ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC& CHỨC VIỆC

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

 

TÙNG THIÊN

TỪ BẠCH HẠC

 2013

 

    NỘI DUNG
 
LỜI TỰA
PHẦN I - ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI NAM PHÁI
PHẦN II - ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI NỮ PHÁI
PHẦN III - ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI CẤP CAO
PHẦN IV - ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI -BỘ PHÁP CHÁNH
PHẦN V - ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI -THẬP NHỊ BẢO QUÂN
PHẦN VI - ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI-CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN
PHẦN VII - ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI- BAN THẾ ĐẠO
PHỤ LỤC - CÁC VĂN KIỆN LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO PHỤC VÀ NGHI LỄ

 

LỜI TỰA

 Du khách khi đến Tòa Thánh Tây Ninh hay Thánh Thất ở các địa phương  xem lễ thường thắc mắc về Đạo Phục của các phẩm Chức sắc, Chức việc trong tôn giáo ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ (thường gọi Đạo Cao Đài):

          -Sao có nhiều loại mão vậy, tên gọi thế nào?

          -Sắc phục vàng, xanh, đỏ, trắng dùng để phân biệt điều gì?

          -Sao có người mang giày, còn có nhiều người đi chân trần?

          - Chức sắc nữ ở đầu tóc có giắt một cái bông sen, có người thì bông trơn, có người thì giữa bông có Thiên Nhãn?

Không chỉ du khách mà tín đồ chúng ta đôi khi cũng thắc mắc: sao có vị mặc Trường y 6 nút, có vị mặc 9 nút? Có văn kiện nào qui định điều đó không hay Chức sắc, Chức việc nào cũng may mặc được?

Qua tìm đọc PHÁP CHÁNH TRUYỀN, HIẾN PHÁP HIỆP THIÊN ĐÀI, Nghị định 48 thành lập CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN, và các văn kiện của Hội thánh còn lưu trữ, chúng tôi đã tìm được câu trả lời. Công biên soạn này xin tặng cho những ai lưu tâm đến CHƠN TRUYỀN của ĐẠI ĐẠO.

 Núi Bà, Rằm tháng Tám, Quý Tỵ

TÙNG THIÊN

TỪ BẠCH HẠC

 
__________________________________________________________

 

 

                                                                 PHẦN MỘT

TIẾT 1: ÐẠO PHỤC GIÁO TÔNG
TIẾT2: ÐẠO PHỤC CHƯỞNG PHÁP
TIẾT3: ÐẠO PHỤC ĐẦU SƯ
TIẾT4: ÐẠO PHỤC CHÁNH PHỐI SƯ & PHỐI SƯ
TIẾT5: ÐẠO PHỤC GIÁO SƯ
TIẾT6: ÐẠO PHỤC GIÁO HỮU
TIẾT7: ÐẠO PHỤC LỄ SANH
TIẾT8: ÐẠO PHỤC CHÁNH TRỊ SỰ
TIẾT9: ÐẠO PHỤC PHÓ TRỊ SỰ
TIẾT10: ÐẠO PHỤC THÔNG SỰ

 

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI

NAM PHÁI

HỆ THỐNG CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ÐÀI

 

           

GIÁO TÔNG

     
                     
                     
     

THÁI
CHƯỞNG PHÁP

 

THƯỢNG
CHƯỞNG PHÁP

 

NGỌC
CHƯỞNG PHÁP

                     
                     

NỮ ĐẦU SƯ

 

THÁI
ÐẦU SƯ

 

THƯỢNG
ÐẦU SƯ

 

NGỌC
ÐẦU SƯ

                     

NỮ
Chánh Ph. Sư

 

THÁI
Chánh Phối Sư

 

THƯỢNG
Chánh Phối Sư

 

NGỌC
Chánh Phối Sư

Nữ Phối Sư
(không giới hạn)

 

Thái Phối Sư
11 vị

 

Thượng Phối Sư
11 vị

 

Ngọc Phối Sư
11 vị

                     

Nữ Giáo Sư
(không giới hạn)

 

Thái Giáo Sư
24 vị

 

Thượng Giáo Sư
24 vị

 

Ngọc Giáo Sư
24 vị

                     

Nữ Giáo Hữu
(không giới hạn)

 

Thái Giáo Hữu
1000 vị

 

Thượng Giáo Hữu
1000 vị

 

Ngọc Giáo Hữu
1000 vị

                     

Nữ Lễ Sanh
(không giới hạn)

 

Thái Lễ Sanh
(không giới hạn)

 

Thượng Lễ Sanh
(không giới hạn)

 

Ngọc Lễ Sanh
(không giới hạn)

                     

BÀN TRỊ SỰ:
Chánh Trị Sự
Phó Trị Sự
Thông Sự

 

BÀN TRỊ SỰ:

Chánh Trị Sự
   Phó Trị Sự
   Thông Sự

                     

NỮ ÐẠO HỮU

     

NAM ÐẠO HỮU

   
                   

 

 

ÐẠO PHỤC CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI NAM PHÁI

TIẾT 1

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC GIÁO TÔNG

Đạo phục của Giáo Tông có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục thì toàn bằng hàng trắng, có thêu bông sen vàng từ trên tới dưới, hai bên cổ áo, mỗi phía có BA CỔ PHÁP LÀ: LONG TU PHIẾN, THƯ HÙNG KIẾM VÀ PHẤT CHỦ. (Ấy Cổ Pháp của Thượng Phẩm và Thượng Sanh trị thế) Đầu đội mão vàng năm từng hình Bát Quái (thế Ngũ Chi Đại Đạo) ráp tròn lại bít chính giữa; trên chót mão có để chữ "Vạn" giữa chữ vạn có Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí; nơi ngạch mão, phải chạm ba Cổ Pháp cho rõ ràng, y như hai bên cổ áo đã nói trên kia, tay mặt cầm cây gậy 0m90, trên đầu gậy có chữ "Vạn" bằng vàng, nơi giữa chữ vạn có Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí.

Bộ Tiểu Phục cũng toàn bằng hàng trắng, có thêu chữ Bát Quái bằng vàng, cung Khảm ngay Hạ Đơn Điền, cung Cấn bên tay mặt, cung Chấn bên tay trái, cung Đoài bên vai mặt, cung Tốn bên vai trái, cung Ly ngay trái tim, cung Khôn ngay giữa lưng. Đầu đội MÃO HIỆP CHƯỞNG (Mitre) cũng toàn bằng hàng trắng, bề cao ba tất ba phân ba ly (0m333) may giáp mối lại cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh hiệp lại có một đường xếp (ấy là âm dương tương hiệp) cột dây xếp hai lại, nơi bên tay trái có để hai dải thòng xuống, một mí dài một mí vắn (mí dài bề ngang 0m03,bề dài 0m30) trên mão ngay trước trán có thêu chữ cung Càn. Chơn đi giày vô ưu toàn bằng hàng trắng, trước mũi có chữ Tịch Đạo Nam Nữ. Tỷ như Đức Lý Giáo Tông đương thời. thì nơi trước mũi giày của Ngài phải có chữ Tịch Đạo là "Thanh Hương".

TIẾT 2

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CHƯỞNG PHÁP

I.Đạo Phục của THÁI CHƯỞNG PHÁP

Có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục thì toàn bằng màu vàng (màu Đạo) có thêu chữ Bát Quái y như Bộ Tiểu Phục Giáo Tông, ngoài thì choàng Bá Nạp Quang màu đỏ, tức gọi là Khậu, đầu đội MÃO HIỆP CHƯỞNG Hòa Thượng tay cầm bình Bát Vu, chơn đi giày vô ưu cũng màu vàng, một sắc với áo, trước mũi có chữ "THÍCH".

Bộ Tiểu Phục thì cũng màu vàng, y như áo Đại Phục, ngoài không đắp khậu, không đội mão mà bịt khăn màu vàng chín lớp chữ Nhứt.

 

II. Đạo Phục THƯỢNG CHƯỞNG PHÁP

Có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục thì toàn hàng trắng nơi trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, đầu đội MÃO HIỆP CHƯỞNG (Mitre) màu trắng, y như kiểu mão Tiểu Phục của Giáo Tông. Tay cầm Phất Chủ chơn đi giày vô ưu cũng màu trắng trước mũi có chữ "ĐẠO".

Bộ Tiểu Phục thì màu trắng y như áo Đại Phục, đầu không đội mão mà bịt khăn màu trắng chín lớp chữ Nhứt.

 

III. Đạo Phục của NHO CHƯỞNG PHÁP

Có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục thì toàn bằng màu hồng (màu Đạo) nơi trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí. Đầu đội MÃO VĂN ĐẰNG màu hồng, trên mão ngay trước trán có Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí, và trên có sao Bắc Đẩu Tinh Quân. Tay cầm bộ Xuân Thu, chơn đi giày vô ưu màu hồng trước mũi có chữ "Nho".

Bộ Tiểu Phục thì cũng hàng màu hồng, y như áo Đại Phục, đầu không đội mão mà bịt khăn màu hồng chín lớp chữ Nhứt.

Chú thích: chúng ta hiểu NHO là phái NGỌC; màu hồng (màu Đạo) viết ở đây là màu đỏ của sắc phục phái Ngọc

 

TIẾT 3

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC ĐẦU SƯ

 

I.      Đạo Phục của THÁI ĐẦU SƯ

Có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục toàn hàng màu vàng (màu Đạo) nơi trước ngực và sau lưng có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, bao quanh ba vòng vô vi, ngay giữa có một chữ Thái, áo có chín dải, ngoài choàng Bá Nạp Quang màu đỏ, y như của Thái Chưởng Pháp. Đầu đội BÁT QUÁI MẠO màu vàng, có thêu đủ tám cung chung quanh, chơn đi giày vô ưu màu đen, trước mũi có chữ "THÁI".

Bộ Tiểu Phục thì cũng hàng màu vàng y như áo Đại Phục. Đầu không đội mão mà bịt khăn màu vàng chín lớp chữ Nhứt.

 

II. Đại Phục của THƯỢNG ĐẦU SƯ

Có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục thì toàn hàng màu xanh da trời (azur) (màu Đạo) nơi trước ngực và sau lưng có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, bao quanh ba vòng vô vi, cũng y như của Thái Đầu Sư, song ngay giữa có để chữ "Thượng";  áo cũng chín dải, đầu đội BÁT QUÁI MẠO y như của Thái Đầu Sư, mà màu xanh da trời, chơn đi giày vô ưu màu đen, trước mũi có chữ "THƯỢNG".

Bộ Tiểu Phục thì cũng hàng màu xanh da trời y như Đại Phục, đầu không đội mão mà bịt khăn màu xanh da Trời, chín lớp chữNhứt.

 

III.    Đạo phục của NGỌC ĐẦU SƯ

Cũng có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục toàn bằng hàng màu hồng (màu Đạo) nơi trước ngực và sau lưng có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bao quanh ba vòng vô vi cũng y như Thái Đầu Sư và Thượng Đầu Sư, song ngay giữa có để chữ "Ngọc", áo cũng chín dải, đầu đội BÁT QUÁI MẠO y như của Thượng Đầu Sư song màu hồng. Chơn đi giày vô ưu màu đen, trước mũi có chữ "NGỌC".

Bộ Tiểu Phục thì cũng hàng màu hồng, y như áo Đại Phục, đầu không đội mão mà bịt khăn màu hồng chín lớp chữ Nhứt.

 

TIẾT 4

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI:

ÐẠO PHỤC CỦA CHÁNH PHỐI SƯ VÀ PHỐI SƯ

Đạo Phục cũng có hai bộ phân biệt nhau (Đại Phục và Tiểu Phục) như của vị Đầu Sư, song trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn Thầy bao quanh một vòng vô vi.

Chánh Phối Sư thì áo chín dải, còn Phối Sư ba dải.

Chánh Phối Sư phái Thái thì choàng ngoài Đại Bá Nạp Quang màu Đỏ, còn Phối  Sư phái Thái thì Tiểu Bá Nạp Quang. Đầu đội BÁT QUÁI MẠO y như của ba vị Đầu Sư song tùy theo sắc phái mình, chơn đi giày vô ưu màu đen, trước mũi không có chữ chi hết.

Còn Tiểu Phục cũng như Đại Phục, đầu không đội mão mà bịt khăn tùy theo sắc phái mình, chín lớp chữ Nhứt.

 

TIẾT 5

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA GIÁO SƯ

 Đạo Phục của Giáo Sư cũng có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục thì toàn bằng hàng tùy theo sắc phái, nơi trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng vô vi, áo ba dải, đầu đội THIÊN NGƯƠN MẠO BÁT QUÁI, tùy theo sắc phái, có thêu chữ Bát Quái chung quanh, trên chót mão có Minh Châu Lý, Giáo Sư không đặng đi giày.

Tiểu Phục cũng như Đại Phục. Đầu không đội mão mà bịt khăn tùy theo sắc phái mình, bảy lớp chữ Nhơn.

Duy có Giáo Sư phái Thái phải choàng ngoài một Tiểu Bá Nạp Quang gọi là "Khậu", đầu đội mão Hiệp Chưởng của nhà Thiền, hai bên có thêu Thiên Nhãn.

 

TIẾT 6

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA GIÁO HỮU

 Đạo Phục của Giáo Hữu có một bộ mà thôi, toàn bằng hàng, tùy theo sắc phái không có thêu thùa chi hết, áo có ba dải. Đầu đội NGƯỠNG THIÊN MẠO, cũng tùy theo Sắc phái. Cái Mão ấy bề cao phải cho đủ phân tấc là 0m150, ngay trước tráncó thêu Thiên Nhãn Thầy, bao quanh ba vòng vô vi, Giáo Hữu chẳng đặng bịt khăn.

TIẾT 7

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA LỄ SANH

 Đạo phục của Lễ Sanh cũng y như của Giáo Hữu toàn bằng hàng tùy theo sắc phái, đầu đội KHÔI KHOA MẠO toàn bằng hàng trắng, dầu cho phái nào cũng vậy. Ngay trước trán có thêu Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí, Lễ Sanh không đặng phép đi giày.

 

TIẾT 8

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA CHÁNH TRỊ SỰ

 Chánh Trị Sự mặc Đạo phục, y như Lễ Sanh, song toàn bằng vải trắng, nịt ngang lưng một sợi dây cũng bằng vải trắng cho thiệt cứng như dây nịt: bề ngang 0m05, áo Đạo cổ trịt viền chỉ kim tuyến vàng, nơi tay trái có ba sắc Đạo (bề ngang 0m06, bề dài 0m10) đầu bịt khăn đen bảy lớp chữ Nhơn, nơi khăn đen ngay giữa trán có thêu ba Cổ Pháp, y như trên mão Tiểu Phục của Hộ Pháp.

 

TIẾT 9

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA PHÓ TRỊ SỰ

 Phó Trị Sự mặc Đạo Phục y như Chánh Trị Sự, song cổ trịt viền chỉ kim tuyến trắng; không đặng phép nịt ngang lưng sợi dây như Chánh Trị Sự, áo có một dải, nơi tay trái cũng có ba sắc Đạo (bề ngang 0m03, bề dài 0m05). Đầu bịt khăn đen bảy lớp chữ Nhơn.

TIẾT 10

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA THÔNG SỰ

 Thông Sự mặc Đạo Phục toàn bằng vải trắng, không đặng phép viền chỉ kim tuyến, hai bên cổ áo có thêu ba Cổ Pháp của Đạo, y như của Hộ Pháp, nịt ngang lưng một sợi dây cũng bằng vải trắng cho thiệt cứng như dây nịt, bề ngang 0m05, đầu bịt khăn bảy lớp chữ Nhơn, nơi khăn đen ngay giữa trán có thêu ba Cổ Pháp y như của Chánh Trị Sự.

 

* * * 

                                                                 PHẦN HAI

TIẾT 1: THÁNH NGÔN CỦA GIÁO TÔNG LÝ THÁI BẠCH
TIẾT2: ĐẠO PHỤC ĐẦU SƯ
TIẾT3: ĐẠO PHỤC CHÁNH PHỐI SƯ VÀ PHỐI SƯ
TIẾT4: ĐẠO PHỤC GIÁO SƯ
TIẾT5: ĐẠO PHỤC GIÁO HỮU
TIẾT6: ĐẠO PHỤC LỄ SANH
TIẾT7: ĐẠO PHỤC CHÁNH TRỊ SỰ
TIẾT8: ĐẠO PHỤC PHÓ TRỊ SỰ
TIẾT9: ĐẠO PHỤC THÔNG SỰ

 

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI

NỮ PHÁI

 

TIẾT 1

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: NỮ PHÁI

(Trích y Thánh Ngôn của Giáo Tông Lý Thái Bạch)

Nữ phái vốn của Đức Lý Giáo Tông lập thành.

Hộ Pháp nhắc lại lời Thầy nói cùng Chánh Phối Sư HƯƠNG THANH rằng: muốn phế Nữ Phái, song con cũng đồng con, hễ bao nhiêu Nam tức cũng bao nhiêu Nữ; Nam, Nữ vốn như nhau, nên Thầy đến phong cho Nữ Phái buổi lập Pháp Chánh Truyền, chẳng hiểu có điều chi huyền bí với Thầy cùng Ngọc Hư Cung nên Thầy mới đành lòng nói ra lời ấy, rồi lại cam lòng để cho Đức Giáo Tông đứng lập đặng tránh cho khỏi luật lệ Thiên Điều hay chăng? Hễ càng suy nghĩ lại càng thêm sợ hằng ngày.

Xem lại Nữ Phái không biết trau giồi trí thức đặng làm trách nhậm cho xứng vị mình, thì lại càng âu lo thêm nữa! Chính mình Cao Thượng Phẩm mới giáng cơ nói rằng nhờ Ngài cầu xin tha thứ cho Nữ Phái nơi Ngọc Hư, bằng chẳng thì đã bị phế; xin chư Đạo Tỷ để dạ lo lấy phận mình.

PHÁP CHÁNH TRUYỀN:"Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục cho Nữ phái; nghe và từ đây xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp".

CHÚ GIẢI: Đức Giáo Tông đến kêu Hội Thánh Nam Phái nói rằng: Từ đây phải xem sắc tốt của Nữ Phái Ngài đến ban đặng hành lễ theo đẳng cấp.

Cái tiếng sắc tốt không, dầu ai đọc đến cũng thầm hiểu nghĩa lý sâu xa.(1)

Giáo Tông duy chỉ dặn xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp, ấy là Ngài buộc phải có trật tự cho lắm, vì vậy mà cũng chính mình Ngài đến lập lệ Nam Nữ Phái phân biệt nhau, chẳng đặng chung hiệp nhau về phần xác và phần hồn cũng vậy.

Hộ Pháp có hỏi Ngài về sự tôn ti phẩm trật, thì Ngài dạy rằng: Nam Nữ vốn đồng quyền, còn hỏi về Lễ Nghĩa giao thiệp về phần Đời, thì Ngài dạy Giáo Hữu Nam Phái cũng chịu dưới quyền Giáo Sư Nữ Phái (2), còn lễ thì khi vào Đại Điện tỷ như Giáo Sư Nam Phái gặp Phối Sư Nữ Phái thì Nam phải đãnh lễ Nữ trước, lớn nhỏ vẫn đồng, quyền hành tùy Chức Sắc.

PHÁP CHÁNH TRUYỀN: 

Nữ Phái phải tùng Đầu Sư Nữ Phái song Đầu Sư lại phải tùng quyền của Giáo Tông và Chưởng Pháp.

CHÚ GIẢI: 

Hội Thánh Nữ Phái phải tùng quyền Đầu Sư Nữ Phái, song cả thảy đều phải tùng quyền Giáo Tông và Chưởng Pháp.

Xem rõ lại thì Pháp Chánh Truyền truất quyền Nữ Phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông.

Hộ Pháp để lời phân phiền cùng Thầy như vầy: Thưa Thầy, Thầy đã nói con cũng đồng con, Nam Nữ vốn như nhau mà Thầy truất quyền của Nữ Phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông, thì con e mất lẽ công bình chăng?

Thầy dạy: Thiên Địa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn Khôn Thế Giái nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy lừng, ấy là ngày Càn Khôn Thế Giái phải chịu trong hắc ám, mà bị tiêu diệt. Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ Phái cầm quyền Giáo Tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Đạo ắt bị tiêu tàn ám muội.

Hộ Pháp lại kêu nài nữa rằng: Thầy truất quyền Giáo Tông Nữ Phái thì đã đành, song quyền Chưởng Pháp thì tưởng dầu ban cho cũng chẳng hại.

Thầy dạy: "Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Đài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa vị Giáo Tông, thì lẽ nào cho ngồi địa vị Hộ Pháp con. Bởi chịu phận rủi sanh, nên cam phận thiệt thòi, lẽ Thiên Cơ đã định, Thầy chỉ cậy con để dạ thương yêu binh vực thay Thầy kẻo tội nghiệp!

 (1) Nếu chư Hiền Hữu biết coi Nữ Phái như em thơ dại, chỉ biết mến đẹp ham xinh, liệu phương dụ dỗ như Lão vậy mới đặng làm trai con Thầy mà chớ.

(2) Phải vậy.

TIẾT 2

PHÁP CHÁNH TRUYỀN: ĐẠO PHỤC NỮ ĐẦU SƯ

 "Đầu Sư Nữ Phái mặc một bộ Đạo Phục y như Đạo Phục Đầu Sư Nam Phái, phải đội một NI KIM CÔ; như các vãi Chùa, toàn hàng trắng áo chín dải có thêu bông sen. Trên Kim Cô có choàng từ đầu tới gót. Đội mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngay đầu tóc có Thiên Nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, đi giày vô ưu màu trắng, trên chót có để chữ "HƯƠNG" nghe à!

CHÚ GIẢI: Đầu Sư Nữ Phái mặc một bộ Đạo Phục toàn là hàng trắng có thêu bông sen, y như Đạo Phục Đầu Sư Nam Phái áo chín dải, đội một cái Ni Kim Cô nghĩa là: cái Ni Kim Cô bằng hàng trắng, y như của các vãi Chùa, có thêu bông sen, bao quanh đầu một cái Kim Cô bằng vàng, trên Ni Kim Cô ấy phải choàng một cái MÃO PHƯƠNG THIÊN, nghĩa là: Cái choàng bằng hàng cho thiệt mỏng, trên chót thêm một cái mũ bằng vàng chụp trọn đầu tóc, chính giữa ngay trước mặt có chạm Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí, cái choàng của mão Phương Thiên phải cho thiệt dài, ba thước ba tất ba phân, vì mỗi phen lên ngự trên ngai; thì phải có hai vị Lễ Sanh Nữ Phái theo sau, nâng đợ chẵng cho phết dưới đất; chơn đi giày vô ưu toàn bằng hàng trắng, trên chót mũi giày có thêu chữ "HƯƠNG" là Tịch Đạo (1). Nếu đội mão Phương Thiên dường ấy là phải bới đầu tóc ngay mỏ ác mới đặng (coi đẹp chớ hệ chi mà phòng ngại) ( 2).

HƯƠNG TÂM NHỨT PHIẾN CẬN CÀN KHÔN,

HUỆ ĐỨC TU CHƠN ĐỘ DẪN HỒN.

NHỨT NIỆM QUAN ÂM THÙY BẢO MẠNG,

THIÊN NIÊN ĐẲNG PHÁI THỦ SANH TỒN.

Cũng như của Nam Phái:

THANH ĐẠO TAM KHAI THẤT ỨC NIÊN,

THỌ NHƯ ĐỊA HUYỂN THẠNH HÒA THIÊN.

VÔ HƯ QUI PHỤC NHƠN SANH KHÍ,

TẠI VẠN CỔ ĐÀN CHIẾU PHẬT DUYÊN.

Đương đời này của Đức Lý Giáo Tông, thì Nam lấy chữ "THANH" Nữ lấy chữ "HƯƠNG" làm tịch, tức là cả Đạo Hữu Nam Nữ từ Tín Đồ chí Thiên Phong đều trong đời Đức Lý Giáo Tông hành chánh đứng vào tịch Thanh, Hương. Qua đời Giáo Tông khác thì Nam sẽ lấy chữ "Đạo" Nữ chữ "Tâm". Rồi cả chư Đạo Hữu Nam Nữ sẽ lấy Tịch: Đạo, Tâm; như vậy nối truyền hoài cho hết Tịch Đạo thì Thầy sẽ giáng cơ cho Tịch Đạo khác nữa. Lớn nhỏ, sau trước nhờ chữ Tịch Đạo ấy mà phân biệt (Hay).

Có kẻ hỏi: Thí dụ như đời Giáo Tông, thì Tịch Đạo của chư Đạo Hữu Nam Nữ đời trước, dầu Chức Sắc hay Tín Đồ cũng vậy, có phải buộc thay đổi Tịch Đạo không? Ta nói: Không, vì chính mình Giáo Tông kế vị cũng phải giữ Tịch Đạo trước, kỳ dư những Tín Đồ của đời Ngài độ rỗi, tức là chi tộc của Ngài, mới đặng thay đổi mà thôi, còn những Chức Sắc cùng là Tín Đồ của Giáo Tông đời trước còn sót lại thì thuộc về chi tộc của Giáo Tông ấy không đặng phép thay đổi Tịch. (Hay)

Tỷ như có Tân Giáo Tông sẽ lên kế vị cho Lý Giáo Tông thì cả Tín Đồ Nam Nữ mới nhập môn đều phải lấy Tịch "Đạo Tâm", dầu trong hàng Tín Đồ ấy sẽ có một chơn linh xứng đáng địa vị Chánh Phối Sư, mà Thầy giáng cơ phong chức đi nữa, thì cũng chịu Tịch Đạo Tâm, như các Tín Đồ khác, chớ Chức Sắc và Tín Đồ trong đời Lý Giáo Tông còn lại thì giữ Tịch "Thanh Hương" mà thôi, không đặng thay đổi.

(1) Xin giải Tịch Đạo của Nữ Phái.

(2) Vì thấy cả Chức Sắc Nam Nữ đều chúm chím cười thầm, nên Đức Lý  Giáo Tông để câu nầy.

 

TIẾT 3

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI:

ĐẠO PHỤC CHÁNH PHỐI SƯ VÀ PHỐI SƯ

PHÁP CHÁNH TRUYỀN: "Phối Sư cũng mặc y phục như vậy, song không có mão Phương Thiên, áo ba dải, nhưng trước ngực có thêu Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí".

CHÚ GIẢI: Chánh Phối Sư mặc Đạo Phục y như Đầu Sư, áo chín dải, toàn bằng hàng trắng, nơi trước ngực có thêu Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí áo có thêu bông sen y như của Đầu Sư vậy, đầu đội NI KIM CÔ cũng như Đầu Sư, chơn đi giày vô ưu, có Tịch Đạo trước mũi, song không đặng phép đội mão Phương Thiên.

Phối Sư cũng mặc Đạo phục y như Chánh Phối Sư song áo có ba dải mà thôi. Chơn cũng đi giày vô ưu, có chữ Tịch Đạo trước mũi.

 

TIẾT 4

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ĐẠO PHỤC GIÁO SƯ

PHÁP CHÁNH TRUYỀN "Giáo Sư mặc áo ba dải; đội NI KIM CÔ bằng hàng trắng, không đi giày".

CHÚ GIẢI: Giáo Sư mặc Đạo Phục toàn bằng hàng trắng trơn, không thêu bông sen, áo ba dải; đầu đội Ni Kim Cô bằng hàng trắng, phải cho dài từ đầu tới gót, y như của Đầu Sư và Phối Sư, chơn không đi giày.

 

TIẾT 5

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ĐẠO PHỤC GIÁO HỮU

PHÁP CHÁNH TRUYỀN: Giáo Hữu mặc Đạo Phục như Giáo Sư, nhưng không đội mão, giắt một bông sen, trên BÔNG SEN CÓ THIÊN NHÃN THẦY.

CHÚ GIẢI: Giáo Hữu mặc Đạo phục y như Giáo Sư, song trên đầu không đặng đội mão Ni Kim Cô, chỉ giắt một bông sen trên đầu tóc mà thôi, giữa bông sen có Thiên Nhãn Thầy.

TIẾT 6

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ĐẠO PHỤC LỄ SANH

PHÁP CHÁNH TRUYỀN: Lễ Sanh Nữ Phái mặc Đạo Phục như Giáo Hữu, nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, ngay đầu tóc có giắt một bông sen.

CHÚ GIẢI: Lễ Sanh Nữ Phái mặc Đạo Phục y như Nữ Giáo Hữu, nhưng trên đầu thì choàng ngang một đoạn vải mỏng cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, xuống cho tới khỏi trôn, ngay đầu tóc có giắt một cái bông sen trơn chớ không Thiên Nhãn. (Phải sửa y phục của Lễ Sanh như vầy chớ phần nhiều người sái về Liên hoa ấy lắm).

 TIẾT 7

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ĐẠO PHỤC CHÁNH TRỊ SỰ

Chánh Trị Sự mặc Đạo Phục y như Lễ Sanh, song toàn bằng vải trắng, nịt ngang lưng một sợi dây cũng bằng vải trắng, cho thiệt cứng như dây nịt (bề ngang 0m03) áo Đạo cổ trịt viền chỉ kim tuyến vàng, nơi tay trái có ba sắc Đạo (bề ngang 0m06 bề dài 0m10) đầu để trần.

 

TIẾT 8

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ĐẠO PHỤC PHÓ TRỊ SỰ

Phó Trị Sự mặc Đạo Phục y như Chánh Trị Sự, song áo cổ trịt viền chỉ kim tuyến trắng, không đặng phép nịt ngang lưng một sợi dây như Chánh Trị Sự, áo một dải, nơi tay trái cũng có ba sắc Đạo (bề ngang 0m03 bề dài 0m05).

TIẾT 9

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ĐẠO PHỤC THÔNG SỰ

Thông Sự mặc một bộ Đạo Phục toàn bằng vải trắng, không đặng phép viền chỉ kim tuyến, mà hai bên cổ áo có thêu ba cổ pháp của Đạo là: Bình Bát Vu, Phất Chủ và Bộ Xuân Thu, y như hình trên mão Tiểu Phục của Hộ Pháp, nịt ngang lưng một sợi dây cũng bằng vải trắng cho thiệt cứng như dây nịt, (bề ngang 0m03).

 * * *

  

PHẦN BA

TIẾT 1: ÐẠO PHỤC CỦA HỘ PHÁP
TIẾT 2: ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG PHẨM
TIẾT 3: ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG SANH
TIẾT 4: ÐẠO PHỤC CỦA THẬP NHỊ THỜI QUÂN

 

 

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI CẤP CAO

 

HỆ THỐNG CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ÐÀI

 

 

 

 

 

 

HỘ PHÁP

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƯỢNG PHẨM

 

 

 

 

THƯỢNG SANH

 

 

Chi

Ðạo

 

Chi

Pháp

 

Chi

Thế

 

 

Bảo Ðạo

 

Bảo Pháp

 

Bảo Thế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hiến Ðạo

 

Hiến Pháp

 

Hiến Thế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khai Ðạo

 

Khai Pháp

 

Khai Thế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiếp Ðạo

 

Tiếp Pháp

 

Tiếp Thế

 

 

               

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

T.Thất 

 

C.Q. Ph. Thiện

 

Bộ Pháp Chánh

 

Ban Thế Ðạo

1.   Trí

 

1. Phật Tử

 

 

 

 

Huệ

 

2. Tiên Tử

 

 

 

 

Cung

 

3. Thánh Nhơn

 

1. Tiếp Dẫn Ð.N

 

1. Phu Tử

 

 

4. Hiền Nhơn

 

2. Chưởng Ấn

 

 

2.   Trí

 

5. Chơn Nhơn

 

3. Cải Trạng

 

2. Ðại Phu

Giác

 

6. Ðạo Nhơn

 

4. Giám Ðạo

 

 

Cung

 

7. Chí Thiện

 

5. Thừa Sử

 

3. Quốc Sĩ

 

 

 

 

6. Truyền Trạng

 

 

3. Vạn

 

8. Giáo Thiện

 

7. Sĩ Tải

 

4. Hiền Tài

Pháp

 

9. Hành Thiện

 

8. Luật Sự

 

 

Cung

 

10. Thính Thiện

 

 

 

 

 

 

11. Tân Dân

 

 

 

 

 

 

12. Minh Ðức

       

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(*) T.Thất: Tịnh Thất

(*) C.Q. Ph. Thiện: Cơ Quan Phước Thiện

(*) Tiếp Dẫn Ð.N: Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn

  

HỘ PHÁP

 

GIÁO TÔNG

THẬP NHỊ BẢO QUÂN

     (HÀN LÂM VIỆN CỦA ĐẠO)

 

1. Bảo Huyền Linh Quân

2. Bảo Thiên Văn Quân

3. Bảo Địa Lý Quân

4. Bảo Học Quân

5. Bảo Cô Quân

6. Bảo Sanh Quân

7.  Bảo Phong Hóa Quân (1)

8.  Bảo Văn Pháp Quân

9.  Bảo Y Quân

10. Bảo Nông Quân

11. Bảo Công Quân

12. Bảo Thương Quân

 

 

                                                                          

 

ÐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI

TIẾT 1

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA HỘ PHÁP

CHÚ GIẢI: Đạo Phục của Hộ Pháp có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục, người phải mặc giáp, đầu đội Kim Khôi toàn bằng Vàng, trên KIM KHÔI CÓ THỂ TAM SƠN, giống như cái chỉa ba ngạnh, chủ nghĩa là Chưởng Quản Tam Thiên bên Tây Phương Cực Lạc. Chơn đi hia, trên chót mủi hia có chữ "PHÁP", ngoài giáp thì choàng mãng bào, thế nào bên tả phải giáp, bên hữu thì mãng. Tay hữu (bên Đạo, nghĩa là bên Thượng Phẩm) cầm GIÁN MA XỬ (thể, lấy Đời chế Đạo) còn tay tả (bên Thế, nghĩa là bên Thượng Sanh) nắm xâu chuỗi "TỪ BI" (thể, lấy Đạo chế Đời) thành ra nửa Đời nửa Đạo. Ngang lưng cột dây Lịnh sắc có ba màu Đạo (thể Chưởng Quản Tam Giáo nơi mình, nắm trọn Thể Pháp và Bí Pháp đặng qui nhứt), cái mối dây lịnh sắc phải ngay chính giữa bụng.

Bộ Tiểu Phục thì toàn bằng hàng vàng (màu Đạo), đầu đội HỖN NGƯƠN MẠO màu vàng, bề cao một tấc ngay trước trán chính giữa có thêu ba Cổ Pháp của Tam Giáo là Bình Bát Vu, cây Phất Chủ, và bộ Xuân Thu, ngay trên ba Cổ Pháp ấy có chữ "PHÁP" chơn đi giày vô ưu màu trắng. Nơi chót mũi có chữ "PHÁP" lưng nịt dây lịnh sắc y như Đại Phục.

Khi ngồi Tòa Tam Giáo, thì phải mặc bộ Tiểu Phục, còn Đại Phục thì chỉ để khi ngự trên ngai mình.

TIẾT 2

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG PHẨM

CHÚ GIẢI: Đạo Phục của Thượng Phẩm cũng có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục thì toàn bằng hàng trắng, ngoài mặc áo lá màu xanh có viền chỉ kim tuyến bạc. Đầu để trần, chơn đi giầy vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ "Đạo". Lưng buộc dây lịnh sắc y như của Hộ Pháp song mối phải thả ngay bên hữu. Tay hữu cầm LONG TU PHIẾN (nghĩa là cây quạt kết đủ 36 lông cò trắng) trên đầu quạt ngay giữa có PHẤT CHỦ, (thể, quạt đưa các chơn hồn vào Tam Thập Lục Thiên, nghĩa là vào Thiên vị) tay tả cầm xâu chuổiTỪ BI, (thể, dâng Đạo vào cho Hộ Pháp).

Bộ Tiểu Phục cũng bằng hàng trắng, lưng cột dây lịnh sắc y như Đại Phục, đầu đội HỖN NGƯƠN MẠO màu trắng, y như của Hộ Pháp, ngay giữa trán có thêu "Long Tu Phiến" ngay trên hình Long Tu Phiến có chữ "Đạo".

Khi đến Tòa Tam Giáo, thì phải mặc bộ Tiểu Phục, còn Đại Phục thì chỉ dùng khi đến ngự trên ngai mình.

TIẾT 3

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG SANH

CHÚ GIẢI: Đạo Phục của Thượng Sanh cũng có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục cũng y như của Thượng Phẩm, đầu bịt "THANH CÂN" nghĩa là: (một bao đảnh xanh), lưng mang DÂY THẦN THÔNG (nghĩa là một đường lụa đỏ) và nịt dây lịnh sắc y như của Hộ Pháp và Thượng Phẩm, song mối phải thả ngay về bên tả. Nơi lưng giắt THƯ HÙNG KIẾM (thể, tạo thế và chuyển thế) tay hữu cầm cây PHẤT CHỦ (thể, đưa Thế vào cho Hộ Pháp) tay tả nắm xâu chuổi "TỪ BI" (thể, dâng Đạo cho Nhơn Sanh), chơn đi giầy vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ "Thế".

Bộ Tiểu Phục cũng y như của Thượng Phẩm, song ngay trước mão chính giữa có thêu Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ, ngay trên hình Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ có chữ "Thế", lưng cột dây lịnh sắc như Đại Phục.

Khi đến Tòa Tam Giáo, thì phải mặc bộ Tiểu Phục, còn Đại Phục thì chỉ khi đến ngự trên ngai mình.

TIẾT 4

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI:

ÐẠO PHỤC CỦA THẬP NHỊ THỜI QUÂN

CHÚ GIẢI: Đạo Phục của Thập Nhị Thời Quân có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục toàn bằng hàng trắng, cổ trịt viền chỉ Kim Tuyến bạc. Đầu đội MÃO QUẠ cũng bằng hàng trắng, lưng nịt dây lịnh sắc theo chi mình mà thả mối, chơn đi giầy vô ưu màu trắng.

Bộ Tiểu Phục cũng toàn hàng trắng. Lưng nịt dây lịnh sắc y như Đại Phục. Đầu đội mão cũng như Tiểu Phục của Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh, tùy theo chi mình mà để Cổ Pháp, chơn đi giầy vô ưu màu trắng.

Khi Hành Chánh thì mặc bộ Tiểu Phục, còn Đại Phục thì khi Đại Lễ. Còn nhiều vị Chơn Quân khác hoặc đã đến rồi hoặc chưa đến, mà Đạo Phục còn để tạm hay là Thầy chưa quyết định, sau sẽ giải rõ.

* **

 

PHẦN BỐN

TIẾT 1: ĐẠO PHỤC CỦA LUẬT SỰ
TIẾT 2: ĐẠO PHỤC CỦA SĨ TẢI
TIẾT 3: ĐẠO PHỤC CỦA TRUYỀN TRẠNG
TIẾT 4: ĐẠO PHỤC CỦA THỪA SỬ
TIẾT 5: ĐẠO PHỤC CỦA GIÁM ĐẠO
TIẾT 6: ĐẠO PHỤC CỦA CẢI TRẠNG
TIẾT 7: ĐẠO PHỤC CỦA CHƯỞNG ẤN
TIẾT 8: ĐẠO PHỤC CỦA TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN

 

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI

BỘ PHÁP CHÁNH

(Trích HIẾN PHÁP HTĐ CHƯƠNG III)

Điều Thứ Năm: - Đạo phục của mỗi phẩm Chức Sắc Hiệp Thiên Đài.

 

TIẾT 1.ĐẠO PHỤC CỦA LUẬT SỰ

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục:

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, hai bên vai áo có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội KHÔI NGUYÊN MẠO, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình, và hai chữ Luật Sự bằng quốc tự.

 

TIẾT 2.ĐẠO PHỤC CỦA SĨ TẢI

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục.

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội KHÔI NGUYÊN MẠO, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình và hai chữ Sĩ Tải bằng quốc tự.

 

TIẾT 3.ĐẠO PHỤC CỦA TRUYỀN TRẠNG

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục.

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội KHÔI NGUYÊN MẠO, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình và hai chữ Truyền Trạng bằng quốc tự.

 

TIẾT 4.ĐẠO PHỤC CỦA THỪA SỬ

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục.

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội KHÔI NGUYÊN MẠO, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình và hai chữ Thừa Sử bằng quốc tự.

 

TIẾT 5.ĐẠO PHỤC CỦA GIÁM ĐẠO

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục.

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội KHÔI NGUYÊN MẠO, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình và hai chữ Giám Đạo bằng quốc tự.

 

TIẾT 6.ĐẠO PHỤC CỦA CẢI TRẠNG

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục.

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO, hai bên mão có dấu hiệu Tam Giáo và Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội KHÔI NGUYÊN MẠO, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cân công bình và hai chữ Cải Trạng bằng quốc tự.

TIẾT 7.ĐẠO PHỤC CỦA CHƯỞNG ẤN

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục.

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có hai tui trắng, chơn mang giày trắng.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có 2 tui trắng, đầu đội HỖN NGƯƠN MẠO, trước mão có thêu Cổ Pháp và hai chữ Chưởng Ấn bằng quốc tự, chơn mang giày trắng.

TIẾT 8.ĐẠO PHỤC CỦA TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN

Có hai bộ: Đại và Tiểu phục.

a) Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có hai tui trắng, chơn mang giày trắng.

b) Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có 2 tui trắng, đầu đội HỖN NGƯƠN MẠO, trước mão có thêu Cổ Pháp và chữ Tiếp Dẫn Đạo Nhơn bằng quốc tự, chơn mang giày trắng.

Điều Thứ Sáu:

 

 * * *

 

 

PHẦN NĂM

 

 

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI  - THẬP NHỊ BẢO QUÂN

 

TIẾT 1

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI:

ÐẠO PHỤC CỦA BẢO VĂN PHÁP QUÂN

CHÚ GIẢI: Bộ Đại Phục của Văn Pháp toàn bằng hàng trắng, đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO (1) như các Chức Sắc nơi Hiệp Thiên Đài, song hai bên ngay chính giữa có kết một bông sen năm cánh, trên mỗi bông thì thêu Thiên Nhãn Thầy ngay đường giữa trước mão cũng kết một bông sen nhưng khỏi thêu Thiên Nhãn. Cả thảy là ba bông sen trên mão.

Lưng ĐAI BẠCH TUYẾT THẦN QUANG bằng hàng trắng, bề dài ba thước ba tấc ba phân; bề ngang ba tấc ba phân ba ly, buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen năm cánh.

Chơn đi giầy vô ưu cũng bằng hàng trắng, trước mũi mỗi chiếc cũng có một bông sen nhỏ hơn một thí.

 (1) Y theo Thánh Giáo ngày 13 Mars 1931 của Lục Nương Diêu Trì cung dạy về mão của Thập Nhị Thời Quân thì cái vòng tròn úp lên đầu đội là "Thế Nhựt Hình" còn hình bán nguyệt của mão là "Thế Nguyệt Tượng". Vậy thì gọi là Nhựt Nguyệt Mạo.

 

TIẾT 2

PHÁP CHÁNH TRUYỀN CHÚ GIẢI: ÐẠO PHỤC CỦA BẢO SANH QUÂN

CHÚ GIẢI: Bộ Đại Phục của Bảo Sanh Quân toàn bằng hàng trắng. Đầu đội NHỰT NGUYỆT MẠO giống như các Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, ngay giữa mão từ ba phân lên bốn phân thêu một Thiên Nhãn; hai bên mão thêu hai Thiên Nhãn nữa, cả thảy là ba.

Vòng theo vành mão cột một sợi dây Tiên Thằng, (bề ngang tám phân, bề dài hai thước) buộc thế nào chừa Thiên Nhãn ngay giữa mão ra, cho hai mối thòng xuống hai bên vai. Lưng đai SONG QUANG THẦN THÔNG, nghĩa là một đường lụa trắng, kết hai bên hông hai vòng vô vi. Chơn đi giầy vô ưu cũng bằng hàng trắng.

 

TIẾT 3

12 BẢO QUÂN LÀ THÀNH PHẦN CỦA HÀN LÂM VIỆN CAO ĐÀI

 

Trong Đạo Cao Đài, Hàn Lâm Viện là một cơ quan đặc biệt nằm ngoài CTĐ và HTĐ, do Đức Chí Tôn lập nên, dưới quyền chưởng quản của Giáo Tông và Hộ Pháp, có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy nền Văn hóa Cao Đài mà Đức Chí Tôn tạo ra cho toàn nhơn loại.

Hàn Lâm Viện Cao Đài gồm 12 Viện sĩ gọi là Thập nhị Bảo Quân, mỗi vị có chức năng chuyên môn riêng biệt đặc sắc, kể ra sau đây:

■ Theo quyển "Lời Phê của Đức Hộ Pháp", trang 25 thì Thập nhị Bảo Quân gồm:

LỜI PHÊ: Toàn thể Bảo Quân là Hàn Lâm Viện , mỗi vị có sở thức sở năng, ấy là điều khác nhau đặc biệt, tỷ như Huyền Linh Quân, nghĩa là Thần linh hồn, khác với Bảo Học Quân thuộc về khoa học hay là thực tế học.

1.     Bảo Huyền Linh Quân.

2.     Bảo Thiên Văn Quân.

3.     Bảo Địa Lý Quân.

4.     Bảo Học Quân.

5.     Bảo Cô Quân.

6.     Bảo Sanh Quân.

7.     Bảo Phong Hóa Quân.

8.     Bảo Văn Pháp Quân.

9.     Bảo Y Quân.

10.                        Bảo Nông Quân.

11.                        Bảo Công Quân.

12.                        Bảo Thương Quân.

Thập nhị Bảo Quân dưới quyền nào của Đạo?

LỜI PHÊ: Riêng cho quyền Thượng Hội, dưới quyền chỉ huy của Giáo Tông và Hộ Pháp.

 Theo quyển "Chánh Trị Đạo" của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, trang 69, Ngài kể Thập nhị Bảo Quân, thay vì số 7 là Phong Hóa Quân thì chỗ đó là Bảo Sĩ Quân. Như vậy có đủ 4 vị Bảo Quân: Sĩ, Nông, Công, Thương.

Phẩm vị Thập nhị Bảo Quân do Đức Chí Tôn hay Quyền thiêng liêng giáng cơ phong thưởng, giống y như Thập nhị Thời Quân HTĐ, chớ không do cầu phong cầu thăng hay công cử như bên Chức sắc CTĐ và CQPT.

Khi chầu lễ Đức Chí Tôn tại Tòa Thánh, chư vị Bảo Quân đứng tại chỗ HTĐ, dưới các bực của chư vị Thời Quân, và đứng sắp hàng phân ra hai bên tả hữu của chư vị Thời Quân. Nếu chỉ có 1 vị Bảo Quân chầu lễ thì vị ấy đứng phía bên Chi Thế, tức là bên phía Đức Thượng Sanh.

 

CGPCT: "Ngoại PCT, dưới quyền Hộ Pháp thì còn Bảo Văn Pháp Quân (Arts et Belles Lettres), trước phong đỡ làm Tiếp Lễ Nhạc Quân, nay đã vào chánh vị đặng chỉnh đốn Lễ Nhạc lại cho hoàn toàn cho tới ngày thành Đạo.

Bảo Sanh Quân (Assistance Publique), Thầy phong đỡ làm Tiếp Y Quân, đặng đợi ngày thành Đạo.

Bảo Học Quân (Enseignement) và nhiều Chức sắc khác nữa Thầy chưa lập. Các vị ấy Hộ Pháp đang chờ đến."

 

MỘT SỐ VỊ BẢO QUÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐỨC CHÍ TÔN ÂN PHONG:

 

* BẢO VĂN PHÁP QUÂN

Ông Cao Quỳnh Diêu,

đắc phong

1930.

* BẢO SANH QUÂN

Bác sĩ Lê Văn Hoạch,

đắc phong

1930.

* BẢO CÔ QUÂN

Luật sư Dương Văn Giáo.

   

* BẢO HỌC  QUÂN

Luật sư Nguyễn Văn Lộc,

đắc phong

1972.

* BẢO Y QUÂN

Bác sĩ Trương Kế An,

(bút hiệu Tuyết Văn Mặc Khách)

đắc phong

1972.

 *BẢO NÔNG QUÂN

Ông Đặng Văn Dắn,

đắc phong

1972.

 

Ghi chú: (1) Trong quyển Chánh trị đạo của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, khi kể về Chức sắc Hàn Lâm Viện Thập nhị Bảo Quân, chỗ "Bảo Phong Hóa Quân" thì thay vào đó là "Bảo Sĩ Quân". Như thế là đủ 4 vị Bảo Quân: Sĩ, Nông, Công, Thương.

 

Phẩm vị Thập nhị Bảo Quân do Đức Chí Tôn hay Quyền thiêng liêng giáng cơ phong thưởng, giống y như Thập nhị Thời Quân HTĐ, chớ không do cầu phong cầu thăng hay công cử như bên Chức sắc CTĐ và CQPT.

Khi chầu lễ Đức Chí Tôn tại Tòa Thánh, chư vị Bảo Quân đứng tại chỗ HTĐ, dưới các bực của chư vị Thời Quân, và đứng sắp hàng phân ra hai bên tả hữu của chư vị Thời Quân. Nếu chỉ có 1 vị Bảo Quân chầu lễ thì vị ấy đứng phía bên Chi Thế, tức là bên phía Đức Thượng Sanh.

 

CGPCT: "Ngoại PCT, dưới quyền Hộ Pháp thì còn Bảo Văn Pháp Quân (Arts et Belles Lettres), trước phong đỡ làm Tiếp Lễ Nhạc Quân, nay đã vào chánh vị đặng chỉnh đốn Lễ Nhạc lại cho hoàn toàn cho tới ngày thành Đạo.

Bảo Sanh Quân (Assistance Publique), Thầy phong đỡ làm Tiếp Y Quân, đặng đợi ngày thành Đạo.Bảo Học Quân (Enseignement) và nhiều Chức sắc khác nữa Thầy chưa lập. Các vị ấy Hộ Pháp đang chờ đến."

 

Trích Thánh giáo trong Đàn cơ Phong Thánh tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 15-11-Tân Hợi (dl 1-1-1972).

Phò loan: Ngài Hiến Pháp và Khai Đạo.

Đức Phạm Hộ Pháp giáng cơ:

Ngài Hiến Đạo bạch: Cầu xin Đức Ngài phong vị chánh thức cho 3 vị Bảo Quân.

Đọc danh sách:

* Trương Kế An: đắc phong Bảo Y Quân.

* Nguyễn Văn Lộc: đắc phong Bảo Học Quân.

* Đặng Văn Dắn: đắc phong Bảo Nông Quân.

Ngài Hiến Đạo bạch: Cầu xin Đức Ngài chỉ giáo về sự đối phẩm và Tiểu phục của chư vị Bảo Quân.

- Đối phẩm Phối Sư. Tiểu phục cũng sửa lại còn một Thiên nhãn như Hộ Đàn.

Ngài Hiến Đạo bạch: Xin Đức Ngài chỉ định chư vị Bảo Quân đứng cúng thế nào?

- Bảo Quân đứng hai bên tả hữu dưới các bực của Hiệp Thiên, như có một thì đứng bên Chi Thế."........

Trích Thánh giáo Đàn cơ tại Giáo Tông Đường đêm 11-Giêng-Nhâm Tý (dl 23-2-1972)

 Phò loan: Ngài Hiến Pháp và Khai Đạo. Hầu đàn: Bảo Đạo, Hiến Đạo.

Đức Phạm Hộ Pháp giáng cơ.

".....................

Ngài Bảo Đạo bạch: Xin Đức Ngài chỉ dạy về phẩm Hiền Nhơn và nhiệm vụ của chư vị Bảo Quân?

- Bần đạo hứa sẽ định sau thì phải chờ một thời gian nữa sẽ giải thích trước mặt các Chức sắc tân thăng và có cả mấy vị Bảo Quân, vì vấn đề nầy liên quan mật thiết với nhiệm vụ của Hiền Nhơn.

Bảo Sanh Quân cũng có công việc từ thiện Phạm Môn.

Bảo Y Quân cũng có nhiệm vụ từ thiện.

Bảo Học Quân thì trùm hết.

Bảo Nông Quân thì vai chánh về lương điền, công nghệ và luôn Công, Thương, nên mới có sự liên hệ với nhau.

CTĐ cũng vậy, vì bên ấy cũng có Học, Y, Nông, v.v...

Tất cả đều là công việc chung của Đạo. Chư Chức sắc cứ tùy nhiệm vụ mà thi hành đúng theo tôn chỉ thì sẽ thành công."

 

Trong một Đàn cơ khác, Đức Cao Thượng Phẩm giáng, ngày 22-12-Kỷ Sửu (dl 8-2-1950), nói chuyện với Ngài Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch, về nhiệm vụ của Bảo Sanh Quân trong Hàn Lâm Viện, trích ra sau đây:

"Bảo Sanh Quân là một phần trọng yếu với danh từ của Đức Chí Tôn đặt để.

Vậy Hiền hữu khá trọn tâm làm thế nào cho được sự hạnh phúc cho dân, thì các Đấng sẽ sẵn sàng ám trợ mỗi việc đều thành công. Vai tuồng của Hiền hữu còn dài, nhơn sanh còn đương mong mỏi thì phải để một chí hướng cao siêu, tầm phương hay làm cho đời thoát khổ và bảo tồn sự sống của nhơn loại. Ấy là sở định trách nhiệm của Hiền hữu đó.

Một điều cần lưu ý là lấy đạo đức thắng hung bạo, dùng nghĩa nhân qui phục lòng dân, ấy là phương lập quốc trường cửu đó."

 

                                                              * * *

                                                            
                                                              PHẦN SÁU

 

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI

HỘI THÁNH PHƯỚC THIỆN

TỔ CHỨC CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN

 

 

 

 

THỜI QUÂN

CHI ÐẠO HTÐ
Thống Quản CQPT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NỮ PHÁI

PHƯỚC THIỆN

CHƠN NHƠN 
Chưởng quản

 

 

NAM PHÁI PHƯỚC THIỆN

CHƠN NHƠN 
Chưởng quản

 

 

 

 

 

 

 

 

ÐỆ NHỨT 
Phó

Chưởng quản

 

ÐỆ NHỊ 
Phó

Chưởng quản

 

ÐỆ NHỨT 
Phó

Chưởng quản

 

ÐỆ NHỊ 
Phó

Chưởng quản

 

 

 

 

 

 

 

 

Cửu Viện Phước Thiện Nữ phái

Hòa | Lại | Lễ | Học | Y  | Nông |

Hộ | Lương | Công

 

 

 

Cửu Viện Phước Thiện Nam phái

Hòa | Lại | Lễ | Học | Y  | Nông |

Hộ | Lương | Công

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRẤN ÐẠO PHƯỚC THIỆN
ÐẠO NHƠN
 
Nữ Quản Trấn

 

 

 

TRẤN ÐẠO PHƯỚC THIỆN
ÐẠO NHƠN 
Quản Trấn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÂU ÐẠO PHƯỚC THIỆN
CHÍ THIỆN 
Nữ Quản Châu

 

 

 

CHÂU ÐẠO PHƯỚC THIỆN
CHÍ THIỆN 
Quản Châu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TỘC ÐẠO PHƯỚC THIỆN
GIÁO THIỆN 
Nữ Quản Tộc

 

 

 

TỘC ÐẠO PHƯỚC THIỆN
GIÁO THIỆN 
Quản Tộc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀN CAI QUẢN
HÀNH THIỆN 
Nữ Chủ Trưởng

 

 

 

BÀN CAI QUẢN
HÀNH THIỆN 
Chủ Trưởng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHỦ SỞ 
HÀNH THIỆN, THÍNH THIỆN 
TÂN DÂN,

MINH ÐỨC

ÐẠO SỞ

 

 

 

CHỦ SỞ 
HÀNH THIỆN, THÍNH THIỆN 
TÂN DÂN,

MINH ÐỨC,

ÐẠO SỞ

 

 

Cơ Quan Phước Thiện (CQPT) là một tổ chức của Đạo Cao Đài, có nhiệm vụ làm những việc phước và những việc thiện để giúp ích những người đang bị khổ đau trong cuộc sống.

"Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát, ít oi, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn."

"Chơn truyền của PT là thay thế cho Chí Tôn và Phật Mẫu thực hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là: Làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không vợ không chồng, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành.

Có vậy mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ của Đức Chí Tôn để nơi mặt thế nầy." 

(Thánh giáo của Đức Cao Thượng Phẩm tại Qui Thiện Đường ngày 26-10-Canh Dần 1950)

"Phương pháp ấy rất đơn giản và cũng rất dễ làm, nếu ai có thiện tâm thương yêu nhơn loại, dầu cho kẻ yếu hay tật nguyền cũng có thể làm được, đừng nói chi kẻ trí thức là phải thực hành chương trình xã hội thuần tuý nầy.

Phải cho cơm những kẻ thiếu cơm, cho thuốc những kẻ bịnh thiếu thuốc, cho hàn những kẻ không hàn chôn, chở che những kẻ bị đàn áp bất công, binh vực những kẻ bị chúng hiếp, an ủi những kẻ buồn rầu, khuyến khích những kẻ toan thối bước, độ những kẻ khổ tâm, lau nước mắt những kẻ cô độc đang khóc trước mặt mình.

Tóm lại là phải tự hiến mảnh thân làm con tế vật cho Đức Chí Tôn để làm tôi đòi cho con cái của Người sử dụng, trong việc đem hạnh phúc đến cho họ, để thực hành trọn vẹn cơ quan giải khổ của Đại Từ Phụ." 

             ( Thánh giáo của Bát Nương tại Qui Thiện Đường ngày 26-10-Canh Dần 1950).

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP

 Tiền thân của CQPT là Phạm Môn:

Đến năm Mậu Dần (1938), có cuộc Đại Hội Nhơn Sanh, Cơ quan Phước Thiện mới được chính thức khai sanh do Đạo Nghị Định số 48/PT ngày 19-10-Mậu Dần (dl 10-12-1938), tức là Quyền Vạn Linh công nhận. Đạo Nghị Định nầy do Đức Hộ Pháp và Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch đồng ký tên.

Nguyên văn Đạo Nghị Định như sau:

 

 Văn phòng                                    ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ

HỘ PHÁP                                                 (Thập tam niên)

Số:48/PT                                          TÒA THÁNH TÂY NINH

ĐẠO NGHỊ ĐỊNH

Chiếu y Pháp Chánh Truyền ban quyền hành cho Giáo Tông và Hộ Pháp,

Chiếu theo Đạo Nghị Định số 4/60 phân định quyền hành cho CTĐ và HTĐ ngày 4-11-Ất Hợi (dl 29-11-1935),

Nghĩ vì Hội Thánh duy có một mà quyền đạo có bốn phương là: Hành Chánh, Tòa Đạo, Phước Thiện và Phổ Tế.

Nghĩ vì CQPT cốt để mở đường Thánh đức cho toàn sanh chúng có đủ phương thế nhập vào Thánh thể, người ngoại giáo có thể nhờ nơi cửa PT mà hiệp một cùng Hội Thánh, nên:

NGHỊ ĐỊNH:

 

Điều thứ nhứt: Hội Thánh sẽ tuyển chọn trong hàng Chức sắc Thiên phong đủ hạnh đức, đủ công nghiệp đặng chiết ra lo khai hóa, giáo hóa cả CQPT đặng cứu thế độ đời.

Điều thứ nhì: Chức sắc PT chú trọng nhập vào Thập nhị Đẳng cấp thiêng liêng, kể ra dưới đây:

 

1. MINH ĐỨC

2. TÂN DÂN

3. THÍNH THIỆN

4. HÀNH THIỆN

5. GIÁO THIỆN

6. CHÍ THIỆN

7. ĐẠO NHƠN

8. CHƠN NHƠN

9. HIỀN NHƠN

10. THÁNH NHƠN

11. TIÊN TỬ

12. PHẬT TỬ.

Điều thứ ba: Những người ngoại giáo hay chư vị đạo nhơn các nền tôn giáo khác, muốn nhập vào cửa Đạo, thì Hội Thánh sẽ do nơi công nghiệp PT của họ mà định vị, tùy theo công nghiệp nhỏ lớn đặng định phẩm từ bực Minh Đức tới Chơn Nhơn mà thôi.

Còn bậc Hiền Nhơn đổ lên thì giúp Hội Thánh giữ gìn chơn pháp, nên các phẩm vị nầy phải có cơ bút giáng phong mới đặng.

Điều thứ tư: Cả CQPT đều giao cho HTĐ chưởng quản.

Điều thứ năm: Chức sắc PT không có đạo phục riêng, duy đặng Hội Thánh ân tứ Lịnh bài và Sắc Lịnh, kể ra sau nầy:

v Minh Đức và Tân Dân, duy có lãnh Cấp bằng, mặc áo đạo phục trắng trơn mà thôi, không có dấu hiệu chi ngoại thể.

v Bậc Chức sắc Thiên phong hay là Chức việc thì mặc đồ đạo phục của mình, những người ngoại giáo thì phải mặc khăn đen áo dài theo quốc phục.

v Thính Thiện, Hành Thiện và Giáo Thiện thì lãnh Sắc Lịnh phái Ngọc, có Lịnh bài của mỗi phẩm vị ấy gắn giữa dây Sắc Lịnh ngay ngực.

v Chí Thiện, Đạo Nhơn và Chơn Nhơn mang dây Sắc Lịnh phái Thượng, có gắn Lịnh bài mỗi phẩm vị của họ ngay ngực.

v Hiền Nhơn, Thánh Nhơn và Tiên Tử thì mang dây Sắc Lịnh phái Thái, có gắn Lịnh bài mỗi phẩm vị của họ ngay ngực.

v Phẩm Phật Tử thì do nơi cơ bút của Chí Tôn định và mặc sắc phục chi thì tự nơi Người định đoạt.

Điều thứ sáu: Sắc Lịnh và Lịnh bài của PT duy mặc nơi Thánh Thất và Tòa Thánh để chầu lễ Đức Chí Tôn mà thôi, không đặng phép dùng theo đồ thường thế.

Điều thứ bảy: Cả Hội Thánh CTĐ và HTĐ tùy phận sự mình thi hành Đạo Nghị Định nầy.

 

Lập tại Tòa Thánh, ngày 19 tháng 10 năm Mậu Dần.(dl 10-12-1938)

GIÁO TÔNG

 

LÝ THÁI BẠCH

HỘ PHÁP

Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài

PHẠM CÔNG TẮC

 

Vâng lịnh ban hành cho toàn Phước Thiện.

KHAI PHÁP HTĐ

Chưởng Quản Phước Thiện

TRẦN DUY NGHĨA

                       

                                        PHẦN BẢY

 

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI

BAN THẾ ĐẠO

 

TIẾT 1: QUY ĐIỀU BAN THẾ ÐẠO

THÀNH LẬP

Chiếu theo Thánh Giáo Đức LÝ GIÁO TÔNG ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ ngày mồng 3 tháng Chạp năm Quý Tỵ (1953) và Thánh Giáo Đức Hộ Pháp ngày mồng 9 tháng 2 năm Ất Tỵ (1965).

Quy Điều đã được tu chỉnh do HỘI THÁNH HIỆP THIÊN ĐÀI theo Vi bằng số 10/VB ngày mùng 6 tháng 6 năm Kỷ Dậu (DL ngày 19.7.1969) và được Đức Hộ Pháp phê chuẩn do THÁNH GIÁO đêm mùng 4 tháng 7 năm Kỷ Dậu (DL: 16.8.1969.

Thể theo tinh thần Thánh Giáo của Đức LÝ GIÁO TÔNG đêm mùng 3 tháng 12 năm Quý Tỵ (1953) và theo tôn chỉ của ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ, Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh thành lập BAN THẾ ÐẠO cốt yếu mở rộng trường công quả tiếp đón những bậc nhân tài văn võ có khả năng phụng sự cho Đạo mà không thể phế Đời hành Đạo.

BAN THẾ ÐẠO tức là cơ quan thuộc về phần Đời bắt nguồn từ cửa Đạo - phát xuất làm dây nối liền cho Đạo Đời tương đắc tương liên, ngõ hầu tạo lập một đời sống thanh bình cho nhơn loại trong thời chuyển thế.

NHIỆM VỤ VÀ PHẨM TRẬT

Chức Sắc trong Ban Thế Đạo có nhiệm vụ độ ĐỜI nâng ÐẠO và hành sự trực tiếp với Cửu Trùng Đài về mặt chuyên môn trong Xã Hội, và trực thuộc Hiệp Thiên Đài "CHI THẾ" về mặt Chơn Truyền và Luật Pháp. BAN THẾ ÐẠO gồm có 4 phẩm:

HIỀN TÀI

QUỐC SĨ

ÐẠI PHU

PHU TỬ

Những vị nào muốn được tuyển trạch vào Ban Thế Đạo phải có 2 Vị Chức Sắc trong Đạo tiến cử và phải nhập môn cầu Đạo, khi được Hội Thánh chấp nhận vào hàng phẩm kể trên tùy địa vị ngoài Đời của đương sự.

*Phương thức chọn lọc và phong vị:

 a) - Hàng phẩm Hiền Tài do Hội Thánh Hiệp Thiên Đài chọn lọc và tấn phong (1).

b) - Các hàng phẩm QUỐC SĨ, ÐẠI PHU và PHU TỬ do Hội Thánh Hiệp Thiên Đài tuyển chọn và dâng lên quyền Thiêng Liêng phán định.

 

TIẾT 2: LỄ PHỤC BAN THẾ ĐẠO

Lễ Phục HIỀN TÀI.- Áo tràng trắng, đầu bịt khăn đóng đen, mang dấu hiệu Cổ Pháp Giáo Tông nơi ngực, thêm hai chữ "Hiền Tài" bằng Quốc ngữ, trong giờ chầu Lễ giữ địa vị trên Phẩm Lễ Sanh dưới Giáo Hữu.

Lễ Phục QUỐC SĨ.- Y như của Hiền Tài, Cổ Pháp thêm hai chữ "Quốc Sĩ", khi chầu Lễ giữ địa vị trên phẩm Giáo Hữu dưới Giáo Sư.

Lễ Phục ÐẠI PHU.- Y như của Quốc Sĩ, nhưng đầu bịt khăn đóng đen chín lớp chữ Nhứt, Cổ Pháp thêm hai chữ "Đại Phu", khi chầu Lễ giữ địa vị trên Phẩm Giáo Sư dưới Phối Sư.

Lễ Phục PHU TỬ.- Y như Đại Phu, Cổ Pháp thêm hai chữ "Phu Tử", khi chầu Lễ giữ địa vị trên Phẩm Chánh Phối Sư dưới Đầu Sư.

Lễ Phục của Nữ Phái y như Nam Phái, nhưng để đầu trần.

Về Thế Phục thì tùy ý, nhưng được mang Phù hiệu theo đẳng cấp nơi ngực bên trái.

Chức Sắc Ban Thế Đạo khi lãnh nhiệm vụ đặc biệt của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và với sự chấp thuận của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài, được mang Trường Y (06) sáu nút như tiểu phục Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, trong thời gian thi hành nhiệm vụ được giao phó.

(Trích CHƯƠNG I &  III NỘI LUẬT VÀ QUI ĐIỀU BAN THẾ ĐẠO)

 

* * *

                                                                 

PHỤ LỤC

 

CÁC VĂN KIỆN LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO PHỤC VÀ NGHI LỄ


Văn kiện 1: Qui định cách lễ lạy và tang lễ (12.10.1938)
Văn kiện 2: Qui định chức sắc CTĐ mặc trường y 9 nút (15.1.1964)
Văn kiện 3: Qui định cách bắt Ấn Tý (2.3.1971)
Văn kiện 4: Qui định tang lễ cho phẩm Hiền Tài (18.8.1971)
Văn kiện 5: Bãi bỏ trường y 12 nút (theo yêu cầu của một số Chức sắc Phước Thiện).

 

VĂN KIỆN 1

Văn phòng                                                       ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

NỘI CHÁNH                                                            (Thập nhị niên)

                                                                       TÒA THÁNH TÂY NINH

CHÂU TRI SỐ 61

QUYỀN THÁI, THƯỢNG VÀ NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ

Gửi cho Chư Chức sắcThiên phong, Chư Chức việc và Đạo hữu nam nữ.

Kính Chư Hiền Huynh, Hiền Hữu, Hiền Tỷ, Hiền Muội.

Từ ngày Đức Chí Tôn khai Đạo, đã 12 năm rồi, mà Chư Chức sắc, Chức việc, và Đạo hữu chưa hiểu cách lạy ra sao. Nên HộiThánh nhắc lại lần nữa, trong Tân Kinh trang số 5, cònThánh Ngôn HiệpTuyển trang số 12 có cắt nghĩa rõ ràng tại không chịu hiểu? Mỗi khi Đàn lệ, ngày vía của các Đấng hay là tuần tự, có nhiều vị không biết lạy là chi?

Buộc lòng Hội Thánh phải nhắc lại và chỉ rõ các khoản sau:

KHOẢN CHỮ A

1.Lạy Thầy ba lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm :

                Nam mô CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

2.Lạy Phật, lạyTiên, lạyThánh: ba lạy, mỗi lạy 3 gật (1)

Mỗi bài Kinh đều có chỉ câu niệm rồi không cần nhắc lại; còn xá bàn thờ Hộ Pháp là tại Tòa Thánh và các Thánh Thất, còn các nhà tư có tuần tự có vọng bàn thờ Hộ Pháp mới xá..

Còn nơi không có bàn thờ Hộ Pháp thì không buộc phải xá; có khi nhà tư hoặc lễ vía hiến các Đấng cũng xá, đó là sái phép.

3. Từ Đầu Sư đổ lên có qui vị, hoặc tuần tự thì lạy ba lạy, mỗi lạy 3 gật;mỗi gật niệm danh hiệu và tước phẩm vị ấy.

4.Từ Chánh Phối Sư đổ xuống LễSanh: lạy ba lạy, không có gật.

5. Chánh Trị Sự đổ xuống Tín đồ: lạy 4 lạy.

6. Còn lạy người thì lạy 2 lạy.

Nhớ lấy dấu Phật, Pháp, Tăng duy có một mình ĐứcChí Tôn mà thôi, còn Thần, Thánh, Tiên, Phật thì không có lấydấu chi hết.

KHOẢN CHỮ B

1.      Về việc tuần tự, người nào được 10 ngày chay sấp lên mới được thọ bửu pháp, nghĩa là: có làm phép xác, thì được dùng Tân Kinh từ nhứt tuần cho đến Đại Tường; còn dưới 10 ngày chay thì không được làm phép xác, không được tuần tự y theo Tân Kinh, chỉ được CẦU SIÊU BẠT TIẾN, nghĩa là tụng bài”Đầu vọng bái Tây Phương Phật tổ…”và tụng Di Lạc Chơn Kinh mà thôi.

Hai hạng này được thượng sớ cầu siêu cho vong linh.

2.      Con nít từ ba tuổi sấp lên được giữ 10 ngày hoặc chay trường cũng được làm phép xác y theo Tân Kinh. Tuy còn nhỏ tuổi mặcdầu, mà Chơn linh trong sạch, lại biết tùng theo Luật pháp của Đức Chí Tôn, nên được hưởng ân huệ ấy.

3.      Trong nhà con – kiến có Đạo, có thờ Đức Chí Tôn, mà cha mẹ hoặc một người con nào không có nhập môn, rủi có qui vị thì Đạo hữu được đến CẦU SIÊU BẠT TIẾN, chứ không làm theo Tân Kinh và không thượng sớ được, vì không có chưn trong nền Đạo và không phải môn đệ của Đức Chí Tôn, cũng không được đi thuyền Bát Nhã.

4.      Việc Quan, Hôn, Tang, Tế nhứt nhứt đều dùng toàn đồ chay; nếu nơi nào còn làm nửa chay nửa mặn, Chức sắc, Chức việc không được dự đến, mà còn phạt chủ nhà là khác.

Châu tri này phải truyền bá cho toàn Đạo nam nữ rõ, sau khỏi điều than van oán trách.

Lập tại TòaThánh, ngày 18 tháng 8 Mậu Dần

                                                         (Le 12 Octobre 1938)

Q.Thái Chánh Phối Sư            Q.Thượng Chánh Phối Sư              Q.Ngọc Chánh Phối Sư

GS THÁI PHẤN THANH    GS THƯỢNG CHỮ THANH      PS NGỌC TRỌNG THANH

Phê chuẩn

HỘ PHÁP

CHƯỞNG QUẢN NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI CỬU TRÙNG VÀ HIỆP THIÊN

PHẠM CÔNG TẮC

 

(1)   Bậc Thánh như Đức Khổng Tử là Tam Giáo chủ và Tam Trấn mới lạy 9 gật; còn các vị Thánh khác thì lạycó 3 lạy

 

VĂN KIỆN 2

 

NỘI CHÁNH                                                              ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng                                                                    (Tam thập cửu niên)

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ                                        TÒA THÁNH TÂY NINH

Số: 5/NCPS/VP

 

THÁI, THƯỢNG VÀ NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ

Kính gửi toàn thể Chư Chức sắc

 

Kính Chư Hiền Huynh, Hiền Hữu,

Từ lâu, Hội Thánh đã qui định mỗi Chức sắc đều phải có một bộ Đạo phục (áo chín nút và khăn đóng đen) để mặc khi hội nhóm, cúng tế, cầu siêu, đưa đám xác hoặc khi đi giao thiệp với chánh quyền; hầu để phân biệt Chức sắc hay Đạo hữu, lại cũng giữ được vẽ đạo đức trang nghiêm.

Chiếu vi bằng số /VB phiên nhóm ngày 24 tháng 11 năm Quí Mão (dl .1.1064) tại văn phòng Ngọc Chánh Phối Sư, toàn hội đồng quyết nghị xin HộiThánh raThông tri nhắc lại cho toàn thể Chức sắc ở Tòa Thánh cũng như đang hành đạo tại địa phương phải mặc Đạo phục và bịt khăn đen trong các trường hợp sau đây:

a)      Trong các phiên hội nhóm.

b)      Khi đi dự các cuộc lễ.

c)      Khi đi giao thiệp với Quyền đời, cùng các cuộc lễ tiếp rước.

d)     Khi có đám xác từ phẩm Giáo hữu trở lên, lúc cầu siêu cũng như lúc đi đưa đám.

Còn trong khi làm việc tại văn phòng thì được mặc áo dài trắng như thường lệ.

Lại Viện lãnh ban hành Thông tri này cho toàn thể Chức sắc tuân hành.

Nay kính

 

                           Tòa Thánh, ngày 1 tháng Chạp Quí Mão (dl 15 Janvier 1964).

 

THÁI CHÁNH PHỐI SƯ        THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ       NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ

 

THÁI BỘ THANH                  THƯỢNG TƯỚC THANH            NGỌC NON THANH

(Ký tên và đóng dấu)                  (Ký tên và đóng dấu)                            (Ký tên và đóng dấu)

 


VĂN KIỆN 3

 

CỬU TRÙNG ĐÀI                                        ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng                                                           (Tứ thập lục niên)

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ                                 TÒA THÁNH TÂY NINH

Số5-NCPS/TT

THÔNG TRI

 

HỘI THÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI NAM NỮ

Kính gửi Toàn thể Chức sắc Thiên Phong, chư Chức Việc và Bổn Đạo nam, nữ

NAM VÀ TRUNG TÔNG ĐẠO

 

Kính chư Hiền Huynh, Hiền Hữu, Hiền Tỷ, Hiền Muội,

Do phúc trình số 77PT, ngày 13 tháng Giêng Tân Hợi (dl 8.2.71) của HỘ ĐÀN PHÁP QUÂN tường trình có phần đông Chức sắc, Chức việc và Bổn Đạo, khi vào ĐềnThánh hiến lễ Đức Chí Tôn, không giữ đúng theo Luật Đạo như sau:

-          Bắt ẤN TÝ không trúng, có người ngón tay mặt gát ngang  qua  bàn tay trái, có người thọc sâu trong lòng bàn tay trái; như vậy là bấm không đúng chỗ như trong Kinh đã chỉ dẫn.

-          Khi bắt Ấn Tý không để trên ngực lại bỏ xuôi xuống chân và khi lạy không đưa tay khỏi đầu. Khi NHẠC TẤU QUÂN THIÊN đứng không yên lại còn nói chuyện làm mất vẻ tôn nghiêm trong thời cúng thất lễ với Đức Chí Tôn.

Sau khi cứu xét tờ tường trình nói trên của HỘ ĐÀN PHÁP QUÂN, HỘI THÁNH nhận thấy việc bắt ẤN TÝ trọng hệ giữ THỂ PHÁP VÀ BÍ PHÁP cho người hành lễ. Hưởng mầu nhiệm  cùng chăng là do ấn chứng đúng PHÁP; bởi cớ nên ĐỨC CHÍ TÔN có dạy trong Thánh Ngôn và Hội Thánh cũng  đã có ấn định rành rẽ trong Kinh-lễ.

Để nghiêm chỉnh giữ đúng ẤN PHÁP nhứt luật và sự tôn nghiêm trong giờ hành lễ hầu tránh thất lễ với Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thiêng liêng nên HỘI THÁNH quyết định triệt để thi hành các khoản sau đây:

1.Phần bắt ẤN cúng Thầy phải giữ đúng theo lời dạy của Đức Chí Tôn và Hội Thánh, nghĩa là ngón tay cái trái bấm vào ẤN TÝ rồi nắm lại; bàn tay mặt áp ngoài, ngón cái tay mặt bấm vào ẤN DẦN chớ không được gát ngang qua ngón trỏ bàn tay trái hoặc thọc sâu bên trong lòng bàn tay trái là trái Pháp. Bởi Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần; đó là Bí Pháp của Đức Chí Tôn vậy

2.Khi bắt Ấn Tý luôn luôn phải để ngay ngực tức là để tại Tâm, không được để xuôi theo chân, hay rún và khi lạy phải đưa tay lên chí trán, chẳng nên đưa khỏi đầu hoặc thấp hơn.

3.Trong khi còn đứng NHẠC TẤU QUÂN THIÊN thì phải giữ nghiêm trang yên lặng ngó ngay THIÊN NHÃN ở Bát Quái Đài tịnh tâm tưởng niệm cung nghinh ĐỨC CHÍ TÔN. Không được nói chuyện, hoặc ngó qua, ngó lại để tỏ lòng tôn kính tránh thất lễ vì Đức Chí Tôn có dạy nơi Thánh Ngôn: “như Đàn nội chẳng nghiêm, THẦY không giáng”

Ước mong Chư Chức Sắc, Chức Việc và Bổn Đạo nam, nữ lưu tâm thực hành các điều khuyên nhắc trên đây, chẳng những giúp cho mình được hưởng nhiệm mầu của Ơn Trên bố hóa mà còn gìn nghiêm luật của nền Đại Đạo để khỏi thất Pháp.

Q.THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN ban hànhThông tri này cho toàn thể Chức Sắc, Chức Việc và Bổn Đạo tuân hành nhứt luật.

Nay kính,

 

TÒA THÁNH, ngày 6 tháng 2 nămTân Hợi (dl 2/3/1971)

 

THÁI CHÁNH PHỐI SƯ    Q.THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ   NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ   

 

THÁI BỘ THANH                       THƯỢNG TỬNG THANH             NGỌC NHƯỢN THANH

 

XL T.V. VP NỮ CHÁNH PHỐI SƯ

 

PS HƯƠNG NGỘ

 

Phê kiến

 

                         ĐẦU SƯ                                                                  NỮ ĐẦU SƯ

   CHƯỞNG QUẢN CTĐ NAM PHÁI                          CHƯỞNG QUẢN CTĐ NỮ PHÁI  

                                

THƯỢNG SÁNG THANH                                                             HƯƠNG HIẾU

 

 

Vâng lịnh ban hành

                        Nội chánh, ngày 6 tháng 2 năm Tân Hợi (dl 2/3/1971)                                                                                            

 

Q. THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN

 

GIÁO SƯ NGỌC TỊNH THANH


 

 

VĂN KIỆN 4

 

CỬU TRÙNG ĐÀI                                        ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn phòng                                                           (Tứ thập lục niên)

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ                                 TÒA THÁNH TÂY NINH

Số14-NCPS/TT                    

THÔNG TRI

HỘI THÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI NAM NỮ

Kính gửi:KhâmTrấn, KhâmThành, Khâm Châu, Đầu Phận, Đầu Tộc Đạo và ChứcViệc, Bàn Tri Sự

NAM VÀ TRUNG TÔNG ĐẠO

Kính chư HiềnHữu,

Chiếu vi bằng số 6VB phiên nhóm thâu họp Hội Thánh Lưỡng Đài HIỆP THIÊN, CỬU TRÙNG VÀ PHƯỚC THIỆN nam, nữ tại Giáo Tông Đường ngày 7 tháng 3 Tân Hợi (dl 2/4/1971) dưới quyền chủ tọa của ĐỨC THƯỢNG SANH CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ĐÀI nơi khoản 3, quyết nghị hai điều về việc đài thọ cấp tang phẩm Hiền Tài Ban Thế Đạo khi qui vị như sau:

            A.Chư vị  Hiền Tài đã thật sự hiến thân PHẾ ĐỜI HÀNH ĐẠO có lãnh phận sự do Hội Thánh bổ dụng, khi qui vị Hội Thánh mới đài thọ về phần cấp tang; còn vị nào mãi lo việc đời không HIẾN THÂN HÀNH ĐẠO thì phần tổn phí về cuộc tống táng do gia đình người qui vị đài thọ.

            B.Ngoài ra, vị Hiền Tài nào có ăn chay 10 ngày/1tháng do tờ chứng nhận của Bàn Tri Sự nơi đương sự cư ngụ thì khi qui vị mới được Hội Thánh cho làm lễ theo phẩm LỄ SANH (cúng tế, cầu siêu, chèo hầu tại Khách Đình; an táng có bàn đưa 1 lọng và 2 Lễ Sĩ hầu tới huyệt). Còn vị nào không có ăn chay thì khi qui vị chỉ HÀNH LỄ BẠT TIẾN mà thôi (không có chèo hầu, không có bàn đưa 1 lọng và không có Lễ Sĩ hầu).

Để thi hành theo Vi bằng chiếu thượng, chư Hiền Hữu cần lưu ý và nhắc nhở

Chức Việc Bàn Tri Sự đương quyền hiểu biết thực hành khi gặp trường hợp nói trên thuộc phạm vi hành sự của các cấp Hành Chánh Đạo địa phương cho châu đáo.

Q.THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN thi hànhvà ban hànhThông tri này đến các nơi rõ biết..

Nay kính,

                                 TÒA THÁNH, ngày28 tháng 6 nămTân Hợi (dl 18/8/1971)

THÁI CHÁNH PHỐI SƯ     Q.THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ      NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ   

THÁI BỘ THANH                       THƯỢNG TỬNG THANH             NGỌC NHƯỢN THANH

 

Phê kiến

ĐẦU SƯ CHƯỞNG QUẢN CTĐ NAM PHÁI

THƯỢNG SÁNG THANH

 

Vâng lịnh ban hành

Nội chánh, ngày28 tháng 6 nămTân Hợi (dl 18/8/1971)

Q. THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN

GIÁO SƯ  NGỌC TỊNH THANH

 

VĂN KIỆN 5

Văn phòng                                                          ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

CHƯỞNG QUẢN                                                             (Ngũ thập niên)                                  

HIỆP THIÊN ĐÀI                                                   TÒA THÁNH TÂY NINH

Số 40/CQ-HTĐ                                                       

HIẾN PHÁP CHƯỞNG QUẢN  HIỆP THIÊN ĐÀI

Kính gửi Ngài HIẾN ĐẠO THỐNG QUẢN PHƯỚC THIỆN.

 

Kính Hiền Huynh,

Hiền Huynh chuyển trình văn thư số 1380/CQ  ngày 8 tháng Giêng Ất Mão (18.2.1975) của HIỀN NHƠN CHƯỞNG QUẢN PHƯỚC THIỆN đệ  thỉnh nguyện của Chức sắc Phước Thiện xin mặc TRƯỜNG Y 12 NÚT.

Tôi xin trích lục về khoản Sắc phục của  Chức sắc Phước Thiện đã qui định trong NỘI LUẬT PHƯỚC THIỆN do HỘI THÁNH HTĐ chấp thuận và ĐỨC THƯỢNG SANH ban hành ngày 23 tháng 7 Bính Ngọ (07/09/1966) như sau:

………….

B.SẮC PHỤC

            1.Sắc phục đã được ĐỨC HỘ PHÁP chỉ bảo rồi thì tuân y; nghĩa là áo tràng trắng, khăn đen hay khăn trắng khi chầu lễ cúng Tiểu Đàn hay Đại Đàn thì mang giây băng có gắn phù hiệu; khi đi đường hay khi làm việc thì không mang giây băng, nhưng được phép mang phù hiệu.

            2.Bãi bỏ áo 12 nút.

Xin Hiền Huynh hồi đáp cho Chức sắc Phước Thiện rõ biết để thi hành.

Nay kính,

                               Tòa Thánh, ngày 14 tháng Giêng Ất Mão (dl 24.2.1975)

                                                                         HIẾN PHÁP

                                                                             (ấn ký)

                                                                  TRƯƠNG HỮU ĐỨC

 

SAO Y BẢN CHÁNH 

 

Kính gửi Hiền Hữu HIỀN NHƠN CHƯỞNG QUẢN PHƯỚC THIỆN

Ra lịnh thi hành Thánh Thơ của Ngài Hiến Pháp CHƯỞNG QUẢN  HIỆP THIÊN ĐÀI

Tòa Thánh, ngày 25 tháng Giêng Ất Mão (7.3.1975)

HIẾN ĐẠO HTĐ  PHẠM VĂN TƯƠI

SỐ 84/HĐ

PHỤ

I.  Hiền Hữu giải thích cho Chức sắc biết khi chầu lễ cúng Đàn, Chức sắc mặc áo tràng cổ trịch, mang dây băng có gắng phù hiệu (thứ tròn) khác hơn phù hiệu mang đi đường hay làm việc. bản chánh không có danh từ khuê bài.

II.    Không dùng Đạo phục 12 nút.

 

Ngày 10 tháng 3 năm 1975

HIẾN ĐẠO (Ấn ký)

Số 1777/CQ-SL

SAO Y NGUYÊN VĂN

Kính gửi: Quí Hiền Huynh THƯỢNG THỐNG CỬU VIỆN PHƯỚC THIỆN tường trình.

THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN thông truyền toàn thể Chức sắc thuộc thẩm quyền nơi các địa phương tuân hành thượng lịnh.

Không còn dùng Đạo phục 12 nút nữa.

                                                                                                            

                                                                      Ngày 29 tháng 1 năm Ất Mão (dl 11.3.1975)

                                                                               CHƯỞNG QUẢN PHƯỚC THIỆN

                                                                                  HIỀN NHƠN LÊ VĂN TRUNG

                                                                                              (Ký tên, đóng dấu)

 

 

 

CHUNG

 ______________________________________________

 

NỘI DUNG

 

LỜI TỰA

 PHẦN MỘT

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI NAM PHÁI

TIẾT 1: ÐẠO PHỤC GIÁO TÔNG
TIẾT2: ÐẠO PHỤC CHƯỞNG PHÁP
TIẾT3: ÐẠO PHỤC ĐẦU SƯ
TIẾT4: ÐẠO PHỤC CHÁNH PHỐI SƯ & PHỐI SƯ
TIẾT5: ÐẠO PHỤC GIÁO SƯ
TIẾT6: ÐẠO PHỤC GIÁO HỮU
TIẾT7: ÐẠO PHỤC LỄ SANH
TIẾT8: ÐẠO PHỤC CHÁNH TRỊ SỰ
TIẾT9: ÐẠO PHỤC PHÓ TRỊ SỰ
TIẾT10: ÐẠO PHỤC THÔNG SỰ
 

PHẦN HAI

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC CỬU TRÙNG ĐÀI NỮ PHÁI

TIẾT 1: THÁNH NGÔN CỦA GIÁO TÔNG LÝ THÁI BẠCH
TIẾT2: ĐẠO PHỤC ĐẦU SƯ
TIẾT3: ĐẠO PHỤC CHÁNH PHỐI SƯ VÀ PHỐI SƯ
TIẾT4: ĐẠO PHỤC GIÁO SƯ
TIẾT5: ĐẠO PHỤC GIÁO HỮU
TIẾT6: ĐẠO PHỤC LỄ SANH
TIẾT7: ĐẠO PHỤC CHÁNH TRỊ SỰ
TIẾT8: ĐẠO PHỤC PHÓ TRỊ SỰ
TIẾT9: ĐẠO PHỤC THÔNG SỰ 

PHẦN BA

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI CẤP CAO

TIẾT 1: ÐẠO PHỤC CỦA HỘ PHÁP
TIẾT 2: ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG PHẨM
TIẾT 3: ÐẠO PHỤC CỦA THƯỢNG SANH
TIẾT 4: ÐẠO PHỤC CỦA THẬP NHỊ THỜI QUÂN
 

PHẦN BỐN

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI -BỘ PHÁP CHÁNH

TIẾT 1: ĐẠO PHỤC CỦA LUẬT SỰ
TIẾT 2: ĐẠO PHỤC CỦA SĨ TẢI
TIẾT 3: ĐẠO PHỤC CỦA TRUYỀN TRẠNG
TIẾT 4: ĐẠO PHỤC CỦA THỪA SỬ
TIẾT 5: ĐẠO PHỤC CỦA GIÁM ĐẠO
TIẾT 6: ĐẠO PHỤC CỦA CẢI TRẠNG
TIẾT 7: ĐẠO PHỤC CỦA CHƯỞNG ẤN
TIẾT 8: ĐẠO PHỤC CỦA TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN
 

PHẦN NĂM

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI -THẬP NHỊ BẢO QUÂN

 PHẦN SÁU

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI-CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN

 PHẦN BẢY

ĐẠO PHỤC CỦA CHỨC SẮC HIỆP THIÊN ĐÀI- BAN THẾ ĐẠO

 PHỤ LỤC

CÁC VĂN KIỆN LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO PHỤC VÀ NGHI LỄ

Văn kiện 1: Qui định cách lễ lạy và tang lễ (12.10.1938)
Văn kiện 2: Qui định chức sắc CTĐ mặc trường y 9 nút (15.1.1964)
Văn kiện 3: Qui định cách bắt Ấn Tý (2.3.1971)
Văn kiện 4: Qui định tang lễ cho phẩm Hiền Tài (18.8.1971)
Văn kiện 5: Bãi bỏ trường y 12 nút (theo yêu cầu của một số Chức sắc Phước Thiện).
 

 


Top of Page

      HOME