Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ

            Toà Thánh Tây Ninh



        Lược-Giải
Tòa-Thánh Tây-Ninh

 

        Soạn-Giả : VÕ-THÀNH-LƯỢNG.



               Hội-Thánh Phước-Thiện
                     Giữ Bản Quyền

                        Đinh Mùi Niên
                                1967

                       

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                    

               

 

                Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh

 

 

Lời Tựa

Buổi Hạ-Nguơn Thiên-Cơ Vận-Chuyển.
Miền Đông-Á ân-huệ nhuần chan.
Năm Bính-Dần nhằm tiết xuân-quang.
Đức TỪ-PHỤ giáng đàn Khai-Đạo.

Đồng thời lại tá-danh là Cao-Đài Tiên-Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha Tát và dùng huyền-dịu Tiên-Gia giáng-cơ thâu-phục Lương-Sanh ân-tứ vào hàng Chức-Sắc Thiên-Phong, trong Chức-Sắc có ba Phái: " Thái, Thượng và Ngọc " thể hiện Tam-Giáo qui nhứt mà lập thành Hội-Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, để tượng trưng Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn tại thế-gian nầy đặng độ rỗi quần-sanh qui hồi cựu vị.
Đức Chí-Tôn dạy tạo thành Tòa-Thánh nơi Tỉnh Tây-Ninh. Ngôi Tòa-Thánh gồm có ba Đài: " Bát-Quái, Hiệp-Thiên và Cửu-Trùng " ( nội-tâm và ngoại-điện ) dùng hình ảnh cổ-tích đấp vẽ nguy-nga, sự kiến trúc rất nên uy linh đồ sộ. Ngôi Tòa-Thánh cốt yếu là trụ một khối đức tin của toàn nhơn-loại.
Ấy vậy, Đạo là Vô-vi nhưng biểu-dương cho có hữu-hình, nhờ sự hữu-hình ấy mới tìm lẽ vô-vi, cũng như thực hành Thể-Pháp mà đạt thành Bí-Pháp.
Tôi đây chưa phải người quảng kiến đa văn, tầm chương trích cú mà lại luận-phú làm thi, vốn phận trí siển tài sơ, có lẽ nào lại viết văn đặt sách.
Song le, trước đây tôi có được nghe và lãnh hội một phần nào những lời vàng tiếng ngọc của Đức Hộ-Pháp lắm khi giảng giải những di tích cổ-truyền lấy làm cao-siêu mầu-nhiệm, nhờ tài liệu đó và sưu-tầm thêm kinh sách của Thánh trước Hiền xưa, tôi đặt theo điệu thơ song thất, lược giải đại cương góp nhặt trong quyển sách nầy, để cống hiến chư quí vị, trong Đạo cũng như ngoài Đời được xem. Nếu có điều chi sơ-thất, xin quí vị niệm tình rộng thứ.
Soạn-Giả : VÕ-THÀNH-LƯỢNG.

 

 

Đầu-Đề

Hình Tòa-Thánh tượng-trưng Tam Bảo,

Tinh, Khí ,Thần Cơ-Đạo hiển-nhiên .

Cửu-Trùng, Bát-Quái, Hiệp-Thiên,

Ba Đài hiệp một dưới quyền CHÍ-TÔN.

 

Bát-Quái-Đài là Hồn tinh khiết,

Hiệp-Thiên-Đài vốn thiệt Chơn-Thần,

Cửu-Trùng tức thị xác thân,

Thể hình Từ-Phụ giáng trần kỳ ba.

 

Dùng huyền-diệu Tiên-Gia Cơ-Bút,

Lập Chơn-Truyền qui phục Ngũ-Chi.

Lương-Sanh thọ-giáo kịp thì.

Hoát-truyền Đại-Đạo Tam-Kỳ độ nhân.

 

 

 

Vua Nghiêu, Vua Võ, Toại-Nhân, Phạm-Lãi, Khương-Thượng, Bá-Nha, Sào-Phủ, Châu-Mãi Thần.



GIẢI-THÍCH VUA NHIÊU, VUA THUẤN

Khi bước vào trước sân Tòa-Thánh,
Hãy trông lên trên cánh bao lơn.
Vua Nghiêu đại-đức chí-chơn,
Du-hành nơi dãy Lịch-Sơn bấy chừ.

Gặp Ngu-Thuấn nhơn-từ đức-hạnh,
Làm ruộng mầu trong cảnh non cao.
Voi cày chim cấy xôn-xao,
Đường-Nghiêu cảm đức bèn trao ngai-vàng.

VUA HẠ-VÕ

Vua Hạ-Võ chăn dân trị-thủy,
Đào sông Lương sông Vị lưu thông.
Nhờ Ngài lập đại kỳ-công,
Làm cho quyền lợi non-sông dồi-dào.

TOẠI-NHÂN, HỮU-SÀO

Kìa Toại-Nhân Hữu-Sào mẫn thế,
Tạo các Công Kỹ-Nghệ đầu tiên.
Tìm lửa nấu nướng lưu-truyền,
Rèn đồ kim-khí bày yên cửa nhà.

PHẠM-LÃI và TÂY-THI

Nầy Tây-Thi cùng là Phạm-Lãi,
Dụng trí-mưu thâu lại cơ-đồ.
Trong đời chiến-quốc gương phò,
Công thành thân thoái ngũ hò thong-dong.

Ông KHƯƠNG-THƯỢNG

Ông Khương-Thượng một lòng nhẫn nại,
Câu vận thời ngồi tại Bàn-Khê.
Võ-Kiết gánh củi đang về,
Gặp nhau vấn đáp vấn-đề sâu xa.



BÁ-NHA và TỬ-KỲ

Kế đây hình Bá-Nha, Chung-Tử,
Gốc hai người viễn xứ giao thâm.
Đậu thuyền chờ bạn tri-âm,
Tìm hay Kỳ thác giao cầm đập tan.

SÀO-PHỦ và HỨA-DO

Đây Hứa-Do là trang minh-triết,
Tánh phi-phàm vốn thiệt ít ai.
Vua Nghiêu nghe tiếng Hiền-Tài,
Toan nhường ngôi báu cho Ngài trị dân.

Do nghe nói quày chân xa lướt,
Xuống suối sâu khoát nước rửa tai.
Không màng chung đỉnh cân-đai,
Mồi danh bã lợi ngán thay bấy chầy.

Sào-Phủ vừa dẫn bầy trâu lại,
Hỏi Do rằng bởi tại thế nào ?
Do phân tự-sự trước sau,
Nghe qua Sào-Phủ đuổi ào trâu đi.

Sợ trâu uống ắt thì chẳng tiện.
Nước ấy vào bẩn miệng đàn trâu...
Thà nương cảnh tịnh non mầu,
An-bần lạc-Đạo mặc-dầu thong-dong.

CHÂU-MÃI-THẦN

Châu-Mãi-Thần là ông Nho-sĩ,
Cơn thất-thời lại bị vợ khinh.
Chăn trâu gánh củi sơn-trình,
Ngâm thi đọc sách riêng mình viu say.

Vợ rẽ nghĩa trước-mai lánh bước,
Sau đắc thời Ông được vinh-hoa.
Bà xin tái hợp một nhà,
Ông bưng tô nước đổ xòa xuống sân.

 

Hình Châu Mãi Thần

……….

 

Bảo hốt đầy đem dâng trở lại,

Thì Ông nhìn đạo ngãi phu-thê.

Bà nghe nhục-nhã trăm bề,

Quyên-sinh rảnh kiếp lỗi thề ước giao.

 

Ông đem an táng bờ ao gần lộ,

Tạc bài thơ trong mộ bia xanh.(1)

Kẻ qua người lại xem rành,

Phi ân bội-nghĩa nhơ danh muôn đời.

 

*     *

*

 

_____________

(1)Thanh-thảo trì biên mộ nhứt khu,

Thiên niên mai cốt bất mai tu.

Đinh-ninh ký ngữ nhơn gian phụ,

Tự cổ tào-khang đáo bạch đầu.

 

   

Ông THIỆN và Ông ÁC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                   Hình ông Ác                                               Hình ông Thiện

 

 

 

 

 

Phần trên đây ngỏ lời tóm tắt,

Còn hai bên để mắt xem qua.

Ông Thiện Ông Ác diễn ra,

Tùy-Văn Tùy-Vũ, cha là Tùy-Kheo.

 

Bởi vua cha noi theo Phật-Đạo,

Giao Tỷ-Phù ngôi báu Tùy-Văn.

Dối sai Tùy-Vũ ân cần,

Ra đi chiêu-mộ tài-thần Hàn-Châu.

 

Khi xong việc về chầu Thánh-Chỉ,

Thấy ngai-vàng kế vị Tùy-Văn.

Vũ xung khí nộ rần-rần,

Rằng: anh hiền hậu trị dân không bền.

 

Giao ngọc-ấn tôi lên chấp-chánh,

Văn nghe qua chạy lánh Thiền-Môn.

Cầu cha lạy Phật Bảo-tồn,

Tùy-Văn đắc Đạo huờn-hồn Phật-căn.

 

Vũ thấy thế ăn năn giác ngộ,

Nhờ ân-hồng Phật độ siêu sinh.

Cho hay bạo ác mặc tình,

Hồi đầu hướng thiện siêu-sinh Thiên-Đường.

 

 

CÂN CÔNG BÌNH

 

Hình Cân Công Bình

 

Ở trần-khổ toan phương giải khổ,

Mang kiếp sanh tầm chổ vĩnh sanh

Khá tua lánh dữ làm lành,

Đừng toan mưu độc chớ ganh tài hiền.

 

Xin ghé mắt môn tiền cho hãn,

Cân công bình nắm cán do Thiên.

Cân điều tội phước trần duyên.

Tội nhiều sa-đọa, phước liền siêu-sanh.

 

 

 

 

HÌNH TAM THÁNH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                Hình Tam Thánh ký hoà ước

 

Hình Tam-Thánh tạc rành trên vách,

Tiền căn đều ở Bạch-Vân-Am.

Thấy đời nhiều kẻ gian tham,

Giết người lấy của giả tâm dối lời.

 

Lòng chẳng khứng thờ Trời kỉnh Phật,

Tánh càng ưa vật chất kim-tiền.

Những mong trọng tước cao quyền,

Ngựa xe chật cửa bạc tiền đầy rương.

 

Thấy nơi chùa dâng hương bái tạ,

Lại nói rằng Phật giả vô ngôn.

Kệ-kinh gọi món ru hồn,

Tánh hay ngạo-báng trí khôn ám mờ.

 

Nên Tam-Thánh tờ hòa ước,

Cầu CHÍ-TÔN rưới phước ban ơn.

Hoằng-khai Đại-Đạo độ nhơn,

Tạo đời Thánh-Đức Hạ-Nguơn Bảo-tồn.

 

Đời hết trách Phật-Tông vô giáo,

Tự hiểu “Đời” do Đạo gây nên.

Công-bình bác –ái nêu lên,

Nho-Tông chuyển-thế trở nên dân lành.

 

Xin nhắc lại quí danh tam vị,

Nguyễn-Bỉnh-Khiêm nguyên-thủy Việt-Nam.

Nguyệt-Tâm người Pháp siêu-phàm,

Cộng-đồng với lại Tôn-Văn người Tàu.

*

 

ĐỨC HỘ-PHÁP

 

Chơn chẩm-rải bước vào trong cửa,

Mắt trông nom bàn giữa ngó vô.

Chính Ngai Hộ-Pháp Di-Đà,

Hữu có thượng-Phẩm tả là Thượng-Sanh.

 

Phía trên vách tạc rành chữ “KHÍ”,

Ngay dưới chân lại ký đầu-xà,

Ngài cầm Cửu-Khúc Giáng-Ma,

Hiệp-Thiên Chưởng-Quản đuổi tà trục tinh.

 

Thâu các Đạo Hữu-hình thống nhứt,

Giữ huyền-Cơ nắm Luật Đạo, Đời.

Trông nom dìu bước giúp lời,

Dữ lành thưởng-phạt do nơi Đức Ngài.

 

Dưới quyền có Tiếp,Khai,Hiến,Bảo,

Phò Bút-Cơ chu đáo Pháp-Chi.

Đứng trung-gian,buổi Tam Kỳ,

Trời người hiệp một Thiên-thi định rành.

 

 

 

Hình Đức Hộ Pháp (đứng giữa)

 

*

 

CHỮ-KHÍ

 

 

Chữ KHÍ là khinh-thanh chi khí,

Tức là Trời nguyên-thủy biến sanh.

Hạ-Nguơn chuyển máy huyền-linh,

Ở sau tận độ chúng sinh thoát trần.

*   *

 

ĐỨC THƯỢNG-PHẨM

 

 

Đức Thượng-Phẩm về phần Chi-Đạo,

Nắm trọn quyền truyền giáo Thiên-Phong.

Cầm Tu-Phiến phất phướn hồng,

Độ hồn sanh chúng thoát vòng lao-lung.

 

Phận Ngài nơi Cữu-Trùng cao cấp,

Đối với Ngài Chưởng-Pháp đồng quyền.

Nhưng Ngài ở cửa Hiệp-Thiên,

Thánh-Thất, Tịnh-Thất trọn quyền xét soi.

 

Ngài lại là Trạng-Sư cải Luật,

Cả Tín-Đồ binh-vực đỡ nâng.

Dưới có bốn vị Thời-Quân,

Tiếp,Khai,Hiến,Bảo đều tuân quyền hành.

 

 

NGÔI THƯỢNG-SANH

 

Đây là Ngôi Thuợng-Sanh liên kế,

Ngài cầm quyền Chi-Thế định phân.

Nắm cây Phất-Chủ Phướn-Thần,

Giắt Thư-Hùng-Kiếm độ nhân kịp thì.

 

Phận sự Ngài cũng y Thượng-Phẩm,

Tuy đồng quyền trách-nhậm riêng nơi.

Vì lo Thế-Đạo tạo thời,

Chủ-phòng Cáo-Luật giúp Đời kỳ ba,

 

 

*    *

*

 

THẤT ĐẦU XÀ

 

 

Xem xuống Thất Đầu-Xà trương vảy,

Quấn vòng quanh ba cái cẩm-đôn.

Tượng-trưng quỉ-xác ma-hồn,

Thất-tình là nó giục lòng người ta.

 

Hỉ,Lạc,Ái là ba giống tốt,

Ngước đầu lên gieo hột giống lành.

Ai,Nô,Ố,Dục cạnh tranh,

Cho đầu cúi xuống đừng sanh lòng tà.

 

 

CỬU-TRÙNG-ĐÀI

 

Nơi Cửu-Trùng tạo ra nhiều cảnh,

Trên sao giăng chói ánh Cửu-Thiên.

Dưới phân chín cấp nối liền,

Tượng-Trưng Cửu-Phẩm Thần Tiên Thánh-hình.

 

Lại biểu lộ tứ-linh trên nóc,

Cột hai hàng ngắm dọc rồng xanh.

Cột tiền rồng đỏ ngư tranh,(1)

Cột trong Bát-Quái rồng đoanh màu vàng.

 

Bốn cột tiền kế hàng rồng đỏ,

Đơm hoa sen, gương , ngó rất xinh.

Biểu-dương nơi cửa Tổ-Đình,

Hạ-Nguơn tứ-chuyển thể hình Long-Hoa.

 

 

RỒNG BA SẮC VÀNG, XANH, ĐỎ

 

Rồng ba sắc tỏ ra Tam-Phái,

Hiện sắc vàng là Phái-Thái Phật-Tôn.

Sắc Xanh Phái-Thượng Tiên-Môn,

Sắc đỏ Phái-Ngọc Nho-Tông làm nền.

 

__________

(1)Nói  về hàng”Cột” theo lẽ cột tiền phải ghi kế bài giải trên bao-lơn, nhưng tác-giả muốn để sau giải về “cột” gôm một lần cho tiện. Xin quí độc giả thông cảm

cho.

 

 

ĐÀI THUYẾT-ĐẠO

Đài Thuyết-Đạo hai bên đối-diện,

Dưới rồng xanh hả miệng phun ra.

Sáu tia lục-dục đó mà,

Tích vua vô Đạo ấy là Phò-Dư.

 

Lòng bạo-ác mong trừ Đạo Khổng,

Sự bất-tường dấy động Thiên-Tai.

Sau khi thiết lập một đài,

Cầu Trời khẩn Phật cứu tai dân lành.

 

Hứa Chơn-Quân hiện hình mách bảo,

Phải yêu cầu Khổng-Giáo hóa-dân.

Nhà vua cũng phải tu-thân,

Ơn trên rưới phước giảm dần tai ương.

 

Khi Phò-Dư còn đương bái lễ;

Có rồng xanh phụ-thể lộ-hình.

Tích xưa nên khá đinh-ninh,

Ngày nay Đại-Đạo thể hình ra đây.

*    *

 

 

*

 

 

  

BẢY CHIẾC NGAI

 

 

Trong có bảy chiếc Ngai vàng ánh,

Chạm Tứ-linh vi-cánh đẹp thay.

Đầu –Sư ba chiếc hàng ngoài,

Kế ba Chưởng-Pháp đến Ngài Giáo-Tông.

 

Ấy nhơn-phẩm do trong Thiên-Đạo,

Dụng cang thường khuyến bảo lê-dân.

Kể từ Giáo Hữu trở lên,

Gọi là Hội-Thánh ở bên Cửu-Trùng.

 

*     *

*

CUNG ĐẠO

 

Trước Bát-Quái một cung hoàn hảo,

Đài “Thượng -Thiên” “Cung-Đạo” cũng là…

Nhìn lên vòi-vọi nguy-nga,

Có hình Thượng-Phẩm cùng là Ngọc-Cơ.

 

Để di-tích ban sơ khai-Đạo,

Nhờ Ngọc-Cơ thấu đáo huyền-vi.

Trời người nay muốn thông-tri,

Hiệp-Thiên Chức-Sắc cầu thì nơi đây.

 

*     *

*

 

 

 

 

BAO LAM GIỮA

 

 

Bao lam giữa có mây năm sắc,

Biểu-lộ hình Đức Phật Thích-Ca.

Phía tả Khổng-Thánh Nho-Gia,

Còn bên phía Hữu ấy là Lão–Quân.

 

Là ba vị chấn-hưng Tam-Giáo,

Do Thiên-Cơ Khai-Đạo Nhị-Kỳ.

Kế dưới Tam-Trấn Oai-nghi,

Thay mặt Tam-Giáo Tam-Kỳ hiển-nhiên.

 

Là Đức lý Đại-Tiên Thái-Bạch,

Bổn Phận Ngài thay mặt Tiên-gia.

Phía-hữu Quan-Âm Phật-Bà,

Thay mặt cho Đức Thích-Ca cứu-nàn.

 

Còn phía tả là Quan Thánh-Đế,

Về phần ngài thay thế Đạo-Nho.

Kế dưới Đức Chúa Jésus,

Đến Ông Khương-Tử Đời Chu Phong-Thần.

 

 

*    *

*

 

 

CÁCH THỜ PHƯỢNG

 

Cách thờ-phượng xin phân nghe kỹ,

Cơ nhiệm-mầu Thiên-ý diễn ra.

Phật là Đức Phật Thích-Ca,

Tiên là Thái-Bạch, Thánh là Jésus.

 

Còn Thần-Đạo đời Chu Khương-Tử,

Bảy chiếc Ngai căn cứ đạo nhơn.(1)

Ngũ-Chi Đại-Đạo Chí-Chơn,

Phô bày trong buổi Hạ-Nguơn đó là…

_________

 

 

 

BAO LAM PHÍA TẢ

 

 

Xin ghé mắt xem qua phía tả,

Trên bao lam gồm cả bảy ông.

Ấy là Thất-Thánh cộng-đồng,

Đủ đầy tài đức khỏi trong phong thần.

 

Xin tóm tắt danh nhân cho biết,

Lý-Thiên-Vương vốn thiệt tài ba.

Na-Tra,Kim-Tra,Mộc-tra,

Chấn-Tử Vi-Hộ, cùng làn họ Dương.(1)

 

__________

(1)họ Dương là :Dương Tin.

 

BAO LAM PHÍA HỮU

Còn phía hữu trình tường cho rõ,

Trong Bao-lam cũng có Bát-Tiên.

Kỵ thú quá hải diệu-huyền,

Trình bày sơ lượt Bát-Tiên hiệu là:

 

Hớn-Chung-Ly,Thể-Hòa, Tương-Tử,

Tào-Quốc-Cựu, với Lữ-Đồng-Tân.

Tiên Cô đứng bậc chí-nhân,

Thiết-Quái, Quả-Lão, trọn phần Đông-Du.

 

 

*      *

*

 

BÁT QUÁI ĐÀI

 

Đại-nghiệp Đạo thiên thu tồn tại,

Lộng-lộng Đài Bát-Quái “Thần-Hồn”.

Tịnh tâm tưởng niệm Chí-Tôn,

Thiên-Nhãn trên quả càng-khôn chói lòa.

 

Sao giăng ánh ngân hà nhấp-nháy,

Đủ ba ngàn lẻ bảy mươi hai.

Cơ-mầu Thiên-Lý phô bày,

Có đèn Thái-Cực đêm ngày sáng soi.

*    *

*

THÁNH TỬ ĐẠO

 

Sự thờ-phượng giải rồi đoạn trước,

Riêng nơi đây lần lượt trình bày.

Thánh-Tử-Đạo,cũng thờ đây,

Hi-Sinh vì Đạo thương Thầy mến dân.

 

Người dũng-cảm tận-trung báo-quốc,

Chí đởm-đương thống nhất giang-san.

Sống nghĩa khí thác vinh quang,

Sống lo Quốc Đạo thác an linh hồn.

*     *

*

SỰ CÚNG KIẾN

 

Sự hiến lễ Chí-Tôn cao cả,

Những rượu trà hoa quả hương đăng.

Bông Tinh , Rượu Khí, Trà Thần,

Gọi là Tam Bửu kính dâng đủ rồi.

*    *

*

HAI DÀN BÁT BỬU(1)

 

Làm người phải trau dồi đức hạnh,

Trọng luân-thường giữ tánh nghĩa-nhân.

Từ Thiên-Tử, chí thứ-dân,

Dù Nam hay Nữ tu-thân hưởng nhàn .

 

Kìa trước điện hai hàng Bát-Bửu,

Đã phô bày tả hữu hiển-nhiên.

Pháp mầu nầy của Bát-Tiên,

Đông-Du quá hải diệu-huyền ngàn xưa.

 

Nhắc các vị Tiên khi chưa đắc Đạo.

Cũng là người cha tạo mẹ sinh.

Cũng mang huyết nhục thể hình,

Phò vua giúp nước hy-sinh cứu đời.

 

________

(1)Theo lẽ dàn bát-bửu giải kế bảy chiếc Ngai vàng, nhưng vì dựng ra hai bên, nên tác giả  muốn giải trong Bát-Quái-Đài rồi,trở ra sẽ giải Đàn Bát Bửu đặng nhắc luôn về việc tu-hành, kết-thúc nội-tâm rồi đi ra bên ngoài cho gọn câu văn.xin quí độc giả thông cảm cho.

 

Ông thì sớm thức thời ẩn dật,

Ông còn ưa mũ ngọc đai vàng.

Lợi danh chung đỉnh nhộn-nhàng,

Rốt cuộc tầm chốn lâm-toàn lo tu.

 

Nên Bửu-Pháp thiên-thu tồn tại,

Để người đời xét lại cho tường.

Nào Thần, nào Tướng, nào Vương,

Sớm lo giác-ngộ tầm đường siêu sanh.

*

*      *

*

 

  

 

THIÊN NHÃN TRÊN VÁCH

 

 

Ra ngoài ngắm chung quanh cho hản,

Bốn phía Đền Thiên-Nhãn phô-trương.

Có sen, Bông, ngó, lá, gương,

Tượng hình Thái-Cực Âm-Dương vận hành.

Biến Tứ-Tượng nãi sanh Bát-Quái,

Thập-Nhị-Chi lại với Thập-Can.

Tượng trưng nơi cảnh Niết-Bàn,

Đạo sanh vạn-vật khắp ngàn kiền-khôn.

 

 

Sen là vật gương trong giá trắng,

Tuy ở bùn mà chẳng nhiễm bùn.

Cho nên Đức Phật trọng dung,

Để làm Liên-Tọa gợi lòng người tu.

 

*     *

*

 

HAI CON HẠC TRÊN MÁI-HIÊN

 

Hạc trên hiên ngao du kết cánh,

Lướt bể trần gội ánh Thái-Dương.

Mồi ngon vật béo khinh thường,

Sớm xem nước biếc tối nương non mầu.

 

Thân Hạc nội mặc dầu bụng trống,

Dạo đó đây đời sống tự-do.

Gà nhà lúa vựa tuy no,

Hạc vui cảnh trí gà lo lửa hồng.

 

*     *

*

CHÙM NHO

 

 

Buổi Hạ-Nguơn Nho Tông Chuyển thế,

Kìa chum Nho mượn thể hữu-hình.

Phô-trương cho cả dân-sinh,

Trông vào mãi nhớ hành-trình Nho-Gia.

 

Đặt rượu Nho cũng là yếu-lý,

Dây là tinh, trái là Khí, rượu là Thần.

Về Đời, làm lễ kỉnh dâng,

Về Đạo, thể cách dưỡng-thần tồn tâm.

*    *

*

KIM MAO HẨU

 

 

Mọi lẽ có uyên-thâm thực-tế,

Đạo vô-vi phải thể hữu-hình.

Kim-Hẩu giữ cửa Ngọc-Kinh,

Rước người đạo đức vào trình Chí-Tôn.

 

*      *

*

 

 

PHẬT DI LẠC CỞI BẠCH HỔ

 

 

 

Đi vòng lại tiền môn lần nữa,

Hãy nhìn lên nóc giữa Hiệp-Thiên.

Có Đức Di-Lạc Chưởng-quyền,

Vâng lịnh Từ-Phụ đương-nhiên trị-vì.

 

Buổi Đại-ĐạoTam-Kỳ Phổ-Độ,

Ngài cỡi con Bạch-Hổ trưng bày.

Năm Dần(1926) Đại-Đạo Hoằng-Khai,

Chí-Tôn giáng thế Cao-Đài độ nhân.

*     *

*

BẦU LINH GẬY SẮT

 

Nóc tả hữu xin phân vắn tắt,

Có bầu-linh gậy sắt đôi nơi.

Ấy là Bửu-Vật giúp Đời.

Của Ông Thiết-Quả trong thời Đông-Du.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*     *

*

 

BÓ HOA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Còn bó-hoa đời Chu lưu-tích,

Vua U-Vương giải-thích chiêm-bao.

Rằng hoa hiện rõ ba màu,

Trên trời rớt xuống là trao mộng lành.

 

Sẽ có Đạo Tam-Thanh giáng thế,

Thức tỉnh đời nên phế dục tình.

Quả nhiên Phật-tổ giáng linh,

Nhị-Kỳ độ chúng sửa mình trau tâm.

*   *

*

 

 

LẦU CHUÔNG VÀ LẦU TRỐNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phía hữu trống lôi-âm tỉnh giấc,

Bên tả chuông Bạch-Ngọc giác-mê.

Kêu ai lạc bước quay về,

Âu tầm đường chánh sớm về cửa  không.

 

 

 

HÌNH ĐỨC QUYỀN GIÁO-TÔNG

 

 

Hình Đức Quyền Giáo Tông bên tả,

Ngài cũng là Anh cả Môn-sinh.

Thế-Thiên về mặt hữu-hình,

Dìu đường Đời, Đạo gây tình tương-thân.

 

Ngài Chưởng –Quản  về phần thể xác.

Còn phần hồn về Bát-Quái-Đài.

Trên đường sứ-mạng bằng nay,

Thông công khắp cả bảy hai Địa-Cầu.

 

Ba sáu cõi Thiên-Tào diệu-Vợi,

Và ba ngàn Thế-Giới thinh-thinh.

Liên-quan các cảnh vô-hình,

Đặng mà cầu rỗi vong linh siêu-phàm.

*    *

*

 

HÌNH BÀ NỮ ĐẦU-SƯ

 

Hình xách giỏ  hoa-lam tại thử,

Hiện hữu là Bà Nữ Đầu-Sư.

Hành quyền giữ dạ vô-tư,

Dắt dìu Nữ-Phái xem như ruột rà.

 

Chức-Sắc Nữ thì Bà tột-Phẩm,

Buổi Tam-Kỳ thọ bẩm ân-Thiên.

Đỡ nâng Nữ-Phái đủ quyền,

Sấn tay nắm mối Chơn-Truyền hóa-dân.

 

 

*     *

*

 

HAI CHỮ NGHĨA NHÂN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kìa hai chữ Nghĩa-Nhân rành-rạnh,

Để người tu luyện tánh rèn lòng.

Trở nên mỹ-tục thuần-phong,

Đó là yếu lý Nho-Tông thuyết-trình.

*      *

*

 

  

LONG Mà ĐỨNG TRÊN QUẢ ĐỊA-CẦU

 

 

Nóc Cửu-Trùng phô-hình Long-Mã,

Phụ-Hà-Đồ đứng quả Địa-Cầu.

Dở chân định hướng ngoáy đầu,

Ngó về Đông-Á Đạo mầu hoằng-khai.

 

Xưa Phục-Hi may duyên gặp đặng,

Thâu Hà-Đồ thành lập Bát-Môn.

Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Khôn…v.v.

Tức là Bát-Quái nhờ Long-Mã nầy.

 

Sông Hoàng-Hà xưa đây xuất-hiện,

Cả năm châu bốn biển thanh-bình.

Hạ-Nguơn Long-Mã tượng-hình,

Chí-Tôn giáng thế sanh-linh cộng-hòa.

 

*      *

*

 

 

 

 

NÓC BÁT-QUÁI CÓ BA VỊ PHẬT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                            Nóc Bát-Quái có ba vị phật,

 

 

Phật Brama day mặt Tây-Phang.

Phò nguy tế chúng cứu nàn,

Cỡi Thiên-Nga đến trần-gian Nhứt-Kỳ.

 

Phật Civa day về hướng Bắc,

Thổi ống tiêu đạp Thất-Đầu-Xà.

Trừ lục-tặc, thập-tam-ma,

Giục lòng người biết khử tà tầm chơn.

 

Phật Chrisna mình trần chống nạnh,

Cỡi Giao-Long nhìn chánh hướng Nam.

Cổi thân tế độ người phàm,

Chơn trời góc bể chưa nhàm dấu chân.

 

Ba vị phật xây lưng kết chặt,

Độ Quần-linh Nam, Bắc, Tây, Đông,

Đề cao chủ-nghĩa Đại-Đồng,

Gây tình thiện-cảm sống trong dinh-hoàn.

 

Kết-Đề

 

Xin trân-trọng đôi hàng thi-thố,

Nhờ ơn lòng huệ-cố quí Ngài.

Xem lời giảng giải trên đây,

Có chi sơ-thất góp tay giúp vào.

Tấc thành cám cảnh biết bao…

 

-HẾT-

 

Tác thành, ngày 12 tháng 10 Tân-Sửu

(D.L.19-11-1961)

SOẠN GIẢ

VÕ-THÀNH-LƯỢNG

 

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

 

Sau đây là những bài thi của các Văn-Nhân mộ Đạo phụng họa

 

  “CẢM ĐỀ TÒA THÁNH của ĐỨC THƯỢNG SANH”.

 

                    *     *     *

TÒA-THÁNH TÂY-NINH CẢM-ĐỀ

 

Tòa-Thánh hương đưa thấu chín trùng ,

Nên giương cứu-thế dội phương-Đông

Bức tranh Xã-Hội mây che khuất,

Mùi Đạo huyền-linh gió tỏa lồng.

 

Xông-lướt sông mê thuyền độ chúng,

Vun trồng cội-phúc kẻ ra công.

Khua chuông cảnh tỉnh vang khuya sớm,

Giục khách phồn-hoa lánh bụi hồng.

 

                                                          CAO THƯỢNG-SANH

 

 

HỌA NGUYÊN-VẬN

Tín –Ngưỡng hương xông thấu Cửu-Trùng,

Ba Đài đứng sựng giữa trời đông.

Chở che trăm họ thân tâm vững,

Ngăn cản ngàn phương gió bụi lồng.

Đạo nghiệp biểu-dương nền Chánh-Giáo,

Cơ-Đồ chiêu tập sức nhơn-công.

Tôn-nghiêm một cõi đời chiêm-bái,

Soi rạng đường tu ngọn đuốc hồng.

 

                                                     BẢO PHÁP

 

Thánh-Tòa chất- ngất chiếu muôn trùng,

Hùng vĩ vươn mình giữa cõi đông.

Xây dựng nên hình nêu tánh hiệp,

Điểm tô ra vẻ rạng gương lồng.

Năm châu góp mặt gây thành khối,

Bốn biển một nhà gắng lập công.

Đại-nghiệp vững bền do tín-đức,

Ngưỡng-mong Từ-Phụ rưới ân hồng.

 

                                                        HIẾN-PHÁP

 

*      *

*

 

Tổ-Đình vòi-vọi rộng ngàn trùng,

Trụ vững tinh-thần rạng Á-Đông.

Chuyển-thế cứu nguy thân cá-chậu,

Khai cơ giải-thoát phận chim lồng.

Sấm truyền  dạy chúng mau bồi đức,

Thánh-Giáo khuyên người sớm lập công.

Trên thuận dưới hòa xây nghiệp Đạo,

Chí-Tôn chan rưới giọt ân hồng.

 

                                                          Phối –Sư THÁI ĐẾN THANH

 

Tam-Giáo qui-nguyên hiệp Cửu-Trùng,

Quảng khai Đại-Đạo tại Phương-Đông.

Lôi-Âm Bạch-Ngọc khua vang dội,

Bửu-Điện hào quang chiếu diệu lồng.

Luật-Pháp trừng răn người nặng tội,

Công-bình phong thưởng kẻ dày công.

Ma-Ha gội rữa ngần tâm thánh,

Phất-Chủ quét tan sạch bụi hồng.

 

                                                     Phối-Sư THƯỢNG-TRÍ-THANH

 

*    *

*

 

Bát-Quái Hiệp-Thiên giữa Cữu-Trùng,

Tạc hình Bạch-Ngọc dưới Trời Đông.

Cột rồng sừng-sựng huyền-linh chiếu,

Thiên-Nhãn long lanh Thái-Cực lồng.

Kiến-trúc mười năm nhờ tận lực,

Tạo thành nghìn thuở để lưu công.

Lịch xinh Bửu-Điện tầng cao ngất,

Trụ khối đức-tin sánh nhựt hồng.

 

                                          Giáo-Hữu THƯỢNG-CẢNH-THANH

 

*     *

*

 

Các Đấng Thần Tiên hội cửu-Trùng,

Tượng-trưng Tòa-Thánh rạng Trời Đông.

Hiệp-Thiên Điển chiếu mây đoanh phủ,

Bát-Quái hương xông khói tạc lồng.

Tam-Giáo chấn-hưng xây thiện cảnh,

Ngũ-chi qui-phục tạo kỳ công.

Lôi-Âm trổi tiếng nhơn-sanh tỉnh,

Thuyền-Đạo nghinh trang rước khách hồng.

 

                                                       Chơn-Nhơn PHẠM-MỘC-BỔN

 

*      *

*

 

Cứu thế kỳ ba sắc Cửu-Trùng,

Cao-Đài chói rạng khắp Trời-Đông.

Cảnh trần mờ mịt mây đoanh phủ,

Đuốc huệ ngần soi ánh chiếu lồng.

Bể khổ gay thuyền chờ rước khách,

Đường Tiên trổi bước đạt nên công.

Ví ai biết đặng thân là mộng,

Xủ áo phồn hoa ẩn bóng hồng.

 

                                           Giáo-Hữu NGỌC-NHƯỢN-THANH

*      *

*

Mây lành che phủ khắp Thiên-Trùng,

Xuất-hiện Lôi-Âm tại cõi Đông,

Đuốc huệ soi tan màn hắc ám,

Lòng-Tu phất sạch bụi trần lồng.

Dựng nền Chánh-Giáo dìu sanh chúng,

Mở mặt huyền-linh hiệp Hóa-Công.

Bến  giác bườm trương thuyền độ chúng,

Khuyên đời kịp bước tận thang hồng.

 

                                                                 LÊ-THIỆN-TÂM

*      *

*

 

Nhìn Quả Càn-Khôn vọi Cửu-Trùng,

Thánh-Tòa huyền-bí giữa Trời Đông.

Tường-vân lóng lánh màu che phủ,

Bửu-Điện nguy-nga Điển chiếu lồng.

Tế-độ nhơn-sanh lo lập đức,

Tuyển-phong phẩm-vị dựng nên công.

Tu-hành kịp buổi Long-Hoa Hội,

Hứng giọt nhành dương rửa bụi hồng.

                                          Giáo-Hữu CAO-HƯƠNG-CƯỜNG

 

*     *

*

 

Bát-Quái Hiệp-Thiên với Cửu-Trùng,

Lôi-Âm-Tự hiện dưới trời Đông.

Tiếng chuông tỉnh thế hơi reo dội,

Ngọn đuốc dìu thân bóng rọi lồng.

Đưa lối Trời người chung hội-hiệp,

Bắc cầu Tiên tục đặng thông-công.

Khách trần ví biết đời dâu bể,

Đường Đạo nhanh chân hưởng phúc hồng.

                                                                    CHƠN-TÂM

*     *

*

Linh quang chiếu-diệu khắp muôn trùng,

Đền-Thánh vươn mình sựng Á-Đông.

Cảnh tịnh Ba Đài nguồn Đạo Khởi,

Mây lành năm thức, sắc xuân lồng.

Trường tu thế-giới Trời ban phép,

Tòa-Hội Long-Hoa Phật chấm công.

Cửu-nhị nguyên-nhân mừng lập vị,

Tượng ngôi Thái-Cực ánh vầng hồng.

                                                                    THÁI-PHONG

 

 

Bát-Quái Hiệp-Thiên với Cửu-Trùng,
Một tòa đồ sộ giữa Trời Đông.
Tiếng Lôi-Âm-Cổ kêu vang dội,
Ngọn Thái-Cực-Đăng rọi chói lồng.
Từ-Phụ giáng lâm truyền Bí-Pháp,
Lương-Sanh triêm-ngưỡng lập kỳ công.
Biểu-dương Bạch-Ngọc nơi trần thế,
Tồn tại nghìn-thu rạng ánh hồng.

 (Võ-Thành-Lượng)

 



Lộng-lộng Đài Cao vọi chín trùng,
Biểu-dương nền Đạo xuất Ư-Đông.
Cờ nêu bác-ái giềng thanh rạng,
Cửa rộng từ-bi khí thoại lồng.
Bạch-Ngọc chuông kêu người tỉnh mộng,
Lôi-Âm trống giục khách bền công.
Xây nền đạt móng thương ai trước,
Lao khổ nhiều phen nhuộm nắng hồng.

 ( Huệ-Ngàn)

Mùi hương lư-ngọc thấu muôn trùng,
Tòa-Thánh Đài Cao rạng Á-Đông.
Bửu-Điện nguy-nga tinh đẩu hiện,
Càn-Khôn chiếu-diệu huệ-đăng lồng.
Biểu-dương Tam-Giáo truyền Chơn-lý,
Phổ độ quần-linh lập quả công.
Giục trống giác mê qui Thiện-tín,
Đường tu kịp bước hưởng ân hồng.

 ( Huỳnh-Bá-Tòng )

Lồng-lộng Đài-Cao đến Cửu-Trùng,
Bửu-Tòa rực-rỡ cõi Trời Đông.
Huyền-linh Bạch-Ngọc hơi chuông dội,
Diệu-Pháp Lôi-Âm tiếng trống lồng.
Muôn kiếp người đời lo lập đức,
Ngàn năm Sử Đạo để lưu công.
Nhà Nam rộng mở nền Chơn-Giáo,
Dìu-dẫn nhơn-sanh thoát bụi hồng.

( Lễ-Sanh: Thái-Quốc-Thanh )

Tòa-Thánh tượng-trưng có Cửu-Trùng,
Chí-Tôn phổ-hóa cõi Trời-Đông.
Tiếng chuông cảnh tỉnh rền non nước,
Đường Đạo cần chuyên thoát chậu lồng.
Cứu-thế mong cầu mau đắc quả,
Lập thân sở nguyện sớm thành công.
Thời kỳ chuyển Pháp qui Tam-Giáo,
Dẫn dắt nhơn-sanh hưởng phúc hồng.

( Phạm-Thị Thu-Tâm )

 

 

TẠO-TÁC TÒA-THÁNH

CẢM ĐỀ

Tòa-Thánh hai hàng cột đúc rồng,
Thợ Trời đào tạo dễ như không.
Tài phàm hay khéo còn lường đặng,
Phép Phật cao siêu chẳng thế đong.
Mọi sự tác thành nhờ chí hiệp,
Muôn điều đắc thắng bởi tâm đồng.
Thiên-thời địa-lợi hòa nhơn-loại,
Trụ khối tinh-thần giữa Á-Đông.

( Phối-Sư: Thượng-Tước-Thanh )

DU-LỊCH TÒA-THÁNH TÂY-NINH

Tây-Ninh Thánh-Địa cảnh Thần Tiên,
Mấy chục năm dư mối Đạo truyền.
Phổ độ Tam Kỳ Trời mở hội,
Cao-Đài vận tải đất khai-nguyên.
Nguy-nga Cung điện nơi trần thế,
Siêu thoát Chơn-linh cõi diệu-huyền.
Khách tục đây còn công quả nặng,
Đường đời vương-víu chửa tròn duyên.

 ( Đông-Y-Sĩ Phong-Thuần Sài-Gòn )

HỌA NGUYÊN-VẬN

Chưa phải là Tiên cũng học Tiên,
Để lo phổ-biến mối Chơn-Truyền.
Nho-Phong hằng giữ câu trung thứ,
Đạo-đức trông về lối thượng nguyên.
Chí dốc an-thân miền tịch-mịch,
Lòng toan lánh mặt chốn ca-huyền.
Kiếp sanh may gặp " Tam-Kỳ độ ",
Nguyện được vuông tròn với Pháp duyên.

( Thuần-Đức. 20-10-58 )



- Chung-




   HOME