CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN

 

 

Danh mục vần A

 

A

A

A.Ă.Â

A-Di-Đà-Phật

A-La-Hán

A-Lại-Da-Thức

A-Nan-Đà

A-Nậu Ða-La-Tam-Diệu-Tam-Bồ-Ðề

Aristide Briand

Allan Kardec

A-Tu-La

A-Tỳ

 

Á

Á

Á Châu

Á Đông

Á Hiến Lễ

Á Phiện (Nha Phiến)

A Phiến Chiến Tranh

Á Thánh

 

Ả Chức (Chức Nữ - Ngưu Lang)

Ả Hằng

Ả Tạ

 

ÁC

Ác

Ác Báo

Ác Cảm

Ác Đạo

Ác Giả Ác Báo

Ác Gian

Ác Hành

Ác Khí

Ác Ma

Ác Nghiệp

Ác Nghiệt

Ác Nguyệt Đảm Phong

Ác Quỉ

Ác Tâm

Ác Thần và Thiện Thần

Ác Trược

Ác Xế

 

ÁCH

Ách

Ách Đất

Ách Nước

 

AI

Ai

Ai Bi

Ai Cập

Ai Chỉ

Ai Chúc

Ai Điếu

Ai Oán

 

ÁI

Ái

Ái (1)

Ái (2)

Ái Ân

Ái Dân

Ái Hà

Ái Mộ

Ái Mộ Đạo Phật

Ái Ngại

Ái Nhân Ái Vật

Ái Nhân Như Ái Kỷ

Ái Quốc (1)

Ái Quốc (2)

Ái Tuất Thương Sanh

Ái Vật Ưu Sanh

 

ẢI

Ải

Ải Quan

 

ÁM

Ám

Ám Ảnh

Ám Mộ Lợi Danh

Ám Muội

Ám Thị

Ám Trợ

 

AN

An

An Bang Tế Thế

An Bần Lạc Đạo

An Cư

An Cư Lạc Nghiệp

An Dương Vương

An Dưỡng Tnh Thần

An Giấc Ngàn Năm

Angkor Wat

An Khương

An Nam

An Ngự

An Nhàn

An Phận

An Táng

An Tâm

An Tâm Tĩnh Trí

An Tịnh

An Vị

An Vị Thánh Tượng

An Vui

An Ủi

 

ÁN

Án

Án (1)

Án Tam Tài

Án Bất Tín Nhiệm

Án Thiên Điều

Án Tử Hình Của Chúa Cứu Thế

Án Vĩnh Bất Tự Dụng

 

ANH

Anh

Anh Cả

Anh Cả Thiêng Liêng

Anh Hài

Anh Hào

Anh Hùng

Anh Hùng Liệt Nữ

Anh Lạc (1)

Anh Lạc (2)

Anh Linh

Anh Lớn

Anh Minh

Anh Nhi

Anh Phong

Anh Tài

Anh Thư

Anh Tuấn

 

ÁNH

Ánh

Ánh Chí Linh

Ánh Hồng

Ánh Hồng Quân

Ánh Thái Dương

Ánh Xá Lợi

 

ẢNH

Ảnh Hưởng

 

AO

Ao Ô Trì

Ao Thất Bửu

 

ÁO

Áo Dà

Áo Mão

Áo Não

Áo Vá Quàng

Áo Vải Nâu Sồng

 

ẢO

Ảo Ảnh

 

ÁP

Áp

Áp Bức

Áp Chế

Áp Dụng

 

ĂN

Ăn Bom

Ăn Chay

Ăn Chay Làm Lành

Ăn Gian Xới Bớt

Ăn Mày

Ăn Mặn

Ăn Năn

Ăn Năn Sám Hối

Ăn Năn Tự Hối

 

ÂM

Âm

Âm Cảnh - Âm Ty

Âm Chất - Âm Công

Âm Công

Âm Cung

Âm Dương

Âm Dương Hòa Hiệp

Âm Dương Hòa Võ Trạch Giáng, Phu Phụ Hòa Gia Đạo Thành

Âm Dương Nam Nữ

Âm Dương Tạo Hóa

Âm Dương Thủy

Âm Dương Đôi Nẻo

Âm Dương Tương Hiệp

Âm Đài

Âm Đức

Âm Hao

Âm Hồn

Âm Khí

Âm Lịch - Dương Lịch

Âm Nhạc

Âm Nhạc Cổ Truyền

Âm Quang

Âm Quang - Dương Quang

Âm Thanh (Thinh)

Âm Thanh Sắc Tướng

Âm Thạnh Dương Suy

Âm Tuyệt Dương Sanh

Âm Ty

 

ẨM

Ẩm

Ẩm Mã Đầu Tiền

 

ÂN

Ân

Ân Ái

Ân Cần

Ân Dưỡng Sanh

Ân Điển

Ân Đức

Ân Hận

Ân Hậu

Ân Hồng

Ân Huệ

Ân Nhân

Ân Phong

Ân Sinh

Ân Tứ

Ân Xá

 

ẤN

Ấn

Ấn (1)

Ấn Chứng

Ấn Hành

Ấn Ký

Ấn - Pháp - Bùa - Chú

Ấn Tín

Ấn Tống

Ấn Tý

 

ẨN

Ẩn

Ẩn Danh

Ẩn Nhẫn

Ẩn Thân Luyện Đạo

 

ẤT

Ất

Ất Sửu (1925)

Ất Mùi (1955)

 

ÂU

Âu

Âu Ca

Âu Châu

Âu Du

Âu Dương Tu

 

ẤU

Ấu Trĩ Viện

Ấu Xuân

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

 

 

A

1) A Bộ: khẩu (口) Tiếng giúp lời: A, ô, ồ, chứ.! Như A 啊.

2) A Bộ: nạch 疒 (bệnh hay tật) Ốm, ốm nặng gọi là trầm-a 沉疴 hay 沈疴. Cũng đọc là kha. Giản thể của chữ 痾.

 

 

A.Ă.Â

E: The trinity: God.
F: La trinité: Dieu.

AĂÂ là một tá danh của Đấng Thượng-Đế dùng trong buổi tiền khai Đại-Đạo, Đức Ngài giáng điển xuống các buổi Xây bàn để tiếp xúc và cảm hóa các Môn đồ đầu tiên của Ngài, mục đích để gần gũi với người trần thế, hầu trao cho mối Đạo nhà tại đất nước Việt Nam làm khởi điểm. Kể từ đêm 10 tháng 7 năm Ất-Sửu (1925) đến ngày Noel 25-12-1925 (Ất Sửu) tại tư gia của Ðức Cao Thượng Phẩm: các Ông cũng Xây bàn như thường lệ, thoạt nhiên có Ðức Thượng Đế đến, nhưng không xưng tên thiệt mà lại mượn chữ AĂÂ làm danh hiệu để xưng hô, có lẽ Ðức Chí Tôn mượn tên ấy để cho ba người dạn dĩ lân la học hỏi. Ðến ngày 01 tháng 11 Ất-Sửu nhằm 16-12-1925 Ðức Chí Tôn dạy phải lập Ðàn Cầu Ðạo, Ðức Thượng Phẩm lập bàn Vọng Thiên Cầu Đạo tại tư gia của Người ở số 134 đường Bourdais Sài-Gòn (nay là đường Bác sĩ Calmette). Cầu Ðạo rồi Ðức Chí Tôn dạy phải dùng Ngọc Cơ để tiếp xúc với Ðức Chí Tôn, giai đoạn Xây bàn đến đây xem như chấm dứt.

A- Ý nghĩa ba chữ vần AĂÂ:

Người Cao-Đài biết con số 3 đầu tiên qua danh từ AĂÂ là tá danh của Đức Chí-Tôn Đại-Từ-Phụ qua nhận định của Đức Hộ-Pháp: "Chúng tôi thật không biết Ông AĂÂ là Đức Chí Tôn chút nào hết, bây giờ hiểu lại, Ngài xưng là Tam, mà Tam là Càn Khôn Vũ-trụ định thể, ba chấm nói rõ là số 3.Con số thiêng-liêng tạo-đoan vạn vật là vậy". Nay cơ tận độ kỳ ba Đức Chí Tôn đến lần đầu tiên với các bậc tiền bối xưng Thánh danh bằng ba chữ AĂÂ, ám chỉ:

* Ngôi thờ Đức Thượng Đế tức là Tòa Bạch Ngọc Kinh tại thế:

- A là Phật (Bát Quái Đài).

- Ă là Pháp (Hiệp Thiên Đài)

- Â là Tăng (Cửu Trùng Đài)

* Chính ra AĂÂ là ba nguyên âm đầu tiên của vần Quốc ngữ Việt Nam, tượng trưng Tam Thiên Vị, là khởi đầu của Càn Khôn Vũ trụ: đó là Thượng Ðế ba ngôi:

- A là ngôi Thái Cực chúa tể Càn Khôn Vũ-Trụ.

- Ă là ngôi Âm chưởng quản Âm quang.

- Â là ngôi Dương chưởng quản Dương quang.

Ba ngôi đó gọi là Tam Thiên Vị, ở tại trung tâm của Càn Khôn vũ trụ, chiếm ba từng Trời: thứ nhứt, thứ nhì và thứ ba trong Tam Thập Lục Thiên (36 từng Trời).

* Ba chữ AĂÂ về Đạo pháp là triết lý uyên thâm huyền nhiệm.

- A là chữ đầu của 24 chữ cái tức là Đạo (Phật)

- Ă là một dấu Âm như nửa vành trăng là (Pháp)

- Â là một dấu Dương, chứng tỏ đây là một sản phẩm hoàn hảo nhất của Đấng Chủ Tể Càn Khôn, là Thế (Tăng) chỉ toàn Vạn linh sanh chúng.

Ðấng AĂÂ đến với nhóm Xây bàn lần đầu tiên vào hạ tuần tháng 7 năm 1925 (Ất Sửu) là ba Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang, dự định Xây bàn để cầu Cô Ðoàn Ngọc Quế giáng dạy làm thi. Nhưng khi ba Ông vừa đặt tay lên bàn thì có một vị giáng vào bàn, cho bài thi:

Ớt cay, cay ớt gẫm mà cay,
Muối mặn ba năm muối mặn dai.
Túng lúi đi chơi nên tấp lại,
Ăn bòn chẳng chịu tấp theo ai.

Ông Cư thấy bài thi có ý nghĩa rất lạ, liền hỏi vị giáng cơ tên gì, thì vị ấy gõ bàn xưng là AĂÂ. Ông Cư hỏi Ông AĂÂ bao nhiêu tuổi? Ông AĂÂ gõ bàn trả lời, đếm hoài tới mấy trăm cái mà bàn vẫn tiếp gõ. Ông Cư nói chắc Ông nầy ở trển lớn lắm, nên không dám hỏi nữa. Kể từ đó, Ðấng AĂÂ thường nhập bàn giảng dạy ba Ông nhiều điều rất thâm thúy. Những điều nào quá khó khăn mà không ai giải thích nỗi thì cầu Ông AĂÂ về, Ngài giải thích rất minh bạch khiến mọi người đều kính phục.

B- Các chuyện điển hình sau đây:

1- Năm 1925, Ông Nguyễn Trung Hậu nghe đồn ba ông Cư, Tắc, Sang xây bàn có Tiên giáng cho thi hay lắm. Buổi nọ, Ông Hậu đến nhà ông Cư, ý muốn thử xem thiệt giả. Ông Hậu vào hầu đàn.Đấng AĂÂ giáng, gõ bàn cho Ông Hậu bài:

THUẦN văn chất ÐỨC tài cao,
Tên tuổi làng thơ đã đứng vào.
Non nước muốn nêu danh tuấn kiệt,
Ðến hồi búa Việt giục cờ Mao.

Không ai biết cái bút hiệu của Ông Hậu là Thuần Ðức, mà Ông AĂÂ nói lên đúng tên làm cho Ông Hậu bái phục và bắt đầu có đức tin.

2- Ông Cư xin Ông AĂÂ giải nghĩa bốn chữ: "Cờ Mao búa Việt." Đấng AĂÂ giải:

"Cờ Mao búa Việt" là vật binh quyền của Hiên-Viên Huỳnh Ðế ban cho các Trấn chư Hầu đặng quyền chinh phạt Ngũ Ðế. Hai nhà Thương, Châu còn dùng:

"Ðáng phạt thì phát cờ Mao,
"Ðáng giết thì ban búa Việt."

Cờ Mao màu hồng, trên lá cờ có đề bốn chữ: "Mao trừ loạn tặc". Búa Việt, trên lưỡi búa có khắc bốn chữ: "Việt sát phản thần" (Theo Ðạo Sử I của Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu)

3- "Một hôm, Ông Nguyễn Trung Hậu bạch cùng Ðấng AĂÂ rằng: Tôi còn nhớ hai câu đối thuở nay chưa ai đối được, xin đem ra cho Ngài đối chơi. Ðấng AĂÂ bèn đáp: Bần Đạo xin hầu đối, nhưng nếu đối ra không chửng, quí vị chớ cười và niệm tình Bần Đạo mà chỉnh lại cho.

- Câu đối Ông Hậu ra: Ngồi trên NGỰA đừng BÒ con NGHÉ.

Ðấng AĂÂ đối lại: Cỡi lưng TRÂU chớ KHỈ thằng TÊ.

- Câu đối Ông Hậu ra: Ngựa chạy mang lạc.

Ðấng AĂÂ đối lại: Cò bay le bè.

Từ đây Ông Hậu mới hết sức phục tài Ðấng AĂÂ và hết lòng tin tưởng có Đấng vô hình và sau đó Ông Hậu nhập môn vào Đạo. Không bao lâu, người đến hầu đàn tại nhà Ông Cư càng ngày càng đông, trong ấy có Ông Trương Hữu Ðức làm việc tại Sở Hỏa Xa và thi sĩ Bồng Dinh, tục kêu là Ông giáo Sỏi, làm việc tại Dinh Hiệp Lý Sài Gòn.

4- Một hôm, Ông Bồng Dinh bạch cùng Ðấng AĂÂ: Trong Truyện Kiều có câu:

"Sửa sang níp Tử xe Châu,
"Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa."

Ðấng AĂÂ đáp: Níp Tử là cái rương của Khổng Tử. Xe Châu là cái xe của Châu Võ Vương ngồi đi phạt Trụ. Cái rương của Khổng Tử dùng đựng sách vở, tức là văn chương của người văn sĩ thác rồi, thời biết bao nhiêu học thức văn chương cũng theo xác thịt mà chôn vào quan cữu, nên Nguyễn-Du mới dùng hai chữ Níp Tử để gọi cái quan tài của bậc văn chương tài tử là nàng Ðạm Tiên. Vua Châu Võ Vương ngồi long xa đi phạt Trụ, tức là gồm thâu giang sơn nhà Trụ vào đấy. Con người ở đời làm được bao nhiêu sự nghiệp, khi thác rồi cũng phủi tay không, thì chẳng khác nào bao nhiêu sự nghiệp tự mình gây dựng trong buổi sanh tiền, khi nhắm mắt rồi, thảy đều thâu vào trong linh xa vậy. Cho nên, Nguyễn Du dùng hai chữ Xe Châu để gọi cái linh xa của kẻ tài tình bạc mạng. (Trích trong Ðại Ðạo Căn Nguyên của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu).

5- Một hôm khác, Ðấng AĂÂ giáng bàn bảo ba Ông CƯ, TẮC, SANG rằng: Muốn cho Bần Đạo đến thường, xin chư vị nạp lấy mấy lời yêu cầu của Bần Đạo như sau:

- Một là đừng kiếm biết Bần Đạo là ai!

- Hai là đừng hỏi đến Quốc sự.

- Ba là đừng hỏi đến Thiên cơ.

Cả ba Ông đều ưng chịu. Kể từ đó, ba Ông thường cầu Ðấng AĂÂ về để học hỏi về thi văn.

Lại một hôm khác, Ðấng AĂÂ nói với ba Ông: "Nếu muốn Ta tận tâm truyền dạy Ðạo lý thì hết thảy phải kỉnh Ta làm THẦY cho tiện bề đối đãi."

Ba Ông mừng lắm, liền vâng chịu thọ giáo cùng Ðấng AĂÂ. Và kể từ đây, Ðấng AĂÂ giáng bàn, xưng mình là Thầy và gọi ba Ông là Môn đệ. Sau đó, Ðấng AĂÂ dạy ba Ông tổ chức Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung vào đêm Trung Thu, vào năm Ất Sửu (1925) tại nhà Ông Cư.

6- Ngày qua tháng lại tới ngày 15 tháng 8 năm Ất-Sửu (Le 1er Septembre 1925). Ngày Rằm lập bàn hương án chưng những hoa thơm, trầm, trọn ngày (nhà không tiếp khách nào hết, nhà ở đường Bourdais 134 Sàigòn, nay là đường Calmette). Ba ông vọng bàn cầu khẩn thắp hương thơm từ 10 giờ đêm tới giờ Tý, xông trầm hương thành tâm cầu quí Cô lối năm phút thì quí Tiên Nương giáng cho bài thơ dưới đây:

Im lìm cây cỏ vẫn in màu,
Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu.
Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc,
Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.
Ngựa vàng ruổi gió thoi đưa sáng,
Thỏ ngọc trau gương đậm vẻ làu.
Non nước đìu hiu xuân vắng Chúa,
Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

(Lục Nương Diêu-Trì-Cung)

Ít bữa sau ba ông cầu Đấng AĂÂ giải nghĩa câu thi của Lục Nương: câu thứ năm và câu thứ sáu:

"Ngựa vàng ruổi gió thoi đưa sáng,
"Thỏ ngọc trau gương đậm vẻ làu."

Đức AĂÂ giải: Trường quang là ánh sáng mặt trời. Kim Mã: là ngựa vàng chỉ mặt trời. Ngọc Thố là Thỏ ngọc chỉ mặt trăng. Thi văn lựa hai thú ấy mà chỉ mặt trời và mặt trăng, vì hai thú ấy chạy mau, con này rượt con kia, hết ngày tới đêm, hết đêm tới ngày, là chỉ ngày giờ qua rất mau lẹ. Thi văn dùng Kim Mã quá song, chỉ ngày giờ qua mau.

7- Ngày 28-8-Ât Sửu (dl: 15-10-1925), tức là sau Lễ Hội Yến Diêu-Trì-Cung 14 ngày, Ðấng AĂÂ nói với ba Ông Cư, Tắc, Sang rằng: - "Tôi nói lộ Thiên Cơ, trên Ngọc Hư bắt tội, xin Tam vị Ðạo Hữu cầu trên Ngọc Hư Cung tha tội Tôi, nếu không lo cầu giùm thì Tôi sẽ bị phạt". Ba Ông rất lo lắng. nên vọng bàn Hương Án cầu Diêu Trì Cung. Ðức Cao Thượng Phẩm có đặt một bài thi rồi đọc trước bàn Hương Án như vầy:

Vái van xin quí Cửu Thiên Nương,
Tâu với Ngọc Hư tỏ ngọn nguồn.
Vì nghĩa Ă. A. mang trọng tội,
Nghĩ tình đồng Ðạo để tình thương.

Ấy là Huyền diệu của Tiên ông AĂÂ, cũng là Thiêng liêng thử ba ông coi có thương Đấng AĂÂ không, đặng sửa soạn cho việc dạy ba Ông Vọng Thiên cầu Ðạo.

8- Ngày 01 tháng 09 năm Ất-Sửu (18 Octobre 1925) Có ông Thổ Ðịa Tài Thần giáng gõ bàn cho bài thi. Xin trích ra hai câu của Thổ Ðịa Tài Thần, xong cầu Đức AĂÂ giải nghĩa:

"Người trước nghĩ thương cơn tuyết nhuộm,
"Lũ sau buồn chạnh nỗi sương pha."

Đức AĂÂ giải nghĩa: Ông AĂÂ giải nghĩa cao kỳ lắm. Có câu: Mã bì tuyết thể, nghĩa là da ngựa tuyết thân, chính là trang tài tướng chinh-chiến một mình, da ngựa bọc thân, tuyết sương đắp thể. Tỏ ra là đời ly loạn, có câu tục ngữ nói: Gối vác nằm sương, chỉ là thân chịu nhọc nhằn cực khổ. Câu thi trên sửa lại như vầy thì nhằm điển văn hơn.

Đấng AĂÂ sửa lại hai câu của Thổ Ðịa Tài Thần:

"Thân trẻ phải cơn sương gối ướt,
"Thương già gặp buổi tuyết thân pha."

Tuyết thân pha: Pha nghĩa là hòa lộn, chịu lạnh lùng đến đỗi thân với tuyết cũng lạnh như nhau.

9- Ngày 26-10-Ất Sửu (dl: 12-11-1925) hai nhà báo tên là Lê Thế Vĩnh và Phạm Minh Kiên đến nhà Ông Cư hầu đàn để xem sự Xây bàn huyền diệu thế nào. Ông Cư xin với Đấng Ông AĂÂ cho mỗi vị khách một bài thi. Ðấng AĂÂ liền đáp: "Ðể Bần Đạo cho chung hai người một bài thi":

Một viết với thân giữa diễn đàn,
Bằng xua trước giặc vạn binh lang.
Nước nhà ví biết thân là trọng,
Dạy dỗ sao cho đặng mở mang.

Ai nấy đều khen chỉ có 4 câu mà gồm đủ bộ vận của 2 nhà báo.

10- Ngày 15-12-1925 ông Qúi-Cao giáng hòa nguyên vận bài thi của ông Bảo-Pháp. Trong bài có hai câu thi 3, 4 điển tích khó các Ngài cầu Đức AĂÂ giải. Bài thi như sau:

Một tiếng U Minh gióng cửa không,
Phồn hoa giục tỉnh giấc đương nồng.
Ngồi thuyền Bát Nhã qua tình biển,
Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng.

Cuộc thế lạnh lùng làn gió lọt,
Ðường đời ngán ngẩm bụi trần lồng.
Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Ðạo,
Oan trái phủi rồi phép Phật thông.

Đức AĂÂ giải nghĩa hai câu thơ 3 và 4 của Quí Cao: Bát-Nhã Ma-La-Phật là Phật độ vong hồn qua khỏi biển khổ đặng đến Tây Phương, vì trước khi đến Tây Phương phải qua một cái biển khổ. Biển tình: Tình là oan oan, oan oan là khổ. Biển tình là biển khổ. Phồn hoa: (Phồn nghĩa là trong vòng; hoa nghĩa là sắc dục). Phồn hoa nghĩa là trong vòng sắc dục. Giấc phồn hoa là giấc phàm.

11- Ngày 27-10-Ất Sửu (1925), Bà Cửu Thiên Huyền Nữ giáng dạy ba Ông Vọng Thiên Cầu Ðạo vào ngày mùng 01-11-Ất Sửu (dl: 16-12-1925).

12- "Mãi đến đêm Noel (dl: 24-12-1925), Thất Nương Diêu Trì-Cung giáng cơ truyền cho ba Ông phải chỉnh đàn cho nghiêm hầu tiếp giá. Nghe vậy, mấy Ông CƯ- TẮC- SANG nửa mừng nửa sợ, lật đật sắm đủ hương, đăng, hoa, trà, tửu, quả, chỉnh đàn cho có nghi tiết, đoạn hai Ông CƯ và TẮC mới ngồi chấp cơ. Cơ giáng như vầy:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
Giáo Đạo Nam phương

Muôn kiếp có TA nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

Ðêm nay phải vui mừng là vì ngày TA đã xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây. TA rất vui lòng mà đặng thấy Đệ tử kính mến TA như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn TA. TA sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến TA hơn nữa. (Cúng tại nhà Ông Cư 134 Bourdais- Sài Gòn).

Ðức Cao Ðài lại phán rằng: "Bấy lâu Thầy vẫn tá danh AĂÂ là cốt để dìu dắt các con vào đường đạo đức, hầu chẳng bao lâu đây, các con phải ra giúp Thầy khai Ðạo. Các con thấy Thầy khiêm nhượng là dường nào chưa? Các con nên bắt chước trong mảy mún thì mới xứng đáng là người đạo đức." (Trích Ðại Ðạo Căn Nguyên của Bảo Pháp)

Đức AĂÂ giáng ngày 31 Décembre 1925, có lời rằng:

"Ba con thương Thầy lắm há? Con thấy đặng sự hạ mình của AĂÂ như thế nào chưa? Con có thấy thấu đáo cái quyền năng của Thầy chưa? Người quyền thế nhứt như vậy có thể hạ mình bằng AĂÂ chăng? AĂÂ là Thầy. Thầy đến con thế ấy con thương Thầy không?"

Ông Cao Quỳnh Cư bạch: - Thấy nhơn sanh chưa rõ sự huyền diệu của Thầy, họ nói phạm thượng, ba con binh vực Thầy, ba con cải vã với họ.

Thầy biết ... Cười …

- Sự nhỏ nhẹ của THẤT NƯƠNG đó, con bằng mảy mún gì chưa ? Học hỏi sự nhỏ nhẹ ấy.

- Sự cao kỳ của LỤC NƯƠNG, con có đặng mảy mún gì chưa? Học sự cao kỳ ấy.

- Sự nhân đức của NHẤT NƯƠNG, con có chút đỉnh gì chưa? Phải học nhân đức của Nhất Nương.

- Tình nghĩa yêu mến của con có bằng BÁT NƯƠNG không? Phải học.

- Phải học tình nhân ái, trung tín, cứu giúp của ba con có đặng như CỬU THIÊN NƯƠNG NƯƠNG chăng ? Phải học gương. (Cửu Thiên Nương Nương là Ðức Phật Mẫu).

- Sự kính nhường ba con có bằng CỬU NƯƠNG chăng? Phải học.

* Thơ của Đấng AĂÂ:

Người hứng trăng thanh kẻ bụi vùi,
Âm Dương cách trở chẳng cùng vui.
Hạc mây đã khỏi lâm trần cấu,
Cõi tục thương người xúc dạ Tôi.

Từ tháng 10 và tháng 11 năm Ất Sửu (dl: 06-12-1925 đến 23-12-1925) Thi văn dạy Ðạo của Ðức Chí Tôn tá danh AĂÂ và các Ðấng, có khi xướng họa với nhau:

Đức AĂÂ (họa Bồng Dinh)

Nhớ tình nhả ngọc với gieo vàng,
Bồng đảo trần gian cách trở đàng.
U-hiển không từ Nhơn Nghĩa cũ,
Gặp nhau xin phó bóng thiều quang.

AĂÂ (dl: 06-12-1925)

Nước trí non nhân hứng Ðạo thoàn,
Một bầu nhựt nguyệt nỗi mênh mang.
Ðờn tòng réo rắt gieo hơi oán,
Nhạc suối ro re trổi khúc xang.

Chim nước chào người bay rộn rực,
Cây che tiếp khách bước an nhàn.
Dừng chơn ngó lại miền nhơn sự,
Thương kẻ lo đời chẳng rảnh rang.

Vịnh Mai

Mai là cốt cách liễu tinh thần,
Thi thiệt hồn mai tuyết ấy trần.
Mai tuyết không thi mai tuyết não,
Thi không mai tuyết thế không xuân.

(14-12-1925)

Cũng đồng địa vị cũng đồng đường,
Hứng tuyết tìm mai dưới giọt sương.
Mai tuyết hiệp đôi mai tuyết đẹp,
Tuyết giành trong sạch mai giành hương.

(14-12-1925)

Nhơn vô tùng thế tắc tùng thiên,
Ưu lự trần gian ý vị nhiên.
Mạc hối tiền trình căn dĩ định,
Tự nhiên dĩ hậu phản như tiền.

(14-12-1925)

A.Ă.Â.

Mừng thay gặp gỡ Ðạo Cao Ðài,
Bởi đức ngày xưa có buổi nay.
Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc,
Gìn lòng tu tánh chớ đơn sai.
Có cơ có thế có tinh thần,
Từ đấy Thần Tiên dễ đặng gần.
Dưỡng tánh tu tâm tua gắng sức,
Ngày sau toại hưởng trọn Thiên ân.

(20-12-1925)

 

 

A-DI-ĐÀ-PHẬT

阿 彌 陀 佛
E: Amita Buddha.
F: Amitabha.

(A là Vô, Di-Đà là lượng) Đây là tên một vị Phật, còn gọi là Vô Lượng Quang Phật, tức là ông Phật sáng suốt, không đếm lường được. Danh từ này gốc tiếng Phạn, dịch âm từ chữ Amita, dạng viết tắt của hai chữ Phạn (Sanskrit) là Amitābha và Amitāyus. Amitābha nghĩa là Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng, Amitāyus là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng.

Tên của một vị PHẬT quan trọng, được tôn thờ nhiều nhất trong Ðại Thừa (s: Mahāyāna). A-DI-ĐÀ là Giáo chủ của cõi Cực Lạc (s: Sukhāvatī) ở phương Tây. Phật A-Di-Đà được tôn thờ trong Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ. Trong Phật gia (s: Buddhakula) thì Phật A-DI-ĐÀ được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử. Vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Thân hình của Ngài thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn ở phương Tây. Tay của Ngài bắt Ấn thiền định, giữ Bát, dấu hiệu của một Giáo chủ. Những trái cây trong Bình Bát tượng trưng cho trí huệ phong phú của Ngài. Tòa sen tượng trưng cho sự thanh tịnh và hai con công là biểu hiện của sự thoát hiểm, thoát khổ. Tại Ấn Ðộ và Tây Tạng, người ta tin rằng con công có thể ăn tất cả những chất độc mà không bị ảnh hưởng gì.

Phật A-DI-ĐÀ cũng thường được trình bày với hình tượng mang Vương miện kết bằng ngọc quí, có khi dưới dạng của Pháp Tạng tỉ-khâu, đầu cạo trọc, một dạng tiền kiếp của Ngài. Thông thường A-Di-Đà được vẽ ngồi trên tòa sen, tay Ngài bắt ấn Thiền hay Ấn-giáo-hóa. Cùng được thờ chung với A-Di-Đà là hai vị Ðại Bồ Tát, đó là Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara) đứng bên trái và Ðại Thế Chí (s: mahāsthāmaprāpta) đứng bên mặt của Ngài. Có khi người ta trình bày Ngài đứng chung với Phật Dược Sư (s: bhaiṣajyaguru-buddha). Tương truyền rằng A-Di-Đà từng là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ Đạo, Ngài từ bỏ ngôi báu và trở thành một Tỉ-khâu với tên Pháp Tạng (s: Dharmākara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và nguyện giúp chúng sinh sống trong cõi Cực Lạc của mình cũng sẽ thành Phật. Ngài lập 48 đại nguyện nhằm giúp chúng sinh giải thoát. Các lời nguyện quan trọng nhất là: "Sau khi TA đạt chính quả, chúng sinh trong khắp mười phương thế giới chỉ cần nghe đến tên TA là đã khởi niệm cầu đạt quả vô thượng. Lúc họ chết mà nhớ nghĩ đến TA, TA sẽ hiện đến cùng quyến thuộc xung quanh để giúp họ khỏi sợ hãi. Nếu không được như thế thì TA quyết không thành Phật. Sau khi TA đạt chính quả, chúng sinh trong vô số thế giới chỉ cần nghe đến tên TA, muốn thác sinh trong Tịnh độ của TA để trau giồi thiện nghiệp thì họ phải được toại nguyện. Nếu không được như thế thì TA quyết không thành Phật".

Nhờ phúc đức tu học, cuối cùng Pháp Tạng trở thành Phật A-Di-Đà, Giáo chủ cõi Cực Lạc. Trong lịch sử Đạo Phật, việc tôn xưng A-Di-Đà là một mốc phát triển quan trọng. Phép niệm A-DI-ĐÀ là một cách tu dưỡng mới của Phật tử, không phải trải qua vô số kiếp. Ðây là cách tu dưỡng dựa vào Tha lực, dựa vào đại nguyện của một vị Phật – một phép tu "nhanh chóng, dễ dàng" hơn chứ không phải dựa vào tự lực của chính mình. Ðó là phép tu nhất tâm niệm danh hiệu "NAM-MÔ A DI-ĐÀ PHẬT" lúc lâm chung để được sinh vào cõi của Ngài.

1. (Tôn giáo; Sanskrit: Amītabhã) Phật A-Di-Đà là hiện thân đời sống vĩnh cửu và trí tuệ hào quang nên có hai danh hiệu: Vô lượng thọ Phật (đời sống của Phật dài vô lượng, vô biên) và Vô lượng quang Phật (hào quang của Đức Phật chiếu tới các cõi thập phương). Theo lời Phật Thích Ca trong Kinh A-Di-Đà thì cõi Phật ở phương Tây cách xa trái Đất hàng vạn ức dặm. Cõi Phật có tên Cực Lạc quốc (Sukhavati), là nơi có đời sống hạnh phúc, an lạc. Chúng sinh nào muốn được về cõi Cực Lạc thì phải thành tâm tu trì tin Đức Phật A-Di-Đà.

Đi theo Phật A-Di-Đà thường có hai vị Bồ Tát: Đại Thế Chí và Quan Thế Âm. Ba vị này được gọi là Di-Đà Tam Tôn.

2. (Mỹ-thuật) Tượng A-Di-Đà thường có những nét đặc trưng: đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà-sa, ngồi hoặc đứng trên toà sen. Xét về giá trị nghệ thuật, ở Việt Nam nổi tiếng là pho tượng A-Di-Đà ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh) tạc bằng đá xanh. Tượng cao 1,87 m, tính cả bệ 2,77 m. Tượng có tư thế ngồi hai chân xếp bằng, thuyết pháp. Cánh tay kê lên đùi, hai bàn tay để ngửa trong lòng, mình mặc áo cà-sa. Dáng tượng thanh tú, cân đối. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có loại tượng Di-Đà Phát Quang (Di Đà Phóng Quang) đứng thẳng, một tay kết ấn Cam Lồ, một tay duỗi thẳng xuống. Điển hình là tượng Di Đà Phát Quang ở chùa Tây Phương (Hà Tây). Trong các chùa Việt Nam thường thờ bộ Di Đà Tam Tôn. Di-Ðà Tam Tôn tượng trưng ba thể tánh: Bi, Trí, Dũng của Phật.

1- A-Di-Ðà-Phật tượng trưng thể tánh sáng suốt: TRÍ.

2- Quan Thế Âm Bồ Tát tượng trưng thể tánh BI.

3- Ðại Thế Chí Bồ Tát tượng trưng thể tánh DŨNG.

A-DI-ĐÀ-PHẬT trong Đạo Cao-Đài ngày nay:

- A-Di-Đà 阿彌陀 là một trong những vị Phật quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Ngài được thờ trong các ngôi chùa của phái Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

- A-Di-Đà là một vị Phật làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Ngài biểu hiện cho từ bi và trí tuệ. Ngài có phát 48 lời nguyện rộng lớn là cứu độ tất cả chúng sanh nào hướng niệm đến, Ngài có lời nguyện sẽ tiếp dẫn Vãng sanh về cõi Tịnh độ. - Phật A-Di-Đà tức tự tánh Di-Đà, tự tâm thanh tịnh sẵn có, bất sanh bất diệt, nên còn gọi là "Vô Lượng Thọ Phật" 無量 壽佛 và tánh giác hằng sáng suốt, nên cũng còn gọi là "Vô Lượng Quang Phật" 無量光佛.

Trong các ngôi chùa thường thờ Ngài ngồi chính giữa, Bồ Tát Thế Chí đứng bên phải và Bồ Tát Quan Âm đứng bên trái.

Kinh Cầu Siêu của Đạo Cao-Đài, khởi bằng câu:

"Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ
"A-DI-ĐÀ-PHẬT độ chúng dân".

Kinh Tiểu-Tường:

Bồ-Đề-Dạ dẫn hồn thượng tấn,
Cực-Lạc-Quan đẹp phận Tây-Qui.
Vào Lôi-Âm, kiến A-Di,
Bộ Công Di-Lặc Tam-Kỳ độ sanh.

 

 

A-LA-HÁN (Phật Học)

阿 羅 漢
E: Arhat.
F: Arhat.

A-La-Hán là tiếng phiên âm từ chữ Phạn: (S: Arhat; P: Arahat, arahant; T: Dgra compa) dịch nghĩa là Sát Tặc 殺 賊 là diệt hết bọn giặc phiền não, ô-nhiễm. (Arhat) dịch nghĩa theo Hán văn là Ứng Cung, Phá ác, Bất sanh. Ứng Cung 應供 là người đáng được cúng dường, Ứng cung nghĩa là có phước đức hoàn toàn, trí huệ hơn cả, đáng làm nơi phước điền cho chúng sanh cúng dường; Phá ác là phá tan được giặc phiền não Tam độc do Tham, Sân, Si tạo ra. Bất Sinh 不生 hoặc Vô Sinh 無生 là người đã đạt Niết-Bàn; Bất sanh nghĩa là thoát vòng luân hồi sanh tử, không còn sanh ra tại thế gian nầy nữa.

A-LA-HÁN là danh từ chỉ một Thánh nhân, người đã đạt cấp "vô học" của Thánh đạo (s: āryamārga; p: ariyamagga), không bị ô-nhiễm (s: āśrava; p: āsava) và Phiền não (s: kleśa; p: kilesa) chi phối. Thánh quả A-La-Hán có khi được gọi là Hữu dư Niết-Bàn (s: sopadhiśeṣanirvāṇa; p: savupadisesanibbāna). A-LA-HÁN là hiện thân của sự Giác ngộ trong thời Phật giáo nguyên thủy. Khác với hình ảnh của Bồ Tát, hiện thân của Phật giáo Ðại Thừa của thời hậu thế với mục đích Giải thoát mọi chúng sinh, A-LA-HÁN tu tập nhằm giải thoát riêng mình.

A La-Hán là các vị đã giải thoát 10 trói buộc thế gian như: Ngã kiến, Nghi ngờ, chấp đắm giới luật, tham, sân hận, sắc tham, vô sắc tham, kiêu mạn, hồi hộp không yên (trạo), Vô minh. A-La-Hán được xem là người đã từ bỏ Ô nhiễm, bỏ các gánh nặng, đã đạt mục đích và tâm thức đã được giải thoát.

A-La-Hán thường được gọi tắt là La-Hán.Truyền thuyết nói rằng, hồi Ðức Phật Thích Ca mới mở Ðạo Phật tại Bắc Ấn Ðộ, Phật có phái 16 vị La Hán (có sách chép 18 vị = Thập bát La-Hán) đi ra các nước nhỏ chung quanh để truyền bá Phật đạo. Do đó trong các chùa Phật ngày nay thường có tạc tượng 16 vị hay 18 vị La Hán để thờ, kỷ niệm việc truyền đạo nầy. A-La Hán là quả vị cao nhất trong bốn quả vị của hàng Thinh Văn thừa, từ thấp lên cao, kể ra:

- Tu-Ðà-Huờn: Quả vị đầu tiên của Thinh Văn thừa.

- Tư-Ðà-Hàm: Quả vị thứ hai của Thinh Văn thừa.

- A-Na-Hàm: Quả vị thứ ba của Thinh Văn thừa.

- A-La-Hán: Quả vị thứ tư của Thinh Văn thừa.

Người tu chứng bực A-La-Hán thì đạt được Lục thông (6 phép Thần thông): Thiên Nhãn thông, Thiên Nhĩ thông, Tha Tâm thông, Túc Mạng thông, Thần Túc thông, Lậu Tận thông. Qua khỏi Thinh Văn thừa thì lên Bồ Tát thừa, tức là tu đặng quả vị La Hán rồi thì mới tiếp tục tu hành để lên quả vị kế tiếp là Bồ Tát. Thinh Văn thừa thuộc về Tiểu thừa, Bồ Tát thừa thuộc về Ðại thừa. Cả hai Tiểu thừa và Ðại thừa là Phật thừa.

Kinh Cứu Khổ của Cao-Đài thường tụng đọc:

"Chư Ðại Bồ Tát, Ngũ bá A-La-Hán cứu hộ..."

Ngũ bá A-La-Hán là 500 vị A-La-Hán được Nhứt Tổ Ma-Ha Ca-Diếp chọn để lập Ðại hội kết tập Kinh điển lần nhứt của Phật giáo, sau khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn bốn tháng. Cuộc kết tập nầy ở tại thành Vương Xá, Nhứt Tổ Ma-Ha Ca Diếp làm chủ tọa. Ngài A-Nan được cử ra đọc lại lời Phật dạy, chép thành Tạng Kinh; Ngài Ưu-Pa-Ly đọc lại các Luật do Phật dạy chép thành Tạng Luật và Ngài Ma-Ha Ca-Diếp đọc tạng Luận. Người ta dùng chữ Phạn chép ba Tạng Kinh (Tam Tạng Kinh) trên lá buôn để lưu lại đời sau.

 

 

A-LẠI-DA-THỨC

阿 賴 耶 識

A-lại-da-thức (S: ālayavijñāna) dịch nghĩa là Tạng thức 藏識.Khái niệm quan trọng của Duy thức tông (s: vijñānavāda), một trong hai nhánh chính của Phật giáo Ðại Thừa (s: mahāyāna). Trong trường phái này, A-Lại-Da-Thức được xem là thức căn bản của mọi hiện tượng. Thức này chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần. Khái niệm A-lại-da-thức là cơ sở của Duy thức tông, qua đó người ta giải thích sự hiện hữu của "con người", của "cá nhân". Theo đó, các Chủng tử (s: bīja) của Nghiệp (s: karma; p: kamma) được chứa đựng trong A-lại da-thức và đợi nhân duyên đầy đủ sẽ hiện thành tư tưởng. Các tư tưởng có tính riêng tư đó tác động trong mối liên hệ với Vô minh (s: avidyā) và Ngã (s: ātman) chấp làm cho mỗi người tưởng rằng có một con người đứng sau mọi hành động của mình. Tư tưởng đó lại gây tiếp các chủng tử của nghiệp và nghiệp lại tiếp tục tạo tác. Vòng lẩn quẩn này chỉ được đối trị bằng quan điểm cho rằng, không hề có một thế giới độc lập ngoài Tâm. Theo đó thế giới chỉ là phản ánh của A-Lại-Da Thức, con người chỉ thấy bóng dáng của chính tâm thức nó.

A-Lại-Da-Thức thường được xem như là "sự thật cuối cùng", có khi được gọi là Chân như (s: tathatā). Theo một quan điểm Phật giáo khác thì A-Lại-Da-Thức chỉ là nơi tập hợp của mọi nghiệp xưa cũ (Pháp Tướng Tông).

 

 

A-NAN-ĐÀ

阿 難 陀

A-Nan-Đà (S, P: ānanda) cũng gọi ngắn là A-NAN, (A-Nan-Đa) dịch nghĩa là Khánh Hỉ 慶喜 Hoan Hỉ 歡喜.

1- A-Nan-Đa là một trong mười đại Đệ tử của Phật Thích-Ca Mâu-Ni, cùng họ với Phật, A-Nan-Đa gia nhập giáo hội hai năm sau ngày thành lập, trở thành người hầu cận của Ðức Phật. Tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy. Tôn giả là người xây dựng cơ bản giáo pháp trong lần kết tập thứ nhất và được xem là Nhị Tổ của Thiền Tông Ấn Ðộ. Theo kinh sách, A-Nan-Đa được xem là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự Đức Phật. Tôn giả chỉ chấp nhận làm người hầu cận cho Phật khi được Phật hứa rằng, không vì thế mà được quan tâm hơn các vị khác. A-Nan-Đa cũng chính là người khám phá và trừ bỏ âm mưu giết Phật của Ðề-Bà Ðạt-Đa. Hơn ai hết, A-Nan-Đa bênh vực cho việc Nữ-giới được học hỏi giáo pháp. Nhờ sự can thiệp của Tôn-giả mà Phật chấp nhận thành lập Ni-đoàn. Chính vì điều này mà trong lần Kết tập thứ nhất, A-Nan-Đa bị Tăng-già chê trách. Tương truyền rằng, sau khi Phật nhập Niết-bàn, A-Nan-Đa mới giác ngộ, đắc quả A-La Hán trong đêm trước lần kết tập thứ nhất.

2- Nếu định nghĩa theo Ấn-Ðộ-giáo (e: Hinduism) thì A-Nan-Đa không phải là tâm trạng khánh hỉ được tạo ra bởi một đối tượng mà hơn nữa, nó là một niềm vui của một trạng thái nằm trên mọi tư duy nhị nguyên, những cặp đối đãi. Hệ thống triết lý Vê-Đan-Ta (s: Vedānta) quan niệm rằng, một tâm thức thoát khỏi suy nghĩ – nghĩa là tâm thức không còn vướng mắc những khái niệm như Sinh, Tử, Khổ não; nói chung là mọi tư duy – chính là A-Nan-Đa, sự an vui thuần túy. Khi mô tả, diễn giải những danh từ rất trừu tượng như "Brahman", hệ thống Vê-Đan-Ta sử dụng thành ngữ "Sat-Cit-Ānanda", nghĩa là Chân-lý an vui tuyệt đối, vô lượng mà hành-giả chỉ có thể cảm nhận được trong lúc nhập định (s: Samādhi). Trong các dòng tu theo truyền thống của Ðại sư Shan-ka-ra (s: śaṅkara) thì A-Nan-Đa là chữ cuối của nhiều danh hiệu, ví như Vi-ve-ka-a-nan-đà (s: vivekānanda).

A-Nan là nói tắt của tiếng A-Nan-Ðà (A-Nan-Đa) do chữ Phạn là ANANDA, Hán văn dịch là Khánh Hỷ, vì Ông A Nan được sanh ra vào ngày Ðức Phật Thích Ca thành Ðạo, dân chúng đều vui mừng, nên cha mẹ của Ngài đặt tên Ngài là Ananda, nghĩa là khánh hỷ. Như vậy, Ngài nhỏ hơn Phật Thích Ca 35 tuổi. A-Nan là con của Hộc Phạn, em ruột của Ðề-Bà Ðạt-Ða và cũng là em bà con chú bác với Ðức Thích Ca. Ngài có nhiều tướng tốt, thông minh tuyệt vời, có một trí nhớ tuyệt hảo. Ðến năm 25 tuổi, A-Nan xin xuất gia theo Phật Thích Ca. Ngài làm Thị giả, hầu cận bên Ðức Phật suốt 20 năm, nên đã nghe và ghi nhớ được tất cả những bài thuyết pháp của Phật. Phật Thích Ca khen Ngài A-Nan: "Thị giả của các Ðức Phật thời quá khứ, không ai hơn A-Nan, Thị giả các Ðức Phật thời vị lai cũng không ai hơn A-Nan". A-Nan là người rất quan tâm đến việc mở rộng Phật-giáo cho Nữ-phái tu học, nhưng Ðức Phật Thích Ca chưa chấp thuận. Một hôm, A-Nan đi khất thực về đến Tịnh Xá thấy Bà Ma-Ha Bà-Xà-Ðề (dì ruột và cũng là mẹ nuôi Thái Tử Sĩ-Ðạt-Ta) đang đứng tựa cửa khóc, áo quần đầy bụi, chân dính bùn dơ. Ngài hỏi duyên cớ. Bà cho biết Bà từ xa đi bộ đến tìm Phật xin qui y, năn-nỉ đôi ba phen mà Phật không chấp thuận. A-Nan rất cảm động, liền vào làm lễ Phật và xin Phật cho Bà xuất gia. Phật vẫn từ chối mà không nói lý do. A-Nan vẫn kiên trì cầu xin nhiều lần sau nầy cho được mới thôi. Cuối cùng thì Ðức Phật cũng phải chấp nhận cho Bà di mẫu xuất gia, lập thành Giáo hội Tỳ-Kheo-Ni. Sau nầy, toàn thể Giáo hội Tỳ Kheo Ni đều hết lòng biết ơn A-Nan. Phật cho biết, đối với Nữ phái, không phải Phật không từ bi, nhưng nếu Phật không cho Nữ phái xuất gia thì Chánh Pháp của Phật tồn tại được 1000 năm, nay cho Nữ phái xuất gia thì Chánh Pháp của Phật chỉ tồn tại 500 năm mà thôi.

Ngài A-Nan hỏi Phật về cách đối đãi với Nữ phái:

• Bạch Phật, chúng tôi phải đối xử với Nữ phái thế nào?

- Nầy A-Nan, dường như không thấy.

• Nhưng đã thấy rồi thì chúng tôi phải làm thế nào?

- Nầy A-Nan, không nên nói chuyện.

• Nhưng nếu được hỏi thì chúng tôi phải làm thế nào?

- Nầy A-Nan, cẩn thận đề phòng, giữ vững Chánh niệm.

Khi Ðức Phật sắp nhập Niết Bàn, Ðức Phật gọi Ma-Ha Ca-Diếp đến, truyền Y Bát cho làm Nhứt Tổ và Phật dặn về sau sẽ truyền cho A-Nan làm Nhị Tổ. Khi Nhứt Tổ Ma-Ha Ca-Diếp đem Chánh pháp nhãn tạng truyền lại cho A-Nan làm Nhị Tổ, có nói bài kệ:

 

Dịch nghĩa:

Pháp pháp bổn vô pháp,
Vô pháp vô phi pháp,
Hà ư nhứt pháp trung,
Hữu pháp hữu phi pháp?

Các pháp gốc không pháp,
Không pháp, không phi pháp,
Tại sao trong một pháp,
Có pháp, có phi pháp?

Về sau, Nhị Tổ A-Nan chọn người học trò xuất sắc là Thương Na-Hòa-Tu, để truyền Y Bát, nên gọi đến nói rằng: Xưa, Ðức Thế Tôn đem Chánh pháp nhãn tạng phú thác cho Sư huynh ta là Ma-Ha Ca-Diếp làm Nhứt Tổ, sau Nhứt Tổ truyền lại cho Ta. Nay Ta phú chúc lại cho ngươi làm Tam Tổ. Vậy ngươi phải hết lòng trân trọng, thọ trì xiển dương Phật pháp hóa độ chúng sanh. Hãy nghe kệ mà ấn tâm:

 

Dịch nghĩa:

Bổn lai truyền hữu pháp,
Truyền liễu ngôn vô pháp,
Các các tu tự ngộ,
Ngộ liễu vô vô pháp.

Xưa nay truyền có pháp,
Truyền rồi nói không pháp,
Thảy thảy tu tự ngộ,
Ngộ rồi không không pháp.

Ngài A-Nan dùng thuyền ra giữa dòng sông Hằng, nhập Niết Bàn. Ngài dặn đệ tử rằng: Khi thiêu xác ta thì chia Xá lợi ra làm 4 phần: Một phần giao cho cõi Trời Ðạo Lỵ, một phần giao cho Long Vương, một phần giao cho vua A-Xà-Thế, một phần giao cho vua Tỳ-Xá-Ly, để xây tháp cúng dường. Lúc sinh thời, Ngài A-Nan nổi tiếng là đa văn quảng kiến, có trí nhớ tuyệt vời, làm Thị giả cho Phật suốt 20 năm, được Phật khen ngợi, nhờ vậy mà Ngài đọc lại rất đúng lời Phật dạy trước 500 vị A La-Hán, kết tập chép ra thành Kinh Tạng. Ngài cũng là ân nhân của Giáo hội Tỳ Kheo Ni.

Trước buổi Ðức Thích Ca gần qui liễu, ANANDA và A-Nan-Ca-Diếp đến bên Ngài khóc lóc hỏi Ngài rằng: Thầy qui rồi ai dạy chúng con, Ðức Thích Ca nói: Có một Ðấng đến sau ta, oai quyền hơn ta nữa. Ðức Phật Thích Ca đã nói một vị Tây Phương Giáo Chủ Jésus Christ đó vậy. Ấy là một đàn Anh đã thông tri cho nhơn loại biết người em kế vị của mình sắp đến, Ngài có nói trước còn oai quyền hơn ta nữa, thì thật quả vậy.

 

 

A-NẬU-ĐA-LA-TAM-DIỆU-TAM-BỒ-ĐỀ (Phật)

阿 耨 多 羅 三 耀 三 菩 提
E: The Supreme Buddha.
F: Le Bouddha Suprême.

Do phiên âm từ tiếng Phạn: ANOUT TARA SAMYAK SAMBÔDHI. Hán văn dịch là: Vô Thượng Chánh Biến Ðạo và về sau lại dịch là: Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nghĩa của chữ Phạn: Anout là Vô (không) Tara là Thượng (trên), Samyak là Chánh Ðẳng (bực chơn chánh), Sambôdhi là Chánh Giác (Giác ngộ chơn chánh). Samyak, có sách phiên âm là Tam-Miệu, Tam Miểu 三藐, hay Tam Diểu, tùy theo giọng đọc. Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác là quả vị Phật Tối Cao, Phật Thế Tôn, Phật Như Lai. Ðây cũng là quả vị mà Thái Tử Sĩ-Ðạt-Ta tu thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Di-Lạc Chơn Kinh có câu: "Ðắc duyên đắc vị, đắc A Nậu Ða-La Tam Diệu Tam-Bồ-Ðề chứng quả nhập Cực Lạc Quốc...".

 

 

ARISTIDE BRIAND

Aristide Briand giáng cơ bằng Pháp ngữ ngày 29-8-1934:

"Ôi! thỏa hiệp chung trên thế giới luôn luôn bị làm trái lại bởi các cuộc chiến đấu vì chủng tộc và sự xung đột vì quyền lợi. Chúng ta cũng chưa biết nghe tiếng nói của "Người an ủi Thiêng Liêng" giờ đây đang vang dội khắp loài người. Tất cả mọi trái tim phải đoàn tụ về Người hay Tôn giáo của Người. Khi nào chúng ta có thể thấy được bên Tây Phương ánh sáng vinh quang của Người thì đó là bình minh của kỷ nguyên mới của toàn thế giới. Hãy cầu nguyện với Thượng Đế để tư tưởng cao cả của Người hiện ra, thế giới đã khát thứ nước nồng đượm của Người. Bằng một tiếng kêu lanh lảnh, nỗi đau khổ của nhân loại đòi hỏi sự hiện đến của "Người Cứu Vớt" vĩ đại trong số Người của vị "Thầy Thiêng Liêng".

 

 

ALLAN KARDEC (1804-1869)

Ông Allan Kardec là Văn sĩ Thần Linh Học Pháp thế kỷ 19. Quí danh Ông là Hippolyte Rivail, bút hiệu Allan Kardec.

Năm 1853, Allan Kardec lập thành học thuyết Thần Linh Học Pháp, có công truyền bá Thần Linh Học ở nước Pháp và nhờ Ông mà Học thuyết Thần Linh Học được hệ thống hóa. Ông có viết hai tác phẩm về Thần Linh Học là: Le livre des Esprit (Sách về Thần linh) và Le livre des Médiums.

Các đồng tử Cao-Đài nhận được Thánh giáo phát xuất từ Allan Kardec, Léon Denis, Camille Flammarion, Descartes, Jeanne d’Arc, Chateaubriand …nhứt là Victor-Hugo và gia đình Victor-Hugo. Người Việt Nam nói rằng nhiều vị lãnh đạo Tôn giáo Cao-Đài là hóa kiếp của nhiều Victor-Hugo. Nhiều sự kiện khá lạ lùng khiến người ta tin như vậy. Trong vài Thánh Thất có hình của Victor-Hugo.

Thầy có dạy cho người Pháp hầu đàn như vầy:

Nguyên văn bằng tiếng Pháp:

Thứ tư, 27-10-1926 (âl 21-9-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương

L'humanité souffre de toutes sortes de vicissitudes.

J'ai envoyé Allan Kardec, J'ai envoyé Flammarion comme J'ai envoyé Élie et Saint Jean Baptiste, précurseurs de l'avènement de Jésus Christ; l'un est persécuté, et l'autre tué. Et par qui? Par l'humanité. Mon fils est aussi tué par vous. Vous ne le vénérez qu'en Esprit et non en Sainteté.

Je voulais causer avec vous en une seule fois au temps de Moise sur le mont Sinai, vous ne pouviez me comprendre.

La promesse que J'ai faite à vos ancêtres pour votre Rédemption, la venue du Christ est prédite, vous ne voulez pas en tenir compte.

Il faut que Je me serve moi-même maintenant d'un moyen plus spirituel pour vous convaincre. Vous ne pourrez pas nier devant le Grand Jugement Général que Je ne sauve pas l'humanité par tous moyens plausibles. Quelque indulgent que Je sois, Je ne pourrai effacer tous vos péchés depuis votre création.

Le monde est dès maintenant dans les ténèbres. La Vertu de Dieu est détruite, la haine universelle s'envenime, la guerre mondiale est inévitable.

La race françise et la race annamite sont mes deux bénites. Je voudrais que vous soyez unis pour toujours. La NouvelleDoctrine que J'enseigne a pour but de vous mettre une dans communauté d'intérêt et de vie.

Soyez donc unis par ma volonté et prêchez au monde la paix et la concorde.

En voilà assez pour vous ce soir.

Bài dịch Việt văn của Hội Thánh:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương

"Nhơn loại hiện chịu đau khổ bởi nhiều cuộc tai biến. Thầy đã sai Allan Kardec, Flammarion, cũng như Élie và Thánh Jean Baptiste, là những bực tiền Thánh báo tin ngày Giáng sinh chấn động của Chúa Cứu Thế Jésus Christ, nhưng chúng nó, đứa thì bị hành hạ, đứa khác bị giết chết. Bởi ai? Cũng bởi loài người. Chính con của Thầy cũng bị các con giết mất. Các con chỉ biết tôn sùng Người bằng Tinh thần chớ không bằng Thánh chất.

Thầy đã muốn nói với các con chỉ một lần mà thôi, hồi thời kỳ Thánh Moise trên ngọn núi Sinai, nhưng các con không hiểu được ý Thầy. Lời hứa của Thầy với Tổ tiên các con về việc xin chuộc tội cho các con và ngày Giáng sinh của Chúa Cứu Thế là việc đã có Sấm tiên tri rồi mà các con không chịu quan tâm đến.

Nay Thầy phải tự tìm lấy một phương pháp huyền diệu hơn để thâu phục các con. Các con sẽ không còn chối cãi được trước Tòa Phán Xét Chung rằng Thầy không cứu vớt nhơn loại bằng những phương pháp công hiệu. Dầu Thầy có khoan dung cách mấy đi nữa, Thầy cũng không thể bôi xóa được những tội lỗi của các con đã làm từ lúc tạo thành nhơn loại.

Từ nay thế giới phải chịu trong vòng hắc ám. Tinh thần đạo đức đã tiêu mất, sự thù hận tràn ngập khắp hoàn cầu. Chiến tranh thế giới không thể tránh khỏi.

Dân tộc Pháp - Việt là hai giống dân được nhiều huệ phúc nhất. Thầy muốn sao cả hai được hòa hiệp nhau mãi mãi. Giáo lý của Thầy có mục đích dạy dỗ các con hòa hợp nhau trong sự sống chung cộng đồng quyền lợi và sinh hoạt.

Vậy các con hãy chung hiệp nhau mãi mãi theo ý muốn của Thầy và hãy truyền bá khắp hoàn cầu thuyết Hòa Bình tương thân tương ái. Thôi có bao nhiêu đó cho các con đêm nay".

Chú thích:

- Camille Flammarion (1842-1925): Nhà Thiên văn theo Thần Linh Học, tiếp nối Allan Kardec truyền bá Thần Linh Học ở nước Pháp.

- Moise: Nhà lãnh đạo của dân Do Thái thời Thượng cổ, lúc dân Do Thái bị các Pharaon Ai Cập bắt làm nô lệ. Moise được Ðức Chúa Trời chọn, vâng lịnh Ðức Chúa Trời dẫn dắt dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ, đến định cư và dựng nước ở đồng bằng phì nhiêu dưới chân núi Sinai. Ðức Chúa Trời giao cho Moise 10 Ðiều Răn để dạy dân Do Thái, các giáo lý, cách thờ phượng Ðức Chúa Trời, tạo thành Đạo Do Thái thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ.

- Jean Baptiste: Thánh Jean Baptiste là nhà tiên tri sửa soạn sự xuất thế của Chúa Jésus. Ông làm phép Giải Oan cho Chúa ở bờ sông Jourdain và xác định đây là Chúa Cứu Thế. Ông bị tử đạo năm 28 do lịnh của Salomé. Lễ kỷ niệm Ông hằng năm vào ngày 24 tháng 6.

- Élie: ở Thi-sê-be, nhà tiên tri người Do Thái thời vua Do Thái là A-hap, sau thời Thánh Moise xa lắm, vâng lời Ðức Chúa Trời đến ở khe Kê-rit, đối ngang sông Jourdain. Élie với học trò là Élisée, vâng lịnh Ðức Chúa Trời, đi đến bờ sông Jourdain, Élie lấy áo tơi cuốn lại đập trên nước thì nước sông rẽ hai cho hai người đi qua sông, rồi Élie được Ðức Chúa Trời rước lên Trời trong một cơn gió lốc. Élisée tiếp nối Élie làm tiên tri của dân Do Thái.

 

 

A-TU-LA (Phật Học)

阿 修 羅
E: The demon.
F: Le démon.

A-Tu-La là tiếng phiên âm từ tiếng Phạn là ÂSURA. dịch nghĩa là Thần 神 Phi Thiên 非天 là hạng Thiên nhưng không có hình thể đoan chính. Một trong sáu nẻo tái sinh "Lục đạo" khi thì được xem là hạnh phúc hơn người, khi bị xem là đau khổ hơn "Ðọa xứ". Loại A-tu-la "hạnh phúc" là các loài chư thiên cấp thấp, sống trên núi Tu-di (s: Meru) hoặc trong các "lâu đài trong hư không". Loại A-tu-la "đau khổ" là loài chống lại chư Thiên (s, p: deva). Ðầu tiên, theo Kinh Vệ Ðà của Ðạo Bà La Môn, A-Tu-La là vị Thần linh có nhiệm vụ sáng tạo hay phá hoại khi được lịnh truyền, nhưng về sau, danh từ A-Tu-La dùng để chỉ các hạng Thần linh thuộc khối ác trược, tức là thuộc Quỉ vị. Cho nên vua loài A-Tu-La được gọi là Quỉ vương, Ma vương, Ðạo Cao Ðài thường gọi là Kim Quang Sứ.

Theo Phật học, A-Tu-La là những vị Thần có nhiều pháp thuật cao cường, sống trong các cung điện lộng lẫy, nhưng tánh tình rất ngạo mạn, nóng giận, hung dữ, thích phá hại, đàn ông thì có thân hình xấu xí, đàn bà thì rất đẹp, nhưng tất cả đều có vẻ không đoan chính, khác hẳn với các vị Thần linh thuộc Chánh đạo. Trong Kinh sách của nhiều trường phái Tiểu Thừa (s: hīnayāna) có lúc thiếu hẳn phần nói về loài này.

Thánh-Ngôn Hiệp Tuyển nói: ."Cũng như Kim Quang Sứ là A-Tu-La, Thánh giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên cung." (Xem thêm Kim Quang Sứ. Vần K)

Đức Nguyệt Tâm trả lời những câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Địa cầu ta đang ở. Ngài Cao Tiếp Đạo dịch ra tiếng Việt:

Chẳng thí dụ chi xa khó hiểu
A-Tu-La là hiệu Qủi Vương
Ai từng lai lịch hà phương?
Tại ai dắt lối đem đường mà ra?

 

 

A-TỲ

阿 鼻
E: The hell without interuption.
F: L'enfer sans interruption.

A-TỲ là chỉ cõi Ðịa ngục, là nơi giam giữ và trừng trị các tội hồn, tức là những linh hồn mà trong kiếp sống nơi cõi trần đã làm nhiều điều ác độc, tội lỗi. Còn gọi là A-Tỳ Địa ngục 阿鼻地獄 là chỗ phạt tù của những tội hồn ở luôn đó, không khi nào thoát khỏi được. Tiếng Phạn là AVICHI, phiên âm ra là A-Tỵ, hay A-Tỳ, nghĩa là Vô-gián tức là liên tiếp, không gián đoạn. A-Tỳ là nói tắt A-Tỳ Ðịa ngục, là Ðịa ngục Vô gián, nơi ấy tội nhân bị hành hình liên tục, không lúc nào ngừng. Ðây là cảnh Ðịa ngục thấp nhứt, đau khổ nhứt trong Bát Ðại Ðịa ngục, để trừng trị những tội hồn mà trong kiếp sanh nơi cõi trần đã phạm vào các đại tội như: Ngũ nghịch, hủy báng chánh pháp.

Thầy dạy: "Con ôi! Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người".

Kinh Sám Hối:

"Thường ngày tuần khắp xét tra,
Phạt người hung ác đọa sa A-Tỳ."

 

 

Á

1) Á là dưới một bực hay xấp-xỉ. Tên một Châu trong năm châu. Bộ nhị (二) [Dị dạng 亞. Giản thể của chữ 亞] .

2) Á là câm (bộ khẩu).

3) Á Hai người rễ gọi nhau là Á (anh em bạn rễ).

4) Á Một chất hơi (Argon).

 

 

Á CHÂU (Địa)

亞 洲
E: Asia.
F: Asie.

Á-Châu là một Châu trong Ngũ-Đại-Châu. Việt Nam ở vào Châu Á. Xét về hình thể địa-lý thiên-nhiên thì Việt-Nam nằm vào vị-trí đặc biệt của Á-châu, mà Á-châu lại nằm vào vị trí trung tâm của quả đất và Á-châu là châu lớn nhất thế giới. Châu Á thuộc sắc da vàng, theo lý của Ngũ-hành thuộc Thổ, mà Thổ chính là ở trung-ương. Việt-Nam là cửa ngõ để tiếp nạp các luồng tư-tưởng từ Đông sang Tây cũng là cửa ngõ để phòng vệ đất nước cho các giống dân miền Đông Nam châu Á".

 

 

Á-ĐÔNG (Địa)

亞 東
F: Extrême-Orient.

Á Đông là đông bộ Á châu, cũng gọi là Viễn Đông.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bây giờ nói về Tôn-giáo, thì Đức Phật Thích Ca cầm Bình Bát Vu đi xin ăn đặng nuôi kẻ nghèo nàn đói khó nơi "Cấp cô độc viên" mà cái Đạo của Ngài tới 2.500 năm vẫn còn bền vững. Nó vẫn giàu có, cả văn minh Phật Giáo đã truyền bá toàn cõi Á-Đông này, nếu chúng ta thấy của cải vô biên vô tận của nó, chúng ta không thể gì tính toán được

Riêng về cá nhân Ngài cũng để lời khen: "Bần-Đạo cảm thấy Kinh (Dịch của Nguyễn Mạnh Bảo) này là cả một triết-học Á Đông độc nhứt vô nhị, mà chính là những Bí-pháp Cổ truyền của Đạo Cao-Đài, một Đạo-giáo Việt-Nam hoàn toàn nảy sanh ở cái triết-lý hoàn-toàn Á-Đông. Kinh này đã gồm hết những lý thuyết cao-siêu mà ông Nguyễn Mạnh Bảo đã nêu cao tinh-thần Đại-Đạo".

 

 

Á HIẾN LỄ

亞 獻 禮
E: The second offer.
F: La seconde offre.

(Á: Ðứng hàng thứ nhì. Hiến: Dâng. Lễ: Cách bày tỏ lòng tôn kính). Á hiến lễ là lễ dâng phẩm vật cúng lần thứ hai. Ðây là câu xướng của Lễ sĩ trong nghi thức cúng tế hàng vong thường, có nghĩa là lễ dâng rượu lần thứ hai.

- Lễ dâng rượu lần 1 thì lễ sĩ xướng: Sơ hiến lễ.

- Lễ dâng rượu lần 2 thì lễ sĩ xướng: Á hiến lễ.

- Lễ dâng rượu lần chót thì lễ sĩ xướng: Chung hiến lễ.

 

 

Á PHIỆN (Nha phiến)

阿 片
E: The opium.
F: L'opium.

Á phiện còn được gọi là A-phiến, Nha phiến, Thuốc phiện. Người ta còn nói bóng là "Ả phù-dung". Á phiện là chất nhựa lấy ra từ cây thuốc phiện (tên quốc tế là Papaver somniferum alba) được trồng rất nhiều ở các nước: Thổ Nhĩ Kỳ, vùng tam giác vàng nằm giữa các nước Miến Ðiện, Thái Lan, Trung Hoa và Lào. Nhựa Á-phiện có màu nâu vàng, dẽo như mạch nha, đốt cháy tỏa khói rất thơm. Trong nhựa Á-phiện có chứa nhiều hóa chất như: Morphine, Codéine, Papavérine, đặc biệt là Héroine thường gọi là Bạch phiến, một loại ma-túy rất độc hại. Thuốc phiện có tính chất làm tê liệt thần kinh, nên được sử dụng trong y học, nhưng với liều lượng nhỏ để trị các chứng bịnh đau đớn kéo dài, lo âu sợ hãi. Nếu dùng thuốc nầy thường xuyên thì sanh ra ghiền thuốc, rất nguy hiểm.

Nhiều người dùng thuốc phiện thường xuyên với liều lượng lớn, không phải để trị bịnh, mà là tìm cảm giác say sưa khoái lạc lâng lâng, trở thành ghiền nặng, cơ thể dần dần suy yếu, đi lần đến tử vong. Do đó, người ta gọi á-phiện là ma-túy. Các kiểu ghiền Á-phiện là: hút, uống, chích. Chích Héroine vào tỉnh mạch là kiểu nguy hại nhứt. Việc cai nghiện những người ghiền ma túy rất khó khăn, phải kết hợp nhiều biện pháp và đòi hỏi thời gian lâu dài, nhứt là người ghiền phải có tinh thần phấn đấu quyết tâm từ bỏ. Hiện nay các nước trên thế giới đều có điều luật ngăn cấm chế tạo, buôn bán và chuyển vận các loại ma-túy. Ai phạm vào thì bị xử án rất nặng, có thể bị tử hình. Do đó, Ðạo Cao Ðài cấm hẳn việc hút Á-phiện.

Tân Luật: Ðiều 20 -Thế Luật: Không đặng buôn bán các thứ rượu mạnh và Á-phiện, là vật độc làm giảm chất con người.

Khi Đức Quyền Giáo-Tông còn làm việc ngoài Đời: Hội Đồng Thượng Nghị viện, Ngài buồn cho vận nước suy vong mà không phương giải ách đô-hộ nên Ngài hút Á-phiện là một cách tự tử. May là Đức Chí-Tôn mở Đạo Cao-Đài, Ngài nghe theo tiếng gọi thiêng liêng. Chỉ trong 24 giờ Ngài bỏ tất cả: bỏ cả danh vị, chức tước uy nghiêm: Ông thường ký dưới các bản văn gởi cho Giám quốc Pháp như vầy: "LÊ VĂN TRUNG- Người Việt Nam - thuộc Pháp. Ðệ Ngũ Ðẳng Bắc Ðẩu Bội Tinh, Nguyên Nghị Viên Hội Ðồng Soái Phủ Ðông Dương – Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - Ðại xá kỳ ba của CHÚA ở Ðông Dương" Cao-Ðài hay Phật Giáo Chấn hưng Tại Tây-Ninh Nam kỳ thuộc Pháp".

Khi biết Đạo, Ngài bỏ tất cả trong 24 giờ, kể cả Á phiện. Thế mới thấy đức tin của Ngài mạnh mẽ thế nào !

Đức Hộ-Pháp nhắc lại rằng: - Trong 24 giờ, một người đã là Thượng Nghị-viện, một cái gia nghiệp đủ vinh-hiển, đủ cao-trọng, đủ đương đầu với thiên-hạ.

- Trong 24 giờ bỏ hết, liệng hết mà thôi. Cho tới một cái lạ hơn hết là đương hút Á-phiện, người phong-lưu như ai kia vậy mà bỏ một cái một, cả sự ăn chơi cũng thế.

- Đức Chí-Tôn kỳ hạn có 24 giờ mà thôi:

- 24 giờ Anh Cả chúng ta phải trường trai.

- 24 giờ Anh Cả phải dâng cả sự-nghiệp cho thiên hạ.

- 24 giờ Anh Cả chúng ta phải từ bỏ chức Thượng Nghị viện, dâng mảnh thân phàm cho Đức Chí-Tôn làm ngọn cờ cứu-khổ".

 

 

A PHIẾN CHIẾN TRANH (Sử)

阿 片 戰 爭

Cũng như Nha-phiến chiến tranh 鴉片戰爭. Khoảng đời Thanh Đạo Quang (1821-1850) người Anh chở thuốc Á-phiện vào Trung Hoa càng ngày càng nhiều. Năm 1839, khâm Sai đại thần nhà Thanh là Lâm Tắc Từ đến Quảng Đông, đốt hủy hơn hai vạn hòm thuốc phiện của người Anh. Năm 1840, chính phủ Anh hạ lịnh động viên 15.000 quân, tấn công các yếu ải ở duyên hải Trung Quốc. Triều Thanh phải bãi chức. Lâm Tắc Từ xin hòa. Người Anh buộc Thanh phải chịu điều kiện là cắt nhường Hương Cảng và bồi thường chỗ thuốc phiện đã đốt. Hòa nghị không thành. Qua năm 1841, quân Anh tiến đến Thượng Hải, uy hiếp Nam Kinh, Mãn Thanh lại xin hòa. Đến tháng 7 năm 1942, nhà Thanh phải ký Trung- Anh giang ninh điều ước, ít lâu lại ký Trung Anh Hổ môn điều-ước, ngoài sự phải cắt nhường Hương Cảng, mở cửa Quảng Châu, Phúc châu, Hạ môn, Ninh ba và Thượng Hải làm nơi thông thương và bồi khoản 21 triệu đồng (21.000.000) lại còn phải để cho Anh hưởng lĩnh sự tài phán quyền và quan thuế đặc huệ quyền. Từ đó các nước Pháp, Mỹ đua nhau vin lẽ ấy đòi hưởng quyền lợi như Anh đã được hưởng ở Trung-Hoa. Chính phủ Mãn Thanh, từ ngoại giao này đến ngoại giao khác, cứ liền liền thất bại mãi. Sử gia kể cuộc Nha-Phiến chiến tranh này là bước đầu của Chủ nghĩa Tư bản xâm lược Trung-Hoa, mà xã hội phong kiến Trung-Hoa bắt đầu từ đó biến thành xã hội bán thực dân địa và bán phong kiến.

 

 

Á THÁNH

(Xem Mạnh-Tử. Vần M)

Vị Thánh dưới Thánh nhân một bực, là người đại hiền đời Chiến quốc tên là Mạnh-Kha, cũng gọi là Mạnh-Tử, học trò của cháu Đức Khổng Tử, người đương thời tôn là bậc Á-Thánh.

 

 

Bộ khuyển 犬. Lời khen ngợi. Như y dư 猗歟 tốt đẹp thay! Xanh tốt um tùm. Như lục trúc y y 綠竹猗猗 (Thi Kinh 詩經) trúc xanh rờn rờn. Dài. Vậy, cùng nghĩa với chữ hề 兮. Một âm là ỷ. Nương. Gia thêm. Lại một âm là Ả là thướt tha, cành cây mềm lả.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

Ả CHỨC (Chức Nữ - Ngưu Lang)

猗 織

Tên một vì sao. Tương truyền rằng sao Chức-Nữ là Thiên-Tôn-nữ, cháu gái của Thượng Đế chuyên trông nom dệt vải được gả cho sao Khiên Ngưu, tức là Ngưu-Lang. Sau khi kết duyên với Ngưu Lang thì nàng sinh ra chểnh mảng công việc, liền bị phạt cho dời về phía Đông sông Ngân Hà, mỗi năm chỉ cho gặp mặt Ngưu-Lang một lần: đó là đêm Thất tịch mùng 7 tháng 7, tất cả loài quạ đều kết thành cầu để cho Chức-Nữ gặp Ngưu-Lang tại sông Ngân Hà. Vào tiết thất tịch loài quạ đều sói đầu, phải chăng làm quạ đội đầu cho Ngưu Lang - Chức-Nữ gặp nhau?

 

 

Ả HẰNG

猗 姮

Ả Hằng tức là Hằng Nga 姮娥 tương truyền Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ 后羿, ăn cắp thuốc trường sinh rồi chạy trốn vào mặt trăng, hóa làm con cóc (thiềm thừ). Cũng gọi tên là Thường Nga 嫦娥 hoặc 常娥 .Theo sách Hoài-Nam-Tử chép rằng: Ngày trước Hậu Nghệ có xin được thuốc Tiên của Bà Tây Vương Mẫu, dặn vợ là Hằng Nga cất giữ. Nhưng thấy Hậu Nghệ cứ mãi gây việc chiến tranh, giết chóc, khuyên can không được, Hằng Nga liền lén trộm thuốc Tiên uống vào và lên được cung Trăng. Về sau, người ta thường nói ở cung trăng có Hằng Nga và chính nàng là Tiên trên cung Quảng Hàn. Các văn nhân, thi sĩ dùng tiếng Ả Hằng để diễn tả mặt trăng, hay để nói đến người con gái đẹp.

Truyện Phan Trần có câu:

Bây giờ e lệ chưa tường,
Lâu lâu lại lấp-lánh gương Ả Hằng.

Bát Nương Diêu Trì Cung nhắc nhở:

Có công khéo khá trau nên khéo,
Khen nàng Tô dệt điệu Hồi văn.
Đừng theo tính nết Ả Hằng,
Đêm khuya bán nguyệt trốn chồng cung trăng.

 

 

Ả TẠ

猗 藉

Tên thật là Tạ-Đạo-Uẩn, người đời Tấn bên Trung Hoa, rất giỏi chữ. Một hôm Đạo-Uẩn đang ngồi ăn yến với chú và anh, có mưa tuyết rơi xuống, người chú liền hỏi Nàng: Tuyết sa phơi phới thì ví như gì? "Đại tuyết phân phân hà sở tự?’" Người anh liền đáp: Giống như cầm muối từ trên trời ném xuống "Triệt diễm không trung sai khả nghĩ". Đạo-Uẩn lại nói: "Ví nhược liễu như nhân phong khởi": nghĩa là không như bông liễu, nhân gió thổi bay tung. Người chú khen Đạo-Uẩn quả là một thiên tài, vì liễu là một thứ cây cành nhỏ, dài tua xuống, lá hẹp mà dài, hoa sắc tía sẫm, trái chín thì có những lông nhỏ bay tung ra, mỗi cơn gió thổi in như tuyết sa. Đạo Uẩn đã so-sánh một cách khít khao và xác đáng. Sau này người ta dùng chữ "Ả Tạ" để nói đến người con gái có tài.

Trong Kiều có câu:

"Khen tài nhả ngọc phun châu,
"Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này?"

 

 

ÁC

1) ÁC (Bộ: tâm 心) còn đọc là: ố, ô nghĩa là Xấu. Như Ác tướng 惡相 là tướng xấu, ác thanh 惡聲 tiếng xấu… Một âm là Ố. Ghét. Khả ố 可 惡 đáng ghét. Xấu hổ. Như "Tu Ố chi tâm" 羞惡之心 chưng lòng hổ thẹn. Một âm là Ô. Sao thế? Như "Ô thị hà ngôn dã" 惡是何言也 Ồ!, thế là lời nói gì vậy?

2) ÁC Cầm lấy, nắm lấy. Vật nắm được trong tay.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ÁC BÁO

惡 報
F: Rendre le mal.

(Ác là điều xấu, báo là trả lại) trả lại những điều độc ác.

Cũng còn gọi là Ác giả ác báo 惡者惡報 tức nhiên người làm việc ác thì sẽ gặp điều ác trả lại; Hoặc cũng nói Ác lai ác báo 惡來惡報 là làm ác gặp ác, nghĩa như nhau.

 

 

ÁC CẢM

惡 感
F: Imitié.

(Ác 惡: xấu, Cảm 感: sự mến yêu, tình của người khác đối với mình) Cảm tình tỏ ra không thân thiện, không tốt đẹp, trái với thiện cảm. Một tình cảm không tốt đẹp.

 

 

ÁC ĐẠO

惡 道
E: The evil way.
F: La voie mauvaise.

Theo nhà Phật, những người làm nhiều tội ác, sau khi chết phải qua ba con đường gọi là ác đạo: địa ngục đạo, ngạ quỉ đạo, súc sanh đạo.

 

 

ÁC GIẢ ÁC BÁO

惡 者 惡 報
E: The evil begets evil.
F: Le mal appelle le mal.

Làm điều ác đức thì gặp điều ác trả lại, tục ngữ cũng có câu "Ác giả ác báo" để khuyên người đời nên làm điều lành, lánh điều dữ.

 

 

ÁC GIAN

惡 奸
F: Malhonnête et méchant.

Đây là điều ba trong 10 điều Khuyến tu của Đức Chí-Tôn:

Ðiều thứ ba: Vẹn tròn hạnh đức,
Tuy bán buôn cực khổ tảo tần;
Ðủ công nuôi nấng tấm thân,
Ðừng ham những chuyện phi nhân gạt lường.
Dầu tiền bạc đầy rương tràn tủ,
Cuộc trần nầy chưa đủ con ơi!
Ác gian cũng chỉ một đời,
Thà nghèo trong sạch thảnh thơi linh hồn.

 

 

ÁC HÀNH

惡 行
E: To make evil.
F: Faire la mal.

(Ác là trái với thiện, là hung dữ, làm hại cho người khác. Hành là làm). Ác hành là một hành động ác đức bất nhân.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bởi sự quan sát ta thấy Luật nhơn quả ấy về cá nhân cũng thế, gia đình cũng thế, xã hội cũng thế, mà nói chung toàn thể nhân quần trên mặt địa cầu này cũng thế. Nhân quả ấy, người ta đã tìm hiểu thấu đáo, hễ càng tìm tòi càng thấy kinh khủng làm sao: Tỉ như một gia đình, trong một cơ quan tạo dựng gia đình ấy, nó do nơi ác hành tạo dựng, thì gia đình ấy chẳng hề tồn tại. Một xã hội nào, một quốc dân nào do nơi ác-hành mà tạo nghiệp, thì xã hội đó, quốc dân đó không bao giờ bền vững. Nếu chúng ta không nói quả quyết rằng nó sẽ bị tiêu diệt mà chớ. Nhơn quần và cả nhơn loại giờ phút này chúng ta thấy quả quyết làm sao, không thể gì luận được".

 

 

ÁC KHÍ

惡 氣

(Ác: độc hại, không lành; Khí: không khí, là hơi thở). Là không khí chứa nhiều chất độc. Nhất là trong xã hội hiện tại Ác khí lẫy lừng cũng do bởi con người thãi ra, tất cả phải chịu lấy.

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934).

"Các Đấng thiêng-liêng cũng có nói trước: Rồi đây nguyên nhân sẽ đến rần rần, có lắm anh-hào thành tâm giúp Đạo. Cơ Trời mầu nhiệm, cao sâu, người đâu thấy đặng! Từ ngày ác khí nổi lên xông đột, bên bạo tàn trương nanh múa vút, thì bên Thánh Ðức hiền lương có lắm anh hào đem hết trí thức tinh thần ra công giúp Ðạo:

Tạo Hóa vần xây chuyển thế,
Âm Dương thiệt khéo đầu cơ."

 

 

ÁC MA

惡 魔
F: Diable, démon, mauvais, apparition.

(Ác: độc hại, không tốt lành, dữ; Ma: sự chứơng ngại) Ấy là loài ma quỉ cám dỗ người ta làm việc xằng bậy, nó làm cho phá hỏng điều đạo đức, làm cho người ta thường liên tưởng tới và ám ảnh bởi sự sợ sệt. Nhưng tà Ma đây cũng từ trong tâm người nghĩ quấy mà ra. Tâm lành là Phật, tâm quấy là Ma.

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

Xin xót thương con người ngây dại,
Phép huyền-hư truyền dạy thế-gian.
Mong nhờ lịnh Đức Thánh-Quan,
Ra oai tiêu-diệt cho tàn ác ma.

 

 

ÁC NGHIỆP

惡 業
E: The bad karma.
F: Le mauvais karma.

Ác: Hung dữ, làm hại người, nghịch đạo lý, trái với Thiện. Nghiệp: Những việc làm thiện hay ác trong kiếp trước tạo thành một lực vô hình, ảnh hưởng lên kiếp sống hiện tại, làm cho kiếp sống hiện tại gặp may mắn sung sướng hay rủi ro đau khổ.

Có hai thứ nghiệp: Thiện nghiệp và Ác nghiệp.

Đứng về mặt Tôn giáo cho rằng người làm việc ác thì nó sẽ vướng vít bên mình mà trả lại không thiếu sót một điều gì.

 

 

ÁC NGHIỆT

惡 孽
E: Cruel.
F: Cruel, méchant.

(Ác: Hung dữ, làm hại người, nghịch đạo lý, trái với Thiện. Nghiệt: oan oan tương báo không dứt). Ác nghiệt là mầm làm ra điều ác, hung dữ, ác độc; người làm ra những điều này sẽ bị một sự báo oán không tránh khỏi.

Kinh Sám Hối có câu:

"Lại có kẻ hung hoang ác nghiệt,
"Cướp giựt rồi chém giết mạng người."

 

 

ÁC NGUYỆT ĐẢM PHONG

握 月 擔 風

(Ác: cầm lấy, nắm được trong tay. Nguyệt là trăng; Đảm phong là gánh gió). Có nghĩa là cầm trăng gánh gió. Theo nghĩa bóng là chỉ con người ưa thích chuyện gió trăng, tình cảm trai gái lãng mạn, thích trêu hoa ghẹo nguyệt. Đối với đạo lý là một việc trái với gia phong lễ giáo. Chẳng những làm thương phong bại tục mà còn có tội với đất trời. Đây là phạm vào Ngũ giới cấm thứ ba: "Tam bất tà dâm".

 

 

ÁC QUỈ

惡 鬼
F: Démon.

Ác quỉ là chỉ loài quỉ dữ. Người mà không biết hướng thiện, thường làm hại người khác, cũng cho là "ác quỉ".

Tình Đời, lý Đạo đều chịu có hai lẽ Chánh - Tà, nên với đạo đức thì thanh cao để sau cùng là đường Tiên nẻo Phật. Nếu dụng mưu thần chước quỉ thì phải lâm vào cửa của hung tàn ác quỉ mà thôi.

Thầy dạy: "Những sự lợi hại của Cơ bút có hai đàng là:

1- Chánh đại quang minh giáo đạo, ấy là Thầy các con, Tiên cơ đó.

2- Là chỗ mê muội hữu vi hữu tướng, để cho ác quỉ hung thần truyền thinh giáo đạo cho những đứa không đủ đạo đức, tức là Tà cơ và Nhơn cơ vậy".

 

 

ÁC TÂM

惡 心

Ác tâm là tâm của người không biết làm điều thiện, trên không biết Trời, không kỉnh vì Thánh Thần, làm điều xằng bậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Các con nhớ rằng: dữ tận hiền thăng, mạnh thua yếu được, nhu nhược trường tồn, Xỉ cương tắc chiết. Nhơn loại trả quả với nhau các con chịu cái nạn chung, trả từ đời Hồng Bàng tới giờ. Tổ phụ của chúng ta khi xưa cũng ác tâm lắm, ỷ mạnh hiếp yếu, diệt chủng những nước yếu hèn nên phải chịu Luật Nhơn quả ngày nay. Bần-Đạo lấy làm mừng cho nước Việt-Nam trả hết món nợ tiền khiên mà Tổ tiên chúng ta vay từ thuở bị nô lệ, nay không còn nô lệ nữa. Vậy thời oan trái đã trả xong."

Đức Quyền Giáo Tông thì bất bình vì sự cai trị khắc nghiệt của người Pháp nên nói rằng "Nước Pháp sở dĩ qua chinh phục Ðông Dương đây là cũng bởi tại thiên định, vì Thượng-Ðế muốn cho nước văn minh dìu dắt các tiểu-bang lên con đường tấn bộ cho ngang hàng hầu tạo lập ra cuộc Hòa-bình Thế giới ngày sau, nhờ chúng tôi tin tưởng Thánh giáo, tin tưởng một cách quả quyết, nên đã tám năm nay chúng tôi đủ tinh thần chịu hết các điều hành khắc của chánh phủ. Chánh phủ dụng ác tâm mà hại Ðạo, nhưng chúng tôi không sờn lòng, mòn dạ, cứ một lòng hạ phục cầu xin các bực quyền tước kiểm soát chúng tôi, trong khi chúng tôi lấy đường Ðạo mà nâng trình độ tinh thần của đồng bào chúng tôi, hầu gây nên một đoàn thể Bác-ái sau nầy. Chúng tôi tin chắc rằng, nhờ ơn điển Thượng-Ðế, chúng tôi sẽ đoạt mục đích một cách dễ dàng, vì dân tộc Việt Nam khao khát một Chánh-giáo vừa hạp với hoàn cảnh sanh hoạt, vừa dung hợp các Tôn-giáo hiện tại".

 

 

ÁC THẦN VÀ THIỆN THẦN

惡 神 - 善 神

Còn gọi là Ông Ác và Ông Thiện. Hai bức Tượng này được đặt ở mặt tiền Đền Thánh, nơi Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Đây là sự tích của vua Tỳ Kheo Vương Đế sanh đặng hai người con trai. Người lớn tên là Tùy Văn, người nhỏ tên là Tùy Vũ. Vua Tỳ Kheo có lòng mộ đạo nên muốn truyền ngôi lại cho Tùy Văn mà đi tu, nhưng sợ Tùy Vũ chiếm đoạt, nên vua Tỳ Kheo mới sai Tuỳ Vũ sang nước Hàn Châu mà chiêu mộ anh tài. Khi Tùy Vũ đi rồi vua Tỳ Kheo mới truyền ngôi lại cho Tùy Văn cai trị trong nước, rồi vua Tỳ Kheo mới đến Am Vân lo tu niệm. Khi Tuỳ Vũ chiêu mộ anh tài xong trở về vào bái yết, thấy anh mình lên ngôi kế vị mới hỏi tự sự, Tuỳ Văn thuật lại "Vì cha muốn xuất gia tu luyện nên mới truyền ngôi lại cho Anh". Tùy Vũ nói: "Anh hiền đức trị dân không sợ vậy anh đưa Ngọc ấn lại cho tôi sửa trị thiên hạ mới sợ.

Tuỳ Văn không chịu bèn ôm Ngọc Ấn Tỷ Phù chạy lên Am Vân tìm cha phân định. Tỳ Kheo thấy con hiếu để bèn rước về Tây Phương thành Phật. Khi Tuỳ Vũ đến thấy anh mình đã thành Phật thì tỉnh ngộ, bỏ hết giang san, không màng danh vị, dẹp hết mối danh quyền, gác bỏ ngoài tai, rồi lo tu cũng đắc đạo. Ấy là "Tu nhất kiếp, ngộ nhất thời".

Ngày mùng 6 tháng giêng năm Đinh Hợi (dl: 27-01-1947) Khi Đức Hộ Pháp trấn Thần hai pho tượng Ông Thiện và Ông Ác, Đức Ngài nói:

"Đời thường lầm lạc, làm điều ác cho là thiện và thường lấy điều lành cho là ác. Nên từ đây, năng lực của Thiện Thần sẽ phô bày ra mặt đời, thế nào là chánh, việc nào là thiện, làm thế nào là phước, cho thiên hạ rõ. Còn Ác Thần thì phô bày ra mặt đời, thế nào là tà, việc nào là ác, sao gọi là tội, cho nhơn loại rõ. Hai Ông Thần nầy rất linh hiển, dùng quyền năng thiêng liêng đưa ra thiệt tướng trong hai con đường: phước và tội, siêu và đọa, sanh và tử, để cho con cái Đức Chí Tôn khỏi lầm lạc, hầu tránh khỏi con đường tự diệt. Đi vào con đường sanh thì nhơn loại mới mong hoà bình được." Có câu:

Thiện Ác đáo đầu chung hữu báo,
Cao phi viễn tẩu giả nan tàng.

(Người làm điều thiện hay điều ác, chung cuộc rồi cũng sẽ có báo ứng, Dầu xa chạy cao bay thế nào cũng không tránh khỏi).

 

 

ÁC TRƯỢC

惡 濁
E: Evil and impure.
F: Mauvais et impur.

(Ác: Hung dữ, làm hại người, nghịch đạo lý, trái với Thiện. Trược: còn đọc là Trọc, là dơ bẩn, trái với Thanh - trong sạch)..Ác trược là chỉ những hành động hay tư tưởng ác độc, bẩn thỉu, thường do quỉ ma xúi giục.

 

 

ÁC XẾ

Mặt trời về chiều còn gọi là ác tà.

Buổi đầu, Ông Phạm-Công-Tắc hết lời khen lời châu ngọc về điệu thơ Tiên của Thất Nương, xong hoạ lại ngay:

Để thảm Xuân-đường như ác xế,
Gieo thương lữ-khách ngóng tin mai.
Hềm gì chưa rõ đầu đuôi thế,
Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!

 

 

ÁCH

1. ÁCH là cái vai xe, hai đầu đòn xe khoét thủng như hình bán nguyệt để bắc vào cổ ngựa gọi là ách. Nguyên viết là chữ 軶. Xem chữ chu 輈. "Ách giữa đàng mang vào cổ".

2. ÁCH Đất hiểm. Cảnh ngộ khốn nạn, vận ách. Cùng nghĩa với chữ ách 厄, chữ ách 阸.

3. ÁCH nghĩa là khốn ách. Như khổ ách 苦厄 là khổ sở.

Tai nạn khổ sở như ách nạn. Có câu:

"Ách nước nạn dân là thế ấy,
"Ngồi mà tu niệm có yên không?"

 

 

ÁCH ĐẤT

E: The calamity by tremble of earth.
F: La calamité par tremblement de terre.

Ách đất, Hán văn gọi là Ðịa ách, là tai nạn khốn khổ do sự biến đổi của mặt đất gây ra như: Ðộng đất, đất sụp, núi lỡ, sóng thần... Nay là buổi Hạ nguơn nhân loại phải chịu lắm thiên tai địa ách vô cùng nguy khốn mà miền Trung đang hứng chịu, toàn là cơn lũ lịch sử, bão lịch sử. Đúng như lời Đức Hộ Pháp đã tiên tri "Tai trời gieo họa chẳng riêng ai".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

"Ách đất rắp nhồi trường náo nhiệt".

 

 

ÁCH NƯỚC

E: The flood.
F: Le déluge.

Ách nước, Hán văn gọi là Thủy ách, là tai nạn khốn khổ do nước gây ra như: Lũ lụt, sóng thần.... Cuối Hạ nguơn Tam chuyển này nhân loại phải chịu một đại họa không thể lường được. "Nhân loại mười phần hao tám chín".

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Cũng nơi Thiên tai, ách nước, nhưng rất đau lòng.

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân LÊ VĂN DUYỆT nhập bàn cho bài thi như sau:

Xa thơ biến gảy rời vương thất,
Nam đảnh hầu thay sáng quốc-gia.
Ách nước nạn dân gần muốn mãn,
Hết hồi áp chế tới khi hòa.

 

 

AI

1) AI (Bộ: thổ 土) là Bụi, gió thổi cát bay gọi là Ai. Như Ai trần 埃塵 là bụi bặm. Cũng nói trần ai 塵埃.

2) AI (Bộ khẩu 口) là Thương. Nguyễn Du 阮攸 có câu "Thế sự phù vân chân khả ai" 世事浮雲眞可哀 (Đối tửu 對酒) Việc đời như mây nổi thật đáng thương. Không có mẹ gọi là ai. Kẻ để tang mẹ mà còn cha gọi là AI TỬ 哀子.

3) AI chính là buồn rầu, than khóc. Ai là một trong thất tình: Hỉ, Ái, Lạc, Dục, AI, ố, Nộ.

Đức Hộ-Pháp nói: "Chữ Ai là Buồn: Ấy cũng là một điều hư hại đến thân thể và trí não tinh thần. Có nhiều người gặp việc sanh ly tử biệt, hay là đấu lực tranh tài mà chẳng may thất bại, thì cũng buồn thảm đến lụy thân. Ví như Thạch Sùng đấu của nhà giàu, mà thiếu mẻ kho, phải chịu mất hết gia tài, rồi ông buồn rầu mà thất chí đến lụy thân. Ấy là sự buồn rầu đến hại lớn, đáng làm gương cho người sau. Nếu khi gặp cảnh chẳng may, phải có năng lực đạo đức tinh thần mạnh mẽ mà làm kế bảo tồn tức là phương an ủi tâm hồn mát mẻ".

 

 

AI BI

哀 悲
E: Plaintive.
F: Plaintif - Plaintive.

(Ai 悲: Buồn rầu, than khóc. Bi 悲: Buồn thương). Ai bi hay Bi ai 悲 哀 là Buồn rầu thê thảm, không chịu đựng nỗi.

"Ai bi kiếp người" đây là chỉ kiếp sống con người ở cõi thế gian gặp nhiều đau khổ, bi ai. Sở dĩ bị buồn rầu, khổ sở là bởi vì con người phải thọ Tứ khổ là Sinh, Lão, Bịnh, Tử. Lại nữa cõi Ta-bà này còn chứa đầy những khổ sở do ngũ trược gây ra. Ngũ trược đó là:

- Kiếp trược: do chúng sanh chịu muôn ngàn nỗi khổ sở trong cuộc sống chẳng cách nào diễn tả nổi, gọi là Kiếp trược.

- Kiến trược: do kiến giải hay có thể hiểu là những tư tưởng, suy nghĩ có công năng sai khiến hết thảy chúng sanh tạo tác các ác nghiệp, khiến họ bị đọa lạc trong luân hồi sanh tử, nên gọi là Kiến trược.

- Phiền não trược: Những điều khiến tâm tăm-tối, buồn phiền, bất an. Có năm yếu tố tạo thành phiền não: Tham (tham lam), Sân (hờn giận), Si (ngu muội), Mạn (kiêu ngạo), Nghi (ngờ vực). Do những yếu tố này khiến tâm bị ray rứt, hỗn loạn, mờ đục, nên gọi là Phiền não trược.

- Chúng sanh trược: là Chúng sanh mê muội, chấp trước vào ngã tướng, nên sanh ra tâm vị kỷ, tâm tư lợi mà gây tạo bao nhiêu ác nghiệp. Vì tạo ác nghiệp, nên bị đọa những đường ác xấu, hèn hạ để chịu đựng, do vậy gọi là Chúng sanh trược.

- Mạng trược: Thân người do duyên hợp, biến đổi không ngừng, không cách nào khống chế nổi. Khi nghiệp lực duy trì các duyên kết hợp lại đã hết, các duyên sẽ chia lìa, vì thế mỗi thân mạng chỉ tồn tại một thời kỳ nhứt định, gọi là Thọ mạng. Thọ mạng bị chấm dứt bất ngờ do những yếu tố ngoại lai như bịnh tật, tai nạn... nên gọi là Mạng trược.

Chính Tứ khổ và Ngũ trược đã làm cho con người sống nơi thế gian lúc nào cũng bị khổ sở, phiền não, ai bi... ràng buộc vào kiếp sống. Dùng cái bầu Tiên vội vàng rót nước Cam Lồ ra tức thì để rửa sạch những nỗi bi ai của kiếp sống con người

Kinh Đệ Bát Cửu có câu

"Hồ Tiên vội rót tức thì,
"Nước Cam Lồ rửa ai bi kiếp người."

 

 

AI CẬP (Địa)

埃 及
E: Egypt.
F: Egypte.

Tên nước ở phía Bắc Phi Châu.

Xem thêm: Ai Cập (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ai_Cập)

 

 

AI CHỈ

哀 止
E: To restrain one's tears.
F: Cesser de pleurer.

(Ai: Buồn rầu, than khóc. Chỉ: Thôi, ngưng lại, dừng lại). Ai chỉ là thôi khóc, ngưng lại việc than khóc kể lể, thôi.

Ðây là câu xướng của lễ sĩ trong nghi thức tang lễ.

Khi lễ sĩ xướng "Cử ai" thì tang gia đồng cất tiếng khóc thương tiếc người chết. (Cử là cất lên).

Khi lễ sĩ xướng: "Ai chỉ" thì tang gia thôi khóc để lo việc tế lễ người chết.

 

 

AI CHÚC

哀 祝
E: To recite prayers in funeral ceremonies.
F: Réciter des prières dans les funerailles.

(Ai: Buồn rầu, than khóc. Chúc: Ðọc kinh khi tế lễ.). Ai chúc là đọc kinh tế lễ người chết với giọng buồn rầu.

Ðây là câu xướng "Ai chúc" của Lễ sĩ trong tang lễ, để đồng nhi bắt đầu tụng kinh tế lễ người chết. Như khi con quì tế cha chết thì đồng nhi tụng bài kinh: "Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu", với giọng Nam ai.

 

 

AI ĐIẾU

哀 弔
E: The condolences.
F: Les condoléances.

Ai điếu là viếng thăm nhà đang có tang, bày tỏ lòng đau buồn thương tiếc người chết và nói lời phân ưu. (Ai: Buồn rầu, than khóc. Ðiếu: Viếng thăm tỏ lòng thương tiếc người chết)

Khách đến viếng tang được gọi là Ðiếu khách.

Bài văn mà khách đọc lên để tỏ lòng thương tiếc người chết và phân ưu cùng tang quyến, trước khi hạ huyệt, gọi là bài Ai điếu, hay Ðiếu văn. Ðem phẩm vật đến viếng thăm và tế lễ người chết gọi là Phúng điếu, Ðiếu tế.

Sau đây là một bài Ai Điếu làm tiêu biểu:

Bài Ai-điếu của:

Thượng Ðầu Sư THƯỢNG TRUNG NHỰT
đọc Ai-Điếu ngày 8-3-1929
Đức Cao Thượng Phẩm Qui Tiên

Quý ông, Quý Bà, chư Ðạo Hữu lưỡng-phái,

Ngày mùng một tháng này, vì phận sự tôi phải đi Nha Mân, qua mùng 2 tôi đi Vũng-Liêm cùng Hiền-Hữu Ngọc Trang-Thanh. Lúc thượng lộ lòng tôi buồn bực không kể xiết, tôi thầm hỏi, mình đi lo việc Ðạo cớ sao không được vui như mấy lần khác? Sáu giờ rưỡi chiều tới Thánh-Thất Vũng-Liêm có Hiền Hữu Thái Thơ-Thanh, Thượng-Giảng Thanh, Thượng Lân Thanh hành lễ vừa rồi chạy ra vừa nói:

- Thượng Phẩm DÉCÉDÉ (chết). Nghe qua dường như sấm nổ, người dầu gan sắt dạ đồng, nghe tin cũng bắt động lòng thương xót, huống chi tôi cùng Ðức Cao Thượng-Phẩm trong mấy năm dư cùng nhau keo sơn gắn chặt, thọ Thánh-chỉ của Ðức Chí-Tôn Phổ-thông Ðại Ðạo Tam Kỳ. Nay người ly trần, cỡi hạc về quê, kẻ nhơn thế còn lo độ chúng, khiến cho tôi nghĩ nhiều bậc Công hầu Vương bá tài bực biết bao mà Trời không ngó cũng chác sầu tây. Nầy một Ðấng Hiền-lương Ðạo-đức, chừng Trời kêu đến phải mau hồi cựu vị. Ấy chỉ rõ quyền Chí Tôn rất lớn, vô cực vô đại mà thương hại cho những người vô đạo đức, không suy xét lời Thánh "Vạn bang đô thị mạng, bán điểm bất vô nhân". Ấy chỉ rõ Thiên-cơ. Thời kỳ này Thầy lập Ðạo vô-vi, hồi chưa khai Ðạo nhơn sanh còn phàm tục, nên mượn xác phàm của Tín đồ đặng độ rỗi chúng sanh, nay Ðạo thành có người lập đặng chí Thánh, Thượng Phẩm là Ðạo phải trở lại Thiêng Liêng chi vị, nơi trần thế đây mà làm cho người tâm thành trí vẹn, may chút nữa phải mỏi lòng đạo đức.

Than ôi! Một năm qua rồi, nhìn Thánh Ðịa như cảnh sầu bi, xem nền Ðạo giống nhà vô chủ.

Kìa cây sầu lá ủ, nọ cỏ úa sương gieo.

Thiên ý muốn một điều là phải ăn năn sám hối, ai có lỗi mau mau tự cải, lập Từ bi nhịn nhục nhau thì Ðạo mới hòa. Thầy chỉ rõ Thiên cơ đã định, đều cũng kết cuộc tương thân, tương ái. Tuy Thượng-Phẩm về cùng Thầy là nơi phước hạnh không chi sánh kịp. Non chiều phụng gáy, động Thánh qui chầu, là nơi u nhàn Cực Lạc, song nhìn còn tại thế: Một Từ Huyên bóng xế trăng lờ, lại gặp cuộc Mẹ già ngồi khóc trẻ, nhớ con trẻ biết bao tình thấm-thiết, vợ hiền lương rẽ bạn giữa đường, cuộc gia thế trăm bề quạnh quẽ. Khôn xiết nỗi thương! Ôi ! Chiếc nhạn kêu thu cũng là một cảnh sầu bi nơi trầm luân khổ hải này, một con thơ còn bơ vơ nơi đất khách, sau dầu bước đặng thang mây, vinh qui bái tổ, ôm cái tháp này khóc than, chớ Cha hiền đã cỡi hạc qui Tiên. Mẹ góa con côi, trăm bề eo hẹp... Ấy gương nâu sòng chập chồng trên một nền nhà Đạo đức. Ðạo lập thành, người chí Thánh đâu nỡ ngó lơ.

Hỡi ơi! Thương thay!

Thượng Ðầu Sư
THƯỢNG TRUNG NHỰT

 

 

AI OÁN

哀 怨
F: Plaintif, poignant.

Đạo Sử của Bà Hương-Hiếu có ghi phần Chú Giải: "Ngoài các thức-lệ chỉnh đàn hành-lễ phải cho y một kiểu vở, phải định thêm lễ-nghi về Quan, Hôn, Tang, Tế, buộc các nơi phải tùng theo một luật lệ; pháp giải oan, phép tắm-thánh cũng vậy. Về NHẠC cũng phải chỉnh-đốn, nhứt là giọng đọc kinh của đồng-nhi phải phân biệt ba giọng: Ai, Xuân và Đảo Ngũ Cung. Hơi đọc kinh có ảnh-hưởng nhiều về sự HOÀ-BÌNH êm tịnh và phát thạnh của THÁNH THẤT sở tại, cứ tụng một hơi ai-oán thì không khác nào cầu sự khổ não cho Thánh-Thất mình" (Đạo sử II).

 

 

ÁI

1) ÁI 愛 (Bộ: tâm 心) nghĩa là Yêu thích. Như ái mộ 愛慕 yêu mến. Quý trọng. Như ái tích 愛惜 yêu tiếc. Tự trọng mình gọi là tự ái 自愛. Ơn thấm. Như di ái 遺愛 để lại cái ơn cho người nhớ mãi. Thân yêu. Như "nhân mạc bất tri ái kỳ thân" 人莫不知愛其親 người ta chẳng ai chẳng biết yêu người thân. Tục gọi con gái người khác là lệnh ái 令愛, cũng viết là 嬡.

2) ÁI (Bộ: vũ 雨) nghĩa là Khí mây. Như yên ái 煙靄 là khí mây mù như khói. Trần Nhân Tông 陳仁宗 có câu "Cổ tự thê lương thu ái ngoại" 古寺淒涼秋靄外 (Lạng Châu vãn cảnh 諒州晚景) nghĩa là Chùa cổ lạnh lẽo trong khí mây mùa thu.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ÁI (1) (Phật Học)


F: Amoureux, amoureuse.

Ái (S: tṛṣṇā; P: taṇhā) nghĩa là "ham muốn", "sự thèm khát". Khái niệm quan trọng của Đạo Phật: Ái chỉ mọi ham muốn xuất phát từ sự tiếp xúc của giác quan với đối tượng của giác quan đó. Cần hiểu rằng, con người gồm có năm giác quan thông thường và ý (khả năng suy nghĩ, ý nghĩ, xem Lục căn) là sáu. Vì vậy ÁI bao gồm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Sự tham muốn đó biểu lộ bằng tâm vướng bận và đó chính là Khổ (s: duḥkha), là nguyên do tại sao loài hữu tình cứ mãi trôi nổi trong vòng sinh tử. Muốn thoát khỏi ÁI, người ta cần phòng hộ các giác quan "Nhiếp căn", không để cho thèm khát và ham muốn nổi lên, nhờ đó có thể chấm dứt cái khổ. Có nhiều cách phân loại ÁI:

1. Dục ái 欲愛 (s: kāmatṛṣṇā), Hữu ái 有愛 (s: bhavatṛṣṇā) và Phi hữu ái 非有愛; hoặc Ðoạn ái, Ái muốn tiêu diệt, (s: vibhavatṛṣṇā). Ba loại ái này là nội dung của chân lý thứ hai (tập đế) trong Tứ diệu đế.

2. Dựa trên giác quan: người ta phân biệt ái thuộc sắc, thanh âm, mùi thơm, vị ngon ngọt, tiếp xúc và tư tưởng.

3- Dựa trên Ba thế giới: có thứ Ái thuộc dục giới, Ái thuộc sắc giới (色愛; sắc ái; s: rūpatṛṣṇā) và vô sắc giới (無色愛; vô sắc ái; s: arūpatṛṣṇā). Trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), Ái do Thụ 受 (s: vedanā) sinh ra và bản thân Ái lại sinh ra Thủ 取 (s: upādāna). Trong giai đoạn Phật giáo nguyên thủy, người ta tin rằng Ái là nguyên nhân duy nhất của khổ và vì vậy xem nó là nguyên nhân của sinh tử, Luân hồi. Về sau, người ta thấy rằng thoát khỏi Ái chưa đủ mà cần phải dứt bỏ sự chấp Ngã (Vô ngã) mới được giải thoát. Ngã là gốc của Ái vì nếu xem Ngã là một thể tồn tại độc lập thì mọi thứ liên quan đến Ngã đều dễ sinh ra Ái. Người ta tiến đến giải thoát bằng tri kiến "cái này không phải là ta, cái này không phải của ta" và như thế, Ái tự hoại diệt.

 

 

ÁI (2)


F: Amour.

Ái là một trong bảy thứ tình cảm của con người là: Hỉ, Ái, Lạc, Dục, Ai, Ố, Nộ.

Chữ Ái là Thương yêu: Có câu: "Ái nhơn như ái kỷ", nghĩa là: Thương hết mọi người như thương mình vậy, mới gọi là Bác ái. Bác ái là rộng thương, mà thương vì công bình chánh trực, nhơn nghĩa đạo đức tinh thần, thương nước thương dân, chớ chẳng phải thương riêng vì cá nhân vật chất, hay vì bợ đỡ nịnh hót mà thương, hoặc thương vì ái tình tài sắc. Trong sự thương giới hạn phân minh mới tránh khỏi điều tai hại. Có tích xưa đời Tam Quốc, có Đổng Trác và Lữ Phụng Tiên (Lữ Bố), đã kết nghĩa minh linh dưỡng tử, mà vì ái tình với một gái Điêu Thuyền, đến đỗi cha con giết hại lẫn nhau. Ấy là do nơi dây ái tình mà điêu tàn chết thảm. Còn nhiều người tài hay, phá núi lấp sông, văn chương trí tuệ, mà chẳng vì đạo đức, mãn sa mê sắc dục mà phải hư hại thân thể.

 

 

ÁI ÂN

愛 恩
F: Affection mutuelle

Tình ái và ân huệ cố kết với nhau thành một cảm tình đặc biệt của đôi trai gái để nên duyên chồng vợ đời đời. Ái ân cũng còn nói là Ân ái, đồng nghĩa nhau.

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị có câu:

Niềm ân ái thân hòa làm một,
Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.
Nhắn mưa gởi gió đưa thương,
Từ đây thiếp tỏ đoạn trường với ai?

 

 

ÁI DÂN

愛 民

Là rất thương dân. Vai trò của một người lãnh đạo luôn tha thiết đến dân tình, đến nhân sanh dưới quyền trực thuộc.

Ái Dân là Đạo hiệu của Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc, Giáo chủ Đạo Cao-Đài, ngoài ra Đức Ngài còn có Hiệu là Tây Sơn Đạo.

 

 

ÁI HÀ

愛 河
E: The river of love.
F: Le fleuve de l'amour.

(Ái: thương yêu, ưa thích. : dòng sông). Ái hà là dòng sông tình-ái của đôi nam nữ hò hẹn nhau. Tình yêu giữa Nam và Nữ khiến con người si mê nên cứ mãi lặn hụp trong sông ái biển tình. Cho nên, ái hà cũng chỉ về sông mê biển khổ.

Đức Phật Quan Âm dạy:

Gượng cầu ai vớt lúc thuyền qua?
Sớm dứt đi thôi bể ái-hà.
Bạn tác căn duyên cùng luyện Đạo.
Vợ thành chồng đạt dứt đường Ma.

Trong kinh Phật có bài thi:

Thi:

Dịch nghĩa:

Ái hà thiên xích lãng,
Khổ hải vạn trùng ba
Dục thoát luân hồi lộ,
Cấp tảo niệm Di-Ðà.

Sông ái ngàn thước rộng,
Biển khổ muôn lớp sóng,
Muốn thoát đường luân hồi,
Sớm gấp niệm-Di-Ðà.

 

 

ÁI MỘ

愛 慕
E: To admire.
F: Admirer.

(Ái: Thương yêu, ưa thích. Mộ: lòng mến chuộng.) Ái mộ là mến chuộng, ưa thích.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

"Mượn hành tàng vô nghĩa mà làm cho vừa lòng ái mộ bất lương".

 

 

ÁI MỘ ĐẠO PHẬT

Ái mộ là yêu mến một cách chân thành. Đây là lời Đức Hộ-Pháp ca tụng tinh thần yêu mến Phật pháp của Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh lúc Bà còn sanh tiền.

Đức Hộ-Pháp nói: "Đêm nay là Vía Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni mà cũng là ngày vía Chị Cả của chúng ta là Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, chẳng biết ngẫu nhiên hay là tiền định mà Bà Nữ Đầu Sư qui liễu nhằm ngày Vía Đức Phật Thích Ca. Theo Bần Đạo hiểu biết tưởng những người ái mộ Đạo Phật nồng nàn hơn hết chúng ta có thể nói rằng: Bà Đầu Sư cũng là người đứng trong đầu sổ của thiên hạ vậy."

 

 

ÁI NGẠI

噯 礙
F: S’inquiéter

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo nhớ lại lời của Đức Chí-Tôn đã có nói trước rằng: "Nếu Đạo không thành thì chính mình Thầy sẽ đến". Tôi tưởng chẳng phải một mình Chị mà thôi, mà cả mấy Anh đã qua đời, dĩ vãng rồi, giờ chót họ còn một điều ái ngại trọng hệ hơn hết là đây".

Lời Thầy dạy Nữ phái: Huệ con, Lâm thị con, khá nghe lời dạy. Con ôi!

Cực thân ấy, trẻ đừng ái ngại,
Muôn việc con Thầy lại sớt chia,
Chẳng phải cần đá tạc danh bia,
Tên tuổi trẻ nước kia còn khép mặt.

 

 

ÁI NHÂN ÁI VẬT

愛 人 愛 物

Đức Thích Ca bị bỏ đói, Đức Lão Tử bị xua đuổi, Đức Chúa Jésus bị tàn sát nhưng may thay, dầu cho mảnh thân bị nơi tay ác độc của nhơn sanh tàn hại thế nào, qui thần, đời biết hiểu, biết nghe, biết nhìn tiếng than thở đau thương, ái nhân ái vật và đặng là người nhân của nhơn loại thì cũng nên gọi rằng:

"Chết gặp kiếp duyên mà trừ cái khổ, sống mang kiếp trái".

 

 

ÁI NHÂN NHƯ ÁI KỶ

愛 人 如 愛 己

Tức nhiên thương người như thương mình. Tục ngữ có câu "Thương người như thể thương thân" là vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Chữ Ái là Thương yêu: Qua câu: "Ái nhơn như ái kỷ", nghĩa là: Thương hết mọi người như thương mình vậy, mới gọi là Bác ái. Bác ái là rộng thương, mà thương vì công bình chánh trực, nhơn nghĩa đạo đức tinh thần, thương nước thương dân, chớ chẳng phải thương riêng vì cá nhân vật chất, hay vì bợ đỡ nịnh hót mà thương, hoặc thương vì ái tình tài sắc. Trong sự thương giới hạn phân minh mới tránh khỏi điều tai hại. Có tích xưa đời Tam Quốc, có Đổng Trác và Lữ Phụng Tiên (Lữ Bố), đã kết nghĩa minh linh dưỡng tử, mà vì ái tình với một gái Điêu Thuyền, đến đỗi cha con giết hại lẫn nhau. Ấy là do nơi dây ái tình mà điêu tàn chết thảm. Còn nhiều người tài hay, phá núi lấp sông, văn chương trí tuệ, mà chẳng vì đạo đức, mãn sa mê sắc dục mà phải hư hại thân thể."

Khổng-Giáo chủ trương "Ái nhân như ái kỷ" tức là thương-yêu tất cả mọi người cũng như thương thân của mình vậy. Còn Ðời mà thật hành được sự thương-yêu công-bình hòa thuận, thì cơ Ðời trở nên thái-bình an-cư lạc-nghiệp".

 

 

ÁI QUỐC (1)

愛 國
F: Patriotique

(Ái là yêu thương, quốc là nước). Ái quốc là lòng yêu nước phát xúât từ trái tim nồng nàn. Đây là thơ của Đức Hộ Pháp xướng bài Nhắn Bạn Quyền Giáo Tông và chính Đức Quyền Giáo Tông giáng Cơ họa lại. Dùng thi thơ mới gói ghém được tấm lòng thiết tha đối với đất nước lúc bấy giờ:

Hồ lô ai để ở nơi đâu?
Ái quốc Việt Nam nhét bể bầu.
Cứu thế hồng ân chưa rải khắp,
Nâng thuyền lòng nước vốn còn sâu.
Nhơn tài nẩy nở tuy trăm bụng,
Dân trí biến sanh bởi một đầu.
Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận,
Cuộc cờ thắng bại tận phao câu.

(Hộ-Pháp: 11-9-Bính Tuất 1946)

1. Đức Quyền Giáo Tông giáng họa, ngày 19-9-Bính Tuất (1946) như sau:

Tách trần tính lại đã là đâu!
Thế giới vân du chỉn một bầu.
Nguồn Đạo bấy chừ bao sức lớn,
Tinh thần từ trước đã gần sâu.
Nhơn tâm gầy khối đều nên mặt,
Tình thế trau nên kiểu vở đầu.
Lừa lọc nên hư do phép Tạo,
Hưng suy chỉ định bởi đôi câu.

2. Đức Quyền Giáo Tông giáng cơ họa tiếp, ngày 28-4-Mậu Tý (1948):

Đường trần hạnh phúc đã là đâu?
Chi bẵng Càn khôn quảy một bầu.
Đủ hiểu tâm phàm lòng lạt lẽo,
Dư xem bước tục chí cao sâu.
Thiên Quân ví chẳng ra tiền đạo,
Tướng soái khó toan chiếm địa đầu.
Vạn pháp đem khoe tài Hộ Pháp,
Cũng như đực rựa sánh kim câu.

3. Đêm mùng 10 tháng 10 Canh Dần (dl: 19-11-1950). Đức Quyền Giáo Tông giáng Họa lại bài thi của Hộ Pháp, đảo vận (tức nhiên lấy vận dưới đặt lên trên đầu bài: Câu, Đầu, sâu, bầu, đâu).

Lưỡi liềm chi dễ sánh Kim câu!
Gây sự bởi ai tạo buổi đầu?
Đông Hải mênh mông còn phải cạn,
Tây Hồ chật hẹp độ bao sâu?
Tài ba Động Bích bao nhiêu sức?
Quyền phép Côn Lôn sẵn mấy bầu.
Quyết đoán cuộc cờ, ai thắng bại?
Chỉn xem Tiên Phật hướng về đâu?

Anh mừng các em, xin nhắn lời cám ơn Hộ Pháp.!"

 

 

ÁI QUỐC (2) (Tên)

愛 國

Ái quốc là hiệu của ông Hồ Chí Minh, cũng là tên Nguyễn Ái-Quốc.

 

 

ÁI TUẤT THƯƠNG SANH

愛 恤 蒼 生
E: To have compassion on people.
F: Avoir la compassion du peuple

(Ái: yêu, ưa thích. Tuất: Thương xót một cách nồng nàn. Thương: Màu xanh. Sanh: Sống. Ái tuất là thương xót cứu giúp người bằng một tình yêu mến nồng nàn. Thương sanh là đồng bào, dân chúng trong mọi giới) "Ái tuất thương sanh" là thương xót và cứu giúp dân chúng.

Trong các tài liệu Thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp đều ghi là "Ái Truất thương sanh", Tôi (Soạn giả) có gặp nhiều vị Tốc ký ngày xưa, như Anh Ngô Công Phát, hỏi rằng Anh có biết chữ Hán không? - Không. Anh có thấy tài liệu viết tay của Đức Ngài không? - không. Anh có nghĩ rằng lời Đức Ngài nói Anh nghe thoáng qua tức là không rõ không? - Có. Xong rồi anh lấy Tự điển Hán Việt ra để tra chữ "TUẤT" và chữ "TRUẤT" thì chữ "truất" nghĩa là bỏ, như truất phế, thì nghĩa lý không rõ bằng chữ TUẤT 恤 Phân tích sẽ thấy bên trái là bộ tâm 忄(tấm lòng) bên phải là chữ huyết 血 là máu. Có nghĩa là tình thương bằng cả tim máu, dịch là tình thương nồng nàn, thì rõ nghĩa hơn. Xin trưng cầu ý kiến của đồng đạo.

Đức Hộ-Pháp nói: "Đấng trọn quyền bảo tồn ấy là lòng ái-tuất thương sanh  vậy. Vì cớ cho nên Đức Jésus-Christ thương nhơn loại một cách nồng-nàn thâm-thúy, Ngài đã ngó thấy Nhứt Kỳ Phổ-Độ nhơn-loại ký Hòa-ước với Chí-Tôn mà đã bội ước, nên phạm Thiên-điều, nhơn quả nhơn-loại gớm ghiết, do nhơn-quả ấy mà tội tình nhơn-loại lưu-trữ đến ngày nay, Thánh giáo gọi "Tội Tổ-Tông".Chính mình Ngài đến, đến với một xác-thịt phàm-phu, Ngài đến giơ tay để ký Đệ Nhị Hòa-ước đặng dìu dắt chúng sanh trở về cùng Đấng Cha lành của họ tức nhiên là Đức Chí-Tôn là Đại-Từ-Phụ chúng ta ngày nay đó vậy. Đấng ấy vô tận vô biên, thấy nạn của nhơn-loại đã dẫy-đầy, Ngài chỉ xuống tại mặt thế nầy làm con tế-vật đặng chuộc tội-tình cho nhơn-loại, bàn tay đó đã ký đệ Nhị Hòa-ước cho nhơn-loại, nó làm cho Ngài thế nào? Do tay Ngài ký tờ Hòa-ước với Chí-Tôn, nên hai tay của Ngài bị đóng đinh trên cây Thập Tự-giá. Hai chân của Đấng ấy đi trước nhơn-loại dìu đường hắng-sống cho họ, rồi hai chân của Đấng ấy cũng bị đóng đinh trên cây Thánh-Giá, còn trái tim yêu-ái nhơn-sanh vô-hạn ấy bị một mũi kiếm vô tình đâm ngay cạnh hông của Ngài, lấy giọt máu cuối cùng đó đặng cứu nhơn-loại, một tình-ái vô-biên ấy để lại cho loài người một tôn-chỉ yêu-ái. Tôn chỉ nhìn nhơn-loại là anh em cốt-nhục và khuyên-nhủ nhơn-loại coi nhau như đồng-chủng."

 

 

ÁI VẬT ƯU SANH

愛 物 憂 生

Đức Hộ-Pháp nói: "Hội-Thánh tức là đám Lương sanh của Thầy tom góp lại làm một. Cả Lương sanh ấy, Thầy đã dùng quyền Thiêng liêng dạy dỗ, trước un-đúc nơi lòng một khiếu Từ bi cho tâm địa có mảy mún tình ái-vật ưu sanh theo Thánh-đức háo sanh của Thầy, dùng làm lợi khí phàm tục để độ rỗi người phàm tục."

 

 

ẢI

(Bộ: phụ 阜) là chỉ nơi hiểm trở. Chỗ địa thế hiểm hóc, giữ thì dễ mà đánh vào thì khó gọi là hiểm ải 險隘. Hẹp hòi. như ông Mạnh Tử 孟子 nói Bá Di ải 伯夷隘 ông Bá di hẹp hòi.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ẢI QUAN

隘 關
E: The frontier pass.
F: La porte des frontière.

(Ải 隘: Ngăn trở, chận lại. Quan 關: Cửa thông vào một nước). Ải quan hay quan ải là chỗ đất hiểm trở ở nơi biên giới hai nước. Ải quan là cái cửa tại biên giới đi thông vào nội địa của một nước. Nơi đây có lính canh gác và kiểm soát người qua lại. Ải Nam-quan là hình ảnh của ải-quan trong nước còn lại đến bây giờ. Ở đây chỉ cái cổng vào nơi cõi Xích Thiên ở trên thiêng liêng cảnh, cũng nhiều khó khăn trở ngại cho các chơn hồn lắm vậy.

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Ánh Hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
"Cõi Xích Thiên vội mở ải quan."

 

 

ÁM

1) ÁM (Bộ: nhật 日) là Tối. Như u ám 幽暗 tối tăm, thiếu ánh sáng. Trí thức kém cỏi cũng gọi là ám. Như mê ám 迷暗 mông muội, ngu muội, đầu óc mờ tối không biết gì. Ngầm. Như ám sát 暗殺 giết ngầm, ám chỉ 暗指 trỏ ngầm, ngầm cho người khác biết ý riêng của mình.

2) ÁM (Bộ môn 門) là Mờ tối. Như hôn ám 昏闇 tối tăm u mê. Lờ mờ. Như Trung Dung 中庸 nói "Quân tử chi đạo, ám nhiên nhi nhật chương 君子之道闇然而日章 Đạo người quân tử lờ mờ mà ngày rõ rệt.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ÁM ẢNH

暗 影
E: To obsess.
F: Obséder.

(Ám: tối, kín, làm mờ tối; ảnh: bóng, hình vẽ, hình chụp).

Bóng mập mờ ở chỗ tối - Lấy bóng che lấp, chiếm trị tinh thần, tâm hồn, tâm tình.

Đức Quyền Giáo Tông nói: "Chúng tôi chắc rằng: hơn ai hết, quí vị Đế-vương, Quốc vương, Quốc trưởng, Giáo chủ… đều muốn cho thần-dân và thuộc hạ đang sống dưới quyền uy của quí vị đều được sống mà không bị ám-ảnh bởi một sự sợ-hãi triền-miên và một trận chiến-tranh tương-lai mà các vũ khí tối-tân sẽ gây nên những sự tàn phá và những sự ghê tởm không tả xiết".

 

 

ÁM MỘ LỢI DANH

Lời Thầy dạy Nữ phái:

Huệ con, Lâm thị con, khá nghe lời dạy. Con ôi!

Bình lời hiếm kẻ vô biển khổ,
Mắc phải vòng ám mộ lợi danh,
Bỏ trần gian nhiều kẻ chẳng đành,
Ham phú quí công danh đành phải đọa.

 

 

ÁM MUỘI

暗 昧
E: Obscure.
F: Ténébreux.

(Ám là mờ-mịt, u-tối, thầm lén. Muội: ngu, tối tăm). Ám muội là tối tăm, u-mê, thiếu nhận xét; trái nghĩa với minh bạch, sáng suốt.

Đức Chí-Tôn giáng Cơ dạy: "Ai đặng phước thêm cao trọng, ai vô phần thì trí não vẫn mờ hồ, nét hạnh đời càng mê muội, biết biết không không, luật Trời đã định, phần công quả trả cho rồi thì cảnh u-nhàn là nơi rước khách tục trong lúc chung qui đó. Sanh nhằm đời có một Ðạo chánh chẳng phải dễ, mà bước lên con đường chông gai, lần vào non thẳm kiếm ngọc lại càng khó. Khó dễ nơi lòng, chớ đem thói ám muội mờ hồ vào đường đạo đức, sau ăn năn rất muộn".

Trích Đạo-sử bà Hương Hiếu ngày 24-4-1926, trang 109:

Thầy dạy: "CHIÊU đã có công tu, lại là Môn-đệ yêu dấu của Thầy, nên Thầy muốn ban chức Giáo Tông cho nó, song vì lòng ám-muội phạm đến oai-linh Thầy mà ra lòng bất đức chẳng còn xứng đáng mà dìu-dắt các con, nên Thầy cất phần thưởng nó, Thầy nhứt định để chức ấy lại mà đợi người xứng đáng, hay là Thầy đến chính mình Thầy mà dạy-dỗ các con":

Lựa dèo, lựa thế độ nhơn sanh,
Khó dễ Thầy cho hiểu ngọn ngành.
Ám muội thì nhiều mưu trí ít,
Ðường Tiên chẳng bước, đọa thì đành.

Kinh Sám Hối có câu:

"Thánh-hiền Kinh sách dạy bày,
"Lòng người ám-muội lỗi gây ra hoài".

 

 

ÁM THỊ (Tâm)

暗 示
F: Suggestion

Dùng cách âm thầm mà chỉ thị để khiến người ta bất giác mà phải theo mình. Ví như mình cười, người kia bị ám thị cũng cười theo. Nhà thôi miên lợi dụng sức ám thị để làm thuật.

 

 

ÁM TRỢ

暗 助
F: Aide inavouée.

(Ám là kín đáo, thầm lặng; trợ là giúp) Ám trợ là giúp đỡ một cách kín đáo, thầm lặng, không làm cho người khác biết hay người được giúp hay biết được. Về phần vô hình thì khi làm một việc phải thì có quyền năng thiêng liêng ám trợ.

Đức Quyền Giáo-Tông nói: "Trường công-quả của Thầy có đôi bên: Một bên vô hình là các Đấng Thiêng Liêng (Phật- Tiên - Thánh - Thần) cùng lập công-quả trong buổi chuyển thế này, các Đấng Thiêng-liêng thường theo một bên chúng ta đặng ám-trợ chúng ta về phần vô-vi. Các việc hữu hình tại thế là các việc phải có thi hành như chúng ta giờ đây mới làm đặng, thì về phần chúng ta phải lo làm rồi có các Đấng Thiêng-liêng ám-trợ."

 

 

AN

An-ổn, yên lành. Yên: như bình an 平安, trị an 治安, Định, không miễn cưỡng gì gọi là an. Làm yên: như an phủ 安撫 phủ dụ cho yên, an ủi 安慰 yên ủi. Tiếng giúp lời. Nghĩa là Sao vậy. Như "ngô tương an ngưỡng" 吾將安仰 ta hầu ngưỡng vọng vào đâu? "Nhi kim an tại" 而今安在 mà nay còn ở đâu? Để yên: như An trí 安置 để yên một chỗ, An phóng 安放 bỏ yên đấy. Còn đọc là Yên.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

AN BANG TẾ THẾ

安 邦 祭 世
E: To pacify the country and aid to world.
F: Pacifier le pays et aider le monde.

(An Bang là làm yên ổn cho đất nước, cho quốc gia đại cuộc; Tế thế là giúp đời, làm cho đời được hạnh phúc, ấm no). Là những bậc tài ba có công đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân loại, hòa bình cho đất nước, cho dân tộc là có tài an bang tế thế.

Lời thơ của Bát Nương Diêu-Trì-Cung có câu này khi ông Hiển-Trung Trần Quang Vinh qua Pháp lập được nhiều kỳ công: Phổ thông nền Đại-Đạo, lúc ông sắp trở về Việt Nam, Đức Hộ-Pháp cầu hỏi Bà Bát Nương sẽ tiếp rước bậc đại công ấy dưới hình thức nào. Bà cho bài thi, trích một đoạn sau:

Nếu có kẻ an bang tế thế,
Quì mà nghinh lấy lễ lạy người.
Trải thân ra mảnh áo tơi,
Che mưa đỡ nắng cho Đời nguy nan.

Công nghiệp ấy được Đức Quyền Giáo-Tông tuyên dương vào ngày Đại Lễ Đức Chí-Tôn: ngày 9 tháng Giêng năm Nhâm Thân, nhằm ngày Chúa Nhựt 14-02-1932. Khi ông Hiển Trung từ Kim-Biên về Tòa Thánh chầu Lễ. Qua lời giới thiệu:

"Đây là Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh, vừa lập được một kỳ công với Đạo. Nhơn dịp công cán bên Pháp quốc, một mặt tận tâm truyền giáo, một mặt lo tiếp xúc với các yếu nhơn trình bày các bằng chứng yêu cầu họ binh vực Đạo Cao Đài bị Chánh quyền Pháp ở Đông dương áp chế gắt gao. Chánh phủ Pháp trao hồ sơ cho Quốc hội. Trong một phiên họp và sau khi thảo luận rồi bỏ thăm, Quốc hội Pháp chấp thuận một Đạo-luật Ân xá cho tất cả Tín đồ Cao Đài bị tù hoặc bị phạt vạ. Luôn dịp tuyên bố cho Đạo Cao-Đài được tự do tín ngưỡng".

Anh Cả nói xong, cầm tập hồ sơ đưa lên cao và tiếp:

"Đây là bằng cớ, mọi việc hoạt động cho Đạo, lần lượt em Giáo-Hữu gởi tài liệu về Tòa-Thánh, nằm trong hồ sơ này."

Khi dứt lời, Anh Cả đọc lớn bốn câu thi trên, xong rồi Đức Quyền Giáo Tông bèn sụp xuống lạy, rồi Đức Hộ-Pháp cũng quì lạy luôn. Ông Hiển Trung Trần Quang Vinh thấy vậy cũng quì lạy nữa. Tất cả toàn Đạo có mặt đêm ấy cũng đều quì lạy theo hết. Thật là một công trình rạng rỡ. Đáng quí!

Nhớ lại nhân ngày Lễ Sinh nhựt của Đức Hộ-Pháp, toàn Đạo quì lạy Thầy thì Thầy nói rằng: Các con lạy này là lạy Đấng Chí-Tôn.

 

 

AN BẦN LẠC ĐẠO

安 貧 樂 道
E: To be content with one’s poverty and happy in virtue.
F: Se contenter de sa pauvreté et être heureux dans sa vertue.

Sống an vui theo lẽ Đạo không màng đến giàu sang phú quí của Đời. Muốn giàu lý Đạo thì đương nhiên phải chịu nghèo vậy.

 

 

AN CƯ (Phật Học)

安 居

Với người tu Phật thì An cư (J: Ango) là chỉ thời gian ba tháng tu dưỡng trong một Thiền viện vào mùa hè, hay có mưa. Vì vậy người ta cũng thường gọi là "Hạ an cư" 夏安居 (J: ge-ango) – an cư mùa hè hoặc là "Vũ an cư" 雨安居 (J: u-ango) - an cư vào mùa mưa.

 

 

AN CƯ LẠC NGHIỆP

安 居 樂 業
F: vivre en paix et travailler dans la joie.

An cư lạc nghiệp 安居樂業 là đời sống yên ổn và vui vẻ lo làm ăn, tức là yên nơi vui nghề, vui với việc làm

Đức Hộ-Pháp đọc Diễn văn Khánh Thánh Báo-Quốc-Từ:

"Tuy nói rằng ngôi Báo Quốc Từ để tôn thờ những bậc Vương giả hữu công với đất nước, nhưng nước Việt Nam đã thoát vòng lệ thuộc và chính thể hiện tại là chính thể Cộng Hòa thì từ đây ngôi miếu nầy sẽ dành chung để chiêm bái những vị lãnh đạo Quốc gia như Quốc Trưởng, Thủ Tướng chẳng hạn, đã hy sinh vì Tổ Quốc, đã có công đổi loạn ra trị, xây dựng thái bình cho nhơn sanh được hưởng an cư lạc nghiệp".

Hoặc câu: "Vốn từ trước tại cõi Đông Pháp có ba nền Tôn giáo là: Thích-giáo, Lão-giáo và Khổng-giáo. Tiên-nhơn chúng tôi sùng bái cả ba Đạo ấy, lại nhờ do theo Tôn-chỉ quí-báu của các Chưởng giáo truyền lại mới được an-cư lạc-nghiệp."

 

 

AN DƯƠNG VƯƠNG (Sử)

An Dương Vương họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (là thành Cổ Loa).

Giáp Thìn, năm thứ 1 [257 TCN] (Chu Noãn Vương năm thứ 58). Vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu-Lạc. Trước kia vua nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh hùng tướng mạnh, vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo vua rằng: "Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư ?" Rồi Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục Vương.

Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao). Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.

Bính Ngọ, năm thứ 3 [255 TCN], (Động Chu Quân năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 3, chợt có thần nhân đến cửa thành, trỏ vào thành, cười mà nói rằng: "Đắp đến bao giờ cho xong!". Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả lời: "Cứ đợi giang sứ đến". Rồi cáo từ đi ngay. Sáng hôm sau, vua ra cửa thành, quả thấy có con Rùa vàng bơi trên sông từ phía Đông đến, xưng là giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm, để vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện. Vua hỏi về nguyên do thành sụp, Rùa vàng đáp: "Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của tinh, phàm người qua lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết vì bị quỷ làm hại. Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Nếu giết con gà trắng để trừ tinh khí ấy, thì thành tự nhiên được bền vững. Vua đem Rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói: "Ngài là quý nhân, xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa". Vua cười nói: "Sống chết có mệnh, ma quỷ làm gì nổi ?". Rồi ngủ lại quán. Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ ngoài đến gọi mở cửa, Rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết. Rùa vàng xin vua đuổi theo. Tới núi Thất Diệu thì tinh khí biến mất, vua trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng vua đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn. Thấy vua vẫn vui vẻ cười nói, chủ quán liền sụp lạy nói: "Ngài làm sao được như thế, tất phải là Thánh nhân!". Vua xin con gà trắng giết để tế. Gà chết, con gái chủ quán cũng chết theo. Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khí cổ và xương người, đem đốt thành tro, rải xuống sông, yêu khí mới mất hẳn. Từ đấy, đắp thành không quá nửa tháng thì xong. Rùa vàng cáo từ ra về. Vua cảm tạ, hỏi rằng: "Đội ơn Ngài thành đắp đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy gì mà chống giữ ?" Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho vua và nói: "Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn thì không phải lo gì". Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao Thông) làm nỏ thần, lấy móng Rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ.

Cao Vương nhà Đường [tức Cao Biền] dẹp nước Nam Chiếu, khi đưa quân về qua châu Vũ Ninh, đêm nằm chiêm bao thấy có người lạ tự xưng là Cao Lỗ, nói: "Ngày xưa giúp An Dương Vương, có công đánh lui giặc, bị Lạc hầu gièm pha, phải bỏ đi, sau khi chết, trời thương không có tội gì, ban cho một dải núi sông này, cho làm chức quản lĩnh đô thống tướng quân, làm chủ mọi việc đánh dẹp giặc giã và mùa màng cày cấy. Nay theo minh công đi dẹp yên quân giặc, lại trở về bản bộ, không có lời từ biệt thì không phải lễ. Cao Vương thức dậy, nói chuyện lại với liêu thuộc, có làm bài thơ:

Mỹ hĩ Giao Châu địa,
Du Du vạn tải lai.
Cổ hiền năng đắc kiến,
Chung bất phụ linh đài.

(Đẹp thay đất Giao Châu, dằng dặc trải muôn thâu. Người xưa nay được thấy, Hả tấm lòng bấy lâu).

Nhâm Tý, năm thứ 9 [249 TCN], (Đông Chu Quân năm thứ 7; [bấy giờ có] 7 nước là Tần, Sở, Yên, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề). Năm ấy nhà Chu mất.

Canh Thìn, năm thứ 37 [221 TCN], (Tần Thủy Hoàng Lữ Chính năm thứ 26). Nước Tần thôn tính cả 6 nước, xưng Hoàng đế. Bấy giờ người Từ Liêm, Giao Chỉ ta, là Lý Ông Trọng người cao 2 trượng 3 thước, lúc ít tuổi đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước Tần làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy. Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, sai ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao, uy danh chấn động nước Hung Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết. Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm tượng, để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa được mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm (Triệu Xương nhà Đường làm đô hộ Giao Châu, đêm thường nằm chiêm bao thấy cùng Ông Trọng giảng bàn sách Xuân Thu, Tả Truyện, nhân hỏi chỗ ở cũ, rồi dựng Đền thờ. Khi Cao Vương đi đánh Nam Chiếu, thần thường hiển linh giúp sức. Cao Vương cho sửa lại đền thờ, tạc gỗ làm tượng, gọi là [tượng] Lý hiệu úy. Đề ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm).

Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể, người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây), Nam Hải (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam; cho Nhâm Ngao làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là thuộc huyện của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta. (Chuế tế: con trai không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế tế [ở gửi rể] như cái bướu ở mình người ta, là vật thừa. Lục Lương là người Lĩnh Nam phần nhiều ở chỗ núi rừng, trên cạn (lục), tính người mạnh tợn (cường lương) nên gọi là Lục Lương).

Tân Mão, năm thứ 48 [210 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 37). Mùa đông, tháng 10, Thần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy. Bấy giờ Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang (tức là [con sông] ở phủ Đô hộ, sau lầm là Đông Hồ, tức là bến Đông Hồ ngày nay), vì phạm thổ thần nên bị bệnh, phải rút về. Nhâm Ngao bảo Đà rằng: "Nhà Tần sắp mất, dùng mưu kế đánh Phán thì có thể dựng nước được". Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông Ngàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phía Nam thuộc quyền cai trị của vua. Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ, cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu. Vua bằng lòng. Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy lẫy nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, bảo Mỵ Châu rằng: "Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm thấy nhau?". Mỵ Châu nói: "Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu". Trọng Thủy về báo cho Đà biết.

Quý Tỵ, năm thứ 50 [208 TCN] (Tần Nhị Thế Hồ Hợi, năm thứ 2). Nhâm Ngao ốm sắp chết, bảo Đà rằng: "Tôi nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, lòng dân chưa biết theo về đâu. Đất này ở nơi xa lánh, sợ bọn giặc xâm phạm đến đây, muốn cùng ông chặt đường (đường vào đất Việt do nhà Tần mở), tự phòng bị, đợi xem chư hầu biến động thế nào". Đến khi ốm nặng, lại nói: "Đất Phiên Ngung (nhà Hán gọi là Nam Thành) dựa núi cách sông, đông tây dài mấy nghìn dặm, vả có người Tần cùng giúp, cũng đủ dựng nước, dấy vương, làm chủ một phương. Các trưởng lại trong quận này không người nào đáng cùng mưu bàn, cho nên tôi gọi riêng ông để bảo". Rồi Ngao lấy Đà thay mình. Ngao chết, Đà liền gửi hịch đến các cửa ải Hoành Phố, Dương Sơn, Hoàng Khê, nói: "Quân giặc sắp đến, phải gấp chặt đường, họp binh tự giữ". Hịch đến nơi, các châu quận đều hưởng ứng. Bấy giờ Đà giết hết các trưởng lại do nhà Tần đặt, đem thân thích phe cánh thay làm thú lệnh. Đà đem quân đến đánh vua, vua không biết lẫy nỏ đã mất, ngồi đánh cờ cười mà bảo: "Đà không sợ nỏ thần của ta sao?". Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỵ Châu ngồi trên ngựa, cùng chạy về phía nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng đuổi theo. Vua đến bờ biển, hết đường mà không có thuyền, liền gọi rùa vàng mấy tiếng: "Mau đến cứu ta!" Rùa vàng nổi lên mặt nước, mắng rằng: "Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi?". Vua rút gươm muốn chém Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn rằng: "Trung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này". Cuối cùng vua vẫn chém Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước, loài trai nuốt vào bụng, hóa làm hạt minh châu. Vua cầm sừng tê văn dài 7 tấc xuống biển mà đi (tức như ngày nay gọi là sừng tê rẽ nước. Tục truyền núi Dạ Sơn xã Cao Xá ở Diễn Châu là nơi ấy). Trọng Thủy đuổi theo đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc ôm xác đem về chôn ở Loa Thành, hóa làm đá ngọc. Trọng Thủy nhớ tiếc Mỵ Châu, trở lại chỗ Mỵ Châu tắm gội trang điểm khi trước, thương nhớ không nguôi, cuối cùng nhảy xuống giếng mà chết. Người sau được hạt minh châu ở biển Đông, lấy nước giếng ấy mà rửa, sắc ngọc càng sáng hơn.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? Chuyện thần giáng đất Sần, chuyện đá biết nói cũng có thể là có. Vì việc làm của thần là dựa theo người, thác vào vật mà nói năng. Nước sắp thịnh, thần minh giáng để xem đức hóa; nước sắp mất, thần cũng giáng để xét tội ác. Cho nên có khi thần giáng mà hưng, cũng có khi thần giáng mà vong. An Dương Vương hưng công đắp thành có phần không dè đặt sức dân, cho nên thần thác vào rùa vàng để răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân mà thành ra như thế ư? Nhưng thế cũng còn là khá. Đến như lo họa hoạn về sau mà nài xin với thần, thì lòng riêng đã nảy. Lòng riêng một khi nảy mầm thì lẽ trời theo đó mà mất, sao thần lại chẳng gieo cho tai họa! Rùa vàng trút móng thiêng trao cho, bảo là có thể đánh lui được quân địch, đó là mầm họa chăng? Như chuyện thần ban cho nước Quắc ruộng đất mà sao đó nước Quắc cũng mất theo. Sau [An Dương Vương] quả nhiên như vậy. Thế chẳng phải là thần theo người mà hành động sao? Nếu không có lời nài xin [với rùa vàng], cứ theo đạo lý mà làm, biết đâu quốc thống lại chẳng được lâu dài? Đến như chuyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng chỉ đường, thì chưa chắc đã có. Nếu có thì chỉ một lần là phải, thế mà sau này con gái Triệu Việt Vương lại bắt chước mà cũng nói như thế, là làm sao? Có lẽ người chép sử cho rằng nhà Thục và nhà Triệu mất nước đều do con rể, cho nên nhân một việc mà nói hai lần chăng? Thế thì việc ma quỷ làm đổ thành cũng đáng tin sao? Trả lời rằng: Đại loại cũng như chuyện Bá Hữu làm quỷ dữ, sau người nước Trịnh lập con cháu của Hữu, [hồn của Hữu] có chỗ nương tựa rồi thì hết . Thế là trừ bỏ yêu khí, quỷ không có chỗ phụ vào nữa thì phải thôi. Đến như sử chép An Dương Vương bại vong là do nỏ thần bị đỗi lẫy, Triệu Việt Vương bại vong vì mũ đâu mâu mất móng rồng, đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng mà thôi. Đại phàm việc giữ nước chống giặc tự có đạo lý của nó, đúng đạo lý thì được nhiều người giúp mà nước hưng, mất đạo lý thì ít người giúp mà nước mất, không phải vì những thứ ấy. Trở lên là [kỷ] An Dương Vương, khởi từ năm Giáp Thìn đến năm Quý Tỵ là hết, tất cả 50 năm [257 - 208 TCN]. (Trích Đại Việt Sử ký toàn thư)

 

 

AN DƯỠNG TINH THẦN

安 養 精 神
F: être en convalescence d’esprit.

Đức Hộ-Pháp thuyết rằng: "Pháp nói "Chaque soldat a un bâton de maréchal dans son sacoche", nghĩa là mỗi tên lính đều có cây giản của ông Thống Chế trong bị của họ, Qua nói rằng: Mỗi vị Tín đồ đều có cái Mão của Giáo-Tông và Hộ-Pháp đội trước trên đầu, không lấy được là lỗi tại mấy Em, chẳng lẽ có một người mà người đó chết rồi là diệt tiêu nền Ðạo. Ngày kia không có gì vui hứng cho Qua hơn, khi thấy xuất hiện trong mấy Em, khi Qua đã già vô Tịnh thất an dưỡng tinh thần, mà thấy đặng mấy Em ở dưới bước lên ngồi địa vị cao trọng của Qua".

 

 

AN GIẤC NGÀN NĂM

F: mourir, mort.

(An là ở yên, không còn ai quấy rầy nữa. giấc là nói giấc ngủ, người chết nhắm mắt như hình thức một giấc ngủ, nhưng đây là một giấc ngủ dài. Ngàn năm hay Ngàn thu là chỉ con số vô tận, không thể đếm). Ý nghĩa chỉ người chết tức là nhắm mắt ngủ yên không bao giờ trở dây .

Ngày 15-11-Bính Dần (dl: 09-12-1926) THẦY dạy: về việc lo an táng cho Ông Thượng Chưởng Pháp Tương như vầy: "TRANG, con nói với TRUNG, THƠ, TƯƠNG, HÓA và các Thiên phong đều có mặt mà đưa nó lên đường, là chỗ an giấc ngàn năm, cũng để tiếng đặng một người đạo-hạnh vậy. Trừ ra đứa nào phải vắng mặt bận việc thì chế đặng. Còn về sự làm cho rỡ ràng trong Đạo hữu, các con nên liệu tính cho kíp. Sự cầu kinh thì do nơi đám táng của mẹ Hậu, đều khác hơn một thí."

 

 

ANGKOR-WAT

(xem ĐẾ THIÊN - ĐẾ THÍCH)

Cả chư vị Bồ Tát và A La Hán đều đồng thinh nhờ Bần Đạo để lời chào mừng Thiên Tôn. Họ lấy làm hoan hỷ.

THI

Để bước Angkor viếng Phật đài,
Tang thương tàn phá bởi thiên tai.
Chạnh lòng Thượng Đế ban ân huệ,
Gìn giữ nơi đây tỏ chút tài.

(Tiêu-Diêu Đạo Sĩ)

 

 

AN KHƯƠNG

安 康
F: La sécurité.

An khương hay an khang là yên-ổn, vui vẻ và mạnh khoẻ. Một câu chúc lành khi tiễn người đi xa.

Kinh Khi Đi Ra Đường có câu:

"Đi an khương, về an khương,
"Cõi Thiên, cảnh Tục cũng dường chung nhau."

 

 

AN NAM

安 南

Đức Giáo Tông viết trong Tờ Khai Đạo gởi Thống-Đốc Nam-kỳ Sài Gòn: "Chủ-ý của chúng tôi là muốn làm sao cho nhơn-loại được cộng hưởng cuộc Hoà-Bình như buổi trước. Được như vậy chúng sanh sẽ thấy đặng thời-kỳ mới-mẻ cực-kỳ hạnh-phúc không thể nào tả ra đặng. Chúng tôi thay mặt cho nhiều người An Nam, mà đã nhìn-nhận sở hành của chúng tôi và đã ký tên vào Tờ Đạo-tịch ghim theo đây, đến khai cho Quan lớn biết rằng: Kể từ ngày nay chúng tôi đi Phổ-thông Đại Đạo khắp cả hoàn cầu."

Khởi điểm là Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung thực hiện trước nhất, trong chương trình mở trường Nữ học mà nhà báo Diệp văn Kỳ viết: "Tôi muốn nói về việc lập Nữ Học Ðường. Ðương giữa buổi mà sự giáo dục của con trai, đàn ông, hãy còn phôi thai, cậu nào đậu được bằng cấp Thành chung là đã tự Thánh, tự Thần, xách đi cùng Lục tỉnh đặng kiếm vợ giàu; đương giữa buổi mà những anh chàng du học đem về được cái bằng cấp Tú Tài, thì đã hô lớn lên một cách rất vinh diệu, tự đắc rằng mình quên hết tiếng An Nam; đương giữa buổi mà khắp cả cha mẹ trong nước đều công nhận rằng: Cho con gái có nhiều ít học thức là một mối hại lớn cho gia đình, cho xã hội; đương giữa buổi như thế mà đứng ra đề xướng Nữ học, xin lập trường Nữ học để dạy bên gái bằng như bên trai, có phải là một việc quá bạo gan chăng? Những người đề xướng có phải là những bực tiên kiến chăng ? Bạo gan thật, tiên kiến thật.

 

 

AN NGỰ

安 御
E: To throne in peace.
F: Trône en paix.

An ngự 安 御 là Ngự vào một cách yên ổn.

Kinh Đưa Linh Cữu có câu:

Toà sen báu vật xin đưa,
Chơn linh an ngự cho vừa quả duyên.

 

 

AN NHÀN

安 閒
F: Aisé.

(An: yên ổn; Nhàn: thư thả, rỗi rảnh) thung dung tự toại.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo phải chủ trương xây dựng cho được cái "Tòa Bạch-Ngọc" tại thế này, mà tại đây, Bần Đạo biết làm sao, mới thưa:

- Bạch Thầy: "Con biết làm sao mà xây dựng đặng?"

Ngài trả lời: Con cứ lo làm, Thầy giúp cho, có Thái-Bạch!

Bần-Đạo phải chịu hứa; thiệt quá sức khó. Đến chừng Bần Đạo cố gắng thi-hành xong mừng quá đỗi giao cho Ngài, giờ phút này mình lo tu an-nhàn tự-toại rồi.

Thi văn dạy Đạo rằng:

Nguồn lành là chốn rất an nhàn,
Trước mắt đâu xa hỏi nẻo sang.
Trần tục là nơi lo lấy của,
Cảnh Tiên là chốn hưởng vinh sang.

 

 

AN PHẬN

安 分
F: Être content de son sort.

(An: yên ổn; phận: bổn phận, trách nhiệm - phần riệng của mỗi người có được). An phận là bằng lòng với hiện tại, chính là đạt được chân hạnh phúc trong đời.

Đức Quyền Giáo Tông nói ngày rằm tháng hai Tân Mùi:

"Về việc hành chánh trong Đạo, thì có Nghị Định của Đức Giáo-Tông phân quyền rành rẽ cho Chức sắc Thiên phong. Xin chư vị Thiên phong ráng lo sắp đặt Chánh – Phó Trị Sự và Thông sự cho có quyền đặc biệt.

Mỗi làng, cử một Chánh Trị Sự và một Thông Sự.

Mỗi xóm có một Phó-Trị Sự coi dìu dắt mấy chục Đạo hữu, phải biên tên họ ra và ký tên trong sổ. Chánh, Phó-Trị-Sự và Thông-Sự cứ lo khuyên đạo hữu làm lành lánh dữ, đừng dự vô cuộc loạn ly hay là việc chi trái đường đạo đức. An phận tuỳ duyên, lo làm ăn, khi rảnh thì sùng bái Trời Phật. Thường ngày được vậy thì khoẻ khoắn tinh thần, đủ yên lòng mình thì chớ, lại thuận ý Trời; xưa nay thung dung, tự toại, an nhàn, vui vẻ ngâm câu của Thánh Hiền đã dạy:

Giàu ngày ba bữa khó ba chìu,
An phận là hơn hết mọi điều.
Khát uống trà mai hơi ngát ngát,
Nực kề hiên trước gió hiu hiu.
Giang san tám bức là tranh vẽ,
Hoa thảo bốn mùa ấy gấm thêu.
Đỏng đảnh khuya nằm sớm thức,
Khác chi dân thuở đời Nghiêu?

Hôm mai gió thổi hiu hiu,
Cỏ hoa là bức gấm thêu nên đồ.
Thanh u sẵn cảnh bốn mùa,
Lựa là cứ chốn giang hồ mới vui?
Cảnh ưa lâu cũng quen mùi,
Bên song hóng mát nhớ người hoà thi.
Hẹp hòi nào sá quản chi?
Phen thì dặm liễu, phen thì ngần mai."

 

 

AN TÁNG

安 葬
F: Enterrer; enterrement.

(An là sự yên ổn, Táng là sự chôn cất người chết) Là một nghi thức của Tôn giáo đối với những bậc Chức Sắc Thiên phong khi qui Thiên thì Hội Thánh lo việc chôn cất như vậy là theo Đạo táng. Nghi thức này chỉ do theo sự chỉ dẫn của Đức Chí-Tôn, vì mỗi phẩm cấp tùy theo bên Hiệp Thiên Đài hay Cửu Trùng Đài mà làm Lễ khác nhau, mà hình thức cái Tháp cũng khác nhau.

THẦY dạy: ngày l5-11-Bính Dần (dl: 09-12-1926) về Thượng Chưởng Pháp Tương. "TƯƠNG tuy chưa đặng như mấy kẻ ấy, song lòng đạo đức đã ra vun đắp mối Ðạo Trời, thì địa vị cũng có khi khác thế thường đặng. Ðiểm Chơn-Thần của nó còn phải đến hầu trước Tòa Tam Giáo mà đợi lịnh phát lạc tùy theo công quả, tội tình của nó bấy nay. Ấy là Thánh ý của Thầy đã lập Luật riêng cho mỗi đứa trong các con đó. Chư Môn đệ cũng nên hiểu biết. Còn việc an táng nó, các con cũng nên lưu ý chung với nhau mà lo bề Nhơn đạo của các con cho toàn."

 

 

AN TÂM

安 心
E: Having a tranquil.
F: Ayant le cœur tranquille.

An tâm là trạng thái yên tĩnh của tâm thức, chỉ thật sự đạt được khi đã có kinh nghiệm giác ngộ. Theo Thiền Tông thì phép Tọa thiền là con đường ngắn nhất để đạt tâm thức an lạc.

Thánh Giáo của Đức Quyền Giáo Tông ngày 3-4-1950:

"Tuy còn nhiều lối đi ngăn trở, nhưng dầu ai có đủ trí hóa mưu thần cũng chưa thắng được Trần Đoàn Lão Tổ. Các Em cứ tin nơi lòng thì một ngày gần đây sẽ thấy rõ. Bởi kẻ biết mình thế nào cũng thua, nhưng gắng tìm nước chống, chống mãi chừng nào bứt dây neo thì ghe bầu mới chịu kéo buồm đi theo chiều gió. Các Đấng đã tiên tri nhiều lắm rồi. Các em kiếm Thánh Giáo khi mới khai Đạo thì cũng rõ kết cuộc của nhà nớ ra sao. Vậy các em cứ an tâm xem thời thế. Anh mừng các em."

 

 

AN TÂM TĨNH TRÍ

安 心 靖 致
F: Se tranquilliser et garder la sérénité de l’esprit.

An tâm: Tâm không vọng-động, không đua đòi, không cố chấp.

Tĩnh trí: cái trí không suy nghĩ vẫn vơ những chuyện không đâu mà phải tập trung vào những việc có ích cho chính mình và cho người khác. Nói đúng hơn là phải suy nghĩ về Lý-Đạo thì mới gọi là tĩnh trí.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Muốn an tâm tĩnh trí đè nén lửa lòng: cần phải có một nghị lực vô biên, một tâm trung quảng đại mới khỏi bực tức với những trò đời đã phô diễn."

 

 

AN TỊNH

安 淨
E: Tranquil and pur.
F: Tranquille et pur.

Trích Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934):

"An đâu đặng mà tịnh, vui đâu đặng mà nhàn. Chúng sanh thì khóc, Hội Thánh thì than mà chẳng thấy một ai lo trọn Ðạo. Tệ Huynh xem lại những trang yếu trọng chấp chánh Ðạo quyền, thay vì chia đau sớt thảm, lo giải khổ cho chúng sanh, lại cố ý giựt giành quyền thế. Nhiều vị lại muốn cho Tệ Huynh ngồi đó điềm nhiên những thảm khổ ngơ tai bịt mắt; lại buộc Tệ Huynh phải an tịnh đặng đắc Ðạo thành Tiên, dầu mối Ðạo chinh nghiêng đừng ngó đến".

 

 

AN VỊ

安 位
E: To be place.
F: Etre en place.

An: Yên ổn, yên lành. Vị: Vị trí, ngôi vị. An vị là ngồi an ổn trên ngôi vị.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Nên biết trách nhậm rất nặng nề, nếu chẳng kham thì con đường thiêng liêng kia đâu an vị được.

 

 

AN VỊ THÁNH TƯỢNG

安 位 聖 象

Lễ An Vị: Nói đầy đủ là "Lễ An Vị Thánh Tượng Thiên Nhãn" tại Thánh Thất. Khi sửa chữa Thánh Thất hay khi xây cất Thánh Thất mới trên nền cũ, cần phải dời Thánh Tượng Thiên Nhãn sang nơi khác để thờ tạm. Khi nội tâm Thánh Thất vừa xây cất xong thì Chức sắc và bổn đạo địa phương tổ chức Lễ An Vị Thánh Tượng Thiên Nhãn nơi Thánh Thất mới một cách trọng thể, để cho sự thờ phượng được trang nghiêm và có nơi lễ bái cho bổn đạo, có mời Hội Thánh đến chứng lễ.

 

 

AN VUI

F: Joie calme, bien-être.

Thi văn dạy Đạo có câu:

Chưa rồi nửa kiếp lắm lo lường,
Thấy kẻ lòng thành Lão cũng thương.
Nếu muốn an vui theo lẽ đạo,
Từ từ đừng vọng vị cao lương.

 

 

AN ỦI

F: Consoler, consolation.

Dùng lời khuyên ngọt ngào để xoa dịu cho người đang đau khổ được vui lòng, an dạ, như được trút hết cơn sầu.

Ðàn cơ tại Hộ Pháp Ðường ngày 17-10-Bính Tý (dl: 30-11-1936). Phò loan: Ðức Hộ Pháp và Cao Tiếp Ðạo.

Ðức Quyền Giáo Tông giáng cơ nói về chơn linh của ông Trang và ông Tương:

Thượng Trung Nhựt nói: "TRANG khóc quá bây ơi! Vừa hiểu hiểu chớ còn khi tỉnh khi say, nhưng Qua theo bên mình ủng hộ, không sao phòng ngại. Em TÁM làm ơn nói với con Hai cho nó biết, kẻo lo rầu tội nghiệp.

Hộ Pháp bạch: - Biết nó nghe không?

- Em cứ nói giùm. Cha chả! Va oán Em đánh va hôm nọ lắm. Qua an ủi, mà hễ tỉnh thì cằn rằn hoài. Em nên viết cho va một cái thơ an ủi, cậy Qua đưa giùm đặng Qua thừa dịp thức tánh va một chút. Em làm ơn giùm.

- Ôi! Thây kệ, đừng giận làm gì nữa. Nếu Em thấy va lúc nầy thế nào Em cũng tội nghiệp. Em làm phước làm giùm cái tháp cho va, hễ tỉnh thì hỏi có bao nhiêu đó hơn hết.

Ôi! TƯƠNG là cục nợ báo đời của TRANG, do căn kiếp phải vậy, dầu khi chết cũng còn theo báo hại.

- Em biết TƯƠNG là ai chăng? Ðứa nào nói trúng, Qua thưởng một củ mì.

- Qua nói nhỏ: NGÔ TÔN QUỜN đó biết không?"

 

 

ÁN

1) ÁN (Bộ: thủ 手) nghĩa là Đè xuống. Cứ, bằng cứ cái này để làm chứng cái kia gọi là án. Vỗ. Như án kiếm 按劍 vỗ gươm, án bí 按轡 cầm dây cương, Xét nghiệm, xưa có quan tuần án 巡按 nghĩa là chức quan đi tuần các nơi để xét xem các quan cai trị dân làm sao. Lần lượt tới. Như án hộ phái đinh 按戶派丁cứ tính số nhà mà lần lượt sai phái các xuất đinh. Dừng lại. Vạch ra hạch tội.

2) ÁN (Bộ: mộc 木) là cái bàn. Như phục án 伏案 là cúi đầu trên bàn, chỉ sự chăm học, án thư 案書 bàn để sách, để đọc sách. Cái mâm. Khảo xét, làm sách tự phát biểu ý kiến mình ra cũng gọi là án. Các bản thể lệ nhà nước định lại lệ cũ hay các bản kiện tụng đã quyết rồi đều gọi là án. Như công án 公案, án bản 案本. Cầm vững. Như án kiếm 案劍 cầm vững gươm. Lần lượt. Như án đổ như cố 案堵如故 vẫn lần lượt yên như cũ.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ÁN (1)


F: Condamner (Sự phán quyết)

Án: kết quả phân xử của một vụ kiện. Ví-dụ: Án tiết là các chi tiết của một vụ án.

Chú Giải Pháp Chánh Truyền: Tiếp Ðạo là người tiếp cáo trạng, án tiết thì phải quan sát trước coi có oan khúc chi chăng....

 

 

ÁN TAM TÀI

按 三 才
E: The disposition of three essential elements of universe.
F: La disposition des trois éléments essentiels de l'univers.

Án: đứng hàng ngang. Tam tài: 3 ngôi: Thiên, Ðịa, Nhơn. Án Tam tài là 3 ngôi Thiên, Ðịa, Nhơn, đứng hàng ngang.

Khi cúng Ðức Chí Tôn, chúng ta phải đốt 5 cây nhang cắm vào lư hương: Hàng trong 3 cây gọi là án Tam tài, hàng ngoài 2 cây nữa, tổng cộng là 5 cây nhang tượng Ngũ Khí.

Cắm cây nhang thứ 1 ngay giữa tượng trưng Thiên, cắm cây nhang thứ 2 phía dĩa trái cây tượng trưng Ðịa, cắm cây nhang thứ 3 phía bình bông tượng trưng Nhơn. Cắm 3 cây nhang đứng hàng ngang tượng trưng Thiên. Ðịa, Nhơn như vậy gọi là: Án Tam Tài.

 

 

ÁN BẤT TÍN NHIỆM

案不 信 任

Do tờ của Giáo-Hữu Chuẩn xin ân-xá vụ tham-lam tiền Kinh - Tượng tại Châu-Đốc (3.000$00).

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP:

"HỘ-PHÁP Chưởng Quản Nhị Hữu Hình-Đài Hiệp Thiên và Cửu-Trùng gởi cho Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài. Bần-Đạo xem hồ-sơ rồi lấy làm lạ cho cách dùng người của kẻ cầm quyền Hành-Chánh. Một vị Chức Sắc bị tội tham tiền của Hội-Thánh tức là đã có án bất tín nhiệm của Đạo mà người ta lại giao Công-Viện Hội Thánh cho người ấy cầm quyền. Nội một điều mua vật liệu của Đạo rồi chẹt-mọt chúng ta cũng khó giữ, điều ấy là điều Bần-Đạo đã quá biết lúc tạo Đền-Thánh. Vậy Bần Đạo tha số tiền của Chuẩn đã lấy của Đạo song cấm nhặt từ đây Hành-Chánh không đặng giao cho Chuẩn một phận-sự chi mà có tài-chánh trọng-hệ vào đó. Phải đem Chuẩn ra khỏi Công-Viện liền". [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

ÁN THIÊN ĐIỀU

Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng trước khi đi đầu thai có gặp Mẹ một lần để nói lên lỗi lầm của mình: "Mẹ ơi! Một lời nói sai với Ngự-Mã cũng bị đọa, huống chi sửa cải chơn truyền tội trọng dường nào! Sự lỗi lầm của con nay việc đem Em về tước quyền Thiên-Quân nên gánh lấy tội-lỗi. Tưởng lúc lâm chung đày đọa xác thân vậy thôi. Nào dè, linh hồn chịu án Thiên-Điều! May nhờ ơn Đức Ngự-Mã đầy lòng Từ-bi Bác-ái vị tha đến thức tỉnh và an-ủi con. Nhứt là Đức Ngài không nói đưa Giáng-Ma-xử. Hai nữa nhờ Đức Thượng-Phẩm và Lục Nương dìu độ."

 

 

ÁN TỬ HÌNH CỦA CHÚA CỨU THẾ

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Ðền Thánh đêm 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947) về cái chết của Đức Chúa rằng:

"Ðức Jésus Christ không kém hơn ai trong hàng Giáo Chủ. Ngài để nhứt tâm lẫn tuất thương sanh, yêu ái người thật nồng nàn chơn chất. Ðức Thích Ca thế nào thì Chúa thế ấy. Bởi cớ thiên hạ thương mến nghe theo Ðạo Giáo của Ngài. Dân Juif các vì Giáo Chủ buổi nọ, luôn các vua chúa Palestine, thấy Ðức Chúa Jésus Christ thuyết Ðạo Giáo có một chí hướng chơn truyền phản khắc với tôn chỉ của họ, họ oán ghét, tìm phương giết Chúa, đến đầu cáo với César rằng: "Người ấy mưu cuộc phản loạn đem bọn Juif ra khỏi sự thống trị của chế độ Romain", nhưng họ cáo đủ thứ cũng không được, vì Thánh đức của Chúa không thể phạm vào được. Họ lại tìm cách bài bác Luật Ðạo, tạo một ban tuyên truyền làm cho nhơn gian sợ di hại liên lụy không dám gần Chúa. Mấy Giáo Chủ (Caiphe) ấy bắt Jésus giao cho Nguyên Soái Pilate lên án tử hình. Tuyên truyền thế nào không biết cho đến ngày Lễ Pâques là ngày thả tù nhơn, có tên Barabbas là Tướng hung dữ, sát nhơn đủ tội lỗi mà toàn dân Juif đồng tha bổng, còn Ðức Chúa Jésus chúng không tha, lên án tử hình và đem ra giết, đóng đinh trên cây Thập Tự. Cái chết của Jésus Christ là gì? Là Ngài đem xác Thánh trọng quí dâng cho Chí Tôn làm tế vật, xác Thánh chết trên Thánh Giá là Lễ Tế đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cùng Ðức Chí Tôn ngày nay đó. Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng. Thật ra Ðấng Cứu Thế ấy là Tam Thế Chí Tôn giáng linh tức Christna tái thế."

 

 

ÁN VĨNH BẤT TỰ DỤNG

Do tờ số 122 ngày 25-2-Quý Tỵ của Ngọc Chánh Phối Sư thỉnh-giáo về các Chức-Sắc có án "Vĩnh-Bất Tự Dụng !"

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Hễ đã mang án "Vĩnh Bất Tự Dụng" thì chỉ đặng lãnh các phận-sự phụ-thuộc mà thôi chớ không đặng quyền cầm chủ-quyền một cơ-quan Chánh-Trị Đạo nào hết, dầu cho một Hương-đạo đến một Trấn-Đạo, các chủ quyền không đặng cầm, duy đặng làm phận-sự phụ-thuộc vậy thôi. Nên nhớ và hiểu đừng quá khốn-khổ mà Ngọc Chánh Phối-Sư phải bị phạt". [HỘ-PHÁP (Ấn-Ký)]

 

 

ANH

1) ANH (Bộ: thảo 艸) Hoa các loài cây cỏ. Vật gì tốt đẹp khác thường đều gọi là anh. Như văn từ hay gọi là "hàm anh trớ hoa" 含英咀華 Tài năng hơn người. Như: Anh hùng 英雄 Anh hào 英豪 Anh kiệt 英傑. Nước Anh. Chất tinh túy của vật. Dùng lông trang sức trên cái giáo.

2) ANH (bộ mộc 木) là Cây anh đào 櫻桃 có hoa đỏ đẹp nên môi đỏ gọi là anh thần 櫻脣. Khổng Thượng Nhâm 孔尚任 nói "Hữu hồng điểm xứ thị anh thần 有紅點處是櫻唇 (Hồng thược dược 紅芍藥) (Hoa) có chấm hồng, đúng là môi đỏ.

3) ANH (Bộ: ngọc 玉) Anh lạc 瓔珞 chuỗi ngọc, lấy ngọc châu xâu từng chuỗi đeo vào cổ cho đẹp gọi là anh lạc.

4) ANH (Bộ: điểu 鳥) như Anh vũ 鸚 鵡 là chim anh vũ, vẹt

5) ANH Trẻ mới lọt lòng mẹ, đứa bé con (Anh hài, Anh nhi)

6) ANH vua loài hoa, chỉ vẻ đẹp; quí nhất, tài giỏi hơn người. (Td: Anh hào, Anh tuấn, Anh kiệt)

7) ANH Trong sáng như ngọc (Td: Anh lạc.)

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ANH CẢ

F: Frère ainé.

Pháp Chánh Truyền: "Giáo Tông là ANH CẢ các con".

Chú Giải: Giáo-Tông thay mặt cho Thầy, đặng bảo tồn chơn Ðạo của Thầy tại thế, thì Anh cả nhơn sanh đặng dìu dắt các con cái của Thầy, dầu lớn tuổi hay là nhỏ tuổi, quyền Thiêng Liêng đã định vậy. Tuy trong Hội Thánh có chia ra hai phần hữu hình là: "Cửu Trùng Ðài" và "Hiệp Thiên Ðài" mà nơi Hiệp Thiên Ðài, dầu cho Hộ Pháp cũng phải là em của Giáo Tông, song Hộ Pháp phải nhỏ về phần hữu hình đã nói trên đây, chớ phần Thiêng Liêng thì đồng vị".

 

 

ANH CẢ THIÊNG LIÊNG

Hiện trong cửa Đạo ngày nay thì người "Anh cả Thiêng liêng" chính là Đức Lý Thái Bạch Kim-Tinh là Nhứt Trấn Oai Nghiêm. Ngài còn kiêm chức Giáo Tông Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ nữa. Chúng sanh niệm danh Ngài là "Nam-Mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ".

Riêng trong nền Đại-Đạo ngày nay thì Giáo Tông có hai: một về vô vi là Đức Lý Đại Tiên (Thái Bạch Kim Tinh), một về hữu hình là Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, đều là ANH CẢ của nhơn sanh tôn tặng.

Đức Hộ-Pháp nói: đêm nay 17-8-Quí Tỵ (1953) Vía Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Ðức Giáo Tông chúng ta lấy làm hân hạnh nhờ ơn Ðức Chí Tôn ban cho chúng ta một người Anh Cả Thiêng Liêng hiển linh quyền năng vô đối, Bần Ðạo nhớ lại hồi buổi ban sơ mới khai Ðạo, thật ra Bần Ðạo không có đức tin gì hết, không có tin đến nước Ðại Từ Phụ tức cười. Ngài đến nhà Bần Ðạo năm Ất Sửu dạy cả mấy Anh lớn ngày nay là Chức Sắc của Ðạo, đi đến mọi nhà, thật ra Ðức Chí Tôn đến thăm, đến viếng mọi con cái của Ngài. Bần Ðạo không đức tin gì hết, nghe nói Tiên giáng đi theo nghe chơi, làm cho Ðại Từ Phụ phải tức cười. Ngài cho bài thi ai nấy cũng tốt, duy có bài thi của Bần Ðạo rất dị hợm như vầy:

Ngao ngán không phân lẽ thiệt không,
Thấy thằng áp út quá buồn lòng.
Muốn giàu Thầy hứa đem cho của,
Cái của cái công phải trả đồng.

Ðại Từ Phụ còn thêm hai chữ "Nghe con!" cho đến bảy tháng xuống ở Thủ Ðức, năm thiên hạ bịnh chướng, khi không khởi phù mình rồi chết, nhứt là tại Thủ Ðức, lắm bịnh nhơn quá chừng, Ðức Chí Tôn bảo xuống ở Thủ Ðức cứu bịnh cho họ trong bảy tháng, xuống ở Thánh Thất của Ðạo, nhờ Ðức Lý giảng dạy với ngòi bút, trọn bảy tháng trường mới biết Ðạo. Có cái hay hơn hết là những điều gì Ngài dạy trong Cơ Bút là những sở hành trong kiếp sanh của Bần Ðạo. Bần Ðạo làm chứng một Ðấng mà Ðức Chí Tôn đã lựa làm Anh Cả của chúng ta linh hiển lạ lùng, không cần lập đi lập lại, đối với Chức Sắc tất nhiên cả Thánh Thể của Ðức Chí Tôn, Bần Ðạo cốt yếu nói với toàn con cái của Ngài nam nữ lưỡng phái phải định tâm và kiên cố đức tin của mình. Các việc Ðức Chí Tôn tiên tri, Bần Ðạo vừa nói từ từ, nói đủ hết, Bần Ðạo thú thật nhờ cái linh hiển của Ngài, nhờ Ngài giáo hóa nên Bần Ðạo hôm nay được khối đức tin mạnh mẽ to tát. Nếu không có nhờ Anh Cả vô biên linh hiển ấy chắc là phận sự yếu trọng của Bần Ðạo hôm nay chỉ mơ hồ, đức tin yếu ớt, thiếu đức tin, thiếu cương quyết, thiếu tâm Ðạo vững chắc. Bần Ðạo tưởng, nếu ba điều ấy thiếu thì nền chơn giáo không được nên hình như thế nầy. Cả thảy con cái Ðức Chí Tôn đều biết không có nền chơn giáo nào chỉ có hai mươi mấy năm mà đặng bành trướng, danh thể của nó cao trọng truyền bá một cách mau chóng, như nền Ðạo Cao Ðài của Ðức Chí Tôn. Hôm nay Bần Ðạo chứng chắc quả nhiên như vậy, cái năng lực của Ðạo hôm nay được như thế là nhờ Ðức Lý Ðại Tiên cầm quyền thiêng liêng vô đối, nhờ Anh Cả của ta là Ðức Lý Giáo Tông điều khiển quyền năng vô hình của Ngài. Bần Ðạo hôm nay mới đặng cái quyền và năng lực bành trướng như thế này. Có một điều Bần Ðạo dặn trước, những kẻ tưởng Ngài vô hình coi chừng Ngài, những kẻ thiếu đức tin dám khi rẻ quyền linh của Ðạo, oai quyền của Ngài, coi chừng Ngài trừng trị, những kẻ nào phạm nhằm Thiên Ðiều, Bần Ðạo dám quả quyết khó tránh nơi tay của Ngài. Các con cái Ðức Chí Tôn coi Ngài rất công bình. Ngài dạy: Phải lập công, lập đức, lập ngôn, tức nhiên là "Tam Lập". Ngài rất công bình, rất oai quyền. Thiên vị chúng (?) nhờ Ngài bảo vệ, không thế gì sơ sót. Ðức Chí Tôn coi Ngài cũng như một Tướng Soái, oai quyền của Ngài lớn lắm. Ở nơi Ngọc Hư Cung quyền của Ngài yếu trọng vĩ đại to tát lắm. Cả con cái của Ngài cũng nên tin nơi Ngài, mong mỏi nơi Ngài để cả ước vọng và đức tin nơi Ngài. Bần Ðạo xin khuyên một điều: Lớn nhỏ phải yên tâm giữ Ðạo, đừng sơ sót nhứt là đừng có ỷ công khi lịnh, coi chừng Ngài, Ngài trừng trị một cách oai quyền, trước mắt Bần Ðạo đã thấy, hai mươi mấy năm lập Ðạo cùng Ngài, Bần Ðạo quả quyết như vậy. Chúng ta hãy để trọn đức tin nơi Ngài một Ðấng công chánh oai quyền, nhưng rất yêu ái. Chúng ta được Ngài bảo vệ cho thật là một sự an ủi vĩ đại trong kiếp sanh của chúng ta đó vậy."

 

 

ANH HÀI

嬰 孩
E: A new born child.
F: Le nouveau né.

(Anh: Ðứa trẻ mới lọt lòng mẹ, đứa bé con. Hài: Trẻ bé) Anh hài là đứa bé sơ sinh.
Thuyết Ðạo của Ðức Hộ Pháp: Chúng ta buổi mới sanh ra còn anh hài không đủ trí thức xét đoán.

 

 

ANH HÀO

英 豪
E: The hero.
F: Le héros.

Anh hào 英豪 là người tài giỏi và có khí phách hơn nguời. Đây chỉ người đàn ông, là người chồng. (Anh: vua của loài hoa, chỉ vẻ đẹp cao quí nhất, thuộc về tinh thần, tài giỏi hơn người. Hào: Có tài trí hơn người). Anh hào là người tài giỏi xuất chúng, có những thành tích vẻ vang hiển hách. Thường nói: Anh hùng hào kiệt.

Ðức Quyền Giáo Tông đọc Diễn văn tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934): "Các Đấng thiêng liêng cũng có nói trước: Rồi đây nguyên-nhân sẽ đến rần rần, có lắm anh-hào thành tâm giúp Đạo. Cơ Trời mầu nhiệm, cao sâu, người đâu thấy đặng! Từ ngày ác khí nổi lên xông đột, bên bạo tàn trương nanh múa vút, thì bên Thánh Ðức hiền lương có lắm anh hào đem hết trí thức tinh thần ra công giúp Ðạo.

Tạo Hóa vần xây chuyển thế,
Âm Dương thiệt khéo đầu cơ.

Khiến cho Tệ Huynh nhớ lời tiên tri của Bát Nương Diêu Trì Cung hồi ban sơ có dạy rằng:

Hễ gặp người an bang tế thế,
Nên quì mà nghênh lấy lễ trọng người.
Cổi thân ra mảnh áo tơi,
Che mưa đở nắng cho đời nguy nan."

Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu có câu:

"Vói nhắn khách Dạ đài có tưởng,
"Vậy bóng hình để tướng nơi nao?
"Hay là lạc bước nguồn Đào?
"Ðể thương cho mặt anh hào đeo mang."

(Trường hợp câu thi này chữ "Anh hào" còn ám chỉ người chồng, là bậc đáng tôn trọng đối với vợ)

Thi văn dạy đạo có câu:

"Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,
"Hoàng thiên bất phụ chí anh hào."

 

 

ANH HÙNG

英 雄
F: héros.

(Anh: vua của loài hoa, chỉ loài hoa đẹp nhất, phần tinh túy- đẹp, tốt. Nói về người có tài năng xuất chúng. Hùng: nghĩa đen là con gấu, chỉ lòai thú dũng mãnh nhất, vua của loài thú). Anh hùng là chỉ người tài giỏi về tài năng và dõng lược.

Nếu chỉ riêng về một mặt can đảm mà thiếu đạo đức thì hóa ra hung bạo, hoặc nếu có đạo đức mà không dũng thì hóa ra khíêp nhược. Phải đủ cả hai mới gọi là "anh hùng. Hai tiếng Anh hùng là chỉ người hào kiệt xuất chúng. Từ xưa đến nay thường dùng lầm lẫn nhau; chỉ cái sức mạnh đơn phương mà thôi chưa đủ nghĩa. Phải là người có tài đức vẹn toàn mới xứng là Anh hùng.

Đức Hộ-Pháp nói: "Mỗi sanh mạng ấy chúng ta đã thấy hiển nhiên trước mắt, ngày nay người dám hy sinh là người đã tỏ rằng mình là con cái xứng đáng của nước nhà chủng tộc đó vậy. Các vị anh hùng đó là con cái xứng đáng của nước Việt Nam, là nòi giống trung thành của nước Việt Nam, các Đấng ấy đã dám hy sinh cho Tổ Quốc họ. Hỏi chúng ta mất kẻ ấy chúng ta có tìm lại đặng hay chăng? Câu hỏi ấy Bần Đạo để dấu hỏi mơ hồ.... Nếu có hay chăng tương lai sẽ chỉ rõ, Bần Đạo mơ uớc một điều là những gương hy sinh đó được để trong tâm não các chiến sĩ Cao Đài và Bần Đạo mơ ước phải nhớ mãi ấy là danh giá cao thượng của Đạo đó vậy".

Bài thài Trung-Tướng Trình-Minh-Thế được phong phẩm Quốc-Sĩ, thờ tại Báo Quốc Từ, Ngài giáng Cơ:

Lỡ bước qua sông chẳng kịp đò,
Chí cao khó định khỏi phiền lo.
Anh hùng định thế chưa an thế,
Chỉ tiếc mày râu chẳng vẹn trò.

Buổi đầu khai Đạo Thầy giáng Cơ thâu môn đệ. Người xin cầu Đạo tên Trần Văn Nên, Thầy cho thi:

Anh hùng gặp thế rán đua chen,
Con giống như con bướm mến đèn.
Thầy hỏi như tu con khá nhớ,
Làm sao Thầy đặng để lời khen.

(Thâu)

Đôi khi tiếng "anh hùng" được dùng đảo ngữ thành ra Hùng anh, là vì cho thuận theo luật bằng trắc trong một câu thơ chẳng hạn. Đây là thi của Đức Thanh Sơn Đạo sĩ:

Dựng nước không ai tài tướng lược,
Liều mình thiếu kẻ đáng hùng anh.

 

 

ANH HÙNG LIỆT NỮ

英 雄 列 女
F: Héros et héroine.

(Anh hùng như trên đã nói là những trang tài đức, của đấng nam nhi. Liệt là những người được xếp hạng cao, đúng đắn, Nữ là chỉ chung đàn bà, con gái). Anh hùng liệt nữ là ca tụng tất cả những người Nam cũng như Nữ đã góp phần tô điểm giang san, tổ quốc, đạo pháp, xứng đáng là người cho nhân sanh ca tụng và được thiên thu phụng tự.

Ngài Bảo Thế Lê-Thiện-Phước có nói: "Nối theo có nhiều anh hùng liệt nữ như Hưng Đạo Vương, Nữ Trưng Vương… đuổi quân Minh ra khỏi biên thuỳ, tự ta lấy lại chủ quyền lãnh thổ."

 

 

ANH LẠC (1)

瑛 珞

(Anh: Loại đá quí đẹp như ngọc. Lạc: Một loại ngọc sáng, quí). Anh lạc, tiếng Phạn là Chi-do-la, là xâu chuỗi ngọc, dùng đeo vào cổ làm trang sức. Ở Ấn Ðộ thời xưa, những nhà giàu, chẳng kể nam nữ đều đeo chuỗi Anh lạc. Ở cõi Thiên, chư Bồ Tát và Nữ Tiên cũng thường đeo chuỗi anh lạc.

 

 

ANH LẠC (2)

瑛 樂
E: Clear and joyful.
F: Clair et joyeux.

(Anh: Trong sáng như ngọc. Lạc: Vui vẻ, an vui). Anh lạc là trong sáng an vui.

Kinh Cứu khổ có câu: "Cứu hộ đệ tử… nhứt thân ly khổ nạn, tự ngôn Quan Thế Âm Anh-lạc bất tu giải cần đọc thiên vạn biến tai nạn tự nhiên đắc giải thoát": nghĩa là xin cứu hộ đệ tử được khỏi các khổ nạn, lời nói của Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát, tự nó trong sáng an vui, không cần giải thích thêm. Cần yếu là phải đọc hàng ngàn, hàng vạn biến Kinh này thì tai nạn tự tiêu tàn và có thể giải thoát...).

 

 

ANH LINH

英 靈
E: Miraculous, the soul.
F: Miraculeux, l'âme.

(Anh 英: vua của loài hoa, là loài hoa đẹp nhất, quí nhất; tài giỏi hơn người. Linh 靈: Linh hồn, thiêng liêng). Anh linh 英靈 là về phần Thiêng liêng sáng suốt. Có hai nghĩa:

1- Anh linh là cao quí thiêng liêng.

Kinh Ðệ Nhứt Cửu có câu:

"Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
"Phách anh linh ắt phải anh linh."

2- Anh linh là linh hồn tốt đẹp.

Nhân Lễ Khánh Thánh Báo Quốc Từ:16-8-Ất Mùi (dl: 1-10-1955) Ðức Phạm Hộ Pháp có nói: "Tưởng niệm tới Lễ ấy nên Hội Thánh mới quyết định lập Báo Quốc Từ thờ trọn cả các vong linh của các anh hùng chiến sĩ, Cứu Quốc Công Thần cùng là trận vong chiến sĩ. Hôm nay các anh linh chư vị anh hùng tiền bối và hậu bối đang ngự trị trong khối Quốc hồn của ta và đang vơ vẩn bên ta. Giờ phút thiêng liêng nầy, Bần Đạo xin các Ngài hiệp tâm làm một cùng Bần Đạo thành một khối tưởng niệm duy nhứt đặng cầu xin các Ðấng ấy giúp cho nòi giống ta khỏi cơn ly loạn, cốt nhục tương tàn, đặng đem hạnh phúc Hòa bình lại cho nước nhà và cho toàn thiên hạ."

Thài Hiến Lễ Hàng Thánh:

"Ðầu vọng bái anh linh chứng hưởng".

Bà Bát Nương Diêu-Trì-Cung giáng đàn cho thi:

"Thân phận phàm nhơn trược đã đành,
"Chẳng vì nguyệt huyết kỵ anh linh."

 

 

ANH LỚN

Anh Lớn cùng nghĩa với Trưởng Huynh. Đây là Đức Thượng Phẩm gọi Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Ngài giáng Cơ sau ngày nhập Bửu tháp ngày 8-3-Kỷ Tỵ (1929)

Phò loan: Hộ Pháp - Văn Pháp. Năm Kỷ Tỵ (1929)

CAO THƯỢNG PHẨM

"Em chào Anh Lớn, Tám và Nghĩa. Em đến đây ngày nay là bạn của Anh Lớn và hai em, chớ không phải với danh Thượng Phẩm. Em lấy làm mừng cho Anh Lớn ngày nay đã hiểu rõ Thánh ý về làm chủ Tòa Thánh, chớ chi buổi trước Anh tính đặng như vậy thì nền Ðạo đâu đến chinh nghiêng và em chắc không đến đổi phạm lịnh mà đắc tội cùng Thầy.

Em xin nói rõ song Anh Lớn chớ phiền, vì mọi sự cũng do Thiên cơ tiền định. Anh có lúc nghe lời Anh Ngọc mà nghi hoặc bụng em, làm cho em bị khảo duyệt mà kỳ trung Anh đặng phải; còn Anh Ngọc (Ngọc Lịch Nguyệt) lại bị tội tình cờ mà bị quyền Thiên khiển cái phẩm vị cao trọng. Anh Ngọc không rõ giá thì mất vị đã đành nhưng nhờ công lao khai Ðạo, em không nỡ ngồi ngó cho đành, nên đương liệu phương cầu rỗi; anh cũng nên thừa dịp răn he ảnh cho biết ăn năn chừa cải. Xin Anh đừng tưởng lầm như em buổi tại thế rằng: Ðạo do nơi Anh Ngọc, muôn việc tại Thầy. Anh hỏi thằng Tám (Hộ Pháp) thì biết, em đã dâng xin Ðức Lý Giáo Tông ban luật lịnh cho Anh đủ quyền tuyển chọn Chức Sắc, vậy Anh cũng nên để ý dè dặt cho lắm mới trừ diệt đặng những kẻ phá Ðạo. Em tưởng Pháp Chánh Truyền dễ thế ban hành sự cao thượng, Ðạo chỉ do nơi đó, Thầy thì từ bi đòi phen dung dưỡng, làm cho kẻ đạo đức chịu khổ hạnh trăm bề, nhưng Em đã đặng lời hứa với Thầy rằng: Từ đây để trọn quyền cho Ðức Lý Giáo Tông định đoạt. Anh Lớn cũng nên hiệp ý cùng thằng Tám đặng hành chánh y lịnh dạy của Ngài. Anh cũng nên để trọn quyền hành-sự cho Chánh Phối Sư đặng nhẹ bớt cái phần trách nhậm nặng nề đi, đặng Anh lo nhiều điều cao thượng của Ðạo hơn nữa; Anh nên đem chị về cho thuận Thánh ý Thầy và bớt lo điều gia sự.

Mấy vị Thiên Phong vô lực, nhứt là sự ngộ mà nhiều kẻ khác nữa, Ðức Lý Giáo Tông sẽ giáng cơ định đoạt. Xin Anh Lớn chớ lo, những kẻ phạm tội giải ra Tòa Tam Giáo thì Ngài cũng sẽ quyết định. Anh Ngọc lúc nầy nếu biết mình cũng nên ẩn nhẫn đợi đôi lúc nữa sẽ hay miễn đừng gây tội nữa.

Tám! Từ đây em nên nghe lời và bớt tánh nóng nảy đặng giữ phẩm hạnh nghe.

Anh Lớn hỏi chi? - Anh Cả trả lời rằng: Qua muốn lo lập Phước Thiện Ðường để nuôi mấy người đàn bà góa thủ tiết lo tu mà nghèo, lập như nhà kín (Ermite) của Gia Tô?

Thầy đã tính trước, bằng chẳng vậy phái Nữ không tu, em tưởng đẹp lòng Thầy lắm! Anh lo đặng Học Ðường nữa càng tốt, em tưởng dường này thì bổn Ðạo ắt đặng ngày ngày nâng cao thêm nữa. Em rất mừng". Thăng

 

 

ANH MINH

英 明

(Anh: Ðẹp nhất, quí nhất, tài giỏi hơn người. Minh là sáng suốt). Anh minh là người có tài ba xuất chúng, vượt trổi hơn người, như mặt trời chiếu sáng muôn loài vạn vật

Nhân đàn Vía Đức Chúa Jésus-Christ tại Ðền Thánh, đêm 24 tháng 11 năm Mậu-Tý (dl: 24-12-1948) Đức Hộ-Pháp nhắc-nhở "Công đức một Đấng Giáo-Chủ anh-minh, một Đấng Giáo-chủ sáng-suốt, đã ngự trị trong tâm-linh của nhân loại: 1948 năm trước, lúc nầy có một vị Chí-Tôn giáng trần giáo Ðạo tại Tây Phương, vị Chí-Tôn an-bang tế-thế mang xác phàm lập giáo để một cái nền văn minh vĩ đại cho nhơn loại, tính ra được 1948 năm."

 

 

ANH NHI

嬰 兒
E: Little child.
F: Petit enfant.

(Anh: Ðứa trẻ mới lọt lòng mẹ, đứa bé con. Nhi: Con, con nói với cha mẹ xưng là Nhi). Anh nhi 嬰兒 là con trẻ, trẻ nhỏ.

Một hài nhi thật ra chưa có hung tánh. Theo Mạnh Tử: tánh của con người lúc ban đầu là thiện "Nhân chi sơ tính bản thiện"人之初性本善. Kinh Tắm Thánh xác nhận điều ấy: "Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi". Nhưng khi tiếp xúc với đời vì đắm đuối vào vật dục, cho nên cái tâm mới mờ tối đi, thành thử bỏ mất điều nhân nghĩa, mà trở nên tính ác. Bởi thế, ông khuyên người ta không nên để mất cái tâm hồn nhiên thuần hậu như cái tâm của đứa trẻ con "Đại nhân giả, bất thất kỳ xích tử chi tâm giả dã" 大人者, 不失其赤子之心者也.

Như vậy, là nơi mình anh nhi đã có sẵn một nửa là người tức là phàm thân do tinh cha huyết mẹ tạo ra và một nửa là điểm linh quang do Chí Tôn ban cho, còn gọi là Phật tánh.

Vậy: người là bậc linh thiêng hơn hết, trong mình đứa trẻ nhỏ có nửa người (phàm thân), nửa Phật (Phật tánh).

Bài Kinh Tắm Thánh có câu:

'Con người đứng phẩm tối linh,
"Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi."

Bài Phật-Mẫu Chơn Kinh cũng khuyên phải gắng độ:

"Chiếu nhũ lịnh Từ huyên thọ sắc,
"Ðộ anh nhi Nam, Bắc, Ðông, Tây."

 

 

ANH PHONG

英 風
E: The noble appearance.
F: Une apparence noble.

(Anh: Ðẹp nhất, quí nhất, tài giỏi hơn người. Phong: dáng vẻ bên ngoài.) Anh phong là dáng vẻ cao quí, sang trọng.

Thánh ngôn: "Khá trông cậy chí cao thượng anh phong mà nhìn sự đau đớn, chính mình Thầy đây không tránh khỏi".

Đức Lý Thái Bạch viết Bài "Ngụ Đời" có câu:

Tiếc thay một gánh cơ đồ,
Xa thơ khuất dấu ngọn cờ bặt tăm.
Nòi anh phong đó, cơ nghiệp hỏi ai cầm?

 

 

ANH TÀI

英 才
F: Homme de talent.

Anh: hoa các loài cây cỏ, vật gì tốt đẹp khác thường đều gọi là anh. Anh tài: tài năng hơn người.

Thi văn dạy Đạo:

Anh tài chưa biết dựa quyền người,
Còn nói chi chi bổn phận ngươi?
Tranh đấu cuộc đời là huyết chiến,
Nhứt nhơn chịu khổ chịu người cười.

 

 

ANH THƯ

英 姐
F: Femme célèbre, Héroine.

Anh thư: chỉ về người con gái có tài.

Buổi khai Đạo Thầy giáng Cơ thâu nhận môn đệ như Lê Chí Thuần, ngày 23-11-1926 đồng thời cho Thi:

Ðã thừa may rủi cuộc vinh hư,
Làm lắm công phu thử đến chừ.
Hiệp khách nên trang non nước sửa,
Càng qua lần lựa cửa anh thư.

(Thâu)

 

 

ANH TUẤN

英 俊
E: Eminent.
F: Éminent.

(Anh: Ðẹp nhất, quí nhất, tài giỏi hơn người. Tuấn: Tài trí hơn người). Anh tuấn là người tài giỏi xuất chúng.

Thanh Sơn Ðạo Sĩ có thi rằng:

Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,
Trả vay cho sạch vết oan khiên.
Trường Ðời đem thử gan anh tuấn,
Cửa Ðạo mới ra mặt Thánh Hiền.
Ðau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,
Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.
Non sông Việt chủng ngày êm lặng,
Chung sức cùng nhau đức lập quyền.

 

 

ÁNH

Ánh sáng dọi lại

 

 

ÁNH CHÍ LINH

E: The light of God
F: a lumière de Dieu

Ánh: Ánh sáng, chiếu sáng. Chí: Rất, cùng cực. Linh: Thiêng liêng. Chí Linh là vô cùng thiêng liêng, chỉ Ðức Chí Tôn. Ánh Chí Linh là ánh sáng của Ðức Chí Tôn.

Kinh Nhập Hội:

"Ðể tâm dưới ánh Chí Linh."

 

 

ÁNH HỒNG

映 紅

Kinh Đệ Ngũ Cửu có câu:

"Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
"Cõi Xích-Thiên vội mở ải-quan.
"Thiên-Quân diêu động linh-phan,
"Cả miền Thánh-vức nhộn-nhàng tiếp nghinh."

 

 

ÁNH HỒNG QUÂN

映 洪 鈞

Ánh: Ánh sáng, chiếu sáng. Hồng: To lớn. Quân: Cái bàn xoay để nặn đồ gốm. Hồng Quân là chỉ Ðấng Hóa công, vì Ðấng ấy giống như người thợ nặn đồ gốm, dùng cái bàn xoay vĩ đại, sản xuất vạn vật trong Càn Khôn Vũ Trụ. Ánh Hồng Quân là ánh sáng của Ðấng Thượng Ðế.

Kinh Đệ Nhất Cửu có câu:

"Kìa Thiên-cảnh con đường vòi-vọi,
"Ánh Hồng-Quân đương chói Ngọc-Lầu.
"Cung Thiềm gắng bước cho mau,
"Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam-Thiên."

 

 

ÁNH THÁI DƯƠNG

E: The light of the sun
F: La lumière de soleil

(Thái dương là Mặt trời. Ánh Thái dương là ánh sáng mặt trời, là nguồn sống của nhơn loại và sinh vật. Giọi là chiếu, rọi xuống) Trên nguyên lý thì mặt trời chiếu ánh sáng ra từ phương Ðông. Phương Ðông, mặt trời từ từ lố dạng, phá tan màn đêm đen tối đang bao phủ địa cầu, vạn vật thức tỉnh, bừng lên sự sống. Ngụ ý là nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Độ mở ra tại một nước ở phía Đông tức nhiên là nước Việt Nam, để cứu vớt nhơn loại thoát qua biển khổ trong kỳ Hạ nguơn mạt pháp này.

Mặt trời bao giờ cũng mọc vào buổi sáng từ phương Đông đem ánh nắng cho muôn loài vạn vật và lặn về phương Tây ấy là buổi chiều. Tương tự Đạo là sự sống của muôn loài, bao giờ cũng khởi phát từ phương Đông. Ví như đạo Phật khai tại Ấn Độ. Khổng, Mạnh, Lão, Trang khai tại Trung Hoa, cũng từ phương Đông. Nay, giáp một vòng luân chuyển, lại trở về Đông: Đạo Cao-Đài xuất hiện để đem lại nền văn minh tinh thần cho nhân loại, phục hồi thượng cổ Thánh đức thuần lương. Vì Hạ nguơn quá nhiều đau khổ và điêu tàn.

Bài Khai Kinh trong Tứ Thời Nhựt Tụng có câu:

"Biển trần khổ vơi vơi Trời nước,
"Ánh Thái dương giọi trước phương Đông."

 

 

ÁNH XÁ LỢI

映 舍 利
E: The aureola of Buddha.
F: L’auréole de Bouddha.

Ánh: Ánh sáng, chiếu sáng. Xá lợi: Phiên âm từ tiếng Phạn: Sarira. Trong phép luyện đạo, Xá lợi là chỉ Chơn thần của người đắc đạo. Ánh Xá lợi là ánh hào quang phát ra từ Chơn thần của Ðức Phật.

Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần:

"Ánh Xá lợi sáng ngời Cực Lạc."

 

 

ẢNH HƯỞNG

影 響
F: Influence.

(Ảnh 影: cái bóng. Hưởng 響: vang) Là bóng theo hình, vang theo tiếng. Nghĩa rộng: việc dấy lên một chỗ, rồi lan rộng đến xung quanh. Ví như Việt Nam đã ảnh hưởng nhiều đến văn hóa Tây phương.

Đức Thượng Phẩm nói: "Vì chính nước Việt-Nam đã được Đức Chí-Tôn định là Thánh-Điạ thì tức nhiên nó phải có chút ảnh-hưởng của Đạo Cao-Đài quyết-định, không dựa vào hình-thức nào hay là chút ảnh-hưởng văn-minh của một liệt cường nào cả."

 

 

AO Ô TRÌ

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng liêng Hằng Sống: "Muốn đến Bát-Quái-Đài chúng ta phải qua ao Ô Trì, chúng ta thấy Bát-Quái-Đài nó thù-lù ở dưới trồi lên trước mặt chúng ta, chúng ta thấy hình nó giống như cây cột có tám cửa vậy."

 

 

AO THẤT BỬU

七 寶 池
E: The pont of seven precious things.
F: L’étang en sept objects précieux.

Tiếng Hán gọi Ao Thất bửu là "Thất bửu trì". (Thất bửu hay Thất bảo là bảy món quí báu. Trì là ao). Ao Thất Bửu: Còn gọi là Thất Bửu trì 七寶池, tức là cái ao làm bằng bảy món báu vật, như Kim 金, ngân 銀, lưu ly 琉璃, pha lê 玻璃, xa cừ 硨磲, xích châu 赤珠, mã não 瑪瑙. Ao này nằm ở cõi Cực Lạc Thế Giới. Theo Kinh Vô Lượng Thọ, Ao Thất Bửu chính là nơi thai sen nở để những người tu hành đắc quả Phật được sanh vào Cực Lạc, mà cũng là nơi để người cõi Cực Lạc tắm gội trong ấy. Vào đến ao Thất Bửu, một ao làm bằng bảy thứ báu vật nơi cõi Cực Lạc Thế Giới, Chơn hồn được tắm gội để gột rửa những uế trược nơi cõi tục. Theo Phật giáo, Các thứ ấy quí báu là vì màu sắc tốt đẹp không phai theo thời gian, thể chất không lem ố, dùng làm đồ trang sức rất đẹp, hiếm có trong thế giới hữu hình này nên được nhiều người quí trọng, đắc giá.

Ao Thất bửu là cái Ao nơi Cực Lạc Thế-Giới, được xây tạo và trang trí bằng bảy thứ quí báu, tốt đẹp lạ thường, như: Cát dưới ao bằng vàng. Các bậc thang bốn phía ao bằng vàng, bạc, lưu ly. Giữa ao có những đóa hoa sen tỏa hào quang đủ màu đẹp mắt và tỏa mùi thơm ngào ngạt. Quanh ao là những lâu đài trang trí bằng các thứ san hô, mã não, hổ phách, xa cừ, vàng, bạc. Trong Ao Thất bửu chứa một thứ nước rất quí, nước nầy có đủ 8 công đức, gọi là Bát công đức thủy. Người được ân huệ tắm trong Ao Thất bửu thì trí não được khai thông, chơn thần được trong sáng. Tám công đức của nước trong Ao Thất bửu là: - Trừng tịnh (Lắng sạch). - Thanh lãnh (Trong mát). - Cam mỹ (Ngọt ngon). - Khinh nhuyễn (Nhẹ dịu). -Nhuận trạch (Nhuần trơn). - An hòa. - Uống vào thì hết đói khát, hết lo âu, làm bổ khỏe các căn của xác thân.

Nơi Thánh địa Tòa Thánh Tây Ninh, vào khoảng cuối năm 1951, Ðức Phạm Hộ Pháp có cho xây dựng nơi đầu cầu: Ðoạn Trần kiều, kế Trí Huệ Cung, một cáo Ao, được đặt tên là Ao Thất bửu, làm Thể pháp tượng trưng Bí pháp. Người tu phải vào tắm nơi Ao Thất bửu để gội sạch bợn trần, rồi đi qua Ðoạn Trần kiều để tư tưởng đoạn tuyệt được với cõi trần-ai, không còn trở lại nữa, rồi nhập vào Trí Huệ Cung, tu hành cho đạt được trí huệ thì đắc đạo.

Ðến năm 1998, Ao Thất bửu bị hư hỏng rất nhiều, nên ngày 8-4-Mậu Dần (dl: 3-5-1998), Ban Tu Sửa được thành lập và khởi công tái thiết toàn bộ Ao Thất bửu, được bổn đạo khắp nơi tích cực ủng hộ, nên chỉ trong 4 tháng thi công thì hoàn thành, làm lễ Khánh thành ngày 14-7-Mậu Dần (dl 7-9-1998).

Kinh Tiểu-Tường có câu:

"Ao Thất-Bửu gội mình sạch tục,
"Ngôi liên-đài quả phúc Dà-Lam.
""Vạn-Linh trổi tiếng mầng thầm,
Thiên-thơ Phật tạo độ phàm giải căn."

 

 

ÁO DÀ

道 枹
F: La soutane.

Áo Dà còn gọi là đạo bào.

Thầy dạy: "Áo dà cũng muốn mặc, giày đạo cũng muốn mang, muốn đứng trước cả nhân sinh để cho họ biết mình hướng đạo. Ðường Tiên cũng lấp lửng, nguồn Thánh cũng toan vào mà thấy bạc rơi cũng chẳng bỏ, lợi mún chẳng từ, mượn danh Ðạo mà tạo danh mình, vô Thánh Ðiện mà hơi tà còn phưởng phất. Muốn cho nhà thiệt cao, áo thiệt tốt, mượn lốt cọp dọa cáo bầy, bụng trống lỏng, túi thâu đầy toan làm thầy lũ dại."

 

 

ÁO MÃO

F: Habit, vêtement et châpeau de cérémonie.

Áo Mão là biểu hiệu cho phẩm tước. Nhất là trong cửa Đạo Cao Đài ngày nay Thầy khai Đại Đạo có ban cho phẩm tước để tăng quyền hành Thiêng Liêng mà đi giáo hóa nhơn sanh trong con đường hành thiện. Áo Mão ấy chẳng qua là Thầy cho mượn mà thôi. Khi công viên quả mãn được Thiêng liêng chấp nhận thì được vinh vang nơi cõi Hằng Sinh. Nếu làm sai lệch thì tội nhiều hơn một Tín đồ. Ấy cũng là công thưởng tội trừng không sai sót.

Thầy nhắc Chư Môn Ðệ ham muốn phong TỊCH.Thầy dạy: "Các con, phần nhiều chư Môn Ðệ ham muốn phong TỊCH, nhưng chưa hiểu phong TỊCH là gì? Thầy để lời cho các con biết rằng:

- Nhiều Thánh, Tiên, Phật, xuống phàm nếu căn quả tiền khiên không mấy trọng hệ, nghĩa là kiếp trần duyên không chi phải nhơ bợn nhiều, thì dầu không THIÊN PHONG hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạt hồi đặng.

- Thiên Phong là để cho bậc Thánh, Tiên, Phật, lìa trần phải lắm dày công cùng sanh chúng mới trông mong hồi cựu phẩm đặng. Các con nên nhớ Thầy lấy từ bi phong TỊCH, nhưng các Chức Sắc nếu vì ÁO MÃO hơn vì đạo đức thì tội chất bằng hai."

Đức Hộ Pháp giáng cơ ngày 8-3-1965 dạy rằng:

"Ôi nạn áo mão, Bần Đạo cậy Hiền Hữu (Bảo Thế) để tâm sắp đặt hầu dìu dẫn giùm họ. Nên bảo họ nhớ rằng: Nếu họ không biết trọng Luật pháp và cố tâm bảo thủ sự nghiệp quí báu ấy, nếu Phước Thiện bị nạn lọan lạc tan rã thì sự nghiệp Đạo đức của họ cũng tan rã luôn. Đáng thương hại là khi ban sơ phải nhờ bao nhiêu sự hy sinh: cả sanh mạng lẫn tài sản của họ mới nên đồ sộ như hôm nay. Nếu họ quá tự nhiên và quá tự ái, không tùng theo Hiệp Thiên Đài thì dầu cố tạo cũng vô ích, vì thất nhơn tâm, hạng hiến thân tan rã; chừng ấy có ăn năn thì đã muộn. Bần Đạo cũng không làm sao mà cứu vớt về chức vị của họ…"

Đây là những lời khuyên giải của Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh khuyên giải ông Phối Sư Thái Ca Thanh đừng nên vì quyền chức, áo mão mà làm lệch Chơn truyền; nhưng không bao lâu thì Ông Tương và ông Trang cũng tách rời Tòa-Thánh lập Chi Phái Bến Tre, cũng là gốc của Ban Chỉnh Đạo, Ông có lời rằng:

"Nếu Anh và các Anh theo Anh mà còn dụ-dự, tiếc áo mão thì cái Minh-Chơn-lý của mấy Anh em sẽ bị nơi áo-mão đó mà mất hết chủ-nghĩa hay, rồi cũng vì áo-mão đó trì nặng phải chìm không phương cứu vớt. Xin Anh nghĩ cho cùng tột. Tôi khẩn cầu chư Thần Thánh ban bố thêm sáng láng cho Anh mau thấy sự thiệt mà hết dụ-dự, giải được chức mới rồi lại khuyên chư vị theo Anh giải sạch, ngày ấy mấy Anh mới thiệt Minh Chơn-Lý, rồi mấy Anh Em sẽ hồi tâm tự nhiên trở về Thầy, hoà-hiệp lại như xưa mà chung lo mối Đạo.

Thầy dạy: "Các con, phần nhiều chư Môn Ðệ ham muốn phong tịch, nhưng chưa hiểu phong tịch là gì? Thầy để lời cho các con biết rằng: Nhiều Thánh, Tiên, Phật, xuống phàm nếu căn quả tiền khiên không mấy trọng hệ, nghĩa là kiếp trần duyên không chi phải nhơ bợn nhiều, thì dầu không Thiên Phong hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạt hồi đặng. Thiên Phong là để cho bậc Thánh, Tiên, Phật, lìa trần phải lắm dày công cùng sanh chúng mới trông mong hồi cựu phẩm đặng. Các con nên nhớ Thầy lấy từ bi phong tịch, nhưng các Chức Sắc nếu vì áo mão hơn vì đạo đức thì tội chất bằng hai."

Thánh giáo có câu này:

"Áo mão đầy rừng trơ mắt khỉ,
"Cụng đầu Tà chánh mới kêu Thiên."

 

 

ÁO NÃO

懊 惱
E: Melancholic.
F: Mélancolique.

(Áo: Bực bội. Não: Phiền muộn) Áo não là bực bội và phiền muộn; lời than phiền, trách cứ về một vấn đề gì mà không được hài lòng.

Ngày 27-4-Ðinh Mão (dl: 27-05-1927):

Thầy, các con! "Hội Thánh là vầy các con há? Áo não! Thảm thay! Thầy tưởng khi chẳng lẽ phải cần nói ra; đợi cho Thánh chất các con tăng thêm đặng chút nào, lại càng thấy đặng khổ não của Thầy vì các con mà đeo đuổi từ ngày khởi lập nhơn loại đến chừ, chẳng dè phàm chất các con nó mạnh mẽ thế nào đè khuất trọn vẹn chút mảy mún Thánh-chất Thầy để vào lòng các con, nên nay Thầy buộc mình phải nói rõ. Các con ôi! Thầy hỏi vậy chớ mỗi phen độ rỗi cho đặng các con, các con có biết Thầy chịu khổ não dường nào chăng? Quyền hành Chí Tôn của Thầy, các con nếu hiểu thấu thì các con sẽ thấy nó là một hình phạt rất nặng nề, chẳng khác nào như gông với tróng".

 

 

ÁO VÁ QUÀNG

Áo vá quàng là một hình thức tiện tặn và khéo léo, không liền một thứ vải. Ngày xưa vải vóc khan hiếm, nên một khi cái áo dài đã cũ, sờn vai thì người ta cắt bỏ phần trên đi và lấy vải khác thay thế vào, nhưng vẫn giữ nguyên phần dưới. Tóm lại áo vá quàng nghĩa bóng là kết nối nhiều phần lại với nhau, không trọn vẹn một thứ.

Đức Hộ-Pháp nhận định: "Cuộc tranh đấu của Cao Đài hôm nay chẳng khác nào như áo vá quàng, thật khi Ngài về được nước nhà chính mình Đức Thượng-Hoàng Thành-Thái và Tôi có gặp mặt nhau một phen ở Saigon, Tôi còn nhớ một cái chí khí già rồi mà vẫn còn mãi mãi, khi đàm đạo với nhau, luận về tương lai của Tổ Quốc nòi giống, khi hai Tôi lìa nhau, rồi Ngài đưa ra ngoài cửa, đi nửa đường ra cửa Đức Thượng Hoàng day lại nói với Tôi một cách quả quyết cứng cỏi rằng: Ngài đừng tưởng Tôi già mà Ngài bỏ, Ngài cho Tôi con ngựa cây gươm Tôi chiến Ngài coi. Dẫu cho một vị anh hùng hay anh quân cũng thế, tuổi đã già mà chí khí vẫn còn mãi chẳng hề khi nào thay đổi, có một điều ân hận hơn hết là tại sao đã gọi nước Việt Nam độc lập mà khi Đức Thượng Hoàng Thành Thái trở về, thiên hạ không cho Ngài trở về cũng cho đến nước chính mình Bần Đạo phải làm tờ xin cho Ngài về đặng tạm cầm quyền hành trở lại nhưng nghĩ cũng chưa có một quyền hành gì và cho đến khi Ngài chết mới đem về được."

Ca dao Việt Nam rằng:

Áo vá vai vợ ai không biết,
Áo vá quàng chí quyết vợ anh.

 

 

ÁO VẢI NÂU SỒNG

Thầy dạy:

Kẻ giàu hàng lãnh chơi đủ cách,
Con áo vải nâu sồng, nhớ nghe con!

 

 

ẢO ẢNH (Phật Học)

幻 影

Ảo ảnh (S, P: māyā ) dịch âm là Ma-da, cũng được gọi là "giả tướng" 假相 đọc đúng là "Huyễn" 幻.

Danh từ được dùng để chỉ thế giới hiện tượng đang liên tục thay đổi này. Ðối với người chưa giác ngộ thì thế giới này là thế giới duy nhất có thật. Ảo ảnh được dùng để chỉ tất cả các hiện tượng sinh diệt, không thuộc thật tại cuối cùng "Ba thân" Một khi thấu hiểu rằng mọi Pháp đều là ảo ảnh thì điều đó đồng nghĩa với Giác ngộ "Bồ đề" và đạt Niết-Bàn. Theo quan niệm Phật giáo thì "thấy" thế giới, tự chủ rằng có "một người" đang nhận thức và có "vật được nhận thức", có "TA" có "vật" có thế giới luân chuyển này chưa phải là sai lầm. Sai lầm là ở chỗ cho rằng sự vật bất biến, trường tồn và thế giới này là duy nhất, có thật. Ðây mới là Kiến giải bất thiện vì nó ngăn trở những tri kiến bổ ích khác. Thật sự thì cái tương đối và cái tuyệt đối không hề rời nhau; và như thế, ảo ảnh (mê) và Bồ-đề (ngộ) bản tính không hai. Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác trình bày rất tuyệt vời sự việc này ngay trong phần đầu bài Chứng Đạo Ca:

君 不 見
絕 學 無 爲 閑 道 人
不 除 妄 想 不 求 真
無 明 實 性 即 佛 性
幻 化 空 身 即 法 身
法 身 覺 了 無 一 物
本 源 自 性 天 真 佛

 

Quân bất kiến!
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân
Vô minh thật tính tức Phật tính
Huyễn hóa không thân tức pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tính Thiên chân Phật...

Với Cao-Đài-Giáo thì:

Đức Hộ-Pháp nói: "Đức Chí-Tôn muốn cả con cái của Ngài thấy cả sự thật mà thôi, không muốn cho thấy ảo-ảnh. Chơn Truyền của Đức Chí Tôn đại kỵ điều ấy. Nếu thoảng như nhà Tịnh-thất chưa mở ra đặng, lỗi ấy không phải nơi Bần-Đạo, lo nội Thể pháp mà 24 năm trường nhọc-nhằn không biết bao nhiêu: khổ tâm, khổ trí, từ tuổi xanh đến bạc đầu mà chưa rồi sáu bảy phần mười".

 

 

ÁP

Dằn ép, bước tới gần.

 

 

ÁP BỨC

壓 逼
F: contrainte.

Bát Nương nói: "Lập quốc trị dân mà hành hạ áp bức dân, hoặc mở Đạo dìu đời độ chúng mà tham tàn bất chánh, đè chúng sắp làm nấc thang cho mình được đứng cao, thì cứu cánh thế nào, mấy anh tự biết".

Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934):

"551 năm sau Khổng Phu Tử mới có khai Ðạo bên Thái Tây, nên Thầy cho Ðức Chúa Jésus Christ giáng sanh khai Ðạo Thánh cho phù hạp với dân trí Âu Châu. Ðức Chúa Jésus cũng bị cường quyền Israel áp bức cho đến đổi, hồi ban sơ thì có 12 vị Thánh Tông Ðồ theo Ngài, mà sau còn có một Thánh Pierre mà thôi... Nhưng Người cũng phải chối Chúa ba phen đặng tránh cường quyền bắt buộc".

 

 

ÁP CHẾ

壓 制
F: Opprimer, oppression.

Áp chế: Dùng sức để ép người ta phải khuất phục.

Đêm 10-11-1925, Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt giáng:

Xa thơ biến gảy rời vương thất,
Nam đảnh hầu thay sáng quốc-gia.
Ách nước nạn dân gần muốn mãn,
Hết hồi áp chế tới khi hòa.

 

 

ÁP DỤNG

壓 用
F: Application, appliquer.

Đức Lý dạy: "Trước khi để lời khuyên bảo, Lão phải nói rõ cho biết việc Cơ Bút là hệ-trọng dường nào! Nếu chánh áp dụng được thì Tà nó cũng dùng được vậy. Danh Lão đôi khi bị mạo-muội mà đến đỗi danh Chí-Tôn lắm lúc nó cũng chẳng chừa. Từ đây nếu có cầu-khẩn điều chi phải ráng mà giữ lòng cho trong sạch và Đức-tin nơi Đức Chí-Tôn cho trọn đủ thì công việc đều xong. Chi chi cũng cố vững tâm, trọn sức chí thành cùng Đạo mà vui chơn tiến bước."

 

 

ĂN BOM

F: Être en bombardement.

"Ăn bom" là một từ ngữ chỉ cho nhân loại biết rằng cái thảm họa của nguyên tử làm chết người không tránh khỏi. Tức nhiên qua hai lần Đại Chiến rồi, nhân loại đã chết rất nhiều, nhưng lúc ấy vũ khí vẫn còn nhẹ so với bây giờ mà con số vẫn khủng khiếp. Nếu ngày nay nhân loại rơi vào Đại chiến thứ ba thì chiến tranh này sẽ là nguyên tử thì nhân loại sẽ đau thương vì sự hủy diệt không thể kể hết được.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần Đạo nói ra đây các con rán mà nhớ, các con đừng có mộng làm giàu cho mắc công, các con bây giờ sống trên nắp thùng nổ của bom nguyên-tử, dù muốn dù không các con phải chịu ăn bom mà thôi, các con muốn trốn bom nguyên tử phải chun trong đám đậu nành mà trốn chớ không trốn đâu cho khỏi hết. Sau này nước Việt-Nam còn sống nhiều nhờ biết chay lạt, tu hành; còn các nước khác chỉ còn sống lưa thưa mà thôi. Vì họ hành ác chạy đua theo vũ trang giết người hàng loạt nên Đức Chí-Tôn mới phạt họ. Năm ngàn năm trở lại đây biết bao nhiêu Đấng xuống trần dạy Đạo, khuyên nhủ cho người ta biết làm lành lánh dữ, nhưng tánh nào tật ấy, dữ cũng vẫn dữ mà thôi. Họ không có hiền bảo người ta hiền làm sao cho được?"

 

 

ĂN CHAY

齋 戒
E: To follow a vegetarian diet.
F: Suivre le régime végétarien.

Ăn Chay gọi là trai giới.

Trích Thánh-Giáo của Đức Cao-Thượng-Phẩm ngày 9 tháng 12 năm Tân-Mão (1952) dạy về đệ nhứt xác thân:

"Nói về ảnh-hưởng tốt xấu của sự ăn chay và nhục thực, thì nhục-thực phần nhiều trong các con vật hay có các vi trùng, nếu ăn thịt thì những vi-trùng ấy trộn theo vi-tố mà phá hoại. Lại nữa, thịt là chất sanh hơi độc, vì vậy làm cho thân thể hóa ra mệt nhọc biếng nhác. Đó là cái hại cho thể xác. Còn cái hại cho tinh-thần thì trong thịt đã chứa sẵn các thú-chất, do đó làm cho tinh-thần thường bị mê muội, nhứt là cái hại cho đệ lục giác-quan. Đệ lục giác quan là Thần. (I)

Còn ăn chay thì khỏi bị vi-trùng phá-hoại và không bị hơi độc làm cho mệt nhọc. Thoảng như thảo-thực (ăn chay) mà nhuốm bịnh thì chỉ có nhịn đói, uống nước chín có chút đường sẽ lành mạnh.

Còn như nhục-thực thì phải cần thuốc, bởi vì hơi độc và vi-trùng phá hoại cơ thể".

Rằm tháng 8 năm Ất Sửu (dl: 01-09-1925).

Cô Ðoàn Ngọc Quế dạy ba ông rằng: Ba anh muốn cầu thì ngày đó ba anh phải ăn chay, cầu mới được (ba ông vâng lệnh cô Ðoàn ngày cầu ba ông ăn chay). Ngày qua tháng lại tới ngày Rằm tháng 8 năm Ất Sửu (Le 1er Septembre 1925). Ngày Rằm lập bàn hương án chưng những hoa thơm trầm trọn ngày (nhà không tiếp khách nào hết, nhà ở đường Bourdais 134 Sàigòn, nay là đường Calmette). Ba ông vọng bàn cầu khẩn thắp hương thơm từ 10 giờ đêm tới giờ Tý, xông trầm hương thành tâm cầu quý cô lối năm phút thì có bốn Tiên Nương giáng cho thi.

Đức Hộ-Pháp nói: "Họ không dám chê ai, chẳng phải đối với loài người mà thôi, mà đối với tất cả vạn loại, chúng sinh chỉ là anh em còn lạc hậu đó vậy. Con vật mà ta thấy bị giết được là vì nó vô cô không phương bảo vệ, ngày nay giết nó mà ăn thịt, biết đâu sau nầy các Bạn lạc hậu ấy tiến hóa đến phẩm người trở lên, rồi chúng ta sẽ gặp nó bên mình, khi ấy nó ngó ta mà cười và hỏi: "Xưa kia Ðức Phật có ăn tôi một lần". Nghĩ tưởng chẳng gì sỉ-hổ thẹn-thuồng bằng. Thế nên ta phải ăn chay. Chưa có ai nhẫn tâm giết người đặng ăn thịt, cũng không có ai đặng quyền giết các Bạn lạc hậu ấy để ăn. Ta đến đây làm Bạn cùng vạn vật chúng sanh, vạn vật giúp ta học cho thấu đáo huyền vi cơ Ðạo, tạo chí linh nối nghiệp Ðức Chí Tôn.

Nguồn gốc ăn chay:

Đức Ngài đã dạy rằng: "Chí Tôn biết rõ loài người tiến hóa tột bực mà tự đắc tự tôn, chỉ biết lo cho xác thịt mà thôi, không chuyên lo cho đệ nhị xác thân và tinh thần, nên Chí Tôn đến khai Ðạo là cố ý giáo hóa cho loài người biết rõ câu tội phước, giồi luyện cho con người tận thiện đến hiệp cùng Ngài. Nếu chúng ta biết được vậy thì toàn thể thế giới nầy những điều tinh ma quỉ quái sẽ tiêu diệt, thần tử không hề đến ta được. Nếu ta thấy được cõi Hư Linh kia, cái tình của vạn loại bị giết chóc một cách tàn nhẫn, bởi loài người kết oán thù thâm với nó, chực chờ thù ghét, vì vậy mà có vay trả luân hồi mãi mãi đọa đày, bất năng thoát tục". Mong sao chúng ta từ đây phải biết trọng lấy lẽ ấy mà luyện đệ nhị xác thân cho đủ đầy sự tinh khiết, là phải thương loài vật, phải thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt ấy mà truyền bá cái huờn thuốc linh đơn nầy là đạo đức của Chí Tôn, để cứu vớt quần sanh thoát vòng đọa lạc hoàn toàn. Cả thế gian nầy biết được vậy thì chắc chắn không còn cảnh thảm khổ nầy tái diễn lại nữa. Loài người do một nguyên căn mà thôi, bởi do tâm lý và tập quán của các nước, của các sắc dân, vì cái khác ấy mà chia phôi nhau, nghịch lẫn nhau, thù địch nhau, mà tranh tranh đấu đấu không ngừng. Vậy Thánh Ý của Chí Tôn khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt là muốn dung hòa tâm lý toàn cả con cái của Người để cứu vãn trọn 92 ức nguyên nhân, vì thế mà phải bị sa đoạ nơi đây. Chí Tôn đã đại từ đại bi chỉ rõ căn nguyên và ban ơn cho ta, dạy dỗ cho ta để đạt ngôi vị là phải trau luyện cho Tinh hiệp với Khí, Tinh Khí huờn Thần là cơ huyền bí để mà đắc Ðạo vậy".

 

 

ĂN CHAY LÀM LÀNH

Giới Tâm Kinh có câu rằng:

"Chớ tự phụ, cũng đừng khinh ngạo,
"Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.
"Lời khuyên già trẻ gái trai,
"Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành."

 

 

ĂN GIAN XỚI BỚT

F: Tricher, frustrer et soustraire.

Kinh Sám Hối có câu:
"Ăn gian xới bớt cho mình,
"Dầu qua dương pháp, luật hành Diêm-vương."

 

 

ĂN MÀY

F: mendier.

Nói văn vẻ hơn là đi khất thực, tức là đi xin ăn, nghĩa là với người thường thì khi phải đi ăn mày là vì không có nghề nghiệp, già cả không nơi nương tựa, sức yếu thân gầy, chỉ sống nhờ bằng tình thương của tất cả moị người mà thôi. Nhưng trường hợp này Đức Hộ-Pháp nói đến "Ông ăn mày" là nói hình ảnh của Phật Thích Ca đi khất thực với mục đích: tạo một nhân duyên với sanh chúng cho họ được làm duyên với Phật tức là: một là hạnh bố thí, hai là Phật sẽ truyền lời nói đạo đức, là giục thức cho chúng sanh giác ngộ. Ba là những của mà người ta bố thí này đem về nuôi tăng chúng.

Ngày sau có phái Khất sĩ Tịnh độ cũng ôm Bình bát khất thực: Một là tập sự khổ hạnh, dứt phiền não trong lòng, đạt được tâm không, tức là bỏ cả danh, lợi, quyền. Chân lý thì siêu tuyệt, tuy nhiên ngày nay không thích hợp với trình độ tiến hóa của nhân loại nữa. Vì phương tiện truyền thông đã phát triển đầy đủ, chỉ cần một tích tắc đồng hồ phát truyền giáo lý, thì cả thế giới đều nhận được. Do đó mà ngày nay Đức Chí-Tôn chuyển phương tu bằng cách "PHỤNG SỰ VẠN LINH" là đầy đủ tất cả, mà có lợi cho nhau trong buổi Hạ nguơn mạt pháp.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần-Đạo xin nói thật, Đức Phật Thích-Ca, dầu sự trị thế của Ngài đã hết, chúng ta chỉ nói là hết thôi. Hai ngàn năm trăm năm (2.500) lập Đạo trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống kia, Môn-đệ của Ngài nhiều lắm, các người đừng tưởng Ông già ăn mày ấy không đủ quyền năng, mà các người khi dễ. Nội cái Bình-Bát-Vu của Ông đựng cả chơn hồn trong Càn Khôn Vũ Trụ, Ông ăn mày tại thế này vậy mà ngôi vị Cực Lạc Thế Giới của Ông các người xin một phẩm Liên Hoa, Ông có thể cho; là một người không nên khi dễ, không nên nguội lạnh với người đó, bởi vì Môn đệ của Ngài trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống nhiều lắm."

 

 

ĂN MẶN

E: To eat flesh.
F: Manger de viande.

Ăn mặn: Ăn mạng sống của các loài động vật.

Thầy dạy: "Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng. Như rủi bị huờn, thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d'électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn. Vì vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo".

 

 

ĂN NĂN

F: Se repentir.

Là một hành động biết xét mình, hối hận, chừa lỗi trước mà mình đã làm ra, để không còn tái phạm nữa. Đây là trường hợp mà khi Đức Hộ Pháp còn sanh tiền, mỗi một việc đều cầu xin thỉnh ý, được lời phê của Đức Ngài rồi mới thi hành.

Hỏi: Chức-Sắc hành-sự không đắc-lực bị ông Ngọc rút về bổ đi chỗ khác (nhiều lần) Hội-Thánh được công-nhận không?

LỜI-PHÊ của ĐỨC HỘ-PHÁP: "Bổ đi hành-đạo nơi khác dầu đủ công-nghiệp thì Hội-Thánh cũng quan-sát coi có chừa lỗi của Quyền Ngọc-Chánh Phối-Sư đã trừng răn hay chăng? Nếu đã ăn năn chừa tánh mà có công-nghiệp đầy-đủ hạnh-đức thì có thể cho thăng vị. Còn rút về Tòa-Thánh là không nên công-nhận chỉ để cho Quyền Chí-Tôn quyết-định".

Kinh Sám Hối có câu:

"Quấy rồi phải biết ăn năn,
"Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà."

 

 

ĂN NĂN SÁM HỐI

E: To repend of and to confess one’s sins.
F: Se repentir et confesser ses péchés.

Đức Hộ-Pháp dạy: 15-9 Bính-Tuất 1946) "Biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí-Tôn độ rỗi, lánh xa được cửa Âm Quang, lại còn hưởng được nhiều ân huệ siêu thoát: Vậy thì ai là người thất thệ với Chí-Tôn thì phải sớm thức tỉnh tâm hồn, ăn-năn sám hối cầu xin Đại-Từ Phụ cùng các Đấng Thiêng-Liêng Từ bi ân xá tội-lỗi tiền khiên thì họa may đặng chung hưởng ân huệ của Chí-Tôn ban cho sau này".

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:

"Ăn năn sám hối tội tình,
"Xét câu Minh thệ gởi mình cõi thăng."

 

 

ĂN NĂN TỰ HỐI

Trong Thánh-ngôn Thầy có dạy: "Nơi trần khổ này, dầu cho bậc Chí-Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quí báu vô giá. Các Tiên Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao-thượng Thiêng-liêng là nhờ có sự cải quá mà nên chánh quả:

Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, Có đai cân rực-rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui-vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy đặng cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc; chẳng qua là trả vay, vay trả đặng đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng điều hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh-lương... … ….

… Đạo mở tức để cứu vớt sanh linh thoát vòng khổ hải, ấy là cho kẻ hữu phần mà thôi". (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2)

 

 

ÂM

1) ÂM (Bộ: âm 音) nghĩa là Tiếng, tiếng phát lộ ra có điệu trong đục, cao thấp gọi là âm. Tiếng phát ra thành văn cũng gọi là âm.

2) ÂM (Bộ: nhân 人) Cũng như chữ âm 陰. (Bộ: phụ 阜)

3) ÂM: Số âm, phần âm, trái lại với chữ Dương 陽. Phàm sự vật gì có thể đối đãi lại, người xưa thường dùng hai chữ Âm Dương 陰陽 mà chia ra. Đầm đìa, như Âm vũ 陰雨 mưa dầm. Mặt núi về phía Bắc gọi là âm, như Sơn âm 山陰 phía bắc quả núi Chiều sông phía nam gọi là âm, như Giang âm 江陰 chiều sông phía nam, Hoài âm 淮陰 phía nam sông Hoài… Bóng mặt trời. Như ông Đào Khản thường nói "Đại Vũ tích thốn âm, ngô bối đương tích phân âm" 大禹惜寸陰, 吾輩當惜分陰 vua Đại Vũ tiếc từng tấc bóng mặt trời, chúng ta nên tiếc từng phân bóng mặt trời. Chỗ rợp, chỗ nào không có bóng mặt trời soi tới gọi là âm. Như tường âm 牆陰 chỗ tường rợp. Mặt trái, mặt sau. Như bi âm 碑陰 mặt sau bia. Ngầm, phàm làm sự gì bí mật không cho người biết đều gọi là âm, như Âm-mưu 陰謀 mưu ngầm, Âm-đức 陰德 cái phúc đức ngầm không ai biết tới. Nơi u minh, như Âm-khiển 陰譴 sự trách phạt dưới Âm-ty (phạt ngầm). Vì thế nên mồ mả gọi là Âm trạch 陰宅.

4) ÂM (Bộ: khẩu (口) nghĩa là Câm, mất tiếng. Một âm là ấm. Cất tiếng gọi.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ÂM CẢNH - ÂM TY

陰 宫, 陰 司
E: The hades, the hell.
F: L’enfer, l’empire des ténèbres.

Miền Âm cảnh hay Âm Ty còn gọi là Cõi Âm phủ, cõi A tỳ, cõi của Địa ngục, nay buổi Cao Đài gọi là cõi Âm quang

Kinh Cầu Siêu có câu:

"Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn.
"Miền Âm cảnh ngục môn khai giải."

Bát Nương Diêu Trì Cung giải thích về Âm quang:

"Khi Chí Tôn đem Dương quang ấm áp mà làm cho hóa sanh, thì cái khoảnh Âm quang phải thối trầm làm tinh đẩu, là cơ quan sanh hóa vạn linh. Song lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hóa. Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu."

Kinh Sám Hối có câu:

"Miền âm-cảnh nhiều thay hình lạ,
"Cõi dương-trần tội quá dẫy đầy."

Hoặc Âm Ty cũng đồng một nghĩa:

"Ngày sau đọa lạc Âm-Ty,
"Thường thường khảo kẹp chẳng khi nào rời."

 

 

ÂM CHẤT - ÂM CÔNG

陰 隲 - 陰 功
E: The hidden merit.
F: Le mérite caché.

Điều phúc-đức làm không ai biết, chỉ quỉ thần biết gọi là âm chất. Công đức kín mà người ta không thấy được, chỉ quỉ thần biết thôi gọi là âm công.

Lời Thầy dạy:

Con khá dắt em con đi một ngõ,
Biểu nó rằng phải bỏ dối theo chơn,
Vậy con tua liệu thiệt lo hơn,
Thấy trước mắt chớ khờn thân nhọc.

Nghe! Đọc lại. Lâm thị Ái Nữ, hiểu con há!

Một ngôi con, Thầy sắm sẵn gia tài, Thầy gìn giữ để trọn quyền con làm thế nào của phù du ấy ra âm chất thì con làm.

Thầy dạy:

Âm chất vốn là điều thứ nhất,
Âm chất nhiều mới dứt cõi trầm luân,
Phận liễu mai phải mang kiếp hồng trần,
Thầy lắm lúc bâng khuâng thương trẻ dại.

Thi văn dạy đạo rằng:

Thiện ác đáo đầu đã biết chưa?
Hiểu rồi cái ác cũng nên chừa.
Theo làm âm chất may bồi đắp,
Thì sẽ trở về chỗ vị xưa.

 

 

ÂM CÔNG

陰 功

Âm:Là ngầm, kín. Công: Nỗi vất vả làm việc, công việc. Âm công đồng nghĩa Âm chất, Âm đức.

Đức Hộ-Pháp nói: "Bần Đạo đã thuyết kỳ rồi cái pháp luật của thiên hạ là họ đã xu hướng theo "Tứ Diệu Đề" của Đức Phật Thích Ca, họ giong ruổi theo Tứ Diệu Đề để giải khổ cho chúng sanh là: Sanh, Lão, Bịnh, Tử. Họ thi hành trong khuôn khổ quyền pháp của họ mà thôi:

1- Sanh, họ lập nhà Bảo Sanh đặng giải khổ cho sự sống.

2- Lão, họ lập ra cơ quan Dưỡng Lão để nuôi kẻ già, kẻ yếu.

3- Bịnh, họ lập ra nhà thương khắp nơi cả thảy trên mặt địa cầu này biết bao nhiêu nhà thương để chữa bịnh cho đời.

4- Tử, họ cũng làm âm công, cũng bố thí, cũng làm phước vậy, nhưng có một điều là họ bố thí chớ không phải phụng sự. Họ lấy của người này đem cho người kia chớ không phải phụng sự cho nhơn loại."

 

 

ÂM CUNG

陰 宫
F: château de l’ Empire de Pluton.

Âm cung: Cung Diêm vương = Âm-phủ

Kinh Sám Hối có câu:

"Tánh độc-ác tội dư tích trữ,
"Chốn Âm-Cung luật xử nặng-nề."

 

 

ÂM DƯƠNG

陰 陽
E: Yin and Yang.
F: Yin et Yang.

Thon von phận bạc không vừa hiếu thân. Âm 陰 là Số âm, phần âm, trái lại với chữ Dương 陽. Phàm sự vật gì có thể đối đãi nhau người xưa thường dùng hai chữ Âm Dương 陰陽 mà chia ra. Thay vì nói người có trai, gái; đàn ông đàn bà; con vật thì đực cái, trống mái; đồ vật thì tròn vuông, dài ngắn, mỏng dày. Sự thể thì nóng lạnh, nhiều ít, thì Thánh nhân tóm lại bằng hai chữ Âm Dương, tức nhiên là hai vật đối đãi nhau, phải cùng loại cùng giống, chứ không cứ nghĩ rằng Âm tượng cho bóng tối, Dương tượng cho ánh sáng, đàn ông tượng Dương, đàn bà tượng Âm; rồi kết luận bướng rằng đàn ông là sáng, đàn bà là tối, như xưa nay một số hủ nho đã nghĩ như thế rồi đưa tới hậu quả là người Nữ tối thì dù có cho học vẫn dốt! Thế là người phái Nữ phải chịu trong vòng u-ám hằng bao nhiêu thế kỷ cũng vì một cái lầm to lớn ấy. Nếu quả thật đàn bà ngu dốt thì ngày nay biết bao Nữ Bác học, Nữ Bác sĩ, nữ Văn hào, Nữ Thi gia…đều ngu dốt hay sao? Ví như nói vợ chồng ông A, thì có ông A và bà A, đó là đôi vợ chồng, là đôi Âm Dương, chứ không thể nói ông A với Bà B được…. Vì các phần đó nó cùng thêm bớt thay đổi nhau, cho nên lại dùng để xem tốt xấu nữa. Từ đời nhà Hán 漢 trở lên thì những nhà xem thuật số đều gọi là Âm-Dương-gia 陰陽家.

 

 

Đây giải thích chữ Âm Dương bằng lối chiết tự:

- Chữ ÂM 陰 bên trái có bộ Phụ 阝 là núi đất; bên phải phía trên là chữ Kim 今 có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân 云, ý nói bị che khuất nên tối tăm. Do đó Âm là chỉ phía mặt trời bị che khuất. Bởi, phía có mặt trời chiếu vào thì sáng sủa ấm áp, cây cối phát triển; còn phía ánh sáng mặt trời bị che khuất thì tối tăm, lạnh lẽo, cây cối không phát triển được.

- Chữ DƯƠNG 陽 gồm 2 phần: Bên trái là là bộ Phụ 阝 là núi đất, bên phải có chữ Nhựt 日 là mặt trời đứng trên đường ngang, ý nói mặt trời đã mọc lên khỏi đường chơn trời, bên dưới là chữ Vật 勿 vẽ hình giống các tia sáng rọi xuống. Do đó, chữ Dương có nghĩa là phía có ánh sáng mặt trời chiếu vào, nên sáng sủa. Hai Khí này do Thái Cực biến hóa ra cũng được gọi là hai Khí Âm Dương vì hai Khí nầy có đặc tính trái ngược nhau, tuy tương khắc mà không tương hại.

Tại sao gọi Âm Dương mà không gọi Dương Âm?

- Bởi Dương có tính phát tán, còn Âm thì tụ hội, cho nên Âm luôn bao bọc Dương, cũng như một trái cây: phần mềm là Âm, còn hột cứng nằm bên trong, chỉ giữ hột giống lại để trồng cho lần sau. Cũng như nói "vợ chồng" chứ không nói chồng vợ. Trong gia đình được hạnh phúc hay không là do bàn tay người vợ hiền. Nếu trái lại thì hạnh phúc bị đe dọa.

1- Đạo là Dịch: Không một ai phủ nhận, nhưng khi vào nghệ thuật như Âm Nhạc Việt-Nam, hay nói chung là Nhạc Dân tộc cổ truyền thì không thể thiếu tinh-thần Dịch lý để điều hoà từ Âm thanh đến tiết tấu. Càng không thể không biết Dịch, khi Thánh-nhân chế tác các loại đờn đã áp dụng Dịch-lý vào nghệ thuật một cách sâu sắc. Xưa Vua Phục-Hi là một nhà thông minh huệ trí, ngẩng lên thì ngắm Thiên-văn, cúi xuống thì xét lý Âm Dương, chẵn lẻ, vì cớ đó mới vạch thành nét:

Một nét liền tượng Dương một nét đứt tượng Âm (Đây cũng là do theo lý tính của người mà phân biệt Âm Dương, Nam Nữ. Chỉ một Âm, một Dương làm đầu mối cho muôn ngàn sự vật trong cõi đời này. Cả thế-giới hữu hình lẫn vô hình, chính hai ngôi này làm khởi thuỷ, như cha và mẹ trong gia đình; vạn-vật là đực cái, trống mái. Người dân-tộc Campuchia hay Chàm họ cũng biết đến hai ngôi này, họ cũng lấy vật Tổ để thờ gọi là "Linga" tức là hình ảnh "chày đặt lên cối" cũng là hình ảnh Âm Dương, nhưng suy-nghĩ của họ còn nằm trong thời ấu-trĩ, tức là còn bán khai, chưa tiến-hoá. Dịch học gọi đây là Lưỡng-Nghi (Lưỡng Nghi tức là hai ngôi Âm Dương), cũng gọi là Kiền Khôn. Hai ngôi tác-động lên nhau thì có biến-hoá. Sự biến-hoá ấy giống như một tế-bào cứ tăng gấp đôi lên: một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám. Khoa-học gọi là theo luật song tiến-số. Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát Quái, Bát-Quái biến hoá vô cùng mới thành ra Kiền Khôn thế giái.

2- Thành lập nên quẻ Kiền Khôn

AmDuong-BatQuai-ThanhHinh.jpg

Biến-hoá lần này là qua hai giai-đoạn: thêm âm, thêm dương lên nghi Dương thành ra hai nét dương gọi là Thái-dương số 1, lấy Dương làm gốc, cho một âm đặt lên dương nữa sẽ có dạng là gọi Thiếu-âm số 2.

Bấy giờ đến nghi Âm biến-hoá cũng như trên, lấy âm làm gốc,thêm dương lên sẽ có một dương một âm gọi là Thiếu-Dương số 3, nếu tiếp-tục thêm âm sẽ có hai âm gọi là Thái Âm số 4. Lưỡng-nghi sanh Tứ-tượng là lần biến-hoá ở giai đoạn này, tức nhiên hai nghi sinh được 4 tượng là Thái dương số 1, Thiếu-âm số 2, Thiếu dương số 3, Thái-âm số 4. Gọi là Tượng, tức là tượng hình, mỗi tượng chỉ có hai vạch thôi. Vạn-vật biến-hoá không ngừng, thế nên Tứ tượng cũng biến-hoá theo qui-tắc như trên.(Lưu ý là Âm Dương luôn đi liền nhau, chứ không bao giờ hai Âm hay hai Dương kề nhau) Tức nhiên lần này Tứ tượng biến Bát-Quái, gốc Tứ-tượng vẫn đặt ở dưới, Ví như:

Thái-Dương qua hai lần thêm dương, thêm âm lên trên thành ra lần đầu có 3 nét dương tạo thành quẻ KIỀN Kiền vi Thiên (Kiền là trời) là quẻ số 1.

Lần sau thêm lên nét âm thành quẻ ĐOÀI tức là có một Âm trên hai Dương. Đoài vi Trạch số 2. Trạch là hồ, đầm, ao…

Thiếu-Âm cũng qua hai lần thêm dương, thêm âm thành ra quẻ LY Số 3, Ly vi hoả (ly là lửa), tiếp theo là quẻ Chấn vi Lôi số 4, CHẤN là sấm.

Thiếu-Dương cũng qua hai lần biến sẽ có quẻ số 5 là TỐN Tốn vi phong (Tốn là gió). Quẻ số 6 là Khảm vi thuỷ, KHẢM (Thuỷ là nước).

Thái-Âm qua hai lần biến-hoá như trên, sẽ cho ra hai quẻ là CẤN số 7 và KHÔN số 8 thành ra Bát Quái là Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.

Vì sao phải học dịch?

Vì Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Kinh Đại-Đạo ngày nay luôn hiển hiện hai chữ CÀN KHÔN. Lại nữa những phương pháp chế tác Nhạc cũng như tạo ra các Nhạc khí, nhạc cụ đều dùng đến cách án Tam tài, Bát phương, Bát hướng… đâu đâu cũng hiển hiện tinh thần Dịch-lý trong đó. Dịch là trọng yếu của môn Âm Nhạc Cổ truyền Việt-Nam đó vậy.

Nhất là Đông-y đã hiển hiện tinh thần Dịch lý một cách sâu sắc.Chuyện đơn giản như việc gói thuốc Bắc chẳng hạn: phải dùng giấy vuông, bốn cạnh, là Tứ tượng. Xếp theo đường chéo thành Tam Tài, bật một chéo nữa vào, ấy Lưỡng nghi; cho hai chéo còn lại vào giữa, là trở về Thái cực. Bấy giờ cột dây ràng qua bốn cạnh và cái gút dây chính giữa gói là Ngũ hành.

Thế nên Ông Nguyễn Đình Chiểu có viết rằng:

"Đạo Y nửa ở Dịch Kinh,
"Chưa thông lý Dịch sao rành chước Y?"

Tính chất của Âm Dương:

Một Âm 陰 một Dương 陽 mà sinh sinh hóa hóa nên mới nói rằng "sinh sinh chi vị Dịch" 生生之謂易.Tức là sự sinh hóa của trời đất khởi đầu do cái Âm Dương Nguyên-Thuỷ làm nền tảng, làm gốc cho sự sinh, thì Kiền Khôn tức là cửa khép mở để vào toà lâu đài Dịch vậy.

- Kiền là quẻ ba vạch liền ☰ (tượng bằng số1)

- Khôn là quẻ ba vạch đứt ☷ (tượng bằng số 0)

Dương thì động, cứng rắn, phát tán.

Âm tính thuận, co rút, âm-thầm.

Lý Âm Dương vô-cùng-tận vậy, nhưng chỉ có Hòa thì mới Bình gọi là Hòa-Bình. Hòa phải hiệp nên gọi là Hòa-Hiệp đó là cơ đắc Đạo vậy.

Nguyên-lý: Trời đất có Âm Dương, vạn-vật có thể phách, nhơn loại có xác hồn; sự sống của vạn-loại trong Càn Khôn thế giới chỉ nhờ có vật-chất và tinh-thần tương hiệp mới thành hình. Xác phải phù-hợp với hồn, cũng như vật chất phải phù-hợp với tinh-thần trở lại vô-vi, vô-vi cùng hữu-hình phải tương-đắc. Ngôi Âm và ngôi Dương ấy gọi là Lưỡng-Nghi (tức là hai ngôi). Lưỡng-nghi là cơ Âm Dương phối-hợp thì bất cứ vật chi chi trong trời đất này cũng đều do Âm Dương mà sản-xuất, cũng gọi là Lý Nhị nguyên đó vậy. Âm với Dương vốn là cơ động tĩnh, mâu-thuẫn nhau, tương-khắc mà lại tương hòa. Hai cái lý đối-nghịch nhau để hỗ-trợ lẫn nhau chớ không phải để tiêu-diệt nhau. Trời có sáng tối; Người có Nam, Nữ; Vật có cứng mềm; đất có nắng mưa; vạn loại có trống mái; cho chí đến loài cây cỏ mới nẩy chồi thì ra hai lá đầu tiên, ấy là hình tượng của Âm Dương đó (gọi là song tử diệp). Âm Dương vốn là cơ sản-xuất, nhưng trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. Nho-gia gọi là "Vạn-vật phụ âm nhi bảo dương, trung chí dĩ nhi Hoà" 萬物負陰而抱陽, 中至以而和 (Tất nhiên vạn vật ôm-ấp Âm Dương, đến mực trung thì gọi là hòa)

Khi nói đến TRUNG tức nhiên là nói đến CHÁNH, hai chữ trung-chánh này nắm cả then chốt của Đạo Dịch:

- Dịch khiến cho thiên-hạ không trung trở về chỗ trung.

- Dịch khiến cho thiên-hạ không chánh trở về chỗ chánh.

Trung Chánh mà lập lại đặng rồi thì cuộc biến-hóa của vạn-vật được thông vậy.

Thuyết Âm Dương:

"Trước hết Thái-cực sanh tâm, tức là ở trạng thái tĩnh biến sang trạng thái động do sự vận chuyển của Khí Hư-vô mà tạo thành Pháp. Hai lý Phật -Pháp mới biến sanh Tăng đó là điều dễ hiểu. Phật, Pháp,Tăng đã có mới biến hằng hà sa số vô tận vô biên, nhưng tất cả đều ở lý duy nhất là Thái-cực.Vì vậy Đạo gia mới nói "Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản."

Sau khi luân luân chuyển chuyển biến hoá mới tiến từ đẳng cấp mà có phân ra Phật Tiên Thánh. Sự thật là cũng một thôi.

Trên Ngọc-Hư-Cung cũng có hai lý tương phản ấy, nhưng lý Thái-cực mạnh hơn nên vi chủ. Luật thiêng liêng định vậy. Mỗi một chơn linh tấn hoá cao trọng thì tạo cho mình một linh đài, đó chẳng lạ chi là tạo gia nghiệp riêng của mình do các kiếp sanh của mình chất chứa từ thử. Đẳng đẳng linh đài nối tiếp nhau tạo thành một gia nghiệp chung. Tất cả chúng sanh đều có một gia nghiệp duy nhất, trên ấy vi chủ là Thầy, gần Thầy có chơn linh Cổ Phật cao trọng. Trong vũ-trụ Chúa cả tạo-đoan ấy là Thầy nắm cả huyền vi bí-mật trong tay. Thầy mới phân tánh Thầy ấy là Pháp, Pháp tức là quyền-năng của Thầy thể hiện ra, cũng như lý Thái-cực ở trong cõi tịnh, rồi từ trong cõi tịnh lý Thái-cực phát động mới sanh ra Pháp. Pháp tức là những định-luật chi-phối cả Càn-Khôn, mà người nắm luật chi phối ấy là Phật-Mẫu.

Sao gọi là Phật-Mẫu?

Phật-Mẫu là Mẹ, là gốc sanh ra vạn-vật. Phật Mẫu nắm cơ hữu tướng. Phật-Mẫu là Âm còn Thầy là Dương. Âm Dương tương-hiệp mới biến ra Càn-khôn, cả Càn khôn ấy là Tăng, mà người nắm quyền vi chủ hàng Tăng ấy là một vị Phật cầm quyền thế-giới. Phật và Pháp không biến đổi, còn vị cầm quyền thế-giới là Tăng ấy thay đổi tùy theo mỗi thời-kỳ.

Không Đạo-giáo nào thuyết-minh rõ-ràng cơ tạo đoan lấy thuyết hỗn độn sơ khai phân chia:

- Khí chi khinh thanh thượng phù giả vi thiên.

- Khí chi trọng trược hạ ngưng giả vi địa.

Tức là hễ khí nhẹ thì bay lên làm trời, khí nặng rơi xuống làm đất. Ấy là giai-đoạn trời đất thành hình.

Trong vũ-trụ này có hai quyền-năng vô đối:

1- Là ngôi Chí-Tôn.

2- Là ngôi Phật-Mẫu.

Người ta không nói, nhưng luật thiên-nhiên dù ở trong vật tối thiểu hay tối đại vẫn có một Luật mà thôi. Biết đâu Chí-Tôn và Phật-Mẫu theo lời của Đức Nguyệt Tâm Chơn-Nhơn thì hai quyền-năng âý vô đối, sản sinh ra cả Càn Khôn vạn loại và tạo ra ba ngôi đầu tiên đó vậy

Theo Bí-Pháp Chơn-Truyền của cơ sanh hóa phải có đủ Âm Dương, trong sanh quang chúng ta có điện quang (Positif và Négatif) cũng như vạn vật có trống mái. Nền Tôn Giáo nào có đủ Âm Dương thì mới vĩnh cữu. Như Ðức Chúa Jésus ngày trước bị đóng đinh trên cây Thánh Giá đầu thuận lên trên gọi là đạt dương. Ông Thánh Pierre là Ðệ nhứt Tông Ðồ bị đóng đinh trở ngược lại, gọi là phản âm. Âm Dương tương hiệp đúng theo Bí Pháp, nên Ðạo Thánh lưu truyền lại hai ngàn năm, không ai dùng quyền gì tiêu diệt đặng.

Chí-Tôn có thể sai con của Người đến lập Ðạo như: Thích-Ca, Jésus, Khổng-Tử… Trái lại Người đã xuất nguyên linh của Người đến đây độ chúng ta, thì tưởng điều ấy trọng yếu hơn hết, khi mở Ðạo Cao-Ðài Chí-Tôn định cho Phật-Mẫu đến làm bạn với chúng ta, bảo trọng nuôi nấng dạy dỗ chúng ta, thì không có ân đức nào bằng, vì không ai biết thương con hơn là Mẹ. Phật-Mẫu đến cầm quyền lập Ðạo xong, rồi giao lại cho Chí Tôn. Phật-Mẫu làm chủ Âm quang, Chí Tôn là chủ Dương quang. Âm Dương tương hiệp, Ðạo Cao-Ðài nương theo năng lực của hai khối Âm Dương đó. Ðối với năng lực tạo đoan Càn Khôn Thế Giới thế nào, thì Ðạo Cao-Ðài ngày kia sẽ có năng lực như thế đó".

Nhắc lại thời kỳ Xây bàn tiếp điển, Ông Hậu sẵn-sàng bút viết để ghi chép, một lát sau thì có chơn-linh của Quí-Cao giáng cho thi:

Âm Dương tuy cách cũng chung trời,
Sanh tịch đời người có bấy thôi.
Chén rượu đồng tâm nghiêng-ngửa đổ.
Thương nhau nhắn-nhủ một đôi lời.

Kinh Hôn Phối có câu:

"Cơ sanh-hóa Càn-Khôn đào-tạo,
"Do Âm-Dương hiệp đạo biến-thiên."

 

 

ÂM DƯƠNG HÒA HIỆP

陰 陽 和 洽

Đức Phật Quan Âm nói: "Ðạo quí là tại HÒA. Các em nghĩ thử mà coi, tạo Thiên lập Ðịa cũng bởi Âm Dương hòa hiệp sanh hóa muôn loài, cũng bởi một chữ Hòa, đến đỗi như thân của người có tạng có phủ, tạng phủ ấy nếu chẳng hòa thì con người chẳng hề sống bao giờ. Kịp đến tâm hồn bất hòa thì thất tình lục dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực thì con người ấy duy có sanh hoạt trong vòng vật dục, chớ chẳng hề biết Thiên lý là gì?"

 

 

ÂM DƯƠNG HÒA VÕ TRẠCH GIÁNG,
PHU PHỤ HÒA GIA ĐẠO THÀN

陰 陽 和 雨 澤 降
夫 婦 和 家 道 成

Trong Kinh Thi có câu: "Âm dương hòa võ trạch giáng, phu phụ hòa gia đạo thành". Khí âm khí dương hiệp hòa thì mưa nhuần rưới khắp, vợ chồng có hòa thì đạo nhà mới nên. Thiết tưởng như hai vợ chồng mà biết thuận-hòa với nhau còn tạo thành gia-nghiệp được kinh dinh thay. Trái lại, vợ chồng mà không hòa thì tự nhiên tình nghĩa phai lợt cách xa, gia-đình ắt phải suy tồi hư hoại. Còn trong xã-hội mà chẳng hòa, thì biến thành xã-hội phân vân tranh đấu. Toàn cả thế-giới mà chẳng hòa thì đời chiến-tranh loạn lạc, ấy là cơ tự-diệt lẫn nhau. Nếu chẳng dùng phương-châm đạo-đức nhơn nghĩa mà làm kế bảo an, thì nhơn loại vì cuộc chiến-tranh ắt phải có ngày tuyệt chủng.

 

 

ÂM DƯƠNG NAM NỮ

Bà Bát Nương Diêu-Trì-Cung giáng đàn cho thi:

"Âm Dương Nam Nữ hoa trêu bướm,
"Hòa ái tương sanh thủy nhập bình."

 

 

ÂM DƯƠNG TẠO HÓA

陰 陽 造 化

(Âm Dương 陰陽 Hai thứ khí do Thái Cực biến hóa ra, gọi là Lưỡng Nghi. Tạo Hóa 造化 là Đấng Tạo-hóa hay Đức Chí Tôn nắn đúc nên hình, cũng gọi là Đấng Chí linh là lò Tạo)

Theo Dịch học, sự hóa sinh và phát triển của vạn vật trong Vũ trụ đều do sự giao cảm của hai khí Âm Dương (hay Càn Khôn) mà ra.

Còn theo Thánh giáo của Đức Chí Tôn, Ngài là ngôi Thái Cực do Hư Vô chi khí hóa thành, rồi Thái Cực mới phân ra Lưỡng Nghi: Dương quang và Âm quang. Đức Chí Tôn cầm quyền Dương quang, còn Âm quang thì do Đức Phật Mẫu Chưởng quản. Phật Mẫu mới dùng khí sanh quang của ngôi Thái Cực phối hợp với Âm quang để tạo ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật.

Bài Kinh Tắm Thánh có câu:

"Những vạn vật Âm Dương tạo hóa,
"Dầu cỏ cây hoa quả biến sanh."

 

 

 

ÂM DƯƠNG THỦY

E: The lustral water.
F: L’eau lustrale.

Trong bốn thời cúng (Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu) tại các Thánh-thất cũng như tại tư-gia của người Đạo Cao-Đài thì có hai thời cúng nước âm dương là thời Mẹo và Thời Dậu. Ly nước Dương là nước thiên nhiên được lọc sạch, không nên nấu chín vì nước chín không còn sự sống, Ly nước Âm là nước trà để ở vị trí số 5 trên Thiên-bàn, còn ly nước Dương thì an vị tại số 9, hai ly nước này hợp chung lại gọi là nước Âm Dương hay âm dương thủy cũng thế.

 

 

ÂM DƯƠNG ĐÔI NẺO

Âm Dương đôi nẻo là chỉ hai nẻo đường Âm Dương, tức chỉ cõi Âm và cõi Dương, chỉ cõi người chết: Âm quang, và chỉ cõi người sống: Dương gian.

Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Lễu có câu:

"Âm Dương đôi nẻo như nhau,
"Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì."

 

 

ÂM DƯƠNG TƯƠNG HIỆP

陰 陽 相 協

Hòa là sự hỗn-hợp của Âm Dương, đến mức độ quân bình nhau, gọi là âm dương tương-hiệp.

Thánh Pierre là đệ nhứt Tông đồ của Chúa Cứu thế:

"Theo Bí pháp chơn truyền của cơ sanh hoá phải có đủ Âm Dương. Trong sanh quang chúng ta có điện quang (Négatif và Positif) cũng như vạn vật có trống mái vậy. Nền Tôn giáo nào có đủ Âm Dương thì mới vĩnh cữu. Như Đức Chúa Jésus Christ ngày trước bị đóng đinh trên cây Thánh giá đầu thuận lên trên gọi là đạt dương. Ông Thánh Pierre là đệ I Tông đồ, bị đóng đinh trở ngược lại gọi là phản Âm. Âm Dương tương hiệp tượng trưng bí pháp nên Đạo Thánh lưu truyền 2.000 năm, không ai dùng quyền gì tiêu diệt đặng. Chí Tôn còn có thể sai con của Người đến lập Đạo như: Thích Ca, Chúa Jésus Christ, Khổng Tử…"

Thử tìm nền tảng Âm Dương trong Thể pháp Đại-Đạo:

1- Riêng về Pháp-Luật Đại-Đạo thì có:

* Tân-luật thì do Đức Chí-Tôn dạy nhóm Hội Thánh lập Luật. Tân-Luật được thành hình, tuy nhiên theo thời gian cũng phải thay đổi cho phù-hạp với trình-độ tiến-hóa của nhơn-sanh, nên đó là cơ Âm.

* Pháp-Chánh-Truyền thì do chính Đức Chí-Tôn truyền Chánh-pháp đời đời không thay đổi, nó sẽ bất di bất dịch với thời-gian, đó là cơ Dương.

Âm Dương đã hòa-hiệp để được lưu-truyền đến thất ức niên như Thầy đã dạy.

2- Thiên lực và nhân lực:

Đức Lý giáng: 21-11-Bính Dần (Samedi, 25-12-1926):

Nay, ngày chính thức bàn thảo Tân-Luật, nhưng buổi hội chư Thánh suốt ngày hôm đó không đem lại kết quả nên Đức Lý giáng cơ chỉ vẽ dặn-dò: "Thượng-Trung-Nhựt, Hiền hữu hội trọn ngày chẳng có chi là hữu ích hết. Việc tán thành Tân-luật nếu Chí-Tôn để cho Lão nội trong 2 giờ hoàn thành tất cả, ngặt một điều là nếu Lão lập Luật chẳng một ai trong hàng Đạo-hữu hành Đạo đặng. Vì vậy Thầy giao trọn quyền cho chư Đạo hữu lập thành là chủ ý để phần nhơn-lực vào đó chút ít, rồi lấy huyền-diệu làm ra Thiên-lực, ấy là một hạnh Công-bình đó."

 

 

ÂM ĐÀI

陰 臺

Kinh Sám Hối có câu:

"Âm đài gông tróng sẵn-sàng,
"Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình."

 

 

ÂM ĐỨC

陰 德
E: Hidden virtue.
F: La vertue cachée.

Kinh Sám Hối có câu:

"Người phú túc vun nền âm đức,
"Lấy lòng nhơn giúp sức trợ nghèo."

 

 

ÂM HAO

音 耗
F: Nouvelles.

Âm hao: tin-tức.

Thơ Thán Đạo ngâm của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh có câu:

Trên Huyền-Mẫu da mồi tóc bạc,
Thụ cửu tuần qui hạc ngày cao.
Dưới màn ấm lạnh âm hao,
Sớm thăm tối viếng biết bao dám rời.

 

 

ÂM HỒN

陰 魂
E: The soul of death
F: L’âme du mort

Âm: Nơi tối tăm lạnh lẽo, cõi của người chết. Hồn: Linh hồn. Âm hồn là linh hồn của người chết nơi cõi Âm phủ.

Kệ chuông: Sám hối âm hồn xuất u đồ.

 

 

ÂM KHÍ

陰 氣

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời câu hỏi của Đức Hộ Pháp về Thầy khai địa cầu Thần thông thế nào? CƠ của Đức Nguyệt Tâm đáp:

Xem chất ngất ngàn hơi hắc ám
Trông đìu hiu lặng lẽ phi phàm
Lạnh lùng nào rõ Bắc Nam
Một vùng âm khí bao hàm xung quanh.

 

 

ÂM LỊCH - DƯƠNG LỊCH

陰 曆 - 陽 曆
E: The lunar calendar - The sun calendar.
F: Le calendrier lunaire - Le calendrier solaire.

(Âm: Chỉ ban đêm, chỉ mặt trăng. Dương: Chỉ mặt trời, ngày. Lịch: Phương pháp tính thời gian: Giờ, ngày, tháng, năm)

Âm lịch (E: The lunar calendar, F: Le calendrier lunaire) là phương pháp tính thời gian dựa theo sự vận chuyển của mặt trăng quanh trái đất.

Dương lịch (E: The sun calendar, F: Le calendrier solaire) là phương pháp tính thời gian dựa theo sự vận chuyển của trái đất quanh mặt trời.

 

 

Thuở ban đầu, con người quan sát thế giới bên ngoài mà có khái niệm về thời gian. Từ khi mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn, bóng tối bao trùm, rồi thấy mặt trăng mọc lên tỏa sáng mát dịu, cho con người khái niệm về thời gian: Ngày và đêm. Ngày mà ban đêm không thấy mặt trăng gọi là SÓC, ngày mà ban đêm có trăng tròn là VỌNG. Thời gian từ ngày không trăng nầy cho đến ngày không trăng tiếp theo gọi là Nguyệt hay Ngoạt (tháng). Thời tiết thay đổi từ ấm qua nóng bức, rồi mát mẻ và lạnh lẽo, diễn tiến tuần hoàn cho ý niệm về QÚY tức là mùa. Căn cứ vào các hiện tượng thiên nhiên kể trên, con người chế tạo ra lịch để định ngày thích hợp gieo cấy mùa màng và ghi chép các sự kiện lịch sử.

Mỗi vùng dân cư trên thế giới đều có chế ra lịch, như lịch của Ai cập, Hy Lạp, Á Rập, Trung hoa,... nhưng tựu chung có hai loại: Dương lịch và Âm lịch.

I. Dương lịch: Dương lịch là loại lịch phối hợp giữa năm mặt trời và ngày mặt trời.

Có nhiều loại Dương lịch, như lịch của Hoàng Ðế La Mã Jules César (101-44 trước Công nguyên), [gọi là Calendrier Julien], lịch của Ðức Giáo Hoàng Grégoire XIII (1572-1585), [gọi là Calendrier Grégorien] ..Nhưng lịch Grégorien thì hiện nay được toàn thế giới công nhận và sử dụng.

Một năm Dương lịch là khoảng thời gian mà trái đất quay giáp một vòng chung quanh mặt trời, bằng 365,25 ngày tức là 365 ngày lẻ ¼ ngày, tức lẻ 6 giờ. Như vậy, trong 4 năm sẽ dư ra 24 giờ, tức là dư ra 1 ngày. Ngày dư nầy được gọi là ngày Nhuận và được đặt là ngày 29 của tháng 2 dương lịch.

Vậy cứ 4 năm dương lịch thì có một năm nhuận, tháng nhuận là tháng hai, bình thường tháng hai có 28 ngày, nhưng tháng hai nhuận có 29 ngày.

Dương lịch Grégorien lấy năm Giáng sinh Ðức Chúa Jésus Christ làm năm thứ I gọi là Công nguyên: trước năm nầy gọi là trước Công nguyên (tính bằng số âm) và sau năm nầy gọi là sau Công nguyên.

II. Âm lịch: Âm lịch là lịch làm ra căn cứ vào sự vận chuyển của mặt trăng quanh trái đất.

Trên thế giới có nhiều loại Âm lịch: Âm lịch của Babylone, của Hồi giáo, của Trung Hoa. Các nhà làm Âm lịch đã cố gắng phối hợp với Dương lịch, để các tiết khí hậu trong một năm được hợp lý nhứt.

Âm lịch Trung Hoa được phát minh từ thời Thượng cổ, đời vua Phục Hy (2852 trước Công nguyên). Vua Phục Hy quan sát sự biến đổi và di chuyển của mặt trăng quanh trái đất mà chế ra Âm lịch. Tên của ngày tháng năm Âm lịch được đặt theo Can Chi:

- Can là Thập Thiên can, 10 can của Trời, gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

- Chi là Thập nhị Ðịa chi, 12 chi của đất, gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão (Mẹo), Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Khi kết hợp 10 Thiên can và 12 Ðịa chi, chúng ta được 60 tên gọi, ấy là một chu kỳ, gọi là Lục thập Hoa Giáp. Âm lịch Trung Hoa còn được gọi là Âm lịch Can Chi, dần dần được hoàn chỉnh, sử dụng ở các nước phương Ðông chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như: Việt-Nam, Nhựt bổn, Triều Tiên, Mông cổ…Do đó, theo truyền thống của dân tộc ta, Ðạo Cao Ðài sử dụng Âm lịch là chánh, còn Dương lịch là phụ. Các ngày Lễ, Vía, ngày hội đều lấy theo Âm lịch.

* Gọi tên tháng Giêng âm lịch:

Từ xưa, mỗi triều đại của Trung quốc đều có thay đổi Chính Sóc. Chính Sóc là ngày mùng 1 tháng Giêng.

* Triều nhà Hạ: Kiến Dần, nghĩa là dùng:

- Tháng Giêng là tháng Dần

- Tháng 2 là tháng Mão (Mẹo)

- Tháng 3 là tháng Thìn

- Tháng 4 là tháng Tỵ

- Tháng 5 là tháng Ngọ

- Tháng 6 là tháng Mùi (Vị)

- Tháng 7 là tháng Thân

- Tháng 8 là tháng Dậu

- Tháng 9 là tháng Tuất

- Tháng 10 là tháng Hợi

- Tháng11 là tháng Tý

- Tháng 12 là tháng Sửu

* Triều nhà Thương: Kiến Sửu, nghĩa là lấy tháng Giêng là tháng Sửu, rồi tính kế tiếp: Tháng 2 là tháng Dần….

* Triều nhà Châu: Kiến Tý, nghĩa là lấy tháng Giêng là tháng Tý, rồi tính kế tiếp: Tháng 2 là tháng Sửu,…

* Triều nhà Tần: Kiến Hợi, nghĩa là lấy tháng Giêng là tháng Hợi, rồi tính kế tiếp: Tháng 2 là tháng Tý,…

* Ðến đời vua Võ Ðế, triều nhà Hán, lấy trở lại Chính Sóc Kiến Dần của nhà Hạ, tức là lấy tháng Giêng là tháng Dần, và sử dụng từ thời đó đến ngày nay không thay đổi nữa.

Ðiều nầy thích hợp với quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của người Ðông phương là: "Thiên khai ư Tý- Ðịa tịch ư Sửu - Nhân sinh ư Dần". Làm lịch là để cho nhân dân sử dụng, nên lấy tháng khởi đầu một năm là Dần thì đó là điều hợp lý.

Lấy theo Kiến Dần, tên các tháng Âm lịch như sau:

- Tháng Giêng

 Dần

- Tháng 2

 Mão

- Tháng 3

Thìn

- Tháng 4

Tỵ

- Tháng 5

Ngọ

- Tháng 6

Mùi

- Tháng 7

Thân

- Tháng 8

Dậu

- Tháng 9

Tuất

- Tháng 10

Hợi

- Tháng 11

- Tháng 12

Sửu

Nếu năm Âm lịch khởi đầu bằng CAN (?) thì tháng Âm lịch khởi đầu bằng CAN (?) theo bảng qui định sau đây:

Năm khởi đầu bằng Can

Tháng Giêng khởi đầu bằng Can

Giáp

Kỷ

Bính

 

Ất

Canh

Mậu

 

Bính

Tân

Canh

 

Ðinh

Nhâm

Nhâm

 

Mậu

Quý

Giáp

 

Thí dụ: Năm nay là năm Canh Thìn thì tháng Giêng là tháng Mậu Dần, nối tiếp tháng hai là tháng Kỷ Mão…..

Một tháng Âm lịch, kể từ lúc không trăng cho đến lúc không trăng tiếp theo (đúng một tuần trăng) là 29, 53 ngày mặt trời. Ðây là một số lẻ, nên nhà làm lịch đặt ra: tháng Âm lịch 29 ngày là tháng thiếu (Tiểu ngoạt) và tháng 30 ngày là tháng đủ (Ðại ngoạt). Các tháng Âm lịch thiếu và đủ xen kẻ nhau. Do đó, một năm Âm lịch có: 29, 53 x 12 = 354,36 ngày, ít hơn năm Dương lịch vì năm Dương lịch có 365,25 ngày.

Số ngày ít hơn là: 365,25 - 354,36 = 10,89 ngày.

Trong 3 năm, số ngày Âm lịch ít hơn Dương lịch:

10,89 x 3 = 32, 67 ngày.

Ðể phù hợp với năm Dương lịch và không sai lệnh mấy so với thời tiết trong một năm, thì cứ 3 năm Âm lịch, người ta thêm vào một tháng Nhuận, để cho số ngày trong 3 năm của Âm lịch và Dương lịch được gần bằng nhau. Thế nên, đối với Âm lịch, sau 3 năm có một năm Nhuận và năm Nhuận đó có 13 tháng.

* Gọi tên giờ Âm lịch:

Theo Âm lịch, mỗi ngày được chia thành 12 khoảng thời gian bằng nhau, mỗi khoảng ấy được gọi là giờ Âm lịch.

Giờ Âm lịch được đặt tên theo Thập nhị Ðịa chi, tức 12 con Giáp, giờ chánh Tý lúc 0 giờ (24 giờ).

Sau đây là Bảng chia giờ Âm lịch theo 24 giờ bình thường của mỗi ngày:

- Giờ Tý

 :

từ 23 giờ đến 1 giờ.

- Giờ Sửu

 :

từ 1 giờ đến 3 giờ.

- Giờ Dần

 :

từ 3 giờ đến 5 giờ

- Giờ Mẹo

 :

từ 5 giờ đến 7 giờ.

- Giờ Thìn

 :

từ 7 giờ đến 9 giờ.

- Giờ Tỵ

 :

từ 9 giờ đến 11 giờ.

- Giờ Ngọ

 :

từ 11 giờ đến 13 giờ.

- Giờ Mùi

 :

từ 13 giờ đến 15 giờ.

- GiờThân

 :

từ 15 giờ đến 17 giờ.

- Giờ Dậu.

 :

từ 17 giờ đến 19 giờ.

- Giờ Tuất

 :

từ 19 giờ đến 21 giờ.

- Giờ Hợi.

 :

từ 21 giờ đến 23 giờ.

Như vậy, chúng ta nhận thấy:

* Giờ Tý khởi đầu lúc 23 giờ, nên thời điểm 0 giờ (24 giờ) được gọi là Chánh Tý. Với Tôn giáo Cao-Đài sử dụng giờ an theo chữ chánh và trung. Do đó giờ Cúng Chí-Tôn phải là chánh Tý, 0 giờ hay là 24 giờ. Dù rằng khởi Tý là 23 giờ, nhưng chánh Tý là 24 giờ, có nghĩa là chính giữa giờ Tý. Tương tự có:

- Chánh Ngọ: 12 giờ trưa (11,12, 1)

- Chánh Mẹo: 6 giờ sáng

- Chánh Dậu: 6 giờ chiều (18 giờ)

* Bảng Lục thập Hoa Giáp:

 

TT

Năm Âm lịch

Dương lịch

TT

Năm Âm lịch

Dương lịch

1

Giáp Tý

1924 , 1984

31

Giáp Ngọ

1954 , 2014

2

Ất Sửu

1925 , 1985

32

Ất Mùi

1955 , 2015

3

Bính Dần

1926 , 1986

33

Bính Thân

1956 , 2016

4

Ðinh Mão

1927 , 1987

34

Ðinh Dậu

1957 , 2017

5

Mậu Thìn

1928 , 1988

35

Mậu Tuất

1958 , 2018

6

Kỷ Tỵ

1929 , 1989

36

Kỷ Hợi

1959 , 2019

7

Canh Ngọ

1930 , 1990

37

Canh Tý

1960 , 2020

8

Tân Mùi

1931 , 1991

38

Tân Sửu

1961 , 2021

9

Nhâm Thân

1932 , 1992

39

Nhâm Dần

1962 , 2022

10

Quý Dậu

1933 , 1993

40

Quý Mão

1963 , 2023

11

Giáp Tuất

1934 , 1994

41

Giáp Thìn

1964 , 2024

12

Ất Hợi

1935 , 1995

42

Ất Tỵ

1965 , 2025

13

Bính Tý

1936 , 1996

43

Bính Ngọ

1966 , 2026

14

Ðinh Sửu

1937 , 1997

44

Ðinh Mùi

1967 , 2027

15

Mậu Dần

1938 , 1998

45

Mậu Thân

1968 , 2028

16

Kỷ Mão

1939 , 1999

46

Kỷ Dậu

1969 , 2029

17

Canh Thìn

1940 , 2000

47

Canh Tuất

1970 , 2030

18

Tân Tỵ

1941 , 2001

48

Tân Hợi

1971 , 2031

19

Nhâm Ngọ

1942 , 2002

49

Nhâm Tý

1972 , 2032

20

Quý Mùi

1943 , 2003

50

Quý Sửu

1973 , 2033

21

Giáp Thân

1944 , 2004

51

Giáp Dần

1974 , 2034

22

Ất Dậu

1945 , 2005

52

Ất Mão

1975 , 2035

23

Bính Tuất

1946 , 2006

53

Bính Thìn

1976 , 2036

24

Ðinh Hợi

1947 , 2007

54

Ðinh Tỵ

1977 , 2037

25

Mậu Tý

1948 , 2008

55

Mậu Ngọ

1978 , 2038

26

Kỷ Sửu

1949 , 2009

56

Kỷ Mùi

1979 , 2039

27

Canh Dần

1950 , 2010

57

Canh Thân

1980 , 2040

28

Tân Mão

1951 , 2011

58

Tân Dậu

1981 , 2041

29

Nhâm Thìn

1952 , 2012

59

Nhâm Tuất

1982 , 2042

30

Quý Tỵ

1953 , 2013

60

Quý Hợi

1983 , 2043

 

Can Chi phối hợp có chu kỳ là 60, nghĩa là: Từ năm Giáp Tý nầy cho đến năm Giáp Tý sau, là 60 năm. Chu kỳ 60 ấy được gọi là Lục thập Hoa Giáp.

Bảng Lục thập Hoa Giáp trên lập thành kể từ năm Giáp Tý (1924) đến năm Quý Hợi (1983) là đúng 60 năm, bước qua Giáp Tý sau, ứng với năm 1984, khởi đầu một Hoa Giáp mới.

Năm Âm lịch tương ứng với năm Dương lịch hay ngược lại:

Sau đây chúng ta có hai Bảng để tìm năm Âm lịch tương ứng năm Dương lịch, hay ngược lại: Bảng I các năm trước Công nguyên (tức trước Chúa Giáng sinh) và Bảng II sau Công nguyên. Cả hai bảng đều căn cứ vào năm thứ I Chúa Giáng sinh là năm Tân Dậu, cho nên năm -I (trước Chúa Giáng sanh) là năm Canh Thân).

BẢNG I trước Công nguyên

 

  Chi

Can

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Giáp

57

 

7

 

17

 

27

 

37

 

47

 

Ất

 

56

 

6

 

16

 

26

 

36

 

46

Bính

45

 

55

 

5

 

15

 

25

 

35

 

Ðinh

 

44

 

54

 

4

 

14

 

24

 

34

Mậu

33

 

43

 

53

 

3

 

13

 

23

 

Kỷ

 

32

 

42

 

52

 

2

 

12

 

22

Canh

21

 

31

 

41

 

51

 

1

 

11

 

Tân

 

20

 

30

 

40

 

50

 

60

 

10

Nhâm

9

 

19

 

29

 

39

 

49

 

59

 

Quý

 

8

 

18

 

28

 

38

 

48

 

58

 

Thí dụ: Tìm năm Âm lịch tương ứng với năm 2852 trước Công nguyên là năm vua Phục Hy lên ngôi.

Cách tính: Ðem 2852 chia cho 60 (chu kỳ Can Chi), ta được: 2852 = 47 x 60 + 32 → Số dư của phép chia là 32.

Lấy số dư 32 nầy, dò lên bảng, ta thấy số 32 ứng với Can là Kỷ và Chi là Sửu. Vậy năm 2852 t. C.n. là năm Kỷ Sửu.

BẢNG II sau Công nguyên

 

  Chi

Can

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Giáp

4

 

54

 

44

 

34

 

24

 

14

 

Ất

 

5

 

55

 

45

 

35

 

25

 

15

Bính

16

 

6

 

56

 

46

 

36

 

26

 

Ðinh

 

17

 

7

 

57

 

47

 

37

 

27

Mậu

28

 

18

 

8

 

58

 

48

 

38

 

Kỷ

 

29

 

19

 

9

 

59

 

49

 

39

Canh

40

 

30

 

20

 

10

 

60

 

50

 

Tân

 

41

 

31

 

21

 

11

 

1

 

51

Nhâm

52

 

42

 

32

 

22

 

12

 

2

 

Quý

 

53

 

43

 

33

 

23

 

13

 

3

 

Thí dụ 1: Tìm năm Âm lịch tương ứng với năm 1940.

Cách tính: Lấy số 1940 chia cho 60, ta được: 32 với số dư là 20. Lấy số 20 dò lên bảng, ta thấy số 20 ứng với Can là Canh và ứng với Chi là Thìn. Vậy năm 1940 là năm Canh Thìn.

Thí dụ 2: Bài tính ngược lại: Tìm năm Dương lịch ứng với năm Bính Dần đầu thế kỷ 20.

Cách tính: Dò theo hàng Can để tìm chữ Bính, rồi dò theo hàng Chi để tìm chữ Dần, ta được số 6 ứng với năm Bính Dần. Số 6 nầy là số dư. Ta đem số 6 nầy cộng với một bội số của 60, thế nào để cho số thành lớn hơn 1900 (vì điều kiện là đầu thế kỷ 20). Ta thấy: 6 + 60 x 32 = 1926.

Vậy năm Bính Dần là năm 1926.

Lưu ý: Các bội số của 60 gần bằng với 1900 là: 1860, 1920, 1980.

- Nếu lấy số 1860 thì năm Bính Dần là 1866.

- Nếu lấy số 1920 thì năm Bính Dần là 1926.

- Nếu lấy số 1980 thì năm Bính Dần là 1986.

Ðiều kiện là đầu thế kỷ 20, nên ta chọn năm 1926.

Năm 1860 là cuối thế kỷ 19; năm 1986 là cuối thế kỷ 20, hai số nầy không phù họp với điều kiện của đề bài, nên ta bỏ ra.

Trường hợp số dư là 0:

Khi ta làm bài toán chia, ta có dư số là 0 thì chúng ta lấy số 60 mà dò trên bảng.

 

 

ÂM NHẠC

音 樂
F: La musique

Ngày nay, Đức Chí-Tôn mở Đạo dùng cả Âm, thinh, sắc, tướng, để cảm hóa nhân-tâm không gì bằng Âm-nhạc. Lại nữa linh-hồn của Đạo phải kể đến: Nhạc, Lễ và Đồng-Nhi, tức là hồn của thi thơ đó vậy. Lời tựa trong Kinh Thi đã diễn-tả được tinh-thần ấy: "Khi hoài-bão còn ở trong tâm của người là Chí, phát ra lời là Thi. Tình động ở trong mà diễn ra bằng lời, lời thấy chưa đủ thì ta ta-thán. Ta-thán thấy chưa đủ, thì ta ca vịnh. Ca vịnh thấy chưa đủ, thì bất-giác tay ta múa, chơn ta nhảy. Tình cũng phát-động ở trong mà diễn ra bằng âm thanh. Âm-thanh thành bài gọi là ÂM NHẠC: Nước trị thì âm-nhạc yên và vui, chánh-trị được điều-hòa; nước loạn thì âm-nhạc oán và nộ, chánh-trị bị ngang trái; nước mất thì Âm-nhạc buồn và rầu, dân-tình khốn đốn. Bởi vậy, chính-đính còn hay mất, làm động đến thiên địa, cảm đến quỉ thần, không gì bằng Kinh Thi".

Từ khi mới mở Đạo, Đức Hộ-Pháp đã chú-ý đào luyện cho BỘ NHẠC về môn Âm-nhạc cổ-truyền, Đức Ngài ban Thánh lịnh cho Chức-sắc Bộ Nhạc để đi hành Đạo địa-phương và giải thích về giá-trị cần-thiết của Nhạc:

"Thanh văn chi vị ÂM, đức âm chi vị NHẠC".
 聲 聞 之 謂 音 德 音 之 謂 樂

- Nhạc 樂 là cái gì đặt bên trên âm-thanh.

- Thanh 聲 là một tiếng kêu nào bất cứ. Khi tiếng kêu đó có văn-vẻ, tiết-điệu thì gọi là Âm 音. Khi âm đó đưa tới Đức gọi là Nhạc 樂. Con vật mới biết thanh mà chưa biết âm (tạm nói theo thông lệ). Người thường chỉ biết Âm mà chưa biết Nhạc. Chỉ có bậc quân-tử mới biết được Nhạc tức là cái đức của âm-thanh. Cái Đức đó là Hoà. "Nhạc dữ thiên địa đồng hoà" 樂與天地同和. Cái chính yếu của Nhạc là ở chỗ Hoà với thiên điạ. Muốn cho "chí đức", "chí Hoà" thì phải thấu triệt cả cái hoà hàng ngang cũng như hoà hàng dọc. Chính là chữ thập 十 đó vậy.

 

 

1- VŨ-TRỤ-QUAN nói về phần ÂM-NHẠC

Đức Hộ-Pháp giải: Ngày 16 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1954) tại văn phòng Tiếp Lễ Nhạc Đường.

"Đây là Dịch-Lý qua Thái-cực đồ thuyết: lấy ý mà hội chớ không thể lấy lời mà truyền. Vũ-trụ lúc đầu là khí hồng mông mờ-mờ, mịt-mịt, u-u, minh-minh, đào độn qua lại, lại qua, có lúc lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn-hợp gọi là Vô-vi chi khí. Trong khí Hư-Vô có phát hiện ra một vầng quang minh linh diệu vô cùng tức là THÁI-CỰC. Song THÁI CỰC Đơn Nhứt tuyệt đối ẩn, không rõ ra cho nên không sinh hóa được, muốn sinh-hóa được phải có đôi, phải có tương đối, có điều hòa. Vậy nên Thái cực biến hóa thành ra Âm và Dương. Âm Dương theo lẽ điều hòa mà sanh hóa Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ để biểu thị cái chất đã thành hình. Lúc Âm Dương phân định thì khí khinh thanh lên làm trời, khí trọng trược xuống làm đất. Âm Dương được điều hòa với nhau mà sinh hóa muôn vật, vật nào bẩm-thụ khí sanh quang đặng nhiều làm Phật, Tiên, Thánh, Thần. Vật nào bẩm-thụ ít thì làm người hay các loài khác như côn trùng, thảo mộc, thủy tú, sơn xuyên.

Tóm lược thực thể: "Vô cực nhi Thái cực". Thái-cực động sinh hóa ra khí Dương thì lại tĩnh. Tĩnh rồi động lại sinh hóa ra khí Âm. Một lần động, một lần tĩnh, hỗ-tương quan hệ, gốc chung phân hóa ra một Âm Dương là hai cách cơ bản thiết lập: Dương biến, Âm hợp vào mà sinh hóa ra Thủy, Hỏa, Kim, Thổ, Mộc là năm nguyên khí phân bố có thứ-tự, bốn mùa thời tiết của một năm vận hành. Hỗn độn mà thành vũ-trụ lấy nguyên-lý sinh động là cơ bản ấy là KHÍ, vô hình phi chất, biểu hiện ra hữu hình và trở nên vạn-vật. Cái siêu hình mà không rời hiện thực, cái dòng thực tại toàn diện siêu nhiên và tự nhiên duy nhứt. Các bậc Thánh-nhân hiểu rõ nguyên lý uyên thâm nên hòa mình vào cảnh sắc thiên-nhiên cùng một thể chung cùng một cảm thông. Đức vua Phục-Hy quan sát trời, đất để biết. Biết để ứng-dụng vào đời, điều-lý tâm linh, vạch ra tám quẻ để thông cái thịnh-đức của Trời và bày tỏ cái tình của vạn vật. Thừa kế cái chí thành của Thánh nhân, nên Tôn giáo CAO ĐÀI với nghi lễ, với cơ bản vận dụng sinh động món nhạc khí: Bào, Thổ, Cách, Mộc, Thạch, Kim, Ty, Trúc. Tiết tấu: Thanh, Kỳ, U, Nhã, Bi, Tráng, Du, Dương gọi là Bát âm để biểu thị cho Bát hồn và làm cho Bát hồn sống dậy.

Trên Bạch-Ngọc-Kinh có đôi liễn:

"Bát hồn tư mặc ca Huỳnh-Lão
"Vạn vật đồng thinh niệm Chí-Tôn"

Lòng chí thành để bày tỏ thịnh đức rộng lớn "HƯ VÔ CHI KHÍ" Vô cực nhi Thái cực là mẹ cha của vũ trụ.

Để điển lưu điệu thiên phong văn võ Nhạc thời xưa, Nghiêu Thuấn với nghi nhạc thời nay.

2- TINH THẦN LỄ NHẠC

- LỄ giả biểu tượng thiên-lý chi tiết-văn, thật hiện nhơn sự như chi tắc.

- NHẠC giả ứng hiệp Ngũ hành chi sanh hóa, tuyên thông bát phong chi hòa khí.

Ý nghĩa: LỄ là nêu rõ hình tượng tiết-văn của Trời, như là tiết Xuân, tiết Hạ, tiết Thu, tiết Đông, cùng là mặt Nhựt, mặt Nguyệt, các vì Tinh-tú đều vận chuyển bốn mùa, không khi nào ngưng trệ hay là xâm phạm nhau. Còn đối xử với việc người đều có uy-nghi và phép tắc phân-minh đẳng cấp, tôn-ti thượng hạ, không khi nào loạn hàng thất thứ.

- Nói về NHẠC là ứng hiệp sự sanh hóa của Ngũ hành: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ và tuyên bố thông truyền không khí điều hòa cả bốn phương, tám hướng.

Sách lễ-ký có nói rằng:

- LỄ giả thiên địa chi trật tự,
- NHẠC giả thiên địa chi điều hòa.

Ý nghĩa: LỄ là khuôn viên trật tự của Trời đất, NHẠC là không khí điều hòa của Trời đất. Vì lẽ cho nên Thánh hiền xưa nghị chế ra LỄ để bình phục lòng dân không cho rối loạn, còn tác NHẠC để dung hòa tiếng nói của dân không cho hỗn-hào, là sở dĩ hiệp đồng lòng dân mà lập ra đạo trị nước, hóa dân cho tất cả đều biết cung kỉnh khiêm nhượng và thuận hòa thân ái, gây ảnh hưởng đi đến chỗ trung thứ Đại Đồng.

Vậy nên phép hành LỄ được điều hòa tức thị là NHẠC. Phương tấu nhạc có trật tự tức thị là Lễ. LỄ NHẠC phải tương đắc cùng nhau mới cảm-kích Thần minh báo ứng phước lành.

Từng xem cổ sử, thấy đời thượng cổ có vua Thuấn Đế dĩ NHẠC hóa dân, nghĩa là Ngài dùng NHẠC tiêu thiều ca bài "Nam-phong" cảm hóa lòng dân. Ca bài Nam-phong là có ý nghĩa "Nam phong trưởng dưỡng vạn vật", mong cầu cho dân chúng đều thịnh-vượng mùa-màng, an cư lạc nghiệp, nhờ ảnh hưởng của ngọn Nam-phong mà tự nhiên quốc gia thịnh-trị, thiên-hạ thái-bình. Bởi cớ cho nên Tiên nho có nói "Văn huyền ca nhi tri nhã" ý nghĩa là người có chí hướng vì nước, vì dân, nghe đến tiếng đờn, tiếng ca hay tiếng tơ, tiếng trúc, thì người có thể quyết đoán quốc gia thạnh-trị hay là suy vong. Vậy nên người biết phép hành Lễ và hiểu phương tấu nhạc, phải sáng suốt nhận định lợi hại như thế nào! Sự thật là một triệu chứng hiển-nhiên. Đấng Chí Tôn đến chấn hưng cổ Lễ và cổ Nhạc của tổ tiên Việt-Nam chúng ta bốn ngàn năm về trước là chủ yếu nâng đỡ tinh thần đạo-đức cho dân tộc Việt-Nam, phải tôn trọng nền Nho-Tông thuần-túy cổ-truyền, để làm gương mẫu cho thế giới dân tộc đều cảm hóa noi theo (Thông Tin Đại-đạo 7)

3- NGUỒN GỐC và SỰ VI DIỆU CỦA NHẠC

Đời Tam Hoàng chế CHỮ tượng theo hình và dấu chân chim, chân thú, thì NHẠC lại theo tiếng chim kêu hoặc tiếng động của sự vật mà chế. Vua Phục-Hy do tiếng chim phượng kêu, ghép trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng, tiếng thổi âm thinh phát ra giống tiếng chim phượng gáy. Thứ lớn gọi là Nhã tiêu ghép liền 23 ống, dài một thước bốn tấc (thước ta). Thứ nhỏ gọi là Tụng tiêu ghép liền 16 ống dài hai thước một tấc. Cả hai thứ gọi là tiêu quản. Còn thứ không đáy là đồng tiêu.

Về sau vua Hoàng-Đế sai Linh-Luân lấy trúc ở Côn khê chế ra ống Địch, ống Địch có bảy lỗ cầm ngang mà thổi, cũng giống như tiếng chim phượng, trông giản tiện lắm, người đời sau thấy ống tiêu-quản rườm-rà mới chỉ dùng ống Địch cầm mà thổi dọc. Thứ dài gọi là Tiêu, thứ ngắn gọi là Địch. Ống sinh do Bà NỮ-OA nghe tiếng chim Loan mà sáng chế. Vua truyền cho ông Vĩnh-Viễn đúc 12 cái chuông đánh lên hòa với giọng tiêu. Còn trống do tiếng sấm mà chế. Lịnh truyền cho ông Thái Dung đặt ra nhiều bản: như bản Hàm-Trì, bản Thừa-Vân, bản Vân-Môn, Nam Phong… Điệu phân làm bốn: Thanh thương, Thanh giốc, Thanh chủy, Thanh vũ. Đến vua Thuấn, chim phượng bay đến múa và gáy, nhơn đó mới chế khúc nhạc thiều.

 

 

ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN

音 樂 古 傳

Vi diệu của tiếng nhạc:

Âm Nhạc Cổ Truyền Việt-Nam dùng trong Đại Đạo là lấy cả Âm thinh sắc tướng để cảm hóa lòng người, cũng như Công giáo có Nhạc Thánh Đường vây. Thử nghe NHẠC với lòng người cảm hóa lẫn nhau:

- Một là bởi lòng người cảm xúc ngoại cảnh mà thành ra tiếng NHẠC.

- Hai là tiếng NHẠC cảm lòng người rồi khiến lòng người theo tiếng NHẠC mà biến đi, như:

- Khi ngoại cảnh đau đớn thì lòng người thương xót, trong lòng đã thương xót thì thanh âm nghe tiêu-sái.

- Khi ngoại cảnh tốt lành tất là trong lòng vui vẻ thì thanh-âm nghe thong thả, êm-đềm.

- Khi ngoại cảnh thỏa thích, trong lòng hớn-hở thì thanh âm nghe hể-hả.

- Khi ngoại cảnh có điều không lành, trong lòng tức giận thì thanh âm nghe thô-thiển dữ tợn.

- Khi ngoại cảnh trông thấy tôn-nghiêm thì thanh âm nghe chánh-trực, nghiêm-trang.

- Khi ngoại cảnh làm cho sanh ra lòng yêu mến thì thanh âm nghe dịu dàng, hòa nhã.vì Nhạc là HÒA.

Cái vi-diệu của Nhạc là HÒA. Cái gốc hòa phát nguyên từ trời, đất và người, gọi là Thiên - Địa - Nhân, làm cái gốc của vạn vật. - Trời sinh ra vạn-vật.- Đất nuôi vạn-vật. - Người làm thành vạn-vật.

Người cảm thông cái nghĩa của đất trời mà lý hội được:

* Trời sinh ra vạn vật bằng hiếu đễ.

* Đất nuôi vạn-vật dưới hình-thức ăn uống.

* Người hoàn thành bằng LỄ NHẠC.

Tuy nhiên làm sao thấy được Nhạc? - Vì nó có từ trong lòng vũ trụ. Từ trong lòng vạn vật. Từ trong lòng mọi người.

Nếu cả tiếng côn-trùng không tấu lên làm sao nghe được âm thanh rộn rã. Tiếng gió không khua động cành lá làm sao nghe được rì-rào? Lòng người không cảm hoài, vui buồn ai-oán thì làm sao có được khúc nhạc lòng? Tất cả hòa thành NHẠC của vũ trụ và vạn vật. Nếu được tinh-ba chắc lọc hòa đồng với vũ-trụ sẽ thành Thiên-thiều. Sự tinh-ba đó là điều-hòa nên mới sinh ra LỄ tức là trật-tự, ngăn-nắp, khiêm-cung, hòa-ái.

LỄ NHẠC là hai điều trọng-hệ của Đức Chí-Tôn. Khi Ngài đến vẫn chú-ý đến hai điều ấy. Thầy nhấn mạnh: "NHẠC LỄ là pháp nhà Nam. Thầy muốn giữ gìn sao cho được trọn vẹn, các con hiểu?". Trong dàn nhạc, mỗi Nhạc-sĩ tự do phát huy tài nghệ; nhạc-cụ tự-nhiên trổi giọng thanh tao, nhưng đồng theo nhịp nhàng trầm bổng, tạo nên một bản hòa tấu êm tai, phấn chí.

 

 

ÂM QUANG

陰 光
E: The light of the femelle constitutive element.
F: La lumière de l’élement constitutif femelle.

Theo Vũ trụ quan của Ðạo Cao Ðài thì có Âm quang tất có Dương quang. Thời khởi thủy của Càn Khôn là Khí Hồng mông hỗn độn, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hiệp, gọi là Hư Vô chi Khí. Hư Vô chi Khí lần lần ngưng kết, phát ra tiếng nổ lớn, sanh ra Ðức Chí Tôn mà ngôi của Ngài là Thái Cực. Ðức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Dương quang và Âm quang. Ðức Chí Tôn làm chủ Khí Dương quang. Ðức Chí Tôn hóa thân ra Phật Mẫu để làm chủ Khí Âm quang. Do đó, Bát Nương nói rằng: Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai khi Chí Tôn chưa tạo hóa. Ðức Phật Mẫu ngự tại Diêu Trì Cung. Khi Ðức Chí Tôn muốn tạo hóa Càn Khôn Vũ trụ thì Ðức Chí Tôn phát ra Dương quang, Ðức Phật Mẫu thâu khí Dương quang ấm áp ấy phối hiệp với khí Âm quang lạnh lẽo để tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ hữu hình gồm: Các tinh đẩu (ngôi sao), mặt trời, vệ tinh (mặt trăng). Muốn tạo ra Vạn linh thì Ðức Phật Mẫu thâu lằn Sanh quang của Thái Cực để làm linh hồn, rồi đem Dương quang hiệp Âm quang tạo nên Chơn thần cho Vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ. Khí Âm quang mờ mịt, lạnh lẽo, không có sự sống, tỏa rộng ra khắp nơi, có giới hạn, tạo thành biên giới của Càn Khôn Vũ Trụ, nghĩa là bên ngoài Càn Khôn Vũ Trụ thì không có khí Âm quang. Muốn tạo hóa thì Ðức Chí Tôn chiếu Dương quang đến. Dương quang đem sự sống tới rồi phối hiệp với Âm quang mà sanh hóa. Do đó, nơi nào không có Dương quang (tức là ánh linh quang của Ðức Chí Tôn) chiếu tới thì nơi đó chỉ có Âm quang, nên rất tối tăm lạnh lẽo. Chính nơi đây, các Tôn giáo xưa kia lập ra Ðịa Ngục, Diêm đình, Thập Ðiện Diêm Vương, Phong đô Ðịa phủ, để phạt tù, trừng trị các tội hồn. Khi Ðức Chí Tôn mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, cũng là mở Ðại Ân Xá Kỳ Ba, Ðức Chí Tôn ra lịnh đóng cửa các cõi Ðịa ngục, giải phóng tất cả các tội hồn, cho đi đầu kiếp hết thảy để trả cho dứt các món nợ oan nghiệt, đồng thời Ðức Chí Tôn mở ra con đường tu hành để độ rỗi tất cả các linh hồn, dầu Nguyên sanh, Hóa sanh hay Quỉ sanh, nếu biết tu hành và lập công quả đầy đủ thì đắc đạo.

Những linh hồn nào còn tiếp tục phạm tội thì Ðức Chí Tôn cho đến cõi Âm Quang để học đạo, có chư Tiên, Phật đến dạy dỗ, định tỉnh tinh thần mà ăn năn sám hối tội tình. Cõi Âm Quang do Ðức Chí Tôn mới lập ra ở Trung giới, bên trên là Thượng giới tức cõi Trời (Thiên đường, cõi Thiêng liêng Hằng sống), bên dưới là Hạ giới tức là các Ðịa cầu. Nơi cõi Âm Quang nầy, Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các Nam tội hồn, riêng Thất Nương Diêu Trì-Cung giáo hóa các Nữ tội hồn. Những hồn nào biết đạo đức và sớm biết giác ngộ thì được đi đầu kiếp nơi cõi trần để trả quả và lo tu hành, hầu được trở về cùng Chí Tôn.

Ngày nay sửa chữ Âm Quang thay cho Địa ngục.

Đàn Cơ: Toà Thánh, tháng 10- Nhâm Thân (dl tháng 11–1932)

Bát Nương Diêu Trì Cung giải thích về Âm quang:

"Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai khi Chí Tôn chưa tạo hóa. Lằn Âm khí ấy là Diêu Trì Cung chứa để tinh vi vạn vật, tỷ như cái Âm quang của phụ nữ có trứng cho loài người. Khi Chí Tôn đem Dương quang ấm áp mà làm cho hóa sanh, thì cái khoảnh Âm quang phải thối trầm làm tinh đẩu, là cơ quan sanh hóa vạn linh. Song lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hóa. Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu. Vậy thì chính lời nhiều Tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn Giải thân định trí (một nơi trung gian giữa Thiên đường và Ðịa ngục hay là mờ mờ mịt mịt). Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các Chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy Chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy. Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu, thì kinh khủng chẳng cùng. Nếu để cho Chơn thần ô trược thì khó mong trở lại cõi thiêng liêng và về cùng Thầy đặng. Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng. Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các Chơn hồn, dầu sa đọa luân hồi, cũng có người giúp đỡ. Nghe lại coi có phải vậy chăng?"

 

 

ÂM QUANG - DƯƠNG QUANG

Toà Thánh Tây Ninh: tháng 11-1932 (âl: 10 - Nhâm Thân)

Bát Nương Diêu Trì Cung đã Giải thích về Âm quang rồi. Đây nói rộng về Âm quang và Dương quang:

Theo Vũ trụ quan của Ðạo Cao Ðài thì, khởi thủy của Càn Khôn Vũ Trụ là Khí Hồng mông hỗn độn, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hợp, gọi là Hư Vô chi Khí. Hư Vô chi Khí lần lần ngưng kết, phát ra tiếng nổ lớn, sanh ra Ðức Chí Tôn mà ngôi của Ngài là Thái Cực. Ðức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi tức Dương quang và Âm quang. Ðức Chí Tôn làm chủ Khí Dương quang. Ðức Chí Tôn hóa thân ra Phật Mẫu để làm chủ Khí Âm quang. Do đó, Bát Nương nói rằng: Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai khi Chí Tôn chưa tạo hóa. Ðức Phật Mẫu ngự tại Diêu Trì Cung. Khi Ðức Chí Tôn muốn tạo hóa Càn Khôn Vũ trụ thì Ðức Chí Tôn phát ra Dương quang, Ðức Phật Mẫu thâu khí Dương quang ấm áp ấy phối hiệp với khí Âm quang lạnh lẽo để tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ hữu hình gồm: Các tinh đẩu (ngôi sao), mặt trời, vệ tinh (mặt trăng), các hành tinh. Muốn tạo ra Vạn linh thì Ðức Phật Mẫu thâu lằn Sanh quang của Thái Cực để làm linh hồn, rồi đem Dương quang hiệp Âm quang tạo nên Chơn thần cho Vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ. Khí Âm quang mờ mịt, lạnh lẽo, không có sự sống, tỏa rộng ra khắp nơi, có giới hạn, tạo thành biên giới của Càn Khôn Vũ Trụ, nghĩa là bên ngoài Càn Khôn Vũ Trụ thì không có khí Âm quang. Muốn tạo hóa thì Ðức Chí Tôn chiếu Dương quang đến. Dương quang đem sự sống tới rồi phối hiệp với Âm quang mà sanh hóa. Do đó, nơi nào không có Dương quang (tức là ánh linh quang của Ðức Chí Tôn) chiếu tới thì nơi đó chỉ có Âm quang, nên rất tối tăm lạnh lẽo. Chính nơi đây, các Tôn giáo xưa lập ra Ðịa Ngục, Diêm đình, Thập Ðiện Diêm Vương, Phong đô Ðịa phủ, để phạt tù, trừng trị các tội hồn. Khi Ðức Chí Tôn mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, cũng là mở Ðại Ân Xá Kỳ Ba, Ðức Chí Tôn ra lịnh đóng cửa các cõi Ðịa ngục, giải phóng tất cả tội hồn, cho đi đầu kiếp hết thảy để trả cho dứt các món nợ oan nghiệt, đồng thời Ðức Chí Tôn mở ra con đường tu hành để độ rỗi tất cả các linh hồn, dầu Nguyên sanh, Hóa sanh hay Quỉ sanh, nếu biết tu hành và lập công quả đầy đủ thì đắc đạo.

Những linh hồn nào còn tiếp tục phạm tội thì Ðức Chí Tôn cho đến cõi Âm Quang để học đạo, có chư Tiên, Phật đến dạy dỗ, định tỉnh tinh thần mà ăn năn sám hối tội tình. Cõi Âm Quang do Ðức Chí Tôn mới lập ra ở Trung giới, bên trên là Thượng giới tức cõi Trời (Thiên đường, cõi Thiêng liêng Hằng sống), bên dưới là Hạ giới tức là các Ðịa cầu. Nơi cõi Âm Quang nầy, Ðức Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa các Nam tội hồn, riêng Thất Nương Diêu Trì-Cung giáo hóa các Nữ tội hồn. Những hồn nào biết đạo đức và sớm biết giác ngộ thì được đi đầu kiếp nơi cõi trần để trả quả và lo tu hành, hầu được trở về cùng Chí Tôn.

 

 

ÂM THANH (Thinh)

音 聲
F: Son.

Đức Hộ-Pháp nói: "Trống là âm thinh của Ðạo. Thuở chưa có càn khôn vũ trụ, Ðạo giáo có dạy: Hai lằn nguơn khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái Cực. Chủ ngôi Thái Cực là Ðức Chí Tôn. Khi nào Trời sét nổ, chúng ta nghe sao? An Nam mình kêu "Ầm" còn theo Ðạo pháp kêu "Ùm", vì cớ phép Phật sửa lại là "Úm" (Úm ma ni bát rị hồng) câu ấy đọc có nghĩa là nắm cả quyền năng vũ trụ quản suất trong tay. Tiếng nổ ta nghe nó ra sao? Khi nổ rồi còn nghe tiếng bay xa, nguyên căn của tiếng nổ là tiếng trống, còn giọng ngân là tiếng chuông".

Đức Ngài tiếp: "NHẠC là hưởng ứng của cả khối sanh quang của càn khôn vạn-vật đồng thinh. Nơi Á-Đông có câu: Biều, thổ, cách, mộc, thạch, kim, dữ ty, trước nãi Bát âm. Các vật vô năng mà nói đặng, có trật-tự niêm luật hòa nhau là đoạt ĐẠO, hiệp lại với tiếng Kinh mình đọc là âm thinh nghĩa là con người cùng vạn-vật đồng thinh hiến lễ. Mấy Em phải biết cái tinh túy mà người ta có thể đo lường NHẠC cao thấp mà hiểu được."

 

 

ÂM THANH SẮC TƯỚNG

音 清 色 相
E: The sound and the appearance.
F: Le son et l’apparence.

Thầy dạy: "Tôn-giáo ở địa-cầu tuy nhiều như thế và dường phản-khắc nhau nhưng sự thật vẫn hoà-hợp lẫn nhau. Nếu không có sáo, không trống, không kèn, không đàn, không nhịp phách, không dễ chi tạo bản Đại-hòa. Nhiều chơn linh tấn hóa không đồng đều thì có nhiều Tôn-giáo mở ra để thích hợp cho trình-độ của họ, Thầy cho mở Đạo cùng khắp các nơi không khác nào Thầy cho nhiều trẻ đi học từng phần, từng cách sử-dụng nhạc cụ, để một ngày nào đó họp lẫn nhau lập thành một phiên Đại-Nhạc hội.

- Phiên Đại-hội ấy ngày nay chính là Hội Long-Hoa.

- Bản Hoà-tấu ấy là bản Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ.

-Nơi Đại-hòa-tấu ấy là Tòa-Thánh Tây-ninh tại nước Việt-Nam của các con".

Ngày nay, Đức Chí-Tôn mở Đạo dùng cả Âm - Thinh - Sắc - Tướng, để cảm hóa nhân-tâm không gì bằng Âm-nhạc. Lại nữa linh-hồn của Đạo phải kể đến: Nhạc, Lễ và Đồng-nhi, tức là hồn của thi thơ đó vậy.

Đức Hộ-Pháp nói: "Từ thử ai cũng cho âm thanh sắc tướng là tà mị, mà căn bản của Ðạo Nho là Lễ Nhạc mà chính Ðạo Tam Kỳ là Nho Tông chuyển thế thì phải truy tầm nguyên lý của nó mà xác nhận cho đúng nghĩa là thế nào?"

 

 

ÂM THẠNH DƯƠNG SUY

陰 盛 陽 衰

Đức Hộ-Pháp nói: "Từ khi các Tôn giáo bị bế: Âm thạnh Dương suy, nên Thần chẳng hiệp cùng Tinh Khí được, vì vậy nên người tu hữu công mà không đắc quả. Nay Đức Chí Tôn khai ĐẠI-ĐẠO đem Chơn Thần huờn nguyên cùng Tinh Khí là cơ mầu-nhiệm cho chúng sanh đắc Đạo. Ai biết noi theo chơn truyền luật pháp giữ trai kỳ 10 ngày trở lên đến ngày công viên quả mãn đặng thọ truyền bửu pháp, chơn Thần siêu thăng. Trong buổi Hạ-nguơn chuyển thế Đức Chí-Tôn khai Đạo dạy thờ Thiên-Nhãn là thờ Chơn-thần của Chí Linh cho hiệp cùng Vạn-linh tức là thờ ngôi Thái Cực, là thờ THẦY vậy".

 

 

ÂM TUYỆT DƯƠNG SANH

Đức Chí Tôn giáng dạy tại Hộ Pháp Đường ngày 03-05-Ất Mùi (dl: 28-6-1955):

CAO thăng tuyệt đối khí Hư vô,
ĐÀI bảng nêu danh của tín đồ.
TIÊN dược phá mê trần mộng ảo,
ÔNG nào mất Đạo chết phơi khô.!

Thầy mừng các con, nầy các con: Hãy tu sao cho tinh thần được giác minh quang; quang minh thì phẩm vị Thần Tiên không khó… Một ngày kia con nào biết Đạo đức, ăn chay lạt, hiệp với khí Tiên Thiên, tới lúc Dương sanh thì mới có thể với khí ấy mà còn vững vàng sống đặng. Đứa nào vô Đạo đức thì bị khí Thiên ô-trược tới ngày âm tuyệt dương sanh, chúng nó không bao giờ hứng chịu nỗi chơn dương nên phải dứt hơi lìa mạng. Vậy thì ngày, tháng, giờ phải đúng luật tuần hoàn, Thầy sẽ đem các con vào một thế giới khác cho an nghỉ, hầu tầm nơi siêu thoát cảnh Thần Tiên. Các con chẳng nên khinh lời lẽ dị đoan, một ngày kia sẽ rõ.

 

 

ÂM TY

陰 司
F: Enfer.

Kinh Sám Hối có câu:

"Ngày sau đọa chốn Âm Ty,
"Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la."

 

 

ẨM


F: Boire.

Ẩm: uống.

 

 

ẨM MÃ ĐẦU TIỀN

(Ẩm là uống nước, Ẩm mã là cho ngựa uống nước; Đầu tiền là ném tiền (xuống sông) mà đền trả). Là một điển tích cho thấy rằng một tinh thần quảng đại, không tham lam dù của Trời đất cũng không lạm dụng.

Ngày 30-9-1926 (âl 24-8-Bính Dần)

Thầy dạy: "M... N..., không chuyện chi cần, Thầy không muốn làm nhọc chư Tiên và chư Thần, mỗi vị đều có trách nhiệm riêng, con hiểu à! Xem đó thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm, vì Thầy là bực Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh, hễ các con có lỗi thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con, nghe à!

Con hiểu ý bài thi nầy chăng?

Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng Sơn,
Chung qui hữu phúc hạnh tao phùng.
Hậu lai mạc tín đa phi thị,
Hữu ngoại thành tâm tái vận cung.

Sao? Nói Thầy nghe. Chư nhu đặng tọa vị hầu Thầy

(M... N... cắt nghĩa sái Thánh ý)

Không đâu con! Con có hiểu hai câu nầy chăng?

Hớn Lưu Khoan trách dân bồ tiên thị nhục
Hạng Trọng Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.

Nghĩa là: Ðời Hớn, ngươi Lưu Khoan làm quan, hễ dân có tội thì đánh bằng roi lát cho biết nhục vậy thôi; còn nước Hạng, ngươi Trọng Sơn sạch mình đến đỗi cho ngựa uống nước rồi vãi tiền xuống sông mà trả, trong sạch đến đỗi của Trời Ðất cũng không nhơ bợn, con hiểu à? Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia quyến con cho chánh đáng, phải lấy lòng trong sạch đối đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy. Con khá đọc Thánh Ngôn và cắt nghĩa Thánh ý Thầy cho mọi người biết. Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe!"

Bài thi bốn câu viết ra chữ Hán sau đây:

飲 馬 投 錢 項 仲 山
終 歸 有 福 幸 遭 逢
後 來 莫 信 多 非 是
友 外 誠 心 再 運 恭

Giải nghĩa:

- Ông Hạng Trọng Sơn cho ngựa uống nước thì ném tiền trả.

- Chung qui thì gặp được hạnh phúc.

- Ngày sau không có chữ Tín thì sanh nhiều việc thị phi.

- Ðối với ngoài, giữ lòng chơn thật thì được kính trọng trở lại.

Ông Hạng Trọng Sơn là người ở huyện An Lăng, nước Hạng.

Ông Lưu Khoan đời nhà Hán (Hớn), làm quan Thái Thú huyện Nam Dương, nước Tàu.

Hai câu Hán văn bên dưới, viết ra chữ Hán sau đây:

漢 劉 寬 責 民 蒲 鞭 示 辱
項 仲 山 潔 己 飲 馬 投 錢

 

 

ÂN


F: Bienfait, grâce, faveur, gratitude.

Ơn. Yêu mà giúp đỡ mà ban cho cái gì gọi là ân.

Cùng yêu nhau. Như ân tình 恩情, ân ái 恩愛 đều nói về sự vợ chồng yêu nhau cả.

 

 

ÂN ÁI

恩 愛
F: Affection, amour.

Ân ái là chỉ vợ chồng thương yêu nhau, gắn bó nhau bằng những thứ tình cảm thiêng liêng nhất, để cùng làm sứ mạng của "Con người nắm vững chủ-quyền, Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn-luân". Có làm được nghĩa vụ ấy thì chữ "Ân-ái" mới đúng nghĩa cao đẹp của nó.

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị

"Niềm ân ái thân hòa làm một,
"Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương."

 

 

ÂN CẦN

慇 勤
E: Accommodating.
F: Complaisant.

Ân cần là lo lắng săn sóc một cách chu đáo.

Thầy dạy tại Ðàn Chợ Lớn (Nhà của Ngài Lê Văn Trung) ngày 13-12-1926 (âl 9-11-Bính Dần).

"Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Ðạo là quí thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai. Vậy Thầy khuyên các con rán thành tâm hành đạo, mà Ðạo không phải giữ bằng lỗ miệng không đâu. Thầy thấy nhiều đứa trong các con có ý theo Ðạo đặng toan kế làm nhiều việc chẳng lành. Thầy vì thương nhơn loại, muốn cứu hết nên thường thâu thập nhiều đứa vô tâm, cũng muốn cho chúng nó ăn năn chừa lỗi, ngõ hầu hưởng phước, mà chúng nó không biết tự hối thì làm sao mong rỗi đặng. Ðến buổi chung qui mới thấy Thiên đàng, Ðịa ngục thì đã muộn rồi. Các con phải xét mình cho lắm nghe!"

Kinh Tụng Huynh Ðệ mãn phần có câu:

"Viếng thăm hôm sớm song thân,
"Trọn câu Thần tỉnh ân cần cung Tiên."

 

 

ÂN DƯỠNG SANH

恩 養 生

Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:

"Ân dưỡng sanh đảm bảo hồn hài.
"Càn khôn Tạo hóa sánh tài,"

Ðã sanh lại dưỡng đặng bảo đảm hình hài thì ơn ấy quá trọng, sánh bằng Càn Khôn Thế Giái.

 

 

ÂN ĐIỂN

恩 典
E: Favour of King.
F: Faveur du Roi.

Ân: Ơn. Ðiển: Phép tắc. Phép tắc của vua là khi có dịp vui mừng thì ban ơn cho cả quan và dân trong nước, nên gọi là ân điển.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Thầy nói: "Thầy đã cho kẻ thù Thầy đặng hưởng ân điển của Thầy lẽ nào truất bỏ phần của các con, song tại các con từ chối, đáng thương mà cũng đáng ghét."

 

 

ÂN ĐỨC

恩 德
F: Grâce.

Đức Hộ-Pháp thuyết: "Nay (Phật Mẫu) Người đã xuất nguyên linh của Người đến đây độ chúng ta, thì tưởng điều ấy trọng-yếu hơn hết. Khi mở Đạo Cao-Đài, Chí-Tôn định cho Phật-Mẫu đến làm Bạn với chúng ta, bảo trọng nuôi nấng dạy-dỗ chúng ta thì không có ân đức nào bằng, vì không ai biết thương con, muốn cho con nên người, bảo trọng, binh vực con hơn là Bà Mẹ."

 

 

ÂN HẬN

慇 恨
F: Se repentir.

Đức Hộ-Pháp nói về sự liễu Đạo của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh: "Em đã làm Hộ Pháp chỉ ân hận một điều: Chị giàu sang tưởng nơi mặt thế này, người nào có thể nói với thiên hạ rằng: Trong kiếp sanh tôi giàu sang, nào ruộng đất, lầu đài ngọc ngà châu báu… không có món gì mà Chị không có, chỉ tiếc một điều là của cải ấy không để nơi nào nó phải để. Nếu giờ phút này Bần-Đạo nói: Người Chị của ta có ân hận chăng là chỉ có bao nhiêu đó mà thôi."

 

 

ÂN HẬU

恩 厚
E: The generous favour.
F: La faveur généreuse.

Ân 恩 là ơn, Hậu 厚 là dày-dặn. Ân-hậu là thi ân nhiều, làm ơn không biết chán. Người ân-hậu là người có ân đức rộng lớn, ăn ở có thỉ có chung, trước cũng như sau không thay dạ đổi lòng. Dầu gặp cảnh giàu hay nghèo, đối xử với người vẫn giữ một mực, biết trọng nghĩa khinh tài, thi ân bất cầu báo, lưu nhơn tình cùng tất cả mọi người không bao giờ phai lợt.

Kinh Sám Hối có câu:

"Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,
"Rán tập thành sửa tánh từ hòa."

 

 

ÂN HỒNG

恩 洪
E: Favour of God.
F: Faveur de Dieu.

(Ân: ơn nghĩa, ơn đức; Hồng: to lớn). Ân hồng: Hay Hồng ân 洪恩 là Ơn huệ to lớn, chỉ ơn huệ của Đức Chí Tôn ban cho nhân loại, vì: Đức Hộ-Pháp cho biết:

"Nền Đạo Cao Đài do Đức CHÍ TÔN đến lập, do nơi chơn lý tối cao, chính mình Đức Chí Tôn đến để diệt mê tín dị đoan, Ngài chỉ đem đến nền Đạo chơn chánh này mà thôi. Nó có hai quyền năng sở hữu của nó nơi mặt thế này, cả hành tàng sống chết của nó đều chịu dưới hệ thống của hai quyền năng. Sống về xác thịt của ta đây, có thời gian sống của nó, từ buổi sanh ra đến lớn lên, đến già rồi chết, luật thiên nhiên ấy không ai qua khỏi, luật thiên nhiên có giới hạn, có định luật chuẩn thằng cho kiếp sống của chúng ta, nơi mặt thế gian này là hình thể, còn về mặt chơn linh của chúng ta, tức nhiên hồn của chúng ta phải chịu hệ thống dưới quyền vi chủ của nó, mà người làm chủ của nó không ai khác hơn là Đại Từ Phụ tức nhiên Thượng Đế."

Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu có câu:

"Xin có tưởng ruột rà màu mủ,
"Cõi Hư linh bao phủ ân hồng."

 

 

ÂN HUỆ

慇 惠
E: The kindness.
F: Le bienfait.

Đức Lý dạy: "Đạo hữu vẫn chung lo cho cả nhơn sanh. Cả thảy các Thiên phong và tín đồ đều cũng là con của Đấng Chí Tôn. Hễ hết lòng vì Đạo, vì sanh chúng thì việc chi cũng có ân huệ của Đức Chí Tôn ban cho, chẳng cần phải nhọc lòng lo tính. Được trong sạch mà đắp vun mối Đạo Trời thì công quả sau nầy lo chi chẳng đặng cao trọng. Trong Đạo, chẳng khinh ai, mà cũng chẳng đặng trọng ai, một mực ngay thẳng vì Đạo, vì dân sanh, là nét chánh đáng đó. Nhiều kẻ ham danh vì quyền mà lắm gây rối. Tội phước rồi cũng phân minh."

 

 

ÂN NHÂN

恩 人
F: Bienfaiteur.

"Đức Chí-Tôn đã dành phần cho ta một nhiệm vụ đặc biệt là ta phải Phụng-sự cho Vạn-linh để giải khổ cho loài người trong lúc họ đang lâm nàn kêu cứu; khi ta làm xong phận sự thì không còn ai chối cải rằng ta không phải là ân nhân của xã-hội."

 

 

ÂN PHONG

恩 封
E: To reward.
F: Récompenser.

Ân: Ơn. Phong: Vua ban phẩm tước cho bề tôi. Ân phong là Ðức Chí Tôn ban ơn phong thưởng phẩm tước Chức sắc cho những vị có công nghiệp hành Ðạo.

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938): Những vị nào có đủ công nghiệp mà đã quá lục tuần, đặng đem vào thông qui cầu hàm phong, nhưng phải chịu các điều kiện buộc như những vị đặng hưởng ân phong vậy.

 

 

ÂN SINH

恩 生
E: To survive by the favour of God.
F: Survivre par la faveur de Dieu.

Ân: Ơn. Sinh: Sống. Ân sinh là ban ơn cho được sống còn.

Bài Dâng Rượu:

"Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh."

 

 

ÂN TỨ

恩 赐
E: To grant a favour.
F: Accorder une faveur.

Thầy dạy: "Xưa sanh linh lắm lần hy sinh vì Ðạo, song chẳng đặng ân tứ cho bằng các Môn đệ Thầy ngày nay, các con còn chi hơn nữa mà ngán lòng dừng bước." (27-10-1927)

 

 

ÂN XÁ

恩 赦
E: To give an amnesty.
F: L’amnestie.

Ân xá 恩赦 hay Đại ân xá, nghĩa là ban bố đại ân tha tội cho tất cả những người phạm tội lỗi nơi thế gian, không hạn định.

Đức Chí Tôn mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức là Đạo Cao Đài ở phương Đông, ban ân huệ lớn lao là Đại ân xá cho tất cả chúng sanh và các đẳng linh hồn. Vì thế, khi mới khai Đạo, Hội Thánh thường gọi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là "Đại ân xá kỳ ba của Thượng Đế ở Phương Đông" và dịch ra Pháp văn là Troisième Amnistie de Dieu en Orient.

Theo các kinh sách của Đạo Cao Đài, kỳ Đại ân xá này Chí Tôn cho chúng sanh được hưởng những đặc ân như:

- Tha thứ các tội lỗi và oan khiên của kiếp trước khi biết: "Ăn năn sám hối tội tình. Xét câu minh thệ gởi mình cõi thăng."

- Khi hấp hối cũng được: "Chí Tôn xá tội giải oan. Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ vong."

- Đóng Địa ngục và mở cửa Thiên đường để các con cái Chí Tôn được về hội hiệp cùng Ngài qua Kinh Giải Oan: "Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên, Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây Phương."

- Tu một kiếp có thể đắc Đạo mà trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: "Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại trong Càn Khôn Vũ Trụ, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng."

Đức Hộ-Pháp nói: "Nay là cơ Ân-xá của Chí-Tôn, Ngài có cho biết rõ: buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, Đức Chí Tôn Ngài đến đề hai chữ "ÂN-XÁ" thì chúng ta đoán hiểu rằng "Ngài đã đến rồi" và Ngài biết con cái của Ngài đã chịu khổ nhiều rồi, đã có nhiều phương-pháp giải khổ của Ngài đến giao nơi mặt điạ-cầu này. Từ thử đến giờ cái thống khổ tâm-hồn của nhân-loại bao nhiêu thì Ngài thống khổ bấy nhiêu. Ngài đến đem Long-Hoa-Hội cốt để bảo thủ hai chữ "Ân-Xá". Trong bao nhiêu đó, chúng ta cũng đủ thấy lòng thương yêu vô tận của Ngài thế nào. Bần-Đạo nói thật, thời buổi này chúng-ta không tìm phương giải thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ thì không thời buổi nào có năng lực độ rỗi Cửu-Huyền Thất-Tổ của mình cho đặng, không có buổi nào đặng hạnh-phúc làm đặng như vậy. Bởi thế cho nên toàn thể con cái của Đức Chí-Tôn nam nữ cũng vậy, có tấm lòng hoài vọng giọt máu mảnh thân mình, giờ phút này là giờ phút nên để trọn tâm cho thanh tịnh đặng cầu nguyện siêu-thoát cho Cửu-Huyền Thất-Tổ. Bần-Đạo dám nói giờ phút này mấy người không có thể không nhỏng-nhẻo với Đức Chí Tôn được, Ngài sẵn-sàng để hai chữ "Ân-Xá" thì mấy người xin cái gì Ổng cũng cho."

Đức Lý nói: "Thượng Trung Nhựt! Lão đã nói, mà Thầy cũng đã nói trước rằng: Khi thành đạo, nghĩa là khi TÂN LUẬT phát hành thì trong hàng Môn đệ, may lắm còn lại nửa phần trong đám Thiên phong, nhiều kẻ e còn bị trục xuất thay! Thầy vì lòng từ bi can gián Lão, bằng chẳng Lão đã dụng hình phạt mà răn những kẻ giả dối ấy. Nay là ngày Vía Đức Chí Tôn, nhiều kẻ cầu Đạo không đáng thâu nạp, nhưng mà Đức Từ Bi biểu Lão ÂN XÁ, nên toàn thâu, không đuổi ai hết."

"Ngày giờ này, Đại-Tiên Kim-Quan-Sứ đã đặng Ân xá, cũng như các Đẳng Chơn-Linh được Ân xá, bởi vì trong Quỉ-Vị cũng được hưởng Hồng-Ân Đức Chí Tôn ân xá, cũng như toàn thể các Chơn-Hồn trong Càn-Khôn Vũ Trụ. Vì cớ cho nên, người Quỉ Chúa đàng ấy còn lãnh một phận-sự tối trọng, tối yếu là làm Giám-Khảo duợt Chư Tiên đoạt phẩm-vị Phật."

"Hộ-Pháp thì lo giữ luật-lệ của Đạo cho khỏi sái Thiên điều, vì luật-lệ của Đại-Đạo Tam kỳ Phổ-Độ ngày nay thì thế cho Thiên-điều. Hộ-Pháp có quyền đặc biệt về Ân-xá cũng như Giáo-Tông có quyền về Chánh-trị vậy."

Hộ-Pháp Chưởng Quản Hiệp-Thiên-Đài có Thượng Phẩm, Thượng-Sanh và Thập Nhị Thời Quân giúp sức. Hễ Giáo-Tông và Hộ-Pháp hiệp một là quyền Chí Tôn tại thế. Lại nữa Hộ-Pháp còn là Chưởng-Quản Nhị Hữu Hình Đài tức là Hiệp Thiên và Cửu-Trùng nên mới được gọi là Giáo Chủ, cho nên nhơn-sanh mới gọi là Thầy, nhưng chỉ đứng về phương-diện hữu hình mà thôi.

 

 

ẤN


F: Cachet, sceau.

Cái ấn (con dấu). Phép nhà Thanh định, ấn của các quan thân vương trở lên gọi là bảo 寶, từ quận vương trở xuống gọi là ấn 印, của các quan nhỏ gọi là kiêm kí 鈐記, của các quan khâm sai gọi là quan phòng 關防, của người thường dùng gọi là đồ chương 圖章 hay là tư ấn 私印. In. Khắc chữ in chữ gọi là ấn, cái đồ dùng in báo in sách gọi là ấn loát khí 印刷器. Như in vào, cái gì còn có dấu dính vào vật khác đều gọi là ấn. Hai bên hợp ý cùng lòng gọi là tâm tâm tương ấn 心心相印, nhân cái nọ biết cái kia gọi là hỗ tương ấn chứng 互相印證.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ẤN (1)

Đức Hộ-Pháp nói: "Còn Ðại Ðàn lại còn rối cho Hộ Pháp hơn nữa, là có ba Ấn: Thượng Nguơn, Trung Nguơn, Hạ Nguơn, ấn ấy không phải do tay Hộ Pháp không?

Khi đứng lên Ngai rồi bắt ấn Hộ Pháp, lấy cả Tam bộ Thiêng Liêng tức là sanh khí mà ta thấy trước mắt tỏa ra cùng khắp. Rồi đến trụ thần lại bao trùm cả trái đất nầy như vòng bao một trái cây gì vậy, để cái cuống lên trên, đem dâng cho Chí Tôn ngự. Kế dâng bông, bắt ấn Thượng Nguơn dưới đạp Ngưu Ðẩu, tay đưa Gián Ma Xử lên hiệp với chữ Khí, đem khí ấy đưa ra cả càn khôn thế giới. Ấn Thượng Nguơn làm chủ chữ Khí, đem khí ấy hiệp hết cả Nguơn Khí đặng bao trùm vũ trụ.

Ðến Trung Ngươn bắt ấn Hiệp Chưởng biến hóa, Gián Ma Xử để nằm ngang, đuôi bên Thế, cán bên Ðạo, ý nghĩa Ðạo cầm cán đặng trị Ðời. Bắt ấn Hiệp Chưởng, cầm cả cơ pháp của vạn vật biến sanh đặng bảo tồn không cho tương tranh, tự diệt nhau.

Tới Hạ Nguơn, tay tả thuộc Dương để trên, tay hữu thuộc Âm để dưới, rồi để Gián Ma Xử chúi xuống, trụ thần đem cả càn khôn hiệp cả vạn vật. Bắt ba ấn phải trụ thần, làm sao cho ấn ấy đừng thất pháp"

 

 

ẤN CHỨNG

印 證
E: To mark of the spiritual exercise.
F: L’empreinte de l’exercice sprituel.

Thầy dạy ông Phối sư Thơ về việc Cơ bút: "Con khá nghe lời Thầy, việc Bút Cơ là việc lớn trong Đạo, nên khi nào phò cơ chấp bút, phải diệt tận phàm tâm, đừng lo lượng điều chi trong trí của con. Phải biết dùng cái chí Thánh chí Phật của con mà làm cho xứng đáng cái vai tuồng mà Thầy đã định. Con ôi! Cái bả vinh hoa, con đã thấy tường tận rồi, nào có ra chi, chi bằng biết Đạo hết lòng độ vớt chúng sanh, trẻ thơ trông cậy nơi con nhiều đó con à! Cái công quả ấy, nếu con làm được thì con hưởng nhãn tiền, vì con làm nghĩa cho nhơn sanh thì con được toại chí, rồi cái đạo tâm của con nó nở như tòa sen. Con sẽ thấy ấn chứng nhãn tiền, chớ không phải đợi sau mới thấy đâu. Con đã hiểu ý Thầy chưa? Tự ý con muốn định sao, Thầy cho vậy."

 

 

ẤN HÀNH

印 行
E: To print and to publish.
F: Imprimer et publier.

Ấn: In ra nhiều bổn. Hành: Ði từ nơi nầy đến nơi khác. Ấn hành là in ra và phân phát rộng rãi.

Tân Luật: Chẳng được soạn hay ấn hành những truyện phong tình huê nguyệt.

 

 

ẤN KÝ

印 記
E: Signature and seal.
F: Signature et cachet.

Ấn ký là đóng con dấu và ký tên (hay ký tên và đóng dấu).

 

 

ẤN - PHÁP - BÙA - CHÚ

Thầy dạy: "ẤN, PHÁP, PHÙ, CHÚ chẳng khác nào như những công-tắc điện để mở những nút dây điện khắp nơi. Phải có bình chứa điện cho đầy thì khi mở ra điện kia mới chạy, nếu không, dầu mở cũng chẳng ích chi. Nên Đạo-gia nói Tu đắc Đạo là đoạt hết cơ mầu-nhiệm Thiêng-liêng đó. Chỉ nói như vậy thôi, chớ chưa phải đoạt hết đâu.! Chưa ai đoạt hết nỗi đâu, chỉ thấu đáo một phần là quí lắm, nhưng cũng đủ quyền-lực sửa trị một khu vực, một tiểu Càn khôn, một nhóm hành-tinh, hay một trái địa-cầu có người ở; nhỏ hơn nữa là cai-trị một nước, một tổng, một làng. Bởi vậy TU THÂN là gốc, tức là tập nắm cơ mầu nhiệm gần nhất, chính là ở thân mình."

Hỏi vậy Đạo Cao-Đài có sử dụng: ẤN, PHÁP, PHÙ, CHÚ không ? Đương nhiên là có đủ cả, bởi có Bí pháp mới hiện ra Thể pháp, mà Đạo Cao-Đài thì nặng về Bí pháp:

Ấn là Ấn Tý (nhơn sanh thường sử dụng Ấn này)

Pháp là các pháp Giải Oan, phép Tắm Thánh, phép Hôn Phối, phép Xác, phép Đoạn Căn.

Bùa là bùa chữ Khí, bùa Kim Quang Tiên…

Chú là câu chú của Thầy "Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát".

Nay Đấng Chí Tôn giáng cơ tiếp điển mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Hiệp đủ Phật, Tiên,Thánh, là thời-kỳ kiết quả độ đủ chín mươi hai ức nguyên-nhân về nơi nguyên thủy (thỉ). Có câu: "Thiên Địa tuần hoàn châu nhi phục thỉ Tam Giáo qui nguyên" nên pháp Đạo chắp tay hoa sen đã thành trái. Là biểu hiệu của Tam-Kỳ Phổ-Độ này vậy. Ngày xưa Đức Chí-Tôn ban ân huệ cho Thần Tiên Thánh Phật thế nào, thì nay Ngài cũng ban ân huệ cho cả nhân loại như thế ấy. Nên khi một người mới Nhập-môn vào cửa Đạo thì Ngài ban đủ: ẤN, PHÁP, BÙA, CHÚ nắm trong tay:

Ấn: là Ấn Tý gọi là Ấn Kiết quả (là kết trái, tức nhiên tu là thành) mà Ấn này của Đức Chí-Tôn. Người Môn Đệ Cao Đài ngày nay được phép thông công với Đức Chí-Tôn bằng Ấn này cũng như liên lạc với Đức Chí-Tôn qua số điện thoại hằng ngày hằng bữa vậy.

Pháp: tức là pháp Âm Dương, thủy Hỏa ký tế; nghĩa là nước Thánh dùng để giải bịnh, trừ căn:"Ma-Ha Thủy năng hủy oan khiên giải trừ nghiệt chướng chi tội". Giá trị của nước Thánh mỗi người có thể tự cầu nguyện lấy mà dùng, tức là một phương pháp câu thông được với cả thảy các Đấng huyền linh, như điện có sẵn trong nhà, khi cần chỉ bấm công tắc là sử dụng được như ý muốn. Buổi Cao Đài ngày nay Đức Chí-Tôn cũng ban cho mỗi người được giữ một "Công-Tắc" trong tay rồi đó (Đức Hộ-Pháp là người nắm pháp Thiên điều, tên là Phạm CôngTắc,là mỗi người được nắm "công tắc"này để về cửa Phật)

Bùa: tức là bùa chữ "Khí" dùng trừ tà diệt mị. Bùa cũng là một thứ "Linh tự". Khi xử dụng "bùa" như một hiện tượng đánh Fax ngày nay trên máy vi-tính đó vậy, nó có giá trị chính xác và nhanh lẹ gấp nhiều lần hơn là gửi thư, cũng là phương pháp thông công với cõi vô hình hết sức là khoa học, mà là siêu khoa-học.

Chú: tức là câu chú của Thầy. Niệm "Nam Mô Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát" để được giải thoát. Vì lẽ câu này đã có ý nghĩa Qui Tam giáo trong ấy. Câu chú của Thầy như một cuộc điện thoại khẩn cấp báo.

Vì cái sứ mạng và huyền diệu nhiệm mầu như thế ấy nên Thầy mới bắt buộc khi vào Đạo phải Nhập môn. Khi đã nhập môn rồi tức là lần bước vào Thánh Thể của Đức Chí-Tôn đó vậy.

 

 

ẤN TÍN

印 信
F: Sceau.

Đức Lý dạy: Ngày 19-2-1927 (âl 18-1-Đinh Mão)- Gò Kén.

"Chư Chưởng Pháp, Đầu Sư phải sắm ẤN TÍN theo Tam Kỳ Phổ Độ:

Tỷ như mấy vị Chưởng Pháp thì ấn lớn hơn ấn của Đầu Sư một thí, phải làm tròn như con dấu thường, để chung quanh vòng ngoài chữ Lang sa: 3e AMNISTIE DE DIEU EN ORIENT, vòng trong để chung quanh chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, chữ Nho: 大道三期普渡.

- Phái Thiền thì khắc ngay giữa một cái hình Bình BÁT VU, Đạo thì cây PHẤT CHỦ, Nho thì Bộ XUÂN THU.

- Ấn của Đầu Sư cũng in vậy, song chính giữa để chữ Thái 太 Thượng 上 Ngọc 玉 (chữ Nho) đem vào Tòa Luật đời cầu chứng cho khỏi mạo nhận.

Khá làm các điều ấy, sau Lão dạy thêm nữa. Thăng (ĐS. II. 222), TNCT. HH.141) & (TNCT. TTT. 803)

ĐS. II.: ÐẠO SỬ Quyển II Biên Soạn: NỮ ÐẦU SƯ HƯƠNG HIẾU
TNCT. HH: ?????
TNCT. TTT: ????

 

 

ẤN TỐNG

印 送
E: Prited for free distribution.
F: Imprimé pour distribution gratuite.

Ấn: In ra. Tống: Tặng, biếu. Ấn tống là in sách để tặng cho mọi người, không bán.

Các kinh sách của Ðạo hay sách khuyến tu được những người phát tâm lập âm chất mướn in rồi phát không cho mọi người. Những quyển sách nầy thường được in ở bìa sau hai chữ "ẤN TỐNG".

 

 

ẤN TÝ

印 子
E: To joint hands at TÝ.
F: Joindre deux mains en TÝ.

Buổi Tam-kỳ Phổ-Độ, trước khi lạy phải bắt Ấn Tý, gọi là Ấn Kiết quả, nghĩa là thời-kỳ này đã thành trái. Tu thì thành, dữ thì đọa. Thưởng phạt phân minh.

Bàn tay trái thuộc Dương, bàn tay hữu thuộc Âm.

AnTy.jpg  

Đây là Ấn của Chí-Tôn. Khởi đầu dùng ngón cái của bàn tay trái ấn lên góc ngón Vô danh của bàn tay này, xong nắm lại, đó gọi là Ấn Tý (bấm vào cung Tý) như một trái cây đã thành hạt. Đoạn bàn tay phải đỡ bàn tay trái ôm tròn lại và đầu ngón cái của bàn tay phải bấm vào cung Dần của bàn tay trái, như hình một trái cây đầy đặn.

Nay qua hội Nhơn Sanh Ư Dần, tức là qua Tam-Kỳ Phổ-Độ - Kiết quả - là nguơn hội mà Chí-Tôn đến mở một nền Đại-Đạo, độ hết cả quần linh về cõi Niết-bàn, chẳng để cho một điểm chơn-linh nào ở nơi Đông-Độ.

Khi ngón tay cái của bàn tay trái ấn vào cung Tý, còn lại bốn ngón của bàn tay trái này là Tứ Dương, ngón tay cái của bàn tay mặt bấm vào tay tả ở cung Dần, bốn ngón bao ngoài là Tứ Âm, hiệp chung nhau lại là Bát Quái tức là tám ngón tay biểu thị cho Bát-phẩm Chơn hồn.

- Tức nhiên bốn ngón thuộc Âm là: Vật chất hồn, Thảo mộc-hồn, Thú cầm-hồn, Nhơn hồn.

- Bốn ngón thuộc Dương là chỉ về Thần-hồn, Thánh hồn, Tiên-hồn, Phật hồn.

Ấy là buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ này Đức Chí Tôn độ hết nhơn vật quần linh tận qui nguyên vị. Cộng chung hai lần bốn ngón tay trên lại tức là Tứ Tượng biến Bát-Quái. Bát Quái biến hóa vô cùng mới thành ra Càn khôn thế giái.

Tay trái (Dương) mà có ngón tay cái ở trong; đồng thời tay trái lại có ngón tay cái của bàn mặt là Âm chỉ vào, đó là trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Âm Dương luôn hòa quyện nhau không bao giờ xa lìa. Một Âm một Dương gọi là Đạo "nhứt Âm nhứt Dương chi vị Đạo". Âm Dương hiệp nhứt mới phát khởi Càn Khôn.

 

 

ẨN


F: se cacher.

Ẩn nấp, không hiện rõ ra. Như cơ vạ loạn còn ẩn nấp chưa phát ra gọi là ẩn hoạn 隱患, mối tình không thể bộc bạch cho ai nấy đều biết được gọi là ẩn tình 隱情.

Ẩn trốn. Học trò không cần ra làm quan mà lánh đời ở ẩn một chỗ gọi là ẩn luân 隱淪 hay ẩn dật 隱逸.

Ẩn nấp, dùng cái đồ gì che kín mình khiến cho người không trông thấy được gọi là ẩn. Như ẩn ư bình hậu 隱於屏後 nấp ở sau bình phong. ♦ Giấu. Sự gì biết rõ mà giấu kín không nói cho ai biết gọi là ẩn. Như tử vị phụ ẩn 子爲父隱 con giấu cho cha.

Giấu giếm, biết mà không nói, nói không hết ý gọi là ẩn. Như sách Luận ngữ 論語 nói nhị tam tử dĩ ngã vi ẩn hồ, ngô vô ẩn hồ nhĩ 二三子以我爲隱乎, 吾無隱乎爾 (Thuật nhi 述而) hai ba anh cho ta là giấu giếm gì chăng, ta không có giấu giếm gì cả.

Khốn khổ. Những điều dân lấy làm lo làm khổ gọi là dân ẩn 民隱.

Xót, nghĩ. Như Mạnh tử 孟子 nói vương nhược ẩn kì vô tội nhi tựu tử địa 王若隱其無罪而就死地 nhà vua nếu xót nghĩ đến kẻ không có tội mà tới chỗ chết.

Sự gì chưa rõ ràng mà đã hơi có ý lộ ra gọi là ẩn. Như ẩn ẩn 隱隱 lờ mờ, ẩn nhiên 隱然 hơi ro rõ vậy, ẩn ước 隱約 lấp ló…

Lời nói đố. Tường thấp.

Một âm là ấn. Tựa. Như ấn kỷ nhi ngoạ 隱几而臥 tựa ghế mà nằm, ẩn nang 隱囊 tựa gối. Nguyễn Trãi 阮廌: Ấn kỷ phần hương lý ngọc cầm 隱几焚香理玉琴 (Tức hứng 即興) .Dựa ghế, đốt hương, gảy đàn ngọc. Tục viết là 隠.

Dị dạng của chữ 隐.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ẨN DANH

隱 名
E: To retairne one’s anonymity.
F: Garder l’anonymat.

Ẩn: Giấu kín, che giấu. Danh: Tên. Ẩn danh là giấu tên, không muốn người ta biết tên mình.

Thi văn dạy Đạo có câu:

"Sánh vai Sào Phủ ẩn danh xưa,
"Vì nẻo lợi danh cũng đã thừa."

 

 

ẨN NHẪN

隱 忍
E: To repress oneself.
F: Se reprimer.

Ẩn là yên lặng, không cho mọi người biết; nhẫn là kiên trì.

Thầy dạy: "Hãy ẩn-nhẫn mà đợi thời, đừng nên bôn chôn vô-ích. Có thời không cầu mà gặp, không thời dầu chạy kiếm đáo-để cũng chẳng ra gì."

Ông Cao-Hoài-Sang bạch với Ðức Lê văn Duyệt: Trong tình thế hiện tại, các nhóm Cần-Vương đất Việt có nên họp nhau đứng dậy làm cách mạng để thoát ách nô lệ chăng?

Ông giáng dạy bằng một bài thi:

Mạnh yếu đôi đàng đã hiển nhiên,
Ðôi mươi năm nữa nước nhà yên.
Dằn lòng ẩn-nhẫn xem thời thế,
Ðừng vội gây nên cuộc đảo huyền.

 

 

ẨN THÂN LUYỆN ĐẠO

隱 身 煉 道

Tuy nhiên sự tu hành phải hiểu rõ lời Ðức Chí Tôn: "Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Ðạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả, thì chỉ có một điều PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao." (TNHT. II. 101)

TNHT II: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2.

 

 

ẤT

Can Ất, can thứ hai trong mười can (Giáp, Át, Bính…) Xem sách đến lúc thôi đánh dấu lại cũng gọi là ất 乙. Viết có chỗ mất, ngoặc cái dấu 乙 để chữa cũng gọi là ất. Ruột. Như Kinh Lễ nói Ngư khử ất 魚去乙 cá bỏ ruột.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ẤT SỬU (1925)

乙 丑

Năm Ất Sửu (1925) là năm khởi đầu cho cuộc diện của Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ. Tóm tắt các sự kiện quan trọng trong 7 tháng: từ tháng 6 đến tháng 12 Ất Sửu.

- Ngày 05-06-Ất Sửu: Khởi sự Xây Bàn tại nhà Ngài Sang, kết quả không đạt.

- Xây bàn lần II, kết quả tốt: Cao Quỳnh Lượng giáng và mời Ông Cao-Quỳnh-Tuân (là cha của ông Cao-Quỳnh Cư, Lượng là em của ông Cư) (Nhựt ký Đạo sử trang 115).

 

 

ẤT MÙI (1955)

乙 未

Ất Mùi còn đọc là ất vị.

Đức Hộ-Pháp dâng Sớ chung niên nói về tình hình tổng quát: "Năm Ất-Mùi là năm Đại-Đạo trải qua nhiều trạng thái vui buồn lẫn lộn, lắm cảnh tượng hiệp tan pha màu, khiến cho Hội Thánh phải lắm công nhọc trí xoay trở thuận chiều hầu trấn an toàn thể con cái Đức Chí-Tôn luôn giữ vững quyền Đạo cho khỏi lung lay nghiêng đổ.

Riêng phần Đệ-Tử nghĩ để cho qua cơn giông gió bão bùng, đã nhập tịnh một thời gian vô định kể từ ngày 26 tháng 08 năm nay, nhưng tâm não không lơi mọi hình thức biến chuyển để lách sóng đưa con thuyền từ nhẹ tách. Nay nhơn Đại Hội chư Thần - Thánh - Tiên - Phật triều thiên. Đệ-Tử khép nép cúc cung thượng Sớ chung niên, xin Đức Đại-Từ-Phụ và Đức Phật Mẫu đại từ đại bi tha thứ.

Như Đệ-Tử đã thượng trình về sự vui mừng trong năm thì vào thượng tuần tháng Giêng, lễ Khánh Thành Đền Thờ Đức Chí-Tôn và Đền Thờ Đức Phật-Mẫu đã được cực kỳ mỹ mãn, danh Đạo bay khắp trời Nam cả loáng ra hoàn cầu, bởi có cả Sứ thần ngoại quốc hưởng ứng dự Lễ. Hồn Đạo vững chắc, Thánh Địa hoàn toàn trở thành Thánh Địa vô phòng thủ võ trang thì đại nghiệp Đạo từ đây là đại nghiệp của chung nhơn loại. Thừa dịp Lễ Khánh Thành này: Đệ-Tử có thiết lễ thiêu phàm thân của Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung Nhựt (Lê-Văn-Trung); Đức Cao-Thượng-Phẩm (Cao Quỳnh-Cư), Đức Nữ Đầu Sư (Lâm-Ngọc-Thanh) và Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh (Lê Bá Trang). Xá-lợi đang thờ nơi Bát-Quái-Đài, tro tàn đã rải trên dòng sông Giang Tân tại Tỉnh Tây-Ninh. Nhờ hồng ân Đại-Từ-Phụ và Đức Phật Mẫu, Đệ-Tử khẩn nguyện nước sông Giang-Tân sẽ là Cam-Lồ-Thủy tẩy trược cho kẻ hữu căn, người hữu phước như dòng sông Gange bên Ấn-Độ-quốc thì may mắn cho chúng sanh sẽ có nơi gội rửa bụi trần giải bớt oan khiên nghiệp chướng hầu khử ám hồi minh cải tà qui chánh.

Bước qua tháng 02, vì nước Việt-Nam chưa độc lập thật sự, thêm Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cầm quyền bỉnh chánh dưới sự điều khiển của ngoại quyền, Đệ-Tử cầu một ngày kia thời thế chuyển xây trở lại cảnh nô lệ lầm than buộc ràng dân Việt, mới cố ý giúp người lướt cơn bất cẩn, bèn lập mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, gởi Kiến nghị ngày 20-03-1955 (Âm lịch: 02-12-Ất Mùi), khuyên lơn cải tổ Nội-Các. Mặc dầu Diệm không nhận lời. Đệ-Tử ra lịnh ngày 10-04-1955 (Âm lịch: 16-03-Ất Mùi) thượng cờ Mặt Trận, đề cao bốn chữ "TẬN TRUNG BÁO QUỐC" và nhận lãnh trách vụ Chủ-tịch, Chủ tịch đoàn của Mặt trận.

Mưu sâu của Diệm biểu lộ ngày 29-04-1955 (Âm-lịch 09-03-nhuần) bởi sự bắn phá Mặt Trận tại địa điểm Bình Xuyên rồi từ đó đến nay chống cự với lực lượng Hòa-Hảo tại miền Tây. Cuộc tương tranh còn trong vòng bất phân thắng bại, thì hiện giờ lại lăm-le uy hiếp Đạo tại miền Đông, nhắm Thánh Địa làm bia cho ngọn súng.

Đệ-Tử vẫn bình tâm chờ xem động tịnh thế nào rồi sẽ kiến cơ nhi tác: Một là cứu nguy cho đại nghiệp Đạo; Hai là giải nạn cho toàn dân Việt Thường. Năng lực của Đệ Tử luôn cả con cái Đức Chí-Tôn vẫn hiếm hoi yếu đuối, Đệ-Tử chỉ nhờ hồng ân của Đại-Từ-Phụ và Đức Phật Mẫu hộ trì cho đặng đạt thành ý nguyện. Ấy là phương sách cuối cùng của Đệ-Tử đã gian lao từ thử vì Đạo, vì nước, vì đồng bào và một khi tình hình được cứu vãn, Đạo mới có thể dễ dàng truyền bá khắp nơi, trước nhứt là trong bổn xứ với 25 triệu nhơn số mà chưa đầy một triệu nhập môn cầu Đạo thì tội nghiệp thay cho số dân kia còn mơ mộng trong đám phù vân khói tỏa.

Ngoài nước thì các nhà thông thái đoạt phép của Tạo đoan dùng nguyên tử lực làm khí giới tàn sát loài người và hăm dọa nổ bùng trận Đại chiến thứ ba cho hai khối Mỹ Nga tranh hùng làm bá chủ thiên hạ. Một cử chỉ rất hợp thời và đáng quan tâm là dân Phù Tang đã hồi đầu hướng thiện rập nhau kêu gọi các nhà Tôn giáo hãy nguyện cầu tầm phương tránh cho đặng trận giặc nguyên tử, gầy hạnh phúc cho chúng sanh đem lại Hòa bình cho mọi người cọng hưởng.

Đệ-Tử phái vị Bảo Thế Hiệp-Thiên-Đài Lê-Thiện Phước và Thượng Chánh Phối Sư Trần Ngọc Sáng, đại diện cho Đạo sang tận Đông Kinh ngày 28-07-1955 (Âl: 12-06-Ất Mùi) vừa đem Giáo lý Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ phổ truyền giữa các sắc dân trong Đại-Đồng Tôn giáo Thế giới, vừa giúp ý-kiến cho Đại Hội làm tài liệu ngăn ngừa đại họa sắp đến. Nhờ các đấng thiêng liêng hỗ trợ, nhị vị trên đây đã làm tròn sứ mệnh, nêu cao danh Đạo khắp nước Nhựt Bổn, còn gieo được một hột Thánh cốc tại xứ tượng trưng bởi một người dân Nhựt, danh tánh là NAGABUCHI - ICHIRO hiện được phong phẩm Lễ Sanh phái Ngọc kiêm trách vụ Phổ Tế. Hiện nay nhiều nhà Đại đức tu trì Phù-Tang còn gởi thơ nhắc nhở hoan nghinh và tỏ lòng hiệp tác với bổn Đạo trên con đường yêu ái nhân loại.

Bước qua tháng 8 tiếp theo Lễ Hội-Yến Diêu-Trì, Đệ Tử có thiết lễ Khánh Thành Báo-Quốc-Từ nơi đệ ngũ châu thành Thánh Địa. Linh vị của những Tiên Vương báo quốc như Đức Vua Hàm-Nghi, đức vua Thành Thái, Đức Vua Duy-Tân, Đức Cường Để và anh hùng Quốc Sĩ như Tướng Trình-Minh Thế được thờ nơi đó để lưu truyền ư hậu thế những công trạng vị quốc vong thân. Cơn vui chưa mãn nỗi buồn lại theo. Lễ Hội-Yến Diêu-Trì vừa yên thì cách ba ngày sau nhằm 20 tháng 8 (dl: 05-10-1955) cuộc nội biến xảy ra do Trung Tướng Nguyễn Thành-Phương chủ động và Hộ-Pháp-Đường là nhược điểm; cuộc khảo đảo nhắm ngay Đệ Tử. Nhưng, dầu phải, dầu quấy, dầu nên, dầu hư, Đệ Tử cam hứng chịu, cuộc bạo hành của Phương làm sôi nổi cả dân cư trong vùng Thánh địa, luôn tới cả ngoài nước. Thời gian sẽ trả lời trắng đen phân biệt. Đệ Tử chỉ thương hại cho một số Chức sắc, Chức Việc và đạo Hữu Nam nữ vô cớ bị giam cầm trong chốn lao tù.

Còn thương hại hơn nữa là nội bộ của Quân Đội Cao Đài ly tán từng manh mún, Quân sĩ mất niềm hòa khí tương sát lẫn nhau vì phe với đảng. Toàn Hội-Thánh lắm phen thổn thức bồi hồi vì cuộc biến chuyển, nhưng vẫn giữ vững tinh thần áp dụng ôn hòa chế ngự hành tàng của Phương được một đôi chút. Nhơn sanh trong vùng Thánh Địa kẻ ở người đi vì thời cuộc cũng có, vì kinh tế ngặt nghèo cũng có.

Tình hình nay được tạm yên, song còn e mưu chước kẻ đắc thời cứ dung ruổi trên con đường lầm lạc thì tội nghiệp cho kẻ ấy. Trong Đạo như thế, ngoài Đời cũng thế, cuộc xáo trộn vàng thau có tương liên đôi ngã.

Do Hiệp Định Genève, sự ngưng bắn vừa thi hành, thì ngót một triệu đồng bào Bắc Việt cho đặng tránh họa Cộng Sản độc tài di cư vào Nam lập trạm cư nơi này nơi nọ khắp cùng Lục Tỉnh. Toàn là người Công giáo, thêm đức tánh không mấy hạp với người miền Nam, sự sống chung có bề trở ngại một đôi phần, nhứt là trong hàng Công chức, người Nam thường bị Chánh phủ không hết dạ chăm nom, nếu không phải cả thảy bị đè nén. Dân Nam ôm thầm ấp trộm một tinh thần bất mãn, sợ e không khỏi một ngày kia bình địa nổi phong ba vô phương giải cứu. Riêng Nam Việt là miền tự do theo quan niệm của khối tự do và vì quá ư tự do nên Đức Bảo-Đại bị truất phế một cách dễ dàng và tủi nhục. Ngôi vua bị lật đổ, ngôi Tổng Thống Cộng Sản Việt Nam liền lập thành, song le máu huyết giống nòi còn chảy, xương thịt đồng giống còn rơi, thì nạn tiêu diệt cơ hồ chấm dứt chưa được. Vẫn hiểu cuộc vay trả tiền khiên nghiệp báo như vậy đã đành, Đệ Tử cầu xin Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu phát hạ khoan hồng chế giảm hình phạt cho kẻ lương như giáo được nhờ trong đời mạt kiếp này. Vả chăng Đệ Tử đã trọn nguyện dâng cả Tam thể xác thân cho Đức Chí-Tôn, làm con tế vật cứu chuộc tội lỗi cho kẻ làm tội lỗi, nếu như phải chịu khổ hình đến đâu Đệ Tử chỉ nối gót theo sau Đức Chí-Tôn hầu làm tròn sứ mạng ở chốn phàm trần thì sự hy sinh của Đệ Tử vẫn là việc phải làm đó vậy…."

 

 

ÂU

Châu Âu. Cùng nghĩa với chữ âu 謳. Một âm là là ẩu. Nôn mửa. Đánh.

(Tham khảo: http://vietnamtudien.org/thieuchuu/)

 

 

ÂU CA

謳 歌

(Âu 謳 là nhiều người cùng hát một lần. Ca 歌 là hát). Âu ca là cùng nhau hát để ca tụng một việc gì hay công đức một người nào đó.

Lòng Sớ dâng vào lễ Vía Đức Thích Ca Mâu-Ni có câu:

"Diệt trừ tứ khổ, hiệp nhứt thiên lương, qui nguyên bổn thiện, phục hồi thượng cổ Thánh đức, lạc nghiệp âu ca."

滅除四苦, 協一天良, 歸元本善, 復回上古聖德, 樂業謳歌.

 

 

ÂU CHÂU

區 甌
F: Europe.

Ðức Hộ-Pháp nói: 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947)

"Ngày hôm nay chúng ta tính từ ngày đã đúng 1947 năm của Chúa Cứu Thế, tức Ðức Chúa Jésus Christ ở làng Nazareth xứ Palestine vâng mạng lịnh Ðức Chúa Trời, tức là Ðức Chí Tôn, đến độ rỗi các sắc dân Âu Châu. Chúng ta quan sát và chính Bần Ðạo quan sát thấy chơn truyền của Ðạo Thánh Gia Tô vẫn đồng căn đồng bổn với Ðạo Phật, ấy là Phật Giáo Hạ Thừa, không có chi khác, dầu Bí Pháp chơn truyền hay Thể Pháp đều cũng y như vậy. Thảng từ thử đến giờ, có thuyết chia rẽ tinh thần, là tại nơi người phàm, đem thuyết ấy để trong sự tín ngưỡng của sắc dân Âu Châu nên mới có sự chia rẽ nòi giống. Vì nạn ấy mà chúng ta ngày nay thấy trên mặt toàn cầu nòi giống chịu nạn tương tàn, tương sát nhau."

 

 

ÂU DU

區 遊

(Chuyến âu du của Đức Hộ-Pháp)

Trong cuộc Âu Du ngày 26-5-1954 Đức Hộ Pháp có hội kiến với Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn và Đức Ngài tặng bài thơ như vầy:

Khởi điểm văn minh đã vẽ màu,
Giang san đất Việt giá là bao?
Nền nhân Câu Tiển vừa chen bước,
Cửa ải Phù Tang đã mở vào.
Mong lịch duyệt nay đà lịch duyệt,
Muốn thanh cao đã đặng thanh cao.
Tiên rồng đã gặp hồi phong vũ,
Thay đổi Càn Khôn thử thế nào?

 

 

ÂU DƯƠNG TU (Tên)

Đức Tôn Sơn nói tại Phạm nghiệp: 11-4-Ất Hợi (dl: 13-5-1935) về Ông Âu Dương Tu: Ông Tu, thọ phong Thái Phối Sư Thái Tu Thanh.

"Bần Đạo tưởng chẳng cần nói rõ thì Âu Dương hiền đệ cũng đủ hiểu rằng: quê hương của chúng ta ngày nay vì tấn bộ trong đường vật chất văn minh nên đạo đức như ra phế hủy. Hại thay! Tinh thần Trung huê từ trước chỉ nhờ đạo đức mới bảo thủ giống nòi, vững gìn đại quốc. Nếu đạo đức tiêu hao thì thế nào an quốc, vì trên 500 triệu sanh linh chỉn coi đường danh là quí, nẻo lợi là hơn, thì trường tranh đấu thế nào không náo nhiệt. Hễ có tranh đấu ắt có nghịch thù, hễ có nghịch thù thì ngoại bang xúm xui mưu làm loạn, loạn thì nhược, nhược thì vong, vong hưng Tàu đều do trị loạn, trị đặng chỉ nhờ Đạo, Đạo thạnh mới mong mỏi nước hưởng thái bình.

Hiền đệ nghĩ đến điều ấy, rồi mới biết phận sự dành để cho Hiền đệ rất nên yếu trọng. Ấy là tương lai ngày sau. Còn buổi nầy nương ngụ hải ngoại kiều cư, Hiền đệ gắng qui tâm liên lạc, giúp khó trợ nghèo, ấy là ơn sâu của Hiền đệ thi ra cho người đồng xứ. Khá để lòng rằng: Tàu là Việt Nam, Việt Nam là Tàu, cũng chung huyết khí đa nghe."

 

 

ẤU TRĨ VIỆN

幼 稚 院
E: The creche.
F: Le crèche.

(Ấu: Bé nhỏ, non nớt. Trĩ: Trẻ con. Viện: Tòa nhà lớn).

Ấu trĩ viện là tòa nhà dùng làm nơi nuôi dạy trẻ con trong lứa tuổi mẫu giáo (dưới 6 tuổi).

Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938): Nơi mỗi nhà Sở Phước Thiện chánh, phải lập các cơ quan thiết dụng như là: Bảo Sanh Viện, Y Viện, Ấu Trĩ Viện, Dưỡng Lão Ðường, Học Viện.

 

 

ẤU XUÂN

幼 春
E: Infancy.
F: Enfance.

Ấu xuân là chỉ tuổi trẻ tràn đầy sức sống, vui vẻ, năng động, yêu đời, lòng đầy nhiệt huyết, làm được bất cứ việc gì.

Thuở Ấu xuân tức là tuổi còn niên thiếu, tuổi còn nhỏ, từ tấm bé cho đến khi thành danh, ơn người không biết ngần nào mà kể. Sau này người học trò càng rạng rỡ cân đai áo mão, làm cho con người đẹp đẽ chính là nhờ công ơn của thầy dạy dỗ từ thời ấu thơ.

Thầy dạy ngày 20-4-Bính Dần (Thứ hai, 31-5-1926)

"Thánh tâm dầu phải chịu khổn trần đi nữa thì chất nó cũng vẫn còn. Các con khác hơn kẻ phàm là duy tại bấy nhiêu đó mà thôi. Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đọa trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ưng thuận hạ thế cứu đời? Con chỉ có tu mà đắc đạo. Phải ngó đến hằng ức thiên vạn kẻ nhơn sanh chưa đặng khỏi luân hồi, để lòng từ bi độ rỗi, kẻo tội nghiệp".

Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị có câu:

"Đẹp mình với vẻ cân đai,
"Công thầy tô điểm từ ngày ấu xuân."

 

 

HẾT VẦN A

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


A | Á | | ÁC | ÁCH | AI | ÁI | ẢI | ÁM |

AN | ÁN | ANH | ÁNH | ẢNH | AO | ÁO | ẢO | ÁP |

ĂN |

ÂM | ẨM | ÂN | ẤN | ẨN | ẤT | ÂU | ẤU


 

 

 

 

 

 

 

A | ĂN | ÂM |

 

 

Danh mục vần A

 

A

A

A.Ă.Â

A-Di-Đà-Phật

A-La-Hán

A-Lại-Da-Thức

A-Nan-Đà

A-Nậu Ða-La-Tam-Diệu-Tam-Bồ-Ðề

Aristide Briand

Allan Kardec

A-Tu-La

A-Tỳ

 

Á

Á

Á Châu

Á Đông

Á Hiến Lễ

Á Phiện (Nha Phiến)

A Phiến Chiến Tranh

Á Thánh

 

Ả Chức (Chức Nữ - Ngưu Lang)

Ả Hằng

Ả Tạ

 

ÁC

Ác

Ác Báo

Ác Cảm

Ác Đạo

Ác Giả Ác Báo

Ác Gian

Ác Hành

Ác Khí

Ác Ma

Ác Nghiệp

Ác Nghiệt

Ác Nguyệt Đảm Phong

Ác Quỉ

Ác Tâm

Ác Thần và Thiện Thần

Ác Trược

Ác Xế

 

ÁCH

Ách

Ách Đất

Ách Nước

 

AI

Ai

Ai Bi

Ai Cập

Ai Chỉ

Ai Chúc

Ai Điếu

Ai Oán

 

ÁI

Ái

Ái (1)

Ái (2)

Ái Ân

Ái Dân

Ái Hà

Ái Mộ

Ái Mộ Đạo Phật

Ái Ngại

Ái Nhân Ái Vật

Ái Nhân Như Ái Kỷ

Ái Quốc (1)

Ái Quốc (2)

Ái Tuất Thương Sanh

Ái Vật Ưu Sanh

 

ẢI

Ải

Ải Quan

 

ÁM

Ám

Ám Ảnh

Ám Mộ Lợi Danh

Ám Muội

Ám Thị

Ám Trợ

 

AN

An

An Bang Tế Thế

An Bần Lạc Đạo

An Cư

An Cư Lạc Nghiệp

An Dương Vương

An Dưỡng Tnh Thần

An Giấc Ngàn Năm

Angkor Wat

An Khương

An Nam

An Ngự

An Nhàn

An Phận

An Táng

An Tâm

An Tâm Tĩnh Trí

An Tịnh

An Vị

An Vị Thánh Tượng

An Vui

An Ủi

 

ÁN

Án

Án (1)

Án Tam Tài

Án Bất Tín Nhiệm

Án Thiên Điều

Án Tử Hình Của Chúa Cứu Thế

Án Vĩnh Bất Tự Dụng

 

ANH

Anh

Anh Cả

Anh Cả Thiêng Liêng

Anh Hài

Anh Hào

Anh Hùng

Anh Hùng Liệt Nữ

Anh Lạc (1)

Anh Lạc (2)

Anh Linh

Anh Lớn

Anh Minh

Anh Nhi

Anh Phong

Anh Tài

Anh Thư

Anh Tuấn

 

ÁNH

Ánh

Ánh Chí Linh

Ánh Hồng

Ánh Hồng Quân

Ánh Thái Dương

Ánh Xá Lợi

 

ẢNH

Ảnh Hưởng

 

AO

Ao Ô Trì

Ao Thất Bửu

 

ÁO

Áo Dà

Áo Mão

Áo Não

Áo Vá Quàng

Áo Vải Nâu Sồng

 

ẢO

Ảo Ảnh

 

ÁP

Áp

Áp Bức

Áp Chế

Áp Dụng

 

ĂN

Ăn Bom

Ăn Chay

Ăn Chay Làm Lành

Ăn Gian Xới Bớt

Ăn Mày

Ăn Mặn

Ăn Năn

Ăn Năn Sám Hối

Ăn Năn Tự Hối

 

ÂM

Âm

Âm Cảnh - Âm Ty

Âm Chất - Âm Công

Âm Công

Âm Cung

Âm Dương

Âm Dương Hòa Hiệp

Âm Dương Hòa Võ Trạch Giáng, Phu Phụ Hòa Gia Đạo Thành

Âm Dương Nam Nữ

Âm Dương Tạo Hóa

Âm Dương Thủy

Âm Dương Đôi Nẻo

Âm Dương Tương Hiệp

Âm Đài

Âm Đức

Âm Hao

Âm Hồn

Âm Khí

Âm Lịch - Dương Lịch

Âm Nhạc

Âm Nhạc Cổ Truyền

Âm Quang

Âm Quang - Dương Quang

Âm Thanh (Thinh)

Âm Thanh Sắc Tướng

Âm Thạnh Dương Suy

Âm Tuyệt Dương Sanh

Âm Ty

 

ẨM

Ẩm

Ẩm Mã Đầu Tiền

 

ÂN

Ân

Ân Ái

Ân Cần

Ân Dưỡng Sanh

Ân Điển

Ân Đức

Ân Hận

Ân Hậu

Ân Hồng

Ân Huệ

Ân Nhân

Ân Phong

Ân Sinh

Ân Tứ

Ân Xá

 

ẤN

Ấn

Ấn (1)

Ấn Chứng

Ấn Hành

Ấn Ký

Ấn - Pháp - Bùa - Chú

Ấn Tín

Ấn Tống

Ấn Tý

 

ẨN

Ẩn

Ẩn Danh

Ẩn Nhẫn

Ẩn Thân Luyện Đạo

 

ẤT

Ất

Ất Sửu (1925)

Ất Mùi (1955)

 

ÂU

Âu

Âu Ca

Âu Châu

Âu Du

Âu Dương Tu

 

ẤU

Ấu Trĩ Viện

Ấu Xuân

 

 

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 25-10-2016

A | ĂN | ÂM |


A | B | C | CH | D | Đ | G | H | I-Y | K | KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2016)

CAO ÐÀI ĐẠI ĐẠO TẦM NGUYÊN TỪ ÐIỂN
Soạn-giả: Nguyên-Thủy

DOWNLOAD
E-book-PDF