LUẬN ĐẠO

Những bài  viết hoặc thuyết đạo của TỪ CHƠN này 

đă được tŕnh bày ở các buổi học đạo, thảo luận với

các đồng đạo hoặc đă đăng trên các trang web của CAO ĐÀI.

Xem: https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/tap-luan

   nghe/download/YouTube

 

 

* Cái MỘT trong CAO ĐÀI và cái MỘT trong tâm thức.

* Ấn chứng đắc đạo trong CAO ĐÀI.

* Thiên Nhăn

* Ẩn ư của Chúa Jesus

* Các biểu tượng ở Đền Thánh Tây Ninh

* Ư nghĩa cúng tứ thời

* Công b́nh và bác ái

* Quan Âm Bồ Tát

* Thánh danh Cao Đài

* Tôn chỉ Cao Đài

* Cao Đài cứu quả địa cầu 68 bằng cách nào?

* Tín đồ Cao Đài nên lập ngôn như thế nào?

* Phật Thích Ca trong Cao Đài

* Phương tiện và cứu cánh

* Thông công

* Xét lại triết lư Cao Đài

 

 

Cái MỘT trong CAO ĐÀI và cái MỘT trong tâm thức.

Những cách tiếp cận Cao Đài Giáo

Hệ thống tư tưởng Cao Đài Giáo phức tạp đến mức một người b́nh thường bỏ ra cả cuộc đời nghiên cứu, tu tập cũng chỉ như bơi trong một cái vịnh nhỏ. Có lẽ, người ấy không biết bên ngoài cái vịnh bé tí kia là đại dương, sóng cả gào thét trùng trùng. Đó cũng là một trong những lư do khiến cho tôn giáo Cao Đài bị phân hóa ngay từ thời kỳ đầu mở đạo. Ngoại trừ các bậc tiền bối sống chết với đạo ra, những người khác tiếp cận hệ tư tưởng này giống như những người mù đứng trước con voi. Họ sờ soạng voi, rồi dù chỉ tóm lấy được cái tai hoặc cái ṿi voi ǵ đó, nhưng họ cứ tưởng rằng ḿnh đă biết rơ về loài voi! Cứ thế, họ khư khư ôm riết lấy ư tưởng đó, cương quyết không chấp nhận những cái mà bạn của họ chộp được! Hệ quả hết sức oái oăm: Cao Đài là một tôn giáo có tôn chỉ kêu gọi đoàn kết và dung hợp, nhưng trong nội bộ, hạt mầm chia rẽ, chống đối lại có thể nhanh chóng bám rễ rồi vươn lên thành cổ thụ. Vậy mà hiện nay, vẫn c̣n một số người cổ vơ cho t́nh trạng chia rẽ này, bảo rằng Cao Đài này tịnh luyện, Cao Đài kia phổ độ. Điều đó cũng giống như chuyện một kẻ quê mùa kia mua b́nh hoa về, đập vỡ, dùng keo gắn lại rồi bảo rằng b́nh như vậy mới quí!!!

Có lẽ người ta đă quên một điều rất cơ bản là: muốn có được tư tưởng dung hợp mọi tôn giáo, th́ điều cần phải có và ắt phải có là một đầu óc mở rộng không một bợn định kiến. Không được phép ngộ nhận đáng tiếc rằng những điều cá nhân ḿnh hiểu là “chơn truyền” c̣n điều người khác hiểu là “sái chơn truyền”! Đức Chí Tôn lập ra một tôn giáo mới để dung ḥa các tôn giáo cũ chứ không phải tạo ra một thực thể khác cô lập hơn, gây phức tạp thêm cho bức tranh tôn giáo ở địa cầu 68 vốn đă chia rẽ cùng cực. Cũng có thể người ta không đủ tỉnh táo để nhận ra khác biệt giữa những hệ tư tưởng cũng giống như chuyện các cụ già cảm động khi xem tuồng hát bội, trái lại giới trẻ chỉ rung động khi xem phim t́nh yêu “Hàn Quốc”!

Thật ra, có rất nhiều cách để tiếp cận một vấn đề. Điều cần làm là hăy kiên nhẫn, b́nh tĩnh và rộng mở để theo dơi kết quả của những cách tiếp cận đó. Muốn băng ngang một khu rừng, có thể dùng sức người mở một đường ṃn, cũng có thể dùng xe ủi, tùy theo điều kiện hiện có. Vậy th́ cứ tiến lên, xông vào rừng đi, chứ đừng đứng ở b́a rừng mà chỉ trích người khác là mở đường ṃn như thế lâu lắm; hoặc dùng xe ủi tốn kém lắm! Trong tôn giáo, hành động đi qua cánh rừng quan trọng hơn phương tiện mở đường và kết quả cũng không phụ thuộc vào phương tiện.

Đối với hệ tư tưởng Cao Đài, có thể tiến vào bằng nhiều phương pháp mà loài người đă dùng từ lâu. Có thể đi vào bằng con đường nghiên cứu thần học. Tức là t́m hiểu nguồn gốc của Đức Chí Tôn Thượng Đế và triều nghi của Ngài, suy tưởng cho thấu đáo những nguyên tắc Ngài điều hành vũ trụ hoặc trả lời câu hỏi về mối quan hệ giữa Ngài và nhân loại. Cũng có thể dùng triết học đào sâu, phân tích t́m câu trả lời cho những câu hỏi cổ xưa nhất nhưng không kém phần hóc búa nhất: Có Thượng Đế hiện hữu hay không? Con người có linh hồn không? Con người đi về đâu sau khi chết? Thậm chí có thể dùng kinh tế học để nghiền ngẫm bộ máy điều hành vô cùng tinh xảo của Cao Đài.

Nếu không biết hay không muốn dùng bất cứ một phương pháp nào hết th́ sao? Th́ đến với Cao Đài bằng một tấm ḷng vậy. Nhưng tấm ḷng ấy đừng quá khắt khe, quá sẵn sàng tự vệ đến độ công kích ngay những ư tưởng nào khác có dấu hiệu “không-giống-điều-ḿnh-đă-biết”. Nói cách khác, hăy dụng một tấm ḷng biết “dựa-cột-mà-nghe” để suy ngẫm những điều chưa biết. Chớ vội kết luận “Đúng” hay “Sai”, bởi v́ đối với những người thật tâm học đạo, th́ kết luận một quan điểm “Đúng” hoặc “Sai” là một việc làm quan trọng c̣n hơn cả sinh mạng của chính ḿnh!

Nói tóm lại, bằng một phương thức nào đó: thần học, triết học hay kinh tế học, người tu tập có thể thu được những kết quả nhất định. Rồi từ những kết quả đó, người học đạo sẽ tiếp tục đi vào những ư tưởng tinh tế hơn cho đến khi đạt được chân lư (tức đạt pháp). Điều cần khắc ghi trong ḷng người tu học là: nếu thật ḷng muốn dấn bước trên con đường vạn dặm t́m chân lư, th́ không có thời gian đâu mà dừng lại để so sánh ai đi chậm ai đi nhanh, hoặc chỉ trích, “chỉnh sửa” người khác, hoặc lập ra thêm một “nền đạo Cao Đài mới nữa”! “Hăy đi, đi măi bằng một tấm ḷng rộng mở và rực lửa yêu thương”, đó là nguyên tắc của Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống mà cũng là lời nhắc nhở cho con cái của Đức Chí Tôn trên đường trở về hiệp một cùng Ngài.

 

Tiếp cận Cao Đài Giáo bằng tâm lư học

Cũng như phần lớn các tôn giáo từ cổ chí kim, đối tượng của hệ thống tư tưởng Cao Đài Giáo là con người. Tiên đề “Vạn linh thống khổ v́ ngập ch́m trong tối tăm tội lỗi, nên Đức Chí Tôn Thượng Đế mở đạo lần thứ ba để cứu rỗi” cho phép suy ra một định hướng quan trọng. Đó là hệ tư tưởng Cao Đài có mục đích giải thoát con người khỏi mọi niềm đau nhân thế. Nhưng Cao Đài không cứu con người giống như trực thăng kéo người bị nạn ra khỏi chỗ nguy hiểm. Con người cũng phải vận động cho phù hợp theo nguyên tắc “Trời Người Hiệp Một”. Vậy, người học đạo vận động thế nào? Bước khởi đầu cơ bản là: đọc thánh ngôn và làm theo những lời dạy đó.

Vấn đề là thánh ngôn và các biểu tượng của Cao Đài đôi khi rất khó hiểu, cần chú giải thêm. Đă có nhiều bậc tiền bối chú giải thánh ngôn cũng như các biểu tượng của Cao Đài Giáo thông qua nhiều quan điểm khác nhau. Không những thế, hiện nay và trong tương lai sẽ có nhiều bậc trí thức tiếp tục làm điều đó không ngưng nghỉ. Người th́ dùng Dịch Lư của triết học phương đông, người th́ dùng Toán Học Nhị Phân của văn minh phương tây. Dĩ nhiên, mỗi phương pháp đều đem lại cho chúng ta một số kết quả nhất định, tùy theo tŕnh độ kỹ thuật của người phân tích cũng như người tiếp nhận. Cũng nên để ư rằng chính tính chất đa nguyên tôn giáo (Religious Pluralism) của triết lư Cao Đài đă phần nào tạo điều kiện cho một số người, hoặc vô ư thức hoặc cố t́nh lợi dụng hay cũng có thể do tŕnh độ hiểu biết thấp kém, có thể tạo ra cái-hiện-tượng-gọi-là-“chi-phái”, vốn đă khiến cho những tín đồ thuần thành nhức nhối từ khi mở đạo đến nay.

Bây giờ, trong giới hạn nhỏ bé của bài viết này, mời các bạn đạo đi vào Cao Đài Giáo bằng một con đường khác với những con đường mà các bạn đă từng đi: con đường phân tâm học. Phân tâm học là lư thuyết nhằm phân tích tâm lư của con người để phục vụ cho một mục tiêu nào đó. Ví dụ như nhà phân tâm học người Áo Sigmund Freud (1856-1939), rất nổi tiếng của thế kỷ 20, đưa ra những phân tích tâm lư con người để trị bệnh rối loạn tâm thần. C̣n chúng ta, tín đồ Cao Đài, sẽ dùng phân tâm học để t́m đường thoát khổ.

Chọn phân tâm học không phải v́ hệ luận lư này đúng hơn hay lư thú hơn những cách phân tích khác, mà để chứng minh rằng hệ thống tư tưởng Cao Đài Giáo rất phong phú. Bằng mọi cách phân tích sẵn có hoặc sẽ có, ai cũng có thể đi vào trọng tâm của hệ tư tưởng này và thu được những lợi ích về mặt tinh thần cho bản thân. Xin những vị thích hiểu mọi thứ bằng nghĩa đen của từ điển hay dễ dị ứng với cách dùng từ khác với Thánh Ngôn Hiệp Tuyển lưu ư! Dù có dùng một hệ thống phân tích khác, nhưng những lời bàn luận ở đây vẫn “tùng thị pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ”, không đi ra ngoài Tân Luật Pháp Chánh Truyền, Ngũ Giới Cấm và Tứ Đại Điều Qui. Tác giả cũng không có ư định tạo ra một điều ǵ mới mẻ đến mức độ …nảy sinh thêm “một-chi-phái-mới” đâu!

 

Bản chất tâm lư của con người

Muốn dựa vào lư thuyết Cao Đài để phân tích tâm lư con người, trước hết cần phải thống nhất một số quan điểm dùng làm tiên đề cho những lư luận kế tiếp.

- Một, t́nh cảm của con người trong kiếp sống là một hỗn hợp buồn, thương, giận, ghét, vv… Bản chất của con người là luôn luôn có khuynh hướng t́m đến niềm vui và tránh xa đau khổ. Ư chí này không ngừng chi phối mọi hành vi con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi.

- Hai, lời dạy của Đức Chí Tôn Thượng Đế trong Cao Đài là những hướng dẫn giúp cho con người t́m đường thoát khỏi những khổ đau trần tục, t́m ra hạnh phúc chân thật.

- Ba, những lời dạy này đều hàm chứa những phương pháp mà một người b́nh thường có thể thực hiện được trong thực tế đời sống.

- Bốn, nguyên tắc “Thầy là Các Con, Các Con là Thầy” giúp suy ra được ngôn ngữ miêu tả Đức Chí Tôn cũng miêu tả những ǵ có trong bản thân một con người.

Bây giờ, mời các bạn đạo đọc lại thánh ngôn sau đây:

“Khi chưa có chi trong càn khôn thế giới th́ khí Hư Vô sinh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra càn khôn thế giới.”

Có thể chia thánh ngôn ra làm hai phần.

Phần thứ nhất: Khi chưa có chi trong càn khôn thế giới th́ khí Hư Vô sinh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Lúc này, chỉ có Đức Chí Tôn Thượng Đế và ngôi Thái Cực. Thế giới chưa sinh ra, con người chưa xuất hiện, chưa có những t́nh cảm buồn vui giận ghét, và dĩ nhiên không có đau khổ. Phần này được gọi là Thái Cực hay Nhất Nguyên (tức là Cái Một).

Phần thứ hai: Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra càn khôn thế giới. Trong phần này có thế giới sinh ra, con người xuất hiện cùng với những t́nh cảm buồn vui giận ghét vốn là nguồn gốc của đau khổ. Phần này gọi là Lưỡng Nghi hay Nhị Nguyên (tức là Phân Hai).

Thánh ngôn chúng ta vừa đọc mô tả tiến tŕnh lập ra một thế giới của Đức Chí Tôn Thượng Đế. Dựa vào tiên đề số bốn, có thể xem tiến tŕnh này tương đương với tiến tŕnh một tư tưởng khởi phát trong tâm thức của con người. Hai giai đoạn trong thánh ngôn tương đương với hai trạng thái tâm thức của một con người b́nh thường. Trong trạng thái đầu tiên, chưa có tư tưởng phát sinh. Lúc đó con người chỉ có linh hồn (Đức Chí Tôn ) và quyền lực của linh hồn (ngôi Thái Cực). Trạng thái thứ nh́ là tư tưởng phát khởi, sinh ra các loại t́nh cảm, rồi đi đến kết quả là đau khổ hoặc hạnh phúc (thường th́ đau khổ nhiều hơn!). Mỗi một tư tưởng đều khởi đi từ kết quả đối đăi của hai phạm trù Đúng-Sai, Có-Không, Thiện-Ác (phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi). Hai phạm trù này tác động qua lại để tiếp tục sinh ra những trạng thái t́nh cảm khác của con người (Lưỡng Nghi phân Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái). Và cứ như thế, các trạng thái t́nh cảm của con người sẽ được sản sinh vô tận (Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra càn khôn thế giới).

Đức Chí Tôn lập ra vô số thế giới bằng công thức này, và tư tưởng của chúng ta phát sinh hàng vạn lần trong cuộc sống hằng ngày cũng theo tŕnh tự đó. Cứ mỗi lần chúng ta nh́n thấy một vật thể hoặc định làm điều ǵ, tiến tŕnh tư tưởng liền phát khởi nhanh như chớp. Những tư tưởng này nối tiếp nhau, hoặc có khi xen lẫn vào nhau rất phức tạp. Cứ xét lại bản thân ḿnh chúng ta sẽ thấy quá tŕnh này diễn ra đúng y như vậy. Ví dụ, khi chúng ta được mời một món ăn, ngay lập tức tâm thức sẽ đưa ra hai chọn lựa: ăn hoặc không ăn món ăn đó (thái cực sinh lưỡng nghi). Nếu sự chọn lựa không dễ dàng và chúng ta c̣n do dự, tâm thức sẽ đưa ra bốn chọn lựa: ăn, không ăn, nửa muốn ăn nửa không muốn ăn và không chọn lựa ǵ cả (lưỡng nghi phân tứ tượng). Rơ ràng, tư tưởng luôn luôn vận động theo đúng qui luật lập ra thế giới của Thượng Đế. Qui luật này c̣n thấy rơ trong lănh vực điện toán (computer) hiện đại nữa.

Khi phân tích chi tiết th́ chúng ta biết tiến tŕnh tư tưởng trải qua những giai đoạn như thế. Nhưng trên thực tế tiến tŕnh này quá nhanh; nhanh đến mức chúng ta chỉ biết ḿnh đă tư tưởng khi quá tŕnh tư tưởng đó kết thúc. Điều quan trọng nữa là tiến tŕnh này chỉ đi theo một chiều duy nhất: từ Thái Cực sang Lưỡng Nghi, tiếp theo là Tứ Tượng rồi Bát Quái và tiến tới vô cùng, chứ không bao giờ đi theo chiều ngược lại. Ngoài ra, tiến tŕnh này có thể ngưng lại nếu giai đoạn tư tưởng đó đáp ứng được yêu cầu của người tư tưởng hoặc kết thúc bằng một hành động.

 

Đạt “cái một” trong tâm thức

Phần lớn các hành động đều có ư thức. Chúng ta suy nghĩ, lên kế hoạch, tính toán trước khi nấu một món ăn, trước khi đến sở làm, hoặc trước khi đánh máy một văn bản. Và mỗi khi suy nghĩ, tư tưởng đều vận động theo đúng qui luật nói trên. Nói khác đi, thông thường con người chúng ta sống trong thế giới Nhị Nguyên, hay c̣n gọi là thế giới Phân Hai, nơi mà mọi suy tưởng đều khởi đi từ Lưỡng Nghi, Đúng-Sai, Thiện-Ác.

 

Tuy nhiên cũng có những lúc chúng ta hành động thoát ra ngoài tiến tŕnh đó. Ví dụ khi đứng trước một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chúng ta cảm thấy một niềm vui nhẹ nhàng lan tỏa trong tâm trí. Ngay trong giây phút mong manh đó, tiến tŕnh suy nghĩ tạm ngưng, chúng ta chỉ c̣n thấy ḿnh ch́m đắm trong một cơi giới thoát trần, tạm thời quên đi những gian khổ khó khăn trong cuộc sống thường nhật. Rơ ràng trong giây phút ấy, tư tưởng không phát sinh, do đó hoàn toàn không có đau khổ. Đó chính là chút hé lộ của thế giới Nhất Nguyên, nơi tư tưởng vẫn c̣n nằm trong chiếc nôi Thái Cực, c̣n gọi là cơi giới của những người Đắc Nhất (tức là đạt được Cái Một).

Vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta có thể sinh sống, làm việc b́nh thường như mọi ngày mà vẫn thoát ra ngoài tiến tŕnh tư tưởng Nhị Nguyên, tức là lúc nào cũng đạt được Cái Một, không? Nếu được như thế, th́ toàn cuộc sống chúng ta sẽ ngập tràn niềm vui, hạnh phúc và nói theo người xưa là chúng ta đă thành Thần Tiên tại thế!

Các bạn đạo cũng đă biết rằng người xưa từ bỏ của cải vật chất thế gian, t́m đến nơi núi cao rừng thẳm để ngồi thiền, tĩnh tâm. Cao Đài gọi là luyện Tam Bửu, hay hiệp nhất Tinh, Khí, Thần. Mục đích của người luyện đạo là đón cho được cái trạng thái trước khi có tư tưởng sinh ra. Sở dĩ phải tuyệt đối tĩnh tâm là v́ tư tưởng sinh ra rất nhanh, khoảnh khắc trước tư tưởng gần như không thể nắm bắt được. Nhưng nếu nắm bắt được, con người sẽ có cơ hội thoát ra ngoài ṿng đau khổ. Trong trạng thái không đau khổ đó, sức mạnh của Thái Cực sẽ giúp con người nổ bùng ánh sáng Trí Huệ - nói theo thuật ngữ Cao Đài là mở Thiên Nhăn nh́n thẳng vào Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giới.

Đây là một trạng thái khó nắm bắt và không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường. Thế nên ngôn từ mà người xưa dùng để mô tả đôi khi rất khó hiểu. Thí dụ như đạt được “Chân Không”, “Nhất Nguyên”, “Bất Nhị”, “Chẳng phải hai, chẳng phải một”, “Phản bổn hườn nguyên”, “Đắc Nhất”, “Giác Ngộ”, “A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề”… Tất cả những ngôn từ ấy chỉ nhằm diễn tả một điều là sống trong trạng thái trước khi tư tưởng phát sinh, nghĩa là đạt được CÁI MỘT trong tâm thức của chính ḿnh.

Từ Chơn

November 15, 2008

 

 

ẤN CHỨNG ĐẮC ĐẠO TRONG CAO ĐÀI

NHẬP

Gần đây trên trang web YouTube có một đoạn video quay tang lễ của một tín đồ Cao Đài kèm theo ghi chú: đây là ấn chứng đắc đạo của người Cao Đài. Tác giả đoạn video giải thích thêm: Người tín đồ Cao Đài nếu có thiền định theo Tân Pháp Cao Đài, khi chết, trước khi tẩn liệm th́ mở mắt trái để cho mọi người biết là đă tu hành đắc đạo, c̣n không mở được mắt trái th́ coi như chưa đắc đạo. (nguyên văn)

Ngoài ra, trong lớp tập huấn hành đạo dành cho tín đồ, chức sắc và chức việc tại Sàig̣n do Ban Đại Diện Hội Thánh Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh tổ chức vào ngày 1/5/2009, trong BÀI VIẾT KIỂM TRA HỌC TẬP cuối khoá, có câu hỏi: Là người tu hành qua ba giai đoạn Đắc Thế, Đắc Pháp và Đắc Đạo, vậy nói đến người tu đă được Đắc Pháp có ấn chứng và biểu hiện ǵ để chứng minh? (nguyên văn)

Xin quí hiền huynh, hiền tỷ bỏ qua câu văn lủng củng và cách dùng từ rối ḅng bong trong hai thông tin nêu trên, mà hăy tập trung vào hai từ quan trọng: ẤN CHỨNG và ĐẮC ĐẠO. Thiết nghĩ chúng ta cần t́m học hai khái niệm này cho đến nơi đến chốn bởi v́ chưa hiểu rơ mà sử dụng, như trong hai trường hợp nêu trên, sẽ vừa đem lại hậu quả không có lợi cho bản thân vừa gây ấn tượng xấu trong dư luận đối với đạo Thầy.

Bây giờ, vấn đề là chúng ta sẽ dựa vào đâu để xác định ư nghĩa của Ấn Chứng và đắc đạo? Đừng vội nghe và tin lời người khác nói bởi v́ họ cũng mù mờ phàm tục như chúng ta. Cũng không thể dựa vào người nào đó, tự xưng hoặc được người khác cho là đă đắc đạo, bởi một lư do đơn giản: làm sao người b́nh thường như chúng ta phân biệt được ai đắc đạo, ai chưa đắc đạo? Chỉ khi nào chính bản thân ḿnh trải qua trạng thái “đắc đạo” rồi, th́ chúng ta mới phân biệt được ai đắc đạo, ai chưa. Do đó, đối với chúng ta, cách hợp lư nhất là t́m học trong kinh sách của các tôn giáo đă có từ xưa đến nay. Sau đó, kết hợp với kinh sách, thánh ngôn Cao Đài để có kết luận đúng đắn.

 

TRUY NGUYÊN

Tất cả các tôn giáo đều hướng dẫn tín đồ đi theo một qui tŕnh riêng biệt, rèn luyện tinh thần, rèn luyện thể xác hoặc cả hai. Thí dụ như phải tập tành yêu thương đồng loại, phải trở thành người có chữ tín, tập các tư thế hít thở, tập trung tư tưởng, hay thiền định vv…Khi kết thúc qui tŕnh này thành công, tín đồ sẽ đạt một kết quả hay thứ bậc nào đó trong tôn giáo. Nói “nôm na” theo kiểu người Việt Nam th́: Theo đạo Thiên Chúa, kết quả là được lên Thiên Đàng; theo đạo Phật, kết quả là thành Phật; theo đạo Cao Đài, kết quả là thành Tiên vv…

Các tôn giáo ở phương đông như Phật Giáo, Lăo Giáo Trung Quốc gọi đó là đắc đạo. Từ “đắc đạo” sau đó chuyển qua Việt Nam cùng với sự lan truyền của đạo Phật và đạo Lăo. Để tiếp tục thảo luận, xin phép trích dẫn Phật Giáo bởi v́ từ ngữ của Phật Giáo rất phổ biến trong ngôn ngữ Việt Nam. Hơn nữa, Phật Giáo là xuất phát điểm của hành động ấn chứng một người đắc đạo cổ xưa nhất. Theo kinh sách Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca trong lúc thuyết pháp đă dùng khái niệm đắc đạo rất nhiều lần. Xin trích dẫn ở đây một trong những câu truyện tiêu biểu nhất, đó là “Niêm hoa vi tiếu”:

Kinh Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi ghi: khi Phật ở hội Linh Sơn, có ông Đại Phạm Thiên Vương đem hoa sen dâng cúng Phật. Phật cầm cành hoa sen lên để khai thị cho đại chúng. Toàn thể chúng hội đều yên lặng, không ai hiểu thâm ư của Phật như thế nào. Duy có Ngài Ma Ha Ca Diếp là tỏ ngộ được thiền cơ của Phật, nên đổi sắc mặt vui vẻ, chúm chím mỉm cười. Đức Phật nhận thấy, liền ấn chứng cho Ngài Ca-Diếp được đắc truyền và làm tổ thứ nhất.

Câu truyện “Niêm hoa vi tiếu” đă trở thành mẫu mực cho Thiền Tông Trung Quốc. Trong Thiền Tông, thường th́ các môn đệ t́m đến một Đạo Sư để học đạo. Khi môn đệ đă hoàn tất những phần việc hoặc công án thầy giao, th́ Đạo Sư sẽ ấn khả chứng minh, gọi tắt là ấn chứng hay ấn khả, nghĩa là xác nhận môn đệ ḿnh đă đắc đạo.

Vậy thì chúng ta có thể rút ra kết luận đầu tiên mà cũng là kết luận quan trọng nhất: một người được xem là đắc đạo khi được một người đắc đạo khác (Đạo Sư) trực tiếp xác nhận (Ấn Chứng). Không hề có chuyện một hội đồng, một đoàn thể hay một hội thánh nào đó “ấn chứng” cho người khác “đắc đạo”. Lại càng không thể có chuyện một người phàm lại “phong” cho một người phàm khác “đắc đạo”. Xin hăy đọc lại kinh sách Phật Giáo điều này: Sau thời gian toạ thiền dưới cây Bồ Đề, Phật Thích Ca suy nghĩ và tự ḿnh t́m ra cách thoát khỏi nổi đau khổ của cuộc sống con người. Ngài đem điều ḿnh t́m được truyền giảng cho mọi người. Nghe lời dạy của ngài, người ta thấy đó là cách giải quyết hay nhất nên gọi ngài là Phật (tức là người giác ngộ, hay là người hiểu biết) và tự nguyện đi theo ngài để học hỏi thêm. Sau đó, khi thấy ngài Ma Ha Ca Diếp hiểu được ư ḿnh, Phật xác nhận ngài Ma Ha Ca Diếp đă thành công trong tu học. Người Trung Hoa gọi là Phật ấn chứng ngài Ca Diếp đắc đạo. Ngài Ma Ha Ca Diếp lại ấn chứng cho ngài A Nan, và cứ thế tiếp tục cho đến các vị tổ đời sau.

Kết luận thứ hai là: không có dấu hiệu ǵ chứng tỏ trạng thái đắc đạo cả. Đây là một kinh nghiệm nội tại và rất chủ quan. Nói cách khác, chỉ có Thầy và đệ tử trong cuộc mới biết thế nào là đắc đạo. Như trong truyện niêm hoa vi tiếu, chỉ có Phật Thích Ca và ngài Ma Ha Ca Diếp hiểu chuyện ǵ đang xảy ra, tất cả những người khác đều không hiểu. Chỉ khi Phật nói ra th́ mọi người mới biết Ngài Ma Ha Ca Diếp đă đắc đạo.

Có rất nhiều câu chuyện tương tự trong kinh sách Thiền ở Trung Quốc và Nhật Bản, là nơi Phật Giáo rất phát triển cho đến ngày nay. Thường trong những câu truyện này, đã thấy người ta dùng từ “giác ngộ” hay “ngộ” thay cho đắc đạo. Nhưng trình tự thì vẫn giống như thế. Nghĩa là, vẫn là một người Thầy (đã đắc đạo) xác nhận (ấn chứng) cho một đệ tử là đã “Ngộ” (đắc đạo) và những người xung quanh đều không ai hiểu gì cả. Nói tóm lại, đắc đạo là một trạng thái rất bí ẩn. Đối với người bình thường như chúng ta thì phải khẳng định một điều: chúng ta tin là có trạng-thái-gọi-là- đắc- đạo, chứ chúng ta không biết trạng-thái- đắc- đạo là gì cả.

 

NHỮNG SAI LẦM PHỔ BIẾN

Người ta thường hiểu lầm rằng khi đắc đạo là đă đạt được phẩm vị cao nhất. Người đắc đạo sẽ “ngự trên toà sen”, không c̣n luân hồi, đời đời hưởng “phước” trên Cực Lạc Thế Giới. Thực ra, Phật giáo cũng như Lăo giáo không có qui định cụ thể nào về việc ấn chứng và đắc đạo. Đặc biệt trong Thiền Tông Trung Quốc, khi một đệ tử được đạo sư ấn chứng th́ điều đó cũng không có nghĩa là đệ tử có quyền ngưng tu tập. Càng giác ngộ, người tu học càng thấy rằng việc tu tập không cùng tận và kéo dài vô số kiếp. Thiền sư Đạo Nguyên Hi Huyền nói rằng ngay cả Phật Thích Ca cũng c̣n đang trên đường tu tập. Đối với đạo Cao Đài, trong Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp dạy rằng: sau khi đạt vị, các chơn hồn lại tiếp tục đầu kiếp để tiến hoá. Và bởi v́ sự tiến hoá không có một hạn mức nào cả, nên số lần đầu kiếp của các phẩm chơn hồn cũng nhiều đến mức không thể nào đếm được.

Điều hiểu lầm thứ hai là người ta khẳng định người đắc đạo sẽ biến đổi hoàn toàn khác với trước khi đắc đạo. Người đắc đạo có thể chữa khỏi bệnh, đoán trước được tương lai, nhìn xuyên qua vách tường …Đây là những huyền diệu trong tôn giáo. Nhưng huyền diệu trong tôn giáo hiện nay chưa thể chứng minh công khai như khoa học. Huyền diệu c̣n tuỳ thuộc tŕnh độ tâm linh của từng người. Ví dụ như bên Đạo Thiên Chúa có người nh́n thấy Đức Mẹ Maria, nhưng đâu phải tất cả mọi người đều nh́n thấy được như vậy. Trong Cao Đài cũng vậy, chúng ta đều biết không phải ai cũng có thể cầu cơ, chấp bút để thông công với thiêng thiêng được. Thậm chí khi đă cầu cơ được rồi mà c̣n phải biết phân biệt đâu là Nhơn Cơ, Tà Cơ và Tiên Cơ nữa. Do đó, người phàm chúng ta không thể nào khẳng định được người đắc đạo biến đổi hay không biến đổi; hoặc có thể làm được những điều huyền diệu hay không làm được.

 

Ư NGHĨA ẤN CHỨNG ĐẮC ĐẠO THEO CAO ĐÀI

Trong Cao Đài giáo, Đức Chí Tôn Thượng Đế dạy rằng Ngài đến để độ kẻ vô đạo chứ không phải đến để sửa đạo và khẳng định phép luyện đạo vẫn giữ nguyên không đổi. Suy ra “ấn chứng” và “Đắc Đạo” cũng có những nguyên tắc giống như mấy ngh́n năm trước. Nghĩa là vẫn phải thoả hai điều kiện quan trọng: Thứ nhất, phải có một Đạo Sư “ấn chứng” một ai đó “Đắc Đạo”. Thứ hai, không có một dấu hiệu nào hiển lộ báo cho biết là người đó Đắc Đạo.

Trong Cao Đài, “Đạo Sư”, thường là các đấng thiêng liêng, giáng cơ “ấn chứng”. Đặc biệt, không những các đấng ấn chứng đắc đạo mà c̣n nói rơ đắc vị, tức là đạt được phẩm vị nào trên cơi thiêng liêng hằng sống. Cũng nên nhắc lại, theo Cao Đài có tám phẩm chơn hồn: vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, và Phật hồn. Từ Thần Vị trở lên thuộc về cơi thiêng liêng hằng sống.

Có thể kể ra ba trường hợp tiêu biểu sau đây:

· Đức Huệ Mạng Kim Tiên. Thánh Ngôn Hiệp Tuyển ghi lại rằng Đức Chí Tôn Thượng Đế giáng cơ dạy “V́ vậy mà các con coi thử lại, từ 2000 năm nay, bên Á Đông nầy đă đặng bao nhiêu Tiên, Phật. Các con duy biết có một ḿnh Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi." Từ đó trở đi, chúng ta mới biết ngài Huệ Mạng đă đắc đạo và đạt vị Tiên.

· Phối Thánh Phạm văn Màng. Ngày 27-9-Quí Dậu (dl 14-11-1933), ông Thần Vơ Văn Thoàn (một vị công quả trong Phạm Môn đă qui vị trước đây và đắc Thần vị), giáng cơ bạch với Đức Phạm Hộ Pháp rằng ông Phạm Văn Màng đă đắc vị Phối Thánh.

· Phối Thánh Bùi Ái Thoại. Năm Đinh Hợi (1947), Bát Nương giáng cơ cho Hội Thánh biết ông Bùi Ái Thoại đă đắc quả Phối Thánh.

Ba trường hợp tiêu biểu này khớp với hai nguyên tắc mà chúng ta đă đúc kết được: Thứ nhất, có “Đạo sư” là Đức Chí Tôn Thượng Đế, Bát Nương Diêu Tŕ Cung và Thần Vơ văn Thoàn “ấn chứng” cho các vị này. Thứ hai, người ngài cuộc như chúng ta không hề biết ǵ cả, chỉ biết sự kiện này sau khi đọc Thánh Ngôn mà thôi.

Vậy th́ chúng ta có thể an tâm mà sống và hành đạo, bởi v́ đă có các đấng thiêng liêng làm “đạo sư” và “ấn chứng” cho chúng ta khi về với Đức Chí Tôn. Không cần thiết phải bận ḷng xem ai đó có đắc đạo hay chưa hoặc ấn chứng nào là đúng. Người phàm mắt thịt như chúng ta không có khả năng (đúng hơn là không có quyền) xác định ai đắc đạo, ai chưa đắc đạo!!!

 

KẾT LUẬN

Sau khi truy nguyên nguồn gốc hai từ “ấn chứng”, “đắc đạo” và xác định thế nào là ấn chứng và đắc đạo trong Cao Đài, chúng ta mới thấy rơ hai trường hợp nêu ra ở đầu bài viết này là không có cơ sở nào đáng để tin tưởng cả. Thánh Ngôn từng dạy rằng đừng nghe Cao Đài này, Cao Đài nọ mà lầm đường lạc lối. Nếu đi sai đường, th́ điều nguy hiểm là chúng ta tự phí phạm kiếp sống của ḿnh và điều sai lầm đó không thể sửa lại dễ dàng. Hiện nay, càng lúc càng có nhiều “Cao Đài này, Cao Đài nọ” hơn bao giờ hết. Người ta cũng cầu cơ chấp bút và tự xưng đủ thứ danh thể to tát, mỹ miều, thậm chí kỳ quặc nữa.

Cách hay nhất đối với con cái Đức Chí Tôn bây giờ là xét kỹ xem những điều đó có tuân theo Tân Luật Pháp Chánh Truyền và Ngũ Giới Cấm hay không. Nếu không, th́ không đáng phải bỏ thời gian và công sức nghe theo nữa.

Từ Chơn

December 24, 2009

 

 

THIÊN NHĂN

 

* Tiếng Hán Việt: Thiên Nhăn

* Tiếng Việt: Mắt của Trời

*Tiếng Anh: Eye of Providence, Divine Eye, All-seeing Eye

Thông thường biểu tượng này tượng trưng cho Thượng Đế toàn năng, thấu rơ tất cả những hành vi của con người. Biểu tượng này t́m thấy ở cả các nền văn minh phương Tây lẫn phương Đông.

 

Truy t́m nguồn cội trên thế giới

* Ở nước Ai Cập

Trong thần thoại Ai Cập cổ, Thiên Nhăn được gọi là Mắt của Thần Horus, Mắt của Mặt Trăng hay Mắt của Thần Ra. Horus là thiên thần của Ai Cập cổ đại hóa thân là chim ưng. Mắt phải chim ưng là Mắt của Thần Horus cũng được xem là tượng trưng cho mặt trời. Mắt trái tượng trưng cho mặt trăng và thần Tehuti. Người cổ đại tin rằng biểu tượng bất diệt này sẽ hỗ trợ việc tái kiếp, v́ thế người ta đă t́m thấy biểu tượng này dưới lớp vải liệm thứ 12 của xác ướp vua Tutankhamun.

*Ở nước Đức

Biểu tượng Thiên Nhăn cũng được t́m thấy ở nhà thờ Aachen Cathedral, miền Tây nước Đức. Nhà thờ này đă được UNESCO xếp vào Di Sản Thế Giới. Đây là một nhà thờ Công Giáo La Mă cổ xưa nhất ở Bắc Âu. Từ năm 936 đến năm 1531, nhà thờ là nơi làm lễ đăng quang cho 30 vị Vua và 12 Hoàng hậu nước Đức. Đây cũng là nơi c̣n giữ những di vật thiêng liêng của Mẹ Đồng Trinh Mary, Chúa Jesus và Thánh John the Baptist.

*Ở nước Mỹ

Năm 1782, Thiên Nhăn được chọn là một phần trong biểu tượng khắc trên Quốc Ấn (con dấu quốc gia) của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Người ta cho rằng Thiên Nhăn là đề nghị của Pierre Eugene du Simitiere, nhà tư vấn nghệ thuật cho các tiểu ban thiết kế Quốc Ấn. Trên Quốc Ấn, Thiên Nhăn được vẽ phía trên một kim tự tháp có 13 bậc, tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên của Mỹ. Toàn bộ biểu tượng ngụ ư Thiên Nhăn hay Thượng Đế ban ân huệ cho một nước Mỹ thịnh vượng.

Ngoài ra Thiên Nhăn c̣n được nh́n thấy khắc trên con dấu của Tiểu Bang Colorado. Đặc biệt là trên mặt sau của tờ giấy bạc 1 đô la của Mỹ cũng có biểu tượng này. Chính việc này làm cho nhiều người biết Thiên Nhăn, bởi v́ đồng Đô La của Mỹ rất phổ biến trên thế giới.

*Thiên Nhăn trong thời gian gần đây

Hiện nay có thể gặp biểu tượng Thiên Nhăn ở nhiều nơi khác nữa, chẳng hạn như:

Trên tờ giấy bạc 50 krooni của nước Estonia.

Được dùng làm biểu trưng cho một phần mềm điện toán nhằm giúp các game thủ t́m máy chủ.

Được vẽ trên b́a của một số tuyển tập nhạc như: My Brother's Blood Machine của ban nhạc The Prize Fighter Inferno, hay Myths of the near future của ban nhạc Klaxons.

Được đề nghị làm biểu tượng cho hành tinh mới được xếp loại Eris.

Trong bộ phim The Lord of the Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn), nhân vật Sauron được miêu tả là có Con Mắt Toàn Năng (Thiên Nhăn)

Ca sĩ Madonna mặc áo jean có h́nh Thiên Nhăn sau lưng trong phim Desperately Seeking Susan (Hoài công t́m Susan)

Ca sĩ Michael Jackson, đă dùng h́nh ảnh này để thần tượng hóa bản thân trong một số videos của anh.

 

Biểu tượng trong Đạo Cao Đài

Hiện nay một Tôn Giáo tương đối mới là Cao Đài (thành lập năm 1926 ở Việt Nam) cũng dùng Thiên Nhăn làm biểu tượng chính, thay cho h́nh ảnh Thượng Đế tại trần gian. Tuy nhiên trong Đạo Cao Đài, Thiên Nhăn có nhiều ư nghĩa đặc trưng của nền tân tôn giáo này.

*Nguyên thủy

Đệ tử Cao Đài đầu tiên nh́n thấy Thiên Nhăn là ông Ngô Văn Chiêu. Khi Thượng Đế giáng dạy ông phải ăn chay, th́ ông xin được nh́n thấy một hiện tượng huyền diệu nào đó để có ḷng tin trước khi vâng lời dạy. Ông đă được nh́n thấy Thiên Nhăn hiện lên rực rỡ ở chân trời ba lần. Từ đó ông vẽ h́nh Thiên Nhăn và âm thầm thờ trong nhà ḿnh.

Trong khi đó các ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư và Cao Hoài Sang cũng tổ chức xây bàn để Thông Công với cơi thiêng liêng. Các ông này cũng được Thượng Đế nhận làm đệ tử. Sau đó, các ông muốn lập bàn thờ Thượng Đế nhưng không biết dùng biểu tượng nào nên cầu cơ xin ư kiến. Thượng Đế giáng, dạy các ông hăy đến nhà ông Ngô Văn Chiêu để xem cách thờ phượng. Trước khi đi, hai ông Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư bàn với nhau thử đoán trước biểu tượng là ǵ, bằng cách tự ḿnh vẽ ra mà không cho người kia biết. Khi đem ra so sánh th́, không hẹn mà nên, cả hai ông đều vẽ h́nh Thiên Nhăn. Do đó khi đến nhà ông Ngô Văn Chiêu, hai ông càng sửng sốt v́ biểu tượng ở nhà ông Chiêu cũng là Thiên Nhăn.

Tuy nhiên, lúc bấy giờ các ông cứ vẽ Thiên Nhăn để thờ chứ không hiểu lư do tại sao. Đến ngày 24-02-1926, Thượng Đế giáng cơ cho bài thơ sau để giải thích:

Nhăn thị chủ tâm,

Lưỡng quang chủ tể,

Quang thị thần,

Thần thị thiên,

Thiên giả ngă giả.

Tạm dịch tiếng Việt như sau: Mắt là chủ tâm thức và ư thức, hai ánh sáng là người điều khiển tối cao, ánh sáng là thần, thần là Trời, Trời là Ta.

*Biểu tượng của trí huệ

Theo Đạo Cao Đài, Thiên Nhăn không thể hiểu đơn giản theo nghĩa đen là Mắt Trời, bởi v́ Thượng Đế không có h́nh thể vật chất.

Theo nguyên lư Thể Pháp và Bí Pháp của đạo Cao Đài, có thể suy ra hai cách để hiểu biểu tượng Thiên Nhăn. Thứ nhất là hiểu bằng kiến thức. Hiểu bằng kiến thức nghĩa là nh́n sự vật (h́nh ảnh hoặc văn tự …) rồi so sánh với kho dữ liệu của bộ năo để phân tích, chọn lọc hoặc phê phán. Hay nói nôm na là nh́n bằng hai mắt. Nghĩa là khi nh́n sự vật, luôn luôn dựa vào tối thiểu là hai yếu tố đúng hoặc sai; có hoặc không. Đây là cách hiểu thông thường của con người từ thời nguyên thủy. Cách hiểu này giúp phát triển văn minh vật chất rất nhanh chóng và đă đem lại cho nhân loại nền văn minh vật chất cao cấp như ngày nay.

Tuy nhiên, hiểu sự vật thông qua kho chứa các kinh nghiệm lâu đời không giải quyết được các vấn đề tâm thức. Ngoài ra, cách này lại tùy thuộc vào tŕnh độ văn hóa hoặc số lượng kinh nghiệm thu thập được của bản thân mỗi người. Những bộ óc siêu việt uyên bác sẽ hiểu biết khác với những người b́nh thường. Hậu quả dẫn đến sự phân hóa trong nhân loại. Chính v́ thế, loài người dù tiến bộ rất tốt trong lănh vực vật chất, văn minh tinh thần vẫn chưa tiến bộ bao nhiêu. Sự tàn ác, nhẫn tâm, tranh dành, thù hận vẫn có mức độ như mấy ngàn năm trước, thậm chí tinh vi khó nhận ra hơn. Cho đến ngày nay, con người vẫn chưa tạo được một thế giới thanh b́nh, thịnh vượng và đầy t́nh thương yêu.

Cách thứ hai là hiểu Thiên Nhăn bằng trí huệ. Hiểu bằng trí huệ là một hành vi cực kỳ khó khăn, bởi v́ hành vi này không cần sự hiện diện của kiến thức bất kể loại nào. Trí huệ đưa tâm trí trực tiếp vào giữa sự vật không thông qua quá tŕnh phân tích, chọn lọc và phê phán. Nói một cách h́nh tượng là nh́n bằng một mắt. Nghĩa là khi quan sát th́ người quan sát cùng vật bị quan sát là một. V́ thế khi nh́n bằng trí huệ, con người mới hiểu được biểu tượng Thiên Nhăn toàn diện. Đây là cánh cổng mở vào một thế giới khác, một thế giới thanh b́nh thực sự mà các tín đồ Cao Đài gọi là Thiên Đàng (Paradise) hay Cực Lạc Thế Giới (Nirvana).

Tóm lại, Thiên Nhăn là biểu tượng của Trí Huệ. Tín đồ Cao Đài tin rằng, khi vào Tịnh Thất sẽ được tập luyện theo một phương pháp đặc biệt để đạt được Trí Huệ.

*Biểu tượng của đại đồng

Tín đồ Cao Đài c̣n xem Thiên Nhăn là biểu tượng của đại đồng. Trên thế giới ngày nay, quốc gia nào sống cô lập th́ sẽ phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu. Càng ngày càng có nhiều quốc gia muốn bắt tay nhau hợp tác trong mọi lănh vực và như thế những va chạm về văn hóa, phong tục, tư tưởng cũng tăng lên. Phải có cách giải quyết để các quan hệ hợp tác không biến thành đối đầu. Trong hoàn cảnh như thế th́ biểu tượng Thiên Nhăn của Cao Đài chính là một đề nghị có ích.

Biểu tượng Thiên Nhăn ngụ ư một, nghĩa là thống nhất. Nhưng không phải dùng mọi cách áp đặt quan điểm thống nhất lên người khác, bởi như thế là thống trị. Nếu trong tất cả các mối quan hệ, ai cũng có quan niệm: “Mọi tôn giáo là một, mọi dân tộc là một, mọi hệ tư tưởng là một.” th́ sẽ tránh được ngộ nhận, hiềm khích. Và thế giới sẽ trở thành một nơi tốt đẹp hơn nhiều.

*Phương pháp tu tập của tín đồ Cao Đài

Quan niệm đại đồng lại nẩy sinh vấn đề. Đó là làm sao để mọi người cùng có quan niệm “Mọi tôn giáo là một, mọi dân tộc là một, mọi hệ tư tưởng là một.” Đạo Cao Đài là một tôn giáo nên không đề ra những biện pháp dựa trên sức mạnh vật chất. Các tín đồ Cao Đài cho rằng muốn tạo ra một thế giới đại đồng, phải bắt đầu bằng tu sửa bản thân và thuyết phục, giúp mọi người xung quanh cùng làm như thế. Tuy nhiên, kết quả sẽ không hoàn toàn phụ thuộc vào con người. Theo nguyên tắc Hiệp Thiên của Cao Đài (con người hiệp với Thượng Đế), con người cứ làm điều Thiện vô điều kiện, kết quả c̣n lại sẽ do Thượng Đế quyết định.

Biểu tượng Thiên Nhăn c̣n ngụ ư một phương pháp tu tập của tín đồ Cao Đài. Con người được cho là tổng hợp của ba thành phần có tác động hổ tương: thể xác, tinh thần và linh hồn. Ư chí con người chỉ có thể hoạt động trong phạm vi tinh thần. Từ khu vực này mỗi cá nhân sẽ thông qua ư thức để tác động vào các hành vi của thể xác. Ư thức con người luôn luôn phân hai ( Đúng hoặc Sai ) và đó vừa là phương tiện sinh tồn vừa là thảm kịch của nhân loại. Nếu điều chỉnh cho ư thức đạt được trạng thái không phân hai nữa mà hiệp lại làm một, th́ mọi hành vi của thể xác sẽ phù hợp những nguyên tắc đạo đức của Thượng Đế, và ba thành phần thể xác, tinh thần và linh hồn sẽ hợp nhất. Đây là trạng thái mà các tín đồ Cao Đài gọi là Hiệp Thiên, Hợp Nhất với Thượng Đế hay Thầy là các con, các con là Thầy. Trong trạng thái này con người không nh́n sự vật bằng Nhục Nhăn (mắt thường), mà bằng Thiên Nhăn. Tóm lại, Thiên Nhăn vừa là phương tiện vừa là cứu cánh của người theo đạo Cao Đài.

TỪ CHƠN

Tài liệu tham khảo

*Đạo Sử - Tài liệu Ṭa Thánh Tây Ninh

*Đại Đạo Sử Cương – Trần văn Rạng

*Đại Thừa Chơn Giáo – Chiếu Minh Đàn

*Phương Luyện Kỷ - Hộ Pháp Phạm Công Tắc

*Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương Diêu Tŕ Cung (bản thảo)

*Cao Đài Tự Điển – Đức Nguyên

 

 

ẨN Ư CỦA CHÚA JESUS

Khởi

Đă sắp vào mùa Giáng Sinh 2007, tín đồ Cao Đài trên toàn thế giới cùng toàn thể nhân loại vui mừng chào đón một ngày lễ lớn. Nhân dịp này nhớ lại, cũng vào một đêm Giáng Sinh cách đây tám mươi mốt năm, Thượng Đế Chí Tôn (tín đồ Thiên Chúa gọi là Đức Chúa Trời) đă giáng cơ tại một đất nước nhỏ bé là Việt Nam để tuyên bố khởi đầu một kỷ nguyên mới: Tam Kỳ Phổ Độ.

Nhân kỷ niệm này, xin mời quí vị đồng đạo cùng đọc lại một vài lời dạy của chúa Jesus, bậc đại giáo chủ đă giáng phàm truyền giảng lời của Đức Chí Tôn ở đất nước Israel, vốn cách xa Việt Nam ngàn dặm nhưng cũng có một lịch sử đầy sóng gió tương tự.

 

Lời giảng của chúa Jesus

Kể từ lúc Chúa Jesus rời khỏi gia đ́nh đi giảng đạo, Chúa đă thu mười hai môn đồ đầu tiên, làm rất nhiều phép lạ, và chữa trị cho rất nhiều người bị bệnh nan y. Chính v́ thế, mà số tín đồ cũng như số người đi theo Ngài càng lúc càng đông. Nhưng chính những lời giảng dạy của Ngài mới là nền tảng của một nền Tân Tôn Giáo so với thời bấy giờ. Xin đương cử một số tiêu biểu.

*“Đừng chống cự kẻ hung dữ …”

“Đừng chống cự kẻ hung dữ ; nếu ai vả má bên phải của ngươi, hăy đưa luôn má bên kia cho họ; nếu ai kiện ngươi muốn lấy chiếc áo ngắn, hăy cho họ luôn chiếc áo dài; nếu ai muốn bắt ngươi đi bộ một dặm đường, hăy đi hai dặm với họ …” (Tân Ước – Matthew).

Về mặt Thể Pháp Cao Đài, có thể hiểu đây là lời dạy về nguyên tắc bất bạo động, dùng t́nh thương đối phó với hận thù. Trong lịch sử đầy sóng gió của quả địa cầu 68, con người, v́ cuộc sống, phải tranh dành liên tục nên xem trọng sức mạnh vật chất. Bạo lực được đề cao là hệ quả tất yếu. Người ta sử dụng bạo lực hằng ngày. Kết quả, nhân loại tạo ra một thế giới đầy bạo lực. Bạo lực không biết đến t́nh thương và chỉ sinh ra đau khổ, mất mát.

Chúa Jesus dạy nguyên tắc bất bạo động để lập lại sự cân bằng, để nhắc nhở con người điều họ vốn đă biết nhưng không bao giờ thực hiện được. Cho đến nay, hơn hai ngàn năm qua đi mà loài người vẫn chưa thực hiện được bài học bất bạo động, trừ một vài cá nhân lẻ loi mà trong đó Mahatma Gandhi là một. Thậm chí có người c̣n biến bạo lực thành một “học thuyết” nhằm cổ vũ cho tính hung bạo của ḿnh. Đại khái như là : Cần phải dùng bạo lực để trấn áp cái ác, khi diệt hết cái ác rồi th́ điều c̣n lại sẽ là cái thiện. Lư thuyết nghe rất hay, nhưng suy cho cùng th́ họ chỉ mặc một chiếc áo đẹp đẽ cho tính hiếu sát của họ mà thôi. Rơ ràng, họ đă mắc sai lầm nghiêm trọng! Bởi v́ lịch sử loài người đă chứng minh rằng bạo lực không thể tiêu diệt được cái ác, mà chỉ nuôi dưỡng thêm một cái ác mới – đó là cái-ác-diệt-cái-ác. Chỉ khi nào số người làm điều thiện nhiều hơn số người làm điều ác (chứ không phải người thiện diệt hết người ác!) th́ điều ác mới không c̣n đất để phát sinh. V́ thế, nghe và làm theo lời dạy của chúa Jesus là nuôi dưỡng, bổ sung điều tốt đẹp, tạo ra càng ngày càng nhiều điều thiện trong xă hội.

Đối với Bí Pháp Cao Đài, đưa má bên trái cho kẻ đă tát tôi vào má bên phải là một hành động phi nhị nguyên. Hành động nhị nguyên thông thường là: trả đủa kẻ đă tát ḿnh bằng một hành động nào đó; tát lại hắn, chẳng hạn. Hành động phi nhị nguyên là một hành động rất khó thực hiện. Bởi v́ nếu tôi thật sự đưa má bên trái cho kẻ đă tát tôi vào má bên phải; th́ đó cũng lại là một hành động nhị nguyên khác. Thực hiện lời Chúa dạy sát theo từng câu chữ chỉ mới làm trọn phần Thể Pháp trong Cao Đài. Hiểu rơ lời dạy của Chúa để có được hành động phi nhị nguyên mới trọn phần Bí Pháp trong Cao Đài. Thể Pháp và Bí Pháp sóng đôi th́ hành động mới tṛn đầy, và sự tṛn đầy sẽ tự thân hóa giải mọi niềm đau nhân thế, đưa con người trở về vườn Eden hạnh phúc (thuật ngữ Cao Đài gọi là Cực Lạc Thế Giới) .

Thế nào là hành động phi nhị nguyên? Xin kể lại một câu chuyện đượm màu Thiền học trong những ngày mở đạo. Lúc bấy giờ, ngoài các vị tiền bối được thiêng liêng chỉ định pḥ loan ra th́ nhiều người khác cũng lén cầu cơ, chấp bút. Điều đáng nói là cũng có các đấng giáng, thậm chí có cả Đức Chí Tôn giáng cơ. Ngày 7/11/1933 trong một đàn cơ ở Phạm Nghiệp, Đức Hộ Pháp hỏi Đức Chí Tôn:

“Dạ thưa Thầy,con không biết tại sao các nơi đều có cơ bút, mà mỗi lần đều xưng danh Thầy, không lẽ Thầy đến với cơ bút ấy?”

Đức Chí Tôn trả lời:

“Thầy đă nói rằng duy có ngôi của Thầy chúng nó không dám dựa, chớ danh Thầy nó được phép dùng. Nên Thầy đă dặn rằng đừng nghe Cao Đài nơi này, Cao Đài nơi khác, rồi tin theo mà thất thệ. ….”

Đức Hộ Pháp bạch:

“Dạ thưa Thầy, nói vậy Thầy không có đến với cơ bút ấy?”

Đức Chí Tôn trả lời:

“Tắc, con tối trí quá!”

(Xin phép được biên tập phần trích dẫn trên vài chỗ cho dễ hiểu – Nguyên văn trong Thánh Ngôn Sưu Tập của Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng)

Xin lưu ư câu trả lời cuối cùng của Đức Chí Tôn. Tại sao Đức Chí Tôn không khẳng định hoặc phủ định mà lại trả lời bằng một câu chệch đi chỗ khác, thậm chí làm tối nghĩa thêm? Tuyệt đối không có chuyện tránh né ở đây, bởi v́ ở vị trí của Đức Chí Tôn th́ Ngài chẳng có việc ǵ phải tránh né. Nhưng khẳng định hay phủ định là một trong hai mặt của nhị nguyên. Câu trả lời của Ngài đă đi ra ngoài ṿng nhị nguyên đối đăi: đó là một hành động phi nhị nguyên!

Dù thí dụ như thế, nhưng hành động phi nhị nguyên không có công thức, không thể na ná, giông giống với thí dụ đă nêu. Mỗi một hành động phi nhị nguyên là cả một thế giới mới mẽ chưa từng có. Hành động phi nhị nguyên chỉ phát sinh ở người nào đạt được sự thông suốt trong tư tưởng và hiểu rơ ràng đôi đường thiện ác. Trong Cao Đài, một người học đạo muốn đạt được sự thông suốt trong tư tưởng th́ phải thể hiện đầy đủ Thể Pháp, nghĩa là phải rèn luyện tam bửu không ngừng nghỉ trong cuộc sống. Có như thế th́ Bí Pháp mới vận hành. Có như thế mới mong có được hành động phi nhị nguyên - nói theo ngôn ngữ của người xưa là đắc đạo, hay nói theo ngôn ngữ Cao Đài là hiệp một cùng Đức Chí Tôn.

*“ … hăy yêu kẻ thù nghịch …”

“Ta nói cùng các ngươi rằng: hăy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi …” (Tân Ước – Matthew).

Về mặt Thể Pháp Cao Đài, đây là một lời dạy rất khó thực hiện. Bởi t́nh yêu là một t́nh cảm rất đặc biệt. Không thể cưỡng ép bất cứ một ai yêu mến một người khác. Nếu tôi yêu mến một người nào đó bởi v́ Chúa đă dạy như thế, th́ t́nh yêu mến kia chẳng có giá trị ǵ! Đó chỉ là lừa dối chính ḿnh và cả Chúa nữa! Yêu mến một người đă khó, Chúa Jesus lại dạy rằng nên yêu thương kẻ thù nghịch của ḿnh. Đây là điều c̣n khó khăn hơn nữa!!

Có thể lư giải rằng Chúa dạy như vậy là để bắt tôi suy nghĩ lại những t́nh cảm của ḿnh vốn vẫn phóng túng theo bản năng. Tôi chỉ yêu mến những ǵ đem lại lợi ích, và ghét bỏ những ǵ gây tổn hại cho ḿnh. T́nh cảm này vô cùng tự nhiên và không có ǵ đáng trách. Nhưng rồi lợi ích của người này lại là tổn hại của người khác và cứ như thế nhân rộng ra mà thế giới trở nên xung khắc hằn thù. Phải chăng c̣n một cách khác ngược lại với thói quen của tôi - ấy là làm theo lời Chúa Jesus: yêu mến kẻ thù nghịch của ḿnh - để làm cho thế giới này bớt thù hận, thêm thương yêu, giúp nhân loại sống hoà đồng hơn, có ư nghĩa hơn?

Yêu mến kẻ thù nghịch của ḿnh có vẻ rất khó thực hiện. May thay, vẫn có thể có hành động này nếu xét lời dạy này dưới cái nh́n của Bí Pháp Cao Đài. Đối với Bí Pháp Cao Đài, đây là một động tác tuyệt vời để từ thế giới nhị nguyên bước vào thế giới nhất nguyên kỳ ảo. Muốn yêu mến kẻ thù nghịch với ḿnh th́ phải hiểu rơ t́nh cảm thù hận và yêu thương chỉ là một. Tại Đền Thánh Tây Ninh, đă có lời dạy của Đức Chí Tôn về điều này: hai bên cửa vào Đền có tạc tượng Ông Thiện và Ông Ác, và chính giữa hai tượng này là Cân Công B́nh. Muốn bước vào Đền Thánh, tức là bước vào Bạch Ngọc Kinh tại thế phải biết “cân” Thiện Ác cho bằng nhau. Hay nói khác đi, phải hiểu Thiện Ác vốn không khác.

Tưởng cũng nên nhắc lại chuyện Ông Thiện, Ông Ác để tiện tham khảo. Ông Thiện và Ông Ác vốn là hai hoàng tử (Tỳ Văn và Tỳ Vơ), con của một vị vua Ấn Độ. Ông Thiện tính t́nh hiền lành hay thương yêu giúp đỡ mọi người; trái lại Ông Ác tính t́nh nóng nảy rất dễ nổi giận. Cũng chính v́ thế nên khi vua cha băng hà, vua cha nhường ngôi lại cho Ông Thiện. Ông Ác biết được liền nổi giận v́ cho rằng, với tính t́nh hiền lành như thế, Ông Thiện sẽ không thể cai trị được dân trong nước. Thế nên Ông Ác đi t́m Ông Thiện để bảo ông nhường ngôi lại cho ḿnh. Sợ nhường ngôi cho Ông Ác là trái với ư nguyện của cha, hơn nữa sợ Ông Ác sẽ cai trị người dân quá hà khắc nên Ông Thiện bỏ trốn. Thấy thế, Ông Ác bèn đuổi theo để giải thích. Đến một ghềnh đá cao, Ông Thiện sơ ư nên té xuống vực chết. Ông Ác đến nơi, vô cùng hối hận nên cũng nhảy xuống vực chết theo anh.

Câu chuyện trên là một dẫn đạo cơ bản để người học đạo có cái nh́n chính xác về Thiện Ác, Đúng Sai. Nếu Ông Thiện, Ông Ác là hai anh em ruột, th́ Đúng Sai cũng xuất phát từ một gốc là nhận thức của từng cá nhân. Ông Thiện có lư do để không nhường ngôi lại cho em. Ông Ác cũng có lư do khi muốn dành lấy ngôi vua. Không thể nói rằng ai đúng hơn ai. Nói rộng ra toàn thế gian này, th́ Đúng Sai; Thiện Ác cũng như thế. Cân Công B́nh nằm giữa cửa vào Đền Thánh không có nghĩa là phải đong đếm Thiện và Ác cho bằng nhau mà ngụ ư tư tưởng của mỗi con người gồm có hai thành phần như thế. Không thể xóa bỏ bất cứ một thành phần nào v́ chúng vốn là anh em ruột. Từ cái nh́n đó người học đạo Cao Đài sẽ quen dần với khái niệm Thiện là Ác hay Đúng là Sai . Thế rồi trong một tích tắc phù du nào đó trong đời, người tu học sẽ bừng ngộ chân lư trong câu truyện Ông Thiện, Ông Ác kia; lúc đó mới có thể yêu mến được kẻ thù nghịch một cách tự nhiên bằng t́nh cảm nồng nàn của ḿnh chứ không phải yêu v́ Chúa Jesus đă dạy như thế. Có như vậy th́ mới đúng là làm theo lời Chúa Jesus dạy.

*“Ai trong các ngươi là người vô tội

“Bấy giờ, các thầy thông giáo và người Pharisee dẫn lại cho chúa Jesus một người đàn bà đă bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ nói cùng Chúa rằng: Thưa Thầy, luật Moses dạy rằng chúng ta phải ném đá những hạng người như vậy. C̣n Thầy, Thầy nghĩ sao? Chúa Jesus phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hăy ném đá trước. Sau khi nghe lời này, mọi người lần lượt bỏ đi.” (Tân Ước – Jean).

Phải xét bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ th́ mới thấy hết ư nghĩa của câu truyện nói trên. Thời nào cũng vậy, khi có một đấng cao trọng giáng thế th́ loài người luôn luôn gây ra đủ thứ thử thách khó khăn. Chuyện xưa vẫn kể rằng Phật Thích Ca bị các giáo sĩ Bà La Môn vặn vẹo bắt bẻ không biết bao nhiêu lần. Chúa Jesus cũng vậy. Cụ thể là người Pharisee. Đây là một hệ phái của người Do Thái xưa chủ trương thực hành theo sát từng câu chữ trong cổ luật, cụ thể là luật Moses (Xin đọc Cựu Ước). Nên biết rằng lúc bấy giờ số người tin tưởng Chúa Jesus rất đông và mọi người đều xưng tụng Chúa Jesus là đấng Christ giáng sanh. Thế nên người Pharisee lợi dụng câu truyện của người phụ nữ kia để t́m cách bắt bí Chúa Jesus. Nếu Chúa Jesus đồng ư để họ ném đá người phụ nữ đến chết, th́ Chúa cũng chỉ là người b́nh thường như họ, không phải là đấng Christ. Nếu ngược lại th́ Chúa chống lại luật Moses, nghĩa là chống lại Đức Chúa Trời về mặt Đạo; về mặt Đời là chống lại dân tộc Do Thái, đàng nào họ cũng có thể qui tội phạm luật cho Chúa.

Câu trả lời của Chúa Jesus vừa cứu được người phụ nữ đáng thương kia vừa làm cho người Pharisee thất bại thảm hại trong âm mưu hăm hại Chúa. Cũng giống như câu truyện kể ở phần trên, câu trả lời của Chúa không phải chỉ đơn giản là một cách đối phó khéo léo; đó chính là một bài học về đạo pháp rất quí giá mà Chúa Jesus muốn để lại cho loài người.

Dựa vào triết lư Cao Đài, chúng ta có thể hiểu rơ bài học này hơn. Theo Cao Đài , phần ư thức của con người là phần bán hữu h́nh (hai phần kia là phần xác thịt và linh hồn). Ư thức hoạt động theo nguyên tắc của vũ trụ; ấy là: Vô cực sanh Thái Cực, Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái … Lưỡng Nghi chính là hai cực chấp nhận và phủ nhận của ư thức. Trong t́nh trạng phân hai, nghĩa là chấp nhận và phủ nhận khác nhau, đối chọi nhau, th́ đó là cuộc đời với toàn thể những yếu tố sanh diệt, đau khổ, chết chóc …Nếu phủ nhận và chấp nhận là một – nói theo ngôn ngữ thiền học cho chính xác hơn là “ Nếu phủ nhận và chấp nhận chẳng phải hai mà cũng chẳng phải một,” th́ đó là trạng thái người tu học Cao Đài gọi là hiệp một với Đức Chí Tôn. Trong trạng thái này, con người có những suy nghĩ, phán đoán thông suốt phi thường mà người xưa gọi là đoạt Đạo, ngộ đạo, trí huệ đáo bỉ ngạn, thành Phật …vv.

Đức Chúa Jesus đă dạy một bài học về Thái Cực. Lời Chúa phán khi ấy xuất phát từ trạng thái Thái Cực, do đó đă thoát ra khỏi hai trạng thái phủ nhận và chấp nhận của Lưỡng Nghi. Không chấp nhận mà cũng không phủ nhận luật Moses, lời Chúa đă ra ngoài quĩ đạo của những hành vi tầm thường thế tục, nằm ngoài suy luận thông thường của loài người.

Thế nhưng, cần phải xác định rơ một điều để tránh ngộ nhận. Xin đừng cho rằng trạng thái không phân hai (Thái Cực) là tốt hơn rồi phủ nhận trạng thái phân hai (Lưỡng Nghi), bởi v́ hành vi phủ nhận đó cũng chính là ư thức phân hai!! Ư thức phân hai thuộc về đời, cho nên rất cần thiết trong đời sống thường nhật. Con người cần ư thức phân hai để bảo vệ xác thân của ḿnh. Ví dụ như tôi cần phải phân biệt rơ ràng điều nào là nguy hiểm cho bản thân để tránh xa và ngược lại. Khi một xe tải đang tiến thẳng đến chỗ tôi th́ không cần thiết phải “dùng ư thức không phân hai”. Hay khi bị tiêu chảy v́ thức ăn nhiễm khuẩn th́ một viên thuốc bao giờ cũng hay hơn là “lư với lẽ”. Chỉ khi nào suy nghĩ đi vào chỗ cùng lư, th́ Thái Cực mới là cứu tinh đích thực.

*“Các ngươi đừng đoán xét ai, để ḿnh khỏi bị đoán xét. V́ các ngươi đoán xét người ta thể nào th́ họ cũng đoán xét lại thể ấy

Sao ngươi ḍm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt ḿnh? Hỡi kẻ giả h́nh! Trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt ḿnh đi, rồi mới thấy rơ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em ḿnh được.” (Mathew)

Đây là lời dạy thuộc về tâm pháp (hay Bí Pháp nếu dùng ngôn ngữ Cao Đài) của Chúa Jesus. Trước khi bàn tiếp, thiển nghĩ nên định nghĩa lại danh từ Bí Pháp trong Cao Đài để làm nền tảng cho những lư lẽ tiếp theo.

Bí Pháp, theo nghĩa thường dùng từ trước đến nay, là những phương pháp đặc biệt trong một tôn giáo nào đó, chỉ truyền riêng cho một số người nhất định nhằm đạt mục đích của việc tu hành. Chẳng hạn như những phương pháp ngồi thiền, tịnh tâm của các hệ phái Phật Giáo ở Tây Tạng hầu như chỉ truyền cho một số đệ tử đặc biệt.

Nếu hiểu Bí Pháp theo nghĩa này, th́ trong đạo Cao Đài không có “Bí Pháp”. Đức Hộ Pháp nhiều lần nói rằng Đức Chí Tôn đă bày bửu pháp tại thế gian cho con cái của Ngài tự do chọn lựa. Vấn đề chỉ là con cái của Ngài muốn nh́n thấy hay không mà thôi. Trong những bài thuyết đạo của ḿnh lúc c̣n tại thế, Đức Hộ Pháp đă chỉ dạy rất cẩn thận về danh từ Bí Pháp. Ngài dạy rằng đây là điều quan trọng trong kiếp tu hành và các tín đồ Cao Đài phải t́m ṭi để hiểu rơ những ẩn ư trong lời dạy của Ngài.

Danh từ Bí Pháp trong Cao Đài không thể xác định bằng nghĩa đen của tự điển. Đây là một cách dùng chữ đặc trưng của triết lư Cao Đài. Trước hết, Bí Pháp không tự thể hiện mà thiếu Thể Pháp; nói cho rơ là khi và chỉ khi Thể Pháp tồn tại th́ mới có Bí Pháp. Bí Pháp và Thể Pháp vốn là một-mà- hai-và-hai-mà-một. Vậy phải hiểu Thể Pháp trước khi muốn hiểu Bí Pháp. Thể Pháp Cao Đài chính là những nghi thức tôn giáo có thể nh́n thấy và thực hiện được. Nghi thức thờ phượng, kinh sách, giáo luật … tất cả đều là Thể Pháp. Ngoài ra, Bí Pháp c̣n có ư nghĩa là nội dung của một h́nh thức bất kỳ. Theo nghĩa này th́ tất cả các lời dạy đạo của các đấng thiêng liêng đều có nội dung - nghĩa là Bí Pháp. Bí Pháp có thể dễ hiểu; có thể khó hiểu. Có thể nh́n thấy ngay; có thể cả đời cũng không nh́n thấy.

Khi một tín đồ Cao Đài thực hiện bất kỳ một nghi lễ tôn giáo hằng ngày nào (nghĩa là Thể Pháp) cũng là lúc Bí Pháp vận hành. V́ thế, quan niệm cho rằng khi nào thực hiện xong phần Thể Pháp rồi mới vào Tịnh Thất để luyện Bí Pháp là không đúng. Thực sự mà nói, vào Tịnh Thất th́ điều kiện thể hiện Thể Pháp dễ dàng hơn lúc ở bên ngoài. Trong Tịnh Thất người ta thu xếp sao cho môi trường yên tĩnh hơn, hạn chế những ảnh hưởng của đời sống vật chất bên ngoài. Người học đạo chỉ c̣n tập trung vào một chỗ duy nhất là vun bồi đời sống tâm linh.

Tuy nhiên, những phương pháp các tín đồ thực hiện trong Tịnh Thất, nói cho cùng, cũng là vẫn là Thể Pháp. Những phương pháp ấy vẫn c̣n liên quan đến phần nhục thân, nghĩa là phần hữu h́nh có thể sờ mó ngắm nh́n … Bí Pháp là phần nằm ngoài suy luận bàng bạc quyện theo Thể Pháp. Khi Thể Pháp được thực hiện đúng mức th́ Bí Pháp vận hành bên trong người học đạo và chỉ có duy nhất bản thân người ấy nhận biết điều này.

Bây giờ xin trở lại lời Chúa Jesus dạy: đừng phán đoán người; mà hăy phán đoán bản thân ḿnh trước. Đây chính là một pháp môn (cách tu tập) mà triết lư Đông Phương gọi là “quán tâm”. Thông thường, tâm lư con người là thích nhận xét về người khác. Những nhận xét ấy đa số là nói về khuyết điểm; nếu có nói về ưu điểm đi nữa th́ cũng chỉ là gượng ép. Đây là bản chất tự nhiên của loài người. Để tự vệ, ư thức con người luôn luôn phóng ngoại, truy t́m những yếu tố tiềm ẩn sự nguy hiểm cho bản thân ḿnh. Nếu phát hiện điều ǵ có thể ảnh hưởng xấu đến bản thân, ư thức sẽ t́m phương né tránh, chống đỡ hoặc tấn công đối tượng. Có thể thấy rơ điều này qua các mối giao tiếp của con người trong xă hội hoặc một phóng ảnh của xă hội là thế giới hiện nay. Người ta lo sợ một ngày kia, ngoại bang sẽ xâm chiếm nước ḿnh, chiếm đoạt tất cả những của cải tài nguyên của dân tộc ḿnh, do đó người ta lập ra quân đội. Và theo “cái-gọi-là-binh-pháp” th́: tấn công là cách pḥng thủ hay nhất(!).Cho nên, người ta đem bom đạn ném xuống đất nước của người khác; không đợi đến khi bị tấn công! Thử tưởng tượng một chút, nếu tất cả các quốc gia trên thế giới này đều có khả năng tấn công quân sự như nhau và đồng loạt áp dụng cái tư tưởng binh pháp quái đản kia, th́ quả địa cầu 68 này sẽ ra sao?

Chúa Jesus dạy phải làm ngược lại điều đó; nghĩa là phải tự nh́n lại bản thân, tự nhận xét bản thân thay v́ bươi móc những khuyết điểm của người khác. Khi nh́n ra ḿnh cũng có những khuyết tật tâm hồn như bao người th́ cơi ḷng sẽ mở rộng, dễ tha thứ. Những t́nh cảm tích cực, đẹp đẽ tích lũy trong tâm hồn ngày một nhiều sẽ giúp cho con người sống có ư nghĩa. Thế giới sẽ bớt phần bạo tàn, địa cầu 68 sẽ chuyển hóa thành một thế giới khác đáng sống hơn nhiều. Vậy, hăy nghe lời chúa Jesus “lấy cây đà trong mắt ḿnh để thấy rơ hơn trước khi lấy rác trong mắt anh em ḿnh”.

 

Thúc

Những lời dạy của chúa Jesus, cũng như các vị giáo chủ khác như Đức Phật Thích Ca, Đức Lăo Tử vv … luôn chứa đựng những ư nghĩa sâu xa. Nếu dùng thuật ngữ của Cao Đài th́: lời của các bậc giáo chủ dạy luôn hàm chứa Bí Pháp. Vấn đề của tín đồ Cao Đài hiện nay, thiết nghĩ, nên tập trung t́m học những ư nghĩa của triết lư mênh mông trong Cao Đài Giáo, rồi đem ra thực hành trong đời sống thường ngày. Mong sao qua đó Đức Chí Tôn thương t́nh ban ân cho trí năo được phát triển phần nào. Tóm lại, hăy lo lấy cây đà trong mắt ḿnh, đừng bận tâm đến “ông này tu thiệt, bà kia tu giả, tôi tu đúng, anh tu sai nữa”. Bởi v́ một kiếp người suy ra vô cùng ngắn ngủi, có khi chưa kịp làm được chút ǵ th́ đă phải phủi tay!

Giáng sinh 2007

TỪ CHƠN

 

CÁC BIỂU TƯỢNG Ở ĐỀN THÁNH TÂY NINH

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ CÁC BIỂU TƯỢNG Ở CỬA ĐỀN THÁNH

 

1. Vào cửa Đạo Cao Đài – một động tác không đơn giản.

2. Các biểu tượng và ư nghĩa triết học.

3. Kết luận.

 

1. Vào cửa đạo Cao Đài – một động tác không đơn giản.

Như chúng ta đă biết qua lịch sử, trong đời sống bộ tộc ngày xưa, mọi người đều phải nghe theo thầy mo, thầy cúng không được căi lại. Ngay trong thời Trung Cổ, ở châu Au ai không tuân theo Hội Thánh cũng có thể bị kết án là dị giáo, thậm chí là phù thủy, và có thể bị giết chết.]Trong thời đại văn minh ngày nay, việc gia nhập tôn giáo là một quyền tự do. Trong hầu hết mọi xă hội, không c̣n việc bắt buộc phải chọn một Đạo Sư hay một tín ngưỡng nào. Người ta có thể đến với một đoàn thể tôn giáo nào đó, rồi người ta cũng có thể rời khỏi tôn giáo đó để gia nhập một tôn giáo khác nếu thấy không vừa ư.

Lẽ dĩ nhiên, mọi người đến với tôn giáo v́ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể v́ cả gia đ́nh tôi đều vào đạo, nên tôi cũng vào cho tiện; có thể v́ tôi yêu thích triết lư giải thoát; hoặc có thể v́ tôi muốn có cơ hội để giúp đỡ kẻ bần hàn…Tuy nhiên cũng có những người đến với tôn giáo v́ những nguyên nhân khác quan trọng hơn. Những người này nhận ra đời sống là một ṿng lẩn quẩn vô vọng và họ không t́m ra được cách nào để thoát khỏi chốn cuồng phong băo táp ấy. Họ cần một điều duy nhất: đó là GIẢI THOÁT. Phần lớn các tôn giáo đều có mục đích sau cùng là giải thoát con người khỏi mọi phiền năo đau khổ. Và, vượt lên trên tất cả, Cao Đài là một tôn giáo mới, là con thuyền Bát Nhă đưa loài người đến mục tiêu giải thoát.

Có lẽ nên xác định thêm thuyền Bát Nhă là ǵ? Bát Nhă là phiên âm tiếng Trung Quốc của từ ‘Prajna’. Đây là một từ Ấn Độ cổ có nghĩa là sự suy nghĩ sáng suốt. Người xưa ví cuộc đời như một bể khổ. Muốn vượt qua bể khổ phải suy nghĩ sáng suốt. Vậy th́ suy nghĩ sáng suốt ví như chiếc thuyền giúp ta đi qua bờ bên kia của bể khổ, qua được bờ bên kia tức là không c̣n khổ nữa. Cao Đài là con thuyền Bát Nhă nghĩa là ‘Cao Đài giúp chúng ta có được sự suy nghĩ sáng suốt để vượt qua được biển đời đau khổ’.

Khi đến với Cao Đài, những mục tiêu như là: vào Đạo Cao Đài để gia đạo được yên vui, làm ăn khấm khá, kiếp sau có cuộc sống tốt đẹp hơn cũng là những mục tiêu quan trọng đối với một số người. Nhưng triết lư Cao Đài nhắm vào mục tiêu sau cùng quan trọng nhất của một kiếp người. Mục tiêu đó là giải thoát. Muốn giải thoát, người học đạo Cao Đài phải nghiên cứu triết lư của Cao Đài, rồi áp dụng trong cuộc sống để đạt mục tiêu giải thoát. Có như vậy th́ người học đạo mới không uổng phí một kiếp người. [ Vậy triết lư Cao Đài là ǵ? Và ta t́m ở đâu? Trước hết xin phép được cùng thống nhất với nhau ở đây cụm từ ‘triết lư Cao Đài’. Triết lư là ǵ? Triết = minh triết, sáng suốt . Lư = những suy nghĩ có trật tự, có hệ thống. Triết lư là những suy nghĩ về cuộc sống, về bản thân, về các mối quan hệ trong xă hội được sắp xếp lại có hệ thống. Mục đích của những suy nghĩ này là giúp cho chúng ta sống yên vui trong đời sống ở cơi tạm này, thoát khỏi những thống khổ buồn phiền, và hướng về một tương lai là ‘tiến bước trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống’. Đó là triết lư. C̣n triết lư Cao Đài là ǵ? Chắc chúng ta ai cũng biết, hệ thống triết lư Cao Đài bao gồm Tam Giáo và Ngũ Chi. Nghĩa là tổng hợp triết lư của nhiều tôn giáo. Nhưng chúng ta cẩn thận khi dùng chữ tổng hợp triết lư. Chúng ta không thể dồn chung các triết lư tôn giáo lại với nhau rồi gọi đó là tổng hợp. Thí dụ như chúng ta trích vài câu kinh Phật Giáo, trích vài câu trong Đạo Đức Kinh v.v. ghép chung vào trong một quyển sách nào đó rồi gọi đó là ‘tổng hợp triết lư’. Thật sự ra, triết lư Cao Đài tàng ẩn trong Thánh Ngôn, ẩn dấu thâm sâu trong các biểu tượng. Và khi chúng ta t́m hiểu thật cẩn thận mới thấy rằng, triết lư Tam Giáo Ngũ Chi đă ḥa quyện vào nhau đến mức hoàn hảo, đến mức phát triển một văn hóa mới. Đó là văn hóa Cao Đài. Chúng ta đă biết những thuật ngữ như là ‘Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống’, ‘hiệp một với Đức Chí Tôn’ hay là ‘Thánh Thất’ chưa từng xuất hiện trong kinh sách nào trước đây. Những thuật ngữ này tạo ra tính đặc thù trong ngôn ngữ triết lư Cao Đài. Mà đặc thù là tính chất ưu việt gíup cho một hệ thống triết lư mới phát triển xa hơn nữa. Chúng ta, những người tu học Cao Đài có bổn phận ǵn giữ ngôn ngữ này không để cho lụi tàn. Hơn thế nữa, phải phát triển ngôn ngữ ấy, văn hóa ấy. Nhưng đây lại là một vấn đề lớn khác, xin được tŕnh bày vào dịp khác.

Xin được trở lại vấn đề lúc đầu: đó là người học đạo Cao Đài phải nghiên cứu học hỏi triết lư Cao Đài để áp dụng vào cuộc sống và đạt được mục tiêu giải thoát. Như vậy, vào cửa đạo Cao Đài không phải là một động tác đơn giản. Người học đạo phải nghiên cứu tỉ mỉ công phu để hiểu cho rốt ráo những ẩn dụ sâu xa. Chúng ta không nên hiểu theo nghĩa đen một từ nào đó, rồi khăng khăng cho đó là đúng. Hay chúng ta trích một câu nào đó tách xa ngữ cảnh của nó rồi gọi là hiểu. Những hiểu biết manh mún như thế chỉ đem lại ngộ nhận và xung chướng, gây thêm phiền năo mà thôi.

Tôi xin đơn cử hai ví dụ như sau về cái hiểu manh mún, hiểu theo nghĩa đen đơn thuần:chúng ta c̣n nhớ Thánh ngôn như thế này “…Thầy đă nói: Thầy đă thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con. Chúng nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, nhưng Thầy đă cho các con mặc một bộ thiết giáp chúng nó chẳng hề thấy đặng là Đạo Đức của các con…” Nếu hiểu nghĩa đen chữ thiết giáp = áo bằng sắt. Chúng ta có thể hiểu như thế này không: khi mặc áo đạo là không c̣n sợ mọi nguy hiểm nữa? Chắc chắn là chúng ta không thễ hiểu như thế rồi. Bởi v́ ĐCT chỉ dùng ngụ ư của từ thiết giáp mà thôi. C̣n cụm từ ‘lũ hổ lang ‘ th́ sao? Chúng ta có thể hiểu rằng lũ hổ lang đó chính là những người ngoại đạo vẫn t́m cách để phá đạo không? Không phải như thế, bởi v́ nghĩ như thế là đem ḷng phân biệt; có người trong đạo, có người ngoài đạo. Trong khi ĐCT dạy chúng ta rằng phải cứu độ vạn linh, thậm chí độ cả người chưa sinh ra đời nữa. Chúng ta c̣n nhớ trong Di Lạc Chơn Kinh “ nhược nhơn đang sanh, nhược nhơn vị sanh …’ nghĩa là cả người đang sống lẫn người chưa sinh ra đời cũng có quyền được cứu độ kia mà. Thực sự, ư chính của đoạn thánh ngôn trên là ĐCT khuyên con cái củaNgài ráng giữ vững tinh thần đạo đức đừng ngại khó khăn mà thôi.

Xin thêm một ví dụ nữa. Có một khách nước ngoài thấy h́nh vẽ các ngôi sao trên quả Càn Khôn bèn hỏi : Có bao nhiêu ngôi sao? Nếu chúng ta trả lời có 3072 ngôi sao, chắc chắn vị khách kia không vừa ư. Bởi v́ khoa học ngày nay có những thiết bị tối tân và có thể đếm được nhiều hơn con số ấy gấp mấy lần. Nếu chúng ta bảo thánh ngôn nói như thế th́ chắc một điều là họ không tin. Đến chỗ này chúng ta phải nghiên cứu thêm một ít về triết học Đông Phương và Tây Phương th́ mới giải thích được thỏa đáng cho người khách kia. Cả người phương Tây lẫn người phương Đông đều biết số vô hạn. Nghĩa là nếu ta cứ dùng số đếm mà đếm măi th́ không bao giờ ta đến chỗ tận cùng. Nhưng quan niệm Tây Phương và Đông phương khác nhau ở cách diễn đạt. Người phương Tây diễn đạt sự vô hạn bằng cách chấm lửng, hoặc dùng kư hiệu toán học “ tiến tới vô hạn”. Người phương Đông lại hay dùng những con số nhất định để diễn đạt điều chưa biết hay là sự vô hạn. Ví du như; ‘chín tầng mây’, ‘ chín phương Trời, mười phương Phật”. Nếu chúng ta đếm theo kiểu phương Tây th́ chúng ta sẽ đếm Trời có 9, c̣n Phật có 10. Vậy nên mới đưa đến chỗ căi nhau Phật lớn hơn Trời vv… Như vậy những con số có giới hạn của triết lư phương Đông dùng để chỉ sự vô hạn. 3072 ngôi sao trên quả Càn Khôn là ngụ ư “Tam thiên thế giới, thất thâp nhị địa” tức là ám chỉ sự vô hạn của thế giới vật chất. Và con số này là không thể đếm như ḿnh đếm sao được.

Có người cho rằng: muốn được giải thoát phải làm sao th́ cứ nói thẳng ra cho dễ hiểu. Việc ǵ phải dài ḍng khó hiểu. Chuyện Thần Tiên mơ hồ rối rắm chỉ làm cho người học đạo rối trí không biết tin vào đâu bây giờ! Thôi th́ cứ qui định cụ thể: ‘tụng kinh’ mấy lần th́ được ‘quả ǵ’ cho xong. Nhưng khổ thay, giải thoát không phải là một việc dễ dàng! Hiểu được triết lư Cao Đài là một việc vô cùng khó khăn, đ̣i hỏi người học đạo phải dồn tất cả trí lực để đột phá. Tại sao người học đạo phải tự suy nghĩ t́m ṭi gian khổ như vậy? Có ba nguyên nhân như sau:

Một là:thế giới giải thoát là một thực tại vô ngôn, tức là dùng lời nói hay chữ viết th́ không thể miêu tả cho tận tường.

Xin nói rơ thêm về thực tại vô ngôn. Thực tại là ngay bây giờ, không phải hôm qua hay năm trước, cũng không phải mai mốt hay năm sau. Vô ngôn không phải là không nói, mà là không thể dùng lời nói để miêu tả. Tôi xin phép tạm mượn một ví dụ như thế này: Lâu lắm rồi tôi không gặp một người bạn cũ. Thế rồi đột nhiên tôi gặp lại người đó. Nỗi mừng vui đột nhiên phát khởi trong ḷng. Ngay trong giây phút tức th́ đó, (không phải trước khi gặp, cũng không phải sau khi gặp) chỉ có nỗi mừng vui mà thôi, tuyệt nhiên không có phân biệt tôi như thế nào, người đó ra sao. Không có suy nghĩ ǵ cả! Một tích tắc sau đó, nỗi vui mừng đă qua, và ḿnh mới thấy là lúc năy ḿnh đă hết sức mừng vui. Cái giây phút mừng vui ngắn ngủi ấy là thực tại vô ngôn. Trong giây phút đó, không có đă qua, không có sắp tới, cũng không biết là bản thân ḿnh đang mừng vui, bởi v́ khi biết ḿnh mừng vui là đă hết mừng vui rồi. Như vậy, trong kiếp sống chúng ta đă có rất nhiều khoảnh khắc thực tại vô ngôn như thế, lúc đó chúng ta hoàn toàn được giải thoát. Chỉ có điều là những khoảnh khắc ấy vô cùng ngắn ngủi. Ngoài những lúc đó ra chỉ toàn là phiền năo, lo toan, đau khổ mà thôi. Do đó, chúng tôi xin tạm kết luận một cách thô thiển, nôm na thế này: Nếu cả cuộc đời chúng ta chỉ bao gồm những thực tại vô ngôn như thế th́ đó là giải thoát khỏi phiền năo rồi vậy.

Xin được trở lại vấn đề: người học đạo phải tự suy nghĩ t́m ṭi gian khổ như vậy là v́ ba nguyên nhân. Một là thế giới giải thoát là một thực tại vô ngôn, không thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt cho được. Cho nên trong Cao Đài, ngoài lời nói ra Đức Chí Tôn c̣n dùng các biểu tượng và các h́nh thức khác để dạy đạo. Biểu tượng ngắn gọn, có thể dùng một h́nh tượng thôi đă gói ghém cả một câu truyện. Nếu hiểu được câu truyện, hy vọng người học đạo lần hồi phăng ra đầu mối của triết lư vi diệu kia mà t́m đường giải thoát. Như vậy người học đạo phải t́m ṭi nhiều nơi nhiều chỗ. Và nên nhớ rằng ngôn ngữ không phải là thực tại vô ngôn!

Hai là, giải thoát là một động tác phát khởi từ bên trong của người học đạo. Không một ai đem đến sự giải thóat cho người khác được. Ngay cả Đại Từ Phụ , v́ quá thương yêu chúng sanh, muôn cứu chúng sanh cũng chỉ có thể chỉ đường thôi. Chúng sanh phải tự lên đường t́m kiếm.Thêm nữa, người học đạo phải có ư muốn giải thoát, và phải tự ḿnh suy nghĩ xem có thật sự là ḿnh muốn giải thoát hay không.

Ba là, chính động tác suy nghĩ t́m ṭi là sự vận động của ư thức. Ư thức tức là KHÍ, tức là tinh thần, tức là sự suy nghĩ của con người. Khi người học đạo suy nghĩ về triết lư Cao Đài là đă luyện KHÍ hóa THẦN mà không hề hay biết. Xin ví dụ: nếu Đức Chí Tôn dạy rằng: “Muốn đắc pháp, các con phải suy nghĩ về cuộc sống, về bản thân con, về người khác” có lẽ chúng ta chưa có ấn tượng lắm đâu. Đức Chí Tôn lại ban cho chúng ta biểu tượng Thiên Nhăn. Đây là biểu tượng gây thắc mắc nhiều nhất. Có lẽ lần đầu tiên trong cuộc đời, ai cũng bị “sốc” khá mạnh khi nh́n Thiên Nhăn. Điều đó khiến cho mỗi chúng ta phải suy nghĩ: tại sao phải thờ Thiên Nhăn? Tại sao lại là MỘT MẮT mà không phải là HAI MẮT? Chúng ta tiếp tục suy nghĩ t́m ṭi để giải thích. Thế là chúng ta đă suy nghĩ tự nguyện mà không hề hay biết.

 

2. Các biểu tượng và ư nghĩa triết học.

Vào cửa đạo Cao Đài là bước vào đền Thánh, bởi v́ đền thánh là biểu tượng của Cao Đài. Nhưng bước vào đền thánh với tâm thái thế nào mới đúng nghĩa với một người tu học? Người học đạo không bước vào cửa đền thánh giống như một khách du lịch, mà bằng sự thông hiểu đầy đủ về các biểu tượng.

Trước hết là đền thánh. Về mặt vật chất, đó là nơi thờ phượng ĐCT và các Đấng thiêng Liêng. Tuy nhiên về mặt triết học, đền thánh mang một ư nghĩa trọng đại: Đền thánh là h́nh tượng Bạch Ngọc Kinh tại thế. Xin đừng hiểu lầm rằng Bạch Ngọc Kinh trên cơi thiêng liêng hằng sống cũng là một ṭa nhà giống hệt như thế. Nếu hiểu như vậy là đă nh́n đền thánh bằng con mắt nhị nguyên, nghĩa là suy nghĩ bằng ư thức so sánh. Người học đạo phải nh́n đền thánh bằng con mắt tâm linh, tức là tư tưởng phi tư tưởng th́ mới hiểu Bạch Ngọc Kinh là ǵ.

Nhưng thế nào là “nh́n đền thánh bằng cái nh́n tư tưởng phi tư tưởng” nghĩa là nh́n bằng sự suy nghĩ không suy nghĩ. Muốn hiểu điều này, trước hết phải hiểu suy nghĩ là ǵ. Khi ta nh́n một cây cảnh, chẳng hạn, ta nhận xét: ‘cây cảnh này đẹp’. Vậy là ta đă suy nghĩ rồi đó. Nếu có người nào đó đưa cho chúng ta một vật hết sức lạ. Từ nhỏ đến lớn ta chưa hề nh́n thấy lần nào. Lẽ dĩ nhiên lần này ta không biết trả lời ra sao. Chúng ta không thể nhận xét được là đẹp hay không đẹp. Đó là lúc ta không suy nghĩ. Vậy khi nào chúng ta suy nghĩ không suy nghĩ? Tôi xin khiên cưỡng mượn một ví dụ như thế này: ḿnh đi xa nhà làm ăn đă lâu. Một hôm bỗng nhiên cảm thấy nhớ nhà, nhớ quê hương vô cùng. Rồi ḿnh lên xe về quê. Khi về đến nơi, nh́n thấy cảnh xưa, gặp lại người thân, cha mẹ. Ngay lúc đó ḿnh cảm thấy một t́nh cảm dạt dào, ḷng ḿnh như ấm lại, quên hết mọi nhọc mệt đi đường, thậm chí quên cả bản thân mà không hề hay biết. Ngay trong giây phút đó, ḿnh vẫn thấy, vẫn biết, nhưng ḿnh không chê, không khen, không nhận xét. Không có ḿnh, không có người mà chỉ có một t́nh cảm êm đềm sâu xa mà thôi. Trạng thái đó tạm gọi là trạng thái suy nghĩ không suy nghĩ.

Nếu chúng ta nh́n đền thánh bằng cái nh́n suy nghĩ không suy nghĩ như vậy, th́ rất nhiều sự thật hé lộ ra trước mắt chúng ta.

Nh́n toàn thể, đền thánh tượng h́nh một con vật linh thiêng, tức là lân mă. Đầu lân mă là Hiệp Thiên Đài. Hai sừng là lầu chuông lầu trống. Mắt lân mă là Thiên Nhăn. Miệng lân mă là lối vào. Thân lân mă là Cửu Trùng Đài. Vậy suy ra Bạch Ngọc Kinh là một sinh thể (tức là một vật sống), mà sinh thể th́ chuyển động không ngừng nghỉ. V́ sinh thể này là nơi ngự của ĐCT nên bước vào nơi ngự của Ngài là bước vào một cơi giới chuyển động không ngừng. Mà quả thật như thế trong vũ trụ dưới quyền của ĐCT không có ǵ là nằm im bất động. Các hành tinh th́ bay vùn vụt trong không gian, các tế bào trong cơ thể chúng ta sinh ra rồi chết đi hằng ngày. Con người b́nh thường th́ lại muốn mọi thứ ổn định, không thay đổi. Ví dụ như cuộc sống ổn định, việc làm ổn định, tiền gởi trong ngân hàng không bị sụt giảm đi. Rơ ràng nếu ḿnh sống trong sự chuyển động không ngừng nghỉ kia th́ thật là khó khăn. Thế nên khi vào Bạch Ngọc Kinh, chỉ có những chơn linh đắc pháp, hoàn toàn giải thoát khỏi mọi trói buộc của suy nghĩ nhị nguyên, mới thích ứng nổi với sự chuyển động vô cùng nhanh chóng và phức tạp kia.

Thông thường, người b́nh thường khi bước vào đền thánh sẽ cảm thấy vô cùng bở ngỡ, lạ lùng trước những biểu tượng đầy vẻ bí ẩn. Sở dĩ như vậy là v́ chưa hiểu được ư nghĩa của những biểu tượng này. Giống như khi ra nước ngoài người ta sẽ cảm thấy lạ lùng trước những phong tục mới lạ khó hiểu của những dân tộc khác. Muốn thích ứng được với phong tục xứ lạ quê người, ta phải có chuẩn bị trước về mặt tâm lư. Muốn vào Bạch Ngọc Kinh tại thế chúng ta cũng phải có những chuẩn bị như thế. Những điều cần chuẩn bị ĐCT đă nêu sẵn tại cửa đền thánh. V́ vậy cho nên trước khi vào đền thánh người học đạo phải hiểu rơ những lời dạy quí báu này. Cũng v́ cần phải hiểu rơ cho nên trong các thời cúng, các chức sắc Hiệp Thiên Đài luôn đi vào đền thánh trước các chức sắc Cửu Trùng Đài. Xin đừng hiểu lầm rằng chức sắc Hiệp Thiên Đài quan trọng hơn nên vào trước. Đây chỉ là ngụ ư, Hiệp Thiên Đài tượng trưng cho KHÍ, tức là ư thức, tức là sự suy nghĩ của con người. Hiệp Thiên Đài vào đền thánh trước nghĩa là ư thức dẫn đường cho thể xác để mở lối vào Bạch Ngọc Kinh. Nói cho dễ hiểu là phải suy nghĩ cho thấu đáo mọi hiện tượng vật chất th́ mới thông suốt được tâm linh và vào được Bạch Ngọc Kinh thiêng liêng.

Trước khi vào đền thánh, người học đạo nếu đứng xem xét cho cẩn thận sẽ thấy nhiều biểu tượng. Tùy theo tŕnh độ và sự hiểu biết riêng của từng cá nhân mà mỗi người tự suy xét và có những suy nghĩ khác nhau. Nhưng biểu tượng có lẽ gây ấn tượng nhất là tượng Ông Thiện, Ông Ác. Biểu tượng này nhắc đến một truyện cổ Ấn Độ. Truyện kể rằng, vua Tỳ Kheo có hai người con là Tỳ Văn (Ông Thiện) và Tỳ Vơ (Ông Ác). Tỳ Văn rất hiền lành, trái lại Tỳ Vơ rất hung ác. Khi vua Tỳ kheo muốn truyền ngôi lại cho con để đi tu, ông chọn Tỳ Văn. Vua Tỳ Kheo bèn cử Tỳ Vơ đi vỗ an bá tánh và nhân lúc đó ông nhường ngôi cho hoàng tử Tỳ Văn. Tỳ Vơ trở về tỏ ư không phục và bảo Tỳ Văn nhường ngôi lại cho ḿnh. Tỳ Văn quá sợ cho nên cầm ngọc ấn chạy lên chùa nơi vua cha tu niệm, khi đến trước cửa chùa th́ té chết. Tỳ Vơ đuổi theo anh, đến nơi thấy anh ḿnh đă chết nên vô cùng hối hận. Cuối cùng Tỳ Vơ cũng chết theo anh.

Câu chuyện nêu trên có ngụ ư triết lư rất sâu xa. Trước hết theo nghĩa đen của câu truyện th́ Ông Thiện và Ông Ác là hai anh em ruột. Chỉ v́ hiểu lầm nhau mà xảy ra chuyện đáng tiếc. C̣n nghĩa bóng là THIỆN ÁC vốn dĩ không xung khắc, không trái ngược nhau. Mọi xung khắc tranh chấp ở cơi đời này vốn là do bất đồng quan điểm về cách giải quyết vấn đề mà thôi. Ví dụ như, tôi muốn giúp đỡ mọi người. Nhưng tôi nghèo quá, nên chỉ giúp bằng chính công sức ḿnh. Bạn cũng muốn giúp đỡ mọi người, nhưng lại cho rằng giúp bằng tiền bạc th́ cụ thể hơn. Vậy là bạn t́m cách kiếm tiền trước rồi mới giúp đỡ sau. Mục đích chung của hai chúng ta là giúp đỡ người khác nhưng cách làm lại khác nhau. Nếu không dàn xếp khéo léo th́ tôi và bạn có thể quay ra chỉ trích lẫn nhau và đi đến tranh chấp. Nhưng nếu tôi và bạn hiểu rơ chân tướng của vấn đề th́ mỗi người cứ tự theo cách của ḿnh, hỗ trợ nhau trong khi làm việc thiện. Được như vậy không những tránh được xung khắc mà c̣n mau có kết quả nữa.

Về mặt triết học, h́nh tượng Thiện – Ác tượng trưng cho hai thành tố chính trong ư thức, tức suy nghĩ của con người chúng ta. Đó là: ĐÚNG-SAI, CÓ-KHÔNG, CHẤP NHẬN- CHỐI BỎ, THƯƠNG -GHÉT. Qua thánh ngôn ĐCT dạy rằng : “ Khi chưa có chi trong càn khôn thế giới th́ khí Hư Vô sinh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn Khôn thế giới…” Đây là qui luật của mọi hiện tượng trong vũ trụ bất kể đó là vật chất hay tinh thần. Ví dụ như trong cơ thể con người chúng ta, các tế bào sinh sản theo đúng qui luật trên. Và sự kiện ấy diễn ra từng giây phút một. C̣n khi chúng ta suy nghĩ, ư thức cũng diễn biến theo qui luật này với một tốc độ rất nhanh. Thông thường chúng ta chỉ biết được là ḿnh đă suy nghĩ khi ḿnh có nhận xét một điều ǵ đó là đúng hoặc sai, là thiện hoặc ác, là tốt hoặc xấu…Nghĩa là nếu chú ư quan sát bản thân ḿnh th́ chúng ta chỉ có thể thấy được hiện tượng Lưỡng Nghi mà thôi. Ngay sau đó diễn biến trên liền biến ra Tứ Tượng rồi Bát Quái v,v…

Tôi xin đơn cử một ví dụ: có một ai đó chỉ trích tôi thậm tệ. Tôi liền suy nghĩ: người đó không TỐT với tôi. Vậy là tôi đă phân biệt tốt và xấu. Đó là hiện tượng Lưỡng Nghi. Ngay sau đó tôi suy nghĩ tiếp: ḿnh phải đối phó với người đó như thế nào? Dĩ nhiên tôi chỉ có thể nghĩ ra một trong bốn cách sau đây (tức là Tứ Tượng):

- Tôi chỉ trích lại người đó thẳng thừng.

- Tôi chấp nhận chỉ trích để sửa đổi.

- Tôi thấy rằng những lời chỉ trích này có phần đúng nhưng cũng có phần sai.

- Tôi thấy rằng chỉ trích này chẳng đúng mà cũng chẳng sai, nên làm ngơ cho xong.

Thế là ư thức tôi chuyển sang Tứ Tượng. Rồi cứ thế, nếu tôi tiếp tục suy nghĩ nữa sẽ chuyển sang Bát Quái rồi ngh́n ngh́n vạn vạn ư tưởng khác. Dù cho con người có thể suy nghĩ ra muôn vạn đều phức tạp, th́ cũng không thể vượt ra ngoài qui luật trên. Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta rất cần hai quan niệm đúng sai này. Khi gặp nước sôi, chúng ta lập tức năy sinh ra hai ư nghĩ: nước sôi có lợi nếu dùng để luộc rau. Nhưng nước sôi cũng có hại v́ có thể gây bơng da đau đớn. Vậy chúng ta đă biết làm ǵ với nước sôi rồi. Tuy nhiên cũng chính hai ư niệm ĐÚNG SAI này khiến con người tranh chấp ở mọi cấp độ. Tôi muốn tu theo cách này, c̣n bạn muốn tu theo cách khác. Vậy là hai chúng ta khác nhau, và hậu quả chúng ta đă thấy qua những cuộc chiến tôn giáo đẫm máu.

V́ thế có quan niệm cho rằng suy nghĩ theo kiểu nhận xét ĐÚNG SAI là không nên. Khi tu hành phải tránh xa, không cho ai là đúng, cũng không cho ai là sai. Nghĩa là KHÔNG KHÔNG. Nói theo Thiền Học là Niệm Vô Niệm tức là suy nghĩ mà không suy nghĩ. Hay theo như Đức Lăo Tử th́ Vô Vi Nhi Vô Bất Vi, tức là không làm nhưng không có điều ǵ là không làm. Đây là một loại ngôn ngữ phi ngôn ngữ rất khó hiểu đối với người b́nh thường, thậm chí chúng ta có thể hiểu lầm khi áp dụng vào thực tế. Cho nên có người hiểu thành “ngồi yên không động đậy” hay là “từ bỏ xe nhà, vợ con…” để thực hiện ư niệm không không.

Trái lại thế, trong Cao Đài, trước khi bước vào đền thánh, ĐCT dạy chúng ta rằng: hai ư niệm THIỆN ÁC, ĐÚNG SAI vốn có cùng một nguồn gốc như hai anh em Ông Thiện Ông Ác vậy. Nói cách khác Lưỡng Nghi cùng do Thái Cực sinh ra. C̣n hơn thế nữa, phía trên lối vào có biểu tượng cân công b́nh. Nghĩa là hai ư niệm Thiện Ác, Đúng Sai ngang bằng nhau, cùng hiện hữu đối đăi, không thể chia ĺa được. Giống như ĐCT mở đạo th́ có Đại Tiên Kim Quan Sứ dùng phép thử thách phá đạo. Thế cho nên người học đạo Cao Đài không né tránh hai ư niệm này, mà phải thấy rơ tác dụng của Thiện Ác, Đúng Sai. Đối với đời sống thường ngày là cần thiết , nhưng khi gặp xung khắc trở ngại th́ phải hiểu đó là hai ư niệm có quan hệ mật thiết như hai anh em ruột.

Như vậy, tại lối vào của đền thánh, người tu học Cao Đài đă phải giải quyết vấn đề khó khăn nhất của Thiền Học rồi vậy. Trong Thiền học, khi giải quyết xong vấn đề nhị nguyên, thiện ác, hành giả đạt được trạng thái người Trung Quốc gọi là Giác Ngộ, người Nhật gọi là Satori. Từ đó về sau hành giả tự hiểu biết mọi vấn đề một cách sáng suốt, nghĩa là giải thoát. Nhưng trong đạo Cao Đài, ĐCT dạy chúng ta thêm mấy vấn đề rất quan trọng. Khi người học đạo nhận biết rơ Thiện Ác, Đúng Sai là cùng một gốc, th́ mọi suy nghĩ đều đổi khác. Trong tâm thức người học đạo nh́n thấy ḿnh và một người tội lỗi nào đó là anh em ruột thịt. Dù tôi đúng, bạn sai th́ chúng ta cũng là anh em ruột thịt. Như thế mọi tranh chấp tan biến, cơi ḷng thảnh thơi, ung dung. Lúc này Thiền Học gọi là ‘Tâm bất động’ hay ‘tâm tịnh’. Xin đừng hiểu lầm tâm bất động là không suy nghĩ ǵ cả. Trong trạng thái tâm bất động này, người tu học vẫn suy nghĩ, biết đúng biết sai, nhưng không phát khởi ḷng tranh chấp thù hận.

Đến giai đoạn này, nghĩa là bước qua được cửa đền thánh rồi, người học đạo đă tịnh tâm, cũng vừa lúc bước tới Tịnh Tâm Điện. Tại đây có tượng Tam Thánh. Đây cũng là một biểu tượng quan trọng nữa của Cao Đài. Tượng Tam Thánh ( tức là các Ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm, Victor Hugo và Tôn Dật Tiên) đang kư ḥa ước giữa Trời và Người. Ḥa ước này gồm hai điều khoản THƯƠNG YÊU và CÔNG B̀NH. Victor Hugo và Tôn Dật Tiên là hai bậc vĩ nhân của loài người tượng trưng cho hai nền văn hóa Đông và Tây. Nguyễn Bỉnh Khiêm tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam là sắc dân mà ĐCT đă chọn để hợp nhất mọi hệ thống tư tưởng trên thế giới trong lần mở đạo kỳ ba.

Điều đáng bàn ở đây là hai từ ḥa ước. Thông thường ḥa ước chỉ được kư kết giữa hai phe phái, hay là hai nước có thế mạnh tương đương nhằm thực hiện một điều ǵ đó. Nhưng trong ḥa ước Trời và Người, hai bên kư kết là ĐCT và nhân loại. ĐCT không hề dùng quyền lực tối cao để bắt buộc loài người phải thương yêu và công b́nh. Ngài ban cho con người quyền được kư kết, nghĩa là tự nguyện thực hiện. Ngay trong hành động này đă có hai ư nghĩa quan trọng:

Thứ nhất là ĐCT v́ quá thương yêu loài người nên đă cho phép loài người ngang hàng với Ngài. Chính qua hành động này, ĐCT đă thực hiện điều khoản THƯƠNG YÊU và CÔNG B̀NH rồi; vấn đề c̣n lại là loài người có tự nguyện thực hiện hai điều nói trên không? Xét cho cùng th́ cho đến thiên niên kỷ này, loài người vẫn chưa thực hiện được hai khoản này cho tới nơi tới chốn.

Thứ hai là, qua hành động kư ḥa ước này, ĐCT dạy nhân loại rằng hành động thương yêu và công b́nh không hề có tính cưỡng chế hay bắt buộc. Quả đúng như vậy, ḿnh thương hoặc không thương, thế thôi. Không thể thương v́ điều này, thương v́ điều kia. Ví dụ thế này, tôi thương bạn tôi v́ bạn tôi nghèo, không kiếm tiền được nhiều bằng tôi; vậy là chưa thương thật sự. Chừng nào ḿnh thương, mà không biết tại sao thương, cũng không cần biết tại sao, cũng không biết là ḿnh thương. Th́ đó mới là thương yêu thật sự.

Vậy tới lúc này đây, người học đạo bước qua cửa đền thánh, đồng thời nhận rơ được chân tướng của sự thiện ác do đó tâm sẽ tịnh. Tâm tịnh th́ sẽ biết thương yêu và công bằng thực sự. Đạt được điều ấy, người học đạo có thể sẵn sàng bước đến các bửu pháp khác mà ĐCT để tại đền thánh.

 

3. Kết luận.

Bây giờ đă hiểu ư nghĩa lời dạy của ĐCT để tại đền thánh rồi, người học đạo sẽ thận trọng hơn khi bước vào cửa đền thánh hay là các thánh thất. Bước vào cửa đền thánh hay là các thánh thất chính là bước vào cửa Bạch Ngọc Kinh tại thế. Khi vào đến tượng Ông Thiện, Ông Ác, người tu học phải suy nghĩ xem trong ngày đă gặp bao nhiêu người làm trái ư ḿnh. Có bao nhiêu người làm điều không phải với ḿnh. Ḿnh có đối xử với người đó như là anh em ruột thịt chưa? Nếu ḿnh xem người đó là anh em ruột thịt, th́ ḿnh không gắt gỏng, to tiếng với người đó. Ḿnh cũng không chỉ trích người đó nặng nề. Cũng không xem người đó là sai c̣n ḿnh là đúng. Cũng không c̣n ḿnh hay là người đó. Chỉ c̣n lại một t́nh thương, thương như anh em ruột thịt, thương như anh em Tỳ Vơ Tỳ Văn. Nếu ḿnh chưa làm được như vậy th́ phải thận trọng lưu ư để lần sau cư xử cho đúng.

Khi vào đến tịnh tâm điện th́ phải xét xem tâm ḿnh có tịnh hay chưa? Có c̣n xem ḿnh là người quan trọng không? Có thấy ḿnh luôn luôn đúng mà kẻ khác th́ luôn luôn sai không? Có suy nghĩ không suy nghĩ chưa? Mỗi ngày thực hiện bốn thời cúng là những cơ hội để tập tành ư thức bản thân người học đạo. Có khi tịnh tâm được, có khi không tịnh tâm được. Nhưng lâu ngày chày tháng rồi cũng luyện được. Đạt được điều này con đường đi tới những bửu pháp kế tiếp sẽ dễ dàng hơn. Ngoài ra, thiết nghĩ hiểu được lời dạy của ĐCT th́ không nhất thiết vào đền thánh hay thánh thất mới có thể tịnh tâm. Bất cứ lúc nào trong đời sống hằng ngày, mỗi khi người học đạo nhận rơ Thiện Ác, Đúng Sai là anh em ruột là đă tịnh tâm rồi. Mà đă tịnh tâm rồi tức là đă bước vào Bạch Ngọc Kinh tại thế. Bước vào Bạch Ngọc Kinh sẽ đươc nghe những lời dạy quí báu của Đại Từ Phụ. Đó cũng là điều mà mọi người tu học Cao Đài đều mơ ước.

TỪ CHƠN

 

Ư NGHĨA CÚNG TỨ THỜI

 

CÚNG TỨ THỜI CÓ LỢI ÍCH G̀?

Kính thưa chư hiền huynh, hiền tỷ.

Trong đạo Cao Đài, không tín đồ nào mà lại không biết việc cúng tứ thời. Đây là một sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người học đạo. V́ thế hôm nay chúng tôi xin được phép tŕnh bày cùng quí huynh tỷ về diệu dụng của sinh hoạt này.

Chúng ta đều biết đây là một trong những thể pháp thông công của đạo Cao Đài. Khi ta thực hiện thể pháp này đúng cách th́ sẽ đạt được lợi ích cả về mặt vật chất lẫn tâm linh. Sau đây chúng tôi xin bàn đến lợi ích về mặt vật chất.

Lợi ích về mặt vật chất

Trước hết, thiết tưởng cũng cần phải nói thêm, trong đạo Cao Đài, cúng tứ thời th́ phải đọc kinh; mà đọc kinh th́ phải kèm theo âm nhạc.

Theo các nghiên cứu về âm học chúng ta biết được một số tác động của âm nhạc. Đă có một thí nghiệm thú vị sau đây: người ta đặt hai cái loa gần một cây con, một cho phát nhạc êm dịu, một cho phát nhạc kích động. Sau một thời gian, cây lớn dần lên, nhưng mọc nghiêng về phía loa phát nhạc êm dịu. Rơ ràng, âm nhạc đă tác động vào thực vật. Người ta ứng dụng kinh nghiệm của thí nghiệm trên vào nhiều lĩnh vực. Ví dụ phát nhạc để ru em bé ngủ ở nhà trẻ hoặc trong y học người ta cũng đă dùng âm nhạc như một liệu pháp và đă thu được nhiều kết quả khả quan. Một ví dụ thú vị nữa là ở các siêu thị, người ta cho phát nhạc êm dịu để khách hàng thoải mái ở lại lâu hơn, có thời gian cân nhắc, mua thêm hàng và như vậy th́ doanh số bán tăng lên. Ngược lại, ở các nhà hàng, nếu khách quá đông, người ta phát nhạc dồn dập làm khách hàng ăn nhanh hơn để mau có bàn trống cho khách mới.. Tóm lại, âm nhạc có tác động hiển nhiên vào cơ thể sinh vật, dù có muốn nghe hay không. Và như đă thấy, âm nhạc êm dịu làm cho cây xanh phát triển, hay đúng hơn có tác dụng tốt đối với sinh vật, nhất là cơ thể chúng ta. Nói một cách đơn giản là khi đọc kinh, chúng ta đă dùng âm nhạc để nuôi dưỡng và phục hồi năng lực cho cơ thể của ḿnh sau những giờ lao lực v́ cuộc sống.

Lợi ích thứ hai có liên quan đến thời gian đọc kinh. Tất cả các sinh vật đều bị yếu tố thời gian chi phối. V́ có thời gian nên mới có sinh ra, lớn lên, già cỗi rồi chết đi; tức là thành, trụ, hoại, không. Thời gian là một thành tố không thể thiếu được của vũ trụ và thời gian tồn tại ngoài ṿng tay của con người. Nghĩa là con người không có cách nào làm thời gian chậm lại hoặc nhanh hơn. Và thời gian dưới cái nh́n vĩ mô là một tổng thể các chu ḱ mà ngày nay mọi người đều biết đến dưới tên gọi chu ḱ sinh học. Một bông hoa cứ đến mười giờ là nở. Một con hàu cứ đến giờ thủy triều lên là hé vỏ đón nước biển. Người ta thử đem con hàu ấy đến bờ biển khác, nơi mà giờ thủy triều lên khác hẳn th́ nó vẫn hé vỏ theo giờ thủy triều lên ở nơi cũ. Trong cơ thể con người cũng có một đồng hồ sinh học như thế. Nếu theo dơi cẩn thận th́ sẽ thấy rơ tại sao có lúc tinh thần dễ tập trung, có lúc dễ nổi cáu; thậm chí có lúc dễ mắc bệnh hơn những thời điểm khác. Do đó, đạo Cao Đài qui định cúng tứ thời là căn cứ vào thực tế này. Trong bốn thời điểm này (nghĩa là Tư, Ngọ, Mẹo và Dậu), do tác động của đồng hồ sinh học mà các cơ quan trong cơ thể chúng ta đều có những sinh hoạt khác nhau. Đọc kinh vào những lúc này, về mặt nội giới, là điều ḥa các hoạt động sinh lư và tâm lư của cơ thể. Tưởng cũng nên nói thêm ở đây là ngày sóc (ngày đầu tháng âm lịch) và ngày vọng (ngày giữa tháng âm lịch) đều là những dịp có tác động rất lớn đến cơ thể chúng ta. Có rất nhiều nghiên cứu nói đến hiện tượng khi trăng tṛn lực hút của trái đất và mặt trăng lớn nhất. Trong con người, phần chất lỏng, tức là nước lại chiếm tỉ trọng rất cao. Do đó cơ thể cũng chịu ảnh hưởng sức hút của trái đất và mặt trăng. Lúc thủy triều lên cao nhất cũng là lúc một số bệnh măn tính như suyễn, tâm thần dễ bộc phát nhất. Một số điều tra về tội phạm cũng cho thấy đó cũng là lúc tội phạm xảy ra nhiều nhất. Như vậy, rơ ràng là vị trí các thiên thể có tác động đến đồng hồ sinh học trong cơ thể. Đến đây, càng dễ nhận thấy rằng đọc kinh trong những lúc như thế sẽ làm cho việc hồi phục năng lực cho cơ thể đạt hiệu quả cao hơn, tức là cơ thể sẽ khỏe mạnh hơn. Thể xác khỏe mạnh th́ trí năo sáng suốt, tinh thần mạnh mẽ. Có như thế chúng ta mới hiểu thấu đáo lời dạy của Đức Chí Tôn để mai kia hiệp một cùng Ngài.

 

Lợi ích về mặt tâm linh

Trong cúng tứ thời, nhạc dùng theo lời kinh chủ yếu là hai điệu Nam Xuân và Nam Ai, nghĩa là một vui, một buồn. Điều này không ra ngoài qui luật vận hành âm dương của Đức Chí Tôn. Có vui ắt có buồn, nửa vui; nửa buồn và chẳng vui; chẳng buồn; tức là lưỡng nghi sanh tứ tượng. Lời kinh phối hợp với nhạc sẽ cấu thành một ngôn ngữ đặc biệt và sẽ tác động vào mọi hướng, cũng như âm nhạc tác động vào cây con. Vậy khi cúng tứ thời, chúng ta đọc kinh không những tác động vào cơ thể của chính ḿnh mà c̣n vào môi trường chung quanh, đem lại cảm giác an b́nh cho mọi vật.

Ngoài ra, người đọc kinh khi cúng tứ thời c̣n có thể nhận thông tin nữa. Trong âm học, chúng ta đều biết hiện tượng cộng hưởng. Tức là nếu khảy đàn ở một nốt ( là âm ở một cao độ nào đó trong bảy âm ở nhạc phương Tây và năm âm ở nhạc dân tộc Việt Nam) th́ một dây đàn khác mang nốt cùng cao độ, dù không chạm tới cũng rung lên và phát ra âm thanh. Vậy khi đọc kinh đạt đến mức có một tâm hồn trong sáng, không một lo nghĩ, phiền muộn nào tức là đă tự nâng cơi ḷng ḿnh lên cùng cao độ với âm thanh của vũ trụ vốn phát ra thường xuyên. Đó cũng là lúc có được sự cộng hưởng, tức là nhận được thông tin từ vũ trụ, cũng như người xưa thường nói có cảm th́ có ứng. Nhận được thông tin từ vũ trụ tức là thông công cùng tam thập lục thiên, tam thiên thế giới vậy.

Xin nhớ rằng, âm nhạc dùng trong thể pháp này có định hướng tích cực rơ rệt. Đó là ư thức trao đổi và tác động vào môi trường sống. Người tu học đọc kinh không những để tác động vào chính cơ thể ḿnh mà c̣n muốn môi trường xung quanh cũng được tác động, giống như âm nhạc tác động vào cây con. Cái vui sảng khoái, nhẹ nhàng của Nam Xuân, cái buồn mênh mông của Nam Ai, sự đậm đà dân tộc cùng với tiết tấu d́u dặt, nhẹ nhàng gợi mở sự trong sáng trong tâm hồn người học đạo. Để từ đó, người học đạo có được t́nh yêu, đi vào cuộc đời không nghi kị, không hận thù vật vă. Tâm thần an ổn, tâm lư như nhiên là trạng thái sẳn sàng đón nhận những khoảnh khắc sáng suốt bùng phát, chuẩn bị cho một thay đổi lớn lao mà người xưa vẫn gọi là trí huệ đáo bỉ ngạn.

Ngoài ra, khi cúng tứ thời ở thánh thất hoặc tốt hơn nữa là đền thánh sẽ có thêm hai lợi điểm. Thứ nhất là sự hỗ trợ của các bạn đạo. Ai cũng biết, con người vốn sợ làm việc một ḿnh. Trong một đám đông, nhất là với những người cùng chung mục đích, con người cảm thấy có chỗ dựa nên dễ có hành động dũng cảm. Ngoài ra, nhờ tác động qua lại của tinh thần nên dễ tập trung hơn. Điều này là tối cần thiết cho việc đọc kinh. Sự kiện tâm lư ấy có thể thấy qua các cuộc biểu t́nh. Ngày nay, người ta gọi là hiệu ứng đám đông. Có nghĩa là trong đám đông, nếu mọi người cùng làm một việc ǵ th́ dễ lôi cuốn cá nhân làm theo việc ấy. Đó cũng là nguyên nhân khiến con người nguyên thủy tập hợp thành bầy đàn rồi tiến lên bộ lạc và xă hội ngày nay. Điểm thứ hai là kiến trúc thánh thất (nhất là nơi nào có kiến trúc giống đền thánh, hay tốt nhất là đền thánh). Chẳng những không khí nơi này trang nghiêm, yên tĩnh, dễ tập trung, mà chính kiến trúc ấy cũng có những đặc thù của nó. Âm thanh khi gặp vật cản sẽ dội lại (tính phản xạ của âm thanh). Do tính chất này, người ta tính toán khi xây một thính pḥng sao cho hiệu quả âm thanh đạt đến mức tốt nhất, nghĩa là không có tiếng vang để gây ra nhiễu âm. Phần lớn các thánh đường từ xưa đến nay trên khắp thế giới đều có h́nh mái ṿm trên trần là nhằm vào mục đích này. Đền thánh cũng có h́nh mái ṿm, nhưng là chín mái ṿm liên tiếp. Vậy th́ hiệu quả âm thanh ở Cửu Trùng Đài cũng có phần khác thường. Cũng một ống sáo, nếu ta bấm các lỗ khác nhau th́ ta sẽ được các âm thanh khác nhau. Do vậy, lời kinh cùng với âm nhạc vang lên trong thánh thất chắc chắn là có một tác động phi thường, giúp chúng ta tịnh tâm suy ngẫm thấu đáo cái lư của vũ trụ và nhân sinh.

Cũng xin nói thêm, chư huynh tỷ đều biết vị trí của đền thánh cũng là một bí mật. Theo thánh ngôn , vị trí này nằm trên huyệt lục long pḥ ấn. Ngày nay, mọi người đều đồng ư rằng do cấu tạo của vỏ trái đất không đồng đều và trong ḷng đất có thể có những quặng kim loại lớn với những trữ lượng khác nhau làm thay đổi ít nhiều từ trường của trái đất. Do đó, khi ở những nơi khác nhau trên quả đất, con người sẽ chịu ảnh hưởng của từ lực khác nhau. Con người chịu ảnh hưởng của lực hút quả đất rất lớn. Các nhà du hành không gian sau khi sống trong môi trường không trọng lực một thời gian lâu đều mắc phải bệnh rối loạn các chức năng cơ thể lúc trở về trái đất. Như vậy, đền thánh nằm ở một vị trí có từ lực đặc biệt tác động vào cơ thể con người và làm cho việc thông công với cơi thiêng liêng trở nên dễ dàng hơn.

C̣n một điểm nữa, đó là việc đọc kinh cúng tứ thời có tác động rất lớn đối với tư tưởng người đọc kinh. Việc này có thể quyết định đến cả kết quả tu học của một người. Ngay khi mở đầu thể pháp này, trong bài kinh đầu tiên, người tu học đă gặp câu “ Đạo gốc bởi ḷng thành tín hiệp”. Đây chính là vấn đề tư tưởng, không thể do người khác đem lại. Chỉ có bản thân người đọc kinh mới biết được ḿnh có thành khẩn hay không và tín ngưỡng tới mức độ nào. Muốn biết ḿnh có thành, có tín hay không phải tự xét ḿnh. Tự xét ḿnh là một hành vi vô cùng khó khăn, bởi lúc đó có thể ḿnh phải đứng trước một thực tế không lấy ǵ làm đẹp cho lắm. Ví dụ như khi xét ḿnh, nhận thấy là ḿnh gian tham. Vậy ḿnh đối phó với thực tế này như thế nào ? Hoặc là chối bỏ, nói rằng ḿnh không gian tham, hoặc hứa với ḷng mai mốt không gian tham nữa. Có rất nhiều cách để chối bỏ. Nhưng cái ta (bản ngă) là một thực tế sinh động tuyệt vời và nắm bắt được nó thật khó khăn biết bao . Ví dụ ḿnh vừa suy tưởng một vấn đề. Biết được ḿnh đă suy tưởng đến vấn đề đó, tức là ḿnh đă suy tưởng rồi . Muốn nắm bắt được cái gốc của sự suy nghĩ thật vô cùng khó khăn, v́ ḿnh luôn suy nghĩ trước khi biết được ḿnh đă suy nghĩ. Mỗi ngày chúng ta đọc kinh cúng tứ thời chính là dịp để ḿnh suy nghĩ, soi rọi lại vấn đề này cho đến nơi đến chốn. Đó cũng chính là một trong những pháp môn giúp chúng ta phá nhất khiếu chi huyền quan đó vậy.

Bây giờ, giả sử là có thể xét được ḷng ḿnh thành tín hay không, dù đó là những nhận xét manh mún. Hăy tạm giả sử như vậy để chúng ta xét tiếp đến những tác động của việc đọc kinh cúng tứ thời. Chúng tôi dùng chữ giả sử như vậy là bởi hành vi tự xét mà thiền học gọi là xét đến mức “quán” phải được thực hiện hết sức lâu dài, có khi đến cả đời người vẫn chưa “quán”. Khi đă “thành” hay “tín” th́ hành pháp mới có hiệu suất cao nhất. Xin trở lại vấn đề trên : tức là chúng ta đă xét được ḿnh. Như vậy khi ḷng thành, lời kinh, âm nhạc, nơi đọc kinh, lúc đọc kinh được phối hợp đầy đủ th́ bí pháp sẽ vận hành, nghĩa là sẽ có tác động vào chính hành giả như là một chất xúc tác để thể xác ( Tinh) phối hợp với tinh thần (Khí ) rồi hiệp một cùng thần. Đó là phần thiêng liêng mà Đức Chí Tôn ban cho loài người như lời đă hứa “ Thầy đến để hườn chơn thần cho các con đắc đạo”.

Xin lấy một ví dụ như khi chúng ta tụng kinh sám hối. Nghĩa đen của từ sám hối là tự thú tội để sửa đổi. Vậy th́ vấn đề ở đây là cần phải biết là ḿnh có tội hay không trước khi tụng kinh sám hối. Bởi v́, khi ḿnh có tội th́ đọc kinh sám hối là đúng, c̣n nếu như ḿnh không có tội th́ đọc kinh sám hối là không thích hợp . Thế nhưng làm sao biết ḿnh có tội hay không có tội ? Tự xét ḿnh có tội hay không có tội là một việc làm rất khó khăn. Bởi như chúng ta vẫn thường thấy ngoài đời, những kẻ có tội tày trời cũng vẫn kêu oan khi bị đem ra xét xử như thường. Cho nên khi tự xét thấy ḿnh có tội th́ thế nào cũng có khuynh hướng đỗ lỗi cho một cái ǵ đó ngay.

Thế nhưng hăy giả sử là ḿnh tự xét ḿnh và thật ḷng ḿnh thấy là ḿnh có phạm một tội lỗi ǵ đó. Theo lời Đức Hộ Pháp th́ chính bản thân ḿnh là ông quan ṭa công b́nh nhất nơi cơi thiêng liêng hằng sống, bởi v́ chính ḿnh biết rơ ḿnh hơn ai hết và ở cơi thiệng liêng hằng sống không có thất t́nh lục dục tác động, nên chúng ta rất sáng suốt trong việc định tội cho ḿnh. Giờ đây, hăy giả sử là ḿnh phán đoán ḿnh có tội và có ḷng thành khẩn muốn sửa đổi để xét tiếp tác động khi hành thể pháp thông công thứ nhất (tức là đọc kinh sám hối) như thế nào. Khi nhận ḿnh có tội, cơi ḷng hành giả rộng mở, vui vẻ đón nhận mọi công kích, mọi chỉ trích của người khác. Lúc này, ḿnh đối diện với tội lỗi của chính ḿnh chứ không trốn tránh nữa. Tội lỗi bây giờ xuất hiện với đầy đủ mọi góc cạnh, mọi tính cách quỉ quyệt , ranh ma của nó. Với ư hướng như vậy, không phải chỉ có ư thức người học đạo sám hối mà toàn cơ thể này , các tế bào, các cơ quan đều sám hối; nghĩa là sẳn sàng đón nhận mà không chống đối phản ứng. Bây giờ, lời kinh và nhạc sẽ len lỏi tận mọi ngơ ngách của các tế bào, xoa dịu, thêm cho chúng nguồn sinh lực mới để chúng tiếp tục sống hài ḥa không rối loạn. Khi đó, chúng cùng nh́n về một hướng, với ư thức sẳn sàng nhận thông tin từ ngoại giới. Toàn bộ trí năo (khí) và thể xác (tinh) bây giờ tập trung cao độ để đón nhận thông tin từ cơi thiêng liêng hằng sống.

Nói tóm lại đọc kinh cúng tứ thời không đơn giản là đọc kinh cho hài ḥa với âm nhạc. Đọc kinh với ư thức thành tín mănh liệt chính là thông công với vũ trụ; nghĩa là người học đạo đi vào công thức muôn đời của Đức Chí Tôn: lưỡng nghi sanh tứ tượng, tứ tượng sanh bát quái, bát quái sanh vạn vật…

Nhà bác học Einstein cho rằng mọi dạng vật chất đều có thể biến thành năng lượng theo công thức trứ danh : E = MC2 và lư thuyết này đă được minh chứng tuyệt vời qua các vụ nổ nguyên tử. Nhưng bắn phá hạt nhân nguyên tử để gây nổ chỉ là một trong nhiều cách để biến vật chất thành năng lượng. Người ta có thể phát xung điện theo chu ḱ nào đó để phát sóng điện từ cũng là một dạng năng lượng. Như vậy, khi cúng tứ thời cơ thể con người giao tiếp với tam thập lục thiên tam thiên thế giới mỗi ngày bốn lần, mà nói theo ngôn ngữ ngày nay là nhận và phát thông tin theo một chu ḱ nhất định; lúc đó cơ thể cũng sản sinh ra năng lượng. Ngày nay, người ta đang nghiên cứu hiện tượng này và đặt tên nó là sóng ngoại cảm. Thực hiện thể pháp đến mức phát ra sóng ngoại cảm là bí pháp đă vận hành bên trong hành giả. Gần đây ở Trung Quốc đă có người phát ra sóng ngoại cảm cách xa hàng trăm cây số để trị bệnh. Ơ nước Nga cũng có vài trường hợp có người thực hiện được điều này.

Thực ra mà nói th́ trong thế giới tự nhiên, mọi sinh vật đều phát sóng, không phải chỉ có con người khi thực hành thể pháp đọc kinh cúng tứ thời mới phát sóng. Có điều, mọi vật xung quanh phát sóng không định hướng và rối loạn. Khi đọc kinh , người tu học phát sóng có định hướng, do đó sẽ thu hút các sóng trái dấu. Ví dụ như phát sóng nhận sẽ thu hút sóng phát và ngược lại. Như vậy, chúng ta sẽ định hướng cả không gian phát sóng trong môi trường sống của chúng ta. Kết quả trước hết là người tu học tác động vào thế giới sống, cũng giống như khi dùng nhạc để tác động vào cây con vậy. Khi không gian phát sóng được định hướng và có chu ḱ thích hợp, tức là bốn lần trong một ngày, hay tập trung vào những ngày sóc vọng , lúc đó sóng trở nên đồng cấp với sóng của vũ tru, thường gọi là “điển” từ cơi thiêng liêng hằng sống. Bấy giờ, người tu học nhập vào trạng thái mà người xưa gọi là huyền đồng với trời đất, tức là đạt tới trạng thái thông công cùng cơi giới siêu tự nhiên.

 

Kết luận

Kính thưa chư huynh tỷ, đến đây chúng tôi xin được đi vào đoạn kết của bài thuyết tŕnh.

Trước hết, đọc kinh cúng tứ thời tức là thực hành một trong những thể pháp thông công của Cao Đài. Thể pháp của Cao Đài luôn hàm chứa bí pháp giải thoát. Dĩ nhiên nên hiểu rơ là giải thoát cho cả vạn linh chứ không chỉ riêng một cá nhân nào. Rơ ràng, người đọc kinh phải có ư thức tích cực, vượt khỏi cái ta nhỏ bé mang đầy mầm mống nghi kị thù hằn và độc ác. Chính đó là nhân tố đă trưởng dưỡng chiến tranh cho toàn địa cầu 68 này. Cũng phải vượt khỏi những cầu xin lợi ích cá nhân như cầu mong gia đ́nh yên ổn, cầu may trúng số…, Phải hiểu rằng tụng đọc kinh là tác động tới cả thế giới hoặc xa hơn nữa là vũ trụ tức cơi thiêng liêng hằng sống. Nếu cho rằng “ mấy người lẻ loi th́ làm sao lời kinh tác động đến ai “th́ đấy là một quan niệm buông xuôi. V́ như đă thấy, cây con - vốn là một thực vật - vẫn bị âm nhạc tác động . Người học đạo Cao Đài đều biết Đức Chí Tôn dạy : “ Thầy là các con, các con là thầy”. Có thể suy ra :”ta là vũ trụ, vũ trụ là ta”. Vậy th́ chính cá nhân, con người nhỏ bé này chứ không phải ai khác chịu trách nhiệm sự thành-bại-nên-hư của vũ trụ. Lời kinh của người tu học phát ra mang một sức mạnh lớn lao, đủ sức vận hành vũ trụ. Có ư thức vững vàng như thế th́ bí pháp mới vận hành.

Thứ đến, hành thể pháp thông công để đạt được t́nh trạng thông công với cơi thiêng liêng hằng sống. Nhưng đạt được như thế để làm ǵ ? Bửu pháp của Đức Chí Tôn để lại cho con người là giải thoát, nghĩa là thoát khỏi mọi đau khổ về mặt tinh thần, mọi ti tiện nhỏ nhen của đời sống và đạt được trí huệ. Thông công với cơi thiêng liêng hằng sống chưa phải là cứu cánh mà trí huệ mới chính là điều người tu học mong đạt tới. Chính thông qua trạng thái thông công người học đạo mới được hườn nguyên chơn thần, tức đạt được trạng thái trí huệ mà thiền học gọi là trí Bát Nhă. Khi đạt được trí huệ, hành giả có cái nh́n sáng suốt xuyên thấu cuộc sống làm tan biến mọi vấn đề. Sống chết, khổ đau, hơn thua không c̣n nữa. Người học đạo vẫn sinh sống, làm việc như thường ngày, nhưng cuộc sống bây giờ đổi khác. Cuộc sống bây giờ là Cực Lạc Thế Giới. Tóm lại, hành thể pháp thông công là tập trung năng lượng thể xác và tinh thần để đón nhận năng lượng vĩ đại của vũ trụ. Hai năng lượng phối hợp, tức là Trời - Người hiệp một hay c̣n gọi là Tinh - Khí - Thần hiệp nhất. Chính sức mạnh ấy sẽ khai mở khiếu huyền quang hay huệ nhăn hay đạt đến trí huệ.

Sau cùng, nếu suy nghĩ rằng chỉ cần đọc kinh cúng tứ thời hàng ngày là đủ th́ cũng có phần phiến diện. Mỗi ngày người tu học chỉ tụng kinh bốn lần, thời gian c̣n lại vẫn phải sống, giao tiếp với xă hội chung quanh. Thời gian này cũng quan trọng không kém v́ nó tạo điều kiện cho người học đạo nh́n thấy chính ḿnh rơ hơn lúc nào hết. Có va chạm với người khác trong đời sống mới thấy ḿnh tốt hay xấu, ḿnh có thực sự trong sạch hay chưa, ḿnh có trách nhiệm với xă hội đến mức độ nào. Chừng nào người học đạo c̣n chưa rơ là ḿnh tốt hay xấu, c̣n bỏ mặc người khác trong đau khổ, c̣n tính toán lời lăi th́ hành thể pháp thông công chẳng khác chi hát một bài hát vô nghĩa. Lúc đó, đúng là người học đạo đuổi theo âm thinh sắc tướng. Cũng có suy nghĩ cho rằng tụng - đọc kinh càng nhiều càng tốt, thậm chí không c̣n tha thiết đến việc đời nữa để mau chóng đạt được trí huệ. Thế nhưng trí huệ không ít nhiều, không mau chậm . Trí huệ chỉ xuất hiện như những tia chớp trong những giây phút mong manh, khi thể pháp phát huy đến mức cao nhất. Lúc ấy, đạt được trí huệ, người học đạo sẽ trả lời được câu hỏi muôn thuở : do đâu mà ta hiện diện ở cơi đời này ?

TỪ CHƠN

 

CÔNG B̀NH VÀ BÁC ÁI

 

Công b́nh, theo tự điển định nghĩa, là “ngay thẳng, không thiên vị bên nào” – công = không thiên vị; b́nh = đồng đều.

Bác = rộng rải; ái= thương yêu. Bác ái là thương yêu tất cả vạn linh sanh chúng trên địa cầu 68.

Kính thưa quí vị,

Xin được đóng góp thêm hai tiểu mục đối với đề tài Công B́nh và Bác Ai về phương diện Bí Pháp.

Thứ nhất, ở đền thánh Tây Ninh, chúng ta thấy hai từ này ở lối vào, trong bản hiệp ước giữa Đức Chí Tôn và Nhân loại. Tam Thánh (Ngài Victor Hugo, Đức Thánh Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Ngài Tôn Dật Tiên) thay mặt cho cả nhân loại trên địa cầu 68 này-trong đó có bản thân chúng ta- kư vào hiệp ước. Tại sao lại là “kư”? chúng ta nhận thấy tinh thần của hiệp ước này khác hẳn với Ngũ Giới Cấm. Ngũ Giới Cấm là sắc lịnh, nghĩa là luật, nói rơ hơn là nếu ai vi phạm những qui định đó th́ sẽ có một sự trừng phạt cụ thể. Hay Tân Luật Pháp Chánh Truyền cũng thế. Đó là những qui định bắt buộc, nếu chúng ta làm theo th́ được công nhận là Thánh Thể của Đức Chí Tôn; bằng không chúng ta không phải là Thánh Thể của Ngài. C̣n “kư” nghĩa là thực hiện theo tinh thần tự nguyện, không bắt buộc. Nếu muốn th́ kư vào, rồi cứ thực hiện lời hứa của ḿnh. C̣n không; th́ thôi. Vậy trong lănh vực này Đức Chí Tôn cho chúng ta quyền tự quyết định. Lănh vực này chính là Bí Pháp. Ngũ Giới Cấm và Tân Luật là thể pháp. C̣n hiệp ước Công B́nh Bác Ai là Bí Pháp. Thể Pháp có một kết quả cần phải đạt tới; c̣n cứu cánh của Bí Pháp th́ không bắt buộc. Chúng ta cứ kư vào, nghĩa là hứa hẹn thực hiện, rồi cứ thực hiện theo sức của ḿnh, đạt đạo hay không là do “đối tác” cùng kư hiệp ước với chúng ta – tức là Đức Chí Tôn thẩm định. Ḿnh cũng không có quyền ǵ mà khẳng định là bản thân ḿnh hay một cá nhân nào đó đạt đạo hay không đạt đạo. Hay cụ thể hơn nữa là ḿnh không có quyền khẳng định bản thân ḿnh hay một ai đó là ĐÚNG hay SAI! Xin chư huynh tỷ lưu ư ĐÚNG;SAI ở đây dùng theo nghĩa Bí Pháp. Vậy th́ con đường thứ ba của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hoàn toàn là do ư riêng của mỗi người quyết định; không bắt buộc cũng không khuyến khích.

Thứ hai, thêm một bằng chứng nữa chứng minh Công B́nh và Bác Ai là những pháp môn thuộc lănh vực Bí Pháp. Chúng ta thấy hai điều khoản hiệp ước này được ghi ở đền thánh Tây Ninh, trong Tịnh Tâm Điện ngay ở cửa vào. Ngay ở phía trên Tịnh Tâm Điện là Hiệp Thiên Đài. Nghĩa là vấn đề này hoàn toàn thuộc lĩnh vực tinh thần, thuộc lănh vực ư thức, tóm lại là thuộc về Bí Pháp. Nhưng tại sao lại ghi ở cửa ra vào. Đây là một ngụ ư quan trọng. Đền thánh là biểu tượng của Bạch Ngọc Kinh ; đi vào đền Thánh ngụ ư đi vào Bạch Ngọc Kinh. Đi vào Bạch Ngọc Kinh nghĩa là đến hiệp một cùng Thầy. Hiệp một cùng Đức Chí Tôn là đạt Pháp. Nói nghe th́ dễ, nhưng có chư huynh tỷ nào đă từng tham thiền đều biết đây là một việc làm hết sức khó khăn. Trước hết, muốn vào Đền Thánh để hiệp một cùng Đức Chí Tôn, mời chư vị đến trước đền Thánh nh́n vào cửa. Chúng ta nh́n thấy tượng Ong Thiện Ong Ac; đây là biểu tượng của Đúng và Sai ở thế gian này. Nếu chúng ta phân biệt được điều nào Đúng điều nào Sai trong mọi hành động hàng ngày; th́ tinh thần chúng ta b́nh thường. Nếu không phân biệt được điều nào đúng điều nào sai th́ chúng ta ở trong trạng thái bất b́nh thường, nói rơ hơn là loạn thần. Người loạn thần – thế gian gọi là người điên – không thể vào Bạch Ngọc Kinh được. Vậy người b́nh thường có thể đi tiếp vào Đền Thánh, tức là vào Bạch Ngọc Kinh tại thế, tức là đi vào con đường thứ ba, tức là luyện đạo. Nhưng trước khi bước vào đền Thánh mời quí vị nh́n lên giữa hai tượng ông Thiện ông Ac có h́nh cân Công B́nh. Vậy th́ kế tiếp chúng ta phải thực hiện được Công B́nh giữa Thiện và Ac. Công b́nh, theo tự điển định nghĩa, là “ngay thẳng, không thiên vị bên nào” – công = không thiên vị; b́nh = đồng đều. Suy nghĩ thế nào để “không thiên vị bên nào giữa Thiện và Ac” là một điều rất khó khăn; thậm chí đối với một số người đó là điều không thể nào thực hiện được. Có người đă từng tham thiền, suy nghĩ về điều này hàng chục năm mà vẫn không đạt được kết quả. V́ vậy, Đức Chí Tôn dạy tiếp :hăy bước tới, vào Tịnh Tâm Điện và kư hiệp ước với Ngài. Chính hành động này giúp chúng ta biết được suy nghĩ thế nào là không thiên lệch giữa Thiện và Ac; giữa Đúng và Sai. Rơ ràng Đức Chí Tôn dạy chúng ta hăy tịnh tâm trước, rồi đặt suy nghĩ của ḿnh trên hai nguyên tắc Công B́nh và Bác Ai th́ chúng ta sẽ thấy được con đường đi đến cùng Ngài. Xin tạm mượn một câu chuyện trong Thánh kinh Tân Ước để minh họa ư này. Có hai anh em nhà nọ đến tuổi trưởng thành. Người em xin với cha hăy chia gia tài ra cho hai anh em mỗi người một nửa để tự mỗi người lập sự nghiệp của ḿnh. Sau đó người em lấy phần của ḿnh và đến một xứ khác để làm ăn. Riêng người anh th́ bảo rằng: Thưa cha, cha đă nuôi con lớn khôn v́ thế con không muốn rời bỏ cha. Xin cho con được ở lại nhà tiếp tục chăm sóc ruộng vườn và được sớm hôm hầu hạ cha già. Người cha cũng đồng ư như thế. Người em đi đến xứ lạ, vốn trẻ người non dạ nên làm việc th́ ít mà ăn chơi th́ nhiều. Thế rồi một ngày nọ, người em tiêu hết tiền mà sự nghiệp th́ chưa đi đến đâu cả. Để sống c̣n người em phải đi làm thuê cho người, bữa đói bữa no. Có khi quá đói phải ăn cả thức ăn dành cho súc vật ăn để sống. Người em vô cùng hối hận, nhớ lại khi c̣n ở nhà đâu có khổ như vậy. Ơ nhà thậm chí người ăn kẻ ở c̣n được cha ḿnh cho ăn uống tử tế hơn là ḿnh bây giờ. Sau cùng người em quyết định trở về nhà. Người em cũng biết thân, tự nhủ: ḿnh đă tiêu xài hết phần tiền của ḿnh, nên không dám xin cha thêm ǵ nữa; chỉ xin làm thuê cho cha như những người khác để sống là đủ. Khi người cha thấy con thứ hai của ḿnh trở về, thân h́nh tiều tụy quần áo tả tơi, ông ôm chầm lấy người con mà khóc. Sau đó ông gọi người nhà hăy đem bộ quần áo đẹp nhất cho con mặc, giết gà, giết dê làm tiệc ăn mừng ngày con trở về. Lúc ấy người anh đang làm việc ngoài đồng, nghe kể lại bèn trở về nhà. Người anh rất bức xúc và thưa với cha rằng: Thưa cha, con không đ̣i chia gia tài, ở lại nhà chăm sóc cha, làm việc gian khổ không dám tiêu pha đồng nào. Nếu so với em con th́ con đáng được cha khen thưởng hơn. Nếu cha làm vậy là không công bằng với con. Người cha nói: Con ơi, con rất có hiếu nên ở lại với cha. Những ǵ cha có là của con đấy. Chỉ xin con hăy thương em con, v́ nó đă chết mà bây giờ được sống lại.

Thưa chư vị, suy nghĩ của người anh là đúng theo phạm trù ĐÚNG;SAI. Lẽ ra người em phải chịu sự trừng phạt nào đó; c̣n người anh phải được khen thưởng mới đúng theo lẽ công bằng ở thế gian. Người cha cũng biết thế nhưng đặt suy nghĩ của ḿnh trên nền tảng thương yêu. Thương yêu th́ chỉ có giúp đỡ chứ không có kết tội. Và bây giờ, Đức Chí Tôn cũng dạy chúng ta như thế, chúng ta cũng phải phân biệt ĐÚNG; SAI, nhưng cũng phải biết yêu thương để tha thứ và giúp đỡ mọi người để làm tṛn nguyên tắc PHỔ ĐỘ VẠN LINH trong trường thi Long Hoa hội.

Trong đạo chúng ta cũng có một câu chuyện như thế. Đức Cao Thượng Phẩm, sau khi về với Thầy có giáng cơ dạy rằng khi c̣n ở thế gian Ngài rất ghét những người làm việc sai trái, thậm chí nếu thiêng liêng “vị tức cấp”, -tức là cho phép – th́ Ngài sẽ dùng Long Tu Phiến quạt hết mấy người đó vào Phong Đô! Nhưng khi bỏ xác phàm rồi th́ Ngài lại cảm thấy thương những người đó vô cùng. Đây là một bài học nữa về Bí Pháp vô cùng thú vị. C̣n ở thế gian tức là c̣n phân biệt ĐÚNG SAI, khi bỏ xác phàm rồi chỉ c̣n THƯƠNG YÊU. Vậy nếu chúng ta biết THƯƠNG YÊU khi c̣n sống là chúng ta đă nhập được vào Bạch Ngọc Kinh tại thế, thấy rơ con đường đến hiệp một cùng Thầy rồi vậy.

Kính thưa chư vị, vậy mỗi ngày chúng ta vào đền Thánh, đến Thánh Thất, nh́n thấy hiệp ước mà tự ḿnh đă kư với Đức Chí Tôn, thiển nghĩ chúng ta cũng nên xét lại trong ngày chúng ta đă phán đoán ĐÚNG SAI mấy lần. Và điều quan trọng là trong mỗi lần phán đoán như thế ḿnh đă biết thương yêu và tha thứ cho người hay chưa? Mỗi lần chúng ta biết tha thứ và thương yêu là mỗi bước chúng ta tiến gần hơn đến Cung Đạo trong Bạch Ngọc Kinh là nơi chúng ta hiệp một cùng Thầy, nghĩa là Đạt Pháp, đạt được Trí Huệ đó vậy.

TỪ CHƠN

 

QUAN ÂM BỒ TÁT

Kính thưa chư hiền huynh hiền tỷ.

Chúng tôi mạn phép đóng góp thêm chút ư kiến về đề tài Quan Âm Bồ Tát. Trước hết, theo tự điển Phật Học th́ Quan Âm là danh gọi của người Trung quốc ngày xưa. Lúc đó, người ta tránh gọi tên vua đời Đường là Lư Thế Dân v́ sợ phạm húy, nên danh thực sự của Ngài là Quán Thế Âm (hay có người c̣n gọi là Quán Tự Tại ) được gọi trại ra là Quan Âm. V́ thế chúng ta phải truy từ danh hiệu thật là Quán Thế Âm mới rơ thấu vấn đề. Thứ đến, danh hiệu Quán Thế Âm nguyên thủy xuất hiện trong bộ kinh Pháp Hoa của nhà Phật. Chúng tôi xin trích nguyên văn một đoạn:

Khổ năo chúng sinh nhất tâm xưng danh Bồ Tát tức thời quán kỳ âm thanh giai đắc giải thoát dĩ thị danh Quán Thế Âm.

Nghĩa là: chúng sinh khổ năo một ḷng gọi danh hiệu Bồ Tát tức th́ quán được âm thanh sẽ được giải thoát, v́ thế tên gọi là Quán Thế Âm. Mạn phép thưa chư hiền huynh hiền tỷ, đó là bản dịch của tự điển, chúng tôi trích ra đây để thâm khảo, riêng chúng tôi không có ư kiến đúng sai về bản dịch này.

Thực sự mà nói, th́ người đời chưa hề nh́n thấy Ngài, do đó người ta mô tả Ngài dưới nhiều h́nh vẽ khác nhau có khi là tượng Phật ngh́n tay ngh́n mắt; có khi là Phật Bà tay cầm nhành dương và b́nh nước Cam Lồ. Thông thường mọi người hiểu rằng khi gặp khổ nạn, nếu cầu khẩn đến danh Ngài th́ Ngài sẽ ra tay cứu giúp.

Theo chúng tôi th́ muốn t́m hiểu cho ra vấn đề, chúng ta phải t́m hiểu ư nghĩa Danh Hiệu của Ngài và mối tương quan của Ngài trong đạo Cao Đài. Vậy Quán Thế Âm là ǵ? Trong Phật Danh này có hai cụm – Quán nghĩa là xem xét một điều ǵ đó để hiểu cho thấu đáo. Thế Âm nghĩa là âm thanh của thế gian. Nói gọn lại Quán Thế Âm nghĩa là nghe âm thanh của thế gian rồi suy nghĩ cho thấu đáo tận tường, sẽ được giải thoát Nhưng vấn đề là ở chỗ ai nghe âm thanh của thế gian? Và ai là người được giải thoát?

Muốn trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin lược tŕnh về bộ kinh Pháp Hoa (tên đầy đủ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Kinh này được Đức Phật Thích Ca giảng tại Linh Thứu Sơn vào khoảng thời gian Ngài sắp nhập Niết Bàn. Chủ yếu Phật Thích Ca dạy rằng mọi cách thức tu tập đều chỉ là phương tiện để đạt pháp. Phật chỉ tùy cơ duyên của người nghe mà dùng phương pháp dạy cho thích hợp mà thôi. Trong bộ kinh, đức Phật sử dụng một minh họa rất rơ ràng. Ngài kể chuyện một người cha muốn cứu các con ra khỏi một đám cháy. V́ những đứa trẻ không chịu chạy ra, người cha đành phải hứa cho các con mỗi đứa một món quà theo ư thích của chúng; đứa th́ cho con nai, đứa th́ cho con dê, đứa th́ cho chiếc xe trâu … có như vậy chúng mới chịu ra khỏi nhà. Ngụ ư câu chuyện khá rơ ràng: người cha chính là Phật, những đứa con chính là chúng sinh. Phật phải ch́u ḷng chúng sinh hứa hẹn đủ thứ để đi đến mục đích sau cùng là cứu chúng sinh mà thôi. Sau khi Phật giảng xong, th́ các vị Bồ Tát tuyên bố sẽ hỗ trợ chúng sinh trong lúc tu hành. Đặc biệt trong bộ kinh này ở phẩm Phổ Môn, Bồ Tát Quán Thế Âm nói rơ là sẽ hỗ trợ những ai tụng đọc kinh Pháp Hoa.

Đến đây chúng tôi nghĩ rằng chúng ta có thể trả lời hai câu hỏi nêu trên. Rơ ràng yếu chỉ của kinh Pháp Hoa là: những điều Phật dạy chúng sinh đều thông qua việc dùng những cách thức thích hợp với những hoàn cảnh khác nhau để giúp chúng sinh đạt đạo – nghĩa là thành Phật như Ngài – nói cho dễ hiểu là giúp chúng sinh hiểu rơ mọi vấn đề và tự ḿnh giải thoát khỏi mọi đau khổ. Vậy Quán Thế Âm chính là một pháp môn, một cách thức tu hành mà Phật muốn dạy chúng ta. Con người vốn luôn muốn được Phật cứu giúp khi gặp đau khổ th́ Phật sẽ cứu giúp với điều kiện niệm danh Phật, mà cụ thể trong trường hợp này là Quán Thế Âm. Vậy th́ chính chúng ta sẽ là người niệm danh Quán Thế Âm nếu muốn giải thoát. Nhưng theo chúng tôi th́ niệm danh Phật không phải là đọc th́ thầm danh ấy lên càng nhiều lần càng tốt. Niệm trong kinh Phật mang một ư nghĩa tích cực hơn nhiều. Như trong trường hợp này khi niệm th́ phải quán; tức là suy nghĩ th́ phải thấu đáo mọi điều. Quán Thế Âm là suy nghĩ thấu đáo về âm thanh của thế gian, chứ không phải là đọc tên đức Phật lên rồi ḿnh sẽ được giải thoát. Nếu như vậy th́ quá dễ, phải không thưa chư vị? Chắc trong chúng ta đây đều tự hiểu rằng đọc danh Phật lên nhiều lần không đem đến một kết quả khả quan nào đâu. Bởi đọc tên, kêu gọi chỉ là một hành động vừa theo thói quen vừa phi ư thức; mà phi ư thức làm sao có thể giúp chúng ta ư thức. Trong đạo Cao Đài chúng ta ai cũng biết không có ư thức có nghĩa là mất đi phần KHÍ, mà con người chỉ c̣n TINH và THẦN th́ làm sao có thể hiệp một để về với Đức Chí Tôn. Hơn nữa Đức Chí Tôn dạy rằng Trời Người hiệp một. Nếu chúng ta chỉ ngồi gọi tên rồi chờ người đến cứu th́ chúng ta chỉ hoàn toàn trông chờ vào Thầy chứ không có góp sức ḿnh.

Nói tóm lại, niệm danh Quán Thế Âm nghĩa là thực hành pháp môn của Ngài. Tức là chúng ta phải nghe những âm thanh ở thế gian và suy nghĩ về những âm thanh này cho tận tường thấu đáo. Làm được như vậy th́ chúng ta mới có cơ hội giải thoát. Thí dụ như thế này: chúng ta nghe mấy em thanh niên mở nhạc ầm ĩ. Đó là Thế Âm đấy. Vậy bây giờ ḿnh hăy xét xem ḿnh cảm thấy thế nào. Xin đừng vội kết luận rằng, đó là thinh âm sắc tướng mà tôi là người tu hành cần phải lánh xa, vậy nên tôi không cảm thấy ǵ cả. Nếu kết luận như thế là ḿnh từ chối suy nghĩ, ḿnh không chịu “quán”. Mà ḿnh không chịu Quán th́ đó là dấu hiệu ḿnh không thích hợp với pháp môn này. Nếu ḿnh chịu “quán” ḿnh sẽ nhận thấy một trong hai điều sau đây; hoặc là ḿnh thích thú và muốn nghe tiếp tục; hoặc là ḿnh không thích và muốn t́m đến nơi khác. Đây là một khởi đầu tích cực trong pháp môn này rồi đấy. Nếu chúng ta quán được đến đây th́ chúng ta hợp với pháp môn này và có thể tiến thêm nữa. Nhưng “quán thế nào để đi đến chỗ đạt Pháp” th́ lại là một phần rất khó khăn chỉ có thể bàn thêm ở một thời điểm khác thích hợp hơn.

Trong đạo Cao Đài, danh hiệu Quán Thế Âm được nhắc nhở trong bài kinh cầu siêu, và trong những bài thuyết tŕnh Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống của Đức Hộ Pháp. Đặc biệt quan trọng, trong kỳ ba này Ngài là một trong Tâm Trấn Oai Nghiêm. Vậy nên theo chúng tôi, pháp môn Quán Thế Âm của ngài là một cách tu hành khá thích hợp với nhiều người. Chỉ cần chúng ta hiểu rơ lời dạy của Ngài và làm theo cho đúng th́ rất có thể chúng ta sẽ đạt được Trí Huệ tức là đạt đạo.

V́ th́ giờ có hạn chúng tôi chỉ xin góp thêm vài suy nghĩ về mặt triết học cho đề tài hôm nay.

Xin kính chào chư vị.

TỪ CHƠN

 

 

THÁNH DANH CAO ĐÀI

BÀI THUYẾT TR̀NH

Tại Thánh Thất Huỳnh Đức

Đề tài: Thánh Danh Cao Đài

Kính thưa Ban Cai Quản Thánh Thất Quận Ba,

Kính chư hiền huynh, hiền tỷ.

Chúng tôi xin được trao đổi cùng quí vị qua những tiểu đoạn sau:

1. Thánh Danh Cao Đài là ǵ?

2. T́m hiểu ư nghĩa.

3. Tại sao thờ Thiên Nhăn?

4. Kết hợp hiểu biết và hành động.

Thánh danh Cao Đài là ǵ?

Trước hết xin được xác định từ THÁNH DANH. “Thánh” là thiêng liêng, là trái với phàm tục. “Danh” là tên gọi, danh xưng. Cũng có khi nghe gọi là Hồng Danh. Hồng là lớn, là vĩ đại. Thông thường người xưa đặt chữ này trước một danh xưng của các bậc vĩ nhân. Vậy th́ hồng danh hay là thánh danh trong ngữ cảnh này là tương đương.

Thánh Danh là những tên gọi, danh xưng mà các đấng thiêng liêng đă sử dụng để dạy dỗ nhân sanh trong thời kỳ mở đạo. Chúng ta học biết những thánh danh này qua các bài cầu cơ, chấp bút; qua những bài thuyết đạo của các bậc tiền bối. Những tên gọi này đặc biệt kết hợp chặt chẽ trong giáo thuyết Cao Đài, tạo thành một hệ thống thuật ngữ rất đăc trưng Cao Đài; không những thế, hệ thống thuật ngữ này biểu trưng một lư thuyết tôn giáo mới. Thậm chí các bậc trí giả phải soạn một quyển Tự Điển để t́m hiểu mà vẫn thiếu trước hụt sau.

Xin nêu một vài ví dụ: “ Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” là một thánh danh.

“Tạo Hóa Huyền Thiên Diêu Tŕ Kim Mẫu” là một thánh danh.

“ Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn” là một thánh danh … vân vân và vân vân…

Thế nên, đề tài trên theo ư chúng tôi nên được điều chỉnh lại một chút để thu hẹp vấn đề lại cho dễ tŕnh bày.Thí dụ như “Thánh Danh của Đấng Cao Đài Thượng Đế”, bởi v́ Các Thánh Danh Trong Đạo Cao Đài th́ quá nhiều, khó mà bàn luận thấu đáo trong một bài thuyết tŕnh ngắn ngủi.

T́m hiểu ư nghĩa

Bây giờ, theo đề tài “Thánh Danh của Đấng Cao Đài Thượng Đế” , chúng tôi mời quí vị cùng t́m hiểu ư nghĩa của một trong những Thánh danh quan trọng trong đạo Cao Đài.

Có lẽ chúng ta đều biết, chính Đức Chí Tôn đă dùng huyền diệu cơ bút mở đạo cứu nhân sanh trong lần ba này. Đức Chí Tôn đă dùng nhiều danh xưng. Ngài đă xưng là A,Ă,Â. Rồi lại xưng là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Nhiên Đăng Cổ Phật, Thích Ca Mâu Ni, Thái Thượng Ngươn Thỉ, Chúa Cứu Thế Giê Xu …vân vân. Danh xưng mà con cái ĐCT nghe nhiều nhất là … (xin đọc nguyên văn) :

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ

KIM VIẾT

CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

Mỗi danh xưng của ĐCT đều có một t́nh huống cội nguồn đặc biệt, và nhất là có những ngụ ư riêng cho từng hoàn cảnh. Thế cho nên, chúng tôi xin được thu hẹp chủ đề thêm một lần nữa: đó là xin chia sẻ cùng chư huynh tỷ những ư nghĩa của thánh danh “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”

Chúng ta, con cái của ĐCT đều biết rằng Cao Đài có nghĩa là một cái “đài cao”. Nếu hiểu rộng ra thêm nữa th́ ư nghĩa của từ Cao Đài c̣n có nhiều điều đáng luận bàn lắm! Tại sao lại phải dùng chiều cao để chỉ sự thiêng liêng mà không dùng chữ “đài to lớn” hay “đài vĩnh cửu” … vân vân. Về mặt ngôn ngữ trong tiếng Việt, th́ những ǵ đẹp đẽ về mặt tinh thần đều được diễn đạt bằng từ chỉ chiều cao. Ví dụ như “tâm hồn cao thượng”. Người Việt nam không bao giờ nói “tâm hồn to lớn” lại càng không bao giờ nói “tâm hồn vĩnh cửu”. Vậy th́ khi dùng từ Việt Nam để biểu thị một danh tự trong mục đích dạy đạo là ĐCT đă dành cho dân tộc Việt một đặc ân chưa từng có. Ấy là ĐCT mở đạo lần này dành riêng cho các con cái của Ngài ở một nước nhỏ bé nghèo hèn quyền được ưu tiên nghe lời dạy của Ngài bằng chính ngôn từ khiêm tốn của dân tộc ḿnh. Nhớ lại ngày trước, ông cha ta muốn học đạo đều phải đi theo con đường Nho Học th́ mới đọc được kinh sách viết bằng Hán Tự, mà Hán tự là ngôn ngữ của người Trung Hoa. Ngôn ngữ vốn là văn hóa, là cách sống. Cách sống của người Việt khác với cách sống của người Trung Hoa. Dù chúng ta có giỏi tiếng Hoa đến thế mấy đi nữa th́ cũng khó ḷng mà hiểu được cách sống, hay nói cho rơ hơn là hiểu được tư tưởng của người Trung Hoa. Chính v́ thế mà việc hiểu đạo bị cản trở rất nhiều. Hiểu đạo đă khó nói ǵ đến đắc đạo. Bây giờ ĐCT dạy đạo bằng ngôn ngữ Việt Nam, dù cũng c̣n khá nhiều từ gốc Hán Việt, nhưng cũng tạo điều kiện cho nhiều người hiểu đạo hơn nữa. Rồi càng về sau này sẽ có thêm nhiều bậc thông thái hiểu biết diễn giải cho càng lúc càng dễ hiểu hơn. Càng hiểu thâm sâu lời dạy của ĐCT th́ sẽ càng dễ có nhiều chơn linh đoạt đạo. Riêng bản thân chúng tôi không dám có cái cao vọng hiểu được lời dạy của ĐCT ngay trong kiếp sanh này để đạt đạo, mà chỉ hy vọng những thế hệ sau này làm được việc đó.

Ngoài ra, chúng ta cũng đă từng được dạy rằng đài cao, mà cao tận cùng là ngôi Thái Cực. Đó chính là biểu tượng tôn giáo của Nho Giáo. ĐCT dạy rằng kỳ ba này ĐCT dùng Nho Tông để chuyển thế, nghĩa là dùng các nguyên tắc cơ bản làm người của Nho Giáo để điều chỉnh xă hội. Nho Giáo có nền tảng nhân luân – nghĩa là luân lư của con người. Nói rơ hơn nữa là những qui tắc làm người trong một xă hội. Vậy ĐCT dạy chúng ta phải khởi đi từ những phép tắc xử thế cho đúng. Chúng tôi xin lấy một ví dụ: ĐCT dạy: lần này mở đạo Thầy chọn nhứt Phật, tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền và tam thiên Đồ Đệ. Vậy nếu suy diễn thêm một chút và so sánh với các phẩm trật trong Cửu Trùng Đài th́ đó là Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư, Phối Sư, Giáo Hữu. Giả sử ta cứ cho là vào phẩm Giáo Hữu mới vào hàng đồ đệ của Thầy, th́ điều quan trọng là ở chỗ này :muốn vào hàng đồ đệ của Thầy trước hết phải qua hàng Lễ Sanh. Sanh (theo từ điển Hán Việt) nghĩa là “người học tṛ” Do đó, Lễ Sanh nghĩa là người học lễ. Mà Lễ là một trong những đức tính của một Quân Tử trong Nho Giáo “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Vậy rơ ràng là: người tín đồ Cao Đài phải tu dưỡng theo những nguyên tắc làm người trong Nho Giáo từ những bước tập tành học đạo, mà cụ thể hơn là học Lễ.

Chỉ riêng một ư nghĩa “muốn vào hàng đồ đệ của ĐCT phải làm người học Lễ” cũng đă đủ cho chúng ta học cả một đời người rồi! Lễ là ǵ? Xin lưu ư, Lễ ở đây không chỉ nói riêng các lễ nghi thờ phượng trong tôn giáo chúng ta đâu. Lễ nghi tôn giáo chỉ là một phần của chữ Lễ trong Nho Giáo mà thôi. V́ thế trong đạo Cao Đài c̣n có người Lễ Sĩ – tức là người thực hiện các nghi tiết tôn giáo trong các đàn cúng. C̣n Lễ Sanh là một phẩm vị trong Cửu Trùng Đài.

Theo tự điển th́ chữ Lễ trong Nho Giáo chỉ toàn bộ những phép tắc cư xử đối với mọi người trong toàn cảnh xă hội. Ngày xưa khi gặp nhau, th́ điều đầu tiên các bậc tiền nhân làm là phải “thi lễ” – nghĩa là chào hỏi nhau thật lễ phép nhẹ nhàng. Ngày nay người ta gọi là ứng xử có văn hóa trong xă hội. Phép ứng xử trong xă hội nói ra th́ hết sức là mênh mông bởi v́ các nguyên tắc đều phải tùy vào từng mối quan hệ, từng hoàn cảnh, từng xă hội, từng cộng đồng cụ thể theo những phong tục tập quán đặc trưng. Ví dụ như giữa cha mẹ và con cái, th́ từng đối tượng phải ăn nói hành xử thế nào? Giữa bè bạn phải cư xử ra sao? Rồi giữa bề trên cấp dưới vân vân và vân vân …Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa th́ Lễ nói chung là phép ứng xử có mục đích nâng cao tinh thần của con người dựa trên cơ bản cái đẹp tuyệt vời của nhân bản mà vẫn đạt được mục tiêu của cá nhân. Chẳng hạn như thế này: một gia đ́nh kia dành dụm được một số tiền nho nhỏ. Họ đồng ư với nhau nên mua sắm một món ǵ đó để phục vụ cho cuộc sống. Người cha và người mẹ muốn mua món ǵ xài cho bền. Nhưng những món như thế thường là có mẫu mă cổ xưa. Các con lại muốn mua món ǵ có dáng vẻ hiện đại một chút. Những món này thường là mau hư hỏng. Thế là có một xung đột nhỏ xảy ra ở đây. Vậy th́ khi bàn bạc với nhau cả con cái lẫn cha mẹ phải dùng những lời lẽ thế nào vừa đẹp ḷng nhau vừa tránh được những cảm giác căng thẳng gây buồn phiền oán giận, thậm chí vô lễ với nhau. Ơ Việt Nam ta, th́ con cái có bổn phận kính trọng cha mẹ, vậy trong trường hợp trên phải tŕnh bày thế nào để cha mẹ hiểu ư ḿnh mà không lỗi đạo. Về phía cha mẹ cũng phải nhẹ nhàng nêu ư kiến của ḿnh, không áp đặt đàn áp, bởi v́ như thế sẽ nêu gương xấu cho con cái sau này. Nếu dung ḥa được ư kiến th́ đó là điều tốt đẹp nhất mà ai cũng mong muốn. Nhưng giả sử không dung hợp được, th́ theo truyền thống Nho Giáo, con cái phải vui vẻ nghe theo lời cha mẹ không oán trách giận hờn. Và nói ǵ th́ nói, cứ lấy thương yêu làm gốc th́ theo chúng tôi mọi tranh chấp xung đột trên cơi đời này đều có thể giải quyết êm đẹp. Cha mẹ thương con cái th́ sẽ cho phép con cái được toại ư. Con cái thương cha mẹ th́ sẽ chiều ư của hai ông bà. Xét theo những điều nêu trên th́ bậc Lễ Sanh là người lúc nào cũng lấy Lễ mà đối xử với mọi người trong cũng như ngoài đạo. Lễ Sanh đi đến đâu cũng phải được mọi người yêu mến do cách cư xử của ḿnh.

Về mặt ư nghĩa triết học, th́ rơ ràng ĐCT dạy chúng ta khởi chiều tư tưởng đi từ hai thực thể con người và xă hội. Con người không tốt th́ xă hội c̣n nhiều nỗi bất an, thống khổ. Xă hội không b́nh yên th́ không làm ăn sinh sống tốt được. ĐCT giáng thế dạy chúng ta phải v́ xă hội nhân quần mà sửa sai bản thân ḿnh. Như vậy sửa sai bản thân ḿnh là v́ muốn cho mọi người- trong đó có cả ḿnh - cùng tốt đẹp; chứ không phải v́ muốn ḿnh được tốt đẹp để ngày kia về với Thầy có chức này, phẩm nọ. Có như vậy th́ mới làm tṛn nghĩa vụ độ thế mà ĐCT đă giao cho con cái của Ngài trong lần mở đạo kỳ thứ Ba này.

Điều thứ hai chúng tôi xin phép tŕnh bày ở đây là ư nghĩa của từ Tiên Ông. Lúc chưa được học đạo, chúng tôi thường nghĩ rằng Tiên Ông là một cụ già đẹp đẽ, râu tóc bạc phơ, có phép thuật biến hóa đủ thứ. Tiên Ông thường hiện ra giúp đỡ những người tốt khi họ gặp tai nạn. H́nh ảnh đẹp tuyệt vời này khiến cho chúng tôi cũng muốn được như Tiên Ông để giúp đỡ người ta. Rồi chúng tôi t́m sách vở đọc và h́nh dung ra một đạo sĩ là người mặc áo rộng, xách giỏ thuốc đi t́m kỳ hoa dị thảo, nấu thuốc luyện đan, để được thành Tiên Ông trường sinh bất tử.

Tuy nhiên, chắc quí vị cũng biết không phải như vậy. Bởi v́ “Phép tiên đạo tu chơn dưỡng tánh”. Tu chơn dưỡng tánh, nói cho dễ hiểu là cải sửa bản thân. Trong Nho Giáo, cải sửa bản thân dựa vào nền tảng xă hội; nghĩa là trước tác động ngoại giới chúng ta điều chỉnh hành vi để tùy thuận hoàn cảnh đồng thời tác động vào ngoại cảnh theo định hướng Chân -Thiện - Mỹ. Nói theo từ hiện đại là con người tương tác với hoàn cảnh. Trong Tiên Giáo, việc cải sửa bản thân đặt trên nền tảng nội tại. Nghĩa là chỉnh sửa chính những tư tưởng vốn h́nh thành trong tự thân trí năo của chúng ta. Cốt lơi của các vấn nạn tư tưởng sẽ được giải quyết bằng phương tiện và sức mạnh của chính tư tưởng.

Trở lại với đề tài chính th́ ư của chúng tôi ở đây là: Nho Giáo là tương tác bên ngoài, Tiên Giáo là xử lư bên trong. Như vậy giáo huấn của ĐCT dạy chúng ta cả mặt nội lẫn ngoại. Ngoại giới và nội giới kết hợp là nguyên tắc Lưỡng Nghi để từ đó phát khởi Tứ Tượng, Bát Quái … vân vân theo định luật vũ trụ của ĐCT.

Tiếp theo là cụm từ Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Trong cụm này có hai cụm từ Đại Bồ Tát là một và Ma Ha Tát là hai. Đại là to lớn. Người Trung Quốc xưa thường dùng chữ này để đặt trước danh từ nào được cho là thiêng liêng hay đáng được tôn trọng. Ví dụ như Đại Nhân, Đại Giác vân vân … Bồ Tát nguyên gốc tiếng Phạn là Bodhisattva. Người Trung Quốc đọc là Bồ Đề Tát Đóa rồi sau rút gọn thành Bồ Tát. Ư nghĩa của từ này chỉ một người sau khi hành tŕ Ba La Mật Đa (nghĩa là Lục Độ) đạt được Phật vị nhưng nguyện không nhập Niết Bàn, ở lại thế giới ta bà cứu độ cho hết chúng sanh cùng đạt vị Phật như ḿnh. Ma Ha Tát nguyên gốc tiếng Phạn là Mahasattva, người Trung Quốc đọc là Ma Ha Tát Đóa rồi rút gọn là Ma Ha Tát. Cũng tương tự như trên, Ma Ha tiếng Phạn là to lớn. Người Ấn Độ cũng thường hay đặt chữ này trước những từ chỉ sự kính trọng. Tát nghĩa là chúng sanh. Ma Ha Tát nghĩa là một người đáng kính. Cuối cùng toàn bộ cụm từ Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có nghĩa là một người ở thế gian có tâm tu hành sau khi thực hiện các phương pháp tu tập đă trở thành bậc Giác Ngộ, nhưng không ích kỷ giữ riêng cho ḿnh mà lại tự nguyện đem sự hiểu biết của ḿnh ra để giúp cho mọi người cùng được hiểu biết như ḿnh. Từ hiểu biết mà chúng tôi dùng ở đây không có nghĩa là sự hiểu biết mà chúng ta vẫn nói đến hằng ngày mà chính là sự hiểu biết thông suốt sâu xa của bậc Đại Giác. Nhà Phật gọi đó là Trí Huệ.

Như vậy, thánh danh (hay hồng danh) của Đấng Cao Đài Thượng Đế hết sức là phức tạp. Về mặt nghĩa đen th́ phải hiểu từng cụm một như chúng ta đă bàn qua ở trên. Và hiển nhiên chúng ta không thể dịch ra thành một cụm từ duy nhất được. Ngoài ra, chúng ta ai cũng biết, ngôn từ nào trên thế giới này cũng mang một ẩn nghĩa nào đó bên trong. Thánh danh của Đấng Cao Đài Thượng Đế có nhiều ẩn nghĩa phong phú tùy theo chúng ta xem xét ở góc độ nào.

Điều đầu tiên, chúng tôi xin được bàn qua về cách dùng chữ. Thánh danh được kết hợp bởi bốn danh từ. Cao Đài là một, Tiên Ông là hai, Đại Bồ Tát là ba và Ma Ha Tát là bốn. Các danh từ này là một sự pha trộn giữa ngôn ngữ Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ. Ngôn ngữ biểu thị văn minh của một quốc gia. Nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ là hai nền văn minh lớn của nhân loại nói chung và của Á Châu hay Phương Đông nói riêng. Giữa bốn danh từ này không hề có dấu phẩy hay dấu chấm. Điều này ngụ ư ba nền văn minh được ḥa trộn làm một hết sức nhuần nhuyễn không có ranh giới phân biệt cụ thể. Cuối cùng toàn bộ cụm danh từ đă được hoàn toàn Việt Nam hóa. Vậy rơ ràng ĐCT dạy chúng ta là cả nền văn minh tinh thần của phương Đông sẽ trộn lẫn vào nhau rồi hội tụ tại Việt Nam, nơi Thầy trao Bí Pháp cứu rỗi nhân loại trong kỳ ba này.

Về mặt triết lư tôn giáo, th́ thánh danh của ĐCT ngụ ư ba tôn giáo lớn của Châu Á là Phật, Lăo và Khổng ḥa thành một, nhen nhúm hạt mầm ở Việt Nam rồi phát triển ra nước ngoài, đem lời giáo huấn của ĐCT đến mọi sắc dân, thực hiện lời hứa của ĐCT là cứu độ vạn linh.

Sự pha trộn này có khi bị hiểu lầm là hỗn tạp. Nhưng theo chúng tôi th́ trong thế giới hiện tượng này không có thứ ǵ gọi là “nguyên thủy” cả. Nếu có điều ǵ đó được gọi là nguyên thủy th́ chính là v́ chúng ta chưa t́m ra được nguồn gốc của nó mà thôi. Thêm một điều nữa, khuynh hướng của thế giới hiện nay là giao tiếp chứ không cô lập. Mà giao tiếp th́ không sớm th́ muộn cũng phải ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau. Triết lư của Cao Đài không phải là hỗn tạp mà là sự dung hợp. Hỗn tạp là kết hợp với nhau không theo một tỷ lệ nhât định nào. C̣n dung hợp là kết hợp với nhau theo một định hướng chấp nhận và tôn trọng các thành tố để đưa đến một mục đích cao cả. Cuối cùng rồi th́ người ta cũng phải chấp nhận là phải dung hợp th́ thế giới này mới tồn tại. Mà dung hợp để tồn tại chính là lời dạy ngàn vàng của ĐCT dành cho con cái của Người từ hơn tám chục năm qua.

Tinh thần của Cao Đài không phải là hỗn tạp. Nghĩa là không phải vào đạo Cao Đài rồi là phải tu tập theo các pháp môn của cả ba tôn giáo Phật Lăo Khổng mỗi thứ một chút, hay phải đọc cho hết kinh sách của ba tôn giáo này. Mà cái chính là có được cái tinh thần dung hợp với tha nhân, có ḷng tôn trọng người khác cũng như tôn trọng chính ḿnh trong mỗi sinh hoạt hằng ngày. Bởi một thực tế hiển nhiên là cá nhân chúng ta không thể đóng cửa không giao tiếp mà tự tồn tại được, nên chúng ta phải học tập lời dạy dung hợp của ĐCT để sống, để tu dưỡng và làm cho xă hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Nói tóm lại, trong tự thân danh xưng của Cao Đài Thượng Đế đă mang ư nghĩa triết lư Cao Đài đó là: dạy làm người. Chúng tôi nghĩ rằng có làm người đúng nghĩa th́ mới mong tập tành làm Tiên làm Thánh.

Tại sao thờ Thiên Nhăn

Nếu đă luận bàn Thánh Danh của Đấng Cao Đài Thượng Đế mà không bàn đến biểu tượng Thiên Nhăn, th́ theo chúng tôi là một thiếu sót lớn. Vậy kính mời quí vị nghe chúng tôi tŕnh bày thêm tiểu đoạn thứ ba: Tại sao thờ thiên nhăn.

Phải công nhận một điều là có rất nhiều người khi nh́n thấy Thiên Nhăn lần đầu đều có một cảm giác rất lạ thoáng qua ư nghĩ của ḿnh. Có khi là cảm giác sợ, có khi là một khích động ṭ ṃ. Không biết bao nhiêu lần rồi mà các bạn ngoài đạo của chúng tôi hỏi tại sao phải thờ Thiên Nhăn. Rơ ràng biểu tượng của ĐCT đă gây ấn tượng mạnh mẽ biết bao. Nhưng chắc quí vị cũng đồng ư với chúng tôi là biểu tượng của Thầy không phải dùng để gây ấn tượng. Thầy giáng thế dạy đạo, ắt là biểu tượng của Thầy là để dạy đạo. Vậy ư nghĩa của lời dạy đạo đó là ǵ?

Mọi tín đồ Cao Đài đều biết thánh ngôn thầy dạy sau đây:

Nhăn thị chủ tâm

Lưỡng quang chủ tể

Quang thị thần

Thần thị thiên

Thiên giả ngă giả

Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày đạo bị bế. Lập Tam kỳ Phổ Độ này, duy Thầy cho Thần hiệp Tinh Khí đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập thánh. Các con nhớ nói v́ cớ nào thờ Con Mắt Thầy cho chư đạo hữu nghe …

Phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật từ ngày đạo bị bế, th́ luật lệ hỡi c̣n nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên Đ́nh mỗi phen đánh tản Thần, không cho hiệp cùng Tinh Khí. Thầy đến đặng hườn nguyên Chơn Thần cho các con đắc đạo.

Con hiểu “Thần cư tại Nhăn”. Bố trí cho chư đạo hữu con hiểu rơ. Nguồn cội Tiên, Phật do yếu nhiệm là tại đó.

Xin quí vị cho phép chúng tôi được miễn trích dịch sách vở khi nói đến tiểu đoạn này. Đă có rất nhiều sách vở đưa ra lời giải thích, ví dụ như Cao Đài tự điển đă cho giải thích rất đầy đủ. Ư chúng tôi là xin tŕnh bày những điều mà chúng tôi thật sự chiêm nghiệm bằng chính bản thân ḿnh. Chúng tôi nghĩ rằng đây mới chính là điều quan trọng nhất.

Điều đầu tiên chúng tôi xin quí vị quan tâm đến những từ ngữ trong bài thánh ngôn như “cơ mầu nhiệm”, “Thầy cho Thần hiệp Tinh Khí”, “luyện pháp”, “nguồn cội Tiên Phật”. Mặc dù thầy có dạy rằng “Bố trí cho chư đạo hữu con hiểu rơ” nhưng rơ ràng Thầy dạy điều này cho những vị nào bước vào tịnh luyện chứ không phải cho bất kỳ đạo hữu nào. Hơn nữa Thầy dùng chữ bố trí chứ không phải thông báo. Thông báo là phổ biến ra, là nói ra cho mọi người đều biết; c̣n bố trí là nói để cho mọi người hiểu . Nói để cho người khác biết th́ rất dễ, nhưng nói cho nguời khác hiểu th́ rất khó, v́ điều đó đ̣i hỏi nhiều yếu tố tế nhị nếu không muốn nói là phức tạp. Như vậy từ này hàm ư sắp xếp tính toán lọc lựa, nghĩa là chỉ trao cho những đối tượng cần hiểu chứ không chỉ đơn giản là cho đối tượng cần biết. Chúng ta cũng biết Tịnh luyện là Bí Pháp của Cao Đài, chưa nói đến ẩn nghĩa của từ Bí Pháp này mà chỉ nội ư nghĩa thông thường thôi th́ từ Bí Pháp đă có nghĩa là không phổ biến rồi. Sẽ có thắc mắc là tại sao lại không phổ biến? Thầy đă nói là cứu vạn linh nghĩa là cứu tất cả, vậy th́ phải cho tất cả mọi người biết chứ? Thưa quí vị, Thầy không hề dấu, rơ ràng là chúng ta đang đọc những câu đó đây mà, nhưng “biết” th́ phổ biến c̣n muốn “hiểu” th́ phải “bố trí”. Nghĩa là có thể có nhiều người biết Bí Pháp là ǵ, nhưng số người hiểu được bí pháp th́ sẽ rất là ít.

Chúng tôi xin nói rơ thêm một điều quan trọng. Đó là: không thể dịch những câu trên ra tiếng Việt theo nghĩa đen rồi cho là hiểu được lời dạy của Thầy. Dịch nghĩa ra tiếng Việt mà chúng ta vẫn thường gọi là diễn Nôm chỉ đem lại cho chúng ta cái “biết” chứ không thể đem lại cho chúng ta cái “hiểu”. Chắc quí vị cũng đă từng dịch nghĩa ra tiếng Việt rồi, hoặc đă từng đọc một số tác giả dịch nghĩa đen ra rồi và cũng đă thấy là cái “hiểu” của ḿnh cũng không tăng lên bao nhiêu. Huyền bí vẫn hoàn huyền bí. Chúng tôi xin lấy một ví dụ ngoài đời thế này: giả sử như chúng ta chưa từng học Y khoa đi. Vậy th́ khi đi khám bệnh chắc chắn chúng ta không thể nào hiểu được những lời giải thích của Bác Sĩ về căn bệnh của ḿnh cho dù vị Bác Sĩ có cố công thế mấy đi nữa. Lúc đó ḿnh bắt buộc phải nghe theo lời khuyên chuyên môn của Bác Sĩ chứ không c̣n cách nào khác.

Trong lănh vực Bí Pháp cũng vậy. Nếu ḿnh chưa đi vào tịnh luyện mà muốn nghe chuyện tịnh luyện th́ khác nào đi khám bệnh rồi căi với Bác Sĩ về cách điều trị trong khi ḿnh chưa có kiến thức về y khoa. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là ḿnh không thể hiểu được. Muốn hiểu những lời Bác Sĩ, ḿnh phải học Y Khoa, hay ít ra th́ cũng đọc sách vở tài liệu y khoa cho nhiều. Muốn hiểu những câu Thầy dạy đă nêu trên th́ ḿnh phải đi vào tịnh luyện. Mà trong Cao Đài muốn đi vào tịnh luyện th́ phải đủ Tam Lập trước. Chỉ có trường hợp ngoại lệ là những chơn linh cao trọng nh́n vào là hiểu ngay, nhưng điều này tương đối hiếm.

Vậy tóm lại vấn đề này, theo chúng tôi, muốn biết v́ sao phải thờ Thiên Nhăn ta có thể tạm “biết” như sau: Đó là biểu tượng của Đấng Cao Đài Thượng Đế có mục đích dạy cho nhân loại cách thức để trở về với Ngài. Về mặt từ nghĩa th́ cứ dịch theo các bậc tiền bối đă dịch như là: mắt là chủ của tâm; hai ánh sáng là chủ; ánh sáng là thần; thần là Trời; Trời là Ta. Đến đó theo chúng tôi là đă đủ. Phần suy diễn thêm ǵ ǵ đó để “hiểu” được những câu này xin dành cho những bậc cao trọng. Sau khi biết được nghĩa đen của những từ này rồi th́ con đường tiếp theo sẽ hoàn toàn là tùy vào từng cá nhân bởi v́ đó là con đường riêng của từng cá nhân. Hay nói theo thuật ngữ Cao Đài là sự tương tác của hai đối tượng quan trọng trong vũ trụ: Tiểu Linh Quang và Đại Linh Quang. Trong sự tương tác này không có h́nh ảnh, không có ngôn ngữ thậm chí không có ư thức. Chúng tôi xin phép nhấn mạnh chỗ này: hiện giờ chúng ta dùng ngôn ngữ để bàn về vấn đề này chỉ là tạm. Những ǵ chúng tôi nói ra đây chỉ là ư thức vận động trong thế giới hiện tượng mà thôi. Nói thẳng ra là nếu “hiểu” được lời dạy về biểu tượng Thiên nhăn của ĐCT là đă đạt đạo.

Kết hợp hiểu biết và hành động

Kính thưa quí vị,

Chúng tôi xin phép được kết thúc bài nói chuyện bằng một vài ư tưởng.

Thứ nhất, qua Thánh Danh của Đấng Cao Đài Thượng Đế, chúng ta rút ra được một bài học làm người. Làm người, trước hết phải v́ người khác, v́ tha nhân. Cứ làm việc, cứ giúp đỡ người khác mà không quan tâm đến bản thân ḿnh hay quan tâm đến ích lợi của riêng ḿnh. Cũng không tính toán lời lăi, cũng không quan tâm đến màu da sắc tóc. Xem vạn linh là ḿnh, ḿnh là vạn linh.

Thứ hai, thánh tượng Thiên Nhăn của Cao Đài là Bí Pháp dành cho các chơn linh cao trọng hiểu. Chúng tôi xin phép được nhấn mạnh lại điều này một lần nữa HIỂU chứ không phải BIẾT. Những ai c̣n nhận thấy ḿnh chưa làm được ǵ trên con đường tam lập, có lẽ sẽ c̣n chưa HIỂU được thánh tượng của Thầy. Hăy cầu nguyện mong có ngày nào đó chúng ta gặp được các bậc trí giả đạt đạo chỉ dạy lại. Và chúng tôi chắc một điều là đă có đang có và sẽ có những bậc đại giác ngộ như thế. Bởi v́ như thầy đă dạy kỳ ba này Thầy sẽ tận độ.

TỪ CHƠN

 

TÔN CHỈ CAO ĐÀI

BÀI THUYẾT TR̀NH

ĐỀ TÀI: TÔN CHỈ VÀ CHỦ NGHĨA CAO ĐÀI

Tại Thánh Thất Quận Ba

 

Kính thưa chư hiền huynh, hiền tỷ.

Bài thuyết tŕnh hôm nay sẽ theo tŕnh tự sau đây:

1. Định nghĩa hai từ tôn chỉ và chủ nghĩa

2. Tôn chỉ Cao Đài

3. Chủ nghĩa Cao Đài

4. Đi vào thực tế

1. Định nghĩa hai từ tôn chỉ và chủ nghĩa

Trước hết, tôn chỉ là ǵ? Tôn nghĩa là cao quí. Chỉ nghĩa là ư nghĩa của một hành động nào đó. Tôn chỉ nghĩa là ư nghĩa chính yếu, cao quí của một hoạt động. Ví dụ như muốn phát hành một tờ báo, th́ chúng ta phải định trước tờ báo ấy để làm ǵ? Để thông tin cho kịp thời, để nâng cao dân trí, để thu lợi nhuận từ những quảng cáo vân vân … Nếu mục đích ấy cao thượng, đem lại những điều tốt đẹp cho xă hội nhân quần th́ chúng ta có một tôn chỉ vậy.

Chủ nghĩa là ǵ? Chủ nghĩa là quan trọng, chính yếu. Nghĩa nghĩa là đường lối, cách thức mà mọi người nên theo ngơ hầu đạt được một mục đích nào đó. Xin lấy lại ví dụ nêu trên. Giả sử như chúng ta định xuất bản một tờ báo có tôn chỉ là nâng cao dân trí, vậy th́ đường lối chúng ta phải theo là chọn lựa những bài vở nào có tính giáo dục, giúp cho mọi người hiểu rơ các vấn đề cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của họ. Ngoài ra, những bài báo quảng cáo hay truyện để giải trí chúng ta sẽ không cho đăng tải.

Nói tóm lại, tôn chỉ là mục đích của một hành động nhằm đem lại những điều tốt đẹp. C̣n chủ nghĩa là cách thức phải theo để thực hiện hành động đó. Trên ư nghĩa cơ bản này, xin mời quí vị cùng chúng tôi t́m hiểu tôn chỉ và chủ nghĩa của Cao Đài.

 

2.Tôn chỉ Cao Đài

Chúng ta đều biết, ĐỨC CHÍ TÔN dùng huyền diệu cơ bút mở đạo và đă nêu rơ tôn chỉ qua giáo huấn của Ngài. Đó là “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Có thể diễn dịch ra như thế này: Một nền tôn giáo lớn mở ra lần thứ ba để cứu giúp loài người. Vậy th́ tôn chỉ của Cao Đài nằm trong hai chữ phổ độ. T́m hiểu ư nghĩa hai từ này chính xác sẽ giúp hiểu được tôn chỉ của Cao Đài. Vậy phổ độ là ǵ? Phổ nghĩa là rộng khắp. Độ nghĩa là đi qua (bên kia bờ). Từ này có nguồn gốc Phật Giáo. Phật Giáo ví cuộc đời là biển khổ, và đi qua bờ bên kia biển khổ là giải thoát. Chúng ta c̣n nhớ chuyện Ngũ Tổ, sau khi truyền y bát cho Đức Huệ Năng – tức là Lục Tổ - bèn dùng thuyền đưa Đức Huệ Năng đi khỏi chùa để trốn chúng đệ tử vốn muốn tranh lấy y bát. Lúc đó, Lục Tổ Huệ Năng nói với Ngũ Tổ “Để đệ tử chèo thuyền độ (tức là đưa) Tổ Sư mới phải”. Đức Huệ Năng nói như vậy là v́ theo truyền thống Á Đông th́ đệ tử phải làm những công việc nặng nhọc thay cho thầy. Nhưng Ngũ Tổ trả lời: “Để ta độ (cũng là đưa) ngươi mới phải.” Lần này Ngũ Tổ ngụ ư “Thầy dùng thuyền (tức là pháp) để đưa đệ tử qua bên kia bờ biển khổ.” Câu truyện chơi chữ đầy ẩn ư này giúp chúng ta hiểu rơ thêm ư nghĩa chữ “độ” trong Phật Giáo. Đến đây chúng ta có thể an toàn định nghĩa chữ Phổ Độ trong Cao Đài. Phổ Độ nghĩa là giúp tất cả loài người qua khỏi biển khổ. Đó cũng chính là tôn chỉ của Cao Đài.

Sở dĩ có tôn chỉ ấy là v́ trong kỳ ba này, theo đúng chu kỳ của vũ trụ th́ mọi thứ đều tiến đến chỗ phải chuyển qua một giai đoạn mới. Theo cơ bút th́ kỳ ba này Thầy mở hội Long Hoa, tuyển chọn những người có đạo đức để chuyển sang thời kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức. Hội Long Hoa ví như một kỳ thi tuyển cực kỳ khó khăn. Tất cả những điều ǵ mà thế gian xem là đau khổ đều thể hiện rơ nét trong thời kỳ này. Tất cả những điều ấy như là những thử thách. Những ai chịu đựng nổi những thử thách này mà vẫn bền ḷng ǵn giữ đạo đức th́ được chuyển qua thời kỳ thánh đức.

Chính v́ thời kỳ thử thách khắc nghiệt như thế nên mới cần có sự giúp đỡ. ĐỨC CHÍ TÔN lập đạo Cao Đài tức là lập ra một đoàn thể. Đoàn thể này – tức là chúng ta đây – sẽ theo lời dạy của ĐCT mà trợ giúp nhân loại trong kỳ đại hội Long Hoa.

 

3. Chủ nghĩa Cao Đài

Chúng ta đă biết được tôn chỉ Cao Đài là giúp đỡ nhân loại trong kỳ đại hội Long Hoa , vậy Chủ nghĩa Cao Đài là ǵ? Đó chính là đường lối, cách thức mà chúng ta tiến hành để giúp nhân loại. Nói rơ hơn, chúng ta phải làm những điều ǵ để giúp đỡ loài người thoát khỏi biển khổ?

Muốn giúp một người, ắt là chúng ta phải biết rơ người đó cần điều ǵ hoặc thiếu thốn điều ǵ th́ giúp mới có hiệu quả. Ví dụ như muốn giúp một người sắp chết khát, th́ chúng ta cần mang nước uống đến cho người đó chứ không phải mang cho ông ta một chiếc áo đẹp. Vậy muốn Phổ Độ - nghĩa là giúp toàn thể nhân loại này vượt qua bể khổ - th́ đầu tiên chúng ta phải biết rơ loài người cần điều ǵ để thoát khổ?

Loài người có cần thức ăn không? Dĩ nhiên là cần. Nhưng rơ ràng là có hai điểm quan trọng chúng ta cần xét kỹ ở đây. Một là, thức ăn trên thế giới này không hề thiếu mà chỉ có cách phân chia thức ăn không công bằng mà thôi. Có những nơi người ta thừa ăn thừa uống đến độ bị béo ph́ hoặc phải đổ bớt đi; nhưng cũng có những nơi ngày nào cũng có hàng trăm người chết đói. Hai là, nếu chúng ta cung cấp đủ thức ăn cho mọi người th́ mọi người có hết khổ hay không? Dám thưa chư vị là không. Bởi v́ trên thực tế những người giàu có nhất trên hành tinh này cũng chưa chắc dám nhận là ḿnh thoát khỏi đau khổ. Vậy th́ loài người có cần khoa học kỹ thuật không? Cũng có cần đấy. Nhưng khoa học kỹ thuật ngày nay tiến như vũ băo; trong thời đại vi tính ngày nay con người đă thực hiện được những điều mà trước đây chúng ta vẫn nghĩ là không tưởng. Ví dụ như liên lạc toàn cầu được thực hiện trong nháy mắt, hay là thay tim thay thận, thậm chí người ta c̣n tính chuyện bỏ quả địa cầu 68 này đi t́m một hành tinh khác để sinh sống! Có lẽ chúng ta không cần giúp; hay nói rơ hơn là không thể giúp ǵ cho nhân loại trong lănh vực này cả. Thật là không may, khi con người đă nắm vững khoa học kỹ thuật rồi th́ mặt trái của khoa học kỹ thuật cũng gây ra khốn khổ không kém ǵ những lợi ích. Ví dụ như con người có thể chế tạo ra thuốc trừ sâu rầy để bảo vệ mùa màng; nhưng chúng ta có lẽ cũng nhiều lần nghe nói dư lượng thuốc trừ sâu trên thức ăn cũng đă và đang gây hại cho sức khỏe. Hoặc năng lượng hạt nhân đem lại lợi ích, nhưng chất thải hạt nhân hay những tai nạn nhà máy hạt nhân cũng khủng khiếp khôn cùng.

Nếu suy đi nghĩ lại th́ có một điều mà nhân loại vẫn chưa đạt được dù có biết bao nhiêu người đă mong muốn, kêu gọi từ bao năm qua. Đó là t́nh thương – t́nh thương giữa người và người. Về khoa học kỹ thuật th́ con người đă tiến bộ rất nhiều, nhưng trong lănh vực t́nh thương, kể từ khi con người hiện diện trên quả đất đến nay, không thấy có một tiến bộ nào đáng kể. Những tranh chấp hận thù vẫn giữ nguyên mức độ khốc liệt như lúc con người c̣n ăn lông ở lỗ. Cách tàn hại lẫn nhau của loài người vẫn không giảm mức độ tàn nhẫn. Người ta vẫn c̣n sẳn sàng hại nhau v́ những lư do không đâu. Trái ư nhau cũng đưa đến chỗ hại nhau; tranh giành miếng ăn cũng có thể đưa đến cảnh chết chóc. Nguyên nhân chủ yếu của sự tranh giành giết chóc này là sự phân hóa chia rẽ. V́ có tôi có anh; có bỉ có thử; có bạn có thù, nên mới có phân biệt chia rẽ. Có của tôi không phải là của anh nên mới có giành giựt. Rơ ràng nhân loại cần tránh sự chia rẽ này. Tránh được sự phân hóa chia rẽ th́ con người mới biết thương yêu nhau. Biết thương yêu nhau th́ con người sẽ biết chia nhau những quyền lợi. Và từ đó cuộc sống trên hành tinh này sẽ an toàn hơn, hạnh phúc hơn. Vậy, phân hóa chính là điều mà nhân loại cần phải loại bỏ nếu muốn cùng sống chung với nhau trên quả đất này. Suy cho cùng th́ nhân loại thật sự cần t́nh thương; nghĩa là cần tiến bộ về mặt tinh thần.

Cũng v́ thế nên muốn giúp đỡ nhân loại, Đức Chí Tôn dạy chúng ta “Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhất”. Đây chính là chủ nghĩa của Cao Đài.

Xin mời quí vị cùng nghiên cứu chủ nghĩa Cao Đài “Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhất”. Có lẽ tín đồ Cao Đài chúng ta đều biết Tam Giáo là Phật Giáo, Khổng Giáo, Lăo Giáo. Ngũ Chi là Nhân Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo. Qui nguyên nghĩa là quay trở về với nguồn gốc. Phục nhất nghĩa là trở lại số một, tức là nguyên thủy. Thế nhưng hiểu hai vế đối trên theo nghĩa đen th́ có một vài điểm không ổn. Một là, trên thế giới hiện nay có rất nhiều tôn giáo, tại sao Thầy dạy chúng ta chỉ qui nguyên chỉ có Phật, Lăo và Khổng? Vậy những tôn giáo khác như Hồi Giáo, An Độ Giáo, Do Thái Giáo vân vân … th́ không cần phải qui nguyên sao? Nếu chỉ cần qui nguyên Ba Tôn Giáo lớn th́ e rằng chúng ta lại tạo ra một sự phân biệt, chia rẽ mới và như thế th́ chúng ta đi ngược lại nguyên tắc công bằng và t́nh thương của Đức Chí Tôn. Hai là, trong hai vế đối trên, khi th́ Đạo Phật được gọi là Giáo; khi th́ được gọi là Chi. Vậy rơ ràng là hiểu theo nghĩa đen sẽ có một sự trùng lập không cần thiết ở đây.

Theo ư của chúng tôi, phải hiểu hai vế đối trên theo tinh thần một câu đối mà chúng ta thường bắt gặp trong cách viết văn của người xưa. Nghĩa là phải xét từ đối với từ, ngữ đối với ngữ và câu đối với câu để có được một ư nghĩa hoàn chỉnh cuối cùng. Vậy th́ xét hai câu trên chúng ta thấy Tam Giáo đối với Ngũ Chi và qui nguyên đối với phục nhất. Người phương Đông nói chung và người Trung Hoa nói riêng thường dùng những con số đăc biệt biểu đạt một ư nghĩa nào đó. Ví dụ như khi nói “chín phương Trời, mười phương Phật” th́ không có nghĩa là Trời ngự trị ở chín nơi; Phật ngự trị ở mười nơi. Toàn bộ từ ngữ ấy dùng để ám chỉ một cơi giới khác ngoài cơi phàm trần của chúng ta mà thôi. Suy theo lẽ ấy th́ Tam Giáo Đối với Ngũ Chi dùng để chỉ tất cả những tư tưởng tôn giáo hiện có ở quả địa cầu 68 này. Qui nguyên và phục nhất trong ngữ cảnh này là đồng nghĩa. Vậy toàn bộ hai câu đối trên có nghĩa là “Hăy quay trở lại cội nguồn của những tư tưởng tôn giáo hiện có trên thế giới này” và như đă giới thiệu ở trên th́ đây chính là chủ nghĩa của Cao Đài; đây chính là điều mà chúng ta- con cái của Đức Chí Tôn- phải thực hiện và kêu gọi mọi người cùng thực hiện để có được một cuộc sống có ư nghĩa hơn.

Thưa quí vị, chúng tôi xin được tạm rút gọn lại phần tŕnh bày vừa qua. Tôn chỉ Cao Đài là giúp đỡ toàn nhân loại tránh những nổi thống khổ về tinh thần. Chủ nghĩa Cao Đài là giúp mọi người quay trở về nguồn cội của những tư tưởng tôn giáo; từ đó con người biết yêu thương nhau hơn, biết giúp đỡ nhau dắt d́u nhau cùng thoát khổ.

 

4. Đi vào thực tế

Với định nghĩa nêu trên, mời quí vị cùng chúng tôi đi vào phần thứ tư: đó là chúng ta áp dụng chủ nghĩa Cao Đài trong đời sống như thế nào? Theo giáo huấn của Đức Chí Tôn, nếu chúng ta qui nguyên hay phục nhất – nghĩa là trở lại cội nguồn của tôn giáo th́ chúng ta sẽ thấu hiểu mọi tư tưởng tôn giáo, kể cả tư tưởng“không tôn giáo” trên địa cầu này vốn là một. Vậy th́ trước hết ngay ở chính bản thân mỗi người trong chúng ta đây có ư thức được quan niệm này hay chưa? Chúng tôi nghĩ rằng chính ḿnh phải thông suốt điều này trước th́ mới có thể kêu gọi người khác cùng làm như thế.

Thưa quí vị, “xem mọi tôn giáo là một” là một khái niệm cực kỳ khó dẫn giải; cũng v́ lư do đó mà chúng ta rất dễ hiểu sai ư nghĩa để rồi thực hiện không đúng lời dạy của Đức Chí Tôn. Có người đọc Thánh Ngôn, Thánh Kinh đến câu “Thâu các Đạo hữu h́nh làm một” th́ có ư nghĩ như thế này: Đạo Cao Đài bao trùm tất cả các tôn giáo khác và họ nghĩ trong tương lai khi chỉ c̣n một Đạo Cao Đài thôi th́ mới đúng lời dạy của Đức Chí Tôn. Chúng tôi e rằng nghĩ như vậy là không ổn. Bởi như thế, chúng ta gián tiếp cho rằng tư tưởng của ḿnh là đúng; c̣n của người khác là sai. Đây là một tư tưởng có tính chất độc chiếm. Tư tưởng như vậy chỉ đưa đến chỗ chia rẽ manh mún thêm nữa toàn cảnh xă hội loài người vốn đă chia rẽ trầm trọng từ lâu. Chia rẽ không bao giờ mang lại t́nh thương. Chia rẽ chỉ tăng thêm ḷng thù hận mà thôi. Càng sinh thù hận th́ chúng ta càng xa rời tôn chỉ của Cao Đài là giúp loài người thoát khổ.

Theo thiển ư, quan điểm xem mọi tôn giáo là một có thể được diễn giải qua hai cách. Cách thứ nhất đơn giản là: chúng ta hăy đối xử với mọi người không phân biệt về bất cứ lănh vực nào. Dù người ấy có nguồn gốc là một sắc dân nhỏ bé nghèo hèn nào; chúng ta cũng không v́ thế mà coi thường. Hay người ấy có quyền uy giàu sang đến đâu đi nữa th́ chúng ta cũng không v́ thế mà có ḷng ưu ái hơn kẻ khác. Dù người ấy có ư nghĩ khác với chúng ta; thậm chí chê bai chỉ trích chúng ta th́ chúng ta cũng không v́ thế mà đem ḷng ghét bỏ. Hăy dặn ḷng lời giáo huấn của Thầy “Không thương được th́ chớ ghét”. Người nào thực hiện được điều này sẽ trở thành một người vô cùng dễ mến. Càng có nhiều người thực hiện được điều này th́ xă hội càng tiến bộ về mặt tinh thần. Mọi người biết nhường nhịn thương yêu nhau, giúp đỡ nhau. Trong một xă hội như thế, mọi thống khổ về mặt vật chất sẽ giảm nhẹ đi rất nhiều. Và nếu toàn thế giới cùng làm như thế th́ mọi tranh dành chém giết sẽ tự kết thúc.

Kính thưa quí vị, điều này nói ra th́ dễ nhưng thực hành mới là khó. Và theo chúng tôi th́ có lẽ chúng ta ráng thực hiện một điều ấy thôi suốt cuộc đời cũng là đáng ngợi khen lắm rồi.

Cũng có người sẽ đặt vấn đề: thế giới này quá nhiều người, một ḿnh tôi làm như thế có xoay chuyển được hay không? Hơn nữa, trong khi tôi ráng tu hiền mà những người khác chung quanh tôi đều dữ th́ e rằng thiệt tḥi cho tôi. Thưa quí vị, xin trả lời thế này: Thầy dạy chúng ta kư ḥa ước với Thầy qua hai điều khoản THƯƠNG YÊU và CÔNG B̀NH. Khi chúng ta vào cửa đạo Cao Đài là đương nhiên công nhận điều này. Vậy th́ chúng ta cứ thực thi hai điều khoản này đi, mọi chuyện khác do quyền Thầy. Kiên nhẫn thực hiện suốt cuộc đời ta mà không đ̣i hỏi một điều ǵ đáp lại đó cũng là một hạnh đáng quí của người tu vậy.

Cách diễn giải thứ hai có liên quan đến Bí Pháp của Cao Đài. Xem mọi tư tưởng là một là một động tác cực kỳ khó khăn nhưng đó cũng chính là con đường duy nhất giúp chúng ta giải phóng năng lượng nội tại vô tận. Năng lượng ấy sẽ giúp bản thân chúng ta đạt một sự thấu hiểu thông suốt vượt mọi giới hạn không gian cũng như thời gian. Sự thấu hiểu sâu xa này sẽ đưa chúng ta hiệp một cùng Thầy. Nhưng MỘT là ǵ? Và làm sao để đạt được yêu cầu xem mọi tư tưởng là MỘT? Chúng ta vẫn thường đọc trong thánh ngôn trong thánh kinh từ MỘT này rất nhiều lần. Nào là “hiệp MỘT cùng Thầy”; nào là “Thâu các Đạo hữu h́nh làm MỘT” ; nào là “Ngũ chi phục NHẤT”; và nhất là Thánh tượng Thiên Nhăn có dạng MỘT con mắt. MỘT là khái niệm triết học phương Đông rất độc đáo. Đây không phải là số đếm mà là một trạng thái đồng nhất với một đối tượng nào khác ngoài bản ngă. Ví dụ như thế này: khi chúng ta gặp một người bạn, th́ trong đầu chúng ta liền có ư nghĩ người bạn này khác với ḿnh. Nghĩa là có hai thực thể ḿnh và người đó ; chủ thể và khách thể; bỉ và thử; và từ đó về sau chúng ta đối xử với người đó dựa trên cơ bản này. Tức là dực trên HAI chứ không phải MỘT. Một thí dụ nữa là: khi chúng ta khởi sự suy nghĩ, th́ chúng ta cũng xem ḿnh và những suy nghĩ của ḿnh là hai sự thể tách rời nhau. Nếu có một cách nào đó để chúng ta xóa bỏ sự tách biệt này th́ chúng ta đạt được trạng thái MỘT mà người xưa gọi là ĐẮC NHẤT. Trạng thái này có nhiều tên gọi; nhưng nói cho cùng th́ đó là trạng thái trí huệ nghĩa là đắc đạo. Tuy nhiên đây là một quá tŕnh hết sức khó khăn vượt khỏi mọi suy nghĩ luận lư. Trong đạo Cao Đài th́ quá tŕnh này chỉ được thực hiện ở tịnh thất hay dành riêng cho những chơn linh cao trọng mà thôi. Trong giới hạn của bài thuyết tŕnh này, chúng tôi xin được phép tŕnh bày sơ lược; nếu muốn bàn sâu hơn xin được để vào một dịp khác.

Để kết luận, xin được tóm tắt ư chính như sau: tôn chỉ Cao Đài là giúp toàn nhân loại thoát khổ. Chủ nghĩa Cao Đài là xem mọi tư tưởng tôn giáo là một hay nói cụ thể hơn là thương yêu tất cả vạn linh. Cuối cùng chúng ta, những tín đồ Cao Đài phải thực hiện điều này hàng ngày và kiên tŕ thực hiện cho hết kiếp sanh này.

Trân trọng cám ơn quí vị.

TỪ CHƠN

 

CAO ĐÀI CỨU QUẢ ĐỊA CẦU 68 NHƯ THẾ NÀO?

 

T́nh h́nh hiện nay ở địa cầu 68

Quả địa cầu 68 hiện nay đang bước vào một giai đoạn hết sức nghiêm trọng.

Thứ nhất, theo số liệu hiện có, dân số thế giới đă lên đến hơn 6 tỉ người. Các con số thống kê cho thấy tài nguyên thiên nhiên sẵn có trên trái đất không thể cung cấp đủ cho nhân loại. Nếu muốn tất cả 6 tỉ người sống đầy đủ, chúng ta phải cần đến tài nguyên của năm quả địa cầu nữa! Một thí dụ cụ thể là mỗi năm toàn thế giới đốn hạ một diện tích rừng tương đương với diện tích nước Hy Lạp; mà rừng th́ không thể phục hồi nhanh đến mức đó. V́ thế chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ không c̣n rừng đâu mà đốn! C̣n một thí dụ đáng lo ngại nữa là: nếu, ngay bây giờ, chúng ta không có một biện pháp hữu hiệu nào, th́ đến năm 2025 sẽ có 4 tỉ người không có nước sạch để uống. Các nhà khoa học không hề tưởng tượng khi nói rằng: trong tương lai, loài người sẽ gây chiến tranh v́ …nước uống!

Thứ hai, theo các nhà khoa học, loài người đang thải ra một lượng khí CO 2 rất lớn, từ các loại máy móc xe, tàu, máy bay, hoặc các nhà máy vân vân…. Lượng khí thải này tạo ra hiệu ứng nhà kính, làm cho nhiệt độ trên toàn quả đất từ từ tăng lên. Đến một lúc nào đó, nhiệt độ quá cao sẽ hủy diệt 80% môi trường sống của động vật hoang dă. Điều này đồng nghĩa với sự mất cân bằng sinh thái ở mức độ trầm trọng, ảnh hưởng đến khí hậu của trái đất. Như chúng ta thấy, những cơn băo trong thời gian gần đây đă có sức mạnh chưa từng có, gieo rắc chết chóc hủy hoại kinh hoàng. Mới đây thôi, cơn băo ở Myanmar (Miến Điện) đă khiến cho hơn 100.000 người vừa chết vừa mất tích. Đó là chưa kể đến việc nhiệt độ tăng cao làm cho băng ở hai đầu cực Bắc và Nam của quả đất sẽ tan ra. Khi đó mực nước biển sẽ dâng lên và những hải đảo, những khu dân cư dọc theo ven biển hiện nay sẽ bị xóa tên trên bản đồ! Diện tích đất cho loài người sinh sống vốn đă thiếu hụt sẽ lại càng thiếu hụt hơn!

 

Nhân loại có quan tâm đến điều này không và đă hành động ra sao?

Mặc dù có nhiều người không hề quan tâm và cứ mặc cho quả địa cầu 68 này có ra sao th́ ra, nhưng những ai có ư thức và lương tâm đều quan tâm đến vấn đề này. Tiếng nói của họ, những người muốn bảo vệ quả địa cầu 68, đă càng ngày càng lớn mạnh. Chúng ta chứng kiến nhiều đoàn thể dũng cảm đứng lên tranh đấu cho một quả địa cầu tốt đẹp hơn thí dụ như tổ chức Greenpeace, Friends of the Earth, World Wild Fund for Nature vân vân.…Nhiều cuộc biểu dương lực lượng đă diễn ra trên toàn thế giới chống lại những hành vi gây ô nhiễm môi trường hoặc gây thiệt hại cho thế giới loài vật. Nơi đâu có hội nghị của các nhà lănh đạo trên thế giới, nơi đó đều có biểu t́nh kêu gọi bảo vệ môi trường sống của loài người chúng ta.

Cuối cùng, các lănh đạo của các quốc gia trên toàn thế giới đă hiểu ra vấn đề và họ cũng sẵn sàng vào cuộc. Đă có nhiều hội nghị toàn cầu bàn về vấn đề cắt giảm khí thải gây hiện tượng nhà kính, làm tăng nhiệt độ toàn cầu, mà nghị định thư Kyoto là một thí dụ điển h́nh. Dù hiện nay thời gian thảo luận vẫn c̣n chiếm nhiều chỗ hơn những hành động thiết thực, nhưng chắc chắn đó sẽ là những bước đi tích cực đầu tiên, dọn đường cho những biện pháp căn cơ hơn sau này.

Có thể nói, nhân loại ngày nay có đủ điều kiện về khoa học kỹ thuật để bảo vệ quả địa cầu 68. Sở dĩ người ta c̣n tŕ hoăn chưa thống nhất trong việc đưa ra các biện pháp là v́ c̣n thiếu một yếu tố quyết định: sự dung hợp đúng mức.

 

Cao Đài cứu thế giới bằng cách nào?

Cao Đài là một tôn giáo có những nguyên tắc luân lư bao gồm cả hai phần Thế Đạo và Thiên Đạo. Nghĩa là giáo lư Cao Đài dạy các tín đồ cả những nguyên tắc đạo đức để sống trên quả địa cầu 68 này lẫn những phương pháp tự tu sửa để về với Thượng Đế trên Cơi Thiêng Liêng Hằng Sống. Trong đó Cao Đài đề cao nguyên tắc “Dục tu thiên đạo, tiên tu nhơn đạo”. Tức là phải sửa ḿnh theo các nguyên tắc đạo đức để sống ở thế gian trước, rồi mới tính chuyện về với Đức Chí Tôn Thượng Đế sau.

Nói cách khác, tín đồ Cao Đài không vội vàng từ bỏ cuộc đời, trốn đến nơi hẻo lánh, t́m những phương pháp tu luyện bí mật (hay “bí chỉ” ǵ đó…) để làm Tiên, Phật tại thế gian. V́ làm như thế là ích kỷ, chỉ biết có cá nhân ḿnh. Mà ích kỷ th́ làm sao thành Tiên, Phật được? Ngược lại, tín đồ Cao Đài phải tự sửa ḿnh rồi giúp mọi người cùng sống trên địa cầu 68 này tạo ra một môi trường tốt đẹp, hài ḥa. Chừng nào xong điều đó mới tính đến phần Thiên Đạo. Cơi ḷng có vị tha (v́ người khác) như thế th́ con đường về với Đức Chí Tôn mới rộng mở, dễ đi.

V́ nhơn đạo được đặt ở vị trí hàng đầu, cho nên quan tâm đến cuộc sống của mọi người và có hành động bảo vệ địa cầu 68 cũng là một nghĩa vụ của người tín đồ Cao Đài. Người tín đồ Cao Đài không bó gọn đầu óc trong ṿng tỉnh Tây Ninh, nước Việt Nam nhỏ bé, mà phải mở rộng ra thế giới, giao tiếp, cùng sống cùng lo lắng những vấn đề chung với mọi dân tộc. Như thế mới hợp với đường lối Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhất mà Đức Chí Tôn đă dạy.

Thêm vào đó, Cao Đài là một tôn giáo có tôn chỉ phổ độ: nghĩa là rao truyền chủ nghĩa cao thượng của Đức Chí Tôn Thượng Đế trên toàn cả nhân loại. Chủ nghĩa đó là Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhất, hay nói bằng từ ngữ hiện đại là chủ nghĩa dung hợp. Tín đồ Cao Đài có nghĩa vụ thực thi và truyền giảng chủ nghĩa dung hợp bất cứ mọi nơi ḿnh sống hoặc đi đến.

Như trên đă bàn, các lănh đạo trên thế giới hiện nay vẫn chưa thể đồng ư với nhau về cách thức để cứu lấy địa cầu là v́ họ c̣n thiếu một nền tảng dung hợp. Tuy nhiên, không phải các vị đó không biết đến chủ nghĩa dung hợp, và chúng ta, những người Cao Đài độc quyền nắm giữ chủ nghĩa dung hợp, đến dạy cho họ. Suy nghĩ như vậy là ấu trĩ và tự tôn quá mức! Nói họ thiếu nền tảng dung hợp có nghĩa là họ vẫn c̣n xem chủ nghĩa dung hợp tương đương với những khả năng khác có thể đưa ra trong bàn thương thuyết, chứ không xem đó là khả năng duy nhất khả thi và sẽ đưa đến quyết định chung cuộc.

Thực sự ra, trước khi Đức Chí Tôn mở đạo Cao Đài, đă có những phong trào tôn giáo dung hợp trên thế giới. Thí dụ như đạo Bahá'í (thành lập 1844), hay những ư tưởng thống nhất tôn giáo trong chính các tôn giáo. Thên vào đó, cũng đă có biết bao bậc vĩ nhân ra sức kêu gọi con người hăy xóa bỏ mọi ranh giới tôn giáo, ư thức hệ, chủng tộc để cùng xây dựng một quả địa cầu chung cho mọi dân tộc. Có điều đáng tiếc là người ta vẫn chưa đồng ư rằng chủ nghĩa dung hợp là yếu tố quan trọng nhất trong lúc cần giải quyết mọi vấn đề của thiên niên kỷ mới này.

Trong số những lời kêu gọi nhân loại hăy nh́n nhau là anh em, hăy cùng dung ḥa mọi ư tưởng và quan điểm th́ Cao Đài là lời kêu gọi cuối cùng trong thời kỳ mạt pháp của Đức Chí Tôn Thượng Đế. Nếu loài người không nghe theo lời kêu gọi cuối cùng này, th́ quả địa cầu sẽ đi vào giai đoạn tự hủy diệt. C̣n nếu loài người dung hợp được với nhau, th́ địa cầu 68 chuyển sang thời thánh đức. Cao Đài gọi giai đoạn này là Long Hoa Đại Hội.

Nói cách khác, tín đồ Cao Đài có sứ mạng thúc đẩy, truyền giảng, làm cho nhân loại hiểu chủ nghĩa dung hợp là yếu tố sống c̣n trong mọi quyết định hiện nay có liên quan đến quả địa cầu 68 này. Nếu chúng ta làm được điều đó, nhân loại sẽ dễ dàng đồng ḷng kề vai nhau cứu lấy địa cầu 68. Cao Đài cứu thế giới là như vậy đó.

 

Tín đồ Cao Đài phải làm ǵ?

Hiểu như thế th́ nhiệm vụ của tín đồ Cao Đài là vô cùng cao cả và cũng rất khó khăn. Có người nói rằng chuyện này lớn lao quá sức cá nhân ḿnh, họ bảo rằng: hăy chờ Đức Chí Tôn xoay chuyển! Nhưng nói như thế là bỏ qua một lời dạy của Đức Chí Tôn Thượng Đế: “Thầy là các con, các con là Thầy”. Đă đành Đức Chí Tôn xoay chuyển, nhưng xoay chuyển chỉ là tạo điều kiện dễ dàng mà thôi, con người vẫn phải hành động th́ mới có biến chuyển thực sự được. Hơn nữa, Thầy dạy rằng Hội Long Hoa này là một trường thi công quả. Vậy chúng ta, tín đồ Cao Đài, phải hành động th́ mới có “thi công quả” chứ! Như đă bàn ở trên, hành động của tín đồ Cao Đài là thể hiện và truyền giảng chủ nghĩa dung hợp ở tất cả những nơi ḿnh có mặt.

Trước tiên, muốn truyền giảng chủ nghĩa dung hợp, th́ bản thân ḿnh phải làm gương trước. Nếu bản thân ḿnh c̣n đầu óc phân biệt người ngoại đạo với người trong đạo; hay người đạo này với người đạo kia, th́ e rằng ḿnh khó thuyết phục người khác dung hợp được!

Vậy, tín đồ Cao Đài phải tự suy nghĩ và tu sửa bản thân, sao cho ḿnh có thể, gần th́ ḥa hợp được với mọi người xung quanh, xa th́ dung hợp với những người khác chủng tộc, chính kiến hoặc quan điểm tôn giáo. Khi bản thân ḿnh có thể ḥa hợp được với người khác rồi, th́ mới có thể dùng lời nói nhẹ nhàng khuyên nhủ những người quá khích cùng dung hợp với ḿnh. Cứ thế, ngày sẽ càng có nhiều người biết dung hợp hơn. Trong xă hội, người ta sẽ ít chỉ trích, chê bai hay dè bỉu, mà lại tăng phần giúp đỡ, hợp tác hơn lên. Nếu mọi người đều biết dung hợp như một th́ việc cứu lấy quả địa cầu này sẽ không c̣n là điều không tưởng nữa.

May 2008

Từ Chơn

tuuchoon@gmail.com

 

TÍN ĐỒ CAO ĐÀI NÊN LẬP NGÔN NHƯ THẾ NÀO?

Nguồn gốc

Tôn giáo nào cũng có những phương pháp tu tập riêng gọi là “pháp môn” nhằm đạt đến mục đích sau cùng mà người xưa gọi là “đắc đạo”, “đắc pháp” hay “thành chánh quả”; riêng đạo Cao Đài gọi là “hiệp một với Đức Chí Tôn”. Thí dụ như Phật Giáo có niệm Phật, thiền định để đạt đến mục tiêu sau cùng là đạt được “A nậu đa la tam diệu tam bồ đề”, hay nói dễ hiểu là “thành Phật”. Nghĩa chính thức của những từ trên là đạt được sự hiểu biết sâu xa để thoát khỏi mọi đau khổ ở thế gian. Khổng Giáo th́ giữ theo đạo Trung Dung để trở thành Quân Tử, tức là một con người đích thực, sống gương mẫu trong xă hội. Lăo Giáo th́ “luyện đơn, nấu thuốc” tức là suy nghĩ sâu xa để thông đạt lư lẽ vũ trụ vân vân ….

Vậy Cao Đài có pháp môn chủ yếu ǵ? Trong đạo Cao Đài có một bậc tiền bối thuyết giảng rất rơ ràng về điều này. Đó là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc qua những bài thuyết đạo của Ngài. Theo Đức Ngài th́ Cao Đài chủ yếu có ba cách thức tu tập: – xin nhấn mạnh chỗ này: “chủ yếu có ba cách thức tu tập” nghĩa là c̣n có nhiều cách khác nữa, chứ không phải chỉ có ba cách này mà thôi. Trong đạo c̣n nhiều cơ hội khác nữa để lập công với Đức Chí Tôn, ví dụ như vào Ban Thế Đạo, đi dạy học ở trường đạo vân vân …

Cách thứ nhất: Theo hội thánh Cửu Trùng Đài để lập công và lập ngôn, nghĩa là bắt đầu hành đạo ở cấp thấp nhất là Đạo Hữu rồi sau đó theo công nghiệp mà thăng lên Phó Trị Sự, Chánh Trị Sự, Lễ Sanh vv… lên đến phẩm cao nhất là Giáo Tông. Nói tóm lại, cách này đ̣i hỏi người tín đồ trở thành một tu sĩ đúng nghĩa, không c̣n dính líu ǵ đến đời sống cá nhân riêng tư nữa.

Cách thứ hai: Theo hội Thánh Phước Thiện để lập đức, cũng bắt đầu hành đạo ở cấp thấp nhất là Minh Đức, Tân Dân … lên cho đến cấp cao nhất là Phật Tử. Tín đồ nào theo con đường này chủ yếu là t́m cách nào đó (phù hợp với pháp luật của nước sở tại) làm kinh tế tạo ra của cải để nuôi sống những người không đủ điều kiện sống trong xă hội, như người nghèo, khuyết tật, vô gia cư vân vân….

Cách thứ ba: Vào Tịnh Thất để tịnh luyện. Đây c̣n được gọi là con đường thứ ba của Đại Đạo. Đối với những tín đồ nào muốn vào Tịnh Thất, th́ điều kiện tiên quyết là phải hoàn thành Tam Lập: Lập Công, Lập Đức và Lập Ngôn.

Định nghĩa

Như vậy, qua những lời giảng dạy của Đức Hộ Pháp, có thể hiểu lập ngôn là một trong những cách tu tập (pháp môn) của tín đồ Cao Đài. Bài viết này xin được đặt trọng tâm ở pháp môn này, v́ đây là pháp môn dễ bị hiểu lầm nhất.

Theo tự điển Hán Việt, lập = gầy dựng; ngôn = lời nói. Lời nói, tác phẩm rất quan trọng v́ sẽ lưu truyền cho đời sau (trích Tả Truyện). Nói cách khác lập ngôn là gầy dựng một sự nghiệp để lại cho đời sau bằng ngôn ngữ văn tự. Và theo lời dạy của Hộ Pháp, th́ tín đồ Cao Đài phải “lập ngôn”, cụ thể là dùng lời lời nói hay chữ viết để làm cho người khác hiểu đạo, hành đạo để trở về với Đức Chí Tôn như ḿnh.

 

Những hiểu lầm thường có

Với định nghĩa như trên, gần như mọi chức sắc cũng như tín đồ Cao Đài đều ra sức lập ngôn. Điều này là tốt và đúng theo lời dạy của Đức Hộ Pháp. Nhưng đôi khi v́ hiểu lầm nên chúng ta vận dụng sai nguyên tắc lập ngôn và gây ra phản tác dụng, có lúc đem lại tiếng xấu cho tập thể tín đồ Cao Đài. Thông thường chúng ta hay vấp phải những sai lầm như sau:

- Có người hiểu rằng muốn lập ngôn phải dùng lời lẽ thuyết phục cho người khác gia nhập tôn giáo Cao Đài, không cần biết người ta đă có theo một tôn giáo nào hay chưa! Điều này không đúng, bởi v́ Cao Đài dung hợp mọi tôn giáo nên theo tôn giáo nào đi nữa th́ cũng là con cái của Thượng Đế Chí Tôn. Hơn nữa, nguyên tắc là nói cho người khác hiểu đạo, chứ không phải thuyết phục gia nhập vào một đoàn thể tôn giáo cụ thể nào. Khi người ta đă hiểu đạo rồi th́ gia nhập Cao Đài, Phật Giáo hay Thiên Chúa Giáo ǵ ǵ đó là ư nguyện của người đó, không nên can thiệp vào. Nếu lúc nào cũng khăng khăng thuyết phục người khác gia nhập Cao Đài, th́ chỉ gây ra t́nh trạng tranh dành không cần thiết dẫn tới xích mích tranh chấp với các tôn giáo khác.

- Có người hiểu rằng lập ngôn chỉ là “nói đạo” mà thôi. V́ thế lúc nào họ cũng t́m cách xuất hiện trước đám đông để nói về tôn giáo mà không biết rằng “thuyết đạo” là cả một nghệ thuật, cần thể hiện đúng nơi đúng lúc mới có giá trị. Chỗ người ta không muốn nghe, mà ḿnh cứ đem tôn giáo ra bàn luận th́ chỉ gây ác cảm mà thôi. Hoặc nơi đang có thiên tai, th́ góp tay giúp đỡ sẽ có giá trị hơn một bài giảng đạo lê thê. Thực sự ra, dùng lời nói làm người khác bớt phần đau khổ, hoặc ḥa giải những bất đồng ư kiến của người khác … cũng là lập ngôn. Không nhất thiết phải “nói đạo” mới được xem là lập ngôn.

- Có người cho rằng tịnh luyện là cách “tu tắt”, đắc đạo nhanh hơn lập công hay lập đức; thậm chí “tịnh luyện theo phương pháp bí chỉ” mới là “cao cấp”, nên họ ra sức lập ngôn cho đủ tam lập để được vào tịnh thất. Như vậy, lúc đó lời thuyết đạo của những người này đâu phải là giúp người khác hiểu đạo, mà là làm cho xong nhiệm vụ để đi vào tịnh luyện, lo cho cá nhân ḿnh được đắc đạo mau hơn. Nói ǵ đi nữa th́ đó cũng là ḷng tham dục, như thế th́ làm sao tịnh luyện đắc đạo cho được!

- Có người không có năng khiếu ăn nói, lại không tự lượng sức ḿnh cứ t́m cách “thuyết đạo” trước nhiều người. Rốt cuộc, làm cho người ta hiểu lầm, coi thường đạo. Một ví dụ thường thấy là có một vài chức sắc học thuộc ḷng một bài văn thơ của ai đó, rồi cứ t́m dịp quan hôn tang tế mà đọc, đến độ ai cũng biết trước vị chức sắc đó sắp sửa đọc những ǵ. Thực sự ra, nếu không có khả năng ăn nói th́ ḿnh t́m cách khác làm công quả, vừa phù hợp với sức ḿnh, vừa không làm cho người ta coi thường đạo.

- Cũng có người cho rằng lập ngôn là xem ai có nói ǵ sai với “chơn truyền” th́ ḿnh sửa lại cho đúng. Ư th́ hay, nhưng đến khi thực hiện th́ không c̣n được như lư tưởng nữa. Bởi “đúng sai” chưa chắc ḿnh đă phân định rơ, nên cuối cùng thành ra sửa những ǵ không cảm thấy vừa ư cá nhân ḿnh. Cứ thế lâu dần thành kẻ ham chỉ trích, những câu chê bai lúc nào cũng sẵn nơi đầu lưỡi, thậm chí chưa hiểu hết ư người đă vội vàng t́m một điểm ǵ đó để bài bác. Cuối cùng mọi người ai cũng xa lánh.

Ngày nay tín đồ Cao Đài có nhiều phương tiện để lập ngôn hơn thời kỳ đạo mới mở: như báo chí, truyền thanh truyền h́nh, internet …Tŕnh độ của con người về mặt văn hóa, kỹ thuật, khoa học cũng tiến bộ rất nhiều so với ngày xưa. Do đó tín đồ Cao Đài cần phải cẩn trọng hơn nữa trong khi lập ngôn. Nói chung, muốn lập ngôn phải thỏa một số điều kiện như sắp bàn tiếp theo đây, chứ không thể “nói đại” rồi “ơn trên sẽ bố hóa cho lời vàng tiếng ngọc”.

 

Những yếu tố cần thiết để lập ngôn có hiệu quả cao

Tŕnh độ học vấn

Rơ ràng chúng ta không ai có thể chấp nhận hành động lập ngôn phi văn hóa. Thông qua việc lập ngôn của chúng ta mà người ngoài đánh giá đoàn thể tôn giáo của ḿnh. Nếu người ta yêu mến bài nói chuyện của một chức sắc Cao Đài, hệ quả sẽ là người ta cũng tôn trọng tập thể tín đồ Cao Đài, và ngược lại. Điều đó khiến chúng ta cần phải đặt ra một định mức về tŕnh độ văn hóa nếu muốn lập ngôn. Người viết bài này thiết nghĩ, hiện nay mức độ ấy phải tối thiểu là hết bậc Trung Học. Dưới mức độ đó một người b́nh thường chưa đủ tri thức để tiếp nhận và thông hiểu được các hệ thống triết học tôn giáo. Mà như vậy th́ chưa có đủ lư lẽ để lập ngôn.

Phải có ư thức cao độ

Ngoài tŕnh độ văn hóa, cần có ư thức nữa. Người muốn lập ngôn phải ư thức rơ ḿnh đang làm công quả để về với Đức Chí Tôn. Đây không phải là chuyện làm để tiêu khiển hoặc để ba hoa cho thỏa ư thích cá nhân, do đó phải chú tâm hết sức vào công việc. Phải lên kế hoạch, tham khảo nhiều sách vở và chuẩn bị tốt lời nói hoặc bài viết của ḿnh, cho dù ḿnh nói với một người cũng vậy. Không nói ngẫu hứng để rồi phạm sai lầm đáng tiếc. Nếu cần, nên tham khảo người thân, bạn đạo trước v́ người ngoài cuộc bao giờ cũng “sáng nước” hơn bản thân ḿnh.

Kiến thức tổng quát về tôn giáo

Một điều nữa là phải học tập, đọc thêm sách báo để biết về những tôn giáo khác trên thế giới. Quả địa cầu 68 ngày nay đă được kỹ thuật loài người rút ngắn những khoảng cách, do đó hội nhập với các hệ thống triết học của các tôn giáo khác là điều không những không thể tránh khỏi mà c̣n rất cần thiết nữa. Khi biết rơ các tôn giáo khác, ḿnh sẽ biết cần phát biểu điều ǵ, cần phải tránh điều ǵ để dành được cảm t́nh của người nghe. Hay tối thiểu th́ ḿnh cũng không va chạm những điều mà ở các tôn giáo khác người ta cấm kỵ.

Kỹ năng nói và viết

Cuối cùng là một yếu tố vô cùng quan trọng: kỹ năng nói và viết. Ai cũng biết rằng có người có năng khiếu bẩm sinh về các kỹ năng này, những người như vậy sẽ có lợi thế khi lập ngôn. C̣n những người b́nh thường th́ phải dầy công học tập và rèn luyện cho đến khi nào đủ sức th́ mới nên bắt tay vào lập ngôn. Cũng có những người không có năng khiếu, thậm chí nói một lời cũng không xong, viết một câu cũng không có ư nghĩa. Với những người như thế, người viết bài này thành thật khuyên các vị đó t́m cách khác làm công quả. Kinh nghiệm cho thấy, không có khả năng th́ hành động lập ngôn sẽ đem lại hiệu quả rất thấp, thậm chí làm cho người ngoài đạo coi thường. Điều này chắc không một tín đồ Cao Đài nào có ḷng với đạo lại muốn xảy ra.

 

Lập ngôn không phải là pháp môn tối thượng và duy nhất của Cao Đài

Không phải là pháp môn tối thượng

Hiện nay, thông thường tín đồ Cao Đài có hai khuynh hướng: Thứ nhất, có người cho rằng tịnh luyện là “cao cấp” là “tu tắt” nên nghe nói chỗ nào “tâm truyền” hay là “bí chỉ” th́ quan tâm t́m đến, và họ c̣n tỏ ra coi thường pháp môn lập công hay là lập đức. Lúc nào những người như thế chỉ mong t́m chỗ ngồi lim dim, kềm thúc nhịp thở. Họ không biết rằng tịnh luyện th́ dễ, nhưng t́m Tịnh Thất cho phù hợp và t́m Tịnh Chủ để trấn thần và trấn pháp th́ không phải dễ! Thứ hai, có người quan niệm rằng đứng trước đám đông thuyết đạo là hay, là có bản lĩnh, hoặc viết sách sẽ chứng tỏ được ḿnh là người học rộng biết nhiều khiến người khác nể phục. Họ bèn chọn lập ngôn làm ưu tiên trong đời hành đạo của ḿnh, không kể ǵ đến việc pháp môn này có phù hợp với ḿnh hay không. Người viết bài đă từng chứng kiến nhiều người ăn nói lập cà lập cập hoặc thiếu tŕnh độ cũng ráng sức “lập ngôn” rất tội nghiệp. Đối với đồng đạo, người ta có thể v́ thương cảm mà bỏ qua, nhưng người ngoài đạo sẽ nghĩ ǵ? Xin đừng trả lời: mặc kệ họ nghĩ sao th́ nghĩ, miễn tôi lập công được với Đức Chí Tôn th́ thôi! Trả lời như vậy là đă bỏ qua một điều quan trọng: ḿnh đă tự hạ thấp giá trị của tập thể tôn giáo Cao Đài trước mắt chúng sanh. Mà tập thể tôn giáo Cao Đài chính là thánh thể Đức Chí Tôn tại thế! Vậy, không khéo lập công đâu không thấy mà “lập tội” th́ dẫy đầy!

Qua những nhận xét trên, xin kết luận là lập ngôn hay vào tịnh thất không phải là pháp môn tối thượng và duy nhất của tôn giáo Cao Đài. Vấn đề của người tu học là chọn lập công, lập đức, lập ngôn hay tịnh luyện cho vừa sức của ḿnh, rồi kiên nhẫn thực hiện suốt cuộc đời th́ mới có kết quả như ư.

Từ Chơn

tuuchoon@gmail.com

Reference:

Tam lập : Tự Điển Cao Đài (Nguyễn văn Hồng)

Tài liệu: Những bài Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (Hiền Tài Nguyễn văn Mới - Ban tốc kư Ṭa Thánh Tây Ninh)

Tự Điển Hán Việt (Bửu Kế)

Tự Điển Hán Việt (Thiều Chửu)

 

 

 

PHẬT THÍCH CA TRONG CAO ĐÀI

HUẤN NGÔN CỦA ĐỨC THÍCH CA MÂU NI TRONG TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Mở đầu

Nhân dịp ngày sanh của Đức Thích Ca Mâu Ni: 8-4 â.l. chúng ta cùng nhau nhắc lại lời dạy của ngài và xác định nhiệm vụ của tín đồ Cao Đài cần phải làm ǵ cho phù hợp với lời dạy đó.

* Đại Hội Phật Giáo Thế Giới chọn ngày rằm tháng 4 hàng năm để kỷ niệm ngày sanh đức Phật cho dễ nhớ; nhưng trong đạo Cao Đài vẫn giữ ngày 8-4 theo truyền thống.

Đức Thích Ca Mâu Ni (tiếng Phạn là Shakyamuni - nghĩa là bậc hiền triết xứ Shakya), hay c̣n gọi là Đức Phật (tiếng Phạn là Buddha – nghĩa là một người giác ngộ), là một đại triết gia, một nhà đạo đức, một bậc đại giác, một giáo chủ và cũng là biểu tượng của an b́nh trong thế gian đầy biến động v́ tranh đấu giữa người và người. Hơn mấy ngàn năm qua, giáo pháp của ngài đă dẫn đạo hàng tỷ Phật tử trên toàn thế giới sống theo những nguyên tắc đạo đức Phât giáo. Hiện nay, không những ở phương đông mà phương tây ngày càng có nhiều người t́m đến kinh điển của ngài để t́m sự giác ngộ, trực chỉ Niết Bàn.

Mặc dù trong quá khứ, thậm chí ngay cả hiện tại, có người cho rằng: thế giới càng ngày càng văn minh hơn và đến một lúc nào đó, tôn giáo nói chung và Phật Giáo nói riêng sẽ không c̣n tác động được đến tinh thần con người, dần dần đi vào quên lăng. Nhưng thực tế đă chứng minh trái lại. Con người có thể có nhiều máy móc hơn, di chuyển nhanh hơn, làm việc hiệu quả hơn, hiểu rơ cơ thể của ḿnh hơn, giỏi làm chính trị hơn, nhưng những thắc mắc gặm nhắm tinh thần vẫn không được giải quyết: con người vẫn bị dày ṿ bởi những câu hỏi triết học: “Ḿnh từ đâu đến? Đến để làm ǵ? Và ḿnh sẽ đi đâu sau khi chết?”

Phật Thích Ca đă giải quyết được những vấn nạn này toàn diện và dứt khoát trong lúc ngồi suy tư dưới gốc Bồ Đề. Sau đó ngài đă giảng dạy cho các đệ tử của Ngài, rồi các đệ tử ghi chép lại thành kinh điển cho chúng ta đọc ngày nay. Chỉ tiếc một điều: ngày nay nếu đọc kinh mà không hiểu th́ không có Đức Phật giảng giải cho chúng ta nghe nữa!

Phật Thích Ca đă từng dạy những ǵ

Tất cả giáo pháp của đức Phật nằm trong hệ thống triết lư thuần phương đông. Cứu cánh triết lư phương đông không nhằm đạt đến cái ĐÚNG logic theo kiểu triết lư phương tây, mà nhằm đạt đến sự minh triết của con người. Luận Lư (và Phi Luận Lư) chỉ là phương tiện dẫn con người đến sự bừng sáng nội tâm. Khi đă đạt được sự bừng sáng nội tâm, con người sẽ tự ḿnh thoát khỏi mọi niềm khổ đau nhân thế - thuật ngữ Phật Giáo gọi là đạt cứu cánh Niết Bàn. Cũng chính v́ không cần logic, mà những ai thích lư luận hoặc “biện chứng” theo kiểu phương tây đều cảm thấy mù mờ khó hiểu khi đọc kinh điển tối thượng của Phật Giáo. Đó cũng là lư do có nhiều trường phái Phật Giáo trên thế giới, tùy theo mức độ người ta “hiểu” giáo pháp của Ngài như thế nào.

Tuy có nhiều trường phái, nhưng những nét chính của giáo pháp của đức Phật có thể sơ lược như sau:

– Phật dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” – nghĩa là, tất cả mọi người ai cũng có sự sáng suốt tột đỉnh trong nội tâm giống như đức Phật. Sở dĩ con người không sử dụng được sự sáng suốt của ḿnh như đức Phật là v́ ḷng dục (tham muốn) của mỗi cá nhân quá lớn đến nỗi che khuất cả sự sáng suốt này. Khi nghe dạy đến đây có lẽ phần lớn chúng ta đều nghĩ rằng: thế cũng dễ, ḿnh chỉ cần “diệt dục”, nghĩa là từ bỏ sự ham muốn, th́ sẽ trở nên sáng suốt như đức Phật, tức là sẽ “thành Phật”! Đây là một cách suy nghĩ theo kiểu triết học duy lư phương Tây điển h́nh! Cách suy nghĩ như thế sẽ không có hiệu quả trong môi trường triết học phương đông. Rơ ràng, chúng ta không làm sao diệt được sự ham muốn, bởi ḷng ham muốn chính là bản ngă của mỗi cá nhân. Ta không thể nào từ bỏ chính ta. Do đó hành động từ bỏ gia sản, chỉ giữ lại hai bộ áo quần, sống nhờ ḷng hảo tâm của mọi người, rồi bảo rằng đó là diệt dục để đạt được sự sáng suốt, chỉ là một ảo tưởng ấu trĩ.

– Đạt được sự sáng suốt (minh triết) như đức Phật rất khó khăn, cho nên ngài mới dành trọn cuộc đời ḿnh để thuyết cho chúng sinh nghe cách thức làm thế nào để đạt được sự minh triết. Lời dạy quan trọng nhất của ngài đúc kết trong “Bát Nhă Tâm Kinh”, được trích đoạn như sau:

……

Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhă Ba La Mật, th́ soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.

Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác ǵ không, không chẳng khác ǵ sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

……

Nói ngắn gọn, qua bài kinh trên, chúng ta hiểu Phật dạy rằng: muốn có được trí Bát Nhă (tức là trí huệ - sự sáng suốt phi thường của Phật), th́ phải soi thấy – nghĩa là quán tưởng, suy nghĩ sâu xa để hiểu rơ ràng: có chẳng khác ǵ không, không chẳng khác ǵ có, có chính là không, không chính là có,… Chắc có lẽ mọi người đều đồng ư rằng: hiểu được như vậy là hết sức khó khăn, v́ như thế là vượt ra ngoài suy luận b́nh thường của trí năo con người.

Theo lịch sử Phật giáo, có người chỉ nghe lời giảng trên một lần là đă đạt được sự sáng suốt, thoát khỏi mọi đau khổ trần tục, bước vào một thế giới chỉ có hạnh phúc và niềm vui (Phật gọi là cơi Niết Bàn). Thí dụ như đức Lục Tổ Huệ Năng, trong khi gánh củi đi ngang qua chùa, nghe đức Ngũ Tổ giảng Bát Nhă Tâm Kinh cho các đệ tử là ông hiểu ngay lập tức. Tuy nhiên, phần lớn người b́nh thường, như chúng ta chẳng hạn, có ngồi thiền suy gẫm về điều ấy trọn cả cuộc đời cũng chưa chắc đă hiểu, nói ǵ đến đạt được sự thông suốt như đức Phật!

Trong đạo Cao Đài, ai cũng biết câu chuyện về Đức Huệ Mạng Trường Phan (ông thầy chùa tu ở núi Điện Bà). Đây là một ví dụ nữa để chứng minh rằng phương pháp quán tưởng của đức Phật là cực kỳ khó khăn: Theo cơ bút Cao Đài, mấy ngàn năm nay ở Á Đông chỉ có đức Huệ Mạng Trường Phan là một người duy nhất tu theo cổ luật mà đắc đạo. Vậy suy ra, suy gẫm để đạt được sự minh triết như đức Phật có lẽ chỉ dành cho những chơn linh cao trọng, chứ không dành cho những người thường như chúng ta.

Trong tam kỳ phổ độ (cứu độ lần thứ ba) của Thượng Đế, ngoài những lời dạy trước kia, đức Phật cũng đă giáng cơ cho nhân loại thêm hai bài kinh mới. Đó là bài kinh Đại Tường và bài Di Lạc Chơn Kinh. Hai bài kinh này ư nghĩa ra sao và có khác với những lời dạy trong quá khứ của đức Phật hay không?

 

Phật Thích Ca giảng kinh tận độ trong Tam Kỳ Phổ Độ

Theo Cao Đài, tùy theo tŕnh độ tiến hóa hoặc xuất xứ mà các chơn hồn (thường gọi là linh hồn) được phân chia ra làm ba loại: nguyên nhân, hóa nhân và quỉ nhân.

Nguyên nhân là những chơn hồn do Phật Mẫu sinh ra từ tạo thiên lập địa. Tổng cộng có 100 ức nguyên nhân (1 ức = 100,000) xuống đầu kiếp ở địa cầu 68 – tức là quả đất hiện nay của chúng ta. Các nguyên nhân, vốn được Thượng Đế ban cho đầu óc sáng suốt hơn hóa nhân và quỉ nhân, có nhiệm vụ hướng dẫn, giúp đỡ các hóa nhân trên con đường tiến hóa. Làm xong phận sự, các nguyên nhân sẽ được trở về ngôi vị cũ, hoặc thăng vị cao hơn trên cơi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Hóa nhân là những chơn hồn sinh ra ở địa cầu 68 và tiến hóa theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, thần hồn, thánh hồn, tiên hồn và phật hồn. Từ phẩm thần trở lên là bắt đầu có được ngôi vị trên cơi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Những nguyên nhân hay hoá nhân nào vi phạm thiên điều (luật của trời) sẽ bị phạt đọa vào hàng quỉ nhân. Tất cả quỉ nhân chịu dưới quyền điều khiển của Đại Tiên Kim Quang Sứ (Đạo Phật gọi là Quỉ Vương, đạo Thiên Chúa gọi là Lucifer hay Satan). Quỉ nhân có nhiệm vụ tạo ra những t́nh huống khó khăn hoặc cám dỗ để thử thách các nguyên nhân và hóa nhân.

Theo thuyết tam kỳ phổ độ của Cao Đài th́ Đức Chí Tôn Thượng Đế đă mở ra hai lần cứu vớt đối với địa cầu 68 của chúng ta. Trong mỗi lần cứu độ, mọi phẩm chơn hồn có công, có đạo đức đều được tiến lên trên thang tiến hóa. Riêng hàng nguyên nhân đă về ngôi vị cũ được 8 ức (Nhất Kỳ Phổ Độ: 6 ức, Nhị Kỳ Phổ Độ: 2 ức). C̣n lại 92 ức nguyên nhân vẫn c̣n kẹt lại địa cầu 68 v́ nhiều lư do khác nhau. Theo thánh ngôn th́ nguyên nhân chính là: 92 ức nguyên nhân này mê luyến hồng trần!

Trong lần cứu vớt chúng sinh kỳ thứ ba (Tam Kỳ Phổ Độ) Đức Chí Tôn Thượng Đế muốn tận độ (nghĩa là cứu cho hết chúng sinh) bởi v́ sau tam kỳ phổ độ quả địa cầu 68 sẽ chuyển qua một giai đoạn khác. Để ư nghĩa “tận độ” được trọn vẹn, các đấng thiêng liêng vâng lịnh Thượng Đế dùng nhiều cách thức, tùy theo căn cơ của các chơn hồn, để cứu cho hết 92 ức nguyên nhân cùng những hóa nhân nào có đủ công đức theo thiên điều qui định.

Riêng Phật Giáo, ngoài cách thức quán tưởng mà Phật Thích Ca Mâu Ni đă giảng dạy trong Nhị Kỳ Phổ Độ như đă nêu trên, Ngài cũng đă giáng cơ cho hai bài kinh Đại Tường và Di Lạc Chơn Kinh để “Độ tận chúng sinh đắc qui Phật vị”- nghĩa là dạy cho tất cả chúng sinh cách để đạt được sự sáng suốt như đức Phật.

Như trên đă bàn, cách quán tưởng rất khó thực hiện, chỉ dành cho những chơn linh cao trọng; trái lại do tính chất tận độ của kỳ ba này, nên cách thức Phật Thích Ca dạy trong kinh Đại Tường và Di Lạc Chơn Kinh sẽ khác hơn là cách quán tưởng.

Xét nội dung hai bài kinh này th́ chúng ta thấy:

· Kinh Đại Tường: nội dung nói về Hội Long Hoa. Đây là ngày phán xét các chơn hồn trong Tam Kỳ Phổ Độ. Giống như một kỳ thi tuyển: các chơn hồn tùy theo công đức sẽ được thăng vị trên cơi Thiêng Liêng Hằng Sống. Di Lạc Vương Phật sẽ giáng thế để điều khiển đại hội Long Hoa. Hộ Pháp Di Đà cũng giáng linh để trừ diệt yêu tinh quỉ quái quấy phá các chơn hồn.

· Di Lạc Chơn Kinh: nội dung nêu danh các vị Phật trên các tầng trời. Đặc biệt trong Di Lạc Chơn Kinh, Đức Thích Ca Mâu Ni nhấn mạnh “ Những người nào thành tâm nghĩ đến những vị Phật trên và tuân theo luật Tam Kỳ Phổ Độ đều sẽ đạt được trạng thái sáng suốt như Phật”

Từ lời dạy của đức Phật qua hai bài kinh Đại Tường và Di Lạc Chơn Kinh, có thể suy ra rằng: muốn được cứu trong lần tận độ này, con người chỉ cần “nhất tâm thiện niệm” - tức là thật ḷng nghĩ đến - danh các vị Phật là được đắc đạo giải thoát, không nhất thiết phải dày công quán tưởng như trước kia nữa.

Như thế, chúng ta có thể suy ra hai điều sau đây: Thứ nhất, có lẽ những sự kiện trong Long Hoa hội sẽ diễn ra vừa bất ngờ vừa khốc liệt cùng khắp trên địa cầu 68. Các đấng thiêng liêng biết rằng con người không có đủ th́ giờ và điều kiện để suy tư, quán tưởng nữa, v́ thế muốn tận độ loài người, các đấng ban cho một ân huệ: chỉ cần thật ḷng suy nghĩ về danh các vị Phật thôi là đă được cứu rồi! Nh́n t́nh h́nh trên toàn thế giới hiện nay th́ chúng ta thấy cũng đúng. Nào là thời tiết biến đổi bất thường gây băo tố lũ lụt với cường độ cao chưa từng có, nào là chiến tranh hận thù liên miên, nào là nhiều loại bệnh dịch bất trị gây chết người hàng loạt ở nhiều nước. Tất cả những thiên tai bất hạnh này đều xảy ra rất nhanh chóng, bất ngờ và đều vượt quá khả năng chịu đựng của loài người!

Thứ hai, các quỉ nhân sẽ bày ra đủ tṛ thử thách và quyến dụ, đến độ, trong Long Hoa Hội, thật ḷng nghĩ đến danh các vị Phật không phải là một việc dễ dàng, mà là một sự cố gắng lớn lao, thậm chí không thể thực hiện, đối với nhiều người. Quả thật như thế, ngày nay chúng ta dễ dàng nhận ra số người không tin vào các đấng thiêng liêng đă tăng lên ngày một nhiều. Hoặc họ nói rằng: “Chúng tôi là những con người khoa học, không tin chuyện tôn giáo nhảm nhí.” hoặc họ đ̣i hỏi các đấng thiêng liêng phải cho họ chứng kiến các huyền diệu th́ họ mới tin vv….Đối với những người này th́ chắc chắn không thể nào có chuyện thật ḷng nghĩ đến các vị Phật!

Nói tóm lại, “tận độ” không có nghĩa là hạ thấp các yêu cầu để “vớt” càng nhiều người càng tốt, mà chính tính cấp bách của t́nh thế trong đại hội Long Hoa mới là nguyên nhân của việc chuyển từ quán tưởng sang thành tâm thiện niệm. Suy cho cùng, điều kiện để đắc đạo trong lần thứ ba vẫn không hề dễ hơn hai lần trước. Ai muốn được cứu độ cũng phải dùng công sức, tài lực của ḿnh làm âm chất lâu bền th́ khi thành tâm thiện niệm mới có hiệu quả. Không thể thoăi mái chạy theo cuộc sống vật chất cho thỏa măn ham muốn cá nhân, rồi đến lúc gần chết, thành tâm thiện niệm là được giải thoát!

 

Tín đồ Cao Đài có nghĩa vụ ǵ với kinh tận độ

Xét đến cách dùng hai bài kinh này trong Thể Pháp Cao Đài, chúng ta có thể thấy rơ nhiệm vụ của ḿnh, những tín đồ Cao Đài trong thời đại Long Hoa Đại Hội.

Trước tiên, hai bài kinh Đại Tường và Di Lạc Chơn Kinh đặc biệt dùng trong thể pháp cầu siêu cho người đă chết trong các tang lễ. Tang lễ, cho dù là ở đâu trên quả đất này đều có những điểm giống nhau:

Tại một đám tang, người ta không c̣n quan tâm đến những điều mà ngày thường vốn vẫn gây ra hiểu lầm xích mích. Người ta không quan tâm đến những khác biệt giữa ḿnh và người đă mất về quan điểm chính trị, tôn giáo hay nghệ thuật.

Ngoài ra, người ta sẵn ḷng quên đi mọi lỗi lầm cho người đă chết, nếu có. Không c̣n cạnh tranh, hận thù, ghét bỏ nữa, mà chỉ c̣n một t́nh thương giữa người và người. Bạn bè cũng như người thân, ai cũng muốn góp tay làm một điều ǵ đó để tiễn đưa người đă khuất lần cuối cùng.

Về mặt Thể Pháp, có thể nói, đây là một môi trường rất phù hợp với lư tưởng Cao Đài: đó là dung nạp mọi cá nhân, không phân biệt màu da, sắc tóc, chính kiến. Với tinh thần như đă nêu, những người tham dự sẽ có một đầu óc thoáng hơn, chịu lắng nghe hơn. Lời kinh được tụng trong dịp này biết đâu sẽ làm cho một ai đó trong tang lễ bừng giác ngộ, đạt được trí Bát Nhă diệu dụng.

Về mặt Bí Pháp, thánh ngôn dạy rằng, khi tụng Di Lạc Chơn Kinh là chúng ta đă giúp cho chơn hồn của người đă khuất giác ngộ thêm một bậc; càng tụng kinh, càng giúp cho chơn hồn mạnh mẽ tiến bước trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống.

V́ những lư do trên, tín đồ Cao Đài, nếu có cơ hội, là phải nhiệt t́nh, thành tâm tŕ tụng Di Lạc Chơn Kinh. Ḿnh tụng cho người, rồi mai kia đến phiên người tụng lại cho ḿnh. Cứ thế, chúng ta giúp đỡ nhau trong thời kỳ đại hội Long Hoa để cùng tiến về Bạch Ngọc Kinh trên cơi Thiêng Liêng Hằng Sống.

TỪ CHƠN

tuuchoon@gmail.com

 

PHƯƠNG TIỆN VÀ CỨU CÁNH

PHƯƠNG TIỆN và CỨU CÁNH của CAO ĐÀI

Nhập

Thông thường, mỗi một hành vi có ư thức của con người đều nhằm đạt một mục đích nhất định. Để đạt mục đích đó người ta nghĩ ra một cách làm cụ thể. Ví dụ như nếu cần tiền để sinh sống, tôi phải t́m cách làm một việc ǵ đó để nhận được tiền. Làm việc chính là phương tiện và nhận được tiền chính là cứu cánh.

Về mặt tôn giáo, cứu cánh của một tín đồ Thiên Chúa là sau khi chết đi, được vào nước Thiên Đàng, cứu cánh của một tín đồ Phật Giáo là thành Phật vv…C̣n cứu cánh của tín đồ Cao Đài th́ sao?

Vậy, là một tín đồ Cao Đài, tôi nên hiểu rơ phương tiện và cứu cánh của Cao Đài để định hướng mục tiêu đời ḿnh, bởi v́, biết đâu, lần tái kiếp kế tiếp, tôi sẽ không có được một cơ hội như thế này. Dĩ nhiên, tôi cũng không muốn tái kiếp quá nhiều lần để t́m được một cơ hội thuận tiện!

Cứu cánh của Cao Đài

Trước hết, xin mạn phép định nghĩa chữ “phổ độ” của Cao Đài để tránh những hiểu lầm có thể có. “Phổ” nghĩa là khắp nơi. “Độ” nghĩa là giúp. Ghép chung hai từ lại sẽ có nghĩa là giúp đỡ tất cả chúng sinh (theo Cao Đài th́ chúng sinh gồm cả người, động vật lẫn vật chất). Nhưng giúp về phương diện nào?

Chữ “độ” được dùng ở đây bắt nguồn từ một câu truyện trong Phật Giáo Nam Tông ở Trung Quốc. Truyện kể rằng Tổ Sư Phật Giáo ở Trung Quốc đời thứ năm là Hoằng Nhẫn chèo thuyền đưa Tổ Sư đời thứ sáu là Huệ Năng đi trốn những đệ tử quá khích đang muốn đoạt lại áo cà sa và b́nh bát – vốn là biểu tượng dùng để xác nhận một người là Tổ Sư đời kế tiếp. Lúc đó, để giữ bí mật, Tổ Hoằng Nhẫn dùng áo phủ lên người Tổ Huệ Năng rồi tự ḿnh chèo thuyền. Tổ Huệ Năng lấy làm ái ngại nên mới nói với sư phụ của ḿnh: ‘Bạch thầy, để con chèo thuyền “độ” thầy’. Tổ Hoằng Nhẫn trả lời: ‘Không, ta “độ” ngươi mới phải chứ!’

Cách chơi chữ rất thú vị của hai vị tổ sư đă giải thích rơ ràng chữ “độ” trong tiếng Trung Quốc. Tổ Huệ Năng dùng chữ “độ” nghĩa đen, là chèo thuyền đưa người đi. Tổ Hoằng

Nhẫn dùng chữ “độ” nghĩa bóng, ám chỉ ḍng sông là bể khổ và “độ” nghĩa là giúp người cách vượt qua bờ bên kia, là nơi không c̣n nỗi khổ triền miên của kiếp người. Quả đúng như vậy, trước đó Tổ Hoằng Nhẫn đă trao phật pháp cho Tổ Huệ Năng – (nghĩa là giảng kinh Kim Cương cho Tổ Huệ Năng nghe). Nhờ đó, Tổ Huệ Năng đạt được Trí Huệ - nói theo kiểu b́nh dân là: thành Phật - và giải thoát khỏi ṿng luân hồi đau khổ.

Chữ “độ” trong đạo Cao Đài cũng có nghĩa tương tự như thế. Xin lưu ư rằng “phổ độ” và “phổ tế” hoàn toàn khác nhau. Giúp loài người thoát khỏi những đau khổ về vật chất hay tinh thần ở thế gian là “phổ tế”. Giúp loài người đạt đến cứu cánh của tôn giáo Cao Đài là “phổ độ”.

Trong Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn không cứu loài người theo nghĩa “phổ tế” (mặc dù Đức Chí Tôn có đủ quyền năng để làm như thế), mà là truyền bửu pháp (tức là dạy cho loài người cách thức tu tập) để con người tự ḿnh trở về với Đức Chí Tôn nơi cảnh thiêng liêng hằng sống. Các tôn giáo khác gọi đó là thiên đàng, cực lạc quốc hay cơi vĩnh hằng vân vân ….

Một điểm quan trọng nữa là, theo những bài thuyết đạo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống th́ mọi chơn linh đều phải theo con đường luân hồi để tiến hóa. Tức là, sau một lần đầu kiếp, tinh thần người đó phải cao thượng hơn lên; và cứ thế càng nhiều lần đầu kiếp chơn linh đó càng tiến hóa cho đến khi nào về được Bạch Ngọc Kinh là nơi Đức Chí Tôn ngự. Dĩ nhiên cũng có trường hợp chỉ một lần đầu kiếp thôi, nhờ tu tập thành công mà chơn linh có thể tiến hóa nhiều đến mức vượt cấp lên thẳng Bạch Ngọc Kinh.

Nếu không có Đức Chí Tôn phổ độ, th́ các chơn linh chỉ luân hồi chứ không tiến hóa. Có chơn linh trong quá tŕnh luân hồi lại vấp phải lỗi lầm nên không những không tiến hóa mà c̣n thoái hóa nữa, tức là phải đầu kiếp xuống những địa hoàn thấp kém hơn.

Nói tóm lại, cứu cánh của một tín đồ Cao Đài là trở về với Đức Chí Tôn để tiến hóa đến chỗ tận thiện tận mỹ. Theo lời Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc th́ sự tiến hóa này vô cùng tận, thậm chí một chơn linh có thể tiến hóa đến mức tự ḿnh tạo ra một vũ trụ mới để làm một “Đức Chí Tôn” khác trong chính vũ trụ đó. Đây cũng là một điều mới lạ, rất đặc trưng của triết lư Cao Đài so với triết lư các tôn giáo trong hai lần phổ độ trước.

 

Phương tiện của Cao Đài

Ngoài đời, người ta thường nói ‘Cứu cánh biện minh cho phương tiện’, ngụ ư cứ dùng mọi cách để đạt được mục đích, cho dù những cách đó có xấu xa độc ác. Một khi đạt được mục đích tốt đẹp rồi, th́ những phương tiện xấu xa kia sẽ không bị chê trách nữa. Ví dụ như, khi cần dành chức Tổng Thống, người ta có thể dùng đủ mọi thủ đoạn như gian lận bầu cử, dùng tiền bạc mua chuộc cử tri, thậm chí thuê sát thủ giết chết kẻ đối lập. Đến khi làm Tổng Thống rồi, hào quang chiến thắng sẽ xóa mất dấu vết của những hành động đê hèn trước đó. Thậm chí có người khi nắm được quyền lực trong tay rồi, c̣n ra lệnh viết lại lịch sử để ngợi ca bản thân ḿnh!

Đối với người tu học Cao Đài, quan điểm như thế là không phù hợp, bởi v́, trước tiên, quan điểm ấy đă vi phạm ít nhất là một trong ngũ-giới-cấm rồi! Phương tiện nào đi nữa cũng không được vi phạm các luật lệ của Cao Đài, đó là điều kiện tiên quyết!

Vậy th́, muốn đạt được cứu cánh là về với Đức Chí Tôn (tức là hiệp thiên), phải dùng phương tiện ǵ? Phật Giáo cho rằng có 84,000 pháp môn (cách tu tập) – con số này tượng trưng cho một đại lượng vô hạn, nghĩa là có vô số cách để thành Phật. Trong đạo Cao Đài do đặc tính dung hợp mọi triết lư tôn giáo nên số pháp môn cũng là vô hạn. Chọn cách nào là tùy vào từng cá nhân.

Tuy nhiên, t́nh trạng hỗn độn của thời mạt pháp đă sản sanh rất nhiều lư thuyết mang những cái tên đẹp đẽ. Lư thuyết nào cũng hướng tới những mục đích cao cả, lư thuyết nào cũng hứa hẹn sẽ đem con người đến với Thượng Đế, khiến cho người ta khó phân biệt đâu là “giả” đâu là “thật”. V́ thế cho nên, trong lần thứ ba này, chọn lựa cách để trở về với Đức Chí Tôn rất là khó khăn. Cũng chính v́ thế, Đức Chí Tôn đă mở đạo Cao Đài và truyền thẳng pháp môn tu tập cho chúng sanh qua những Thể Pháp của tôn giáo Cao Đài. Mục đích là giúp những ai có niềm tin tuyệt đối nơi Đức Chí Tôn rút ngắn được thời gian t́m kiếm, không c̣n phải thử hết phương pháp này đến phương pháp khác nữa. Qua đó, con đường trở về với Ngài sẽ dễ dàng hơn.

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc dạy: “Không có điều chi ở Đền Thánh Tây Ninh là không có ư nghĩa.” Suy ra, có thể hiểu rằng các pháp môn tu tập của đạo Cao Đài đă được “bày ra” tại Đền Thánh Tây Ninh để cho con cái của Đức Chí Tôn tự ḿnh chọn lựa. Tùy tŕnh độ học vấn, môi trường văn hóa, phong tục tập quán mà bất cứ ai trên thế giới này khi quan sát Đền Thánh Tây Ninh, suy gẫm cặn kẽ, cũng sẽ t́m ra một phương pháp thích hợp với bản thân để trở về với Đức Chí Tôn.

Nói gọn lại, nhân loại nói chung và người tu học Cao Đài nói riêng, có thể dùng bất cứ phương tiện ǵ có biểu tượng tại Đền Thánh Tây Ninh ( trong đó có cả Tam Giáo Và Ngũ Chi) để đạt được cứu cánh là trở về với Đức Chí Tôn. Và muốn không bị lạc hướng th́ hăy tham khảo những qui luật của đạo Cao Đài, bởi v́ Đức Chí Tôn đă gói ghém những dặn ḍ cần thiết cho con cái của Ngài trong những qui luật đó.

 

Gợi ư một phương pháp

Nếu cảm thấy khó khăn trong chọn lựa th́ xin tham khảo một trong những phương pháp tương đối dễ thực hiện của tín đồ Cao Đài để về với Đức Chí Tôn là: luyện Tam Bửu. Người ta vẫn thường nghĩ rằng luyện Tam Bửu là một pháp môn rất bí mật, rất “cao cấp” dành cho những nhân vật đặc biệt nào đó. Thực sự ra, nếu đọc kỹ giáo huấn của Đức Chí Tôn th́ sẽ thấy ngay là điều đó không đúng. Đức Chí Tôn dạy rằng “Muốn phổ độ phải làm sao? Phải bày bửu pháp ra chớ không dấu nữa” Rơ ràng trong đạo Cao Đài không có ǵ là bí mật cả. Vấn đề là con cái của Đức Chí Tôn có nh́n thấy hay không mà thôi.

Mỗi ngày cúng tứ thời, tín đồ Cao Đài đều nguyện dâng Tam Bửu cho Đức Chí Tôn. Và đến hết thời cúng mọi người đều nghĩ thế là xong: Tôi đă dâng Tam Bửu cho Đức Chí Tôn rồi đó! Đây là một hướng suy nghĩ thụ động. Đức Chí Tôn cần chi Tam Bửu của những cá nhân nhỏ nhoi đầy tội lỗi! Thực ra, đó là lời nhắc nhở của Đức Chí Tôn đối với con cái của Ngài “Này các con, các con đă (rèn) luyện tam bửu chưa mà đ̣i dâng cho Thầy vậy?” Vậy th́ tôi phải tự xét xem tam bửu của tôi có hoàn hảo chưa. Nếu chưa, th́ phải (rèn) luyện trước khi nói đến việc dâng lên cho Đức Chí Tôn.

Có lẽ cần phải phân tích kỹ tam bửu th́ mới thấy rơ tín đồ Cao Đài cần phải “tập” luyện những ǵ, ở đâu, và khi nào cho có hiệu quả. Trước hết, tam bửu nghĩa là ba điều quí báu của một con người. Đó là Tinh (thể xác), Khí (ư thức) và Thần (linh hồn). Đức Chí Tôn đă dùng cơ cấu tổ chức của đạo Cao Đài để tượng trưng cho ba điều quí báu này. Cửu Trùng Đài tượng trưng cho Tinh, Hiệp Thiên Đài tượng trưng cho Khí và Bát Quái Đài tượng trưng cho Thần. Cách hoạt động của ba đài này cũng chính là chức năng của tinh, khí, thần nơi một con người.

Vậy luyện tam bửu là ǵ? “Luyện” là rèn luyện, tập luyện. “Luyện tam bửu” là rèn luyện để cho thể xác, ư thức và linh hồn (Tinh, Khí, Thần) ḥa hợp đến mức độ cao nhất. Nói theo ngôn ngữ của các bậc tiền bối th́: ở mức độ đó, Đức Chí Tôn sẽ ân điển cho con người được mở Huệ Quang Khiếu. Nói theo ngôn ngữ hiện đại th́: ư thức con người sẽ bùng vỡ và chuyển hóa thành sự sáng suốt tột đỉnh. Đó cũng chính là trạng thái mà tín đồ Cao Đài gọi là hiệp một với Chí Tôn Thượng Đế.

Xét phần thứ nhất là Thần, hay là linh hồn, th́ một cá nhân như tôi không có thể tác động ǵ vào linh hồn của chính ḿnh, bởi v́ Thần – tức là Bát Quái Đài là do Đức Chí Tôn chủ quản. Nói cho dễ hiểu th́ Đức Chí Tôn chính là linh hồn của tôi. Đức Chí Tôn đă dạy rằng không thể nh́n thấy hay đụng chạm vào phần này được, mà chỉ có thể cảm nhận được linh hồn qua những lần bị lương tâm cắn rứt. Vậy, đối với linh hồn, tôi không thể rèn luyện ǵ khác hơn là giữ đầu óc cho thật b́nh tĩnh trong mọi t́nh huống (người xưa gọi là tịnh tâm) để lắng nghe tiếng nói của lương tâm. Ví dụ, khi tôi gặp một ông cụ già yếu bệnh tật, không cháu con nuôi dưỡng, tự nhiên tôi liên tưởng đến cha tôi, rồi tôi cảm thấy có một t́nh cảm nồng nàn đối với cụ già kia. Đó chính là tiếng nói của lương tâm, chính là một trong số vô vàn tác động của phần linh hồn hay là “Thần” của tôi.

Thứ hai, Tinh, tức là Thể xác, là phần tôi có thể có chút tác động vào. Thể xác tôi hoạt động theo bài bản đă được lập tŕnh từ trước ở Diêu Tŕ Cung. Nhưng tôi cũng phải góp phần chăm sóc, th́ thể xác mới hoạt động tốt. Thể xác có hoạt động tốt th́ mới dâng lên cho Đức Chí Tôn được. Vậy phần này tôi chỉ cứ việc chăm sóc tốt là được.

Có câu hỏi là chăm sóc như thế nào? Có cần phải nhịn ăn, tập yoga đến mức điêu luyện hay nhịn thở năm sáu phút ǵ đó không? Xin thưa là muốn làm ǵ cũng được. Miễn là không trái với phép dưỡng sinh y học hiện nay và đừng phạm ngũ giới cấm là được. Có một điều thú vị ở đây là vào giữa thập niên 1920, lúc đạo Cao Đài c̣n trong thời kỳ phôi thai, khi nghe Đức Chí Tôn dạy phải giữ tối thiểu là mười ngày chay một tháng, nhiều người cho rằng như thế là phản khoa học, không đủ dinh dưỡng. Nhưng mới đây, khoa dưỡng sinh hiện đại đă công bố không nên ăn nhiều thịt cá, mà phải ăn nhiều rau trái để tránh những căn bệnh như ung thư, tiểu đường, tim mạch vv…… Đây cũng là ví dụ để chứng minh rằng qui luật của đạo Cao Đài không những phù hợp khoa học mà c̣n đi trước khoa học một bước.

Thứ ba là Khí, tức là phần tư tưởng của con người. Chính phần này là phần cần phải “tập”luyện nhiều nhất v́ Khí đóng vai tṛ hệ trọng trong việc kết hợp Tinh và Thần. Muốn kết hợp được tam bửu th́ phần tinh thần phải cực kỳ mạnh mẽ chống lại những cám dỗ trần tục. Chính v́ thế mà biểu tượng của phần này là Hộ Pháp mặc khôi giáp ngự trên ngai Thất Đầu Xà (rắn bảy đầu), ngụ ư phải rèn luyện tư tưởng để chế ngự bảy t́nh cảm đời thường của chúng ta. Biểu tượng này cũng khẳng định một khác biệt so với quan niệm của các tu sĩ trong lần phổ độ thứ nhất và thứ hai. Trước kia, người ta cho rằng phải “diệt dục”- nghĩa là từ bỏ mọi ham muốn - th́ mới về được với Đức Chí Tôn. Nhưng bây giờ, nh́n biểu tượng Hộ Pháp ngồi trên ngai Rắn-Bảy-Đầu th́ thấy: hai tay của Ngài đè lên hai đầu rắn Nộ, Ai; hai chân đạp lên đầu rắn Ố, Dục. C̣n lại ba đầu Hỉ, Ái, Lạc th́ vươn lên sau lưng, nh́n thẳng vào đỉnh đầu của Ngài. Như vậy, trong lần phổ độ thứ ba, Đức Chí Tôn dạy tôi phải kềm chế (chứ không phải từ bỏ) bốn t́nh cảm tiêu cực là Giận Giữ, Buồn Bă, Ganh Ghét và Ham Muốn. Trái lại, ba t́nh cảm Thương Yêu, Vui Mừng, Hạnh Phúc th́ được nuôi dưỡng. Dĩ nhiên, cách kềm chế và nuôi dưỡng những t́nh cảm này phải nằm trong khuôn phép của luật lệ Cao Đài th́ mới tránh được sai lầm do thái quá và bất cập.

Do luyện Tinh – tức là rèn luyện cơ thể - là một quá tŕnh cần phải thực hiện liên tục suốt cuộc đời, luyện Khí cũng phải như thế, không một giây ngừng nghỉ, nên tôi hiểu rằng phải thực hiện việc luyện tam bửu bất cứ lúc nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào trong cuộc sống của tôi. Mặc dù có luật vào Tịnh Thất để luyện tam bửu, nhưng đó chẳng qua là một giai đoạn tập luyện tập trung hơn chứ không phải bắt buộc phải vào đó mới bắt đầu tập luyện giữ ǵn sức khỏe hay theo dơi kềm chế những t́nh cảm của ḿnh. Và cũng không hề có khẳng định nào là vào Tịnh Thất rồi th́ sẽ có thể hiệp một với Đức Chí Tôn hoặc sẽ về với Ngài dễ hơn.

 

Kết

Nói tóm lại, tín đồ Cao Đài dùng phương tiện là luyện tam bửu để đạt được cứu cánh là hiệp thiên. Nghĩa là giữ sức khỏe theo khoa học dưỡng sinh hiện đại, theo dơi, kềm chế những t́nh cảm trong đời thường không cho phát triển quá lố, và giữ b́nh tĩnh lắng nghe tiếng nói của lương tâm. Nếu thường xuyên tập luyện th́ mức độ ḥa hiệp giữa thể xác, tinh thần và linh hồn sẽ ngày càng tăng tiến đến mức đạt đến trạng thái hiệp một với Đức Chí Tôn. Khi đă “hiệp thiên” rồi th́ mọi chuyện kế tiếp như thoát khỏi luân hồi, hay là về cực lạc niết bàn hay là đạt lục thông ǵ ǵ đó đều sẽ được tự động giải quyết.

Từ Chơn

tuuchoon@gmail.com

 

THÔNG CÔNG

Giới thiệu các cách thông công của Đạo Cao Đài

Thông công là những cách thức nhằm giao tiếp với thế giới siêu tự nhiên như xây bàn, cầu cơ, chấp bút… Trong Đạo Cao Đài, những phương pháp này đă được nâng lên hàng Bửu Pháp – nghĩa là những hiện tượng tôn quí. Trong Ṭa Thánh Tây Ninh, khoảng trống giữa bàn thờ Thượng Đế và các ngai của Ngôi Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư và Chánh Phối Sư được gọi là Cung Đạo. Đây là nơi các chức sắc cao cấp ngày trước cầu cơ giao tiếp với cơi thiêng liêng. Đứng tại đây nh́n thẳng lên trần Đền Thánh, sẽ nh́n thấy biểu tượng của các Bửu Pháp này.

 

Những cách thức thông công trên trần Cung Đạo

1. Xin xăm

Trước hết, là h́nh đắp nổi của một ống xâm, và một đôi “keo” âm dương. Ống xâm thường là một h́nh trụ cao khoảng 0,15 m làm bằng tre. Trong ống đựng những thẻ xâm cũng bằng tre. Mỗi thẻ này đều có đánh số thứ tự.

Nếu muốn hỏi các đấng thiêng liêng điều ǵ th́ người ta xin xâm như sau: người xin qú trước bàn thờ, hai tay cầm ống xâm đưa lên ngang mày, đọc thầm điều muốn hỏi. Sau đó người ta lắc ống xâm theo một cách qui định sẵn. Trong khoảng vài phút sẽ có một thẻ xâm rơi ra khỏi ống.

Bây giờ người ta mới tiến hành xin “keo”. Keo là hai mảnh gỗ đặt vừa ḷng bàn tay người. Hai mảnh này có dạng một hạt đậu tách ra làm đôi. Người ta cũng nâng hai mảnh gỗ này ngang mày cầu nguyện. Sau đó thả rơi xuống sàn. Nếu hai mảnh nằm trái chiều nhau, (một sấp một ngửa) điều đó có nghĩa là các đấng thiêng liêng đă đồng ư trả lời bằng thẻ xâm đă rơi ra trước đó.

Cuối cùng người ta đọc số trên thẻ xâm, rồi đến nơi trữ sẵn các quẻ xâm để nhận câu trả lời. Các quẻ xâm thường là một mảnh giấy ghi một bài thơ ngắn kể về một điển tích trong sử kư Trung Hoa, và lời b́nh luận ở dưới. Người ta liên hệ câu chuyện này với bản thân và đoán ra câu trả lời.

Xin xâm thường phổ biến ở các đền thờ, chùa Phật trên khắp đất nước Việt Nam. Trước năm 1975, tại đền thờ Phật Mẫu ở Ṭa Thánh Tây Ninh cũng có tổ chức xin xâm. Nhưng sau 1975 th́ chính quyền mới đă cấm việc này, cho rằng đây là mê tín dị đoan.

2. Xây bàn

Kế đó, người ta sẽ nh́n thấy một chiếc bàn ba chân tượng trưng cho phương pháp xây bàn. Đây là một chiếc bàn có một chân ngắn hơn ba chân c̣n lại. Khi cần giao tiếp với thế giới siêu tự nhiên, sẽ có nhiều người (số người không giới hạn) ngồi xung quanh bàn, đặt các bàn tay úp lên bàn rồi cùng cầu nguyện, hoặc đọc một bài thơ có nội dung xin được tiếp xúc với các linh hồn ở cơi thiêng liêng. Khi cơ giáng, tức là có một linh hồn nào đó muốn giao tiếp, th́ bàn chuyển động và gơ chân xuống nền nhà. Theo qui ước truyền thống ở Việt Nam, bàn gơ một nhịp là muốn nói mẫu tự A, hai nhịp là Ă, ba là Â vv…Cứ như thế, các mẫu tự sẽ ghép lại thành từ ngữ rồi thành bài văn hay thơ. Trong số các đệ tử đầu tiên của Cao Đài th́ ba ông Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang và Phạm Công Tắc đă dùng cách này để liên lạc với thế giới thiêng liêng.

3. Tiểu Ngọc Cơ

Biểu tượng thứ ba là một bảng mẫu tự Latin. Đây là hiện tượng cầu cơ rất phổ biến ở các nước phương Tây. Người ta dùng một miếng gỗ nhỏ có h́nh quả tim, có thể lắp thêm bi lăn ở dưới đế cho dễ di chuyển. Đó là cơ. Cơ lại được đặt lên một bảng chữ cái. Khi cầu cơ, cần có hai người đặt ngón trỏ lên trên cơ sau đó người ta cầu nguyện giống như khi xây bàn. Khi có một linh hồn nào nhập vào, cơ sẽ di chuyển ṿng tṛn (thường là ngược chiều kim đồng hồ nếu ở Việt Nam). Mũi nhọn của trái tim (cơ) chỉ vào mẫu tự nào th́ người ta sẽ ghi chép mẫu tự đó để ghép lại thành văn bản. Nhiều đệ tử khác trong Đạo Cao Đài đă dùng cách này và gọi đó là Tiểu Ngọc Cơ.

4. Đại Ngọc Cơ

Thứ tư là một dụng cụ rất đặc trưng của Đạo Cao Đài được gọi là Đại Ngọc Cơ. Đây là một chiếc giỏ đan bằng tre, trên miệng giỏ có một thanh gỗ (thường là bằng cây dâu) gác ngang qua tâm. Một đầu thanh gỗ vươn dài ra bên ngoài, tận cùng được khắc thành h́nh đầu chim loan. Đây chính là bút để viết. Khi sử dụng, giỏ có tư thế úp miệng xuống và có hai người nâng miệng giỏ. Sau đó người ta cũng cầu nguyện xin được giao tiếp. Lúc cơ giáng, đầu chim loan sẽ viết xuống mặt bàn, hoặc có khi viết lên mặt giấy. Do các cách tiếp xúc như xây bàn hoặc dùng Tiểu Ngọc Cơ thường rất chậm, một bài văn có khi mất cả đêm, nên các đấng thiêng liêng đă dạy các đệ tử Cao Đài tạo ra Đại Ngọc Cơ để nhận thông tin nhanh hơn và nhiều hơn.

5. Chấp Bút

H́nh tượng thứ năm là một cây bút. Đây là một cách thông công dành cho các chức sắc cao cấp trong Đạo Cao Đài được gọi là Chấp Bút. Theo tài liệu ghi nhận được th́ chỉ có một vài đệ tử đầu tiên là được thiêng liêng cho phép áp dụng cách này. Trong số đó cụ thể nhất là Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Theo cách này, người sử dụng lấy một xấp giấy, đánh số thứ tự vào các mặt giấy rồi đặt ngay trước mặt ḿnh. Sau đó qú trước bàn thờ, dùng tay thuận của ḿnh nâng một cây bút (không bắt buộc phải là bút ǵ) ngang mày và cầu nguyện. Nếu có hiện tượng giáng bút, tay cầm bút sẽ bị tê rần lên và sẽ tự động hạ xuống viết lên mặt giấy. Lúc này người viết rơi vào trạng thái nửa tỉnh thức, nửa mê man. Khi viết hết một mặt giấy, tay c̣n lại sẽ tự động lật giấy sang trang để tay cầm bút viết tiếp. Chính v́ thế mà phải đánh số trang trước, để khi viết xong, người viết tỉnh lại dễ theo dơi.

6. Xuất chơn thần

Một cách thông công nữa được tượng trưng bằng một h́nh vẽ đầu người. Đây là cách thông công cao cấp nhất trong Đạo Cao Đài. Trong cách này, người sử dụng tiếp xúc trực tiếp với thế giới thiêng liêng bằng tư tưởng. Hiện không có tài liệu chính thức của Đạo Cao Đài nói rơ về cách thức này. Qua các Thánh Ngôn, chỉ thấy nói là có cách luyện Tam Bửu. Cách này sẽ được dạy cho các tín đồ khi vào Tịnh Thất để luyện đạo. Hiện nay, chính thức th́ chỉ có Trí Huệ Cung là Tịnh Thất dành cho nữ phái của Đạo Cao Đài ở Ṭa Thánh Tây Ninh. Theo dự kiến, Tịnh Thất tiếp theo sẽ là Vạn Pháp Cung tọa lạc dưới chân núi Bà Đen, Tây Ninh.

 

Những đồng tử

Dù là cách nào đi nữa, th́ yếu tố quan trọng nhất vẫn là người thực hiện. Trong Cao Đài Giáo, những người thực hiện được các cách giao tiếp nói trên thường được gọi là các đồng tử (psychics) và không phải ai cũng có thể là đồng tử.

Đặc biệt chỉ có một số đồng tử nhất định có thể nhận lời truyền dạy từ Thượng Đế, những vị này được gọi là Ngự Mă Quân. Lúc mới mở Đạo, Thượng Đế đă giáng cơ lập ra … cặp đôi đồng tử. Các vị này đem Đại Ngọc Cơ đi đến nhiều nơi ở Việt Nam để các đấng thiêng liêng giáng cơ thu nhận tín đồ. Sau đó, v́ phương pháp thông công bị lạm dụng quá nhiều, nên đă có lệnh ngưng cầu cơ rộng răi ngoài các tín đồ. Riêng Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh vẫn thực hiện cầu cơ cho đến năm 1975. Hiện nay không nghe nói ǵ về các hiện tượng này ở trong Hội Thánh nữa.

 

Phân loại cơ

Ngoài ra, hiện tượng cầu cơ c̣n được phân loại thành Tiên Cơ, Tà Cơ và Nhơn Cơ. Ranh giới giữa ba loại rất mong manh, rất khó phân biệt. Nói chung, t́m được một đồng tử đă khó, t́m được một bài cơ có giá trị c̣n khó hơn nữa.

1. Tiên Cơ

Khi cầu cơ và nhận được những bài văn, thơ hay, hoặc lời giảng đạo uyên thâm, th́ những bài cơ này được xem là có nguồn gốc Tiên Cơ.

2. Tà Cơ

Khi những bài cơ ẩn chứa những ư đồ xấu, hoặc có lời lẽ không đạo đức xúi giục người tranh chấp với nhau, đó là hiện tượng Tà Cơ.

3. Nhơn Cơ

Khi không có đấng thiêng liêng nào giáng mà đồng tử lại tự động điều khiển cơ nói ra ư nghĩ của chính ḿnh, đó là Nhơn Cơ.

 

Kết luận

Do khó phân biệt đâu là Tiên Cơ, đâu là Tà Cơ hoặc Nhơn Cơ, nên trong Đạo Cao Đài, không có khuyến khích các tín đồ sử dụng các phương pháp thông công này. Các tín đồ muốn t́m hiểu các bài cơ th́ đọc Quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Đây là tài liệu ghi lại các bài cơ quan trọng trong thời kỳ mở Đạo. Hiện nay đây là quyển sách được Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh chính thức phát hành.

Từ Chơn

tuuchoon@gmail.com

 

 

XÉT LẠI TRIẾT LƯ CAO ĐÀI

NĂM MỚI THỬ XÉT LẠI TRIẾT LƯ CAO ĐÀI CÓ PHÙ HỢP VỚI THIÊN NIÊN KỶ NÀY HAY KHÔNG?

Những băn khoăn

Một hôm tôi vào tự điển Wikipedia trên internet để xem trang Cao Đài. Trong phần thảo luận, một vị khách nào đó đă có nhận xét thẳng thừng như sau: “Đạo này chẳng có triết lư ǵ cả, chỉ vay mượn, chắp vá ý tưởng của những tôn giáo khác mà thôi.…” Tôi thành thật cảm ơn người bạn không quen đă có một nhận định rất thẳng thắn, và cầu mong cộng đồng Cao Đài, những ai tự nhận ḿnh có trách nhiệm với tiếng nói của Cao Đài, cùng những ai muốn lập ngôn với Đức Chí Tôn, hăy suy gẫm về nhận xét này, rồi tự học hỏi thêm nữa để làm tṛn trách vụ của ḿnh.

Thông thường, những ai mới tiếp xúc với Cao Đài lần đầu đều không tránh khỏi có những nhận xét tương tự như trên. Để cho vị khách quí ấy có nhận xét như thế là lỗi của chúng ta: con cái của Đức Chí Tôn đă không nói rơ được triết lư cao cả của Đại Từ Phụ. Tuy nhiên, nếu xét cho kỹ th́ nhận xét này cũng có những nguyên nhân tương đối dễ hiểu. Trước hết, phần lớn kinh sách của Cao Đài chưa vượt quá mức độ lập đi lập lại hệ thống triết lư của Đạo Phật, Đạo Lăo và Đạo Khổng. Thậm chí nhiều tác giả chỉ mới giải thích sơ sài triết lư của ba tôn giáo này th́ đă vui ḷng tự cho rằng ḿnh nói được nguyên tắc của Cao Đài rồi.

Ngoài ra, chưa có đặc trưng nào của Cao Đài được chính thức giới thiệu một cách có hệ thống bằng ngôn ngữ đương thời để cho người học đạo dễ dàng t́m hiểu. Hiện cũng có một số tác giả cố gắng làm điều này nhưng phần lớn viết bằng cổ văn nặng nề điển tích, đôi khi lại mang tính thần bí, rất khó hiểu đối với giới trẻ ngày nay.

C̣n có thể kể thêm là chưa thấy có những ư tưởng đột phá có tầm mức quốc tế. Đa số các tác giả viết về Cao Đài thường lập lại 100% thánh ngôn, chứ không dám có những suy tưởng “vượt rào ngoạn mục”. Một số tác giả lại loay hoay với những gút mắc nặng phần sử học, xoay quanh những mâu thuẫn nội bộ trong thời kỳ khai đạo. Than ôi! Chúng ta chưa vượt ra khỏi chiếc vỏ bọc cục bộ của chính ḿnh th́ nói ǵ đến truyền đạo ra ngoại quốc!

Điểm cuối cùng là văn hóa Cao Đài dường như đứng yên không phát triển. Chúng ta đều biết rằng ngoài kinh điển ra, luôn có một nền văn hóa song hành với tôn giáo. Văn hóa này thể hiện qua cách diễn giải, truyền bá triết lư của tôn giáo, và giúp đưa những nguyên tắc sống theo đạo lư vào trong xă hội. Kinh luật cần phải giữ nguyên không đổi, nhưng văn hóa dùng để phổ biến triết lư tôn giáo không thể khư khư giữ măi một h́nh thức cố định. Muốn truyền bá rộng răi th́ không thể đem một câu văn, một từ ngữ hoặc một quan điểm thịnh hành cách đây đă tám mươi năm để thuyết phục một người sống trong thời đại tin học hiện nay. Một bài thơ thất ngôn bát cú khoán thủ, chẳng hạn, có thể tạo một xúc cảm đặc biệt trong lòng một nhà nho mười thập kỷ trước, nhưng đối với giới trẻ hiện nay, một bài thơ như vậy chỉ c̣n có giá trị nhất định về mặt nghiên cứu lịch sử.

Con cái Đức Chí Tôn phải tạo ra một nền văn hóa theo sát sự biến chuyển của thời đại. Nói cách khác, văn hóa phải sống. Phải có những bài viết mới, phải có những h́nh thức phổ biến mới, phải mở hướng đi mới. Trong văn hóa, ngừng lại không phát triển có nghĩa là lạc hậu, mà lạc hậu th́ không thể thực hiện được nguyên tắc phổ độ của Cao Đài.

Vậy muốn làm cho mọi người hiểu rơ hơn về triết lư Cao Đài, con cái Đức Chí Tôn phải học hỏi ngày càng nhiều để có tŕnh độ văn hóa theo kịp với thời đại, nghiên cứu sâu rộng về các tôn giáo trên thế giới để nâng cao sự hiểu biết lên tầm mức quốc tế. Văn hóa có nâng cao th́ việc truyền bá mới càng rộng khắp.

Lại có một người bạn khác lại hỏi tôi: “Khi đọc kinh sách Cao Đài, tôi có cảm tưởng triết lư đạo quá cổ xưa, chưa thấy điểm nào đáng gọi là mới. Tŕnh độ loài người th́ tiến lên như vũ băo. Chỉ cần qua năm, mười năm, là một quan điểm kinh tế, chính trị hay khoa học đă có thể trở thành lỗi thời.Trong điều kiện như thế, Cao Đài có đảm đương nổi sứ mạng phổ độ toàn thế giới không?”

Nhân câu hỏi này, xin mạn phép nêu vài ư kiến cá nhân ở đây về những điểm mới trong triết lư Cao Đài để gọi là mở một hướng đi, kêu gọi người chung chí hướng cùng tham gia làm giàu cho kho tàng văn hóa của đạo Cao Đài.

 

Những điểm mới trong triết lư Cao Đài.

Thượng Đế

Điểm mới đầu tiên mà cũng là cốt lơi của Cao Đài chính là quan điểm về Thượng Đế và mối quan hệ giữa Thượng Đế và con người. Từ tạo thiên lập địa, con người đă có niềm tin vào Thượng Đế. Tất cả những tôn giáo được các nhà nghiên cứu phương tây xếp vào loại Độc Thần (monotheism) đều đồng thanh khẳng định Thượng Đế tồn tại. Triết lư Cao Đài không phủ định điều này, hơn thế nữa c̣n đưa ra những quan điểm trước kia vẫn c̣n tương đối xa lạ với phần lớn các tôn giáo trên thế giới:

Thứ nhất, Thượng Đế trong niềm tin của các tôn giáo trên trái đất vốn là một. V́ khác biệt về chủng tộc và địa lư mà loài người thờ phụng Ngài dưới những danh hiệu khác nhau, thậm chí gán cho Ngài những tính chất khác nhau. Trước đạo Cao Đài, vào thế kỷ 19 cũng có đạo Bahá’í khởi xướng quan điểm này. Đạo Bahá’í, mang đậm nét văn hóa Ba tư, hiện cũng rất phát triển trên thế giới.

Thứ hai, lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo loài người, chính Thượng Đế đến thế gian mở đạo. Trong các bậc giáo chủ từ trước, chỉ có chúa Jesus xưng là con của Đức Chúa Trời, danh hiệu gần gủi Thượng Đế nhất. Những vị c̣n lại th́ hoặc là những trí giả hoặc là các bậc tiên tri có sứ mạng rao giảng và khởi xướng một tôn giáo.

Thứ ba, Cao Đài nêu lên quan điểm Thượng Đế và con người là một. Đây là một điều mới mẽ chưa từng có trong bất cứ tôn giáo nào từ trước đến nay. Thông thường, các tôn giáo cổ xem mối quan hệ này tương tự như mối quan hệ giữa vua chúa và thần dân: Thượng Đế khen thưởng người có đạo đức và trừng phạt kẻ vi phạm những nguyên tắc đạo đức. Nghĩa là Thượng Đế và con người là hai thành phần riêng rẽ và chỉ có quan hệ một chiều: Thượng Đế có quyền lực chi phối đến mọi phương diện trong cuộc sống của một cá nhân lúc c̣n sống cũng như sau khi chết.

Quan niệm "Thượng Đế và con người là một” của Cao Đài đưa đến những thay đổi to lớn trong tôn giáo: Thượng Đế không giữ quyền khen thưởng và trừng phạt nữa, mà mỗi cá nhân sẽ tự quyết định cho ḿnh. Thượng Đế cứu rỗi loài người không có nghĩa là Ngài dùng quyền lực của ḿnh đem con người về cơi thiên đàng giống như máy bay cứu nạn vớt người bị đắm tàu, mà Ngài chỉ trao cho con người cách thức để tự cứu rỗi qua các h́nh thức tôn giáo ở thế gian - thuật ngữ Cao Đài gọi là truyền Bửu Pháp. Như vậy, con người đă được quyền quyết định kiếp sau của ḿnh, hay nói cho đúng hơn theo thuật ngữ Cao Đài là: quyết định bước tiến hóa của ḿnh trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống.

Triết lư dung hợp

Mọi tín đồ Cao Đài đều biết một nguyên lư của Cao Đài là “Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhất”, nhưng phần đông chỉ hiểu về mặt ngữ nghĩa – từ ngữ Cao Đài gọi là hiểu theo Thể Pháp. Người ta lập tức diễn giải ngay ra rằng Tam Giáo là Phật Giáo, Lăo Giáo, Khổng Giáo và Ngũ Chi là Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo, và vội vàng kết luận rằng triết lư Cao Đài là bao gồm triết lư của những tôn giáo vừa kể. Chẳng trách có người gán cho Cao Đài là Phật Giáo cải cách, thậm chí là vay mượn triết lư của tôn giáo khác như ví dụ ở đầu bài viết!

Nhưng thực ra, nếu hiểu theo đúng tinh thần nhị nguyên đối đăi vẫn thường được tượng trưng qua các vế đối trong văn học cổ Việt Nam th́ các tôn giáo nêu ra trong khẩu hiệu trên chỉ nhằm ám chỉ chủ nghĩa dung hợp tôn giáo (syncretism) hay tôn giáo đa nguyên (pluralism). Nghĩa là, Cao Đài xem mọi tôn giáo hoặc mọi hệ thống tín ngưỡng đă có trên trái đất này đều do Thượng Đế gián tiếp mở ra qua nhiều giai đoạn lịch sử. Dĩ nhiên với điều kiện các tôn giáo này phải có nguyên tắc hành đạo không trái với những luật lệ của Cao Đài. Chẳng hạn như, nếu có hệ thống tín ngưỡng nào đó chủ trương điều ǵ có hại đến sinh mạng con người, th́ sẽ không được xem là tôn giáo của Thượng Đế, bởi v́ hại sinh mạng là vi phạm Ngũ Giới Cấm của Cao Đài. Tính ra trong lịch sử loài người, chỉ đến thế kỷ 19 trở đi th́ quan niệm dung hợp trong tôn giáo mới bắt đầu thành h́nh và hiện nay là quan điểm hiện đại nhất.

Cũng xin nói rơ, dù có tôn chỉ đa nguyên, nhưng Cao Đài có hệ thống tổ chức tôn giáo, nghi lễ, kinh luật và triết lư đặc thù của ḿnh; không sử dụng của một tôn giáo nào khác.

Luân hồi là tiến hóa trong một vũ trụ vô hạn

Rơ ràng, cái chết là ranh giới, là kết thúc của sự sống, nhưng sau cái chết là ǵ nữa th́ chưa một ai biết rơ. Và đây cũng chính là nơi mà các tôn giáo đưa ra các giả thuyết. Đa số các tôn giáo đều cho rằng có một cơi giới khác sau khi con người chết đi, và cơi giới này chia ra làm Thiên Đàng (dành cho những người làm điều thiện trong khi c̣n sống) và Địa Ngục (dành cho những người làm điều ác tại thế). Những người ở địa ngục sau khi chịu “h́nh phạt” một thời gian sẽ phải xuống trần gian đầu kiếp để lập công chuộc tội…Con đường này gọi là luân hồi, và các tôn giáo mở ra ở thế gian là nhằm giúp con người sau khi chết được về cơi Thiên Đàng, không c̣n luân hồi nữa, tức là giải thoát.

Cao Đài đưa ra quan điểm mới về thuyết luân hồi, gọi đó là Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống. Trên con đường này không có điểm khởi đầu, cũng không có điểm kết thúc, chỉ có những chặng dừng chân rải rác. Các chơn hồn (thuật ngữ Cao Đài để gọi linh hồn) xuống thế gian, đầu kiếp vào một thể xác. Khi thể xác chấm dứt sự sống, chơn hồn sẽ trở về Cơi Thiêng Liêng Hằng Sống, tự định tội hay khen thưởng ḿnh. Sau đó, chơn hồn lại xuống thế gian để tiếp tục tiến hóa cho đến tận thiện tận mỹ. Sự tiến hóa này không có giới hạn, và để diễn tả điều này, Hộ Pháp Phạm Công Tắc dạy rằng khi tiến hóa vượt mức, chúng ta thậm chí có thể mở ra một vũ trụ mới và trở thành Thượng Đế trong vũ trụ đó.

Có thể nói rằng đây là một quan điểm tôn giáo rất cấp tiến. Với quan điểm này, con người đă vượt ra khỏi số phận thụ động, vươn lên điều khiển chính ḿnh. Con người không c̣n lầm lũi đi theo con đường luân hồi khổ sai nữa, mà tích cực thẳng tiến trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống nhằm tạo cho bản thân một sự nghiệp thiêng liêng.

Triết lư Cao Đài có c̣n hợp với thiên niên kỷ mới hay không?

Người ta bảo rằng, với tŕnh độ hiện nay, loài người sẽ có nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bực trong thiên niên kỷ mới. Điều này có thể không cần bàn căi nữa, nhưng loài người vẫn c̣n phải đối phó những vấn đề khác. Xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, khác biệt chính trị, va chạm quyền lợi kinh tế vẫn là những gai góc trên con đường tiến bộ của loài người. Phương tiện giao tiếp bây giờ phong phú và hiệu quả hơn ngày xưa, cho nên các dân tộc tiếp xúc với nhau nhiều hơn, và cũng dễ va chạm hơn. Đôi khi những va chạm này quá sức chịu đựng đến nỗi đi vào bế tắc và người ta phải dùng đến chiến tranh để giải quyết vấn đề. Đây là cách dễ làm nhất mà cũng là cách gây đau thương khốc hại nhiều nhất.

Tuy nhiên, con người nay cũng đă khôn ngoan hơn trước, và thừa khả năng để hiểu được chiến tranh không thể giải quyết tận gốc mọi vấn đề. Cách lư tưởng để giải quyết mọi tranh chấp trên thế giới ngày nay là: các dân tộc cần chấp nhận và tôn trọng lẫn nhau. Cũng chính v́ điều đó mà triết lư dung hợp của Cao Đài vẫn c̣n phù hợp trong thiên niên kỷ này và cả những thiên niên kỷ sắp tới nữa.

Nếu loài người chấp nhận quan điểm chỉ có một Thượng Đế duy nhất trong tất cả các niềm tin tôn giáo trên thế giới, th́ những khác biệt về văn hóa, chủng tộc hay quan điểm chính trị sẽ bớt phần khắc nghiệt. Con người sẽ dễ cảm thông hơn, dễ đối thoại, hợp tác trong mọi lănh vực. Thù hận sẽ không có cơ hội phát triển và quả đất này (Cao Đài gọi là địa cầu 68) sẽ là một nơi có cuộc sống tốt đẹp hơn. Và, chúng ta, con cái của Đức Chí Tôn là những người có nhiệm vụ làm cho nhân loại thấu hiểu triết lư Cao Đài, nh́n nhau là anh em ruột thịt. Đó là lập công trong kỳ ba này vậy!

Từ Chơn

tuuchoon@gmail.com

Đầu xuân Mậu Tư (2008)

 

 

Top of Page

      HOME