GÓP NHẶT CHUYỆN ĐẠO

QUYỂN XVI

  QUANG MINH

Viết xong ngày 6-11-Quí Hợi (1983)

 

MỤC LỤC:

1.TÂM, THẦN, NHĂN, THIÊN ĐỒNG NGHĨA VỚI TRỜI

2.THI CỦA THỪA SỬ TRẤN

3. ĐƯỢC THUA KHÓ LUẬN

4. CHIẾT TRUNG TÂM VẬT

5. VÍA ĐỨC CHÍ TÔN

6.TÍCH TÂY DƯƠNG MẪU Tức PHẬT MẪU

7.DÂY SẮC LỊNH

8.TẠM DU THỦ ĐỨC

9. CÂU LIỄU BÍCH DU CUNG

10. THẬP ĐIỀU GIỚI RĂNG CỦA PHẠM MÔN

 

 

11. PHONG THẦN CÓ THẬT

12.TẠI SAO CÓ TỊCH ĐẠO THANH HƯƠNG

13.CỰC LẠC THẾ GIỚI TẠI THẾ

14. KHỔ HIẾN TRANG LÀ G̀ ?

15. OAI NGHIÊM

16.TRUYỀN TIN THỨ NHỨT

17. TỨ THÁNH

18. NG̉I BÚT ĐỘC HƠN ĐAO KIẾM

19.THÁNH GIÁO CHO CHIẾN SĨ PHÁP HỒI

20. LỤC LONG PH̉ ẤN

21. ĂN CHAY

 

 

1.TÂM, THẦN, NHĂN, THIÊN ĐỒNG NGHĨA VỚI TRỜI

Chúng tôi xin giải thích với những lư lẻ như sau:

1)    Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển

Đức Chí Tôn nói:

“Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng “CON MẮT” mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh:

Nhăn thị chủ Tâm,

Lưỡng quang chủ Tể.

Quang thị Thần,

Thần thị Thiên,

Thiên giả Ngă giả.

 Con hiểu “Thần cư tại nhăn”, bố trí cho chư Đạo Hữu, con hiểu rơ nguồn cội Tiên Phật cho yếu nghiệm là tại đó.

2) Theo Nho Giáo

Tiên Nho thường nói “ Hoàng Thiên Hữu Nhăn” tức ông Trời có mắt. Ngài hằng ḍm ngó sự dữ lành mà thưởng phạt, không v́ tế lễ mà cho phước, không v́ thất lễ mà mang họa.

3) Theo Thiên Chúa Giáo

Kinh Thánh có tích Ca-in giết em ḿnh là A-bên. Ca-in hằng thấy con mắt nh́n ḿnh như quở trách. Ông nhắm mắt lại cũng thấy mà mở mắt cũng thấy. Ông vào một pḥng đóng kín cửa lại cũng thấy mắt ấy.

Ông truyền đào một hầm sâu làm nắp sắt đậy lại nhưng con mắt vẫn trừng ngó ông có sắc giận. Xưa người ta tưởng trái đất có ranh giới, nếu ông đi khỏi  ranh giới trái đất, có lẻ ông không c̣n thấy mắt ấy nữa. Đi sâu vào sa mạc, không cây cỏ thú cầm ông cũng vẫn thấy, đi thét đến mé biển, ông vẫn thấy mắt ấy.

Có người giải mắt ấy là thần lương tâm, nếu Ca-in ăn năng tự hối, chịu tội với Đức Chúa Trời th́ Chúa sẽ tha tội cho.

Mắt ấy là Thượng Đế đó vậy.

4) Giải theo ca dao Pháp

Người Pháp có câu:

“L'oeil Est le miroir du coeur” nghĩa là mắt là cái kiến của trái tim, nghĩa là cái kiến soi tâm.

Lại có câu:

L'oeil est la lampe du corps. Si ton oeil est en bon état, tout ton corps sera éclairé; 23mais si ton oeil est en mauvais état, tout ton corps sera dans les ténèbres.”. (Kinh Thánh Tân Ước). Nghĩa là mắt là đèn của thân. Nếu mắt ngươi tỏ th́ thân ngươi sẽ sáng măi. Nhưng nếu mắt ngươi không tỏ, tất cả châu thân ngươi sẽ trong bóng tối.

Trong một ấn phẩm của Tin Lành nói về sự hiện diện của Đức Chúa Trời, chúng tôi thấy ngoài b́a có h́nh một người dáng Âu Mỹ, trước ngực có con mắt, một bên có lỗ tai, một bên có cái tay cầm viết, tay kia cầm cây cân. Dưới có chứa những câu: “Dieu voi toút, Dieu entend tout Dieu ecrit tout”. (Trời thấy tất cả, Trời nghe tất cả và Trời biết tất cả), lại rất công bằng nên cầm cây cân, ai làm lành được lên Thiên Đàn, ai làm quấy sẽ sa địa ngục.

Vậy con mắt trước ngực của Đức Chúa Trời là Chí Tôn đó vậy.

5) Giải theo Đạo Omoto (Đại Bản giáo của Nhựt)

Hiện xứ Nhựt Bổn có một nền tôn giáo có mục đích qui các tôn giáo trên thế giới làm một và có chủ thuyết đại đồng huynh đệ như Đạo Cao Đài. Họ có cơ bút, có thờ Trời nhưng không tượng trưng bằng Thiên Nhăn mà chỉ thờ chữ “Thần” .

Có lẻ Chí Tôn c̣n ẩn danh chớ chữ Thần Ngài đă giải “Thần thị Thiên, Thiên giả ngă giả”.

Vậy chữ Thần của Đạo Omoto là Chí Tôn chớ chẳng ai lạ.

6) Giải theo Phật Giáo

Chữ Tâm viết nho văn có 3 chấm một ṿng câu  () nên có bài thi như vầy:

Tâm điểm như tinh tượng,

Hoành câu tợ nguyệt tà,

Phi mạo tùng thử đắc,

Tố Phật giả ḍ tha.

Nghĩa là ba chấm dương tinh tú, ṿng câu tợ cung nguyệt khuyết, mang lông đội sừng cũng cho tâm tà vọng, mà thành Phật cũng do tâm ngay thẳng mà ra.

Hơn nữa, Thần Tú thất Pháp cũng do bài thi chữ Tâm c̣n ô nhiễm, c̣n Lục Tổ Huệ Năng cũng nhờ bài thi chữ Tâm siêu việt mà được đắc y bát chơn truyền.

Thần Tú rằng:

Thân thị Bồ Đề thọ,

Tâm như minh kính đài,

Thời thời cần phất thức,

Vật xử nhạ trần ai.

Nghĩa là thân như cây bồ đề, tâm như miếng kiến sáng, giờ giờ cần lau chùi, làm ǵ giấy bụi trần được.

C̣n Huệ Năng chỉnh lại:

Bồ Đề bổn vô thọ,

Minh kính diệt phi đài,

Bổn lai vô nhứt vật,

Hà xứ nhạ trần ai.

Nghĩa là bồ đề không phải cây mà là tâm bồ đề, tức là tâm vô nhiễm, tâm Phật. Cái tánh bổn lai là một trừu tượng mà ví với cái kiến là không đúng. Nó không phải vật th́ làm ǵ bụi trần bám nó được, cần ǵ phải lau chùi nó.

Nhờ tŕnh bày được Phật tâm nên Huệ Năng được Ngũ Tổ Hoàng Mai chọn làm Lục Tổ của Phật giáo Trung Hoa.

Ḥa Thượng Thích Minh Nhựt giải trong Pháp Bửu Đàn Kinh như sau:

“Người tu Thượng Thừa muốn thấy tánh phải thật hành chánh pháp thâm diệu “Trí Huệ Đáo Bỉ Ngạn”. Pháp nầy phải căn cứ ở công phu “Hồi Quang Phản Chiếu” tức là Pháp.”

“Chánh Pháp Nhăn Tàng”

Cho đến phát cảnh yểu yểu minh minh mới thấy cảnh vi diệu là “Bổn Lai Mục Diệu” của ḿnh vậy.

Thế th́ sự thấy Đạo không phải thấy bằng nhục Nhăn, mà thấy bằng tâm linh, trí huệ nên gọi là Nhăn Tàng.

7) Giải theo Lăo Giáo

Lăo Tử nói chữ Thiên như vầy:

“Thiên hà ngôn tai,

“Tứ thời hành yên,

“Vạn vật sanh yên”.

Trời có nói ǵ đâu mà 4 mùa vận hành xuân, hạ, thu, đông đều có, vạn vật tự nhiên sanh hóa cũng nhờ âm dương tương hiệp.

Thái cực sanh lưỡng nghi, lưỡng nghi sanh tứ tượng, tứ tượng sanh bát quái biến hóa vô cùng rồi nhứt bổn tán vạn thù, vạn thù sanh nhứt bổn. Lẻ trời đất tự nhiên vận hành nên gọi là Vô Vi Chi Đạo.

Kết Luận:

Chữ Nhẫn của Chí Tôn, con mắt mà Ca-in của Thiên Chúa gặp, chữ Hoàng Thiên của Khổng Tử, chữ mắt là kiến soi tâm của dân Pháp, chữ Thần của Omoto giáo, chữ Đạo của Tiên giáo đều đồng nghĩa cùng chữ Trời.

C̣n nếu muốn hiếu hạnh với người tạo ra ta, ta hăy hằng tưởng niệm Đấng tạo ra ta hằng ngày, tức là phải Tu, phải tŕnh diện mai chiều trước mặt Thượng Đế, nên dầu tôn giáo nào họ cũng hoặc tham thiền, hoặc đi nhà thờ, hoặc đi chùa, hoặc đến Thánh Thất để tŕnh cái Tâm, cái Thần của họ cho người chủ họ hầu tỏ dấu biết ơn Đấng đă tạo hóa ra họ.

 

 

2.THI CỦA THỪA SỬ TRẤN

 

Trước khi lên máy bay đi Trùng Khánh (Trung Quốc) ông có làm bài thi:

Giáp máy âm dương hỏi thử nào?

Đông Tây Nam Bắc nhắc càng đau.

Đằng vân giống hướng chầu Hồng Lạc,

Hơ hải định phương chực Việt Trào.

Quạt gió nhắn tin chan với chứa,

Đèn trăng gửi lại ruột gan xào.

Tử sanh tà chánh thôi thời thế,

C̣n mất nên hư dễ luận nào?

 

Bài nầy ông Trấn gởi cho anh em chiến sĩ Pháp hồi tại Paris năm 1944 được ông Trần Tấn Lộc ghi  trong quyển  Hồi Kư Pháp Hồi (1939-1948) trang 175.

Xin sơ lược thời cuộc buổi ấy, Đạo bị cấm đoán, Đức Hộ Pháp kêu gọi thanh niên Đạo t́nh nguyện đi lính để giúp Pháp bị Đức xăm lăng, hành động ấy đổi lại Pháp sẽ cho Đạo Cao Đài được tự do tín ngưỡng.

Ông Luật Sự Phạm Ngọc Trấn cũng t́nh nguyện qua tới Pháp. Thượng cấp thấy ông lanh lợi mới cho học lớp gián điệp quốc tế. Sau khi ra trường ông được Đồng Minh tín nhiệm cử đi lấy họa đồ Phát Xít Nhật, Đức, Ư (Đồng Minh lúc nầy gồm Pháp, Anh, Mỹ).

Lúc nầy Tàu đang bị Nhựt xăm lăng nên ông lên phi cơ qua Trùng Khánh chụp h́nh lấy họa đồ điểm các căn cứ quân sự để Đồng Minh bỏ bom không sai lạc.

Ông nghĩ ḿnh đem thân phục vụ cho ai đâu mà nước ḿnh vẫn c̣n nô lệ nên sự hy sinh của ông không được thỏa chí, hành động một cách miễn cưỡng, nó gợi sự buồn ḷng của một trang yêu nước.

Nhưng câu kết ông Trấn chưa hoàn toàn thất vọng v́ sự phục vụ của ḿnh c̣n cao thượng hơn phục vụ tổ quốc của một nước mà là phục vụ cho nhơn loại, cho vạn quốc. V́ nhờ sự hy sinh tánh mạng đó mà Đạo được tự do truyền bá, phổ độ được lắm nguyên nhân trở về với Đại Từ Phụ, nên ông an ủi “C̣n  mất nên hư dể luận nào?”

Có lẻ ông chờ sự công b́nh Thiêng Liêng đoái thưởng tới đồng bào Lạc Hồng, Đại Từ Phụ sẽ ban cho họ được độc lập tự do.

Ngày ấy là ngày mùng 9-3-1945 mà trong kiếp sanh ông được gặp.

 

 

3. ĐƯỢC THUA KHÓ LUẬN

 

Trên chuyến xe đ̣ từ Sài G̣n về Tây Ninh, một anh cựu quân nhân kể cho bạn đồng hành nghe câu chuyện hay hay, chúng tôi xin ghi nhận để bạn đọc thưởng thức lẻ được thua.

Số là năm 1946, anh đi lính Liên Minh của ông Tŕnh Minh Thế, hoạt động vùng Trảng Bàng, thường lén ra chợ mua thực phẩm và lấy tin tức t́nh h́nh đối phương. Rủi anh bị bắt giam vào khám Trảng Bàng và bị một cảnh sát ở đây khai thác, đánh anh chết lên chết xuống. Cách vài tháng sau anh vượt ngục trở về chiến khu Bù Lu.

Thời gian Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng Thống, Liên Minh ra thành. Anh quân nhân ra làm Trung Úy oai vệ về thăm nhà ở Long Hoa, khi đến Trảng Bàng anh rủ 5 bạn khác cũng quân nhân xuống xe chơi một chút sẽ về. Ai cũng tưởng có việc ǵ lạ ai dè anh nhớ cừu xưa, anh đi kiếm anh cảnh sát đă hành hạ anh để trả thù.

Lối nữa tiếng t́m kiếm, anh được toại nguyện, đánh đấm túi bụi rồi hỏi:

Mày có biết tao không?

-Tao là thằng Liên Minh tên X ngày xưa mầy đánh tao đó, nay tao thanh toán món nợ cũ. Nói rồi dắt các bạn lên xe về Long Hoa.

Câu chuyện ấy gợi cho một thi nhân làm đề tài Kiến và Cá:

Kiến rơi xuống nước cá xơi liền,

Cả nhảy lên bờ kiến xúm khiên.

Được được thua thua đâu dể luận,

Chẳng qua thất thế phải nằm yên.

 

 

4. CHIẾT TRUNG TÂM VẬT

 

Trong bài điếu văn Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt (1934). Đức Hộ Pháp có luận về sự chiết trung hai thuyết duy tâm và duy vật như sau:

“Theo thời đại khoa học đương nổ lực phát dương nầy, nếu đem cái thuyết duy tâm cực đoan mà phổ hóa chúng sanh, không khỏi bỉ lậu. C̣n nếu chuyển một mặt duy vật mà tiến hành th́ xă hội phải có ngày tiêu diệt về nạng cạnh tranh chiến đấu.

“Vậy phải chiết trung hai thuyết mà dung ḥa th́ đời đặng vừa tấn hóa vừa văn minh khoa học, vừa duy tŕ được tâm hồn Đạo đức.

“Nhờ hiểu nghĩa cao thâm như vậy mà anh cả chúng tôi không v́ hoàn cảnh mà phải quá ư thiên lịch về một mặt nào.”

Hộ Pháp Phạm Công Tắc

***

Đức Quyền Giáo Tông cũng có giáng cơ dạy về sự chiết trung hai thuyết duy vật: Duy vật theo Tư Bản và duy vật theo Cộng Sản:

Bất thiên tả, bất thiên hữu,

Dĩ trung lập ḥa,

Dĩ nhơn nghĩa lập quốc,

Dĩ ơn nhu diệt cường bạo.

          Thượng Trung Nhựt

Phần trên Đức Hộ Pháp nói chiết trung duy tâm và duy vật, phần dưới Đức Quyền Giáo Tông chiết trung duy vật của hai khối Mỹ, Nga mà lập phép trung dung nhơn nghĩa  lấy ôn nhu thắng can cường.

 

 

5. VÍA ĐỨC CHÍ TÔN

 

Trước tiên chúng ta định nghĩa ngày vía  là ngày ǵ? Vía là ngày kỷ niệm hoặc ngày sanh hay ngày tử của một Đấng Thiêng Liêng cao trọng.

Như ngày mùng 8 tháng 4 mỗi năm hay là ngày vía Đức Thích Ca cũng gọi là ngày Phật Đản tức ngày qui vị của Đức Phật. Bên Thiên Chúa giáo, ngày Noel là ngày sinh nhựt của Chúa Jesus christ nhằm 25 tháng chạp Tây mỗi năm, cũng gọi là ngày vía Jésus. C̣n Đức Thái Thượng là Đấng không cha mẹ, nghĩa là không sanh mà có, vậy ngày vía của ông là ngày ǵ? Nhờ câu kinh “Nhị ngoạt thập ngũ, phân tánh giáng sanh”, nên ta mới lấy ngày rằm tháng 2 làm ngày vía.

Bây giờ đến Đức Chí Tôn tức Đấng t hữu hằng hóa, không có ngày sinh cũng không có khi nào tử, vậy tại sao có ngày vía mùng 9 tháng giêng của mỗi năm.

Điều thắc mắc nầy nhiều vị chức sắc tranh luận nhưng giải đáp chưa thỏa măn.

Chúng tôi xin góp phần trong việc luận Đạo ấy chớ chưa chắc lư của chúng tôi hoàn toàn thỏa đáng.

Theo Kinh Thánh, mục Sáng Thế Kỹ nói về Đức Chúa Trời lập ra trời đất:

Ngày thứ nhất sinh ngày và đêm.

Ngày thứ hai sanh Trời để phân nước với khoản không.

Ngày thứ ba sanh đất và đất sanh cây cỏ.

Ngày thứ tư sanh nhựt nguyệt và sao.

Ngày thứ năm sanh chim cá, súc vật, công trùng, thú rừng.

Ngày thứ sáu sanh loài người đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng.

Ngày thứ bảy đặt là ngày Thánh v́ trời đất nhơn vật đă dựng xong rồi.

Vậy loài người đă được làm chúa muôn loài, muốn tạ ơn Chúa Trời mới sửa soạn sấm lễ vật, xúm nhau sắp đặt nghi thức cúng tế, trọn ngày thứ tám để bắt đầu cuối ngày thứ tám, gối đầu ngày thứ 9 dâng lễ trọng cho Đức Chúa Trời. Đó là tại sao phải chọn ngày mùng 9 đầu năm làm Vía Đức Chí Tôn.

Hơn nữa Nho Giáo có câu “Thiên khai vi kư, địa tịch vi chủ, nhơn sanh vi dần”. Người sanh tháng dần là tháng giêng nên ngày là mùng 9, c̣n tháng là tháng giêng. Ấy cũng là sự hiệp nhứt của Đông và Tây để làm ngày kỷ niệm của Thượng Đế vậy.

Theo dịch lư các số 1, 3, 5, 7, 9 thuộc dương mà số 9 là số lớn nhứt trong các số. Bất kỳ muốn viết số nào th́ cũng phải dùng một hoặc nhiều số từ 1 đến 9. Số 9 lớn hơn hết nên lấy số ấy mà định ngày kỷ niệm, nó cũng thuộc dương mà Đức Chí Tôn cũng là chủ dương quang.

Chúng ta không biết  số 9 đối với Chí Tôn nghĩa lư thế nào mà nó vẫn có trong Cửu Trùng Đài, Cửu Thiên Khai Hóa, Cửu Phẩm Thần Tiên, Cửu Lưu, Cửu Tiêu, chín từng trời đất, Cửu Long Đài v.v

Ṭa Thánh lại có 27 thước bề ngang, 81 thước bề dài. Mỗi cột rồng của Cửu Trùng Đài hay Bát Quái Đài đều cao 9m. Mỗi lồng căn giữa của Đền Thánh cũng đều rộng 9m vuông vức.

(Số 27 là số 9x3; số 81 là số 9x9)

Như vậy số 9 chọn làm ngày vía Đức Chí Tôn rất đặc biệt, lại nhầm tháng dần là tháng giêng đầu các tháng trong năm.

(Xin quí hữu có tài liệu bổ cứu thêm mục nầy cho sáng nghĩa).

* Bạn Đờn (Bạn của Quang Minh) có bổ sung thêm như sau:

Cửu là số 9, số 9 cũng gọi là Lăo dương tức là số dương lớn nhứt trong hàng số Thánh, cũng như số 5 là số lớn nhất trong hàng số sinh, nên số 5 cũng như số 9 kể là số hoàn bị. V́ thế có thời người ta đă gọi nhà vua là ngôi Cửu Trùng hoặc là Cửu Ngũ Chí Tôn.

Số Cửu (9) v́ thế là con số huyền vi mà Pythagon hay dùng và coi như con số trọn (neuf est le nombu parfait en teent que carré de trois quest la trimité de lharmoniecompléte).

Số 3 là đốt tín thiên, tự nhân lên thành 9 là đốt trọn vẹn gồm hậu thiên nữa.

 

 

6.TÍCH TÂY DƯƠNG MẪU Tức PHẬT MẪU

 

“Trích trang 54 của Đông Du Bát Tiên, Tây Dương Mẫu giáng sanh tại đất Y Xuyên họ Hầu, tên Hồi, tên chữ Thái Hư (Huyễn Ư), sau trở về ngôi cũ là Cung Diêu Tŕ, vườn Lănh Uyển tại hướng tây thuộc về núi Côn Lôn, có 5 người con gái nuôi là:

“Huệ Lâm, Quyên Lan, Thanh Nga, Diêu Cơ, Ngọc Hồ.

“Tới đời Hớn, vua Vơ Đế hiệu Nguyên Phong năm đầu, Tây Dương Mẫu giáng hạ tại đền vua cho 7 trái đào tiên (Bàn Đào). Vơ Đế ăn 2 trái liền lấy hột truyền Thái Giám đem trồng. Tây Dương Mẫu cười rằng: Ấy là trái đào, không phải như thế gian v́ 3.000 năm mới có trái một kỳ, đất nầy mỏng không trồng đặng.

“Nói rồi ḍm lên thấy có Đông Phương Sóc ḍm Tây Dương Mẫu chỉ mà cười rằng: Vườn đào ta chín đă 3 kỳ đều bị thằng nhỏ nầy hái trộm 3 thứ.

“Tây Dương Mẫu kêu tên bốn nàng thị nữ: Đỗng Song Hành, Dương Tử Phá, Hứa Phi Yến, An Phát Trinh hát ca và đăi rượu Bát Tiên. Có Lam Thế Ḥa nhịp sanh hát ca, thêm Hàng Tương Tử thổi sáo.”

Trên đây là sự tích Đức Phật Mẫu được người Tàu từ hồi Hớn Vơ Đế truyền tụng đến ngày nay.

Ở Việt Nam chúng ta biết được Phật Mẫu cũng nhờ đồng cốt, họ hay tận rỗi có đờn kèn, có tạo bàn thờ, hai bên có tàn lộng, có đội giày quốc mỏ nói rằng thờ Bà Mẹ Sanh.

Khi cúng đầy tháng hoặc ăn thôi nôi, quí bà xưa thường hay vái  12 Mụ Bà, 13 Đức Thầy. Theo chúng tôi tưởng th́ lâu ngày thành trại đi chớ có lẻ phải vái 13 Mụ Bà, 12 Đức Thầy mới đúng. V́ 13 Mụ Bà tức là vái Cửu Vị Tiên Nương và 4 thị nữ hầu Phật Mẫu, 12 Đức Thầy là Thập Nhị Thời Quân chớ có ai là lạ.

Sự liên hệ của Thời Quân với Phật Mẫu rất mật thiết v́ nó thuộc Pháp. Khi cúng Hội Yến Diêu Tŕ chỉ có Thời Quân Hiệp Thiên Đài chủ lễ bồi tửu, c̣n chức sắc Cửu Trùng hay Phước Thiện chỉ hầu thôi chớ không được bồi tửu hay châm trà.

Xưa các chơn linh tu đắc Đạo mới được về Cung Diêu Tŕ dự Hội Yến, c̣n nay Phật Mẫu đem lễ ấy đến thế gian cho chúng ta dự tức là cơ đắc Đạo tại thế đó vậy.

 

 

7.DÂY SẮC LỊNH

 

Pháp Chánh Truyền:

“Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành sự, Thầy cho các con biết trước rằng: Hễ trọng quyền th́ ắc có trọng phạt.”

“Chú giải: v́ lời khuyên của Đức Lư Giáo Tông xin buộc cả chứ sắc Hiệp Thiên Đài phải minh thệ giữa Hội Thánh rằng: Lấy dạ vô tư mà hành Đạo, lại muốn tỏ ra rằng chức sắc Hiệp Thiên Đài thật trọng quyền, Ngài mới ban dây Sắc Lịnh buộc cả tín đồ và cả chức sắc Thiên Phong, hễ mỗi chức sắc Hiệp Thiên Đài mang dây vào ḿnh mà hành chánh nơi nào th́ phải tuân mạng, dẫu lỗi quấy cũng phải chiều theo, chỉ để cho Hội Thánh có quyền định tội, lại buộc cả chức sắc nào đă thọ quyền của Hiệp Thiên Đài cũng phải minh thệ như vậy mới đặng hành chánh (Bảo Văn Pháp Quân cũng phải vậy nữa nghe).”

Trên đây là đoạn văn trích nơi Pháp Chánh Truyền trang 82, chương Hiệp Thiên Đài.

Chúng tôi xin mạng phép suy luận thời cuộc để chư đồng Đạo thấy sự quan hệ của dây Sắc Lịnh.

Định nghĩa dây Sắc Lịnh là một đoạn lụa 3 màu vàng, xanh, đỏ tượng trưng cho Tam Giáo. Vị chức sắc Hiệp Thiên Đài nào được Đức Hộ Pháp ban dây Sắc Lịnh th́ là người thay mặt cho Hộ Pháp tức thay mặt luật là thiên điều th́ buộc cả chức sắc dầu Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài hay Phước Thiện cũng phải tuân mạng.

Có kẻ thắc mắc hỏi: Tuân mạng là trước lẻ phải đă đành c̣n là quấy cũng phải tuân mạng nữa sao?

Chúng tôi xin đáp: Câu ấy đă buộc hẳn bởi câu: “Dầu lỗi quấy cũng phải chiều theo”. Tức là người mang dây Sắc Lịnh độc tôn, độc đoán, kẻ nào nghịch mạng phải bị phạt tùy sự định đoạt của người. V́ trước khi lănh lịnh người đă minh thệ, giữ dạ vô tư mà hành Đạo, chịu trách nhiệm trước Thiên Điều, nên ai ai cũng phải cúi đầu tuân mạng.

Nói vậy dây Sắc Lịnh không phải h́nh thức miếng lụa 3 màu mà là mạng lịnh của Hộ Pháp cho bằng một Thánh Lịnh, một Huấn Lịnh, hay một Đạo Nghị Định.

Quyển hành hiện nay của huynh Hồ Bảo Đạo là Dây Sắc Lịnh đó, do Thánh Giáo tại Cung Đạo Đền Thánh ngày mùng 1 tháng 3 năm Bính Th́n (31-3-1976) Đức Hộ Pháp chấp nhận Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài cho Thời Quân Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa.

Hiện nay thời cuộc biến thiên, quyền đời áp đảo, Ngài phải trở đương cho thuyền Đạo khỏi phải đấm ch́m trong cơn bảo táp, nên những danh từ: Hội Đồng Chưởng Quản, Chức Sắc Hiệp Thiên Đẳng Cấp Thiêng Liêng v.v… đă làm dư luận nhơn sanh nhộn nhịp. Những công văn thất lợi cho Đạo như Thông Tri số 1, Đạo Lịnh số 1 đă giải thể toàn bộ Cửu Viện Hành Chánh Nam Nữ, Cửu Viện Phước Thiện Nam Nữ, Bộ Pháp Chánh cùng nhiều cơ quan yếu trọng của Đạo đă lung lạc tinh thần con cái Đức Chí Tôn. Đ́nh chỉ cơ bút, nhượng một phần các cơ sở nội ô cho chánh quyền là những hành động có thể xem là quấy.

Nhưng Đại Huynh không thể làm khác hơn được.

Mặc ai phê phán, Ngài vẫn mềm mỏng chiều chuộng để tṛn câu Bảo Đạo. Nhơn sanh vẫn thông cảm nổi khó khăn của một vị lănh Đạo tinh thần, nên đă trên 4 năm lèo lái Bát Nhă Thuyền mà thuyền vẫn vững tay lái.

Ngài mừng nhứt là đến vía Đức Chí Tôn hoặc vía Phật Mẫu con cái Chí Tôn về đông vầy, tinh thần Đạo đức được mạnh mẻ, Ngài cứ để tự nhiên cho quyền Thiêng Liêng xoay chuyển.

Phần chúng ta, Chức Sắc, Chức Việc hoặc tín đồ đều nên tùng dây Sắc Lịnh đó là chúng ta giúp sức cho vị lănh Đạo dể dàng hành sự. Bằng ngược lại, chúng ta phạm Pháp Chánh Truyền tức là phạm Thiên Điều, mà phạm Thiên Điều khó mà đi vững trên đường về với Đại Từ Phụ.

 

 

8. TẠM DU THỦ ĐỨC

 

Buổi đầu khai Đạo, Đức Hộ Pháp phải chịu nhiều cay đắng. Qúi ông Đốc Phủ Sứ lănh thiên mạng c̣n ỷ quyền thế đời của ḿnh, chưa chịu tuân mạng lịnh Ngự Mă Quân của Đức Chí Tôn, nên Đức Ngài buồn rời Tổ Đ́nh xuống tạm ngụ tại Thủ Đức.

Âu cũng là thiên thơ tiền định để Ngài gần gũi nhiều trang trí thức mới hầu dẫn độ họ vào cửa từ bi.

Ngài có sáng tác một bài thơ như vầy:

Thắng khổ người tua vẫn để ḷng,

Ta thua Thủ Đức phải đành giông.

Buồn chưa đạp đặng trên đầu rắn,

Vui thấy phận ḿnh chí khí rồng.

Nào kể vịt gà kêu tiếng phụng,

Hiềm v́ hồng học ghét đuôi công.

Mở kho nuôi đói đây trề miệng,

Ta quảy hồng ân trải giáp ṿng.

      Hộ Pháp

 

 

 

9. CÂU LIỄU BÍCH DU CUNG

 

Trên cửa cung Bích Du, Đức Thông Thiên Giáo Chủ có để đôi liễn:

“Đóng cửa tụng Huỳnh Đ́nh, thiệt bực số thành mới chánh quả,

“Tách ḿnh qua Tây Thổ là người tên đứng bản Phong Thần.”

Đức Hộ Pháp nhơn có đầy đủ Sĩ Quan, Ngài nói: Bần Đạo sửa câu liễn Bích Du Cung lại như vầy:

“Đóng cửa tụng Tân Kinh, thiệt bực số thành nơi chánh quả,

“Tách ḿnh theo Nga Mỹ, là người tên đứng bảng Phong Thần”.

Đại ư Đức Ngài muốn toàn thể Sĩ Quan phải theo Đạo, ai chạy theo đời sẽ chết vô nghĩa.

 

 

10. THẬP ĐIỀU GIỚI RĂN CỦA PHẠM MÔN

 

1.-Phải tuân y Luật Pháp Chơn Truyền của Đức Chí Tôn.

2.-Phải trọn hiếu tông đường phụ mẫu, trọn nghĩa vợ chồng, vẹn phận làm cha.

3.-Phải trọn trai giới.

4.-Phải xa lánh các đảng phái.

5.-Phải thật hành phước thiện, giúp đỡ kẻ cô thế, nuôi kẻ già, dưỡng trẻ nhỏ.

6.-Không đặng thâu của chúng sanh.

7.-Phải coi đồng Đạo như anh em ruột thịt.

8.-Chẳng đặng bội sư phản bạn.

9.-Phải ở như các Thánh Hiền, đừng phạm tội vong ơn bội đức.

10.-Phải thương yêu tất cả loài người và loài vật, kỉnh trọng mạng sanh, vừa theo thánh chất của Chí Tôn là chúa sự sống.

Ṭa Thánh, năm Mùi (1932)

Hộ Pháp

(Kư tên đóng dấu)

Vậy chức sắc Phước Thiện là gốc Phạm Môn biến thân, mỗi người nên thuộc ḷng mười điều giới răng để làm kim chỉ nam mà trị tâm hành Đạo.

 

 

11. PHONG THẦN CÓ THẬT

Đức Chí Tôn có nói:

“Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ”

Chúng ta thử luận trong Đạo Cao Đài có Phong Thần không?

Trả lời: có

Thần có 3 phẩm: Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần.

Hễ nhập môn vào làm môn đệ Đức Chí Tôn th́ đă từ bực nhơn sanh lên Thần vị rồi tức Địa Thần. Khi được cử Thông Sự, Phó Trị Sự hay Chánh Trị Sự th́ từ Địa Thần lên một phẩm là Nhơn Thần. Chánh Trị Sự đủ 5 năm công nghiệp được phong Lễ Sanh tức là Thiên Thần.

Bên Phước Thiện, Đạo Hữu vào hàng Minh Đức là đă lên Nhơn Thần. Khi lên Tân Dân là Thiên Thần.

Các cơ quan trong nền chánh trị Đạo muốn vào hàng Thiên Thần tức là cầu phong Lễ Sanh phải hội đủ điều kiện như sau:

1.-Giáo Viên Đạo Đức Học Đường trọn hiến thân hành sự được 5 năm công nghiệp.

2.-Sĩ Quan Thánh Vệ hay Quân Đội Cao Đài từ Thiếu Úy đổ lên.

3.-Giáo Nhi hành sự được 5 năm.

4.-Lễ Sanh hành sự được 5 năm.

5.-Chánh Bảo Thể hành sự được 5 năm.

6.Đầu Pḥng Văn Khoa Mục hành sự được 5 năm.

7.Tá Lư thợ hồ, thợ mộc, thợ sơn, thợ cưa v.v hành sự được 5 năm.

Ngoại lệ c̣n được phong Thần các vị có công nghiệp phi thường do quyền Chí Tôn ân tứ.

Chiến sĩ Pháp Hồi được Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn đặc cách phong Lễ Sanh phái Thượng cả thảy.

Bên Phổ Tế, ai độ được từ 500 đến 1000 vị nhập môn th́ được đặc phong Lễ Sanh tức Thiên Thần.

Có thể nói Đệ Nhứt Phong Thần, Đức Khương Thái Công chọn có 386 vị. C̣n nay trong Đệ Nhị Phong Thần Đức Chí Tôn phong cho vô số không giới hạn, không phân biệt nam nữ.

Hạnh phúc thay cho nhơn loại trong thế kỷ thứ 20  nầy.

Ông cha chúng ta thờ Thần nơi đ́nh làng đều có Sắc Thần, Sắc Thần ấy do Vua ban. Người đời có thể nghi hoặc v́ phe đảng, vua phong một vị không xứng đáng để hậu tấn lạy thờ.

Nay Sắc ấy được Hội Thánh tức h́nh thể Đức Chí Tôn tại thế kư tên phong, tức là Đạo Cấp của Đạo Cao Đài đó. Vậy Đạo Cấp là Sắc Thần đời nay đó vậy.

Một đàn Vua phong, một đàn Trời phong, cái nào quí giá hơn? Xin chư Hiền suy ngẫm.

Chúng tôi xin kết luận bằng bài thi văn dạy Đạo như sau:

Đài Vân Quan Vơ để phong Thần,

“C̣n của Thầy Đây để nhắc cân.

“Muôn đức ngàn lành không sót một,

“Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần.

 

 

12.TẠI SAO CÓ TỊCH ĐẠO THANH HƯƠNG

 

Đời Đường Ngưu có ông Hồng Bạch Thanh đi khai mở đất hoan. Khi đốn cây rừng, cất tranh ông bảo dân chúng cất nhà ngay hàng thẳng lối. Hễ được 12 cái nhà th́ ông đặt người coi sóc sự sống cho 12 gia đ́nh ấy cho đặng đầy đủ, rối đốc thúc dân chúng khai phá nữa. Ông làm như thế cả đời ông nên được nhiều làng liên tiếp nhau, có qui củ lớp lan sống sung túc an cư lạc nghiệp. Khi ông chết, ông trối lại với con là Hồng Bạch Hương phải nối chí ông mà lập thời thánh đức.

Hồng Bạch Hương vân lời cha cũng làm như vậy nên cả nước đều nhờ chánh sách  thập nhị gia liên bảo mà được ấm no. Người không than vang, không kiện thưa, không hưởng lộc vua, chỉ hưởng lộc tạo hóa nên nhân dân thái b́nh an cư lạc nghiệp. Đó là đời Nghiêu Thuấn áp dụng chánh sách của Hồng Bạch Thanh và Hồng Bạch Hương mà nhà khỏi đóng cửa, của rơi không người lượm.

Có lẻ Đức Chí Tôn muốn chúng ta được như vậy nên chọn tịch Đạo Thanh Hương hầu nhắc tích xưa.

Bởi cớ phần Hành Thiện, Đức Hộ Pháp buộc phải nuôi 12 gia tộc. Sau nầy v́ chiến tranh liên tiếp, Ngài cho Hành Thiện coi sóc sự cúng kiến và giúp đỡ 12 gia đ́nh miễn sao không có người đói khó, thống khổ vật chất hay tâm hồn. Nếu đặng đủ đầy công quả, nhơn sanh chứng nhận th́ được thăng GiáoThiện.

Đây là Thánh Ngôn trang 29 Thầy cho tịch Đạo:

Thanh Đạo tam khai thất ức niên,

Thọ như Địa huyễn thạnh ḥa thiên.

Hư vô qui phục nhơn sanh khí,

Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.

Thanh là tịch các con, vậy th́ Tương là Thượng Tương Thanh, Thơ là Thái Thơ Thanh, Kim là Thượng Kim Thanh phải dùng tên ấy mà thề.

C̣n bên Nữ, tịch Đạo là Hương Tâm:

Hương Tâm nhứt phiến cẩn càng khôn,

Huệ đức tu chơn độ dẫn hồn.

Nhứt niệm Qua Âm thùy bảo mạng,

Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn.

Hiện đời Đức Lư Đại Tiên là Giáo Tông th́ tịch Đạo là Thanh Hương. Nếu sau nầy có vị Giáo Tông thứ nh́ th́ phải đổi tịch Đạo là Đạo Tâm. Thời Giáo Tông thứ 3 Đức Chí Tôn sẽ gián cơ cho sau.

 

 

13. CỰC LẠC THẾ GIỚI TẠI THẾ

 

Ông Thái Đầu Sư Thái Thơ Thanh là chơn linh của Từ Hàn Đạo Nhơn nên ông c̣n nhớ căn Phật của ông mà lập ra Cực Lạc Thế Giới tại thế, có 9 cảnh như vầy:

1.Quan Âm Cát

2.Long Nữ Điện

3.Bát Quái Tịnh Thất

4.Phổ Đà Sơn

5.Kim Can Động

6.Bồ Đề Ốc

7.Tàn Kinh Viện

8.Tây Vức Tŕ

9. Cực Lạc Cảnh

Những người ở Thánh Địa lâu năm đều biết những cảnh ấy đẹp đẻ thế nào, địa điểm nơi đâu. Nay v́ thời cuộc biến thiên nó đă hoại hết.

Đức Hộ Pháp có phê b́nh rằng: Ông Thơ tạo tự mà không tạo tăng, nên của ấy không ai ǵn giữ, nó phải hoại theo thời gian.

 

 

 

14. KHỔ HIẾN TRANG LÀ G̀ ?

 

Đức Hộ Pháp bị chi phái khảo đảo phải rời Ṭa Thánh đi Thủ Đức ở Thánh Thất.

Một hôm trên lầu Hiệp Thiên Đài Thánh Thất có cầu cơ, ông Giáo Hữu Thượng Minh Thanh núp dưới lầu không dám lên.

Đức Lư Giáo Tông có gián cơ cho một bài:

KHỔ mà cam chịu chớ đừng than,

HIỀN hảo cùng nhau mới vẹn toàn.

TRANG điểm ngọc lành nên giá báo,

Giồi mài chí thiện Thượng Minh Thanh.

     C̣ Minh dưới đài, gọi Minh lên.

Đức Lư c̣n yêu cầu Đức Hộ Pháp trị bịnh cho ông Đinh Công Trứ đang đau tê liệt, sau sẽ hữu dụng.

Đức Hộ Pháp ra lịnh chở ông Trứ về Phú Mỹ bằng ghe trước, Ngài sẽ đi xe đ̣ với Giáo Hữu Minh 3 ngày sau. Trước tiên Ngài biểu lập thảo đường trên thửa đất của Đồng Tháp Mười trên rạch Láng Cát.

Ngài ở lại đó 1 tháng  lấy ếm Long Tuyền Kiếm để Việt Nam xuất nhơn tài. Một hôm Đức Lư Giáo Tông giáng cơ cho bài thi như sau:

Thảo Đường phước địa ngộ tùng hoa,

Lục ức chục niên vũ trụ ḥa.

Cộng hưởng phàm gian an lạc trị,

Thể đăng Bồng Đảo vịnh âu ca.

Nơi đây Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn, ngày 28-9 Tân Mùi (1931) thuộc Đệ Lục Niên, Ngài cân thần cho 344 vị.

Sau nầy Ṭa Thánh được số thợ hồ nồng cốt cũng nhờ số người hiến thân góc Khổ Hiền Trang.

Hội Thánh Phước Thiện đa số là người xuất thân từ Phú Mỹ (Mỹ Tho) tức Khổ Hiền Trang.

Ṭa Thánh từ từ yên tịnh, Đức Quyền Giáo Tông cùng Giáo Hữu Thượng Latapie Thanh xuống Khổ Hiền Trang rước Đức Hộ Pháp về Ṭa Thánh.

Cuộc tiễn đưa rầm rộ làm chánh quyền Pháp nghi kỵ, nhưng cũng nhờ ông Latapie là người Pháp can thiệp nên đâu cũng êm xuôi đó, Đức Ngài về Tổ Đ́nh vui vẻ.

Việc khảo đảo khiến Đức Ngài đi một ṿng gieo hột Thánh cóc của Đức Chí Tôn nơi Thủ Đức và Phú Mỹ. Vậy Khổ Hiền Trang là danh từ thay cho Thánh Thất Phú Mỹ chớ không chi lạ.

Khổ Hiền Trang là đất lành thứ nh́ v́ nơi đó xuất Thánh rất nhiều để làm h́nh thể Chí Tôn, gieo tư tưởng Bác Ái, Công B́nh cho toàn nhơn loại.

 

 

15. OAI NGHIÊM

 

Sau đây là Thánh Giáo cầu tại Kim Biên nói về sự oai nghiêm của Đức Lư Giáo Tông.

22 Avril 1927-22H1/2

NGUYỆT TÂM

Bonjour Mes Trers, Ngồi

Sửa soạn nghinh tiếp Lư Giáo Tông.

Nghe dặn, ngồi là hết thải phải hầu cho nghiêm trang, chẳng xạo xự, nghe rơ thánh ư của Ngài mà làm theo, như để cho Ngài quở phạt đến Bần Đạo th́ chư hiền hữu đừng phiền Bần Đạo quở phạt lại nghe à!

Thảm thay! Y phục Thiên phong chẳng có một người nào có hết. Nhớ lời dặn à! Thăng

LƯ THÁI BẠCH

Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội. B́nh thân, miễn lễ. Nhị vị Thiên Phong tọa vị, chư Đạo Hữu đồng tọa, chư Thiên Phong nghe dạy:

Lăo cầm quyền Giáo Tông đợi người xứng đáng Chí Tôn ban trọn quyền thưởng phạt đặng thâu phục các Đạo qui nhứt. Lăo v́ mang Thiên mạng nơi ḿnh đ̣i phen phải dùng Oai nghiêm hành chánh th́ cực chẳng đă mới mượn tâm phàm chất mà dạy dỗ nhơn sanh y lịnh Chí Tôn phán dạy chớ Lăo chẳng nở nào mà hành phạt, bụng chẳng thương.

Chư Đạo Hữu hằng nghe rằng Lăo nghiêm lắm có phải ?

Oai nghiêm với ai? Cười dầu thế nào cũng anh em ruột một chơn linh mà ra, đày đọa nhau chẳng đau đớn trong ḷng sao? Nhưng mà đ̣i phen cũng phải ôm ḷng ráng chịu đành giao nhiều kẻ trọng quyền tà quái hành hài luân hồi mạc kiếp. Thảm thai! Đau đớn thay! Thánh tâm chẳng vỉ, nét tục c̣n mơ, th́ thế nào mong mỏi trở về Bạch Ngọc Kinh đặng hội hiệp cùng Chí Tôn cho đặng?

Bởi lẻ ấy mà cửa Trời phải bế trót muôn năm, đọa nhiều, thành ít. Những kẻ bị đọa là bởi ngu muội, quyến luyến hồng trần, như trẻ con ham bánh ngọt.

Ngu th́ phải dạy, mà dạy th́ phải nghiêm, nghiêm th́ ra oai.

Lăo oai nghiêm đặng dạy lấy em đặng d́u dắt nó trở lại, trả lại cho Thầy kẻo người hằng ngày sầu thảm. V́ vậy Lăo mới ép ḷng, dữ răng lành thưởng, công ngợi, tội trừ, chư Đạo Hữu hiểu?

Lăo cầu xin Thánh đức chư Đạo Hữu càng ngày càng trỗi cho đáng mặt d́u dắt đám nhơn sanh, độ đời qua khổ hải. Nhưng mà Lăo coi những vị Chí Tôn chọn lựa chẳng ai xứng đáng hết, thật là buồn.

Nơi nầy là một nơi hành chánh rất khó nên Quan Thánh xin Lăo rộng t́nh để cho người dạy dỗ. Buộc Lăo phải ghi vào cuốn Thiên Thơ chớ kỳ trung chẳng đặng.

Cái sớ Nguyệt Tâm dâng về tánh phạm thượng của Sự, Chí Tôn phú lại cho Lăo định đoạt.

Lăo nhứt định trục xuất bôi tên nó, chư Đạo Hữu y mạng, nghe à!

Thăng

 

 

16.TRUYỀN TIN THỨ NHỨT

 

Đức Hộ Pháp nhập trí Huệ Cung (1951) sau khi hội cúng các Đấng Thiêng Liêng đă gửi cho Hội Thánh Hiệp Thiên Đài truyền tin thứ nhứt như sau: (1er Message)

Luận về hai chữ “CHÍ HƯỚNG NHƠN SANH” làm cho toàn cầu sôi nổi, giặc giả, chiến tranh v́ thuyết vô sản tức là Cộng Sản và thuyết quốc gia tức là thuyết Tư Bản, Đức Lư Giáo Tông cho minh triết của Bần Đạo rất đúng lư. Nhưng hỏi đến phương pháp giải quyết th́ Ngài cũng đành để cho Đạo một trách nhiệm yếu trọng đó.

Ngài dường như buồn cho Đạo bị nhiều phản động lực về Đạo đức tinh thần của các tôn giáo đang nắm trí óc của từ nhóm nhơn sanh, làm cho khó thống nhứt tinh thần toàn thiên hạ mà tạo nên cơ quan giải kiết.

Ngài chỉ rơ:

THIÊN CHÚA GIÁO (ta gọi là Gia Tô, c̣n họ xưng là Công Giáo) th́ không tỉnh ngộ biết do nơi ḿnh làm cho trí năo nhơn sanh nơi Âu Địa đă từ bỏ tâm hồn mà chạy đua theo thi thể, bỏ lương tri lương năng tạo nên h́nh tượng thuyết vô thần và tự xét là bất lực mà lại cứ mong mỏi chiếm đoạt, chinh phục, thâu thủ quyền bá chủ Đạo đức tinh thần, làm cho chia rẻ chủng tộc Á Âu không phương hội hiệp. Ấy là chướng ngại nhứt của Đạo Cao Đài mà nơi năng lực ấy đă làm cho Đạo đă nhiều phen điêu đứng, dừng bước trễ chơn.

PHẬT GIÁO th́ do nơi đồng chủng của Thích Ca đương t́m phương thế đặng thâu trọn quyền hương quả. Trí ư muốn chấn hưng Phật giáo đặng kiên cố văn hiến tối cổ và lư thuyết cao siêu chơn thật của nhà Phật. Hại nổi Đạo Phật lại c̣n thạnh hành nơi Á Đông ta lắm, nhứt là Việt Nam ta chịu một phần lớn trong văn hiến và Đạo đức tinh thần. Ấy là chướng ngại thứ nh́ làm cho Đạo khó thi thố phận sự Thiêng Liêng, đem tinh thần Á chủng duy nhứt. Cái hại tâm lư nầy c̣n nguy hiểm cho sự tiến triển của Đạo, mạnh mẻ hơn Thiên Chúa giáo.

KHỔNG GIÁO là nguồn cội một nền văn minh tối cổ của Hoa Việt. Tàu cũng có chủ quyền hơn ḿnh. Một ngày xa xưa kia e có một trường tranh đoạt chủ quyền của Đạo do nơi Trung Hoa và Nam Việt. Đương buổi tinh thần xao xuyến của quốc dân Tàu mà trong hàng thượng lưu trí thức của họ đương nương lánh ẩn dật nơi chốn thâm khê tịch mịch đặng nghiên cứu về thuyết Nho Tông chuyển thế.

Nếu trong một thời gian mà Đạo không sớm bành trướng toàn cơi Á Đông th́ dân Việt sẽ bị một sắc dân tranh tiến với họ kịch liệt hùng dũng là dân Tàu.

Theo Ngài th́ nên biết  định phận trước mà làm nghĩa là đem Đạo đến tận hoàn địa nước Tàu đặng trả lại cho họ. Phần siêu thoát th́ Đạo cầm chắc chủ quyền v́ quyền ấy Chí Tôn dành riêng cho Việt chủng. Noi cái báu ấy, quốc dân ta có thể làm bạn thân và làm anh đem đường cứu độ cho toàn thiên hạ,

Thỉnh thoảng có tin chi hay nữa, Bần Đạo sẽ truyền tinh tiếp. Mới khởi về quốc vận mà thôi.

Hộ Pháp

 

 

17. TỨ THÁNH

 

Đức Khổng Tử mở trường dạy học có 3.000 học tṛ. Trong 3.000 tṛ có 72 giỏi và được gọi là Hiền và có 4 người xuất sắc nhứt nên người đời sau gọi là Tứ Thánh.

1-Thầy Nhan Uyên thuộc đời Thái Tôn.

2-Thầy Tăng Tử thuộc đời Huyền Tôn.

3-Thầy Mạnh Tử thuộc đời Tống Nhân Tôn.

4-Thầy Tử Tư thuộc đời Tống Nhân Tôn.

Bốn vị được thờ chung trong miếu Khổng Thánh.

Hướng Đông có Nhan Uyên và Tử Tư.

Hướng Tây có Tăng Tử và Mạnh Tử.

Ngày nay Đạo Cao Đài cũng gọi là Nho Tông chuyển thế, Chí Tôn chọn Thất Thập Nhị Hiền là 72 vị Giáo Sư và Tam Thiên Đồ Đệ là 3.000 Giáo Hữu.

Cái nền của chức sắc rập khuôn theo Nho giáo th́ lần lần lên cấp trên Phối Sư, Đầu Sư hay Chưởng Pháp, Giáo Tông nó cũng do công nghiệp tạo bởi tam can ngũ thường, tam tùng tứ đức mà nên thánh đức.

Có đắc phẩm Thánh mới mong mỏi lên Tiên vị, có đắc phẩm Tiên mới mong mỏi lên Phật vị nên chi chữ chuyển thế là đổi đời hư tệ ra đời thuần lương, v́ thế mới được gọi là Nho Tông chuyển thế.

Tinh thần của Nho giáo bị sai lạc bởi bọn Tống Nho nên Cao Đài giáo lấy triết lư của Mạnh Tử làm căn bản. Tại sao nơi Đạo Đức Học Đường thờ Mạnh Tử mà không thờ Khổng Tử v́ Đức Hộ Pháp nhận thuyết của Mạnh Tử hợp với tŕnh độ tiến hóa của nhơn sanh trong thế kỷ 20 nầy. C̣n lư thuyết của Đức Khổng Tử chỉ hợp với thời của Ngài, đến nay nó hóa ra cổ điển.

 

 

18. NG̉I BÚT ĐỘC HƠN ĐAO KIẾM

 

Người trí thường sợ sự trích điểm của các văn nhân hơn sợ cường quyền của các vơ tướng. Bởi cớ Tiên Nho có câu:

Ninh thọ vơ nhân đao,

Mạc thọ văn nhân bút.

Nghĩa là thà chịu cho cây đao của nhà vơ tướng chém ḿnh chớ không chịu cho ng̣i bút của nhà văn đâm ḿnh.

Ví nên rủi bị một vết thương th́ thời gian vài tháng sẽ được lành, da thịt sẽ liền lại, không có chi hại. Nhưng nếu bị nhà văn châm biếm, vết thương ḷng nó rỉ máu, cà thiên thu khó mà lành được.

Cái điểu giả của Tào Tháo, cái bất trung của Bàng Hồng, cái lăng loàn của Thị Mầu, cái bất nghĩa của Bá Lư Hề nó vẫn tồn tại với thời gian, v́ ng̣i bút của các sử gia nên khó hàn gắn được.

C̣n dư luận của Việt Nam, họ nói cái váy của Hoàng Cao Khải, đôi guốc Nguyễn Thân nó bài xích cái thao túng triều đ́nh của các nịnh thần. Nhà trí thức Nguyễn Phan Long đă nói những câu hay như khi bà Giám Đốc Nữ Trung Học Gia Long mét với ông là học tṛ trường Nam do ông giám thị luôn ghẹo chọc các nữ sinh, ông nói: “Je lache mes coys, ceslavous de garster vos poules” (tôi thả mấy con gà trống tôi, phần bà phải giữ mấy con gà mái của bà). Câu nầy được báo chí khen tặng nhiệt liệt. Nhưng sau ông lem nhem tài chính sao đó, bị cây viết các kư giả cho một câu lịch sử:

“Sáo đói sáo ăn trái da,

“Phụng Hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn.”

Th́ cũng con gà, lúc th́ ông được khen, lúc lại bị trích điểm, mà sự khen th́ không có mục đích cao thượng lại có ư phạm thuần phong mỹ tục, c̣n sự chê th́ danh giá của một nhà trí thức phải trôi theo ḍng nước.

Vậy chúng ta phải cố gắn, nhứt là chức sắc, làm thế nào cho ng̣i bút thế nhân đừng trích điểm, mà trái lại chúng ta hành động phải Đạo, có nhân có nghĩa, có công với nhân sanh, có trung có tín với Hội Thánh, hiếu hạnh với Chí Tôn cùng Phật Mẫu th́ sẽ được sử gia ghi tên vào sử Đạo.

Đức Quyền Giáo Tông có cho ông Giám Đạo Nguyễn Hượt Hải bài thi sau đây:

Có khổ mới nên kiếp Đạo người,

Gương trong soi mặt kẻ thanh tươi.

Sử vàng ghi chép khi phần măn,

Ngh́n thuở nêu tên măi với đời.

 

 

 

19.THÁNH GIÁO CHO CHIẾN SĨ PHÁP HỒI

 

Pḥ loan: Khai Đạo, T.Trạng Trấn

Hầu Đàn: Đức Hộ Pháp, chư chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Chiến Sĩ Pháp Hồi

Báo Ân Từ ngày 15-2 Mậu Tư

NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN

Chào Đức Hộ Pháp, nhị vị Thời Quân và các vị chức sắc Hiệp Thiên Đài cùng tất cả hiền đồ mới về.

Khi chư Hiền Đồ t́nh nguyện ra đi, một là v́ Đạo hai là v́ nồi giống tách ḿnh ĺa nơi quê hương, tầm phương giải khổ cho đồng chủng, cảnh đau thương đó ai không nh́n nhận.

Phần đông đều lo sợ, khi đi th́ dể, ngặt đường tên mũi đạn, sợ cũng phải. Riêng Lăo th́ Lăo đă hứa Lăo ở tận một bên chư Hiền Đồ đặng chư Hiền Đồ lưu lại ngày nay thanh danh nơi đất khách, toàn cả năm châu đều phục cái chí khí hùng dũng quyết định kia.

Chư Hiền Đồ nay về tận nơi quê hương, c̣n gặp các đồng chí đều xu hướng để tâm lo phận sự bồi đắp giang san, có lẻ cả chư Hiền Đồ toại ḷng thỏa nguyện há.

Nếu có vậy th́ hăng hái lên, Lăo cũng hứa rằng có Lăo nữa. Lăo vui mừng ban hồng ân cho tất cả chư Hiền Đồ

Thăng

 

Pḥ loan: Đức Hộ Pháp , Ngài Khai Đạo

2: Séauex

TÔN SƠN CHƠN NHƠN

Chào chư Thiên Mạng. Cười

Nguyệt Tâm Chơn Nhơn khi nảy muốn hành Pháp văn nhưng bất tiện; Đức Thiên Tôn làm ơn pḥ loan dùm cho người ḥa vui quá há.

Chư vị chiến sĩ hải ngoại đă thấy ǵ ở Âu Châu? Th́ một tấn tuồng hát như vậy, vậy có ǵ là lạ. Th́ cũng gian, cũng dối, cũng hung, cũng bạo, cũng tàn ác, cũng tham lam, ôi !!!

Nước Tàu đă bỏ Thánh chất mà tránh sao cho khỏi nhiễm hại quỉ khí ấy. Măng Châu ôi! Măng Châu ngươi sẽ bị nô lệ mà chớ.

Chư Thiên Mạng thấy bịnh nguy hiểm trầm kha tuyệt chủng ấy chăng? Ráng mà tranh đấu cứu mạng Việt Thường kẻo phải mang một tai họa khốn khổ tuyệt chủng ấy mà chớ.

Tưởng Giới Thạch nếu biết hiệp chủng th́ nên đủ khôn ngoan nương quân Thần Huệ của Đạo. Hỏi vậy Trung Hoa chừng nào mới hưởng đặng hồng ân mà cứu đường nhơn chủng tộc.

Lụy, Bần Đạo kiếu lỗi

Thăng

 

 

20. LỤC LONG PH̉ ẤN

 

Chung quanh Thánh Địa, tức là lấy Ṭa Thánh làm trung ương, Đông Tây Nam Bắc đều có 6 long mạch dưới đấy chảy dưới sâu. Nếu có ai đào trúng nó th́ nước phúng lên tung tóe. Như ở Ao Hồ có mạch nước chảy quanh năm nên người ta làm hồ tm cho dân chúng tập bơi lội. Dưới Trí Huệ Cung có ao Thất Bửu là một hồ tm có nước phúng quanh năm.

Những làng có tên sau đây là làng của Đàn Cựu đặt tên không biết từ hồi nào.

1.Long Lĩnh; 2.Long Thuận; 3.Long Giang; 4.Long Khánh; 5.Long Chữ; 6.Long Thành.

Những làng nầy cách Ṭa Thánh trên dưới 20 cây số thọc sâu như Bến Cầu, Trà Vơ.

Theo lời truyền khẩu th́ Đức Hộ Pháp có nói: 5 con rồng bao quanh phía Đông, Tây, Nam của Ṭa Thánh là rồng con, c̣n Long Thành là rồng mẹ bao từ phía Bắc Núi Bà quấn 5 con rồng kia lại. Đó là lục long. C̣n pḥ ấn là sao?

Có lẻ là 6 con rồng châu lại đỡ ngọc ấn của Đức Thái Thượng là bùa Bát Quái tức huyền diệu pháp của Đền Thánh.

Tất cả các chơn hồn trên thế gian đều phải qua trạm ấy mới vào được Bát Quái Đài rồi từ Bát Quái Đài, Đức Thượng Phẩm dùng Long Tu Phiến quạt các chơn hồn về Bạch Ngọc Kinh.

Chữ Ấn chúng ta có thể hiểu ba cách:

1.-Về Thể Pháp: Cái ấn là con dấu, tức là cái mọc (cachet) của vua hoặc Giáo Chủ, Giáo Hoàng có đủ h́nh thức. Của Vua thường làm bằng ngà hay ngọc nên gọi ngọc ấn tỷ phù. H́nh vuông tượng trưng cho đất, h́nh tṛn tượng trưng cho bầu trời (Trời tṛn, đất vuông), h́nh tam giác người Ả Rập thường dùng tượng trưng Kim Tự Tháp. Bà La Môn giáo người Ấn gọi Islamisme dùng ấn tam giác, cũng có nghĩa cây thước nách của thợ mộc làm chuẩn, ư nghĩa luật lệ tôn giáo phải nghiêm minh. Ở Ai Cập cũng xài h́nh ấn kiểu bầu dục (ovale) tượng trưng trái đất. Người Ấn thường dùng ấn ngoài vuông trong tṛn.

2.-Về Bí Pháp: Chữ Ấn có nghĩa là diệu pháp của các Đấng, như Ấn Chí Tôn, Ấn Chuẩn Đề, Ấn Quan Âm, Ấn Hộ Pháp. Chúng ta đọc truyện Tôn Hành Giả bị Đức Thích Ca bắt Ấn Ngũ Hành đè, sau Đức Quan Âm Bồ Tát mở.

3.-Ấn Kiếm: là chỗ tay cầm cây kiếm có miếng chận lại, nơi ấy người ta thường chạm rồng hay cọp, long, phụng Nghe khẩu truyền rằng: Đức Hộ Pháp nói núi Điện Bà là cán kiếm, Đền Thánh là chui kiếm, c̣n Khổ Hiền Trang là mũi kiếm. Có một đường gân núi chạy dài từ Tây Ninh đến Phú Mỹ c̣n ẩn dưới đất.

Vậy lục long pḥ ấn là ở tại ngạt kiếm có chạm 6 con rồng, h́nh tướng có 1 con lớn bao năm con nhỏ.

Đây là sự suy luận theo phàm ư, xin nhờ lượng cao minh của quí thức giả bổ cứu thêm.

C̣n một nghĩa siêu h́nh nữa là câu kinh:

“Thời thừa lục long, du hành bất tức”

Nghĩa là Chí Tôn cởi 6 rồng du hành không ngừng hầu trọn phận làm vua của Nhựt Nguyệt tinh tú và làm chủ của Thánh Thần Tiên Phật.

Giáo Tông làm chủ Cửu Trùng Đài,

Hộ Pháp làm chủ Hiệp Thiên Đài,

Chí Tôn làm chủ Bát Quái Đài.

Nên 8 rồng chầu quả càn khôn là cái ấn 8 góc ở phía dưới. C̣n trên nóc Bát Quái Đài có một cặp Thanh Long, một cặp Huỳnh Long, một cặp Xích Long đoanh nhau ḍm xuống.

Xin trích bài Thánh Giáo sau đây của Đức Lư giải: Lục Long Pḥ Ấn.

 

Marsi le 22 Févrirer 1924 (21-1-Đinh Măo)

THÁI BẠCH

Hỉ chư Đạo hữu, chư Đạo Muội.

Lăo khen Thái Thơ Thanh.

Phải đó.

Dữ không! Tưởng chư hiền hữu không thấy nữa. Lăo cắt nghĩa v́ sao cuộc đất ấy là Thánh Địa? Chẳng sâu hơn 30 thước tây, mạch nước như con sông. Giữa trung tim đất ráp lại  rúng giữa 6 nguồn làm in chữ 6 rồng đoanh nhau, nguồn mạch ấy lấy chưng  trong đỉnh núi nên gọi là lục long pḥ ấn. Ngay miếng đất đặng 3 đầu: 1 đầu ra giếng mạch ao hồ, c̣n hai nữa bên cụm rừng bên kia con đường.

Vậy người Lang Sa chủ đất ấy đ̣i 20.000$, nói với người trả duy có 15.000$. Lăo dặn Thái Thơ Thanh vào trả lối 17-18.000$ th́ đặng đất. Đă vậy c̣n xin khai khẩn miếng rừng bên kia mới trọn.

Ngày nay c̣n rẻ chớ đất xung quanh Thánh Thất ngày sau hóa vàng.

Chư hiền hữu biết đủ điều, lo lập nghiệp ngày sau rất nên quí trọng nghe à!

Phải làm thế nào thâu trọn vàng đất ấy cho chí đường Bến Kéo mới phải.

Chư Hiền Hữu ráng liệu, Lăo giao cho chư Hiền Hữu bao nhiêu cũng phải liệu cho đặng nghe à!

Thăng

 

 

21. ĂN CHAY

 

ĂN CHAY ĐỐI VỚI LUẬN LƯ

Cổ nhân có câu: “Người khỏe nuôi thân không cần phải dụng cao lương” và cũng có câu “Người chịu khó ăn  rau cho là ngon th́ việc ǵ làm chẳng nổi”. Phương chi con người biết giữ cách ăn uống theo luật tự nhiên, biết chọn thức ăn thanh đạm nghĩa là ăn chay th́ khỏi phải khổ tâm lo về cái sống của ḿnh trong lúc nguy nan và b́nh thường, chẳng những tỏ ra ḷng nhơn thiện mà c̣n tạo một tấm gương thanh đạm trong gia đ́nh và xă hội.

Con người mà biết vui dùng những món ăn thanh đạm th́ những cái t́nh dục xấu xa cũng dẹp đi được, mà lại vừa tăng thêm sức khỏe vừa mở rộng khiếu lành ra nữa.

Trong xă hội, chẳng những người nọ phải nhờ người kia thôi mà lại phải nhờ cả giống súc vật giúp đỡ chúng ta làm những việc nặng nề khó nhọc, như trâu ḅ dùng cày bừa, ngựa dùng kéo xe, chó giữ nhà v.v… song than ôi! Đến lúc già, trâu ḅ hết kéo cày, ngựa hết sức kéo xe, người ta lại nở đoạn t́nh giết mà ăn thịt.

Ông Plutarque, một nhà luân lư và sử kư trứ danh nước Hy Lạp. Nhơn giản về vấn đề ăn chay có nói một câu “Các anh nói beo, sư tử là thú dữ, mà các anh không thua ǵ mấy con ấy, bởi v́ chúng nó giết đặng ăn mà sống, chí như các anh giết đặng ăn cho ngon miệng, mà các anh c̣n dùng môi miếng đặng giấu sự ghê gớm ấy đi”.

Trong một miếng thịt h́nh như in rơ nổi thống khổ của con vật trước khi bị giết, phải chịu sự phân chia bầy lũ, giống ṇi, đến khi bị giết thịt xương lại chịu sự chặt xẻ ra từng miếng, máu hôi dính theo lưỡi dao canh thớt.

Một con ḅ mới bị xả làm tư treo trên móc sắt, máu đỏ chảy ṛng ṛng mà thịt tươi c̣n mấp máy, cái thảm cảnh ấy, hỏi mục kích mà chẳng thương tâm?

Mạnh Tử nói “Thấy con vật sống không bằng thấy nó chết, nghe tiếng kiêu la thảm thiết, không nở ăn thịt nó. V́ vậy người quân tử xa ḷ sát sanh, lánh chỗ pḥng trù”.

Kinh Tam Giáo Qui Nguyên có đoạn dạy: Người ăn thịt cá đều phạm lư ngũ thường.

1.-Giết hại con vật đặng ăn ngon béo miệng ḿnh là bất nhơn.

2.-Giết hại con vật làm cho phân chia bầy lũ mà đăi bà con ḿnh là bất nghĩa.

3.-Đem thịt hôi tanh dưng cúng quỉ thần là bất lễ.

4.-Khen ăn con vật cho là lộc Trời ban mà hại nó chịu dao thớt là bất trí.

5.-Lập mưu nhử mồi gạt nó sa vào hầm lưới là bất tín.

Người ở thế gian phải giữ năm hằng, biết mà c̣n phạm là lỗi Đạo luân lư đó vậy.

Tóm lại Thánh Hiền xưa nay dầu ở phương Đông hay phương Tây cũng đều răn việc sát sanh mà trọng sự ăn chay.

 

ĂN CHAY ĐỐI VỚI TÔN GIÁO

Các tôn giáo từ xưa đến nay đều trọng sự ăn chay, lấy đó làm căn bổn cho việc làm lành lánh dữ, lại lập thành một giới luật rất nghiêm, phàm người tu hành dầu ở bật nào cũng phải giữ kỷ.

Nhà tôn giáo cấm sát sanh đại khái là ǵ những lẻ sau nầy: Phàm những loài tứ sanh, noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh là những giống biết cảm giác, biết thương yêu, đương chịu luật tấn hóa của trời đất, chính chúng ta xưa kia đă từng trải nhiều kiếp mới tấn hóa thành người, cho nên đối với động vật chúng ta phải tỏ ḷng nhơn ái là hạp với đức háo sanh của tạo hóa.

Vả lại giết một con vật chẳng phải là chỉ giết cái cơ thể không hiểu biết chi hết mà thôi đâu, mà c̣n phạm tội với điểm linh quang đương tấn hóa trong cơ thể ấy.

Người đối với loài vật c̣n thấp thỏi hơn ḿnh mà c̣n giữ tánh sát hại là tạo một ác quả cho ḿnh không tránh khỏi cơ báo ứng.

Người tu hành ăn thịt là thiếu đức từ bi đă đành, mà chư Thần Thánh cũng khó thân cận đặng hộ tŕ v́ cái hơi tanh xông lên xúc phạm.

Kinh Thánh (Dhammika Sutta) có câu “Người chủ nhà chẳng nên tự ḿnh giết, không nên bằng ḷng cho người khác giết và cũng chẳng nên xúi ai giết một con sanh vật nào”.

 Thánh Kinh (Cựu Ước) của Thiên Chúa Giáo nơi khoảng nói về việc tạo lập trời đất có câu Đức Chúa Trời phán “Nầy ta sẽ cho các ngươi mỗi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất và loài cây sanh trái có hột, giống ấy sẽ là đồ ăn của các ngươi”.

Thánh kinh (Cựu Ước) đoạn luật pháp về việc giữ Đạo. Trước mặt Chúa và trước mặt mọi người các ngươi chớ ăn vật chi có huyết.

Kinh (Cảm Ứng) có câu “Loài vật cũng của Trời sinh ra nó cũng có tánh mạng, biết ham sống sợ chết, biết đau ngứa như người, nếu sát sanh hạ bạc là tổn đức hạnh.

Kinh (Xuân Hư) nói “Con người muốn ăn thịt thú vật th́ ăn chớ trời đất chẳng sanh nó ra cho người ăn đâu. Vậy sao không nói luôn rằng trời đất sanh con người để cho muỗi ṃng hút máu, cho cọp sói ăn thịt”.

Kinh (Lăn Già) có câu “Ăn thịt vào bụng một lác, thịt ấy hóa ra dơ dáy, thân thể hấp thụ vật ô uế ấy mà to lớn, vậy th́ cái thân thể hôi tanh có chi là thanh tịnh”.

Sách luật của Đức Bàn Cổ “Loi du Manou” và kinh Huê Đa “Veda” là sách thâm cổ của Ấn Độ cũng truyền bảo ăn chay.

Đức Phật dạy “Các đệ tử đừng nuôi ḿnh bằng thịt thú vật”.

Đức Phytagome nói rằng: “Hỡi người ở thế ơi! Các ngươi sanh trên mặt đất nầy thiếu chi hoa thơm cỏ lạ, cây trái bốn mùa để nuôi xác thân chúng ta quanh năm suốt tháng, tại sao không dùng để nuôi thân, tại sao phải sát hại sự sống của loài động vật mà không ghê sợ luật luân hồi.

 

ĂN CHAY VỚI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Đức Thượng Đế gián cơ dạy về trai giới:

“Chư môn đệ giữ trai giới v́ tại sao vậy?

“Chẳng phải v́ Thầy c̣n buộc theo cựu luật, song luật trai giới rất quí báu, nếu không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng. Thầy cắt nghĩa: Mỗi người ở thế nầy có hai xác thân một xác phàm, một xác Thiêng Liêng, mà cái Thiêng Liêng do nơi xác phàm mà ta gọi nó là bán hữu h́nh, v́ có thể thấy đặng mà cũng có thề không thấy đặng. Cái xác huyền diệu Thiêng Liêng ấy do tinh, khí, thần mà luyện thành; khi nơi xác phàm xuất ra, th́ lấy h́nh ảnh của xác phàm như khuôn inh rập, c̣n như đắc Đạo mà có tinh khí không có thần th́ không thể nhập mà hằng sống. C̣n như có thần mà không có tinh khí th́ khó hường nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp lại mới đặng.”

“Nó vẫn là chất, tức hiệp với không khí Tiên Thiên mà không khí Tiên Thiên th́ có điển quang. Cái chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch nhẹ nhàn hơn không khí th́ mới ra khỏi càn khôn thế giới đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có xác phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết.

“Nếu các con ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn chứng th́ làm sao mà giải tán cho đặng?

“Như rủi hường nhị xác thân, cái trượt khí ấy vẫn c̣n, mà trượt khí lại là vật chất tiếp điển (bon conduteur déclec tricité) cái nhị xác phàm ấy chưa ra khỏi lằn không khí đă bị sét đánh tiêu diệt. C̣n như biết khôn ăn núp lại thế mà làm một bực Nhơn Tiên th́ kiếp đọa trần cũng c̣n chưa măn.

“ Vậy Thầy buộc các con phải trường chay mới được luyện Đạo”.

Theo luật Đạo trong hàng Hạ Thừa ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên được thọ truyền Bửu Pháp, nghĩa là khi qui liễu được hành phép xác và cầu kinh đủ theo Tân Pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

“Chiếu theo châu tri số 56 ngày 24 tháng 7 năm Mậu Dần (19-3-1933) th́ những vị được chọn cử Nghị Viên Ban Ủy Viên Hội Nhơn Sanh phải là người Đạo đức trường chay mới được dự Hội Nhơn Sanh, v́ những vị ấy là đại diện cho chúng sanh phải trường chay mới đủ tư cách đại diện cho vạn linh”.

Lời dạy của Đức Hộ Pháp: Nếu hàng Chức Sắc không trường chay được th́ phải mất quyền hành chánh và quyền dự hội.

Đức Lăo Tử đă dạy: “Ta có ba món báu phải cần mà giữ, một là nhân từ, hai là tần tiện, ba là khiêm nhượng”.

Đức Hộ Pháp cũng đă dạy Phương Luyện Kỷ vào con đường thứ ba Đại Đạo về đoạn luyện Thần, luyện trí:

Ẩm thực tinh khiết,

Tư tưởng tinh khiết,

Tín ngưỡng mạnh mẻ nơi Chí Tôn và Phật Mẫu ấy là ch́a khóa mở cửa Bát Quái Đài tại thế nầy.

 

  Viết xong ngày 6-11-Quí Hợi (1983)

QUANG MINH

(Xin xem tiếp Quyển XVII)

 

 

MỤC LỤC:

1.TÂM, THẦN, NHĂN, THIÊN ĐỒNG NGHĨA VỚI TRỜI

2.THI CỦA THỪA SỬ TRẤN

3. ĐƯỢC THUA KHÓ LUẬN

4. CHIẾT TRUNG TÂM VẬT

5. VÍA ĐỨC CHÍ TÔN

6.TÍCH TÂY DƯƠNG MẪU Tức PHẬT MẪU

7.DÂY SẮC LỊNH

8.TẠM DU THỦ ĐỨC

9. CÂU LIỄU BÍCH DU CUNG

10. THẬP ĐIỀU GIỚI RĂNG CỦA PHẠM MÔN

11. PHONG THẦN CÓ THẬT

12.TẠI SAO CÓ TỊCH ĐẠO THANH HƯƠNG

13.CỰC LẠC THẾ GIỚI TẠI THẾ

14. KHỔ HIẾN TRANG LÀ G̀ ?

15. OAI NGHIÊM

16.TRUYỀN TIN THỨ NHỨT

17. TỨ THÁNH

18. NG̉I BÚT ĐỘC HƠN ĐAO KIẾM

19.THÁNH GIÁO CHO CHIẾN SĨ PHÁP HỒI

20. LỤC LONG PH̉ ẤN

21. ĂN CHAY

 

Top of Page

      HOME