Đã nhiều phen tôi muốn viết nhựt ký của đời tôi để lưu lại cho con cháu biết nhưng không thì giờ nhàn rổi để thực hiện mộng ấy. Nay chỉ ghi lại đại lược những gì còn nhớ được vì sau một cơn bị mổ bao tử trí tôi bị quên rất nhiều những kỷ niệm những ngày xanh.

Tôi có thể đại lược nhiều chương trong cuộc đời tư của tôi như sau:

-Từ thuở bé đến 7 tuổi.

-Từ đi học đến thôi học.

-Từ bình bồng không định hướng đến chọn một con đường làm định hướng.

-Bước đường hành Đạo.

-Hoàn cảnh phải xuất sải.

-Trở về làm Đạo.

 

 

CHƯƠNG I

THỜI NIÊN THIẾU

 

1. TỪ THUỞ BÉ ĐẾN 7 TUỔI

Tôi nhớ thuở ấy tại làng Thường Lạc tục gọi là Trà Dư, tôi được được sanh trưởng trong một gia đình khá giả. Cha tôi là Bùi Văn Ứng làm Hương Chức từ phẩm Hương Hào cho đến Xã, Hương Trưởng rồi đến chức Hương Quản. Về mặt Đạo ông làm Phổ Tế. Mẹ tôi tên Võ Thị Sành chuyên nghề canh cửi, ươm tơ, dệt lụa.

Tôi sanh ngày 24-4-Ất Sửu (10-5-1925) đúng 12 giờ khuya. Ông Nội tôi là một Đồ Nho uyên thâm, ông vở sách số xem thế nào mà sáng lại ông đến lật từ ngón tay, ngón chơn. Mẹ tôi hỏi thì ông nói: Sợ thằng nầy nửa lớn chịu “tiểu tật” nhưng bây giờ ông chưa thấy tật gì. Khi lên 3 thì tôi bị bệnh nhiểu nước miếng, nhiểu cho đến nổi cái càm đỏ tươi nên người hàng xóm biệt danh “thằng đỏ mỏ”.

Vốn là cháu nội một danh y, thuốc men đủ thứ mới dứt được chứng đỏ mỏ. Nổi mừng chưa thỏa thì lúc 4 tuổi cái môi lại nổi lên nhiều mục ruồi thành cái bớt. Chừng ấy mới hiểu rằng tiểu tật là đúng sách vỡ.

Sở thích của tôi lúc trẻ là đào dế. Xứ Trà Dư dế cơm bằng ngón tay cái, khi trời lập đông thì dế đâu không biết xuống làm hang gáy in õi. Lúc ấy tôi thức sớm xách tỉnh và con dao phai đi đào, đến lúc 9 giờ là nhóc một tỉnh, đem về kho nước mắm hoặc lăn bột chiên rất ngon.

Tôi làm cái gì mà tía má tôi khen thì làm hoài.

Tuy là xứ Trà Dư quê nhà nhưng vẫn đầy nhựa sống trước năm 1945. Tôi có tả một bài nhớ quê hương như sau:

Tôi ở Trà Dư xóm bún ngon,

Thú vui thuở bé hẳn nay còn.

Sãi trâu khấp khểnh qua đồng lúa.

Đào dế lom khom gốc mạ non.

Đốt cỏ lượm rùa săn chuột cống,

Trèo cây hái trái bắt chim non.

Trống trường Ấp Vịnh đâu văng vẳng,

Tình luyến quê hương thối thúc dồn.

Có một điều đáng nói là ông Ba Đắc là giáo chức của Phật Giáo Thường Lạc, thuở thiếu thời nghèo ở chăn trâu cho ông thân tôi nên thường ông ngồi trước, tôi ngồi sau, tôi nắm đuôi trâu sãi trâu với ông lúc bãi học chiều.

 

2. TỪ ĐI HỌC ĐẾN THÔI HỌC

Tôi vào học lúc 7 tuổi ở trường Ấp Vịnh từ lớp 5 đến lớp 3. Kế xuống Hồng Ngự học từ lớp Nhì đến lớp Nhứt. Khi lên Cần Thơ học lại lớp Nhứt trường Lycéum Bassac. Thi đậu số học rồi lên học lớp 1 erê annéc của trường Nam Hưng học được 2 năm. Qua năm thứ 3 học 3 annéc Bassac, rồi lên lớp 4 annéc thi rớt diplornê. Học lên lớp Seconsaire  cho đến ngày Nhựt đánh Tây 9-3-1945 thì nghỉ học luôn.

Có lẽsố phần không tiến được nữa nên khiến nước nhà chiến tranh khắp chốn đành trở về làng dệt vải giúp mẹ.

Kế nghe tin ở Tân Định có mở lớp Kiến Trúc do thầy Nhựt Bổn dạy nên đi Sài Gòn học. Mới học được 3 tháng, vừa học tiếng Nhựt vừa học nghề vẽ họa đồ cất nhà thì đùng một cái Nhựt đầu hàng Đồng Minh. Nghĩ phận mình không có đoạt được công danh, học Tây thì Tây thua, học Nhựt, Nhựt lại đầu hàng, bây giờ còn nước đi tu là phải lẻ.

Nhập phe với Đạo nghe cũng vui vui. Ít bửa đi biểu tình, ca hát nghêu ngao cùng đường lớn ở Sài Gòn, nào hoan nghinh, nào đả đảo, nào ủng hộ…mà cũng chưa biết mình sống thế nào cho thỏa đáng tâm lý của mình.

Lối tháng 8-1945 Trần Văn Giàu làm Khâm Sai Nam Bộ treo nhiều biểu ngữ rợn người: “Thuận giã tồn, nghịch giã vong”. Nhựt lại cho hay Đạo phải tản khỏi Sài Gòn trong 24 tiếng đồng hồ để nó thanh toán phiến loạn. Thành thử Đại Biểu Trần Quang Vinh phải hạ bản “Dân Quân Cách Mạng Sư Đoàn Số 3” tại thành Ông Sáu và chở bàn ghế về Tòa Thánh. Nghĩ mình không biết đường nào mà đi? Không hiểu ai xui khiến mà biết ôm gốc Đạo mới sống đến ngày nay.

Nếu lúc ấy tôi không về Tây Ninh thì phải bồng bềnh đất Sài Thành:

1-  Là theo Tây làm Việt Gian.

2-  Là theo Việt Minh làm Cộng Sản.

3-  Là theo Hòa Hảo.

4-  Hay chạy theo bọn côn đồ, sống trên mồ hôi nước mắt của dân đen.

 

3. NGỘ ĐẠO

Có lẽchơn linh lúc ấy khiến tôi về Tổ Đình chớ chưa phải chọn con đường chánh giác.

Về đó rồi đi làm thợ sơn ngày 2 buổi sơn cột rồng Đền Thánh, tối về ngủ Giáo Tông Đường. Lúc ấy Tòa Thánh chưa hoàn thành, Pháp lấy làm garage xe hơi, mới trả lại chưa lót gạch, nên Quả Càn Khôn còn thờ ở Báo Ân Từ.

Một bửa rằm tôi lại Báo Ân Từ cúng khuya, thấy chức sắc Hiệp Thiên Đài đội mão cao áo rộng thì trong lòng ước ao hoài: Phải chi mình tu sao mà được mặc áo rộng, đội mão cao như vậy thì thích thú biết mấy?

Thật không dè không đầy 5 năm sau tôi lại có dịp thi đậu Luật Sự và được thỏa mãn theo lời ước ao buổi ban sơ.

Thuở ấy năm 1945 ông Phối Sư Thượng Chữ Thanh thay mặt Hội Thánh cầm quyền Đạo. Ông biểu tôi vẽ họa đồ nhà tư ông và vẽ một plan nội ô Thánh Địa. Tôi hiệp cùng Thơ, Nguyên làm vừa ý ông nên được ông cưng bọn hữu học về làm công quả Sở Công Viện. Vì sự cưng đó mà sanh ra đố kỵ, Ban Kiến Trúc do chú Sáu Liên chỉ huy ganh ghét. Nữa đêm họ đốt chambe gần chổ chúng tôi ngủ và đổ lổi cho chúng tôi gây hỏa hoạn.

Làm công quả một thời gian thì Tây trở lại, Tòa Thánh phải treo cờ Tàu tức cờ Đồng Minh để được yên. Đạo ở thế trên đe dưới búa, giữa Việt Minh và Pháp. Tòa Thánh lâm vào cảnh đói. Chúng tôi kẻ thủng, người tê, không thuốc uống, không xà bông tắm nên ghẻ sanh đầy mình, rận bò cùng áo.

Ông thân tôi nghe tôi bịnh cho 2 ông già là Năm Huế và Chín Nhãn lên rước về, sự đi đường rất nguy hiểm. Nào cướp giật, nào máy bay bắn, nào đồn bót phạt vạ, kiếm đủ cớ làm tiền.

 

4. CHỌN ĐƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG

Từ khi về Thánh Địa thì chọn nghề vẽ và sơn rồng nơi Ban Kiến Trúc dưới quyền của Tá Lý Nguyên (Sau là Sĩ Tải Nguyễn Thành Nguyên). Vì ăn uống thất thường nên bịnh ghẻ rồi bịnh tê ngồi một chổ đi không được. Nhờ bạn Đờn nuôi, đem cơm cháo, đổ bô, giặt quần áo chớ không thôi thì bỏ xương nơi xứ Tây Ninh lúc 20 tuổi rồi.

Có một điều nên ghi là nếu tôi không đau, tôi phải đi khu theo Quân Đội Cao Đài thì tương lai có lẽkhác hẳn với hiện tại. Có một bạn tên Hoa, phần nhớ nhà, phần cuộc sống kham khổ nên đi bộ từ Tây Ninh xuống Sài Gòn, rồi có giang ghe cá về Hồng Ngự để về Tân An Vĩnh Hòa là quê nó. Từ Hồng Ngự nó qua làng Thường Lạc, nó hỏi thăm nhà ông thân tôi. Vào nhà Hòa thuật hoàn cảnh của tôi bị tê và ghẻ nên ông già nóng ruột cho 2 người chèo ghe đi rước.

Ban đầu đi giữa đường bị máy bay bắn, ghe nổi lều bều nên 2 ông sợ trở lại. Cách vài tuần đi lần thứ 2 đến được Tây Ninh. Ông Huế vào Tòa Thánh gặp tôi hết sức vui mừng. Tôi hỏi thăm gia đình bình yên cũng hết sức an dạ. Lúc ấy tôi đi được nhưng chưa lành hẳn. Anh em Ban Kiến Trúc mến tôi mới nướng một trái mít đãi tôi lên đường trở về quê.

Tôi vì thọ ơn của Đờn rất nặng, muốn cho Đờn cùng về Gò Đen là xứ của anh nên sửa giấy phép thay vì “son neuveux” tôi sửa “ses deux neuveux” vậy mà cũng qua mặt được các trạm kiểm soát của Pháp. Cuộc hành trình thật là nguy nan nhưng cũng nhờ ơn trên phò hộ nên qua được các trạm khó và trở về đến Thường Lạc an khương, còn Đờn cũng trở về Gò Đen không có gì trở ngại.

Nhắc lại cuộc hành trình, khi tới đồn Hiệp Hòa, một lính Pháp cầm phép nói: “Giấy nầy hết hiệu lực vì xin 30 ngày mà nay đã 40 ngày”. Tôi biện minh là : “Chúng tôi dự trù đi chỉ có 20 ngày nhưng ban đêm thì bị cấm, ban ngày thì nhiều trạm kiểm soát, mỗi trạm tốn hai tiếng đồng hồ thành ra phải trễ mong ông thông cảm”. Nó nghe có lý nên cho qua.

Đến đồn khác, có lẽlà đồn Vên Vên nó kêu 2 ông chèo ghe hỏi giấy thuế thân. Hai ông đưa giấy thì ông Huế đã 69 tuổi còn ông Nhãn 62 tuổi. Nó đòi phạt, tôi cải: “Có luật chánh phủ Pháp người trên 60 tuổi không đóng giấy thuế thân”. Nó dọa: “Bây giờ chịu phạt hay ở làm tù binh. Tôi đành chịu phạt 20$ nhưng tôi xin một biên lai để đến đồn khác khỏi bị phạt. Nó nói bướng là ở đây phạt thì không có đồn nào phạt nữa. Tôi không chịu, cải qua cải lại một hồi rồi cũng phải đóng 20$. Mới vừa xô ghe đi, có một Đại Úy Pháp kêu lại hỏi: “Hồi nảy ai ở dưới ghe nói tiếng Pháp và ai cự nự với nhân viên của tôi”. Tôi trả lời: “Dạ tôi, không phải cự nự mà tôi nói luật nhà nước Pháp cho những ông già quá 60 tuổi khỏi đóng thuế thân, nay quí ông phạt chúng tôi nên tôi trình bày lý do thôi”. Ông Đại Uý quay lại biểu ông Cai Pháp trả 20$ tiền phạt lại và nói: “Người ta quá 60 tuổi rồi mà phạt cái gì, xin lỗi ông ghe rồi cho họ đi”. Nhận lại tiền xong tôi hối chèo riết sợ nó sùng nó bắn theo ai mà kiện thưa ai trong lúc thời loạn.

Đến đồn Cái Bè, ghe lại bị kiểm soát, nó cũng nói quá phép, tôi xin ghi thêm 10 ngày nữa với điều kiện đóng 20$ tiền phạt. Tôi đồng ý. Có một thông ngôn nói mĩa mai: “Nói tiếng Pháp mà khỏi bị phạt hả nói, còn nói mà bị phạt thì nói cũng vô ích”.  

Có một đồn nữa đến xét ghe, sau khi lên bờ họ nói có mất chi không? Mình đinh ninh nó tốt, nhưng khi coi kỹ lại thì một bộ đồ Tây vía của Đờn đã mất. Tôi phải giao cho Đờn một bộ bà ba hàng cẩm tự trắng để nó về Gò Đen. Đó cũng là một dịp để mình đền một phần nào ơn của Đờn nuôi mình trong cơn khổ nảo.

Về nhà, Bà Nội và Tía Má cùng mấy anh chị cùng mấy em mừng như gặp được kẻ chết đi sống lại. Ông già hốt thuốc sổ rồi bồi bổ lại, nuôi như gà nồi sấp ra trường nên mập lại, hết bị bịnh tê. Ở nhà chừng 3 tháng thì cũng chán lại muốn đi. Ông già hâm: “Mầy đi kỳ nầy có đau tao bỏ luôn, không có rước nữa đâu”.

Thỏn mỏn ngày qua, ông Giáo Sư Hoài nữa đêm qua nhà kêu ông già: “Cậu Năm, bây giờ thời cuộc khó lắm, Hòa Hảo và Việt Minh găn lắm tôi muốn Tiếp với Liêm (con ổng) phải về Tòa Thánh mới yên được”. Tôi như mở cờ trong bụng.

Tôi nhớ hôm ấy mẹ tôi mua bún và tôm nướng đãi tôi một bửa tiệc để lên đường.

Ông Giáo Sư Hoài gởi tôi và Liêm cho ông Giáo Hữu Thượng Ngoạn Thanh xuống chợ mới rồi đi xe đò về Sài Gòn, ghé Đa Kao là căn cứ Nhơn Hòa do Lê Minh Cảnh quản lý, Võ Hà Quyến phó quản lý. Vào đó tưởng nơi xa lạ, nào ngờ bạn cũ ở Tây Ninh cả chục thằng chạy ra mừng rỡ và họ biểu: “Thôi mầy ở lại với tụi tao”. Tôi hỏi: “Có tương lai gì hay không?” thì họ nói : “Rất hay, rất bí mật”. Tôi tin bằng lời và xin ông Ngoạn cho ở Sài Gòn không đi Tây Ninh.

Ở đâu được vài tuần, tôi không thấy hoạt động gì mà sự sống lại kham khổ. Chỉ có anh Ba Khai gánh nhang, nước mắm, đi bán lấy lời mua gạo đồ ăn về nuôi gần 20 mạng mà cà ruồng không làm nên trò gì. Tôi mới nói với anh Chín Hộ là người quản lý trại của Thanh Sơn ở Bà Chiểu là chúng tôi muốn về Tây Ninh học khóa huấn luyện quân sự Sĩ Quan Cao Đài là khóa đầu tiên. Anh Hộ đồng ý nhưng anh Cảnh không cho và nói rằng: “Ông Giáo Sư Đại Biểu lập gánh hát hiệu Ánh Quang để bắt tụi nó làm kép”. Thế là ở hát đâu vài tháng. Tôi đóng vai Hoàng Sơn tức ông vua trên núi còn Liêm làm Hề Sẹo. Coi mòi không tương lai tôi nói với Chín Hộ cho mượn tiền, hai đứa bỏ gánh hát về Tây Ninh.

Về đến Bầu Nâu bị Việt Minh chặn bắt, nhịn đói từ sáng đến 4 giờ mới được thả. Cũng nhờ chuyến ấy có Thừa Sử Hợi quen với Cao Minh Căn nên lãnh chúng tôi ra khỏi, chớ Hoàng Thọ đòi thủ tiêu tài xế trước rồi mấy Việt Gian sẽ tính sau. Người nào người nấy tái mặt.

Vừa được Việt Minh thả ra thì bị Tây xuống bắt lại để lắp cầu Bàu Nâu bị đào. Chúng chở cũi lắp các đường đào và bắt mình lấy đất đắp lên để chúng chạy xe qua. Tôi cầm cái Pic cuốc bề nhọn một thằng Tây lại biều: “Faitès comme ca”, tôi vừa nắm cán Pic nó xán một bạt tay nhán lửa. Nó quạu nó đánh tứ tung. Luật sự Hoa đội nón Flichut mới nó vét ót bay nón xuống nước mà không dám xuống lượm. Trời gần tối nó mới cho về. Đi bộ từ Bàu Nâu về Tòa Thánh.

Từ sáng đến tối chưa ai ăn gì nên đói lã người.

    Tôi và Liêm vào quán Tám Kèn kêu bún ăn, hai thằng ăn mà thấy lạc, đèn nhấp nhen, lấy nước tương chan vào bún mà sao càng chan càng lạc. Hỏi ra thì nảy giờ chan giấm vào vì trời tối không thấy nhưng vì đói nên ăn cũng đã no rồi.

Tiếp theo

Top of Page

      HOME