CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần B

 

BA

Ba (1)

Ba (2)

Ba Bậc Phẩm Nhơn Sanh

Ba Cách Lập Vị Để Về Với Đức Chí Tôn

Ba Chi (1)

Ba Chi (2)

Ba Chung Rượu

Ba Đài

Ba Đạo

Ba Giềng - Ba Mối

Ba Kỳ (Tam Kỳ)

Ba Lần Khai Đạo

Ba Mươi Hai Tướng Tốt

Ba Mươi Sáu Cõi Thiên Tào

Ba Ngàn Công Quả

Ba Ngôi

Ba Ngôi: Thái - Thượng - Ngọc

Ba Ngôi Tháp (Cửu Trùng Đài)

Ba Ngôi Tháp (Hiệp Thiên Đài)

Ba Nhánh

Ba Phái (1)

Ba Phái (2)

Ba Pho Tượng (Chức Sắc Hiệp Thiên Đài)

Ba Sinh (Ba Sanh)

Ba Thân

Ba Thần Phẩm

Ba Thừa (Tam Thừa)

Ba Trấn (Tam Trấn Oai Nghiêm)

Ba Vạn Sáu Ngàn Ngày

Ba Vị Tướng Soái Của Chí Tôn

Ba Vòng Vô Vi

 

Bá Di - Thúc Tề

Bá Chủ Hoàn Cầu

Bá Hạnh Chi Bổn Nhẫn Chi Vi Thượng

Bá Huê Viên

Bá Nạp Quang

Bá Nha - Tử Kỳ

Bá Tánh

Bá Tánh Thập Phương

Bá Thiên Vạn Hóa. Bồi Quế Thọ Ư Âm Chất Chi Điền

Bá Thiên Vạn Kiếp Nam Tao Ngộ

Bá Thiên Vạn Ức Nhơn Sanh

Bá Thiên Vạn Ức Phật

Bá Tòng

Bá Tước Công Khanh

Bá Ức Nguyên Nhân

 

Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Đã Qui Liễu

Bà La Môn

Bà Mẹ Thiêng Liêng

 

BẢ

Bả Trạo

Bả Vinh Huê

 

BÁC

Bác

Bác Ái

Bác Luật - Phá Cổ

Bác Lãm Quần Thơ

 

BẠC

Bạc Đãi

Bạc Nhược

Bạc Tình

 

BÁCH

Bách Niên Giai Lão

 

BẠCH

Bạch Chủng Âu Châu

Bạch Hạc

Bạch Kỳ

Bạch Khỉ

Bạch Long

Bạch Ngọc Chung

Bạch Ngọc Chung Đài

Bạch Ngọc Chung Minh

Bạch Ngọc Công Đồng

Bạch Ngọc - Huỳnh Kim

Bạch Ngọc Kinh

Bạch Nhẫn Đại Tiên

Bạch Phát

Bạch Tuyết Thần Quang - Bạch Tuyết Thần Quang Đái

Bạch Vân Động & Bạch Vân Hòa Thượng

Bạch Vương Đại Hội

Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý

Bạch Y Quan

 

BÁI

Bái Đàn

Bái Kỉnh

Bái Lạy

 

BÀI

Bài Vị

Bài Bác

Bài Bạc

Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối

Bài Thài

Bài Trời Còn & Bài Mừng Thay

Bài Trừ Tà Thuyết

Bài Xưng Tụng Công Đức Chư Phật Tiên Thánh Thần

 

BAN

Ban Bố

Ban Cai Quản

Ban Chỉnh Đạo

Ban Đạo Sử

Ban Giám Khảo

Ban Phép Lành

Ban Quyền - Ban Quyền Hành

Ban Quyền Giáo Tông Phần Xác Cho Thượng Trung Nhựt

Ban Sắc

Ban Sơ

Ban Nhạc

Ban Thế Đạo

Ban Thưởng

Ban Thưởng Chức Sắc

Ban Tứ Vụ

 

BÁN

Bán Đồ Nhi Phế

Bán Hữu Hình

Bán Nguyệt Trốn Chồng Cung Trăng

 

BÀN

Bàn Cổ

Bàn Cờ Huyền Bí

Bàn Chông Nhọn

Bàn Đào

Bàn Trị Sự

Bàn Ngũ Lôi

 

BẠN

Bạn

 

BẢN

Bản (Đoàn Văn Bản)

Bản (Lễ Sanh)

Bản Án Cao Đài

Bản Di Ngôn

Bản Hát Chèo Thuyền

Bản Lai Diện Mục

Bản Nhạc Đại Hòa

 

BANG

Bang Hữu Đạo Tắc Trị, Bang Vô Đạo Tắc Nguy

 

BÀNG

Bàng Cử

Bàng Môn Tả Đạo

Bàng Quan

 

BÀNH

Bành Trướng

 

BAO

Bao Hàm

Bao Nhiêu Công Quả Bấy Nhiêu Phần

Bao Trùm

 

BÁO

Báo Ân Đường

Báo Ân Từ

Báo Cáo

Báo Chí

Báo Hiếu

Báo Mộng

Báo Quốc Từ

Báo Oán

Báo Ứng

Báo Ứng Nhãn Tiền

 

BẠO

Bạo Động

 

BẢO

Bảo An Quốc Thể

Bảo Cô Quân

Bảo Công Quân

Bảo Dưỡng

Bảo Đại

Bảo Đạo (1)

Bảo Đạo (2)

Bảo Đạo Chơn Quân Ca Minh Chương

Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa

Bảo Hoàng

Bảo Học Quân

Bảo Hộ

Bảo Mạng

Bảo Pháp

Bảo Pháp Chơn Quân Nguyễn Trung Hậu

Bảo Quân

Bảo Sanh

Bảo Sanh Nắm Giữ Diệu Huyền Chí Tôn

Bảo Sanh Nhơn Nghĩa Đại Đồng

Bảo Sanh Quân

Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch

Bảo Thế

Bảo Thế Chơn Quân Lê Thiện Phước

Bảo Thể

Bảo Thể - Thánh Vệ

Bảo Thủ Cơ Đồ

Bảo Thủ Chơn Truyền

Bảo Toàn

Bảo Tồn

Bảo Tồn Cơ Sanh Hóa

Bảo Tồn Chúng Sanh

Bảo Tồn Vạn Linh

Bảo Tồn Văn Hiến

Bảo Trọng

Bảo Văn Pháp Quân

Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu

Bảo Vệ

 

BÁT

Bát

Bát Âm

Bát Bộ

Bát Bửu - Dàn Bát Bửu

Bát Cảnh Cung Kỳ

Bát Chánh Đạo

Bát Đạo Nghị Định

Bát Điều Mục

Bát Hồn

Bát Hồn Vận Chuyển

Bát Man Tấn Cống

Bát Môn Độn Giáp

Bát Nhã (1)

Bát Nhã (2)

Bát Nhã Ba La Mật Đa & Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh

Bát Nhã Thuyền

Bát Nương Diêu Trì Cung

Bát Phẩm Chơn Hồn

Bát Quái

Bát Quái Đài

Bát Quái Đồ

Bát Quái Đồ Thiên

Bát Quái Mạo

Bát Tiên

Bát Vu

 

BẠT

Bạt Tiến

 

BÁU

Báu Vật

 

BÀU

Bàu Cà-Na

 

BÀY

Bày Đờn

 

BẢY

Bảy Bài Đờn

Bảy Bạn

Bảy Dây Oan Nghiệt

Bảy Lão

Bảy Ngai & Bảy Cái Ngai & Bảy Ngai Cửu Trùng Đài

Bảy Ngươn Khí

Bảy Ông Hiền

 

BẮC

Bắc Cực

Bắc Đẩu

Bắc Đẩu Bửu Tinh

Bắc Hải

Bắc Khuyết

Bắc Ngụy - Giang Đông

Bắc Tam Tỉnh

Bắc Việt

 

BĂNG

Băng Tuyết

 

BẮT

Bắt Chước

Bắt Gió Nắn Hình

 

BẰNG

Bằng Hữu Kết Nguyền

Bằng Hữu Tương Giao

 

BẬC

Bậc Tiền Bối

 

BẦN

Bần

Bần Cùng Sinh Đạo Tặc

Bần Cư Náo Thị Vô Nhơn Vấn, Phú Tại Thâm Sơn Hữu Viễn Thân

Bần Dùn

Bần Đạo

Bần Hàn

Bần Nữ

Bần Tăng

 

BẤT

Bất Bình

Bất Bình Đẳng

Bất Cập

Bất Chánh

Bất Công

Bất Di Bất Dịch

Bất Đắc Kỳ Tử

Bất Định

Bất Đức

Bất Hành Nhi Hành

Bất Hiếu

Bất Hòa

Bất Hủ

Bất Khả Đắc

Bất Khả Tư Nghị

Bất Khả Thuyết

Bất Khả Tri - Bất Khả Nghị

Bất Lương

Bất Năng Thoát Tục

Bất Ngôn Nhi Mặc Tuyên Đại Hóa

Bất Nhẫn Hà Như

Bất Phần Thắng Bại

Bất Phụ

Bất Phục

Bất Phước

Bất Quản

Bất Sinh

Bất Tiêu Bất Diệt

Bất Tín Nhiệm

Bất Thành

Bất Tuân Luật Pháp

Bất Tùng Giáo Hóa

Bất Tranh Nhi Thiện Thắng

Bất Tri Kỳ Danh, Cường Danh Viết Đạo

Bất Trung

Bất Xuất Hộ Nhi Tri Thiên Hạ, Bất Khuy Dũ Nhi Kiến Thiên Đạo

 

BẪY

Bẫy Vô Thường

 

BẦU

Bầu Linh Gậy Sắt

 

BẺ

Bẻ Liễu Bắn Bình

 

BÈO

Bèo Nước

 

BẾ

Bế Đạo

Bế Quan

Bế Địch Trợ Hoang

Bến Khổ Sông Mê

 

BI

Bi (1)

Bi (2)

Bi - Trí - Dũng

 

Bí - Quẻ 22 Quẻ Sơn Hỏa Bí

Bí Mật

Bí Pháp

Bí Pháp Chơn Truyền

Bí Pháp Của Cựu Luật

Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì Cung

Bí Pháp Tâm Truyền

Bí Pháp Tịnh Luyện

Bí Pháp Xưng Tội

Bí Quyết

Bí Tích

Bí Truyền

 

BỊ

Bị Cám Dỗ

 

BỈ

Bỉ Ngạn

 

Bĩ (Quẻ BĨ)

Bĩ Thái

 

BIA

Bia Kỹ Niệm

Bia Miệng

 

BIẾM

Biếm Quở

Biếm Trách

 

BIÊN

Biên Cương

Biên Thùy

 

BIÊN

Biến Chất

Biến Chuyển

Biến Đổi

Biến Hình

Biến Hóa

Biến Sanh

Biến Sanh Chi Phái

Biến Thân

Biến Thể

Biến Thiên

Biến Tướng

Biến Xuất

 

BIẾNG

Biếng Nhác

 

BIỂN

Biển Đổi Non Dời

Biển Nọ Hóa Cồn Dâu

Biển Khổ

Biển Trần Khổ

Biên Mê

Biển Nọ Hóa Vườn

Biển Tình

 

BIỆN

Biện Bạch

Biện Nhi

 

BIẾT

Biết

 

BIỆT

Biệt Điện

 

BIỂU

Biểu Hiệu

 

BÍCH

Bích Hải

 

BINH

Binh Khí

Binh Khí Diệt Tà Quyền

Binh Vực Bảo Trọng

 

BÍNH

Bính (Giáo Sư Thái Bính Thanh)

Bính Dần

 

BÌNH

Bình Bát Du

Bình Dương

Bình Hòa

Bình Nghị

Bình Sanh

Bình Tâm

Bình Tịnh

Bình Thân

 

BỊNH

Bịnh Đạo

 

BÓNG

Bóng Chí Linh

Bóng Dương

Bóng Khuất

Bóng Ngọc

Bóng Phụng

Bóng Quang Âm

Bóng Tùng Quân

 

Bô Vải

 

BÔI

Bôi Xóa

 

BỐ

Bố Đạo Nam Phương

Bố Hóa

Bố Thí (1)

Bố Thí (2)

Bố Từ Bi

Bố Tử

 

BỒ

Bồ Đề

Bồ Đề (Cây Bồ Đề Tại Tòa Thánh Tây Ninh)

Bồ Đề Dạ

Bồ Đề Đạo Trường

Bồ Đề Đạt Ma

Bồ Đề Tâm

Bồ Đề Thụ

Bồ Đoàn

Bồ Liễu

Bồ Tát

 

BỒI

Bồi Hồi

Bồi Quế Thọ Ư Âm Chất Chi Điền

Bồi Thường

Bồi Tửu

 

BỔ

Bổ Báo & Bổ Báo Ơn Trên

 

BỘ

Bộ

Bộ Công & Bộ Công Di Lạc

Bộ Công Thiên Thơ

Bộ Hạ

Bộ Lôi Công

Bộ Nam Tào

Bộ Nhạc

Bộ Pháp Chánh

Bộ Thiên Phục

Bộ Thiết Giáp

Bộ Từ Khí

 

BỘC

Bộc Lại

 

BỘI

Bội Nghĩa Ân

Bội Ước

 

BỐN

Bốn (Số 4)

Bốn Cách Sinh

Bốn Cặp Cơ Buổi Đầu Khai Đạo

Bốn Ngàn Năm

 

BỔN

Bổn Chức

Bổn Đạo

Bổn Nguyên

Bổn Thiện

 

BÔNG

Bông Huệ

Bông Phù Dung

Bông Trái Thiêng Liêng

 

BỒNG

Bồng Dinh

Bồng Dinh - Bồng Đảo - Bồng Lai

Bồng Sơn

 

BỜ

Bờ Dương

Bờ Giác

 

BỢN

Bợn Trần

 

Bù Chì

 

BÙA

Bùa

Bùa Chữ Khí

Bùa Gián Ma Xử

 

BÙI

Bùi Phủ Từ

 

BỤI

Bụi Hồng

 

BÚNG

Búng Rảy

 

BỤNG

Bụng No Óc Lỏng, Óc Cứng Bụng Mềm

 

BUỒNG

Buông Loan

 

BÚP

Búp (Giáo Sư Thượng Bút Thanh)

 

BÚT

Bút Cơ

Bút Đàm

Bút Hoa

Bút Nghiên

Bút Son

 

BUỔI

Buổi Ban Sơ

 

BỨC

Bức Gái Lành

 

BỬU

Bửu Điện

Bửu Giám

Bửu Pháp

Bửu Phiệt

Bửu Sơn Kỳ Hương

Bửu Tháp

Bửu Tòa

Bửu Vị

 

BƯỚC

Bước Đọa

Bước Thánh

Bước Tiên

Bước Tục

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

 

 

 

BA (1) (Số ba hay số TAM )


E: Three.
F: Trois.

Số 3 là thuộc về số đếm. Đây là một con số Huyền diệu, nhiệm mầu. Huyền diệu nhứt là con số đó. Những chứng minh về Thể pháp trong nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ sẽ cho thấy rõ cái lý nhiệm-mầu ấy đều do số 3 tác động lên. Số 3 này sẽ dẫn chứng về tất cả những gì cụ thể có liên quan đến nền chơn giáo của Đức Chí-Tôn một cách nhất quán.

Nguyên lý: Số 3 tức là cơ-quan hữu tướng cùng vô tướng hiện có ở Càn-Khôn vũ-trụ này. Số 3 là số nửa tịnh, nửa động. Nhưng phần động nhiều hơn. Số 3 chỉ cơ biến tướng và vi-chủ vật loại thuộc quyền Tăng. Số ấy có đặc-tính năng động, biến đổi. Vạn hữu mang số 3 thì tính chất nóng-nảy nhưng vì có phần tịnh nên cũng biết dung-hòa. Số 3 là cơ-sở của Tam thể: Phật- Pháp- Tăng, nên nó vừa có năng-lực huy-động mà cũng vừa có năng-lực dung-hòa. Vật nào có số 3 là vật ấy thuộc bản thể cứng rắn, nhiều hoạt-động, ít may-mắn; dễ thành nhưng mau bại. Tuy nhiên con số 3 có tính cách phổ-thông lại mầu nhiệm, huyền-diệu vô cùng. Số 3 là cơ HOÀ vậy.

Những từ ngữ tiếp theo chứng minh cho số 3 ấy.

Thơ của Đức Hộ-Pháp:

Ngày ăn hai bữa nuôi tinh huyết,
Đêm ngủ ba canh dưỡng Khí Thần.

 

 

BA (2) (CHA)

E: Father.
F: Papa.

(Ba là tiếng nôm). Tiếng con gọi người cha trong gia đình là "Ba". Tiếng pháp gọi là "Papa", mẹ là "Maman" hai tiếng gọi này có âm thanh nghe như tương tự nhau.

Nhưng tại sao con cái gọi Đấng sanh thành ra mình là "Ba", người Bắc gọi "Bố", người Pháp gọi là Papa, người Anh gọi là Father. Nhưng tại sao gọi là "Ba" ? Còn một, hai ở đâu ? Hẳn nhiên cái điều bí-mật ấy mọi người không thể từ chối được. Bởi cái hạnh phúc luôn bao trùm trong một gia đình là gồm đủ số 3 là : "Cha - Mẹ- Con".

Ngày nay Đạo Cao-Đài cho biết rõ:

- Ngôi một là Đức Thượng-Đế, là Đức Chí-Tôn còn gọi là Đại-Từ-Phụ là vị Cha Thiêng-liêng của nhân loại.

- Ngôi hai là Đấng Mẹ Sanh của nhân loại, tức là Đức Phât-Mẫu Diêu-Trì, là Đại Từ Mẫu, là Mẹ thiêng liêng.

- Ngôi Ba tức là Cha Mẹ phàm thể này đây.

Vậy về quyền năng của ba ngôi ấy thì:

- Ngôi Chí-Tôn là Phật tạo ra Chơn Linh hay linh hồn, tức là Ngài ban cho điểm linh quang sáng suốt, mà con người hơn con vật và đứng đầu cả chúng sanh.

- Ngôi Phật-Mẫu là Pháp, tạo ra Chơn Thần, tức là trí não, nhờ đó mà có học mới hay, mới hiểu biết mọi việc.

- Ngôi Tăng là Cha Mẹ, là Đấng sanh thành tạo ra xác thể này đây (tức là ngôi "Ba". Thế nên con cái gọi Đấng sanh thành bằng BA là vậy)

Chính ngôi Ba này là Đấng "Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn luân" làm đạo trọng.

 

 

BA BẬC PHẨM NHƠN SANH

Trong số nhơn sanh có mặt trong vũ trụ này tuy rất nhiều nhưng chỉ có ba bậc: Nguyên nhân, Hóa nhân, Quỉ nhân.

- Nguyên nhân là khi Khai Thiên rồi thì đã có chơn linh ấy. Nguyên sanh theo Pháp-Chánh-Truyền dạy: "Vật chất hữu sanh, thảo mộc hữu sanh, cầm thú hữu sanh, nhơn loại hữu sanh, tức là chúng sanh. Trong chúng sanh đã có Nguyên sanh, Hóa sanh và Quỉ sanh. Tỷ như: gốc từ Khai Thiên đã có.

- Hóa nhân là chơn linh vật loại, đoạt đến phẩm vị nhơn loại. Hóa sanh là Khai Thiên rồi mới biến hóa ra.

- Quỉ nhân là hai chơn linh kia xu hướng ác hành mà bị đọa đày vào Quỉ vị. Quỉ sanh là hai phẩm kia phạm Thiên Ðiều bị sa đọa. Trong các kiếp hữu sanh, duy có phẩm người là cao hơn hết, nên gọi là Thượng Sanh. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ này, Thầy đem các chơn linh dầu Nguyên sanh, Hóa sanh hay Quỉ sanh lên phẩm vị nhơn loại mới trọn câu Phổ Độ. Chơn linh các Nguyên nhân bị đọa trần, Quỉ nhơn chuộc tội hay là Hóa nhân thăng cấp đều nhờ Thượng Sanh độ rỗi (ấy là Thế độ). Nên Thượng Sanh làm chủ của Thế Ðạo, nắm luật thế nơi tay, mà dìu dắt cả chúng sanh vào cửa Ðạo."

Như thế, nay đã qua hai thời kỳ mở Đạo cũng vì số nguyên nhân ấy mà Đức Chí-Tôn đã cho xuống thế 100 ức nguyên nhân để độ dẫn nhơn-sanh, mà còn làm tội lỗi hơn chúng sanh nữa, nhưng trong hai lần ấy chỉ độ về được có 8 ức nguyên nhân (Nhứt kỳ độ 6 ức + Nhị kỳ độ 2 ức) còn lại 92 ức nguyên-nhân đang còn chơi vơi trên biển trần, lần này Chí-Tôn lo cứu vớt. Trong buổi Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này các phẩm chơn hồn trong Càn-Khôn Vũ-trụ của Đức Chí-Tôn đã lấy quyền cho Phật-Mẫu đào tạo Tám phẩm chơn hồn, tức là các chơn hồn: vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Trong tám phẩm chơn hồn ấy xuất hiện nơi Kim Bàn do theo luật Thiêng liêng của Đức Chí-Tôn đã định, thì họ phải từ từ tăng tiến mãi, cái luật tăng tiến ấy nó buộc ta mỗi kiếp sanh đều kiếm phương tu, đặng chi ? Đặng tạo Thiêng liêng-vị cho chúng ta, các đẳng chơn hồn ấy khi đã đến Nhơn phẩm rồi chia ra hai phẩm hồn đặc biệt: Ở trong vật loại tăng tiến lên đạt Nhơn phẩm của mình gọi là Hóa nhân. Các chơn hồn ở trong Kim-Bàn đã xuất hiện với địa vị Nhơn phẩm của mình là Nguyên-nhân. Hai phẩm hồn ấy nếu không noi theo đạo đức đặng từ từ bước lên con đường Thánh Đức của mình, đặng đạt cho tới địa vị cuối cùng là Phật vị lại làm tội lỗi thì phải sa vào Quỉ vị. Ấy vậy phần người có Nguyên nhân, Hóa nhân, Quỉ nhân. Hại thay 100 ức nguyên nhân do Đức Chí-Tôn đã để lại mặt thế này, đặng làm bạn với các đẳng chơn hồn trong Vạn Linh sanh chúng của Ngài đã đào tạo thì:

- Phật-vị có sáu ức.
- Tiên-Vị có hai ức.
- Còn chín mươi hai ức nguyên nhân bị đọa trần.

Từ ngày Đạo bị bế họ có lắm công tu mà thành thì không thành. Tội nghiệp thay, vì 92 ức nguyên nhân ấy mà chính mình Đức Chí Tôn phải giáng trần mà lập nền chơn giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy cái Thánh ân, đặc biệt hơn hết là Đức Chí-Tôn đã thấy rõ rằng: Các nguyên nhân ấy không phương gì tự giải thoát đặng vì quá tội tình, quá mê luyến hồng trần hoặc đào tạo quả kiếp nặng nề quá đỗi, vì cớ cho nên tu thì có tu mà thành thì không có thành, tức nhiên từ ngày Đạo bế thì cơ siêu thoát đã mất tại mặt thế này, chính mình Đức Chí Tôn biết rằng không thế gì các nguyên nhân tự mình đạt cơ giải thoát đặng. Hôm nay Ngài đến lập nền Chơn-giáo của Ngài, chúng ta đã ngó thấy lòng yêu ái vô tận của Ngài là thế nào?"

Tóm lại: "Nhơn loại có Nguyên nhân, Hóa nhân, Quỉ nhân, ấy là có phân đẳng cấp, nếu Thầy dùng huyền diệu Thiêng Liêng mà làm cho nhơn loại cả thảy đều thấy đặng cơ mầu nhiệm của Ðạo, đồng đặng đắc kiếp, thì phẩm vị Thiêng Liêng cũng không còn trật tự." (PCT)

PCT: Pháp Chánh Truyền.

 

 

BA CÁCH LẬP VỊ ĐỂ VỀ VỚI ĐỨC CHÍ-TÔN

Đức Hộ-Pháp thuyết: Đền-Thánh 13-8-Mậu-Tý (16-9-1948)

"Con đường về với Đức Chí-Tôn không phải dễ, mà cũng không phải về là tới liền, muốn về với Đức Chí Tôn ta phải qua nhiều Cung, nhiều Điện; mỗi Cung chúng ta gặp một sự lạ, mỗi Điện chúng ta gặp một huyền-vi khác nhau, phải đi từ Cung này đến Điện nọ, nên gọi là: "Dục tấn trên con đường Thiêng Liêng Hằng-Sống". Về được với Đức Chí Tôn thì không còn hạnh phúc nào bằng. Một kiếp Tu chưa chắc đã về được với Đức Chí Tôn, muôn năm ngàn kiếp mà nếu thiếu TU, cũng không khi nào về được với Đức Chí-Tôn, mấy Anh mấy Chị rán nhớ điều đó, mà Tu thì sao? Trong cửa Đạo Cao Đài này đã dạy Tu rồi, nhứt là Bần Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn đó vậy. Mỗi chơn hồn nơi thế-gian này, khi thoát xác đều phải qui tựu tại Đền Thánh này và đi từ trong Đền Thánh này đến các cảnh giới khác. Tại sao phải vào Đền Thánh này, mà không vào các Đền Thánh khác? - Tại vì Đền-Thánh này tỷ như một trường thi: Mỗi năm Chánh-Phủ mở một kỳ thi như thi Tú-Tài chẳng hạn, địa-điểm đã ấn định rồi, chỉ có thi nơi đó mới có giá-trị: Tòa Thánh này cũng vậy, Đức Chí-Tôn lập ra để con cái của Ngài lập đức, lập công, lập ngôn mà về với Ngài. Vào Đền-Thánh tức là vào Hiệp-Thiên-Đài, đi từ Hiệp-Thiên-Đài đến Cung Đạo, nhưng muốn vào Cung Đạo phải qua Cửu-Trùng-Đài, mỗi nấc của Cửu-Trùng Đài là mỗi lần khảo-duợt của các Đấng Thiêng Liêng, là mỗi lần cứu-rỗi của Cửu vị Nữ-Phật, là mỗi lần cầu xin của các Đẳng linh-hồn, toàn-thể con cái Đức Chí Tôn đọc lại mấy bài Kinh từ Đệ Nhứt Cửu đến Đệ Cửu Cửu, đến Tiểu Tường và Đại-Tường thì biết. Trong cửa Đạo Cao-Đài có ba cách về với Đức Chí Tôn, hay là có ba cách lập vị mình:

Cách thứ nhứt: Các chơn-hồn mượn xác phàm phải đi

theo phẩm trật Cửu-Thiên Khai-Hóa, tức là theo Hội-Thánh Cửu Trùng-Đài, dùng tài sức mình lập công để đoạt Đạo, nghĩa là phải đi từ bậc Đạo-hữu lên Lễ-Sanh, Giáo-Hữu, Giáo Sư... Phải lập công từ Tiểu-Thừa, Trung-Thừa đến Thượng Thừa; phải ăn chay từ sáu ngày mỗi tháng đến mười ngày, rồi ăn chay trường luôn, phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Các chơn-hồn đi theo phẩm-trật Cửu-Thiên khai hóa còn phải có tự tín rồi tha-tín, tức là giác-nhi giác-tha đó vậy. Có tự tín rồi tha tín tức là có tự độ mình rồi độ chúng-sanh. Đạo Cao Đài khác với các nền Tôn-giáo khác là ở chỗ đó; trước hết phải độ mình, độ gia-đình mình rồi độ ngoài thân-tộc, tức là độ cả nhơn-loại vậy; mình phải học để mình hiểu Đạo. Hiểu Đạo rồi, nói sao cho thân-tộc mình hiểu Đạo, chẳng những nói Đạo cho thân-tộc mình biết mà thôi, mà phải nói Đạo cho toàn nhơn-loại nữa:

- Mình học để biết Đạo là lập Đức,

- Nói Đạo cho thân tộc mình biết Đạo là lập Công,

- Độ toàn nhơn-loại là lập Ngôn.

Có làm đủ ba điểm đó mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Cửu-Thiên Khai-Hóa.

Cách thứ hai: Lập vị mình theo Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng Liêng tức là theo Hội-Thánh Phước-Thiện, nơi đây ngoài việc ăn chay giữ-gìn luật Đạo tùng theo chơn-pháp của Đức Chí Tôn còn phải dùng Đức để lập vị mình. Muốn Lập Đức phải đi từ Minh-Đức, Tân-Dân, Thính-Thiện, Hành-Thiện, Giáo-Thiện, Chí-Thiện...

Lập đức là gì? Là dùng sự Thương-yêu để cứu độ chúng-sanh mà Đức Chí-Tôn đã có nói "Sự Thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch-Ngọc-Kinh" là vậy đó. Các Đẳng chơn-hồn tái kiếp đang chơi-vơi trong "Tứ diệu đề khổ". Muốn thoát khổ họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ. Người đi theo Thập-nhị Đẳng cấp Thiêng-liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ trước hết thì mình phải thọ khổ đã, muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng đức Thương yêu. Cho nên bậc thứ nhất của Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng là Minh-đức đó vậy. Có Thương yêu mới thọ khổ được, ta thương Cha Mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng Cha Mẹ lúc tuổi già, ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn, ta thương những người cô thế tật nguyền ta mới tầm phương giúp-đỡ họ, mà tầm phương giúp họ là thọ khổ đó vậy.

Thọ khổ rồi mới thắng khổ, thọ khổ không phải một ngày, một bữa, mà phải thọ khổ cho đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi Cha Mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ khi còn bé cho đến lúc nó tự lo cho nó được. Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên hạ hết khổ mới khó, vì khi lo người này, hết người này đến người khác và cứ như vậy trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ, có thắng khổ mới về được với Đức Chí-Tôn bằng con đường Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng.

Cách thứ ba: là cách Tu-Chơn hay là cách Tịnh luyện cũng thế. Những người đi trong Cửu-phẩm Thần-Tiên hay đi trong Thập nhị Đẳng cấp Thiêng-liêng; khi mình nhận thấy là đã Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn rồi. Hay là đã thọ khổ và thắng khổ rồi mà còn sức nữa, thì vào nhà Tịnh để được Tu chơn. Nơi đây các vị đó sẽ được học phương pháp luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, tức là Tinh- Khí- Thần hiệp nhứt là Huờn-Hư đó vậy."

 

 

BA CHI (NHÁNH)

E: Three branches.
F: Trois branches.

Gọi Ba Chi hay Ba nhánh (tức là so với nền Đại-Đạo là gốc, thì Tam Giáo: Phật, Tiên, Thánh chỉ là nhánh, cành xuất phát từ nơi gốc cội ấy mà ra). Thế nên ngày giờ này Thầy đến mở nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ mới "nhập ba Chi lại làm một" là có lý cớ.

Thứ Bảy, 18-9-1926 (âl 12-8-Bính Dần)

Thánh ngôn rằng: …"Các con! Thầy đã lập thành Thánh Thất, nơi ấy là nhà chung của các con, biết à! Thầy lại qui Tam giáo lập Tân Luật, trong rằm tháng 10 có Ðại Hội cả Tam giáo nơi Thánh Thất. Các con hay à! Sự tế tự sửa theo Tam Kỳ Phổ Ðộ, cũng nơi ấy mà xuất hiện ra, rõ à!

Thầy nhập BA CHI lại làm một là chủ ý qui tụ các con trong Ðạo Thầy lại một nhà, Thầy làm Cha Chưởng quản, hiểu à! Từ đây trong nước Nam duy có một Ðạo chơn thật là Ðạo Thầy đã đến lập cho các con, gọi là Quốc Ðạo, hiểu à!"

 

 

BA CHI (Pháp-Đạo-Thế)

Hội-Thánh Hiệp-Thiên-Đài phân làm ba Chi: Chi Pháp, Chi Đạo, Chi Thế. Đứng đầu là các Chức sắc Thiên phong theo phẩm trật sau đây:

- 1 phẩm Hộ-Pháp Chưởng quản Hiệp-Thiên-Đài và bảo hộ luật Đời và luật Đạo.

- 1 vị Thượng-Phẩm lo về mấy Thánh Thất và Tịnh Thất.

- 1 vị Thượng-Sanh lo về phần Đời.

- 12 vị Thời Quân thuộc 3 Chi: Pháp- Đạo- Thế, đặt dưới quyền hành sự của Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm và Thượng-Sanh.

Ba Chi của Hiệp Thiên Đài là:

- Chi Pháp: do Ðức Hộ Pháp Chưởng quản, dưới quyền có 4 Thời Quân: Bảo Pháp, Hiến Pháp, Khai Pháp, Tiếp Pháp.

- Chi Ðạo: do Ðức Thượng Phẩm Chưởng quản, dưới có 4 Thời Quân: Bảo Ðạo, Hiến Ðạo, Khai Ðạo, Tiếp Ðạo.

- Chi Thế: do Ðức Thượng Sanh Chưởng quản, dưới có 4 vị Thời Quân: Bảo Thế, Hiến Thế, Khai Thế, Tiếp Thế.

Đức Phật-Mẫu dạy: "Đạo chia ra làm ba Chi: PHÁP- ĐẠO- THẾ.

- Mình tu cho đúng theo Luật, hành theo Pháp thì chúng sanh nơi THẾ ca tụng công đức mình, trọng kính mình ấy là mình Đắc Thế ..Hễ Đắc Thế thì phải tầm Pháp đặng cứu chữa dạy bảo theo Pháp. Nếu mình hành Pháp hiển linh, chúng sanh ứng mộ mình, thì mình Đắc Pháp.

- Nếu Đắc Pháp thì phải tầm Đạo vô-vi, muốn tầm không phải dễ, mà dễ khó là do nơi mình; nếu đi được hai khoảng thì khoảng sau này phải ráng.

- Nếu Đắc Đạo thì nhập cõi Niết-Bàn.

Biết lo cho chúng sanh tức là lo cho mình vậy. Mình tu cho chúng sanh, mình lập vị cho chúng sanh tức là mình lập vị cho mình. Phải hiểu cho rõ, nếu chúng sanh chưa ai Đắc Đạo, thì ta phải cầu-nguyện cho người Đắc Đạo trước ta. Nếu mình cứ mong cho cao phẩm giá tức là trái với Thiên-ý, mình phải hằng ngày trau giồi tánh đức, lo chung cho thiên hạ, ấy là phương pháp tu tắt đó. Thường ngày công-phu mà mình chất chứa tánh tự kiêu thì cũng không mong đắc Chánh quả được, bất quá đắc một vị Địa Tiên đó thôi. Vậy muốn cho hoàn-toàn thì ráng tập cho biết trừ các điều xấu xa, tập thường ngày tầm chơn-lý, kiếm hiều huyền-vi, răn mình hằng bữa, đó là đường chánh sáng láng cứ lo bước tới."

Phạm nghiệp, ngày 16-2-Ất Hợi (dl 20-3-1935)

Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm giáng dạy: "Phẩm trật rắc rối khó nói rõ, nhưng chia ba: Pháp, Đạo, Thế, thì theo sự hiểu biết của Bần Đạo như vầy :

- Sĩ Tải là Secrétaire Archiviste,

- Lên phẩm Truyền Trạng là Greffier.

- Rồi lên phẩm Thừa Sử là Commissaire de la justice.

- Phẩm Giám Đạo là Inspecteur,

- Lên phẩm Cải Trạng là Avocat,

- Lên phẩm Chưởng Ấn là Chancelier.

Lên phẩm ấy rồi, tùy phái lên đại vị Hiệp Thiên Đài, nhưng phải biết rằng: Chưởng Ấn phải lên địa vị Tiếp Dẫn Đạo Nhơn mà đắc công phổ thông đặng một nước nào rồi mới vào chánh vị."

Nhiệm vụ yếu trọng của ba Chi:

- Đức Chí Tôn khai Đạo thì Chi Đạo do Đức Cao Thượng Phẩm làm cho nổi bật ánh sáng Đạo mầu, bứng chồi phá gốc, vai tuồng vừa xong thì Đức Ngài qui Tiên.

- Kế, thời-kỳ chấn chỉnh Đạo Pháp, Đức Hộ Pháp cầm quyền Chi Pháp, Pháp Luật đâu vào đấy được nghiêm minh, tạo qui củ chuẩn thắng cho cả Hội Thánh, gầy dựng khối đức tin cho nhơn loại, Đạo có tiếng vang khắp Năm châu bốn bể; tôn chỉ của Đạo, Đức Ngài phát huy vừa xong thì Ngài qui thiên.

- Tiếp tục vai tuồng Chi Thế do Đức Thượng Sanh cầm quyền; đời lọan Chi Thế nắm quyền đã đúng Thiên Cơ dĩ định. Nguồn gốc của sự loạn là tham dục, thời kỳ Đức Ngài cầm quyền nhận xét rõ ra thì chính Đức Ngài đã đè nén tham dục con người không cho dấy động. Đức Chí Tôn dạy: "Qủi Vương chỉ kiên oai Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh mà thôi."

 

 

BA CHUNG RƯỢU

Cúng Thầy (Đức Chí-Tôn Đại Từ Phụ) thì phải đủ ba chung rượu với nhiều cúng phẩm khác phải cho đủ 12 món cúng phẩm. Nhưng Ba chung rượu tượng-trưng cho Khí, tức là Hư-vô chi-khí, do Đức Diêu Trì Kim-Mẫu chưởng quản.

Khí là cái Phách hay trí-não của con người chúng ta, cũng là Chánh-khí của con người.

Ba ly rượu là tượng-trưng cho ba cõi: Hạ-giới, Trung giới, Thượng-giới. Ba cõi này dành cho các phẩm từ quỉ-nhơn, phàm-nhơn và Thần, Thánh, Tiên, Phật. Khi cúng rót rượu ba phân tượng-trưng cho ba bậc tu-hành: Hạ-thừa, Trung-thừa, Thượng-thừa hay là ba bậc quỉ-nhân, hóa-nhân và nguyên nhân. Ngày nay Cơ Đại ân xá của Chí-Tôn cho về cùng một lượt.

Kinh Phật-Mẫu có câu:

"Trùng huờn phục vị Thiên môn,
"Nguơn linh, Hóa chủng, Quỉ hồn nhứt thăng."

Khí là trí não đứng trung-gian đặng liên-hiệp với Tinh và Thần, họp lại mới đủ Tam-bửu. Nên khi dâng Tam-bửu thì:

- Chén nước trà để bên hữu (Tinh)
- Chính giữa là ba ly rượu (Khí)
- Bên tả là nước trắng (Thần) nên gọi là Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt.

 

 

BA ĐÀI

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có 3 Đài là hình thể Đạo tại thế

1- Bát Quái Đài: Thể hiện Linh Hồn, thuộc THẦN.

2- Hiệp Thiên Đài: Thể hiện Chơn Thần, thuộc KHÍ.

3- Cửu Trùng Đài: Thể hiện xác thân, thuộc TINH.

 

 

Trong đó có ba Đài, có ba người chủ nắm vững.

1- Bát Quái Đài: dưới quyền Đức Chí Tôn, Ngài Chúa cả Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cùng Vạn Linh, chính Ông chủ Bát Quái Đài là Đức Chí Tôn. Bát-Quái-Đài là ngôi thờ phượng Đức Chí Tôn hay Ngọc Hoàng Thượng Đế tá danh: Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát và các Đấng Giáo-Chủ Tam Giáo cùng các Đấng Thiêng Liêng trong Ngũ Chi Đại-Đạo là Nhơn-Đạo, Thần-Đạo Thánh-Đạo, Tiên-Đạo, Phật-Đạo.

Van-B-ToaThanhBaDai.jpg  
   

2- Hiệp Thiên Đài: là cơ quan Lập Pháp của Đạo, là nơi để thông công cùng Đức Thượng-Đế và các Đấng Thiêng liêng bằng Cơ Bút do Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài phò loan để tiếp các Thánh ngôn và Luật Pháp Đại-Đạo của các Đấng Thiêng Liêng giảng dạy. Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền Hộ-Pháp làm chủ. Hội Thánh Hiệp Thiên Đài gồm các Chức sắc Thiên Phong theo phẩm trật sau đây:

- Hộ-Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và bảo hộ Luật Đời cùng Luật Đạo.

- Thượng-Phẩm lo về mấy Thánh Thất và Tịnh Thất.

- Thượng-Sanh lo về phần Đời của Đạo.

- 12 Vị Thời Quân thuộc 3 Chi: Pháp- Đạo- Thế đặt dưới quyền hành sự của Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh.

3- Cửu Trùng Đài: là quyền Giáo Tông làm chủ Hội Thánh. Cửu-Trùng-Đài là cơ quan Hành Pháp của Đạo.

Ba ông chủ ấy, có hai ông này: Cửu-trùng-Đài và Hiệp Thiên-Đài nếu riêng ra thì không có thế gì dâng sớ cho Bát Quái-Đài, tức nhiên quyền Chí-Tôn ở nơi Bát Quái Đài.

Hai Đài Cửu-Trùng và Hiệp-Thiên hiệp nhứt là quyền Chí Tôn tại thế này, không có một quyền cai-quản nào cải qua quyền Bát-Quái được. Hội Thánh Cửu Trùng Đài gồm Chức sắc Thiên phong theo các phẩm trật sau đây (ĐHP 18-8 Kỷ- Sửu)

Chức sắc Nam Phái:

Van-B-CTD-TrungUong.jpg  
   

-1 Phẩm Giáo Tông (Nhứt Phật) lãnh đạo tối cao toàn Đạo có phận-sự dìu dắt Đạo-Hữu trong đường Đạo và đường Đời.

-3 Chưởng Pháp (TamTiên): Lãnh nhiệm vụ nghiên cứu Luật Pháp Đạo trước khi ban hành cho toàn Đạo.

-3 Đầu Sư (Tam Tiên): Cầm quyền Chánh Trị Đạo ban hành Luật Pháp Đạo.

-36 Phối sư (Tam Thập Lục Thánh): Có 3 vị Chánh Phối sư làm đầu, dưới quyền 3 vị Đầu sư cai trị Đạo.

-72 Giáo Sư (Thất thập nhị Hiền): Có phận sự dạy dỗ Đạo hữu trong đường Đạo và đường Đời. Được quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại Nhơn Sanh hay là cầu xin chế giảm Luật lệ ấy.

-3.000 Giáo Hữu (Tam Thiên Đồ đệ): Chia đều mỗi phái một ngàn (1000), chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt. Lãnh phận sự phổ thông Chơn Đạo.

- Lễ Sanh: Không hạn định số. Lễ Sanh là người có hạnh kiểm tốt, được quyền đi khai đàn cho mỗi Tín Đồ.

Về Chức-sắc Nữ phái:

Chức-Sắc Nữ-Phái khởi từ phẩm Đầu Sư trở xuống Lễ Sanh, quyền hành y như Nam phái, song chỉ điều hành về Nữ phái mà thôi. Tất cả tùng lịnh của Giáo-Tông và Hộ-Pháp. Về Nữ-phái thì vô hạn định.

Bàn trị sự (Hội-Thánh Em)

Bàn Trị sự là cơ quan hành Đạo trong thôn xã gồm những Chức-việc sau đây:

- 1 Chánh Trị Sự

 

- 1 Phó Trị Sự

 

- 1 Thông Sự

Có nhiệm vụ giúp đỡ các sinh hoạt của Đạo và săn sóc các Đạo hữu, như anh lớn trong gia tộc. Bàn Trị sự còn được xem như là một Hội-Thánh Em.

4- Ba Đài liên quan mật thiết cùng nhau:

- Bát-Quái-Đài là linh-hồn.

- Cửu-Trùng-Đài là xác thịt.

- Hiệp-Thiên-Đài là chơn-thần.

Hồn đặng tương-hiệp cùng xác phải nhờ Chơn-thần. Chơn-thần lại là bán hữu-hình tiếp vô-vi mà hiệp cùng hình thể, cũng như Đạo tiếp Thánh-Đức của các Đấng thiêng-liêng mà rưới chan cho nhơn-loại.

Đức Hộ-Pháp nói: "Phước-Thiện là thay cho Hiệp-Thiên Đài gánh vác nhiệm-vụ cứu khổ nên Hội-Thánh Phước-Thiện do nơi Qua cùng Đức Lý-Giáo-Tông đã đồng-ý tạo nên hình tướng. Ngài rất vui lòng. Tại sao vậy? Nhiệm-vụ của Hộ-Pháp phải có Giáo-Tông. Bởi Giáo Tông, Chí-Tôn định có quyền cai trị đường Đạo và đường Đời, mà hễ Giáo-Tông và Hộ-Pháp hiệp một là quyền Chí-Tôn tại thế."

Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài là phổ thông nền chơn giáo, lo về mặt giáo-hóa, bảo-tồn nền văn-hiến tồn tại. Cửu-Trùng Đài là cái Đài thể theo Cửu Trùng Thiên mà kiến trúc, có chín nấc cao thấp khác nhau. Cửu Phẩm Thần Tiên vâng lịnh Ngọc Hư Cung trị thế giới vô hình cũng như Cửu-Trùng-Đài vâng lịnh Bát Quái-Đài mà Chưởng-Quản mối Đại-Đạo tại thế gian về mặt hữu vi. Vậy tất cả chơn linh trong Càn Khôn vũ trụ đều phải vào Cửu Trùng-Đài và tuần tự theo đẳng cấp thấp cao để đoạt vị Thiêng liêng của mình. Cửu Trùng Đài do Hội-Thánh quản trị, mạng danh Hội Thánh Cửu Trùng Đài gồm có một phái Nam và một phái Nữ. Đức Chí-Tôn lập Pháp-Chánh Truyền cho cả hai phái. (Theo Đàn Cơ 16-10 Bính-Dần – 1926)

Như vậy trường Đại-Đạo theo như Đức Hộ-Pháp dạy về đường Đạo và đường Đời rằng:

"- Thể-pháp của Đạo Cao-Đài là một trường công quả của chúng ta, trường công-quả ấy để cho chúng ta lập đức, lập công, lập ngôn.

- Bí-pháp chơn-truyền của Đức Chí-Tôn tức nhiên cơ quan huyền-bí để cho con cái của Ngài giải-thoát."

5- Quyền hành của ba Đài:

- "Trong Bát-Quái-Đài: kể từ Tiên vị đổ lên cho tới Thầy thì đã vào địa vị các Đấng Trọn lành "Classe des Parfait ou des Purs". Từ Thánh-vị trở xuống Nhơn vị thì vào hàng Thánh "Class des Épures". Từ thú cầm xuống vật chất thì hàng phàm tục "Classe des Impurs" Ấy vậy, trong Bát Quái-Đài từ bậc Thánh hồn thì còn phận sự điều đình Càn Khôn thế giới, giao thiệp cùng các chơn hồn, còn ở trong vòng vật chất nâng đỡ, dạy dỗ cho phàm phẩm tấn hoá lên cho tới Thánh vị. Hễ vào đặng Thánh-vị rồi thì tự nhiên mình biết lấy mình, dầu phải bị đoạ trần đi nữa cũng còn giữ vẹn Thánh đức mà tu hành đặng đạt đến địa vị trọn lành. Lên địa vị Trọn lành rồi thì mới đồng quyền cùng Tạo-Hóa, Từ bi, tự tại, bất tiêu, bất diệt." (PCT)

- "Trong Hiệp-Thiên-Đài: thì có Hộ-Pháp thay quyền cho các Đấng Thiêng-Liêng và Thầy mà gìn giữ công bình Tạo hóa, bảo hộ nhơn loại và vạn vật lên cho tới địa vị tận thiện, tận mỹ. Người thì tận thiện, còn vật thì tận mỹ. Chẳng cần lấy sức mình mà lập, chỉ bảo hộ cho sự tấn hóa tự nhiên khỏi điều trở ngại, nếu nói có quyền bảo hộ thì phải có Luật Pháp, lấy Luật Pháp mà kềm chế nhơn sanh, cũng như các Đấng Trọn Lành lấy Thiên điều mà sửa trị Càn khôn Thế giới.

- Hộ-Pháp là thể các Đấng Trọn lành. Người lại giao quyền cho Thượng-Phẩm lập Đạo, đặng dìu dắt các chơn hồn lên tột phẩm vị của mình, tức là nâng đỡ binh vực cả Tín-đồ và Chức-sắc Thiên-phong ngồi an địa vị, cũng như chư Thần Thánh Tiên Phật điều đình Càn Khôn thế giới cho an tịnh, hòa bình mà giúp sức cho Vạn linh sanh sanh hóa hóa.

- Thượng-Phẩm tiếp các chơn hồn của Thượng Sanh giao vào cửa Đạo. Thượng-Phẩm là người thể Đạo đối với hàng Thánh, ấy là người cầm đầu các Thánh.-Thượng-Sanh về Thế độ, đem các chơn hồn vào cửa Đạo, dầu nguyên nhân hay là hóa nhân cũng vậy, phải nhờ Người độ rỗi. Thượng Sanh đặng mạng lịnh chuyển thế, điều độ nhơn sanh ra khỏi trầm luân khổ hải, buộc Thượng-Sanh phải gần gũi kẻ vô Đạo đặng an-ủi dạy-dỗ. Mà kể từ hạng vô Đạo trở xuống cho tới vật chất thuộc về phàm, ấy vậy Thượng Sanh là thể Đời, người đứng đầu của phẩm phàm tục." (PCT)

6- Cửu-Trùng-Đài đối phẩm với Cửu Thiên Khai hoá:

Van-B-DoiPham-CuuThanTien.jpg  
   

. Đầu-sư thì đối với phẩm Địa Tiên.

. Chưởng-Pháp thì đối với phẩm Nhơn Tiên.

. Giáo-Tông thì đối với phẩm Thiên Tiên.

Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Phật-vị tại thế này. Ấy vậy các Đấng ấy đối phẩm cùng các Đấng Trọn lành của Bát Quái-Đài.

Giáo-Tông giao quyền cho Đầu-sư. Đầu sư lại phân quyền cho Chánh-Phối-Sư lập Đạo đặng độ rỗi nhơn sanh cũng như Hộ-Pháp giao quyền cho Thượng Sanh và Thượng Phẩm.

- Chánh-Phối-sư và Phối-sư đối phẩm Thiên Thánh.

- Giáo-sư đối phẩm Nhơn Thánh.

- Giáo-hữu đối phẩm Địa Thánh.

- Lễ Sanh đối phẩm Thiên Thần.

- Chánh Trị sự, Phó trị sự và Thông sự đối phẩm Nhơn Thần.

- Chư Tín đồ đối phẩm Địa Thần.

Đức Hộ-Pháp giải về ba Đài:

Vấn 1 - Cửu-Trùng-Đài là xác, Bát-Quái-Đài là hồn, Hiệp Thiên-Đài là Chơn-thần đứng trung-gian, để cho xác-hồn hiệp một, nhưng sao Đền-Thánh Hiệp-Thiên-Đài ở trước, Cửu Trùng-Đài ở trung-gian rồi mới đến Bát-Quái-Đài ?

Lời Phê: Phải phân phẩm đặng khai mở Thiên-Môn, rộng quyền Phổ-Độ, đặng tận độ các Chơn-linh và các phẩm chơn-hồn vào Cửu-Thiên Khai-Hóa, phải đến Thiên-Môn trước rồi mới vào đặng Cửu-Thiên, hồn nó không ở với xác mà ở ngoài xác, còn Chơn-Thần là dắt dìu đồng sống với xác đặng độ xác, tương-sanh thì cần chi phân sau hay trước chỉ là Khinh cùng Trọng mà thôi chớ.

Vấn 2 - Nếu nói Hiệp-Thiên-Đài là Chơn-Thần trung gian của xác và hồn thì Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài đứng ở giữa, nhưng sao lại đứng ở ngoài mà ngó vào Cửu-Trùng-Đài rồi đến Bát Quái-Đài ?

Lời Phê: Đứng giữa rồi ngoài họ đuổi Thiên-hạ ra thì ai thấy dùm cho, nếu Chơn-Thần vắng mặt thì chắc xác không biết đường đi mà chớ.

Vấn 3 -Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài phải đứng chầu lễ Đức Chí Tôn hay có ý-nhiệm về Bí-Pháp thế nào, tại sao không ngồi?

Lời Phê: Chơn-Thần phải thường tại tức là phải Hằng Sống, nếu để nó ngồi không buộc nó đứng thì nó sẽ ngủ gục hay là chết.

(ngày 26-10-Canh-Dần)
HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)

PCT: Pháp Chánh Truyền.

 

 

BA ĐẠO

(Cùng nghĩa Tam giáo. Xem Tam Giáo, vần T.)

Ba Đạo tức là Tam Giáo (Đạo Phật, Đạo Tiên, Đạo Thánh). Mỗi một thời thời kỳ Đức Chí-Tôn phái các vì Tiên, Phật, Thánh, Thần mở Đạo cùng khắp, tùy theo dân trí mà dạy Đạo cho thích hợp với phong tục tập quán của nước đó. Tuy chia ba chứ kỳ trung thì cũng một Tôn chỉ duy nhứt là cải ác tùng lương, cải tà qui chánh, giữ vững lòng tương thân tương ái.

Thánh ngôn dạy rằng: "Ai sanh ra dưới thế nầy cũng phải giữ đủ Tôn chỉ của ba Đạo: Nhơn Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo mới làm đặng hoàn toàn phận sự con người. Tỉ như Nhơn đạo thì dạy mình vẹn giữ Tam Cang Ngũ Thường, mới biết bổn phận mình đối với xã hội nhơn quần thế nào cho nhơn loại cộng hưởng hòa bình, chẳng nghịch lẫn nhau, không tiêu diệt lẫn nhau mà phải trái hẳn với đức háo sanh của Thượng Đế.

Đức Hộ-Pháp quả-quyết: "Tân-luật Đức Chí Tôn cốt yếu muốn cho ta làm, đặng ta bảo-vệ Tam cang Ngũ thường của nhân-lọai. Nói về phương Đông này dầu cho luận tới các quốc-gia, xã-hội đến đâu đi nữa, họ tự trọng, họ văn-minh thế nào họ chưa ra khỏi đường lối ấy, niêm-luật ấy bao giờ. Nếu họ ra khỏi là muốn tự bỏ cả xã-hội của họ, thì họ sẽ thành cái gì chớ không thành xã-hội !" Trong Tân-luật ấy Đức Chí-Tôn định cho Ngũ giới-cấm, Tứ đại điều-qui và trong ấy cốt-yếu bảo-vệ Tam cang Ngũ thường cho tòan thể con cái của Ngài. Thật ra cái Thiên-luật của Ngài mà Ngài đã để trong tâm não con cái của Ngài."

 

 

BA GIỀNG - BA MỐI

E: Three net ropes. Three duties.
F: Trois liens sociaux. - Trois devoirs.

Ba giềng hay Ba mối là dịch nghĩa chữ Tam cương hay Tam cang. Cương hay Cang là giềng mối (Giềng: Cái dây lớn của tấm lưới. Mối: Ðầu sợi dây). Như vậy Tam cang gồm: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang, nghĩa là: Giềng mối vua tôi, Giềng mối cha con, Giềng mối vợ chồng. Tam cang còn được giải thích là: Trung- Hiếu -Kính, nghĩa là: Trung với vua, Hiếu với cha mẹ, Kính bậc thầy và người trên trước. (Xem thêm chi tiết nơi chữ Tam cang)

Kinh Sám Hối có câu:

"Trai trung hiếu sửa trau ba mối,
"Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng."

Hoặc:

"Tu tâm sửa tánh ăn năn,
"Ba giềng nắm chặt năm Hằng chớ lơi."

 

 

BA KỲ (Tam Kỳ)

三 圻

Thuở xưa đất vuông 1000 dặm gọi là kỳ - Nước ta vào thời Pháp thuộc chia làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ. Chữ kỳ có nghĩa là chặt, là chia ra. Người Pháp khi đô hộ miền Nam rồi, bảo hộ miền Bắc, có ý định lấy cả Việt Nam mà làm lệ thuộc hoàn toàn rồi chia ra làm ba phần để trị, đặt là "Ba kỳ".

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân Lê-văn Duyệt giáng cho thi:

Ðã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc-địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép tây tà.

 

 

BA LẦN KHAI ĐẠO

(Xem Tam Kỳ Phổ Độ, vần T)

Từ khi mới có nhân-loại và xã-hội đến giờ đã có ba lần Khai Đạo. Riêng về Cựu-lục-địa (Thái-Tây Cận Đông Á-Tế Á). có ba lần Phổ độ tức là ba lần Ân-xá.

1- Nhứt Kỳ Phổ Độ tức là Nhứt thiết Long-Hoa Thiên khai Tý Hội, thuộc vào thời đại Đức Phục-Hi bên Tàu. Trong thời-kỳ này trước sau có mấy vị Thánh-nhân ra đời cứu thế.

- Phật giáo: Đức Nhiên Đăng Cổ-Phật Chưởng giáo.
- Tiên giáo: Đức Thái Thượng Đạo Quân (tiền thân của Đức Lão-Tử).
- Thánh giáo: Đức Văn Tuyên Đế Quân.

2- Nhị Kỳ Phổ Độ: Tức là Nhị Thiết Long-Hoa, Thiên khai Sửu Hội. Trong thời-kỳ này lần lượt có các vị Thánh nhân ra đời cứu thế, như:

- Phật giáo: Đức Thích-Ca Mâu-ni làm Chưởng giáo.
- Tiên giáo: Đức Lý Lão Đam hay Lão-Tử.
-Thánh giáo: Đức Thánh Khổng Phu-Tử (Thánh Ta), Đức Gia-Tô Giáo-chủ (Thánh Tây) cùng đạo Thánh.

3- Tam Kỳ Phổ Độ: tức là Tam thiết Long-Hoa Thiên khai Dần Hội hay Huỳnh-Hội. Kỳ này Đức Ngọc Hoàng Thượng-Đế giáng điển linh lập Đạo qui các Giáo lại làm một và không giao quyền Giáo-chủ cho người phàm nữa. Vì sao vậy? - Là vì trước kia năm châu bốn biển thiếu sự đi lại, phải sống lẻ-loi riêng biệt. Bởi thế, Đức Thượng-Đế phải phái những vị Giáo chủ hạ phàm tại mỗi châu tùy phong tục mà mở Đạo.

Nay thì năm Châu chung chợ, bốn biển chung nhà, trình độ nhân loại đã đi đến chỗ Đại-Đồng, một Tôn giáo tương lai phải có một nền triết-lý dung hòa tất cả các Tôn giáo, mới có thể thích hợp với bước tiến hóa của loài người.

Tam kỳ Phổ-Độ mở vào thời-kỳ Hạ nguơn Tam chuyển, tức là nguơn bảo tồn, mà cũng là nguơn tái tạo qui cổ. Thế nên Đức Ngài dùng Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Tam giáo:

- Phật giáo thì Đức Quan-Âm Bồ-Tát.
- Tiên giáo thì Đức Lý Thái Bạch - Đại Tiên Trưởng
- Thánh giáo thì có Đức Quan Thánh Đế Quân.

Nay, Tam kỳ Phổ Độ do Đức Thượng-Đế làm Giáo chủ về vô vi, bên cạnh đó thì Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc làm Giáo chủ về hữu hình.

Đặc biệt chỉ có nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mới hiệp đủ Âm- Dương: quyền vô vi và hữu hình đồng trị: Trời trị hồn, người trị xác.

Ba thời kỳ dùng ba màu khác nhau: Thanh, Hồng, Bạch để chỉ thứ tự ba thời kỳ Đại Hội là căn cứ theo sự sanh trưởng của vạn vật trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, với màu sắc tương ứng theo Ngũ Hành.

Nhứt kỳ Phổ độ gọi là "Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn". Sở dĩ gọi là Thanh Vương Đại Hội, có Đức Nhiên Đăng Cổ Phật làm Giáo Chủ, ví như cây cỏ đang lớn lên tươi tốt trong mùa Xuân. Xuân chủ về Mộc, sắc của Mộc trong Ngũ Hành là màu xanh (Thanh), nên thời kỳ nầy mở ra Thanh Vương Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh Chủ Khảo hội nầy là Đức Nhiên Đăng Cổ Phật.

- Nhị Kỳ Phổ Độ, vào thời nhà Châu bên Tàu, ví như cây cỏ đang vào mùa Hạ, đang trổ hoa đặng bắt đầu kết trái. Hạ chủ về Hỏa, sắc của Hỏa là màu đỏ (Hồng), nên thời kỳ nầy mở ra HỒNG VƯƠNG Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh Chủ Khảo hội nầy là Đức A-Di-Đà Phật.

- Tam Kỳ Phổ Độ, vào thời hiện nay, ví như cây cỏ kết trái vào mùa Thu. Mùa Thu chủ về Kim, sắc của Kim theo Ngũ Hành là màu trắng (Bạch), nên thời kỳ nầy mở ra BẠCH VƯƠNG Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh Chủ Khảo là Đức Di-Lạc Vương Phật.

Vạn vật chỉ có sanh khí vào ba mùa đầu: Xuân, Hạ, Thu. Qua mùa Đông vạn vật điêu tàn vì không có sanh khí. Do đó, sách xưa viết: Xuân sanh, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông tàn. (Mùa Đông chủ về Thủy, sắc Thủy là màu đen). Cho nên chỉ có ba thời kỳ: Thanh Vương, Hồng Vương, Bạch Vương, không có Hắc Vương vì Hắc Vương là tử kỳ (thời kỳ điêu tàn: chết).

Trong hai thời kỳ: Thanh Vương và Hồng Vương, người tu phải xuất gia, tu hành khổ hạnh.

Qua thời kỳ Bạch Vương, Đức Chí Tôn Thượng Đế mở Đạo phổ truyền Tâm pháp tu hành, lại ban cho Đại Ân Xá, nên dầu tại gia hay xuất gia đều tu hành được cả và người tu đều có thể đắc đạo tùy theo công quả Phụng Sự Vạn linh. Chẳng những thế, những người tu trong hai thời kỳ trước mà chưa đắc quả, kể cả quỉ nhân, nếu trong thời Bạch Vương nầy mà lập được nhiều công quả cũng sẽ đắc đạo. "Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế Giái, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng." (TNHT Q.1 - Dimanche 19 Décembre 1926, 15-11-Bính Dần)

Đức Phật Mẫu hứa: "Trùng huờn phục vị Thiên môn. Nguơn linh, Hóa chủng, Quỉ hồn nhứt thăng." (PMCK)

Thế nên, bài Kệ U-minh-Chung có câu:

31. Nam mô Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.
32. Nam mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội, Di-Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.
33. Nam mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di-Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

Ba câu kệ: 31, 32, 33 cho biết là từ trước tới nay có ba thời kỳ Phổ độ, ứng với ba lần Hội Long Hoa. Duy có thời thứ ba này mới có Đại Hội Long hoa và mở Đại-Ân-xá mà thôi.

Ðạo Trời khai ba lượt: Từ trước tới nay, Ðức Chí Tôn mở ra ba thời kỳ khai Ðạo phổ độ nhơn sanh:

- Kỳ nhứt gọi là Nhứt Kỳ Phổ Ðộ vào thời Thái cổ.
- Kỳ nhì gọi là Nhị Kỳ Phổ Ðộ vào thời Trung cổ.
- Kỳ ba là Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Ðộ trong buổi này.

Thánh ngôn day: "Ðạo Trời khai ba lượt, người tục lỗi muôn phần. Sanh đứng vào vòng thế cuộc, chưa biết mình đã lãnh một vai tuồng đặng chờ lúc kết quả, hồn qui Thiên ngoại, lánh khỏi xác phàm, trở về nơi khởi hành mà phục các điều đã thi hành giữa sân khấu là chốn trần ai khốn đốn nầy".

TNHT: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
PMCK: Phật Mẫu Chơn Kinh.

 

 

BA MƯƠI HAI TƯỚNG TỐT (Phật Học)

三 十 二 好 相
S: dvatriṃśadvara-lakṣaṇa;
Hán Việt: Tam thập nhị hảo tướng.

Ba mươi hai tướng tốt của một Chuyển luân vương (s: cakravartī-rāja), nhất là của một vị Phật. Ngoài ba mươi hai tướng tốt đó, người ta còn kể 80 vẻ đẹp khác.

Ba mươi hai tướng tốt là: lòng bàn chân bằng phẳng, bàn chân có bánh xe ngàn cánh, ngón tay thon dài, gót chân rộng, ngón tay ngón chân cong lại, tay chân mềm mại, sống chân cong lên, thân người như con sơn dương, tay dài quá gối, nam căn ẩn kín, thân thể mạnh mẽ, thân thể nhiều lông, lông tóc hình xoáy, thân thể vàng rực, thân phát ánh sáng, da mềm, tay vai và đầu tròn, hai nách đầy đặn, thân người như sư tử, thân thẳng, vai mạnh mẽ, bốn mươi răng, răng đều đặn, răng trắng, hàm như sư tử, nước miếng có chất thơm ngon, lưỡi rộng, giọng nói như Phạm thiên, mắt xanh trong, lông mi như bị rừng, lông xoáy giữa hai chân mày (bạch hào), chóp nổi cao trên đỉnh đầu.

Một số tướng tốt nói trên được đặc biệt chú ý trong tranh tượng – nhất là hào quang, một dấu hiệu rõ rệt của Thánh nhân theo quan điểm Ấn Ðộ, không bao giờ thiếu trong các tượng Phật. Có lúc hào quang được vẽ như vòng lửa xuất phát từ đầu đến vai. Tướng lông xoáy giữa hai chân mày tượng trưng cho Trí huệ có khi được trình bày như một chấm vàng, hay được thay thế bằng ngọc quí. Tướng chóp nổi cao ở đỉnh đầu (肉 髻; nhục kế, s: uṣṇīṣa) được trình bày mỗi nơi mỗi khác, tại Ấn Ðộ và Trung Quốc hình bán cầu, tại Cam-pu-chia hình nón và tại Thái Lan hình nhọn đầu hay có dạng một ngọn lửa.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

BA MƯƠI SÁU CÕI THIÊN TÀO

E: Thirty-six Heavens.
F: Trente-six Cieux.

(Thiên: Trời. Tào: Cơ quan có nhiệm vụ chuyên môn trong triều đình của Thượng Ðế. Mỗi Thiên Tào là một từng Trời.) Ba mươi sáu cõi Thiên Tào là 36 từng Trời, chữ Hán gọi là Tam thập lục Thiên. (Xem chi tiết: Tam thập lục Thiên)

Kinh Khi Ðã Chết Rồi có câu:

"Ba mươi sáu cõi Thiên Tào.
"Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư."

 

 

BA NGÀN CÔNG QUẢ

Lời tiên-tri trong sách "Ấu-học Tầm nguyên" về sự xuất hiện của Đạo Cao-Đài: trong quyển "Giác mê ca" mà tác giả là một Đạo-gia có ghi lại đoạn văn sau:

Hữu duyên mới gặp Tam-kỳ Phổ-độ,
Muôn đời còn tử-phủ nêu danh.
Ba ngàn công-quả đặng viên thành,
Mới đặng Thiên-thơ chiếu-triệu."

Phải lập cho được Ba ngàn công quả chính là phải tu chơn thực theo phương thức sau, mà sách Trang Tử nói: Chí nhân vô kỷ. Thần nhân vô công. Thánh nhân vô danh.

 
   

• Quên mình làm nên cho người,đạt một số 0.

• Làm mà không tính công đạt hai số 0.

• Làm mà không ham danh đạt ba số 0.

Đây là nói lý: phải hiểu rằng: Đặt số 3 trước ba số (000) thành 3.000 công quả.

Đạo Cao-Đài dạy phải lập cho được 3.000 công quả:

Đúng như lời tiên-tri. Nay người tu theo Cao-Đài phải lập cho được "Ba ngàn công-quả" ấy là cơ đắc Đạo tại thế đó vậy. Bởi:

* Chí-nhân vô kỷ: người có lòng nhân thì quên mình mà lo cho người. Không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến người, đến chúng-sanh, đến mối Đạo phải được sớm hoằng khai, sớm được Phổ-độ. Hằng ngày ta cầu nguyện gì?

"Nam mô nhứt nguyện Đại-đạo hoằng khai,
"Nhì nguyện Phổ độ chúng sanh,"

* Thần-nhân vô công: đứng bậc Thần, làm mà không tính công. Người làm Đạo phải hết mình lo cho lý tưởng Đạo-pháp, làm cho hết việc chớ chẳng phải đợi hết giờ.

* Thánh-nhân vô danh: vào bậc Thánh thì làm mà không kể đến danh. Không tham công, chẳng mến danh mới đạt được cái chơn-lý phụng-sự.

Một người tu hành thật sự là phải thể-hiện cho được các yếu lý ấy, mà cũng là lúc được Đức Phật-Mẫu ban cho Quả Đào Tiên. Chính là người TU phải nắm vững đầu mối hai quẻ Càn Khôn tức là am tường về Bát Quái. Nếu nói như vậy thì tại sao các Chức-sắc ngày hôm nay theo luật công-cử phải có đủ thời-gian công-quả?

- Đó chỉ là cái lằn mức để được thăng phẩm-vị hầu tiếp tục con đường Phụng sự, còn đã là công-quả thật sự thì phải đo bằng "cây thước lương-tâm"chứ không phải là cây thước thời gian. Dù cho nói rằng năm năm, ba năm, nhưng chính thực mỗi người phải "tự biết xét mình" là điều trọng-hệ nhứt.

Đạo là lý, muốn cho thấu-lý Đạo phải luận, từ đó mới có lý-luận, thuyết-luận, giảng-luận, luận đạo.Lẽ ra phải nói là "Tam vô"nhưng từ này, nó sẽ trùng hợp với những gì đã có trong cơ hữu hình rồi.

Đức Quyền giáo Tông dạy: "Người làm Ðạo mà chí thành thì chẳng hề để ý chi riêng về việc công quả mà cầu danh, chẳng hề tính lập công quả mà cầu danh. Chẳng hề ỷ mình lập nhiều công quả mà tự kiêu, tự đắc rồi tác oai tác phước, lập thế chuyên quyền, gây ra lắm điều trái Ðạo, ai nói cũng nghe, ai khuyên cũng không nạp, ai trách cũng không dung.

- Người làm Ðạo mà chí thành thì chỉ lo cho chúng sanh, chớ không kể đến thân mình (ấy là vô kỷ = 0)

- Tự buộc mình vào nơi khổ hạnh, đem cả hình hài trí thức làm món hy sinh cho tôn chỉ Ðạo (ấy là vô công = 0)

- Thân còn chẳng kể huống lựa lợi và danh (vô danh = 0)

Nói tắt lại một điều là làm Ðạo mà còn chút ý riêng về lợi và danh thì chưa có thiệt là chí thành vậy.

Người theo Ðạo mà không chí thành thì bất quá là: Cầu vui tu bắt chước hoặc là tu "cầu mị" theo ông nọ bà kia đặng có dễ bề thân cận mà chác chuộng mua yêu cùng trông ỷ lại nơi người vậy thôi."

 

 

BA NGÔI

F: Les trois personnes divines, la trinité.

Ngày nay Đạo Cao-Đài cho biết rõ về Ba ngôi:

- Ngôi một là Đức Thượng-Đế, là Đức Chí-Tôn còn gọi là Đại-Từ-Phụ.

- Ngôi hai là Đấng Mẹ Sanh của nhân loại, tức là Đức Phât-Mẫu Diêu-Trì.

- Ngôi Ba tức là Cha Mẹ phàm thể này đây.

Vậy về quyền năng của ba ngôi ấy thì:

- Ngôi Chí-Tôn là Phật tạo ra Chơn linh hay linh hồn, tức là Ngài ban cho điểm linh quang sáng suốt, mà con người hơn con vật và đứng đầu cả chúng sanh.

- Ngôi Phật-Mẫu là Pháp, tạo ra Chơn thần, tức là trí não, nhờ đó mà học mới hay, mới hiểu biết mọi việc.

- Ngôi Tăng là Cha Mẹ, là Đấng sanh thành tạo ra xác thể này đây (tức là ngôi "Ba").

"Thầy nói cơ tạo đoan Càn-Khôn Vũ Trụ ra sao thì trong vạn vật cũng tương liên như vậy: cùng một khuôn khổ, một định luật như nhau hết:

- Trên hết cả là Phật, ấy là ngôi cao thượng hơn hết, nắm pháp huyền vi,

- Phật mới chiết tánh ra Pháp ấy là ngôi thứ nhì.

- Pháp mới sanh Tăng ấy là ngôi thứ ba.

Ba cơ quan ấy chừng Qui Nhứt lại thì duy chỉ có một nguyên căn, một bổn thể."

Nguyên lý của ba ngôi:

Trước nhứt, Đấng Tạo Hóa phóng Chơn linh lập Ngôi Một của Ngài là Thái Cực (Premier Logos).

Thái Cực vốn là cơ động tịnh. Thái Cực động sanh Chơn Dương làm Hỏa. Hỏa là Thần (Esprit), tức là cái động thể Nguơn Thần của Tạo Hóa (Brahma-Vira) mà Đạo thơ gọi Mộc Công vì Mộc năng sanh Hỏa.

Thái Cực lại tịnh mà sanh Chơn Âm làm Thủy. Thủy là Tinh (Matière), tức là cái tinh thể Nguơn Thần của Tạo Hóa (Brahma-Vâch), mà Đạo thơ gọi Kim Mẫu vì Kim năng sanh Thủy.

Tạo Hóa vận chuyển ngôi Thái Cực cứ một động một tịnh mà sanh ra hai Nguyên lý Thái Dương - (Pratyag-atman) và Thái Âm (Mula-prakriti), lập thành Ngôi Hai là Lưỡng Nghi (Deuxième Logos).

Đạo thơ nói Mộc Công và Kim Mẫu sanh ra Anh Nhi và Trạch Nữ, rồi nhường ngôi cho hai người mà đi tu. Đó là nói bóng. Sự thiệt thì Chơn Dương và Chơn Âm (Mộc Công và Kim Mẫu) sanh ra nhị nguyên lý Thái Dương và Thái Âm (Anh Nhi và Trạch Nữ).

"Nhường ngôi mà đi tu"nghĩa là sau khi thành lập ngôi Hai (Lưỡng Nghi) thì ngôi Một (Thái Cực) trở về địa vị vô vi.

Tạo Hóa lại dùng phép Âm Dương giao cảm, biến thành hai Khí Thiếu Dương (Fohat) và Thiếu Âm (Koilon) mà lập Ngôi Ba là Tứ Tượng (1) (Troisième Logos).

Đó là một Thể ba Ngôi (2) (Trinité).

__________________

Chú thích: (1) Hư không đây không phải là trống không, hoang vu, ảo tưởng. Đó là cõi Siêu Hình mà phàm trí, phàm giác chưa thấu đáo. Cái Không Không đó là Không mà Có. Cái Có, Có là Có lại Không. (Cao Đài Tiên Bút)

(2) Trong Bát Quái, thì Thiếu Dương thuộc quẻ Khảm ☵ Thiếu Âm thuộc quẻ Ly ☲. Biểu hiệu Thiếu Dương là một gạch liền giữa hai gạch đứt. Tuy thấy phần Âm lấn phần Dương nhưng nó là biểu hiệu cho Dương, vì trong luật điều hòa cai quản Võ trụ Kiền Khôn, bao giờ cái phần thiểu số cũng cầm quyền thống trị tất cả các hiện tượng. Ai rõ thông y học, xét về thai dựng của đàn bà do chỗ Âm Dương yếu mạnh mà sanh hoặc trai hoặc gái, thì thấy rõ cái phần thiểu số bao giờ cũng mạnh hơn phần đại số và luật điều hòa của Tạo Hóa trái hẳn với công lệ "mạnh được yếu thua" của cuộc cạnh tranh phàm tục. Cái lẽ huyền vi rất khó hiểu. Xin nhắc lại trong bài Thánh giáo ngày 29-9-26, có câu nầy:

"Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ nhoi mà quyền thế, các con nhịn nhục mà các con hành phạt. Cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình, thì là gần ngôi Tiên Phật đó".

(2) Tôn giáo nào cũng có cái biểu hiệu một Thể Ba Ngôi. Đại Đạo có: Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng. Đạo Phật có Tam Bửu: Từ Tôn Di Đà, Quan Âm, Thế Chí. Thiên Chúa giáo có ba Ngôi: Đức Chúa Cha (Père), Đức Chúa Con (Fils), Đức Chúa Thánh Thần (Saint-Esprit). Đạo Bà la môn thì có: Thần Sáng Tạo (Brahma), Thần phá hoại (Shiva), Thần Bảo Tồn (Vishnou).

 

 

BA NGÔI: THÁI - THƯỢNG - NGỌC

(Xem thêm Ba Phái, vần PH.)

Ngày 28-6-Bính Dần (dl: 06-08-1926) Ngài Nguyễn Ngọc Thơ chấp bút, Đức Thượng-Đế giáng dạy rằng:

"Thầy đến đây đặng cho hội hiệp sum vầy ba ngôi đoàn tụ đó, bớ mấy con! Nghĩa là: Ngọc Thanh, Thái Thanh và Thượng Thanh đã đủ mặt ngày nay rồi, thì phải lo thi hành bổn phận cho chóng. Bởi ngày giờ đã muộn, ráng mà làm bia cho đời sau noi dấu đến bảy chục muôn năm đó con, chớ chẳng phải là cuộc nhỏ mọn đâu con, phải ráng mà đồng công cộng sự mới đặng, trong thì có Thầy giúp sức, ngoài thì ba con phụ lực mới thành công. Ngày hôm nay là đầu giờ khai mối Đạo. Từ đây có việc chi thì Ba con phải tương thương cộng sự đặng mà điều đình môn đệ của ba con."

TÁI CẦU: "Cái trách nhậm của ba con rất quan hệ trong việc Đạo, nhứt là Thơ, con đã hưởng chán mùi trần, con đã đủ biết điều hay điều dở ở đời nầy ra làm sao. Con phải riêng nghĩ lại tiền căn mà đừng mến hồng trần, vì là chốn khổ hải đó con ôi! Thơ, như con không chê việc phò cơ thì Thầy cho chấp cơ với Hậu những lúc có đàn tại nhà con. Còn bạn phò loan của Hậu còn lâu gặp. Thầy đã cho phép nó kiếm tập rồi. Con khá nghe lời Thầy, việc Bút Cơ là việc lớn trong Đạo, nên khi nào phò cơ chấp bút, phải diệt tận phàm tâm, đừng lo lượng điều chi trong trí của con. Phải biết dùng cái chí Thánh chí Phật của con mà làm cho xứng đáng cái vai tuồng mà Thầy đã định. Con ôi ! Cái bả vinh hoa, con đã thấy tường tận rồi, nào có ra chi, chi bằng biết Đạo hết lòng độ vớt chúng sanh, trẻ thơ trông cậy nơi con nhiều đó con à! Cái công quả ấy, nếu con làm được thì con hưởng nhãn tiền, vì con làm nghĩa cho nhơn sanh thì con được toại chí, rồi cái đạo tâm của con nó nở như tòa sen. Con sẽ thấy ấn chứng nhãn tiền, chớ không phải đợi sau mới thấy đâu. Con đã hiểu ý Thầy chưa? Tự ý con muốn định sao, Thầy cho vậy."

 

 

BA NGÔI THÁP CỬU TRÙNG ĐÀI

 

Van-B-Thap-DauSuNamPhai.jpg   Van-B-Thap-DauSuNuPhai.jpg

(Đầu Sư Nam phái)

 

(Đầu Sư Nữ phái)

 

 

BA NGÔI THÁP HIỆP THIÊN ĐÀI

(Thượng Sanh - Hộ Pháp - Thượng Phẩm)

 
   

Thánh Ngôn ngày 9-3-Kỷ Tỵ (dl 18-4-1929) Đức Chí Tôn dạy việc xây Tháp cho Đức Cao Thượng Phẩm như vầy:

"Các con…Cười! Ấy cũng tại Thầy mà các con lộn xộn cùng nhau…

Cười…Thơ! Con cũng phải, mà Bính cũng phải! Lỗi ấy nơi Thầy. Bính! Chớ chi con lấy năm lần chín (5x9= 45) thì con đã trúng rồi đó, con lại sợ thằng…Sang đứng cận đường, song cũng còn xa đó con, không hề gì. Hai con muốn đem vào cây ba nhánh một chút nữa càng tốt, nhưng đã lỡ rồi, cứ để y."

Theo Thánh Ngôn dạy trên, thì ba ngôi Tháp cách nhau 45 thước, lấy tháp Hộ-Pháp làm trung tâm và Tháp của Thời Quân không có trước mặt tiền Tòa Thánh, vì sao vậy? (Xem thêm nơi "Phần đất xây Tháp Thời Quân")

Để rõ hơn, ngày 7-3-Kỷ Tỵ, Đức Chí Tôn dạy:

"Thơ! Con xây Tháp Cao Thượng Phẩm trước cây ba nhánh, day về hướng Đông, giống như ngó vào Điện hầu Thầy vậy… Đừng làm như Tháp Bảo Đạo, vì phẩm vị khác nhau…" (Không dạy rõ khoản cách, nên nói lỗi tại Thầy là vậy).

 

 

BA NHÁNH

(Xem: Ba Chi)

 Kinh Tứ Thời Nhựt Tụng, có dạy pháp tu như vầy:

"Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh,
"Một cội sanh ba nhánh in nhau.
"Làm người rõ thấu lý sâu,
"Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh-Kinh."

 

 

BA PHÁI (1)

E: Three branches - Three sects.
F: Trois branches - Trois sectes.

Các Chức sắc Cửu Trùng Đài được phân ra làm ba chi hay ba phái:

- Phái Thái, cũng gọi là phái Thích hay phái Phật: mặc đạo phục màu vàng, mão vàng, có Thánh danh khởi đầu bằng chữ Thái.

- Phái Thượng, cũng gọi là phái Lão hay phái Tiên: mặc đạo phục màu xanh, mão xanh, có Thánh danh khởi đầu bằng chữ Thượng.

- Phái Ngọc, cũng gọi là phái Nho hay phái Thánh: mặc đạo phục màu đỏ, mão đỏ, có Thánh danh khởi đầu bằng chữ Ngọc.

Các Chức sắc đồng phẩm nhưng khác phái đều đồng quyền nhau, không ai lớn hay nhỏ hơn ai.

Pháp Chánh Truyền: "Ba chi tuy khác chớ quyền lực như nhau".

Hàng phẩm Chức việc Bàn Trị Sự cầu phong lên hàng Lễ Sanh, được Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ chấm phái. Khi đã được chấm phái rồi thì phải giữ sắc phái đó suốt đời, dù được thăng lên nhiều cấp hay thay đổi đời Giáo Tông khác.

 

 

BA PHÁI (2)

E: Three sectes.
F: Trois sectes.

(Ba phái là Chức sắc Cửu-Trùng-Ðài chia làm ba phái: phái Thái, phái Thượng, phái Ngọc. Mỗi phái có một vị Ðầu Sư đứng đầu, làm Chủ trưởng, Chưởng quản các Chức sắc của phái ấy. Đầu sư mỗi phái có một vị. Cộng chung là ba vị gọi là Tam Tiên. Hiện đã có mặt:

- Phái Thượng có Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt.
- Phái Ngọc có Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.
- Phái Thái có Ngài Ðầu Sư Thái Minh Tinh.

Đầu Sư đứng hàng Tiên-vị, đối phẩm Địa Tiên.

Kế dưới là Thánh-vị có ba phẩm, cũng đủ ba phái, mỗi phái là 12 vị. (12x3)= 36 vị, nên gọi là "Tam Thập Lục Thánh" là 36 Phối Sư. Tức nhiên:

- Phối Sư (36 vi) đối phẩm Thiên Thánh.
- Giáo Sư (72 vị) đối phẩm Nhơn Thánh.
- Giáo Hữu (3.000) đối phẩm Địa Thánh.

Đó là hệ thống tổ chức bên Cửu Trùng Đài.

Thứ sáu, 27-8-1926 (âl 20-7-Bính Dần)

Thầy dạy: "Chư môn đệ nghe dạy: Trong Ba Phái có Tam Thập Lục Thánh, tuy nay chưa đủ số ấy nhưng đã đặng tám, chín người rồi. Vậy phải chiếu y Bạch Ngọc Kinh, chư Thánh lập họ mình. Tỷ như Lịch, Trung, Minh là chủ trưởng Chưởng quản đầu hết các Phái thì quyền hành thay mặt Thầy dạy dỗ các con, thì chẳng nói chi.

Còn Trang, Kinh, Kỳ, ba đứa phải lập họ là: Trang Thanh, Kỳ Thanh, Kinh Thanh. Hễ bao nhiêu Môn đệ độ rỗi của mỗi đứa thì là họ hàng của mỗi đứa, hiểu à! Chừng ấy về đến Bạch Ngọc Kinh thì gia tộc mỗi đứa đều phân biệt. Nếu chẳng độ rỗi thì về với hai tay không."

 

 

BA PHO TƯỢNG (Chức Sắc Hiệp-Thiên-Đài)

Quay mặt nhìn vào gian giữa, thấy ba pho tượng to lớn đứng trên ba tòa sen:

- Tượng của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ở giữa, mặc Đại phục, đứng trên tòa sen giữa Thất Đầu Xà ở bực đá mài cao hơn hết, tay cầm cây Kim Tiên (Bửu pháp của Thái Sư Văn Trọng thời nhà Trụ trao cho Đức Hộ Pháp).

- Tượng của Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư ở phía tay mặt của Đức Hộ Pháp, đứng trên tòa sen trước cây Phướn Thượng Phẩm, mặc Đại phục, tay mặt cầm Long Tu Phiến có gắn Phất Chủ, tay trái cầm xâu chuỗi Từ Bi.

- Tượng của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang ở phía tay trái của Đức Hộ Pháp, đứng trên tòa sen trước cây phướn Thượng Sanh, mặc Đại phục, tay mặt cầm cây Phất Chủ, tay trái nắm xâu chuỗi Từ Bi, sau lưng thì giắt Thư Hùng kiếm.

Ba tòa sen đặt trên ba cái đôn, một con rắn lớn, da màu nâu sậm, có 7 đầu gọi là Thất Đầu Xà, mình rất dài, quấn vào cả ba cái đôn nầy, đuôi rắn quấn tròn vào đôn của Đức Thượng Sanh, thân rắn quấn vào đôn của Đức Thượng Phẩm, phần đầu quấn vào đôn của Đức Hộ Pháp, còn 7 đầu rắn tượng trưng Thất Tình của con người, chia ra: 3 đầu HỈ, ÁI, LẠC, đưa thẳng lên cao sau lưng Đức Hộ Pháp giống như tạo thành chỗ dựa; hai đầu Ố và Dục tẻ ra hai bên, gục xuống vừa tầm để Đức Hộ Pháp đặt 2 tay lên như để chế ngự; 2 đầu Nộ và Ai ở dưới thấp, gục xuống vừa tầm để Đức Hộ Pháp đặt chân lên khi Đức Ngài ngồi trên tòa sen. Như thế, 7 đầu rắn ấy kết hợp với tòa sen đặt trên cái đôn, tạo thành như một cái ngai để Đức Hộ Pháp ngự trên đó, với hai tay kềm chế hai đầu Ố và Dục, hai chân đạp lên hai đầu Nộ và Ai, không cho hai đầu nầy ngóc lên và ba đầu Hỷ, Lạc, Ái cho cất lên cao như làm thành chỗ dựa lưng cho Đức Hộ Pháp.

Trên vách phía sau ngai của Đức Hộ Pháp là bùa chữ KHÍ 氣 vẽ màu vàng trên nền đỏ.

Sau lưng Đức Thượng Phẩm có treo lá phướn Thượng Phẩm, trên đó có Cổ pháp Thượng Phẩm là Long Tu Phiến và Phất Chủ.

Sau lưng Đức Thượng Sanh thì có treo lá phướn Thượng Sanh, trên đó có Cổ pháp Thượng Sanh là Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ.

Chúng ta còn thấy trên 2 cây cột ở hai bên chữ KHÍ có đôi liễn Phạm Môn:

- PHẠM giáo tùy nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp.
- MÔN quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

Nghĩa là:

• Phật dạy tùy thời kỳ mà cứu độ người đời thi hành theo Chánh pháp.
• Quyền lực của cửa Đạo định ra thời kỳ trừ diệt tà mị bảo hộ chơn truyền.

Dưới ba pho tượng của Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh là năm bực đá mài màu nâu hình bán nguyệt, gọi là Ngũ Lôi Đài, dành cho Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài đứng chầu lễ Đức Chí Tôn. Dưới năm bực đá mài bán nguyệt vừa kể ở trên là cấp thứ 1 (thấp nhứt) của Cửu Trùng Đài. Trong cấp nầy, phần giữa dành cho các Chức sắc Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài đứng chầu lễ Đức Chí Tôn, và hai phần hai bên dành cho các tín đồ Đạo hữu nam nữ chầu lễ. (Tam-Ngũ)

 

 

BA SINH (Ba Sanh)

E: The three lives.
F: Les trois existences.

Trong chuyện tình yêu đôi lứa cũng phù hợp với luật Nhân Quả, tức là một câu thề nguyền hẹn hò giữa hai người Nam Nữ: Không phải là chuyện đùa chơi, mà khi ước hứa, thề nguyền đều được Thần Thánh chứng tri, nếu cuộc tình dang dở không kết thành chồng vợ được trong kiếp nầy thì trong ba kiếp tới, hai người cũng phải tái kiếp để mà kết thành chồng vợ.

(Sanh hay sinh là sự sống. Ba sanh hay Ba sinh là ba kiếp sống. Nợ ba sinh: Món nợ tình ái giữa hai người Nam Nữ trong ba kiếp luân hồi phải gặp nhau). Trong văn học, Ba sinh là để chỉ mối duyên vợ chồng ràng buộc hai người từ kiếp trước.

Ðiển tích: Theo Cam Trạch Dao, Lý Nguyên đời Ðường kết bạn thân với ông sư Viên Trạch chùa Huệ Lâm. Một hôm hai người cùng đi chơi núi Tam Giáp, gặp một người đàn bà đi gánh nước. Sư Viên Trạch nói: Bà đó là nơi thác thân của tôi. Mười hai năm sau, bạn sẽ gặp lại tôi tại mé ngoài chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu. Ðêm hôm đó, Viên Trạch chết. Mười hai năm sau, Lý Nguyên nhớ lời hẹn ước, liền tìm đến Chùa Thiên Trúc, gặp một đứa trẻ chăn trâu. Ðứa trẻ ấy cất tiếng hát:

Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn,
Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luận,
Tàm quí tình nhân viễn tương phỏng,
Thử thân tuy dị tánh trường tồn.

Nghĩa là:

Tinh hồn cũ gởi trên đá ba sinh,
Thưởng trăng ngâm gió không bàn định,
Thẹn với bạn tình xa đến thăm,
Thân tuy khác, tánh vẫn trường tồn.

Nghe lời đứa trẻ hát, Lý Nguyên hiểu ngay đứa trẻ ấy chính là Viên Trạch tái kiếp.

Kinh Hôn Phối có câu:

"Đường Tổ nghiệp nữ nam hương lửa,
"Ðốt cho nồng từ bữa ba sanh."

 

 

BA THÂN (Phật Học)

三 身
Hán Việt: Tam thân.

Ba thân (S: trikāya) Chỉ ba loại thân của một vị Phật, theo quan điểm Ðại thừa (s: mahāyāna). Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng cho rằng Phật – như Ngài đã xuất hiện trên thế gian để hoằng hóa, tiếp độ chúng sinh – chính là biểu hiện của sự Tuyệt đối, của Chân như và Phật có khi hiện thân thành nhiều hình tướng khác nhau chỉ vì lợi ích của chúng sinh. Quan niệm ba thân Phật được nêu ra nhằm nói lên quan điểm đó. Ba thân gồm:

1. Pháp thân 法身 (s: dharmakāya) là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể của vũ trụ. Pháp thân là thể mà Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân cũng chính là Pháp (s: dharma), là qui luật vận hành trong vũ trụ, là giáo pháp do Đức Phật truyền dạy.

2. Báo thân 報身 (s: saṃbhogakāya) cũng được dịch là Thụ dụng thân 受用身 là thân Phật xuất hiện trong các Tịnh độ.

3. Ứng thân 應身 (s: nirmāṇakāya, cũng được gọi là Ứng hóa thân hoặc Hóa thân là thân Phật xuất hiện trên trái đất, với nhân trạng, với mục đích cứu độ con người.

Pháp thân được xem chính là Phật pháp (s: buddha-dharma) như Phật Thích-ca giảng dạy trong thời còn tại thế. Sau này người ta mới nói đến hai thân kia. Pháp thân được xem là thường hằng, vô tướng, nhất nguyên, là thể tính chung của các vị Phật, là dạng tồn tại thật sự của chư Phật. Pháp thân có nhiều tên gọi khác nhau, tùy trường hợp sử dụng. Có lúc người ta xem nó là thể tính của mọi sự (Pháp giới [dharmadhātu, dharmatā], Chân như [s: tathatā, bhūtatathatā], Không [s: śūnyatā], A-lại-da thức [s: ālayavijñāna]) hay xem nó là Phật (Phật, Phật tính [s: buddhatā], Như Lai tạng [s: tathāgata-garbha]). Trong nhiều trường phái, người ta xem Pháp thân là thể trừu tượng không có nhân trạng, có trường phái khác lại xem Pháp thân hầu như có nhân trạng (xem kinh Nhập Lăng-già, kinh Hoa nghiêm). Ðạt Trí huệ siêu việt đồng nghĩa với sự trực chứng được Pháp thân.

Báo thân là thân do thiện nghiệp và sự giác ngộ của các Bồ Tát mà hóa hiện cho thấy – cũng vì vậy mà có lúc được gọi là Thụ dụng thân, là thân hưởng thụ được qua những thiện nghiệp đã tạo. Báo thân thường mang Ba mươi hai tướng tốt (s: dvātriṃśadvara-lakṣaṇa) và tám mươi vẻ đẹp của một vị Phật và chỉ Bồ Tát mới thấy được trong giai đoạn cuối cùng của Thập địa (s: daśabhūmi). Người ta hay trình bày Báo thân Phật lúc ngồi thiền định và lúc giảng pháp Ðại thừa. Các trường phái thuộc Tịnh độ Tông cũng tin rằng Báo thân Phật thường xuất hiện trong các Tịnh độ.

Ứng thân là thân Phật và Bồ Tát hiện diện trên trái đất. Ứng thân do Báo thân chiếu hiện, dựa trên lòng Từ bi và có mục đích giáo hóa chúng sinh. Như thân người, Ứng thân chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật, nhưng Ứng thân có thần thông như thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông. Sau khi chết, Ứng thân tự tiêu diệt.

Ba thân Phật nói ở trên có lẽ đầu tiên được Vô Trước (s: asaṅga) trình bày rõ nhất, xuất phát từ quan điểm của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và về sau được Ðại thừa tiếp nhận. Ðáng chú ý nhất là quan điểm Pháp thân nhấn mạnh đến thể tính tuyệt đối của một vị Phật và không chú trọng lắm đến Ứng thân của vị Phật lịch sử. Như thế, Phật là thể tính thanh tịnh của toàn vũ trụ, thường hằng, toàn năng. Các vị Phật xuất hiện trên trái đất chính là hiện thân của Pháp thân, vì lòng từ bi mà đến với con người, vì lợi ích của con người.

Với quan điểm Ba thân này người ta tiến tới khái niệm không gian vô tận với vô lượng thế giới. Trong các thế giới đó có vô số chúng sinh đã được giác ngộ, với vô số Phật và Bồ Tát.

Ðối với Thiền tông thì ba thân Phật là ba cấp của Chân như, nhưng liên hệ lẫn nhau trong một thể thống nhất. Pháp thân là "tâm thức" của vũ trụ, là thể tính nằm ngoài suy luận. Ðó là nơi phát sinh tất cả, từ loài Hữu tình đến vô tình, tất cả những hoạt động thuộc tâm thức. Pháp thân đó hiện thân thành Phật Ðại Nhật (s: vairocana). Cũng theo Thiền Tông thì Báo thân là tâm thức hỉ lạc khi đạt Giác ngộ, Kiến tính, ngộ được tâm chư Phật và tâm mình là một. Báo thân hiện thân thành Phật A-Di-Đà. Ứng thân là thân Phật hóa thành thân người, là Đức Thích-Ca Mâu-Ni.

Mối liên hệ của Ba thân Phật theo quan điểm Thiền Tông được thí dụ như sau: nếu xem Pháp thân là toàn bộ kiến thức y học thì Báo thân là chương trình học tập của một y sĩ và Ứng thân là y sĩ đó áp dụng kiến thức y học mà chữa bịnh cho người.

Trong Kim Cương Thừa thì Ba thân là ba cấp của kinh nghiệm giác ngộ. Chứng được Pháp thân chính là tri kiến được tự tính sâu xa nhất của muôn vật, và tự tính này chính là tính Không, trống rỗng. Báo thân và Ứng thân là thân của sắc giới, là phương tiện tạm thời giúp hành giả chứng ngộ được tính Không. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem Thân, khẩu, ý của một vị Ðạo sư (s: guru) đồng nghĩa với ba thân nói trên.

Trong Kim Cương Thừa, quan điểm Ba thân có mục đích phát biểu các tầng cấp khác nhau của kinh nghiệm giác ngộ. Pháp thân là tính Không, là Chân như tuyệt đối, bao trùm mọi sự, tự nó là Giác ngộ. Báo thân và Ứng thân là các thể có sắc tướng, được xem là phương tiện nhằm đạt tới kinh nghiệm về một cái tuyệt đối. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem thân, khẩu, ý của một vị đạo sư chính là Ba thân, được biểu tượng bằng thần chú OṂ-AH-HUNG (gọi theo tiếng Tây Tạng). Sức mạnh toàn năng của Pháp thân được thể hiện ở đây bằng Phổ Hiền (s: samantabhadra). Các giáo pháp Ðại thủ ấn và Ðại cứu kính (t: dzogchen) giúp hành giả đạt được kinh nghiệm về tâm thức vô tận của Pháp thân. Báo thân được xem là một dạng của "thân giáo hóa." Các Báo thân xuất hiện dưới dạng Ngũ Phật và được xem là phương tiện để tiếp cận với Chân như tuyệt đối. Báo thân xuất hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau, tịch tĩnh (s: śānta) hay phẫn nộ (s: krodha), có khi được trình bày với các vị Hộ Thần (t: yidam) hay Hộ Pháp (s: dharmapāla).

Ứng thân là một dạng "thân giáo hóa" với nhân trạng. Trong Kim Cương Thừa, Ứng thân hay được hiểu là các vị Bồ Tát tái sinh (Chu-cô [t: tulku]).

Ba thân nêu trên không phải là ba trạng thái độc lập mà là biểu hiện của một đơn vị duy nhất, thỉnh thoảng được mô tả bằng thân thứ tư là Tự tính (Tự nhiên) thân (s: svābhāvikakāya). Trong một vài Tan-tra, thân thứ tư này được gọi là Ðại lạc thân (s: mahāsukhakāya).

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

BA THẦN PHẨM

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Kìa Thiên-cảnh con đường vòi-vọi,
"Ánh Hồng-Quân đương chói Ngọc-Lầu.
"Cung Thiềm gắng bước cho mau,
"Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam-Thiên."

 

 

BA THỪA (Tam Thừa) (Phật Học)

三 乘
Hán Việt: Tam thừa.

Ba thừa (S: triyāna) Ba cỗ xe đưa đến Niết-bàn, đó là Thanh văn thừa 聲聞乘 (s: śrāvakayāna), Ðộc giác thừa 獨覺 乘(s:pratyekayāna) và Bồ Tát thừa 菩薩乘 (s: bodhisattvayāna).

Ðại thừa gọi Thanh văn thừa là Tiểu thừa (s: hīnayāna) với sự đắc quả A-La-Hán (s: arhat) là mục đích, Ðộc giác thừa là Trung thừa (s: madhyamāyāna) với quả Ðộc giác Phật. Bồ Tát thừa được xem là Ðại thừa (s: mahāyāna) vì nó có thể cứu độ tất cả chúng sinh và hành giả trên xe này cũng có thể đắc quả cao nhất, quả Vô thượng chính đẳng chính giác (s: anuttarasamyaksaṃbodhi).

Trong kinh Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇḍarīka-sūtra) Đức Phật nói rằng ba cỗ xe nói trên cũng chỉ là thành phần của một cỗ xe (Nhất thừa) và được chỉ dạy tùy theo khả năng tiếp thu của các đệ tử. Ba thành phần này được so sánh với ba cỗ xe được kéo bằng con dê, hươu và bò.

(Tham khảo: TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC - ĐẠO UYỂN)

 

 

BA TRẤN

(Tam Trấn Oai nghiêm. Xem vần T.)

E: Three Governors of the Celestial Empire.
F: Trois Gouverneurs de L’Empire Céleste.

Trong Ðạo Cao Ðài: Ba Trấn là diễn nôm và nói tắt của Tam Trấn Oai Nghiêm. Tam Trấn Oai Nghiêm ngày nay là ba Ðấng thay mặt ba vị Giáo Chủ của Tam Giáo để cầm quyền Tam Giáo trong Ðại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ (Xem chữ: Tam Trấn Oai Nghiêm).

Thầy dạy: Août 1926. [01-07-Bính Dần (Giờ Ngọ)].

Tái Cầu: Lần thứ tư (12 giờ khuya)

Thầy dạy: "Trong Tam Kỳ Phổ Ðộ và Qui Tam giáo nầy:

- Phật thì có Quan Âm,

- Tiên thì có Lý Thái Bạch,

- Thánh thì có Quan Thánh Ðế Quân, khai đạo.

Vậy con lập cho đủ Ba Trấn chứng đàn; con phải lập bàn Ngũ Lôi, như Thầy dạy lúc trước; phải có bùa Kim Quang Tiên, còn con viết bùa Giáng Ma Xử để bàn vọng Hộ Pháp; rồi Cư chấp bút nhang cho Thầy triệu Ngũ Lôi đến; rồi nó xuống đứng gần bàn Hộ Pháp với Tắc và Sang; còn mấy đứa phò loan đứng vòng theo đó. Con biểu Tương, Kim, Thơ thề y như buổi trước; chư Môn đệ thề như buổi Thiên phong. Con phải nhớ dặn chúng nó tịnh tâm mới đặng, vì có cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chứng đàn.

Các con nghe Tịch Ðạo, Thi:

THANH ÐẠO tam khai thất ức niên,
Thọ như địa huyển thạnh hòa Thiên.
Vô hư qui phục nhơn sanh khí,
Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.

清 道 三 開 七 億 年
壽 如 地 圈 盛 和 天
無 虛 歸 服 人 生 氣
造 萬 古 壇 照 佛 緣

Giải nghĩa:

- Nền Đạo trong sạch của Ðức Chí Tôn mở ra lần thứ ba phổ độ đến 700000 năm (một ức: 100000 năm)
- Sống lâu như trái đất, thịnh vượng cùng Trời- Ðức Chí Tôn đem trở về các linh hồn của nhơn sanh.
- Tạo ra từ muôn xưa đàn cúng tế để soi sáng người có duyên với Phật.

THANH là Tịch các con. Vậy thì, Tương là Thượng Tương Thanh, Kim là Thượng Kim Thanh,Thơ là Thái Thơ Thanh. Phải dùng tên ấy mà thề.

Tái Cầu: Lần thứ năm (1 giờ rưỡi sáng)

Tương, bốn đứa Lễ Sanh đâu con? Lập nghi, Thầy cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến chứng đàn.

Tái Cầu: Lần thứ sáu (3 giờ sáng)

Lịch, chư Môn đệ thiếu mặt nhiều lắm con há? Vậy nội ngày mai, con phải lên thiết đàn tại Chợ Lớn, nhà Trung cho cả môn đệ Thầy lập Minh Thệ đủ mặt hết nghe!

Lý Thái Bạch giáng Cơ:

THÁI thượng vô ngôn hữu đạo thành,
BẠCH vân hữu nhãn kiến nhơn sanh.
KIM quang đắc kiếp tu tâm thiện,
TINH đẩu nan tri ngã độ thành.

太 上 無 言 有 道 成
白 雲 有 眼 見 人 生
金 光 得 劫 修 心 善
星 斗 難 知 我 度 成

Giải nghĩa:

- Ngôi Thái cực ở trên, không nói mà đạo được thành,
- Trong mây trắng có mắt thấy khắp nhơn sanh.
- Ánh kim quang đạt được kiếp Tiên nhờ tu tâm lành,
- Các vì sao khó biết ta độ cho thành.

Quan Âm giáng Cơ:

QUANG minh Nam Hải trấn thiền môn,
ÂM cảnh năng tri độ dẫn hồn.
BỒ đoàn mạc hám liên huê thất,
TÁC thế tâm ưu khởi đạo tông.

光 明 南 海 鎮 禪 門
陰 境 能 知 度 引 魂
蒲 團 莫 噉 連 花 室
作 世 心 憂 起 道 宗

Giải nghĩa:

- Ðấng Quang minh ở Nam Hải trấn giữ cửa Thiền,
- Có khả năng biết và độ dẫn các hồn nơi Âm cảnh.
- Ngồi trên tấm bồ đoàn, không thích ngự trên tòa sen, (Ý nói: Muốn làm một vị Bồ Tát để cứu độ chúng sanh, chớ không thích ngồi an hưởng trên ngôi vị Phật)
- Có lòng lo lắng làm cho người đời khởi bước theo đạo.

Quan Thánh giáng Cơ:

QUAN thành tái hiệp Hớn triều phong,
THÁNH đức mạc vong hám thế trần.
ÐẾ thất nhứt tâm trung khí dõng,
Thanh y xích diện hảo vinh phong.

關 誠 再 合 漢 朝 封
聖 德 莫 忘 噉 世 塵
帝 室 一 心 忠 氣 勇
青 衣 赤 面 好 榮 封

Giải nghĩa:

- Quan Võ xưa được triều Hớn phong chức, nay tái hiệp,
- Cái đức của bậc Thánh chẳng quên ham thích việc đời.
- Một lòng trung thành và dũng khí với nhà vua,
- Áo xanh mặt đỏ, Ngài được phong tước vinh hiển tốt đẹp.

Thánh ngôn Thầy dạy: "Các con nghe, Thầy buộc phải nói rõ cho các con đừng lầm mà trách Thầy. Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ. Thầy đã đến mà dìu dắt từ đứa thì lẽ nào lại đành lòng xô đuổi. Thầy thấy các con bị phép thử thất Ba Trấn lập thành thì đã hiểu nhiều đứa bị hành. Thầy ngậm đau nuốt thảm ngồi nhìn. Thầy chẳng để thử thất, Ba Trấn trách Thầy vì yêu mến quá lẽ mà làm mất hết công bình, nhứt là Lý Thái Bạch kêu nài hơn hết."

 

 

BA VẠN SÁU NGÀN NGÀY

Xưa Đức Nguyễn-Du đã than:

"Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy?
"Cảnh phù-du xem thấy cũng nực cười!"

Ba vạn sáu ngàn ngày là Ba mươi sáu ngàn ngày (36.000 ngày), tức là một trăm năm. Theo Kinh Lễ, một đời người thường sống thọ lắm cũng chỉ đến trăm tuổi làm kỳ hạn: "Nhân thọ dĩ bách niên vi kỳ" 人壽以百年之期.

Vì Đạo giáo quan niệm rằng cõi thế gian là chốn đọa đày thì ba vạn sáu ngàn ngày quả là rất lâu đối với con người.

Thói thường, người đời luôn quan niệm rằng ai đặng sống lâu nơi cõi thế gian là được phước, nhưng theo Tôn giáo, người sống thọ là người chưa trả hết nghiệp quả ở cõi đời, mà cõi đời là cõi đọa đày, nên kéo dài cuộc sống trong cảnh lão và bệnh thì thực là nghiệp nặng nề khổ sở. Thế nên:

- Mang cái xác thân để sống giữa cõi trần đày đọa này.
- Sống cho trọn kiếp nguời là trăm năm thực là khó khăn.

Kinh Khi Thức Dậy có câu:

"Có thân giữa chốn đọa đày,
"Đếm ba vạn sáu ngàn ngày khó khăn."

 

 

BA VỊ TƯỚNG SOÁI CỦA CHÍ-TÔN

Giờ đây ba vị Tướng-soái đã triều-thiên, nên mới đến vai-tuồng của Thập Nhị Thời-Quân phải đảm-đương trọng trách cầm quyền Chưởng-quản Hiệp-Thiên-Đài là quyền tối cao của Hội-Thánh đương kim. Điều ấy cũng do theo công-lệ "tiền tấn hậu kế"

Thật ra ba Vị Tướng Soái này Đức Chí-Tôn đã chọn lựa từ lâu rồi. Hiện tại thì:

- Thượng-phẩm Cao-Quỳnh-Cư Chưởng-quản chi ĐẠO, tuổi Mậu-Tý - 1888 (số 1)

- Thượng-Sanh Cao-Hoài-Sang Chưởng-quản chi THẾ, Tuổi Tân-Sửu -1901 (Số 2)

- Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc Chưởng quản chi PHÁP, Tuổi Canh-Dần - 1890 (Số 3)

Về nguyên lý của vũ trụ thì: Mới bắt đầu là số 1, phát sinh ở hướng Bắc, tức là cái vi-dương (vi dương đây là ĐẠO). Bắt đầu có ở hướng Bắc cho nên trên quả địa-cầu lúc đó có đại-lục, mà chỉ ở hướng Bắc hưởng thụ cái khí vi-dương đầu tiên của sao Bắc-đẩu gọi là "Thiên nhứt sanh thủy".

Rồi dần dần phát-triển qua hướng Nam, tức là số 1 tiến dần đến số 2; số 2 ở về hướng Nam thể trên, tức là đaị-lục của Bắc Á-châu (chi THẾ xuất-hiện).

Bấy giờ sang hướng Đông đến số 3. Số 3 tức là số của Thiếu-Dương (đây là lúc thịnh hành của cơ PHÁP) cho nên trong thời thái-cổ theo sự phát triển về thời gian, vì vậy mà thời đó ở Á Đông văn-minh trước Âu-Tây, mà chính cái văn minh tinh-thần vô-cùng sáng-suốt thấu hiểu được trời đất: Các vị Thánh Khổng, Mạnh, Lão, Trang đó! Do lẽ ấy mới có câu:

-Thiên khai ư Tý. - Địa tịch ư Sửu. - Nhơn sanh ư Dần.

Tức là Tý-hội khai thiên, qua Sửu-hội sanh địa-cầu và Dần-hội thì sanh nhơn-loại. Thiên, Địa, Nhơn gọi là Tam tài hay là Thiên-hoàng, Địa-hoàng, Nhân-hoàng. Vì lẽ đó Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc sinh vào ngày 5 tháng 5 năm Canh-Dần (1890). Ngài là Ngự Mã Thiên Quân của Đức Chí-Tôn, Ngài lãnh lịnh Đức Chí Tôn đến trước mở đường xuất Thánh cho Đức Di-Lạc ra đời. Hiện nay tượng ảnh Đức Di-Lạc cỡi cọp ngự trên Phi Tưởng Đài còn đó để làm chứng tích cho thời-kỳ "Nhơn sanh ư Dần" là vậy.

 

 

BA VÒNG VÔ VI

E: Three mysterious circles.
F: Trois cercles mystérieux.

 
   

"Ba vòng vô vi" tức là ba vòng tròn có ba màu: vàng, xanh, đỏ, liên kết với nhau theo hình dọc tạo thành một xâu  hay liên kết theo hình tam giác. Ba màu: vàng, xanh, đỏ, tượng trưng Tam giáo: Thích giáo, Lão giáo và Nho giáo. Hình ảnh này thường thấy nhất là ba vòng vô vi đặt trên các cửa Tam quan hay nơi trung tâm của các cửa sổ ở các Thánh Thất địa phương.

1- Nơi Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Ðộng: Ðức Phạm Hộ Pháp trấn pháp với hai món bí pháp: Long Tu phiến và cây Kim tiên, hiệp với ba vòng vô vi tức là Diệu Quang Tam Giáo hay là hình trạng của Càn Khôn Vũ-Trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang Khiếu của chúng ta đó vậy.

2- Ba màu của ba vòng vô vi: Màu đỏ tượng trưng phái Ngọc (Thánh), màu xanh tượng trưng phái Thượng (Tiên), màu vàng tượng trưng phái Thái (Phật). Phái Ngọc chỉ liên quan với phái Thượng, còn phái Thượng thì liên quan cả hai phái Thái và Ngọc, để tượng trưng cho: Pháp thân, Pháp giới và Pháp Thiên, là hiệp Tinh-Khí-Thần, ấy là Ðạo.

Ba vòng vô vi treo theo thế nằm ngang, trên lầu của Trí Huệ Cung, trên một cái cán, giống như treo cờ, ba vòng quay tự do qua lại theo chiều gió thổi.

"Trí Huệ Cung là con đường thứ ba của Ðại Ðạo, mà hễ luận đến danh Ðạo lại là vô vi chi pháp, nên tượng trưng cửa hữu hình ba vòng vô vi vàng xanh đỏ, thấy trống không mà là Bí pháp, nên phải lập hữu hình trấn tại Trí Huệ Cung. Treo nằm ngang là ám chỉ bình đẳng, Phật, Thánh, Tiên, kết liền, liên quan cùng nhau thành qui Tam Giáo, không còn chia rẽ nữa, mà bạch y, bạch giáp vi chủ thống nhứt là bí mật cao siêu mầu nhiệm. Thành ra màu trắng làm chủ các màu khác, nên muốn tu chơn là cửa Phật vô vi, không có sắc tướng là thanh bạch, lấy chủ định Thiên lương mới qui nhứt bổn, là căn bản đắc đạo, là nhờ tu Chánh pháp. Trời là Lý, thì Lý ấy rất thông minh sáng suốt bao quát cả Càn Khôn Thế-Giới. Tầm cho được Lý Hư Vô mới đạt pháp, mới thông cặp nhãn nhục vào tâm cho thành ngôi Thái Cực, tức Thiên nhãn, mới xem thấy ba vòng vô vi chi pháp. Ấy là Bí pháp trấn tại Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Ðộng. Toàn thể chúng ta, ai cũng đều ngó thấy không có gì hết, trống trơn, mà trong đó huyền-pháp siêu hình vô biên vô giới. Tu mà giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó mà thôi. Nếu người tu chơn mà không rõ thấu trấn pháp ba vòng vô vi để làm gì, thì làm sao giải thoát cho đặng Lục dục Thất tình, làm sao đạt Lục thông, là tu giả." (TÐ. ÐPHP)

• Trên áo Ðạo phục của ba vị Nam Ðầu Sư và của vị Nữ Ðầu Sư Cửu Trùng Ðài, trước ngực và sau lưng đều có một miếng vải hình tròn gọi là bố tử, trên đó có thêu sáu chữ nho 大道三期普度 Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, theo vòng tròn, bao quanh ba vòng vô vi. Ba vòng vô vi nầy là ba vòng tròn đồng tâm.

Trên mão Ngưỡng Thiên của các vị Giáo Hữu ba phái, Thiên nhãn thêu trước mão đều có bao quanh ba vòng vô vi.

TÐ ÐPHP: Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp.

 

 

BÁ DI - THÚC TỀ

Một gương trung trực, chán công hầu, bỏ cả lợi danh.

Chuyện kể rằng: Bá Di, Thúc Tề là hai người con của vua Cô Trúc ở cuối đời Thương, đầu đời Chu. Bá Di là anh cả, Thúc Tề là em út. Vua Cô Trúc yêu Thúc Tề, lập di mệnh cho Thúc Tề nối ngôi. Quốc dân theo di mệnh lập Thúc Tề; Thúc Tề không chịu, nhường lại cho Bá Di cho phải lẽ. Bá Di cũng không chịu, nhường lại cho Thúc Tề để tuân lệnh cha. Không ai chịu nhận rồi cả hai trốn vào núi ở ẩn, quốc dân phải lập người con giữa.

Lúc đó Bá Di và Thúc Tề nghe tiếng Ông Tây Bá Xương khéo nuôi người già, muốn tới qui phục. Tới nơi thì Tây Bá đã mất. Vua Võ Vương chở thần chủ (Linh vị) của Tây Bá đem quân qua đông phạt Trụ. Bá Di - Thúc Tề dập đầu trước ngựa mà can rằng: Cha mới chết (Tây Bá Xương) mà dấy động can qua thì có đáng gọi là hiếu không? Làm tôi đánh vua có đáng gọi là trung không? Kẻ tả hữu của nhà vua muốn giết, ông Thái Công bảo: Hai người đó là hiền sĩ, bèn đỡ dậy, rồi thả cho đi.

Khi Võ Vương đánh Trụ thắng, lên làm vua xưng hiệu nhà Chu, thiên hạ đều thần phục, chỉ Bá Di, Thúc Tề cho hành vi của Võ Vương là đáng xấu hổ, nên không thờ nhà Chu và giữ nghĩa khí, chẳng chịu ăn lúa nhà Chu, lên ở ẩn trên núi Thú Dương, hái rau vi mà nuôi sống. Có người gặp, chê rằng: không ăn thóc nhà Chu, đi ăn rau để sống. Vậy chớ ngọn rau tấc đất không phải của nhà Chu là gì? Bá Di, Thúc Tề nghe được câu chuyện đó, bèn nhịn đói mà chết.

Người sau có bài vịnh về Bá Di Thúc Tề như sau:

Danh chẳng màng bao, lợi chẳng mê,
Ấy gang hay sắt hỡi Di, Tề?
Gặp xe vua Võ tay cầm lại,
Thấy thóc nhà Chu ngoảnh mặt đi.
Cô Trúc hồn về sương mịt mịt,
Thú Dương danh tạc đá tri tri.
Cầu nhân hẳn đặng nhân mà chớ,
Cũng chẳng hềm ai chẳng oán chi.

 

 

BÁ CHỦ HOÀN CẦU

Đức Hộ-Pháp nói: "Tổ-phụ ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu LỤÂT NHƠN QUẢ ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ-tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô-lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong. Các con để tâm suy nghĩ; ngó thấy ở dưới thế-gian này ai mạnh cho bằng Tần Thủy-Hòang, Thành-Cát Tư Hãn? Có ai mưu sĩ cho bằng Tào-Tháo? Còn Đức Thích-Ca, Đức Chúa Jésus-Christ không có một tấc thép trong tay để bảo vệ lấy thân mà làm bá chủ hoàn cầu mới là lạ cho chớ!"

 

 

BÁ HẠNH CHI BỔN NHẪN CHI VI THƯỢNG

Phu-Tử viết: "Bá hạnh chi bổn nhẫn chi vi thượng". Ðức Khổng-Tử nói: Trăm nết chung gốc chỉ có chữ NHẪN là cao thượng hơn hết. Tử-Trương viết: Hà vi nhẫn chi. Thầy Tử Trương hỏi tại sao mà phải nhịn đó? Phu-Tử viết:

Thiên-Tử nhẫn chi quốc vô hại,
Chư-Hầu nhẫn chi thành kỳ đại.
Quan-Lại nhẫn chi tấn kỳ vị,
Huynh-đệ nhẫn chi gia phú-quý,
Phu-phụ nhẫn chi chung kỳ thế,
Bằng-hữu nhẫn chi danh bất phế,
Tự thân nhẫn chi vô họa hoạn.

Nghĩa là: Làm Vua mà biết nhịn thì trong nước không có điều tai hại, bậc chư-hầu mà biết nhịn thì nên nghiệp lớn. Bậc Quan Lại mà biết nhịn thì phẩm-vị đặng cao thăng. Anh em biết nhịn với nhau thì nhà cửa đặng giàu sang. Chồng vợ biết nhịn thì niềm ân-ái mới đặng trọn đời. Bậu bạn biết nhịn thì danh nghĩa chẳng hư, còn thân của mình mà biết nhịn chẳng lo tai họa.

 

 

BÁ HUÊ VIÊN

百 花 園
E: The hundred flowers garden.
F: Le jardin aux cent fleurs.

Vườn có nhiều thứ hoa, hay nói khác đi Bá Huê Viên là vườn trồng trăm hoa. ( hay Bách là chỉ số trăm, số nhiều. Huê: Bông hoa. Viên: Vườn). Nơi Tòa Thánh trước đền thờ tạm Đức Phật Mẫu, gọi là Báo-Ân-Từ, có vườn hoa gọi là Bá-Huê Viên. Vườn này xem như Vườn ngạn Uyển ở Thượng giới. Bá Huê Viên được lập nên do sáng kiến của Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước vào năm 1963, rộng một mẫu rưởi tây, đối diện với Báo Ân Từ trong Nội Ô Tòa-Thánh Tây Ninh. Bá Huê Viên được các địa phương của Ðạo ủng hộ, dâng hiến nhiều loại hoa kiểng rất đẹp và quí hiếm, tạo thêm cảnh sắc tươi đẹp cho Nội Ô Tòa Thánh. Ðây cũng là một thắng cảnh cho du khách đến thưởng ngoạn và chụp hình lưu niệm.

 

 

BÁ NẠP QUANG

百 衲 光
E: The cloak in hundred squares.
F: Le manteau en cent carrés.

(hay Bách là một trăm. Nạp là kết hợp lại thành một khối lớn. Quang là cái choàng lên người). Bá nạp quang là cái choàng khoác lên vai được kết lại bởi hằng trăm miếng vải nhỏ.

Bên Phật giáo, các vị sư thường mặc áo bá nạp (bá nạp y). Bá nạp y là cái áo được kết lại bởi hằng trăm miếng vải vụn mà người khác đã bỏ đi nên vải có nhiều màu sắc khác nhau, chứng tỏ rằng người xuất gia tu hành thì không cần mặc đẹp, mà chỉ cần mặc cho lành và cho ấm, lại còn tỏ ý tiết kiệm, không tốn tiền mua vải, chỉ lấy vải phế liệu mà dùng.

Trong Ðạo Cao Ðài, các Chức sắc phái Thái (phái Phật) từ phẩm Giáo Sư đổ lên, khi mặc Ðại phục, bên ngoài đều có khoác một Bá nạp quang màu đỏ, gọi là Khậu. Hình thức tuy như vậy mà thực chất thì cái Bá nạp này màu đỏ và những sọc vuông thì màu trắng, chứ không kết bằng vải vụn nữa .

Có hai loại Bá nạp quang: Ðại (lớn) và Tiểu (nhỏ):

• Thái Chưởng Pháp, Thái Ðầu Sư, Thái Chánh Phối Sư đều choàng Ðại Bá nạp quang.

• Thái Phối Sư và Thái Giáo Sư thì choàng Tiểu Bá nạp quang.

Thái Giáo Hữu không có choàng Bá nạp quang.

 

 

BÁ NHA - TỬ KỲ

Đức Hộ-Pháp nói: "Nên lấy trí luận thì từ trước kia Bá Nha là bạn tri âm của Tử Kỳ, biết tri kỷ đặng để làm gương.

Sự tích: Bá Nha- Tử Kỳ

 
   

Trong làng nhạc thì ai cũng biết qua đôi tâm hồn cảm kích nhau vì họ hiểu được nhau qua tiếng đờn. Đôi tri âm đó là Bá Nha và Chung tử Kỳ. Nhưng khi Chung Tử Kỳ mệnh bạc thì Bá Nha đờn trước mộ của Chung Tử Kỳ lần cuối, xong rồi đập vỡ cây đàn và nguyền rằng không bao giờ đờn nữa vì không còn một ai nghe được tiếng đờn của mình.Ấy là họ đã trở thành đôi tri âm (Tri âm: tức là biết được tiếng lòng của nhau; Tri kỷ là có người khác thấu hiểu được mình).

Trong văn chương Việt-Nam câu chuyện Bá Nha, Tử Kỳ đã trở thành một điển cố cho là tri âm, tri kỷ để nói lên tình bạn thâm thiết, nghĩa là tình thân mật của một người Bạn hiểu được lòng mình, nghe được cả tâm tư như chính mình vậy.

Truyền thuyết cho rằng Bá-Nha là một tay đờn điêu luyện, Chung Tử Kỳ nghe được và cảm được tiếng đàn ấy. Bá Nha người đời Tống làm quan đến chức Thượng đại Phu, có tài chơi đàn rất giỏi. Thường phàn nàn trong thiên hạ không ai có thể thưởng thức được tiếng đàn của mình. Một đêm trăng sáng, nhân đi sứ ở nước Sở về, lại có gió mát, cảnh vật nên thơ, gợi hứng. Bá-Nha liền cho quân ghé thuyền vào bến Hàm Dương lấy đàn ra khảy. Trên bờ sông, bấy giờ Tử kỳ vừa đốn củi về, nghe tiếng đàn trầm bổng liền đứng dừng lại trộm nghe. Cung đàn đang réo rắt đàn lại đứt dây. Bá Nha cho rằng nơi này vắng vẻ, non núi chập chùng, chắc là có bọn trộm đạo chi chăng, liền cho quân sĩ lên bờ tìm bắt. Tử Kỳ vội lên tiếng đáp:

- Tôi là người đốn củi, chợt đi ngang qua đây nghe Đại nhân gảy khúc đàn hay nên trộm lắng tai nghe chớ không phải là người bất lương!

Bá Nha không tin một gã tiều-phu trẻ tuổi lại biết thưởng thức tiếng đàn tuyệt diệu của mình. Liền hỏi:

-Ta đàn bản gì ban nãy đó?

Tử Kỳ không chút ngần ngại đáp:

- Ngài đàn bản Đức Khổng-Tử thương tiếc Thầy Nhan Hồi.

Bá Nha có ý trọng người am hiểu tiếng đàn của mình, liền mới xuống thuyền và lên dây gảy một bản đàn khác, tâm trí nghĩ mình đang ở chốn non cao. Tử Kỳ khen hay:

- Tiếng đàn cao vút, chí của Ngài vòi vọi ở chốn non cao "Nga nga hồ, chí tại cao sơn".

Bá Nha lại đàn một bản đàn khác, tâm trí lại nghĩ mình đang ở trên dòng nước chảy, Tử Kỳ lại khen hay:

- Chí của Ngài cuồn cuộn như dòng nước chảy "dương dương hồ, chí tại lưu thủy".

Bá Nha nhìn nhận Tử Kỳ là người Bạn tri âm của mình, biết thưởng thức tiếng đàn của mình, nên rất quí mến. Cả hai cùng đàm đạo rất thân mật và tương đắc. Bá Nha mời Tử Kỳ về Kinh đô nước Tống để chung hưởng sang giàu. Tử-Kỳ từ chối vì còn cha mẹ già phải phụng dưỡng, không thể trái đạo làm con. Cả hai cùng hẹn nhau đến sang năm hội ngộ ở nơi này.

Y hẹn, qua năm sau, Bá Nha vào triều xin với Vua về thăm quê hương, đến chỗ cũ đem đàn ra khảy, nhưng không thấy Tử-Kỳ đâu, tiếng đàn lại nghe như oán, như than. Bá Nha sinh nghi liền tìm đến nhà Tử Kỳ hỏi ra mới biết Chung-Tử-Kỳ đã chết. Bá Nha thương tiếc vô cùng, xin đến mộ để viếng thăm người Bạn xấu số một lần cuối. Đến phần mộ Tử Kỳ, Bá Nha đem đàn ra khảy một bản đàn điếu nghe ra bi thảm, bày đồ tế lễ trước mộ Tử Kỳ. Bá Nha khóc than thảm thiết, đàn xong liền đập vỡ cây đàn, thề trọn đời không đàn nữa vì thiếu bạn tri âm.

Về sau, người ta dùng hai chữ "Tri âm" để nhắc đến Bá Nha - Tử Kỳ. Tri âm có nghĩa là biết tiếng, biết thưởng thức tiếng đàn của mình.

Trong bài "Gửi phường hậu tử" làm trong phút sắp lâm chung; nhà Cách mạng Phan Bội Châu có câu:

Đàn Bá-Nha mấy kẻ thưởng âm?
Bỗng nghe qua khóc trộm lại thương thầm,
Chung-Kỳ chết ném đàn không gảy nữa.

(Hình ảnh trên được chạm khắc trước Đền Thánh)

 

 

BÁ TÁNH

百 姓
E: The people.
F: Le peuple.

Bá tánh hay Bách tính là trăm họ (Tánh: Họ), chỉ một số đông người đủ các họ và đủ các thành phần. Nói rộng ra, bá tánh là chỉ dân chúng, nhơn sanh; không phân biệt thân sơ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Người Tu-hành mục-đích đem cái ân cho người chớ không phải đợi người làm ân cho mình; nghĩa là mình phải lo sự ấm no cho bá tánh tức là lo cho ta, bởi Đức Chí-Tôn đã dành phần cho ta một nhiệm vụ đặc biệt là ta phải Phụng-sự cho vạn-linh để giải khổ cho loài người. Trong lúc họ đang lâm nàn kêu cứu; khi ta làm xong phận sự thì không còn ai chối cải rằng ta không phải là ân-nhân của xã-hội, chừng ấy ta không muốn về Tây phương họ cũng lập bàn hương-án để đưa ta đặng đền ơn cứu tử".

Bài Dâng Rượu có câu:

"Lạc hứng khấu cung giai miễn Lễ,
"Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh."

 

 

BÁ TÁNH THẬP PHƯƠNG

百 姓 十方

Chỉ người thì có trăm họ đến từ mười phương (Thập là mười, phương là hướng, đây là bốn phương chánh: Đông, Tây, Nam, Bắc; bốn phương phụ là Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc và trên trời, dưới đất nữa cọng chung là 10.

Đức Hộ-Pháp nói: "Cửa Đạo vẫn luôn luôn mở rộng, tiếp rước bá tánh thập phương không phân biệt sang hèn, nghèo giàu, hữu học, thông-minh hay dốt nát ngu đần, mạnh yếu như nhau, cả thảy đồng như thế: Đại nghiệp của Đạo Cao Đài là của chung toàn thể sanh-linh, chẳng dành riêng cho một ai cả. Dầu người trong Đạo hay ngoài đời, dầu người bổn xứ hay khách ngoại-bang, hễ nhìn Đạo là làm chủ cái Đại-nghiệp ấy."

Câu liễn nơi Hiệp Thiên Đài:

- HIỆP nhập Cao-Đài bá tánh thập phương qui Chánh quả.
- THIÊN khai Huỳnh Đạo Ngũ Chi Tam hội Long-Hoa.

 

 

BÁ THIÊN VẠN HÓA. BỒI QUẾ THỌ Ư ÂM CHẤT CHI ĐiỀN

百 千 萬 化 培 桂 樹 於 陰 騭 之 田

 

 

BÁ THIÊN VẠN KIẾP NAN TAO NGỘ

百 千 萬 劫 難 漕 遇

( 百: Trăm, Thiên 千: Ngàn, Vạn 萬: Muôn, mười ngàn; Bá thiên vạn 百 千 萬: Trăm ngàn muôn. Đây là con số tượng trưng để chỉ số nhiều; Kiếp 刧: Theo Phật giáo, chữ Kiếp nói cho đủ là Kiếp-Ba (kalpa), Hán dịch là Trường thời, là đơn vị thời gian của vũ trụ. Đơn vị thời gian ngắn nhứt là một Sát-Na, đơn vị thời gian dài nhứt là Kiếp-Ba. Kiếp gồm bốn giai đoạn hay thời kỳ: Thành kiếp, Trụ kiếp, Hoại kiếp và Không kiếp (Nan 難: Khó khăn. Tao ngộ 遭 遇: Tình cờ găp gỡ, không hẹn mà gặp. Nan tao ngộ 難 遭 遇: Khó mà gặp được).Kiếp còn là từng chặng một của vòng luân hồi con người: một đời người. Phật giáo phân biệt ba loại kiếp: Tiểu kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp. Cả câu ý nói dầu cho thời gian dài vô định như vậy mà cũng khó gặp được mối Đạo Trời như ngày nay Đây chỉ sự không có duyên phần gặp gỡ được Phật, không duyên phần không gặp gỡ được Đạo.Thật vậy, dù trăm ngàn muôn kiếp mà không có duyên phần thì cũng khó gặp đặng Phật. Trong kinh Pháp Cú, Phật có dạy như sau: "Được sinh làm người là khó, được sống còn là khó, được nghe chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời lại càng khó hơn".

Cổ nhân cũng thường thường nói: Hữu duyên thiên lý năng tao ngộ.Vô duyên đối diện bất tương phùng" 有 緣 千 里 能 遭 遇. 無 緣 對 面 不 相 逢 nghĩa là có duyên phần thì dù xa ngàn dặm cũng có thể gặp nhau, không duyên phần dù đối mặt nhau cũng khó gặp gỡ.

Ở đây, chúng sanh luân hồi trong nhiều kiếp và trải qua nhiều nguơn hội, từ Thượng nguơn, đến Trung nguơn, rồi nay đến Hạ nguơn hầu mãn, lại may duyên mới được gặp thời kỳ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, vì thương chúng sinh, mà giáng cơ khai nền Đại Đạo, như lời Thánh giáo dạy: "Đạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Đạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào đường Cực Lạc, thoát đọa Tam Đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt lại ăn năn vô ích". Đức Lý Thái Bạch cũng có nói: "Mở một mối đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối đạo cũng chẳng phải dễ."

Đức Hộ-Pháp nói: "Chính cái trường thi Tiên này là dành cho người hữu duyên được gặp-gỡ nền Đại-Đạo, vì hằng trăm ngàn năm hay cả mấy muôn năm mới gặp một lần, có câu "Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ" là vậy. Đây là buổi may duyên của chúng ta ngộ Đạo. Bởi cái may duyên ấy do nơi mấy Em đào tạo nó, một phần tử buổi sơ sanh, tức nhiên kể từ hạng sơ sinh Đức Chí-Tôn đã đến lựa, từ khi mấy Em đã có trí khôn ngoan cho nhập Thánh-Thể của Ngài đứng vào hàng Chức sắc Thiên phong gọi là chư Thánh, mấy Em mới nên người "Tam thập nhi lập". Cái phẩm vị Thiêng liêng của mấy Em nơi mặt thế: Phó Trị sự, Thông Sự, đối với ngôi Giáo-Tông, Hộ-pháp trong khi tuổi của mấy Em đã tri thiên mạng rồi. Rất ngộ nghĩnh thay cho Chí-Tôn lấy công bình ấy đặng lập Thánh Thể của Ngài. Ngài để một kiểu vở, một khuôn luật tạo đoan hay là một gia đình kia không khác gì hết."

Thực ra từ xưa đến nay Đức Chí-Tôn đã có ba kỳ khai Đạo cũng có mở Hội Long-Hoa, nhưng chưa lần nào được toàn diện như lần này:

- Nhứt kỳ Phổ-Độ có Sơ hội Long-Hoa Thanh Vương Đại-hội, Đức Nhiên-Đăng Cổ Phật làm Chưởng giáo.

- Nhì Kỳ Phổ Độ có Nhì Hội Long-Hoa Hồng Vương Đại hội, Đức Phật A-Di-Đà làm Chưởng giáo.

- Tam-Kỳ Phổ-Độ có Tam hội Long-Hoa Bạch Vương Đại-hội do Đức Di-Lạc Vương Phật làm Chưởng giáo.

Thế nên: Việc khai nền Đại-Đạo ở nước Nam ta cũng do Thiên Thơ tiền định, Đức Chí-Tôn có nói:

"Đại-Đạo Tam-Kỳ hoằng khai tại cõi Nam, đã chiếu theo Thiên Thơ, Hội Tam-giáo mà vớt chúng sanh thoát vòng ly khổ, thiệt thiệt, hư hư một mảy chi cũng chẳng qua là máy Thiên cơ mà thôi". Hạnh phúc cho cả nhân loại có mặt trong thời buổi này.

 

 

BÁ THIÊN VẠN ỨC NHƠN SANH

百 千 萬 億 人 生

Thầy dạy: "Con duy có TU mà đắc Đạo, phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn-sanh còn phải trầm luân nơi khổ hải chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng Từ-bi mà độ rỗi. Nay tuy các con chưa thấy đặng hành-vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chân thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy cơ mầu nhiệm đặng thì chừng ấy đã muộn rồi. Vậy các con khá tuân lịnh dạy."

 

 

BÁ THIÊN VẠN ỨC PHẬT

百 千 萬 億 佛
E: The numberless Buddhas.
F: Les innombrables Bouddhas.

( hay Bách: một trăm. Thiên: Ngàn. Vạn: Muôn, mười ngàn. Ức: Một trăm ngàn. Phật: Ðức Phật). Bá thiên vạn ức Phật là rất nhiều vị Phật, không thể đếm hết được, đồng nghĩa: Hằng hà sa số Phật.

Kinh Cứu Khổ có câu:

"Bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, vô lượng công đức Phật…"

 

 

BÁ TÒNG

柏 松
E: The cypress and the pine.
F: Le cyprès et le pin.

Bá tòng hay Tòng bá là chỉ cây bá và cây tòng (tùng), là hai loại cây này sống rất lâu năm, luôn luôn xanh tươi dù gặp mùa đông giá rét, thường được trồng ở các sân chùa. Do đó, cảnh bá tòng là chỉ cảnh chùa, nơi thanh tịnh để tu hành. Chỉ sự bền bĩ với thời gian, khác với hoa tươi dù đẹp đẽ cũng chỉ để phô sắc hương, nhưng rất ngắn ngủi, ví như một đời người.

Bài Giới Tâm Kinh có đoạn này:

…Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.

Hoa tươi, tòng bá, khác nhau xa,
Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.
Gặp tiết đông-thiên sương tuyết bủa,
Chỉ còn tòng bá, chẳng còn hoa.

Còn hoa mà lại ích chi đâu,
Đẹp dáng tươi màu đặng mấy lâu.
Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,
Gió lay đèn tắt, nguyệt làu-làu.

 

 

BÁ TƯỚC CÔNG KHANH

伯 爵 公 卿

(: Một tước trong 5 tước quan triều đình ngày xưa: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Tước: Chức tước do vua phong tặng. Công: Một trong 5 tước lớn như trên. Khanh: Chức quan đại thần, như Chánh Khanh, Thiếu Khanh). Bá tước công khanh là chỉ chung các chức quan lớn trong triều đình xưa.Người làm quan Đời cố gắng đem hết sức lực ra để lập công với vua, hầu được vua ban các phẩm tước cao trọng ấy, cũng không ngoài việc được áo mão xênh-xang, giàu sang vinh hiển. Nhưng đối với người tu, quan Đạo, thì xem đó chỉ là con đường ràng buộc vào lo âu và phiền não. Bởi một bên nặng về vật chất, một bên nặng về tinh thần. Nặng về vật chất như nước đổ xuôi dòng ra biển cả. Nặng về tinh thần là trạng thái bốc hơi của nước để trở về nguồn là mây trời bảng lảng, là núi cao.

Thi văn dạy Đạo Thầy cho ông Huỳnh văn Bá:

Bá tước công khanh ý vị gì,
Mà đời dám đổi kiếp sầu bi?
Nương chơn chưa quyết thân còn vững,
Níu thử cân đai thấy nặng trì.

 

 

BÁ ỨC NGUYÊN NHÂN

(Bá ức là một trăm ức. Nguyên nhân - là khi Khai Thiên rồi thì đã có chơn linh ấy. Nguyên sanh là gốc từ Khai Thiên đã có. Bên cạnh đó là có Hóa nhân là chơn linh vật loại, đoạt đến phẩm vị nhơn loại. Hóa sanh là Khai Thiên rồi mới biến hóa ra. Còn Quỉ nhân là hai chơn linh kia xu hướng ác hành mà bị đọa đày vào Quỉ vị. Quỉ sanh là hai phẩm kia phạm Thiên Ðiều bị sa đọa). Mỗi ức là một trăm ngàn (100.000) . Vậy thì số nguyên nhân.được độ về nguyên vị thì bằng 100 ức.

Đức Hộ-Pháp nói: "Hôm nay là ngày Vía Đức Phật Thích Ca, chúng ta cũng nên hiểu triết lý cao siêu của Đức Phật Thích Ca, Ngài đã đạt đặng và đã truyền giáo, theo nền Tôn Giáo của nhà Phật là nền Tôn Giáo tối cổ, Bần Đạo thường thuyết: loài người vừa đến mặt thế nầy thì đã có Phật nơi mình rồi. Chính Đức Phật Thích Ca đã chịu ảnh hưởng Phật-Giáo ấy và chính chơn linh của Ngài có sứ mạng đến đặng độ bá ức Nguyên nhân qui hồi cựu vị. Ngài vì sứ mạng ấy mà Ngài phải tìm cho hiểu biết cơ quan giải thoát ấy phải định phương nào cho đạt được."

 

 

BÀ CON THÂN BẰNG CỐ HỮU ĐÃ QUI LIỄU

Bài Kinh này được dùng để đồng nhi tụng đọc khi những người ngoài thân tộc ruột thịt, hay bạn bè tế lễ cho người quá cố (Nghi lễ này gọi là phụ tế).

Vì ngoài quan hệ thân tộc, người ta còn nhiều mối quan hệ khác nữa như: Bà con, xóm giềng, bè bạn, đồng nghiệp...Tất cả những mối quan hệ đó được gọi là Bà con thân bằng cố hữu. Theo quan niệm về đạo lý con người, một nhà có việc tang thì trăm nhà lo giúp "Nhứt gia hữu sự, bá gia ưu" 一家有事, 百家憂 hoặc lấy câu "thố tử hồ bi" 兔死狐悲 để tỏ lòng đau xót cho nhau.

Trong thiên Khúc Lễ, sách Lễ Ký có nói: Trong làng có tang sự thì người giã gạo chẳng đặng hò, có tẫn liệm thì ngoài đường không ca hát "Lân hữu tang, thung bất xướng, lý hữu tẫn bất hạng ca" 鄰有喪, 舂不 唱; 里有殯, 不巷歌 Đây là phép cư xử của người biết đạo lý, nhằm bày tỏ chia buồn cùng tang gia hiếu quyến của thân bằng cố hữu trong cơn hữu sự.

Đức Khổng Tử là người rất nhân hậu, hễ thấy ai đau đớn, buồn rầu, khổ sở thì Ngài động lòng thương xót. Chương Thuật Nhi có kể lại rằng: Phu Tử ngồi ăn bên cạnh người có tang thì ăn không no. Ngày nào có đi phúng điếu về thì suốt cả ngày không đàn hát "Tử thực ư hữu tang giả chi trắc, vị thường bão dã. Tử ư thị nhật, khốc tắc bất ca". 子食於有喪者之側, 未嘗飽也. 子於是日, 哭 則不歌.

Châu Trình ngày xưa lấy gương Đức Khổng Phu Tử điếu tang người đời mà dạy rằng: Khi đến điếu nhà có tang, chẳng nên uống rượu ăn thịt, chẳng đặng phép đàm luận lớn hoặc cười cợt to tiếng "Phàm điếu ư hữu tang giả chi trắc, bất ẩm tửu thực nhục, bất khả cử đàm đại tiếu"凡弔於有喪者之惻, 不飲酒食肉, 不可舉談大笑 mà phải tỏ vẻ thương xót như thế mới là lẽ phải vậy.

Việc tang sự là cái cảnh buồn đau, bối rối nên người hiểu biết chỉ đến là trước để tỏ sự thâm tình chia buồn với người sống và cầu nguyện cho người chết sớm được siêu thoát

KINH TỤNG BÀ CON THÂN BẰNG CỐ HỮU QUI LIỄU

Khi dương thế không phân phải quấy,
Nay Hư linh đã thấy hành tàng.
CHÍ TÔN xá tội giải oan,
Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.

Đã tầng chịu khó khăn kiếp sống,
Định tâm thần giải mộng Nam kha.
Càn Khôn để bước ta bà,
Đoạt cơ thoát tục tạo nhà cõi Thiên.

Ơn Tạo-hóa tha tiền khiên trước,
Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.
Tiên phong phủi ngọn phất trần,
Liên đài đỡ gót đến gần Tây phương.

Cửa Cực-Lạc đon đường thẳng tới,
Tầm không môn đặng đợi Như Lai.
Hào quang chiếu diệu CAO ĐÀI,
May duyên nay đã gặp ngày siêu sanh.

Trụ nguyên tánh hồn linh nhàn lạc,
Cõi Đào nguyên cỡi hạc thừa long.
Lánh xa trược chất bụi hồng,
Cung Tiên sớm tối vui vòng thung dung.

Nơi cung Ngọc học thông Đạo cả,
Chốn Hư vô Tạo Hóa tìm cơ.
Trên đường Thánh đức lần dò,
Trường sanh mầu nhiệm nơi lò Hóa công.

Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,
Diệt trần tình Cam Lộ tẩy nhơ.
Ngân Kiều Bát Nhã qua bờ,
Đưa duyên để bước kịp giờ siêu thăng.

(Tụng kinh này rồi tiếp tục tụng Di-Lạc Chơn Kinh)
Đoàn Thị Điểm

 

 

BÀ-LA-MÔN (Tôn Giáo)

婆 羅 門
Phật Học: Bà-La-Môn ( S, P: brāhmaṇa).

Theo Phật học thì: Danh từ chỉ một cấp, một hạng người tại Ấn Ðộ. Thuộc về cấp Bà-La-Môn là các tu sĩ, triết gia, học giả và các vị lĩnh đạo Tôn giáo. Dân chúng Ấn Ðộ rất tôn trọng cấp người này. Trong thời Đức Phật hoằng hóa, cấp này là cấp thứ hai của bốn cấp (sau thời Đức Phật đến bây giờ là cấp cao nhất) trong hệ-thống xã hội và vì vậy, họ rất kiêu mạn. Nhiều Bà-La-Môn cho rằng, chỉ họ mới mang dòng máu "trắng" là dòng máu trong sạch và tất cả các hạng người còn lại chỉ sống để phụng thờ họ. Trong những bài kinh thuộc văn hệ Pā-li (Bộ kinh), Phật không hề chống đối giai cấp Bà-La-Môn nhưng lại bảo rằng, không phải sinh ra trong một gia đình, dòng dõi Bà La-Môn, là tự nhiên trở thành một Bà-La-Môn. Người ta "trở thành" một Bà-La-Môn với những hành động, những ý nghĩ cao thượng và đó chính là những tiêu chuẩn đích thật. Bất cứ người nào cũng có thể được gọi là Bà-La-Môn nếu họ đạt những tư cách nói trên. Ðây là một chiến thuật tuyệt vời của Đức Phật khi Ngài chuyển ý nghĩa "giai cấp Bà-La-Môn" thành một danh từ đạo đức Bà-La-Môn, tức là một người có đầy đủ đức hạnh, vượt mọi giai cấp xã hội thời đó (Tập bộ kinh). Phật thuyết trong Tiểu bộ kinh (Tự thuyết I. 5, udāna):

Ai lìa bất thiện nghiệp
Ði trên đường thanh tịnh
Tinh tiến, thoát trói buộc
Ta gọi BÀ-LA-MÔN

Bà-La-Môn Giáo Dưới Mắt Cao-Đài:

Đức Hộ-Pháp nói: "Còn nữa, còn Đạo Brahma, tức là Đạo Bà La Môn cho rằng: thuyết giải thoát của Ngài là thuyết do nhiên chứ không có gì hết, sau chính mình Ngài tạo phẩm vị đi từ Nhơn vị, Tiên vị, lên đến Phật vị, ai cũng có thể đi đến được hết. Luật giải thoát của Ngài do nhiên chứ không có chi lạ. Những lý lẽ ấy làm cho đầu óc con người tầm chơn càng suy nghĩ càng khó quyết định được. Ta tự hỏi, thế nào gọi là chơn? Thế nào gọi là giả? Theo lý trí của con người có lẽ này "Tầm chơn là đúng sự thật hơn hết".

"Ấn-Độ thuở trước tin thờ lý thuyết Đa Thần (Polythéisme) vì tư tưởng cổ nhân thường hay ngó cả quyền năng Tạo-hóa mà so-sánh cùng mình, bởi thế mà cho các quyền lực vô hình cũng có đủ khôn ngoan cùng sự quyết định. Sau lại tư tưởng ấy trở lại xu hướng về Đấng Chí-Tôn dựng căn bổn cho Đạo Bà-La-Môn (Brahmanis- me) từ thử. Tạo hóa Càn Khôn sanh ra do một chủ quyền của Trời. Trời lập nên đời vì Ái, mà Ái kia pha lẫn cùng Tình. Ngài tạo ra gọi là Brahma, Ngài diệt gọi là Civa, Ngài bảo tồn gọi là Vichnou, ấy mới gọi Chí-Tôn Tam Thế (La Trinité)." (Khuê bài Thiêng liêng vị)

ĐỊNH NGHĨA:

Bà-La-Môn là tiếng phiên âm từ tiếng Phạn: Brahma. Đạo Bà-la-Môn là một Tôn giáo rất cổ của Ấn Độ, xuất hiện trước thời Đức Phật Thích-Ca, tức là thuộc Nhứt kỳ Phổ Độ. Đạo Bà-La-Môn bắt nguồn từ Vệ-Đà-giáo (cũng phiên âm là Phệ-Đà-giáo) Đạo Bà-La-Môn phát triển đến thế kỷ thứ nhứt sau Tây lịch thì biến thành Ấn-Độ-Giáo.

Đạo Bà-La-Môn thờ Đấng Brahma là Đấng tối cao tối linh, là linh hồn của vũ trụ.

Những công trình kiến trúc nổi tiếng của Ấn-Độ và các nước Đông-Nam-Á như: Konarac, Kharujaho, Angkor Watt, Mahabalipuram, Loro Jong Grang, Tháp Chàm ở Việt-Nam và nhiều tác phẩm triết học lớn ở Ấn Độ như Ramayana, Mahabharata, đều ra đời trên nền tảng của Đạo Bà-La-Môn.

Sau đây lần lượt khảo sát qua: Vệ-Đà-giáo, Đạo Bà La-Môn và Ấn-Độ-giáo.

I- VỆ-ĐÀ GIÁO

Đây là một tôn giáo tối cổ của Ấn Độ. Gọi là Vệ Đà giáo vì tôn giáo nầy xây dựng giáo thuyết trên Kinh Vệ Đà. (Véda: Phiên âm Vệ-Đà hay Phệ-Đà, nghĩa là Thông hiểu). Vệ-Đà-giáo thờ cúng thiên nhiên, gồm nhiều tín ngưỡng, có nghi lễ, có bùa chú, do các truyền thuyết của thổ dân da đen Dravidian ở bán đảo Ấn Độ, phối hợp với các tín ngưỡng của dân tộc da trắng từ phương Tây Bắc đến xâm lăng, nhất là dân da trắng Aryan tràn vào phía Bắc Ấn Độ, khoảng 1550 năm trước Tây lịch.

Bộ Kinh Vệ-Đà viết bằng tiếng Phạn, của người Aryan, gồm 4 tập, trong đó có các bài hát ca tụng Thần linh, những lời cầu nguyện, nghi thức tế tự và các câu phù chú bí mật, như sau:

1- Rig Véda: Phỏng theo ý mà dịch thì Rig Véda có nghĩa là Luận rõ về sự khen ngợi (tán tụng), hình thành vào thế kỷ thứ 20 TTL (trước Tây lịch), gồm 10 quyển, tập hợp các bài ca ngợi Thần linh, được 1028 bài.

2- Sama Véda: Phỏng theo ý mà dịch thì Sama Véda có nghĩa là Luận rõ về các sự ca vịnh, hình thành vào thế kỷ thứ 10 TTL, gồm các bài dùng để hát xướng khi cúng tế, tổng cộng 1549 bài.

3- Yayur Véda: Phỏng theo ý mà dịch thì Yayur Véda có nghĩa là Luận rõ về các việc tế tự cầu đảo, trong ấy bao gồm các bài cầu nguyện trong nghi thức tế lễ. Ba loại Kinh Véda trên được sử dụng trong thời gian tế lễ, đều do hàng Tăng lữ tùy nghi chủ xướng, phúng tụng.

4- Atharva Véda: Sưu tập các chú thuật, không quan hệ đến việc cúng tế, hình thành vào thế kỷ thứ 10 TTL, tổng cộng có 20 quyển. Tuy chủ yếu chép các phép thuật và bùa chú, nhưng xen kẽ vào đó có các bài khoa học làm mầm móng cho Thiên văn học và Y học sau nầy.

Bốn bộ kinh Véda trên, sau nầy đều có những sách viết bằng tiếng Phạn giải thích riêng cho mỗi bộ. Giáo lý cơ bản của Vệ-Đà giáo cho rằng, con người thường xuyên có mối quan hệ với Thần linh và có sự hòa đồng với vũ trụ. Do đó, chỉ có cúng tế, cầu đảo thì con người mới được Thần linh phò hộ trong mọi công việc. Song hành với các buổi cầu nguyện là những cuộc hiến tế lớn. Những đồ hiến tế như: Thịt, bơ, sữa, rượu, được dâng lên Thần linh bằng cách đốt trên giàn hỏa.

Việc cúng tế Thần linh rất quan trọng, nên dần dần đội ngũ các thầy cúng tế trở nên quan trọng, có uy tín và quyền lực nhất trong xã hội Ấn Độ, hình thành đẳng cấp Tăng lữ Bà-La-Môn sau nầy.

II- BÀ-LA-MÔN GIÁO

Đạo Bà-La-Môn hình thành trên cơ sở Vệ-đà-giáo khoảng 800 năm trước Tây lịch, tức là một thời gian không dài lắm trước khi Đức Phật Thích-Ca mở Phật giáo ở Ấn-Độ. Đạo Bà-La-Môn đưa ra những kinh sách giải thích và bình luận kinh Véda như: Kinh Brahmana, kinh Upanishad, giải thích về Maya (tức là Thế giới ảo ảnh) và về Niết bàn. Đạo Bà-La-Môn thờ đấng Brahma là Đấng tối cao tối linh, là linh hồn của vũ trụ.

1- Sự Phân Chia Giai Cấp Xã Hội:

Đạo Bà-La Môn phân chia xã hội Ấn-Độ làm năm giai cấp. Ai sanh ra trong giai cấp nào thì phải ở mãi trong giai cấp đó suốt đời.

a/-Giai cấp trên hết là cấp Tăng lữ Bà la môn: Họ tự cho rằng họ được sanh ra từ miệng của đấng Phạm thiên (Brahma) nên họ được quyền giữ địa vị tối cao trong xã hội, độc quyền cúng tế Thượng-Đế và các thần linh.

b/-Giai cấp thứ nhì là Sát-Đế-Lỵ: Họ được sanh ra từ vai của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các bậc vua chúa, quí tộc, trưởng giả, công hầu, khanh tướng. Họ nắm quyền cai trị và thưởng phạt dân chúng.

c/-Giai cấp thứ ba là Phệ-xá: họ được sanh ra từ hông của Đấng Phạm thiên. Giai cấp này gồm các nhà thương mãi, các trại chủ giàu có. Họ nắm kinh tế, chuyên môn mua bán làm ăn với từng lớp dân chúng trong xã hội.

d/-Giai cấp thứ tư là Thủ-đà-la: Họ được sanh ra từ chân của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các nông dân và công nhân nghèo khổ

e/-Giai cấp thứ năm là Chiên-đà-La: Đây là giai cấp thấp kém nhứt trong xã hội Ấn độ, gồm các người làm nghề hèn hạ như: ở đợ, làm mướn, chèo ghe, giết súc vật...

Giai cấp trên hết là cấp Tăng lữ Bà la môn dựa vào thế lực tôn giáo để củng cố địa vị và quyền lợi của họ. Họ tìm đủ phương pháp để bảo hộ và duy trì chế độ giai cấp, nương theo thần thoại, chế ra luật pháp Manu, kỳ thị giai cấp, không cho gả cưới giữa hai giai cấp khác nhau.

2- Giáo Luật:

Giới Tăng lữ Bà la môn được chia làm ba bực: Sơ khởi, Trung và Thượng.

Sơ khởi là những vị sư cúng lễ thường và những vị phục sự nơi đền chùa. Họ tụng ba bộ Kinh Véda đầu, gồm: Rig-Véda, Sama-Véda, Yayur-Véda. Họ hành lễ, chứng lễ các cuộc cúng tế nên thường trực tiếp với dân chúng.

Bực Trung: là những vị sư bói toán, tiên tri, thỉnh quỉ thần, thỉnh thoảng họ làm vài phép linh cho dân chúng phục. Hạng này đọc và giảng giải bộ kinh Véda thứ tư và Atharva Véda. Bộ kinh thứ tư này có nội dung cao hơn ba bộ kinh trước và có những câu thần chú.

Bực Thượng là những bực cao hơn hết, gồm các vị sư không còn trực tiếp với dân chúng. Hạng này chuyên nghiên cứu các lực vô hình trong vũ trụ.

Hạng Bà-La-Môn Sơ khởi phải tu học 20 năm mới lên hạng trung. Hạng trung tu học 20 năm mới lên hạng thượng.

Trên hết là một vị sư chưởng quản Tôn giáo làm Giáo chủ. Vị giáo chủ này có 70 vị sư phụ tá. Các Tăng lữ Bà-La Môn phải giữ 10 điều giới luật, là:

1-Nhẫn nhục. 2-Làm phải (lấy điều lành mà trả điều ác) 3-Điều độ. 4-Ngay thật. 5-Giữ mình trong sạch. 6-Làm chủ giác quan. 7-Biết ràng Kinh luật Véda. 8-Biết rõ Đấng Phạm Thiên. 9-Nói lời chơn thật. 10-Giữ mình đừng giận.

3- Thuyết Ashrama:

Thuyết Ashrama về 4 giai đoạn mà con người phải trải qua để cho đời sống trần thế nhập vào việc hành sự Tôn giáo, như sau:

a/-Phạn hành kỳ: Theo Thầy học tập Kinh Véda, tiếp thu huấn luyện Tôn giáo, thời gian là 12 năm.

b/-Gia trú kỳ: Sống cuộc sống thế tục ở gia đình, lấy vợ sanh con, làm các ngành nghề trong xã hội để mưu cầu cuộc sống, không vi phạm chống lại bổn phận của một Tín đồ Bà La Môn, tiến hành việc thờ cúng ở gia đình và bố thí.

c/-Lâm thế kỳ: Việc nhà đã xong, bản thân hoặc dắt theo vợ vào ẩn cư trong rừng, sống đời khổ hạnh để bản thân chứng ngộ được Đấng Brahma.

d/-Độn thế kỳ: bỏ nhà đi vân du bốn phương, sống bằng cách nhận bố thí của dân chúng, mục đích để đạt được sự giải thoát của linh hồn.

4- Brahman và Atman:

Brahman là nguồn gốc tối cao của vũ trụ, tức là Đại ngã, Đại vũ trụ, Đại hồn, nay thường gọi là Thượng Đế.

Atman là bản ngã của con người, là bản ngã, là Tiểu hồn, Tiểu vũ trụ. Nó chỉ là một phần rất nhỏ của Đại ngã. Do đó Brahman và Atman đồng bản chất, nên thông đồng được với nhau. Tu luyện là để đạt được sự giải thoát của linh hồn khỏi các khổ não ràng buộc nơi cõi trần để đem Atman trở về hiệp nhứt với Brahman.

Nhận thức được chân lý này, không phải do trí tuệ, mà do sự giác ngộ của toàn bộ bản thể. Nếu không giải thoát được thì không dứt khỏi Nghiệp (Karma), tức là không dứt khỏi Luân hồi, phải đầu thai trở lại cõi trần, hết kiếp nọ tới kiếp kia.

5- Nghiệp Báo - Luân Hồi:

Kinh Upanishad đã nêu ra vấn đề Nghiệp báo và Luân hồi một cách có hệ thống.

Nghiệp (Karma) được tạo ra bởi những hành vi thiện ác của con người, sẽ quyết định việc Luân hồi chuyển kiếp của Linh hồn người ấy sau khi chết. Nếu người nào làm điều thiện, Linh hồn sẽ được chuyển kiếp thành người ở giai cấp cao hơn và có thể thành một vị Thần, nhập vào Thiên Đạo. Nếu người ấy làm nhiều điều ác thì Linh hồn sẽ chuyển kiếp đầu thai vào những giai cấp thấp kém khổ sở và có thể bị trừng phạt đọa đày. Con đường giải thoát là Thiền định, nhưng con đường tu này quá khổ hạnh, ít người theo được, nên đa số Tín đồ theo việc thờ cúng thần linh, tự kềm chế dục vọng của mình mà làm việc từ thiện.

III- ẤN-ĐỘ GIÁO

Đạo Bà-La-Môn là một quốc giáo của nước Ấn Độ. Nhưng khi Phật giáo của Đức Phật Thích-Ca truyền bá thì ảnh hưởng của Đạo Bà-La-Môn thu hẹp dần. Qua nhiều lần cải cách để phù hợp phần nào trào lưu tiến hóa của dân chúng, đến thế kỷ thứ nhứt sau Tây lịch, Đạo Bà-La-Môn biến thành Ấn-Độ-giáo (nói tắt là Ấn-giáo).

Ấn-Độ-giáo vẫn giữ những nét chánh của Đạo Bà La-Môn, thờ đấng Brahma, về sau thờ thêm hai Đấng nữa là Civa (Shiva) và Vishnu (hay Chrisna).

- Đấng Brahma là Thần Sáng tạo.

- Đấng Civa là Thấn tranh đấu.

- Đấng Vishnu là Thần Bảo tồn.

Ba Đấng ấy hợp lại gọi là Tam Vị nhất thể (Đạo Cao Đài tôn các Đấng ấy là Tam Thế Phật cai quản ba Nguơn: Thượng nguơn, Trung nguơn, Hạ nguơn, hiện tạc Tượng đặt trên nóc Bát-Quái-Đài - Tòa Thánh Tây Ninh).

Ấn-Độ-giáo còn thờ các vị thần thuở xưa khác như: Thần Sấm Indra, thần Mặt trời Surya, Thần lửa Agni, Thần gió Vayu, thần không trung Varuna.

Ấn-Độ-giáo vẫn giữ sự phân chia giai cấp của xã hội giống như Đạo Bà-La-môn.

Ấn-Độ-giáo phân thành nhiều Chi phái, chủ yếu có hai giáo phái lớn là Vihnu và Civa (Siva) đồng thời nuôi dưỡng nhiều môn phái triết học mà nổi tiếng nhứt là hai môn phái: Védanta và Yoga.

Để dễ dàng hòa nhập vào đông đảo dân chúng ở giai đoạn này, nhiều nghi thức tế lễ được đơn giản hóa, những sự hiến tế súc vật tốn kém được bãi bỏ. Đến thế kỷ thứ 19 và 20, một số nhà hoạt động nổi tiếng của Ấn Độ như: Ram Mohan Roy, Rama Krishna, Viveka Nanda, đã làm cuộc canh tân lớn đối với Ấn Độ giáo, phục hồi những giá trị cơ bản và loại trừ các yếu tố lạc hậu và thái quá ra khỏi tư tưởng của Đạo này. Chính nhờ khả năng thay đổi thích ứng mà Ấn-độ-giáo vẫn luôn luôn là Tôn giáo chính của người Ấn và có ảnh hưởng sâu xa đến mọi từng lớp dân chúng từ xưa đến nay.

Theo thống kê sơ lược năm 1980, Ấn-độ-giáo hiện nay có tới 554 triệu tín đồ, đa số là người Ấn-Độ.

Trong những năm gần đây, những hoạt động mang tính Quốc tế của Ấn-độ-giáo rất phong phú:

Năm 1979 tại Allahabad (Ấn độ), năm 1980 tại Colombo (Tích lan), năm 1981 tại Népal, đã lần lượt triệu tập Đại hội các Tín đồ theo Ấn-độ-giáo trên toàn Thế giới, để thảo luận các vấn đề khó-khăn của Ấn-độ-giáo, làm thế nào cho Ấn-độ-giáo thích ứng với đời sống văn minh của dân chúng hiện đại và thiết lập những mối liên hệ quốc tế giữa Ấn độ giáo với các Tôn giáo một cách hữu nghị tốt đẹp.

 

 

BÀ MẸ THIÊNG LIÊNG

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống: "Gọi là Cực-Lạc Thế-Giới, ngoài cảnh đó ra Bần Đạo chưa tìm được cảnh nào hơn cảnh ấy, chỉ có nơi đó mà thôi Phật gọi là Cực-Lạc Thế-Giới. Chúng ta vào trong cũng thấy một cái Ngai, đến trước Ngai vinh diệu ấy, chúng ta vừa dòm lên dường như có một Đấng, Đấng ấy chúng ta có thể gọi là Bà Già, nếu chúng ta tưởng một vị Tiên-Nữ thì có một vị Tiên-Nữ, muốn thấy già thì già, muốn thấy trẻ thì trẻ, rất huyền diệu, chúng ta được vào, vô thấy Bà Mẹ mình. Ông Nội, dòm lên cũng thấy Mẹ, cháu nội dòm lên cũng thấy mặt Mẹ, bởi vậy cho nên cả tình ái của mình đều thấy cả nghiệp năng yêu-ái của mình. Ở thế-gian này, Mẹ hay chửi mắng, rầy la, khi chúng ta về cảnh ấy thấy người Mẹ có nhơn tình làm sao đâu, chớ không phải như các Bà Mẹ ở thế-gian này vậy. Hễ khi thấy Bà rồi cả tình-ái xưa không thể gì tả ra hình-trạng được, rồi tình ấy buộc chúng ta dầu đứa nào cứng đầu bao nhiêu mà khi thấy cái thâm tình cao trọng của Bà Mẹ cũng phải đổ lệ, rơi châu, Bần-Đạo dám chắc có nhiều người tin Đạo, hiểu Đạo mà chưa biết. Thử hỏi Đức Di-Lạc Vương-Phật, dầu Ngài đến bực cao trọng bao nhiêu cũng là con, nghe ra dường như Chưởng-Quản các nơi, do quyền của Đức Di-Lạc. Còn Phật-Mẫu nơi Cung Tạo-Hóa Thiên là Mẹ của chúng ta, có một điều Bần-Đạo chẳng dám nói. Muốn biết cái tình Mẹ yêu con thế nào? Chúng ta thấy tượng của Phật Mẫu, Đức Di-Lạc quì đằng sau lưng chấp hai tay đưa lên đó, dầu Bần-Đạo không tả hai nghĩa lý ấy cả thảy cũng đều hiểu quyền-năng bực nào, nghĩa là "Mẹ cũng vẫn là quyền Mẹ". Trái ngược lại cầm quyền vi chủ mà Bần-Đạo làm con phải hiếu hậu vi tiên, quyền năng ấy cũng để là Mẹ.

Bần Đạo cùng các Bạn kỳ trước đã ghé nơi Tạo Hóa Thiên tức Tòa Thiên-Cung Phật Mẫu là Diêu Trì Cung. Bần Đạo có nói một điều làm cho chúng ta nên suy nghĩ nhiều là: "Huyền-bí vô biên của Phật-Mẫu".

Bần-Đạo nói sơ lược huyền-năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Ngài, ta ngó trên mặt Ngài ta thấy mặt Bà Mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về, Bần Đạo tưởng ngó thấy Bà Mẹ sanh Bần Đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy người Mẹ của họ vậy. Nếu lấy theo cái trí học tưởng-tượng không biết con mắt Thiêng-Liêng có chiếu hình Mẹ ta chiếu diệu ra không? Hay là huyền-diệu vô biên của Phật-Mẫu cho chúng ta thấy như vậy. Bà Mẹ hình hài chúng ta đây, là nhơn-viên của Đức Phật-Mẫu bên phái Nữ đó. Phái Nữ rán để tâm nghe điều ấy, là nhân-viên mật thiết của Đức Phật Mẫu, trước khi đã để tại thế-gian này một hình-hài vào lòng mình sản-xuất, tức nhiên là Phật Mẫu đã giao quyền năng Tạo Đoan trong tay mình đó vậy. Chẳng cần nói cái vinh-diệu của người đàn bà khi người con ấy nên người, biết dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống. Mình về tại Cung Diêu-Trì dòm lên thấy tượng ảnh của mình, không vinh-diệu nào bằng, cái vinh-diệu ấy, có điều trọng hệ là dầu Nam, Nữ cũng vậy rán giữ một điều này, coi chừng đừng thất hiếu với cha mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh của Đức Phật-Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền-hậu vô cùng, hạnh-phúc mình được hưởng đó, còn trái ngược lụng lại nếu ta thất hiếu, ta dòm vào hình ảnh của Phật-Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm-nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó."

Đức Hộ-Pháp thuyết 14-8 Đinh-Hợi: "Phật-Mẫu chẳng những là Mẹ của nhơn-loại mà thôi, mà còn là Mẹ của toàn vạn loại nữa: không có một vật-chất hữu hình nào sản xuất mà không do tay Phật Mẫu. Đạo Cao Đài được cái đặc ân phi thường là từ xưa đến nay chưa có Tôn-giáo nào được hưởng, đó chính là Bà Mẹ của chúng sanh đến đây dìu-dắt, độ dẫn chúng sanh cả phần hồn lẫn phần xác. Tánh đức của Phật-Mẫu chẳng khác Bà Mẹ phàm, sở dĩ Ngài đến với nhân-loại là vì: Nhơn-loại thiếu lòng yêu ái nhau, thiếu tình thương, chẳng những vậy mà còn gây thù hận cho nhau, cốt nhục tương tàn, thiếu tình yêu ái. Sở dĩ như vậy là vì nhơn-loại đã thất Đạo nhơn-luân cho nên giờ đây Đức Chí-Tôn đến để chỉnh đốn cả tinh thần của loài người lại để cứu vớt chúng sanh. Lần này Đức Mẹ đến làm thân với chúng ta đặng làm gương mẫu cho chúng ta."

 

 

BẢ TRẠO

把 櫂
E: The rower.
F: Le rameur.

Bả trạo là người chèo thuyền. (Bả là nắm lấy. Trạo: Chèo)

Trong cuộc Chèo Thuyền Bát Nhã nơi Tòa Thánh, Bả trạo được xem như là trạo phu, tức là người chèo thuyền. Ðội Bả Trạo gồm 12 người, mặc đồng phục như thủy thủ, mỗi người tay cầm một mái chèo nhỏ. Theo Thể pháp, 12 bả trạo tượng trưng Thập Nhị Thời Quân của Hiệp-Thiên-Ðài, nên cũng tượng trưng Thập nhị Ðịa chi. (Ðức Chí Tôn chọn 12 vị Thời Quân Hiệp-Thiên-Ðài, có 12 tuổi đúng theo Thập nhị Ðịa chi). Các đội Bả trạo đều do một vị Tổng trạo cai quản.

(Xem: Thuyền Bát Nhã, vần TH)

 

 

BẢ VINH HUÊ

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cái bả vinh huê đời rối rắm,
Nguồn đào thong thả đã là đâu?

 

 

BÁC

 
   

Quẻ 23. Quẻ Sơn Địa Bác 山 地 剝.

Tượng: Khai ngươn Chuyển thế.

Quẻ này là Quẻ Sơn Địa Bác. Cấn thượng là ngoại Cấn. Khôn hạ là ngoại Khôn. Cấn là Sơn. Khôn là Địa. Tên quẻ được đọc là Sơn Địa Bác.

Chữ Bác trên có bộ 彐là đầu con nhím, dưới có chữ thủy 水là nước, bên phải có bộ đao 刂(刀) là con dao. Nghĩa của tượng này là đầu con nhím nổi trên nước, lấy dao mà chặt, lột da nó. Nhím là vật có lông rất cứng và nhọn như mũi tên khắp mình, làm cho các vật khác khó đến gần nó được. Dìm nhím xuống nước thì lông nó xếp xuôi lại mới có thể lột được da nó. Lông nhím là vật để tự vệ cho loài nhím đó vậy.

Trước đây là quẻ Bí, nghĩa là trang-sức, có trang sức thì sau mới có thân nhau, loại nào theo thứ ấy như "Ngưu thì tầm ngưu, mã thì tầm mã" hay là câu "Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu". Cũng bởi phân chia mới có đấu tranh và có tiêu-diệt nhau, cho nên mới đi đến thời quẻ Bác. Bác là gọt đẽo, bào mòn. Theo tượng quẻ mà nói: Quẻ Cấn ở trên tượng là núi, quẻ Khôn ở dưới tượng đất, tức là trên đất có núi. Núi là nơi cao hơn đất mà liền với đất. Đất và núi là cùng một thể. Nếu san núi thì bằng đất đó là cái nghĩa Bác. Theo vạch quẻ thì có 5 hào Âm đang thịnh lên và chỉ còn có một hào Dương trên chỗ cùng-cực mỏng manh. Âm thịnh lên chiếm hết Dương, cho nên lấy nghĩa Bác là gọt, đẽo, bào mòn đến mức sụp đổ.

Quẻ Bác tượng cho tháng Kiến Tuất là tháng 9 cuối mùa Thu sắp sang Đông. Cuối Thu muôn vật đều uể-oải, cây cối rụng lá đầy mặt đất, cảnh vật đìu-hiu vắng-vẻ, bởi thế mà mùa thu là mùa buồn thảm của các Văn-nhân, thi sĩ, là mùa nảy thi-tứ cho các điệu thơ buồn. Đó là lúc khí Dương gần hết để tới lúc thuần của thời Âm, là lúc tượng sự gọt đẽo vậy.

Cái thứ-tự xếp đặt các quẻ của Thánh-hiền thật là thâm-trầm lắm vậy.

Đạo Cao Đài cho thấy rõ về Cơ quan chuyển thế:

Đức Hộ-pháp thuyết tại Ðền Thánh, ngày mồng 1 tháng 9 năm Ðinh Hợi (1947), lúc 12 giờ trưa:

"Bần Ðạo nhớ buổi Chí Tôn mới đến tỏ danh hiệu Ngài. Người hứa với các Môn Ðệ của Người buổi đầu tiên về cơ quan chuyển thế làm phân vân biết bao nhiêu nhà trí thức, tìm hiểu hai chữ chuyển thế là nghĩa gì? Theo triết lý học định nghĩa chữ chuyển thế là: Xoay đổi thời đại hiển nhiên ra thời đại khác hoặc không phù hạp, hoặc quá khuôn khổ, nề nếp nên quyết đoán thay đổi lập trường thiêng liêng vì thời đại nầy đã định.

Chuyển 轉 nghĩa là sửa đổi cũ ra mới, lấy nghĩa lý đã định hẳn ra, tức nhiên chúng ta nhận thấy các khuôn luật đạo đức từ trước đến giờ để lại đều bị biếm trách cả, bởi vì đời quá hung tàn bạo ngược vô nhơn luân, tinh thần đạo đức không qui định, tâm lý loài người không tương quan cùng nhau, mất cả luật đồng sanh làm căn bản của loài người, luật đồng sanh gần như bị hủy bỏ, bởi thấy tấn tuồng trước mắt, nào giặc giã chiến tranh, giành sống mà giết hại lẫn nhau, oán kết thâm thù, loài người do nơi ấy mà biến sanh tàn ác, cái phương sanh sống đến một giai đoạn rất khó khăn và chúng ta thử xét đoán trong các Kinh điển Ðạo giáo để lại là "Mưa dầu nắng lửa". Trận mưa dầu nắng lửa sẽ có hiện tượng y như trong Kinh đã nói. Cũng vì sự sanh hoạt khó khăn mà loài người giết hại lẫn nhau. Trên mặt địa cầu, nếu lấy con số hiểu biết người ta định hai ngàn năm trăm bảy triệu sanh mạng, không kể mấy trận giặc tàn khốc đã qua, hiện giờ làm giảm bớt rất nhiều trong số ấy. Ðời sống đến giai đoạn khó khăn hơn nữa, những phẩm vật nuôi sống loài người càng giảm bớt thì nhân loại còn quyết liệt chiến đấu hơn nữa.

Bần Ðạo tìm hiểu, định nghĩa hai chữ "chuyển thế" là thay đổi thời thế. Ðem Kinh Luật ra quan sát thấy mỗi thế kỷ, mỗi Ngươn từ trước đến giờ nhiều giai đoạn cũng giống nhau một cách lạ lùng, những tấn tuồng nầy giống tấn tuồng trước, không ngoài khuôn viên ấy. Trước hết bắt đầu là sắc dân da đen là dân Brahma tức là dân Ấn Ðộ. Chí Tôn giao vận mạng địa cầu nầy cho dân da đen, vì dân da đen là con Trưởng nam của Ðức Chí Tôn, Ðức Chí Tôn giao cho dân da đen nắm giữ về tinh thần lẫn hình thể, không ai hân hạnh hơn dân da đen. Nước Ấn Ðộ có Ðạo đầu tiên hơn hết, làm Chúa cả địa cầu nầy. Ðã được hữu hạnh cao trọng quyền năng hơn hết nhưng rồi phân chia nòi giống, biệt lập tương tranh, tận diệt tất cả nòi giống khác, chính mình chúng ta hôm nay, cũng ở trong khuôn khổ đó vậy. Vì thế mà mất quyền hành, Ðức Chí Tôn mới đem dân da xám là dân Bengalis (Bénarés) lên làm chủ quyền, chuyển giao lại cho dân da xám sửa đời, trị thế. Chí Tôn đem Ðạo Brahma để dân da xám làm chủ, làm Chúa, sửa Ðời lập Ðạo, trái lại dân da xám không làm nên phận, các tấn tuồng hung ác mãi diễn lại, buộc Chí Tôn phải cho dân Olivâtre cầm quyền làm Thầy nơi địa cầu nầy đặng trị thế, nhưng rồi sắc dân Olivâtre cũng không làm nên phận, nên mới có nạn tiêu diệt mà chúng ta đã thấy khuôn khổ đó là khoảng đất Á Ðông nầy thuộc dân bán đảo Malacca cũng bị hành pháp đó, cho nên bị biển tận diệt sát hại, chỉ còn lại Presqu'ile de Malacca.

Ðức Chí Tôn mới giao cho sắc dân da đỏ, sắc dân nầy là dân xứ Egypte (Ai Cập) tức là nòi giống của thế giới mới. Pérou cũng là con cháu sắc dân ấy. Lúc trước thế giới mới chưa có, xung quanh vòng xích đạo (Equateur) lúc bấy giờ là toàn biển cả hóa cồn như vùng sa mạc Sahara ngày nay, nơi dân Atlantéenné tối cổ. Thấy dân Pérou, Egypte mà ngày nay ai cũng phải cúi đầu trước sự văn minh của họ. Nhưng đến nay họ không còn tồn tại đẹp đẽ như trước, vì làm Chúa mà giết người, làm Anh, làm Thầy không xứng đáng. Ðức Chí Tôn thấy nhơn loại không giữ vững thiên lương đức tánh mới làm ra trận Ðại Hồng Thủy, cho nên mới có thế giới mới ngày nay.

Ðến da vàng (Asie Iranienne) là nước Tàu, đừng tưởng nước Tàu do một sắc dân mà ra, họ gồm nhiều sắc dân hiệp lại thành nước Tàu, thành thử tiếng nói thì khác chỉ có chữ giống nhau mà thôi, nước Nam ta gốc cũng ở nước Tàu, giống da vàng cũng thất Ðạo nên Ðức Chí Tôn để quyền cho giống da trắng gần Mongol hiệp với Race Caspienne (Afghanstan, Yougoslavie) ở Cận Ðông tràn qua Âu Châu lập quốc rồi chiếm đoạt Âu Châu.

Ðức Chí Tôn để quyền cho da trắng làm chủ, thay vì dân da trắng lo sửa đời trị thế, trái lại để cho thế giới tương tàn tương sát lẫn nhau, nếu cơ quan chuyển thế đổi quyền thì mặt địa cầu còn thay đổi. Dân da trắng rồi cũng như cảnh tượng Hoàng Ðồ nước Tàu vậy. Cơ quan chuyển thế mà Ðức Chí Tôn lập trước mắt sẽ dữ dội lắm, tấn tuồng đó vẫn còn tiếp diễn chưa dứt.

Bần Ðạo quả quyết rằng: Sẽ còn đại động dữ dội một phen nữa nơi mặt địa cầu nầy, đặng chi? Ðặng giống da trắng giao quyền cho sắc dân mới nữa là giống dân Thần Thông Nhơn (Race Lucide) làm chủ, cầm giềng mối toàn mặt địa cầu nầy.

 

 

BÁC ÁI

博 愛
E: The universal love.
F: L’amour universel.

Ngày 10-3-1927 (âl 7-2-Đinh Mão).

Phò loan : Bảo Pháp - Hiến Pháp, tại Đàn Phú Nhuận.

Thầy dạy: "Vì lòng Bác ái, Thầy đến mở Đạo cho chúng sanh nhờ, mà cũng còn có điều trở ngại, ấy là do kẻ bất lương mà ra. Chúng nó cũng dối lấy chữ nghĩa Bác ái mà ngăn đón. Các con vì đó mà ngần ngại giữa đường, cũng vì phần đông chưa đủ nhơn cách, nên Thầy cũng phải nương theo cho qua hồi trắc trở. Thế nào rồi đây cũng có ngày phổ thông Chánh giáo đặng. Các con đừng thấy những sự phàm-quyền ấy mà lo cho Thầy không đủ quyền pháp chế trị, các con sẽ thấy phép mầu của Thầy là dường nào ! Vậy, lúc nầy, những Môn đệ mới phải lập thệ giữa Thầy mà nhập Đạo."

Đức Quyền Giáo Tông giảng Đạo năm 1935 về Bác Ái.

"Bác là rộng, Ái là thương. Lòng bác ái tức là thương rộng ra, ta chẳng những thương ông, bà, cha, mẹ, vợ, con, cùng là thân tộc họ hàng; Mà ta còn phải thương rộng ra đến cả nhơn loại, chẳng luận nước nào. Ta chẳng những thương cả nhơn loại mà ta còn phải thương rộng ra cho tới cả lòai sinh vật khác nữa".

"Đức Jésus de Nazareth (gọi Christ) bởi lòng Nhơn Cứu thế lập nên Thánh Giáo Gia-Tô; Ngài mượn bác ái nhân sanh đặng thế mặt Chí-Tôn khai hóa, xem phổ tế chúng sanh rằng trọng, nên chuyên lo giúp khó trợ nghèo: dỗ kẻ dữ, dạy người ngu, ngó chơn thật mạng sanh hành thiện đạo, diệt dị đoan, trừ mê tín, dụng Chơn lý để răn đời, nhìn lương tâm là hình ảnh của Trời, lấy trí tuệ vẽ tươi Thiên cảnh.

Kinh Thuyết Pháp có câu:

"Nguyện lời nói biến hình Bác ái,
"Nguyện chí thành sửa máy tà gian."

 

 

BÁC LUẬT - PHÁ CỔ

(Bác luật: Bác bỏ luật pháp tu hành cũ vì không còn thích hợp với trình độ tiến hóa cao của nhơn sanh hiện nay. Phá cổ: Phá bỏ pháp luật khắc khe cũ vì không còn thích hợp với thời đại. (Cổ 罟 là tấm lưới pháp luật, hình pháp, ý nói pháp luật khắc khe) Đức Chí-Tôn cho biết ngày nay buổi Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy đến dạy lập Tân Luật - Pháp Chánh Truyền, nên Ngọc Hư Cung cũng như Lôi Âm Tự đã bỏ Cựu Luật vốn có nhiều điều khắc khe để cho chúng sanh dễ tu hành hơn.

Vĩnh Nguyên Tự: 21-8-1926 (âl 14-7-Bính Dần)

Thầy dạy: "Nguyên từ buổi bế đạo, tuy Chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc đạo cùng chăng. Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít. Vì vậy cho nên các con coi thử lại, từ hai ngàn năm nay, bên Á Ðông nầy đã đặng bao nhiêu Tiên, Phật. Các con duy biết có một mình Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi."

 

 

BÁC LÃM QUẦN THƠ

泊 攬 羣 書

Đức Quyền Giáo Tông dạy về Đức chí thành (1935) "Người theo Ðạo mà không chí thành thì bất quá là mượn danh Ðạo để vụ tất đồng tiền, hoặc bị lợi dụng đức tin của hàng Tín Ðồ thấp thỏi để mưu điều trái Ðạo. Người giữ Ðạo mà không chí thành, dầu cho bác lãm quần thơ, rõ thông đạo lý đến đâu đi nữa tưởng cũng không trông thành Ðạo."

 

 

BẠC ĐÃI

泊 待
F: maltraiter.

Thầy nói: Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí-Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết?

Riêng Đức Quyền Giáo Tông nói về sự bạc đãi của Pháp "Ðạo Cao-Ðài ngày nay tính ra trên một triệu Tín đồ, phần nhiều là người Việt Nam, còn bao nhiêu người Langsa, người Cao-Miên, người Lào, người Sơn-cước và người Tàu; có lẽ Chánh phủ thuộc địa chưa có hiểu tâm lý của chúng tôi, cho nên Tín-đồ của Ðức Chí Tôn thường thường bị người bạc đãi áp chế một cách vô lý, mỗi lần chúng tôi yêu cầu xin xỏ điều chi, thì mỗi lần Chánh phủ lấy võ lực can thiệp khuấy rối người hành đạo. Trong thời buổi nầy Chánh phủ lại dùng đủ phương sách để đánh đổ người đứng ra sáng lập nền Giáo lý của Ðức Chí Tôn."

 

 

BẠC NHƯỢC

泊 弱
F: Faible.

Thầy dạy: "Con cứ giận lẫy vậy hoài. Cười! Chẳng phải Đạo là vậy, con ôi! Cũng vì bạc nhược hay nghe mà không biết binh vực con mới ra vậy. Từ đây, Thầy dặn ai thương ghét mặc ai, con cứ thương Đạo là đủ."

Đức Hộ-Pháp thì than: "Khi Đạo mới phôi thai thì các quỉ-quyền toan diệt Đạo. Buổi sơ sanh Đạo yếu ớt, bạc nhược, ngu dại, dốt nát thế nào, nên bị nó giục cho thiên hạ dùng cả năng lực quyền hành của mình toan tiêu diệt Đạo cho kỳ đặng. Họ đồ mưu chia rẻ làm cho trong Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn phải ly tán, Anh nghịch Em, Em bất hòa với Anh, cả nền Đạo chinh nghiêng đảo ngược."

 

 

BẠC TÌNH

泊 情
F: Ingratitude.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Trời hằng thương mến lũ nhơn sanh,
Giận nỗi cưu cưu ở bạc tình.

 

 

BÁCH NIÊN GIAI LÃO

百 年 皆 老
E: To live together in throuhout life.
F: Vivre ensemble dans toute sa vie.

Bách: Trăm, còn đọc là Bá. Niên: Năm. Giai: Ðều, cùng. Lão: Già. Bách niên là trăm năm, ý nói suốt đời. Bách niên giai lão là trăm năm cùng già.

Ðây là câu cầu chúc thường nghe trong đám cưới, chúc cho đôi vợ chồng mới cưới được bách niên giai lão, nghĩa là chúc hai người sống bền chặt bên nhau suốt đời.

 

 

BẠCH CHỦNG ÂU CHÂU

白 種 歐 洲
F: Race blanche Europe .

Bạch chủng là giống người dân da trắng. Âu châu là một trong năm Châu: Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc. Dân Âu châu có một nền văn minh hóa học sớm hơn hết, nên họ luôn tìm kiếm những nước giàu khoáng sản như mỏ than, sắt, đồng, kẽm, vàng, bạc, dầu mỏ…để chiếm đất đai làm thuộc địa… làm giàu cho xứ sở mình. Thời điểm ấy thì Pháp chiếm Việt Nam, Lào, Kampuchia làm thuộc địa lập thành ba nước Đông dương. Việt Nam phải chịu sự đô hộ của Pháp gần trăm năm. Một nước bị trị bao giờ cũng mang niềm oán hận đối với những nước cai trị, dĩ nhiên danh từ "thực dân" gán cho họ cũng đủ nghĩa lắm rồi ! Việt Nam rất oán ghét nên gọi người pháp là "Bạch quỉ" tức là quỉ trắng. Nhưng ngày nay Việt Nam là một nước sẽ làm CHỦ toàn thế giới về mặt tinh thần, sự oán cừu không còn nữa. lấy ân trả oán để oán nọ tiêu tan. Điều trước tiên là đem đạo đức rải khắp Năm châu trong ý muốn của Đức Thượng đế, nên: "Đại-Đạo tiên khởi lập thành tại nước Việt-Nam, nhiên hậu sẽ hoằng-khai các miền Đông-Á, qui hợp cả Huỳnh-chủng làm đà sang Bạch-chủng Âu-châu dìu-dẫn khắp thiên-hạ trên con đường Công-Đồng."

 

 

BẠCH HẠC

白 鶴
F: grue blanche.

Đức Hộ-Pháp nói: Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo Ổng nói "Tròi trọi mình không mới thiệt bần". Ông đến cho ta một danh thể là lập Hội-Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi ! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được."

 

 

BẠCH KỲ

(Xem Nhan-Uyên-kỳ)

白 旗
F: Drapeau blanc.

(Bạch là trắng, kỳ là lá cờ, tượng trưng cho một quốc gia, một tôn giáo). Bạch kỳ tức là lá cờ màu trắng làm biểu hiệu cho sự hòa giải đem Hòa bình cho dân tộc.

Trong cửa đạo Cao-Đài, Bốn vị trong nhóm Hòa-Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp, phấn khởi tính thần mà đi cậm cờ Bến hải. Đó là: Thoại, Kỳ, Đại, Lợi đã thực hiện tinh thần yêu nước. Bốn vị này dám đột nhập cầu Hiền lương treo cờ trắng (Bạch kỳ).

 

 

BẠCH KHỈ (Bạch Khởi) (Tên)

白 起

Bạch Khỉ còn đọc là Bạch Khởi, là tên của một đại tướng tài giỏi bách chiến bách thắng của vua Tần Chiêu Tương Vương thời Ðông Châu Liệt Quốc. Nhưng Bạch Khởi có tánh độc ác và háo sát. Suốt cuộc đời làm tướng của Bạch Khởi, ông ta đã giết hằng trăm vạn quân địch. Trong trận quân Tần đem quân đánh nước Ngụy ở Y Khuyết, Bạch Khởi lấy được 61 thành, chém 24 vạn địch quân. Sau đó, Bạch Khởi đem quân đánh nước Sở, chiếm Yên Dĩnh, định được hai đất Vu, Kiềm, rồi lại đánh nước Ngụy, đuổi được Mang Mão, chém 13 vạn thủ cấp, lại kéo quân đánh nước Hàn, lấy 5 thành, chém 5 vạn thủ cấp, lại chém tướng Triệu là Giả Yến, đánh chìm 2 vạn quân Triệu xuống sông. Do những chiến công lẫy lừng đó, vua Tần phong cho Bạch Khởi chức Võ An Quân.

Nước Tần muốn chiếm nước Triệu, nhưng còn ngại Lão tướng Liêm Pha của Triệu. Thừa Tướng nước Tần là Phạm Chuy bí mật sai người đem vàng bạc qua Triệu, thực hiện kế ly gián khiến vua Triệu nghi ngờ Liêm Pha, tước hết binh quyền rồi giao cho Triệu Quát làm Ðại Tướng. Vua Tần cử Bạch Khởi kéo quân đánh Triệu. Triệu Quát kéo quân ra cự địch. Bạch Khởi lừa Triệu Quát vào hiểm địa Trường Bình, đánh cho một trận, giết chết Triệu Quát và 5 vạn quân Triệu, số quân Triệu còn lại chừng 40 vạn đều đầu hàng. Bạch Khởi bàn với Phó Tướng Vương Hạt rằng:

- Trước, quân ta đã lấy được hai thành Giả Vương và Thượng Ðảng, dân chúng ở đó không chịu theo Tần mà vẫn theo Triệu. Nay quân Triệu đầu hàng trước sau được 40 vạn, nếu lỡ chúng nó sanh biến thì phòng sao giữ được. Nghị rồi liền cấp rượu thịt cho quân Triệu ăn uống no say, hẹn ngày mai sẽ thả những quân già yếu, còn quân cường tráng thì phát cho khí giới sung vào quân Tần. Ðêm ấy, Bạch Khởi cho quân Tần lấy vải trắng bịt đầu, ai không có vải trắng trên đầu thì cứ giết. Tất cả 40 vạn quân Triệu đều bị giết sạch trong một đêm, máu chảy thành sông, thây chất thành núi. Vua quan và dân chúng nước Triệu ở Hàm Ðan nghe tin đều thất đảm kinh hồn, than khóc vang Trời. Bạch Khởi kéo quân đánh tiếp, lấy thêm được 70 thành nữa của Triệu, tiến gần đến kinh đô Hàm Ðan của Triệu. Nước Triệu mất hết tinh thần, may nhờ mưu thần Tô Ðại dâng kế, vua Triệu cấp tốc cung ứng tiền bạc cho Tô Ðại bí mật sang Tần, tìm cách yết kiến Thừa Tướng Phạm Chuy của Tần. Tô Ðại phân tích tình hình cho Phạm Chuy thấy, nếu để Bạch Khởi tóm thâu nước Triệu thì công cán lớn lao ấy làm cho ghế Thừa Tướng của Phạm Chuy lung lay và có thể mất. Chi bằng Thừa Tướng nên tâu với vua Tần ra lịnh cho Bạch Khởi lui binh, nước Triệu và Hàn sẽ sai sứ cầu hòa và cắt đất dâng cho Tần. Sau đó là cái công lớn của Thừa Tướng, mà lại giải bớt binh quyền của Bạch Khởi. Phạm Chuy nghe bàn đúng lý nên làm theo kế ấy, khiến Bạch Khởi rất tức giận, vì chỉ không đầy một tháng nữa thì Bạch Khởi sẽ bắt sống được vua Triệu, nhưng nay theo lịnh của vua Tần, Bạch Khởi đành phải lui binh. Hai năm sau, vua Tần lại sai Bạch Khởi đem quân đánh Triệu. Bạch Khởi biết cơ hội đánh thắng Triệu trước đây hai năm đã bỏ qua, nay quân Triệu đã hùng mạnh. Lão Tướng Liêm Pha tái thủ binh quyền thì làm sao đánh Triệu cho nỗi. Do đó, Bạch Khởi cáo bịnh không đi. Vua Tần nghi ngờ, lại có Phạm Chuy gièm vào, vua Tần thâu hết quan tước của Bạch Khởi, đồng thời thâu hồi các đất ăn lộc, giáng Bạch Khởi xuống làm lính, rồi sai sứ đem trao cho Bạch Khởi một thanh gươm buộc phải tự tử. Bạch Khởi than rằng: "Ta có tội gì mà ra nông nỗi nầy? À! Ta thực đáng chết lắm! Trong trận Trường Bình, ta đã đánh lừa và giết chết 40 vạn quân Triệu đã đầu hàng. Chúng nó có tội gì? Ôi! Nay ta bị vua Tần giết chết là đáng lắm." Than rồi liền lấy gươm tự đâm cổ chết.

Một thời gian dài về sau, thời nhà Ðường, có tiếng sét đánh chết một con trâu ngoài đồng, người ta thấy dưới bụng trâu có hai chữ Bạch Khởi. Dân chúng tin rằng, Bạch Khởi giết người nhiều quá nên mấy trăm năm sau vẫn còn bị đọa làm kiếp trâu và bị sét đánh chết.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Thạnh bỏ suy đương lao khổ phận,
Cũng như Bạch Khỉ đến hôn mê.

 

 

BẠCH LONG

白龍
F: Dragon blanc.

 

Ở phia dưới quả Càn Khôn (có 8 vị Bạch Long).

 

 

 

BẠCH NGỌC CHUNG

白 玉 鐘

 
   

 

 

BẠCH NGỌC CHUNG ĐÀI

白 玉 鐘 臺
E: The tower of the Bạch Ngọc Bell.
F: La tour de la Cloche Bạch Ngọc.

(Bạch: Màu trắng, rõ ràng. Ngọc: Loại đá quí có màu sáng bóng rất đẹp. Chung: Cái chuông. Ðài: Cái tháp cao). Bạch Ngọc Chung Đài là cái tháp cao trên đó có đặt một cái chuông lớn, gọi là chuông Bạch Ngọc.

Nơi mặt tiền Đền Thánh Tòa-Thánh Tây Ninh có hai cái Đài hình vuông cất cao lên, mỗi Đài cao 36 thước, đài bên mặt có đặt một cái chuông lớn bên trong gọi là Bạch Ngọc Chung Đài, Đài bên trái có đặt một cái trống lớn bên trong gọi là Lôi Âm Cổ Đài.

 

 

BẠCH NGỌC CHUNG MINH

白 玉 鐘 鳴
E: The Bạch Ngọc bell rings.
F: La cloche Bạch Ngọc sonne.

(Bạch Ngọc Chung: Chuông Bạch Ngọc. Minh: Kêu).Bạch Ngọc Chung Minh là tiếng kêu vang lên khi dộng vào cái chuông Bạch Ngọc cho nó phát ra âm thanh. Mục đích của tiếng vang này làm thức tỉnh người sống và cũng làm thức tỉnh cả Âm hồn còn chơi vơi trong các cõi Âm quang hay Địa ngục. Tiếng chuông Bạch Ngọc chỉ được khởi dộng trong những đàn cúng lớn tại Tòa Thánh hay các Thánh Thất. Trước khi dộng chuông phải đọc câu kệ:

Ðây là câu xướng của Lễ sĩ trong nghi tiết cúng Ðại đàn hay Tiểu Ðàn tại các Thánh Thất. Sau khi tiếng trống bên Lôi Âm Cổ Đài chấm dứt thì Lễ-sĩ xướng: "Bạch Ngọc Chung minh". Người trực bên Đài Bạch Ngọc Chung khởi dộng chuông. Trước tiên dộng 3 tiếng khởi đầu, tiếp theo ngâm 4 câu kệ chuông, dứt mỗi câu kệ, dộng một tiếng chuông lớn.

Tiếp theo, dộng tiếp 12 tiếng chuông nữa, rồi dộng tiếp 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 dùi, cộng 3 hồi là 432 tiếng. Sau cùng dộng thêm 3 tiếng chuông lớn nữa là chấm dứt.

Tổng cộng lúc khởi dộng chuông cho đến lúc dứt chuông gồm có: 3 + 4 + 12 + 432 + 3 = 454 tiếng chuông.

BÀI KỆ CHUÔNG:

 

 

Viết ra chữ Hán:

Thần chung thinh hướng phóng Phong Ðô,
Ðịa-Tạng khai môn phóng xá cô.
Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
Sám hối âm hồn xuất u đồ.

 

神 鍾 聲 向 放 酆 都
地 藏 開 門 放 赦 辜
三 期 運 轉 金 光 現
懺 悔 陰 魂 出 幽 途

Giải nghĩa:

Câu 1: Tiếng chuông thiêng liêng phát ra hướng đến cõi Phong Đô. (Thần: thiêng liêng. Thinh: tiếng. Phóng: phát ra).

Câu 2: Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát mở cửa phóng thích các tội hồn. (: tha tội. : đơn độc, tội lỗi).

Câu 3: Đại-Đao Tam-Kỳ Phổ-Độ ra đời, vận chuyển làm hiện ra một lằn ánh sáng vàng (tạo thành một chiếc cầu bắc đến cõi Phong Đô).

Câu 4: Các chơn hồn ở Phong Đô sám hối tội tình khi đi ra khỏi nơi tối tăm ấy bằng con đường là lằn kim quang nói trên. (Âm hồn: chơn hồn nơi cõi Âm. U: tối tăm. Đồ: con đường).

Tiếng trống và tiếng chuông đánh lên trước giờ bái Lễ Ðức Chí Tôn có mãnh lực mầu nhiệm, âm thanh vang dội truyền lên đến tận Bạch Ngọc Kinh, Cực-Lạc Thế-giới, các từng Trời, để chư Thần, Thánh, Tiên, Phật biết giờ chầu lễ Ðức Chí Tôn và nhứt là vang dội đến cõi Phong đô, Âm Quang, để cho các linh hồn tội lỗi thức tỉnh, hồi tâm hướng thiện, cầu xin Ðức Chí Tôn cứu vớt cho trong kỳ Ba Đại-Ân-xá của Chí-Tôn.

Bản chép khác:

Trong Quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh của hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt in năm 1928, nơi trang 42, bài Kệ trên gọi là: Chung Xướng, chép ra như sau:

Chung thinh khấu hướng triệt Phong Đô,
Địa Tạng khai ân phóng xá cô.
Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
Sám hối âm hồn xuất u đồ.

(Khấu: cúi đầu. Triệt: thấu tới. Ân: ơn).

 

 

BẠCH NGỌC CÔNG ĐỒNG

白 玉 公 同
E: The reunion in the White Jade Palace.
F: La réunion dans le Palais de Jade Blanc.

(Bạch Ngọc là chỉ Bạch Ngọc Kinh. Công Ðồng: Một cuộc hội gồm nhiều thành phần để bàn luận và quyết nghị các công việc chung). Bạch Ngọc Công Đồng 白玉公同 Đây là một phiên Đại Hội gồm chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại Ngọc Hư Cung, Linh Tiêu Điện là tòa Bạch Ngọc Kinh nơi cõi Thiêng Liêng Hằng sống. Đây cũng xác định chữ Bạch Ngọc 白玉 tức là Bạch Ngọc Kinh 白玉京 là tòa lâu đài bằng ngọc trắng, nơi ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, ngoài cửa bằng vàng ròng gọi là Huỳnh Kim Khuyết

Kinh Đưa Linh Cữu có câu:

"Nam mô Bạch Ngọc Công Ðồng,
"Thần Tiên Thánh Phật mở vòng trái oan."

 

 

BẠCH NGỌC - HUỲNH KIM

白玉 - 黃金

Bạch Ngọc tức là Bạch Ngọc Kinh 白玉京 là Một tòa Thiên các, nơi ngự của Đức Chí Tôn - Ngọc Hoàng Thượng Đế. Bên ngoài Tòa ngự này là một cửa ngõ bằng vàng ròng, cực kỳ tráng lệ, ấy là Huỳnh-Kim-Khuyết. Ngôi Bạch Ngọc Kinh bằng ngọc màu trắng cao vọi vọi, có cổng Huỳnh Kim Khuyết bằng vàng ròng xa mù mù như hai câu trong bài Ngọc Hoàng Kinh:

Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết,
Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh.

 

渺 渺 黃 金 闕
巍 巍 白 玉 京

Đây là Tòa ngự của Đức Thượng Đế trên Cung Trời; ngày nay Đức Ngài đến lập cho nhân loại một Tòa Bạch Ngọc Kinh tại thế đó là Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh này đây.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Cao Ðài tá thế đến phàm gian,
Bạch Ngọc Huỳnh Kim cũng chẳng màng.
Chiều lụy đòi phen xem quá tục,
Nghĩ không đổ lụy phải cười khan.

 

 

BẠCH NGỌC KINH

白 玉 京
E: The White Jade Palace.
F: Le Palais de Jade Blanc.

(Bạch Ngọc là loại đá quí có màu sáng bóng rất đẹp. Kinh là tòa nhà to lớn, là nơi thường ngự của Ðức Chí Tôn). Bạch Ngọc Kinh là tòa nhà bằng ngọc trắng tại Trung Tâm của Càn khôn Vũ trụ, là nơi thường ngự của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Trong Bạch Ngọc Kinh có đủ ngôi vị của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đủ cả Nam và Nữ.

Thánh ngôn có bài thi mô tả Bạch Ngọc Kinh như sau:

TÂN TẢ BẠCH NGỌC KINH

Một tòa Thiên các ngọc làu làu,
Liền bắc cầu qua nhấp nhóa sao.
Vạn trượng then gài ngăn Bắc Ðẩu,
Thiên trùng nhíp khảm hiệp Nam Tào.
Chư Thần chóa mắt màu thường đổi,
Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao.
Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,
Vững bền muôn kiếp chẳng hề xao.

(ngày 01-01-Bính Dần)

Thầy dạy: "Chỗ Thầy ngự gọi là Bạch-Ngọc-Kinh, là Kinh toàn ngọc trắng, rộng cao vòi-vọi, ngoài có Huỳnh-Kim Khuyết là cửa ngõ bằng vàng ròng cực kỳ mỹ-lệ. Dưới ba mươi sáu từng Trời còn có một từng nữa là nhứt mạch đẳng tinh-vi gọi là cảnh Niết Bàn. Chín từng nữa gọi là Cửu Thiên khai hóa tức là chín phương Trời cộng với Niết-Bàn là mười, gọi là Thập phương Chư Phật. Gọi "Chín phương Trời, mười phương Phật" là do đó. Cõi Niết-Bàn là chư Phật ngự, Phật-Tổ ngự nơi hướng Tây, Quan-Âm ngự nơi hướng Nam, mỗi từng đều có sơn xuyên hà hải, tứ phương bát hướng, liên đài hằng hà sa-số Phật.

Còn Như-Lai là cảnh Phật chớ không phải danh Phật, nên trong kinh có câu "Bổn giác vị kim giác Như lai." Bồ-Đề là chỗ Phật ngự, Phạm-môn là cửa Phật, Bĩ ngạn là đất Phật. Huỳnh-Kim bố điạ là vàng ròng đầy đất. Còn chỗ Nam Hải Ngạn thượng là Quan-Âm ngự, gần bờ biển nơi hướng Nam cảnh Phật, chớ không phải hướng Nam nơi cảnh phàm. Đó là còn ở Thượng tầng không-khí hay là VÔ VI CHI-KHÍ. Rồi kế đó là Đại Thiên thế-giái, kế là Thượng phương thế-giái là chỗ Đức Tây-Vương Mẫu ngự nơi Cung Diêu Trì, gần đó có vườn Ngạn Uyển Bàn Đào, Ngũ nhạc Bồng lai Nhược-thủy. Các Đấng thiêng-liêng Nam Nữ hằng-hà sa số lâu đài cung điện toàn bằng ngọc-ngà châu báu, hỗ-phách san hô, Điện đài lãng phương trong cảnh Nhị châu chơn võ. Nơi Linh Tiêu-điện là chỗ Tiên nhóm hội, có Ngọc-Vệ Kim-nương, gia lê quả táo, toàn là Tiên-dược nhẹ nhàng cũng như đơn kim để Hồ huỳnh-tương trường-sanh chi tửu, là rượu trường sanh dùng đặng sống không chết. Kế đó là Trung-phương Thế-giái cũng là nơi Cung điện của Thần Tiên, Nhơn-Tiên, Quỉ-Tiên, các bậc Quần Tiên. Rồi tới Hạ tầng Thế giái, Tam Thiên thế giái, Ba ngàn quả tinh-cầu phân làm Tứ đại bộ châu rồi nối theo Thất thập nhị điạ, tức là Đệ nhứt cầu cho đến địa-cầu các con ở là địa cầu 68. Từ hồi có địa-cầu này cho đến nay là mười hai muôn chín ngàn sáu trăm năm (129.600). Dưới các con, còn có bốn địa-cầu nữa. Còn U-Minh kêu bằng U-Minh-Giới chưa có loài người. Thế-giới địa-cầu khác nhau là do không-khí nặng nhẹ khác nhau, tùy theo công-quả của mỗi Tinh-cầu, cách nhau từ một cho đến mười muôn dặm, luôn luôn xây tròn giáp một vòng ba trăm sáu mươi ngày gọi là một năm.

Nơi địa-cầu cũng có sơn xuyên hà-hải như Thái bình dương, Đại-tây-dương, Bắc-hải, Hắc hải, chỗ trắng, chỗ đen, chỗ xanh, chỗ đỏ; bề sâu có chỗ tới tám ngàn thước, có chỗ ba ngàn thước, có chỗ hai ngàn thước, không đều nhau."…

Thầy dạy: "K... con ôi! Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy. Thầy cho biết: "Nơi Bạch Ngọc Kinh cả thảy đều là con cái của Thầy, tức là anh em với nhau. Cái phẩm vị của các con phải buộc tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị tối thượng mình là nơi Niết Bàn. Một lời nói với nhau, cũng đủ cả hai xuống thế mà khuyên giúp lẫn nhau. Con chẳng nên gọi oan nghiệt. Còn Đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu."

"Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ Nam và Nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Có các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền hơn Nam nhiều. Tr... đã thọ mạng nơi Thầy, con đi đâu Thầy theo đó. Lời đạo đức trong miệng con nói ra, ấy là lời Thầy bố hóa tâm trí con đặng đi truyền đạo, tùy cơ mà dạy kẻ, một mình con đâu đủ sức phục người. Chẳng luận là Nam hay Nữ, bất kỳ là nước nào, nó muốn biết đạo lý, con phải độ, biểu chúng nó đến nghe Thầy dạy mới có thế nó tu hành đặng, trước con không nên buộc chúng nó lắm."

Thầy dạy tiếp: "Nơi Bạch-Ngọc-Kinh hơn sáu chục năm trước chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thấy đại nộ Thầy, nên ra tình nguyện hạ thế cứu đời. Thầy coi bọn ấy lại còn làm tội lỗi hơn kẻ phàm xa lắm. Vậy vì cớ chi các con biết chăng? Các con có cả ba Chánh Ðạo là Tam-Giáo các con biết tôn trọng; ngày nay lại thêm Chánh Ðạo nữa, các con biết ít nước nào đặng vậy."

"Cười! Thầy nói cho các con hiểu rằng: Muốn xứng đáng làm môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm môn đệ Thầy thì Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước, còn ngã thì cửa Địa ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét ai thấu đáo vậy ôi ! Bởi vậy cho nên Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành."

Tòa Thánh Tây Ninh được Ðức Hộ Pháp xây cất theo kiểu vở do Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ vẽ ra, mô phỏng theo hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh nơi cõi thiêng liêng. Do đó, Tòa Thánh Tây Ninh được xem là Bạch Ngọc Kinh tại thế.

Trong Con đường Thiêng liêng Hằng sống, Ðức Phạm Hộ Pháp mô tả Bạch Ngọc Kinh như sau:

"Lại gần tới còn thấy một vật khác thường quái lạ, nhưng nó là một tòa Thiên các đẹp đẽ lắm, màu sắc thay đổi sáng rỡ, mà cả Thoại khí bao quanh làm như thể vận chuyển hình trạng của nó vậy. Lâu đài chớn chở mà nó là con vật sống chớ không như gạch đá chúng ta làm đây, nó vận hành như con vật sống vậy, thay đổi màu sắc vô cùng vô biên. Bí pháp ấy không thế gì tả đặng, ngó thấy đặc sắc lắm. Nhà cửa ở thế gian nầy là con vật chết, Bạch Ngọc Kinh là con vật sống, biến hóa thay đổi như thể vận hành, xung quanh Thoại khí bao trùm, từ Nam chí Bắc, từ Ðông qua Tây, khối lửa ánh sáng ấy, chúng ta ngó thấy như mặt trời vậy, mà ánh sáng mặt trời thì nóng nực bực bội, còn ánh sáng nơi tòa Bạch Ngọc Kinh lại dịu dàng và huyền bí lắm, sung sướng khoái lạc lắm! Tại sao đài các nó là con tử vật mà nó sống ? Sống là do nơi đâu ? Nếu biết được thì không lạ gì. Nơi Bạch Ngọc Kinh là Hỗn Nguơn Khí biến hình nó ra. Hỗn Nguơn Khí là Khí Sanh Quang của chúng ta đã thở, đã hô hấp, khí để nuôi cả sanh vật sống, ta cũng do nơi nó xuất hiện, mà biểu nó làm sao không sống? Khi Bần đạo ngồi trên pháp xa đến, thấy các chơn linh hằng hà sa số, bao vây trước cửa la liệt không thể đếm. Pháp xa vừa ngừng, Bần Đạo bước xuống thấy ba cửa nơi Bạch Ngọc Kinh có 12 vị Thời Quân mặc khôi giáp, tay cầm bửu pháp, đứng cản đường không cho thiên hạ vô. Bần Đạo giận quá đỗi. Ba cửa ấy xa nhau, mỗi cửa có bốn người giữ. Bần Đạo muốn nói chuyện thì ba cửa ấy gom lại, 12 người hiệp lại đứng trước mặt Bần Đạo. Bần Đạo hỏi vì cớ nào không cho người ta vô?

Vừa hỏi thì họ bỡ ngỡ nói người ta biểu đừng cho vô. Nói người ta biểu thì Bần Đạo biết là Kim Quang Sứ biểu nó, xúi nó đừng cho các chơn linh vào Bạch Ngọc Kinh. Giận quá, Bần Đạo day mặt ra ngoài biểu các chơn linh vô. Họ tràn vô nghe một cái ào dường như nước bể bờ chảy vào Bạch Ngọc Kinh vậy. Tới chừng các chơn linh vô hết, liền biểu 12 vị Thời Quân vô, rồi đứng dòm cùng hết thảy coi còn ai ở ngoài nữa không. Bần Đạo vác cây Giáng Ma Xử đi vô Bạch Ngọc Kinh sau hết. Bạch Ngọc Kinh chia làm ba căn, cửa chính giữa là các vị Phật cao siêu, mình đứng day vô, phía bên tả là phái nữ, phía bên hữu là phái nam. Bần Đạo nghe đi rần rần rộ rộ, bên kia thì thấy hình bóng chiếu qua vách mà thôi, tấm vách thật lạ lùng, trong trắng giống như sương sa vậy. Buổi đầu Bần Đạo không để ý, đi tới nữa, thấy tất cả đều có ngôi vị của họ sẵn. Bần Đạo vô cửa thấy họ ngồi có chỗ hết, còn mình thì bơ thờ, vác cây Giáng Ma Xử đi vô, không biết đi đâu. Nói sao người ta có chỗ ngồi, còn mình không có? Vừa nói rồi thì thấy có người đứng gần bên mình mà không hay, họ trả lời: Cái ngai của Ngài kia. Bần Đạo dòm lên thấy cái ngai tốt lắm, thấy rồi trong bụng hồ nghi, nói không biết họ có gạt mình không. Bần Đạo sợ, vừa sợ thì có người nói: Chính cái ngai đó là của Ngài.

Từ thử đến giờ, dầu vạn kiếp sanh chịu khổ để tạo vị nơi mặt thế gian nầy cũng không bằng ngồi được trên đó. Nơi đó sung sướng lắm, sung sướng làm sao đâu! Trong bụng nói làm sao lên được trên đó? Vừa tính rồi thì dường như có nấc thang, Bần Đạo lên ngồi rồi thì thấy trước mặt của mỗi người đều có vật ăn và rượu để uống. Bần Đạo nói sao họ có ăn mà mình không có. Vừa nói thì có một trái đào Tiên và một chung Tiên tửu. Ở đó tưởng muốn cái gì đều có hết, nhứt nhứt không có món gì mình muốn mà không có".

Thầy còn cho biết: "Nơi Bạch Ngọc Kinh, cả thảy đều là con cái của Thầy, tức là anh em với nhau. Cái phẩm vị của các con phải buộc tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị tối thượng mình là nơi Niết Bàn. Một lời nói với nhau cũng đủ cả hai xuống thế mà khuyên giúp lẫn nhau. Con chẳng nên gọi oan nghiệt."

 

 

BẠCH NHẪN ÐẠI TIÊN

Ngọc Cung gìn giữ động Ðình Tuyền,
Ðại Ðế ban ơn chưởng trọn quyền.
Tam Giáo lành khen cùng ác trị,
Dạy đời biết trọng lấy ân Thiên.

(23-12-1925)

 

 

BẠCH PHÁT

白 髮
E: The white hair.
F: Cheveu blanc.

Bạch phát là tóc trắng. Ý nói nhiều ưu lo thì tóc sớm bạc. Cũng có câu "Tâm sầu bạch phát" nghĩa là người lo buồn nhiều thì tóc trắng (đây là ý chỉ trắng trước tuổi). Ngũ Tử Tư xưa qua một đêm lo lắng vì quân bị vây trong thành. Sáng ra tóc ông đã bạc trắng.

Thầy dạy: Ngày 14-12-1926 (âl 10-11-Bính Dần)

Thanh nhàn muốn vẹn buổi chung qui,
Giáo hóa nhân sanh đức phải vì.
Bước thế chịu đày khơi bạch phát,
Nguồn Tiên rán lướt rạng thanh mi.

 

 

BẠCH TUYẾT THẦN QUANG - BẠCH TUYẾT THẦN QUANG ĐÁI

白 雪 神 光 (Bạch Tuyết Thần Quang)
白 雪 神 光 帶 (Bạch Tuyết Thần Quang Đái)
E: The white belt of the spiritual light.
F: La ceinture blanche de la lumière spirituelle.

Đạo Phục của Bảo Văn Pháp Quân.

(Bạch: Màu trắng, rõ ràng. Bạch tuyết: Màu trắng như tuyết. Thần: Thiêng liêng. Quang: Ánh sáng. Ðái: Cái đai lưng). Bạch Tuyết Thần Quang Đái là cái đai lưng làm bằng hàng trắng trong bộ đại phục của Bảo Văn Pháp Quân. Ðai nầy có bề dài 3,330 mét và bề ngang 0,333 mét.Khi buộc ngang lưng, phải buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen năm cánh.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: "Bộ Đại phục của Văn Pháp toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo như các Chức sắc nơi Hiệp Thiên-Đài, song hai bên ngay chính giữa có kết một bông sen 5 cánh, trên mỗi bông sen thì thêu Thiên nhãn Thầy, ngay đường giữa trước Mão cũng kết một bông sen nhưng khỏi thêu Thiên Nhãn. Cả thảy 3 bông sen trên mão. Lưng đai Bạch Tuyết Thần Quang bằng hàng trắng, bề dài 3 thước 3 tấc 3 phân, bề ngang 3 tấc 3 phân 3 ly, buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen 5 cánh.Chơn đi giày Vô ưu cũng bằng hàng trắng, trước mũi mỗi chiếc cũng có một bông sen nhỏ hơn một thí."

 

 

BẠCH VÂN ĐỘNG & BẠCH VÂN HÒA THƯỢNG

白 雲 洞
E: The White Lodge
F: La Loge Blanche.

BẠCH VÂN ĐỘNG là gì?

Đức Hộ Pháp giải thích về Bạch Vân Động: "Xưa nay người ta vẫn coi Nguyệt cầu (Mặt Trăng) là nơi dừng chân của những vị Thánh, Thần, trước khi xuống trần giới (Địa cầu) đầu thai. Các vị đó phải ở lại Nguyệt cầu ít lâu để liên lạc với Địa cầu, để quen lần với đời sống ở thế gian nầy. Từ cổ, Thần thoại đã mệnh danh Nguyệt cầu là Bạch Vân Động (Quảng Hàn Cung). Cơ giáng ở Âu Châu, mệnh danh là LOGE BLANCHE (Bạch Động). Giáo chủ của Bạch Vân Động là Bạch-Vân Hòa Thượng, miêu duệ của Từ-Hàng Đạo-Nhơn, dòng dõi Đức Phật Quan-Âm. Bạch Vân Hòa Thượng đã hai lần giáng trần ở Pháp và một lần ở Việt-Nam.

- Một lần là Hồng Y Giáo Chủ Richelieu.

- Một lần là Quận Công La Roche Foucault.

- Ở Việt-Nam, Ngài giáng trần là Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức gọi Trạng Trình. Chính Trạng-Trình là chơn-linh của Quan Âm Bồ Tát cầm quyền điều-khiển cả thời-gian mới hiểu rõ."

Đức Ngài nói tiếp: "Đức Quan Âm Bồ Tát đã cầm quyền điều khiển trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy từ thử đến giờ đã 52 kiếp. Ngài đã đầu thai thế gian nầy mấy kiếp, vì có tánh đức từ hòa và tinh thần đạo pháp mà thôi, tỷ như Bạch Vân Hòa Thượng, Bạch Vân là ai? Bạch Vân là Ngài, ngày nay Ngài ở trong cửa Đạo, trong một cơ quan trọng yếu của Tam Kỳ Phổ Độ nầy. Bạch Vân Hòa Thượng kiếp trước là Đức Quan Âm Bồ Tát đầu kiếp ở bên nước Tàu trước, rồi mới đầu kiếp ở bên xứ Việt Nam, ta kêu là Thanh Sơn Đạo Sĩ tức nhiên là Trạng Trình đó vậy, Thanh Sơn Đao sĩ dầu kiếp bên Pháp là Ralagode Bourgall, 52 kiếp có một kiếp trọng hệ có thâm tình với nòi giống Việt Nam ta hơn hết, chúng ta có hạnh phúc lắm, mới được Ngài đầu kiếp ở trong nước hai lần, lần thứ nhứt đầu kiếp làm người đàn bà tức nhiên Thị Kính, chúng ta đã biết Quan Âm là ai rồi. Bởi vậy cho nên buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy Đức Chí Tôn đã chọn lựa một Đấng cao trọng cho đến mặt địa cầu 68 nầy, có lẽ chúng ta đều biết danh Ngài hết, nhứt là Ngài lựa chọn một Đấng có thâm tình với nòi giống chúng ta hơn hết."

 

 

BẠCH VƯƠNG ĐẠI HỘI

Câu 34 của Bài U-minh-Chung: "Nam mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di Lạc Cổ Phật Chưởng giáo Thiên Tôn."

 

 

BẠCH Y LIÊN ĐOÀN CHƠN LÝ (Chi Phái)

Theo ông Quế: Bạch Y Liên Ðoàn Chơn Lý, quí Ngài: Tồng, Tải. Bạch Y Liên Ðoàn Chơn Lý hoạt động với tầm quan trọng như hồi xưa.

 

 

BẠCH Y QUAN

白 衣 冠

Bạch-Y-Quan: Một miền nơi cõi Kim Thiên có ánh sáng đều màu trắng. Nơi miền Bạch Y Quan đường vào cửa được mở ra để sẵn sàng tiếp rước khách.

Trong một Đàn cơ, nhân có Bát Nương Diêu Trì Cung giáng đàn, Đức Quyền Giáo Tông hỏi thăm Bát Nương về linh hồn của thân phụ và thân mẫu của Ngài có được siêu thăng cùng chăng ? Giờ đây đang ở đâu ?

Bát Nương giáng đáp: Em chỉ nói bằng thơ, nếu Anh giảng trúng thì nói nữa, trật thì lui.

Đức Quyền Giáo Tông năn nỉ: Nếu Qua nói trật thì nhờ Em thương tình mà chỉ dẫn để cho Qua học thêm với.

"Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc,

"Bá phụ cùng Bá mẫu đặng an !"

- Như vậy là thân phụ và thân mẫu của Qua trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở nơi cõi Cực Lạc?

- Đúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của Anh nên Bá phụ và Bá mẫu được siêu thăng nơi Cực Lạc.

Kinh Đệ Lục Cửu có câu:

"Bạch Y Quan mở đàng rước khách,
"Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa."

 

 

BÁI ĐÀN

拜 壇

Là Xá để nhập vào Đàn cúng, nghĩa là lúc bắt đầu.

Đức Hộ-Pháp nói: "Khi bái đàn rồi cả thảy quì tụng kinh, còn Bần Ðạo tịnh niệm, mỗi câu kinh mấy em đọc vẫn dễ, vì thuộc mà đọc thôi, riêng Bần Ðạo mỗi câu kinh phải mật niệm, tụ hết cả nghĩa lý của nó dâng lên Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng."

 

 

BÁI KỈNH

拜 敬

Giới Tâm Kinh có câu:

"Vọng Thượng-Đế chứng lòng thành-tín,
"Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn-nguyền."

 

 

BÁI LẠY

礼 拜

Bất cứ một Tôn-giáo nào: dù là Đạo thờ cúng Ông Bà cũng vậy, dân-tộc Á-Đông này coi sự Lễ bái là đứng hàng đầu trong các nghi thức.

- Lễ bái để tỏ lòng trân-trọng với một Đấng sinh thành đã cho ta một cái thân sanh là công của cha mẹ.

- Để tỏ lòng ngưỡng-mộ với bậc siêu phàm như người có công dựng nước và giữ nước. Tạo Đạo cứu Đời.

- Để tỏ lòng ngưỡng vọng với một Đấng tối thượng mà chính nhân-loại phải hết lòng bái phục là Trời.

Chung qui sự lễ bái là để phát khởi Đạo tâm. Có câu "Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi".

Nay, buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ Đức Chí-Tôn giáng dạy những nghi-thức về việc bái lạy ấy.

Thánh-ngôn Thầy dạy về Bái lễ:

"Khi bái lễ, hai tay con chắp lại, song phải để tay trái ấn TÝ, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái để lên trên".

- Lạy là gì?

Là tỏ ra bề ngoài, lễ kỉnh trong lòng.

- Chắp hai tay lại là tại sao?

Tả là Nhựt, hữu là Nguyệt, vị chi Âm-Dương; Âm Dương hiệp nhứt phát khởi Càn-Khôn, sanh sanh hóa hóa. Tức là Ðạo.

- Lạy kẻ sống thì hai lạy là tại sao?

Là nguồn cội của nhơn-sanh lưỡng hiệp Âm-Dương mà ra. Ấy là Ðạo.

- Vong phàm bốn lạy là tại sao?

Là vì hai lạy là của phần người, còn một lạy Thiên, một lạy Ðịa.

- Lạy Thần lạy Thánh thì ba lạy là tại sao?

Là lạy Đấng vào hàng thứ ba của Trời và cũng chỉ rằng lạy Tinh-Khí-Thần hiệp nhứt. Ấy là Ðạo.

- Lạy Tiên lạy Phật thì chín lạy là tại sao?

Là tại chín Ðấng Cửu-Thiên khai hóa.

- Còn lạy Thầy mười hai lạy là tại sao?

Các con không biết đâu?

Thập nhị Khai-Thiên là Thầy, Chúa cả Càn-Khôn Thế Giái; nắm trọn thập nhị Thời-Thần vào tay; số mười hai là số riêng của Thầy." (Thánh-ngôn I/11)

Giải-thích Cách Lạy và bắt Ấn Tý

a/- Cách lạy:

Trước khi lạy, đưa tay đã bắt Ấn kiết-quả lên trán, rồi để xuống ngực mới xá.

Khi lạy xòe bàn tay ra mà úp xuống đất, ngón tay cái của bàn tay mặt đặt lên ngón cái của bàn tay trái. Tức là Lưỡng-nghi sinh Tứ tượng, hiệp lại là 4, cọng với 8 ngón còn lại là 12. Số 12 tượng cho Thập Nhị Địa chi .

Riêng hai bàn tay có cả thảy 10 ngón tức là thập Thiên can. Thập thiên can phối hợp với Thập nhị Địa chi thành ra một cặp Âm Dương làm nên vũ-trụ càn khôn thế giới này. Kinh Phật-Mẫu có dạy:

"Thập Thiên Can bao hàm vạn tượng,
"Tùng Địa Chi hóa trưởng Càn Khôn."

Mười thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí, hiệp với 12 Địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, biến hóa ra hình tướng bao la làm cho thế giới rộng lớn thêm lên.

Đó là Bát-quái biến hóa vô cùng mới thành ra Càn Khôn thế giới.

b/- Giải nghĩa lạy chắp tay:

Người có hai bàn tay là đủ Âm Dương:

Tay trái là Dương. Tay phải là Âm. Mỗi bàn tay có 5 ngón, tượng Ngũ hành, nên chi hai bàn tay có đủ cả Ngũ hành Dương và Ngũ hành Âm, tức nhiên nắm vào tay hai con số ngũ, gọi là Nhị Ngũ (55).

 
   

Mỗi bàn tay có 5 ngón:

- Ngón cái gọi là mẫu chỉ (ngón mẹ của các ngón).

- Ngón trỏ gọi là thực chỉ (chỉ đúng sự thực).

- Ngón giữa gọi là trung chỉ (ngón ở chính giữa).

- Ngón áp út là Vô danh chỉ (ngón tay không tên).

- Ngón út gọi là Tiểu chỉ (ngón tay nhỏ nhứt)

Cách bắt Ấn Tý:

Trong số 5 ngón còn một ngón không tên kêu là vô danh chỉ. Sách có câu: "Vô danh Thiên Địa chi thủy" là trước khi Trời Đất chưa khai, thì một khí không không, sau khi định hội Tý mới mở Trời nên chữ Tý ở tại góc ngón tay vô danh. Khi mở Trời Đất rồi mới xuất hiện nên gọi là "hữu danh vạn vật chi mẫu" nghĩa là muôn vật có hình chất đều thọ nơi Mẫu mới hóa sanh.

 
   

Nay đến hội Tam Kỳ kiết quả, là độ hết cả quần linh về cõi Niết Bàn, chẳng để một điểm Chơn linh nào ở miền Đông độ, nên ngón tay cái là mẫu, chỉ vào chữ Tý của chính bàn tay này tức là cơ "Âm Dương hữu hạp biến sanh" còn lại 4 ngón, đó là Tứ Dương tượng cho 4 phẩm cấp: Thần, Thánh, Tiên, Phật. Còn bàn tay hữu là Âm, ngón cái chỉ vào chữ Dần tay tả, bốn ngón đều bao ngoài. Tay hữu là Âm, bốn ngón này là Tứ Âm, tượng 4 phẩm cấp thuộc hàng chúng sanh, đó là: Vật chất hồn, Thảo-mộc-hồn, Thú cầm hồn, Nhơn-hồn. Do vậy hai bàn tay là chỉ nhơn vật quần linh, tận qui nguyên vị. Gồm chung cả tám ngón tay tượng là Bát phẩm chơn hồn đều do Đức Phật-Mẫu tạo hoá.

Tay tả là Dương mà có ngón tay cái là Âm tự bấm vào, còn tay hữu là Âm mà có ngón cái chỉ vào cung Dần bên tay tả, để tất cả đều có Âm Dương hoà quyện vào nhau.

Vậy nên kinh Dịch nói: "Âm nội hữu chơn dương, dương nội hữu chơn âm. Âm dương lưỡng cá tứ, năng hữu kỷ nhơn tri".

Tay trái bắt Ấn Tý, nghĩa là trong Âm lại có Dương, trong Dương lại có Âm Hai ngón cái của hai bàn tay là đủ cả Âm Dương tức là hai ngôi. Khi lạy xuống thì hai ngón này gát chồng lên tréo nhau mà hiệp lại mới thành ra bốn.

Khi hai bàn tay chấp lại là mười ngón, ứng với Thập Thiên Can. Mỗi bàn tay có 5 ngón là Ngũ hành Dương hiệp với Ngũ Hành Âm.

Theo pháp Đạo Cao-Đài khi bắt Ấn Tý rồi lạy xuống thì hai ngón cái gát tréo lên nhau, ngón cái của bàn tay mặt đặt lên ngón cái của bàn tay trái, tức là lấy Âm bao Dương, hóa thành bốn. Hiệp lại với 8 ngón tay còn lại thành ra 12. Số 12 ứng với Thập nhị Địa chi. Như vậy với hai bàn tay có đủ Thập Thiên can hợp với Thập Nhị Địa Chi, tạo nên sự biến hóa, hợp với đức của Càn khôn vũ trụ.

Khoa Dịch lý cao siêu, thông hiểu luật của trời đất là lẽ biến hoá mà mình đang nắm cả vũ trụ vào trong tay.

Cách lạy qua ba thời kỳ:

1/- Nhứt kỳ Phổ-Độ: Đức Lão Tử giáng thế dạy Đạo Tiên, phải chắp hai tay kiết nhị, như bông sen búp. Khi lạy thì xoè hai tay úp xuống đất, cúi đầu xuống ba lạy kêu là khể thủ.

2/- Nhị kỳ Phổ-Độ: Đức Thích Ca giáng sanh dạy Đạo Phật, thì chắp tay hiệp chưởng hoa khai. Khi lạy thì ngửa hai bàn tay để xuống đất mà cúi đầu xuống, kêu là hòa nam.

Khi Đức Khổng-Tử giáng sanh dạy Đạo Thánh, cách lạy là cung tay đến mày mà lạy kêu là phủ phục.

3/- Tam-Kỳ Phổ-Độ: Nay Đấng Chí Tôn giáng cơ tiếp điển mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Hiệp đủ Phật, Thánh, Tiên là thời-kỳ kiết quả độ đủ chín mươi hai ức nguyên nhân về nơi nguyên thủy. Có câu: "Thiên Địa tuần hoàn châu nhi phục thỉ Tam Giáo qui nguyên" chắp tay hoa sen đã thành trái.

Buổi Tam-kỳ Phổ-Độ, trước khi lạy phải bắt Ấn Tý, gọi là Kiết quả, nghĩa là thời-kỳ này đã thành trái. Tu thì thành, dữ thì đọa.Thưởng phạt phân minh.

 

 

BÀI VỊ

簰 位
E: The tablet of the deceased.
F: La tablette du défunt.

Bài: cái thẻ bằng gỗ mỏng hay bằng giấy cứng có viết chữ trên đó. Vị: chỗ đứng. Bài vị, còn gọi là Thần chủ, là một tấm thẻ trên đó có ghi đầy đủ tên họ người chết, năm sanh, ngày chết, chức tước, quê quán, để tế lễ và thờ phượng.

 

 

BÀI BÁC

排 駁
F: Désapprouver.

Thầy dạy: Thứ hai, 6-12-1926 (âl 2-11-Bính Dần)

Than ôi! Ðiều vui sướng lao trần chẳng ai buộc mà nhiều kẻ tìm tới, mối đạo đức trau thân là phương châm thoát tục mà lắm kẻ trốn lánh, bài bác mối Ðạo Trời, khua môi uốn lưỡi, mà tưởng cho mình hơn đặng các phẩm nhơn sanh, chớ chẳng dè là một hình phạt rất nặng nề đã chực chúng nó nơi chốn A Tỳ.".

Thầy dạy: "Lễ Nhạc chẳng hoàn toàn, nhiều đứa cậy tài học giỏi lượm lặt sách xả rác hủ nho; mong bài bác đặng vinh mặt. Thầy bây giờ chỉnh để phú Thiên điều hành luật, ai biết nguồn cội, vội sửa mình; mới mong tránh khỏi lũ tà ma mà đi cho cùng bước Ðạo".

 

 

BÀI BẠC

Kinh Sám Hối có câu:

"Cũng đừng bài bạc lận nhau,
"Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu."

 

 

BÀI KHEN-NGỢI KINH SÁM-HỐI

(Giọng Nam-Xuân)

Nghe lời khuyến thiện rất may,
Nguyện lòng niệm Phật ăn chay làm lành.
Ngày ngày tập sửa tánh thành,
Đêm đêm tự tỉnh tu hành ăn-năn.
Một là hối-ngộ tội căn,
Hai là cầu đặng siêu-thăng cửu-huyền.
Đương sanh hạnh hưởng phước duyên,
Trong nhà già trẻ miên-miên thái-bình.
Sau dầu đến chốn Diêm-Đình,
Linh-hồn trong sạch nhẹ mình thảnh-thơi.
Luân-hồi trở lại trên đời,
Tiền công thì cũng Phật Trời thưởng ban.
Cầu xin trăm họ bình-an,
Nước giàu dân mạnh thanh-nhàn muôn năm.

 

 

BÀI THÀI

 

 

10 BÀI THÀI HIẾN LỄ ĐỨC PHẬT MẪU và CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG

- Diêu-Trì-Cung đến cho thi văn:

Lễ Hội-Yến Diêu-Trì-Cung lần đầu tiên được tổ chức tại nhà Ông Cao-Quỳnh-Cư ở địa chỉ 134 đường Bourdais Sài gòn ngày 15-8 Ất-Sửu (dl 2-10-1925).

Sau khi Đức Phật-Mẫu giáng cơ để lời cảm tạ 3 vị là Cao Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao-Hoài-Sang thì Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên-Nương viết ra 10 bài thi, mỗi vị viết một bài kỹ-niệm buổi Hội-Yến Diêu-Trì-Cung lần đầu tiên ấy.

Mười bài thi nầy về sau được dùng làm 10 bài Thài hiến lễ Đức Phật-Mẫu và Cửu vị Tiên-Nương mỗi khi tổ chức Lễ Hội-Yến Diêu-Trì Cung vào ngày rằm tháng tám.

Bài Thài hiến lễ Đức Phật-Mẫu

CỬU kiếp Hiên Viên thọ sắc Thiên,
THIÊN Thiên cửu phẩm đắc cao huyền.
HUYỀN hư tác thế Thần Tiên Nữ,
NỮ hảo thiện căn đoạt Cửu Thiên.

Diêu Trì Kim Mẫu

1- Bài Thài hiến lễ Nhứt Nương

HOÀNG-THIỀU-HOA
(Bửu-pháp Đàn Tỳ-bà)

HOA thu ủ như màu thẹn nguyệt,
Giữa thu ba e tuyết đông về.
Non sông trải cánh Tiên hòe
Mượn câu thi hứng vui đề chào nhau.

Nhứt Nương có bửu pháp là Đờn Tỳ bà, có nhiệm vụ cai quản Vườn Ngạn Uyển nơi từng Trời thứ 1 trong Cửu Trùng Thiên, xem xét các Nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui vị, vì mỗi đóa hoa trong Vườn Ngạn Uyển tượng trưng một Nguyên nhân.

2. Bài Thài hiến lễ Nhị Nương

(Bửu pháp là cái Lư hương)

CẨM tú văn chương hà khách đạo ?
Thi Thần tửu Thánh vấn thùy nhân?
Tuy mang lấy tiếng hồng quần,
Cảnh Tiên còn mến cõi trần anh thư.

Nhị Nương có bửu pháp là cái Lư hương, có nhiệm vụ cai quản Vườn Đào Tiên của Đức Phật Mẫu, đón tiếp các chơn hồn của những người qui liễu lên từng Trời thứ 2 của Cửu Trùng Thiên trong kỳ làm Tuần Nhị Cửu, mở tiệc Trường Sanh thết đãi, rồi đưa các chơn hồn đến Ngân Kiều, để cỡi Kim quang bay lên chầu Ngọc Hư Cung.

3. Bài Thài hiến lễ Tam Nương

(Bửu pháp là Quạt: Long Tu phiến)

TUYẾN đức năng thành Đạo,
Quảng trí đắc cao huyền.
Biển mê lắc lẻo con thuyền,
Chở che khách tục Cửu tuyền ngăn sông.

Tam Nương có nhiệm vụ chèo thuyền Bát Nhã trên biển khổ để rước những người đắc đạo từ bến mê qua bờ giác, đưa vào cõi Thiêng liêng Hằng sống và che chở Chơn linh của các khách trần không cho xuống cõi Địa ngục.

Tam Nương có bửu pháp là (Quạt) Long Tu phiến, có nhiệm vụ tiếp dẫn các Chơn hồn lên từng Trời Thanh Thiên, là từng Trời thứ 3 trong Cửu Trùng Thiên, trong kỳ làm Tuần Tam Cửu, để đưa chơn hồn đến diện kiến 7 vị Tiên (Chính là Trúc Lâm Thất Hiền vào thời nhà Tấn tu thành Tiên), vào Cung Như Ý bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân, học sách Trường Xuân do Hội Thánh Minh giao cho.

4. Bài Thài hiến lễ Tứ Nương

(Bửu pháp là Kim Bảng)

GẤM lót ngõ chưa vừa gót ngọc,
Vàng treo nhà ít học không ưa.
Đợi trông nho sĩ tài vừa,
Đằng giao khởi phụng khó ngừa Tiên thi.

Tiền kiếp của Tứ Nương tên Lê-thị-Gấm. Mới lên 9 tuổi, Gấm đã chết Nàng lại sinh vào nhà họ Lê, trong gia đình ông Lê-Doãn-Nghi. Ông Nghi có hai người vợ. Bà kế thất cùng ông sinh ra hai người con: một trai là Lê-Doãn Luân, một gái là Lê-Thị-Điểm. Trong một giấc mộng Ông Lê Doãn-Nghi nằm mộng thấy có vị Thần đến ban cho họ Đoàn. Từ đó về sau ông đổi ra họ Đoàn (chưa có tài liệu chính xác)

Tứ Nương có bửu pháp là Kim Bảng (Bảng vàng để ghi tên những người thi đậu Trạng Nguyên, Tiến Sĩ), nên Tứ Nương có nhiệm vụ tuyển chọn người đủ tài đủ đức cho thi đậu để ra giúp nước. Tứ Nương tiếp dẫn các Chơn hồn lên từng Trời Huỳnh Thiên, là từng thứ 4 trong Cửu Trùng Thiên. Nơi đây, Chơn hồn được vào Cung Tuyệt Khổ bái kiến Đức Huyền Thiên Quân, được roi thần của Lôi Công trừ hết các trược khí còn bám vào Chơn thần, vào Lầu Bát Quái, lãnh Kim Câu đi lên chờ ở cửa Thiên môn (Cửa Trời)

5. Bài Thài hiến lễ Ngũ Nương

(Bửu pháp là xe Như Ý)

LIỄU yểu điệu còn ghen nét đẹp,
Tuyết trong ngần khó phép so thân.
Hiu hiu nhẹ gót phong trần,
Đài sen mấy lượt gió thần đưa hương.

Ngũ Nương Diêu Trì Cung có bửu pháp là xe Như Ý, có nhiệm vụ tiếp dẫn các chơn hồn đến từng Trời Xích Thiên, là từng Trời thứ 5 trong Cửu Trùng Thiên, trong kỳ làm Tuần Ngũ Cửu, đưa chơn hồn đến Minh Cảnh Đài để xem rõ ràng trở lại tất cả những việc làm thiện ác vừa qua của chơn hồn nơi cõi trần, rồi hướng dẫn chơn hồn đến trước quyển Kinh Vô Tự để cho chơn hồn thấy được quả duyên của mình. Xong, đưa chơn hồn lên xe Như Ý, có các vị Oai Thần tiễn chân đi lên.

6. Bài Thài hiến lễ Lục Nương

(Bửu pháp là Phướn Tiêu Diêu)

HUỆ ngào ngạt đưa hơi vò dịu,
Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong.
Nương mây như thả cánh hồng,
Tiêu Diêu phất phướn cõi tòng đưa Tiên.

Lục Nương có bửu pháp là Phướn Tiêu Diêu (Phướn Truy Hồn) tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời Kim Thiên, là từng thứ 6 trong Cửu Trùng Thiên, đưa chơn hồn vào Cung Vạn Pháp xem cho biết rõ cựu nghiệp của mình, vào Cung Lập Khuyết xem ngôi vị cũ, đến Lãnh Kim Sa bái kiến Phật, chim Khổng Tước chở lên Đài Huệ Hương, để mùi thơm của Đài nầy khử hết trược khí,chơn thần thơm tho được lên cõi Niết Bàn.

7. Bài Thài hiến lễ Thất Nương

(Bửu pháp là Hoa sen)

LỄ bái thường hành tâm đạo khởi,
Nhân từ tái thế tử vô ưu.
Ngày xuân gọi thế hảo cừu,
Trăm duyên phước tục khó bù buồn Tiên.

Thất Nương có bửu pháp là Hoa sen, có nhiệm vụ tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời Hạo-Nhiên-Thiên là từng thứ 7 trong Cửu Trùng Thiên, đưa chơn hồn đến Cung Chưởng Pháp bái kiến Đức Chuẩn Đề Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát, được Phật Dà Lam dẫn đường đi đến cõi Tây Qui, rồi đứng trên bông sen thần (Liên Thần) để bông sen đưa lên cõi Niết Bàn. Thất Nương còn lãnh nhiệm vụ đến cõi Âm Quang để giáo hóa các Nữ hồn tội lỗi, khiến họ thức tỉnh mà cầu nguyện Đức Chí Tôn ân xá tội tình, được đầu kiếp lập công chuộc tội.

8. Bài Thài hiến lễ Bát Nương

(Bửu pháp là Giỏ Hoa lam)

Hồ Hớn Hoa Sen Trắng nở ngày,
Càng gần hơi đẹp lại càng say.
Trêu trăng hằng thói dấu mày,
Cợt mây tranh chức Phật Đài thêm hoa.

Bát Nương có bửu pháp là Giỏ Hoa lam, có nhiệm vụ tiếp dẫn các chơn hồn đến từng Trời Phi Tưởng Thiên, là từng Trời thứ 8 trong Cửu Trùng Thiên, vào Cung Tận Thức bái kiến Đức Từ Hàng Bồ Tát, chơn hồn được con Kim Mao Hẩu đưa đến tận Tịch San, rồi đi lên cõi Niết Bàn. Chơn hồn còn được các Đấng dùng nước Cam Lồ rửa sạch nỗi ai bi của kiếp người.

Bát Nương rất thường giáng cơ dạy Đạo, cho rất nhiều thi văn hay tuyệt. Bà có nhiệm vụ yếu trọng trong Cơ Đạo này.

9- Bài Thài hiến lễ Cửu Nương

(Bửu pháp là Ống Tiêu)

KHIẾT sạch duyên trần vẹn giữ,
Bạc Liêu ngôi cũ còn lời.
Chính chuyên buồn chẳng trọn đời
Thương người noi Đạo, Phật Trời cũng thương.

Tỉnh Bạc Liêu, quê hương Cô Cao thị Khiết. Cô mất năm 25 tuổi, mộ của Cô được làm bằng đá xanh rất chắc chắn và hùng vĩ, trong phần đất tư của dòng họ Cao Triều dành làm nghĩa trang. Vị trí ngôi mộ nầy nằm cách Thị xã Bạc Liêu chừng 2 km đi về hướng Vĩnh Châu. Dân quanh vùng gọi là mộ Cô Tiên.

Cửu Nương có bửu pháp là Ống Tiêu, có nhiệm vụ độ dẫn các chơn hồn đến từng Trời Tạo Hóa Thiên, là từng Trời thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên, vào Diêu Trì Cung bái kiến Đức Phật Mẫu, được ban thưởng cho trái Đào Tiên và uống Tiên tửu, được học tập nghi lễ của Thiên Triều để chuẩn bị đi lên Ngọc Hư Cung khi có sắc lệnh kêu, để các Đấng trong Ngọc Hư Cung định phận: Thăng hay đọa.

Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu-Trì-Kim-Mẫu có lời khen nhất là ba vị Tiên Nương này:

Đắc truyền khai mối Tam-Kỳ,
Dưới tay cậy có Diêu-Trì Cửu Nương,
Chín Cô đã sẵn lòng thương,
Mê tân độ chúng buồm trương thoát vòng.
LỤC- NƯƠNG phất phướn truy hồn,
Tang thương nay lúc bảo tồn chúng sanh
BÁT-NƯƠNG thật Đấng Chí-linh,
Cùng chung giáo hóa ân cần lo âu.
THẤT-NƯƠNG khêu đuốc Đạo đầu,
Nhờ Người gợi ánh nhiệm mầu huyền-vi.

Bài Phật-Mẫu Chơn Kinh, do Bát Nương giáng cơ ban cho tại Báo Ân Đường Kim-Biên ở thủ đô Nam Vang (Cao Miên), do Đức Hộ Pháp và Ngài Cao Tiếp Đạo phò loan tại đó.

 

BÀI THÀI HIẾN LỄ CÁC BẬC TIỀN BỐI

Ðức Quyền Giáo Tông
(Ngoài ra còn Cúng Tế vào Hàng Tiên vị)

Sinh: năm Bính Tý (1876).
Qui: ngày 13-10 Giáp Tuất (dl 19-111-1934).
Thọ 59 tuổi.

Bài thài hiến lễ

Càn Khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm, rêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo, xủ phướn tiêu diêu.
Bầu linh khổ hải, đưa thiêu cạn,
Gậy sắt nhơn sanh, chống dắt dìu.
Muôn dặm cửa Tiên, chờ bước tục,
Cỡi lau trở gót, ruột trăm chiều.

Ðức Hộ Pháp
(Ngoài ra còn Cúng Tế vào Hàng Tiên vị)

Sinh: 05-05-Canh Dần (1890).
Qui: 10-04-Kỷ Hợi (1959).

Bài thài hiến lễ

Trót đã ba năm ở xứ người,
Ðem thân đổi lấy phút vui tươi.
Ngờ đâu vạn sự do Thiên định,
Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.
Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi,
Buồn nhìn cội Ðạo luống chơi vơi.
Rồi đây ai đến cầm Chơn Pháp,
Tô điểm non sông Ðạo lẫn Ðời.

Ðức Cao Thượng Phẩm
(Ngoài ra còn Cúng Tế vào Hàng Tiên vị)

Sinh: năm Mậu Tý (1888).
Qui: ngày 01-03-Kỷ Tỵ (1929).

Bài thài hiến lễ

Ngảnh lại mà đau cảnh đoạn trường,
Cõi Thiên mừng đặng dứt dây oan.
Nợ trần đã phủi, lòng son sắt,
Ngôi vị nay vinh, nghĩa đá vàng.
Cổi tấm chơn thành, lòa nhựt nguyệt,
Phơi gan chí sĩ, nhuộm giang san.
Bốn mươi hai tuổi sanh chưa phỉ,
Ðể mắt xanh coi nước khải hoàn.

Ðức Cao Thượng Sanh
(Ngoài ra còn Cúng Tế vào Hàng Tiên vị)

Sinh: 29-07-Tân Sửu (dl 11-09-1901).
Qui: 26-03-Tân Hợi (1971).

Bài thài hiến lễ

Từ lúc đưa tay nắm Ðạo quyền,
Nguyện đem thi thố tấm trung kiên.
Ðộ đời quyết lánh vòng danh lợi,
Trau chí tìm roi bậc Thánh Hiền.
Từ ái làm nền an thổ võ,
Ðức ân dụng phép tạo nhơn duyên.
Những mong huệ trạch Trên nhuần gội,
Sứ mạng làm xong giữ trọn nguyền.

Bài thài chung Lễ Kỷ Niệm Thời Quân Hiệp Thiên Ðài

Bài thài hiến lễ

Tướng soái Thời Quân đã đạt thành,
Công trình lập Ðạo sử nêu danh.
Ngàn năm để tiếng đời ca tụng,
Không hổ mặt mày với kiếp sanh.

Bài thài chung Lễ Kỷ Niệm Ðầu Sư Cửu Trùng Ðài

Bài thài hiến lễ

Tu thân giáo hóa chỉnh đời thanh,
Ðồng chúc lê dân hưởng phước lành.
Cõi tục cầu an kinh tụng niệm,
Lời truyền nguyện thấu đến cao xanh.
Mưa nhuần gió thuận Nghiêu Thang tịnh,
Nắng tốt tuyết hòa Thuấn Võ thanh.
Ðồng hưởng đời đời câu thạnh trị,
Tiêu diêu khoái lạc chí hùng anh.

Bài thài của Ba vị Tướng soái của Chí-Tôn: Đã biết trong Bàn "Hội-Yến Diêu-Trì-Cung" có cả ba vị: Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng Sanh cùng ngồi dự. Ngày sau dầu các Ngài đã qui Tiên hết nhưng đến ngày Đại Lễ Hội-Yến có thài 10 bài để hiến Lễ Diêu-Trì-Cung thì cũng tiếp theo là ba bài thài của Ba vị Tướng soái của Chí-Tôn nữa. Ba bài này cũng do từ khi các Ngài vừa qui Tiên liền giáng Cơ cho dùng để cúng tế mỗi lần cúng vía riêng của mỗi Đức Ngài.

 

BÀI THÀI ĐỨC NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN (Victor-Hugo)

(ngày 22-5 Dl. Bài Thài giọng Đảo (12 bước).

Bài thài hiến lễ

Nguyệt rạng Đông phương đã sáng soi,
Tâm linh chiếu thấu bốn phương Trời.
Chơn truyền Cứu Thế xa tai ách,
Nhơn Đạo tuần hoàn độ khắp nơi.

 

Đọc KINH bài Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn

Bạch-vân-Động đèn lồng chói tỏ,
Thanh Sơn Đài Diệu Võ Tiên ông.
Bấy lâu tu luyện dày công,
Đắc thành chánh quả độ trong Tam-Kỳ,

Nguyễn Bỉnh Khiêm tầm Tiên ẩn dạng,
Trình Quốc Công là Trạng nhà Nam.
Sớm khuya ở chốn thanh am,
Tu tâm luyện tánh chẳng ham mến trần.

Tầm chơn lý ngõ gần Điện Thánh,
Học vô vi đặng lánh phàm gian,
Thú vui hai chữ thanh nhàn,
Thung dung tự toại chẳng màn đai cân.

Dạy đệ tử ân cần mối Đạo,
Truyền phép mầu Chưởng Đạo Nguyệt Tâm,
Âu bang trần thế giáng lâm,
VICTOR là họ, tên nhằm HUGO.

Nhà văn sĩ bày phô lẽ chánh,
Nắm kinh luân nặng gánh cơ đồ,
Nhà nhà có phúc hồng phô,
Cũng nhờ kinh sách Hugo dạy truyền.

Đầu vọng bái tiền hiền Chưởng Đạo,
Chứng lễ thành lòng thảo chúng sanh.
Ban ơn nhỏ phước dân lành,
Vun trồng cội Đạo trổ nhành đơm bông.

Từ Bính Dần bóng hồng Phổ Độ,
Chói Càn khôn cứu khổ nhơn sanh.
Nhờ ơn các Đấng trọn lành,
Giáng Cơ chỉ bảo mối manh Đạo Trời.

Năm Đinh Mão phổ thông Tần quốc,
Đức Nguyệt Tâm đắc nhứt chỉ truyền.
Lập thành Hội-Thánh Kim-biên,
Mở mang đạo cả ban truyền ngoại giao.

Ơn giáo hoá đồng bào Kiều Việt,
Đức Từ bi chi xiết gội nhuần.
Hiện nay đạo hữu vui mừng,
Tự do tín ngưỡng nhờ chung Đức Ngài.

Lễ kỹ niệm phô bày nghiêm chỉnh ,
Dâng tấc thành cung kỉnh Thánh linh.
Mong nhờ lượng cả thinh thinh
Thi ân bố đức hoá sanh giúp đời.

 

CHỨC SẮC HIỆP-THIÊN-ĐÀI
(Hàng Tiên vi)

BẢO-PHÁP NGUYỄN TRUNG HẬU

Sinh: ngày 05-03-Nhâm Thìn (dl 01-04-1892).
Qui: 7-9-Tân Sửu (1961).

Bài 1: Lúc ban đầu thài hiến Lễ bài này trong vài năm

Nhà Phật hôm nay giữ Đạo mầu,
Phiền ba ngảnh lại có vui đâu?
Tẻ đường phi thị noi đường tịnh,
Tìm cửa Từ bi lánh cửa Hầu.
Xác thịt trải qua miền gió bụi,
Nắm xương nhờ gởi bóng tang du.
Lửa lòng giục tắt từ nay hẳn,
Giọt nước nhàng dương gội tấm sầu.

Bài 2: Sau đổi lại bài này Thài cúng hiến luôn

Tô điểm non sông ngọn bút Thần,
Cho Đời lẫn Đạo hưởng Thiên ân.
Cho mầm son trẻ sương đầm thấm,
Cho cội già nua mốc đượm nhuần.
Cho cảnh thanh bình về sớm sớm,
Cho lòng ưu-ái nhẹ lâng lâng.
Cho tình nhân loại se săn mối,
Cho khắp năm Châu bốn biển ngần.

BẢO-ĐẠO CA MINH CHƯƠNG

Sinh: Giáp-Tuất (1874).
Qui: ngày 19-10-Mậu Thìn (1928) Thọ 78 tuổi.

Thủ phận rước hồn kíp phục hồi,
Gạn công tính quả định theo ngôi.
Sạch trong tâm tánh lo trau trước,
Cân tạo song bằng chẳng để lơi.

BẢO THẾ LÊ THIỆN PHƯỚC

Sinh: ngày 4-6-Ất Mùi (1895).
Qui: 6g30 sáng ngày 17-3-Ất Mão (27-4-1975).

BẢO trọng Vạn linh hiệp Chí linh,
THẾ nguy chuyển loạn lập Hoà bình.
CỨU đời mở Đạo kinh luân sẵn,
NƯỚC Việt trông chờ sách cứu tinh.

HIẾN PHÁP TRƯƠNG HỮU ĐỨC

Sinh: ngày 02-02-Canh Dần (1890).
Qui: ngày 15-12-Ất Mão (1975).

HỮU ĐỨC mừng nay đã gặp Thầy,
Chẳng còn ao ước cái không hay.
Mừng nay gặp Đạo lòng mong muốn,
Chí quyết cùng nhau để hiệp vầy.

HIẾN ĐẠO PHẠM VĂN TƯƠI

Sinh: ngày 15-12-Bính Thân (dl 17-01-1896).
Qui: 23g đêm 08-4-Bính Thìn (dl 6-5-1976).

Nhằm ngày Vía Đản sanh Đức Phật Thích-Ca, hưởng Thọ 80 tuổi. Không có bài thài riêng, hành lễ đám tang tại tư gia gần cầu chữ Y, linh cữu đưa về đất nhà tại Cần Giuộc an táng, thài chung Bài Chư vị "Thập Nhị Thời Quân". Vì bị ngưng cơ Bút.

HIẾN THẾ NGUYỄN VĂN MẠNH

Sinh: Giáp-Ngọ (1894).
Qui: ngày 15-01-Canh Tuất (1970) Thọ 77 tuổi.

HIẾN mình cho Đạo buổi sơ khai,
THẾ cuộc vần xoay dạ chẳng nài.
CHƠN tánh quyết tâm lo lập đức,
QUÂN Thần vẹn nghĩa cảm bi ai.

KHAI PHÁP TRẦN DUY NGHĨA

Sinh: ngày 17-8-Mậu-Tý (1888).
Qui: ngày 22-01-Giáp Ngọ (1954).

Đã chán công danh dưới phép người,
Đem thân cửa Phạm để nên nơi.
Lóng chuông Bạch Ngọc hồi hồn tục,
Nghe trống Lôi-Âm tỉnh mộng đời.
Nắm pháp Thiêng liêng dìu Thánh vị,
Cầm cân công lý giữ ngôi Trời.
Dầu chưa trọn nghĩa Thiên Thơ định,
Giác ngộ dìu theo cũng kịp thời.

KHAI ĐẠO PHẠM TẤN ĐÃI

Sinh: ngày 28-7- Tân Sửu (dl 10-9-1901).
Qui: 21g10, ngày 19-02-Bính Thìn (dl 19-3-1976). Thọ 70 tuổi.

KHAI mở Cao-Đài độ chúng sanh,
ĐẠO mầu giải thoát giống dân lành.
CHƠN truyền cố vẹn Đạo nhà vững,
QUÂN quản dân quyền dứt chiến tranh.

KHAI THẾ THÁI VĂN THÂU

Sinh: Kỷ Hợi (1899).
Qui: 5g chiều, 02-6-Tân Dậu (dl 3-7-1981).

Không có bài Thài riêng. Lúc hành lễ tang Thài chung bài Chư vị "Thập Nhị Thời Quân" tại Cần giuộc và an táng cũng nơi đất nhà tại Cần giuộc. Lúc bấy giờ bị ngưng Cơ bút

TIẾP PHÁP TRƯƠNG VĂN TRÀNG

Sinh: ngày 25-10-Quí Tỵ (1893).
Qui: ngày 15-01-Ất Tỵ (Dl 1965). Thọ 73 tuổi.

TIẾP điển Trời ban độ chúng sanh,
PHÁP luân thường chuyển rạng Thiên đình.
CHƠN Như đắc vị nhàn Tiên cảnh,
QUÂN Thánh Thần minh kiến Đạo thành.

TIẾP ĐẠO CAO-ĐỨC TRỌNG

Sinh: ngày 20-04-Đinh Dậu (dl 21-05-1897).
Qui: ngày 23-5- Mậu Tuất (1958). Thọ 62 tuổi.

Cỗi xác phàm vui lại cảnh Tiên,
Độ sanh phỉ hiệp tạo nên giềng.
Tuồng đời dầu chẳng tròn Nhân Nghĩa,
Nợ Đạo rồi xong gát bút nghiên.
Cõi Thánh nhàn xem tranh đảnh Tuý,
Chơn mây ngẩn chạnh Bạn rừng Thiền.
Từ đây dạo khắp trời non nước,
Nâng giúp quần sanh hưởng huệ duyên.

TIẾP THẾ LÊ THẾ VĨNH

Sinh: Quí Mão(1903).
Qui: không biết ngày. Mất tích vào năm Ất Dậu (1945), lúc này Ngài được 43 tuổi. Không biết sống chết ra sao, không có Bài Thài hiến lễ và cũng không có ngày kỹ niệm.

THẬP NHỊ THỜI QUÂN

(12 Tướng soái của Thầy)
Thài nhập chung một Bài này

Tướng Soái Thời Quân đã đạt thành
Công trình lập Đạo sử nêu danh
Ngàn năm để tiếng đời ca tụng
Không hổ mặt mày với sử xanh.

BẢO VĂN PHÁP QUÂN

Cao Quỳnh Diêu (4-9).

Tuồng đời mộng ảo có chi mong,
Giành giựt càng thêm lắm bụi hồng.
Phú quí dường mây treo trước gió,
Lợi danh như bọt nổi trên giòng
Gặp cơn nước đổ giông tuông đến
Là buổi mây tan bọt há còn
Nào bẵng lánh mình xa bến tục,
Lần theo chơn Đạo bước thong dong.

 

CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI ĐẦU SƯ NAM PHÁI

Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh (Nguyễn Ngọc Thơ)

Sinh: năm Quí Dậu (1873).
Qui: 21-7-Canh Dần (1950). Thọ 78 tuổi.

Bài Thài hiến lễ

Tu thân giáo hoá chỉnh đời thanh,
Đồng chúc lê dân hưởng phước lành.
Cõi tục cầu an Kinh tụng niệm,
Lời truyền nguyện thấu đến Cao Xanh.
Mưa nhuần gió thuận Nghiêu Thang tịnh,
Nắng tốt tuyết hoà Thuấn Võ thanh.
Đồng hưởng đời đời câu thạnh trị,
Tiêu diêu khoái lạc chí hùng anh.

Ngài Đầu Sư Thái Bộ Thanh

Sinh: năm
Qui: ngày 27-9-Bính Thìn (1976).

Bài Thài hiến lễ

Giáo Tông ban chức Thái Đầu Sư,
Lao khổ bao nhiêu cũng chẳng từ.
Lục bá tam thiên công quả mãn,
Nhứt thời đắc Pháp ngộ Chân Như.

Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh

Sinh: năm Mậu Tý (1888).
Qui: 11giờ 30 Tý Thời, mùng 8 tháng Giêng Canh Tuất (1980).
Thọ 93 tuổi, ngay ngày Lể Vía Cúng Đức Chí-Tôn.

Bài Thài hiến lễ

SÁNG đèn cánh bướm phải điêu tàn,
Phải biết gần quan mới hiểu quan.
Thinh thế mượn con tua trả lại,
Thử chơn danh mối Đạo tìm đàng.

Ngài Đầu Sư Ngọc Nhượng Thanh

Sinh:
Qui: 12-9

Bài Thài hiến lễ

Từ thuở chung vai gánh Đạo quyền,
Đầu Sư phái Ngọc thọ ân Thiên .
Xả thân hành hoá gìn chung thuỷ,
Bũa đức dìu Nhân vẹn chí nguyền.
Khổ hành từng cam cơn gió ngược,
Gian lao lắm chịu buổi chinh nghiêng.
Qua bao thử thách lòng không nản,
Xông lướt sông mê vững lái thuyền.

 

CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI ĐẦU SƯ NỮ PHÁI
TAM VỊ NỮ ĐẦU SƯ

Nữ Đầu-Sư Lâm Hương-Thanh

Sinh: năm Giáp Tuất (1874).
Qui: 8-4-Đinh Sửu (dl 17-5-1937). Thọ 64 tuổi, đúng vào ngày Thánh Đản của Đức Phật Thích-Ca.

Bài thài hiến lễ

Đầy giỏ Hoa lam chất ái-tình,
Y theo mặt Luật của khuôn linh.
Thử căn linh thể nơi phàm tục,
Mới hưởng hồng-ân chốn Ngọc đình.
Nam-Hải là bờ ao Thất Bửu,
Tây-ninh nền Tổ quán Tam Thanh.
Thuyền Từ trở lái lìa sông Lệ,
Nhớ Bạn chơn mây gởi tấc thành.

Nữ Đầu sư Lâm Hương-Thanh

Nữ Đầu-Sư Nguyễn Hương-Hiếu

Sinh: năm Đinh Hợi (1886).
Qui: 14 giờ, 11-5 nhuần Tân Hợi (dl 3-7-1971). Thọ 85 tuổi.

Lúc sinh thời Bà đã tự tay viết Tiểu sử cho mình, hầu phút qui Thiên dùng làm bài Tế điện:

Bài thài hiến lễ

Tu hành gắng chí lập dày công,
Đến buổi chung qui hưởng phước hồng.
Cửa Đạo gay-go trường khổ hạnh,
Đường Tiên nhàn rỗi bước thong dong.
Lợi danh ví muốn cho đầy đủ,
Tội-lỗi càng thêm nỗi chất chồng.
Cuộc thế chẳng qua trò mộng ảo,
Ngày về nhắm mắt nắm tay không!

Nữ Đầu-sư Nguyễn Hương Hiếu

Nữ Đầu-Sư Hồ Hương-Lự

Sinh: 26-6- Mậu Dần (1878).
Qui: 22-11-Nhâm Tý (dl 27-12-1972). Thọ 95 tuổi.

Phút đăng Tiên của Bà được Hội-Thánh thiết đàn cầu Cơ, Bà Bát Nương giáng cho Bài thài để tế điện. Bà là vị Nữ Đầu sư Hàm phong vì tuổi Bà đã gần tròn thế kỷ.

Bài thài hiến lễ

HƯƠNG thơm ngào-ngạt Đạo Kỳ ba,
LỰ tỉnh hồng quần Thánh đức ca.
NƯƠNG bóng Từ-bi dìu chủng tộc,
NƯƠNG Cơ thoát tục thức con nhà.

Hương-Lự Nương Nương

 

BÀI THÀI HIẾN LỄ CÁC VỊ VƯƠNG THỜ NƠI BÁO QUỐC TỪ

"Vận mạng Việt Thường còn truân chuyên thống khổ, nên sau khi vua Gia Long tức vị thì nước Việt Nam bị Pháp tóm thâu làm thuộc địa. Một lần nữa, dòng châu kia chưa ráo, lệ thảm nọ lại tuôn, quân khí ta lẫy lừng định kế chống ngoại xâm. Ngặt nỗi sức yếu cô đơn, chư liệt Vương: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, lần lượt bị biếm và đồ lưu hải ngoại, rồi gởi xác nơi xứ lạ quê người. Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể cũng bôn ba ra khỏi nước, rồi khuất bóng ngàn thu nơi đất khách, song nắm tro được đem về đất nhà.

Chính Ðức Hộ Pháp buổi nọ thân hành vượt đại hải trùng dương qua xứ Phù Tang, thỉnh tro về cho còn di tích công thần nhà Nguyễn và nơi Chánh điện nầy là bài vị của Tứ vị Tiên Ðế đó.

Thương thay! Chí cả của chư Tiền Vương tuy bị chôn lấp trong thất bại, nhưng hồn nước Việt-Nam nhờ chí cao cả ấy mà tăng phần hiển hách, giữ mãi còn dân khí bất khuất trước sự bất công và sức mạnh.

Ngộ nghĩnh một điều và cũng là may mắn một dịp bất trùng lai là Tôi cùng ông bạn Thời Quân Tiếp Pháp, trong thời kỳ học hỏi riêng với các Ðấng thiêng liêng hồi năm Ất Mùi (1955), Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy chúng tôi thủ lễ, ba vị Cựu Hoàng đến:

* Ðầu tiên là: Việt Nam Ðại Quốc HÀM NGHI:

"Cô nhân thiệt cảm đội ơn sâu của Ngự Mã Thiên Quân, quí Thiên Sứ và Hội Thánh. Nhân nhìn lại xã tắc mà đau lòng, tuy trước đã chẳng nên trò, nay vẫn vậy. Thật là tang thương quá đỗi!

Nhìn ra xe ngựa cõi phồn ba,
Gióng trống trời Nam hiệp nước nhà.
Ðem mối cựu thù tô xã tắc,
Ðịnh giềng tân thế cứu san hà.
Vì do quyền lợi nên đành vậy,
Ấy bởi hư danh mới thế à!
Cứu khổ từ đây nhờ Ðạo pháp,
An dân lập quốc tại Kỳ ba.

Cô nhân xin cảm ơn và xin được phép lui gót.

* Kế tiếp là: THÀNH THÁI chi quân.

Xin chào chư Ðại Thiên Phong và Tiểu Thiên mạng.

Tách bước đồ lưu nhớ hận nhà,
Buồn cho thân thế đã về già.
Mong nhờ liệt sĩ toan trau sửa,
Ðắp điếm non sông gấm vóc ta.

* Ðoạn tới: Vua DUY TÂN.

Tiểu vị kính chào quí Ðại Ðức, quí Thiên ân.

Mở lối nghĩa nhân quét hận thù,
Qua dòng tân khổ Quốc gia thu.
Cái gia khô cổ, nay nhờ Ðạo,
Về cõi Hư linh cũng vận trù.

(Cái gia là con đa đa)

* Sau hết là: NGUYỄN CƯỜNG ÐỂ.

Kính mừng chư Chơn Quân và Thiên phong. Cười.

Xin để lời cám ơn và mừng Bảo Thế Chơn Quân chi đức.

Vị quốc bôn ba ở nước ngoài,
Chí mong chưa đoạt đoạn trần ai.
Tủi mừng đâu biết giờ tiền định,
May đặng duyên xưa ngự Quốc Đài.

Xin được kiếu."

 

Kinh Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để

(Giọng Xuân Nữ)

Thời gian thắm thoát trôi qua,
Nước non hớn hở cỏ hoa ngậm ngùi.
Đại Tường ngày tháng tới nơi,
Ai người thức dạ, ai người chí công?

Nhớ xưa Cường Để sổ lồng,
Bôn ba hải ngoại non sông một chèo.
Sĩ phu trong nước hướng theo,
Cánh bườm Bắc Hải con chèo Việt Nam.

Tăng Bạt Hổ với Sào Nam,
Ra đi vì nghĩa việc làm vì dân.
Nêu danh Cách mạng tinh thần,
Gọi người đồng chủng góp phần bước ra.

Khi Nhựt Bổn, lúc Trung Hoa,
Hoành Tân, Thượng hải những là nguy nan.
Gặp Dưỡng Nghị, Quốc sự bàn,
Tâm đầu ý hợp quan san chẳng từ.

Lương Ngọc Quyến với Thiên tư,
Chấn Vũ học hiệu tay cừ xuất thân.
Kỳ Ngoại Hầu trạc thanh xuân,
Cùng ăn cùng học chuyên cần anh em.

Tung hoành kể cả bao phen,
Xiêm La, Đức quốc chí bền xông pha.
Luân Đôn vận động nước nhà,
Toàn quyền xa lộ thiết tha yêu cầu.

Lạ thay là Kỳ Ngoại Hầu,
Nung gan đúc chí trước sau vững bền.
Non sông ghi dấu họ tên,
Một lòng vì nước chẳng quên vì nhà.

Bốn mươi năm Nhựt Bổn qua,
Tấm lòng vì quốc thân là cỏ cây.
Trời Nam hưng vận ngày nay,
Hồn về chín suối xác rày thành tro.

Ra đi bao nỗi hẹn hò,
Tinh Trung Báo Quốc ra tro cũng đành.
Nghìn thu tỏ mặt tài danh,
Sử xanh còn đó đành rành ghi tên.

Ngoài hoạt động chẳng ai quên,
Biết bao tác phẩm lưu truyền đến ta.
Đồng Minh Phục quốc lập ra,
Chính cương giải nghĩa những là tương thân.

Việt Nam nghĩa liệt trung Thần,
Những ai vì nước vì dân qua đời.
Quang Phục Quân, phương lược rồi,
Gọi người Quốc sĩ, gọi người trung can.

Thuốc tiên lấy, linh hồn đang,
Ngõ hầu bồi bổ ruột gan anh hùng.
Dân Bản chủ nghĩa thành công,
Ấy là phương sách hưng vong duy trì.

Dư Cửu niên, lai sở trì,
Đấy là chủ nghĩa thạnh suy nước nhà.
Chúc phần phiêu bạt cõi xa,
Một lòng vì nước vì nhà tận trung.

Thiên hồ, Đế hồ, trọn xong,
Ngài Cường-Để một tấm lòng xót xa.
Đến nay thân đã về già,
Nước nhà độc lập vẫn là lênh đênh.

Trăm năm ghi lại chút tình,
Võ toàn bất khả đinh ninh chẳng về.
Sắt son giữ trọn lời thề,
Biển Đông di hận hồn quê mơ màng.

Nắm tro giữ đất Phù-Tang,
Tiếng quyên réo rắt phụ phàng Trời xanh.
Gió đưa lay động bức mành,
Phải hồn Tinh Vệ xót tình tha phương.

Đại Tường gãy khúc đoạn trường,
Càng nhìn thấy cảnh càng thương nỗi lòng.
Xa xa nhắn với Hoá công,
Đau lòng quốc rủ uổng công Dã tràng.

 

Bốn bài thi giáng cơ của 4 vị Tiên Vương nói trên được dùng làm bài thài hiến lễ cho 4 vị khi cúng tế nơi Báo Quốc-Từ.

Mỗi năm, Hội Thánh có thiết lễ cúng tế thường lệ vào năm ngày là:

- Ngày 16 tháng Giêng âl: Thượng Nguơn.
- Ngày 10 tháng 3 âl: Giỗ Tổ Hùng Vương.
- Ngày 16 tháng 7 âl: Trung Nguơn.
- Ngày 16 tháng 8 âl: Trung Thu.
- Ngày 16 tháng 10 âl: Hạ Nguơn.

 

BÀI TẾ QUỐC SĨ TRÌNH MINH THẾ

Lỡ bước qua sông chẳng kịp đò,
Chí cao khéo định khỏi phiền lo.
Anh hùng định thế chưa an thế,
Chỉ biết mày râu chẳng vẹn trò.

 

BÀI THÀI TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

(Xem chữ "Chiến sĩ Trận vong" vần CH.)

 

CÚNG ĐÁO TUẾ

Bài thài (Tất cả 03 Bài đều giọng Đảo).

Tuần phạn (12 bước).

Trai phạn xin dâng thọ phước lành,
Nghìn thu hạnh đức rạng thinh danh.
Thuỷ chung vẹn giữ gương Nhơn Nghĩa,
Trọn hưởng hồng ân buổi Đạo thành.

Tuần Tửu (12 bước):

Hồng tửu kính dâng chúc thọ trường,
Tinh thần khí thể đặng an khương.
Tâm thành đức vẹn nêu gương Đạo,
Đất Việt trùng hưng hưởng thái bường.

Tuần Trà (12 bước).

Thanh Trà mỹ vị Lễ xin dâng,
Đáo tuế nhơn sanh chí Lục tuần.
Hạnh ngộ Tam-kỳ Thiên tứ phước,
Đạo thành Đời rạng hưởng phong thuần.

(ba bài đều 12 bước theo giọng Đảo)

 

Tiếp đọc bài KHÁNH CHÚC

(Giọng Nam Xuân)

Mừng nay đáo tuế chi kỳ,
Kỉnh dâng Khánh hạ lễ nghi trang hoàng.
Cầu cho thọ tỷ Nam San,
Miên trường bá tuế thanh quang tinh thần.

Tận trung ái quốc ưu dân,
Đạo Trời vẹn phận Nghĩa Nhân vẹn toàn.
Hưởng nhờ hồng phước rưới chan,
Thông minh Đạo lý dìu đàng (Nam, Nữ) .. nhi.

Phải trang cách vật trí tri,
Tửu trà thực phẩm lễ nghi chúc mừng.
Ngày nay Đáo tuế (lục…) tuần,

Chúc cho quí thể tinh thần an khương.
Chúc cho vạn sự thái bường,
Đạo thành Đời rạng miên trường bá niên.

 

CÚNG THẦN ĐÌNH

Bài Thài: Toàn bài giọng Đảo Ngũ Cung.
(Thài giọng Đảo Ngũ Cung. Thài suông, Lễ không đi)

NGHINH THẦN

Việt Nam an bờ cõi,
Quốc gia rày vận mở trùng hưng.
Hồng ân Thần huệ gội nhuần,
Hưng trung dân chúng Lễ mừng cầu an.

TỪNG HƯƠNG

Trầm đoàn khói toả năm mây,
Mùi hương phưởng phất cao bay chín từng.
Tường vân chiếu diệu muôn trùng,
Quốc dân mến đức tôn sùng oai linh.

TỪNG SƠ
(10 bước) xây Lưỡng nghi. Vô đầu đờn giọng Nam xuân, chầu đủ 4 lái, trống gài qua Đảo đủ 10 bước, bốn chữ cuối (hai chữ trước còn giọng Đảo, hai chữ sau trở sang Xuân).

Từng Sơ, lễ hiến Tôn Thần,
Phục hưng quốc vận muôn dân thạnh cường.
Tâm trung chống vững Miếu đường,
Tửu bôi cung hiến Quỳnh tương kỉnh thành.

Trổi xuân

TỪNG TRUNG
(8 bước) Xây Tứ Tượng, cũng giống như Từng Sơ.

Rượu đào kỉnh hiến Thần linh,
Oai linh chánh khí chứng minh nghi tiền.
Cúc cung lễ bái chí thiền,
Thù công báo đức phục nguyên hoàng đồ.

Lên Xuân

TỪNG CHUNG
(7 bước ) Xây Bát quái, cũng giống như trên.

Từng chung, cung hiến Quỳnh tương,
Thần ân Thánh đức nêu gương khí hùng.
Cảm thành lai cách đình trung,
Nguyện cầu quốc thới Lạc-Hồng vĩnh an.

Lên Xuân

TỪNG TRÀ
(Lễ đi suông như từng Hương).

Thành tâm lễ hiến thanh trà,
Thần ân bảo trợ quốc gia thạnh cường.
Việt Nam rộng mở biên cương,
Nhơn tâm cộng lạc thái bường muôn năm.

 

BÀI THÀI THÁNH TỔ

Đầu năm vào mùng 03 Tết cúng Tổ chung tất cả cho những nghề.Thài, chớ không đọc Kinh chi cả.

Nhớ ơn Thánh Tổ đã dày công,
Bá nghệ truyền ban các giống giòng.
Tô điểm văn minh ngày tỏ rạng,
Muôn dân vạn quốc thọ ân hồng.

 

BÀI THÀI HÀNG THÁNH
(Dâng Tam Bửu)

Từng Hương (Đờn giọng Đảo Ngũ Cung).

Nghệ hương hiến, nghệ hương tiền,
Trầm đoàn khói toả năm mây,
Mùi hương phảng phất thơm bay ngút trời.

Từng Hoa (Đờn giọng Nam Xuân) 12 bước.

Thoàn mây thuận gió cánh bườm trương,
Phàm Thánh chia đôi cảnh đoạn trường.
Hoa quả tinh vi xin hiến Lễ,
Thể lòng thành kỉnh tỏ tình thương.

Từng Tửu (Rượu) giọng Nam Xuân 12 bước.

Thoát trần roi dấu tiếng anh phong,
Sớm tối riêng vui cảnh bá tòng.
Kẻ ở người đi dòng lệ đổ,
Tửu quỳnh kỉnh hiến nghĩa đồng song.

Từng Trà (giọng Xuân, 12 bước).

Đạo Đời vẹn phận đắc Thiên ân,
Lưu để Thánh danh chốn mộ phần.
Đầu vọng bái anh linh chứng hưởng,
Trà hương tạm biệt khách dương trần.

 

BÀI THÀI HÀNG THIÊN THẦN

Phẩm Lễ Sanh, Giáo thiện, các phẩm tương đương.

Lấy toàn bài hàng Thánh để thài hàng Thần và cũng dâng Tam Bửu 12 bước, nhưng khác nhau vài điểm:

Từng hương (Đờn giọng Xuân Nữ)
Từng Hoa (Đờn giọng Nam Ai, câu thứ nhì: "Sanh tử chia phôi cảnh đoạn trường"
Từng Trà (giọng Nam Ai) 12 bước.

*** *** ***

Từng Hương (Đờn giọng Xuân Nữ).

Nghệ hương hiến, nghệ hương tiền,
Trầm đoàn khói toả năm mây,
Mùi hương phảng phất thơm bay ngút trời.

Từng Hoa (Đờn giọng Nam Ai ) 12 bước.

Thoàn mây thuận gió cánh bườm trương,
Sanh tử chia phôi cảnh đoạn trường.
Hoa quả tinh vi xin hiến Lễ,
Thể lòng thành kỉnh tỏ tình thương.

Từng Tửu (Rượu) giọng Nam Xuân 12 bước.

Thoát trần roi dấu tiếng anh phong,
Sớm tối riêng vui cảnh bá tòng.
Kẻ ở người đi dòng lệ đổ,
Tửu quỳnh kỉnh hiến nghĩa đồng song.

Từng Trà (giọng Nam Ai, 12 bước).

Đạo Đời vẹn phận đắc Thiên ân,
Lưu để Thánh danh chốn mộ phần.
Đầu vọng bái anh linh chứng hưởng,
Trà hương tạm biệt khách dương trần.

 

BÀI THÀI HÀNG VONG

Từng Hương (Đờn giọng Xuân Nữ) Lễ đi suông.

Nghệ hương hiến, nghệ hương tiền,
Trầm đoàn khói toả năm mây,
Mùi hương phưởng phất thơm bay ngút trời .

Từng Xan (Cúng cơm. Đờn bài Hạ).

Từng Sơ (Rượu) Giọng Nam Ai, xây đờn giọng Xuân Nữ. Lưỡng Nghi.

Hiến từng Sơ, hề hiến từng Sơ,
Vân ám đảnh hồ, long viễn tưu.
Hạc qui huê liễu, hạc qui trì,
Cồn dâu hoá bể, bể hoá cồn dâu.
Cơ tạo biến dời, người vật đổi,
Sanh ly tử biệt, mạng nơi Trời.

Từng Trung (Rượu) Ai, qua Xuân Nữ, xây Tứ Tượng.

Hiến từng Trung, hề hiến Từng trung,
(1)……………..nghĩa mặn nồng,
Ân thâm càng nhớ, luỵ khôn ngưng.
Nhựt nguyệt đôi vầng, soi nhắc bóng,
Hỡi ôi chiếu thấu thảm nơi lòng.

Từng chung (Rượu) Ai. Trở giọng Xuân Nữ. Xây Bát Quái.

Hiến từng Chung, hề hiến Từng Chung,
Dặm cũ khách đà, xa khổ não,
Nay (1) (Con, anh, em) hiu quạnh chốn trần gian.
Tiếng dế kêu đêm, sầu thắt dạ,
Nguồn sông Lệ chảy, ruột trăm chiều.
Oanh khóc năm canh, chiu chít bạn,
Ủ-ê cảnh cũ, bẩn-vơ tình.

Từng Trà: Đờn Xuân Nữ (Lễ đi suông).

Đơn tiện xin dâng một tấc thành,
Cõi Thiên khẩn vái có anh linh.
Mảnh lòng tha thiết ai ơi thấu,
Ngó liễu trông mây để tượng hình.

Ghi chú:
Bài thài từng trung, câu đánh dấu có số 1 và vài dấu chấm, ta lưu ý đọc cho thích hợp ý nghĩa của bài như:

Con tế Cha hoặc Mẹ: "Cắn muối trêu cơm nghĩa mặn nồng".
Vợ hoặc Chồng tế: "Tình ái cùng nhau nghĩa mặn nồng".
Em ruột tế Anh hoặc Chị: "Huyết mạch đồng môn nghĩa mặn nồng".
Tình bằng hữu bạn Đạo chánh tế: "Huynh đệ cùng nhau nghĩa mặn nồng".

Lễ xây Lưỡng-Nghi, Tứ tượng, Bát quái có nghĩa: Kiếp số con người cơ tiến hoá luân chuyển không ngừng, còn gọi là Pháp Luân thường chuyển.

Từ ngày Qui vị (chết) đến ngày Đại Tường được tính là 581 ngày, tức là 19 tháng 11 ngày.

 

 

BÀI TRỜI CÒN & BÀI MỪNG THAY

Thuở ban đầu mỗi khi Cầu Cơ thì đọc:

BÀI TRỜI CÒN (Bài đọc cầu cơ)

Trời còn sông biển đều còn,
Khắp xem cõi dưới núi non đượm nhuần.
Thanh Minh trong tiết vườn xuân,
Phụng chầu, hạc múa, gà rừng gáy reo.
Ðường đi trên núi dưới đèo,
Lặng tìm cao thấp phải trèo chông gai.
Phận làm con thảo há nài,
Biết thương Tiên, Phật, Bồng Lai mà tìm.
Xem qua xét lại cổ kim,
Một bầu Trời Ðất thanh liêm chín mười.
Vàng trau ngọc chuốt càng tươi,
Bền lòng theo Phật cho người xét suy.
Thần Tiên vốn chẳng xa chi,
Có lòng chiêm ngưỡng nhứt thì giáng linh.

Sau khi xong Đàn Cơ thì đọc:

BÀI MỪNG THAY

Mầng thay chi xiết nỗi mầng!
Hào quang chiếu diệu ngàn tầng khôn trung.
Hạc reo bay khắp dạo cùng,
Càn Khôn Thế Giái cũng chung một bầu.
Môn sanh thành kỉnh chực chầu,
Tửu trà huê quả mừng cầu Tiên Ông.
Nhang thơm tốc đốt nực nồng,
Ðèn lòa ngọn lửa tựa rồng phun châu.
Lạy mầng.

 

 

BÀI TRỪ TÀ THUYẾT

F: Faire disparaitre, extirper doctrine hétérodoxie.

Dimanche 28-10-1926 (24 tháng 10 năm Bính Dần)

Thầy dạy: "Một đàn cơ riêng biệt ít khi được thiết lập cho ai, mặc dầu lời thỉnh nguyện có quan-hệ cách mấy đi nữa cũng không đặng. Nhưng đối với con, Thầy được hiểu lòng nhơn đức, tánh từ-thiện của con, nên Thầy cho con được thỏa nguyện. Ngoài ý-chí đạo-đức của con, con còn có ý tìm hiểu giáo-lý mới mẻ nầy, giáo-lý mà một vài đồng bào của con đã giải thích xuyên tạc dưới một hình thức tinh ranh. Nơi xứ nầy dân tình rất thuần-hậu và ôn hòa nên Thầy đến cũng như Chúa Cứu Thế đã đến với chúng con để bài trừ tà thuyết và truyền bá chơn Ðạo trên toàn cầu.

 

 

BÀI XƯNG TỤNG CÔNG ĐỨC CHƯ PHẬT TIÊN THÁNH THẦN

F: Louer vertus des Divines.

Nguồn gốc: Khi mở Ðại-Ðạo Tam Kỳ Phổ-Ðộ, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Ðạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Ðường) dâng Kinh cho Ðại-Ðạo. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm 4 vị: Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, Thượng Giáo Sư Vương Quan Kỳ, đến Chi Minh-Lý thỉnh 6 Bài Kinh: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối, Kinh Cầu Siêu, Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần, làm Kinh dùng trong các thời cúng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

 

BÀI XƯNG-TỤNG CÔNG-ĐỨC
PHẬT, THÁNH, TIÊN, THẦN

(Giọng Nam-Xuân)

Hào-quang chiếu chín từng mây bạc,
Thần, Thánh, Tiên thừa hạc cỡi rồng.
Phép linh thiệt rất chí công,
Hóa sanh muôn vật, ngưỡng trông phước đời.

Trên Điện-Ngọc Vua Trời ngự giáng,
Trước đền vàng phán đoán phân-minh.
Cõi trần trung giái thinh-thinh,
Phàm gian lao-khổ đao binh tai-nàn.

Lòng Trời cảm cứu an lê-thứ,
Độ chúng sanh muôn xứ gội ơn.
Đạo Nho truyền dạy nghĩa nhân,
Văn-Tuyên Khổng-Thánh khuyến dân răn đời.

Ghi các sách ngàn lời để lại,
Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra.
Tây-phương cõi Phật chói lòa,
Từ-bi Phật-Tổ hải-hà độ dân (cúi đầu).

Lòng cảm xót dương trần lận đận,
Ra oai-linh tiếp-dẫn nhơn cầm.
Phổ-Đà có Phật Quan-Âm (cúi đầu),
Ra công cứu thế, ân thâm đức dày.

Nhiều kiếp đã đầu thai biết mấy,
Xuống Hồng-trần khuyến dạy thương sanh.
Lão-Quân ứng hóa Tam-Thanh,
Khuyên răn nhơn vật lòng lành chớ xao.

Cơ huyền-diệu Đạo Cao minh-chánh,
Hiển phép mầu ma lánh quỉ kiêng.
Trừ yêu có Thánh Tề-Thiên,
Qui-y Phật pháp ở miền Tây-Phương.

Oai bốn hướng Thần nhường quỉ sợ,
Đức ba giềng tế trợ thương sanh.
Hớn-Trào Quan-Thánh bia danh,
Trung, can, nghĩa, khí, háo sanh giúp đời.

Tuần ba cửa, cõi Trời đều dụng,
Xét bốn phương, dân chúng dữ lành.
Linh-Tiêu Thái-Bạch Trường-Canh,
Truyền tâu Đế-Khuyết dữ lành nhơn gian.

Chí từ-huệ giúp an lê-thứ,
Thông rõ đời nhơn sự kiết hung.
Đại-Tiên ở chốn Tiên-cung,
Lòng lành thi phú thung-dung độ người.

Ánh Xá-lợi sáng ngời Cực-Lạc,
Hiện kim thân Bồ-Tát hóa duyên.
Thiên-Cung: Tinh Tú, Thánh, Tiên,
Địa kỳ: Thần Tướng đàn tiền giáng-lâm.

Lòng sở vọng lâm-dâm tụng-niệm,
Xin giải nàn Nam-Thiệm Bộ-Châu.
Chúng sanh cảm đức cao sâu,
Rèn lòng, sửa nết, lo-âu làm lành.

 

 

BAN BỐ

頒 布
F: Promulguer, publier.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo cho hay, nếu Đạo Cao-Đài sẽ hưởng được cái hạnh-phúc vô ngàn của Đức Chí-Tôn ban bố ngày nay đã thiệt-tướng vì vinh-hạnh đó, Bần-Đạo đã lập được đại công đối với toàn cả con cái của Đức Chí-Tôn, Bần-Đạo đã lập được là nhờ cái quyền-năng vô đối của hạnh-phúc ấy."

 

 

BAN CAI QUẢN

班 垓 管
E: Managing board.
F: Comité administratif.

Ban: Một tổ chức gồm nhiều người có phận sự đặc biệt. Cai quản: Ðứng đầu coi sóc bao quát các công việc.

 

 

BAN CHỈNH ĐẠO (Chi Phái Bến Tre)

Ban Chỉnh Ðạo Bến Tre (1934). Là một Chi phái có ý chống đối Tòa Thánh Tây Ninh nhiều nhất. Ban Chỉnh Ðạo, đứng đầu là Ông Nguyễn Ngọc Tương (Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh, đắc phong Quyền Thượng Ðầu Sư) lập Chi phái Bến Tre. Ngài Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron kể ra 11 Chi phái vào năm 1948. Theo tài liệu nầy thì Ông Gabriel Gobron không cho Tòa Thánh Tây Ninh là một Chi phái, vì đây là cái gốc của Ðạo, cái gốc thì sanh ra các nhánh, sanh Chi phái. Theo ông Quế: Bến Tre (Ban Chỉnh Ðạo), quí Ngài: Tương, Trang. Phái Bến Tre hiện nay vẫn hoạt động như xưa và cố gắng củng cố nội bộ.

 

 

BAN ĐẠO SỬ

Sử liệu "rất quan trọng" trong nền Đạo và cũng là kho tàng vô giá cho thế hệ Tín hữu nối tiếp.

 

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tứ Thập Tứ niên)

Ban Đạo sử

Tòa Thánh - Tây Ninh



Số: 38/ĐS

 

THÔNG TRI (Số 2)

Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài
Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh kiêm Trưởng Ban Đạo-Sử

Kính gởi Chư Chức sắc, chư Chức việc và Đạo Hữu Nam, Nữ.
(nhờ sự ban hành sâu rộng của Hội Thánh Cửu Trùng Đài
và Hội Thánh Phước Thiện)

Kính chư quí vị,

Hội Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ đã chính thức thành lập BAN ĐẠO SỬ, Thư viện và văn khố. Lẽ ra việc này phải có sau khi khai Đạo một đôi năm, thâu nhặt liền những tài liệu liên quan về Sử Đạo để kết thành bộ Đạo-Sử để cho bổn Đạo cũng như toàn thể chúng sanh hiểu rõ những sự huyền vi mầu nhiệm của Đức Chí-Tôn, Đức Phật Mẫu cùng các Đấng Thiêng liêng đã ban cho dân tộc Việt Nam gội nhuần ân huệ. Nhưng vì Hội Thánh mãi lo bận việc phổ thông nền chánh giáo, nên mãi đến năm Mậu-Thân (1968) mới thực hiện được việc này. Lại tiếc thay nền Đạo phải chịu lắm cơn khảo đảo, nhiều cuộc thăng trầm, nên về tài liệu bị thất lạc quá nhiều, nào là bị cường quyền cưỡng đoạt, nào là vì cất dấu rồi hư hao nên cả Sử liệu từ ngày Khai Đạo đến năm Ất-Dậu (1945) phần nhiều còn thiếu sót.

Vậy Hội Thánh mong nhờ sự gia công đóng góp của toàn thể chư Tín hữu. Nếu ai còn giữ được Thánh Lịnh, Sắc Lịnh, Thánh huấn, Châu tri, Bố cáo, Nghị định và các loại văn kiện khác…của Hội Thánh từ trước xin vui lòng sao lục lại rồi gởi lại bản chánh về hiến cho Hội-Thánh (Ban Đạo-Sử) đặng tham khảo về Sử liệu để vào Văn khố; cùng các loại sách bất luận về Việt ngữ hay ngoại ngữ cũng xin hiến về cho Thư viện . Tất cả sách vở và văn kiện khi hiến về Hội-Thánh đều có ban cho Tờ Cảm tạ để làm kỷ niệm.

Cần thiết hơn nữa là các văn kiện do chính bút tích của quí Ngài tiền bối viết ra như: Đức Quyền Giáo Tông, Đức Hộ Pháp, Đức Cao Thượng Phẩm, quí Ngài trong Thập Nhị Thời Quân đã đăng Tiên; quí Ngài Chưởng Pháp, Đấu Sư, Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh, ba Chánh Phối sư và Phối Sư buổi đầu tiên, hoặc chữ ký tên và hình ảnh của quí Ngài tiền bối.

Về phần sau đây chẳng những tham khảo về Sử liệu mà còn để vào Bảo tàng viện về sau để cho đoàn hậu tấn được nhìn thấy chơn dung và bút tự của quí Ngài khai Đạo buổi ban sơ.

Rất mong sự hưởng ứng và ủng hộ nhiệt thành của chư Tín hữu. Nhân danh Trưởng Ban Đạo Sử xin chân thành cảm tạ toàn thể chư quí vị.

Nay kính
Tòa Thánh ngày 29 tháng 9 Kỷ Dậu.(dl: 08-11-1969)
Hiến Pháp Trương Hữu Đức
(Ấn ký)

 

 

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng

(Tứ Thập Tứ niên)

Ban Đạo sử

Tòa Thánh - Tây Ninh



Số: 39/ĐS

 

Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài
Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh kiêm Trưởng Ban Đạo-Sử

Kính gởi Ngài Khai Đạo Thống quản Phước Thiện,
Kính gởi Ngài Đầu Sư Chưởng Quản CTĐ Nam phái,
Kính gởi Bà Đầu Sư Chưởng Quản CTĐ Nữ-phái,

 

Trích yếu: V/v ban hành Thông Tri (số 2) về Đạo Sử,

Kính quí Hiền Huynh và Hiền Tỷ,

BAN ĐẠO SỬ có bản Thông tri số 2 gởi cho toàn bổn Đạo Nam, Nữ được hay: hiện nay Hội-Thánh vừa thành lập Thư viện và Văn khố do Ban Đạo Sử đảm nhiệm luôn, nên yêu cầu chư Tín hữu ai có tài liệu chi liên quan về Sử Đạo và các loại sách luôn cả Việt ngữ và ngoại ngữ xin vui lòng hiến về Hội Thánh đặng tham khảo về Sử liệu hoặc để vào Thư viện hay Văn khố.

Xin quí Hiền Huynh, Hiền Tỷ vui lòng cho Hội-Thánh Cửu Trùng Đài và Hội Thánh Phước Thiện Nam, Nữ quay Ronéo ra nhiều bổn để ban hành sâu rộng Thông Tri này cho toàn Đạo.

Xin chân thành cảm ơn. (Bản Thông tri đính hậu)

Nay kính
Tòa Thánh ngày 29 tháng 9 Kỷ Dậu.(dl: 08-11-1969)
Hiến Pháp Trương Hữu Đức
(Ấn ký)

__________________________

Số 002/ ĐS-SL Sao y bản chánh:
Kính gởi Hiền Hữu Ngọc Chánh Phối Sư cho Lại Viện quay máy bổn Thông tri số 38/ĐS, đề ngày 29-9-Kỷ Dậu (dl: 8-11-1969) ban hành cho toàn Đạo để giúp tài liệu cho Ban Đạo Sử theo Văn thư số 39/ĐS trên đây của Ngài Hiến Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh kiêm Trưởng Ban Đạo Sử.
(Đính hậu bản Thông tri (số 2) số 38/ ĐS)

Ngày 20 tháng 10- Kỷ Dậu.(dl: 29-11-1969)
Đầu Sư Thượng Sáng Thanh (Ấn ký)

Kính tường:
- Đức Thượng Sanh
- Ngài Hiến Pháp
- Hồ sơ.
__________________________

Văn phòng

Ngọc Chánh Phối Sư

***

Số: 024/NCPS/LP

 

Tư Lại Viện thi hành theo lời phê Số 002/ ĐS-SL ngày 20-10-Kỷ Dậu (dl: 29-11-1969) của ngài Đầu Sư dẫn chiếu chỉ thị số 39/ĐS ngày 29-9-Kỷ.Dậu (dl: 8-11-1969) của Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ pháp Chánh kiêm Trưởng Ban Đạo Sử.

Khi xong, giao hoàn Chỉ thị số 39 và TT số 2 của ngài Hiến Pháp lên văn phòng Ngọc Chánh Phối Sư để Hồ sơ

22-10-Kỷ Dậu (1-12-1969)
Ngọc Chánh Phối Sư

(Ký tên và đóng dấu)

 

 

BAN GIÁM KHẢO

班 監 考
F: Section d’examinateur.

THẤT NƯƠNG giáng nói: Em tỏ sơ, mỗi khi trong mình mấy anh có điều chi khác, hoặc đau lạ kỳ hơn kẻ khác, xin mấy anh không nên phiền phức. Ấy là các Đấng chuyển đa! Sửa tâm luyện tánh, tắm sạch phách hồn cho tinh chuyên, trong mấy điều sửa đổi đó, phải chịu hành xác chút đỉnh. Ấy là phận sự của kẻ chỉ giáo, còn phải chịu cho các vị Giám khảo hạch hỏi nữa nghe. Trong Ban Khảo lại chia làm hai Ban khác nhau:

- Một Ban khảo thí về tinh thần,

- Một Ban khảo thí về vật chất.

Phải biết phân biệt hai Ban nầy có lộn Quỉ vương nữa đa, vì Chí Tôn cho lịnh chúng nó.

Bạch: Xin Cô giải nghĩa giùm tinh thần và vật chất.

- Khảo về tinh thần là làm cho trí não mờ mệt, biếng nhác, hay quên, quạu quọ, bị kẻ khác sỉ nhục tên tuổi mình.

- Khảo về xác thịt: thì đau té, có khi bị chúng giọi đầu, gia đình lộn xộn, xào xáo chẳng yên.

Đó là em kể sơ qua, chẳng phải dễ đâu? Hữu duyên đắc ngộ, vô duyên muôn kiếp bất tương phùng. Biết Đạo mầu, nhà triệu phú muốn đổi cũng chẳng thèm. Thanh thì bần, trược lại phú. Có phân cây mới tốt, mà phân vẫn là chất trược. Phép nầy dễ học hơn hết. Hễ mỗi lần xác phách muốn làm điều chi thì mấy anh tự hỏi cái điều nầy: Ông Trời có làm đặng không ? Rồi mấy anh suy nghĩ cho đáo để sẽ trả lời cho phách của mấy anh. Mỗi lần cứ thi hành theo phương pháp ấy thì ngày sau có kết quả mỹ mãn.

 

 

BAN PHÉP LÀNH

E: To administer the sacrament of benediction.
F: Administrer le sacrement de bénédiction.

(Phép: Pháp thuật huyền diệu, vẽ bùa bắt ấn. Lành: ý nói điển lành - thanh điển). Phép lành là phép Bí pháp ban điển lành cho những môn đệ của Đức Chí Tôn. Trong cửa Đạo ngày nay, ngoài Đức Chí-Tôn là Đấng đủ quyền-năng ban phép lành, chỉ còn có Đức Hộ Pháp được quyền ban pháp lành mà thôi.

Đức Hộ-Pháp thuyết đêm 01-01-Ất Mùi (dl: 24-01-1955)

"Đêm nay, đêm giao thừa năm Ất Mùi. Cũng như các năm trước, Bần Đạo đã nhớ dường như Đức Chí Tôn khi mở Đạo ngày 15-10 năm Bính-Dần tại Chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén) Tây Ninh. Qua đầu năm Đinh Mão cũng giờ này, cũng đêm nay, khi hầu Đàn rồi phò loan Đức Chí Tôn đến. Đến rồi, vừa ký tên của Ngài (ký đặc biệt) cho chúng tôi hiểu. Ngài xách hai đứa đứng dậy hết, không biết làm gì, xô ra chính giữa, rồi viết trên không vậy, đoạn Ngài biểu cả thảy con cái của Ngài hiện diện nơi đó ra: "Thầy đưa Cơ lên các con chung ngang qua Cơ Thầy ban Phép Lành cho các con". Đức Cao Thượng Phẩm và Bần Đạo bị Đức Chí Tôn xách đứng lên ra ngay giữa Đại Điện đưa cần Cơ lên cho cả thảy con cái của Ngài Nam Nữ chung ngang qua.

Bần Đạo vâng mạng lịnh của Đức Chí Tôn, đêm nay Bần Đạo Ban Phép Lành cho toàn cả con cái của Ngài Nam, Nữ. Cả thảy cầu nguyện Đức Chí Tôn chan rưới "Hồng Ân Thiêng Liêng", Hồng Ân của Ngài rải khắp cho con cái Nam, Nữ." Khi xong, hai đứa đứng dậy, mỗi người đều chun dưới Cơ vậy hết. Hễ chun qua, Ngài vẽ gì đó không biết- trên đầu mỗi người. Đó là cái huyền bí của Đại Từ Phụ, mình không hiểu gì hết. Tới chừng rồi lại kêu: "TẮC, con coi đó đặng bắt chước Thầy nghe". Thiệt, Bần Đạo không hiểu gì hết, bắt chước nhưng làm sao giáng Cơ như Ngài, rồi cũng vẽ như vậy sao? Không biết mà không dám hỏi. Lâu quá rồi khi đó giáng Cơ nữa, dạy nữa. Bần Đạo hỏi:

- Dạ thưa Thầy, hôm Tết Thầy ban Phép lành cho cả con cái của Thầy mà Thầy biểu con coi đó đặng bắt chước, nhưng bắt chước làm sao mới được chớ ? Con có thể giáng Cơ như Thầy được đâu mà bắt chước? Đức Chí Tôn cười .... Ngài mới chỉ cái Bí-pháp Ban Phép lành là làm như vậy và giải nghĩa. Ngài nói: cái ấn tạo Càn Khôn Vũ Trụ là cái ấn Thái Cực với Lưỡng Nghi, nó thuộc về vô hình thể, tức nhiên về khí chất nên không hữu hình tướng, duy có cái ấn Tứ Tượng với Bát Quái, hễ hiển xuất ra rồi thì Vạn linh mới xuất hiện ra. Ấy vậy, con đưa cái ấn Tứ Tượng với Bát Quái ra, con trụ cả cái nguyên khí của Càn Khôn Vũ Trụ rồi con phân phát lên đầu mỗi đứa, vậy là Ban Phép lành đó. Nếu không nói rằng: Hễ con đưa nó lên đó, rồi nguơn pháp của con đó nó hiệp lại với huyền-khí tối linh của Thầy tức nhiên là cái quyền Chí Tôn của Thầy đó, thì cả con cái của Thầy mới được hưởng cái hồng ân đặc biệt về hồn, về phách và xác thịt của nó.

Nghe nói vậy, Bần Đạo mới hỏi: - Bây giờ ấn Tứ Tượng ra sao? ấn Bát Quái ra sao?

Thầy trả lời: Tay nầy để trên tay kia thành chữ thập là Tứ Tượng, rồi cái nầy có 8 cái cung của nó, tức nhiên là Bát Quái đó vậy. (Đức Hộ Pháp đưa hai tay ra làm kiểu mẫu) Rồi biểu để vậy đưa ra. Bần Đạo cũng đưa ra mà không hiểu biết, nên đưa tay ra trơ trơ mà không làm gì trong đó hết. Ngài nói cái pháp thủ để như vầy, nhưng Bần Đạo không biết làm sao. Vì tự thuở trước, Bần Đạo theo đạo Thiên-chúa, đâu có tin gì thứ đó. Đạo Gia Tô mà tin thứ đó đâu có được, từ nhỏ chí lớn là đại kỵ đó mà. Ngài bắt làm cái vụ nầy, Bần Đạo cũng đưa ra, rồi không làm gì hết. Sau bữa đó, Ngài thấy mỗi khi làm trật rồi Ngài lại rầy, Ngài nói: Con đưa ra cũng như không, cũng như khúc củi thôi.

- Dạ thưa Thầy, vậy chớ làm sao, con có biết đâu !

Ngài nói: Ờ, Thầy dặn con để pháp thủ như vầy.

- Đưa ra thì con cũng đưa ra chớ biết sao giờ?

Ngài nói: Con không trụ cái điển lực của con vô trong đó, trong pháp thủ của con, tức nhiên truyền thần vô đó, thì nó làm sao huy động trong Càn Khôn Vũ Trụ đặng? Không hành chơn pháp thì có gì hy vọng đâu? Giả tỷ như máy truyền thanh, thâu thanh của con hát đó chớ gì, hễ đưa nó ra, nó phải rung động mới được, là xao động cả Càn Khôn Vũ Trụ chớ. Đàng nầy con đưa ra như khúc củi, có làm gì đâu?

Bần Đạo hỏi: Truyền thần có phải như thể con phò loan hôm nọ, phải truyền thần, Cơ mới lên phải không?

Ngài nói: Thì vậy chớ sao!

Hôm trước Thầy không có nói, Thầy nói chỉ có một lần thôi, dặn ban phép tới kẻ cùng đinh.

Bần Đạo mới tò-mò hỏi: Cái đó là sao?

Ngài nói: Không có gì. Con ngó thấy máy truyền thanh, máy thâu thanh bây giờ trước mắt đó là cho mấy con dễ hiểu. Con nói tiếng là nó có thể thâu được. Bây giờ con có thể đứng ra huy động thì cả Càn Khôn nầy nó linh động chớ gì, mà khi nào cái pháp thủ của con nó linh động thì cái chơn pháp của Thầy thiệt hiện cho cái pháp thủ của con, rồi cả khối sanh lực Càn Khôn Vũ Trụ, trụ lại đó, rồi mới đưa tay ra như vầy, con rải trên đầu của mỗi đứa thì mỗi đứa hưởng, chớ có gì đâu.

Tại Bần-Đạo chưa hiểu tới chỗ đó, khi hiểu được điều đó mới có làm bây giờ đây, không thôi đâu có biết đâu mà làm. Hạng nhứt là những ấn khuyết thì lúc đó là đại kỵ với Bần Đạo, vì Bần Đạo không ưa thứ đó. Bần Đạo đâu có phải thầy phù thầy pháp gì mà ưa. Gốc là Gia-Tô-giáo nên Bần Đạo đâu có ưa thứ đó, nhưng biểu làm thì làm. Nhưng cái Ấn mà Đức Chí Tôn đưa cho đặng Ban Phép lành cho con cái của Ngài đến nay là trọng yếu hơn hết mà mai sáng đây, thì mấy người sẽ đến mừng tuổi, Bần Đạo sẽ Ban Phép lành cho, để tề tựu lại cho đông thiên hạ. Không biết chừng có người ngoài họ đi đâu lối đó, rồi làm bất tử, họ cũng hưởng được, cũng đỡ lắm chớ. Mình làm chuyện phước đức bất ngờ phải vậy không?

Thôi để mai rồi Ban Phép lành, đêm nay nghỉ, sáng mai tựu lại cho có mặt đầy đủ rồi sẽ Ban Phép lành. Nhớ à! Ai không có mặt không được hưởng thì chịu à!"

 

 

BAN QUYỀN - BAN QUYỀN HÀNH

班 權
F: Fournir pouvoir, autorité.

Đây là lời của Đức Hộ-Pháp trả lời ông Nguyễn Ngọc Tương, khi ông Tương bỏ Đạo nơi Tòa Thánh ra lập Chi Phái Bến Tre- Ban Chỉnh Đạo – buộc Đức Hộ Pháp phải trả lời cho ông trong kỳ hẹn và buộc Đức Hộ-Pháp phải đến dự "cuộc Công cử Giáo Tông" với mưu mô là toan truất phế Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn-Trung. Đức Hộ-Pháp trả lời thơ cho ông Tương hết sức nhã nhặn và sâu sắc. Bức thư số 5 Của Đức Hộ Pháp phúc đáp Thượng Tương Thanh.

Toà-Thánh Tây-Ninh le 27 Janvier 1935

"Bần Đạo cũng để hết ý để đọc thơ của Đạo Huynh, thầm hiểu rằng: giờ này Đạo Huynh vẫn tưởng cho Bần-Đạo rất hám vọng cái quyền-hành của Giáo-Tông nên cố tâm giành giựt. Đạo Huynh quên rằng: Bần Đạo đã là Người cầm quyền mà ban cho kẻ khác thì chẳng lẽ còn để lòng tham, ganh hiền ghét ngõ, có lẽ Đạo Huynh còn nhớ ngày 12 tháng 3-1932 là ngày thiết lễ rất long trọng tại Toà Thánh đặng Bần Đạo giao quyền Giáo-Tông cho Đức Thượng Đầu-Sư Thượng Trung Nhựt, ban quyền-hành Quyền Đầu Sư cho Đạo-Huynh và Ngọc Trang Thanh, Thái Thơ Thanh và ban quyền-hành Chánh Phối sư cho ba vị khác thì ngày ấy chính mình Bần Đạo đến ban quyền cho từng vị, chỉ trách-nhiệm cho từng người thì mỗi vị đều có trả lời với Bần Đạo "Tôi đã thấu đáo Chơn truyền của Đại-Đạo Tam kỳ Phổ-Độ và từ đây xin giữ y Luật Đạo đặng làm tròn phận sự". Cũng vì lẽ trên mà khi trước Bần Đạo mới thâu Quyền Chánh-Phối-Sư cho Hiệp-Thiên-Đài cầm.

Ngày nay cũng vậy, thoảng như Bần-Đạo thâu quyền lại đặng để hết dạ nhặc nhiệm phong thưởng dè-dặt là cố ý chọn Hiền Tài đặng đem vào Thánh-Thể của Thầy đó thôi. Bần-Đạo chẳng vì tình riêng của ai, cũng chẳng coi ai đáng giá hơn mà xu-phụ, cho nên vẫn lấy công bình mà ban thưởng quyền hành, chớ chẳng hề áp bức ai bao giờ!"

 

 

BAN QUYỀN GIÁO TÔNG PHẦN XÁC CHO THƯỢNG TRUNG NHỰT

Theo Đạo Nghị Ðịnh thứ hai: Đức Lý quyết định:

Ðiều thứ nhứt: - "Ban quyền hành cho Thượng Ðầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Giáo Tông về phần xác, còn phần Thiêng Liêng có Lão."

Đạo Nghị Định thứ bảy nhắc lại: "Chiếu y Ðạo Nghị Ðịnh số hai ban quyền Giáo Tông phần xác cho Thượng Trung Nhựt."

 

 

BAN SẮC

班 勅
E: To grant a royal decree.
F: Accorder un décret royal.

Ban: Cấp cho, tặng cho. Sắc: Tờ giấy viết lịnh của vua. Ban sắc là Ðức Chí Tôn ban lịnh truyền xuống thi hành.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh.

 

 

BAN SƠ

初 開
E: In the beginning
F: Au commencement

Ban: Ðương lúc, đang buổi. : Lúc đầu, lúc mới bắt đầu. Ban sơ là đang buổi khởi đầu, còn gọi là sơ khai.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ba con lãnh mạng lịnh lớn lao, vẹt đường tăm tối trong buổi ban sơ.

 

 

BAN NHẠC (Nơi Đền-Thánh)

F: Troupe d’ancien musiciens.

Trong các buổi Đại Lễ ban Nhạc thường ở trên Nghinh Phong-Đài và được một vị Chức-sắc trong Bộ Nhạc đứng ở giảng-đài Nữ-phái điều khiển, ban Nhạc được chia làm hai nhóm: nhóm Văn ban và nhóm Võ ban. Nhóm Văn ban gồm các loại đàn và nhóm Võ ban gồm các loại trống cùng các nhạc khí khác. Dưới đây là nhạc-khí của hai nhóm Văn ban, Võ ban.

-Nhóm Văn ban: Nhạc khí căn bản của Văn ban là cây Đàn Cò mà bất cứ một buổi cúng tế nào, dù Đại Lễ, Tiểu Lễ hay cúng thời, đều bắt buộc phải có. Còn các nhạc-khí sau đây nếu có đủ thì càng làm cho buổi lễ trang-nghiêm hơn, nếu thiếu một hai loại cũng không sao, như: đàn tranh, đàn kìm, đàn tỳ bà, đàn gáo, đàn sến, đàn tam, đàn độc huyền, ống sáo và ống tiêu. Như vậy tất cả các thứ đàn này đều xếp vào Văn ban.

Nguyên-nhân của sự sắp xếp này là vì các bản Nhạc thường có niêm thức, có lớp lang mà Nhạc-sĩ muốn đàn phải tấu cho đúng niêm-thức, đúng nhịp mới được. Các tiếng đàn khi tấu lên đều ăn khớp nhau, các âm thanh hòa lẫn nhau chứ không hề đối chọi hoặc tương phản nhau. Chúng ta hãy thử quan sát từng loại đàn một. Thánh-ý Đức Hộ Pháp dạy Chức sắc Bộ Nhạc dụng DIÊU CẦM làm biểu hiệu gắn lên áo mão từ phẩm Nhạc sĩ đến Nhạc sư.

 

 

A- NHÓM VĂN BAN:

1- Huyền sử cây DIÊU CẦM (Hay là Đàn Cầm)

Đức Hộ-Pháp tường thuật huyền sử cây DIÊU CẦM là môn nhạc khí thời Thái cổ. Đức vua Phục-Hy ngày xưa sống trong đạo luật thiên nhiên, luôn luôn chú ý đến những hiện tượng của ngày đêm trong Trời đất. Bởi lẽ ấy nên Ngài tìm thấy linh khí của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ rơi đọng trên cây Ngô đồng do chim Phượng, chim Hoàng từ bốn phương trở về nghỉ cánh. Phượng-Hoàng là Chúa tể loài phi cầm, ăn thì ăn hột trúc, uống thì uống suối ngọt, đậu thì đậu cây Ngô đồng. Đức vua Phục-Hy biết cây Ngô đồng là loại cây rất quý, đoạt được linh khí của tạo hóa. Ngài sai người đến đốn đi, chọn ba đoạn án theo thể Tam tài: Thiên- Địa- Nhơn.

- Đoạn trên gõ tiếng kêu vô cùng thanh thoát nhưng quá nhẹ,

- Đoạn dưới tiếng kêu chát đục lại quá nặng,

- Đoạn giữa thì vừa trong, vừa đục, vừa nhẹ lại vừa nặng.

Đức vua Phục-Hy cho dầm nước 72 ngày đêm. Vớt lên phơi sương nắng 36 ngày đêm, đoạn đem gát lên chỗ mát mẻ rồi chọn ngày lành truyền lịnh cho thợ khéo là Lưu Tử-Kỳ chế thành nhạc khí dùng trong các cuộc hòa tấu nơi Diêu-Trì-Cung nên có tên gọi là DIÊU CẦM. Cây DIÊU CẦM dài 3 thước 6 tấc 6 phân, án một vòng chu niên 366 ngày, mặt trước rộng 8 tấc, án theo bát tiết: Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập thu, Thu phân, Lập đông, Đông chí. Mặt sau rộng 4 tấc án Tứ thời: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Dày 2 tấc án Âm Dương, Lưỡng-nghi. Đầu Kim đồng, hông Ngọc Nữ, hồ rồng, ao phụng, trục ngọc, phím vàng. 12 tháng: cung theo 12 tháng, một phím chót cung vào tháng nhuận. Đàn có năm dây, ngoài cung theo Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Trong cung có Ngũ âm: Cung, Thương, Giốc,Chủy, Vũ.

Lưu-Tử-Anh nối nghiệp (tổ tiên Lưu Tử Kỳ) trước tác bản Nam Phong. Vua Thuấn dĩ đức khải DIÊU-CẦM, hát bản Nam Phong cảm hóa thiên hạ đặng thái bình, thạnh vượng. Đến cuối nhà Thương, Châu Văn-Vương bị cầm tù nơi Dữu Lý. Bá-Ấp-Khảo nhớ cha thêm một dây dạo lên nghe não nùng ai oán đặt tên là dây Văn. Đến Châu-Võ-Vương phạt Trụ, Võ Vương thêm một dây dạo lên nghe hùng tráng gọi là dây Vũ. Như vậy bấy giờ: Cung cả thảy là bảy dây: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, Văn, Võ.

Định ước thuở xưa có sáu điều không nên đàn:

1. Trời lạnh giá.

2. Trời oi bức.

3. Khi gió to.

4. Khi mưa to.

5. Khi sấm sét

.6. Trời đông tuyết đông.

Bảy điều kỵ không nên đàn:

1.Gặp đám tang.

2. Lòng không bình tĩnh.

3. Thân hình không trong sạch.

4. Áo quần không tề chỉnh.

5. Không đốt hương

6. Không vọng ân đức tiền nhân.

7. Không gặp tri âm.

 

Có tám thanh âm trác tuyệt: Thanh, Trì, U, Nhã, Bi, Tráng, Du, Dương. Khi xưa đàn đến chỗ nhập điệu sức cảm hóa cọp nghe không rống, vượn nghe quên hú, thật là một loại Nhạc-khí vô cùng diệu nhã. Theo thời xưa hễ ai học đến tuyệt kỹ đều hiểu biết cái giá trị của DIÊU CẦM.

Giải lý: Ngâm khúc gỗ ở chỗ nước chảy xiết trong 72 ngày: Đây là số tương ứng với sự phân chia trong năm. Theo lịch Hán Nôm, một năm chia ra làm 24 khí, hay là "Biến hướng vị của Hoàng-Đạo" Mỗi khí có 15 ngày và chia làm ba Hậu (thời-kỳ). Như vậy là 72 Hậu trong một năm..Ông Phục-Hi.đặt tên cây đàn này là Diêu-Cầm hay là Ghi-Ta Bích-Ngọc. Cây đàn dài 3 thước 6 tấc 6 phân. Tương-ứng với 366 độ của bầu trời. Trong Cầm thảo thì con số đó chỉ 366 ngày trong năm. Thước để đo là thước để kiến thiết, không hiểu nó có tương ứng với thước dùng bây giờ không? Thước hiện nay gọi là thước Ta chỉ bằng 0m40, loại 10 tấc và chia ra mười phân.

Chiều rộng đo 8 tấc, tương ứng cho 4 mùa.

Độ dày để chỉ hai nguyên tắc: Thiên và Địa.

Các trục bằng ngọc và các phím bằng vàng có 12 cái đó tương ứng với các tháng trong năm. Một phiếm thứ 13 chỉ tháng nhuận trong năm nhuận. Có 5 dây, đó con số Ngũ-hành và đồng thời là số của 5 âm phù chính: Cung, Thương, Giốc, Chuỷ, Vũ. Sau, Bá-Ấp-Khảo con của Văn-Vương thời Châu, có thêm dây thứ sáu gọi là Văn-huyền (dây Văn). Cuối cùng, thời Võ-Vương, ông này lại thêm dây thứ bảy gọi là Võ-huyền (dây Võ). Như vậy là 7 dây cả thảy, gọi là: Cung, Thương, Giốc, Chuỷ, Vũ, Văn, Võ. Các dây Văn và Võ tương ứng với Thiếu Cung và Thiếu Thương. Như vậy gọi chung 7 dây: Cung, Thương, Giốc, Chuỷ, Vũ. Thiếu Cung và Thiếu Thương, tương ứng với các Âm-phù bây giờ: Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Liu, U. Nhạc Âm chỉ có 7 Âm-phù: Do, Ré, Mi, Fa, Sol, La, Si. Cũng là tương-ứng với nhạc An-nam: Họ, Xự, Xừ, Xàng, Xê, Cống, Phàng. Cây Đàn Cầm cũng có nhiều tên: Cây Đàn của Vua Tuyên-Vương thời Châu gọi là "Hưởng phong" và nhiều tên khác nữa, như Xuân-phong, Lục-Ỷ, Tiên-vi…

Người ta bảo trong số người chơi ĐÀN CẦM xuất sắc có Bá-Ấp-Khảo, Đức Khổng-Tử, Du Bá-Nha, Tư-Mã Tương Như.

2- Đàn Sắc:

Trong cuốn "Đế-Vương Thế kỷ" cây Đàn Sắc là do Bào-Hy sáng chế. Đàn dài 7 thước 2 tấc và có 25 dây. Tam-Lễ đồ thì ghi là Đàn Sắc dài 8 thước 1 tấc và có 23 dây. Nhưng ngày nay nhạc cụ thường dùng là 19 dây. Dù bao nhiêu dây đi nữa cũng đếu lấy theo lý Dịch mà biến hoá. Nếu là 25 dây, thì dây giữa màu vàng và gọi là Quân quyền (Dây của Vua) và các dây khác màu đỏ. Các dây Đàn Cầm và Đàn Sắc đều bằng tơ, do đó người ta dùng ngôn-ngữ để gọi các dây của nhạc cụ là "Tơ đồng" có nghĩa là dây tơ và gỗ là Ngô đồng. Đàn Cầm và Đàn Sắc thường là một cặp Âm Dương hay là lời chúc đôi vợ chồng mới cưới. Rằng:

SẮC-CẦM mừng kết nghĩa lương duyên,
HẢO-HIỆP ba sinh vẹn ước nguyện
LOAN-PHỤNG sum vầy tơ tóc trọn
HOÀ- MINH hạnh phúc hưởng thiên niên.

3- Đàn Tranh (Thập Lục Huyền Cầm)

Nhạc trong cửa Đạo Cao-Đài:

DanTranh.jpg  
   

Đàn tranh cũng còn có tên là Thập-lục Huyền-cầm vì đàn này có 16 dây. Các dây này bằng đồng, đồng thau hay đồng thép, nhưng dài ngắn khác nhau, căng dùn thẳng không đều vì tùy theo nhu cầu âm thanh.Đàn tranh có một đầu nhỏ, một đầu lớn. Đầu nhỏ cao 20 phân 50 và đầu lớn cao 09 phân, dài độ 95 phân, rộng 13 phân, trông rất gọn gàng, đẹp đẽ.

Đàn Tranh hình hộp dài. Khung đàn hình thang có chiều dài 110-120 cm. Đầu lớn rộng khoảng 25 -30 cm là đầu có lỗ và con chắn để mắc dây. Đầu nhỏ rộng khoảng 15-20 cm gắn 16 khoá lên dây chéo qua mặt đàn.

Mặt đàn làm bằng ván gỗ Ngô đồng dày khoảng 0,05cm uốn hình vòm. Ngựa đàn còn gọi là con Nhạn, nằm ở khoảng giữa để gác dây và có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh.

Dây đàn làm bằng kim loại với các cỡ dây khác nhau. Khi biểu diễn: nghệ-sĩ thường đeo 3 móng vào ngón cái, trỏ, giữa để gẫy. Móng gẫy làm bằng các chất liệu khác nhau như kim loại, sừng hoặc đồi-mồi.

Âm sắc Đàn Tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi, trong sáng.

Đàn Tranh ít thích hợp với những tính cách trầm hùng, khoẻ mạnh.

Tầm âm Đàn Tranh rộng 3 quãng 8, từ Dô lên Dô 3. Đàn Tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Đàn tranh có thân tròn và đáy thùng phẳng, đáy của thùng đàn có ba lỗ hình dáng khác nhau: một lỗ hình bán nguyệt để máng dây đàn, một lỗ hình chữ nhật là nơi âm thanh phát ra và một lỗ hình tròn để treo dây đàn.

Trên thân dài (tức mặt đàn) khoảng giữa cây đàn, có mười sáu miếng gỗ hình dáng giống mười sáu con nhạn (có người gọi là con ngựa) đang bay, mỗi con nhạn có máng một sợi dây đàn và phát ra âm thanh riêng. Các con nhạn này có thể di chuyển tới lui để cho dây đàn căng hay dùn mà tạo ra những hơi nhạc khác nhau như hơi Bắc, hơi Nam, hơi Oán.

Điểm đặc biệt của Đàn Tranh là tiếng đàn phát ra thanh tao, trong lành, thanh thoát dịu như tơ và êm như nhung. Tiếng Đàn có đủ âm thanh trầm-bổng. Lúc lên thật bổng, lúc xuống thật trầm, lúc nhấn như mềm-mại, ngọt ngào làm cảm động tê tái lòng người, có lúc tiếng đàn giống như tiếng thì-thầm êm-ái của giai nhân, có lúc dường như tiếng suối chảy róc rách trong rừng sâu. Nguyễn-Võ trong bài thơ về "Đàn Tranh" nêu lên nhạc cụ này có 6 thước để chỉ sáu nhạc điệu của nguyên tắc Dương (lục Luật) và có 12 dây tương ứng với 12 tháng hay 4 mùa trong năm; nó còn có 3 tấc chiều cao, để tưởng đến 3 vị cao nhất: Trời - Đất- Người (Tam tài).

"Phong lục thống"ghi:"Đàn tranh phát ra một Âm thanh riêng biệt cho nước Tần mà người ta cho là sáng tạo ở Mông Điềm".Nhưng Phó-Tử không đồng ý-kiến. Ông phản đối rằng: Cây "Đàn tranh" phần đầu dòm lên để tượng trưng cho vòm trời, đáy là đất. Ở giữa rỗng để chỉ 6 hướng: Bắc, Nam, Đông, Tây, Thiên đỉnh (trên) và Thiên để (dưới) tức là Lục hiệp; 12 dây với 12 phím là số tháng trong năm. Đây là một sáng tạo đầy thông minh và duệ trí. Mông Điềm là đề tài của một triều suy đồi (Thời Tần) không thể có một sáng tạo như vậy được".

Dưới thời Tần, còn có nhiều sáng tạo Âm nhạc khác nữa. Còn việc thịnh suy của một triều đại là do định mệnh cả về phần của Vua lẫn phần của dân. Dầu Mông Điềm có khôn khéo nhưng triều đại không thể kéo dài hơn quá triều Nhị thế.

Cây Đàn Tranh mà chúng ta sử dụng ngày nay có 16 dây và dây đồng, nên người ta gọi là Thập Lục Huyền Cầm. Dù người ta không biết Nhạc cụ này sáng chế vào thời kỳ nào, nhưng cũng có thể tin chắc là một sự biến chế của "Đàn Sắc" dưới thời Thanh, vì dưới triều đại Trung Hoa ấy, người ta có nhiều cải tổ lớn về Nghi lễ và Âm nhạc. Các Nhạc công xưa có tiếng về "Đàn tranh" là Tần-Tố-Nữ, Triệu Nữ, Lý Thanh Thanh, Sử Tùng, Lý Tùng châu". (Trích "Những người bạn Cố đô Huế" Tập IV.tr.94)

Thật ra: Bất cứ thời đại nào cũng luôn có người thông thái ra giúp nước. Chính cái chỗ nước loạn mới có Đấng Minh quân cần đến để vỗ an thiên hạ. Cũng như Việt-Nam đến chỗ tận cùng đau khổ: Ngàn năm nộ-lệ Tàu, trăm năm nô lệ Tây, 30 năm nội chiến từ ngày. Dân Việt-Nam mới được một nền Đại Đạo, mới được hưởng một ân huệ đặc biệt của Đức Chí-Tôn như ngày nay.

ĐỘC TẤU ĐÀN TRANH

Hay Dạo đàn cảm tác của bà BÁT NƯƠNG DTC

Gượng khải năm âm giải tấm lòng,
Nhắn đưa gió ái đến thu song.
Gióng dây lìa nhạn sầu nghiêng ngửa,
Dở ngón rơi loan thảm chập chồng.
Lầu Phụng mơ-màng nghe quyển địch,
Cung Tần văng vẳng lóng tơ đồng.
Chia đôi bóng nguyệt còn phân nửa,
Gối lạnh thương ai luống não nồng.

Bát-Nương Diêu-trì-Cung
(21-2-1929)

 

HỌA VẬN

Năm âm mượn bực tỏ tơ lòng,
Đàn "Bắc" ra " Ai" Oán dội song.
Tiếng thảm làm cơm tràn quá chén,
Hơi sầu dồn gối chất nên chồng.
Tranh Tần ghẹo khóc người cung lãnh,
Tỳ Hớn khêu đau khách ải đồng.
Nhạn lạc lìa cung đành lỗi nhịp,
Cậy lằn phong nguyệt nhắc duyên nồng.

ĐỨC HỘ PHÁP

 

HỌA VẬN

Trổi giọng thinh âm tỏ nỗi lòng,
Tựa màn ánh nguyệt vặc dòm song.
Cung đàn rỉ rả thưa rồi nhặt,
Dạng khách nhớ nhung chất lại chồng.
Nhấn ngón dường khêu lời hải thệ,
Búng dây như thúc dải tâm đồng.
Nỗi tình nỗi hiếu vai oằn oại,
Giọt lệ rưới lau tâm nghĩa nồng.

Mỹ Ngọc - Bảo Văn Pháp Quân

 

HỌA VẬN

Một mối sầu tư bận tấc lòng,
Cậy đờn dập thảm dựa đơn song.
Trông tình sông Ngự dây loan đứt,
Đợi ngọc cầu Lam tuổi nguyệt chồng.
Gởi nhớ nhờ mây trao bức hẹn,
Hoà thương cậy gió nhắn câu đồng.
Xa duyên chinh nhạn đành ngưng ngón,
Chén ái đêm đông phảng phất nồng.

Chánh-Đức tức Cao Tiếp-Đạo

4- Đàn Tỳ-Bà:

   
       

Tỳ Bà tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người Việt. Nhiều tài liệu đã cho biết, Tỳ Bà xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa, rồi ở Nhật Bản với tên gọi BiWa. Người ta chế tác Tỳ Bà bằng gỗ Ngô Đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Đầu đàn (hoặc thủ đàn) cong có chạm khắc rất cầu kỳ, khi là hình chữ thọ, khi là hình con dơi. Nơi đầu đàn gắn bốn trục gỗ để lên dây. Toàn bộ chiều dài của thân đàn có số đo từ 94-100 cm. Phần cần đàn có gắn 4 miếng ngà voi cong vòm lên gọi là Tứ Thiên Vương. Tám phím chính làm bằng tre hoặc gỗ gắn ở phần mặt đàn cho các cao độ khác nhau. Thuở xưa dây đàn se bằng tơ tằm rồi đem vuốt sáp ong cho mịn, ngày nay người ta thay dây tơ bằng dây nilon. Đàn có 4 dây lên theo 2 quãng 4, mỗi quãng 4 cách nhau một quãng 2: Đồ - Fa - Sol - Đô1 hoặc Sol -Đô1 - Rê1 – Sol 1. Khi chơi đàn nghệ nhân gẩy đàn bằng miếng đồi mồi hoặc miếng nhựa. Ở Việt Nam đàn Tỳ Bà có mặt trong các dàn nhạc: Nhã nhạc, Thi nhạc của cung đình, Thiền nhạc của Phật giáo, ban Nhạc tài tử, Phường bát âm, Dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Mặc dù đàn Tỳ Bà có xuất xứ từ các nước khác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn của Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc. Thích danh ghi: Đàn Tỳ-Bà sáng chế tại thời Hồ (Mông Cổ). Đây là cây Đàn để tiêu-khiển lúc cưỡi ngựa và hành trình. Gảy dây từ dưới lên trên gọi là "Tỳ" và từ trên xuống gọi là "Bà". Từ đó đàn có tên là TỲ-BÀ. Trong thơ Thuý-Kiều, người ta gặp câu này: "Trong nghệ-thuật cao quí, nàng giỏi Hồ Cầm" chính là Đàn Tỳ-Bà. Thích-Trí-Tượng Nhạc lục có chép rằng:

"Đàn Tỳ-Bà sáng chế do Đỗ Chi đời Tần xây thành quách lớn là Vạn lý Trường thành. Thấy những người dân lao động mệt nhọc. Đỗ Chi sáng chế Nhạc cụ này để tiêu-khiển. Ngày xưa ở xứ Tề có hai người bạn thân thiết tên là Quản Trọng và Bảo-Thúc-Nha. Trong thời nội chiến làm cho thất vọng với thời kỳ đó. Quản Trọng giúp chúa cũ qua lánh nạn bên xứ Lỗ, còn Bảo-Thúc-Nha giúp Chúa trẻ Tiểu-Bạch qua ẩn bên xứ Lữ. Sau này, Tiểu-Bạch trở về nước và lên ngôi, đó là vua Hoàng-Công. Thúc-Nha tâu với vua nên dùng Quản Trọng. Nhưng có thể nước Lỗ không trả Quản-Trọng do Ông này có tài nên Đại-sư bày ra một cớ: Ông tâu với Vua Lỗ là Hoàng Công không có ý dùng Quản-Trọng và muốn tự tay giết Ông để trả thù về mũi tên mà ông này và người em cũ đã bắn khi tranh chấp ngôi báu. Quản-Trọng bị nhốt vào chiếc xe và chở về xứ Tề. Trên đường đi Quản Trọng sợ vua Lỗ biết được mưu mẹo này và thay đổi ý-kiến. Cho nên Vua Lỗ được tin dân phàn-nàn đã hiểu rõ, nếu Quản-Trọng được Vua Tề dùng thì sẽ thắng thế. Quản-Trọng nghĩ ra một kế: Ông sáng tác ra những bài hát vui và cho những người tuỳ tùng ca hát. Họ hát như vậy thì quên mệt mà đi rất nhanh. Nhờ vậy mà họ chóng qua khỏi biên giới nước LỖ trước khi vua nước này cho quân đuổi bắt ông. Từ đó, người ta noi theo gương của Ông là khi làm nhiều việc mệt nhọc thì hát lên để quên đi mệt nhọc. Về kích thước của Đàn Tỳ-Bà xưa dài 3 thước 5 tấc để tượng trưng cho ba đấng thiêng và Ngũ-hành, 4 dây là chỉ bốn mùa. Cũng có chép rằng: Người ta đẵn gỗ cây ngô đồng đả làm Đàn Tỳ-bà. Thân đàn thì như con rùa, cổ thì cổ Phụng. Đàn Tỳ-Bà dưới thời Nguyên bằng gỗ với cái đầu cúi xuống, cổ dài bốn và 4 trục, cổ có gắn các phím, mặt bằng rất rộng và có 4 dây. Đúng theo cây Đàn Tỳ-Bà mà chúng ta đàn ngày nay. Trịnh-Hỉ-Tử nhà Đường có biếu Hoàng-Đế một cây Đàn Tỳ-Bà 7 dây. (Trích "những người bạn Cố đô Huế. Tập Vi-Tr. 96)

Đàn Tỳ-Bà có tất cả 4 dây bằng tơ. Đàn Tỳ-Bà đặc biệt ở chỗ cần và thùng đàn dính liền nhau thành một khối. Thùng đàn chính là cần đàn phình rộng ra và cần đàn chính là thùng đàn tóp nhỏ lại, vì thế nên không thể phân biệt giới hạn giữa cần đàn và thùng đàn. Ta chỉ có thể đo bề dài tổng cộng của cây đàn vào khoảng từ 95 đến 97 phân và rộng khoảng 23 phân đến 25 phân. Đàn có tất cả mười phím và ba trục lên dây.

Thùng đàn tương tự thùng đàn Mandoline nhưng nhỏ hơn và mặt đàn hình bầu dục, tròn một đầu, còn đầu kia thon nhỏ lại tạo thành cần đàn. Trên mặt đàn còn có một con ngựa nhỏ gắn dây đàn vào. Hỏi tại sao trên đầu đàn khi thì chạm hình con dơi ? -Con dơi là một loại Chim không ra chim, thú không ra thú. Truyền thuyết cho rằng: Khi chim muông hội-họp nhau thì Dơi cũng có mặt, nói tôi thuộc loài chim muông. Khi thú họp lại thì Dơi cũng có mặt nói rằng Tôi đây là thú cũng đi bằng chân. Nhưng khi cả muông và Thú cùng họp chung một lúc thì không ai nhìn cho Dơi ở vào bên nào cả!

Tức nhiên Dơi là một con vật lạ lùng: vừa có cánh để bay, vừa có chân để đi, đặc biệt là ngủ thì treo hai chân trên cành mà ngủ, tức là lộn đầu xuống đất. Tiền nhân cho rằng Dơi là tượng cho lớp người bất trung, bất chính. Cho nên khi người ta làm đàn Tỳ-Bà cốt ý lấy tiếng nhạc để cảm hóa người đời: Nhạc làm cho người không Trung biến thành Trung. Nhạc cũng có sức cảm hóa, làm cho người không chính trở thành chính. Cái vi diệu của Nhạc là vậy.

Có bài Thơ:

Bồ-Đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm TỲ-BÀ mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

5- Đàn Nhị hay Đàn Cò:

   
       

Đàn Nhị còn có tên gọi khác là Cò Líu, Cò Lòn hoặc Nhị Líu, Nhị Lòn, là nhạc khí dây, chỉ kéo Cung vĩ. Theo tài liệu khảo cổ đã phát hiện ở chùa Vạn Phúc (Phật Tích - Thanh Sơn - Hà Bắc) có khắc chạm một dàn nhạc ở bệ đá kê chân cột chùa Phật Tích, với những nhạc cụ có xuất xứ từ ấn Độ và Trung Hoa. Dàn nhạc đó gồm 10 Nhạc-công ăn mặc giống như người Chăm và chơi các loại nhạc cụ trong đó có một nhạc cụ gần giống như Đàn Hồ 2 dây và là tiền thân của cây đàn Nhị bây giờ. Căn cứ vào đó người ta đã ước đoán Đàn Nhị có thể du nhập vào Việt Nam theo con đường của người Chăm và cũng có thể du nhập theo con đường Trung Hoa tùy theo từng thời gian địa điểm khác nhau. (Theo lịch sử âm nhạc của giáo sư Trần Văn Khê và Văn Thương).

Đàn Cò là một nhạc khí gồm có năm phần: cần đàn, thùng đàn (tức ống đàn hay gọi là bát nhị), thủ đàn, ngựa đàn và dây đàn.Đàn Nhị làm bằng gỗ gụ hay trắc. Bầu cộng hưởng gọi là bát nhị:

Cần đàn tròn không có phím, đầu dưới cắm xuyên qua bầu đàn, đầu trên gọi là Thủ đàn. Cần đàn dài từ 71 đến 75 phân, có đường kính độ 01 phân 50; một đầu cần cắm vào thùng đàn. Hai trục ấy dài khoảng 16 phân và cách đều nhau khoảng 06 phân.

Thùng đàn hay Bát nhị là hình ống rỗng lòng, dài khoảng 13,8 cm, một đầu bịt da trăn hay da kỳ đà còn gọi là Thùng đàn được làm bằng gỗ, hơi cao ở giữa. Mặt thùng đàn được bịt da trăn hoặc da trâu, có đường kính độ 05 phân 50. Riêng cái loa không bịt gì cả, có đường kính độ 07 phân 50. Lớp gỗ để làm thùng đàn dày độ 04 phân. Bề dài của thùng đàn tức khoảng cách giữa mặt đàn và cái loa độ 13 phân. Trên mặt thùng đàn có đặt một con ngựa nhỏ để căng hai sợi dây đàn: sợi lớn, sợi nhỏ, cả hai sợi đều bằng tơ, được buộc từ trục chạy dài xuống mặt thùng đàn gác trên con ngựa và luồn qua cái suốt. Cái suốt (còn gọi là cái khuyết) là cái vòng tròn bằng đồng hay bằng tơ đặt giữa cần đàn, có thể di chuyển lên xuống dễ dàng khi muốn lên dây cao thấp. Lúc lên dây, bao giờ sợi dây lớn cũng dùn còn sợi giây nhỏ sẽ thẳng.

Thủ đàn hình đầu con cò, có gắn hai trục gỗ tròn để lên dây, có khi trục đàn được chạm khắc cầu kỳ.

Ngựa đàn làm bằng tre hay gỗ dài 1 cm đặt khoảng giữa mặt da. Khuyết đàn còn gọi là "Cữ đàn" là một sợi tơ se néo vào 2 dây đàn. Cữ đàn có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh. Khi đưa cữ đàn xuống là làm ngắn quãng dây phát âm, đàn có giọng cao. Khi đẩy cữ đàn lên, làm dài quãng dây phát âm, đàn có giọng trầm.

Cung vĩ làm bằng tre, hoặc gỗ được uốn cong hình cánh cung, người ta mắc vĩ như dây cung. Vĩ đàn đặt giữa hai dây, khi đàn vĩ cọ xát vào dây phát ra âm thanh. Đàn Nhị có 2 dây bằng tơ se, gần đây đã thay bằng dây kim khí, được lên theo quãng 5 đúng. Ví dụ muốn đánh những bài Bắc (có chất vui) tương ứng với hai âm G1-D2, bài Nam (chất buồn) F1-C2, bài Chèo C1 - G1...Đàn Nhị thường tham gia trong dàn Nhã Nhạc, phường Bát Âm, ban nhạc Tài Tử, ban nhạc Chầu Văn, dàn nhạc sân khấu Tuồng, Chèo... Ngày nay nhiều Nhạc-sĩ đã sáng tác các tác phẩm cho cây Đàn Nhị. Nhờ những tác phẩm ấy, Đàn Nhị đang dần trở thành cây đàn độc tấu có chất lượng nghệ thuật cao. Ngoài ra, trên cây đàn CÒ còn một thanh tre (hoặc thanh tầm vong) hình cánh cung mà sợi dây cung (gọi là bã đàn) làm bằng dây gân hay lông đuôi ngựa (mã vĩ). Mã vĩ được chà trên nhựa thông trược rồi đặt giữa hai sợi tơ trên. Muốn phát ra âm thanh, ta chỉ cần cầm thanh tre đưa qua lại để mã vĩ chạm vào hai sợi dây thì nghe tiếng Ò-E. Âm thanh phát ra êm-ái hay chát-chúa là tùy theo nghệ thuật chơi đàn của nhạc-công. Những nhạc công mới tập bao giờ âm-thanh phát ra cũng chát-chúa xé tai. Những nhạc công tài hoa có thể diễn tả đủ giọng vui, buồn, êm ái, hòa nhã. Âm thanh của đàn cò hơi giống âm thanh của vĩ cầm Tây Phương nhưng thanh hơn.

Tóm lại: Đàn Nhị hay còn gọi Đàn Cò, vì nếu các người buôn bán không có thể đàn, phân biệt rõ-ràng các âm phù "Thồn tang" và kéo với một cung đàn làm cho rung cái dây và luôn luôn có giọng: CÒ, KE. Từ đó có tên "Cò". Nhưng người Việt-Nam chúng ta vốn có những tình cảm chơi vơi, nhẹ-nhàng mà thanh thoát, qua bài Ca-dao:

"Con Cò là cò bay lả, lả bay la. Bay qua, qua ruộng lúa, bay về là về Đồng xanh. Tình tính tang… là tang tính tính… Có nàng rằng… là Cô nàng ơi. Rằng có biết.. là biết cho chăng… Rằng có biết là biết cho chăng?"

Thì chắc rằng đây tiếng Đàn Cò có những âm thanh dìu dặt, du-dương, nhẹ nhàng và thanh thoát dường ấy.

6- Đàn Gáo:

 
   

Một loại đàn cũng giống như Đàn cò mà thay đổi vật dụng: thay thùng đàn bằng một cái gáo dừa. Nhạc cụ này, gốc từ Mãn Châu. Người ta có thể tìm lại dáng của Đàn Nhị (Đàn Cò) cũ mà ngày nay người Trung-Hoa đàn. Muốn làm đàn này, người ta lấy một cái gáo dừa, khoan thủng hai lỗ thông qua nhau, người ta đặt trong một thanh, như muốn làm gáo và bọc miệng bằng một bong bóng trâu hay mảnh da trâu, một miếng gỗ dẹt, xoi hai lỗ để đặt hai trục và người ta kéo hai dây trên một giá bằng gỗ đặt trên mảnh da căng, qua một gút giữa cần. Cái cung làm bằng lông đuôi ngựa tráng trên nhựa thông gắn trên miệng của gáo ở phía dưới cần và ngâm trong nhựa ấy khi cọ xát biến thành bột làm cho nhầy các lông đuôi của cung và rung các dây. Có nhiều "Đàn Nhị" làm bằng một ống tre thay bằng một gáo dừa. Các loại cần của Nhạc cụ Trung Hoa luôn luôn ngắn, cho nên tiếng phát ra nghe sắc quá. Ở chúng ta, cây cần làm bằng gỗ "Trúc" hay "Ngà" bọc da trăn hay kỳ-đà và muốn tiếng êm dịu người ta kéo cần dài thêm.

Đàn gáo là cây đàn mà thùng đàn làm bằng gáo dừa được cưa phân nửa nên mặt đàn không có hình dáng nhất định và được bịt bằng da trăn. Mặt đàn bề ngang dài hơn bề dọc, bề ngang đo được 13 phân, bề dọc 11 phân. Trên mặt đàn có gắn một con ngựa nhỏ cao 07 phân 7 nằm khoảng giữa mặt đàn.

Cần đàn bằng gỗ trắc dài 60 phân (có loại dài 70 phân) ngang 01 phân 5, có hai trục để vặn lên dây và dài khoảng 15 phân. Trên cần có cái suốt (còn gọi là cái khuyết) có thể di chuyển lên xuống tuỳ theo giọng cao thấp. Đàn cũng có một cây cung tức mã vĩ giống như mã vĩ của cây Đàn Nhị (Đàn cò).

Cách sử dụng đàn gáo cũng như đàn cò nhưng tiếng ấm hơn.

Xem như đây là một cặp Âm Dương:

- Đờn Cò tiếng trong và nhẹ, thanh-thoát thuộc Dương.

- Đờn gáo tiếng đục, nặng, trầm buồn thuộc Âm.

7- Đàn Kìm (còn gọi Nguyệt Cầm hay là Đàn Nguyệt)

   
       

Đàn Nguyệt là nhạc cụ họ dây chi gẩy của người Việt, đàn còn có các tên gọi khác: Đàn Kìm, Vọng Nguyệt Cầm hoặc Quân Tử Cầm. Mặt đàn hình tròn đường kính 30 cm bằng gỗ nhẹ, xốp. Trên mặt đàn có gắn một bộ phận để mắc dây, gọi là Thú. Thành đàn mỏng làm bằng gỗ cứng, cao khoảng 6 cm, đáy bịt gỗ, không có lỗ thoát âm. Cần đàn dài khoảng 100 cm có gắn 10 phím theo thang 5 âm (7 phím gắn ở cần đàn, 3 phím gắn ở mặt đàn). Thủ đàn lắp 4 trục lên dây nhưng chỉ mắc 2 dây bằng tơ se (nay đã thay bằng dây nilon).

Hai dây Đàn nguyệt lên cách nhau một quãng 5 đúng: Fa - Đô1; Sol - Rê1 hoặc quãng 4 đúng G - C1 ; D1 - G1 Ngày xưa nhạc công gẩy đàn bằng móng tay, ngày nay bằng miếng gẩy nhựa hoặc đồi mồi. Đàn Nguyệt thường được sử dụng đệm cho Hát Văn, Ca Huế, Ca Tài Tử, nhạc Bát Âm, Nhạc Lễ và dàn nhạc sân khấu truyền thống. Ngày nay Đàn Nguyệt đã được các nhạc sĩ sáng tác thêm nhiều tác phẩm để độc tấu. ..Nhạc cụ tên "Nguyệt" vì cái thùng nó tròn như mặt trăng rằm. Nó được gọi là "Nguyệt cầm" và chính Nguyễn Hàm thời Tần đã sáng chế ra. Thùng của đờn có đường kính 0m35 và dày 0m07, nó có 8 phiếm và 4 dây lên trên hai giọng, giống như "Đàn Nhật" nhưng đến nay người ta chỉ để có hai dây. Trong Nhạc Việt Nam người ta chỉ dùng 5 nhạc cụ dây: Tranh, Nguyệt, Tỳ, Nhị và Tam mà người ta gọi là năm loại xuất sắc nhứt (Ngũ tuyệt) nên người ta khúc Nhạc năm phần An-Nam. Thế nên ai mà chơi thạo cả năm Nhạc-cụ ấy là xuất sắc.

Đàn kìm còn là Đàn nguyệt hay Nguyệt-cầm gồm hai phần, thùng đàn và cần đàn. Thùng đàn: Nói chung có hai mặt đều nhau, tròn như mặt trăng (nên gọi là đàn nguyệt), có đường kính độ 35 phân 50. Khoảng cách của hai mặt này tức bề dày của thùng độ 06 phân. Cần đàn dài độ 67 phân, có hình dáng không giống nhau. Phần trên nhỏ, bề ngang độ 02 phân và phần dưới lớn hơn số đo này một chút.

Gỗ để làm thùng đàn và cần đàn khác nhau: Thùng đàn làm bằng cây Ngô đồng và cần đàn làm bằng cây Trắc. Đầu cần hơi uốn cong về phía sau, mỗi bên có một trục dài 12 phân. Dưới hai trục có mảnh gỗ nhỏ, cao độ 03 phân 30, rộng độ 2 phân 20 và có hai khe cách nhau độ 01 phân 10. Miếng gỗ này cũng làm bằng cây trắc hoặc cây gõ và có hình dáng giống con dơi. Trên mặt thùng đàn, gần chỗ dưới cùng, có gắn miếng gỗ nhỏ gọi là ngựa đàn, bề ngang 10 phân 50 và bề cao 01 phân 50. Con ngựa đàn này có hai lỗ nhỏ để hai sợi dây đàn chui qua. Hai sợi dây đàn được thả dài từ trục xuyên qua hai khe của con dơi rồi nằm vắt trên các phím và cuối cùng chui qua hai lỗ của con ngựa.

Cần đàn có tất cả tám phím nằm rải rác từ con dơi đến thùng đàn. Phím cuối cùng tức phím thứ tám nằm hẳn trên thùng đàn. Các phím cách khoảng nhau không đều, càng xuống gần thùng đàn chừng nào thì các phím càng gần nhau chừng đó:

- Phím thứ hai cách phím thứ nhất độ 10 phân
- Phím thứ ba cách phím thứ hai độ 06 phân
- Phím thứ tư cách phím thứ ba độ 05 phân 50
- Phím thứ năm cách phím thứ tư độ 06 phân
- Phím thứ sáu cách phím thứ năm độ 04 phân
- Phím thứ bảy cách phím thứ sáu độ 04 phân
- Phím thứ tám cách phím thứ bảy độ 03 phân

Chiều cao các phím cũng không đều nhau:

. Phím thứ nhất cao 03 phân (bề ngang 03 phân)
. Đến phím thứ tám cao 01 phân 50 (bề ngang 05 phân).

Tiếng đàn kìm nghe tương tự tiếng đàn Banjo của Tây Phương nhưng giọng trong hơn.

8- Đàn Bầu (Độc Huyền Cầm)

 
   

Gọi là Đàn độc huyền Vì đàn này có một dây nên người ta gọi là đàn độc-huyền hay Độc-Huyền-Cầm. Đàn Độc-huyền lại có tên là Đàn Bầu vì loa đàn làm bằng quả bầu khô cưa bớt phần tròn phía dưới (ngày nay, ở một vài nơi người ta dùng cái gáo dừa để làm loa đàn thay thế quả bầu, hoặc bằng gỗ cốt để tạo dáng).

Đàn Bầu có tên chữ là Độc Huyền Cầm: Là nhạc cụ họ dây chi gẩy của dân tộc Việt. Đàn bầu có hai loại:

- Một loại làm đàn bằng thân tre.
- Một loại làm đàn bằng hộp gỗ.

Đàn thân tre: là đàn của những người hát Xẩm. Thân đàn làm bằng 1 đoạn tre hoặc bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm. Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương.

Đàn hộp gỗ là loại đàn cải tiến sau này, dùng cho các nghệ-sĩ chuyên nghiệp. Đàn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau. Loại phổ biến nhất là loại hình thang có chiều dài khoảng 115 cm. Đầu lớn rộng 10 cm, cao 9 cm, đầu nhỏ rộng 8 cm, cao 7 cm. Mặt đàn cong làm bằng loại gỗ nhẹ, xốp, như gỗ Ngô Đồng, gỗ Vông. Đáy đàn phẳng cũng làm bằng gỗ nhẹ, xốp có lỗ thoát âm. Thành đàn làm bằng một loại gỗ cứng như gỗ Trắc, Mun.Về hình dáng và chất liệu của hộp cộng hưởng (tức thân đàn) của hai loại đàn có khác nhau, nhưng về cấu tạo, hai đàn hoàn toàn giống nhau. Dây đàn có chiều dài chạy suốt thân đàn. Thuở xưa dây đàn làm bằng tơ tằm se thành sợi, về sau thay bằng dây sắt (kim-loại).

Nhìn chung: Thùng đàn rỗng, hình chữ nhật, có đầu lớn đầu nhỏ. Đầu lớn cao từ 14 đến 16 phân, rộng từ 12 đến 16 phân, còn đầu nhỏ cao từ 10 đến 11 phân và rộng từ 8 đến 10 phân. Đàn độc huyền dài từ 80 phân đến 1 thước (có đàn dài đến 1 thước 20) làm bằng loại gỗ dày từ hai đến bốn ly (tức 0m,002 đến 0m,004), mặt đàn làm bằng cây Ngô đồng còn mặt kia (tức đáy đàn) bằng gỗ trắc. Trên mặt đàn ở một đầu, có cắm một thanh tre uốn cong (Có thể dùng sừng trâu vót mỏng) dài 50 phân (đôi khi dài 60 phân, đôi khi chỉ dài 15 phân thôi). Chính cái loa đàn được gắn trên thanh tre này. Ở đầu kia của thùng đàn có một thanh gỗ gắn xuyên qua hông của thùng để cột dây đàn. Đàn độc huyền không có phím mà không có ngựa, chỉ có một dây bằng thép hay bằng đồng, được cột từ thanh tre xuyên qua mặt đàn và quấn vào thanh gỗ, nơi mà dây đàn xuyên qua mặt thùng có gắn một đồng tiền, một đồng xu hay một miếng xương, miếng ngà có khoét lỗ tròn ở giữa, mục đích để mặt đàn khỏi toét ra.

Bầu đàn làm bằng 1/2 vỏ quả bầu nậm (lấy đoạn núm thắt cổ bồng). Bầu đàn lồng vào giữa vòi đàn nơi buộc dây đàn. Bầu đàn có tác dụng tăng thêm âm lượng cho đàn. Ngày nay người ta tiện bầu đàn bằng gỗ và chỉ có tác dụng tạo dáng thôi.

Trục lên dây làm bằng tre (ở đàn tre) hoặc bằng gỗ (ở đàn gỗ). Trục lên dây nằm ở cạnh trong sát phía dưới thân đàn. Dây đàn luồn qua một lỗ nhỏ ở mặt đàn rồi sâu vào trục lên dây. Phía trước lỗ nhỏ có một ngựa đàn đỡ dây đàn (Xưa không dùng ngựa mà chỉ dùng đồng xu, còn nếu dùng đồng xu thì không dùng ngựa đờn). Âm hưởng của Đàn Bầu nhỏ chỉ thích hợp với không gian yên tĩnh. Thưở xưa Đàn Bầu là nhạc cụ của những người hát rong (hát Xẩm). Về sau này Đàn Bầu đã tham gia trong các dàn nhạc Chèo, Tài Tử, Ngâm Thơ, tốp nhạc, nhóm nhạc và độc tấu. Có rất nhiều tác phẩm đã sáng tác riêng cho Đàn Bầu độc tấu. Trong số những cây đàn một dây của các nước trên thế giới như đàn Tuntina của ấn Độ, Đàn Cung ở vùng Đông Phi, đàn Tushuen Kin (độc huyền cầm) của Trung Quốc. Khi sử dụng đàn độc huyền, người ta dùng một miếng tre có đầu lớn đầu nhỏ để khảy và nhấn cái thanh tre để tạo ra những âm thanh khác nhau. Không có cây đàn một dây nào phát ra cả một hệ thống âm bồi vừa có tính phổ cập, vừa có tính nghệ thuật cao như cây Đàn Bầu của Việt Nam. Đàn độc huyền đặc biệt ở chỗ mặc dù chỉ có một dây nhưng đàn được đủ mọi giọng đủ mọi bản nhạc.

Nguồn gốc Đàn bầu: Thật ra Đàn một dây gọi là "Đàn Bầu". Nhạc cụ hình cái bầu vì cái cần có nối một hình bầu để làm chỗ phát âm. Nhạc cụ này, gốc ở Bắc-kỳ, nó được đưa vào Huế vào niên hiệu Thành-Thái năm thứ 8 (1896) do một nhóm đi hát rong, mù, từ Bắc vào, tên là hát xoan, hát Xẩm. Lúc đầu, người ta chỉ chơi nhạc cụ này để hoà tấu với các bài hát gọi là Xoan hay Xẩm và họ không hát các điệu của Huế. Sau này không biết vị Tài-tử nào lại xếp Nhạc cụ này với 5 nhạc cụ thường hay dùng ở Huế. Ngày nay, "Độc huyền" rất nhiều, đến tận các góc xa xôi nhất của các làng xóm, đi đâu cũng nghe "độc huyền" vì nhạc cụ này rất thô sơ, dễ làm và rẻ tiền. Với ba miếng ván dài độ 0m90, rông 0m15, người ta làm một cái thùng, ở mỗi đầu của thùng đặt một cái trục và buộc vào đó một sợi dây đồng, cột vào cái cần và đầu kia là một cái bầu, với một cây nhọn bằng tre, gảy rung dây.

Tư thế của nghệ-sĩ khác ngày trước và nay: Ngày trước, khi mà nhạc cụ từ Bắc kỳ mới đưa vào, nghệ sĩ đặt nhạc cụ bên phải và ngồi nhẹ trên chiếc chiếu, chân trái đặt trên nhạc cụ để giữ, chân phải xếp lại như thế nào để cho đầu gối ấn vào ngực và bắt đầu gảy dây với đầu nhọn của miếng trúc từ trên xuống dưới. Ngày nay, tư thế của nghệ-sĩ đều hơn. Nhạc cụ đặt trước người đàn ngồi, xếp bằng và chân phải đặt trên nhạc cụ để giữ, khi chơi lại đưa từ dưới lên trên dây. Tóm lại: Tuỳ môi trường thích hợp, miễn nghệ-sĩ cảm thấy thoải mái để đưa khúc nhạc lòng hoà với tất cả mọi thứ nhạc cụ trong một dàn nhạc là thành công.

9- Đờn Đáy (Đờn Guitare Ta của các Nữ ca-sĩ Bắc-kỳ) Đờn Nhà trò.

 
   

"Đàn nhà trò" thường gọi là "Đờn đáy". Thùng vuông, cần dài 1m20, nó có 4 dây, mà người ta gảy bằng một mảnh tre. Hình dạng gần giống như "Cầm nạm". Có thể là một mẫu rút nhỏ của "Cầm nạm". Nhạc cụ này dành riêng để đệm hát cho nhà trò (Ả đào miền Bắc). Ngày nay, có nhiều nhà ở Nghệ-An và Hà-Tĩnh là tay xuất sắc về "Đờn đáy" vì các nhà trò đều gốc ở hai Tỉnh ấy. Ở Hà-Tĩnh có vị cựu phẩm Đạm là người đứng đầu các đồng nghiệp vùng ấy. Trước ông có Cửu Xướng và Cửu Ninh đều là người giỏi "Đờn đáy". Truyền thuyết lịch sử về nhạc cụ này như sau: "Đờn đáy" là do sáng chế của Lý Thiết-Quả, một trong tám vị Bất tử cổ điển. Là một trong Bát Tiên, là nguơn linh của Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn-Trung) Ngày xưa có hai vợ chồng, đạo đức tốt, nhưng nghèo nàn. Kế sinh nhai bằng nghề đốt than rừng. Một hôm, họ gặp một ông Lão, tặng cho một cây đàn dây và khuyên nên chơi đàn sẽ được sung-sướng. Lúc về, hai vợ chồng tập chơi đàn nhưng không được. Họ trở lại tìm ông Lão và ông này nói sẽ đến dạy cho họ hằng ngày. Khi họ đã chơi được đàn và hát giỏi thì Ông Lão biến mất. Trong lúc đó lại là ngày sinh nhật của Vua Hán-Võ Đế. Hai vợ chồng đến để hát và chơi Nhạc. Đông-Phương Sóc lúc ấy có mặt tại đó. Ông để ý nghe và rất ngạc nhiên khi gặp các điệu nhạc quen thuộc. Khi hỏi vị Thầy nào dạy điệu nhạc ấy, hai vợ chồng miêu tả lại hình dáng ông Lão. Đông-Phương Sóc thình lình nhớ lại đó là nhạc điệu của giới người Bất tử và do Lý-Thiết-Quả soạn. Vì vậy ở làng Cổ-Đạm (gốc của các nhà trò) huyện Nghi-xuân, tỉnh Hà tĩnh. Khi các nhà trò cúng lễ, họ cầu nguyện linh hồn của vua Võ-Đế thời Hán của Đông Phương-Sóc và của Lý Thiết-Quả. Tục truyền Đông-Phương Sóc là người Bất tử trong giới linh thiêng. Ông là Thượng-thư của Vua Hán-Võ-Đế. (Trích "Những người bạn Cố đô Huế - Tập IV/trang 102)

10- Đàn Sến:

 
   

Đàn sến có hình dáng giống đàn kìm, giống y nhau làm bằng cây Ngô đồng. Nhưng mặt đàn không tròn như đàn kìm mà hình cánh hoa, có 6 cánh tất cả, với đường kính độ 28 phân. Đàn cũng có hai mặt. Bề dài của thùng đàn tức khoảng cách giữa hai mặt đàn ngắn hơn đàn Kìm. Thùng đàn làm bằng gỗ mít, nhưng cần bằng gỗ trắc, hình dáng không đều, trên nhỏ, (độ 01 phân 5) dưới lớn ( độ 3 phân) và dài khoảng 62 phân. Cần có một đầu gắn dính vào thùng đàn, đầu kia không có uốn cong ra sau nhưng có khắc hình con dơi xòe cánh. Đàn thường có ba trục (một bên hai trục, một bên một trục) nhưng có đàn lại chỉ có hai trục thôi (mỗi bên một trục). Mỗi trục dài 12 phân, đàn có tất cả 13 phím bằng tre (có loại 16 phím) nhưng chiều cao và chiều ngang của mỗi phím không đều nhau.

- Phím thứ nhất cao 01 phân 05 chiều cao 01 phân 8
- Phím thứ mười ba cao 01 phân 8 và chiều cao 03 phân.

 Khoảng cách giữa các phím cũng không đều nhau như

. Phím thứ hai cách phím thứ nhất 05 phân
. Phím thứ ba cách phím thứ hai 05 phân
. Phím thứ tư cách phím thứ ba 4 phân 5
. Phím thứ năm cách phím thứ tư 04 phân
. Phím thứ sáu cách phím thứ năm 03 phân 50
. Phím thứ bảy cách phím thứ sáu 03 phân
. Phím thứ tám cách phím thứ bảy 03 phân
. Phím thứ chín cách phím thứ tám 02 phân 50
. Phím thứ mười cách phím thứ chín 02 phân 30
. Phím thứ mười một cách phím thứ mười 02cm
. Phím thứ 12 cách phím thứ mười một 02 phân
. Phím thứ 13 cách phím thứ mười hai 02 phân
. Phím thứ 14 cách phím thứ mười ba 02 phân

Trong mười ba phím trên thì mười hai phím nằm trên cần đàn còn phím cuối nằm trên mặt đàn: Ngoài phím thứ mười ba ra, trên mặt đàn còn có một con ngựa cao 01 phân và bề ngang 07 phân 5, đàn thường có hai dây (có loại 03 dây) cách khoảng nhau độ 01 phân 50. Dù cho đàn có 03 dây chăng nữa nhưng khi sử dụng chỉ dùng hai dây thôi. Giống như đàn kìm. Đàn sến khi tấu lên nghe giống tiếng Banjo.

11- Đàn Tam:

 
   

Đàn Tam gồm có một cần đàn và thùng đàn. Cần đàn không có chiều dài nhất định, có loại dài 75 phân, có loại dài đến một thước hay một thước rưỡi. Đàn có hai mặt như nhau không vuông không tròn, được bịt da trăn hay da rắn. Khoảng cách giữa hai mặt này tức là bề dày thùng đàn độ 05 phân. Mặt đàn cũng có một con ngựa để căng dây và trên cần cũng có chiếc khuyết (hay suốt) bằng ngà (hoặc bằng xương) Đàn có ba dây nên gọi là Đàn Tam nhưng đặc biệt là không có phím. Ba dây này được cột từ các trục xuyên qua ba lỗ trên suốt rồi thả dài xuống mặt đàn để máng trên con ngựa. Khi sử dụng, người ta dùng một miếng que bằng sừng đồi-mồi hay bằng ngà dài khoảng 20 phân và rộng 08 phân để khảy.

12- Đàn Guitare hay Lục Huyền Cầm:

Lục-Huyền-Cầm tức cây đàn Guitare (Tây-Ban Cầm) là một loại đàn do người Tây-Ban-Nha chế ra, giữa thắt lại. Phần hẹp bề ngang 28 phân, phần rộng bề ngang 38 phân và phần thắt lại bề ngang độ 25 phân. Chiều dài của thùng đàn khoảng 45 phân. Cần đàn dài 49 phân nhưng bề ngang không đều, phần hẹp nhất đo được 04 phân và phần rộng nhất đo được 06 phân. Đàn có tất cả 17 phím hoặc 18 phím. Ngay chỗ thắt lại của thùng đàn có khoét cái lỗ hình tròn hoặc bán nguyệt để âm thanh thoát ra. Trên phần rộng của thùng đàn có một con ngựa để sợi dây đàn vắt ngang qua (con ngựa cao 01 phân 50) và gắn dính vào miếng thiếc ở cuối thùng đàn. Đàn có 6 trục để lên dây. Đàn Guitare có tiếng thanh như đàn tranh khi đàn bực cao.

VÕ BAN (Nhạc) (Nhóm Võ ban)

Nhóm võ ban gồm các loại trống (trống nhạc: văn võ, trống cái, trống con, trống chiến) các loại kèn (kèn mộc, kèn chàng, kèn thau) các loại bạc (bạc xà, bạc nhỏ), mõ (mõ gỗ, mõ sừng trâu) đầu đường và bồng.

Nhóm võ ban hay võ lược còn gọi là đồ ngang vì những Nhạc-khí của nhóm này hoàn-toàn khác biệt nhau, mỗi thứ có một phận sự riêng biệt mà âm-thanh phát ra lại đối nhau nữa. Người sử dụng những thứ này phải tùy cơ ứng biến thì mới đúng phép, mới ăn rập nhau được.

1- Trống Cơm:

Trống cơm là loại trống hình thon, dài và có hai mặt trống đều nhau, đường kính từ 15 đến 16 phân, được bịt bằng da trâu hoặc da bò. Người ta dùng hai sợi dây bò cột chung quanh hai mặt trống để niền chặc lớp da bịt trống lại rồi dùng thêm những sợi dây bò để siết chặt hai sợi dây trên lại với nhau. Thân trống bằng gỗ mít, dài độ 45 phân (có trống dài đến 60 phân), trống có cái quay để đeo vào cổ. Khi sử dụng, trống được để nằm ngang trước bụng và Nhạc-công dùng hai bàn tay để vỗ vào mặt trống. Điểm đặc biệt là trước khi sử dụng, hai mặt trống được người ta phết bánh sữa, bánh in, cơm nếp, cơm nguội hay ruột bánh bao để âm-thanh phát ra được ấm, nghe tiếng "vôn" tiếng "tền". Nếu không có những loại trên, người ta có thể phết bất cứ loại bột nào miễn là dẽo và dính lại được vào mặt trống

2- Trống Cái (H.9)

Trống cái chỉ có một mặt, đường kính từ 12 phân đến 22 phân và cũng bịt bằng da trâu. Thân trống bằng gỗ mít, ruột rỗng, không có đáy, bề dài từ 05 phân đến 07 phân và có ba chân, mỗi chân cao ba phân.

3- Trống Nhạc (H.10)

Trống nhạc gồm hai cái bằng nhau: một cái Văn và một cái Võ. Mặt trống đường kính vào khoảng 42 phân, bịt bằng da trâu và có hai mặt giống nhau. Trên mặt trống có vẽ vòng tròn nửa đen nửa trắng (Âm Dương). Thân trống bằng gỗ mít, cao 20 phân, cả hai trống đều được để trên cái giá có ba chân. Muốn sử dụng trống phải có hai cây roi trống: một cây Văn và một cây Võ. Cây roi trống Văn ở bên tả và cây roi trống Võ ở bên hữu. Trong hai cái trống Nhạc thì cái trống phát ra tiếng "tán" là Võ và cái trống phát ra tiếng "Tồn" là Văn.

TÁN có nghĩa là giải tán sự bạo tàn, loạn lạc nên trống này được gọi là trống Võ.

TỒN có nghĩa là gìn giữ, bảo tồn vẻ đẹp hay sự điều hòa nên trống ấy được gọi là trống Văn.

Khi dùng hai roi đổ xuống cái trống Võ được gọi là Chiêu Võ (trong Đạo Cao-Đài gọi là đổ giót).

Khi dùng hai roi đổ xuống trống Văn gọi là Khiêu Văn (trong Đạo Cao-Đài gọi là đổ giót).

Khi dùng hai roi để cạnh cái trống Võ gọi là thuyết Võ ( trong Đạo Cao Đài gọi là ran tang).

Khi dùng hai roi để cạnh cái trống Văn được gọi là Hành Văn (Trong Đạo Cao Đài gọi là ran tang).

Khi dùng hai roi nhịp ngoài vành trống Võ được gọi là Thâu Võ (trong Đạo Cao Đài gọi là rắc cắc).

Khi dùng hai roi nhịp ngoài vành trống Văn được gọi là Nạp Văn (trong Đạo Cao Đài gọi là rắc cắc).

Khi dùng một roi dằn mặt trống, một roi nhịp trống Võ được gọi là Phế Võ (trong Đạo Cao Đài gọi là tịch tịch).

Khi dùng một roi dằn mặt trống, một roi nhịp trống văn được gọi là Yểm Văn (Đạo Cao Đài gọi là tịch tịch).

4-Trống Chiến (H.11)

Trống chiến tương tự như trống Nhạc nhưng hơi lớn hơn, có đường kính 45 phân và cao khoảng 35 phân. Thân trống cũng bằng gỗ mít. Trống được đặt trên một cái giá ba chân bằng gỗ.

5- Bồng (H.12)

Bồng chỉ có một mặt. Mặt bồng hình tròn, đường kính khoảng 12 phân, được bịt bằng da trâu hoặc da rắn. Thân bồng bằng gỗ mít, dài độ 35 phân và phía giữa thắt lại và phần đáy nở rộng ra. Chung quanh mặt bồng được niền chặc bởi sợi dây mây hoặc dây bò. Dọc theo thân bồng cũng có những sợi dây mây hoặc dây bò để nối liền sợi dây cột quanh mặt bồng hoặc đáy bồng.

6-Kèn:

 
   

Kèn là một Nhạc khí mà âm thanh phát ra do hơi thổi vào. Kèn gồm có ba phần: Phần loa thường được gọi là bát kèn, phần thân thường được gọi là suốt kèn và phần trên cũng là miệng kèn (tức là nơi để thổi) thường được gọi là "giọng". Trong Đại-Lễ có ba loại kèn được dùng đó là kèn thau, kèn chàng, kèn mộc.

Kèn Thau (H.13)

Còn gọi là kèn tiểu. Kèn thau có cái bát làm bằng đồng dài 07 phân và có đường kính 10 phân. Suốt kèn bằng gỗ trắc dài 19 và có 08 lỗ (một lỗ sau với 7 lỗ trước) như "kèn chàng", "giọng". Kèn thau làm bằng thau chứ không phải bằng đồng như "giọng" kèn chàng có chiều dài 07 phân. Cách thổi cũng giống như kèn trên.

Kèn Chàng (H.14)

Có cái bát kèn bằng gỗ mít, đường kính khoảng 5 đến 6 phân và dài 12 phân. Suốt kèn bằng gỗ trắc, dài độ 21 phân và có tám lỗ, phía trước bảy lỗ phía sau một lỗ "Giọng" làm bằng đồng dài độ 05 phân. Khi thổi phải gắn miếng dăm (còn gọi là cái lưỡi gà làm bằng sậy) vào giọng kèn mới thổi được.

Kèn Mộc (H.15)

Còn gọi là kèn trung, có bát dài 24 phân, đường kính 11 phân và bằng gỗ mít. Suốt kèn cũng bằng gỗ trắc và có tám lỗ (bảy lỗ trước một lỗ sau) như hai loại kèn trên nhưng dài 30 phân "Giọng" kèn cũng bằng thau hoặc đồng như hai loại trên nhưng có chiều dài 08 phân. Muốn thổi phải lắp lưỡi gà vào như hai kèn trên.

7- Ống Tiêu:

Ống tiêu bằng đồng thổi dọc dài 63 phân và có 6 lỗ thổi (trước 5 lỗ sau một lỗ) cùng hai lỗ thông hơi. Đường kính của ống tiêu vào khoảng 2,5 phân.

8- Ống Sáo:

Ống sáo bằng trúc dài 60 phân và được thổi ngang. Ống sáo có 7 lỗ phước trước (6 lỗ để bấm ngón, 1 lỗ thổi) và có thêm hai lỗ phía sau để thông hơi. Đường kính của ống sáo nhỏ hơn ống tiêu chỉ độ 1,5 phân đến 2 phân.

9- Bạc (H.16)

 
   

Bạc có hai loại:

Bạc xoà (chập chõa) và bạc nhỏ.

Bạc xà: là hai miếng thau hay đồng bằng nhau có đường kính 34 phân (có loại 40 phân). Hai miếng thau này gồm ba phần. Một cái vành ngoài cùng rộng 5 phân. Vành kế hơi cao hơn rộng 09 phân. Cuối cùng ở giữa có một cái núm tròn cao 02 phân và đường kính 06 phân.

Bạc nhỏ: giống y bạc xà nhưng nhỏ hơn, đường kính chỉ đo được 11 phân.

10- Tum:

Tum có 2 loại (H.17, 18)

Tum lớn: Tum là một miếng thau hoặc miếng đồng, đường kính 20 phân và có một cái vành bề cao 03 phân.

Tum nhỏ (còn gọi là cái đẩu) tum nhỏ cũng giống như tum lớn là một miếng thau (hoặc đồng hay đồng pha gang) có đường kính 09 phân và cái vành cao 1,3 phân.

Mõ:

Mõ có 2 loại:

Mõ sừng trâu : mõ là một sừng trâu được cưa ra.

Mõ gỗ dài 20 phân, bề ngang 6,5 phân và cao 3 phân, mõ có một cái khe dài 15 phân và bề ngang 9 ly.

11-Đầu Đường (trong Đạo gọi là đồ đường)

Còn gọi là đồng la (H.20) Đầu đường là một miếng thau hoặc đồng tròn có đường kính 35 phân, chung quanh có một cái vành cao 5 phân. Đầu đường được treo trên một cái giá bằng gỗ.

12- Nhịp Sanh còn gọi là phách (H.9)

Là hai miếng gỗ trắc dài 16 phân ngang 3 phân và cao khoảng 1 phân. Nhịp sanh dùng để đánh vào đầu đường hoặc để nhịp khi đàn hát. (Trích Lễ Nhạc- lễ Vía Đức Chí-Tôn)

 

 

BAN THẾ ĐẠO

 

Giải thích về Ban Thế Ðạo
BẢN QUY ÐIỀU của Ban Thế Ðạo
NỘI LUẬT của Ban Thế Ðạo
Lời giáng dạy của Ðức Hộ Pháp về Ban Thế Ðạo
Tổng số Hiền Tài đã được tấn phong đến ngày 15-08-1973
Văn thư của Ngài Bảo Thế giải thích phù hiệu Hiền Tài
Thông Tri của Hội Thánh CTÐ về Tang lễ của Hiền Tài qui vị


Giải thích về Ban Thế Ðạo

班 世 道
E: Committee of the lay dignitaries.
F: Comité des dignitaires laïques.

(Ban: Một tổ chức gồm nhiều người có phận sự đặc biệt. Thế: Ðời. Ðạo: Tôn giáo). Ban Thế Ðạo là cơ quan đặc biệt do Ðạo Cao Ðài lập ra để tạo điều kiện cho những người tài giỏi đang phục vụ trong các cơ quan của quyền đời để họ lập công quả nơi cửa Ðạo.

Ý nghĩa của việc thiết lập Ban Thế Ðạo: "Có nhiều bậc ưu thời mẫn thế, sẵn có đạo tâm, giàu lòng nhân ái, muốn phụng sự Ðại Ðạo, nhưng còn ràng buộc trách nhiệm đối với quốc gia xã hội, chưa phế đời hành Ðạo được. Ban Thế Ðạo là nơi dụng hiền, tạo cơ hội cho những bậc có đạo tâm thực hành thiện nguyện ấy."

Ban Thế Ðạo được thành lập theo Thánh giáo của Ðức Lý Thái Bạch, Giáo Tông Ðại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ, giáng cơ tại Giáo Tông Ðường đêm 03-12-Quý Tỵ (dl: 07-01-1954). Phò loan: Phạm Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo.

Xin trích ra sau đây:

"Khi hôm qua có luận về Thế Ðạo, nên căn dặn phò loan đặng Lão giải nghĩa điều ấy. Hộ Pháp đã hiểu tổ chức của Hội Thánh Thiên Chúa Giáo, có Chức sắc Thế Ðạo, pháp văn gọi rằng Dignitaires laïques. Hiền hữu đã có phong phẩm HIỀN TÀI, sao không thêm 3 phẩm trên nữa cho đủ 4 như của họ.

Hộ Pháp bạch: - Xin Ngài chỉ rõ.

- Thêm vào 3 phẩm Thế Ðạo nầy: Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử". Như vậy, Ban Thế Ðạo có 4 phẩm Chức sắc:

Phẩm Hiền Tài, do Ðức Phạm Hộ Pháp lập ra.

Ba phẩm: Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử, do Ðức Lý Giáo Tông lập ra. Tuy Ðức Lý Giáo Tông và Ðức Phạm Hộ Pháp đã định ra như vậy từ ngày 07-01-1954, nhưng mãi đến 11 năm sau, Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài mới lập Quy Ðiều cho Ban Thế Ðạo, được Ðức Cao Thượng Sanh ban hành ngày 28-02-Ất Tỵ (dl: 30-03-1965) và sau đó lập Nội Luật Ban Thế Ðạo, được Ðức Cao Thượng Sanh ban hành ngày 27-11-Mậu Thân (dl: 15-01-1969).

 

BẢN QUY ÐIỀU của Ban Thế Ðạo do Hội Thánh Hiệp Thiên-Ðài lập ra, được Ðức Phạm Hộ Pháp chấp thuận theo Thánh giáo ngày 09-02-Ất Tỵ (dl:11-03-1965) và được Ðức Cao Thượng Sanh ban hành ngày 28-02-Ất Tỵ (dl: 30-03-1965). Sau đây, là Bản Quy Ðiều

QUY ÐIỀU

Thể theo tinh thần Thánh giáo của Ðức Lý Giáo Tông đêm mùng 3 tháng 12 năm Quý Tỵ (dl 7-1-1954) và theo tôn chỉ của Ðại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh thành lập Ban Thế Ðạo, cốt yếu mở rộng trường công quả, tiếp đón những bực nhơn tài văn võ có khả năng phụng sự cho Ðạo mà không phế đời hành đạo. Ban Thế Ðạo tức là cơ quan thuộc về phần Ðời, bắt nguồn từ cửa Ðạo, phát xuất làm dây nối liền cho Ðạo Ðời tương đắc tương liên, ngõ hầu tạo lập một đời sống thanh bình cho nhơn loại trong thời chuyển thế.

Chương I: NHIỆM VỤ và PHẨM TRẬT

Chức sắc trong Ban Thế Ðạo có nhiệm vụ độ đời nâng đạo, hành sự trực tiếp với Cửu-Trùng-Ðài về mặt chuyên môn trong xã hội, trực thuộc Hiệp-Thiên-Ðài chi Thế về mặt chơn truyền và luật pháp.Ban Thế Ðạo gồm bốn phẩm: Hiền Tài, Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử. Những vị nào muốn được tuyển trạch vào Ban Thế Ðạo, phải có hai vị Chức sắc trong Ðạo tiến cử và phải nhập môn cầu đạo, khi được Hội Thánh chấp nhận vào hàng phẩm kể trên tùy địa vị ngoài đời của đương sự:

1. HIỀN TÀI: là bậc trí thức chọn trong hàng Ðạo hữu có văn bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp hoặc văn bằng Sơ Học (Certificat d'Études Primaires) hồi xưa, hoặc trong hàng công tư chức bậc trung cấp nam nữ đương quyền từ 40 tuổi sắp lên, hay đã hồi hưu, hay trong hàng sĩ phu có Tú Tài Toàn phần từ 21 tuổi sắp lên và hàng sĩ quan từ Ðại úy sắp lên.

 Ngoài ra, những vị có học lực khá và có khả năng mở mang kinh tế, làm nên sự nghiệp như: Nghiệp chủ, Ðiền chủ, nhà Thầu khoán, đã có giúp ích cho Ðạo, có đủ bằng chứng, cũng được xin vào phẩm Hiền Tài.

Những vị 40 tuổi sắp lên được chọn vào phẩm Hiền Tài phải có thành tích lập công với Ðạo và đầy đủ hạnh đức. Con nhà Ðạo dòng, khi xin gia nhập Ban Thế Ðạo, được miễn xuất trình Sớ Cầu Ðạo (con những vị Chức sắc tiền bối có công khai Ðạo lúc ban sơ).

Hai vị Chức sắc tiến cử phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với Hội Thánh về phương diện hạnh đức của người mình tiến cử vào Ban Thế Ðạo.

2. QUỐC SĨ: Những danh nhân được trạch cử vào hàng Quốc Sĩ phải có điều kiện sau đây:

1. Bậc Hiền-Tài đầy đủ hạnh đức, đã dày công giúp Ðạo trợ Ðời, được công chúng hoan nghinh có văn bằng minh chứng.

2. Bậc nhân sĩ có công nghiệp vĩ đại đối với quốc gia dân tộc, có bằng chứng cụ thể đắc nhơn tâm.

3. Các Tổng Trưởng, Bộ Trưởng, Sứ Thần, Tướng Lãnh và các vị Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, có thiện tâm giúp Ðạo, kỳ công trợ đời.

3. ÐẠI PHU: Những danh nhơn được sắp vào hạng Ðại Phu là:

1. Bậc Quốc Sĩ đầy đủ hạnh đức, dày công giúp Ðạo về việc phổ thông giáo lý và giúp đời về mặt thâu phục nhơn tâm.

2. Những bậc có địa vị cao trọng trong nước như: Quốc Trưởng, Tổng Thống hay Thủ Tướng và các ân nhân của nhơn loại có thiện tâm giúp Ðạo và kỳ công trợ đời.

4. PHU TỬ: Những danh nhơn được sắp vào hàng Phu Tử là:

1. Bậc Ðại Phu đầy đủ hạnh đức, lại có công tế thế an bang.

2. Bậc vĩ nhân khổ hạnh phổ truyền Chơn giáo dìu độ toàn dân một nước hay nhiều nước.

PHƯƠNG THỨC CHỌN LỌC VÀ PHONG VỊ:

a) Hàng phẩm Hiền Tài do Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài chọn lựa và tấn phong.

b) Các hàng phẩm Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử do Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài tuyển chọn và dâng lên quyền thiêng liêng phán định.

Chương II: HỆ THỐNG

Ban Thế Ðạo đặt Văn phòng Trung Ương tại Tòa Thánh Tây Ninh và những Văn phòng địa phương tại các Châu và Tộc Ðạo.

- Tại Trung-ương thì hành sự trực thuộc dưới quyền Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài chi Thế.

- Tại địa phương, Ban Quản-nhiệm địa phương hoặc Ðại diện Ban Quản-nhiệm địa phương hành sự trực tiếp với Ban Quản-nhiệm Trung-ương và tiếp xúc với Chức sắc Cửu-Trùng-Ðài tại địa phương ấy về mặt Ðạo.

Chương III: LỄ PHỤC

- Lễ phục Hiền Tài: Áo tràng trắng, đầu bịt khăn đóng đen, mang dấu hiệu Cổ pháp Giáo-Tông nơi ngực, thêm hai chữ HIỀN TÀI bằng quốc ngữ, trong giờ chầu lễ giữ địa vị trên phẩm Lễ Sanh dưới Giáo Hữu.

- Lễ phục Quốc Sĩ: Y như của Hiền Tài, Cổ pháp thêm hai chữ QUỐC SĨ, khi chầu lễ giữ địa vị trên phẩm Giáo Hữu dưới Giáo Sư.

- Lễ phục Ðại Phu: Y như của Quốc Sĩ, nhưng đầu bịt khăn đóng đen 9 lớp chữ Nhứt, Cổ pháp có thêm hai chữ ÐẠI PHU, khi chầu lễ giữ địa vị trên Giáo Sư, dưới Phối Sư.

- Lễ phục Phu Tử: Y như Ðại Phu, Cổ pháp thêm hai chữ PHU TỬ, khi chầu lễ giữ địa vị trên phẩm Phối Sư dưới Ðầu Sư.

- Lễ phục của nữ phái y như nam phái, nhưng để đầu trần.

Về thế phục thì tùy ý, nhưng được mang phù hiệu theo đẳng cấp, nơi ngực bên trái.

Chức sắc Ban Thế Ðạo khi lãnh nhiệm vụ đặc biệt của Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài và với sự chấp thuận của Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài, được mang trường y sáu nút như Tiểu phục Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài, trong thời gian thi hành nhiệm vụ được giao phó.

Chương IV: CẦU PHONG VÀO HÀNG THÁNH

Chức sắc Ban Thế Ðạo muốn cầu phong vào hàng Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài hay Cửu-Trùng-Ðài, phải nộp hồ sơ gồm có:

- Chứng chỉ cấp bậc hiện tại do chi Thế cấp phát.

- Tờ hiến thân trọn đời cho Ðạo.

- Tờ khai lý lịch.

- Tờ ước nguyện gìn giữ trai giới theo Luật pháp Ðại Ðạo.

Quyền phong vị vào hàng Chức sắc Thánh thể Ðức Chí Tôn tại thế do Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài đề cử và dâng lên quyền thiêng liêng định đoạt.

Thể theo tinh thần Thánh lịnh của Ðức Hộ Pháp số 49 ngày mùng 01 tháng 06 năm Tân-Mão (dl: 04-07-1951) thành lập ngôi vị Hiền Tài trong cửa Ðạo, sau 05 năm công nghiệp có Bộ Pháp Chánh minh tra đủ lẽ, bậc Hiền Tài sẽ cầu phong vào hàng Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài hay Cửu-Trùng-Ðài do thiêng liêng chỉ định.

Cũng như trên, bậc Quốc Sĩ, Ðại Phu và Phu Tử sẽ được cầu phong do quyền thiêng liêng định đoạt. Khi đắc phong vào hàng Thánh rồi thì không còn phận sự trong Ban Thế Ðạo nữa và phải tuân y trọn vẹn Tân-Luật và Pháp-Chánh-Truyền.

Ngày sau, bổn Quy Ðiều nầy có thể bổ sung hay điều chỉnh tùy nhu cầu tiến hóa của nhơn sanh.

Quy Ðiều nầy đã được tu chỉnh do Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài theo Vi Bằng số 10/VB ngày mùng 06 tháng 06 năm Kỷ-Dậu (dl: 19-07-1969) và được Ðức Hộ Pháp phê chuẩn do Thánh giáo đêm mùng 04 tháng 07 năm Kỷ-Dậu (dl: 16-08-1969).

 

Cách Tổ chức và Ðiều hành các hoạt động của Ban Thế Ðạo từ Trung-ương đến Ðịa-phương được qui định trong NỘI LUẬT của Ban Thế Ðạo, được Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài duyệt phê.

Chiếu Vi Bằng của Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài số 02/VB ngày 27 tháng 11 năm Mậu Thân (dl:15-01-1969), dưới quyền chủ tọa của Ðức Thượng Sanh. Nội Luật được tu chỉnh lần thứ nhì và ban hành cho toàn Ban Thế Ðạo tuân hành.

NỘI LUẬT

Chương mở đầu

"Ðạo không đời không sức, Ðời không Ðạo không quyền." Ban Thế Ðạo đặt căn bản và định phương hoạt động trên tư-tưởng ấy. Ðạo lo cho phần hồn của chúng sanh, phổ độ nhơn sanh để sau khi trả xong nợ thế, trở về cõi Thiêng-Liêng Hằng Sống, đồng thời Ðạo cũng chú trọng đến phần xác của con người, cải thiện xã hội nhơn quần ngay tại thế nầy.

Có nhiều bậc ưu thời mẫn thế, sẵn có đạo tâm, giàu lòng nhân ái, muốn phụng sự Ðại-Ðạo nhưng còn ràng buộc trách nhiệm đối với quốc gia xã hội, chưa phế đời hành đạo được. Ban Thế-đạo là nơi dụng hiền, tạo cơ hội cho những bậc có đạo tâm thực hành thiện nguyện ấy. Ðó là ý nghĩa của sự thiết lập Ban Thế-đạo. Ý nghĩa nầy được minh định trong bản QUY ÐIỀU.

Ban Thế Ðạo là cơ quan thuộc về phần đời, bắt nguồn và phát xuất từ cửa Ðạo, làm dây nối liền cho Ðạo Ðời tương liên tương đắc, ngõ hầu tạo lập đời sống thanh bình cho nhơn loại trong thời Chuyển thế.

Như vậy, nhiệm vụ của Ban Thế Ðạo là tuân Thế Luật của Ðạo, đem công đức và giáo-lý đạo hướng-dẫn nhơn sanh trở về nguồn cội Ðạo, tô điểm cho nền Ðại Ðạo mỗi ngày một thêm huy hoàng.

Ðể đạt mục đích ấy, Hội Thánh mở rộng cửa Ban Thế Ðạo, đón nhận nhơn tài, chí sĩ đã có thành tích, lập công với Ðạo và giúp ích xã hội.

Nội Luật nầy được soạn thảo để qui định Tổ chức, Nhiệm vụ và Ðiều hành Ban Thế Ðạo theo những chương điều sau đây:

Chương I: TỔ CHỨC

Ðiều thứ nhứt: Ban Thế Ðạo thành lập do Thánh Lịnh số 01/TL ngày 28 tháng 02 năm Ất-Tỵ (dl: 30-03-1965) của Ðức Thượng Sanh thể theo Thánh giáo của Ðức Lý Ðại Tiên đêm mùng 03 tháng 12 Quý-Tỵ (dl: 07-01-1954), cơ quan nầy trực thuộc Hiệp-Thiên-Ðài, dưới quyền chưởng quản của một vị Thời Quân chi Thế Hiệp Thiên-Ðài do Hội Thánh ủy nhiệm.

Ðiều thứ nhì: Ðể giúp ý kiến về sự điều hành công việc chung của Ban Thế Ðạo, Hội Thánh đề cử một Ban Cố Vấn mà thành phần gồm có: Chức sắc từ Giám Ðạo, Giáo Sư và Chơn Nhơn trở lên.

Ðiều thứ ba: Dưới quyền lãnh đạo của vị Chưởng quản Ban Thế Ðạo, một Ban Quản Nhiệm Trung-ương được thành lập để điều hành công việc của Ban Thế Ðạo, thành phần như sau:

- 1 Tổng Quản Nhiệm

- 1 Ðệ nhứt Phó Tổng Quản Nhiệm

- 1 Ðệ nhị Phó Tổng Quản Nhiệm

- 1 Thủ bổn

- 1 Trưởng Nhiệm Giáo lý

- 1 Trưởng Nhiệm Văn hóa

- 1 Trưởng Nhiệm Xã hội

- 1 Trưởng Nhiệm Quốc chính

- 1 Trưởng Nhiệm Kế hoạch và Tổ chức

- 1 Trưởng Nhiệm Kinh tài

- 1 Trưởng Nhiệm Ngoại vụ

- 1 Trưởng Nhiệm Thanh sát.

Ban Quản Nhiệm Trung-ương Ban Thế Ðạo do Ðại hội toàn thể Chức sắc Ban Thế Ðạo bầu lên theo thể thức đơn danh, kín, đa số tương đối. Cuộc bầu cử đặt dưới quyền chủ tọa của vị Chưởng quản Ban Thế Ðạo, hoặc vị Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài đặc trách Ban Thế Ðạo nếu vị Chưởng quản bận việc và một Ban Phụ tá do Ðại hội bầu cử gồm có:

- 1 Phụ tá Chủ tọa

- 2 Thơ ký

- 2 Kiểm soát viên.

Thành phần Ban Quản Nhiệm được bầu cử gồm: 1 Tổng Quản Nhiệm và 2 Phó Tổng Quản Nhiệm.

Sau khi đắc cử, 3 vị nầy trọn quyền tuyển chọn các vị Trưởng Nhiệm trong Ban Quản Nhiệm Trung-ương, trình danh sách lên vị Chưởng quản chấp thuận và Hội Thánh Hiệp Thiên-Ðài chuẩn phê.

Nếu Ðại hội lần thứ nhứt không đủ 2/3 tổng số Chức sắc Ban Thế Ðạo thì phải triệu tập lần thứ hai trong vòng một tháng và lần nầy Ðại hội đương nhiên hợp lệ bất cứ với tỷ số nào.

Về việc tính túc số Ðại hội, một hội viên hiện diện chỉ có quyền nhận một Ủy nhiệm thư của một Chức sắc Ban Thế Ðạo vắng mặt, nhưng khi biểu quyết và bỏ phiếu, vị hội viên hiện diện chỉ bỏ một phiếu cho phần mình.

Mỗi Chức sắc Ban Thế Ðạo có quyền ra ứng cử các chức vụ Tổng Quản Nhiệm, Ðệ I hoặc Ðệ II Phó Tổng Quản Nhiệm.

Các vị Chức sắc Ban Thế Ðạo có phẩm trật cao hơn vị Tổng Quản Nhiệm đắc cử, đương nhiên là cố vấn Ban Quản Nhiệm.

Nếu không có ứng cử viên, Ðại hội có quyền đề cử ứng cử viên. Tuy nhiên chức vụ Tổng Quản Nhiệm, Ðệ I hoặc Ðệ II Phó Tổng Quản Nhiệm là chức vụ rất quan trọng, hành động và tư cách của những vị đắc cử có liên quan đến uy tín và danh dự của Ban Thế Ðạo, nên khi đề cử ứng cử viên và biểu quyết, Ðại hội dựa vào 3 điều kiện:

1. Không can án Ðạo và Ðời.

2. Không bị ràng buộc vì chức vụ Ðời như công chức, quân nhân tại ngũ hay chức vụ chính trị khác.

3. Phải liên tục điều hành Ban Quản Nhiệm.

Trong trường hợp hai ứng cử viên có số thăm đồng nhau thì vị nào cao niên hơn được đắc cử, trừ phi vị cao niên bằng lòng nhường lại cho vị nhỏ tuổi hơn, vị sau nầy mới được đắc cử.

Ðiều khoản dự liệu:

Trong trường hợp vì lý do gì không bầu được vị Tổng Quản Nhiệm, Ðại hội yêu cầu Hội Thánh Hiệp Thiên-Ðài chỉ định một Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài kiêm nhiệm chức vụ Tổng Quản Nhiệm trong thời gian một năm. Vị Chức sắc nầy có nhiệm vụ tổ chức cuộc bầu cử lại vị Tổng Quản Nhiệm. Nếu cuộc bầu cử vẫn không kết quả, Ðại hội yêu cầu Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài bổ nhiệm vị Chức sắc khác đảm trách chức vụ Tổng Quản Nhiệm, hoặc chỉ định vị Chức sắc đương kiêm tái nhiệm.

Trong trường hợp vị Tổng Quản Nhiệm vì một lý do nào không thể tiếp tục hành quyền, vị Chưởng quản Ban Thế Ðạo phải triệu tập Ðại hội bầu cử vị Tân Tổng Quản Nhiệm trong vòng 6 tháng để tiếp tục đến mãn nhiệm kỳ. Tuy nhiên, cuộc bầu cử nầy chỉ được thực hiện khi nhiệm kỳ còn lại tối thiểu 18 tháng. Nếu nhiệm kỳ còn lại dưới 18 tháng, vị Ðệ I Phó Tổng Quản Nhiệm được ủy nhiệm hành quyền Tổng Quản Nhiệm đến mãn nhiệm kỳ.

Ðiều thứ tư: Tổng Quản Nhiệm Ban Quản Nhiệm Trung Ương được quyền đề nghị một số nhân viên văn phòng. Những vị nầy là Chức sắc Ban Thế Ðạo do vị Chưởng quản bổ nhiệm. Ngoài ra mỗi vị Trưởng Nhiệm có quyền đề cử một hay nhiều Phụ tá Trưởng-nhiệm liên hệ. Các vị nầy sẽ được hợp thức hóa bằng một Sắc lịnh do vị Chưởng quản bổ nhiệm.

Ðiều thứ năm: Thành phần Ban Quản-nhiệm Ðịa phương và Hải ngoại cũng tổ chức như Trung-ương, tuy nhiên nhân số có thể giảm bớt tùy theo nhu cầu. Các Ban Quản-nhiệm Ðịa phương và Hải ngoại phải tuân hành chỉ thị của Ban Quản Nhiệm Trung-ương về mọi phương diện. Các Ban Quản-nhiệm Ðịa phương do một vị Ðệ I Phó Tổng Quản-nhiệm chủ tọa bầu cử. Ðịa phương nào chưa đủ 20 Chức sắc Ban Thế Ðạo thì chỉ có quyền cử một Ðại diện và một Phụ tá Ðại diện để trực tiếp thi hành chỉ thị của Ban Quản-nhiệm Trung-ương.

Ðiều thứ sáu: Nhiệm kỳ của Ban Quản-nhiệm Trung-ương là ba năm và có thể lưu nhiệm từng một năm do quyết định của vị Chưởng quản, tuy nhiên không được lưu nhiệm quá hai lần. Do đề nghị của vị Chưởng quản, vì một lý do xác đáng, Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài có thể giải tán toàn thể Ban Quản-nhiệm đương nhiệm. Trong trường hợp nầy, vị Chưởng quản với sự hộ trợ của Ban Cố-vấn sẽ đảm nhiệm điều hành Ban Thế Ðạo. Thời gian tối đa để thành lập Tân Ban Quản-nhiệm là 6 tháng.

Chương II: GIA NHẬP, NHIỆM VỤ, HOẠT ÐỘNG

Ðiều thứ bảy: Khi được tuyển trạch vào Ban Thế Ðạo, tùy theo công đức, tài năng và đạo hạnh, vị Chức sắc Ban Thế Ðạo tân phong được xếp vào một trong bốn phẩm tính từ dưới lên như sau:

- Hiền Tài

- Quốc Sĩ

- Ðại Phu

- Phu Tử

Ðiều thứ tám: Muốn vào Ban Thế Ðạo, đương sự phải lập hồ sơ cầu phong theo Quy-điều ấn định, trình lên vị Chưởng quản, do hai vị Chức sắc từ phẩm Giáo Hữu đương hành quyền Tòa Thánh Tây Ninh tiến cử. Những vị được tiến cử phải có thành tích lập công với Ðạo và đầy đủ hạnh đức.

Chức sắc Ban Thế Ðạo, sau thời gian một năm thọ phẩm không phạm kỷ luật, được cùng với một Chức sắc Hội Thánh tiến cử nhân tài gia nhập Ban Thế Ðạo.

Ðiều thứ chín: Nhiệm vụ của Chức sắc Ban Thế Ðạo về phương diện Chánh trị đạo.

- Truyền bá giáo lý của Ðại Ðạo.

- Bảo vệ và giúp đỡ tín đồ của Ðại Ðạo trong mọi hoàn cảnh.

- Giúp ý kiến cho Chức sắc Hành Chánh Ðạo địa phương.

- Ðề nghị với Ban Quản-nhiệm Trung-ương đệ lên vị Chưởng quản xin Hội Thánh điều chỉnh hoặc bổ túc phương châm hành đạo nơi địa phương cho thích hợp và hữu hiệu hơn.

Ðiều thứ mười: Nhiệm vụ của Chức sắc Ban Thế Ðạo về phương diện Chánh trị đời.

1/- Lập trường: Ban Thế Ðạo có nhiệm vụ thực thi Chính trị đời của Ðạo. Do đó, lập trường chính trị của Ban Thế Ðạo phải do Hội Thánh hoạch định, hoặc do Ban Thế Ðạo đề nghị và được Hội Thánh chấp thuận. Ban Thế Ðạo không phải là một đảng phái chánh trị. Chức sắc Ban Thế Ðạo không có quyền tuyên bố bất cứ một đường lối chính trị nào của Ban Thế Ðạo mà không phù hợp với lập trường chung của Hội Thánh. Vị nào vi phạm điều nầy tức là vi phạm kỷ luật Ban Thế Ðạo sẽ bị xử theo điều 18 của Nội Luật nầy.

2/-Với tư cách một Chức sắc: Chức sắc Ban Thế Ðạo muốn tham chánh với danh nghĩa Chức sắc phải được sự đề nghị của vị Chưởng quản và sự chấp thuận của Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài

3/-Với tư cách cá nhân: Chức sắc Ban Thế Ðạo có thể tham gia các sinh hoạt lợi ích cho nhơn sanh trong mọi lãnh vực quốc gia, xã hội, miễn là không tương phản với chủ trương của Hội Thánh, nhưng phải trình báo cho Ban Quản-nhiệm Trung-ương và vị Chưởng quản.

Riêng đối với các chức vụ dân cử khi Ban Thế Ðạo chủ trương đưa người ra ứng cử tại một địa phương nào thì Chức sắc Ban Thế Ðạo muốn ra ứng cử tại địa phương đó, phải qua cuộc bầu cử nội bộ do Ban Quản-nhiệm Trung-ương tổ chức, có sự chấp thuận của vị Chưởng quản.

Ðiều thứ mười một: Nhiệm vụ của Ban Quản Nhiệm Trung-ương:

- Thi hành các chỉ thị của vị Chưởng quản và Hội Thánh.

- Phát triển và điều hành Ban Thế Ðạo.

- Thực thi các chương trình đã được vị Chưởng quản chấp thuận.

- Biểu quyết các kế hoạch đề nghị.

Ðiều thứ mười hai: Nhiệm vụ của các chức vụ của Ban Quản-nhiệm Trung-ương được ấn định như sau:

1. Tổng Quản Nhiệm:

- Ðiều hành Ban Thế Ðạo theo đúng Quy Ðiều và Nội Luật của Ban Thế Ðạo.

- Chịu hoàn toàn trách nhiệm với vị Chưởng quản.

- Quản trị Hành chánh, Tài chánh của Ban Thế Ðạo.

- Kiểm soát các Ban Quản-nhiệm địa phương hoặc Ðại diện Ban Quản-nhiệm Trung-ương tại địa phương.

- Có quyền phê xuất tối đa 20.000 $ 00. Trên số nầy, phải được sự chấp thuận của Ban Quản Nhiệm Trung-ương

- Thủ bổn trực tiếp dưới quyền Tổng Quản-nhiệm.

2. Ðệ I Phó Tổng Quản Nhiệm:

- Phụ tá Tổng Quản Nhiệm.

- Ðiều hành công việc của 4 Trưởng Nhiệm: Kế hoạch và Tổ chức, Quốc chính, Kinh tài, Ngoại vụ.

- Chủ tọa bầu cử Ban Quản Nhiệm địa phương hay Ðại diện.

- Thay mặt Tổng Quản Nhiệm điều hành thường vụ khi vị nầy vắng mặt.

3. Ðệ II Phó Tổng Quản Nhiệm:

- Phụ tá Tổng Quản Nhiệm

- Ðiều hành công việc của 4 Trưởng Nhiệm: Giáo lý, Văn hóa, Xã hội, và Thanh sát.

- Thay mặt Tổng Quản-nhiệm điều hành thường vụ khi vị nầy và vị Ðệ I Phó Tổng Quản Nhiệm vắng mặt.

4. Thủ bổn:

- Lập và giữ số sách chi thu tài chánh của Ban Thế Ðạo.

- Giữ tối đa là 50.000 $ 00, trên số nầy phải gởi vào Hộ Viện hoặc Ty Ngân Khố.

- Phiếu gởi và phiếu chi thu phải có chữ ký của vị Tổng Quản-nhiệm.

- Tất cả sổ sách tài chánh phải có chữ ký kiểm soát hằng tháng của vị Trưởng-nhiệm Thanh sát.

- Chịu trách nhiệm về kế toán và tài chánh của Ban Thế Ðạo và chịu sự kiểm soát của Ban Kiểm Soát Tài chánh của Hội Thánh.

5. Trưởng nhiệm Giáo lý:

- Soạn lập chương trình Giáo lý tại các Trung -Tiểu học để dâng đề nghị lên Hội Thánh cứu xét.

- Thành lập Thư viện để tập trung các tài liệu liên quan đến Giáo lý nền Ðại Ðạo.

- Phát huy và phổ thông triết lý Ðại Ðạo trong nhơn sanh.

- Nghiên cứu và xuất bản sách về Giáo lý và triết lý Ðại Ðạo.

- Hằng tháng lập Bản Tin Tức nội bộ để phổ biến cho các Ban Quản Nhiệm và cơ quan Ðạo.

6. Trưởng nhiệm Văn hóa:

- Thành lập Viện Khảo-cổ, sáng tác và dịch thuật các sách Ðạo.

- Tổ chức báo chí: Nhựt báo, Tuần báo, Ðặc san, Nguyệt san.

- Phát huy và sưu tầm Sử liệu của Ðạo.

- Nghiên cứu thành lập nhà Nội trú và các trường chuyên nghiệp cho học sinh Ðạo.

- Lập kế hoạch trợ cấp học bổng cho học sinh nghèo học giỏi.

- Vận động học bổng cho học sinh Ðạo ưu tú, nghèo, hiến thân đang học tại Ðại Học Việt-Nam hoặc xuất ngoại.

7. Trưởng nhiệm Xã hội:

- Lo về Quan, Hôn, Tang, Tế.

- Tổ chức cứu trợ.

- Tổ chức Y Tế.

8. Trưởng nhiệm Quốc chính:

- Ðưa ý kiến về ảnh hưởng của tình hình chính trị đối với Ðạo và quốc gia.

- Nghiên cứu và hội thảo về lập trường chính trị của Ðạo để có thể đệ trình lên Hội Thánh duyệt xét.

9. Trưởng nhiệm Kế hoạch và Tổ chức:

- Tổ chức nghi lễ khánh tiết của Ban Thế Ðạo.

- Soạn thảo kế hoạch chung của Ban Quản Nhiệm.

10. Trưởng nhiệm Kinh tài:

- Tổ chức kinh tế cho Ban Thế Ðạo: Nông, Công, Thương và Kỹ nghệ.

- Hoạt động tài chánh cho Ban Thế Ðạo.

- Quản trị các bất động sản và động sản của Ban Thế Ðạo.

11. Trưởng nhiệm Ngoại vụ:

- Liên lạc với các Ban Quản nhiệm Ðịa phương và Hải ngoại để tìm hiểu và giúp đỡ.

- Liên lạc với chính quyền địa phương và trung ương khi có ủy nhiệm của Chưởng quản Ban Thế Ðạo.

- Liên lạc với các đoàn thể và tôn giáo bạn để gây tình thông cảm.

- Liên lạc với các cơ quan ngoại giao khi hữu cần và với sự ủy nhiệm của Hội Thánh.

12. Trưởng Nhiệm Thanh sát:

- Kiểm soát và đôn đốc Chức sắc Ban Thế Ðạo thi hành Nội Luật.

- Kiểm soát và đôn đốc về hoạt động của các Ban Quản Nhiệm địa phương hay Ðại diện Ban Quản Nhiệm Trung ương tại địa phương.

- Kiểm soát và khuyến khích Chức sắc Ban Thế Ðạo giữ gìn Luật Ðạo.

- Kiểm soát tài chánh và tài sản của Ban Thế Ðạo.

Ðiều thứ mười ba: Văn phòng Ban Quản nhiệm Trung ương đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh và làm việc theo ngày giờ của Hội Thánh. Văn phòng các Ban Quản nhiệm khác nên đặt trụ sở tại các cơ quan Hành-Chánh-Ðạo địa phương do sự đồng ý của Khâm Châu Ðạo, tuy nhiên địa điểm có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh.

Ðiều thứ mười bốn: Ðại hội Chức sắc Ban Thế Ðạo mỗi năm họp một lần do vị Chưởng quản triệu tập vào thượng tuần tháng chạp âm lịch. Ban Quản-nhiệm họp mỗi tháng một lần do Tổng Quản-nhiệm triệu tập vào ngày Chúa nhựt cuối tháng âm lịch. Trong trường hợp đặc biệt, vị Chưởng quản có thể triệu tập Ðại hội bất thường.

Chương III: THĂNG THƯỞNG, KỶ LUẬT

Ðiều thứ mười lăm: Khi có công trạng đặc biệt, Chức sắc Ban Thế Ðạo sẽ được khen thưởng, thể theo đề nghị của Ban Quản Nhiệm Trung-ương và Chưởng quản.

Ðiều thứ mười sáu: Chức sắc Ban Thế Ðạo muốn cầu phong vào hàng phẩm Thánh thể Ðức Chí Tôn phải có 05 năm công nghiệp hành đạo không gián đoạn, được Bộ Pháp Chánh minh tra đủ lẽ theo điều kiện pháp định. Hồ sơ gồm có:

- Ðơn xin cầu phong.

- Chứng chỉ cấp bực hiện tại do chi Thế cấp phát.

- Tờ hiến thân trọn đời cho Ðạo.

- Tờ khai lý lịch, công nghiệp và tờ tánh hạnh có sự xác nhận của Tổng Quản-nhiệm và sự phê kiến của vị Chưởng quản.

- Tờ ước nguyện giữ gìn trai giới theo Luật Ðạo.

Quyền phong vị vào hàng Chức sắc Thánh thể Ðức Chí Tôn do Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài đề cử và dâng lên quyền thiêng liêng định đoạt. Nếu cầu phong vào hàng Thánh thể, nguyên tắc đối phẩm sau đây sẽ được áp dụng:

- Hiền Tài cầu phong Giáo Hữu.

- Quốc Sĩ cầu phong Giáo Sư.

- Ðại Phu cầu phong Phối Sư.

- Phu Tử cầu phong Ðầu Sư.

Ðiều thứ mười bảy: Chức sắc Ban Thế Ðạo muốn cầu thăng theo phẩm vị của Ban Thế Ðạo từ dưới lên trên cũng phải đầy đủ điều kiện ghi ở điều 16, ngoại trừ việc lập tờ hiến thân phế đời hành đạo. Sự cầu thăng hay tuyển trạch vào hàng Quốc Sĩ trở lên phải do quyền thiêng liêng định đoạt.

Ðiều thứ mười tám: Hội Ðồng Kỷ Luật.

Ban Thế Ðạo có một Hội Ðồng Kỷ Luật để phán quyết hình phạt đối với Chức sắc Ban Thế Ðạo vi phạm Luật Ðạo như: Tân Luật, Quy Ðiều và Nội Luật Ban Thế Ðạo.

Thành phần Hội Ðồng Kỷ Luật gồm có:

- 1 vị Chủ Tọa: Lựa trong hàng Chức sắc Ban Thế Ðạo cao phẩm hơn can nhân, trường hợp chưa có Chức sắc cao phẩm hơn thì Chủ Tọa là một Chức sắc Hiệp-Thiên-Ðài cao phẩm hơn do vị Chưởng quản chỉ định.

- 2 vị Nghị Án: Chức sắc nầy đồng phẩm với can nhân.

- 1 vị Thư Ký chép án: Vị nầy có thể là một Chức sắc Ban Thế Ðạo hoặc vị Thư Ký Văn phòng Tổng Quản Nhiệm.

- 2 vị Nghị Án và Thư Ký cũng do Chưởng quản chỉ định.

Án lịnh của Hội Ðồng Kỷ Luật là chung thẩm nhưng phải có sự duyệt y của vị Chưởng quản mới được ban hành.

Hội Ðồng Kỷ Luật chỉ xét xử Chức sắc Ban Thế Ðạo khi phạm lỗi nhẹ như:

- Tuyên bố về chánh trị sai với lập trường của Hội Thánh.

- Lấy tư cách Chức sắc Ban Thế Ðạo đi dự hội với các đoàn thể, tôn giáo, hay các nhóm chính trị mà không có phép của Chưởng quản Ban Thế Ðạo.

- Thất lễ với người trưởng thượng.

- Bỏ bê phận sự hoặc bất tuân lịnh của Ban Quản-nhiệm Trung Ương.

Trong những trường hợp kể trên, vị Tổng Quản Nhiệm lãnh phần minh tra, đệ hồ sơ lên vị Chưởng quản để đưa nội vụ ra Hội Ðồng Kỷ Luật. Tùy theo trường hợp, can nhân có thể bị ngưng chức từ 1 tới 2 năm.

Hội Ðồng Kỷ Luật được triệu tập do quyết định của Chưởng quản Ban Thế Ðạo.

Ðiều thứ mười chín: Khi Chức sắc Ban Thế Ðạo phạm tội nặng hay tái phạm, vị Chưởng quản đệ trình lên Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài để đưa ra Tòa Hiệp-Thiên-Ðài, chiếu theo Thập Hình của Ðức Lý Giáo Tông mà xét xử do sự minh tra và đề nghị của Bộ Pháp Chánh.

Chương IV: TÀI CHÁNH

Ðiều thứ hai mươi: Mỗi tháng, Chức sắc Ban Thế Ðạo chung đậu một số tiền nhiều ít do Ban Quản-nhiệm Trung ương quyết định để giúp quỹ điều hành Ban Thế Ðạo. Riêng ở địa phương, Ban Quản-nhiệm được quyền sử dụng 60% để điều hành, còn 40% để giúp Ban Quản Nhiệm Trung-ương.

Ðiều thứ hai mươi mốt: Ngân quỹ của Ban Thế Ðạo sẽ được dùng vào việc tương trợ tang tế, tiếp tân, điều hành và phát triển các cơ sở của Ban Thế Ðạo.

Ðiều thứ hai mươi hai: Ban Thế Ðạo cũng có thể nhận sự trợ giúp của các nhà hảo tâm, không phân biệt Ðạo hay Ðời, gồm hiện kim, hiện vật, động sản và bất động sản.

Ðiều thứ hai mươi ba: Tài sản của Ban Thế Ðạo đương nhiên là tài sản của Hội Thánh Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ Tòa-Thánh Tây-Ninh.

Chương V: SỬA ÐỔI NỘI LUẬT

Ðiều thứ hai mươi bốn: Ðể thích ứng với những tiến triển của tình thế nếu cần, Hội Thánh có thể sửa đổi một phần hay toàn phần Bản Nội Luật nầy.

Ngoài ra, 2/3 Chức sắc Ban Thế Ðạo trong Ðại hội thường niên hoặc bất thường cũng có thể đệ đạt ý kiến lên Hội Thánh để xin tu chỉnh Nội Luật.

Ngoài ra, các điều khoản khác không thay đổi.

Nội Luật Ban Thế Ðạo được Hội Thánh Hiệp-Thiên Ðài duyệt y do phiên họp ngày 22 tháng 11 năm Ðinh Mùi (dl: 23-12-1967) Vi bằng số 03/VB.

Nội Luật đã sửa đổi chiếu theo Vi bằng số 07/VB do phiên nhóm Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài tại Giáo Tông Ðường ngày 30 tháng 02 năm Mậu-Thân (dl: 28-03-1968) dưới quyền chủ tọa của Ðức Thượng Sanh.

Nay chiếu Vi-bằng Hội Thánh Hiệp-Thiên-Ðài số 02/VB ngày 27 tháng 11 năm Mậu-Thân (dl: 15-01-1969) dưới quyền chủ tọa của Ðức Thượng Sanh, Nội Luật được tu chỉnh lần thứ nhì và ban hành cho toàn Ban Thế Ðạo tuân hành.

Chủ Tọa: THƯỢNG SANH

_________________

Lời giáng dạy của Ðức Hộ Pháp về Ban Thế Ðạo

Đây xin trích lời giáng dạy của Ðức Hộ Pháp về Ban Thế Ðạo trong đàn cơ tại Giáo Tông Ðường đêm mùng 04-07-Kỷ Dậu (dl: 16-08-1969) hồi 20 giờ 45 phút, Phò loan: Hiếp Pháp - Khai Ðạo. Hầu đàn gồm: Ðức Thượng Sanh, Ngài Hiến Ðạo, Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu, cùng nhiều Chức sắc HTÐ và CTÐ.

HỘ PHÁP

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

III. Ðức Thượng Sanh bạch:

- Bản Nội Qui Ban Thế Ðạo đã được Hội Thánh Hiệp Thiên-Ðài tu chỉnh vài điều khoản để cho sự tuyển chọn Chức sắc Ban Thế Ðạo được thực hành kỹ lưỡng hơn, hầu gìn giữ chơn giá trị của Ban Thế Ðạo, xin dâng lên Ðức Ngài phê chuẩn.

- Cười . . . Cũng là việc hữu hình nữa, nếu các bạn để trọn tâm trí về việc ấy mà tu chỉnh thì phải hay thêm chớ sao. Vậy Bần đạo chấp thuận.

IV. Ðức Thượng Sanh bạch:

- Hội Thánh Cửu-Trùng-Ðài còn thiếu Chức sắc cao cấp đầy đủ khả năng điều khiển, nên guồng máy Hành Chánh Ðạo không tiến triển khả quan.

- Cứ để vậy còn hơn là đem những phần tử đã kể là bất lực thì càng rối thêm.

Ðức Lý Ðại Tiên có thảo luận với Bần đạo về việc tuyển chọn Chức sắc cao cấp Cửu-Trùng-Ðài thì nên tìm kiếm nhân tài trong hoặc ngoài Ban Thế Ðạo, sẵn lòng tình nguyện hiến thân phục vụ cho Ðạo, thì các bạn nên mời về tham khảo ý kiến, nếu được thì Ðức Lý Ðại Tiên đặc cách ân phong quyền tước để phụng sự có hiệu lực hơn. Các bạn đồng ý chăng?

Ðức Thượng Sanh bạch:

- Nếu áp dụng thể thức đó thì phải đợi thời gian mới tuyển chọn được nhơn tài sẵn lòng phục vụ. Tiểu đệ và các bạn Hiệp Thiên-Ðài sẽ cố gắng thực hành lời chỉ giáo của Ðức Ngài.

- Chừng đó Bần đạo sẽ giúp đỡ các bạn thành lập đàn cơ nơi Cung Ðạo.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Chào các bạn. THĂNG.

Tổng số Hiền Tài đã được tấn phong đến ngày 15-08-1973

Kể từ ngày Ðức Thượng Sanh ban hành Quy Ðiều Ban Thế Ðạo (Ngày 28-2-Ất Tỵ, dl 30-3-1965), Hội Thánh Hiệp Thiên-Ðài đã tấn phong 5 đợt Hiền Tài, kể ra như sau:

 

- Khóa I :

57 vị,

tấn phong ngày 21-09-1966

- Khóa II :

123 vị,

tấn phong ngày 30-12-1967

- Khóa III :

78 vị,

tấn phong ngày 15-02-1970

- Khóa IV :

162 vị,

tấn phong ngày 19-04-1972

- Khóa V :

286 vị,

tấn phong ngày 15-08-1973

 

————

 

Tổng cộng:

706 vị

Hiền Tài đã được tấn phong.

Số người đã nạp hồ sơ cầu phong Hiền Tài nhưng chưa được tấn phong là: 424 vị.

_____________________

Văn thư của Ngài Bảo Thế giải thích phù hiệu Hiền Tài

 

 

Hiệp-Thiên-Đài

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Tứ thập niên)

Thượng Sanh

Tòa Thánh - Tây Ninh



Số: 01/TL

 

BẢO THẾ
Thừa quyền Thượng Sanh

 

Kính gởi: Quí vị Hiền Tài Ban Thế Ðạo.

 

Kính quí vị Hiền Tài,

Nhập vào Ban Thế Ðạo với phẩm Hiền Tài, quí vị đã lãnh phù hiệu để mang khi chầu lễ Ðức Chí Tôn và khi đi đường. Tôi xin giải thích ý nghĩa của phù hiệu về sở dụng thiêng liêng và sở dụng phàm trần của nó cho quí vị tường lãm.

Số là Chức sắc Thiên phong Cửu-Trùng-Ðài có nhiệm vụ trực tiếp với đời để độ đời vào cửa Ðạo nên cần thiết nhờ ba Cổ-Pháp của Giáo-Tông ủng hộ trong mọi hành tàng của mình. Quí vị Hiền Tài còn một phần ở thế, nên phải tùng Chi Thế Hiệp-Thiên-Ðài, lại thêm có một phần tùng Ðạo nên vẫn gần Hội Thánh Cửu-Trùng-Ðài, tức phải mang Cổ Pháp của Giáo Tông. Một ngày kia, quí vị nào có đủ điều kiện muốn hiến thân trọn vẹn cho Ðạo thì được xin vào hàng Thánh Cửu Trùng-Ðài, cũng giữ luôn phù hiệu hiện hữu để bảo vệ mình về cả hai phần hữu hình và vô vi. Ba Cổ-Pháp của Giáo Tông là: Phất trần, Thư Hùng kiếm và Long Tu phiến.

Phất trần biểu hiệu sự quét sạch trược chất vấn vương lòng phàm. Thư Hùng kiếm là gươm thần huệ nghiêm trị xảo trá, khử trừ tà mị. Long Tu phiến xướng xuất khả năng mở vòng oan trái, đưa chơn linh tái nhập trường thi Tiên Phật.

Về sở dụng thiêng liêng: cả ba Cổ-Pháp hiệp lại làm phép phò trì Thiên mạng và vì phép nầy sắc bén cả hai bề sống và lưỡi thì chẳng phải mang nó để làm đồ trang sức mà để làm khuôn luật khử ám hồi minh, nắm bổn chơn pháp.

Còn sở dụng phàm trần là phù hiệu có cái vi diệu đưa đời dành cho Ðạo một ý niệm sùng đạo và thân dân, và cũng đưa Ðạo dành cho đời tất cả tinh thần phục vụ. Hiểu ý nghĩa siêu nhiên mầu nhiệm của phù hiệu, quí vị không còn thắc mắc khi mang nó vào thân và sẽ gặp nhiều may duyên trong nghiệp tương lai của quí vị về mặt đời lẫn mặt Ðạo.

Nay kính.

Tòa Thánh, ngày 2-9-Bính Ngọ (dl 15-10-1966).
BẢO THẾ, Thừa quyền Thượng Sanh.
LÊ THIỆN PHƯỚC (ấn ký)

_____________________

Thông Tri của Hội Thánh Cửu-Trùng-Ðài về Tang lễ của Hiền Tài qui vị

 

 

Cửu-Trùng-Đài

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Tứ thập lục niên)

Ngọc Ch. Phối-Sư

Tòa Thánh - Tây Ninh



Số 14-NCPS/TT

 

THÔNG TRI
Hội Thánh Cửu Trùng Ðài

 

Kính gởi:

Khâm Trấn, Khâm Thành, Khâm Châu,

 

Ðầu Phận, Ðầu Tộc Ðạo và Chức việc Bàn Trị Sự Nam và Trung-Tông-Ðạo.

 

Kính chư Hiền Hữu,

Chiếu Vi Bằng số 6/VB phiên nhóm thu hẹp Hội Thánh Lưỡng Ðài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện nam nữ tại Giáo-Tông-Ðường ngày 07-03-Tân Hợi (dl: 02-04-1971) dưới quyền chủ tọa của Ðức Thượng Sanh, chưởng quản Hiệp-Thiên-Đài, nơi khoản 3 quyết nghị 2 điều về việc đài thọ cấp táng phẩm Hiền Tài Ban Thế Ðạo khi qui vị như sau:

A. Chư vị Hiền Tài đã thật sự hiến thân phế đời hành đạo, có lãnh phận sự do Hội Thánh bổ dụng, khi qui vị, Hội Thánh mới đài thọ về phần cấp táng, còn vị nào mãi lo việc đời, không hiến thân hành đạo thì phần tổn phí về cuộc tống táng do gia đình người qui vị đài thọ.

B. Ngoài ra, vị Hiền Tài nào có ăn chay 10 ngày một tháng, do tờ chứng nhận của Bàn Trị Sự nơi đương sự cư ngụ, thì khi qui vị mới được Hội Thánh cho làm lễ theo phẩm Lễ Sanh (cúng tế, cầu siêu, chèo hầu tại Khách đình, an táng có bàn đưa 1 lọng và 2 Lễ sĩ hầu tới huyệt). Còn vị nào không có ăn chay thì khi qui vị chỉ hành lễ Bạt tiến mà thôi (không có chèo hầu, không có bàn đưa 1 lọng và không có lễ sĩ hầu).

Ðể thi hành theo Vi Bằng chiếu thượng, chư Hiền Hữu cần lưu ý và nhắc nhở Chức việc Bàn Trị Sự đương quyền hiểu biết thực hành khi gặp trường hợp nói trên thuộc phạm vi hành sự của các cấp Hành Chánh Ðạo địa phương cho châu đáo.

Quyền Thượng Thống Lại Viện thi hành và ban hành thông tri nầy đến các nơi rõ biết.

Nay kính

Tòa Thánh, ngày 28-6-Tân Hợi (dl 18-8-1971)

THÁI CPS

Q.THƯỢNG CPS

NGỌC CPS

(ấn ký)

(ấn ký)

(ấn ký)

Thái Bộ Thanh

Thượng Tửng Thanh

Ngọc Nhượn Thanh

     

PHÊ CHUẨN:

ÐẦU SƯ
Ch. quản Cửu-Trùng-Ðài nam phái.
(ấn ký)
Thượng Sáng Thanh

Vâng lịnh ban hành:

 

Nội Chánh, ngày 28-06-Tân Hợi
(dl: 18-08-1971)

Q. Thượng Thống Lại Viện
Giáo Sư Ngọc Tịnh Thanh
(ấn ký)

 

 

BAN THƯỞNG

Gò Kén ngày 12 tháng Giêng Ðinh Mão (13 Fevrier 1927)

Thầy dạy: "Thầy đã lập Ðạo nơi cõi Nam nầy, là cốt để ban thưởng một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy lại tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo Thiên lập Ðịa, chưa nước nào dưới quả Địa cầu 68 nầy đặng vậy. Cốt để ban thưởng các con thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao!"…

 

 

BAN THƯỞNG CHỨC SẮC

F: Récompenser dignitaires.

Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ngày 21-02-Mậu Tuất (1958) dạy rằng: "Lão nhận sự thăng thưởng là một dịp khuyến khích cho những kẻ hữu công, nếu Chức Sắc hẳn thật xứng đáng thì Lão lấy làm vui trao cho những vị ấy Thiên tước của Đức Chí Tôn đặng giúp họ trên đường lập vị. Nhưng còn lắm phần ham ngôi phẩm mà phục vụ thì Lão rất buồn và tiếc dùm cho cứu cánh của kiếp sanh của họ. Về việc ban thưởng Chức Sắc, không phải có 5 năm thâm niên trở sắp lên là đủ điều kiện được cầu thăng và được thăng:

- Thứ nhứt: Phương diện hạnh đức.
- Thứ nhì: Trình độ học thức.
- Thứ ba: Tinh thần phục vụ.
- Thứ tư: Khả năng giáo hóa nhơn sanh.

 

 

BAN TỨ VỤ

班 四 務
E: Committee of four affair.
F: Comité de 4 affaires.

Ban: Một tổ chức gồm nhiều người có phận sự đặc biệt. Tứ: Bốn. Vụ: Việc. Ban Tứ Vụ là một ban gồm bốn vụ:

- Hộ Vụ, - Công Vụ, - Lễ Vụ, - Lương Vụ.

Tại Văn phòng của mỗi Tộc Ðạo, vị Lễ Sanh Ðầu Tộc Ðạo phải tổ chức Ban Tứ Vụ của Thánh Thất cho đầy đủ, và hướng dẫn các Chức việc Bàn Trị Sự và Ðạo hữu trong Tộc Ðạo hiểu rõ quyền hạn và trách nhiệm của mỗi Vụ để phối hợp hoạt động Ðạo sự nơi Thánh Thất và trong Tộc Ðạo được hiệu quả và tiến triển tốt đẹp. Sau đây là nhiệm vụ của mỗi Vụ:

Hộ Vụ: Lo về tài chánh, giữ Sổ Thâu Xuất hằng ngày, minh chứng cho hợp lệ.

Công Vụ: Tu tạo, gìn giữ tài sản của Ðạo nơi Thánh Thất.

Lễ Vụ: Quán xuyến về nghi lễ, cúng Tứ thời, Ðàn lệ, Sớ điệp, quả phẩm, nhang đèn nơi Thánh Thất.

Lương Vụ: Khuyến khích, cổ động việc tự túc lương thực, lúa gạo cho Chức sắc, Chức việc, các công quả nơi Thánh Thất và bá tánh đến có đủ chi dùng.

 

 

BÁN ĐỒ NHI PHẾ

半 途 而 廢
E: To stop half-way.
F: S'arrêter à demi-chemin.

Bán: Phân nửa, một nửa. Ðồ: Ðường đi. Nhi: Mà, thì. Phế: Bỏ đi. Bán đồ nhi phế là nửa đường bỏ cuộc.

Ý nói: Làm việc gì được nửa chừng, khi gặp trở ngại, lòng chán nãn, đành bỏ cuộc, chịu thất bại. Ðây là một lời khuyên răn đối với những người thiếu bền tâm vững chí, thường chán nãn bỏ dở công việc nửa chừng, khiến không khi nào thành công, dù việc lớn cũng như việc nhỏ.

Đức Thượng Sanh nói: "Quí vị đã thọ lãnh sứ mạng Thể Thiên Hành Hóa thì mỗi việc làm của Quí vị đều có Thánh Thần chứng kiến, sự tận trung với Ðạo sẽ đem đến cho quí vị một phần thưởng Thiêng Liêng xứng đáng. Nếu vì một lẽ nào mà quí vị "bán đồ nhi phế" hoặc chịu làm dụng cụ cho kẻ khác phá Ðạo, tức là quí vị sẽ thất thệ và sự thất thệ là một trọng tội vô phương cứu chữa "hoạch tội ư thiên vô sở đảo dã."

Hãy nghe Đức quyền Giáo-Tông là Anh Cả của nhơn sanh nói về Đức kiên-nhẫn: "Có người thuở nay thường mang tiếng "làm chi không nên việc". Bất câu làm việc gì, lúc ban đầu thì hô-hào sốt-sắng, rồi không bao lâu lại thối chí, ngã lòng, thành ra cuộc "bán đồ nhi phế", ấy là tại không hay chịu cực và chẳng biết kiên tâm, bền lòng. Việc thế mà còn vậy, hà huống là việc tu-hành khổ hạnh? Cho nên bực tu-hành cần phải biết kiên-tâm trì chí hơn người ở thế mới nên cho: khó-khăn phải ráng, cực nhọc phải cam thì mới mong giữ tròn bổn phận. Nghĩ coi, muốn làm quan cần phải sôi kinh nấu sử, khuya sớm nhọc-nhằn từ mười năm sắp lên mới đặng, hà huống là muốn đạt phẩm-vị Thần Tiên thì bảo sao không phải cần lao khổ hạnh? Cho nên Ngạn-ngữ có câu "Chí công mài sắt chầy ngày nên kim". Chư Đạo-hữu cần phải nhắc-nhở nhau về hạnh nầy cho lắm." (Phương châm hành Đạo)

 

 

BÁN HỮU HÌNH

半 有 形
E: Semi material and semi spiritual.
F: Semi matériel et semi intellectuel.

(Bán là phân nửa, hữu hình là những hình thể thấy được).

Những hình vật mà mắt phàm có thể thấy được một phần thôi trong cái hư hư thật thật của nó. Ở đây là Thầy giải cho biết cái Chơn Thần của người là vật "Bán hữu hình".

"Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ phàm dưới thế này đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng. Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí- Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng."

 

 

BÁN NGUYỆT TRỐN CHỒNG CUNG TRĂNG

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Có công khéo khá trau nên khéo,
Phen nàng Tô dệt điệu Hồi văn.
Đừng theo tính nết ả Hằng,
Đêm khuya bán nguyệt trốn chồng cung trăng.

 

 

BÀN CỔ

盤古
E: The first ancestor of man from the Chinese legends.
F: Le premier ancêtre de l’homme d’après les légendes Chinoises.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, sự tích của Bàn Cổ như sau: Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng có trước loài người và loài vật. Đây nói về sự tích của Ông Bàn Cổ, một hóa thân của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân. Tại núi Côn Lôn, có một hòn đá tròn và lớn, đã thọ khí Âm Dương rất lâu đời, nên đã thâu được các tánh linh thông của vũ trụ mà tạo thành thai người. Sau 10 tháng 16 ngày, đúng giờ Dần một tiếng nổ vang, khối đá linh ấy nứt ra, sản xuất một vị Linh Chơn hy hữu, một người đầu tiên của thế gian, được gọi là Bàn Cổ. Vừa được sanh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả lần lần lớn lên, mình cao trăm thước (thước Tàu), đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng. Một ngày kia, Bàn Cổ chạy qua hướng Tây, bắt gặp một cái búa và một cái dùi, ước nặng ngàn cân. Bàn Cổ, tay phải cầm búa, tay trái cầm dùi, ra sức mở mang cõi trần. Ngài ước ao Trời Ðất sáng tỏ thì người và vật mới hóa sanh được. Ngài ước vừa dứt, thì tiếng sấm nổ vang, Trời trong Ðất yên, vạn vật liền sanh ra đủ cả. Ngài chỉ Trời là Cha, Ðất là Mẹ, muôn dân là con. Ngài chính là tôn chủ sáng lập thế gian, nên gọi Ngài là Thái Thượng Ðạo Quân. Ngài tự xưng là Thiên tử (con của Trời) cai trị muôn dân. Ngài là vị vua đầu tiên của thế gian nên gọi là Thiên Hoàng. Bàn Cổ là Thiên Hoàng, sanh nơi Dần Hội, thọ được 18000 tuổi rồi mới qui Thiên. Tiếp theo Thiên Hoàng là Ðịa Hoàng, rồi Nhơn Hoàng, gọi chung là Tam Hoàng. Sự tích nầy cũng có chép trong Truyện Thần Thoại Trung Quốc, rất hoang đường, nhưng cũng cho biết được rằng, Tam Hoàng gồm Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng và Nhơn Hoàng là 3 vị vua đầu tiên của nước Tàu và Ðức Thái Thượng Ðạo Quân chính là Bàn Cổ, là Thiên Hoàng và cũng là thủy tổ của loài người (người Tàu) mở ra Trời Ðất.

Thầy dạy: "Kể từ khi Thầy sai Bàn-Cổ xuống thế mở mang điạ cầu này, nhơn-loại thuở đó còn hình tượng Thiêng liêng, chưa biết mặc áo quần, còn ở nơi hang hố, chưa có nhà cửa, văn-tự. Từ đó về sau cách mấy muôn năm, đến đời Ngũ Đế, Phục-Hy, họ thường hết tâm theo "Quái điểu-tích" (tầm dấu chân chim, thú) chế ra Văn-tự để ghi nhớ. Từ đó về sau mới có lịch-sử. Nên lúc có văn-tự bất quá nghe truyền, nghe độ chừng rồi chép bướng, hỏi vậy lấy đâu làm bằng cớ ? Ấy là nói sự tích ở thế gian này mà còn chưa rõ, còn luận qua thế giới khác như nhắm mắt mò kim nơi đáy biển hay bầy kiến tìm đường lên núi Tu Di, thì đó là Học-thuyết của con người mài kiếm dưới bóng trăng, ếch nằm đáy giếng. Cũng có lắm người gọi mình là hay giỏi, dẫn người lạc bước sai đường; thân mình mù-quáng mà chưa hay, còn làm tài khôn dắt thêm kẻ tối đui thì làm sao khỏi lọt vào đám gai chông cùng sa hầm hố."

 

 

BÀN CỜ HUYỀN BÍ

E: The mysterious chess-board
F: L’échiquier mystérieux

Bàn cờ huyền bí do Ðức Phạm Hộ Pháp đưa ra vào năm 1947. Hiền Tài Lê văn Thuộc, Ðạo hiệu Chơn Ðăng giải ra được, ông dùng thể thơ lục bát viết ra lời giải, dâng lên Ðức Hộ Pháp. Ðến năm Tân Hợi (1971), Phạm Môn ấn hành.

Bàn Cờ Huyền Bí gồm 10 quân cờ có kích thước lớn nhỏ khác nhau, và được đặt tên theo hình vẽ. (Xem hình nơi trang sau). Mỗi quân cờ được làm bằng gỗ, trên đó có khắc tên và sơn màu cho đẹp. Còn bàn cờ thì cũng làm bằng gỗ, có đóng viền chung quanh.

Luận Hành Kỳ là đi từ Bàn cờ số 1 đến Bàn cờ số 2.

Luật Huờn Kỳ là đi từ Bàn cờ số 2 trở về Bàn cờ số 1, gọi là Phản bổn huờn nguyên.

 

Thượng Thừa

 

THƯỢNG SANH

 

THƯỢNG PHẨM

HIẾN PHÁP

TIẾP PHÁP

KHAI PHÁP

HỘ PHÁP

BẢO PHÁP

ÐẦU SƯ

GIÁO TÔNG

CHƯỞNG PHÁP

 

Hửu Biên

Tả Biên

 

 

Hạ Thừa

 

 

BÀN CỜ số 1

 

 

 

Thượng Thừa

 

HIẾN PHÁP

GIÁO TÔNG

TIẾP PHÁP

KHAI PHÁP

BẢO PHÁP

 

HỘ PHÁP

 

THƯỢNG SANH

THƯỢNG PHẨM

ÐẦU SƯ

CHƯỞNG PHÁP

 

Hửu Biên

Tả Biên

 

 

Hạ Thừa

 

 

BÀN CỜ số 2

 

 

 

 

Dẫn giải

 

Bàn Cờ Huyền Bí được chia làm 2 phần và 4 địa phận khác nhau:
Phía trên gọi là Thượng thừa.
Phía dưới gọi là Hạ thừa.
Phía trái gọi là Tả biên hay Tả lề.
Phía mặt gọi là Hữu biên hay Hữu lề.

 

Hình tích và Tên cờ

 

GIÁO TÔNG hình lớn lại vuông,
CHƯỞNG, ÐẦU, THƯỢNG, THƯỢNG hai chuông dính liền.
HỘ PHÁP ngang dọc đồng viên,
BẢO, TIẾP, KHAI, HIẾN, bốn viên vuông đều.

 

Lời chỉ sắp Bàn cờ huyền bí

 

Trăm năm biển khổ bụi trần,
Phản huờn nguyên bổn tinh thần chỉnh tu.
Dõng mưu, trí sĩ xuân thu,
Bốn phương tám hướng nên trù về đông.

Ðạo Thầy quyền có GIÁO TÔNG,
Hữu biên CHƯỞNG PHÁP, tả thì ÐẦU SƯ.
Nhiệm mầu huyền bí kinh thư,
Cầm cờ HỘ PHÁP trung cư bản đồ.

Tả chi hữu dực tung hô,
THƯỢNG SANH, THƯỢNG PHẨM sát vô lề tường.
Dựng gầy mối đạo đông phương,
Cần dùng tứ trụ cột rường bên ta.

BẢO, KHAI, TIẾP, HIẾN PHÁP nhà,
Chia phiên gìn giữ để mà giúp nhau.
Cuộc cờ thế sự làm sao,
Khi tan khi hiệp, khi xao khi bình.

Nhờ ông GIÁO CHỦ thông minh,
Tang thương biến đổi công bình đạo Cao.
Thuyền đạo chở cả đồng bào,
Gay chèo tôn giáo đưa vào an ninh.

 

Giải quyết Bàn cờ Huyền bí

 

Muốn cho chí cả rạng ngời,
GIÁO TÔNG vì đạo lên ngồi tòa trên.
Ðông Tây Nam Bắc tiếng rền,
BẢO, KHAI, TIẾP, HIẾN hai bên bốn vì.

Hoằng khai Ðại Ðạo tu trì,
Giữ nền tôn giáo, chức thì Thiên phong.
Trung tâm HỘ PHÁP bền lòng,
CHƯỞNG, ÐẦU, THƯỢNG, THƯỢNG song song một hàng.

 

Tích Bàn cờ Huyền bí

 

Bàn cờ gốc ở Hoa sơn,
Trần Ðoàn Lão Tổ thiệt hơn tỏ bày.
Buổi kia đang lúc hai Ngài,
Trần Ðoàn, Quỉ Cốc vui say cuộc cờ.

Ngồi chơi để sẵn vần thơ,
Cấm không được chỉ thế cờ cho ai.
Mặc dầu lời dặn rất hay,
Nhưng ông Khuôn Dẫn tự Ngài không tuân.

Chỉ qua xúi lại không ngừng,
Trần Ðoàn luận biện nếu ưng mời vào.
Tiên sinh biết rõ liền trao.
Nhường cho họ Triệu thấp cao ông Trần.

Hai bên giao kết cân phân,
Nếu thua phải thế núi thần Hoa sơn.
Ông Triệu đâu rõ nguồn cơn,
Bằng lòng chịu thế Hoa sơn cuộc cờ.

Hi Di thấu rõ thời cơ,
Thắng luôn họ Triệu, viết tờ ký tên.
Trần Ðoàn cất giữ nào quên,
Ðến sau Khuôn Dẫn được lên ngai vàng.

Cầu ông Lão Tổ hạ san,
Mời hầu cờ tướng đôi bàn cho vui.
Trần Ðoàn ba trận thối lui,
Chịu nhường Thái Tổ muốn xuôi nói rằng:

Vận người nào khác bóng trăng,
Cơn lu hồi tỏ, khi thăng khi trầm.
Hoa sơn bị cố muôn năm,
Không phương đòi lại, giấy cầm còn luôn.

Trần Ðoàn sợ Thái Tổ buồn,
Ðặt ra bài luận nói suông mấy tờ.
Khuyên đừng vui thú cuộc cờ,
Siêng lo việc nước thời giờ vàng thoi.

Trần Ðoàn sợ Triệu chẳng noi,
Tặng Bàn cờ trí học đòi Thánh Tiên.
Giải bày mối Ðạo thiêng liêng,
Nước nhà trị, loạn, ngửa nghiêng cuộc cờ.

Lưu truyền từ ấy đến giờ,
Song người trần tục lẳng lơ không màng.
Tam Kỳ Phổ Ðộ được ban,
Bàn cờ Huyền bí Trần Ðoàn Hi Di.

Thiên phong cần phải biết đi,
Ðó là huyền bí, đó là bực cao.
Tham thiền nhập định khác nào,
Muốn cho đắc đạo, công lao rất nhiều.

Khuyên cùng Ðạo hữu bấy nhiêu,
Rửa lòng trong sạch, siêu phàm đăng Tiên.
Tu thì lòng dạ chớ nghiêng,
Mong ngày thoát tục, cửa Tiên hầu gần.

Mạng căn định ở cõi trần,
Một lòng giữ Ðạo, trăm phần không sai.
May duyên nay đã đến ngày,
Cùng nhau nhứt trí, Thiên Thai thấy liền.

Cơ cầu thế sự truân chuyên,
Quốc gia thành lập, Ðạo Tiên đổi dời.
Tam Kỳ khắp cả thảnh thơi,
Muôn ân Hộ Pháp, ba nơi hiệp hòa.

 

Luận Hành Kỳ

 

Trên Trời dưới thế mấy ai,
Hơn nhau vì chỗ trí tài sĩ mưu.

1.

TIẾP lên trên HIẾN đụng tường,

2.

PHẨM qua bên tả hết đường dừng chơn.
 BẢO đừng so thiệt tính hơn,

3.

Thỉnh ông CHƯỞNG PHÁP một cơn hành trình.

4.

GIÁO TÔNG huyền bí làm thinh,

5.

ÐẦU SƯ cầu cạnh giữ gìn hữu chi.

6.

KHAI PHÁP bổn phận phải đi,

7.

THƯỢNG SANH cũng xuống một khi hạ tường.

8.

TIẾP, HIẾN lưỡng vị dựa nương,

9.

Mời Ngài THƯỢNG PHẨM tả phương luôn về.

10.

BẢO PHÁP sầu muộn chán chê,
 Một mình một góc đi về thọ trung.

11.

Ông CHƯỞNG trọn thủy trọn chung,
 Tiến lên một bực lên cùng hữu chi.

12.

HỘ PHÁP lắm nghĩ nhiều suy,
 Kiếm tìm phía hữu, việc ni phải thành.

13.

THƯỢNG PHẨM về với THƯỢNG SANH,

14.

TIẾP hồi trở lại một cành BẢO cư.

15.

THƯỢNG PHẨM cùng với ÐẦU SƯ,
 Tiến lên tường thượng thẳng ư một đàng.

16.

KHAI PHÁP cần phải qua ngang,
 Kế bên GIÁO CHỦ dưới hàng ÐẦU SƯ.

17.

THƯỢNG SANH, HIẾN PHÁP di cư,
 Ngang hàng KHAI PHÁP, ÐẦU SƯ tường lề.

18.

HƯỢNG PHẨM tả dực đi về,

19.

ÐẦU SƯ thế chỗ chớ hề để lâu.

20.

HIẾN PHÁP tài liệu năm châu,
 Hiệp cùng KHAI PHÁP để hầu thảo ra.

21.

Ðến hồi HỘ PHÁP sang qua,
Tả chi nghiên cứu quốc gia hiện tình.

22.

BẢO PHÁP, TIẾP PHÁP đăng trình,
Tiến qua hữu dực giữ gìn GIÁO TÔNG.

23.

CHƯỞNG PHÁP kế bạn đồng song,

24.

BẢO, TIẾP hai vị gắng công lên cùng.

25.

HỘ PHÁP hiểu rõ kỳ chung,
Trở về phía hữu đúc nun nhân tài.

26.

THƯỢNG SANH thẳng bước đi ngay,
Ðụng cùng THƯỢNG PHẨM hôm nay tiến hành.

27.

KHAI qua HIẾN xuống đụng ranh,

28.

ÐẦU SƯ trở lại THƯỢNG SANH ngang hàng.

29.

CHƯỞNG PHÁP phía tả vừa sang,

30.

TIẾP lên kế cận đứng ngang BẢO đồng.

31.

HỘ PHÁP nhường chỗ GIÁO TÔNG,
Tiến lên một bực phương đông danh rền.

32.

HIẾN, KHAI mau đến một bên,
Dưới chơn GIÁO CHỦ dựa nền hữu biên.

33.

CHƯỞNG, ÐẦU, THƯỢNG, THƯỢNG đăng liền,
Ðồng nhau xuống hết tả biên hạ tường.

34.

TIẾP, BẢO bên trái dựa nương,

35.

HỘ PHÁP cần đến thượng tường hữu xong.

36.

Thỉnh cầu Ðức Lý GIÁO TÔNG,
Lên ngang CHƯỞNG PHÁP, Ðức Ông lại ngừng.

37.

KHAI lên trên HIẾN giữa chừng,

38.

ÐẦU SƯ tiến hữu gặp mừng HIẾN, KHAI.

39.

CHƯỞNG PHÁP giáng hạ bằng nay,
Mời về thế chỗ dựa Ngài GIÁO TÔNG.

40.

THƯỢNG PHẨM đứng kế sát hông,

41.

TIẾP, BẢO trở xuống tả đồng phẩm ngang.

42.

HỘ PHÁP muốn hiểu ngay gian,
Phải gần tả phái hãn tàng giả chơn.

43.

GIÁO TÔNG thấu hiểu nguồn cơn,
Phản hồi tường thượng ngỏ đờn Chí Tôn.

44.

KHAI, HIẾN cần phải đến đồn,
Dưới ngai GIÁO CHỦ hữu môn lại ngừng.

45.

ÐẦU SƯ, CHƯỞNG PHÁP dời chơn,

46.

Nhường cho THƯỢNG PHẨM về mừng cùng nhau.

47.

TIẾP, BẢO cần phải ngang vào,
BẢO bên GIÁO CHỦ, TIẾP, KHAI giao kề.

48.

THƯỢNG SANH cấp tốc trở về,
Ðến ngang BẢO, TIẾP chớ hề lo âu.

49.

THƯỢNG PHẨM, CHƯỞNG PHÁP, ông ÐẦU,
Ba Ngài trở lại giải sầu tả chi.

50.

HIẾN, KHAI trở xuống một khi,

51.

Thỉnh Ngài GIÁO CHỦ cũng đi lên đường.

52.

HỘ PHÁP trở lại hữu phương,

53.

BẢO, TIẾP, hai vị lên đường THƯỢNG SANH.

54.

GIÁO TÔNG muốn rưới phước lành,
Trung tâm Tòa Thánh kính thành chứng minh.

55.

Hai Ngài KHAI, HIẾN đăng trình,

56.

ÐẦU SƯ, CHƯỞNG PHÁP đồng tình thượng phong.

57.

THƯỢNG SANH đi xuống một vòng,

58.

BẢO, TIẾP hai vị cũng đồng xuống luôn.

59.

HỘ PHÁP nghĩ lại thêm buồn,
Tả chi chẳng muốn như tuồng gượng theo.

60.

KHAI, HIẾN cũng phải ráng theo,

61.

ÐẦU SƯ thượng lộ giữ lèo GIÁO TÔNG.

62.

CHƯỞNG PHÁP, THƯỢNG, THƯỢNG công đồng,
Tiến về phía hữu ngóng trông nhơn tài.

63.

TIẾP, BẢO hạ đẳng xuống ngay,

64.

GIÁO TÔNG qua tả bằng nay một mình.

65.

ÐẦU SƯ tua khá giữ gìn,
Sát hông GIÁO CHỦ mựa hình lãng xao.

66.

HIẾN, KHAI cần phải về mau,

67.

Nhờ Ông HỘ PHÁP trở vào hữu biên.

68.

GIÁO TÔNG toan liệu nào yên,
Mau lên tường thượng độ khuyên môn đồ.

69.

IẾP, BẢO tả hữu dời vô,

70.

THƯỢNG SANH, THƯỢNG PHẨM đi vô tả biền.

71.

ÐẦU SƯ tiếp xuống đồng thuyền,

72.

HIẾN, KHAI một nhịp qua liền tả chi.

73.

CHƯỞNG PHÁP vì đạo ra đi,
Tìm Ông HỘ PHÁP kịp kỳ gặp nhau.

74.

ÐẦU SƯ, THƯỢNG, THƯỢNG đều vào,
Vân du hữu dực phước trao người lành.

75.

BẢO, TIẾP làm việc cho nhanh,
Xuống tìm đặng gặp THƯỢNG SANH ngang hàng.

76.

GIÁO TÔNG trong dạ không an,
Thương cho đồ đệ muôn ngàn tai ương.
Cần đi du ngoạn bốn phương,

77.

Nhường cho HỘ PHÁP pháp đường chỉ huy.

78.

KHAI, HIẾN cần phải ra đi,
KHAI qua mé hữu, HIẾN thì gần bên.

79.

GIÁO TÔNG trung điểm giữ nền,

80.

Nhờ hai TIẾP, BẢO tiến lên gần Ngài.

81.

THƯỢNG SANH, THƯỢNG PHẨM đi ngay,

82.

ÐẦU SƯ, CHƯỞNG PHÁP hôm nay hội đồng