BNS THÔNG LIÊN từ số 08- 13 đăng các bài trong quyển

 NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM CỦA  Đức Hộ Pháp.

 

 

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.

“NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM”

 

Ḥa - Nhẫn - Khiêm - Cung - Ái

 

ĐỨC HỘ PHÁP

 

 

V́ tấm ḷng từ bi mẫn ái của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế không nở nh́n chúng ta phải đọa đày trong ṿng mạc kiếp, nổi ch́m trong bể trầm luân, nên Ngài một dạ thương đời ba lần giáng thế đem Đại Đạo mà Phổ Độ chúng sanh, lấy đại đức mà hoằng khai cho thế giới. Ôi tấm ḷng thùy từ mẩn khổ của Ngài ân cần châu tất biết là chừng nào.

Thế cuộc dầu tan, nhơn t́nh dầu bạc, song cái hồn đạo đức cũng chưa thiệt đến nổi tuyệt vọng. Cho nên từ khi Đại Đạo mở mang, không bao lâu mà Thiện Nam Tín Nữ thập phương tôn sùng tín ngưỡng kể có hơn triệu người. Mối Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đă nghiễm nhiên thành một nền tôn giáo to tát, như vậy chúng ta há chẳng mừng lắm sao?

Bần Đạo chẳng cần nói, chắc chư Đạo Hữu cũng tự biết rằng: ḿnh là người đạo đức th́ tức phải t́m ṭi con đường đạo đức mà đi, noi theo công b́nh đao đức mà làm. Điều đó đă hẳn, song thiết tưởng chư Đạo Hữu lại cũng cần nên biết rằng: đạo đức trọng ở tinh thần chớ không trọng ở h́nh thức, chẳng quí ở vật chất mà quí ở thực hành, nếu ta muốn nên người đạo đức chơn chánh th́ trước hết ta phải thực hành những đức tính về đạo đức đă. V́ đức tính tốt mới mong đạo đức đặng hoàn toàn, nếu không th́ chỉ như người bận áo cà sa mà nhận ḿnh là bồ tát.

Như vậy chẳng qua ḿnh tự lầm ḿnh, chẳng những thẹn với lương tâm mà lại đắc tội với Thượng Đế, Thánh, Thần, Tiên, Phật nữa. Bấy lâu nay Bần Đạo hằng ngày gia tâm quan sát về các cái t́nh h́nh trong bổn đạo, thấy sự tín ngưỡng không phải là không nhiệt thành, ḷng cầu đạo không phải là không sốt sắng. Song ít thấy tinh thần mà là phần vật chất, có bề h́nh thức mà chẳng thật thực hành, trật tự th́ lộn xôn, lễ nghĩa cũng mơ hồ, các Tín Đồ Đạo Hữu đối với nhau dường như bơ phờ lạt lẽo, không có một chút liên lạc cảm t́nh. Ngó về phương diện đức tính thiệt c̣n nhiều điều khuyết điểm, đến đổi Đức Chí Tôn quảng đại từ bi mà cũng từng phen giáng cơ sắc lịnh quở trách. Ôi! Tâm hạnh là cửa, đạo đức là nhà, chúng ta muốn vô nhà mà không qua cửa th́ phỏng có được chăng?

Bần Đạo cũng là một người đang tập noi theo con đường đạo đức cùng chư Đạo Hữu, đă từng ngó thấy cái hiện t́nh của Đạo ta, như thế th́ Bần Đạo há để được mà không sinh “mật tấn hoằng hoá” sao?

Bởi vậy cho nên nay Bần Đạo trên thể ḷng Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, dưới tỏ bày cùng chư đạo Huynh, đạo Tỷ đồng môn tự nghĩ ra năm điều cốt yếu về cái đức tính của người đạo, viết ra sau nầy đề nhăn là:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.

“NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM”

đặng cống hiến cùng chư đạo hữu.

Ư dầu đẹp, lời dầu quê song cứ hằng ngày trau dồi 5 điều đó cho đặng hoàn toàn th́ con đường đạo đức cũng không xa ǵ vậy.

Xưa nay các nhà tôn giáo đạo đức cùng các nhà triết học lư khoa đều có làm ra sách vở để giảng minh cho các tôn chỉ học thuyết của ḿnh kể hàng thiên kinh vạn quyển, song rút lại th́ cũng chỉ do mấy điều đại cương nơi tâm đức mà ra cả. Như Đạo Nho th́ lấy Tam Cang Ngũ Thường làm gốc, Phật Đạo th́  lấy Tam Qui Ngũ Giới làm đầu, Đạo Tiên th́ lấy Tam Huê Ngũ Khí làm trọng.

Nay nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chúng ta cũng nên theo cái tŕnh độ đạo đức t́m kiếm những điều có bổ ích cho nhơn tâm thế đạo đời nay, để làm phương châm cho hết thảy Tín Đồ Đạo Hữu th́ Bần Đạo xin tuyên bố và thuyết minh 5 điều ra sau nầy:

CHỮ H̉A. CHỮ NHẪN, CHỮ KHIÊM, CHỮ CUNG; CHỮ ÁI.

 

05 điều nầy tức là 5 điều cương mục của Đạo ta.

Bởi vậy Bần Đạo kính dâng bửu danh là “TAM KỲ NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM”.

Ai, người tín ngưỡng tôn sùng đạo đức th́ đều phải hiểu biết mà hằng ngày gia tâm trau dồi đức tính của ḿnh đặng hoàn toàn nhiên hậu mới phải là người đạo đức.

Nay Bần Đạo xin giảng giải 5 điều lương châm ấy ra sau nầy:

 

 

 

 

BNS THÔNG LIÊN SỐ 09.

ĐỨC HỘ PHÁP.

NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM.

“Ḥa; Nhẫn; Khiêm; Cung; Ái”.

 

H̉A

Ḥa là thuận vui ḥa, trong Kinh Lễ có nói rằng: Lễ dĩ ḥa di quí. Nghĩa là Lễ nghi phải lấy chữ ḥa làm quí, ư nói lễ nghi tuy phiền phức mặc ḷng, song rút lại chỉ lấy chữ ḥa làm gốc, v́ ngoài mặt có ḥa nhă th́ trong tâm mới có thành kỉnh, có tâm thành th́ lễ nghi mới có long trọng. Nếu như có lễ mà không ḥa th́ dầu lễ có to lớn đến đâu cũng là vô ích và Thánh, Thần cũng không hưởng chứng.

Thầy Mạnh-Tử có nói rằng: Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn ḥa. Nghĩa là thời Trời không bằng lợi đất, lợi đất không bằng người ḥa. Ư nói: Thiên dẫu thuận, địa lợi dầu phúc, song chỉ là trông cậy ở bề ngoài mà thôi, không thể lâu dài đặng, sự bền vững c̣n cần ở phải nhơn ḥa. Nhơn có ḥa th́ mới có t́nh liên lạc, một dạ một ḷng, đồng tâm đồng lực có được thực hành mới trường cửu được.

Nói cho đúng th́ dầu mưa thuận gió ḥa, cũng không tốt bằng ḷng người, nếu ḷng người mà đặng ḥa thuận cùng nhau trong một đoàn thể, như con cuốn chiếu trăm chơn dẫu cường bạo nào, dùng cường lực mạnh mẽ cũng không áp chế đặng.

Nếu mỗi người đều mỗi dạ chia rẽ chẳng ai ḥa thuận cùng nhau, anh em cùng nhau kích bác, ṇi giống coi như khấu thù, nhơn tâm đă bất ḥa th́ đạo tâm c̣n đâu mà sanh ra đặng bảo tồn loài người. Mà đến đạo đức không có th́ c̣n trông cậy nỗi ǵ? Thành cao hào sâu liệu đủ cậy chăng? Mưa ḥa gió thuận liệu đủ nhờ chăng? Nói tóm lại một chữ Ḥa có thể bền hơn thành sắt, mạnh hơn súng đồng, mà địa lợi, thiên thời cũng chẳng bằng vậy.

Đời Tam Quốc có Ông Lưu Tiên Chúa duy lấy hai chữ nhơn ḥa mà thắng cả thiên thời, địa lợi làm cho Tào Tháo lắm trận kinh hồn, Tôn Quyền nhiều phen mất vía. Ôi! xem thế đủ biết một chữ Ḥa mạnh mẽ là dường nào chăng?

Trong Kinh Thi có câu rằng: Âm dương ḥa vũ trạch giáng. Phu phụ ḥa gia đạo thành. Nghĩa là khí âm, khí dương có ḥa th́ mưa nhuần rưới khắp. Vợ chồng có ḥa th́ Đạo nhà mới nên.

Trong Kinh Thơ có câu rằng: Hiệp ḥa vạn bang, nghĩa là phải ḥa hiệp muôn nước.

Ấy đến Trời Đất âm dương cùng các bậc Thượng Cổ, Đế Vương c̣n phải lấy chữ Ḥa làm gốc, mà c̣n truân chuyên đến thế, huống chi chúng ta ngày nay. Nói tóm lại, mọi việc ở đời phải lấy chữ ḥa làm lương châm thực hiện. Thế giới có ḥa th́ mới đặng thái b́nh thịnh vượng. Quốc gia có ḥa th́ mới đặng tiến bộ văn minh. Thân tộc có ḥa th́ mới đặng sum vầy vui vẻ. Cha con có Ḥa th́ mới trọn điều từ hiếu. Anh em có ḥa th́ mới biết đạo thương yêu. Vợ chồng có ḥa th́ mới nên cửa nhà đồ sộ. Bậu bạn có ḥa th́ mới bền ḷng tín nghĩa. Bậc Quan Trường có ḥa th́ mới biết sự vẽ vang. Người phú túc có ḥa th́ mới đặng phần sung sướng. Đạo đức có ḥa th́ mới đặng hoàn toàn. Tôn-giáo có ḥa th́ mới nên trường cửu.

Trên đây là nói phần công dụng kết quả của chữ ḥa; c̣n về phần thực hành của chữ ḥa th́ ta cần phải nên hiểu biết ḥa đây là ḥa thuận, ăn ở một cách ḥa thuận, công bằng. Đối với ḿnh, đối với người, bao giờ cũng giữ thái độ thung dung ḥa lạc, không có một chút ǵ tư tâm khi xữ kỷ, tiếp vật; bao giờ cũng sẳn tấm ḷng lượng thứ bao dung. Người mà giữ trọn đặng chữ ḥa th́ trong tâm hồn sẽ đặng thơ thới thảnh thơi, mà tự nhiên chẳng c̣n chút cặn nhơ ô trược nữa. Tuy nhiên chữ ḥa cũng có nhiều nghĩa ta chớ khá nên lầm.

Đức Khổng-Tử có nói rằng: Quân tử ḥa nhi bất đồng, tiểu nhơn đồng nhi bất ḥa. Nghĩa là người quân tử ḥa thuận mà không đồng đẳng, c̣n tiểu nhơn đồng đẳng mà không ḥa thuận.

Chữ ḥa với chữ đồng nghe th́ tựa như giống nhau mà xét kỹ ra th́ khác nhau xa thẳm. Ḥa th́ chỉ một mực công bằng ḥa thuận nhau thôi, chớ không tư không đảng. C̣n đồng th́ đồng là đảng, nghĩa là tựu hội thành quần, thành đảng, có ư tư mà không công, chớ chẳng có giá trị ǵ. Đó là điều giả mạo của kẻ tiểu nhơn thường làm nếu ta không cẩn thận hoặc có khi lầm vậy.

Chúng ta ngày nay nhờ ơn Đức Chí Tôn hoằng khai Đại Đạo mà Phổ Độ cho chúng sanh th́ chữ ḥa lại cần hơn hết.

V́ sao? V́ muốn nên người đạo đức th́ cần phải có một đức tánh cho hoàn toàn, mà chữ ḥa là đầu phần đức tánh của ta vậy. Ta phải hiểu biết rằng: Có ḥa th́ mới biết thương yêu nhau, tŕu mến nhau mới kết nên đoàn thể đặng. Một chữ ḥa thiệt khiến cho ta cảm t́nh vô hạn.

Về phần đạo đức các tính đức khác tưởng cũng chẳng khó ǵ. Bởi vậy trước hết Bần Đạo xin hiến dâng chư Đạo Hữu một chữ ḥa để làm một nấc thang bước lên con đường đạo đức.

Và xin chư Đạo Hữu đừng quên bốn chữ: Ḥa Khí Trí Tường. Nghĩa là khí ḥa rất tốt th́ thiệt là may cho nền đạo đức lắm vậy.

 (c̣n tiếp).

 

 

BNS THÔNG LIÊN SỐ 10.

ĐỨC HỘ PHÁP.

NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM.

“Ḥa; Nhẫn; Khiêm; Cung; Ái”.

 

NHẪN

Nhẫn là kiên nhẫn, nhẫn nại, nghĩa là nhịn nhục, lặng lẽ. Cái điều đáng giận mà ḿnh không giận đặng ép tam bành lục tặc của ḿnh cho đặng b́nh tĩnh luôn luôn, không bao giờ để cho cái ma chướng ở ngoài nó làm cho dời đổi đặng cái thiêng liêng của ḿnh. Thế tức là nhẫn. Nhẫn là một đức tính rất hay cho loài người. Người mà một đời thực hành được chữ nhẫn cho tṛn tưởng cũng là rất khó vậy. Nhứt là về phương diện đạo đức, th́ chữ nhẫn lại cần hơn hết.

Đức Khổng Tử có nói rằng: Tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu. Nghĩa là điều nhỏ mà không nhẫn được th́ cái mưu lớn ắt phải hư thiệt vậy. Ở đời ta thường thấy những việc nhỏ bằng cái tóc, v́ không nhẫn được mà rồi xảy ra những việc sóng gió tài trời, nhiều khi gây nên cái họa giết ḿnh cũng là v́ lẽ đó.

Ông Quách-Tử-Nghi nhà Đường hồi c̣n nhỏ đang đi học, một hôm coi sách Phật thấy câu rằng : Hắc phong suy châu, phiêu nhập khổ hải. Nghĩa là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào trong bể khổ. Ông không hiểu câu ấy ra sao bèn đến một vị ḥa thượng cầu vấn.

Vị ḥa thượng thấy hỏi vậy, th́ dùng một cách thịnh nộ cùng Ông Tử-Nghi rằng: Mi c̣n con nít biết ǵ mà hỏi những câu đó.

Ông Tử-Nghi thấy ḥa thượng trả lời bằng một cách rất khiếm nhă như vậy th́ nổi giận hầm hầm tím mặt lại.

Lúc ấy vị ḥa thượng bèn ung dung day lại cười mà cắt nghĩa cho ông Tử-Nghi biết rằng: cái sự thịnh nộ của công tử từ nảy đến giờ tức là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào bể khổ đó.

Ông Tử-Nghi bây giờ mới tỉnh ngộ ra bèn chấp tay tạ ơn ḥa thượng đă dùng cách gián tiếp mà chỉ giáo cho ḿnh.

Ôi! ở đời nầy biết bao nhiêu luồng gió đen thổi luẩn quẫn ở chung quanh ḿnh chúng ta. Nếu chúng ta không hết sức lấy tấm ḷng kiên nhẫn mà chống chỏi th́ cơ hồ cái thân chúng ta như một chiếc thuyền nhỏ kia sẽ có khi ch́m đắm vào trong bể khổ mênh mông kia vậy.

Thầy Tử-Trương đi chơi xa, trước khi đi có đến từ biệt Đức Khổng-Tử và xin Ngài dạy cho một đức tốt để học trọn đời.

Đức Khổng Tử bèn dạy rằng: Hết thảy các đức t́nh người ta duy có chữ nhẫn là hơn cả.

Thầy Tử-Trương hỏi: tại sao phải nhẫn ?

Đức Khổng-Tử nói: làm vua mà nhẫn được th́ nước không hại và mới nên việc lớn. Quan lại biết nhẫn phẩm vị mới cao thăng. Anh em biết nhẫn th́ gia đ́nh đặng phú quí. Vợ chồng biết nhẫn th́ thân ái mới được trọn đời. Bầu bạn biết nhẫn th́ danh nghĩa càng thêm cao. Tự ḿnh biết nhẫn th́ xa điều họa hoạn.

Thầy Tử-Trương lại hỏi: nếu không nhẫn th́ ra sao ?

Đức Khổng-Tử nói: làm vua chẳng nhẫn th́ ḿnh phải mang họa, nhà nước phải tất nguy. Quan lại chẳng nhẫn th́ tất bị tù tội. Anh em chẳng nhẫn th́ tất phải chia ĺa. Vợ chồng chẳng nhẫn th́ t́nh nghĩa phải phai lạc. Bầu bạn chẳng nhẫn th́ giao t́nh phải xa cách. Tự ḿnh chẳng biết nhẫn th́ họa hoạn theo liền.

Thầy Tử-Trương ngậm ngùi than rằng: phải lắm! phải lắm! khó thay! khó thay!!! Không biết nhẫn sao phải là người, chẳng phải người th́ mới không biết nhẫn.

Đă chật giấy cạn lời, chúng ta há nở mơ mơ màng màng như đui, như điếc mà không tỉnh ngộ hay sao?

Chúng ta thử nghĩ lại coi: sau khi một trận giông tố, tất có ngă cây đỗ nhà, sau khi một chuyến ba đào tức có ghe ch́m tàu đắm, nhiều khi qua những cơn thịnh nộ của ta rồi thường hay xăy ra nhiều điều thảm khốc âu sầu tai hại, đến khi biết ăn năn th́ đă muộn quá rồi. Vậy mà ở đời, có nhiều người trải biết bao lần giông tố ba đào mà vẫn không kiên nhẫn được chút nào, thiệt là đáng buồn lắm vậy.

Ngày xưa ông Trương Công Nghệ chín đời đều ở với nhau một nhà, vợ chồng con cái có tới mấy trăm người mà trọn đời tuyệt nhiên không có điều xích mích, trong gia đ́nh bao giờ cũng êm đềm vui vẽ như khí ḥa mùa xuân.

Ngày kia vua nghe tin bèn giá ngự đến tại nhà ông hỏi rằng: Nhà Ngươi dùng cách ǵ mà trong nhà đặng vui vẽ thuận ḥa đến thế?

Ông Trương Công Nghệ bèn viết một chữ NHẪN thiệt lớn vào tấm giấy mà dâng lên cho Vua.

Vua xem rồi lấy làm kính phục liền ban cho ông một trái lê.

Vua cho Ông một trái lê thử coi ông xử sự ra sao.

Ông liền sai cắt trái lê bỏ vào trong một cái thùng lớn, đổ nước nấu sôi rồi kêu hết thảy người ở nhà đến trước mặt mà cho uống, mổi người một muỗng để gọi là chung hưởng ơn Vua

Ôi! ÔI! Tấm ḷng nhẫn năi của ông đáng  quí biết chừng nào! đến nổi nhà ông nuôi trăm con chó, bửa cơm ăn nếu thiếu một con th́ hết thảy cả bầy đều không ăn mà đợi. Ấy sự nhẫn nại của ông kịp đến súc vật cũng nhẫn được như thế. Đời nay những kẻ không biết nhẫn mà nghe đến chuyện ông th́ há chẳng hỗ ḿnh lắm sao.

 Tuy nhiên ta cũng cần phải phân biệt sự nhẫn nại với sự nhát gan nhu nhược, thấy việc th́ sợ chỉ chăm chăm vào cúi ra ḷn, họ đè xuống đất đen cũng cam chịu; như vậy là nhục chớ chẳng phải là nhẫn.

Những người đó chỉ là nhục cho tôn giáo, đạo đức mà thôi.

Song cũng có khi kẻ bất đạo kia dùng cách vô lễ bạo hành đối đăi với ta khiến cho kẻ bàng quang phải tức giận mà ta cũng nhẫn nại được chẳng phải là có sợ ǵ đâu, chẳng qua là ta không chấp chi những kẻ vô đạo. Thà rằng, ta nhịn họ đi th́ cái lổi họ “từ khắc chiêu chương” mà đức tin ta lại càng tăng quang lên vậy.

Ngày xưa, có hai anh em người kia là bậc sang giàu, tánh t́nh trung hậu lại hay phước làm doan. V́ vậy mà trong làng có một tên tàn bạo kia sanh ḷng ghen ghét, thường thường tới nhà hai anh em mà kiếm điều gây lộn. Song anh em người kia chỉ lấy một chữ nhẫn mà đối đăi, tên tàn bạo lại càng tức thêm.

Một hôm nó đến tận nhà la chưởi um sùm, trước c̣n đứng ngoài ngơ, sau vô tận trong nhà mà chưởi bới thậm tệ. Anh em người kia vẫn cứ điềm nhiên như không nghe chi hết và lại chẳng tỏ ra hờn giận chút nào. Đứa bất nhân vẫn chưa phỉ t́nh bèn đến phun nước miếng vào mặt người em, người em vẫn cứ ngồi im không dám cục cựa mà cũng không chạy, chỉ sẽ lấy tay vuốt mặt mà thôi.

Người anh thấy vậy bèn dạy nhỏ em rằng: em cứ việc tự nhiên để cho người ta phun hễ ráo miệng th́ thôi, tỷ như đống lửa đốt giữa trời cháy hết rồi tự nhiên phải tắt. Nếu bây giờ em lau đi đang cơn người ta thịnh nộ th́ người ta sẽ đánh em đau thêm nữa sao em dại vậy?

Từ đó người em đành chịu ngồi im để mặc cho tên kia tha hồ phun nhổ không dám giở tay lau mặt nữa. Sau khi tên kia phun hết nước miếng khô miệng rồi nghĩ lại biết ăn năn tự hối liền qú lại và xin tha tội. Song anh em người kia chẳng những không thán oán ǵ mà lại chào hỏi một cách ôn ḥa hơn nữa.

Ấy cổ nhân c̣n nhẫn nại đến thế, huống chi chúng ta ngày nay là người nhiệt tâm đạo đức th́ há lại không nên lấy tích nầy làm một gương sáng hay sao?

Sách có câu rằng: Bách nhẫn đường trung hữu thái ḥa. Nghĩa là nếu hằng ngày trăm điều nhẫn được cả th́ trong nhà được ḥa thuận vô cùng.

Ôi! ở vào cái thời đại tranh đua nầy, thực hành được chữ nhẫn tưởng không phải là dễ nhưng cũng chẳng phải là không thể được, miễn là có tâm th́ dầu khó đến đâu cũng đặng. Hễ ta nhẫn được th́ chẳng những thâm tâm đặng khoái lạc thảnh thơi mà muôn việc đều đặng thuận ḥa êm thấm hoàn toàn cả.

Ông Hàn-Tín trong lúc phong trần chịu ḷn trôn nơi giữa chợ, ai cũng bảo là nhát gan, nào hay anh hùng ẩn nhẫn mà sau nầy lănh ấn Tề Vương.

Ông Ngũ Viên đang cơn hoạn nạn cũng đành thổi tiêu ăn xin, chúng khinh khi là hèn mạt, nào ai hay “chí sĩ tu tàng” mà phút bổng quyền cao Ngô Tướng.

Ôi! quí hóa thay chữ nhẫn, vinh diệu thay chữ nhẫn, ta há chẳng nên trọn đời ḿnh học hay sao.

Nay chúng ta nhờ ơn Đức Chí Tôn hoằng khai đại đạo, buổi ban sơ khởi đầu nầy chẳng khỏi có nhiều điều trở ngại khó khăn. Vậy ta cần nên thực hành cái công phu từ nhẫn nại trước, rồi sau nầy ta sẽ cùng nhau d́u dắt lên nền Cao Đài Đạo Đức vậy .

Chữ nhẫn ví tợ thoi vàng,

Ai mà nhẫn được, ấy vàng Trời cho.

 

 

 

BNS THÔNG LIÊN SỐ 11.

ĐỨC HỘ PHÁP.

NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM.

“Ḥa: Nhẫn; Khiêm; Cung; Ái”

 

KHIÊM

 

Khiêm tốn, khiêm nhượng, nghĩa là: thấp nhường nhỏ nhẹ.

Thánh nhơn bất tự măn túc, như thánh nhơn c̣n chưa dám cho ḿnh là đầy đủ, Nghiêu Thuấn kỳ do binh chư? Vua Nghiêu Vua Thuấn c̣n có chổ thiếu sót chăng? Ấy các bậc Thánh Hiền c̣n phải khiêm tốn đến như thế, cái đức tính khiêm tốn là cái đức tính rất hay cho người ta vậy. Người đời thường hay có tính t́nh kiêu ngạo tự đắc chẳng biết khiêm tốn là ǵ? Nhứt là hạng thượng lưu thời nay th́ hay càng tự tôn tự đại, ngạo vật khinh nhơn, coi ḿnh như Thần như Thánh, xưng bá xưng hùng, coi người bằng nửa con mắt, tuyệt nhiên không có một chút khiêm nhượng ǵ cả. Tự ḿnh lấy làm nghinh ngang đắc chí, không biết bao nhiêu người đă châm trích, b́nh phẩm mà ḿnh xí tiêu?

Cổ nhân có nói rằng: Khinh bạc chi thái thị, chi quân tử tắc tán ngô đức, thị chi tiểu nhân tắc sát ngô thân. Nghĩa là cái thói khinh bạc đối với người quân tử th́ tổn đức tính của ḿnh, mà đối với kẻ tiểu nhân th́ hại thân ḿnh. Người mà không có  cái đức tính khiêm tốn th́ cái hại ảnh hưởng lớn đến như thế. Chúng ta há nên coi thường sao!

Tuy nhiên người có đạo đức th́ bao giờ cũng có sẵn một tấm ḷng khiêm tốn kính nhường. Biết bổn phận không tranh giành kiêu hảnh cùng ai, ai hơn ḿnh thua, ai cao ḿnh thấp, ai tới ḿnh lui, xử kỹ tiếp vật bao giờ cũng lấy một chữ khiêm làm chủ nghĩa, không hề xao lăng chút nào. Chẳng phải ta khiêm tốn tự giảm giá trị của ta đâu, cái đức khiêm tốn chính là cái đức cao thượng của ta đó, như trái khí cầu kia tuy ḿnh bóp méo vào, nhưng rồi nó lại tự nhiên trở ra như cũ, chưa hề có hủng chút nào, hễ ta càng khiêm tốn bao nhiêu th́ cái giá trị của ta lại càng tăng lên bấy nhiêu. Mà cái giá trị đó mới thiệt là chơn chánh đó vậy.

Ông Quí Trác mấy lần nhường ngôi cho nước Ngô, đời sau c̣n xưng c̣n xưng là thịnh đức. Ông Tiên Chủ ba lượt nhường vị Từ Châu đến nay c̣n để tiếng anh hùng. Vua Vơ xuống xe lạy người nói phải. Vua Thang đi bộ rước bậc đại hiền. Ôi! đến bậc hào kiệt thánh hiền thượng cổ c̣n khiêm cung hạ sĩ, bao giờ cũng tự coi ḿnh thiếu kém hơn người, phương chi chúng ta ngày nay.

Chúng ta ngày nay đă có đức tính ǵ hơn mà dám kiêu căng khinh bạc?

Ta thường thấy nhiều người tài cao trí lớn, thấy rộng nghe nhiều, đáng lẽ có thể làm nên người đạo đức hoàn toàn. Vậy mà v́ tánh háo thắng kiêu căng, không có đức ôn nhu khiêm tốn, thành ra uổng phí cả đời người, đến đổi ai cũng đem ḷng khinh bỉ, thật là đáng tiếc lắm vậy.

Nói tóm lại th́ cái công dụng của chữ khiêm tốn đối với các phương diện ở đời đều cần phải thật hành cả. Trong gia đ́nh có nhiều người biết khiêm tốn, th́ gia đ́nh sẽ trở nên ḥa thuận, trong xă hội có nhiều bực khiêm tốn, th́ xă hội được thái b́nh, đạo đức có khiêm tốn th́ đạo đức được hoàn toàn. Tôn giáo có khiêm tốn th́ tôn giáo mới được thịnh vượng. Chữ khiêm đối với các đức tính của loài người, thiệt không thể một giây phút nào xao lăng được. Và đời nầy là một đời đại đồng giao thiệp, nếu không có cái đức tính khiêm tốn, th́ c̣n giao thiệp được với ai, c̣n mong ǵ đến phổ thông đạo đức nữa.

Từ khi nền Đại Đạo hoằng khai Đức Chí-Tôn rộng ḷng Phổ Độ, cái quy củ nền Tôn Giáo chúng ta được như ngày nay thiệt không phải là không rộng lớn, cái công tu của chúng ta đối với nền đạo đức, thiệt không phải là chẳng tôn nghiêm. Song, xét cho kỷ th́ phần nhiều chỉ ở h́nh thức bề ngoài, chớ đến tinh thần đức tính bề trong th́ thiệt c̣n nhiều điều khiếm khuyết, mà nhất là thuộc về cái đức tính khiêm cung, th́ lại càng không nở nói.

Có nhiều vị h́nh như đă v́ sự tài lợi thế lực chớ chẳng phải có nhơn tâm về đạo đức. Ôi! đă một ḷng hâm mộ đạo đức, th́ tưởng chẳng c̣n màng ǵ đến cái danh giá hảo huyền, cái cao sang giả dối, miễn là ḿnh thực hành đặng đạo đức cho hoàn toàn, th́ ḿnh chẳng cần ǵ khoe thị cùng ai, mà tự khắc cái cao sang danh giá thuộc về tinh thần sẽ từ trong cái đức khiêm tốn mà ra.

Ít lâu nay trong Đạo thường hay xảy ra điều lộn xộn, cơ hồ làm ngăn trở cho việc hành đạo của chúng ta có lẽ là v́ ở nhiều chư vị Đạo Hữu không đủ cái đức tính khiêm tốn và cũng chưa được từng hưởng thụ công năng của chữ khiêm ấy.

Nay Tam Kỳ Đại Đạo đă đến kỳ Phổ Độ xiển minh, nếu ai được hữu tâm cầu đạo th́ Đức Chí Tôn cũng sẳn ḷng cho được hưởng thụ mà hối cải tội xưa. Đối với cái tŕnh độ nhập môn cầu Đạo của chúng ta ngày nay, th́ thiết tưởng trước hết cần phải tu tỉnh cái đức tính khiêm tốn làm đầu.

Bởi vậy cho nên Bần Đạo xin kỉnh bạch chữ KHIÊM vào một trong năm điều NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM, dám mong rằng chư Đạo Hữu hằng ngày gia tâm tu luyện th́ sau này mới ngơ hầu nên người đạo đức hoàn toàn được.

 

 

BNS THÔNG LIÊN SỐ 12.

ĐỨC HỘ PHÁP.

NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM.

“Ḥa: Nhẫn; Khiêm; Cung; Ái”

 

CUNG

 

Cung kỉnh nghĩa là: Đối với hết thảy các sự vật ở đời, cùng các hành vi cử chỉ của ḿnh thường thường phải giữ một tấm ḷng cung kỉnh, thận trọng và phải lánh xa những điều lỗ măng, khinh lờn; lúc nào cũng phải coi ḿnh như ở giữa chốn triều đ́nh, đứng trên sân tế lễ, dầu ngồi trong nhà kín cũng tưởng như mười tai, mười mắt trông vào.

Trong kinh thư có câu: Như lâm thâm uyên, như lư bạc băng nghĩa là: Coi ḿnh như đến vực sâu, như nơi đá mơng, đều là cực cả; cái cách cử động của cổ nhân cung kính đến như thế. Loài người sở dĩ linh thiêng hơn muôn vật, tưởng cũng một phần nữa, nhờ ở cái đức tính cung kỉnh vậy.

Nếu người chỉ biết ăn th́ ăn, thấy nói th́ nói, no ấm th́ vui cười hể ha, hễ đói rách th́ lo buồn băng băng. Sống tám chín chục tuổi, đẻ năm mười đứa con, c̣n ngoài ra th́ mờ mờ mịt mịt, chẳng biết cung kỉnh lễ nghĩa là ǵ? Cử chỉ th́ thô bỉ cộc cằn, hành vi th́ dong dài lỗ măng, trơ như đá vững như đồng. Như vậy phỏng có khác ǵ một con bù nh́n cạnh đám dưa, một bộ máy vô t́nh giữa chợ. Thiết tưởng ấy là hạng người giá áo túi cơm, đời mà có nhiều hạng người đó thiệt là bất hạnh cho đời lắm vậy, chỉ nên là một giống sâu mọt dán lằn mà thôi. Ôi! một cái đức tính làm người mà không để ư đến th́ c̣n trông mong ǵ dồi mài đạo đức nữa. Tuy nhiên ai đă thực hành được cái đức tính H̉A, NHẪN, KHIÊM th́ tức là lănh hội đặng thâm ư chữ CUNG, có lẽ thực hành cũng không khó ǵ. Khó! nhưng mà nên chăng bởi tại ḷng ta.

Đức Khổng Tử bàn những đức tính hay của người quân tử có năm điều là: ôn, lương, cung, khiêm, nhượng mà chữ cung cũng đứng ở trong; xem thế cũng đủ biết Đấng Thánh Nhân dạy đời cũng phải lấy chữ cung làm một bổn phận lớn ở trong đức tính người ta vậy.

Vua tôi có cung kính th́ thiên hạ mới thái b́nh. Cho nên vua Nghiêu đối với bá quan thường dùng một chữ khiêm làm lời răn dạy mà c̣n tiếng thánh quân. Cha con có cung kỉnh th́ gia đ́nh mới thịnh vượng. Cho nên vua Thuấn thờ cha mẹ một niềm thủ kính đến trọn đời, muôn thuở c̣n lưu danh đại hiếu.

Anh cùng em cung kính mới có t́nh cảm thương yêu. Ngày xưa ông Lư Tích làm quan to, ông đă già mà vẫn cung kính bà chị một cách khác thường. Một hôm bà chị đau, ông thân hành đi nấu cháo cho bà chị ăn, rủi bị ngọn lửa tạt cháy rụi cả râu. Bà chị thấy vậy nói rằng: nhà thiếu ǵ tôi tớ mà em lại chịu cực  khổ làm chi vậy?

Ông thưa rằng: nay chị đă già mà em cũng đă già rồi, dẫu em muốn nấu cháo cho chị ăn măi phỏng dể mà được hay sao?

Vợ chồng cùng nhau cung kỉnh th́ mới nên ân ái thuận ḥa. Xưa vợ chồng ông Khước Khuyết tương kính như tân, nghĩa là vợ chồng kính nhường nhau như quí khách, thường ngày ông đi cày, bà vợ ở nhà đem cơm, tất nhiên hai tay qú dâng ngang mày cho chồng, rồi chấp tay hầu đến ăn rồi mới thôi. Tuyệt không có chút ǵ khinh mạng. Một hôm có một vị quan đại phu đi ngang qua ngó thấy cách cung kỉnh vợ chồng ông như vậy bèn về tâu lại với vua Tấn. Vua bèn phong cho ông chức Hạ Đại Phu. Vợ ngoan làm quan cho chồng là thế.

Bầu bạn đối với nhau cung kính th́ t́nh nghĩa mới lâu dài. V́ Tiên Chúa, Đức Quan Thánh ông Trương Phi ba người kết nghĩa tại vườn đào cùng nhau sống thác, mà tấm ḷng cung kỉnh vẫn không sai, người nay c̣n mến đức. Ôi! Chúng ta nhắc nhở lại những tích nói trên nầy, ḷng ta bồi hồi cảm động biết bao nhiêu.

Mới hay rằng: cái đức tính khiêm cung đối với nhau trong ngũ luân rất nên có ảnh hưởng mật thiết lắm vậy. Chúng ta nay nhờ ơn Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế để ḷng thương, tới đem nền Đại Đạo mà Phổ Độ cho chúng sanh, lúc này chính là lúc chúng ta nên vui ḷng cầu đạo. Song có con đường cầu đạo lại chính là ở cái tính khiêm cung. Khiêm cung là thế nào? Trong những bài Bần Đạo nói đây chắc chư Đạo Hữu cũng đă lănh hội một đôi điều ngạnh khái. Song Bần Đạo thường thấy phần nhiều chư Đạo Hữu hoặc là chưa rơ đạo đức thế nào chăng? Hay là không để ư đến lễ nghĩa chăng? Coi bộ h́nh cái đức tính khiêm cung rất là thiếu kém, đối với các anh em trong Đạo Hữu  th́ thường lấy cái dung mạo bề ngoài mà giao thiệp, lộ h́nh kẻ khinh người trọng, ở trong hay lấy những lời kiêu ngạo mà phỉ báng đồng bào trong đạo. Ôi! đă là người chung ở trong nền Đại Đạo, tôn giáo đạo đức th́ lẽ nào lại c̣n phân đẳng hạng quí tiện mà khinh bỉ nhau nữa sao? Chư Đạo Hữu hăy dùng cái nhăn quan đạo đức mà xét lại coi, thiệt khiến cho lương tâm ḿnh thêm hổ thẹn vậy.

Thậm chí Bần Đạo thường thấy nhiều người đến nơi các Thánh Thất là nơi rất tôn nghiêm long trọng của ḿnh đă tín ngưỡng tôn sùng mà cũng cứ nghiễm nhiên không hề thủ lễ, coi dường như đến chơi các nhà tửu quán trà lầu, đi đứng cộc cằn, nói cười ngổn nghẻn, tuyệt không có một chút ǵ là cung kỉnh cả. Nghĩ cũng khả ố thay những hạng người đó…tụng kinh cầu đạo!!! tưởng không cần trả lời vậy .

Bởi các lẽ đó, nên Bần Đạo cần phải nhắc đi nhắc lại cùng chư Đạo Hữu, cái công tŕnh chữ cung ở trong cuốn Tam Kỳ Ngũ Đức Lương Châm nầy. Mong  rằng chư Đạo Hữu sẽ vui ḷng để ư đến cho, Bần Đạo thiệt lấy làm tham vọng.

 

 

BNS THÔNG LIÊN SỐ 13

ĐỨC HỘ PHÁP.

NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM.

“Ḥa: Nhẫn; Khiêm; Cung; Ái”

 

ÁI

 

Nhân ái, bác ái, nghĩa là: thương yêu, rộng yêu. Chữ yêu đây thuộc về tinh thần yêu đạo đức, cái yêu rất thâm trầm chớ chẳng phải cái yêu về thất t́nh lục dục. Người ta ai đă đủ cái đức tính H̉A, NHẪN, KHIÊM, CUNG  rồi mới đặng cái bậc bác ái. Nhà đạo đức mà đă tâm đắc và thực hành được chữ bác ái th́ đă có cơ siêu phàm thoát tục.

Đức Khổng Tử có nói rằng: Quân tử học đạo th́ mới biết yêu người, kẻ tiểu nhân có học đạo th́ mới dễ sai khiến.

Lại có câu rằng: Duy thánh nhơn năng hiểu nhơn, năng ố nhơn. Nghĩa là duy có đức thánh nhơn mới biết yêu người, ghét người. Xem thế đủ biết dầu cho đến bực thánh nhơn cũng phải quí chữ ái.

 Bàn về đạo đức th́ có lẽ suy tôn chữ ái làm đầu, v́ có yêu đời mới biết đời, cũng v́ cái chủ nghĩa yêu thương đời mà phát minh ra vấn đề đạo đức vậy.

Xem như đạo Nho th́ lấy hai chữ nhơn ái làm trọng. Dương Châu th́ lấy hai chữ khiêm ái làm đầu.

Đạo Phật th́ lấy từ bi bác ái làm chủ nghĩa. Đức Thích Ca có nói rằng: Nếu chúng sanh chưa đặng thành phật hết th́ ta cũng nguyện chưa thành phật vậy.

 Đạo Thiên Chúa cũng lấy câu: Xă kỷ ái nhơn làm mục đích. Đức Jésus có nói rằng: nếu đời c̣n một người tội lỗi th́ ta quyết măi đứng trên cây thập tự.

Xem thế th́ các bậc giáo chủ xưa nay đă phát minh ra đạo đức để cứu chữa cho đời, chẳng qua cũng là bởi tấm ḷng yêu thương đời mà ra vậy.

Người ta sở dĩ ăn ở cùng nhau đặng ḥa thuận êm đềm, giao thiệp cùng nhau được thân quen vui vẽ, sanh hoạt bằng một cách lư thú trên đời, đều là nhờ ở cái đức tính nhơn ái cả, v́ có biết đem cái tấm ḷng nhơn ái mà đối đăi với nhau th́ mới có cái cảm t́nh, mới bền chặt mối dây liên lạc, mà gây nên cái t́nh đoàn thể đặng.

Cổ nhơn có câu rằng: Tứ hải như nhứt gia, nghĩa là bốn biển như một nhà. Ư nói người ta sanh ra ở đời đều có một h́nh thể, đều có một trí giác, th́ cũng là một loài người, vô luận là giống nào, nước nào cũng đều nên xem nhau bằng một cách thân thiết, đối đăi nhau bằng một cách thân yêu mà không nên phân biệt. Có được như vậy th́ mới thiệt là bác ái, thực hành cái tư tưởng bác ái là cùng nhau một dạ thương yêu, th́ thế giới nào chẳng ḥa b́nh, nước nhà nào mà không thạnh trị, v́ đă biết cư xử với nhau bằng một cách thương yêu th́ sự xâu xé cạnh tranh c̣n tự đâu mà sanh ra được nữa.

Nếu người mà chỉ biết ích kỷ, nghĩa là chỉ biết có một ḿnh mà thôi, c̣n ngoài ra không kể đến ai, đối với đồng loại chẳng có cảm t́nh liên lạc ǵ, đồng bào coi nhau như gươm giáo, ṇi giống coi nhau như khấu thù, h́nh như ḿnh không có cái quan hệ ǵ đến đời cả. Người mà như vậy th́ thiệt là người đă vô t́nh th́ c̣n biết ǵ là bác ái.

Ôi! đến loài người mà không có ḷng nhơn ái th́ đối với giống cỏ cây cầm thú phỏng có hơn chi, nước nhà nào mà không mất, không tan, tôn giáo nào mà chẳng suy vong, đạo đức nào mà không tồi bại. Ấy những hạng người đó ở đời nầy phỏng có hiếm chi, chẳng nước nào, chẳng giống nào mà chẳng có. Song đối chiếu với nước nhà ta th́ không phải là số ít, những hạng người đó thiệt là có hại cho đời, tưởng chẳng khác chi người có bịnh tê bại, bịnh liệt thần kinh vậy. Cái bịnh liệt thần kinh đó lấy phương thuốc ǵ mà chữa bây giờ? Có lẽ ngoài cái phương đạo đức ra th́ chẳng c̣n thuốc ǵ hơn, mà cần nhứt là lấy vị thuốc nhơn ái làm đầu thang vậy.

Tuy nhiên cái đức tính nhơn ái đành là phải  thực hành. Song cái công phu nhơn ái cũng cần nên luyện. Tự cận cầu viễn, do viễn cập thâm.

Nghĩa là: nói gần tới xa, lần lần xa tới sâu, nếu ta muốn rèn đúc cái đức tính bác ái đành phải thực hành, th́ trước hết ta phải yêu ta, ta tự yêu chẳng phải là ta muốn cái ḷng vật dục của ta đâu? Nghĩa là ta yêu cái chơn lư ở đời, yêu cái đức hạnh của người tức là yêu cái chơn chánh đạo đức, như vậy th́ ta mới biết yêu ta ….

Ta có biết yêu ta rồi th́ mới biết yêu nhà, yêu nước. Trong yêu cha mẹ, yêu anh, yêu em; ngoài th́ thương yêu ṇi giống khắp trong hoàn cầu, ta phải làm sao thực hành cho đặng câu: TỨ HẢI CHI NỘI GIAI HUYNH ĐỆ. Nghĩa là người trong bốn biển đều là anh em, thiệt mới tṛn cái đức tính nhơn ái vậy.

Đời nay thường thấy nhiều người cứ hy vọng cái chủ nghĩa  thế giới ḥa b́nh cùng thực hành cái vấn đề tự do b́nh đẳng, mà chẳng thèm ngó ngàng tới cái lương năng bác ái th́ thiệt là lầm to. Cách ngôn Thái Tây có câu rằng: Có đồng đẳng mới b́nh đẳng được, đồng đẳng tức là suy nguyên biểu dương hai chữ bác ái đó.

Trên kia đă nói loài người đă biết thương yêu nhau th́ mới biết có t́nh đoàn thể mà kết nên mối dây liên lạc được. Nếu ai chẳng biết thương yêu ai, mỗi người một dạ, một ḷng xâu xé lẫn nhau, tranh giành lẫn nhau th́ thế giới trông ǵ ḥa b́nh, nhơn loại c̣n mong ǵ tự do b́nh đẳng, phỏng có khác ǵ leo cây mà t́m cá, xuống biển để bắt chim th́ bao giờ cho được.

Than ôi! Cuộc  thế suy đồi, ḷng người quỉ quái, gặm xương ṇi giống, xẽ thịt lẫn nhau, hằng ngày xăy ra những tấn tuồng thảm thương bi kịch, ngó đă mơi mắt, nghe đă nhàm tai, khiến cho giọt lụy thương tâm của khách ưu thời mẫn thế không thể nào ngừng lại được.

May sao, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế c̣n thương tới chúng sanh, đem Đại Đạo mà hoằng khai Phổ Độ, cái thời kỳ nầy tức là cái thời kỳ của chúng ta sẽ đặng thoát ly cái ṿng khổ hải rồi đây. Cho nên Đức Chí Tôn  lấy ḷng từ bi mà ra sắc lịnh ban bố cho chúng ta, buộc chúng ta phải kính yêu đồng loại, thương xót lẫn nhau, cứ noi đạo đức mà làm, th́ ngơ hầu mới thoát qua đặng đời mạt kiếp.

Ấy tấm ḷng háo sanh của Chí Tôn ân cần đến như thế, chúng ta há phải là loài sâu cỏ mà không cảm động chút t́nh hay sao?

Vậy th́ cái lương châm bác ái nầy chính là một bài học vỡ ḷng, một phương thuốc bổ thần cho ta đó. Đạo hữu chúng ta phải tính sao đây? Bổn phận chúng ta phải yêu nhà, yêu nước, yêu giống, yêu ṇi, yêu luân lư cang thường, yêu tinh thần đạo đức, anh em bốn biển như một nhà, như thế mới phải là người có đức tính nhơn ái và hoàn toàn đạo đức vậy.

Bần Đạo vẫn hết ḷng thương yêu đồng loại và muốn cho ai ai cũng có ḷng thương yêu như ḿnh; bởi vậy cho nên phóng tâm viết ra cuốn sách nhỏ nầy để cống hiến cùng chư Đạo Hữu. Mong rằng chư Đạo Hữu để ư đến cho, ấy tức là Bần Đạo đặng cái âm ba của chư Đạo Hữu chiếu cố thương yêu đến vậy.

 

Yêu nhau xin nhớ mấy lời

Bức Cương Ngũ Đức muôn đời soi chung./.

 

 

HẾT.

 

 




   HOME