GÓP NHẶT CHUYỆN ĐẠO

 

QUYỂN XIV

 

QUANG MINH

Viết xong ngày 2-5-Qúi Hợi (1983)

 

 

MỤC LỤC
1.TIẾNG “XIN VÂNG”
2. KIẾP DUYÊN (Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh, đêm 30 tháng 9 Tân Măo (dl 1951)
3. ĐỨC HỘ PHÁP THUYẾT ĐẠO TẠI ĐỀN THÁNH –VÍA ĐỨC THÁI THƯỢNG LĂO QUÂN

(đêm 14-2-Kỷ Sửu (1949 dl)
4. PHỤ NỮ CHÍ CAO
5. LỜI GIẢNG CỦA ĐỨC HỘ PHÁP TẠI ĐỀN THÁNH VỀ “HỒNG OAI, HỒNG TỪ”

đêm 15-5-Ất Mùi (1955)
6. NHỮNG HIỆN TƯỢNG XẢY RA NƠI MIẾU ĐẠI THẦN TRẦN CÔNG THẮNG
7. ĐỨC TRUNG TÍN
8. TRỌNG DANH DỰ VÀ SANH MẠNG NGƯỜI
9. PHẬT GIEO MẠ BARAHOADA
10. LỜI TRẦN T̀NH CỦA BẢO ĐẠO HỒ TẤN KHOA NHÂN DỊP XUÂN MẬU THÂN
11. CỬA TRỜI
12. KIỀU GIÁNG CƠ ĐỀ BÚT
13. ĐỨC CHÚA JESUS CHRIST (Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp tại Đền Thánh 14-11 Đinh Hợi)

14. THẦN TRẤN THỦ KIÊM BIÊN GIÁNG BÚT 15-8 Mậu Tuất (27-9-1958)
15.LÀM NHŨNG QUAN (Lời kể của Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại)
16. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẠO OMOTO (NHẬT BẢN)
17. HẠ NGUƠN LÀ THỜI KỲ TRẢ QUẢ
18. ĐIẾU VĂN CỦA ÔNG PHAN TRƯỜNG MẠNH ĐỌC TRƯỚC LINH CỬU CỦA NGÀI ĐẦU SƯ THÁI THƠ THANH (Quàn tại Thánh Thất Nam Thành Cầu Kho ngày 23-9-1950)
19. THÁNH GIÁO CỦA BÁT NƯƠNG (25-3-1934)
20. GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM
21.ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐỐI (của ông Thông Quang)
22.BIẾT BẰNG TRỰC GIÁC
23. TỰ THÁN (Của Đức Hộ Pháp)
24. CÔ ĐOÀN NGỌC QUẾ GIÁNG CƠ ngày 10-6 Ất Sửu (1925)
25. KHÔNG PHÂN BIỆT M̀NH VỚI VẠN VẬT
26. BÀ BÁT NƯƠNG GIÁNG CƠ CHO THI TẠI NHÀ NGÀI CAO QUỲNH DIÊU (21-11 Kỷ Tỵ)

 

1.TIẾNG “XIN VÂNG”

 

Ngày nọ Đức Maria, một thiếu nữ tuyệt đức, tuyệt mỹ ở trong pḥng vắng, có một Thiên Sứ bổng đến mách tin: “Người sẽ thụ thai sinh Con Thượng Đế”.

Đức Maria ngạc nhiên thưa: “Làm sao việc ấy được thành v́ tôi quả quyết giữ khiết trinh”.

Thiên Sứ cho biết đó là ư của Thượng Đế và đối với Thượng Đế không có ǵ mà không thể được. Đức Maria biết là do Thánh ư Thượng Đế, người cung kính nghiêm nhu, tin tưởng yêu mến, trông cậy thưa: “XIN VÂNG”.

Thế là Thiên Sứ bắt đầu cưu mang trong Người. Nhờ tiếng vĩ đại “Xin vâng” mà nhơn loại được cứu rỗi, và bộ mặt nhơn loại được đổi mới và bao nhiêu công tác vĩ đại thay phiên xuất hiện dưới bóng mặt trời.

Thật đáng ngă đầu khâm phục thay đức vâng lời của mẹ Maria. Người không thâm hiểu học thuyết Ki Tô Giáo hay Người quá nhiễm tinh thần duy vật cuồng loạn của thời đại, khó có ư thức được giá trị của đức tuân phục. Người ta thường chỉ thấy cái thuận hơn cái nghịch mà không thấy trong cái nghịch đôi khi chứa những cái thuận. Tuân phục, người thời đại cho là hành vi nghịch với óc chiến đấu.

Ở thời nầy khi ai móc ḿnh một mắt, bẻ một cái răng phải móc lại một mắt, bẻ lại một cái răng. Chúng tôi nói đức tuân phục là nói với ư thức tuân phục là một đức, không có nghĩa là khiếp nhược phục tùng ḷn cúi để trục lợi hay v́ một lư do nào khác.

Tuân phục là nhơn đức luân lư giúp ư chí cá nhân của ta kính phục ư chí của những thượng cấp chánh đáng, đại diện trực tiếp hay gián tiếp của Thượng Đế. Loài người mà tuân phục Thượng Đế là vấn đề đáng lẽ khỏi bàn. Triết học, Khoa học, Thần học đă cho ta biết con người có do Thượng Đế, là con của Người, hưởng bao nhiêu ân huệ của người và có người làm cứu cánh tối hậu. Vâng lời Thượng Đế v́ đó là việc công b́nh phải lẽ của con người.

Loài người chẳng những phải vâng lời Thượng Đế mà c̣n phải tuân phục những bực đại diện chánh đáng của Người. Thượng Đế muốn cho đời sống mỗi người tốt đẹp nên cho cá nhân có đời sống xă hội, cho đặng xă hội an b́nh hầu giúp đỡ cá nhân phát triển về mọi mặt: thể chất, tinh thần, tâm đức; xă hội cần uy quyền, cần những bực lănh Đạo. Các bực nầy lănh uy quyền ở Thượng Đế phục vụ người trong xă hội. Xă hội là gia đ́nh quốc gia hay tổ chức cộng đồng để tu hành, để công tác xă hội. Nên nhấn mạnh mọi uy quyền đều có do Thượng Đế (Lời của Thánh Phao Lô Rom XIII-1)

Lư tưởng của kẻ làm lớn là phụng sự kẻ dưới chớ không phải lạm dụng kẻ dưới để t́m hạnh phúc ích kỷ. Nếu quan niệm vai tṛ làm lớn trong xă hội như vầy th́ kẻ được điều khiển có lẽ sẽ không tuân phục.

Nếu không tuân phục là vô t́nh cản trở sự phát triển của cá nhân, phá rối an b́nh cần thiết cho hạnh phúc cộng đồng. Vấn để cần dè dặt chút là phải tuân phục kẻ đại diện chánh đáng của Thượng Đế. Các bực đó là ai?

Đây là đôi ví dụ:

Trong gia đ́nh kẻ đại diện Thượng Đế cầm quyền coi sóc là cha mẹ. Trong một quốc gia, kẻ đáng tuân phục là những nhà cầm quyền mà chánh thể đă gây nhiều công tác vừa bảo vệ vận mạng quốc gia vừa phục vụ quyền lợi quốc dân.

Nguyên tắc căn bản nên theo là không nên tuân hành những huấn lịnh nghịch luân thường, nghịch Thượng Đế. Dĩ nhiên cái ǵ không thể ǵn giữ được th́ không có uy quyền nào buộc.

(Trích trang 193-195 Thuật Sống Dũng của Hoàng Xuân Việt)

 

 

2. KIẾP DUYÊN (Đức Hộ Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh, đêm 30 tháng 9 Tân Măo (dl 1951)

 

Đêm nay Bần Đạo giảng kiếp duyên, kiếp quả của chúng ta, chúng ta phải hiểu nghĩa kiếp duyên là ǵ? Và kiếp quả là ǵ? Chúng ta biết đương nhiên kiếp sanh của chúng ta bây giờ đây  ở trong cái t́nh trạng nào?

Kiếp quả, theo chơn lư của Phật đă nói rằng: Cái nhơn quả của ta nó làm cho chúng ta sanh ra ở cơi trần nầy. Chúng ta có xác thịt thi hài làm người nơi mặt địa cầu nầy, do nơi nhơn quả của chúng ta mà ra, đă mang căn kiếp số đương nhiên của chúng ta do nơi nhơn quả của tiền kiếp, tức nhiên kiếp trước, rồi cái kiếp tương lai, cái kiếp sắp tới của chúng ta do nơi nhơn quả của cái kiếp bây giờ, chúng ta đă tạo ra nhân, bởi chúng ta đă đào tạo nhân mới sanh ra quả, mà có quả tức nhiên chúng ta phải tái kiếp đặng đền cái quả ấy. Gọi là kiếp quả.

Bây giờ kiếp duyên là chúng ta có đủ làm phận sự trong kiếp sanh trước của chúng ta trọn vẹn nhơn Đạo, trọn vẹn cái Đạo làm người của chúng ta và đă gieo cái t́nh ái vô biên trong tâm thần của bạn đồng sanh của chúng ta, ta đă thi ân cho họ, ngày giờ nầy ta đến cho có mặt đặng cho họ trả cái quả kiếp của họ. Gọi là kiếp duyên, hay là cái căn tu của chúng ta đă đoạt đến một địa vị Thiêng Liêng của chúng ta gọi là siêu thoát, th́ ta tái kiếp đặng mà đoạt cái phẩm vị nơi cơi nầy, tại mặt địa cầu nầy. Đó là chúng ta đă đào tạo cái nhơn quyên của chúng ta vậy.

Trong cái kiếp duyên của chúng ta có cái kiếp ngộ Đạo là hạnh phúc hơn hết, và trọng hệ hơn hết, mà chính cái ngộ Đạo ấy, chúng ta có thể mai duyên đến hội hiệp cùng Đại Từ Phụ, tức nhiên vào ngồi trong ḷng của Đức Chí Tôn. Cái kiếp duyên quan trọng hơn hết là đấy.

Bần Đạo nói rơ, mấy bạn yêu ái của chúng ta đang ở trong ḷng thương yêu vô tận của Đức Chí Tôn nhập trong cái đại gia đ́nh Thiêng Liêng của Ngài. Ngài đến nơi mặt địa cầu nầy là để cái dấu chơn của Ngài trên cái Cao Đài nầy đặng Ngài làm cái dấu hiệu cho toàn thể con cái của Ngài đă hữu duyên gặp đặng Ngài, nó làm nơi hội hiệp của nó, nghĩa là hôm nay chúng ta ngồi trong cái Đền Thánh nầy, tức nhiên trong một cái cơ thể tượng trưng ḷng yêu ái vô tận của Đức Chí Tôn, nó không phải t́nh cờ mà được vậy, chúng ta chung hiệp với nhau ngày hôm nay trong ḷng yêu ái của Ngài nơi Đền Thánh nầy không phải do nơi cái may mà ra, chúng ta đoạt đặng một kiếp duyên của chúng ta hội hiệp cùng nhau chung cả hạnh phúc của chúng ta làm một khối Thiêng Liêng vô đối trong ḷng yêu ái vô tận vô biên của Đức Chí Tôn đặng cầm cái quyền năng yêu ái ấy rải khắp cho toàn thiên hạ được hưởng, chỉ nghĩa là chúng ta có duyên phận đến đặng thọ mạng lịnh của Đức Chí Tôn phụng sự cho con cái của Ngài, cái phụng sự ấy là để tạo kiếp duyên cho họ, cũng như ta đă được may phước ngộ Đạo gặp Ngài nơi thế nầy.

Vị Thanh Tâm Tài Tử trước kia v́ t́nh mà chết, nên phải đầu kiếp, trước khi người đến tại nước Anh, Người có đến đặng từ biệt chúng tôi, buổi ấy chúng tôi hỏi sao lại đến nước Anh, chớ không đến nước khác? Thanh Tâm Tài Tử nói: “Nhơn duyên của em nơi đó, Em cốt yếu đến nước Anh đặng đón đường Đức Chí Tôn đi ngang qua đấy”. Thanh Tâm Tài Tử làm như vậy là:

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,

Ai ơi đừng tưởng dễ như chơi.

Nghe danh tuy chất chồng bên gối,

Cổ Phật không duyên khó gặp người.

Bần Đạo nói thật, mấy bạn Nam cũng thế, Nữ cũng thế, đương chung hiệp cùng nhau nơi đây, cái buổi hạnh phúc của chúng ta là buổi nầy “Bá thiên vạn kiếp năng tao ngộ” không phải dễ mà gặp. Ta đă gặp đặng, tưởng chắc nếu chúng ta hiểu rơ giá trị của nó th́ cái kiếp duyên chúng ta đây, dầu có của phú hữu tại mặt địa cầu nầy, cái danh giá cao trọng như thế nầy, cái hạnh phúc giá trị sang trọng thế nầy cũng xa cái giá trị của kiếp duyên như trời với vực.

 

 

3. ĐỨC HỘ PHÁP THUYẾT ĐẠO TẠI ĐỀN THÁNH –VÍA ĐỨC THÁI THƯỢNG LĂO QUÂN

 (đêm 14-2-Kỷ Sửu (1949 dl)

 

Hôm nay là ngày 15 tháng 2 (Nhị ngoạt thập ngủ), là ngày Đức Thái Thượng Lăo Quân giáng trần lập nền tôn giáo, cái kiếp sanh của Ngài thế nào th́ trót 24 năm đă giảng rơ, nhứt là năm rồi.

Bần Đạo đă giảng cái quyền sanh của Ngài, tưởng cả thảy đều thấu hiểu chẳng cần lập lại chi nữa, Bần Đạo lấy cái tinh ba của Tiên giáo, nhứt là do nơi tay của Đức Thái Thượng Giáo Chủ tạo thành, bí mật quyền ấy thế nào? Bần Đạo thuyết minh ngày nay mà thôi.

Có bốn nguyên linh yếu trọng đă giúp Đức Chí Tôn khi Ngài đă đoạt định thành h́nh, mỗi chơn linh giúp Đức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo ra càn khôn vũ trụ hữu h́nh nầy có đứng đầu hơn hết là khối Thái Cực, với tiếng nổ đầu tiên là Đức Thái Thượng Lăo Quân đó vậy. Khi Thái Thượng đă nguội, vật đă xuất hiện đấng thứ nh́ là nước, tức nhiên là Đức Thái Thượng Ngươn Thủy đó vậy, khi tượng h́nh đă có khí sanh quang bao trùm càn khôn vũ trụ đặng biến sanh vạn vật là Hộ Pháp đó vậy. Khi đất nguội th́ trái địa cầu nảy sinh ra đất là Thông Thiên Giáo Chủ đó vậy.

Bốn chơn linh đă giúp cho Đức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo cơ quan hữu h́nh của càn khôn vũ trụ, nó có tinh ba của nó đặc sắc.

Đức Thái Thượng nguyên linh của Ngài tối yếu tối trọng là cái huyền vi bí mật tạo đoan vô đoán của loài vật, muôn vật ở càn khôn vũ trụ nầy, tức nhiên là nguyên căn sản xuất của vạn linh đó vậy.

C̣n Đức Thông Thiên Giáo Chủ, nguyên căn sản xuất h́nh thù của vạn linh đó vậy, một là nguyên linh hay là vật. Đức Thái Thượng vốn là nguyên linh tức nhiên là tinh thần, nên chúng ta nói rơ hơn nữa Đức Thái Thượng  vốn Thiên lương, tức nhiên tâm của đời đă đặt tên.

C̣n Đức Thông Thiên Giáo Chủ là vật, cái thuyết của chúng ta đă ngó thấy cái đương nhiên bây giờ các nền tôn giáo cũng thế, cơ quan hữu h́nh tại mặt địa cầu nầy cũng thế, có hai quyền năng tương đương với nhau, một là tâm hai là vật, một là Trời hai là thú, tương đương với nhau cái thuyết duy tâm và duy vật chẳng phải có buổi nầy  mà thôi.

Cơ quan tạo đoan Thiêng Liêng thế nào mới nảy sinh càn khôn vũ trụ đă có trong Phong Thần là một áng văn về Đạo giáo đă minh tả Đức Thái Thượng, Đức Ngươn Thủy và Đức Thông Thiên Giáo Chủ, trước đă được một đặc ân thọ giáo ngay với Đức Hồng Quân Lăo Tổ tức là Đức Chí Tôn đó vậy.

Nếu chúng ta minh đoán ra Đức Chí Tôn có môn đệ đầu tiên hơn hết, những môn đệ đầu tiên là ba vị mà chúng ta đă ngó thấy trong Đạo pháp ở Phong Thần đă nói có một chỗ bí mật nầy, chúng ta nên suy đoán nhứt là nền Đạo Cao Đài nầy, là khi đă nhập vào trận Vạn Tiên, Đức Thái Thượng v́ giận Đức Thông Thiên Giáo Chủ, Ngài biến ra Tam Thanh, tức nhiên là h́nh ảnh Đức Chí Tôn lập giáo ngày nay trên mặt địa cầu nầy. Thái, Thượng, Ngọc tức nhiên Tam Thanh ứng hóa, là ba tinh thần duy chủ của nền tôn giáo, Thái, Thượng, Ngọc đương nhiên là Thánh Thể của Đức Chí Tôn đó vậy.

Tại sao Đức Chí Tôn lấy nguyên căn Tam Thanh trong buổi nộ khí của Đức Thái Thượng Lăo Tổ lập Đạo giáo? Là Đức Chí Tôn quyết định lấy cơ quan tối đại của duy tâm đánh tiêu tan duy vật, tức nhiên lấy tinh thần Đạo giáo diệt tiêu tả Đạo bàn môn.

Vạn pháp qui công “sanh chúng” sản xuất ấy là cơ quan chuyển thể đó vậy. Quyết định đem vào khuôn khổ cơ quan tạo đoan chí linh, Đức Chí Tôn bảo thủ nguyên căn vạn linh c̣n tồn tại, nhứt là bảo thủ các nhơn loại toàn thể trong càn khôn vũ trụ nầy.

Ngày hôm nay toàn thể Đạo Cao Đài biến theo trọng yếu của nó, chúng ta không có tưởng theo Đức Thượng Đế đă tạo chúng ta tưởng tượng rằng hôm nay là ngày Đức Chí Tôn đă tuyên chiến cùng tả Đạo bàn môn đó vậy. Tượng ảnh Đức Thái Thượng đă quyết thắng thuyết duy vật là thế ấy./.

 

 

4. PHỤ NỮ CHÍ CAO

 

(Trích trong Nữ Giới Tùng Thư)

Cũng tay, cũng mắt, cũng h́nh dung,

Chi dễ ai khi khách má hồng.

Góp mặt b́nh quyền đôi phận xẻ,

Ghé tay nghĩa bụ một bên gồng.

Đem đường chỉ thắm may Trời Đất,

Dở lá khăn hồng bọc núi sông.

Trước giúp chồng con sau xă hội,

Lịnh kêu ta cũng thử kêu cồng. (1)

              Văn Tuyền Đạo Cô

(1)    Cồng là cái chiên, cái cồn.

BỘ TIÊN VẬN

Châu lồng ràng buộc lối thụy dung,

Vùng vẫy đ̣i phen chốp cánh hồng.

Xưa vạt ngả trai khôn sức đỡ,

Thuở nhà nghiêng gái để vai gồng.

Tuyết sương trước đă vùi son phấn,

Tên tuổi nay c̣n vẹn núi sông.

Gương tỏ lào soi đoàn phụ nữ,

Xa nghe đảnh Việt tiếng vang cồng.

              Mỹ Ngọc (9-11-1929)

Tức Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu

HỌA NGUYÊN VẬN

Bá ṭng thường nhượng sắc phù dung,

Quốc thể nâng cao cậy bóng hồng.

Tây Tử xô thành đôi mắt liếc,

Huyền Trân đổ vạt một lưng gồng.

Mái chèo Thị Điểm ḷa văn hiến,

Ngọn giáo Trưng Vương rạng núi sông.

Ghe thuở nam nhi đành nể mặt,

Năm châu Khánh Việt giọng ngân cồng.

27-6-Canh Thân (1986)

       Quang Minh

 

 

5.LỜI GIẢNG CỦA ĐỨC HỘ PHÁP TẠI ĐỀN THÁNH VỀ “HỒNG OAI, HỒNG TỪ” đêm 15-5-Ất Mùi (1955)

 

Đêm nay Bần Đạo giảng đặc biệt cho Hội Thánh nam nữ lưỡng phái và Hiệp Thiên Đài, đêm nay Bần Đạo giảng về Hồng Oai và Hồng Từ, hai tiếng hồng oai hồng từ ấy là đặc quyền của Đại Từ Phụ đă tạo đoan càn khôn vũ trụ mà lại v́ hai tánh đức ấy Ngài trị cả vạn linh. Nếu ta luận hồng oai và hồng từ th́ ta có thể nói luận ác và thiện, rồi ta có thể đem ra hai kiểu mẫu xă hội tức nhiên đời, cũng như Đức Khổng Phu Tử và Đạo Thích, nói về Đạo chẳng khác nào ta luận Đức Chúa Jesu Christ, Juda; đă nói tới Đạo Phật ta thử luận Đức Thích Ca Mâu Ni và Devadata, cái luận thuyết về nghĩa lư ấy vẫn không cùng, ta chỉ nương nơi nghĩa lư và quyền hành ấy đặng để cho Thánh thể Đức Chí Tôn đi cho đúng đường lối.

Hại thay! Chớ phải chi hai lẽ thiện và ác ấy cả thánh thể của Ngài đi một lối mà thôi, nói đơn giản th́ là làm thầy chùa th́ thầy chùa, thầy pháp là thầy pháp, Đạo thời Đạo đi cho triệt để hay đời cho triệt để đi. Khổ năo thay thánh thể Đức Chí Tôn v́ lănh mạng lịnh của Ngài đến làm tôi con của Ngài cho toàn vẹn, thế gian của Ngài hỏi vậy chớ Đại Từ Phụ đă giao cho ta có phải giao Thánh hay là giao phàm, nếu ta lấy theo sự suy gẫm của ta, ta phải nh́n rằng Đại Từ Phụ đă giao cho ta phàm nhiều hơn Thánh, lẽ dĩ nhiên trước mắt ta ngó thấy.

Tự thuở nay, con người dù sức lực mạnh mẽ thế nào gánh một vai mà thôi, Đại Từ Phụ lại buộc cả Thánh Thể của Ngài phải gánh hai vai Đời và Đạo. Cái kiểu vở hai tôn giáo trước mắt ta, ta ngó thấy Phật giáo th́ nghiên cái gánh bên Đạo, Công giáo th́ nghiên cái gánh bên đời. Đời Đạo, Phàm Thánh Đức Chí Tôn đến lập Thánh Thể của Ngài, Ngài biểu phải đứng ngay chánh giữa của nó. Luận ra cho cùng lư th́ Hội Thánh của Ngài buộc không đời mà cũng không Đạo ở giữa cái mức trung tim của Đời và Đạo.

Cái khó khăn cho phận sự Thiêng Liêng ấy là v́ lẽ đó. Hồng từ là thử kiếm hiểu phải có cái tinh thần Đại Từ Bi, Đại Bác Ái, nghĩa là mọi điều phải do nơi luật tương đối, hiện tượng bây giờ là cái t́nh đời th́ ta phải khoan hồng dung thứ. Muốn làm cho không lầm phải có tinh thần lịch lăm và khoan dung. Nắm được tính đức Hồng Từ của Đức Chí Tôn lịch lăm ta phải biết ḿnh, biết người. Một cái gương lịch lăm từ cổ tới kim chưa hề có một lần thứ nh́ nữa là Vua Nghiêu có 9 người con, 7 trai 2 gái mà đi t́m ông Thuấn để truyền ngôi Vua lại, c̣n mấy người con trai kia ta thử nghĩ thế nào đă. Khi t́m đặng ông Thuấn đem hai người con gái gă hết, Nga Hoàng và Nữ Anh, mà ta thử nghĩ ông Thuấn ổng là ǵ, tên ít học cày ruộng, cha là Cố Tẩu, em Tượng ghét đáo để, nhứt là bà Kế Mẫu. Ngài bị hiếp bức, ít học bất quá là người cày ruộng vậy thôi. Ta thử nghĩ v́ lẽ ǵ Vua Nghiêu chọn ông Thuấn làm Vua kế nghiệp cho Ngài, chỉ v́ ông Thuấn là hiếu mà thôi. Với cái lịch lăm vua Nghiêu, Ngài cho tính đức hiếu nghĩa đó là đủ hết rồi. Hễ hiếu cùng cha mẹ, nghĩa cùng anh em, hai tính đức đó đủ cả tinh thần đặng trị thiên hạ, Ngài đoán rồi chọn ông Thuấn, Ngài không lầm, quả nhiên ông Thuấn đă thành một vị Hoàng Đế từ cổ chí kim chưa hề có một người thứ nh́ nữa.

Ấy là lịch lăm, nhờ cái tâm thần lịch lăm của Vua Nghiêu mà cả cái sự hèn hạ của ông Thuấn kia nó mất hết. Ông chỉ lấy có hiếu với nghĩa mà thôi. Ấy là cái gương lịch lăm khoan dung mà cái cử chỉ của ông Nghiêu đă truyền ngôi cho ông Thuấn là một cái Hồng Từ mà từ thử tới giờ chưa có ai làm một lần thứ nh́ nữa.

Bây giờ luận về Hồng Oai, Hồng oai nhiều cái khúc chiết, phải có tâm thần suy đoán và tha thứ cả tội t́nh thiên hạ. Ta chỉ chọn một cái hồng oai của ta, khi ta trị ta, ta phải làm sự trị ấy của ta lại v́ cho kẻ bị trị, cái trị đó, ta toan tính liệu lượng thế nào, cái hồng oai của ta đây nó là một món thuốc trị bệnh cho kẻ đă bị bệnh.

Cái tính đức suy đoán có nhiều khi nó không cùng luận một điều nên nói, Bần Đạo đem hai cái thí dụ mới đây có hai vợ chồng ông đó người Pháp, bà vợ đau bịnh lao không thể trị được, thấy chết trước mắt đó vậy. Bà vợ biết ḿnh không thể sống, chỉ có sống đi th́ làm khổ chồng và con mà thôi. Cái t́nh thương vợ chồng nồng nàn mà thâm t́nh của Bà hôm nay như thế đó, chỉ có trông cái chết mà không chết đặng, Bà mới cậy ông chồng giết ḿnh dùm, tội nghiệp Bà đă khóc cầu khẩn không biết bao lần, ông chồng chỉ có khóc mà chịu thôi, chừng đó để ông chồng ngó thấy sự đau đớn của bà vợ không thể ǵ mà hết được, không thế ǵ mà thoát khỏi bịnh ngặt đó được, nghe lời yêu cầu của bà vợ, bắn vợ. Ṭa đem ra đại h́nh buộc án sát nhơn, nhưng may thay cả thảy thiên hạ đều biết đức tính hiền từ của ông, nên họ làm chứng và quả quyết rằng: Bà kia cầu xin ông nọ giết ḿnh dùm, nên được tha, là một gương thứ nh́.

Bần Đạo đă đọc sự tích đó hồi c̣n đi học, có hai anh em bạn học ở chung một trường với nhau, tới kỳ thi tú tài th́ Bachot kêu Bacheller của Pháp, th́ người bạn thi rớt về thất chí đến nước muốn hủy ḿnh, mà may có một điều được người bạn tâm t́nh kia đem cả sự đau khổ tâm hồn của ḿnh tỏ cho bạn ḿnh, người bạn an ủi khuyên lơn chi cũng không đặng hết.

Hôm nọ người thất chí đó nhứt định đi ra đón xe lửa đặng nhào đầu vô xe lửa đặng chết, đặng tự tử, mà không dè là người bạn của ḿnh đi theo bén gót, đi theo xa xa giữ ǵn mà không hay. Ông ta mới vừa đi lại gần xe lửa, người bạn chạy theo níu, năn nỉ giữ lại đó, người kia vùng vẫy đỗ quạu lên nói: Mầy tưởng đâu mầy thương tao mà mầy kéo dài sự đau khổ của tao chớ không phải mầy thương tao. Bây giờ không thể ǵ can gián được, phải dùng chiến lược khác, phát gây lộn nói: Cái thân thể mầy đă dỡ, mầy ngu rồi mầy thi rớt, rồi mầy muốn hủy ḿnh mầy, mầy mà có chết đi nữa, linh hồn mầy xuống địa ngục là thằng tù ngu, dầu mầy có được Đức Chí Tôn tức nhiên là Đức Chúa Trời ban cho mầy thành ông Thánh đi nữa th́ mầy cũng thành ông Thánh ngu. Mắng đă hai đàn đánh lộn ôm vật với nhau, đánh thẳng tay mà cái ông kia ḿnh làm mưu không nở đánh lắm, đánh sợ đau bạn. C̣n ông bạn kia đổ quạu thật, đánh thôi ḿnh mẩy sưng tùm lum túa lua rồi đem vô nhà thương nằm. Vô đó người bạn đó mới nói: Mầy ớ! Tao cốt yếu tâm đặng cứu mầy, mầy làm tao thân thể như vầy, thôi hết sức nói, tới chừng người kia nằm kề gần bên mới động ḷng khóc mướt, rồi ôm người bạn khóc mướt đó vậy. Cứu được, từ đó anh kia theo măi, tới khi đậu ra trường thôi. Đó Hồng Oai đó, hai cái hồng oai đó. Bây giờ ḿnh mới nghĩ coi hồng oai mà làm được như vậy cũng nên làm chớ.

Bây giờ luận trong Hội Thánh, em th́ đông, nam nữ gần đôi ba triệu, được cái phải của đứa nầy, nó có cái quấy của đứa khác không đồng nhau, v́ lẽ đó Đức Chí Tôn mới lập Pháp Chánh thử cái cân công b́nh của Hội Thánh nghỉ làm sao mà chớ? Chỉ có một điều là đoàn em nó đặng đắc giáo, được dạy dỗ cho hiểu Đạo, đặng nó sống dùm cho bạn của nó.

Đại gia đ́nh Thiêng Liêng nầy nó phải có tương liên sống chung, chết chung với nhau đó. Nếu cả thánh thể Đức Chí Tôn không có giáo hóa cho họ hiểu thấu đáo, nghĩa lư cái sống trong cửa Thiêng Liêng nầy, trong đại gia đ́nh Thiêng Liêng nầy là ǵ? Th́ bao giờ cũng vậy. Đứa phải trở lại đả đảo đứa quấy, đứa quấy cũng không chịu nhịn đả đảo lại đứa phải. Tấn tuồng đời chuyển luân ngay giữa cửa Thiêng Liêng, cửa Đạo đây, nam nữ em cũng đồng em hết, ḿnh coi quyền lợi của cả thảy nó, ḿnh tính cái nào nhiều theo đa số, giờ bắt chước theo kiểu vở chánh trị thiên hạ bên Âu Châu, hễ bầu phiếu nhiều là được. Bây giờ hễ đoàn em của ḿnh, hễ đa số chịu cái ǵ, nếu phải ḿnh làm theo nó, giúp đỡ cho nó làm, đa số nó không bằng ḷng cái ǵ th́ ḿnh từ, ráng cố gắng mà tránh.

 Có một điều nên để ư hơn hết, trước mặt đức Đại Từ Phụ, Đại Từ Phụ coi cả con cái của Ngài ở dưới thế gian nầy như đám mồ côi, Nam cũng vậy Nữ cũng vậy, v́ lư do nó mồ côi nên ổng chống gậy đến ổng nói con ổng mồ côi. Bây giờ ta cũng kể em ta là đám mồ côi nương lấy anh, muốn nuôi nấng dạy dỗ nó, nhứt là phải dạy dỗ chẳng phải bằng lỗ miệng mả thôi, mà dạy dỗ sự hành vi của nó. Có nhiều đứa nhứt là đám mồ côi của phái nữ, tâm thần th́ hay thương yêu, có nhiều đứa mồ côi chưa được lỗ mũi mẹ hung hít một cái, nó thèm thuồng t́m kiếm trong cửa Đạo mẹ của nó, trông kiếm nơi cửa Đạo cha của nó, nam cũng vậy, nữ cũng vậy, cả thánh thể Đức Chí Tôn cố gắng làm cha, làm mẹ nó dùm, cố gắng mỗi người đều dạy dỗ.

Bần Đạo chỉ có buồn một điều, thay v́ dạy nó đặng d́u dắt cho nó đi vào Thánh Đức, có nhiều người dạy nó đi theo cái ǵ, Bần Đạo cũng không nên nói rơ ra đây.

Từ đây tới sau, xin cả Thánh thể Đức Chí Tôn, th́ bắt chước măi mai theo Ngài đặng có tánh đức Hồng Oai, Hồng Từ ấy.

Mai đây Bần Đạo làm oai cho biết chừng, ai đời không có tiền cất chợ cho em, ráng làm được bốn cái nhà lồng, đặng cho sắp nhỏ vô chui đục nắng mưa. Mấy bà nào đó không biết giăng ngang qua hết thảy vậy, đem trại thiết giăng ngan chặn đường mà năn nỉ biểu dời đặng cho sắp nhỏ có chỗ vô nhà lồng buôn bán với, ngăn ngang qua đó, đáo để đuổi cũng không đi. Cho đất đặng dời cũng không đi nữa. Mai nầy Bần Đạo làm oai ra lịnh dở tốc đồ đó hết. Bần Đạo làm oai một lần thử coi.

 

 

 

6. NHỮNG HIỆN TƯỢNG XẢY RA NƠI MIẾU ĐẠI THẦN TRẦN CÔNG THẮNG

 

Trong thời kỳ Tây Ninh c̣n dầy đặc rừng rậm hoang vu, c̣n nhiều hiểm họa chống với người Miên để bảo vệ lănh thổ, chiến đấu với ác thú để khai hoang lập ấp, có 5 vị tướng từ Miền Trung vào, lừng danh ngũ hổ. Mỗi vị trấn riêng một vùng tại Tây Ninh, làm nhiệm vụ con dân cứu nước và xây dựng đất nước. Trong đó có ông Huỳnh Công Giản, tục gọi là ông lớn Trà Vong, người nữa là ông Trần Công Thắng, Huỳnh Công Nghệ và hai vị khác không rơ tên họ. Có vị sau đi tu lập chùa Quan Huế ở Cẩm Giang.

Riêng về ông Trần Công Thắng, khi ông mất, được dân làng thành kính chôn cất tại Cẩm Giang và lập một ngôi miếu nhỏ thờ nơi cuộc đất nền thành cũ, thuộc xă Cẩm Giang ngày nay.

Theo các vị bô lăo địa phương kể lại: Cách nay vài mươi năm, nơi miếu thờ quan Đại Thần Trần Công Thắng rất linh thiêng. Về đêm, dân chúng quanh vùng vẫn thường nghe như có tiếng lạc ngựa trong đền như có người đi trong cuộc đất.

Mỗi năm có lệ cúng Ngài vào ngày 16 tháng 4 âm lịch. Một lần kia ban tổ chức cuộc cúng tế, theo thông lệ lưu lại từ xưa, có làm lễ thỉnh sắc các vị Thành Hoàng các làng kế cận về giỗ hội, nhưng quên đến thỉnh Quan Lớn Trà Vong Huỳnh Công Giản. Lúc ấy bổng có một ông lăo ở xă Cẩm Giang vùng lên đồng, thét vang điểm mặt quan chức hội tề:

-Cha chả! Các ngươi lớn mật khinh thường linh thần đến thế sao?

Mọi người giựt ḿnh ngơ ngác. Ông lăo lên đồng tiếp:

-Ai đời các ngươi hổn xược, làm lễ thỉnh các vị Thánh Hoàng ở đây, sao lại không thỉnh anh ta là Quan Lớn Trà Vông?

Ai nấy hiểu ra càng thêm kinh dị. Một người trong ban tổ chức đánh bạo cung kính thưa:

-Tấu lạy linh thần, xin cho chúng tôi được biết tôn danh và nhờ chỉ dạy cho chúng tôi những điều lỗi lầm sơ sót.

Ông lăo lên đồng cười gằn:

-Các ngươi muốn biết th́ ta cho biết. Ta là Đại Thần Trần Công Thắng Đây. Thấy các ngươi vô lễ không thỉnh Quan Lớn Trà Vông, nên ta phải hiển linh khiển trách. Thật là lũ người khinh bạc, dám ngạo mạn đến cả Thánh Thần.

Vừa nói, ông lăo lên đồng vừa tỏ ra giận dữ cực điểm, ṿ tai, bứt râu ném phăng trên bàn và thật là kinh dị, ngay lúc ông lăo lên đồng bứt râu quăng ném, mọi người sửng sốt sợ hăi khi nghe tiếng lịch kịch chuyển động trong miếu thờ. Rồi th́ một việc quá sức tưởng tượng xảy ra: Ai nấy đều thấy rơ thinh không cốt tượng chuyển ḿnh, đúng vào lúc ông lăo lên đồng bứt hàm râu dưới, th́ nơi cốt tượng, hàm râu dưới cũng bật tung ra, nằm trên bàn thờ.

Thật kinh dị và vô cùng kinh khủng. Không ai dám nghi ngờ điều chi nữa. Đây là ông lăo kia đă bị Quan Đại Thần Trần Công Thắng nhập xác khiển trách dữ dội.

Các Hương Chức đồng mọp lạy xin tội. Một người thay mặt nói:

-Chúng tôi lở lầm sơ sót, chớ thật không dám vô lễ bất kính với Quan Lớn Trà Vong, chúng tôi xin tuân lời quở trách của linh thần, đi thỉnh ngay Tôn Thần Trà Vông về phối hưởng cuộc cúng tế hôm nay. Và cúi xin cho chúng tôi gắn lại hàm râu nơi cốt tượng thờ Ngài.

Ông lăo lên đồng nạt lớn:

-Không, hăy cứ để nguyên như thế. Đó là sự cảnh cáo nghiêm trọng của ta, đế các lần sau các ngươi cứ trông vào đó mà ghi nhớ đừng tái phạm, mà ta chẳng tha thứ cho nữa đâu. Ai trái lời ta ta sẽ vật chết ngay tức khắc.

Mọi người lần lược cúi xin tuân lời dạy bảo. Thế là từ ấy cốt tượng được sùng kính oai linh vượt bậc. Chúng tôi có đến viếng miếu thờ Ngài, thấy hàm râu dưới vẫn c̣n để nguyên nơi bàn.

Lại thêm một chuyện rất lạ. Hôm chúng tôi đến viếng ngôi miếu là ngày 30-11-1971. Cùng đi trên một chiếc xe du lịch, ngoài bác tài xế và tôi, c̣n có hai nhà thơ Thái Phong và Linh Hữu. Xe tắt máy ngừng trước sân miếu. Chúng tôi cùng vào khấn vái, vừa thấp nhang th́ ngoài sân chiếc xe có tiếng bóp c̣i. Nh́n quanh tuyệt nhiên không thấy bóng ai lai văng, ḥng có thể nghi ngờ là phá khuấy. Bác tài xế lật đật ra hăm lại, kèn xe mới tắt tiếng. Ai nấy cho là một sự linh thiên kỳ diệu. V́ tôi khấn vái, xin Ngài cho biết ngôi mộ Ngài ở nơi đâu. Vái vừa dứt lời, th́ ngoài nầy 2 sợi dây kèn chập lại kêu vang 5 đến 10 phút.

Chúng tôi đảnh lễ xong, lui gót ra về. Ra khỏi cổng lại gặp ngay một người thông thạo trong vùng, vui vẻ đáp câu chào hỏi của chúng tôi về ngôi mộ Quan Đại Thần Trần Công Thắng:

-Qúi ông muốn viếng mộ Quan Lớn Thắng, hăy theo lối miếu nầy mà đi xuống, rẽ về phía trái, đi vô con đường đất chừng lối 100m th́ gặp ngôi mộ Ngài.

Nghe đáp thông suốt, chúng tôi vui mừng, có cảm tưởng rằng chính thần linh đă chấp nhận lời tôi khấn vái, rú hồi c̣i xe để giục chúng tôi mau ra lộ có người chỉ dẫn đến ngôi mộ của Ngài. Thật là một chuyện lạ chưa từng thấy của đời tôi.

Đến nơi, ngôi mộ trông có vẻ hùng tráng. Trên núm xây bằng gạch quét vôi trắng. Chung quanh tráng nển xi măng. Mộ bia ghi rơ:

Tướng quân Trần Công Thắng chi mộ

Quan Đại Thần triều Tự Đức

Tử tiết ngày 15 tháng 8 năm Mậu Tư 1826

Lập mộ ngày 2 tháng 10 d.l 1963

Do xă Cẩm Giang

Xem xong, chúng tôi có điều thắc mắc: Bấy lâu từng nghe kể là Huỳnh Công Thắng, sao đây lại ghi họ Trần? họ nào mới thật đúng theo chánh sử? chúng tôi lấy làm khó nghĩ.

Theo lời một vị cao niên ở đây và một bạn ở trong Ṭa Thánh Tây Ninh kể lại cho chúng tôi nghe thêm một huyền thoại về Ngài rất linh thiêng hiển hách hơn nữa.

Cách đây gần 10 năm, có một vị Thiếu Tá tên Út ở trung đoàn 35 quân đội VNCH đem mấy chiếc xe đến định ủi những g̣ đất cao trước miếu ông. Trước khi hành sự, vị Thiếu Tá đường hoàng vào miếu khấn:

-Nếu ông linh thiêng, cho chúng tôi bắn vô miếu ba phát súng. Nếu không nổ, chúng tôi sẽ nguyện trùng tu miếu, và xây lại ngôi mộ. Bằng như chẳng linh, th́ chúng tôi sẽ san bằng cuộc đất nầy để làm những điều công ích khác ở đây.

Khấn xong vị Thiếu Tá lui ra nổ súng. Nhưng lạ lùng, súng kẹt đạn không nổ phát nào. Thấy thế vị Thiếu Tá lại thử quai súng bắn ra ngoài, th́ cả ba lần đều nổ vang.

Vị Thiếu Tá giựt ḿnh, qú xuống lạy và tạ lỗi. Rồi ra lịnh cho xe ủi đất kéo về. Từ đó về sau, vị sĩ quan nầy hết sức kính nể, thường đến cúng lạy và tu bổ những ǵ trong miếu hư.

Quan Đại Thần Trần Công Thắng từng làm những việc hiển linh trước mắt mọi người, đồng bào tỉnh Tây Ninh cũng như tại xă Cẩm Giang rất kính sợ, oai linh của Ngài vẫn c̣n phưỡn phất nơi cuộc đất miếu trung để cứu nhân độ thế, giúp người lâm nạn.

Lời tác giả: Theo sự tra cứu xuyên qua các sách vở cũng như lời truyền thuyết. Ngài là em của Tri Phủ Huỳnh Công Giản (tức Quan Lớn Trà Vong, Ngài là họ Huỳnh mới đúng, không hiểu tại sao trước mộ Ngài lại khắc họ Trần, trái ngược như thế, có phải tại người làm thợ khắc lộn chăng?)

Hay có một ẩn ư nào khác, chúng tôi rất thắc mắc điểm nầy, đến nơi viếng ngôi mộ thấy như vậy, cũng phải căn cứ theo đây viết lại họ Trần. Đoạn đầu có chỗ viết họ Huỳnh, xin mong ai là người đứng ra xây mộ cần giải thích cho mọi người được biết.

(Trích Tây Ninh Xưa và Nay của Huỳnh Minh từ trang 155 đến 159)

 

 

7. ĐỨC TRUNG TÍN

 

Trung tín trước hết là người tự trọng thứ danh dự của ḿnh. Không hứa phụng sự cho chủ nghĩa một tôn giáo, một cá nhân nào th́ thôi, mà một khi hứa th́ đỗ máu cũng không phản.

Lời hứa buông ra, người trung tín cho là một cái ǵ phát xuất tự nhân vị của ḿnh. Họ hân hạnh chịu trách nhiệm về nó.

Ngày xưa, Regulus bị quân thù ở Carthage cầm tù. Ông hứa về điều đ́nh với Nghị Viện La Mă trả lại cho Carthage một số tù binh cao cấp, bằng không ông sẽ đích thân trở lại ở tù. Công việc điều đ́nh không xong; ông có thể ở lại quê nhà, về vui sống với vợ con. Nhưng chí anh hùng không cho ông như vậy. Ông đến báo cáo Nghị Viện biết ông đă hứa với quân địch và phải giữ tư cách của một nhà tướng La Mă. Ông trở lại Carthage và biết trước ḿnh sẽ chịu chết với bao h́nh phạt cực kỳ khốn nạn.

Regulus là một người trung tín. Có thể sự trung tín không nhắm một đối tượng vật chất ích lợi mà cần thiết nhứt nó bảo vệ một giá trị tinh thần tức là danh dự trong lời hứa minh nhiên hay mặc nhiên…

Nhưng có thế người đắc tội hơn dám có ư nghĩ coi ân ḿnh hưởng là do may rủi, là của dư thừa, là vật không ban cho ḿnh th́ cho kẻ khác, là do bổn phận phải cho của kẻ thi ân. C̣n vấn đề ân càng cao, oán càng thảm nữa. Người ta có thể lấy bạc t́nh mà trả nghĩa nhân một cách không ngượng nghịu.

Đức Jesus mấy năm trời thương yêu, lo lắng, huấn luyện Giu Đà, Sau cùng Giu Đà dùng cái hận là dấu hiệu của t́nh yêu để ra hiệu báo cho quân thù của Đấng Cứu Thế bắt giết người. Mà đâu phải Giu Đà biết làm vậy.

Loài người đối với tạo hóa, con cái đối với cha mẹ, môn sanh đối với Thầy, bầy tôi đối với Vua, bằng hữu đối với nhau, con nợ đối với chủ cho mượn tiền; trong các giới ta đều thấy có ḷng bạc ân. Nói bản tánh con người bạc ân không phải là nói quá.

Tánh bội bạc là con đẻ của ư chí suy nhược và lương tri tê liệt. V́ nghèo nghị lực mà người ta không giữ được sự quyết định nhớ ơn. V́ không biết phải quấy mà người ta hoặc quên ân, hoặc lấy ân báo oán. Do nguyên nhân nào, bạc ân cũng là hành vi tố cáo tâm địa khiếp nhược đê hèn…

Làm sao giữ ḷng trung tín khi quá chán chê. Dĩ nhiên là không nên mù quáng đeo đuổi một điều lầm lạc thành mê tín. Cho nên vấn đề là sáng suốt lựa chọn buổi đầu. Tận dụng về suy nghĩ và lương tri. Một khi đă kỹ lưỡng cân đo lợi hại rồi và quyết định đeo đuổi ư định th́ đi đến cùng.

Đấng Cứu Thế nói: “Cầm cây đừng ngó lại sau lưng”. Lời nầy là khuôn vàng thước ngọc để ta dùng gây lại cho tâm hồn đang đi xuống có nghị lực nhoi lên. Không phải tại v́ mùng có rệp rồi đem đốt mùng. Phải biết chuyển bại thành thắng. Có khi nhờ bại mà đại thắng nữa. Trong lĩnh vực t́nh cảm sự cỡi mở cảm thông, thành thật xây dựng nhau nhiều khi đưa đến t́nh yêu nồng nhiệt, ḷng tin cần sắt đá.

(Trích trang 213-219 Thuật Sống Dũng của Hoàng Xuân Việt)

 

 

8. TRỌNG DANH DỰ VÀ SANH MẠNG NGƯỜI

 

Một thi hào Ư, danh lừng bốn bể, ông Tasse tác giả cuốn “’Thành Jérusalem được cứu văn” có thời bị bao nhiêu quân thù ganh tỵ âm mưu oán hại. Người ta loan tin xấu về ông. Các lối lăng mạ, vu khống, mỉa mai, đỗ về ông như mưa bấc, cố ư cho ông ở tù.

Có người thân tín cho ông biết tên đầu sỏ của bọn vu cáo ấy đă phạm một tội nhục nhă tày trời và yêu cầu ông phổ biến điều ấy ra để trả đũa. Le Tasse nghiêm trang trả lời: “Tôi không muốn làm mất danh dự và sinh mạng của người ta. Tôi chỉ muốn bài trừ ở họ ư muốn hành ác thôi, đó là sự phục thù độc nhất của tôi”.

Cũng thời ba tấc lưỡi, mà có ngọn giáo gieo nọc độc, có ngọn tỏ ra nhân đức cao thượng của con người cẩn mật.

Cẩn mật là nhân đức luận lư giúp ta làm chủ ba tấc lưỡi để biết thinh lặng, để giữ những bí mật quan trọng và để tránh những cuộc nói hành vu cáo thiên hạ.

Có người trong xă hội lầm ĺ, thinh lặng như đất cục. Họ không nói tới ai, dĩ nhiên là không tiết lộ bí mật hay nói hành, vu khống ai. Thứ người tự nhiên tốt, nhưng sự cẩn mật của họ không phải là nhân đức. Nó không thành một tập quán căn cứ trên nền tảng thiện và nhấm mục đích cao cả. Họ cẩn mật có lẽ chưa tới lúc họ già hàm thèo lẽo.

Người có đức cẩn mật ư thức được đức cẩn mật. Họ nhận giá trị của thinh lặng, họ dùng ư chí kiềm hăm xu hướng đa ngôn để giữ bí mật, để tránh những lời nói xấu, lăng mạ tha nhân và họ nổ lực như vậy tại v́ họ quí mến nhân vị của kẻ khác, đồng thời tuân thủ đức công b́nh. Sở dĩ cẩn mật v́ họ biết dùng ba tất lưỡi mà gieo nọc độc trong lời nói là chạm quyền lợi tha nhân hiểu là mất thanh danh, gây ác cảm của họ.

Người cẩn mật là người ư thức nhứt, lời nói nầy của Zundel: “Chỉ có thinh mới mạc khải được những thẩm của đời sống”.

Trong cuộc đời có biết bao của quí trở thành vô ích cho kẻ thiếu óc trầm tư. Hầu hết những bậc siêu quần bạc chúng của loài người đều là những tâm hồn thinh lặng.

Đức Giê Su giảng Đạo Thánh có 3 năm mà thinh lặng chuẩn bị 30 năm. Rồi 3 năm truyền giáo. Người hay t́m cảnh đồi, núi, sông, hồ, rừng thẩm tịch mạc để cầu nguyện, suy xét về cuộc đời.

Đức Thích Ca Mâu Ni t́m Đạo trong rừng và ngồi dưới gốc Bồ Đề lâu ngày.

Pascal rất thích cuộc đời trong pḥng riêng. Cuộc đời náo động v́ chiến sự của Nă Phá Luân không cản được những giây phút  trầm ngâm của ông ở bàn viết hay trên ghế bành.

Đức Pio XII hay đi dạo một ḿnh lâu giờ ở học viện của Ngài để cầu nguyện và suy nghĩ.

Tại sau trầm lặng được xem như vàng ngọc vậy?

-V́ nhờ có tâm hồn lắng xuống, thoát khỏi sự chi phối của t́nh cảm, t́nh dục để suy tư. Người cẩn mật tôn thờ thinh lặng, khai thác những lợi ích của nó, dùng nó như lá bùa thiêng để giữ bác ái công b́nh trong lời nói.

Người cẩn mật là người coi như một danh dự, một bổn phận sự ǵn giữ những bí mật tự nhiên, bí mật ủy thác và bí mật cam kết công khai.

(Trích trang 200-202 Thuật Sống Dũng của Hoàng Xuân Việt)

 

 

9.PHẬT GIEO MẠ BARAHOADA

 

Phật Thích Ca một hôm trên đường đi hóa trai, tay ôm b́nh bát, đến trước cửa một nhà nông dân có Đạo Bà La Môn rất giàu có tên là Brahoada nhằm lúc ông đang thiết lễ cúng Thần Nông.

Phật dừng chân chờ chủ nhân pháp thí. Chẳng những ông Brahoada không thèm chào hỏi hoặc lễ bái để tỏ ḷng tôn kính bậc tu chơn, trái lại ông c̣n tỏ ư bất b́nh và nói lớn rằng:

-Lăo Thầy kia, sao lăo cứ đi ăn xin mà không chịu làm lụng, ta nhờ cày cấy mới có cơm gạo mà ăn. Nếu lăo chịu làm như ta th́ lăo cũng có cơm gạo mà ăn như ta vậy, đừng đi xin nữa chớ!

Phật cúi đầu đáp lễ vả từ tốn trả lời:

-Ta cũng có cày cấy và gieo mạ, ta cũng có lúa ăn như ngươi vậy.

Brahoada liền hỏi:

-Láo dám nói lăo là nông phu sao? Vậy chớ trâu ḅ, cày bừa và lúa giống của lăo đâu?

Phật liền điềm nhiên và dẫn giải:

-Giống của ta gieo là cái “Đức Tin”, những việc lành là giọt nước mưa tưới cho nó tốt. Đức Minh Triết và tánh Khiêm Tốn là cày, sự Cố Gắng là con ḅ, cái Trí của ta là sợi dây đàn, c̣n ta cầm cán Luật Pháp. Ta cày cấy đặng trừ tuyệt những cơ xấu xa của sự ảo tưởng. Lúa của ta gặt là Kiếp Trường Sinh Bất Tử nơi cỏi Niết Bàn, tới được đó th́ dứt được hết phiền năo và đau đớn.

Brahoada nghe Phật giảng xong liền hội ư , ông bèn đổi giận làm vui, vội vàng chạy vào lấy cơm trộn với sửa đựng trong một cái dĩa bằng vàng đem ra dâng cho Phật và nói:

-Bạch Phật, cúi xin Phật hạ cố nhận lễ mọn nầy, v́ kẻ hèn ngu vừa nghe lời Phật giải mới thấy được chân lư của kiếp con người. Phải đuổi đạt cho kỳ được, tức là ḿnh đă thấy được cái giống mạ trường sanh theo như Phật giải.

Ư của kẻ hèn thuộc về vật chất, c̣n lời Phật mới là tinh thần. Gieo mạ, cấy lúa có cơm ăn để nuôi phần nhục thể, c̣n truyền giảng Đạo đức cũng là một cách gieo mạ cấy lúa để nuôi nấng linh hồn. Cả thảy hai đều trọng hết, nhưng phần linh hồn lại trọng hơn, v́ rằng xác thịt có béo th́ mạnh khỏe mà phần trí năo u ám tối tâm th́ con người ấy có ích lợi cho ai?

 

 

10. LỜI TRẦN T̀NH CỦA BẢO ĐẠO HỒ TẤN KHOA NHÂN DỊP XUÂN MẬU THÂN

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Tứ thập tam niên)

T̉A THÁNH TÂY NINH

Kính gửi cho toàn thể Chức Sắc Thiên Phong lưỡng đài, chư Chức Việc và toàn Đạo lưỡng phái trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Trước thềm năm mới, Bần Sĩ xin có đôi lời thân mến hỏi thăm sức khỏe của chư Chức Sắc Thiên Phong lưỡng đài, chư Chức Việc và toàn Đạo lưỡng phái và xin cầu nguyện ơn trên ban phước lành cho toàn thể.

Từ khi hội nghị Gerneve 1954, các cường quốc trong hai khối Công Sản và Tư Bản Tự Do đă bất chấp nền dân tộc tự quyết, không một lời hỏi đến dân tộc Việt Nam mà chỉ công nhận lẽ phải của vơ lực, nên tự do chia cắt đất nước Việt Nam làm hai miền dưới hai chế độ khác nhau: Miền Bắc Cộng Sản và Miền Nam Quốc Gia th́ Đức Hộ Pháp với ḷng từ bi tha thiết đau khổ trước viễn ảnh của Nam Bắc phân tranh, cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt không phương giải quyết, nên Đức Hộ Pháp mới tự lưu đày nơi xứ lạ quê người giữ thế trung lập kêu gọi hai miền Nam Bắc Chánh Sách Ḥa B́nh cùng nhau thi đua nhơn nghĩa, làm sao cho nhân dân hai miền được tự do qua lại và tự do lựa chọn chế độ thích hợp với tâm lư ḿnh.

Từ ấy đến nay các nhà lănh Đạo của hai miền lúc nào cũng cao rao tuyên truyền hứa hẹn đem lại cho nhân dân Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc ấm no.

Nhưng than ôi! Nếu b́nh tâm nhận xét sự thật tế th́ toàn dân Việt Nam từ Nam chí Bắc, ba mươi triệu đồng bào đă hưởng những ǵ? Chỉ thấy cuộc phân tranh Nam Bắc ngày càng gay gắt, nạn chiến tranh ngày càng ác liệt, ngày như đêm sống trong cảnh hồi họp lo âu dưới làn bom mũi đạn, cửa nát nhà tan, cơm không no, áo không lành, cha xa con, vợ xa chồng thêm cảnh máu đổ thịt rơi không sao kể xiết.

Miền Bắc th́ tuyên truyền chống Đế Quốc Mỹ xâm lược, c̣n Miền Nam th́ lại hô hào chống Đế Quốc xâm lược, cả  hai miền đều bảo vệ quyền độc lập tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam, nhưng các nhà lănh Đạo đôi bên hai miền đều có biết chăng là cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt đang diễn trên đất nước Việt Nam là một cuộc chiến tranh vô cùng bẩn thỉu, do tham vọng của Đông và Tây muốn tranh giành ảnh hưởng mong làm bá chủ hoàn cầu rồi họ lợi dụng ḷng ái quốc của các nhà đương quyền Việt Nam của nhân dân Việt Nam để đưa dân tộc Việt Thường ra băi chiến trường tuyên truyển là chống đế quốc xâm lược, bảo vệ ḥa b́nh, bảo vệ quyền độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho toàn dân.

Nếu khối tự do Mỹ muốn chống Cộng Sản sao không chống ngay ở các cường quốc Cộng Sản, c̣n khối Cộng Sản muốn chống tự do Mỹ sao không chống ngay ở Mỹ mà lại đem vào xứ Việt Nam nhỏ bé nầy vô phước mà chống đối nhau rất tội nghiệp cho dân tộc Việt Nam phải chịu bao điều thống khổ.

Đứng giữa sự tranh chấp của đôi vùng ảnh hưởng, dưới sự lănh Đạo anh minh của Đức Hộ Pháp đă tuyên bố chủ trương chánh sách Ḥa B́nh Chung Sống giữa hai miền giữ thế trung lập không chống chánh quyền, không tranh chánh quyền và cũng không tham gia chánh quyền dầu trong Nam hay ngoài Bắc cũng vậy, chỉ mong lấy lời Đạo đức thiết tha kiêu gọi ḥa b́nh để ḥa giải dân tộc th́ nhà lănh Đạo Cao Đài đă sáng suốt noi theo đường lối do Đức Hộ Pháp chủ trương. Trót 12 năm qua Đạo Cao Đài vẫn luôn luôn Tu Hiền giữ vững lập trường không thiên vị hay xu phụ bên nào và cũng không chống đối hay mích ḷng bên nào, thậm chí trong giai đoạn chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm đă khủng bố Đạo Cao Đài không ít, nhưng Đạo Cao Đài vẫn thản nhiên không một thái độ nào chống đối, biết rằng ḿnh thọ khổ như vậy là để trả bớt món nợ tiền khiên của dân tộc Việt thường trong cơ vay trả.

Hôm nay chúng ta thử hỏi những lời kiêu gọi thiết tha ấy có ảnh hưởng ǵ không?

Thành thật chúng ta phải nh́n rằng những lời kiêu gọi ấy có rất ít ảnh hưởng đến chánh quyền cả hai miền mà trái lại cuộc chiến tranh ngày càng thêm ác liệt hằng ngày giết nhau hàng loạt đến số ngàn. Như vậy thử hỏi chừng nào mới có ḥa b́nh thật sự? các nhà lănh Đạo cả hai miền đối chọi nhau vẫn căn cứ vào sức mạnh vô biên của hai khối mà hiện giờ cả hai khối vẫn chưa vừa ḷng với cơ thử dược vơ khí của họ, v́ ai kia nát cửa nhà tan chớ họ có ảnh hưởng ǵ đâu.

Vậy th́ chúng ta chỉ c̣n chờ chừng nào toàn cả quốc dân, v́ quá đau khổ, chợt thức tỉnh biết ḿnh đă bị  lợi dụng  làm con vật hy sinh cho thiên hạ thử súng rồi toàn dân đứng lên kêu gọi đ̣i ḥa b́nh.

Trước sức mạnh của phong trào ḥa b́nh bộc khởi, chủ chiến sẽ từ từ lui bước và đương quyền của hai miền cùng tỉnh ngộ biết rằng ngoại quyền đă lợi dụng ḷng ái quốc nên vừa theo ư muốn của toàn dân là ư Trời.

Vậy trước thềm năm mới, Bần Sĩ xin thành tâm cầu nguyện ơn trên ban hồng ân bố hóa thế nào cho các nhà đương quyền trong Nam cũng như ngoài Bắc sớm tỉnh ngộ để ḷng thương xót nhân dân quá thống khổ và tự giải quyết ôn ḥa vấn đề tranh chấp đôi bên người Việt và người Việt đừng để ngoại quyền ảnh hưởng và xâm nhập hầu sớm đem lại cho đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc một nền ḥa b́nh thật sự và vĩnh viễn  xây hạnh phúc cho cả giống ṇi.

V́ dầu muốn dầu không Tổ Quốc Việt Nam đă bị chia đôi, nên Bần Sĩ cũng xin cầu nguyện ơn trên ban hồng ân cho mỗi miền: Nam cũng như Bắc được thiệt thi chế độ ḿnh trong ḥa b́nh rồi để cho toàn thể quốc dân Việt Nam được tự do qua lại quan sát và so sánh hai chế độ và tự do lựa chọn chế độ thích hợp với tâm lư ḿnh đúng theo cương lĩnh Chánh Sách Ḥa B́nh Chung Sống do Đức Hộ Pháp chủ trương từ ngày rằm tháng hai năm Bính Thân (Dl, 26-3-1956) hầu tiến tới thống nhất Tổ Quốc trong ḥa b́nh.

Trước khi dứt lời, Bần Sĩ cũng xin cầu nguyện Đức Đại Từ Phụ, Đức Đại Từ Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng ban hồng ân cho toàn thể Chức Sắc Lưỡng Đài, Chức Việc và toàn Đạo Nam Nữ qua năm mới được mạnh khỏe vui tươi và lúc nào cũng được đầy đủ đức tin để chờ ngày lập lại ḥa b́nh  trong vinh quang với một hy vọng tràn trề.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Bảo Đạo Hiệp Thiên Đài.

 

 

11. CỬA TRỜI

 

Trong quyển “Chữ Trời” của tác giả Kim Định có đoạn viết huyền thoại của ba vị Triết Gia mà trong hiện tại thực tế th́ rất phù hợp với thời kỳ của Đạo Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ. Sau đây xin trích đoạn văn mà khi xem xong ắc hẳn rất hữu ích trên đường học Đạo của chúng ta.

Có ba vị Triết Gia nọ họ rất uyên thâm, ngày kia 3 vị Triết Gia nhất định lên Thượng giới để t́m hiểu và xem cả Thượng giới có những ǵ kỳ lạ.

1-Vị Triết gia thứ nhứt: Xem quang cảnh xong, bèn gơ cửa Trời.

Thượng Đế hỏi: “Ai đó?” người Triết Gia ấy nói: “Tôi là một trí thức ở trần gian muốn xin lên đây, xem trên đây có những ǵ khác lạ hơn ở trần gian”.

Thượng Đế trả lời: Trí thức chưa đủ, phải có nhiều cái thức khác kia, ở đây không chữa cái “Tôi” và “Muốn” “Xin” là được! nhà ngươi hăy trở lại trần gian đi.

2-Vị Triết Gia thứ hai suy gẫm măi rồi đến cánh cửa khác gơ cửa.

Thượng Đế mới hỏi: Ai đó?

-Vị Triết Gia trả lời: Thưa Ngài, Ngài mà.

-Ta đâu ngoài đó.

-Không chính thật Ngài mà!

Tự nhiên cánh cửa bật mở, vị Triết Gia lọt vào bên trong và dư âm phát ra không! Không! Không!

3.-Vị Triết Gia thứ ba không hiểu không! Không! Không…! Là ǵ? Sau một hồi suy nghĩ vị nầy đă thông suốt và người bèn ngồi trước cánh cửa Trời, tay cầm cây đàn và khải bản “Được mùa”. Những âm thanh réo rắc rộn ràng nhộn nhịp. Vị Triết Gia càng say sưa với bản đàn th́ tất cả cửa Trời đểu bật mở. Vị Triết Gia kia thấy tất cả ở trần gian mọi người đang sung sướng reo ḥ ở Thượng Giới th́ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật nắm tay nhau vui mừng vũ các điệu khúc ḥa vào nhạc và họ đi ṿng quanh trong từng ngơ hẹp. Mọi người đều vui mừng sung sướng.

 

 

12. KIỀU GIÁNG CƠ ĐỀ BÚT

Xây bàn: Hộ Pháp, Phối Sư Ngọc Trọng Thanh

Tiều Đường từ trước để gương soi,

Ng̣i bút Nguyễn Du đă nhắc đời.

Một kiếp tài t́nh trôi biển khổ,

Đôi vai ân nghĩa nặng ḷng Trời.

Thề non Kim Trọng vơi lằng nguyệt,

Hẹn biển Từ Quân biến nhỡ lời.

Hội ngộ đă may trong lúc sống,

Cái duyên kim cải cũng thôi rồi.

Danh kỳ Bắc Kinh Trung Quốc Thúy Kiều

 

Kiều Chép Kinh Ở Quan Âm Cát

T́m nơi dưa muối lánh chông gai,

Chép hết t́nh duyên chép hỡi dài.

Dở cuốn kinh ra lai láng lụy,

Đưa ng̣i bút lại rụng rời tay.

Ḷng trần sở cậy ao nghiên rửa,

Phận cỏ thà cam ruộng giấy cày.

Dừng bút thở than câu cứu khổ,

Sự t́nh nầy có thấu Như Lai.

Thơ cổ

 

 

13. ĐỨC CHÚA JESUS CHRIST

(Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp tại Đền Thánh 14-11 Đinh Hợi)

 

Ngày hôm nay chúng ta tính từ ngày đă đúng 1947 năm của Chúa Cứu Thế, tức là Đức Chúa Jésus Christ ở làng Nazareth xứ Palestine vâng mạng-lịnh Đức Chúa Trời , tức là Đức Chí-Tôn, đến độ rỗi các sắc dân Aâu-châu. Chúng ta quan-sát và chinh Bần-Đạo quan-sát thấy chơn-truyền của Đạo Thánh Gia-Tô vẫn đồng căn, đồng bổn với Đạo Phật, ấy là Phật-giáo hạ-thừa , không có chi khác, dầu bí-pháp chơn-truyền hay thể pháp cũng y như vậy.

Thảng từ thử đến giờ , có thuyết chia rẽ tinh-thần, là tại nơi người phàm, đem thuyết ấy để trong sự tin-tưởng của sắc dân Aâu-châu, nên mới có sự chia rẽ ṇi-giống. V́ nạn ấy mà chúng ta ngày nay thấy trên mặt toàn cầu ṇi-giống chịu nạn tương-tàn, tương-sát nhau.

Bần-Đạo xin thuyết cái nguyên-căn của Đức Chúa Jésus Christ là ǵ ?

Thỉnh-thoảng rồi Bần-Đạo sẽ đem nguyên-căn của Thánh-giáo Gia-Tô thuyết-minh ra cho cả thảy nam nữ đều rơ biết.

Đức Chúa Jésus là ai ? Nếu chúng ta thấy chơn-truyền của dân-tộc Hébreux tức dân Do-Thái bây giờ để lại , theo luật pháp của Thánh Moise đă tiên-tri nói về Đấng Cứu-Thế giáng-sanh , nếu chung ta t́m ṭi, lật từ tờ trong Kinh Thánh Gia-Tô chẳng hề thấy tên Christ và chẳng có tên Christ nơi cỏi thiêng-liêng. Bần-Đạo dám chắc Đức Chúa Jésus Christ là chơn-linh Christna là Tam Thế-Tôn đó vậy.

Đức Phật Christna không phải xa lạ với chúng ta, bởi vậy cho nên dă đến mà lại đến với chức-trách nhỏ-nhen , hạ ḿnh hèn-hạ ấy hầu đem tâm-hồn Chí-Thanh của Ngài thức-tỉnh các sắc dân Aâu-châu . Ngài đến nơi một nhà bần hèn. Bần-Đạo xin nói rằng : Ngài đến nhà của bà Maria cốt yếu là là một bà tu trong Đền-Thánh Jérusalem , ông Joseph cũng người tu trong Đền Thánh.. Luật-lệ của Đền-Thánh buộc hễ con gái đến tuổi cập-kê cho ra xuất giá. Năm ấy cô Maria tức là một cô Đạo nữ , chúng ta nói là một ni-cô ở Đền Jérusalem, đến tuổi lấy chồng. Phép Đền-Thánh buộc mấy Thầy tu trong đền thờ phải có người đứng ra cưới, bởi v́ chiếu theo lời Chí-Tôn căn-dặn nhủ lời Ngài nói với Adam và Eve buổi nọ (Unissez vous et multipliez) bây phải chung sống cùng nhau đặng biến sanh ra nhiều nữa.

Lễ tuyển chọn chồng cho bà Maria, theo luật Đền Thánh buộc mỗi vị nam lựa bông để trong Đền-Thánh 3 ngày, nếu bông ấy c̣n tươi-tắng th́ được cưới.

 

Hại thay ! Có nhiều kẻ trẻ trung, c̣n ông Joseph buổi nọ đă quá 50 tuổi, cũng chịu theo luật cưới ấy. Nếu chúng ta nói đến hoa-khôi lịch-sắc th́ bà Maria cũng có thể vào hạng đó. Mới tới tuổi cập-kê mà sắc đẹp ấy làm biết bao nhiêu kẻ nam-nhi ước-vọng. Ông Joseph cũng như mọi người đem bông hoa đến Đền Thờ chịu trách-nhiệm tuyển chọn ấy . Người t́m bông hoa nầy, bông hoa kia, c̣n ông , ông nghĩ ḿnh đă già rồi , vợ con mà làm chi, nhưng luật Hội-Thánh buộc không làm ắt có h́nh-phạt , hoặc quỳ hương chẳng hạn (cười…). Bước ra ra khỏi Đền-Thánh , Ông thấy bông huệ khô héo của ai bỏ, ông lượm lấy đem cặm vào b́nh , không ngờ thứ huệ rất nên kỳ lạ , những bông nụ nở rồi nó rụng đi , c̣n bông búp bắt hơi nước sống lại , nở tươi đẹp, c̣n các thứ hoa khác tàn rụi hết, ông phải chịu phép cưới cô Maria

Hại thay ! Nhà tu nếu làm làm lễ cưới rồi phải ra khỏi Đền-Thánh, mà đôi vợ chồng ông đều tu không gia-đ́nh, không nhà cửa, không phương sanh sống, thật rất nên the-thảm.

May thay ! Lúc c̣n ở trong Đền-Thánh, ông Joseph làm thợ mộc, ông giỏi nghề mộc lắm . Ông mới bàn tính , bây giờ vợ chồng nghèo dắt nhau ra ngoài làm ăn, chồng làm thợ mộc , vợ may vá , mà bà Maria về nữ công rất hay khéo nghề đan (tricoter) , nhờ vậy t́m sự sanh sống cũng tạm được đầy đủ.

Thảng măn ngày qua tháng lại, hạ sanh con đầu ḷng là Jesus. Hai vợ chồng nuôi con với phương-tiện nghèo khổ, nhứt là ngày hôm nay là ngày sanh của Đức Jésus Christ c̣n để lại dấu-tích cho chúng ta thật đáng để ư hơn hết. Đêm Noel trong Đền-Thánh làm lễ long-trọng như chúng ta làm lễ hôm nay, và hai vợ chồng đi lại từ làng Nazareth vô Đền-Thánh làm lễ. Khi đó bà đă có thai gần ngày sanh, nghĩ ḿnh đă có căn tu, đến ngày đại-lễ không thể ở nhà được m bụng mang dạ chửa, cũng ráng đi đến chầu lễ thường lệ.

Ở Châu-thành nhà cửa bị thiên-hạ mướn chật hết, kiếm không ra chỗ ngủ , không lẽ ở ngoài trời, mới vô năn-nỉ chúng cho ở trong chuồng chiên tạm trú, Trời đang tiết Đông-thiên ,như ngày nay chúng ta nghe cũng hơi lạnh, lạnh-lẽo lạ-lùng nhứt là với hai người tâm Đạo nay vô ngủ trong chuồng chiên rất khổ sớ. Đúng 12 giờ khuya đêm hôm ấy bà chuyển bụng sanh ra Đức Chúa Jéssus Christ.

Trong sách nói, ngày Chúa giáng sanh có v́ sao gọi là sao chuổi mọc không ǵ khác lạ, đó là Comete de Halley, mỗi 75 năm mọc trở lại một lần. Các vị Vươn tiên-tri rằng "ngày nào sao chuổi ấy mọc là ngay Chúa giáng-sanh nên nhớ để dạ t́m Người" . Có nhiều huyền-diệu ta không thể tưởng tượng được như đám chăn chiên đóng trại ngoài trời , bổng nghe giữa thinh-không có nhiều Thiên-Thần kêu nói có Chúa Cứu-Thế giáng sanh, nên vua của dân Maures và các người chăn chiên ấy vô đảnh lễ Chúa đầu tiên hơn hết. Tai hại thay ! Thời buổi đó nước của dân Juifs bị đế-quốc Romains chiếm làm thuộc-địa, ở Palestine th́ để một vị chánh-soái là Hérode Antivas hằng để tâm mưu sát Đấng Chúa Cứu-Thế, v́ có tiên-tri nói đến làm Vua nước Do-Thái, nên ngay từ buổi đến trấn-nhậm Palestine, chính Hérode đă giết ông Thánh Jean Baptiste.

Buổi ấy các nhà Tiên-tri cho biết Đức Chúa Cứu-Thế sanh ngày đó mà không biết Đấng Chúa Cứu-Thế là ai ? Muồn giết, mà không biết ở đâu ? Nên bắt tất cả con nít sanh trong đêm ấy đem ra giết hết, đinh-ninh rằng trong đám đó có lẽ có Đấng Chúa Cứu-Thế. Ai dè may thay ! Ông Josph đêm mệt mỏi nằm mông thấy Thiên-Thần mách bảo, liền bồng đứa tre trốn qua Egypte. Hai vợ chồng đáo tẩu kịp chớ không th́ Chúa cũng bị giết rồi..

Qua Egypte một thời-gian , đúa con lên được 5,6 tuổi, nghe tin bên nước minh đặng yên và có lịnh thiêng-liêng truyền dạy hai vợ chồng trở lại Palestine , chồng làm thợ mộc theo nghề củ, vợ may vá nuôi con, lại sanh thêm ba, bốn người con trai, gái nữa, thành thử cách sống rất nghèo-hèn khổ-năo, từ cái đường sông Jourdain Đức Chúa để bước đội nước mỗi ngày giúp mẹ cùng kiếm công một hai cắc.

Buổi nọ là lúc đă trộng rồi , được 12, 13 tuổi, theo cha học làm thợ mộc, ông chỉ đâu làm đó. Khi đó ông Joseph lănh làm nhà của người ta, rủi cưa cắt làm sao mấy cây cột lỡ cụt hết, người chủ bắt đền không biết liệu làm sao !!! Nhà nghèo tiền đâu mua cột khác đặng bồi thường. Ông ngồi khóc ṛng, đoạn Chúa mới cầu-nguyện rồi cha một đầu con một đầu nắm kéo nhẵng ra cho đủ thước đặng bồi thường cho đủ, bằng không th́ chỉ có ở đợ mà trừ. Thiệt lạ lùng thay và huyền-diệu thay đó là Đấng Christ hành-pháp lạ lần thứ nhất.

Trong năm 12 tuổi là năm kéo cột đó, Jésus vô Đền Thờ buổi nọ chơn-linh Đức Christna giáng-hạ, các vị Giáo-chủ trong Đạo toàn là những Bác-sĩ nghe tiếng đồn danh thần-đồng của Chúa Jésus nên khi vô Đền Thờ, họ xúm nhau lai vấn đạo, Đức Christna giáng-linh , ngồi giữa các vị Giáo-chủ ấy, thuyết đạo làm cho thiên-hạ ngạc nhiên sự lạ.

Hai vợ chông buổi nọ đi chầu lễ Sabat vô Đền-Thánh cúng rồi về, ḍm lại Đức Chúa đâu mất, hỏi ai nấy có thấy Jésus không ? Hai ông bà t́m kiếm măi cũng không thấy con, sợ-sệt, hơ-hải chạy trở lại đền thờ , thấy Jésus ngồi giữa các Bác-sĩ Giáo-chủ đó ngồi chung quanh đương vấn Đạo.

Bữa nọ t́nh cờ, tuy vẫn lúc c̣n ở trong Đền-Thánh, Bà có được tin truyền rằng : Bà sẽ cho loài người nơi mặt thế nầy, bởi nơi ḷng bà xuất-hiịen ra Đấng Chúa Cứu-Thế, tuy đă biết trước như vậy , nhưng v́ chạy kiếm con không thấy, vừa mệt , vùa sợ-sệt đến khi t́m gặp thấy con ngồi thuyết đạo, đă có ḷng phiền, bèn kêu Chúa nói:"Sao con làm cho Mẹ khổ-năo kiếm con lắm vậy", Đức Chúa lièn nói : "Bà kia, Bà không biết tôi đang làm phận sự của Cha tôi biểu phải làm hay sao ?" Bà mới tỉnh, tự hiểu biết, nên phiền Đức Chúa về lời nói đó. Từ đó khi Chúa về nhà th́ cũng như mọi đứa trẻ khác, cũng đi đội nước, cũng đục-đẻo là thợ mộc , phục tùng cha mẹ hiếu hạnh đủ điều.

Trong nhà em út bất hoà, c̣n ông Jésus hiếm lắm, tánh hay nhịn-nhục nên mấy người em thường hay ăn hiếp. Ở nhà không yên , ông đi làm thợ lấy tiền vè nuôi cha mẹ lây lất qua ngày.

Đến năm 30 mươi tuổi nghe Saint Jean Baptiste truyền-giáo tại bờ sông Jourdain, cũng trong lúc đó , Đức Chúa đến gạp ông đang giải-oan cho thiên-hạ. Khi vừa thấy Đức Chúa ở xa xa đi đến th́ ông đă biết là Đấng Chúa Cuwuws-Thế, mới nói: Từ sáng đến giờ tôi chỉ chờ có một người nầy thôi. Đức Chúa đến thọ phép giải-oan của Ngài. Trong buổi vừa hành-pháp xong Đức Chúa dưới sông Jourdain vừa bước lên th́ trên không hiện ra hào-quang sáng-suôt , hiện ra giống như chim bồ-câu trắng sa giữa đầu Chúa, ngay giữa thinh-không có tiếng nói :"Nầy con yêu dấu của ta, cả ân-đức của ta để cho Ngươi đó ". Từ ngày đó, Đức Chúa Jésus là chơn-linh Đấng Christna giáng hạ, cho nên đi truyền-giáo nơi nào , chơn-linh Ngài không phải như ngày sinh-nhật nữa và đă biến thành Chí-Thánh vậy. Ngài là chơn-linh Thánh sông trước mắt cả thiên-hạ đạt cả Đạo-giáo. Ngài quan-sát nơi mặt thế nầy , Đức Jésus Christ không kém thua ai trong hàng Giáo-Chủ . Ngiaf để nhứt tâm lẫn tuát thương sanh yêu-ái người thật nồng-nàn chơn-chất. Đức Thích-Ca thế nào th́ Chúa thế ấy. Bởi cớ thiên-hạ thương mến nghe theo Đạo-Giáo của Ngài . Dân Juif các v́ Giáo-Chủ buổi nọ , luôn các vua chúa Palestine, thấy Đức Chúa Jésus Christ thuyết đạo-giáo có một chí-hướng chơn-truyền phản-khắc với tôn-chỉ của họ , họ oán ghét, t́m phương giết Chúa , đến đàu-cáo với César rằng :"Người ấy mưu cuộc phản loạn đem bọn Juif ra khỏi sự thống-trị của chế-độ Romain" nhưng họ vu-cáo đủ thứ cũng không được v́ thánh-đức của Chúa không thể phạm vào được . Họ lại t́m cách bài-bác luật Đạo, tạo một ban tuyên-truyền làm cho cho nhơn-gian sợ di-hại liên-luỵ không dám gâng Chúa . Mấy Giáo-Chủ (Caiphe) ấy bắt Chúa Jésus giao cho nguyên-soái Pilate lên án tử h́nh. Tuyên-truyền thế nào không biết cho đến ngày lễ Paaques là ngày thả tù nhơn, có tên Barabbas là tướng hung-dữ, sát nhơn đủ tội mà toàn dân Juif đồng tha bổng, c̣n Đức Chúa Jésus chúng không tha, lên án tử-h́nh và đem ra giết, đóng đinh tren cây thập tự.

Cái chết cua Jésus Chrít là ǵ ? Là Ngài đem xác Thánh trọng quư dâng cho Chí-Tôn làm tế-vật , xác Thánh chết trên Thánh-giá là lễ tế đồng thể với Tam-Buwuwr của chúng ta dâng lên Đức Chí-Tôn ngày nay đó vậy.

Vậy, Đức Chúa Jésus Christ đă làm con tế vật cho Đức Chí-Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người , nhứt là các sắc dân Aâu-châu, nên danh theerNgaif để hai chữ Cứu-Thế chẳng có chi là quá đáng.

Thật ra Đấng Cứu-Thế ấy là Tam-thế Chí-Tôn giáng-linh tức là Christna tái thế.

 

*****

Trong một đàn cơ (24 Décembre 1956) Đức Chúa Jesus có giáng cho một bài thi:

Cửa hồng đuốc huệ rọi nên thông,

Thế kỷ hai mươi phải đổi giồng.

Đạo Thánh khen ai mưu lợi dụng,

Đường Tiên cậy kẻ phép thông công.

Tây Phương trở lối về Nam Việt,

Bắc hướng quay cờ đến Lạc Hồng.

Định thế nhờ tay Vi Hộ Pháp,

Long Hoa đại hội mở Thiên Công.

 

 

14. THẦN TRẤN THỦ KIÊM BIÊN GIÁNG BÚT 15-8 Mậu Tuất (27-9-1958)

 

Vui vẽ rồi đây sẽ đến liền,

Đừng buồn tư lự măi triền miên.

Thanh niên chí cả nào bao quảng,

Sức trẻ t́nh thương vẫn nối liền.

Nam Bắc một nhà xây mộng thắm,

Đông Tây hai ngă cách ĺa biên.

Điểm tô nghiệp cả nhờ nơi Đạo,

Cố gắng trao tria những bực hiền.

Anh Bảo Thế có biết xác của Bà Trúc Lâm Nương ở Gia Định MTGP lặp năm Tư gây cảnh cốt nhục tương tàn đến năm Dậu th́ chẳn 10 năm.

Xà chuyển Long thăng Thánh xuất trần,

C̣n chờ Thân Dậu mới an dân.

Ngọ Mùi thảm họa sầu không tả,

Th́n Tỵ can qua khổ chẳng phân.

Phất phới cờ hồng xâm đất Việt,

Chập chồng xương trắng ngất non Thần.

Mưa dầm nắng lửa mười năm chẳng,

Nước năy tôi hiền trổ chúa nhân.

(Đăng trong quyển Tận Thế và Hội Long Hoa-Tác giả Vương Kim xuất bản lần thứ tư năm 1954).

 

 

15.LÀM NHŨNG QUAN

 (Lời kể của Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại)

 

Thời c̣n trai trẻ, ông Thoại có tổ chức một số anh em Đạo Tỳ để chôn dân làng, dầu Đạo hay đời cũng lănh tẩn liệm, khiên nhà giàn, rồi chôn cất đắp mộ làm công quả, không nhận thù lao, không ăn cơm của tang chủ. Ông Hương Quản Nhuận làng Ḥa An ngăn không cho khiên đám. Ông bảo Đạo Tỳ để ḥm trước nhà Hương Quản rồi bỏ đi. Hương Quản Nhuận sợ hôi thúi phải năng nỉ Ông nhờ cho Đạo Tỳ đem đi cho khuất mắt. Khi đến trước Quận Cao Lănh, Quan chủ quận là Huyện Công cho chú Cai ra giải tán. Ông bảo Đạo Tỳ trốn hết để ḥm đó ông đối phó. Huyện Công mắng nhiếc đủ điều. ông đáp: “Nếu quan lớn không cho khiên th́ tôi để ḥm tại đây”.

Ông Huyện sợ hôi thúi bảo phải năng nỉ ông cho Đạo Tỳ đem đi đâu th́ đem.

Ông nói:-Quan lớn cho lính khiên chớ mấy em tôi sợ bị bắt trốn hết rổi.

Trong hai tiếng đồng hồ năng nỉ, Huyện Công phải viết một lịnh cho phép được tự do chôn cất kể từ đó.

***

Nơi Văn Thi Hiệp Tuyển quyển II của ông Huỳnh Văn Đến có viết: “Ông Lễ Sanh Thượng Hào Thanh, nguyên quán ở Ḥa An Cao Lănh cùng một vị chức sắc hành Đạo đắc lực có hiệp tác cơ quan chuyển thế, bị nhà cầm quyền Pháp bắt tra tấn, chết tại bót  Catinat (Sài g̣n).

Ngày 2-3- Giáp Thân (1944) em là Lê Văn Thoại cũng hiệp tác hành sự tại hăng tàu Nitinan. Trong đêm ông Thoại đang ngủ, Lễ Sanh Hào về ứng mộng cho em biết rằng: Ty Công An đánh chết tại bót Catinat. Lúc chết th́ không ai hay, nhờ sự linh ứng cho em Thoại tường tri và cho một bài thi sau đây:

Anh quyết gầy nên đức tự do,

Máu đem làm nước, xác làm tro.

Vun cho hoa nở hoa chưa nở,

Anh thác th́ em thế mặc lo.

 

Số phận Thiêng Liêng chớ vội phiền,

Thiên thơ Kim Bản đă dành biên.

Trăm năm gương để soi kim cổ,

Ngàn thuở ghi tên ở sử Tiên.

Đất Việt măn kỳ toan đổi ách,

Trời Nam đến vận giải tiền khiên.

Khuyên em chớ thấy sanh ḷng nản,

Nhắn bạn trần duyên chí phải kiên.

L.S. Thượng Hào Thanh

(Bạn trần duyên là Bà Hương Kén, khi ông Hào chết bà là Đạo Hữu, sau lên Lễ Sanh Đầu Tộc Đalat, rồi lên Giáo Hữu Khâm Châu Lâm Đồng, lên Giáo Sư Khâm Trấn An Giang, lên Phối Sư ở Ṭa Thánh rồi qui vị v́ bịnh già).

 

 

16. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẠO OMOTO (NHẬT BẢN)

 

-Vị Giáo Chủ trên 10 năm bị tù đày.

-Tín hữu của Đạo Omoto khoản 7.000.000 người.

-Chủ trương độc lập (trên nước Nhật có Phật, Thiên Chúa và Cơ Đốc Giáo).

-Lấy giáo lư chung để dạy Đạo.

-Phát khởi cơ bút, tham thiền và chấp bút.

-Đang cổ vơ về Đạo lư.

-Có đến các nước Cộng Sản.

-Nước Trung Hoa quốc gia.

Mục đích cứu dân độ thế, ḥa đồng tôn giáo nhứt là các Đạo như Cao Đài. Về việc làm hằng ngày xuất bản khoản 3.000 tờ báo.

 

****

Diễn văn của ông Tổng Vụ Trưởng giáo hội Omoto EISHO-IITO hướng Đạo.

Ḱnh chào Hội Thánh cùng quí vị.

Tôi thành thật đội ơn Hội Thánh để được nói về lư Đạo giáo của tôi. Vũ trụ hiện nay được thịnh hành do t́nh thương và trí tuệ được Đức Thượng Đế lập nên và cố bảo thủ lấy nó. Loài người chúng ta là một sinh vật tượng trưng h́nh thể của Người, v́ thế ta làm sao để thực hành. Loài người chúng ta được ân huệ của Ngài, v́ thế ta hằng ngày 4 lần công đức với Ngài, để ta được cảm thông với Thượng Đế.

Nếu chúng ta mỗi ngày không quên ơn của Ngài như thế, ta sẽ hạnh phúc và chắc chắn sẽ được.

Được sống trên cơi thế, mặc dầu về sắc thế (dân tộc) th́ chúng ta đều là huynh đệ, xúm xích lại bên cạnh Ngài. Bởi lệ đó chúng ta phải yêu thương với nhau, nếu có sự lầm lẫn th́ đem sự yêu thương giúp nhau tiến bộ.

Cái h́nh thần của bản thân với phần xác thịt gồm cả tinh thần, về phần hồn chúng ta sinh sống thế nào: Cầu nguyện làm sao sống cho trong sạch. Kế thân thể vô cùng quí báu, chúng ta phải bảo trọng lấy nó, v́ thế ta sống làm sao cho hạnh phúc, đừng để linh hồn sai lạc.

Chúng ta mượn xác thịt để nuôi nấng linh hồn, đó là quan trọng trong bước đường tu. Cái tinh thần luôn luôn làm chủ của xác thịt, cho nên gọi là Linh Chủ Thể, đó là chung quanh bản thể của con người; đừng để xác thịt làm chủ linh hồn, gọi là Thể Chủ Linh.

Cái thế giới chúng ta hiện nay gọi là Thể Chủ Linh Hồn, cho nên sự ích kỷ của linh hồn đó là nguồn gốc của tội lỗi phát sinh, cho nên kẻ bạo tàn làm chủ quả địa cầu nầy. Điều cần quí nhân loại thức tỉnh để Thượng Đế ban hạnh phúc cho mọi người, chúng ta coi và cùng quan trọng.

Nhơn loại chúng ta đă trải qua thời gian quá lâu cho nên tội lỗi biết bao, v́ thế ta phải chịu đọa. Bao nhiêu sự đau khổ dành sẵn. Ngài lo lắng làm sao cho nhơn loại mau thức tỉnh, mượn Người làm h́nh thức để giáo hóa và Ngài dùng đủ h́nh thức, Ngài dùng nhiều quốc gia để xóa bỏ tội t́nh, để thức tỉnh.

Bởi vậy cho nên các tôn giáo cần bắt tay nhau, chúng ta phải làm sao đừng chia cắt tư tưởng đó vô cùng tệ hại và các tôn giáo cần xóa bỏ những ǵ ngăn cách.

Đạo Gia Tô là một giáo lư vô cùng tốt đẹp, v́ chủ trương Đạo ḿnh chân chánh, v́ thế trở ngại bước đường mở Đạo, cũng v́ thái độ đó, cho đó là tà giáo, sự sống thù nghịch nhau. Nhưng may mắn thay sự gặp gỡ giữa Gia Tô - Cơ Đốc Giáo chấm dứt sự thù hằng và lặp Đạo cho nên tôi nghĩ rằng ư muốn của Thượng Đế. V́ thế hai giáo chủ, như tôi ghé lại Đức Giáo Hoàng La Mă và Cơ Đốc Giáo, sự gặp gở giữa hai vị Giáo Hoàng đó là một sự may mắn của nhơn loại. Thế cho nên cái thế giới tốt đẹp sống hiện đến.

Đạo Omoto hiện đến cho thế giới, hay cảnh thiên đàn cho thế gian nầy và nhơn loại thâu thập trong hai bàn tay của ḿnh về khoa học, để đem lại sự tiện lợi cho đời sống nhơn loại. Tôi quả quyết rằng do ân huệ đặc biệt của Thượng Đế giúp cho ḿnh đời sống. Cho nên loài người chúng ta làm sao cho xứng đáng với sự khoa học đó, th́ cũng do tấm ḷng Đạo đức, nhưng với sự nguy cơ không đem ích lợi ǵ mà c̣n nguy hại. Bởi vậy chúng ta làm thế nào vẫn đặt nặng xác thịt để đem đến cho chúng ta mà ông bà chúng ta không thể tưởng tượng được.

Trong suốt thế giới tốt đẹp tương lai, cần một ích đem lại sự sống, c̣n bao nhiêu t́m hiểu Thượng Đế. Hai mươi năm chiến tranh trước đây đưa đến thiếu thốn, nhưng nhờ áp dụng khoa học mà đưa nước Nhật thoát khỏi vượt những khó khăn đó. Cho nên tôi tin tưởng rằng Việt Nam chịu bao nhiêu sự khổ cực rồi, sự tốt đẹp cũng gần đến với chúng ta.

Đạo Omoto Đức Thượng Đế dạy rằng “Lănh sứ mạng bao nhiêu, lănh bấy nhiêu, cho từng cá nhân cũng như dân tộc”.

Nước Nhật trước đây đă chịu chiến tranh như đảo Hiroshima-Nagasaki, dân tộc Nhật phải trả thù, chính v́ thế dân tộc Nhật phải hy sinh. Dựa vào kinh nghiệm đó, Việt Nam cũng chịu trên 20 năm chiến tranh, và gần đến với chúng ta. Những người đă được Chí Tôn giao phó mặc chi rơi trong biển lửa, th́ Đức Ngài sẽ cứu chúng ta. Cái chân lư quí báo đó ở mặt địa cầu nầy ít ai biết đến, th́ ta làm sao biết đến. Thiên Đường Địa Ngục không xa với chúng ta, nếu ta hướng về Thượng Đế th́ ta tiến về Ngài, c̣n ta xây lưng lại sẽ về địa ngục.

Cái chân lư quí báu vô cùng, đơn thuần như ta bước đến ánh sáng th́ ta làm sao che nhiều người được ánh sáng, th́ chúng ta được hạnh phúc. Chơn lư vô cùng th́ Đức Chí Tôn vô cùng tuyệt đối, chơn lư uyên bác đó, chúng ta sẽ thực hiện để đem lại sự tốt đẹp.

Cám ơn Hội Thánh.

***

Các câu hỏi của quí vị Chức Sắc Hội Thánh Cao Đài.

Vấn (Thái Phấn Thanh): - Cảm tưởng của Ngài về việc viếng thăm tôn giáo Cao Đài?

Đáp: -Là nh́n thấy được vô cùng mănh liệt, như hoa đụng nở, như cây hứng ánh nắng. Bước vào Đền Thánh vô cùng ngạc nhiên, trang nghiêm, nói lên sự tinh khiết của linh hồn.

Vấn (Thượng Tuất Thanh): -Hai Ngài (Đức Thượng Sanh và Ngài) đồng tôn thờ Chí Tôn th́ hiện nay ở Nhựt Bổn có vị Lễ Sanh Nazafushi, xin Ngài giúp đỡ cho vị Lễ Sanh ở nước Nhựt có Thánh Thất để chúng tôi làm phận sự Thiêng Liêng.

Đáp:- Qúi báu thay lời đề nghị, xin hứa khi về nước và thỉnh Ngài Lễ Sanh đến giáo hội Omoto để thỏa thuận về mối Đạo giữa Cao Đài và Omoto, và sẽ gửi thêm vài trăm thanh niên để học hỏi về mối Đạo Cao Đài.

Vấn (Giáo Hữu Chánh):- Nhờ sự giải bày Đạo Omoto không khác ǵ Đạo Cao Đài th́ trước hiểm họa chiến tranh, Ngài có ǵ để cứu nguy?

Đáp:-Chỉ có một phương pháp duy nhứt là hướng về Thượng Đế và ăn năn hối ngộ.

Vấn (Nữ Lễ Sanh Nhiễu): -Trong tương lai, nếu có quí vị nào ở giáo hội Omoto được Thượng Đế kêu gọi trở về Đạo Cao Đài th́ ông nghĩ sao?

Đáp:-Tôi tin tưởng ở cơ bút Đạo Cao Đài, tôi xin hướng về Cao Đài.

Vấn: -Sự tôn thờ Đạo Omoto của Thượng Đế như thế nào?

Đáp:-Lễ bái, cúng kiến (do sự duy tŕ của ông bà) th́ đ́nh, miễu có dán thêm miếng giấy để “ĐẠI BỔN ĐẠI THẦN” tức Thượng Đế, căn nguyên nguồn gốc của Thượng Đế tôi trông như Cao Đài.

Và Ngài Tổng Vụ hát một bài tỏ sự cảm ơn Hội Thánh (ngâm thi):

“Cao quí thay Đức Thượng Đế Ngài làm chúa tể,

“Trong cái không, trong cái có,

“Không mà có, có mà không.

Ghi lại y nguyên văn Diễn văn của ông Tổng Vụ Trưởng Eisho Iito, qua sự thông dịch của Lễ Sanh Thượng Ḥa Thanh ngày 13-9 Kỷ Dậu (29-10-1969).

 

 

17. HẠ NGUƠN LÀ THỜI KỲ TRẢ QUẢ

 

Kinh Hoa Nghiêm có viết: “Trong Châu Diêm Phù Đế, chúng sanh giữa đời ngũ trượt, chẳng làm mười điều lành, chăm làm việc ác: sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nối dối, nói đ̣n sóc, nói độc ác, tham, giận hờn, mê si; ngoài thập ác, c̣n chẳng biết hiếu đối với cha mẹ, chẳng cung kính sa môn, tranh giành nhau, buông ḷng theo sự quấy, trái phép mong cầu. V́ những nhân duyên ấy, gió mưa không chừng, lúa thóc chẳng tốt, nhân dân thiếu hụt, bịnh hoạn dẫy đầy, phiêu lạc bốn phương, không nơi nương tựa.

Đă tạo nghiệp nhiều đời th́ nay đến thời kỳ phải trả. Đó là nguyên nhân của bao nhiêu tai nạn, đói đau, giặc giả, tàn sát sanh linh xảy ra trong lúc nầy càng bửa càng nhiều hơn hết.

V́ là thời kỳ trả quả nên những người đă tạo nghiệp, mặc dầu được siêu hóa, hay đầu thai vào cơi khác, đến nay cũng phải trở lại trần để cùng nhau thanh toán những món nợ cũ một lần chót.

Chính đó là một dịp tốt cho ma quân lợi dụng kéo mọi người vào hàng ngũ và thúc đẩy chúng sanh tiến mạnh trên con đường hung ác thù hằn. Vốn đă man nợ máu lẫn nhau, cái hận khí chưa được báo thù làm cho cá nhân với cá nhân, đoàn thể với đoàn thể, quốc gia với quốc gia…xem nhau như hai con gà ra trận, hai con cọp hầm hừ, chỉ chực đánh đá nhau, móc họng nhau cho thích nư, cho đă giận.

Để tiêu diệt đối phương, bên nào cũng đủ cách tăng cường sức mạnh, tạo chế những vũ khí tàn sát phi thường. Khắp bầu trời, phủ đầy những uất khí xung thiên, mọi tâm hồn đều sống trong kinh khủng, đang đứng chịu cái hố diệt vong bày trước bước đường, chỉ trong một phút điên rồ, một phút sảy chân cũng đủ dắt nhau đến nơi tận diệt.

Đứng trước họa diệt vong, người c̣n tỉnh tâm không khỏi phập pḥng lo sợ, thốt ra những tiếng gọi thất thanh.

Trong bài trần thuyết của phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tại Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới họp lần thứ tư ở Tân Đề Y (Ấn Độ) năm 1956 đă vang lên những lời báo động:

“Thế giới ngày nay đang lâm vào một t́nh trạng báo động, quyền lợi giữa người và người, giữa giai cấp và giai cấp, giữa quốc gia và quốc gia đă là nguyên do của tất cả những kinh khủng tràn lan khắp mọi địa phương.

“Người ta rùng ḿnh khi nghĩ đến hố diệt vong đang đón chờ nhân loại. Tiếng gọi thất thanh nhưng rời rạc của một vài tâm hồn vang lên đây đó không đủ để cản ngăn sức lôi cuốn của ḍng quyền lợi.

“Bản thân ḿnh, giai cấp ḿnh, quốc gia ḿnh, quyền lợi ḿnh, xúi giục con người tiến măi đến chỗ ŕnh rập nhau, gầm gừ nhau, xem nhau như thù địch muôn đối”.

Rồi đây vận mệnh của nhân loại sẽ ra sao?

Vẫn biết không ai thay đổi được cái luật “tự tác tự thọ” nhưng đứng trước cảnh thuyền sắp đắm giữa gịng, những người ở trên bờ c̣n có phương cứu vớt, nào ai nở đứng đó mà nh́n. Hứng chí thuyền chưa ch́m mà trên thuyền có kẻ nhẫn tâm phá hoại cho mau ch́m hại lây những kẻ khác, th́ sao người ta không cũng cố hết sức xông thuyền ra cứu vớt. Nếu không cứu vớt được hết th́ may ra cũng vớt được một phần nào những người c̣n chút hơi tàn bơi lội.

Chính đó là hoài bảo của các tôn giáo có chí nguyện cứu đời đang cố đẩy con đê “THIỆN” để chặn đứng sức hung bạo của làn nước “ÁC”.

(Trích trang 196-178 Đời Hạ Nguơn của Vương Kim)

 

 

18. ĐIẾU VĂN CỦA ÔNG PHAN TRƯỜNG MẠNH ĐỌC TRƯỚC LINH CỬU CỦA NGÀI ĐẦU SƯ THÁI THƠ THANH 

 (Quàn tại Thánh Thất Nam Thành Cầu Kho ngày 23-9-1950)

Thưa Qúi Ông, Qúi Bà,

Thưa các anh, các chị em.

Nhân danh Ban Cai Quản Nam Thành Thánh Thất

a) Trước tôi xin cảm tạ Qúi Ông, Qúi Bà và tất cả anh chị em trong Đạo có ḷng, không nệ đường xá xa xôi khó nhọc đến chia buồn cùng tang gia và chúng tôi.

b) Sau tôi lấy làm mừng trông thấy anh em trong Đạo về tấp nập đầy đủ, một ḷng thương tiếc bậc tiền tiên đă nằm gai nếm mật dựng nền Đạo đức vĩ đại cho đoàn hậu tấn được hưởng ân sót thơm thừa. Cử chỉ của anh chị em rất cảm động, rất xứng đáng, không thẹn với câu tục ngữ “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”.

Nghĩ v́ công tŕnh của anh lớn lúc c̣n sống tôi có ư nghĩ về cái sống của anh lúc chết.

I.CÁI CHẾT MÀ SỐNG; CÁI CHẾT MÀ CHẾT.

a)-Chết chỗ nào? (Tà quái)

b)-Sống chỗ nào? (Chơn tu)

trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh Giáo có dạy: “Sự chết thường thế gian gọi chết là hết v́ không biết Đạo nên tưởng lầm. Khắp trong nhơn loại trên mặt địa cầu nầy, phần lớn v́ kỉnh thờ tà quái, mà tà quái vốn chứa sự chết th́ tức nhiên chúng nó ở trong ṿng sự chết là phải tiêu diệt, th́ bao giờ biết đặng sự hằng sống là ǵ !!! nếu Thầy không đến kịp, các con vẫn bị trong ṿng sự chết đó.

“Tà mị cũng như hột giống lúa bị ẩm thúi th́ thế nào mọc đặng đặng sanh bông trổ trái. C̣n bậc chơn tu tỉ như hột giống tốt, hễ gieo xuống th́ cây lên, cây lên th́ trổ bông, trổ bông rồi sanh trái, mà biến biến sanh sanh càng tăng số. V́ vậy các con phải lo bỏ xác trần để bông trái Thiêng Liêng các con sanh hóa chơn thần, chơn thần lại biến hằng muôn thiên số tăng lên hoài, ấy là Đạo. Bởi vậy một chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm Chư Phật, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần và toàn cả nhơn loại trong càn khôn thế giái; nên chi các con là Thầy, Thầy là các con”.

II.CÁI CHẾT CỦA ANH LỚN LÀ SỐNG

a)-Về mặt đời tức là thế gian:-V́ thương đời mới bị khuynh gia tán sản đặng gầy nghiệp Đạo như: Giúp Ṭa Thánh mở Thánh Thất, chửa bịnh, in kinh, dịch sách tuyên truyền chủ nghĩa Đại Đồng Thế Giới, là mục đích tối cao của Cao Đài hầu để lại cho người đời một cái Thánh danh muôn thuở.

b)-Về mặt Đạo, tức là lư thiên nhiên của vũ trụ. V́ nhận định có cái bổn nguyên của Trời ban cho anh và cho tất cả vạn linh sanh chúng, nên anh nhứt tâm lo cho cả sự sáng cho thật Sáng và tin chắc sự sáng ấy có thiệt và có thường nơi trung tâm điểm của ḿnh, thành thử anh thường khuyên anh em trong Đạo nhớ ghi lấy: “THIỆT THƯỜNG TIN” làm châm ngôn mà đoạt mục đích.

III.CÁI SỐNG Ở CHỖ CHƠN TU

Cái chết của anh lớn, người đời cho là cái chết thảm đạm, âu sầu; nhưng đối với người Đạo đó là kết liễu của một sự nhồi quả: đă trả cả sự sản trong đường Đạo đức như vậy chưa đủ, đến phút cuối cùng, c̣n phải trả cả tánh mạng nữa mới được qui về nguyên bổn, v́ cái bản thể của người, từ tinh thần lẫn vật chất đều do âm dương cấu tạo, bây giờ phá thể để đem tinh thần về với bản thể của vũ trụ th́ có ǵ quí quá cho bằng! vậy th́ cái chết của anh lớn có chi đáng gọi là “buồn”, Cái chết của anh lớn là sống đó: sống ở chỗ “chơn tu”.

IV. CÓ THÁNH GIÁO CỦA ĐỨC CHÍ TÔN TIÊN TRI VỀ NAM THÀNH THÁNH THẤT như vầy:

“Ngọc Lộ Nam Thành” chỉ có cái ư nghĩa cao siêu của ḥn ngọc viễn đông, đó mới chính là ngọc, vậy ngọc báu sẽ đối với Đạo vàng. Ngọc bấy lâu ẩn tướng, nay đă lố h́nh sắc huy hoàn rực rỡ, sẽ chiếu diệu từ cơi Đông Dương, đến cơi thế giới đại đồng cho vạn linh tứ chúng nhờ ơn mưa móc. Ngọc Lộ sẽ làm ngọn hải đăng để dẫn khách trầm luân qua bể giác ngạn, sẽ d́u nhơn sanh từ cơi tối đến nơi sáng mà tiến tới nẻo “văn minh Đạo đức tinh thần”.

“Ngọc Lộ ấy chính là Đạo Cao Đài” với thời kỳ Hạ Nguơn. Đạo Cao Đài sẽ phá mê hồn mộng nhơn sanh cùng sẽ đưa nhơn sanh đến cơi thực tế tinh thần. Nhơn sanh cũng nên hiểu rằng: người do một điểm linh quan của Đấng toàn năng hằng sống, chớ chẳng phải người là máy thụ động của tạo vật mà nên đâu”.

Hôm nay chúng em rước xác anh lớn vể đây không phải là cái xác ô trượt, nô lệ cho thất t́nh lục dục mà là một cái xác đă trao giồi đáng tiêu biểu cho một lư tưởng cao siêu thuần túy của Đại Đạo, đem nhân loại từ chỗ vị kỷ đến chỗ đại đồng là mức than chót của sự tấn hóa nhơn loại, để không v́ miếng đỉnh chung, mồi phú quí, giết lẫn nhau v́ nghĩa đồng loại , t́nh đồng bào thương yêu nhau, chia nhau ăn, chia nhau ở và chia nhau mặc. Tại sao tôi nói vậy?

-V́ năm 1939 lúc tôi là nhơn viên cho Cao Đài Đại Đạo Liên Ḥa Tổng Hội th́ anh đắc lịnh lập tại Triết Lư Minh Đài ở Phú Thọ một cái hội tựa là “Cao Đài Cứu Thế” đề là “Đại Đồng Thống Nhất” dưới quyền bảo hộ của Liên Ḥa Tổng Hội.

Một tấm gương lành của một bậc tiền tấn rất xứng đáng, đă dày công khai đường mở lối ban đầu cho đoàn hậu tấn chủ nghĩa đại đồng đặng thanh b́nh thế giới, cũng như anh em chúng tôi nêu đây, ông lịnh ơn trên đeo đuổi theo chí hướng ấy cho đến ngày nào thành công. Nên anh em chúng tôi ở Nam Thành Thánh Thất rất hân hạnh và hân hoan được quàn xác anh lớn nơi đây.

V.TẠM BIỆT VONG LINH

Thưa anh lớn!

Ngày nay anh lớn ĺa cơi trần, cỡi Long Mă về Non Bồng, sẽ có sẵn thú nhà Tiên, rồi khi cờ vẫy, khi rượu ngọt, khi mây sớm, khi trăng lên, khi dạo chốn Thiên Thai, khi vui miền Bồng Đảo, khi vui chơi tá cơi, khi hưởng xuân bốn mùa. Thoát ṿng cưỡng tỏa của kiếp luân hồi là một sự mừng vô nhị. Huống chi nay anh lớn về hội hiệp cùng Thầy, quen hơi bền tiếng với các bạn Tiên một ngày đặng hưởng thú thanh nhàn th́ mấy trăm muôn ngàn cảnh nhơn hoàn có đọ sánh sao bằng.

Than ôi! Thương th́ tiếc, buồn th́ rầu.

Nhưng làm sao cải số Nam Tào được!

Chúng em chỉ cầu nguyện hương hồn anh lớn sớm được toàn diện nơi cơi thọ. Anh lớn có tưởng nhớ đến chúng em, xin ủng hộ chúng em được vững trải trên đường thiên lư.

(Trích Cao Đài Giáo Lư số Lễ Sinh Nhựt 3 Annéc. Decembre 1950-trang 109)

 

 

19. THÁNH GIÁO CỦA BÁT NƯƠNG (25-3-1934)

 

Một coi nước Thiêng Liêng làm quí,

Bỏ trần gian giả sự trần gian.

Cửa tu biết hưởng nét nhàn,

Trọng sanh âu cũng mến hàng dân đen.

 

Hai là hiểu Thánh Hiền Đạo trọng,

Giữ nhơn luân đừng mộng cầu sang.

Cảnh thăng lấy đức chiêu hàng,

Quơ tay thục nữ mở đàn lệ nô.

 

Ba là trọng ni cô Thiên phục,

Đừng đổi tâm làm nhục Khổng môn.

Đừng lo trọng xác hơn hồn,

D́u đường cửa tội, gọi phồn Phong Đô.

 

Bốn đừng tưởng mơ hồ quyền Thánh,

Để riêng tâm trốn tránh phận Trời.

Nhẫn là ḷng dể dạ duôi,

Dối người phải nhớ, dối Trời lại sao?

 

Năm đừng nết hổn hào xảo ngược,

Trọn từ lâm lo rước nguyên nhân.

Độ người ḥa hưởn như đờn,

Bỉ thô ai để tiếng đờn bất lương.

 

 

20. GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM

 

Ở Việt Nam có hai giáo hội Thiên Chúa: Thiên Chúa chính là giáo hội La Mă, người ta thường gọi là Công Giáo, và giáo hội Thánh Linh mà người ta thường gọi là Đạo Tin Lành.

Mười điều luật của Thượng Đế truyền qua ông Mô-se từ nhiều thế kỷ trước Thiên Chúa:

1.-Không được thờ phượng Thần nào khác.

2.-Chớ nên kêu Thượng Đế một cách vô cớ.

3.-Hăy nhớ ngày lễ nghĩ để Thánh hóa ngày đó.

4.-Hăy thảo kính cha mẹ.

5.-Chớ giết người.

6.-Chớ tà dâm.

7.-Không trộm cắp.

8.-Không làm chứng gian hại người.

9.-Không thèm muốn vợ (hay chồng) của người khác.

10.-Không được thèm muốn của cải của người khác.

Về phương diện xă hội, Chúa chủ trương nâng cao giá trị của cần lao, gia đ́nh. Ngài tuyên cáo nam nữ b́nh quyền về phẩm giá. Ngài yêu quí đặc biệt trẻ con, quí trọng t́nh bằng hữu và đề cao t́nh yêu dân tộc.

Nghi lễ Công Giáo do các giáo sĩ (Giám Mục, Linh Mục) đảm nhiệm, gọi là phép bí tích. Khi đứa trẻ mới sinh ra phải chịu lễ rữa tội. Khi mới lớn lên tín hữu phải chịu lễ Thêm Sức để họ có thể trưởng thành trong đời sống tâm linh.

Bí tích Thánh Thể là lễ có tầm quan trọng đặc biệt trong đó Giáo Sĩ đóng vai tṛ Chúa Jesus làm lại các cử chỉ của Chúa, nói lại lời Chúa trước khi chịu chết. Lễ nầy dùng bánh tượng trưng cho thân thể của Chúa, dùng rượu thay cho máu của Chúa. Ư muốn nói thịt và máu của  Chúa Ki Tô thành thịt và máu của con người để giúp cho mạnh bạo tiến bước vào đời vĩnh cửu.

Lễ giải tội là lễ xưng tội lỗi của ḿnh một cách thành thực với Giáo Sĩ và tỏ ḷng thống hối. Họ sẽ được Thiên Chúa tha thứ. Những lời thú tội nầy sẽ được Giáo Sĩ giữ bí mật tuyệt đối.

Lễ bí tích hôn nhơn là lễ Thánh hóa sự kết hợp của đôi tân hôn và nhận ơn phúc của Thượng Đế.

Lễ xức dầu binh nhân là nghi lễ trong đó vị Linh Mục thay Đức Chúa đến thăm viếng các tín đồ lúc sắp qua đời, ngụ ư nếu họ tin vào Thiên Chúa th́ sẽ được phục sinh như Ngài vậy.

Lễ truyền chức Thánh là lễ phong quyền cho các Giáo Sĩ (Giám Mục, Linh Mục hay các Thầy Phổ Tế).

Giáo Hội Công Giáo  hay Giáo  Hội La Mă do Đức Giáo Hoàng cầm đầu. Ở các địa phương trên thế giới chia thành các giáo khu do các vị Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục Linh Mục điều khiển.

Công Giáo có nhiều ḍng tu, như ḍng Tên (ḍng nầy lấy tên Thiên Chúa làm thành bổn mạng gọi là Compaguic de Jésus hay Jésustes do Thánh Inhaxio sáng lập năm 1939).

Ḍng Biểu Đức (do Thánh Bé né dieutin sáng lập từ đầu thế kỷ thứ VI, ḍng nầy thường gọi là ḍng Saint Bénoit hay ḍng Benedicitus).

Ḍng Phan-ci-cô (do Thánh Franciscus sáng lập đầu thế kỷ thứ VIII, c̣n gọi là ḍng anh em hèn mọn: Ordre des frers Mineus.

Ḍng Đa-minh do Thánh Dominicus sáng lập đầu thế kỷ thứ VIII, gọi là ḍng anh em truyền giáo (Ordere des frers precheurs).

Đặc biệt có ḍng La San (do Thánh John Baptist de La Salle sáng lập từ thế kỷ thứ XVI, c̣n gọi là ḍng Sư Huynh; các trường Công Giáo gồm toàn các Sư Huynh và chú trọng nhiều đến việc giáo dục…

Giáo Hội La Mă ở Việt Nam có 2 triệu rưỡi tín đồ (Miền Nam 1 triệu rưỡi, trong đó 600.000 giáo dân di cư, Miền Bắc có 1 triệu. Hai ngàn Giáo Sĩ chia thành nhiều địa phận như: Sài G̣n, Vĩnh Long, Nha Trang, Kontum, Qui Nhơn, Huế, Phát Diệm, Bùi Chu, Hải Pḥng và Hà Nội, mỗi địa phận có một Giám Mục đứng đầu, Riêng Sài G̣n và Hà Nội có 2 vị Tổng Giám Mục.

(Trích trang 190-194 Địa Lư Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ và Nguyễn Đ́nh Tiển)

 

 

21.ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐỐI

 

(Ông Thông Quang sáng tác ngày 1-12 Tân Măo 1951)

Đạo Trời mở cơ quan cứu thế,

Dạy nhơn sanh giữ lễ Nho Tông.

Làm cho thiên hạ đại đồng,

Thật hành bác ái thoát ṿng tai ương.

 

Đời tàn bạo chẳng thương nhơn loại,

T́m kế mưu sát hại lẫn nhau,

Không nh́n cốt nhục đồng bào,

Quốc gia nội loạn Ngô Tào tương tranh.

 

Đạo d́u dẫn nhơn sanh thức tỉnh,

Sớm ăn năn tu tỉnh dưỡng tâm.

Diệu huyền vô thượng thậm thâm,

Hữu căn hữu phước để tầm đường Tiên.

 

Đời v́ lợi, v́ quyền giành giựt,

Xô người vào vực thẳm hang sâu.

Hằng nghe thiện ác đáo đầu,

Một phen bước lở thảm sầu muôn năm.

 

Đạo Tam giáo phương châm cứu khổ,

Người chơn tu rỗi độ linh hồn.

Phước thừa lưu lại tử tôn,

Siêu thăng Cực Lạc vĩnh tồn thiên niên.

 

Đời vay trả tiền khiên nghiệp báo,

Yếu th́ thua mạnh bạo th́ hơn.

Quanh năm gây oán chác hờn,

Chẳng tin Thiên Địa tuần hườn chí công.

 

Đạo hoằng hóa đại đồng nhơn loại,

Dạy con người làm phải làm lành.

Ấy là khử trượt lưu thanh,

Nghĩa nhân vẹn giữ lưu danh trên đời.

 

Đời loạn lạc khắp nơi gây họa,

Măi tranh giành theo giả bỏ chơn.

Đua chen tính thiệt so hơn,

Suốt đời th́ cũng phục hườn tay không.

 

Đạo Cao Đài Nho Tông chuyển thế,

Giữ chơn truyền làm kế bảo an.

Tam Cang Ngũ Lư vẹn toàn,

Phục hồi thượng cổ mở đàng tự do.

 

Giáo Sư Thái Đến Thanh

 

 

 

            22.BIẾT BẰNG TRỰC GIÁC

 

Vị đại phu nước Trần đi sứ sang nước Lỗ, lại thăm viếng Thúc Tôn Thị, Thúc Tôn Thị bảo:

-Nước chúng tôi có một  bậc Thánh.

-Phải ông Khổng Khâu không?

-Phải.

-Làm sao biết được là Thánh?

-Tôi thường nghe Nhan Hồi bảo Khổng Khâu có thể bỏ cái tâm (không dùng cái tâm) mà vận dụng h́nh hài (tức ngũ quan) được.

Vị đại phu nước Trần bảo:

-Nước tôi cũng có một vị Thánh nhân, ông biết không?

-Thánh nhân ư, Ai đó?

-Một đệ tử của Lăo Đam tên là Cang Thương Tử, học được cái Đạo của Đam có thể dùng tai mà trông, dùng mắt mà nghe.

Lỗ Hầu (Vua nước Lỗ) nghe vậy kinh hoảng, sai một vị thượng khách đem hậu lễ qua mời Cang Thương Tử. Cang Thương Tử nhận lễ và tới. Lỗ Hầu lễ độ hỏi, Cang Thương Tử đáp:

-Người ta đồn bậy. Tôi có thể không dùng tai mắt mà nghe trông được, nhưng không thể dùng tai thay mắt, mắt thay tai được.

Lỗ Hầu bảo: Vậy c̣n lạ lùng hơn nữa, cách nào vậy; xin cho quả nhân được nghe.

Cang Thương Tử đáp: Cơ thể tôi ḥa hợp với cái tâm, tâm ḥa hợp với khí, khí ḥa hợp với Thần, Thần ḥa hợp với cái “vô” có h́nh thể rất nhỏ nào xuất hiện, một thanh âm rất nhỏ nào thoảng qua dù ở xa tít ngoài cơi bát hoang hoặc ở gần tại sát mi mắt mà liên cang đến tôi là tôi biết liền. Nhưng tôi không hiểu là do cảm giác của ngũ quan hay là của các bộ phận trong người, tôi chỉ biết rằng cái biết đó tự  nhiên phát ra vậy thôi.

Lỗ Hầu mừng lắm, một hôm kể lại với Khổng Tử, Khổng Tử cười mà không đáp.

(Trích trang 138-140 Liệt Tử và Dương Tử của Nguyễn Hiến Lê)

 

 

23. TỰ THÁN (Của Đức Hộ Pháp )

 

Buồn chưa đoạt đặng máy thần thông,

Dụng thế phân thân hiệp đại đồng.

Ước tóm địa cầu vào một cửa,

Mong gồm thiên hạ lại đồng tông.

Đưa gươm dịu lư d́u Âu chủng,

Cầm kiếm Thiêng Liêng chiếu Á Đông.

Bước tục từng quen nơi cửa Đạo,

Đường văn gặp bạn cũng vui ḷng.

Hộ Pháp

 

 

24. CÔ ĐOÀN NGỌC QUẾ GIÁNG CƠ ngày 10-6 Ất Sửu (1925)

 

Nỗi ḿnh tâm sự tỏ cùng ai?

Mạng bạc c̣n xuân uổng sắc tài.

Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,

Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài.

Dưỡng sanh cam lỗi t́nh sông nước,

Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.

Dồn dập tâm tư oằn một gánh,

Nỗi ḿnh tâm sự tỏ cùng ai.

 

ĐỨC HỘ PHÁP HỌA

Ngẩn bút ḥa thi tủi phận ai,

Trời xanh vội lắp nữ anh tài.

T́nh thân một gánh c̣n dương thế,

Oan nặng ngàn thu xuống dạ đài.

Để thản thương đường cơn ác xế,

Gieo thương lữ khách ngóng tin mai.

Hềm ǵ chưa rơ đầu đuôi thể,

Ngẩn bút ḥa thi tủi phận ai.

 

ĐỨC THƯỢNG PHẨM HỌA

Rằng liễu khóc oanh có mấy ai?

Mơ người quốc sắc đấng anh tài.

Nh́n văn độ phẩm hàng khuê các.

Xót bạn tri âm cơi dạ đài.

Ngàn dặm hoa trôi sầu cụm trước,

Một mồ cỏ loán ủ nhành mai.

Cửu tuyền hồn quế, linh xin chứng,

Rằng liễu khóc oanh có mấy ai?

 

ĐỨC THƯỢNG SANH HỌA

Nữa chừng xuân găy tủi thân ai,

Nông nổi nghỉ thôi tiếc bấy tài.

Ngọc thốt dám bi trang tuấn kiệt,

Vàng rơi riêng chạnh khách chương đài.

Những ngờ duyên thắm trao pḥng bích,

Hay nổi xương tàn rũ giậu mai.

Một dăy đồng tâm bao thuở nối,

Nữa chừng xuân găy tủi thân ai.

 

 

25. KHÔNG PHÂN BIỆT M̀NH VỚI VẠN VẬT

 

Liệt Tử học ông Lăo Thượng, làm bạn với ông Bá Cao Tử; khi đă biết nhiều về Đạo của hai ông đó rồi th́ cởi gió mà về (ngự phong nhi hành). Doăn Sinh hay tin lại ở gần nhà Liệt Tử, mấy tháng không được dạy bảo ǵ cả. Một hôm nhân lúc Liệt Tử nhàn rỗi, xin Liệt Tử truyền Đạo cho. Mười lần qua hỏi, mười lần không được Liệt Tử chỉ bảo. Doăn Sinh giận qua từ biệt Liệt Tử, Liệt Tử làm thinh.

Doăn Sinh mấy tháng không qua nữa, nhưng ḷng vẫn thắc mắc muốn biết Đạo, sau lại trở qua. Liệt Tử hỏi: “Bỏ đi rồi trở lại như vậy mấy lần là nghĩa ǵ vậy?

-Trước kia Chương Đái (tên của Doăn Sinh) xin Thầy dạy bảo, Thầy chẳng buồn dạy, nên con bất b́nh với Thầy. Bây giờ hết rồi nên con trở lại.

-Trước kia ta tưởng anh thông minh, không ngờ tầm thường như vậy. Ngồi đó ta chỉ cho, ta đă học ǵ ở Thầy ta. Từ khi ta làm môn đệ của Thầy ta, là bạn của Bá Cao, sau 3 năm ḷng không dám cân nhắc trái phải, miệng không dám nói đến lợi hại, lúc đó mới chỉ được Thầy ta liếc mắt nh́n thôi. Sau 5 năm ḷng ta mới được cân nhắc phải trái, miệng ta lại nói đến lợi hại, lúc ấy Thầy ta mới tươi tỉnh cười với ta. Sau 7 năm ḷng ta tự  nhiên suy tư thấy không có ǵ là phải trái nữa, miệng ta tự nhiên nói ra, không biết ǵ là lợi hại nữa, lúc đó Thầy ta mới cho ta ngồi cùng chiếu. 9 năm sau giải thoát được ư nghĩa trong ḷng và lời nói ngoài miệng, đă không phân biệt cái phải trái lợi hại của ta ở đâu và cũng không biết cái phải trái của người ở đâu cũng không phân biệt Thầy ta là Thầy, bạn ta là bạn nữa.

Hết phân biệt nội và ngoại  (ḿnh và vạn vật) , th́ cảm giác của mắt cũng như cảm giác của tai, của mũi, của miệng, hết thảy đều đồng ḥa với nhau. Ḷng ta ngưng lại, h́nh hài ta được giải thoát, xương thịt ta tan ra. Ta không cảm thấy thân thể ta dựa vào cái ǵ cả, không cảm thấy chân ta đạp đất nữa. Ta theo gió mà qua Đông, qua Tây, như lá ĺa cành, như hạt ĺa cây, không biết ta chở gió hay gió chở ta nữa.

C̣n anh, anh ở nhà Thầy chưa được bao lâu mà đă hai ba lần tỏ ra bất măn. Cái mảnh thân thể của anh, không khí không chịu nhận, một khúc xương cốt của anh, đất không chịu chở, như vậy làm sao anh cởi gió bay trong không khí được?

Doăn Sinh rất xấu hổ, nín thở hồi lâu, không dám thốt một lời.

(Trích trang 128-132 Liệt Tử và Dương Tử của Nguyễn Hiến Lê)

 

 

26. BÀ BÁT NƯƠNG GIÁNG CƠ CHO THI TẠI NHÀ NGÀI CAO QUỲNH DIÊU (21-11 Kỷ Tỵ)

 

Nhà tư Mỹ Ngọc, Ṭa Thánh ngày 21-11- Kỷ Tỵ

Pḥ loan: Hộ Pháp, Văn Pháp

Nhằm lúc hai người ḥa đờn tranh-tỳ rồi kế cầu Bát Nương.

 

DIÊU TR̀ CUNG BÁT NƯƠNG

Chào Nhị Ca và anh Cao Liên Tử, nghe em làm thi đờn nầy:

Gượng khảy năm âm giải tấm ḷng,

Nhắn đưa gió ái đến thu song.

Gióng dây ĺa nhạn sầu nghiên ngửa,

Dở ngón rơi loan thảm chập chồng.

Lầu phụng mơ màng nghe quyển địch,

Cung Tần văng vẳng lóng tơ đồng.

Chia đôi bóng nguyệt c̣n phân nữa,

Gối lạnh thương ai nổi năo nồng.

Anh Cao Liên Tử! Đọc bài thi của em, rồi khi nào giải cho em nghe.

GIẢI: Cốt chỉ bài thi nầy Bát Nương muốn bày tỏ tâm hồn của Mỹ Ngọc, ḷng ta vơ vẫn về nổi Tổ Đ́nh chia phui nhau nơi Sài Thành đă lộ dạng trong câu đờn. Trong lúc đờn tranh độc lạc những bài ai oán và văn thiên tường.

Qua bửa sau 22-11-Kỷ Tỵ Mỹ Ngọc và Tây Sơn Đạo đi Kim Biên mà lo về việc hôn cho Huệ Chương, dọc đường hai người hứng chí đề thi vận họa lại. Khi đến Kim Biên Chánh Đức tiếp họa nguyên văn luôn, cả thảy 3 bài:

HỌA NGUYÊN VẬN

Năm dây mượn bực tỏa tơ ḷng,

Đờn Bắc ra ai, oán dội song.

Tiếng thảm làm cơm tràn quá chén,

Hơi sầu dồn gối chất nên chồng.

Tranh Tần ghẹo khóc người cung lănh,

Tỳ Hớn khêu than khách ải đồng.

Nhạn lạc ĺa cung đành lỗi nhịp,

Cậy lằng phong nguyệt nhắc duyên nồng.

Tây Sơn Đạo (Failen route Tây Ninh/ Kim Biên ngày 22-11 Kỷ Tỵ)

BỘ Y TIỀN VẬN

Trổi giọng thinh âm tỏ tấc ḷng,

Tựa màng ánh nguyệt vặt ḍm sông.

Cung đàn rĩ rả thưa rồi nhặt,

Nẻo khách nhớ thương chất lại chồng.

Nhấn ngón dường khêu lời hải thệ,

Bún dây như thúc giải tâm đồng.

Nổi t́nh nổi hiếu vai oằn oại,

Giọt lệ rưới lau tấm nghĩa nồng.

                           Mỹ Ngọc

HỌA VẬN

Nổi hiếu mà ra lẽ phụ ḷng,

Cậy đờn dập thảm dựa đơn song.

Trông t́nh sông ngự dây loan đức,

Đợi ngọc Cầu Lam tuổi nguyệt chồng.

Gửi nhớ nhờ mây trao đức hẹn,

Ḥa thương cậy gió nhắn câu đồng.

Lửa duyên đốt phiếm đành xa cách,

Chén ái đêm đông phưởn phất nồng.

                    Chánh Đức Kim Biên

 

 Viết xong ngày 2-5-Qúi Hợi (1983)

QUANG MINH

(Xin xem tiếp Quyển XV)

Top of Page

      HOME