ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ

TRONG

TÔN GIÁO CAO ĐÀI

ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ (DAIBUTSU)
KAMAKURA, NHỰT BỔN
(H́nh của T VV 2019)

TÙNG THIÊN
TỪ BẠCH HẠC
2022

MỤC LỤC

CHƯƠNG MỘT - T̀M HIỂU PHẬT A-DI-ĐÀ
TIẾT 1.PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI?
TIẾT 2. PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

CHƯƠNG HAI - PHẬT A-DI-ĐÀ TRONG KINH TẬN ĐỘ
TIẾT 1. NGUỒN GỐC CÁC BÀI KINH TẬN ĐỘ.
TIẾT 2. KINH CẦU HỒN KHI HẤP HỐI
TIẾT 3. KINH CẦU SIÊU & VĂNG SANH THẦN CHÚ
TIẾT 4. KINH TIỂU TƯỜNG
TIẾT 5. KINH ĐẠI TƯỜNG

PHỤ LỤC
Phụ lục 1
LỜI KHAI THỊ CỦA ĐỨC LIÊN HOA SANH, HÓA THÂN CỦA PHẬT A-DI-ĐÀ
Phụ lục 2
48 LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ





[PDF/download]

CHƯƠNG MỘT

T̀M HIỂU PHẬT A-DI-ĐÀ

CHÀO NHAU "A DI ĐÀ PHẬT" Ư NGHĨA THẾ NÀO?

TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A-DI-ĐÀ PHẬT (h́nh internet)

 

TIẾT 1. PHẬT A-DI-ĐÀ (AMITABHA) LÀ AI?

Đức Phật A-Di-Đà là một vị vua trong truyền thuyết theo kinh điển Phật giáo Đại Thừa, người đă từ bỏ vương quốc của ḿnh để trở thành một tu sĩ Phật giáo và có tên là Dharmakara, có nghĩa là “Kho Chứa Pháp”.

A-di-đà được phiên âm từ Amitābha,  (trong tiếng Sankrit, Amitābha có nghĩa là ánh sáng vô lượng), hay c̣n được biết đến với tên gọi Amida hoặc Amitāyus. Amitāyus có nghĩa là thọ mạng vô lượng, nên Phật A-Di-Đà được xem là Đức Phật Vô Lượng Thọ-Vô Lượng Quang). Trong tiếng Nhật (Japanese), tên Ngài là 阿弥陀如来 Amida Nyorai, c̣n trong tiếng Trung (Chinese), tên Ngài là 阿彌陀佛(T) E-mi-t’uo Fo.

Đức Phật A-Di-Đà là Đức Phật làm giáo chủ ở cơi Tây Phương Cực Lạc, tên Ngài có ư nghĩa như sau:

·        Vô Lượng Quang có nghĩa là hào quang trí tuệ của Ngài vô lượng vô biên không thể đo lường được, chiếu sáng khắp nơi.

·        Vô Lượng Thọ có nghĩa là thọ mạng của Ngài sống lâu không thể nghĩ lường được.

Trong Kinh Vô Lượng Thọ (sa. sukhāvatī-vyūha), Đức Phật Thích Ca đă v́ những hạnh nguyện của đức Phật A-Di-Đà nên khai thị pháp môn Niệm Phật giúp chuyển THÂN và TÂM của con người trở về bản thể thuần khiết. Trong Pháp môn này, người tu chỉ cần nhất tâm tŕ niệm “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” th́ khi mệnh chung sẽ được Văng Sanh về cơi Tịnh Độ để tiếp tục con đường tu tập giải thoát. Được truyền cảm hứng bởi những lời dạy của Đức Phật Lokesvaraja, Đức Phật A-Di-Đà đă lập ra 48 lời thề nguyện để cứu độ chúng sinh. Kể từ đó, Phật A-Di-Đà cuối cùng đă đạt được giác ngộ tối cao. Điều này có nghĩa là lời tuyên thệ từ bi và vĩ đại của Ngài giờ đây đă trở thành hiện thực. Cơi Tây Phương Cực Lạc (Pure Land-Sukhavati) hay CỰC LẠC THẾ GIỚI đă được thiết lập; đau khổ của chúng sinh sẽ được giải thoát nếu họ đặt đức tin và làm theo lời dạy của Ngài.

H̀NH ẢNH PHẬT A-DI-ĐÀ

Phật A-Di-Đà trên đầu có các cụm tóc xoắn ốc biểu tượng cho Luân xa ngàn cánh, mắt nh́n xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, khoác áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây).

Phật A-Di-Đà có thể trong tư thế đứng, tay bắt ấn giáo hóa-tức là tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai ḷng bàn tay hướng về phía trước (trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau làm thành ṿng tṛn). Phật A-Di-Đà cũng có thể ngồi kiết già trên ṭa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên ḷng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Trên tay Phật có thể giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ. 

Điểm phân biệt qua h́nh ảnh của Phật A-Di-Đà  và Phật Thích Ca như sau:

·        Phật A-Di-Đà khoác áo cà sa màu đỏ, trước ngực có chữ Vạn.

·        Phật Thích Ca khoác áo cà sa màu vàng và trước ngực không có chữ vạn.

 

Phật A Di Đà có thật không? Hỏi - Đáp  Phat Thich Ca ngoi dai sen

PHẬT A-DI-ĐÀ                            PHẬT THÍCH CA

(h́nh internet)

 

TIẾT 2. PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

http://daibaothapmandalataythien.org/sites/default/files/styles/width-700/public/images/03.jpg?itok=m7DDpT1h

Cơi Tây phương Cực Lạc (sa. Sukhāvatī)

(h́nh internet)

Pháp Môn Tịnh Độ hay Tịnh Độ Tông là một pháp môn của Phật giáo.

Trường phái này được lưu hành rộng răi tại Trung QuốcNhật Bản và Việt Nam do ngài Huệ Viễn ( 慧遠334-416) sáng lập tại Trung quốc và được ngài Pháp Nhiên (法然, ja. hōnen) phát triển tại Nhật.

Mục đích của Tịnh Độ Tông là tu học nhằm được tái sinh tại Tây phương Cực Lạc (sa. sukhāvatīTịnh Độ của Phật A-di-đà. Đặc tính của tông này là ḷng tin nhiệt thành nơi sức mạnh cứu độ của vị Phật A-DI-ĐÀ, là vị đă thệ nguyện cứu độ mọi chúng sinh đă quán tưởng đến ḿnh. V́ thế chủ trương tông phái này trông cậy nơi một lực từ bên ngoài (tha lực) là Phật A-Di-Đà. Phép tu của Tịnh Độ Tông chủ yếu là niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà và quán tưởng Cực Lạc. Ba bộ kinh quan trọng của Tịnh Độ Tông là: Vô Lượng Thọ Kinh (sa. sukhāvatī-vyūha), A-di-đà kinh (sa. amitābha-sūtra) và Quán Vô Lượng Thọ Kinh (sa. amitāyurdhyāna-sūtra).

v PHÉP NIỆM PHẬT: Mục đích của phép niệm danh hiệu A-di-đà là t́m cách chế ngự Tâm. Phép quán niệm này được xem là có thể giúp hành giả "thấy" được A-di-đà . Phép niệm này có thể thực hiện bằng cách đọc to hay đọc thầm câu “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”. Đó là cách tu thông thường nhất. Ngoài ra hành giả có thể thực hiện phép thứ 16 trong Vô Lượng Thọ Kinh, bằng cách tạo linh ảnh của A-di-đà và thế giới Cực Lạc, xem như hiển hiện trước mắt. Niệm danh hiệu và tạo linh ảnh là điều kiện "bên ngoài", ḷng tin kiên cố nơi A-di-đà là điều kiện "bên trong" của phép tu này, với hai điều kiện đó th́ hành giả mới được tái sinh nơi cơi Cực Lạc. Tuy nhiên, muốn chắc chắn vào được cơi CỰC LẠC của Ngài, nên thực hành niệm Phật liên tục. Việc tụng niệm phải liên tục từng giây từng phút trong tâm, quyết từ bỏ tội lỗi, ăn năn sám hối.., quyết tâm làm điều lành liên tục mọi ngày, mọi giây phút th́ đến lúc chết lời cầu khẩn mới được đáp ứng.

V́ nhiều lư do khác nhau nên nguồn gốc pháp môn này c̣n gây rất nhiều tranh căi. Phật A-Di-Đà được đức Phật Thích Ca giới thiệu và ca ngợi lần đầu tiên trong Kinh Vô Lượng Thọ. Người tin vào Pháp Môn Tịnh Độ (nhận trợ lực của Phật A-Di-Đà để tái sinh vào Cực Lạc tiếp tục tu thành Phật) chiếm chủ yếu ở các nước Đông Á.

Người tu Tịnh Độ tin rằng Niệm Phật A-Di-Đà và tu Tịnh Độ là cách nhanh nhất để đạt được giải thoát, ai cũng làm được. Nếu người nào biết tu hành và tin tưởng vào sự mầu nhiệm của Đạo, sẽ được Văng Sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. C̣n giáo lư nguyên thủy trong Phật giáo th́ cho rằng giữ Giới và thiền định giúp con người có thể tự giải thoát. Phật không thể giúp ai, chỉ có ta tự giúp ta, tự tu tự giải thoát. Phật Thánh chỉ đường lối, giáo lư chánh pháp; c̣n chúng ta làm đúng theo ít nhiều là tùy chúng ta. Ánh sáng trí huệ chỉ dành cho những người giác ngộ, biết nơi đâu là điều ḿnh cần hướng đến.

Trong Kim Cương thừa, pháp tu của Đức Phật A-Di-Đà thực chất là một phương pháp thực hành, nhằm chuyển hoá ái dục của chúng ta. Ái dục thiêu đốt cuộc sống rất mạnh mẽ. Chúng ta tham muốn đủ mọi thứ trong cuộc sống này như tham tiền, tham danh, tham sắc, tham ăn, tham hưởng thụ… đó gọi là tham dục. Tham dục rất cần được chuyển hoá. Chỉ cần chuyển hoá chứ không phải loại bỏ chúng. Nếu loại bỏ chúng, bạn sẽ trở nên khô khan, thiếu sinh lực. Ái dục cũng cần được chuyển hóa thành trí tuệ. Chuyện ǵ sẽ xảy ra khi ái dục chuyển thành trí tuệ? Khi đó, chúng ta sẽ kiểm soát và sử dụng được nó, trợ giúp cho những mục đích tốt, để lợi ích cho sự nghiệp giải thoát cứu độ chúng sinh. Nếu không chuyển hoá chúng, ta sẽ hoàn toàn bị nô lệ cho ái dục và sẽ tạo rất nhiều ác nghiệp bởi ái dục chi phối chúng ta một cách lầm lạc. Chẳng hạn như chúng ta biết sân giận là xấu, nhưng v́ không được chuyển hoá nên bị nó dẫn dắt. Khi gặp việc không vừa ư, chúng ta gào lên, rồi la hét, đánh đập trở nên hung dữ... Cuộc đời chúng ta làm nhiều việc sai lầm, không thể b́nh an và hạnh phúc. Chúng ta có thể trưởng dưỡng Phật tánh bên trong chính ḿnh, tạo hạnh phúc cho chính ḿnh, không lệ thuộc vào bất kỳ một thứ ǵ khác bên ngoài. Đức Phật Thích Ca cũng nói rằng: đừng nương tựa vào Ngài.

 

v CÁCH THỨC QUÁN TƯỞNG PHẬT A-DI-ĐÀ KHI HẤP HỐI:

 

v Tâm này là Đạo, Tâm Phật hay Tâm Ma đều do ta làm chủ. Nếu tôi có niềm tin và cầu nguyện với Phật A-Di-Đà hằng ngày, hằng phút, hằng giây; trong giờ phút lâm chung, tôi sẽ lập tức nhớ đến Phật A-Di-Đà. Tâm tôi hiệp nhất với Phật A-Di-Đà trong chính khoảnh khắc đó. Nhưng nếu thường nghĩ về “tôi”, tài sản của tôi, người thân của tôi và bám chấp vào cái “tôi” đó, th́ mọi nghiệp lực tích tập trong cái ngă đó sẽ khiến Tôi tiếp tục lang thang trong nẻo luân hồi. Khi lâm chung, hăy khởi lên niềm tin với Phật A-Di-Đà-chỉ nghĩ về Phật A-Di-Đà và quán tưởng Ngài trên đỉnh đầu-trong chính khoảnh khắc đó, Tâm hiệp nhất với Phật A-Di-Đà và cơi sáng sẽ xuất hiện. 

http://daibaothapmandalataythien.org/sites/default/files/styles/width-700/public/images/15421003_1341942675838424_2142664684592532982_n.jpg?itok=0bsJZqU9

Cơi Cực Lạc (Sukkhavatti) chỉ có một, do Đức Phật A-Di-Đà làm giáo chủ, nhưng có vô số cơi Tịnh Độ của chư Phật trong mười phương vô biên quốc độ. Tóm lại, con đường tu tập của Pháp Môn Tịnh Độ dựa trên ba nguyên tắc:

1.     Niềm tin (TÍN): Đây là điều kiện tiên quyết, không có niềm tin hay niềm tin không đủ mạnh th́ không thể tu Tịnh Độ được. Sự tin tưởng là nền tảng khởi lên ước muốn và hướng tâm về thế giới Cực Lạc. Đức Phật và Thánh chúng luôn sẵn sàng tiếp độ chúng ta, chỉ cần chuyên tâm tin tưởng và niệm Phật quyết chí Văng Sanh th́ chắc chắn được Văng Sanh.

 

2.     Nguyện lực hay tâm mong muốn (NGUYỆN): Mọi hoạt động tâm lư đều hướng về Tịnh Độ, mọi ước muốn đều được kích thích bằng sự nhàm chán đối với đời sống uế trược và bất an này.  Biểu hiện của ước nguyện về Tịnh Độ là mọi hành vi, lời nói và tâm ư đều phải thể hiện ước nguyện đó. Với lời nguyện Văng Sanh Tịnh Độ, mong có khả năng để cứu độ chúng sanh. Tâm nguyện như vậy mới tương ứng với tâm nguyện của Tịnh Độ, mới có cảm ứng với Phật và Thánh chúng ở Cực Lạc.

 

3.     Hành tŕ (HẠNH): Khi tâm nguyện hướng về Tịnh Độ th́ mọi hành động, ngôn ngữ đều được tu tập liên tục, nghĩa là thực hành phương pháp niệm Phật, quán tưởng… đều đưa đến hợp nhất thân khẩu ư, không để cho các đối tượng của trần gian lôi kéo làm tâm bị tán loạn. Mọi công đức, thiện pháp ta có đều hồi hướng về Tịnh Độ.

Trong Đại kinh, viết về bi nguyện của Đức Phật A-Di-Đà như sau:

Ta v́ các phàm phu mà làm người bạn không cần mời thỉnh

Gánh vác mọi nặng nhọc cho chúng sanh.

Như đứa con thuần hiếu yêu kính cha mẹ

Coi các chúng sanh như bản thân ḿnh.

Nếu tâm không thể thường bố thí

Rộng cứu chúng sanh thoát mọi khổ

Khiến thế gian lợi ích, an vui

Th́ chẳng phải bậc Pháp vương cứu thế.

Chúng sanh luân hồi trong các cơi

Mau về cơi Ta, hưởng an lạc.

Thường vận tâm từ cứu hữu t́nh

Độ hết chúng sanh thoát địa ngục A-tỳ.

V́ chúng khai tạng pháp

Rộng thí báu công đức.

Tiêu trừ ba độc hại,

Cứu khỏi các ách nạn.

Đóng hết các đường ác

Mở rộng các cửa lành.

Chuyên cầu pháp thanh tịnh

Đem ân huệ lợi ích quần sanh

Khiến các chúng sanh thành tựu công đức.

Ta quyết thành Phật để thực hành rộng nguyện này

Khiến tất cả lo âu, sợ hăi đều trở thành an lạc.

                    Trích từ: Bài tựa sách Niệm Phật cảm ứng lục- Pháp sư Huệ Tịnh

                                                              ____________________________________________________________

 

        CHƯƠNG HAI

ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ TRONG KINH TẬN ĐỘ

CỦA TÔN GIÁO CAO ĐÀI

 

TIẾT 1. NGUỒN GỐC CÁC BÀI KINH TẬN ĐỘ.

TIẾT 2. KINH CẦU HỒN KHI HẤP HỐI

TIẾT 3. KINH CẦU SIÊU & VĂNG SANH THẦN CHÚ

TIẾT 4. KINH TIỂU TƯỜNG

TIẾT 5. KINH ĐẠI TƯỜNG

 

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/22/Kamakura_Budda_Daibutsu_right_1879.jpg/240px-Kamakura_Budda_Daibutsu_right_1879.jpg

(h́nh internet)

 

TIẾT 1. NGUỒN GỐC CÁC BÀI KINH TẬN ĐỘ

Nguồn gốc các Bài Kinh Tận độ cho tín đồ sau khi mất được Hội Thánh T̉A THÁNH TÂY NINH nói rơ trong Lời Tựa quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, nguyên văn như sau:

"Từ khi mở Đạo, Chí Tôn duy giáng cơ truyền cho: Phật giáo, Minh Sư, Minh Đường, Minh Lư dạy dâng Kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, song Kinh Tận độ Vong linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả. Đức Quyền Giáo Tông (khi c̣n tại thế) và Đức Hộ Pháp, trót mười năm trường, nghĩa là từ ngày mở Đạo, đă nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ Phụ và các Đấng Thiêng liêng đặng xin Kinh Tận độ, nhưng mà Chí Tôn cùng chư Thần Thánh Tiên Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.

Măi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 năm Ất Hợi (dl 21 đến 31-8-1935) mới giáng cho Tân Kinh.

Ấy là một giọt nước Cam lộ của Đức Từ Bi rưới chan cho các đẳng linh hồn của toàn thế giới. Chúng ta thầm xét th́ đủ hiểu rằng: Đă trải qua 10 năm, Chí Tôn mới mở Cơ Tận Độ. Cơ Tận Độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân Kinh nầy mà thôi.Thương cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt tḥi qui liễu trước ngày Tân Kinh chuyển pháp. Ấy cũng là quả kiếp của nhơn sanh do Thiên Thơ tiền định. Nếu chúng ta thương tưởng th́ duy có một phương độ rỗi là tŕ tụng DI-LẠC CHƠN KINH, hầu các đẳng linh hồn đặng siêu thăng Tịnh Độ. Ấy vậy, bổn kinh nầy nguyên của chư Phật, chư Tiên đă giáng cơ truyền thế trong kỳ Trung nguơn Ất Hợi (1935).

Khi tụng phải thành tâm và phải để nơi tinh khiết."

NHỮNG BÀI KINH TẬN ĐỘ CÓ NHẮC ĐẾN PHẬT A -DI- ĐÀ:

1. KINH CẦU HỒN KHI HẤP HỐI

2. KINH CẦU SIÊU & VĂNG SANH THẦN CHU

3. KINH TIỂU TƯỜNG

4. KINH ĐẠI TƯỜNG

Trong thời Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Phật A-Di-Đà làm Chưởng giáo Cực Lạc Thế Giới. Trong bài kệ U Minh Chung, câu 34 là: "Nam mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội, Di-Đà Cổ Phật Chưởng giáo Thiên Tôn." (Cổ Phật là Đức Phật xa xưa vô lượng kiếp). Nay là thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Phật A-Di-Đà vâng lịnh Đức Chí Tôn giao quyền Chưởng giáo Cực Lạc Thế Giới cho Đức Phật Di-Lạc.

Câu niệm: "Nam Mô A-Di-Đà Phật" gồm 6 chữ, được gọi là Lục tự Di-Đà. Pháp môn niệm Lục tự Di-Đà là để quán tưởng Phật A-Di-Đà. Ngài tượng trưng thể tánh sáng suốt của Thượng Đế, nên niệm như vậy là để giúp cho tánh sáng suốt trong con người thức tỉnh và phát triển đến chỗ phát huệ. Đức Phật A-Di-Đà có 48 lời đại nguyện, trong đó có hai lời đại nguyện quan trọng nhứt:

·        Lúc tôi thành Phật, nếu trong cơi nước tôi có Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh th́ tôi không ở ngôi Chánh giác.

·        Lúc tôi thành Phật, nếu hàng Nhơn Thiên trong cơi nước tôi, sau khi thọ chung, c̣n trở lại sa vào ba đường ác đạo th́ tôi không ở ngôi Chánh Giác.

Đức Phật A-Di-Đà thường hiện thân đi tiếp dẫn những người có duyên phần, có hai vị Bồ Tát hầu hai bên: Đức Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát, gọi chung ba vị là Di-Đà Tam Tôn. Di-Đà Tam Tôn tượng trưng ba thể tánh: Bi, Trí, Dũng của Phật.

·        A-Di-Đà Phật tượng trưng thể tánh sáng suốt: TRÍ.

·        Quan Thế Âm Bồ Tát tượng trưng thể tánh BI.

·        Đại Thế Chí Bồ Tát tượng trưng thể tánh DŨNG.

Gia chủ tuổi ǵ hợp thờ tượng Phật A Di Đà?

TIẾT 2. KINH CẦU HỒN KHI HẤP HỐI

(Giọng Nam ai)

                                         Giải thích bí ẩn hiện tượng “thoát xác”

1

Rấp nhập cảnh Thiêng liêng Hằng sống.

2

Chốn quê xưa giải mộng trần gian.

3

D́u đường thoát tục nắm phan.

4

Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải căn.

5

Diêu Tŕ Cung sai nàng Tiên Nữ,

6

Phép Lục Nương ǵn giữ chơn hồn.

7

Tây phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,

8

Phướn linh khai mở nẻo đường LÔI ÂM.

9

Ớ... (Tên họ kẻ qui vị) thành tâm cầu nguyện,

10

Nguyện Chí Tôn linh hiển độ sanh.

11

Ăn năn sám hối tội t́nh,

12

Xét câu Minh Thệ, gởi ḿnh cơi thăng.

13

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo.

14

Đừng hăi kinh, cầu đảo Chí Tôn.

15

Cửa Địa ngục khá lánh chơn.

16

Ngọc Hư Cực Lạc đon đường ruổi dong.

17

Dầu trọn kiếp sống không nên đạo,

18

Dầu oan gia tội báo buộc ràng.

19

Chí Tôn xá tội giải oan.

20

Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ vong.

21

Ḱa chiếu diệu bóng hồng Bắc Đẩu,

22

Ḱa im đ́m phúc hậu Nam Tào.

23

Cảnh thăng trổi gót cho mau,

24

Xa ṿng tục lự đặng chầu Chí Linh.

 

(Niệm 3 lần Câu Chú của Thầy).

NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TAT

v GIẢI NGHĨA

Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho, để tụng lúc người Tín đồ đang hấp hối hay vừa mới dứt hơi.

-         Tây phương: Cơi Tây Phương Cực Lạc, hay Cực Lạc Thế Giới, v́ cơi nầy ở về hướng Tây, so với Ngọc Hư Cung. Tây Phương Cực Lạc có chùa Lôi Âm (LÔI ÂM TỰ).

Thời Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Phật A-Di-Đà làm Chưởng giáo Cực Lạc Thế Giới.

Sang thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Phật A-Di-Đà trao chức vụ nầy lại cho Đức Di-Lạc Vương Phật, Giáo Chủ Hội Long Hoa, và Đức A-Di-Đà vào ngự nơi Lôi Âm Tự.

-         Tiếp Dẫn Đạo Nhơn: là vị Phật có nhiệm vụ tiếp rước và dẫn dắt các Chơn hồn đến Cực Lạc Thế Giới. Tiếp Dẫn Đạo Nhơn cầm Cây Phướn Tiếp Dẫn. Theo Phật giáo, Phật A Di Đà c̣n  gọi là Tiếp Dẫn Phật.

-         Minh Thệ: Minh là thề ước, Thệ là thề nguyền. Minh Thệ là lời thề hứa chắc phải thực hiện đúng điều đă nguyện. Khi một người muốn nhập môn vào Đạo Cao Đài, người đó phải lập Minh Thệ trước Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn, có vị Chánh Trị Sự hay của Chức sắc sở tại chứng kiến. Lời Minh Thệ do Đức Chí Tôn đặt ra, có in trong TNHT. I. 17, gồm 36 chữ, chép ra như sau:

Tôi tên ....................... tuổi ..........

"Thề

rằng:

Từ

đây

biết

một

Đạo

Cao

Đài

Ngọc

Đế,

chẳng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

đổi

dạ

đổi

ḷng,

hiệp

đồng

chư

môn

đệ,

ǵn

luật

lệ

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

Cao

Đài,

như

sau

ḷng

hai

th́

Thiên

tru

Địa

lục."

25

26

27

28

29

30

31

32

33

34

35

36

-         Xét câu Minh Thệ: Hồi tưởng xem xét lại trong suốt kiếp sanh của ḿnh nơi cơi trần, ḿnh có giữ đúng Lời Minh Thệ của ḿnh không? Tức là:

o   Có đổi dạ đổi ḷng không?

o   Có hiệp đồng cùng chư môn đệ không?

o   Có ǵn luật lệ Cao Đài không?

-         C.11-12: Hăy nhớ rơ Lời Minh Thệ khi nhập môn vào Đạo để tự xét ḿnh mà ăn năn sám hối tội t́nh, cầu khẩn Đức Chí Tôn tha thứ và cứu rỗi để được siêu thăng lên cơi Thiêng Liêng Hằng Sống.

-         Cực Lạc: Cực Lạc Thế giới hay Tây phương Cực Lạc, là cơi của chư Phật, hoàn toàn an vui.

-         Ngọc Hư: Ngọc Hư Cung, ở từng Trời thứ 10 Hư Vô Thiên, là cơ quan cầm quyền chánh trị Càn KhônThế Giới. Không có một ngôi sao nào, một Mặt Trời nào hay một Địa cầu nào trong Càn Khôn vũ trụ mà không chịu dưới quyền của Ngọc Hư Cung.

-         Bắc Đẩu:  Đức Chí Tôn bảo vẽ Thiên Nhăn ngay trên ngôi sao Bắc Đẩu.                              

Nhóm sao Bắc Đẩu c̣n có tên Bắc Đẩu thất tinh (北斗七星) là một mảng sao gồm bảy ngôi sao gồm 7 ngôi sao sáng nhất nằm trong cḥm sao Đại Hùng (Ursa Major) tại thiên cầu bắc. Nhóm sao Bắc Đẩu và sao Bắc cực là hai khái niệm khác nhau: "Sao Bắc Đẩu" là cách gọi dân gian, nói về một nhóm sao bao gồm nhiều ngôi sao, trong khi sao Bắc Cực nói đến một ngôi sao.

Bắc Đẩu không phải là chỉ dẫn thật chính xác của cực Bắc, v́ ngoài chu tŕnh quay 24 giờ, trục Trái đất cũng chuyển động theo h́nh nón. Do đó h́nh chiếu trục trái đất trên bầu trời sẽ là một ṿng tṛn chu kỳ 26.000 năm. V́ thế Bắc Đẩu cũng thay đổi theo thời gian.

5.000 năm trước, trục Trái đất hướng tới cḥm Draco và Bắc Đẩu là sao Thuban.

12.000 năm sau, sao Vega trong cḥm Lyra sẽ là sao Bắc Đẩu.

Ở Mỹ, cḥm Bắc Đẩu được gọi là Big Dipper (cái muỗng lớn).Trong khi đó, nước Anh gọi bảy ngôi sao này là The Plough (cái cày). Hiện nay nhóm sao Bắc Đẩu (Big Dipper) đang ở cao trên bầu trời hướng bắc. Hai ngôi sao ngoài cùng của chiếc gào múc nước Bắc Đẩu là Duhbe và Merak luôn chỉ về hướng của sao Bắc cực (Polaris). Sao Bắc cực - Polaris rất đặc biệt, nó gần như luôn ở một vị trí cố định trên bầu trời bắc bán cầu, những ngôi sao khác xoay xung quanh nó suốt đêm. Sở dĩ như vậy là do nó nằm ngay trên trục của Trái Đất ở bắc bán cầu, và các ngôi sao khác xoay xung quanh nó là do Trái Đất luôn tự quay quanh trục của ḿnh.

-         Nam Tào: Cḥm sao Nam Thập Tự (南十字) (hay Nam Tào, Chữ Thập Phương Nam, Nam Thập, tiếng Latinh: Crux) gồm 4 ngôi sao sáng xếp thành h́nh chữ thập. V́ vị trí của Việt Nam nằm ở Bắc Bán Cầu nên người ta chỉ có thể thấy cḥm sao Nam Thập vào chập tối trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 hàng năm. Năm ngôi sao sáng nhất của Nam Thập (α, β, γ, δ và ε Crucis) xuất hiện trên các lá cờ của ÚcBrasilNew Zealand (bỏ đi sao epsilon), Papua New Guinea và Samoa. Ngôi sao ở hướng Nam, sao Nam Tào cũng được gọi là sao Nam Cực, v́ nó xác định gần đúng hướng Nam của Địa cầu. Rất khó nh́n thấy sao Nam Tào, v́ nó ở rất thấp, nằm gần chơn trời. Muốn t́m sao Nam Tào, chúng ta t́m chùm sao chữ Thập (La Croix du Sud), kéo một đường thẳng tưởng tượng nối dài nét sổ dài của chữ Thập xuống phía chơn trời, chúng ta gặp một ngôi sao hơi lu, đó là Nam Tào.

Hai vị Tiên cai quản 2 ngôi sao Nam Tào và Bắc Đẩu là: Nam Cực Tinh Quân và Bắc Đẩu Tinh Quân. Tương truyền hai vị Tinh Quân nầy coi Bộ Sanh và Bộ Tử của nhơn loại.

T́m sao Bắc Đẩu,Sao Bắc Đẩu,Đọc truyện T́m sao Bắc Đẩu,Truyện cười,truyện cười dân gian,truyện tiếu lâm,truyện cười hay đặc sắc,truyện cười chọn lọc,tuyển tập truyện cười hay nhất  Cờ New Zealand và những ư nghĩa thực sự, bạn có biết? 

                                                                               CHÙM SAO BẮC ĐẨU                     CHÙM SAO CHỮ THẬP (h́nh internet)

 

TIẾT 3 - KINH CẦU SIÊU

(Giọng Nam ai)

1.

Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,

2.

A-Di-Đà Phật độ chúng dân;

3.

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

4.

Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc.

5.

Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát,

6.

Bố từ bi tế bạt vong hồn;

7.

Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn,

8.

Miền Âm cảnh ngục môn khai giải.

9.

Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại,

10.

Độ kẻ lành chế cải tai ương;

11.

Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,

12.

Thấy h́nh khổ ḷng thương thảm thiết;

13.

Giảm h́nh phạt, bớt đường luy tiết.

14.

Xá linh quang tiêu diệt tiền khiên.

15.

Đặng nhẹ nhàng thẳng đến Cung Tiên,

16.

Nơi phước địa ở yên tu luyện;

17.

Xin Trời Phật chứng ḷng sở nguyện,

18.

Hộ thương sanh u hiển khương ninh.

                     (Niệm 3 lần Câu Chú của Thầy).

          NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MAHATAT

v GIẢI NGHĨA

Kinh Cầu Siêu do Đức CHUẨN ĐỀ BỒ TÁT giáng cơ ban cho Minh Lư Đạo (Tam Tông Miếu). Thuở mới Khai Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy Ngũ Chi Minh Đạo dâng kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nên Hội Thánh đến thỉnh bài kinh nầy về làm Kinh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Theo kinh “Chuẩn Đề Đại Minh Đà La Ni”, Bồ Tát Chuẩn Đề là hóa thân của đức Quán Thế Âm, thị hiện vào trong sáu đường sinh tử để hóa độ chúng sinh. Ngài là vị Bồ Tát có thệ nguyện hộ tŕ Phật pháp và hộ mạng cho những chúng sinh nào trí tuệ kém cỏi, nghiệp chướng sâu dày, thân nhiều tật bệnh, thọ mạng ngắn ngủi.

-         Cầu siêu:  Cầu siêu là cầu xin các Đấng thiêng liêng cứu giúp linh hồn người chết được siêu thoát nơi cơi sáng.

-         Kinh Cầu Siêu: là bài Kinh tụng cầu xin Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng Phật Tiên Thánh Thần ân xá tội t́nh và cứu giúp linh hồn người chết được siêu thăng lên cơi Thiêng Liêng Hằng Sống..

Hội Thánh có ghi chú dặn rằng: "Khi tụng hết bài Kinh Cầu Siêu th́ tụng tiếp bài Kinh Khi Đă Chết Rồi (Ba mươi sáu cơi Thiên Tào,...) v́ sợ e cho vong hồn hoặc là người không tu mà Hội Thánh mới độ hồn, hoặc là đạo hữu phạm thệ mà đi xuống cơi Phong Đô, nên trước phải tụng bài Kinh Cầu Siêu (Đầu vọng bái Tây phương Phật Tổ,....) hầu cho vong hồn hồi dương đặng rồi th́ tụng tiếp bài Kinh Khi Đă Chết Rồi (Ba mươi sáu cơi Thiên Tào,...) đặng vong hồn hưởng phép siêu thăng Tịnh Độ.

Phải tụng xen kẻ như vậy cho đủ 3 lần. Khi dứt, niệm Câu Chú của Thầy 3 lần."

-         A-Di-Đà Phật: Phiên âm từ tiếng Phạn AMITABHA, dịch là Vô Lượng Quang Phật hay Vô Lượng Thọ Phật. Trong thời Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Phật A-Di-Đà làm Chưởng giáo Cực Lạc Thế Giới. Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo đêm 30 tháng 03 năm Kỷ-Sửu (27-04-1949) cho biết LÔI-ÂM-TỰ là nơi ngự của ĐỨC DI-ĐÀ. Đức Di-Đà đă giao quyền Chưởng-Quản Càn-Khôn Vũ-Trụ cho Đức Di-Lạc, Đức Di-Lạc ngự nơi Kim-Tự-Tháp, c̣n Đức Di-Đà trở vào ngự nơi Lôi-Âm-Tự. Khi đến đó, chỉ học các triết-lư Phật-Giáo từ tạo thiên lập địa đến giờ.

-         Quan Thế Âm: Quan Thế Âm Bồ Tát, c̣n gọi là Phật Bà Quan Âm, Quan Âm Như Lai, Quán Thế Âm Phật. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đă đắc quả Phật, nhưng Ngài đại nguyện xuống cơi Ta Bà cứu khổ cứu nạn chúng sanh, nên vẫn mang danh Bồ Tát.  Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát làm Đệ Nhị Trấn Oai Nghiêm, chưởng quản Phật giáo, nêu cao gương từ bi bác ái tế độ.

-         Địa Tạng Vương Bồ Tát:  Địa là đất, Tạng là chứa, đất chứa và chở muôn vật, v́ Ngài có lập nguyện độ vô số chúng sanh ở hằng hà sa số thế giới, không một chúng sanh nào ra khỏi tâm của Ngài. Ngài lại c̣n Đại nguyện: Địa ngục mà c̣n chúng sanh th́ Ngài chưa chịu thành Phật. Do lời Đại nguyện nầy, Đức Chí Tôn phong Ngài làm U Minh Giáo chủ (hay Phong Đô Đại Đế), cai quản cơi U Minh Địa phủ (cũng gọi là cơi Phong Đô). H́nh vẽ Ngài mặc áo cà sa đỏ, đội măo Tỳ Lô, tay phải cầm tích trượng có 12 khoen, tay trái nắm viên minh châu sáng rực. Có chùa thờ tượng Ngài đứng trên đài sen, có nơi th́ thờ tượng Ngài ngồi trên lưng con Đề Thính (kỳ lân) với dáng vẻ oai nghi, từ bi, trang nghiêm.Thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn đại khai ân xá, đóng cửa Địa ngục, phóng thích các tội hồn cho đi đầu thai trả quả. Đức Chí Tôn lập ra một cơi mới là cơi Âm Quang để các linh hồn tội lỗi đến đó xét ḿnh, ăn năn sám hối và học Đạo.

-         Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát làm Giáo chủ cơi Âm Quang, giáo hóa các Nam tội hồn; c̣n các Nữ tội hồn th́ có Thất Nương Diêu Tŕ Cung.

-         Thập Điện Từ Vương : Thập Điện Diêm Vương[1] (十殿閻王) hay Thập Điện Diêm La (十殿閻羅) theo tín ngưỡng Á Đông, trong đó có Việt Nam, là 10 vị thần linh cai quản cơi chết và phán xét con người ở Địa ngục.

Tên gọi Diêm Vương có nguồn gốc từ một từ tiếng Phạn là Yamaraja, chuyển dịch sang tiếng Hán thành Diêm Ma La Già, gọi tắt là Diêm La Vương hoặc Diêm Vương. Diêm Vương cai trị Địa ngục và  sống có đạo lư, có quy y Phật, khác với Ma vương là kẻ phỉ báng thánh thần, gieo rắc tội ác. Từ Ấn Độ, thuyết về Diêm Vương được truyền qua Trung Hoa. Tại đây, tín lư này kết hợp với các biện sự của đạo Lăo sản sinh ra thuyết Diêm La Thập Điện. Theo thuyết này, Diêm La Thập Điện gồm 10 vị vua ở địa ngục có các trách nhiệm phán xét các loại tội ác khác nhau của con người.  Diêm Vương là người đứng đầu Thập Điện. Trong Diêm La Thập Điện, điện thứ 10 có một vai tṛ khá đặc biệt. Đây là nơi làm rơ thiện ác của con người đă được xét xử ở các điện trước, quyết định đẳng cấp, rồi cho lên đầu thai. Trong 10 điện chánh, c̣n có rất nhiều tiểu điện để trừng phạt các tội lớn nhỏ khác nhau: cướp của giết người, tham nhũng; ức hiếp lấy nhà, đất, tiền của dân lành vv...

Điện thứ nhất do Tần Quảng Vương cai quản. Tất cả linh hồn tội lỗi đều bị áp giải đến tầng điện này, được phán xét theo tội h́nh nặng nhẹ mà được đưa đến các tầng địa ngục chịu khổ tiêu nghiệp. Nếu như công nhiều hơn tội th́ được miễn, có thể trực tiếp chuyển thẳng đến điện thứ mười để đầu thai chuyển thế.Tại vùng quản lư của Tần Quảng Vương có chỗ gọi là Nghiệt Kính Đài (gương soi tội nghiệt). Tất cả tội nghiệt trong một đời đều bị hiển hiện ra hết khi đứng trước Nghiệt Kính Đài, dẫu có muốn chối căi cũng không được.“Mọi thứ khi chết chẳng mang theo, chỉ có nghiệp tội luôn theo sát bên ḿnh như h́nh với bóng”. 

Trăm điều thiện hiếu đứng đầu; bất hiếu và tự sát vốn là hai tội nặng nhất. Nghiệp báo sau khi tự sát càng thảm thương hơn, linh hồn người tự tử phải lặp đi lặp lại cái việc tự sát, chịu đựng thống khổ vô cùng vô tận. Trong điện ngục này c̣n có tiểu ngục ôm cột đồng lửa đang cháy dùng để trừng phạt kẻ cướp của giết người,  hiếp dâm giết người; kinh doanh văn hóa phẩm đồi trụy làm hại phong hóa, v.v…, sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục này. Chết rồi sống lại, sống lại rồi chết, thống khổ vô tận vô biên, không sao tả được.

B́nh Đẳng Vương cai quản phạm vi địa ngục lớn nhất, gọi là địa ngục A Tỳ, lại c̣n có tên là Vô Gián Địa Ngục (địa ngục thứ 9). Cái khổ phải chịu trong tầng địa ngục này c̣n khủng khiếp hơn những cái trước đó. Những ai phạm các tội như: giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, bức hại Thánh đồ, giang hồ thuật sĩ nói láo gạt người, mê hoặc chúng sinh lừa gạt tài sản, đều phải chịu cái khổ cưa chém giống như bửa củi vv…

Chuyển Luân Vương là vị cai quản Thập Điện (điện thứ 10). Sau khi bị xét xử ở các điện trước, tội nhân được đưa đến điện của Chuyển Luân Vương để quyết định đẳng cấp, rồi cho lên đầu thai dưới các dạng khác nhau. Hàng ngàn hàng vạn linh hồn sẽ trôi theo ṿng xoáy luân hồi, hoặc là người, hoặc là lục súc: trâu, ngựa, dê, chó, gà, heo; chim thú, sâu bọ vv... Bắt đầu tiến nhập vào ḍng chảy luân hồi không ngừng nghỉ.

Các nền văn hóa cổ đại trên thế giới cũng có những vị thần tương tự với Diêm Vương, như Hades-vị thần cai quản địa ngục trong thần thoại Hy Lạp, Pluto - vị thần cai quản địa ngục trong thần thoại La Mă, Osiris-vị thần cai quản địa ngục trong thần thoại Ai Cập.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn Đại Ân Xá, đóng Địa ngục, mở Từng Thiên, nên Thập Điện Diêm Vương hay Thập Điện Minh Vương được chúng sanh gọi là Thập Điện Từ Vương Chưởng quản cơi Âm Quang.

-         Tu luyện  : Tu sửa và rèn luyện.

Thường tu th́ phải hành, ở đây tu cũng phải luyện, tức là sửa đổi những tính xấu xa, hung dữ rồi phải trau giồi rèn luyện để trở nên người hiền lương đạo đức. Tu luyện c̣n là một phép của phái Đạo gia, đó là tu tâm dưỡng tánh và luyện TINH, KHÍ, THẦN hợp nhất.

-         Đông Nhạc Đế Quân: Vị Thần làm đầu Ngũ Nhạc, cai trị phần hồn của nhơn loại. Tương truyền, ai mới thác xuống, linh hồn phải đến cho Thần Đông Nhạc tra xét tội phước, rồi đến lúc đi đầu thai, cũng phải đến cho Thần Đông Nhạc liệu định đường luân hồi. Theo truyền thuyết, có năm vị Thần Ngũ Nhạc chia ra ở trên 5 ḥn núi theo 4 hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc và ở Trung ương.

 

v ĐỨC PHẠM HỘ PHAP DẠY ĐI CẦU SIÊU PHẢI ĐỌC KINH

Đức Phạm Hộ Pháp dạy: mỗi khi Kinh được đọc th́ âm thanh sẽ vang ra ; mỗi người một âm thanh tức là phát ra một điển lực. Nếu chơn linh người chết hạp với điển lực người đó, họ sẽ nương nhờ vào mà giải trừ oan nghiệt. V́ người chết và tất cả những người dự đám có mặt, biết đâu trong vô lượng kiếp trước giữa ta với họ đă từng là những người chí thân, dẫy đầy oan nghiệt, tội t́nh mà họ và ta chưa từng gặp lại để trả với nhau. Vậy mà hôm nay gặp nhau nơi đây, nơi cửa đạo Cao Đài này, ta không biết họ là ai. Ta phải thành tâm cầu nguyện ĐỨC CHÍ TÔN, ĐỨC PHẬT MẪU, và các Đấng thiêng liêng ân xá, tha thứ tội t́nh cho họ được siêu thăng. C̣n đối với riêng ta, th́ ta cũng đang đi cầu siêu tức là ta cũng tha thứ cho họ nữa. Được như thế, lần hồi cái nợ nần oan nghiệt, trái chủ của ta, của họ và của cả mọi người sẽ tự tiêu tan và kết thúc hết là nhờ Kinh cầu siêu đó. Cho đến một ngày nào đó, đến khi ta thoát xác, các bạn của ta cũng đến cầu nguyện và xin cho ta, và họ cũng tha thứ cho ta như ta hôm nay tha thứ cho người mà ta đi dự đám.

Cái ư nghĩa này mọi người nên biết để mỗi khi đi dự lễ cầu siêu đừng quên đọc kinh với lời cầu nguyện chân thành cho người bạn thân yêu đang mong đợi. Người chết, chơn hồn c̣n vấn vương, lăng vảng nơi đây. Nếu trong số người dự lễ cầu siêu mà có được những bậc chân tu đạo đức đến cầu nguyện, hoặc có những vị lănh đạo, cấp bậc trong tôn giáo đến cầu nguyện càng nhiều càng có lợi cho người chết. V́ lời cầu nguyện ấy sẽ nâng đỡ linh hồn. C̣n riêng những người đồng Đạo, hoặc người của tôn giáo khác có những người đức độ lớn, giữ Đạo tốt đến cầu nguyện th́ rất ảnh hưởng đến người chết. Vong linh người chết được những tư tưởng, điển lành của mọi người ắt sẽ được một ân huệ.

 Bồ Tát Quán Thế Âm-hai tay cầm b́nh nước Cam Lồ và nhành dương liễu quen thuộc

H́nh ảnh Phật A Di Đà tay trái cầm đóa sen trước ngực, tay phải duỗi ra tiếp dẫn chúng sinh quen thuộc

Bồ Tát Địa Tạng tay trái cầm viên châu, tay phải cầm tích trượng đứng trên hoa sen

 

Đức Quan Thế Âm

Đức Phật A-Di-Đà

Đức Bồ Tát Địa Tạng Vương

 

 

Ngài ngồi trên ṭa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ. Đó là bửu tượng của Ngài đại lược như vậy, nếu ai có ḷng tŕ niệm, muốn chiêm vọng và quán tưởng th́ vọng niệm chẳng sinh mà chân tâm hiển hiện.

Giai ma hinh tuong Diem Vuong trong van hoa phuong Dong-Hinh-10

 

Chuẩn Đề Bồ Tát

Diêm Vương

 

(h́nh internet)

                                       VĂNG SANH THẦN CHÚ   

Văng Sanh Thần chú là câu niệm bằng tiếng Phạn đặc biệt để cầu nguyện với Đức Phật A-Di-Đà cứu độ linh hồn người chết được về cơi Cực Lạc Thế Giới. Văng Sanh Thần Chú c̣n được gọi là: Chú Văng Sanh, Văng Sanh Chơn ngôn.

Trong tang lễ của Đạo Cao Đài, lúc Linh cữu đă đưa đến nghĩa địa rồi, trước khi hạ huyệt, đồng nhi tụng bài Kinh Hạ Huyệt, tụng đủ 3 lần, xong rồi tiếp tụng Văng Sanh Thần Chú 3 lần. Kết thúc th́ đồng niệm Câu Chú của Thầy:

“NAM-MÔ CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT” (3 lần)

                             Nội dung bài Chú văng sanh như sau:

 

Nam-mô      A-Di-Đà Bà-Dạ, Đa-Tha-Già-Đa-Dạ,

Đa-Điệt-Dạ-Tha: A-Di-Rị-Đô-Bà-T́,

A-Di-Rị-Đa, Tất-Đam-Bà-T́,

A-Di-Rị-Đa, T́-Ca-Lan-Đế,

A-Di-Rị-Đa, T́-Ca-Lan-Đa,

Già-Di-Nị, Già-Già-Na

Chỉ-Ca-Đa-Lệ, Ta-Bà-Ha

(Tụng 3 lần rồi niệm Câu Chú của Thầy 3 lần)

NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

v GIẢI NGHĨA

 

 

           

                                                                               

-         Văng : Đi, đă qua, đi lên, đến, chỉ sự qua đời, chết.

-         Sanh : Sống

-         Văng Sanh: cầu xin hồn người chết được đi lên, chuyển sanh vào một thế giới khác tốt đẹp, thanh khiết.

-         Thần chú 神咒 hay Chân ngôn 真言 c̣n gọi là mật chú , linh ngữ . Tiếng Phạn là Mantra, hay Dharani (thường th́ Dharani dài hơn Mantra), có nghĩa là sự nắm giữ các pháp. Chân ngôn hay Thần chú là những lời bí mật của chư Phật không nói rơ ra bằng lời. Những câu Thần chú là một chuổi âm vận chứa đựng năng lực huyền bí, nên khi tŕ tụng có thể diệt trừ khổ ách, tiêu tai giải nạn, hộ tŕ tâm linh một cách kỳ diệu, không thể nào nghĩ bàn được.

Văng Sanh Thần chú gồm 59 chữ, được giải nghĩa theo Phật Học Từ Điển của Ông Đoàn Trung C̣n như sau:

-         Nam-mô A-Di-Đà Bà-Dạ: Tiếng Phạn là Namah Amitabhavyuha, nghĩa là: Qui kính Đức A-Di-Đà Phật.

-         Đa-Tha-Già-Đa-Dạ: Tiếng Phạn là Tathagata, nghĩa là: Như Lai. (Như Lai là một trong 10 hiệu của Phật).

-         Đa-Điệt-Dạ-Tha: dịch là tức thuyết chú viết, nghĩa là: Liền đọc bài Chú dưới đây.

-         10 câu tiếp theo: là mật ngữ, đại ư có nghĩa là: Nhổ bỏ tận gốc các nghiệp chướng.

A-Di Rị-Đô Bà-T́, A-Di Rị-Đa Tất Đam Bà-T́, A-Di Rị-Đa, T́-Ca Lan-Đế, A-Di Rị-Đa T́-Ca-Lan-Đa, Dà Di-Nị-Dà Dà-Na Chỉ-Đa Ca-Lệ Ta-Bà-Ha” 

-         Ta-Bà-Ha: tiếng Phạn là Swâha. Thường các bài Thần chú đều có 3 chữ chót là Ta-Bà-Ha, có nghĩa là: Thường tựu, kiết tường, viên tịch, vô trụ, kính Phật chứng minh.

Tóm lại, Văng Sanh Thần chú là một bài chú gồm  những mật ngữ để cầu nguyện A Di Đà Phật cứu độ cho Chơn linh người chết được Văng Sanh về Cơi Cực Lạc. Xưa nay, phần lớn những hành giả tu tập Pháp Môn Tịnh Độ thường tŕ niệm thần chú Văng Sanh theo phiên âm tiếng Hán. Chúng ta có thể tŕ niệm theo nguyên văn tiếng Phạn (đă phiên âm) và t́m hiểu đôi chút về “ư nghĩa” của thần chú này.

Tiếng Phạn là saṃskṛtam संस्कृतम्) hay tiếng Sanskrit là một cổ ngữ của Ấn Độ c̣n gọi là Bắc Phạn để phân biệt với tiếng Pali là Nam Phạn và là một ngôn ngữ tế lễ của các tôn giáo như Ấn Độ giáoPhật giáo Bắc Tông và Jaina giáo. Tiếng Phạn phần lớn được dùng như một ngôn ngữ tế tự trong các nghi lễ của Ấn Độ giáo dưới dạng ca tụng và chân ngôn (sa. mantra). Tiền thân của tiếng Phạn cổ là tiếng Phệ-đà (zh. 吠陀, en. vedic sanskrit), một ngôn ngữ được xem là một trong những thành viên cổ nhất của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Tiếng Phạn gắn liền với sự h́nh thành các kinh Vệ Đà của đạo Hindu cho nên người Ấn độ quan niệm rằng tiếng Phạn là ngôn ngữ do Śiva Phật tạo ra và truyền xuống cho con người. V́ thế, chữ viết của tiếng Phạn được gọi là chữ viết của Thiên thần (Devanāgarī). V́ thế, người Ấn Độ tin rằng việc đọc kinh và đặc biệt là các thần chú bằng tiếng Phạn sẽ dễ có sự cảm thông, trợ giúp, cứu độ từ các Đấng Thiêng Liêng hơn.

Văng Sanh Chú Đà Ra Ni

o   Tên Phạn: Sukhāvatī-vyūha Dhāraṇī

o   Tên Anh: Pure Land Rebirth Dhāraṇī

-         Namo Amitābhāya (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Nam Mô, A Mi Tha Bà Già,

o   Nam Mô A Di Đa Bà Dạ (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa là Quy mệnh Vô Lượng Quang (A Di Đà)

-         Tathāgatāya (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Thát Thà Ga Tà Già,

o   Đa Tha Dà Đa Dạ (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa: Như Lai.

-         Tadyathā (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Tha Gia Thà,

o   Đa Địa Dạ Tha. (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa: Như vậy, liền nói Chú là.

-         Amṛtabhave (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Am Rich Tà Bà Quệ,

o   A Di Rị Đô Bà Tỳ (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa:Cam Lộ hiện

-         Amṛtasaṃbhave (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Am Rich Ta Sằm Bà Quệ,

o   A Di Rị Đa Tất Đam Bà Tỳ (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa: Cam Lộ phát sinh.

-         Amṛtavikrānte (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Am Rich Ta Vi Cran Tề,

o   A Di Rị Đa T́ Ca Lan Đế (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa: Cam Lộ dũng mănh.

-         Amṛtavikrāntagāmini (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Am Rich Ta Vi Cran Ta Gà Mi Ni,

o   A Di Rị Đa, T́ Ca Lan Đa (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa: Đạt đến Cam Lộ Dũng mănh.

-         Gagana Kīrtīchare (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Ga Ga Na, Krit T́ Kho Rề,

o   Dà Di Nị Dà Dà Na, Chỉ Đa Ca Lệ (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa: Rải đầy Hư Không.

-         Svāhā (tiếng Phạn):

o   phiên âm thành Svà Hà.  

o   Ta Bà Ha (phiên âm từ Hán văn)

o   ư nghĩa: kiết tường, kính Phật chứng minh.

* Bài Chú Văng Sanh phiên âm tiếng Phạn như sau:

Nam Mô A Mi Tha Bà Già, Thát Thà Ga Tà Già, Tha Gia Thà, Am Rich Tà Bà Quệ, Am Rich Ta Sằm Bà Quệ, Am Rich Ta Vi Cran Tề,
Am Rich Ta Vi Cran Ta Gà Mi Ni, Ga Ga Na, Krit T́ Kho Rề, Svahà.

 

TIẾT 4. KINH TIỂU TƯỜNG

(Giọng Nam xuân)                                        

1.

Tịnh niệm phép Nhiên Đăng tưởng tín.

2.

Hư Vô Thiên đến thính Phật điều;

3.

Ngọc Hư Đại Hội ngự triều.

4.

Thiều quang nhị bá Thiên kiều để chơn.

5.

Bồ Đề Dạ dẫn hồn thượng tấn,

6.

Cực Lạc quan đẹp phận Tây Qui;

7.

Vào Lôi Âm kiến A-Di,

8.

 Bộ Công Di-Lạc Tam Kỳ độ sanh.

9.

Ao Thất Bửu gội ḿnh sạch tục.

10.

Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam;

11.

Vạn linh trổi tiếng mầng thầm.

12.

Thiên Thơ Phật tạo độ phàm giải căn.

                     (Niệm Câu Chú của Thầy 3 lần)

          NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MAHATAT

v GIẢI NGHĨA

Kinh Tiểu Tường do Đức Phật Mẫu giáng cơ ban cho. Từ ngày làm Chung Cửu (9x9=81 ngày sau khi mất) đến ngày làm Lễ Tiểu Tường là đúng 200 ngày.Tiểu Tường được làm tại Thánh Thất sở tại, phải tụng bài Kinh Khai Cửu Đại Tường và Tiểu Tường, rồi kế đó mới tụng Kinh Tiểu Tường.

-         Tịnh niệm phép : phép giữ ḷng trong sạch để tưởng nghĩ tới một Đấng Thiêng Liêng.

-         Nhiên Đăng:  Nhiên đăng ám chỉ ánh sáng tâm linh bất hoại trong con người (wisdom light). Đây cũng là tên vị Phật xưa (thời Nhất Kỳ Phổ Độ), tiếng Sanskrit là Dipankara. Đức Nhiên Đăng Cổ Phật c̣n được gọi là Định Quang Phật   , vị Phật đă sống vô lượng kiếp trước thời đại của chúng ta. Đó là vị Phật đầu tiên và quan trọng nhất trong các vị Phật có trước Đức Thích Ca Mâu Ni. Nhiên Đăng Cổ Phật là vị Phật tượng trưng cho các vị Phật trong đời quá khứ. Bên Phật Giáo Trung Hoa, người ta thường thờ Đức Nhiên Đăng Cổ Phật chung với Thích Ca Mâu Ni Phật và Di Lặc Vương Phật để gọi là thờ Tam Thế Chư Phật     (Đời quá khứ, hiện tại và vị lai).

Nhiên Đăng Cổ Phật  燈古佛 (Dipankara the Ancient Buddha).Vào thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật giáng trần mở Phật giáo ở Ấn Độ ứng với đời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Tàu. Ngài làm Chưởng Giáo Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội. Ngài chưởng quản từng Trời Hư Vô Thiên.

-         Hư Vô Thiên: Từng Trời thứ 10, ngay bên trên Cửu Trùng Thiên. Trong từng Trời nầy có Ngọc Hư Cung và Cực Lạc Thế Giới.

-         Tưởng tín: Tưởng là nhớ nghĩ tới, tín là tin. Tưởng tín là tin tưởng.

C.1: Phép tịnh niệm giữ ḷng trong sạch để niệm danh Đức Nhiên Đăng Cổ Phật và tin tưởng nơi Ngài.

C.2: Chơn hồn đến từng Trời Hư Vô Thiên để nghe Phật dạy.

C.3: Đức Chí Tôn ngự ở Ngọc Hư Cung để họp Đại Hội triều đ́nh.

C.4: Thiều quang nhị bá Thiên kiều để chơn, nghĩa là: Hai trăm ngày sau, Chơn hồn được đặt chơn lên cây cầu Thiên kiều.

-         Bồ Đề Dạ   : Hán dịch từ Phạn ngữ Buddhaya: Là một vị Bồ Tát do Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân ra..

-         Cực Lạc quan   : Cái cổng nơi Cực Lạc Thế Giới, hay cửa Cực Lạc. Ư nói vừa vào đến cơi Cực Lạc.

-         Tây Qui 西 : Về hướng tây của Cực Lạc Thế Giới.

C.5-6: Bồ Đề Dạ hướng dẫn Chơn hồn tiến lên cao, đến cái cổng lớn đi vào Cực Lạc Thế Giới, rồi đi đến một chỗ gọi là Tây Qui, là nơi định phận tốt đẹp cho Chơn hồn.

-         Vào Lôi Âm:  vào ngôi chùa Lôi Âm ở kinh đô của Cực Lạc Thế Giới.

-         A-Di: nói tắt của từ ngữ A-Di-Đà Phật. Đức Phật A-Di-Đà là Chưởng giáo Cực Lạc Thế Giới trong thời Nhị Kỳ Phổ Độ.

-         Bộ Công:  Bộ công là bộ sổ ghi chép công quả. Những người nào có công quả giúp đời giúp Đạo, phổ độ nhơn sanh th́ được ghi vào Bộ Công Quả.  Ở thế gian, những người nào hành công đức, giúp đời giúp đạo, cứu giúp chúng sanh đều được Hội Thánh chứng nhận công đức và lưu vào sổ công quả hữu h́nh.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn lập ra một Trường thi công quả cho chúng sanh đắc đạo, mà Đức Phật Di-Lạc là Chánh Chủ Khảo nên Đức Ngài lập ra Bộ Công Quả để căn cứ vào đó mà chấm thi đậu rớt. Bộ công quả này thuộc vô vi, nơi cơi Thiêng Liêng. Kinh gọi đó là Bộ Công Di Lặc.

C.7-8: Chơn hồn đi vào Chùa Lôi Âm để bái kiến Đức Phật A-Di-Đà. Đức Phật Di-Lạc lập ra Bộ Công Quả trong thời Tam Kỳ Phổ Độ để cứu giúp các Chơn hồn đưa lên cơi Thiêng Liêng Hằng Sống.

-         Ao Thất Bửu: Cái ao nơi cơi Cực Lạc Thế Giới, được xây dựng và trang trí bằng 7 thứ quí báu đẹp đẽ lạ thường. Đặc biệt nước trong Ao Thất Bửu có đủ 8 công đức nên gọi là Bát Công Đức Thủy. Người nào được ân huệ tắm trong Ao Thất Bửu th́ trí tuệ được khai thông và chơn thần được trong sáng.

-         Dà Lam  : C̣n viết Già Lam là do từ Phạn ngữ: Asharam, có nghĩa khu vườn hay tịnh xá. Dà Lam c̣n chỉ ngôi vị Phật, gọi là Phật Dà Lam. Phật Dà Lam có nhiệm vụ d́u dắt các Chơn hồn đắc đạo đến cơi Cực Lạc Thế Giới.

C.9: Chơn hồn được đến  Ao Thất Bửu để gội sạch hết Thất t́nh, Lục dục đă bám vào Chơn thần.

C.10: Ṭa sen, ngôi vị Phật Dà Lam là kết quả của những phước đức tu hành.

-         Vạn linh: Tất cả các Chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ gồm đủ Bát hồn: kim thạch, thực vật, động vật, Người, Thần, Thánh, Tiên, Phật.

C.11: Vạn linh trổi tiếng mừng thầm, nghĩa là: Vạn linh đều cất tiếng nói thầm trong ḷng là rất vui mừng thấy một Chơn linh đắc đạo vào phẩm vị Phật.

-         Thiên thơ: là quyển sách của Trời ghi chép Thiên điều, các Luật pháp điều hành sự vận chuyển của Càn Khôn Vũ Trụ và sự tiến hóa của vạn linh. Thiên thơ được các Đấng Tiên Phật họp tại Ngọc Hư Cung lập ra.

-         Giải căn: Cởi bỏ cái gốc rễ, cái gốc rễ ấy là những việc làm thiện ác trong kiếp sống trước tạo thành các oan nghiệt nơi cơi trần. Giải căn là cởi bỏ các oan nghiệt của chúng sanh nơi cơi trần .

C.12: Thiên thơ Phật tạo độ phàm giải căn, nghĩa là:

Thiên thơ do chư Phật lập ra cho tất cả vạn linh sanh chúng, nếu họ biết lo tu hành th́ được giải căn kiếp nơi cơi phàm trần mà đắc quả.

Theo ư nghĩa Kinh, làm tuần Tiểu Tường tức là cầu nguyện cho Chơn linh được vào cơi Hư Vô Thiên để nghe Đức Nhiên Đăng Cổ Phật thuyết pháp, rồi vào Chùa Lôi Âm yết kiến Đức Phật Di Đà. Chơn thần được tắm gội ở ao Thất Bửu để tẩy trừ tục trần, rồi ngự trên Ṭa sen.

 

TIẾT 5. KINH ĐẠI TƯỜNG

(Giọng Nam xuân)

1.

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo chủ,

2.

Di-Lạc đương thâu thủ phổ duyên;

3.

Tái sanh sửa đổi chơn truyền.

4.

Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

5.

Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị.

6.

Cơi Tây phang đuổi quỉ trừ ma;

7.

Giáng linh Hộ Pháp Di-Đà,

8.

Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

9.

Thâu các đạo hữu h́nh làm một,

10.

Trường thi Tiên Phật duợt kiếp khiên;

11.

Tạo đời cải dữ ra hiền, 

12.

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

                                  (Niệm Câu Chú của Thầy 3 lần)

         NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MAHATAT

v GIẢI NGHĨA

Kinh Đại Tường, c̣n được gọi là Hỗn Nguơn Kinh, do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáng cơ ban cho. Nội dung bài Kinh nầy, Đức Phật Thích Ca cho biết Đức Di-Lạc Vương Phật hiện nay đang chưởng quản từng Trời Hỗn Nguơn Thiên và làm Giáo Chủ Hội Long Hoa để tuyển phong Phật vị trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. Đức Phật Di-Lạc c̣n thay mặt Đức Chí Tôn thực hiện tôn chỉ "Qui nguyên Tam giáo và phục nhứt Ngũ Chi Đại Đạo" lập đời Thánh đức, tạo một xă hội Đại đồng cho toàn nhơn loại.

(h́nh internet)

-         Hỗn Nguơn Thiên: Theo Di Lạc Chơn Kinh, từng Trời Tạo Hóa Thiên là từng thứ 9, cao nhất trong Cửu Trùng Thiên.

o   Từng Trời thứ 10 là Hư Vô Thiên, do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng quản.

o   Từng Trời thứ 11 là Hội Nguơn Thiên.Từng Trời thứ 12 là Hỗn Nguơn Thiên.

Hai từng Trời 11 và 12 đều do Đức Phật Di-Lạc chưởng quản.

C.1-2: Đức Di-Lạc Vương Phật làm Giáo chủ từng Trời Hỗn Nguơn Thiên. Ngài đảm đương việc thâu nhận những người có duyên tu hành ở khắp nơi.

Chơn truyền: Giáo lư chơn thật của một nền tôn giáo, nếu tu hành đúng y theo đó th́ nhứt định sẽ được đắc đạo.

C.3: Đức Di-Lạc Vương Phật sẽ giáng sanh xuống cơi trần nầy một lần nữa để sửa đổi tất cả giáo lư của các tôn giáo xưa cho đúng chơn truyền. Đó là v́ giáo lư của các tôn giáo qua hơn 3000 năm truyền bá đă bị người đời sửa đổi, thêm bớt làm sai lạc rất nhiều.

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ với tôn chỉ qui nguyên Tam giáo, phục nhứt Ngũ Chi. Đức Di-Lạc Vương Phật là Đấng được Đức Chí Tôn ủy nhiệm thực hiện Cơ Qui Nhứt trọng đại nầy, đem các nền tôn giáo trở về gốc, sửa đổi giáo lư cho đúng với Chơn truyền của buổi ban đầu để nhơn sanh có thể đắc đạo dễ hơn.

C.4: Đức Di-Lạc Vương Phật mở ra cơ quan tận độ nhơn sanh và đóng của Địa ngục.

Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,

Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương. (Kinh Giải Oan)

Đây là một nét đặc biệt hết sức mới mẻ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà từ trước tới nay chưa hề có ở bất kỳ một tôn giáo nào.

-         Hội Long Hoa: Long là rồng, hoa là cái bông. Long Hoa là một cái cây to lớn có h́nh dáng giống như con rồng, trổ hoa rực rỡ. Đức Di-Lạc Vương Phật sẽ mở Đại Hội tuyển chọn người hiền đức nên Đại Hội ấy được gọi là Đại Hội Long Hoa do Đức Di-Lạc làm Giáo chủ. Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo:

Nơi Cung Hỗn Nguơn Thiên cốt yếu là nơi chung họp cùng các Đấng Chơn hồn cao siêu, trí thức thông minh, kể từ bậc Thiên Tiên cho đến Phật vị, đều đến ở nơi đây, đặng tạo dựng đại nghiệp của ḿnh. Cả toàn thể trong Càn Khôn Vũ Trụ, hoặc tiêu diệt, hoặc biến sanh, cũng do nơi đó cầm Chơn pháp quyết định. Nơi đây là nơi quyết định chương tŕnh Long Hoa Đại Hội của toàn thể vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ."

C.5: Đức Di-Lạc Vương Phật mở Đại Hội Long Hoa tuyển lựa người đầy đủ công đức phong thưởng vào ngôi vị Phật.

C.6: Nơi cơi Tây phương Cực Lạc, Đức Phật Di-Lạc xua đuổi và trừ khử ma quỉ không cho lộng hành.

-         Giáng linh: Chơn linh giáng xuống trần. Các Đấng Thiêng liêng thường chiết Chơn linh giáng sanh xuống cơi trần, như Đại Tiên Lư Thiết Quả chiết chơn linh giáng sanh xuống trần là Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung.

Ø HỘ PHÁP DI ĐÀ

Theo Phật giáo, Hộ Pháp là những vị thần bảo hộ, che chở, bảo vệ cửa Phật, hộ tŕ Phật pháp giữ  đúng chơn truyền. Trong các chùa, chúng ta thường thấy có các tượng thần Hộ pháp đứng ở cửa trước.

Trong tôn giáo Cao Đài, Hộ Pháp là phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài cao nhứt, nắm quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, đối phẩm với hàng Phật vị (DI ĐÀ). Nơi Toà Thánh Tây Ninh, Hộ Pháp được thờ đối diện với ngôi Chánh Điện Đức Chí Tôn, hai bên là Thượng Phẩm và Thượng Sanh, sau lưng vẽ chữ Khí để thờ. Hộ Pháp ngự trên thất đầu xà (Rắn bảy đầu), ḿnh mặc Kim Khôi Kim Giáp, tay cầm cây Giáng ma xử.

Theo Pháp Chánh Truyền: "Huyền vi mầu nhiệm của Đạo có Thiên Điều, cơ bí mật của Đời có Luật Pháp, HỘ PHÁP là người nắm cơ mầu nhiệm của Đạo, nắm Luật của Đời, xử đoán chư Chức Sắc Thiên Phong và cả Tín Đồ cùng là xin ban thưởng; công thưởng, tội trừng nơi thế nầy. Hễ có phàm trị mới khỏi Thiên trị; phải chiếu luật Đạo cho toàn cả Tín Đồ, khỏi bị Thiên Điều, giữ phẩm vị Thiêng Liêng mỗi Chức Sắc, ắt phải ǵn giữ đạo đức của mỗi người. Người dùng h́nh phàm làm cho giảm tội Thiêng Liêng. (Hay!) Nắm cơ mầu nhiệm công b́nh mà đưa các chơn hồn vào Bát Quái Đài, hiệp cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

-         Cây Ma Xử: Nói đầy đủ là Cây Giáng Ma Xử. Giáng là hàng phục, Ma là loài Ma quỉ, Xử là cái chày. Giáng Ma Xử là cái chày để làm quỉ ma hàng phục. Giáng Ma Xử là bửu pháp của Đức Hộ Pháp, trị tà ma, không cho chúng lộng hành.

C.7-8: Đức Phật Hộ Pháp chiết chơn linh giáng trần làm một vị Hộ Pháp ở thế gian, dùng bửu pháp Giáng Ma Xử chuyển động để xua đuổi các loài tà ma yêu quái.

-         Các đạo hữu h́nh: Các tôn giáo hiện có nơi cơi trần. Các đạo hữu h́nh gồm 5 nền tôn giáo lớn trên thế giới Phật giáo, Lăo giáo, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo. Các nền tôn giáo nầy do nhiều Đấng Giáo chủ mở ra ở các nước khác nhau, với phong tục tạp quán khác nhau, nên xảy ra nhiều sự va chạm và chia rẽ, gây ra nhiều cuộc chiến tranh rất thảm khốc dưới danh nghĩa Thánh chiến. Đức Di-Lạc nhận lănh mạng lịnh của Đức Chí Tôn nên có đủ quyền pháp để thống nhất các nền tôn giáo nói trên vào một mối duy nhất, do chính Ngài làm Giáo chủ, tạo thành một nền Đại Đạo, thống nhứt tín ngưỡng của nhơn sanh, lập ra thời kỳ Thánh đức, trong một xă hội Đại đồng.

-         Trường thi Tiên Phật: Đức Chí Tôn lập ra một Trường thi Công quả cho nhơn sanh đắc đạo thành những phẩm vị Tiên hay Phật, mà Đức Di-Lạc Vương Phật làm Chánh Chủ Khảo tuyển lựa và phong thưởng.

C.9-10: Đức Di-Lạc Vương Phật thâu gom các nền tôn giáo lớn hiện nay vào một mối duy nhất, lập thành một nền Đại Đạo. Đức Chí Tôn lập ra một Trường thi Công quả tuyển phong Tiên vị và Phật vị, giao cho Đức Di-Lạc làm Chánh chủ khảo, duyệt xét tội t́nh của nhơn sanh để chấm thi đậu rớt.

 C.11-12: Tạo lập đời Thượng nguơn Thánh đức bằng cách giáo hóa người dữ thành người hiền, ǵn giữ sự sống cho chúng sanh, nắm giữ quyền pháp huyền diệu của Đức Chí Tôn.

GÓC NH̀N SUY GẪM

 

Dù được Phật A Di Đà tiếp dẫn, có Cửu vị Nữ Phật hộ tŕ đưa Chơn hồn tiến từng bậc trong 9 tầng Trời (Cửu trùng Thiên) nhưng theo Luật Thương yêu và Công chánh, Chơn hồn vẫn phải bị xét xử phân minh. Có lẽ Chơn hồn sợ nhất khi đến Cửu 4 (ngày thứ 36 sau khi mất) v́ Kinh cho biết:

                                 Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,

                           Bộ Lôi Công giải tán trược quang...

                              Cửa lầu Bát Quái chun ngang,

                  Hỏa Tinh Tam Muội thiêu tàn oan gia...

-         Bộ Lôi công: Hay Lôi công bộ  : Bộ coi về sấm sét.

Đến cửu 5 th́ Chơn hồn bị truy cứu những hành vi đă tạo ra khi c̣n sống ở thế gian:

                        Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,

                        Xem rơ ràng tội phước căn sinh.

                           Lần vào cung Ngọc Diệt H́nh,

                     Khai kinh Vô Tự đặng nh́n quả duyên...

-         Đài chiếu giám: Hay Chiếu giám đài  : Cái đài có đặt một tấm gương để soi rọi tội phước. Tấm gương đó gọi là Minh cảnh   nghĩa là gương sáng, dùng để soi rọi các Chơn hồn khi thác xuống thấy đặng những hành vi thiện ác trong kiếp sống nơi cơi thế gian.  Trong Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp nói về Minh Cảnh Đài như sau: “Trước mặt chúng ta, chúng ta thấy khi trước chúng ta làm những việc ǵ, nay nó sẽ chiếu lại cho xem chẳng khác ǵ ḿnh xem tuồng hát bóng vậy. Mỗi khi ḿnh hành động ǵ trong kiếp sanh khi xưa, hôm nay đều ngó thấy trước mặt, và cây cân công b́nh ấy tùy theo nên hư, tội phước mà hiện tượng ra hết thảy, quyết đoán một cách công b́nh, không sai chút nào hết. Phải chăng đó là huyền bí của Toà Thiêng Liêng ấy”.

Hai câu kinh cho biết: Về đến cơi này, Chơn hồn nhẹ nhàng bước đến đài Chiếu Giám (Minh cảnh đài). Bao nhiêu tội phước mà Chơn hồn đă gây ra suốt kiếp sống nơi cơi trần đều được xem lại một cách rơ ràng trong gương Minh cảnh.

 

-         Kinh Vô Tự  : Là một quyển Kinh, trong ấy không có chữ viết. Khi Chơn hồn đến cơi này, đi vào trong Cung Ngọc Diệt H́nh để mở quyển Kinh Vô Tự ra xem th́ chữ viết hiện ra ghi rơ lư lịch và những hành vi thiện ác của Chơn hồn trong kiếp đương sanh ở nơi cơi trần.

 

Trong Thiêng Liêng Hằng Sống, đêm 26-1-năm Kỷ Sửu (23/2/1949), Đức Hộ Pháp nói về quyển Kinh Vô Tự như sau: “...chúng ta đến một Cung có một quyển sách Thiên Thơ để trước mặt ta, dở ra xem thấy tên ḿnh và kiếp sanh của ḿnh đă làm ǵ th́ trong quyển Thiên Thơ ấy nó hiện tượng ra hết; chúng ta tự xử chúng ta, ḿnh làm ṭa để xử ḿnh, hoặc ḿnh phải đầu kiếp hay là đoạt đến địa vị nào, ḿnh đứng đến mức nào th́ cũng do ḿnh định đoạt lấy”.

 

ĐỨC PHẠM HỘ PHÁP GIẢNG VỀ CẢNH THĂNG & CẢNH ĐỌA

Nơi Huỳnh-Kim-Khuyết trên đầu của Ngài nơi xa xa chúng ta thấy vọi vọi, xa nữa chúng ta thấy ba vị Phật mà hiện giờ ta thấy tượng h́nh trên nóc Bát-Quái-Đài là Brahma Phật, Civa Phật và Christna Phật. Ngự trên nữa xa hơn nữa cao vọi-vọi xa-xăm hơn nữa chúng ta không thể ǵ tưởng-tượng được, con mắt ḿnh ngó thấy như một đạo hào-quang chớp nhoáng mà không có h́nh-ảnh ǵ hết, chiếu-diệu trên cái triều-nghi của Ngài là Huỳnh-Kim-Khuyết, mà dưới Huỳnh-Kim-Khuyết là Cửu-Phẩm Thần-Tiên đương ngự triều với Đức Chí-Tôn, oai nghiêm, chúng ta không thể ǵ tưởng-tượng được, oai nghiêm huyền-bí làm sao! Không miệng lưỡi nào tỏa h́nh ảnh ra đặng. Nếu may duyên mà chúng ta đoạt Pháp đặng, đoạt-vị đặng, th́ dầu chúng ta hàng phẩm dưới cũng không cần ǵ mơ-mộng tưởng-tượng ǵ hết, Pháp-Thân của chúng ta cũng đến mức đoạt-vị đặng. C̣n nếu chúng ta ḍm lên th́ thấy địa-vị của chúng ta không thấm vào đâu hết, mà hễ ḍm lên cao nữa mà so-sánh th́ địa-vị chúng ta không có nghĩa lư ǵ hết.

C̣n nếu chúng ta bị đọa th́ hại thay, khổ thay, đau-đớn thay, chúng ta thấy cái Triều-Nghi xa tuốt mút khỏi con mắt ta rồi nó biến mất. Chúng ta thấy đứng bơ-thờ, không biết thân h́nh đến mức nào hay địa-giới nào, hay ḿnh đến đâu, chỉ đứng đó mà chịu một tấn-tuồng thảm khổ vô đối. Hại thay cả tội t́nh đều hiện ra trước mắt chúng ta không thể ǵ chối cải được, đứng chịu một cách thảm khổ, ḿnh xử lấy ḿnh, hễ xử rồi th́ từ từ hạ lần xuống cho tới cửa Trần-Gian, ấy là cửa Phong-Đô đó...

Cảnh hạnh-phúc mà chúng ta đoạt được với Tông-Đường Thiêng-Liêng của chúng ta, họ đương sum họp với nhau không sót một người, đặng chứng-kiến định-án của chúng ta. Nếu chúng ta đoạt-vị đặng th́ con đường dục- tấn của chúng ta, cả hạnh-phúc đạo-đức cả tinh-thần cảnh thăng của chúng ta có nhiều tay nâng đỡ. Rủi thay, nếu chúng ta bị tội t́nh phải đọa th́ cảnh vinh hiển ấy từ từ xa, xa lần chúng ta đứng một chỗ cảnh tượng vinh-hiển ấy, cảnh tượng hạnh-phúc ấy, nó dường như thối bước lần lần xa mút chúng ta, chúng ta hết thấy nó, cảnh đi ngược lụng lại, cảnh chạy ta chớ chẳng phải ta chạy cảnh, hạnh-phúc ta sợ ta, chạy ta, lánh ta, rồi thoạt nhiên trong con đường dục-tấn của chúng ta đi biết bao nhiêu khó khăn. Thường trong miệng thiên-hạ có nói Thiên-Đàng, Địa-Ngục, tức nhiên Ngọc-Hư-Cung với Thập-Điện Diêm-Vương cũng không có gần nhau, mà gần nhau mới lạ lùng.(*)

Nếu chúng ta làm điều ǵ trọng-hệ, nói tỷ-thí như chúng oán giận giết người th́ đó liền có kẻ đó đứng trước mặt chúng ta tỏ vẻ sầu thảm, thiên-hạ tưởng đâu kẻ đó oán giận giết lại ḿnh. Không! Không khi nào vậy, kẻ ấy buồn thảm cho ta một cách đau-đớn. Vừa ngó thấy kẻ đó rồi linh-hồn chúng ta tức nhiên là đệ-nhị xác thân (CHƠN THẦN) của chúng ta tùy theo cái tội của nó mà đi lần xuống cảnh Diêm-Cung. Trong cảnh tội t́nh của chúng ta đă quyết định, liền giờ ấy người tội nhơn ấy đứng nơi cửa Diêm-Cung Địa-Ngục đó vậy, rồi tự ḿnh kết án cho ḿnh.

- Bần-Đạo nói Cực-Lạc Thế-Giới là cảnh của chúng ta tạm giải-thoát tức là cảnh của chúng ta định-nghiệp của chúng ta vậy, chớ chưa phải là cảnh tối cao tối thượng của các chơn linh.

 - Cơ-quan giải thoát Bần-Đạo lập lại một lần nữa và nói quả quyết rằng: Cơ-quan giải-thoát của Đức Chí-Tôn do nơi công-nghiệp của chúng ta phụng-sự cho Vạn-Linh đó vậy.

Tóm lại, việc cầu siêu trong tôn giáo đặt nền tảng trên ba yếu tố:

1. Chết không phải là hết. Chơn hồn tiếp tục thọ nhận một đời sống tiếp theo ở một h́nh thức nào đó.

2. Cảnh giới tái sinh tiếp theo đó như thế nào là tùy thuộc vào nghiệp tốt hay xấu đă tạo ra khi c̣n ở thế gian.

3. Nghi thức cầu siêu nghiêm trang, được nghe tụng kinh vào lúc sắp chết và sau khi chết, được tất cả người thân cùng hướng tâm cầu nguyện chân thành...Những tác động này vào lúc sắp chết (hoặc ngay sau khi chết) có thể giúp Chơn hồn người chết t́m về cơi sáng dễ dàng hơn.

Tất cả chúng ta đều đồng ư rằng mỗi người phải chịu trách nhiệm về nghiệp quả do ḿnh tạo ra, không thể mong cầu vào sự cầu siêu để làm thay đổi. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận những điều được chỉ dạy trong kinh điển về tác dụng của tha lực từ các Đấng Thiêng Liêng bởi tâm thức của con người và các Đấng đều có sự tương ưng cảm ứng.

Theo tác giả Nguyễn Minh Tiến, nếu chúng ta không tu tập, trong tâm ta đầy phiền năo cấu nhiễm, không thanh tịnh, không chân thành, th́ chắc chắn không thể có sự cảm ứng. Trong trường hợp đó, ta không thể nói là không có Phật A-di-đà, bởi sự khuyết thiếu là ở nơi chúng ta. Cũng giống như sóng vô tuyến truyền h́nh phủ khắp một vùng và mỗi nhà chúng ta đều sẵn có ti-vi, nếu ta không xem được h́nh ảnh th́ đó là do ti-vi của ta bị hỏng, không phải do không có đài truyền h́nh.

Cần phải hiểu sâu mối tương quan giữa tâm thức chúng sinh và chư Phật, Bồ Tát, giữa chúng sinh với chúng sinh, th́ mới có thể phát tâm tu tập một cách đúng hướng và hiệu quả. Xin mượn lời Đại sư Tỉnh Am nói về việc phát tâm như thế nào là đúng đắn để kết thúc bài viết này:

 

“Có những kẻ tu hành không cứu xét tự tâm, chỉ biết hướng theo ngoại cảnh, như mong cầu lợi dưỡng hoặc tham muốn danh tiếng, chạy theo khoái lạc nhục dục hiện tại hoặc mong cầu quả báo tương lai. Phát tâm như thế gọi là tà vạy.

Không cầu lợi dưỡng, danh tiếng, cũng không tham dục lạc, quả báo, chỉ v́ muốn thoát ly sinh tử, thành tựu Bồ-đề. Phát tâm như thế gọi là chính đáng.

Nguyện cho tất cả chúng sinh đều có thể thấy biết chân thật, tu tập đúng Chánh pháp, để không phụ công ơn chư Phật đă đời đời kiếp kiếp tận t́nh khuyên dạy.

                                                     __________________________________________________________________________________________________________________________

         Phụ Lục         

 *  *  *

Phụ lục 1

LỜI KHAI THỊ CỦA ĐỨC LIÊN HOA SANH,

HÓA THÂN CỦA PHẬT A-DI-ĐÀ

A Di Đà Như Lai

Tên Phạn: Amitābha Buddha

Tạng: འོད་དཔག་མེད་ Öpamé

Tên Anh: Infinite Light Buddha

Trong Phật giáo Tây Tạng, đại sư Liên Hoa Sinh và Ban-thiền Lạt-ma được xem là một hóa thân của Đức Phật A Di Đà. Dưới đây là lời giảng của Ngài về Phật A-Di-đà và cơi Tĩnh Độ.

“Người không chú ư đến Pháp h́nh như không muốn hạnh phúc! Điều quan trọng nhất là nỗ lực trong tu hành khi con c̣n trẻ. Khi con đă già con có thể muốn nghe giáo pháp nhưng lỗ tai con lại không muốn nghe. Con có thể muốn học hỏi nhưng sự chú tâm của con th́ nặng đục và trí nhớ con thất thoát. Con có thể muốn đến với Pháp, nhưng thân con không thể đi hay ngồi. Con có thể muốn thực hành, nhưng sức mạnh của các đại đă tàn và con không thể tập trung.

Con có thể muốn cho đi tài sản vật chất của con nhưng chúng đă bị người khác kiểm soát và con không c̣n đảm đương chúng. Con có thể muốn chịu khó nhọc nhưng hệ thống của con không chịu nổi sức ép. Làm cho thầy con và các bạn Pháp không vui, khi tuổi già đến, con có thể muốn thực hành nhưng không thể. Con sẽ ước ao “Phải ǵ tôi đă có ư chí và nguyện vọng khi tôi c̣n trẻ,” nhưng điều đó sẽ không giúp ǵ nữa cả. Đă quá trễ để hối tiếc là không thực hành Pháp ǵ khi con c̣n có thể. Người không cảm thấy có quan tâm nào đến sự thực hành Pháp khi trẻ th́ không hơn ǵ kẻ ngu đần!

Đạo sư lại nói: khi thực hành Pháp giải thoát, cưới vợ cưới chồng và d́u dắt một đời sống gia đ́nh th́ cũng giống như bị kềm giữ trong xiềng xích chặt chẽ không có tự do. Con có thể muốn chạy thoát, nhưng con đă bị nhốt trong ngục tối của sanh tử không lối thoát. Con có thể hối tiếc về sau, nhưng con đă ch́m trong vũng lầy của t́nh cảm, không chỗ ra. Nếu con có con cái, chúng có thể dễ thương nhưng chúng là cây cọc cột con trong sanh tử. Nếu không có con, sự lo lắng rằng gia đ́nh con sẽ chết đi th́ c̣n lớn hơn nữa. Nếu con có tài sản, giữa lâu đài và ruộng vườn, chẳng có rỗi rảnh nào để thực hành Pháp. Nếu con không có, sự cực khổ và tranh đấu khi không có miếng ăn c̣n lớn lao hơn. Nếu con có người hầu hạ và người làm, rốt cuộc con bị bận rộn v́ làm một người nô lệ cho sự quản lư. Nếu không có, sự thiếu quyền hành làm cho con bị người khác kiểm soát, th́ không có tự do để thực hành Pháp. Theo cách đó cả cuộc đời hiện tại và tương lai của con bị phá hủy.Trong bất cứ trường hợp nào, người kết hôn và trở thành chủ gia đ́nh ch́m đắm trong đầm lầy của sự khốn khổ không có dịp may để giải thoát.

Đại sư lại nói: các niềm vui của thế gian này cực kỳ thoáng qua, nhưng nếu con có thể thực hành giáo pháp thiêng liêng, hạnh phúc của con sẽ kéo dài lâu xa. Sự thịnh vượng của thế giới này là vô thường và trôi mất, nhưng nếu con có thể thường trực gom góp các tích tập, con thực sự là giàu có. Người nào dấn ḿnh vào những hành động xấu là điên rồ, nhưng người nào làm điều tốt th́ nhạy cảm và khôn ngoan. Người nào cam kết ḿnh vào các giáo lư có ư nghĩa là đáng kính, nhưng người nào theo đuổi lợi danh vô nghĩa là không thận trọng và không có đạo đức. Danh lợi vật chất thế gian là chủ nhân của sự khốn khổ; cao quư là người đạt đến Phật tánh trong chỉ một đời. Những ai bám vào thế gian này không bao giờ t́m thấy dịp may thoát khỏi sanh tử!

Đạo sư lại nói: phiền năo khởi ra do hoàn cảnh, thế nên hăy thoát khỏi cơi đất của thương và ghét. Chướng ngại được khởi dẫn do phóng dật, thế nên hăy giữ mối liên hệ với một bậc thầy cao cả như với một y sĩ. Nghèo khó và buồn phiền trong đời này có hệ quả từ các hành động trước kia, thế nên hăy sống những nơi ẩn cư không có người. Hành động sai lầm được tạo bởi hoàn cảnh, thế nên hăy tránh cộng đồng xấu như với thuốc độc. Cạm bẫy xảy ra là do tà kiến, thế nên hăy học hỏi và tư duy phóng khoáng. Tiến lên hay sa đọa xảy ra với bất kỳ ai, người sống lẫn người chết, thế nên chớ phê phán người khác. Bất kỳ niềm vui và hạnh phúc nào xảy ra với con, nó là do các phước đức riêng của con, thế nên chớ kiêu hănh. Hăy cố gắng đạt đến giác ngộ khi con có năng lực để tránh đi vào các cơi thấp của luân hồi. Người nào sống trong hạnh xấu sẽ chịu đựng lâu dài!

Đạo sư lại nói: nói chung, cái chết của con không có thời gian xác định; nó đă đi chung với con từ khi sanh ra. Hoàn cảnh mà do đó con chết cũng không chắc chắn; con chết cả khi không có ư định. Cái chết không bao giờ từ bỏ con, và con có thể gom góp mọi sự giàu có của tất cả thế giới nhưng vẫn phải bỏ chúng lại phía sau. Sanh tử không biến mất khi con chết; con lại sẽ đi lang thang qua ba cơi. Không có hạnh phúc trong cuộc sanh tử; con không bao giờ vượt qua khổ đau dầu con có sinh ra chỗ nào trong sáu loại chúng sanh. Con đă lang thang biết bao nhiêu trong quá khứ, chịu đựng đau đớn không nói hết! Và con sẽ tiếp tục lang thang qua sanh tử, lắc lư theo những ngọn sóng khổ đau. Tốt hơn là thực hành Pháp và cắt đứt sự trói buộc của con vào đau khổ. Trừ phi con đến đất liền, con không thể nào dẫn người khác ra khỏi sanh tử. Nhưng h́nh như tất cả hành giả vẫn gắn liền với sự vui chơi của thế gian và lại tự ném ḿnh trở lại sanh tử. Với sự giúp đỡ của tự do và sung túc, con phải cắt đứt sự trói buộc vào sanh tử ngay bây giờ!

Đạo sư lại nói: trừ phi con đạt đến giải thoát bây giờ, con chỉ ch́m thêm vào cuộc khổ đau, chưa tính đến con sẽ sinh ra chỗ nào. Trừ phi con sống trong núi non, c̣n không con chỉ sống trong ngục tù của sanh tử, bất kể con ở chỗ nào. Trừ phi con dấn thân vào thực hành tâm linh, nếu không con chỉ tạo thêm nghiệp xấu cho sanh tử, bất kể con làm ǵ. Trừ phi con gom góp hai sự tích lũy, bất cứ thứ ǵ khác con góp nhặt chỉ trở thành tṛ gian lận của Ma. Trừ phi con nghe lời dạy của thầy con, người nào khác con nghe chỉ là một cố vấn làm con sa đọa.Trừ phi các phẩm chất tâm linh nảy sanh trong ḍng sống của con, bất cứ đồng hành nào cũng chỉ là một sự trợ giúp cho tà nghiệp. Trừ phi con thấu rơ tự tánh của tâm con, bất kỳ tư tưởng nào chỉ là suy nghĩ ư niệm danh tướng. Trừ phi con có thể điều khiển tâm con, bất cứ điều ǵ con làm chỉ kéo dài hư vọng. Trừ phi con chán ngán sanh tử, bất cứ điều ǵ con làm chỉ là những hột giống cho các cơi thấp. Người nào không nhàm chán sanh tử sẽ đau khổ không ngừng nghỉ!
Đạo sư lại nói: không có cái ǵ khác giúp đỡ được con khi đối diện với cái chết, thế nên hăy làm như vầy. T́m một vị thầy ngài là hiện thân của các giáo lư Đại thừa. Nhận những lời chỉ dạy chúng là hiện thân của sự chứng ngộ chân thật về bản tánh của tâm.T́m kiếm và duy tŕ một chốn ẩn cư an lành nơi ấy có đủ những nhu cầu. Thực hành với một sự chuyên cần không ngừng nghỉ. Làm đầy kho tàng của con không chần chừ uể oải. Giữ mối liên lạc với người nào có đức tin, kiên tŕ, và thông minh. Hăy thực hành các giáo lư đưa con đến giải thoát. Lánh xa như thuốc độc các việc xấu dẫn con đến các cơi thấp. An trụ tràn đầy bởi tâm bi, gốc của Đại thừa. V́ mục đích ban đầu của con, hăy tu hành tánh Không vô niệm. Trừ phi con vất bỏ các phóng tâm, sẽ khó khăn để thành tựu bất kỳ cái ǵ qua thực hành tâm linh!

Đạo sư lại nói: con có nghe rằng ông bà và tổ tiên con đă chết? Con có thấy những người cỡ tuổi con và xóm giềng đă chết? Con không chú ư rằng các bà con của con đă chết, dù họ trẻ hay già? Con không bao giờ thấy một thi thể được đem ra nghĩa địa sao? Làm sao con không nhớ được rằng cái chết sẽ đến với con? Nếu con ở yên không làm ǵ cả, thời gian đạt đến giải thoát sẽ không bao giờ đến! Căn nguyên chính của các đức tính là đem tính vô thường ghi nhớ trong ḷng, thế nên chớ bao giờ quên nỗi sợ chết. Trong tất cả quan niệm, vô thường là cái trổi vượt nhất, thế nên chớ bao giờ ĺa xa nó. Thái độ tin tưởng rằng mọi vật thường c̣n chính là căn nguyên của mọi việc làm sai lầm, thế nên hăy vất bỏ nó đi! Trừ phi trong tâm con thành thực có thái độ này (về vô thường), ác hạnh sẽ chất đầy như núi. Để điều đó rơ hơn: người b́nh thường không t́m kiếm giải thoát; người có danh phận th́ kiêu hănh và bám vào sự tự đánh giá phô trương; người giàu có th́ bị cùm kẹp trong tính hà tiện; người ngu sưởi ấm trong các việc xấu; người lười biếng sống trong lănh đạm; người thực hành mà quay trở lại với thế gian; vị thầy dạy Pháp lạc vào tám mối quan tâm thế gian; và thiền giả, mất đức tin và chuyên cần, theo đuổi các mục tiêu của đời này. Tất cả các điều này là do không nhớ vô thường trong ḷng.

Một khi ư nghĩ về vô thường thật sự ḥa trộn vào ḍng sống của con, mọi phẩm chất của con đường giải thoát sẽ chất đầy như núi. Thế nên hăy h́nh thành thái độ rằng các mục tiêu thế tục là phù phiếm, vô ích! Hăy vất bỏ đi tính vô nghĩa của thế gian! Hăy lên đường giải thoát với sự dũng mănh. Chớ bám víu vào sự vật! Chớ trụ vào năm uẩn cho là chính ḿnh! Hăy hiểu rằng sự đi trệch chính là Ma! Hăy hiểu rằng các đối tượng thích thú của giác quan là sự lừa bịp! Chớ bao giờ rời ĺa cảm giác khẩn cấp! Hăy nh́n công việc của cuộc đời này như kẻ thù! Hăy t́m một chân sư! Hăy chạy trốn các đồng bạn xấu. Hăy thoát vào sự cô tịch của các chốn ẩn cư núi non! Chớ tŕ hoăn việc tu hành tâm linh của con! Hăy tuân thủ các lời nguyện và samaya của con! Hăy ḥa tâm con với Pháp!
Nếu con làm như thế, bổn tôn sẽ ban cho con các thành tựu, các dakini sẽ ban phước cho con, chư Phật sẽ hộ tŕ con, và con sẽ sớm đạt đến giác ngộ – tất cả những kết quả này đều từ việc ghi nhớ vô thường ở trong ḷng. Từ quá khứ cho đến ngày hôm nay, tất cả chư Phật và con cái của các ngài, và mọi vidyadhara và siddha được thoát khỏi sanh tử bởi ghi nhớ điều này ở trong ḷng.

Đạo sư lại nói: Con rơi vào các cơi thấp do mười nghiệp xấu, thế nên hăy sám hối và nguyện tránh dầu chỉ một điều xấu nhỏ nhất. Đức hạnh với tâm trụ tướng không trở thành con đường giải thoát, thế nên hăy ôm lấy bất cứ thực hành tâm linh nào con làm với trạng thái vô tâm! Công đức tạo được qua vô số kiếp c̣n có thể bị tiêu tan bởi một giây phút thù ghét, thế nên hăy tu hành tâm từ, tâm bi, và trong khuôn khổ giác ngộ của tâm. Con có thể đă hiểu được tánh Không, nhưng nó sẽ xoay về chủ nghĩa hư vô (chấp đoạn) trừ phi con có thể bi mẫn, thế nên hăy cân bằng tâm Bi và tánh Không!

Là một thiền giả không có nghĩa chỉ là sống trong một hang động; mà có nghĩa là tu hành trong thật nghĩa (của trạng thái bổn nhiên). Là một ẩn sĩ không có nghĩa là sống trong rừng sâu; mà có nghĩa là tâm người ấy thoát khỏi các tạo tác nhị nguyên

 Người muốn sanh nước Cực Lạc nên tu ba phước:

·        Một là hiếu nuôi cha mẹ, kính thờ bậc Sư Trưởng, có tâm nhơn từ chẳng giết hại và tu tập mười nghiệp lành.

·        Hai là thọ tŕ Tam Quy Y, đầy đủ các cấm giới và chẳng phạm oai nghi.

·        Ba là phát tâm Bồ Đề, sâu tin nhơn quả, đọc tụng Kinh điển và khuyên dạy sách tiến người tu hành.”

Trích: “Những Khai thị từ đức Liên Hoa Sanh về con đường Đại Toàn Thiện”

Bản Việt ngữ: An Phong

____________________________________________________

 

Phụ lục 2

48 LỜI NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ

 

Hán dịch: Tào Nguỵ, Pháp Sư Khương Tăng Khải 

Việt dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

Anh dịch: http://www.purifymind.com/FortyEight.html

Sưu tập: Tuệ Uyển, Wednesday, December 18, 2013

 

48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà

48 Vows of Amitabha Buddha

 1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi c̣n có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

1."Provided I become a Buddha, if in my Buddha-land there should be either hell, or the animal state of existence, or the realm of hungry ghosts, then may I not attain enlightenment.

2. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung c̣n trở lại ba ác đạo th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

2."Provided I become a Buddha, if the beings born in my Buddha-land should retrogress into the three evil realms, then may I not attain enlightenment.

3. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ṛng th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

3."Provided I become a Buddha, if the beings born in my Buddha-land are not all of the color of genuine gold, then may I not attain enlightenment.

4. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

4."Provided I become a Buddha, if the beings who are born in my land are not all of identical appearance, without any distinction of noble looks or ugliness, then may I not attain enlightenment.

5. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

5."Provided I become a Buddha, if the beings born in my land are not possessed of the supernormal ability to remember their previous lives, and the ability to know the events of of a hundred thousand nayuta years of kalpas in the past, then may I not attain enlightenment.

6. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhăn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cơi nước chư Phật th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

6."Provided I become a Buddha, if the beings who are born in my land do not possess of the divine-eye, which can see a hundred thousand nayuta of Buddha-lands, then may I not attain enlightenment.

 

7. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ tŕ hết, th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

7."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not possess the divine-ear, which can hear the Teachings of a hundred thousand kotis of nayuta of Buddhas, or do not faithfully observe those Teachings, then may I not attain enlightenment

8. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cơi nước, th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

8."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not all possess the intuitive-mind, which knows the thoughts of all beings of a hundred thousand kotis of nayuta of Buddha-lands, then may I not attain enlightenment.

9. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

9."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not all possess the heavenly -step, which can of one thought travel over a hundred thousand kotis of nayuta of Buddha-countries in the shortest fraction of a moment, then may I not attain enlightenment.

10. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh ḷng tưởng nghĩ tham chấp thân thể th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

10."Provided I become a Buddha, if there should arise in the minds of any beings in my land the idea of selfishness and covetous thoughts, even with regard to their own bodies, then may I not attain enlightenment.

11. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

11."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not all firmly abide in a concentrated state of meditation and equanimity (samadhi) until they have reached nirvana, then may I not attain enlightenment.

12. Giả sử khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cơi nước chư Phật th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

12."Provided I become a Buddha, if my light is limited in such a way that it cannot illuminate a hundred thousand nayuta of kotis of Buddha-lands, then may I not attain enlightenment.

13. Giả sử khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

13."Provided I become a Buddha, if the length of my life is limited, even to a hundred thousand nayuta of kotis of kalpas, then may I not attain enlightenment.

 

14. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cơi Đại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm ngh́n kiếp mà biết được số lượng ấy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

14."Provided I become a Buddha, if any being is able to count the number of innumerable pupils in my land -- even if it takes a hundred thousand nayuta of kotis of kalpas for all the beings of three million worlds and the whole triple universe, after becoming Pratyeka-Buddhas, to count that number -- then may I not attain enlightenment.

 

15. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

15."Provided I become a Buddha, if the lives of the beings in my land are not eternal, except by their own free will whenever they choose to pass away from life, then may I not attain the enlightenment.

 

16. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà c̣n nghe danh từ bất thiện th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

16."Provided I become a Buddha, there will be no evil or sinful existence in my land; even its very name will be unknown. Otherwise, may I not attain enlightenment.

 

17. Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

17."Provided I become a Buddha, if the innumerable Buddhas of the worlds of ten quarters do not glorify my name, then may I not attain the enlightenment.

 

18. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

18."Provided I become a Buddha, if any sentient being in the ten quarters who hears my name and is thus awakened to the highest faith and aspires toward rebirth in my land, recollects that thought for as few as ten times, that being will be reborn there, with the exception of those who have committed the five grave offenses, or who have blasphemed the Dharma. Otherwise, may I not attain enlightenment.

19. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

19."Provided I become a Buddha, then at the moment of death of any sentient being in the ten quarters who has directed his thoughts towards the Bodhi and has cultivated his stock of various merits with a fervent desire for rebirth in my land, if I do not appear with an assembly of retinue before him, then may I not attain enlightenment.

20. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

20."Provided I become a Buddha, if any sentient being of ten quarters hears my name and then constantly longs for my land and cultivates various essential merits for the purpose of realizing his earnest wish to be born in my country, and then fails to attain that wish, then may I not attain enlightenment.

 

 21. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

21."Provided I become a Buddha, if any sentient being in the ten quarters is not endowed with a glorious body perfected with the thirty-two attributes (laksanani) of a great being, then may I not attain enlightenment.

22. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cơi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, v́ chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

22."Provided I become a Buddha, the Bodhisattvas whose activities have surpassed the stage of ordinary beings, who practice the universal virtue of Universal Worthy Boddhisatva, and who come to be born in my land will be subject to that one birth only, and then will become Buddha-elect (ekajatipratibuddhas), with the exception of those who, by their own free will, wish to remain in the stage of Bodhisattvahood to serve the Buddhas of ten quarters for the sake of delivering various beings. Then they will wear the armor of their vows and will travel to all worlds, performing their Bodhisattva's duties and accumulating their stock of merit, converting the various beings whose numbers are as great as the grains of sand of the River Ganges to the highest perfect knowledge. Otherwise may I not attain enlightenment.

23. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cơi nước th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

23."Provided I become a Buddha, if those Bodhisattvas in my land, through the Grace of the Buddha, are not able to serve all the Buddhas throughout the countless nayuta of Buddha-worlds within a less than a moment, then may I not attain the enlightenment.

24. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức ḿnh, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ư muốn th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

24."Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva in my land wishes to use his stock of merit to produce any object to be used before the Buddhas, and if such an object does not appear before him to his satisfaction, then may I not attain enlightenment.

 25. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

25."Provided I become a Buddha, if Bodhisattvas in my land are not able to preach the law of wisdom to completion, then may I not attain enlightenment.

26. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

26."Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva in my land does not possess a golden body as strong as the diamond of Narayana, then may I not attain enlightenment.

27. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ h́nh sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhăn mà biện biệt được danh số ấy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

27."Provided I become a Buddha, the heavenly beings and the various properties produced in my land shall all be of supreme beauty and shall abound in boundless quantity, and in an infinity of various forms. If any being therein, even one who even possesses the divine-eye, is able to perceive all the appellations and quantity of such beauties, then may I not attain the enlightenment.

28. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

28."Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva of my land who possesses even the slightest stock of merit does not perceive the boundless shining beauty of the Bodhi-trees of my sanctuary, their height being at least four million miles, then may I not attain enlightenment.

29. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ tŕ diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

29."Provided I become a Buddha, if the Bodhisattvas of my land do not all possess the wisdom of eloquent oration after having read, recited, and observed the Dharma of the Sutras, then may I not attain the enlightenment.

30. Giả sử khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

30."Provided I become a Buddha, if the Bodhisattvas of my land are limited in the wisdom of their oration, then may I not attain enlightenment.

31. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện h́nh gương mặt, nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

31."When I have obtained the Buddhahood, if my land is not so reflective and raidant that it reflects the miniatures of the innumerable, inconceivable and boundless Buddha-worlds in all the ten quarters as clearly as one's face is seen in a bright mirror, then may I not attain enlightenment.

32. Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

32."After I have obtained Buddhahood, there shall be in my land magnificent palaces towering up from the ground to the void, also lakes, winding streams, blossoming trees, and myriad other properties which are compounded of various jewels and thousands of kinds of perfumes, minutely embellished in the most wondrous state, surpassing all heavenly and human worlds. And the scent of perfumes shall thoroughly pervade the worlds of ten quarters in such a way that when Bodhisattvas smell them, their minds are directed to Bodhi. Otherwise, may I not attain enlightenment.

33. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

33."When I obtain the Buddhahood, if the body of any sentient being in the boundless and inconceivable Buddha-worlds in any of the ten quarters is touched by the rays of my splendor, and if that being's body and mind do not then become gentle and peaceful, in a state that is far more sublime than those of the gods and men, then may I not attain enlightenment.

34. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng tŕ th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

34."When I obtain Buddhahood, if the beings of boundless and inconceivable Buddha-worlds do not attain the "Endurance of Nirvanic Life" (ajatah sarvadharmah) of Bodhisattva, and the deep knowledge of "Adharanamudro" (or dharani) afterhearing my name, then may I not attain enlightenment.

 

35. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ c̣n sanh thân người nữ lại th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

35."When I obtain Buddhahood, women in boundless and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters will hear my name and will thereby been awakened in faith and joyful aspiration. Turning their minds towards Bodhi, they will dislike their own female lives, and then, when they are born again, in their next life they will be reborn in male bodies. Otherwise may I not attain enlightenment.

 

36. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư ngh́ thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

36.When I obtain Buddhahood, the Bodhisattvas of boundless and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters, having heard my name, after their death [in their next life] will still continue their Bodhisattva-duty until they have obtained Buddhahood. Otherwise, may I not attain enlightenment.

37. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát th́ được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

37.When I obtain Buddhahood, the heavenly beings of the boundless and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters, having heard my name, will worship me with prostrate reverence, and will joyfully and faithfully perform their Bodhisattva-duty, and will be honored by gods and men. Otherwise, may I not attain enlightenment.

38. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợi tự nhiên mặc trên thân. Nếu c̣n phải may cắt nhuộm giặt th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

38.When I obtain the Buddhahood, the heavenly beings of my land, should they desire a garment, will be able to perceive themselves, as quick as thought, covered by apparitionally produced costumes, excellent to their satisfaction, worthy to be praised by the Buddha, without the work of sewing, washing, dying, and so on. Otherwise, may I not attain enlightenment.

39. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

39."When I attain the Buddhahood, if the heavenly beings of my land do not enjoy happiness as great as that of the holy bhikkhus, then may I not attain enlightenment.

40. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ư muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương th́ liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt ḿnh hiện rơ trong gương sáng. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

40."When I attain Buddhahood, if the Bodhisattvas of my land wish to see the boundless, holy, pure Buddha-worlds of the ten quarters, they will at once behold them from the jewel-trees as though their faces were being reflected in a highly burnished, brilliant mirror. Otherwise, may I not attain the enlightenment.

41. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân c̣n thiếu xấu chẳng được đầy đủ th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

41."When I attain the Buddhahood, if the Bodhisattvas of other worlds, after having heard my name, suffer from any diminution in the functional powers and are not endowed with all sense-organs in completion before reaching the Buddhahood, then may I not attain enlightenment.

42. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ư, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

42."When I obtain the Buddhahood, if the Bodhisattvas in other Buddha-lands whohear my name do not all attain, in one moment of thought, the pure samadhi of emancipation from which they could serve innumerable and inconceivable number of Buddhas [Tathagatas], or if their of their samadhi should come to an end meanwhile, then may I not attain enlightenment.

43. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quư. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

43."After I have obtained the Buddhahood, if any Bodhisattva of another land hears my name, that Bodhisattva will, after death, be reborn as a member of a noble family if he or she so desires. Otherwise, may I not attain enlightenment.

44. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

44."When I obtain the Buddhahood, the Bodhisattvas of other lands, having heard my name, will all obtain a combination of full virtues and will joyfully perform their Bodhisattva-duty. Otherwise, may I not attain enlightenment.

45. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

45."When I have obtain Buddhahood, all Bodhisattvas of other lands who hear my name will obtain the samantanugata (the thoroughly and equal samadhi in a fixed state of meditation). Through that samadhi, they will see innumerable and inconceivable Buddhas constantly until they have obtained the Buddhahood. Otherwise may I forbear from obtaining enlightenment.

 

46. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

46."When I obtain Buddhahood, the Bodhisattvas of my land shall be able to hear the Teaching of the Dharma whenever they desire. (The voices of teaching will present themselves naturally to their ears). Otherwise may I refrain from attaining enlightenment.

47. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

47."When I obtain Buddhahood, if Bodhisattvas of other lands, after having heard my name, do not immediately reach the state of never turning back from Bodhi, then I will refrain from attaining enlightenment.

48. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển th́ tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

48."When I have obtained Buddhahood, if Bodhisattvas of other lands who hear my name, do not reach the first, second, and third degrees of Dharma-endurance immediately, or if they turn back from the Buddha Dharma, then I will refrain from attaining enlightenment.

 

Thành kính dâng lên Đức Thế Tôn Vô Lượng Quang nhân ngày Đản Sanh

17-11- Quư Tỵ / 19-12-2013

Tuệ Uyển

 

TƯ LIỆU THAM KHẢO

 

Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống              

Phạm Hộ Pháp

Giải Nghĩa Kinh Thiên Đạo, Thế Đạo

Nguyễn Văn Hồng

Chú giải  Kinh Thiên Đạo, Thế Đạo                                      

Thiên Vân QVH

Đức Phật A-Di-Đà Trong Kim Cương Giáo         

Drupa VN

Vn wikipedia

  

                               CHÂN THÀNH BIẾT ƠN QUƯ TÁC GIẢ

 

 

Top of Page

      HOME