ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

TÒA THÁNH TÂY NINH

 

 

LỊCH SỬ

DÒNG THIỀN PHỔ ĐỘ

(1926 - 2006)

 

 

SOẠN GIẢ

TRẦN VĂN RẠNG

CAO HỌC SỬ

 

  

BẠCH VÂN QUÁN

NĂM 2007

 

________________________________________________________

 

DẦU KHÔNG THIÊN PHONG, HỄ GẮNG TÂM THIỆN NIỆM THÌ ĐỊA VỊ CŨNG ĐẠT ĐẶNG.  (Đàn 19.12.1926)

Công bố DÒNG THIỀN PHỔ ĐỘ trên tạp chí XƯA NAY số 250 tháng 12 năm 2005


 

MỤC LỤC

THAY LỜI TỰA.. 1

CHƯƠNG I. 3

ĐƯỜNG VÀO THIỀN ĐỊNH.. 3

TIẾT 1. 3

DẪN NGUỒN TU TỊNH.. 3

1. Bản sắc Văn Hoá Cao Đài: 3

2. Chơn Pháp Chí Tôn không chia hai: 4

TIẾT 2. 6

ĐẠI THIÊN PHONG VÀO TỊNH THẤT.. 6

A.THẢO XÁ HIỀN CƯNG & LUẬT TAM THỂ.. 6

1. Thảo Xá Hiền Cung: 6

2. Luật Tam Thể: 12

B. TOẠ THIÊN (Ngồi tĩnh tâm). 15

1.Muốn toạ thiền, trước hết phải nhập định. 15

C. BẠCH VÂN AM... 20

1. Đời hành Đạo: 20

2. Bạch Vân Am: 21

D. HỘ PHÁP TỊNH ĐƯỜNG.. 24

1. Tịnh là vô nhứt vật: 24

2. Thảo Đường - Khổ Hiền Trang. 27

a. Thảo Đường: 27

b. Khổ Hiền trang: 28

3. Hộ Pháp Tịnh Đường - Phương Iuyên kỷ: 29

a. Hộ Pháp Tịnh Đường. 29

b.Phương luyện kỷ - Phép trị tâm: 32

Đ. TRƯỚC LÝ MINH ĐÀI. 38

1. Thọ Thiên ân Chưởng Nghiêm Pháp Quân. 38

2. Trước Lý Minh Đài 39

CHƯƠNG II. 50

TÂN LUẬT - TỊNH THẤT.. 50

TẾT l 50

TÂN LUẬT.. 50

1. Dâng Tân Luật: 50

2. Nội dung Tân Luật: 51

TIẾT 2. 52

CÁC TỊNH THẤT.. 52

A- Trí Huệ Cung - Thiên Hỉ Động: 52

1.Địa thế Trí Huệ Cung: 52

2. Lễ cúng Tứ Thời tại Trí Huệ Cung. 54

3. Trấn Pháp Thiên Hỉ động. 54

4. Cửa vào Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống: 56

5. Đức Phạm Hộ Pháp nhập Tịnh Thất. 57

B. TRÍ GIÁC CUNG.. 64

ĐỊA LINH ĐỘNG.. 64

1. Lai lịch Trí Giác Cung : 64

2. Thành phần Ban Trị sự Địa Linh Động. 65

3. Khai Pháp vào Tịnh Thất Trí Giác Cung. 65

C. VẠN PHÁP CUNG - NHƠN HOÀ ĐỘNG.. 69

1. Lai lịch Vạn Pháp Cung: 69

2. Cực Lạc ThếGiới trên núi Bà. 70

3. Lý lịch ông Đạo Núi: 71

CHƯƠNG III. 78

TỊNH THẤT TẠI TƯ GIA.. 78

TIẾT 1. 78

TU TẠI GIA.. 78

TIẾT 2. 80

BẠCH VÂN ĐỘNG - BẠCH VÂN AM... 80

1. Bạch Vân Động: 80

2. Bạch Vân Am: 82

3. Bạch Vân Quán: 85

a. Đường đến tầng Thánh Ý: 85

b. Căp cơ truyền Bí Pháp Tỉnh Luyện: 90

LUYỆN TINH.. 92

LUYỆN KHÍ. 92

LUYỆN THẦN.. 93

QUI TAM BỬU.. 93

LUYỆN THẦN HUỜN HƯ.. 99

PHẢN BỔN HUỜN NGUYÊN.. 99

TAM HOA TỤ ĐỈNH.. 99

DANH HIỆU VÀ XÂY THÁP. 101

THIÊN TƯỢNG QUẺ LY.. 102

CHIẾT KHẢM ĐIỀN LY.. 103

LUYỆN TIỂU CHU THIÊN VÀ ĐẠI CHƯ THIÊN.. 103

c.Khai Pháp Môn Tịnh Luyện : 105

d. Hành Hương Pháp Thông-. 109

PHỤ TRANG THƠ.. 112

PHỤ BẢN I. 117

CHÚ GIẢI TỊNH THẤT.. 117

DẪN NHẬP. 117

CÔNG PHU TỊNH LUYỆN.. 120

PHỤ BẢN II. 124

TRƯỜNG DƯỠNG TINH KHÍ THẦN.. 124

THỰC HÀNH.. 124

I. SƠ TỊNH (Hạ thừa). 124

LUYỆN CHƠN KHÍ. 124

II. TRUNG TỊNH (TRUNG THỪA). 126

LUYỆN TINH KHÍ THẦN.. 126

III. ĐẠI TỊNH (THƯỢNG THỪA). 130

LUYỆN THẦN HUỜN HƯ.. 130

IV. XẢ TỊNH.. 135

CHƯNG CHO CÁC BUỔI TỊNH LUYỆN.. 135

 


 

THAY LỜI TỰA

 

NGỌC ĐẾ VIẾT CAO ĐÀI

BỒ TÁT MA HA TÁT

CAO ĐÀI

Lịch con nghe Phật Như Lai nói chưa?

- Tam Kỳ PHổ ĐỘ là gì?

Là Phể độ lần thứ ba.

- Sao gọi là Phổ độ?

Phổ là bày ra, Độ là cứu chúng sanh.

Chúng sanh là gì?

Chúng sanh là toàn cả nhân loại, chớ không phải là lựa chọn một phần người như ý phàm tục các con tính rỗi.

-Muốn trọn hai chữ PHỔ ĐỘ phải làm thế nào?

Phải bày bửu pháp (Tịnh luyện) chớ không đặng dấu nữa. ([1]).

Nghe và phải tuân theo.

Đàn đêm 26,02 Bính Dần

(08.04.1926)

(TNHT Q1 in 1950, trang 13)

Bài Thánh Ngôn trên xác nhận Phổ Đô và Tinh luyện song hành từ khởi đầu.


 

Đàn đêm, mồng 07.01 Tân Mão (1951)

 

DIÊU TRÌ KIM MẪU

Mụ mừng các Thiên Mạng.

Hộ Pháp: Xin nghe...

………………………

 

Hễ làm Mẹ quyền hành dạy trẻ

Con dừng lo mạng thế thi phàm

Huyền Linh Mẹ chịu phần cam

Ban cho con trẻ (HP) vẹn toàn Pháp môn (TL)

 

Độ cho hết các hồn địa giới

Độ vong lính từ ngoại càn khôn

Cửa linh cầm phướn chiêu hồn.

Độ trong Cửu nhị nguvên nhân nhập trường...

 

(Trí Huệ Cung, in 1973, tr29)

Bài Thánh Ngôn trên cho toàn Đạo biết, Đức Phật Mầu ban cho Đức Hộ Pháp vẹn toàn Pháp môn Tịnh Luyện, mà chỉ dạy lại các hành giả.

Tiếng chuồng Thiền Định đã gióng lên từ

THIÊN HỈ ĐỘNG

 

 

CHƯƠNG I

ĐƯỜNG VÀO THIỀN ĐỊNH

 

TIẾT 1

DẪN NGUỒN TU TỊNH

          1. Bản sắc Văn Hoá Cao Đài:

Từ thê kỷ XI, văn hoá Việt Nam vận động theo tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Tuy Nho giáo chủ đạo mà vẫn giao lưu với Lão giáo và Phật giáo. Tinh thần Tam giáo là sự giao hoà giữa xuất thế và nhập thế, dù xuất hay nhập vẫn với tinh thần vô tư, vô ngã vượt trên dư luận thị phi, lướt trên những điều tầm thường của thế tục, tổng hợp lòng nhân đạo và tính nhân ái.

Trong truyền thống đó, đầu thế kỷ XX xuất, hiện Đạo Cao Đài với chủ trương Tam Giáo qui nguyên, suy tôn Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Sư phó Bạch Vân Động chuyển đạt tình thần Tam Giáo đồng nguyên vào Đạo Cao Đài.

Đạo Cao Đài phát triển trên đất nước Việt. Nam nên ảnh hưởng sâu đậm tinh thần Tam Giáo và truyền thông Thiền Việt Nam. Tuy nhiên sự kế thừa có chọn lọc, có sáng tạo để trở thành bản sắc văn hoá Cao Đài ([2]).

2. Chơn Pháp Chí Tôn không chia hai:

Ngay từ đầu, khi soạn thảo bộ Tân Luật, Hội Thánh Cao Đài đã dành Phần thứ ba cho luật Tịnh Thất, gồm phần mở đầu và 8 điều, qui định một cách tổng quát: Tịnh Thất phải có một Tịnh chủ điều khiến thời giờ công phu, điều kiện nhập tịnh, chế độ ăn uống... (xem Chương II).

Pháp Chánh Truyền qui định các Tịnh Thất đặt dưới sự trông nom của Thượng Phẩm. Như vậy Thiền Định nằm Hiệp Thiên Đài, nghĩa là vị Chưởng quản Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp chịu trách nhiệm tối cao về Bí pháp tịnh luyện.

Bí pháp là quyền năng của điển lực cơ giải thoát. Phận sự thiêng liêng của Hộ Pháp là nắm Bí Pháp để chỉ bày cho chúng sanh tự giải thoát chính mình. Việc phổ độ là đưa người vào cửa Đạo rồi nương theo các tổ chức mà lập công, lập đức. lập ngôn đê Liêu trừ nghiệt chướng đặng vào nhà tịnh, cả hai phần nằm trong chính thể Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh có nhiệm vụ thực hành trọn vẹn cả hai. Tuyệt nhiên trong giáo pháp chơn truyền của Đức Chí Tôn không có sự phân chia làm hai bao giờ. Ý đồ phân chia là nhằm biện minh cho việc chia rẻ chi phái.

Bí pháp và thể pháp tương liên với nhau như bóng với hình, Hễ có hình là có bóng, có bóng là có hình, như lời kinh tụng niệm hàng ngày là cái thể mà sự giác ngộ mới là cứu cánh. Vì vậy, yếu tô" quyết dịnh sự thành bại trên đường tu là công quả phụng sự vạn linh, trau dồi đức hạnh để nâng cao Thánh chất cho Tinh hoá khí, Khí hoá Thần, Thần hườn hư. Thế nên, dù Đức Phạm Hộ Pháp đã qui thiên, phần Bí pháp vẫn có chơn linh tiếp nối. Nền Đạo luôn lưôn có nhiều bậc chơn tu ẩn dạng chứng ngộ với tâm linh sáng suốt thông hoạt giúp đỡ chỉ dẫn người hành giả đi sau thọ truyền Bí pháp.


 

TIẾT 2

ĐẠI THIÊN PHONG VÀO TỊNH THẤT

A.THẢO XÁ HIỀN CƯNG & LUẬT TAM THỂ

1. Thảo Xá Hiền Cung:

Khi Hoà Thượng Như Nhãn đòi chùa Từ Lâm, Đức Cao Thượng Phẩm di cốt tượng Phật Tổ về chùa mới, đồng thời về đất tổ tiên ở cửa Đồn (nay là Khu phố 4, Phường 2 Thị xã, Tây Ninh) cất một cái nhà tranh. Ngày 12.6-Mậu Thìn (28.07.1928), bà Thất Nương giáng ban cung hiệu là THẢO XÁ HIEN cung bằng hai câu liễn:

THẢO XÁ tuỹ nhơn, ngu muội bần cùng nghinh nhập thất

HIỀN CUNG trạch khách, thông minh phú quí cấm lai môn

Từ đó các chức sắc Đại Thiên Phong như Đức Quyền Giáo Tông, Đức Phạm Hộ pháp, Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu, Đầu sư Hương Hiếu... thường họp mặt ở đây để cầu cơ vì Toà Thánh đang xây. Bỗng đâu đất bằng sóng dậy, ông Nguyễn Phát Trước (lãnh tụ phá khám lớn Sài Gòn) thọ phong Chưởng Nghiêm Pháp Quân đưa một nhóm người từ Sài Gòn về Toà Thánh đuổi Đức Cao Thượng Phẩm ra khỏi chùa trong 24 giờ. Đức ngài quá buồn trở về Thảo Xá Hiền Cung tịnh luyện.

Nỗi oan khiên của Đức Cao Thượng Phẩm được đồng đạo đến thăm và chia xẻ nỗi buồn. Trong số đó có Phối Sư Thượng Tông Thanh, người Trung Hoa tặng Đức Ngài hai bức khảm xà cừ có chạm bài thơ tứ tuyệt. Trong bài thơ có ba chữ “độc huyên nghiên” (hoa mai đơn độc) mang triết lý thiền hợp vđi tâm sự, nên Đức Ngài cho treo tại Thảo Xá Hiền Cung. Nội dung như sau:

THI

Chúng hoa dao lạc độc huyên nghiên,

Chiêm đoán phương tình nội tiểu viên.

Sơ ảnh hoành tà thiểu thanh đạm

Ám hương phù động nguvệt hoàng hôn.

 

DỊCH THƠ

Ngàn hoa rơi đoá đẹp còn vương,

Lặng ngắm vườn con tình ngát hương.

Bóng nhạt khẽ mơn làn nước lạt,

Hương thầm khơi nhẹ trăng chiều hôm.

Bài thơ này của Lâm Bô (967 - 1028) đời Tống nguyên bản là bài bát cú, Phối Sư Tông chỉ chọn 4 câu đầu, có các chữ: “Chiếm tận phương tình hướng” sửa thành “Chiêm đoán phương tình nội...” và “thanh thiển” ra “thanh đạm”.

Kể từ đó Ngài tịnh ở Thảo Xá Hiền Cung. Một hôm, Đức Ngài và Đức Phạm Hộ Pháp phò loan được Đức Chí Tôn dạy:

Con ráng nhịn cơm chừng ba bôn bữa nữa đặng Thầy dùng Huyền Diệu Pháp mà trị cho con mạnh, miễn đừng ăn món chi phạt tỳ.

Đàn đêm kế, Đức Chí Tôn cho biết bịnh của Đức Ngài là cơ thử thách: “Phải, con bịnh như vậy đặng trừ bớt thử thách của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đương lo lập vị của mỗi đứa.

Thầy thấy con bịnh phổi và bao tử, nên cho Huyền diệu pháp cho con khỏi ăn đôi lúc để thiệt mạnh. Hai cơ khí ấy vốn là hình chất, nên khó lấy huyền diệu mà trị. Thầy buộc ngưng phận sự nó đặng tiếp dưỡng huờn nguyên.

Không ăn mà sống. Trong không khí tuy phàm nhãn không thây đặng. Không khí chứa đầy tiếp dưỡng cho xác trần, nhờ nó biến hoá chúng sanh đặng.

Vật chất phải tiêu mà khí phách vẫn còn. Thảo mộc dầu phải chặt rã ra mà khí phách vẫn vậy. Con tưởng xác chôn rồi, trong xác ấy cho huờn nguyên khí phách mà hiệp lại cùng không khí chăng?

Các khí con hớp hàng ngày ấy như bữa cơm con ăn đó vậy. Thầy sửa cơ khí phàm cho bao tử có huyền diệu pháp mà tiếp cái khí làm ra vật thực nuôi nấng lấy mình. Nhờ vậy, nhiều đứa xác vẫn còn mà đắc Đạo tại thế, tuyệt cốc xác thân chẳng hại chút nào?

Khi Đức Chí Tôn giáng trần khai đạo, giáng huyền diệu cơ bút thâu môn đệ, dạy thờ Thiên Nhãn trước hết cũng tại nhà Ngài... Đến khi gặp cơn khảo đảo buộc phải lui về tư gia, buồn lòng thất chí nên lâm bịnh nan y khó trị liệu (Theo Đạo sử xây bàn của Bà Đầu sư Hương Hiếu).

Vì lẽ ấy, Hội Thánh lập một Tịnh Thất nơi cụm rừng gần Báo Ân Từ (tức phần đất thuộc Nhà Vạn Linh hiện nay), để rước Đức Ngài về tịnh luyện. Bảy giờ sáng ngày 15.10 - Mậu Thìn (1928) một đoàn xe hơi gồm chức sắc Đại Thiên Phong đến Thảo Xá Hiền Cung rước Ngài về Toà Thánh nhập Tịnh Thất.

Vào Tịnh Thất một thời gian, bịnh trạng không thuyên giảm nên bà Hưđng Hiếu đưa Ngài trở về Thảo Xá Hiền Cung.

Đến 11 giờ ngày 01.03 - Kỷ Tỵ, Đức Ngài cho mời Đức Phạm Hộ Pháp... đến mà trối rằng: “Nay Qua về chầu Đức Chí Tôn, em ở lại hiệp với chư chức sắc chung lo nền Đạo của Thầy cho được vẹn toàn”, rồi xuất hồn êm ái của một chơn linh đắc đạo, nét mặt Ngài như người đang ngủ.

Trong lúc tang lễ, chư chức sắc Hiệp Thiên Đài cầu cơ, Đức Ngài giáng đàn tỏ vẻ vui mừng, được bái mạng Đức Chí Tồn và Đức Phật Mầu. Thiên đình đã nhận công tròn quả mãn nên đắc vị Kim Tiên.

Đức Ngài cho một bài tứ tuyệt:

THI

CAO thanh miệnq thế mặc chê khen,

THƯỢNG trí màn chi tiếng thấp hèn.

PHẲM cũ ngôi xưa dầu rõ giá

Từ bi tập tánh được thường quen.

***

Sau mãn tang, bà Hương Hiếu hiến đất và Thảo Xá Hiền Cung cho Hội Thánh, rồi bà nhận lịnh hành đạo (1930) ở Sa Đéc. Hội Thánh cho cất lại Thảo Xá Hiền Cung bằng ngói âm dương với 4 cột gõ to, mặt tiền cất thêm một. Thánh Thất gọi là Thánh Thất Tây Ninh. Châu Đạo Tây Ninh đặt ở tại đó.

Cơ Đạo ngày một phát triển, nên năm 1992. VĐ và một số đạo tâm đề xuất: tách rời Thảo Xá Hiền Cung và xây dựng bằng vật liệu nặng. Thảo Xá Hiền Cung mới xây phía sau Thánh Thất Thị Xã (tên mới của Thánh Thất Tây Ninh), cách nhau độ 10 mét. Thảo Xá Hiền Cung mới bỏ 4 cây cột gõ thay bằng 4 cột trụ ciment cốt sắt. Mái ngói thay bằng mái uốn cong và đổ ciment làm ngói giả rồi quét nước sơn màu rêu. Ngôi nhà hình vuông mở 4 cửa. Cấu trúc nội thất vẫn theo truyền thống cũ, có 3 gian. Mặt trước gian giữa thờ Tam hiển bộ tức ba thân sinh của ba vị thiên sứ, trong ý nghĩa “nhứt nhân chứng ngộ, thất tổ siêu thăng, là 1. Xuất Bộ Tinh Quân Cao Quỳnh Tuân thân sinh Cao Quỳnh c.ư, 2. Ngân Hà Công Bộ Phạm Công Thiện thân sinh Phạm Công Tắc, 3. Xuyên quan Tư Bộ (bên phải) thân sinh Cao Hoài Sang.

Đây là nơi duy nhứt thờ ba vị. Chính giữa Thảo Xá Hiền Cung thì đắp tượng Đức Cao Thượng Phẩm trong thế đứng uy nghiêm. Bên gian trái thờ Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu. Bên gian phải thờ Ihân mẫu của ông bà.

Những kỷ vật còn lại trong tư thất là: 1. Chiếc bàn tròn để xây bàn đầu tiên (chỉ có ba chân), 2. Đôi liễn treo ở hai cột trưổc, 3. Hai tấm sơn mài có bài thơ tứ tuyệt đã dẫn trê, 4. Bức hoành phi có hai chữ “Kỳ Can”.

Sau lễ Khánh thành Thảo Xá Hiền Cung, TPVĐ được lịnh Đức Hộ Pháp chú giải Tịnh Thất. Viết xong TPVĐ đặt lên bàn thờ Đức Cao Thượng Phẩm. Vào đêm 13.06 - Quí Dậu, Đức Cao Thượng Phẩm giáng dạv:

“Chào hiền hữu,

Bần Đạo được Đức Hộ Pháp cử đến giáng đàn chuẩn y:

- Tịnh Thất chú giải.

- Trường Dưỡng Tinh Khí Thần.

Bần Đạo khen tất cả mấy em công thợ đã vượt qua mọi gian khó để xây cất Thảo Xá Hiền Cung và trùng tu Thánh Thất Thị Xã. Bần Đạo nhập vào cốt tượng để ban ơn cho toàn Đạo.

Việc hoàn thành Thảo Xá Hiền Cung là tiếng chuông cảnh tỉnh cho các Tịnh Thất khác sớm trùng tu.

Tu chơn không áo rộng mũ cao mà nội tâm thiện từ sáng suốt cũng đạt thành chánh quả như con đường cửu Phẩm.

Bần Đạo ban ơn cho toàn đạo”.

Việc chuẩn y “Tịnh Thất chủ giải” là việc quan trọng, đánh dấu bước tiến đến tu chơn, nên thiết lễ tại Thảo Xá Hiền Cung.

Đêm hôm đó, sinh viên kiến trúc tên Hưng ở cửa số 7 thấy huyền diệu hào quang hiện lên hưđng Thảo Xá Hiền Cung. Hưng ra tận nơi gặp thủ Lự Nghĩa hỏi hiện tượng đêm qua. Nghĩa xác nhận có lễ chuẩn y tập sách TDTKTh. Hưng nhờ Nghĩa đưa đến nhà riêng gặp VĐ.

VĐ mở đường tu cho Hưng bằng các công án:

- Tức Đạo tức Tâm hà phương kiến.

(Tâm là Đạo, Đạo là Tâm), tìm ở đâu?)

- Nhơn nhơn hữu cá linh quang điểm,

Bất tạ sơ thông tắc bất minh.

(Mọi người đều có điểm linh quang,

Chẳng khai thông thì chẳng sáng).

Trước đó, vào ngày rằm tháng 4 năm Quí Dậu (tức sau sát ngày triều Thiên của Đức Hộ Pháp). Trong lễ ngọ thời, lúc nhạc tấu Quân Thiên: Phật Tiên, Thánh ngự đàn VĐ thoáng thây Đức Hộ Pháp nhá Kim Tiên khai huệ quang khiếu, mắt đổ hào quang hiện Diệu Quang Tam Thanh.

Đêm hômđó, Đức Hộ Pháp giáng dạy:

“Hiền đồ muốn hỏi về Lễ Ngọ thời trưa rồi có phải? Bần Đạo đã nói vào tai hiền đồ: đó là Lễ Truyền Tự Pháp, hãy để cho mọi người khám phá sự CHỨNG NGỘ của môn đệ, trước khi mốn đệ cho họ biết.

Tự Pháp là nối tiếp và truyền các bí pháp còn dang dở... Bần Đạo sẽ chuyển tâm ý nhơn sanh, rồi hiền đồ sẽ thấy người ta tìm đến học Đạo. Lúc đó, Bần Đạo chỉnh lơ hiền đồ đóng cửa nhà mà không tiếp khách, cười!”.

(Thánh Giáo BV Quán, in 2006, tr. 77)

2. Luật Tam Thể:

Luật Tam Thế do Đức Cao Thượng Phẩm, Bà Bát Nương... giáng cơ về bí pháp tại Giáo Tông Đường hoặc Bộ Pháp Chánh trong khoảng thời gian từ 1950 - 1952, do chức sắc Hiệp Thiên Đài từ phẩm GiámĐạo trở xuống cầu cơ học hỏi.

Vào đêm 28.07 - Canh Dần (1950), Đức Cao Thượng Phẩm giáng dạy:

“ Bần Đạo đêm nay đến dạy các em về mặt tinh thần đạo đức. Bần đạo dạy về Tam Thể của con người.

Con người có ba thể;

Thể thứ nhứt ỉà xác thân do cha mẹ sanh ra.

Thể thứ nhì gọi là Đệ nhị xác thân của Đức Phật Mẫu ban cho. Còn thể thứ bà là linh hồn do Đức Chí Tôn ban cho. Trong ba thể ấy hiệp lại mới thành con người, nhưng bản chất khác nhau.

Thể thứ nhứt là xác thân có ngũ quan, biết cảm giác xúc động, do nơi bẩm sanh của cha mẹ mà biến tướng ra. Nó cũng như con vật.

Thể thứ hai Đệ Nhị xác thân tức là chơn thần của con người. Người đời gọi là vía hay là hào quang. Nó theo cái thể thứ nhứt mà biến hình.

Thể thứ ba là linh hồn do Đức Chí Tôn chiết xuống để cho con người hiểu biết và khôn ngoan hơn loài vật. Vậy thể thứ ba như người cầm cương con vật.

Ba thể ấy khi nào hiệp một thì con người ấy mới thâu hiểu thiên cơ của Đức Chí Tôn. Một khi con người đã thấu hiểu đước Thiên cơ thì người ấy đã đạt Đạo. Bởi vậy, người tu cần phải lập luyện thể nào cho Tam Thể ấy được tương liên với nhau thì con người mới trở nên sáng suốt hơn kẻ thường tình.

Phương luyện kỷ đặng tương hiệp Tam Thể thì Đức Hộ Pháp đã dạy từ lâu rồi, các em quên sao?”.

(CTPh và Luật Tam Thể, in 1972, tr.139)

Đàn đêm 07.08 - Canh Dần (18.0911950) giáng đàn dạy tiếp về Tam Thể và cho hai bài thi:

ĐỆ NHỨT XÁC THÂN

 Bản chất vốn sanh bởi địa hoàn,

Âm dương nhờ đó mới thành căn.

 Nhựa nhành do bởi mầm vi tô'([3])

Máu huyết nảy sanh vật hữu thân.

Nhờ hưởng khí trời nên được sông,

Nương theo vị đất đặng hằng sanh.

 Kiếp căn bao thuở đà tiền định,

Vi tố đến hồi trở lại căn.

CTP

ĐỆ NHỊ XÁC THÂN

Nguyên lai bản chất vốn trung bình,

Lục dục thất tình vẫn vẹn thinh.

Phật Mầu ban cho nên đức tính.

Chí Tồn trau sửa được thành hình.

Ruộng cày sáu mẫu ([4]) lo vun quén,

Nhà ở bảy căn ([5]) ráng gìữ gìn.

Trở lại ngôi xưa thờ khéo dưỡng

 Yêu thương Phật Mau tạo nên hình.

 

Tóm lại, Luật Tam Thê gồm có ba phần:

1. Phần dạy đạo của Đức Cao Thượng Phẩm.

2. Phần dạy đạo của Bà Bát Nương.

3. Dạy về Bát Hồn

 

B. TOẠ THIÊN (Ngồi tĩnh tâm)

1.Muốn toạ thiền, trước hết phải nhập định.

Nhập định là làm cho tinh thần yên ổn, không suy nghĩ điều chi, chỉ nuôi dưỡng duy nhứt tư tưởng Thánh thiện trọn lành.

Đàn đêm 28.01 - Nhâm Thìn, Bà Bát Nương dạv:

“ Chị để lời khuyên mấy em, đừng lầm tưởng là phải yên tịnh một nơi mới thâu kết quả. Mấy em phải tập làm thế nào cho tâm được, cải tịnh ờ trong cái động thì mới nên đó, bằng chẳng vậy quỉ mị sẽ vua theo, chỗ an tịnh riêng mình là dẫn nẻo nó đó nghe.

Phải để tâm cho lắm mới được. Nói rõ hơn là Chơn thần muốn tịnh lúc nào cũng được, chẳng nệ đông tiếng ồn ào, việc làm bề bộn”.

Đó là lối tịnh của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, xin theo dõi dưới đây.

. Đêm mồng 5.12 - A't Sửu (1926), Đức Chí Tôn dạy hai ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc đem cơ đến nhà ông Lê Văn Trung để độ ông ây. Đức Hộ Pháp kể lại rằng:

“Trong nhà có một người con nuôi thên là Thanh. Khi phò loan thằng nhỏ ngủ, ông thì thức. Cơ chạy hoài. Ông hỏi thì Đức Chí Tôn trả lời, chỉ có hai người biết với nhau thôi. Từ đó ông mới tin nơi Đức Chí Tôn” (PHP, Bài thuyết đạo đêm 13.10 - Giáp Ngọ).

Trong đàn cơ này, Đức Chí Tôn phán truyền:

“Trung nhứt tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thác cùng nơi thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng mắt của con mà suy lấy”:

Từ đó đến hết đời, ông Lê Văn Trung sáng mắt trở lại. Đến đêm 21.01.1926, Đức Chí Tôn dạy ba ông Trung, Cư, Tắc như vầy:

Mặt nhựt hồi mô thấy sẻ hai?

Có thương mới biết Đấng Cao Đài.

Cũng con cũng cái đồng môn đệ,

Bụng muốn phân chia hỏi bởi ai?

Rõ ràng Đức Chí Tôn dạy vô vi với phổ độ như dương với âm vốn là một không thể phân chia ngoại giáo nội giáo gì cả.

Đêm 23.01.1926, Đức Chí Tôn xác định:

Chín Trời mười Phật cũng là

Ta Truyền đạo chìa ra nhánh nhóc mà.

Hiệp môt chủ quyền tay nắm giữ,

Thánh, Tiên, Phật đạo vốn như nhà.

2. TỌA THIEN (Ngồi tĩnh tâm)

Riêng ông Lê Văn Trung vẫn còn phân vân về việc tu luyện tâm pháp. Đêm 07.01.1926 ông hỏi, Bà Thất Nương trả lời rằng:

“Đã gặp Đạo tức có duyên phần. Ráng tu luyện siêng thì thành, biếng thì đọa. Liệu lấy mà răn mình. Phải sớm tính. Một ngày qua, một ngày chết. Đừng do dự”.

Do đó, Đức Lý Thái Bạch khuyến khích ông Trung luyện tâm pháp:

Có công phải biết gắng nên công (PHU)

Tu tánh đã xong gắng luyện lòng (TÂM)

Kình sách đầy đầu chưa thoát tục,

Đơn tâm khó (THIÊN) định lấy chi mong?

Ngày 28.01.1926, Đức Chí Tôn lại dạy riêng ông Trung như sau:

Một ngày thỏn mỏn một ngày qua,

Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa.

Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ

Cửa Thiên xuất nhập cũng như nhà.

Cương toả dương thời đã giải vây,

Đừng mơ oan nghiệt ở đời này

Hữu duyên hiểu thấu nguồn chơn đạo,

Tu luyện khuyên bền chớ lá lay.

Ta thấy Đức Chí Tôn chú ý dạy đạo ông Trung nhiều nhứt vì trọng trách hoằng khai Đại Đạo sau này. Đức Cao Đài dạy ông Trung ba điều chính:

1. Đạo vốn chỉ có MỘT: “Cũng con cũng cái đồng môn đệ”.

2. Tâm Pháp Thiền định: “Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa”. Đây là quan niệm tu hết sức tiến bộ. Tiên Phật trong tâm ta, không nên tìm ở ngoài.

3. Sống chết nới Thầy: “Sông có Ta, mà thác cũng có Ta”.

Do đó đêm 15.03 - Bính Dần, Đức Chí Tôn ân phong ông Trung làm Thượng Đầu Sư.

Trong buổi đầu lịch sử Đạo Cao Đài cả ba ngài Ngô Văn Chiêu, Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc đều là đồng tử thông công được với Đức Chí Tôn và chính Đức Chí Tôn dùng huyền diệu độ cả ba vị này.

Riêng Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung được Đức Chí Tôn giáng tâm chỉ dạy Ngài phương pháp Tịnh Tâm. Ngài đã áp dụng phương pháp tu tập này hằng ngày, trong khi ngồi làm việc tại Giáo Tông đường. Điều này chỉ một số người sống gần Ngài mới biết được, và họ hằng cấm túc an toạ để thúc liễm thân tâm mà trau giồi hạnh đức.

Trong đường tu việc kiểm soát thân tương đốì dễ hơn tâm. Điều khiển tâm mình theo đường thiện, tránh ác ý với mọi người thật không đơn giản chút nào. Thế nên Đức Quyền Giáo Tông đã chọn mùa hè từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1932 để an cư kiết hạ. Ớ tại Giáo Tông đường an dưỡng vào mùa hạ là tốt nhứt. Vì mùa hạ, cây cối nẩy mầm, côn trùng sinh nở, nếu đi lại nhiều có thể dẫm đạp làm hại chúng sanh hạ đẳng. Cho nên, Đức Ngài nói:

“Từ ba tháng nay, tôi an nghỉ không gần gũi với chư hiền hữu, chư hiền muội.

Trong lúc an nghỉ tôi có suy xét ba phương diện:

1. Theo căn số' năm nay tôi phải nạn to mà nhờ tu luyện nên Trời độ qua khỏi nạn.

2. Tôi có tội với Tiên Phật vì cầm mối Đạo không vững nên phải đau đáu ba tháng.

3. Cơ thử thách coi tôi có ngã lòng thối chí chăng?

Rồi Đức Ngài giải thích chữ tu như sau:

“Tu là trau giồi tánh hạnh. Tu không phải từ mơi tới chiều lo tụng kinh gõ mõ... Nếu trong thế gian đều phế công việc mà tìm chỗ u nhàn, còn ai mà lo nhơn đạo. Người hành đạo mà bỏ nhơn đạo không lo nhơn đạo cho hoàn toàn thì hành đạo vô ích”.

Trong vài câu ngắn ngủi, Đức Ngài cho biết Tân Pháp của Đạo Cao Đài: “Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa”. Làm việc cứ làm việc, tu cứ tu (lúc rỗi). Đó là lối tu đơn theo truyền thông Đạo Cao Đài. Tứ đại uy nghi: đi đứng nằm ngồi đều tu, không phải đến chùa, trước Trời Phật mới gọi là tu. Hành giả tu bất cứ đâu, tâm an tịnh, giữ lòng trong sạch, tu theo luật mà Đức Hộ Pháp đã ban hành “Phép Trị Tâm”.

Vào 21.12 - Tân Mão (17.01.1952), Đức Ngài giáng cơ:

Thượng Trung Nhựt

Qua mừng chung mấy em Hiệp Thiên Đài Qua thấy mấy em mà qua tủi cho Cửu Trùng Đài quá lẽ. Thưđrvg cho họ thiếu hiểu (tịnh luyện). Chúc mấy em được rạng thêm danh khí, cầm đuốc tuệ giữ mực chdn truyền.

Qua xin để một bài thi:

Mừng rạng chơn thần giữ trọn công,

Đèn từ soi khắp chiếu non sông

Sửa đời mong có chơn thần thiện,

Động dẫn xác lên đến cõi Bồng.

THƯỢNG TRUNG NHỰT

(CTP, Luật Tam Thể, xb 1972, tr. 183)


 

C. BẠCH VÂN AM

1. Đời hành Đạo:

Ông Nguyễn Ngọc Thơ, vốn là chủ đồn điền cao su, may duyên gặp Đạo Cao Đài. Ngày 02.06.1926, ông cầu Đạo và biến nhà minh thành Đàn Tân Định.

Ngày 10.08.1926 (03.07 - Bính Dần), ông thọ phong Thái Phối Sư, rồi lên Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh. Năm 1930, theo Đạo Nghị định số 2, Ngài được thăng Quyền Đầu sư phái Thái.

Năm 1931, Ngài cùng Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh mua 100 mẫu đất từ Bàu Cà Na ra tới Ngã ba Mít Một thành lập một cảnh Thãi Cực Toàn Đồ rộng lớn, chia làm hai cuộc:

Phía Bắc là Bạch Ngọc kinh tạo tác tổ đình, có Bá Hoa viên, Động Đình hồ, Đức Chí Tôn ngự mở cảnh thoát trần, Đức Di Lạc giáng thế khai Long Hoa hội. Hai bên rừng Thiên Nhiên, phía sau lập Cửu Viện, Thiên Phong đường, Đầu Sư đường, Hộ Pháp đường, Tịnh Thất, Học đường, Dưỡng đường.

Phía Nam tạo Cưc Lạc Vô Vì cảnh giới, đắp con đường từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây gọi là Tứ Tượng đồ biến sanh Bát Quái, chính giữa ngã tư biến ra: Càn, Khảm, cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Phía bên hữu Tây Bắc thì tạo Quan Âm các, phía bên tả Tây Bắc thì dựng Long Nữ điện. Phía bên hữu Đông Bắc thi cất Toà Kinh viện...

Bên hướng Bắc thì lập Thái Bình Địa cũng 500 công đất, cất chợ Từ Bi, nhà thương (bệnh viện), nhà nghỉ...

Ngài ước mong Hội Thánh mở mang cuộc Thánh Địa này. Sau đó Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết, nguơn linh của Ngài là Từ Hàng Bồ Tát, còn Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh nguơn linh là Long Nữ.

Lúc mở Đạo ở Nam Vang, Đức Hộ Pháp xuất chơn thần về Thiên Đinh gặp Ngài Thái Thơ Thanh tức Từ Hàng Đạo Nhơn cỡi Kim Mao Hẩu tay cầm Bửu Kiếm chỉ ngay chữ NHỰT kép (tức chữ Vạn) thì cửa Cực Lạc Thế Giới biến hoá rộng rãi. Đức Hộ Pháp dẫn đầu bước vào theo sau là các vị chức sắc.

Chính vì thế mà Ngài Thái Thơ Thanh đã giao lại việc xây cất Toà Thánh cho Đức Hộ Pháp, chỉ lập ngôi Cực Lạc cảnh lưu lại kỷ niệm.

Thời gian sau vì hay đau yếu, Ngài về Sài Gòn dưỡng bệnh.

2. Bạch Vân Am:

Tháng 09 năm 1939, Ngài lập ngôi Bạch Vân Am (số 52 đường Bà Kế) ở Phú Lâm. Từ đó Ngài luyện đạo tu chớn trong suốt 12 năm (1939 - 1950).

Ngài qui vị ngày 21.7 - Canh Dần (03.09.1950) hưởng thọ 77 tuổi. Hội Thánh được tin, đem liên đài xuống Sài Gòn rước xác về Toà Thánh Tầy Ninh, làm lễ Đạo táng rất trọng thể, liên đài nhập bửu tháp, được xây bên Đông Lang Toà Thánh, và đem bửu ảnh thờ nơi Báo Ân Từ.

Bài thài hiến lễ Ngài Thái Đầu Sư:

Tu thân giáo hoá chỉnh đời thanh,

Đồng chúc lê dân hưởng phước lành.

Cõi tục cầu an kinh tụng niệm,

Lời truyền nguyện thấu đến cao xanh.

Mưa thuần gió thuận Nghiêu Thang tịnh

Nắng tốt tuyết hoà Thuấn Võ thanh

Đồng hưởng đời đời câu thạnh trị

Tiêu diêu khoái lạc chí hùng anh.

Ngày mồng 8.07 - Nhâm Dần (05.08.1962), tại Thánh Tịnh Huỳnh Quang sắc ở Bình Đông, Chợ Lớn, Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh giáng cơ bài thi cho biết Ngài đã qui hồi cựu vị trên cõi Thiêng Liêng là TỪ HÀNG ĐẠO NHƠN.

THI

TỪ bi xây dựng lập ban vui,

HÀNG mặc viết tu bước thẳng xuôi.

ĐẠO lý sáng soi dìu khách tục

NHƠN luân tô điểm tợ hoa tươi.

NGUYÊN gia gội phước gìn nên một,

NGỌC quí đượm màu giữ vẹn mười.

THƠ phú Thần Tiên ngâm hiểu nghĩa,

GIÁNG khuyên ráng học dạo làm người.

Quán thủ (quán là đội mũ) tám chữ đầu câu thơ trên là: Từ Hàng Đạo Nhơn Nguyễn Ngọc Thơ giáng.

Đến ngày rằm tháng 9 năm ấy (13.10.1962), cũng tại Thánh Tịnh Huỳnh Quang sắc, Ngài Thái Đầu Sư đã giáng cơ giải rõ hành tàng tu chơn của Ngài lúc còn sinh tiền. Đó là lối TU CHỢ (nhứt tu thị, nhị tu sơn) là lối tu khó nhứt trong các cách tu: tu nhà, tu chùa, tu núi. Thế nên, Ngài giáng cho kinh Nhạc Đạo Hành Ca như sau:

“TỪ tâm cứu khổ độ quần sanh,

HÀNG uyển chỉnh tu tạo sống lành.

ĐẠO lý gieo truyền gầy hạnh lạc,

NHƠN luân bồi đắp tạc thinh danh.

NGUYÊN gia phước huệ nêu màu đẹp

NGỌC cất tinh vi rạng sắc thanh.

THƠ viện sáng soi gìn giác thế,

GIÁNG phân lẽ phải gắng thi hành.

“Đàn này, Bần Đạo (Ngài Thái Đầu Sư) vâng sắc lịnh Đức Chí Tôn giáng tả kinh NHẠC ĐẠO HÀNH CA trên đường khai thông chuyển hoá”.

TỰA KINH

NHẠC lòng hoà tấu bản Đường Tu,

ĐẠO đức sáng soi vẹt ngút mù

HÀNH hoá cảm thông khai mạch sống

CA ngâm đúng điệu tỉnh phàm phu.

“Nhạc Điệu Hành Ca là những điệu sóng đàn lành mạnh hoà nhịp bản ca đạo đức, là những giọng dịu hiền giác hoá khách trần đi trên khúc quanh mê lộ.

“Câu đối:

“NHẠC ĐẠO Tam Kỳ giác ngộ trần mê khai tâm chuyểnhoá

HÀNH CA Nhứt Lộ xiển dương chánh pháp bĩnh tánh hồi nguyên" - Thăng.

 

D. HỘ PHÁP TỊNH ĐƯỜNG

1. Tịnh là vô nhứt vật:

Vì vai trò quan trọng trong nền Đạo mới, nên Đức Chí Tôn ưu ái dạy Đạo trực tiếp cho Ngài Phạm Công Tắc về nội giáo tâm truyền hay thiền định như sau:

Thành tâm niệm Phật

Tịnh, tịnh, tịnh, tỉnh, tỉnh

Tịnh là VÔ NHỨT VẬT

Thành tâm hành Đạo (Pháp).

Đàn đêm 01.12 - Ất Sửu.

Bà Thất Nương khuyên khích: “Em xin hai anh (Cư, Tắc) gắng công học đạo, luyện đưỡng tinh thần, ắt ngày sairđắc đạo. Coi bửu vị làm trọng đừng ham luyến hồng trần mà phải đoạ”.

Bốn câu trên nêu rõ cách tu luyện theo Đạo mới: tâm thiện niệm, tỉnh lặng, vô nhứt vật và tự hành pháp.

Ba chữ “vô nhứt vật” đã được Lục Tổ Huệ Năng nhắc đến trong bài kệ về chữ tâm mà được truyền y bát của Ngài:

Bồ đề bản phi thụ,

Minh cảnh diệc phi dài.

Bản lai vô nhứt bật,

Hà xứnhạ trần ai?

Tạm dịch:

Bồ đề vốn không cây,

Gương sáng cũng chẳng đài

Xưa nay không một vật

Chỗ nào dính (bụi) trần ai?

Câu 1. Tâm thiện niệm: Sau khi đọc Ngũ nguyện thì niệm danh Thầy (Phật trên các Phật) là đủ. Vì danh thầy bao gồm cả Tam Giáo.

Câu 2. Tỉnh lặng: Tỉnh là tâm bên ngoài không xao động, bên trong chẳng lo hơn tính thiệt, tức bên trong bên ngoài chẳng loạn là tịnh. Khi tịnh giác quan ta vẫn nghe vẫn thấy, nhưng phải tỉnh táo để tâm khỏi bị ngoại vật lôi cuốn, mà nghe như không nghe, thấy như không thấy. Nếu tịnh mà tâm viên ý mã là sai.

Câu 3. Tâm vô nhứt vật: Bài kệ của Lục Tổ có ý nói: Bồ đề là tánh giác ngộ, không hình dáng trống không, chẳng có chi gọi là thọ (cội cây). Minh cảnh là tâm viên minh, thông triệt cũng trống không, có chi gọi là đài? Bổn lai Diệu giác Chơn tâm, từ trước đến sau vẫn trong sạch, không có cái gì tìm được trong đó. Như thế có sao gọi là dính bụi. Ngài dạy: “Tâm vốn là vọng đó khỏi phân biệt hư giả, liên tịnh chỉ cần không vọng là đủ, không vọng thì động tự lắng xuống, tâm an nhiên, tự tánh thanh tịnh”.

Câu 4. Tự hành pháp: Tu chơn là tự tu luyện một mình sau khi được chơn sư chỉ dẫn. Hành pháp tự tu, tự thành biết được tánh giác thường hằng là sắp có ấn chứng thiêng liêng.

Hai hôm sau ngày mồng3.12 - Âi Sửu, Quí Cao giáng đàn và cho hai vị cư, Tắc biết: “Đã từ lâu không dám nói vì em phải tu như hai anh vậy. Không dám nói VI hai anh có Thầy, em không dám lộng quyền”. Rồi Quí Cao tặng hai Ngài bài thơ khuyến tu:

Tu như cỏ úa gặp mù sương,

Đạo vốn cây che mát mẻ đường.

Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng,

Đôì năm mệt nhọc, vạn năm bường.

thần nuôi nấng thần càng mạnh,

Luyện khí thông thương, khí mới lường.

Nhập thế lòng trong gìn tịnh mẫn,

Nguồn Tiên chốn Phật mới nhằm phương.

Hôm nay khai đàn tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư, Thất Nương giáng dạy:

“Em xin quí anh coi lại đời là thế nào? Bông phù dung sớm còn tối mất. Nó sống ngắn ngủi nhưng lúc sống còn có cái sắc, chớ đời sanh ra để thọ khổ hải. Em xin quí anh coi sự trường sanh của mình làm trọng. Đã vào đường chính, cứ theo đó mà bưổc tới hoài, thì trở về cựu vị đặng”.

Xem thế, các Đấng đã dạy bí pháp cho Ngài Phạm Công Tắc rất cặn kẽ. Nên khi Đạo mở, Ngài muôn truyền bí pháp trước, nhưng bị Đức Chí Tôn ngăn lại. Trong bài thuyết đạo ngày 30.05 - Quý Tỵ (1953), Ngài đã nói:

“Trong thời kỳ Bần Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở đạo, Đức Chí Tôn mới hỏi rằng:

- Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở bí pháp trước hay con mở thể pháp trước?

Bần Đạo trả lời:

- Xin mở bí pháp trước.

Đức Chí Tôn nói:

Nếu con mở bí pháp trước thì phải khổ đa. Đang lúc đời cạnh tranh tàn bạo, nếu mở bí pháp trước, cả sự bí mật huyền vi của đạo, đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại thì mối đạo phải ra thế nào. Vì thế nên mở thế pháp trước, dầu cho đời quá dữ, phá hoại cơ thể hữu vi đi nữa thì cũng vô hại, xin miễn bí pháp còn là Đạo còn. Bí pháp do Hiệp Thiên đài nắm giữ”.

Xem thế, Thiên Thơ tiền định, Đức Hộ Pháp giáng trần có nhiệm vụ tạo dựng thể pháp Đạo Cao Đài, rồi sau mới mở bí pháp đại trà, nói một cách khác phần phổ độ nặng hơn phần tịnh luyện, chớ không phải Toà Thánh Tây Ninh không có pháp môn tịnh luyện, đọc tiếp những chương sau sẽ rõ. Quyển sử này gióng lên tiếng chuông cảnh thức cho những ai chưa nghiên cứu kỹ sẽ thấy rằng từ khai Đạo đến nay, gốc Đạo vẫn song hành phổ độ và tịnh luyện.

2. Thảo Đường - Khổ Hiền Trang

            a. Thảo Đường:

Năm 1928, Đức Phật Mẩu giáng cơ dạy khai khẩn đất hoang độ 60 mẫu tây tại làng Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho để đào một con kinh và xây đền Phật Mẫu và một ngôi Thảo Đường. Đức Phật Mẩu giáng cho một bài thi:

Thảo Đường phước địa nqộ tùng hoa,

Lục đại dư niên vũ trụ hoà.

Cộng hưởng phàm gian an lạc nghiệp

Thế đăng tìồng Đảo định âu ca.

Dịch nghĩa:

Câu 1. Ngôi nhà tranh nơi đất phước, người chính nhơn gặp thời.

Câu 2. Sáu đời hơn vũ trụ hoà bình.

Câu 3. Người đời cùng hưởng cảnh an cư lạc nghiệp.

Câu 4. Cõi đời thăng lên cõi Tiên cùng hưởng thái bình.

Ý khác, Thảo Đường là tên Thiền sư Trung Quốc, dòng thiền thứ ba truyền đạo vào nước ta phía nam nước Chiêm Thành vào đầu thế kỷ XI, được vua Lý Thánh Tôn (1054 - 1072) đưa về mở đạo tràng ở Thăng Long và truyền đạo được sáu đời (lục đại).

Sau đó, Đức Lý giáng cho đôi liễn:

THÁO thượng sương phi tiện thị Thiên ba chi thắng cảnh,

 ĐƯỜNG tiền nguyệt chiếu thậm quang Địa thời thị đăng Tiên.

Dịch nghĩa:

Trên cỏ sương bay ãó là sóng trời, cảnh tuyệt đẹp Trước nhà trăng soi thật sáng đất tự nhiên lên Tiên.

Phần đất Thảo Đường 60 mẫu này có long mạch hiện lên, người Tning Hoa đem Long Tuyền kiếm qua nước ta yếm long mạch. Một khi vùng đất linh này sản sinh anh tài thì bị long tuyền kiếm triệt hạ tức thời. Bà bát Nương cho Đức Phạm Hộ Pháp biết và Ngài đã phá được phép yếm này. Ngài cho đào một con kinh cắt đôi long mạch để nước long mạch chảy ra mà lưu thông khắp sông rạch cho lương dân tươi nhuận khởi sắc.

            b. Khổ Hiền trang:

Năm 1927, vâng lịnh Đức Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp và Ngài Bảo Văn Pháp Quân đến làng Phú Mỹ mua đất cất Khổ Hiền Trang rồi giao cho Thượng Minh Thanh cai quản, được Đức Lý giáng cho thi:

KHổ là cam chịu chớ đừng than,

HIÊN hảo cùng nhau mới vẹn toàn.

TRANG điểm ngọc lành cho đáng giá Giồi mài chí thiện Thượng Minh Thanh.

Các Đâng cũng giáng cơ dạy ông Đinh Công Trứ lập Minh Thiện Đàn tại tư gia của ông và lập trường Qui Thiện (1928).

Sang năm Kỷ Tỵ (1929) ngày ngày 3 tháng |iêng Đức Quan Thánh Đế Quân giáng dạy lập thêm Đồng Nghĩa đường tại tư gia ông Lê Văn Trung (Phước Thiện). Tổng sô" người gia nhập cả hai đàn lên tới 3400 vị.

Vì sô" người nhập môn ngày càng nhiều, nên ngày 25.02.1929, Đức Lý Thái Bạch giáng cơ giao Minh Thiện đàn cho Đức Phạm Hộ Pháp. Ngài khởi sự hành pháp cân thân, tất cả 93 vị nhưng chỉ lựa được 24 vị.

Sau đám tang Đức Cao Thượng Phẩm, ngày 10.06 - Kỷ Tỵ, Đức Hộ Pháp, Đức Quyền Giáo Tông và Giáo sư Latapie xuống Khổ Hiền Trang hành pháp kỳ nhì trục thần liên tiếp ba đêm cho 647 vị, chỉ chọn được 48 vị. Những người còn lại Đức Hộ Pháp dạy làm âm đức thêm. Tất cả hai kỳ và 72 vị.

Tóm lại, Đức Phật Mau dạy lập Thảo Đường và lập Khổ Hiền Trang là bước đầu đưa các hành giả vào đường Tịnh Thất.

            3. Hộ Pháp Tịnh Đường - Phương Iuyên kỷ:

a. Hộ Pháp Tịnh Đường: nằm ở bên trái và phía trước Đẹn Phật Mẫu được Đức Hộ Pháp cho nhơn sanh Trường Qui Thiện xây dựng năm 1947.

Sau những ngày làm việc mệt nhọc để xa lánh anh em quân đội đang chiếm cứ Nội 0 không chịu di dời ra ngoài. Lúc ấy, Hành chánh Đạo dùng ngày âm lịch, mỗi tháng có ba tuần, mỗi tuần có mười ngày. Mồng 10, 20, 30 (tháng thiếu ngày 29) là ngày nghỉ, Đức Hộ Pháp đến Hộ Pháp Đường mà tĩnh dưỡng tinh thần.

Vào tháng 9.2006, Hộ Pháp Tịnh Đường được trùng tu, Lễ Khánh thành và hoàn công vào ngày 04.06.2007 (19.04 - Đinh Hợi). Đệ tử Bạch Vân Quán đến dự lễ và hỉ hiến tiền được ghi ơn: “Cựu Ban Trị Sự và Ban Tu bổ Trường Qui Thiện Trí Giác Cung, Địa Linh Động cảm tạ các vị đệ tử Bạch Vân Quán đã hỉ giúp tiền xây dựng Ngôi HỘ PHÁP TỊNH ĐƯỜNG”.

Cấu trúc HỘ PHÁP TỊNH ĐƯỜNG giống như Thảo Xá Hiền Cung, nhà ba gian. Gian cnính giữa thờ Đức Chí Tôn và bửu ảnh Đức Hộ Pháp, bên trái thờ Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa (Ngài là cặp cơ bí pháp với Tiếp Pháp Trương Văn Tràng), bên phải thờ ba vòng vô vi (vàng xanh đỏ).

Đức Hộ Pháp giáng cho đôi câu liễn:

HỘ PHÁP Tam Kỳ khai chánh giáo.

TỊNH ĐƯỜNG tứ chuyển thiết Long Hoa.

Những buổi tĩnh tâm, Ngài có dịp nhìn lại việc đời và việc đạo, Đức Ngài xúc cảm đề thơ:

NGƯỜI TU HÀNH

Chẳng ham danh lợi, chẳng mê trần,

Thạch động an nhàn thân độ thân.

Biển Bắc mặc dầu cơn sóng bủa

Non Nam chi quản đám mây vần.

Ngày ăn hai bữa nuôi tinh huyết

Đêm ngủ ba canh dưỡng khí thần.

Quyết đoán công phu thân vận động

Đường Tiên cửa Phật mới mong gần.

PHẠM HỘ PHÁP

TPVĐ ghé thăm Hộ Pháp Tịnh Đường xúc động đề thơ:

HỘ độ nhơn sanh đến cõi Bồng,

PHÁP luân thường chuyển khắp Tây Đông.

TỊNH tâm thiện niệm hằng trì giới

 ĐƯỜNG Phật nẻo Tiên hiệp đại đồng.

Nhắc lại, Trường Qui Thiện là cơ sở đạo do Giáo Thiện Đinh Công Trứ lập ra, qui tụ một số đạo hữu về đây tu học và làm lành.

Ngày 26.10 - Canh Dần (1950) Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ tại Qui Thiện đường của Trường Qui Thiện như sau:

“Đây là lần thứ nhứt, Bần Đạo có dịp chỉ giáo các em nơi Trường Qui Thiện... Qui Thiện đường là nơi qui tụ những người đã nhận thức sự thật về giá trị và sở hành của mình, đã có sẩn một tâm hồn cao thượng, biết cân phân điều hơn lẽ thiệt. Bần Đạo khen các em đó.   '

Nếu ai theo đường danh bể hoạn hiện thời thì họ chuốc lấy sự mất ở ngày mai. Chỉ những kẻ tâm hồn sấn sàng phụng sự cho người đời mới còn được mảy may mà thôi. Giá trị cùng chăng là do nơi hành động phi phàm đó thôi”.

Đức Phạm Hộ Pháp, trong lễ khánh thành Tân Dân thị (nay là chợ Qui Thiện) vào ngày 29.11 - Giáp Ngọ (1954) có lời phủ dụ như sau:

“Trong 72 anh em chung sức cùng nhau, mà làm đầu Trường Minh Thiện ỉúc ấy là Đinh Công Trứ. Cái nghĩa lý tối trọng của chơn pháp Đức Chí Tôn, Qua giao lại cho nó để làm thế nào cho thiên hạ hết thống khổ.

Mấy em ôi, trong buổi phong ba bão táp, nhơn loại ở trong sông mê bể khổ. Mấy em cùng Qua tạo cho thành đặng cứu vớt khổ não của họ. Cái khổ ấy làm cho Qua đổ biết bao giọt huyết lệ, từ khi biết Đạo”.

Tôn chỉ và mục đích của trường Qui Thiện được thể hiện trong hai câu liễn sau:

Đôi liễn thứ nhứt:

QUI lương sanh hành chánh giáo thủ bí pháp chấp trung quán nhứt,

THÍỆN cấp cô năng dưỡng lão bảo chơn truyền Đại Đạo Tam Kỳ.

Dịch nghĩa:

Qui tụ người lành, tu hành theo chánh giáo bảo thủ bí pháp, chấp trung quán nhứt,

Làm việc thiện, cấp dưỡng trẻ mồ côi, nuôi người già, bảo thủ chơn truvển Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Đôi liễn thứ hai:

QUI Thánh đức, trụ thiện lương, kính trọng hiền nhơn thân cô độc,

THIỆN tồn tâm hành chánh đạo tảo trừ quái giáo giải oan khiên.

Dịch nghĩa:

Qui tụ thánh đức, giữ vững thiên lương, kính trọng người hiền, gần người cô độc,

Giữ tâm lành, tu hành chánh giáo, diệt trừ hết tà giáo, cỡi bỏ oan khiên.

            b.Phương luyện kỷ - Phép trị tâm:

Những ngày lưu lại Hộ Pháp Tịnh Đường, Đức Ngài chiêm nghiệm thấy bọn cường quyền tranh nhau chém giết, lính tráng thì hung hăng, kẻ côn đồ thì man rợ... Chung qui chỉ vì thiếu cái tâm.

Thiên chức của Đức Ngài là giáo dân qui thiện. Thế nên trong hoàn cảnh khó khăn nào, Đức Ngài vẫn dành nhiều thì giờ để giáo tín đồ đạt pháp.

Ngày 14.01 - Đinh Hợi (1947), Đức Ngài ban hành Đạo lịnh 209HP chỉ dẫn về Phương Luyện kỷ (tức tu đơn).

Nhớ lại, từ ngày 14.01.1926, Đức Chí Tôn đã truyền Tân Pháp Tu Chơn cho Đức Ngài và nay Ngài truyền lại cho nhơn sanh, vì không tìm hiểu tận nơi mà một số người cho là Toà Thánh Tây Ninh chỉ có Tịnh Thất cho tín đồ mà không có pháp tu tịnh cho chức sắc (Đồng Tân, Lịch sử Đạo Cao Đài (quyển 2), Sài Gòn 1972, trang 402).

Trước khi vào nhà tịnh, Đức Phạm Hộ Pháp nói: “Hôm nay Bần Đạo tạm giải chức Hộ Pháp, giờ này chỉ là người bạn tu mà thôi”. (Trí Huệ Cung, in 1973, trang 13), có nghĩa là khi vào Tịnh Thất các chức sắc phải gởi lại phẩm tước cho Hội Thánh.

Đọc lại bài Thánh Ngôn “Thay lời tựa” trước sách này. Đức Chí Tôn hỏi Phổ Độ là gì? Ngài trả lời luôn: Cứu vớt cả chúng sanh. Rồi Ngài lại hỏi: Muốn trọn hai chữ Phổ Độ phải làm sao? Phải bày bửu pháp Tịnh Luyện ra.

Xem thế, muôn trọn câu Phổ Độ phải song hành Tịnh Luyện. Nói một cách khác, Phổ Độ và Tịnh Luyện là cặp song sinh, cặp âm dương trong Dịch lý không thể tách rời. Ai cố ý tách rời là chưa đạt Chơn Pháp của Đức Chí Tôn.

Dưới đây là Đạo Lịnh 209HP mà Đức Hộ Pháp đã ban hành:

PHƯƠNG LUYỆN KỶ

Ä Đặng vào con đường thứ tha Đại Đạo.

Ä Phải thân thích cùng cả nhơn vật tức là tìm nguyên do của vạn linh cùng chí linh.

Ä Phải ân hậu khoan hồng

Ä Phải thanh nhàn đừng vị kỷ.

ÄPhải bình tĩnh nghĩa là đừng chịu ảnh hưởng của hoạ phước buồn vui (tập tánh không không đừng nhiểm. Vui cũng vui, buồn cũng buồn nhưng đừng để nọc buồn vui thấm vào chơn tánh).

Ä  Phải độ lượng khoan dung tha thứ.

Ä  Phải điều hoà tự chủ, vui vẻ và quyết đoán.

Ä  Giữ tâm linh làm căn bổn.

Ä  Hiếu hạnh với Chí Tôn và Phật Mầu.

PHƯƠNG PHÁP TRỊ TÂM

Ä Vì tâm là hình ảnh của thiên lương.

Ä  Đức tin và khôn ngoan là kho chí bửu, ngoài ra là của bỏ là đồ vô giá.

Ä  Ai cố oán kẻ thù của minh thì khó giữ thanh tâm công chánh cho đặng.

Ä Ai chẳng oán hận mới thắng đặng kẻ thù địch của mình.

Ä  Sự cừu hận là khôi thảm khổ đệ nhứt của nhơn sanh, nên người hiền thì không biết đến hay là từ bỏ cừu hận oán ghét.

Ä  Thắng đặng khí nộ mình thì không chọc ai giận dữ.

Ä Lấy thiện mà trừ ác.

Ä  Lấy nhơn tình mà trừ bạo tàn.

Lấy lòng quảng đại đặng mở tâm lý hẹp hòi.

Ä  Lấy chánh trừ tà.

Ä  Ấy là đường thương huệ kiếm.

PHƯƠNG PHÁP LUYỆN THÂN - LUYỆN TRÍ.

Ä  Ẩm thực tinh khiết.

Ä  Tư tưởng tinh khiết

Ä  Tín ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí Tôn và Phật Mau.

Ä  Thương yêu vô tận.

Ä Ấy là chìa khoá mở cửa Bát Quái Đài tại thế này.

Toà Thánh, ngày 14.01 - Đinh Hợi (1947).

Phương Luyện Kỷ có 18 điều giáo dưỡng gồm 273 chữ là những nguyên tắc cụ thể buộc người tín đồ phải thi hành, nếu muốn bước vào con đường tu chơn.

Phương Luyện Kỷ là thánh hoá tánh đức con người để làm nền cho hành vi đạo đức hiển hiện một cách chơn thật, có sức cảm hoá con người hướng đến nẻo thiện và làm toà ngự cho thần điển từ thượng giới xuyên qua hồn phách của những bậc chơn tu đắc đạo.

Câu kết của phương pháp viết: “Ây là chìa khoá mở cửa Bát Quái Đại tại thế này” đã toát lên ý nghĩa vừa nêu trên: là đắc đạo tại thế. Chơn thần bậc chơn tu đó có đủ quyền năng tương liên với các Đấng và thường xuyên sống trong trạng thái “Trời Người hiệp nhứt”.

Phương Luyện Kỷ hướng dẫn tín đồ cách sông như thế nào để đắc đạo tại thế. Còn phương pháp công phu nhằm gia tốc hiện tượng Tinh hoá Khí, Khí hoá Thần, Thần huờn Hư là điều Đức Ngài sẽ truyền sau cho Tự Pháp, vì lúc ấy thời nhiễu nhương chưa thể ngồi một chỗ mà luyện đạo. Vì một khi Tinh Khí Thần hiệp nhứt thì chơn thần có quyền năng thiêng liêng, nếu con người còn có tính phàm tục thì sẽ lạc lối vào con đường tà đạo. Thiên Đình sẽ đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh Khí.

Thế nên, Phương Luyện Kỷ là hình thức giáo hoá nhơn sanh hiểu rõ con đường tu chơn phải làm như thế nào cho phù hợp để khi chính thức bước vào đường tịnh luyện không còn nghe/hoặc huyễn ảo, nhằm dọn mình trong sạch để các Đấng giáng ngự.

Nếu ta đem “Phương pháp trị tâm” của Đức Phạm Hộ Pháp so sánh thấy phù hợp với “Thập mục Ngưu đồ” (Mười bức tranh chăn trâu tức trị tâm) ở chùa Tam Tông Miếu (tức chi Minh Lý trong Ngũ Chi Đại Đạo).

Ä Thập Mục Ngưu đồ đánh số La Mã (TMNĐ).

Ä Phương pháp trị tâm đánh số Á Rập (PPTT).

Ta thấy cả hai đều 10 câu, 10 đề tài (mười bức hoạ) như

sau:

I. TMNĐ: Tìm trâu (tâm ngưu),

1. PPTT: Thanh tâm công chánh.

II. TMNĐ: Thấy dấu trâu (kiến tích).

2. PPTT; Thấy đặng mình.

III. TMNĐ: Thấy trâu (tức thấy tâm).

3. PPTT: Từ bỏ cừu hận.

IV. TMNĐ: Được trâu (đắc ngưu).

4. PPTT: Thắng đặng khí nộ (thắng tâm).

V. TMNĐ: Chăn trâu.

5. PPTT: Lấy thiện mà trừ ác.

VI. TMNĐ: Cưỡi trâu về nhà.

6. PPTT: Lấy nhơn nghĩa trừ bạo tàn.

VII. TMNĐ: Quên trâu còn người.

7. PPTT: Lấy lòng quảng đại.

VIII. Người trâu đều quên.

8. Lấy chánh trừ tà.

IX. TMNĐ: Phản bổn huờn nguyên.

9. PPTT: Ấy là đường thương huệ kiếm.

X. TMNĐ: Buông tay vào chợ.

10. PPTT: Kho chí bửu.

Mười bức tranh vẽ trâu (chỉ cái tâm), ý nói “Bạch ngưu xa” tức Phật thừa là cái đậi viên giác, tu đốn ngộ. Bức tranh một tìm trâu, trâu đâu mà tìm? Trong phút giây khác thường nào đó, ta nghi ngờ những <ổiều tai nghe mắt thấy, tức nghi ngờ chính cái tâm ta. Khi ta hỏi tâm ở đâu, chẳng khác nào ta hỏi trâu ở đâu? Trong khí chính ta đang cưỡi trâu. Ta đi tìm cái tâm rốt cuộc tâm ở nơi lòng ta. Ta chỉ dừng lại, nó sẽ hiện ngay trước mặt ta. Nếu loài người biết dừng lại trong vài phút thôi thì thế gian này không đến nỗi buồn thảm.

Sau giai đoạn ngoại cầu đến giai đoạn tự tri tự giác. Khi người và trâu đều quên thì nơi chân Trời hiện lên mặt Trời Huệ (tượng trưng bằng vòng tròn viên giác). Đó là tâm không, đạt đạo rồì.

Sau đó, Đức Hộ Pháp vào nhà tịnh Trí Huệ Cung để thể nghiệm phương pháp của mình (Xem Chương II, nơi mục Trí Huệ Cung).

Đ. TRƯỚC LÝ MINH ĐÀI

            1. Thọ Thiên ân Chưởng Nghiêm Pháp Quân

Chủ đàn Trước Lý Minh Đài là Nguyễn Phát Trước tên hộ tịch là Nguyễn Văn Trước (1885 - 1929), khi làm lãnh tụ phá khám lớn Sài Gòn tên là Phan Phát Trước vì ngưỡng mộ Phan Phát Sanh tức Phan Xích Long.

Nguyễn Phát Trước (1985 - 1929) tự Tư Mắt người làng Phú Thọ, tỉnh Chợ Lớn. Ông khởi nghiệp làm thợ hớt tóc, không khá, đi làm bồi cho Tây rồi ra làm trùm du đãng. Lính tráng kiêng dè nể mặt.

Thời Pháp thuộc, ai muốn có quyền thì mua Pháp tịch. Tư Mắt chì chọn lối sống giang hồ mã thượng, chịu làm bảo vệ để bàn kế sách chống Tây với ông Lê Văn Trung. Sau cuộc phá khám lớn Sài Gòn thất bại, Tư Mắt bị bắt. Không có lý do rõ ràng để kết tội tử hình, Toà án khép Tư Mắt vào tội “gia nhập hội kín, ám trợ Cường Để” (Vương Hồng sển, Sài Gòn năm xưa, NXB TP.HCM, tr. 272) một năm tù treo.

Kịp khi Đạo Cao Đài khai mở (1926), ông Lê Văn Trung thọ phong Đầu sư, Nguyễn Phát Trước thọ chức Lễ Sanh rồi lên Chưởng Nghiêm Pháp Quân (tương đương phẩm Giáo sư bên Cửu Trùng đài) cùng lượt với ông Trần Văn Tạ chức Hộ Đàn Pháp Quân. Ông Lê Văn Trung khuyên ông Tư Mắt xây dựng ở Phú Thọ một nhà đàn. Dưới làm nhà ở trên thờ Thầy. Đức Chí Tôn giáng cơ ban danh hiệu là Trước Lý Minh Đài.

“Tôi đã vài lần đến tận chùa này để xem, kiểu kiến trúc độc đáo. Nền đúc khá cao, bốn phía mở bốn cửa lớn, ngụ ý đón nhận cả đông, tây, nam, bắc... Trong nhà gọi là chùa còn có ảnh ông trong lễ phục chức sắc của Đạo” (Sơn Nam, Tuổi già, NXB Văn Nghệ 2000, tr. 60, 61).

Nhà văn Sơn Nam có nhận định về Nguyễn Phát Trước với lời lẽ đơn giản nhưng vô cùng thâm thuý: “Tư Mắt là người mà các nhà viết sử thời Phan Xích Long đều nhớ. Tên ông (ngày nay) ít ai nhắc nhở nhưng thành phố ta có tên đường Phan Xích Long, chắc ông cũng ngậm cười nơi chín suối”. (Tạp chí Xưa Nay số 260 tháng 5.2006).

            2. Trước Lý Minh Đài

Sau khi ông qua đời, ông Trần Văn Tạ Hộ Đàn Pháp Quân và Giáo Sư Trần Văn Quế cai quản Trước Lý Mình Đài. Lúc bấy giờ có non một ngàn tín đồ tu học nơi đây muôn được ơn Trên chỉ dẫn phép tịnh luyện.

Thế nên, đêm 14.08 - Ất Hợi (13.09.1935), Đức Chí Tôn giáng cho thi:

NGỌC quang chiếu tủa khắp ngàn nơi,

HOÀNG lịnh ban ân chỉnh cuộc đời.

THƯỢNG trí biết lo hành đạo đức,

ĐÊ ngôi an hưởng chẳng thay đời.

Thầy mừng các con,

Bày khoa pháp vô vi bí diệu,

Dạy các con sớm hiểu trau mình.

Thầy truyền phép nhiệm huyền linh,

Đặng con phanh luyện Khí Tinh huờn Thần.

Hiệp tánh mạng kim thân bất toại

Qui Tam Thanh vận tải ngũ hành,

Đạt cơ Tạo Hoá thì thành,

Cướp quyền chủ tế trường sanh muôn đời.

Khí hạo nhiên trước trời đõ có

Hoá âm dương đến đó hiệp hoà.

Huân chưng sanh khắc một

Cha An ngồi Thái Cực chính là thuần dương.

Ảm trọng írược tách dương huyền khí

Dươỉĩg khinh thành thăng vị hạo nhiên,

Phân ra tứ tượng tam miền,

Thăng thăng giáng giáng hiệp truyền tam nguơn

Chín Bát quái tuần huờn biến hoá

Sẵn ngũ hành thuỷ hoả huân chưng...

Thầy giáng giờ này để hạ truyền bí pháp cho các con, nhưng chưa đủ mặt Thầy chứa hạ lịnh. Dù vậyThầy giải đôi lời cho các con hiểu tại sao mà các con phải tu ỉuyện. Vì các con thọ bẩm khí hậu thiên, mang thân trọng trƯỢc, vì các con chẳng biết tánh mạng Khảm Ly. Nay Thầy sắp chỉ các con qui Tam bửu, luyện Ngũ hành, hiệp âm dương thì mới mong kết thành Xá Lợi.

Vậy thời đàn nay, không thể chỉ rõ rệt, nghe các con. Ngày 30 Tý thời, các con, nhứt nhứt đến đủ mặt.

THI

NGỌC bát hạ phê ấu tử tuân,

HOÀNG ân Thánh Tịnh chuyển tâm íhần.

THƯỢNG thừa sắc mạng chiêu hiền đức

 ĐẾ khuyết triệu lai khả tốc thân.

Thời gian này, tại Trước Lý Minh Đài có lịnh ơn Trên dạy lập các đdn phòng thành Ngũ Linh đài như sau

CHÂU TƯỚC (nam)

THANH LONG (đông) HUỲNH ĐỂ (giữa) BẠCH Hổ (tây) HUYỀN VÕ (bắc)

Tín hữu nào muốn vào Ngũ Linh đài phải cầu đạo thọ pháp bằng cách xin keo và lập hồng thệ trước.

Như đã hẹn, đêm 30.08 - Ất Hợi tại Tước Lý Minh đài các Đấng giáng dạy:

NGỌC truyền pháp lịnh ngã ban ân,

ĐÁNH thượng trung lư hiệp khí thần.

CHƠN khuyết bí truyền khai trạch đức

NHƠN hiền tao ngộ kiết kìm thân.

Chư hiền thành tâm đại tịnh, chỉnh đàn cho nghiêm, tiếp giá Chí Tôn.

Thăng.

TIẾP ĐIỂN

(Phần tiếp điển này thấy in trong quyền ĐẠI THỪA CHƠN GIÁO thuộc phái Chiếu Minh, nhưng lại đề ngày 28.08 - Bính Tý (1936).

NGỌC chẩm huyền môn phá khiếu trung,

HOÀNG lư pháp diệu Khảm Ly cung.

THƯỢNG điền ký tế âm dương huợt,

ĐÊ dĩ Càn Khôn vạn vật tùng.

THI

TRƯỚC LÝ MINH ĐÀI diệu pháp môn,

Khai khoa bí nhiệm tế sanh tồn.

HỌC ĐƯỜNG ĐẠI ĐẠO truyền chơn khuyết

Hữu đức chí thành đắc đạo trung.

Bài này không thấy trong ĐĐCG vì nói rõ TLMĐ khai bí pháp trước (1935) ĐĐCG (1936) một năm.

“Thầy giáng giờ này là vì thấy các con thiện nguyện tu hành đặng thoát ly u khổ. Các con còn khuyết đểm rất nhiều trong đường đạo, nay đã tìm ra chánh lý thì các con phải phân lực tận tâm hành pháp diệu. Thầy sẽ giao truyền chỗ quán nhứt chấp trung cho các con phanh luyện, tụ khí nguơn thần, mà ngày sau siêu phàm nhập Thánh. Nếu các con chẳng đặng nhứt tâm thì phải chịu luân hồi chuyển kiếp vàn vàn muôn muôn. Phải tuỳ cơ tuần hoàn vận chuyển mà tấn hoá cho đến Thầy, biết bao là khó khổ lao luỵ. Các con phải biết rằng Đạo là Vô Vi, là thiên nhiên chi khí vận tải châu lưu trước khi sanh trời đất.

“Trời đất phải thọ bẩm khí tiên thiên mà sanh ra mới có nhựt, nguyệt, tinh tú cùng là càn khôn vũ trụ, vạn vật muôn loài. Các con trước ngày thọ nơi Thầy một điểm thanh hư huyền khí giáng trần, vì khí hậu thiên hãm sát làm cho mờ tối, vật báu linh bửu tan ra bởi thất tình, lục dục, lục căn, lục trần mà tiêu tan lần lần hết tam bửu ngũ hành, càng ngày càng làm cho hư hỏng cái điểm thanh hư của Thầy, biết đường đâu mà trở về, dầu có trở lại cũng chẳng dễ gì là tại sao hỡi các con? Là tại không có Thánh thai Phật tử đó vậy.

“Tại sao các con phải chịu chuyển kiếp luân hồi? Là vì các con xa đạo, hư hỏng tinh thần tiêu mòn khí huyết, chẳng biết đem tánh mạng hiệp hoà, luyện tam bửu cho đầy, ngũ hành nhứt khiếu, sao lại cứ tử tử sanh sanh. Các con muôn hiểu chỗ đạo thì các con trước phải phanh luyện tinh thần và phải tạo một cái xác thân thiêng liêng bất sanh bất diệt, bất tử bất tiêu. Các con cần phải có cái xác thân ấy là chi? Là cái bổn tánh thuần dương vậy. Khi các con bỏ cái xác phàm này thì điểm linh quang của các con nương theo đó mà về thăng đến Thầy. Còn nếu không, các con chuyển kiếp hoài hoài, luân hồi khó dứt. Các con không chuyển kiếp thì điểm linh quang của các con bị tiêu diệt đi còn chi. Các con phải biết rằng muốn tạo thân thiêng liêng ấy chẳng phải dễ mà cũng không khó chi, cười...”.

TÁI CẦU

HUYỀN quang nhứt khiếu kiến Mâu Ni,

KHUNG khuyết đảnh lư tảo ngộ thì.

THƯỢNG hạ trung điền thâu tứ tổ,

ĐÊ Nghiêu khẩu ..quyết phá sư vi.

“…Từ nay Thầy sẽ chỉ giáo cho các con bước kịp Thầy, nhưng các con-phải hạ mình mà tầm đạo. Các con còn tự phụ, tự tôn, chớ trách Thầy không nói trước, cười... Thầy hằng dạy con phải coi người như Trời, như Đất mà ngó lại con thì con phải sánh như hột cát, lông mao thì có chi là không thành Tiên đắc Phật.

THI BÀI

Nơi Trước Lý Minh đài giáo hoá,

Độ nguyên nhơn cải hoá tu hành.

Chỉ cho biết lẽ trược thanh,

Dạy phân tam ngũ, chỉ rành nhơn luân.

Chia ra kẻ hiền nhơn chi đức

Khoa bí truyền tận lực gia công

Luyện tu đạt máy lục thông

Huờn hư nhứt, khiếu thanh hồng Tiên Thiên.

Trong dạy đạo, ngoài truyền Chơn pháp

Thờ phương tuỳ sở hạp chúng sanh,

Linh đài thập tự tam thanh

Bát Quái, Tam Giáo lo hành cho y...

“…Đàn tới Thầy dạy tại Trước Lý Minh đài có đủ mặt các con đến, Thầy minh cho chúng sanh biết. Các con phải nhớ bài thi này:

Thất thập nhị sư bái quị cầu,

Hiên Viên tâm đạo dễ gì đâu.

Thích Ca khổ não đòi phen khẩn

Hạng Thác Thánh nhơn phải bái cầu.

Thầy ban ơn các con.

Thăng”.

Nhà đàn Trước Lý Minh đài từ đó phân làm hai phần tu học song hành: bên Thánh Thất, bên Tịnh Thất (ngũ Linh đài).

Sau đó Hộ Đàn Pháp Quân Trần Văn Tạ đem các bài Thánh giáo trình lên Đức Hộ Pháp. VI hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1930 - 1933), Toà Thánh đang thời kỳ xây cất rất cần nhơn lực và vật lực đâu có thời giờ an tịnh. Đức Ngài mời Ngài Hộ Đàn Pháp Quân ở lại Toà Thánh chung lo xây dựng Tổ đình.

Tóm lại, Khoa Bí Pháp Trước Lý Minh Đài (1935) nhà đàn của Chưởng Nghiêm Pháp Quân đi trước Trước Tiết Tàng Thơ (1936) một năm (Nhà đàn của ông Nguyễn Háo Vĩnh ở bên Thủ Thêm, Thủ Đức) và sau ngày khai đạo (1926) mười năm.

Trong “Bài Ca tụng” ĐTCG, ông Trần Văn Quế nhân danh đạo hữu Trước Lý Minh đài viết:

“Cứ theo thứ tự niên ngoạt nhựt thời mà xét thì'Xưa kia khoa bí truyền ra đời trước cơ phổ hoá. Nay khoa phổ hoá đã đi đặng một bước đường khá dài thì khoa bí truyền phải ra mắt mà đưa kẻ thiện duyên đến đảnh...”.

Ta thử đặt một câu hỏi nhỏ: Tịnh Luyện có thật sự giẳi thoát con người? Tôn giáo chỉ là một môi trường, một phương tiện giúp con người dễ dàng tháo gở những ràng buộc xung quanh mình trong cuộc sống bề bộn giữa đời để đạt đến mức cao Thánh thiện mà giải thoát toàn vẹn con người, vốn mang nhiều tội lỗi. Không một ai tự ban cho mình sự giải thoát toàn vẹn, nếu không có sự cố gắng nơi chính mình. Các Đấng chỉ giúp ta đạt đến cái đích tối thượng, còn sự thành công hay không tuỳ ở mỗi cá nhân vì Đức Chí Tôn không thể bồng ẩm ai lên cõi Thiêng Liêng hằng sống đặng, nếu kẻ đó không tự mình gắng sức tu luyện.

 

 

 

 


 



 



 

CHƯƠNG II

TÂN LUẬT - TỊNH THẤT

TẾT l

TÂN LUẬT

            1. Dâng Tân Luật:

Tân Luật là so với cựu luật của các tôn giáo khác. Sau khi ban hành Pháp Chánh Truyền phong chức cho các chức sắc. Đức Chí Tôn dạy Hội Thánh phải lập Tân Luật để giữ giới người tu hành. Các chức sắc cao cấp Cửu Trùng Đài soạn luật trình Hội Thánh bàn thảo sửa đổi bổ sung rồi đệ trình lên Giáo Tông.

Ngày 20.11 - Bính Dần Đức Chí Tôn giáng giải về sự cần ích của Tân Luật như sau:

“Thầy tỏ thật cái luật lệ mà Thầy khiến các con hiệp chung trí lập thành đây, nó có ảnh hưởng về đạo đức Tiên Phong Phật sắc của các con, nên Thầy buộc mình cam chịu vậy. Chẳng luật lệ thì làm trái phép, mà trái phép thì làm thế nào vào Bạch Ngọc Kinh cho đặng.

Vậy các con gắng làm phận sự cho hoàn toàn, rồi Thái Bạch giáng cơ sửa luật”.

Trong Pháp Chánh Truyền, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ giảng dạy về thủ tục dâng luật như vầy:

“Buổi ba vị Chánh Phối Sư dâng luật, Hộ Pháp và Thượng Phẩm phò loan cho Đức Lý giáng sửa (13.12 - Bính Dần), Ngài có truyền dạy ba vị và Chưởng Pháp phải ngự trên ngai, đoạn đòi ba vị Chánh Phối sư vào hành lễ, rồi kêu Chánh Phối sư Thượng Tương Thanh mà dạy rằng: Hiền hữu coi Lão hành sự đây mà bắt chước.

Ngài lại dạy ba vị Chánh Phối mỗi người phải dâng luật thế nào cho đủ sáu bàn tay nâng luật ấy, đặng dâng cho Chưởng Pháp, rồi Chưởng Pháp cũng phải đủ sáu tay mà dâng cho Ngài.

Khi dâng luật Ngài lại giải thích: ấy là cơ VÔ VI Tinh Khí Thần hiệp nhứt, nên cả ba chẳng hiệp thì chẳng hề thành đạo đặng...

Đức Thích Ca khi thuyết về Kinh Di Lạc đã dạy: “Tùng thị pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ, tất đắc GIẢI THOÁT”.

            2. Nội dung Tân Luật:

Tân Luật gồm có ba phần: đạo pháp, thế luật và Tịnh Thất.

a. Vể đạo pháp: 8 chương. 32 điểu.

- Chương 1: Viết về quyền hạn, trách nhiệm luật công cử của các phẩm chức sắc cửu Trùng đài.

- Chương 2: về người giữ đạo, thủ tục nhập môn, trai giới.

- Chương 3: về việc lập họ Đạo, cách cúng lễ tại Thánh' Thất địa phương.

- Chương 4: về ngũ giới câm.

- Chương 5: về tứ đại điều qui.

- Chương 6: về giáo huấn.

- Chương 7: về hình phạt.

- Chương 8: về việc ban hành luật pháp.

Hành giả nào giữ tròn Tân Luật sẽ nhẹ bước vào Tịnh Thất, nhất là giữ gìn Thế Luật.

b. Về Thế Luât: gồm 24 điểu.

Qui định những bổn phận đối xử giữa, đồng đạo trong các sính hoạt quan hôn tang tế.

c. VỀ TĨNH THẤT: gồm 8 điều.

Luật Tịnh Thất đã được Đức Phạm Hộ Pháp dạy TPVĐ chú giải từng câu từng chữ in trong Tân Luật. Chú giải xong để trước bàn thờ Đức Cao Thượng Phẩm duyệt y (Xem nguyên văn nơi Phụ bản, mục TỊNH THAT CHÚ GIẢI)..

 

TIẾT 2

CÁC TỊNH THẤT

Đức Hộ Pháp, người ươm mầm Đạo Dịch đã đặt tên cho ba Tịnh Thất (tập thể) chính có dấu ấn Tam Tài: Thiên Địa Nhân như Thiên Hỉ Động, Địa Linh Động, Nhdn Hoà Động.

Trí Huệ Cung dùng làm Tịnh Thất cho Nữ phái.

Vạn Pháp Cung dùng làm Tịnh Thất cho Nam phái.

Trí Giác Cung dùng làm Tịnh Thất chung hai phái.

A- Trí Huệ Cung - Thiên Hỉ Động:

            1.Địa thế Trí Huệ Cung:

Trí Huệ Cung lập tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hoà, huyện Hoà Thành (thuộc Châu Thành, Thánh Địa) cách Toà Thánh độ 7 km về hướng đông nam.

Đức Phạm Hộ Pháp khởi tạo Trí Huệ Cung và mở rộng vùng phụ cận vào cuối năm Đinh Hợi (1947). Ngày 15.12 - Canh Đần, Đức Ngài làm lễ trân thần Trí Huệ Cung Thiên Hỉ Động. Đó là ngày lễ lớn, các đạo hữu phải đi vòng xuống Thiên Thọ Lộ qua Đoạn Trần Kiều mới vào Trí Huệ Cung tham dự lễ. Đó là bí pháp QUI THÁNH, nhưng rủi thay, các thợ đắp Vân Trung Tử cỡi hạc bay về Trí Huệ Cung mà quay đầu về chợ Trường Lưu, thành biểu tượng Thánh Lâm phàm. Thế nên, sáng ngày 01.06.2004 (nhằm ngày 15.04 âl vía Phật Tổ) chim hồng hạc về vườn Trí Huệ rước những hành giả đắc đạo. (Xem phụ trang thơ).

Đức Hộ Pháp giải thích cuộc đất, vào ngày 17.08 - Tân Mão (17.09.1951) như sau:

“Khoảng đất này tên Thiên Hỉ Động, trước đây 20 năm là rừng rậm. Bần đạo thấy địa thế rất nên tốt đẹp, và đất địa phì nhiêu nên khai mở cho thành khoảnh cái đẹp của nó. Hôm nay ta thấy vui vui đáng giá, trót 10 năm nhọc nhằn.

Bần Đạo đã cỡi ngựa khắp vùng Trường Hoà thấy một làng rừng, mà hôm nay đã trở nên một đô thị tối tân và đẹp đẽ, chẳng phải đẹp mà nó sẽ trở nên giàu có nữa.

Bởi thế, Bần Đạo mở con đường An Nhàn lộ và bắc cây cầu Đoạn Trần Kiều đặng làm ngọn suối thành con kinh thiên nhiên giúp cho việc mở mang vườn ruộng. Con đường này hiệp với con đường sẽ mở từ Trường Hoà vô vùng Thiên Hỉ động, đặt tên là Trường Xuân lộ, rồi hiệp con đường ra cẩm Giang mà Bần Đạo đặt tên là Thiên Thọ lộ.

Trí Huệ Cung có vòng rào vuông, mỗi bên xây một cổng lớn, trên cổng có tấm bảng đề chữ THIÊN HỈ ĐỘNG trên hai cột cổng có câu liễn:

TRÍ định thiên lương qui nhứt bổn,

HUỆ íhông đạo pháp độ quần sanh.

Dịch nghĩa:

Trí định đem thiên lương hiệp về một gốc

Huệ sáng hiểu đạo pháp để độ đời.

Trí Huệ cung là toà nhà hình khối lập phương, cao 12 mét, chia làm 3 tầng 4 mét, còn bốn bên, mỗi mặt là 12 mét, vuông như cái hộp, ở giữa trung tâm có một cây cột đội luôn ba tầng đến nóc, gọi là “nhứt trụ xanh thiên”, Trí Huệ cung khi nhìn vào chỉ thấy có 2 tầng, còn tầng hầm dưới mặt đất thì không thấy.

            2. Lễ cúng Tứ Thời tại Trí Huệ Cung.

Đúng các giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu có lịnh đổ chuông ba hồi, mỗi hồi hai hiệp (âm dương), mỗi hiệp giựt đủ 36 tiếng (chuông treo), hai hiệp cộng chung là 72 tiếng giúp nhơn sanh tỉnh ngộ, nơi nơi đứng lên thành tâm tưởng niệm. Chuông để ở cổng đông nam Thiên Hỉ Động. Nơi đó có làm cái giá treo chuông, tới giờ cúng thì giựt chuông.

Lễ Tứ Thời thì đọc các bài kinh: Niệm hương, Khai kinh, Ngọc Hoàng kinh, Phật Mầu chơn kinh, Dâng Tam Bửu rồi Ngũ nguyện.

Đạo vô vi cúng cũng vô vi nên không thắp đèn nhang. Cầu nguyện vô vi riêng nơi tâm. Khi đi ngang qua Trí Huệ cung nghe kiểng đổ cũng phải đứng lại tưởng niệm.

            3. Trấn Pháp Thiên Hỉ động.

Đêm 14.12 - Canh Dần (1950), Đức Hộ Pháp thuyết đạo tại đền Thánh như sau:

“Ngày mai nầy là ngày trấn pháp Thiên Hỉ động Trí Huệ cung, Bần Đạo lấy làm vui mừng đã làm tròn phận sự, đã nhiều phen giảng giải về hình thể Đức Chí Tôn.

Bần Đạo đã gánh vác về thể pháp cửu Trùng đài tạo nghiệp cho đạo. Bần Đạo còn đặng sức khoẻ cầm bí pháp của Đức Chí Tôn giao phó, ấy là phận sự đặc biệt của Bần Đạo.

Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa hội này cốt rước cửu nhị ức nguyên nhân bị đoạ lạc nơi hồng trần này không giải thoát. Muốn rước các bạn chí thân của Bần Đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy pháp giới tận độ chúng sanh.

Hôm nay mở cửa thiêng liêng và đưa đến tay các nguyên nhân ấy một quyền năng tự giải thoát, hai món bí pháp ấy là:

1. LONG TU PHIẾN của Đức Cao Thượng Phẩm.

2. KIM TIÊN của Bần Đạo.

Hiệp với ba vòng vô vi, tức Diệu quang Tam giáo hay là hình trạng Càn Khôn Vũ Trụ. Đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang khiếu của chúng ta.

KIM TIÊN là gì?

Là điển lực Càn Khôn, ỉà sanh lực của vạn vật. Nó có thể mở đệ Bát Khiếu. Trong thân người có thất khiếu, còn có một khiếu vô hình là Huệ Quang khiếu, vì nó là điển lực nên mở khiếu ấy mới được.

Con người có ngũ quan hữu tướng vì lục quan vô tướng mà phải nhờ cây Kim Tiên ấy mới có đủ quyền hành mở lục quan của mình.

LONG TU PHIEN do nguơn khí đào độn sanh ra. Nó có quyền đào độn nguơn khí, thâu hoạch nguơn khí để trong sanh lực. Con người nắm được điều ấy thì là đắc pháp. Nhờ nó mới luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hoá Thần được.

Ấy là bí pháp trấn tại Thiên Hỉ Động Trí Huệ cung. Toàn thể thấy không có gì mà huyền pháp vô biên, giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó mà thôi.

Ngày 25.12 - Canh Dần, Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ chúc mừng:

“Đức Chí Tôn vui mừng hơn hết, còn các bạn nữ thì không cho ai chia vui với họ hết.

Cười... Bát Nương gởi một bài thi:

Mở rộng đường mây rước khách trần.

Bao nhiêu tình gởi nhắn nguyên nhân.

Biển mê cầu Ngọc liên phàm tục,

Cõi thị sông Ngân tiếp đảnh Thần.

Chuyển nổi Càn Khôn xây vũ trụ,

Nhẹ nâng nhật nguyệt chiếu đài vân.

Cầm gươm tuệ chặt tiêu oan trái,

Điều độ quần sanh diệt quả nhân.

BÁT NƯƠNG DTC

            4. Cửa vào Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống:

Tại Thiên Hỉ Động vào ngày 16 và 25.12 - Canh Dần (1951), Đức Hộ Pháp thuyết giảng về vai trò của Trí Huệ cung như sau:

“Ngày nay Đức Chí Tôn đã mở ra con đường Thiêng Liêng Hằng Sống. Bần Đạo đã vâng mạng lịnh Ngài tạo dựng một bến giải thoát cho toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu này. Kể từ nay cửa thiêng liêng của đạo đã mở rộng, Ai hiểu mình đứng trong hàng phẩm 92 nguyên nhơn hãy tỉnh mộng lại đặng về cùng Đức Chí Tôn.

Trí Huệ Cung là cơ quan tận độ chúng sanh đã xuất hiện nơi cửa đạo Cao Đài. Bần Đạo nói rằng: Nó không phải của ta mà nó là của toàn thể nhơn loại. Bởi vì nó tượng trưng hình ảnh chí linh của Đức Chí Tôn nơi thế này, tức nhiên không có quyền nào nắm nó được. Nó không phân biệt đảng phái, tôn giáo hay nòi giông trên mặt địa cầu.

Cửa Thiên Hỉ động là cửa Thiêng Liêng Hằng sống của toàn thể chơn linh, nên nó không bị thúc phược hay nô lệ cho một tư tưởng nào, hằng tạo đại nghiệp của Ngài nơi mặt địa cầu này.

Bần Đạo cả kêu con cái Đức Chí Tôn ngó nơi Trí Huệ cung, phải vào cửa ấy mới đạt cơ giải thoát nhập vào cõi Thiêng Liêng Hằng sống mà Đức Chí Tôn đã tạo dựng dành cho nọi

            5. Đức Phạm Hộ Pháp nhập Tịnh Thất.

Đến ngày 16.01 - Tân Mão (1951), Đức Hộ Pháp vào Trí Huệ Cung tịnh luyện theo Tân pháp mà Đức Chí Tôn đã dạy. Đức Ngài nói: “Giải chức Hộ Pháp chỉ còn là bạn tu mà thôi”, Chính Ngài đã đặt nền tảng luyện kỷ tu đơn cho mọi người.

Khi Đức Ngài nói: “Giải chức Hộ Pháp chỉ còn làm bạn tu mà thôi”. Có nghĩa là muôn vào Tịnh Thất, nếu là chức sắc phải gởi chức cho Hội Thánh trở thành đạo hữu (bạn đạo).

Đã biết Trí Huệ cung là Tịnh Thất của nữ phái, sao Phạm Công Tắc vào đó?

Đức Ngài đã giảng: Phật Shiva là nguơn linh của Phật Mau. Hình tạc trên đỉnh Bát Quái đài, Phật Shiva có bộ nhũ. Trong quyển “Tôn giáo của người Chàm tại Việt Nam (Sài Gòn 1972, trg. 18), Giáo sư Nghiêm Thấm viết: “Thần Shiva còn giữ vai trò của Dvarapala tức là Hộ Pháp giữ các đền thờ”. Chính vị Phật này là nguơn linh khởi thuỷ của Đức Phạm Hộ Pháp. Do nguơn linh nên Ngài Phạm Hộ Pháp được vào tịnh luyện ở Trí Huệ Cung.

Trước khi vào Trí Huệ cung, Đức Ngài giảng giải:

“Bần Đạo vào Trí Huệ cung tịnh luyện, điều ây không biết trước Chí Tôn cho cùng không... Bần Đạo vào Trí Huệ cung là do nhơn loại phạm Thiên điều vì loài người quá dữ. Vì cớ ấy, Bần Đạo dám quả quyết “Chí Tôn không đến đây hội hiệp các con của Ngài lập cơ giải thoát độ tận con cái của Ngài bao giờ”. Chính mình Ngài phải đến vì tội lỗi của con cái Ngài không phương cứu rỗi.

Trong ba tháng Bần Đạo quì gối dưới chân Đức Chí Tôn khóc lóc thỉnh cầu nơi Ngài cứu sanh mạng loài người. Toàn thể con cái Đức Chí Tôn nam nữ ráng giúp Bần Đạo. Bần Đạo “xin cho đồng bào, nhơn loại nơi mặt địa cầu này được phương cứu rỗi”.

Sau khi xuất tịnh, đêm 17.4 - Tân Mão (1951) Đức Phạm Hộ Pháp giảng đạo:

“Kể từ ngày nhập tịnh nơi Trí Huệ cung, toàn thể con cái Đức Chí Tôn đều đánh dấu hỏi: “Đức Hộ Pháp nhập tịnh để làm gì, nghĩa lý gì mà nhập Trí Huệ cung ba tháng Iiay?”.

Về mặt đạo, giống như 40 ngày của Đức Jesus ra ngoài sa mạc cầu khẩn với Chí Tôn ban bổ hồng ân cho toàn nhơn loại, đặng đem cơ quan cứu thế của Ngài gieo khắp xã hội nhơn quần được hưởng, giống như Đức Phật Thích Ca vào vườn bồ đề ngồi thiền định xin giải thoát cho chúng sanh.

Còn về mặt thế, giống như vua David ra đồng sa mạc cầu đảo, xin giải pháp cứu khổ cho dân Israel.

Ôi cái cao vọng ấy, buổi này ai cũng muốn làm, được hay chăng, không phải do quyền của mình. Kẻ xin thì khác, kẻ được lại khác.

May thay, nhờ đạo tâm của toàn Thánh thể của Ngài, nhứt là đám thiếu niên đã làm cảm động Đức Chí Tôn, nên Ngài cho phép Bần Đạo hội diện cùng quyền năng thiêng liêng bốn phen trong ba tháng.

Bần Đạo nói rằng: “Cái định mạng của nhơn loại, giờ phút này trong tay Đức Chí Tôn”. Bần Đạo dám quả quyết rằng luật nhơn quả nhơn loại chưa hết thì chưa tạo hạnh phúc hoà bình được.

Đêm 19.04 - Tân Mão (1951), Đức Hộ Pháp giảng về “Phương pháp lập Thiên Vị” như sau:

Muốn định Thiên vị của mình, quyền thiêng liêng buộc phải có Tam Lập, gọi là nhơn luân. Điều ấy Bần Đạo đã truyền cho chức sắc Hiệp Thiên đài, dường như Ngài Trần Khai Pháp đã thuyết minh điều ấy rồi.

Người nào không có Tam lập thì không ở chung với ai được hết. Chính mình đối với cơ thể hữu vi mà không có bằng cớ chi hết thì ai tin rằng có bí pháp, đạt pháp, đạt đạo... Phải có hình mới có bóng. Khi nào thấy bóng tức nhiên chúng ta quyết có hình, bóng hình phải tương liên mới đặng.

Ây vậy, Tam lập là lập đức, lập công, lập ngôn. Con người không có Tam lập thì giá trị không có gì hết. Tam lập ấy quyết định cho ra, ta mới sống chung với nhơn quần xã hội được.

Khi muốn bước vô Trí Huệ Cung phải có đủ Tam lập là TU THÂN... Những người nào xin vào Trí Huệ Cung, Bần Đạo coi được thì trục xuất Thần của họ cho hội diện cùng quyền năng thiêng liêng, nếu có Tam lập thi vô, không đủ thì ra.

Vào đêm 15.5 - Tân Mão (1951), Đức Ngài giảng về bí pháp và thể pháp như sau:

“Thể pháp là cái hình tướng của đạo về hữu hình tức là dạng trạng của Hội Thánh, là hình trạng của Thánh Thể Chí Tôn tại thế.

Bí pháp là quyền năng điều khiển Càn Khôn vũ trụ, tức là quyền năng vô đối của Đức Chí Tôn, Ngài đến cùng con cái của Ngài. Ngài ban một quyền hành tự giải thoát cho mình.

Tiên Nho gọi ta là Khách, trần là quán. Không tỉ dụ gì minh bạch hơn tỉ dụ đó. Hãy nghĩ cả cơ quan huyền diệu của Đức Chí Tôn đào tạo trong Càn Khôn và vạn vật hữu hình, hễ có khuông luật tức nhiên phải có cảnh, tức có hình thì có bóng.

Đức Chí Tôn, nếu không để Thánh thể của Ngài ra trước ngày mở đạo 60 năm. Ngài không sai các chơn linh xuống thế, không tạo hình ảnh cửu Thiên Khai hoá, Ngài không mở cửu Bạch Ngọc Kinh tại thế gian này, thì giám chắc nền chơn giáo chưa hiển hiện ra.

Huyền diệu thay nền chơn giáo của Ngài.

Ngài lấy quyền năng vô biên mà [àm thể pháp, còn bí pháp, Ngài lấy căn bản Vạn linh tạo nên Thần Thánh Tiên Phật trước mặt thế gian.

Ây vậy nơi của Tịnh Thất, có thể nói là chúng ta đưa các bạn ta đi cũng [à cửa rước bạn chúng ta đến.

Bí pháp ấy càng ngày con cái Đức Chí Tôn càng ngó thấy. Vì mới mở Tịnh thất nên hình trạng chưa rõ chừng hoàn thành con cái Chí Tôn sẽ thây.

Phải để đức tin vững vàng nơi Thánh thể Ngài cho cường liệt, Đức Chí Tôn mới xây chuyển xã hội nhơn quần và tạo hạnh phúc cho xã hội nhơn quần được”.

Đêm mồng 7.01 - Tân Mão (195L), Đức Phật Mẩu giáng cớ tại Trí Huệ cung ban cho Đức Hộ Pháp vẹn toàn pháp môn Tịnh luyện để chỉ dạy lại cho các hành giả.

DIÊU TRÌ KIM MẪU

Từ vô cực vào tronq cảnh giới,

Mới để tâm so sánh Tiên phàm.

Chẳng từ ô trược dương gian,

Vì thương trẻ mới băng ngàn viếng thăm..

Vâng Thiên sắc độ phàm thoát tục

 Đóng Phong đô giải ngục đoạ đày.

Máy linh cơ tạo nơi tay,

Giấc mê cứu đám lạc loài nguyên nhơn.

Nên chan trải hồng ân khắp thế,

Bỏ ngôi linh gương huệ trau gioi.

Cõi thiêng định vị phân ngôi

Vạn Lình gặp hội phục hồi thiện duyên.

Con đã nắm lái thuyền bát nhã,

Dù quyền hành giải quả diệt căn,

Nguơn linh dù đặng cao thăng

Nơi cung Trí Huệ làm đàng thiện duyên.

Từ khi sợ để khuyên buổi trước,

Nay duyên may mừng được con nên.

Chừ nay đã toại thửa nguyền.

Độ sanh nắm vũng chơn truyền Chí Tôn.

Đã thấy nẻo Thiên môn rộng mở,

Hội Long Hoa rỡ rd soi đời Nhập vào Thiên Hỉ an nơi,

Cõi Tiên cảnh tục một vời không xa.

Con đã biết quyền già cùng trẻ Mạng Chí Tôn đã để đủ phương,

Cứu nguy độ khổ là thương,

Vì rằng bát phẩm chơn hồn mụ sanh.

Hễ làm Mẹ quyền hành dạy trẻ,

Con đừng lo mạng thế thi phàm.

Huyền linh Mẹ chịu phần cam

Ban cho con trẻ VẸN TOÀN PHÁP MÔN.

Độ cho hết các hồn địa giới,

Độ vong linh từ ngoại

 Càn Khôn Cửa linh cắm phướn chiêu hồn,

Độ trong Cửu nhị nguyên nhơn nhập trường.

Các chủng tộc còn đương lầm ngỏ

Soi Huệ quang cho rõ cửa Thiên

Mây linh để sẵn diệu huyền

Giải căn đợi kẻ hữu duyên định phần.

Con nên vui phận yên thân.

Thăng”.

Lời dạy trên đối với Đức Hộ Pháp là bước ngoặt quan trọng trong DÒNG THIEN phô độ. Từ trước Đức Chí Tồn và Đức Phật Mầu dạy trực tiếp về bí pháp mà chưa ban TOÀN VẸN PHÁP MÔN TỊNH LUYỆN. Thế nên Đức Hộ Pháp ban Phương Luyện Kỷ trị tâm là để sửa mình. Còn phương pháp thực hành TRƯỜNG DƯỠNG TINH KHÍ THAN đến khi Ngài qui thiên mới chỉ dạy và ban cho TPVĐ để phổ biến lại chúng sanh.

Nhờ đó cơ đạo được tiếp nối lưu truyền mãi mãi tới TIẤT ỨC NIÊN.


 

B. TRÍ GIÁC CUNG

ĐỊA LINH ĐỘNG

            1. Lai lịch Trí Giác Cung :

Trí Giác Cung trong Địa Linh Động ở ấp Trường Thiện, xã Trường Hoà (thuộc Châu Thành Thánh Địa), cách Toà Thánh Tây Ninh độ 5 km về hướng đông nam.

Trước khí lập Trí Giác Cung, nơi đây đã lập Trường Qui Thiện, do Giáo Thiện Đinh Công Trứ qui tập các bạn đạo Minh thiện đàn ở Phú Mỹ (Mỹ Tho) về Toà Thánh khởi lập ngày 26.09 Quí Mùi (1948).

Đôi liễn Trí Giác Cung được đắp trên hai cột trụ Địa Linh Động là:

TRÍ linh quán thế Thiên cơ đạt

GIÁC huệ siêu phàm Đạo pháp thông.

Dịch nghĩa:

Trí sáng thông linh biết việc đời, đạt thấu Thiên cơ, Huệ giác ngộ siêu phàm rỗ thông Đạo pháp.

Sau khi ông Đinh Công Trứ qua đời (1949), Chí Thiện Lê Văn Trung được cử làm cai quản Trường Quí Thiện.

Ngày 14.10 - Tân Mão (1951), Hội Thánh bổ ba vị Giáo Thiện cai quản Trường thay Chí Thiện Lê Văn Trung.

Ngày 03.03 - Giáp Ngọ, Hội Thánh lại cử Đạo Nhơn Dương Văn Khuê xuống coi Trường Qui Thiện. Đức Hộ Pháp chỉ đạo ông Khuê triệu tập đại hội toàn thể tín đồ Trường Qui Thiện ngày 11.11 - Giáp Ngọ (1954) để bầu cử Ban Trị sự.

Ông Tổng quản và Ban Trị sự Địa Linh Động vâng ỉịnh thực hành kể từ 05.12 - Giáp Ngọ (29.12.1954) do Huấn Lịnh số 285/VP-HP.

Như thế, Đức Hộ Pháp đã chánh thức chuyển đổi Trường Qui Thiện thành một Tịnh Thất gọi là Trí Giác Cung - Địa Linh Động vào ngày 05.12 - Giáp Ngọ (1954).

            2. Thành phần Ban Trị sự Địa Linh Động.

Kể từ năm thành lập Trí Giác Cung (1954) đến năm Bính Thìn (1976), có 12 vị Tổng Quản được bổ nhiệm.

Ban Trị sự gồm có: Tổng Quản, Đầu phòng văn, Quản khố (Thủ bổn), Cai quản giáo huấn, Cai quản Canh Nông, Cai quản công nghệ, Cai quản thương mại, Quản Y (kiểm soát viên 2 vị) và nhiều Trưởng ban và Chủ sở.

Có bài xưng tụng của HBP về Trí Giác Cung như sau:

Trí Giác dành cho bậc thức thời,

An bần lạc đạo suốt ngày vui,

Không ham quyền thế, say mùi đạo,

Chẳng thích lợi danh, gát chuyện đời.

Thượng thọ ví như luồng mắt chớp

Đỉnh chung dường thể bọt bèo trôi.

Nương thân cửa Phạm lòng thanh thản

Phản bổn huờn nguyên trở lại ngôi.

            3. Khai Pháp vào Tịnh Thất Trí Giác Cung.

Khai Pháp Trần Duy Nghĩa (1888 - 1954), người làng Thành Phô, tỉnh Gò Công, làm côns chức Hoả xa.

Năm Bính Dần (1926), Đức Hộ Pháp vâng lịnh Chí Tôn đi xuống Gò Công mời ông Trần Duy Nghĩa vì ông là nguyên nhơn tiền định nên chịu nhập môn theo Đạo.

Ngài Trần Duy Nghĩa được Thiên phong Khai Pháp một lượt với các Thời Quân khác (1927). Ngài cùng với Tiếp Pháp Trương Văn Tràng làm cặp cơ truyền đạo lúc đầu, sau đó trở thành cặp phò loan chuyên về bí pháp.

Đến ngày 17.06 - Tân Tỵ, lính mật thám Pháp bắt Ngài tại Sài Gòn. Trước đó, chúng đã bắt Đức Hộ Pháp vào ngày 04.06 - Tân Tỵ, đày sang Madagascar.

Sau hơn 5 năm bị lưu đày, Đức Hộ Pháp và Ngài được trả tự do vào ngày 25.07 - Bính Tuất (1946). về Toà Thánh, Ngài tiếp tục hành đạo bên cạnh Đức Hộ Pháp.

“Kể từ ngày về Thánh Địa, Ngài Khai Pháp thường than thở với Bần Đạo: sợ e gây cảnh nồi da xáo thịt, bên ngoài thì giặc Pháp, bên trong thì quân đội quốc gia, ở giữa thì lính đạo. Ai vui, chớ tiêng Ngài sợ đổ máu giết chóc lẫn nhau, dẫn đến tương tàn cốt nhục của nòi giống ta.

Sau ngày Truyền Trạng Phạm Ngọc Trấn, Thánh Vệ bị quân đội Thành ám sát, Ngài thường đến Trí Huệ Cung ôm Bần Đạo khóc và than rằng: Thầy ôi, cái sỢ của tồi ngày nay đã đến rồi. Tôi hằng than thở với Thầy từ nơi hải đảo. Thầy trò minh tưởng về đất Thánh được yên vui, nào dè có quần đội, cho nên mới ra nỗi này”.

Than rồi khóc, Ngài vịn níu lấy Bần Đạo mà nói:

“Thầy ôi, Thầy trò mình mới về, dìu dắt con cái Đức Chí Tồn mà họ đâu thấu đáo tâm trạng, nay Trấn đã chết rồi, tôi thấy thảm hoạ đầy rẫy, tự gây phản bội và làm ly tán nhau, thì bầy con dại của Đức Chí Tôn phải sống nơi nào cho an phận.

Thưa Thầy, thà Thầy trò mình vùi thân nơi chốn tù đày hải đảo rừng xanh nước độc, còn y thú vị hơn về đây thấy cảnh đổ máu, tiền đồ tổ quốc chưa dựng lại mà nhơn sanh phải chịu cảnh sắp điêu tàn, nền đạo chinh nghiêng bởi cảnh đó”.

Bần Đạo gượng làm vui, cho Ngài bớt buồn rầu nên nói:

Không anh à, mấy em nó vì đầu óc thanh niên. Máu nóng đua tài, chác lợi, quyền trọng tham danh, chớ buộc cả thảy như quý anh sao được.

Bần Đạo thấy Ngài buồn, lần lượt kiến tạo Trí Giác Cung và khuyên Ngài vào ở đó cho yên tịnh mà bớt thấy cảnh thảm hoạ trêu diễn trước mắt hàng ngày”.

Ngài Khai Pháp Tịnh luyện tại Trí Giác Cung rồi thoát xác ngày 22.01 - Giáp Ngọ (24.02.1954) hưởng thọ 66 tuổi.

Ngay tối hôm sau, Ngài khai Pháp giáng viết:

“Chẳng phải sự sống là hạnh phúc ở cõi trần gian, nếu biết thì các bạn cũng đã mừng cho Tệ tăng rồi. Cái phàm thể chăng qua là đồ mục chẳng đáng gì.

THI

Sáu mươi sáu tuổi có bao lầu

Ngảnh lại trần gian chửa mãn sầu.

Tiếc lúc về già đời mỏi mắt

Dầu an Tiên cảnh vẫn đeo sầu.

Thăng”.

Bài thơ trên xác nhận Ngài đã đắc vị Tiên.

Bốn hôm sau, Đức Cao Thượng Phẩm cho biết Ngài Khai Pháp có đủ công nghiệp nên trở về cựu vị Thiên Tiên, tiếp theo Ngài Khai Pháp giáng (30.01 - Giáp Ngọ).

“Bạn Tiếp Pháp kể từ giờ này, bạn là vị Chơn Quân lãnh phần tiếp pháp mà hành nên chánh truyền cho định thể...

Từ đây là cơ hành pháp chớ không còn là cơ bí pháp nữa. Bạn là người tiếp nhận Pháp Giới và tùng Hộ Pháp đặng ban hành chánh pháp cho Thánh Thể và con cái Đức Chí Tôn. về mặt vô vi Tệ tăng luôn luôn giúp sức.

Nghĩa Tràng

Cặp cơ Bí Pháp tịnh luyện giờ đã gãy, nên Ngài Khai Pháp khuyên Ngài Tiếp Pháp cố gắng, về mặt vô vi sẽ có Ngài tiểp sức.

Tại Báo Ân đường Kim Biên (Nam Vang), đêm 15 tháng 8 Bính Thân (1956), Ngài Khai Pháp giáng cơ cho bài thài khác, thay bài cũ như sau:

THI

Đã chán công danh dưới phép người,

Đem thân cửa Phạm để nên nơi.

Lóng chuông Bạch Ngọc hồi hổn tục,

Nghe trống Lôi Ảm tỉnh mộng đời.

Nắm pháp thiêng liêng diu Thánh vị

Cầm cân công lý giữ ngôi trời.

Dầu chưa trọn nghĩa Thiên thơ định.

Giác ngộ vui theo cũng kịp thời.

Đến đêm mồng 2.12 - Giáp Thìn, Ngài Khai Pháp giáng đàn và cho thi:

TRẦN hoàn khoả lấp bụi phù sinh,

DUY lý uyên thâm tạo đạo thành

NGHĨA dõng tài cao còn thiếu đức

Nắm cơ trị thế khó nên danh.

Bài quán thủ Khai Pháp Chơn Quân giáng cho vào ngày 04.03- Ất Tỵ (1965).

KHAI khiếu huyền linh diệt tánh phàm,

PHÁP điều khử mị dẹp tà tâm.

CHƠN truyền mầu nhiệm Tam Kỳ xuất

QUÂN tướng dua giành nước Việt Nam.

Bài trên trích trong “Thuyết đạo của Ngài Bảo Thê Lê Thiện Phước”, Ngài Trần Duy Nghĩa có ý nói: trị đời mà thiếu đức khó thành công, một lời nói thẳng của chơn linh đăng Tiên.

Xem thế, cặp cơ Bí Pháp không còn, phải chờ đợi một sắp xếp ưiới của ơn Trên.

C. VẠN PHÁP CUNG - NHƠN HOÀ ĐỘNG

            1. Lai lịch Vạn Pháp Cung:

Vạn Pháp Cung lập trong Nhơn Hoà động tạì chân núi Bà Đen ở về phía nam, do chiến cuộc nên phải dời về đặt tại xã Ninh Thanh, phía bắc Toà Thánh độ 3 Km.

Đôi liễn nơi Vạn Pháp Cung:

VẠN lỷ hoà tâm đồng nhứt mạch.

PHÁP cao bình trị hội Tam Tông.

Ngày 28.10 - Giáp Ngọ (23.11.1954), Đức Phạm Hộ Pháp đi đến Sở Sđn Đình để tìm nơi xây dựng Tịnh Thất. Hội Thánh Phước Thiện vâng lịnh Đức Hộ Pháp ra thông tri tuyển mộ công quả tình nguyện tạo tác Vạn Pháp Cung theo số qui định là ba ngàn, không tính các đạo núi.

Khởi công xây dựng vào tháng hai năm Ât Mùi. Chính biến cô ngày Đạo hận 20.08 - At Mùi (1955) làm cho việc xây cất bị gián đoạn.

            2. Cực Lạc ThếGiới trên núi Bà.

Chuyến lên núi Bà tìm nơi xây dựng Vạn Pháp Cung vào ngày 12.06 - Mậu Dần (09.07.1938) được tường thuật lại như sau: Đêm 12.06 - Mậu Dần, Đức Phạm Hộ Pháp thức dậy 4 giờ sáng, dẫn đạp ra cổng Hộ Pháp đường, lên xe đạp chạy ra cửa Hoà Viện. Bên ngoài các ông Nguyễn Vãn Gia, Vỡ Văn Đợi... chờ sẩn. Ông Đợì họ Đạo Mỹ Tho về Toà Thánh thăm Đức Thầy, nghe đi núi nên ông xin theo hầu Thầy.

Thầy trò cỡi xe đạp qua ngã Lâm vồ (loại cây lá giống cây Bồ đề), đi thẳng lên núi. Khi Thầy trò đến chân núi, tới láng rừng có đóng bảng cấm, Đức Thầy bảo đem bỏ xe trong đó, rồi dẫn anh em băng qua vườn chuối. Đến chơn núi, Đức Thầy leo theo triền núi, anh em cũng leo theo. Khi leo ỉên gặp tảng đá lớn, dưới ting đá có cái hang, họi là hang Gạo.

Đức Thầy chun qua hang đó, rồi leo lên một tảng đá khác. Đức Thầy ngồi nghỉ mát. Lúc đó, ông Đợi đem võng ra giăng cho Đức Thầy nằm nghỉ. Tối ông chạy xuống cầu đá gần chùa Trung mua nước dừa đem lên cho Đức Thầy uống.

Đức Thầy nói: Nơi đây sau này anh em về ở trên ba ngàn người, nơi đây chắc có mạch nước, anh em xuống coi thử, vạch lá lên quả nhiên có mạch nước (mạch nước đó hiện giờ là sở số 1). Đức Thầy nói: ông Đầu sư Thái Thơ Thanh tạo Cực Lạc ở dưới đó là sai nên ảnh làm không thành mà Cực Lạc cảnh ở trên núi này.

Cực Lạc Thế Giới có Lôi Âm tự là nơi tu hành các bậc chơn tu, là con đường giải thoát. Giữa đỉnh cất Kim Tự Tháp tượng trưng cho Lôi Âm tự^còn dưới chơn núi là dinh thự Vạn Pháp Cung.

Đến 16 giờ, Đức Thầy ra lịnh trở về Toà Thánh. Thật ỉà duyên hạnh ngộ đối với ông Võ Văn Đợi. Khi nghe được câu: “Không biết có anh em Phạm Môn nào lên núi lập cho Bần Đạo một vườn nho”?, điều đó là gợi mở cho ông lên núi sau này.

            3. Lý lịch ông Đạo Núi:

Đạo Núi là tên do Đức Hộ Pháp đặt tên cho các đạo hữu tu trên núi Bà: đầu cạo trọc, mặc quần áo màu dà.

Khởi đầu là ông Võ Văn Đợi tự là Đại, người làng Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nhập vào Phạm Môn và lập hồng thệ kỳ nhứt, tại sở Trường Hoà vào ngày 03.01 - Nhâm Thân (07.02.1932), nhờ sáng dạ, lanh trí, Đức Hộ Pháp ban cho đạo hiệu LINH ĐOÁN, đắc phong Giáo Thiện, bắt thăm đi làm Đầu Họ Đạo Rạch Giá, mở cơ sở lương điền thương mại để thu huê lợi gởi về xây cất Toà Thánh.

Sau đó, ông Đợi từ chức Giáo Thiện để lập cơ sở tu chơn tại Vạn Pháp Cung. Nhóm của ông, Đức Hộ Pháp gọi là nhóm Đạo Núi.

Hành động của ông Đợi do động lực nào? Hãy đọc Văn thơ của Ngài Khai Pháp, Chưởng Quản cơ quan Phước Thiện dưới đây sẽ rõ.

“Kính ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi,

Tiếp thơ hồi âm của Hiền hữu theo thơ số 219 của Bần Tăng đề ngày 17.11 - Mậu Dần. Bần Tăng đắc lịnh của Đức Hộ Pháp để trả lời cho Hiền hữu rõ về thăng phẩm Chí Thiện cho Hiền hữu vì cớ nào mà Người chưa muốn để cho Hiền hữu thọ lãnh tân phẩm Chí Thiện.

Hiện thời chúng sanh còn đang khổ, Hiền hữu còn phải chịu nhọc nhằn... Hiền hữu chẳng lẽ ngơ tai nhắm mắt mà đi ngang qua cảnh khổ của chúng sanh. Huống chi phẩm Chí Thiện là còn khó khăn hơn hội phần. Đức Hộ Pháp vì thương yêu Hiền hữu, không nỡ để chồng chất sự khó khăn thêm, sơ nỗi nặng gánh đổ nhiều, nên mới không cho thăng vị Chí Thiện”.

Qua ý kiến trên ta hiểu được rằng Đức Hộ Pháp đã tiên liệu về sứ mạng đi đến con đường tu chơn của ông Đợi nên không thăng phẩm Chí Thiện.

Xem chế, ông Võ Linh Đoán là người đầu tiên được Đức Hộ Pháp tuyển chọn đưa vào con đường Tu Chơn để dìu dẫn các bạn đồng môn sau này. Thật vây, chức sắc gởi chức lại Hội Thánh bước vào đường Tu Chơn là thông lệ từ trước. Bởi vì Tịnh Thất theo Tân Luật chỉ dành riêng cho tín đồ.

Đến năm Đinh Hợi (1947), ông Đợi bị bịnh nặng trên núi. Đức Hộ Pháp cho người đưa ông Đợi về Toà Thánh để trị bịnh. Trước ba ngày qui vị, ông nhờ người viết “Tờ xin tội” dâng lên Đức Hộ Pháp.

“Cúi bạch Sư Phụ,

Con là Vố Văn Đợi 50 tuổi, cúi đầu trăm lạy Sư Phụ xá tội giùm con. Kể từ ngày con hiến thân làm Đạo đến nay tính 17 năm có lẻ. Nay con đau nặng không thể mạnh được mà nay gần rốt kiếp sống rồi. Nên con cúi đầu trăm lạy Sư Phụ xá tội cãi Thầy, cãi bạn của con.

Võ Văn Đợi”.

Lời phê của Đức Hộ Pháp như vây: “Em an lòng, Thầy chỉ thầm khem em, chớ chưa biết em có tội gì hết”.

Ngoài ân huệ khoan hồng, Đức Hộ Pháp còn cho phục chức Giáo Thiện đo Thánh Lịnh sô" ngày 23.04 - Đinh Hợi (1947):

“Cho phục phẩm Giáo Thiện kể từ ngày 22.04 - Đinh Hợi. Lễ cất tang Người được dùng theo hàng Giáo Thiện và linh vị được đem vào ở Báo Ẩn Từ”.

Lần đầu tiên, phẩm Giáo Thiện được hành lễ tang tại Báo Ân Từ là Giáo thiện Võ Văn Đợi. Điều đó, chứng minh ông Đợi Tu Chơn đã hiển thánh.

Sau khi ông Đợi qui liễu, khu núi Bà vì chiến tranh mất an ninh. Các Đạo Núi Tu Chớn không được ở trên núi phải xin về Toà Thánh làm công quả.

Vì có sự ngăn trở cách ăn mặc, nên ngày 17.5 - Đinh Hợi, ông Nguyễn Văn Thế thay mặt các Đạo Núi dâng tờ lên Sư Phụ cho giữ Thiền Cách, được Đức Hộ Pháp bút phê:

“Tư cho Hội Thánh Phước Thiện: cứ để tự do cho mấy đứa nhỏ giữ nguyên THIÊN CÁCH, cho làm công quả tạm ở đây, chờ ngày Bần Đạo giao việc làm riêng”.

Năm 1955, Đức Hộ Pháp lưu vong sang Cao Miên. Vạn Pháp Cung, cơ sở của nhóm Đạo Núi còn lại bị bom đạn phá hư sập. Nhóm Đạo Núi tản cư về xóm lò than ở xã Ninh Thạnh cho tới ngày nay.

Cách ăn mặc của nhóm Đạo Núi nơi Vạn Pháp Cung: đầu cạo trọc, quần áo màu nâu (trong ý: Nhuộm áo nâu sòng về Cực Lạc) là tổ chức theo ông Linh Đoán chớ không phải lịnh của Đức Hộ Pháp, nên khác hẳn với luật Tịnh Thất.


 





CHƯƠNG III

TỊNH THẤT TẠI TƯ GIA

TIẾT 1

TU TẠI GIA

Trong Tân Luật có ba đạo sự đồng hành: Đạo Pháp, Thế Luật và Tịnh Thất.

Tịnh Thất là luyện đạo trường sanh dành cho tín đồ để trọn câu tận độ chúng sanh.

Đêm 08.04.1926, Đức Chí Tôn đã phán: Muốn trọn câu phổ độ phải bày Bửu Pháp (Tịnh Luyện) ra, chớ không đặng dấu nữa. Xem thế thì phổ độ và tịnh luyện song hành.

Đức Chí Tôn dạy về Tu Chơn như vầy: “Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng này do Tinh Khí Thần mà luyện thành... Nó phải có bổn nguyên Chí Thành, Chí Tiên, Chí Phật mới xuất ra Thánh Tiên Phật”.

(Đàn 17.07.1926)

Đức Chí Tôn lại khẳng định: “Nếu biết ngộ một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng”.

(Đàn 19.12.1926)

Đàn đêm 17.09.1926, Đức Chí Tôn nhấn mạnh: “Dầu không Thiên phong, hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạí hồi đặng”. Đức Chí Tôn lại dạy một việc thực tế mà tín đồ nào cũng có thể thực hiện được là:

“Con hiểu bổn nguyên Thánh chất của Thầy... Tuỳ sức mỗi đứa lo lập (cho mình) một Tịnh Thất”.

Khởi tiên, ông Cao Quỳnh Cư đã lập cho mình mộtTịnh Thất tại tư gia ở xã Thái Hiệp Thạnh (nay là Thị xã Tây Ninh) được bà Thất Nương đặt tên là Thảo Xá Hiền Cung.

Thứ hai, ông Nguyễn Phát Trước vâng lịnh Đức Quyền Giáo Tông cất Trước Lý Minh Đài ở trên thờ, dưới làm nhà để ở. Chính nơi đây, Đức Chí Tôn đến dạy về bí pháp Tịnh luyện trước tiên (1935).

Thứ ba là Bạch Vân Am do Đầu Sư Thái Thơ Thanh lập ở Phú Lâm.

Thứ tư là Hộ Pháp Tịnh Đường được anh em Trường Qui Thiện xây trong phần đất Địa Linh Động cho Đức Hộ Pháp về tịnh dưỡng.

Thứ năm là Minh Thiện đàn ở nhà tiêng của ông Đinh Công Trứ tại Phú Mỹ, thu nhận nhiều hành giả.

Thứ sáu là Đông Nghĩa Đường ở tư gia của ông Lê Văn Trung (Phước thiện) nhằm nhận bớt số đạo hữu bên Minh Thiện đàn.

Thứ bảy là Bạch Vân quán ở nhà riêng của ông Trần Vân Đằng, nơi đây nhận được phần thực hành của Pháp Môn tịnh luyện.

Thứ tám là Dưỡng Sinh quán tại nhà riêng của ông Đào Vân Long ở Sydney (úc).

Thứ chín là Dưỡng Thần quán ở nhà riêng của ông Lý Vân Hà ở Texas Mỹ.

Kể từ khi Đạo Lịnh 01 (1979) ban hành thì số Tịnh Thất không tên tại tư gia tăng lên rất nhanh, khó thống kê hết.

Đức Thanh Sơn Đạo sĩ thay mặt Bạch Vân Động các Đâng tuyên bố:

“Lưu truyền, hậu thế một DÒNG THlỀN”.

(Tam Thánh Bạch Vân Động, in 1971, tr. 104).

Thật ra, trong Chương I và II, ta thấy rõ Đức Chí Tôn dạy Đức Hộ Pháp học thiền và Đức Phật Mâu đã ban cho Ngài VẸN TOÀN PHÁP MÔN. Cho dù Đức Ngài qui Thiên nhưng vẫn giáng cơ ban thực hành TRƯỜNG DƯỠNG TINH KHÍ THAN cho các môn đệ, ta sẽ thấy trong Chương III này, đánh dâu một bước ngoặt lớn trong DÒNG THIỀN PHỔ ĐỘ.

TIẾT 2

BẠCH VÂN ĐỘNG - BẠCH VÂN AM

            1. Bạch Vân Động:

Bạch Vân Động là nơi ở các vị Tiên mà Động chủ là Thanh Sơn Đạo Sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Đức Hộ Pháp giải về Bạch Vân Động như vầy:

“Theo kinh Phật địa cầu hiện ta đang nay là kiếp thứ nhì. Sau bảy lần biến hoá, mỗi kỳ 61 triệu năm, vị chi 427 triệu năm, địa cầu đã chết một lần, di hài 7 kiếp trước cồn lại là Nguyệt cầu. Xưa nay người ta vẫn coi Nguyệt cầu là nơi dừng chân của Thần Thánh trước khi xuống trần gian đầu thai. Các vị đó phải ở lại Nguyệt cầu một ít lâu để liên lạc vđí địa cầu để hiểu cuộc sống ở thế gian.

Theo thần thoại gọi Nguyệt cầu là Bạch Vân Động (Quảng Hàn Cung là cung lạnh) khộng sự sông. Bên Châu Âu mệnh danh là Loge Blanche.

Giáo chủ của Bạch Vân Động là Bạch Vân Hoà Thượng, miêu duệ của Từ Hàng Đạo Nhơn, dòng dõi Đức Phật Quan Âm. Bạch Vân Hoà Thượng đã hai lần giáng trần ở Pháp: 1. Hồng Y Giáo Chủ Richelieu, 2. Quận công La Roche Foucault. Ở Việt Nam Ngài giáng trần là Trạng Trình”.

Trong Đạo Cao Đài các vị Tiên Thánh của Bạch Vân Động lãnh lịnh giáng trần để Đức Chí Tôn lập thành Hội Thánh làm hình thể của Ngài tạì thế mà hoằng dương chánh pháp.

Tam Thánh Bạch Vân Động giáng trần vào hai thời kỳ:Tam Thánh tiền khai có trước khi Đạo Cao Đài ra đời để giáo dân qui thiện hướng dần về nẻo đạo. Còn Tam Thánh hoằng khai, thời kỳ mở đạo để hoằng dương chánh giáo.

Điều đó khẳng định, Đạo Cao Đài chọn đất nước Việt Nam làm nôi ươm mầm “Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc” để thực hiện tiêu ngữ: “Quốc Đạo kim triêu thành Đại Đạo”.

Tam Thánh tiền khai gồm có: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là Danh nhân Văn hoá Thế giới. Những danh nhân đó tuy sống khác thời đại nhưng đều có chung một quan niệm về chữ Tâm như sau:

- Nguyễn Trãi: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,

                         Lấy chí nhân để thay cường bạo”

(Bình Ngô Đại Cáo)

- Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Cổ lai quốc dĩ dân vi bản

Đắc quốc ưng tri tại đắc dân”.

(Cảm hứng)

- Nguyễn Du: “Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài ”

(Kiều).

Để Đạo Cao Đài trở nên Đại Đồng, hai cụ Nguyễn Trãi (Thánh danh Côn Sơn Thượng Sĩ), Nguyễn Du (Thánh danh Hồng Sơn Liệp Hộ) đã phải nhường cho hậu kiếp của minh là Tôn Trung Sơn và Victor Hugo hiện diện trong Tam Thánh để thu phục nhơn tâm và cãi hoá lòng người, thể hiện bước phổ độ kế tiếp là tận độ chúng sanh mà thực thi Đại Đồng nhơn loại ([6]).

2. Bạch Vân Am:

Trong “Bi ký quán Trung Tân”, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết: “Mùa thu năm Mậu Dần (1542) ta bỏ quan chức về nghỉ ở quê nhà, mời các cụ già đi dạo chơi bến Trung Tân. Ngắm nhìn phía đông là biển, ngó về phía tây là Kính (Thày), phía nam xa xa là ngòi Liêm Khê, thấy các làng Trung Am Bích động tiếp giáp nhau, phía bắc nhìn thấy sông Tuyết Giang, chợ Hàn, đò Nhật phải trái vây bọc. Ta ngoảnh lại bảo các cụ trong làng rằng: những gì mà trước đây ông đang sửa sang xây dựng chưa bằng nơi thắng địa này”. Thế nên cụ chọn nơi đây xây BẠCH VÂN AM để tu luyện và viết sách như Bạch Vân Am tập, Bạch Vân quốc ngữ thi.

Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) đạo hiệu là Bạch Vân Cư sĩ, làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương. Cụ đỗ Trạng Nguyên, tước Trình Quốc Công nên người đời gọi cụ là Trạng Trình.

Cụ là cây đại thụ văn hoá dân tộc thế kỷ XVI là nhà Nho nhưng ảnh hưởng Phật Lão (Tam Giáo).

Thanh nhàn ấy ắt là Tiên khách,

Được thú ta đà có thú ta.

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 31).

Thấy cơ doanh mãn cho hay chớ

Phải đạo trung thường, mựa có qua.

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 17).

Yêu đời phận dầu tự tại

Lành dữ khen chê cũng mặc ai.

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 12)

Song hiên ngỏ cửa ngồi xem sách,

Tự tại ngày qua mấy kẻ bằng?

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 66).

Cụ tu tiên tại Bạch Vân Am vừa dạy đời, dạy học trò và dạy cách sông trường sinh:

DƯỠNG SINH THI

Tích khí, tồn tinh, cánh dưỡng thần,

Thiểu tư, quả dục, vật lao thân.

Thực thôi bán bảo, vô kiêm vị

Tửu chỉ tam phân mạc quá tầng

Mỗi bả hí ngôn, đa thủ tếu,

Thường hàm lạc ý, mạc sinh xân.

Nhiệt viêm biển trá đô hưu vấn?

Nhiệm ngã tiêu dao quá bách xuân.

Dịch thơ:

THƠ DƯỠNG SINH

Giữ khí gìn tinh lại dưỡng thần,

Ít lo, it muốn, ít lao thân.

Cơm nên vừa bụng đCừig nhiều vị,

Rượu chỉ vài phân chớ quá tầng.

Miệng cứ câu đùa vui miệng mãi,

Bụng thường nghĩ tốt bụng lâng lâng,

Nhiệt thành biển trá thôi đừng hỏi

Để tớ tiêu dao đến tuổi trăm.

Đức Thanh Sơn Đạo sĩ có nhiều để tử Bạch Vân Động ở khắp nơi. Những lúc u nhàn Ngài còn thiền định và mạnh dạn tuyên bố để lại cho nhơn sanh một DÒNG THIEN dù đã về Tiên cảnh.

u Thanh Sơn Đạo sĩ,

Khi đến Đàn, Bần Đạo đặng thi, khen đó.

Nghe Bần Đạo khuyên:

Đã từng vào bút lại ra nghiên,

Chí khí nam nhi gắng giữ bền.

Phong Võ tuy qua chưa định tánh,

Vân Đài nhắm lại có đề tên.

Trần ai vùng vẫy nên tay mắt

Đài các tiêu dao chước biến quyền.

Đủ trí đủ tài tua vẹn đức,

Lưu truyền hậu thế một DÒNG THIỀN

Ý nói, lúc giáng đàn, Đức Thanh Sơn mới thấy bài thi của Tiếp Đạo Cao Đức Trọng để trên áng thư Ngài hoạ liền và khuyên nhủ:

Đủ trí đủ tài tua vẹn đức,

Lưu truyền hậu thế một dòng thiền.

Ngay từ tháng 6,1927, Đức Thanh Sơn Đạo sĩ khuyên các ông Thời Quân chung công sức xây dựng một dòng Thiền nên phải vẹn gìn đạo đức cho chúng sanh noi theo. Khởi đầu Đức Chí Tôn dạy hàng giáo lãnh thiền, rồi Đức Phạm Hộ Pháp ban hành “Phương phấp luyện kỷ”, nhưng phải viết rõ: Đạo Cao Đài dù chi phái vẫn chưa có pháp môn thực hành luyện tinh khí thần. Mãi đến khi, Đức Thanh Sơn Đạo sĩ mở Bạch Vân Quán (1969) các Đấng mới giáng đàn dạy lần lần các bí pháp, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng về Thiền đơn trong nền Đạo Cao Đài.

3. Bạch Vân Quán:

Việc cầu cơ chấp bút học hỏi là một hiện tượng khá phổ biến trong vùng Thánh Địa Cao Đài Tây Ninh, nhất là trong các cơ quan Đạo. Đoàn Hướng Đạo Sinh Cao Đài có cặp cơ: Bạch Pháp - Bạch Minh, danh hiệu Đại Đạo Thanh Niên Hội do cầu cư mà ra, Luật Tam Thể do chức sắc Hiệp Thiên Đài cấp dưới cầu cơ học hỏi mà hình thành và trong Ban Thế Đạo có nhóm Nguyễn Long Thành...,

a. Đường đến tầng Thánh Ý:

Nguyễn Long Thành (1942 - 1998) người cần Giuộc (Chợ Lớn) tốt nghiệp Đại học Sư phạm ban Anh Văn, dạy trường Trung học Tây Ninh. Tuy làm việc đời nhưng ông trường trai diệt dục (không lấy vợ).

Năm 1969, ông về quê nghỉ hè, một người bạn làm đơn xin Hiền Tài thay ông, nên khi tấn phong ông không đến nhận Thánh Lịnh, nhưng vẫn sinh hoạt với anh em như một Hiền Tài.

Sỡ dĩ ông có hành vi như vậy là vì ông là một đồng tử được ơn Trên dạy tu chơn, chấp bút, tịnh luyện, viết sách, dạy học để sống.

Cuối năm 1969, ông và Hiền Tài Rạng được Hiền Tài Quản Văn Phồng Ban Thế Đạo trao một phong thư trong đó có bài thi:

BÁO trọng thiền tâm đạt lý thông

HUYỀN hư Thành giữ trọn trong lòng.

LINH thiêng bến giác dìu sanh chúng

QUÂN ngộ tu chơn về cõi Bồng.

HP.

Cuối năm 1975, ông đi học tập về bị bịnh liệt nằm một chỗ. Không còn dạy học, ông có nhiều thì giờ tịnh luyện, được nhiều người theo học đạo và xin làm đệ tử.

Năm 1998, sau cơn bạo bịnh trầm kha kéo dài. Ông qui Thiên thoát xác ngày 19.04-Â1 MD, để lại niềm thương tiếc cho các đệ tử.

Các đệ tử lập nhà thờ ông bên bờ Thanh Trúc. Ông còn chuyển các đệ tử đến tiếp tục học đạo với VĐ, bạn đạo sinh thời của ông.

Ngày 25.04 - Mậu Dần, Bạch Long Nguyễn Long Thành giáng bút:

“Chào bạn,

Mình thoát cảnh trần ai nhẹ nhàng làm sao, không còn rằng buộc gì vào thân. Mình về Hiệp Thiên Đài trình Sư Phụ. Đức Ngài bảo mình giữ Huyền Linh Đài, đón rước những hành giả tu chơn đắc đạo.

Khi nhận giữ Huyền Linh Đài, Ngài Bảo Văn Pháp Quân nói rằng: “Thành đã mặc nhiên nhận chức Bảo Huyền Linh Quân”. Bây giờ minh vui mừng lắm, không còn bị thúc phược bất cứ ai. Thật là cảnh Thần Tiên mình hằng mơ ước.

Còn xác phàm còn lo, giải thoát thì hết lo. Ngày trước bạn và minh bị bạn bè tế sống, cười, sống chết như nhiên đâu có gì sợ. Sống chết như việc thay áo, mặc vào cái áo mới làm nhiệm vụ mới ở nơi tốt hơn, không phải là điều mơ ước sao?”.

Lúc bịnh liệt giường, Bạch Long thi thoảng giảng đạo cho các đệ tử. Họ dùng máy thu thanh ghi vào băng rồi sao chép lại in thành tập “Bí Pháp”, xin trích một số bài tiêu biểu. Ông Thành thuyết rằng:

“Qua quen một người bạn tính tình dị hợm lắm, nhưng người đó có căn lành, nên được Đức Chí Tôn đến mở khiếu tâm linh. Nhờ đó người bạn này đã học hỏi trực tiếp lý đạo với quyền năng thiêng liêng của Đức Chí Tôn và chư Thần Thánh Tiên Phật. Trong một buổi học về huyền lính mặc khải, người dó đạt lên Đức Chí Tôn những ý kiến về bí pháp.

- Dạ thưa Thầy, khi xưa Thầy giáng cơ dạy đạo cho mấy anh con, Thầy kêu mấy người học giỏi mả quở rầy:

Đổi thử máy Trời coi có được

Thì ta đổi tội dữ ra lành. ( TNHT1 IN 1950, tr 91)

- Thưa Thầy, con không phải là người học giỏi. Con dốt lắm, con biết thân phận của con là người dốt, nên lời quở trách ấy con hiểu không phải rầy con, xin Thầy cho phép con biện minh cho mấy anh con.

Thầy đã sinh ra con người và ban cho người một tánh linh. Con người dùng tánh tinh này để sáng tạo thêm những điều mới mẻ cần thiết cho sự sinh tồn và phát triển của mình, thì việc thay đổi máy Trời, con thấy con người có thể làm được. Chẳng hạn, Thầy sinh con người có hai chân đứng trên mặt đất mà con người nay bay lên không gian được.

Vậy, Thầy nói rằng đổi máy trời được thì Thầy sẽ đổi tôi dữ ra lành? Điều đó Thầy đã ban cho chúng con khả năng biến đổi sự sống này.

Ngài từ bi cười và bảo rằng:

- Con người còn có khả năng làm thêm được điều kỳ diệu hơn thế nữa... Nhưng Thầy định cho con người không đổi được, đó là Ký ức Thiêng Liêng của Chơn Thần, nghĩa là con đã làm điều gì thì con sẽ nhớ lại điều đó không thể nhớ một điều khác được...

Máy Trời vi diệu mà chơn lình của Thầy đã chiết ra đặt trong thân thể con, nó sẽ ghi nhớ tất cả mọi việc mà con đã làm đã nghĩ, thì chỗ này không thay đổi được. Loài người có thể tự lừa dối mình bằng cách cho rằng khi thân xác này chết đi thì không còn gì nữa hết, không có gì tội đâu, nhưng chỗ ký ức này không đổi được. Lẽ công bằng Thầy đã định nếu làm được điều lành, thì khi chơn thần hồi tưởng lại sẽ thấy niềm vui, còn nghịch lại khi con người làm điều ác, lúc chơn thần nhớ lại sẽ thấy đau khổ. Không ai xử tội mấy con, chính chơn thần mấy con xét xử lấy mình. Thăng hay đọa là do chỗ nhớ mầu nhiệm này.

Con người đã tự lừa dối minh cho rằng chết là hết, nên mới dám làm những điều tà vạy trước mắt Thầy...

Hai tiếng máy trời mà Thầy đã nói là không đổi được do ở chỗ nhớ này. Mấy con phải biết sợ mà cẩn thận thì con đường tu mới có thể tinh tấn đặng.

Quyền năng sáng tạo của con người chế biến ra những máy móc tối tân để phục vụ cho đời sống con người là chánh lý, vì Đức Chí Tôn đã ban cho cho con người một tánh linh, thì con người sử dụng tánh linh đó để bảo tồn sự sống. Điều ấy hợp với lẽ Đạo hợp với Thiên cơ, nhưng lòng tự phụ kiêu căng cho đến nỗi Đức Chí Tôn phải quở rầy:

Đổi thử máy Trời coi có đưực,

Thì ta đổi tội dữ ra lành.

Trên đây là lời cảnh cáo đối với con cái Ngài trên toàn mặt địa cầu, chớ không riêng cho người theo Đạo Cao Đài học Đạo bằng cơ bút hồi đó đâu”.

Dưới đây là bài cuối trong tập Bí Pháp của ông Nguyễn Long Thành tựa là: “Tầng Thánh Ý”.

“Kỳ trước Qua đã đề cập đến Tầng Thánh Ý luôn luôn ngự trên tầng ý thức bình thường của con người và nó đóng vai trò một nguồn cảm hứng thiêng liêng trong những sinh hoạt về phần Đạo và phần đời...

Các tôn giáo đều chỉ truyền cho tín đồ của mình những thường pháp để nâng cao tâm thức đến tức có thể sống được với tầng Thánh ý này. Các phương pháp ấy đều dựa trên nguyên lý là phải trở về với sự yên tĩnh trong tâm hồn của mình. Đời sống nội tâm của người tín đồ khi đạt đến đỉnh cao Thánh thiện thì vẫn là một khôi tư tưởng thuần nhất và nó rất đơn giản gồm những điểm chính sau đây:

Sự minh triết tức là sự sáng suốt, khôn ngoan thánh thiện. Lồng từ ái vô biên là sự thương yêu bao la đối với chúng sanh. Đức từ bi hỉ xả vô lượng, tha thứ cho những oan nghiệt đã ràng buộc tinh thần con người vào chỗ tối tăm. Sự công bình chánh trực một mải lông không sai sót để cho chơn thần của con người ý thức đặng, hiểu đặng. Tai sao có cảnh khổ trong đời sống của từng cá nhơn và cộng đồng...?

Con người dù có phủ nhận tâm linh của các chơn linh đã đạt pháp và hiện làm việc trong thế giới vô hình thì nguồn Thánh Ý ấy vẫn tiếp tục ban rải cho loài người...

Các tu sĩ trong những cố gắng để thánh hoá tư tưởng mình, không phải một sớm một chiều mà có thể loại bỏ được hết những nét phàm tục đã ăn sâu trong tâm hồn từ bấy lâu. Thành thử tánh kiêu căng, tự phụ khoe khoang chẳng hạn hay xen lẫn vào trong những giây phút hứng khởi được tầng Thánh Ý này bố hoá cho một nguồn năng lượng sống cao hơn trí tuệ của mình. Những nét phàm tục của ý tư tưởng cũ thường mạo nhận danh nghĩa của Thánh ý và lừa dối chính lý trí của mình và cuối cùng những sinh hoạt tu hành vẫn còn lẩn quẩn trong vòng trần tục cao cấp.

Qua giảng cho mấy em đề tài này là để nhắc nhở khi người tu đạt pháp thành công, dầu cho xác phàm này chó chôn vùi dưới lòng đất thì quyền năng của tư tưởng trong chơn thần mình vẫn tiếp tục làm công việc thúc đẩy cơ tấn hoá của nhơn loại, đó là một vai trò cao cả thiêng liêng.

Con đường hằng sống ấy vẫn mở ra trước mắt mấy em, đạt thủ được hay không là do chính lòng thành khẩn và nghị lực của mình trong suốt kiếp sanh.

Trong Đạo Cao Đài vẫn có những bậc đạt đến Chí Thánh, dầu hình thức tôn giáo có lúc thạnh lúc suy cũng như lịch sử của đời vẫn phải trải qua những cơn khủng hoảng về kinh tế, tài chính, chính trị cực kỳ nguy hiểm nhưng cũng nhờ tầng Thánh ý này ngự trị và chế giảm bớt những oan nghiệt, tội tình mà chung cuộc lại thì nhơn loại vẫn một ngày một tiến bộ...

Qua cầu mong mấy em thực hành được Thánh ý của Đức Chí Tôn đã truyền dạy từ trước”.

(NLT, Bí Pháp in 2001, tr. 52-56).

b. Căp cơ truyền Bí Pháp Tỉnh Luyện:

Đêm mồng 9.01 - Tân Hợi, các Đấng khởi sự dạy Bí pháp Tịnh Luyện.

“Hộ Pháp,

Chào chư hiền.

Hôm nay là vía Đức Chí Tôn, Bần Đạo khởi đầu giảng dạy về Bí Pháp Tịnh luyện. Trước kia, Bần Đạo đã ban hành “Phương pháp tập dưỡng sinh”, kế là “Phương pháp luyện kỷ, Trị Tâm”, rất ít môn đệ chịu luyện. Khi Bần Đạo vào tịnh luyện ở Trí Huệ Cung, có người xin cùng tịnh. Bần Đạo mới đưa ra thuyết Tam Lập khó, nên từ đó số môn đệ tịnh luyện ngày càng thưa.

Nay Bần Đạo quyết định ban hành phương pháp tịnh luyện đơn giản hơn có người hướng dẫn gọi chung là DÒNG THIÊN PHỔ ĐỘ.

Với sự thông minh và kiến thức của chư hiền, Bần Đạo chỉ giảng đại thể, khi thực hành gặp trở ngại thì hỏi chư Tiên.

Dòng Thiền Phổ Độ chủ yếu là luyện Tinh Khí Thần để vào hàng Thánh, nhưng muôn đến đó phải qua các giai đoạn sau:

1. Sơ TỊNH luyện Chơn Nhứt Khí:

Chủ yếu là luyện thở hít khí trời đem nuôi cơ thể, nên cuối cùng hơi thở gom về Khí Hải. Khởi đầu tập thở bằng bụng: hít vào thở ra, nghỉ với nhịp độ bình thường, với tư thế ngồi kiết già, tập trung tư tưởng và lưỡi bịt khít hai hàm răng. Hãy nói thầm câu này trong não:

“Thầy là các con đó, các con là Thầy vậy”, giúp tinh thần quen dần việc tập trung tư tưỏng.

Khởi động: Tập trung tư tưởng hít Thiên khí qua lỗ mũi xuống rốn chuyển vận khí trước khi sanh (TiênThiên Khí) ở Mạng Môn và khí sau sanh (Hậu Thiên Khí) ở Thần Khuyết tích tụ ở Đơn Điền thành Chơn Nhứt khí.

Rồi thở ra cho tán khí toàn thân, bụng thót vào thong thả, đoạn đưa khí về Khí Hải, để bụng im. Rồi tiếp tục thở hơi kế.

Tập một ngày 4 lần, mỗì lần 30 phút trong ba tháng. Rằm Thượng Nguơn tiếp.

Thăng”.

“Hôm nay Rằm Thượng Nguơn, Bần Đạo dạy tiếp Bí Pháp Luyện Tinh Khí Thần.

Trước hết, chư hiền luyện ba món báu: Tinh Khí Thần riêng, rồi sau mới qui Tam Bửu. Đây là phần luyện đạo chánh của Dòng Thiền Phổ Độ.

LUYỆN TINH

Luyện Tinh chia làm hai thời kỳ:

1. Mượn hơi thỏ:

- Hít vào từ từ và tưởng tượng khí vào đầy bụng dưới, ngưng thở.

- Khí tích tụ tại đơn điền, nén khí tại đây rồi thở ra từ từ, tưởng tượng từ Đơn Điền (huyệt Quan Nguyên) lan toả ra cả vùng bụng là hết một nhịp.

2. Thở tư nhiên:

Chư hiền tập trung tư tưởng và quán tưởng một viên thuốc bằng hột đậu ở Quan Nguyên xoay tròn theo ngược chiều kim đồng hồ 600 vòng và thuận chiều kìm đồng hồ 600 vòng là đạt.

Luyện tinh mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 30 phút liền trong ba tháng.

LUYỆN KHÍ

Mỗi chu kỳ là 24 nhịp thở, gồm hai thời kỳ:

1. Mượn hời thỏ:

- Hít vào dẫn khí từ Ngân Giao xuống Khí Hải ngưng thở, để khí toả ra quanh rốn, nghỉ thở toàn thân thoải mái.

- Thở tự nhiên:

Chư hiền tưởng tượng viên thuốc xoay quanh rốn theo chiều kim đồng hồ và ngược lại cả thảy 1.200 vòng.

Luyện khí mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 30 phút, liền trong ba tháng.

LUYỆN THẦN

Cách luyện Thần giông như luyện Khí.

1. Mươn hơi thỏ:

- Hít vào từ Nhơn trung lên Bá Hội, ngưng thở, tập trung sức mạnh ở đó rồi thả lỏng, dẫn khí xuống Nhơn trung.

- Thở ra Khí thoát từ Nhơn Trung, nghỉ thở.

2. Tu Khí:

Vận Khí hai bên Thái Dương, Ân đường và sau gáy tụ về Bá Hội (Nê hoàn cung) rồi cho Khí toả khắp vùng đầu.

Kế đó, hoán tưởng huờn đơn xoay qua xoay lại cho đủ 1200 vòng như luyện Khí.

Mỗi ngày tập 4 lần, mỗi lần 30 phút, trong 3 tháng.

QUI TAM BỬU

Qui Tam Bửu là gom Tinh Khí Thần tụ về Nê Hoàn cung.

1. Phương pháp công phu:

- Hít sâu kéo Khí từ Ân đường xuống Quan nguyên (Tinh) rồi vận Khí lên Khí Hải (Khí) theo mạch Đới qua Mạng Môn lên Bá Hội (Thần) nén khí tại đây rồi xuống Đơn Điền.

- Ngậm miệng lại cho hai mạch Nhâm đốc giao nhau. Nước miếng sẽ chảy ra gọi là Ngọc dịch huờn đơn. Nước miếng đó chính là Tinh, Tinh hoá Khí, Khí Hoá Thần, nhờ đó mà Pháp Luân thường chuyển.

- Thở ra êm nhẹ và tưởng tượng Khí lan ra vùng bụng dưới, rồi tiếp tục hít vào, công phu tiếp.


 





 

2. Ý nghĩa công phu:

Công phu đạt thành thì phát huệ, có trực giác, dẹp bỏ hết ước muốn.

Ngày nào đó, chư hiền tự nhiên thấy thần khí điểm linh quang sáng là tức ngộ đạo.

Chư hiền cố gắng tập luyên cho đạt thành chánh quả”.

Thăng”.

(Thánh ngôn B VQ, từ trang 14 - 18)

LUYỆN THẦN HUỜN HƯ

PHẢN BỔN HUỜN NGUYÊN

“Hộ Pháp Chào chư hiền,

Hôm nay rằm Trung Nguơn, Bần Đạo dạy tiếp về Bí Pháp.

Muốn luyện Thần huờn hư, hành giả phải thuần thuộc:

- Cách luyện thở

- Biết qui Tam Bửu

- Quân bình âm dương, tức luyện Tiểu chu thiên.

- Gom ngũ hành tức luyện Đại chu thiên, vận khí ở hai kinh âm kinh dương ỏ tay và chơn.

- Rồi luyện Tam Hoa tụ đỉnh.

TAM HOA TỤ ĐỈNH

Mỗi người trên mạch Đốc có ba huyệt hoa:

- Vĩ Lư tại huyệt Trường cường.

- Tỳ Lư tại huyệt Đại Chuỳ.

- Ngọc Lư tại huyệt Phong Phủ.

Bắt đầu hít sâu nhẹ và dài, dẫn Khí từ Thừa Tương xuống Đơn điền ngưng thở rồi qua mạch Đới đến Vĩ Lư nén khí, đưa khí lên Tì Lư nén khí, đoạn đến Ngọc Lư nén khí xong, đưa lên Bá Hội nén khí, rồi dẫn khí từ mạch Nhâm về Đơn điền. Thở ra cho khí toả nhẹ ở Đơn điền, dứt một nhịp thở.

Nếu Tam hoa khai thì cơ thể khoẻ mạnh, trí tuệ sáng và trực giác tốt.

LUYỆN THẦN

Luyện Thần huờn hư phải trường trai để Thần hoà vào hư vô mà thoát khỏi mọi ràng buộc nhơn gian.

- Luvện nôi đan bằng cách tụ khí toàn thân vào Nê Huờn cung, nổi lên vòng vô vi to bằng hạt đậu xoay tròn theo chiều kim đồng hồ.

Đó là PHẢN BỔN HƯỜN NGUYÊN (về nguồn) phải cho vòng vô vi xoay 1200 vòng để vận nguyên khí thông suốt nội tạng.

- Luyên Thần huờn hư:

Ä Quán não hư không bằng cách biến tất cả suy nghĩ thành hư vô, không còn điều chi ẩn chứa trong lòng.

Ä Quán Thần vào Hư vô cho thần kinh trung ương ngưng động. Thần trở nên vắng lặng mà mở oát cửa Thiên Môn (Nê hườn cung) mà vân du Thiên ngoại.

Luyện đến khi nào thành thì thôi.

Bần Đạo ban ơn chư hiền.

Thăng”.

DANH HIỆU VÀ XÂY THÁP

“Hộ Pháp

Chào chư hiền.

Hôm nay là ngày Hạ nguơn Khai Đạo, Bần Đạo kết luận về danh hiệu của tịnh luyện. Danh hiệu này không phải phẩm tước chức sắc mà chỉ là cấp độ thiền định, tránh việc mới cũ ngang nhau.

- Hành giả luyện Chơn nhứt khí vì tuổi cao mà giải thoát đạt danh hiệu Chí Thần, xây pháp lục giác một tầng vì 6 chữ lục tự Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

- Hành giả luyện Tam Bửu khi qua đời đạt vị Chí Thánh (xây tháp hai tầng).

- Hành giả luyện Thần huờn hư, dù chưa vân da Thiên ngoại mà qui vị nửa đường cũng đạt vị Chí Tiên, xây tháp đáy tháp trùm lên đầu và tim gọi là thế CÀN KHÔN. Tháp là dương, xác nằm là âm tạo thành một góc 90° (9 + 0 = 9), Chín là Cửu Thiên, 0 là Hư vô. Phần còn lại làm vòng thành của tháp.

Hãy lập một Phước Địa cho các hành giả.,

Thăng.”

Về danh từ hành giả, Đức Thanh Sơn đạo sĩ giải thích như vầy (Đàn đêm 15.08 - Canh Tuất - 1970):

“Hành giả là người đi tu chưa xuống tóc, không phế đời (vừa làm, vừa tu) mà sống như người tu.

Hành giả sống thanh thân, bỏ mọi thứ xa lạ bên ngoài, cầu sống nội tâm. Vẫn tiếp xúc với người đời, thiên nhiên, không ép thân khổ hạnh mà có bữa cơm yên lặng, đọc sách ngủ nhiều, chết giả, không tiếc của, bỏ qua khi bị xúc phạm, tha thứ, chấp nhận những điều không thể đổi thay được, sống ẩn dật, nghe tiếng nội tâm để sửa đổi tính tình.

Song hiên ngõ vắng ngồi xem sách,

Tự tại ngày qua mấy kẻ bằng??

THIÊN TƯỢNG QUẺ LY

Đàn đêm 15.04 - Nhâm Tý (1972)

“Hộ Pháp: Mừng chư hiền

Hôm nay, Bần Đạo vui mừng ban cho toàn Đạo quẻ THIÊN TƯỢNG QUẺ LY để làm biểu hiệu, trước là các hành giả, kế đến là gia đình Đại Đạo.

Sau khi làm lễ truyền Tâm Pháp, ban Đạo hiệu, rồi Ban Biểu hiệu THIÊN TƯỢNG QUẺ LY.

Quẻ Ly là con mắt thuộc hoả nằm phương Bắc.

1. Mô tả:

Thiên Tượng Quẻ Ly hình vuông, cạnh 12 ly, mỗi gạch quẻ 2 ly. Chính giữa có gắn hột chai, biểu tượng cho đồng tử (con ngươi).

- Vật liệu: Kim loại

- Khoen đeo: Chỉ vòng vô vi

- Dây đeo: dài 6 tấc bằng kim loại hay chỉ.

2. Ỷ nghĩa:

- Thiên Nhãn là Quẻ Ly

Dây đeo 6 tấc chỉ lục tự: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nên tháp hành giả xây 6 cạnh. Dây đeo gọi là dây Niệt do chữ Phạn Nirvana (Niệt-va-na) tức Niết Bàn.

Từ nay có món báu cố gìn giữ.

Ban ơn chúng sanh - Thăng”.

*

 **

 

CHIẾT KHẢM ĐIỀN LY

LUYỆN TIỂU CHU THIÊN VÀ ĐẠI CHƯ THIÊN

Nguyệt Tâm Chơn Nhơn:

Chào chư đạo hữu.

 

Đêm nay, Vía của Bần Đạo (22.05.1972) rộng đường giáng đàn. Thay mặt Đức Hộ Pháp, Bần Đạo giảng về chiết Khảm điều Ly.

Trong Kỳ Ba Phổ Độ, Ly Khảm thay mặt Càn Khôn tức anh chị thay cha mẹ dạy dồ các em về mặt giáo lý.

Về mặt đạo lý phải theo y lý: Ly hoả thuộc Tâm Hoả, Khảm thuỷ thuộc Thận thuỷ (trái), còn Thận hoả bên phải:

- Luyên Tiểu Chu Thiên là gián tiếp điều hoà Tâm Thận.

+ Luyện Mạch Nhâm (âm) dẫn khí từ huvệt Thừa Tương xuống Hội âm, thở ra dẫn khí theo mạch Nhâm từ Hội âm lên Thừa Tương.

+ Luyện Mạch Đốc (dương) dẫn khí từ Trường Cường theo mạch Đốc lên Bá Hội tới Nhơn Trung, thở ra dẫn khí từ Nhơn trung xuống Trường cường. Cuối cùng cho khí chuyển thành vòng qua Đới mạch.

- Luyên Đai Chu Thiên (kinh Mạch) là gián tiếp điều hoà Tâm Thận.

+ Hít vào theo vòng kinh âm: dẫn khí theo mặt trong của hai bàn chơn lên bẹn, lên tiếp hai bên đường bụng tới ngực, rồi lan ra hai nách dọc theo mặt trong của hai tay và hai bàn tay.

+ Thở ra theo vòng kinh dương: dẫn khí theo mặt ngoài của hai bàn tay lên mặt và đầu, tiếp xuống theo hướng mạch Đốc dọc theo sống lưng rồi lan ra mặt ngoài của hai chơn tới hai bàn chơn.

Rồi đặt hai bàn tay vào sau lưng vùng thận, các ngón tay ân mạnh vào Mạng Môn là luyện Thái Cực làm vượng chơn thuỷ (Thận trái), chơn hoả (Thận phải) để điều hoà phủ tạng.

Mạng Môn là khí Tiên Thiên nên thở thận (bằng cách xoa bóp) là luyện Đơn điền sau (Yoga gọi là luân xa 3), giúp cho Tâm Thận giao nhau, tức là lấy vạch dương của Thận Thuỷ điền vào chỗ vạch âm của Tâm hoả, rồi lấy vạch âm của Tâm hoả điền vào chỗ vạch dương của Khảm thuỷ.

Cuối cùng Ly Khảm biến thành Càn Khôn, luyện Đạo đã thành, bịnh hoạn dứt căn.

Thăng”.

Sau 6 năm (1969 - 1974) theo Chân Sư học đạo, do tình hình trong nước biến đổi, nên Bạch Long xin đúc kết quá trình học hỏi. Đêm 01.10- Giáp Dần, Đức Hộ Pháp dạy:

“Hộ Pháp

Mừng chư hiền đồ.

Nguyễn Long Thành bạch:

- Gần sáu năm theo Sư Phụ học đạo bí truyền cắc đệ tử đúc kết hai tập sách nhỏ dâng lên Sư Phụ để trên Thiên Bàn.

- Bần Đạo đã duyệt qua. Nhìn chung mỗi nôn đệ mới nắm được nửa phần, cần nghiên cứu và trau dồi thêm hơn.

+ Tập “Quan niệm Tu chơn” của Nguyễn Long Thành còn trong tinh trạng định nghĩa và phân loại mây đường tu, chưa đi sâu vào Bí Pháp.

+ Tập “Trường dưỡng Tinh Khí Thần” của TVR chỉ khái niềm về luyện đạo, phải có bài chỉ thực hành rõ ràng hơn.

Bần Đạo giao cho đệ tử “Chú giải Tịnh Thất” mà lúc sinh tiền Bần Đạo chưa kịp làm (làm xong dâng lên Đức Cao Thương Phẩm duyệt).

Chư hiền ráng cố gắng vì Đạo.

Thăng”.

Đức Chí Tôn đã dạy: “Bày Bửu pháp ra” (Tịnh luyện), Đức Phật Mẫu ban “toàn vẹn Pháp môn Tịnh luyện”. Sau đó, Đức Hộ Pháp chỉ định cặp cơ NTL - TVR là Cơ Bí Pháp. Sau 6 năm học hỏi, Đức Hộ Pháp cho phép mở Pháp Môn Tịnh Luyện.

c.Khai Pháp Môn Tịnh Luyện :

Đạo lịnh 01 năm Kỷ Mùi (1979) giải thể Hành chánh Đạo, chức sắc, công quả về nhà tu tại gia.

Đạo pháp trường lưu, nay dòng chảy bị ngăn, muốn “trường lưu” mỗi dòng chảy phải tự tìm đường thoát ra đại dương. Cơ đạo bắt đầu dị hình biến tướng dễ bị kẻ ngoài lôi cuốn theo đường tà giáo.

Các bà các cô theo bà Thanh Hải Vô Thượng Sư cho đó là hình thức mới của Đạo Cao Đài. Các ông theo sách Lương Sĩ Hằng cho ông này tiếp sức Đạo Cao Đài. Người bỏ theo phái Chiếu Minh thì nói Toà Thánh Tây Ninh không có pháp môn tịnh luyện cho rằng vô vi và phổ độ riêng rẻ vì chưa hiểu nền Chánh giáo của Đức Chí Tôn chỉ có một mà thôi. Có người bỏ Cao Đài theo Đạo Phật cho là Phật cao nhứt vì Đức Cao Đài chỉ là một. Tiên Ông trong trường học năm lớp: Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Ai nói như thế là chưa thông đạt giáo lý Cao Đài do Hạnh đường bị bế từ lâu, mặc ai hiểu sai, không ai có trách nhiệm đính chánh. Chưa kể trong vòng Thánh Địa nảy mầm mê tín dị đoan, đủ thứ đạo ra đời nháy theo Cao Đài. Quả thật, cơn khảo lớn mà Ngài Trương Hiến Pháp đã dự đoán. Nhận lấy Kẻ Sĩ Cao Đài, cố gắng sức mình vượt khó, VĐ, VK gởi phẩm Hiền Tài lên Hiệp Thiên Đài, theo truyền thống thiền, mà Đức Hộ Pháp dạy, gây phong trào tu đơn tại tư gia.

Đêm 01.07.1992, Đức Hộ Pháp giáng đàn dạy:

“Hộ Pháp

Chào hiền đồ.

VĐ bạch:

- Hiền Tài TTS dạy học ở Mõ Công, anh biết đệ tử theo đường Tu Chơn, anh xuống nhà nhiều lần và năn nỉ được coi tài liệu mà để tử ghi chép được qua những đêm học hỏi với Đức Ngài.

Bần Đạo dạy rồi: “Cân Thần”... Thầy giáo thi chắc không “phi phàm bất truyền”. TTS tha thiết muốn dọc đạo, lại là Hiền Tài, cho học qua “Chơn Nhứt Khí” thì luyện “Tinh Khí Thần”, nghe à:

Nếu là Giáo Hữu xin luyện đạo, thì cho luyện nhanh qua Sơ Tịnh, Trung Tịnh, thì cho luyện “Tam Hoa tụ Đỉnh” rồi Thần Huờn hư”, nhớ đa.

Nhắc lại, cho TTS mượn tài liệu TRƯỜNG DƯỠNG TINH KHÍ THẦN.

Thăng”.

Chính TTS là người đầu tiên đọc bản Thánh Ngôn do Đức Hộ Pháp giáng dạy. Sau đó, anh đưa cho Hiền Tài NTD đánh máy, rồi chỉnh sửa. Kế được Vân Anh đánh vi tính, nhưng không có cơ duyên nên bất thành, Bạch Liên nhận làm công việc khó khăn này trong thời gian ngắn nhất. Đó là bản làm phụ bản trong sách này.

Đến đêm 14.11 - Quí Mùi Đức Hộ Pháp giáng dạy:

“Hộ Pháp

Chào hiền đồ

Bần Đạo đã dắt hiền đồ vào con đường Bí pháp khá xa, đã đủ hành trang phổ hoá chúng sanh. Từ 1969 chấp nhận cặp cơ Bí

Pháp N LT - TVR vì Bần Đạo đoán định được tương lai rất khó khăn. Bần Đạo chỉ còn liên lạc được thế gian qua chư-hiền mà thôi.

Năm 1979, hành chánh đạo bị giải thể. Bần Đạo đau lòng lắm, muốn mở ngay lối thoát tu tịnh, nhưng không ai làm. Nay thời cuộc cỡi mở, hiền đồ hãy lựa thế mà KHAI PHÁP MÔN TINH LUYỆN. Lòng nhiệt huyết của thời thanh niên đâu rồi, xốc lên quyết tâm làm cho kỳ được nhiệm vụ mà Bần Đạo giao phó.

Bần Đạo chuyển khách trần đến hỗ trợ. Mọi việc chi chi sẽ có Bần Đạo giúp sức.

Bần Đạo ban ơn.

Thăng”.

Vâng lịnh dạy của Đức Hộ Pháp, ngày 20.12 - Quí Mùi, tại Bạch Vân Quán, VĐ họp chư môn đệ làm Lễ Khai Pháp Môn Tịnh Luyện, được khai đàn rất trang nghiêm dưới sự hiện diện quí khách mời:

- Chức sắc Hội Đồng Chưởng quản:

Ä Giáo sư Thái Nhồn Thanh

Ä Lễ Sanh Thượng Thân Thanh

- Chức sắc Hội Thánh trước:

Ä Giáo sư Ngọc Hiển Thanh

Ä Lễ sanh Thượng Đức Thanh.

Các hành giả: Bạch Mai, Vân Đằng, Vân Mai, Trần Thu Hà, Lê Bích Sơn, Trương Thị Chi, Vân Kim...

Khởi đầu lễ, TPVĐ thỉnh chữ Khí nơi bàn Vi Hộ Pháp để giữa Tam cấp thứ ba trước Thiên Bàn. Đoạn trấn thần Tịnh Thất tại tư gia theo lời dạy của Đức Hộ Pháp ngày mồng 9.02 - Nhâm Tý (1972).

“Sau thời cúng, vị hành pháp, tay mặt cầm 9 cây nhang, trụ thần rồi đưa nhang ngay Thiên Nhãn cầu nguyện Thầy Mẹ. Đoạn nhìn nơi chữ Khí vẽ bùa Tam Thanh (hay Diệu Quang Tam Thanh).

Từ trái xổ qua phải tượng trưng Long Tu Phiến. Từ phải xổ qua trái tượng trứng Phất Chủ. Từ trên xổ xuống là cây Kim Tiên, nhá điển khí xuống Nê Hườn cung chạy qua Ân đường mở Huệ Quang Khiếu.

Kế tiếp khoanh ba vòng vô vi ngược chiều kim đồng hồ tượng trưng TamThiên và kết thúc bằng ba vòng nhỏ phía dưđi tượng trưng chi Tinh Khí Thần”.

Sau đó là Lễ truyền tâm pháp cho Hành giả Nguyễn Thị Mười. Hành giả lấy dấu Các Đấng và niệm: “Cúi xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẩu cho con vào hàng tu chơn đạt thành chánh quả”. Lạy tạ ơn. TPVĐ Ban đạo hiệu Bạch Mai và đeo Thiên Tượng Quẻ Ly. Hành giả lạy tạ. Phần nghi lễ chấm dứt. Sau đó khách mờí và các hành giả dự tiệc chay thân mật.

Đến 2005, công bố DÒNG THIỀN PHỔ ĐỘ trên Tạp chí Xưa Nay số 250 tháng 12.2005, xuất bản tại Hà Nội. Năm 2006, BVQ chính thức thông báo Hội Đồng Chưởng Quản duyệt Pháp Môn Dòng Thiền Phổ Độ vào ngày 20.01 - Bính Tuất (19.02.2006).

            d. Hành Hương Pháp Thông-.

Bạch Vân Quán nhất trí, các hành giả đi Hành Hương Pháp Thông để Pháp Môn được thông linh khắp nơi vùng Thánh Địa, trong nước, Tây Trúc (Ân Độ), ra Bắc.

Như đoán định được ý muốn của nhơn sanh, nhân ngày triều thiên năm Giáp Thân. Đức Hộ Pháp giáng dạy. “Đã 30 năm qua nền Đạo vẫn trì chậm, không tiết cách tháo gở những khó khăn, cũng không xây dựng gì thêm.

Chức sắc chỉ biết vun quén, bồi đắp cho riêng mình, mặc nhơn sanh đói khổ, ngồi chờ việc như những tên thư lại phong kiến. Phủ đường thì im ỉm đóng cửa, không muốn ai đến chiêm ngưỡng. Trách chi những gì của Đạo để lại dần dần mất đi mà không ai chịu trách nhiệm.

Cái bàn sanh ra mỗi Đạo Cao Đài, quí biết dường nào mà không ai bảo quản. Cái Ngọc Cơ buổi đầu mà ông Phán Tý tặng Đạo mối ăn hư nát, cố tìm cách cứu vãn. Gặp cơ cuối cùng phải lo chớ ai lo? Ráng mà làm cho tròn một kiếp sanh”.

Thật vậy, nhờ Đức Ngài chuyển Bạch Liên, Minh Phương và nhiều tín hữu khác đã làm xong một cái tủ vuông có 6 mặt kiếng 5 ly, được Hội Đồng ra giấy cám ơn số 92/HĐCQ-VT như sau:

“Vào ngày 22.07 - Giáp Thân (2004) các hảo tâm hiến Nữ Đầu Sư Đường một cái tủ vuông 6 mặt kiếng để bảo quản cổ tích XÂY BÀN NGỌC CƠ”.

Và để mặt kiếng tròn trên chiếc bàn tròn BA CHÂN đặt trong tủ kiếng lục giác tại Thảo Xá Hiền Cung. Bàn này được dùng xây bàn trước tiên tại nhà Đức Cao Thượng Sanh.

Trên báo Tây Ninh ra ngày 03.06.2004 (15.06 - Canh Tuất) báo Hồng Hạc về vườn Trí Huệ, VĐ cũng đến nơi xem hư thực. Sau đó xía Sư Phụ giải thích.

“Bần Đạo nhắc lại, khi xây Đoạn Trần Kiều thợ hồ đắp con hạc bay về Trí Huệ cung mà đầu quay lại. Bần Đạo giảng rằng: “Con hạc chở Thánh lâm phàm”.

“Nay đến thời kỳ, Hồng Hạc chở người tu đắc đạo “phàm qui Thánh” và thức tỉnh những kẻ nào không tu làm sao qua cổng Trời... Nay Bần Đạo cho mở đường tu tắt mà không lo tịnh luyện, sau này còn trách được ai. Hồng Hạc chỉ rưđc người chân tu đạt đạo. Báo cho nhơn sanh biết điều đó”.

Cũng năm nằy, Vân Long theo các đoàn du lịch đi Hà Nội, Hội An, Nam Bộ... Khi đến Hà Nội, anh tách khỏi đi thăm Thánh Thất Hà Nội, rồi qua Thánh Thất Hà Tây mới xây cất. Chuyến khác anh đi hành hương ở Huế, đặc biệt nhất là Thánh Thất Hội An, gần như bị bỏ rơi. Khi anh đến chỉ gặp một học sinh định đóng cửa chùa. Em định bước ra thì nghe văng vẳng “có người đến thăm”, thì Vân Long bước vào chùa. Xung quanh người ta xây dựng nhà cao tầng bị lấn đất và lấn lối mà không ai lên tiếng? Trách nhiệm về ai?

Vân Long; về Nam thăm nhiều dí tích lịch sử Đạo, đặc biệt ỉà đi Bạc Liêu thăm mộ cửu Nương. Trời thì tối, mẵ thì nhiều, Vân

Long đì lạc đường, coi như tuyệt vọng. Bỗng xuất hiện ba đứa trẻ. Chúng hỏi Vân Long tìm ai? Nghe nói tìm mộ cô Tiên, chúng nói: “Mới gặp cô Tiên, mộ cô ở bên kia”. Nhờ đó mà Vân Long (vốn là Kim Đồng) tìm được mộ Cô Cửu Nương.

Năm 2005, Thiên Cơ chuvển Bạch Liên hành hương Tây Trúc (Ân Độ). Cô đến tham quan Bồ Đề đạo tràng, cây bồ để ở đây dưới nắng thiêu 45 độ mà lá vẫn đeo cây, đến Vườn Lộc Uyển Sarnath nơi.Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân. Hôm sau đến thăm đền Kali Mother of Goddess Ở Calcutta, có tượng đá hình Huệ Nhãn (Con mắt thứ ba, xem hình). Bạch Liên xúc động thấy như được chấp cánh, liền thấy 12 hồng hạc đáp xuống cánh đồng trước mặt, đánh dấu một chuyến hành hương huyền diệu.

Năm 2006, Bạch Liên lên Bắc hành hương về đất Bạch Vân Am thăm Quốc Công từ (Hải Dương), chấm dứt các cuộc Hành Hương Pháp Thông.

Tóm lại, ngày từ đầu (04.1926), Đức Chí Tôn đã xác nhận: Phổ độ và tịnh luyện trong Đạo Cao Đài song hành, giống như cặp song sinh âm dương trong Kinh Dịch. Phổ độ phát triển mạnh thì Tịnhluyện yếu và ngược lại, âm thịnh thì dương suy, cả hai phần nằm trong chánh thể Đại Đạo. Trong giáo pháp chơn truyền của Đạo Cao Đài không có sự phân chia làm hai bao giờ. Vì thế Hội Thánh Cao Đài đã thi hành trọn vẹn cả hai chức năng đó.

Sư Phụ đã về, đệ tử xin đúc kết và dâng lên tường trình mọi lẽ để Sư Phụ thẩm xét. (Đặt sách trên bàn Hộ Pháp từ 12 - 15 tháng 2, Đinh Hợi - April 2007).

Nhân đây, các đệ tử có làm tập thơ “THÂY ĐẰ VÊ”, xin chép một bài:

THẦY ĐÃ VỀ

Toà Thánh Thầv về ngự cựu ngôi,

Thuận lòng đồng đạo khắp nơi nơi.

Ngũ châu Hộ Pháp dìu sanh chúng,

Tứ Hải Tôn Sư theo ý Trời,

Cứu thế Thiên Quân lo lắm việc,

Độ nhân Ngự Mã giúp bao người.

Luyện Tinh hoá Khí huờn Thần tỉnh,

Toà Thánh Thầy về ngự cựu ngôi.

VÂN ĐẰNG

PHỤ TRANG THƠ

LỄ KHÁNH THÀNH

NGÔI HỘ PHÁP TỊNH ĐƯỜNG

(19.04 - Đinh Hợi 2007)

LỄ hành, mười chín tháng tư ta,

KHÁNH hạ loan tin khắp Đạo nhà,

THÀNH quán năng tu am tịnh luyện,

NGỒI thờ phảng phất cảnh Long Hoa.

HỘ trì sanh chúng theo chơn lý

PHÁP chuyển quần linh hường thái hoà.

TỊNH thất giúp người tâm thiện niệm

ĐƯỜNG Tiên cỗi Phật ngự liên toà.

VÂN ĐẰNG

VỊNH SÁCH

TRƯỜNG DƯỠNG TINH KHÍ THẦN

Thực hành Trường Dưỡng Khí Thần Tinh,

Quyển sách ỉởì hay khéo lập trình.

Dần giải phân rành môn luyện thở,

Dắt dìu chỉ rõ cách nghe nhìn.

Công phu tu tịnh vải niên khoá,

Đạt pháp hào quang chiếu thượng đình.

Đọc dễ nhưng làm thì rất khó.

Khó mà quyết chí sẽ Hằng Sinh.

Năm Khai Pháp Môn 2003.

HƯNG HUYỀN

BÀI HOẠ I

MỪNG LỄ KHÁNH THÀNH

HỘ PHÁP TỊNH ĐƯỜNG

Tháng Tư mười chín đúng ngày ta,

Đồng Đạo MỪNG vui khắp mọi nhà.

Kiến tạo KHẢNH an cơ giải thoát,

Phương tu THANH tựu khối tinh hoa.

Huyền linh HỘ độ tam huê tụ

Khai lập PHÁP môn nhứt khí hoà.

Nhật nhật TỊNH tâm hầu định tánh

Thiện cấn ĐƯỜNG nội hiệp Thiên toà.

DIỆU THÔNG

 

BÀI HOẠ II

LỄ tiết tháng tư mười chín ta,

KHÁNH an hoàn tất đẹp khuôn nhà.

THÀNH nơi tu viện Cung Thần huệ

 NGÔI vị Tổn Sư Bồng Đảo hoa.

HỘ độ tông đồ trau hạnh đức

PHÁP truyền đệ tử luyện tãm hoà.

TỊNH am học phép khai năng khiếu

ĐƯỜNG Đạo tầm chơn đạt Thánh Tòa.

PHAN TRẦN

BÀI HOẠ HI

Chín Trời mười Phật cũng là Ta,

Tháng bổn mồng mười trở lại Nhà.

Cảnh cũ Thiên cung ngàn sắc thái,

 Đường xưa Bạch Ngọc nở muôn hoa.

Thầy về cảnh Phật hằng an lạc

Con ở trần gian giữ thuận hoà.

Kính lạy Tôn Sư cồng bố hoá

Nguơn linh nhẹ bước cõi Thiên toà.

VÂN

KHÁNH THÀNH HỘ PHÁP

TỊNH ĐƯỜNG TRÍ GIÁC

KHÁNH hạ ngày mười chín tháng tư

THÀNH tâm tưởng nhớ Đức Tôn Sư.

HỘ trì khai ngộ an Thần chất

PHÁP giải thoát mê đọc Thánh thư.

TỊNH Thất tín đồ vào cửa Phạm,

ĐƯỜNG Tiên chức sắc đạt Chơn Như.

TRÍ thông phẩm hạnh công viên mãn

GIÁC thế tu chơn được thiện từ.

LƯƠNG MINH

HỒNG HẠC VỀ TRÍ HUỆ CUNG

Vườn Trí Huệ cung diễm phúc thay,

Hạc hổng bay mất bỗng về đây.

Mười hai chiều đứng màu trăng trắng

Sải cánh mười hai đầu đỏ gay.

Chun đúc phận người thân khoẻ mạnh,

Điểm tô cơ Đạo mạch tươi đầy.

Vẳng nghe trong gió chim trời lạ.

Hạc vẫn chực chờ tung cánh bay.

VK

BÀI HAI

Xây cung Trí Huệ thuận cơ Trời,

Tịnh Thất luyện Thần danh khắp nơi

Pháp Chánh an dân đời hiệp đạo,

Khai Chơn lập luật đạo hoà đời.

Vạch đường chân lý qua bờ ngạn

Dẫn lối nhân sanh thoát bể khơi

Hồng hạc trở về vòng luật định,

Chở người đạt vị ngự cao ngôi.

NGỌC LÂM SƠN

(Cựu sinh TRƯỜNG QUI THIỆN)


 

PHỤ BẢN I

CHÚ GIẢI TỊNH THẤT

DẪN NHẬP

Tịnh thất là nhà thanh tịnh để cho các tín đồ vào mà tu luyện,

Muốn vào nhà Tịnh thất phải tuân những điều lệ như sau  này:

Chú giải: Từ ngữ tín đồ, xác nhận rằng các chức sắc muôn nhập tịnh phải bỏ chức phẩm, như Đức Hộ Pháp nói khi nhập tịnh Trí Huệ Cung; “Giải chức Hộ Pháp chỉ là bạn tu mà thôi” (Trí Huệ Cung, trang 50). Trong quyển “giáo lý” được lời phê của Đức Hộ Pháp có viết về Tịnh Thất như vầy: “Hàng tín đồ này là bậc Thượng thừa xong xuôi tất cả bổn phận làm người, mới đặng nhập Tịnh thất”. Như vậy, người tín đồ muốn vào nhà tịnh phải tiệm tu qua Hạ thừa, Trung thừa rồi mới tới Thượng thừa được. Bậc Thường thừa, Thượng căn, Thượng trí được nhập Tịnh thất vào ngày đại tịnh.

ĐIÊU THỨ NHỨT: Trong hàng tín đồ, ai đã xử tròn nhơn đạogiữ trai giới từ sáu tháng sắp lên thì được xin vào Tịnh thất mà nhập định.

Chú giải: Theo qui định trên, hàng tín đồ đề cập đó ở vào bậc Trung thừa tu luyện theo trung tịnh vì chỉ mới giữ trai giới 6 tháng trở lên “Đã xử tròn nhơn đạo” tức phải giữ đúng thế luật.

Đọc lại Chương II, điều thứ 13 của Tân Luật.

Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên được thọ truyền bửu pháp, vào Tịnh thất có người chỉ luyện đạo.

Chú giải: Đây mới là bậc Hạ thừa luyện đạo theo sơ tịnh. Như vậy tu theo Tam thừa vô vi trì dưới lên trên là: Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa.

ĐIÊU THỨ HAI: Phải có một người đạo đức hơn mình tiến dẫn và một người đạo hữu bảo hộ.

Chú giải: Hàng tín đồ Thượng thừa (Thượng căn, Thượng trí) muốn vào nhập Tịnh thất phải có một tu sĩ tuổi thiền cao hơn mình tiến dẫn và một người bảo trợ là anh, em hay con cháu bảo đảm cung cấp phẩm vật và lo đời sống cho tịnh viên suốt thời kỳ tu tịnh. Thế nên, buổi lễ nhập Tịnh thất tuy đơn sơ nhưng phải tôn nghiêm có đủ mặt ba người đó: chủ tịnh, tu sĩ tiến dẫn và người bảo trợ, Thiếu một trong ba người đó, buổi lễ phải đình lại.

ĐIÊU THỨ BA: cấm không được đặng thơ tín vãng lai với người ngoài, trừ ra thân nhân, song phải có Tịnh chủ xem trước.

Chú giải: Tu sĩ tịnh luyện là tu chơn, phế trần luyện đạo nên Tịnh chủ phải kiểm soát thơ tín, các bưu kiện gởi cho tu sĩ ngừa những đồ dùng xa xỉ trái với luật đạo.

Vì theo điều thứ 21, phần thế Luật của bộ Tân Luật có ghi như vầy;

Người bổn đạo ăn mặc phải cần kiệm, tuy phận tuỳ duyên nên dùng đồ vải áo bô và giảm bớt hàng tơ lụa.

ĐIỀU THỨ TƯ: cấm người ngoài không được vào nhà tịnh, chẳng luận là viên quan, chức sắc cùng thân tộc tín dồ.

Chú giải: Quyển giáo lý của Trương Tiếp Pháp viết: “Tịnh thất là một giáo đường thâm nghiêm. Tín đồ vào đó đặng an thần dưỡng tri, tu luyện tánh mạng đến công viên quả mãn”. Như vậy, tịnh thất là nơi dành riêng cho các tịnh viên phế trần luyện đạo. Do đó, người ngoài không nên bước vào đó tham quan như ở các Thánh Thất, Đền Thờ.

Nơi Tịnh thất thờ duy nhứt Thiên Nhãn Thầy và chữ Khí mà thôi. Trước Tịnh thất treo ba vòng vồ vi tam thanh, không có chuồng trống mỡ chi hết.

ĐIỀU THỨ NĂM: Cấm không được chuyện vãn với người ngoài trừ ra cha mẹ và con cháu đến thăm, song củng phải có phép người Tịnh chủ.

Bên cạnh Tịnh thất còn có Tịnh xá là nhà ở của các tịnh viên. Nơi đây con cháu đến thăm viếng và uỷ lạo được, song phải xin phép trước để tránh trùng giờ tịnh luyện. “Câm không được chuyện vãn với người ngoài vì sđ thấu lậu phương pháp toạ tịnh ra ngoàífkẻ hám vọng luyện sai mà nguy hại. Tuyệt đối cấm truyền Tân Pháp ra ngoài.

ĐIỀU THỨ SÁU: Nhập Tịnh thất rồi phải tuyệt trầu thuốc và không được ăn vặt chi ngoài mấy bữa cơm.

Chú giải: Tịnh viên không những phải kiêng trầu, thuốc, rượu mà thôi, còn phải trường trai diệt dục giữ ngũ giới cấm theo chương bôn, điều thứ 21 của Tân Luật.

ĐIỀU THỨ BẢY: Phải giữ cho chơn thần an tịnh, đừng xao xuyến lương tâm. Phải thuận hoà không được tiếng lớn, phải siêng năng giúp tích cho nhau, dìu dắt nhau trong đường đạo.

Chú giải: Muốn “Chơn thản an tịnh” phải “nhất tâm bất loạn phá vọng tồn chơn” và luyện phép vô niệm. Đó là định của thiền.

Muốn: “Tâm không xao xuyến” thì phải phá chấp. Không châp thì mọi sự điều yên.

Muốn “thuận hoà nhau” thì không xen, không nói chuyện về người khác, Tuyệt đối không bàn việc thời sự chính trị vì trái với luật của người tu chơn.

“Không được tiếng lớn” vì nhà tịnh (yên lặng), ít nói chừng nào tốt chừng ấy. Nổi nhiều tâm xao xuyến nhiều, chơn thần sẽ tản mạn. Tuyệt đối không nói chuyện trong Tịnh thất.

“Siêng năng giúp ích cho nhau”, trồng hoa màu phụ, ngũ cốc và để nâng cao bữa ăn có nhiều rau xanh.

“Dìu dắt nhau trong đường đạo” theo khẩu hiệu “Khẩu khẩu tương truyền, tâm tâm tương thọ”, nên cần giúp đỡ nhau về cách luyện đạo.

ĐIÊU THỨ TÁM: Phải tuân mạng lịnh của một Tịnh chủ, phải y theo giờ khắc sẽ định mà hành công phu tu luyện.

Chú giải: Ban thường vụ Tịnh Thât gồm ba người:

- Chủ tinh: Chủ toạ các phiên họp, chịu trách nhiệm trước Hội Thánh. Khuyên nhủ và kiểm soát mọi sinh hoạt của tịnh viên. Hướng dẫn các tịnh viên luyện đạo.

- Phổ Chủ tinh: thay mặt cho chủ tịnh khi vị này vắng mặt, kiêm thủ bổn.

- Từ hàn: Biên phép và giữ sổ sách của Tịnh thất kiêm lo đời sống.

CÔNG PHU TỊNH LUYỆN

- Sơ tịnh: Dành cho hàng Hạ thừa còn sống lẫn lộn với đời. Tịnh tập thể mỗi tháng 2 lần vào giờ dậu ngày mồng một và ngày rằmnơi Điện Thờ Phật Mẩu. Kỳ dư tịnh ở nhà. Thầy dạy “mỗi đứa lo lập một (tiểu) Tịnh Thất” là ý ấy.

- Trung tịnh: Dành cho hàng Trung thừa vẫn còn ở nhà, vào giờ dậu, mỗi ngày phải đến Điện Thờ Phật Mầu mà tịnh luyện trong 2 giờ. Tu sĩ làm ăn bình thường và làm nghĩa vụ công dân như sơ thiền.

- Đại tịnh: Dành cho hàng Thượng thừa, phế trần luyện đạo phải đủ tứ thời, nhập Tịnh Thất tu luyện cho đến lúc giải thoát.

 



PHỤ BẢN II

TRƯỜNG DƯỠNG TINH KHÍ THẦN

THỰC HÀNH

 

I. SƠ TỊNH (Hạ thừa)

LUYỆN CHƠN KHÍ

Ngay từ năm đầu khai đạo, Đức Chí Tôn chỉ dạy luyện KHÍ. Vì luyện Khí là luyện Đạo Trường Sanh. Vạn vật hiện hữu đều phát sinh từ Khí, tuỳ thuộc vào khí để có sự sống.

A. Khởi đầu ta tập thở bằng bụng, có ba giai đoạn: hít vào, thở ra, nghỉ, chiêu số 5-5-5, với nhịp độ binh thường là 12 - 15 lần mỗi phút.

Tư thế ngồi kiết già, tập trung tư tưởng và lưỡi bịt kín hai hàm răng.

Tập liền 3 tháng như vậy.

B. Sau đó thở đếm hơi, hít vô và thở ra bằng nhau, đều 5 tiếng đếm nhịp điệu nhẹ nhàng, gọi là sổ tức.

Mỗi tuần tăng số đếm lên 10-20, hơi thở phải nhẹ nhàng, không ngắt quãng.

Mỗi ngày tập 4 lần vào giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Mỗi lần 30 phút.

Tập liền trong 3 tháng.

C. Tiếp theo, là Quán tức, tập thở có công án bằng cách tập trung tư tưởng. Hãy nói câu này trong não:

“THẦY LÀ CÁC CON ĐÓ, CÁC CON LÀ THẦY VẬY”, đủ 10 tiếng.

Phương pháp này giúp tinh thần quen dần việc tập trung tư tưởng.

Tập liền trong 3 tháng (không tạp ý).

D. Rồi đến Chỉ tức, thở chia ba thờikỳ: hít vào, nghỉ và thở ra với chiêu số ban đầu là 5-5-5.

Lúc ngưng thở giữ khí ở Đan điền 5 số đếm. Khi thở ra đếm nhẩm từ 1 - 5 vừa lúc đưa hơi thở đến huyệt Ân dường.

Thời gian tập cũng ba tháng.

E. Sau hết là Duyên tức, nương theo hơi thở tự nhiên.

Có 3 thời kỳ: hít vào, thở ra và nghỉ với chiêu số: 4-1-5, nghĩa là hít vào đếm được 4 tiếng là thở ra ngay, rồi nghỉ là 5 tiếng tại huyệt Cưu vĩ (dưới ức). Trong Duyên tức, thở lúc nào cũng nhẹ nhàng, trạng thái tự động, sẽ không còn chú ý đến luyện thở nữa, dùng luyện giai đoạn Thượng thừa sau.

Phương pháp luyện Chân khí có 4 thời kỳ hít vào, nghỉ, thở ra, nghỉ.

- Tập trung tư tưởng hít Thiên khí, Địa khí vào khí hải.

- Vừa đếm 5 số vừa vận chuyển khí trước khi sanh (Tiên thiên khí) ở Mệnh Môn và Khí sau sanh (Hâu thiên khí) ỏ Thần khuyết tích tụ ở Đan điền rồi nghỉ.

- Đếm 20 số (để bụng im) rồi thở ra cho tán khí toàn thân (bụng thót vào thong thả), đoạn đưa khí về Khí hải.

- Đếm 10 số (để bụng im), rồi lại tiếp nhịp 2,3-

Tập ngày 4 lần mỗi lần 30 phút trong 3 tháng.


 

II. TRUNG TỊNH (TRUNG THỪA)

LUYỆN TINH KHÍ THẦN

A. LUYỆN TINH

Luyện Tinh thở theo chiêu thức 1-4-2 tức 10-20-40 tiếng đếm, chia làm hai thời kỳ:

1. Mượn hơi thở:

- Hít vào: Hít vào từ từ và tưởng tượng khí vào đầy bụng dưới (tại Quan Nguyên), đếm 10 tiếng.

- Ngưng thở: Khi khí đã tích tụ tại vùng Hạ Đan điền (Quan Nguyên), hãy tưởng tượng sức mạnh toàn thân tập trung vào đây, đếm tới 40 tiếng thì buông lỏng cơ thể.

- Thở ra: Thở ra từ từ, hãy tưởng tượng vùng Quan Nguyên lan toả ra cả vùng bụng, đếm đủ 20 là hết một nhịp.

2. Thở tự nhiên (Duyên tức):

Hãy tập trung tư tưởng và quán tưởng một huờn đơn (viên thuốc) bằng hạt đậu đen ở Quan Nguyên xoay vòng tròn theo chiều ngưực chiều kim đồng hồ 600 vòng và thuận chiều kim đồng hồ (chiều âm) cùng xoay vồng tròn 600 vòng là đạt.

Luyện tinh mỗi ngày 4 lần: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu.

Mỗi lần trong 30 phút.

Tâp liên tục trong 3 tháng.

B. LUYỆN KHÍ

Luyện Khí theo 4 thời kỳ với công thức: 1-4-2-2.

Mỗi chư kỳ là 24 nhịp thở, gồm hai bước:

1. Mượn hơi thở:

- Hít vào: Dẫn khí từ An đường xuống Đan điền khí (vùng huyệt Thần khuyết (rốn) và Khí hải.

- Ngưng thở:

Tưởng tượng tập trung sức mạnh toàn thân vào vùng này vừa đến 40 tiếng, vừa để khí toả ra toàn vùng.

- Thở ra: Từ từ thở ra, đồng thời tưởng tượng toả khí ra quanh rốn.

- Nghỉ thở:

Thời gian nghỉ thở bằng thời gian thở ra là 20 tiếng đếm. Toàn thân nghỉ thoải mái, là dứt một nhịp thở, rồi tiếp tục cho đủ 24 nhịp.

2. Thở tự nhiên (Duyên tức):

Thở tự nhiên vừa tưởng tượng một hột huờn đơn xoay quanh tại rốn theo chiều kim đồng hồ và ngược lại thời gian chung là 1200 vòng.


 

C. LUYỆN THẦN

Phương pháp luyện Thần gần giống như luyện Khí, theo công thức 1-4-2-2, trải qua hai thời kỳ:

1. Mượn hơi thở:

- Hít vào: Dan khí từ Nhân trung lên Bá Hội.

- Ngưng thở: Tưởng tượng sức mạnh toàn thân đều tập trung ở Bá Hội, đếm gần hết 40 tiếng rồi thả lỏng cơ thể, dẫn khí xuống Nhân trung.

- Thở ra: Thư giãn, cho khí thoát ra từ huyệt Nhân Trung

- Nghỉ thở toàn thân:

2. Tụ khí:

Vận khí từ hai bên Thái dương, sau gáy và trước phía trán tụ về Bá Hội, chuyển vận hết sức mạnh gom vào đây rồi buông lỏng cho khí toả ra khắp vùng đầu.

Sau đó quán tưởng huờn đơn xoay qua rồi xoay lại cho đủ 1200 vòng, như luyện khí.

Mỗi ngày tập 4 lần, mỗi lần 30 phút, suốt trong 3 tháng.

Nên nhớ trong ngũ tạng đều có thần lai vãng. Phải hợp nhất Tinh, Khí, Thần mới sống lâu được.

D. QUY TAM BỬU

Qui Tam Bửu là gom Tinh, Khí, Thần tụ tại Nê Hoàn Cung (Bá Hội, Thiên Môn) theo công thức 1-4-2, thở tự nhiên, nhẹ nhàng.

1. Phương pháp công phu:

- Hít vào: Sâu và dài kéo từ Ân đường xuống Quan Nguyên.

- Ngưng thở: Tập trung sức nén khí ở Quan Nguyên (Tinh) rồi vận khí lên Khí hải (Khí) theo mạch Đới qua Mệnh Môn lên Bá Hội, nén khí tại đây rồi xuống Đan điền, vừa đến đủ 40 tiếng.

Nhớ ngậm miệng lại, lưỡi bịt kín hai hàm răng làm như vậy giúp cho mạch Nhâm và mạch Đốc giao nhau, tà khí khỏi chen vào. Nước miếng sẽ chảy ra gọi là quỳnh tương cam lộ.

Hãy nuốt từng ngụm một, gọi là ngọc dịch huờn đơn. Nước miếng đó chính là Tinh, Tinh hoá Khí, Khí hoá Thần. Nhờ đó, Khí trong người không thất thoát ra ngoài mà luôn luôn được pháp luân thường chuyển.

- Thở ra: Từ từ êm nhẹ thở ra và tưởng tựợng khí lan ra ở vùng bụng dưới, rồi tiếp tục hít vào, công phu tiếp...

2. Ý nghĩa công phu:

Công phu thành đạt thì phát huệ, sáng suốt...

Giúp hành giả có sức khoẻ không ốm đau, có trí nhớ, có nghị lực, có trực giác và làm chủ bản thân.

Dẹp bỏ hết mọi ước muôn, giữ cái tâm thanh tịnh. Rồi một ngày nào đó mà ta không biết trước được, tự nhiên thần khí của ta sáng bừng lên cảm thấy chân lý. Đó là lúc điểm sáng linh quang bật cháy toả quanh thân ta, ân chứng ngộ Đạo.

Nếu chưa thành thì tiếp tục tu luyện. Mỗi ngày 4 lần: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Mỗi lần 30 phút. Không cần theo phương pháp nào khác


 

III. ĐẠI TỊNH (THƯỢNG THỪA)

LUYỆN THẦN HUỜN HƯ

A.    LUYỆN TIỂU CHU THIÊN:

Muốn luyện Thần Huờn Hư trước hết phải thuần thuộc các phương pháp sau đây;

- Các cách luyện thở.

- Phải thuộc Qui Tam Bửu.

- Quân bình âm dương (Luyện Tiểu chu thiên)

- Gom Ngũ hành (Luyện Đại chu thiên).

- Luyện Tam Hoa tụ đỉnh.

Luyện Tiểu chu thiên là luyện cho khí âm dương điều hoà. Ngồi kết già làm sao 3 huyệt Bá hội, Khí hải và Quan nguyên nằm cùng trên đường thẳng với trục Bá hội, Hội âm.

1. Giai đoạn 1:

+ Luyện mạch Nhâm:

- Hít vào: Dẫn khí từ huyệt Thừa tương xuống Hội Âm.

- Thở ra: Theo mạch Nhâm dẫn khí ngược lại từ Hội âm về Thừa tương.

+ Luyện mạch Đốc:

- Hít vào: Dần khí từ Trường Cường theo mạch Đốc (Cột sống) lên Bá Hội tới Nhân trung.

- Thở ra: Dan khí trở lại từ Nhân trung xuống Trường cường.

2. Giai đoạn 2:

+ Luyện vồng âm dương theo chiều thuận.

Từ Thừa tương xuống Hội âm lên Trường cường tới Nhân trung. Phải tập trung tư tưởng cho khí chuyển thành vòng (‘lò —10).

+ Luyện vòng âm dương theo chiều nghịch.

- Hít vào: Vận khí từ Hội âm đi ngược lên Thừa tương, đếm đủ 10.

- Thở ra: Vận khí từ Thừa tương lên Bá hội xuống Trường cường qua Hội âm rồi về Đan điền. Vận khí xoay vòng nơi rốn không cho thoát ra ngoài.

3. Ý nghĩa:

Luyện vòng âm dương tác động vào Tinh, Khí, Thần để Tinh biến thành Khí, Khí thành Thần.

Chỉ cần đặt lưỡi vào huyệt Ngân giao là nối liền 2 luồng âm dương của hai mạch Nhâm Đốc tự vận hành.

Tiểu chu thiên làm cho âm dương thanh khiết, quân bình chông rối loạn chức năng của tạng phủ.

B. LUYỆN ĐẠI CHU THIÊN

Muốn luyện vòng Đại chu thiên phải vận khí thành thuộc theo hai nhóm kinh âm và kinh dương ở tay và chơn.

1. Giai đoạn 1:

+ Vòng tay:

- Hít vào: Dần khí theo mặt ngoài của hai bàn tay lên hai bả vai tới mặt qua đỉnh đầu xuống ngực, đã qua các Thủ dương kinh.

- Thở ra: Dần khí từ ngực lan ra hai nách xuống bên trong của hai tay và hai bàn tay (Thủ âm kinh).

+ Vòng chân:

Hít vào: Dần khí từ hai bàn chân dọc theo mặt trong của hai chân rồi lên bẹn, dọc hai bên vụng lên ngực và mặt, đã qua các Túc âm kinh. Thở ra dẫn khí từ đầu xuống cột sống theo mặt ngoài của hai chân và hai bàn chân (Túc Dương kinh).

2. Giai đoạn 2: Dân khí các kinh âm dương theo một vòng kín.

- Hít vào theo vòng kinh âm: Dẫn khí theo mặt trong của hai bàn chân lên hai bẹn, lên tiếp hai bên đường bụng tới ngực, rồi lan ra hai nách dọc theo mặt trong của hai tay và hai bàn tay.

- Thở ra theo vòng kinh dương: Dẫn khí theo mặt ngoài của hai bàn tay lên mặt và đầu, tiếp xuống theo hướng mạch Đốc dọc theo sống lưng rồi lan ra mặt ngoài của hay chân tới hai bàn chân.

3. Giai đoạn 3:

- Hít vào: Thâu hút khi vô hai bàn chân.

- Ngưng thở: Dần khí từ hai bàn chân lên mặt trong của hai bàn chân tứi huyệt Hội âm thuộc Túc âm kinh. Rồi từ HỘI âm theo mạch Đốc lên Đại chuỳ. Tại đây ỉan ra hai bên nách theo mặt trong của hai tay xuống lòng bàn tay thuộc Thủ âm kinh.

Đầu các ngón tay lên mu bàn tay, theo mặt ngoài của hai tay lên hai bả vai đến huyệt Đại chuỳ thuộc Thủ dương kinh. Từ đó theo mạch Đốc lên đầu qua mạch Nhâm xuống Hội âm. Từ đây lan ra hai bên phía sau đùi,theo mặt ngoài của hai chân xuống hai bàn chân tới các ngón chân thuộc Túc dương kinh.

- Thở ra: Thâu khí từ chân trở về Đan điền.

4. Ý nghĩa:

- Luyện vòng Đại chu thiên là vận khí lên toàn thể kinh mạch tác động vào các tạng phủ, làm quân bình Ngũ hành.

- Thâu hút Thiên Địa khí, tăng cường chức năng các tạng phủ.

Đạo Tâm Tâm Đạo phát sanh,

TAM HOA tụ đĩnh, NGỮ HẦNH triều nguơn.

C. LUYỆN TAM HOA TỤ ĐỈNH

Trong mỗi người, có ba vị trí quan trọng trên mạch Đốc gọi là Tam Hoa:

° Vĩ lư (lư là cái chỏm, đỉnh) tại huyệt Trường cường,

° Tỳ lư tại huyệt Đại chuỳ.

° Ngọc Lư tại huyệt Phong phủ.

1. Cách luyện: Ngồi kiết già hai bàn tay ngửa chồng lên nhau. Thở nhẹ nhàng, theo công thức 10-40-20.

- Hít vào: Thở sâu, nhẹ, êm, đều và dài. Tưởng tượng dẫn khí từ Thừa tương xuống Đan điền.

- Ngưng thở: Đưa khí từ Đan điền ở mạch Nhâm qua mạch Đới, đến Trường cường (mạch Đốc), nén khí tại đây. Rồi đưa khí lên Đại chuỳ tức Tỳ lư, nén khí tại đây, đoạn đưa khí lên Phong phủ tức Ngọc lư, cho tụ khí nén một thôi, rồi đưa khí lên Bá hội nén một thôi, đoạn dẫn khí theo mạch Nhâm về Đan điền, trong thời gian là 40 số điếm.

- Thở ra: Từ từ êm, nhẹ, chậm mà dài đều tưởng tưựng khí lan ra từ Đan điền, với 20 số đếm. Chấm dứt một nhịp thở, liền hít vào ngay cho đủ một chu kỳ là 24 nhịp thở.

2. Ý nghĩa:

Nếu Tam Hoa khai thì cơ thể khoẻ mạnh, da hồng hào, trí tuệ sáng, có nhiều trực giác lốt.

Hai phương pháp này tập khi nào đạt thì thôi.

D. LUYỆN THẦN HUỜN HƯ

Luyện Thần huờn hư là Thần hoà vào hư vô thoát khỏi mọi việc ràng buộc của trần thế.

1. Điều kiện công phu:

- Phải trường trai để tránh tẩu hoả nhập ma.

- Phải đạt huệ Qui Tam Bửu

- Quán tưởng câu: “Thầy là các con, các con là Thầy”.

- Có nội lực tốt và thuần thuộc thở Duyên tức (thở lự nhiên theo thiền).

- Có Trí hữu sư chỉ dẫn.

2. Hai bước luyện đạo:

Luyện Thần nhằm mở Nê Huờn Cung (Bá hội) đối chiêu tuyền Tùng để mở con mắt thứ ba ở Ân đường. Tuyến Tùng nằm ở mấu não trên giống như trái thông (tùng). Vị trí tuyến Tùng tương đồng với vị rrí Huệ Nhãn (Ân đường).

- Luyện nội đan: Tụ khí toàn thân vào hội, tưởng tượng Thiên khí vào Nê huờn cung nổi lên vòng Vô Vi to bằng hạt đậu xoay tròn theo theu kim đồng hồ.

Đó là “Phản bổn huờn nguyên” (Về nguồn). Nhớ lấy ý điều khiển cho vòng vô vi xoay 120 vòng rồi đạt đến 1200 vòng.

Phép nội đan nhằm dưỡng khí tụ thần, vận nguyên khí thông suốt nội tạng.

+ Luyện Thần huờn hư:

° Quán não hư không:

Biến tất cả suy nghĩ của cảm tình thành hư vô, .không còn điều chi ẩn chứa trong lòng, để vòng vô vi tự chuyển động,

° Quán Thần vào hư vô:

Thần kinh trung ương ngưng động, Thần trở nên vắng lặng hoàn toàn mà tự mở các cửa Thiên môn, không còn việc gì tác động vào được nữa vì hồn đã vân du Thiên ngoại.

Luyện đến khi nào đạt thì thôi.

“Chơn Thần (nó) phải có bổn nguyên Chí Thánh, Chí Tiên, Chí Phật mới xuất ra Thánh, Tiên, Phật”.

(Đàn đêm 17.07.1926)

3. Danh hiệu chung cho tu tịnh:

Đức Chí Tôn đã dạy: “Dầu khôngThiên Phong, hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạt hồi đặng”. Đó là địa vị mà Đức Chí Tôn đã dạy trên: Chí Thánh, Chí Tiên...

- Hành giả luyện Chơn Nhứt Khí vì tuổi sức yếu, khi giải thoát được đạt Chí Thần.

- Hành giả luyện Tam Bửu rủi mệnh một cũng đạt Chí Thánh, cho tròn câu tận độ.

- Hành giả luyện Thần huờn hư, dù chưa vân du Thiên ngoại mà qui vị nửa đường cũng đạt vị Chí Tiên, “cho trọn câu phổ độ” theo lời dạy của Chí Tôn.

IV. XẢ TỊNH

CHƯNG CHO CÁC BUỔI TỊNH LUYỆN

Ngay sau khi tịnh luyện, các hành giả phải làm các động tác sau đây:

Muốn xả tịnh thì hai bàn tay phải chà sát vào nhau cho nóng gọi là âm dương ký tế, rồi chà từ mặt lên trán ra sau ót, đoạn vuốt hai bên lỗ tai, hai cánh tay rồi hai bàn tay tập trung trên rốn chà mạnh gom khí xuống huyệt Đan điền (ruộng thuốc), đoạn đưa hai bàn tay xuống hai ống chân.

Sau cùng, hai bàn chân tự chà sát vào nhau, rồi đứng lên đi lại bình thường.

PHỤ BẢN NÀY đính theo TỊNH THẤT CHÚ GIẢI

Đã được Đức Cao Thượng Phẩm duyệt y đêm 13.06 - Quí Dậu tại THẢO XÁ HlỀN CUNG


 

NIÊN BIỂU

DÒNG THlỀN PHỔ ĐỘ

Niên biểu

Biến Cố Đạo Sự

■ Thu Mậu Dần (1542)

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lập

 

Bạch Vân Am Trung Tân, Hải Dương.

■ 01.12 - Đinh Sửu (14.11.1926)

Đức Chí Tôn dạy Đức Hộ Pháp “Tịnh là vô nhứt vật”.

■ 23.01.1926

Đức Chí Tôn dạy: Thánh Tiên Phật đạo vốn như nhà.

■ 28.01.1926

Đức Chí Tôn dạy: Tiên Phật nơi mình chẳng xa.

■ 26.02 - Bính Dần

Đức Chí Tôn dạy: “Phải bày Bửu Pháp

(08.04.1926)

Tịnh Luyện”.

■ 20.11 - Bính Dần

Lập Tân Luật trong đó có Luật Tịnh Thất.

■12.06- Mậu Thìn

Đức Cao Thượng Phẩm lập Thảo Xá Hiền Cung (Tịnh thất tại tư gia).

■ 1928

Đức Phật Mau dạy Lập Thảo Đường Minh Thiện Đàn.

■  1929

Đồng Nghĩa đường ở Phú Mỹ

 

 

 

 

 

 

 

■ 1931

Lập Thánh Địa Bạch Vân (Bạch Vân Đường ỏ Nam Vang).

■Ngày 03.06.1932

Đức Quyền Giáo Tông tĩnh tâm tại Giáo Tông đường trong ba tháng.

■ 14.08- Ất Hợi

(1935)

Đức Chí Tôn dạy Thiền định (tập thể)

tại Trước Lý Minh Đài Phú Thọ.

■ Tháng 09.1939

Đầu Sư Thái Thơ Thanh lập Bạch Vân

Am ở Phú Lâm, Chợ Lớn.

■ 1947

Trường Qui Thiện lập Hộ Pháp Tịnh Đường.

■ Cuối 12 - Đinh Hợi

Lập Trí Huệ Cung

■ 28.07 - Canh Dần

Đức Cao Thượng Phẩm ban Luật Tam Thể.

■ 14.12 - Canh Dần

Đức Hộ Pháp trân pháp Thiên Hỉ Động.

■ 07.01 - Tân Mão

(1951)

Đức Phật Mẫu ban cho Đức Hộ Pháp: Vẹn toàn Pháp Môn.

■ 16.01 - Tân Mão (1951)

Đức Hộ Pháp vào Trí Huệ Cung tịnh luyện trong ba tháng

■ 28.01 - Nhâm Thìn (1952)

Bà Bát Nương dạy: Tịnh trong cái động... muốn tịnh lúc nào cũng được.

■  28.10 - Giáp Ngọ

(1954)

Xây dựng Vạn Pháp Cung tại Sân Đình.

■ 05.12 - Giáp Ngọ (1954)

Thành lập Trí Giác Cung - Địa Lình Động.

■ 10.04- Kỷ Dậu

Đức Thanh Sơn' Đạo sĩ cho lập Bạch

(26.05.1969)

Vân Quán trong nước thay Bạch Vân Đường ở Nam Vang đã bị bế.

TỦ SÁCH DÒNG THIỀN PHỔ ĐỘ

1.                    Trường Dưỡng Tinh Khí Thần.

2.                    Thơ Thiền

3.                    Lịch sử Dòng Thiền Phổ Độ

4.                    Đạo Tâm luận.

5.                    Tràng Hạt dịch Lý

6.                    Thơ Trầm Hương

7.                    Những Phương thuốc bổ Trường Xuân

8.                    Thánh Ngôn Bạch Vân Quán.

9.                    Tịnh Thất tại tư qia

10.                 Tĩnh tâm Thiện Niệm

 

Lưu Ý:

Chúng tôi sưu tầm tài liệu này là để tiện lợi cho việc nghiên cứu và học đạo của quí đọc giả - đạo hữu, đạo tâm.

I

Bản Quyền của quyển sách này là hoàn toàn thuộc về tác gỉả / soạn giả.

 


 

[1] Phổ Độ (bằng cách) Thiền giáo Công truyền, gợi tắt là:

DÒNG THIỀN PHỔ ĐỘ.

[2] Xem Văn hóa Giáo dục Đạo Cao Dài, cùng  người viết

[3] Vi tố là nguyên tổ rất nhỏ, chỉ tế bào.

[4] Lục cũn: Mắt, tai, lưỡi, mũi, thân, ý

[5] Thất tình: hỉ, nộ, ái ố, ai lạc, cụ.

[6] Xem Tam Thánh Bạch. Vân Động, cùng người viết.