi cõi vô hình.

Cao Quỳnh Diêu lúc làm Giáo Học có sáng tác:

Chí mong theo dõi bước thi nhân,
Vẹt ngút cây xanh rọi đảnh Thần;
Vũ trụ một bầu tom góp nhặt,
Muôn màu tạo vật vẽ giang san.

Trích câu kết của Huấn Nữ Ngâm Vịnh về Tứ Đức ngày 20-7-1942.

Bạch liên hữu nhụy chiêu hương khách,
Thanh Nguyệt hề quang, dụ quí quân.
Trăng thanh dục bước du nhân,
Hoa thơm luyến khách vầy đoàn chi lan.

Trích một đọan Mười năm đèn sách:

Muốn đưa trẻ, mẹ không nài gian khổ,
Tóc pha sương lần bước bộ theo con.
Tàu mở neo dạng đứng héo von,
Dong khỏi bến vẫn còn thấy bóng.

Xa xa dạng mẹ già dòm trông ngóng,
Ngó theo con đôi lượn sóng đoanh tròng.
Nỗi thương vấn vít bên lòng !

Ông có tên trong 247 vị ký tên vào Tờ khai Đạo mà còn có tên trong 28 vị Tiền Khai Đại-Đạo nữa.

 

 

CAO QUỲNH TUÂN (Tên)

Cao Quỳnh Tuân chính là phụ thân của ông Cao Quỳnh Cư (ông Cư sau đắc phong Thượng Phẩm). Ông Cao Quỳnh Tuân ly trần hơn 25 năm về trước. Bài thơ sau đây nhơn Xây bàn đêm 25 tháng 7 năm 1925 mà được. Bàn gõ tên, xưng là CAO QUỲNH TUÂN. Sanh tiền ông làm Cai Tổng (thuộc Tỉnh Tây-Ninh). Ông Cao Quỳnh Tuân vốn là một thi nhân thuở cựu trào. Khi bàn lên, gõ được câu nào là ông Cư động lòng khóc sùi sụt, khách bàng quan cũng ngậm ngùi theo. Tôi nay hậu sanh, nhơn có công chịu khó chép để dành từ năm 1925, gặp buổi đầu niên, xin kính gởi vào Tập Xuân Kỷ Hợi Tự Do, để đánh dấu một thời gian và một nhơn tâm đã qua (nhà văn Vương Hồng Sễn). Bài thơ ấy là:

Ly trần tuổi đã quá năm mươi,
Mi mới vừa nên ước đặng mười.
Tổng mến lời khuyên bền mộ chép,
Tình thương câu dặn gắng tâm đời.
Bên màn đôi lúc trêu hồn phách,
Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi.
Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,
Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời.

Ký tên: Cao Quỳnh Tuân (Thiên Ðình)

Ðọc tới câu thứ bảy ông Cao Quỳnh Cư quá mủi lòng cảm động, lúc nầy hai ông Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang cũng bùi ngùi; ông Cao Quỳnh Cư vội thốt: Thưa Thầy (1), ngày mai con nấu một mâm cơm cúng, con kính thỉnh Thầy về chứng lòng thảo của con. Vong linh nhập bàn, liền chuyển cái bàn, ngõ ý khứng lời mời của con và kế đó vong xuất. Sau khi tiếp đặng bài thơ Ðường luật, vừa cao sâu vừa thâm thúy vì quá hiển hích đúng với lời của một Từ phụ nhắn nhủ lại cùng con, tinh thần, trí não ba ông càng thêm bấn loạn, vừa ngạc nhiên, vừa cảm phục văn chương và ý nghĩa bài thơ. Đây là lần đầu tiên ba ông rất thành công trong việc tiếp xúc với Thế giới vô hình. Hơn nữa lại là tình cha con dễ gây niềm tin lớn. Sau đó ông TUÂN được Đức Thượng Đế cho về một lần nữa . Thầy có đến dạy dỗ trước và báo tin cho.

Sài gòn, ngày 06-8-Bính Dần (dl: 12-9-1926)

Phò loan : Thượng Sanh -Bảo Văn Pháp Quân

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ kim viết CAO ĐÀI
Giáo Đạo Nam phương

Mầng mấy con."Mỹ Ngọc, từ đây việc nhà con an ổn, dầu điều chi, nhớ để ý rằng có Thầy bên con luôn. Đặng một việc chi chớ vội mừng, thất một việc chi chớ vội buồn, vì sự buồn vui và sự buồn tủi thường pha lẫn mà kế cận nhau. Còn sự gì phải đến cho con, ấy là tại nó phải vậy, chớ nên cượng cầu mà nghịch Thánh ý Thầy. Hãy dò theo đây mà day trở trong bước đường Đạo:

Mối Đạo từ đây ráng vẹn gìn,
Tu là khổ hạnh khá đinh ninh.
Lòng thành một tấm Trời soi xét,
Gương rạng nghìn thu nguyệt chiếu minh.
Gai gốc lần đường công trước gắng,
Thảnh thơi có lúc buổi sau dành.
Dòng trần chìm nổi từ đây dứt,
Công quả tua bền độ chúng sanh.

Thầy sẽ cho Xuất Bộ Tinh Quân đến nhập cơ.

 

Tái cầu:

CAO QUỲNH TUÂN

Mừng mấy con và mấy cháu. "DIÊU! Từ đây Thầy lấy làm vui mà thấy con đặng để bước vào đường Thánh Đạo. Vậy hãy ráng tu hạnh hầu phục hồi cựu vị. Thầy rất vui thấy CƯ và con đã đem tấm nhiệt thành mà cứu độ nhơn sanh khỏi dòng khổ hải. Ấy cũng là số phận rất may mắn của lịnh Ngọc Hoàng đã định cho con và CƯ, TẮC, SANG. Vậy Thầy có mấy lời thiết yếu cùng con sau đây:

Cựu vị ngày xưa đã có rồi,
Đường về chớ bỏ há con ôi.!
Công trình chớ nệ xây nền Đạo,
Phước mỏng đâu hay bởi tứ Trời.
Đức trước hưởng rồi tua trả đức,
Ngôi sau gìn ắt đặng an ngôi.
Từ đây son sắt vì sanh chúng,
Cảnh tịnh mai sau cũng đặng ngồi.

Thầy đã an lòng cho con và Cư, còn Đức, An, Thân, thì có lịnh Thượng Đế định phần cho chúng nó. Lượng từ đây phải ở nơi Lôi Âm Tự chầu Phật Như Lai và nghe lịnh, chừng có lịnh Thượng Đế đòi sai trấn thì nó sẽ về cùng con đặng. Thầy kiếu mấy con. (Đức: Cao Quỳnh Đức; Thân: Huệ Chương; Lượng: Cao Quỳnh Lượng. Đức, Thân, Lượng đều là con của Ngài Cao Quỳnh Diêu. An: Cao Quỳnh An, con của Ngài Cư).

Cao Quỳnh Tuân nguơn linh là
Xuất Bộ Tinh Quân ở Thượng giới

Ông Cao Quỳnh Tuân là thân phụ của các Ngài Cao Quỳnh Diêu (Bảo Văn Pháp Quân Hiệp Thiên Đài) và Cao Quỳnh Cư (Thượng Phẩm Hiệp Thiên Đài). Cơ Phổ Độ ngày nay, chính ông là người đến trước tiên trong việc Xây bàn. Ông cũng là người vén màn bí mật để làm niềm tin cho ba vị tiền khai Đại-Đạo là ba ông Cư, Tắc, Sang (sau là Thượng phẩm, Hộ Pháp,Thượng Sanh) qua bài Tự thuật. Ông Cao Quỳnh Tuân làm Cai Tổng Hàm Ninh Thượng và mất lúc Ông Diêu được 14 tuổi. ( Chữ Thầy (1) đây là cha thân sinh)

Ông Cao Quỳnh Tuân làm Cai Tổng Hàm Ninh Thượng và mất lúc Ông Diêu được 14 tuổi.

 

 

CAO SANG

高 倉
F: Noble.

Cao sang: cao quí và sang trọng

Thất Nương Diêu-Trì-Cung trả lời duyên cớ nào mà thác:

Người thời Ngọc mã với Kim đàng,
Quên kẻ Dạ đài mối thảm mang
Mình dặn lấy mình, mình lại biết
Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

 

 

CAO SẮC

高 勅
E: Order of God.
F: L’ordre de Dieu.

Cao: Ở trên cao, tài giỏi. Sắc: tờ giấy viết lịnh của vua ban ra. Cao sắc là lịnh của Ðức Chí Tôn ban ra.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Trung thành một dạ thờ cao sắc.

 

 

CAO SIÊU

高 超
F: Élevé sublime, transcendant.

Cao siêu 高 超 là Người hiền và tài giỏi vượt lên trên nhiều người khác.

Thế gian là nơi giành giựt mồi danh bã lợi, nhứt là vào thời Hạ nguơn mạt Pháp, con người vì quyền lợi trở thành hung tàn ác ngược. Đạo Cao Đài ra đời nhằm dạy con người phải biết kiêng sợ Luật Nhơn Quả để trau rèn nên người Thánh đức, biết thương yêu nhau, có lòng từ bi nhơn hậu. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có nói: "Đạo lý Thánh hiền đã hết, nếu chẳng có mối Đạo để sửa tâm tánh, thì sẽ bị danh lợi giựt giành, đưa đến tận thế."

Kinh Giải Oan có câu:

"Luật Nhơn quả để răn Thánh đức
"Cửa Luân hồi nhắc bực cao siêu."

 

 

CAO THĂNG

高 升
E: To advance in grade.
F: Monter en grade.

Cao thăng 高 升 là được thăng lên ngôi vị cao quí.

Sự tu hành nếu thuận căn thuận mạng thì hai con đường đó sẽ giúp Chơn linh cao thăng thiên vị.

Như vậy, đời người trăm tuổi phải thọ khảo dài lâu để có cơ hội rèn tâm luyện tánh, tập lòng nhẫn nại, giữ nghĩa thủy chung và nhất là gặt hái nhiều bài học hay trên đường tiến hóa về đạo đức. Sự khảo còn là một dịp để người tu trả xong nợ oan trái tiền khiên, một cơ hội nhồi hết căn quả trong một kiếp sinh phải trả hầu được rảnh rỗi, nhẹ nhàng vĩnh viễn an vui nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống "Thuận căn thuận mạng đôi đường cao thăng".

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Chuyển-luân định phẩm cao thăng,
"Hư-Vô Bát-Quái trị thần qui nguyên."

 

 

CAO THĂNG ĐẠO VỊ

高 升 道 位

Câu 05 trong bài U-Minh-Chung có câu: "Ân đức hóa thâm cao thăng Đạo vị".

 

 

CAO THÂM

深 艭
E: Hight and profound.
F: Haut et profond.

Cao: Ở trên cao, tài giỏi. Thâm: sâu. Cao thâm là cao sâu.

Thầy dạy: "ĐẠO là chi ? ĐẠO rất cao thâm mầu nhiệm, Đạo trùm càn khôn thế giới không có vật chi, không có việc chi ra khỏi ĐẠO, xin diễn tắt rằng hễ có đời tức nhiên có ĐẠO".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ðạo cao thâm, Ðạo cao thâm,
Cao bất cao, thâm bất thâm,
Cao khả xạ, hề thâm khả điếu.
Cao thâm vạn sự tại nhơn tâm.

 

 

CAO THÂM HUYỀN DIỆU

深 艭 玄 妙

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Lẽ báo ứng cao thâm huyền-diệu,
"Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.
"Đạo-Quân đức hóa háo sinh,
"Rộng quyền máy nhiệm an-linh cứu đời."

 

 

CAO THƯỢNG

高 尚
E: Supreme.
F: Suprême.

Câu đối đặt trước các cổng vào Đền Thánh như sau:

- CAO Thượng Chí-Tôn Đại-Đạo Hòa bình dân chủ mục
- ĐÀI tiền sùng bái Tam Kỳ cọng hưởng Tự do quyền.

Thầy dạy: "Trường công quả đã gần xong, Đạo Chánh truyền đã khắp chốn, mỗi đứa đều khá biết giá trị cao thượng của Đạo mà toan độ rỗi dân sanh cho kịp kỳ cuối Hạ nguơn nầy."

 

 

CAO THƯỢNG BỬU TÒA (Chi Phái)

Cao Thượng Bửu Tòa được xây dựng tại Thị xã Bạc Liêu, còn gọi là Tòa Thánh Hậu Giang, do Ông Trần Văn Tìa, đạo hiệu Chơn Sắc, chủ trương xây dựng. Ông Trần Văn Tìa qui liễu, có giáng đàn ngày 02-10-1966 tại Cao Thượng Bửu Tòa, để lời than và tự thú: "Trước kia, nếu Tệ huynh biết sẽ xảy ra cớ sự như vậy thì không xây dựng lên trụ tướng của Cao Thượng Bửu Tòa nầy, mà chỉ để tiền và nhơn lực, vật lực đó dùng vào những công tác từ thiện xã hội. Nếu biết trước và làm việc đó thì đâu còn để hậu hoạn lại cho anh em như trước hiện tình. Ðó cũng là cái trách nhiệm của Tệ huynh vẫn còn dang dở."

 

 

CAO TRIỀU PHÁT (Phái Minh Chơn Ðạo)

Ông Cao Triều Phát, tự là Thuận Ðạt, sanh ngày 18-03-Kỷ Sửu (dl: 17-04-1889) tại Vĩnh Hinh, làng Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hưng, tỉnh Bạc Liêu. Thân phụ là Cao Minh Thạnh và Thân mẫu là Tào Thị Xúc. Gia đình có 8 anh em: 6 trai và 2 gái, ông Phát thứ 5 và thứ út là Cô Cao Thị Kiết (Cao Thoại Khiết), Cửu Nương Diêu-Trì-Cung.

- 1910, ông Cao Triều Phát tốt nghiệp Trung học.

- 1912, học xong hai lớp luật do Tòa Án Sàigòn tổ chức, làm thơ ký phiên dịch tại Tòa Án Bạc Liêu.

- 1914, đi Pháp làm thông ngôn cho toán lính thợ Việt-Nam.

- 1922, trở về Việt-Nam, hoạt động chánh trị, viết cho tờ báo La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ).

- 12-11-1926, ông Phát được bầu làm Ðảng trưởng đảng Ðông Dương Lao động, cơ quan ngôn luận của đảng là Nhựt Tân báo.

- 1930, đắc cử Hội Ðồng Quản Hạt Nam Kỳ.

- 1932 ông Cao Triều Phát nhập phái Minh Chơn Lý.

- 1939, thành lập Ðoàn Thanh niên Ðạo đức.

- 15-5-Ất Dậu (dl 24-6-1945) đại hội tại Tam Giáo điện của chi Minh Tân (221 Bến Vân Ðồn Sàigòn) thành lập Cao Ðài Hiệp Nhứt 11 chi Phái (không có Toà-Thánh Tây ninh), ông Phát được bầu làm Chủ tịch.

- 1941, Tỉnh Ủy Viên Bạc Liêu là Tào Văn Tỵ vận động ông Cao Triều Phát nhập Mặt Trận Việt Minh, làm Phó Chủ tịch Ủy Ban Giải phóng dân tộc tỉnh Bạc Liêu.

- 1945,Chủ tịch Ủy Ban giải phóng dân tộc Bạc Liêu.

- 23-9-1945, quân viễn chinh Pháp trở lại đánh chiếm Sài Gòn.

- Ðầu năm 1946, quân Pháp chiếm Bạc Liêu, ông Cao Triều Phát rút về Giồng Bướm huyện Giá Rai, lập chiến khu kháng chiến cứu quốc. Tại đây có Tòa Thánh Ngọc Minh của Minh Chơn Ðạo được dùng làm trụ sở Trung ương của Kháng chiến.

- 15-4-1946, Pháp đem đại quân cùng phi cơ ném bom đánh Giồng Bướm, Tòa Thánh Ngọc Minh bị trúng bom sụp đổ, Cao Triều Phát rút binh về Cái Nước. Khu Bộ trưởng Chiến khu 9 là Vũ Ðức (tức Hoàng Ðình Giong) mời ông Phát về Bộ Chỉ Huy Chiến khu 9.

- 1948, Hồ Chủ tịch ở Bắc gởi thư khen ngợi ông Cao Triều Phát, đồng thời tặng ảnh và áo để kỹ niệm.

- Tháng 12-1946, thành lập Kỳ Bộ Việt Minh Nam Bộ tại chiến khu Ðồng Tháp Mười, do Hà Huy Giáp làm Chủ nhiệm, Cao Triều Phát được bầu làm Chủ nhiệm danh dự Kỳ Bộ.

- 15-2-1948, tại căn cứ Việt Bắc, Hồ Chủ tịch ký Sắc lịnh số 132/SL cử ông Cao Triều Phát và Nguyễn Bá Sang làm Cố Vấn Ủy Ban Kháng chiến Hành Chánh Nam Bộ.

- 14-10-1947, ông Cao Triều Phát trên cương vị Chủ tịch Cao Ðài 11 Phái Hiệp Nhứt triệu tập hội nghị đại biểu các Chi phái tại Ðồng Tháp Mười để thành lập Hội Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hợp Nhứt, với Ban Chấp hành gồm:

Chủ tịch Cao Triều Phát (phái Minh Chơn Ðạo).

Hai Phó Chủ tịch:

-Nguyễn Ngọc Nhựt (Ban Chỉnh đạo)
-Nguyễn Văn Khảm (phái Tiên Thiên).

Tổng Thơ Ký: Phạm Thị Tư (Vạn Quốc Tự)

Ủy Viên Tài Chánh kiêm Thủ Quĩ: Trần Ðại Khái (phái Tây Ninh trung thành).

Ủy Viên Truyền Tin và Giao Thông: Hoàng Minh Viễn (phái Tây Ninh trung thành).

Chủ nhiệm Kỳ Bộ Việt Minh Nam Bộ Hà Huy Giáp tuyên bố thừa nhận Hội Cao Ðài Cứu Quốc là 1 tổ chức của Kỳ Bộ.

Hội Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hợp Nhứt thành lập Hội-Thánh Duy Nhứt, gồm Hiệp-Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Cửu Viện.

Hiệp-Thiên Đài gồm 3 vị do quyền Thượng phẩm Cao Huệ Chương (phái Tây Ninh trung thành) làm chưởng quản.

Cửu Trùng Đài gồm 3 vị do Phối Sư Nguyễn Văn Năm (Minh Chơn Lý) làm chưởng quản.

Cửu Viện gồm 9 vị, mỗi vị coi một viện.

Hội Cao Ðài Cứu Quốc thành lập thêm 2 đoàn thể:

- Thanh niên Cao Ðài Cứu quốc,
- Phụ nữ Cao Ðài Cứu quốc.

-19-10-1948, Ðại Hội Nhơn Sanh Hội Thánh Duy Nhứt bầu hai vị chưởng quản hai Ðài:

Thái Chưởng Pháp Cao Triều Phát (Minh Chơn Ðạo) làm quyền Chưởng quản Cửu Trùng Ðài.
Tiếp Ðạo Phạm Hồng Tiên (Ban Chỉnh Ðạo) làm quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài.

- Hiệp định Genève ký kết ngày 21-7-1954,Việt Nam tạm phân hai miền Nam Bắc, Cà Mau là một trong những khu vực tập trung cán bộ và bộ đội trong 200 ngày trước khi xuống tàu tập kết ra Bắc. Ông Cao Triều Phát triệu tập Hội Thánh Duy nhứt và Hội Cao Ðài Cứu Quốc tại Cà Mau để sắp đặt lại tổ chức:

- Giải thể Hội Thánh Duy Nhứt để các Chi phái tái lập Hội Thánh riêng của phái mình.

- Một số Chức sắc sẽ tập kết ra Bắc, gồm:

. Chưởng quản Cao Triều Phát.
. Ðầu Sư Nguyễn Hiền Ngô.
. Phối Sư Nguyễn Văn Khoan
. Giáo Sư Nguyễn Văn Khảm.
. Ông Hoàng Minh Viễn, v.v...

- Tết Ất Mùi (dl 24-1-1955), tại Thánh Thất Hà Nội (48 phố Hòa Mã, khu phố Hai Bà Trưng) làm lễ ra mắt Hội Thánh Cao Ðài tại Hà Nội mà đứng đầu là Giáo Tông Cao Triều Phát, có đại diện chánh quyền và Mặt trận Liên Việt đến dự.

- 08-09-1956, ông Cao Triều Phát mất tại Bệnh Viện B303 Hà Nội lúc 2 giờ chiều. Chánh phủ tổ chức lễ tang rất long trọng, thi hài được an táng tại nghĩa trang Nam Kỳ (số 32 đường Nguyễn Công Trứ, Hà Nội).

- 1983, gia đình bốc mộ, hỏa táng, đem tro hài cốt về Sài Gòn, thờ tại tư gia số 4 đường Ðặng Tất, phường Tân định, Quận I.

- 21-5-2000, tiểu sành đựng hài cốt của ông Cao Triều Phát được đưa lên đặt tại Phòng số 2 của Nhà Lưu hài cốt tại nghĩa trang Thành phố. (Viết theo quyển: Cao Triều Phát, Nghĩa khí Nam bộ, của Phan Văn Hoàng, nhà xuất bản Trẻ)

 

 

CÁO PHÓ

吿 訃
E: Death notice.
F: Avis de funérailles.

Cáo: Báo cho biết, trình lên cho biết. Phó: báo tang. Cáo phó là báo cho mọi người biết cái chết của một người thân của mình và cho biết chương trình tang lễ.

 

 

CÁO TỪ TỔ

告 辭 祖
E: To announce to ancestors.
F: Annoncer aux ancêtres.

Cáo Từ Tổ là lễ cúng Cửu Huyền Thất Tổ nhằm ý nghĩa để báo cáo với Tổ Tiên, Ông Bà là trong dòng họ có một người thuộc hàng con cháu mới vừa qui vị.

Mỗi gia đình người tín đồ Cao Đài, ngoài Thiên Bàn thờ tại tư gia ra, tất cả đều phải có bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ vì nó thể hiện tôn chỉ Nho Tông chuyển thế của nền Đại Đạo.

Trước hết, Chức Việc và tang quyến đến Thiên Bàn cầu nguyện Chí Tôn, không đọc Kinh vì mới thiết lễ cúng Thầy hồi tẩn liệm. Cáo Từ Tổ theo nghi châm chước, có hai lễ sĩ mặc áo xanh đậm đứng xướng lễ, tang chủ quì, tay bắt Ấn Tý, lạy theo hàng Thần vị: Lạy 3 lạy. Có hai vị tiếp lễ nam (nếu người chết là phái nam), hoặc nữ (nếu người chết là phái nữ). Đồng nhi đọc bài "kinh Cầu Tổ Phụ Qui Liễu" (một lần), tang quyến phủ phục, tiếp đọc kinh Cứu khổ (ba lần), tang quyến quì thẳng gối.

Sau đây là nghi tiết Cáo Từ Tổ do hai lễ sĩ hầu hai bên Bàn thờ xướng:

1-

 

Tử tôn tựu vị (Con cháu đứng vào vị trí).
Người chủ tế đứng trước, theo thứ tự lớn trước nhỏ sau.

2-

 

Giai quì (Tất cả đều quì).
 Tất cả con cháu xá ba xá, rồi quì xuống hết.

3-

 

Phần hương (Đốt nhang).
 Hai vị tiếp lễ đốt 3 cây nhang đưa cho người chủ tế.

4-

 

Nguyện hương (Đưa nhang cầu nguyện).

5-

 

Thượng hương (Dâng nhang lên).

6-

 

Cúc cung bái (Tất cả lạy 3 lạy).

7-

 

Chước tửu (Rót rượu).

8-

 

Cúc cung bái (Lạy 3 lạy).

9-

 

Ai chúc (Đọc bài chúc, tức Kinh tế lễ):
Con cháu quì phủ phục khi đồng nhi tụng bài Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu, quì thẳng gối khi đồng nhi tụng ba bài Kinh Cứu Khổ.

10-

 

Cúc cung bái (Lạy 3 lạy)

11-

 

Điểm trà (Châm nước trà).

12-

 

Cúc cung bái (Lạy 3 lạy)

13-

 

Hưng bình thân (Đứng dậy).

14-

 

Tử tôn dĩ hạ giai xuất (Con cháu bước ra).

15-

 

Lễ thành (Lễ đã xong)

Tóm lại: Cáo Từ tổ là cáo trình với Từ đường Tổ phụ, hay nói cho dễ hiểu tức là trình thưa với Ông bà Tổ phụ.

Khi đưa Linh cữu: Cúng Thầy trước, rồi làm Lễ CÁO TỪ TỔ. Khi làm Lễ Cáo từ Tổ thì tụng kinh Cầu tổ phụ (3 lần) và tiếp tụng Kinh Cứu khổ (3 lần) Hễ dứt thì niệm câu Chú của Thầy (3 lần). Kế làm lễ Khiển điện, làm Lễ Nho.

 

 

CĂN


F: Racine, base.

Căn 根 là Cái gốc rễ. Những hành vi từ một hay nhiều kiếp trước, dù thiện hay dù ác đều gây tạo nên một gốc rễ để báo ứng cho kiếp này hay kiếp sau. Nếu việc làm lành, gọi là thiện căn 善根 thì tạo phúc đức cho người làm hưởng, nếu việc làm hung dữ, gọi là ác căn 惡根 thì gây quả báo cho người làm phải trả.

Bài Kinh Tắm Thánh có câu:

"Căn xưa ví dữ cũng hiền,
"Dầu ra cửa tội đủ quyền cao siêu."

 

 

CĂN CÔ TRUẤT QUẢ KỈNH LÃO HÒA ẤU,
CÔN TRÙNG THẢO MỘC DU BẤT KHẢ THƯƠNG

Phật-Giáo thì lấy câu Từ-bi Bác-ái làm trọng. Tiên-Giáo Ðức Thái-Thượng dạy: "Căn cô truất quả kỉnh lão hòa ấu côn trùng thảo-mộc du bất khả thương".

 

 

CĂN CỨ PHỔ THÔNG CHÁNH GIÁO

根 據 普 通 正 教

Do thơ đề ngày 22-3-1953 của Cụ Nguyễn-Minh Khôi dâng lên Đức Hộ-Pháp.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Tư cho Quyền Thượng Chánh Phối-Sư xem và tiếp-tục thi-hành theo lời xin của Cụ Nguyễn-Minh-Khôi, do Khâm mạng Quí đã giao quyền lập Thánh-Thể nơi Tỉnh Nam-Định là một nơi sanh lắm nhơn-tài lỗi-lạc đất Bắc-Việt đương giờ này cũng vậy. Ấy một nơi đáng làm căn-cứ Phổ-thông Chánh giáo. Gian nhà tuy Đạo-hữu phải mua đắt giá, song biết đâu sự đắt giá đó sẽ gây Đại nghiệp cho tương-lai toàn Đạo nơi đất Bắc, ta nên chấp thuận liền. Giao sứ mạng và cho đủ văn-kiện Kinh Sách cho Cụ Khôi truyền giáo. Một cụ lão-thành cả quyền Đời tôn trọng rất xứng đáng làm đại-diện yếu-trọng của Đạo. Hiền-Huynh nhơn-danh Bần-Đạo cám ơn hậu-tình của Quan Thủ-Hiến và Quan Tỉnh Trưởng Nam-Định đối cùng Đạo. Phải trả tờ giao-kèo lại cho Cụ Khôi với thơ bảo-kê." [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

CĂN DUYÊN

根 延
E: Cause.
F: Origine.

Căn: Rễ cây, chỉ cái gốc rễ của sự việc. Duyên: mối dây ràng buộc định sẵn từ trước. Căn duyên là mối dây ràng buộc được định bởi cái nghiệp của mỗi người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Trước có căn duyên ở Ngọc cung.

 

 

CĂN KIẾP

根 劫

Thánh Giáo Đức Phật Mẫu dạy:

Chưa ai vào đến cõi trần nầy,
Chẳng thọ lấy Chơn Thần tay Thiếp.
Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp,
Rồi dắt dìu cho hiệp với Cha.

 

 

CĂN NGHIỆT

根 孼
E: Evil origin.
F: Origine mauvaise.

Căn: Rễ cây, chỉ cái gốc rễ của sự việc. Nghiệt: cái mầm ác, nghiệp ác. Căn nghiệt là cái nghiệp ác có gốc rễ từ kiếp trước, mà trong kiếp nầy mình phải đền trả.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cương tỏa đương thời đã giải vây,
Ðừng mơ căn nghiệt một đời nầy.
Hữu duyên độ thấu nguồn Chơn Ðạo,
Tu niệm khuyên bền chí chớ lay.

 

 

CĂN PHẦN

根 份

Ngày 24-6-1926 Ðức Chí Tôn ban Thi cho ông Thanh Thủy (Cao Hoài Sang - Thượng Sanh Hiệp Thiên-Đài). Ông có thêm Đạo hiệu là Thanh Thủy, nhưng Ngài ít dùng Đạo hiệu này, nên không được nhiều nhiều người biết.

Ðã có căn phần dựa cảnh Tiên,
Bước đời chớ quản bậc sang hèn.
Mưa mai nắng xế chờ qua khỏi,
Ðêm tối lần ra gặp ánh đèn.

 

 

CĂN QUẢ SỐ

根 果 數

Căn quả số là Mệnh số của mỗi con người do căn quả hay những hành vi thiện ác nơi trần gian trong kiếp trước tạo nên.

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu:

"Cung bắc Đẩu xem căn quả số,
"Học triều nghi vào ở Linh Tiêu."

 

 

CĂN SANH & CĂN SINH

根 生
A: Origin of the life.
P: Origine de la vie.

Căn 根: rễ, gốc rễ, nguồn phát xuất ban đầu; Sanh 生: Sống, nguồn sống, sự sống.

1) Căn sanh: Nguồn gốc ban đầu của con người là Thượng Đế sanh ra, phải có "Căn sanh" mới được gặp gỡ.

Đức Chí Tôn giáng cơ dạy: "Đạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Đạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào đường Cực Lạc, thoát đọa Tam Đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt lại ăn năn vô ích".

Thanh Tâm Tài Nữ đón đường Đức Chí-Tôn:

Trong đàn cơ lúc 21 giờ đêm 12-1-Quí Dậu, một Chơn linh xưng là Thanh Tâm Tài Nữ cho Đức Hộ Pháp biết là Bà đi tái kiếp ở Hồng Mao (Anh Quốc) Bà than rằng không duyên may mắn để gặp được Đức Chí Tôn.

Bà tâm sự: "Em nghe Chí Tôn nơi này, chạy theo nơi nầy không gặp. Em nghe nói nơi khác, chạy nơi khác, cũng không gặp. Hỏi ra thì Em khiếm khổ hạnh nên khó phép thấy Người, nên quyết luân hồi chịu khổ hạnh hầu gặp cho đặng, kẻo ức. Thương quá đỗi thương mà chưa từng thấy mặt.

Thưa mấy chị, đã may duyên gần gũi hình bóng của Người, ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm!

Cái oan nghiệt kiếp sanh đáng ghê sợ chưa bằng không gặp mặt Chí Tôn, vì lẽ ấy mà biết bao nhiêu Tiên, Phật hạ trần chịu khổ. Xin mấy chị nghe Thi:

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,
Ai ai đừng tưởng dễ như chơi.
Nghe danh như chất chồng bên gối,
Cổ Phật không duyên khó gặp Người.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

2) Căn sinh là cái gốc rễ của cuộc sống, tức là tất cả hành vi của con người đã gây ra nơi cõi trần trong kiếp sống trước sẽ định cái số phận của con người ấy trong kiếp sống hiện tại.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Đài Chiếu-giám cảnh minh nhẹ bước,
"Xem rõ-ràng tội phước căn sinh.
"Lần vào cung Ngọc diệt hình,
"Khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên."

 

 

CĂN-TA-CA (Kantaka)

Căn-Ta-Ca là Phiên âm từ Phạn ngữ Kantaka, Hán dịch là Càn Trắc (hay Kiền Trắc) là con ngựa của Thái tử Tất Đạt Đa (Sĩ-Đạt-Ta), lúc nửa đêm chở Ngài cùng với quan giữ ngựa là Xa-Nặc, bỏ cung vàng điện ngọc để đi đến nơi thâm sơn cùng cốc mà tu hành. Sau đó, Ngài bảo ông Xa Nặc dẫn con ngựa Kiền-Trắc trở về hoàng thành. Về đến thành, con Kiền Trắc liền bỏ ăn rồi chết.

Kinh Khi Về có câu:

"Căn-Ta-Ca đỡ bước đi,
"Ra thành Phật Tổ gặp kỳ ly cung."

 

 

CĂN TU

根 修

"Vậy mọi việc hành trình khá nhớ căn tu là gốc, làm điều chi phải thuận theo Thiên mạng là toàn thắng với danh nghĩa "Vì Đạo cứu Đời" thì có Đức Lý cùng Qua thị chứng. Các em cứ tiến hành."

 

 

CĂN XƯA QUẢ TRƯỚC

Chính là nguồn gốc của mỗi người và kết quả những việc làm thiện ác trong kiếp trước đã gây ra, may duyên buổi này gặp Đạo Trời khai mở là phương thoát tục không lo sám hối lại còn gây lắm điều phiền toái, hại Đạo.

Đức Lý dạy: "Hiền hữu cũng nên giữ lời Thánh giáo của Ðức Từ Bi, hễ ai biết phục theo luật định của Hội Thánh Công Ðồng thì đặng phép dâng sớ cho Lão định đoạt. Nhiều kẻ lại tư lịnh, muốn mở riêng đường khác, đặng dìu nhơn sanh vào lối quanh co. Hại thay! mà cũng tiếc thay! Căn xưa quả trước chẳng chịu lo đền bồi, lại tự dẫn mình vào nơi hang thẵm, sau kết cuộc ra thế nào sẽ thấy."

Kinh Đệ Cửu Cửu có câu

"Cung Bắc-Đẩu xem căn quả số,
"Học triều-nghi vào ở Linh-Tiêu.
"Ngọc-Hư-Cung, sắc lịnh kêu,
"Thưởng, phong, trừng trị, phân điều đọa thăng."

 

 

CẮT ÁI LY GIA

Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng nói: "Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cắt ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào, thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc. Ấy là cử chỉ của các bậc Thánh trước tìm mối Chơn đạo như thế. Chư Đạo hữu nên ghi."

Giáo Hữu phải ly gia cắt ái:

Đức Lý dạy: "Hộ Pháp, Hiền Hữu nhớ kỹ lại, hàng Giáo Hữu là Thánh thể, luật định phải phế đời hành đạo, do nơi Hiền Hữu ban phép giải thể. Những vị Lễ Sanh như: Ấn, Bắc, Lương thì Hiền Hữu xem coi có cắt ái ly gia không mà cầu phong Giáo Hữu?"

 

 

CẤM CÁC VĂN PHÒNG LẬP THIÊN BÀN THỜ CHÍ TÔN

Đơn của Chức-Sắc và Chức-Việc nơi Đệ Tứ kiện Đầu Phận và bảy Hương-đạo về việc dẹp Bàn-Thờ Chí Tôn kêu gánh hát về hát.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Văn-phòng cất là làm việc chớ chẳng phải Thánh Thất mà thờ Chí-Tôn nơi đó. Quyền Ngọc-Chánh Phối-Sư phải ra lịnh cấm các Văn-phòng lập Thiên-Bàn thờ Chí Tôn, mưu-chước ấy để tránh đi cúng nơi Đền-Thánh. Hoà Viện Hành-Chánh hiệp với Thánh-Vệ minh tra cho ra kẻ ỷ-quyền lấy Văn-phòng làm rạp hát, rồi đem nội vụ ra Pháp-Chánh. Phải ra lịnh cho gánh hát ra khỏi Văn-phòng liền." HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)

 

 

CẤM CƠ BÚT

(Cấm là một mệnh lệnh, đình chỉ ngay tức khác; Cơ Bút là việc cầu Cơ và chấp Bút) Cấm Cơ Bút là không cho nhơn sanh tự ý Cầu Cơ hay Chấp Bút mà không có lịnh của Đức Chí Tôn kể từ giờ phút ra Thánh Lịnh này. Nay lời dạy cũng như sự sắp đặt đã sẵn-sàng thì Thầy liền cấm Cơ Bút, Thầy nói rõ nguyên do:

"Đạo đã lập thành, gót trần của phần nhiều Môn đệ hầu rửa sạch bợn, nhưng các con phải chịu lắm nỗi gay-go mà gieo mối chánh-truyền cho đòan hậu tấn. Gương sáng đã giồi nên, mà con thuyền Bát Nhã phải tùy máy thiên cơ, lắm phen lắc-lở đắm chìm biết bao khách. Ấy là những Môn-đệ vô phần, đã chẳng giữ nét thanh-cao lại mượn thói vạy tà để làm cho bợn nhơ mối Đạo quí báu của Thầy đã lấy đức háo-sanh mà khai hóa. Con đã để dạ ưu-tư về mối Đạo, đã lắm lần trêu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sồng, mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đường sau mà lần đến cảnh tự-tọai thung dung tránh bớt muôn điều phiền-não. Ấy là Môn-đệ yêu dấu, khá gìn mực ấy mà đi cho cùng nẻo quanh co, cân công-quả sẽ vì phần phước mà định buổi chung qui cho mỗi đứa. Còn cuối kỳ tháng sáu đây thì Thầy phải ngưng hết Cơ Bút truyền Đạo. Các con sẽ lấy hết chí thành đã un-đúc bấy lâu mà lần hồi lập cho hoàn toàn mối Đạo. Nầy là mấy lời đinh-ninh sau rốt khá lưu tâm. Ai vạy tà nấy có phần riêng, cứ giữ nẻo thẳng đường ngay bước đến thang thiêng-liêng, chờ ngày hội-hiệp cùng Thầy. Ấy là điều quí báu đó!" (TN I/ 111)

Đức Hộ-Pháp nói: "Trong năm Bính Dần (1926) Ðức Chí Tôn giáng trần khai Ðạo phổ hóa chúng sanh làm lành lánh dữ, tức là Cơ Quan Cứu Thế. Khi mà Ðạo đã truyền bá khắp các Tỉnh rồi, qua đến ngày Rằm tháng 6 năm Ðinh Mão (1927) Ðức Lý Giáo Tông cấm cơ bút, thì chư vị Chức Sắc Ðại Thiên Phong không rõ tại sao, nhứt là Ðức Quyền Giáo Tông có lòng sở mộ về Cơ Bút đã trải qua một thời gian lắng nghe lời Thánh Giáo, nên Ðức Quyền Giáo Tông định cầu Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương đặng học hỏi về Ðạo đức".

Đức Chí-Tôn cấm Cơ Phổ-Độ.

Từ đó về sau, Đức Hộ-Pháp mới có những thư gởi cho cả chư Chức sắc Thiên phong Hiệp-Thiên Đài, đồng thời ra Thánh lịnh nói về Cơ Bút. Bởi:

"Nghĩ vì Cơ bút đã đủ quyền tạo Đạo đặng thì nó cũng đủ quyền diệt Đạo đặng. Vì cớ mà Đức Chí Tôn đã cấm Cơ Phổ độ."

 

Hộ-Pháp-Đường

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tứ thập bát niên)


Tòa Thánh - Tây Ninh

Truyền tin Thứ Nhì
Ngày 16-2-Tân Mão
(23-3-1051)


HỘ PHÁP Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

 

Gửi cho cả Chức-Sắc Thiên phong Hiệp Thiên-Đài:

CƠ BÚT là một cơ quan huyền-linh-pháp nên vẫn là hư hư thiệt thiệt, vì bất cứ mọi sự chi mà có tánh phàm của con người hùn vốn vào đó đều giả nhiều mà thiệt ít.

Cơ Bút đã đủ quyền tạo Đạo đặng mà cũng có quyền diệt Đạo đặng.

Vì cớ mà Đức Chí-Tôn đã cấm Cơ Phổ-Độ.

Một điều nguy hiểm nhứt là Cơ Bút có quyền phong cho một tên cùi phung ăn xin nơi giữa chợ ngồi địa vị Giáo Tông hay là Hộ-Pháp đặng, thì ta là người giữ gìn Chơn pháp lại càng phải oai nghiêm lắm lắm mới đặng.

Bần Đạo đã xét nét cùng các Đấng và Thánh lịnh số 6 Pháp Chánh thì làm cho chúng ta phải lưỡng lự.

Nếu dùng oai nghiêm mà trị giả dối đã đành, còn thoảng như rủi gặp thiệt ta phải tính sao? Bần Đạo đã có giải rõ, những đồng cốt là khí cụ có thể là của Trời dùng mà có thể là của Quỉ hại. Đồng cốt giả dối với Bần Đạo, Bần Đạo dám cho giả, vì cái giả của nó Bần Đạo có đủ phương làm ra thiệt. Còn các Bạn ta và em út ta nó có đặng như Bần Đạo đâu mà Bần Đạo dám cả gan để cho họ bị hại vì cái giả của đồng cốt. Đã bàn luận xong cùng các Đấng, nên Bần Đạo quyết định như vầy:

Y như Bần Đạo đã định như trước là ai cũng đặng tự do dùng Cơ Bút mà học hỏi lấy mình mà thôi, còn cấm nhặt không đặng truyền bá. Nếu bài Cơ nào học tư mà truyền bá thì Quân Đội và Thánh vệ sẽ bắt luôn người tuyên truyền và đồng tử mà giam lại đặng đợi cơ Hiệp-Thiên-Đài định phân giả hay thiệt. Nếu giả thì người tuyên truyền và đồng tử sẽ bị giao cho quyền nhà binh dùng thế nào tuỳ ý, nghĩa là xung vào Cơ Thánh vệ theo lính cho tới ngày nào tiên tri hay là huyền linh nói trong Cơ Bút thiệt hiện ra có thật đủ lẽ.

Một điều hại nhất là Cao Thượng-Phẩm nói: "Không nên để cho mấy đứa nhỏ nó ra lịnh hay là dạy lại mình chớ!"

Bần Đạo muốn hỏi rõ phải nó làm Cơ giả không thì Người cười mà nói rằng: "Quả có phần giả của nó, dầu nó cố ý hay là vô tình cũng là đáng tội".

"Hộ-Pháp để ý xét xem mấy bài văn sẽ thấy cái giả của chúng nó. Cơ Bút giả đã nhiều rồi, Hộ-pháp liệu lấy" (Lời này của Đức Lý). Thi hành Pháp-Chánh cho nghiêm nhặt.

Bất kỳ Cơ Bút nào mà ra lịnh cấm quyền Hội-Thánh không có đủ mặt Thiên phong Nhị Hữu Hình Đài và nơi Cung Đạo Đền Thánh xuất hiện ra, bắt đồng tử và kẻ tuyên truyền giam lại rồi đem ra Pháp Chánh kết án trục xuất ra khỏi Đạo. Bảo Thế xem rồi lập Thánh lịnh lại đưa cho Bần Đạo ký.

Ký tên đóng ấn: Phạm Công Tắc

 

 

Thông truyền cho cả mấy ban Chức sắc Hiệp Thiên Đài:
Thừa sử, Truyền Trạng và Luật sự tường tri.

 

Khai Pháp
(Ký tên đóng dấu)

 

Thánh lịnh cấm Cơ Bút:

THÁNH LỊNH

HỘ-PHÁP Chưởng quản Nhị Hữu hình Đài:
Hiệp-thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng giêng năm Mậu Dần (dl: 15-2-1938) giao quyền Thống nhất Chánh trị Đạo cho Hộ-Pháp nắm giữ cho tới ngày có Đầu Sư chánh vị.

Nghĩ vì Cơ Bút là một cơ quan thuộc về huyền linh pháp nên vẫn là hư hư thiệt thiệt vì bất kỳ mọi sự chi mà có tính phàm của con người phối hiệp vào đó đều giả nhiều mà thiệt ít.

Nghĩ vì Cơ Bút đã đủ quyền tạo Đạo đặng thì nó cũng đủ quyền diệt Đạo đặng, vì cớ mà Đức Chí-Tôn đã cấm cơ Phổ độ.

Nghĩ vì Đức Hộ-Pháp đã khoan hồng cho phép mỗi người được tự do dùng Cơ Bút để học riêng mà thôi, còn cấm nhặt không được truyền bá.

Nghĩ vì có nhiều người ở nhiều nơi không thực hành y như lịnh dạy, nên lúc sau này Cơ Bút giả nảy sanh quá nhiều làm cho bổn Đạo xao-xuyến phân vân, e di hại cho toàn sanh chúng.

THÁNH LỊNH

Điều thứ nhứt: Mỗi người trong bổn Đạo được phép dùng Cơ Bút học hỏi riêng mà thôi, nhưng cấm nhặt truyền bá ra ngoài.

Điều thứ nhì: Sự truyền bá ra ngoài có nghĩa là chép Thánh giáo của người học hỏi riêng rồi phân phát ra cho người khác xem hoặc tuân hành theo.

Điều thứ ba: Những người nào phạm lịnh trên đây (điều thứ nhứt và điều thứ nhì) sẽ bị nghiêm trị như sau đây:

1- Nếu bài Cơ nào để học hỏi riêng mà truyền bá ra ngoài thì Quân đội và cơ Thánh vệ được phép truy nã người tuyên truyền và đồng tử, giam cả thảy lại cho tới khi có Cơ của Hiệp-Thiên Đài định phân thiệt giả.

2- Nếu giả thì đồng tử và người tuyên truyền sẽ bị giao cho Quân đội tuỳ ý sung vào cơ binh theo lính hoặc Cơ Thánh vệ cho tới ngay nào tiên tri hay huyền linh nói trong Cơ Bút ấy thiệt hiện ra có thật cho đủ lẽ.

Điều thứ tư: bất kỳ Cơ Bút nào mà ra lịnh cầm quyền Hội-Thánh không có mặt đủ Thiên phong Nhị Hữu Hình Đài và nơi Cung Đạo Đền Thánh xuất hiện, thì Hội Thánh liền ra lịnh bắt đồng tử và người tuyên truyền Cơ Bút ấy giam lại rồi đệ nội vụ ra Pháp chánh kết án trục xuất ra khỏi Đạo.

Điều thứ năm: Vị Bảo Thế thơ ký Chánh trị Đạo, chư vị Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, vị Khai Pháp Chưởng quản bộ Pháp chánh, chư vị Quyền Thái Chánh Phối Sư, Quyền Thượng Chánh Phối sư, Quyền Ngọc Chánh Phối sư, Đạo Nhơn Chưởng quản Phước Thiện, Quyền Tổng tư lịnh Quân Đội Cao Đài chỉ huy Cơ Thánh Vệ, Khâm Thành Thánh Địa, Nữ Chánh Phối sư hành chánh và Nữ Chánh Chưởng quản Nữ phái Phước-Thiện, các tư kỳ phận lãnh thi hành Thánh Lịnh này.

Toà Thánh ngày 22 tháng 2 năm Tân Mão.
(dl: 29-3-1951)

HỘ-PHÁP Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài:
Hiệp-Thiên và Cửu Trùng
(Ấn ký.)

 

 

CẤM DỊ NGHỊ

禁 異 議

Dị nghị là sự gièm pha, bươi móc lỗi của người mà phê phán. Nhận kỹ thấy ra Thầy là một bậc Cha nhân từ đúng nghĩa. Thầy dạy từ chi tiết một. Dù là chi tiết nhưng nếu không giữ gìn nhặt-nhiệm thì hậu quả rất tai hai vô cùng:

Thầy dạy: "Các con phải hiểu rằng: Thầy là huyền diệu thế nào? Cách dạy, Thầy buộc tùy thông minh của mỗi đứa mà dạy. Dầu cho thầy phàm tục cũng phải vậy, nếu đứa nào dở mà dạy cao kỳ, nó biết đâu mà hiểu đặng. Thầy cấm, không cho dị nghị việc người, nhứt là đạo hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp; chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó:

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Ðạo tức cùng Cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn nhau cho đặng chữ hòa.

Thầy dặn các con một điều, nhứt nhứt đều đợi lịnh Thầy chẳng nên lấy tứ riêng mà phán đoán chi hết. Phận sự và trách nhiệm các con, Thầy đã định trước, song giờ ngày chưa đến; phải tuân theo lời Thầy nghe!"

Bài thơ tứ tuyệt dạy đạo buổi đầu ý nói "Chi chi cũng có Thầy ở trong" tức là "Nơi lòng Thầy ngự động thầy hay". Buổi đầu, hai ông CƯ- TẮC đem Cơ đi đến từng chùa, từng nhà để Đức Chí Tôn giáng dạy Đạo. Tùy theo người hầu đàn, tùy theo trí thức hay nông dân, linh động mà dìu dẫn họ vào đường đạo lý: có khi triết lý, có khi chính trị, việc đời hay gia sự. Cơ Bút đều đáp ứng rất thỏa đáng theo lời cầu xin. Dù vậy, có những việc xảy ra bất bình thường mắt phàm không thể nào hiểu được, nên mới có lời xầm xì bàn kín với nhau nhưng Đức Chí Tôn vẫn biết rõ: Một hôm, Ơn Trên giáng phong cho ông Huyện Nguyễn-Ngọc-Thơ phẩm Phối sư. Ông vốn làm nghề thầu khoán cho Pháp, nên các ông Trương Hữu Đức, Nguyễn Trung Hậu, Trần Duy Nghĩa xúm nhau dị nghị nói với nhau:

- Il n' était pas propre ! (ông ấy không trong sạch)

Bỗng nhiên, hai tay ông Trần Duy Nghĩa run lên tiếp điển phò cơ. Ơn trên dạy: Thầy muốn tận độ chúng sanh, cho nên có khi Thầy cũng phải làm ông thầy phàm. Nếu các con biết lẽ Đạo thì từ nay Thầy cấm dị nghị. Dù vậy, tiếng đời vẫn kích bác cho rằng kẻ giàu sang được phẩm tước cao trọng. Thế nên, ông Cao Quỳnh Cư bạch Thầy và được Ơn trên dạy:

- Tiền bạc của chúng nó là của chúng sanh. Thầy lấy tiền đó để Phổ Độ chúng sanh thì có sao đâu?"

 

 

CẤM RƯỚC BAN HÁT VỀ THỦ LỢI

Do đơn của Lưu-Kim-Anh xin hát cải-lương.

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối-Sư ra lịnh cấm và cho hay trước rằng: đã cấm bất kỳ là nhơn-viên cơ quan nào cùng Đạo-Hữu nơi Thánh-Địa đến Sài-Gòn rước bạn hát về Thánh-Địa đặng thủ-lợi nữa. Ai không tuân thì sẽ không đặng phép cho, còn bị 15 ngày tụng niệm nơi Đền-Thánh là khác. [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

CẦM CÂY HUỆ KIẾM

Đức Hộ-Pháp nói: "Các Chi phái buổi nọ dùng cường quyền mà đoạt vị, không lẽ Bần-Ðạo là Hộ-Pháp nắm giữ chơn truyền trong tay đây, mà để cho nó đoạt ngôi soán vị như các đời vua chúa từ trước, để lưu lại cho nền Chơn-giáo của Chí Tôn sao ? May thay, quyền ấy chưa xung đột được Chánh giáo của Chí-Tôn. Nó đã bại trận, bởi Thánh-Thể của Ngài có người cầm luật pháp oai nghiêm, tức là CẦM CÂY HUỆ-KIẾM trong tay đặng gìn giữ nền Tôn-giáo nên hình được, nó nên được tức tạo cho thiên hạ được, nó đã tạo oai quyền của nó thành tướng đặng, thì tạo quyền cho nhơn sanh nơi mặt địa cầu nầy về tương lai đặng. (Ðền Thánh, thời Tý đêm 15-12-Mậu Tý - 1949)

 

 

CẨM GIANG (Sông)

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"Đất Thánh là nơi tạm gởi Thánh-Cốt con cái Đức Chí Tôn cho đến ngày mãn một đời Giáo-Tông, là thiêu cốt lấy tro làm nên một khối lớn đem vô để nơi hầm Bát-Quái-Đài, tro đầu tiên Hạ Đơn-Điền, tay chơn là đem vô khối ấy, có dư bao nhiêu thì có lễ long-trọng đem xuống sông Cẩm-Giang đổ. Cẩm Giang tức là Thánh Giang như sông Gange vậy. [ HỘ-PHÁP (Ấn-Ký) ]

 

 

CÂN CÔNG BÌNH

斤 公 平

Đức Hộ-Pháp nói: "Mặt cân công-bình thiên-hạ gọi là công-lý mà thế gian này chưa có công-lý, mạnh thì công-lý của họ khác, giàu thì công-lý của họ khác, sang thì công-lý của họ khác, vinh hiển thì công-lý của họ khác, nghèo thì công-lý của họ khác."

 

 

CÂN CÔNG BÌNH Ở PHÍA TRƯỚC ĐỀN THÁNH

 

 
   

Trên plafond tại Tịnh Tâm Điện, có vẽ một cây Cân Công Bình dưới bàn tay của Đức Thượng Đế. Khi Đức Hộ-Pháp Trấn Thần cây Cân Công Bình, Ngài đi vào cửa Đền Thánh, đứng ngay ngó vào Tịnh Tâm Điện, Trấn Thần cái Cân trên ngưỡng cửa. Ngài nói: "Từ đây, cái Cân Công Bình thiêng liêng của Đức Chí Tôn đã biến tướng thiệt hiện ở thế gian nầy để phân công chiết tội mà định phẩm vị Tòa sen cho toàn con cái của Ngài".

Đức Hộ-Pháp nói: "Kế thấy một cây Cân Công-Bình hiện ra trước mắt chúng ta rồi cũng từ từ biến mất. Chúng ta thấy mình chẳng khác nào như khán-giả đứng trước Đài kia coi cả kiếp sanh chúng ta từ trước nó sẽ có trước mắt chúng ta, không điều gì sót. Mỗi khi mình hành-động gì trong kiếp sanh khi xưa hôm nay đều ngó thấy trước mặt và Cân ấy tùy theo nên, hư, tội phước mà hiện tượng ra hết thảy, quyết đoán một cách công-bình không sai chút nào hết, phải chăng đó là huyền bí của Tòa Thiêng-Liêng ấy. Vậy hành tàng đã có trước mắt, luật Tam-Giáo chẳng hề sai chạy. Kiếp sanh đã làm gì Đời hay Đạo, mặt Luật Thiêng-Liêng không sót một điều, chúng ta muốn coi cái Bí-Pháp sửa trị ra sao, đi vô đó thì biết."

Ổng bước ra đứng ngay chánh giữa ngó ngay Bần Đạo, dường như thể biểu con coi đây. Ngó ngay lên Ổng, thấy Đạo hào quang chiếu diệu ra, tay cầm cây gậy coi đẹp lắm. Cây gậy của Ổng quảy cái bầu, bên mình Ổng mang một cái bị, mặc bộ đồ Ngọc Hoàng Thượng Đế, nắm ngang cây gậy trên tay thành cây đòn cân, Ổng kéo cái bầu ra thành cái giá cân, Ổng kéo cái bị ra thành cái trái cân. Ba món ấy hiệp lại thành cây cân Thiêng Liêng mà chính mình đã thấy Ổng tại nơi Linh Tiêu Điện.

Nhưng ở thế "Về mặt cân công-bình thiên-hạ gọi là công-lý mà thế gian này chưa có công-lý, mạnh thì công-lý của họ khác, giàu thì công-lý của họ khác, sang thì công-lý của họ khác, vinh hiển thì công-lý của họ khác, nghèo thì công-lý của họ khác". Con người sanh trên mặt thế nhất nhất vật gì cũng hữu hình, tức hữu hoại, đều là giả tạm, chỉ linh hồn là thiệt tướng, bất tiêu bất diệt, khi hồn lìa khỏi xác chỉ đem theo cái tội và phước. Dầu chủng tôc nào cũng đồng chung một luật của tạo hoá, thì chính bàn tay thiên của tạo hoá mới cầm cây cân công bình đặng, chớ nơi mặt thế này mắt thấy tai nghe thì không khi nào cầm cây cân đúng lý nơi tạo hoá đặng.

 

 

CÂN CÔNG CHÁNH

斤 公 正

Đức Hộ-Pháp nói: "Có một điều khuyết-điểm chúng ta ngó thấy, một trường hỗn-loạn, tương-tàn tương-sát với nhau, vì muốn thi hành mặt công-lý, tức nhiên lấy cân công-chánh làm mô giới cả cơ quan trị thế. Nhơn-loại loạn lạc tức nhiên mặt Luật công-bình chúng ta đã ngó thấy, quả nhiên không thể chối cải cái gì được. Công-chánh là nơi miệng lưỡi loài người, tức nhiên vạn-quốc đương dùng bây giờ là một phương-pháp để lường gạt tâm-lý nhơn-loại".

 

 

CÂN ĐAI

巾 帶

(Cân: cái khăn bịt đầu, Đai: sợi dây đai thắt vòng ngang bụng của các vị quan thời xưa). Cân đai là chỉ áo mão, phẩm phục của các quan trong triều đình, là một quan lại.

Ngay trong cửa Đạo Cao Đài, những Chức sắc Thiên phong cũng có phẩm phục riêng tùy theo tước phẩm, có áo mão,là một quan Đạo vậy.

Đức Lý dạy: "Ôi! Tu thành hay không là nhờ tâm Đạo, chơn tâm, chơn tánh Thầy ban cho không lo trau-luyện, lại ham lợi chác quyền mến phẩm tước đến đỗi làm nhẹ thể Thánh danh Thầy, nạn cân đai áo mão, đời cũng như Đạo đang là trường mộng ảo gạt người xa lần cội phước là cái nguơn thỉ chơn tâm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

 

Lăng xăng xạo xự mùi chung đỉnh, vẻ cân đai, rốt cuộc cũng chẳng khác chi một giấc huỳnh lương mộng.

Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị có câu:

 

"Đẹp mình với vẻ cân đai,
"Công thầy tô điểm từ ngày ấu xuân."

Thi văn dạy Đạo:

 

Tánh tự thông minh hỏi của ai?
Ban cho nên mới rạng cân đai.

 

 

CÂN ĐAI TUẾ NGUYỆT

Cao-Quỳnh-Cư viết:

Cân đai tuế nguyệt trêu hồn bướm,
Tên tuổi phong ba lắm bụi hồng.

 

 

CÂN LƯỜNG

Thi văn dạy Đạo có câu:

Biển đổi, non dời đời phải tuyệt,
Ðức cao bền vững khó cân lường.

 

 

CẦN KIỆM

勤 儉

Gò Kén, ngày 20-1 Đinh Mão (Dl 21-2-1927) Đức Chí Tôn giáng dạy như sau: "Còn Tòa Thánh thì muốn để cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước. Từ Thầy đến lập Đạo cho đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. Các con lựa chọn nơi nào mà Hội Thánh vừa lòng thì là đẹp lòng Thầy. Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi. Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm mỗi sự chi về phương tiện mà thôi."

Thầy dạy: ngày 6-9-Bính Dần (dl: 12-10-1926)

"Vì tại sao Thầy muốn các con mặc đồ bô vải chăng?

Vì bô vải là tấm gương đạo đức, các con đã rõ đạo thì biết đức cần kiệm là đức hạnh đầu trong lúc các con còn ở thế gian nầy. Như sự lãng phí se sua ở đời nầy, Thầy cũng cho là một việc tổn đức vậy".

 

 

CẦN VƯƠNG (Phong Trào Cần Vương)

Quân Cần Vương: Tôn Thất Thuyết ở Quảng Bình làm hịch Cần Vương truyền đi các nơi, bởi vậy chỉ trừ những chỗ chung quanh Kinh thành ra, còn từ Bình Thuận trở ra cho đến Nghệ An, Thanh Hóa, chỗ nào sĩ dân cũng nổi lên, đổ cho dân bên Đạo gây thành mối loạn, rồi đến đốt phá những làng có Đạo. Sách Tây chép rằng từ đầu tháng 6 cho đến cuối tháng 8, dân bên Đạo phải 8 ông cố và hơn 2 vạn người bị giết. Thống tướng De Courcy thấy chỗ nào cũng có loạn cả, bèn trở ra Bắc Kỳ, hội các Tướng lại để bàn sự đánh dẹp. Thống tướng định sai Đại tá Pernot đem 1500 quân ở Huế ra đuổi Tôn Thất Thuyết, lại sai Thiếu tướng De Négrier đem một đạo quân đi từ Thanh Hóa đánh vào. Nhưng chính phủ ở Paris điện sang không cho Thống Tướng khởi sự dùng đại binh và lại nhân lúc bấy giờ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ có bệnh dịch tả, quân Pháp chết hại đến ba bốn nghìn người, bởi vậy cho nên việc dùng binh phải đình lại. Tại Huế thì mãi không ai biết vua Hàm Nghi ở đâu. Triều đình thì mỗi ngày một rối, việc lập Vua mới thì tuy rằng đã định rồi, nhưng còn lôi thôi chưa xong.

Đến ngày 27 tháng 7, vừa hết hạn 2 tháng của Thống tướng De Courcy hẹn cho Nguyễn Văn Tường, vả lại, bấy giờ ở Bắc Kỳ lại có nhiều người ghét Nguyễn Văn Tường xin Thống Tướng đem trị tội. Bởi vậy sang ngày 28 Thống Tướng bắt quan nguyên Phụ chính Nguyễn Văn Tường, quan Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính là thân sinh ra Tôn Thất Thuyết, đem đày ra Côn Lôn. Phạm Thận Duật đang đi Tàu thì chết, phải ném xuống bể. Nguyễn Văn Tường thì sau lại phải đày ra Hải đảo Tahiti ở Thái Bình Dương, được ít lâu cũng mất, cho đem xác về chôn ở quê nhà.

Ông Cao-Hoài-Sang bạch với Ðức Lê văn Duyệt: "Trong tình thế hiện tại, các nhóm Cần-Vương đất Việt có nên họp nhau đứng dậy làm cách mạng để thoát ách nô lệ chăng?"

Ông giáng dạy bằng một bài thi:
Mạnh yếu đôi đàng đã hiển nhiên,
Ðôi mươi năm nữa nước nhà yên.
Dằn lòng ẩn-nhẫn xem thời thế,
Ðừng vội gây nên cuộc đảo huyền.

 

 

CẦN YẾU

懃 要
F: Très important.

Đức Hộ-Pháp nói: "Kiếp sống tại thế gian này của mấy người không mấy lát, cao trọng cần yếu hay chăng là phần hồn, đừng sa xuống Địa Ngục, đừng xuống đó là hơn hết. Xuống cửa đó rồi khó giải thoát lắm, khó giải thoát lắm đa nghe.

 

 

CẨN CHÍ

謹 志
E: To inserible respectfully.
F: Inserine respectueusement.

Cẩn: Kính cẩn, tôn kính. Chí: ghi chép. Cẩn chí là ghi chép một cách kính cẩn.

Hai chữ nầy thường được đề dưới một bài văn, như bài tựa của một quyển sách hay một bài bia để tỏ ý soạn giả đã kính cẩn ghi chép. Soạn giả thường viết: Soạn giả cẩn chí (Soạn giả kính cẩn ghi chép).

 

 

CẨN NGÔN

謹 言
E: To take care the langage.
F: Prendre garde à la parole.

Hãy cẩn ngôn với các đấng:

Một hôm, một số Chức sắc đang ngồi uống trà luận đạo lý, bỗng có một ông nói: Không hiểu Bà Hớn Tiên Nương và Đường Minh Phi đẹp thế nào mà Đức Nguyễn Du trong Túy Sơn Vân Mộng ca tụng quá xá. Người gì mà:

- Mặt hoa ái ngại dường Hớn Tiên Nương tách dặm xuống lầu Tây,
- Mày liễu ủ- ê tợ Đường Minh Phi đeo sầu về ải Bắc.

Sao không nói đẹp như Mỹ Ngọc mới phải lẽ (sự thật ông chẳng những không đẹp trai mà còn ốm yếu lỏng thỏng).

Tối đêm đó có Đàn Cơ, Bát Nương về nói:

Em xin sửa hai câu thi của Nguyễn Du lại như sau:

- Mặt yêu vằn vện dường Tiêu Lực Sĩ le lưỡi trấn Tây phương,
- Mày chằn nhăn nhíu tợ Quỉ Dạ Xoa đẩy xe vào Âm phủ.

Chừng ấy, ông Mỹ Ngọc mới phục tài chơi văn của Bát Nương và hứa từ nay không dám xúc phạm đến Bà nữa. (Trích Bán Nguyệt san Thông Tin, Xuân Nhâm Tý -1972 tr.42)

 

 

CẨN TẮC VÔ ƯU

謹 則 無 憂
E: To be careful to avoid eventual trouble.
F: Qui fait attention s’évite des ennuis.

Cẩn: Kính cẩn, tôn kính. Tắc: thì. : không. Ưu: lo. Cẩn tắc vô ưu: Cẩn thận thì không lo lắng về sau.

 

 

CẤP CÔ ĐỘC (Phật Học)

給 孤 獨

Cấp Cô Ðộc cũng được gọi là Tu-đạt-đa. Trưởng giả ở Xá-vệ, sống trong thời Phật Thích-ca tại thế và là một trong những người cư sĩ nhiệt thành nhất thời đó. Ông bỏ tiền mua Kỳ viên cúng dường Phật và Tăng-già. Ðức Phật lưu lại đây phần lớn trong mùa mưa. Trong kinh sách, trưởng giả Cấp Cô Ðộc được nhắc tới như là người cúng dường nhiều nhất. Có nhiều bài giảng của Đức Phật cho ông được ghi lại trong Tăng-nhất bộ kinh.

 

 

CẤP TẾ

給 濟
E: To relieve one in need.
F: Aider les malheureux.

Cấp: giúp cho. Tế: cứu giúp. Cấp tế là cứu giúp người trong cơn hoạn nạn, bằng cách đem thuốc men, vật thực, quần áo, tiền bạc đến giúp đỡ.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Về khoản cấp tế của Phước Thiện, chẳng nên phân biệt người trong Ðạo hay người ngoài Ðời.

 

 

CẬP CHƯ HOA

及 諸 花

Thi văn dạy đạo có câu:

"Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại,
"Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.

 

 

CÂU CHÚ CỦA THẦY

"Câu Chú của Thầy" là câu niệm có tánh cách huyền bí của một Ðấng Thiêng-Liêng đặt ra để hộ trì các Môn đệ trên bước đường tu. Đặc biệt là niệm danh Thầy trong nguơn hội Cao-Đài để được giải thoát.

Trong thời Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ này, Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế giáng cơ dạy Đạo, xưng mình là Thầy, gọi các con cái của Người đang học đạo là Môn đệ. Ðức Chí Tôn dạy đạo đức cho nhơn sanh như là Thầy dạy trò, gần gũi thân mật, biểu lộ lòng thương yêu của Chí Tôn đối với chúng sanh thật vô cùng tận.

Câu Chú của Thầy tức là câu niệm Chí Tôn có 12 chữ:

"Nam-

mô 

Cao-

Ðài 

Tiên-

Ông 

Ðại 

Bồ-

Tát 

Ma-

Ha-

Tát"

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

- Nam-Mô 南 無 (đọc trại ra Nam-vô) do phiên âm từ tiếng Pali "Namô" hoặc từ tiếng Phạn "Namah", dịch nghĩa là Qui mệnh, kỉnh lễ, cúi đầu làm lễ. Từ ngữ Nam-mô thường được dùng làm chữ khởi đầu cho bất cứ câu cầu nguyện nào trong Tôn giáo.

- Cao Ðài: Cái đài cao, dùng làm nơi ngự của Ðức Chí Tôn  Ngọc Hoàng Thượng Ðế khi có Ðại hội triều đình của Ðức Ngài tại Ngọc Hư Cung - Linh Tiêu Ðiện.

- Tiên Ông: Ông Tiên, vị Tiên, một phẩm chót của Tiên giáo.

- Ðại Bồ-Tát: Nói đầy đủ là Bồ-Ðề-Tát-Ðóa, tiếng Phạn là Bodhisattva, nghĩa là người đã tự giác được bản tánh và có nhiệm vụ phổ độ chúng sanh (một phẩm chót của Phật giáo).

- Ma Ha-Tát: Nói đầy đủ là Ma-Ha-Tát-Ðóa, tiếng Phạn là Mahasattva, nghĩa là Ðại chúng sanh, tức là người có dũng tâm muốn làm việc lớn. Ðại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát là vị Bồ Tát ở phẩm bực cao trọng, xứng đáng đứng vào hàng Phật vị, nhưng vì còn nhiệm vụ cứu độ chúng sanh nên còn mang danh Bồ-Tát, hằng ngày hoá dộ chúng sanh.

Câu Chú của Thầy đặc biệt có 12 chữ là vì "số 12 là số riêng của Thầy" với ý nghĩa là bao gồm Tam giáo:

- Cao Ðài: tượng trưng Nho giáo.

- Tiên Ông: tượng trưng Lão giáo hay Tiên giáo.

- Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát: tượng trưng Phật giáo.

Ngày nay Ðức Chí Tôn dùng Câu Chú nầy có mục đích Qui nguyên Tam Giáo, tức là đem Tam giáo (Phật- Lão-Nho) về một gốc, gốc đó là Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Thầy nói: "Thập nhị Khai thiên là Thầy, Chúa cả Càn-khôn thế giái, nắm trọn Thập nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy". Do vậy mà danh xưng của Đức Cao-Đài đã gồm trọn Tam-giáo: Phật, Tiên, Thánh. Lại nữa Thánh danh này còn thể hiện một hạnh khiêm-nhường nữa, qua lời dạy của Thầy:

"Các con nghe! Các con coi bậc Chí-Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn-sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ-Tát, hai phẩm chót của Tiên Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao, tối trọng; còn Thầy thì khiêm-nhường là thế nào? Vì vậy mà nhiều kẻ Môn-Đệ cho Thầy là nhỏ… Cười!" (TNI/44)

Ngoài ra đứng về Lý Dịch mà nói thì: hai chữ "Nam mô" tượng trưng cho lý Âm Dương mà bất cứ nơi nào cũng có. Cả câu nguyện có 12 chữ, tượng cho Thập Nhị Địa Chi, tức là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dâu, Tuất, Hợi.

Nếu lấy hai chữ Nam-mô ra thì danh xưng của Thầy có 10 chữ, ấy là tượng cho Thập Thiên Can, là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Như vậy phối hợp cả Thiên Can và Địa Chi là quyền Chúa tể của Thầy đã thể hiện trong ấy, mà Kinh Phật Mẫu dạy rằng:

"Thập Thiên Can bao hàm vạn tượng,
"Tùng Địa Chi hóa trưởng Càn Khôn."

Niệm danh Thầy để được giải thoát…

Đức Hộ-Pháp giải trong Con đường Thiêng-liêng hằng sống: Hỏi thử tội tình của chúng ta đã làm trong kiếp sanh, Đức Chí-Tôn để trong phương-pháp nói rằng "Tội tình các con đầy dẫy nơi mặt địa cầu này mà đến giờ chót, các con biết kêu danh Thầy thì Thầy đến cứu".  Thầy đem bí-pháp giải thoát để trong tay các con đặng các con đoạt chơn pháp giải thoát đó vậy. Kêu danh Thầy là "Nam-Mô Cao-Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma-Ha-Tát".

 

 

CÂU CỨU KHỔ

Và Kinh Cứu Khổ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có nói: Bài kinh Cứu Khổ này là của vị Đại Thánh, có thể cứu được tù ngục, có thể cứu được bịnh nặng, có thể cứu tam tai và trăm nạn khổ "Thử kinh Đại Thánh, năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ" 此經大聖, 能救獄囚, 能救重病, 能救三災百難苦.

Thi văn dạy Đạo:

Ân xưa chưa vẹn vội đi đâu,
Thà nhắm mắt xem sự đáo đầu.
Tránh nắng che mưa thân há vẹn,
Thà câu cứu khổ miệng thường cầu.

 

 

CÂU ĐỐI

Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối 對 ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Trung Quốc và Việt Nam.

1- Nguồn gốc:

Câu đối có nguồn gốc từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên 對聯 Khi người Việt Nam sử dụng thì quen gọi là đối liễn (hay liễn đối) nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù 桃符. Câu đối được xem là "Tinh hoa" của văn-hóa chữ Hán, người Trung Quốc quan niệm: "nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa". Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia 宋史蜀世家 câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959.

Nguyên bản:

 

新 年 納 餘 慶
嘉 節 號 長 春

Phiên âm:

 

Tân niên nạp dư khánh
Gia tiết hiệu trường xuân

Dịch thơ:

 

Năm mới thừa chuyện vui
Tiết đẹp xuân còn mãi

2- Những nguyên tắc của câu đối:

Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân. Phải được đối ý và đối chữ:

Đối ý: là hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.

Đối chữ: phải xét hai phương diện thanh và loại.

- Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.

- Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây...) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru...) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho...

Vế câu đối: Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối. Khi câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.

Số chữ và các thể câu đối: Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

- Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.

- Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ Ngũ ngôn hoặc Thất ngôn.

- Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:

- Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền

- Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài

- Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.

Luật bằng trắc: Câu tiểu đối

- Vế phải: T- T- T (Trắc- Trắc- Trắc)

- Vế trái: B- B- B (Bằng- Bằng- Bằng)

- Câu đối thơ: phải theo đúng luật Bằng Trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ Ngũ ngôn hoặc Thất ngôn.

- Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải Bằng đối với Trắc hoặc Trắc đối với Bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là Trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là Bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.

Câu đối Việt Nam được phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau:

1- Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới... Nhà thơ Nguyễn Khuyến, là một nhà thơ trào phúng viết mừng một chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.

-

Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.

-  

Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm

2- Câu đối phúng: làm để viếng người chết. Cụ Phan Bội Châu đã làm đôi câu đối phúng điếu cụ trần Cao Vân như:

-

Suối vàng thêm một ma chí sĩ, xã hội mất một vị Đạo sư, liếc mắt xem âu hải phong trào, thương đoàn hậu tấn

Cựu học cũng một nhà danh gia, tân học cũng một tay cự phách, co tay kể hiện thời nhân vật, được mấy tiên sinh?

Nói về tinh thần cách mạng trong thi văn cụ Trần Cao Vân, là cốt để bày tỏ lòng ngưỡng mộ tinh thần cách mạng, ái quốc và đức hy sinh cao thượng của Ngài, vì suốt cả cuộc đời Ngài đã dâng hiến cho sự nghiệp Cách mạng quốc gia, quyết tâm chống Pháp thực dân để giải phóng giống nòi thoát vòng nô lệ. Tuy cuộc khởi nghĩa Duy Tân (ngày 04-05-1916) hoàn toàn thất bại, nhưng Ngài còn để lại thế hệ chúng ta một bài học kinh nghiệm quí giá để làm phương pháp cứu nguy dân tộc để tự bảo tự tồn. Bậc tài hoa như thế đáng cho hậu thế kính phục.

* Năm 1873 Pháp đem quân ra Bắc lần I đánh thành Hà nội, Võ Hiển khâm sai Nguyễn tri Phương tuẫn tiết. Năm 1882 Pháp đem quân ra Bắc lần II chiếm thành Thăng Long, Tổng Đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, có câu đối:

Bạn cũ có chết đâu! Bốn biển chín châu nghe tráng liệt

-

Quê ta đành nhớ mãi, mười năm hai lượt khóc anh hùng.

*Có hai nhà chí sĩ Quảng Nam bị kết tội là các thân sĩ: Trần Quí Cáp (Trần Nghi) Châu Thơ Đồng (Châu Thượng Văn) là cái chết vô cùng cảm động. Trần Quí Cáp, một tay cừ khôi trong giới cựu học, lại cũng là một lãnh tụ đề xướng tân học, chính vì tính cụ ngay thẳng, làm cho giới quan lại hồi ấy sẵn có mối ác cảm đối với cụ. Nhân vụ dân xin xâu nổi dậy, chúng tạo ra những bằng cớ vu khống cho cụ để kết cho cụ án tử hình rồi đưa lên đoạn đầu đài, sau mới tư bẩm lên triều đình Huế. Cụ Châu Thơ Đồng, lại cũng một tay cự phách trong giới cách mạng lúc bấy giờ là bạn chí thân với Cụ Sàn Nam và cụ Tiểu La. Gặp vụ dân biến ấy, cụ khẳng khái đứng ra đảm nhận hết các việc đều do mình suất sử, rồi Cụ tuyệt thực 20 hôm, chết tại lao Phủ Thừa (Huế). Có câu đối viếng:

Ngã bất năng xả sinh, nại hà tai "Trung Thiên Dịch" sơ khai, Dữu Lý thất niên tiền vị diễn.

Quân nãi năng tựu nghĩa, nan đắc giả vạn thế kính độc thủ. Thú Dương thiên tải hậu du văn.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch nôm:

-

Ta có tiếc sống đâu, ngặt vì Dịch Trung Thiên mới mở đầu, Dữu lý bảy năm chưa kịp diễn.

Người hẳn theo nghĩa đấy, khó nhất kính muôn đời hay giữ chác, Thú dương nghìn thuở vẫn còn nghe!

* Chính Nguyễn Khuyến có câu đối khóc vợ:

-

Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc

-

Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.

3- Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa...về dịp Tết Nguyên Đán. Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi:

-

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

-

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

4-Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc Thần Thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ. Với lịch sử Hồ Hoàn Kiếm mà ngày nay thấy phía trước đền Ngọc-Sơn Hà nội còn ghi lại hai câu đối:

-

Hữu quốc gia dĩ lai vượng khí kim tồn nhạc độc,

-

Trung thiên địa nhi lập Thần quang cái cổ trấn qui xà

Nghĩa là

Từ khi có quốc gia đến nay, vượng khí non sông còn mãi mãi.

Đến lúc nước nhà độc lập tự chủ, khí thiêng sông núi vẫn phù hộ nước non

Ngày xưa người ta thường dùng con vật như sư tử, voi, nêu trước quân môn biểu tượng sức hùng dũng như sư tử, mạnh khoẻ như voi để tiêu biểu sức mạnh đại hùng, đại lực của quân đội trong nước. Lịch sử nước ta còn ghi lại biết bao kỳ công di tích bằng những huyền thoại phi thường. Vật báu trời cho làm nắm kiếm, ngựa sắt bay lên mây phun lửa, nhổ cây tre đánh giặc, rùa vàng trút móng làm máy nỏ thần. Đó phải chăng là chuyện Thần Thánh bởi khí thiêng sông núi ung đúc ra để giúp cho dân tộc ta hoàn thành kỳ công của tạo hoá.? Thêm vào lịch sử hồ Hoàn kiếm mà ngày nay phía trước Đền Ngọc Sơn, Hà nội còn ghi lại hai câu đối như vầy:

-

Sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh,

Thủy bất tại thâm hữu long tắc linh.

Nghĩa là núi không cần phải cao lắm, nhưng có Thần Tiên ở và xuất hiện là núi có danh. Nước không cần sâu lắm, nhưng có giao long ở và xuất hiện là nước thiêng. Ý nói đất nước chẳng cần phải lớn rộng, miễn có một nền Đạo chánh, có ngôi anh minh Thánh triết là nước nhà đủ có tiếng. Hơn nữa dân tộc Việt tự hào Con Rồng cháu Tiên chẳng phải hổ thẹn vậy.

Tiên tắc danh long tắc linh,
Thử nhân thử địa kết thành do tâm.

Việt Nam vốn sẵn tinh thần Nho học, lấy hiếu làm đầu, có câu:

-

Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ.

Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên.

Dịch nghĩa:

Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân.

Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết

hoặc: Câu đối thờ Tuệ Tĩnh ở đền Bia:

-

 Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh

Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang

Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế.

-

Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại.

Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.

Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế:.

-

Phụ đạo sinh thành sơn nhạc trọng.

Mẫu ân cúc dục hải hà thâm.

5- Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.

Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật:

-

Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.

Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng ềnh

6- Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.

Lê Thánh Tông, câu đối đề ở hàng bán trầu (giầu), nước.

-

Nếu giầu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấm

Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng

7- Câu đối tức cảnh: là câu tả cảnh trước mắt. Hồ Xuân Hương, vịnh cảnh trượt chân, ngã xoạc cẳng.

-

Giơ tay với thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

* Cụ Trần Cao-Vân (1866-1916): Năm 13 tuổi cụ đương tùng học một trường ngay ở làng. Cụ giáo dạy học trò rất cần mẫn, ngoài giờ học chính cụ còn dạy cách làm thơ đối nữa. Nhằm đêm trăng sáng bên ngoài, nhưng trong nhà vẫn có đèn treo, nhân đây cụ giáo ra câu đối:

- Đèn treo giọi sáng bốn phương nhà

Trong hàng sĩ tử chỉ có Cao Vân là nhỏ tuổi nhất, nhưng lanh trí, đứng lên đối lại:

- Trăng tỏ khắp soi muôn cụm núi

Cụ giáo khen câu đối ấy hay và xuất sắc, tuy giản dị không có gì, nhưng ngẫu nhiên cậu bé tự phát tiết chí lớn. Lại một lần khác, trong nhà học như thường lệ, thì có một bà cụ hàng xóm đến biếu bà cụ Cử một mớ hành hương để làm giống. Bà cụ bảo "Hành này còn non mà tàn sớm thế này e giống khổng mạnh". Cụ cử nghe câu nói ngụ ý hay bèn ra câu đối:

- Hành tàn giống Khổng Mạnh.

Câu này có hai nghĩa: Một nghĩa nói giống khổng mạnh là không mạnh, không tốt. Một nghĩa chỉ cho đời người khi đáng "hành động" hay lúc đáng "thoái tàng" đều phải phép theo đạo Khổng Mạnh. Cụ Cao Vân ứng đối:

- Cải hóa con càn khôn

Câu đối này cũng có hai nghĩa: một nghĩa thông thường nói giống rau cải con, đến lúc nó "hóa" là nảy nở xanh tốt lên, thì con cải ngày "càng khôn" nghĩa là cây càng lớn. Nghĩa thứ nhì là biết cải hóa thì gần Càn Khôn (tức là hiệp với đất trời)

8- Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.

-

Tự 字 là chữ, cất giằng đầu, chữ tử 子 là con, con ai con nấy ?

Vu 于 là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh 丁 là đứa, đứa nào đứa này ?

* Thời kỳ nước Việt Nam còn chịu sự đô hộ của người Pháp: ngoài Bắc thì chịu sự bảo hộ, còn miền Nam thì bị đô hộ hoàn toàn. Tuy hoàn cảnh đất nước phải chịu chứ thực ra từ vua tới dân không ai mà không để lòng phẫn uất muốn phá đi xiềng xích lệ nô. Từ cuộc cách mạng nổi lên đánh phá tới lòng căm giận, hễ có cơ hội là bộc lộ ra ngay. Một hôm nhà vua cùng viên Toàn quyền Pháp đối đáp cao thấp với nhau, thì người Pháp ra câu đối:

- Rút ruột Vương tam phân thiên hạ.

Vua đối lại ngay:

- Chặt đầu Tây tứ hải thái bình.

Về ý tứ đã rõ rồi. Bây giờ hãy thử phân tích chữ nghĩa để thấy cái vi diệu của nó.

Câu đầu chủ yếu là chữ VƯƠNG 王 là vua, trong chữ vương này có một nét sổ xuống, nếu "rút ruột" đi tức là bỏ nét sổ ra thì còn lại chữ TAM 三 là ba.

Câu đối lại chủ yếu là chữ TÂY 西 là phương Tây, hướng Tây, nếu "chặt đầu Tây" tức là cắt bỏ phần trên của chữ Tây còn lại là chữ TỨ 四 là bốn.

Cái hay về chữ nghĩa thì cả hai đều tuyệt vời trong cách chơi câu đối, nhưng về ẩn ý lại càng cao siêu hơn nữa: Về tinh thần thì người Pháp (ở từ phương Tây đến) đặt nền thống trị lên người Việt, họ muốn dẹp bỏ chế độ vua chúa để toàn quyền cai trị đất nước này, tức là họ có ý muốn chia đất nước ta ra làm ba phần để cai trị, nên gọi là ba kỳ (kỳ là cắt, chia ra).

Vua nhà Nguyễn không phải là vừa, nói rằng nếu ta "chặt đầu" cả lũ Tây thì bốn biển sẽ được thái bình. Đó là lý đương nhiên, nhưng dù sao cũng thành những mẫu chuyện bất hủ trong làng câu đối.

9- Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.

Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ

-

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.

Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

Một hình thức chơi chữ:

-

Vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả.

Chồng tất, chồng vớ, hai chồng đều là chồng tất.

10- Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.

-

Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng.

Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

11- Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa...

-

Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già

Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại

Câu đối này có bốn chữ cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh

12- Có những vế câu đối rất khó đối như:

- Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.

Vế này khó đối vì hồi hương (cũng có nghĩa "về quê") và phụ tử (có nghĩa "cha con") đồng thời lại là tên gọi các vị thuốc bắc.

Vế đối này cũng là loại khó đối:

- Vào vụ đông trường nam bón phân bắc trồng khoai tây, Sang xuân hạ quyết tâm thu hàng tấn củ.

Vế này khó đối vì đông, tây, nam, bắc (chỉ hướng địa lý) và xuân, hạ, thu, đông (chỉ các mùa ở Việt Nam)

- Da trắng vỗ bì bạch

Vế đối này của Bà Đoàn Thị Điểm, hiện nay, có khá nhiều người đối nhưng chưa chỉnh

* Đây là câu đối lại của sứ thần Việt Nam, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Ra đối trước:

- Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan

(nghĩa là: qua cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan). Đây là vế ra câu đối của quan giữ ải Phong Luỹ, Trung Quốc:

- Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối .

(Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, mời tiên sinh đối trước).

* Thời tiền khai Đại Đạo: Ông Nguyễn Trung Hậu bạch cùng Ðấng AĂÂ rằng: Tôi còn nhớ hai câu đối thuở nay chưa ai đối được, xin đem ra cho Ngài đối chơi. Ðấng AĂÂ bèn đáp: Bần Đạo xin hầu đối, nhưng nếu đối ra không chửng, quí vị chớ cười và niệm tình Bần Đạo mà chỉnh lại cho.

- Câu đối ông Hậu ra:

Ngồi trên NGỰA đừng BÒ con NGHÉ.

Ông AĂÂ đối lại:

Cỡi lưng TRÂU chớ KHỈ thằng TÊ

- Câu đối ông Hậu ra:

NGỰA chạy MANG lạc

Ông AĂÂ đối lại:

CÒ bay LE bè

Giải nghĩa: Mỗi câu trên đều ngụ hai ý và đối rất chỉnh:

- Nghĩa 1 đều là có ý dạy bảo, khuyên răn, dặn dò.

- Nghĩa 2 là chơi chữ: Câu "ngồi trên NGỰA đừng BÒ con NGHÉ" có đến ba con vật: ngựa , bò, nghé.

Câu đối lại: cũng đủ ba con vật: Trâu, khỉ, Tê (tê giác)

Câu đối thứ nhì cũng vậy: NGỰA chạy MANG lạc

Tức nhiên nói rằng: Con ngựa thì chạy, con mang (hay Mễn) thì lạc. Câu đối lại: CÒ bay LE bè, thì rằng Con cò thì bay, con le le thì đi lè bè.

Từ đây Ông Hậu mới hết sức phục tài Ðức AĂÂ và hết lòng tin tưởng có người của thế giới vô hình và sau đó Ông Hậu nhập môn vào Đạo (Đấng AĂÂ chính là Đức Chí-Tôn)

*Thất Nương (Giải nghĩa hai câu chót) nghĩa là:

Khi Như Hoành ở Bắc Nguỵ đi thuyết chiến bên Giang Đông gặp Bạch-Hàm thì tâm đầu ý hiệp, kết làm anh em. Khi Như Hoành về Nguỵ thì anh em khó phân tay.

Như Hoành than rằng: "Bắc Nguỵ văn thiên thụ"

Bạch-Hàm than rằng: "Giang Đông nhất mộ vân"

Nghĩa là:

 

Ngó Bắc Nguỵ nghe ngàn cây đưa tiếng bạn.
Nhìn Giang Đông thấy khóm mây vẽ hình anh.

13- Đôi Liễn Tiên tri.

-

CAO như Bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng.

-

ÐÀI tại Nam phương Ðạo thống truyền

 

高 如 北 闕 人 瞻 仰

 

臺 在 南 方 道 統 傳

Đôi liễn nầy khởi đầu bằng hai chữ CAO ĐÀI, được in trên bìa của một quyển kinh Đạo Minh Sư bên Tàu, xuất hiện cuối đời nhà Minh và đầu nhà Thanh, truyền sang nước Việt Nam, cho biết trước rằng, về sau nầy tại Việt-Nam. Thượng-Đế sẽ mở ra một nền Đạo lớn, gọi là Đạo Cao Đài, qui hiệp tất cả các Tôn giáo khác.

Giải thích:

Câu 1: Cao như Huỳnh Kim Khuyết ở hướng Bắc, nhơn sanh đều chiêm ngưỡng (Cao 高 (10 nét) ở trên cao. Như: giống như. Bắc: hướng Bắc. Khuyết: cổng lớn vào đền vua. Bắc Khuyết là chỉ Huỳnh Kim Khuyết ở hướng Bắc, nơi họp Thiên triều của Thượng Đế. Nhân: nhơn sanh. Chiêm ngưỡng: trông lên với lòng kính trọng yêu mến.

Câu 2: Cái đài cao tại nước VN tượng trưng một nền đạo lớn thống quản tất cả và truyền bá khắp nơi (Đài 臺 (12 nét) cái đài xây cao lên. Tại: ở tại. Nam phương: hướng nam, chỉ miền Nam của nước Việt-Nam. Đạo: Tôn giáo. Thống: tóm vào một mối. Truyền: đưa đi khắp nơi).

Toàn nghĩa là Đạo cao như Bắc-khuyết, người ta trông lên mà chiêm-ngưỡng. Nền Đạo sẽ truyền bá khắp nơi không ngừng, mà nơi phát xuất ra mối Đạo là ở Nam phương (chỉ về miền Nam nước Việt Nam). Hai câu này cho biết Đạo Cao-Đài sẽ xuất hiện ở phương Nam mà Đức Cao-Đài làm chủ: Tức là Đấng Huyền Khung Cao Thượng-Đế Ngọc-Hoàng Đại Thiên Tôn, ngự tại phương Bắc gọi là Bắc Khuyết

Hai chữ CAO-ĐÀI 高 (10 nét) 臺 (12 nét) ngoài ý nghĩa triết lý cao thượng, còn một nghĩa về lý số là chữ Cao 10 nét và chữ Đài 12 nét, là tượng cho Thập Thiên can và Thập Nhị Địa Chi, phối hiệp lại là làm nên cuộc hóa trưởng Càn Khôn. Kinh Phật Mẫu có câu:

"Thập Thiên can bao hàm vạn tượng,
"Tùng Địa chi hóa trưởng Càn Khôn."

Nay, trong buổi Đại Đạo, đối liễn Cao Đài rất nhiều, thể hiện tinh thần Nho Tông chuyển thế đó vậy.

 

 

CÂU KINH VÔ TỰ

(Kinh là trải qua; là lời dạy của Chư Thánh, Tiên Phật dạy ra đầy đủ ý nghĩa nên được truyền tụng qua nhiều đời để học hỏi. Câu Kinh là nhiều lời Kinh kết hợp lại. Vô tự là không có chữ).

Câu Kinh vô tự có nhiều hình thức hoặc qua tâm truyền, mật truyền, hoặc qua hình ảnh có ngụ nhiều ẩn ý, "ý tại ngôn ngoại" mà hậu thế nhìn vào đoán hiểu được chứ không viết thành lời văn. Sở dĩ phải dụng Kinh vô tự là vì trình độ hiểu biết và sự tiến hóa của nhân sanh có nhiều đẳng cấp khác nhau. Nếu diễn giải ra thì chỉ có được một vài ý trong đó mà thôi, không thể nói hết những điều sâu kín, mầu nhiệm, xem như bị giới hạn trong sự hạn hẹp nào đó.

Đức Hộ-Pháp dạy ngày 15-01-Canh Dần (1950): "Chúng ta mang danh ra trước thời kỳ ngộ Đạo, đứng giữa con đường Đức Chí-Tôn đi ngang qua đầu chứ không thấy hình ảnh của Ngài, nhưng chúng ta cũng hưởng được mùi vị sống, mùi vị Thiêng liêng của Ngài, chỉ biết một điều mượn mảnh hình hài xác thịt này làm con Thuyền Bát-Nhã.độ thế cứu đời, lấy cả khối trí óc tinh thần này làm CÂU KINH VÔ TỰ đặng chuyển cả tinh thần loài người tiến triển trên mặt Nhơn Đạo của họ đặng bảo thủ cái sống còn trên mặt thế gian này, đem mảnh thân này đưa trong tay Đức Chí-Tôn cho Ngài lập phương cứu khổ, chẳng phải sống của Đời mà thôi, chúng ta còn đảm nhiệm cái sứ mạng thiêng liêng quí hóa hơn trước; chúng ta còn lấy linh hồn chúng ta làm mực thước đặng cứu vớt cái linh hồn sa đọa làm cho họ có danh giá cao trọng".

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Lần vào Cung Ngọc Diệt hình,
"Khai Kinh Vô-tự đặng nhìn quả duyên."

 

 

CÂU MÂU BIẾNG NHÁC

Kinh Sám Hối có câu:

"Đừng gặp việc câu-mâu biếng nhác,
"Mà quên lời phú-thác dặn dò."

 

 

CÂU THỜI CÂU VẬN

Thi văn dạy Đạo:

Ngọ chưa thấy bóng kế Mùi sang,
Trông đặng vinh huê hưởng chữ nhàn.
Như lúc Tử Nha đưa cán trúc,
Câu thời câu vận cá nào ăn?

 

 

CẤU Quẻ 44. Thiên Phong Cấu

 

 
   

Quẻ 44. Thiên Phong Cấu  天 風 姤

Tượng: Nho Tông chuyển thế

Quẻ này là quẻ Thiên Phong Cấu. Tốn hạ là nội Tốn, Kiền thượng là ngoại Kiền. Kiền là Thiên. Tốn là Phong, nên tên quẻ đọc là Thiên Phong Cấu.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ, vì sao sau quẻ Quải (Quyết) lại tiếp theo là quẻ Cấu?

- Trên là quẻ Quải (Quyết), quyết nghĩa là phán quyết. Hễ đã phán-quyết xong rồi, tất nhiên biết được lành dữ, phải chăng, chắc sẽ có người mà gặp-gỡ. Vậy nên sau quẻ Quyết tiếp đến quẻ Cấu.

Cấu 姤 do hai chữ họp thành: là chữ Nữ 女 là con gái và chữ Hậu 后 nghĩa là theo sau. Ví như Hoàng-Hậu là người con gái cũng là hạng trinh-liệt mới được sự hòa hợp, cùng theo sống bên vua để sinh con cái hòng nối dõi tông đường, cũng có nghĩa là gặp-gỡ. Cho nên thời Cấu người Nữ đóng một vai trò rất quan-trọng trong việc lưu tồn nòi giống mà cũng là người giữ-gìn phong-hóa, kỷ cương, giềng mối của đất nước, dân tộc được trường tồn.

Cấu nghĩa là gặp-gỡ. Theo về Tượng quẻ: Kiền là trời, Tốn là gió. Kiền trên Tốn dưới, tượng là gió đi dưới trời. Ở dưới trời tất thảy là vạn-vật, gió đi tới đâu đều có sự va chạm đến đó. Ấy là xem Tượng mà làm thành được quẻ Cấu. Lại vì từ lúc vào quẻ Thuần Kiền mà Âm tiêu hết, bây giờ nhất Âm mới sinh ở dưới cùng. Âm tình cờ mà đụng lấy Dương, cũng như người con gái tình cờ gặp người con trai mà sinh thiện cảm giữa đôi bên cũng tạo thành thời Cấu.

Thánh nhân nói rằng: Quẻ Phục tiếp sau quẻ Bác thì biết rằng: Trị sinh ra trong thời loạn! Cấu tiếp sau quẻ Quyết thì cũng biết rằng: Loạn sinh ra ở thời trị đó vậy!

Vì thế nên Thánh-nhân phòng bị khi việc chưa thấy. Quẻ Bác là quẻ 5 Âm bác một Dương. Dương bác chưa hết là đạo quân-tử chưa tiêu hết; kế tiếp sang Phục là một Dương lại sinh, thì là đạo quân-tử đã sắp lớn lên rồi. Quẻ Quyết là quẻ 5 Dương quyết một Âm, Âm quyết chưa hết cũng là tiểu nhân chưa trừ sạch được, liền tiếp theo là Cấu, thì nhứt âm đã lùi ra xa, cũng là thời của Tiểu-nhân đã khởi lên rồi. Thế mới biết cơ trời, vận nước quan-hệ ở Tiểu-nhân, quân-tử đắp đổi thịnh suy. Nhưng quân-tử thời khó vun trồng, mà tiểu nhân thì dễ nảy-nở. Nếu xét cho tường-tận Dịch Lý thì đó là điều đáng sợ.

Ðạo Nho do Ðức Khổng Tử lập tại Trung Hoa.
Tại sao có Ðạo Nho?

Tại Ngài thấy nhơn-luân buổi nọ điên đảo cũng như Ðức Lão-Tử thấy nhơn phẩm suy đồi không còn giá trị. Tâm lý nhơn sanh buổi ấy mất hẳn cái giá trị nhơn loại, mà tự mình xuống làm vật-loại. Ngài đem Nho-Giáo định luật pháp xã hội trị đạo nhơn luân làm căn bản. Hễ mình biết mình tức nhiên biết Thiên-Ðạo, biết Thiên-Ðạo mới tùng Thiên-lý, tức nhiên tùng thiêng liêng vô hình.

 

 

CẦU CƠ

求 乩
E: Seance of spiritism.
F: Evocation d’un Esprit Supérieur.

Cầu cơ hay phò loan là gồm có hai vị đồng tử, ngồi hai bên cái giỏ cơ, tay đặt vào miệng Cơ. Một lát sau điển các Đấng giáng, rồi Ngọc cơ tự động mà viết ra. Chính vì đó, người ta có thể nhờ người bên trái hay bên phải ghi lại bài Cơ vừa giáng. Thế nên, Cơ Bút có thiệt mà cũng có giả. Người trong cuộc mới hiểu rõ được việc.

Các vị sau đây được phong vị để phò cơ:

- Đức, Hậu phong Tiên Đạo phò cơ Đạo sĩ
- Cư phong Tá cơ Tiên hạc Đạo sĩ
- Tắc phong Hộ giá Tiên đồng Tá Cơ Đạo sĩ.

"Hai ông Thượng Phẩm (Cư) và Hộ Pháp (Tắc) hợp thành một cặp đồng tử chấp Cơ Phong Thánh, truyền giáo, lập Pháp chánh truyền và Tân luật, tức là Hiến chương của nền Đạo hiện giờ. Chúng ta phải nhìn nhận đầu công của hai ông này vào bực nhứt: trước hết và trên hết, Đức Chí Tôn mượn tay và thần lực của hai ông mà lập thành Đại Đạo cho đến ngày nay. Nếu không có bàn tay xây dựng của hai ông thì:

- Đâu có Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

- Đâu có chức sắc Thiên phong nam nữ

- Đâu có Hội Thánh và các cơ quan trong Đạo

- Đâu có Pháp Chánh Truyền và Tân Luật

- Đâu có đại nghiệp hiện giờ cho nhân sanh thừa hưởng" (theo Đạo sử cơ bút của Trương Hiến Pháp)

Ngoài cặp cơ Cư - Tắc còn có cặp cơ:

Sang - Diêu, Hậu - Đức, Nghĩa - Tràng, Tươi – Chương, Kim - Đãi, Mai - Nguyên, Mạnh - Phước, Thân - Vĩnh.

Dưới đây là danh tánh các Đấng giáng cơ giúp việc khai mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, từ năm Ất Sửu đến khi Ngài Thượng Phẩm được đắc phong.

1- Xuất Bộ Tinh Quân

 

2- Đấng AĂÂ

3- Cửu Vị Tiên Nương

 

4- Cửu Thiên Huyền Nữ

5- Thiên Hậu

 

6- Liên Huệ Tiên

7- Đại Tiên Trương Vĩnh Ký

 

8- Nhàn Âm Đạo Trưởng

9- Quan Thánh Đế Quân

 

10- Thần Sơn Quan Diệu Võ Tiên ông

11- Đỗ Mục Tiên

 

12- Minh Nguyệt Tiên ông

13- Bách Nhẫn Đại Tiên

 

14- Thánh Pierre.

15- Huệ Mạng Trường Phan

 

16- Tả quân Lê Văn Duyệt

17- Quí-Cao

 

18- Thổ Địa Tài Thần

19- Lý Thái Bạch

 

20- Ông Môn

21- Cao Xuân Lộc

 

22- Cao Quỳnh Tuân

23- Cao Hoài Ân.

 

 

Vì có nhiều cặp cơ, hơn nữa Đàn Cầu Kho không cung ứng cho hoàn cảnh, nên có thêm 5 đàn nữa là Chợ Lớn, Tân Kim (Cần Giuộc), Lộc Giang, Thủ Đức và Tân Định mà cặp cơ Cư - Tắc phò loan ở đây. Chính đàn này đã thâu được ông Lê Thiện Phước (sau đắc phong Bảo Thế).

 

 

CẦU ĐẠO

求 道
E: To demand to embrace Caodaism.
F: Certificat de conversion au Caodaïsme (Sớ cầu đạo).

Cầu: Tìm, xin, mong. Ðạo: tôn giáo, chỉ Ðạo Cao Ðài. Sớ: tờ giấy tâu bày lên Ðức Chí Tôn và các Ðấng thiêng liêng.

Cầu Ðạo là xin theo Ðạo để tu hành.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Con khá khuyên chư nhu đến Thánh Thất cầu Ðạo nghe.

Sớ Cầu Ðạo là tờ giấy chứng nhận một người là tín đồ của Ðạo Cao Ðài.

Khi mới nhập môn vào Ðạo Cao Ðài, tín đồ được cấp một Sớ Cầu Ðạo Tạm. Sau thời gian 6 tháng, dưới sự hướng dẫn của Bàn Trị Sự, người tín đồ biết cách thờ phượng, cúng lạy, học thuộc Kinh Cúng Tứ Thời, và học Giáo lý, ăn chay mỗi tháng 10 ngày thì được công nhận là tín đồ thiệt thọ của Ðạo, được đổi Sớ Cầu Ðạo Tạm để lấy Sớ Cầu Ðạo Thiệt Thọ.

 

 

CẦU ĐẢO

求 禱
E: To implore.
F: Implorer.

(Cầu: xin; đảo là cúng tế). Cầu đảo 求禱 là Cúng tế để cầu xin..(Cầu đảo là một hình thức bày đồ lễ cúng tế để cầu xin ân phước, nay là cầu xin nơi Chí-Tôn (Chí-Tôn: chí là rất mực, Tôn là tôn kính. Đây là Đấng Thượng Đế, nhân sanh tôn tặng Ngài là Đấng Chí-Tôn hay Ngọc Hoàng Thượng Đế)

Khi người ta phạm tội thường hay bày lễ để cầu đảo. Tương truyền, Đức Khổng Tử bị đau nặng, học trò là Tử Lộ xin Thầy bày lễ cầu nguyện để mau được khỏi bệnh. Ngài nói rằng: "Khâu chi đảo cửu hỹ" 丘之禱久矣 nghĩa là Khâu này cầu khẩn đã lâu rồi. Ý Ngài muốn nói rằng suốt đời Ngài làm điều nhơn nghĩa, như vậy lúc nào Ngài cũng cầu xin rồi vậy. Theo Ngài, nếu ai bất nhân bất nghĩa, làm điều trái đạo, mắc tội với Trời, dù có cầu xin cũng không ích gì: "Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã" 獲罪於天, 無所禱也 nghĩa là khi phải tội với Trời còn cầu xin vào đâu được nữa.!.

Nhưng người làm lỗi đến phút cuối cùng (lúc hấp hối) mới ăn năn sám hối và cầu đảo thì Đức Chí Tôn tha thứ tội tình.

Niệm danh Thầy để được giải thoát.

Đức Hộ-Pháp giải trong Con đường Thiêng-liêng hằng sống: "Hỏi thử tội tình của chúng ta đã làm trong kiếp sanh, Đức Chí-Tôn để trong phương-pháp nói rằng "Tội tình các con đầy dẫy nơi mặt địa cầu này mà đến giờ chót, các con biết kêu danh Thầy thì Thầy đến cứu", Thầy đem Bí-pháp giải thoát để trong tay các con đặng các con đoạt chơn pháp giải thoát đó vậy. Kêu danh Thầy là "Nam-Mô Cao-Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma-Ha-Tát".

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có dạy như sau: "Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi thì cũng lánh xa cửa Âm quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của Chơn hồn cầu rỗi".

Vậy, phút lâm chung cầu nguyện Đức Chí Tôn thì cũng được cứu, nhưng nên nhớ bình thường không tưởng niệm thì phút cuối cùng thường mê mẩn tâm thần làm sao mà nhớ được?

Vậy tu hành, cầu nguyện, niệm Phật ăn chay, không chỉ trong một thì gian ngắn mà được kết quả như ý muốn.

Đức tin của người tín hữu Cao Đài luôn luôn hướng về Đức Chí-Tôn mà đặt trọn vẹn, mỗi mỗi hành động đều cầu nguyện xin các Đấng hộ trì và xin được nhiều ân phước.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,
"Ðừng hãi kinh, cầu đảo Chí Tôn."

 

 

CẦU GIẢI BỆNH

求 解 病
E: To pray to God for the recovery of a sick person
F: Prier au Dieu pour le rétablissement d’un malade.

Cầu: Tìm, xin, mong. Bệnh: bịnh hoạn, ốm đau. Cầu giải bệnh là tụng kinh cầu nguyện Ðức Chí Tôn và các Ðấng thiêng liêng tha thứ oan khiên nghiệp chướng của người bịnh để người bịnh được bình phục sức khỏe.

Theo Tài liệu Hạnh Ðường huấn luyện Chức Việc Bàn Trị Sự Nam Nữ khóa Canh Tuất (năm 1970), Nghi lễ lập đàn cầu bịnh cho bổn đạo như sau:

Phương Pháp thực hành: Hành lễ trong ba đêm:

A. Khởi đêm thứ nhứt:

Vào thời Dậu, thiết lễ cúng Ðức Chí Tôn. Có thượng sớ và dâng Tam bửu: Bông, Rượu, Trà, do Chánh Trị Sự dâng sớ.

Khi bắt đầu hành lễ, nên lên nhang đèn bàn thờ Ông Bà cho trong gia quyến của bịnh nhơn cầu nguyện rồi sẽ nhập đàn.

Buộc gia quyến phải cúng Thầy để cầu nguyện. Cúng xong, bãi đàn thì tiếp tụng Kinh Di-Lạc và ba biến Cứu Khổ. (Trường hợp tụng Kinh Di-Lạc, một hay ba hiệp cũng được).

B. Ðêm thứ hai:

Cũng thời Dậu, thiết lễ cúng Thầy, không thượng sớ, chỉ đọc bài dâng Trà nhưng cũng phải có đủ Tam bửu trên bàn thờ và việc hành lễ y như đêm thứ nhứt.

C. Ðêm thứ ba:

Hành lễ như đêm thứ hai là xong nhiệm vụ của Bàn Trị Sự, nhưng nếu gia quyến yêu cầu tụng Kinh Sám Hối đêm chót thì Bàn Trị Sự buộc người trong gia quyến cũng như bịnh nhơn phải giữ việc ăn chay trọn ngày và đêm để tụng Kinh Sám Hối. Bàn Trị Sự khỏi quì tụng Kinh Sám Hối (để trọn cho gia quyến quì).

Bàn Trị Sự chưa thọ Pháp Giải Bịnh thì làm như sau:

Khi cúng Thầy xong (chưa bãi đàn), trong gia quyến đỡ người bịnh đến trước Thiên bàn, cho bịnh nhơn lạy cầu nguyện Ðức Chí Tôn, vị chứng đàn vào quì cầu nguyện Chí Tôn, thỉnh ly rượu giữa để rửa mặt cho bịnh nhơn, kế thỉnh hai tách nước (nước trắng và nước trà), cầu nguyện Chí Tôn xong, ký tế lại (nghĩa là kê hai miệng tách lại, đổ thống nhứt xuống một tách khác), rồi cho người bịnh niệm Câu Chú của Thầy mà uống.

Trừ dư, nếu có vị Chức sắc thọ Pháp Giải Bịnh thì tùng người mà hành lễ.

 

 

CẦU HỒN

求 魂
E: To pray for soul of death.
F: Prier pour l’âme du défunt.

Cầu hồn là một nghi thức Tôn giáo cầu cho hồn người khi hấp hối hoặc khi đã tắt hơi được nghe tiếng Kinh hầu thức tỉnh mà xuất ra được nhẹ nhàng và có các Đấng dẫn đi cho khỏi lạc đường vào Bích Du Cung tức là động quỉ.

CÁCH THIẾT LỄ VỀ NGHI TIẾT
"Cầu hồn khi hấp-hối và cầu hồn khi đã chết rồi":

Dầu nhằm giờ Cúng "Tứ-Thời" hay không cũng phải thiết-lễ cúng Thầy trước. Cúng rồi thì tịnh tâm vái Thầy đặng tụng KINH CẦU-HỒN cho Đạo-Hữu trong khi hấp-hối hay vừa qui liễu. Rồi vị chứng đàn đến đứng phía trước đầu bịnh nhơn, nếu có đồng-nhi thì sắp hàng hai bên từ phía trên sắp xuống. Vị chứng đàn đứng giữa tịnh thần nghiêm-trang và kêu người bịnh hấp-hối, dầu dứt hơi rồi cũng vậy, mà nói rằng:

"Tôi vâng lịnh Đức Chí-Tôn đến tụng Kinh cho linh hồn Đạo-Hữu (1) nhẹ nhàng siêu-thăng Tịnh-độ, vậy Đạo-Hữu phải tịnh Thần mà nghe và phải cầu nguyện nơi Đức Chí-Tôn ban ơn lành cho".

Kế tụng kinh CẦU-HỒN KHI HẤP-HỐI (3 lần) mỗi khi dứt phải cúi đầu và niệm câu chú của Thầy (3 lần).

Còn như bệnh-nhơn vừa tắt hơi thì tụng kinh KHI ĐÃ CHẾT RỒI (ba lần).

(1) Lời dặn: Cầu hồn cho Chức-sắc thì kêu Thánh-danh hay là Hiền-Huynh.

Phần dẫn giải trên là hành lễ cho người có Nhập môn cầu Đạo, nghĩa là khi sống đã là Môn đệ của Đức Chí-tôn rồi. Đây là ngoại lệ:

Cầu hồn và Cầu siêu cho người chưa Nhập-Môn cầu Đạo

"Những người chưa nhập-môn cầu Đạo, chẳng luận giàu sang hay nghèo hèn, già cả hay trẻ bé, cùng đã có nhập môn rồi bị sa-ngã bỏ Đạo, mà đến giờ chót của người biết hồi tâm tin tưởng Đức CHÍ-TÔN, hay là người chết rồi mà thân-tộc người tin-tưởng Đức CHÍ-TÔN, đến rước chúng ta cầu-hồn cùng là cầu-siêu thì chúng ta cũng nên thi-ân giúp đỡ linh-hồn ấy siêu-thoát. Ấy là một điều phước-đức độ linh-hồn con cái của Đức CHÍ-TÔN y theo Chơn-Truyền tận-độ.

Song cách thể hành Đạo, Chức-sắc và Chức-việc phải làm y như vầy:

-Về việc cầu-siêu, nếu gần Thánh-Thất thì cầu-siêu nơi Thánh-Thất. Nếu ở xa Thánh-Thất thì thiết lễ cầu-siêu nơi nhà Chức-sắc hoặc Chức-việc gần đó. Nếu người trong thân chịu nhập-môn thì dễ hơn. Chức-việc cứ thượng Tượng cho nhập môn rồi thiết lễ tang sự luôn.

-Về việc cầu-hồn làm tại nhà tang-chủ:

Cầu hồn thì duy tụng bài KINH CẦU-SIÊU.

"Đầu vọng bái Tây-Phương Phật-Tổ,
"A-Di-Đà Phật độ chúng dân. .."

Tối lại cả Đạo-hữu và gia-quyến của người lâm chung phải thành tâm tụng DI-LẶC CHƠN-KINH cho tới ngày di linh-cữu. Điều trọng-yếu hơn hết là trọn tang-môn phải giữ trai giới trong mấy ngày linh-cữu còn tại tiền thì mới làm bạt-tiến cho linh-hồn giải-thoát đặng".

KINH CẦU HỒN KHI HẤP-HỐI

(Giọng Nam-Ai)

Rắp nhập cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống,
Chốn quê xưa giải mộng trần-gian.
Dìu đường thoát tục nắm phan,
Trông Kinh Bạch-Ngọc định thần giải căn.

Diêu-Trì Cung sai nàng Tiên-Nữ,
Phép Lục-Nương gìn-giữ chơn-hồn.
Tây phương Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn,
Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi-Âm.

Ớ..(tên họ kẻ qui vị)..thành tâm cầu nguyện,
Nguyện Chí-Tôn linh hiển độ sanh.
Ăn-năn sám-hối tội tình,
Xét câu minh-thệ gởi mình cõi thăng.

Dầu nghiệt-chướng số căn quả báo,
Đừng hãi-kinh cầu-đảo Chí-Tôn.
Cửa địa-ngục, khá lánh chơn,
Ngọc-Hư Cực-Lạc đon đường ruổi dong.

Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,
Dầu oan-gia tội báo buộc ràng.
Chí-Tôn xá tội giải oan,
Thánh, Thần, Tiên, Phật, cứu nàn độ vong.

Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc-Đẩu,
Kìa im-đìm phúc-hậu Nam-Tào.
Cảnh thăng trổi gót cho mau,
Xa vòng tục-lự đặng chầu CHÍ-LINH.

Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

 

 

CẦU KHẨN

求 懇

(Cầu: xin, khẩn: cấp thiết) Cầu khẩn là sự thỉnh cầu một cách khẩn cấp, tha thiết và hết sức ân cần.

Đến 1-8-Ất Sửu (dl: 18-8-1925) cô Đoàn Ngọc Quế giáng bàn, các Ngài Cư, Tắc, Sang hỏi rằng: Em còn có chị em nào nữa biết làm thi, xin cầu khẩn đến dạy ba anh em Qua làm thi. Cô Đoàn Ngọc Quế nhịp bàn trả lời: - Có chị Hớn Liên Bạch, Lục Nương, Nhứt Nương làm thi hay lắm và cô lại thêm:

"Ba anh muốn cầu thì ngày đó ba anh phải ăn chay, mới cầu được". Ba Ngài lãnh ý cô Đoàn Ngọc Quế, ngày cầu ba ông ăn chay."

Kinh Vào học có câu:

"Cầu khẩn Đấng Chơn-linh nhập thể,
"Đủ thông minh học Lễ, học Văn."

 

 

CẦU KHO (Thánh Thất Chi Phái)

Phái Cầu Kho thành hình vào năm (1930) Theo ông Quế: Cầu Kho, với chư quí Ngài: Bản, Tường. Phái Cầu Kho hiện giờ được thay thế bằng Nam Thành Thánh Thất và phạm vi hoạt động đã thu hẹp lại nhiều với tính cách một Thánh Thất thường.

 

 

CẦU NẠI HÀ

Kinh Sám Hối có câu:

"Cầu Nại-Hà bắc giăng sông lớn,
"Tội nhơn qua óc rởn dùn mình."

 

 

CẦU Ô

(Cầu là chiếc cầu bắc qua sông; Ô là con quạ cũng gọi là chim ô-thước) tức nhiên chiếc cầu do các con quạ đội cầu cho Chức Nữ và chàng Ngưu gặp nhau.

Điển tích: Theo sách Kinh Sở Tuế Thời Ký, Chức Nữ là cô gái dệt vải, là cháu của Ông Trời, rất siêng năng dệt vải. Trời đem gả cho Ngưu Lang là chàng chăn trâu nơi Thượng giới. Hai vợ chồng quá âu yếm nhau mà bê trễ bổn phận. Trời phạt đày mỗi người ở một bên sông Ngân Hà, chỉ cho gặp nhau một lần vào đêm Thất tịch (mùng 7 tháng 7 âm lịch). Đêm đó, các con chim ô-thước đưa đầu đội thành chiếc cầu bắc qua sông Ngân Hà để cho Ngưu Lang đi qua sông gặp Chức Nữ. Khi gặp nhau, vợ chồng than khóc kể lể cảnh ly biệt, nước mắt rơi xuống trần gian tạo thành các đám mưa, gọi là mưa ngâu.

Bà Đoàn viết Nữ Trung Tùng Phận có câu:

Nào khi hỏi thăm hang Từ Thức,
Nào khi dò mấy bực cầu ô.
Chừ sao kẻ Hớn người Hồ,
Để cho phòng hạnh ra mồ quạt duyên.

 

 

CẦU NGUYỆN

求 願

(Xem thêm: Sự cầu nguyện. Vần S.)

(Cầu là xin, nguyện là hứa). Đức tin thể hiện ở sự cầu nguyện. Đây là phần tâm linh của người muốn thông-công cùng với Đấng Huyền linh cầu xin một ước muốn mà khả năng của phàm thể này không làm nỗi, phải cậy sự trợ giúp của Thế-giới vô hình, của các Đấng Thiêng-Liêng để được hưởng sự Huyền diệu ấy. Nay Đạo Trời khai mở, người Tín-Hữu Cao-Đài đều có một Đức-tin mạnh-mẽ nhứt, đó là Cầu-nguyện. Vì cầu nguyện là một sự cảm ứng với Thiêng-liêng. Chính chỗ này không ai kiểm soát được, không ai thấy biết được, cũng là chỗ cao thượng của tâm-linh là vậy.

Cầu-Nguyện những gì?

Đức Hộ-Pháp thuyết đêm 01-12- Giáp Ngọ (1954):

"Chúng ta thử giở lịch-sử loài người ra xem, thì không có một thế-kỷ nào mà không có giặc-giã tàn sát lẫn nhau, giờ này chúng ta cũng thế. Các bạn đồng đạo, Tôn giáo cũng thế. Hôm nay xúm-xích nơi Đền-Thánh chung vào lòng Từ bi Bác ái vô tận vô biên của Đức Chí-Tôn để Cầu nguyện một điều là Đức Chúa Jésus-Christ sống lại, là mơ-ước thế nào nhơn loại hưởng đặng đặc ân ấy, để chia khổ não đừng tàn sát lẫn nhau, đem trở lại sự yêu-ái lẫn nhau. Nhìn nhau là bạn đồng sanh, lời cầu nguyện quí báu hơn hết với Đức Chí Tôn là cầu nguyện như thế. Bần Đạo nói Đức Chúa Jésus Christ đối với triết lý của Đức Chúa Trời như thế nào thì hôm nay đường lối của Đức Chí Tôn đến dạy chúng ta như thế ấy. Chúng ta chỉ mong mỏi có một điều là nhơn loại đặng Hòa bình mà thôi".

Muốn đến Thầy thì phải cầu nguyện:

Một người Pháp hầu đàn Thầy giáng Cơ nói: "Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy, thì trên quả địa cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả. Lại có lắm kẻ đáng thương hại tự phụ rằng họ hiểu thấu cả lẽ mầu nhiệm của Ðấng Tạo Hóa. Nhưng Thầy không bao giờ cho một kẻ nào dưới cõi trần nầy tiết lậu Thiên cơ cả. Muốn đến Thầy thì phải cầu nguyện. Thầy không bao giờ không cảm ứng với những lời cầu nguyện chơn thành. Như thế đủ chứng tỏ cho con tin rằng Thầy là Ðức Jéhovah của dân Hébreux, vị chủ tể của quân lực dân Israël, vị Thánh vô danh của dân Do Thái, Ðức Ðại Từ Phụ của Chúa Jésus Cứu Thế. Con chỉ cần cầu nguyện Thầy với danh hiệu Cao Ðài thì sẽ có sự cảm ứng chấp thuận. Con đến đây với tấm lòng thành thật để làm việc phải cho giống dân biết phục thiện hiện đang giao phó cho con. Vậy Thầy nhờ con truyền bá giáo lý nầy cho dân tộc đặt dưới quyền bảo hộ của con. Chỉ có cách đó mới có thể kềm giữ nhơn loại trong tình yêu sanh chúng và đem lại cho con một cuộc đời Hoà-bình bền bĩ".

Bài Kinh Niệm Hương có câu:

"Mùi hương lư ngọc bay xa,
"Kính thành cầu-nguyện Tiên-gia chứng lòng."

 

 

CẦU PHONG

求 封
E: To demand to vest with a dignity.
F: Demander à conférer une dignité.

1. CẦU PHONG:

Chức Việc Bàn Trị Sự đã đầy đủ công quả, hoặc các tín đồ có đại công với Ðạo được phép khai công nghiệp để xin cầu phong vào phẩm Lễ Sanh.

Ðạo Luật: Phương pháp thực hành:

- Chiếu theo Thánh giáo của Ðức Chưởng Ðạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, thì Chánh Trị Sự phải có 5 năm công nghiệp đầy đủ với chức trách của mình, sau nữa phải có Tờ Kiết Chứng Công nghiệp, Tờ Tánh Hạnh, trường chay, đạo đức, đủ tư cách, và phải độ đặng 300 người nhập môn thì mới đặng đem vào Sổ Cầu phong.

- Ngoài ra, nếu vị nào có công nghiệp vĩ đại mà có đủ bằng cớ và chiếm đặng lòng tín nhiệm của chúng sanh đồng dâng lên, hoặc công chúng hoan nghênh, thì cũng đặng dự vào Sổ Cầu phong, nhưng buộc phải là người có chơn trong Ðạo.

- Khi đã đắc phong rồi, phải về Hạnh Ðường học đạo, hoặc đi tập sự một thời gian, chừng có đủ tài đức cầm quyền hành chánh rồi mới đặng thuyên bổ.

 

 

CẦU THĂNG

求 昇
E: To demand to advance in grade.
F: Demander à avancer en grade.

2. CẦU THĂNG:

LUẬT: Chức sắc Thiên phong Nam Nữ toàn đạo phải chịu dưới quyền công nhận của Vạn linh mới đặng thăng chức hay là Vạn linh buộc tội mà bị sa thải.

- Mỗi vị Chức sắc đủ 5 năm công nghiệp và xứng đáng với chức trách của mình, mới đặng đệ ra Quyền Vạn linh công nhận.

- Nếu những Chức sắc nào dưới 5 năm công nghiệp mà có lập đặng đại công, toàn công chúng đều hoan nghinh và Tòa Ðạo minh tra đủ lẽ thì sẽ đặng đệ lên Quyền Chí Tôn cầu xin thăng thưởng.

Việc Cầu phong và Cầu thăng như vừa nói ở trên được áp dụng trong giai đoạn đầu của nền Ðạo, để Hội Thánh có đủ Chức sắc cần thiết cho việc xây dựng nền Ðạo được mau chóng, truyền bá một cách mau lẹ và rộng rãi, phổ độ nhơn sanh từ trong nước ra đến ngoại quốc.

Qua giai đoạn nầy thì việc Cầu phong và Cầu thăng của Chức Việc và Chức sắc phải chiếu y theo Tân Luật và PCT mà áp dụng. Lúc ấy thì hoàn toàn do công cử. Ðó là trường hợp các Chức sắc CTÐ Nam phái và Nữ phái.

Riêng Chức sắc HTÐ và của CQPT thì không theo Luật Công cử trong Tân Luật mà có chế độ riêng:

- Việc thăng thưởng các Chức sắc HTÐ do Ðức Phạm Hộ Pháp trọn quyền quyết định.

- Việc thăng thưởng Chức sắc của CQPT thì có Ðại Hội Phước Thiện quyết định và Ðức Phạm Hộ Pháp chuẩn y.

BTS: Bàn Trị Sự.
CTÐ: Cửu Trùng Ðài.
PCT: Pháp Chánh Truyền.
HTÐ: Hiệp Thiên Ðài.
CQPT: Cơ Quan Phước Thiện.

 

 

CẦU RỖI

E: To ask the salvation.
F: Implorer la salvation.

Cầu: Tìm, xin, mong. Rỗi: (nôm) cứu vớt khỏi ràng buộc tội lỗi. Cầu rỗi là cầu xin Ðức Chí Tôn và các Ðấng thiêng liêng cứu vớt linh hồn thoát khỏi mọi ràng buộc tội lỗi.

Pháp Chánh Truyền dạy: (Giáo Tông) "Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Ðịa Cầu và Thập Ðiện Diêm Cung, đặng cầu rỗi cho các con.

Chú Giải: Thầy đã nói, đặng cầu rỗi cho các con, thì Thầy đã chỉ rõ rằng, Giáo Tông có phần cầu rỗi mà thôi, chớ phần siêu rỗi là về quyền của Bát Quái Ðài Chưởng quản".

 

 

CẦU SIÊU

 

1- Ý-nghĩa

2- Nghi thức Cầu siêu trong Đạo Cao-Đài

3- Thực hiện Cầu Siêu

4- Giá trị của việc Cầu siêu


求 超
E: To ask the salvation of soul.
F: Demander à la salvation de l’âme.

1- Ý-nghĩa:

(Cầu 求: xin, ước nguyện bằng cả sự chân thành ở các Đấng huyền linh một sự mầu nhiệm; Siêu 超 là siêu rỗi, siêu thăng, siêu thoát). Cầu siêu là cầu xin được sự cứu rỗi linh hồn cho người quá cố. Trong quyển Thiên Đạo có nói: "Kinh Cầu Siêu rất linh nghiệm vì mỗi tiếng Kinh tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng. Sức rung động ấy, hiệp với sức tư tưởng mạnh mẽ và thành kỉnh của người tụng Kinh gây thành một mãnh lực phi thường: đánh tan Chơn Thần của âm nhơn, giúp cho họ mau giải thoát đau khổ và hình phạt Thiêng Liêng đặng đi đầu thai sớm".

Đây là một nghi thức của Tôn giáo Cao Đài luôn luôn có một sự câu thông, một sự cảm ứng với Thần linh. Sự cầu siêu có hai tác dụng:

- Nếu là một hồn kém tu, ít may mắn trong đường lập công thì sự cầu nguyện của nhiều người, hồn ấy sẽ nương theo lời Kinh mà được sự cứu rỗi.

- Nếu chơn hồn của bậc đạo đức chơn tu mà ta đến cầu siêu thì sẽ được nhiều ân phước, hồn linh sẽ ban lại cho phước đức. Dầu trường hợp nào mà đến cầu siêu cho người đã thoát xác cũng đều là sự ơn ích, gieo một thiện cảm với cảnh vô hình cùng với người hữu hình nữa.

2- Nghi thức Cầu siêu trong Đạo Cao-Đài:

Những nhà ở xa Thánh-Thất, không thể đến làm phép xác được, thì sau khi tẩn-liệm, lập một Bàn thờ vong trước linh cữu, rồi vị chứng đàn cầu nguyện Thầy (1) đặng thỉnh vong đến trước Điện tiền (2) và cũng tụng như trên đây vậy.

Lưu ý: (1) Lên nhang đèn tử-tế, không có đọc kinh cúng TỨ THỜI. Vị chứng đàn phải là Chức-sắc Thiên-phong hay là Chức-Việc: Chánh, Phó Trị-Sự hoặc Thông-Sự. Phải có hai vị Chức-Sắc hay là Chức-Việc nhỏ hơn vị chứng đàn, cầm hai cây đèn cầy đứng hai bên.

(2) Nơi Điện-tiền, sau chỗ vị chứng đàn phải để trống một chỗ, nghĩa là cho vong quì cúng Thầy và nghe tụng Kinh.

Hành lễ nơi Thánh-Thất thượng sớ kêu Điện-tiền, còn nơi tư gia thì kêu Thiên Bàn.

Đương lúc làm phép xác, phải tụng kinh:

"Đầu vọng bái Tây-Phương Phật-Tổ
"A-Di-Đà Phật độ chúng dân ..."

(Rồi tụng tiếp bài kinh "Khi Đã Chết Rồi")

"Ba mươi sáu cõi Thiên Tào,
"Nhập trong Bát-Quái mới vào Ngọc-Hư..."

Tụng như vậy ba lần, mỗi lần dứt phải cúi đầu. Sau rốt hết phải niệm câu chú của Thầy (3 lần). Tiếp tụng DI-LẶC CHƠN-KINH.

Ý nghĩa: Khi dứt thì Tụng tiếp bài kinh CẦU HỒN KHI ĐÃ CHẾT RỒI "Ba mươi sáu cõi Thiên-Tào..." vì sợ e cho vong hồn hoặc là người không tu mà Hội-Thánh mới độ hồn, hoặc Đạo-Hữu phạm thệ mà đi xuống cõi Phong-Đô, nên trước phải tụng bài Kinh Cầu Siêu "Đầu vọng-bái Tây-Phương Phật Tổ ..." hầu cho vong-hồn hồi-dương đặng rồi, thì tụng tiếp bài KINH KHI ĐÃ CHẾT RỒI "Ba mươi sáu cõi Thiên Tào..." đặng vong-hồn hưởng phép siêu-thăng Tịnh-độ. Phải tụng xen kẽ như vậy cho đủ 3 lần.... Khi dứt thì niệm câu chú: NAM-MÔ CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT (3 lần).

3- Thực hiện Cầu Siêu:

Khi Cầu siêu thì những người thân: như con cháu và quyến thuộc phải thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người chết được nhẹ nhàng.

Thực hiện lễ Cầu siêu là nhằm cầu xin Ơn Trên cứu giúp phần nào cho vong linh người chết được nhẹ nhàng, chứ không hẳn nhiên cầu là phải được siêu thoát, vì nó còn tùy thuộc vào nghiệp quả nặng nhẹ mà kiếp sanh do người chết đã gây ra. Nhưng thực tế: Cầu siêu thì cha mẹ ông bà có thể siêu thoát do sự trợ giúp đó để được phần nào được nhẹ-nhàng qua việc làm của con cháu. Nếu con cháu biết lo tu hành, lập công bồi đức để có nhiều âm chất mà đem hiến dâng cho cha mẹ ông bà thì những Chơn linh này có thể được nhẹ hơn, trở về ngôi xưa vị cũ. Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu có câu: "Thong dong cõi thọ nương hồn. Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa".

Kinh Cầu Siêu là bài Kinh tụng đọc cho các Chơn hồn mới chết hay các tuần Cầu Siêu, bạt tiến trong cửa Đạo Cao Đài để cầu xin Chí Tôn, Phật Mẫu và các Đấng Thiêng liêng: Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thất Nương Diêu Trì Cung ân xá cho vong hồn người chết được siêu thăng thoát hóa.

Nguồn gốc bài Kinh Cầu Siêu của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi là "Sám Cầu Siêu" được thỉnh từ Chi Minh Lý, tức Tam Tông Miếu bây giờ.

Khi mở Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Ðạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Ðường) dâng Kinh cho Ðại-Ðạo. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm bốn vị: Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, Thượng Giáo Sư Vương Quan Kỳ, đến Chi Minh-Lý thỉnh sáu Bài Kinh: 1-Niệm Hương 2-Khai Kinh. 3-Kinh Sám Hối. 4-Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối. 5-Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần. 6-Kinh Cầu Siêu, làm Kinh dùng trong các thời Cúng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ; trong đó có bài Kinh Cầu Siêu này.

Kinh Cầu Siêu

(Giọng Nam-Ai)

Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,
A-Di-Đà-Phật độ chúng dân,
Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,
Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc,

Đại-Thánh Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát.
Bố từ bi tế bạt vong hồn,
Cứu khổ nàn Thái-Ất Thiên-Tôn.
Miền Âm cảnh ngục môn khai giải,

Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại.
Độ kẻ lành chế cải tai ương.
Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,
Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.

Giảm hình phạt bớt đường ly tiết.
Xá linh quang tiêu diệt tiền khiên,
Đặng nhẹ nhàng thẳng đến cung Tiên.
Nơi phước địa ở yên tu luyện,

Xin Trời Phật chứng lòng sở nguyện,
Hộ thương sanh u hiển khương ninh.

Pháp Chánh Truyền dạy: "Lại nữa, Hiệp-Thiên-Đài là nơi Giáo-Tông thông công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Lục thập thất Địa cầu, Thập Điện Diêm Cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại."

4- Giá trị của việc Cầu siêu:

Đức Hộ Pháp dạy: "Mỗi khi Kinh được đọc thì âm thanh sẽ vang ra, mỗi người một âm thanh, tức một người phát ra một điển lực. Nhờ đó Chơn linh người chết, nếu hợp với điển lực đó, họ sẽ nương nhờ vào mà giải trừ oan nghiệt và tội lỗi vì người chết và tất cả những người có mặt nơi đám, biết đâu trong vô lượng kiếp trước, giữa họ và ta đã từng là người chí thân hoặc đầy dẫy oan nghiệt, tội tình, mà người chết và ta chưa từng gặp mặt nhau.

Nơi cửa Đạo Cao Đài này, ta không biết họ là ai, ta thành tâm cầu nguyện Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng ân xá và tha thứ tội tình cho họ được siêu thăng thoát hóa. Còn đối với riêng ta, ta cũng tha thứ cho họ nữa. Được như thế, lần hồi cái nợ nần, oan nghiệt, trái chủ của ta, của họ và của mọi người sẽ tự tiêu tan, kết thúc. Cho đến một ngày nào, đến khi ta thoát xác, các bạn của ta cũng tha thứ cho ta, như ta đã làm hôm nay cho những người đã qui liễu. Cái ý nghĩa này, mọi người nên biết, để khi dự lễ Cầu siêu lại đừng quên đọc Kinh với lòng cầu nguyện chân thành cho người thân yêu mong đợi".

Đức Ngài còn cho biết thêm:

"Người chết, chơn hồn còn vấn vương, lảng vảng nơi đây. Nếu trong số người dự lễ Cầu siêu có được những bậc chơn tu, đạo đức đến cầu nguyện hoặc những bậc có cấp bậc trong Tôn giáo đến cầu nguyện càng có lợi cho người chết, vì lời cầu nguyện ấy sẽ nâng đỡ linh hồn họ. Còn riêng những người Đạo, cũng có người đức độ lớn, giữ Đạo tốt đến cầu nguyện tất ảnh hưởng tới vong linh người mất".

Vong linh người chết được những tư tưởng, điển lành của mọi người đến dự lễ Cầu siêu phát ra ắt sẽ hưởng được ân huệ. Vì vậy mà Đức Hộ Pháp khuyên chúng ta nên siêng năng đi đám vừa có lợi cho người, vừa có lợi cho mình.

Trong quyển "Thiên Đạo", Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có nói đến sự tác dụng của Kinh Cầu siêu như sau: "Kinh Cầu Siêu rất linh nghiệm vì mỗi tiếng tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng. Sức rung động ấy, hiệp với sức tư tưởng mạnh mẽ và thành kỉnh của người tụng kinh gây thành một mãnh lực phi thường đánh tan Chơn thần của âm nhơn, giúp cho họ mau giải thoát đau khổ và hình phạt Thiêng Liêng đặng đi đầu thai sớm được".

 

 

CẦU SIÊU HỘI

求 超 會
E: The requiem mass.
F: La messe de requiem.

Cầu: Tìm, xin, mong. Siêu: vượt lên cao. Hội: tụ họp lại.

Lễ Cầu Siêu Hội là buổi lễ được Hội Thánh tổ chức để cúng tế và cầu siêu cho tất cả vong linh, có Ðạo hay không Ðạo, ở bất cứ ngành nghề nào, chết trong bất cứ trường hợp nào, ở bất cứ nơi đâu, được thọ hưởng hồng ân của Ðức Chí Tôn trong thời kỳ Ðại Ân Xá, tất cả đều được siêu thăng.

Lễ Cầu Siêu Hội được tổ chức mỗi năm 3 lần, vào ngày 16 âm lịch sau ngày Rằm của ba Nguơn, tức là vào các ngày:

Ngày 16 tháng Giêng âl, sau Rằm Thượng nguơn.

Ngày 16 tháng 7 âl, sau Rằm Trung nguơn.

Ngày 16 tháng 10 âl, sau Rằm Hạ nguơn.

Lễ Cầu Siêu Hội được Hội Thánh tổ chức tại Khách Ðình trong Nội Ô Tòa Thánh.

Tấm phan trong lễ Cầu Siêu Hội được viết như sau đây:

THIÊN VẬN THƯỢNG NGUƠN ÐẠI KHAI ÂN XÁ

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
(Lục thập bát niên)
Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt.

Thiên vận Quí Dậu niên, Chánh ngoạt, thập lục nhựt, Ngọ thời, Thiên ân xá tội.

Hội Thánh thiết lễ Tế Ðiện Cầu Siêu Hội.

Cẩn thỉnh:

Ðẳng đẳng chư vong linh Nam Nữ quá vãng, sanh bất phùng thời,

Chư chiến sĩ trận vong,

Hoặc Sĩ, Nông, Công, Thương, vô can tử nạn,

Cập Thập loại cô hồn yểu tử,

Cấp cấp đáo lai Khách Ðình đàn nội,

Thọ hưởng hồng ân, đồng đăng bỉ ngạn.

____________________________
(Những chữ xiên trong Bài Hán văn trên được thay đổi cho thích hợp tùy theo tháng và năm tổ chức Lễ Cầu Siêu Hội.)

Thích nghĩa Bài chữ Hán viết trên tấm phan:

VẬN TRỜI KỲ RẰM THƯỢNG NGUƠN RỘNG MỞ ÐẠI ÂN XÁ
Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ

(Năm Ðạo thứ 68)
Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt.

Vận Trời năm Quí Dậu, tháng Giêng, ngày 16, thời Ngọ, Ơn Trời xá tội.

Hội Thánh thiết lễ Tế Ðiện Cầu Siêu Hội.

Kính mời:

Các cấp chư vong linh Nam Nữ đã chết, sanh không gặp thời,

Chư chiến sĩ tử trận,Hoặc là các vị trong Sĩ, Nông, Công, Thương, vô can mà chết vì tai nạn,

Cùng với mười loại cô hồn chết non,

Mau mau đi đến Khách Ðình, vào trong đàn tế,

Thọ hưởng Ơn Trời, cùng qua bờ giác.

 

 

CÂY BỒ ĐỀ (Cây Bô Đề Tại Tòa Thánh Tây Ninh)

1- Nguyên nhân: Nguyên nhân nào Đức Hộ Pháp cho trồng cây Bồ Đề trong sân Đại Đồng Xã trước mặt tiền Đền Thánh và sau ngựa Phật Tổ, có ý nghĩa gì ?

 
   

- Cây Bồ Đề, Xá lợi Phật là hai báu vật của Phật Giáo Tây Thiên Trước, do vị Đại Đức NARADA THERA Phó Giáo Tông Phật Giáo Tích-Lan hiến cho Đạo Cao Đài vào ngày 15–05–Quí Tỵ (1953), được Hội Thánh tiếp nhận long trọng và Đức Hộ Pháp thuyết minh ý nghĩa của Ngọc Xá Lợi Phật và cây Bồ Đề tại Đền Thánh…

Đức Hộ Pháp Giáo chủ Phạm Công Tắc tiếp rước long trọng, có tổ chức cúng Đàn đêm 15-05-Quí Tỵ, an vị Ngọc xá-Lợi Phật tại Đền Thánh và thuyết ý nghĩa Cây Bồ đề.

2- Đức Hộ Pháp cho trồng cây Bồ Đề: Đến ngày 24-06-Ất-Mùi (1955) mới cho trồng cây Bồ đề trong sân Đại Đồng Xã. Trước khi đem Cây Bồ Đề ra trồng thì Đức Hộ Pháp lịnh cho Công viện đào hầm sâu từ 4 đến 5 thước, đụng đá mới thôi, rồi từ dưới xây lên thành bồn tròn như hiện nay, đổ vào bồn hơn 20 xe phân bò để bón cho cây Bồ Đề lớn lên. Như vậy là có sự chuẩn bị lâu dài cho Cây bồ đề rồi. Ngay ngày Lễ Vía Đức Quan Thánh 24-06-Ất Mùi (1955) mới đặt cây Bồ Đề xuống bồn đất đã làm sẵn, người đặt Cây Bồ đề xuống đất là ông Lễ Sanh Thái Thu, tức nhiên ông là người đại diện cho Nhơn sanh và đương nhiên Nhơn sanh là người có công gìn giữ. Trong khi đó Đức Hộ Pháp đang mặc Đại phục Hộ-Pháp, duy ngài chỉ lấy cái Mão xuống trước khi xúc ba dá đất lấp vào gốc. Trồng Cây Bồ Đề trước sự chứng kiến của chư Chức sắc từ lớn đến nhỏ. Bấy giờ Đức Hộ-Pháp đang cầm Quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài đủ quyền Chí-Tôn tại thế lại hiệp cùng Nhơn sanh. Đã vậy mà Cây Bồ đề cũng bị hăm dọa bứng đi để đem trồng vào Rừng Thiên nhiên, nhưng không thực hiện được những âm mưu phá hủy này, cũng bao phen đụng chạm về tâm lý dữ dội.

Lúc đó có số Chức Sắc Hội Thánh cũng định góp phần trồng cây Bồ Đề, nhưng Đức Hộ Pháp chỉ để cho vị Lễ Sanh đặt chậu cây vào bồn trồng mà thôi. Điều nầy có lẽ Đức Hộ Pháp đã tiên liệu để cho Nhơn sanh trồng, tức Nhơn sanh phải gìn giữ đúng như pháp định thời gian qui nhứt, còn để cho Chức Sắc Hội Thánh Trồng thì cây Bồ Đề bị chuyển hệ! (Lễ Sanh là Đại diện Nhơn sanh).

Đức Ngài giải thích: "Phải xây bồn để ngăn rễ cây rừng thiên nhiên sau này lấn cây Bồ-đề, còn phân để bón cho cây Bồ đề khi lớn lên".

 

 

CÂY CÂN CÔNG BÌNH

 

 
   

Đây là Cây Cân công bình Thiêng liêng Tạo hoá đặt trên nóc của Tịnh Tâm Đài, Tòa Thánh Tây Ninh, biểu hiện một sự công bình tuyệt đối chỉ có ở bàn tay của Đức Thượng Đế mà thôi. Cây cân Thiên-bình dưới bàn tay của Thượng-Đế cho ta thấy: nếu khi cả hai bên cân và vật đồng nhau thì cây kim mới chỉ vào điểm 0. Cũng như hai gánh Đạo và Đời mà Ngài sắp giao cho Ông Phạm Công Tắc cũng phải giữ cho tương-đồng thì mới vẹn phận "Đạo Đời tương đắc" vậy.

Hiện tại Chức-sắc Hiệp Thiên-Đài lấy biểu hiệu là "Cây Cân công-bình" đính trên mão.

Vai trò của Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc tạo Đạo cứu Đời. Bởi vì Đức Hộ-Pháp cho biết:

"Đức Đại-Từ-phụ với lòng Đại-từ Đại-bi của Ngài không thể gì nói đặng. Hai mươi mấy năm trường Ngài đến, Ngài độ từ đứa, Ngài dụ từ người, đem cả một thể thống thiêng liêng vô cùng vô tận, quí hóa kia đem đổi lại một tấm yêu-ái của chúng ta đặng làm cơ-quan cứu thế. Buổi Ngài mới đến, Bần-Đạo thú thật phần nhiều anh em chúng ta buổi nọ không hiểu Đạo là gì, dầu đàn anh của chúng ta có sứ-mạng nơi mình lãnh trách-nhiệm làm Thánh-Thể cho Ngài, khi ấy cũng không biết Đạo là gì cả, chỉ nhắm mắt theo Ngài mà thôi; chính Bần Đạo buổi nọ, Đại Từ-Phụ xin Bần-Đạo, nói xin lại với một lời yếu thiết: - "TẮC! dâng cả mảnh thân con đặng Thầy tạo Đạo cứu đời, con có chịu chăng?

Bần-Đạo trả lời với Ngài một cách quả quyết rằng:

Nòi giống con còn nô-lệ, nước nhà còn lệ thuộc, thì làm thế nào con TU cho đặng!

Ngài cười nói: Nhưng điều ấy các con làm không đặng đâu, để đó cho Thầy.

Tiếng "để đó cho Thầy" Bần-Đạo nhớ lại nói dễ như không không, mà đã hai mươi mấy năm trường rồi đó. Ngài hứa khi Ngài mới đến cùng Cao Thượng-Phẩm và Bần-Đạo cuối năm Tý đó vậy, theo phàm tánh của ta có lẽ buồn, nhưng vì chúng ta sống trong thời-gian, còn Đức Chí-Tôn sống trong không-gian; chúng ta tính từ ngày, tháng, năm; còn Ngài chỉ lấy quyết-định của Ngài làm căn-bản mà thôi. Lời hứa đơn-sơ ấy ngày nay chúng ta đã thấy rằng Ngài không bao giờ thất hứa với chúng ta đó vậy, nếu chúng ta đoán xét kỹ cơ-quan của Ngài đã thi thố, đã giải ách nô-lệ cho nòi giống Việt-Nam, chúng ta ngó thấy một hành tàng khắc-khe khó nói, thi thố với một cách mà trí óc phàm chúng ta không thể đoán đặng và Bần Đạo nói rằng không có một tay phàm thi thố đặng; muốn giải ách nô-lệ cho nước Việt-Nam mà dùng quyền phép vô biên của Ngài đào-độn cả vạn quốc hoàn-cầu đặng làm cho sôi-nổi một trường chiến-tranh của toàn thế-giới giục-thúc các nước còn lạc-hậu chiến-đấu lấy cho đặng quyền sở hữu của họ, giành cho được độc-lập cho nòi giống và quốc-gia của họ. Quyền sở-hữu ấy là quyền định sống của họ đó vậy. Nơi cõi Á-Đông cả toàn thể nước nào còn lạc-hậu đều đặng giải-thoát, đều chiến-đấu đặng tranh độc-lập và thống nhứt.

Nước nhà nòi giống Việt-Nam cũng tấn triển theo khuôn-luật ấy mà định vận-mạng lấy mình, không coi lại sự độc-lập và thống nhứt nước Việt-Nam có nhiều điều khắc-khe mà trí óc phàm này không thế làm đặng nên phải dùng tay của Đức Chí-Tôn, cả con cái của Ngài, Bần-Đạo đứng nơi tòa giảng này không nói thêm, không nói bớt:

- Khó nhứt là nước Việt-Nam,

- Nòi giống Việt-Nam,

- Quốc-gia Việt-Nam.

Đã thiếu Ngài một nợ tình, không biết giá-trị nào nói cho đặng. Thâm tâm của Ngài muốn gieo một nợ tình với quốc-dân, đặng chi? Ta nêu một dấu hỏi (?).

Thêm cho đủ yếu-lý ấy. Bần-Đạo nói sự mơ-ước của Ngài rất đơn-giản, rất nhẹ mà giá-trị không cùng, chỉ muốn quốc-dân Việt-Nam làm Thánh-thể của Ngài, thay thế hình ảnh của Ngài đặng chia khổ cho Ngài, chung hiệp cùng Ngài, hầu nâng-đỡ kẻ khổ, an-ủi tâm-hồn nhơn-loại đang đau-đớn trong buổi cạnh tranh giành sống của họ, của cơ-quan tranh-đấu cho kỳ đặng độc lập, đặng bảo-vệ sự sanh sống của họ, nếu không mực thước chuẩn-thằng định tâm-lý của họ, dầu cho đấu-tranh để lập quyền sống của mình ít nữa phải có nhơn-đạo đặng giúp mạng sống của người, chớ đừng bảo-vệ mạng sống của mình để chiếm đoạt mạng sống của kẻ khác.

Tấn-tuồng ấy Bần Đạo chỉ nói là quả kiếp mà thôi. Đức Chí-Tôn Ngài đến lập nền chơn giáo của Ngài cốt yếu làm thế nào cho họ đừng cướp sống lẫn nhau mà an-ủi với nhau ấy là chí-hướng của Ngài đó vậy" (ĐHP 8-1Canh-Dần 1950)

Thiên-thơ đã định cho nước Việt-Nam này có được cán Cân công-lý do bởi bàn tay Thượng-Đế

Đức Hộ-pháp giải rõ: Pháp-Chánh-truyền và Tân Luật tức là Thiên-điều tại thế.

"Muốn cho xã-hội loài người trong thế-giới này đạt được mức quân-bình tuyệt-đối thì phải có sự công-bình được lập lại bởi cán cân công-lý, mà xã-hội loài người từ xưa đến giờ chưa có công bình thật sự.

Ngày nay Thiên-thơ đã định cho nước Việt-Nam này có được cán cân công-lý do bởi tay Thượng-Đế đến cầm đòn cân định vận-mạng cho Việt-Nam và cả nhân loại.

Cho nên khi mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phồ-Độ, Đức Chí-Tôn đã lập ngay Pháp-Chánh-truyền và Tân-luật tức là Thiên-điều tại thế để điều-hành guồng máy hành chánh đạo hầu bảo thủ chơn truyền và công-bình Thiên-đạo vì nếu thiếu pháp luật thì còn gì là Đạo nữa.

Ấy vậy, Đức Chí-Tôn lập Tân Pháp là lập chủ quyền cho Đạo. Nếu chúng ta biết Đạo và ý thức rằng pháp-luật là do Thiên-ý và công-lý mà lập ra thì tự nhiên phải tuyệt-đối tôn trọng chủ quyền đó là tuân-hành qui điều pháp-luật Đại Đạo.

Phạm luật Đạo tức là phạm Thiên-điều, mà phạm Thiên-điều thì tội-tình kia có chi giải nỗi.

Thầy dạy ông Lê-văn-Trung rằng: "Thầy chưa hề bắt tội con, song chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đã hiểu rõ rằng: Thầy trao nơi tay con một quyền hành thưởng phạt, cũng như Thầy trao cho TẮC một cây cân công bình thiêng liêng nơi cõi tục nầy; mà cả hai, một đứa bạc nhược, một đứa bơ thờ. Thầy tưởng chẳng cần nói các con cũng hiểu rằng: Các Ðấng ấy bất bình lắm đó vậy. Các con đã mang mạng lịnh Thầy, thì làm thế nào Thầy không hổ thẹn; Thầy dặn các con một điều phải hằng nhớ rằng các con thay mặt cho Thầy tức là Thầy. Ngày nào Thầy lấy phận sự lại thì là mới hết Thầy nữa".

Tạo sự cân đối thì CÂY CÂN CÔNG BÌNH đặt phía trên cửa vào Đền Thánh nơi Tịnh Tâm Điện. Khi Trấn Thần cái Cân trên ngưỡng cửa. Đức Hộ-Pháp có nói:

"Từ đây, cái Cân Công Bình thiêng liêng của Đức Chí Tôn đã biến tướng thiệt hiện ở thế gian nầy để phân công chiết tội mà định phẩm vị Tòa sen cho toàn con cái của Ngài".

Sự Công bình nay với Đạo Cao Đài đã thành Luật, tức là Luật Thương yêu mà Tam Thánh phải ký Hoà ước với Đức Chí-Tôn thực thi cho được hai điều: Bác ái và Công bình"

Đức Chí-Tôn thể hiện Cây Cân Công bình:

"Khi Bần Đạo vô trong Từ Phụ, muốn biết Ổng là ai ? Ông nầy có phải Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, mà Ổng có phải là một người không? Làm sao cho tôi được biết Ổng với. Tôi vừa tưởng thì xa lắm thấy cái gì bao phủ như tấm màn che vậy, vô gặp rồi biết Ổng ở trỏng, có cái màn che, ý muốn cái màn nầy vạch ra đặng thấy Ổng. Vừa muốn thì cái màn ấy vạch ra, dường như có từng có nấc xa lắm không thề gì tả đặng; kế đó thấy Ổng bước ra mặc áo trắng, bịt khăn trắng, giống như bộ tiểu phục của Giáo Hữu mặc, cũng có một hai miếng vải lòng thòng sau lưng, râu bạc trắng coi đẹp lắm, thấy thương làm sao đâu ! Trong bụng nói Ổng ngồi tại Linh Tiêu Điện, mình thấy Ổng mặc đồ khác, không lẽ hai người, chắc không phải vậy. Vừa nói rồi thì thấy Ổng bước ra đứng ngay chánh giữa ngó ngay Bần Đạo, dường như thể biểu con coi đây. Ngó ngay lên Ổng, thấy Đạo hào quang chiếu diệu ra, tay cầm cây gậy coi đẹp lắm. Cây gậy của Ổng quảy cái bầu, bên mình Ổng mang một cái bị, mặc bộ đồ Ngọc Hoàng Thượng Đế, nắm ngang cây gậy trên tay thành cây đòn cân, Ổng kéo cái bầu ra thành cái giá cân, Ổng kéo cái bị ra thành cái trái cân. Ba món ấy hiệp lại thành cây cân Thiêng Liêng mà chính mình đã thấy Ổng tại nơi Linh Tiêu Điện. Không có ai xa lạ nữa, cũng Đại Từ Phụ nhưng Thiên biến vạn hóa của Ổng mà tạo ra Càn Khôn vũ trụ vậy".

 

 

CÂY CỘI NƯỚC NGUỒN

Nói cho đủ nghĩa phải là "Cây có cội, nước có nguồn"

Làm con người, chúng ta phải biết cha mẹ lấy tinh huyết mà tạo ra cho chúng ta cái thân hình này và nuôi nấng cho đến lớn khôn, khổ cực biết dường nào, ấy là cái ơn rất lớn. Vậy bổn phận làm con phải nhớ đền bồi công ơn, ấy là việc hiếu vậy.

Còn nếu là người biết tu hành thì càng nên trọng chữ hiếu, bởi lẽ Nho giáo có dạy: "Vật hữu bổn mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiền hậu, tắc cận Đạo hỹ" 物有本末,事有終始, 知所前後, 則近道矣 nghĩa là Vật có gốc ngọn, việc có trước sau, nếu mình biết gốc ngọn trước sau, thì gần được Đạo vậy, tức là mình phải biết nguồn gốc sinh thành ra chúng ta đây để lo đền đáp công ơn ấy.

Người con chí hiếu, không vì danh lợi, tiền tài mà quên đi điều hiếu đạo, dù bất cứ gặp hoàn cảnh nào, cũng phải giữ vẹn đạo nghĩa để kế thừa hương lửa Tổ tông, là mối giềng quan trọng của đạo nhơn luân vậy.

 

 

CÂY KIM TIÊN

Đức Hộ-Pháp nói: "Cây Kim Tiên của Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên Tôn, tức là của Thái Sư Văn Trọng giao cho Bần Đạo một cây pháp giới; pháp giới ấy để triệt quỉ đừng cho nó lộng trong Đền Thánh của Đức Chí Tôn và đừng cho nó phá con cái của Ngài. Đến chừng bay giữa không trung, thấy minh mông không biết làm sao gom lại được, để vậy khó đánh lắm, ai ngờ Bần đạo cầm cây Kim Tiên định vẽ vòng gom lại chẳng khác nào vãi cái chài vậy, Bần đạo cầm cây Kim Tiên định thần gom lại, vừa gom thì nó thúc nhặt mặt trận ấy lại, nhỏ lần lần, thấy bên ta đã thắng Kim Quang Sứ.

 

 

CÂY QUẠT (Long Tu Phiến)

"Long Tu Phiến là cây quạt do điển khí của Tam Thập Lục Thiên kết thành, quạt ấy tiết ra một điển lực có ảnh hưởng đến cuộc tấn hóa của quần linh. Chơn Thần nào trong sạch thì nương theo đó mà siêu nhập Cực Lạc Thế Giới. Trái lại, chơn thần nào luyến ái tà mị thì lánh xa mà đi lần đến U Minh cảnh giới. Cả cơ "thu" và "đẩy" của Long Tu Phiến với Chơn Thần đều do luật "đồng khí tương cầu" mà thành tựu. Nghĩa là Chơn Thần đạo đức thì Long Tu Phiến hấp dẫn đến gần và đưa vào Cực Lạc Thế Giới; còn Chơn Thần trọng trược thì Long Tu Phiến đẩy ra xa và lần hồi đi đến cảnh U Minh đen tối.

Ngày 15-7-Giáp Tuất (1934) Đức Thương Phẩm nói:

"Hồi Em còn ở thế, sức giận của Em đến đỗi, nếu Em được thiêng liêng vị tức cấp, thì có lẽ cây quạt của Em đã đưa họ trụm vào Phong đô không sót một ai. Nhưng chừng bỏ xác phàm, được nhãn huệ quang rồi, Em lại thương đau thương đớn, dường như sợ cho họ sái đường lạc nẻo, thì phải mất một bạn thiêng liêng rất quí trọng vậy. Thành thử, phải dìu dắt chiều theo tâm phàm họ cao thấp mà sửa từ bước, độ từ chặng, mà nếu rủi dìu họ không được thì phải tận tụy với trách nhiệm, làm thế nào cho họ đừng sa đọa Phong đô, để cầu với Tam Giáo Tòa cho tái kiếp mà chuộc căn quả. Thế, Anh có vì việc nhỏ nhen vô vị mà nỡ ngó Ðạo chinh nghiêng à ?"

 

 

CÂY MA XỬ (Giáng Ma Xử)

Đức Hộ-Pháp nói về việc mở cửa Cực Lạc Thế giới: "Mặc đồ đại phục rồi, tay cầm Giáng Ma Xử với cây Kim Tiên, bay lên giữa không trung ở trên đầu, có người ngồi dưới vân xa. Có một điều là người ngồi dưới, người ở trên mà biết hiểu như một người vậy. Dòm thấy mặt trận lớn quá, mới cầm cây Kim Tiên (còn Giáng Ma Xử thì không có hình tướng, pháp bửu ấy vô vi). Cây Kim Tiên của Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên Tôn, tức là của Thái Sư Văn Trọng giao cho Bần Đạo một cây pháp giới; pháp giới ấy để triệt quỉ đừng cho nó lộng trong Đền Thánh của Đức Chí Tôn và đừng cho nó phá con cái của Ngài.

Kinh Đại Tường có câu:

Hội Long-Hoa tuyển phong Phật vị,
Cõi Tây-phang đuổi quỉ trừ ma.
Giáng linh Hộ-Pháp Di-Đà,
Chuyển cây Ma-Xử đuổi Tà trục tinh."

Nơi Tây phương Cực Lạc cũng vậy, tảo thanh không còn ma hồn quỉ xác mà đến hại thế này nữa.

(Xem thêm: Giáng-Ma-Xử. Vần GI)

 

 

CÂY PHẤT CHỦ

Bài thài hiến lễ Đức Quyền Giáo Tông có câu:

Càn khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm riêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo xủ phướn Tiêu Diêu.

 

 

CÂY THÁNH GIÁ

Đức Hộ-Pháp nói: "Ðấng Jésus-Christ: Hồi còn sanh tiền đi truyền giáo cho dân lại bị khổ nhục, nhứt là bị bắt buộc mãi trong vòng tù tội, nỗi khổ hạnh cái nào mà Ngài không có; cho đến Ngài chịu chết trên cây Thánh Giá. Ngài chưa biết buổi nào là hạnh phúc trong kiếp sanh của Ngài hết. Ngài chết trên cây Thánh-Giá với mảnh thân tù và tội tử hình. Chỉ có Ðức Jésus Christ cho một Ðấng thiếu nợ mà thôi, mà Ðấng ấy là Ðức Chí-Tôn là Ðại-Từ Phụ là Thầy của chúng ta ngày nay đó vậy. Có một Ðấng đó thiếu nợ tiền-khiên, mà đã hai ngàn năm Ðạo Thánh Gia-Tô làm chủ tâm lý cả toàn thiên hạ trên khắp mặt địa cầu nầy. Còn cái vinh diệu của Ngài, ôi vô đối !"

 

 

CÂY TRƯỜNG TRÁNG MỘC (Cây Trai)

Cây trai là một thứ gỗ quí, thuộc loại danh mộc. Tính chất của loại cây này là càng xài lâu chừng nào thì càng lên nước bóng, đẹp, chắc, mối mọt không ăn được. Nếu dùng làm hòm chôn trong lòng đất không bị hư hoại theo thời gian.

Thánh Giáo Đức Lý ngày 13-12-Bính Dần (1926):

Chư Đạo Hữu và Chư Đạo Muội nghe: "Cây trường tráng mộc tục gọi là cây trai, dầu để trăm ngàn (100.000) năm đem ra dùng thì nó vẫn còn tươi như khi mới đốn. Người Thổ nhơn gốc con nhà Tần, biết Đạo Phật chẳng biết Đạo Nho, một phen lầm-lỡ phải đọa muôn đời. Nước gần tiêu diệt, may thay Thầy đã đến mà chúng nó cũng là con yêu dấu Thầy hay đặng tự nhiên đến. Cười… vì vậy mà Thầy hằng nói với Lão rằng: "Khi Môn-đệ ta đến đâu thì là cây cờ hiệu ta cặm nơi đó. Các con trong các nước hễ thấy thì đến, trừ ra loài Tà thần tinh quái".

 

 

CẬY THẾ Ỷ QUYỀN

Kinh Sám Hối có câu:

"Người nghèo khổ biết sao than kể,
"Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền."

 

 

CÕI ÂM

E: The world of death
F: Le monde des morts.

Cõi: Miền, vùng. Âm: tối tăm lạnh lẽo. Cõi âm là cõi của người chết, cõi mà linh hồn của người chết đến trú ngụ.

 

 

CÕI DƯƠNG

E: The world of living.
F: Le monde des vivants.

Dương: sáng tỏ ấm áp. Cõi dương là cõi của người sống, cõi đời, cõi thế gian.

 

 

CÕI ĐỌA

E: Hell.
F: Enfer.

Cõi đọa: còn gọi là đọa cảnh 墮 境 là nơi hồn bị đọa.

Ở đây chỉ cõi trần gian của con người, vì nơi này là cõi thấp kém, tối tăm, chứa đầy những tội lỗi, ô-trược và khổ não...Cõi đọa là nơi để trừng phạt những linh hồn có tội hay các bậc Thánh, Tiên có lầm lỗi thì bị đọa xuống cõi trần để lập công chuộc tội.

Đức Chí Tôn dạy: "Trần là cõi khổ để đọa bậc Thánh, Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả phải mất cả Chơn linh là luân hồi".

Kinh Khi Đã Chết Rồi có câu:

"Quê xưa trở, cõi đọa từ,"
"Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân."

 

 

CÕI HUỲNH THIÊN

Kinh Đệ Tứ Cửu có câu:

"Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,
"Cõi Huỳnh-Thiên nhẹ thoát chơn Tiên.
"Năm Rồng đỡ nổi đầu thuyền,
"Vào cung Tuyệt-khổ kiến Huyền-Thiên-Quân."

 

 

CÕI HƯ LINH

E: The etherial world.
F: Le monde des éthéré.

Cõi: Miền, vùng. : trống không, hư vô. Linh: thiêng liêng. Cõi Hư linh là cõi Hư vô mầu nhiệm. Ðối với mắt phàm thì cõi nầy thấy trống không như không có gì cả, nhưng chính cái KHÔNG đó là gốc của cái CÓ, chính cái KHÔNG vô hình đó sản xuất ra cái CÓ hữu hình.

Cõi Hư linh là cõi của chư Tiên Phật, là cõi của Trời, là cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui-Liễu:

"Cõi Hư linh bao phủ ân hồng."

 

 

CÕI HƯ VÔ

Cõi Hư vô hay Hư vô cảnh 虛無境: Một cõi giới trống không vắng lặng, bao quát vô cùng tận, thường còn và không biến đổi. Cõi không thực thể, nhưng là điều kiện căn bản sinh ra mọi pháp

Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị có câu:

"Cõi Hư vô nay gần phước Thánh,
"Xin châu toàn đường hạnh môn sinh."

 

 

CÕI KIM THIÊN

Kinh Đệ Lục Cửu có câu:

"Bạch-Y-Quan mở đàng rước khách,
"Cõi Kim-Thiên nhẹ tách Tiên xa
"Vào cung Vạn-Pháp xem qua,
"Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên-nhiên."

 

 

CÕI TÂY-PHANG

Cõi Tây phang: Hay cõi Tây phương 西方 tức là chỉ cõi Tây phương Cực Lạc, hoặc Cực Lạc Thế Giới của Đức A Di Đà Phật. Nơi cõi Tây phang, Đức Phật Di Lặc xua đuổi và trừ khử quỉ ma thử thách bậc chân tu.

Kinh Đại Tường có câu:

"Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị,
"Cõi Tây Phang đuổi quỉ trừ ma."

 

 

CÕI THẢM KHỔ

Cõi thảm khổ là Chỉ cõi trần gian nhiều đau khổ.

Sở dĩ trần gian là cõi thảm khổ bởi vì nơi đây là cõi tạm bợ, uế trược và nhiều phiền não...Sống ở cõi trần, con người có nhiều loại khổ đau như:

- Khổ về thân tâm: Con người sống cõi trần thường bị khổ về hoàn cảnh ngang trái, cảm thọ bất an hay khổ về bệnh, chết.

- Khổ về hoại diệt: Những thứ sắc đẹp, của cải vật chất mà mình ưa thích không bền lâu, thường bị mất nên sinh khổ.

- Khổ do tâm bị dục vọng sai khiến, thúc đẩy từng giây từng phút làm cho tâm không yên ổn, tự do.

- Khổ gây ra bởi sự mâu thuẫn giữa con người và thiên nhiên, cuộc sống như thiên tai, động đất…

Bài Khai Cửu có câu:

"Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,
"Quên trần ai mong mỏi Động Đào."

 

 

CÕI THANH THIÊN

Kinh Đệ Tam Cửu có câu:

"Cõi Thanh-Thiên lên miền Bồng-Đảo,
"Động Thiên-Thai bảy lão đón đường.
"Cam-Lồ rưới giọt nhành dương
"Thất tình lục-dục như dường tiêu-tan."

 

 

CÕI THĂNG

E: Paradise.
F: Paradis.

Cõi: Miền, vùng. Thăng: bay lên, siêu thăng. Cõi thăng là cõi trong sáng, hạnh phúc, để ban thưởng những linh hồn mà trong kiếp sanh nơi cõi trần lập được nhiều công đức, giúp người giúp đời. Ðó là cõi của người đắc đạo, Thiên Chúa giáo gọi là Thiên đường, Phật giáo gọi là cõi Cực Lạc Thế Giới, Ðạo Cao Ðài gọi là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối:

"Ăn năn sám hối tội tình,
"Xét câu Minh Thệ, gởi mình cõi thăng."

 

 

CÕI THIÊNG LIÊNG HẰNG SỐNG

E: The supernatural and immortal world.
F: Le monde surnature et immortel.

Cõi: Miền, vùng. Thiêng liêng: mầu nhiệm, vượt trên sự hiểu biết của lý trí con người. Hằng sống: sống vĩnh viễn. Cõi Thiêng liêng Hằng sống là cõi của các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, cõi của những người đắc đạo, nơi đó không có sự chết, cõi Cực Lạc hoàn toàn an vui hạnh phúc.

Con đường đi lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống được gọi là Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống , là con đường mà các chơn linh trở về cùng Ðức Chí Tôn.

"Con đường về với Ðức Chí Tôn không phải dễ, mà cũng không phải về là tới liền. Muốn về với Ðức Chí Tôn, ta phải qua nhiều Cung nhiều Ðiện, mỗi Cung ta gặp một sự lạ, mỗi Ðiện chúng ta gặp một huyền vi khác nhau. Phải đi từ Cung nầy đến Ðiện nọ, nên gọi là dục tấn trên con đường Thiêng liêng Hằng sống. Về được với Ðức Chí Tôn thì không còn hạnh phúc nào bằng."

 

 

CÕI THỌ

E: The fairy land.
F: Le séjour des importels.

Cõi thọ: Cõi có sự sống lâu dài, hay cõi sống của Chơn linh, tức là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Lễu có câu:

"Thong dong cõi thọ nương hồn,
"Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa."

 

 

CÕI TRẦN

E: The world of mankind.
F: Le monde de l’humanité.

Cõi: Miền, vùng. Trần: bụi bặm. Các từ ngữ: Cõi trần, Cõi tục, Cõi thế, Cõi tạm, đều đồng nghĩa, chỉ cõi của nhơn loại đang sống, bởi vì cõi nầy có nhiều bụi bặm ô trược, là cõi thấp kém có đời sống tạm bợ.

Kinh Giải Oan:

"Thiên cung lỡ lối chơi vơi cõi trần."

 

 

CÕI TỤC

Cõi: Miền, vùng.Tục: thấp kém.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Mau bước lui lần qua cõi tục,
Cười, than, vui, khóc, thấy hay chưa?

 

 

CÕI XÍCH THIÊN

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
"Cõi Xích-Thiên vội mở ải-quan.
"Thiên-Quân diêu động linh-phan,
"Cả miền Thánh-vức nhộn-nhàng tiếp nghinh."

 

 

CON CHIÊN CHÍ THÁNH

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo đã thuyết minh tới đây, kẻ thì nói đến Đấng Christ lập nền Thánh-Giáo của Ngài, Ngài lập cái đền thờ thiêng liêng Đạo-Giáo của Ngài tại thế gian này, Ngài xưng mình là con chiên hy sinh đặng làm con tế vật của Đức Chúa Trời, để cứu rỗi tội tình thiên hạ, tức nhiên con chiên chí Thánh. Tánh mạng của Ngài, thi hài của Ngài chịu chết trên cây Thập-Tự-Giá, cốt yếu làm con tế vật ấy để dâng cho Đức Chí-Tôn đó vậy. Sự hy sinh của Ngài làm con tế vật ấy là Thánh Thể, tức nhiên của toàn cả tín đồ tin tưởng nơi Ngài".

 

 

CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG HẰNG SỐNG

(Tên một quyển sách của Đức Hộ-Pháp thuyết giảng)

Con đường Thiêng liêng hằng Sống là gì?

Đức Hộ-Pháp giải: "Nếu hiểu theo Chơn-Pháp của Đức Chí-Tôn thì Con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là Con đường dành cho các Chơn-hồn khi thoát xác rồi quay về với Đức Chí Tôn để được định vị thăng hay đọa. Nhưng nếu hiểu theo Triết lý nhà Phật, thì con đường Thiêng-liêng Hằng-sống là con đường của Luân-hồi. Như vậy, Con đường Thiêng liêng Hằng-sống là một đề-tài Thuyết-pháp khó khăn, muốn cho toàn-thể con cái Đức Chí-Tôn thấu-đáo, lãnh-hội đầy-đủ nghĩa-lý sâu xa của đề-tài đó, ít ra phải viết thành sách, mà sách ấy tới mấy ngàn trang là ít. Ấy vậy, con cái của Đức Chí-Tôn rán nghe và rán đi cúng đặng nghe, để nữa sau khỏi hối tiếc và oán-trách, nói sao Bần Đạo không cho hay trước, không cho biết trước, để được nghe những điều bí-yếu trong nền Đạo Cao Đài, những triết-lý cao siêu mà chỉ có Đạo Cao-Đài mới có. Tuy nhiên, âu cũng là một đặc-ân của Đức Chí Tôn dành cho Đạo Cao-Đài ngày nay, nên mới có mấy đứa nhỏ cố gắng học được tốc-ký để ghi chép những lời thuyết Đạo của Bần-Đạo, vì những lời thuyết Đạo này, không phải của Phạm-Công-Tắc mà là của Hộ-Pháp, Hộ Pháp thay lời Đức Chí-Tôn nói Đạo cho toàn thể con cái của Ngài nghe, quý hay chăng là ở chỗ đó. Bần-Đạo may duyên được Đức Chí-Tôn chọn làm Ngự Mã Quân của Ngài để thay Ngài lập nền Chánh-giáo, tức là nền Đạo Cao-Đài này để thay thế tất cả Tôn-Giáo đã có từ trước. Vì lẽ các Tôn-Giáo ấy ngày nay không phù hợp với lương-tri lương-năng của loài người nữa. Hay nói một cách khác là các nền Tôn-Giáo ấy ngày nay đã bị bế. Ngày nay, giảng Con đường Thiêng-liêng Hằng Sống là Bần-Đạo muốn dìu dắt Chơn-thần của toàn thể con cái Đức Chí-Tôn về với Đức Chí Tôn qua một hình thức Thuyết Đạo".

 

 

CON GIẶC TÔI LOÀN

Kinh Sám Hối có câu:

"Chớ làm con giặc tôi loàn,
"Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà."

 

 

CON HỒNG CHÁU LẠC (Con Rồng Cháu Tiên)

(Hồng: Hồng Bàng; Lạc: Lạc Long Quân). Con Rồng cháu Tiên: đồng nghĩa với con Hồng cháu Lạc, chỉ dân tộc Việt Nam là con cháu của Rồng Tiên, nòi giống Lạc Hồng Theo truyền thuyết trong cổ sử nước ta, vua Đế Minh, cháu ba đời của vua Thần-Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh tỉnh Hồ Nam, gặp một nàng Tiên, rồi lấy làm vợ, sanh ra Lộc Tục. Vua Đế Minh có hai người con: con lớn là Đế Nghi được cho làm vua ở phương Bắc, còn Lộc Tục cho làm vua ở phương Nam, lấy hiệu là Kinh Dương Vương. Vua Kinh Dương Vương lấy nàng Long Nữ, con gái của Động Đình Quân, sanh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm lên nối ngôi Kinh Dương Vương, lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ, con của vua Đế Lai, sanh ra một cái bọc 100 trứng, nở ra 100 người con trai. Lạc Long Quân bảo Bà Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long Quân (vua Rồng), nàng là dòng dõi Thần Tiên, ăn ở với nhau lâu không đặng, nay được 100 đứa con, nàng đem lên núi 50 đứa, còn 50 đứa ta đem xuống miền Nam Hải". Lạc Long Quân phong con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng hiệu là Hùng Vương, lập ra họ Hồng Bàng, truyền được 18 đời, đều xưng là Hùng Vương, tính cả thảy được 2622 năm. (Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim). Dân tộc Việt Nam ngày nay tự hào là con cháu của Lạc Long Quân (Vua Rồng) và Bà Âu Cơ (Tiên Nữ), nên thường tự hào là "con Rồng cháu Tiên."

Lý giải bằng Bát Quái:

Với một huyền-thoại về nguồn gốc tổ-tiên ta như vậy, hẳn ai cũng tự hào rằng mình là con Rồng cháu Tiên hay con cháu Lạc-Hồng. Nhưng ở giữa thời đại khoa học nguyên tử, khoa-học hiện đại và nhân-chủng-học làm gợi trong ta mấy điều suy-nghĩ thắc-mắc rằng tại sao:

- Tổ-tiên chúng ta sanh trứng đến một trăm, mà loài người sanh con?

- Tại sao nguồn gốc Tổ-tiên là Rồng, là Tiên mà loài người chưa bao giờ được thật sự thấy Rồng-Tiên?

Có suy nghĩ, thắc-mắc tất có giải đáp: Trước nhứt ta phải nhìn nhận rằng Việt-Nam ta không có Sử và không có chữ viết, vì phải vay mượn của Tàu, học hành thi cử đều theo qui luật của Tàu đó là chưa nói đến thời tiền-sử trình độ dân-trí tất phải còn kém cỏi. Dầu các vị Đại Thánh đến giáo-hóa nhân loại nhưng không thể đem cái triết-lý về nguyên-lý cấu tạo càn khôn vũ trụ cũng như loài người mà giải được nên phải dùng đến phương thức biểu-tượng hoặc nhân cách hóa bằng huyền thoại mà điển-hình là Việt-Nam, dựng nên đôi nhân vật nam nữ là ông Lạc-Long-Quân và bà Âu-Cơ là nhân vật thứ nhứt của loài người để xác định lý Âm Dương trong vũ-trụ, làm vật tổ dựng nên nòi giống Việt-Nam ngày nay, không ngoài sự biến hóa của BÁT QUÁI, NGŨ HÀNH sanh biến mà dựng nên.

Tức là sau tiếng nổ đầu tiên đã xuất hiện ngôi Thái Cực đó là Đấng Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng-Đế, chúa tể của nhân loại: Thái cực động mới sanh ra Lưỡng-Nghi để hoàn thành hai ngôi Phật-Pháp, ấy là Âm Dương. Theo định-luật khí nhẹ bay lên làm Trời, khí nặng lắng xuống làm Đất. Âm Dương giao hòa mới sanh ra vạn-vật, cây cỏ, thú cầm mới đến người (Bát hồn vận chuyển) mà Đạo Cao-Đài đã thể hiện bằng Thể pháp là bảy bài thài dâng lên CHÍ-TÔN. Việt-Nam lấy vật Tổ là Lạc Long-Quân và Âu-Cơ cũng như nhân vật ADONG và EVA của Công giáo làm Thủy-Tổ, chính là nguyên lý Âm-Dương vậy.

Từ Lưỡng-Nghi sinh Tứ-Tượng, Tứ-Tượng biến Bát Quái.Bát-Quái biến-hóa vô cùng mới thành Càn-Khôn Thế giái.

Bát-Quái cũng phân hai:

- Tiên-Thiên Bát Quái
- Hậu-Thiên Bát Quái

* Tiên-Thiên Bát Quái có 10 số:

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10

* Hậu-Thiên Bát Quái có 9 số:

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 (trừ số 10).

     

Số lẻ là số Dương: Tổng số Dương là

 

1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 25

Số chẵn là số Âm: Tổng số Âm là:

 

2 + 4 + 6 + 8 + 10 = 30

____________________________

 

Tổng số của Âm Dương Tiên-Thiên Bát Quái là :

 

25 + 30 = 55

Hậu Thiên Bát Quái chỉ có 9 số (không có số 10)

 

 

Vậy Hậu-Thiên Bát Quái có tổng số là :

 

25 + 20 = 45

Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái có tổng số là :

 

55 + 45 =100

Như vậy lý Dịch với Âm-Dương chi số đã giải thích được vật Tổ của Việt-Nam qua hình ảnh trên. Như thế niềm tự hào của dân tộc thật lý thú vô cùng .

Lạc Long Quân: Lạc là Lạc Thư (Hậu Thiên Bát Quái)

Long là Rồng (là vật Tổ lấy làm biểu tượng).

Quân là ông, là người (là nhân vật muốn xuất hiện)

Lạc Long Quân đây là một nhân vật được biểu tượng là người đàn ông tính cương kiện như Rồng, tượng Dương (bay lên)

Bà Âu-Cơ: Âu hay Ẩu là nhân vật nữ (là Bà)

Cơ: là bộ máy, là cơ quan sản xuất.

Âu Cơ là nhân vật nữ tạo nên con cái.

Hai người cùng phối ngẫu sinh ra bọc trăm trứng, tức là sự phân hóa Lưỡng-Nghi do Khí Tiên-Thiên và Hậu-Thiên giao nhau nên mới có số 100. Rồi cả hai cùng chia nhau 50 con theo cha xuống biển, 50 con theo mẹ lên núi là chiều xứng hợp của Âm Dương (Rồng ở biển, Tiên ở núi).

50 là con số Trung Thiên Bát Quái.Thế nên hiện giờ ở tại Đền Thánh có tất cả 50 Thiên Nhãn từ trong đến ngoài cũng là lý Trung Thiên Đồ (tức Bát Quái Đồ Thiên của Cao-Đài) đó !

"Số đại diễn là 50, bởi vì số ấy lấy ở Hà Đồ giữa cung: Thiên số 5 đến Địa số 10 mà được số ấy, tức là cái số tột cùng của Trời đất, đến cái kiếp thứ năm là có sự an nhàn nghỉ ngơi, là tượng cái khí thái hoà của Âm Dương giao hoà nhau, hoà nhau một Dương 1 và một Âm 0 (không). Vì sao Dương 1 Âm 0 ? Bởi Càn ☰ 3 nét liền thay bằng dấu chấm nếu kéo thẳng xuống sẽ thành số 1, quẻ Khôn ☷ biểu tượng bằng 3 nét đứt, thay vào đó bằng 6 dấu chấm nếu ta nối liền các điểm này lại sẽ là số 0 nên mới có sự yên vui sung sướng. Vì lẽ đó đến cái mức của một cõi thì có sự nghỉ ngơi cho nên có sự đại diễn số, lấy tượng hoà số 5 trời với 10 đất tức là số 50.

Đức Hộ-Pháp, Ngài nói rằng: "Thọ lãnh thiên mạng với chơn lý chánh đáng là một GÍAO-CHỦ hướng dẫn con cái Đức Chí-Tôn với một tinh thần đạo-đức trong phạm vi đạo giáo mà thôi. Lấy một thiên tài, phận sự một công dân tạo hạnh phúc cho giống nòi Việt-Nam, gây dựng lập trường vững chắc và mới mẻ, chờ tiếp rước bậc hiền nhân, chí sĩ do giọt máu con Hồng cháu Lạc tức là dòng dõi của tiền đồ lưu lại, thành lập quốc gia công bình, chơn chánh, vị tha, không ham danh, chẳng màng lợi, mới có thể thuần túy được".

Nữ Trung Tùng Phận của Bà Đoàn mở đầu bằng câu:

Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.
Gươm thư giúp sức gươm hùng,
Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

 

 

CÔ BA ĐẮC

Cô Ba Đắc là một ca-kỹ có danh như Năm Phỉ, Phùng Há chẳng hạng của thời bấy giờ (lối 1930). Một người có sắc lại có tài, có lẽ chơn linh ấy cao trọng lắm mà xuống thế, rủi gặp một ông chồng tầm thường nên cô buồn duyên tủi phận mang bịnh mà lìa đời. Một hôm Cô giáng cơ cho một bài thi tả nỗi hồng nhan bạc phận.

Xót liễu vì oanh đã lạc chừng,
Bơ vơ Âm cảnh dạ băn khuăn.
Thề duyên trăm tuổi duyên chưa thỏa,
Hẹn liễu non chung nghĩa lỡ mừng.
Giá ngọc nâng niu tay khách chạ,
Tiếng vàng lở-dở một giai nhân.
Nấm mồ bạc mạng sầu sương khóc,
Một kiếp hồng nhan lắm nợ nần.

Thời gian lâu sau không thấy cô giáng bút. Chợt ngày 21-7-1934 tại Phạm Nghiệp cô xuất hiện nhờ sự nâng loan của Đức Hộ Pháp và Ngài Tiếp Đạo, tỏ hết tâm tình như sau:

"Dạ, em nhớ lại lúc trước có hứa lời chừng nào tái kiếp xứ Yougoslavie thì đến bạch cho chư vị tri-âm hay trước. Nay em định thu nầy tái thế nên đến từ nhau. Thảm thay nhiều đêm nhớ bạn muốn giáng văn tự thuật chút tình, song Thiên mạng cấm ngăn Thánh Địa, em lai vãng đến nhà Thầy Ba mà rủi chẳng ngộ cơ bày tỏ.

Từ Thi

Chấm lụy đề thi vĩnh biệt nhau,
Buồn vui âu đủ kiếp hoa đào (đào hát).
Liệng vành cánh bướm xôn xao gió,
Hòa tiếng vè ong thánh thót chào.
Ngó tiết lạnh lo mai lỡ buổi,
Dòm trăng chỉnh sợ ánh mòn hao.
Tùng căn thinh sắc theo cơ tạo,
Bán giỡn buôn vui vẽ thử màu.

Ôi! chưa biết con đường của em đi tới đâu mới gọi là cùng tận. Cái nguy trạng thấy ngờ ngờ biết đâu mà để đến phần hy vọng. Nay còn sang thì còn than thở, ngày kia mang mảnh thi hài rồi thì phàm chất cũng như ai, mong chi vẹn lánh oan nghiệt tội tình cho đặng.

Con đò tạo đưa đâu dựa đó, không bến không bờ.

Không nên cho biết ấy là điều cấm của Ngọc Hư.

Tại Thiên Điều cấm oan gia, buộc căn kiếp định sao hay vậy, nhưng nhờ Chí Tôn trong kỳ khai Đạo nầy cầm quyền hành chiếu cố thì chỉ cho định thời giờ và nơi tái kiếp mà thôi. Em xin từ giã vì có người đợi."

Văn chương thật tài tình lại còn thổ lộ huyền vi của tạo hóa, bởi không tu thân lập đức tạo nền âm chất nên kiếp thác phải long đong như cánh bướm trước ngọn gió đùa. Cuộc đời "bán giỡn buôn vui" của kiếp hoa đào phải trả quả bằng cách đày qua viễn xứ.

 

 

CÔ HỒN

孤 魂
E: Anbandoned spirits.
F: Âmes abandonées.

( là đơn độc một mình, Hồn là hồn của người (đây là chỉ hồn người chết). Cô hồn là những hồn lạc lỏng. Thông thường trong dân gian quan niệm rằng những hồn người chết mà không có con cháu cúng kiếng thì thành cô hồn. Nhưng Đức Hộ-Pháp nói rằng "không có cô hồn".

Tại Đền Thánh đêm 14 tháng 7 năm Canh Dần (1950)

"Hôm nay là ngày rằm Trung Nguơn có một điều từ thử đến giờ bên Phật Giáo lạc lầm về chỗ các đẳng linh hồn mà người ta gọi cô hồn đó, không có cô hồn đâu! Hoặc may ra, có lẽ mấy vị khi trước đã đạt pháp gặp đám ngạ quỉ súc sanh phần nhiều là con nít, các đẳng chơn hồn về súc sanh, cho nên các chơn hồn trẻ mãi thôi, vì cớ cho nên người ta làm áo thí cô hồn nhỏ nhỏ vậy. Không có cô hồn đâu, nếu như Bần Đạo không lầm thì người ta đã có một vị là cô hồn, ấy là người con gái, là Thanh Tâm Tài Nữ đã chết, là khi người tắm ở tại Cap St. Jacques bị chết chìm. Thanh Tâm Tài Nữ chết như thế mà không phải là cô hồn đâu. Các phẩm chơn hồn đạt phẩm vị nhơn phẩm không có cô quả bao giờ. Nơi cảnh Hư Linh hằng sống kia người ta còn có gia đình, thân tộc bạn tác anh em của người ta, không có một chơn hồn nào đã đạt nhơn phẩm mà gọi là cô hồn đặng. Có hay chăng là thiên hạ tưởng tượng vậy thôi. Tưởng người chết không con nối hậu, không ai phụng sự, xiêu mồ lạc mã, người ta cho là cô hồn, sự thật là không phải.

Bần Đạo lập lại lần nữa, không có cô hồn, chỉ có đám ngạ quỉ súc sanh mà thôi, như các đẳng chơn hồn mà chúng ta cầu nguyện trong Trung Nguơn đây là cốt yếu để cho họ giải quả thoát kiếp, có lẽ trước kia người ta biết một điều bí mật là các ngạ quỉ súc sanh hay ăn uống thường phá khuấy thiên hạ đặng kiếm ăn, còn chúng ta ngày Trung Nguơn hay là Thượng Nguơn chúng ta cúng kiến là cúng Ông Bà Tổ Phụ, Ông Bà và bạn tác đồng sống với chúng ta mới qui liễu.

Ngày cúng ấy là ngày chúng ta nhắc lại sự đau thảm chia ly với nhau trong kiếp sống. Còn kiếp chết của chúng ta sẽ được tương ngộ trên cảnh Hư linh hằng sống kia, cái cảm tình của chúng ta ngày đó dầu cho dưa muối mà chúng ta nhớ cái thâm tình ấy là quí trọng. Quí trọng hay chăng là cái lòng yêu ái của chúng ta dưng cho họ, nhớ tưởng đến họ mà thôi, "sanh như tiền, tử như thị", ấy là Đạo nhơn luân của chúng ta, nhứt là Đạo phong hóa của nhà Nam.

Bần Đạo lập lại lần nữa không có đám cô hồn đâu, nếu vị nào đạt được nhơn phẩm ở thế gian này dầu cho cô quạnh thế nào, nơi cảnh thiêng liêng hắng sống kia họ cũng có anh em bạn tác gia đình của họ, chúng ta không có người nào cô quả hết chỉ sợ có một điều là bạn tác, anh em chị em đồng sống với chúng ta mà họ không tu, khi về cảnh thiêng liêng hằng sống không thế gì mà gặp nhau được, cái đó mới vô phước và đáng sợ hơn hết, ngoài ra không có cô hồn, chỉ có đám ngạ quỉ súc sanh mà thôi….

Giờ phút này đừng cầu nguyện cho cô hồn nữa, mà chúng ta cầu nguyện cho con cái Đức Chí Tôn cho họ đủ năng lực để minh tâm kiến tánh, bảo trọng sanh mạng của họ mà thôi."

 

 

CÔ NHI VIỆN

孤 兒 院
E: Orphanage.
F: Orphelinat.

: Con mồ côi cha hay mẹ, hay cả cha mẹ. Nhi: trẻ con. Viện: sở lớn, nhà lớn. Cô Nhi viện là nhà nuôi trẻ mồ côi.

Việc lập các Cô Nhi viện là trách nhiệm của Cơ Quan Phước Thiện.

Cô Nhi Viện tại Tòa Thánh Tây Ninh được thành lập vào ngày 5-3-1959 tại dãy nhà mà trước kia Hội Thánh dùng làm Nhàn Du Khách Sạn, đường Ca Bảo Ðạo, nay dời về Cửa Số 3 trong Nội Ô Tòa Thánh, đường Thượng Trung Nhựt.

Cô Nhi viện gồm có 4 phòng:

1 phòng dành cho trẻ sơ sanh.
1 phòng dành cho trẻ từ 2 tuổi đến 5 tuổi.
1 phòng dành cho con trai từ 6 tuổi đến 17 tuổi.
1 phòng dành cho con gài từ 6 tuổi đến 17 tuổi.

Các con trai, ngoài giờ đi học, làm các công việc trong Viện như: Vệ sinh các nơi, sắp xếp bàn ghế,...

Các con gái, ngoài giờ đi học, thì chăm sóc và gìn giữ các em cô nhi còn bé.

 

 

CÔ NHI QUẢ PHỤ

孤 兒 寡 婦
E: Orphan and widow.
F: Orphelin et veuve.

: Con mồ côi cha hay mẹ, hay cả cha mẹ. Nhi: trẻ con. Quả: góa chồng. Phụ: đàn bà. Cô nhi quả phụ.nói tắt là Cô quả . Cô nhi là trẻ mồ côi. Quả phụ là đàn bà góa, chết chồng. (Người đàn ông chết vợ thì gọi là Quan phu 鰥夫). Cô nhi quả phụ là trẻ mồ côi và đàn bà góa.

Ðây là hai đối tượng cần được sự giúp đỡ của Cơ Quan Phước Thiện.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938):

Một cuốn sổ để cấp tế những người cô quả,...

 

 

CÔ PHẦN

孤 墳
E: Isolated tomb.
F: Tombeau isolé.

( 孤: đơn lẻ, một mình; Phần 墳: nấm mộ, nơi an nghỉ cuối cùng của con người). Nấm mồ cô lẻ ngoài nghĩa địa.

Đức Thích Ca Mâu Ni có khuyên con người rằng: Chớ có đợi lúc già mới học Đạo, những mồ hoang ấy toàn là của kẻ còn thiếu niên: "Mạc đãi lão lai phương học Đạo, Cô phần tận thị thiếu niên nhơn" 莫待老來方學道, 孤墳盡是少年人.

 

 

CÔ QUẢ

孤 寡

Đức Lý dạy:"Hộ Pháp! Bần đạo tưởng lời nói trên đây không phải quá đáng vậy. Đức Chí Tôn cũng hằng dạy chư Đạo hữu Hiệp Thiên Đài về khoảng ấy, nhưng vì Hiệp Thiên Đài chưa đủ kẻ đứng chung lo và giúp sức, thế nên phải chịu cô quả mà coi sự thành bại của việc Đạo. Chư Hiền Hữu từ đây nên hiệp trí chung lo mà mở một con đường mới dìu dắt chúng sanh, cái cơ quan ấy chưa chắc chư Đạo hữu sẽ làm đặng trọn, nhưng lần mở bước đầu đi, rồi sẽ có phương hay cho chư Đạo Hữu vững bước mà trì kéo những đứa đã quá sa lầm nơi tay tà quái."

 

 

CỐ ĐẤT CẦM VƯỜN

E: To pawn the earth and garden.
F: Engager de terre et jardin.

Cố: cầm thế để vay tiền. Ðất: ruộng đất. Vườn: vườn tượt trồng cây ăn trái.
Cố đất cầm vườn là nói hoàn cảnh của người nghèo gặp lúc thắt ngặt, không tiền để giải quyết công việc, phải đem vườn đất thế cho người giàu để xin vay tiền.
Nếu quá kỳ hạn ghi trong giấy tờ mà không trả cả vốn lẫn lời thì vườn đất bị mất luôn vào tay người giàu.

Kinh Sám Hối có câu:

"Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,
"Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn."

 

 

CỐ HỮU

固 友
E: Old friend.
F: Vieil ami.

Cố: cũ, xưa; cũng có nghĩa là vừa mới chết. Hữu: bạn. Cố hữu là người bạn cũ, người bạn xưa. Cố hữu cũng có nghĩa là người bạn mới vừa chết.

Trong Kinh Thế Ðạo có bài: Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu đã qui liễu, để tế lễ bạn cũ mới chết.

 

 

CỔ - QUẺ 18 SƠN PHONG CỔ

 

 
   

山 風 蠱

Tượng: Thời pháp nạn

Quẻ này là quẻ Sơn Phong Cổ. Tốn hạ là nội Tốn, Cấn thượng là ngoại Cấn. Cấn vi Sơn, Tốn vi Phong, nên tên quẻ đặt là Sơn Phong Cổ. Biệt số: 75.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ: Sau quẻ Dự, quẻ Tuỳ, tiếp theo quẻ Cổ là nghĩa làm sao?

DỰ là vui mừng; TUỲ là theo, vui mầng theo người tất có công việc làm.

Vậy nên sau quẻ Dự, quẻ Tuỳ, tiếp theo là quẻ CỔ.

Cấn ☶ là núi ở trên; Tốn ☴ là gió ở dưới; núi là sơn, gió là phong, đọc là Sơn-Phong Cổ. Có nhiều nghĩa:

- Chữ Cổ 蠱 nghĩa là giống trùng 虫 ở trong bụng làm cho người bị trướng, là bệnh cổ trướng. Phong, Lao, Cổ, Lại tứ chứng nan-y (bệnh mụn nhọt, ho lao, cổ-trướng, cùi lở-lói là bốn chứng bệnh rất khó chữa).

- Cổ 蠱 cũng là một vật độc làm hại người, ai ăn phải thì sinh ra ngây-dại, mê- man.

- Cổ 蠱 có ba chữ trùng 虫 ở trên, chữ mãnh 皿, là cái chậu, có nghĩa là tan rã ghê-tởm, hỗn-độn lúc nhúc như dòi vậy, tức nhiên máu huyết bị trùng độc hại.

- Cổ 蠱 có nghĩa là tan-hỏng vì làm việc. Có câu "Cổ giả sự dã" (cổ là công việc). Khi vật bỏ lâu ngày chẳng dùng thời sâu mọt sinh ra gọi bằng trùng cổ; người say đắm tửu sắc mà tật bệnh sinh ra gọi bằng bệnh Cổ.

Về Tượng: gió dưới núi, gió đụng núi mà quay lại.

Theo thể quẻ Cổ: trên có Cấn tượng núi, dưới có Tốn tượng gió, là dưới núi có gió. Cấn có đức ngưng dừng, Tốn có đức-tính lưu-loát. Gió bay ở dưới núi, gặp núi khi bị ngưng và sức gió thổi gặp chỗ ngưng dừng vật bị lộn-xộn, lúc-nhúc, rã rời tạo nên hình ảnh như là có nhiều sâu bọ trong chậu vậy.Thế nên có nhiều việc để làm Thế nên sau quẻ Tuỳ là đến quẻ Cổ.

Quẻ Tốn trong là Âm, ngoài có Cấn là Dương. Tức là trong âm ngoài dương, trong mềm ngoài cứng, trong thì yếu ớt, ngoài lại ngưng dừng, nên mới có nghĩa là Cổ.

Quẻ Cổ tượng thời kỳ pháp nạn:

Vừa qua là quẻ Tuỳ tượng cho Tam Trấn là như thế. Cơ Đạo tuy mới mở ra trên 50 năm nhưng những Môn đệ của Thầy cũng đủ sức nhập trường thi, nên Thầy khiến cho một cuộc thay đổi để thử gan anh tuấn, đồng thời cũng là thời kỳ để rửa ráy Thánh Thể của Chí Tôn nữa. Dịch ứng với thời Cổ này. Hầu như cơ Trời đang giục loạn nên khiến cho tất cả ly tán, ly tán để chuyển đổi tư tưởng cho con ngưởi tỉnh cơn mê, phá bỏ giấc mộng công hầu, chợt tỉnh giấc mộng Nam kha:

Giấc Nam Kha khá bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.

Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ có giáng dạy ngày 27-6-Bính Dần (Dl 5-8-1926) rằng:

"Thầy muốn các con hội hiệp đặng nghe dạy.

…Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Ðộ, các sự hữu hình phải hủy phá tiêu diệt.

Thầy đến chuyển đạo, lập lại vô vi. Các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thế nào diệt đặng. Th.. Thầy đã khiến con đi Ðế Thiên Ðế Thích đặng xem cho tạng mặt hữu hình. Nội thế gian nầy ngày nay, ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng đạo đức con, Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến. Thầy không muốn cho con hao tài tốn của mà gìn giữ sự giả dối."

 

 

CỔ KIM HÃN HỮU (Cổ Kim Hy Hữu)

古 今 穻 有

Cổ: Xưa, cũ. Kim: nay, ngày nay. Hy (Hãn): ít có. Hữu: có. Cổ kim hy hữu là xưa nay ít có.

Pháp Chánh Truyền dạy rằng: "Riêng ngôi Chưởng Pháp (3 vị) là Chức-sắc Hiệp Thiên-Đài hành quyền bên Cửu Trùng-Đài. Bởi Cửu Trùng Đài vẫn là chánh-trị mà Chưởng Pháp lại thuộc về luật lệ. Vậy thì Chưởng-Pháp là người thay mặt Hiệp Thiên-Đài nơi Cửu Trùng-Đài. Lãnh nhiệm vụ nghiên cứu Luật Pháp Đạo trước khi ban hành cho toàn Đạo. Ấy là cơ Đạo cổ kim hãn hữu" .

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Cửu Trùng Ðài vẫn là chánh trị, mà Chưởng Pháp lại thuộc về luật lệ. Vậy thì Chưởng Pháp là người thay mặt Hiệp Thiên-Đài nơi Cửu Trùng Ðài. Ấy là cơ Ðạo cổ kim hy hữu.

 

 

CỔ LAI HY

古 來 希
E: Rare suice antiquity.
F: Rare depuis l’antiquité.

Cổ: Xưa, cũ. Lai: tới. Hy: ít có. Cổ lai hy là ít có từ xưa.

Người xưa thường nói: Nhân sinh thất thập cổ lai hy: Người sống 70 tuổi xưa nay ít có. Do đó, thành ngữ "Cổ lai hy" dùng để chỉ tuổi thọ 70.

 

 

CỔ LỄ

樂 古
E: Ancien rites.
F: Rites antiques.

Cổ: Xưa, cũ. Lễ: lễ nghi, tức là cách bày tỏ bề ngoài sự kính trọng trong lòng. Cổ lễ là lễ nghi thời xưa.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Còn cổ lễ thì: Rượu là Khí, Bông là Tinh, Trà là Thần.

 

 

CỔ LUẬT

古 律
E: Ancient law.
F: Lois antiques.

Cổ: Xưa, cũ. Luật: pháp luật. Cổ luật là luật pháp thời xưa, tức là luật pháp có trước thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Cổ luật đồng nghĩa với Cựu luật, là luật pháp xưa cũ, tức là luật pháp thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ và thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Bởi cớ ấy nên Ðức Chí Tôn đã cấm Ngũ Chi Phái Ngọc dùng Cổ luật mà mê hoặc nhơn sanh.

 

 

CỔ MANG HÀNH HÌNH

Cổ: Cái cổ. Mang: đeo vào. Hành: làm. Hình: hình phạt. Cổ mang hành hình là bắt đeo gông vào cổ để thi hành hình phạt.

Kinh Sám Hối có câu:

"Âm đài gông tróng sẵn-sàng,
"Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình."

 

 

CỔ NHẠC

古 樂
E: Ancient music.
F: Musique ancienne.

Cổ: Xưa, cũ. Nhạc: âm nhạc. Cổ nhạc là âm nhạc cổ truyền của dân tộc VN.

Cổ nhạc Việt Nam rất hay, nhưng vì người đời nay ưa chuộng cái mới nên bỏ bê Cổ nhạc, đi học nhạc Tây phương (Tân nhạc) để tỏ ra mình tiến bộ, nhưng không ngờ đó là mất gốc. Ðáng lý những nhà âm nhạc VN phải đem cái hay, cái ưu điểm của nhạc Tây phương mà chỉnh đốn Cổ nhạc, làm cho Cổ nhạc tiến lên ngang bằng hay hơn hẳn nhạc Tây phương, thì đó mới là người trí vậy.

Các loại nhạc khí cổ truyền VN có nhiều thứ, được chia làm hai loại: Văn nhạc và Võ nhạc.

Văn nhạc gồm các nhạc khí phát ra âm thanh réo rắt thanh tao. Văn nhạc có nhiều cây đờn, nhưng 4 cây đờn chánh là: Kìm, Tranh, Cò, Ðộc huyền.

Ðàn Kìm: được gọi là Nhựt cầm. (Trước đây, người ta gọi đàn kìm là Nguyệt cầm, nhưng theo nhạc sĩ Nguyễn Văn Ngưu trong quyển Cổ Nhạc Tổ truyền Nguyên lý, đổi lại là Nhựt cầm thì đúng hơn). Thùng đờn hình tròn tượng trưng mặt nhựt, bề tròn thùng đờn là 3 thước 6 tấc 5 phân (thước ta) án theo số ngày trong năm, hai dây là Lưỡng nghi, 4 trục tượng trưng Tứ Tượng, 8 phiếm tượng trưng Bát quái, hoặc tượng trưng Bát hồn.

Ðàn Tranh: gọi là Bán Nguyệt cầm, vì thùng đờn có hình cong như mặt trăng khuyết, bề dài 3 thước 6 tấc 5 phân, đầu lớn bề ngang 8 tấc tượng trưng Bát quái, đầu nhỏ bề ngang 4 tấc, tượng trưng 4 mùa, có 16 dây, nên còn gọi là Thập lục huyền cầm.

Ðàn Cò: gọi là Tinh cầm, còn có tên là Hạc cầm vì cái mỏ cần đờn có hình mỏ chim hạc, cũng gọi là Hồ cầm vì đờn nầy có xuất xứ từ Ðộng Ðình Hồ.

Ðàn Ðộc huyền: còn được gọi là đàn Bầu, chỉ có một dây đàn, trống đàn là một khúc gỗ đục rổng, thường có kích thước: dài 1m20, ngang 0m12, cao 0m16.

Ngoài ra còn nhiều loại đàn khác thuộc Văn nhạc như: Ðàn Tỳ bà, đàn Tam (3 dây), đàn Tứ hay đàn Ðản (4 dây), các thứ ống sáo, tiêu, địch, sinh, v.v...

Võ nhạc: gồm các nhạc khí phát ra âm thanh mạnh mẽ, hùng hồn, kể ra sau đây:

Cách là tiếng trống.
Biều là tiếng kèn.
Thổ là tiếng bồng.
Mộc là tiếng mỏ, tiếng phách.
Thạch là tiếng đẩu, khánh.
Kim là tiếng bạc, đồng la.

Cổ nhạc VN có tất cả 20 bản tổ, chia ra 4 loại: 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), kể ra:

1. Bảy bài Ðông (hướng Ðông): Ở vào mùa Hạ, nên thường gọi là 7 bài Hạ, giọng nhạc bực tức, hùng hồn. Nhạc sĩ đờn 7 bài nầy day mặt về hướng Ðông.

Bảy bài Hạ, gồm: Xàng Xê, Ngũ Ðối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.

Ý nghĩa như sau:

Xàng Xê: Thời kỳ Hỗn độn sơ khai, các khí lộn lạo.

Ngũ Ðối Thượng: Ngũ Khí nhẹ nổi lên làm Trời.

Ngũ Ðối Hạ: Ngũ Khí nặng hạ xuống làm đất. Ðó là Ngũ Hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ.

Long Ðăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí.

Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí.

Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị,

Tiểu khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.

2. Ba bài Nam: Ở vào mùa Thu, giọng nhạc trầm buồn ai oán. Nhạc sĩ đờn 3 bài nầy thì day mặt về hướng Nam.

Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Ðảo Ngũ Cung.

Nam Xuân: gặp mời, mừng. (Thượng nguơn)

Nam Ai: trông mong, ngưỡng mộ. (Trung nguơn)

Ðảo Ngũ Cung: bày tỏ, tái ngộ. (Hạ nguơn)

Ba bài Nam nầy có 4 giọng đờn khác nhau tùy theo 4 mùa (Tứ quí: Xuân, Hạ, Thu, Ðông) kể ra:

Giọng Xuân (mùa Xuân) biểu thị mát mẻ, tỏ rạng, vui tươi,

Giọng Ai (mùa Hạ) biểu thị nóng nực, tâm hồn buồn thảm.

Giọng Ðảo (mùa Thu) biểu thị mưa dầm, xây vần, đảo lộn.

Giọng Xong cước (mùa Ðông) biểu thị thâm trầm, mùi mẫn.

3. Sáu bài Bắc: Ở vào mùa Xuân, giọng nhạc vui tươi. Nhạc sĩ đờn 6 bài nầy thì day mặt về hướng Bắc.

Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy Trường, Xuân Tình, Phú Lục, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Cổ Bản.

4. Bốn bài Tây: thường gọi là 4 bài Oán, ở vào mùa Ðông, giọng nhạc hiền hòa, non nước thanh bình. Nhạc sĩ đờn 4 bài nầy thì day mặt về hướng Tây.

Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu, Phụng Hoàng.

 

 

CỔ PHÁP

古 法
E: The archaic attributes.
F: Les attributs archaïques.

(Cổ: Xưa, cũ. Pháp: có rất nhiều nghĩa, ở đây có nghĩa là cái dấu hiệu của một Tôn giáo). Vậy Cổ pháp là cái dấu hiệu riêng tượng trưng của nền các Tôn-giáo xưa.

- Bình Bát vu tượng trưng Phật giáo.
- Cây Phất chủ tượng trưng Tiên giáo.
- Quyển Kinh Xuân Thu tượng trưng Nho giáo.

Ngày nay Ðức Chí Tôn dùng Cổ pháp Tam giáo hiệp với Long Tu Phiến và Thư Hùng kiếm làm thành Cổ pháp duy nhứt, gọi tắt là các CỔ PHÁP CAO ĐÀI.

Ðạo Cao Ðài có tất cả bốn Cổ pháp:

 
   

1. Cổ Pháp Hộ Pháp: gồm Bình Bát vu, Cây Phất chủ và Kinh Xuân Thu. Cổ Pháp nầy có ý nghĩa là Ðức Hộ Pháp nắm trọn Bí-Pháp Tam giáo, để thực hiện tôn chỉ "Qui Nguyên Tam Giáo" trong thời Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

2. Cổ Pháp Thượng Phẩm: gồm Phất chủ và Long Tu phiến đặt chồng lên nhau. Cổ pháp nầy có ý nghĩa là Ðức Thượng Phẩm dùng pháp bửu đưa các chơn hồn đắc đạo đi lên; vào Tam thập Lục Thiên hay Cực Lạc thế Giới .

3. Cổ Pháp Thượng Sanh: gồm Phất chủ và Thư Hùng kiếm, gác tréo lên nhau. Cổ pháp nầy có ý nghĩa là Ðức Thượng Sanh dùng pháp bửu để trị thế, dọn đường cho nhơn sanh đi vào cửa Ðạo.

4. Cổ Pháp Giáo Tông: gồm Cổ pháp của Thượng Phẩm và Thượng Sanh ghép chung lại. Gồm có ba pháp bửu: Phất chủ, Long Tu phiến, Thư Hùng kiếm, có ý nghĩa là Ðức Giáo Tông nắm Cơ chuyển thế, giáo hóa nhơn sanh, hướng Ðời vào Ðạo, làm cho Ðời tận thiện tận mỹ.

5. Cổ Pháp Chưởng Pháp: mỗi Chưởng pháp có Cổ pháp riêng.

- Thái Chưởng Pháp có Cổ pháp là Bình Bát vu.
- Thượng Chưởng Pháp có Cổ pháp là Cây Phất chủ.
- Ngọc Chưởng Pháp có Cổ pháp là Kinh Xuân Thu.

Nhập ba Cổ pháp của ba Chưởng pháp thành Cổ Pháp Hộ Pháp, cũng là biểu hiệu của thời Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

 

 

CỔ PHÁP GIÁO TÔNG

古 法 教 宗

"Hai bên cổ áo, mỗi phía có ba Cổ-pháp là: Long Tu phiến, Thư Hùng-kiếm và Phất-chủ (ấy Cổ-pháp của Thượng Phẩm và Thượng-Sanh trị thế).

Đặc biệt là hai con số 2 và 3 (hai bên cổ áo, mỗi phía có 3 Cổ-pháp): Số 2 là số Thiếu-Âm, số 3 là số Thiếu Dương. Cọng chung lại 2+3=5 đó là Ngũ Hành. Lại nữa, hai bên cổ áo, mỗi phía có 3 Cổ-pháp, vậy hai bên phải 6 cái: chứng tỏ đây là tam Âm tam Dương như đã có nói trước đây. Cổ-Pháp của Thượng-Sanh là Phất Chủ và Thư Hùng-Kiếm, Cổ Pháp của Thượng-Phẩm là Long Tu Phiến. Hai vị Thượng Phẩm và Thượng Sanh là Chức sắc Hiệp Thiên Đài. Giờ đây Cổ-Pháp của hai vị này họp lại là CỔ-PHÁP của Giáo-Tông (Cửu Trùng Đài).

 

 

CỔ PHÁP HỘ PHÁP

古 法 護 法
E: The archaic attributes.
F: Les attributs archaïques.

Pháp Chánh Truyền: Đây là "ba món Cổ-Pháp của ba vị Chưởng-Pháp bên cơ-quan Cửu-Trùng-Đài họp lại là CỔ-PHÁP của Hộ Pháp:

* Thái Chưởng-Pháp thì Bình Bát-Vu.
* Thượng Chưởng-Pháp thì Cây Phất chủ
* Ngọc Chưởng-Pháp thì Bộ Xuân Thu.

 
   

Hiệp một gọi là Cổ-pháp. Ba cái Cổ Pháp ấy vốn của Hộ-Pháp hằng kỉnh trọng." Ấy cũng là một lý: trong Âm có Dương và ngược lại trong Dương có Âm, dịch nói Âm trung hữu Dương căn, Dương trung hữu âm căn. Đây cũng gọi là Cổ Pháp Tam Giáo.

Phần Thể Pháp Cao-Đài thì thấy: Cổ Pháp Tam giáo trên lá cờ Đạo, hay trên lan can lầu Phi Tưởng Đài, hoặc trên Thiên phục chức sắc,…đều có hình Cổ Pháp Tam giáo. Cổ Pháp Tam giáo gồm: Bình Bát Vu, Cây Phất Chủ và Quyển Xuân Thu. Bình Bát Vu đặt ở giữa, Phất Chủ và Xuân Thu đặt ở hai bên.

- Bình Bát Vu tượng trưng Phật giáo.
- Cây Phất Chủ tượng trưng Tiên giáo.
- Sách Xuân Thu tượng trưng Nho giáo.

Hiệp ba món ấy lại với nhau để tượng trưng Tôn chỉ của Đạo Cao Đài là "Tam Giáo Qui Nguyên" tức là đem ba nền Tôn giáo lớn ở Á Đông (Phật giáo- Tiên giáo - Nho giáo) hiệp trở về một gốc, đó là Đại-Đạo, do Đức Thượng Đế làm chủ.

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu,
"Hiệp qui Tam giáo hữu cầu chí chơn".

- Bình Bát Vu: là Bửu Pháp của nhà Phật. Như Đức Thích Ca tắm nơi sông Hằng, Ngài cũng chưa biết rằng đã đoạt Đạo. Ngài nguyện nếu quả Ngài đắc Pháp đủ quyền năng tế độ chúng sanh, xin cho Bình Bát Vu nổi và trôi ngược dòng nước. Sau khi thả Bình Bát Vu xuống sông Hằng, sự thật được như ý nguyện. Do đó mà Đức Phật mượn Bình Bát Vu đi phổ độ chúng sanh. Ấy là cái bình bát đựng đồ ăn của các Tăng Ni Phật giáo, phái Khất Sĩ, dùng để đi khất thực. Mỗi vị sư, sau khi thọ giới cụ túc, được vị Hòa Thượng nhơn danh Giáo Hội, truyền cho một cái Bát. Lúc thọ lãnh bát, vị sư nguyện ba lần bài chú sau đây: "Thiện tai Bát-đa-la, Như Lai ứng lượng khí: Phụng trì dĩ tư thân, trưởng dưỡng trí mạng. Án chỉ rị chỉ rị phạt nhựt ra hồng phấn tra". Nghĩa là lành thay cái Bát-đa-la, món đồ ứng lượng của Phật. Tôi nay phụng trì để nuôi thân và nuôi lớn cái mạng trí huệ. Sau cùng là câu Thần-chú bằng tiếng Phạn. Bát-đa-la là phiên âm từ tiếng Phạn PATRA, có nghĩa là cái bát, cái Bình bát hay Bình Bát vu.

Bình Bát Vu còn là một trong hai tín vật của Phật giáo mà các Tổ Sư gìn giữ làm bảo vật để truyền kế ngôi Tổ Sư. Hai tín vật đó là: Y và BÁT.

Y là cái áo cà-sa và Bát là cái Bình-Bát-vu. Nguyên hai tín vật nầy là của Đức Phật Thích Ca sử dụng trong lúc Đức Phật còn sanh tiền.

Khi Đức Phật tịch, Phật truyền hai món nầy lại cho Ma-Ha Ca-Diếp làm tín vật để giữ ngôi Nhứt Tổ Phật giáo Ấn Độ. Sau đó, Ma-Ha Ca-Diếp truyền Y Bát lại cho A-Nan làm Nhị Tổ Phật giáo Ấn Độ. Y Bát nầy truyền dần xuống đến đời Tổ Sư thứ 28 là Bồ-Đề-Đạt-Ma, thì Đạt-Ma Tổ Sư đem Y Bát sang Trung Hoa để mở mang Phật giáo tại nước nầy.

Đat Ma-Tổ-Sư trở thành Sơ Tổ của Phật giáo Trung Hoa. Đạt Ma Tổ Sư truyền Y Bát lại cho 4 đời Tổ Sư nữa thì đến đời Lục Tổ Huệ Năng. Sau đời Lục Tổ Huệ Năng, không còn lệ truyền Y Bát nữa, vì theo lời di chúc của Đạt-Ma Tổ Sư, 200 năm sau kể từ ngày Ngài lên Ngôi Tổ thì Y Bát không được truyền nữa. Vì sự hệ trọng của Y và Bát như thế, nên Đạo Cao Đài chọn Bình Bát Vu làm Cổ Pháp tượng trưng Phật giáo.

Phất Chủ: (Phất là quét, chủ là con chủ. Con chủ là loài thú thuộc loại nai, hình dáng như con hươu nhưng lớn hơn, lông đuôi dài chấm đất, khi đi thì cái đuôi phẩy qua phẩy lại để quét cho sạch bụi). Do đó, Phất chủ là cái chổi quét bụi làm bằng lông đuôi con chủ, nên cũng gọi là Phất trần (quét bụi).

Các vị Tiên thường dùng lông đuôi chủ để làm chổi quét bụi. Nhưng đây là cây chổi Tiên, nên có rất nhiều phép tắc mầu nhiệm, dùng để quét sạch bụi trần bám vào che lấp cái Tâm, để cho Tâm được trong sạch, sáng tỏ.

Nguồn gốc cây Phất chủ là của Đức Thái Thượng Lão Quân. Do đó, Phất chủ là bửu bối của Tiên gia. Đạo Cao Đài chọn Phất chủ làm Cổ Pháp tượng trưng Tiên giáo. Đức Thái Thượng cùng các bậc Tiên gia đều dùng, tất nhiên cũng là bửu pháp của phái Tiên để vân du thế giới tế độ chúng sanh. Kinh Thế Đạo có câu: "Chổi Tiên quét sạch nợ trần oan gia".

Xuân Thu: là quyển sách do Đức Khổng Phu Tử san định, cũng xem như Bửu Pháp của Nho Giáo.

Xuân Thu là tên của một quyển sách do Đức Khổng Tử làm vào lúc cuối cuộc đời của Ngài, sau khi Ngài đã san định xong Ngũ Kinh. Đây là bộ sử nước Lỗ do Đức Khổng Tử ghi chép những việc quan trọng xảy ra hằng năm, từ đời Lỗ Ân Công nguyên niên, tức là từ năm thứ 49 đời vua Chu Bình Vương, đến đời Lỗ Ai Công năm thứ 14, tức là năm thứ 39 đời vua Chu Kinh Vương, trong thời gian 242 năm. Đây là một giai đoạn lịch sử Trung Hoa, thời kỳ cuối của nhà Chu (Châu), ngôi Thiên tử suy nhược, bị bọn Ngũ Bá: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công, Sở Trang Công, nổi lên lấn át quyền Thiên tử, các nước chư Hầu tranh chiếm lẫn nhau, các sử gia gọi là thời đại hỗn loạn nên người đời sau mượn tên Kinh Xuân Thu để gọi thời đại ấy là thời Xuân Thu (722-480 trước Tây lịch).

Mặc dầu Kinh Xuân Thu là một cuốn sách sử, nhưng khi ghi chép, Đức Khổng Tử vận dụng văn tự và bút pháp để khen chê, để phân biệt kẻ thiện người ác hết sức minh bạch và đanh thép, nên người đời sau đã phải công nhận đó là búa rìu trong Kinh Xuân Thu (Xuân Thu phủ việt), cũng như nói: Đức Khổng Tử làm Kinh Xuân Thu mà bọn loạn thần tặc tử sợ "Khổng Tử tác Xuân Thu nhi loạn thần tặc tử cụ". Vì thế Kinh Xuân Thu đã có tác dụng về Đạo lý, đã giữ địa vị quan trọng trong nền văn hóa Đông phương nói chung và Nho giáo nói riêng, trong sự biểu dương học thuyết "Chính danh, Nhất quán, Trung Dung, Đại Đồng" của vị Vạn Thế Sư Biểu mà dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng hơn 2000 năm nay.

Kinh Xuân Thu còn có tính cách điển hình gương mẫu cho người đời sau phải tôn trọng danh dự và nhiệm vụ trong khi viết sử, được liệt vào năm Bộ Kinh căn bản của Nho giáo: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu".

Trong lúc châu lưu Lục-quốc, Đức Khổng Phu Tử đã không thành công trong việc truyền giáo, Ngài mới trở về nước Lỗ lập Hạnh đàn dạy được Tam thiên đồ đệ, sau chỉ còn lại Thất Thập Nhị Hiền. Ngài thấy đời loạn lạc: nào vua tôi, cha con, anh em, chồng vợ sát hại nhau, bỏ mất đạo làm người, quên cả luân thường đạo lý, nên Ngài soạn sách Xuân Thu, phân định quyền hành: quân minh, thần trung, phụ từ, tử hiếu. Đời nhớ ơn Khổng Phu Tử, là sự nghiệp của Ngài từ nước Lỗ làm sách Xuân Thu phân biệt đạo vua tôi chấn hưng phong hoá.

Xuân: Nhứt tự ngụ chi bao (một chữ để khen).
Thu: Nhứt tự ngụ chi biếm (một chữ để chê).

"Nhứt tự chi bao vinh ư hoa cổn, nhứt tự chi biếm nhục ư phủ Việt" nghĩa là: ai được một chữ khen của Ngài vinh diệu như mặc được áo hoa cổn của vua ban, ai bị một chữ chê của Ngài nhục không khác búa rìu. Thế nên đến đời Tam Quốc, Đức Quan Thánh Đế Quân hằng trân trọng bộ Xuân Thu.

Vậy: Cổ Pháp Hiệp Thiên Đài là tiêu biểu của ba Đạo: Nho- Thích- (Lão) Đạo, mà ta nhìn thấy dính liền với nhau còn có nghĩa là sự Qui Nguyên Tam Giáo. Nghĩa là Đạo chỉ có một mà thôi. Tôn chỉ của Đại-Đạo là "Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhất Ngũ Chi" (là Nhơn đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo) mà Đạo Cao Đài đang lo chấn hưng để phổ hoá cho toàn nhơn loại nên gọi là Đại Đạo, có thế mới trấn phục cả hoàn cầu được. (Theo Ông Lê phục Thiện, chuyên viên Hán học TTHL)

Xem như thế, Kinh Xuân Thu là một bộ sách rất quan trọng, tiêu biểu cho Đức Khổng Tử, mà cũng tiêu biểu cho Nho giáo. Đức Quan Thánh thuở sanh tiền lập chí nhờ ở Bộ Xuân Thu. Do đó, Đạo Cao Đài lấy Kinh Xuân Thu làm Cổ Pháp tượng trưng Nho giáo làm nền tảng cho học thuyết.

Đây cũng chính là Cổ Pháp Tam giáo được dùng vào:

Hiện nay trên lá Cờ Tam Thanh treo nơi Bao lơn Tòa Thánh hoặc nơi lan-can của lầu Phi Tưởng Đài, có hình Cổ Pháp Tam Giáo. Cổ pháp Tam giáo gồm ba món:

- Bình Bát vu của Phật giáo đặt ở giữa.

- Cây Phất chủ của Lão giáo (Tiên giáo) bên phải của Đức Chí-Tôn (ở trong nhìn ra)

- Kinh Xuân Thu của Nho giáo đặt bên trái của Đức Chí-Tôn (bên trong nhìn ra)

Ba món bửu pháp này đặt đúng vào vị trí của các Thánh trên tượng Ngũ Chi đó vậy. Ghép ba món này lại với nhau tượng trưng Tôn chỉ của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ tức "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt".

Đức Quan Thánh quyết lập chí ở Xuân thu, có lời khen:

"Chí tại Xuân Thu tâm tại Hớn
"Trung đồng Nhựt nguyệt nghĩa đồng Thiên"

 

 

CỔ PHẬT

古 佛

Là vị Phật của thời xa xưa, như Đức Nhiên Đăng Cổ Phật.

Cổ Phật ( J: kobutsu) nguyên nghĩa là vị Phật thời xưa. Danh hiệu này được sử dụng để tỏ sự kính trọng trước một người đã đạt Giác ngộ thâm sâu. Các vị Thiền sư cũng thường sử dụng danh từ này trong các Ngữ lục của mình để chỉ các vị Tổ sư, các bậc tiền bối.

Pháp Chánh Truyền dạy: "Cái cơ tấn hóa Thiêng Liêng vẫn thế, chẳng khác nào như có một quyền hành mạnh mẽ buộc các đẳng linh hồn phải thuận tùng mà lập thành địa vị, đẳng cấp, cho đến ngang bậc cùng Trời, dầu cho Cổ Phật cũng khó toan tránh khỏi."

 

 

CỔ VẬT

古 物

(Cổ là xưa, vật là đồ vật). Cổ vật là vật xưa.

Chữ Cổ vật dùng ở đây có nhiều ý nghĩa: một là vật xưa là vật quí giá. Hai là nói vật xưa là không còn giá trị với thời gian. Trong trường hợp này dùng ở nghĩa sau.

Đức Hộ-Pháp nói: "Những cơ-quan và những hành-vi hiện-tượng của các Tôn-giáo đương-nhiên ngày nay như dường biến thành cổ-vật, nên đã mất cái hay để giúp đời tự-trị, tự giác, tâm hồn thiếu nơi an-ủi, tư-tưởng mất pháp chuẩn thằng, trí thức không phù hành-động, biểu sao đời không trở nên một trường náo-nhiệt, rắc-rối, khó-khăn, rồi giục cho cả nhơn sanh dong ruổi trên con đường duy-vật mà quên hẳn cái quyền vi chủ của trí-thức tinh-thần."

 

 

CỘ BÔNG

E: The flowery float.
F: Le char décoré.

Cộ: xe. Bông: hoa. Cộ bông là chiếc xe được trang trí đèn, hoa, và hình tượng của những nhân vật trong các tích xưa để nói lên một giáo lý của Ðạo, có tính cách làm gương cho đời.

Cộ bông nầy được chạy diễn hành trong các ngày Lễ lớn của Ðạo như: Lễ Vía Ðức Chí Tôn, Lễ Vía Ðức Phật Mẫu.

Hội Thánh có đặt nhiều giải thưởng cho những cộ bông đẹp và có ý nghĩa nhứt.

 

 

CỘ ĐÈN

E: The defile of children with lanterns.
F: Le défilé des enfants avec lanternes.

Cộ đèn: Trong đêm Trung Thu, Lễ Vía Ðức Phật Mẫu, các học sinh, mỗi em cầm một lồng đèn, đi biểu diễn từ Tòa Thánh đến Báo Ân Từ, và sau đó đi trên các con đường chánh trong Nội Ô Tòa Thánh, gọi đó là đi dâng Cộ Ðèn.

Hàng ngàn lồng đèn lắc lư từ tay các thiếu nhi tỏa ánh sáng chập chờn trong đêm tối, tạo thành một khung cảnh vô cùng xinh đẹp và huyền ảo.

Sau đó, Hội Thánh phát thưởng cho những em nào có lồng đèn đẹp nhứt và có ý nghĩa nhứt.

 

 

CỘ HỘI YẾN PHẢI CÓ

Lịnh của Đức HỘ-PHÁP ở Nam-Vang gởi về hôm tháng 8 năm Đinh-Dậu. Lịnh của Đức Ngài rằng:

"Qua hay tin Hội-Thánh ngày nay làm lễ Đức Chí-Tôn và Đức Phật-Mẫu đều hiu-quạnh hơn khi Qua còn ở nhà. Thoảng như hai mươi mấy cái Cộ có thể cũng còn biến chế được còn riêng Cộ Hội-Yến phải có. Nếu Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài đã cầm quyền Đạo ngày nay mà Cộ Hội-Yến không có thì mặt Thiên-Điều sẽ đem họ về sớm không thể tránh khỏi. [ HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

CỖI ÁCH LỆ THUỘC

Ngài Khai Pháp khi được lịnh của Chí-Tôn liền nói:

"Tôi tưởng dòng dõi của dân tộc Việt Nam trên bốn ngàn năm đã chết, nào dè ngày nay Đức Chí Tôn đến định lập Quốc Đạo thì chắc hẳn rằng đất nước Việt Nam sẽ sống lại được mà là cứu chữa Tổ quốc và giống nòi dân tộc Việt Nam sẽ cỗi ách lệ thuộc giữa thời Pháp thuộc đang bạo hành."

 

 

CÔN LÔN

崑 崙

(Côn lôn: tên một ngọn núi cao nơi cõi thiêng liêng). Ở hữu hình thì Núi Côn Lôn trong dãy núi ở Tân Cương, Trung Quốc.

Theo truyện Phong Thần, Ðức Lão Tử và Ðức Nguơn Thủy Thiên Tôn, Giáo chủ Xiển giáo ở trên núi Côn lôn. Còn Ðức Thông Thiên, Giáo chủ Triệt giáo ở tại Ðộng Bích Du.

Xiển giáo là Chánh đạo; Triệt giáo lần lần trở thành Bàng môn Tả đạo. Núi Côn lôn là chỉ Xiển giáo; Ðộng Bích du là chỉ Triệt giáo. Đức Lão Tử khi đạt được bí mật của Bát Quái Đồ xong rồi, Ngài từ giã nhà Châu, Ngài về Côn-Lôn-Sơn mà an nghỉ, Môn đệ của Ngài hỏi:

"Ngài về Côn Lôn Sơn để làm gì ? Có hạnh phúc hay không? - Ngài trả lời: "Duy có cái Biết của ta mà nó làm cho ta có cái thú vị sống đặc biệt riêng, không cần nói rõ hạnh phúc ấy ra thế nào? Nhưng ta chỉ nói rằng: cái biết của ta nó làm cho ta hưởng được thú vị an ủi của cái sống ấy".

Nếu Đức Lão-Tử không làm Thượng-Thơ-tịch vô Đại thơ phòng nhà Châu; nếu Ngài không vô Thư Viện nhà Châu lật Bát-Quái-Đồ của Phục Hi để lại, chưa chắc rằng Ngài đã đoạt pháp. Ngài ngồi tìm tòi coi Bát-Quái-Đồ để trong Thư Viện nhà Châu, tức nhiên Bí Pháp của Đức Chí Tôn dành để cho Lão Tử. Khi Ngài đã đạt được Bát Quái Đồ rồi, Ngài được trở nên vị Giáo Chủ danh vọng đến đời nay".

Đức Hộ-Pháp nói: "Thật ra Bần Đạo không ngờ mà Ngài đã tiên định rằng: Cái thời cuộc đương nhiên hôm nay là tấn tuồng của Phong Thần diễn lại đó vậy. Trước Linh Vị của các Anh Linh Chiến Sĩ Bần Đạo tưởng tượng chẳng khác nào Côn Lôn Sơn của Đức Lão Tử chịu tâm khổ lập bảng Phong Thần, Ngài đã chịu đau thảm về tinh thần thế nào, thì ngày nay Bần Đạo cũng chịu y như thế ấy".

Đức Quyền Giáo Tông họa thi của Hộ Pháp, đảo vận:

Tài ba Động Bích bao nhiêu sức?
Quyền phép Côn Lôn sẵn mấy bầu.
Quyết đoán cuộc cờ, ai thắng bại?
Chỉn xem Tiên Phật hướng về đâu ?

Kinh Khi Về có câu:

"Dẫy xe trâu Côn Lôn trổi bánh,
"Lý Lão Quân mong lánh phong trần."

 

 

CÔN TRÙNG THẢO MỘC

昆 虫 草 木

Kinh Sám Hối có câu:

"Thượng cầm hạ thú lao-xao,
"Côn-trùng thảo-mộc loài nào chẳng linh."

 

 

CÔNG ÁN (Phật Học)

公 案

Công án (C: gōng-àn; J: kōan) nguyên nghĩa của danh từ này là một án công khai, quyết định phải trái trong quan phủ;

Một thuật ngữ quan trọng của Thiền Tông, chỉ một phương pháp tu tập Thiền định đặc biệt.

Công án có thể là một đoạn Kinh, một kinh nghiệm giác ngộ, một câu chuyện về một vị sư, một cuộc đàm thoại, vấn đáp hay một cuộc Pháp chiến. Nhưng chúng có chung một điều là nói đến thể tính của vạn vật. Ðặc trưng của công án là thường thường nghịch lý, "nằm ngoài phạm vi của lý luận". Công án không phải là "câu đố" thông thường vì nó không hề được giải đáp bằng lý luận, muốn hiểu nó phải nhảy qua một cấp độ khác của nhận thức.

Khoảng giữa thế kỷ thứ 10, Thiền Tông bắt đầu dùng công án như phương tiện để giáo hóa và các thiền sinh sử dụng chúng làm đối tượng quán tưởng trong lúc thiền. Vì lời giải của công án thường nằm ngoài lý luận, nên Thiền sinh thấy rõ giới hạn của tư duy và bị buộc phải chuyển hóa tâm thức bằng một bước nhảy của trực giác, nhảy qua khỏi sự mâu thuẫn của lý luận nhị nguyên. Với tâm thức này, Thiền sinh có một kinh nghiệm trực tiếp về thể tính. Phương tiện công án được phổ biến trong các dòng Thiền Lâm Tế, Tào Ðộng ở Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta cho rằng có tất cả khoảng 1700 công án – một con số mang giá trị trừu tượng – và trong số đó 500-600 ngày nay còn được lưu hành tại Nhật. Phần lớn các công án được ghi lại trong các tập như Vô môn quan, Bích nham lục, Thong dong lục, Lâm Tế lục.

Người ta thường nhắc đến việc sử dụng công án làm phương tiện tu tập trong tông Lâm Tế nhưng chính tông Tào Ðộng cũng thường hay sử dụng. Các vị Thiền sư sau này khuyến khích Môn đệ của mình tham quán công án nhằm cản trở tâm thức của Thiền sinh trở lại tâm trạng của Phàm phu – sau khi đã nếm được mùi vị giác ngộ lần đầu, có thể gọi là "lần đầu thấy Đạo". Ngoài ra, việc quán công án cũng giúp Thiền sinh phát triển và mở rộng kinh nghiệm giác ngộ cho đến lúc Ðại ngộ triệt để, được thầy Ấn khả.

Khi trắc nghiệm sự chứng ngộ của Môn đệ đang trong lúc tu tập công án cấp cao, các vị Thiền sư thường đặt ra những câu hỏi đặc biệt, hỏi ngang dọc, hỏi về sự liên hệ của công án (Thiền sinh đang quán) với giáo lý Ðại Thừa, đặt những câu hỏi mới, khác biệt 雜則 (tạp tắc; j: zassoku) song song với công án chính 本則 bản tắc ( j: honsoku) và vì vậy, công án chính được sáng rọi cùng tận bằng nhiều cách khác nhau. Ðiều dĩ nhiên là Thiền sinh không thể tham quán tất cả 1700 công án nhưng một số tương đối lớn được tham quán và Thiền sinh được trắc nghiệm tường tận.

Trong tông Lâm Tế tại Nhật, các vị Thiền sư thường phân biệt năm loại công án:

1. Pháp thân công án 法 身 公 案 (j: hosshin-kōan): chỉ các loại công án có thể giúp đỡ Thiền sinh chỉ một bước một vượt thế giới nhị nguyên, lần đầu chứng ngộ trực tiếp Pháp thân (s: dharmakāya; j: hosshin), Phật tính (s: buddhatā; j: busshō), theo Tâm kinh thì gọi là "Sắc tức là Không". Rất nhiều công án trong các tập danh tiếng được xếp vào loại này mà nổi danh nhất có lẽ là công án thứ nhất của tập Vô môn quan với tên "Con chó của Triệu Châu."

2. Cơ quan công án 機 關 公 案 (j: kikan-kōan) cơ quan ở đây có thể hiểu là bộ phận, dụng cụ: mục đích của các Pháp thân công án là thế giới bất phân biệt, nhưng Thiền sinh chưa được dừng chân nơi đây. Cơ quan công án hướng dẫn Thiền sinh đến một bước nữa, phân biệt trong thế giới không phân biệt, ngộ được lý "Không tức là Sắc". Ðược xếp vào loại này là công án 17 và 37 của Vô môn quan.

3. Ngôn thuyên công án 言 詮 公 案 ( j: gonsen-kōan): chỉ những công án mà thiền sinh phải tham quán ý nghĩa tột cùng của ngôn ngữ mà chư vị tiền bối sử dụng hoằng hóa (ngôn thuyên nghĩa là ngôn ngữ giải thích kỷ càng, trọn vẹn). Các vị Thiền sư sử dụng ngôn ngữ rất tài tình, đầy thi vị nhưng điểm đặc sắc nhất là các ngôn ngữ này không hề dừng bước chỉ trong khuôn khổ thẩm mỹ mà vượt qua cả nó, bao hàm ý nghĩa cùng tột, trực chỉ chân lý. Ðại diện cho loại công án này chính là Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ. Một số công án trong Vô môn quan cũng được xếp vào loại này (21,24,27,30,33, 34).

4. Nan thấu công án 難 透 公 案 (j: nantō-kōan): chỉ những công án khó (nan) lĩnh hội (thấu) vì những sự đối nghịch ngay trong trường hợp được trình bày. Các công án thuộc loại này giúp Thiền sinh khinh an thấu rõ được sự vô ngại của sự vật, có thể nói theo giáo lý của Hoa nghiêm Tông là Sự sự vô ngại 事 事 無 礙. Chính sự chinh phục, thấu hiểu lý này là yếu tố của tâm tư khinh an, tự do tự tại mà các bậc giác ngộ thụ hưởng. Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc thường nhắc đến tám công án thuộc loại này mà trong đó ba công án nằm trong tập Vô môn quan, đó là tắc 13, 35, 38. Công án 38 như sau: "Ngũ Tổ Pháp Diễn hỏi chúng: Ví như con trâu đi qu