https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339144700784/Home/nguyen-do/dien-dhan/jinyang.jpg?height=400&width=400

 

GIỚI THIỆU

 

Thể pháp và Bí pháp là hai khái niệm khá phức tạp trong Cao Đài Học. Thông thường Thể pháp và Bí pháp dùng trong hai trường hợp. Một, khi nói về cách thức hành đạo, Thể pháp được định nghĩa là những nghi lễ thông thường dành cho mọi tín đồ Cao Đài. Bí pháp là cách tu tập đặc biệt, có tính "bí truyền" theo kiểu phương Đông, dành cho một số tín đồ cao cấp. Mặc dù cách định nghĩa này có một ít sơ hở, và vẫn thường bị chỉ trích là đi ngược lại tôn chỉ "phổ độ" của Cao Đài Giáo, nhưng phần đông tín đồ hiện nay chấp nhận quan điểm này.

Hai,về mặt triết học, Thể pháp và Bí pháp có nhiều ý nghĩa phong phú hơn nhiều. Hiện nay tương đối ít tác giả nghiên cứu về lãnh vực này. Ý Thức xin giới thiệu một quyển sách mỏng của Từ Chơn, một người muốn mở con đường mới trong Cao Đài Học. Sách còn thô sơ, nhưng khơi dậy tính khai phá trong cánh rừng triết học mênh mông.

 

 

THỂ PHÁP VÀ BÍ PHÁP

 

 

Nhập

 

 

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339145018654/Home/nguyen-do/dien-dhan/gate.jpg?height=400&width=299

 

 

Hiển nhiên, Cao Đài có nguồn gốc thông linh học. Xuất phát từ hiện tượng xây bàn, cầu cơ, chấp bút, Cao Đài giáo mặc nhiên khẳng định hai thế giới : hữu hình và vô hình, tự nhiên và siêu tự nhiên, người và trời. Giữa hai thế giới này có sự liên hệ, giao tiếp; đó là cầu cơ, chấp bút … Qua đó thế giới siêu tự nhiên biểu đạt và có tácđộng hai chiều với thế giới tự nhiên. Điều này trên thực tế không mới lạ. Phần lớn các tôn giáo trên thế giới ngày nay chấp nhận điều này, chỉ khác nhau ở chỗCao Đài giáo có nhiều cá nhân có thể thông công với thế giới siêu tự nhiên; trong khi đa số các tôn giáo khác việc này chỉ xảy ra đối với một cá nhân; thường là giáo chủ. Từ đó, có thể thấy được triết lý các tôn giáo thường nhất quán, một chiều; trong khi Cao Đài giáo có triết lý tổng hợp và phát triển đa phương. Vì vậy trong một thời gian ngắn Cao Đài giáo phát triển rất nhiều chi phái.

Ngoài ra, thế giới tự nhiên và siêu tự nhiên trong các tôn giáo thường có sức mạnh chênh lệch, tách biệt nhau. Con người phải thực hiện các giới luật để sau khi chết được hưởng các kết quả tốt đẹp ởnhững cảnh giới khác. Trong Cao Đài, thếgiới tự nhiên ( Vạn linh ) là sức mạnh đối đãi với thế giới siêu tự nhiên (Nhất linh). Con người tự ý thực hiện giới luật không những để hưởng những kết quả ởcảnh giới khác mà còn để thông công với thế giới siêu tự nhiên ngay khi cònđang sống.

CaoĐài có nguồn gốc đông phương. Có thể thấy rõ điều này vì Cao Đài phát triển từViệt Nam, mang nặng dấu ấn phong tục Việt Nam- một nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng đông phương. Tư tưởng đông phương cơ bản dựa vào biến đổi âm dương ( Dịch lý Trung Hoa ), vì thế tư tưởng Cao Đài có huyền có thực; có thể pháp có bí pháp; có trời có người. Tuy nhiên, hai sức mạnh này không chênh lệch, tách rời nhau mà phụ thuộc đối đãi nhau. Cứu cánh của Cao Đài là siêu nhập hai sức mạnh này.

Nghiên cứu hai sức mạnh này- Cao Đài gọi là THỂ PHÁP và BÍ PHÁP -là học đạo. Làm cho hai sức mạnh này siêu nhập để đạt được trạng thái thông linh là đạt đạo. Đó cũng chính là nội dung sẽ được trình bày trong quyển sách này.

 

 

 

I

 

BA DẠNG THÔNG TIN VÀ CÁCH GIẢI MÃ

 

Thông qua cơ bút, các nhà thông linh học -tức các đồng tử phò loan hay người cầu cơ -nhận được thông tin từ cảnh giới siêu tự nhiên dưới dạng ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ này có trình độ tùy thuộc vào trình độ của người phò loan. Trong giai đoạnđầu, khi chưa có ý riêng của đồng tử xen vào, thì dù ở trình độ nào ngôn ngữnày đều nêu ý chung là đưa tất cả chúng sinh ra khỏi bến mê cảnh khổ.Từ những thông tin bằng ngôn ngữ viết , các tín đồ lập ra Đền Thánh, xây dựng học thuyết và lập ra một tôn giáo có qui củ. Sau một quá trình biến đổi, đến nay các thông tin từ cảnh giới siêu tự nhiên đã định hình dưới ba dạng : ngôn ngữ thường, ngôn ngữ nửa biểu tượng và các biểu tượng. Để hiểu được các ngôn ngữ này, cần phải có những cách giải mã khác nhau, tức là các cách thức để hiểu từng dạng thông tin một. Nếu hiểu sai sẽ đưa người học đạo đến chỗ mê tín dị đoan

 

 

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339145222269/Home/nguyen-do/dien-dhan/code.jpg?height=374&width=400

 

A- Ngôn ngữ thường.

Thường xuất hiện dưới dạng chữ viết và do điều kiện xã hội lúc bấy giờ nên thường là tiếng Việt, Hán việt hay tiếng Pháp. Dù thứ tiếng nào ngôn ngữ này cũng biểuđạt ý nghĩa thông thường . Ví dụ như :

“Đạo là con đường để cho Thánh,Tiên ,Phật theo đó mà hồi cựu vị. Đạo là con đường của các nhơn phẩm dò theo mà lánh khỏi luân hồi…”

“Ngọc Hoàng mở rộng đạo kỳ ba.

Thượng Đế Long Hoa biện chánh tà

Khuyên trẻ gìn lòng tu chí thiện

Trường thi kíp tới gặp Trời cha”

Muốn hiểu ngôn ngữ loại này,chỉ cần hiểu theo nghĩa thông thường. Nghĩa là, trước hết phải biết thứ tiếng đó. Kế đó suy luận, tức là so sánh điều đọc được với kiến thức sẵn có.Trong ví dụ một nêu trên, có thể so sánh : trước đây mình từng di chuyển trên một con đường để đến một điểm nào đó. Kiến thức hoặc kinh nghiệm này giúp người tu học hiểu : về ngôi xưa là một hành động tương tự như thế. VậyĐạo tương đương một lộ trình, một không gian có định hướng. Nếu chệch lộ trìnhđó sẽ không đến nơi mong muốn, tức là ngôi xưa.Tất cả mọi người thông thườngđều hiểu theo cách này.

Cần nói rõ, hiểu vấn đề và phán đoán vấn đề là hai việc khác nhau.Thường thì sau khi hiểu vấn đề con người lại máy móc phán đoán . Phán đoán cũng là một quá trình suy luận, so sánh với điều đã biết. Do “biết” khác nhau, con người có những phán đoán khác nhau,thậm chí dẫn đến xung khắc. Trong thí dụ nêu trên, ý nghĩa dễ hiểu, nhưng người tin tưởng cho là đúng; kẻ cho là thấp vì đã đọc đượcđâu đó ĐẠO cao siêu, to lớn hơn thế; người không tin tôn giáo cho là chuyện viễn vông. Trong phần này xin chỉ bàn cách hiểu một vấn đề, chứ không phán đoánđúng sai.

Tóm lại, khi hiểu theo nghĩa thông thường, chúng ta mặc nhiên chấp nhận ĐÚNG khác SAI; TỐT khác XẤU; CÓ khác KHÔNG ; CHẤP NHẬN ĐIỀU NÀY nghĩa là CHỐI BỎ ĐIỀU NGƯỢC LẠI. Nếu tin tưởng “ Ngọc Hoàng mởrộng Đạo kỳ ba “ thì sẽ không tin “ Con người mở rộng Đạo kỳ ba “

 

B- Ngôn ngữ nửa biểu tượng

Thường thấy ở dạng chữ viết, Việt hoặc Hán Việt. Đây là dạng ngôn ngữ biểu đạt qua hai giai đoạn . Giai đoạn một hiểu theo nghĩa thông thường .Kết quả thường là đưađến một biểu tượng ở giai đoạn hai .Ví dụ như :

“Khi chưa có chi trong Càn khôn thế giới thì khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực .Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng nghi ,Lưỡng Nghi phân ra TứTượng ,Tứ Tượng biến Bát Quái ,Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn khôn Thế Giới .”

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339145375782/Home/nguyen-do/dien-dhan/eye%201.jpg?height=400&width=400

 

 

“Nhãn thị Chủ Tâm

Lưỡng quang Chủ tể

Quang thị Thần

Thần thị Thiên

Thiên giả ,Ngã giả “

Đểgiải mã, hiểu được những thông tin nầy phải thực hiện hai giai đoạn.Trước hết tìm hiểu ý nghĩa của ngôn từ. Cách hiểu giống như khi hiểu ngôn ngữ thông thường. Kết quả dẫn đến một hàm ý phức tạp, khó hiểu hơn. Bấy giờ người học đạo bước vào giai đoạn hai : Hiểu bằng trực giác, bằng trí huệ, không thông qua suy luận. Điều nầy vô cùng khó khăn vì con người vốn sống bằng so sánh. Người ta luôn luôn phán đoán một vấn đề ĐÚNG hoặc SAI, và chỉ có như thế mới cảm thấy yên tâm. Trong thế giới ngôn ngữ nửa biểu tượng- còn gọi là ngôn ngữ phi ngôn ngữ. ĐÚNG là SAI, TỐT là XẤU, CÓ là KHÔNG. Chừng nào hiểu được điều này, không phải vì đã đọc đâu đó trong kinh sách hoặc có ai đó đã dạy như thế, thì mới có hiểu biết bằng trí huệ.

Trong thí dụ nêu trên, cách hiểu thông thường cho thấy câu nói hàm chứa Dịch lý. Dịch lý xuất phát từ hình vẽ tám quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.(Xin lưu ý điều này: vua Phục Hy để lại hình vẽ Bát Quát Tiên Thiên chứ không có chú giải. Sau này Văn Vương viết lời hào và các nhà nghiên cứu mới viết lời giải thích) Như vậy muốn hiểu Dịch lý, phải nhìn vào hình vẽ Bát Quát và hiểu bằng Trí Huệ. Hiểu bằng so sánh, lý luận là công viêc con người đã làm mấy ngàn năm qua và điều này đã đưa đến đúng sai bất nhất, tranh căi không ngừng. Bởi v́ mỗi người chỉ nhìn thấy một phần rất nhỏ của vấn đề, cho nên kẻ cho là Dịch lý dính líu đến Thiên văn học, kẻ thì Toán học, Hóa học, thậm chí người dùng để bói toán. Rõ ràng hiểu bằng lý luận đã đưa đến những kết luận dựa trên kiến giải. Kiến giải chỉ đúng phần nào chứ không rốt ráo toàn diện. Trí huệ sẽ đưa đến sựhiểu biết sâu xa tuyệt đối,nằm ngoài lý luận so sánh. Chỉ có như thế mới hiểuđược Dịch lý và từ đó biết được câu Thánh ngôn trên nói gì.

Cũng theo Thánh Ngôn “Thầy là các con, các con là Thầy.” nếu hiểu bằng lý luận so sánh , qui nạp hay phân tích gì gì đi nữa, sẽ thấy là vô lý. Thầy là Thượng Đế,các con là chúng sinh. Thượng Đế là chân lý, toàn thiện, v.v…Các con là hưngụy, xấu xa v.v… Vậy Thầy đâu thể là các con. Điều toàn thiện không thể làđiều xấu xa. Một lần nữa, chỉ có thấy, hiểu bằng trí huệ mới giúp thoát khỏi các xung chướng phức tạp của vấn đề.

C- Các biểu tượng.

Các dạng thông tin không phải ngôn ngữ, có mục đích truyền đạt một ý nghĩa nào đó, như hình vẽ, âm nhạc, màu sắc.v.v…Ví dụ:

 

 

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339145579560/Home/nguyen-do/dien-dhan/cankhon.jpg?height=400&width=268

 

·

- QuảCàn Khôn

· Hình vẽ Thiên Nhãn

· Kiến trúc Đền Thánh

 

 

Thông thường, biểu tượng có mục đích là giúp người xem hiểu ngay ý nghĩa, không thông qua ngôn ngữ hoặc suy luận. Do đó mọi dân tộc, dùng các thứ tiếng khác nhau, đều có thể hiểu được biểu tượng. Ví dụ:Thánh Giá trên ngực một người cho biết đó là tín đồ Thiên Chúa Giáo. Hình bánh xe mô tả sự tiến hoá v.v…

Các loại biểu tượng trong Cao Đài giáo có thể được chia làm ba loại:

- Loại biểu tượng được qui ước . Ví dụ như Đền Thánh, Tượng Ngũ chi, Tượng Phật, Tượng Các Thánh Thần vv… Cần phải hiểu các biểu tượng này bằng kiến thức, suy luận , bởi vì các biểu tượng này vốn đã có trong nhiều nền văn minh trên thế giới.

- Loại biểu tượng chưa có qui ước hoặc mới được qui định. Ví dụ như Tượng Thiên Nhãn, Tượng Hộ Pháp, Các cách cúng lạy vv…

Qua cách phân loại trên có thể rút ra kết luận: khi nhìn đền thánh, bất cứ sắc dân nào cũng biết đây là một kiến trúc tôn giáo chứ không phải là công sở. Để hiểu Thiên Nhãn cần đọc thánh ngôn. Tuy nhiên cần nói rõ đây chỉ là những qui định tạm thời cho dễ hiểu. Thực tế, phần lớn các biểu tượng đều được hiểu bằng trực giác. Các biểu tượng trong Cao Đài giáo thường chứa đựng những bí mật mà suy luận chỉ đem lại những hiểu biết manh mún, phản khắc nhau.

Đến đây, có thể tạm cho rằng có hai cách hiểu chủ yếu: một : bằng suy luận thông thường và hai : bằng trực giác hay bằng trí huệ. Vấn đề có lẽ là phân loại ngôn ngữ: hoặc ngôn ngữ nửa biểu tượng hoặc biểu tượng, thế nào để hiểu cho thích hợp. Điều này khá phức tạp và đòi hỏi phải nghiên cứu công phu. Tuy nhiên, tạm thời có thể theo nguyên tắc sau: điều gì có thể suy luận được theo cách suy luận thông thường, đó là ngôn ngữ thường hoặc biểu tượng đã có qui ước. Điều gì cảm thấy khó hiểu hoặc vô lý thì chớ vội suy biện ngay, có thể đó là loại cần đến trực giác hay trí huệ. Nói “có thể” bởi vìđôi khi do nghiên cứu chưa đủ sâu về các tôn giáo nên không biết. Đối với loại thứ hai, tốt hơn là hãy học hỏi thêm hoặc tạm thời chưa kết luận vội. Bởi vì hiểu bằng trực giác và trí huệ là một trạng thái vô cùng khó khăn cần “rèn luyện” cho đúng cách. Sai một ly sẽ trở thành một người lảm nhảm điên khùng, chẳng những hại thân mà còn gây nguy hiểm cho người chung quanh.

 

 

 

II

THỂ PHÁP VÀ BÍ PHÁP

 

Thể pháp và bí pháp là đặc trưng của Cao Đài. Nghĩa của Thể Pháp và Bí pháp rất rộng :

· Nếu Thể Pháp là hình thức, thì Bí Pháp là nội dung.

· Nếu Thể Pháp là cách thức tu tập hữu hình, thì Bí Pháp là cách tịnh luyện vô vi.

· ThểPháp là THỂ, Bí Pháp là TÍNH.

· ThểPháp hiểu được bằng kiến thức, Bí Pháp phải hiểu bằng Trí Huệ

Dựa vào những định nghĩa trên, lúc nào cũng có thể xét bất cứ Thể Pháp nào trong Cao Đài để nghiệm ra bí pháp. Bây giờ, hãy thử xét một thể pháp rất cơ bản của Cao Đài : Tam giáo qui nguyên : Nho, Lão, Phật.

Qui nguyên tức là trở về cái gốc của sự vật, chọn cái tinh túy, tránh xa những biến dạng râu ria của vấn đề. Thế nhưng tại sao chỉ chọn Nho, Lão, Phật ? Thể pháp ngụ ý ba giai đoạn tu tập của môn đệ Cao Đài.

 

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339145746522/Home/nguyen-do/dien-dhan/khongtu.jpg?height=400&width=293

 

 

A-Giai đoạn Nho

Nho giáo có đối tượng chủ yếu là con người - cá thể - và mối quan hệ với xã hội-tập thể. Con người cá thể phải giữ ngũ thường ( Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín ) nếu là nam và Tứ Đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) nếu là nữ. Ay là giữ mẫu mực của quân tử để phù hợp với đạo Trung Dung. Trong giao tiếp với xã hội, quân tử phải xem trọng ba mối quan hệ : Quân thần, phụ tử, phu thê. Nghĩa là giữa vua tôi, giữa cha con và giữa chồng vợ. Đã có lúc quan niệm trên bị cho là lạc hậu. Thế nhưng nay, trong xã hội đầy dẫy những quan hệ phức tạp, những giá trị trên lại tỏ ra vô cùng cần thiết để giúp cho xã hội thoát khỏi tình trạng băng hoại .

Trong Cao Đài, đây là giai đoạn cơ bản của người tu học. Triết lý Nho giáo phần lớnđược viết bằng ngôn ngữ thường. Tư tưởng Nho Giáo là thế giới nhị nguyên đốiđãi. Nghĩa là phải so sánh, suy luận, hiểu sự vật theo nghĩa chấp nhận hoặc chối bỏ. Nếu chấp nhận phải thực hiện điều nhân, thì có nghĩa là đồng thời phủnhận , không làm điều bất nhân. Nhân hoặc bất nhân; nghĩa hoặt bất nghĩa….là những qui ước có sẵn trong xã hội. Cụ thể là xã hội Trung hoa cổ, vì Nho giáođặt nền tảng trên giá trị của xã hội ấy. Dù hiện nay quan điểm trị nước của mọi xã hội có thay đổi, nhưng cơ bản thì ba mối quan hệ này vẫn tồn tại.

Trong giai đoạn này, người tu học phải tự hiểu lấy chính mình, rồi sửa đổi để phù hợp với các giá trị nhân, nghĩa ….Ngoài ra cũng phải nhận ra mình không thể sống một mình; vậy phải chăm lo gìn giữ các quan hệ với người chung quanh để tạo ra một xã hội hài hòa, ổn định. Làm được như vậy là đã thể hiện thể pháp của giaiđoạn này.

Nhưtrên đã dẫn, Bí pháp cũng vận hành song song với thể pháp. Nói cách khác, trong khi người tu học thể hiện thể pháp- là điều thấy hiểu được- cũng là lúc thểhiện bí pháp- là điều không thấy được. Trong lúc kiên trì sửa sai bản thân, thì tư tưởng của người tu học cũng phân biệt rõ NHÂN khác với BẤT NHÂN; ĐÚNG khác với SAI; có điều NÊN LÀM và điều KHÔNG NÊN LÀM. Từ chỗ rối loạn, hoang mang, tư tưởng được dẫn về thế hai mặt đối lập, tức là từ Bát Quái đi ngược về Lưỡng Nghi.

 

 

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339145869595/Home/nguyen-do/dien-dhan/laotu.jpg?height=400&width=250

 

 

B- Giai đoạn Lão.

“Đạo thường vô vi, nhi vô bất vi”

“Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất”

“Binh cường tắc diệt, mộc cường tắc chiết”

“Hoạ hề phúc chi sở ỷ,phúc hề họa chi sở phục”

Tạm dịch:

Đạo không làm, nhưng không có gì là không làm.

Trời đất với ta cùng sinh, mọi vật với ta là một.

Binh mạnh ắt bị tiêu diệt, cây cứng ắt gãy.

Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của họa.

Triết lý Đạo Lão khởi nguyên từ Đức Lão Tử (sinh vào thế kỉ IV trước công nguyên) qua bộ sách Đạo Đức kinh. Ngôn ngữ trong Đạo Đức kinh là ngôn ngữ nửa biểu tượng. Nghĩa là sau khi hiểu theo nghĩa thường, nghĩa đen, ta bước vào một thế giới khác đòi hỏi phải hiểu bằng trí huệ. Vì chỉ hiểu bằng nghĩa thường nên mới có những quan niệm như là: Đạo Lão chủ trương tiêu cực, tìm kiếm những gì xa xôi, tách biệt với đời sống hiện tại. Ví dụ: khi Lão Tử nói “Nhược giả đạo chi dụng”-yếu mềm là chô dùng của Đạo. Hay “Kiên cường giả, tử chi đồ; Nhu nhược giả, sinh chi đồ”-cứng mạnh là bạn của chết, mềm yếu là bạn của sống thì đầu óc suy luận thông thường-ĐÚNG khác với SAI-sẽ hiểu: Lão Tử cho mềm yếu nhu nhược là tốt; cứng mạnh, kiên cường là xấu.

Thực sự, Đạo Lão không hề tách con người ra khỏi đời sống thực tại. Triết học Lão Giáo nhắm vào tư tưởng con người vốn chỉ phát sinh trong đời sống thực tế.Nghĩa là có sinh sống, có va chạm với người khác, con người mới có vấn đề đểsuy nghĩ. Cách suy nghĩ như trong giai đoạn Nho sẽ có ích trong các lĩnh vực kĩthuật thông thường. Ví dụ: “Đói thì phải ăn”. Không thể hiểu câu này khác hơn! Thế nhưng với một người hết sức nghèo, tuổi tác đã cao lại mắc bệnh nan y thì nên trị bệnh kéo dài mạng sống hay để ông ta được chết ? Trong vấn đề này, lý luận TỐT - XẤU không có chỗ đứng. Để trả lời câu hỏi khó khăn nŕy cần phải có sự thấu hiểu bằng trí huệ. Đó lŕ điều mŕ Đạo Lão nhằm tới. Những câu trong ĐạoĐức kinh tất cả đều cố ý trái với lý luận thông thường, nghĩa là đưa vào chỗnghịch lý, là nhằm đưa người tu học vào thế giới của trí huệ, nơi không thể lý luận, nơi mà ĐÚNG là SAI, TỐT là XẤU. Ví dụ: Đạo thường vô vi-( Đạo thường không làm). Nhi vô bất vi-(nhưng không có gì không làm).

Nhưvậy, không thể kết luận được là Đạo không làm hay làm; mà kết luận vừa làm vừa không làm thì điều này không thể có thật trên đời. Đạo nằm ngoài vòng suy luận, suy nghĩ. Điều gì suy nghĩ, định nghĩa, quan niệm được không phải là Đạo. “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh” ( Đạo Đức Kinh).

Trong Cao Đài, đây là giai đoạn tu tập thứ hai. Nói như vậy có nghĩa là người tu họcđã hoàn thành giai đoạn một hay ít ra cũng phải trải qua giai đoạn một. Người học đạo phải lăn lộn trong cõi bụi trần, vất vả với kiếp người, khổ công mệt trí tập làm quân tử rồi mới mong tập tành thoát tục. Có lý luận phải trái, hơn thua đến chán ngấy mới thấy lý luận chỉ đưa đến đảo điên khốn khổ. Lúc đó người học đạo mới bước vào giai đoạn Lão.

Bước vào giai đoạn Lão không có nghĩa là từ giả vợ chồng con cái, giũ bỏ xe nhà, tìmđến nơi vắng vẻ. Bởi xa lánh mọi người thì đâu có va chạm, nẩy sinh vấn đề cần suy nghĩ. Sống không suy nghĩ là sống theo bản năng như cây cỏ. Ngoài ra hànhđộng như vậy vẫn còn trong vòng suy luận thông thường: Đời sống hiện tại là XẤU, tìm đến nơi vắng vẻ là TỐT. Chọn tốt bỏ xấu hay ngược lại , rốt cuộc cũng nằm trong vòng kềm tỏa hai mặt đối lập của suy luận mà thôi. Giai đoạn này rất quan trọng và khó khăn đối với người tu học. Quan trọng vì đó là bước chuẩn bị để bước vào giai đoạn khó khăn cuối cùng : giai đoạn giải thoát. Khó khăn vì con người, vốn quen với suy luận phải trái, nay rơi vào thế giới không suy luận. Nếu không khéo, lúc cần suy luận lại hiểu bằng trí huệ- hoặc ngược lại-thì vô cùng nguy hiểm. Do vậy, người tu học vẫn phải tiếp tục sống như đã sống từ trước, đồng thời phải hết sức chú tâm xem xét bản thân mình (người xưa gọi là Hồi Quang Phản Chiếu) qua mỗi hành động hằng ngày. Quan sát xem khi nào mình suy luận và mình suy luận ra sao. Lưu ý là chỉ quan sát mà thôi, không phánđoán “ làm như vậy là ĐÚNG hoặc SAI”. Vì như vậy lại mắc vào vòng suy luận. Trong khi quan sát như vậy, sẽ tự mình nhận ra những khoảnh khắc trí huệ vận hành. Trong đó, người tu học đã thoát ra ngoài vòng suy luận.Đó là thể hiện thể pháp của giai đoạn này. Trong lúc đó, Bí Pháp xoay chuyển, dẫn tư tưởng từ thế hai mặt đối lập (Lưỡng Nghi) cứng chết về thế hai mặt phụthuộc uyển chuyển huyền diệu. Lưỡng Nghi bây giờ không tách rời nhau mà phụthuộc nhau, lung linh phóng ra ánh sáng trí huệ để làm phương tiện đưa người tu học vào giai đoạn thứ ba: giai đoạn giải thoát.

 

 

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339146058650/Home/nguyen-do/dien-dhan/thichca.jpg?height=400&width=271

 

 

C- Giai đoạn Phật.

“Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”

“Sắc bất dị không, không bất dị sắc,

sắc tức thị không, không tức thị sắc “

……

“thị chư pháp không tướng…”

“Bồ đề tát đóa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố tâm vô quải ngại, vô quải ngại cố, vô hữu khủng bố,viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn…”

Tạm dịch :

Tất cả mọi người đều có tánh Phật.

Có chẳng khác không, không chẳng khác có,

Có tức là không, không tức là có.

Bồtát có trí huệ trong lòng không hề ngần ngại, vì không ngần ngại nên không hoảng sợ, xa rời mọi suy nghĩ viễn vông và đạt được cõi Niết Bàn.

Đạo Phật có triết lý xuất phát từ phương Đông. Tài liệu hiện nay còn rất nhiều, đa số là các bộ kinh sách chép lại các bài nói, hay các cuộc thảo luận của đức Phật Thích Ca với các đệ tử. Tư tưởng cốt lõi của đạo Phật nằm trong hệ thốngđại thừa, chủ trương thiền định. Thiền định tức là yên lặng quan sát để đạt đến trí huệ, từ đó đời sống không còn khổ sở nữa, tức đạt cảnh giới Niết Bàn Cực Lạc.

Ngôn ngữ Đại thừa Phật giáo là ngôn ngữ phi ngôn ngữ, không thể hiểu bằng thói thường suy luận. Chính Phật Thích Ca cũng khẳng định điều ngài nói rất sâu xa khó hiểu, chỉ có Phật mới hiểu được Phật. Do đó muốn hiểu ngôn ngữ này phải đạt được trí huệ trước, chứ không phải đọc những lời Ngài nói mà suy ra trí huệ là gì, hoặc phải làm cho tâm thái mình biến thành không không, giống với những câu nói đó. Như thế thì cũng vẫn mắc trong vòng suy luận hai mặt đối lập.

Trong Cao Đài giáo, đây là giai đoạn thứ ba. Nghĩa là người tu học phải đạt được trí huệ trong giai đoạn thứ hai rồi. Từ đó người tu học sống một cuộc sống mà mọi hành vi đều khởi phát từ trí huệ. Về mặt Bí Pháp thì thế Lưỡng Nghi phụ thuộc phát huy sức thần diệu của nó. Lui thì về Thái Cực, tiến thì biến thiên hình vạn trạng. Lúc trí huệ lên ngôi thì ĐÚNG, SAI; TỐT, XẤU không còn ý nghĩa nữa. Người học đạo sẽ trực tiếp nhìn thấy một thế giới phi thường mà chỉ tự mình biết lấy. Lúc đó, thông công với thế giới siêu nhiên là điều không có gì là khó khăn; lúc đó mới hiểu Phật Thích Ca đã nói gì.

Đối với Cao Đài giáo thì đến giai đoạn này chưa phải là chấm dứt. Người tu học sẽtiến lên những mức độ cao hơn cho đến vô cùng tận. Bởi vì, xin cẩn thận, nếu tu chỉ là để hết khổ, sống ở cõi cực lạc thì đó cũng vẫn còn là thế giới của suy niệm mà thôi.

Chúng ta vừa thử giải mã một thể pháp cơ bản của Cao Đài Giáo. Đó chỉ là những nét chính yếu về mặt khái niệm nhằm giúp hiểu rõ Cao Đài Giáo, tránh suy luận chỗkhông cần suy luận. Nếu không làm như thế, sẽ rơi vào tình trạng mà con ngườiđã gặp từ mấy ngàn năm qua: tôn giáo nào cũng dạy con người phải thương yêu nhau, nhưng cũng chính do tôn giáo mà con người rơi vào xung đột, thậm chí thánh chiến. Đó là một nghịch lý nhưng lại là một thực tế. Và điều đó cũng chứng minh rằng con người vẫn tiếp tục suy luận như bao ngàn năm qua. Suy luận đã ăn vào máu, thành thói quen đến nỗi người ta suy luận mà không thấy rằng mình suy luận. Do vậy, người tu học phải tỉnh táo dò dẫm đi từng bước, từng giai đoạn một. Hiểu cho đúng là một chuyện, làm cho đúng lại là một chuyện khác.

 

 

 

III

 

THỂ PHÁP VÀ BÍ PHÁP KHẮP NƠI

 

Trong cửa đạo Cao Đài, tất cả các hình thể đều mang một ý nghĩa nào đó. Nói khác đi, tất cả Thể Pháp đều hàm chứa Bí Pháp. Như vậy tùy theo kiến giải riêng của mỗi người, có thể suy ra vô số ý nghĩa, vô số cách thức tu tập, để rồi tất cả các cách tu tập ấy, như những dòng sông, cùng dẫn đến biển cả mênh mông của chân lý. Tuy nhiên khi quan sát, tìm hiểu cần phải hiểu rõ đâu là giới hạn của suy luận. Phải nhớ rằng suy luận đành chịu thúc thủ trong thế giới chân lý, hơn thếnữa nó qui định, đóng khung và giết chết chân lý như tính toán, lời lãi giết chết tình yêu. Trong phần này xin giới thiệu và giải mã một số Thể Pháp- dĩnhiên là theo kiến giải cá nhân. Mong là phần nào sẽ gợi mở chút ý kiến trên con đường thăm thẳm tiến về ngôi xưa vị cũ.

 

 

https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/_/rsrc/1339146327652/Home/nguyen-do/dien-dhan/denthanh.JPG?height=300&width=400

 

 

A- Thể pháp khai đạo

 

    Bản thân lịch sử khai đạo là thể pháp khai đạo.Vậy, thiết tưởng tóm lược lại giaiđoạn này từ lúc bắt đầu đến buổi lễ ở Từ Lâm tự để từ đó suy ra Bí Pháp cũng làđiều cần thiết.

Vào khoảng 1925, đất Sài Gòn lúc ấy thuộc Pháp, rầm rộ nổi lên phong trào cầu cơ.Chính trong phong trào cầu cơ này, con người tiếp xúc với thế giới siêu tựnhiên và cũng chính lúc ấy Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ chọn 12 đệ tử đầu tiên, rồi dạy lập Thánh Tượng Thiên Nhãn để thờ. Cuối tháng 9/1925 Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế (lúc đó xưng là AĂÂ) dạy ông Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc lập Hội yến Diêu Trì đầu tiên. Đến 12/12/1925, bà Cửu Thiên Huyền Nữdạy ba ông vọng thiên cầu đạo . Đến 1926 Đức Thượng Đế (lúc đó xưng là Ngọc Hoàng Thượng Đế, tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát) chính thức qui tụ 12 đệ tử đầu tiên và thu thêm đệ tử .Đến đây vị đệ tử thứ nhất là ông Ngô Minh Chiêu tách ra khỏi nhóm, chuyên lo phần tịnh luyện . Ngày 7/10/26 theo lệnh Đức Chí Tôn các đệ tử làm đơn xin mở Đạo với chính quyền .Đêm 18/11/26 là lễ khai Đạo tại Từ Lâm tự .Trong đêm này có hiện tượng tà quái nhập vào hai đệtử làm náo loạn buổi lễ, làm nhiều người mất tin tưởng bỏ ra về . Nhân đó Hòa Thượng trụ trì chùa , lúc trước tình nguyện hiến chùa, không ðồng ý cho các đệtử ở đó. Đến 23/3/27, Hội Thánh dời về Long Thành, nay là Toà Thánh Tây Ninh.

Câu chuyện này là một hiện tượng có thật xảy ra giữa cuộc đời như bao hiện tượng khác. Tuy nhiên, không giống như những hiện tượng khác là sẽ trôi lăn vào quên lãng, nó mở đầu, đánh dấu một giai đoạn phi thường. Theo tiên tri giai đoạn này sẽ kéo dài bảy ức năm. Xét về mặt bối cảnh lịch sử, lúc bấy giờ xã hội Việt Nam đang chịu những tác động mãnh liệt. Bị dân tộc khác cai trị, với một nền văn minh xa lạlấy vật chất làm cơ sở, tư tưởng của người VN bàng hoàng, ngơ ngác, mất phương hướng. Mọi người, theo điều kiện sinh sống của mình, tìm đến một lý tưởng nàođó để trốn chạy hoặc chống lại cái thực tế hỗn loạn, xô bồ. Như sẽ thấy sau này, dù với lý tưởng nào, người VN trong thâm tâm vẫn nuôi ý định tự chủ lấy vận mạng đất nước. Trong khi đi tìm kiếm như vậy thì các ông Ngô Minh Chiêu, Phạm Công Tắc v.v… đã được tiếp xúc với thế giới vô hình mà quan trọng nhất là gặp gỡ đấng chúa tể càn khôn. Thế nhưng với ông Chiêu, Ngài xưng là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, còn với quí ông Cư, Tắc, Sang thì xưng là A.Ă. .Câu chuyện cho đến đây chúng ta vẫn hiểu theo nghĩa thông thường, tức là hiểu bằng đầu óc lý luận. Thế nhưng cũng chính đầu óc lý luận đã đưa ta đến những thắc mắc:

· Tại sao đấng Tối Cao Tối Trọng với quyền phép vô biên lại không chọn cách giáng thếnào cho vinh diệu, mà lại chọn cầu cơ, xây bàn là hình thức vẫn được cho làđồng bóng, mê tín ?

· Tại sao lúc đầu lại xưng danh khác nhau chứ không xưng ngay là Đức Thượng Đế hayĐức Chúa Trời ?

· Tại sao không giáng trần bằng thể xác mà lại thông qua cơ bút ?

Đối với thắc mắc thứ nhất, có thể dùng so sánhđể hiểu. Từ xưa, các bậc giáo chủ đã từng có những hành động tương tự. Chúa Giê-su được sinh ra trong máng cỏ, Phật Thích Ca chọn Linh Thứu sơn là nơi cư ngụ của bầy diều hâu chuyên ăn xác chết để nói Pháp Đại Thừa, Thánh Pierre giảng đạo trong nghĩa địa thành Roma. Phương tiện đâu có gì là quan trọng. Cây đàn dù thô sơ nhưng trong tay của nghệ sĩ tài hoa sẽ trỗi lên cung bậc thần kì. Hình thức tuy mê tín tầm thường, nhưng triết lý lại thâm sâu mới thu phục được những bậc trí thức đa văn thời đó. Hiểu như vậy cũng được. Tuy thế vẫn còn một điều khác bí hiểm hơn, thâm sâu hơn. Đó là Bí Pháp. Từ tối cao đến tầm thường có một khoảng cách. Đó là khoảng cách của suy luận. Giữa CAO và THẤP, TỐT và XẤU thì ai cũng vui lòng với CAO, TỐT và sẳn lòng chối bỏ điều ngược lại. Đức Chí Tôn trong bài học đầu tiên đã dạy con người rằng ĐẠO nằm ngoài suy luận. Điều phi thường nằm trong cái tầm thường; thiên đàng ở tại trần gian. Những nghịch lý ấy nhằm đưa con người ra khỏi vòng suy luận. Kể cả cầu cơ, chấp bút cũng là một thực tế nằm ngoài suy luận (điều này sẽ được bàn riêng ở phần sau). Đó chính là nguyên tắc vận chuyển vũ trụ mà chính Đức Thượng Đế cũng phải thực hiện. Vì vậy giáng trần dưới hình thức cao sang để chìu lòng phàm phu chỉ là xác nhận cái hình ảnh Thượng Đế mà họ tưởng tượng ra thôi. Con người nói chung bằng đầu óc suy luận luôn nghĩ rằng Đức Thượng Đế, Chân Lý, Thực Tại, Phật hay là gì gì đi nữa phải khác với những sự vật tầm thường quanh họ; nên họ dù không biết Thượng Đế, Chân Lý là gì nhưng vẫn khăng khăng đi tìm ởnơi xa lạ. Kẻ thì bỏ nhà cửa lên núi, người lại tạo ra những lối sống quái lạ,để rồi nếu họ không lẩn quẩn dò tìm thì cũng gây ra hiểu lầm đối chọi. Thế cho nên khi các vị Chiêu, Cư, Tắc, Sang chán ngán cuộc đời đi tìm cái-ngoài-cuộc-đời thì ĐCT dẫn họ trở lại cuộc đời. Chính ở nơi tầm thường giả tạo ấy, họ sẽ tìm thấy và xây dựng sự trường tồn. Đó là một nền tôn giáo mới cho toàn nhân loại.

Với thắc mắc thứ hai, kể cũng có phần kỳ lạ vì trong các tôn giáo có sẳn, danh xưng của đấng tối cao thường cố định không đổi:Đức Chúa Trời, Đức Jehovah, Thánh Allah, Đạo, Phật A Di Đà…. Nhưng trong đạo Cao Đài, ngay từ đầu Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã xưng hai danh hiệu khác nhau:”Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” với ông Chiêu. Và A.Ă. với các ông Cư, Tắc, Sang. Và khi qui tụ đủ 12 đệ tử vào đầu năm 1926 thì danh xưng chính thức là “Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma HaTát Giáo Đạo Nam Phương”. Có thể hiểu điều này tượng trưng cho tôn chỉ hiệp nhất các niềm tin. Con người đều tin tưởng là có một đấng tối cao chi phối, hướng dẫn đời sống của mình và phán đoán các hành vi trong đời sống thường nhật. Nhưng tùy vào điều kiện sống, tính chất đặc thù dân tộc mà họ đặt tên nguyên lý tối cao ấy khác nhau. Ngay từ thuở xa xưa loài người vẫn bị nguyên lý sâu thẳmấy thôi thúc đi tìm CHÂN THIỆN MĨ. Niềm tin vào nguyên lý ấy vốn không khác biệt . Chỉ khi con người đặt tên gọi thì nguyên lý ấy bắt đầu mang những nhãn hiệu khác nhau; lúc ấy những nhãn hiệu quay ra chống lẫn nhau và lôi theo con người vào cuộc .” Chúa của tôi” dĩ nhiên phải khác “Chúa của bạn “, và điều khác biệt ấy được con người giải quyết bằng tranh cãi, xung đột, chém giết. Những tên gọi ấy không những có trong lĩnh vực tôn giáo mà còn hiện diện khắp nơi như “lý- tưởng- của- tôi”, “dân- tộc- của- tôi”, “quan- niệm- của-tôi”,v.v….Vì vậy xung đột lan tràn khắp thế giới . Thế giới càng văn minh, càng có nhiều phát minh phục vụ con người thì các tên gọi ấy càng phát sinh, xungđột càng sâu sắc. Điều này đã được chứng minh ngoạn mục qua các cuộc chiến hiện nay trên khắp thế giới ở Bosnia, ở Nga, ở Trung Đông,châu Phi,…với mức độ dã man mất hẳn tính người không thua gì các cuộc chiến trong các thời kì mà con người vẫn cho là thiếu văn minh. Để dẫn dắt con người ra khỏi xung đột, Đức Thượng Đế đến với loài người bằng những tên gọi mà loài người đã đặt ra. Loài người muốn gọi Thượng Đế là gì thì ngài xưng như vậy. Không phải chỉ riêng có trường hợp của ông Ngô Minh Chiêu và các ông Cư, Tắc, Sang, sau này Đức Chí Tôn còn nhiều danh hiệu khác như :

· Ngày 7/4/1926

Nhiên Đăng Cổ Phật thị ngã

Thích Ca Mâu Ni thị ngã

Thái Thượng Ngươn Thỉ thị ngã

kim viết Cao Đài

· Ngày 21/9/1926

Thích Ca Mâu Ni Phật viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

· Ngày 5/6/1926

Thích Ca Như Lai thị ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Đài Đại Bồ Tát

· Ngày 28/10/1926

Dieu Tout puissant quivient sous le nom de CaoĐai pour dire la Vérité en Annam.

……………………………

Tất cả những tên gọi ấy sau cùng được qui nhập dưới một danh hiệu Cao Đài. Đó cũng là một bài học nữa cho nhân loại, kêu gọi nhân loại kết hợp lại, vì những khác biệt hiện nay về mặt tư tưởng chỉ là những khác biệt của tên gọi. Nhìn thấy khác biệt ấy thì mọi xung đột sẽ được xóa bỏ,từ đó con người mới biết chia xẻ, nhường nhịn, giúp đỡ nhau cùng sống hoà bình. Về mặt Bí Pháp, sự kiện nói trên mang một ý nghĩa tiềm ẩn và, phải chăng mang cả một lời tiên tri ?! Thượng Đế hay chân lý tuyệt đối ở cõi vô hình vốn có một nhưng khi hóa thân vào thế giới hữu hình thì biến dạng vô số. Cái KHÔNG-QUAN-NIỆM-ĐƯỢC khi thành cái QUAN-NIỆM-ĐƯỢC thì quan niệm thế nào cũngđược. Trong cái KHÔNG có vô số cái CÓ. Nói như vậy không phải là chơi chữ, gây khó hiểu mà đó chỉ là cách nói tất yếu khi dùng cái QUAN-NIỆM-ĐƯỢC để quan niệm cái KHÔNG-QUAN-NIỆM-ĐƯỢC. Dùng Thể Pháp để ấn định nghĩa của Bí Pháp thì ThểPháp ấy trở thành kì dị lạ lùng. Đi xuôi thì Thái Cực biến Lưỡng Nghi biến TứTượng biến Bát Quái. Đi ngược lại thì cái vô-số-lung-tung-rắc-rối của sự đời vốn có một. Đi ngược lại là phản bổn hườn nguyên, là tiến trình tu tập để con người về với Đức Chí Tôn. Nói cho dễ hiểu thì con người muốn về với Đức Chí Tôn trước hết phải có cái nhìn trí huệ, tức là phải nhìn ra mình không khác mọi người. Như vậy xung đột với mọi người tức là xung đột với chính mình. Điều này giống như lục tổ Huệ Năng khi gặp hai nhà sư cãi nhau. Người thì bảo phướnđộng, kẻ thì bảo gió động. Lục tổ chỉ ngay: “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động mà là tâm nhơn giả động”. Điều chính yếu là hai nhà sư cãi nhau, chứgió động hay phướn động thì có gì là quan trọng ? Hiện tượng tự nó chẳng xungđột với ai cả, chỉ có hai nhà sư đặt tên cho hiện tượng ấy khác nhau rồi cãi nhau thôi.

Trong đạo CĐ có một câu chuyện khác ngược lại với ý trên nhưng cũng minh họa cho điều ấy. Khi ông Phạm công Tắc và Cao Quỳnh Cư xin Đức Chí Tôn cho biểu tượng để thờthì ngài bảo ”Các con muốn thờ Thầy thế nào thì mỗi đứa cứ vẽ ra sẽ thấy”. Khi hai ông đem bản vẽ của mình ra so sánh thì kì lạ thay, cả hai đều là hình vẽmột con mắt bên trái. Hai ông hỏi nhau vì sao vẽ như thế, ông Phạm Công Tắc trảlời ”Mắt là cửa sổ của tâm hồn” còn ông Cao Quỳnh Cư lý luận “Trời cao có mắt”.Đây là tiến trình nghịch lại. Từ hai quan điểm khác nhau ở thế giới phàm tục hai ông nhìn về chân lý tuyệt đối thì cùng nhận ra đó chỉ là một. Còn kì lạ hơn nữa khi Đức Chí Tôn bảo hai ông đến gặp ông Chiêu thì cũng thấy biểu tượng thờThiên Nhãn của ông Chiêu giống như bản vẽ của mình. Đến đây thiết tưởng có thểnêu một câu hỏi nhỏ: phải chăng thu nhận ông Chiêu riêng, nhóm các ông Cư, Tắc, Sang riêng là lời tiên tri của Đức Chí Tôn ?. Ông Chiêu được dự kiến làm Giáo Tông, chưởng quản Cửu Trùng Đài, tức là tượng trưng thể xác. Các ông Cư, Tắc, Sang dự kiến là Thượng Phẩm, Hộ Pháp, Thượng Sanh, chưởng quản Hiệp Thiên Đài tức là tượng trưng tinh thần. Tinh thần phải hợp với thể xác mới dọn đường vềvới Đức Chí Tôn, nhưng khi về với Đức Chí Tôn thì chỉ còn lại có tinh thần. Dođó khi khai đạo xong ông Chiêu tách riêng ra để lo tịnh luyện. Mọi diễn tiến ấyđã làm rõ điều tiên tri. Đó là qui luật chứ không phải ngẫu nhiên như vẫn tưởng. Đức Chí Tôn thường dạy: “Mọi việcđều đã được định trước”. Hiểu như vậy thì mới hết thắc mắc tại sao Đức Chí Tôn với quyền năng vô đối lại không ngăn ông Chiêu tách riêng trong khi vẫn dạy chúng ta phải hiệp lại làm một.

Đến đây thử xét thắc mắc thứ ba. Từ ngàn xưa Đức Chí Tôn đã giáng trần nhiều lần để lập đạo. Ngài đến với nhân loại bằng một xác thân hữu hình giống như chúng ta. Cũng sống, cũng ăn, cũng mặc, rồi già, rồi chết. Chỉ khác là những bậc vĩ nhân giáo chủ ấy không bon chen danh lợi, suốt cuộc đời chỉ lo toan làm thế nào để dạy dỗ con người sống hiền hòa lương thiện. Qua Thánh ngôn ta có thể thấy rõ điều này:

Noel 1925 - “Đêm nay, 24 Decémbre, phải vui mừng vì là ngày ta xuống trần dạy đạo bên thái tây (Europe)“.

30/5/1926 - “Từ trước ta giáng sanh lập Phật giáo gần 6000 năm thì Phật Đạo chánh truyền gần thay đổi “

15/8/1926 - “Khi giáng trần Chí Tôn Phật Tổ ,Thầy dạy đặng bốn môn đệ. Chúng nó đều chối Thầy. Khi giáng lập đạo Tiên, Thầy có một trò là Ngươn Thỉ. Khi lập đạo Thánh, thì đặng mười hai môn đệ. Song đến khi bị bắt hành hình, chúng nó đều trốn hết, lại còn bán xác Thầy.”

Nay lần thứ ba, ĐCT giáng trần và long trọng tuyên bố :

24/4/1926 -“Lại nữa, trước Thầy giao chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa chánh giáo, biến ra phàm giáo….Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa.”

30/5/1926 -“Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáođạo chớ không giáng sanh nữa để chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn.”

Qua Thánh ngôn và hiểu theo suy luận, có thể nói rằng Đức Chí Tôn giáng trần để chỉnh đốn lại các tôn giáo, vì bây giờ các tôn giáo đã biến dạng quá nhiều so với lúc đầu. Điều này cũng dễ hiểu. Một lời nói dễ hiểu truyền đi qua quá nhiều người trung gian cũng phải sai lạc, nói chi đến vô thượng thậm thâm vi diệu pháp. Tam sao thất bổn là điều không thể tránh khỏi. Hơn nữa các bậc giáo chủ khi dạy đạo phần lớn dùng lời nói. Loại ngôn ngữnày không những biểu đạt bằng âm thanh mà còn kết hợp với cử chỉ, nét mặt, dáng vẻ. Đến bây giờ người ta học đạo qua ngôn ngữ viết lưu truyền trong các tạng kinh là chính. Ngôn ngữ viết là những hình vẽ cứng chết, khó lòng truyền đạt hết yếu tố tinh thần của triết lý. Ấy là chưa kể hình thức ngôn ngữ để biểu đạt không còn dễ hiểu cho những thế hệ ngày nay. Do đó, mức tác động vào tâm hồn người suy giảm. Những tác động đến mức gây rung động trong lòng người mà người xưa gọi là truyền tâm ấn không còn nữa. Thêm vào đó từ ngữ của các bậc giác ngộthích hợp ở thời điểm và tâm trạng lúc đó. Nghĩa là đã quá xa xưa đến độ trong thời đại hiện nay không làm sao hiểu nổi. Rồi còn phải kể đến các bậc trí giảthế hệ tiếp sau chú giải thêm. Điều này không tránh khỏi ý riêng của người giải thích xen vào. Dòng suối uyên nguyên tận nguồn không khỏi lôi cuốn theo tạp vật, cho nên khi về đến bình nguyên sẽ chở nặng phù sa. Còn chúng ta, người ởbình nguyên, uống nước phù sa mà lòng mơ tưởng suối nguồn. Bây giờ Đức Chí Tônđem nước suối nguồn về bình nguyên. Lúc nào bậc đại giáo chủ muôn đời ấy cũng ởcạnh chúng ta . Lúc nào, qua các thể pháp thông công, chúng ta cũng có thể học hỏi được nơi Ngài. Ngài không còn cách biệt chúng ta bởi cái chết nữa. Ngay trong cuộc sống đã có minh chứng hùng hồn là Ngài hiện hữu, là có thế giới siêu hình để từ đó lòng tin của nhân loại được cũng cố bền vững.

Đấy là suy luận. Nhưng dưới con mắt Bí Pháp thì Thể Pháp ấy ngụ ý gì ? Chúng ta hãy xem trích Thánh ngôn:

25/2/1926

…Thầy đến đặng hườn nguyên chơn thần cho các conđắc đạo…

7/4/1926

… Muốn trọn hai chữ phổ độ phải làm thế nào ? Thầy hỏi ? Phải bày bửu pháp chớ không đặng dấu nữa.

24/41926

Chẳng một ai dưới thế này đặng phép nói rằng thếquyền cho thầy mà trị phần hồn của nhân loại…

4/8/1926

Thầy đến chuyển đạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý; hữu hình thì bị diệt đặng chớ vô vi chẳng thế nào diệtđặng…

Hiển nhiên, muốn cứu nhân loại (phổ độ) Đức Chí Tôn dạy chúng ta cách thức tu tập (bày bửu pháp) . “Phép quí” ấy ở đâu? Qua thểpháp. Nói khác đi qua tất cả các hiện tượng thấy, nghe, đọc được. Qua Thánh ngôn, qua kiến trúc đền thánh, cách cúng lạy…Vấn đề còn lại là có thấy, hiểu và thực hành hay không. Và, như đã phân tích, hiểu có khi bằng suy luận, có khi phải hiểu bằng trí Bát Nhã, tức là trí huệ. Suy luận là Lưỡng Nghi, Trí huệ là Thái Cực. Khi thì Lưỡng Nghi , khi thì Thái Cực biến hoá khôn lường, không hềtĩnh chết. Rõ là khó !!! Thế nhưng “phép quí” đâu có thể là một phương pháp dễdàng được.

Suy từ phần Thánh ngôn trích dẫn thì Đức Chí Tôn làm chủ phần siêu hình, tức là ngự tại Bát Quái Đài. Từ Bát Quái Đài, Đức Chí Tôn hườn nguyên chơn thần cho người tu học đắc đạo. Nếu giáng trần bằng xác phàm thì quyền “trị hồn” hay “hườn nguyên chơn thần” nằm trong tay xác phàm, tức là hữu hình hay xác thịt làm chủ. Mà xác thịt làm chủ thì chơn thần hườn nguyên ấy cũng là xác thịt. Người tu học ai cũng thừa biết khi xác thịt làm chủthì việc gì sẽ xảy ra. Vậy “ Đức Chí Tôn không giáng trần bằng xác thịt “ là một lời giáo huấn nữa đối với chúng ta. Muốn đắc đạo, đoạt pháp, kiến tánh, tri kiến Như lai hay giải thoát gì gì đi nữa cần phải có chơn thần mà Đức Chí Tôn hoàn nguyên cho. Chơn thần do Đức Chí Tôn ngự ở cõi vô hình ban, nên vượt ngoài khả năng hiểu biết qua kinh nghiệm của con người. Thế có nghĩa là trong quá trình tu tập khi thấy có ấn chứng, chúng nghiệm, kết quả, hay cảm ứng gì gì đó; thì đó cũng chỉ là điều tưởng tượng ra thôi. Người tu học nào thấy ấn chứng thì người ấy vẫn còn trong trạng thái suy luận. Chơn thần đạt được chỉ là tôi tớcủa Đức Chí Tôn nhỏ bé mà loài người vẽ nên. Cũng không ai ở trần gian có quyền xác định người này người kia thành đạo dù người ấy có minh triết siêu phàm đếnđâu đi nữa. Tất cả đều phải tự lập vị mình. Đạt đạo hay không chỉ có Đức Chí Tôn mới định được. Hiểu được như vậy thì cứ theo lời Thầy dạy mà tiến bước, không trông mong hoài vọng đến Niết Bàn, giải thoát gì cả. Việc ấy đã có Đức Chí Tôn lo. Tưởng như vậy cũng giải thoát một điều, ấy là lòng mong cầu được giải thoát. Đây cũng là một điều thú vị, từ ngàn xưa con người đã quen với lý luận này: tu thì có đắc, sửa lòng thì về được Niết Bàn, bố thí thì có âm chất.Đắc thì có quả to quả nhỏ, Niết Bàn thì có cao thấp, âm chất thì có nhiều có ít. Như vậy tức là hướng về một mục tiêu, cái sở đắc, chỗ đạt được. Còn lòng mong cầu đạt được là còn mắc vào vòng suy luận nhị nguyên. Đức Chí Tôn dạy người tu học hướng về mục tiêu phi mục tiêu, đắc vô sở đắc. Rõ hơn nữa là có Niết Bàn nhưng không thể dùng suy luận để ấn định được. Có mà không, không mà có. “Thiên thai nào phải trần này. Chẳng phải giữa trời chẳng phải mây “. Tu học với sự thấy biết như thế không phải là một việc làm không mục đích, không ý nghĩa mà là tu học với tinh thần thoải mái, không ganh tị, không tính toán, không có hồi kết thúc. Hành động ấy mới thực sự là hành động xuất phát từ trí huệ.

Bây giờ quay lại với câu chuyện mở đạo. Theo lời dạy của Đức Chí Tôn (AĂÂ) ba ông Cư, Tắc, Sang lập tiệc chay gọi là hội yến Diêu Trì đãi Đức Phật Mẫu và chín vị tiên nương ở Diêu Tŕ cung. Tiệc xong, hai ông Cư -Tắc hỏi Đức AĂÂ :

· Khi nãy Diêu Trì Cung đến có ngài ở đó không ?

· Có chớ. Ta ở đây từ ban sơ đến giờ

· Ngài có thấy Diêu trì Cung đấy không ?

· Có chớ. Chính mình ta tiếp đãi.

· Diêu Trì Cung có thấy ngài không ?

· Không ngó thấy.

· Sao vậy ?

· Ta dùng phép ẩn thân.

· Nhưem gái tôi là Thất Nương Diêu Trì Cung có thể đoạt đặng ( phép ẩn thân) chăng ?

· Đoạtđặng.

· Phải làm sao ?

· Phải tu, bằng không tu thì không đoạt

· Tu chừng bao lâu thì mới đoạt đặng ?

· …….(không trả lời ).

Sau sự kiện này ít lâu thì bà Cửu Thiên Huyền Nữdạy ba ông vọng thiên cầu đạo.

Tiệc chay không lạ. Phần lớn người Việt vẫn đãi tiệc ( cúng ) người ở thế giới vô hình vào dịp giỗ, cúng cô hồn….Điều lạ nằm ởmẫu đối thoại sau đó. Tại sao đức AĂÂ lại ẩn thân khi tiếp đãi Diêu Trì Cung ? Phật Mẫu và chín vị Tiên Nương là ai ? Có quyền năng thế nào ? Tại sao một buổi tiệc đơn sơ như vậy lại trở thành một thánh lễ lớn hàng năm trong đạo Cao Đài ? Lại nữa, Hộ Pháp tuyên bố đây là bí pháp Đức Chí Tôn để lại thế gian. Tại sao sau đó ba ông Cư, Tắc, Sang phải vọng thiên cầu đạo ?

Trước hết, hãy tìm hiểu về Phật Mẫu và Cửu vịTiên Nương. Qua cơ bút, danh xưng đầy đủ của Phật Mẫu là “TẠO HÓA HUYỀN THIÊN DIÊU TRÌ KIM MẪU “ và cửu nương là “TẠO HÓA HUYỀN THIÊN CỬU VỊ NỮ PHẬT “. Phật Mẫu chưởng quản cung Diêu Trì ở tầng trời tạo hóa, dưới quyền là chín vị nữ Phật coi sóc những công việc riêng biệt. Phật Mẫu làm chủ âm quang. Tạo Hóa Thiên có chức năng quyết định sự sống muôn loài về mặt vật chất. Nơi nào có sự sống là có Phật Mẫu. Thánh ngôn của Bát Nương dạy, ví âm quang như noãn sào của phụ nữ. Có thể xem âm quang hay Tạo Hóa Thiên là nơi thiết kế, lập chương trình sống cho muôn vật. Đây là một trong những đặc sắc của Cao Đài. Trong học thuyết của các tôn giáo đương đại, Phật Mẫu thường được đề cập dưới những tên gọi Đức Mẹ, Trạch Mẫu, Thiếu Âm….nhưng tất cả chỉ như một bóng mờ trong triết lý vốn được các tôn giáo ấy dành trọn cho Đức Chí Tôn. Trong Cao Đài Phật Mẫu được thờ riêng ở các Điện Thờ Phật Mẫu cùng với chín vị Tiên Nương. Nơi điện thờ Mẹ mọi người đều phải mặc áo dài trắng, kể cả các chức sắc; nghĩa là không phân biệt phẩm cấp cao thấp. Khi cúng, làm lễ thì đều có các bài kinh và bài thài dành riêng. Và hằng năm, hội yến Diêu Trì là một trong những đại lễ có số tín đồ qui tụ về đền thánh đôngđảo nhất. Rõ ràng, xét về mặt nghi thức tế tự. Phật Mẫu được tín ngưỡng ở một cấp độ quan trọng khác thường so với các tôn giáo đã có từ trước. Tới đây, có lẽ cũng nên học biết về cửu vị nữ Phật trước khi đi xa hơn vào thể pháp huyền diệu này.

· Nhứt Nương: Vị nữ Phật giữ cây đàn tỳ bà và trông coi vườn Ngạn Uyển. Theo thánh giáo, mỗi đoá hoa trong vườn là một chơn linh tại thế. Hoa nở khi chơn linh bắt đầu cuộc sống và hoa tàn khi chơn linhấy bỏ xác phàm trở về cảnh thiêng liêng hằng sống.

· NhịNương: giữ lư hương, trông coi vườn đào của Tây Vương Mẫu.

· Tam Nương: giữ long tu phiến, tiếp rước các chơn linh khi về đến cõi Thanh Thiên.

· TứNương : giữ kim bảng, trông coi việc khoa bảng tại thế và tiếp rước các chơn linh khi về đến cõi Huỳnh Thiên.

· NgũNương: giữ Như Ý, tiếp rước các chơn linh khi về đến cõi Xích Thiên.

· Lục Nương: giữ phướn Tiêu Diêu, tiếp rước các chơn linh khi về đến cõi Kim Quang.

· Thất Nương: giữ hoa sen trắng, tiếp rước các chơn linh khi về đến cõi Hạo Nhiên Thiên. Ngoài ra còn giữ nhiệm vụ dạy dỗcác chơn hồn bị luyện tội ở cõi Âm Quang.

· Bát Nương: giữ giỏ hoa lam, tiếp rước các chơn linh khi về đến cõi Phi Tưởng Thiên.

· Cửu Nương: giữ ống tiêu, tiếp rước các chơn linh khi về đến cõi Tạo Hoá Thiên dựtiệc bàn đào (hội yến Diêu Trì)

Theo lời thuyết đạo của Đức Hộ Pháp, các chơn linh dự tiệc bàn đào; gọi là nhập tịch rồi mới được vào cõi Cực Lạc quốc, tức là cõi Hư Vô Cao Thiên, Hội Ngươn Thiên và Thượng Thiên Hỗn Ngươn. Đấy là một thông tin nữa về cõi siêu hình, cõi thiêng liêng hằng sống. Thông tin này bất khả tư nghị. Đối với huyền học thì chỉ có tin và không tin chứ không có suy lý phân tích. Dĩ nhiên sẽ có phản biện rằng tin mà không suy lý là cuồng tín. Nhưng nếu suy lý thì có lý nào để mà suy ? Suy lý về điều không thể suy lý, lấyđiều-biết-được so sánh với điều-không-biết-được thì không thể nào biết được. Thông tin này đưa lý trí con người đến chỗ cùng lý và là một thách đố vượt ngoài sức con người về mặt tin tưởng. Tin hay không tin ? Trí não con người lâm vào một thế đứng cheo leo vực thẳm. Chỉ có người thấu hiểu bằng cả thể xác lẫn tinh thần rằng tin hoặc không tin chẳng khác gì nhau mới giải mã được thông tin này. Thông tin ấy dành riêng và chỉ dành riêng cho trí huệ.

Xét thêm về khía cạnh nhân văn học, Cao Đài giáo lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo thể chế hóa sự tin tưởng Phật Mẫu. Niềm tin ấy từ lâu đã bàng bạc trong nhân loại từ Đông sang Tây. Từ thô sơ đến phức tạp, con người đã tin tưởng vào Phật Mẫu qua các hình thức tế tự và các hình tượng khác nhau. Từ hình thức thờ cúng các bộ phận sinh dục nam nữ, đến các tượng nữ thần, đến Đức mẹ đồng trinh , bà mẹ sanh, bà cô , mụ bà… Nhân loạiđã từ lâu lắm rồi khao khát được phượng thờ một sức mạnh khác với sức mạnh của hóa công. Sức mạnh của hóa công có tính mạnh mẽ, uy lực, vô tư vốn chỉ đáp ứngđược ước vọng của con người về mặt lý trí. Nhưng đối với tình cảm, xúc động của con người lại cần có một yếu tố khác êm dịu, trìu mến hơn. Đó là lý do con người phượng thờ Phật Mẫu. Thế nhưng tín ngưỡng ấy không được nâng lên hàng một tôn giáo mà chỉ rải rác ở một số đền thờ, miếu, am. Chính Cao Đài giáo đã đưa hình tượng Phật Mẫu vào học thuyết tôn giáo của mình và giải rõ chức năng, vị trí của Phật Mẫu. Đồng thời, Cao Đài giáo xác lập ba chức năng tách bạch: quyền lực Đức Chí Tôn, quyền lực Phật Mẫu, và quyền lực của trí não con người. Thể pháp Hội Yến Diêu Trì mang một Bí Pháp trọng đại là biểu đạt mối tương quan của ba quyền lực này. Hiểu được tương quan này là thấy được con đường mà người tu học phải dấn bước.

Như đã nêu, Đức Chí Tôn làm chủ Dương Quang, làm chủ phần linh hồn. Linh hồn vốn hằng sống; linh hồn là siêu-thể-nằm-ngoài-hiểu-biết-của-trí-não. Sức mạnh của Đức Chí Tôn là sự thúc đẩy mãnh liệt của ước vọng tiến hóa đến sựtoàn hảo. Do đó các chơn linh luôn luôn phải luân hồi vô số lần để đạt được CHÂN, THIỆN, MỸ. Luân hồi nghĩa là chơn linh phải biến thành thể xác; siêu thểbiến thành vật thể. Quá trình biến siêu thể thành vật thể chính là sự vận động của Âm Quang. Nói cho dễ hiểu theo ngôn ngữ nhị nguyên là “Phật Mẫu sản sinh ra phần xác thịt của vạn loại trong đó có con người”. Khi đã là vật chất thì phải chịu tác động của quy luật sinh tử, tức qui luật nhị nguyên. Có sinh ắt có tử,hễ tử thì hồi, rồi lại sinh tử vô tận. Vạn loại cứ thế mà sinh diệt trong bánh xe pháp luân thường chuyển vĩ đại cho đến khi một chơn linh nào đó đoạt được sức mạnh vạn năng, chơn linh ấy sẽ rời khỏi vòng quay vô tận đó. Sự việc đếnđây chưa kết thúc mà chơn linh ấy lại biến hóa trong khối hỗn độn theo quy luật Thái Cực biến Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái để tạo lập một vũ trụ khác và khởiđầu cho một quá trình pháp luân thường chuyển khác nữa. Như vậy vũ trụ có tính thường biến và tính chất thường biến ấy bất biến; sinh diệt ấy bất sinh diệt; thủy và chung vốn vô thủy vô chung. Trí não suy lý và công cụ của nó là ngôn ngữ và văn tự đến chỗ này là mức giới hạn. Muốn đi xa hơn nữa phải dùng thuyền Bát Nhã, tức là Trí Huệ.

Nhưng hãy quay lại với mối tương quan giữa Đức Chí Tôn và Phật Mẫu. Chơn linh- tức là một phần của Đức Chí Tôn- phải nương vào xác thịt- tức là một phần của Phật Mẫu- để luân hồi tiến hóa. Cái-hằng-hữu phải có cái-sinh-diệt làm giá mang thì mới có thể vận động.Nhưng cái-hằng-hữu hay chơn linh không quy luật làm sao phối hợp với cái-sinh-diệt tức là thể xác có quy luật ? Hai quyền lực này vốn cách biệt nhau, nên khi Đức Chí Tôn tiếp Diêu Trì Cung thì ngài dùng phép ẩn thân. Rõ ràng hai quyền lực này chỉ có thể phối hợp qua một trung gian.Đức Chí Tôn ra lệnh ba ông Cư-Tắc-Sang làm tiệc đãi Diêu Trì Cung. Rồi Phật Mẫu ra lệnh ba ông Cư-Tắc-Sang vọng thiên cầu đạo. Vậy ba ông là trung gian. Lại nữa, các ông về sau chưởng quản Hiệp Thiên Đài. Vậy Hiệp Thiên Đài làm trung gian cho hai quyền lực Cửu Trùng Đài và Bát Quát Đài. Nói khác đi trí não là trung gian, là nõi hội tụ của linh hồn và thể xác.

Đã từ lâu lắm rồi ba quyền ấy nằm ba nơi rời rã. Chơn thần bị thiên đình đánh tản. Trí não bị thất tình lục dục che mờ nên bơthờ không sáng suốt. Xác thịt hợp tan, tan hợp theo qui luật của Phật Mẫu giống như một cái máy tự động vận hành theo một chương trình gài sẳn. Con người sống như cái máy nên không có tình yêu. Thậm chí vì lầm lạc mà trí não quay ra chìu chuộng xác thân, lo nuôi dưỡng xác thân rồi bảo đó là hạnh phúc. Nhưng xác thân vẫn lạnh lùng theo qui luật riêng của nó. Đau ốm, đói khát rồi tử vong. Trí não nào có bao giờ tự chủ được các vận động ấy. Chơn linh dù cao trọng đến đâu khi giáng phàm cũng phải mang xác thân như nhau, chịu qui luật sinh diệt như nhau; do đó mọi chức sắc khi vào cúng ở Báo Ân Từ đều phải mặc áo dài trắng giống nhau. Nếu trí não tán loạn, mơ hồ thì chơn linh ấy không sao phối hợp được với thể xác. Chỉ đến khi nào ba quyền năng phối hợp thì mới đạt được trạng thái đắc Đạo.

Đức AĂÂ ra lịnh cho các ông Cư-Tắc Sang làm tiệcđãi Diêu Trì Cung là thông tin của chơn linh gởi cho trí não. Phật Mẫu ra lịnh các ông Cư-Tắc-Sang vọng thiên cầu Đạo là thông tin của xác thân gởi cho trí não. Thông tin từ chơn linh đến trí não hàm ý đánh thức sự mê lầm ngàn đời của trí não cho rằng xác thân là quan trọng nhất, là ông chủ, là cái mà trí não phải tìm mọi cách phục vụ. Xác thân sinh hoạt theo lịnh của Phật Mẫu, nên dù có phục vụ hay bạc đãi nó cũng không gây được ảnh hưởng nào vào quá trình sinh diệt ấy. Quan niệm “cải lão hoàn đồng”,“trường sinh bất tử” mà từ ngàn xưa con người ra công thực hiện và vẫn còn đang theo đuổi chỉ là ảo tưởng. Hội Yến Diêu Trì về mặt bí pháp là sự phối hợp của trí não và xác thân, là tiếng gọi yêu thương của Mẹ vĩnh cửu với trí não nhân loại. Không những Mẹ chỉ cho các con thấy qui luật của sinh diệt mà Mẹ còn giao cho các con quyền ấy. Chỉ cần trí não nhận ra điều ấy là sẽ thoát khỏi mọi tham lam ích kỷ và trở nên sáng suốt. Lúc đó trí não và xác thân sẽ phối hợp dễ dàng và tạo ra sức mạnh to lớn. Chính lúc ấy ba quyền năng sẽ hiệp một, tức Mẹ dạy ba ông Cư-Tắc-Sang vọng thiên cầu đạo.

Bây giờ chúng ta luận đến một hiện tượng kì lạ nữa trong thể pháp khai đạo: đêm 14 rạng 15 tháng 10 năm Bính Dần (18/11/1926) là đêm tổ chức khánh thành thánh thất ởTừ Lâm Tự. Trước một số quan khách Pháp-Việt rất đông đã xảy ra một việc: ông Lê Thế Vĩnh và cô Vương Thanh Chi lên đồng, xưng là Tề Thiên Đại Thánh và Phật Quan Âm rồi cùng nhau nhảy múa làm cho không khí buổi lễ náo loạn và một số tínđồ chán nản bỏ ra về.

Cứ theo suy luận nhị nguyên mà nói, một nền đạiđạo khai sáng cho vạn loại ở địa cầu 68 này- nền đạo có phạm vi thời gian đến bảy ức năm, được đấng chúa tể càn khôn đích thân mở ra và chỉ trong một thời gian ngắn đã thu hút một số tín đồ đông đảo, đồng thời thu hút mọi chú ý của công luận- thì buổi lễ khai đạo phải và chắc chắn phải là một sự kiện tối quan trọng. Mọi người đến dự lễ dù là tín đồ hay quan khách ngoại đạo đều muốn thấy một hiện tượng huyền diệu nào đó. Tín đồ thì tự hào hãnh diện với mọi người; kẻngoại đạo thì thỏa được óc tò mò .Từ đó, những công kích dèm pha sẽ giảm xuống, tạo điều kiện cho một sự phát triển mạnh mẽ. Thầy là “Ông Trời” còn đệ tử là những bậc trí giả. Niềm tin to lớn biết bao ! Nhưng cái lâu đài niềm tin uy nghi hùng vĩ ấy đã đổsập dễ dàng vì một nhát búa chí tử. Huyền diệu là đây sao ? Hai ông bà đồng cốt nhảy múa và phát ngôn mạo phạm. Đạo Cao Đài té ra là bóng chàng, mê tín nhảm nhí ! Các tín đồ mang nặng một vết thương khó nguôi ngoai, kẻ ngoại đạo búng tay cười khẩy. Cảnh huống ấy, dù muốn có hay không có, đã là một thực tếvà đã đi vào sử đạo. Hệ quả cụ thể trước mắt là hòa thượng Như Nhãn, người tình nguyện hiến chùa làm thánh thất đầu tiên, một nhà Phật học uyên thâm và đã đượcĐức Chí Tôn phong vị Thái Chưởng Pháp, lên tiếng đòi chùa lại. Một đòn đánh nữa rất đau vào vết thương chưa lành ! Sau đó đã có nhiều bài thánh ngôn qua cơ bút giải thích hiện tượng trên. Đức Chí Tôn dạy rằng đó là thử thách của các đấng và đã được định trước.

Nếu đó là một thử thách, thì quả là một thửthách khác thường. Trong lịch sử con người, các tôn giáo dù trong giai đoạn sơkhai hay đã phát triển đều phải gánh chịu những thử thách khắc nghiệt. Vô sốThánh tử đạo đã dùng máu và thân xác mình để minh chứng niềm tin. Các giáo chủcũng không ra ngoài lệ ấy. Còn nhớ Chúa Jésu đã kêu vang trong sa mạc “ Cha ơí ! Cha đành bỏ con sao ? “ .Phật Thích Ca cũng bị những người đố kị thả voi sayđịnh giết chết…v.v… Nhưng sự thử thách ây thường có nguồn gốc bên ngoài và thường diễn đến nỗi cổ nhân lưu lại câu “Đạo cao, ma khảo” . Người ta có thểnêu lên nghi vấn chỗ này. Tại sao các tôn giáo vốn dạy con người ăn ở hiền lành, nêu chân lý làm cứu cánh lại luôn luôn bị loài người chống lại ? Phải chăng loài người luôn tàn ác, ích kỉ và chối bỏ chân lý ? Kết luận như thế quảlà có phần khắc nghiệt. Bởi vì càng chống lại thì tôn giáo vẫn phát triển và phát triển lớn mạnh hơn nữa. Đây là một minh chứng tuyệt vời nữa của qui luật nhị nguyên. Có cộng ắt có trừ, có lực ắt có phản lực. Loài người chống lại chân lý trong khi vẫn khát khao chân lý. Những con người ra tay diệt đạo ấy không hềchối bỏ chân lý mà họ chỉ rơi vào vòng lẩn quẩn của qui luật đối đãi mà thôi. Vậy ,dưới ánh sáng của trí huệ, hiện tượng phản khắc ấy chỉ là qui luật, là bí pháp sâu huyền của Đức Chí Tôn khi hiện hữu thành thể pháp.

Lần mở đạo kì ba này lại khác, ngoài sự phản khắc bên ngoài như sự nghi kị của chính quyền thuộc địa, sự chống báng vốn có của kẻ ngoài đạo, còn có lực cản từ bên trong. Không những có dèm pha giữ các tín đồ mà quan trọng hơn cả là sức mạnh của thiêng liêng. Đức Chí Tôn đã từng dạy:

· “Bởi vậy nên Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành…”

· “Những mưu quỉ quyệt ấy do lệnh Thầy dùng để thử các con. Thầy đã nói Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con; nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con…”

Hiển nhiên Đức Chí Tôn vì thương yêu loài người nên khai đạo để cứu vớt nhưng cũng chính Đức Chí Tôn dùng thần lực đập vỡ tác phẩm của mình ngay trong ngày khaiđạo trọng đại. Một việc làm chưa từng có đối với bất kỳ giáo chủ nào trước đây. Thực sự các bậc giáo chủ trước đây cũng thử thách đồ đệ của mình, nhưng so với biến cố ở Từ Lâm Tự của Cao Đài giáo thì chẳng thấm vào đâu. Những con người tuyệt vọng vì bao ngàn năm phải ngụp lặn trong bể khổ, nay vừa thoáng chút vui mừng khi gặp chiếc bè con thì cũng là lúc nhận ra chiếc bè ấy không có chỗ bám víu. Cứu vớt hay không cứu vớt? Trả lời câu hỏi này quả thật là nan giải. Bởi vì vấn đề đã vượt ra ngoài vòng kiểm soát của trí suy luận.

Bây giờ, hãy thử xét biến cố trên qua một lăng kính khác. Trước hết, điểm trọng yếu của vấn đề là niềm tin. Vì có niềm tin con người mới tìm tới Đức Chí Tôn . Vì khao khát chân lý nên khi nghe Đức Chí Tôn giáng trần, các bậc tiền bối trong Cao Đài mới từ bỏ nhà cửa, từ bỏ cuộc sống bình thường theo tiếng gọi cao cả.Tuy nhiên phần lớn chúng ta đi theo Đức Chí Tôn vì muốn được “phò hộ” để giađình làm ăn khá giả, hoặc “ban bố phước lành” để gia đình họ hàng được mạnh khỏe. Nghĩ như vậy thật là ấu trĩ đáng thương, nhưng đó là một sự thật .Cũng có khi mình lắng cõi lòng cho trong sáng rồi tự hỏi : Mình có thật sự cần Đức Chí Tôn không và cần để làm gì ? Câu trả lời có lẽ khá bất ngờ đối với chúng ta : Vì không vừa lòng với cuộc sống hiện tại. Cái-hiện-tại-không-vừa-lòng thúc đẩy con người đi tìm cái-ngoài-hiện-tại-vừa-lòng. Vậy mình đi tìm cái-vừa-lòng chứ đâu đi tìm ThượngĐế ! Cái-vừa-lòng và cái-không-vừa-lòng là chính con người nhỏ bé của chúng tađây. Chúng ta tin chúng ta chứ nào có tin Thượng Đế. Tại Từ Lâm Tự Đức Chí Tônđã đập vỡ cái vỏ bọc giả tạo này. Trong khi mọi người đến dự lễ đều có một hìnhảnh Thượng Đế cao cả quyền phép phi thường nào đó trong đầu, Đức Chí Tôn lại cho xem một hình ảnh đồng cốt kì dị. Hành động này chính là một khẳng định mạnh mẽ nhất, rằng Thượng Đế mà các con nghĩ ra chỉ là chính các con đấy thôi. Điều cao cả các con nghĩ và điều tầm thường các con thấy vốn là một. Vậy các con hãy theo gương thầy, dang tay đập vỡ ảo tượng, tức đập vỡ chính các con thì mới may ra tìm thấy chân lý. Đập vỡ chính mình là một hành động đau đớn mà phàm phu không bao giờ dám nghĩ tới. Nhưng đó chính là bí pháp của thể pháp thử thách khắc nghiệt kia. Đó chính là con đườngđến với niềm tin sau khi niềm tin giả tạo bị hủy diệt hoàn toàn. Trong trạng thái đó câu hỏi “Đức Chí Tôn là ai ?” mới có một giải đáp chân thực.

Rốt cuộc, vấn đề là chính mình có đủ can đảm và thần lực để đập vỡ chính mình hay không ? Con người rất sợ điều này. Đập vỡ vỏ bọc đẹp đẽ kia rồi làm sao đối diện chính mình : một con người ti tiện, đau khổ, tham lam, độc ác.Nhưng nếu không thế thì con người với mớ hành trang hỗn tạp xấu xa kia làm sao có thể lênđường tìm Chân Lý, Như Lai, hay Đức Chí Tôn ? Cái giả ngụy làm sao hội nhập vớiđiều chân thật ? Bài học đạo đây rồi. Muốn tin vào Đức Chí Tôn thì phải vượt qua mọi tầm thường. Niềm tin trong sáng không gợn vết nhơ ấy mới là niềm tin cần có để đến với Đức Chí Tôn.

Những ngày khai đạo ấy đã trôi qua, đối với một số người thì nó trôi qua lặng lẽ nhưmột dòng sông, với một số người khác thì đầy sấm sét bất thường. Đối với suy luận từ thấy, nghe, nếm, ngửi, sờ, nghĩ thì thể pháp khai đạo mang những hiện tượng nghịch lý khó lòng hiểu nổi. Đối với bí pháp thì tất cả đã được định trước trong bộ máy trời. Không phải tự dưng mà có địa danh Tây Ninh, một miền Tây yên ổn, cõi Tây cực lạc, để dựng lên Bạch Ngọc Kinh vật chất định hướng cho con người. Không phải tự dưng mà có vị đệ tử đầu tiên mang tên Chiêu (kêu gọi ), quyền Giáo Tông đầu tiên mang tên Trung (ở giữa), và Hộ Pháp, người nắm giữ quyền năng của pháp mang tên Công Tắc (khởi điểm quyết định sự vận hành của bộ máy) . Thể pháp là hiện thực, là những đóng khung, là những liệt kê, là điều đã chết . Bí pháp là siêu thực, là vô hạn, là không dấu vết, là hằng sống. Và con người còn bàn luận suy lý điều ấy cho đến vô cùng.

 

 

B-Thể pháp con đường thiêng liêng hằng sống

 

    Mọi đạo hữu Cao Đài đều biết cụm từ Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống . Đây là một trong những vấn đề cần quan tâm của người tu học Cao Đài và cũng là vấn đề sống chết của một kiếp người. ConĐường Thiêng Liêng Hằng Sống là một thuật ngữ của đạo Cao Đài nhằm điều chỉnh mọi quan niệm có từ trước về cõi hằng sống. Ví dụ như về thiên đàng, địa ngục v.v… Cụm từ này xuất hiện trong bài kinh cầu hồn khi đã chết rồi, và thể pháp cầu siêu cho vong linh gồm những bài kinh có trình tự cấu thành một chuyện kể về con đường các chơn hồn phải đi sau khi chết để về với Đức Chí Tôn . Thế nhưng quan trọng và đặc sắc hơn hết là những bài thuyết đạo của Đức Hộ Pháp về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống bắt đầu từ13/8 Mậu Tý (16/91948) cho đến 30/3 Kỷ Sửu (27/4/1949). Sở dĩ gọi bài thuyếtđạo của Đức Hộ Pháp đặc sắc là vì trong các bài kinh cửu, những thông tin vềCon Đường Thiêng Liêng Hằng Sống được giáng bút và mọi người đọc như là một bảng hướng dẫn xa lạ đầy những thuật ngữ khó hiểu. Trái lại, Đức Hộ Pháp được Đức Chí Tôn mở huệ quang khiếu, xuất chơn thần về với Đức Chí Tôn rồi kể lại nên câu chuyện của ngài là một kinh nghiệm. Vì thế Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống của Đức Hộ Pháp chẳng những được giải thích đầy đủ hơn mà còn mô tả cảm giác của một Phạm Công Tắc đời thường gần gũi.

** Xuất chơn thần là một trạng thái đặc biệt khác hẳn với trạng thái sau khi chết.Đó là trạng thái có được ngay lúc còn sống. Muốn có được trạng thái ấy phải thông qua tịnh luyện, tức là đi vào con đường thứ ba của đại đạo. Đây là conđường vô cùng khó khăn và như Đức Chí Tôn đã dạy “ Ai làm được điều ấy mới xứng đáng đến trước Đức Chí Tôn “. Chính vì khó khăn như thế nên Đức Chí Tôn mới ân điển cho Đức Hộ Pháp để ngài hé lộ cho người học đạo biết ít nhiều về bí mật này . Như thế Đức Chí Tôn làm tròn lời hứa của ngài là “muốn độ tận vạn linh phải bày bửu pháp chứ không giấu nữa “. Trong các bài thuyết đạo Đức Hộ Pháp nhiều lần nhắc đi nhắc lại câu” Bần đạo ráng thúc nhặt cho con cáiĐức Chí Tôn có một bửu bối nơi tay đểngày kia tìm đường đoạt đạo”.

***Như vậy, Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống không đơn thuần là câu chuyện của người đi xa trở về kể lại những điều tai nghe mắt thấy mà là bửu pháp giúp đoạt đạo. Vì thế ẩn nghĩa của câu chuyện vui vẻkia thật sự mang tầm vóc lớn lao trong giáo lý Cao Đài cũng như Sáng Thế Ký trong thánh kinh và những câu chuyện mà Phật Thích Ca kể lại . Hiểu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống là đoạt đạo thế. Do đó vấn đề hiểu như thế nào được đặt ra ở đây. Như đã trình bày ở trên, hiểu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống là đểthể nghiệm, ứng dụng trong cuộc sống, tức là tìm đường đạt đạo. Không thể hiểuđể thỏa mãn óc tò mò muốn biết trên trời có gì . Cũng không thể hiểu để so sánh với các giả thiết khoa học. So sánh hoặc thỏa mãn điều muốn biết không phải là trạng thái đạt đạo.Vậy nếu hiểu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống mà không thểnghiệm được thì chẳng khác gì đọc một câu chuyện thần thoại.

**** Tuy nhiên nghe, đọc và hiểu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống không phải là một việc đơn giản. Nghe, đọc, hiểu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống không phải là một hành động đứng ngoài cuộc, bởi vì chính mỗi cá nhân đều đang ở trên ConĐường Thiêng Liêng Hằng Sống, con đường luân hồi mà loài người đã đi không biết bao nhiêu lần. Vậy mà khi nghe Đức Hộ Pháp tả lại, vẫn thấy ngẩn ngơ, lạ lùng. Mình nghe về chính mình mà vẫn thấy xa lạ. Mỗi cái thân quen là một khám phá mới kì thú. Cái khó là ở chỗ nghịch lý ấy. Nghe, đọc và hiểu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống phải là hành động xâm nhập tự thân, tức là mình khám phá chính mình, chứ không phải đi tìm cái xa lạ. Nói tóm lại, đọc và hiểu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống chính là đi trên con đường ấy với một tinh thần sẳn sàngđón nhận mọi nghịch lý.

***** Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống đượcĐức Hộ Pháp giới thiệu có khởi điểm là đền thánh, qua nhiều cung, nhiều điện và kết thúc ở Bạch Ngọc Kinh. Phần tiếp theo sau sẽ lần lượt nêu lên theo trình tự ấy.

 

 

NHỮNG CHẶNG DỪNG CHÂN

 

*Khởi hành

Mỗi chơn hồn nơi thế gian này, khi thoát xác đều phải qui tụ tại đền thánh rồi mớiđi tới cảnh giới khác. Vào đền thánh tức là vào Hiệp Thiên Đài để đi đến CungĐạo. Muốn vào Cung Đạo phải qua Cửu Trùng Đài. Khi đến Cung Đạo, nhìn lên không thấy Bát Quái Đài nữa mà thấy không gian bao la. Ta đã bước vào Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống .(Trích và biên tập )

Đền thánh là gì ? Có phải đó là khối kiến trúc gạch- ngói- vôi- tường ở tỉnh Tây Ninh nước Việt Nam không ? Hiểu như vậy chỉ đưa đến phản khắc ngộ nhận vô phương cứu chữa. Đền thánh là biểu tượng, là ngôn ngữ, là thể pháp dùng để tải một mật ngữ- đó là bí pháp. Vào đền thánh là xâm nhập thể pháp để nắm được bí pháp; là hiểu rõ vật thể để nắm bắt siêu thể; là tìm hiểu bản thân để hiểu Đức Chí Tôn. Nghĩa là hiểu được lời dạy của Đức Chí Tôn để tại đền thánh.

Vàođền thánh, trước hết phải bước vào Hiệp Thiên Đài. Cũng xin lưu ý là khi cúngđàn ở đền thánh, chức sắc Hiệp Thiên Đài cũng vào trước chức sắc Cửu Trùng Đài. Nghĩa là bước vào cửa Đạo phải bằng ý thức chứ không phải bằng thể xác. Lúcđứng ngoài đền thánh, tức là còn ngoài đời, sẽ thấy tượng Ông Thiện và Ông Ác.Đây là ngụ ý: ngoài đời, con người sống trong suy luận nhị nguyên đối đãi, cóđúng -có sai ,có thiện -có ác. Đời sống chúng ta hoàn toàn dựa vào hai điều này. Có chạy theo điều đúng, xóa bỏ điều sai con người chúng ta mới tồn tạiđược. Chắc chắn không ai trong chúng ta lại cho rằng nhảy vào lửa mà lại còn tồn tại, chẳng hạn. Thế nhưng có một nghịch lý hiển nhiên là bao triệu năm rồi, con người chạy theo điều thiện và xóa bỏ điều ác, vậy mà hai điều ấy vẫn ngang nhiên bằng nhau.Điều thiện vẫn không xóa được điều ác. Chỉ có “chết đi”hay bước vào đạo, vào đền thánh thì lúc ấy thiện ác mới chấm dứt tác động của chúng. Dođó khi bước lên các bậc thềm, ta thấy có biểu tượng cân công bình. Biểu tượng này ngụ ý : trong đền thánh, tức trong Đạo, thiện ác nhị nguyên đã bằng nhau.

Còn“sống”, còn ngoài đời, tức là đứng ngoài đền thánh thì việc xóa bỏ cái ác hay thực hiện công bình chỉ là ảo tưởng. Công bình và thương yêu không có thực khi còn “sống”, mà hai ý niệm ấy chỉ hiện thực khi bước qua cửa đền thánh, tức là giũbỏ đúng sai bên ngoài. Ranh giới giữa đời và đạo rất rõ ràng. Ở ngoài đạo phải phân biệt thiện ác, chấp nhận nhị nguyên để tồn tại. Bước vào đạo phải diệt bỏthiện ác ( tức suy luận nhị nguyên ), để thực hiện cam kết yêu thương và công bình với Đức Chí Tôn. Nói khác đi, yêu thương - công bình chỉ thực sự có khi trí não không còn suy luận nữa.Ví dụ như khi lao người vào một nơi nguy hiểm đểcứu một người mình quá đỗi yêu thương thì, trong khoảnh khắc chớp nhoáng ấy, suy nghĩ đúng sai hoàn toàn biến mất. Khi yêu thương và công bình thực sự xuất hiện, ba tình Hỉ Ai Lạc nẩy mầm như ba đầu rắn vươn lên trên Nê Hườn Cung của Hộ Pháp. Không phải nén giận sẽ làm hết giận; không muốn nữa thì sẽ hết muốn; không ghét nữa thì sẽ thương; không buồn nữa thì sẽ vui; chỉ có yêu thương mọi người chân thật mới có được Hỉ Ai Lạc (niềm vui vô bờ bến ) đồng thời đè nénđược bốn tình Ai Ố Nộ Dục (nổi buồn, lòng ghen ghét, sự giận dữ và ước muốn thái quá). Với trạng thái như vậy, người tu học mới qua được Cửu Trùng Đài mà vào Cung Đạo.

TừHiệp Thiên Đài, muốn đến Cung Đạo phải đi qua Cửu Trùng Đài. Đây là con đường gian nan vất vả vô cùng. Con đường của trí não phối hợp với thể xác tạo ra sự đột phá cần thiết để tiến vào Cung Đạo. Mỗi nấc Cửu Trùng Đài là mỗi lần khảo dượt của các đấng thiêng liêng, là mỗi lần cứu rỗi của cửu vị nữ Phật, là mỗi lần cầu xin của các đẳng linh hồn. Tại sao lại cần sự cứu rỗi của cửu vị nữPhật ? Vì Cửu Trùng Đài tượng trưng thể xác chịu dưới quyền cung Tạo Hóa Thiên của Phật Mẫu (với sự giúp sức của cửu vị nữ Phật). Thực tế cho thấy, mặc dù trí não và thân xác tác động qua lại, nhưng thân xác có lực kéo mạnh hơn. Thân xác cũng sinh hoạt theo qui luật riêng của nó, tức là qui luật của Tạo Hóa Thiên-qui luật SINH DIỆT. Nào ăn, mặc, đau, ốm, hưởng thụ. Trí não phải tìm phương kế để bảo vệ xác thân tồn tại, thậm chí làm nô lệ cho thân xác. Do đó, có khi trí não phải dùng đến mưu sâu, kế độc rồi gây ra tội tình. Đi qua Cửu Trùng Đài là dùng trí não lôi kéo xác thân, định hướng cho xác thân trở về với cung đạo. Muốn được như thế, phải rèn luyện trí não cho mạnh mẽ như biểu tượng Hộ Pháp mặc khôi giáp vậy. Khi đến được cung đạo, trí não đã đi hết đoạn đường trần ai sinh diệt. Nghĩa là trí suy lý giờ đây đã là trí huệ sau một quá trình sàng lọc khốn khổ.

Giờ đây, trí huệ đứng trước cung đạo, nhìn lên không thấy Bát Quái Đài nữa mà thấy vũ trụ bao la, nghĩa là: ta đang hiện diện trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống. Như vậy, cõi giới sinh diệt người tu học đang sống chỉ cách cõi Thiêng Liêng Hằng Sống một cái nhìn : cái nhìn bằng huệ nhãn. Huệ nhãn chính là biểu tượng thiên nhãn trên Bát Quái Đài.

Thếnào là cái nhìn bằng Huệ Nhãn ? Đó không phải là một cái nhìn thông thường nhưchúng ta vẫn nhìn. Nghĩa là phải có một ảnh qua mắt, truyền đến não, sau đóđược so sánh với những hình ảnh lưu giữ trong bộ nhớ rồi mới kết luận hình ảnhấy là gì, quen hay lạ ? Tới đây chúng ta mới biết là mình” thấy”. Ví dụ như tôi nhìn sợi dây, và nhớ lại lần trước đã thấy có người chạm vào đó rồi bị điện giật. Tôi kết luận : đó là một sợi dây điện nguy hiểm. Chúng ta đều nhìn và“thấy” theo kiểu ấy. Quá trình diễn ra rất nhanh và khó mà thấy được là mình đã so sánh và kết luận. Nhìn thấy như thế là quá trình của sinh diệt. Có khởi sự“nhìn”, có kết thúc “thấy”. Cái nhìn bằng huệ nhãn khác hẳn. Mình đột nhiên”thấy” ngay toàn diện sự vật. Mình ở trong sự vật, không so sánh, không“thấy” gì cả. Giống như lời mô tả của Đức Hộ Pháp “nhìn lên, thấy vũ trụ, tađã bước vào Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống”. Một cái nhìn thấy đột ngột . Trong chớp mắt, ta và Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống là một. Muốn có cái nhìn huệ nhãn phải đi từ Hiệp Thiên Đài ngang qua Cửu Trùng Đài đến CungĐạo, nghĩa là phải thể hiện thể pháp Cao Đài. Có được cái nhìn ấy thì Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống mở ra bất cứ nơi nào trong cõi giới chúng ta đang sống.

Thểhiện thể pháp Cao Đài giáo như thế nào ? Thể pháp Cao Đài thiên hình vạn trạng vì Đức Chí Tôn dành cho mọi sắc dân, mọi trình độ. Mọi người đến Đền Thánh đều nhìn và thấy những thể pháp khác nhau. Không thể pháp nào “tốt” hơn hoặc “cao”hơn thể pháp nào, vấn đề là thể pháp ấy có thích hợp với từng cá nhân hay không, và cá nhân ấy có thực hiện được thể pháp cho tới cuối đời không ? Tuy nhiên Đức Hộ Pháp đưa ra ba con đường đểngười tu học tạm có định hướng:

_ Theo hội thánh Cửu Trùng Đài để lập công.

_ Theo hội thánh Phước Thiện để lập đức.

_ Vào nhà tịnh để luyện.

4Nay thử xét thể pháp thứ nhất, tức là theo hội thánh Cửu Trùng Đài.

Cửu Trùng Đài tượng trưng cho thân xác, tức là đời. Theo hội thánh Cửu Trùng Đài nghĩa là đi theo nhân sanh để giúp đỡ, giáo hóa, đưa họ vào “cung đạo”. Theo Tân Luật Pháp Chánh Truyền, hội thánh Cửu Trùng Đài có các bậc:

1. Bàn trị sự (Chánh trị sự,Phó trị sự, Thông sự)

2. LễSanh

3. Giáo Hữu

4. Giáo Sư

5. Phối Sư

6. Chánh Phối Sư

7. Đầu Sư

8. Chưởng Pháp

9. Giáo Tông

Xét theo tên gọi các bậc, rõ ràng phải sửa mình theo các danh xưng mới có thể giúpđỡ hoặc giáo hóa con người. Trước hết phải điều chỉnh mọi việc ổn định, tức là tu sửa bản thân, chăm lo gia đình cho ổn định. Sau đó là học lễ, tức các phương thức giao tiếp trong xã hội. Được như vậy mới có thể làm bạn với mọi người. Có làm bạn đúng nghĩa thì mới làm thầy mọi người được. Các bậc thầy ấy có biết hài hòa với nhau thì mới cầm quyền đạo. Cầm quyền được thì nắm giữ mọi phép tắc. Lúc đó mới là “anh cả” thế gian. Tức là thay Đại Từ Phụ dắt dìu các em trên ConĐường Thiêng Liêng Hằng Sống.

Conđường Cửu Trùng Đài là con đường liên hệ mật thiết với xã hội xung quanh, mượn xã hội để tu dưỡng bản thân. Vậy nên tu học theo thể pháp này không có nghĩa trốn khỏi cõi đời, lên núi cao rừng vắng. Người tu vẫn sống giữa cõi đời, mượn đời sống làm tấm gương sửa mình đồng thời tác động để cho đời trở nên toàn thiện. Làm được như thế thật là khó khăn, bởi cuộc đời vốn đa dạng và sẳn sàng nuốt chửng lấy cá nhân nhỏ bé.

Conđường Cửu Trùng Đài cũng không phải là con đường qui ngã. Bởi vì người tu phải sửa mình để có thể giúp người khác chứ không phải vì phẩm trật hay vì hi vọng mai kia mình sẽ vào “cung đạo”. Chỉ khi nào mình hoàn toàn quên mình vì người khác thì hành vi ấy mới đúng nghĩa.

Tóm lại, con đường Cửu Trùng Đài là con đường rèn luyện ý chí và cuối đường là cái nhìn Huệ Nhãn. Đó chính là bước khởi hành trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống của ý thức.

 

*Chặng một

Bằng cái nhìn Huệ Nhãn, ta bước vào chặng một của cuộc hành trình. Đó là Bát QuáiĐài thiêng liêng. Theo mô tả của Đức Hộ Pháp, Bát Quái Đài thiêng liêng giống như một hình trụ có tám cửa. Tầng trên phóng ra tám đạo hào quang, trong đó Bát Phẩm Chơn Hồn ( vật chất, thảo mộc, thú cầm, người, thần, thánh, tiên, phật ) nương theo bay vào khoảng không vũ trụ. Tầng dưới cũng có tám cửa với tám đạo hào quang, nhưng từ tám hướng thu về. Có thể tạm ví tầng trên là cửa ra, tầng dưới là cửa vào. Đi về là đi vào tầng dưới. Khi các chơn hồn trở về sẽ gặp haiđiều kì diệu chủ yếu:

· Những chơn hồn làm điều thiện ở thế gian được nhập vào các đạo hào quang này vào trong Bát Quái Đài, ngược lại sẽ rơi xuống Bích Hải và bị biến dạng đen thui kì quặc.

· Có những chơn hồn ở trên thế gian làm những điều chúng ta tưởng là trái chơn pháp của Đức Chí Tôn vẫn qua được Bích Hải như thường. Đức Hộ Pháp dẫn chứng trường hợp của ông Vương Quan Kỳ.

Điều kì diệu thứ nhất khiến chúng ta liên tưởngđến chiếc cầu Nại Hà trong cổ luật, phía dưới toàn thú dữ. Bây giờ các chơn hồn rơi xuống sẽ không bị cắn xé nữa, mà chỉ biến dạng xấu xa. Thói thường, chúng ta dễ có lý lẽ rằng: nếu thế thì không có gì đáng sợ. Lúc còn sống , mình cứlàm điều ác. Thực ra, trên cõi thiêng liêng hằng sống không có những nổi đau vật chất. Hộ Pháp nêu sự kiện rơi xuống Bích Hải bị biến dạng kì quặc chỉ là một tượng trưng. Điều đáng sợ ở đây là không được vào Bát Quái Đài thiêng liêng, như thế sẽ không được tiếp tục đi trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống.Đối với cái nhìn Huệ Nhãn, đây mới là nổi đau tinh thần khủng khiếp.

Điều kì diệu thứ hai: đây là nơi giải quyết cuộc khủng hoảng nhị nguyên của ý thức. Nhưng hành vi không khẳng định được đúng sai tại thế sẽ kết thúc ở đây qua biểu tượng Vương Quan Kỳ khật khưởng qua cầu. Ao mão là hình thức màu mè chỉ được khoác vắt vẻo trên vai. Con người trần trụi chân thật đã thực hiện được điều mà có lẽ sự giả dối phải hoảng kinh lùi bước: bước vào Bát Quái Đài thiêng liêng.

Rốt ráo mà nói, tám đạo hào quang làm cầu qua Bích Hải là cầu nối của đức tin. Đức tin của cái gì ? Và từ đâu mà có đức tinấy ? Đức tin ấy là tin vào chính mình. Mình đã làm tròn bổn phận con người ởtại thế gian. Muốn có sự tự tin này, phải chân thật không một bợn giả ngụy, cương quyết làm tròn bổn phận cho tới cuối cuộc đời. Chơn hồn nào tự tin mìnhđã làm tròn nhơn đạo thì không hề sợ hãi khi bước qua cầu, thẳng tiến vào nơi bộ máy vận hành vũ trụ của Đức Chí Tôn đang chuyển động. Vào được Bát Quái Đài, các chơn hồn còn chứng kiến thêm một huyền diệu nữa. Đó là đến một đài gọi là Minh Cảnh Đài để xem lại hành vi của chính mình lúc còn tại thế. Đồng thời nơiấy cũng là Tòa Tam Giáo và kẻ định tội cho ta là chính ta. Đây là điều đặc sắc. Hành động này không thể có ở cõi giới ý thức. Bởi tác động cố hữu của ý thức là nhị nguyên nên có tội thì sẽ có bào chữa. Tôi có tội, nhưng tại… bị… Đó là lý lẽ thông thường ở cõi trần này. Tại Tòa Tam Giáo, mình định tội mình bằng trí huệ nên không có bào chữa. Tôi định tội tôi, thế thôi. Tuyệt nhiên không mảy may xúc động, thương cảm. Định tội xong, các chơn hồn cũng tự định khung hình phạt và thời gian thụ án, tức là lúc nào thì sẽ xuống thế gian để chuộc tội. Sau đó, các chơn hồn ra khỏi Bát Quái Đài thiêng liêng để đến các cảnh giới khác.

Đến đây, dựa vào câu “Thầy là các con, các con là Thầy”, có thể tạm rút ra suy nghĩ: Bát Quái Đài chính là biểu tượng của tựngã. Đi vào Bát Quái Đài là hành động phản tỉnh - tức tự xét mình - xét mình phải tự tin và chân thật mới có hiệu quả. Điều này vô cùng khó khăn, chỉ sơ sẩy một chút là rơi xuống Bích Hải và bị biến dạng xấu xa, tức vướng phải sai lầm về mặt ý thức. Vào trong Bát Quái Đài là đã hoàn toàn tự tin và chân thật. Lúcđó ta định tội ta mới đúng. Như vậy, xét cho cùng, bộ máy Đức Chí Tôn dùng đểvận hành toàn bộ vũ trụ này dựa vào từng bản ngã nhỏ bé. Cái nhỏ bé vận hànhđược cái toàn thể. Vậy thì mọi hành động nhỏ bé của mọi cá nhân ở thế gian nàyđều có ảnh hưởng tới vũ trụ. Hiểu được như thế thì “cái-ta “ không còn nhỏ bé cam chịu nữa. Tự ngã giờ đây vươn mình đồng thể với đất trời. Ta với trời là một.

 

* Chặng hai

Ngoài Bát Quái Đài ra, các chơn hồn còn đến Ngân Hà là nơi của những người vì tuyệt vọng mà chấm dứt mạng sống của mình. Dưới Ngân Hà là thuyền Bát Nhã của Quan Thế Âm Bồ Tát đưa các chơn hồn qua bờ.

Con người ở thế gian luôn bị các ước muốn ( Dục ) thôi thúc. Tôi muốn có một công việc ổn định lâu dài. Tôi muốn nhà cửa. Tôi muốn con tôi học giỏi… Tất cả những ước muốn ấy đều bắt nguồn từ một ước muốn duy nhất: ước muốn được sống. Ước muốn này tự thân không có gì xấu xa và là ước muốn chung của vạn linh. Con vật cũng biết chạy trốn nguy hiểm. Cành cây cũng biết vươn ra chỗ có ánh sáng để thực hiện quá trình quang hợp. Chính khát vọng sống đã tạo ra những cách biệt giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội và giữa xã hội này với xã hội khác. Cũng chính khát vọng ấy - ước muốn được an toàn, an ninh bản thân - thúc đẩy mọi người tiến lên cái gọi là văn minh ngày nay. Những ước muốn nối tiếp nhau đã làm cho con người khốn khổ vì phải lao tâm khổ trí tìm cách thỏa mãn. Xã hội càng văn minh, các tương quan xã hội giữa người và người càng thêm phức tạp và những cách thức khả dĩ thỏa mãn được khát vọng cũng càng phải tinh vi. Điều quan trọng là không phải lúc nào các ước muốn cũng có thể thỏa mãn được dễ dàng. Tôi lắm của, nhiều tiền, nhưng không thể dạy dỗ cậu quí tử hư hỏng, ăn tiêu hoang phí. Tôi thắng một vụ kiện, nhưng không thể ngăn được tài sản đội nón ra đi vì phải chi phí cho những lần hầu tòa… Thế rồi tôi thất vọng, phiền não, để sau đó, lại chạy theo một ý muốn nào khác, mong quên đi buồn phiền. Có khi ý muốn mới ấy là một ý muốn phi lý, như ý muốn chấm dứt mọi ý muốn. Tôi “diệt dục” tôi lên chùa, tôi xuất gia, cắt ái. Thì đó cũng là ý muốn, là DỤC, cho dù tôi có lý luận thế nào đi nữa. Có khi nỗi thất vọng của tôi quá lớn, quá khủng khiếp đau buồn, đền nỗi tôi lại muốn kết thúc sự sống. Làm như vậy, tôi hy vọng kết thúc mọi ý muốn, đồng thời kết thúc mọi đau khổ. Đức Hộ Pháp đã minh họađiều này bằng ví dụ những người thất vọng vì yêu thương nhau đến nỗi tự sát, phải đến bên Ngân Hà khóc lóc chờ thuyền Bát Nhã đưa qua bên kia bờ.

Quả thực, ở thế gian này, mọi ước muốn của một cá nhân kết thúc khi sinh mạng cá nhân ấy chấm dứt tồn tại. Và có vẻ như đó là cách duy nhất để chấm dứt mọi ước muốn. Nhưng ở cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống những con người khốn khổ này không vượt qua được sông Ngân. Chỉ có những kẻ yêu thương chân thật mới được Quan Âm đưa qua sông bằng thuyền Bát Nhã. Sông Ngân là trở ngại của mọi ước muốn, là sự thống khổ cùng cực của tuyệt vọng, là ngăn cách giữa cõi trần gian ảm đạm và cõi Thiêng Liêng Hằng Sống tuyệt vời hạnh phúc. Vượt sông Ngân không thể bằng ước muốn mà bằng tình thương chân thật. Tức là phải dọn mình rồi dùng phương tiện trí huệ (thuyền Bát Nhã ) và hoa tiêu là sự lắng nghe (Quán Thế Âm Bồ Tát ). Lắng nghe sẽ khai mở trí huệ, rồi trí huệ giúp ta “đáo bỉ ngạn”, tức là qua bên kia bờ đau khổ. Nói gọn, những người đau khổ vì tuyệt vọng đã đối diện đau khổ bằng trí suy lý, do đó mới có cách ngăn giữa khổ đau và hạnh phúc. Không thể xóa bỏ cách ngăn này bằng hành động tự sát sặc mùi nhị nguyên. Cho nên họ vẫn phải chờ đợi ở bờ sông Ngân. Tưởng cũng nên nhắc, trong Đạo Cao Đài, những người tự sát không được đưa đến nghĩa trang bằng thuyền Bát Nhã.

Vậy thì vấn đề ở đây là lắng nghe để được trí huệ. Lắng nghe là một hành động rất có ý nghĩa. Đó chính là pháp môn, là chìa khóa mở toang trí huệ. Nhưng lắng nghe cái gì ? Cụm từ Quán Thế Âm đã chỉ rõđối tượng của lắng nghe : nghe mọi âm thanh của thế gian, một lời nói, một câu hát, một tiếng chim vỗ cánh… Và lắng nghe như thế nào ? Đây là một câu hỏi quan trọng vì nó tỏ rõ tiến trình nhị nguyên diễn ra trong đầu người học đạo. Tôi muốn có cách nào đó để nghe. Tôi thực hiện theo cách đó rồi chờ đợi đến mỏi mòn. Thế là tôi vẫn mong có được kết quả, tôi vẫn muốn có một kết thúc , tôi lại giống người tự sát kia y hệt. Vậy rốt cuộc tôi phải làm sao ? “Làm sao” bây giờ trở nên quá quan trọng. Trí huệ trở thành đài chiến thắng vinh quang đến độlàm lu mờ cả sự lắng nghe. Trí huệ là ngón tay, điều nghe được là mặt trăng. Bây giờ ngón tay chỉ mặt trăng đã trở thành mặt trăng. Tôi khư khư ôm lấy chiếc thuyền Bát Nhã chẳng thiết gì qua sông nữa.

Tới đây, tôi đã đi được một đoạn trên con đường lắng nghe. Tôi biết rằng lắng nghe mà mong chờ kết quả - tức là có được trí huệ- thì cũng như giúp đỡ một người nghèo mà trong lòng mong được phước. Vậy, hãy quên trí huệ đi, mà trở lại với lắng nghe.

Thông thường tôi thích nói hơn nghe người khác nói. Tôi luôn luôn có vô số vấn đề đểnói. Bây giờ không nói nữa, tôi tập trung hết sức mình để lắng nghe. Hành động này cũng khó khăn lắm, nhưng nếu tôi cương quyết tìm cho ra chân lý thì tôi sẽtập dần để nghe được.

Khi một ai đó bắt đầu nói, lẽ tự nhiên là tôi nghe được, trừ phi người đó dùng một thứ ngôn ngữ tôi không biết. Lúc đó cũng chính là lúc trí não tôi vận động đồng thời với người nói. Tôi chỉ trích người nói dùng từ sai, khó hiểu hoặc tôi khen người nói hay, cao siêu. Những gì tôi nghe có lợi cho tôi thì tôi thích và nhớ mãi. Ngược lại, những gì trái ý tôi thì tôi bài bác và cũng nhớrất lâu. Giả sử người nói xúc phạm tới tôi, tôi sẽ không thích và lần sau khi gặp lại, dù người ấy chưa nói gì, trí não tôi vẫn nhắc lại những lời xúc phạm hôm trước. Tôi nghe như vậy đấy. Suy cho cùng, tôi nghe chính tôi. Cõi lòng tôi dậy sóng thương-chê-giận-ghét, không hề có sự đồng cảm, thấu hiểu được nỗi lòng người nói.

Bây giờ, nếu tôi đặt một câu hỏi với toàn thểsức bình sinh của mình:” Có thể nào nghe khác đi không ? Nghe mà hiểu đến ruột gan người nói, hiểu được những gì người ấy đã nói và chưa nói không ?” . Đặt câu hỏi khẩn thiết như vậy mà không cần câu trả lời, không mong chờ một kết quả, đó là một bước khởi đầu thoát ra khỏi vòng vây của nhị nguyên, là dấn thân vào cõi chưa biết, là dọn mình đi vào cõi vô thủy vô chung, là nghe mà không nghe. Có như vậy mới qua được Ngân Hà trên cõi thiêng liêng hằng sống, tức là hoàn tất chặng thứ hai.

 

* Chặng ba

Ra khỏi Bát Quái Đài, vượt qua Ngân Hà là đến Cung Diêu Trì - Tạo Hóa Thiên.

Vào Diêu Trì Cung, trước tiên các chơn hồn diện kiến Phật Mẫu. Điều kì diệu ở đây là mọi chơn hồn khi gặp Phật Mẫu đều thấy h́nh ảnh người mẹ đã sinh ra mình ở thế gian. Đây là một biểu tượng tuyệt vời của tình cảm. Nhân loại đã tạo ra vô số tác phẩm nghệ thuật để ca ngợi tình mẹ,người đã chịu bao đau đớn ban sự sống cho con mình. Sau đó lại hy sinh mọi thứvì con mà không chờ đợi sự trả ơn. Tình thương ấy vượt lên mọi tầm thường giảdối. Có thể không ngoa chút nào khi nói đó là tình thương duy nhất không vị kỷ ở thế gian này. Giờ đây nguồn yêu thương ấy đứng trước mặt, mừng rỡ vì gặp lạiđứa con hoang lưu lạc gian khổ ở chốn trần ai. Tưởng không cần nói thêm, ai cũng có thể tưởng tượng ra niềm hạnh phúc ấy lớn lao là dường nào! Và cũng đau khổ biết bao nếu ở thế gian này mình lỡ lầm làm điều bất hiếu với mẹ.

Người mẹ ở thế gian hy sinh tất cả vì con. Thứgì mẹ có, mẹ không bao giờ tiếc với con; thứ gì không có, mẹ chạy vạy lo lắngđể con không thua kém người. Nguồn cội yêu thương quá đỗi kia chính là Phật Mẫu, người Mẹ thiêng liêng của càn khôn vũ trụ. Mẹ thiêng liêng cũng hy sinh cho con cái như vậy, nên khi về Diêu Trì Cung-cái nôi của tình Mẹ vĩ đại- Phật Mẫu với quyền phép vô biên cũng ban cho chúng ta những gì ta muốn. Đức Hộ Pháp nói về điều này đơn giản: “Ở Diêu Trì Cung muốn gì được nấy”.

Kế tiếp, các chơn hồn đến thăm Ngạn Uyển. Đây là vườn hoa thiêng liêng mà mỗi bông hoa tượng trưng cho một chơn hồn ở thế gian. Hoa nở khi chơn hồn tái kiếp, hoa tàn khi chơn hồn ấy lìa cõi thế gian trở lại cõi thiêng liêng hằng sống. Đây là một tượng trưng rất thú vị. Chúng ta đều biết khi dâng tam bửu cho Đức Chí Tôn, hoa tượng trưng cho thể xác. Xét về mặt thực vật học, hoa nở vào giai đoạn cây xanh sung mãn nhất, sẳn sàng giao phối , sinh sản. Hoa tàn thì kết trái. Nghĩa là một chu kì sống nữa khởi đầu. Rõ ràng sự sống không có kết thúc, cũng không có bắt đầu. Quyền pháp vô biên của Phật Mẫu là ở chỗ nàyđây. Xác thân một cá thể chấm dứt, nhưng mầm sống đã truyền đi và nhân lên nhiều lần. Nhìn toàn cục, sức mạnh duy trì sự sống trong vũ trụ này là Phật Mẫu và sức mạnh ấy bất khả suy lường.

Cuối cùng, trước khi rời Diêu Trì Cung, các chơn hồn sẽ được dự tiệc bàn đào gọi là nhập tịch. Nhập tịch có nghĩa: được chính thức công nhận là thành phần của một quần thể; do đó có mọi quyền lợi, nghĩa vụngang bằng với mọi cá thể khác. Sau tiệc bàn đào các chơn hồn chính thức nhập vào cõi thiêng liêng hằng sống. Thể pháp này đã được bày ra ở thế gian qua lễHội Yến Diêu Trì mà người tu học Cao Đài không ai không biết. Thủ tục ăn đào tiên, uống rượu tiên là một ngụ ý. Đào tiên là vật thực thiêng liêng, nhằm trưởng dưỡng thể chất thiêng liêng. Tiên tửu tượng trưng cho khí hay trí não. Thể chất thiêng liêng phối hợp với trí não thiêng liêng mới nhập tịch được. Vậy thì thể chất phàm trần cũng phải phối hợp với trí não phàm trần mới vượt khỏi không gian và thời gian, hòa nhập với cõi vô cùng. Nói cách khác, đó là luyện Tinh hóa Khí.

Chúng ta nhớ lại câu chuyện vui ngày mở đạo: ông AĂÂ bảo các ông Cư - Tắc - Sang làm tiệc chay đãi Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Sau đó Phật Mẫu dạy ba ông vọng thiên cầu đạo. Ba ông tượng trưng Hiệp Thiên Đài, tức là khí - phần bán hữu hình của con người. Phật Mẫu và Cửu vịTiên Nương là quyền pháp của sức sống. Tiệc chay hay vật thực tinh khiết sẽgiúp Tinh hóa Khí, vật chất biến tinh thần. Lúc đó mới vọng thiên cầu đạo, tức Khí hóa Thần. Thêm vào đó cũng nên nhắc một chi tiết nhỏ khá thú vị mà cũng khá quan trọng : khi ông Phạm Công Tắc hỏi ông AĂÂ có thấy Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương không thì được trả lời là có. Nhưng khi ông hỏi Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương có thấy ông AĂÂ không, thì được trả lời là không - vì ông dùng phép ẩn thân.

Rõ ràng sức sống có một qui luật riêng và tách rời khỏi linh tánh. Sự sống cứ vận hành miên viễn: sinh ra, lớn lên, già cỗi, rồi chết đi. Chính Hiệp Thiên Đài là gạch nối giữa hai phần ấy, cũng như ba ông Cư-Tắc-Sang là trung gian cho Đức Chí Tôn và Phật Mẫu. Dự tiệc chay xong là Tinh đã hóa Khí. Khí đã vượng mới vọng thiên cầu đạo, tức hiệp một với Thần hay trở về với Đức Chí Tôn. Trở về với Đức Chí Tôn không phải là kết thúc mà là một khởi đầu. Con người vượt khỏi vòng sống chết để đi vào một vòng sống chết khác, nghĩa là tiếp tục đi trên con đường thiêng liêng hằng sống.

Bây giờ, từ Diêu Trì Cung, cái nôi của sự sống, các chơn hồn sẵn sàng vào cõi vô biên.

 

* Chặng bốn

Chúng ta cùng dõi theo mô tả của Đức Hộ Pháp đểdừng chân ở cung Hiệp Thiên Hành Hóa - nơi ngự của Tam Trấn Oai Nghiêm và cácđấng trọn lành.

Trước hết hãy luận về cụm từ Hiệp Thiên Hành Hóa. Trước kia người ta thường nói con người thế thiên hành đạo. Nghĩa là con người - sinh vật tối linh hay tiểu thiên địa - thay Đức Chí Tôn thực hiện nhiệm vụ ngài giao phó ở cõi trần. Nhiệm vụ ấy là thể hiện đạo trời, nghĩa là trừ khử điều xấu, hoàn chỉnh điều tốt. Loài người chúng ta đã duy trì tư tưởng ấy một thời gian khá lâu. Thế nhưng, khi thay mặt Đức Chí Tôn hành đạo thì vô số vấnđề lại nảy sinh. Có quyền lực trong tay, loài người chỉ biết vun quén cho mình. Mọi sinh vật chung quanh chỉ là chỗ dựa để tiến lên vun quén nhiều thêm. Hậu quả thì đã rõ. Nào là sự tuyệt chủng của một số loài vật gây mất cân bằng sinh thái, nào là rừng cây bị phá hủy gây xáo trộn khí hậu, nào là khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi…Không cường điệu chút nào khi các nhà khoa học nói con người đang trừng phạt chính mình.

Lần khai đạo kì ba, Đức Chí Tôn tuyên bố : không ai có quyền thay ta cai trị phần hồn của nhân loại. Đồng thời, ngài mở Hiệp Thiên Đài tại thế làm biểu tượng Trời - Người hiệp một (Hiệp Thiên Đài thiêng liêng là cung Hiệp Thiên Hành Hóa). Con người không có quyền thay trời nữa mà chỉ có quyền hiệp một với trời. Nghĩa là nếu ngồi chờ trời đem đến cho cái gì đó; thì đó là hoang tưởng. Còn nếu thực hiện điều gì ngược lại qui luật thiên nhiên; thì sẽ gánh lấy những hậu quả khốc liệt về sau.

Thứ đến, thử bàn về biểu tượng Tam Trấn Oai Nghiêm. Đó là hình ảnh của Đức Lý Giáo Tông, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và Đức Quan Thánh Đế Quân. Lần mở đạo kì ba, Đức Chí Tôn lấy tính cách của ba vị nêu trênđể dạy con người : đây là thời kì các mối quan hệ trong xã hội loài người ở quả địa cầu 68 chịu nhiều ảnh hưởng cực kì phức tạp. Do đó, con người rất khó giữlòng đạo đức trọn vẹn. Vậy để vừa tồn tại được ở cõi trần, vừa giữ được tinh thần đạo đức ngõ hầu chung cuộc trở về với Đức Chí Tôn, con người hãy lấy tinh thần Tam Trấn làm chuẩn.Đạo và Đời không còn cách biệt, một thầy tu và một người thường lăn xả trong cuộc sống, ai giữ được lòng đạo đức theo chuẩn mực của Tam Trấn đều có thể Hiệp Thiên Hành Hóa.

Ngoài ra còn một điểm khá lý thú nữa. Đức HộPháp chứng kiến cuộc tranh luận giữa các đấng trọn lành và các chơn linh không tin vào đạo. Tại sao cuộc tranh luận này xảy ra ở cung Hiệp Thiên Hành Hóa mà không là các cung khác ? Cung Hiệp Thiên Hành Hóa là chỗ suy luận, là nơi đấu tranh thắng bại. Đức Hộ Pháp kể chuyện các đấng trọn lành giải thích cho các chơn linh không tin vào đạo dù cho họ viện mọi lý lẽ, thậm chí có khi kì quặcđể bài bác các tôn giáo. Cũng có những chơn linh theo một tôn giáo nào đó nhưng không đoạt đạo cũng đưa ra lời lẽ chất vấn. Cuộc tranh luận lê thê không có hồi kết thúc ở cung Hiệp Thiên Hành Hóa nhắc nhở rằng ở cõi giới con người đang sống cũng có một vở bi hài kịch như vậy. Theo một tôn giáo hay không theo một tôn giáo, tin hay không tin chỉ là hai mặt của một vấn đề. Tin là co hay tin là không cũng làtin.Vấn đề quan trọng ở cung Hiệp Thiên Hành Hóa không phải là điều ấy mà là “bằng cấp trọn lành”. Theo một tôn giáo hay không theo một tôn giáo không quan trọng. Cách sống thế nào ở thế gian mới quan trọng. Cung Hiệp Thiên Hành Hóa là nơi không thể không có vì nếu thiếu những cuộc tranh luận thì không thểcó hiệp thiên. Cũng như trí suy lý nhị nguyên của con người rất quan trọng, vì đó là nơi hiệp một với Đức Chí Tôn. Không có trí nhị nguyên thì không thể thông công với Đức Chí Tôn. Không có Lưỡng Nghi thì không sao tìm ra dấu vết của Thái Cực. Nhưng cái thiên la địa võng của nhị nguyên rất là đa đoan, nó bay nhảy lung tung , tung hỏa mù khắp chốn. Đúng - sai không có chân tướng nữa mà hóa thân vào nhauđến mức vô cùng. Biết bao nhiêu bậc giác thế đã đề nghị các biện pháp để nắm bắt nó đứng yên, hòng tìm về ngôi Thái Cực, nhưng các bậc nguyên nhân vẫn loanh quanh lối cũ chẳng chịu quay đầu. Bởi vì, khốn thay, biện pháp nào cũng lọt vào vòng nhị nguyên rối rắm. Đến đây, có lẽ ai cũng sẽ bật ra câu hỏi : Vậy ta phải làm gì ? Bật ra câu hỏi ấy một cách chân thật là khởi điểm của trí huệ, là tia chớp nguyên thủy của Thái Cực. Nhưng nếu có câu giải đáp, thì coi chừng, tiến trình lưỡng nghi đã vận hành trước cả câu giải đáp rồi đấy. Vậy đừng giải đáp, hãy thăm dò, lắng nghe câu hỏi cho thâm sâu. Có như thế mới tránh khỏi cuộc tranh luận dằng dai ở cung Hiệp Thiên Hành Hóa để tiếp tục đi trên con đường thiêng liêng hằng sống.

Hãy tạm nêu một ví dụ. Tôi tin vào Đức Chí Tôn, vì thế tôi thấy mình khác hẳn một người nào đó không tin như thế. Tùy theo mứcđộ khác nhau mà tôi có những cách đối xử khác nhau với người đó. Nhẹ thì dè dặt đề phòng, nặng thì xung khắc ghét bỏ. Nếu tôi có học đạo chút đỉnh, chắc sẽ dặn lòng : xung khắc không tốt vì đó là nhị nguyên. Thế rồi tôi cố đối xử bình thường với người đó. Nhưng tận đáy lòng, cái khác của người ấy vẫn còn đó, mãi mãi xuất hiện chừng nào tôi còn gặp người ấy. Có khi nào chúng ta đặt một câu hỏi : Tại sao tôilại khác người ấy ? Có khi nào chúng ta suy nghĩ điều đó đến tận cùng không ? Một lúc nào đó đột nhiên chúng ta sẽ “thấy” và “hiểu” rằng tôi và người ấy chẳng khác gì nhau. Lúc ấy sẽ là giây phút hiệp thiên, đất trời giao hội để cho năng lực trí huệ bùng nổ một cơn sấm dậy, mở toang cách cửa huyền linh, thấu đến tam thập lục thiên.

 

* Chặng năm

Về Ngọc Hư cung, đó không chỉ là kì vọng của tín đồ Cao Đài mà còn là ước ao của mọi sắc dân. Về Ngọc Hư cung để diện kiến vớiĐức Chí Tôn, giáp mặt với chân lý tuyệt đối là thôi thúc bao triệu năm qua đối với những sinh vật có suy nghĩ. Người ta dùng đủ loại danh từ để gọi : thiên đàng, cực lạc quốc, kiếp sau… Dù sao mặc lòng, vẫn là chỗ ấy. Cũng vì muôn sai vạn biệt của danh từ, nên khi đứng trước Ngọc Hư cung, mỗi người đều thấy hình dạng khác nhau, nghĩa là thấy điều mình muốn thấy. Điều này có gì lạ đâu ! Nếu Chúa Hài Đồng của dân châu Phi là một đứa bé da đen, tóc xoăn tít, thì thần linh của một sắc dân sắp mai một trong rừng sâu núi thẳm kia cũng có thể là một hình tượng kì quái nào đó.

Nhưng khi vào Ngọc Hư Cung , mọi sự đều trở nên lạ lùng. Trước hết, không còn ngôn ngữ nữa. Các chơn linh ở đây giao tiếp bằng tư tưởng. Trong quần thể chen chúc ở địa cầu 68 này, ngôn ngữ đã trở nên quá quan trọng, quá phức tạp. Ngôn ngữ được thể hiện qua nhiều cách, chủ yếu là lời nói. Lời nói là công cụ của tư tưởng chứ không phải là bản thân tư tưởng nên chỉ diễn đạt phần nào tư tưởng. Có thể nói ngôn ngữ là cái bóng biến dạng của tư tưởng. Lời nói khi truyền đạt đến người khác lại bị người ấy diễn dịch tùy theo trình độ, truyền thống dân tộc, cá tính và sở thích riêng. Khi tôi và một người nào đó cùng trao đổi về một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp, dù hai người có đồng cảm đến đâu, buổi hoàng hôn ấy vẫn khác nhau. Thậm chí trong hai người cùng quan sát, buổi hoàng hôn của “tôi” vẫn khác buổi hoàng hôn của “anh”.Con người sẽ còn sống giả tạo như thế chừng nào mà con người còn sử dụng ngôn ngữ lời nói để giao tiếp. Ngôn ngữ vắng mặt ở Ngọc Hư cung không phải là trạng thái cô lập, không giao tiếp mà chính là lúc tư tưởng thực hiện vai trò giao tiếp đích thực - một sự giao tiếp không rào cản, chẳng “bỉ”, chẳng “thư”, chẳng “tôi”, chẳng “anh”, không mảy may bận lòng chữ nghĩa đúng sai, cao thấp, không có câu hỏi và trả lời vì hỏi là trả lời. Sự giao tiếp ấy chính là kết cấu của Ngọc Hư cung.

Điều kỳ lạ tiếp theo là không có phẩm trật Thần, Thánh, Tiên, Phật…mà chỉ có gia tộc thiêng liêng. Không phẩm trật cao thấp là tư tưởng bình đẳng tuyệt đối. Ở thế gian không thể có bình đẳng. Phẩm trật thúc đẩy loài người tiến bộ và cũng làm loài người đau khổ. Loài người phải tiến bộ,vì đó là qui luật của thế giới hiện tượng. Ngọc Hư cung là khái niệm nơi chốn tột cùng nên không cần tiến bộ, do đó không có phẩm trật. Bình đẳng ở Ngọc Hưcung chưa đủ, phải có một yếu tố nữa là gia tộc thiêng liêng. Nếu chỉ có bìnhđẳng suông thì thực tế ấy rời rã, phải có gia tộc thiêng liêng làm quan hệ kết nối.

Gia tộc thiêng liêng là gì ? Các chơn linh khi đầu kiếp ở mọi nơi trong vũ trụ đều có họ hàng thân quen. Những họ hàng thân quen ấy đều thuộc gia tộc thiêng liêng. Đầu kiếp càng nhiều lần thì gia tộc thiêng liêng càng lớn. Vậy thì rõ rồi, khắp vũ trụ này là họ hàng thân quen với nhau. Khái niệm “đối lập”, “kẻ thù” bị xóa sổ ở nơi chốn thiêng liêng này. Ở cõi thế gian, tôi càng lừa đảo, càng chiến thắng được nhiều người thì khi về Ngọc Hư cung tôi càng xấu hổ khi gặp lại những người ấy. Niềm hối hận ấy lớn đến mức tôi xin đầu kiếp lập tức để chuộc lại lỗi lầm. Và như vậy tôi phải hoãn lại việc đi tiếp trên con đường thiêng liêng hằng sống. Đây chính là sự bất hạnh lớn nhất của các chơn linh.

Ngọc Hư cung có kết cấu là bình đẳng tuyệt đối và quan hệ là tình thương ruột thịt. Vì vậy bước vào đền thánh - biểu tượng Ngọc Hư cung tại thế - người ta nhìn thấy tượng Tam Thánh - tượng trưng gia tộc thiêng liêng - kí hiệp ước công bình và thương yêu với Đức Chí Tôn. Đây là bản chất của Ngọc Hư cung mà các đấng thiêng liêng vẫn truyền dạy cho người học đạo .

Trong một cõi giới đặc biệt như vậy, các chơn hồn diện kiến Đức Chí Tôn. Theo mô tả của Hộ Pháp, các chơn hồn sẽ gặp ba biểu tượng: Ngọc Hoàng Thượng Đế - chúa tể càn khôn vũ trụ, Đại Từ Phụ - cha của cácđẳng linh hồn, và Thầy - đấng giáo hóa. Đây là hệ thống tư tưởng Khổng-Mạnh quân-sư-phụ mà Đức Chí Tôn dùng để giáo dục con cái của ngài trong hạ ngươn tam chuyển. Đức Chí Tôn không hình tướng. Chính con người tạo hình tướng của ngài. Bởi đối với ý thức, “không hình tướng” là điều không thể hiểu nổi. Vì vậy, khi đến với ngài, ba hình tướng quân-sư-phụ xuất hiện để các chơn hồn có thể nắm bắt được. Đó cũng chính là mẫu mực trật tự xã hội mà loài người phải theo nếu muốn tồn tại.

Biểu tượng quân-sư-phụ Đông phương có tính chất tình cảm và lý trí rất đặc biệt.

Làm cha là bước đầu lập mệnh, là nền tảng xã hội. Điều này đâu chỉ có nghĩa là lo cho con cái đủ ăn đủ mặc. Cha còn phải là kiểu mẫu đạo đức để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí các con. Cha vừa là khuôn mẫu kỉ luật, vừa là sự thông cảm sâu sắc giúp cho con đi vào cương lĩnh ấy.

Thầy không đơn thuần truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm mà còn là tấm gương cho xã hội với tấm lòng chân thành mong muốn cho đệ tử chấp cánh bay cao hơn cả bản thân mình.

Quân vương không chỉ là biểu tượng của quyền lực tối cao. Quyền lực ấy phải dựa vào tình thương mà người xưa gọi là “thương dân như con đẻ”.

Ba điều ấy là khuôn vàng thước ngọc mà bất kì ai cũng muốn theo đuổi để tạo dựng một xã hội ổn định lý tưởng. Kinh nghiệm cho thấy nếu làm trái lại điều ấy sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Một người cha bê tha xấu xa sẽ không bao giờ xây dựng được một gia đình ổn định. Một xã hội có nhiều người cha như thế thì việc gì xảy ra tất khỏi phải bàn cãi. Sự thật ấyđâu cần chứng minh bằng một hệ thống triết lý cao siêu nào hoặc bởi một vĩ nhân nào. Đó là điều sờ sờ trước mắt, nhưng đạt được thì quả là khó. Con người, dù bất cứ xã hội nào, từ lâu vẫn theo đuổi mẫu mực này. Trong mẫu mực ấy, tình thương và lý trí giằng co ở mọi mức độ. Tình thương không lý trí thì xã hội sa đọa, lý trí thiếu tình thương thì quan hệ giữa người và người trở nên tàn nhẫn. Đạo không đời không sức, đời không đạo không quyền. Ngọc Hư cung, nơi Đức Chí Tôn ngự, nằm giữa hai quyền lực này, ngay trong ý thức xô bồ hỗn loạn của loài người chứ không phải ở một thiên đường hoa cỏ nào khác.

 

* Chặng sáu

Sau Ngọc Hư cung, các chơn hồn lên đường đến Cực Lạc Thế Giới. Nhưng trước hết, hãy theo dõi cuộc đụng độ giữa Hộ Pháp và Kim Quan Sứ.

Kim Quan Sứ là ai, quyền hành thế nào ? Qua thánh ngôn , ngài là một đại tiên mà quyền hành lớn đến nỗi :

“Cửu phẩm Thần Tiên nể mặt ta,

Thích Ca dầu trọng khó giao hòa.

Cửa kinh Bạch Ngọc năng lui tới,

ĐườngĐạo Tây Phương thử chánh tà.

Chỉ đá hóa vàng đon miệng thế,

Treo gươm trí huệ giục phồn hoa.

Lấy chơn thay giả tô thiên vị,

Thắng bại phàm tâm liệu thế à !”

Cuộc sống vốn đa dạng, đó là tổng hòa các khuynh hướng và ý nghĩ. Tất cả đều bắt nguồn từ ý thức nhị nguyên. Các quẻ Bát Quái cũng là âm dương phối hợp. Chiếc máy tính PC tối tân, vượt ngoài tầm nhận thức của người bình thường cũng khởi đầu bằng đóng và mở mạch điện. Nếu Đức Chí Tôn mở con đường thiêng liêng hằng sống cho vạn linh nối bước thì ngài cũng cho phép Kim Quan Sứ chận đường. Chính cái đối đầu nảy lửa ấy mới là động cơ thúcđẩy bộ máy trời xoay chuyển.

Quyền lực của Kim Quan Sứ thật đáng gờm. Tuy vậy, quyền lực ấy không phải là không giới hạn. Đức Chí Tôn từng dạy :” đến danh ta nó còn dám mượn, chỉ có ngai ta là nó không dám ngồi”. Danh là cái gọi được, nghĩa là chỉ xuất hiện ở cõi giới ý thức. Ngai của Đức Chí Tôn là Thái Cực, là tuyệt đối. Trong cõi giới ý thức, Đại Tiên Kim Quan Sứ có quyền mượn danh Đức Chí Tôn , nên tung hoành ngang dọc làm điêu đứng cả cửu phẩm thần tiên vì cửu phẩm thần tiên cũng còn nằm trong phạm trù danh. Chỉ khi vạn linh hiệp nhất linh, khi tuyệt đối đến ngôi, khi ý thức nhị nguyên không còn dấyđộng, tức là lúc Đức Chí Tôn ngự lên ngai thì Kim Quan Sứ đành bó tay, vì Kim Quan Sứ không dám ngồi lên ngai. Nói cho dễ hiểu thì Kim Quan Sứ chỉ có trong cõi giới ý thức với quyền lực ngang với Đức Chí Tôn. Trong cõi tuyệt đối thì Kim Quan sứ không hiện hữu.

Bây giờ chúng ta trở lại cuộc chiến thần thoại. Hộ Pháp vâng lệnh Chí Tôn mở cực lạc thế giới và bị Kim Quan Sứ chận đường. Ngay lúc ấy Đức Quyền Giáo Tông xuất hiện và chiến đấu với Kim Quan Sứ. Kim Quan Sứ biến hóa càng nhiều người thì càng có nhiều chơn linh trong đạo nhảy ra trợ chiến. Qui mô cuộc chiến tăng dần lên cho đến khi trở nên quá sức tưởng tượng. Đức Hộ Pháp khán trận đến mệt mỏi nên ngủ thiếp đi. Đến khi ngài thức giấc lần thứ ba, trận chiến vẫn chưa kết thúc. Đến đây thì Hộ Pháp quyết định vào cuộc. Ngài biến ra thành hai người, một tiếp tục quan sát, còn một bay lên không. Một lưu ý quan trọng ở đây là hai người đếu có chung suy nghĩ, một mà hai, hai mà một. Người bay lên không dùng Kim Quang Tiên vẽ một vòng, tức thì cuộc chiến thu nhỏ lại, cho đến khi chỉ còn Đức Quyền Giáo Tông và Kim Quan Sứ.Trận chiến kết thúc khi Kim Quan Sứ bị “đập” một gậy “đằng vân” bay mất.

Câu chuyện nếu nghe một cách khinh suất, hao hao giống chuyện thần tiên hàng yêu ma xuất hiện khắp nơi ở phương đông này. Nhưng ngụ ý của câu chuyện không đơn giản chút nào. Hộ Pháp là ý thức. Hộ Pháp vâng lịnh Đức Chí Tôn đi mở Cực Lạc Thế Giới nghĩa là Ý thức bị thôi thúc bởi một lực vô hình đi tìm hạnh phúc. Điều này tưởng đã rõ. Không một cá thể sinh vật nào lại tìm đến chỗ tự hủy nếu cá thể ấy nhận thức được đó là nơi hủy diệt. Đối với sinh vật cao cấp chúng ta - con người - nếu có quyết định tự hủy cũng do muốn tìm điều vừa ý hơn mà thôi.

Có lên đường tìm hạnh phúc mới có khó khăn cản ngại, tức gặp Kim Quan Sứ. Nhưng đánh nhau với Kim Quan Sứ lại là Quyền Giáo Tông chứ không phải Hộ Pháp. Quyền Giáo Tông chưởng quản Cửu Trùng Đài. Cửu Trùng Đài tượng trưng xác thịt. Do đó đấu tranh chỉ xảy ra ở cấp độ vật chất, nghĩa là ở cõi giới hiện tượng. Ý thức là thực thể đứng bàng quang chứng kiến cuộc chiến của chính mình. Ý thức ngủ rồi tỉnh dậy ba lần, chính là sự lột xácđể thấy rõ chân tướng. Khi ý thức muốn xung trận, phối hợp thể xác là tinh khíđã hiệp. Lúc bấy giờ ý thức chẳng phải hai, chẳng phải một, không nhị nguyên, cũng chẳng nhất nguyên. Kim Quan Tiên lộ rõ chân tướng, hay trí huệ phóng ánh sáng trong suốt vào sự thể và nhìn thấy sự thể như là sự the. Vật chất và cản ngại là một, hạnh phúc và đau khổ là một, Đức Quyền Giáo Tông và Kim Quan Sứ là một. Lúc đó thân xác đã vượt qua bóng tối đau khổ. Con đường cực lạc thế giới đã thông.

Khi đến cực lạc thế giới lại gặp một cảnh tượngđáng suy nghĩ nữa. Có nhiều người đứng ngồi lổn nhổn vì chờ đợi. Theo Hộ Pháp mô tả thì tăng có, tục có. Nghĩa là bằng nhiều cách khác nhau, theo một tôn giáo, một niềm tin nào đó, tu hoặc không tu, người ta cũng vượt qua được thửthách của Kim Quan Sứ để đến bên ngoài Cực Lạc Thế Giới. Có điều vẫn chưa vàođược vì có hai chong chóng xoay tròn ở lối vào. Hộ Pháp dùng Gián Ma Xử chỉ vào chong chóng khiến nó dừng lại, hiện nguyên hình là chữ vạn. Nhân cơ hội này những người chờ đợi chạy ùa vào trước khi chữ vạn tiếp tục vòng quay triền miên khắc nghiệt.

Tại sao những người ấy, những người đã thắngđược Kim Quan Sứ, đã vượt qua đau khổ lại không qua được cửa Cực Lạc Thế Giới ? Vì họ vẫn còn biết mình chiến thắng, còn biết có một con đường đến hạnh phúc, nên họ vẫn còn đứng bên lề hạnh phúc. Còn đường đi có nghĩa là còn trở ngại. Còn vượt qua trở ngại để đến hạnh phúc thì hạnh phúc càng lùi ra xa.

Đôi chữ vạn quay tít mù khơi ở cửa Cực Lạc ThếGiới là dấu vết vận động của tứ tượng. Đó là vui, buồn, chẳng vui chẳng buồn và nửa vui nửa buồn. Ay là bốn thành tố chính của ý thức, cái ngã hay muốn gọi chi cũng được. Tứ tượng dừng lại, lộ rõ chân tướng khi Gián Ma Xử chỉ vào. Gián Ma Xử vô hình tướng, là nội lực của pháp, vốn nằm trong thân Hộ Pháp, tức bên trong ý thức. Chính nội lực ấy khi phát huy mớiđịnh hình được tứ tượng. Nói rõ hơn, khi người tu học nghĩ về một sự việc nào đó cho đến tận cùng, đến lâm vào thế bí không nghĩ ra, chính lúc ấy, một sức mạnh bên trong phát khởi, đẩy ý thức lọt hẳn vào bên trong sự việc. Sự việc ấy không còn cản ngại nữa, đau khổ ấy không còn nữa, hạnh phúc muôn đời vẫn luôn trước mắt kẻ đi tìm.

Theo mô tả của Đức Hộ Pháp, người học đạo khởi sự thăm dò Cực Lạc Thế Giới tức là giáp mặt với niềm hoan lạc vô biên, gặp gỡ điều mà nhân loại đã ngưỡng mộ từ bao triệu năm qua. Nhân loại vì quá ngưỡng mộ điều ấy nên đã dùng vô số tên mĩ miều để gọi và xác định bằng đủ loại định nghĩa. Vậy thế giới ấy ra sao ? Thế giới ấy vỏn vẹn chỉ có hai khái niệm : Lôi Âm Cổ Tự-là nơi Phật A Di Đà ngự, và các liên đài do Phật Di Lạc chưởng quản.

Trước khi đến ngự trên liên đài của mình, các chơn hồn sẽ gặp Phật A Di Đà ở Lôi Âm cổ tự để nghe thuyết pháp. Lôi Âm Cổ Tựlà một khái niệm về nơi chốn. Trong trí của tôi - một người Việt Nam, đó có thểlà một mái chùa cong vút, rêu phong, ẩn lưng chừng một ngọn núi vô danh. Đối với bạn - người thuộc một xứ sở nào đó, có thể đó là một tu viện, một đền thờmang dáng dấp văn hóa của dân tộc bạn. Dù sao mặc lòng, đó sẽ là nơi các chơn hồn nghe Phật A Di Đà thuyết pháp. Phật A Di Đà là ai ? Trước hết danh xưng đó có nghĩa là “ Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ Phật”. Tức là nguồn sáng không cùng và sự tồn tại mãi mãi. Đó chính là không gian và thời gian. Tôi có thểhình dung việc nghe Phật A Di Đà thuyết pháp như thể đến gặp một người nào đó mặc áo nâu sòng hoặc quấn một chiếc khăn tơi tả, khuôn mặt nhân hậu phảng phất một nụ cười. Người ấy ngồi xếp bằng tròn trên một manh chiếu nhỏ hoặc trên một hoa sen và toàn thể không gian xung quanh sáng lên rực rỡ. Người ấy sẽ dạy cho tôi phải làm gì để thành Phật, nghĩa là giống như người ấy. Đại khái ý thức tôi quẩn quanh những hình tượng đẹp đẽmà nó có thể nghĩ ra được. Chỉ có vậy thôi ư ? Lẽ nào nghe Phật A Di Đà ở cõi thiêng liêng hằng sống là như vậy ? Thực ra đó chỉ là một khái niệm tạm mượn ởthế giới khái niệm để nói về một khái niệm nằm ngoài thế giới khái niệm. Nghe ngôn ngữ của Phật A Di Đà là lắng nghe không gian và thời gian - một việc làm ngoài vòng suy luận. Cái nghe ấy không diễn tả được, vì nếu đến được cõi giới ý thức thì lời thuyết pháp đó là một tiếng sấm long trời (lôi âm) mà con người vốn sống dựa vào ý thức nhị nguyên không thể nào chịu nổi. Chỉ có những chơn linh ngấp nghé đến ngự trên liên đài mới hiểu được bài pháp của ngài.

Nghe Phật A Di Đà thuyết pháp xong, chơn linh bây giờ đã thông suốt ý nghĩa của không gian và thời gian, sẳn sàng ngự trên liên đài - tòa sen của mình. Toà sen ấy ra sao ? Hộ Pháp miêu tả giống như kim tự tháp của Ai Cập, cũng có vô số bậc và vô số chư Phật ngự trên các bậc ấy. Trước mặt liên đài là một cây dương cực lớn, tàn lá che cả liên đài.

So với cung Tạo Hóa Thiên và Ngọc Hư cung thìđây quả là một thế giới đơn điệu, một cõi quạnh hiu. Ít ra là như vậy theo suy nghĩ nhị nguyên của loài người. Và nếu còn mang trí so sánh nhị nguyên thì ngựtrên tòa sen ấy cũng như leo lên kim tự tháp Ai Cập ngắm cảnh, ngậm ngùi cho một nền văn minh đã phai tàn. Hành động ngự trên tòa sen không có nghĩa là ngồi trên một nơi nào đó - một cái ngai sơn son thếp vàng chẳng hạn. Đó là một hànhđộng giải thoát triệt để. Ngồi hay ngự có nghĩa là chế ngự, vượt lên trên. Chiều cao của liên đài là thời gian vô tận. Bởi muốn lên một bậc th́ phải tái kiếp rồi đi từ vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, thần hồn, thánh hồn, tiên hồn, lên đến phật hồn. Hình dạng của liên đài bốn mặt là biểu tượng của không gian ba chiều. Bốn hướng ấy là vũ trụ có đỉnh chóp là vô cực. Ngồi trên liên đài thoạt tiên có thể cho là một hành động can đảm. Bởi qua một kiếp sống, con người đã hiểu rõ sự kinh khiếp của đau khổ. Ít người có can đảmđầu kiếp, nhất là làm lại từ đầu. Nhưng can đảm ngụ ý có một mục đích. Không thể có can đảm để chẳng đạt được điều gì. Tôi can đảm đầu kiếp nhiều lần để được ngồi trên liên đài, hãnh diện vì mình ngồi cao hơn kẻ khác. Vậy là tôi chấp nhận không gian và thời gian. Tôi trở thành kẻ nô lệ thuần thành. Thời gian và không gian vô tận nên tôi đầu kiếp mãi mãi để leo lên các liên đài ấy. Tôi quanh quẩn với thấp và cao. Hiển nhiên can đảm không phải là giải thoát.

Qua thánh ngôn và qua Hộ Pháp, lần ba này Phật Di Lạc (Từ Thị) chưởng quản các liên đài. Phật Di Lạc là biểu hiện của lòng nhân ái, thương người bất kể bản thân. Đầu kiếp tạo liên đài không phải vì lòng can đảm mà vì lòng thương người. Vì muốn cứu người mà sẳn sàng đầu kiếp ở mọi nơi, mọi thời điểm trong vũ trụ. Đó chính là hành động vượt khỏi không gian và thời gian. Khoảnh khắc quên mất bản thân vì người khác, không kể màu da sắc tóc, còn gì khác hơn liên đài bừng nở, còn gì khác hơn giải thoát ? Phải chăngđó là chóp đỉnh của liên đài - nơi hội tụ của thời gian và không gian làm một ?

Theo lời mô tả của Đức Hộ Pháp, chúng ta vừa điđúng một vòng trên con đường thiêng liêng hằng sống. Bây giờ chúng ta yên vị trên liên đài của mình tùy thích - hoặc 1200 năm, hoặc 2400 năm, hoặc 3600 năm… để rồi lại giáng thế làm lại từ đầu. Thệ viết viễn, viễn viết phản. Nhưng đó lại là vấn đề khác. Giờchúng ta hãy tạm đưa ra một số nhận xét để kết luận.

Tính chân thật : có thể có vấn nạn rằng làm thế nào để chứng minh con đường thiêng liêng hằng sống là có thật ?

Vấn nạn như thế là phải có, bởi con người quen sống với chứng minh, với lý lẽ. Nhưng hãy xét ẩn ý này : Hộ Pháp được lệnh Chí Tôn dạo một vòng trên con đường thiêng liêng hằng sống rồi tiết lộ cho loài người biết. Hộ Pháp là ý thức. Con đường thiêng liêng hằng sống là con đường luân hồi để tiến hóa. Ý thức và tiến hóa vẫn tồn tại bao triệu năm qua đâu cần phải chứng minh. Thực tại tồn tại ngoài không gian và thời gian. Thế chẳng phải là loài người - những con người đã thực hiện mọi việc: gây chiến tranh, kiến tạo hòa bình, thử bom hạt nhân, phóng phi thuyền lên sao Hỏa, buôn bán kiếm lời, tụng kinh niệm Phật -tất cả chỉ vì khát khao hạnh phúc, trốn tránh đau khổ đó sao ? Con đường thiêng liêng hằng sống mà Hộ Pháp đi cũng chính là con đường ý thức săn tìm hạnh phúc. Và đi tìm hạnh phúc, dù ở cấpđộ nào, là một thực tế.

Tính triết học : con đường thiêng liêng hằng sống mang vóc dáng hùng vĩ của triết học phương đông. Triết học phương tây mang bản chất đối trị không khoan nhượng giữa co và không, trong khi có và không làmột trong tinh thần sâu thẳm của phương đông. Dưới mắt phương tây, có đông và tây, ngược lại, dưới mắt phươngđông chỉ có con người. Những khái niệm siêu hình trong triết học phương đôngđược mô tả bằng những câu chuyện thần thoại, trong đó các nhân vật thần tiên cũng buồn-vui-giận-ghét như người phàm tục. Thần tiên, phàm tục hóa thân hư hưthực thực. Con đường thiêng liêng hằng sống mang biểu tượng màu sắc khác nhau mà mọi người với mọi cách thức nhìn ngắm sẽ nhận ra ý nghĩa khác nhau. Những khác biệt ấy soi rọi được phần nào cái đồng nhất. Đó chính là tinh túy của triết học Cao Đài.

Tính giải thoát : con đường thiêng liêng hằng sống là con đường luân hồi vĩ đại, đó cũng chính là nguyên lý sâu thẳm của vũ trụ. Sự sống đi từ vật chất hồn lên đến phật hồn rồi trở lại làm vật chất và cứ thế vô cùng tận. Khi người tu học nhận thức sâu sắc điều này thì không cần giải thoát khỏi khổ ải nữa. Đó chính là giải thoát thực sự. Với tinh thần luân hồi là giải thoát, người tu học có cái nhìn mới đối với sự vật và sự việc. Mọi tham vọng sẽ không gây đau khổ nữa, quan hệ giữa người và người trở nên nhân bản. Cuộc sống thế nhân không còn là trường đấu tranh khủng khiếp mà là nơi học hỏi, giúp đỡ nhau làm tròn chức phận làm người.

 

 

C- Thể pháp thông công

 

    Cao Đài giáo là một hiện tượng thông linh học. Nghĩa là các thể chế tôn giáo cùng với mọi nghi thức tế tự đều dựa vào sự liên hệ thông tin hai chiều giữa thế giới hiện có và thế giới siêu tự nhiên. Sự liên hệ này vẫn được các tín đồ Cao Đài gọi là thông công cùng tam thập lục thiên-tam thiên thế giới… nói chung là toàn thể vũ trụ này. Nhưng tại sao lại gọi là thể pháp thông công ?

Trước hết, thiết nghĩ nên bàn đến ý nghĩa của từ thể pháp. Pháp là một từ rất khó giải thích. Theo Thiều Chửu, pháp nghĩa là phép, như phép tắc, phép luật, lễ phép v.v… mà dùng về phép nhà Phật thì hết thảy mọi sự, mọi vật là pháp. Mọi sự vật đều là pháp trần đối với ý căn. Nghĩa là những việc gì sờ được, nếm được, ngửi được, suy nghĩ được, tất cả đều gọi là pháp trần. Theo Daisetz Teitaro Suzuki thì pháp (Dharma) có nghĩa chánh là nghi thức và luật lệ, nhưng Phật Thích Ca sử dụng rất tổng quát và uyển chuyển trong các bài thuyết đạo của ngài. Và trong đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy : Thầy khai Bát Quái mà tác thành càn khôn thế giái nên mới gọi là pháp. Pháp có mới sanh ra càn khôn vạn loại, rồi mới có người nên gọi là tăng. Qua một loạt định nghĩa như vậy, thì rõ ràng từ này có nghĩa tùy theo ngữ cảnh.

Thể - dùng để gọi điều gì hoặc vật thể gì có qui mô cách thức nhất định và có thể biểu lộ. Ngoài ra, nếu dùng trái nghĩa với dụng (tức là điều gì đã được thực hiện ra) thì thể là nguyên lý bao hàm bên trong. Như vậy, nếu xét về mặt từ nghĩa luận (tức nghĩa đen, nghĩa của chữ) thì thể là những nguyên lý, luật lệ của những gì biểu lộ ra hình thức. Nhưng xét như vậy là chưa đủ. Ngữ nghĩa rõ ràng, trong sáng theo kiểu Tây phương không thể chuyển tải được cái huyền ảo mênh mông của triết lý phương Đông. Trong một bài diễn văn, Đức Hộ Pháp có nói :”Đạo có thể pháp làm ngoại dung và bí pháp làm nội dung, mà thể pháp mười phần tác thành chẳng đặng ba, còn bí pháp thì chưa ai hiểu thấu, làm cho đạo mất giá trị trước mắt chúng sanh, đức tin ngày càng khuyết giảm”… Trong đoạn văn này, Đức Hộ Pháp đã dùng từ đối để hiển bày ý nghĩa. Một trong những cái hay của văn học Trung Quốc là phép dùng đối từ.Chính cái đối nhau của từng đôi từ ngữ ấy sẽ phát sinh ý nghĩa thực. Chỉ cần hai từ đối nhau thôi, ý nghĩa đã phát sinh vô cùng. Bây giờ muốn diễn đạt ý ấy lại bằng từ ngữ thì thật là khó. Rõ ràng nói đến thể pháp thì phải nói đến bí pháp. Thể pháp và bí pháp không thể rời nhau mà có nghĩa được, cũng như âm phải có dương thì mới phát khởi sơn hà đại địa. Vậy theo ngữ cảnh nêu trên ta có thểtạm thời nêu một số định nghĩa về thể pháp và bí pháp :

· Nếu thể pháp là phần nổi, có thể thấy được thì bí pháp là phần chìm, không thể thấy được.

· Nếu thể pháp là thể chế tôn giáo thì bí pháp là ý nghĩa triết học.

· Nếu thể pháp là xác thì bí pháp là hồn.

· Nếu thể pháp là ngoại giáo công truyền thì bí pháp là nội giáo tâm pháp.

· Nếu thể pháp là một hành vi tôn giáo thì bí pháp là tác động siêu hình.

· V.v…

Vậy thì có thể pháp thông công ắt phải có bí pháp thông công. Thể pháp thông công là những cách thức con người liên hệ với thế giới siêu hình và bí pháp thông công là những tác động hệ quả mà người tu học không thể tiếp xúc bằng giác quan thông thường. Ví dụ như khi cầu cơ, chỉ thấy người cầm cơ và cơ chạy theo vòng tròn rồi chỉ vào các mẫu tự, còn những tác động khác thì không thểthấy được. Trước khi mở đạo Cao Đài, những hiện tượng thông linh như vậy đã xảy ra khắp nơi trên thế giới. Lên đồng, cầu cơ, sai ma v.v…đều là những thể pháp thông công. Và thể pháp này đã được tượng thành bửu pháp tại đền thánh Tây Ninh. Khi vào đến cung đạo, nhìn lên trần, có thể thấy những bửu pháp này: một chiếc bàn sai ma, một tiểu ngọc cơ, một đại ngọc cơ, một cây bút và một đầu người. Từ những bửu pháp này, có thể suy ra ba thể pháp thông công chính yếu của đạo Cao Đài :

- Một là thể pháp đọc kinh: đây là thể pháp suy ra từ biểu tượng đầu người,có tính bắt buộc dành cho tất cả mọi tín đồ. Đây cũng là thể pháp dễ thực hiện nhất và oái oăm thay, là thể pháp thường bị dèm pha nhiều nhất.

- Hai là thể pháp cơ bút: đây là thể pháp suy ra từ các biểu tượng tiểu ngọc cơ, đại ngọc cơ hoặc cây bút và cũng chính là thể pháp khai đạo của Cao Đài được chú ý nhiều nhất. Nhưng chỉ có những đệ tử Đức Chí Tôn chọn - gọi là Ngự Mã Quân hoặc các chức sắc cao cấp mới được thực hiện thể pháp này. Ví dụ như theo Tân Luật Pháp Chánh Truyền thì Giáo Tông có thể đến Hiệp Thiên Đài để thông công cùng tam thập lục thiên, tam thiên thế giới, tức là thực hiện thể pháp cơ bút.

- Ba là tịnh luyện xuất chơn thần: đây là thểpháp cũng suy ra từ đầu người, nhưng là thể pháp đặc biệt chỉ dành riêng cho các tín đồ được hội thánh chọn lựa và cũng là thể pháp khó khăn nhất, vì chỉ có những chơn linh cao trọng mới mong đạt được .

Bây giờ ta sẽ đi sâu vào thể pháp thông công thứ nhất.

Có lẽ sẽ có phản biện rằng đọc kinh thì cứ nói là đọc kinh, việc gì phải dùng từ “thể pháp thông công thứ nhất”. Từ thì nghe cao xa, nhưng thật ra chỉ là đọc kinh mà thôi. Thật ra đây không phải là cách gọi tên mới cho việc đọc kinh nhằm mục đích quan trọng hóa vấn đề, mà đó là cái nhìn đúng đắn đối với một thể pháp quan trọng trong đạo Cao Đài. Bởi vì mụcđích của lần khai đạo kì ba này là cứu vớt vạn linh - tức không những 92 ức nguyên nhân, mà cả quỉ nhân và hóa nhân. Vậy thì trong số các bửu pháp mà Đức Chí Tôn trao cho nhân loại, phải có một thể pháp có tính cách phổ thông, dễthực hiện mới đảm đương nổi mục đích to lớn kia. Xét qua ba thể pháp: đọc kinh, cơ bút, tịnh luyện xuất chơn thần chúng ta thấy cơ bút và tịnh luyện chỉ dành cho một số đối tượng. Suy cho tận cùng chỉ có thể pháp thứ nhất là thích hợp. Ai cũng có thể đọc kinh được, chỉcần bền bỉ thực hiện cho đúng thể pháp thì bí pháp sẽ vận hành. Do đó, ý thức rõ ràng về các diệu dụng của thể pháp này trước khi thực hiện là tối cần thiết. Có ý thức rõ ràng, thực hiện thể pháp mới có tác động thông công với cõi thiêng liêng hằng sống, tận hưởng được niềm vui đại ân xá Đức Chí Tôn đã ban cho loài người.

Xét về nguồn gốc, tất cả các sinh vật đều có những cách thức riêng để trao đổi, hoặc để chống kháng hoặc để chấp nhận. Con người là sinh vật cao cấp nhất hành tinh nên có khả năng trao đổi rất cao, nhất là về mặt thông tin. Mục tiêu tối hậu của sự trao đổi các thông tin này là đểtự vệ. Người ta trao đổi thông tin không những bằng lời nói mà còn bằng cử chỉ,bằng chữ viết, bằng biểu tượng v.v… Phát những thông tin mạnh mẽ để đối kháng và nhận những thông tin thân thiện để mưu lợi là công việc mà con người đã làm từ khi có mặt trên quả đất này. Ví dụ khi gặp một đối tượng có thể gây nguy hiểm đến mạng sống, thì con người có những lời nói hay cử chỉ chống kháng nhằmđể xua đuổi đối tượng này. Và nếu gặp những người hay những vật có thể đem lại lợi ích thì con người cũng có những cử chỉ hay những lời nói thân thiện với mụcđích là kết hợp để đem lại lợi ích cho mình. Như vậy rõ ràng trao đổi là một đặc tính rất tự nhiên của con người. Con người trao đổi lẫn nhau để sống còn, và ngoài ra, con người cũng muốn trao đổi với thế giới khác. Ví dụ như con người hiện nay phóng tàu lên vũ trụ để thăm dò xem có sinh vật nào khác không ? Người ta phát sóng ra ngoài vũ trụ, mong có một sinh vật nào đó ngoài hành tinh này nhận được. Việc này kèm theo một ẩn ý nữa là mong được thế giới thiêng liêng bắt được làn sóng. Rồi con người lập những cơ sở tìm cách rà bắt các làn sóng từ không gian, hy vọng sẽ có được những thông tin từ những cõi giới khác. Điều này cho thấy ước ao thông công với thế giới khác là hết sức tự nhiên, đó cũng là khởi thủy của việc cầu nguyện mà hình thức phổ biến nhất hiện nay là đọc kinh trong các tôn giáo. Khi con người phải đối diện với một sự đau khổ lên đến cực điểm, lúc mà an ủi của người xung quanh không có hiệu quả, ai cũng muốn được trao tâm hồn đớn đau ấy cho các đấngở cõi thiêng liêng và mong được ban trả lại sự yên bình. Như vậy việc đọc kinh vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực. Tích cực khi đọc kinh vì nghĩ đến cái chung, tiêu cực khiđọc kinh chỉ vì cái ta nhỏ bé. Thế nhưng, xin nói rõ, không phải tích cực là tốt, tiêu cực là xấu. Tích cực và tiêu cực chỉ là hai mặt của vấn đề đọc kinh. Nó cũng tuân theo qui luật âm-dương vũ trụ của Đức Chí Tôn. Thể pháp thông công rõ ràng đáp ứng yêu cầu cần phải thông tin với cõi thiêng liêng hằng sống. Và như trên đã bàn, thể pháp này còn chứa một bí pháp giải thoát cho vạn linh nữa. Như vậy, rõ ràng thể pháp thông công dính líu rất mật thiết đến các bài kinh. Khi người học đạo tụng các bài kinh này là hành pháp.

 

* Các bài kinh

Tôn giáo nào cũng có kinh điển. Thường thì kinh ghi lại lời của các giáo chủ giảng dạy đạo pháp hoặc giải thích những thắc mắc của các đệ tử. Trong đạo Cao Đài, những lời giảng dạy của Đức Chí Tôn và cácđấng thiêng liêng gọi là thánh ngôn và không được đem ra tụng đọc. Những bài kinh được tụng đọc phần lớn là giáng bút và có dạng các bài thơ bằng ngôn ngữHán-Việt, hoặc bằng tiếng Việt. Về mặt ứng dụng thì có thể chia ra làm hai loại:

· Kinh thiên đạo: đọc trong những dịp cúng tứ thời, trong các tiểu đàn, đại đàn, trong các buổi lễ cầu siêu v.v…

· Kinh thế đạo: đọc trước hoặc sau các sinh hoạt hằng ngày.

Nhưng dưới cái nhìn của thể pháp, ta có thể chia làm ba loại:

· Loại phát thông tin: khi tụng kinh, ý của hành giả hướng đến đối tượng khác. Ví dụnhư kinh cầu siêu.

· Loại nhận thông tin: tiêu biểu là các bài kinh sám hối và phần lớn các bài kinh thế đạo.

· Loại vừa nhận vừa phát thông tin: kinh cúng tứ thời, kinh cúng Phật Mẫu.

Khi nói đến bài kinh ai cũng thừa nhận rằng đọc kinh thì phải hiểu nghĩa lời kinh. Người ta thường nói đọc kinh cầu lý. Nhưng tìm hiểu ý nghĩa lời kinh Cao Đài là một việc làm công phu, đòi hỏi sự thông hiểu văn học Hán-Nôm và triết lý của nhiều tôn giáo khác, đặc biệt là ba tôn giáo chính: Khổng, Lão, Phật. Bởi vì, nếu các bài kinh dùng tiếng Việt mang đầy những điển tích tôn giáo thì các bài kinh dùng Hán văn lại càng mang ý nghĩa cao xa. Ví dụ như các bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thích giáo, Lão giáo và Nho giáo chẳng những khó hiểu về mặt từ ngữ mà còn khó về mặt cú pháp. Chẳng những từ đối với từ, cụm từ đối với cụm từ mà câu đối với câu cũng rất sát sao. Chỉ hiểu bằng nghĩa đen không thôi thì quả thật là khập khiểng, thậm chí có câu tối nghĩa. Vậy, có thể đặt một nghi vấn ở đây không ? Nếu kinh có thể độ tận vạn linh thì tại sao chỉ dành cho những người tinh thông Hán học ? Vậy những người không biết Hán học muốnđược cứu độ phải đi học tiếng Hán-Việt trước khi đọc kinh hay sao ?

Gần đây có một số thức giả đã ra công nghiên cứu để dịch những lời kinh ra tiếng Việt. Điều này rất tốt vì nó giúp người mới học đạo hiểu đại khái ý nghĩa lời kinh. Nhưng giả sử hiểu được lời kinh rồi thì ý nghĩa ấy ra sao ? Phải chăng phần lớn là xưng tụng Thượng Đế,các giáo chủ, mô tả con đường về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống hoặc những việc rất khó hiểu ? Rõ ràng, hiểu bằng nghĩa đen, nghĩa bóng, tức là dùng suy luận đểhiểu chưa phải là cứu cánh. Thật ra ý nghĩa các bài kinh nằm ở chính cách đọc kinh. Tìm hiểu ý nghĩa của kinh theo suy luận thông thường mới chỉ là một phần của thể pháp này. Tìm hiểu cách đọc kinh để đọc cho đúng mới gọi là hành thể pháp thông công. Hành pháp đúng thì bí pháp vận hành, trí huệ khai mở. Khi trí huệ khai mở thì ý nghĩa của lời kinh trong suốt như gương, nghĩa là người tu học sẽ hiểu dễ dàng những ẩn ý của cácđấng qua lời kinh. Hiểu trực diện, không qua suy luận, không qua tranh cãi, không qua tự điển. Như vậy, cách đọc kinh là vấn đề quan trọng nhất ở đây.

Tiếp theo, xin bàn đến một phần nữa rất quan trọng : âm nhạc phối hợp với lời kinh.( Chủ yếu tập trung vào những bài kinh chính thức dùng trong các nghi thức như là cúng tứ thời, tiểu đàn, đại đàn, cầu siêu…)

 

*Âm nhạc và kinh

Âm nhạc đến với con người lúc nào không rõ. Nhưng trong mọi quần thể, trong mọi xã hội từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, âm nhạc chiếm lĩnh một vị trí rất quan trọng. Người ta dùng âm nhạc trong lễ hội, giải trí, cúng tế, cả khi tìm hứng thú say máu chiến tranh. Đó là tiếng kèn, tiếng trống trận thôi thúc chiến binh lao lên phía trước tiêu diệt quân thù; đó là âm thanh bập bùng của trống; là lời hát nghèo giai điệu của các bộ tộc ít người cho đến những dàn hợp xướng hòa tấu hiện đại của Tây phương và Đông phương. Con người ra sức thể hiện âm nhạc bằng giọng hát (thanh nhạc) và bằng nhạc cụ (khí nhạc). Thể hiện âm nhạc là một hành vi có nhiều ý nghĩa phức tạp. Có thể vì muốn gợi lại một tình cảm đã mất, có thể để trấn an tinh thần v.v…Nhìn chung là truyền đạt trao đổi tình cảm hoặc tư tưởng. Nghĩa là tôi hátđể người khác biết tôi vui, hoặc báo cho người khác biết tôi buồn, tôi cô đơn, tôi oán giận. Như vậy, âm nhạc chính là một loại ngôn ngữ có thể dùng cho mọi dân tộc, không cần phải thông qua cầu nối của lời nói hay văn tự. Một người Trung Quốc có thể cảm nhận sự tha thiết hoặc kích động trong một bài nhạc do một người Pháp tấu lên dễ dàng mà không cần hiểu lời nhạc. Ngược lại, một người Pháp có thể nghe nhạc Trung Quốc và có thể cảm nhận được mà không cần hiểu tiếng Trung Quốc.

Ngoài ra, các nghiên cứu về âm học còn cho thấy một số tác động của âm nhạc. Đã có một thí nghiệm thú vị sau đây: người ta đặt hai cái loa gần một cây con, một cho phát nhạc êm dịu, một cho phát nhạc kíchđộng. Sau một thời gian, cây lớn dần lên, nhưng mọc nghiêng về phía loa phát nhạc êm dịu. Rõ ràng, âm nhạc đã tác động vào thực vật. Người ta ứng dụng kinh nghiệm của thí nghiệm trên vào nhiều lĩnh vực. Ví dụ phát nhạc để ru em bé ngủ ở nhà trẻ, dùng nhạc để trị bệnh. Một ví dụ ngoạn mục nữa là ở các siêu thị,người ta cho phát nhạc êm dịu để khách hàng thoải mái ở lại lâu hơn, có thời gian cân nhắc, mua thêm hàng và như vậy thì doanh số bán tăng lên. Ngược lại, ở các nhà hàng, nếu khách quá đông, người ta phát nhạc dồn dập làm khách hàng ăn nhanh hơn để mau có bàn trống cho khách mới. Thêm vào đó, tiếng động ( Tiếngđộng cũng là một loại âm thanh, chỉ có điều nó không làm vừa tai nên người ta không thích ) quá nhiều ở thành phố khiến trẻ con trưởng thành về mặt sinh lý nhanh hơn trẻ con ở miền quê. Sự ồn ào này cũng góp thêm cho thời đại một bệnh gọi là stress. Tóm lại, âm nhạc có tác động hiển nhiên vào cơ thể sinh vật, dù có muốn nghe hay không. Và như đã thấy, sự tác động ấy có thể đem lại lợi ích mà cũng có thể đem lại nguy hiểm.

Trong đạo Cao Đài, đọc kinh luôn luôn kèm theo nhạc. Có thể xem hình thức đọc kinh của Cao Đài là một loại thánh ca. Nhưng là thánh ca có nhạc và lời được qui định sẳn từ ngày khai đạo và không thể sáng tác thêm thánh ca khác. Nhạc dùng khi đọc kinh là nhạc dân tộc, tấu lên bằng các nhạc cụ cổ truyền. Vậy tại sao không dùng nhạc Tây phương hiện đại đang thông dụng mà lại dùng nhạc dân tộc ?

Nhạc dân tộc là tinh hoa của dân tộc Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử cho tới thời kì khai đạo thì kết thành ba loại:

· Hơi Bắc: nhạc vui khỏe, rộn ràng

· Hơi Nam: Nam Xuân trang nghiêm, sảng khoái; Nam Ai buồn da diết .

· Hơi oán: nhạc buồn, oán hờn. Đây là một loại đặc biệt nữa của dân ca Nam bộ.

Nhạc dùng khi đọc kinh chủ yếu là hai điệu Nam Xuân và Nam Ai, nghĩa là một vui, một buồn. Điều này không ra ngoài qui luật vận hành âm dương của Đức Chí Tôn. Có vui ắt có buồn, nửa vui nửa buồn và chẳng vui chẳng buồn; tức là lưỡng nghi sanh tứ tượng. Lời kinh phối hợp với nhạc sẽ cấu thành một ngôn ngữ đặc biệt và sẽ tác động vào mọi hướng, cũng như âm nhạc tác động vào cây con. Vậy đọc kinh là phát đi thông tin, là thực hành thể pháp thông công thứ nhất.

Ngoài ra, người thực hiện thể pháp thông công còn có thể nhận thông tin nữa. Trong âm học, chúng ta đều biết hiện tượng cộng hưởng. Tức là nếu khảy đàn ở một nốt ( là âm ở một cao độ nào đó trong bảy âm ở nhạc phương Tây và năm âm ở nhạc dân tộc Việt Nam) thì một dây đàn khác mang nốt cùng cao độ, dù không chạm tới cũng rung lên và phát ra âm thanh. Vậy khi đọc kinh đạt đến mức có một tâm hồn trong sáng, không một lo nghĩ, phiền muộn nào tức là đã tự nâng cõi lòng mình lên cùng cao độ với âm thanh của vũ trụ vốn phát ra thường xuyên. Đó cũng là lúc cóđược sự cộng hưởng, tức là nhận được thông tin từ vũ trụ, cũng như người xưa thường nói có cảm thì có ứng.

Có thể phản biện rằng âm nhạc dùng trong thể pháp này là một hình thức ru ngủ để trốn tránh sự đau khổ cùng cực của cuộc sống. Có thể người thân của tôi quađời, của cải của tôi bị mất, nhưng tôi không có khả năng làm người thân của tôi sống lại, cũng không có khả năng lấy lại của cải, nên tôi đọc kinh để quên đi cuộc đời. Có thể là như vậy, nếu người hành pháp có ý đó. Nhưng nếu đọc kinh như thế thì chẳng có gì gọi là thông công. Trong trường hợp này, đọc kinh, rõ ràng, là chạy trốn cuộc đời, chạy theo âm thinh sắc tướng. Xin nhớ rằng, âm nhạc dùng trong thể pháp này có định hướng tích cực rõ rệt. Đó là ý thức trao đổi và tác động vào môi trường sống vốn đã băng hoại đến phi lý. Người tu học đọc kinh không những để tác động vào chính cơ thể mình mà còn muốn môi trường xung quanh cũng được tác động, giống như âm nhạc tác động vào cây con. Cái vui sảng khoái, nhẹ nhàng của Nam Xuân, cái buồn mênh mông của Nam Ai, sự đậm đà dân tộc cùng với tiết tấu dìu dặt, nhẹ nhàng gợi mở sự trong sáng trong tâm hồn người học đạo. Để từ đó, người học đạo cóđược tình yêu, đi vào cuộc đời không nghi kị, không hận thù vật vã. Rõ ràng,đọc kinh để đi vào cuộc đời chứ không phải để trốn tránh cuộc đời.

Âm nhạc và lời kinh không thể tồn tại đơn phương. Nhạc thiếu lời kinh thì tình cảm của nhạc sẽ quá phóng túng. Lời kinh thiếu nhạc sẽ không có sức sống. Âm nhạc của giới trẻ ngày nay vì thiếu những lời đúng đắn nên đôi khi trở nên sa đà, buông thả. Còn lời kinh không có nhạc, thì rõ ràng, sẽ mang âm điệu ru ngủ và không tác động được bao nhiêu. Lời kinh và nhạc khi bổ sung đúng mức cho nhau sẽ phát sinh tác động có ý thức, nói khác đi là bí pháp khởi sự vận hành.

* Phối hợp không gian và thời gian

Đểphát huy hết công suất của thể pháp thông công, cần xét hai yếu tố nữa cũng góp phần không nhỏ. Đó là không gian và thời gian. Không gian là nơi đọc kinh và thời gian là lúc đọc kinh.

Hành thể pháp thông công hay đọc kinh ở nơi nào sẽ đạt hiệu quả cao nhất ? Dĩ nhiên,đọc kinh ở đâu cũng được : nhà riêng, đám cầu siêu, thánh thất… Nơi nào ngườiđọc có lòng thành khẩn đúng mức thì sẽ đạt hiệu suất lớn nhất. Tuy nhiên, ởthánh thất hoặc tốt hơn nữa là đền thánh sẽ có thêm hai lợi điểm. Thứ nhất là sự hỗ trợ của các bạn đạo. Ai cũng biết, con người vốn sợ làm việc một mình. Trong một đám đông, nhất là với những người cùng chung mục đích, con người cảm thấy có chỗ dựa nên dễ có hành động dũng cảm. Ngoài ra, nhờ tác động qua lại của tinh thần nên dễ tập trung hơn. Điều này là tối cần thiết cho việc đọc kinh. Sựkiện tâm lý ấy có thể thấy qua các cuộc biểu tình. Ngày nay, người ta gọi là hiệu ứng đám đông. Có nghĩa là trong đám đông, nếu mọi người cùng làm một việc gì thì dễ lôi cuốn cá nhân làm theo việc ấy. Đó cũng là nguyên nhân khiến con người nguyên thủy tập hợp thành bầy đàn rồi tiến lên bộ lạc và xã hội ngày nay.Điểm thứ hai là kiến trúc thánh thất (nhất là nơi nào có kiến trúc giống đền thánh, hay tốt nhất là đền thánh). Chẳng những không khí nơi này trang nghiêm, yên tĩnh, dễ tập trung, mà chính kiến trúc ấy cũng có những đặc thù của nó. Âm thanh khi gặp vật cản sẽ dội lại (tính phản xạ của âm thanh). Do tính chất này, người ta tính toán khi xây một thính phòng sao cho hiệu quả âm thanh đạt đến mức tốt nhất, nghĩa là không có tiếng vang để gây ra nhiễu âm. Phần lớn các thánh đường từ xưa đến nay trên khắp thế giới đều có hình mái vòm trên trần là nhằm vào mục đích này. Đền thánh cũng có hình mái vòm, nhưng là chín mái vòm liên tiếp. Vậy thì hiệu quả âm thanh ở Cửu Trùng Đài cũng có phần khác thường. Cũng một ống sáo, nếu ta bấm các lỗ khác nhau thì ta sẽ được các âm thanh khác nhau. Việc này cần phải được nghiên cứu thêm về mặt âm học cho tường tận.

Ngoài hai điểm trên, thì vị trí của đền thánh cũng là một bí mật. Theo thánh ngôn , vị trí này nằm trên huyệt lục long phòấn. Ngày nay, mọi người đều đồng ý rằng do cấu tạo của vỏ trái đất không đồngđều và trong lòng đất có thể có những quặng kim loại lớn với những trữ lượng khác nhau làm thay đổi ít nhiều từ trường của trái đất. Do đó, khi ở những nơi khác nhau trên quả đất, con người sẽ chịu ảnh hưởng của từ lực khác nhau. Con người chịu ảnh hưởng của lực hút quả đất rất lớn. Các nhà du hành không gian sau khi sống trong môi trường không trọng lực một thời gian lâu đều mắc phải bệnh rối loạn các chức năng cơ thể lúc trở về trái đất. Như vậy, phải chăng đền thánh nằm ở một vị trí có từlực đặc biệt tác động vào cơ thể con người và làm cho việc thông công với cõi thiêng liêng có lợi thế nào đó ?

Yếu tố thứ đến là thời gian đọc kinh. Tất cả các sinh vật đều bị yếu tố thời gian chi phối. Vì có thời gian nên mới có sinh ra, lớn lên, già cỗi rồi chết đi; tức là thành, trụ, hoại, không. Thời gian là một thành tố không thể thiếu được của vũ trụ và thời gian tồn tại vô tư ngoài vòng tay của con người. Nghĩa là con người không có cách nào làm thời gian chậm lại hoặc nhanh hơn. Và thời gian dưới cái nhìn vĩ mô là một tổng thể các chu kì mà ngày nay mọi người đều biếtđến dưới tên gọi chu kì sinh học. Một bông hoa cứ đến mười giờ là nở. Một con hàu cứ đến giờ thủy triều lên là hé vỏ đón nước biển. Người ta thử đem con hàuấy đến bờ biển khác, nơi mà giờ thủy triều lên khác hẳn thì nó vẫn hé vỏ theo giờ thủy triều lên ở nơi cũ. Trong cơ thể con người cũng có một đồng hồ sinh học như thế. Nếu theo dõi cẩn thận thì sẽ thấy rõ tại sao có lúc tinh thần dễtập trung, có lúc dễ nổi cáu; thậm chí có lúc dễ mắc bệnh hơn những thời điểm khác ? Do đó, đạo Cao Đài qui định cúng tứ thời (tức là bốn lần trong ngày) là căn cứ vào thực tế này. Trong bốn thời điểm này, do tác động của đồng hồ sinh học mà các cơ quan trong cơ thể chúng ta đều có những sinh hoạt khác nhau. Hành thể pháp thông công những lúc này, về mặt nội giới, là điều hòa các hoạt động sinh lý và tâm lý của cơ thể; về mặt ngoại giới là đúng thời điểm mà mặt trăng, mặt trời, trái đất nói riêng và cả vũ trụ này nói chung đi vào vị trí thích hợp cho việc thông công. Tưởng cũng nên nói thêm ở đây là ngày sóc (ngày đầu tháng âm lịch) và ngày vọng ( ngày giữa tháng âm lịch) đều là những dịp thuận tiện nhất để thông công. Có rất nhiều nghiên cứu nói đến hiện tượng khi trăng tròn lực hút của trái đất và mặt trăng lớn nhất. Trong con người, phần chất lỏng, tức là nước lại chiếm tỉ trọng rất cao. Do đo cơ thể cũng chịu ảnh hưởng sức hút của trái đất và mặt trăng. Lúc thủy triều lên cao nhất cũng là lúc một sốbệnh mãn tính như suyễn, tâm thần dễ bộc phát nhất. Một số điều tra về tội phạm cũng cho thấy đó cũng là lúc tội phạm xảy ra nhiều nhất. Như vậy, rõ ràng là vịtrí các thiên thể có tác động đến đồng hồ sinh học trong cơ thể. Đến đây, càng dễ nhận thấy rằng thực hành thể pháp thông công trong những lúc như thế sẽ đạt hiệu quả cao hơn .

 

* Hai tác động

Thểpháp thông công thứ nhất sẽ mang lại những tác động nào ? Hay nói đơn giản hơn : đọc kinh sẽ đạt được những gì ? Rõ ràng người tu học đọc kinh với ý muốn có một tác động nào đó chứ không phải để giải trí.

Nhưvậy, muốn thực hiện thể pháp này phải hiểu lời kinh, phải phối hợp với âm nhạc, rồi phải thực hiện đúng chỗ, đúng thời điểm. Tất cả những điều này phải kết hợp hài hòa.

Còn một điểm cuối cùng, đó là ý chí của hành giả, tức người đọc kinh. Ngay khi mở đầu thể pháp này, trong bài kinh đầu tiên, người tu học đã gặp câu “ Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp”. Đây chính là vấn đề tư tưởng, không thể do người khácđem lại. Chỉ có hành giả mới biết được mình có thành khẩn hay không và thành khẩn tới mức độ nào.

Vấn đề niềm tin cũng vậy. Muốn biết mình có thành, có tín hay không phải tự xét mình. Tự xét mình là một hành vi vô cùng khó khăn, bởi lúc đó có thể mình phảiđứng trước một thực tế không lấy gì làm đẹp cho lắm. Ví dụ như khi xét mình, nhận thấy là mình gian tham. Vậy mình đối phó với thực tế này như thế nào ? Hoặc là chối bỏ, nói rằng mình không gian tham, hoặc hứa với lòng mai mốt không gian tham nữa. Có rất nhiều cách để chối bỏ. Nhưng cái ta (bản ngã) là một thực tế sinh động tuyệt vời và nắm bắt được nó thật khó khăn biết bao . Ví dụ mình vừa suy tưởng một vấn đề. Biết được mình đã suy tưởng đến vấn đề đó, tức là mình đã suy tưởng rồi . Muốn nắm bắt được cái gốc của sự suy nghĩ thật vô cùng khó khăn, vì mình luôn suy nghĩ trước khi biết được mình đã suy nghĩ.

Bây giờ, giả sử là có thể xét được lòng mình thành tín hay không, dù đó là những nhận xét manh mún. Hãy tạm giả sử như vậy để chúng ta xét tiếp đến những tác động của thể pháp thông công. Hành vi tựxét mà thiền học gọi là xét đến mức “quán” phải được thực hiện hết sức lâu dài, có khi đến cả đời người vẫn chưa “quán”. Khi đã “thành” hay “tín” thì hành pháp mới có hiệu suất cao nhất.

Trởlại vấn đề trên : tức là chúng ta đã xét được mình. Như vậy khi lòng thành, lời kinh, âm nhạc, nơi đọc kinh, lúc đọc kinh được phối hợp đầy đủ thì bí pháp sẽvận hành, nghĩa là sẽ có tác động. Có hai tác động khi người tu học thực hiện thể pháp thông công thứ nhất: tác động nội giới và tác động ngoại giới.

· Tácđộng nội giới:

Là những tác động vào chính hành giả. Con người gồm hai thành tố chính cấu tạo : Thể xác (tinh) , trí não (khí). Hai thực thể này phối hợp qua lại .Điều này không cần chứng minh mà có thể nhận xét qua chính cơ thể mỗi cá nhân. Thể xác khỏe mạnh thì trí não sáng suốt, tinh thần mạnh mẽ cũng lôi kéo những hoạt động của cơ thể. Thể pháp thông công thứ nhất là một chất xúc tác để thể xác ( Tinh) phối hợp với tinh thần (Khí ) rồi hiệp một cùng thần. Đó là phần thiêng liêng mà Đức Chí Tôn ban cho loài người nhưlời đã hứa “ Thầy đến để hườn chơn thần cho các con đắc đạo”. Sau đây là các tác động nội giới của ba loại kinh.

- Loại nhận thông tin: hành giả hành thể pháp này với ý thức hướng nội, nghĩa là mình nghĩ về chính mình. Tiêu biểu cho loại kinh này là kinh sám hối. Nghĩa đen của từ sám hối là tự thú tội để sửa đổi. Vậy thì vấn đề ở đây là cần phải biết là mình có tội hay không trước khi tụng kinh sám hối. Bởi vì, có tội thì sám hối là một hành viđúng nghĩa, còn sám hối mà không có tội thì tưởng không còn gì vô lý hơn. Thếnhưng làm sao biết mình có tội hay không có tội ? Xét mình có tội hay không là một hành vi không đơn giản. Bởi chính những kẻ có tội tày trời cũng vẫn kêu oan trước công đường như thường. Rõ ràng điều này thật khó khăn. Thế nhưng hãy giảsử là mình có tội. Theo lời Đức Hộ Pháp thì chính mình là ông quan tòa công bình nhất nơi cõi thiêng liêng hằng sống. Giờ đây, hãy giả sử là mình phán đoán mình có tội và có lòng thành khẩn muốn sửa đổi để xét tiếp tác động khi hành thể pháp thông công thứ nhất như thế nào. Khi nhận mình có tội, cõi lòng hành giả rộng mở, vui vẻ đón nhận mọi công kích, mọi chỉ trích của người khác. Lúc này, mình đối diện với tội lỗi của chính mình chứ không trốn tránh nữa. Tội lỗi bây giờ xuất hiện với đầy đủ mọi góc cạnh, mọi tính cách quỉ quyệt , ranh ma của nó. Với ý hướng như vậy, không phải chỉ có ý thức người học đạo sám hối mà toàn cơ thể này , các tế bào, các cơ quan đều sám hối; nghĩa là sẳn sàng đón nhận mà không chống đối phản ứng. Bây giờ, lời kinh và nhạc sẽ len lỏi tận mọi ngõ ngách của các tế bào, xoa dịu, thêm cho chúng nguồn sinh lực mới để chúng tiếp tục sống hài hòa không rối loạn. Khi đó, chúng cùng nhìn về một hướng, với ý thức sẳn sàng nhận thông tin từ ngoại giới. Toàn bộ trí não (khí) và thể xác (tinh) bây giờ tập trung cao độ để đón nhận thông tin từ cõi thiêng liêng hằng sống.

-Loại phát thông tin: Hành giả thực hiện thể pháp này với ý thức hướng ngoại, nghĩa là nghĩ về người khác. Ví dụ như tụng kinh cầu siêu nghĩa là mong cho các chơn hồn khác được thăng tiến trên cõi thiêng liêng hằng sống. Tức là hành giảcó ý thức phục vụ, giúp đỡ. Nhưng liệu ý thức phục vụ ấy có thực sự là phục vụhay không ? Bởi phục vụ giúp đỡ mà hoàn toàn không vì chính mình là điều rất khó. Rất có thể tôi mong cho người khác siêu thăng vì trong thâm tâm, tôi cũng mong được siêu thăng như vậy hay mong rằng hành động cầu siêu sẽ đem lại côngđức cho mình và con cháu mình. Nếu ý thức như vậy thì mình không hề cầu siêu cho người khác. Như vậy, một lần nữa, đây là vấn đề tư tưởng và ta phải xét mình xem có thực sự muốn người khác siêu thăng hay không ? Một ý thức thật sự phục vụ như thế mới có thể phối hợp với nhạc và kinh, tiến tới tập trung cơ thểvà trí não để phát đi thông tin mong muốn. Bây giờ các tế bào trong cơ thể hành giả cũng phối hợp cùng nhìn về một hướng, nhưng là hướng phát thông tin ra ngoại giới.

- Loại vừa nhận vừa phát thông tin: tiêu biểu cho loại này là các bài kinh cúng tứ thời. Thể pháp này phối hợp cả hai loại nêu trên, nên hành giả có được cả hai loại tập trung nhận và phát của cơ thể và trí não. Tức là người học đạo đi vào công thức muôn đời của Đức Chí Tôn: lưỡng nghi sanh tứ tượng, tứ tượng sanh bát quái, bát quái sanh vạn vật…

Nhà bác học Einstein cho rằng mọi dạng vật chất đều có thể biến thành năng lượng theo công thức trứ danh : E = MC2 và lý thuyết này đã được minh chứng tuyệt vời qua các vụ nổ nguyên tử. Nhưng bắn phá hạt nhân nguyên tử để gây nổ chỉ là một trong nhiều cách để biến vật chất thành năng lượng. Người ta có thể phát xungđiện theo chu kì nào đó để phát sóng điện từ cũng là một dạng năng lượng. Như vậy, khi cơ thể con người nhận phát thông tin theo một chu kì nhất định cũng sản sinh ra năng lượng. Ngày nay, người ta đang nghiên cứu hiện tượng này và đặt tên nó là sóng ngoại cảm. Thực hiện thể pháp đến mức phát ra sóng ngoại cảm là bí pháp đã vận hành bên trong hành giả. Gần đây ở Trung Quốc đã có người phát ra sóng ngoại cảm cách xa hàng trăm cây số để trị bệnh. Nuớc Nga cũng có vài trường hợp thực hiện được điều này. Khoa học đang nổ lực tìm cách chứng minh hiện tượng này, hy vọng trong tương lai sẽ có những thông tin rõ rệt hơn.

Đó là tác động nội giới, còn tác động ngoại giới thì sao ? Quan niệm thiên nhân hiệp nhất của đạo Cao Đài (trời người hiệp một) xét về mặt thực tế có thể chứng minh dễ dàng. Không có con người thì không có vũ trụ và không có vũ trụ thì không có con người. Con người và vũ trụ tác động qua lại. Ví dụ như những đốm mặt trời xuất hiện theo chu kì mà các nhà khoa họcđã tính toán ra là khoảng mười một năm, tạo ra những thay đổi thời tiết ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Rõ ràng vũ trụ tác động vào con người. Ngoài ra sinh hoạt của con người cũng tác động vào thiên nhiên. Gần đây, theo dõi báo chí ,vẫn thấy bàn đến sự hủy hoại tầng ozone và hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Hai vấn đề đó do chính con người tạo nên. Con người sử dụng những bình xịt nước hoa, bình xịt thuốc sát trùng, máy lạnh …. trong đó có chứa chất khí CFC .Chất này tích tụ lâu ngày làm tầng ozone trên bầu khí quyển bị phá hỏng. Lúc đó, những tia bức xạ có hại của mặt trời sẽ không được chận lại mà đến thẳng trái đất gây ra bệnh tật cho con người. Ngoài ra, sử dụng nhiên liệu như xăng dầu sẽ phát sinh nhiều khí carbon trong khí quyển, làm cho các tia bức xạ của mặt trời không thể phản xạra ngoài vũ trụ .Chúng lưu lại trong khí quyển, làm nhiệt độ ngày càng tăng cao, gây rối loạn thời tiết. Đó là những ví dụ cụ thể chứng tỏ con người có tác động đến vũ trụ, nhưng là tác động về mặt vật chất. Còn những tác động của thểpháp thông công về mặt tinh thần thì sao?

- Tác động ngoại giới:

-Loại nhận thông tin: như đã trình bày , nếu hành thể pháp đúng mức, có thể phát ra cái tạm gọi là sóng ngoại cảm. Vì ý thức là nhận nên sóng ngoại cảm này mang tính chất nhận hay là hướng tâm.

-Loại phát thông tin: giống như trên, nhưng định hướng trái ngược lại .

-Loại vừa nhận vừa phát thông tin: mang cả hai tính chất nói trên.

Trong thế giới xung quanh, mọi sinh vật đều phát sóng, không phải chỉ có con người khi thực hành thể pháp thông công mới phát sóng. Có điều, mọi vật xung quanh phát sóng không định hướng và rối loạn. Khi hành thể pháp thông công thứ nhất, người tu học phát sóng có định hướng, do đó sẽ thu hút các sóng trái dấu. Ví dụ nhưphát sóng nhận sẽ thu hút sóng phát và ngược lại. Như vậy, chúng ta sẽ định hướng cả không gian phát sóng trong môi trường sống của chúng ta. Hậu quả trước hết là người tu học tác động vào thếgiới sống, cũng giống như khi dùng nhạc để tác động vào cây con vậy. Khi không gian phát sóng được định hướng và có chu kì thích hợp, tức là bốn lần trong một ngày, hay tập trung vào những ngày sóc vọng , lúc đó sóng trở nên đồng cấp với sóng của vũ tru, thường gọi là “điển” từ cõi thiêng liêng hằng sống. Bấy giờ, người tu học nhập vào trạng thái mà người xưa gọi là huyền đồng với trời đất, tức là đạt tới trạng thái thông công cùng cõi giới siêu tự nhiên.

Thiết nghĩ, những phần trình bày trên phần nào gọi là tạm định hướng cho cách đọc kinh trong Cao Đài giáo, hay nói đúng hơn là thể pháp thông công thứ nhất. Sau đây là một số nhận xét nhằm đúc kết vấn đề:

Trước hết, thể pháp thông công thứ nhất hàm chứa bí pháp giải thoát. Dĩ nhiên nên hiểu rõ là giải thoát cho cả vạn linh chứkhông chỉ riêng một cá nhân nào. Rõ ràng, hành giả phải có ý thức tích cực, vượt khỏi cái ta nhỏ bé mang đầy mầm mống nghi kị thù hằn và độc ác. Chính đó là nhân tố đã trưởng dưỡng chiến tranh cho toàn địa cầu 68 này. Cũng phải vượt khỏi những cầu xin lợi ích cá nhân như cầu mong gia đình yên ổn, cầu may trúng số…, Phải hiểu rằng tụng đọc kinh là tác động tới cả thế giới hoặc xa hơn nữa là vũ trụ tức cõi thiêng liêng hằng sống. Nếu cho rằng “ mấy người lẻ loi thì làm sao lời kinh tác động đến ai “thìđấy là một quan niệm buông xuôi. Vì như đã thấy, cây con - vốn là một thực vật- vẫn bị âm nhạc tác động . Người học đạo Cao Đài đều biết Đức Chí Tôn dạy : “Thầy là các con, các con là thầy”. Có thể suy ra :”ta là vũ trụ, vũ trụ là ta”.Vậy thì chính cá nhân, con người nhỏ bé này chứ không phải ai khác chịu trách nhiệm sự thành-bại-nên-hư của vũ trụ. Lời kinh của người tu học phát ra mang một sức mạnh lớn lao, đủ sức vận hành vũ trụ. Có ý thức vững vàng như thế thì bí pháp mới vận hành.

Thứ đến, hành thể pháp thông công để đạt được tình trạng thông công với cõi thiêng liêng hằng sống. Nhưng đạt được như thế đểlàm gì ? Bửu pháp của Đức Chí Tôn để lại cho con người là giải thoát, nghĩa là thoát khỏi mọi đau khổ về mặt tinh thần, mọi ti tiện nhỏ nhen của đời sống vàđạt được trí huệ. Thông công với cõi thiêng liêng hằng sống chưa phải là cứu cánh mà trí huệ mới chính là điều người tu học mong đạt tới. Chính thông qua trạng thái thông công người học đạo mới được hườn nguyên chơn thần, tức đạtđược trạng thái trí huệ mà thiền học gọi là trí Bát Nhã. Khi đạt được trí huệ,hành giả có cái nhìn sáng suốt xuyên thấu cuộc sống làm tan biến mọi vấn đề.Sống chết, khổ đau, hơn thua không còn nữa. Người học đạo vẫn sinh sống, làm việc như thường ngày, nhưng cuộc sống bây giờ đổi khác. Cuộc sống bây giờ là Cực Lạc Thế Giới. Tóm lại, hành thể pháp thông công là tập trung năng lượng thểxác và tinh thần để đón nhận năng lượng vĩ đại của vũ trụ. Hai năng lượng phối hợp, tức là Trời - Người hiệp một hay còn gọi là Tinh - Khí - Thần hiệp nhất. Chính sức mạnh ấy sẽ khai mở khiếu huyền quang hay huệ nhãn hay đạt đến trí huệ.

Sau cùng, nếu suy nghĩ rằng chỉ hành thể pháp thông công này thôi là đủ thì cũng có phần phiến diện. Mỗi ngày người tu học chỉ tụng kinh bốn lần, thời gian còn lại vẫn phải sống, giao tiếp với xã hội chung quanh. Thời gian này cũng quan trọng không kém vì nó tạo điều kiện cho người học đạo nhìn thấy chính mình rõ hơn lúc nào hết. Có va chạm với người khác trong đời sống mới thấy mình tốt hay xấu, mình có thực sự trong sạch hay chưa, mình có trách nhiệm với xã hội đến mức độ nào. Chừng nào người học đạo còn chưa rõ là mình tốt hay xấu, còn bỏ mặc người khác trong đau khổ, còn tính toán lời lãi thì hành thể pháp thông công chẳng khác chi hát một bài hát vô nghĩa. Lúc đó, đúng là người học đạo đuổi theo âm thinh sắc tướng. Cũng có suy nghĩ rằng tụng - đọc kinh càng nhiều càng tốt, thậm chí không còn tha thiết đến việc đời nữa để mau chóng đạt được trí huệ. Thế nhưng trí huệ không ít nhiều, không mau chậm . Trí huệ chỉ xuất hiện như những tia chớp trong những giây phút mong manh, khi thể pháp phát huy đến mức cao nhất. Lúc ấy, đạt được trí huệ, người học đạo sẽ trả lời được câu hỏi muôn thuở : do đâu mà ta hiện diện ở cõi đời này ?

 

 

IV

KẾT LUẬN

 

Khi tạo lập một tôn giáo mới để cứu vạn linh, tức là cả nguyên nhân, quỉ nhân và hóa nhân, Đức Chí Tôn đã dạy : “ … muốn tận độ chúng sinh phải bày bửu pháp chứ không dấu nữa …”. Trên thực tế Đức Chí Tônđã bày bửu pháp tại đền thánh. Những người học đạo chân thành, những người cảm thấy cần chân lý giải thoát như cần hơi thở, đều nhìn thấy và thấu hiểu lời dạy của Đức Chí Tôn khi đứng trước đền thánh. Có lẽ mỗi người sẽ thấy hiểu một cách khác nhau, do khác biệt về văn hóa hoặc chủng tộc, nhưng cuối cùng cũng phảiđồng ý rằng hình thể đền thánh chứa đựng một nội dung vô cùng phong phú. ThểPháp ấy chứa đựng một Bí Pháp huyền diệu và Thể Pháp ấy không rời Bí Pháp.

Đền Thánh không chứa đựng Bí Pháp thě chỉ lŕ một tňa nhŕ sơn phết nhiều màu ; Bí Pháp thiếu đền thánh sẽ không biểu đạt đượcđiều gì. Xác thịt không linh hồn là một xác chết; linh hồn không xác thịt không thể hiện hữu ở cõi giới hiện tượng. Tịnh thiếu luyện là gỗ đá; luyện thiếu tịnh chỉ là tập thể thao. “ Đạo không Đời không sức; Đời không Đạo không quyền “.

Rõ ràng, tôn giáo Đức Chí Tôn lập nên có đầy đủThể Pháp và Bí Pháp. Không thể có chuyện chùa này độc quyền cúng tế, còn thánh thất kia lo chuyện thành Tiên. Không thể có nhóm này lo phổ độ còn nhóm kia lo tịnh luyện. Phổ độ là Thể Pháp; tịnh luyện là Bí Pháp. Thể Pháp và Bí Pháp vốn đồng hiện hữu và đối đãi. Thể Pháp và Bí Pháp là một, không thể có một ranh giới phân chia nào. Người học đạo Cao Đài hiểu điều này là đã nắm chắc chiếc chìa khóa vào Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giới.

Nhưng cầm chìa khóa mà không mở thì không vào cửa được. Lý thuyết thiếu thực hành là nói suông. Muốn vào Tam Thập Lục Thiên phải bắt đầu từ cuộc đời. Không thực hành Thể Pháp thì Bí Pháp không chuyển động. Thể pháp của Đức Chí Tôn phải được áp dụng vào thực tế đời sống hằng ngày thì mới có hiệu quả. Người học đạo Cao Đài không thể chia cuộc sống mình ra hai giai đoạn. “ Khi nào lo xong đời, tôi sẽ lên non tu luyện.” hoặc “ Bây giờ tôi lo cúng lạy, làm phước, mai kia vào nhà Tịnh tôi sẽ luyện Tam Bửu.” Người mới học đạo đôi khi mắc phải lầm lẫn tai hại do bị ấn tượng quá mạnh của từ Bí Pháp nên cho rằng luyện Tam Bửu là một hành động gì đó “bí mật” và “ghê gớm” lắm. Nhưng luyện Tam Bửu là gì ? Đó là luyện Tinh, Khí Thần. Tức là rèn luyện thể xác, tập luyện trí suy nghĩ. Thể xác khỏe mạnh thì trí não sáng suốt. Trí não sáng suốt sẽ thông đạt với linh hồn. Ay là đạt đạo. Vậy nếu bây giờ chỉ lo cúng lạy cầu kinh mà không luyện Tam Bửu , nghĩa là không rèn luyện thể xác và tập tành trí não hay sao ?!.

Mỗi Thể Pháp của Đức Chí Tôn đều là những phương cách luyện Tam Bửu nhưng ở những mức độ khác nhau. Trong đó vào nhà Tịnh là phương pháp tập trung cao độ nhất. Những Thể Pháp nêu trong sách này chỉ là những ý nhỏ. Vấn đề là tự bản thân người tu học tìm ra cách luyện Tam Bửu cho thích hợp với mình. Rồi trong cuộc sống hằng ngày, trong mỗi lần suy nghĩ, phải xem xét bản thân, tu sửa, và cứ như thế kiên trì thực hiện suốt cuộc đời. Khi Thể Pháp và Bí Pháp vận chuyển đúng mức thì, ngay trong khoảnh khắc ấy, Trí Huệkhai mở. Đó chính là Thiên Nhãn.

 

Từ Chơn

 

Kính Cáo

Quyển sách này là bản thảo dùng để trình Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh kiểm duyệt trước khi xin phép nhà nước ấn hành. Đồng thời cũng gởi đến một số bậc trí giả để xin chỉ giáo bổ sung. Vậy xin quí thân hữu không nên in ấn và phổ biến trước khi được phép chính thức.

Trân trọng

Top of Page

      HOME