NGUYÊN LÝ VÀ CƠ CHẾ

HIỆN TƯỢNG THĂNG HOA

TINH KHÍ THẦN

&

TIẾN TRÌNH THĂNG HOA

GIỚI ĐỊNH HUỆ

 

(SỔ TAY TU LUYỆN)

 

Dã Trung Tử

 

 

             NỘI DUNG

             - Tiểu dẫn                                             

- Đại cương về Tinh, Khí, Thần và sự cấu tạo,

sinh hoạt của ba thể Phàm thân, Pháp thân và Linh thân.       

- Cơ chế thăng hoa Tinh Khí Thần.         

- Phương luyện Tinh hóa Khí.                 

- Luyện Khí hóa Thần.                              

- Luyện Thần hườn Hư.

- Luyện hư hườn vô.        

- Quy chế và cơ sở tịnh luyện trong cửa Đạo.

            - Chữ không trong đạo học.

            -Tiến trình thăng hoa Giới, Định, Huệ.                           

            - Bí quyết luyện thở không lớn bụng.                                           

- Thay lời kết.

            - Tư liệu tham khảo.         

 

 

  TIỂU-DẪN

 

Theo chơn-truyền của Cao-Đài giáo thì bí-pháp tu-luyện của các tôn-giáo ngày nay đã bị thế-gian làm sai-lạc, người tu chỉ lo luyện-tập để đạc được các phép thần-thông, mà lơ-là phần công-đức nên đã thất chơn-truyền. Vì để tránh sự tác-hại cho chúng-sanh, do đó thiên-đình đã đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh, Khí, nên đạo đã bị bế, vì vậy người tu nhiều mà không thể đắc thành quả-vị.

Trong buổi Tam-kỳ Phổ-độ này Đức Chí-Tôn đến khai-đạo đã cho Thần hiệp cùng Tinh Khí, để cho kẻ tu-hành đắc-đạo, điều nầy Thánh-giáo Đức Chí-tôn đã dạy rằng:

“Thần là khiếm-khuyết của cơ mầu-nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam-kỳ Phổ-độ nầy, duy Thầy cho Thần hiệp cùng Tinh khí, đặng đủ tam-bửu là cơ mầu-nhiệm siêu-phàm nhập Thánh ...

“Thầy đến đặng hườn nguyên Chơn Thần cho các con đắc Đạo”. (TNHT/ Q1/ tr.12).

Nguyên lý của hiện tượng thăng hoa hiệp nhứt Tinh Khí Thần là một quá-trình nội chuyển, diễn ra trong tự thể của ba phần: Thể-chất, tình-cảm và trí-huệ, với một cơ-chế rất tự-nhiên, cũng có thể nói là rất logic và khoa-học, không hề ẩn tàng một một mảy may pháp thuật ảo huyền. Nên chúng ta cần tìm hiểu sự cấu tạo và sinh hoạt của ba thể nầy, cùng thấu đáo nguyên lý và cơ chế của sự thăng hoa Tinh Khí Thần, trước khi bước vào quá trình tu luyện theo Pháp môn Đại đạo Tam kỳ Phổ độ để Tinh Khí Thần hòa hiệp. Vì Đức Hộ Pháp đã dạy rằng:

            “Ba thể phàm-thân (tinh) pháp-thân (khí) linh-thân (thần) tuy bản-chất của nó không thể nào đồng với nhau, nhưng con người phải luôn luôn giữ cho nó được hòa-hiệp thì mới mong đắc đạo”.

           

 

SỰ THIÊN LỆCH TRONG DỤNG CÔNG TU HÀNH HIỆN NAY

 

Trong dụng-công tu-hành ngày nay có nhiều trường phái chuyên đeo đuổi theo hình-tướng bên ngoài, hoặc sa-đà trong các tưởng-niệm từ bên trong, một cách phiến-diện; họ đã huyền-bí hoá các phương-pháp trên bằng cái gọi là phép công-phu chế linh-đơn, cấu-tạo và nuôi lớn thánh-thai, mà chẳng màng đến tam-lập (lập đức,lập công, lập ngôn).

Lại có nhiều môn phái truyền bá các phép tu luyện tiếp nhận từ cơ bút, họ cho rằng do Thánh Tiên truyền xuống, nhưng thật ra đây là do sự tự kỷ ám thị (định kiến sẵn có) của những đồng tử đã thuộc lòng những sách tu luyện do các đệ tử Thần Tiên viết ra từ nghìn xưa, nên chúng ta thấy nhiều phương tu luyện họ đã tiếp nhận giống hệt như trong sách “Tánh mạng khuê chỉ” hay “Tham đồng khế ” đã sẵn có, không sai một chữ !!! Đây là những phương tu của Nhị kỳ phổ độ đã thất chơn truyền, kết cuộc người tu làm theo, công phu thì có công phu, nhưng không thành chánh quả.

Còn các tài liệu hướng dẫn về Thiền hiện nay, thì lại đưa ra hàng trăm công án mù mịt, những bày vẻ đầy khó khăn phức tạp, những chuyện kể quái dị, những tình huống ly kỳ…Càng đọc càng rối !!! Rồi người tu tập chỉ lo ép xác, hảm mình, tâm trí chìm lĩm trong hôn trầm… Họ tìm cách hủy diệt tri thức, với mục tiêu là tìm đến cái tâm bất động…Nhưng chúng ta không thể tin được là con người phải hủy diệt tri thức thì mới chứng ngộ, vì hủy diệt tri thức chỉ đẩy con người đến trạng thái trì độn, thì chắc chắn không phải là Thiền rồi!!! Nên Đức Thích Ca đã giáng cơ than rằng:

“Lắm kẻ đã chịu khổ hành đạo… Ôi ! Thương thay công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy Ta rất đau lòng…”. Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp đặng gặp Tam kỳ Phổ độ nầy là lần chót, phải ráng sức tu hành đừng mơ mộng hoài trong giả luật…(Thánh giáo của Đức Thích Ca ngày 5 tháng 4 Bính dần / 5-61926).

Còn có nhiều trường-phái cũng đã thâu nhận đệ-tử, họ cũng dạy  luyện Tinh Khí Thần, nhập-định xuất hồn, khai mở luân-xa... Thậm-chí có nhiều Thầy có phép mở luân-xa cho đệ-tử từ xa (qua không gian) mà chẳng cần quan-tâm đến công-đức cùng mức-độ thanh-khiết trong chơn-thần của đệ-tử ra sao. Đây là một điều khá tai-hại cho những ai cả tin và nôn-nả muốn mau đạt được phép thần-thông. Một Chơn-sư đã dạy rằng :

“Con đừng ham những phép thần thông, con sẽ có khi Chơn-sư xét đã đúng ngày giờ, hễ cưởng-bách luyện-tập mở mấy phép đó, thì thường mang đủ thứ phiền-não. Người nào có những phép ấy thì thường hằng bị bọn tà quái gạt gẫm, hay là trổ tránh khoe khoang và tưởng rằng mình không lầm lạc. Dầu thế nào, ngày giờ và sức lực tổn phí để luyện mấy phép đó, nên để giúp đời còn hơn. Trong khi con mở mang các tánh tốt thì tự nhiên con sẽ có các phép ấy. Bề nào cũng có, nếu Chơn sư thấy các phép ấy hữu ích cho con sớm một chút, thì Ngài sẽ chỉ cách cho con luyện tập khỏi sợ bị hại chi hết. Từ đây tới đó, tốt hơn là con đừng có mấy phép ấy” (Theo Dưới Chân Thầy của Krishnamurti).

Cũng đã có một số người lại chuyên luyện theo các môn như lần tràng hạt, tịnh khẩu, tuyệt cốc, ngồi sững không nằm… Trong dinh dưỡng thì không ăn cơm mà ăn rau, ăn chuối, ăn ngọ…Lại có người chuyên gỏ mõ tụng kinh… Những sự kiện nầy cũng hiện hữu cả trong cửa Đạo Cao Đài, Đức Phạm Hộ Pháp đã kể rằng:

“Nào kẻ đi theo ông Ngọc Lịch Nguyệt học trì thoàn (thiền), niệm chuổi từ bi, ngồi lần hột lim dim ngủ gục. Nào người theo làm học trò ông Giác Hải (Hòa Thượng Thích Như Nhãn) đánh mõ chuông tụng mãi Di Đà…” (Trích Diễn văn Đức Hộ Pháp đọc tại Tòa Thánh Tây ninh ngày 15 tháng tám Quý dậu /1933).

Đối với sự kiện nầy, Ngài Tế Điên Hòa Thượng đã nói rằng:

“Dù tụng hết bộ Di đà, niệm suốt bài chú Đại bi, thì cũng trồng dưa lại được dưa, trỉa đậu lại được đậu, Kinh Chú vốn từ bi, nhưng không cứu giải được oan trái đã cấu kết” (Khán tận Di Đà Kinh, niệm triệt Đại Bi Chú, chủng qua hoàn đắc qua, chủng đậu hoàn đắc đậu, Kinh Chú bổn từ bi, oan kết như hà cứu / Minh tâm Bửu giám).

            Thật ra lần tràng hạt hay trì tụng kinh chú, chỉ là một khâu trong giây chuyền tu luyện để quản chế tính lao chao bất định của tâm trí (tâm viên, ý mã) mà thôi. Còn cả một giây chuyền tu luyện, theo lời dạy của Đức Pham Hộ Pháp thì:

- Thân thể cho mạnh khỏe tinh vi đừng để sa đà vào lục dục, thì thuận tùng cùng trí lự khôn ngoan.

- Khí lực cho cường thịnh thanh bai đừng để đến nỗi mê muội bởi thất tình, thì trí lự khôn ngoan thuận theo linh tâm mà nẩy nở.

- Linh tâm phải định tỉnh từ hoà đừng để đến nỗi mờ ám bởi tội tình thì thuận với lòng Trời, hiển linh tại thế, đặng đoạt phép huyền-vi. (Trích bài diễn văn Đức Phạm Hộ Pháp, ngày 7 tháng 10 Mậu dần (28-11-1938) đăng trong Pháp chánh truyền chú giải / Ấn bản 1955). 

 

              Đạo lý bao la, lưu tán vô cùng… Nhưng nếu người đệ tử có đầy đủ công đức, tức là đã hội đủ thiện duyên, thì chỉ cần lắng nghe được một “câu kinh vô tự” của vị “Sư hư vô” cũng khỏi phải tốn phí thì giờ lặn lội trong bể học mênh mông, lạc lối trong rừng thiền bát ngát.

Đó là lý do giới thiệu sưu tập nầy, xem như một cuốn sổ tay tu luyện, để chư đồng đạo tham khảo, với ước mong giúp ích được phần nào trong bước đường tu học.

 

 

ĐẠI CƯƠNG VỀ BA THỂ 

TINH KHÍ THẦN

    

Con người được Đức Chí-Tôn và Phật-Mẫu tạo-dựng theo hình-ảnh và khuôn-linh của Ngài, đó là đức-tin tối-thượng trong giáo-lý Cao-Đài. Nhưng con người muốn biểu-lộ được thiên-tánh của mình để phát-triển và tiến-hóa, cần phải nương vào các hạ-thể như xác-thân, tình-cảm và trí-tuệ, để làm phương-tiện. Ngôn ngữ của Cao Đài giáo gọi ba thể nầy là Tinh Khí Thần.

 Các hạ-thể ấy lại có cá tính riêng biệt và sự sống tự-nhiên của nó, thành-thử trong con người có cái sinh-hoạt vô-cùng phức-tạp. Khi thì lương-tâm biểu-lộ, khi thì lý-trí vọng-động, khi thì tình-cảm bức-xúc, khi thì xác-thân đòi-hỏi... Có thể nói một cuộc sống thường-tình, không có sự chỉ-huy của thiên-tánh thì nó rất lộn-xộn, thiếu kỷ-luật trật-tự, giống như một bải chiến-trường đương diễn ra trong bản-thân mỗi người.

Nhận xét một cách chính-xác thì hầu hết người đời đều ở trong tình-huống như vậy. Chỉ có những người đã giác-ngộ ít nhiều, chủ-tâm sống với Thiên-tánh của mình, để lương-tâm làm chủ-tể, thì mới chỉ-huy được các hạ-thể và khuất-phục được nó. Người nào làm được là kẻ chiến-thắng, là bậc đắc-đạo giải-thoát, còn người nào thiếu tự-cường buông xuôi, để các hạ thể sai khiến, thì sẽ sa-đọa, phải sống một cuộc đời đau khổ.

Tất cả sự vận-hành và chuyển-biến, xảy ra trong bản-thân con người rất phức-tạp, không ai giống ai, mỗi người là một tiểu vũ trụ riêng biệt. Nên muốn có một nhân-sinh-quan đúng-đắn, thì mỗi người cần phải tìm hiểu để phân-biệt rõ bản-chất của xác-thân, tình-cảm và tư-tưởng, cùng những nguyên-tắc căn-bản của sự cấu-tạo và chuyển biến trong con người, thì mới làm chủ và chiến-thắng được các hạ thể đó.

Cơ-cấu tâm-lý và sinh-lý của con người đã được các tôn-giáo cũng như các triết-gia tuỳ theo trường phái và tín-ngưỡng mà có sự nhận-định và phân chia khác nhau. Nhưng theo Cao-Đài giáo thì con người lấy mắt phàm mà quan-sát tuy thân-xác chỉ là một, nhưng nó là một tổng-thể gồm ba phần lồng vào nhau đó là: Tinh, Khí, Thần. Theo Đức Phạm Hộ-Pháp còn cho biết toàn-thể con người được phân chia ra như sau:

- Phàm-thân là thân phàm xác thịt có hình thể gọi là Tinh.

- Pháp-thân là đệ nhị xác-thân là chơn thần còn gọi là vía  thuộc khí chất có thể ẩn hiện giống y hệt như xác thân là Khí.

- Linh-thân là linh-hồn vô hình là Thần.

Tóm lại Thể-xác và tâm-linh con người được cấu-tạo bởi ba phần đó là Phàm-thân, Pháp-thân và Linh-thân, gọi là Tinh, Khí, Thần tức là Tam bửu. Ba món báu này tương-liên với nhau, mỗi món có thể-pháp riêng, hội đủ ba món ấy làm thành hình-ảnh con người vẹn toàn.

 

  

CẤU TẠO VÀ SINH HOẠT CỦA TINH KHÍ THẦN

 

Ba thể Phàm thân (Tinh), Pháp thân (Khí), Linh thân (Thần), đều có bản-chất cấu tạo, chức-năng và sinh-hoạt khác nhau, chúng cũng có những nhu-cầu đòi hỏi khác nhau. Chúng ta có thể phân-tách đại thể như sau:

- Sự cấu tạo và sinh hoạt của Phàm thân (Tinh)

Phàm-thân đó là Tinh: tức là xác thân con người hữu hình, do cha mẹ sinh ra, mang tính-chất một sinh-vật, nên từ sinh-hoạt đến nhu-cầu sinh lý có bản-năng thú-tính. Phần thân-thể hữu-hình nầy cấu-tạo bằng vật-chất, nói theo Phật giáo là do tứ đại: đất, nước, gió, lửa giả hợp, nói theo Lão giáo thì do ngũ-hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ hình-thành.

Trong Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy về giới tửu, đã đề cập về sự cấu tạo nên phàm thân như sau:

“Thầy đã dạy rằng: thân thể con người là một khối sanh linh cấu kết lại, những sanh linh ấy đều là hằng sống, phải hiểu rằng ngũ tạng lục phủ cũng là khối sanh vật mà thành ra, nhưng mà phận sự chúng nó làm, hiểu biết hay là không hiểu biết đều do nơi lịnh Thầy mà phán dạy.

Hình chất con người vẫn là thú, phải ăn uống mới sống…” (Thánh giáo ngày 18-01-1927 /15-12 Bính dần / TNHT/Q1).

Nói chung sinh hoạt của phàm thân tuy chịu sự điều khiển của Pháp thân và linh thân (tư tưởng, tình cảm và trí tuệ), nhưng cũng có những sinh hoạt riêng của nó. Có nhiều sự hoạt-động vận-chuyển bên trong xác-thân không cần đến sự sai khiến của linh-hồn, đôi khi nó còn bộc-lộ ở bản-năng tự-lập, tách-biệt với linh-hồn, theo khoa-học thực-nghiệm thì nó chịu ảnh-hưởng của hệ thần-kinh thực-vật, tức là thần-kinh ngoại ý, nó chi-phối phần lớn sự sinh-hoạt cuả thân-xác, như sự tuần-hoàn của huyết-dịch, sự chuyển-hoá hấp-thu, cùng vận hành biệt lập của lục phủ ngũ tạng…

Xác-thân còn có vô số những bí-ẩn mà ngay giới khoa-học thực-nghiệm cũng chưa giải-thích rõ-ràng được, như nó tự phát-triển tầm-vóc đúng kích-thước tuần-tự theo thời-gian, đến khi phát-triển đầy-đủ thì nó tự-động dừng lại, khi cơ-thể bị bệnh viêm-nhiễm thì nó tự-động điều-động đạo binh bạch huyết-cầu để chống cự. Khi nó bị thương thì nó huy-động tế-bào vùng đó tự phát-triển để hàn gắn, khi vết thương lành thì nó ngưng phát triển...

 Nếu thân xác được nuôi-dưỡng rèn-luyện có được thể-lực tốt, nó cũng tự-động thăng-hoa thành ra khí-lực và khí-lực cũng biến thành thần-lực.

Toàn thể xác-thân này theo chơn-truyền Cao-Đài giáo gọi là “Tinh” dùng sinh-hoạt ở cỏi phàm trần, do đất cấu tạo khi chết sẽ trở về với đất, nên có câu:

        “Nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ”.

        “Linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên”.

 

     - Sự cấu tạo và sinh hoạt của Pháp thân (Khí)

Pháp-thân là đệ nhị xác-thân, đó là trí-nảo tư-tưởng, tình-cảm con người, do Phật Mẫu tạo dựng, Đệ nhị xác-thân còn gọi là chơn-thần thuộc khí-chất, bán hữu-hình, vì nó có thể ẩn-hiện còn gọi là cái Vía. Đức Chí Tôn dạy về đệ nhị xác thân như sau:

“Chơn thần là gì ? Là nhị xác thân (périspit) là xác thân thiêng liêng, Khi còn nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm níu kéo. Cái Chơn thần ấy của các Thánh Tiên Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du thiên ngoại, cái chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy”. (Thánh giáo ngày 3-01-1926 / 19-11 Ất sửu / TNHT/Q1).

Theo lời chỉ giáo của Đức Phạm Hộ Pháp thì Chơn-tướng của Pháp-thân là cái “Trí”, Trí là nơi biểu-lộ tư-tưởng, và cái “Tánh” là hình thể thứ nhì của Pháp thân, nơi biểu lộ tình cảm, đây cũng là một khối sinh-lực tạo nên sự linh-động của thân-xác. Tính nó lao chao bất định, như vượn chuyền cây, nên người tu phải thường xuyên quản chế nó bằng cách công phu nhiều pháp môn như thiền quán, lần tràng hạt…, để buộc nó tập trung định trí vào một chủ đề.

Theo duy thức học Phật giáo gọi Tánh là Đạt ma thức là nơi thể-hiện và lưu giữ tình cảm, tạo thành những cá tính cho kiếp lai sinh. Khi nó khuynh-hướng theo xác-thịt thì tư-tưởng tình-cảm thấp kém, sinh-hoạt theo bản-năng tự-nhiên của giác-tánh thô-thiển như sinh-vật, khi huynh-hướng theo Thiên-tánh tức là Thần, thì cho con người có tư-tưởng tình-cảm cao-thượng, trí-tuệ sáng-suốt. Nên nhà Phật cho rằng “công vi thủ, tội vi khôi” (Công cũng đứng đầu mà tội cũng bậc nhất). Pháp-thân dùng sinh-hoạt với xác-thân trong cỏi phàm-trần và sinh-hoạt với linh-hồn ở cỏi trung và thượng giới. Cao-Đài giáo gọi là “Khí”.

- Sự cấu tạo và sinh hoạt của Linh thân (Thần)

Linh-thân gọi là Thần, là phần linh hồn, tính chất rất linh thông thánh thiện, đóng vai trò chỉ huy giữ gìn mạng sống của con người, “Thần” hay là Linh-hồn các tôn-giáo còn gọi là Thiên-tánh, Lương-tâm, Phật-tánh, Chơn-tâm, Duy thức học Phật giáo gọi là A lại gia thức.

   Theo chơn-truyền của Cao-Đài giáo thì Linh-thân là điểm linh-quang của Trời ban cho để giữ gìn mạng sống, là nơi lưu giữ những sinh hoạt, tri thức học hỏi được ở cỏi trần, và ghi chép công tội của kiếp đương sinh để lưu truyền làm nhân quả cho những kiếp lai sinh.

   Khi thoát xác nó có thể sinh-hoạt với Pháp thân (vía) ở cỏi Phàm trần, Trung giới và Thượng-giới. Theo lời dạy của Đức Phạm Hộ Pháp thì Tâm là chơn-tướng của Linh-thân, hình-thể thứ nhất của linh-hồn, khi con người chết linh-hồn sẽ trở về Trời.

Theo giáo-lý của Cao-Đài thì mục đích con người đến thế-gian là học-hỏi để tiến hóa, tức là tu-luyện để ba phần Tinh, Khí, Thần được thăng-hoa hầu trở về hiệp nhứt với Thượng Đế. Nên mở đầu Kinh Gải oan có câu:

     “Vòng xoay chuyển linh hồn tấn hóa,

       Nương xác thân hiệp ngã Càn Khôn”                        

 Người tín-đồ Cao-đài không những nhập-môn cầu Đạo tu-học để tiến-hoá, mà còn nguyện hiến dâng ba phần Tinh, Khí, Thần, để Chí-Tôn làm phương-tiện cứu-độ chúng-sanh nữa. Nên trong nghi-lễ của Cao-Đài giáo dùng ba món gọi là Tam bửu là Hoa, Rượu và Trà tượng trưng cho Tinh, Khí, Thần làm của lễ, và khi dâng tam bửu người tín đồ nguyện rằng:

“Cả Xác thân, Trí não và Linh hồn con do Thầy Mẹ đào tạo, con xin hiến dâng Thầy Mẹ dùng phương nào thì dùng”.(Lời giáo huấn của Đức Phạm Hộ Pháp).

Thể-pháp tam-bửu là như vậy, còn ở người tu-luyện đạt được bí-pháp làm cho ba món ấy thăng-hoa hiệp nhất là đắc Đạo. Thánh giáo của Đức Chí-Tôn đã dạy về sự tương-quan giữa Tinh Khí Thần của con người đắc đạo như sau:

“Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ dưới thế này đều có hai xác thân, một phàm gọi là corprel. Còn một thiêng-liêng gọi là spirituel. Mà cái thiêng-liêng do cái phàm mà ra, nên gọi nó là bán hữu hình, vì nó có thể thấy đặng mà cũng không thấy đặng. Cái xác vô-hình huyền-diệu thiêng-liêng ấy do nơi Tinh, Khí, Thần mà luyện thành. Nó nhẹ-nhàng hơn không-khí. Nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình-ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh Khí, không có Thần thì không thể nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần không có Tinh, Khí thì khó hườn đặng nhị xác thân.

Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng. Nó vẫn là khí-chất, tức là hiệp với khí Tiên-thiên, mà trong khí Tiên-thiên thì hằng có điển-quang. Cái chơn-thần buộc phải tinh-tấn, trong sạch mới nhẹ hơn không-khí, ra khỏi càn khôn đặng. Nó phải có bổn-nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật thì mới xuất Thánh Tiên Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh-khiết mới xuất chơn-thần tinh-khiết. Nếu như các con còn ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn-chứng thì làm sao giải-tán cho đặng ? Như rủi bị hườn, thì đến khi đắc Đạo, cái trược-khí vẫn còn, mà trược-khí là vật-chất tiếp điển (bon conducteur d' élec-tricite) thì chưa ra khỏi lằn không-khí đã bị sét đánh tiêu-diệt. Còn như biết khôn thì ẩn-núp tại thế làm một bậc “Nhân-tiên”, thì kiếp đoạ-trần cũng còn chưa mãn.

Vì vậy Thầy buộc các con trường trai mới đặng luyện Đạo (TNHT / Q1 / tr.30)

Đó là tất-cả sự cấu-tạo vận-hành và sinh-hoạt chuyển-hóa xảy ra trong bản-thân một con người có sự sống hoàn-hảo theo nhân-sinh-quan của Cao-đài-giáo, tức là có đầy đủ Tinh, Khí, Thần. Sự cấu-tạo vận-hành nầy không những chỉ trong một kiếp sanh ngắn-ngủi, mà suốt trong nhiều cuộc đời, cho đến khi công-viên quả-mãn. Còn về phương-thức chuyển-hóa để làm cho ba phần Tinh Khí Thần nầy hợp nhất để đắc Đạo, trở về với Thượng-Đế còn đòi-hỏi phần công-đức, vì Đức Chí-Tôn đã dạy rằng:

“Đạo vẫn như-nhiên, do công-đức mà đặng đắc đạo cùng chẳng đặng ”. (TNHT/Q1/tr.38:10).

Phần nầy chúng ta cần tham-khảo ở các tài-liệu về đạo-lý thực-hành được đề-cập đến trong các chuyên-mục kế tiếp.

Tóm lại đời sống thân-xác thuộc vật-chất tuy chỉ ngắn ngủi chừng ba vạn sáu ngàn ngày (trong vòng 100 năm), nhưng chơn-thần (đệ nhị xác thân) và chơn-linh (linh-hồn) thì trường-tồn. Sự trường-tồn theo học-thuyết nầy, ngày nay cũng đã được khoa-học chứng-minh, bằng định-luật bảo-tồn năng-lượng.

Ngày nay đối-chiếu với khoa-học, cho ta thấy rằng toàn-bộ con người là một khối năng-lượng sinh-học, dưới nhiều dạng khác nhau: sức nóng, điện, năng-lượng trong thân-xác (vật-chất), còn gọi là “năng-lượng vật-thể” và năng-lượng trong trí-tuệ và tình-cảm (tinh-thần), còn gọi là “năng-lượng phi vật-thể”, tất-cả năng-lượng đó luôn luôn được tồn-tại. Ngày nay được chứng-minh bằng định-luật bảo-toàn năng-lượng của Lavoisier, theo định-luật nầy thì trong quá-trình chuyển-hoá, năng-lượng không bị mất đi, mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, hoặc truyền từ vật nầy sang vật khác. Tất-cả đều tồn tại hiện hữu (định-luật nầy rất chính-xác đối với nguyên-tử).

Như vậy sau cái chết các hình-thức năng-lượng nầy sẽ đi đâu ? Năng-lượng vật-thể được cấu-tạo trong các nguyên-tử sẽ không bị mất đi. Thân-thể tan rả, những nguyên-tử của nó hợp lại thành những dạng cấu-tạo mới. Sức nóng của cơ-thể cũng không thể bị mất. Trong khi lò sưởi từ từ nguội dần, thì không-khí chung-quanh thâu nhận sức nóng toả ra. Khi cơ-thể một người hấp-hối bắt đầu lạnh, thì nhiệt-độ không-khí chung-quanh tăng lên một phần nhỏ mà ta không thể đo được. Điện-lực từ cơ-thể xuất ra trở về với khối điện-lực của thiên-nhiên.

Vậy khi một người chết thì năng-lượng tinh-thần, ý-chí, khả-năng suy-nghĩ và cảm-giác đi đâu ? Tất-nhiên năng-lượng phi vật-thể nầy cũng sẽ tồn-tại sau cái chết, theo định-luật Lavoisier nó vẫn được bảo-tồn, mà trở về với cỏi vĩnh-hằng và tồn-tại ở đó, Cao-Đài giáo gọi nơi nầy là cỏi Thiêng-liêng hằng sống, vì đời sống con người tắt đi, tỷ như hơi nước bốc vào không-khí nhưng hơi nước trong không-khí vẫn còn, chứ không tan biến, cũng giống như vậy, đời người có thể đi qua, nhưng nó cũng sẽ luôn-luôn tồn-tại và sinh-hoạt ở một nơi tương-ứng.

Theo chơn-truyền của Cao-Đài giáo thì khi con người chết, tuy biến khỏi tầm mắt của ta, nhưng không có nghĩa là người đó không còn hiện-hữu, họ còn có thể phản-phất ngay tại cỏi trần nầy hoặc ở cỏi trung-giới, hay họ tiêu-dao nơi cảnh Thiêng-liêng hằng sống là cỏi thượng-giới (nhà Phật gọi đó là cỏi Niết-bàn), hoặc đầu-kiếp tái-sinh trở lại phàm-trần, điều này còn tuỳ theo kết-quả tu-hành của họ. Như vậy đời sống con người vẫn được trải dài và tồn-tại đến vô tận.

Ngày nay giới khoa học xã hội cũng thừa nhận rằng con người ngoài thể xác có sanh có diệt, còn có linh hồn là siêu thực thể vẫn trường tồn. Bằng chứng là nhiều tử sĩ chết trong chiến tranh, thi thể thất lạc trên chiến trường, chính các vong hồn nầy đã nhập xác các nhà ngoại cảm, nói lên những điều mong muốn của họ, và chỉ chỗ hài cốt của họ bị thất lạc, nhờ vậy mà hàng nghìn ngôi mộ tử sĩ đã tìm thấy và được thân nhân họ đã tiếp nhận qua phương thức nầy (Theo báo cáo cáo của các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người / Bộ môn Cận Tâm lý, và thuyết trình của các nhà Ngoại cảm chuyên tìm hài cốt, họp tại Hà nội năm 2006).

Ba phần Tinh (Phàm-thân) Khí (Pháp-thân), Thần (Linh-thân) làm thành một con người toàn-diện có hoạt-động có tri-thức. Ở cỏi trần mà ba phần này chỉ thiếu một thì không thành con người hoàn-hảo, còn ngôn-ngữ của nhân-gian thì gọi ba phần nầy là Hình-thể, Tình-Cảm và Trí-tuệ. Ba thành phần này kết-hợp thành sự sống của con người.

 

  

 

CƠ CHẾ THĂNG HOA

TINH, KHÍ, THẦN.

 

                          Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiểng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng (Science without religion is lame. Religion without science is blind)

                                        Albert Einstein

 

Hiện-tượng thăng-hoa Tinh Khí Thần là một quá-trình nội chuyển, nó diễn ra trong tự thể của ba phần: Thể-chất, tình-cảm và trí-tuệ, của bất cứ người nào, với một cơ-chế rất tự-nhiên, cũng có thể nói là rất logic và khoa-học, không hề ẩn-tàng, một mảy-may pháp-thuật ảo-huyền, hay dị đoan mê tín. Nên Đức Phạm Hộ Pháp đã nói rằng:

             “Cái nền chơn-giáo của Chí-Tôn là đường-đường ngay chánh không hề mê-hoặc ai cả thảy... Những phương-pháp mê-hoặc của thiên-hạ về đạo-lý sẽ bị chơn-truyền của Chí-tôn từ từ tiêu diệt hết... (Thuyết đạo ngày 19 / 04 / Tân Mão).

Nên chúng ta cần tìm hiểu hiện-tượng thăng-hoa Tinh Khí Thần và quá-trình nội chuyển của nó qua các  tiết mục sau đây:

Đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu về sự cấu tạo ba thể của con người. Con người là một tổng thể gồm có ba phần :

- Một xác thân phàm tục là thân thể, đó là một khối thể đặc và lỏng gồm thịt, xương, da, lông, tóc, máu huyết gọi là Tinh.

- Một xác thân Thiêng-Liêng là chơn-thần, đó là một khối sinh lực làm chân tay biết cử động, đi dứng nói năng được gọi là Khí.

- Một sự sống linh hiển là chơn-linh, đó là một sự sáng suốt linh thông biết sáng-tạo, cải biến môi-trường để gìn giữ mạng sống gọi là Thần.

Ấy vậy xác thân là Tinh, sinh lực là Khí, linh tâm là Thần. Nói rõ ra, sanh-lực là một khối điển lực tạo ra sự sinh hoạt của thân thể, làm cho cơ thể con người sống, còn là nơi biểu hiện của tư tưởng, tình cảm cùng trí lự khôn ngoan. Linh tâm là Thần là gốc vô hình ảnh, biểu hiện sự linh thông thánh thiện, có thể diễn tả một cách cụ thể như sau :

- Tinh là thân thể.

- Khí là điển lực là cơ-năng của sự sống.

- Thần là linh hồn.

Ba món báu ấy hoà hợp cùng nhau thì thuận với lý thiên-nhiên, sự phát triển của con người được điều-hoà về ba phương-diện thể chất, tình-cảm, trí-tuệ.

Mục đích của người tu hành là làm cho ba món báu ấy hòa hiệp cùng nhau. Thuật rèn luyện cho tinh khí thần hiệp nhất Đức Phạm Hộ Pháp đã tóm tắc như sau:

- Thân thể cho mạnh khỏe tinh vi đừng để sa đà vào lục dục, thì thuận tùng cùng trí lự khôn ngoan.

- Khí lực cho cường thịnh thanh bai đừng để đến nỗi mê muội bởi thất tình, thì trí lự khôn ngoan thuận theo linh tâm mà nẩy nở.

- Linh tâm phải định tỉnh từ hoà đừng để đến nỗi  mờ ám bởi tội tình thì thuận với lòng Trời, hiển linh tại thế, đặng đoạt phép huyền-vi. (Trích bài diễn văn Đức Phạm Hộ Pháp, ngày 7 tháng 10 Mậu dần (28-11-1938) đăng trong Pháp chánh truyền chú giải / Ấn bản 1955). 

Cơ chế của sự chuyển hóa Tinh Khí Thần đại để như sau:

Thức ăn vào tỳ vị biến thành khí huyết, khí huyết luân-chuyển điều-hoà làm cho trí-não hoạt-động sáng-suốt, con người trở nên khôn-ngoan lanh-lợi, đó là chuyện thường tình của kiếp người. Nhưng rèn luyện cho khí-thể tinh-anh, ngũ-quan cảm-ứng đựợc với những làn sóng rung-động của thế-giới thần-thánh thanh-cao là bước đầu chuyển-hoá thần-trí thuận theo linh-tâm mà nẩy nở. Đây là giai-đoạn rất khó-khăn, vì vấn-đề điển-quang trong không gian và trong nội-thân con người rất phức-tạp, trừu-tượng, tế-vi, mầu-nhiệm, Nhưng khi khí thể của ngũ quan thanh khiết thì người tu sẽ đạt kết quả như sau:

        Ngũ khí thanh diệt trừ quả kiếp,

        Linh quang đầy đặng tiếp hồng ân.

        Xác tại thế đã nên thần,

        Ba mươi sáu cõi đặng gần linh thiên.

                               (Nữ trung tùng phận).

Đó là nguyên-lý của hiện-tượng thăng hoa Tinh hóa Khí, Khí hoá Thần, sau đây là những chi tiết liên quan đến cơ chế chuyển hóa nêu trên.

 

 

 

PHƯƠNG LUYỆN TINH HÓA KHÍ

 

          Lời Đức Phạm Hộ Pháp:

 

                            Thân thể cho mạnh khỏe tinh vi đừng để sa đà vào lục dục thì thuận tùng cùng trí lự khôn ngoan.

 

Phương luyện Tinh hóa Khí, nói rõ ra là  thân thể con người phải ăn uống hít thở khí Trời, vận động, đặng thu nhập sinh-lực từ môi trường sống tạo thành khí lực của mình, ấy là một khối năng lượng luân-chuyển hoá sanh, có thu nhập và đào thải một cách tự nhiên trong nội thân, nên con người phải biết gìn giữ khối năng-lượng ấy, đừng để tiêu hao một cách thái-quá, vì lối sống sa đọa của thân xác, đắm đuối trong lục dục, thì thân xác mới khỏe mạnh được.

 Hình thể con người có lớn mạnh thì khí lực mới cường thạnh, như lực của một em bé sơ sinh chỉ nâng nổi một bình sữa đưa lên miệng, nhưng khi nó trưởng thành, lực của một thanh niên có thể khuân nổi một tản đá. Thân là Tinh, nếu thân bệnh hoạn tật nguyền, thì lực là khí phải giảm suy yếu đuối. Thân cho vẹn toàn, đầy đủ hình chất, trong ngoài to lớn, thì khí sẽ cường thạnh.

Vậy Tinh là nền tảng của Khí phát-triển, ấy là phép biến hoá tự nhiên trong nội thân con người. Tùng theo khuôn luật tự-nhiên nầy của Đấng Hoá-Công đã an bài, người tu biết gia công gìn giữ khối tinh lực của mình bằng phương-pháp dưỡng-sinh đặc-biệt, gọi là khắc kỷ tu thân, hay tu tâm dưỡng tánh, thiền, tịnh, luyện đạo, tuy khác nhau ở danh gọi và hình thức sinh-hoạt, nhưng có cùng một tác động là làm sao Tinh hoá Khí.

Giai đoạn luyện Tinh hoá Khí là một tiến trình thăng-hoa tự nhiên trong biến dưỡng nguồn năng-lượng của thức ăn, nước uống và khí Trời, do cơ-thể thu-nhập được từ môi-trường sống. Nguồn năng-lượng ấy luân-chuyển điều-hoà trong nội thân sẽ tạo cho con người một sức khoẻ tốt, khí-lực được cường-thạnh. Gìn giữ giới-luật dù theo pháp-môn nào đi nữa, cũng có cùng tác dụng làm giảm thiểu tối đa cách tiêu hao sinh lực của mình vào những chuyện không cần thiết, những cơn loạn động thất tình lục dục, đưa đến tình trạng mất sinh-lực một cách hoang-phí, làm mờ ám lương tri lương năng con người, là việc tối kỵ của người tu, khi đã tự đặt mình trong nguyên tắc sống tăng thu nhập, giảm thiểu tiêu hao sinh-lực, thì phần tồn-đọng sinh-lực sẽ vượng lên. Nên nhân gian mới có câu:

            “Một linh hồn minh-mẫn chỉ có được trong một thân thể tráng kiện”.

 

 

   

LUYỆN KHÍ HÓA THẦN

 

          Lời Đức Phạm Hộ Pháp:

 

                     Khí lực cho cường thịnh thanh bai đừng để đến nỗi mê muội bởi thất tình thì trí lự khôn ngoan thuận theo linh tâm mà nẩy nở.

 

Luyện Khí hóa Thần là giai đoạn luyện tánh cho thuần đạo-đức hiền lương, chế ngự các tình cảm thấp kém, nuôi dưỡng các tình-cảm cao-thượng thì sẽ làm cho khí thanh. Khi cơ thể được nuôi dưỡng bằng khối thanh khí luân-chuyển điều-hoà, thì ngũ quan con người sẽ sống theo thiên-lý, thần-trí được an-tịnh sáng-suốt.

Như vậy người tu chẳng những gìn giữ khối sinh lực cho cường-thịnh, mà phải biết làm thay đổi tính-chất của nó trở nên thanh-bai, nghĩa là điều-chỉnh tầng số rung động của điển lực con người theo chiều hướng chế ngự các rung động của khí ai, nộ, ố, dục, và kích thích các rung động của khí ái, hỷ, lạc. Nếu để cho khối điển lực rung động nhiều và thường xuyên theo nhóm ai, nộ, ố, dục, thì khí bị ô trượt, còn nếu người tu luôn hướng sự rung động nhiều thường xuyên theo nhóm ái, hỷ, lạc, thì khí sẽ thanh. Biểu hiện của khí thanh là đời sống tình-cảm vị tha cao thượng .

Việc đìều chỉnh tầng-số rung động của điển lực con người rất khó, vì nó còn liên-hệ trực tiếp đến nghiệp-quả tiền-khiên. Khi đầu kiếp để chọn một hình-hài, mỗi linh hồn phải mang theo khối nghiệp-chướng tiền-kiếp của mình như một bản án gọi là định mệnh, luật công bình Thiêng-liêng buộc chơn-linh phải lựa chọn nơi đầu kiếp, và chịu tác-động theo sự an bài của luật nhân-quả, để có chơn-thần hay là khí-thể của bào-thai được cấu-tạo từ căn-bản có những ưu, khuyết-điểm, sẽ hiện lên sau này thành những đặc tính bẩm-sinh của đứa bé hoặc tốt, hoặc xấu về cả ba phương-diện hình-hài nhục-thể, tình-cảm và trí-tuệ.

Nên nếu từ nhỏ được cha mẹ uốn nắn theo khuôn viên đạo đức, lớn lên biết cố gắng tu học rèn luyện biết chế ngự những rung động xấu, thì khí sẽ thanh bai và sẽ có được một đời sống tình cảm vị tha, an vui tự tại. Còn nếu buông thả theo dục tính tạo thêm nghiệp chướng thì sẽ gặt hái một sự tệ hại hơn đó là sự đau khổ cho cả kiếp nầy lẫn nhiều kiếp lai sinh.

Phép luyện khí cho cường-thạnh thanh-bai của kẻ tu hành, dù công-phu dưới hình-thức nào đi nữa, thì cũng chữa bệnh ở ngọn, nó sẽ có kết quả tốt, khi nào cái gốc của vấn-đề là tiền-khiên nghiệp-chướng đã được đền-bồi trang-trải xong. Vì vậy khi lập Tam-Kỳ Phổ-Độ Đức Chí-Tôn đã phán định tối hậu rằng :

“ Do công đức mà đặng đắc Đạo, cùng chẳng đặng”.

Bởi vì công-đức biểu-hiện cho điều thiện, và chỉ có thiện mới trừ được ác, ác-nghiệp còn mang trong chơn-thần nếu chưa được giải trừ dù cố công luyện Đạo, tham-thiền đến đâu, cũng sẽ dẫn đến tình-trạng đốn củi ba năm, đốt một giờ, hoặc là sống trong trạng-thái ảo-giác tâm-linh mà ngở là cỏi chơn-thật.

Tóm lại tìm phương pháp công-phu tịnh luyện không khó, mà khó chăng là ở chỗ công-đức của mình tạo được bao nhiêu, để xây dựng một nền tảng vững chắc cho đời tu đến nơi đến chốn.

Cái gốc của vấn đề là phải tỉnh thức nhìn vào chính mình để nhìn thấy lương tâm và thiện tánh, vốn là “Bổn lai diện mục” sẵn có trong mỗi người. Sự liên-quan giữa Tâm và Tánh, Đạo Nho nói rằng: “Tánh tự Tâm sanh”. Nên tâm mình như thế nào xuất tánh ra cũng như thế ấy, do đó nếu chơn-linh tấn-bộ thì chơn-thần cũng tấn-bộ. Chỉ vì con người đến thế gian bị vô minh che khuất lương tâm thiện tánh lâu đời nhiều kiếp, bây giờ phải cần lập công bồi đức và tu luyện, để vẹt màn vô minh hầu nhìn thấy chân tánh đạo-đức hiền-lương sẵn có nơi mình thì mới đắc đạo, nên Ngài Tổ sư Đạt Ma khi đem Thiền vào Trung quốc, đã tuyên xướng một câu nổi danh là

“Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành phật” (Không viết thành văn tự, truyền riêng cho đệ tử ngoài kinh sách, trực chỉ vào tâm con người để họ thấy tánh mà thành Phật / Thiền luận Suzuki).

Vậy khi khí-lực người tu đã được thanh-bai, đó là nền tảng để thần-trí phát-triển, ấy là phép Khí hoá Thần, xảy ra một cách tự-nhiên trong sự sống của bất kỳ con người nào. Những kẻ mà đời sống thân xác đầy-dẫy những dục-vọng thấp hèn, tình-cảm loạn-động, thường thì tư-tưởng của họ chẳng bao giờ thanh-cao được, nghĩa là chân tánh bị che khuất, thiếu hẵn ánh-sáng tâm-linh trong kiếp sống.

Phép tu-hành đúng theo chơn-pháp của Tam kỳ Phổ độ là phải rèn luyện cho khí thanh, nghĩa là tầng-số rung-động của khối điển-quang con người thay đổi dần dần tương-ứng với rung-động của điển-quang thần thánh, thì luật đồng thanh tương-ứng đồng-khí tương-cầu sẽ đưa đến trạng-thái giao-cảm tinh-thần giữa người sống và thế-giới thần-linh.        

Đó là nguyên-lý của hiện-tượng thăng hoa “Khí hoá Thần”. Thuật làm gia tốc hiện tượng thăng hoa nầy rất nguy-hiểm, nếu công đức chưa đầy đủ, khí còn ô trược, mà lại dục tốc, ép mình luyện-tập, sẽ dễ dàng bị rơi vào tình-trạng Thiên-đình đánh tản Thần không cho hiệp cùng tinh khí, là những cơn khủng hoảng xáo trộn thần kinh có hại cho sức khoẻ và tánh mạng.

Những trở lực ấy do nơi nghiệp chướng chưa được giải trừ đúng mức, còn đọng trong chơn-thần dưới dạng tiềm ẩn, những rung động của khí ai nộ ố dục tuy được chế ngự, nhưng chưa dập tắt, nên khi gặp những chuyện ngang trái, nó sẽ bùng lên một cách dữ dội, vì bị dồn nén bấy lâu, nay có dịp tung-hoành như một hồi lực, gây nên những xáo trộn bất lợi trầm trọng cho thể chất và tinh thần của mình.

 

 

LUYỆN THẦN HƯỜN HƯ

 

               Lời Đức Phạm Hộ Pháp:

 

                     Linh tâm phải định tỉnh từ hoà đừng để đến nỗi  mờ ám bởi tội tình thì thuận với lòng Trời, hiển linh tại thế, đặng đoạt phép huyền-vi.

 

Theo lời dạy của Đức Phạm Hộ Pháp Phạm thì:

            “Hư vô” là “Đạo tâm”, tâm lý hư vô là “không danh, không lợi, không quyền” nếu người tu đạt được “hư vô” là đạt pháp, đắc đạo”. (Bí pháp tu chơn).

            Như vậy trạng thái hư vô ở đây không phải là tâm trạng “trống rổng”, mà người đạt trạng thái hư vô là tâm không còn vướng bận  “tham, sân, ai, nộ, ố, dục”, mà lòng tràn đầy “ái, hỷ. lạc”, Nên “hư không” đây là “diệu hữu”. “Không” đây là không phàm ngã, mà còn toàn “chân ngã”, tức là “thuần chân vô ngã”. Trong Phương Luyện kỷ Đức Phạm Hộ Pháp còn dạy:

“Tập tánh “không không” đừng nhiễm, vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc buồn vui nhiễm vào chơn tánh”.

Khi mà những vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm đã dứt sạch, thì sẽ chế ngự được tham lam, sân hận, si mê, thì người tu không còn tâm lý tham cầu, ham muốn, sợ sệt, lo lắng hơn thua, được mất…Lúc đó lòng sẽ tràn đầy niềm an lạc tự tại, con người sẽ đạt đến tâm trạng “thoát tục”, tức là thoát ly mọi khổ ách, nên Phật nói là “độ nhất thiết khổ ách” (Kinh Bát nhã).

Vấn đề thoát tục, cũng đã được Đức Phạm Hộ Pháp đã dẫn giải như sau:

“Bần Đạo nói thoát tục đây,
chẳng phải nhũ chê đời mà ẩn dật, hay là luyện bí pháp đặng lánh trần, hoặc lên đầu non đặng hú gió kêu mưa, xuống vực thẳm đặng hô phong hoán võ, hoặc ngồi lim dim lần chuổi, ngủ thiêm thiếp tương kinh, hoặc là đóng cửa tụng Huỳnh đình, hớp gió khuya dòm rún.
Cả mộng pháp ấy đã lưu lại lắm trò cười, giả dối đóng thành tuồng thành sách, mê tín dẫy đầy, vốn luận không cùng”.

Bần Đạo nói thoát tục đây là khuyên lấy lương tâm làm chủ, giữ bổn thiện cho bền, dầu xác phàm có tuổi cùng tên, nêu tên tuổi chớ quên lẽ phải”. (Trích Diễn văn Đức Hộ Pháp đọc tại Tòa Thánh Tây ninh ngày 15 tháng tám Quý dậu /1933).

Vẫn biết rằng đường tu càng lên cao, càng gay trở, phép thăng-hoa, khí thanh nuôi dưỡng thần an, theo thời-gian làm cho thần-khí định tỉnh từ hòa. Khi tư tưởng đã quen hướng về chỗ thanh-cao thánh-thiện, mức độ giao-cảm tinh thần giữa người và Thần-Thánh càng thêm mật-thiết.

Cánh cửa của thế-giới vô hình sẽ mở hoát ra đi dần đến chỗ Trời Người hiệp nhứt. Sự sống của con người lúc bấy giờ thuận với lòng Trời hiển-linh tại thế, bước đường ấy chẳng do ước muốn mà được, trái lại phải do nơi công đức sáng chói phi thường, nghĩa là sức sống tâm-linh phải mãnh-liệt mới thu hút được sự trợ-thần cao độ của các chân-sư và nhờ đó chơn-thần dần dần trở nên linh-hiển, xuất nhập xác thân dễ dàng tương liên cùng thế-giới Thần Thánh.  

Khi Chơn-thần đã hoà nhập được vào trong khối ánh sáng của Thần Thánh, nhưng vẫn phải tiếp-tục phụng sự vạn linh để dục thúc cơ tấn-hoá của nhơn-loại với phương tiện xác phàm đã được rèn luyện tinh tấn, và quyền năng của điển lực chơn-thần làm bửu pháp. Cơ sanh-hóa trong càn khôn vũ-trụ tiếp nối không ngừng nghỉ, con đường phản bổn huờn nguyên Tinh hoá Khí, Khí hoá Thần, Thần hườn Hư cũng tiếp nối không ngừng nghỉ, sự sinh hoạt của linh-hồn ngày càng đến những cảnh giới thanh cao trừu tượng. Thần trở về cỏi hư-linh đựợc nên gọi là “hườn hư”.

 

   

LUYỆN HƯ HƯỜN VÔ

 

               Lời Đức Phạm Hộ Pháp:

 

                        “Hư vô” là “Đạo tâm”, tâm lý hư vô là “không danh, không lợi, không quyền” nếu người tu đạt được “hư vô” là đạt pháp, đắc đạo”.                                           

                                    [ Bí pháp tu chơn]

 

Còn Hư hườn Vô đó là lúc người tu không còn vướng bận bởi phàm tâm “tham sân si, ai nộ ố dục”, “danh, lợi, quyền” họ chỉ còn toàn là đạo tâm “ái hỷ lạc”, mà theo lời Đức Phạm Hộ Pháp:

“Tâm Không là Tâm Đạo. Người tu phải đạt được tâm không, đó là không danh, không lợi, không quyền thì đạt pháp đắc đạo”[Bí Pháp Tu Chơn].                                                           

Khi người tu đạt được tâm vô (chân không) đó là lúc “Hư hườn Vô” tức là cái tâm đã “thuần chơn vô ngã”, thì thân tâm an nhiên tự tại đạt đến trạng thái vô vi giải thoát hoàn toàn.

Tóm lại phép vô-vi (không) phải có hữu-hình (sắc) làm nền tảng, Nên kinh Bát nhã nói rằng :‘Sắc bât dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc’’. Nên nếu nền tảng (sắc) có tốt thì thượng tầng (không) mới vững vàng. Nên Đức Chí-Tôn đã dạy rằng :

"Phải có thân phàm tinh-khiết mới xuất chơn-thần tinh-khiết, nó phải có bản-nguyên Chí-Thánh, Chí Tiên, Chí Phật mới xuất Thánh Tiên Phật đặng”.

Ngay trong “Phương luyện kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại đạo”, Đức Phạm Hộ Pháp cũng không hề đề cập đến một chữ nào về phương pháp tịnh luyện, nhưng Đức Ngài đã khẳng định rằng “sự thương yêu vô tận” là chìa khóa mở cửa Bát Quái Đài ngay tại thế gian nầy, như vậy các phương pháp tịnh luyện chỉ đóng vai trò thứ yếu, nó chỉ có tác dụng đẩy nhanh quá trình thăng hoa tinh khí thần mà thôi, mà phải có công đức đầy đủ mới là chính yếu. Nên trong Đường hướng tu hành của Tam kỳ Phổ độ Đức Phạm Hộ Pháp đã dạy rằng:

“Hay lo làm âm chất và làm điều thiện tự giác nơi lòng mình, thì cái chơn pháp từ từ sẽ có và tồn tại… Còn nếu thiện tâm mình không có, dầu thọ pháp nơi ai, hay tịnh luyện mà có rồi nó cũng mất” (Đức Phạm Hộ Pháp nói chuyện với anh em thợ hồ làm Đền Thánh ngày 26 tháng 10 Bính tý /27-11-1936).

Trong dụng-công tu-hành ngày nay có nhiều người chẳng màng đến tam-lập (lập đức, lập công, lập ngôn), mà chỉ lo tịnh luyên để mong đạt được các phép thần thông. Theo lời Đức Phạm Hộ Pháp thì “nếu người tu không đầy đủ Tam lập, mà chỉ ngồi tịnh luyện thì càng lớn bụng vô ích”.

 Ngay đến các môn phái chánh tông của Thiền môn, họ cũng không quan tâm đến thiền định tịnh luyện, mà chỉ chú trọng đến “minh tâm kiến tánh”, nên Ngài Lục tổ Huệ Năng cũng đã tuyên xướng yếu chỉ của Thiền là:

“Chỉ luận thấy Tánh, chẳng luận thiền định giải thoát”. (Thiền luận Suzuki).

Ngài còn cho rằng:

“Nếu chẳng thấy tánh thì tụng niệm, chay lạt, giữ giới, tỉnh tọa chẳng ích gì. Những chúng sanh hành như vậy, đó đích thật là phỉ bán Phật” (Thiền luận Suzuki).

Ngay từ Nhị kỳ Phổ độ, đồng thời với Phật Thích Ca, Ngài Bồ tác Duy Ma Cật cũng đã nói rằng:

“Không phải ngồi sững mới là Thiền, Tâm chẳng trụ trong, chẳng trụ ngoài, không giao động, không rời đạo pháp mà sinh hoạt với thế gian, làm lợi ích cho đời cũng là Thiền” (Lượt giải kinh  Duy Ma  của Thượng tọa Thích Trí Quảng Tiến sĩ Phật học Tokyo / Nhật).

Đối với người tu dù công phu theo pháp môn nào, như lần tràng hạt, quán niệm hơi thở, hoặc trì tụng kinh chú, chỉ là một khâu nhỏ để thu phục vọng tâm, quản chế cái trí lao chao bất định (tâm viên ý mã) mà thôi. Thật ra pháp môn quản chế sự lao chao của tâm trí, đâu cần phải :

Ngồi lim dim lần chuổi, ngủ thiêm thiếp tương kinh, hoặc là đóng cửa tụng Huỳnh đình, hớp gió khuya dòm rún...(Lời Đức Phạm Hộ Pháp).

Sự quản chế sự bất định của tâm trí, theo lời dạy của Bát Nương Diêu Trì Cung, dạy nữ phái tại Trí Huệ Cung, thì đi đứng ăn uống ngủ thức, bất kể làm việc gì cũng có thể ‘thiền’ được cả, đó là ‘sự tập trung tư tưởng ‘ vào mỗi hành động, không cho tâm trí ‘lo ra’ chứ đâu phải cần ngồi lần chuổi lim dim ngủ gục !!!

Vấn đề then chốt là khi nào tiền khiên oan trái đã được đền bù trang trải xong bằng công quả và âm chất của mình tạo ra, thì mới chứng quả được. Bởi thế Đức Chí Tôn đã khẳng định tối hậu rằng :

            “Đạo vẫn như-nhiên, do công-đức mà đặng đắc đạo cùng chẳng đặng ”. (TNHT/Q1/tr.38:10).         

             Do đó người tu phải hiểu rằng, những ai nong-nả đi trên con đường huyền-linh, mà thân phàm còn trọng trược, chơn-thần chưa trở về với bổn-nguyên chí thánh, thì những sinh-hoạt thượng tầng vẫn còn đầy huyển-ảo, nghĩa là kiếp đoạ-trần vẫn còn chưa mãn.

 

  

QUY CHẾ VÀ CƠ SỞ

TỊNH LUYỆN

TRONG CỬA ĐẠO

 

Về phương diện tu luyện cho Tinh Khí Thần hòa hợp, trong bộ Tân luật của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ đã dành một Chương quy định về vấn đề này. Cũng như các cơ sở tu luyện trong cửa Đạo hiện nay đã có Trí Huệ cung và Trí giác cung, còn Vạn pháp cung thì mới dự kiến chứ chưa xây dựng. Theo lời Đức Phạm Hộ Pháp thì các cơ sở tịnh luyện nầy không chỉ dành riêng cho tín đồ Cao Đài, mà các tôn giáo khác họ cũng có thể đến tịnh luyện tại đó. Những chức sắc đã hoàn thành thiên chức và các tín đồ đã làm tròn nhơn đạo, có đầy đủ công đức thì được nhập tịnh sẽ có Chơn sư cân thần truyền pháp, hướng dẫn thực hành công phu tịnh

luyện cho Tinh Khí Thần hiệp nhứt.

 Đối với các tín đồ bình thường còn sống trong vòng nhơn đạo, ngoài các trách vụ thường nhật với bản thân, gia đình và xã hội, còn với Đạo thì đóng góp xây dựng tùy theo khả năng của mình, giữ gìn trai giới theo luật định, tham dự các đàn lệ sóc vọng tại Thánh thất và Điện thờ Phật Mẫu tại địa phương, họ còn có phép cúng tứ thời tại Thiên bàn tư gia và luyện tập thân thể theo 12 bài Khí công, thể dục và đạo dẫn (massage: thoa bóp) của Đức Phạm Hộ Pháp chỉ giáo, đó cũng là phương tu luyện Tinh Khí Thần theo phẩm hạ thừa, khi làm tròn nhơn đạo và có đủ công đức cũng được nhập tịnh thất tu luyện theo phẩm thượng thừa.  

Hơn nữa khi người tu đã đủ công đức, xác thân và chơn thần đã thanh khiết, mà vì một lý do nào đó không nhập được tịnh thất, hay không được thọ giáo bất cứ nơi nào, thì Thầy dạy Tâm linh của chính mình cũng sẽ truyền pháp theo sự điều động của quyền Thiêng liêng xảy ra đúng lúc, không hề bị lệ thuộc bất cứ một điều kiện nào cả.

Vấn đề tiếp nhận sự dạy dỗ của thầy dạy tâm linh (các Đấng Thiêng liêng) không phải là chuyện hoang đường. Ngày xưa tiên tri Isaiah còn gọi là I-săc, ra đời trước Chúa Jésus đã nói rằng:

            “ Mặc dù vua  ban cho ngươi cơm gạo, nước uống, tai ương và thống khổ, nhưng các sư phụ của ngươi chắc chắn chưa dời đi vào nơi chốn nào đâu, mà mắt ngươi nhất định sẽ nhìn thấy họ…tai ngươi nhất định sẽ nghe một tiếng nó sau lưng bảo: đúng đường rồi, ngươi đi vào đó, khi rẻ sang phải, khi rẻ sang trái…” (Isaiah 30:2021).

            Như vậy cách đây trên 2.000 năm, con người cũng nhận biết rằng họ luôn có một vị Thầy dạy tâm linh đi theo soi dẫn từng bước đi của họ. Ngày nay đối với các nhà làm khoa học họ cũng tin rằng con người có thể luyện tập một phương thức nào đó để khai mở các giác quan cao cấp hầu liên liên lạc trực tiếp với các Thầy dạy tâm linh.

            Theo bà Barbara Brennan tốt nghiệp cao học vật lý tại Đại học tổng hợp Wiscosin, cán bộ nghiên cứu của cơ quan hàng không vũ trụ NASA Hoa kỳ đã cho biết rằng:

            “Mỗi người có vài hướng đạo tâm linh lưu lại với họ và hướng dẫn họ qua suốt nhiều cuộc đời. Thêm vào đó mỗi người còn có các Thầy hướng đạo lưu lại trong suốt những thời gian học hỏi đặc biệt và được chọn lựa cho việc học hỏi đặc biệt đó. Chẳng hạn nếu bạn học để thành nghệ sĩ, bắt buộc bạn phải có một vài hướng đạo nghệ sĩ ở chung quanh để


tạo cảm hứng.

Trong bất cứ công trình sáng tạo nào mà bạn để tâm trí vào, tôi chắc rằng bạn đã được những hướng đạo tạo cảm hứng cho, họ là những người có mối liên kết với loại công việc này trong thế giới tâm linh, ở đó các hình thái được hoàn hảo hơn và tốt đẹp hơn cái mà chúng ta có khả năng thể hiện trên bình diện trái đát” (Trích từ “Bàn tay ánh sáng (Hand of Light) - nguyên tác Barbara Ann Brannan -  bản dịch Nguyễn Trọng Bổng).

            Sự dạy dỗ này theo bà thì các Thầy dạy tâm linh sẽ lựa chọn cách nào mà đệ tử của họ dễ tiếp nhận nhất, có thể là lời nói, hay các linh ảnh hoặc ý tưởng… Thường đệ tử sẽ đạt được những hiện tượng thần thông sau đây:

-  Nghe được tiếng nói vô thinh (nhĩ thông).

- Thấy được hiện tượng vô hình (nhãn thông), hoặc nhìn thấy xuyên suốt màn ngăn cách (thấu thị).

            -  Hiểu biết được tâm sự của người khác (tha tâm thông).

            Các hiện tượng trên chúng ta thấy hiện nay xuất hiện ở một số nhà ngoại cảm đã tiếp xúc với người đã chết trong thế giới vô hình mà báo chí gần đây đã đăng tải rất nhiều.

            Trong cửa Đạo Đức Quyền Giáo tông Lê Văn Trung cũng đã đề cập đến hiện tượng nầy như sau:

            “ Trường công quả của Thầy có đôi bên: một bên vô hình là các Đấng Thiêng liêng (Phật, Tiên, Thánh, Thần) cũng lập công quả trong buổi chuyển thế này. Các Đấng Thiêng liêng thường theo một bên chúng ta đặng ám trợ chúng ta về phần vô vi.

Còn việc hữu hình tại thế là các việc có thi hài như chúng ta bây giờ đây mới làm đặng, thì về phần chúng ta phải làm, rồi các Đấng Thiêng liêng ám trợ…” (Trích diễn văn Đức Quyền Giáo tông đọc tại Tòa Thánh ngày 8/4 Giáp tuất).

Các dẫn chứng nêu trên đã chứng minh rằng mỗi người trong chúng ta bất kỳ lãnh vực nào, cũng đều có các Đấng Thiêng liêng theo sát bên mình để âm phò mặc trợ và giáo hóa trên nhiều phương diện. Nên khi tư tưởng đệ tử đã quen hướng về chỗ thanh-cao thánh-thiện, công đức đã đủ đầy, thì mức độ cảm ứng giữa người và Thần Thánh càng thêm mật-thiết. Bước đường ấy phải do nơi công đức đủ đầy, nghĩa là sức sống tâm-linh phải tinh tấn thì mới thu hút được sự trợ-thần dạy dỗ của các chân-sư.

Nên trong Kinh Thế Đạo có câu:

          “Đạo hư vô, Sư hư vô” (Kinh Xuất hội).

         “ Câu kinh vô tự độ người thiện duyên”(Kinh Nhập hội).

Như vậy khi người đệ tử đủ đầy công đức tức là hội đủ thiện duyên, thì vị Sư phụ hư vô cũng ở ngay bên mình, sẽ sẵn sàng truyền dạy “câu kinh vô tự”  cho mình để chứng ngộ, chứ không phải lệ thuộc bất cứ một điều kiện ngoại giới nào mới hưởng được.

Trong lịch sử Hội Thông Thiên Học thế giới, ông Alcyone tức là Krishnamurti (1895-1986) lúc mới 13 tuổi (1908) đã được một Thấy dạy Tâm linh vô vi là Đại Tiên Kouthomi dạy dỗ, ông Alcyon đã xuất chơn thần trực tiếp thọ giáo với Ngài, và ông đã viết ra quyển “Dưới Chân Thầy” ghi lại những lời giáo huấn của vị Sư Phụ hư vô nầy. Quyển sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, truyền bá trên khắp thế giới. Khi trưởng thành Ông đã trở nên một Thế giới Đạo sư kiêm Tư tưởng gia vĩ đại nhất hiện đại.

 Trong cửa Đạo Cao Đài cũng có rất nhiều đệ tử đã đắc thành chánh quả tại thế theo con đường nầy, nhưng vì tiêu chí tu hành của họ là “vô kỷ, vô công, vô danh” nên ít được thế gian biết đến mà thôi.

  

 

CHỮ KHÔNG TRONG

ĐẠO HỌC

 

Lời Đức Phạm Hộ Pháp:

 

       “Tâm Không là Tâm Đạo. Người tu phải đạt được tâm không, đó là không danh, không lợi, không quyền thì đạt pháp đắc đạo”.                                                                         

                       [Bí Pháp Tu Chơn].

 

Nhiều người luyện đạo đã lầm tưởng  “Tâm Không”, là luyện cho cái tâm trống rổng, không suy nghĩ một vấn đề gì cả... Đó là một quan niệm sai lầm nghiêm trọng. Chữ “không” đây không có nghĩa không biết gì cả, là “hư vô chủ nghĩa” là thỏa hiệp tất cả, là chấp nhận đủ thứ, hay là ngớ ngẩn…

Trong Phương tu luyện thân tâm theo giáo pháp Cao Đài, gồm có bốn phương pháp là Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hóa Thần, Luyện Thần hườn Hư, luyện Hư huờn Vô. Theo lời dạy của Đức Phạm Hộ Pháp thì:

 “Hư vô là Đạo tâm. Tâm lý hư vô là đạt ba cái “không” (không danh, không lợi, không quyền). [Bí Pháp Tu Chơn].

Nên Đức Phạm Hộ Pháp đã dạy thêm rằng:

“Tu không thủ lợi cầu danh mới là có Đạo”

 “Người tu bỏ được danh, lợi, quyền, sẽ đạt pháp đắc Đạo.” [Bí Pháp Tu Chơn].  

Như vậy khi người tu không do các động cơ “danh lợi quyền” thúc đẩy, tức là đạt được “Tâm không”.

Nên rãi rác trong đạo thơ chúng ta thường thấy đề cập đến chữ “không” như sau:

Trong “Nữ trung tùng phận” bà Đoàn thị Điểm giáng cơ có những câu:

     “Nay tuyết đóng song hồ đông lãnh,

       Đành cửa không gởi mảnh tâm hồn.       

       Tiếng chuông thức giấc huỳnh lương,

      Toan nương thuyền huệ vào đương  

                                                 vĩnh sanh”

Hoặc là:

        “Thiếp nhờ Đạo giải phiền diệt khổ,

           Biết may duyên lựa chỗ gởi tâm.

          Tìm đâu đặng kẻ tri âm,

          Ôm thương đem gởi cảnh thần cửa  

                                                    không”.

 

Trong Kinh “Cầu cho thân bằng cố hữu” cũng có câu đề cập đến chữ “Không”:

        “Cửa Cực lạc đon đường thẳng tới.

          Tìm không môn đặng đợi Như Lai”.

         Như vậy trong Đạo học “Cửa Không” đây không phải là nơi trống rổng hoang vắng, mà đây là Cửa Đạo (cửa Phật).

Còn theo Bát Nương Diêu Trì Cung thì có đến tám cái “không”. Người tu phải đạt “Tám cái không” này mới mong đạt được những lợi lạc cho mình

:

         “Không DANH tâm tỉnh lặng thinh

                                                          thinh.

            Không LỢI như nhiên chẳng chấp

                                                          kinh.

            Không GHÉT  yên tâm thân tự tại.

            Không THÙ mát mẻ cỏi lòng xinh.

            Không QUYỀN thong thả nào

                                                 ràng buộc.

             Không GIẬN vui vầy cả tánh linh.

             Không KHỔ thấm nhuần quen tự

                                                            túc.

 Không BUỒN sáng tỏ tợ bình

                                           minh”.   

       (Thánh giáo Bác Nương dạy

           nữ phái tại Trí Huệ cung).

 

Thường trong tự tánh con người hay sinh ra tự cao tự đại… có đến tám loại tiêu cực (bát tự) làm ảnh hưởng đến tâm không của mình, là những sự kiện gây trở ngại cho sự tiến bộ của người tu như sau:          

      “Tự tôn nguy hiểm cả đời ta.

         Tự đắc lại còn khổ lắm đa !

         Tự ái bao giờ mà lãnh hội.

         Tự kiêu không rõ chỗ sâu xa.

         Tự hào chẳng thấu người chân thật.

         Tự đại mong chi thức tỉnh mà,

         Tự phụ đâu cần tìm chánh lý.

         Tự cao gặp cảnh khó nào ra”.

    [Thánh giáo Bác Nương dạy    

         nữ phái tại Trí Huệ Cung].

 

Tuy tám loại tiêu cực nầy gây ảnh hưởng xáo trộn đến tâm không, nhưng nếu người tu đã đạt được tâm không, thì các phàm ngã là bát tự tiêu cực như tự cao, tự đại, tự tôn, tự đắc…nêu trên cũng không còn thể hiện nữa.

Nên cái Tâm “không” trong đạo học, không có nghĩa là tâm trống rổng không biết gì cả..., mà tâm “không” đây là “không tướng”, mà “không tướng” tức là “sắc tướng”. Nên Đức Phật Thích Ca đã dạy rằng:

“Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Sắc bất dị không không bất dị sắc”(Sắc tức là không, không tức là sắc. Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc / Kinh Bát nhã).

Như vậy Phật đã cho rằng: sắc (hữu hình) chẳng khác không (vô hình), Hư không (mắt không thấy gì) nhưng lại là Vạn hữu (có tràn đầy tất cả). Mới nghe thì thật là mâu thuẩn, nhưng “chân không” trong đạo học là “diệu hữu”. Tâm không tức là cái tâm không còn phàm ngã tham sân si, không còn ai nộ ố dục, không còn danh lợi quyền, mà được thay thế bằng “chân ngã” đó là tâm tràn đầy bác ái, hoan hỷ và an lạc.

Do đó trong cửa đạo mới cho không là có, mà có là không. Có chẳng khác không, không chẳng khác có. (sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, khồng bất dị sắc / Kinh Bát nhã).Vì khi con người không còn tham lam, sân hận, ghen tuông, nghi kỵ, ngờ vực, thì lập tức sẽ có tình bác ái, niềm hân hoan và sự an lạc tuông tràn đến thay thế liền liền, nên không có một tích tắt nào tâm bị trống rổng cả, đó là khi “không có những sự kiện tiêu cực” thì có liền “những sự kiện tích cực” thay thế. Khi ấy con người sẽ thấy khoáng đạt hơn, biết yêu thương, khoan dung tha thứ nhiều hơn, như vậy sẽ bao hàm một ý nghĩa tích cực cho cuộc sống. Vì nếu khi con người biết thương yêu tha thứ thì sẽ làm giảm đi bao nỗi căn thẳng lo toan giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, và cả với chính bản thân mình nữa. Nên cái “tâm không” ở đây không phải là cái tâm bất động trì độn, mà nó vô cùng nhạy cảm với những sự kiện tích cực “ái hỷ lạc”.

 

ĐẠO KHÔNG CHỦ TRƯƠNG DIỆT NGÃ

 

Thật ra thì Đạo không bao giờ dạy con người phải đạt đến tâm không bằng cách diệt ngã, để tìm đến một sự trống rổng. Thật là sai lầm khi cho người tu là bi quan yếm thế chủ trương diệt ngã, vấn đề ở đây là khuyên người tu hãy loại bỏ phàm ngã, để chân ngã được thể hiện, tức là tìm thấy tâm không, bằng cách phải trải qua nhiều cái ngã, phải nhìn cho kỷ vào bản ngã, đến lúc không còn chấp ngã nữa, thì phàm ngã tự nó tự biến mất, rồi chân ngã (đạo tâm) sẽ hiện ra. Bởi vì chân ngã nó vẫn có đó mà vốn là không, không mà có, mà cái có nầy “lại có với một vẻ thánh thiện, đẹp đẽ hơn”.Vã lại tâm trí con người không bao giờ để trống không được cả. Khi con người để tâm trí trống không, không nghĩ tới điều lành, thì tức khắc điều ác sẽ dấy lên, nên Thầy Trang Tử đã nói rằng:

“Nhứt nhựt bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi” (Một ngày không nghĩ đến điều lành, thì điều ác sẽ tự dấy lên trong tâm trí) [ Minh tâm bửu giám].

Theo định luật bảo tồn năng lượng của Lavoisier, một khi người tu không còn sân hận thù nghịch, không còn lo lắng hơn thua được mất, không còn ganh đua chen chúc, không còn tâm lý sợ hải (vô úy)..., thì cái năng lượng sinh học phi vật thể rất lớn của phàm ngã như tham sân si, nó không phải biến mất, mà nó lập tức được chuyển hóa thành khối năng lượng tích cực khiến cho tâm con người tràn đầy bác ái, hoan hỷ và an lạc.

Nên Phật thuyết “Bát nhã tâm kinh” cho chúng sanh không phải để tụng niệm, mà để “thực hành tích cực và liên tục” (hành thâm) vì có thực hành tích cực và liên tục thì mới giải thoát mọi ách nạn đau khổ (độ nhất thiết khổ ách), chứ không phải đóng cửa tụng niệm suông, không cần đến hành thâm công đức mà có thể đạt đến sự giải thoát.

Khi không còn ham muốn tham cầu, ngay cả cầu sự đắc đạo, thì tâm tư sẽ nhẹ nhàng, thảnh thơi thanh thản, từ đó con người sẽ tràn đầy niềm hân hoan tự tại, sẽ đạt đến trạng thái “giải thoát”. Giải thoát ở đây là giải thoát những khổ đau sợ hải, làm nặng nề đời sống an lạc, ngay trong hiện tại và ngay bây giờ, chứ không đợi đến khi chết, nhập vào niết bàn mới hưởng được, vì địa ngục hay thiên đàng cũng tại thế gian đây mà thôi. Do đó Đạo thơ có câu:

“Khi sống không biết con đường đi đến thiên đàng, thì sau khi chết khó rời được cửa địa ngục” (Sanh tiền bất tri thiên đường lộ, tử hậu nan ly địa ngục môn).

Nỗi khổ của con người là do cái “ngã” của mỗi cá nhân lớn quá. Cái gì cũng của tôi, cho tôi, vì tôi…, lại cho đó là cái thường hằng vĩnh viễn, nên nếu tan biến hay đánh mất đi lại sầu bi khổ não…Ngay cả người tu hành muốn thoát cái ngã, có thể lại nặng ngã hơn, như ôm lấy đạo ta, chùa ta, cốc ta, sau khi đã thoát khỏi được cái nhà của ta !!! Cứ thế người tu bỏ cái nầy lại bám chặt cái khác, như bám cái bè đã qua sông mà không muốn lên bờ. Không những người tu chỉ chấp ngã, chấp tướng, mà còn cả chấp pháp nữa, họ cứ ôm lấy hiện hữu mà ngủ quên ở đó !!!

Tôi có một bà chị tu Thiền, đã bỏ nhà  cửa, bỏ tất cả giàu sang, tiện nghi vật chất, bỏ con cháu thân yêu, coi như đã ly gia cắt ái, nhưng rồi lại bám víu vào những cái khác, như lại không thể rời sư phụ, không thể rời bạn hữu, không thể rời chùa chiền, am cốc, và nếp sống hiện hữu của mình, dù chỉ trong vài ngày…!!! Như vậy là chị đã bỏ cái “ngã” nầy lại vướng bận vào cái “ngã” khác, như cố bám chiếc bè đã qua sông mà không muốn bước lên bờ !!!.

Âu đây cũng là một quy luật trong quá trình tiến hóa của con người đến thế gian, là phải trải qua bản ngã rồi mới đến chân ngã, trải qua tất cả ác trược rồi mới đến thiện thanh, phải nếm nhiều cay đắng đau khổ, rồi mới đến hạnh phúc an lạc, người tu phải tự mình từng trải như vậy thì mới mong đắc đạo giải thoát.  Vì thế Đức Phật cũng đã xác nhận  rằng:

            “Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ”.

Trong Tam kỳ Phổ độ Đức Chí Tôn đã ban ơn rộng rãi cho con người nếu ai biết tu, thì trong một kiếp cũng có thể vào niết bàn đặng, nhưng Đức Chí Tôn chẳng bao giờ được hoan lạc nhìn thấy những kẻ ấy:

“Thầy cho một quyền rộng rải cho cả nhân loại trong càn khôn thế giới, nếu biết ngộ một đời tu đủ trở về cùng Thầy đặng, mà hại thay !!!  Mắt Thầy chưa đặng hữu hạnh hoan lạc nhìn thấy kẻ ấy” (Thánh giáo ngày19-12-1926/15-11Bính dần).

Nên không dễ gì một người tu mà không chịu lo hành đạo, lập công bồi đức, cứ ngồi thiền, lim dim tịnh luyện hoặc tụng niệm suông, mà một sớm một chiều sẽ đắc thành chánh quả. Muốn đạt được trạng thái nầy, người tu phải thực sự hành đạo, làm phải làm lành, một cách tích cực liên tục nên mới gọi là “tu hành”, và phải tu tánh, luyện mạng  một cách tinh tấn, nên người ta mới có danh từ kép là “tu luyện”, thì mới mong đạt được kết quả viên mãn.

 Người tu muốn đạt được vô ngã là một quá trình dai dẳng, có khi phải kéo dài đến vô số kiếp… Vì vấn đề ở đây không phải chỉ có ở nhận thức, mà phải thực hành lập công bồi đức một cách tích cực và liên tục. Nên trong phương tu Đại Đạo Đức Phạm Hộ Pháp đã dạy rằng:

“Đạo chẳng phải ở lời nói mà ở kết quả sự thật mình làm, không phải nơi câu kệ câu kinh mà buộc ở hành vi người giữ đạo, cái khó khăn của đạo không phải ở sự giảng dạy mà ở sự thực hành. Cái hay của đạo không phải nơi yếu lý mà ở kết quả của cuộc giáo truyền”. (Phương tu Đại Đạo).

Do đó Đức Chí Tôn đã khẳng định  rằng  người tu phải thực sự hành đạo để có đủ công đức thì mới mong đắc Đạo:

“Đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đặng đắc đạo cùng chẳng đặng”.

“Thầy đến độ rỗi các con là lập thành một trường công đức cho các con nên đạo, vây đắc đạo cùng chăng là do các con muốn cùng chẳng muốn” (Thánh giáo 5-7-1926 / 26-5 Bính dần / Thánh ngôn hiệp tuyển quyển 1).

Đây là một sự kiện không dễ dàng, nếu bên trong con người chưa chuyển hóa hết cái năng lượng tiêu cực như tham lam ích kỷ sang thành năng lượng tích cực là từ bi hỷ xã, và những sự kiện nầy nếu chỉ mới là những nhận thức còn nằm trong tâm trí, thì vẫn chưa đủ, mà người tu còn phải sấn tay thể hiện ra bằng hành động cứu độ tha nhân thiết thực, đó mới là tự thay đổi chính mình, những sự kiện nầy không phải từ bên ngoài ban cho, mà ở đây cần phải tự thắp sáng lên ngọn đèn tự nguyện dõng mãnh trong tâm linh của mình, nên Phật đã khuyên “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” là vậy.

Khi người tu “hành thâm” công đức, tâm đạt đến được trạng thái “Bát nhã”, thấy được mọi sự đều không, thì không những sẽ thoát được mọi chướng ngại, không bị tai ương hoạn họa khủng bố, nên trong kinh Bát nhã, Phật nói là “độ nhất thiết khổ ách” (thoát mọi khổ ách), mà khi ấy cái tâm ý vọng động, nhảy nhót như vượn chuyền cây, ngựa chạy đường dài (tâm viên ý mã) của con người sẽ được tỉnh lặng, và đạt đến sự định tỉnh từ hòa, đó mới chính là kết quả của chân Thiền, còn gọi là “nhứt đoạt thiền định”.

         Tóm lại hiện-tượng thăng-hoa Tinh Khí Thần là một quá-trình nội chuyển, nó diễn ra trong tự thể của ba phần: Thể-chất, tình-cảm và trí-tuệ, với một cơ-chế rất tự-nhiên, cũng có thể nói là rất logic và khoa-học, không hề ẩn-tàng, một mảy-may pháp-thuật ảo-huyền.

Hiện nay có nhiều trường-phái cũng đã thâu nhận đệ-tử, họ cũng dạy  luyện Tinh Khí Thần, nhập-định xuất hồn, khai mở luân-xa..., thậm-chí có nhiều Thầy có phép mở luân-xa cho đệ-tử từ xa, mà chẳng cần quan-tâm đến công-đức cùng mức-độ thanh-khiết trong chơn-thần của đệ-tử ra sao. Đây là một điều khá tai-hại cho những ai cả tin và nôn-nả muốn mau đạt được phép thần-thông.

Theo các nhà chân-tu tiền-bối thì Luân-xa (Chakra) là những điểm tương-ứng với một số hội-huyệt quan-trọng của cơ thể, là nơi giao-tiếp thu-nhập năng-lượng giữa con người và vũ-trụ, khi công-đức đệ-tử chưa đầy đủ, thất-tình lục-dục chưa lắng đọng, tức là chơn-thần chưa thanh-khiết, mà đã khai mở, nó sẽ lay tỉnh luồng Hoả-xà (Kundalini) trường lên, dẫn lửa đi thiêu thân, nên thay vì có kết-quả tốt là khiến con người đạt được các quyền-năng siêu-phàm, thì ngược lại nó thúc-đẩy lửa thất-tình lục-dục dấy lên mãnh-liệt hơn nữa. Nên chúng ta thường thấy nhiều người chưa đủ công đức, tịnh luyện lâu ngày thì tham sân si…càng dễ bị kích động, thường thấy thay vì họ khoang dung, từ ái, nhu hòa, họ lại trở nên nóng nảy, hẹp hòi, cố chấp là do vậy. Nên Đức Phạm Hộ-Pháp đã khẳng định rằng:

 “Cái nền chơn-giáo của Chí-Tôn là đường-đường ngay chánh không hề mê-hoặc ai cả thảy... Những phương-pháp mê-hoặc của thiên-hà về đạo-lý sẽ bị chơn-truyền của Chí-tôn từ từ tiêu diệt hết... ”(Thuyết đạo ngày 19 / 04 / Tân Mão).

Sự tiêu-diệt này chính là sự bệnh-hoạn, chết chóc. Vì những sai-lầm dẫn đến hậu-quả như vậy, nhưng nhiều người vì không chịu hiểu, nên khi bị “tẩu hỏa nhập ma” lại đổ thừa cho nghiệp-chướng tiền-khiên…

Chúng ta cần khẳng-định rằng dù người tu đã mang nghiệp-chướng nặng-nề đến đâu, mà biết lập-công bồi-đức kết-hợp với tu-luyện theo giáo pháp Tam kỳ Phổ độ, và dinh-dưỡng đúng phép quân bình âm dương,  tức là chúng ta thực hiện phép “tánh mạng song tu” (tu tánh lẫn luyện mạng) còn gọi là phép “Phước huệ song hành” (tài bồi âm chất lẫn phát triển thần huệ) thì cũng có thể hoá-giải khối nghiệp chướng tiền khiên đi được. Đây là một qui-luật tất-yếu, vì hành-tàng đúng hay sai của mỗi người đều có một sự trả giá rất xứng-đáng, chứ Đức Chí-Tôn là Đấng công-bình, không ban thưởng hay trừng phạt ai cả.

 Sưu tập nầy không có chủ tâm đả kích một người nào, hay bài bán một phương tu nào, mà chỉ nêu lên những vấn đề có tính chất thiết thực trong sự tu học, để đồng đạo tham khảo. Vì các sự kiện thất chơn truyền nêu trên, mà ngay Đức Phật Thích Ca cũng đã than thở rằng:

“Lắm kẻ đã chịu khổ hành đạo… Ôi ! Thương thay công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy Ta rất đau lòng…”

Nhưng rồi Ngài cũng phải đành cam chịu đau lòng mà chờ đợi cho đệ tử của Ngài trải qua nhiều cái “phàm ngã” để rồi họ phải nếm chịu nhiều khổ đau, mới có thể đạt đến “chân ngã” được.

 

 

TIẾN TRÌNH THĂNG HOA

GIỚI ĐỊNH HUỆ

 

          Lời Đức Chí Tôn:

                    “Các con duy có trông cậy nơi Thầy,  bước đường cứ thủng thẳng đi lên tới, đừng gấp quá cũng đừng thối lui, thì một ngày kia sẽ đặng toại kỳ sở-nguyeän    

                                        TNHT/QI/61:11

                                 

Trong tu-hành bất kỳ hàng phẩm nào cũng theo tiến trình tam học Giới, Định, Huệ, ñaïi khaùi tieán trình naày nhö sau:

- Giới :

Bước đầu tiên là nhập môn cầu Đaïo giữ gìn quy ñieàu, giới luật, xa lánh tội aùc, làm phải làm lành, khép vào mình khuôn-khổ.

- Định :

Nhờ trì giới, lễ bái, tham-thiền, nhập-ñịnh... thân tâm được an-tịnh.

- Huệ :

Khi thân tâm an tịnh, thần-khí được ổn-định, thì trí-huệ phát triển.

Tiến-trình này nhanh hay chaäm tuỳ theo căn-trí, có thứ tâm phải tinh lọc lần hồi sau nhiều năm, có thöù phaûi nhiu kiếp tu-tập mới đạt ngộ, còn những tâm có căn-cơ thì ñạt ngộ một cách mau chóng, bất thần goi là đốn ngộ. Căn cơ này có được là cũng do công-đức tích-luỹ của nhiều kiếp nay ñưôïc oân taäp khai môû thì đột-nhiên hiển-thị, coøn goïi laø söï oân taäp tieàn kieáp.

 

Giới, Định, Huệ có sẵn trong tự tánh

 

         Ngài Lục Tổ Huệ-Năng đã nói rằng: 

          “Giới, Định, Huệ bổn lai có saün trong tự tánh, không cần chấp theo ngoại cảnh để sửa mình.

theo Ngài thì tự tâm vốn không bao giờ quấy đó là tự tánh giới. Tự tâm vốn không bao giờ loạn, đó là tự tánh định, tự tâm vốn không bao giờ si-mê, đó là tự tánh huệ. [Theo Thiền luận/ Suzuki/ Trúc Thiên dịch].

Đây là chỗ Đạo Nho đã nói :

"Nhơn chi sơ tánh boån thiện". (Buối sơ sinh của con ngưôøi luôn có taùnh lành – Tam töï kinh).

Sở dĩ con người trở nên si mê vì do nhieàu kiếp tập nhiễm tham sân si, chôn vùi tự tánh, nên khiến tâm địa mờ tối, do đó người tu phải dùng công-phu ñể hiện-thực, phép này Tam-giáo gọi là:

 - Tồn tâm Dưỡng tánh (Nho)

 - Tu tâm Luyện tánh. (Lão)

 - Minh tâm Kiến tánh (Phật).

            Khi taâm taùnh ñöôïc saùng suoát trôû laïi giôùi tu haønh goïi laø phaùt hueä.

            Do đó nhà Phật có câu : «Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh »  

Ngày nay trong chiến-lược về xây-döïng con người, thế-giới lại hướng v phương-pháp tỉnh-tâm để khai môû trí-tuệ, đã có ở Đông phương trên bốn nghìn năm nay. Ngay các kinh-điển xa xưa của nhiều tôn-giáo đều xác-nhận vấn-đề này :

-  Phật thì gọi “Thiền-định” sẽ cho trí-tuệ.

- Tiên thì nói “hư-tỉnh vô-vi” thì thần-trí sẽ linh-thông sáng-suoát.

            - Nho thì chủ-trương “định-tỉnh” thì suy-tư mới chính-xác, lương-tri lương-năng mới xuất-hiện.

 

  

QUÁ TRÌNH TU LUYỆN ĐỂ GIỚI ĐỊNH HUỆ THĂNG HOA DƯỚI MẮT CỦA GIỚI        

KHOA HỌC XÃ HỘI GỌI LÀ NÃO TỈNH CÔNG

 

Giới, Định, Huệ ngày nay không còn nằm trong phạm-vi huyền-học, nặng màu sắc tôn-giáo nữa, mà ngay trong giới khoa-học, họ cũng nhận ra rằng, ñoù laø cách luyện cho tâm-trí thanh-tịnh sẽ khai mở được trí-huệ, đào tạo neân nhân-tài.

Nhiều nước đã coi trọng vấn-đề đầu-tö trí-tuệ, đào tạo nhân-tài v khai-thác nhân-tài vào các mục tiêu làm cho quốc-gia họ cường-thịnh. Nhiều nước đã đào-tạo nhân-tài qua con đường luyện-tập tỉnh-tâm định-trí; tuy tên gọi là sự thöïc-hành có khác nhau, nhưng kết-quả là moät đó là làm cho Não lành mạnh, gọi là kiện-não-pháp, thực-chất của nó là làm cho não yên-tĩnh, còn gọi là "Não-tỉnh-công".

 Tiêu-biểu nhất là Nhật-bản, sau thế chiến thứ hai (1945) nước Nhật hầu như kiệt quệ, nht là về kinh-tế nhưng họ đã bit khai-thác nguồn tài-nguyên "Chất xám", bằng cách tỉnh-tâm, dưôõng-thần để khai-trí. Họ nâng cao trí-lực cho tuổi trẻ bằng cách đưa vào hc-đường những giờ học gọi là "tỉnh-taâm khai-trí", theo hướng luyện-tập thin-định để tăng-trưởng trí-tuệ, họ taïo thành một phong-trào “hưng thiền hquc” (phát-triển Thiền để giuùp nước). Cuối cùng trong một thời-gian ngắn chỉ chừng mấy thập niên mà đñaát nước họ trở nên giàu mạnh, nhaát là về kinh-tế.

Cũng theo chiều hướng đó ngày nay nhiều nước trên th-giới đã lưu-ý đến vấn-đề này, họ đặt vào hàng sách-ợt đào-tạo nhân-tài, như Ấn-ñoä họ đã dạy Yoga ngay từ bậc tiểu-học. Ở Trung-Quốc, một số nhà giáo-dục cũng đã thành-công trong việc áp dụng phép "tĩnh-tâm dưỡng-thần" nâng-đỡ trí-lực cho thế-hệ tr. Ở Mỹ trong giáo-trình "Sáng-tạo trong kinh-doanh" của trường Đại-học Stanford có những chương dạy về Yoga, Khí-công và Thiền. Hai tác-giả R. Targ và K. Harary công-tác tại sở nghiên-cứu Stanford, đã cho xuất-bản cuốn chuyên-luận "Chạy đua về trí-tuệ" trong đó đã xem tỉnh-tâm là phương-pháp hữu-hiệu nhằm khai-thác tiềm năng trí-tuệ con người. Theo söï thống-kê hiện nay trên thế-giới coù 120 nước áp-dụng "Kieän naõo phaùp", tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực-chất chính là làm cho đầu óc yên-tænh.

Các công-trình nghiên-cứu của các nhà khoa-học nhö Kasamats và Hirai (Nhật), Dương Vạn Lương và Hồ Tùng Xương (Trung-Quoác), Mahalishi và Yogendraji (Ấn-Độ), R.W.Colier, R.K.Wallace (Mỹ) ... điều khẳng-định tác dụng khai-trí của "Não tỉnh công":

1- Tăng cường trí-nhớ.

2- Phát-triển sức tập-trung chú ý.

3- Nâng cao tính linh-hoạt chính xác của tư-duy.

4- Kích-thích óc tưởng-tượng vaø trí sáng tạo.

           5- Nâng cao thành-tích học-tập của thanh thiếu niên.

Nếu luyện tập Não tænh công kiên trì sẽ có khả-năng tăng-ng chức-năng của não, huy-động được những năng-lực tiềm-tàng trong cơ-theå Bác-sĩ Hirai (Nhật) nói rằng :

“Trong suốt quá-trình lịch-sử loài người, não-tỉnh-công đã có một tác-dụng vô cùng to lớn. Nó trở thành vũ-khí tinh-thần của những nhân-vật kiệt-xuất, là phương-pháp hữu-hiệu, giúp con người làm chủ lấy mình, làm vật kích-thích óc sáng-tạo của con ngöi một cách mầu nhiệm” [Almanach. Nhöõng nền văn-minh nhân loại / Thế-Tường sưu-tập].

Nói chung söï lôïi ích cuûa các phương-pháp tham-thiền, tỉnh-tâm, khí công, não tỉnh công, Yoga... ngày nay đã được các sách-báo và phương-tiện truyền-thông đ đề-cập rất nhiều, nhiều nước đã thực-hành phương-pháp này, không những lẻ-tẻ trong gia-đình m còn ứng-dụng ngay cả trong học-ñưôøng và ngoài xã-hội, đã có nhieàu hội-đoàn, nhiều câu-lạc-bộ đã nghiên-cứu luyện-tập tỉnh-coâng, với hy-vọng cải-thiện và tăng-cưôøng năng-lực chuyển-hoá các quá-trình ức-chế và hưng-phấn, cũng như tính ổn-ñịnh của vỏ não, giúp cho não luôn ở trạng-thái tối ưu. Hầu hết những người đã cố-gắng luyện-tập chuyên-caàn vaø ñuùng phöông phaùp, ñu nhận thấy tỉnh-công là phương-pháp hữu-hiệu nhất, giúp não phát-huy hết mọi năng-lực tiềm-ẩn của nó.

Sở dĩ sưu-tập trên, nêu lên những daãn chứng thành-tựu của khoa-học trong lãnh-vực tỉnh-tâm, định-trí, để tăng cường thần huệ, là để chứng-minh cho phương-thức tu-luyện của Đại-Ñạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, tuy mang nặng tính-chaát huyền-linh (Bí-pháp) nhưng nó cũng có những cơ-sở khoa-học, không phải hoang-đường hay dị-đoan mê-tín, nhưng thật ra :

"Rằng hay thì thực là hay,

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế

nào." [Truyện Kiều/Nguyễn-Du].

Vì chẳng có một phương-pháp nào mà không có söï choáng chæ ñònh (contre-indication) tức là phản tác-dụng, coøn goïi laø mt trái của nó. Ñieàu naày Ñöùc Phaïm Hoä Phaùp cuõng ñaõ caûnh baùo raèng:

“Khi bieát tham thieàn roài môùi nhaäp tònh, nhöng nhaäp tònh khoâng phaûi deã, chæ sai moät tyù, soùt moät chuùt laø coù theå hoûng caû cuoäc ñôøi...” [Con ñöôøng Thieâng lieâng haèng soáng].

Cho nên lắm người tham-thiền nhaäp-định đã trở nên điên-loạn huỷ-hoaïi cả cuộc đời. Đó là những người thiếu công-đức mà muốn gấp-rúc đạt sự thần-thông để phục v cho mục-tiêu trần-tục của mình. Coù thể nói não-tỉnh-công là những liều thuốc kích-thích tâm thần cực mạnh, phải có những thầy thuốc lão-luyn biết sử-dụng thích hợp với từng người, chứ không phải chỉ nghe mách thuốc hay töï mua uống bừa vaøo được.

Thật ra những người tu luyeän ñaõ đạt đạo, phaùt hueä, hoï có được các phép thaàn-thông, là nhôø họ đã tích-luỹ công-ñöùc từ nhiều kiếp, nên khí thể họ đã coù sẵn sự thanh-khiết, nên ngày nay mới dễ-dàng đắc pháp. Cũng như thời xưa con người còn thuần-phát thiên-lương, nên khi bước vào đường tu họ đã sẵn công-đức, nên chỉ cần tịnh-luyeän là đắc-pháp. Người thời nay đã cảm-nhiễm nhiều nghiệp-chưôùng nặng-nề, nếu không lập công-đức để hoá-giải, mà khi mới bước chân vào Đạo đã lo tịnh-luyện thì không thể nào chứng quả đñöc. Sự tu-luyện thời xưa tỷ như xây nhà trên gò núi sỏi đá, neân người tu không cần quan-tâm đến neàn móng, người tu thời nay tỷ như xây nhà trên đầm lầy, nếu không quan-tâm đến nền móng mà chỉ lo kiến trúc thượng tầng thì chắc phải sụp đổ.

Toùm laïi trong đường hưôùng tu-hành của Đại-Đạo Tam-Kỳ Ph-Độ ngaøy nay buc giáo-đồ phải đi từng bưôùc như ln theo cu thang:

- Trước hết tp ăn chay gigii, tuaân-th đñiu-quy, l baùi, tng-niệm, cu-nguyn, làm lành lánh dữ, suy-nghĩ chơn-chánh (chánh-niệm).

- Về mặt thể-chất ăn uống tinh-khiết, luyeän-tập thân thể khoẻ mạnh, khí löïc môùi cöôøng thònh.

- Siêng năng lễ bái tứ thời, Chính Đức Phạm Hộ Pháp đã dạy về sự hữu-ích của sự lễ-bái  rằng :

“...Bữa ăn của linh-hồn là buổi chúng ta vô đền thờ cúng đấy... Bần-đạo khuyên một điều: đừng để quá đói mà chết đa !...” [Thuyết đạo của Đức Hộ pháp tại Đền Thánh đêm 01-11 Mậu-tý / 01-12-1948]. 

Nên ngay phép cúng tứ thời cũng là một hình thức luyện “não tỉnh công”, một buổi cúng tứ thời, ngoài tác dụng luyện công theo khoa học, còn là bữa ăn của linh hồn, nếu để linh hồn đói là nó sẽ chết !!!   

- Nếu người tu có đñieàu-kiện thì tập thêm gom thần định trí bằng tham-thiền, tự tỉnh, nhaát laø nhắm vào khuyết-ñiểm lỗi lầm để ăn-năn hối-cải...

- Ñồng thời lập-công bồi-đức, làm tròn trách-nhiệm trong gia-đình và ngoài xã-hội, tức là làm trọn nhơn-đạo.

- Đến khi âm-chất dày, đạo hạnh cao, bước lên hàng thöng thừa nhập định tại tịnh thất, sẽ coù Chơn-sư theo dỏi luyện ñạo, khai-khiếu, xuất thần, giao tiếp với Thiêng-liêng.

Đó là tiến-trình của người tu-hành theo pháp môn của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, tuy tiệm-tiến nhưng chắc-chắn hơn là bước nhảy vọt rồi vấp ngã.

Trên đây là phần ñạo-lý thực-hành để người tu tại gia luyeän-tập, đây cũng là một bí-pháp tạo cho mỗi hành giả c thêm cơ-hội gần gủi tiếp xúc vôùi các Thầy dạy tâm linh (Các Đấng Thiêng Liêng theo hoä trì mình) dễ gần-gũi, để dìu-dắc mỗi người trong caùc sinh-hoạt tinh-thần, bằng các huyền-linh maëc-khải.

Đường hướng này bất-kỳ giôùi nào, nếu tin-tưởng thực-hành cũng có thể đem lại kết-quả tốt cho thân tâm. Mỗi hành-giả chỉ cần bước đi một cách chậm rãi theo trình-tự “Giới, Định, Hueä” thì chắc-chắn sẽ nắm được chiếc chìa khoá vàng để bước vào Thiên-đường ngay khi còn tại thế, không còn là chuyện viễn-tưởng hay dò ñoan nữa.

Vì các phương pháp này, ngaøy nay không còn sôû höõu cuûa caùc toân giaùo, maø ñaõ ñöôïc giôùi khoa hoïc hội quan taâm, nhieàu hội-đoàn, nhiều câu-lạc-bộ đã nghiên-cứu luyện-tập tỉnh-coâng, với hy vọng cải thiện và tăng cưôøng năng lực chuyển hoá cuûa các quá-trình ức-chế và hưng-phấn, cũng như tính ổn-ñịnh của vỏ não, giúp cho não luôn ở trạng-thái tối ưu.

 

       

        VẬN DỤNG HƠI THỞ ĐỂ

NHIẾP TÂM TỊNH TRÍ

 

            Quán-niệm hơi thở là đại-thừa (cổ xe lớn) của chư Phật để cứu vớt chúng-sanh đang trôi chìm trong sinh tử.

         Thiền-Sư Khương-Tăng-Hội

 

Tập trung tư tưởng vào hơi thở để tiêu trừ vọng niệm

Trong sự tu-hành, người tu cần phaûi biết sử-dụng hơi thở để nắm lấy thân-tâm, gìn-giữ sự yên-tĩnh tâm-hồn, hầu phát-triển thần-huệ, neân söï taäp trung tö töôûng vaøo hôi thôû trong Thiền-định là một phương tu cốt lắng đứng vọng-tưởng, tạp-niệm, đặt tâm ý ở một trạng-thái thuần-nhất vào một chủ-đề, hay ở một trạng-thái không không, để tìm một sự nghỉ-ngơi thư-giãn cả tâm-hồn lẫn thể-xác.

Vì khi chủ-động được hơi thở là chủ-động được thân tâm mình, theo Thiền-Sư Khương-Tăng-Hội thì quán-niệm hơi thở là đại-thừa (cổ xe lớn) của chư Phật để cứu vớt chúng-sanh đang trôi chìm trong sinh tử. Đếm hơi thở, theo dõi hơi thở là những phương-pháp để nhiếp-tâm tịnh-ý (Theo Cẩm-nang tu thiền của Thượng toạ Thích Nhất Hạnh). Nhưng mỗi khi tâm bị phân-tán, thì vận-dụng hơi thở để chế-ngự sự vọng-động để tâm an-tịnh hoặc ổn định tư-tưởng trở lại. Phương-pháp này có nhiều cách như  quán-chiếu vào hơi thở, theo dõi hơi thở... Nên trong các trường-hợp sau đây, hơi thở có thể giúp ta đạt đến yêu-cầu mong muốn.

- Trong lúc tham thiền, hay leã baùi maø tâm trí bị phân-tán, khó tập-trung, ta caàn nắm ngay lấy hơi thở, vì hơi thở là một phương-tiện thần-diệu để nắm lấy tâm ý.


- Khi tỉnh-tọa bị rơi vào hôn-trầm (ngủ gục) thì ta cũng vận-dụng hơi thở để phục hồi sự tỉnh thức, đem lại sự minh mẫn cho tâm thần.                                      

- Khi ta đang bị tức giận, hơi thở có thể bị dồn-dập, tâm thần xáo trộn, thì ta có thể hít cho sâu đến bụng dưới, lấy lại hơi thở chậm, đều, và chừng năm bảy hơi thì ta trở lại được traïng thaùi bình tænh.

- Khi đang bị một kích-động của thể xác hãy tập-trung vào hơi thở, tai như nghe được nó, mắt như thấy được sự chuyển-vận của nó, quán-niệm suốt chiều dài của hơi thở, chuyển góc nhìn cảm-giác kích-động của mình như thể từ ngoài nhìn vào, để cảm-giác kích-động trở thành thứ yếu, không cho nó chính là ta nữa, tuy ta không giết nó trực tiếp, nhưng nó không thể khiến thể xác ta kích-động thì nó tự chết dần dần, như vậy sau 12 hơi thở nó sẽ mất dần chỗ đứng trong ta, cường-độ sự kích-động yếu dần và lắng xuống, trả lại cho ta một sự sống thuần lương yên tĩnh, không khuấy rầy thân xác và tinh thần mình nữa.

Muốn vận-dụng hơi thở một cách có hiệu-quả thì cần tập-trung tâm-ý theo dõi suốt chiều dài hơi thở gọi là “tùy tức”, hoặc là đếm số hơi thở gọi là “sổ tức” hoặc niệm một câu thần-chú nào đó trong lúc thở, tỷ như niệm câu chú Thầy : “Nam mô Cao Đài Tiên ông Đai Bồ tát Ma Ha tát” (Khi hít vào niệm : “Nam-mô Cao-Đàì Tiên-Ông...”, thở ra niệm  “Đại Bồ-Tát Ma-ha-tát”  mỗi câu chú là một hơi hít vào và thở ra, niệm 12 câu chú là ta sẽ thở được 12 hơi, thì tâm ý sẽ lắng xuống, tâm-hồn không còn bị xao-động nữa.

Thực-hiện phương-pháp này theo khoa khí-công gọi là thở có chỉ huy, hơi hít vào bằng hơi thở ra, theo cách này ta chỉ thực hiện trong 12 hơi là vừa.

Còn trong tất cả các dịp khác ta nên sử-dụng hơi thở tự-nhiên gần như theo quán-tính đó là thời gian hít vào bằng 1/3 thời gian chung, thời gian thở ra bằng 2/3 thời gian chung, chỉ cần để ý thở nhẹ và đều dẫn khí tới đơn-điền, cách thở này có thể áp-dụng trong mọi trường hợp như khi nghe nhạc, khi nói chuyện, lúc đi bách bộ, nghĩa là mình làm chủ hơi thở trong khi vẫn nhận-thức được sự-kiện bên ngoài chung quanh mình, nghĩa là không để các tình-tiết làm ảnh hưởng đến quyền chủ-động hơi thở của mình. Phương-pháp này thở buông lỏng theo tự-nhiên nên có thể kéo dài bao lâu tùy ý mà không sợ xảy ra sự phản-ứng bất lợi nào cho cơ thể.

Trong sự tu-hành, người tu cần biết sử-dụng hơi thở để nắm lấy thân-tâm, gìn-giữ sự yên-tĩnh tâm-hồn, hầu phát-triển thần-huệ. Trong bài này hoàn-toàn không có mục-dích phổ-biến phương luyện thở của Thượng thừa, như vận hành hơi thở theo Nhâm mạch, Đốc mạch..., vì phương pháp nầy phải có Chơn-sư trực-tiếp hướng-dẫn và theo dỏi, mới không xảy ra những tai biến.

Nội-dung cách luyện thở nầy chỉ cốt giúp  cho người tu hạ-thừa biết cách sử-dụng hơi thở hằng ngày nhất là trong lúc tham-thiền. Vì theo Yoga thì phương-pháp thở nầy “không nhằm thực-hiện một điều gì ” (không tham cầu), mà chính để một “ điều gì đó sẽ tự hiện-thực” (tinh thần tỉnh lặng). Tham-thiền có kết-hợp với hơi thở ở đây cốt để đễ đạt một trạng-thái tinh-thần tỉnh-lặng, chứ không phải thực-hiện một chuổi nối tiếp các hoạt-động tinh-thần như suy tư quán tưởng (Theo Pranayma La Dynamique du soufle / Pranayma động-thái hơi thở / Nguyên-tác André Van Lysebeth / bản dịch của Vũ-an-Biên và Gs. Phan-sĩ-Tấn, Phan-Quân).

Nên sự kết-hợp chặc-chẽ hơi thở lúc luyện khí-công, tập thể dục, lễ bái, đó cũng là Thiền, sẽ giúp cho tâm ý dễ tập trung hơn .

Lễ bái Tứ thời keát hôïp vôùi hôi thôû cũng laø Thiền hay luyeän naõo tænh coâng noùi theo khoa hoïc.

Trong phép lễ-bái Tứ-thời cũng nằm trong phương-pháp Thiền hay laø luyeän naõo tænh coâng noùi theo khoa hoïc, nếu thực-hiện cá-nhân là Thiền đơn-độc một mình, còn thực-hiện cộng-đồng là Thiền tập thể, buổi Thiền này còn tuỳ theo sự tiến-hoá trong chơn-thần mỗi người mà đạt những bước khác nhau như :

- Tư-tưởng duyên theo cảnh-giới tôn-nghiêm nơi thờ-phụng lễ-bái để phát-huy lòng thành-tín, tăng-trưởng đạo-tâm.

- Tư-tưởng tập-trung vào âm-ba kinh-kệ để gom thần định trí, tiêu-trừ vọng-niệm.

- Quên hẳn âm-ba để chơn-thần hoà-nhập vào dòng thần-lực vô-biên của Thượng-đế để phát-triển thần huệ.

Nên Đức Phạm Hộ-pháp đã dạy về sự hữu-ích của sự lễ-bái  rằng :

“...Bữa ăn của linh-hồn là buổi chúng ta vô đền thờ cúng đấy...Bần-đạo khuyên một điều: đừng để quá đói mà chết đa !...” [Thuyết đạo của Đức Hộ pháp tại Đền Thánh đêm 01-11 Mậu-tý / 01-12-1948]. 

Trong chúng ta có người chưa am-tường chân-lý đó, lại cho lễ-bái Tứ-thời là việc tầm-thường không chịu thực-hiện, mà lại cứ muốn ngồi “sững” lim dim với tràng hạt trên tay mới cho là Thiền, là tu-luyện  cao, thật là môt sự lầm lẫn tai-hại.

 

***

Toùm laïi nội-dung cách luyện thở neâu treân chỉ cốt giúp  cho người tu hạ-thừa biết cách sử-dụng hơi thở hằng ngày nhất là trong lúc leã baùi, tham-thiền. Vì theo Yoga thì phương-pháp thở nầy “không nhằm thực-hiện một điều gì ” (không tham cầu), mà chính để một “ điều gì đó sẽ tự hiện-thực” (tinh thần tỉnh lặng). Tham-thiền hay leã baùi có kết-hợp với hơi thở ở đây cốt để đễ đạt một trạng-thái tinh-thần tỉnh-lặng, chứ không phải thực-hiện một chuổi nối tiếp các hoạt động tinh thần như suy tư quán tưởng

 

 

BÍ QUYẾT LUYỆN THỞ ĐỂ BỤNG KHÔNG LỚN

 

Theo lời Đức Phạm Hộ Pháp thì “nếu người tu không đầy đủ Tam lập, mà chỉ ngồi tịnh luyện thì càng lớn bụng vô ích”.

Tình trạng lớn bụng nầy, là một thực trạng phổ biến, thường xảy ra với những người lớn tuổi ngồi tịnh luyện, hít vào sâu xuống đơn điền, nhưng không biết kềm chế đai bụng, tức là không giữ cho bắp thịt bụng có một mặt phẳng với xương ức và xương chậu, mà cứ phình bụng ra thỏa mái, lâu ngày thành bụng giãn nở, bắp thịt bụng trở nên mềm nhảo, phình ra thành một túi chứa nội tạng lòng thòng, khiến lưng còng xuống trông thật thảm hại, nhưng lại cho rằng đó là ấn chứng đã “kết thánh thai thân vi phật tử” tức là đã có thai thánh, hình thành ông Phật con trong bụng !!! Thật là một điều hoang đường đáo để.

 

                     THỞ ĐƠN ĐIỀN

 

Thượng Đơn điền (tàng thần)

Trung đơn điền (tàng khí)

Hạ Đơn điền (tàng tinh)

 

 

 

 Để khắc phục tình trạng lớn bụng nêu trên trong phép luyện thở của Đạo gia và Yoga, có những bí quyết luyên tập sau

Dây gọi là thở  ‘Thở đơn điền’:

 

           Thở Đơn điền là cách thở hít sâu xuống bụng dưới, vì huyệt đơn điền nằm dưới rốn.      

 

Hít vào

Thở ra

                                   

  

          Theo một số nhà thể dục thẩm mỹ phản đối phương pháp thở bụng, vì cho rằng lối thở nầy dễ gây cho thành vụng giản nở, thiếu cân đối. Nhưng trong phương luyện thở của phái Đạo gia (tu tiên), và của Yoga, thì có cách thở hít sâu xuống bụng dưới gọi là thở đơn điền (huyệt đơn điền nằm dưới rốn).

          Lối thở nầy đối với những người trẻ trung tập luyện có bắp thịt bụng, thành bụng rắn chắc, thì hít vào phình bụng thỏa mái, nhưng bụng vẫn giữ mức bình thường.

 

 THỞ CÓ KỀM CHẾ ĐAI BỤNG

 

         Còn đối với những người thành bụng mềm nhão, nhất là đối với người lớn tuổi, cần phải thở theo cách có kềm chế đai bụng. Cách thở nầy giữ thể tích của của ổ bụng nhỏ hơn, giữ bụng không phình to, giữ  cho bụng và ngực thành một mặt phẳng.

         Tư thế kềm chế đai bụng, không phải là gồng để thành bụng co cứng, bụng thót, lồng ngực căng, như lối thở của lực sĩ, mà chỉ lấy sự nhu động cơ hoành làm bít tông đưa hơi thở xuống và đưa lên là chính yếu, chứ không nhu động đến thành bụng, nên pha bụng và pha lồng ngực được cân băng một cách mềm mại.

 

 

 

 

 

Cơ thẳng

 Hít vào có kềm

chế đai bụng

      Thành bụng

   Xương ức

 

Cơ chéo

 

 

 

 

Xương chậu

 

 

       

         Khi hít vào chỉ dùng cơ hoành, còn đai bụng được kềm chế, để giữ không cho bụng dưới phình lớn ra, tức là giữ cho cơ thẳng và cơ chéo của bụng thành một mặt phăng với xương ức và xương chậu.

 

Thở ra có kềm chế đai bụng

 

 

Cách thở nầy có tác động giữ cột sống thẳng đứng, không bị còng lưng, và diêu động các bộ phận vùng phụ cận, đẩy các tạng phủ trong ổ bụng về phía sau, tạo một áp lực trong ổ bụng, khiến các cơ quan rổng xốp dồn nén ép lại, khiến cho lượng máu quá tải ở các tỉnh mạch trở về tim nhanh hơn, nên sự thải khí CO2 nhanh chóng hơn. Các tạng phủ lấy lại hình dáng và thể tích bình thường.

            Khi cơ hoành hạ xuống còn cất bớt gánh nặng cho tim, tim không bị chèn ép, đồng thời sự thúc đẩy tuần hoàn tỉnh mạch do cách thở này tạo ra sẽ làm giảm nhẹ công việc của tim. Nên một số thầy thuốc sành Yoga đã khẳng định cách thở nầy là cách luyện tập tốt nhất cho những người suy tim và yếu phổi.

            Lối thở nầy còn có thể thức tỉnh được luồng hỏa xà (Kudalini).          

            Đối với những người thành bụng quá nhảo, có thể dùng thêm thêm tấm găng thun băng bụng hổ trợ, để pha bụng thẳng với pha ngực giữ bụng không phình to ra khi hít vào.

 

           Cơ hoành nhu động theo hít thở.

 

         Chỉ lấy sự nhu động cơ hoành làm bít tông đưa hơi thở xuống và lên là chính yếu.

Cơ hoành

nhìn nghiêng

 

Cơ hoành

nhìn thẳng

 

 

 

TẬP CHO THÀNH BỤNG VỮNG CHẮC

           

         Đối với những người thành bụng đã nhảo muốn giữ cho bụng khỏi phệ, ngoài cách thở kèm chế đai bụng, còn tập thêm các động tác sau đây:

 

        1.- Nằm ngữa

 

              

 

Ban đầu nằm ngữa, xuôi chân tay theo mặt sàng, hít thở tự nhiên.

 

         2- Gập nữa người phần trên

 

 

                    

         Đương nằm ngữa, gồng phần bụng lấy sức gượng ngồi dậy, hai chân vẫn giữ duổi dài sát mặt sàng, và gập người lại, cúi sờ hai tay sát đầu ngón chân, ráng tăng dần biên độ đến khi đầu trán có thể cụng sát gối. Rồi từ từ trở về tư thế nằm ngữa.

           Đối với những người yếu không tự gượng dậy được thì hai chân nên bám tỳ vào một thanh ngang.

 

         3.- Gập nửa người phần dưới

 

                     

            Đang ở tư thế nằm ngữa như củ, hai tay và nửa người phần trên ghì sát mặt sàng, gồng bụng, gượng nâng hai chân cong gập người, hai chân đưa lên đầu, đầu gối có thể cọ đến mặt. Rồi trở về tư thế nằm ngữa. Hít thở đều theo quán tính.

Đối với người yếu lúc nâng hai chân lên thì hai tay cũng bám tỳ vào một thanh ngang để đủ sức nâng hai chân.

Mỗi ngày tập như vậy khoản mươi hai lần, ban đầu mới tập, thành bụng căn đau, nhưng ít ngày sẽ quen dần, không cong đau nữa, dần dần bụng trở nên thon gọn, từ từ bắp thịt bụng sẽ nổi lên, thì thành bụng sẽ rắn chắc không còn phệ nữa, và lưng sẽ thẳng, không bị còng.

     

 CÁC TƯ THẾ LUYỆN CÔNG

 

 

Đứng thẳng

Đứng xuống tấn

Ngồi ghế

Quỳ theo kiểu Nhật

  

 

Các tư thế nằm

 

 

Nằm ngữa

 

 

Nằm nghiên

 

                  

Các tư thế ngồi 

 

Ngồi kiết già

 

 

                              Ngồi bán già

 

                                                                                    

THAY LỜI KẾT

 

Hiện-tượng thăng-hoa Tinh Khí Thần là một quá-trình nội chuyển, nó diễn ra trong tự thể của ba phần: Thể-chất, tình-cảm và trí-tuệ, của bất cứ người nào, với một cơ-chế rất tự-nhiên, cũng có thể nói là rất logic và khoa học, không hề ẩn tàng, một mảy may pháp thuật ảo huyền, hay dị đoan mê tín.

Ngay vấn đề siêu hay đọa của một chơn linh, nó cũng diễn biến một cách rất là khoa học, bởi vì khi sống con người giàu công đức, và yêu thương, thì chơn linh trong sạch nhẹ nhàng, khi thoát xát nó bay vụt lên thượng tầng không khí, nhập vào nơi đồng một tầng số trọng lượng với nó (niết bàn), còn ăn ở ác nghiệt thì chơn thần trọng trược, khi thoát xát nó phải là đà tại cỏi trần hay trung giới hoặc đắm chìm vào nơi nào đó thích hợp với trọng lượng của nó (địa ngục). Nên Albert Einstein đã nói rằng:

“Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiểng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng (Science without religion is lame. Religion without science is blind).

Nên đối với người tu dù công phu theo pháp môn nào đi nữa thì cũng chỉ thực hiện ở phần ngọn, cũng như ngồi lần tràng hạt, hoặc trì tụng kinh chú, thì cũng chỉ  là một khâu trong giây chuyền tu luyện, để thu phục vọng tâm mà thôi. Khi nào cái gốc của vấn đề là tiền khiên nghiệp chướng đã được đền bù trang trải xong bằng công quả và âm chất của mình đã tạo ra, thì chơn thần mới thanh khiết nhẹ nhàng siêu thoát được.

          Do đó chúng ta phải hiểu rằng những ai nong-nả đi trên con đường huyền linh, mà thân phàm còn trọng trược, chơn thần chưa trở về với bổn nguyên chí thánh, thì những sinh hoạt thượng tầng vẫn còn đầy huyển ảo, nghĩa là kiếp đoạ trần vẫn còn chưa mãn.

 

Vỹ (nơi hội tụ của Hỏa xà)

Các luân xa  

(vị trí tiếp thu năng lượng)

 

 

 

 

 

 

                       CHUNG

 

TƯ LIỆU THAM KHẢO

 

-  Thánh ngôn hiệp tuyển Quyển 1 và 2.

-  Kinh thiên Đạo Thế đạo.

-  Thánh kinh Tân ước.

-  Thuyết Đạo của Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc Q1,2,3,4,5,6

-  Phương tu Đại Đạo của Đức Hộ Pháp Phạm CôngTắc.

-  Thiền Định (Thánh giáo của Bát nương Diêu trì cung dạy nữ phái, tại trí Huệ Cung).

-  Nữ trung tùng phận / Chơn linh Đoàn Thị Điểm.

-  12 Bài luyện tập thân thể do Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc chỉ giáo.

-  Thiền luận / Nguyên tác SUZUKI/Bản dịch của Trúc Thiên.

-  Cẩm Nang tu thiền / Thượng tọa Thích Nhất Hạnh.

-  Lược giải kinh Duy Ma của Thượng tọa Thích trí Quảng.

-  Zen Dưỡng sinh / Thái Khắc lễ.

-  Trung quốc khí công sử / Lý Chí Dung.

-   Pranayama la dynamique du soufle (pranayama đông-thái hơi thở) Nguyên-tác André Van Lysebeth, bản dịch của Vũ-an-Biên, GS. Phan-sĩ-Tấn, Phan-Quân.

 

 ____________________________________________________________________________________________ 

 

Đồng Đạo có thể đọc tài liệu nầy trên

một số trang Web của Cao Đài giáo hay trực tiếp vào link datrungtu.net.

    Hoặc biên thư hay gọi về:

 

                          LÊ THỊ HỒNG

 

130    đường Ông Ich Đường, Cẩm lệ,

Thành phố Đà nẵng, Việt nam.

     Tél. 0511.3846687

      Dd. 0989 754 420

                Sẽ có sách in ấn thành phẩm

Top of Page

      HOME