Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Triết Lư Cao Đài

哲理高臺

 The Philosophy of Caodaism

 Lạp Chúc Nguyễn Huy

  A bilingual Vietnamese-English Edition

 

      Trung Tâm Nghiên Cứu Cao Đài

          2020

   

 

Mục Lục

Chương 1: Đường lối nghiên cứu
Phần 1. Triết lư vũ trụ quan
Trang Một: Cơi Trời
Chương 2: H́nh thành vũ trụ
Chương 3: Quang cảnh vũ trụ
Phần 2. Triết lư nhân sanh quan
Trang Hai: Căn nguyên
Chương 4: Nguồn gốc con người
Chương 5: Tiến hóa
Trang Ba: Cơi trần
Chương 6: Tu Nhơn Đạo
Chương 7: Tinh hóa Khí
Chương 8: Khí hiệp Thần
Chương 9: Chết
Trang Bốn: Con đường giải thoát
Chương 10: Đường lên Trung Giới
Chương 11: Vượt Cửu Trùng Thiên
Chương 12: Lên đường giải thoát
Phụ lục 1: Về chữ « ngươn » và « chơn »
Phụ lục 2: Về chữ « Ḥa »
Phụ lục 3: Về chữ ô trược
Phụ luc 4 : Tu chơn
Danh từ Đạo
Thư mục

 [Vietnamese/PDF/download]      [English/PDF/download]

Chương 1

 Đường lối nghiên cứu

1. Mục đích nghiên cứu
2. Phương pháp khảo cứu
3. Đường lối cuốn sách

       Ai cũng biết và cũng hiểu rằng qua cơ bút, các điều mạc khải của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng được ghi lại dưới h́nh thức Thánh Ngôn đă tạo lập nên tôn giáo Cao Đài. Các điều « Mạc khải [1]» (the revelation) của Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng  có nghĩa là từ cơi vô h́nh, Ông Trời mở tấm màn (mạc) ra cho biết (khải) những điều thiêng liêng mầu nhiệm huyền bí trong sự tĩnh lặng mà lư trí con người không thể giải thích được. Chính các điều mạc khải của Đấng Thiêng Liêng đă tạo dựng nên cơ cấu của tôn giáo Cao Đài rồi từ tôn giáo Cao Đài mà phát sinh ra tư tưởng triết lư Cao Đài.

 

                Các điều mạc khải được ghi trong các cuốn Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Người nghiên cứu chỉ cần hệ thống hóa các điều mạc khải của Thượng Đế về nguồn gốc vũ trụ và con người là nh́n thấy rơ tiến tŕnh h́nh thành triết lư vũ trụ quan, nhơn sanh quan Cao Đài được diễn tiến như sau :

 

Mạc khải của Thượng Đế

                                                                     

Ghi thành Thánh Ngôn

                                                                     

H́nh thành tôn giáo Cao Đài

                                                                     

Hệ thng Thánh Ngôn

                                                                     

H́nh thành hệ thống tư tưởng
Triết lư vũ trụ quan và nhơn sanh quan

              

 Nghiên cứu so sánh đối chiếu

                                                                     

Nhận diện bản sắc văn hóa Cao Đài

  

                   Nghiên cứu triết lư[2] Cao Đài nghĩa là nghiên cứu:

   - Nguyên lư của vũ trụ (vũ trụ quan) và con người (nhơn sanh quan).

- Thể pháp và bí pháp.

 Thể pháp tức luật hữu vi định tướng, định h́nh trên trần thế mà ta nh́n thấy được; thể pháp của Đạo nhm phổ độ giải khổ cho chúng sanh.

 Bí pháp là pháp thuật huyền bí trong cơi vô h́nh là quan giải thoát chúng sanh.

T́m hiểu cả thể pháp lẫn bí pháp là điều kiện nghiên cứu đầu tiên để minh giải tư tưởng vũ trụ quan và nhân sanh quan của Đạo. Công việc nghiên cứu triết lư của Đạo được thực hiện theo mẫu các dự án nghiên cứu nhân chủng học ở đại học, do đó đường lối nghiên cứu gồm 3 phần:

- Mục đích nghiên cứu: Tŕnh bày Triết lư Cao Đài của Đạo Cao Đài,

- Phương pháp khảo cứu: áp dụng phương pháp t́m hiểu và nh́n được cơi vô h́nh,

- Minh thị đường lối cuốn sách.

 

1. Mục đích nghiên cứu

 

Nội dung cuốn sách này nhằm hai mục đích là: Minh giải triết lư của Đạo và bổ túc vào các công tŕnh nghiên cứu căn bản của Đạo.

 

Mục đích 1. Minh giải triết lư của Đạo

 

Từ ngàn xưa, tôn giáo cũng như triết gia đều băn khoăn suy nghĩ về cái sống và cái chết của con người. C̣n mỗi người trong chúng ta đều có chung một mơ ước gặp một người từ cơi vô h́nh đến bổ khuyết những trang giấy triết lư viết c̣n dang dở hoặc bỏ trống bởi triết gia và tôn giáo.

 

Trang thứ nhất: Cơi Trời. Ai trong chúng ta mà chẳng mơ ước có một người ở ngay tại cơi vô h́nh viết và giải thích cơi đó;

Trang thứ hai: Căn Nguyên. Thắc mắc của con người về nguồn gốc ḿnh khi quan sát thể xác vật chất hữu h́nh, nên mới hỏi: Nhân sanh hà tại? Tại sao tôi sanh ra trên đời, v́ nguyên nhân nào?

Trang thứ ba: Cơi Trần. Con người suy nghĩ về đời sống nơi trần thế mà tự hỏi: Tại thế hà như? Sanh ra để làm ǵ với đời sống trần thế này? Sanh hà kư? Sống gởi đâu?

Trang thứ tư: Con Đường Giải Thoát. Con người cô đơn đối diện với cái chết mà bơ vơ lo lắng: Hậu thế hà như? Sau khi hồn ĺa khỏi xác th́ sẽ ra sao? Cứu cánh cuối cùng  của con người là ǵ? Tử hà qui? Chết về đâu?

 

Trong bốn trang giấy, chỉ có trang ba về đời sống trần thế được viết đầy tràn bởi các triết nhân và tôn giáo trên khắp thế giới với nhiều quan điểm khác nhau. Trang hai về nguồn gốc con người được viết theo sự nhận xét vật chất hữu h́nh của khoa học và phái duy vật chủ nghĩa. Cả hai trang tuy đầy chữ nhưng viết c̣n dang dở v́ chỉ biết đến cái ǵ vật chất hữu h́nh lại thiếu phần vô h́nh tức cái ǵ hiện hữu trước khi có cơ thể hữu h́nh.

 

            Riêng trang đầu và cuối hầu như c̣n bỏ trống v́ được viết bởi người trần thế nhân danh Thượng Đế mà viết. V́ vậy mà nhiều người ước mơ có một  người sống tại chỗ tức tại cơi vô h́nh bổ khuyết những chỗ bỏ trống trên bốn trang giấy. Và ước mơ đó thực sự đă đến với tôi khi nghiên cứu Đạo Cao Đài v́ tôi đă t́m thấy người bổ khuyết các trang giấy triết lư đó không ai xa lạ, chính là Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng đang hằng sống trong cơi vô h́nh đă dùng huyền diệu cơ bút mô tả và giải thích những cái ǵ mà ta đang mơ ước. Từ cơi vô h́nh, các Ngài đă đem đến cho nhân loại «Chơn lư khải định»[3] nhằm giúp nhân loi cảm thông được với cơi vô h́nh mà suy nghĩ về Chơn Lư của Đạo Cao Đài. Diễn giải Thánh Ngôn và lời thuyết pháp để bổ túc bốn trang triết lư của nhân loại là mục đích nghiên cứu chính yếu của soạn giả.

 

Mục đích 2. Bổ túc thiếu sót công tŕnh nghiên cứu căn bản của Đạo và sửa sai những « khảo cứu » có nh cách chính trị.

 

            Về thiếu sót công tŕnh kho cứu 

 

            Tác giả Đồng Tân[4] kể lại rằng:

            - Tại hội sở Hội Văn Hóa Cao Đài, ngày 29-11-1970, GS Jeremy Davidson, thuộc viện đại học Luân Đôn phát biểu: « C̣n Hội Thánh không bao giờ nói tới triết học ngoài nhng nghi lễ rườm rà, giáo điều chquan». Và ông đă hỏi các vị Chức Sắc hiện diện :« Có thể nào định nghĩa Đạo Cao Đài như là một triết học tôn giáo không? » (Can one define caodaism as a religion’s philosophy).

            - Ngày 30-3-1971, tại hội sở Hội Văn Hóa Cao Đài, mục sư Victor L. Oliver phát biểu: Khi t́m hiểu bề sâu th́ h́nh như Đạo Cao Đài không có căn bản giáo lư rơ rệt.

            - Năm 1970, GS R.B.Smith viết: « Chính tín hữu Cao Đài chịu trách nhiệm về sự kém hiểu biết về Đạo Cao Đài của người Tây phương » (To some extent western ignorance about caodaism is the responsibility of the caodaists themselves[5]).

            - Hầu hết các công tŕnh nghiên cứu của người ngoại quốc[6] đều kế thừa những công tŕnh đă công bố để tŕnh bày lịch sử khai Đạo, tổ chức cơ quan, giáo lư, biến cố nội bộ, chi phái… chứ không lư giải bản chất của Đạo.

            - Đến năm 2010, Huỳnh Ngọc Thu[7], viết ở trang 37 trong luận án tiến sĩ tŕnh tại Việt Nam: «Nội dung ca những công tŕnh (đă được tuyên bố) này đề cập đến nhiều vấn đề lịch sử, tư tưởng chính trị, văn hóa… Nhưng, nghiên cứu về đời sống tôn giáo của tín đồ Cao Đài, đặc biệt là giải mă những chức năng của nghi lễ, tổ chức, hội đoàn tôn giáo…liên quan đến đời sống tín đồ th́ đến nay vẫn chưa có công tŕnh nào thực hiện ».

 

            Về những « khảo cứu » có nh cách chính trị v́ cơm áo

 

            Trong nước hiện nay, độc giả có hiểu biết về Cao Đài chỉ cần đọc các luận án tiến sĩ[8] của Nguyễn Thanh Xuân, Huỳnh Ngọc Thu, Huỳnh Thị Phương Trang đều nhận thấy ngay sự thiếu lương thiện trí thức (Honnêteté intellectuelle) v́ viết luận án tuân theo đường lối chỉ đạo ca nhà Nước. 

 

            Ai cũng biết Đạo Cao Đài là do chính Thượng Đế dùng cơ bút sáng lập nên, vậy mà một giáo sư tiến sĩ Huỳnh Ngọc Thu thuộc ĐH Khoa Học Xă Hội Nhân Văn TPHCM, v́ miếng cơm manh áo mà bẻ cong ng̣i bút viết ngay trong luận  án tiến sĩ ở trang 217 là  « Đạo Cao Đài h́nh thành bởi tầng lớp trí thức tây học trên nền tảng Nho học, được sự ủng hộ của một bộ phận điền chủ giàu có ở Nam bộ, hơn ai hết, các tầng lớp này muốn  xác lập một tôn giáo tập hợp đông đủ các sắc thái đời sống tinh thần đa dạng, đa văn hóa của cư  dân Nam Bộ » và trong trang 220 « Đạo Cao Đài là tôn giáo bản địa do người Việt ở Nam Bộ sáng tạo nên từ nền tảng của các tôn giáo đă có trước đó tại Nam Bộ[9] ».

 

            Bẻ cong ng̣i bút v́ miếng cơm manh áo là hiện tượng thường gặp ở các tác giả cộng sản, thí dụ như giải thích tại sao Đạo Cao Đài phát triển nhanh chóng th́ viết:

            - Nguyễn Thanh Xuân giải thích « Bị áp bức bóc lột, bị đói khổ, bần cùng, lại bị thất bại bế tắc trong cuộc đấu tranh chống Pháp, một bộ phận nhân dân Nam Bộ đă đi t́m đến với tôn giáo, t́m đến với Đạo Cao Đài »[10].

            - Theo Đặng Nghiêm Vạn, Đạo Cao Đài nhập thế hiểu tâm lư xă hội nông dân đương thời, và « chỉ con đường giải thoát ức chế của cuộc sống thường ngày »[11].

 

            Điều nguy hiểm cho Đạo Cao Đài là trên b́nh diện đại học, một số người lợi dụng học hàm « tiến sĩ » để xuyên tạc sự thật v́ lư do chính trị. V́ vậy mà mục đích thứ hai của cuốn sách này là trả lại sự thật cho Đạo Cao Đài.

 

2.  Phương pháp khảo cứu

 

Trong bất cứ dự án nghiên cứu nào, phương pháp khảo cứu là phần chính yếu dẫn đến mục đích của dự án. Phương pháp t́m hiểu bí pháp của Đạo dựa trên hai yếu tố chính là:

- Tài liệu;

- Phương pháp t́m hiểu và nh́n được cơi vô h́nh.

 

Tài liệu

 

            Trong phần tài liệu, chúng tôi dùng tài liệu nguyên thủy như Thánh Ngôn làm căn bản cho giải thích triết lư Cao Đài.

 

Tài liệu truy cứu

            - Thánh Ngôn với những cuốn căn bản như Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh Ngôn sưu tầm, Kinh sách chính thức của Ṭa Thánh Tây Ninh, lời thuyết pháp của các Đại Chức Sắc;

            - Khai thác kho tàng tài liệu eBook trong các T Sách Đại Đạo thí dụ như www.daocaodai.info, caodaism.net. V́ không có sự thẩm định chính thức của Hội Thánh nên khai thác các eBooks phải rất thận trọng để tránh phán xét chủ quan và xuyên tạc của vài soạn giả;

            - Về các tác giả, chúng tôi dùng phương pháp đối chiếu các giải thích để t́m một giải thích đồng thuận và phù hợp với giáo lư.

            - Dựa vào nhiều tài liệu truy cứu nên phải dùng nhiu chú thích dưới trang với mục đích: Làm cho nội dung bớt nặng nề, dễ đọc; giúp độc giả nào muốn t́m hiểu hơn; giới thiệu một tác giả đă tŕnh bày rất đầy đủ một vấn đề.

           

Khó khăn về tài liệu

            Tài liệu trong Thánh Ngôn chưa được hệ thống hóa theo đề mục lại đôi khi khó hiểu v́ Thiên Ư ẩn tàng sau ngôn từ và thể pháp. Giải quyết khó khăn này bằng:

            - T́m giải thích của các vị Đại Chức Sắc đă đắc Đạo và các chức sắc am hiểu Đạo[12].         

            - Sắp đặt các Thánh Ngôn theo thứ tự của bốn trang triết lư để hệ thống hóa thành cuốn triết lư của Đạo Cao Đài nói riêng và của nhân loại nói chung,

 

 Phương pháp t́m hiểu bí pháp và nh́n được cơi vô h́nh

 

            Tuy có trí thức và kinh nghiệm khảo cu, nhưng thiếu trí huệ nên soạn giả bổ túc thiếu sót đó bằng dựa vào li giải thích của Thượng Đế, các Đấng Thiêng Liêng và các Đại Chức Sắc có trí huệ để rơ thông Thiên Đạo.

 

            Về sự h́nh thành và chuyển động của vũ trụ trong cơi vô h́nh, đă có Thánh Ngôn mô tả, giải thích rất rành rẽ. Công việc của soạn giả là hệ thống hóa các bài Thánh Ngôn giải thích bí pháp mầu nhiệm trong Càn Khôn Vũ Trụ.

 

            Về bí pháp trong nhân sanh quan, chúng tôi dựa vào giải thích của các chức sắc và có thể quan sát hành bí pháp ngay trước phàm nhăn chúng ta. Thí dụ như hành bí pháp Dâng Tam Bửu, bí pháp Tắm Thánh, Hôn Phối, Phép Xác, Phép Đoạn Căn… Sự mầu nhim của bí pháp thuộc về cảm nhận của tín đồ và niềm tin vào Thượng Đế.

 

            Riêng nghiên cứu bí pháp Tận Độ Chơn Hồn nơi cơi Thiêng Liêng là điều khó khăn nhất v́ những lư do sau.

 

Huệ quang

            Chỉ các Đấng Thiêng Liêng, Đức Hộ Pháp được Thượng Đế mở Huệ quang khiếu[13] hoặc nhng v đắc Pháp có huệ nhăn[14] th́ thấy được, có huệ nhĩ th́ nghe được, có huệ tỷ th́ ngửi được, có huệ tâm th́ ứng được[15]. Trong điều kiện đó, Chơn Thần mới thấy, mới nghe được trong cơi vô h́nh mà hiểu được bí pháp.

 

Ngôn ngữ phàm trần

 Ngôn ngữ là biểu tượng của tư duy phát xuất từ giác quan, ư thức nên hữu vi, hữu lậu tức là c̣n nhuộm sắc trần và có giới hạn nên « ngôn bất tận ư ». Ngôn ngữ biểu tượng cho sự thể chứ không phải bản chất của sự thể. Tuy nhiên, muốn chuyển đạt, hướng dn chúng sanh, Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng cũng dùng ngôn thuyết. Nếu không có tâm huệ, người thường dựa vào nghĩa đen và mặt nổi của ngôn từ mà diễn giải th́ sẽ làm sai ư truyền đạt của các Đấng Thiêng Liêng.

 

Tùng tướng, nhập tánh

             Người tu phải nhập tánh rồi mới hiểu bí pháp. V́ soạn giả chưa nhập Đạo, nhập tánh nên cần phải có một phương pháp khảo cứu để hiểu được phần nào bí pháp.  Phương pháp đó là dùng ngôn ngữ phàm trần với lời khuyên « tùng tướng nhập tánh » của nhng vị am hiểu Đạo.

 

            Tùng tướng là dựa vào cái «dụng » tức là thể pháp của Đạo hiển lộ trên trần thế. Về t́m hiểu cái dụng của Đạo, soạn giả đă tŕnh bày qua 4 cuốn sách[16] theo như lời khuyên của Đức Hộ Pháp: Phải biết thể pháp rồi mới thấu đáo được bí pháp. Thể pháp của Đời, bí pháp của Đạo có liên quan mật thiết với nhau.

 

            Nhập tánh là trông cậy vào cái Tâm để thể nhp vào Đạo, nương theo Đạo để cảm nhận bí pháp. V́ chưa chân chính theo Đạo, nên trong phần này, soạn giả dùng phương pháp sau:

            - Dựa vào tâm huệ của các chức sắc như Đức Hộ Pháp và các Đấng Thiêng Liêng đă nhp vào Đạo để mà diễn giải bí pháp;

            - Sở cậy vào ư kiến của các vị Chức Sắc, Hiền Tài và các tác giả thông hiểu giáo lư;

          - Dùng trí hiểu biết với lời cầu xin Thượng Đế giúp cho sáng suốt để t́m hiểu ẩn ư của ngôn từ trong Thánh Ngôn về cơi vô h́nh.

 

3.  Đường lối cuốn sách

 

            Đường lối cuốn sách là dùng tư tưởng triết lư của Đạo Cao Đài để trả lời các câu hỏi mà con người cũng như các tôn giáo thường đặt ra: Cơi vô h́nh là ǵ? Nguyên căn con người ở đâu? Tại sao sống ở trần thế để làm ǵ? Chết rồi hết hay chưa, hay đi về đâu? Đâu là cứu cánh cui cùng ca con ngưi? Do đó, nội dung cuốn sách được tŕnh bày tuần tự như sau

 

            Chương 1 tŕnh bày phương pháp nghiên cứu Đo phng theo các dự án nghiên cứu nhân chng học ở đại học. Tiếp theo là tŕnh bày vũ trụ quan và nhơn sanh quan của Đo.

 

Phần 1. Vũ trụ quan

            Trang Một triết lư: Cơi Trời. H́nh thành, biến dịch, quang cnh tạo nên vũ trụ và minh gii giáo điều Thiên Địa vạn vật đng nht th, nghĩa là con người và Thượng Đế có cùng một bản th là Hư Vô Chi Khí (Chương 2, 3).

 

Phần 2. Nhơn sanh quan

            Trang Hai triết lư: Giải thích nguồn gốc con người ở thể khí trong cơi Thiêng Liêng đến con ngưi có h́nh thể vật chất hữu h́nh hữu diệt trên trần thế (Chương 4, 5).

 

            Trang Ba triết lư đề cập ư nghĩa đời sống trên cơi trần là tu Nhơn Đạo và Thiên Đạo sửa soạn cho cuộc hành tŕnh thiên lư ngoại về với Thượng Đế (Chương 6 7, 8, 9).

 

            Trang Bốn triết lư: Con đường giải thoát, cứu cánh cui cùng ca con người là t́m đưng trở về bản thể Hư Vô Chi Khí như giáo điều chỉ dạy: Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản (Chương 10, 11, 12).  

            Sau cùng, soạn giả rất mong nhận đưc nhng li phê b́nh góp ư của độc giả nhất là các vị am hiểu Đạo đtu chnh nhng thiếu sót nếu sách được tái bản.

 

 

 

 

Phần 1

Vũ trụ quan

Top of Page- Mục Lục

 

            Vũ trụ quan là hệ thống tư tưng diễn tả sự h́nh thành và biến sanh của vũ trụ. Vũ trụ quan Cao Đài mang hai ư niệm:

            - Ư niệm bản chất: nguồn gốc, h́nh nh của vũ trụ

            - Ư niệm huyền linh tc là ư niệm Thương Đế vô ngă 

             Cơ chế cấu tạo và biến sanh vũ trụ theo Thiên Luật[17] là hệ thống cơ năng Âm Dương vận hành theo Thiên Luật trong bản thể Vô Cực. Cơ chế biến sanh này làm nảy sanh ư niệm Thượng Đế vô ngă.

 

   Trang một

 

      Trang một

                   Cơi Trời

      

             Vô h́nh cnh giới hà như?  

             無形境界何如   
                 Cơi vô h́nh là ǵ?

  Thượng Đế đă từ cơi vô h́nh giáng cơ bút mô tả cơi vô h́nh và các giải thích của Ngài làm sáng tỏ giáo điều : Thiên địa vạn vật đng nhất thể  (Trời đất vạn vật có cùng một bản thể).  

 

 

 

             Trang đu quyển Triết Lư Cao Đài kể lại, từ cơi thiêng liêng vô h́nh, Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng đă giáng cơ bút giải đáp mơ ước của mọi người và khải thị cho con người biết vũ trụ (chương 2) :

- Nguồn gốc vũ trụ và Thượng Đế,

- Hai thời kỳ của tiến tŕnh cấu tạo vũ trụ.

 

            Trong chương 3, Thượng Đế mô tả quang cnh cơi vô h́nh của hai thời kỳ :

            - Thời Tiên Thiên Cơ Ngẫu, thời kỳ Đạo Vô Vi trước khi Thượng Đế xuất hiện,

            - Thời Hậu Thiên Cơ Ngẫu tức thời kỳ Đạo Hữu Vi sau khi Thượng Đế đă đnh vị trời đất, âm-dương và sanh hóa ra muôn loài vạn vật.

 

  

Chương 2

H́nh thành vũ trụ

Top of Page- Mục Lục

 1. Thời khởi nguyên
 2.Thời chuyển động

T́m hiểu triết lư Cao Đài phải bắt đầu từ nguồn cội, bản thể vũ trụ là Đo, là khí Hư Vô  [18]. Đo là động năng khởi thỉ tạo dựng nên Càn Khôn vũ trụ (vũ trụ quan) và hóa sanh vạn vật muôn loài (Nhân sanh quan).

 

            Sự biến dịch của Đạo được đánh dấu bởi hai thời kỳ

            1. Thời khởi nguyên của Đạo tứcTiên Thiên [19] Cơ Ngẫu[20] . Đây là thời kỳ Đo Trời Vô Vi[21]. «Đo là Hư Vô chi khí». Vũ trụ là một khoảng  không gian mù mù, mịt mịt của Khí Hồng Mông    [22].

            2. Thời chuyển động tức Hậu Thiên[23] Cơ Ngẫu là thời kỳ Đạo biến tưng và Thượng Đế xuất hiện tạo dng Càn Khôn Vũ Trụ.

 

1. Thời khởi nguyên: Tiên Thiên Cơ Ngẫu

 

            Về thời khởi nguyên, Đức Chí Tôn giải thích hai điều trọng hệ là nguồn cội của vũ trụ và động năng tiềm ẩn trong Đạo (Hư Vô Chi Khí).

 

Nguồn cội của vũ trụ

 

            Đức Chí Tôn giải thích khởi nguyên khi chưa có trời đất, đă có Đạo. Đo là Hư Vô Chi Khí, là nguồn cội, bản thể của Càn Khôn Thế Giới. Hư Vô Chi Khí thể tĩnh th́ gọi là Đo; Tánh của Đo là hư không, lặng lẽ, xem chẳng thấy, lóng chẳng nghe, rờ chẳng đặng, vô thỉ vô chung.  Đạo lưu hành trong vũ trụ, tàng ẩn trong muôn vật, bao gồm cái Có lẫn cái Không, Động và Tịnh, Âm và Dương. Đạo là Chơn Lư tuyệt đối, là tinh thần của trời đất vạn vật, mà trời đất vạn vật là linh thể của Đạo cho nên vật nào cũng có phần linh diệu của Đạo bên trong để điều ḥa, trưởng dưỡng cho nó.

            - Thời Tiên Thiên Cơ Ngẫu là thời kỳ trước khi có Thượng Đế. Tiên Thiên có nghĩa vô sanh, vô diệt.

            -  Vũ trụ là một khoảng không gian mù mù, mịt mịt của Khí Hồng Mông    , vô ảnh, vô h́nh, vô vi, vô biên, vô thinh, vô trần.

 

Động năng tiềm ẩn trong Đạo

 

 

Vào thời Đạo là Hư Vô Chi Khí, khoảng không gian chứa sẵn khí Hồng Mông và ba yếu tố làm cơ năng khởi động Đạo: Thái Cực, một lư thiên nhiên[24] và một lư tự nhiên[25] tức âm-dương kết thành một khối Linh Quang. Sự hiện diện của ba yếu tố này giải thích tại sao Đạo Vô Vi là động năng khởi thỉ, vĩnh cửu, chuyển động th́ tạo dựng nên Càn Khôn Vũ Trụ, hóa sanh vạn vật muôn loài vào thời Hậu Thiên Cơ Ngẫu.  Đến khi khối khí Hư Vô chuyển động, biến dịch th́ phát sanh ra sự xuất hiện của Thượng Đế.  

 

2.  Thời chuyển động : Hậu Thiên Cơ Ngẫu[26]

 

Tất cả mọi sự việc trong Càn Khôn Vũ Trụ đều biến dịch, vô thường. Có biến dịch th́ mới có sanh sanh, hóa hóa. Đạo cũng không ra ngoài nguyên lư thiên nhiên đó.  Ngay ư nghĩa chữ đạo[27] cũng đă gợi ư Đạo cần được nghiên cứu dưới thể động để giải thích chuyển biến và tác động của Đạo mà sanh ra vạn vật.

 

            Thời Hậu Thiên Cơ Ngẫu, cơ chế biến sanh vũ trụ là hệ thống động năng Thái Cực-Âm Dương vận hành trong bản thể Khí Hồng Mông (Vô Cực[28]).  

 

Thượng Đế xuất hiện

 

Khi động năng khởi thỉ của Đạo khởi động đến vũ trụ th́ từ Tiên Thiên Hư Vô chi khí, Thượng Đế xuất hiện sau khi khối Linh Quang phát nổ.  

 

            Vậy, biến tướng trọng đại của Đạo là sự xuất hiện Đức Chí Tôn và Càn Khôn Thế Giới: « Nếu không có Thầy th́ không có chi trong Càn Khôn Thế Giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí th́ không có Thầy »[29] v́ vậy mà: « Dầu cho Thầy cũng phải dưới quyền của Đạo». Thánh Ngôn đă nói rơ 3 điều:

            - Đạo hay Hư Vô Chi Khí là cội nguyên của Thượng Đế và vạn vật trong vũ trụ nên Thượng Đế mới nóiThầy là các con, các con là Thầy»[30],  «Thầy là Hư Vô chi khí th́ Đạo cũng đồng nghĩa đó thôi»

            - Nguyên lư «Nhất thể, nhất nguyên[31]» có nghĩa là vạn vật đồng « nhất thể » (Khí Hư Vô)  và « nhất nguyên » sanh ra từ động năng Thái Cực.

            - Người cấu tạo vũ trụ là Đức Chí Tôn: Khai Thiên Địa vốn Thầy…một Chơn Thần mà biến Càn Khôn Thế Giới và nhơn loại… Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới nên mới gọi là Pháp. Pháp mới sanh ra Càn Khôn Vạn Vật, rồi mới có người nên gọi là Tăng[32]..

 

            Vũ trụ từ đây bắt đầu có một ngôi Thái Cực[33] toàn tri, toàn năng hay Đại Hồn duy nhất mà chúng ta gọi là Thượng Đế. «Khi chưa có chi trong Càn Khôn Thế Giới th́ khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực[34]».

 

 Cấu tạo vũ trụ[35]vạn vật

 

          H́nh nh vũ trụ vạn vật trong đó chúng ta đang sanh sống được cấu tạo bởi 2 cơ năng :

            - Cơ năng âm dương cấu tạo vũ trụ,

            - Động năng Thái Cực-Âm Dương hóa sanh muôn loài.

 

 Guồng máy âm dương cấu tạo vũ trụ

            Trong cơ chế biến sanh vũ trụ, hai khối khí vĩ đại Âm quang[36] và Dương quang tạo thành guồng máy âm-dương « Lấy cơ thể âm-dương mà phân thanh biện trược, làm máy động tịnh để gom tụ cái khí Hư Vô mà hóa sanh muôn loài vạn vật. Máy âm dương ấy cứ vần vần xây chuyển, không ngừng nghỉ một giờ khắc nào mà dưỡng dục chúng sanh, bảo tồn thiên địa»[37].

 

            Dưới sự chấp chưởng của Đức Chí Tôn, guồng máy âm-dương tuân theo Thiên Luật[38]chuyển động lúc tịnh, lúc động, xoay chuyển không ngừng là nhờ nguyên lư thiên nhiên[39] . Từ đó, vũ trụ có guồng máy âm-dương[40] mang tánh chất tương khắc nhưng lại tương ḥa mà tạo  ra :

            - Thế giới vô h́nh: Tam Thập Lục Thiên, Thập Nhị Thiên, Tứ Đại Bộ Châu Thượng,

            - Thế giới hữu h́nh : Tam Thiên Thế Giới, Tứ Đại Bộ Châu Hạ, Thất Thập Nhị Địa (trong đó có quả Địa Cầu 68 mà chúng ta đang sống).

 

            Vào thời kỳ này, vũ trụ được phân định âm-dương, trời đất, cao thấp, nặng nhẹ, cơi Thiêng Liêng vô h́nh và thế giới hữu h́nh, hữu diệt.

 

Động năng Thái Cực-Âm Dương sanh hóa chúng sanh

            V́ là cơ (lẻ, một ḿnh duy nhất), Đức Chí Tôn (Thái Cực) không thể hóa sanh, to Càn Khôn Thế Giới, vạn vật muôn loài nên Đức Chí Tôn (lư đơn nhứt) phóng ra vầng quang minh, phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi (ngẫu, đôi): Dương quang và Âm quang. « Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng, mới lập ra Càn Khôn Thế Giới[41]». Theo Thánh Ngôn, hệ thống động năng Thái Cực-Âm Dương vận hành trong bản thể Vô Cực tuân theo Thiên Luật[42] mà cấu tạo chúng sanh : « Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh »[43].

 

 

Hóa Thân của Thượng Đế

 

            Trong công cuộc sáng tạo Càn Khôn Vũ Trụ, Thượng Đế làm tới đâu th́ Ngài dùng quyền phép vô biên của Ngài mà hóa thân ra người ấy để làm nhiệm vụ do Ngài sắp xếp. Thí dụ như Đức Chí Tôn phân tánh thành ra Đức Phật Mẫu chưởng quản Âm Quang, dùng Chơn Linh biến ra Thập Nhị Thời Thần, mỗi vị phụ trách một phần mười hai của thời gian sáng tạo chia làm tư, sửu, dần… Đức Chí Tôn nói : « Thập Nhị Khai Thiên là Thầy, nắm trọn Thập Nhị Thời Thần trong tay ».

 

            Thái Cực vốn là cơ động tịnh. Thái Cực động sanh Chơn Dương làm Hỏa[44]. Thái Cực tịnh mà sanh Chơn Âm (khí Âm quang) làm Thủy[45]. V́ khí Âm quang chưa có ai chưởng quản nên Đức Chí Tôn mới hóa thân ra Đức Phật Mẫu để chưởng quản Khí Âm quang. Đức Phật Mẫu vâng lệnh Đức Chí Tôn, thâu lằn Dương quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Âm quang phối hợp với Dương quang để tạo hóa h́nh ảnh vũ trụ sắc tướng do Dương Quang và Âm quang tạo ra.

 

Đạo Hữu Vi

              

             Sau khi Thượng Đế đă định vị trời đất, âm-dương vạn vật, Đạo biến dịch mà sanh ra cái dụng của Đạo Vô Vi trên trần thế tức sự xuất hiện các tôn giáo để giúp con người khải ngộ Đạo Vô Vi. Đạo hữu vi phải dùng hữu h́nh, sắc tướng để phổ độ chúng sanh là v́ muốn tŕnh bày Đạo vô h́nh tất phải mượn hữu h́nh để phô bày cái « dụng », biến tướng của cái « thể ». Cái dụng của Đạo Vô Vi tại Việt Nam là tôn giáo Cao Đài tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

 

            Đến khi tôn giáo Cao Đài xuất hiện, Đạo là con đường tu, khi sống th́ tâm linh an lạc để sau khi qui tiên rồi th́ linh hồn được giải thoát trở về cơi Thiêng Liêng qui hồi cựu vị. Đạo là con Đường dẫn đến Chơn Lư là v́ muốn trở về nguồn cội trong cơi Thiêng Liêng th́ phải bắt đầu từ Đạo hữu vi, hữu h́nh sắc tướng, đi riết tới, lần lần giũ sạch những cái hữu vi th́ sẽ đạt đến vô vi và Thiên Nhơn hiệp nhứt. V́ vậy, tôn giáo là cái cửa dẫn vào Đạo Vô Vi, là con đường dẫn đến Chơn Lư và thoát khỏi luân hồi. Cho nên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là:« Con Đường lớn do Đức Chí Tôn Thượng Đế mở ra cho nhơn sanh theo đó mà tu hành, chc chắn sẽ được đắc Đạo thành Thần, Thánh, Tiên, Phật.  « Đạo tức là con Đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo đó mà hồi cựu vị. Đạo tức là con Đường của nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi»[46]  minh giải hai điều quan trọng sau :

            1. Hữu h́nh là do vô vi biến tướng. Có nghĩa là thế giới vạn vật hữu h́nh hữu tướng đều được sanh ra từ cơi vô h́nh, vô vi.

            2. Vạn vật cũng như Đức Chí Tôn đều có chung nguồn cội là Hư Vô Chi Khí nên mới có 2 giáo điều :

          - Trời đất vạn vật có cùng một bản thể (Thiên địa vạn vật đồng nhất thể),

          - Một gốc Thượng Đế phân tán ra vạn linh, vạn linh quay về một gốc Thượng Đế[47] (Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản).

 

Tóm tắt hai thời kỳ chuyển động của vũ trụ

Tiên Thiên Cơ Ngẫu : Đạo Vô Vi

Hậu Thiên Cơ Ngẫu : Đạo Hữu Vi

 

1. Vô Cực là khối Hư Vô Chi Khí, chứa sẵn

Nguyên Lư Thiên Nhiên (Thái Cực) và nguyên

Lư tự Nhiên (âm-dương)

 

2. Khối Đại Linh Quang phát nổ

 

3. Thượng Đế xuất hiện và phân tánh ra Âm Quang

4. Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu chưởng quản Âm Quang

5. Dương Quang và Âm Quang hóa sanh Càn Khôn Vũ Trụ

6. Vũ trụ vô h́nh

7. Vũ trụ hữu h́nh : thế giới vạn vật và loài người

8. Xuất hiện các tôn giáo

 

 

  

Chương 3

Quang cảnh vũ trụ

 

Top of Page- Mục Lục

 

 1. Cơi vô h́nh thiêng liêng
2. Thế giới hữu h́nh
3. Ba cơi sáng tối của khí
4. Ba Giới
5. Bảy cơi, bảy thể

 

            Từ khí Hư Vô có một ngôi Thái Cực chính là Đức Chí Tôn và Đức Chí Tôn tạo thành Càn Khôn vũ trụ được chính Ngài giáng cơ bút mô tả như sau: « Thầy kể Tam Thập Lục Thiên, Tứ Đại Bộ Châu, ở không không trên không khí, tức là không phải tinh tú, c̣n lại Thất Thập Nhị Địa và Tam Thiên Thế Giới đều là tinh tú. Tính lại 3072 ngôi sao. »[48]. Muốn đến Bạch Ngọc Kinh th́ phải: « Qua khỏi Tam Thiên Thế Giới th́ mới đến Tứ Đại Bộ Châu, qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam Thập Lục Thiên, vào Tam Thập Lục Thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa mới đặng lên đến Bạch Ngọc Kinh. »

 

            Đại để, h́nh ảnh Càn Khôn Vũ Trụ của Thương Đế gồm hai khoảng không gian: cơi vô h́nh thiêng liêng và thế giới hữu h́nh vật chất.

 

1. Cơi vô h́nh thiêng liêng

 

            Theo Thánh Ngôn mô tả, cơi vô h́nh thiêng liêng gồm từ cao xuống thấp là:

            - Tam Thập Lục Thiên (36 từng Trời) ở cao nhất,

            -Thập Nhị Thiên gồm : 3 tầng trời cơi Phật và 9 tầng trời ở dưới là Cửu Trùng Thiên,

            - Tứ Đại Bộ Châu Thượng.                                                                    

 

 

 

 Tam Thập Lục Thiên (36 từng Trời)

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

Cơi Phật

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

Cửu Trùng Thiên

 

                                                                                                                                                                               Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre                                    

                                                                                                                            Tứ Đại Bộ Châu Thượng.

            Ngoài Thượng Đế ra, ai có thể nh́n thấy cơi vô h́nh đó?

 

 Nh́n được cơi vô h́nh là ai?

           

            Đó là nhng vị sống ở cơi Thiêng Liêng vô h́nh, Đức Hộ Pháp, người tu đắc Pháp, Chơn Thần sau khi rời khỏi xác phàm.

           

Các Thánh, Tiên, Phật sống ở cơi Thiêng Liêng  thí dụ như Bát Nương

            Bát Nương đă nh́n thấy vũ trụ vô h́nh lẫn hữu h́nh và mô tả[49]: i cơi vô h́nh chia ra Tam Thập Lục Thiên, mà từng cao nhất là ngôi Chúa Tể cả Càn khôn Vũ Trụ. Ba mươi sáu từng ấy, chia ra làm ba ngàn thế giới, đặng lập nên Vơ Trụ Hữu H́nh… Trong Tam Thiên Thế Giới lại phân ra Tứ Đại Bộ Châu, đặng chưởng quản về Thất Thập Nhị Địa.

 

            Nh́n vào Hư Vô vô h́nh, Bát Nương thấy được cơi vô tướng và cơi sắc tướng.

 

            Cơi vô h́nh vô tướng là Dương Khí là nơi phát sanh của Dương Quang tiếp dẫn bởi Ngôi Thái Cực. Nơi Dương Quang hằng sản xuất biết bao điểm linh mà có nên cơi vô h́nh[50].

 

            Cơi vô h́nh sắc tướng là: Tam Thập Lục Thiên, Thập Nhị Thiên, Tứ Đại Bộ Châu Thượng. Bát Nương giải thích thêm[51]: i cơi Hư Vô, là cơi vô h́nh theo sắc tướng; song đối lại với Dương Quang vô tướng th́ nó lại hữu h́nh.

 

Đức Hộ Pháp được Thượng Đế đặc ân mở huệ nhăn,

            Người tu đắc Pháp có huệ nhăn th́ thấy được, có huệ nhĩ th́ nghe được, có huệ tỷ th́ ngửi được, có huệ tâm th́ ứng được[52].

 

            Khi c̣n tại thế, muốn t́m hiểu cơi vô h́nh tràn ngập ánh sáng, điển quang, chúng ta phải dựa vào người đang sống tại Hư Vô như Bát Nương, Thánh, Tiên, Phật hoặc những người đă được mở huệ nhăn. Ngoài ra, chỉ sau khi qui tiên, Chơn Thần mới nh́n thấy cơi vô h́nh khi vượt lên các tầng Trời.

 

Tam Thập Lục Thiên.

 

           Trong Tam Thập Lục Thiên (cơi Thiên Tào), Bạch Ngọc Kinh ở từng Trời Thái Cực cao nhất tại trung tâm Càn Khôn Vũ Trụ. Thái Cực biến hóa ra Lưỡng Nghi: Ngôi Dương chiếm từng Trời thứ 2, Ngôi Âm từng Trời thứ 3. Cả ba ngôi hiệp lại thành Ba Ngôi Trời, gọi là Tam Thiên Vị, chiếm ba từng trời tại trung tâm vũ trụ. Dưới Tam Thiên Vị là 33 từng, tại mỗi từng do một vị Thiên Đế tức hóa thân của Thượng Đế chưởng quản. Đức Chí Tôn dạy: Thái Cực sanh Lưỡng Nghi tức là Tam Thiên Vị. Dưới ba ngôi đó có Tam Thập Tam Thiên (33 tầng trời), cộng với ba ngôi trên là 36 tầng trời nên gọi là Tam Thập Lục Thiên.

 

Thập Nhị Thiên.

 

            Dưới 36 từng trời là Thập Nhị Thiên được mô tả như sau: « Dưới 36 từng trời c̣n có một từng nữa là Nhứt mạch đẳng tinh vi. Gọi là cảnh Niết Bàn. Chín từng nữa gọi là Cửu Thiên Khai Hóa, tức là 9 phương trời, cng với Niết Bàn là 10, gọi là Thập phương chi Phật. Gọi 9 phương trời, 10 phương Phật là do đó ». Từ trên đi xuống, Thập Nhị Thiên gồm:

 

Cảnh Niết Bàn

           Đây là cơi của Chư Phật gồm 3 từng Trời: Tầng Trời thứ 10, Hư Vô Thiên[53]do Đức Phật Nhiên Đăng chưởng quản, Tầng Trời thứ 11 Hội Ngươn Thiên[54] và Tầng Trời thứ 12 Hỗn Ngươn Thiên[55] do Đức Phật Di Lc chưởng quản.

          

 Cửu Trùng Thiên

           Cửu Trùng Thiên gồm 9 tầng trời từ dưới đi lên là Tầng trời 1, Tầng trời 2, Thanh thiên, Huỳnh thiên, Xích thiên, Kim thiên, Hạo thiên nhiên, Phi tưởng thiên, Tạo hóa thiên. Tầng Trời thấp nhất th́ nặng nề, càng lên cao càng nhẹ.

 

           Ba tầng Trời cơi Phật và Cửu Trùng Thiên làm nơi Phật, Tiên, Thánh điều hành các hoạt động của Càn Khôn Vũ Trụ và sự tiến hóa của vạn linh.

Tứ Đại Bộ Châu Thượng

             Tứ Đại Bộ Châu Thượng cai quản Tam Thiên Thế Giới là: Đông Đại Bộ Châu, Nam Đại Bộ Châu, Tây Đại Bộ Châu, Bắc Đại Bộ Châu. 

        

2. Thế giới hữu h́nh

 

            Về các thế giới hữu h́nh, Thánh Ngôn dạy: « c̣n lại Thất Thập Nhị Địa và Tam Thiên Thế Giới đều là tinh tú. Tính lại 3072 ngôi sao »[56] theo như bảng tóm tắt dưới đây.

 

                                                                    

Tam Thiên Thế Giới (3000 thế giới)

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                    

Tứ Đại Bộ Châu Hạ

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                    

Thất thập nhị Địa (72 địa cầu)

(Địa cầu 68: chúng sanh sinh sống)

 

           Phần hữu h́nh này đă được Đức Chí Tôn hướng dẫn vẽ 3072 tinh cầu lên Quả Càn Khôn h́nh cầu, sơn màu xanh, đặt tại Cung Đạo của Bát Quái Đài.  3000 chỉ Tam Thiên Thế Giới ở bên trên, 72 chỉ Thất Thập Nhị Địa ở dưới[57]. Vị trí trên dưới của các tinh cầu dựa vào thanh nhẹ, ít trọng trược. Tinh cầu nào càng thanh nhẹ th́ càng ở trên cao.   Từ trên xuống dưới, các thế giới hữu h́nh gồm:

 

Tam Thiên Thế Giới[58] (3000 thế giới)

           Các thế giới hữu h́nh này thanh nhẹ, chỉ gồm có những ngôi vị của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, nên nằm trên Thất Thập Nhị Địa. Theo Đức Cao Thượng Phẩm: Tam Thiên Thế Giới là ngôi vị, c̣n Thất Thập Nhị Địa là trường thi công quả.

 

Tứ Đại Bộ Châu Hạ

             Đó là Đông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu được phân ra 4 hướng. Tứ Đại Bộ Châu Hạ cai quản Thất Thập Nhị Địa (72 địa cầu).  

 

Thất Thập Nhị Địa

              72 địa cầu trong đó có quả địa cầu 68 trên đó chúng ta đang sống, thuộc Nam Thiệm Bộ Châu nên bài kinh Bài Xưng Tụng Công Đức Phật Tiên Thánh Thần có câu:

 

Ḷng sở vọng lâm dâm tụng niệm,

Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

 

            Địa cầu số 1 thanh nhẹ nhất nên ở trên cao nhất. Dưới quả địa cầu 68 của chúng ta là những quả địa cầu 69, 70, 71, 72 ch́m đắm trong cảnh tối tăm nên gọi là U Minh 幽冥 Địa[59] tức địa cầu tối tăm, mờ mịt.

 

               Từ  trung tâm vũ trụ trong cơi Thiêng Liêng vô h́nh, Thượng Đế điều khiển toàn bộ không gian vô h́nh cũng như hữu h́nh: «Thượng chưởng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giới, Hạ ốc[60] Thất Thập Nhị Địa, Tứ Đại Bộ Châu»[61].  

 

Tóm tắt quang cảnh Càn Khôn Vũ Trụ

 

Tam Thập Lục Thiên (36 từng Trời)

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                     

Cơi Phật

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                     

Cửu Trùng Thiên

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                     

Tứ Đại Bộ Châu Thượng [62]

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                     

Tam Thiên Thế Giới (3000 thế giới)

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                     

Tứ Đại Bộ Châu Hạ[63]

Description: Flèche : courbe dans le sens des aiguilles d’une montre

                                                                     

Thất thập nhị Địa (72 địa cầu)

Địa cầu 68: điểm khởi hành của vong hồn tín đồ

 

 

 

 

 

3. Ba cơi sáng tối của khí

 

            Trên địa hạt khí, vũ trụ chia ra làm 3 cơi: dương quang, âm quang và diêm phù.

 

Cơi dương quang

            Cơi dương quang nằm trong cơi Thiêng Liêng hay cơi hư vô, nơi chứa lằn dương khí nhẹ, trong sáng, ấm áp của Đấng Chí Tôn ngự cùng chư Thánh, Tiên, Phật. Lằn dương quang chiếu giám đến lằn âm quang th́ làm phát sanh ra vạn vật hữu h́nh. Từ trong cơi này, Thượng Đế chiết Đại Linh Quang ra muôn ngàn Tiểu Linh Quang ban phát cho chúng sanh để tạo sự sống.

 

 Cơi âm quang

            Cơi âm quang tức Diêu Tŕ Cung là nơi chứa lằn âm khí hỗn độn sơ khai, chẳng sanh, chẳng hóa. Hai cơi dương quang và âm quang biểu tượng nguyên lư thiên nhiên âm-dương. Điểm ḥa hiệp của hai cơi đó là nơi phát sanh ra vạn vật hữu h́nh, hữu diệt. Ḥa hiệp như thế nào? Khi lằn dương quang của Đức Chí Tôn chiếu tới đâu là ḥa hiệp với âm quang, khiến khoảng âm quang phải thối trầm biến thành tinh đẩu, vạn vật hữu h́nh. Cơi âm quang c̣n là cửa ải để Chơn Hồn giải thể (về cơi Thiêng Liêng) hay nhập thể (chuyển kiếp luân hồi). 

 

Cơi diêm phù

             Đây là khoảng không gian của các quả địa cầu ẩm ướt, nặng nề, đen tối, u minh ch́m sâu dưới đáy vũ trụ. Do đó, diêm phù làm nơi trú ngụ của các linh hồn tội lỗi bị đày xuống để chờ chuyển kiếp luân hồi.  Bát Nương Diêu Tŕ Cung nói nơi cung Diêu Tŕ, c̣n có cơi Âm Quang riêng biệt gọi là Phong Đô đặng giáo hóa các chơn hồn lạc nẻo.

 

4. Ba giới

 

            Ba giới của vũ trụ là: Hạ Giới, Trung Giới, Thượng Giới. Ranh giới phân chia của ba giới là sự khác biệt về tần số điển quang và thể khí trọng trượt hay thanh nhẹ. Sau khi qui tiên, trên đường hành tŕnh qui hồi Thượng Đế, Chơn Hồn sẽ ĺa khỏi Hạ Giới, đi lên Trung Giới rồi vào Thượng Giới.

 

Hạ Giới

            Đây là cơi trần, nơi chúng sanh sanh sống và cũng là nơi cơ quan giải khổ của Đạo Cao Đài giáo hóa chúng sanh, chỉ dẫn tu đạo, học hỏi tiến hóa để sửa soạn hành lư cho hành tŕnh qui hồi cựu vị.

 

Trung Giới

            Trung Giới làm nơi tạm trú của linh hồn chờ ra Ṭa phán xét để biết Chơn Linh được thăng hoa lên các tầng Trời hay Chơn Thần phải giáng trần tái kiếp. Trung giới tương ứng với thể Phách và miền Càn Khôn vạn vật hữu h́nh.

 

Thượng Giới

            Vùng không gian vô vi, vô h́nh nằm trong Thượng Giới. Nơi đây là con đường giải thoát, là hướng hành tŕnh của Chơn Linh và Chơn Hồn vượt qua các tầng Trời về nơi ngự trị của Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng. Thượng giới tương ứng với Tam Thập Lục Thiên và Thập Nhị Thiên.

 

 

                 Vũ trụ của Thượng Đế

                   ( Miền, quang cảnh giữa các khoảng không gian)

 

Miền

Thiên thể

Tầng Trời

 

 

 

 

 

 

 

 

Thượng Giới (Cơi Thiêng Liêng vô h́nh)

 

 

 

 

Tam Thập Lục Thiên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tứ Đại Bộ Châu    Thượng

 

36 Tầng Trời

Hỗn ngươn Thiên

Hội Ngươn Thiên

Hư Vô Thiên

Tạo Hóa Thiên

Phi Tưởng Thiên

Hạo Nhiên Thiên

Kim Thiên

Xích Thiên

Huỳnh Thiên

Thanh Thiên

Tầng Trời 2

Tầng Trời 1

Trung Giới (càn khôn vạn vật hữu h́nh)

Tam Thiên Thế Giới, Thất Thập Nhị Địa

Tứ Đại Bộ Châu Hạ

 

Hạ Giới (trần thế)

Địa cầu 68 của loài người

 

 

 

Kết luận trang một

 

            Trong trang đầu triết lư, Thượng Đế đă mạc khải để thỏa măn ước mơ chung ca chúng ta là muốn biết về quang cnh cơi vô h́nh, Thượng Đế, các Đấng thiêng Liêng…

 

            Hệ thống hóa các mạc khải của Thượng Đế về h́nh thành và chuyển động của vũ trụ đă giúp cho chúng ta tạo dựng nên vũ trụ quan của Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cũng như của nhân loại. Và vũ trụ quan này đă được giáo lư Cao Đài bày ra trước mắt nhơn sinh qua các phẩm vật hiến lễ và lễ phẩm  bày trên Thiên Bàn. Tiếp theo, giáo lư làm cho vũ trụ quan sống động bằng nghi thức dâng lễ biểu hiện mối quan hệ giữa thế giới vô h́nh của Thượng Đế và nơi trần thế của tín đồ.

 

Biểu tượng vũ trụ quan trên Thiên Bàn

 

Đức Chí Tôn: Thiên Nhăn

Ngôi Thái Cực tức là khối Đại Linh Quang, khởi điểm của càn khôn vũ trụ: đèn Thái Cực;

Lưỡng Nghi Âm Dương thời Tiên Thiên: hai ngọn đèn,

Lưỡng Nghi Âm Dương thời Hậu Thiên: hai tách nước Âm-Dương: tách nước trắng đặt bên tả của Thiên Bàn, tượng trưng Dương và tách nước trà  ở bên hữu là Âm, phải đậy kín lại sau khi cúng xong,

Tam Tài (Thiên, Địa, Nhân), Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần) tượng trưng bởi:

            - B́nh bông (Tinh), ly rượu (Khí), ly trà (Thần). 

            - Ba cây hương Án Tam Tài. Trên Thiên Bàn, trong bát nhang luôn luôn cắm năm cây nhang xếp thành hai hàng: hàng trong có ba cây, hàng ngoài hai cây. Ba cây hàng ngang trong gọi là Án Tam Tài cắm vào bát nhang trước để tượng trưng cho Tam Tài (Thiên, Địa, Nhân). Cách cắm ba cây hương phải theo thứ tự sau: Trước nhất, cắm cây hương ở giữa (Thiên), tiếp theo cắm cây hương (Địa) bên phía mặt bàn thờ thuộc Âm, sau cùng là cây hương (Nhân) bên phiá trái thuộc Dương. Hai cây hàng ngoài được cắm tiếp sau cho đủ năm cây để tượng trưng cho Ngũ Khí[64], Ngũ Hành[65], Ngũ Thần[66], Ngũ Đức[67]. Ngoài ra 5 cây nhang c̣n tượng trưng cho 5 giai đoạn của sự tu hành là giới, định, huệ, tri kiến, giải thoát.   
[1] 

 

Vũ trụ quan trở nên sống động như thế nào?

 

            Bản sắc văn hóa Cao Đài nổi bật mỗi khi nghi thức dâng lễ triều kính Đức Chí Tôn làm cho phẩm vật linh động và vũ trụ quan sống động.

 

            Ngọn đèn Thái Cực luôn luôn thắp sáng tạo nên h́nh nh Càn Khôn Vũ Trụ chan ḥa ánh sáng của Đức Chí Tôn vĩnh cửu. Trong ánh sáng đó, triết lư âm dương ḥa hiệp trở nên sống động với:

            - Nghi thức đốt nhang. Bó nhang được đốt bởi 2 ngọn đèn tỏa ánh sáng nhật (dương, đặt bên trái), nguyệt (âm, đặt bên phải) gọi là Lưỡng Nghi Quang;

            - Nghi thức chắp hai tay để lạy là biểu tượng âm dương hiệp nhứt.  « Tả là Nhựt, hữu là Nguyệt, vị chi Âm Dương; Âm Dương hiệp nhứt phát khởi Càn Khôn, sanh sanh, hóa hóa tức là Đạo » (TNHT)

            - Nghi thức rót nước cúng. Mỗi tách rót tám phân. Nước trà tượng trưng Thần tức linh hồn của chúng ta. Tám phân nước trà tượng trưng Bát phẩm chơn hồn đầu kiếp xuống cơi trần làm chúng sanh[68]. Tám phân nước trắng tinh khiết tượng trưng Bát công đức thủy trong Ao Thất Bửu ở cơi Thiêng Liêng[69].

 

            Triết lư Tam tài (Thiên, Địa, Nhân)Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần)

 

            Tín đồ cảm nhận ngay Thiên Địa Nhân phơi bày sống động qua nghi thức lạy bằng đặt vị trí hai tay: vị trí Thiên khi hai tay chắp vào nhau đưa lên trán; vị trí Địa khi áp hai tay xuống đất; vị trí Nhân khi hai tay chắp lại rút về để ngang ngực.

 

            Khi cúng, tín đồ rót rượu vào ba ly, mỗi ly rót ba phân rượu là cảm nhận được ngay Tam Tài, Tam Bửu sống động trong ly rượu. Ly rượu giữa tượng trưng Trời, ba phân rượu tượng trưng Tam Bửu của Trời là Nhật, Nguyệt, Tinh. Ly rượu bên cạnh tách trà tượng trưng cho Đất, ba phân rượu này tượng trưng Tam Bửu của Đất: Thủy, Hỏa, Phong. Ly rượu bên cạnh tách nước trắng tượng trưng Người, ba phân rượu tượng trưng Tam Bửu của Người: Tinh, Khí, Thần.

 

            Khi 3 ly rượu dồn chung với nhau thành một, mỗi ly có 3 phần sẽ thành một ly 9 phần tượng trưng cho 9 tầng trời. Khi trở về với Đức Chí Tôn, con người phải trút bỏ các lớp áo khí chất này mới vượt qua 9  tầng trời được. Tất cả phẩm vật trên Thiên Bàn và nghi lễ theo giáo lư đă tạo nên h́nh nh sống động của vũ trụ quan Cao Đài. Đó là bản sắc văn hóa Cao Đài qua các vật thể tôn giáo.

 

 

Phần 2

Nhân sanh quan

Top of Page- Mục Lục

           

 

            Nhân sanh quan là một hệ thống tư tưởng triết học nghiên cứu nguồn gốc của con người, sự sống chết và ư nghỉa của cuộc đời.

 

            Trong Đạo Cao Đài, con người có cùng một bản thể (Khí Hư Vô) với Thượng Đế và vũ trụ nên nằm trong cơ chế biến sanh vũ trụ tuân theo nguyên lư vận hành châu lưu. Cuộc vận hành châu lưu của loài người có nghĩa là vạn vật có thỉ có chung, sanh ra và có tiến hóa theo một ṿng tṛn của qui luật tiến hóa tâm linh để trở về nguồn gốc là Đại Linh Quang. Trên tiến tŕnh của qui luật tiến hóa, Thượng Đế luôn luôn tiếp cận với loài người như Ông Vua thống trị[70], Ông Thày[71] dạy Đạo và như Người Cha[72] luôn ban ân thiên cho người thành tâm học Đạo. V́ vậy mà trong nhân sanh quan có ư niệm Thượng Đế hữu ngă.

 

            Trong phần 2, qui luật tiến hóa tâm linh giải thích 3 đoạn đường chính trong nhân sanh quan Cao Đài với sự hướng dẫn của Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng.

 

            Trang 2 mô tả đoạn đường từ cơi Thiêng Liêng xuống trần : Chơn Linh xuất phát từ Đại Linh Quang hiệp với Chơn Thần đi từ Thượng Giới xuống trần tức từ cơi khí Tiên Thiên xuống cơi khí Hậu Thiên.

 

            Trang 3 tŕnh bày đoạn đường của đời sống trần thế. Xác phàm, Chơn Linh, Chơn Thần sống nơi trần thế để sửa soạn hành trang qui hồi cựu vị. 

 

            Sang đến trang 4, chúng ta sẽ nh́n thấy đoạn đường  thăng thiên với 2 xác thân : Chơn Linh và Chơn Thần hành tŕnh nghịch chiều từ vùng khí Hậu Thiên nặng trược đi lên (tức trở về) vùng khí Tiên Thiên thanh nhẹ của khí Hư Vô để chấm dứt cuộc tiến hóa châu lưu theo ṿng tṛn.

 

 

   Trang hai

 

Trang hai

Căn nguyên

    Nhân sanh hà tại? 人生  

Tại sao loài người sanh ra ở trên  đời,

v́ nguyên nhân nào?  

 

   

            Con người sao chẳng có lúc băn khoăn tự hỏi ḿnh do đâu mà sanh ra? Tại sao tôi sanh ra ở trên đời, v́ nguyên nhân nào?

 

            Thượng Đế đă giáng cơ bút giải đáp rằng nguồn gốc con người được cấu tạo trong cơi Thiêng Liêng với Chơn Linh của Thượng Đế ban và Chơn Thần của Đức Kim Mẫu cấu tạo (chương 4). Khi Chơn Linh và Chơn Thần giáng phàm nhp vào xác thân do cha mẹ cấu tạo là lúc con người sanh ra ở trên đời. Lời giải đáp của Đức Chí Tôn bao gồm toàn diện cả hai triết lư duy tâm[73] và duy vật[74] ng nhận hiện hữu một linh hồn vĩnh cửu[75] trong một giả thân vật chất hữu h́nh hữu diệt.

 


 

 

Chương 4

Nguồn gốc con người

Top of Page- Mục Lục

 

 
            1. Chơn Linh

2. Cấu tạo Chơn Thần
            3. Phàm thể

            Con người từ đâu đến? T Thượng Đế và Đc Phật Mẫu. Các mạc khải của Đng Thiêng Liêng cho biết mặc dầu cùng phát xuất từ Thượng Đế và Đc Phật Mẫu là hai Đng sanh thành dưng dục vạn linh, nhưng tùy theo nguồn gốc của linh hồn và con đưng tiến hóa mà nhơn loại nói chung chia làm ba hạng người [76] theo nguồn gốc xuất phát của Chơn Linh mà chia thành đng cấp[77]:

- « Hóa Nhân »: người mà linh hồn có sau khi khai thiên nh sự tiến hóa từ thảo mộc, thú cầm mà thành người;

            - « Nguyên Nhân »: người mà linh hồn xuất phát thng t Thượng Đế và được Đức Phật Mẫu gởi xuống trn thế;

- « Quỉ Nhân » : Nguồn gốc th nht của Quỉ Nhân là qu hồn của Hóa Nhân hay Nguyên Nhân phạm tội Thiên Điều bị đọa vào qu vị dưi quyền Quỉ Vương[78] sai khiến.

            Nguồn gốc thhai của Quỉ Nhân là nhng Chơn Hồn của Quỉ Vương nơi Tam Thập Lục Động[79] cho xuống trần làm thành các bài vở cho các Nguyên Nhân và Hóa Nhân học hỏi, chịu khảo đo d dội đ phân thánh lc phàm.

 

            Trong chương này, chúng tôi đặc biệt tŕnh bày các giai đoạn cấu tạo Nguyên Nhơn 

            - Giai đoạn 1 : Thành h́nh xác thân Thiêng Liêng bắt đầu bằng Chơn Linh chiết ra từ Đi Linh Quang (Thượng Đế) ban cho mỗi người, tiếp theo là Chơn Thn do Đức Phật Mẫu cấu tạo để bọc lấy Chơn Linh

            - Giai đoạn 2 : Cấu tạo con người tại trần thế gồm 3 xác thâ: Xác Phàm (Tinh), Chơn Thần (Khí) và Chơn Linh (Thần)

 

 

1. Chơn Linh[80] tam xác thân)

 

Con là một Thiêng Liêng ti thế,

Cùng vi Thầy đng th Linh Quang
[2] 

 

Dù là tín đ của bất c tôn giáo nào, chúng ta đu tin con ngưi có linh hồn và thưng hay t hỏi: linh hồn từ đâu mà có? Linh hồn nhập vào và ĺa khỏi thể xác như thế nào? Đức Chí Tôn đă giáng cơ bút trả lời « Mỗi đa Thy cho một Chơn Linh ǵn giữ cái chơn mạng sanh tồn… Đng Chơn Linh ấy vốn vô tư, mà lại đng phép giao thông cùng c chư Thn, Thánh, Tiên, Phật và các Đấng Trọn Lành nơi Ngọc Hư Cung, nht nhứt điều lành và việc dữ đu ghi chép không sai, đng dâng vào Ṭa Phán Xét… đă chẳng ǵn giữ các con mà thôi, mà c̣n dạy dỗ các con, thưng nghe đời gọi lộn lương tâm là đó »[81].

 

Nguồn gốc

 

            Chơn Linh hay Tiu Linh Quang là điểm ánh sáng linh diu chiết ra từ Đại Linh Quang của Đức Chí Tôn ban cho mỗi ngưi khi giáng sanh nhp vào xác phàm đ tạo nên sự sống và ǵn giữ mạng sanh tồn, tạo nên sự hiểu biết và tánh linh.

 

Bát Nương dạy: Các Chơn Linh cũng là sự kết hợp của tế bào Dương Quang đó vậy[82]. Dương Quang phát xuất từ Dương Khí của Ngôi Thái Cực và sản xuất ra các điểm linh.

 

Đức Hộ Pháp giảng: Chơn Linh do Nguyên khí (Tiên Thiên Khí) mà có. Nhờ Chơn Linh mi có sự sống, Chơn Linh có quyền năng vô biên, do Đức Chí Tôn ban cho[83].

 

Đặc tính

 

            Bởi xuất phát từ Tiên Thiên Khí nơi cơi hư vô thiêng liêng nên Chơn Linh có những đức tính sau :

            - Tương trưng cho sự bất tử của con người v́ Chơn Linh chiết ra từ Đi Linh Quang là một phần tử nh của Thượng Đế nên sau khi qui tiên th́ trở về với Đi Linh Quang hoặc trở lại đầu thai trên trần thế sau khi xác phàm chết,

            - V́ từ Thượng Đế xuất phát ra nên Chơn Linh không bị chi phối bởi luật âm dương, ngũ hành, biến dịch và luật vô thường của vạn vật hữu h́nh, hữu diệt,

            - Chơn Linh vĩnh cửu tự nhiên và bảo đảm sự tồn tại của vạn vật trên thế giới,

            - Chơn Linh thanh nhẹ, có tánh thánh, vô tư, luôn luôn trong lành có đủ cả trí và huệ, nên gọi là Thiên Lương[84], lănh hội được những điều ngoài phạm vi hiểu biết của lục giác quan (nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư)[85],

            - Chơn Linh có phép thông công cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Đấng Trọn Lành nơi Ngọc Hư Cung[86]. Nhờ Chơn Linh mà con người có thể thông công tại Hiệp Thiên Đài với các Đấng Thiêng liêng qua cơ bút để dựng nên nền Đại Đạo Cao Đài.

 

 Sứ mạng

 

             Chơn Linh được bọc trong Chơn Thần và ngự tại tim [3] có sứ mạng d́u dắt con người tu tại thế và sau khi qui tiên.

 

Sứ mạng tại thế

Khi sống ở trần gian, Chơn Linh và Chơn Thần nương theo xác thân phàm để tu hành, dự Trường Thi Công Quả do Đức Chí Tôn lập ra trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nên có nhng nhiệm vụ sau.

 

D́u dắt Chơn Thần

            Chơn Linh lo kim chế Chơn Thần để làm chủ xác thân vành dục phàm phu của xác phàm. Đức Cao Thượng Phẩm dạy: Nếu nó chẳng kềm thúc được tánh dục vọng phàm phu của đệ nhứt xác thân th́ nó bị thiên khiển và thất phận nơi cơi Thiêng Liêng Hằng Sống.

           

 Ghi chép

             Công tội của kiếp đương sinh được Chơn Linh ghi chép để lưu truyền làm nhân quả cho những kiếp lai sinh.

 

 Dạy dỗ xác phàm

             Chơn Linh ấy, tánh Thánh nơi ḿnh đă chẳng phải ǵn giữ các con mà thôi, mà c̣n dạy dỗ các con[87]. Nhưng, Chơn Linh không trực tiếp điều khiển xác phàm mà phải qua trung gian của Chơn Thần. 

           

Sứ mạng sau khi qui liễu

            Trên đường qui hồi, Chơn Linh giáo hóa Chơn Thần rửa sạch bụi trần, oan khiên tiền kiếp để vượt lên các tầng Trời (Xem chương 11)

 

 

  2. Cấu tạo Chơn Thần[88]

 

            Trong Âm Quang Tiên Thiên, đă chứa sẵn Nguơn chất[89] 元質 đựng trong Kim Bồn nơi Diêu Tŕ Cung[90] để tạo Chơn Thần. Ngươn Chất chứa : Ngươn Tinh (Ngươn Chất âm) và Ngươn Khí tức Khí Sanh Quang (Ngươn Khí dương).  

 

Lưỡng Nghi phân khí Hư Vô,

Diêu Tŕ Kim Mẫu nung ḷ hóa sanh.

Âm dương biến tạo Chơn Thần,

Lo cho nhơn vật về phần hữu vi[91].

 

 

            Trong cơi Thiêng Liêng vô h́nh, Đức Phật Mẫu dùng Khí Sanh Quang[92] (Ngươn Khí, dương) và Ngươn Chất (Ngươn Tinh, âm) để tạo tác Chơn Thần nên Chơn Thần là một thể vô h́nh bt tiêu bất diệt, luôn luôn tiến hóa hay ngưng tr, do mỗi lần tái kiếp được dày công hay đắc tội.

 

quan cấu tạo

 

quan này đặt ở Diêu Tŕ cung dưới chưởng quyền của Phật Mẫu, ở tầng trời thứ 9 Tạo Hóa Thiên. Tại đây có:

- Kim Bồn hay cái chậu bằng vàng của Đức Phật Mẫu dùng chứa các ngươn chất để tạo ra Chơn Thần cho vạn linh lúc giáng trần,

 

Nơi Kim Bồn vàn vàn ngươn chất,

Tạo h́nh hài các bậc Nguyên Nhân[93].

 

- Đài phát điện Âm Quang, nằm bên cạnh ao Diêu Tŕ; đài này thâu lằn Sanh Quang (Điểm Linh Quang) của ngôi Thái cực rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên Chơn Thần cho vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ.

 

 Khởi động của cơ quan

 

Từ Đại Linh Quang, Thượng Đế phóng ra các Tiểu Linh Quang. Đức Phật Mẫu thâu điểm Linh Quang của Đức Chí Tôn làm linh hồn, rồi dùng nguyên khí âm-dương trong Diêu Tŕ Cung tạo ra một Chơn Thần [94] làm xác thân thiêng liêng bao bọc điểm linh hồn này và tạo thành một con người nơi cơi thiêng liêng.

 

Sanh quang dưỡng dục quần nhi,

Chơn Linh phối nhứt thân vi Thánh h́nh[95].

 

            Cho nên, Đức Chí Tôn là cha (v́ ban cho điểm Linh Quang làm linh hồn) và Đức Phật Mẫu là mẹ (v́ đă tạo ra Chơn Thần tức xác thân thiêng liêng). Vậy, mỗi người chúng ta, ngoài cha mẹ phàm trần, chúng ta c̣n có hai đấng Cha Mẹ chung thiêng liêng, là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

 

Giáng trần

           

            Khi cho con người xuống trần thế, Đức Phật Mẫu  bao bọc Chơn Linh trong Chơn Thần để nhập vào xác phàm. Trên đường giáng trần, Chơn Thần đi từ cơi hư vô thanh nhẹ mà đi xuống và qua 7 cơi là 7 khoảng không gian có 7 thể[96] cấu tạo từ nhẹ nhất (cơi Thái Cực) xuống đến nặng nhất (Hạ giới). Đến mỗi cơi, Chơn Thần khoác thêm bên ngoài «thể » của cơi đó cho nặng thêm để giáng tiếp. Xuống đến cơi Lưỡng Nghi, Chơn Thần phải lấy tinh khí nơi cơi Lưỡng Nghi bao bọc bên ngoài Tiên Thể một lớp, gọi là Kim Thân. Muốn xuống cơi Tứ Tượng, Nguyên Nhân phải dùng tinh khí của cơi Tứ tượng bao bọc một lớp bên ngoài Kim Thân một lớp, gọi là Thượng Chí…  Đến trần thế th́ Chơn Thần đă mặc bên ngoài cái áo bảy thể[97] mà ta thường gọi là Thất Phách[98].

 

            Xuống đến trần thế, Chơn Linh và Chơn Thần nhập vào xác phàm và lúc đó con người có đủ ba xác thân.

Đại Từ Phụ từ bi tạo hóa,

Tượng mảnh thân giống cả càn khôn.

Vẹn toàn đủ xác đủ hồn. (Kinh Tắm Thánh)

Nhiệm vụ

 

            Trên cơi trần, Chơn Thần là Đệ Nhị Xác Thân[99] mang nhiệm vụ chính yếu : làm trung gian giữa Chơn Linh và xác phàm và đầu kiếp.

 

Nhiệm vụ trung gian

            Sau khi nhp vào xác phàm, Chơn Thần luân lưu khắp cơ thể con người và mang các phận sự sau :

            - Làm trung gian liên kết giữa thể xác và linh hồn[100]giống như vai tṛ Hiệp Thiên Đài tại Ṭa Thánh.

            - D́u dắt phàm thể hành động theo Chơn Linh,

            - Làm động cơ lưu chuyển của Chơn linh,

            - Biểu tượng cho sự sống.

 

Đầu kiếp

            Chơn Thần nhờ Chơn Linh ngự trị ban cho thiện ư chế ngự dần dần ác tính. Nếu không làm tṛn nhiệm vụ lại chiều theo đ̣i hỏi của xác thân và lục dục thất t́nh, th́ Chơn Thần bị ô trược, oan nghiệt chồng chất. V́ vậy mà chỉ có Chơn Thần phải đi đầu kiếp trả quả v́ trong Chơn Thần có chứa nhiều tính cũ và mới. Tính cũ là những tính nhiễm tạo từ nhiều kiếp trước (lưu tính), c̣n tính mới là những tính nhiễm tạo trong kiếp hiện tại. Trước khi xuống trần đầu kiếp, chư Phật nơi Tạo Hóa Thiên dùng huyền diệu biến đổi cái Chơn Thần cũ thành cái Chơn Thần mới theo đúng nghiệp lực của nó, rồi phủ lên đó một tấm màn bí mật che lp hết các kư ức cũ. Chơn Thần mới chỉ là biến tướng của Chơn Thần cũ.Trên trần thế, Chơn Thần đă quên kiếp trước mà đi lập công bồi đức, phụng sự vạn linh nhằm lánh kiếp luân hồi.

 

 

3. Phàm thể

 

Phàm thân hữu h́nh được cấu tạo bởi biến tướng của vô vi do ḥa hiệp dâm tinh dâm huyết[101]. Phàm thể giữ vai tṛ căn nhà giả tạm cho Chơn Thần và Chơn Linh học hỏi, tu tiến.

 

Cấu tạo

 

            Cấu tạo xác phàm là do kết hợp dâm tinh+dâm huyết, khối sanh vật và do vô vi biến tướng.

           

Dâm tinh+Dâm huyết

            Con người cũng như trời đất được h́nh thành cụ thể, hữu h́nh bởi hai năng lực Âm Dương chuyển động ḥa hiệp, sanh hóa chẳng ngừng. Nhờ có dục tính mà vợ chồng ăn ở thương yêu nhau nên cái dâm tinh (ngươn tinh của chồng) tẩu lậu ra ngoài gặp dâm huyết (âm tinh của vợ) ngừng kết lại mà cấu tạo thành cái xác phàm của con người.

 

            Ngay trong bụng mẹ, xác phàm đón nhận Chơn Linh và Chơn Thần tạo thành h́nh tướng của con người gồm Tinh-Khí-Thần. Do đó chúng ta thường nói « tinh cha, huyết mẹ » để giải thích xác thân ta được cấu tạo bởi : Khối sanh vật kết hợp và vô vi biến tướng.

 

 Khối sanh vật kết hợp 

            Phàm xác thân con người…vốn một khối chất chứa vàn vàn, muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy kết cấu thành một khối. Vật chất ấy có tánh linh, v́ chất nuôi sống nó cũng đều là sanh vật, tỉ như rau, cỏ, cây, trái, lúa, gạo…mọi lương vật đều cũng có chất sanh… Cả vật thực vào t́ vị, lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết. Nó có thể hườn ra nhơn h́nh, mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhơn loại[102].

 

Vô vi biến tướng

            Xác thân có được h́nh tướng là nhờ duyên hợp của ngũ hành kết tụ, âm dương biến chuyển nhờ Khí Hư Vô điều động[103]. Xác thân chỉ là vay mượn, là duyên hợp, là giả tạm. Vậy mỗi nhân sanh đều gồm có hai phần, hữu h́nh với h́nh thể sắc thân và vô vi ẩn tàng không h́nh tướng. Hữu h́nh là sự h́nh thành và biến chuyển của sắc thân, c̣n vô vi là cơ biến hóa của Chơn Thần[104].

 

Vai tṛ

 

            Đối với tín đồ Cao Đài, đời sống trần thế là giả tạm để sửa soạn cho đời sống vĩnh cửu trong cơi Thiêng Liêng hằng sống. Xác phàm do vật chất cấu tạo, nên chỉ là giả thân, là căn nhà tạm trú, một quán trọ cho khách lữ hành dừng chân một thuở trên ḍng tiến hóa.

 

Tôi nay ở trọ trần gian,

Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời.

 

            Giống như con chim, con cá:

Con chim ở đậu cành tre,

Con cá ở trọ trên khe nước nguồn.

 

            Trên đường tu Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, xác phàm làm nơi trú ngụ cho Chơn Thần và Chơn Linh lập công bồi đức, tu tập, học hỏi, tấn hóa trên cơi trần và trợ lực cho Chơn Thần sau này dễ dàng siêu thoát.  Vậy muốn luyện Đạo thành th́ cần phải có xác phàm làm điểm tựa cho Chơn Linh và Chơn Thần[105].

 

Đặc tính

 

Phàm thân do nguyên tinh thảo mộc, vật chất cấu thành nên mang tính chất một sinh vật có ngũ quan, biết cảm giác xúc động, nên từ sinh hoạt đến nhu cầu sinh lư có bản năng thú tính: H́nh cht con người vẫn là thú[106].

 

Xác phàm luôn luôn chịu ảnh hưởng của ngoại vật, chạy theo dục vọng làm cho Chơn Thần ô trược phải luân hồi chuyển kiếp măi măi, nếu Chơn Thần nương theo thú chất h́nh vật của phàm thể. V́ vậy, trên trần thế, xác phàm của người tu tiến phải chịu sự điều khiển của Pháp thân (đệ nhất xác thân) và Linh thân (tức Chơn Linh hay đệ tam xác thân), nhưng xác phàm vẫn có sinh hot riêng bộc lộ bởi bản năng tự lập tách biệt khỏi Chơn Linh như tim đập, tuần hoàn huyết dịch…

 

             Khi Chơn Linh và Chơn Thần đầu kiếp vào xác phàm là lúc cuộc đời trần thế bắt đầu với đầy đủ ba xác thân: phàm thể (do cha mẹ tạo ra), khí thể (Chơn Thần làm khuôn viên h́nh ảnh cho thể xác của hài nhi), thần thể (Chơn Linh tạo nên sự sống). Từ đó, Chơn Linh và Chơn Thần phải dựa vào xác phàm mà tu tiến để dấn bước trên con đường về Thầy.

 

 

Như vậy, loài người cùng một gốc là Thượng Đế nhưng chia làm hai hạng chính: Hóa Nhân và Nguyên Nhân.

- Hóa Nhân: người nguyên thủy do sự tiến hóa từ thảo mộc, thú cầm mà đạt phẩm người có tam hồn, thất phách;

- Nguyên Nhân: Chơn Linh được Thượng Đế cho đầu kiếp xuống trần làm người, với nhiệm vụ d́u dắt Hóa Nhân để cùng nhau tu Đạo, tiến hóa rồi trở về với Thượng Đế.

 

Khi đă trở thành người sống trên trần thế, dù Hóa Nhân hay Nguyên Nhân đều sống một cuộc đời như nhau được giải thích trong trang 3 triết lư.

 

 

Tóm tắt các giai đoạn cấu tạo con người

 

Thượng Đế

                                                                     

1. Ban cho Chơn Linh tức một Tiểu Linh Quang

chiết ra từ Đại Linh Quang

                                                                     

2. Đức Diêu tŕ Kim Mẫu cấu tạo

Chơn Thần bọc lấy Chơn Linh

                                                                     

3. Khoác bên ngoài chiếc áo 7 thể khi giáng trần

                                                                     

                                      4. Chơn Linh và Chơn Thần giáng trần nhp vào xác phàm

                  cấu tạo bởi âm tinh của mẹ và ngươn tinh ca cha

 


 

 

 

Chương 5

Tiến hóa

 Top of Page- Mục Lục

1. Tiến hóa của Hóa Nhân
2. Tiến hóa của Nguyên Nhân
3. Xuống trần

Tiến hóa mang ư nghĩa tiến hóa tâm linh theo một ṿng tṛn của qui lut tiến hóa tâm linh để trở về nguồn gốc là Đại Linh Quang. Về con người trên cơi trần, chúng ta nhận thấy có hai chuyển động tiến hóa tâm linh theo ṿng tṛn để trở về hiệp cùng Thượng Đế, đó là :

- Chuyển động tiến hóa của Hóa Nhân và Nguyên Nhân cùng tu tiến để đắc quả vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.

- Chuyển động xuống trần của Nguyên Nhân để tu tiến.

 

 

1. Tiến hóa của Hóa Nhân

 

            Hóa Nhân thành người là do luật Tiến hóa tự nhiên[107]từ kim thạch đi lên[108]. So với các tôn giáo khác điểm đặc thù của giáo lư Cao Đài là dùng cụm từ « gốc ngọn » để giải thích tiến hóa. Gốc là cái đầu điều khiển cơ thể, là khởi nguồn của sự tinh túy; ngọn là những yếu tố được sanh ra từ gốc. Hăy nh́n gốc ngọn trong thảo mộc, muông thú[109].

            - Thảo mộc : ngọn đưa lên trời, gốc (đầu) chui dưới đất (âm), mọi tinh túy đều do khí âm quản lư nên thảo mộc gần như không có trí khôn.

            - Muông thú. Gốc (đầu) nằm ngang vi cơ thể, tiếp giáp với khí âm dương nên thông minh hơn thảo mộc.

            - Con người. Gốc (đầu) nằm trên cùng tiếp nhn nhiều khí dương nên trí tuệ hơn mọi loài.

 

            Khi Hóa Nhân đạt phẩm nhơn loại th́ đă thuận theo Thiên Lư, đầu hướng lên trời, chân đạp xuống đất, thân h́nh thẳng đứng và có đủ Tam Hồn: Sanh hồn, Giác hồn, Linh hồn là 3 điểm Linh Quang của Thượng Đế ban cho Hóa Nhân khi tiến hóa từ thảo mộc đi lên nhân phẩm.

 

 Ở mỗi tŕnh độ tiến hóa, Đức Chí Tôn ban cho một điểm nguyên hồn tạo nên sự sống. Như loài thảo mộc cũng có thọ nơi Thầy một điểm nguyên hồn… Vậy từ thảo mộc có một phần hồn (sanh hồn). Thảo mộc tấn hóa măi, muôn vàn kiếp mới bước sang qua thú cầm đă đặng hai phần hồn (sanh hồn và giác hồn). Thú cầm mới dần dần tiến hóa măi, trăm ngàn muôn kiếp, lên đặng làm người  (có thêm linh hồn, vậy là trọn đủ tam hồn: sanh hồn, giác hồn, linh hồn). Sự tiến hóa của nguyên hồn đi theo lẽ tự nhiên tức Thiên Luật, đi từng cấp bậc từ dưới đi lên, không có nhảy cấp.

 

Nhơn hồn

 

                                                                        

Thú cầm hồn

 

                                                                          

Thảo mộc hồn

 

                                                                          

Kim thạch hồn

 

 

C̣n công tŕnh cấu tạo Hóa Nhân của Đức Kim Mẫu là ḥa hợp hai khí Âm quang và Dương quang lại với nhau để biến hóa sanh ra vn linh. Đức Phật Mẫu đă dùng cái KHÔNG vô h́nh, vô ảnh biến hóa thành cái SẮC có h́nh tướng hữu h́nh. Sau đó, Đức Phật Mẫu vận chuyển bát phẩm Chơn Hồn[110] đem đầu kiếp xuống trần tạo thành chúng sanh. 

 

 

Càn khôn sản xuất hữu h́nh

Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh[111]

 

            Khi tạo được nhơn vị rồi th́ được Đức Chí Tôn ban cho Chơn Linh để Hóa Nhân cùng với Nguyên Nhân tiến hóa bằng tu tiến để dự vào Trường Thi Công Quả. Hóa Nhân b́nh thường theo trường học 5 lớp từ từ tiến hóa : nhơn đạo, thần đạo, thánh đạo, tiên đạo, phật đạo. Nếu giác ngộ tu hành th́ cũng đắc đạo, đạt được ngôi vị cao như Nguyên Nhân trong cơi Thiêng Liêng. Thượng Đế nói lư do: Mỗi mạng sống đều hữu căn, hữu kiếp, dầu Nguyên Nhân hay Hóa Nhân cũng vậy.

 

            Về khác biệt trong lư thuyết tiến hóa của vạn linh, chúng ta nhận thấy thuyết tiến hóa của Darwin là tiến hóa của vật chất, c̣n luật tiến hóa của Đạo Cao Đài là tiến hóa của cả linh hồn lẫn vật chất:

 

 Ṿng xây chuyển vong hồn tấn hóa,

Nương xác thân hiệp ngă Càn Khôn[112].

  

2. Tiến hóa của Nguyên Nhân

 

Sau khi xuống trần thế, tiến hóa của Nguyên Nhân là tu tiến và chuyển kiếp nhiều lần để đạt đến quả vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Thượng Đế dạy: Cái phẩm vị của các con buộc tái sanh nhiều kiếp, mới đến địa vị tối thượng của ḿnh là nơi Niết Bàn[113]. Tiến hóa từ Nhơn hồn lên Phật hồn có sự can thiệp của chính con người tức là sự tu luyện Nhơn hồn theo đường Thiên Lư. Đạt đến Phật hồn, Chơn Linh tiếp tục tu luyện trong các tầng trời để tiến hóa đến mức tận cùng của chu tŕnh tiến hóa là Đại Hồn[114] của Thượng Đế.

 

 

 

Phật hồn

                                                                          

Tiên hồn

                                                                          

Thánh hồn

                                                                          

                                       Nhơn hồn (của Nguyên Nhân và Hóa Nhân)

 

Tiến hóa có thể nhanh bng nhảy cấp nhờ tu Đạo và cũng có thể thoái hóa xuống cầm thú nếu phạm tội Thiên Điều.

 

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, với ân huệ của Đức Chí Tôn, nếu tu hành tinh tấn, th́ chỉ một kiếp tu có thể đắc thành chánh quả.

 

 

3. Xuống trần

           

            Nguyên Nhân thường gọi là khách trần[115], xuống trần là v́ những lư do sau :

            - Để tiếp tục tu tiến

            - Dạy dỗ hóa nhân

            - Quả kiếp

            - Cứu thế độ nhân do Thiên Mạng

 

Tiếp tục tu tiến

 

            Các Nguyên Nhân xuống cơi trần là chia khổ với người nơi trần thế, tức phụng sự vạn linh và tiếp tục tu tiến để đạt phẩm vị cao hơn. V́ vậy, Đức Chí Tôn lập Trường Thi Công Quả để con người học tập, lập công bồi đức, luân hồi chuyển kiếp tiến hóa để nâng cao thêm địa vị tại Thiêng Liêng lên hàng Thánh, Tiên, Phật…

 

 

 

Dạy dỗ hóa nhân

 

            V́ Hóa Nhân có trí năo ngu ngơ, tánh t́nh hung ác, dă man nên Đức Phật Mẫu vâng lệnh Đức Chí Tôn cho 100 ức Nguyên Nhân đầu thai xuống trần, để khai hóa Hóa Nhân và học hỏi để tiến hóa lên các phẩm vị. Các Nguyên Nhân[116] này trực tiếp sanh ra từ Thượng Đế, có ngôi vị tại cơi Thiêng liêng, đầu kiếp xuống ở tạm nơi cơi trần dạy dỗ Hóa Nhân và học hỏi tấn hóa lên các phẩm vị cao hơn.  Làm xong nhiệm vụ th́ trở về với Thượng Đế.

 

Quả kiếp

 

            Khởi đầu,  khi xuống trần với nhiệm vụ dạy dỗ Hóa Nhân, linh hồn các Nguyên Nhân  đều trong sạch, thanh thoát, c̣n giữ thiên tánh, trí năo thông minh. Nhưng, khi xuống trần th́ đa số bị nhiễm bụi trần, quên nguồn gốc và nhiệm vụ đă nhận lănh lúc đi đầu thai, lại gây ra lắm tội lỗi nơi cơi trần mà gây ác nghip tiền kiếp nên phải đọa sinh đầu kiếp để trả quả theo luật nhân quả đặng đạt hạnh phúc nơi cơi Thiêng liêng;  

.

             Sở dĩ các Nguyên Nhân gây tội lỗi là do quỉ vương cám dỗ làm mất Vạn Cửu Nang[117] của Đức Phật Mẫu ban cho khi giáng trần nên khó qui hồi cựu vị. Có bài kệ rằng:

 

    Linh căn ngày đó xuống trần ai,

    Cái cái vui mừng nhập mẫu thai.

   V́ mất bửu nang, mê nghip hải,

Làm sao tỉnh đặng trở hồi lai.

 

            V́ động mối từ tâm, Đức Chí Tôn mở ra các kỳ phổ độ để dẫn dắt các Nguyên Nhân trở về cựu vị. V́ vậy ngày nay, Đạo Cao Đài có sứ mạng giúp các linh căn tu Đạo đặng « hồi lai ».

 

Cứu thế độ nhân do Thiên Mạng

 

            Các Chơn Linh cao trọng giáng trần cứu vớt nhơn loại như Đức Thích Ca, Lăo tử, chúa Jésus… Sau đó là các  Chơn Linh cao cấp (Thánh, Tiên) vâng mạng Ngọc Hư Cung hay của Lôi Âm Tự xuống trần cứu nhân độ thế như Đức Tiên Tào Quốc Cựu giáng cơ cho biết[118].
[4] 

 

            Về hạng Thiên Mạng, Đạo Cao Đài có rất nhiều chức sắc thuộc hạng này và mang Ngươn Linh[119] của Thánh, Tiên được Đấng Thiêng Liêng giáng cơ cho biết thí dụ như :

             - Đức Hộ  Pháp Phạm Công Tắc là Ngươn Linh của Thánh Vi Hộ. Tại Báo Ân Đường Kim Biên (19-9-1956), Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ (Trạng tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm) trả lời Đức Hộ Pháp : Phải, th́ trước đầu kiếp vào nhà họ Vi (Vi Hộ), c̣n nay vào nhà họ Phạm (Phạm Công Tắc)…Việt Nam xuất Thánh th́ đă hẳn rồi.

            - Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh là Ngươn Linh Từ Hàng Bồ Tát. Ngày 8-12-Bính Dần (11-1-1927), Đức Chí Tôn giảng dạy Ngài Thái Thơ Thanh : Con cùng Chơn Linh cùng Quan Âm Bồ Tát (Đạo Sử. II, tr. 177)

            - Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh là Ngươn Linh Long Nữ.

 

            C̣n rất nhiều vị chức sắc khác là Ngươn Linh của Thánh, Tiên được liệt kê chi tiết trong cuốn sách Bí Pháp Đạo Cao Đài của nữ soạn giả Nguyên Thủy, 2007.

 

            Lúc biết được nguồn cội rồi th́ con người ḿnh sống trên cơi đời này mang ư nghĩa ǵ? Đời người, chết đi hết hay chưa? Câu trả lời của Thượng Đế sẽ được viết trong trang ba triết lư.

 

 


  Trang ba

 

    Trang ba

          Cơi trần

Sanh hà kư?    Sống gửi vào đâu?

Tại thế hà như?   Ở trần thế làm ǵ?

 

 Top of Page- Mục Lục

 

            Sống gởi đâu? Đạo Cao Đài trả lời rằng đời sống trần thế là giả tạm, xác phàm là căn nhà tạm trú cho Chơn Thần và Chơn Linh học hỏi, tu tiến trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

 

            Đời sống trần thế để làm ǵ? Để tu Nhơn Đạo và Thiên Đạo[120] nhằm sửa soạn hành trang cho cuộc hành tŕnh trở về cội nguồn trong cơi Thiêng Liêng.

 

            Tu Nhơn Đạo để vừa phục vụ vạn linh vừa lập vị cho người tu, chính yếu là làm công quả (chương 6).

 

            Tu Thiên Đạo là đi theo con đường trở về hiệp với Thượng Đế bằng tu hiệp Tam Bửu theo giáo lư của Tam Kỳ Phổ Độ. Chính yếu của việc tu là tinh khiết hóa Chơn Thần bằng lưu thanh khử trược các nguồn khí Hậu Thiên ô trược như Chơn Khí, khí thất t́nh lục dục (chương 8)

 

 


 

 

Chương  6

Tu Nhơn Đạo

Top of Page- Mục Lục

 
1.Tại sao phải tu bây giờ?
2. Hành Đạo nơi Cửu Trùng Đài
3. Hành Đạo nơi Cơ Quan Phước Thiện
4. Tu Thiên Đạo

 

            Người tu theo Đạo Cao Đài bắt đầu bằng tu Nhơn đạo để vừa phụng sự vạn linh vừa lập vị cho chính ḿnh tại thế. Tu Nhơn đạo (Thế đạo) là làm tṛn đạo làm người ở đời, đó là nguyên tắc và bổn phận mà con người phải tuân theo trong đời sống trần thế. Trong 5 cấp tiến hóa để qui nguyên[121], Nhơn đạo là căn bản. Muốn lên cấp tiến cao hơn th́ trước nhất hoàn thành Nhơn đạo.

 

       Nay, trong khung cảnh tu Đạo thời Đại Ân Xá khởi đầu từ ngày lập Đạo (15-10-Bính Dần 1926) đến khi Di Lạc Vương Phật mở Hội Long Hoa mà chúng tôi tŕnh bày phép tu Nhơn đạo bằng hai cách để đắc Đạo : 

            - Hành Đạo nơi Cửu Trùng Đài, làm công quả là phần quan trng nhất để đạt vị như Thánh Ngôn dạy: Thầy đến độ rỗi các con là lập thành một trường công đức cho các con nên Đạo[122].

            - Hành Đạo nơi Cơ Quan Phước Thiện,

           

            Làm tṛn Nhơn đạo rồi[123], mới tu Thiên đạo (đạo Trời) bằng phép tu hiệp Tam Bửu theo tu Phổ Độ (chương 7, 8) hay tu chơn để qui hồi Thượng Đế. Chính yếu trong việc tu luyện nàytinh khiết hóa Chơn Thần bằng khử trược các khí Hậu Thiên Chơn Khí (Chương 7), khí thất t́nh lục dục (chương 8).

 

1. Tại sao phải tu bây giờ?

 

            Theo chu kỳ luân hồi trên địa cầu 68, loài người đă trải qua 2 ngươn :

            - Thượng ngươn (ngươn Tấn Hóa) là thời kỳ tạo thiên lập địa, của Đại Đạo Nhứt Kỳ Phổ Độ của Cổ Phật, Lăo Tổ, Đế Quân

            - Trung ngươn (ngươn thượng lực) có ngũ chi đại đạo đại diện bởi Phật Thích Ca, Jesus Christ, Lăo Tử, Khổng Phu Tử, Khương Tử Nha mở Đại Đạo Nhị Kỳ Phổ Độ giáo hóa chúng sanh.

 

            Trên quả địa cầu 68 hiện tại, loài người cũng như Đạo đă đến thời Hạ ngươn (ngươn mạt kiếp, điêu tàn).  V́ do đó mà trong thời hạ ngươn này, Đấng Chí Tôn đă dùng huyền diệu cơ bút khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ở miền Nam nước Việt nhằm độ rỗi các linh hồn bước sang ngươn tái tạo, ngươn đầu của Tứ Chuyển, Đạo sẽ được phục hưng như thời thượng ngươn là nhờ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đă độ rỗi chúng sanh trong thời hạ ngươn.  

 

           

 

Chu kỳ luân hồi thời Tam Chuyển trên địa cầu 68

 

Ngươn

Tính chất con người

Tính chất xă hội

Phổ độ

Thời

 

Thượng Ngươn

thời tạo thiên lập địa, thượng đức

    

      Thiên lương

      Thuần phát

   lấy Đức làm đầu

 

Thanh b́nh, an lạc,  thuận tùng Thiên Lư.

Xă hội ḥa hiệp

Đại Đạo Nhất Kỳ Phổ Độ: Nhiên Đăng Cổ Phật (Phật giáo);Thái Thượng Đạo Tổ (Tiên giáo); Văn Tuyên Đế Quân

 

 

Quá khứ

 

 

Trung Ngươn

Thượng lực, tranh đấu

 

Nhân tâm bất nhứt, xa rời thiện lương, mạnh được yếu thua,

   lấy sức làm đầu

 

Xă hội bất công, áp bức, trường huyết chiến.

Xă hội tranh đấu

Đại Đạo Nhị Kỳ Phổ Độ : Thích Ca (Phật), Lăo Tử (tiên), Khổng Phu Tử (Nho), Jesus Christ (Thánh giáo), Khương Tử Nha (Thần giáo)

 

 

Quá khứ

 

Hạ Ngươn

Điêu tàn, mạt kiếp

Con người tương sát, dùng chước quỉ bẫy độc,

lấy cân năo làm đầu

Xă hội tàn sát, khốc liệt, tự tiêu diệt.

Xă hội mạt kiếp

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đức Chí Tôn khai sáng

 

 

Hiện tại

Ngươn Tái Tạo

        Bảo tồn

(Thượng ngươn của Tứ Chuyển)

Đạo đức được phục hồi như thời Thượng Ngươn

 

 

 

Tương   lai

 

 

 

2. Hành Đạo nơi Cửu Trùng Đài

 

Tín đồ theo Hội Thánh Cửu Trùng là người hành đạo vừa phục vụ chúng sanh, vừa lập vị thiêng liêng cho ḿnh. Người tu lập công đoạt Đạo bằng phép tu Tam Lập[124]: lập Ngôn, lập Công, lập Đức. Chơn hồn mượn xác phàm đi theo phẩm trật Cửu Thiên Khai Hóa, đạt phẩm vị từ Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần, Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên thánh, Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên.

 

Lập Ngôn

 

            Lập Ngôn là nói lời chơn thật, chánh đáng, có đạo đức để người nghe phát tâm hành thiện hay tu hành như Đức Chí Tôn dạy: Thầy dạy các con phi cẩn ngôn cẩn hạnh, thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng h́nh đồng thể ». Phải tuân theo giới cấm thứ 5 là bất vọng ngữ, nói lời xảo trá, gạt gẫm, chê bai…làm hại người.
[5] 

 

Lập Công

 

            Đem sức lực và hiểu biết ra phụng sự nhơn sanh là lập công gồm tam công: công phu, công tŕnh, công quả[125].

 

Công phu

            Công phu gồm 2 việc:

            - Học tập kinh sách (Kinh Thiên Đạo, Thế Đạo…) cho thông hiểu giáo lư (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thuyết Đạo lư luật pháp Đạo, Tân Luật, Pháp Chánh Truyền…). Sự học hỏi kinh sách có thể xếp vào phần công tŕnh bao gồm học hỏi và trau dồi tâm tánh.

            - Cúng Đức Chí Tôn vào tứ thời: tư (12 giờ khuya), ngọ (12 giờ trưa), mẹo (6 giờ sáng), dậu (6 giờ tối). Thất Nương dạy: «Lễ bái thường hành tâm đạo khởi ». Cúng Đức Chí Tôn là một giai đoạn của thiền định, trong giai đoạn này người tín đồ để hết ḷng thành tập trung vào lời kinh, tâm trí không bận rộn với tạp niệm.  

 

 Công tŕnh

            Công tŕnh là việc lập hạnh tu hành bao gồm sự tuân theo:

            - Giữ giới luật như ngũ giới cấm[126] (bất: sát sanh, du đạo, tà dâm, tửu nhục, vọng ngữ). Các điều ngăn cấm, giới luật tôn giáo là hàng rào ngăn cản chúng ta không gây nợ mới th́́ mới hết đầu thai trả quả.

            - Tứ Đại Điều Qui ấn định trong Tân Luật (Chương IV) là 4 phép tắc lớn phải theo: Phải tuân lời dạy của bề trên, chớ khoe tài đừng cao ngạo, bạc tiền xuất nhập phân minh, trước mặt sau lưng cũng đồng một bực,

            - Thế Luật ấn định trong Tân Luật tức luật pháp qui định về phần nhơn đạo của người tín đồ như ăn chay khay trường v.v.

 

 Công quả[127]

 Làm công quả phụng sự nhơn sanh là phần chính yếu của lập vị. Tất cả nhng việc làm giúp người giúp đời, phụng sự Đạo, phụng sự nhơn sanh, dù phạm vi nhhay lớn, đều gọi là công quả. Làm điều thiện mới trừ được ác nghiệp và đắc Đạo nên Thánh huấn có câu: « C̣n muốn đắc Đạo, phải có công quả».

 

            Đức Chí Tôn đại khai ân xá, mở Đạo Kỳ Ba này là lập một Trường Thi Công Quả cho nhơn sanh luyện Đạo đạt phẩm trật Thánh, Tiên, Phật là v́ « Muốn làm Tiên Phật th́ phải có công quả ».  Công quả phải xuất phát từ ḷng tự giác tự nguyện, làm theo trí lực của mỗi người, từ việc lao động chân tay đến trí óc. Làm công quả có hai phần:

 

            - Độ sanh

            Độ sanh là phụng sự con cái của Ngài về đời sống vật chất, tinh thần và linh hồn.

            Về đời sống vật chất, công quả của Cơ Quan Phước Thiện lo cơm ăn, áo mặc cho người thiếu thốn.

 

            C̣n về đời sống tinh thần, các chức sắc Cửu Trùng Đài làm công quả mỗi khi gặp tín đồ đau khổ, buồn chán, phải giáo hóa giúp cho vượt qua[128].

 

            - Độ tử

            Khi một tín đồ qui liễu, ban trị sự hương Đạo và bổn Đạo lo kinh kệ độ hồn, cầu siêu, làm phép bí tích… lo chôn cất, làm Tuần Cửu, Tiểu Tường, Đại Tường.

 

 Dự thi ở «Trường Thi Công Quả »

             Nhằm giúp tín đồ làm công quả trừ nghiệp chướng, oan khiên tiền kiếp, Đức Chí Tôn đă lập nên ở trần thế một Trường Thi Công Quả « Một Trường Thi Công Quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc th́ phải đi tại cửa này mà thôi ».[129]

 

            Nếu đă có Trường Thi, tất có « khảo thí » theo phép công b́nh Thiên Đạo để được đắc quả rồi mới đạt địa vị thiêng liêng tùy theo công quả và đức hạnh của người hành đạo. Mỗi tín đồ Cao Đài có một cuốn Bộ công quả được Thần Thánh biên chép công quả vào rồi được Đức Di Lạc làm chánh khảo chấm thi công quả[130].

 

             Giám Khảo chấm thi đạo đức: Ma Vương

 

            V́ lẽ công b́nh, Đức Chí Tôn để Ma Vương làm giám khảo sau khi đă thử thách phẩm hạnh người tu xem có xứng đáng đắc đạo hay chăng. Có hai cách thử thách người tu là ma khảo và cơ Đạo.

            - Ma khảo. Ma quỉ cám dỗ bằng mọi cách trên trần thế (sắc đẹp, tiền tài, danh vọng…) để thử thách người tu xem có bị xa ngă không. Ma khảo có ng dụng phân biệt người chơn tu với người giả tu nên các Đấng Thiêng Liêng đă nói trước:

 

Vô ma khảo bất thành Đại Đạo,

Đạo bất khảo bất thành Phật.

 

            - Cơ Đạo[131]. Trong khi lập công đức sẽ gặp nghịch cảnh nên cơ Đạo có nội khảo[132], ngoại khảo[133], nghịch khảo[134], thuận khảo[135], khí khảo[136]… để khảo thí đạo đức của tín đồ. Cơ Đạo là phương pháp tôi luyện người tu hành khi lập công bồi đức và làm tiêu chuẩn khảo thí đạo đức.

 

            Tóm lại, tu đạo trong thời kỳ Đại Ân Xá th́: « Đại Đạo Tam kỳ Phổ Độ chẳng khác chi một Trường Thi Công Quả [137]». Đức Chí Tôn cũng đă hứa: "Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần». Đức Chí Tôn đại khai ân xá, mở Đạo kỳ ba nầy là lập một Trường Thi Công Quả cho nhơn sanh đắc đạo. « Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, th́ không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả th́ chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy th́ t́m cách khác mà làm âm chất, th́ cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao." (TNHT)

           

 Lập Đức

 

            Lập Đức là dùng sự thương yêu để cứu độ chúng sanh: « Sự thương yêu là ch́a khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh ». Đức Chí Tôn dạy: Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức[138] cho các con nên Đạo. Thượng Đế nói thêm: Đạo vẫn tự nhiên, do công đức mà đắc Đạo cũng chẳng đặng[139]. Lập đức là làm những điều từ thiện, lấy bố thí làm phương tiện[140]. 

 

Bố thí gồm:

            - Thí tài: đem tiền giúp người nghèo,

            - Thí công: đem sức lực giúp công việc người khác,

            - Thí ngôn: dùng lời nói, ư kiến giúp người gặp khó khăn,

            - Thí pháp: lấy lẽ Đạo cảm hóa giáo dục giúp người mê muội ra giác ngộ, lo tu hành trở nên lành.

 

            Trong Đạo Cao Đài, muốn lập đức cho trọn vẹn th́ phải theo con đường Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của Hội Thánh Phước Thiện.

 

            Tu mà không có Tam Lập th́ ra sao?

 

           Tu mà không có Tam Lập th́ như Đức Hộ Pháp thuyết giảng: « con người khi sanh ra mặt địa cầu này không có Tam Lập th́ giá trị con người không có ǵ hết. Tam Lập ấy quyết định cho ta, ta phải có mới sống chung với xă hội nhơn quần được[141] »

 

Buông trôi ví chẳng tṛn Nhơn đạo,

C̣n có mong chi đến Đạo Trời. (TNHT)

 

            Cứu cánh của Đạo là mở một con đường giải thoát luân hồi. Nhưng trong một đời tu, người hành đạo phải tự giải thoát bằng cách làm sao lập vị nơi cơi Thiêng Liêng.  Muốn lập vị th́ trước nhất phải lập công bồi đức tại thế là điều kiện tối yếu của cơ đắc quả[142] tại thế « Vậy muốn đắc quả th́ chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi[143]». Đắc quả sẽ dẫn đến đắc Đạo[144] trong cơi Thiêng Liêng, tức là được đắc quả rồi mới đắc Đạo. 

 

Đến khi đắc đạo[145] là được thăng vị trở về cơi Thiêng Liêng. Lúc đó gọi là hiệp nhứt qui bổn hay là đắc Đạo hay đắc vị. « Mỗi khi lập đủ công, tạo đủ đức rồi th́ đệ tam xác thân sẽ tùy theo công nhiệp mà thăng v. Khi được trở về cơi Thiêng Liêng Hằng Sống, cả Chơn Linh và Chơn Thần được hiệp một mà ngự trên đài sen, tức là công nghiệp của sanh hồn tạo nên. Lúc ấy gọi là hiệp nhứt qui bổn hay là đắc vị đó vậy »[146] .

 

 

 

3. Hành Đạo nơi Cơ Quan Phước Thiện

 

             Con đường tu thứ hai  là đi theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, tức là lập công trong Cơ Quan Phước Thiện[147], đi lên dần từ phẩm vị Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện, Đạo Nhơn, Chơn Nhơn, Hiền Nhơn, Thánh Nhơn, Tiên Tử, Phật Tử.

 

            Mục đích của cơ quan: « Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hot nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc…» (Thánh Giáo Đức Cao Thượng Phẩm).

 

             Cơ Quan hành Đạo theo tôn chỉ: Cứu kẻ nguy, giúp kẻ khổ (người già, góa phụ, cô nhi…) và theo đường lối phác họa trên hai đôi liễn của Cơ Quan Phước Thiện.

 

 福德天頒萬物眾生離苦劫
 善緣地貯十方諸佛合元人

Phước đức Thiên ban vạn vật chúng sanh ly khổ kiếp,

Thiện duyên địa trữ thập phương chư Phật hiệp nguyên nhân[148].

 

福德修心樂道和人尋地利
 善慈定性安貧合眾識天時

Phước đức tu tâm lạc đạo ḥa nhơn tầm địa lợi,

Thiện từ định tánh an bần hiệp chúng thức Thiên thời[149].

           

            Tóm lại, một khi đă hiểu rằng « cho một vị Đại La Thiên Đế xuống phàm mà không tu, cũng khó mà trở về địa vị đặng[150] », th́ tín đồ ư thức được rằng tu Đạo nơi trần thế bắt đầu bằng tu Nhơn đạo:

Rằng ở đời th́ Nhơn đạo trọn,

Trọn rồi, Thiên đạo mới hoàn toàn.(TNHT)

 

Là v́ không có « Gió nh » nào thổi đến người nào không biết đi hướng nào.

 

4. Tu Thiên Đạo

 

 Tiếp theo tu Nhơn đạo là tu Thiên đạo (đạo Trời) theo phép tu hiệp Tam Bửu của Tam Kỳ Phổ Độ. Hai điểm đầu tiên cần ghi nhớ là:

- Những đặc ân thời Đại Ân Xá,

- Chơn Thần ô trược.

                                                                                                                           

 Đặc ân thời Đại Ân Xá

 

            Trong thời kỳ Đại Ân Xá, hầu hết các tín đồ đều tu hiệp Tam Bửu theo phép Phổ Độ, Tại sao? Là v́ trong thời Đại Ân Xá, Đức Chí Tôn ban nhiều đặc ân để giúp các đẳng Chơn Hồn và chúng sanh có thể đắc Đạo trong một kiếp tu: Nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng.

           

            Về phép hiệp Tam Bửu, các đặc ân[151] của Đức Chí Tôn ban cho là:

            - Có thể Đắc Đạo theo phép Phổ Độ[152]

            - Cho phép hiệp Tam Bửu trên đoạn đường vượt Cửu Trùng Thiên như Kinh Tuần Cửu diễn tả (chương 12). « Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy duy Thầy cho Thần hiệp Tinh Khí đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu  phàm nhập Thánh» (TNHT/Q!/tr.12)

            - Giúp Thần hườn hư bằng Kinh Tận Độ Tiểu Tường và Đại Tường (chương 11 và 12)

 

Khái niệm về « ô trược »

               

                Về tu hiệp Tam Bửu, lời khuyên chánh yếu trong phép tu Phổ Độ là « lưu thanh khử trược[153] » có nghĩa là gột rửa:

             - Tinh  ô trược rút ra từ thực phẩm

 - Khí Hậu Thiên ô trược Chơn Khí và khí thất t́nh lục dục.

 

             « ô trược » được hiểu như thế nào?  Ô   là dơ bẩn, Trược (trọc) là dơ đục không thanh cao.  Nhưng trong giáo lư Cao Đài, ô trược diễn tả một « ư niệm » về « dơ bẩn » tại cơi trần gây cản trở cho hiệp Tam Bửu.  Ô trược có 3 loại h́nh thức:

            - Ô trược hữu h́nh phát sanh từ lục dục và Tinh thực phẩm ô trược, đây là nội dung của chương v Tinh và Chơn Khí rút ra từ thực phẩm (chương 7);

            - Ô trược vô h́nh trong Khí Hậu Thiên, thí dụ như h́nh nh Chơn Thần ô trược v́ bị dao động thái quá bởi thất t́nh (hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cụ) (xem chương 8);

            - Ô trược theo tín ngưỡng.

 

Ô trược hữu h́nh trong Tinh

            Ô trược hữu h́nh thường gây ra bởi lạm dụng khí hậu thiên lục dục và hấp thTinh chứa độc tố.

 

 Lạm dụng

            V́ lục dục liên hệ chặt chẽ với xác phàm nên lạm dụng khí lục dục sẽ làm ô trược xác phàm với dấu hiệu ô trược cụ th thí dụ như mập ph́ bịnh hoạn v́ lạm dụng vị dục (ngọt, chất béo), tim hồi hộp mất ngủ là quá ham vị đắng của cà phê, trà đậm đặc…

 

Tinh chứa độc tố

            Xác phàm là Tinh được nuôi dưỡng hàng ngày bởi Tinh thc phm. Tinh thực phẩm mà chứa độc tố sẽ làm xác phàm ô trược dưới h́nh thức bịnh. Độc tố trong Tinh ở 2 trạng thái:

           - Trạng thái thiên nhiên thí dụ như Tinh của măng tre[154] (tươi hay khô)  và khoai ḿ (Cassava) chứa độc tố thiên nhiên acid cyanhydric có thể gây ói mửa, ngộp thở, đau đầu... nếu ăn nhiều lại không rửa kỹ.

           - Trạng thái nhân tạo như hóa chất độc hại chứa trong phụ gia[155]. Thí dụ như nước tương (x́ dầu) chứa hóa chất quá cao 3-MCPD theo tiêu chuẩn Âu Châu; Nấm khô trung quc chứa thuốc trừ sâu carbon disulfide, độc tố Formol (khí formoldehyde tan trong nước) được gian thương dùng trong kỹ nghệ ướp cá hoặc pha trộn với bánh phở, bún… để tránh meo mốc.

 

 Ô trược vô h́nh trong Khí

            Các nguồn khí Hậu Thiên gây ô trược là: Chơn Khí rút ra từ thực phẩm, khí trời, khí Hậu Thiên thất t́nh lục dục. Khi nói khí Hậu Thiên ô trược có nghĩa là Khí đó làm mờ đục Chơn Thần. Mờ đục là hiện tượng ô trược. Chơn Thần mờ đục sẽ che khuất Thần (Chơn Linh). Lấy vài thí dụ sau.

 

 

Trược quang 濁光

             Chơn Thần bán hữu h́nh v́  được bao bọc và nuôi dưỡng bởi khí Hậu Thiên Chơn Khí. Chơn Khí có nh sắc hào quang (aura) mà người có huệ nhăn hoặc máy chụp h́nh kirlian nh́n thấy được. Người đạo đức trường chay, Chơn Thần có o quang trong sáng. Trái lại người gian tà, ăn mặn rượu thịt đầy khí Hậu Thiên, Tâm Tánh chiều theo thất t́nh lục dục th́ Chơn Thần có o quang tím đục.  Màu ánh sáng tím đục là h́nh nh Chơn Thần ô trược[156].

 

 Trược khí 濁氣

            Khí Hậu Thiên thất t́nh trở thành « trược khí » nếu phát ra thái quá làm xáo trộn Ngũ Thần trong ngũ tạng khiến cho Chơn Thần mờ tối che lấp Chơn Linh. Thí dụ giận[157] quá th́ can khí bốc lên, mặt mày đỏ ké, chân tay run rẩy làm mờ Hồn trong can. Hậu quả là giận quá hóa ngu (sân si) gây oan nghiệt, làm hại đường tu : Để cho la giận một phen bừng cháy th́ cũng đủ thiêu đốt Kim Đơn phải ră tan ra nước hết trơn  (TNHT, tr. 36). Đó là hiện tượng « trược khí » làm ô trược Chơn Thần  và cản trở Ngũ Thần triều nguyên.

 

Ô trược theo tín ngưỡng

             Không tuân theo Tân Luật, sắc dục đưa đến tà dâm, vị dục  rượu chè ăn mặn đưa đến  sát mạng thượng cầm hạ thú. Ăn mặn làm cho Chơn Thần ô trược gây ra các hậu quả sau : Khí Hậu Thiên nặng nề, gây tội ác, tổn công đức, không vào được Thượng Giới, tiếp tục kiếp đọa trần…  Tất cả những tội lỗi oan khiên đó đều do Chơn Thần gánh vác. Đó là h́nh ảnh Chơn Thần ô trược phải tái kiếp luân hồi (Xem phần ăn mặn trong chương 7).

 

 Ô trược ở đâu?

 

            Dấu hiệu ô trược có thể nh́n thấy hoặc cảm nhận được trên ba xác thân.

 

            Khí lục dục gây ô trược hữu h́nh trên Đệ Nhất xác thân

            Lục dục là khí âm Hậu Thiên tác động lên xác phàm để bổ dưỡng và kích thích xác phàm. Do sự liên hệ này mà lục dục để lại dấu tich « ô trược » có thể nh́n thấy trên thể xác, thí dụ cơ thể suy nhược, da xanh mét, mắt lờ đờ v́ « thân dục » đắm say tửu sắc.

 

            Khí thực phẩm làm ô trược Đệ Nhị Xác Thân (Chơn Thần)  

            Chơn Thần được bao bọc và nuôi dưỡng bởi Chơn Khí rút ra từ thực phẩm. V́ sự liên hệ này mà Chơn Thần thường bị ô trược bởi Chơn Khí nhất là Chơn Khí rút ra từ thực phẩm ăn mặn làm hại đường tu.

 

Thực phẩm→ Tinh→  Chơn Khí→ Chơn Thần ô trược

           

            Khí thất t́nh biểu hiện ô trược ở Thần (Đệ Tam Xác Thân)

            Thất t́nh là khí dương Hậu Thiên rung cảm thường xuyên với khí Tiên Thiên Chơn Thần qua trung gian Ngũ Thần[158]. Nếu được buông thả không bị kềm chế, khí Thất t́nh sẽ biểu lộ quá đáng làm Chơn Thần bất ổn và dấu hiệu « ô trược » vô h́nh của Chơn Thần hiện ra ở Thần. Thí dụ như trầm uất, hoảng kinh vô căn, ngày đêm lo sợ …gây ra bởi thất t́nh phát tiết thái quá.

 

 Ô trược sau khi qui tiên

 

            Tuy thoát khỏi xác phàm và thất t́nh lục dục, Chơn Thần vẫn c̣n mang dấu tích trọng trượt được nhận thấy lúc thăng thiên và luân hồi.

 

Dấu tích ô trược của ăn mặn

             Chơn Thần ô trược v́ c̣n dấu vết Chơn Khí rút ra từ ăn mặn nên không vào được Thượng Giới: «c con nếu ăn mặn mà luyện Đạo th́ Chơn Thần bị Khí Hậu Thiên làm cho nhơ bẩn nặng nề mà khó thể xuất ra khỏi vùng Trung Giới được[159]» và có thể bị sét đánh :« Như rủi bị hườn, th́ đến khi đắc Đạo, cái trược khí vẫn c̣n, mà trược khí là vật cht tiếp điển th́ chưa ra khỏi lằn không khí đă bị sét đánh tiêu diệt».

 

Dấu tích ô trược của thất t́nh lục dục

             Tất cả tội lỗi, oan nghiệt chồng chất do thất t́nh lục dục gây ra đều được Chơn Linh ghi chép để lưu truyền làm nhân quả. Các ghi chép này là dấu tích ô trược của Chơn Thần.

 

            Đó là lư do tại sao Đức Chí Tôn ban Đặc Ân hườn Chơn Thần : «Thầy đến đặng hườn nguyên Chơn Thần cho các con đắc Đạo.[160]».

 

            Bước sang tu Thiên Đạo hiệp Tam Bửu, chính yếu của tu luyện là tinh khiết hóa Chơn Thần nên người tu cần hiểu ư nghĩa ô trược để bắt đầu hai giai đoạn đầu là:

            - « Tinh hóa Khí ». Người tu ăn chay tránh ăn mặn để Tinh hóa ra Chơn Khí tinh khiết nuôi dưỡng Chơn Thần,

            - « Khí hiệp Thần ». Người tu tinh khiết hóa các nguồn khí Hậu Thiên thất t́nh lục dục để « đồng khí tương cầu » với khí Tiên Thiên Chơn Thần.

 


 

 

Chương 7

Tinh hóa Khí

            Top of Page- Mục Lục

1. Tinh, Chơn Khí, Chơn Thần
2. Ăn chay
3. Ăn mặn
 

            Tinh hóa Khí là giai đoạn đầu của hiệp Tam Bửu. Động từ Hóa  (metamorphosis) được hiểu là một thể nhưng biến dạng sang thể khác cũng như con sâu hóa thành con bướm. Trong tu Tam Bửu, Hóa diễn tả chuyển hóa từ Tinh thực phẩm hữu h́nh sang Chơn Khí vô h́nh để nuôi dưỡng Chơn Thần.

 

            Trong giai đoạn này, mục đích của người tu luyện là chọn thực phẩm cung cấp Tinh hóa ra Khí trong lành qua diễn tiến sau :

            - Chọn thực phẩm cho Tinh « hóa » ra Chơn Khí nuôi dưỡng Chơn Thần.

            - Ăn chay để có Tinh tinh khiết,

            - Tinh động vật làm Chơn Thần ô trược.

 

1. Tinh, Chơn Khí, Chơn Thần

 

            Tinh là chất dinh dưỡng tinh túy được tạng phủ gạn lọc từ thực phẩm. Trong cơ thể mọi người dù tu Đạo hay không đều có chung mt tiến tŕnh của Tinh với hiện tượng

« Hóa » ra khí Hậu Thiên Chơn Khí, Chơn Khí bao bọc và nuôi dưỡng khí Tiên Thiên Chơn Thần.

 

            Điểm khác biệt với người ngoại Đạo là người tu Đạo Cao Đài trực tiếp can thiệp vào tiến tŕnh Tinh hóa Khí bằng cách lựa chọn thực phẩm như thực vật n chay) cho Tinh trong lành; Tinh trong lành sẽ hóa Chơn Khí thanh khiết để nuôi Chơn Thần. Tu luyện bắt đầu bằng ăn chay, giữ giới cấm là v́ lư do đó.  

             

Sản xuất Tinh

 

            Khởi đầu, Khí của tạng phủ làm động cơ giúp tạng phủ tác động lên thực phẩm để gạn lọc lấy Tinh. Rồi Tinh được cơ thể xử dụng dưới hai h́nh thức chính là:

            - Vật liệu đi nuôi dưỡng, bảo tŕ, tác tạo cơ thể vật chất, hữu h́nh,

            - Tinh hóa Khí. Sau khi cơ thể lọc lấy Chơn Tinh của thực phẩm, Chơn Tinh được Hỏa Tinh đốt nóng, bốc hơi trở thành Chơn Khí. « Hỏa tinh là sức nóng của Dương quang tạo thành. Nhờ sức nóng ấy nung nấu Chơn Tinh mới bốc thành Chơn Khí[161] ». Chơn Khí (khí Hậu Thiên) hiệp với Chơn Thần (khí Tiên Thiên) tạo thành Đệ Nhị Xác Thân. V́ sự kết hợp này mà Chơn Thần có thể ô trược v́ Tinh; thí dụ sau khi uống rượu quá chén, ta có nhận xét ǵ? Mặt ta đ, áp xuất máu tăng, người lảo đo, thần hồn hỗn loạn ...   Đó là hiện tưng Tinh của rượu « hóa » ra Chơn Khí quá dương làm ô trược xác phàm và Chơn Thần.  

 

         Trong giai đoạn luyện « Tinh hóa Khí », hành giả phải hấp thụ Tinh trong sch, Tinh trong sạch mới cho Chơn Khí tinh khiết để nuôi dưỡng Chơn Thần. Vậy muốn Chơn Thần không bị ô trược th́ hành giả bắt đầu bằng hấp thụ Tinh thanh nhẹ của thực vật bằng ăn chay. C̣n  trong phép thiền định, khi xác thân yên tĩnh, hô hấp điều ḥa th́ Tinh hóa Khí.

 

Cấu tạo Chơn Khí

 

Theo giải thích của Đạo, Chơn Khí là sự tiết khí của Chơn Tinh thực phẩm, khí trời, trong sạch hoặc ô trược. Thực phẩm vào t́ vị, t́ vị lọc lấy Chơn Tinh của thực phẩm, Chơn Tinh được Hỏa Tinh[162] đốt nóng, bốc hơi trở thành Chơn Khí.

 

            Khi thực phẩm vào đến trung tiêu (t́, vị, tiểu trường),  cơ quan tiêu hóa gạn lọc lấy Tinh của thực phẩm rồi vận chuyển Tinh lên thượng tiêu (tim, phổi) hiệp với khí trời mà biến Tinh hóa Khí (Chơn Khí) và Ngươn Tinh (máu huyết). Từ đó khí huyết trải ra khắp cơ thể. Huyết vận chuyển trong các huyết mạch hữu h́nh đi nuôi dưỡng các tế bào của nhục thể. Huyết di chuyển được là nhờ Khí làm động cơ chuyển vận nên có câu Khí tới đâu huyết tới đó [163].

 

Nhiệm vụ của Chơn khí là bao bọc và nuôi dưỡng Chơn Thần và hiệp với Chơn Thần làm Đệ Nhị Xác Thân di chuyển cùng với máu huyết khắp cơ thể.  Do đó, Chơn Khí trở thành điển quang làm nhiệm vụ:

            - trung gian tiếp điển của Chơn Thần và Chơn Linh[164];

            - làm sợi dây ràng buộc xác phàm với Chơn Thần. « Chơn Khí tiết ra bởi bảy dây oan nghiệt[165], mà người ta gọi là thất phách[166] ». Chính qua 7 dây oan nghiệt này mà xác phàm đ̣i hỏi Chơn Thần thỏa măn thú tính vật chất nên gây ra nhiều nỗi oan nghiệt và làm cho Chơn Thần ô trược mắc tội. c con người măn phần, cũng chính 7 dây oan nghiệt này níu kéo Chơn Thần ở lại xác phàm làm cho con người đau đớn[167].

 

                Người có huệ quang  nh́n thấy được Chơn Khí dưới h́nh sắc hào quang (aura[168]) sáng chói (Chí Thánh), màu hồng (chưa được thánh chất), màu tím (ô trược)[169]. Hào quang đó là h́nh nh Chơn Khí bao bọc, nuôi dưỡng Chơn Thần, v́ vậy mà Chơn Thần «bán hữu h́nh có thể thấy đặng mà cũng có thể không thất đặng[170]».

 

   Con người có cảm nhận được Chơn Khí không? Dấu hiệu thiếu Chơn Khí cho cảm giác suy yếu, bủn rủn chân tay, thiếu sức lc, tinh thần hoảng ht như trưng hợp bị bỏ đói hoặc bị nhốt kín ngộp th. Sau khi ăn uống, Chơn Khí sung măn là trở lại b́nh thường.

 

Chơn Khí nuôi dưng Chơn Thần

           

            Chơn Thần được bao bọc và nuôi dưng bởi Chơn Khí nên Chơn Thn thưng b ô trược bởi Chơn Khí rút ra từ thc phẩm.

 

            Muốn đến trước mặt Thầy, điều kiện đầu tiên là phải có một Chơn Thn tinh khiết « Cái Chơn Thần ấy mới đưc phép đến trước mặt Thầy »[171]. C̣n Chơn Thn nhiễm ô trược trần thế, không kềm chế được xác thân mà gây tội lỗi th́ đi chuyển kiếp, đu thai.

 

            Sau nữa là muốn vào được Khí Tiên Thiên thanh nhẹ có chứa điện quang, Chơn Thần buộc phi tinh khiết, thanh nhẹ hơn Khí Hậu Thiên th́ Chơn Thần mới vượt ra khỏi được ṿng càn khôn vạn vật hữu h́nh và tránh b điện quang của Khí Tiên Thiên tiêu diệt[172].

Vậy, muốn có một Chơn Thn tinh khiết th́ trưc nht phi có xác phàm tinh khiết[173]. Muốn có xác phàm tinh khiết th́ người tu Đo phải ăn chay.

 

2. Ăn chay [174]

 

Ăn chay hay trai (thanh tnh sạch sẽ) là ăn các loi thc phm phát xuất từ thảo mộc, ngũ cốc, rau trái để giúp khí chất nhnhàng.

 

Thc phm thảo mộc cung cấp Tinh thc phm thanh nh, rồi Tinh này hóa thành Chơn Khí (khí Hậu Thiên) tinh khiết nuôi dưng Chơn Thần (khí Tiên Thiên), Chơn Thn trong lành sẽ khiến Chơn Linh tinh tấn[175].  Ăn chay có nhiều công dng trong đời sống tu Đạo tại thế cũng như trên đưng qui hi trong cơi Thiêng Liêng.

            - Giữ được giới cấm,

            - Biến tính Hu Thiên thành Tiên Thiên,

            - Thăng thiên dễ dàng,

            - Tránh luân hồi quả báo.

 

            So sánh thc phẩm từ tht các đng vật, ngoài sự vi phạm đức háo sanh của Đức Chí Tôn, đng vt c̣n có thú tính sợ hăi, đau kh, thù hận, hung d, giận dữ, do các kích thích tố tiết ra khi bị giết thịt. Các kích thích tố này khi vào cơ th con người sẽ tạo cho con ngưi nhng thú tính tương t. Ngoài ra các kích thích tố c̣n gây ra bệnh tật cho các cơ quan như loét bao tử, cao máu, suy tim, suy thn suy gan, suy phổi. Người ăn tht có tính hung d, người ăn chay tâm tính hiền ḥa.

 

Công dng ti thế

 

            Trong thi gian tu Đạo tại thế, ăn chay sẽ giúp cho người tu giữ được giới cấm và biến Chơn Khí Hậu Thiên trọng trưc thành khí Tiên Thiên thanh khiết.

 

Giữ được giới cấm

            Nhờ ăn chay, con người kềm chế đưc thất t́nh lục dục  giữ được giới cấm : ḷng dc lắng xuống mà «bất tà dâm », ḷng tham vt cht chng c̣n nên «bất du đạo », tâm hồn thanh cao mà « bất vọng ngữ ».

 

Biến tính Hu Thiên thành Tiên Thiên

Khí Tiên Thiên (Chơn Dương và Chơn Âm) hiện hữu trưc khi có trời đất hữu h́nh và có đặc tính thanh nh, tinh khiết tự nhiên.

 

 Khí Hậu Thiên tức Chơn Khí rút ra từ khí trời và Tinh thc phm có nhiệm vụ bao bọc và nuôi dưỡng khí Tiên Thiên. Chơn khí có th tinh khiết hay ô trược tùy theo thc phẩm hấp thụ của người tu Đo.

 

Thánh Ngôn dạy: Mượn cái xác phàm này mà lấy ngươn tinh (khí, huyết) rồi luyện ngươn tinh cho thành ngươn khí th́ tính Hu Thiên trở thành tính Tiên ThiênLuyện ngươn khí là nuôi lấy ngươn Thần cho sáng suốt[176].

 

Tại sao phải biến tính Hậu Thiên trở thành Tiên Thiên? V́ cả hai đều ở thể khí và tuân theo nguyên lư « đồng khí tương cầu » tức là hai khí cùng tính cht, cùng tần số điện sẽ t́m đến ḥa hiệp vi nhau. Muốn khí Hậu Thiên tiếp được khí Tiên Thiên thanh nhẹ trong cơi Thiêng Liêng th́ khi sống trên cơi trần phải tinh khiết hóa Chơn Khí (khí Hậu Thiên) để có cùng khí chất tinh khiết của Chơn Thần (khí Tiên Thiên). Đó là tiến tŕnh biến tính Hậu Thiên thành tính Tiên Thiên khi cả hai đều tinh khiết, thanh nhẹ trong tiến tŕnh « Khí hiệp Thần » của hiệp Tam Bửu. Diễn biến này trông cậy vào ăn chay v́ vậy mà:

  - Sự ăn chay là bổ cho Tiên Thiên, c̣n ăn mặn lại bổ cho Hậu Thiên[177] .

 - V́ vậy, Thầy buộc các con trường trai mới đặng luyện Đạo[178].  

 

 

ng dng sau khi qui tiên

 

            Trên đường thăng hoa qua các tầng trời và các cơi của thể tinh khí, Chơn Thần là chiếc xe chuyên chở Chơn Linh. Mức độ và tốc độ thăng hoa của Chơn Linh tăng theo tỉ lệ thuận với phẩm lượng tinh khiết của Chơn Thần. Ăn chay tại thế sẽ cho một Chơn Thần thanh nhẹ thăng thiên dễ dàng và tránh được giáng phàm đầu kiếp.

 

Thăng thiên dễ dàng

            Bát Nương giáng cơ chỉ dạy: Muốn qua khi cửa Âm Quang th́ phải ăn chay. V́ vậy Thượng Đế buộc ăn chay là để qua cái quan ải ấy.

            Nếu xác phàm trường chay, Chơn Thần xuất ra trong sáng nhẹ nhàng, dễ dàng bay ra khỏi bầu khí quyển có hào quang trắng, sáng chói trong suốt.

 

Tránh luân hồi quả báo

            Thảo mộc và ngũ cốc là hai thứ sanh vật được Thượng Đế dành để nuôi người. Ăn chay là thuận theo Thiên Ư để mở rộng ṿng nhân ái từ bi, chủ trị phàm tâm, phát huy thiên tánh, tránh tạo nghiệp ác báo, hỗ trợ cho tŕ giới, nhất là giới sát sanh[179]. Khi sống ăn thảo mộc, chết th́ xác phàm trở về đất: Nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ[180] và thảo mộc ăn lại xác thân, thế là ḥa không ai nợ ai mà tránh được quả báo luân hồi. Ăn chay và làm công quả mới đạt ngôi vị Tiên, Phật là thế.

 

3. Ăn mặn

 

            Ăn mặn là ăn thực phẩm từ động vật. Thực phẩm động vật cung cấp Tinh ô trược. Tinh ô trược sản xuất ra Chơn Khí ô trược. Chơn Khí ô trược bao bọc và nuôi dưỡng Chơn Thần khiến Chơn Thần ô trược với dấu hiệu tại thế và sau khi qui tiên.

 

 Ô trược tại thế

 

            Theo giáo lư, trong vấn đề ăn uống, bản năng thú tính[181] của xác phàm thích ăn mặn có thể cản trở con đường tu Đạo[182] tại thế với các dầu hiệu khí Hậu Thiên nặng trược, gây tội ác, phạm Tân luật.

 

 Khí Hậu Thiên nặng nề

            Ăn mặn nhiều huyết nhục nên sản xuất ra nhiều trược khí Hậu Thiên (Chơn Khí) bao phủ Chơn Thần (khí Tiên Thiên) khiến Chơn Thần ô trược, u tối mờ đục che lấp Chơn Linh. Chơn Linh bị che lấp, Chơn Thần sẽ không kềm chế được đ̣i hỏi của xác phàm nên chẳng tránh khỏi thất t́nh lục dục[183] sai khiến mà gây ác nghit, oan khiên.   

 

Gây tội ác, tổn công đức

            Tất cả các thứ thịt đều là chất tinh huyết ô uế c̣n chứa ḷng uất hận của con vật bị giết nên biến thành độc khí lưu trữ trong tế bào. Hơn nữa, chất đạm cha nhiều chất độc nên tiêu hóa chậm hay khó[184], làm ô trược xác phàm và Tinh.  « V́ vậy Thầy buộc các con trường trai mới đặng luyện Đạo [185]».

 

  

Tân Luật

            V́ những lư do trên mà Tân Luật cấm sát sanh[186], cấm dùng vật thực cúng tế vong linh mà phải dùng toàn đồ chay[187]. Người bổn đạo đă làm nghề sát sanh, hại vật cũng như buôn bán rượu mạnh, a phiến th́ phải đổi nghề[188].

 

            Lục dục thất t́nh không nhất thiết chỉ phát sinh từ ăn mặn. Ăn chay là một phương thức tương đối, bằng chứng là tín đồ khi ăn chay được 10 ngày trở lên th́ được phép luyện Đạo (Tân Luật, chương 13). Khi nào thiền định vào giai đoạn cuối, được hiệp nhứt cùng Đức Chí Tôn, hành giả muốn vào Bạch Ngọc Kinh th́ phải trường chay.

 

            Có người ăn chay mà tâm không chay, vẫn c̣n đầy tham sân si, dục vọng. C̣n có người không ăn chay như trong đạo Thiên Chúa mà lại có tâm bồ tát, thương yêu và phục vụ chúng sanh. Yếu tố quan trọng nhất để chế ngự thất t́nh lục dục là phải tu tâm luyện tánh.

 

Ô trược sau khi khuất bóng

 

            Sau khi qui tiên, dù không c̣n thất t́nh lục dục quấy nhiễu nữa nhưng Chơn Thần vẫn mang dấu vết ô trược của Chơn Khí rút ra từ động vật và gánh chịu các tội lỗi (sát sanh, tửu nhục…) do ăn mặn gây ra. Hậu quả là Chơn Thần khó ra khỏi xác phàm, không vào được Thượng Giới nên phải tiếp tục kiếp đọa trần.

 

Khó ra khỏi xác phàm

             Trên đường thiên lư ngoại, Chơn Thần là động cơ chuyên chở Chơn Linh thăng lên các tầng Trời. Tốc độ thăng thiên phụ thuộc vào tính thanh nhẹ hay ô trược của Tinh thực phẩm. Nếu bổ Khí Hậu Thiên để nuôi dưỡng khí Tiên Thiên bằng ăn mặn sẽ làm cả xác phàm lẫn Chơn Thần ô trược. Lúc qui liễu, Chơn Thần và Linh Hồn khó thoát khỏi xác phàm. V́ vậy mà Thượng Đế ban cho bí pháp Phép Đoạn Căn cứu giúp tín đồ lúc qui tiên.

  

Không vào được Thượng Giới

            Ăn mặn sẽ làm xác phàm và Chơn Thần ô trược khiến Linh Hồn khó bề thăng thiên, sẽ không vào được Thượng Giới: «c con nếu ăn mặn mà luyện Đạo th́ Chơn Thần bị Khí Hậu Thiên làm cho nhơ bẩn nặng nề mà khó thể xuất ra khỏi vùng Trung Giới được[189]».

 

Tiếp tục kiếp đọa trần

            Nếu ăn mặn th́ hăy nghe Thượng Đế dạy: « Nếu như các con c̣n ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn chứng th́ làm sao giải tán cho đặng? Như rủi bị hườn, th́ đến khi đắc Đạo, cái trược khí vẫn c̣n, mà trược khí là vật chất tiếp điển th́ chưa ra khỏi lằn không khí đă bị sét đánh tiêu diệt. C̣n như biết khôn th́ ẩn núp tại thế làm một bậc « Nhân Tiên », th́ kiếp đọa trần chưa măn».

 

               V́ những lư do trên mà người luyện Đạo cầu thanh tịnh nên mới ăn chay tránh ăn mặn.

 

 

 

Chương 8

 Khí hiệp Thần

Top of Page- Mục Lục

1.Về sự ḥa hiệp chất khí
2. Nguồn gốc thất t́nh lục dục
3. Xác phàm và lục dục
4. Chơn Thần và thất t́nh
4. Tâm tánh
5. Lời khuyên giáo lư

 

     Hiệp  : Ḥa hợp. Câu « Khí hiệp Thần » có ư nghĩa là khí Hậu Thiên (Chơn Khí) tinh khiết thanh nhẹ như khí Hư Vô th́ sẽ ḥa hợp (harmonize) được với khí Tiên Thiên (Chơn Thần). Động từ hiệp đánh dấu chuyển hóa từ khí Hậu Thiên nặng trược (Chơn Khí, thất t́nh lục dục) sang khí Tiên Thiên thanh nhẹ như  khí Hư Vô. Lời Đức Hộ Pháp dạy:  Luyện Khí hóa Thần là giai đoạn luyện tánh cho thuần đạo-đức hiền lương, chế-ngự các t́nh-cảm thấp kém, nuôi dưỡng các t́nh-cảm cao-thượng th́ sẽ làm cho khí thanh. Khi cơ thể được nuôi dưỡng bằng khối thanh khí luân-chuyển điều-hoà, th́ ngũ quan con người sẽ sống theo thiên-lư, thần trí được an-tịnh sáng-suốt.

 

1. Về sự ḥa hiệp chất khí

 

 

            Trong phép tu hiệp Tam Bửu, hành giả phải hiểu điều kiện ḥa hiệp được hai chất khí và hiểu hai thể khí Hậu Thiên thất t́nh lục dục.

 

Đồng khí tương cầu

 

            Hai thể khí có thể ḥa hiệp với nhau với điều kiện là hai thể khí phải có cùng một bản chất thanh nhẹ (hoặc ô trược) tức có cùng luồng sóng điện (même longueur d’ondes). Thí dụ muốn cho khí Hậu Thiên Chơn Khí ô trược hiệp một với khí Tiên Thiên tinh khiết Chơn Thần, hành giả phải điều chỉnh tần số của Chơn Khí bằng khử trược lưu thanh để Chơn Khí rung động cùng tần số với khí Tiên Thiên thanh nhẹ. Công việc giống như một nghệ sĩ lên dây đàn (accord) điều chỉnh âm thanh. V́ vậy giai đoạn tu luyện « Khí hiệp Thần » khó khăn nhất v́ người tu hành xử như một nghệ sĩ tự ḿnh phải lên dây đàn có nghĩa tự ḿnh phải tinh khiết hóa các nguồn khí Hậu Thiên liên hệ đến Chơn Thần (Khí). Chơn Thần phải tinh khiết như thuở Thái Hư th́ mới hiệp được với Thần trong khí Hư Vô theo nguyên lư « đồng khí tương cầu [190]» như Đức Cao Thượng Phẩm nói về bửu pháp Long Tu Phiến : « Cả cơ thu và xuất của Long Tu Phiến với Chơn Thần đều do luật « đồng khí tương cầu » mà thành tựu, nghĩa là : Nếu Chơn Thần đạo đức th́ Long Tu Phiến hấp dẫn đến gần và đưa vào Cực Lạc Thế Giới; c̣n nếu Chơn Thần nào trọng trược th́ Long Tu Phiến đẩy ra xa và lần hồi đi đến cơi U Minh幽冥

 đen tối. »

 

Khí Hậu Thiên thất t́nh lục dục

 

            Thất t́nh lục dục là hai luồng khí âm dương Hậu Thiên tiềm ẩn tự nhiên trong ngũ tạng[191]. Khí lục dục gây ô trược có thể nh́n thấy trên xác phàm c̣n khí thất t́nh là nguồn khí ô trược cảm nhận được qua những biến động bất thường của Tâm. Hai nguồn khí này tạo nên cái quan ải vượt qua rất khó khăn cho người tu luyện. 

 

Lục dục tác động lên xác phàm.

            Lục dục là khí âm Hậu Thiên liên kết với xác phàm để bổ dưỡng và kích thích xác phàm. Do sự liên hệ này mà lục dục để lại dấu tich « ô trược » có thể nh́n thấy trên thể xác, thí dụ mập ph́ v́ ham ăn uống nhất là vị ngọt và béo, cơ thể suy nhược, da xanh mét, mắt lờ đờ v́ « thân dục » đắm say tửu sắc.

 

Thất t́nh tác động lên tinh thần

            Thất t́nh là khí dương Hậu Thiên rung cảm thường xuyên với khí Tiên Thiên Chơn Thần qua trung gian Ngũ Thần[192]. Nếu được buông thả không bị kềm chế, khí Thất t́nh sẽ biểu lộ quá đáng làm Chơn Thần bất ổn và dấu hiệu « ô trược » của Chơn Thần hiện ra trên b́nh diện tinh thần. Thí dụ như tay múa miệng hát có thể trở thành điên cung v́ vui quá độ; ngày đêm lo sợ, hoảng hốt vô căn th́ Khí thất t́nh trở thành trược khí gây bệnh vsuy nhược thần kinh  khiến tu luyện mà không hiệp được Tam Bửu để đắc Đạo.


[6] 

2. Nguồn gốc thất t́nh lục dục

 

            Theo giải thích của Đức Cao Thượng Phẩm th́ « Trong mọi người đều có thất t́nh lục dục, những t́nh dục ấy phát sinh ra do nơi lục phủ ngũ tạng, nhưng chủ của nó là Chơn Thần đó vậy[193]», có nghĩa là khí thất t́nh lục dục tiềm ẩn trong ngũ tạng, và nghe theo sự sai khiến của chủ là Chơn Thần. Vậy ngũ tạng được h́nh thành như thế nào ?

 

Về ngũ hành

 

       Trong trời đất vạn vật không có vật chi hóa sanh biến dưỡng mà không có Tiên Thiên Ngũ Hành và Hậu Thiên Ngũ Hành. Hậu Thiên Ngũ Hành hữu h́nh là h́nh tướng của Tiên Thiên Ngũ Hành vô h́nh. Khi nhập vào xác phàm, Ngũ Hành Tiên Thiên biến tướng thành Ngũ Hành Hậu Thiên vật chất hữu h́nh từ đó phát xuất thất t́nh lục dục mà con người cảm nhận được qua s rung cm của Chơn Thần.

 

Ngũ hành Tiên Thiên

Trong xác thân thiêng liêng (Chơn Thần) đă chứa sẵn :

1. Tinh Tiên Thiên của Ngươn Chất đựng trong Kim Bồn để Đức Diêu Tŕ cấu tạo h́nh hài con người

2. Khí Tiên Thiên tức Khí Sanh Quang nguồn sống của vạn vật.

            3. Ngũ hành Tiên Thiên.

           

            Trong ngũ hành Tiên Thiên vô h́nh đă chứa sẵn  Ngũ Ngươn hữu danh tức ngũ khí Tiên Thiên[194]:

Ngươn tinh thuộc thủy nằm trong tạng thận,

 Ngươn tánh thuộc mộc nằm trong tạng can

Ngươn khí thuc Thổ nằm trong tạng  t́

Ngươn thn thuộc hỏa nằm trong tng tâm

Ngươn  t́nh thuộc  kim  nằm trong tng phế.

 

Ngũ hành Hu Thiên

            Ngũ Hành Hu Thiên là h́nh tướng của Ngũ Hành Tiên Thiên. Sau khi thụ thai, Chơn Thần nhp vào xác phàm và Ngũ Hành Tiên Thiên biến tướng thành Ngũ hành Hậu Thiên hữu h́nh, hữu sắc là tâm, t́, phế, thận, can. Và trong mỗi tạng, Ngũ Ngươn hữu danh cũng biến tướng thành Ngũ Ngươn hữu chất. Ngũ Ngươn hữu chất vào cư ngụ trong Ngũ Hành Hậu Thiên để  sanh ra ngũ thức hay Ngũ Thần: Thức Thần trong tim (Hỏa), Vọng Ư trong t́ (Thổ), Quỉ Phách trong phế (Kim), Chí trong thận (Thủy), Du Hồn trong can (Mộc)[195].   

 

Thất t́nh lục dục

 

 Bước vào Cửu Trùng Đài, chúng ta sẽ nh́n thấy bài giáo lư được hữu h́nh hóa bởi con rắn 7 đầu biểu tượng thất t́nh và tượng đúc h́nh rồng há miệng, phun ra sáu chia[196] đỡ dưới giảng đài để diễn tả lục dục.

Thất t́nh là: Ái (yêu thương), ố (ghét), hỉ (mừng), nộ (giận), ai (buồn), lạc (vui sướng), cụ (sợ hăi).

            Lục dục (sáu ham muốn) là : sắc dục (sanh ra bởi sắc đẹp), thính dục (sanh ra bởi âm thanh), hương dục (sanh ra bi ham muốn ngữi mùi thơm), vị dục (sanh ra bởi vị tức miệng ham ăn món ngon vật lạ),  xúc dục (sanh ra bi ham muốn của thân ư),  pháp dục (sanh ra bởi ḷng dục của thân).

 

            Trong ngũ tạng đă tiềm ẩn một cấu trúc vô h́nh (khí) gồm:

            - Lục dục (khí âm Hậu Thiên của tạng),

            - Thất t́nh (khí dương Hậu Thiên của tạng),

            - Ngũ Thần (khí Tiên Thiên) liên đới trực tiếp với Chơn Thần.

            Trong cấu trúc này, Chơn Thần là « chủ » của các dây liên hệ (xem bảng chỉ dẫn) và mọi sanh hoạt của thất t́nh lục dục và Ngũ Thần (Ngũ thức).

 

            Về liên hệ với nhau, mỗi tạng liên hệ với một Thần, một t́nh cảm và một ham muốn[197]. Thí dụ vị dục và hỉ lạc chạy về tim làm dao động Thức Thần trong tim như bảng chỉ dẫn dưới đây.

 

                               Bảng liên hệ trong cấu trúc vô h́nh của ngũ tạng

Ngũ Hành

Ngũ tạng

Ngũ Thần

Thất t́nh

Lục dục

Hỏa (đỏ)

Tim (lưỡi)

Thức Thần

Hỉ lạc(vui mừng)

Vị dục

Thổ (vàng)

T́ (miệng)

Ư

Ái ố (lo âu)

Xúc dục, pháp dục

Kim (trắng)

Phế (mũi)

Phách

Ai (buồn)

Hương dục

Thủy (đen)

Thận (tai)

Chí

Cụ (sợ hăi)

Thính dục

Mộc (xanh)

Can (măt)

Hồn

Nộ (giận dữ)

Sắc dục

 

 

Tiếp cận với trần thế

            Cấu trúc vô h́nh của ngũ tạng tiếp cận với trần thế bằng 5 cửa hay « tượng » của ngũ hành : Mắt cửa của can, lưỡi cửa của tim, miệng cửa của t́, mũi cửa của phế, tai cửa của thận[198]. Khi 5 cái cửa này mở ra tiếp xúc với lục trần th́ khí Hậu Thiên thất t́nh lục dục phát động và giao cảm với khí Tiên Thiên Ngũ Thần. Cường độ giao cảm đó đều đặt dưới trách nhim của Chơn Thần trong việc kềm chế hay buông thả các rung động của khí trong ngũ tạng.

 

Thất t́nh lục dục phát động như thế nào?

 

Có hai trường hợp làm phát sanh thất t́nh lục dục :

- Cửa (lục căn) của ngũ tạng mở ra tiếp xúc với lục trần,

- Ư nghĩ (lục thức) trong đầu làm nảy sanh lục dục thất t́nh.

 

 Lấy thí dụ một hộp quẹt và một que diêm.

Hộp quẹt ví như thể xác với cửa của ngũ tạng tức lục căn (mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân ham, ư phải quấy). 

Que diêm ví như lục trần (06 cảnh nơi cơi trần)[199]: sắc (màu sắc xấu, đẹp), thinh (âm thanh êm ái), hương (ngửi thấy ngũ hương[200]), vị (lưỡi nếm ngũ vị[201]), xúc (cảm thân xác mát mẻ), pháp (tư tưởng mưu tính thực hiện cho thỏa ư).  

Quẹt diêm vào hộp quẹt sẽ làm xuất hiện ngọn lửa. Điều này chứng tỏ ngọn lửa đă tiềm ẩn tự nhiên trong bao quẹt. Ngọn lửa xuất hiện khi que diêm (lục trần) đụng vào bao quẹt (ví như ngũ tạng). Cũng giống như ngọn lửa này, thất t́nh lục dục tiềm ẩn sẵn trong ngũ tạng và phát sanh khi chạm vào lục trần trong 2 trường hợp :

            - Khi cửa của ngũ tạng (mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng) mở ra tiếp xúc với lục trần. Thí dụ mắt thấy, mũi ngửi, lưỡi nếm… cao lương mỹ vị mà sanh ra lục dục (vị dục, hương dục) và thất t́nh (vui mừng v́ sắp được ăn ngon). Vậy, lục dục thất t́nh khởi sinh khi cửa của ngũ tạng (lục căn) nh́n thấy lục trần giống như hiện tượng que diêm quẹt vào hộp quẹt.

            - Dù lục căn bị bít kín không thấy lục trần, nhưng với ư nghĩ trong đầu (lục thức), thất t́nh lục dục vẫn phát sinh trong cơ thể. Nằm yên nhắm mắt chẳng nh́n thấy lục trần cũng cảm thấy vui buồn. Xác phàm thiếu một chất dinh dưỡng nào đó th́ có tín hiệu

« thèm » được phát ra từ Hypothalamus trong năo bộ. Thí dụ cơ thể thiếu nước, thiếu ăn th́ có tín hiệu « khát, đói » và thèm ăn uống dù không có lục trần trước lục căn. Điều này chứng tỏ thất t́nh lục dục tiềm ẩn tự nhiên trong cơ thể và  cho thấy khí Hậu Thiên lục dục rất cần thiết cho việc nuôi dưỡng và kích thích xác phàm. Lục dục là biểu hiện sự sống của phàm thể, nhưng lục dục quá độ cũng có thể trở thành trược khí làm phàm thân ô trược nên giáo lư mới khuyên răn phải kềm chế lục dục trong trường hợp lạm dụng.

 

3. Xác phàm và lục dục

 

            Điều ghi nhận đầu tiên là khí lục dục để lại dấu tích ô trược trên xác phàm và cản trở con đường thăng thiên.

            Lục dục thất t́nh phát khởi  lúc cửa của ngũ tạng  (lưỡi, miệng, mũi, tai, mắt) tiếp cận với trần thế  theo như tiến tŕnh sau :

 

Cửa của ngũ tạng lục căn→ lục trần→ lục thức→ lục dục, thất t́nh

 

Sự xuất hiện của thất t́nh lục dục làm chuyển động guồng máy Tâm, Tánh, Xác phàm. Ư nghĩ trong Tâm chuyển đến Tánh, Tánh (Chơn Thần) sai khiến  Xác phàm để cụ thể hóa ư nghĩ của Tâm bằng hành động :

 

Ư nghĩ (Tâm, Chơn Linh) → hành động (Tánh, Chơn Thần) → tác nhân (Xác phàm).

 

            Trong giai đoạn chuyển động Tâm Tánh, Tánh là chủ của thất t́nh lục dục nên Tánh có thể  giữ lục dục ở trạng thái b́nh thường v́ lục dục là khí âm Hậu Thiên rất cần thiết cho việc nuôi dưỡng, kích thích xác phàm. Trái lại, Tánh chiều theo đ̣i hỏi của xác phàm lạm dụng liều lượng quá độ khiến lục dục biến thành trược khí trên 3 b́nh diện :

            - xác phàm ô trược với dấu hiệu cụ thể như thể xác mập ph́ v́ vị dục ăn nhiều đồ béo, ngọt, như đau lưng, da xanh xao v́ dâm dục quá độ,

            - Phạm Tân Luật tức không giữ giới cấm,

            - Cản trở đường tu v́ làm cho Chơn Thần ô trược.

 

Lục dục nuôi dưỡng xác phàm

 

            Để diễn tả vai tṛ lục dục nuôi dưỡng thể xác, tôi lấy thí dụ vị dục và ngũ vị.

            - vị dục do thiệt thức (biết do lưỡi nếm các vị)

            - Ngũ vị là: đắng (đi về tim), ngọt (t́), cay (phế), mặn (thận), chua (can) do cây cỏ hấp thụ khí của đất rồi biến hóa ra[202]

 

             Tại sao có lúc cơ thể ta thèm ăn vị này hay vkia? Cảm giác « thèm » sẽ phát sanh ra vị dục. Vị dục là tín hiệu cơ ththiếu vị đó và đ̣i hỏi chúng ta phải bồi bổ cơ th. Vị dục báo hiệu « thiếu » như thế nào?

 

            Thí dụ thèm vị ngọt. Sau khi làm việc mệt nhọc trí năo hay lo âu, người sẽ cảm thấy uể oải, bủn rủn chân tay, thiếu sáng kiến và thèm vị ngọt. Đó là triệu chng t́ khí thiếu hụt. Ăn vị ngọt (cà rem, bánh ngọt…) vào là trở lại b́nh thường ngay. Lư do là vị ngọt làm tăng khí Hậu Thiên (t́ khí) để nuôi dưỡng xác phàm và khí Tiên Thiên là Ư.

 

            Thí dụ  thèm vị mặn. Nếu độ mặn trong máu xuống quá thp v́ đổ mồ hôi quá nhiu nhất là sau khi đi bộ dưới nắng gay gắt hoặc tập dưt th  thao, con ngưi có thể ngất xỉu. Đó là dấu hiệu thiếu khí Hậu Thiên (vị mặn của muối) để nuôi dưỡng máu huyết và khí Tiên Thiên Chí trong thận. Một ly chanh muối là giải quyết vấn đ.

 

            Thí dụ thèm ân ái nam nữ. Đó là dâm dục cần thiết cho trường tồn ṇi giống.

            Lục dục có nhiệm vụ quan trng như vậy mà tại sao giáo lư Cao Đài lại dạy phải kềm chế?

 

Trược khí lục dục

 

             Khi lục dục biểu lộ th́ làm rung động Ngũ Thần và làm chuyển động 3 xác thân Tâm (Chơn Linh), Tánh (Chơn Thần) và xác phàm (Tinh). Tâm có ư nghĩ,  ư nghĩ của Tâm (Thần) tác dụng lên Tánh (Khí)  để can thiệp vào sự phát tiết lục dục có thuận theo Đo lư hay không để hưng dẫn xác phàm (Tinh) hành động theo chiều hướng sau:

 

Ư nghĩ (Tâm, Chơn Linh) hành động (Tánh, Chơn Thần) → tác nhân (Xác phàm).

 

            Trở lại h́nh nh ngọn lửa của que diêm biểu tượng lục dục phát sanh. Nếu ngọn lửa dùng đúng liều lượng đủ để thắp sáng, chụm củi lửa… có nghĩa là ngọn lửa tùng đạo lư. Trái lại nếu ngọn lửa dùng để đốt cháy một mảnh tường nhà gây hỏa hoạn th́ chẳng khác chi lạm dụng liều lượng làm khí lục dục trở thành tác nhân gây xáo trộn khí của tạng và làm xác phàm ô trược. 

 

            Lấy việc lạm dụng vị dục làm thí dụ để minh họa chuyển biến của 3 xác thân gây ra ô trược trên b́nh diện thể xác, thể khí và tôn giáo.

 

Ô trược cụ thể trên xác phàm

            Xác phàm ô trược với dấu hiệu cụ thể v́ sắc dục, thân dục quá độ mà người xanh xao, vị dục ăn nhiều vị ngọt và béo khiến người mập ph́, lạm dụng vị đắng (cà phê, trà) làm tim đập, mất  ngủ…

 

 Ô  trược vô h́nh trong khí

             Ham muốn tiệc tùng, nhậu nhoẹt, đ́nh đám, rượu chè là cảm thấy ngay khí bị ô trược nhận thấy qua màu sắc hào quang (aura[203]) của Chơn Thần.  Người gian tà, ăn mặn rượu thịt đầy khí Hậu Thiên, Tâm Tánh chiều theo thất t́nh lục dục th́ Chơn Thần có hào quang tím đục. Màu ánh sáng tím đục là h́nh ảnh Chơn Thần ô trược. Đó là h́nh nh Khí bị ô trược bởi vị dục.   

 

 Ô trược theo tín ngưỡng 

             Theo tín ngưỡng, sắc dục đưa đến tà dâm, vị dục  rượu chè ăn mặn đưa đến  sát mạng thượng cầm hạ thú gây tội ác, tổn công đức. [7] Chơn Thần phải gánh vác tất c những tội lỗi oan khiên này nên Chơn Thần ô trược phải tái kiếp luân hồi.  

 

            Vậy, chỉ trong trường hợp lạm dụng lục dục giáo lư mới dạy phải kềm hăm như các trường hợp sau :

            - sắc dục (ham muốn sắc đẹp), sanh ra dục tính mà phạm giới cấm bất tà dâm.

            - thính dục. Tai (nhĩ) ham muốn nghe âm thanh êm tai, nghe điều cám dỗ, nghe điều phi lễ.

            - hương dục. Mũi (tỹ) ham muốn ngữi mùi thơm mà, sanh dục vọng.

            - vị dục. Lưỡi (thiệt), miệng ham ăn món ngon vật lạ, đồ mỹ vị cao lương, nên phạm tội sát sanh, bị sa đọa vào Lục đạo.

            -  Ư dục. Ham muốn của ư là mối đại hại cho con người.

            -  pháp dục. Ḷng dục của thân là  sự dâm dục quá độ, mới hao tán nguơn Tinh, nguơn Khí làm cho thể xác bệnh hoạn thiếu sức lực, da xanh nhớt, mắt mờ, đau lưng ngang thận hoặc là ham muốn quyền thế để mưu cầu lợi lộc (Dục quyền cầu lợi[204]).

           

            Lục dục rất cần thiết cho thân được tráng kiện, nhưng để thỏa măn ḷng tham th́ sẽ dẫn đến thất t́nh và tội lỗi. Người tu hành phải chế dục. Muốn chế phục phải biết đủ (tri túc). Khi kềm chế được lục dục thi sẽ kềm chế được thất t́nh

 

4. Chơn Thần và thất t́nh

 

            Chơn Thần là do Phật Mẫu dùng khí âm dương tạo thành nên bán âm bán dương, có thể bị ô trược, mà có thể được thanh cao. Khi Chơn Thần nghe lời dạy dỗ của Chơn Linh, km chế được thất t́nh lục dục th́ Chơn Thần thanh cao, c̣n ngược lại th́ bị ô trược. Lúc đó Chơn Thần bị vật chất quyến rũ che mờ lương tâm, con người chỉ vâng theo đ̣i hỏi của xác thân vật chất sống trong đam mê tội lỗi.

 

            Điều ghi nhớ là khí thất t́nh làm Chơn Thần ô trược nhưng dấu hiệu ô trược hiện ra ở Thần.

            Thất t́nh là: Ái (yêu thương), ố (ghét), hỉ (mừng), nộ (giận), ai (buồn), lạc (vui sướng), cụ (sợ hăi). Mỗi t́nh cảm dao động với khí và Thần của tạng tương ứng.

 

Khí vui (hỷ, lạc)  giao cảm với khí tim và Thức Thần,

Khí ái, ố với t́ khí và Ư,

Khí nộ với can khí và Hồn,

Khí ai với phế khí và Phách,

Khí cụ với thận khí và Chí. 

 

            Điểm tương đồng giữa thất t́nh và lục dục là cả hai đều :

            - Tiềm ẩn tự nhiên trong ngũ tạng và phát sanh khi cửa của ngũ tạng (tai, mắt, mũi, miệng, lưỡi) mở ra đụng chạm với lục trần,

- Làm rung động Ngũ Thần kéo theo cơ chuyển động guồng máy của Tâm Tánh diễn tiến trong cơ thể theo chiều hướng:

 

Ư nghĩ (Tâm, Chơn Linh) → hành động (Tánh, Chơn Thần) → tác nhân (Xác phàm).

           

            Điểm khác biệt là :

            - Khí lục dục làm chuyển động Tâm, Tánh theo  chiều hướng bồi dưỡng xác phàm. Nếu lạm dụng, khí lục dục trở thành ô trược để lại dấu vết cụ thể trên xác phàm. Theo giáo lư, sau khi qui tiên, v́ dấu vết ô trược vô h́nh của lục dục c̣n bám vào Chơn Thần nên Chơn Thần trọng trược không vào được Thượng Giới. 

            - C̣n khí thất t́nh giao cảm với khí Tiên Thiên Ngũ Thần[205], làm Chơn Thần ô trược nhưng dấu hiệu ô trược hiện ra ở Thần (Chơn Linh).

 

            Thất t́nh thường phát tiết hai trạng thái :

            - Phát tiết hài ḥa trở thanh tác nhân kích thích Ngũ Thần,

            - Phát tiết bất ḥa với khí Tiên Thiên nên trở thành trược khí làm Chơn Thần ô trược. Trong trường hợp này th́ giáo lư mới khuyên phải kềm chế thất t́nh.

 

Phát tiết hài ḥa

 

            Khi thất t́nh tiềm ẩn trong ngũ tạng chưa phát ra th́ gọi là Trung, phát ra đúng tiết điệu ḥa hài cảm ứng với nội tâm ngoại cảm th́ gọi là Ḥa.

 

            Trung Ḥa là đạt đến yếu tố trong định ngoài an. Vậy Trung Ḥa là cái tính tự nhiên của thất t́nh cũng như của Trời Đất và « Đạo của Trời Đất cũng bất ngoại hai chữ Trung Ḥa[206] ».

 

            Khi khí thất t́nh phát ra đúng tiết điệu ḥa hài cảm ứng với nội tâm ngoại cảm th́ trở thành tác nhân kích thích khí Ngũ Thần. Thí dụ nhận được một tin vui nhẹ nhàng làm phấn khởi tinh thần, tại sao? Là v́ khí Tiên Thiên Thức Thần trong tim được t́nh cảm vui kích động vừa đủ.

 

Phát tiết bất ḥa

 

            « Chơn Thần là chủ của thất t́nh » nên mọi tội lỗi gây ra bởi thất t́nh, Chơn Thần phải gánh chịu mà thành ô trược. Khí thất t́nh trở thành quỉ khi phát tiết thái quá trái với tính tự nhiên của Trời Đất. Quỉ thất t́nh làm Chơn Thần vọng động, che mờ Tâm mà gây ra oan trái và dấu hiệu ô trược hiện ra ở Thần như các thí dụ dưới đây.

            - Giận quá (nộ) th́ can khí bốc lên, mặt mày đỏ ké, chân tay run rẩy làm mờ Hồn trong can và Thần trong tim. Nộ giận là một tội ác trong tam độc (tham, sân, si ) và thập ác[207]. Hậu quả là giận quá hóa ngu (sân si) gây oan nghiệt, làm hại đường tu : Để cho lửa giận một phen bừng cháy th́ cũng đủ thiêu đốt Kim Đơn phải ră tan ra nước hết trơn  (TNHT, tr. 36). Đó là hiện tượng khí « Bất Hoà » làm ô trược Chơn Thần  và cản trở Ngũ Thần triều nguyên tức trở về hiệp nhứt với khí Tiên Thiên Chơn Thần sau khi qui tiên nên Thượng Đế phải « Khuyên một điều con khá giảm hờn ».

- Buồn (ai) thái quá làm phế khí co lại và giáng xuống, mặt xám, tay lạnh ngắt, hại đến Chơn Thần ở phế (Phách) làm khó thở, khiến cho Thần suy nhược, yếm thế;

- Vui (hỉ) thái quá làm tán khí tim, Thức Thần lay động Thần trong tim khiến người muốn hóa điên cuồng, miệng nói tay múa[208]; Hỉ nộ (mừng, giận) không chừng mực làm ngũ khí, tam huê[209] mau hao kém là vậy;